text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Dưới đây là danh sách và thông tin về các chương trình Paris By Night được sản xuất và phát hành lần đầu trong thập niên 1980. Tuy chính thức ra đời vào năm 1983, nhưng mãi đến năm 1986, Paris By Night mới bắt đầu thực hiện chương trình đều đặn theo từng năm. Giai đoạn này, do Trung tâm Thúy Nga đang đóng tại Paris nên các chương trình Paris By Night đều được thu hình tại Pháp. 1989. Paris By Night 9. MC Trần Văn Trạch Danh mục chương trình Paris By Night 8. Danh mục chương trình Paris By Night 7. Từ chương trình PBN 7 trở đi, chương trình được tổ chức thành dạng Đại nhạc hội thu hình trực tiếp tập trung. MC Jo Marcel Danh mục bài hát: 1988. Paris By Night 6. Danh mục bài hát: 1987. Paris By Night 5. Danh mục bài hát: 1983. Paris By Night 1. Đây là chương trình PBN đầu tiên, thực hiện bằng cách thu hình ngoại cảnh rồi biên tập và phát hành dưới dạng băng VHS.
1
null
Ngày 31 tháng 1 năm 2013 tại Thành phố Mexico, một vụ nổ xảy ra tại Ejecutiva Torre Pemex, một khu nhà chọc trời là trụ sở của Pemex, công ty dầu khí nhà nước Mexico. Tòa nhà làm trụ sở của Pemex được xem là một trong những tòa nhà cao nhất ở thủ đô Mexico City với chiều cao là 211 mét. Ít nhất 35 người đã thiệt mạng và 121 bị thương khi một vụ nổ xảy ra trong một tòa nhà liền kề với tháp chính. Trước đó trong ngày, Pemex đã gửi đi một tin trên Twitter cho rằng tòa nhà đã được sơ tán do một vấn đề "với hệ thống điện trong khu phức hợp bao gồm các tòa nhà chọc trời". khoảng 15:45 giờ địa phương, một vụ nổ xảy ra ở tầng hầm của một nhà để xe liền kề với tòa nhà văn phòng chính. Vụ nổ đã khiến hai tầng đầu tiên của tòa nhà 14 tầng sụp đổ một phần. Nguyên nhân của vụ nổ vẫn chưa rõ. Tổng thống Mexico Enrique Peña Nieto nói rằng "không có báo cáo kết luận về lý do" sau vụ việc, trong khi Giám đốc điều hành Pemex Emilio Lozoya nói rằng, "Một sự cố chết người như ngày hôm qua không thể được giải thích trong hai giờ [...] chúng tôi sẽ không suy đoán ". khủng bố đã không được loại trừ, theo Chính phủ. Pemex cho biết khoảng 3.500 người đã được sơ tán khỏi tòa nhà. Các nhân viên cứu hộ cùng chó nghiệp vụ đã được huy động tìm kiếm những người bị mắc kẹt trong tòa nhà. Quân đội Mexico cũng tham gia công tác cứu hộ.
1
null
Điền Khai (chữ Hán: 田开), tức Điền Vũ tử là vị tông chủ thứ sáu của họ Điền, thế gia của nước Tề thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời là tổ tiên của các vị vua Điền Tề, một trong Chiến quốc thất hùng sau này. Điền Khai là con trai trưởng của Điền Vô Vũ (Điền Hoàn tử), vị tông chủ thứ sáu của họ Điền. Năm 532 TCN, Điền Vô Vũ, Điền Khai lên thế tập. Sử ký không ghi rõ những hành trạng của Điền Khai lúc làm thủ lĩnh họ Điền. Năm 516 TCN, Điền Khai/Điền Vũ tử qua đời. Do ông không có con trai nên người em là Điền Khất lên thế tập, tức Điền Hi tử.
1
null
Torre Ejecutiva Pemex (Tòa tháp điều hành Pemex) là một tòa nhà chọc trời tại Thành phố México, thủ đô México. Tòa nhà ban đầu được thiết kế là một tháp đôi cao 26 tầng, nhưng sau đó được chuyển đổi thành một tháp cao 52 tầng, chiều cao 211 m đến nóc, tính cả ăng ten thì cao 214 mét. Từ khi khánh thành, tòa nhà này là trụ sở của Tập đoàn dầu khí nhà nước Pemex, một trong những công ty dầu khí lớn nhất ở châu Mỹ Latinh. Vào ngày 19 tháng 9 năm 1985, tòa tháp đã có thể chịu được trận động đất 8,1 độ Richter ở Thành phố México. Nó được cho là một trong những tòa nhà chọc trời mạnh nhất trên thế giới, có thể, cùng với World Trade Center México (trước đây là Hotel de México) và Torre Latinoamericana, chịu được động đất cường độ 8 + Richter. Tháp đã trở thành tòa nhà chọc trời cao nhất ở México và một trong 100 nhà chọc trời cao nhất thế giới. Tòa tháp đã vượt qua khách sạn Hotel de México là tòa nhà cao nhất ở México vào năm 1983, và vẫn là cao nhất trong gần 20 năm, cho đến năm 2003, khi tòa tháp 55 tầng Torre Mayor cách đó nửa dặm Anh đã qua mặt. Torre Mayor đã bị vượt qua bởi Torre Reforma, sẽ trở thành tòa tháp cao nhất ở Thành phố México. Hiện nay, Pemex Torre là tòa nhà cao thứ thứ ba ở México, và cao thứ hai ở Thành phố México. Ngày 31 tháng 1 năm 2013, một vụ nổ lớn tại trụ sở tập đoàn dầu khí quốc gia Petroleos Mexicanos làm ít nhất 25 người chết và khoảng 100 người khác bị thương.
1
null
Tore Reforma là một tòa tháp chọc trời đang được xây ở thành phố Mexico. Tòa tháp sẽ cao 244 m, cao 57 tầng, lúc hoàn thành sẽ là tòa nhà cao nhất Mexico và Mỹ Latin vượt qua cả hai tòa tháp Torre Mayor và Torre Ejecutiva Pemex. Được khởi công xây dựng năm 2008, khi hoàn thành sẽ là trung tâm mua sắm, giải trí. Tòa tháp này hiện đang được xây dựng tại số 483 Paseo de la Reforma, đối diện bên kia đường so với Torre Mayor, tại địa điểm trước đây là một hộp đêm trên Paseo la Reforma. Kế hoạch ban đầu bao gồm phá bỏ ngôi nhà lịch sử thập niên 1930 ở xung quanh địa điểm xây dựng này, nhưng người ta đã quyết định bảo tồn ngôi nhà và sử dụng nó làm lối vào chính của tòa nhà. Công trình có diện tích bao gồm 35.000 m² không gian văn phòng và 35.000 m² mặt bằng bán lẻ. Nó sẽ có khoảng 35 thang máy đạt tốc độ tối đa là 6,8 mét mỗi giây. Tòa tháp sẽ có một nhà để xe đậu xe ngầm với sức chứa 1.161 xe. Torre Reforma sẽ được trình chứng chỉ quốc tế như là một tòa nhà LED bền vững.
1
null
Điền Vô Vũ (chữ Hán: 田无宇), tức Điền Hoàn tử (田桓子), là vị tông chủ thứ năm của họ Điền, thế gia của nước Tề thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời là tổ tiên của các vị vua Điền Tề, một trong Chiến quốc thất hùng sau này. Điền Vô Vũ là con trai của Điền Tu Vô (Điền Văn tử), vị tông chủ thứ tư của họ Điền. Năm 546 TCN, Điền Tu Vô mất, Điền Vô Vũ lên thế tập. Sự nghiệp. Điền Vô Vũ lấy một người vợ là con gái của Tề Linh công với bà Mục cơ (con gái Thúc tôn Tuyên bá) nước Lỗ, người con gái ấy là chị của Tề Cảnh công. Cùng năm 545 TCN, Khánh Phong tiêu diệt Thôi Trữ, một mình cầm quyền chính nước Tề. Điền Vô Vũ thấy Khánh Phong cùng con là Khánh Xá chuyên quyền, bèn liên kết với ba họ đại phu Bão, Cao, Loan trừ họ Khánh, có các vệ sĩ cũ của Tề Trang công là Lư Bồ Quý và Vương Hà muốn báo thù cho chủ, cũng giúp sức cho bốn nhà. Thừa dịp Khánh Phong đi săn, chỉ có Khánh Xá ở nhà, Lư Bồ Quý và Vương Hà phát động binh biến, Điền Vô Vũ và ba họ còn lại mang quân trợ giúp. Kết quả họ Khánh bị diệt, Khánh Phong một mình bỏ chạy sang lưu vong ở nước Ngô, được Ngô Dư Sái thu nạp. Sau khi tiêu diệt Khánh Phong, Điền Vô Vũ tập trung củng cố thế lực của mình để tranh quyền với các họ khác. Năm 532 TCN, Điền Vô Vũ liên kết với Bão tấn công họ Cao và họ Loan, hai họ này chống không nổi, bỏ trốn sang nước Lỗ. Cùng năm, Điền Vô Vũ/Điền Hoàn tử mất. Con ông là Điền Khai lên thế tập, tức Điền Vũ tử.
1
null
Mặt trận Liên minh Cách mạng ("Revolutionary United Front" - RUF) từng là một lực lượng phiến quân ở Sierra Leone. RUF đã thua trong cuộc nội chiến Sierra Leone kéo dài 11 năm từ 1991 đến 2002. Sau đó, RUF phát triển thành một chính đảng, tồn tại đến năm 2007. Ba nhà lãnh đạo cao cấp nhất, Issa Sesay, Morris Kallon và Augustine Gbao, đã bị kết án tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người tháng 2 năm 2009. Lính trẻ em. Có khá nhiều lính trẻ em trong RUF. Tổng cộng 10.000 trẻ em được cho là đã tham gia vào các cuộc giao tranh. Phần lớn đảm nhiệm vai trò tấn công làng mạc, canh gác các bãi khai thác kim cương cũng như các kho vũ khí. Ngày nay, khoảng 2000 người trong số đó vẫn tiếp tục phục vụ trong Quân đội Sierra Leone. Tham khảo. <references>
1
null
Phạm Minh Cảnh (sinh năm 1939) là một nhạc sĩ, nhà báo, chuyên viên âm thanh tại Sài Gòn trước năm 1975. Cuộc đời. Ông tên thật là Phạm Minh Cảnh, sinh năm 1939 tại làng Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Năm 18 tuổi, ông theo học trung cấp kỹ thuật và trung cấp âm nhạc. Học sáng tác đầu tiên với nhạc sĩ Quách Vũ. Từ năm 1961 đến năm 1962, ông là tổng thư ký toà soạn tạp chí "Phim Kịch". Từ năm 1963 đến năm 1967, ông làm việc cho Phòng Tâm lý chiến dưới quyền nhà thơ Tô Thùy Yên cùng với một số nhạc sĩ khác như Nhật Bằng, Trần Thiện Thanh, nhà thơ Phạm Lê Phan... Là thành viên của nhóm nhạc du ca "Phù Sa" gồm: Anh Việt Thu, Anh Việt Thanh, Phạm Minh Cảnh, Hà Phương biểu diễn từ Cần Thơ ra đến Huế. Ngoài ra, còn viết nhạc cho một số hãng băng nhạc, đĩa hát như băng "Nghệ Thuật Tâm Anh", băng "Quê Hương", dĩa hát Continental. Phạm Minh Cảnh có biệt tài kẽ bản thảo âm nhạc bằng tay rất đẹp. Ông là người từng thực hiện kẽ bản cho tuyển tập nhạc của các nhạc sĩ Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Anh Việt Thu, Vũ Thành An, Từ Công Phụng... Từ năm 1967 đến năm 1971, ông là chuyên viên âm thanh điện ảnh Đài Truyền hình Sài Gòn. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông vẫn tiếp tục làm việc cho nhà xuất bản âm nhạc Giải phóng (nghiệp vụ kẽ bản thảo nhạc). Đoạt Giải C chủ đề ca khúc thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm "Bài ca lúa" thơ của Tường Linh. Năm 2000, ông về sống ở Vĩnh Long. Ở quê, ông vẫn tiếp tục cộng tác với báo Sài Gòn Giải Phóng, viết ca khúc tân cổ giao duyên với chủ đề tình cảm, quê hương cho một số hãng băng đĩa trong nước. Đầu năm 2013, ông được Sở Thông tin Truyền thông Vĩnh Long tặng quà và giấy khen về thành tích sáng tác trong năm 2013. Sáng tác. Dưới đây là một số ca khúc tiêu biểu trước 1975 của nhạc sĩ Phạm Minh Cảnh:
1
null
Triệu Sóc (chữ Hán: 趙朔; ?—597 TCN), tức Triệu Trang tử (趙莊子), là vị tông chủ thứ năm của họ Triệu, một trong Lục khanh nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc. Ông là con trai của Triệu Thuẫn, tông chủ thứ tư của họ Triệu. Ghi chép trong sử ký. Theo Sử ký, Triệu thế gia, năm 601 TCN, sau khi cha là Triệu Thuẫn mất, Triệu Sóc lên thế tập. Năm 597 TCN, Tư khấu Đồ Ngạn Cổ được Tấn Cảnh công trọng dụng, gièm pha với vua rằng Triệu Thuẫn và em là Triệu Xuyên giết Tấn Linh công, cần phải trị tội họ Triệu, Hàn Quyết ra sức bảo vệ cho họ Triệu nhưng Tấn Cảnh công không nghe, bèn báo cho Triệu Sóc biết tin để bỏ trốn nhưng Triệu Sóc không muốn và cam tâm chịu chết. Hàn Quyết không muốn họ Triệu tuyệt tự, bèn cáo bệnh không ra ngoài. Sau đó Đồ Ngạn Cổ diệt tộc họ Triệu. Vợ Triệu Sóc là Triệu Trang Cơ (chị Tấn Cảnh công) đang có mang, sinh một người con là Triệu Vũ, được 2 gia nhân trung thành là Trình Anh và Công Tôn Chử Cữu và Hàn Quyết che chở nên thoát chết. Mười lăm năm sau, năm 583 TCN, Triệu Vũ lên 15 tuổi thì Tấn Cảnh công mang bệnh. Hàn Quyết xin Tấn Cảnh công nhớ công lao của họ Triệu với nước Tấn để khôi phục họ Triệu. Tấn Cảnh công thuận theo, phục chức cho Triệu Vũ và cho Triệu Vũ tự đi báo thù giết Đồ Ngạn Cổ. Ghi chép trong Tả truyện. Tả truyện ghi chép khác với Sử ký, không công nhận Triệu Sóc là tông chủ của họ Triệu và ghi sau khi Triệu Thuẫn mất, em là Triệu Quát thế tập. Vợ ông là Trang Cơ tư thông với chú ông là Triệu Anh Tề nên bị Triệu Quát đuổi. Trang Cơ tức giận, năm 583 TCN, cùng với họ Loan và họ Khước vu cáo Triệu Quát và Triệu Đồng làm phản, Tấn Cảnh công ra lệnh giết chết hai người. Bấy giờ Triệu Sóc đã chết, Hàn Quyết xin Tấn Cảnh công không nên để họ Triệu tuyết tự, Tấn Cảnh công bèn phong cho Triệu Vũ lên thế tập họ Triệu.
1
null
Convair XF-92 là một mẫu máy bay cánh tam giác của Hoa Kỳ. Nó được sử dụng làm máy bay tiêm kích đánh chặn phòng thủ. Ngoài ra còn có các thiết kế cánh tam giác sau F-102 Delta Dagger, F-106 Delta Dart, B-58 Hustler, F2Y Sea Dart và FY Pogo.
1
null
Trần Vĩnh Hoa (, 1634 - 1680), tự Phục Phủ, tương truyền còn có tên là Trần Cận Nam (陳近南), người huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu (nay là trấn Giác Mỹ, quận Long Hải, thành phố Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến), nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà giáo dục phò tá vương triều Minh Trịnh ở Đài Loan. Thân thế. Cha của ông là Trần Đỉnh, từng đỗ Cử nhân năm Thiên Khải thứ 7 (1627); đỗ Tiến sĩ năm Sùng Trinh thứ 17 (1644). Sau một loạt biến cố Giáp Thân, về quê làm ruộng. Năm Vĩnh Lịch thứ 2 (1648), Trịnh Thành Công đánh hạ Đồng An, thụ Trần Đỉnh làm Giáo dụ. Quân Thanh hạ được Đồng An, Trần Đỉnh tự thắt cổ ở Minh Luân đường. Sự nghiệp. Chính trị. Về với Trịnh Thành Công. Trần Vĩnh Hoa ước chừng 15, 16 tuổi, đã thông qua khoa cử, trở thành Sinh viên (tục gọi là Tú tài) ở huyện Long Khê . Khi ấy cha tuẫn tiết, ông bỏ trốn đến Hạ Môn, được Binh bộ thị lang Vương Trung Hiếu tiến cử với Trịnh Thành Công. Sau khi trò chuyện với ông, Trịnh Thành Công khen ngợi: "Phục Phủ, ngươi là Ngọa Long tiên sanh thời nay!" Được thụ chức Tham quân, đãi theo lễ Tân khách . Nhưng qua khảo chứng, Vĩnh Hoa không giỏi đàm luận, cũng chưa từng tiếp nhận quan chức dưới quyền Trịnh Thành Công , mà được Trịnh Thành Công mời làm thầy dạy cho con trai mình là Trịnh Kinh . Phò tá Trịnh Kinh. Tháng 6 năm Vĩnh Lịch thứ 16 (1662), Trịnh Thành Công qua đời, Trịnh Kinh ở Hạ Môn kế vị Duyên Bình vương, rồi nhiệm mệnh Trần Vĩnh Hoa làm Tư nghị tham quân. Lúc này Hoàng Chiêu ở Đài Loan ủng lập em trai Trịnh Thành Công là Trịnh Tập thay làm Duyên Bình vương và Chiêu thảo đại tướng quân. Ông theo Trịnh Kinh về Đài Loan, đánh bại quân đội của Hoàng Chiêu, kết thúc nội loạn. Năm thứ 17 (1663), Trịnh Kinh sau khi quay về Hạ Môn, phát hiện Trịnh Thái trước đây từng có liên hệ với Hoàng Chiêu, đâm ra nghi ngờ. Trần Vĩnh Hoa hiến kế : Trịnh Kinh giả vờ muốn quay về Đài Loan, khắc quan ấn của chức vụ Kim, Hạ tổng chế gởi đến Trịnh Thái, tuyên bố đem việc phòng bị Kim Môn, Hạ Môn giao cho ông ta . Trịnh Thái nhận được ấn chương, đến Hạ Môn tạ ơn, Trịnh Kinh bèn giam giữ ông ta . Năm thứ 18 (1664), Trịnh Kinh ở Kim Môn, Hạ Môn bị liên quân Thanh - Hà Lan (công ty Đông Ấn) đánh bại, lui về đảo Đồng Sơn. Bấy giờ, lòng người không yên, đầu hàng nhà Thanh rất nhiều, những kẻ bên cạnh Trịnh Kinh cũng ra sức khuyên ông ta hàng Thanh. Nhưng Trần Vĩnh Hoa và Hồng Húc ra sức khuyên ngăn . Trịnh Kinh từ bỏ ý định đầu hàng, quay về Đài Loan, đem quốc chính giao cho ông . Năm thứ 28 (1674), Trịnh Kinh hưởng ứng sự biến Tam Phiên mà vượt biển tây chinh, mệnh Trần Vĩnh Hoa tổng chế Đông Ninh, phụ trách công tác hậu cần. Ông thi hành chính sự ôn hòa, cung ứng binh lương đầy đủ. Sau khi Trịnh Kinh thất bại quay về, Phùng Tích Phạm, Lưu Quốc Hiên đố kỵ ông . Tháng 3 năm thứ 34 (1680), Trần Vĩnh Hoa xin giải binh quyền, Trịnh Kinh ban đầu không cho, về sau đồng ý, đem bộ hạ của ông giao cho Lưu Quốc Hiên. Nhận thấy Trịnh Kinh không còn tham vọng tây chinh, chư tướng chỉ muốn cầu an, Trần Vĩnh Hoa lui về ẩn cư ở Long Hồ nham (nay là Long Hồ nham, núi Xích, khu Lục Giáp, thành phố Đài Nam. Tháng 7, ông uất ức mà mất. Kinh tế. Nhằm giải quyết vấn đề lương thực, Trần Vĩnh Hoa khuyến khích quân đội xây dựng đồn điền, lấy gạo là một trong những nông phẩm quan trọng nhất. Ngoài ra, mía cũng là nông phẩm trọng yếu, được trồng để nấu đường, bán cho các nước Anh, Nhật,… Ngoài ra, nhân dân Đài Loan chỉ biết đun nấu nước biển để lấy muối, chất lượng rất kém. Trần Vĩnh Hoa dạy dân làm ruộng muối, nâng cao chất lượng sản phẩm . Do nhà Thanh thực thi pháp lệnh cấm hải, khiến vật giá ở Đài Loan tăng cao. Trần Vĩnh Hoa kiến nghị Trịnh Kinh hối lộ quan viên nhà Thanh, để hàng hóa nội địa ra được Đài Loan, ổn định tình hình . Giáo dục. Vì muốn đẩy mạnh tư tưởng Nho giáo, theo kiến nghị của Trần Vĩnh Hoa, đến năm Vĩnh Lịch thứ 20 (1666), ở Đài Loan đã có miếu Khổng Tử. Ngoài ra các nơi còn xây dựng trường học, đủ 8 tuổi là được nhập học . Ông hoàn tất chế độ khoa cử: ở châu Thiên Hưng, châu Vạn Niên, 3 năm có 2 lần Châu thí, hợp cách thì thông qua Phủ thí, Viện thí mà có thể vào Thái Học, để bồi dưỡng nhân tài; ai vào Thái Học sẽ được miễn sai dịch. Trị an. Trần Vĩnh Hoa xây dựng chế độ Bảo Giáp, nhằm duy trì trật tự địa phương. Lấy 10 hộ làm 1 bài, 10 bài làm 1 giáp, 10 giáp làm 1 bảo. Nhân dân không kể di dời, làm ăn, hôn nhân, sinh nở, qua đời đều phải báo cáo với quan viên địa phương. Ngoài ra, ông còn cấm đánh bạc . Di tích, văn vật liên quan. Mộ cổ. Trần Vĩnh Hoa được chôn cất ở núi Đại Đàm, Xích Sơn bảo, châu Thiên Hưng (nay là thôn Quả Nghị, khu Liễu Doanh, thành phố Đài Nam). Sau này nhà Thanh đưa di hài của ông về Tuyền Châu, mộ gốc bị bỏ hoang. Thời Nhật chiếm đóng, người Nhật tìm thấy bia mộ, trên khắc chữ: ""Mộ của Hoàng Minh tặng Tư thiện đại phu, Chánh trị thượng khanh, Đô Sát viện Tả đô ngự sử, Tổng chế, Tư nghị tham quân, Giám quân ngự sử, thụy Văn Chánh Trần công phối với phu nhân Thục Trinh Hồng thị". Bia đến nay vẫn còn. Năm 1954, tại nơi phát hiện bia mộ, tìm thấy một cỗ áo quan. Cung Vĩnh Hoa. Bên cạnh miếu Khổng tử ở Đài Nam có miếu thờ Quảng Trạch tôn vương. Năm 1750, miếu được trùng tu, đổi tên là cung Vĩnh Hoa. Đường Vĩnh Hoa. Tại Đài Nam có con đường Trần Vĩnh Hoa, là để kỷ niệm Trần Vĩnh Hoa mà có tên ấy. Dật sự: Trần Cận Nam. Theo truyền thuyết, hóa danh của Trần Vĩnh Hoa trong dân gian là Trần Cận Nam, được xem là người truyền bá và là một trong Ngũ tổ của Thiên Địa hội (còn gọi là Hồng môn) . Gia đình. Vợ là Hồng Thục Trinh, rất nhiều thư từ, công văn của Trần Vĩnh Hoa được bà chấp bút. Con trai là Mộng Vĩ (không rõ), Mộng Cầu (đỗ Tiến sĩ ở Đài Loan, sau khi hàng Thanh được gia nhập Hán quân Chính Bạch kỳ). Con gái là Trần thị được gả cho Trịnh Khắc Tang.
1
null
Akdal MKA 1919 là loại súng shotgun bán tự động do công ty vũ khí Akdal tại Thổ Nhĩ Kỳ chế tạo. Súng được phát triển với mục đích dùng cho dân sự và giữ gìn an ninh. Nó có vẻ ngoài giống như khẩu M-16 và thêm một số chi tiết để dễ sử dụng hơn cũng như súng khá nhẹ so với các loại súng sử dụng cùng cỡ đạn vì hầu hết súng được làm từ nhựa tổng hợp chịu lực. Thiết kế. MKA 1919 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với ống trích khí và pít ton nằm ở phía dưới nòng súng. Lò xo đẩy pít ton trở lại chỗ cũ được đặc bao quanh ống trích khí. Một ốp lót tay lớn bao quanh nòng súng và ống trích khí. Nút kéo lên đạn nằm ở phía bên phải súng. Súng được chia ra làm hai phần trên và dưới, phần trên được làm bằng hợp kim nhôm còn phần dưới bao gồm cả cò súng và báng súng được làm bằng một miếng nhựa tổng hợp chịu lực cao. Nút khóa an toàn giống như của khẩu M-16 nằm phía bên trái súng phía trên cò súng. Súng sử dụng hộp đạn rời chứa 5 viên mỗi hộp. Trên thân súng có thanh răng để gắn thêm quai xách giống M-16 cho dễ dàng mang đi hoặc các hệ thống nhắm thích hợp với shotgun.
1
null
Đoan Kính Vương hậu (chữ Hán: 端敬王后; Hangul: 단경왕후, 7 tháng 2, 1487 - 27 tháng 12, 1557) là Vương hậu đầu tiên của Triều Tiên Trung Tông. Cuộc đời. Đoan Kính vương hậu xuất thân từ Cư Xương Thận thị (居昌慎氏), là con gái của Ích Xương phủ viện quân Thân Độ công Thận Thủ Cần (慎守勤) và Thanh Nguyên phủ phu nhân Thanh Châu Hàn thị (淸原府夫人淸州韓氏). Trước khi cha bà lấy mẹ bà, ông đã có một chính thất là Vĩnh Gia phủ phu nhân An Đông Quyền thị (永嘉府夫人安東權氏) nhưng mất sớm. Năm 1499 (năm Yên Sơn Quân thứ 5), bà thành hôn với Trung Tông khi đó là Tấn Thành đại quân (晉城大君), do là nguyên phối của một Đại quân nên bà nhận phong hiệu Phủ phu nhân (府夫人), không rõ quận hiệu là gì. Theo vai vế, bà gọi Vương phi Thận thị của Yên Sơn Quân là cô mẫu, do cha bà Thận Thủ Cần là anh ruột của Vương phi. Năm 1506, xảy ra Trung Tông phản chánh, cuộc binh biến lật đổ ngai vàng của Yên Sơn Quân diễn ra, Tấn Thành đại quân chồng bà được đưa lên ngôi, trở thành Triều Tiên Trung Tông. Bà trở thành Nội mệnh phụ của Trung Tông. Tuy nhiên, do phụ thân bà là Thận Thủ Cần đã theo Yên Sơn Quân và đã bị giết trong đêm phản chính, các công thần buộc nhà vua phải phế bỏ bà và trục xuất bà ra khỏi Vương cung. Bà chỉ tại vị vị trí Trung điện trong vòng 7 ngày ngắn ngủi. Năm 1515, năm thứ 10 dưới triều Trung Tông, Chương Kính vương hậu Doãn thị do hậu sản mà qua đời, phe phái của Huân Cựu phái (勳舊派) và Sĩ Lâm phái (士林派) tranh luận việc phục vị cho Thận phi, tuy nhiên cuối cùng Văn Định Vương hậu xuất thân từ "Pha Bình Doãn thị" do hậu thuẫn lớn đã được lập làm Kế phi. Năm 1557, dưới triều Triều Tiên Minh Tông, bà qua đời khi ở độ tuổi 70, không con cái. Đến đời Triều Tiên Anh Tổ, tông tộc nhà Lý mới truy thụy cho bà là Cung Chiêu Thuận Liệt Đoan Kính vương hậu (恭昭順烈端敬王后), táng ở Ôn lăng (溫陵). Truyền thuyết Chima. Dù Đoan Kính Vương hậu đã bị phế và đuổi khỏi hoàng cung thì Triều Tiên Trung Tông vẫn thương nhớ bà và ông thường xuyên đứng từ xa trông vọng về nơi nhà của bà đang ở trên triền núi Nhân Vương. Vương hậu biết được việc đó bèn treo lên trên mỏm đá núi một chiếc Chima (là phần váy của bộ Hàn phục Hanbok) mà bà thường mặc lúc còn ở Hậu cung ngày xưa. Vì vậy người đời sau hay gọi mỏm đá đó là đá Chima. Phim ảnh. Được diễn bởi Park Min-young trong bộ phim Queen For Seven Days (KBS 2017).
1
null
Lưu Văn Tú (, 1633 – 1658), người Diên An, Thiểm Tây, tướng lãnh khởi nghĩa nông dân Đại Tây, con nuôi của thủ lĩnh Trương Hiến Trung. Cuộc đời và sự nghiệp. Ông từ sớm đã tham gia nghĩa quân của Trương Hiến Trung. Năm Sùng Trinh thứ 17 (1644) nhà Minh, sau khi Trương Hiến Trung kiến lập chính quyền Đại Tây, Văn Tú được thụ phong Phủ Nam Tướng quân, Năm Thuận Trị thứ 3 (1646) nhà Thanh, Trương Hiến Trung tử trận, ông cùng bọn Tôn Khả Vọng soái mấy vạn tàn quân, chạy vào Vân Nam - Quý Châu, liên tiếp hạ được Tuân Nghĩa, Quý Dương. Năm Vĩnh Lịch thứ 6 (1651), nghĩa quân Đại Tây liên kết với chính quyền Nam Minh, Văn Tú được thụ phong Phủ Nam vương, soái 6 vạn quân Đại Tây ra Xuyên Nam, từ Tự Châu, Trùng Khánh tiến vây Thành Đô, giết bọn Đô thống Bạch Hàm Trinh, Bạch Quảng Sanh của nhà Thanh, bức bách Ngô Tam Quế chạy về Bảo Ninh. Ông ra Tứ Xuyên, cùng quân đội của Ngô Tam Quế giao chiến ở Bảo Ninh thuộc Xuyên Bắc, khinh địch nên đại bại, lui về Quý Châu. Năm thứ 10 (1656), Văn Tú theo Vĩnh Lịch Đế đến Côn Minh, được phong tước Thục vương. Năm sau, Tôn Khả Vọng cất quân đến đánh, ông cùng Lý Định Quốc đánh cho ông ta đại bại ở Giao Thủy. Tôn Khả Vọng đưa tàn quân đến Bảo Khánh hàng Thanh. Năm thứ 12 (1658), Văn Tú ở vùng núi Tứ Xuyên thao luyện quân đội, thu thập bộ hạ của Tôn Khả Vọng, được hơn 3 vạn người. Lý Định Quốc yêu cầu Vĩnh Lịch Đế triệu hồi ông, hành động này đã khiến cho 3 lộ quân Thanh tiến đánh Quý Châu gập nhiều thuận lợi, vì thế hai người Lý – Lưu trở nên bất hòa. Văn Tú vô cùng buồn bã, đem mọi việc giao cho Hộ vệ Trần Kiến liệu lý, cũng không ra khỏi phủ . Ngày 25 tháng 4, bệnh mất ở Côn Minh . Về sau con trai ông là Lưu Chấn cũng hàng Thanh.
