text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Cầu Thị Cầu là một cây cầu đường bộ bắc qua sông Cầu thay thế cho cầu Đáp Cầu (cây cầu đường bộ chung với đường sắt). Cầu song song với cầu cũ về phía hạ nguồn nối phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh với phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tại lý trình km23 + 485 trên tỉnh lộ 295B.
1
null
Sư đoàn Bộ Binh 2 là một sư đoàn của quân đội Hoa Kỳ, được thành lập ngày 26 tháng 10 năm 1917. Nhiệm vụ chính hiện nay là bảo vệ Hàn Quốc trong giai đoạn đầu của một cuộc tấn công có thể sẽ xảy ra từ Bắc Triều Tiên cho đến khi các đơn vị khác của Mỹ có thể đến. Có 17.000 binh sĩ trong Sư đoàn 2 Bộ Binh, với 10.000 người trong số họ đóng quân tại Hàn Quốc, chiếm khoảng 35% lực lượng quân sự của Mỹ tại Hàn Quốc. Sư đoàn 2 Bộ Binh không giống như bất kỳ bộ phận khác trong quân đội Mỹ, được tạo thành từ một phần của các binh sĩ Hàn Quốc, được gọi là KATUSAs (lực lượng Hàn Quốc trong quân đội Mỹ). Chương trình này bắt đầu vào năm 1950 theo thỏa thuận với Tổng thống Hàn Quốc Syngman Rhee. Khoảng 27.000 binh sĩ KATUSAs phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ vào cuối của Chiến tranh Triều Tiên. Tính đến tháng 5 năm 2006, khoảng 1.100 binh sĩ KATUSA phục vụ với Sư đoàn 2 Bộ Binh. Cũng đã có hơn 3.000 binh sĩ Hà Lan gia nhập sư đoàn từ năm 1950 đến năm 1954. Các thành phần của sư đoàn bao gồm: Lữ đoàn Thiết Giáp số 1; các Lữ đoàn Stryker 2, 3, 4; lữ đoàn không vận tác chiến.
1
null
Vốn giới tính là một hình thức giá trị xã hội được thụ hưởng bởi một cá nhân, như một kết quả của hấp dẫn giới tính của mình. Như với các hình thức khác của vốn, vốn giới tính là có thể chuyển đổi, và có thể hữu ích trong việc đạt được các hình thức vốn khác, bao gồm vốn xã hội và vốn kinh tế. Định nghĩa. Kinh tế học. Định nghĩa đầu tiên liên quan nhiều hơn đến kinh tế học được dựa trên lý thuyết "vốn con người" của Gary Becker, và dự đoán rằng mọi người đầu tư một cách hợp lý trong việc triển lãm hấp dẫn giới tính của họ khi họ có thể mong đợi sự thu hồi các đầu tư của họ. Cái mà ông định nghĩa là một hình thức của vốn sức khỏe mà bản thân nó là một hình thức của vốn cá nhân. Xã hội học. Định nghĩa xã hội học trên cơ sở ý tưởng của Pierre Bourdieu về các "lĩnh vực". Định nghĩa này xây dựng trên khái niệm về vốn của Bourdieu. Green định nghĩa "vốn giới tính" như sự tích lũy cho một cá nhân do chất lượng và số lượng các thuộc tính mà người đó sở hữu mà gợi ra một phản ứng gợi tình trong một người khác, bao gồm ngoại hình, ảnh hưởng và phong cách văn hóa xã hội. Một số các thuộc tính này có thể là bất biến, như chủng tộc hoặc chiều cao của một cá nhân, trong khi những thuộc tính khác có thể được thu nhận thông qua đào tạo thể dục, hoặc nhân tạo, thông qua phẫu thuật thẩm mỹ hay trang điểm, vv. Không có hình thức bá quyền đơn giản của vốn giới tính. Ngược lại, tiền tệ của vốn là khá biến động, có được một địa vị bá quyền liên quan đến sở thích giới tính của các nhóm xã hội chuyên môn cao mà phân biệt một lĩnh vực giới tính này với một lĩnh vực giới tính khác. Quan trọng hơn, điều này có nghĩa là vốn giới tính tốt nhất được coi là một tài sản của lĩnh vực này, và không phải là một hình thức cụ thể của vốn. Một định nghĩa thứ hai được phát triển bởi Catherine Hakim, coi vốn giới tính như tài sản cá nhân thứ tư. Định nghĩa này là sự kết hợp đa dạng của sự hấp dẫn về thể chất và xã hội đã vượt quá xa sức hấp dẫn giới tính là trọng tâm của quan điểm 'các lĩnh vực'. Không giống như quan niệm về vốn giới tính của Green, vốn giới tính của Hakim là một vốn cá nhân không cần thiết ám chỉ tới một lĩnh vực. Những bằng chứng hỗ trợ cho các khái niệm về vốn giới tính, định nghĩa là "vẻ đẹp", "hấp dẫn thể chất" và "đẹp trai" hay "xinh gái", được cung cấp trong cuốn sách mới nhất của Daniel Hammermesh, "Beauty Pays", nơi ông đánh giá các bằng chứng nghiên cứu về lợi ích kinh tế của việc hấp dẫn trong mọi hoàn cảnh, trong đó có giảng dạy giáo dục đại học, chính trị, kinh doanh và tiếp thị, và giao tiếp xã hội hàng ngày. Hamermesh giả định những lợi ích kinh tế này phải là do phân biệt đối xử không công bằng, một vị trí ông có từ cuốn sách mới của Deborah Rhode, "Beauty Bias", phê bình của một luật sư nữ quyền về các lợi ích xã hội tích luỹ cho những người hấp dẫn, và những bất lợi được trải nghiệm của những người không hấp dẫn, đặc biệt là hầu hết những người béo phì. Tầm quan trọng. Catherine Hakim cho thấy rằng vấn đề vốn giới tính không thuộc lĩnh vực tình dục, và ra khỏi các mối quan hệ riêng tư. Cô đã chỉ ra rằng vốn giới tính là quan trọng trong các lĩnh vực truyền thông, chính trị, quảng cáo, thể thao, nghệ thuật, và trong tương tác xã hội hàng ngày, bao gồm sáu yếu tố: Lý thuyết vốn giới tính của Catherine Hakim lập luận rằng vốn giới tính là tài sản cá nhân thứ tư quan trọng, cùng với vốn kinh tế, vốn văn hóa/con người và vốn xã hội; vốn giới tính đó ngày càng quan trọng trong các xã hội hiện đại phong phú, phụ nữ thường có vốn giới tính nhiều hơn nam giới, và vốn giới tính này có các lợi ích và đặc quyền xã hội có lợi cho nữ giới. Adam Green thấy rằng vốn giới tính có thể liên quan đến sức khỏe cả tình dục và tinh thần, vì khi các cá nhân có vốn giới tính thấp cho thấy khả năng bị giảm bớt để nói về hoặc thương lượng sử dụng bao cao su với một đối tác có vốn giới tính lớn hơn, và phát triển các trạng thái cảm xúc tiêu cực như một hệ quả của việc cảm thấy kém hấp dẫn. Trong các thuật ngữ lý thuyết rộng hơn, vốn giới tính là quan trọng đối với lý thuyết xã hội trong chừng mực nó là một trong số các loại khác của vốn, bao gồm vốn xã hội, vốn biểu tượng và vốn văn hóa mà ảnh hưởng đến tình trạng dành cho từng thành viên cụ thể của xã hội lớn hơn. Vốn giới tính là có thể chuyển đổi thành các hình thức vốn khác, như khi các diễn viên xâu vốn giới tính vào vốn tài chính hay vốn xã hội (ví dụ như Marilyn Monroe), hoặc khi những nhân viên hấp dẫn nhận được các nâng đỡ và kết nối xã hội từ việc mang về nhiều khách hàng hơn nhờ vẻ ngoài của mình. Chủng tộc. Một số nghiên cứu cho rằng vốn tình dục có liên quan chặt chẽ với chủng tộc hoặc định kiến ​​chủng tộc của sự hấp dẫn giới tính. Các nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ phức tạp hơn vốn giới tính tới phân biệt chủng tộc theo đó một số đàn ông da đen được cung cấp các trạng thái tình dục cao trong bối cảnh của một lĩnh vực tình dục đồng tính nam ở thành phố New York chính xác bởi vì họ kêu gọi những tưởng tượng phân biệt chủng tộc của một số người đồng tính nam da trắng. Susan Koshy lập luận rằng phụ nữ châu Á đã đạt được "vốn tình dục" ở phương Tây thông qua các tài khoản quyến rũ của nam giới phương Tây - các mối quan hệ tình dục nữ châu Á trong phương tiện truyền thông và nghệ thuật. James Farrer cho rằng những người đàn ông da trắng sống ở Trung Quốc đã tăng cường "vốn giới tính" bằng cách phát sinh các hội của tính trắng với tính hiện đại, cởi mở giới tính và tính di động. Tầng lớp và giới. Các học giả cho rằng vốn giới tính gắn chặt với tầng lớp xã hội. Groes-Green cho rằng vốn giới tính và các hình thức khác của sức mạnh cơ thể trở thành nguồn lực quan trọng trong những người đàn ông trẻ bị tước quyền công dân ở Nam Phi khi họ tiếp cận tới vốn kinh tế và các công việc bị giảm bớt. Groes-Green tiếp tục lập luận rằng sự xuất hiện của vốn giới tính có liên quan đến các quan hệ giới, ví dụ như khi những người đàn ông trẻ nghèo xây dựng vốn giới tính bởi sự chải chuốt vẻ ngoài của mình và nâng cao hoạt động tình dục để đáp ứng các đối tác nữ và cạnh tranh với những người ngang tuổi tầng lớp trung lưu và những người già hơn được gọi là các 'ông bố bọc đường'. Vì vậy, vốn giới tính củng cố nam tính trong bộ mặt của tước quyền nam giới, và nó thường phát triển để đối phó với cuộc xung đột giữa các tính chất đàn ông bá quyền và trực thuộc.
1
null
Vòng 39 hay vòng quốc tế, là một vòng đấu đặc biệt được đề xuất tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, giải bóng đá lớn nhất nước Anh, theo đó các trận đấu sẽ diễn ra ở bên ngoài nước Anh. Giải bóng đá Ngoại hạng Anh hiện nay diễn ra theo thể thức hai lượt, mỗi đội tham gia thi đấu tổng cộng 38 trận phân thành một lượt đá sân nhà và một lượt đá sân khách (hay còn gọi là lượt đi - lượt về). Vòng 39 này đã được đề xuất trong cuộc họp của 20 câu lạc bộ giải Ngoại hạng Anh vào ngày 7 tháng 2 năm 2008, với mục đích là giới thiệu và thêm vòng này vào hệ thống thi đấu của giải Ngoại hạng Anh từ mùa bóng 2010-11, khi Premier League ký hợp đồng mới về bản quyền phát sóng trên truyền hình. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu triển khai đề xuất này sau đó được dời sang mùa 2013-14. Một số chủ tịch câu lạc bộ đã chấp thuận và xác nhận đề xuất này. Tuy nhiên dự án vòng 39 cũng bị các huấn luyện viên, các tổ chức bóng đá lớn trên thế giới phản đối và lên án kịch liệt bởi vì họ nhận thấy mục đích duy nhất của dự án trên là vì tiền và làm tổn hại đến người hâm mộ. Ngay cả chủ tịch FIFA, Sepp Blatter cũng bày tỏ quan điểm phản đối đề xuất này và cho rằng nó có thể ảnh hưởng đến việc đăng cai World Cup 2018 của Anh. Các quan chức bóng đá ở một số khu vực được dự kiến là nơi sẽ tổ chức các trận đấu cũng lên tiếng phản đối. Trước sức ép của dư luận, khái niệm "Vòng 39" đã bị hủy bỏ vào cuối tháng 5 năm 2010, nhưng vào tháng 10 năm 2014, nó lại được xem xét là một ý tưởng. Đề xuất. Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (hạng thi đấu cao nhất của bóng đá Anh) có 20 câu lạc bộ tham dự, thi đấu theo thể thức lượt đi và lượt về (tức là nếu đội A đá với đội B trên sân nhà của đội A lượt thứ nhất thì lượt thứ hai đội A sẽ đá với đội B trên sân nhà của đội B), mỗi đội phải đá tổng cộng là 38 trận mỗi mùa. Theo đề xuất trên, dự kiến mỗi đội sẽ chơi thêm một trận nữa, tổng cộng là sẽ có thêm 10 trận, và diễn ra vào một tuần trong tháng 1. Năm thành phố sẽ được trao quyền tổ chức, mỗi thành phố sẽ diễn ra 2 trận đấu vào các ngày thứ bảy và chủ nhật. Các thành phố sẽ tranh giành quyền tổ chức các trận đấu, nhưng lại không được lựa chọn đội bóng nào sẽ tham dự. Các trận đấu sẽ diễn ra cùng thời điểm tại những địa điểm có múi giờ khác nhau; về giả thuyết thì nó giúp cho người xem có thể theo dõi trực tiếp tất cả 10 trận đấu trong cùng một thời điểm.. Tuy nhiên lại nảy sinh mâu thuẫn về việc bốc thăm lịch thi đấu cho mỗi trận đấu của vòng 39. Một tuần trước khi vòng 39 khởi tranh, các đội bóng được phép di chuyển đến địa điểm mà ban tổ chức chỉ định thi đấu để làm quen với khí hậu và giao thông. Ở tuần tiếp theo của vòng quốc tế, người hâm mộ sẽ theo dõi mỗi đội bóng thi đấu với một đội khác trong những đội còn lại (hai đội này được lựa chọn thi đấu cùng địa điểm) để tránh gây bất lợi cho các đội bóng. Các trận đấu có thể diễn ra tại Úc, Đông Á, Đông Nam Á, các nước vùng Vịnh và Bắc Mỹ. Tất cả những khu vực giàu có này là nơi có lượng người hâm mộ, quan tâm đến bóng đá Anh lớn hơn nhiều so với bóng đá trong nước, và địa điểm tổ chức phải là nơi có thời tiết ấm áp và có thể dự báo trước, không như nước Anh trong tháng 1. Giám đốc điều hành Premier League, Richard Scudamore lúc đầu cho biết sẽ không có nhiều hơn một vòng 39 trong mỗi mùa giải. Ông nói: Sau đó, ông đề nghị kế hoạch ban đầu sẽ kéo dài từ 6 đến 10 năm và có thể được điều chỉnh. Phát triển. Kế hoạch "vòng 39" được lấy ý tưởng từ Cúp Premier League châu Á khởi tranh vào năm 2003, cũng như từ một trận giao hữu của đội tuyển Anh gặp Argentina tại Geneva, Thụy Sĩ vào năm 2005 và trận đấu của đội tuyển bóng đá quốc gia Hoa Kỳ (NFL) vào năm 2007 tại sân vận động Wembley. Rod Eddington bắt đầu nảy ra ý tưởng về một "vòng quốc tế" cho Premier League vào mùa thu năm 2007. Ông là chủ tịch Công ty sự kiện Victoria, đồng thời là một người bạn của Rupert Murdoch, chủ sở hữu của Sky Sports và nhiều hãng thông tấn khác giữ bản quyền phát sóng Premier League. Ông còn đề nghị thành phố Melbourne, quê ông, là một thành phố chủ nhà và cũng là nơi mở màn cho loạt trận này. Một bài thuyết trình với Ủy ban Kiểm toán của Premier League đã được thực hiện trong hai tuần trước khi công bố thông báo. Theo bản kế hoạch kinh doanh thì dự kiến vòng quốc tế sẽ giúp giải đấu thu thêm từ 40 đến 80 triệu Bảng Anh mỗi năm. Premier League sau đó thành lập một nhóm công tác để đàm phán với các bên liên quan. Kết quả ban đầu cho biết, để thực hiện kế hoạch "Vòng 39", cần sự hỗ trợ của Liên đoàn bóng đá Anh (FA) và cơ quan phụ trách về bóng đá của những quốc gia có thành phố chủ nhà. Họ đã cố gắng để giành được sự hỗ trợ của FA cho đề xuất này bằng việc hứa hẹn sẽ sắp xếp lại lịch thi đấu của các câu lạc bộ để thuận tiện hơn cho các cầu thủ được triệu tập vào đội tuyển Anh. Scudamore còn lên kế hoạch để gặp mặt các quan chức của Liên đoàn thể thao quốc tế, Liên đoàn bóng đá quốc tế (FIFA), trước khi cuộc họp Ban chấp hành FIFA diễn ra tại Zurich vào ngày 14 tháng 3 năm 2008. Ngày 27 tháng 2, sau vài tuần đón nhận các ý kiến mà chủ yếu là các phản ứng tiêu cực về "Vòng 39", Scudamore đã đồng ý với Jérôme Valcke, Tổng thư ký FIFA rằng cuộc họp này sẽ bị hoãn lại vô thời hạn. Đây là một cơ hội để Premier League cân nhắc lại đề nghị của họ và thông báo rằng nó sẽ không được tiến hành nếu chưa có sự chấp thuận từ phía FIFA. Trong tháng 5 năm 2008, Scudamore thông báo trên kênh BBC Radio 5 Live rằng đề xuất này vẫn ""chưa kết thúc", nhưng Liên đoàn sẽ "đưa ra một thứ có lợi cho chúng ta" trong năm 2009. Vào tháng 8 năm 2008, Scudamore cho biết Liên đoàn đã có "một loạt những ý tưởng, một số chi tiết căn bản hơn, nhưng không triệt để như ban đầu"". Trong tháng 10 năm 2008, ông nói vòng 39 vẫn còn tiềm năng, mặc dù thời hạn hợp đồng về bản quyền truyền hình vẫn còn thời hạn sớm nhất đến mùa giải 2013-14. Vào tháng 12 năm 2008, các phương tiện truyền thông đã đưa tin về một thỏa thuận giữa Premier League và Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) có liên quan đến vòng 39. Phản ứng. Ở Anh. Richard Scudamore có quan điểm bảo vệ kế hoạch Vòng 39 với mục đích củng cố danh tiếng trên toàn cầu của Premier League. Ông từng phát biểu về quan điểm trên: "Nếu chúng ta không làm điều này, một môn thể thao khác sẽ tiến hành việc đó trước chúng ta". Scudamore còn lên tiếng rằng Chủ tịch của tất cả 20 câu lạc bộ Premier League đã đồng ý với đề xuất "Vòng 39", đồng thời bác bỏ tin từ tờ Daily Mail rằng chủ tịch Randy Lerner của Aston Villa và chủ tịch Dave Whelan của Wigan Athletic là những người phản đối. David Gold, chủ tịch của Birmingham City cũng ủng hộ kế hoạch này một phần bởi vì các câu lạc bộ lớn, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều đã biết cách khai thác thị trường nước ngoài cùng với những chuyến du đấu trước mùa giải, thậm chí ngay giữa mùa giải; và "Vòng 39" sẽ phân chia doanh thu cho tất cả các câu lạc bộ tham dự vòng đấu. Ngày 15 tháng 2, giám đốc điều hành Liverpool, Rick Parry cho biết đề xuất này ""chưa bao giờ nằm trong chương trình hoạt động của câu lạc bộ Liverpool" và thừa nhận sự lo ngại của người hâm mộ và huấn luyện viên đội bóng"." Paul Hayward, cây bút của tờ "The Guardian" nhận xét rằng đề xuất này sẽ phá hủy sự cân bằng của thể thức lượt đi lượt về của giải đấu. Hội cổ động viên bóng đá Anh (FSF) đã chỉ trích đề xuất "Vòng 39" như một hành vi kiếm tiền bất chính, và đặt tên nó là Gam£39. Cơ quan này còn đưa ra văn bản kiến ​​nghị với sự hỗ trợ của "Daily Mail" nhằm phản đối sự "đổi mới thái quá của giải vô địch quốc gia". Vào tháng 3 năm 2008, chiến dịch trên đã kết thúc khi FSF tuyên bố đề xuất này "sẽ bị vô hiệu hóa". Nhiều cổ động viên trung thành vốn luôn tự hào về việc đi xem tất cả các trận đấu trên sân khách của đội bóng thân yêu sẽ không thể đi ra nước ngoài xem "Vòng 39". Mặt khác, các địa điểm nước ngoài nhiều khả năng sẽ là những điểm đến hấp dẫn cho người hâm mộ hơn là một thành phố ở Anh. Huấn luyện viên của các câu lạc bộ Premier League cũng lên tiếng phản đối hoặc hoài nghi về kế hoạch, bao gồm Steve Bruce, Roy Hogdson, Gareth Southgate, và Rafael Benítez. Alex Ferguson lên tiếng chỉ trích những ông chủ của các câu lạc bộ do không tham khảo ý kiến với ban huấn luyện. Tuy nhiên Arsène Wenger, Roy Keane, Kevin Keegan, và Avram Grant lại là những người ủng hộ đề xuất. "Vòng 39" cũng được biện hộ như một động thái để ngăn chặn kế hoạch thành lập "Giải vô địch quốc tế" ("World League") chỉ với sự tham gia của những câu lạc bộ hàng đầu (như các đội bóng từng nằm trong nhóm G-14). Andy Burnham, Bộ trưởng về Văn hóa, Truyền thông và Thể thao của Anh cảnh báo rằng bóng đá "không nên quên đi nguồn gốc của nó". Gordon Taylor của Hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp Anh cũng "bày tỏ quan ngại về việc gia tăng áp lực lên các cầu thủ". Ngày 15 tháng 2, FA tuyên bố "nghiêm túc bảo lưu quan điểm" rằng đề xuất này có thể gây tổn hại cho nước Anh trong việc giành quyền đăng cai World Cup 2018. Một cuộc họp hội đồng quản trị FA tổ chức vào ngày 21 tháng 2 đã kết luận rằng kế hoạch này "không thể bền vững trong tình hình hiện tại". Quốc tế. Đề xuất này đã bị chủ tịch FIFA Sepp Blatter chỉ trích dữ dội, ông cho rằng vòng đấu này đem đến nhiều tai tiếng và sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực giành quyền đăng cai World Cup 2018 của Anh. Ông cho biết thêm: "Bóng đá không thể giống như Harlem Globetrotters hay một rạp xiếc". Michel Platini, Chủ tịch UEFA lại ví đề xuất như một "ý tưởng vô nghĩa". Liên đoàn bóng đá Hàn Quốc và Nhật Bản cũng tuyên bố bảo lưu mạnh mẽ quan điểm về việc phản đối kế hoạch này. Trong khi đó những Liên đoàn bóng đá ở Trung Đông lại tỏ ra tích cực và ủng hộ hơn. Tháng 2 năm 2008, Chủ tịch AFC Mohamed Bin Hammam cho biết ông sẽ "bỏ phiếu phản đối một cách mạnh mẽ" đối với đề xuất này. Trong tháng 6, ông đã chuẩn bị phương án để cân nhắc lại nếu kế hoạch có hỗ trợ từ FA. Tuy nhiên sau đó vào tháng 10, chính ông lại tuyên bố sẽ chấp thuận ý tưởng này nếu Liên đoàn chia sẻ doanh thu với AFC. Liên đoàn bóng đá Hồng Kông thì nói rằng họ "rất quan tâm" đến vai trò tổ chức các trận đấu. Liên đoàn bóng đá Úc thì thông báo sẽ phản đối nếu nó gây ảnh hưởng tới giải đấu A-League của họ. Ivan Gazidis, Phó ủy viên của Giải bóng đá nhà nghề Mỹ (MLS) tại Hoa Kỳ cho biết sẽ hoan nghênh kế hoạch nếu nó nhận được sự đồng ý từ FIFA. Sunil Gulati, Chủ tịch của Liên đoàn bóng đá Mỹ thì nói rằng USSF sẽ tuân theo sự chỉ đạo của FIFA về việc chấp thuận tổ chức bất cứ một trận đấu nào. Hệ quả. Kể từ năm 2013, Relevent Sports đã tổ chức International Champions Cup, một loạt các trận đấu giao hữu hè giữa những đội bóng ở Ngoại hạng Anh và những đội bóng lớn khác ở châu Âu, diễn ra trên cả những thị trường quốc tế như châu Á và Bắc Mỹ. Tháng 8 năm 2018, Relevent tuyên bố hợp tác với La Liga để đăng cai một trận đấu thường niên diễn ra tại Hoa Kỳ. Nhà báo Ed Aarons của "The Guardian" đã đem so sánh đề xuất trên với Vòng 39, ông nhận định rằng lực lượng phản đối từ cổ động viên Tây Ban Nha có thể ngăn chặn kế hoạch của Relevent cũng như việc Relevent có thể tìm kiếm một thỏa thuận tương tự với Ngoại hạng Anh.
1
null
Quán Đào công chúa (chữ Hán: 馆陶公主, ? - 116 TCN), húy Lưu Phiêu (劉嫖), còn được gọi Đậu Thái chủ (竇太主), là một Hoàng nữ và là Công chúa nhà Hán. Bà là con gái trưởng của Hán Văn Đế Lưu Hằng và Đậu Hoàng hậu. Xét vai vế gia tộc, bà là chị của Hán Cảnh Đế Lưu Khải, cô ruột của Hán Vũ Đế Lưu Triệt và là mẹ của Trần A Kiều - Hoàng hậu đầu tiên của Vũ Đế. Thông qua cuộc hôn nhân của con gái, Quán Đào công chúa có vai trò quan trọng trong việc lên ngôi của Hán Vũ Đế. Khi đó, Cảnh Đế dưới tác động của bà đã phế truất Thái tử Lưu Vinh và lập Lưu Triệt lên thay. Cuộc đời. Thân thế và thời trẻ. Công chúa là con gái cả của Hán Văn Đế Lưu Hằng. Mẹ bà là Đậu Hoàng hậu, người Quan Tân, quận Thanh Hà (nay là khu vực huyện Vũ Ấp, thành phố Hành Thủy thuộc Hà Bắc, Trung Quốc). Khi đó, Lưu Hằng còn làm Chư hầu vương ở nước Đại. Đậu thị là thiếp của ông, sinh ra con gái trưởng, đặt tên Lưu Phiêu. Không lâu sau, Đậu thị sinh thêm hai con trai là Lưu Khải (sau là Hán Cảnh Đế) và Lưu Vũ. Đến năm 180 TCN, Lưu Hằng về Trường An để lên ngôi Hoàng đế. Vương hậu của ông khi này đã qua đời, các con trai do Vương hậu sinh cũng mất sớm nên em trai Lưu Phiêu là Lưu Khải được lập Hoàng thái tử. Đậu thị "mẹ quý nhờ con" nên trở thành Hoàng hậu. Lưu Phiêu là con gái lớn nhất của Văn Đế nên được phong Trưởng công chúa, đất phong ở huyện Quán Đào, từ đó gọi là [Quán Đào công chúa; 馆陶公主]. Một em trai khác là Lưu Vũ được phong làm Lương vương. Đến tuổi trưởng thành, Quán Đào công chúa thành hôn với Đường Ấp hầu Trần Ngọ (陳午) nên bà còn được gọi là [Đường Ấp Trưởng công chúa; 堂邑長公主]. Nhà họ Trần thuộc dòng dõi công thần, vào năm Hán Ván Đế thứ 3 (177 TCN) Trần Ngọ trở thành Đường Ấp hầu thứ ba của dòng họ này, ước chừng đây là khoảng thời gian Công chúa được gả cho ông. Bà sinh hai con trai là Đường Ấp hầu Trần Tu (陳鬚), Long Lự hầu Trần Kiểu (陳蟜) và một con gái duy nhất là Trần A Kiều (陳阿嬌), gọi tắt là Trần Kiều. Định hôn cho con gái. Năm Hán Văn Đế Hậu Nguyên thứ 7 (157 TCN), Hán Văn Đế băng hà. Thái tử Lưu Khải lên nối ngôi, tức là Hán Cảnh Đế. Bấy giờ, với tư cách là chị của Hoàng đế và sự dung túng của mẹ là Đậu Thái hậu, thế lực của Quán Đào công chúa ngày một lớn, bà thường tự do ra vào hậu cung, giữ quan hệ mật thiết với Hán Cảnh Đế, thường xuyên dâng tặng mỹ nữ khiến Lịch Cơ - sủng phi của ông ghi hận. Sau khi Bạc Hoàng hậu bị phế, Cảnh Đế lập trưởng tử Lưu Vinh, con trai Lịch Cơ làm Hoàng thái tử. Quán Đào muốn con mình làm Hoàng hậu tương lai nên ngỏ ý gả con cho Lưu Vinh, kết quả bị Lịch Cơ cự tuyệt thô bạo khiến bà oán hận. Nhân dịp đó, Vương phu nhân - phi tần khác của Hán Cảnh Đế âm mưu giành ngôi Thái tử cho con là Giao Đông vương Lưu Triệt, nên đã chấp nhận lời nghị hôn của Công chúa. Công chúa bắt đầu liên thủ với Vương phu nhân, nói tốt Lưu Triệt trước mặt Cảnh Đế, gièm pha Lịch Cơ khiến ông không hài lòng. Vương phu nhân và Công chúa bí mật sai đại thần dâng tấu thỉnh lập Lịch Cơ làm Kế Hoàng hậu. Hán Cảnh Đế đang chán ghét Lịch Cơ, cho rằng Lịch Cơ cấu kết triều thần nên ra chiếu phế truất Thái tử, Lịch Cơ phẫn uất tự sát. Năm Hán Cảnh Đế Tiền Nguyên thứ 7 (150 TCN), Hán Cảnh Đế phong Vương phu nhân làm Hoàng hậu, Lưu Triệt làm Thái tử, Trần Kiều trở thành Thái tử phi. Câu chuyện này được tiểu thuyết Hán Võ cố sự phóng tác hết sức chi tiết. Nguyên văn: Câu chuyện này về sau rất nổi tiếng trong văn hóa Trung Quốc, dưới cái tên Kim ốc tàng Kiều (金屋藏嬌), nghĩa là "Nhà vàng cất người đẹp". Câu chuyện nổi tiếng đến mức gần như trở thành chính sử. Hãm hại họ Vệ. Năm Hậu Nguyên thứ 3 (141 TCN), Hán Cảnh Đế băng hà. Thái tử Lưu Triệt lên ngôi, tức Hán Vũ Đế. Trần Kiều được sách lập Hoàng hậu. Thời gian này, Quán Đào công chúa được gọi là Đại Trưởng công chúa (大長公主) hoặc Đậu Thái chủ (竇太主). Nguyên nhân gọi bà là ["Đậu Thái chủ"] vì cách xưng phổ biến thời Hán là gọi ai đó theo họ mẹ. Mẹ của Thái chúa là Đậu Thái hoàng thái hậu, vì thế phát sinh ra lệ này. Ban đầu tình cảm Đế-Hậu rất đỗi tốt đẹp. Hán Vũ Đế thường xuyên tới cung của Trần Hoàng hậu mỗi khi tan triều và dành thời gian bên bà. Về sau, Trần Hoàng hậu không sinh được con nên bị thất sủng. Thế nhưng nhiều sử gia cho rằng Vũ Đế Lưu Triệt xem trọng Trần hậu chỉ vì cả nể Quán Đào công chúa, người có công lớn trong việc phò trợ ông đăng cơ nên ông đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Sử sách ghi nhận Trần Kiều được nuông chiều từ bé nên tính nết ương ngạnh, cậy Đậu Thái hoàng thái hậu sủng ái, lại có mẹ từng lập đại công nên hống hách với cả Vũ Đế, không cho ông gần gũi phi tần. Bấy giờ, Thái úy Vũ An hầu đồn rằng Hoàng đế vô tự thì ngôi Hoàng đế về sau sẽ thuộc về Hoài Nam vương. Năm Kiến Nguyên thứ 2 (139 TCN), Vũ Đế ghé thăm phủ Bình Dương công chúa, gặp Vệ Tử Phu, nhạc nữ ở Bình Dương phủ. Say mê vẻ đẹp của nàng, Vũ Đế lập tức sủng hạnh, sáng hôm sau ban thưởng Công chúa 1,000 cân vàng rồi mang nàng về cung. Tuy vậy, chỉ trong thời gian ngắn Vũ Đế vô tình quên mất Tử Phu, để nàng sống chen chúc trong hậu cung hơn nghìn người mà không một lần triệu hạnh. Một năm sau, Tử Phu nghĩ mình không còn cơ hội hầu hạ Vũ Đế nên cũng xin viên hoạn quan ghi tên vào danh sách cung nữ già xuất cung. Trước khi đi, hoạn quan đưa toàn bộ cung nữ đến cho Vũ Đế xem mặt lần cuối. Trông thấy Vũ Đế, Tử Phu liền bật khóc. Hán Vũ Đế nhớ lại người đẹp mình đã gặp và sủng ái tại Bình Dương phủ, bèn dắt tay đưa về cung. Tử Phu phục sủng và nhanh chóng mang thai khiến Quán Đào công chúa lo sợ cho địa vị của con mình, bèn lập mưu trừ khử. Do em trai Tử Phu là Vệ Thanh được Vũ Đế tuyển vào cung làm việc ở Kiến Chương điện, Quán Đào công chúa nhân cơ hội nhốt Vệ Thanh vào ngục, toan xử tử. May sao có người bạn của Vệ Thanh là Công Tôn Ngao (公孙敖) cùng các tráng sĩ xông vào cứu, Vệ Thanh mới thoát chết. Tử Phu khóc lóc kêu oan với Vũ Đế, Vũ Đế liền thăng Vệ Thanh làm Thị trung, không lâu sau lại được thăng làm Đại trung đại phu, đồng thời ban hôn, ban thưởng cho toàn gia tộc họ Vệ. Vũ Đế chuyên sủng Vệ Tử Phu, tấn phong làm Phu nhân, địa vị chỉ thua Hoàng hậu. Tuy Trần Hoàng hậu vẫn có Đậu Thái hoàng thái hậu để dựa vào, nhưng quan hệ Đế-Hậu đã không thể cứu vãn sau chuyện của Vệ Thanh, bên cạnh đó Trần hậu mãi không có con trong khi Vệ Phu nhân đã sinh 3 con gái. Trần hậu ghen tức hạ độc thì bị Vũ Đế phát giác, ông nảy sinh ý định phế hậu để lập Vệ Tử Phu lên thay. Nghe vậy, Quán Đào công chúa oán thán với Bình Dương công chúa rằng:「"Hoàng đế không có ta thì làm sao được lập, nay lại vứt bỏ đi con gái ta, khác nào bội bạc?!"」, Bình Dương công chúa đáp:「"Dùng lý do không con, có thể phế"」. Năm Nguyên Quang thứ 5 (130 TCN), có người tố giác Trần Hoàng hậu triệu người đồng cốt Sở Phục (楚服) vào cung, sử dụng tà thuật Vu cổ để mê hoặc Hoàng đế, giúp bà chóng mang thai, đồng thời nguyền rủa Vệ phu nhân. Có tin đồn cả hai phát sinh quan hệ đồng tính luyến ái. Vũ Đế tức giận, giao cho Trương Thang điều tra, không lâu sau chứng thực và lập tức định tội Hoàng hậu. Khi này Đậu Thái hoàng thái hậu đã mất, Vũ Đế không còn kiêng nể mẹ con Trần Hoàng hậu nên ra chiếu phế truất Trần thị, đày vào Trường Môn cung (長門宮) với lý do:「"Hoàng hậu không con, lại vướng vào việc Vu hoặc, không thể thừa Thiên mệnh. Nay tịch thu ấn, bãi cư Trường Môn cung"」. Sở Phục và hơn 300 người bị xử tử. Sau đó, Vệ phu nhân được Vũ Đế lập làm Kế hậu. Thành hôn với con nuôi. Năm Nguyên Quang thứ 6 (129 TCN), chồng Quán Đào là Đường Ấp hầu Trần Ngọ qua đời. Do lúc đó bà đã hơn 50 tuổi, không thể tái giá và phải làm góa phụ. Tuy nhiên, bà lại yêu quý mĩ nam là Đổng Yển (董偃). Nguyên gia đình họ Đổng vốn chuyên làm nghề chế tác châu báu nên từ nhỏ Đổng Yển đã theo mẹ ruột của mình lần lượt tìm tới các nhà quý tộc đại vương để bán các những đồ châu báu do nhà mình làm ra. Một lần Quán Đào công chúa gặp được Đổng Yển, thấy sắc đẹp của anh ta nên rất thèm muốn bèn cho vào làm con nuôi kiêm tình nhân. Do có sự sủng ái của Quán Đào, Đổng Yển gây dựng được thế lực lớn, đi đâu cũng mang theo tùy tùng trong phủ Quán Đào, nên người đương thời phải sợ, gọi là [Đổng Quân; 董君]. Đổng Yển muốn lấy lòng Hán Vũ Đế, bèn nghe theo lời người An Lăng là Viên Thúc (爰叔) về khuyên Quán Đào tặng Trường Môn viên thuộc sở hữu của mình cho Vũ Đế và bà đã bằng lòng. Vũ Đế biết chuyện cực kì vui mừng, khen ngợi bà và ra lệnh đổi Trường Môn viên làm Trường Môn cung, từ đó thái độ của Vũ Đế đối với bà cũng tốt hơn. Một lần bà bị bệnh, Vũ Đế thân hành đến thăm hỏi, Công chúa bèn đề nghị sẽ lấy Đổng Yển. Tuy việc lấy con nuôi làm chồng là trái với nghi lễ, nhưng do nể tình cô mẫu nên Vũ Đế đành thuận cho bà xuất giá. Từ đó Đổng Yển trở thành ông chủ trong phủ của Quán Đào công chúa. Đổng Yển cũng tìm cách lấy lòng Vũ Đế và được ông yêu thích, có ý muốn phong làm quan. Một hôm, Vũ Đế thiết yến mời vợ chồng Quán Đào công chúa tới dự. Trong buổi tiệc, đại thần Đông Phương Sóc muốn can ngăn Vũ Đế, đã kể ba tội lớn của Đổng Yển trước mặt Vũ Đế: tư thông với công chúa, chưa kết hôn lại sống chung, dụ dỗ vua ăn chơi. Vũ Đế cho là phải và không còn tin tưởng Đổng Yển nữa. Đổng Yển uất ức sinh bệnh và qua đời khi chỉ mới khoảng 30 tuổi. Năm Nguyên Đỉnh nguyên niên (116 TCN), Quán Đào công chúa lâm trọng bệnh. Trước khi chết, bà yêu cầu con cháu phải chôn mình cùng nơi với Đổng Yển thay vì người chồng trước là Đường Ấp hầu. Không bao lâu sau bà qua đời, thọ hơn 70 tuổi, cùng Đổng Yển hợp táng vào Bá lăng (霸陵). Việc Quán Đào công chúa cùng Đổng Yển được xem là trường hợp Quý nhân công chúa hoàng tộc "vượt rào" đầu tiên trong lịch sử. Sau lễ tang của Quán Đào công chúa, hai người con trai của bà là Đường Ấp hầu Trần Tu và Long Lư hầu Trần Kiểu do tranh giành tài sản dẫn đến phạm pháp nên đều bị tước bỏ tước vị. Trần Tu sợ hãi bèn tự sát.
1
null
Quốc kỳ Đan Mạch (; ) là một lá cờ màu đỏ, có hình thập tự màu trắng kéo dài tới các cạnh. Thiết kế hình thánh giá trên cờ thể hiện cho Kitô giáo, sau đó đã được các nước Bắc Âu áp dụng trên quốc kỳ của họ; quốc kỳ Thụy Điển, quốc kỳ Na Uy, quốc kỳ Phần Lan, quốc kỳ Iceland, cờ quần đảo Åland, cờ quần đảo Faroe cũng như cờ của các quần đảo Shetland và quần đảo Orkney thuộc Scotland. Trong thời kỳ liên minh cá nhân giữa Đan Mạch và Na Uy, quốc kỳ Đan Mạch cũng là quốc kỳ của Na Uy và tiếp tục như vậy, với một chút sửa đổi, cho tới năm 1821 khi Na Uy đưa ra Quốc kỳ Na Uy hiện nay. Do nguồn gốc huyền thoại của lá cờ này bắt nguồn từ thế kỷ thứ XIII, quốc kỳ Đan Mạch được xem là quốc kỳ lâu đời nhất được liên tục sử dụng cho đến nay. Sách kỷ lục Guinness (năm 2010) đã ghi nhận "Dannebrog" là "quốc kỳ lâu đời nhất thế giới" hiện vẫn còn được sử dụng, khi tính từ lần đầu tiên được chính thức sử dụng năm 1625. Theo huyền thoại thì Đan Mạch có được lá cờ này trong "Trận Lyndanisse" năm 1219. Các người Đan Mạch gặp khó khăn trong cuộc Thập tự chinh ở Estonia, nhưng sau khi cầu xin Chúa thì có một lá cờ từ trời rơi xuống. Sau khi nhận được lá cờ, vua Valdemar II của Đan Mạch đã đánh bại các người Estonia. Các việc sử dụng lá cờ này được ghi chép lần đầu vài thế kỷ sau đó. Nguồn gốc huyền thoại. Huyền thoại cho biết nguồn gốc lá cờ này xuất xứ từ Trận Lyndanisse, cũng gọi là Trận chiến của Valdemar (tiếng Đan Mạch: ""Volmerslaget"), gần Lyndanisse (Tallinn) ở Estonia,ngày 15.6.1219. Cuộc chiến đã diễn ra tồi tệ với người Đan Mạch, và thất bại dường như sắp xảy ra. Tuy nhiên, một linh mục Đan Mạch trên một ngọn đồi nhìn ra trận chiến đã cầu xin Thiên Chúa, và càng cầu nguyện thì người Đan Mạch càng tiến gần tới chiến thắng. Trong một phút giây mệt mỏi ông không nâng được các cánh tay lên cao để cầu nguyện, thì người Đan Mạch bị thất thế và sắp bị thua trận. Vị linh mục cần 2 người lính nâng giùm 2 cánh tay ông lên để cầu nguyện, và người Đan Mạch lại tiến công, rồi khi gần chiến thắng thì (lá cờ) 'Dannebrog' từ trên trời rơi xuống. Nhà vua cầm lấy lá cờ giơ cao cho toán quân, lòng họ liền hăng say dũng cảm chiến đấu và cuối cùng người Đan Mạch đã thắng trận. Theo huyền thoại thì lá cờ Dannebrog do chính Chúa ban cho người Đan Mạch, và từ ngày đó trở đi nó trở thành lá cờ của các nhà vua và nước Đan Mạch. Không có ghi chép lịch sử nào minh chứng cho huyền thoại trên. Sau khi trận chiến nói trên xảy ra hơn 300 năm thì huyền thoại này mới được ghi chép lần đầu, và ghi chép liên kết huyền thoại này với một trận chiến nhỏ hơn nhiều, tuy cũng xảy ra tại Estonia trước đó: "Trận Fellin" (Viljandi) năm 1208. Tuy không có tư liệu lịch sử nào về chuyện lá cờ ở trận Fellin, nhưng cũng dễ hiểu là vì sao một trận chiến bé nhỏ ở một nơi vô danh đã được thay thế bằng trận chiến Reval (Tallinn) lớn hơn trong chiến dịch của vua Valdemar II ở Estonia. Chuyện này xuất xứ từ 2 nguồn tài liệu được viết từ đầu thế kỷ thứ XVI. Nguồn thứ nhất là quyển "Danske Krønike" (Lịch sử biên niên Đan Mạch) của Christiern Pedersen, một quyển tiếp theo quyển Gesta Danorum của Saxo Grammaticus, viết năm 1520 – 1523. Nguồn này không nêu sự liên quan của lá cờ với chiến dịch của vua Valdemar II ở Estonia, nhưng liên quan tới một chiến dịch ở Nga. Ông ta cũng cho rằng lá cờ rơi từ trời xuống trong chiến dịch của vua Valdemar II ở Nga, thì cũng là lá cờ mà vua Eric của Pomerania đem theo mình khi rời khỏi nước vì bị truất phế năm 1440. Nguồn thứ hai là bài viết của tu sĩ dòng Phanxicô Petrus Olai (Peder Olsen) ở Roskilde năm 1527. Ghi chép này mô tả một trận chiến vào năm 1208 gần một nơi gọi là "Felin" trong chiến dịch của vua Valdemar II ở Estonia. Người Đan Mạch sắp bị đánh bại thì một lá cờ bằng da cừu mô tả một thập giá màu trắng từ trời rơi xuống và đã dẫn người Đan Mạch tới chiến thắng một cách kỳ lạ. Trong một ghi chép khác của "Petrus Olai" có tên "Danmarks Tolv Herligheder"" (12 sự huy hoàng của Đan Mạch), thì sự huy hoàng thứ 9 là chuyện được thuật lại (về lá cờ) hầu như nguyên văn; tuy nhiên có một chương đưa vào được sửa thành năm 1219. Hiện nay vẫn chưa xác định được: Liệu các ghi chép trên có thực sự mô tả một chuyện truyền khẩu lâu đời tồn tại vào thời điểm đó, hay chỉ là một chuyện bịa ra trong thế kỷ thứ XVI mà thôi. Người ta tin rằng tên thủ đô Tallinn của Estonia có từ sau trận chiến nói trên. Tallinn phái sinh từ chữ "Taani linn", có nghĩa là "thành phố Đan Mạch" ở Estonia. Tiếp tục huyền thoại lãng mạn. Chuyện về lá cờ nguyên thủy có một đoạn tiếp theo: Theo truyền thuyết, lá cờ nguyên thủy từ Trận Lyndanisse đã được sử dụng trong một chiến dịch nhỏ vào năm 1500 khi vua Hans tìm cách chinh phục vùng Dithmarschen (phía tây Holstein ở bắc Đức). Lá cờ đã bị mất trong cuộc bại trận tán loạn ở Trận Hemmingstedt ngày 17.2.1500. Năm 1559, vua Frederik II đã đoạt lại lá cờ trong chiến dịch Dithmarschen của mình. Trong điều kiện đầu hàng (của vùng Dithmarschen) có nói rõ là mọi lá cờ Đan Mạch bị mất trong trận chiến năm 1500 phải được trả lại Đan Mạch. Truyền thuyết này có 2 nguồn: "Lịch sử vua Hans" của Hans Svaning từ 1668-1559 và "Lịch sử về cuộc chiến tranh Dithmarschen sau cùng của " Johan Rantzau năm 1569. Cả hai nguồn đều cho rằng cờ này là cờ nguyên thủy, và do đó cả hai tác giả đều biết huyền thoại về lá cờ từ trời rơi xuống. Năm 1576, Henrik Rantzau, con của Johan Rantzau, cũng viết về cuộc chiến tranh này và số phận của lá cờ. Ông ta ghi chú rằng khi được trả lại thì lá cờ ở trong tình trạng tồi tệ. Các nguồn từ Dithmarschen, được viết ngay sau trận chiến năm 1500, cũng đề cập tới các lá cờ - trong đó có cờ hoàng gia - chiếm được của người Đan Mạch, nhưng không đề cập tới cờ "Dannebrog" hoặc lá cờ "nguyên thủy". Có vẻ hoàn toàn hợp lý khi cho rằng lá cờ riêng của nhà vua cũng như lá cờ dẫn đầu đoàn quân đều bị mất, vì chính nhà vua đã chỉ huy trận này (và bị thua). Tuy nhiên, liệu nhà vua có đem theo lá cờ "nguyên thủy" trong trận này hay không thì chưa biết rõ. Trong lá thư gửi Oluf Stigsøn đề ngày 22.2.1500, vua Hans mô tả trận đánh, nhưng không nói gì tới việc mất một lá cờ quan trọng. Nói tóm lại, toàn bộ lá thư cho ta một ấn tượng là việc thất trận chỉ là một "việc rủi ro đáng tiếc". Một dấu chỉ cho thấy chúng ta phải đề cập tới nhiều lá cờ, là các bài viết năm 1570 của Niels Hemmingsøn về một trận chiến đẫm máu năm 1520 giữa người Đan Mạch và người Thụy Điển gần thành phố Uppsala của Thụy Điển. Ông ta viết rằng "lá cờ dẫn đầu toán quân Đan Mạch" (""Danmarckis Hoffuitbanner") đã sắp bị quân Thụy Điển cướp được, may nhờ các nỗ lực phối hợp của người cầm cờ Mogens Gyldenstierne, đã bị nhiều vết thương, cùng với một chàng trai đến cứu anh ta, mới giữ được lá cờ. Chàng trai trẻ này là Peder Skram. Tuy nhiên câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Một linh mục kiêm sử gia từ vùng Dithmarschen là Neocorus, đã viết trong năm 1598 rằng lá cờ Đan Mạch bị cướp trong trận chiến năm 1500, đã được đem về treo trong nhà thờ ở Wöhrden trong 59 năm, cho tới khi nó được trả lại cho người Đan Mạch như một phần của hòa ước năm 1559. Trong bài viết năm 1576, Henrik Rantzau nói rằng lá cờ được mang tới thành phố Schleswig và được đặt trong Nhà thờ chính tòa, sau khi cờ được trả lại cho người Đan Mạch. Một sử gia ở Slesvig, Ulrik Petersen (1656–1735), viết vào cuối thế kỷ thứ XVII rằng lá cờ đó được treo ở nhà thờ chính tòa "Slesvig" cho tới khoảng năm 1660 nó bị mục nát, do đó chấm dứt câu chuyện kéo dài trên 400 năm của nó. Dĩ nhiên, về mặt lịch sử, không thể chứng minh hoặc bác bỏ là những ghi chép trên đều đề cập tới cùng một lá cờ, hoặc lá cờ năm 1208 hay lá cờ năm 1219 có thực sự tồn tại hay không. Dường như nhiều huyền thoại trên đều dựa trên các huyền thoại ban đầu. Sử dụng lịch sử. Caspar Paludan-Müller. Sử gia Đan Mạch Caspar Paludan-Müller trong