1
null
Trọng tôn Ngao (chữ Hán: 仲孙敖,?-613 TCN), hay Công tôn Ngao (公孙敖), Mạnh tôn Ngao (孟孙敖), tức Mạnh Mục bá (孟穆伯), là đại phu của nước Lỗ thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời ông cũng là vị tông chủ đầu tiên của Mạnh tôn thị, một trong Tam Hoàn, tức ba dòng họ thế gia chi phối quyền lực nhiều năm ở nước chư hầu này. Thân thế. Công tôn Ngao vốn là con của công tử Cơ Khánh Phủ, cháu nội của Lỗ Hoàn công, vị vua thứ 12 của nước Lỗ. Nguyên sau khi Lỗ Trang công qua đời, cha ông là Khánh Phủ làm loạn tranh ngôi nhưng bất thành, bị bức tử. Tuy nhiên gia tộc của Khánh Phủ không bị tuyệt diệt. Lỗ Hi công sau khi lên ngôi, phong cho Công tôn Ngao ở đất Thành, lập ra Trọng tôn thị, cùng với hai thế lực của Quý tôn thị và Thúc tôn thị, trở thành Tam Hoàn của nước Lỗ. Sự nghiệp. Năm 645 TCN, Sở Thành vương đem quân tấn công nước Từ, Tề Hoàn công làm bá chủ chư hầu, triệu tập quân 7 nước Tề, Lỗ, Trần, Vệ, Trịnh, Hứa, Tào đánh lui quân Sở, cứu nước Từ. Trọng tôn Ngao dẫn quân hội với các nước cứu Từ, rồi hội chư hầu cùng các nước ở đất Mẫu Khâu. Năm 627 TCN, Lỗ Hi công mất, Chu Tương vương sai Thúc Phục đến dự lễ tang, Trọng tôn Ngao cùng hai con là Trọng tôn Cốc và Trọng tôn Nạn đến tiếp kiến sứ nhà Chu. Thúc Phục nói với Trọng tôn Ngao rằng Cốc là người kế tự Mạnh tôn thị, còn Nạn là người an táng cho cha, và dự đoán sau này họ Mạnh sẽ trở nên cường thịnh. Mùa đông năm đó, Trọng tôn Ngao đi sứ nước Tề. Năm sau, nhân Tấn Tương công đánh nước Vệ, Mạnh Mục bá hội cùng Tống Thành công, Trần Cung công và Trịnh Văn công không thần phục nước Tấn nữa. Trọng tôn Ngao lấy con gái nước Cử là Đái Kỉ sinh Trọng tôn Cốc, lại lấy em gái của Đái Kỉ là Thanh Kỉ sinh Trọng tôn Nạn. Nhưng Đái Kỉ chết trước ông, nên ông đến nước Cử dâng sính lễ và được người nước Cử gả Thanh Kỉ cho. Cũng trong lần đi đó, Trọng tôn Ngao cũng cầu hôn một người con gái nước Cử cho em là Tương Trọng. Năm 620 TCN, nước Từ đem quân đánh nước Cử, nước Cử cầu cứu nước Lỗ, Trọng tôn Ngao đem quân cứu Cử, đồng thời thay Tương Trọng đón Cử nữ sang. Tuy nhiên ông say mê sắc đẹp của Cử nữ, và hai người lén thông dâm với nhau. Tương Trọng tức giận, xin Lỗ Văn công giúp binh đánh Trọng tôn Ngao, Lỗ Văn công ban đầu đồng ý nhưng sau đó Thúc Trọng Huệ bá can ngăn, nên Lỗ Văn công hoà giải cho anh em Trọng tôn Ngao, và bắt Trọng tôn Ngao trả Cử nữ về nước. Năm 619 TCN, Chu Tương vương qua đời, Trọng tôn Ngao đến điếu tang, sau phải trốn sang nước Cử để gặp Cử nữ. Người nước Lỗ lập con ông là Trọng tôn Cốc thế tập. Trọng tôn Ngao ở nước Cử sinh được hai con với Cử nữ, sau nhớ cố quốc, nhờ Trọng tôn Cốc giúp mình về nước. Tương Trọng nghe tin, bắt ông không được tham gia chính sự nữa mới cho về. Ông đành phải chấp nhận để về nước. Tuy nhiên chỉ hai năm sau lại trốn sang nước Cử. Năm 613 TCN, ông lại nhờ Trọng tôn Nạn xin cho mình trở về, tuy nhiên tới tháng 9 năm đó đi tới nước Tề thì bị bệnh mất. Mãi tới năm 612 TCN, thi hài ông mới trở về nước và làm lễ an táng.
1
null
The Sims 3 là một trò chơi chiến lược mô phỏng cuộc sống do The Sims Studio phát triển và được phát hành bởi Electronic Arts vào năm 2009. Đây là trò chơi tiếp theo sau "The Sims 2". Trò chơi ra mắt lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 6 năm 2009 trên OS X và Windows. "The Sims 3" được phát hành cho các hệ máy cầm tay và điện thoại thông minh vào ngày 26 tháng 10 năm 2010, bao gồm PlayStation 3, Xbox 360, Android, iOS và Nintendo DS rồi sau đó là Wii vào ngày 15 tháng 11 năm 2010. Phiên bản dành cho Windows Phone được phát hành trên Windows Phone Store vào ngày 15 tháng 10 năm 2010 với giá 6.99 đô la. Ngoài ra còn có một phiên bản dành cho Nintendo 3DS phát hành ngày 27 tháng 3 năm 2011, với tư cách là một trong những tựa game đầu tiên trên hệ máy này. Trò chơi cũng đã được phát hành trên điện thoại di động. "The Sims 3" ngay lập tức trở nên thành công với 1.4 triệu bản được bán ra trong tuần đầu tiên. Giới phê bình chủ yếu đưa ra những đánh giá tích cực. "The Sims 3" nhận được 86/100 điểm từ Metacritic. Trò chơi đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới từ khi được phát hành năm 2009, trở thành một trong những trò chơi điện tử bán chạy nhất mọi thời đại. Lối chơi. "The Sims 3" được xây dựng dựa trên cùng một ý tưởng với các tựa game tiền nhiệm. Người chơi điều khiển các Sim của mình trong những hoạt động và mối quan hệ tương tự như đời thực. Đây là một lối chơi mở và bất định. Nhà ở và khu vực lân cận của Sim nằm tất cả trong một bản đồ nhất định. Một trong những sự thay đổi lớn nhất của trò chơi là việc sử dụng các rabbit-hole. Sim không được phép khám phá hầu hết các tòa nhà trong thành phố; thay vào đó, chúng chỉ đơn giản là biến mất vào đó trong một khoảng thời gian nhất định, người chơi sẽ được chọn lựa việc gì sẽ xảy ra ở đó thông qua một thông báo. "The Sims 2" sử dụng hệ thống các Wants và Fears. Điều này được thay thế bởi hệ thống các Wish trong "The Sims 3". Hoàn thành một wish đóng góp vào điểm Lifetime Happiness của cũng như tâm trạng của Sim. Trong "The Sims 2", các Want và Fear cũng ảnh hưởng đến điểm Aspiration của Sim. Trong "The Sims 3", điều này bị loại bỏ hoàn toàn và được thay thế bởi các "Moodlet", yếu tố làm tăng hoặc giảm mức Motivation. Moodlet có thể được gây ra bằng các hoạt động thể chất, ví dụ như việc thưởng thức một bữa ăn ngon hoặc sự thoải mái khi ngồi trên một chiếc ghế tốt, cũng như các hoạt động tinh thần như nụ hôn đầu hay một cuộc chia tay. Hầu hết các moodlet kéo dài trong một khoảng thời gian cố định, nhưng một số moodlet tiêu cực có thể được chữa khỏi, còn một số moodlet tích cực thì dựa vào môi trường xung quanh cũng như các đặc điểm tính cách của Sim. Trò chơi bao gồm một tính năng tùy chọn gọi là "Story Progression" cho phép tất cả các Sim trong khu vực lân cận tự động thực hiện các hoạt động như thể người chơi đang điều khiển chúng, chẳng hạn như kết hôn, tìm việc làm, thăng tiến trong công việc, sinh con, chuyển đến ngôi nhà mơ ước hay rời khỏi khu vực đó. Sim sống trong một khoảng thời gian cố định (mà người chơi có thể điểu chỉnh) và trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc đời từ sơ sinh đến tuổi già. Sim có thể qua đời vì tuổi già hoặc do nhiều nguyên nhân như chết cháy, chết đói, chết đuối, bị điện giật cũng như do lời nguyền của Xác ướp (bản mở rộng "World Adventures"), thiên thạch (bản mở rộng "Ambitions") và đói khát (bản mở rộng "Late Night" - đối với ma ca rồng). Một trong những điểm mới đáng chú ý trong lối chơi là các Opportunity, những cơ hội mà Sim có thể hoàn thành để nhận được phần thưởng. Những thử thách này xuất hiện một cách ngẫu nhiên dựa trên nhiều yếu tố trong lối sống của Sim như các mối quan hệ, kỹ năng và công việc. Các Career opportunity như làm thêm giờ có thể dẫn đến việc tăng lương hoặc một số tiền thưởng. Các Skill opportunity bao gồm những yêu cầu của hàng xóm muốn Sim giải quyết một vấn đề nào đó bằng kỹ năng của mình. Nếu một opportunity có liên quan đến trường học của Sim, phần thường có thể là kết quả học tập được cải thiện. Tạo một Sim (CAS). Việc tạo một Sim (Create a Sim - CAS) trong trò chơi cho phép nhiều tính năng hơn so với "The Sims 2". Người chơi có nhiều lựa chọn hơn về các đặc điểm trên cơ thể và có thể tạo nên nhiều kiểu tóc khác nhau cho Sim. Người chơi còn có thể chọn giày dép cho Sim, một tính năng chỉ có trên phiên bản dành cho các hệ máy cầm tay ở "The Sims" và The "Sims 2". Có rất nhiều kiểu tóc, phụ kiện đi kèm và mũ nón. Người chơi có thể chọn ra một kiểu tóc riêng cho từng bộ trang phục. Có tất cả tám màu tóc nhưng người chơi có thể tùy chỉnh màu chân tóc, ngọn tóc và highlight bằng công cụ paintbrush. Những kiểu tóc mà người chơi tạo ra có thể được lưu lại để có thể tái sử dụng hoặc chia sẻ lên The Sims 3 Exchange cho những người chơi khác. So với những tựa game trước đó, rất nhiều thứ có thể được điều chỉnh, chẳng hạn như thay vì chỉ chọn một kiểu mũi có sẵn, người chơi có thể sử dụng chế độ nâng cao để thay đổi chóp mũi và sống mũi. Người chơi không thể cho Sim mặc nhiều lớp trang phục nhưng lại có thể tùy chỉnh từng lớp của những trang phục có sẵn. Việc click chuột vào một phần nào đó trên cơ thể Sim sẽ đưa người chơi đến bảng lựa chọn của phần cơ thể đó. Độ dài của lông mi, giày dép, tất, cơ bắp và cân nặng của Sim cũng có thể được điều chỉnh. Bản mở rộng "" có thêm thanh điều chỉnh cỡ ngực và độ nét của cơ bắp. Người chơi cũng có thể đặt tên, chọn tuổi và màu da cho Sim. Có tất cả sáu màu da nhưng chỉ có 3 trong số đó là giống với đời thực, còn lại bao gồm xanh lá cây, đỏ và xanh dương. Chiều cao của Sim vãn không thể thay đổi. Trong "The Sims 2", người chơi chỉ có thể lựa chọn một trong hai kiểu cơ thể: bình thường và béo. Kiểu thứ ba - khỏe mạnh - chỉ có thể đạt được trong khi chơi. Tuy nhiên, trong "The Sims 3", cân nặng của Sim có thể được tự do điều chỉnh (ngoại trừ trẻ sơ sinh). Trong quá trình chơi, Sim sẽ giảm cân nếu tập thể thao hoặc tăng cân nếu ăn quá nhiều. Ở mục quần áo, người chơi có thể chọn trang phục cho Sim của mình. Có 5 kiểu trang phục bao gồm đồ mặc hàng ngày, đồ mặc trong những dịp trang trọng, đồ ngủ, đồ tập thể thao và đồ bơi. Kiểu thứ 6 nằm trong bản mở rộng "Seasons" bao gồm những trang phục ngoài trời dành cho các điều kiện thời tiết khác nhau chẳng hạn như áo mưa. Các loại trang phục trong mỗi kiểu bao gồm áo, quần, bộ, giày dép, kính, hoa tai, găng tay, vòng tay, nhẫn và tất. Trang phục của Sim có thể được điều chỉnh trong chi chơi bằng cách sử dụng tủ quần áo. Sim trưởng thành còn có thể điều chỉnh bộ trang phục mình mặc khi đi làm. Người chơi có thể thay đổi màu sắc và họa tiết trên quần áo và phụ kiện bằng công cụ Tạo phong cách (Create a Style). Trẻ sơ sinh không có đồ tập thể thao, đồ bơi và các phụ kiện. Người chơi có thể lựa chọn bất kỳ đặc điểm tính cách có sẵn nào trong danh sách, cũng như món ăn, thể loại âm nhạc và màu sắc ưa thích của Sim. Giọng nói của Sim cũng có thể được điều chỉnh. Người chơi còn có thể chọn cho Sim một điều ước trọn đời (lifetime wish), mục tiêu mà Sim sẽ phấn đấu cả đời để đạt được (ngoại trừ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và thiếu niên). Bản mở rộng "Late Night" cũng như bản vá 1.7 thêm vào các cung hoàng đạo, khiến Sim trở nên thân thiện hơn với những Sim khác có cung phù hợp. Các kỹ năng. Các kỹ năng trong trò chơi bao gồm Logic, Nấu ăn, Hội họa, Làm vườn, Viết lách, Ghi-ta, Thể thao, Độ khéo léo, Giao tiếp và Câu cá. Một số kỹ năng mới được thêm vào trò chơi thông qua các bản mở rộng. Khi Sim đạt đến cấp độ 10 của một kỹ năng nào đó, chúng sẽ nhận được một giấy chứng nhận trong hòm thư để treo lên tường hoặc bán đi với giá 1000 Simoleon. Hội họa, Viết lách và Ghi-ta đã trở thành những kỹ năng khác nhau thay vì được gộp chung trong kỹ năng "sáng tạo" như "The Sims" và "The Sims 2". Những bức tranh mà Sim vẽ chịu ảnh hưởng bởi tính cách của chúng. Sim có thể nâng cao các kỹ năng của mình bằng cách luyện tập (chơi ghi-ta, viết sách, vân vân), đọc sách có liên quan đến kỹ năng hoặc tham gia một khóa học. Một số khả năng mà Sim có được là nhờ vào các kỹ năng. Người chơi sẽ không thể nhìn thấy một kỹ năng nào đó trong bảng điều khiển Sim cho đến khi Sim đạt cấp độ 1. Mỗi kỹ năng có một thanh riêng với những chi tiết về cấp độ, số liệu, thử thách cũng như một số thông tin đặc biệt khác. Có nhiều thử thách dành cho mỗi kỹ năng, hoàn thành chúng sẽ giúp Sim nhận được những phần thưởng. Các nghề nghiệp. Nhiều nghề nghiệp có từ "The Sims" và "The Sims 2" tiếp tục có trong "The Sims 3". Tất nhiên cũng có những nghề nghiệp mới. Sim có thể tìm việc làm thông qua báo và máy tính hoặc xin việc làm ngay tại tòa nhà mà mình muốn làm việc (mọi nghề nghiệp đều có một tòa nhà riêng trong vùng lân cận). Sim cũng có thể kiếm sống tại nhà bằng cách vẽ tranh, viết sách, chơi ghi-ta hoặc trồng rau và hoa quả. Ngoài ra Sim còn có thể đầu tư góp vốn vào việc kinh doanh của người khác để nhận được một phần lợi nhuận. Nếu Sim không muốn theo đuổi một nghề nghiệp toàn thời gian, họ có thể làm những công việc bán thời gian tại một số địa điểm trong thành phố. Công việc bán thời gian được trả lương ít hơn và không tạo ra các Career opportunity. Sim ở độ tuổi thiếu niên và trung niên cũng có thể làm một công việc bán thời gian. Sự thăng tiến trong công việc vẫn dựa vào tâm trạng và kỹ năng của Sim, nhưng thêm vào đó là những yếu tố như mối quan hệ với đồng nghiệp/ông chủ và thậm chí là một số mục tiêu nhất định có thể được thực hiện. Người chơi cũng có thể tự quyết định hiệu quả công việc của Sim. Một tính năng mới trong "The Sims 3" là Sim có thể chọn một hướng đi nào đó trong sự nghiệp của mình (chẳng hạn như một Sim theo nghề Âm nhạc có thể lựa chọn trở thành nghệ sĩ nhạc thính phòng hoặc ca sĩ nhạc rock). Bản mở rộng "" bao gồm những nghề nghiệp cho phép người chơi trực tiếp điều khiển Sim làm việc, cũng như đăng ký ở Tòa thị chính rằng Sim tự kinh doanh. Các nghề nghiệp trong trò chơi gốc bao gồm Kinh doanh, Ẩm thực, Tội phạm, Thi hành Luật pháp, Y tế, Quân sự, Âm nhạc, Chính trị, Khoa học và Thể thao Chuyên nghiệp. Các nghề nghiệp trong bản mở rộng "Ambitions" bao gồm Cứu hỏa, Thợ săn Ma, Thám tử, Kiến trúc sư và Nhà thiết kế Thời trang. Các công việc bán thời gian bao gồm nhân viên bán hàng ở hiệu sách hoặc siêu thị, tiếp tân hoặc chuyên viên ở spa và người đào huyệt. Nếu Sim là một ngôi sao nhạc Rock, các Sim khác sẽ nhận ra và phản ứng lại. Cũng tương tự như vậy nếu Sim đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp. Các nghề nghiệp và công việc bán thời gian trả lương theo giờ chứ không phải theo ngày. Sim làm các nghề nghiệp trong "Ambitions" sẽ kiếm được tiền sau khi thực hiện xong một công việc bên cạnh khoản thù lao hàng tuần. Các NPC như người giúp việc hoặc thợ sửa chữa, khi được hỏi về nghề nghiệp của mình bởi một Sim, sẽ trả lời là nghề Giúp việc và Sửa chữa, nhưng nếu chuyển vào một hộ gia đình thì họ sẽ trở nên thất nghiệp. Cho đến nay, người chơi không thể tham gia hầu hết nghề nghiệp của các NPC. Các thế giới. Các vùng lân cận (neighborhood) nay chính thức được gọi là 'thế giới' (world), có thể là do việc sử dụng công cụ Tạo thế giới (Create a World) của EA. Các thế giới có thể được khám phá một cách thoải mái và chịu ảnh hưởng bởi một cơ chế mới gọi là "story progression". Thế giới chính trong trò chơi là Sunset Valley, một thế giới khác tên là Riverview có thể được tải về miễn phí. Tất cả các bản mở rộng từ trước đến nay (trừ và ) đều bao gồm một thế giới mới và có thể được mua tại Cửa hàng The Sims 3. Công cụ Tạo thế giới cho phép người chơi tạo ra những vùng lân cận cho riêng mình với những dạng địa hình tương tự như SimCity 4. Một bản vá phát hành cùng lúc với "Ambitions" còn cho phép người chơi thay đổi những vùng lân cận có sẵn một cách giới hạn. Cho đến nay, Brideport là thế giới có sẵn duy nhất được xếp vào loại thành phố. Còn lại được xem là các vùng ngoại ô. Các chế độ Build/Buy. Các chế độ build và buy đã được thay đổi đáng kể. Những ô vuông trên nền nhà chỉ còn rộng bằng một phần tư so với "The Sims" và "The Sims 2", cho phép người chơi đặt đồ vật một cách thoải mái hơn. Bên cạnh đó, đồ vật cũng có thể được đặt không theo các ô vuông, điều này là không thể trong các tựa game Sims trước đó. Người chơi có thể thay đổi màu sắc và họa tiết của nội thất cũng như các đồ vật khác bằng công cụ Tạo phong cách (Create-a-Style). Một ngôi nhà có thể cao tối đa 5 tầng và có tối đa 4 tầng hầm. Chế độ build chủ yếu được dùng để xây dựng và cấu tạo ngôi nhà với nhiều chức năng như dựng và sơn tường, thêm cửa và cửa sổ, lát nền nhà, đặt nền móng, thêm các cột chống, tạo bể bơi, nâng cao hoặc hạ thấp địa hình, tạo ao hồ, thiết kế vườn và cảnh quan, đặt lò sưởi, thêm tầng cho ngôi nhà, đặt cầu thang và thêm mái. Một số bản mở rộng thêm vào chế độ build nhiều tính năng như thiết kế trần nhà và địa hình. Người chơi không thể xây dựng hoặc đặt đồ vật ngoài giới hạn của khu đất. Tường và nền móng không thể nằm trên đường viền giới hạn. Chiều cao của tường bằng độ dài 3 ô vuông nền nhà. Trong chế độ buy, người chơi có thể mua các món đồ có trong danh mục đồng thời sắp xếp hoặc bán những món đồ có trong khu đất. Chế độ này chủ yếu tập trung vào nội thất và đồ dùng gia đình. Trò chơi tiếp tục bao gồm một tính năng có từ "The Sims 2", đó là công cụ eyedropper, giúp người chơi sao chép một họa tiết nào đó hoặc tạo bản sau của các đồ vật. Kho đồ của gia đình là nơi chứa những đồ vật quá lớn đối với Sim. Khi gia đình của Sim chuyển nhà, nếu người chơi lựa chọn "đóng gói đồ đạc" thì tất cả mọi đồ vật trong ngôi nhà hiện tại sẽ được đưa vào kho đồ của gia đình để chuyển đến ngôi nhà mới. Trong một số trường hợp, chẳng hạn như một vụ cháy hay vụ trộm, các chế độ build và buy có thể bị vô hiệu hóa để ngăn không cho người chơi thay đổi khu đất, khiến sự kiện đó không thể tiếp tục xảy ra. Sau khi sự kiện đó kết thúc, các chế độ này sẽ hoạt động trở lại. Khi đang ở trong các chế độ build và buy, người chơi có thể trả lại một món đồ nào đó và nhận được đúng số tiền bỏ ra để mua bằng công cụ undo. Tuy nhiên, tất cả mọi đồ vật đều sẽ bị khấu hao 10% giá trị một khi người chơi thoát khỏi các chế độ build và buy. Tạo thế giới. Ngày 29 tháng 10 năm 2009, Electronic Arts giới thiệu công cụ Tạo thế giới (Create a World - CAW), cho phép người chơi tạo cho mình những thành phố riêng để sử dụng trong trò chơi. Người chơi có thể tùy chỉnh các khu đất, thiết kế địa hình, đường sá, cây cối và những đặc điểm khác. Người chơi cũng có thể đăng tải các thế giới của mình lên "The Sims 3 Exchange" để những người chơi khác tải về. Công cụ này được ra mắt vào ngày 16 tháng 12 năm 2009 và có thể được tải về với dung lượng 156MB nhưng chỉ tương thích với hệ điều hành Windows. Phát triển. Electronic Arts lần đầu tiên công bố "Sims 3" vào ngày 19 tháng 3 năm 2008. Trò chơi được phát triển tại The Sims Studio ở Redwood Shores, California. Trong bản mở rộng thứ bảy của "The Sims 2", "", một sự kiện xảy ra trong đó phiên bản Sim của Rod Humble, giám đốc sản xuất của tựa game The Sims, tặng cho Sim của người chơi một hộp quà. Khi mở ra, gia đình của Sim nhận được một chiếc máy tính với "The Sims 3" trong đó. Sim có thể chơi "The Sims 3" trên máy tính hay máy chơi điện tử cầm tay. Giống như tất cả các trò chơi khác trong "The Sims 2", "The Sims 3" là một đoạn phim lặp đi lặp lại trên màn hình máy tính của Sim. Ngày 15 tháng 7 năm 2008, đoạn phim giới thiệu đầu tiên của "The Sims 3" xuất hiện trên trang web chính thức cùng với 12 bức ảnh chụp màn hình. 4 trong số này sau đó bị gỡ bỏ. Trò chơi "Spore" cũng đi kèm với tờ rơi quảng cáo cho "The Sims 3" với các thông tin về trò chơi. Ngày 31 tháng 10 năm 2008, hai đoạn trailer được Electronic Arts ra mắt với một phiên bản hài hước của cuộc bầu cử Tổng thống năm 2008 ở Mỹ, trong đó xuất hiện các ứng cử viên John McCain và Barack Obama cũng như các liên danh tranh cử Sarah Palin và Joe Biden. Trong bản mở rộng của "The Sims 2", "", trong số những đồ vật mới được thêm vào có áp phích chứa logo và những bức tranh từ ảnh chụp màn hình của "The Sims 3". Người chơi cũng nhận được một đoạn mã và địa chỉ Internet để tải về những trang phục có logo của trò chơi. Ngày 8 tháng 5 năm 2009, EA thông báo rằng "The Sims 3" đã hoàn thành công đoạn thử nghiệm và sẽ bắt đầu được sản xuất để phát hành vào tháng 6 năm 2009. Ngày 15 năm 5 năm 2009, EA ra mắt một số ứng dụng tương tác trực tuyến trên trang web của "The Sims 3", bao gồm 'SimFriend' (cho phép người dùng chọn cho mình một người bạn Sim ảo), 'SimSocial' (cho phép người dùng tạo Sim trực tuyến và phiêu lưu cùng chúng) và 'SimSidekick' (cho phép người dùng duyệt web cùng Sim). Hai tuần trước khi trò chơi được phát hành, một phiên bản bất hợp pháp đã bị rò rỉ lên mạng. EA cho rằng đó là một phiên bản "nhiều lỗi, chưa hoàn thiện" và khẳng định hơn một nửa trò chơi bị thiếu cũng như người chơi dễ gặp phải lỗi. Trò chơi được báo cáo là đã bị lưu hành một cách bất hợp pháp nhiều hơn cả "Spore", tựa game bị vi phạm bản quyền nhiều nhất năm 2008. Quảng bá. Tháng 4 năm 2009, Electronic Arts bắt đầu đăng các biển quảng cáo ở nhiều khu vực để quảng bá trò chơi, đáng chú ý là quảng trường Thời đại ở thành phố New York. Chi phí dành cho những biển quảng cáo này được ước tính vào khoảng 10 triệu đô la một tháng. Chiến dịch quảng bá này đã rất thành công, "The Sims 3" bán được 1.4 triệu bản trong tuần đầu tiên, phá vỡ kỉ lục trong lịch sử các trò chơi của EA. Ngày 23 tháng 3 năm 2009, "The Sims 3" được giới thiệu trong một tập phim "One Tree Hill" trên kênh CW. Tập phim bắt đầu với một phiên bản của "One Tree Hill" được tái hiện trong "The Sims 3", sau đó chuyển cảnh sang Tree Hill trong đời thực. Trong suốt tập phim, phiên bản Sims của các nhân vật nổi tiếng trong "One Tree Hill" xuất hiện, bao gồm Dan (Paul Johansson), Lucas (Chad Michael Murray) và Peyton (Hilarie Burton). Phiên bản "The Sims 3" này của các nhân vật có thể được tải về từ trang web chính thức của CW. Ngày 19 tháng 4 năm 2009, Target độc quyền phát hành đĩa quảng bá "The Sims 3", bao gồm áp phích của ban nhạc Ladytron, nhạc nền của "The Sims 3" và một phiếu giảm giá 5 đô la. Ngày 14 tháng 7 năm 2012, Ford Motor bắt đầu quảng bá thông qua "Cửa hàng The Sims 3" bằng cách cho phép người chơi tải về chiếc xe hơi mới nhất của họ, Ford Fiesta Mark VI. Chiếc xe cũng đi kèm với một bộ sưu tập các biển chỉ đường. Ngày 27 tháng 10 năm 2010, chiếc Fiesta Hatchback được cập nhật. Tiếp đó, chiếc Ford Focus có thể được tải về từ ngày 8 tháng 6 năm 2011, đi kèm với áo phông Ford cho cả nam và nữ, một chiếc đài phát thanh và một bộ đèn neon, tất cả đều được sử dụng trong trò chơi. Những nội dung này chỉ dành cho các hệ máy Mac, Xbox và PlayStation. Âm nhạc. Nhạc nền của "The Sims 3" được sáng tác bởi Steve Jablonsky và được thu âm cùng Hollywood Studio Symphony tại Newman Scoring Stage ở 20th Century Fox. Âm nhạc cho các đồ vật trong trò chơi như đài phát thanh và đàn ghi-ta được sản xuất bởi Darrell Brown, Rebeca Mauleon và Peppino D'Agostino. Các âm thanh khác được sản xuất bởi APM Music. Hai album đã được phát hành: "The Sims 3 Soundtrack" (bao gồm nhạc nền của trò chơi) và "The Sims 3 – Stereo Jams" (bao gồm âm nhạc từ các đài phát thanh trong trò chơi). Tất cả các bài hát trong "Stereo Jams" đều là tiếng Simlish. Biện pháp hạn chế sao chép. Một vài tựa game khác trên PC của EA trong cùng khoảng thời gian này như "Spore" và "Dead Space" sử dụng chương trình hạn chế sao chép SecuROM để yêu cầu xác thực trực tuyến và giới hạn số lần một người chơi có thể cài đặt trò chơi trong 5 lần. Dù được phỏng đoán là "The Sims 3" cũng sẽ sử dụng hệ thống này, ngày 26 tháng 3 năm 2009 giám đốc sản xuất Rod Humble cho biết "The Sims 3" sẽ sử dụng biện pháp bảo vệ truyền thống giống như "The Sims 2" và không cần xác thực trực tuyến để cài đặt. Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế dựa trên SecuROM trong phiên bản "Digital Download" của trò chơi, giới hạn người chơi trong 5 lần xác thực trực tuyến trên 5 máy khác nhau. Người chơi cũng cần phải có một chuỗi mã hợp lệ để có thể tải về các nội dung từ trang web chính thức. Sự trì hoãn. Ngày 3 tháng 2 năm 2009, "The Sims 3" được thông báo là sẽ bị lùi ngày phát hành từ 20 tháng 2 năm 2009 đến 2 tháng 6 năm 2009 tại Mỹ và 5 tháng 6 năm 2009 tại Anh. John Riccitiello, tổng giám đốc điều hành của Electronic Arts, cho biết "Với Sims 3, chúng tôi sẽ dời tựa game này đến ngày 2 tháng 6 để có thêm thời gian tiến hành chiến dịch quảng bá toàn cầu mà nó xứng đáng có được." Grant Rodiek, đồng sản xuất của "The Sims 3", nói: Phát hành. EA Singapore tổ chức một bữa tiệc lớn nhằm khởi động "The Sims 3" vào ngày 2 tháng 6 năm 2009 tại trung tâm thương mại Iluma ở Singapore.. Ở Sydney, Úc, một sự kiện thời trang được tổ chức vào ngày 4 tháng 6 năm 2009 bởi EA Australia với một màn biểu diễn của Jessica Mauboy. Trò chơi được phát hành dưới hai phiên bản tiêu chuẩn và Collector's Edition. Cả hai đều đi kèm một phiếu giảm giá trị giá 1000 Sim Point có thể được dùng tại "Cửa hàng The Sims 3". Phiên bản tiêu chuẩn chỉ bao gồm trò chơi gốc, còn phiên bản Collector's Edition ngoài trò chơi gốc còn bao gồm một USB Plumbob 2GB có chứa hình nền máy tính và màn hình chờ cũng như bài hát chủ đề của trò chơi dưới dạng MP3, một móc khóa Green Carabiner, một chiếc xe hơi thể thao phong cách châu Âu trong trò chơi, một sách hướng dẫn và một bộ hình dán Plumbob. Một đĩa CD với những thông tin về "The Sims 3" cũng được phát hành. Điện thoại thông minh. Một phiên bản của "The Sims 3" được phát hành trên các hệ điều hành iOS, Android, Bada, Blackberry OS và Windows Phone vào ngày 2 tháng 6 năm 2009. Khi tạo một Sim, các Lifetime Wish được thay thế bởi các Persona, điều quyết định Sim sẽ có lifetime wish nào vì đây là yếu tố quan trọng nhất trong tính cách của Sim. Sim khởi đầu với một ngôi nhà nhỏ, nó có thể được mở rộng sau mỗi 5 ngày nếu người chơi có đủ tiền. Hệ máy cầm tay. "The Sims 3" được phát hành trên các hệ máy cầm tay vào ngày 26 tháng 10 năm 2010 dành cho PlayStation 3, Xbox 360 và Nintendo DS cũng như Wii vào ngày 15 tháng 11 năm 2010 và Nintendo 3DS vào ngày 25 tháng 3 năm 2011. Người chơi có thể đăng lên cũng như tải về nhiều nội dung thông qua Xbox Live và PlayStation Network. Trò chơi nhận được những đánh giá từ trung bình đến khá tích cực. Sự đón nhận. EA thông báo rằng trong tuần đầu tiên, "The Sims 3" bán được 1.4 triệu bản, trở thành tựa game PC thành công nhất mà công ty từng thực hiện từ trước đến nay. Theo số liệu của Gfk Australia "The Sims 3" đã trở thành tựa game bán chạy nhất ở Úc từ khi ra mắt cho đến ngày 21 tháng 6 năm 2009. Phản hồi của cả giới phê bình lẫn người chơi đều rất tích cực. Metacritic đưa ra điểm trung bình 86/100 dựa trên 75 bài đánh giá. "PC Gamer" đánh giá "The Sims 3" ở mức 92% cũng như trao tặng trò chơi một huy hiệu Editor's Choice, và gọi trò chơi là "Tựa game "Sims" tốt nhất từ trước đến nay". IGN PC và GameSpot lần lượt cho "The Sims 3" 8.9/10 điểm và 9.0/10 điểm. The Sims 3 đã bán được hơn 10 triệu bản và là tựa game PC bán chạy thứ ba mọi thời đại. Trò chơi xếp thứ 91 trong danh sách "100 tựa game hiện đại hàng đầu" của IGN. Hiện có hơn 13 triệu người thích The Sims 3 trên Facebook. Các phiên bản và add-on. Các bản mở rộng. Các bản mở rộng của "The Sims 3" cung cấp nhiều tính năng và đồ vật mới. Các Stuff pack. Các Stuff pack chỉ bao gồm những đồ vật mới như nội thất, trang phục, kiểu tóc chứ không thêm bất kỳ tính năng nào vào trò chơi. Các Stuff pack tương thích với cả Windows và OS X giống như trò chơi và các bản mở rộng. Cửa hàng The Sims 3. Cửa hàng The Sims 3 là một cửa hàng trực tuyến nơi người chơi "The Sims 3" có thể mua và tải về những nội dung cho trò chơi băng một khoản phí. Cho đến nay, khác với Cửa hàng The Sims 2, Cửa hàng The Sims 3 chỉ có những món đồ độc quyền không thể tìm được ở bất kỳ nơi nào khác. Cửa hàng cũng có những món đồ thuộc các bản mở rộng (chẳng hạn như máy giặt hay bồn tắm nước nóng), giúp người chơi sử dụng những tính năng của chúng mà không cần mua các bản mở rộng. Cửa hàng được cập nhật những món đồ mới hàng tháng. Những món đồ cao cấp như ghế mát xa và chuông gió cung cấp những tính năng hoặc đoạn hoạt cảnh mới cho trò chơi. Cửa hàng sử dụng một hệ thống điểm trong đó người chơi có thể mua thêm SimPoints bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ SimPoints (có thể được mua ở các cửa hàng bán lẻ hoặc trên cửa hàng trực tuyến Origin). Cửa hàng được khởi động vào ngày 4 tháng 6 năm 2009 cùng với ngày phát hành của trò chơi. Người chơi có thể tải về những thứ mình đã mua bằng chương trình khởi động trò chơi hoặc chế độ Cửa hàng ngay trong trò chơi. Khi người chơi mua thêm SimPoints, họ sẽ nhận được một món đồ trong trò chơi. Một số thế giới và thành phố đã được ra mắt trên Cửa hàng The Sims 3: Đây là một điểm khác biệt đáng kể so với hai phần đầu của tựa game, khi mà các món đồ chủ yếu là từ các bản mở rộng, stuff pack và/hoặc do người chơi tự tạo. Phần tiếp theo. VÀo 6 tháng 5 năm 2013, EA đã xác nhận "The Sims 4" sẽ được phát hành vào năm 2014. Vào 22 tháng 10 năm 2013 EA đã thông báo rằng The Sims 4 sẽ được phát hành vào mùa thu năm 2014.
1
null
là một phim hoạt hình công chiếu năm 1991 bộ phim truyền hình phim đạo diễn bởi Isao Takahata, dựa trên manga cùng tên của Okamoto Hotaru và Tone Yuko. Toshio Suzuki sản xuất bộ phim và Studio Ghibli thực hiện. Nó đã được phát hành vào ngày 20 tháng 7 năm 1991 Bài hát chủ đề kết thúc (愛 は 花, 君 は その 種子 Ai wa Hana Kimi wa sono Tane, thắp sáng." Tình yêu là một bông hoa, bạn là hạt giống của nó ") là một bản dịch tiếng Nhật bài hát của Amanda McBroom, " The Rose. " "Chỉ còn là hôm qua" là một trong số các bộ phim hoạt hình tiến bộ ở chỗ nó khám phá một thể loại được cho là bên ngoài lĩnh vực của các đối tượng hoạt hình. Trong trường hợp này thực tế giống như drama cho người lớn, đặc biệt là khán giả nữ. Dù vậy, bộ phim là một sự thành công bất ngờ, thu hút một lượng lớn khán giả trưởng thành cà nam và nữ. Tóm tắt. Bối cảnh trong phim diễn ra vào năm 1982. Nhân vật nữ chính, Taeko, 27 tuổi, là một cô gái sinh ra và lớn lên ở Tokyo. Cô là một viên chức bình thường, sống độc thân và không mấy hứng thú với công việc. Cuộc sống của Taeko trôi qua tẻ nhạt và bình lặng cho đến khi cô xin nghỉ phép một thời gian để về nông thôn giúp anh rể thu hoạch hoa rum (safflower- một loại hoa màu nghệ dùng để nhuộm vải). Trong suốt chuyến đi, những ký ức tuổi thơ về năm cuối tiểu học tràn ngập trong cô. Những mảnh ký ức cùng những việc xảy ra ở vùng quê này đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống tẻ nhạt của Taeko. Ghi chú. Câu chuyện diễn ra trong khu Takase của Yamagata Thành phố, tỉnh Yamagata The Takase Trạm (và cũng có thể Yamadera Trạm) của JNR (hiện tại JR East) Senzan Line là đặc trưng nổi bật, Mặc dù nó đã được xây dựng lại, cảnh quan vẫn còn chủ yếu là không thay đổi. Trong suốt quá trình của bộ phim, nhân vật truy cập vào địa điểm nổi bật, bao gồm cả các điểm đến khu nghỉ mát của núi Zao. Không giống như phong cách điển hình nhân vật hoạt hình Nhật Bản, các nhân vật có cơ mặt và biểu hiện thực tế hơn. Bởi vì điều này, đối thoại đã được ghi nhận đầu tiên (truyền thống ở Nhật Bản là để ghi lại nó sau khi hoàn thành phim hoạt hình) và phim hoạt hình phù hợp với các cuộc đối thoại với các nhân vật, kết quả đáng tin cậy và thực tế hơn lip-sync và biểu hiện trên khuôn mặt. Chỉ qua thời thơ ấu Taeko (trong đó có một phong cách anime điển hình hơn) được hoạt hình trước khi những tiếng nói đã được ghi nhận. Những cảnh thiết lập vào năm 1966 với Taeko 10 tuổi được lấy từ nguồn nguyên liệu. Takahata gặp khó khăn trong việc thích ứng với các manga nhiều tập thành một bộ phim, và vì vậy ông đã phát minh ra tường thuật khung trong đó Taeko cuộc hành trình của người lớn về nông thôn và té ngã trong tình yêu với Toshio. Có một số bài hát Đông Âu (Hungary, Bulgaria và România) lặp đi lặp lại trong chủ đề của bộ phim, đặc biệt trong soundtrack phản ánh lối sống nông dân vẫn còn hiện diện trong khu vực và sự tương đồng này thu hút với cuộc sống nông thôn ở Nhật Bản. Bài hát dân ca Đông Âu này liên tục xuất hiện trong phim. Ví dụ, "Frunzuliţă Lemn Adus Cântec De Nuntă" (vẫy Sông Xanh Wedding Lá) România dân ca được viết bởi Gheorghe Zamfir và xảy ra trong bộ phim nhiều lần trong các bức ảnh phong cảnh, ví dụ đến tại các trang trại. Dụng cụ sử dụng bao gồm nổi bật nai đã chơi Zamfir mình, cimbalom và violin <ref name="imdb.com">
1
null
Scott Thompson (sinh ngày 25 tháng 2 năm 1965) là một diễn viên. Ông nổi tiếng với mái tóc đỏ, hài kịch đạo cụ và hài kịch dựa vào phong cách tự ti của mình cười. Carrot Top diễn xuất chính mình trong tập Bradley Cooper "Between Two Ferns" Zach Galifinakis trong vai Webisode đầu tiên của mình. Thời trẻ. Carrot Top, tên lúc sinh Scott Thompson ở Rockledge, Florida, sống ở Cocoa, Florida lúc còn trẻ. 1983, anh tốt nghiệp từ Trường trung học Cocoa và năm đó nhập học Đại học Atlantic Florida ở Boca Raton. Khi là sinh viên năm nhất tại Atlantic Florida, anh diễn tấu hài lần đầu với Josh Abelson. Hai tháng sau, anh diễn ở khu trường mình tại một đếm diễn tự do. Nhại lại. Carrot Top đã thường được nhại lại trong các chương trình, như "Mr. Show" (trong đó David Cross diễn vai "Blueberry Head"), "King of the Hill" ("Celery Head"), "Family Guy" ("Carrot Scalp;", anh cũng diễn vai khách trong sô diễn chính mình trong "Petergeist"), "South Park" ("Carrot Ass"), "MADtv", "Phineas và Ferb" ("Broccoli Top"), "The Suite Life on Deck" ("Parsnip Top"), và "Scrubs".
1
null
Rodrigo Sebastián Palacio Alcalde (; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1982) là một cầu thủ bóng đá người Argentina hiện đang chơi cho câu lạc bộ Bologna ở vị trí hộ công và tiền đạo cánh. Anh là con trai của José Ramón Palacio, một cựu cầu thủ của câu lạc bộ Olimpo de Bahia Blanca trong thập niên 1980. Là người gốc Tây Ban Nha, Palacio được cấp hộ chiếu Tây Ban Nha và anh được tính là một cầu thủ thuộc EU. Sự nghiệp cầu thủ. Boca Juniors. Tháng 12 năm 2007, Palacio cùng Boca Juniors tham dự FIFA Club World Cup 2007. Ngày 12 tháng 12, Anh góp mặt trong trận thắng 1–0 của Boca trước Étoile du Sahel. Ngày 16 tháng 12, anh ghi bàn cân bằng tỉ số 1–1 trong trận gặp A.C. Milan, tuy vậy đội bóng đến từ Ý vẫn giành chiến thắng chung cuộc 4–2. Kết thúc giải, Palacio được trao quả bóng đồng và xếp thứ 3 chỉ sau 2 cầu thủ của Milan là Clarence Seedorf và Kaká. Phong độ của Palacio tại Copa Libertadores 2008 đã giúp Boca tránh khỏi việc bị loại ngay từ vòng bảng với cú đúp lập được trong trận thắng câu lạc bộ Atlas của Mexico 3–0 trên sân nhà và ghi bàn thắng thứ 3 trong chiến thắng kịch tính 4–3 trước Colo-Colo. Ngày 7 tháng 5 năm 2008, Palacio mở tỉ số trong trận thắng 2–1 lượt về vòng 1/16 trước Cruzeiro. Boca cuối cùng lọt vào đến vòng bán kết và chỉ chịu dừng bước trước Fluminense. Mặc dù dính chấn thương nhỏ, khiến anh phải ngồi ngoài một thời gian ngắn, Palacio vẫn giành được Recopa Sudamericana với 1 bàn ở trận lượt đi và bàn khác trận lượt về, và danh hiệu Torneo Apertura sau khi Boca, San Lorenzo, Tigre kết thúc giải với số điểm bằng nhau, một vòng play-offs quyết định đội vô địch đã được tổ chức tại sân vận động của Racing Club de Avellaneda vào ngày 20 tháng 12 năm 2008. Tại đó, Palacio đã lập công trong trận thắng 3–1 trước San Lorenzo để giúp Boca đoạt danh hiệu. Genoa. Ngày 17 tháng 7 năm 2009, Palacio ký hợp đồng 4 năm với Genoa với phí chuyển nhượng 2,81 triệu € để thay thế cho Diego Milito và giúp đỡ người đồng hương Hernán Crespo. Cùng với Crespo, Palacio còn gặp lại người đồng đội cũ ở Boca Juniors Luciano Figueroa. Trong vài tháng đầu, Palacio đã bỏ lỡ 2 trận đấu do dính chấn thương mắt cá. Ngày 5 tháng 11, Palacio ghi bàn đầu tiên cho Genoa ở trận thắng Lille OSC 3–2 tại UEFA Europa League 2009–10. Inter Milan. Ngày 22 tháng 5 năm 2012, Chủ tịch Genoa Enrico Preziosi xác nhận rằng Palacio sẽ khoác áo Inter Milan ở mùa giải 2012–13. Anh có trận đấu ra mắt tại vòng loại Europa League gặp câu lạc bộ Hajduk Split. Anh lập cú đúp đầu tiên cho Inter trong trận giao hữu gặp CA Bizertin ngày 18 tháng 8 năm 2012. Sự nghiệp quốc tế. Màn trình diễn của Palacio trong màu áo Boca đã thu hút sự chú ý của huấn luyện viên tuyển Argentina José Pekerman, anh đá trận đầu tiên cho Argentina vào ngày 9 tháng 3 năm 2005 trong trận hòa 1–1 México. Ngày 26 tháng 3 năm 2005 anh góp mặt trong trận thắng Bolivia 2–1 tại vòng loại World Cup. Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Palacio được huấn luyện viên José Pekerman điền tên vào danh sách tham dự World Cup 2006 và ngày 10 tháng 6, anh vào sân thay người ở phút 60 trong trận mở màn vòng bảng thắng 2–1 trước Bờ Biển Ngà. Ngày 15 tháng 6 năm 2008 tại vòng loại World Cup, Palacio vào sân thay người phút 85 và ghi bàn ấn định tỉ số hòa 1–1 trước Ecuador ở phút 93. 3 ngày sau đấy, ngày 18 tháng 6 năm 2008 anh lại được thay vào ở phút 90 trận gặp Brazil, tuy vậy, trận đấu kết thúc với tỉ số 0–0.
1
null
Samir Handanovič (sinh ngày 14 tháng 7 năm 1984) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Slovenia hiện chơi ở vị trí thủ môn. Trước khi chuyển đến Ý, Handanović đã chơi bóng ở quê nhà Slovenia. Năm 2004, anh được Udinese mua lại, nhưng sau vài năm được cho mượn, chơi cho các đội như Treviso, Lazio và Rimini. Handanović trở lại Udinese trước mùa giải 2007–08, nơi anh chơi như một người bắt đầu trong 5 năm tiếp theo. Trong mùa giải tiếp theo, anh cũng lần đầu tiên chơi bóng ở châu Âu, có trận ra mắt tại UEFA Cup. Sau 5 năm thi đấu chính thức và hơn 200 lần ra sân, Handanović gia nhập Inter Milan vào tháng 7 năm 2012 với giá khoảng 19,4 triệu euro. Vào tháng 2 năm 2019, anh ấy được bổ nhiệm làm đội trưởng câu lạc bộ, trong khi vào tháng 9, anh có lần ra sân thứ 300 cho câu lạc bộ, và sau đó tiếp tục lọt vào Chung kết UEFA Europa League 2020 ở mùa giải đó. Anh ấy đã xuất hiện lần thứ 500 tại Serie A vào tháng 2 năm 2021,  và giành được danh hiệu đầu tiên cùng đội bóng vào tháng 5 năm đó. Trước đây từng đại diện cho đội U-21 Slovenia, Handanović đã có trận ra mắt quốc tế cao cấp cho Slovenia vào năm 2004. Anh ấy đã có 81 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, nhiều thứ hai cho Slovenia và nhiều nhất cho một thủ môn, và chơi ở FIFA World Cup 2010. Được đặt biệt danh là "Người Dơi", nhờ những pha cứu thua xuất thần, anh được coi là một trong những thủ môn xuất sắc nhất trong thế hệ của mình, và là một trong bốn thủ môn không phải người Ý duy nhất được vinh danh là Thủ môn của năm Serie A, giành giải vinh dự ba lần. Là một chuyên gia cản phá quả phạt đền, trong mùa giải Serie A 2010–11, anh đã cản phá tổng cộng sáu quả phạt đền, cân bằng kỷ lục mọi thời đại của giải đấu được thiết lập vào mùa giải 1948–49. Trong mùa giải 2019–20, anh cân bằng kỷ lục ghi nhiều quả phạt đền nhất Serie A của Gianluca Pagliuca với lần dừng chân thứ 24. Ở mùa giải tiếp theo, anh đã phá kỷ lục. Sự nghiệp câu lạc bộ. Sự nghiệp ban đầu. Handanović bắt đầu sự nghiệp của mình tại Slovan và sau đó được chuyển đến Domžale, nơi anh ấy đã trải qua hai mùa giải. Anh được Udinese ký hợp đồng vào mùa hè năm 2004 ở tuổi 20. Tuy nhiên, thời gian đầu tiên của anh với "Friuliani" chỉ tồn tại trong thời gian ngắn vì anh không thể củng cố vị trí của mình trong đội hình xuất phát. Lần ra mắt của anh ấy diễn ra vào ngày 20 tháng 11 năm 2004 trong một trận đấu Coppa Italia với Lecce, nơi anh ấy bị đuổi khỏi sân ở phút 91 vì để thủng lưới sau một pha phạm lỗi với Mirko Vučinić; vì Udinese đã sử dụng cả ba sự thay thế, tiền đạo David Di Michele vào mục tiêu ở vị trí của mình. Tuy nhiên, Vučinić không thể ghi bàn từ chấm phạt đền và Udinese giành chiến thắng 5–4.  Anh có trận ra mắt Serie A vào ngày 15 tháng 5 năm 2005 trong trận hòa 1-1 trên sân nhà trước Sampdoria. Handanović được cho Treviso mượn vào mùa hè năm 2005, nhưng đến tháng 1 năm 2006, anh được trao đổi với Matteo Sereni sang Lazio. Với Treviso, anh nhận thẻ đỏ đầu tiên trong trận đấu với câu lạc bộ tiếp theo của anh, Lazio, vào ngày 18 tháng 9 năm 2005 trong trận thua chung cuộc 3–1 trên sân khách. Trong thời gian thi đấu cho "Biancoceleste", Handanović đã chơi 3 trận và để lọt lưới 6 bàn. Vào ngày 14 tháng 5 năm 2006, trong ngày cuối cùng của mùa giải 2005–06, Handanović, với áo số 24, chơi trận đầu tiên và trận cuối cùng cho Lazio, giữ sạch lưới trước Parma trong chiến thắng 1–0 trên sân nhà. Vào tháng 7 năm 2006, Handanović được cho Rimini mượn, với giá đặt trước là 1,2 triệu euro.  Cũng nhờ những pha cứu thua của anh ấy, Rimini vẫn bất bại trong cả hai trận tranh chức vô địch với Juventus. Câu lạc bộ đứng thứ năm ở Serie B và để thủng lưới ít thứ tư trong giải đấu. Handanović được coi là thủ môn xuất sắc thứ hai của Serie B mùa giải đó, sau Gianluigi Buffon. Vào tháng 6 năm 2007, mặc dù Rimini đã xuất sắc lựa chọn, Udinese cũng loại bỏ lựa chọn này bằng cách trả cho Rimini 250.000 € tiền ròng. Quay lại Udinese. Handanović trở lại Udinese vào mùa hè năm 2007 sau khi Udinese loại bỏ lựa chọn ngược lại để từ chối việc mua lại, nơi anh thay thế Morgan De Sanctis và ký một hợp đồng mới và cải tiến kéo dài đến ngày 30 tháng 6 năm 2012. Mùa giải 2009–10. Bất chấp sự xuất hiện của thủ môn người Venezuela, Rafael Romo, Handanović vẫn giữ được vị trí thủ môn số một. Anh ấy bắt đầu mùa giải thứ tư của mình với tư cách là một cầu thủ Udinese bằng cách chơi trọn vẹn 90 phút trong trận đấu mở màn mùa giải của đội, trận hòa 2–2 trên sân nhà trước Parma. Anh ấy đã giữ nguyên mục tiêu của mình lần đầu tiên trong mùa giải này vào ngày 19 tháng 9 trong trận đấu ngày 4 với Napoli , trận đấu kết thúc với tỷ số hòa không bàn thắng. Trong suốt mùa giải 2009–10, Handanović là cầu thủ được sử dụng nhiều nhất trên sân, tổng cộng 40 lần ra sân, trong đó có 37 lần ra sân. Ở Serie A, anh ấy đã thực hiện tổng cộng 130 pha cứu thua, đây là những pha cứu thua vô giá cho Udinese, đội đã kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 15. Mùa giải 2010–11. Trước khi bắt đầu mùa giải, Handanović đã thay đổi số đội từ 22 thành 1. Đội bắt đầu mùa giải 2010–11 với bốn trận thua trong bốn tuần đầu tiên tại Serie A, khiến Udinese ở vị trí cuối cùng. Handanović giữ sạch lưới đầu tiên của mùa giải vào ngày 26 tháng 9 năm 2010 trong trận hòa không bàn thắng trước Sampdoria, giúp đội bóng này giành được điểm đầu tiên trong mùa giải. Trong trận đấu với Lazio vào tháng 5 năm 2011, anh đã cản phá một quả phạt đền từ Mauro Zárate, quả phạt đền thứ sáu của anh trong mùa giải 2010–11, cân bằng kỷ lục mọi thời đại của giải đấu được thiết lập trong mùa giải 1948–49 cho hầu hết các quả phạt đền trong quá trình thi đấu một mùa duy nhất.  Nhờ những màn trình diễn của mình, anh ấy đã được đặt tên vào Đội hình xuất sắc nhất Serie A cho mùa giải 2010–11. Mùa giải 2011–12. Vào ngày 16 tháng 8 năm 2011, anh chơi trận đấu UEFA Champions League đầu tiên với Arsenal , trong trận lượt đi của vòng play-off , bị đánh bại bởi Theo Walcott ở phút thứ 4 trong trận thua 0-0 trên sân khách tại Emirates .  Trong trận lượt về tại Sân vận động Friuli sau một tuần, Udinese đang dẫn trước sau 50 phút, nhưng Arsenal đã trở lại để đánh bại Handanović hai lần trong khoảng 14 phút và "Bianconeri Friuliani" bị loại với tổng tỷ số 3-1. Handanović đã giữ sạch lưới trong trận đấu mở màn với Lecce , giúp đội giành chiến thắng 0–2 trên sân khách.  Udinese và Handanović bất bại trong bảy trận đầu tiên tại Serie A, và chỉ để lọt lưới một bàn trong khoảng thời gian đó, đây là thành tích phòng ngự tốt nhất ở các giải đấu hàng đầu châu Âu vào thời điểm đó. Inter Milan. Vào ngày 4 tháng 7 năm 2012, Gino Pozzo , con trai của chủ sở hữu Udinese Giampaolo Pozzo xác nhận rằng một thỏa thuận chuyển nhượng Handanović cho Inter Milan đã đạt được với việc Inter trả một khoản tiền mặt được báo cáo là 11 triệu euro  cộng với Davide Faraoni cho các dịch vụ của anh ấy (mà Faraoni được định giá 8 triệu euro);  Vụ chuyển nhượng chính thức được Inter thực hiện năm ngày sau đó, với giá 19,4 triệu euro (bao gồm cả phí khác), mặc dù cả hai câu lạc bộ đã mua lại 50% quyền đăng ký dưới dạng thỏa thuận đồng sở hữu ;  Handanović được tung vào sân để thay thế thủ môn người Brazil Júlio Césarđể đảm nhận vị trí thủ môn được lựa chọn đầu tiên. Handanović đã ký hợp đồng trị giá 2 triệu euro mỗi mùa, cộng với tiền thưởng. Mùa giải 2012–13. Anh ra mắt câu lạc bộ vào ngày 2 tháng 8 năm 2012, trong chiến thắng 3–0 trước Hajduk Split ở vòng sơ loại thứ ba UEFA Europa League 2012–13, sau đó để thủng lưới hai bàn trong trận lượt về để thua 2–0 trên sân nhà. Ngày 2 tháng 8,  nhưng Inter tiến lên với tỷ số chung cuộc 3–2. Vào ngày 17 tháng 8, Handanović bị chấn thương sụn chêm  khiến thời gian bắt đầu chiến dịch Serie A của anh ấy bị trì hoãn cho đến ngày 16 tháng 9, trong chiến thắng 2–0 trước Torino. Handanović đã đánh bại đối thủ Milan trong trận đấu đầu tiên của anh ấy ở trận Derby della Madonnina vào ngày 7 tháng 10, thắng 1–0 trước Inter. Anh có trận đấu thứ 200 tại Serie A trong chiến thắng 2-1 trên sân nhà của Inter trước Napoli. Inter đã bị cầm hòa 1-1 trong trận derby thứ hai vào ngày 25 tháng 2 năm 2013, nhưng Handanović được chú ý vì đã thực hiện một số pha cứu thua trước tiền đạo Mario Balotelli của Milan . Năm 2012, Handanović lần đầu tiên được đưa vào danh sách mười thủ môn hàng đầu thế giới của IFFHS , xếp thứ tám. Sau khi kết thúc mùa giải 2012–13, nhờ những màn trình diễn chắc chắn của mình, Handanović đã được chọn vào Đội hình xuất sắc nhất Serie A lần thứ hai trong sự nghiệp, là thủ môn có nhiều trận ra sân nhất. Anh đã chơi 48 trận trong suốt mùa giải, bao gồm 35 trận ở Serie A và mười trận ở Europa League. Tuy nhiên, mùa giải của Inter đã kết thúc trong thất vọng, sau khi không đạt thứ hạng cao ở bảng Serie A và Europa League, giành vị trí thứ 9 tại giải đấu (vị trí tệ nhất kể từ mùa giải 1993–94 ) và lọt vào tứ kết ở châu Âu. Vào ngày 19 tháng 6 năm 2013, Inter mua lại hoàn toàn Handanović và bán Faraoni cho Udinese với mức phí không được tiết lộ. Vào tháng 6, có thông tin rằng Barcelona của Tây Ban Nha đã đề nghị ký hợp đồng với Handanović với giá 23 triệu euro, đã bị chủ sở hữu của Inter, Massimo Moratti từ chối; Người đại diện của Handanović cũng xác nhận rằng thân chủ của ông sẽ không chuyển đến Barcelona sau khi câu lạc bộ Catalan quyết định giữ lại thủ môn xuất phát đương nhiệm Víctor Valdés thêm một năm nữa. Mùa giải 2013–14. Vào ngày 18 tháng 8 năm 2013, trong trận đấu đầu tiên của Mazzarri, Handanović đã ghi bàn và giữ sạch lưới đầu tiên trong mùa giải trong trận đấu vòng ba Coppa Italia với Cittadella , nơi Inter tiến vào vòng tiếp theo nhờ một Thắng 4–0 trên sân nhà. Handanović đã khởi đầu mùa giải vô cùng ấn tượng, giữ sạch lưới 3 trận trong 4 trận đầu tiên.  Vào ngày 20 tháng 10, trong trận đấu với Torino , anh nhận thẻ đỏ thứ hai trong sự nghiệp vì phạm lỗi với Alessio Cerci ở phút thứ 5; Tuy nhiên, Inter đã chịu đựng và hòa 3–3. Vào ngày 15 tháng 12, Handanović đã cản phá quả phạt đền đầu tiên của mình trước thủ môn "Nerazzurri" trong trận thua 4–2 trước Napoli, cứu một quả phạt đền của Goran Pandev trong hiệp hai. Trong mùa giải 2013–14, Inter trở lại đấu trường châu Âu sau một năm dài vắng bóng, đứng thứ 5 trên BXH với 60 điểm. Anh đá chính trong trận đấu cuối cùng của Javier Zanetti tại San Siro, trong trận đấu mà Inter đánh bại Lazio với tỷ số 4–1 để đảm bảo một suất tham dự vòng play-off Europa League cho mùa giải tiếp theo. Handanović có 14 trận giữ sạch lưới trong 36 lần ra sân trong mùa giải Serie A và để lọt lưới 32 bàn. Mùa giải 2014–15. Inter đã mở đầu mùa giải Serie A 2014–15 với trận hòa không bàn thắng đáng thất vọng trước Torino, khi Handanović cản phá quả đá phạt đền của Marcelo Larrondo. Sau khi cứu được năm quả phạt đền gần nhất ở Serie A, Handanović đã cứu được Yevhen Konoplyanka của Dnipro Dnipropetrovsk vào ngày 27 tháng 11 năm 2014 trong một trận đấu mà Inter đã giành chiến thắng để khẳng định vị trí đầu bảng Europa League của họ khi còn một trận. Đó cũng là lần xuất hiện thứ 100 của anh ấy với "Nerazzurri" trong mọi giải đấu. Handanović đã chơi trận đấu thứ 100 của mình với Inter vào ngày 19 tháng 4 năm 2015 trong trận Derby della Madonnina với Milan , giữ nguyên mục tiêu khi trận đấu kết thúc không bàn thắng.  Anh kết thúc mùa giải thứ ba của mình với Inter bằng cách chơi 40 trận trên mọi đấu trường, bao gồm 37 trận ở Serie A, khi Inter kết thúc ở vị trí thứ tám, một lần nữa không đủ điều kiện tham dự giải châu Âu. Handanović đã có 11 trận giữ sạch lưới ở Serie A, tổng số trận cao thứ ba ở Serie A. Handanović cũng có tỷ lệ sút cứu thua hơn 67%. Vào cuối mùa giải, có thông tin cho rằng Handanović là mục tiêu của đội bóng Premier League Manchester United, nhưng người đại diện của anh ta đã từ chối cơ hội này khi nói rằng thân chủ của anh ta sẽ không chuyển đến câu lạc bộ. Mùa giải 2015–16. Inter Milan bắt đầu mùa giải 2015–16 với chiến thắng 1–0 trên sân nhà trước Atalanta , nơi Handanović giữ sạch lưới đầu tiên trong mùa giải.  Vào ngày 27 tháng 9 năm 2015, trong trận đấu thứ 300 tại Serie A, gặp Fiorentina , Handanović có lẽ là lần xuất hiện tồi tệ nhất của mình khi cho Josip Iličić một quả phạt đền ở phút thứ 3 , sau đó bị Nikola Kalinić đánh bại ba lần trong trận chung kết 1– 4 mất mát. Trận thua đã chấm dứt chuỗi trận bất bại của Inter trong mùa giải 2015-16.  Sau trận đấu, Handanović nói với các phóng viên rằng đó là lỗi của anh ấy về cách kết thúc trận đấu. Vào ngày 27 tháng 10, trong trận đấu với Bologna , Handanović đã có một pha cứu thua quan trọng khi cản phá cú sút của Mattia Destro ở phút 94 để giúp Inter giành chiến thắng 0-1 trên sân Stadio Renato Dall'Ara .  Đó là trận giữ sạch lưới thứ sáu của anh ấy trong mười trận đấu, và là trận thắng đầu tiên kể từ một trận thua và ba trận hòa liên tiếp.  Sau đó, anh gọi nó là pha cứu thua yêu thích nhất của mình trong mùa giải.  Bốn ngày sau, trong trận đấu với Roma , Handanović một lần nữa lại là người quyết định cho đội của mình, thực hiện chín pha cứu thua, trong đó có pha cứu thua bốn ở phút 62, giúp Inter thắng trận 1–0 và vươn lên dẫn trước giải đấu với 24 điểm. Anh ấy đã được chọn Man of the Match cho màn trình diễn của mình. Handanović kết thúc năm 2015 với 26 pha cứu thua quyết định, 11 trận giữ sạch lưới và chỉ để lọt lưới 11 bàn, không thua kém thủ môn nào ở Serie A. Inter cũng kết thúc năm 2015 với ngôi đầu giải. Handanović đã đồng ý gia hạn hợp đồng đến năm 2019, điều này được xác nhận vào ngày 5 tháng 1 năm 2016.  Handanović bắt đầu năm mới với trận giữ sạch lưới trong chiến thắng 0-1 trên sân khách của đội trước Empoli , thực hiện một số pha cứu thua xuất sắc trong suốt trận đấu.  Vào ngày 16 tháng 1 năm 2016, trong một trận đấu trên sân khách với Atalanta , Handanović đã được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất trận cho màn trình diễn "xuất sắc", khi anh thực hiện một số pha cứu thua xuất sắc.  Pha cứu thua của anh ấy ở phút 61, nơi anh ấy quản lý để ngăn chặn nỗ lực của Luca Cigarini từ khoảng trống bằng chân không thuận, được truyền thông châu Âu coi là "cứu thua của mùa giải". Inter kết thúc mùa giải 2015–16 ở vị trí thứ tư, trở lại UEFA Europa League sau một năm vắng bóng. Handanović đã có 111 pha cứu thua và 15 trận giữ sạch lưới trong 36 lần ra sân trong mùa giải Serie A, và để lọt lưới 34 bàn.  Anh ấy gọi là "một sự xấu hổ" khi không thể giành được một suất tham dự UEFA Champions League cho mùa giải tiếp theo. Mùa giải 2016–17. Handanović bắt đầu mùa giải thứ năm tại Inter Milan vào ngày 21 tháng 8 trong trận thua 2–0 trước Chievo .  Anh có trận đấu thứ 150 tại Serie A cho Inter vào ngày 25 tháng 9 trong trận hòa 1-1 trên sân nhà trước Bologna .  Vào ngày 2 tháng 10, trong trận thua 2-1 trước Roma , Handanović đã thực hiện một số pha cứu thua, trong đó có một pha vào lưới Edin Džeko ở phút 86, được giới truyền thông ca ngợi là "pha cứu thua của năm".  Anh ấy là đội trưởng Inter lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 2 năm sau trong lần ra sân thứ 193, mang chiếc băng đội trưởng sau khi Rodrigo Palacio thay người và giữ sạch lưới trong trận thắng 1–0 trước Bologna tạiStadio Renato Dall'Ara. Mùa giải 2017–18. Vào ngày 1 tháng 12 năm 2017, Handanović ký hợp đồng mới có thời hạn đến tháng 6 năm 2021. Tám ngày sau, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất trận sau màn trình diễn ấn tượng tại Juventus, giúp Inter có trận hòa không bàn thắng và giúp họ bất bại sau vòng 16 Serie Một tuần. Anh chơi trận đấu thứ 200 tại Serie A cho Inter vào ngày 30 tháng 12 trong trận hòa không bàn thắng trước Lazio , kết thúc phần đầu tiên của mùa giải. Trận đấu thứ 400 tại Serie A của Handanović diễn ra vào ngày 17 tháng 4 năm 2018, giữ sạch lưới, trận thứ 7 trong 8 trận gần nhất, trong chiến thắng 4–0 trên sân nhà trước Cagliari ở vòng 33. Anh ấy đã kết thúc mùa giải 2017–18 bằng cách luôn có mặt trong giải đấu, chơi mỗi phút khi Inter đứng thứ tư, có nghĩa là họ sẽ chơi ở Champions League lần đầu tiên sau sáu năm. Với 17 trận giữ sạch lưới, Handanović được xếp thứ hai cùng với Alisson của Roma trong danh sách giữ sạch lưới, bằng thành tích tốt nhất của cá nhân anh ấy trong mùa giải 2011–12. Anh ấy chỉ để thủng lưới 30 bàn, con số thấp nhất kể từ khi ra mắt ở Serie A (bao gồm cả những mùa giải mà anh ấy đã chơi 30 trận trở lên). Mùa giải 2018–19. Handanović đã có trận ra mắt Champions League với Inter trong trận mở màn vòng bảng với Tottenham Hotspur .  Trận đấu này cũng là trận đấu thứ 250 của anh cho "Nerazzurri" trên mọi đấu trường. Trong phần đầu tiên của Serie A 2018–19 , anh đã có 10 trận giữ sạch lưới trong 19 trận, nhiều nhất so với bất kỳ thủ môn nào khác trong giải đấu và chỉ đứng sau Alisson của Liverpool trong 5 giải đấu hàng đầu châu Âu;  Ngoài ra, anh còn có tỷ lệ cản phá thành công tốt thứ 4. Vào ngày 13 tháng 2 năm 2019, Inter thông báo qua tài khoản Twitter chính thức của họ rằng Handanović đã được bổ nhiệm làm đội trưởng đội mới , thay thế Mauro Icardi .  Vào ngày 7 tháng 3, trong trận hòa 0–0 trước Eintracht Frankfurt ở lượt đi vòng 16 UEFA Europa League 2018–19 , Handanović đã giữ sạch lưới thứ 100 trong lần ra sân chính thức thứ 281 cho Nerazzurri.  Khi mùa giải trôi qua, Handanović đạt được một cột mốc quan trọng khác, khi anh giữ sạch lưới trong trận thắng 4–0 trước Genoa ,  trận đầu tiên kể từ tháng 12 năm 2011, là trận thứ 150 của anh ở Serie A. Trong trận đấu cuối cùng của giải vô địch, anh đóng một vai trò quan trọng trong chiến thắng 2-1 trên sân nhà của Inter trước Empoli , thực hiện hai pha cứu thua quyết định ở phút bù giờ để gỡ hòa cho đội khách.  