quyển "Sagnet om den himmelfaldne Danebrogsfane"" (Huyền thoại về lá cờ Danebrog từ trời rơi xuống) (1873) đưa ra thuyết cho rằng đó là lá cờ do vị Giáo hoàng gửi tới vua Đan Mạch để dùng trong các cuộc Thập tự chinh ở Các nước Baltic. Các vua và các lãnh chúa khác chắc cũng nhận được những lá cờ như vậy. Tuy nhiên, người ta có thể hình dung rằng nếu câu chuyện trên có thực, thì chắc chắn phải có vài ghi chép về sự việc này và có lẽ các sử gia Đan Mạch không thể bỏ sót mà không nêu ra theo cách nào đó. Được nhận một lá cờ từ Giáo hoàng là một vinh dự lớn, tuy nhiên mặc dù có rất nhiều thư của giáo hoàng liên quan tới các cuộc Thập tự chinh, nhưng không có thư nào đề cập tới việc trao cờ cho vua Đan Mạch. Hoặc cũng có thể là lá thư liên quan tới việc trao cờ đã bị thất lạc. Johan Støckel. Một thuyết tương tự do thuyền trưởng kiêm nhà thám hiểm, nhà phiêu lưu người Đan Mạch Johan Støckel nêu ra hồi đầu thế kỷ XX. Ông cho rằng đó không phải là cờ của giáo hoàng trao cho nhà vua, nhưng trao cho vị khâm sứ Tòa thánh ở Bắc Âu, có thể là tổng Giám mục Andreas Sunesøn, rồi ông này – ngoài sự hay biết của nhà vua – đã mang theo lá cờ tham gia cuộc Thập tự chinh của nhà vua ở các nước vùng Baltic, trong một nỗ lực làm cho quân đội nhận một biểu tượng Kitô giáo (thay vì biểu tượng của nhà vua) và do đó tăng cường sức mạnh của giáo hội. Không chắc là vị tổng Giám mục rất ngay thẳng và trung thành này đã làm một việc như vậy sau lưng nhà vua. Ngoài ra khó lòng có chuyện giáo hoàng gửi một lá cờ như vậy vì họ đã có sẵn một lá cờ, đó là cờ của dòng Hiệp sĩ Cứu tế (tiếng Đan Mạch: "Johanitterne"). Adolf Ditlev Jørgensen. Năm 1875, sử gia Đan Mạch Adolf Ditlev Jørgensen trong quyển "Danebroges Oprindelse" (nguồn gốc quốc kỳ Đan Mạch) đưa ra một thuyết cho rằng cờ của Đan Mạch là lá cờ của Hiệp sĩ Cứu tế. Ông cho biết dòng Hiệp sĩ Cứu tế đến Đan Mạch vào hậu bán thế kỷ thứ XII, rồi trong những thế kỷ sau dòng này đã lan rộng tới các thành phố lớn như Odense, Viborg, Horsens, Ribe và trụ sở chính đặt ở Slagelse, nên vào thời Thập tự chinh ở các nước vùng Baltic, thì lá cờ biểu tượng của Hiệp sĩ Cứu tế đã là một biểu tượng nổi tiếng ở Đan Mạch. Hơn nữa ông ta cho rằng Theoderich, Giám mục vùng Livonia, từng là người đồng sáng lập dòng "Anh em mang kiếm vùng Livonia", đã có ý định bắt đầu lập một dòng tương tự ở Estonia; và ông ta là người chủ trương lôi kéo từ Giám mục Albert của Buxhoeveden tới vua Valdemar II trong năm 1218, để Đan Mạch tham gia hoàn toàn vào cuộc Thập tự chinh ở các nước vùng Baltic. Trong bài viết của giáo sĩ Henry của Livonia từ Riga có nói rằng Giám mục Theoderich bị giết trong trận đánh năm 1219, khi quân thù tấn công lều của ông vì họ cho rằng đó là lều của nhà vua. Adolf Ditlev Jørgensen giải thích rằng vì Giám mục Theoderich là người đã giữ lá cờ và cắm cờ đó bên ngoài lều của mình, bởi đó là biểu tượng quen thuộc của dòng "Hiệp sĩ Cứu tế" ở Livonia, và quân thù cho rằng đó là biểu tượng của nhà vua, do đó đã tấn công lầm vào lều của Giám mục Theoderich. Ditlev Jørgensen cho rằng nguồn gốc của huyền thoại về lá cờ từ trời rơi xuống xuất xứ từ sự lầm lộn trong trận chiến này. L. P. Fabricius. Sử gia giáo hội Đan Mạch L. P. Fabricius đưa ra một thuyết khác để giải thích, trong nghiên cứu năm 1934 có nhan đề ""Sagnet om Dannebrog og de ældste Forbindelser med Estland" (Huyền thoại về cờ Danebrog và những quan hệ với Estonia lâu đời nhất). Ông quy huyền thoại này có nguồn gốc từ Trận Fellin năm 1208, chứ không phải Trận Lyndanisse năm 1219, dựa trên nguồn lâu đời nhất về chuyện này. Trong thuyết này, ông cho rằng đó chắc phải là lá cờ giáo sĩ của cá nhân tổng Giám mục Andreas Sunesøn hoặc có thể là cờ của tổng Giám mục Absalon, căn cứ vào những nỗ lực không mệt mỏi của ông nhằm mở rộng Kitô giáo sang các nước vùng Baltic. Do sáng kiến của ông và sự giám sát nhiều cuộc Thập tự chinh nhỏ hơn vốn đã diễn ra ở Estonia, lá cờ này đã quen thuộc ở Estonia. Fabricius nhắc lại chuyện lá cờ cắm trước lều của Giám mục Theodorik, khiến quân thù tưởng lầm là lều của nhà vua nên tấn công vào. Mọi thuyết nêu trên đều tập trung vào 2 trận đánh ở Estonia, trận Fellin (1208) hoặc trận Lyndanisse (1219), và do đó đều tìm cách giải thích nguồn gốc lá cờ trong tương quan với huyền thoại xuất hiện sau đó hơn 300 năm. Fabricius và Helga Bruhn. Một thuyết rất khác biệt được "Fabricius" đưa ra và được Helga Bruhn thảo luận chi tiết hơn trong quyển "Dannebrog"" năm 1949 của bà. Bà cho rằng lá cờ cũng như trận đánh chẳng phải là cốt lõi của huyền thoại, mà chính là hình thập giá ở trên trời. Những chuyện tương tự về những xuất hiện ở trên trời vào các thời điểm quyết định - nhất là sự xuất hiện của thập giá – có thể tìm thấy trên khắp châu Âu. Bruhn đề cập tới một trận chiến (mà "Fabricius" cũng nói tới) xảy ra ngày 10.9.1217 giữa các hiệp sĩ Kitô giáo và các chiến binh Moor trên bán đảo Iberia gần lâu đài Alcazar, nơi được nói là một thánh giá màu vàng trên nền trắng đã xuất hiện trên trời, đem lại chiến thắng cho các Kitô hữu. Cũng thế, một chuyện rất tương tự của Thụy Điển từ thế kỷ XVIII về một thánh giá màu vàng trên nền xanh dương xuất hiện năm 1157 trong trận chiến của Thụy Điển tại Phần Lan. Dường như đó là một chuyện bịa ra sau này để phản lại nguồn gốc huyền thoại của quốc kỳ Đan Mạch, nhưng tuy thế mà cũng cùng tính chất như nhau. Quốc kỳ Anh, trên có thập tự thánh George cũng được cho là đã xuất hiện từ trời trong một trận chiến quyết định, lần này tại Jerusalem trong các cuộc Thập tự chinh. Các sự giống nhau giữa các huyền thoại là rõ ràng. Tại Tây Ban Nha, cờ của giáo hoàng xuất hiện trên bầu trời, tại Phần Lan là cờ của Thụy Điển. Tại Estonia là cờ Đan Mạch, và ở Jerusalem là cờ Anh. Về cơ bản, các thoại trên đều là biến thể của cùng một huyền thoại. Ghi chép lâu đời nhất về việc sử dụng cờ. Văn học Đan Mạch ở thế kỷ XIII và XIV chưa nói gì về quốc kỳ, cho mãi tới đầu thế kỷ XV. Tuy nhiên, có tồn tại nhiều tiền kim loại, dấu triện và hình ảnh, cả ở trong nước và nước ngoài từ thế kỷ thứ XIII tới XV, và thậm chí còn sớm hơn, cho thấy các lá cờ tương tự như cờ Dannebrog. Trong thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ XX, các hình ảnh này được nhiều sử gia Đan Mạch sử dụng, với khuynh hướng về chủ nghĩa dân tộc, tìm cách đưa nguồn gốc của lá cờ xuất xứ từ năm 1219. Tuy nhiên, nếu ta nghiên cứu vài nguồn ít ỏi của nước ngoài về Đan Mạch từ thế kỷ XIII tới thế kỷ XV, thì chí ít theo quan điểm của nước ngoài, rõ ràng là biểu tượng của Đan Mạch không phải là lá cờ màu đỏ và (thập tự) trắng, nhưng là huy hiệu hình cái khiên của nhà vua (3 con sư tử màu xanh dương trên cái khiên màu vàng). Huy hiệu hình khiên này vẫn còn sử dụng tới ngày nay. Một nơi rõ ràng để tìm tài liệu là thành phố Tallinn của Estonia, nơi xảy ra trận chiến huyền thoại. Ở Tallinn, huy hiệu hình khiên giống như lá cờ được tìm thấy trên nhiều tòa nhà từ giữa thế kỷ thứ XV, như huy hiệu hình khiên của "Die Grosse Gilde" (Hội nhà buôn sỉ), một loại consortium nhà buôn đã ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển của thành phố. Biểu tượng này sau đó trở thành huy hiệu hình khiên của thành phố. Tuy nhiên, những nỗ lực để truy lùng dấu vết từ Estonia trở lại Đan Mạch đã thất bại. Quốc huy hình khiên của Estonia gồm ba con sư tử màu xanh dương trên nền khiên màu vàng, hầu như rất giống Quốc huy hình khiên của Đan Mạch, và nguồn gốc của nó bắt nguồn trực tiếp từ vua Valdemar II và sự cai trị của Đan Mạch trên Estonia từ 1219-1346.. Liên kết lâu đời nhất không thể tranh cãi. Nguồn lâu đời nhất không thể tranh cãi liên kết lá cờ nền đỏ có một thập tự màu trắng với nhà vua Đan Mạch, và với chính vương quốc, được tìm thấy ở Tập huy hiệu của Hà Lan, đó là "Tập huy hiệu Gelre" (tiếng Hà Lan: "Wapenboek Gelre"), được viết từ khoảng năm 1340 tới năm 1370 (vài nguồn khác cho là năm1378 hoặc 1386). Đa số các sử gia đều cho rằng tập sách này do Geldre Claes Heinen viết. Sách này trình bày khoảng 1.700 huy hiệu hình khiên tô màu của mọi nước châu Âu. Sách này hiện nằm trong Thư viện hoàng gia Bruxelles ("Bibliothèque royale Albert Ier"). Trên mặt sau trang 55 có hình Huy hiệu hình khiên của Đan Mạch trên đó có một mũ bảo vệ đầu với ermine có 2 sừng bò bison (bò xạ)(). Đằng sau chiếc sừng hung dữ là mũi nhọn của ngọn dáo với lá cờ có thập tự trắng trên nền đỏ. Câu văn bên trái của huy hiệu hình khiên này ghi "die coninc van denmarke" (vua Đan Mạch). Đây là màu sắc của lá cờ Danebrog được biết đến lâu đời nhất không thể tranh cãi. Hình này đã được dùng để xác nhận một thuyết từng gây tranh cãi trước đây cho rằng hình thập tự trên quốc huy hình khiên của vua Valdemar Atterdag ở (dấu) triện Danælog của ông ta ("Rettertingsseglet") từ năm 1356 quả đúng là thập tự trên quốc kỳ Đan Mạch. Hình này trong "Tập huy hiệu Gelre" rất giống với một hình trong sách huy hiệu ở thế kỷ XV, nay lưu trữ trong "Viện văn khố quốc gia Thụy Điển" ("Riksarkivet") Từ thời vua Eric của Pomerania cũng có một trường hợp liên kết cờ Danebrog với Đan Mạch không thể tranh cãi. Dấu triện của ông từ năm 1398 với cương vị là vua của Liên minh Kalmar có thể hiện quốc huy Đan Mạch với ba con sư tử ở phần chính. Trong phiên bản này, vác sư tử mang lá cờ Danebrog. Thập tự chia huy hiệu hình khiên thành 4 phần cũng giống hệt thập tự của cờ Dannebrog, nhưng nhận xét này bị tranh cãi. Vì dấu triện đại diện cho cả ba vương quốc trong Liên minh, nên dường như thập tự này là thập tự trên cờ của Liên minh mà vua Eric tìm cách đưa vào: thập tự màu đỏ trên nền màu vàng. Việc sử dụng cờ hiện nay. Như một cờ hiệu dân sự. Kích thước và hình dáng của cờ hiệu dân sự (""Koffardiflaget") dùng cho thương thuyền được ấn định trong quy định ngày 11.6.1748 như sau: "Cờ màu đỏ với một hình thập tự màu trắng và đuôi cờ không xẻ chéo. Thập tự màu trắng phải bằng 1/7 chiều cao của cờ. Hai ô đầu tiên của cờ phải là hình vuông và 2 ô dưới phải là 6/4 chiều dài của các ô trên". Các tỷ lệ là: 3:1:3 theo chiều dọc và 3:1:4.5 theo chiều ngang. Quy định này là những tỷ lệ tuyệt đối cho quốc kỳ Đan Mạch tới ngày nay, dùng cho cả phiên bản cờ dân sự ("Stutflaget"), cũng như cờ thương mại ("Handelsflaget""). Cả hai cờ đều giống nhau. Năm 1758 có một quy định hơi kỳ lạ liên quan tới các tàu của Đan Mạch chạy trong Địa Trung Hải. Các tàu này phải mang logo "chữ kết tên hoàng gia" (royal cipher) ở giữa lá cờ, để phân biệt với các tàu của Malta, vì có sự giống nhau về cờ của "Dòng thánh Gioan" (cũng gọi là dòng Hiệp sĩ Cứu tế). Theo như được biết thì sự điều chỉnh này chưa bị hủy bỏ, tuy nhiên dường như nó không còn được áp dụng. Theo quy định ngày 11.6.1748 thì cờ có màu đỏ đơn thuần, màu mà ngày nay thường được gọi là "màu đỏ cờ Dannebrog" ("Dannebrog rød"). Thuốc nhuộm màu đỏ duy nhất có được ở năm 1748 được làm bằng rễ cây Rubia (thuộc họ Thiến thảo), có thể xử lý để sản xuất ra thuốc nhuộm màu đỏ tươi. Theo quy định số 359 năm 2005 của Dansk Standard (Cơ quan định chuẩn Đan Mạch), thì màu đỏ của cờ là màu của hãng Pantone 186c. Không có định nghĩa sắc thái chính thức nào về "màu đỏ Dannebrog". Trong thời gian khoảng gần 150 năm, không ai - kể cả chính phủ - đã để ý tôn trọng hoàn toàn các tỷ lệ của cờ được đưa ra trong quy định năm1748. Các biến thể. Cờ xẻ đuôi và cờ Hải quân. "Cờ xẻ đuôi" (splitflag) và "Cờ Hải quân" (Orlogsflag) có cùng một hình dạng như nhau, nhưng khác nhau về kích thước và độ đậm của màu đỏ. Về mặt pháp lý, đó là 2 lá cờ khác nhau. "Cờ xẻ đuôi" là lá cờ Đan Mạch mà đuôi cờ xẻ chéo như đuôi chim én, có "màu đỏ Dannebrog " và được sử dụng trên đất liền. "Cờ Hải quân" là "cờ xẻ đuôi" dài hơn, có màu đỏ đậm hơn và chỉ sử dụng trên biển cho Hải quân Hoàng gia Đan Mạch. Quy định đầu tiên liên quan tới "Cờ xẻ đuôi" được ban hành ngày 27.3.1630, trong đó vua Christian IV ra lệnh cho các tàu buôn có võ trang (Defensionskibe) của Na Uy chỉ được dùng Cờ xẻ đuôi khi phục vụ chiến tranh của Đan Mạch. Năm 1685 có một lệnh cho một số thành phố vùng Slesvig, nói rằng mọi tàu thủy phai mang cờ Đan Mạch, và năm 1690 cấm mọi tàu buôn sử dụng "Cờ xẻ đuôi", ngoại trừ các tàu chạy trong vùng Đông Ấn, vùng Caribe và dọc theo bờ biển châu Phi. Năm 1741 có xác nhận là quy định năm 1690 vẫn còn hiệu lực, do đó các tàu buôn không được sử dụng "Cờ xẻ đuôi". Đồng thời Công ty Đông Ấn của Đan Mạch được phép treo "Cờ xẻ đuôi" khi vượt qua xích đạo. Mê tín. Văn hóa Đan Mạch cho rằng quốc kỳ Dannebrog không được để rơi xuống đất, vì cờ này từ trời rơi xuống; và cũng không được kéo cờ lên vào ban đêm, vì như vậy được coi là để chào Quỷ. Các cờ khác của Vương quốc Đan Mạch. Đảo Greenland và Quần đảo Faroe là 2 nước tự trị trong Vương quốc Đan Mạch. Các nước này có cờ chính thức riêng của họ. Cờ của các vùng. Một số Vùng của Đan Mạch có cờ không chính thức. Cờ vùng Bornholm và đảo Ærø đang được sử dụng. Cờ vùng Vendsyssel (Vendelbrog) và cờ vùng Jutland ("Den jyske fane") ít được biết đến, vì không được nhìn nhận là hợp pháp. Đan Mạch giữ việc công nhận chính thức cho các cờ chính thức và các cờ của vùng ("områdeflag") thì thuộc các quyền tài phán khác. Cờ của Volyn Oblast, Ukraina rất giống cờ Dannebrog của Đan Mạch.
1
null
Malta (còn gọi là bia non, bia cho trẻ em, bia mạch nha hoặc soda đại mạch) là một loại nước giải khát có ga. Bia mạch nha là một thức uống đại mạch có ga, có nghĩa là nó được ủ từ mầm đại mạch, hoa bia, và nước, rất giống bia. Ngô và màu caramel cũng có thể được thêm vào. Tuy nhiên, bia mạch nha không chứa cồn, và được uống như soda hoặc nước ngọt có ga. Nói cách khác, bia mạch nha là loại bia không được lên men. Màu sắc của nó tương tự như màu bia đen (màu nâu sẫm) nhưng rất ngọt, thường được ví như hương vị của mật đường. Không giống như uống bia, người ta thường uống bia mạch nha kèm với đá. Một cách phổ biến ở Mỹ Latinh khi uống Malta là trộn nó với sữa đặc. Ngày nay, hầu hết bia mạch nha được nấu trong khu vực biển Caribe và có thể được mua tại các khu vực có dân số đáng kể khu vực biển Caribe. Bên cạnh những hòn đảo vùng Caribbean, bia mạch nha cũng rất phổ biến tại các khu vực ven biển vùng Caribbean như Panama, Colombia, và Venezuela và các nước có chung bờ biển Caribbean. Bia mạch nha được ủ trên toàn thế giới, và được phổ biến ở nhiều nơi nữa của châu Phi như Nigeria, Chad, Ghana, Cameroon, và ở Ấn Độ Dương. Thức uống này cũng phổ biến ở một số vùng của châu Âu, đặc biệt là ở Đức. Bia mạch nha có nguồn gốc từ Đức như Malzbier, một dòng bia đen malty có quá trình lên men bị gián đoạn ở khoảng 2% ABV, để lại khá nhiều đường trong bia thành phẩm. Tính đến năm 1950, bia mạch nha được coi là một thực phẩm củng cố dưỡng chất cho những bà mẹ đang cho con bú, bệnh nhân đang hồi phục, người già. Bia mạch nha dưới hình thức ban đầu của nó cuối cùng đã được thay thế trong những năm 1960 bằng hình thức hiện đại, làm từ nước, xi-rô đường glucose, chiết xuất mầm đại mạch và chiết xuất hoa bia, đã được bán trên thị trường kể từ nửa sau của thế kỷ 19, đặc biệt là ở Đan Mạch. Đồ uống có công thức như vậy được gọi là Malztrunk ("nước uống mạch nha") theo luật pháp Đức, vì chúng là không lên men. Trong ngôn ngữ giao tiếp, Malzbier đã vẫn được giữ lại, cùng với biệt danh khác như Kinderbier ("bia của trẻ em"). Một số bia mạch nha bản địa vẫn còn có thể được hưởng tại Đức, đặc biệt là tại vùng Cologne, nơi các nhà máy bia Malzmühle và Sion luôn bán bia mạch nha cùng với thức uống Kölsch truyền thống của họ. Nhiều nhà máy bia Đức vẫn sản xuất bia mạch nha trong dòng sản phẩm của mình, ví dụ Karamalz. Bia mạch nha cũng có khi được gọi là "rượu sâm banh cola" dưới một số thương hiệu. Tuy nhiên, có một loại riêng biệt của thức uống với tên này, nó có một hương vị và nhất quán giống như soda kem. Mặc dù tên với gọi này, thức uống này không phải là rượu sâm banh hay cola. Do màu sắc đặc biệt của nó, bia mạch nha đôi khi được gọi là bia ủ đen. Malta chứa nhiều Vitamin nhóm B Một số nhà máy bia, như nhà máy bia Albani của Đan Mạch, Karamalz của Đức tăng cường đồ uống bia mạch nha với việc giữ lại được nhóm Vitamin B trong sản phẩm của mình Nhà máy bia Albani tuyên bố trên trang web của họ là nhà máy bia đầu tiên tạo ra đồ uống mạch nha không cồn trong năm 1859.
1
null
Königssee là một hồ nằm phía Đông Nam cuối huyện Berchtesgadener Land, bang Bayern, Đức, gần biên giới với Áo. Hồ phần lớn nằm trong khu công viên quốc gia Berchtesgaden. Địa lý. Nằm trong vùng núi Berchtesgadener Alpen, thuộc xã Schönau am Königssee, nằm phía Nam thị xã Berchtesgaden và thành phố Áo Salzburg, Königssee đứng thứ ba trong những hồ sâu nhất nước Đức. Hồ dài khoảng nằm hướng Nam Bắc và chỗ rộng nhất khoảng . Ngoại trừ con suối Königsseer Ache chạy xuống xã Schönau am Königssee, hồ này nhìn giống như một fjord được bao quanh bởi núi đồi độ dốc cao lên tới 2700 m (8900 ft), bao gồm ngọn núi Watzmann nằm ở phía Tây.
1
null
Karamalz là một thương hiệu đồ uống từ mầm đại mạch (bia non) của nhà máy bia Mannheim Eichbaum-Brauereien, Đức. Với nồng độ cồn chiếm 0,2% thể tích, Karamalz được Đức xem như là một loại thực phẩm và là một loại thức uống không cồn của Thụy Sĩ. Các loại bia " Henninger Karamell-Kraftbier " đã được bán trên thị trường từ năm 1955 trong khu vực Frankfurt của Henninger Bräu. Năm 1958 ngoài các công thức thì tên của loại nước này đã được thay đổi thành Karamalz. Vào năm 1961, Karamalz đã được đăng ký thương hiệu. Thức uống này chứa 184 ml kJ/100. Gần đây, Karamalz được làm giàu với hương vị chanh "Karamalz chanh tươi" và "Karamalz lựu", một thức uống mạch nha làm từ nguyên liệu tự nhiên, giàu vitamin B, C, calci và magnesi.