Những pha cứu thua của anh ấy tỏ ra có ý nghĩa quyết định đối với Inter, đội đã giành được một suất dự Champions League mùa giải tiếp theo trong khi Empoli bị xuống hạng trở lại Serie B.  Trước trận đấu, anh đã được trao giải Thủ môn xuất sắc nhất Serie A của Lega lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình. Handanović đã kết thúc mùa giải thứ bảy của mình tại Inter bằng cách luôn có mặt trong giải đấu, chơi trong tất cả 38 trận đấu và giữ sạch lưới 17 trận, nhiều hơn bất kỳ thủ môn nào khác. Với 17 trận giữ sạch lưới, anh cũng cân bằng kỷ lục mọi thời đại của câu lạc bộ về số trận giữ sạch lưới trong một mùa giải Serie A, kỷ lục trước đó đã được thiết lập bởi Júlio César trong mùa giải ăn ba 2009–10. Mùa giải 2019–20. Handanović bắt đầu mùa giải đầu tiên với tư cách là đội trưởng Inter vào ngày 26 tháng 8 năm 2019 bằng cách giữ sạch lưới trong chiến thắng 4–0 trên sân nhà trước đội bóng mới thăng hạng Lecce; bằng cách đó, anh ấy đã đạt được chiến thắng thứ 200 tại Serie A. Vào ngày 25 tháng 9, anh ra sân lần thứ 300 cho câu lạc bộ trong chiến thắng 1–0 trên sân nhà trước Lazio, trận thứ năm trong năm trận đấu, cũng có ba pha cứu thua quan trọng trong hiệp một. Màn trình diễn của anh ấy trong trận đấu đã nhận được lời khen ngợi của huấn luyện viên Antonio Conte của đội, người nói rằng Handanović "đã tạo ra sự khác biệt". Trong trận đấu kéo dài bảy ngày gặp các đối thủ và ứng cử viên vô địch Juventus, Handanović đã có lần ra sân thứ 450 ở Serie A (182 cho Udinese, 3 cho Treviso, 1 cho Lazio và 264 cho Inter) khi Inter chịu thất bại 2-1 tại San Siro, mất ngôi đầu bảng vào tay đội bóng thành Turin. Cuối tháng đó, anh được đề cử cho giải thưởng Lev Yashin, Quả bóng vàng của các thủ môn. Lần giữ sạch lưới UEFA Champions League đầu tiên trong sự nghiệp của anh ấy là vào ngày 23 tháng 10, trong chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước đội bóng Đức Borussia Dortmund , trong trận đấu bảng thứ ba của giải đấu. Vào tháng 12, Handanović đã giành được giải thưởng Thủ môn xuất sắc nhất Serie A của AIC lần thứ ba trong sự nghiệp của mình.  Vào ngày 6 tháng 12, trong trận hòa không bàn thắng trước Roma, Handanović đã đạt được một cột mốc quan trọng khác, khi trận đấu giữ sạch lưới của anh là trận thứ 100 tại Serie A cho Inter.  Vào ngày 11 tháng 1 năm 2020, anh cản phá một quả phạt đền trước Luis Muriel trong trận hòa 1-1 trên sân nhà trước Atalanta; Đây là pha cản phá quả phạt đền thứ 24 của anh ấy ở Serie A, giúp anh ấy san bằng kỷ lục của Pagluca về số quả phạt đền nhiều nhất ở Serie A. Vào ngày 21 tháng 8, anh đá chính trong trận thua 3–2 của Inter trước Sevilla trong trận Chung kết UEFA Europa League 2020. Mùa giải 2020–21: Danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp. Vào ngày 17 tháng 10 năm 2020, Handanović đã vượt qua kỷ lục của Pagliuca với pha cản phá quả phạt đền thứ 25 ở Serie A khi cản phá một quả đá phạt đền của Zlatan Ibrahimović, người đã ghi bàn sau trận đấu trở lại, trong trận thua 2-1 trước đối thủ AC Milan. Anh có trận đấu thứ 500 tại Serie A vào ngày 14 tháng 2 năm 2021, trong chiến thắng 3-1 trên sân nhà trước Lazio, giúp Inter leo lên dẫn đầu bảng xếp hạng; Anh trở thành cầu thủ thứ 15 đạt được cột mốc này. Vào ngày 2 tháng 5, câu lạc bộ đã giành được danh hiệu này lần đầu tiên kể từ năm 2010, chiếc cúp đầu tiên trong sự nghiệp của anh ấy. Vào ngày 23 tháng 5, trong trận đấu cuối cùng của mùa giải giữa Inter với Udinese, anh đã có trận đấu thứ 329 tại Serie A cho câu lạc bộ, vượt qua Walter Zengalà thủ môn có nhiều lần ra sân nhất trong màu áo tuyển Ý cho Inter. Mùa giải 2021–22. Vào ngày 21 tháng 9 năm 2021, Handanović thực hiện hai pha cứu thua quyết định trong hiệp một trong trận đấu trên sân khách với Fiorentina, với chiến thắng 3–1 của Inter sau khi để thủng lưới ban đầu; đây là trận thắng thứ 1.500 tại Serie A cho "Nerazzurri" .  Sau đó, anh có trận đấu thứ 400 cho câu lạc bộ trên mọi đấu trường trong chiến thắng 3–1 trên sân nhà trước Sheriff Tiraspol ở vòng bảng Champions League , trở thành thủ môn duy nhất làm được điều này.  Vào ngày 12 tháng 1 năm 2022, Handanović giành được danh hiệu thứ hai trong sự nghiệp, Supercoppa Italiana , khi Inter đánh bại Juventus 2-1 tại San Siro nhờ bàn thắng ở phút 120 của Alexis Sánchez . Sự nghiệp quốc tế. Những năm đầu. Anh có trận ra mắt đội tuyển quốc gia vào ngày 17 tháng 11 năm 2004 trong một trận giao hữu với Slovakia , trận đấu kết thúc với tỷ số hòa không bàn thắng. Handanović là thành viên thường xuyên của đội trong chiến dịch vòng loại FIFA World Cup 2006 , chủ yếu được sử dụng như một dự bị cho cầu thủ kỳ cựu Borut Mavrič. Tuy nhiên, trong phần thứ hai của vòng loại, anh đã chơi được bốn trận, đầu tiên là trận hòa 1-1 trên sân nhà trước Belarus vào ngày 30 tháng 3 năm 2005, không giữ sạch lưới, khi Slovenia kết thúc bảng 5 ở Vị trí thứ 4 với 12 điểm, không giành được một suất tham dự giải đấu cuối cùng. Thua 2 bàn trong trận chung kết thua của Giải bóng đá quốc tế Síp 2006 từ Romania. Vào ngày 26 tháng 5 năm 2008, Handanović khoác áo đội trưởng Slovenia lần đầu tiên trong trận đấu giao hữu với Thụy Điển , đội đã giành chiến thắng trong trận đấu tại Gamla Ullevi nhờ bàn thắng của Tobias Linderoth. Trước vòng loại UEFA Euro 2008, Handanović một lần nữa là sự lựa chọn thứ hai, với Borut Mavrič vẫn giữ được vị trí của mình. Anh chỉ chơi trong ba trận vòng loại đầu tiên, trước khi từ giã đội tuyển quốc gia. Handanović đã thi đấu thành công trong trận đấu đầu tiên ở vòng loại khi Slovenia có được trận hòa không bàn thắng trước Albania. Anh chơi 8 trận còn lại, giữ nguyên mục tiêu trong 3 trận trong số đó, khi Slovenia kết thúc chiến dịch vòng loại ở vị trí áp chót với 11 điểm. World Cup 2010 và vòng loại Euro 2016. Handanović đã từng có mặt trong vòng loại FIFA World Cup 2010, chơi mỗi phút trong chiến dịch vòng loại. Slovenia bắt đầu vòng loại với trận hòa 1-1 trên sân khách trước Ba Lan, nơi Handanović bị đánh bại ở phút 17 sau một quả phạt đền của Michał Żewłakow. Vào tháng 5 năm 2010, Handanović có tên trong danh sách 23 cầu thủ cuối cùng của Slovenia đại diện cho quốc gia tại FIFA World Cup 2010. Slovenia được xếp vào bảng C với Algérie, Anh và Hoa Kỳ. Trong trận mở màn của đội với Algeria, Handanović đã ra mắt lần đầu tiên tại một giải đấu lớn, giữ sạch lưới khi Slovenia giành chiến thắng 1–0 tại sân vận động Peter Mokaba để giành ba điểm đầu tiên. Trong trận đấu tiếp theo, gặp Hoa Kỳ tại Sân vận động Ellis Park , Slovenia đang dẫn trước 2–0 ở hiệp một, nhưng trong hiệp hai, Handanović đã bị Landon Donovan đánh bại và Michael Bradley, trận đấu kết thúc với tỷ số 2–2. Slovenia đã bị loại khỏi giải đấu sau khi đứng thứ ba trong bảng của họ với bốn điểm, sau Mỹ và Anh, sau thất bại 0–1 trước đội sau trong trận đấu cuối cùng ở vòng một tại Sân vận động Vịnh Nelson Mandela vào ngày 23 tháng 6. Vào ngày 18 tháng 11 năm 2015, Handanović tuyên bố giã từ đội tuyển quốc gia sau khi Slovenia không thể vượt qua vòng loại UEFA Euro 2016 sau thất bại chung cuộc 1–3 trước Ukraine trong trận play-off. Handanović kết thúc 11 năm sự nghiệp quốc tế của mình với 81 lần khoác áo Slovenia, là thủ môn khoác áo nhiều nhất và là một trong những cầu thủ khoác áo nhiều nhất mọi thời đại; Jan Oblak đảm nhận vị trí xuất phát của đội tuyển sau khi anh chia tay. Cuộc sống cá nhân. Samir Handanović có nguồn gốc là người Bosniak. Cha mẹ anh vốn là người ở thị trấn Sanski Most của Bosnia. Anh họ của anh, Jasmin Handanović, cũng bắt đầu sự nghiệp ở Ý từ năm 2007 đến năm 2011 và cũng là một thành viên của đội tuyển quốc gia Slovenia. Con trai của Handanović, tên là Alen, sinh ngày 19 tháng 1 năm 2011 với cô bạn gái Zoja Trobec, cựu hoạt náo viên KK Olimpija, người đã có một mối quan hệ lâu dài; cặp đôi kết hôn vào tháng 5 năm 2012 và Handanović do đó trở thành anh rể của Irena, em gái của Zoja, người đã kết hôn với cầu thủ bóng rổ Bosnia chuyên nghiệp Jasmin Hukić. Vào ngày 3 tháng 10 năm 2013, vợ của Handanović sinh con trai thứ hai của cặp đôi, đặt tên là Ian. Vào ngày 17 tháng 3 năm 2021, Handanović có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19 trong bối cảnh nó đang đại dịch ở Ý; anh hồi phục vào ngày 28 tháng 3.
1
null
Walter Adrián Luján Samuel (sinh ngày 23 tháng 3 năm 1978) là một cựu cầu thủ bóng đá người Argentina chơi ở vị trí trung vệ. Samuel được đánh giá là một trong những hậu vệ cứng rắn nhất trong bóng đá, đồng đội và là đội trưởng Inter Javier Zanetti nói rằng anh là cầu thủ rắn nhất mà anh từng thi đấu cùng. Samuel là cầu thủ quan trọng trong cú ăn ba lịch sử của Inter trong mùa giải 2009–10 dưới thời José Mourinho và đã thi đấu trên 50 trận cho đội tuyển quốc gia Argentina. Lối chơi sức mạnh, quyết liệt đem đến cho anh biệt danh "Il Muro" ("Hòn đá tảng").
1
null
Nhâm Hiêu (, ? – 206 TCN ), hay Nhâm Ngao, là tướng nhà Tần, có công đánh chiếm Lĩnh Nam. Cuộc đời và sự nghiệp. Nhâm Hiêu là cháu 7 đời của Nhâm Bất Tề, một trong 72 học trò của Khổng Tử. Sau khi thống nhất 6 nước, Tần Thủy Hoàng bắt tay vào việc bình định vùng Lĩnh Nam của các dân tộc Bách Việt. Từ năm 222 TCN, quân Tần đã tấn công Lĩnh Nam nhưng thất bại. Đến năm 219 TCN, nhà Tần phái Đồ Tuy (Đồ Thư), Triệu Đà dẫn 50 vạn quân tiến đánh Lĩnh Nam. Đồ Tuy tử trận, Tần Thủy Hoàng lấy Nhâm Hiêu thay làm chủ tướng, tiếp tục đánh dẹp, đến năm 214 TCN thì bình định xong. Đại Việt Sử ký toàn thư chép:Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây), Nam Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam); cho Nhâm Ngao làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta.Theo John Crawfurd, sự kiện này đánh dấu mốc khởi đầu thời kì đô hộ của Trung Quốc ở Việt Nam. Ở Lĩnh Nam, nhà Tần thiết lập 3 quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng. Nhâm Hiêu được làm Nam Hải quận úy. Ở quận Nam Hải đặt ra 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngu, Yết Dương. Vì Long Xuyên có vị trí địa lý và hoạt động quân sự đều vô cùng trọng yếu, nên Triệu Đà được ủy nhiệm làm Long Xuyên huyện lệnh. Khi ấy Nhâm Hiêu được gọi là "Đông nam nhất úy" (). Phiên Ngu là nơi đặt trị sở, thành trì do Hiêu tiến hành xây dựng, sử Trung Quốc còn gọi là thành Nhâm Hiêu (), nay là thành phố Quảng Châu. Năm 208 TCN, sau khi Tần Nhị thế lên ngôi, Trung Nguyên rơi vào cảnh loạn lạc, Hiêu đột ngột phát bệnh, bèn bàn bạc với Triệu Đà, ý đồ cát cứ Lĩnh Nam để tránh tai vạ chiến tranh. Không lâu sau, bệnh tình của ông trở nặng, nên ủy thác cho Triệu Đà thay chức Nam Hải quận úy, rồi mất năm 206 TCN, được chôn cất tại Phiên Ngu.
1
null
Milton Teagle "Richard" Simmons (sinh ngày 12 tháng 7 năm 1948) là một giáo viên dạy thể dục thẩm mỹ, diễn viên và diễn viên tấu hài người Mỹ. Ông được biết đến với thái độ lập dị, cường điệu và tràn đầy năng lượng của mình. Simmons bắt đầu công việc phục vụ cho người giảm cân bằng cách mở một phòng tập thể dục gọi là Slimmons ở Beverly Hills, California, và phục vụ cho tình trạng thừa cân, và ông trở nên nổi tiếng thông qua quảng cáo truyền hình và thông qua các sản phẩm tiêu dùng. Anh ấy thường bị nhại lại và là khách mời thường xuyên của chương trình truyền hình đêm khuya, chẳng hạn như"Late Show with David Letterman" và "The Howard Stern Show". Simmons tiếp tục thúc đẩy sức khoẻ và tập thể dục thông qua sự nghiệp kéo dài hàng thập kỷ, và sau đó mở rộng các hoạt động của mình để bao gồm các hoạt động chính trị - đặc biệt là trong năm 2008 để hỗ trợ một dự luật yêu cầu giáo dục thể chất không cạnh tranh trong các trường học công như một phần của "No Child Left Behind Act". Tuy nhiên, anh đã không xuất hiện trước công chúng từ tháng 2 năm 2014, và phòng tập của anh lặng lẽ đóng cửa vào cuối năm 2016 mà không có anh ta đưa ra bất kỳ tuyên bố nào. Sự rút lui của anh khỏi con mắt của công chúng đã dẫn đến sự suy đoán và biểu hiện đang diễn ra liên quan đến hạnh phúc của ông. Simmons và những người đã tiếp xúc với anh ta đã nói những lo ngại không có lý do. Tiểu sử. Simmons tên khai sinh là Milton Teagle Simmons, sinh ra ở New Orleans, Louisiana vào ngày 12 tháng 7 năm 1948. Ông là con trai của Leonard Douglas Simmons, Sr. và Shirley May và lớn lên trong khu phố Pháp.
1
null
Juan Guilherme Nunes Jesus (sinh ngày 10 tháng 6 năm 1991) thường được gọi với tên Juan Jesus hay Juan là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Brasil. Anh hiện đang thi đấu ở vị trí trung vệ, hậu vệ cánh cho câu lạc bộ Napoli. Lối chơi. Anh đá chủ yếu ở vị trí trung vệ, nhưng có thể chơi ở vị trí hậu vệ cánh. Anh có lối chơi giống Lúcio, người mà Juan Jesus coi là thần tượng. Sự nghiệp. Sport Club Internacional. Sau khi bắt đầu với đội tuyển "Futsal" Brazil, năm 2007 anh gia nhập đội trẻ Sport Club Internacional. Anh lần đầu ra sân ở đội Một năm 2010, giành chức vô địch Copa Libertadores. Inter Milan. Ngày 30 tháng 1 năm 2012, Juan gia nhập Inter Milan. Juan Jesus ra sân lần đầu tiên tại Serie A cho Inter ngày 13 tháng 5 năm 2012, trong trận thua 1–3 trước Lazio sau khi vào sân vào phút cuối cùng thay Diego Milito. Trong mùa giải 2012/2013, Juan Jesus nổi lên là một phần trong đội hình ra sân chính thức của Inter, thi đấu cùng Andrea Ranocchia và Walter Samuel trong hệ thống 3-5-2. Ngày 12 tháng 7 năm 2013, Juan lấy chiếc áo số 5, sau sự ra đi của huyền thoại Inter Dejan Stanković. Đội tuyển quốc gia. Sau khi chơi ở đội tuyển quốc gia U18 và U19, vào đầu năm 2010 anh được gọi lên đội U20 bởi Ney Franco. Tháng Một 2011 anh là một phần trong thành công tại giải U20 Nam Mỹ năm 2011, chơi tất cả tám trận trong giải. Cùng năm, anh là một phần trong đội tại U-20 Thế giới, dư luận lại bị ấn tượng. Anh ra mắt đội Một Brazil trong trận đấu với Đan Mạch ngày 26 tháng 5 năm 2012, chơi dủ 90 phút. Anh chơi đủ 90 phút trong trận Brazil thua Argentina với tỉ số 4–3 ngày 9 tháng 6 năm 2012. Thống kê sự nghiệp. "Tính đến ngày 15 tháng 9 năm 2015." Danh hiệu. Internacional Napoli
1
null
Andrea Stramaccioni (; sinh ngày 9 tháng 1 năm 1976) là một huấn luyện viên và cựu cầu thủ bóng đá Ý hiện đang dẫn dắt Esteghlal ở Giải bóng đá chuyên nghiệp Vịnh Ba Tư. Với kinh nghiệm dẫn dắt đội trẻ của Roma và Inter, ông đảm nhận chức vụ huấn luyện viên trưởng của Inter Milan vào ngày 26 tháng 3 năm 2012 thay cho Claudio Ranieri.
1
null
Xe tăng hạng trung kiểu 59 (tiếng Anh: Type 59, tên công nghiệp tại Trung Quốc: WZ120) hay Xe tăng chủ lực kiểu 59 là một xe tăng chiến đấu chủ lực do Trung Quốc chế tạo, sản xuất dựa trên chiếc xe tăng T-54A của Liên Xô. Phiên bản thử nghiệm được sản xuất năm 1958 và được đưa vào sử dụng năm 1959, vì vậy nó có tên là Type 59. Việc sản xuất hàng loạt bắt đầu từ năm 1963. Xấp xỉ 9.500 chiếc đã được sản xuất từ năm 1958-1980 và trong đó có khoảng 5.500 chiếc phục vụ trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Đến năm 2000 thì còn khoảng 5.000 chiếc còn phục vụ trong Quân đội Trung Quốc, đa số là các phiên bản Type 59-I và Type 59-II. Type 59 ban đầu sử dụng pháo 100 mm, sau đó một vài phiên bản nâng cấp sử dụng pháo 105 mm. Các xe tăng Type 69 và Type 79 sau này của Trung Quốc cũng dựa trên Type 59 nên có nhiều nét tương đồng với dòng xe tăng T-54/55 của Liên Xô. Ở Việt Nam, Type 59 cũng có hoạt động trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và được gọi với cái tên là T-59 vì trông nó rất giống với T-54. Miêu tả. Về cơ bản T-59 giống với phiên bản T-54 đầu của Liên Xô là T-54A, tuy nhiên có một số khác biệt quan trọng. Kiểu 59 ban đầu không được trang bị đèn hồng ngoại nhìn đêm hoặc hệ thống làm ổn định súng chính của T-54. Type-59 có khoang chiến đấu thông thường giống với các xe tăng Liên Xô thập niên 1950-1970 với vị trí điều khiển xe tăng ở phía trước, động cơ nằm ở phía sau. Tháp pháo có hình dạng mái vòm, tròn, lắp ở giữa thân.Thân xe được hàn thép với độ dày khác nhau từ 100 mm trên thân phía trước đến thấp hơn 20 mm ở sàn thân xe. Tháp pháo dày từ 60–200 mm. Ghế lái xe nằm ở góc trái phía trước của thân xe,có 1 cửa sập nằm ngay phía trên vị trí lái xe.Lái xe có thể nhìn qua chắn trong khoang lái hoặc mở cửa sập để ngoi ra ngoài nhìn.Ghế chỉ huy nằm trong tháp pháo cùng vị trí với xạ thủ và chiến sĩ nạp đạn.Vị trí chỉ huy xe cũng có 1 cửa sập nằm ở bên trái,thủ pháo ngồi ở bên dưới chỉ huy nhưng lại ở góc phía trước.Chiến sĩ nạp đạn ngồi bên phải tháp pháo và cũng có 1 cửa sập ngay trên vị trí của anh.Tháp pháo có một tầng không xoay, gây khó khăn cho hoạt động của kíp lái. Tháp pháo trang bị pháo K59 100 mm của Trung Quốc,có thể mang theo 34 viên đạn dự trữ.Bên trong còn có 1 súng máy đồng trục Type59T cỡ nòng 7,62 mm (sao chép súng máy SGMT của Liên Xô) với lượng đạn dự trữ là 3500 viên. Một súng máy Type-54 cỡ nòng 12,7 mm dùng để phòng không đặt trên nóc xe tăng,loại súng này cũng sao chép súng máy 12,7 mm DShKM của Liên Xô,dự trữ đạn 200 viên. Súng máy đồng trục lắp ở nóc chiếc Type 59 nhằm mục đích hỗ trợ hỏa lực cho xe tăng. Tháp pháo Type 59 giống với T-54,có khả năng quay 360 độ trong vòng 21 giây. Ban đầu,Type 59 sử dụng kính ngắm sản xuất theo loại của Liên Xô nhưng sau này một số phiên bản lại sử dụng kính ngắm phương tây, nòng pháo có góc ngẩng từ 17 đến -4 độ, không thích hợp cho chiến thuật hull down tức ngắm bắn dưới thân xe tăng đối phương - nơi mà có vỏ thép thường mỏng. Các phiên bản sau này cho phép xe tăng có thể vừa chạy vừa bắn nhưng chỉ khi xe chạy với tốc độ vừa phải vì càng chạy nhanh độ chuẩn xác càng kém, ở các đời T-54B và T-55 trở đi, xe tăng Liên Xô cũng có khả năng tương tự. Ngoài ra còn có kính ngắm hồng ngoại cho xạ thủ và lái xe sử dụng trong đêm. Type 59 sử dụng động cơ diesel Model 12150L V-12 có công suất 520 mã lực. Hộp số tay lái với cần nắm gạt về phía trước hoặc lùi. Xe tăng có 1 thùng Dầu chính mang tối đa 815 lít diesel giúp xe có tầm hoạt động 450 km, ngoài ra có thể mang thêm 400l diesel ở các thùng dầu phụ nâng tầm hoạt động lên mức tối đa 600 km hay xấp xỉ 430 km sử dụng nhiên liệu ở thùng dầu chính. Mỗi dãy bánh của xe tăng có 5 chiếc bánh,bánh thứ nhất và thứ hai cách rời nhau. Điều đáng chú ý ở đây là xe không có con lăn để lăn ngược trở lại. Hệ thống treo của Type 59 là thanh xoắn. Đạn dự trữ nằm bên trong tháp pháo,gây nguy hiểm vì khi bị đối phương bắn trúng vị trí chứa đạn thì sẽ dễ dàng gây ra một vụ nổ thảm khốc giết chết toàn bộ kíp lái, khiến tỉ lệ sống sót của kíp lái thấp (tuy nhiên đây cũng là nhược điểm chung của phần lớn xe tăng thời đó). Type 59 tương tự như T-54A có độ nghiêng giáp lớn,giáp khá dày giúp nâng cao tỉ lệ sống sót của chiếc xe trên chiến trường. Lịch sử hoạt động. Type 59 chính là kết quả của Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Trung-Xô. Liên Xô cấp giấy phép cho phía Trung Quốc sản xuất xe tăng T-54A với một cái tên khác. Ban đầu,những chiếc xe tăng T-54A này được nhập khẩu linh kiện từ Liên Xô và lắp ráp ở Trung Quốc, sau này thì Trung Quốc đã xây dựng được một dây chuyền sản xuất linh kiện 100% nội địa để lắp ráp T-54A ngay trong nước. Năm 1959,nó được chấp nhận hoạt động trong Quân đội Trung Quốc với cái tên Type 59. Trong hơn 20 năm tiếp theo, Type 59 đóng vai trò là loại xe tăng chính của Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau này, quan hệ Trung-Xô bắt đầu sứt mẻ, lạnh nhạt dần nên Hiệp ước Tương trợ Trung-Xô bị quên lãng do những bất đồng về ngoại giao và về cả kinh tế chính trị của cả hai bên. Những nguyên nhân trên đã đẫn đến Xung đột biên giới Trung-Xô vào năm 1969 kéo dài 9 tháng. Trong cuộc chiến này, phía Trung Quốc đã gặp rất nhiều bất lợi. Pháo binh, súng cối của Trung Quốc bao gồm những loại K59, K66, K55 cũng sao chép từ các loại pháo và súng cối của Liên Xô nhiều năm về trước nên mất lợi thế so với pháo binh Liên Xô đặc biệt là loại pháo phản lực BM-21 mà Trung Quốc không hề có. Tăng thiết giáp Trung Quốc cũng yếu thế hơn nhiều về trang bị. Chỉ với những xe bọc thép BTR-40, BTR-152, xe tăng Type 59 thì Trung Quốc lép vế hoàn toàn so với BTR-60, T-54B và T-62 của Liên Xô. Chính vì điều đó nên Quân đội Trung Quốc quyết định hiện đại hóa lực lượng xe tăng chiến đấu chủ lực. Dựa vào chiếc xe tăng T-62 tóm được của Liên Xô trong cuộc chiến mà Trung Quốc đã dựa vào và cho ra chiến Type 69 nhưng nền tảng vẫn là Type 59/T-54. Những năm sau này, những loại xe tăng khác của Trung Quốc như Type 79, Type 80 cũng lấy nền tảng vẫn là Type 59. Hiện nay, vẫn còn khoảng gần 5000 chiếc Type 59 còn phục vụ trong Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Nhiều năm nữa,chúng sẽ được thay thế bởi những chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực đời mới của Trung Quốc như Xe tăng chủ lực kiểu 96 và Xe tăng chủ lực kiểu 98. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hàng trăm xe tăng Xe tăng chủ lực kiểu 59 khi còn là đồng minh. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sử dụng nhiều xe tăng này trong Chiến tranh Việt Nam, chiếc Type 59 nổi bật nhất trong cuộc chiến này chính là chiếc xe tăng T-59 mang số hiệu 390 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30-4-1975, là biểu tượng cho chiến thắng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Type 59 của Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng những chiếc T-54/55 cũng tham gia chiến trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 chống lại các xe tăng Type 59 và Type 62, Type 63 của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Vì vậy nên xe tăng ở 2 bên chiến tuyến nhìn y đúc nhau. Hiện nay còn khoảng 350 chiếc T-59 còn phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những chiếc Type 59 và T-54 đang biên chế trong Quân đội Nhân dân Việt Nam từng có kế hoạch hiện đại hóa lên phiên bản T-55M3 thay nòng pháo 100 mm cũ bằng pháo nòng xoắn 105 mm M68/L7 của Israel, bắn đạn APAM, hoặc đạn có thanh xuyên động năng, có ốp cách nhiệt, nâng cao tuổi thọ cũng như độ chính xác khi bắn. Trang bị súng máy hạng nặng NSV 12,7 mm do Việt Nam tự sản xuất có khả năng tấn công các mục tiêu bay thấp trên không. T-55M3 cũng được lắp thêm một súng máy đồng trục PKT 7,62 mm do Việt Nam tự sản xuất thay thế cho súng máy SGMT. Lắp đặt súng cối 60mm trên nóc xe giúp xe tấn công các mục tiêu ở các hầm công sự và nhà cao tầng mà pháo không thể bắn tới được cùng thiết bị cảm biến khí tượng MAWS6056B do công ty Idram của Thụy Sĩ chế tạo. Tuy nhiên phiên bản này chỉ dừng ở mức thử nghiệm. Biến thể. Biến thể nước ngoài. Pakistan. Type 59 đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1971. (Xem Trận Longewala)
1
null
Onychorhynchus là một chi chim trong họ Tyrannidae. theo IOC. Các cơ quan phân loại khác bao gồm AOU, Clements, và IUCN, bao gồm nó trong Tyrannidae. Tùy thuộc vào thẩm quyền, nó bao gồm một đơn phổ biến rộng rãi, hoặc 4 loài địa phương hơn. cụ thể epithet của loại loài, "coronatus", và tên chung của tất cả các loài trong chi này, chim đớp ruồi hoàng gia, đề cập đến chỏm lông đầu nổi bật, đầy màu sắc, mà hiếm khi được phô ra, ngoại trừ sau khi giao phối, trong khi rỉa lông, trong khi tán tỉnh cũng như khi bị sờ vào. Chi này có 4 loài:
1
null
Pyrocephalus là một chi của loài chim trong họ ruồi bạo chúa, Tyrannidae. Chi này có 4 loài sinh sống ở Hoa Kỳ Chi này được giới thiệu bởi nhà chim ưng và nghệ sĩ chim John Gould vào năm 1839 trong "Zoology of the Voyage of H.M.S. Beagle" của Charles Darwin. Loài điển hình đã được gán cho "Pyrocephalus rubinus" bởi nhà động vật học Anh George Robert Gray vào năm 1840. Tên gọi "Pyrocephalus" kết hợp từ tiếng Hy Lạp cổ đại "purrhos" nghĩa là "màu lửa" hoặc "đỏ" và "-kephalos" nghĩa là "-đầu". Các loài. Chi này có các loài sau:
1
null
Pipreola là một chi chim trong họ Cotingidae. Tất cả các loài đều có phạm vi phân bố giới hạn trong núi hoặc chân đồi rừng ẩm ướt ở miền tây hay miền bắc Nam Mỹ. Chúng có phần lưng chủ yếu là màu xanh lục. Chim trống của hầu hết các loài có đầu đen và màu đỏ, màu cam hoặc màu vàng ở cổ họng, ngực hay bụng Các loài. Chi này có 11 loài :
1
null
Piprites là một chi chim, theo truyền thống xếp trong họ Pipridae (như Hellmayr 1929, Pinto 1944, Phelps & Phelps 1950a, Meyer de Schauensee 1970, Snow 1979c). Ames (1971) gợi ý rằng nó thuộc về họ Tyrannidae và có quan hệ họ hàng gàn với chi "Myiobius". Prum (1989) đã không thể xếp nó trong cả Pipridae lẫn Cotingidae. Các dữ liệu di truyền là lập lờ nước đôi khi liên quan tới các mối quan hệ của nó. Prum "et al." (2000) cũng đã không thể đặt nó trong bất kỳ họ nào được công nhận khi đó (Pipridae, Tyrannidae, Cotingidae, Tityridae). Ericson "et al." (2006), Ohlson "et al." (2008) và Prum "et al." (2015) phát hiện thấy nó là chị em với một mẫu hạn chế các chi trong họ Tyrannidae. Barber & Rice (2007) chỉ ra rằng nó không là thành viên của họ Tityridae mà là chị em với các chi được lấy mẫu của họ Tyrannidae. Tello "et al." (2009) tìm thấy sự hỗ trợ di truyền cho vị trí của nó trong Tyrannidae, như là thành viên của nhóm chim trong tiếng Anh gọi là "flatbills" ("Rhynchocyclus", "Tolmomyias") và các chi khác. Ohlson "et al." (2013) tìm thấy rằng nó là chị em với tất cả các dòng dõi của Tyrannidae và đề xuất đơn vị phân loại cấp họ cho "Piprites" là Pipritidae, và điều này được Edward Dickinson & Leslie Christidis đi theo trong luần xuất bản thứ 4 năm 2014 của sách "Howard and Moore Complete Checklist of the Birds of the World". Tuy nhiên đề xuất về việc đặt "Piprites" trong họ Pipritidae đã bị Ủy ban Phân loại Nam Mỹ (SACC) của Liên minh các nhà Điểu học châu Mỹ (AOU) từ chối năm 2016. Tại thời điểm năm 2020, SAAC (như là phân họ Pipritinae) và IOC xếp nó trong họ Tyrannidae. Các loài. Chi này gồm 3 loài.
1
null
Meliphaga là một chi chim trong họ Meliphagidae. Các loài. Trong bài báo năm 2014, Joseph "et al." phát hiện ra rằng "Meliphaga" như định nghĩa đến thời điểm đó bao gồm hai nhánh được hỗ trợ tốt và các loài 'đốm' tương tự nhau về kiểu hình là không đơn ngành (lồng vào đó là 3 loài 'sọc', bao gồm "M. albilineata", "M. fordiana" và "M. reticulata"). Sự rẽ nhánh của hai nhánh này ra khỏi nhau vào khoảng 10,19 triệu năm trước (7,31-13,41 Ma), đủ để coi là các chi khác biệt. Các tác giả gợi ý về việc giới hạn "Meliphaga" chỉ gồm 3 loài là "M. aruensis", "M. notata" và "M. lewinii" (loài điển hình của chi) và tách 12 loài còn lại vào chi "Microptilotis" với loài điển hình là "Ptilotis gracilis" = "M. gracilis". Năm 2017, Marki "et al." nhận thấy "Oreornis chrysogenys" - loài duy nhất của chi "Oreornis" - lồng sâu trong 12 loài "Meliphaga" này và việc chuyển cả 12 loài này sang chi "Oreornis" là hợp lý.
1
null
Lichenostomus là một chi chim trong họ Meliphagidae, đặc hữu Australia. Các loài. Chi này trước đây chứa khoảng 20 loài, nhưng đã bị chia tách sau khi phân tích phát sinh chủng loài năm 2011 chỉ ra rằng chi này là đa ngành. Các thành viên cũ được chuyển sang 6 chi mới là: "Nesoptilotis" (2 loài), "Bolemoreus" (2 loài), "Caligavis" (3 loài), "Stomiopera" (2 loài), "Gavicalis" (3 loài) và "Ptilotula" (6 loài). Hiện tại chi này chỉ chứa 2 loài: Tên gọi "Lichenostomus" được nhà điểu học người Đức Jean Cabanis giới thiệu năm 1851. Từ này phát sinh từ "leikhēn" trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là địa y hay bị chai cứng và "stoma" nghĩa là miệng.
1
null
Oreornis là một chi chim trong họ Meliphagidae. Các loài. Cho tới năm 2014 người ta công nhận chi này là đơn loài, với loài duy nhất là "Oreornis chrysogenys". Trong bài báo năm 2014, Joseph "et al." phát hiện ra rằng "Meliphaga" như định nghĩa đến thời điểm đó bao gồm hai nhánh được hỗ trợ tốt và các loài 'đốm' tương tự nhau về kiểu hình là không đơn ngành (lồng vào đó là 3 loài 'sọc', bao gồm "M. albilineata", "M. fordiana" và "M. reticulata"). Sự rẽ nhánh của hai nhánh này ra khỏi nhau vào khoảng 10,19 triệu năm trước (7,31-13,41 Ma), đủ để coi là các chi khác biệt. Các tác giả gợi ý về việc giới hạn "Meliphaga" chỉ gồm 3 loài là "M. aruensis", "M. notata" và "M. lewinii" (loài điển hình của chi) và tách 12 loài còn lại vào chi "Microptilotis" với loài điển hình là "Ptilotis gracilis" = "M. gracilis". Năm 2017, Marki "et al." nhận thấy "Oreornis chrysogenys" - loài duy nhất của chi "Oreornis" - lồng sâu trong 12 loài "Meliphaga" này, và cụ thể thì "Oreornis chrysogenys" có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với "Meliphaga flavirictus". Vì thế, việc chuyển cả 12 loài "Meliphaga" này sang chi "Oreornis" là hợp lý.
1
null
Myzomela là một chi chim trong họ Meliphagidae. Đây là chi chim ăn mật lớn nhất, với 33 loài và phổ biến nhất về mặt địa lý. Phạm vi phân bố trải dài từ Indonesia đến Australia và vào các đảo của Thái Bình Dương đến tận Micronesia và Samoa. Chi này được giới thiệu bởi các nhà tự nhiên học Nicholas Vigors và Thomas Horsfield vào năm 1827. Loại này là myzomela đỏ tươi ("Myzomela sanguinolenta").
1
null
Acanthiza là một chi chim trong họ Acanthizidae. Các loài trong chi này chủ yếu được tìm thấy ở Úc nhưng với một loài (A. murina) có phạm vi phân bố ở New Guinea. Chúng không liên quan chặt chẽ tới các loài trong chi Chalcostigma mà tên tiếng Anh cũng gọi là thornbill. Chúng được tìm thấy chủ yếu ở Úc và có mỏ dài và mỏng.
1
null
Machaerirhynchus là một chi chim trong họ Machaerirhynchidae. Chi này phân bố tại New Guinea và miền bắc Queensland. Jønsson "et al." (2016) cho rằng nó là nhóm chị-em với các loài nhạn rừng và chim đồ tể (họ Artamidae). Các loài. Hai loài có tên gọi trong tiếng Anh là boatbill (mỏ thuyền).
1
null
Strepera là một chi chim trong họ Cracticidae. gồm các loài chim bản địa Úc. Chúng không sinh hoạt trên mặt đất như các loài chim đồ tể và có đôi chân ngắn hơn. Chúng là loài ăn tạp, tìm kiếm thức ăn trong tán lá, trên thân cây và các chi, và trên mặt đất, bắt côn trùng và ấu trùng (thường đào từ dưới vỏ cây), trái cây và chim non của các loài chim khác. Chúng có thể phân biệt được với những loài chim đồ tể bởi phong cách bay kỳ cục giữa những tán lá, dường như gần như rơi từ cành này sang cành khác như thể chúng là những con ruồi.
1
null
Daphoenositta là một chi chim trong họ Neosittidae. Họ này chứa các loài chim nhỏ dạng sẻ, chỉ sinh sống tại khu vực Australasia. Bề ngoài chúng tương tự như các loài trèo cây và cách thức leo trèo cây cũng giống nhau, nhưng trong khi chúng từng dược coi là thuộc họ này (Sittidae) trong nhiều năm thì hiện nay chúng được xếp trong họ của chính chúng, do không có quan hệ họ hàng gần với các loài trèo cây. Chúng là chim không di trú ngoài việc di chuyển trong khu vực sinh sống. Phân loại. Cho tới năm 1967 chúng vẫn được một số tác giả xếp trong họ Sittidae, mặc dù các nghi vấn về vị trí này đã từng được nhắc tới trong các thập niên trước đó. Dù bề ngoài và cách thức leo trèo cây giống nhau nhưng chúng khác nhau về tính xã hội và tập tính làm tổ, do "Daphoenositta" làm tổ trên các cành cây trong khi trèo cây làm tổ trong các hốc rỗng trên thân cây. Bên cạnh đó, hình thái chân cũng khác nhau, với "Daphoenositta" có các cơ chân giống như của các loài ăn mật (Meliphagidae). Vị trí của chúng sau đó được di chuyển tới các họ khác nhau, như họ Khướu (Timaliidae, một đơn vị phân loại thùng rác khét tiếng khi đó), họ Đuôi cứng (Certhiidae, với sự phân bố trải khắp Toàn Bắc giới và châu Phi) hay vào họ Đuôi cứng Australia (Climacteridae). Quan hệ của chúng với nhánh phân tỏa Australia của chim dạng sẻ được S.A. Parker đề xuất trên cơ sở màu vỏ trứng, cấu trúc tổ và bộ lông của chim non, và vị trí của chúng trong phân tỏa này đã được các nghiên cứu lai ghép DNA-DNA của Sibley và Ahlquist xác nhận. Các nghiên cứu này đặt "Daphoenositta" trong tông đơn chi thuộc liên họ Corvidae. Trong phiên bản năm 2007 của "Handbook of the Birds of the World" người ta xếp chúng trong họ của chính chúng trong nhánh có quan hệ gần với Melanocharitidae (hiện nay xếp trong nhánh Melanocharitoidea / Passerida) và Pachycephalidae (hiện nay xếp trong nhánh Orioloidea / Corvida). Tên gọi Neosittinae là hợp lệ chứ không phải là Daphoensittinae , mặc dù tên gọi của chi điển hình "Neositta" chỉ là đồng nghĩa muộn của "Daphoenositta" . Jønsson "et al." (2016) đặt nó trong nhánh có quan hệ chị em với Campephagidae + Malaconotoidea. Cùng nhau chúng tạo thành nhánh có quan hệ chị em với Corvoidea. Cùng với Corvoidea chúng tạo thành nhánh có quan hệ chị em với Orioloidea của Corvida, trong khi Moyle "et al." (2016) đặt chúng trong liên bộ đơn họ Neosittiodea như là chị em với Mohouoidea, và cùng nhau chúng là chị em với nhánh bao gồm Orioloidea + Malaconotoidea + Corvoidea của Corvida.
1
null
Falcunculus là một chi chim gồm ba loài chim thuộc họ đơn chi Falcunculidae. Các loài này là loài đặc hữu của Úc và sống trong các rừng bạch đàn và rừng thưa. Phân loại. Có ba loài được công nhận với các phạm vi sống khác nhau: Mô tả. Con đực có chiều dài cánh, trọng lượng và kích thước mỏ lớn hơn con cái. Con đực có họng màu đen, trong khi con cái có họng màu xanh ô liu, và cả hai giới đều có những mảng màu đen và trắng đậm trên mặt.
1
null
Coracornis là một chi chim trong họ Pachycephalidae. Hai loài được tìm thấy ở Indonesia. Phân loại và hệ thống học. Trước đây chi "Coracornis" được coi là đơn loài, chỉ chứa "C. raveni". Loài "C. sanghirensis" được thêm vào năm 2013 sau các nghiên cứu di truyền học gần đây. Các loài. Hai loài được công nhận là:
1
null
Chi Bách thanh (danh pháp khoa học: Lanius) là một chi chim dạng sẻ thuộc họ Bách thanh (Laniidae). Phần lớn các loài trong họ này được xếp vào chi này. Tên chi, "Lanius" , có nguồn gốc từ tiếng Latinh có nghĩa là "đồ tể" ("butcher"), và một số loài chim bách thanh còn được gọi là "chim đồ tể" vì thói quen kiếm ăn của chúng. Tên tiếng Anh thông dụng của họ "shrike" bắt nguồn từ từ tiếng Anh cổ "scríc" , "shriek", đề cập đến tiếng kêu chói tai. Hầu hết các loài thuộc chi "Lanius" phân bố ở lục địa Á-Âu và châu Phi, chỉ có loài bách thanh xám lớn phân bố vòng quanh các cực và loài bách thanh đầu to chỉ phân bố ở Bắc Mỹ. Không có loài nào thuộc chi này hoặc họ Bách thanh hiện diện ở Nam Mỹ hoặc Úc. Các loài thuộc chi "Lanius" là những loài chim có môi trường sống rộng rãi và thường được nhìn thấy đậu thẳng đứng trên một chỗ đậu nổi bật như ngọn cây hoặc cột điện thoại. Chúng săn lùng và bắt con mồi khi đang bay hoặc trên mặt đất. Những loài này chủ yếu bắt côn trùng lớn, nhưng cũng sẽ bắt chim nhỏ, bò sát và động vật có vú. Đối với các loài lớn ở phía bắc như bách thanh xám lớn, phần lớn con mồi sẽ là động vật có xương sống, đặc biệt là vào mùa đông. Dù là loài ăn thịt, bách thanh không phải là loài chim săn mồi thực sự và thiếu móng vuốt khỏe của chim ăn thịt. Mặc dù chúng sử dụng chân để giữ những con côn trùng nhỏ hơn, với những con mồi lớn hơn được cắm vào một đầu nhọn, chẳng hạn như gai của dây kẽm gai. Do đó, khi đã bảo đảm an toàn, bách thanh sẽ xé toạc con mồi bằng chiếc mỏ nhọn. Hầu hết các cá thể chim thuộc chi "Lanius" đều sống đơn độc, trừ lúc sinh sản và có tính lãnh thổ cao. Các loài phương bắc hoặc ôn đới chẳng hạn như bách thanh xám lớn và bách thanh lưng đỏ di trú và trú đông ở vùng phía nam của phạm vi sinh sản. Giới tính của hầu hết các loài đều có thể phân biệt được, với việc con đực luôn sáng hơn so với con cái. Loài hóa thạch "Lanius miocaenus" đã được mô tả từ hóa thạch thế Miocene sớm được tìm thấy tại Langy, Pháp. Các loài. Theo phiên bản thứ 10 của "Systema Naturae" năm 1758, nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carl Linnaeus đặt danh pháp cho chi "Lanius". Loài điển hình được nhà tự nhiên học người Anh William John Swainson chỉ định là bách thanh xám lớn vào năm 1824. Tên chi là một từ tiếng Latinh có nghĩa là "đồ tể". Chi này bao gồm 30 loài: Các loài ban đầu thuộc chi. Trước đây, một số nhà chức trách cũng coi các loài (hoặc phân loài) sau đây là các loài trong chi "Lanius":
1
null
Pitohui là một chi chim trong họ Oriolidae, đặc hữu New Guinea. Một số loài chim trước đây gộp chung với nhau trong chi này đã được phát hiện nhờ nghiên cứu năm 2008 là hoàn toàn không có quan hệ họ hàng gần. Kể từ đó chúng đã được tách ra và xếp vào các chi, họ khác. Chi "Pitohui" theo nghĩa hẹp của nó hiện nay đặt trong họ Oriolidae trong khi các loài "Pitohui" khác được đặt trong họ Oreoicidae và Pachycephalidae. Các loài. Bốn loài còn sinh tồn được công nhận trong chi "Pitohui" sửa đổi là: Chuyển đi. Các loài trước đây đặt trong chi "Pitohui" và đã được chuyển đi bao gồm:
1
null
Sphecotheres là một chi chim trong họ Oriolidae. Các loài. Trước đây, người ta coi chi này là đơn loài, nhưng hiện nay phần lớn các tác giả cho rằng chi này chứa 3 loài tách biệt. Sự chia tách chủ yếu dựa vào các khác biệt về kích thước, bộ lông và địa sinh học. Ba loài hiện tại được công nhận là:
1
null
Turnagra là một chi chim trong họ Oriolidae, đặc hữu New Zealand. Phân loại và hệ thống học. Các loài piopio là một bí ẩn phân loại kéo dài. Cho tới năm 2011, IOC coi họ đơn chi Turnagridae như là "incertae sedis" (vị trí không chắc chắn). Chi "Turnagra" sau đó được đặt vào họ Oriolidae sau khi người ta nhận ra rằng piopio có quan hệ họ hàng gần với "Sphecotheres". Người ta từng cho rằng chúng có nhiều điểm chung với họ Ptilonorhynchidae ở Australia, nhưng chúng khác nhau về cách thức làm tổ, màu sắctrứng và tiếng hót. Mối quan hệ với họ Pachycephalidae cũng từng được gợi ý. Piopio cũng từng được coi là chỉ gồm 1 loài cho tới khi được tách ra thành piopio đảo Bắc và piopio đảo Nam vào năm 2012. Tên định danh loài của cả hai loài này cũng đều dựa trên các sai lầm. "Turnagra capensis" được đặt tên như vậy là do Anders Sparrman để lẫn các mẫu vật của ông và nghĩ rằng loài chim này thu thập tại Nam Phi ("capensis" là chỉ tới Mũi Hảo Vọng). "Turnagra tanagra" được đặt tên như vậy là do người ta nghĩ rằng nó có quan hệ họ hàng gần với tanager (họ Thraupidae) ở châu Mỹ. Tên gọi piopio có nguồn gốc từ tên gọi trong tiếng Māori "piopio-kata". Các loài. Chi "Turnagra" chứa 2 loài chim tuyệt chủng đầu thế kỷ 20:
1
null
Chi Rẻ quạt (danh pháp khoa học: Rhipidura) là một chi chim trong họ Rhipiduridae. Các loài. Sắp xếp các loài trong chi này về cơ bản dựa theo Nyári "et al." (2009) Dựa theo Nyári "et al." (2009) và Jønsson "et al." (2016) thì "Rhipidura" trong tương lai có thể sẽ phân chia thành 8 chi nhỏ như liệt kê dưới đây. Chuyển đi. Rẻ quạt bụng vàng ("Chelidorhynx hypoxanthus") trước đây có danh pháp "Rhipidura hypoxantha" từng được xếp trong chi này, nhưng hiện nay được coi là không phải rẻ quạt thực sự và đã được chuyển sang họ Stenostiridae.
1
null
Mayrornis là một chi chim trong họ Monarchidae. Từ nguyên. Tên gọi "Mayrornis" là từ ghép. Phần thứ nhất "Mayr" là để tưởng nhớ Ernst Walter Mayr - một nhà điểu học kiêm nhà phân loại học người Đức. Phần thứ hai "ornis" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp để chỉ "chim".
1
null
Grallina là một chi chim trong họ Monarchidae. Chi này chứa các loài chim bản địa Australia và New Guinea. Trước đây có thời nó cùng rẻ quạt được coi là một phần của họ Chèo bẻo (Dicruridae). or as a family Monarchidae in its own right. Các loài. Hai loài được công nhận là:
1
null
Garrulus là một chi chim trong họ Corvidae. Phân loại. Chi này được nhà động vật học người Pháp Mathurin Jacques Brisson thiết lập năm 1760. Loài điển hình của chi là quạ thông Á Âu ("Corvus glandarius" = "Garrulus glandarius"). Tên gọi "garrulus" là một từ trong tiếng Latinh có nghĩa là hót líu lo, ríu rít, lảm nhảm hay ầm ĩ. Các loài. Ba loài được công nhận:
1
null
Urocissa là một chi chim trong họ Corvidae, được Jean Louis Cabanis thiết lập năm 1850. Tên gọi các loài này trong tiếng Việt là giẻ cùi, chia sẻ chung với các loài trong chi "Cissa". Từ nguyên. "Urocissa" là sự kết hợp của các từ trong tiếng Hy Lạp là "oura" ("đuôi") và "kissa" ("chim thước, ác là").
1
null
Chi Choàng choạc (danh pháp khoa học: Dendrocitta) là một chi chim trong họ Corvidae. Các loài trong chi này có bộ lông màu đen, xám hay nâu hung đỏ. Thông thường mặt và các lông bay có màu đen, lưng màu nâu hung đỏ. Chúng chủ yếu sống trên cây và hiếm khi sà xuống mặt đất để kiếm ăn.
1
null
Chi Quạ chân đỏ (danh pháp khoa học: Pyrrhocorax) là một chi chim trong họ Corvidae. Phân loại. Thành viên đầu tiên của chi được Linnaeus mô tả là quạ mỏ đỏ dưới danh pháp "Upupa pyrrhocorax" trong sách "Systema Naturae" năm 1758. Chi "Upupa" của ông chứa các loài có mỏ cong dài và lưỡi tù ngắn. Chúng bao gồm cò quăm hói phương bắc và đầu rìu, những loài chim mà hiện nay người ta biết là không có quan hệ họ hàng gì với quạ chân đỏ. Quạ mỏ vàng được Linnaeus mô tả như là "Corvus graculus" trong ấn bản năm 1766 của "Systema Naturae". Mặc dù "Corvus" là chi quạ mà các họ hàng của quạ chân đỏ thuộc về, nhưng chúng là đủ khác biệt để nhà điểu học người Anh là Marmaduke Tunstall chuyển sang chi mới là "Pyrrhocorax" trong sách phát hành năm 1771 là "Ornithologia Britannica", Tên gọi của chi này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại πύρρος ("purrhos") nghĩa là "màu đỏ lửa" và κόραξ ("korax") nghĩa là "quạ". Trước đây người ta cho rằng các họ hàng gần gần nhất của quạ chân đỏ là quạ điển hình ("Corvus"), đặc biệt là gần với quạ gáy xám ("Corvus" subgen. "Coloeus", nay là chi "Coloeus"). Tuy nhiên các nghiên cứu phát sinh chủng loài phân tử gần đây chỉ ra rằng quạ chân đỏ có quan hệ họ hàng gần với khách đuôi cờ ("Temnurus temnurus") và chúng tạo thành một nhánh là chị em với phần còn lại của Corvidae. Các loài của chi "Pyrrhocorax" khác với "Corvus" ở chỗ chúng có mỏ và chân với màu sắc rực rỡ, khối xương cổ chân trơn mượt và không có vảy và các lông mũi rất ngắn và rậm. Quạ chân đỏ có bộ lông màu đen thuần nhất, không có các vùng nhạt màu như ở một số loài trong chi "Corvus". Hai loài "Pyrrhocorax" cũng là vật chủ chính của 2 loài bọ chét chuyên ký sinh trên quạ chân đỏ là "Frontopsylla frontalis" và "F. laetus", thông thường không thấy ở chim dạng quạ.
1
null
Melampitta là một chi chim trong họ Melampittidae, trước đây xếp trong họ Paradisaeidae. Phân loại học và hệ thống học. Reddy và Cracraft (2007) là những người đầu tiên đưa cả hai loài melampitta vào cùng một phân tích. Họ nhận thấy chúng có quan hệ chị-em, và họ hàng gần gũi nhất của chúng là họ Corcoracidae. Jønsson "et al." (2016) cũng gộp cả hai loài melampitta và tìm thấy sự hỗ trợ mạnh cho địa vị chị-em của chúng, Jønsson "et al." (2011b) không đặt melampitta một cách chắc chắn trong mối quan hệ chị-em với Corcoracidae hay với Paradisaeidae. Aggerbeck "et al." (2014) và Jønsson "et al." (2016) thấy chúng là chị em với Corcoracidae cộng Paradisaeidae. Trên cơ sở các khác biệt về kích thước, tỷ lệ các bộ phận cơ thể, bộ lông, tiếng hót thì Schodde R. & Christidis L. (2014) cho rằng 2 loài "M. lugubris" và "M. gigantea" đã rẽ nhánh ra khoi nhau từ rất sớm, và họ đã đề xuất chi mới là "Megalampitta" để chứa loài "Megalampitta gigantea" (đồng nghĩa: "Melampitta gigantea").
1
null
Eopsaltria là một chi chim trong họ Petroicidae. Tên của chi này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại nghĩa là "tiếng hót bình minh" vì tiếng hót của chúng. Chúng là loài chim tò mò và dạn dĩ, và đã được ghi nhận là đậu trên vai hoặc ủng của những người trong bụi rậm. Rừng cây bạch đàn mở là môi trường sống ưa thích của chúng. Các loài. Loài còn tồn tại. Có 2 loài Trước kia đặt vào chi này. Trước đây, một số phân loại cũng coi các loài (hoặc loài phụ) sau đây là loài trong chi "Eopsaltria":
1
null
Alaemon là một chi chim trong họ Alaudidae. Từ nguyên học. Tên gọi "Alaemon" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "alēmōn" nghĩa là "kẻ lang thang" (từ "alaomai" nghĩa là "lang thang"). Chi này được Alexander Keyserling và Johann Heinrich Blasius thiết lập năm 1840. Các loài. Bao gồm 2 loài:
1
null
Alauda là một chi sơn ca sống khắp lục địa Á-Âu và miền núi Bắc Phi, với một loài ("Alauda razae") đặc hữu đảo Raso của Cabo Verde. Thêm nữa, có hai loài đã tuyệt chủng ghi nhận trong hoá thạch. Tên chi bắt nguồn từ "alauda" tiếng Latinh, nghĩa là "sơn ca". Pliny già cho rằng từ này có gốc gác Celt. Phân loại. Chi "Alauda" được mô tả bời nhà tự nhiên học Thuỵ Điển Carl Linnaeus năm 1758 trong ấn bản thứ 10 của cuốn "Systema Naturae". Loài điển hình là "Alauda arvensis". Chi "Alauda" có bốn loài còn sinh tồn và chí ít hai loài hoá thạch. Trước đây nhiều loài nữa từng được gộp vào chi này. Loài còn sinh tồn. Bốn loài còn sinh tồn là:
1
null
Remiz là một chi chim trong Họ Phàn tước (Remizidae). Chi này chứa 4 loài phàn tước phân bố ở lục địa Á-Âu. Phân loại. Chi "Remiz" được nhà động vật học người Ba Lan Feliks Paweł Jarocki công bố vào năm 1819 để chứa một loài duy nhất, phàn tước châu Âu. Cái tên "Remiz" là một từ Ba Lan chỉ phàn tước châu Âu. Chi này bao gồm 4 loài:
1
null
Anthoscopus là một chi chim trong Họ Phàn tước (Remizidae). Chi này phân bố giới hạn trong Châu Phi Hạ Sahara, từ Sahel đến Nam Phi. Không giống như các loài phân bố ở lục địa Á-Âu, những loài này thường không di cư. Thay vào đó, chúng sống gần nơi sinh sản của chúng quanh năm. Sáu loài trong chi phân bố ở một loạt môi trường sống, từ sa mạc, rừng rậm đến rừng nhiệt đới. Tổ chim. Những chiếc tổ rũ xuống và được xây dựng đầy cầu kỳ của chúng có những lối vào giả phía trên lối vào thật, và những lối vào này lần lượt dẫn vào một căn buồng giả. Buồng làm tổ thực sự được chim bố mẹ tiếp cận bằng cách mở một nắp ẩn, đi vào rồi đóng nắp lại. Hai bên lối vào được bịt kín bằng mạng nhện dính. Những lối vào giả này được sử dụng để gây nhầm lẫn cho những kẻ săn mồi tiềm tàng và bảo vệ trứng và chim con. Phân loại. Chi "Anthoscopus" được nhà điểu học người Đức Jean Cabanis giới thiệu vào năm 1851, với phàn tước phương nam ("Anthoscopus minutus") là loài điển hình. Tên chi là sự kết hợp của hai từ Hy Lạp cổ đại "anthos" (có nghĩa là "hoa") và "skopos" (nghĩa là "người tìm kiếm"). Chi này bao gồm 6 loài:
1
null
Tichodroma là chi duy nhất được biết đến thuộc họ Tichodromidae, bộ Sẻ. Ban đầu, Linnaeus đặt "Tichodroma" trong họ Certhiidae, cùng với các loài đuôi cứng, trong khi các chuyên gia khác đã đặt nó trong họ Sittidae (gồm các loài trèo cây), như phân họ riêng biệt. Một nghiên cứu phát sinh loài năm 2016 về các thành viên thuộc liên họ Certhioidea cho thấy chi này là nhóm chị em của họ Sittidae. Chi "Tichodroma" bao gồm hai loài:
1
null
Shinoda Mariko (Nhật: 篠田 麻里子 Tiểu Điền Ma Lý Tử?) (sinh ngày 11 tháng 3 năm 1986 ở Fukuoka) là một ca sĩ, diễn viên, người mẫu thời trang, và thành viên duy nhất của nhóm nhạc thần tượng Nhật Bản AKB48 thế hệ 1.5, trong đó cô là đội trưởng của đội A. Tốt nghiệp khỏi AKB48 vào ngày 21/7/2013 tại Fukuoka PayPay Dome với bài hát "Namida no sei Janai".
1
null
Seicercus là một chi chim trong họ Phylloscopidae. Chi này trước kia được đặt trong họ Lâm oanh nhưng nay được đặt trong họ Phylloscopidae. Chi này có các loài phân bố trong tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Á, từ phía bắc Trung Quốc tới Timor trong quần đảo Sundas Nhỏ. Nhiều loài ở phía bắc hơn là chim di cư, sinh sản ở các vùng khí hậu ôn đới và trú đông ở vùng nhiệt đới; những loài khác là những loài di cư theo độ cao, di chuyển từ các ngọn núi xuống trong mùa đông. Một số loài di cư trên một phần của phạm vi sinh sống của chúng và là loài định cư ở vùng khác. Các loài. Ba loài dưới đây dường như có quan hệ họ hàng gần với các loài trong chi "Phylloscopus" hơn là với 8 loài đề cập trên đây. Chuyển đi. "Seicercus xanthoschistos" nay được đặt trong chi "Phylloscopus" với danh pháp "Phylloscopus xanthoschistos".
1
null
Sylvia là một chi chim trong họ Sylviidae. Các loài. Loài "Parophasma galinieri" đặc hữu Ethiopia thuộc về nhánh chứa "Sylvia" với độ hỗ trợ 100% trong phân tích phát sinh chủng loài với sự lấy mẫu của loài điển hình cho chi "Sylvia" là "Sylvia atricapilla", nhưng nó có thuộc về "Sylvia" hay chỉ là quan hệ chị-em với chi này lại là điều không chắc chắn, vì thế xử lý thận trọng nhất và tốt nhất là coi nó như một chi đơn loài có quan hệ chị-em với "S. atricapilla" và các đồng minh gần gũi nhất của loài này. Phần còn lại của chi "Sylvia" do vậy nên chuyển sang chi mới được phục hồi lại là "Curruca". Phần giữ lại. Bao gồm cả các loài trước đây xếp trong các chi "Horizonrhinus", "Lioptilus" và "Pseudoalcippe". Chuyển sang Curruca. Chi "Curruca" tự bản thân nó là tổ hợp của năm nhánh khác biệt, có thể coi là 5 phân chi hoặc 5 chi riêng biệt, bao gồm: "Atraphornis", "Adophoneus", "Parisoma", "Curruca" và "Melizophilus".
1
null
Yuhina là một chi chim trong họ Zosteropidae., theo truyền thống xếp trong họ Timaliidae. Từ nguyên. "Yuhina" có nguồn gốc từ "yuhin", một từ trong tiếng Nepal để chỉ khướu mào họng đốm ("Y. gularis"). Các loài. Loài khướu mào bụng trắng ("Erpornis zantholeuca") trước đây cũng từng được xếp trong chi này với danh pháp "Yuhina zantholeuca".
1
null
Alcippe là một chi chim, hiện tại là duy nhất trong họ Alcippeidae, trước đây từng được xếp trong các họ như Timaliidae, Leiothrichidae hay Pellorneidae. Phân loại học. Chi "Alcippe" là hiện thân của cách mạng DNA. Chi "Alcippe" theo nghĩa rộng (trước đây) hiện nay được chia ra thành 4 phần: Trên thực tế vẫn còn sự không chắc chắn đáng kể về tình trạng của chi "Alcippe" chính xác theo đúng nghĩa gốc ("Alcippe" nghĩa hẹp). Việc phân tích các gen khác nhau hoặc đặt nó ở gốc của họ Pellorneidae hoặc đặt nó ở gốc của họ Leiothrichidae. Moyle và ctv. (2012) đã vật lộn với vấn đề này và cuối cùng đặt nó vào họ Leiothrichidae. Cai "et al." (2019) tìm thấy "Alcippe" và Leiothrichidae có thể nhất là nhóm chị em xa đã rẽ nhánh lâu, mặc dù không loại trừ mối quan hệ gần hơn với Pellorneidae và họ quyết định tách "Alcippe" thành họ riêng của chính nó.