1
null
Levuka là một thị trấn bên bờ biển phía đông của đảo Ovalau của Fiji, trong tỉnh Lomaiviti, phía Đông Fiji. Thị trấn này trước đây từng là thủ đô của Fiji. Theo điều tra dân số năm 2007, nội thị Levuka có dân số 1.131 người, và 3.266 người sinh sống tại khu vực ven đô thị, chiếm khoảng một nửa dân số trên đảo Ovalau (tổng số 8.360 người trên đảo). Đây là trung tâm kinh tế và cũng là đô thị lớn nhất trong tổng số 24 khu định cư trên đảo. Levuka và đảo Ovalau đã được xem xét là một di sản thế giới của UNESCO trong nhiều thập kỷ, cuối cùng khu vực lịch sử của đảo và thị trấn Levuka đã được công nhận vào tháng 6 năm 2013. Nó là một ví dụ hiếm hoi của một thị trấn hải cảng thuộc địa cuối cùng nhưng vẫn phát triển cộng đồng bản địa và còn tiếp tục đông những người định cư châu Âu hơn khiến nơi đây là một ví dụ nổi bật về một hải cảng, khu định cư cuối thế kỷ 19 ở Nam Thái Bình Dương, phản ánh sự tích hợp của các truyền thống xây dựng địa phương bởi sức mạnh buôn bán, dẫn đến sự xuất hiện của một cảnh quan độc đáo giữa đại dương. Lịch sử. Thị trấn hiện đại Levuka được thành lập khoảng năm 1820 bởi những người định cư châu Âu và thương nhân là những cư dân hiện đại đầu tiên trên quần đảo Fiji, đã đua thị trấn trở thành một cảng và khu vực buôn bán giao thương quan trọng. Ngoài thương nhân thì các giáo sĩ, thợ đóng tàu, các nhà đầu cơ, và kẻ lang thang, chính là những thành phần xã hội sinh sống tạo nên thị trấn Levuka. Linh mục Marist thành lập một nhà thờ ở Levuka trong năm 1858. Đến năm 1870, thị trấn có dân số hơn 800 người. Khi các nhà nước hiện đại đầu tiên của Fiji được thành lập vào năm 1871, Seru Epenisa Cakobau được lên ngôi vua tại Levuka. Đến khi Fiji được sáp nhập như một thuộc địa của Anh vào năm 1874, Levuka vẫn là thủ đô cho đến năm 1877, khi chính quyền đã được chuyển đến Suva, mặc dù động thái này chưa chính thức cho đến năm 1882. Nguyên nhân chính là từ mối lo ngại rằng, các vách đá cao 600 mét xung quanh Levuka khiến cho thị trấn không thể mở rộng được. Levuka nổi tiếng với nhiều thứ "đầu tiên" của Fiji. Đây là địa chỉ của ngân hàng Fiji đầu tiên, bưu điện, trường học, câu lạc bộ thành viên tư nhân, bệnh viện, tòa thị chính, và chính quyền cũng đầu tiên. Tờ báo đầu tiên của Fiji có tên "Fiji Times", vẫn còn hoạt động tới ngày nay, được thành lập vào năm 1869 ngay tại Levuka. Levuka của Khách sạn Hoàng gia là khách sạn lâu đời nhất ở Nam Thái Bình Dương vẫn còn hoạt động. Hiện nay chưa xác định tuổi chính xác của nó, nhưng hồ sơ cho thấy rằng nó đã tồn tại từ năm 1860. Trường công lập Levuka lần đầu tiên khai giảng vào năm 1879, là trường công lập đầu tiên ở Fiji và nhiều nhà lãnh đạo Fiji trong những năm đầu dẫn đến và sau độc lập năm 1970 đã được đào tạo ở đây. Hội Tam Điểm lâu đời nhất ở Nam Thái Bình Dương, Lodge Polynesia 562 SC, cũng được tìm thấy tại Levuka. Nó được thành lập vào năm 1875. Levuka cũng là địa điểm của hệ thống điện công cộng đầu tiên của Fiji, bắt đầu vào năm 1927, ba ngày trước khi thủ đô Suva đã được điện khí hóa. Kinh tế. Với việc Levuka là một hải cảng như là điểm dừng chân quan trọng cho các tàu biển qua Thái Bình Dương nhưng đã bị dừng vào năm 1950, đe dọa nền kinh tế của thị trấn. Trong năm 1964, công ty đánh cá Thái Bình Dương (PAFCO) được thành lập bởi một công ty của Nhật Bản, chuyên đóng hộp và vận chuyển cá ngừ đóng hộp sang các thị trường ở châu Âu và Canada. Một nhà máy đồ hộp liên doanh giữa chính phủ và PAFCO được khai trương vào năm 1976, và là công ty tư nhân lớn nhất trên đảo Ovalau. Do bị cô lập nên du lịch ở Levuka chỉ đóng vai trò nhỏ trong nền kinh tế trên đảo Ovalau. Hành chính và chính trị. Levuka đã được thành lập như là một thị trấn từ năm 1877, và được quản lý bởi Hội đồng Thị trấn bao gồm 8 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ 3 năm. Cuộc bầu cử thị trấn ngày 22 tháng 10 năm 2005, đảng SDL của thị trưởng Taniela Bulivou đã thất bại, với việc Đảng Cân bằng chiếm 6 trong 8 ghế. Các điểm đáng chú ý. Ở tận cùng phía bắc của Levuka là làng nghề truyền thống của Levuka và Fiji. Trưởng thôn, người mang danh hiệu "Tui Levuka", là một hậu duệ của người chủ đảo đã chào đón những người định cư châu Âu đầu tiên. Trong trí nhớ của mình về tổ tiên, tổ tiên của ông cũng được biết đến như "Tamana na vavalagi" (Cha của người châu Âu). Ở cuối phía nam của thị trấn là làng Nasova, nơi vua Seru Epenisa Cakobau ký Chứng thư nhượng, nhượng các đảo cho người Anh vào ngày 10 tháng 10 năm 1874. Các công trình cộng đồng ở Levuka, trong đó nhà một chi nhánh Bảo tàng Fiji, một thư viện công cộng, trung tâm hàng thủ công, nhà trẻ, sân bóng và hội trường, một cửa hàng xây dựng vào năm 1878 bởi Morris Hedstrom & Co., một công ty kinh doanh thành lập vào đầu năm tại Levuka và ngày nay nó vẫn còn kinh doanh ở Fiji. Morris Hedström xây dựng tòa nhà vào năm 1980. Tiếp giáp với Trung tâm Cộng đồng Levuka là Bến cảng Queens. Trong những năm 1990, nó được sử dụng chủ yếu là để xuất khẩu hàng thủ công địa phương, đôi khi cũng là nơi cập bến của các tàu thuyền nước ngoài bởi Levuka là một trong ba cảng chính cho phép nhập cảnh vào Fiji (hai cảng khác là tại Suva và Lautoka). Một số địa điểm nổi tiếng khác bao gồm Nhà thờ Thánh Tâm, một di sản của các Giáo phụ Marist, được thành lập vào năm 1858. Ovalau Club, một trong những tổ chức xã hội lâu đời nhất ở Thái Bình Dương hay Tòa thị chính Levuka, nơi các thành viên Hội đồng thị trấn Levuka. Nó được xây dựng vào năm 1898 để vinh danh Nữ hoàng Victoria của Diamond Jubilee.
1
null
Gustav Emil Bernhard Bodo von Kessel (6 tháng 4 năm 1846 tại Potsdam – 28 tháng 5 năm 1918 tại Berlin) là một Thượng tướng quân đội Phổ, Tổng chỉ huy quân đội ở tỉnh Mark Brandenburg đồng thời là Thống đốc Berlin. Ông đã từng tham chiến trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866 và cuộc Chiến tranh Pháp-Đức vào các năm 1870 – 1871. Ông là sĩ quan phụ tá của Đức hoàng Wilhelm II, và cương vị Thống đốc Berlin, ông là người đã tiến hành các biện pháp quân sự nhằm trấn an thành phố trong tình hình bất ổn xã hội đầu tháng 1 năm 1918. Tiểu sử. Ông sinh ngày 6 tháng 4 năm 1846, là con trai của Thiếu tướng Emil von Kessel (mất ngày 8 tháng 11 năm 1870) và vợ của ông này là bà Julie Freiin von Canstein. Ông đã học tại các trường trung học ở Posen, Danzig và Oppeln. Ngoài ra, ông cũng tốt nghiệp Học viện Hiệp sĩ ("Ritterakademie") Liegnitz. Sau đó, ông khởi đầu sự nghiệp quân sự của mình vào ngày 1 tháng 5 năm 1864 với vai trò là lính ném lựu đạn trong Trung đoàn Bộ binh Cận vệ số 1, đóng quân tại quê nhà Potsdam của ông. Một năm sau, ông được phong quân hàm Thiếu úy vào ngày 11 tháng 10 năm 1865. Ông đã tham chiến trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866, và bị thương ở bàn chân vào ngày 3 tháng 7 trong trận Königgrätz. Trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức từ năm 1870 cho đến năm 1871, ông giữ chức sĩ quan phụ tá của người chú ông, Đại tá Bernhard von Kessel. Trong trận đánh khốc liệt ở Gravelotte và St. Privat vào ngày 18 tháng 8, ông bị thương ở bắp tay. Ông đã hồi phục và trở lại trung đoàn của mình sau khi cuộc chiến tranh kết thúc. Vào ngày 22 tháng 3 năm 1872, ông được thăng quân hàm Trung úy. Tiếp theo đó, ông tham dự Học viện Quân sự Phổ kể từ năm 1873 cho đến năm 1874. Sau khi học xong, ông gia nhập Bộ Tổng tham mưu vào năm 1874. Năm 1878, ông được bổ nhiệm vào một chức đại đội trưởng trong trung đoàn của mình ở Potsdam, rồi vào ngày 18 tháng 2 năm 1878 ông được lên quân hàm Đại úy. Sau đó, vào năm 1881, ông được lãnh chức đại đội trưởng của Đại đội Vệ sĩ ("Leibkompanie", đại đội thứ nhất của trung đoàn). Hai năm sau, ông được lãnh chức sĩ quan trợ lý của Thái tử Friedrich Wilhelm, tức là Đức hoàng Friedrich III tương lai. Ngày 22 tháng 3 năm 1885, ông được thăng cấp Thiếu tá. Vào ngày 9 tháng 3 năm 1888, ông được nhậm chức sĩ quan hầu cận của Friedrich III – Hoàng đế Đức và Vua Phổ. Sau khi Friedrich III băng hà, ông được lãnh chức sĩ quan hầu cận của tân Hoàng đế Wilhelm II. Vào ngày 13 tháng 8 năm 1889, ông được lên quân hàm Thượng tá. Năm sau (1890), ông được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng của Đại đội Hoàng cung ("Schloss-Kompanie"). Ngày 18 tháng 10 năm 1891, ông lên cấp Đại tá. Sau đó, ngày 9 tháng 2 năm 1893, ông được phong chức Trung đoàn trưởng của Trung đoàn Bộ binh Cận vệ số 1. Vào ngày 21 tháng 3 năm 1896, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, đồng thời là "Tướng phụng sự Hoàng thượng". Năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh của Lữ đoàn Bộ binh số 1 vào ngày 27 tháng 1 năm 1897, và được giao quyền chỉ huy quân đội ở Potsdam. Vào năm 1899, ông lên quân hàm Trung tướng. Đồng thời, ông được bổ nhiệm chức Tướng phụ tá của Hoàng đế và là Tướng tư lệnh của Sư đoàn Cận vệ số 2. Vào ngày 27 tháng 1 năm 1900, ông được ủy nhiệm chức Tướng tư lệnh của Sư đoàn Cận vệ số 1. Tiếp theo đó, vào ngày 27 tháng 1 năm 1902, ông được giao chỉ huy Quân đoàn Vệ binh. Kể từ năm 1909 cho đến năm 1918, ông là Tổng chỉ huy quân đội tại vùng Mark Brandenburg đồng thời là Thống đốc Berlin. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), ông là người thực thi quyền hành pháp tại Berlin. Trước tình hình bất ổn xã hội tại Berlin từ năm 1916 do khan hiếm lương thực, ông chủ trương cứu trợ lương thực cho những người dân đói khát bằng các nhà bếp súp. Khi có cuộc tổng đình công diễn ra tại Berlin vào tháng 1 năm 1918, ông đã bắt đầu dùng đến các biện pháp quân sự và cuộc tổng đình công đã bị dập tắt một cách tàn nhẫn và hiệu quả. Sau khi ông từ trần vào ngày 28 tháng 5 năm 1918, Thượng tướng Alexander von Linsingen thay ông đảm nhiệm chức Thống đốc Berlin. Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất đã chấm dứt không lâu sau khi ông mất. Gia đình. Vào ngày 22 tháng 9 năm 1877, tại thành phố Potsdam, Kessel đã kết hôn lần thứ nhất với Friederike (Frieda) Freiin von Esebeck (14 tháng 8 năm 1854 tại Berlin – 12 tháng 2 năm 1913 cũng tại Berlin), con gái của Thiếu tá Phổ Karl Freiherr von Esebeck và bà Klara von Rothkirch und Panthen. Năm 1911, đôi vợ chồng cư ngụ tại đại lộ Kurfürstendamm 252 ở Berlin. Cuộc hôn nhân này đã mang lại cho họ một người con là nữ họa sĩ có tên tuổi Elisabeth von Kessel (1893 – 1980), sau này kết hôn với Martin Möller ở Swakopmund (Namibia). Bốn năm sau khi người vợ đầu tiên của ông qua đời, Kessel tái giá vào ngày 30 tháng 4 năm 1917 (chỉ hơn một năm sau trước khi ông tạ thế), tại Berlin, với bà Katharina von Borstell (16 tháng 3 năm 1878 tại điền trang Groß-Schwarzlosen, hạt Stendal – 2 tháng 7 năm 1951 tại Stendal), con gái của ông Walter von Borstell, người hưởng quyền thừa kế ("Fideikommissherr") của Groß-Schwarzlosen và nhiều điền trang khác, với bà Martha von Böhlendorff-Kölpin.
1
null
Phạm Nhĩ là một người trên cõi Trời, chưa được Ngọc Hoàng Thượng đế phong cho một tước hiệu xứng đáng. Ông là người bị Ngọc Hoàng đày xuống cõi trần. Đặc điểm. Điểm đặc biệt của Phạm Nhĩ là ông có hai vành tai dài và rách Phép thuật. Ông tài phép cao cường, tướng nhà Trời không có ai sánh kịp Tiểu sử. Phạm Nhĩ tính kiêu căng, khi không được Ngọc Hoàng phong cho chức vụ gì, ông sai bộ hạ lẻn đến giành ngôi vua của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng sai 18 vị tướng. Phạm Nhĩ chỉ đánh 15 vị. Còn lại ba vị chạy về. Ngọc Hoàng lại sai 50 lực sĩ hầu cận nhưng họ bị Phạm Nhĩ cho no đòn. Bao nhiêu viên cận thần được Ngọc Hoàng phái đến đều bị Phạm Nhĩ diệt sạch. Ngọc Hoàng sai người cầu cứu Phật tổ Như Lai. Nghe vậy Phật tổ sai Chuẩn Đề bắt Phạm Nhĩ. Phật tổ không ngờ Chuẩn Đề chết dưới tay Phạm Nhĩ. Phật tổ đi đến xa Thiên cung, Phạm Nhĩ sa vào túi thần và bị đày xuống trần gian hóa làm chúa sơn lâm.Rồi Ngọc Hoàng cắt đôi cánh để không bay về trời làm loạn nữa. Ca dao. Nhân dân thường làm một câu ca dao: để nhớ cuộc náo động Thiên cung của Phạm Nhĩ xưa kia.
1
null
Phạm Minh Hoàng (sinh ngày 8 tháng 8 năm 1955 tại Vũng Tàu) là một giảng viên đại học và nhà bất đồng chính kính người Việt Nam. Ông từng giảng dạy môn Toán học ứng dụng tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, và bị chính quyền Việt Nam bắt với các cáo buộc tội hoạt động cho đảng Việt Tân, một tổ chức chính trị của người Việt ở hải ngoại, bị cấm hoạt động ở Việt Nam. Tiểu sử và hoạt động. Phạm Minh Hoàng là con của một viên chức cao cấp thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Năm 1973, ông sang Pháp du học, tốt nghiệp học vị thạc sĩ ngành Cơ học ứng dụng. Năm 2000 ông trở về Việt Nam, làm giảng viên hợp đồng dạy môn Toán học ứng dụng tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ông cũng viết blog dưới bút hiệu Phan Kiến Quốc kêu gọi chính quyền thực thi dân chủ và phản đối việc giao cho nhà thầu Trung Quốc khai thác mỏ Bauxite ở Tây Nguyên. Ông bị Cơ quan An ninh điều tra Thành phố Hồ Chí Minh bắt giam để điều tra ngày 13.8.2010, Ngày 10.8.2011, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ông ra xét xử sơ thẩm về tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo khoản 2 Điều 79 Bộ luật Hình sự, và đã tuyên phạt ông 3 năm tù giam Nhiều tổ chức quốc tế đã phản đối vụ xét xử này và kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho ông, như Ủy ban bảo vệ các nhà báo, tổ chức Front Line Defenders, tổ chức Phóng viên không biên giới, cùng các chính phủ Hoa Kỳ, Pháp, Liên minh châu Âu. Ông đã kháng án. Ngày 29.11.2011 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố chấp nhận kháng cáo của ông, giảm án cho ông từ 3 năm tù xuống còn 17 tháng tù về tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Ngày 13.1.2012, ông đã được trả tự do, sau 17 tháng ở tù Tháng 3/2016, ông Hoàng bị câu lưu tại TP Hồ Chí Minh do tổ chức lớp học về lịch sử các cuộc đấu tranh ở Việt Nam và về Hiến pháp. Ngày 1/6/2017, Tổng lãnh sự quán Pháp tại TP Hồ Chí Minh thông báo cho ông, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ký văn bản tước quốc tịch Việt Nam đối với ông vào hôm 17/5. Ngày 23 tháng 6, ông Hoàng đã bị công an Việt Nam tới nhà bắt đi và bị trục xuất ngay đêm hôm sau. Sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam, ông trở lại Paris, Pháp và vẫn tiếp tục hoạt động với Đảng Việt Tân. Ngày 12 tháng 11 năm 2020, ông cùng các bạn thân hữu Việt Tân lập kênh Youtube Khoa Học và Chúng Ta, 1 kênh Youtube chuyên chia sẻ kiến thức khoa học ứng dụng. Vấn đề bị tước quốc tịch. Ngày 1/6/2017, Tổng lãnh sự quán Pháp tại TP Hồ Chí Minh thông báo cho ông, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ký văn bản tước quốc tịch đối với ông vào hôm 17/5. Ông Hoàng cho là ý định tước quốc tịch có mục đích là để trục xuất ông. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 15/6/2017, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cũng nói ông Hoàng đã 'phạm pháp' và xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam, việc tước quốc tịch Việt Nam đối với nhà giáo Phạm Minh Hoàng, là 'đúng pháp luật'. Theo ông Hoàng, một văn bản tước quốc tịch được Chủ tịch nước của Việt Nam, ông Trần Đại Quang ký, đã không nêu rõ ông vi phạm vào điều khoản nào trong luật Quốc tịch và đây cũng là lý do ông đã gửi khiếu nại cách đây năm hôm tới lãnh đạo nhà nước với sự trợ giúp của các luật sư. Ngày 23 tháng 6, ông Hoàng đã bị công an Việt Nam tới nhà bắt đi để trục xuất. Cuộc trục xuất xảy ra ngay trong đêm 24/6, trên chuyến bay hành trình từ TP Hồ Chí Minh đến Paris của Vietnam Airlines. Trong số những người ra đón ông Hoàng tại sân bay ở Paris có ông Đặng Xuân Diệu, cựu tù nhân lương tâm, người bị Việt Nam "cho đi chữa bệnh" hồi tháng 1/2017. Căn cứ pháp lý. Theo quy định tại Điều 31 của Luật quốc tịch, hai nhóm chủ thể sau đây có thể bị tước quốc tịch: “1. Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.” Theo luật sư Lê Công Định thì "Trên thực tế, anh Phạm Minh Hoàng chưa từng xin nhập tịch Việt Nam theo Điều 19 của Luật quốc tịch, trái lại anh chỉ xin hồi hương và được nhà nước Việt Nam chính thức xác nhận rằng anh vẫn giữ (chứ không phải được nhập) quốc tịch Việt Nam." Cho nên ông Hoàng không thuộc vào 2 nhóm nêu trên. Gia đình. Phạm Minh Hoàng kết hôn với Lê Thị Kiều Oanh, họ có một con gái. Bà cũng là người lên tiếng bảo vệ chồng khi chính quyền Việt Nam ập tới đòi trục xuất ông. Phạm Minh Hoàng có một người anh hiện nay là thương binh của chế độ cũ có tỷ lệ thương tật rất nặng.
1
null
Nhà thờ gỗ "Tserkvas" của vùng Carpath tại Ba Lan và Ukraina (tiếng Ba Lan: Drewniane cerkwie regionu karpackiego w Polsce i na Ukrainie; ) là một nhóm nhà thờ gỗ Công giáo Đông phương, nhà thờ Chính thống giáo ở Ba Lan và Ukraina đã được ghi vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO vào tháng 6 năm 2013. Nằm ở rìa phía đông của Đông Âu, đây là di sản xuyên quốc gia được lựa chọn gồm 16 nhà thờ gỗ "Tserkvas" được xây dựng theo các bản vẽ bằng gỗ từ giữa thế kỷ 16 tới 19 của các cộng đồng của Giáo hội Chính thống Hy Lạp và Công giáo Đông phương. Đây là các đại diện cho những biểu hiện văn hóa của bốn nhóm dân tộc và các đặc tính chính của nhà thờ gỗ. Với các hoa văn trang trí và kỹ thuật xây dựng, các nhà thờ đã phát triển rộng ra khắp khu vực theo thời gian. Các nhà thờ gỗ "tserkvas" là bằng chứng cho một truyền thống xây dựng khác biệt đan xen với các yếu tố truyền thống địa phương. Các nhà thờ tserkvas được xây dựng với đặc trưng về vòm nhà tứ giác hoặc bát giác mở với mỗi một nhà thờ có cấu trúc gồm ba phần. Nhà thờ bao gồm các tháp chuông bằng gỗ, của sổ, vòm tròn, các họa tiết trang trí đa màu, nội thất cũng như cổng ra vào, nghĩa trang. Dưới đây là danh sách các nhà gỗ được đưa vào di sản thế giới bao gồm:
1
null
Tổng thống Mông Cổ (, "Mongol Ulsyn Yerönkhiilögch") là người đứng đầu nhà nước Mông Cổ. Hiến pháp Mông Cổ quy định hệ thống nghị viện, vì vậy khi họ nắm quyền lực chính trị chủ yếu, phần lớn vai trò của tổng thống chỉ là nghi lễ. Tổng thống Mông Cổ hiện nay là ông Khaltmaagiin Battulga. Bầu cử. Tổng thống được bầu thông qua công dân Mông Cổ. Các đảng chính trị cử đại diện vào ứng viên của Great State Khural. Tổng thống chỉ được tái bầu 1 lần duy nhất. Tổng thống có thể bị cách chức nếu 2/3 Khural cho rằng ông ta lạm dụng quyền lực hoặc vi phạm lời tuyên thệ. Tuy nhiên, trước khi nhậm chức, Tổng thống đắc cử phải từ bỏ tư cách thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị nào.