1
null
Watanabe Mayu (渡辺 麻友, "Độ Biên Ma Hữu)" sinh ngày , là một nữ ca sĩ, diễn viên người Nhật Bản, cựu thành viên Team B AKB48. Trong các kì tổng tuyển cử của AKB48, cô luôn đạt thứ hạng cao và được xem như là một thành viên kì cựu của nhóm. Cô tốt nghiệp AKB48 vào ngày 26 tháng 12 năm 2017. Khẩu hiệu. み〜んなの目線を、いただきまゆゆ~まゆゆこと渡辺麻友です Minna no mesen o, itadaki Mayuyu. Mayuyu koto Watanabe Mayu desu Sự nghiệp âm nhạc. 2007 - 2017: Thành viên AKB48. Tháng 12 năm 2006, cô vượt qua buổi thử giọng và trở thành thành viên thế hệ thứ ba của AKB48. Cô được xếp vào Team B và được thành viên Rumi Yonezawa đặt cho nghệ danh Mayuyu. Ngày 8 tháng 4, cùng với đội hình Team B lần đầu tiên ra mắt trong sân khấu "Seishun Girls". Ngày 18 tháng 7, Mayuyu góp mặt trong 4th single "BINGO!" cùng với Kashiwagi Yuki và Hirashima Natsumi. Đây cũng là lần đầu có mặt trong dàn Senbastu của AKB48. Năm 2009, Mayuyu được chọn vào sub-unit Watarirouka Hashiritai, sau đó đổi tên thành Watarirouka Hashiritai 7. Ngày 8 tháng 7 năm 2009, cô đã xếp hạng thứ tư với số phiếu là 2,625 trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên để xác định đội hình cho đĩa đơn thứ 13 của nhóm. Năm 2010, trong kì tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 17 của nhóm, cô đứng thứ 5 với số phiếu là 20088. Trong bài phát biểu, cô đã khóc và nói:""Tôi cảm thấy không hài lòng với bản thân mình hiện nay"." Cô xuất hiện trên trang bìa của tạp chí "UP to boy" tháng 12 năm 2010 cùng với Airi Suzuki từ nhóm Cute. Đó là lần hợp tác "gravure" đầu tiên giữa Hello! Project và AKB48. Vào ngày 13 tháng 5 năm 2011, cô đã phát hành photobook đầu tiên của mình "Mayuyu, Shueisha". Cô nhận xét rằng cuốn sách "chứa đựng rất nhiều cảm xúc mà tôi chưa từng bộc lộ cho đến bây giờ, tôi thực sự hài lòng với nó!" Về ảnh bìa của cô, cô nói, "Mặc dù bối rối, tôi đã cố gắng hết sức mình trên trang bìa, vì vậy tôi mong nhiều người có thể xem nó!" Tổng số bản bán ra của cuốn sách được đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng Oricon ngày 23 tháng 3. Trong tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 22 "Kotoshi mo Gachi Desu", Mayuyu đứng thứ 5 với số phiếu là 59118. Khác với những năm trước, cô đã phát biểu với nụ cười trên môi: ""Phiếu bầu chỉ là những con số, tôi không muốn bị phụ thuộc vào điều đó. Để có thể tiếp tục, tôi sẽ tin tưởng và chính bản thân mình, tin vào fans, tôi sẽ vững bước trên con đường đã xác định"." Năm 2012, Mayuyu có vai chính đầu tiên trong bộ phim truyền hình Nhật Bản "Saba Doru" phát sóng ban đêm từ ngày 13 tháng 1 trên TV Tokyo. Cô đóng vai một giáo viên trung học 38 tuổi, bị học sinh ghét, đồng thời có một cuộc sống ẩn là thần tượng rất nổi tiếng Mayu Watanabe, dựa về cuộc sống thực của cô. Vào ngày 29 tháng 2, Mayuyu đã phát hành đĩa đơn đầu tay của cô, "シンクロときめき Synchro Tokimeki", đây cũng là ca khúc chủ đề mở đầu cho bộ phim. Ngày 26 tháng 4 năm 2012, cô được chọn làm seiyuu cho nhân vật Chieri trong bộ anime AKB0048 - nhân vật chính của phim và là một thành viên của nhóm phụ AKB48 NO NAME, hát các ca khúc chủ đề mở đầu và kết thúc. Bộ phim có một nhân vật phụ, Mayu Watanabe Mark 3, được mô phỏng theo ý thích của cô, và được lồng tiếng bởi Yukari Tamura. Cô đã thể hiện lại vai diễn Chieri Sono cho phần thứ hai của loạt phim được phát sóng vào năm 2013. Trong kì tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 27 "Fan ga Erabu 64 Giseki", Mayuyu đứng thứ 2 với số phiếu là 72574. Trong bài phát biểu của cô: "Nếu năm sau (2013) còn có tổng tuyển cử, thì tôi muốn mình sẽ đứng thứ nhất. Hiện tại, tôi hãy còn non nớt, nhưng lần tới, tôi muốn hướng đến vị trí No.1" Ngày 25 tháng 7 năm 2012, cô phát hành đĩa đơn solo thứ hai “大人ジェリービーンズOtona Jelly Beans"." Ca khúc đã đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon. Ngày 24 tháng 8, trong ngày đầu tiên của concert của AKB48 tại Tokyo Dome cô được thông báo chuyển từ Team B sang team A. Ngày 21 tháng 11, cô ra mắt đĩa đơn solo thứ 3 "ヒカルものたち Hikaru Monotachi"", và đạt hạng nhất trên bảng xếp hạng Oricon. Đĩa đơn bao gồm 5 phiên bản, bao gồm một cuốn sách minh họa. Ca khúc B-side "Sayonara no Hashi" cũng được chọn làm nhạc nền cho anime "Nerawareta Gakuen," bộ phim mà cô lồng tiếng cho vai thứ chính. Ngày 20 tháng 2 năm 2013, Mayuyu được chọn làm trung tâm trong đĩa đơn thứ 30 của nhóm, "So Long!". Ngày 19 tháng 4, cô phát hành photobook thứ hai S"eifuku Zukan Saigo no Seifuku". Trong kì tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 32 "Yume wa Hitori ja Mirarenai", cô đứng vị trí thứ 3 với số phiếu là 101210. Cô phát biểu: ""Tôi tự tin rằng cống hiến của tôi dành cho AKB48 không thua kém bất kì ai. Và vị trí thứ 3 này, tôi vẫn có thể đi xa hơn nữa. Với niềm hy vọng cất giữ trong tim, tôi sẽ đặt mục tiêu cao hơn và cố gắng hết sức có thể. Tổng tuyển cử năm sau, tôi muốn tên mình được xướng lên cuối cùng"." Ngày 10 tháng 7 năm 2013, cô phát hành đĩa đơn solo thứ 4 "“ラッパ練習中 Rappa Renshuu-Chuu"" Năm 2014, Mayuyu tham gia chương trình truyền hình "Utage!" và "Renai Sosenkyo." Ngày 24 tháng 4, "AKB48 Group dai Sokaku Matsuri" được tổ chức ở Zepp Diver City, cô được chuyển giao từ Team A sang team B. Sau đó, vào ngày 28 tháng 4, cô xuất hiện trở lại trên sân khấu với team B "Pajama Drive". Ngày 21 tháng 5, cô được chọn làm trung tâm trong đĩa đơn thứ 36 ""Labrador Retriever"." Ngày 7 tháng 6 năm 2014, trong tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 37 "Yume no Genzaichi ~Rival wa Doko da~", Mayuyu đạt được số phiếu kỉ lục là 159.854 phiếu. Đánh bại quán quân năm ngoái là Sashihara Rino (HKT48), lần đầu tiên đứng trên đỉnh vinh quang của tổng tuyển cử và trở thành trung tâm của AKB48. Cô cũng là thành viên duy nhất luôn nằm trong TƠP 7 trong 6 mùa kì tổng tuyển cử được tổ chức từ trước tới nay. Ngoài ra theo báo Shinkyoho, các fan tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đóng góp 35.000 phiếu bầu trong tổng số 159.854 phiếu đó. Cùng với đó, vào ngày 27 tháng 8, cô làm trung tâm trong AKB48 đĩa đơn ""Kokoro no Placard"." Ngày 3 tháng 9, Mayuyu được trao giải "Kiểu tóc dài quyến rũ" trong "The Beaty Week Award 2014 The Best of Beauty", và đây cũng là giải thưởng cá nhân đầu tiên của cô. Ngày 26 tháng 11, AKB48 phát hành đĩa đơn thứ 38 "Kibouteki Refrain" bao gồm 2 trung tâm là cô và Miyawaki Sakura. Ngày 14 tháng 4 năm 2015, bộ phim truyền hình "Fight! Bookstore Girl" được phát sóng bởi Fuji TV và Kansai TV, do cô và Inamori Izumi đồng thủ vai chính. Đây cũng là lần đầu tiên cô đảm nhiệm vai chính cho một drama vào "giờ vàng". Cùng với đó, Mayuyu cũng kiêm luôn ca khúc chủ đề cho drama "出逢いの続きDeai no Tsuzuki", đó cũng là đĩa đơn solo thứ 5 của cô. Bộ phim kết thúc vào ngày 9 tháng 6, với cảnh cô xuất hiện trong một chiếc váy cưới lộng lẫy. Từ tháng 5 cho đến tháng 6 diễn ra tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 46 "Juni Yoso Fukano, Oare no Ichiya" và Mayuyu đứng vị trí thứ ba với tổng 165.789 phiếu bầu. Trong cuộc tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 45 "Bokutachi wa Dare ni Tsuiteikeba ii" diễn ra ngày 18 tháng 6 năm 2016, cô đứng vị trí thứ 2 với 175,613 phiếu bầu. Tháng 10 năm 2016, Mayuyu phát hành photobook thứ 3. Ngày 17 tháng 6 năm 2017, trong tổng tuyển cử lần thứ 9, Mayuyu đứng thứ 2 với 149,132 phiếu bầu. Đồng thời ngay tại sự kiện này, cô cũng thông báo sẽ tốt nghiệp khỏi nhóm vào cuối năm. Showcase tốt nghiệp của cô được tổ chức vào ngày 31 tháng 10, sau đó cô có một buổi chia tay vào ngày 18 tháng 11. Cô cũng biểu diễn lần cuối tại nhà hát AKB48 vào ngày 26 tháng 12 và trên sân khấu Kouhaku Uta Gassen của đài NHK vào ngày 27, đó cũng là buổi diễn cuối cùng của cô với tư cách thành viên AKB48. 2018 - nay: Sau khi tốt nghiệp. Vào tháng 1 năm 2018, đã có thông báo rằng Watanabe Mayu sẽ đóng vai chính trong "Amélie" của Nhật Bản được chuyển thể từ bộ phim cùng tên. Việc sản xuất diễn ra từ ngày 18 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6 tại Nhà hát Galaxy ở Shinagawa, Tokyo và ngày 7 tháng 610 tại Hội trường thí điểm Morinomiya ở Osaka. Vào tháng 4 năm 2018, cô đã có bộ phim truyền hình đầu tiên sau AKB48 mang tên "Gan Shoumetsu no Wana ~ Kanzen Kankai no Nazo ~" (ん 消滅 罠 ~ 完全 寛 解 の) cô đóng vai một điều tra viên bảo hiểm. Vào tháng 8 năm 2018, cô đóng vai chính trong bộ phim truyền hình đặc biệt "Meibugyou! Tooyama no Kinshirou" (名 奉行! 遠山 の 金) , một phần tiếp theo từ cùng một bộ trong năm 2017. Sau hai bộ phim truyền hình đặc biệt, Watanabe sau đó đã có vai chính trong một bộ phim "Itsuka Kono Ame ga Yamu Hi Made" (い つ か こ ま で) vào tháng 8 năm 2018. Nhân vật của cô, Hikari, là một cô gái có ước mơ trở thành một nữ diễn viên nhạc kịch, nhưng giấc mơ của cô đã tan vỡ khi anh trai cô được cho là đã giết người. Watanabe Mayu cũng đã làm khách mời cho một số chương trình âm nhạc, cụ thể là Utacon và UTAGE. Ở Utacon, cô hát và hợp tác với một số diễn viên nhạc kịch nổi tiếng. Đến cuối năm 2018, Watanabe được bầu làm đại sứ cho JAL Honolulu Marathon. Ngày 31 tháng 5 năm 2020 Công ty chủ quản của Mayu Watanabe thông báo Mayu đã rời khỏi công ty với lý do: " Vì vấn đề sức khoẻ nên khó có thể tiếp tục các hoạt động nghệ thuật ” . Sau nhiều lần thảo luận, ưu tiên sức khoẻ lên hàng đầu, Mayu và công ty đã đưa ra quyết định cuối cùng là Mayu sẽ giải nghệ.
1
null
Long Thư là tướng lãnh nhà Tây Sở trong lịch sử Trung Quốc. Sự nghiệp. Ông đi theo Hạng Lương khởi nghĩa phản kháng nhà Tần, mỗi trận đánh đều hăng hái giết địch, rất được Hạng Vũ tín nhiệm. Sau đó cùng Điền Vinh hợp quân cứu Đông A, đại phá quân Tần. Năm 206 TCN, Hán vương Lưu Bang khởi binh bình định Tam Tần, Long Thư cùng tướng Ngụy là Hạng Tha giao chiến với tướng Hán là Quán Anh ở phía nam Định Đào, thất bại. Sau trận Bành Thành (205 TCN), Hạng Vũ giao cho ông thống lãnh kỵ binh tinh nhuệ của thị tộc Lâu Phiền . Năm 204 TCN, Long Thư cùng Hạng Thanh được Hạng Vũ cử đi đánh phản tướng Anh Bố ở Hoài Nam. Long Thư đại phá Cửu Giang vương Anh Bố khiến Bố phải chạy đến chỗ Lưu Bang. Tháng 10 năm 203 TCN, Hàn Tín đánh úp Tề. Tề vương Điền Quảng bỏ kinh thành Lâm Tri chạy và phái người cầu cứu Tây Sở. Hạng Vũ phái Long Thư mang 20 vạn quân đi cứu. Tháng 11, đôi bên đối trận ở Duy Thủy. Hàn Tín trong đêm tối ở thượng lưu cho lấy đất đắp đập ngăn nước. Hôm sau, quân Hán vượt sông tấn công, mới được một nửa thì bỏ chạy. Long Thư hô lớn: "Vốn biết Tín hèn nhát mà!" rồi soái quân đuổi theo. Hàn Tín khơi đập nhấn chìm quân Sở, rồi quay lại đánh. Long Thư không địch nổi, bị giết.
1
null
là một thuật ngữ tiếng Nhật trong võ thuật Nhật Bản xuất hiện từ trước thời Minh Trị Duy tân (1868). Thuật ngữ này đồng nghĩa với "kobudo" (古武道, cổ võ đạo) và đối lập với gendai budō - "võ thuật hiện đại" (hoặc shinbudō - "võ thuật mới") đề cập đến các hệ phái được phát triển sau Minh Trị Duy tân. Phân biệt. Trong tiếng Nhật, "ko-ryū" (古流) và "kobudō" (古武道) thường được coi là đồng nghĩa (ví dụ như Liên đoàn Kendo Nhật Bản,). Nhưng trong tiếng Anh, Hiệp hội Hoplology Quốc tế (ngành nghiên cứu về hành vi và thái độ trong đối kháng của con người) đề cập đến sự khác biệt giữa "Ko-ryū" và "Kobudō" liên quan đến nguồn gốc và sự khác biệt giữa thứ hạng ưu tiên liên quan đến hình thức chiến đấu, đạo đức, kỷ luật và/hoặc thẩm mỹ. Mô tả về Koryū. Thuật ngữ "Ko-ryū" (古流) theo nghĩa đen được dịch là "trường phái cũ" ("ko"—cũ, "ryū"—trường phái) hoặc "trường phái truyền thống". Koryū cũng là một thuật ngữ chung cho các trường phái võ thuật Nhật Bản trước thời kỳ Minh Trị Duy tân (1868) đã tạo nên những thay đổi chính trị xã hội lớn và là tiền đề cho sự hiện đại hóa Nhật Bản. Hệ thống "Koryū" được xem xét theo thứ tự ưu tiên sau: 1) chiến đấu, 2) kỷ luật, 3) đạo đức. Mô tả về Kobudō. "Kobudō" (古武道) là một thuật ngữ tiếng Nhật cho một hệ thống có thể được dịch là (cổ) (võ) (đạo) "võ đạo cũ"; thuật ngữ này xuất hiện trong nửa đầu thế kỷ XVII. Kobudō đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tokugawa (1603–1868) cũng được gọi là thời kỳ Edo, khi chế độ tập quyền được củng cố bởi gia tộc Tokugawa cầm quyền. Hệ thống "kobudō" được xem xét theo thứ tự ưu tiên sau: 1) đạo đức, 2) kỷ luật 3) dạng mỹ học. Kobudō Okinawa. Kobudō cũng có thể được sử dụng để chỉ kobudō Okinawa, thuật ngữ mô tả chung tất cả các hệ thống chiến đấu của Okinawa. Đây là những hệ thống hoàn toàn khác nhau và về cơ bản không liên quan đến nhau. Việc sử dụng thuật ngữ kobudō không nên bị hạn chế, như cách mà nó phổ biến, chỉ để mô tả các hệ thống vũ khí cổ xưa của Okinawa.
1
null
Sông Thiên Mạc là tên cổ của một đoạn sông Châu, nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Nam, Việt Nam, là ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Duy Tiên và Lý Nhân. Đoạn sông này chạy theo hướng Đông - Tây nối sông Hồng (ở phía đông) với sông Đáy (ở phía tây) và nối với sông Nhuệ ở phía Bắc. Sở dĩ sông mang tên Thiên Mạc vì nó chảy qua xã (hương) Thiên Mạc (nay là Hòa Mạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Theo sách "Đồng Khánh địa dư chí- 同慶地輿誌, Nhà xuất bản Thế giới, 2003, trang 44", được soạn thảo vào thời vua Đồng Khánh thì tên xã này (khi đó thuộc tổng Trác Bút, huyện Nam Xương, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội) đã được gọi từ thời Lý-Trần nhưng đến năm Tự Đức thứ 6 (1853), do kiêng chữ nên vua cho đổi chữ Thiên lại thành Hòa. Trước đây, sông thông với sông Hồng ở Ngã ba Gọng Vó, nhưng đến đầu thế kỷ XX, do các đê sông Hồng và đê sông Châu vỡ liên tục nhiều năm, không thể đắp kịp, gây ra lụt lội nặng nề cho vùng hữu ngạn sông Hồng nên người Pháp đã cho đắp đê chặn cửa sông, tạo cống đóng mở hạn chế lũ. Sau đó, cống cũng bị vỡ sập và đê được đắp chặn hẳn lại do vậy đoạn sông này còn mang tên Tắc giang. Năm 2011, công trình thủy lợi Tắc giang đã hoàn thành với việc xây dựng các âu thuyền cửa sông này và tại Phủ Lý, nhằm nối lại sông Hồng với sông Đáy, cải tạo nguồn nước mặt và nước ngầm của hệ thống sông Nhuệ- Đáy hiện đang trong tình trạng ô nhiễm, là niềm mong mỏi của hàng chục triệu người sinh sống tại lưu vực các con sông này. Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, trên sông Thiên Mạc đã diễn ra những trận đánh thắng lớn của quân đội nhà Trần đứng đầu là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và tướng quân Trần Bình Trọng. Đây cũng là đường lui của triều đình theo đường thủy theo sông Châu về Tức Mặc- Thiên Trường (Nam Định, quê hương gốc của dòng họ nhà Trần) xây dựng căn cứ trong chiến tranh và sau này là nơi nghỉ ngơi của các Thái Thượng hoàng.
1
null
JJ Project (Tiếng Hàn: 제이제이 프로젝트) là một nhóm nhạc nam dự án của Hàn Quốc được lập ra bởi JYP Entertainment. Nhóm nhạc bao gồm 2 thành viên JB và Jinyoung. Ra đời năm 2012, họ cho phát hành đĩa đơn đầu tay "Bounce" vào ngày 20 tháng 5, ca khúc có giai điệu sôi động và vũ đạo mạnh mẽ đã chiếm lĩnh những thứ bậc cao trên các bảng xếp hạng. Mặc dù mới ra mắt song bộ đôi này đã cho khán giả thấy được những màn trình diễn live tuyệt vời và khả năng vũ đạo của mình, điều này khiến cho hai chàng trai nhận được rất nhiều sự khen ngợi và yêu thích từ công chúng. Bộ đôi chính thức ra mắt với GOT7 vào ngày 16 tháng 1 năm 2014 trên sân khấu của M!Countdown. Vào 12h KST ngày 31/7/2017 JJ project đã comeback với album Verse 2 sau 5 năm Thông tin cơ bản. Trước khi ra mắt. JB và Jr. trở thành thực tập sinh của JYP Entertainment thông qua JYP Audition 2009. Trong quá trình làm thực tập sinh, bộ đôi đã xuất hiện trong video " Tasty San" của Rapper San E. Trong năm 2012, cả hai đã tham gia vào KBS drama Dream High 2, phần 2 của hit drama Dream High. Ngày 3 tháng 2 năm 2012, công ty ra thông báo JB và Jr. sẽ ra mắt chính thức là một ban nhạc trong nửa sau năm 2012. 2012 - 2013: Chính thức ra mắt với "Bounce". Ngày 8 tháng 5, JYP Entertainment đã tung ra một trang web mới cho JJ Project cùng với một trang Facebook chính thức và YouTube Channel. Một teaser video có tên "JJ Project Slot Machine" cũng được phát hành. Mặc dù không có tuyên bố chính thức nhưng nhiều người cho rằng JJ là viết tắt của JB và Jr. Sau đó tiết lộ rằng JJ Project thực sự bao gồm JB và Jr. Ngày 09 tháng 5, một teaser video khác, "JYP 007" đã được tải lên thông qua tài khoản YouTube chính thức của JJ Project. Trong video, J.Y. Park mở một chiếc cặp được đặt trên bàn, để lộ một phong bì có tiêu đề "JYP New Project", sau đó mở phong bì chứa một chiếc iPad, hiển thị một nhóm dự án mới mà ông đã thực hiện. Ngày 13, JYP Entertainment đã phát hành một teaser video khác, "Time 2 JJ". Teaser không hiển thị khuôn mặt của các thành viên trong bộ đôi này, nhưng nó cho thấy sự lựa chọn quần áo của hai người. Ngày 14 tháng 5, bìa album và danh sách ca khúc của " Bounce" được tiết lộ trong khi việc sản xuất album đã hoàn tất và sẽ được phát hành vào ngày 20 tháng 5. Ngày 15 tháng 5, Teaser photos của JJ Project được công bố thông qua tài khoản Twitter chính thức của JYP Entertainment. Ngày 17 tháng 5, teaser cuối cùng được JYP Entertainment phát hành và ngày 19 tháng 5, video chính thức của ca khúc chủ đề "Bounce" được phát hành thông qua tài khoản Youtube chính thức của JJ Project. Chỉ 2 ngày sau khi ra mắt, MV debut "Bounce " đã có hơn 1 triệu lượt người xem và không ngừng công phá các bảng xếp hạng. MV này đã đạt vị trí số 4 của Most liked, số 10 Most Viewed, số 7 Most Dicussed và số 4 Most Favorites video toàn thế giới trên Youtube. Ở Hàn Quốc, MV debut của JJ Project xếp vị trí số 1 trên bốn bảng xếp hạng. Không những thế, album debut của JJ Project xếp vị trí số 10 "Top Dance Album" trên iTunes. Nhóm đã biểu diễn ca khúc trên M!Countdown vào ngày 24 tháng 5 năm 2012. Ngoài ra, nhờ khả năng hát live tuyệt vời cùng kỹ năng vũ đạo, số lượng fan của JJ Project ngày càng tăng lên một cách chóng mặt. Ngày 26 tháng 6, JJ Project đã được mời quay màn biểu diễn của họ cho Nanana của Yoo Seung Jun, sẽ được thực hiện vào "MBC's Music Program MM CHOICE" mùa thứ hai. Bộ đôi này cũng tham gia vào concert "JYP Nation in Korea 2012" vào ngày 4 tháng 8 với các nghệ sĩ khác của JYP Entertainment và sau đó là "JYP Nation in Japan 2012" được tổ chức tại sân vận động Yoyogi. Ngày 27 tháng 8, có thông báo rằng JJ Project sẽ biểu diễn mở màn trong tour diễn xuyên Á đầu tiên của Girl-group đàn chị cùng công ty- Wonder Girls. 2014: Ra mắt với GOT7. Vào ngày 16 tháng 1 năm 2014, hai thành viên JJ Project ra mắt với tư cách là thành viên nhóm nhạc nam GOT7 trong MV "Girls Girls Girls". 2017: Trở lại với "Verse 2". Tháng 6 năm 2017, JYP Entertainment tuyên bố JJ Project sẽ trở lại sau 5 năm. Công ty cũng tiết lộ rằng JB và Jinyoung dự định thể hiện một khía cạnh khác của họ, khác với bài hát đầu tay "Bounce". Phiên bản mở rộng đầu tiên của họ trong "Verse 2" với ca khúc chủ đề "Tomorrow, Today" do chính JB và Jinyoung viết lời được phát hành vào ngày 31 tháng 7.
1
null
274301 Wikipedia (trước đây có các tên tạm: ', ', ) là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện tại Đài thiên văn Andrushivka tại miền Bắc Ukraine vào tháng 8 năm 2008. Tiểu hành tinh này được đặt tên theo bách khoa toàn thư trực tuyến Wikipedia vào tháng 1 năm 2013. Phát hiện. Tiểu hành tinh được các nhà thiên văn học phát hiện tại Đài thiên văn Andrushivka (A50), đài thiên văn tư nhân duy nhất tại Ukraina, đài thiên văn này đã phát hiện hơn 90 tiểu hành tinh từ năm 2003. Nhóm Andrushivka tìm thấy nó lần đầu tiên ngày 25 tháng 8 năm 2008, lúc 22:47 (UTC). Nó cũng được quan sát vào đêm sau và được đặt tên tạm là . Sau khi lần quan sát ngày 6 tháng 9 bởi nhóm Andrushivka, quỹ đạo của tiểu hành tinh được tính chính xác. Dữ liệu chứng minh rằng là cùng một tiểu hành tinh với và , chúng đã được tìm thấy tại các đài thiên văn Caussols-ODAS (Pháp), Khảo sát Núi Lemmon (Arizona, Mỹ), và Đài thiên văn Steward (Arizona). Ngày 18 tháng 4 năm 2011, tiểu hành tinh được đặt mã số 274301. Thành phần của tiểu hành tinh chưa rõ nhưng có lẽ có cả đá và kim loại, giống những tiểu hành tinh khác trong vành đai chính. Tên gọi. Ủy ban Danh pháp các Thiên thể nhỏ quyết định chỉ định tên "Wikipedia" cho tiểu hành tinh, và quyết định này được xuất bản trong tạp chí Minor Planet Circular ngày 27 tháng 1 năm 2013. Tên gọi này được Andriy V. Makukha - một ủy viên Wikimedia Ukraina - đề nghị và chủ đài thiên văn - Yuri M. Ivashchenko - nộp cho Ủy ban Danh pháp. Lời công bố tên gọi chính thức (tạm dịch):
1
null
Micromacronus là một chi chim trong họ Timaliidae. Chi này có hai loài bản địa Philippines. Từ lâu được coi là đơn hình Chi này chỉ được mô tả vào năm 1962, theo mô tả của loài đầu tiên, được thu thập bởi nhà sưu tập Manuel Celestino và Godofredo Alcasid, nhà động vật học tại Bảo tàng Quốc gia Philippines. Chi này trước đây được đặt trong họ Timaliidae nhưng một nghiên cứu phát sinh phân tử được công bố vào năm 2012 cho thấy chi này có liên quan chặt chẽ hơn với các loài trong họ Cisticolidae. Chi này chỉ chứa hai loài: "Micromacronus leytensis" và "Micromacronus sordidus". Hai loài trong chi đôi khi được coi là một loài duy nhất.
1
null
Hyliota là một chi chim dạng sẻ đặc hữu châu Phi. Vị trí phân loại của nó trong một thời gian dài từng là bí ẩn. Trước đây chúng từng được coi như là chích Cựu thế giới trong họ Sylviidae, hoặc có mối quan hệ họ hàng với các họ Platysteiridae, Malaconotidae, hoặc thậm chí với đớp ruồi Cựu thế giới trong họ Muscicapidae. Một phân tích DNA ti thể của chi này và các họ hàng có thể thấy rằng chúng không có các họ hàng gần, cụ thể nó hoàn toàn không gần với Sylvioidea mà cũng không có quan hệ họ hàng gần với bất kỳ nhánh nào của Passerida, thuộc về cơ sở trong nhánh Passerida nhưng sâu hơn so với Petroicidae. Fuchs "et al." và một số tác giả coi nó như là thuộc về họ của chính nó, gọi là Hyliotidae, nhưng điều này là thiếu cơ sở chắc chắn, do Hyliotinae từng được Reitter sử dụng năm 1880 cho một phân họ bọ cánh cứng (nay là Brontinae). Nó dựa trên chi bọ cánh cứng chiếm chỗ trước là "Hyliota" , mặc dù chi chim "Hyliota" có độ ưu tiên cao hơn. Hiện vẫn chưa rõ các quy tắc của ICZN được áp dụng trong trường hợp này như thế nào, do đó tính hợp lệ của Hyliotidae là chưa rõ ràng. Phân tích của Barker (2014) cho bộ gen ti thể đầy đủ đặt nó gần với Paridae (nhưng cả Stenostiridae lẫn Remizidae đều không được gộp trong phân tích này. Phân tích 7 gen của Alström "et al." (2014) (gồm 6 hạt nhân và 1 ti thể) đặt nó là chị em với Remizidae + Paridae, với Stenostiridae là cơ sở trong 4 họ này.
1
null
Cyornis là một chi chim trong họ Muscicapidae. Các loài. Chi này chứa các loài như sau: Bảy loài đớp ruồi "rừng rậm" trước đây đặt trong chi "Rhinomyias", nhưng gần đây được chuyển sang chi "Cyornis" theo kết quả nghiên cứu phân tích phát sinh chủng loài phân tử công bố năm 2010. Một loài ("R. additus") chuyển sang chi "Eumyias" cùng phân họ trong khi các loài "đớp ruồi rừng rậm" khác của "Rhinomyias" hiện nay xếp trong chi "Vauriella" của phân họ Saxicolinae.
1
null
Trong thần thoại Hy Lạp, Calliope ( ; ) là Nàng thơ đại diện tài hùng biện và sử thi. Hesiod và Ovid gọi cô là "Thủ lĩnh của tất cả các bà mẹ". Thần thoại. Calliope có hai người con trai nổi tiếng với Apollo hoặc Vua Oeagrus của Thrace là Orpheus và Linus. Theo Hesiod, cô cũng là người khôn ngoan nhất trong số các Nàng thơ, cũng như là người quyết đoán nhất. Calliope kết hôn với Oeagrus ở Pimpleia, một thị trấn gần đỉnh Olympus. Cô được cho là đã đánh bại các con gái của Pierus, vua của Thessaly, trong một trận đấu ca hát, và biến họ thành những con chim ác là để trừng phạt của họ. Trong một số tài liệu, Corybantes là con trai của Calliope và Zeus. Mô tả. Calliope thường được thể hiện với một bảng viết trên tay. Đôi khi, cô được miêu tả mang theo một cuộn giấy hoặc một cuốn sách, hoặc đội một chiếc vương miện bằng vàng. Cô cũng được mô tả với các con của mình. Nhà thơ người Ý Dante Alighieri, trong tác phẩm "Divine Comedy", đã đề cập đến Calliope:
1
null
Cercomela là một chi chim trong họ Muscicapidae. Các loài. Theo truyền thống chi này bao gồm 9 loài. Tuy nhiên, kết quả phân tích phát sinh chủng loài của Outlaw và ctv (2010) cho thấy chi này là đa ngành. Vì thế, người ta đề xuất chia tách nó ra, với 5 loài xếp về chi "Oenanthe", 3 loài trong chi "Emarginata" mới được phục hồi và 1 loài trả về chi "Pinarochroa".
1
null
Chi Yểng (danh pháp khoa học: Gracula) là một chi chim trong họ Sturnidae. Các loài. Năm loài được công nhận là: Mô tả. Các loài chim này dài 25–30 cm và có bộ lông màu đen bóng với các vệt trắng lớn trên cánh chỉ rõ nét khi bay. Mỏ và đôi chân khỏe có màu từ vàng tươi tới cam sẫm. Chúng có các yếm thịt màu vàng trên đầu với hình dạng và vị trí tùy từng loài. Cả hai giới là tương tự, nhưng chim non thì có mỏ xỉn màu hơn. Phân bố và môi trường sống. Các loài trong chi này sinh sống trong khu vực nhiệt đới miền nam châu Á, từ Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka về phía đông tới Indonesia và Philippines, về phía bắc tới miền nam Trung Quốc. Loài phổ biến rộng nhất là yểng ("Gracula religiosa") cũng là loài chim nuôi nhốt trong lồng phổ biến, đã được du nhập vào một số quốc gia khác, như Hoa Kỳ. Tập tính và sinh thái học. Sinh sản. Các loài yểng là chim sinh sản cố định, thường tìm thấy trong rừng và các vùng đất trồng cây. Tổ được làm thành hình một cái lỗ và mỗi lứa thường đẻ 2-3 trứng. Thức ăn. Giống như phần lớn các loài sáo, yểng là chim ăn tạp, với thức ăn là hoa quả, mật và côn trùng. Nói và bắt chước. Các loài yểng nổi tiếng vì khả năng bắt chước giọng nói của con người. Từng có nguồn cho rằng yểng là chim biết nói giỏi nhất và tài bắt chước nhất trên thế giới.
1
null
Chi Chìa vôi (danh pháp khoa học: Motacilla) là một chi chim trong họ Motacillidae. Phát sinh chủng loài. Cây phát sinh chủng loài trong phạm vi chi "Motacilla" dựa theo Alström "et al." (2003), Alström "et al." (2015), Drovetski "et al." (2018), Harris "et al." (2018), Ödeen "et al." (2003), Outlaw "et al." (2006).
1
null
Teretistris là một chi chim trong họ Parulidae. Đây là các loài chim đặc hữu của Cuba. Cho đến năm 2002, chúng được cho là những chiến binh của Thế giới mới, nhưng các nghiên cứu DNA đã chỉ ra rằng chúng không liên quan chặt chẽ với gia đình đó. Phân loại. Chi Teretistris từ lâu đã được đặt trong họ chim cựu thế giới Parulidae, cho đến khi một nghiên cứu năm 2002 kiểm tra 25 chi của chiến binh New World sử dụng DNA ty thể và hạt nhân và thấy rằng sáu chi được đặt bên ngoài gia đình, bao gồm cả Teretistris. Năm trong số các chi đã bị nghi ngờ là không ngồi thoải mái bên trong Parulidae, nhưng trước nghiên cứu này chưa bao giờ có ý kiến ​​cho rằng Teretistris không thuộc họ chim chích chòe tân thế giới.
1
null
Pablo Martín Melitón de Sarasate y Navascués, thường được gọi ngắn gọn là Pablo de Sarasate, sinh năm 1844 tại Pamplona, mất năm 1908 tại Biarritz, là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ violin người Tây Ban Nha. Ông còn được biết đến với tên gọi Pablo de Sarate. Cuộc đời và sự nghiệp. Sarasate bắt đầu biểu diễn trước công chúng từ năm 8 tuổi, năm 1852. Học tại Madrid, sau sang Nhạc viện Paris với ông thầy Alard trong khoảng thời gian từ năm 1856 đến năm 1859. Từ năm 1859, Sarasate lưu diễn với thành công vang dội tại nhiều quốc gia châu Âu, Á, Bắc, Nam Mỹ. Nhiều tác phẩm của các nhà soạn nhạc nổi tiếng được sáng tác để dành tặng cho ông, như "Violin Concerto No. 2 "của Henryk Wieniawski, "Symphonie Espagnole của "Édouard Lalo, "Violin Concerto No. 3" và "Introduction and Rondo capriccioso "của Camille Saint-Saëns, "Scottish Fantasy "của" "Max Bruch, và "Pibroch Suite "của" "Alexander Mackenzie. Cũng được truyền cảm hứng từ Sarasate là "Souvenir de Sarasate "của William H. Potstock. Phong cách sáng tác. Âm thanh mềm mại và phong cách hết sức tinh tế là phong cách sáng tác của Sarasate. Một số tác phẩm nổi bật. Pablo de Sarasate sáng tác cho riêng mình nhiều tác phẩm cho violin như "Jota Arogonesa", "Carmen Fantasy" (với dàn nhạc), "Những vũ khúc Tây Ban Nha" gồm 12 tập, "Những giai điệu Digan"...
1
null
Geospiza là một chi chim trong họ Thraupidae. Tất cả các loài trong chi đều là loài đặc hữu của quần đảo Galápagos. Cùng với các chi có liên quan, chúng được gọi chung là sẻ Darwin. Mặc dù trước đây, chúng được xếp vào họ chim đuôi dài và chim sẻ Mỹ Emberizidae, những nghiên cứu gần đây cho thấy chúng thuộc họ chim sẻ.
1
null
Cardinalis là một chi chim trong họ Cardinalidae. Các loài trong chi này phân bố khắp Bắc Mỹ và bắc Nam Mỹ. Mô tả. Chúng là loài chim có chiều dài từ 19 đến 22 cm. Đặc điểm đặc biệt nhất của các loài trong chi này là lông chỏm đầu nổi bật và mỏ hình nón dày và khỏe. Chim trống và chim mái có bộ lông lưỡng hình giới tính; chim trống có nhiều màu đỏ hơn trên bộ lông của chúng và chim mái chỉ có một số sắc thái, với màu xám chiếm ưu thế. Các cá thể chưa trưởng thành tương tự như chim mái.
1
null
Fringilla là một chi chim trong họ Fringillidae. Chi này gồm các loài sẽ phổ biến được tìm thấy chủ yếu trong môi trường sống rừng, ở châu Âu, Bắc Phi và Tây Á; sẻ xanh là một loài đặc hữu của đảo; và các giống chó ở vùng phía bắc taiga và vùng lãnh nguyên phía nam của lục địa Á-Âu. Ba loài có cùng kích thước, dài 15 cm và có hình dạng tương tự nhau. Chủng ăn cả côn trùng và hạt. Trong khi sinh sản, chúng nuôi con non bằng côn trùng chứ không phải hạt, không giống như các loài chim sẻ khác. Các loài. Chi này có các loài sau:
1
null
Euphonia là một chi chim trong họ Fringillidae. Các loài. Danh sách các loài lấy theo World Bird Names Chuyển đi. Ba loài sau đây có quan hệ họ hàng dường như gần với "Chlorophonia" spp. hơn là với "Euphonia" spp. Do vậy, tốt nhất nên chuyển chúng sang chi "Cyanophonia" , loài điển hình "C. musica".
1
null
Chlorophonia là một chi chim trong họ Fringillidae. Chi này được Charles Lucien Bonaparte mô tả lần đầu tiên năm 1851. "Chlorophonia" là đặc hữu nhiệt đới Tân thế giới. Các loài chim này nhỏ, bộ lông chủ yếu có màu xanh lục tươi, sinh sống trong các khu rừng ẩm ướt và các môi trường sống cận kề, đặc biệt là trong vùng cao nguyên. Chi "Chlorophonia" từng có thời được coi là thuộc họ Thraupidae. Các loài. Chi này chứa 5 loài đã biết:
1
null
Carduelis là một chi chim trong họ Fringillidae. Chi này trước đây bao gồm nhiều loài, nhưng gần đây các kết quả phân tích phát sinh chủng loài bằng trình tự DNA ti thể và nhân cho thấy chi với định nghĩa truyền thống là đa ngành. Bản chất đa ngành của chi này được xác nhận trong nghiên cứu bao hàm toàn diện của Dario Zuccon và ctv. về các loài sẻ thông năm 2012. Các tác giả đề xuất chia nhỏ chi này thành vài nhánh đơn ngành, và điều này được Hiệp hội Điểu học Quốc tế (International Ornithologists' Union) chấp nhận. Các loài ở châu Mỹ tạo thành một nhánh khác biệt và được chuyển tới chi phục hồi lại là "Spinus", các loài khác di chuyển tới chi "Chloris" và "Linaria" còn 1 loài duy nhất khác nữa tới chi "Acanthis". Các loài. Chi "Carduelis" hiện nay chỉ bao gồm 3 loài ở châu Âu:
1
null
Malimbus là một chi chim trong họ Ploceidae, được nhà điểu học người Pháp Louis Jean Pierre Vieillot thiết lập năm 1805. Từ nguyên. Tên gọi khoa học của chi "Malimbus" bắt nguồn từ tên gọi "Tanagra malimbica" (nay là "Malimbus malimbicus"). Từ "malimbica" bắt nguồn từ "Malimba" hoặc "Malimbe" — tên gọi một địa danh (có lẽ là Malembo ()) trong tỉnh Cabinda (Angola). Các loài. Chi này hiện tại bao gồm các loài sau: Có thể chuyển sang. Nhóm chim châu Phi hiện tại xếp trong chi "Ploceus" (cũng như loài "Anaplectes rubriceps") trong tương lai có thể sẽ chuyển sang chi này bao gồm:
1
null
Ploceus là một chi chim trong họ Ploceidae. Từ nguyên. Tên gọi khoa học của chi này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp πλοκευς (plokeus) nghĩa là "thợ dệt", và nó phát sinh từ tiếng Hy Lạp πλεκω (plekō) nghĩa là "bện, tết". Phát sinh chủng loài. Dựa trên phân tích DNA gần đây, chi "Ploceus" như được hiểu tại thời điểm năm 2017 gần như chắc chắn là đa ngành. Nếu tất cả các loài hiện tại gộp trong chi này vẫn được giữ nguyên và làm cho chi trở thành đơn ngành thì nó phải bao hàm toàn bộ phân họ Ploceinae. Phân họ Ploceinae có thể chia ra thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm chim góa phụ và chim giám mục (chi "Euplectes") là chị-em với nhánh chứa các chi "Foudia" và "Quelea" là các họ hàng gần nhất và tiếp theo là các loài châu Á của "Ploceus" (bao gồm "P. manyar", "P. philippinus", "P. benghalensis", "P. megarhynchus" và "P. hypoxanthus" – mặc dù loài này không được đưa vào phân tích). Do Georges Cuvier chọn "P. philippinus" làm loài điển hình của chi này, nên về mặt lôgic thì 5 loài này sẽ vẫn được gán vào chi "Ploceus", cho dù định nghĩa của chi này có thay đổi như thế nào đi nữa. Cơ sở đối với nhóm thứ hai là nhánh chứa 2 loài "Ploceus" sinh sống ở Madagascar là "P. nelicourvi" và "P. sakalava", và về hình thái thì chúng rất khác biệt với các loài còn lại. Trong tương lai hai loài này có thể gán vào chi "Nelicurvius" được Charles Lucien Bonaparte lập năm 1850 (sau đó bị sáp nhập vào "Ploceus"). Tiếp theo, nhóm hai còn bao gồm các chi "Malimbus" và "Anaplectes" cũng như các loài còn lại của chi "Ploceus". Do "Malimbus" là tên gọi có sớm hơn, được Vieillot "et al." lập nên năm 1805, nên các loài còn lại của "Ploceus" cũng như "Anaplectes rubriceps" trong tương lai có thể gán vào chi "Malimbus". Các thay đổi này được củng cố thêm chủ yếu là nhờ các sửa đổi hình thái học. Giả sử các chi khác không được đề xuất sáp nhập vào chi "Malimbus" mở rộng đều là đơn ngành thì cây phát sinh chủng loài dưới đây (chưa đầy đủ) thể hiện các hiểu biết hiện tại.
1
null
Quelea là một chi chim trong họ Ploceidae. Tác động đến nông nghiệp. "Q. quelea" là loài gây hại chính cho cây ngũ cốc hạt nhỏ ở phần lớn châu Phi cận Sahara; các hạt ngô quá lớn đối với nó. "Q. erythrops" có thể gây thiệt hại đáng kể cho lúa. "Q. cardinalis" không được biết là tấn công mùa màng. Các loài. Chi này có các loài sau:
1
null
Euodice là một chi chim trong họ Estrildidae. Một số tác giả xếp chi này là một phân chi của chi "Lonchura". Các loài trong chi này sinh sống ở những khu vực khô cằn của châu Phi và Ấn Độ. Các loài ở châu Phi và Ấnn Độ trước đây được xem là cùng một loài do thực tế chúng có thể giai phối. Chúng có phát sinh loài riêng biệt và tạo thành một nhánh cơ sở so với các họ hàng của chúng trong họ Chim di.
1
null
Trọng tôn Cốc (chữ Hán: 仲孙穀; ?-614), tức Mạnh Văn bá (孟文伯), là vị tông chủ thứ hai của Mạnh tôn thị, một trong Tam Hoàn của nước Lỗ thời Xuân Thu trong Lịch sử Trung Quốc. Trọng tôn Cốc là con của Trọng tôn Ngao, vị tông chủ đầu tiên của Tam Hoàn với bà Đái Kỉ. Cụ tổ 3 đời của ông là Lỗ Hoàn công, vị vua thứ 12 của nước Lỗ. Sự nghiệp. Năm 619 TCN, Chu Tương vương qua đời, Trọng tôn Ngao đến điếu tang, sau trốn sang nước Cử gặp Cử nữ. Người nước Lỗ lập Trọng tôn Cốc thế tập. Trọng tôn Ngao ở nước Cử nhớ cố quốc bèn nhờ Trọng tôn Cốc xin cho mình về nước. Chú ông là Tương Trọng bèn bắt Trọng tôn Ngao không được tham gia chính sự nữa mới cho về. Lỗ Văn công chấp nhận, ra lệnh cho Trọng tôn Ngao về nước nhưng không tham dự chính sự, lại ban tước vị, quan thự, xa hoà phục sức, trạch để… giao cho Trọng tôn Cốc, cho tham gia chính sự. Sau Trọng tôn Ngao lại trốn sang nước Cử. Năm 614 TCN, Trọng tôn Cốc qua đời, do con ông là Trọng tôn Miệt còn nhỏ nên Lỗ Văn công giao quyền thế tập họ Mạnh cho em ông là Trọng tôn Nạn.
1
null
Bá Ích (chữ Hán: 伯益) là 1 nhân vật huyền sử Trung Quốc; ông sống vào thời Ngu Thuấn và Hạ Vũ, ông tên thật là Đại Phí (大费). Theo Sử Ký Tư Mã Thiên - Tần bản kỷ thì cha ông là Đại Nghiệp tức Cao Dao làm pháp quan trong thời đại thiện nhượng rất có uy tín lúc bấy giờ, mẹ ông là Nữ Hoa- con gái bộ lạc Thiếu Điển. Lớn lên Bá Ích có tài cao được vua nước Hữu Ngu là Diêu Trọng Hoa trọng dụng làm quan ở đó lập nhiều công lớn, sau khi Diêu Trọng Hoa lên ngôi thiên tử " tức Đế Thuấn" thì ban cho ông Diêu Khương Nữ và thưởng cho ông ấp Doanh - từ đó Bá Ích mang họ Doanh. Bấy giờ Hoàng Hà lũ lụt triền miên nhân dân phải sơ tán không có chỗ ở ổn định, Đế Thuấn cử Bá Ích theo Hạ Vũ làm công tác trị thủy. Sau khi vua Vũ lên làm thiên tử có ý định nhường ngôi cho cha của Bá Ích là Cao Dao nhưng không may Cao Dao qua đời trước Vũ, Vũ bèn quyết định truyền lại ngôi vị cho Bá Ích. Tương truyền lúc Vũ mất, Bá Ích đứng ra chủ trì quốc tang cho nhà vua và chấp chính trong 3 năm, sau khi mãn tang Bá Ích trao lại ngai vàng cho Hạ Khải là con vua Vũ. Hạ Khải cảm động trước hành động này nên phong cho con trai Bá Ích là Đại Liêm tức Nhược Mộc làm vua nước Từ, nước Từ truyền đến đời Mạnh Sác tức Từ Câu vương ở vào thời kỳ vua Thái Mậu nhà Thương. Em Mạnh Sác là Trung Diễn giữ chức quan trong triều đình rất có danh vọng, hậu duệ Trung Diễn là Phi Liêm phục vụ Trụ Vương bị Chu Vũ Vương giết chết. Phi Liêm có hai con trai: một là Ác Lai chính là tổ tiên nước Tần thời Xuân Thu Chiến Quốc - đời sau là Doanh Chính đã thống nhất thiên hạ, hai là Quý Thắng là tổ tiên nước Triệu thời Chiến Quốc. Một thuyết khác nói rằng khi Hạ Vũ chọn Bá Ích thì con Vũ là Hạ Khải không phục ông nên ngấm ngầm xây dựng lực lượng củng cố niềm tin dân chúng, sau khi vua Vũ mất Hạ Khải đã cất binh tấn công và giết chết Bá Ích mà đoạt lấy ngôi thiên tử tái lập lại chế độ thế tập đã bị vua Nghiêu hủy bỏ trước đó.
1
null
Thiện nhượng ("chữ Hán": 禪讓) có nghĩa là "nhường lại ngôi vị", được ghép bởi các cụm từ Thiện vị và Nhượng vị, là một phương thức thay đổi quyền thống trị của những triều đại trong lịch sử Trung Quốc. Nguồn gốc. Thời tiền sử, khi sản xuất còn lạc hậu, xã hội nguyên thủy phổ biến ở các bộ lạc bởi khả năng có thể tập hợp nhân lực trong sản xuất cũng như chống lại các tai họa đến từ thiên nhiên, muông thú và thậm chí cả con người (cụ thể là các liên minh bộ lạc khác). Xuất phát bởi nhu cầu thực tế đó, dần dần hình thành thể thức bầu cử để lựa chọn một cá nhân có năng lực giữ vai trò thủ lĩnh với mục đích lãnh đạo các thành viên bộ lạc cùng chung sức sản xuất, tự vệ cũng như phân phối công sản theo bình quân sinh hoạt. Theo thể thức này, định kỳ các thành viên bộ lạc sẽ họp bàn rồi bầu chọn một cá nhân làm thủ lĩnh liên minh, đa số sẽ quyết định ai có khả năng nhất, sau đó người thủ lĩnh sẽ tự động nhường lại vị trí của mình cho kẻ khác khi họ không còn đủ sức để gánh vác trọng trách nữa. Sang thời Tam Hoàng Ngũ Đế, trong các liên minh bộ lạc đã phôi thai hiện tượng truyền ngôi vị thủ lĩnh cho con đẻ hoặc các cháu trong dòng họ, bất kể nội hay ngoại, không phân biệt nam nữ, miễn là có tài sẽ được trọng dụng. Nhiều thư tịch cổ đã ghi nhận việc chế độ Quân chủ thế tập ở Trung Quốc xuất hiện từ thuở khai sơ, đó là liên minh bộ lạc như: Phục Hy , Viêm Đế Khôi Ngỗi thị, Viêm Đế Thần Nông thị, Hoàng Đế Hiên Viên thị... Cũng từ đó mà mỗi lần thay đổi triều đại lại xảy ra xung đột đổ máu, vì những quần thần không phục thủ lĩnh mới của thị tộc khác, nổi trội hơn cả là cuộc chiến giữa Hoàng Đế và Xi Vưu. Bởi Nghiêu Thuấn phá vỡ thông lệ này nên dân tộc Trung Hoa tự hào về thời đại hoàng kim của họ với điều đáng quý là việc nhường ngôi cho người hiền. Cụm từ Nghiêu Thuấn thiện nhượng là thuật ngữ ca ngợi hành động truyền ngôi cho người hiền của hai vị quân chủ Đường Nghiêu và Ngu Thuấn khi họ đang tại vị, đức hạnh của họ được lý tưởng thành điển hình tốt đẹp nhất, làm khuôn mẫu cho một xã hội thịnh trị trong văn hóa Trung Quốc. Nghiêu khi tuổi cao sức yếu đã không truyền ngôi cho con trai là Đan Chu mà tìm đến Thuấn, một nhân vật tài giỏi và hiếu thảo để thay thế mình. Trước hết, Nghiêu thử thách Thuấn bằng việc gả hai con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho rồi phong làm thủ lĩnh tộc Hữu Ngu. Vượt qua nhiều phen hoạn nạn phát sinh từ nội bộ gia đình, đặc biệt là những âm mưu sát hại tàn nhẫn của cha và em khác mẹ để chiếm đoạt tài sản, nhưng phong thái hiếu kính của Thuấn vẫn không thay đổi. Nghiêu tiếp tục giao cho Thuấn nhiều chức quan trong mọi lĩnh vực: Tư đồ, tổng quản nội chính, ngoại giao, nông nghiệp, luật pháp, giáo dục... Ở bất kỳ cương vị nào, Thuấn đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, lúc đó Nghiêu mới quyết định nhường ngôi. Đến lượt mình, Đế Thuấn cũng bỏ qua con trai là Thương Quân mà cân nhắc rồi nhường ngôi cho người lập công trị thủy là Hạ Vũ. Khác với Nghiêu, Thuấn không cần thử thách bởi ông đã chiêm nghiệm năng lực của Vũ qua việc làm của người này. Thời đó, Đại hồng thủy gây ra tai họa lũ lụt khủng khiếp, dân chúng không có chỗ ở yên ổn phải dịch chuyển nay đây mai đó rất khổ sở, cha Vũ là Cổn từng trị thủy thất bại bị Nghiêu tử hình, nhưng Vũ vẫn nhịn nhục tiếp tục công việc của cha mà không hề oán thán. Khi công việc hoàn tất, Thuấn lập tức thoái vị. Khi Vũ còn tại vị, từng chỉ định người nối ngôi mình là Cao Dao, nhưng Cao Dao lại mất trước Vũ. Trước khi Vũ băng hà đã bàn giao quyền hành cho con Cao Dao là Bá Ích, Ích đứng ra chấp chính lo liệu quốc tang cho Vũ đúng ba năm rồi nhường lại ngai vàng cho con Vũ là Khải. Có thuyết khác lại nói, Ích định giành ngôi với Khải và bị Khải giết chết, Khải tức vị lập ra nhà Hạ, chế độ thế tập nhờ đó được tái lập. Trong quá trình chuyển giao quyền lực chính trị, Hạ Vũ bề ngoài truyền ngôi cho Ích như quy định "chọn người hiền tài" nhiều đời trước, nhưng thực tế lại giúp con mình là Khải tăng cường lực lượng, đợi thời cơ để đánh bại Ích. Vua Vũ đăng cơ luận công ban thưởng thực hiện phong tước kiến địa, hình thành nên một vạn chư hầu, các nước này thôn tính lẫn nhau, đến đời Thương còn hơn ba ngàn nước, qua Tây Chu còn trên tám trăm nước. Sang thời Xuân Thu, các nước chư hầu nổi dậy lấn lướt chính quyền trung ương gây gổ sát phạt liên miên, tranh hùng tranh bá, xưng vương xưng đế tiếm hiệu Chu thiên tử khiến xã hội càng rối ren loạn lạc, chẳng ai thiết gì đến nhân nghĩa nữa, do đó xuất hiện nhiều quan điểm lỗi lạc tìm cách sửa đổi mong cứu vớt thiên hạ, trong đó có Nho giáo của Khổng Tử. Huyền thoại 堯天舜日 Nghiêu thiên Thuấn nhật ("ngày Nghiêu tháng Thuấn") được xây dựng dựa trên cơ sở những truyền thuyết dân gian để tôn vinh những bậc thánh chúa đời xưa lấy đạo chí công để trị quốc, chứ không lấy thiên hạ làm của riêng mình, ông cố ý xây dựng hình tượng "Thái bình thánh đại" làm khuôn mẫu Nho giáo gọi là 祖述堯舜,憲章文武 tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ ("noi gương vua Nghiêu vua Thuấn, bắt chước vua Văn vua Võ", vua Văn vua Võ là 2 vị vua đã gây dựng nên cơ nghiệp nhà Chu). Từ Nghiêu Thuấn đến thời Xuân Thu cách xa như vậy nên việc tô điểm cho Nghiêu Thuấn thế nào mà chẳng được, Khổng Tử tạo ra huyền thoại này để chống đỡ tư tưởng chính trị của mình. Theo tư tưởng Triết học đời xưa thì "Kinh thư" là thư tịch cổ nhất nhắc đến chế độ thiện nhượng, nhưng theo các học giả ngày nay phân tích thì sách này do các Nho gia đời Hán ngụy tạo, tài liệu đầu tiên đề cập về Nghiêu Thuấn là "Luận ngữ". Trong đó thiên 20 "Nghiêu viết" ghi rõ những lời của Nghiêu khuyên Thuấn giữ đạo trung chính lúc sắp nhường ngôi, và Thuấn cũng khuyên Vũ như vậy trước khi thoái vị. Theo lẽ thường thì khi Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn, thiên hạ sẽ là của Thuấn. Nhưng theo tông chỉ của Nho giáo thì thiên hạ là của trời, Nghiêu chỉ nhường quyền cai trị thiên hạ cho Thuấn. Nếu trời đã không cho Thuấn thì Nghiêu có nhường cũng không được, vì thiên hạ thuận theo Thuấn nên Thuấn mới được thiên hạ. Trên thực tế, Cổ Tẩu và Tượng không hề làm hại Thuấn, mà do Đào Ứng đặt giả thuyết hỏi Mạnh Tử rằng bậc thánh quân nếu gặp phải việc lưỡng nan như vậy thì sẽ xử trí kiểu gì để toàn vẹn. Đến đời Nhà Nguyên, Quách Cư Nghiệp viết sách "Nhị thập tứ hiếu" đã dựa vào cơ sở trên xếp vua Thuấn thành tấm gương hiếu thảo đầu tiên để răn dạy lớp hậu sinh, đây là trường hợp vô tiền khoáng hậu hi hữu trong lịch sử. Cũng theo truyền thuyết trên, trước khi gặp Thuấn, Nghiêu đã hội kiến quần thần để bàn bạc việc nhường ngôi nhưng chưa thấy ai toại tâm xứng ý. Tiếp theo, Nghiêu từng đến gặp các cao nhân Hứa Do và Tử Châu Chi Phụ để đặt vấn đề nhường ngôi nhưng hai người đó đều thoái thác. Sau này, Ngu Thuấn tìm lại Tử Châu Chi Phụ nhưng ông này vẫn kiên quyết không đồng ý, nhà vua bèn lựa chọn một ẩn sĩ khác là Thiện Quyển để bày tỏ ý định nhưng cũng bị khước từ. Điều đó cho thấy, ngay cả giai đoạn cực trị Nghiêu Thuấn mà vẫn có những người thích cuộc sống ẩn dật không màng thế sự, đâu cứ gì phải thời đại nhiễu nhương lộn xộn. Thực ra, trước Nghiêu Thuấn, Sơn hải kinh cũng từng nhắc tới việc nhường ngôi của Đế Du Võng cho Hiên Viên Hoàng Đế rồi ẩn cư hành y nhưng không phải tự nguyện mà do hoàn cảnh bắt buộc tạo ra, bởi lẽ đó nên Khổng Tử không đề cao vị vua này. Sau khi định hình học thuyết, Khổng Tử chu du liệt quốc truyền bá tư tưởng của mình, nhưng chư hầu không nghe. Ngài hiểu rằng muốn thay đổi thế cuộc phải có quyền lực, lời nói dẫu hay cũng vô dụng, nên quyết định quay về nước Lỗ, đem kiến thức ghi chép lại, hy vọng hậu thế sẽ có người hiểu và thực hiện đường lối đó. Tư tưởng chính trị của Khổng Tử được các thế hệ học trò như: Tăng Tử, Tử Tư Tử, Mạnh Tử... các đời nối tiếp nhau truyền bá suốt thời Chiến Quốc nhưng hiệu quả đạt được không cao, bởi cường độ chiến tranh trong giai đoạn này còn khốc liệt hơn cả thời Xuân Thu. Ngoại thiện và Nội thiện. Nhìn lại lịch sử, ta có thể thấy ngay năm hình thức để một bậc đế vương đăng cơ tức vị trong cung cấm, đó là: Thiện vị, Hoàn vị, Kế vị, Tôn vị và Đoạt vị. Thiện vị được phân thành Nội thiện và Ngoại thiện, quân chủ đương nhiệm sẽ chủ động nhường ngôi cho kẻ khác khi họ còn đang tại vị, với hình thức cao nhất là tự nguyện chuyển giao quyền lực cho người hiền. Chế độ này có đặc điểm trái ngược hẳn với việc hành thích đương kim hoàng thượng hoặc công khai tổ chức đảo chính để giành lấy giang sơn gọi là Đoạt vị, khác với Kế vị ở chỗ người tiếp nhiệm sẽ tự động thế chỗ người tiền nhiệm đã qua đời, khác với Tôn vị là trường hợp quân chủ băng hà chưa kịp chọn người thay ngôi nên quần thần hoặc vương tôn quý tộc phải thương nghị đề cử vua mới, khác với Hoàn vị ở đặc điểm ngôi vua vốn của vị vua trước sau khi đã thực hiện một trong mấy hình thức trên nhưng bởi một lý do nào đó ngôi vị được trả lại cho chủ cũ. Trong chế độ Thế tập, có một điều luật bất di bất dịch là vua cũ băng hà thì mới được lập vua khác, do đó có nhiều trường hợp nhà vua bị trục xuất khỏi triều đình nhưng họ vẫn giữ ngôi trên danh nghĩa tuy công việc chính sự đều do quyền thần khống chế. Điển hình như: Hạ Thái Khang, Chu Lệ Vương, Sái Ai Hầu, Lỗ Chiêu Công... Thời Xuân Thu, Tống Tương Công bị Sở Thành Vương giam hãm, người nước Tống lập mưu tạm thời đưa công tử Mục Di lên ngôi để giữ nước, khi nước Sở phóng thích Tương Công thì Mục Di lập tức thoái vị. Lại có trường hợp Trịnh Thành Công bị bắt giữ ở nước Tấn khiến người nước Trịnh phải giả vờ lập thế tử Khôn Ngoan làm quân chủ mới, vua Tấn thấy vậy bèn thả vua Trịnh ra, khi Thành Công về nước thì Khôn Ngoan lại hoàn vị cho cha. Thời Chiến Quốc, Sở Hoài Vương cũng gặp phải hoàn cảnh tương tự ở bên Tần quốc, nhưng dù dân nước Sở đã lập Sở Khoảnh Tương Vương nhưng vua Tần nhất định không chịu thả, điều đó khiến Hoài Vương phải ôm hận mà chết nơi đất khách quê người. Bởi bó buộc vì nguyên tắc đó mà dẫn đến nhiều tấn thảm kịch như con giết cha, chú giết cháu, anh em giết nhau để đoạt lấy quyền lực. Ở chế độ Thiện nhượng thì vấn đề này hoàn toàn ngược lại, có điều việc tự nguyện nhường ngôi hầu như không tồn tại trên thực tế mà chỉ mang tính tượng trưng. Ngoại thiện nghĩa là nhường ngôi cho người ngoài dòng tộc, nhưng đây hoàn toàn chỉ là chiêu bài được các quyền thần khác họ sử dụng để hợp lý việc kế thừa ngôi vị trên danh nghĩa theo truyền thống Nho giáo, những trường hợp ngoại thiện thất bại sử sách đều chép là Soán vị. Ví như: Vương Mãng soán Hán, Hoàn Huyền soán Tấn, Hầu Cảnh soán Lương... Vị quân chủ thoái nhiệm thường bị: Nội thiện nghĩa là nhường ngôi cho con ruột, cháu nội (trường hợp con trai chết sớm), cháu gọi bằng chú bác ruột (trường hợp toàn con gái), anh em ruột (trường hợp không có con), chú bác ruột (trường hợp không có anh em ruột và con cháu ruột) hoặc cùng lắm là người trong họ (khi ruột thịt trực hệ không còn ai), vị quân chủ từ nhiệm thường được tôn làm Thái thượng hoàng (ở phiên thuộc hay chư hầu chức vụ này gọi là Thái thượng vương). Khi Thái thượng hoàng vẫn còn mà vị quân chủ đương nhiệm tiếp tục nhường ngôi cho người khác, thì Thái thượng hoàng được tôn là Vô thượng hoàng (ở phiên thuộc hay chư hầu không tồn tại danh vị Vô thượng vương mà chỉ phân biệt bằng cách gọi Thái thượng vương và Thượng vương điện hạ), sử sách chép là Tốn vị. Theo thống kê từ những số liệu trong các thư tịch cổ thì có đến già nửa các trường hợp nội thiện có kết cục không khác gì ngoại thiện, vị quân chủ thoái nhiệm thường có bốn nguyên nhân: Ảnh hưởng. Đầu thời Xuân Thu, Thục Vọng Đế nhường ngôi Thục Tùng Đế. Cuối thời Chiến Quốc, Yên vương Khoái nhường ngôi tướng quốc Tử Chi. Cả hai trường hợp này chung cuộc người thoái nhiệm đều táng mệnh thân vong, họ học tập Nghiêu Thuấn tự nguyện nhường ngôi nhưng cái kết của họ lại quá bi đát. Tần Thủy Hoàng diệt sáu nước thống nhất thiên hạ, thực hiện đường lối Pháp gia, tiến hành đốt sách giết học trò khiến mọi học thuyết của Bách gia chư tử gần như bị triệt thoái hoàn toàn. Đến khi nhà Hán nổi lên, việc trung hưng Nho giáo bắt đầu phôi thai. Bấy giờ tư tưởng trung quân ái quốc của Khổng Tử được quảng bá rộng rãi, thấm nhuần trong đạo đức quần chúng, do kinh nghiệm thực tế từ hai trường hợp nhường ngôi thật sự thời Xuân Thu Chiến Quốc nên trong thâm cung hễ xảy ra cuộc thay đổi triều đại cho người khác họ đều được các quyền thần dàn xếp, ép thiên tử xuống chiếu nhường ngôi cho mình nhằm hợp thức hóa hoàng vị. Chế độ Thiện nhượng tại Trung Quốc bản thổ. Là nơi khởi nguyên của Nho giáo, chế độ Thiện nhượng phát triển mạnh mẽ nhất bên Trung Quốc. Trừ những lần biến động chính trị ngoài dân gian như: chư hầu quật khởi, ngoại bang xâm lược, nông dân tạo phản, quân phiệt cát cứ, phiên trấn chuyên quyền, v.v. Những thế lực này sát phạt lẫn nhau kịch liệt, cuối cùng còn lại ai thì người đó trở thành "chân mệnh thiên tử", được phái Nho gia tôn vinh bởi đi đúng chính đạo nên mới được nước, sử sách dùng chữ "diệt" (滅) để hiển thị cho việc thay đổi triều đại như vậy. Ví dụ: Thương diệt Hạ, Chu diệt Thương, Tần diệt Chu, Tần diệt lục quốc, Sở diệt Tần, Hán diệt Tây Sở, Hán diệt Tân, v.v. Tất cả các cuộc thay ngôi đổi chủ ngoài dòng tộc trong cung cấm ở quốc gia này (bao gồm cả Nam Chiếu và Đại Lý) đều được thực thi bởi chế độ Thiện nhượng, cụ thể là: Còn về nội thiện, các cuộc nhường ngôi cũng đều có nguyên do ẩn chứa sâu xa, không phải cuộc nội thiện nào cũng diễn ra suôn sẻ, có nhiều cuộc cũng đổ máu và sát phạt hoặc cách thức ép buộc cũng chẳng kém gì ngoại thiện. Chế độ Thiện nhượng tại các nước đồng văn. Chế độ thiện nhượng có ảnh hưởng trực tiếp đến ba quốc gia đồng văn Hán ngữ là: Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên. Trước khi văn hóa phương Tây du nhập, tất cả những học thuật và tư tưởng của ba quốc gia trên đều bị Nho giáo thống soái mà không có một trường phái khác đồng hành, hễ Nho giáo ở Trung Nguyên biến thiên ra sao thì ảnh hưởng của nó ở bên ngoài đều phải theo như thế: Quần đảo Nhật Bản. Ở Nhật Bản do chỉ tồn tại một triều đại duy nhất từ thuở khai quốc đến nay nên không có ngoại thiện, tất cả các cuộc nhường ngôi đều diễn ra trong nội bộ vương thất, trừ vương quốc Lưu Cầu lúc đó chưa phải lãnh thổ Nhật Bản có một cuộc ngoại thiện giữa vương triều Thuấn Thiên và vương triều Anh Tổ. Việt Nam. Tại Việt Nam, sự thay đổi triều đại đều rất êm thấm, không phải thiện vị thì cũng tôn vị, trừ ba triều đại có được giang sơn nhờ vũ lực là Nhà Đinh, Nhà Nguyễn Tây Sơn và Nhà Nguyễn. Dưới đây là các cuộc ngoại thiện: Còn nội thiện đã quy định thành một chế độ rõ rệt từ thời Nhà Trần, các triều đại sau cứ theo đó mà bắt chước. Tuy nhiên, các trường hợp nội thiện sau này đều không suôn sẻ, nếu không phải do giải pháp tình thế bởi chiến tranh loạn lạc thì cũng bị gượng gạo vì quyền thần ép buộc mà ra. Bán đảo Triều Tiên. Trên bán đảo Triều Tiên có duy nhất một trường hợp ngoại thiện giữa nhà Cao Ly và nhà Triều Tiên, tất cả các trường hợp nhường ngôi còn lại đều là nội thiện. Liên kết ngoài. [[Thể loại:Thoái vị]] [[Thể loại:Thiện nhượng]] [[Thể loại:Chế độ quân chủ]] [[Thể loại:Chuyển giao quyền lực chính trị]] [[Thể loại:Lịch sử Trung Quốc]] [[Thể loại:Lịch sử Nhật Bản]] [[Thể loại:Lịch sử Triều Tiên]] [[Thể loại:Lịch sử Việt Nam]] [[Thể loại:Nho giáo]] [[Thể loại:Khổng Tử]] [[Thể loại:Văn hóa Trung Hoa]] [[Thể loại:Văn hóa phương Đông]]
1
null
Fokker V.8 là một loại máy bay năm cánh, do Fokker chế tạo cho Luftstreitkräfte trong Chiến tranh thế giới I. Sau thành công ban đầu của chiếc máy bay ba tầng cánh Fokker Dr.I, Anthony Fokker đã đề xuất một chiếc máy bay năm cánh, lý luận rằng nếu ba cánh đã tốt thì năm cánh còn tốt hơn. Reinhold Platz, kỹ sư trưởng của Fokker, ban đầu bị sốc bởi ý tưởng này: suy nghĩ xa hơn chỉ củng cố phản ứng này. Tuy nhiên, chiếc máy bay đã được chế tạo. Sử dụng một số bộ phận của V.6, Platz đã thiết kế một cỗ máy có ba cánh ở cực trước của máy bay và một cặp cánh ở giữa dọc theo thân máy bay, các cánh hai tầng cánh ở giữa thân máy bay được đặt ở vị trí các cạnh phía trước của chúng gần như bằng với phía sau phần cuối của buồng lái đến.