1
null
Vốn tài chính là tiền được sử dụng bởi các doanh nhân và doanh nghiệp để mua những gì họ cần để làm ra sản phẩm của họ hoặc để cung cấp dịch vụ của họ cho khu vực của nền kinh tế khi mà hoạt động của họ là dựa trên, chẳng hạn như bán lẻ, công ty, hoạt động ngân hàng đầu tư, vv. Ba khái niệm về bảo toàn vốn được pháp định trong IFRS. Vốn tài chính hay vốn trong tài chính và kế toán, là các quỹ được cung cấp bởi những người cho vay (và các nhà đầu tư) cho các kinh doanh để mua vốn thực tế trang bị cho việc sản xuất các hàng hóa/dịch vụ. Vốn thực tế hay vốn kinh tế gồm các hàng hóa vật chất hỗ trợ việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ khác, ví dụ như xẻng xúc cho thợ đào huyệt, máy may cho thợ may, hay máy móc, dụng cụ cho các nhà máy. Vốn tài chính thường dùng để lưu giữ của cải tài chính, đặc biệt là được sử dụng để bắt đầu hoặc duy trì một kinh doanh. Một khái niệm tài chính của vốn được thông qua bởi hầu hết các thực thể trong việc chuẩn bị các báo cáo tài chính của họ. Theo một khái niệm tài chính của vốn, chẳng hạn như tiền đầu tư hoặc sức mua đầu tư, vốn là đồng nghĩa với tài sản ròng hoặc vốn cổ phần của thực thể. Theo một khái niệm vật lý của vốn, chẳng hạn như khả năng vận hành, vốn được coi là năng lực sản xuất của thực thể dựa trên, ví dụ, các đơn vị sản lượng mỗi ngày. Bảo toàn vốn tài chính có thể được đo lường hoặc bằng các đơn vị tiền tệ danh nghĩa, hoặc bằng các đơn vị của sức mua không đổi. Như vậy, có ba khái niệm về bảo toàn vốn trong các điều khoản của tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): (1) bảo toàn vốn vật chất (2) bảo toàn vốn tài chính trong các đơn vị tiền tệ danh nghĩa (3) bảo toàn vốn tài chính trong các đơn vị sức mua không đổi. Vốn tài chính được cung cấp bởi người cho vay với một mức giá: lãi vay. cho một mô tả chi tiết hơn về cách thức vốn tài chính có thể được phân tích. Hơn nữa, vốn tài chính, là bất kỳ phương tiện hoặc cơ chế thanh khoản nào đại diện cho của cải, hoặc các phong cách khác của vốn. Tuy nhiên, nó thường là sức mua trong hình thức tiền có sẵn để sản xuất hoặc mua bán hàng hóa, vân vân. Vốn cũng có thể thu được bằng cách sản xuất nhiều hơn những gì là được yêu cầu ngay lập tức và tiết kiệm thặng dư. Vốn tài chính cũng có thể dưới hình thức các mặt hàng có thể mua được chẳng hạn như máy tính hoặc sách mà có thể đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc có được các loại khác của vốn. Vốn tài chính đã được phân tiểu loại bởi một số học giả như vốn kinh tế hay "vốn sản xuất" cần thiết cho các vận hành, vốn tín hiệu mà ra các tín hiệu sức mạnh tài chính của một công ty cho các cổ đông, và vốn điều tiết mà đáp ứng các yêu cầu vốn Các nguồn vốn. Thị trường vốn. Các quỹ dài hạn được mua và bán: Thị trường tiền tệ. Các tổ chức tài chính có thể sử dụng các khoản tiết kiệm ngắn hạn để cho vay theo hình thức các khoản vay ngắn hạn: Vốn cố định. Đây là tiền được sử dụng để mua các tài sản mà sẽ được duy trì vĩnh viễn trong doanh nghiệp và giúp nó để tạo ra lợi nhuận. Vốn lưu động. Vốn lưu động là một phần của vốn đầu tư được sử dụng cho hoạt động kinh doanh như tiền được sử dụng để mua cổ phiếu, thanh toán các chi phí và tín dụng tài chính. Các công cụ tài chính. Một hợp đồng liên quan đến bất kỳ sự kết hợp nào của các tài sản vốn được gọi là công cụ tài chính, và có thể phục vụ như một Các hình thức nguyên khai nhất của tiền (chuỗi hạt, vỏ sò, gậy kiểm đếm, vv) và tiền sắc lệnh hiện đại chỉ là một lưu trữ "biểu tượng" giá trị và không phải là một lưu trữ thực sự của giá trị như tiền hàng hóa. Vốn sở hữu và vốn vay. Vốn góp của chủ sở hữu hoặc của doanh nhân doanh nghiệp, và thu được, ví dụ, bằng cách tiết kiệm, thừa kế, được gọi là vốn tự có hoặc vốn cổ phần, trong khi vốn được cấp bởi một người hoặc tổ chức khác được gọi là vốn vay, và vốn này thường được trả lại với tiền lãi. Tỷ lệ giữa nợ và vốn cổ phần được đặt tên là đòn bẩy. Nó đã được tối ưu hóa như một đòn bẩy cao có thể mang lại lợi nhuận cao hơn nhưng tạo ra nguy cơ khả năng thanh toán. Vốn vay. Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp vay từ các tổ chức hoặc cá nhân, và bao gồm các loại giấy nợ: Vốn sở hữu. Đây là vốn mà những người chủ sở hữu của một doanh nghiệp (cổ đông và các đối tác, ví dụ) cung cấp: Những cổ phần ưu đãi có ưu tiên hơn các cổ phần vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán cho các cổ đông được trả trước hết cho các cổ phần ưu đãi và sau đó cho các cổ đông vốn chủ sở hữu. Phát hành và trao đổi. Như tiền bạc, các công cụ tài chính có thể được "hậu thuẫn" bởi sắc lệnh quân sự của nhà nước, tín dụng (tức là vốn xã hội được nắm giữ bởi các ngân hàng và người gửi tiền của họ), hoặc tài nguyên hàng hóa. Các chính phủ thường kiểm soát chặt chẽ nguồn cung cấp của nó và thường yêu cầu một số "dự trữ" được nắm bởi các tổ chức cấp tín dụng. Trao đổi giữa các công cụ tiền tệ quốc gia được thực hiện trên thị trường tiền tệ. Trao đổi như vậy cho thấy sự khác biệt trong khả năng của chức năng tập hợp nợ hay lưu trữ giá trị của đồng tiền đó, như được định bởi những người trao đổi. Khi trong các hình thức khác hơn tiền bạc, vốn tài chính có thể được trao đổi trên các thị trường trái phiếu hoặc thị trường tái bảo hiểm với mức độ khác nhau của sự tin tưởng trong vốn xã hội (không chỉ là các khoản tín dụng) của tổ chức phát hành trái phiếu, công ty bảo hiểm, và những người phát hành và trao đổi khác trên các công cụ tài chính. Khi thanh toán trả chậm trên bất kỳ một công cụ nào đó như vậy, thường là một lãi suất cao hơn lãi suất tiêu chuẩn được các ngân hàng trả, hoặc tính bởi ngân hàng trung ương trên tiền của nó. Thông thường các công cụ như vậy được gọi là các công cụ thu nhập cố định nếu có lịch trình thanh toán đáng tin cậy liên quan đến lãi suất thống nhất. Một công cụ lãi suất biến đổi, chẳng hạn như nhiều vay thế chấp tiêu dùng, sẽ phản ánh tỷ lệ tiêu chuẩn cho thanh toán trả chậm được xác lập bởi lãi suất prime của ngân hàng trung ương, tăng nó bằng một số tỷ lệ phần trăm cố định. Các công cụ khác, chẳng hạn như các citizen entitlement, ví dụ như lương hưu "An Sinh Xã Hội Hoa Kỳ", hoặc khác, có thể được lập chỉ mục với tỷ lệ lạm phát, cung cấp một dòng giá trị đáng tin cậy. Việc trao đổi trên Thị trường chứng khoán hay thị trường hàng hóa là trao đổi thực sự trên các tài sản cơ bản mà không phải là hoàn toàn tài chính trong bản thân chúng, mặc dù chúng thường di chuyển lên xuống về giá trị trong phản ứng trực tiếp với việc trao đổi trong các phái sinh hoàn toàn có tính chất tài chính hơn. Thông thường các thị trường hàng hóa phụ thuộc vào các chính sách có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, ví dụ như tẩy chay và cấm vận, hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến vốn tự nhiên, ví dụ: thời tiết có ảnh hưởng đến mùa màng cây thực phẩm. Trong khi đó, các thị trường chứng khoán có nhiều ảnh hưởng bởi niềm tin về các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tức là vốn cá nhân, người tiêu dùng, tức là vốn xã hội hay "vốn thương hiệu" (trong một số phân tích), và hiệu quả tổ chức nội bộ, tức là vốn hướng dẫn và vốn cơ sở hạ tầng. Một số doanh nghiệp phát sinh các công cụ để theo dõi đặc biệt một bộ phận hoặc thương hiệu hạn chế. Các "tương lai tài chính", "bán khống" và các "quyền chọn tài chính" áp dụng cho các thị trường này, và thường đặt cược tài chính thuần túy trên kết quả, chứ không phải là một đại diện trực tiếp của bất kỳ tài sản cơ bản nào. Mở rộng khái niệm. Mối quan hệ giữa vốn tài chính, tiền, và tất cả các phong cách khác của vốn, đặc biệt là vốn con người hay sức lao động, được giả định trong chính sách ngân hàng trung ương và các quy định liên quan đến các công cụ như trên. Các mối quan hệ và chính sách này được đặc trưng bởi kinh tế chính trị - phong kiến, xã hội chủ nghĩa, tư bản, xanh, vô chính phủ hoặc khác. Trong thực tế, các phương tiện cung tiền và các quy định khác về vốn tài chính đại diện cho ý nghĩa kinh tế của hệ thống giá trị bản thân xã hội, vì chúng quyết định sự phân bổ lao động trong xã hội đó. Vì vậy, ví dụ, các quy tắc để tăng hoặc giảm lượng cung tiền dựa trên nhận thức lạm phát, hoặc thước đo phúc lợi, phản ánh một số giá trị như vậy, phản ánh tầm quan trọng của việc sử dụng (tất cả các hình thức của) vốn tài chính như một lưu giữ ổn định của giá trị. Nếu điều này là rất quan trọng, kiểm soát lạm phát là quan trọng - bất kỳ số lượng tiền lạm phát làm giảm giá trị vốn tài chính đối với tất cả các loại vốn khác. Tuy nhiên, nếu chức năng phương tiện trao đổi là quan trọng hơn, tiền mới có thể được phát hành tự do hơn bất kể ảnh hưởng đến lạm phát hoặc phúc lợi. Các quan điểm của chủ nghĩa Mác. Nó được phổ biến trong lý thuyết Mác-xít đề cập đến vai trò của "Chủ nghĩa tư bản tài chính" như sự xác định và loại trừ lợi ích giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt trong các giai đoạn sau. Định giá. Thông thường, một công cụ tài chính có giá phù hợp với nhận thức của những người chơi của thị trường vốn về hoàn vốn kỳ vọng và rủi ro. Đơn vị chức năng của tài khoản có thể đi tới câu hỏi nếu các định giá của các công cụ tài chính phức tạp khác nhau đáng kể dựa trên thời gian. Các quy ước "[[giá trị sổ sách]]", "[[giá trị thị trường]]" và "[[giá trị tương lai]]" là ba cách tiếp cận khác nhau để hòa giải các đơn vị giá trị vốn tài chính của tài khoản. Vai trò kinh tế. [[Chủ nghĩa xã hội]], [[chủ nghĩa tư bản]], [[chế độ phong kiến]], [[chủ nghĩa vô chính phủ]], các [[công dân|lý thuyết công dân]] khác có các quan điểm khác nhau rõ rệt về vai trò của vốn tài chính trong đời sống xã hội, và đề xuất các hạn chế chính trị khác nhau để đối phó với điều đó. Chủ nghĩa tư bản tài chính là việc tạo ra lợi nhuận từ sự vận động của vốn tài chính. Nó được giữ trong tương phản với [[chủ nghĩa tư bản công nghiệp]], trong đó lợi nhuận được làm ra từ chế biến hàng hoá. Tham khảo. [[Thể loại:Vốn tài chính| ]] [[de:Geldkapital]] [[en:Financial capital]] [[sv:Finansiellt kapital]] [[uk:Фінансовий капітал]]
1
null
Trong xã hội học, vốn học thuật là khối lượng giáo dục và kinh nghiệm học tập khác của một cá nhân có thể được sử dụng để đạt được một vị trí trong xã hội. Giống như các hình thức khác của vốn (xã hội, kinh tế, văn hóa), vốn học thuật không phụ thuộc vào một yếu tố duy nhất, thời gian đo được của việc đến trường - mà thay vào đó được tạo thành từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả truyền thống học tập của cá nhân từ gia đình của người đó, tình trạng của các tổ chức học tập đã tham dự, và các ấn phẩm của cá nhân.
1
null
Vốn giáo dục đề cập đến các hàng hóa giáo dục được chuyển đổi thành hàng hóa để được mua, bán, giữ lại, trao đổi, tiêu thụ, và hưởng lợi từ trong hệ thống giáo dục. Vốn giáo dục có thể được sử dụng để sản xuất hoặc sao chép một cách bất bình đẳng, và nó cũng có thể phục vụ như một cơ chế san lấp mặt bằng để cổ vũ công lý xã hội và cơ hội bình đẳng. Vốn giáo dục đã được tập trung nghiên cứu trong nhân học kinh tế, cung cấp một khuôn khổ cho sự hiểu biết vốn giáo dục trong nỗ lực của mình để hiểu hành vi kinh tế của con người bằng cách sử dụng các công cụ của cả kinh tế học và nhân học. Vốn văn hóa và vốn giáo dục. Thuật ngữ vốn giáo dục là một khái niệm mở rộng thêm những ý tưởng lý thuyết của nhà xã hội học và nhân học người Pháp Pierre Bourdieu người đã áp dụng khái niệm vốn cho vốn xã hội, vốn văn hóa và vốn biểu tượng. Pierre Bourdieu và Basil Bernstein khám phá bằng cách nào mà vốn văn hóa của các tầng lớp thống trị đã được xem trong suốt lịch sử như "kiến thức hợp pháp nhất." Làm thế nào các trường học chọn nội dung và tổ chức các chương trình giảng dạy và thực hành có hướng dẫn kết nối kiến thức trường học (cả hàng hoá và cuộc sống) cho các năng động của lớp, giới tính, chủng tộc và cả bên ngoài và bên trong các tổ chức của chúng ta về giáo dục. Mặc dù Bourdieu đã đi sâu vào chi tiết trong bài giảng của ông về vốn xã hội, vốn văn hóa và vốn biểu tượng, ông không xuất hiện để xem xét tầm quan trọng của vốn giáo dục như là quan trọng trong nó và của chính nó. Bourdieu tuy nhiên, đề cập đến vốn học tập trong "Distinction: A Social Critique of the Judgment of Taste": Thăm dò của Arjun Appadurai về kiến thức và các hàng hóa và các vấn đề độc quyền và tính xác thực cũng có liên quan đến các cuộc thảo luận của vốn văn hóa và vốn giáo dục. Trong "The Social Life of Things: Commodities in Cultural Perspective", Appadurai cho thấy "... các hàng hóa đại diện cho các hình thức và phân phối xã hội rất phức tạp của tri thức."(41) Các lý thuyết kinh tế và các mô hình thực hành vốn giáo dục. Nền kinh tế nghi thức trong giáo dục. Trong bài viết của mình "Tặng quà trẻ em: Kinh tế nghi thức của một trường cộng đồng," Rhoda Halperin khám phá những thực hành của một trường cộng đồng đô thị thông qua một viễn cảnh nền kinh tế nghi thức. McAnany và Wells xác định nền kinh tế nghi thức như "quá trình cung cấp và tiêu thụ mà vật chất hóa và minh chứng thế giới quan cho việc quản lý ý nghĩa và định hình giải thích." McAnany và Wells lưu ý rằng nghi thức và kinh tế có liên quan nhưng không thể rút gọn về nhau và đề nghị ba lĩnh vực quan trọng của cuộc điều tra: 1) thực hành kinh tế, ví dụ, cung cấp và tiêu thụ; 2) các yếu tố của thực tế kết quả, ví dụ, vật chất hóa và chứng minh và 3) Vai trò xã hội quan trọng của thực hành nghi thức trong ý nghĩa bóng và đường viền việc giải thích của các kinh nghiệm sống. Halperin gọi giao điểm của nền kinh tế nghi thức và quan hệ họ hàng nghi thức trong trường cộng đồng là "tặng quà cho trẻ em." Các thực thể chính được sản xuất, mua lại, và tiêu thụ là trường học đặc quyền cộng đồng công cộng (một công ty phi lợi nhuận) bao gồm một tòa nhà và một bộ sưu tập các thực hành và chương trình giáo dục. Tặng quà trẻ em đòi hỏi một "tập hợp phức tạp các hoạt động kinh tế giữa các thế hệ, không chính thức được dẫn dắt (và được nghi thức hóa) một cách đạo đức: việc mô hình hóa các chiến lược tồn tại bằng cách kết hợp làm việc trong nền kinh tế tiền lương chính thức với công việc không chính thức trong các việc làm lặt vặt... cung cấp các nguồn lực thực tế như thực phẩm, đôi khi nhà ở, cung cấp quần áo và trường học."(251) Quan hệ thân nhân nghi thức và quan hệ thân nhân thực tế trong giáo dục. Các mối quan hệ tương tự như quan hệ thân nhân nghi lễ và quan hệ thân nhân thực tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong giáo dục. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong nhiều cộng đồng nghèo, các cha mẹ đỡ đầu hoặc "cha mẹ đỡ đầu thế tục" được kỳ vọng sẽ giúp đỡ với việc đến trường của trẻ em. Các tình nguyện viên cộng đồng làm cha mẹ đỡ đầu thế tục để giúp đáp ứng các nhu cầu của trẻ em mà cha mẹ không có khả năng đáp ứng: đồ dùng học tập, quần áo, thực phẩm, cũng như tư vấn, thời gian, tình cảm, tin tưởng, và "... các đầu vào của nguồn tài nguyên cho phúc lợi tương lai của trẻ em và cho trách nhiệm công dân của họ. " Halperin cho rằng thân nhân nghi lễ "vật chất hóa mọi thứ khác với người thân khác, sinh học và hư cấu... họ là hào phóng (thường vượt quá khả năng của họ)... và hào phóng với thời gian." Trong thiết lập trường học cộng đồng, Halperin quan sát nhiều hình thức khác nhau của quan hệ thân nhân thực tế (tưởng tượng) được nghi thức hóa một cách đặc biệt (ví dụ, nhận con nuôi, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em (tạm thời và vĩnh viễn), và nhiều các hình thức khác nhau của quan hệ thân nhân phi sinh học hoặc sinh học mở rộng. Trong "The Logic of Practice", Bourdieu mô tả các khái niệm về quan hệ thân nhân thực tế: Kinh tế quà tặng trong giáo dục. Trong cuốn sách của mình "The Gift: The Form and Reason for Exchange in Archaic Societies", Marcel Mauss xem xét bản chất của kinh tế quà tặng và trao đổi quà tặng. Mauss mô tả một hệ thống tổng số dịch vụ mà các bộ lạc Thái Bình Dương và Bắc Mỹ tham gia vào nơi giao dịch kinh tế chỉ là một phần, lưu ý rằng các hành động khác diễn ra như "hành vi lịch sự: tiệc, lễ nghi, dịch vụ quân sự, phụ nữ, trẻ em, khiêu vũ, lễ hội, hội chợ "(5) Mauss đã phát triển một lý thuyết về ba nghĩa vụ: 1) nghĩa vụ để đền đáp lại các món quà nhận được; 2) nghĩa vụ tặng quà; và 3) nghĩa vụ nhận quà. Mauss cho rằng "Từ chối cho, không mời, cũng như từ chối nhận, là tương tự như tuyên bố chiến tranh; nó là để loại bỏ cam kết của liên minh và tính phổ biến."(13) Các nền kinh tế quà tặng cũng diễn ra trong các xác lập giáo dục. Trong một số trường học, cộng đồng quy định nhà trường cung cấp cho học sinh của trường thông qua quà tặng, "Cha mẹ mô hình việc tặng quà cho con của họ, người mà đến lượt lại thực hiện các thực hành tặng quà cho thế hệ sau. Chúng ta có thể suy đoán rằng các điều kiện xấu đi của Chủ nghĩa tư bản về sau sẽ tạo ra nhu cầu lớn hơn và lớn hơn nữa cho việc tặng quà. Không giống như các nghi thức tặng quà trong thời gian cổ xưa được thiết kế để tăng cường sức mạnh ưu tú, các nghi lễ trong trường học cộng đồng phục vụ như "... cơ chế san lấp mặt bằng với kỳ vọng lỏng có đi có lại trong nhiều hình thức khác nhau và nhiều lần về sau" (258) Điều duy nhất các trưởng lão cộng đồng mong đợi trong trở lại từ con cái là để chúng "trả lại" cho cộng đồng tại một số điểm trong cuộc sống của chúng. Thay vì bất bình đẳng xã hội và hệ thống phân cấp, kết quả dự kiến ​​của nền kinh tế tặng quà tại trường học cộng đồng là công bằng xã hội và cơ hội bình đẳng. Trong môi trường trường học, tặng quà cũng được xem như là một chiến lược đầu tư: Các nhà trường cũng có thể tham gia vào việc tặng quà công chúng bằng cách cung cấp cho trẻ em một viễn cảnh cho một cuộc sống sản xuất và bằng cách giữ họ khỏi tù tội. Tặng quà cũng liên quan đến sự hy sinh của các tình nguyện viên cộng đồng và người sáng lập trường học người hy sinh thời gian, gia đình, sức khỏe nhân danh cộng đồng, trẻ em, giáo dục, bảo vệ và bảo tồn di sản. Gifting the children is much more than charity in that it insures kids' abilities to give back to the community. Ví dụ. Kiến thức địa phương. Tài liệu trong nhân học cho rằng kiến thức địa phương có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của các trường học bằng cách duy trì sự tham gia cộng đồng trong giáo dục. Mục tiêu chính của các trường học cộng đồng là tạo ra những công dân có kỹ năng thông qua các chương trình giảng dạy, trong đó kiến thức địa phương giữ một vị trí bình đẳng với kiến thức được cấp chứng nhận, do đó "tạo ra một sự cân bằng giữa nhà trường và cộng đồng" (261). The Italian philosopher Antonio Gramsci believed that all people are "organic intellectuals," nói cách khác, là trí tuệ không chỉ dành cho tầng lớp ưu tú hoặc thượng lưu. Gramsci nhấn mạnh tầm quan trọng của trí tuệ như là một phần của cuộc sống hàng ngày. Theo quan điểm của Gramsci, trí tuệ không chỉ dựa trên kiến thức học thuật, "... phương thức là của trí tuệ mới có thể không còn bao gồm trong tài hùng biện... mà còn trong tham gia tích cực vào cuộc sống thực tế, như một nhà xây dựng, nhà tổ chức, 'người thuyết phục thường trú' và không đơn giản chỉ là một nhà hùng biện... "(10). Gramsci lập luận thêm rằng mục đích của giáo dục phải là "để tạo ra một loại trường hình thành (tiểu học-trung học) duy nhất mà sẽ đưa trẻ đến ngưỡng của sự lựa chọn trong công việc của mình, định hình cậu/cô ta trong thời gian này như một người có khả năng suy nghĩ nghiên cứu, cai trị - hoặc kiểm soát những người cai trị."(40) Gramsci cho rằng để cho các trường học để thành công, điều quan trọng là sinh viên tham gia tích cực trong việc học của mình, và để cho điều này xảy ra, nhà trường phải liên quan đến cuộc sống hàng ngày. Halperin cho thấy rằng trẻ em có thể hành động như các trí tuệ hữu cơ khi những người quản trị nhà trường sử dụng các mong muốn của trẻ em và các thông tin cá nhân để tác động và thông báo cho cơ cấu quyền lực, "Bất cứ lúc nào có một cơ hội, những đứa trẻ đã được trích dẫn, cho dù đó là để thu hút một ứng cử viên trong cuộc phỏng vấn việc làm hoặc để thuyết phục một thành viên của hội đồng nhà trường mà nhà trường là thực sự cần thiết "(258). Halperin kết nối các nhà giáo dục không chính thức trong các trường học cộng đồng với những ý tưởng của Gramsci về vai trò của trí tuệ hữu cơ, "Các giao lộ của công việc gia đình và công việc được trả tiền phân biệt mờ giữa công việc và gia đình trong trường học và trong cộng đồng nói chung... Việc sử dụng thân thiết cộng đồng, việc đảm bảo công việc ổn định, và việc gìn giữ hòa bình cũng là vấn đề. Những hoạt động này là tất cả các hình thức đề kháng với chủ nghĩa tư bản, toàn cầu hóa, và một số hình thức bá quyền bao gồm, nhưng không giới hạn đối với các cấu trúc trường học chính thức và các thực hành môn học thông thường "(252). Gramsci giúp liên kết lý thuyết với thực hành, với sự sáng tạo của ông về các trí tuệ tầng lớp lao động tham gia tích cực trong cuộc sống thực tế, đang hỗ trợ trong việc phát triển một bá quyền đối lập mà sẽ làm suy yếu các mối quan hệ xã hội hiện có. Trong "The Essential Foucault: Selections from Essential Works of Foucault", Michel Foucault cũng cung cấp các lựa chọn thay thế cho tư tưởng và các khóa học mới cho người học chủ động trong giáo dục trong cuộc thảo luận của ông về định hình lại bản thân, "... ngay cả đối với các nô lệ hoặc người điên, dưới những tình huống khi mà các mô hình của bản ngã được áp đặt từ bên ngoài, một số tự học nghề là cần thiết... và mỗi nghề của một mối quan hệ với tự phát sinh từ, và đòi hỏi, một crafting của một người quan hệ với người khác - có thể là cấp trên của một người, học sinh của một người, đồng nghiệp của một người..." (xxi) Ý tưởng này là tương tự của Jean-Jacques Rousseau sự hiểu biết của đứa trẻ như là một người học "tích cực" và cũng như "sự tận lực" của Paulo Freire. Nhà nhân học Hoa Kỳ Clifford Geertz cũng thừa nhận tầm quan trọng của kiến thức địa phương và ý thức chung của người dân liên quan đến cuộc sống hàng ngày: Các tài liệu trước đó cho thấy rằng các định hướng nhà trường và phát triển chuyên môn được dẫn dắt bởi các nhà lãnh đạo và cư dân cộng đồng mà hướng dẫn các giáo viên về di sản cộng đồng có thể dẫn đến một kinh nghiệm giáo dục thành công hơn và các kết quả cho trẻ em và cộng đồng. Một mục tiêu quan trọng của bảo tồn di sản là để giúp mọi người trong một cộng đồng phát triển một bản sắc tập thể. David Lowenthal gợi ý rằng "Tưởng nhớ quá khứ là rất quan trọng cho cảm giác của chúng ta về bản sắc... để biết chúng ta đã xác nhận rằng chúng ta là gì" (p. 197). Good and Good tranh luận về tầm quan trọng của trí nhớ, cho thấy rằng "... các cách định khung mà được ẩn hoặc không nói trái ra... cho thấy tầm quan trọng của một cơ thể ngày càng tăng của văn bản trong trí nhớ, trí nhớ sau chấn thương, và các chính sách trí nhớ và các phương pháp nhằm thực hiện hoặc thu hồi những cái còn lại của các sự kiện lịch sử bạo lực hoặc đau thương" (2008:15). Trong tham gia với quá khứ, điều quan trọng là chúng ta không quên các bạn trẻ trong cộng đồng mà là tương lai của cộng đồng. Họ là các bên liên quan cũng như người lớn, và họ cũng cần một tiếng nói. Makagon và Neuman cho rằng lĩnh vực tường thuật có thể được mở rộng thông qua những người kể chuyện công dân là người "... có thể là bất cứ ai muốn tạo ra một tài liệu về đời sống lịch sử hoặc đương đại... khái niệm này được dựa vào ý tưởng của dân chủ hóa các phương tiện đại diện cho các lợi ích, các vấn đề, các kinh nghiệm, và mối quan tâm của những người không được tiếp cận với phương tiện truyền thông nhưng có những câu chuyện họ muốn nói"(55). Đến với các điều kiện với quá khứ là rất quan trọng không chỉ đối với những người lớn tuổi mà còn cho cả thanh niên và tác động của nó trên bản sắc phát triển của họ. Kiến thức được cấp giấy chứng nhận. Trái ngược với kiến thức địa phương, "kiến thức có giấy chứng nhận" là kiến thức được xác định là "hợp pháp". Nói cách khác, kiến thức được cấp giấy chứng nhận là được bao gồm để phù hợp cho việc học tập tại các chương trình học công cộng (và tư nhân). Đây là kiến thức được phê chuẩn bởi các chính quyền địa phương, tiểu bang và liên bang. Nó cũng là những kiến ​​thức mà các hiệp hội chuyên ngành cụ thể (ví dụ, Hội đồng Quốc gia Giáo viên Toán học, Hội Đọc quốc tế; Hội đồng Trẻ Em Đặc Biệt) ủng hộ là cần thiết cho ngành học cụ thể của mình. Chương trình giảng dạy trong các trường học K-12 được hướng dẫn bởi các nhà hoạch định chính sách quốc gia và tiểu bang, bao gồm cả các công ty tư nhân xuất bản sách giáo khoa, các chương trình và tài liệu. Thông thường, kiến thức địa phương như mô tả trước đây được giảm thiểu hoặc không bao gồm hoàn toàn. Đo lường vốn giáo dục. Trong thời đại gần đây của Đạo luật Không đứa trẻ nào bị bỏ lại phía sau (NCLB), vốn giáo dục ở cấp quốc gia, tiểu bang và địa phương đã được đo bằng cách kiểm tra stakes cao đã xác định hiệu quả giáo dục của từng tiểu bang, quận trường học, trường học và giáo viên. Kết quả học tập của sinh viên cũng được đánh giá bởi những đánh giá được tiêu chuẩn hóa một lần mỗi năm, thường xác định liệu họ đã đạt tới mức độ thích hợp của tăng trưởng từ năm này sang năm khác. Trẻ em có thể được thông qua để lên lớp hay bị giữ lại dựa trên hiệu suất của chúng trên những đánh giá này. Một tình cảm ngày càng tăng giữa các chính trị gia bảo thủ và một số doanh nghiệp là mục đích của giáo dục công là cung cấp cho khu vực tư nhân với những cá nhân được đào tạo để thực hiện bất cứ công việc yêu cầu nào. Cho kết thúc này, một nhấn mạnh vào công việc hoặc đào tạo nghề nghiệp cụ thể đã bắt đầu tràn ngập các lời nói liên quan đến chính sách giáo dục. Một cải cách gần đây trong công K-12 là sự hỗ trợ của công chúng về các trường bán công (Charter school). Trường bán công có nghĩa vụ phải là những lựa chọn thay thế cho các trường công lập như vậy mà họ cung cấp cho các sinh viên chương trình giảng dạy sáng tạo và các trải nghiệm giáo dục. Kể từ khi cơ quan lập pháp nhà nước bắt đầu thông qua dự luật trường bán công trong những năm 1990, gần 3.000 trường học mới được thành lập. Điều thú vị là một số trong những trường học này được tài trợ bởi các doanh nghiệp cụ thể, các tập đoàn, hoặc các nhà hảo tâm cá nhân tán thành những ý tưởng hoặc mục tiêu cụ thể cho giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên. Quy định về trường bán công cho phép các trường học "... chạy độc lập với hệ thống trường công truyền thống và thiết kế các chương trình của họ cho những nhu cầu của cộng đồng." Mặc dù không phải tất cả các trường bán công đều là đặc biệt sáng tạo và một số trường hoạt động tương tự như các trường công truyền thống, các nhà hoạch định chính sách, phụ huynh và các nhà giáo dục đang xem trường bán công như một cách để tăng sự lựa chọn giáo dục và đổi mới trong hệ thống trường công lập.