1
null
Trương Quốc Lập (tiếng Hoa: 张国立, bính âm: "ZhangGuoLi"; sinh ngày 17 tháng 1 năm 1955 tại Thiên Tân, Trung Quốc) là một diễn viên, đạo diễn kiêm chức vụ giám sát sản xuất phim nổi tiếng của Trung Quốc. Ông là "Thị đế tam đại" (tức người đạt Thị đế ở cả 3 giải thưởng truyền hình danh giá Phi thiên, Bạch Ngọc Lan, Kim Ưng) thứ 2 của Trung Quốc sau diễn viên Vương Chí Văn. Hiện nay, ông là thành viên Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Diễn viên Đoàn Văn hóa Đường sắt Trung Quốc, Trưởng khoa Học viện Điện ảnh Trùng Khánh, thành viên Hội kiến quốc dân chủ Trung Quốc .
1
null
Hải Ninh (31 tháng 12 năm 1931 - 5 tháng 2 năm 2013) là một nhà đạo diễn điện ảnh Việt Nam nổi tiếng, ông đã đạo diễn cho nhiều bộ phim đoạt các giải thưởng lớn ở trong và ngoài nước như "Người chiến sĩ trẻ", "Em bé Hà Nội", "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm"... Ông còn là Giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam từ năm 1984 đến 1994. Đến với điện ảnh từ năm 1956, Hải Ninh thuộc thế hệ đầu tiên của trường Điện ảnh Việt Nam và là một trong những người đặt viên gạch cho nền điện ảnh nước nhà. Tiểu sử. Hải Ninh tên thật là Nguyễn Hải Ninh, sinh năm 1931 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông là con út trong gia đình 6 anh em, ông là con bà hai. 13 tuổi bố mất, 14 tuổi mẹ mất. 16 tuổi ông đi bộ đội, sau đó phục viên nhưng không về quê (xã Hoằng Hợp, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa) mà lại sang chợ Bút (xã Hoằng Phúc, huyện Hoằng Hóa) cùng mấy anh em mở một hiệu chụp ảnh. Ông tham gia cách mạng năm 1947, sau 4 năm ở Vệ quốc đoàn, từ 1951, ông tham gia công tác tại địa phương. Khi đang là Vệ quốc quân, Hải Ninh cưới cô nữ sinh Lê Hồng Liệu - con gái một ông Tú tỉnh Thanh, em gái nhà văn Nam Mộc (Sơn Tùng). Sau khi kết hôn, vợ ông sinh con đầu lòng Hồng Hải ở Thái Bình năm 1954, tới 1961 mới về Hà Nội. Ban đầu, họ phải ở chung trong gian phòng tập thể của xưởng phim ở 72 Hoàng Hoa Thám, căn phòng năm cái giường cá nhân, 5 đôi, với con nhỏ của đạo diễn Hải Ninh, tổng cộng tới 11 người. Sau gia đình đạo diễn chuyển về sống tại khu tập thể bờ sông, gần phố Chương Dương Độ. Rồi về căn hộ tầng 4 nhà A1 Trung Tự. Đến lúc được phân nhà tại Thanh Xuân, ông đã trả nhà cũ. Gần 10 năm, khi bà chuyển về Ngân hàng Trung ương, vợ chồng mới có dịp gần nhau, nhưng "cũng chỉ là tượng trưng" như ông bảo. Vì đó là thời điểm Mỹ sắp đánh phá miền Bắc. Công việc của ông gắn bó với những dấu ấn lịch sử của đất nước khiến cuộc sống của ông chẳng khác chi người lính, cũng xông pha bom đạn, cũng xa nhà triền miên. Các con của đạo diễn Hải Ninh cũng tham gia vào ngành điện ảnh Việt Nam: Nguyễn Hồng Hải (Con trai cả - Phó chủ nhiệm Khoa Công nghệ - vật liệu Trường đại học Bách khoa), Trọng Tuân (con trai thứ - họa sĩ), Thanh Vân (con thứ- đạo diễn), Nhuệ Giang (con dâu - đạo diễn), Nguyễn Thu Hà (con út - hậu cảnh, phục trang cho nhiều phim như "Long thành cầm giả ca", giảng viên Trường đại học Sân khấu Điện ảnh). Sự nghiệp. Sau khi làm phó đạo diễn phim "Một ngày đầu thu" (1962), ông là đạo diễn thứ nhất phim "Người chiến sĩ trẻ". Sau đó, ông ghi dấu ấn khó quên với những tác phẩm như "Rừng O Thắm",  "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", "Em bé Hà Nội", "Mối tình đầu", "Đêm hội Long Trì", "Đất mẹ", "Kiếp phù du", "Tình yêu bên bờ vực thẳm"... Trong đó "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" - bộ phim nhựa đầu tiên của điện ảnh Việt Nam - tác giả đã dành 5 năm để viết, 2 năm để quay dựng và bộ phim "Đêm hội Long Trì": cũng đánh dấu là bộ phim tiên phong cho thể loại phim cổ trang Việt. Ông đã thực hiện nhiều thể loại phim khác nhau, bao gồm cả phim truyện và phim tài liệu. Ngoài những bộ phim nổi tiếng cách mạng của điện ảnh Việt Nam, Hải Ninh cũng thành công với phim tâm lý xã hội, sâu sắc khám phá vấn đề xã hội thời hậu chiến, ảnh hưởng tích cực đến tư tưởng của thanh niên. Trong "Mối tình đầu", ông đề cập đến tình yêu nam nữ một cách táo bạo. "Bãi biển đời người" tiếp tục làm tiếng vang, khám phá tâm lý sâu sắc và dẫn đầu trong việc phát hiện tín hiệu đổi mới. Ông cũng làm phim cổ trang cho Việt Nam qua "Đêm hội Long Trì" và "Kiếp phù du", mặc dù công việc chuẩn bị cho hai phim này gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn, đặc biệt trong việc nghiên cứu phục trang và tái hiện lịch sử trên trường quay. Trong những ngày làm phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", máy bay Mỹ ném bom đánh phá Hà Nội ác liệt trong 12 ngày đêm, cũng chính trong hoàn cảnh đó, ông lấy cảm hứng và cho ra đời bộ phim "Em bé Hà Nội". Trong bộ phim này, Lan Hương đóng vai một em bé ở Hà Nội, đang phải trải qua những khó khăn, gian khổ và tinh thần chiến đấu trong bối cảnh chiến tranh. Khi thời điểm đó, Lan Hương mới chỉ 12 tuổi. Ngoài ra, ông còn là đạo diễn các phim tài liệu "Ngày hòa bình đầu tiên ở Quảng Trị", "Hòn đảo tự do", "Thành phố lúc rạng đông". Cũng từ những tác phẩm điện ảnh của Hải Ninh, những gương mặt diễn viên như Trà Giang, Lâm Tới, Thế Anh, Lan Hương, Hoàng Cúc…đã có những vai diễn để đời, tên tuổi của họ cũng đi lên qua chính các vai diễn này. Đam mê và thói quen khác. Điện ảnh. Đam mê lớn nhất của đạo diễn Hải Ninh là điện ảnh. Ông là người yêu điện ảnh đến cuồng nhiệt. Trong thời gian còn làm đạo diễn, ông luôn sát sao cùng đoàn, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng cũng như sống hòa đồng cùng mọi người, còn trong công việc, ông là người nghiêm túc, luôn đặt ra các yêu cầu khắt khe để đảm bảo chất lượng bộ phim. Ông luôn đề cao vai trò sáng tạo của đội ngũ nghệ sĩ tài ba của ông. Ngoài ra, ông không ngại tìm tòi, thử thách trong các lĩnh vực khác nhau, từ phim điện ảnh đến truyền hình, từ phim chiến tranh đến phim tình cảm, cuộc sống để đem đến các bộ phim hay nhất đến cho khán giả. Trước khi mất ít tháng, kịch bản "Bà mẹ Hà Nội" của ông đã được Lãnh đạo Hà Nội thông qua, dự kiến đưa vào sản xuất để kỷ niệm 60 năm giải phóng thủ đô do Hãng phim Sao khuê của Hội điện ảnh Hà Nội thực hiện. Kịch bản này ông viết đã lâu nhưng mỗi năm ông lại nâng cao sửa chữa. Trong thời kỳ ông làm giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam, hãng gặp khá nhiều khó khăn khi cơ chế chuyển đổi. Đã có những tháng Hãng không có tiền trả lương. Ông bươn bả đi tìm kiếm đầu tư, tài trợ. Ông quan niệm "Nhà nước cần phải có chính sách ưu đãi, rõ ràng đối với điện ảnh  để điện ảnh được thụ hưởng chính sách đó - mọi Ban, Ngành liên quan cũng phải thực thi chính sách đó, không thể để điện ảnh sống trong tình trạng luôn ngửa tay đi xin thế này được" Hội họa. Đạo diễn Hải Ninh thích hội họa. Nhà ông có tranh bột màu của Nguyễn Tư Nghiêm, tranh lụa của Lương Xuân Đoàn, Hồ Quảng; tranh của các họa sĩ điện ảnh Đào Đức, Trương Qua. Diễn viên Trà Giang tặng một số tranh tĩnh vật, phong cảnh của bà và "Em bé Hà Nội" Ngọc Hà sau 22 năm, tặng người đạo diễn đã cho mình vai diễn sáng giá khởi đầu vào nghệ thuật, bức tranh Lan Hương vẽ đôi tay nâng đóa hướng dương vàng rực giữa nền đen, trước ngày ông nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 3). Hà Nội. Đạo diễn Hải Ninh rất yêu Hà Nội. Ông làm phim "Em bé Hà Nội", bộ phim làm nên tên tuổi của Lan Hương. Rồi ông viết kịch bản phim "Người mẹ Hà Nội", sửa đi sửa lại cả chục năm trời. Sau khi kịch bản được duyệt, ông rất mừng nhưng do tuổi cao sức yếu, không đi làm phim được nữa nên ông nhắm Thanh Vân (con trai thứ) làm đạo diễn. Tình bạn với Hồng Sến. "Bài chi tiết: Nguyễn Hồng Sến, Kim Chi" Đạo diễn Hải Ninh luôn coi Hồng Sến như người anh em kết nghĩa, gọi một cách trìu mến là "anh hai Sài Gòn". Hai đạo diễn có tính cách khác nhau, lại là bạn thân. "Đạo diễn Hồng Sến - con người và tác phẩm" (190 trang, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, tháng 4/2012) là cuốn sách đầu tiên của tác giả Hải Ninh. Viết về bạn thân, Hải Ninh có thái độ khách quan cần thiết của người "chép sử điện ảnh". Chính nhờ ý thức giữ gìn thư tín, tài liệu, bằng sự hiểu biết, tay nghề của đạo diễn yêu nghề, say mê học, tìm tòi, Hải Ninh đã viết với tư cách nhà phê bình phim, một chuyên gia điện ảnh Việt nam. Tháng 3/1964, Hồng Sến, Kim Chi và các nghệ sĩ điện ảnh miền Nam rời Hà Nội trở về Nam tham gia chiến đấu. Tính đến tháng 1/1974, cặp vợ chồng Hồng Sến - Kim Chi viết cho Hải Ninh 6 lá thư dài, 28 tấm ảnh (ghi chi tiết sau mặt ảnh). Đặc biệt trong đó, 1 lá thư dài 36 trang, được Hồng Sến viết khi có chút thời gian nghỉ dưỡng sau 15 tháng lăn lộn ở mặt trận quay bộ phim Sống và chiến đấu. Trang 172 đến 138 của cuốn sách này in bút tích, ảnh của Hồng Sến - Kim Chi. Nghệ sĩ, chiến sĩ Hồng Sến có bí danh Hồng Chi. Những trang thư vàng sậm, mỏng tang, viết bi đỏ; thư bằng bút bi trên giấy kẻ ô, giấy trắng đầy thân thiết mà cô em Kim Chi gửi anh Hải Ninh, hay Hồng Sến xưng hô "tao - mày" tâm tình say nghề giữa bom đạn, hiểm nguy, mới thấy tình yêu vĩ đại vô song của nghệ sĩ lớn Hồng Sến với điện ảnh. Tình bạn son sắt đầy cảm động của hai gia đình từ thuở giấy ố mùi đạn khói đến giờ vẫn vẹn nguyên. Hải Ninh chưa cùng Hồng Sến về Long An thăm cha mẹ bạn, những người ông nhận là cha mẹ nuôi, song họ đã cùng nhau sang Mỹ, thế hệ điện ảnh lứa đầu cũng là những người sang Mỹ gần như đầu tiên. Năm 1990, Thế Anh, Hoàng Cúc - các diễn viên trong phim của Hải Ninh, cùng đạo diễn Hồng Sến, Bùi Đình Hạc, Đặng Nhật Minh, sang Pháp dự Liên hoan phim Quốc tế Nantes, Cánh đồng hoang, Kiếp phù du chiếu tại Nantes, buổi nào cũng kín khán giả cả lối đi.  "Cặp bài trùng" Hải Ninh - Hoàng Tích Chỉ. "Bài chi tiết: Hoàng Tích Chỉ" Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ và đạo diễn Hải Ninh đã đồng hành một thời gian dài trong hành trình làm nghệ thuật, họ được coi là "cặp bài trùng" trong ngành điện ảnh Việt Nam. Họ bắt đầu quen biết nhau khi cùng theo học tại trường điện ảnh Liên Xo. Hải Ninh, một người từng là cựu binh, đã phát triển thành một đạo diễn xuất sắc với khả năng tổ chức và lãnh đạo tốt. Trong khi đó, ông Hoàng Tích Chỉ, người có xuất thân từ gia đình nho học và từng trải qua những khó khăn trong cuộc sống, đã tìm đến nghề biên kịch và đặt tâm huyết vào công việc này. Cả hai đều đồng tâm, hết lòng với công việc của mình và có mối liên kết tận tâm với nghệ thuật. Các bộ phim mà 2 người từng làm với nhau, đó là: "Vĩ tuyến 17 Ngày và Đêm", "Em bé Hà Nội", "Thành phố lúc rạng đông", "Mối tình đầu".
1
null
Trận Monnaie, hay còn gọi là Trận Tours là một hoạt động quân sự trong chiến dịch tấn công Pháp của quân đội Phổ – Đức trong các năm 1870 – 1871, đã diễn ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1870, về hướng nam xã Monnaie của nước Pháp. Trong trận giao chiến này, một sư đoàn Hanover của quân đội Đức dưới quyền chỉ huy của tướng Schwarzkoppen, thuộc Quân đoàn X dưới quyền chỉ huy của viên tướng Konstantin Bernhard von Voigts-Rhetz đã tấn công và giành chiến thắng trước một đạo quân "Garde Mobiles" trong quân đội Pháp (do tướng Ferry Pisani chỉ huy), đẩy bật quân Pháp về Langreais. Thắng lợi này đã tạo điều kiện cho người Đức tiến vào chiếm thành phố Tours. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1870, tình hình cho thấy là người Phổ sẽ tiến công Tours. Trong khi đó tướng Pisani của Pháp chỉ có một lực lượng yếu ớt trong tay mình, tuy nhiên ông ta cùng với binh lính của mình quyết không thể để quân đội Phổ đánh chiếm Tours mà không gặp phải một sự kháng cự nào. Nếu quân của ông ta tổ chức phòng ngự trong thành phố thì họ sẽ gặp thuận lợi, nhưng cư dân Tours sẽ chịu không ít rủi ro, và nếu quân Pháp thua trận, thành phố sẽ bị đối phương tàn phá. Vì vậy, vị tướng Pháp rời khỏi Tours, và tại Monnaie, trên con đường tới Château-Renault, lực lượng "Garde Mobiles" của ông đã bị Sư đoàn số 19 dưới quyền tướng Schwarzkoppen tấn công. Sư đoàn số 19 vốn đang tiến đánh từ Vendôme đến Tours theo đường Château-Renault, nhưng không phải để đánh chiếm Tours nhưng để kiểm chứng xem quân Pháp có còn tập trung binh lực với số lượng đáng kể ở đây hay không, đồng thời để cắt tuyến đường sắt từ Tours tới Le Mans. Trong khi quân Pháp có quân số là 6.000 người và 6 pháo dã chiến, quân Phổ có đến 12.000 – 14.000 quân, tập trung 24 khẩu đại bác. Tuy nhiên, quân đội Pháp tiến hành kháng cự quyết liệt trong suốt từ sáng đến tối, gây cho quân đội Phổ những thiệt hại rất nặng nề. Nhưng cuối cùng, Pisani không chống nổi. Các lực lượng của ông đã tiến hành triệt thoái về Nôtre-Dame d'Oe, gần Tours. Sau thắng lợi này, quân đội Đức tiếp tục bước tiến của mình, và, vào buổi sáng ngày 21 tháng 12 năm 1870, họ đã xuất hiện tại các bức trường thành của Tours với quân số đông đảo. Từ các cao điểm lân cận, quân Đức đã tiến hành một cuộc pháo kích, gây thiệt hại cho một số thị dân trên đường phố. Lá cờ đình chiến của Pháp đã được giơ lên, và viên thị trưởng đã xuất hiện trước các lực lượng Đức và yêu cầu họ ngừng pháo kích. Người Đức đã chấp thuận lời đề nghị này và quân lính Hanover tiến vào Tours. Nhưng, tướng Schwarzkoppen không thiết lập tổng hành dinht tại đây, mà thay vì đó, ông ưu tiên lập tổng hành dinh về hướng đông. Cùng ngày hôm đó, Quân đoàn X đặt tổng hành dinh tại Blois. Tours đã đầu hàng, song người Đức không trụ lâu trong thành phố này. Nó cách quá xa đạo quân chủ lực của "Binh đoàn thứ hai" dưới quyền tổng chỉ huy của Hoàng thân Friedrich Karl của Phổ, do đó không thể chắc chắn là quân Đức có thể chiếm giữ Tours một cách an toàn. Voigtz-Rhetz đã được lệnh triệt thoái về Orléans cùng với Quân đoàn X của ông, để theo dõi các vận động của binh đoàn dưới quyền tướng Pháp Charles Denis Bourbaki vốn đe dọa nhiều hơn đến quân đội Phổ.
1
null
Mary Leakey (6/2/1913 - 9/12/1996) là nhà nhân chủng học và khảo cổ học người Anh, người đã phát hiện ra Hộp sọ hóa thạch đầu tiên của loài Proconsul, một dạng vượn người (khỉ không đuôi) (ape) tuyệt chủng mà người ta tin rằng đó là tổ tiên của loài người hiện đại, và cũng là người đã phát hiện ra hộp sọ của Zinjanthropus tại Olduvai Gorge. Trong sự nghiệp của mình, bà làm việc rất nhiều cùng với chồng, Louis Leakey, tại Olduvai Gorge, khai quật các công cụ và hóa thạch của người cổ đại. Bà đã phát triển một hệ thống phân loại các công cụ bằng đá tìm thấy tại Olduvai. Bà cũng là người phát hiện ra dấu chân tại Laetoli. Dòng vượn phát triển thành người được bắt nguồn từ Proconsul vào khoảng 20 triệu năm, và tiếp sau đó là Kenyapithecus trong khoảng 15 đến 11 triệu năm trước đây. Australopithecus được coi là dạng đầu tiên của loài người, mặc dầu còn nhiều nét giống vượn.
1
null
Quý phi (chữ Hán: 貴妃; Bính âm: guìfēi), là một danh hiệu dành cho phi tần trong hậu cung của các nước Đông Á. Trong ngôn ngữ bình thường, Quý phi thường hay được hiểu nôm na là một danh từ ám chỉ một phi tần rất được sủng ái, địa vị tôn quý, chứ không phải một danh hiệu riêng. Lịch sử. Trung Quốc. Thời kì nhà Hán và Tây Tấn, không có cách dùng Quý phi, phi tần được gọi là Phu nhân, Chiêu nghi hoặc Tiệp dư. Vào thời Lưu Tống, Tống Hiếu Vũ Đế thiết lập Tam phu nhân, bao gồm: [Quý phi; 貴妃], [Quý tần; 貴嬪] và [Quý nhân; 貴人]. Đó là lần đầu tiên danh hiệu Quý phi xuất hiện trong lịch sử, phẩm vị ngang Tướng quốc. Nhà Bắc Chu cũng theo đó lập Quý phi thuộc hàng Tam phu nhân, gồm: [Quý phi; 貴妃], [Trưởng Quý phi; 長貴妃] và [Đức phi; 德妃]. Vào thời nhà Tùy, Quý phi đứng đầu hậu cung, cùng [Thục phi; 淑妃], [Đức phi; 德妃] hợp xưng Tam phu nhân, vị Chính nhất phẩm chỉ dưới Hoàng hậu. Thời nhà Đường tiếp tục giữ vị trí độc tôn của Quý phi, cùng với [Thục phi], [Đức phi] lại thêm [Hiền phi; 贤妃] gọi chung là Tứ phu nhân. Đến thời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, từng bỏ Tứ phi để cải thành [Huệ phi; 惠妃], [Lệ phi; 麗妃] và [Hoa phi; 華妃], nhưng sau lại trở về như cũ để sách phong cho Dương thị tức Dương Quý phi. Vào đầu triều đại nhà Minh, có các Phi kèm phong hiệu như [Ninh phi; 寧妃], [Thuận phi; 順妃], nhưng có bậc Quý phi là cao nhất, như Thành Mục Quý phi Tôn thị của Minh Thái Tổ, Chiêu Hiến Quý phi Vương thị của Minh Thành Tổ. Hiếu Cung Chương hoàng hậu Tôn thị khi làm Quý phi, do được Minh Tuyên Tông sủng ái nên cũng có [Kim bảo; 金寶] như Hoàng hậu, mở đầu cho việc Quý phi được hưởng nhiều đặc ân như Hoàng hậu suốt hai triều Minh và Thanh về sau. Đến thời Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm, do sủng ái Vạn Quý phi nên phong Vạn thị làm Hoàng quý phi, đứng đầu chúng phi, từ đó sự độc tôn của Quý phi bị thay thế bởi Hoàng quý phi. Sang thời nhà Thanh, Quý phi trở thành cấp bậc thứ hai trong hậu cung, chỉ có hai người cùng lúc tại vị, vị thứ xếp sau Hoàng quý phi (xem thêm ở Hậu cung nhà Thanh). Việt Nam. Hậu cung ở Việt Nam, trước thời Lê sơ đều khó khảo được. Vào thời Lê sơ, Lê Thánh Tông định ra quy chế hậu cung chính thức. Dưới Hoàng hậu có: Thời nhà Nguyễn, Gia Long Đế đặt các thứ bậc nội cung. Dưới Hoàng hậu có: Từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Nguyễn Thánh Tổ chấn chỉnh nội đình, quy định cung giai 9 bậc, hàng Phi là hai bậc đầu, gọi là [Nhất giai Phi; 一階妃] và [Nhị giai Phi; 二階妃]. Mỗi giai có 3 tước, sắp các chữ trước sau là cao thấp phân biệt, theo quy định năm đó thì [Quý phi] là đứng đầu. Định ước này tiếp tục giữ vào thời Nguyễn Hiến Tổ, và nguyên phối của ông là Nghi Thiên Chương Hoàng hậu đã được phong làm Quý phi vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Sang thời Nguyễn Dực Tông, tước Quý phi bị thay bằng [Thuận phi], và từ đó tước [Quý phi] biến mất trong hậu cung nhà Nguyễn, chỉ còn Hoàng quý phi ở vị trí độc tôn mà thôi.
1
null
Tống Chiêu công (chữ Hán: 宋昭公; trị vì: 469 TCN-404 TCN hoặc 468 TCN-422 TCN), tên thật là Tử Đặc (子特), là vị vua thứ 29 hay 30 của nước Tống - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Theo Sử ký, Tống Vi tử thế gia, Tống Chiêu công là cháu chắt của Tống Nguyên công, vua thứ 27 của nước Tống, cháu gọi Tống Cảnh công, vua thứ 28 của nước Tống là ông bác. Ông nội ông là công tử Đang Tần, con thứ của Tống Nguyên công, Đang Tần sinh ra Tử Củ, Tử Củ sinh ra Tử Đặc. Lúc còn sinh thời, Tống Cảnh công giết chết công tôn Củ, nên Tử Đặc oán hận Cảnh công. Năm 469 TCN, sau khi Tống Cảnh công chết, Tử Đặc giết thế tử của Cảnh công rồi đoạt ngôi. Tả truyện ghi chép khác với Sử ký, viết rằng Tống Cảnh công không có con trai. Năm 469 TCN, Cảnh công lâm bệnh, dặn đại thần là Đại Duẩn rằng Tử Khải là người kế vị. Tuy nhiên sau khi Tống Cảnh công mất, các đại phu phản đối. Tử Khải phải chạy sang nước Sở. Người nước Tống lập công tử Đặc lên làm vua, tức Tống Chiêu công. Sử ký không ghi rõ những hành trạng của ông trong thời gian ở ngôi. Năm 406 TCN, Tống Chiêu công qua đời. Con ông là Tử Cấu Do lên nối ngôi, tức Tống Điệu công.
1
null
Y Phụng (tên thật là Nguyễn Mỹ Thể, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1976) là một nữ diễn viên điện ảnh, ca sĩ, người mẫu ảnh người Việt Nam. Cuộc đời. Cô tên thật là Nguyễn Mỹ Thể, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thuở nhỏ, do cha mẹ là nghệ sĩ cải lương, cô thường đi theo đoàn lưu diễn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đến năm 6 tuổi, cô được cha mẹ bắt đầu cho đóng vai quần chúng trong vở "Khói rừng quê mẹ" và hát những bài hát thiếu nhi một mình trước giở mở màn. Năm 12 tuổi, được cha mẹ hướng cho học múa ba lê nhưng không thích mà tự học hát qua các băng video nhạc hải ngoại. Cô cho biết phong cách ăn mặc và biểu diễn táo bạo của cô là ảnh hưởng từ thần tượng ‒ nữ ca sĩ Madonna. Năm 13 tuổi, Y Phụng nghỉ học, chấp nhận đi hát lót, hát không lương ở tỉnh và các sân khấu trên địa bàn thành phố, nổi tiếng với cover bài "You're My Heart, You're My Soul" của nhóm Modern Talking. Cô cùng ca sĩ Minh Thuận (lúc đó chưa nổi tiếng) thường đi hát lót chung với nhau. Lần song ca cuối cùng trên sân khấu của cả hai là trong chương trình Duyên dáng Việt Nam số 6 năm 1998. Cô cũng từng hát tân cổ giao duyên cùng cha Minh Phụng trong một số băng video. Vai diễn đầu tiên năm 14 tuổi của Y Phụng là vai phụ trong phim "Những cánh hoa dại". Cô bắt đầu nổi tiếng hơn với sự nghiệp diễn xuất khi đóng chung với Lý Hùng trong nhiều bộ phim mì ăn liền như "Riêng chỉ có anh", "Đời vũ nữ", "Hải đường trắng"... Sau này, Lý Hùng thừa nhận cả hai từng yêu nhau được 4 năm. Trước khi mất, Minh Phụng có nguyện vọng muốn thấy con gái yên bề gia thất nên cô kết hôn, rồi sang định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2005. Cô kết hôn với người chồng thứ hai vào năm 2016 và có một đứa con tên Paris. Sự nghiệp ca nhạc. Khi sang định cư ở Hoa Kỳ, Y Phụng được Trung tâm Asia mời hát cho 26 kỳ đại nhạc hội thu hình của trung tâm này, cũng như biểu diễn cho các chương trình văn nghệ của cộng đồng người Việt tại khắp các tiểu bang.
1
null
Album phối âm, hay album phối khí, album hòa âm, album phối lại hoặc album remix là một loại album bao gồm các phiên bản remix (phối âm) hoặc phiên bản thu âm lại của một nhạc phẩm đã có sẵn. Các phiên bản remix trong album phối âm có thể là tập hợp nhiều bản remix của một hay nhiều ca khúc. Những album phối âm nổi tiếng bao gồm "" của Michael Jackson, "You Can Dance" của Madonna, "J to tha L-O! Remixes" của Jennifer Lopez hay "The Remix" của Lady Gaga.
1
null