1
null
Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin (), thường được gọi là Komsomol (, viết tắt của Kommunisticheskiy Soyuz Molodozhi) phát âm tiếng Việt như là "Kôm-xô-môn", từng là một tổ chức thanh niên thuộc đảng Cộng sản Liên Xô. Ban đầu Komsomol được thành lập tại các trung tâm đô thị năm 1918. Trong những năm mới ra đời, đây là một tổ chức của Nga với tên gọi Đoàn thanh niên cộng sản Nga. Năm 1922, với sự hợp nhất của Liên bang Xô Viết, Komsomol được sửa đổi thành một tổ chức toàn thanh niên liên bang thuộc đảng Cộng sản toàn liên bang. Lịch sử. Sau Cách mạng tháng 10 thành công, hoạt động xã hội và chính trị của tầng lớp thanh niên được gia tăng. Ban đầu xuất hiện những nhóm thanh niên lao động đi theo chủ nghĩa cộng sản. Năm 1917, tại Petrograd, những người Bolshevik đã thành lập Liên minh Thanh niên Tiên phong Xã hội chủ nghĩa. Sau đó liên minh phát triển mạnh mẽ rộng khắp, đây là điều kiện tạo ra Đoàn Thanh niên Cộng sản toàn Nga. Ngày 29/10 - 4/11/1918, Đại hội toàn Nga Đoàn Thanh niên Cộng sản tuyên bố thành lập. Nửa năm đầu 1921, để tôn vinh những anh hùng trẻ tuổi lao động, phù hiệu, biểu tượng, huân chương... được tạo ra để đáp ứng. Phù hiệu của Đoàn Thanh niên Cộng sản toàn Nga gồm ngôi sao 5 cánh đỏ với 4 chữ <>. Đại hội lần thứ V của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga được tổ chức tháng 10/1922. Biểu tượng mới được thông qua, bốn chữ cái được thay thế bằng КИМ (, "Đoàn Thanh niên Quốc tế Cộng sản"), biểu tượng tồn tại đến năm 1947 và biểu tượng cuối cùng xuất hiện năm 1956. Đoàn Thanh niên Cộng sản là tổ chức chính trị thanh niên được thành lập rất sớm tại Nga Xô, sau đó là tại Liên Xô. Với nhiệm vụ giáo dục tư tưởng và tuổi trẻ, thực hiện các công tác chính trị xã hội. Đoàn Thanh niên Cộng sản được coi là "dự bị và hỗ trợ" cho Đảng Cộng sản Liên Xô. Đội Thiếu niên Tiền phong Lenin được thành lập năm 1922 được Đoàn Thanh niên Cộng sản trực tiếp lãnh đạo. Tổng quan. Dưới thời cách mạng, đảng Bolshevik dường như không để ý đến việc thành lập hoặc duy trì một đoàn thanh niên. Tuy nhiên đến năm 1918, đại hội thứ nhất Komsomol đã họp dưới sự bảo trợ của Đảng Bolshevik dù rằng hai tổ chức này hoàn toàn không có chung hội viên hoặc lý tưởng. Một năm sau đó, trước kỳ đại hội thứ hai, những người Bolshevik đã yêu cầu được điều hành tổ chức này và Komsomol sớm chính thức trở thành một tổ chức thanh niên của đảng cộng sản. Đoàn viên Komsomol bắt buộc phải không dưới 14 tuổi và thông thường tối đa không quá 28 tuổi, tuy nhiên những người nắm chức vụ trong Komsomol có thể lớn tuổi hơn. Thiếu nhi và thiếu niên nhỏ tuổi hơn thì tham gia vào đội thiếu niên tiền phong Liên Xô. Tuy việc tham gia trên danh nghĩa là tự nguyện nhưng những ai không phải đoàn viên sẽ không được tham dự các kỳ nghỉ được đoàn chính thức bảo trợ và họ cũng khó theo học đại học và cao đẳng. Vai trò. Đoàn Thanh niên Cộng sản được thành lập bởi Đảng Bolshevik nhằm thực hiện các công tác quy mô. Vào tháng 10/1919, Đoàn có 22.100 thành viên, đến năm 1920 có 482.000 thành viên. Trong cuộc chiến với Bạch vệ, có khoảng 200.000 thành viên tham gia tranh đấu. Đoàn Thanh niên Cộng sản đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phục hồi của nền kinh tế quốc gia, trong công nghiệp hóa và tập thể, Cách mạng Văn hóa. Trong giai đoạn 1930-1940, Đoàn Thanh niên Cộng sản bồi dưỡng gia tăng các nhà nghiên cứu khoa học trẻ tuổi đồng thời xóa nạn mù chữ trên toàn Liên Xô. Số lượng sinh viên học các trường khoa học, kỹ thuật công nghệ gia tăng theo thời gian. Năm 1941, Liên Xô có 10 triệu tình nguyện viên, trong đó 1 triệu thành viên từ Đoàn. Những đơn vị thanh niên góp phần đập tan sự bành trướng của Đức Quốc xã. Trong đó 500 người được phong anh hùng Liên Xô, hơn 500.000 được trao huân huy chương. Đơn vị nữ đoàn viên đặc biệt với nhiệm vụ bắn tỉa và các lĩnh vực khác với khoảng 200.000 thành viên. Hơn 100.000 nữ đoàn viên được trao huân huy chương, trong đó 58 nữ đoàn viên được phong anh hùng Liên Xô. Đến năm 1970, báo Komsomol lưu hành 16,6 triệu bản. Vai trò trong thời kỳ này là phục hồi của đất nước chiến tranh bị tàn phá, khai khẩn đất hoang, xây dựng các công trình nhà máy... Đoàn Thanh niên cũng hợp tác với cảnh sát thành lập "đội tình nguyện đất nước" trong việc bảo vệ trật tự công cộng trong các khu dân cư cùng với các nhân viên cảnh sát. Lãnh đạo. Đứng đầu Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin là Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn. Thành tích. Komsomol đã được trao ba huân chương Lenin, một huân chương cờ đỏ, một huân chương Cờ đỏ Lao động và một Huân chương Cách mạng Tháng Mười. Tiểu hành tinh 1283 Komsomolia được đặt tên theo Komsomol.
1
null
USS "Robinson" (DD-88) là một tàu khu trục thuộc lớp "Wickes" của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và sang đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS "Newmarket". Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo vị sĩ quan Hải quân Isaiah Robinson. Thiết kế và chế tạo. "Robinson" được đặt lườn vào ngày 31 tháng 10 năm 1917 tại xưởng tàu của hãng Union Iron Works ở San Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 28 tháng 3 năm 1918, được đỡ đầu bởi Cô Evelyn Tingey Selfridge, và được đưa ra hoạt động vào ngày 19 tháng 10 năm 1918 tại Xưởng hải quân Mare Island dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân George Wirth Simpson. Lịch sử hoạt động. USS "Robinson". "Robinson" rời vịnh San Francisco ngày 24 tháng 10 năm 1918 để đi sang vùng bờ Đông Hoa Kỳ. Băng qua kênh đào Panama ngày 3 tháng 11, nó đi ngang qua vịnh Guantanamo để đi đến Norfolk, Virginia, đến nơi vào ngày 8 tháng 11. Vào ngày 10 tháng 1 năm 1919, "Robinson" khởi hành từ Norfolk tiến hành đợt huấn luyện mùa Đông ngoài khơi Guantanamo, quay trở về cảng New York ngày 14 tháng 4 năm 1919. Sau đó, nó chuẩn bị công tác hỗ trợ cho chuyến bay vượt Đại Tây Dương sang Châu Âu đầu tiên do Hải quân thực hiện. Nó lên đường từ Norfolk vào ngày 30 tháng 4 năm 1919, đi đến Halifax, Nova Scotia ngày 4 tháng 5, và đi ra lối ra vào cảng lúc xế chiều ngày 8 tháng 5. Lúc 19 giờ 44 phút, nó trông thấy thủy phi cơ Hải quân đầu tiên, chiếc NC-3, tiếp cận cảng trong chặng đầu tiên của hành trình vượt đại dương. Hai ngày sau, "Robinson" thường trực ngoài biển để giúp hỗ trợ cho chuyến bay của hai thủy phi cơ đến vịnh Trepassey, Newfoundland, rồi quay trở về Halifax vào ngày 11 tháng 5. Nó lại lên đường vào ngày 14 tháng 5, giúp bảo vệ cho chiếc NC-4 vốn bị chậm trễ do phải sửa chữa tại Căn cứ không lực hải quân Chatham, trông thấy chiếc thủy phi cơ bay ngang lúc 16 giờ 45 phút ngày 15 tháng 5, gia nhập cùng các chiếc kia tại vịnh Trepassey. Sau khi NC-4 bay khuất tầm nhìn, "Robinson" lên đường để hướng đến quần đảo Azore, dọc theo lộ trình các thủy phi cơ sẽ bay từ vịnh Trepassey ngày 16 tháng 5 năm 1919. Chúng được dẫn đường dọc theo chuyến bay dài 1.380 dặm đến Azore bởi "Robinson" và các tàu khu trục khác, bằng khói qua ống khói vào ban ngày hay bằng pháo sáng và đèn pha vào ban đêm. Chiếc thủy phi cơ đầu tiên bay ngang "Robinson" một giờ trước nữa đêm ngày 16 tháng 5 năm 1919; hai chiếc kia tiếp nối trong vòng 20 phút sau đó. NC-4 hoàn tất chặng này trong 15 giờ và 13 phút, hạ cánh xuống Horta thuộc quần đảo Azore. Nó tìm thấy đường đi bên trên sương mù dày đặc vốn che khuất tầm nhìn của phi công trên những chiếc kia. Một giờ trước khi NC-4 hạ cánh, NC-1 bị buộc phải đáp xuống biển khoảng 45 dặm ngoài khơi đảo Flores và NC-3 cũng buộc phải hạ cánh cách Fayal 35 dặm. NC-1 bị đắm do biển động mạnh, và "Robinson" tham gia vào việc tìm kiếm NC-3, nhưng nó từ chối mọi sự trợ giúp, và cuối cùng cũng chạy trên mặt biển đến Ponta Delgada bằng chính động lực của nó. "Robinson" thả neo tại Horta thuộc đảo Fayal xế trưa ngày 19 tháng 5, ra khơi sáng hôm sau chuyển các báo cáo báo chí đến Ponta Delgada, đến nơi lúc xế trưa. Đến ngày 25 tháng 5 năm 1919, nó lên đường đi đến trạm số 7, tọa độ , để phục vụ cho chặng thứ tư chuyến bay vượt đại dương của chiếc thủy phi cơ duy nhất còn lại NC-4. Nó trông thấy chiếc máy bay lúc 13 giờ 30 phút ngày 26 tháng 5, và NC-4 được đám đông cùng Hoàng gia Bồ Đào Nha chào đón tại Lisboa ngày 25 tháng 5, rồi tại Plymouth, Anh Quốc, vào ngày 31 tháng 5, kết thúc chuyến bay lịch sử dài 4.500 dặm. "Robinson" quay trở lại Ponta Delgada vào ngày 28 tháng 5 năm 1919 và lại ra khơi vào ngày 2 tháng 6, về đến Newport, Rhode Island vào ngày 8 tháng 6. Nó trải qua đợt đại tu tại Xưởng hải quân Norfolk, rồi tiến hành các hoạt động tại chỗ ở khu vực Newport, và đi đến New York ngày 30 tháng 9 năm 1919. Nó tham gia cùng năm tàu khu trục khác ngoài khơi Sandy Hook lúc xế trưa ngày 1 tháng 10, rồi gặp gỡ ngoài khơi đảo Fire, hoạt động như đoàn hộ tống danh dự cho Quốc vương Bỉ. Nó rời cảng ngày 6 tháng 10 để hoạt động ngoài khơi Key West và Pensacola, Florida, viếng thăm Beaufort, South Carolina trên chặng đường quay trở về New York, đến nơi vào ngày 5 tháng 11 năm 1919. Ngày 22 tháng 11 năm 1919, "Robinson" khởi hành từ cảng New York, dẫn đầu đoàn hộ tống danh dự thứ hai đi phía sau mạn phải , vốn treo huy hiệu của Thân vương xứ Wales, cùng với chiếc . Nó được thay phiên trong nhiệm vụ hộ tống hoàng gia ngoài khơi Nantucket Shoals và quay về New York ngày 25 tháng 11. Sau một chuyến viếng thăm Savannah, Georgia, rồi được sửa chữa tại Xưởng hải quân Portsmouth, nó rời cảng Boston ngày 14 tháng 1 năm 1920 để thực hành cơ động hạm đội ngoài khơi vịnh Guantanamo và gần vùng kênh đào Panama. Nó quay trở về New York ngày 1 tháng 5, và đi vào Xưởng hải quân Portsmouth, ngừng hoạt động trong một năm. Nó được chuyển từ xưởng tàu đến New Port ngày 25 tháng 5 năm 1921 cho các hoạt động tại chỗ cho đến ngày 10 tháng 10, rồi viếng thăm New York trước khi đi đến Charleston, South Carolina, vào ngày 19 tháng 11 năm 1921. Sau nhiều tháng hoạt động tại chỗ ngoài khơi Charleston, "Robinson" đi vào Xưởng hải quân Philadelphia, nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 3 tháng 8 năm 1922. HMS "Newmarket". "Robinson" bị bỏ không cho đến ngày 23 tháng 8 năm 1940 khi nó được tái biên chế để chuyển cho chính phủ Anh Quốc trong khuôn khổ Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ. Việc bàn giao diễn ra tại Halifax, Nova Scotia vào ngày 26 tháng 11, nơi nó được đổi tên thành HMS "Newmarket" và chuyển cho một đội chăm sóc và bảo trì của Hải quân Hoàng gia Canada. Nó nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 5 tháng 12, và được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ ngày 8 tháng 1 năm 1941. "Newmarket" rời Halifax ngày 15 tháng 1 hướng sang Anh, ghé qua St. John's và đi đến Belfast ngày 26 tháng 1 rồi đi đến Plymouth, Anh, ngày 30 tháng 1. Sau một đợt tái trang bị ngắn tại Humber, nó bắt đầu nhiệm vụ hộ tống vận tải dưới quyền Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây, và vào ngày 2 tháng 6 năm 1941 chịu đựng một đợt không kích bất thành. Cuối tháng đó, nó đi đến Sheerness vào ụ tàu cho đến tháng 11, khi nó gia nhập Đội hộ tống 8 tại Derry. "Newmarket" được cải biến cho nhiệm vụ hộ tống tàu buôn bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo /50 caliber và một trong số các dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng bên trên, lấy chỗ chứa thêm mìn sâu và trang bị một dàn hedgehog (súng cối chống tàu ngầm). Vào ngày 3 tháng 1 năm 1942, "Newmarket" bị buộc phải tách khỏi Đoàn tàu vận tải HX-166 do gặp trục trặc nồi hơi, và quay trở lại Lough Foyle. Đến ngày 30 tháng 1, nó đi đến Liverpool, và được tái trang bị cho đến cuối tháng 3. Vào tháng 4 năm 1942, nó hộ tống cho Đoàn tàu vận tải Nga PQ-14, rồi một tháng sau được chuyển sang nhiệm vụ tàu mục tiêu để huấn luyện không quân tại Firth of Forth. Nó được tái trang bị tại Leith từ tháng 12 năm 1942 đến tháng 2 năm 1943, và đến cuối năm đó lại được tái trang bị tại Rosyth, Scotland. Vào tháng 9 năm 1943, "Newmarket" được rút về trạng thái chăm sóc và bảo trì tại Rosyth, nhưng lại tiếp nối vai trò tàu mục tiêu từ mùa Xuân năm 1944 cho đến khi chiến tranh kết thúc tại châu Âu. Nó bị tháo dỡ tại Llanelli vào tháng 9 năm 1945.
1
null
Matsumoto Shunichi (tiếng Nhật: 松本 俊一; âm Hán Việt: Tùng Bản Tuấn Nhất) (7 tháng 6 năm 1897 – 25 tháng 1 năm 1987) là một chính khách Nhật Bản. Sự nghiệp ngoại giao. Matsumoto có bằng luật học của Viện Đại học Tokyo trước khi gia nhập chính trường Nhật Bản. Thời Chiến tranh thế giới thứ hai Matsumoto nắm chức Thứ trưởng Ngoại giao trong nội các của tướng Tōjō Hideki. Năm 1944 thì ông lãnh nhiệm làm đại sứ ở Đông Dương. Ngày 9 tháng 3, 1945, Matsumoto Shunichi là người trao tối hậu thư cho Toàn quyền Đông Dương là Jean Decoux đòi chính quyền Bảo hộ đầu hàng, giao quyền lại cho Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Không lâu sau đó ông trở về nhiệm sở Thứ trưởng Ngoại giao ở Tokyo cho đến khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng lực lượng Đồng Minh. Ông là một tiếng nói trong phe chủ hòa, kêu gọi triều đình Nhật Bản chấp nhận các điều khoản trong Tuyên bố Potsdam của phe Đồng Minh. Sang thập niên 1950 Matsumoto được bổ sang Anh làm đại sứ. Ông về nước năm 1955, đắc cử vào Hạ viện Quốc hội Nhật Bản. Ông có chân trong việc tái thiết bang giao giữa Nhật và Liên Xô thời hậu chiến.
1
null
USS "Ringgold" (DD-89) là một tàu khu trục thuộc lớp "Wickes" của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và sang đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS "Newark". Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Cadwalader Ringgold. Thiết kế và chế tạo. "Ringgold" được đặt lườn vào ngày 20 tháng 10 năm 1917 tại xưởng tàu của hãng Union Iron Works ở San Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 4 năm 1918, được đỡ đầu bởi Bà David W. Farquhar, và được đưa ra hoạt động vào ngày 14 tháng 11 năm 1918 tại Xưởng hải quân Mare Island dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Louis P. Davis. Lịch sử hoạt động. USS "Ringgold". "Ringgold" rời Xưởng hải quân Mare Island ngày 18 tháng 11 năm 1918 để gia nhập Lực lượng Khu trục trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương. Sau khi băng qua kênh đào Panama, nó ghé qua vịnh Guantánamo, Cuba trước khi đi đến Hampton Roads, Virginia vào ngày 5 tháng 12 năm 1918. Nó hoạt động dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ, chủ yếu ngoài khơi Newport, Rhode Island, cho đến năm 1922. "Ringgold" đi vào Xưởng hải quân Philadelphia ngày 5 tháng 4 năm 1922, nơi nó được cho xuất biên chế ngày 17 tháng 6 năm 1922 và được đưa về lực lượng dự bị. HMS "Newark". Sau khi bị bỏ không gần hai thập niên, "Ringgold" được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 23 tháng 8 năm 1940, chuẩn bị để được chuyển cho Anh Quốc cùng với 49 tàu khu trục khác như một phần của Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ. "Ringgold" được chính thức bàn giao cho Anh vào ngày 26 tháng 11 năm 1940 tại Halifax, Nova Scotia, và được đổi tên thành HMS "Newark" nhằm vinh danh các thị trấn cùng tên ở cả Anh lẫn Mỹ. Nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ ngày 8 tháng 1 năm 1941. Mặc dù thoạt tiên có một thủy thủ đoàn chăm sóc và bảo trì của Hải quân Hoàng gia Canada, nó lại được nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 5 tháng 12 năm 1940, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Hải quân R. H. W. Atkins. "Newark" bị hư hại do tai nạn va chạm với chiếc vào ngày 9 tháng 12 năm 1940, bị buộc phải sửa chữa khiến làm trì hoãn thời gian đi đến vùng biển Anh. Nó rời Halifax ngày 4 tháng 2 năm 1941 cùng với chiếc , rồi lại gặp một cơn cuồng phong lớn khiến động cơ gặp trục trặc. Được kéo quay trở lại Halifax, "Newark" lại khởi hành vào ngày 26 tháng 2 năm 1941, đi đến Belfast, Bắc Ireland vào ngày 5 tháng 3, và đến Plymouth, Anh Quốc vào ngày 9 tháng 3 năm 1941. Được phân về Đội khu trục 17, "Newark" tham gia nhiệm vụ hộ tống cho hoạt động của Đội rải mìn một trong vùng biển Ireland và hoạt động vận chuyển tại Iceland. Nó chịu đựng hư hại nhẹ do bom trong một cuộc không kích xuống Belfast vào đêm 4–5 tháng 5 năm 1941, hoạt động trở lại vào tháng 8 năm đó. Đang khi di chuyển cùng với vào ngày 25 tháng 8 năm 1941, "Newark" trúng phải một quả ngư lôi vào lườn tàu phía trước, và phải được hộ tống quay trở lại Belfast. Trong khi sửa chữa, "Newark" đồng thời cũng được cải biến tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống tàu buôn bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo /50 caliber và một trong số các dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng bên trên, lấy chỗ chứa thêm mìn sâu và trang bị một dàn hedgehog (súng cối chống tàu ngầm). Hoàn tất việc sửa chữa vào đầu tháng 5 năm 1942, "Newark" gia nhập trở lại Đội khu trục 17. Nó dường như đã gây hư hại một tàu ngầm Đức vào ngày 31 tháng 5 năm 1942 trong khi di chuyển về phía Nam Iceland và đã hỗ trợ cho chiếc trong việc cứu vớt những người sống sót từ chiếc tàu ngầm Đức "U-464" vào ngày 20 tháng 8 năm 1942. "Newark" được chuyển cho Lực lượng Hộ tống Rosyth vào năm 1944, hoạt động tại Bắc Hải và vùng biển phía Bắc quần đảo Anh Quốc trong vai trò tuần tra chống tàu ngầm. Đến tháng 1 năm 1945, nó trở thành một tàu mục tiêu cho máy bay theo mệnh lệnh của Chuẩn đô đốc Căn cứ Không lực Bắc. "Newark" bị tháo dỡ tại Bo’ness vào ngày 18 tháng 2 năm 1947.
1
null
USS "McKean" (DD-90/ADP-5) là một tàu khu trục thuộc lớp "Wickes" của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất; và được cải biến thành tàu vận chuyển cao tốc với ký hiệu lườn ADP-5 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó bị đánh chìm trong chiến đấu vào ngày 17 tháng 11 năm 1943 tại Mặt trận Tây Nam Thái Bình Dương. Thiết kế và chế tạo. Là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Hải quân William Wister McKean (1800-1865), nó được đặt lườn vào ngày 12 tháng 2 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Union Iron Works ở San Francisco, California. "McKean" được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, được đỡ đầu bởi Cô Helen La Monte Ely, và được đưa ra hoạt động vào ngày 25 tháng 2 năm 1919 tại San Francisco dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Raleigh C. Williams. Lịch sử hoạt động. "McKean" phục vụ cùng Hạm đội Đại Tây Dương từ năm 1919 đến năm 1922, từng thực hiện một chuyến đi đến vùng biển Châu Âu từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1919. Nó hoạt động chủ yếu tại vùng biển ngoài khơi New York và Charleston, South Carolina, trước khi được cho xuất biên chế tại Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 19 tháng 6 năm 1922, và được đưa về lực lượng dự bị. Sau khi bị bỏ không gần hai thập niên, "McKean" được xếp lại lớp như một tàu vận chuyển cao tốc với ký hiệu lườn mới APD-5 vào ngày 2 tháng 8 năm 1940, và nhập biên chế trở lại tại Norfolk, Virginia ngày 11 tháng 12 năm 1940 dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Hải quân Thomas Burrows. Sau khi chiến tranh nổ ra tại Thái Bình Dương ngày 7 tháng 12 năm 1941, "McKean" rời vùng bờ Đông ngày 10 tháng 5 năm 1942, đi đến khu vực Nam Thái Bình Dương ngày 20 tháng 7, để chuẩn bị cho việc chiếm đóng quần đảo Solomon. Nó đã đổ quân lên Tulagi vào ngày 7 tháng 8, và trong những tháng tiếp theo đã thực hiện những chuyến đi hộ tống và tiếp liệu từ căn cứ ở Nouvelle-Calédonie và New Hebrides đến các vị trí tiền tiêu của Hoa Kỳ phía Nam Solomon hỗ trợ cho chiến dịch Guadalcanal. Nó rời khu vực Nam Thái Bình Dương ngày 31 tháng 1 năm 1943 quay trở về vùng bờ Tây để đại tu, rồi lại tiếp tục các hoạt động hộ tống và tuần tra tại khu vực New Hebride và Solomon từ ngày 21 tháng 6. Từ tháng 7 đến tháng 11, nó tham gia các chiến dịch đổ bộ tại miền Trung Solomon, đổ bộ binh lính lên các bãi New Georgia và Rendova. Nó còn tiến hành tuần tra tại vùng biển ngoài khơi Guadalcanal và dọc theo eo biển New Georgia (vốn mang biệt danh "Cái khe"). Vào tháng 10, nó hoàn tất việc chuẩn bị cho các chiến dịch tại quần đảo Treasury và Bougainville. "McKean" cho đổ bộ binh lính lên đảo Mono ngày 27 tháng 10, bao gồm một đội công binh để xây dựng một trạm radar quan trọng trong vòng không đầy một tuần. Sau chiến thắng của Đồng Minh trước lực lượng Nhật Bản trong trận chiến vịnh Nữ hoàng Augusta vào đêm 2 tháng 11, "McKean" di chuyển cùng một đoàn tàu vận chuyển lực lượng tăng cường đến Bougainville, và vào ngày 6 tháng 11 đã cho đổ bộ lực lượng Thủy quân Lục chiến lên gần mũi Torokina, vịnh Nữ hoàng Augusta. Nó còn vận chuyển thêm lực lượng đến Bougainville vào ngày 11 tháng 11, rồi quay trở lại Guadalcanal chuẩn bị cho một chuyến chuyển quân khác. Với 185 lính Thủy quân Lục chiến trên tàu, "McKean" đi ngược lên "Cái khe" vào cuối ngày 15 tháng 11. Khi tiến đến gần vịnh Nữ hoàng Augusta sáng sớm ngày 17 tháng 11, nó bị một máy bay ném bom hai động cơ Mitsubishi G4M "Betty" thuộc Liên đội 702 Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản, do Gintaro Kobayashi điều khiển, vốn đã phóng ra một quả ngư lôi nhắm về phía đuôi con tàu. "McKean" bẻ lái gấp để né tránh; nhưng lúc 03 giờ 50 phút quả ngư lôi đánh trúng mạn phải, kích nổ hầm đạn phía sau và các khoang chứa mìn sâu, làm vỡ các thùng nhiên liệu. "McKean" bùng cháy, bị mất toàn bộ động lực và thông tin liên lạc; lửa cháy trên mặt biển do nhiên liệu tràn ra thiêu chết những người đã nhảy ra hay bị tung xuống biển. Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Ralph L. Ramey, ra lệnh bỏ tàu lúc 03 giờ 55 phút; đến 04 giờ 00 nó bắt đầu chìm phần đuôi, hạm trưởng rời tàu 12 phút sau đó. Hầm đạn phía trước và thùng dầu phát nổ lúc 04 giờ 15 phút; và các ống khói của nó hoàn toàn biến mất lúc 04 giờ 18 phút. 64 trong số thủy thủ đoàn và 52 trong số binh lính trên tàu thiệt mạng cho cháy và nổ. Những người sống sót được các tàu khu trục khác cứu vớt. Phần thưởng. "McKean" được tặng thưởng bốn Ngôi sao Chiến trận và Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.
1
null
USS "Harding" (DD-91) là một tàu khu trục thuộc lớp "Wickes" của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên nhằm vinh danh Seth Harding (1734-1814), một sĩ quan Hải quân trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ. Thiết kế và chế tạo. "Harding" được đặt lườn vào ngày 12 tháng 2 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Union Iron Works ở San Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, được đỡ đầu bởi Bà George A. Armes, và được đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 1 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Henry D. Cooke. Lịch sử hoạt động. Được điều về Hạm đội Đại Tây Dương, "Harding" khởi hành hướng sang Newport, Rhode Island vào ngày 3 tháng 2 năm 1919, đi ngang qua Santa Cruz, California và kênh đào Panama. Đến nơi vào ngày 18 tháng 2, nó chuyển đến Boston, Massachusetts hai ngày sau đó, rồi rời cảng ngày 21 tháng 2 hộ tống cho chiếc đưa Tổng thống Woodrow Wilson quay về nước sau Hội nghị Hòa bình Versailles. "Harding" tham gia các lễ hội tại Boston sau khi "George Washington" cặp cảng ngày 23 tháng 2. Sau khi được sửa chữa, "Harding" rời Norfolk, Virginia ngày 8 tháng 3 để tham gia tập trận hạm đội tại vùng biển Cuba, rồi đi đến New York vào ngày 14 tháng 4. Nó rời cảng New York ngày 1 tháng 5 trong thành phần lực lượng tàu khu trục hỗ trợ dẫn đường cho chuyến bay vượt Đại Tây Dương đầu tiên của các thủy phi cơ Hải quân Curtiss NC. "Harding" cùng các tàu khu trục khác thả khói qua ống khói vào ban ngày và chiếu sáng bằng pháo sáng và đèn pha vào ban đêm trong chặng đầu của hành trình lịch sử này. Các chiếc NC-1 và NC-3 bị buộc phải hạ cánh trên biển gần quần đảo Azores, và "Harding" đã giúp đỡ cho NC-1 trước khi nó bị đắm do biển động mạnh. NC-4, chiếc duy nhất còn lại, đến được Ponta Delgada ngày 20 tháng 5, và khi nó lại cất cánh cho chặng bay cuối cùng, "Harding" cũng khởi hành để làm cột mốc vô tuyến dẫn đường trên biển. Sau khi chiếc thủy phi cơ hạ cánh tại Plymouth, Anh Quốc, hoàn tất chuyến đi vào ngày 31 tháng 5 năm 1919, "Harding" viếng thăm Brest, Pháp và Azore trước khi quay về Newport vào ngày 18 tháng 6. Trong những tháng tiếp theo, "Harding" tiến hành huấn luyện ngoài khơi Newport và Norfolk, rồi đi đến Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 13 tháng 12 năm 1919 để được cải biến thành một tàu tiếp liệu thủy phi cơ. Nó hoàn tất việc cải biến tại Xưởng hải quân Charleston, và lên đường vào ngày 20 tháng 5 năm 1920 để nhận nhiệm sở tại Căn cứ Không lực Hải quân Pensacola. Tuy nhiên, trước khi nhận nhiệm vụ mới, nó được lệnh đi đến Veracruz, México, với hàng tiếp liệu y tế đang được Hội chữ thập đỏ Hoa Kỳ cần dùng khẩn cấp. Đi đến Veracruz ngày 9 tháng 6 năm 1920, nó cho chất dỡ hàng y tế, ghé qua Tampico trước khi quay trở về Pensacola, Florida vào ngày 13 tháng 6. Phản ứng nhanh của nó đã giúp cứu sống nhiều mạng người. Vai trò của "Harding" tại Pensacola là một phần thiết yếu trong chương trình huấn luyện phi công thủy phi cơ. Nó tiếp tục ở lại đây cho đến ngày 4 tháng 8, khi nó hoạt động tại vùng biển Cariba tiếp tế cho thủy phi cơ cho đến ngày 23 tháng 2 năm 1921. Sau đó nó đi đến Key West, Florida, và sau một giai đoạn ngắn tại Philadelphia, lại tiếp tục đi đến Hampton Roads tham gia các thử nghiệm ném bom vào tàu ngầm"U-117". Khởi hành từ Norfolk vào ngày 21 tháng 6, "Harding" trải qua tháng tiếp theo chứng kiến những thử nghiệm quan trọng, cung cấp thông tin hữu ích về hiệu quả của nổ bom đối với tàu chiến. Cuộc thử nghiệm lên đến cao trào với việc đánh chìm gây nhiều tranh cãi chiếc thiết giáp hạm cũ của Đức "Ostfriesland" vào ngày 21 tháng 7 năm 1921. Nó được tách khỏi nhiệm vụ này vào ngày 22 tháng 7. Sau đó "Harding" tiến hành huấn luyện ngoài khơi Newport và các cảng dọc Đại Tây Dương khác cho đến ngày 27 tháng 12 năm 1921, khi nó được chuyển đến Charleston, South Carolina. Ở lại đây cho đến ngày 3 tháng 4 năm 1922, nó lên đường đi Philadelphia, nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 1 tháng 7 năm 1922. "Harding" bị bán cho hãng Schiavone-Bonomo Corporation, New York vào ngày 29 tháng 9 năm 1936 để tháo dỡ.
1
null
USS "Gridley" (DD-92) là một tàu khu trục thuộc lớp "Wickes" của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Đại tá Hải quân Charles Vernon Gridley (1844-1898). Thiết kế và chế tạo. "Gridley" được đặt lườn vào ngày 1 tháng 4 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Union Iron Works ở San Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, được đỡ đầu bởi Bà Francis P. Thomas, con gái Đại tá Gridley, và được đưa ra hoạt động vào ngày 8 tháng 3 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Frank Jack Fletcher. Lịch sử hoạt động. Sau khi hoàn tất việc trang bị tại Xưởng hải quân Mare Island, "Gridley" khởi hành từ San Diego vào ngày 24 tháng 3 năm 1919, đi qua kênh đào Panama, và tham gia Lực lượng Khu trục để thực hành cơ động tại vùng biển Cuba. Sau đó nó được sửa chữa ngắn tại Norfolk, Virginia trước khi đi đến New York vào ngày 26 tháng 4 năm 1919. "Gridley" được điều về một nhóm tàu khu trục có nhiệm vụ bảo vệ và dẫn đường dọc theo chuyến bay vượt Đại Tây Dương đầu tiên của các thủy phi cơ hải quân. "Gridley" và các tàu khu trục khác thả khói qua ống khói vào ban ngày và chiếu sáng bằng pháo sáng và đèn pha vào ban đêm để dẫn đường cho hành trình lịch sử này. Nhờ sự giúp đỡ của các tàu nổi, NC-4 đã hạ cánh được bất chấp sương mù dày đặc xuống Azores ngày 17 tháng 5 năm 1919. Sau đó "Gridley" tham gia vào việc tìm kiếm chiếc NC-1 bị buộc phải hạ cánh xuống mặt biển, rồi hoạt động hỗ trợ cho chặng sau cùng của chiếc NC-4, thủy phi cơ duy nhất còn lại, hoàn tất tại Plymouth, Anh, vào ngày 31 tháng 5 năm 1919. "Gridley" đi đến Brest, Pháp ngày 31 tháng 5, trải qua hai tháng tiếp theo đến nhiều cảng khác nhau tại Địa Trung Hải vận chuyển hành khách viếng thăm thiện chí, rồi quay trở lại New York ngày 31 tháng 7. Hoạt động ngoài khơi Portsmouth, New Hampshire, "Gridley" đón lên tàu Thiếu tướng John A. Lejeune và Chuẩn tướng Smedley Butler thuộc lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Charleston vào ngày 2 tháng 9 năm 1920, cho một chuyến đi thị sát các căn cứ tại vùng biển Caribe, bao gồm các sở chỉ huy tại Cuba, Haiti, và Cộng hòa Dominica. Nó tiễn các vị tướng rời tàu ngày 27 tháng 9 năm 1920. Trong những năm tiếp theo, "Gridley" tham gia huấn luyện sĩ quan và nhân sự của Lực lượng Trừ bị Hải quân, hoạt động ngoài khơi Charleston, Newport, New York và Philadelphia. Nó xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia ngày 22 tháng 6 năm 1922, và bị bỏ không cho đến khi tên của nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ ngày 25 tháng 1 năm 1937. Lườn tàu của "Gridley" bị bán vào ngày 19 tháng 4 năm 1939 để tháo dỡ.
1
null
Samuel Leroy Jackson (sinh ngày 21 tháng 12 năm 1948) là một diễn viên kiêm nhà sản xuất phim và chương trình truyền hình người Mỹ. Ông từng có một số vai diễn nhỏ trong phim "Goodfellas" trước khi gặp "người thầy" của mình là Morgan Freeman và đạo diễn Spike Lee. Sau khi giành được lời khen ngợi cho vai diễn trong "Jungle Fever" năm 1991, ông tiếp tục xuất hiện trong các bộ phim như "Patriot Games", "Amos & Andrew", "True Romance" và "Công viên kỷ Jura". Năm 1994, ông đã đóng Jules Winnfield trong phim "Pulp Fiction" và diễn xuất của ông đã nhận được sự hoan nghênh cũng như nhiều đề cử trao giải. Đến nay Samuel L. Jackson đã xuất hiện trên 100 bộ phim, trong đó có "Die Hard with a Vengeance", "The 51st State", "Jackie Brown", "Unbreakable", "Gia đình siêu nhân", "Black Snake Moan", "Shaft", "Rắn độc trên không", "Django Unchained", bộ ba phần trước của "Chiến tranh giữa các vì sao", bên cạnh đó là các vai diễn nhỏ trong "Kill Bill phần 2" và "Inglourious Basterds" của Quentin Tarantino. Ông đã đóng Nick Fury trong "Iron Man", "Iron Man 2", "Thor", "", và "Marvel's The Avengers", năm trong số các phim chuyển thể của Marvel Cinematic Universe và ông đã lồng tiếng nhân vật Frank Tenpenny trong tựa game cướp đường phố Grand Theft Auto: San Andreas. Nhiều vai diễn của Jackson đã khiến ông là một trong những diễn viên bội thu nhất từ phòng vé. Trong suốt sự nghiệp của mình, Jackson đã giành được vô số giải thưởng và được nhắc đến trong nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, trong các phim, truyền hình dài kỳ và các bài hát. Năm 1980, ông đã kết hôn với LaTanya Richardson, hai người có với nhau một con gái Zoe. Tháng 10 năm 2011, Jackson đã vượt qua Frank Welker để trở thành diễn viên điện ảnh có doanh thu cao nhất mọi thời đại. Thuở nhỏ. Jackson được sinh ra ở Washington, D.C. và lớn lên ở Chattanooga, Tennessee, là người con duy nhất của ông Roy Henry Jackson và Elizabeth Harriett ("nhũ danh" Montgomery). Cha ông sống xa nhà, ở Kansas City, Missouri và sau đó thì chết do chứng nghiện rượu. Jackson chỉ gặp cha mình hai lần trong đời. Jackson được nuôi dưỡng bởi mẹ, người từng là một công nhân nhà máy và sau đó làm cho một bệnh viện tâm thần, và cùng với ông bà ngoại trong một đại gia đình. Theo như kết quả phân tích DNA, Jackson có một phần nguồn gốc là người Benga ở Gabon, và ông đã trở thành công dân nhập tịch của Gabon vào năm 2019. Jackson từng theo học một số trường tách biệt  và tốt nghiệp trường Trung học Riverside ở Chattanooga. Ông chơi kèn , kèn piccolo , kèn trumpet và sáo Pháp trong dàn nhạc của trường. Jackson từng mắc chứng nói lắp trong thời thơ ấu và học cách "giả làm người khác không nói lắp". Đến tận bây giờ, ông vẫn sử dụng từ "mofo" để vượt qua một khối giọng nói. Ông vẫn có những ngày mà mình nói lắp. Ban đầu ông từng có ý định theo học ngành sinh vật biển nên ông theo học tại Đại học Morehouse ở Atlanta, Georgia. Tuy nhiên, sau khi tham gia một nhóm diễn xuất địa phương để kiếm thêm điểm trong một lớp học, Jackson đã cảm thấy hứng thú với diễn xuất và chuyển sang chuyên ngành của mình. Trước khi tốt nghiệp vào năm 1972, ông đồng sáng lập Nhà hát Just Us. Sau vụ ám sát Martin Luther King Jr. vào năm 1968, Jackson đã tham dự lễ tang của King ở Atlanta với tư cách là một trong những người mở màn. Sau đó, ông đến Memphis, Tennessee, để tham gia một cuộc tuần hành phản đối quyền bình đẳng. Trong một "cuộc" phỏng vấn của cuộc "diễu hành" năm 2005, ông tiết lộ, "Tôi tức giận về vụ ám sát, nhưng tôi không bị sốc vì nó. Tôi biết rằng sự thay đổi sẽ dẫn đến một điều gì đó khác biệt - không phải ngồi yên, không phải là sự chung sống hòa bình." Năm 1969, Jackson và một số sinh viên khác bắt các thành viên của hội đồng quản trị trường Cao đẳng Morehouse (bao gồm cả Martin Luther King Sr.) làm con tin trong khuôn viên trường, yêu cầu cải cách chương trình giảng dạy và quản trị của trường. Trường đại học cuối cùng đã đồng ý thay đổi chính sách của mình, nhưng Jackson đã bị buộc tội và cuối cùng bị kết tội giam giữ trái pháp luật, một trọng tội cấp độ hai. Sau đó, ông bị đình chỉ hai năm vì tiền án và hành vi của mình. Sau đó, ông trở lại trường đại học để lấy bằng cử nhân phim truyền hình vào năm 1972. Trong khi bị đình chỉ, ông đã nhận một công việc như một nhân viên xã hội ở Los Angeles. Anh quyết định quay trở lại Atlanta, nơi ông gặp Stokely Carmichael, H. Rap ​​Brown, và những người khác hoạt động trong phong trào Quyền lực Đen. Ông bắt đầu cảm thấy được trao quyền khi tham gia vào phong trào, đặc biệt là khi nhóm bắt đầu mua súng. Tuy nhiên, trước khi ông có thể tham gia vào bất kỳ cuộc đối đầu vũ trang quan trọng nào, bà Elizabeth đã gửi ông đến Los Angeles sau khi FBI cảnh báo bà rằng ông sẽ chết trong vòng một năm nếu ông ở lại với nhóm. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2018 với "Vogue", Jackson phủ nhận việc mình là thành viên của Black Panther Party .
1
null
Nhà thờ Thánh Procopius là nhà thờ Công giáo được xây dựng theo kiến trúc La Mã - Gothic ở Třebíč, Cộng hòa Séc. Nó được xây dựng trên các tại khu vực của tu viện Benedictine vào năm 1240 - 1280 với tên gọi ban đầu là Nhà thờ Maria. Nó đã trở thành một di tích văn hóa quốc gia vào năm 2002 như một phần của "tu viện và nhà thờ Thánh Procopius". Các nhà thờ cùng với các khu phố của người Do Thái gần đó thuộc Třebíč được công nhận là một Di sản thế giới vào năm 2003. Nhà thờ đầu tiên được dành riêng cho các Maria. Thánh Procopius đã trở thành vị thánh bảo trợ của các nhà thờ vào năm 1704, năm được phong thánh của mình. Jan Karel, bá tước Valdštejn thành lập một nhà nguyện lâu đài Thánh Procopius từ giáo xứ của nhà thờ.. Nhà thờ cũng là lâu đài giáo xứ của Třebíč. Lịch sử. Lịch sử của nhà thờ được gắn liền với lịch sử của cựu tu viện Benedictine ở Třebíč. Trước khi nhà thờ được xây dựng, có một nhà thờ Thánh Procopius được xây dựng trong năm 1104 và đã được thánh hiến bởi Herman, Giám mục Praha. Năm năm sau, tu viện đã có nhà thờ riêng của mình. Điều này đã được thánh hiến trong năm 1109 bởi Đức Giám mục Praha, lần thứ 2. Trong hầm mộ của nhà thờ, Duke Litold Znojemský được chôn cất. Đây là một trong những người sáng lập tu viện, và ba năm sau đó, anh trai của mình và Duke Oldřich Brněnský, người sáng lập thứ hai của tu viện, cũng được chôn cất tại đây. Tu viện phát triển và giàu có nhanh chóng khiến ảnh hưởng của nó tăng lên. Trong nửa thế kỷ 13, tu viện được xây dựng lại và củng cố. Tái thiết này đã được bắt đầu vào khoảng năm 1240 và hoàn thành trong năm 1260. Việc tái thiết có nghĩa là sự biến mất của kiến trúc La Mã trong tu viện, nhưng cho phép các nhà thờ mới được xây dựng. Nhà thờ được bảo quản với phong cách ban đầu của nó cho đến tận ngày nay.
1
null
Giải Otto Hahn () là một giải thưởng khoa học của Đức dành cho các nhà khoa học có những đóng góp xuất sắc trong các lãnh vực Vật lý, Hóa học và Khoa học kỹ thuật ứng dụng. Giải được đặt theo tên Otto Hahn, nhà hóa học Đức từng đoạt Giải Nobel Hóa học năm 1944. Giải này được "Hội Hóa học Đức" ("Gesellschaft Deutscher Chemiker", viết tắt là GDCh), "Hội Vật lý Đức" ("Deutsche Physikalische Gesellschaft", viết tắt là DPG) và thành phố Frankfurt am Main thiết lập trong mùa xuân năm 2005, bằng việc hợp nhất "Giải Vật lý và Hóa học Otto Hahn" ("Otto-Hahn-Preises für Chemie und Physik") và "Giải Otto Hahn của thành phố Frankfurt am Main" ("Otto-Hahn-Preis der Stadt Frankfurt am Main") trước kia với nhau (xem bên dưới). Giải được trao 2 năm một lần xen kẽ giữa Vật lý học và Hóa học. Giải thưởng gồm một huy chương vàng và một khoản tiền là 50.000 euro, trong đó ½ do thành phố Frankfurt am Main, ¼ do Hội Hóa học Đức và ¼ do Hội Vật lý Đức tài trợ. Lễ trao giải thưởng được tổ chức tại "Nhà thờ thánh Phaolô ở Frankfurt" ("Frankfurter Paulskirche"). Các giải tiền thân của giải Otto Hahn. Giải Vật lý và Hoá học Otto Hahn. Giải Vật lý và Hóa học Otto Hahn là một giải thưởng dành cho những nhà khoa học có đóng góp xuất sắc về Hóa học hoặc Vật lý trong cả lãnh vực lý thuyết hoặc ứng dụng. Giải được thiết lập năm 1953 do Hội các nhà Hóa học Đức và Hội Vật lý Đức. Giải thưởng gồm 1 huy chương vàng, một giấy chứng nhận và một khoản tiền thưởng (năm 2003 là 25.000 euro). Giải Otto Hahn của thành phố Frankfurt am Main. Giải Otto Hahn của thành phố Frankfurt am Main được thiết lập năm 1969 nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà hóa học từng đoạt giải Nobel Otto Hahn, để tưởng niệm người con của thành phố này. Giải do Quỹ Otto Hahn của thành phố Frankfurt tài trợ, với khoản tiền thưởng là 25.000 Đức mã
1
null
Núi lửa Thập niên () bao gồm 16 ngọn núi lửa xác định bởi Hiệp hội quốc tế về núi lửa và Hóa học trong lòng đất (IAVCEI) như là một trong những địa điểm xứng đáng cho công tác nghiên cứu đặc biệt về lịch sử, các đợt phun trào tàn phá và gần các khu vực đông dân cư. Dự án Núi lửa Thập niên khuyến khích nghiên cứu và các hoạt động tuyên truyền toàn dân tại các núi lửa, với mục tiêu đạt được một sự hiểu biết tốt hơn về các núi lửa và những nguy hiểm thể hiện của nó, và do đó có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của thiên tai. Chúng được đặt tên là Núi lửa Thập niên vì dự án đã được bắt đầu như là một phần tài trợ của Liên hợp quốc trong Thập niên quốc tế về giảm nhẹ thiên tai. Một ngọn núi lửa có thể được chỉ định một núi lửa thập niên nếu nó thể hiện nhiều hơn một mối nguy hiểm của núi lửa (người dân sống gần núi lửa thập niên có thể gặp phải mưa đất đá từ lòng núi lửa, dòng nham thạch, núi lửa phun trào dung nham, núi lửa bất ổn định và mái vòm dung nham đổ ập xuống), cho thấy hoạt động địa chất gần đây; nằm trong một khu vực đông dân cư (phun trào bất cứ lúc nào của núi lửa thập niên có thể đe dọa hàng chục hoặc hàng trăm ngàn người, và các nguy cơ phun trào sẽ làm giảm nhẹ thiệt hại là rất quan trọng), và dễ tiếp cận để nghiên cứu và có sự hỗ trợ của địa phương (địa phương ổn định về mặt chính trị). Mục tiêu của chương trình. Cách tiếp cận chung của dự án Núi lửa Thập niên đã triệu tập một cuộc hội thảo lập kế hoạch, xác định các điểm mạnh và điểm yếu lớn của dự án để giảm thiểu rủi ro tại mỗi núi lửa, và lập kế hoạch như thế nào để giải quyết các điểm yếu được xác định. Một trong những khó khăn phải đối mặt trong việc giảm nhẹ mối nguy hiểm tại núi lửa là đảm bảo rằng các nhà địa chất học và những người sẽ ban hành các biện pháp giảm thiểu có thể trao đổi đầy đủ với nhau, và các chương trình Núi lửa Thập niên đã cố gắng để đảm bảo điều này bằng cách đảm bảo cả hai bên đều có đại diện tại hội thảo Núi lửa Thập niên. Danh sách các núi lửa. Những ngọn núi lửa sau đây đã được chọn là 16 Núi lửa Thập niên hiện tại:
1
null
Dinh thự của người Bukovina và Giám mục đô thành Dalmatia ở Chernivtsi, Ukraina được xây dựng từ những năm 1864-1882 theo thiết kế của kiến trúc sư người Séc Josef Hlávka. Hiện nay, dinh thự là một phần của Đại học Chernivtsi, được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO vào năm 2011. Xây dựng. Năm 1782, sau khi thành lập Bukovina vào Chế độ quân chủ Habsburg, trụ sở của Giám mục Chính thống Đông phương của Radauti đã được chuyển đến Chernivtsi (sau đó gọi là Czernowitz). Chính quyền quân sự của tỉnh đã gấp rút xây dựng một nơi ở cho giám mục Dositei Herescu. Tòa dinh thự hoàn thành vào năm 1783 khá tồi tàn và được chia thành các phòng nhỏ thấp, với một nhà thờ nhỏ có sàn lát gạch. Do ẩm thấp nên nấm phát triển khiến tòa nhà bị sập vào năm 1790. Do đó, Herescu và những người kế nhiệm của ông là Daniil Vlahovici, Isaia Baloșescu và Eugenie Hacman trong thời gian tại vị bị buộc phải ở các phòng thuê quanh đó. Năm 1851-1852, Hacman gửi một loạt các báo cáo cho chính quyền Lviv phàn nàn về tình trạng này. Năm 1860, Bộ Tôn giáo đã ban hành một nghị định công bố một cuộc thi để chọn một kiến ​​trúc sư thiết kế xây dựng nơi cư trú mới. Kiến trúc sư người Cộng hòa Séc Josef Hlávka đã được lựa chọn để phát triển dự án. Trong quá trình chuẩn bị thiết kế của mình, Hlávka đã nghiên cứu truyền thống xây dựng của khu vực và xuất bản một bài báo, "Tòa nhà của Giáo hội Hy Lạp phương Đông ở Bukovina", trong Tạp chí "Austrian Review" năm 1866. Những đề xuất của Hlávka về khu phức hợp không chỉ bao gồm Cung điện giám mục mà còn có văn phòng hành chính, phòng họp, thư viện, trường hợp xướng, bảo tàng nghệ thuật, nhà thờ và nhà nguyện. Công trình là sự kết hợp của Kiến trúc Byzantine, Moorish với nguồn cảm hứng từ Alhambra. Quá trình xây dựng bắt đầu từ năm 1864 nhưng đã bị trì hoãn đáng kể do các vấn đề về kỹ thuật, tình hình sức khoẻ của Hlávka từ sau năm 1872, và bất đồng giữa ông và chính quyền địa phương dẫn đến việc Hlávka xin thôi việc. Sự thiếu năng lực của người kế nhiệm Hlávka, Feliks Ksiezarski, tiếp tục trì hoãn tiến độ. Tòa nhà và nhà thờ được thánh hiến vào mùa đông năm 1882-1883. Mô tả. Các tòa nhà của khu phức hợp được bố trí trên ba mặt của một sân trong có chiều sâu 100 mét và rộng 70 mét. Mặt thứ tư của sân là cổng chính với những thanh chắn cao. Đối diện với cổng chính là toà nhà đơn lớn nhất của quần thể, là nơi ở của Giám mục đô thành với nhà nguyện Suceava. Tòa nhà hiện là Khoa Ngôn ngữ hiện đại của trường Đại học Chernivtsi. Tại đó có hội trường Công nghị (ngay nay là hội trường Cẩm thạch) với trần nhà được sơn. Ban đầu hội trường này có các bức chân dung của các vị vua Áo được tạo bởi Epaminonda Bucevschi (1843-1891). Các phòng lớn khác trong tòa nhà này bao gồm Thư viện cũ của Giám mục đô thành (Hội trường Xanh lam), một không gian hội họp nhỏ hơn (Hội trường Đỏ) và phòng tiếp tân cũ của Giám mục (Hội trường Xanh lá). Trong đó, Hội trường Đỏ được miêu tả là một hộp trang sức bằng gỗ đẹp tuyệt vời, có bức tranh tường giống như một trang trí tinh xảo với lụa đỏ Trung Quốc. Bên trái của cổng chính là tòa nhà chủng viện, nhà thờ ba thánh với các bức tranh tường của Karl Jobst và nhiều nghệ sĩ khác. Ở phía đối diện là tu viện cũ ngày nay là bộ phận của khoa Địa lý của trường Đại học. Tháp đồng hồ ở tòa nhà này được trang trí Ngôi sao David giống như một cống phẩm của Cộng đồng Do Thái Czernowitz góp phần xây dựng khu phức hợp. Tòa bộ quần thể nằm trong một công viên cảnh quan rộng lớn có tượng đài của Hlávka được điêu khắc vào năm 1937.
1
null
Timgad (còn được gọi là Thamugas hoặc Thamugadi trong tiếng Berber cổ) là một thành phố La Mã-Berber nằm trên dãy núi Aurès, Algérie. Nó được thành lập bởi hoàng đế Trajan khoảng năm 100. Tên đầy đủ của thành phố là "Colonia Marciana Ulpia Traiana Thamugadi". Trajan đã đặt tên cho thành phố này để tưởng niệm mẹ mình là Marcia, em gái của ông là Ulpia Marciana, và cha của ông là Marcus Ulpius Traianus. Nằm ở Algérie ngày nay, khoảng 35 km về phía đông của thành phố Batna, Timgad là địa điểm đáng chú ý khi nó một trong số ví dụ tốt nhất còn sót lại về quy hoạch mạng lưới đường phố trong quy hoạch đô thị La Mã. Chính vì vậy, UNESCO đã công nhận nó là Di sản thế giới vào năm 1982. Tên. Tên trước đây của Timgad, "Marciana Traiana Thamugadi", Marciana Traiana đề cập đến tên của người thành lập ra nó là hoàng đế Trajan và em gái của ông là Marciana. Phần thứ hai là Thamugadi là tên Berber của nơi thành phố được xây dựng, Timgad là số nhiều của Tamgut có nghĩa là "đỉnh" hoặc "chóp".
1
null
Vườn quốc gia Pamir (tên gọi khác là vườn quốc gia Tajik, Pamersky hoặc Pamirsky) là một vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở miền đông Tajikistan. Nó được thành lập vào năm 1992 với trung tâm của cái gọi là "Pamir Knot", một điểm gặp gỡ của các dãy núi cao nhất trên lục địa Á-Âu. Nó bao gồm các cao nguyên cao ở phía đông và phía tây, đỉnh núi gồ ghề, một số lên tới 7.000 mét, và các tính năng đại hình thay đổi nhiệt độ theo mùa. Vườn quốc gia này trải dài khoảng 2,6 triệu ha, tương đương với 18% tổng diện tích của Tajikistan với địa hình chủ yếu là các phần của dãy núi Pamir. Trong năm 2006, vườn quốc gia này đã được trình lên UNESCO nhằm xem xét để thành một di sản thế giới. Tuy nhiên, năm 2013, vườn quốc gia này mới chính thức được công nhận là di sản thế giới và đổi tên thành Vườn quốc gia Tajik. Địa chất. Vườn quốc gia này có đặc tính cô lập địa hình, tức là các dãy núi phía ngoài cao hơn dãy núi phía trong nó. Ví dụ, dãy núi Zaalayski là biên giới phía bắc của vườn quốc gia, bao quanh là các dãy Kashgar Ridges ở phía Đông, Hindikush và phía Nam là các dãy núi khổng lồ của nó, còn rặng núi Kohi Lal ở phía tây. Điều này làm cho lãnh thổ của vườn quốc gia được phân lập từ khối không khí ẩm đến từ phương Tây (từ Đại Tây Dương qua biển Địa Trung Hải) và từ phía Nam (từ Ấn Độ Dương) Chịu nhiều trận động đất mạnh thường xuyên, vườn quốc gia là nơi sinh sống thưa thớt dân cư, và hầu như không ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và định cư lâu dài của con người. Nó cung cấp một cơ hội duy nhất cho các nghiên cứu về kiến tạo địa tầng và hiện tượng hút chìm. Sinh thái và động thực vật. Hệ sinh thái tại vườn quốc gia là kết hợp của thảo nguyên, sa mạc, đồng cỏ và khu vực núi cao. Nó có mùa đông dài lạnh còn mùa hè mát mẻ, với lượng mưa trung bình hàng năm là 12,7 cm. Vườn quốc gia có thung lũng sông băng dài nhất bên ngoài khu vực Bắc cực nằm trong số 1.085 dòng sông băng kiểm kê trong vùng, ngoài ra còn 170 con sông và hơn 400 hồ nước. Loài thực vật phong phú của cả hai vùng thực vật phía tây nam và trung tâm châu Á phát triển trong vườn quốc gia. Trong tất cả khu vực của Vườn quốc gia Tajik phát triển hơn 2.100 loài thực vật bậc cao, trong đó có nhiều loài hiếm. Theo các hình thức hiện hành thì có sáu loại thực vật: sa mạc, thảm thực vật, gai góc cây khác dạng tròn có gai, thảo nguyên, đồng cỏ và cây bụi. Các vị trí dẫn đầu trong danh sách thực vật tại đây thuộc về "haloxylon" và cây "ngải sa mạc". Khu vực rộng lớn cùng vùng núi đá bao gồm các loài "Artemisia rhodanta", Cúc Tây Tạng ("Ajania tibelica"), "Acantholimon diapencioides", "Festuca sulcata", "Slipa glareosa" và nhiều loài khác. Vùng lõi và vùng đệm có nhiều loài được đưa vào Sách đỏ của Cộng hòa Tajikistan: "Desmatodon altipes, Ostrowskia magnijica, Desideria pamirica, "Oxytropis Hedini", "Pulsatilla Kostycsewii", "Acantholimon Varivtzevae", "Saxifaga pulvinaria", "Bunium persicum". Về động vật thì đây là nơi trú ẩn của các loài chim và động vật có vú bao gồm loài gấu nâu, báo tuyết, chó sói, Sơn dương núi Pakistan, cừu Marco Polo, linh dương Siberia, mòng biển đầu nâu và Ngỗng Ấn Độ.
1
null
Nước khoáng là nước lấy từ nguồn suối khoáng, có thành phần gồm nhiều hợp chất muối và hợp chất lưu huỳnh. Nước khoáng có thể là nước sủi bọt. Theo truyền thống thì nước khoáng được sử dụng hoặc uống ở nguồn suối khoáng tại các spa, nhà tắm công cộng hay giếng khoan. Nhiều trung tâm du lịch đã mọc lên quanh các nguồn nước khoáng từ thời cổ đại, ví dụ ở Hungary, Hisarya, Bílina, Vichy, Jermuk, Yessentuki, Spa, Krynica-Zdrój, Old Tbilisi, Bath hay Karlovy Vary, Myrhorods'ka. Ở România, đất nước sở hữu hơn 1/3 số lượng suối nước khoáng và suối nước nóng của châu Âu, các khu nghỉ dưỡng đã hình thành từ xa xưa tại nhiều địa điểm như Baile Herculane, Geoagiu hay Slanic. Sự phát triển du lịch đã tạo nên các thị trấn spa và các khách sạn chữa bệnh bằng nước. Đến thời hiện đại, nước khoáng đóng chai để uống trở nên cực kì phổ biến. Người ta ít khi tới nguồn để trực tiếp lấy nước, và trong nhiều trường hợp điều này là không khả thi do vướng mắc về quyền sở hữu thương mại đối với nguồn nước. Trên thế giới hiện có trên 3.000 nhãn hiệu nước khoáng thương mại khác nhau Nước có nhiều ion calci và magiê hòa tan được gọi là nước cứng. Nước chứa ít ion các kim loại trên thì được gọi là nước mềm. Ở EU, nước đóng chai có thể được gọi là nước khoáng nếu nước được đóng chai tại nguồn và không qua xử lý hoặc xử lý rất ít. Nhà sản xuất được phép loại bỏ sắt, magnesi, lưu huỳnh và asen thông qua các quy trình lắng gạn, lọc hay xử lý với không khí giàu ozôn, miễn là việc xử lý không làm thay đổi thành phần các chất quan trọng tạo nên đặc tính riêng của nước. Nhà sản xuất không được bổ sung thêm các chất khác ngoại trừ cácbon dioxide (Bão hòa cacbon dioxide), không được loại bỏ hay tái bổ sung bằng các phương pháp vật lý đặc biệt. Họ cũng không được khử trùng hay thêm các chất kìm hãm vi khuẩn vào nước. Ở Mỹ, nhà sản xuất không được thêm bất cứ chất khoáng nào vào nước khoáng.
1
null
Jesús Navas González (; sinh ngày 21 tháng 11 năm 1985), thường được biết đến với tên gọi Jesús Navas, là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha hiện đang thi đấu ở vị trí hậu vệ phải cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha và là đội trưởng của câu lạc bộ La Liga Sevilla. Là một cầu thủ chạy cánh phải, anh được biết đến với khả năng chạy cánh và lừa bóng nhanh qua các hậu vệ đối phương. Navas chơi phần lớn sự nghiệp của mình cho câu lạc bộ Sevilla, xuất hiện trong gần 400 trận đấu chính thức và giành được sáu danh hiệu lớn, trong đó có hai cúp UEFA và hai Cúp Nhà vua Tây Ban Nha. Vào năm 2013, Navas đã ký hợp đồng với Manchester City. Trên đấu trường quốc tế trong màu áo đội tuyển Tây Ban Nha kể từ năm 2000, Navas đã giúp Tây Ban Nha giành chức vô địch tại World Cup 2010, Euro 2012 và UEFA Nations League 2023. Danh hiệu. Câu lạc bộ. Sevilla Manchester City
1
null
Cá mút đá là một bộ cá gồm các họ cá không hàm, có thân hình ống và sống ký sinh. Các loài cá mút đá được tìm thấy ở bờ biển Đại Tây Dương của châu Âu và Bắc Mỹ, ở phía tây Địa Trung Hải, và Ngũ Đại Hồ. Cá mút đá thường sống ký sinh trên nhiều loại cá.
1
null
Ruộng bậc thang của người Hà Nhì tại Hồng Hà là ruộng bậc thang nằm ở châu tự trị Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Đây là khu vực có lịch sử lên tới 1.200 năm. Vùng trung tâm của ruộng bậc thang nằm ở Nguyên Dương. Khu vực này có 1.000.000 ha và khu vực được công nhận là di sản thế giới của UNESCO có diện tích 16.603 ha. Ruộng bậc thang là cảnh quan văn hóa vô cùng ngoạn mục tại các sườn núi dốc của Ai Lao Sơn cao chót vót và của vực sâu hiểm trở bên sông Hồng. Trong 1.300 năm qua, người Hà Nhì đã phát triển một hệ thống phức tạp các kênh để đưa nước từ đỉnh núi vào các ruộng bậc thang. Họ cũng đã tạo ra một hệ thống canh tác tổng hợp, chăn nuôi trâu, bò, vịt, cá, lươn và sản xuất lúa gạo đỏ, cây trồng chính của khu vực. Người dân thờ thần mặt trời, mặt trăng, núi, sông, rừng và các hiện tượng tự nhiên khác. Họ sống trong 82 ngôi làng nằm giữa núi rừng và ruộng bậc thang. Các làng trông như một bức tranh với những ngôi nhà truyền thống như những cây "nấm" giữa nền đầy màu sắc của núi rừng, sông, ruộng lúa. Hệ thống quản lý đất đai của ruộng bậc thang thể hiện sự hài hòa đặc biệt giữa con người và môi trường tự nhiên, cả về trực quan và sinh thái, dựa trên cấu trúc xã hội và tôn giáo đặc biệt, lâu dài.
1
null
Schliersee is một xã thuộc huyện Miesbach ở bang Bayern, Đức. Nó được đặt tên theo hồ Schliersee nằm ngay bên cạnh, bao gồm những làng Schliersee, Westenhofen, Neuhaus, Fischhausen, Josefsthal và Spitzingsee. Địa lý. Schliersee nằm ở bờ Đông Bắc hồ Schliersee, là một nơi nghỉ mát có tiếng tại vùng núi bayerischer Alpen. Từ làng Schliersee có được cái nhìn như trong tranh lên các ngọn núi Aiplspitz, Jägerkamp, Brecherspitz và Bodenschneid, thuộc dãy núi Mangfall. Làng Spitzingsee, nằm khoảng 1.090m trên mặt biển, là một trung tâm trượt tuyết và dạo núi. Giao thông. Làng Schliersee nằm cạnh quốc lộ B 307, về phía Nam và cách Miesbach 7 km, cách đường cao tốc Bundesautobahn 8 17 km (lối ra Weyarn), cách Rosenheim 32 km và München 53 km. Nhà ga Schliersee nằm trên tuyến đường Holzkirchen–Schliersee và Schliersee–Bayrischzell, xe lửa của Bayerische Oberlandbahn chạy mỗi tiếng một lần từ München qua Holzkirchen đến Bayrischzell. Vào giờ cao điểm thì nửa tiếng một lần. Có xe buýt chạy thường xuyên tới Spitzingsee, nhiều lúc chạy tiếp tới Valepp, hoặc chạy qua Hausham và Gmund am Tegernsee tới Tegernsee, từ tháng 6 tới tháng mười có xe chạy tới Kufstein ở bang Tirol qua Thiersee.
1
null
Final Destination 5 là một bộ phim kinh dị siêu nhiên năm 2011 của Mỹ do Eric Heisserer viết kịch bản và Steven Quale làm đạo diễn. Bộ phim là phần thứ năm của loạt phim Final Destination. Đây là phần phim trước khi xảy ra tai nạn máy bay Volée Air Flight 180 (Final Destination 1) xuất hiện. Nội dung. Sam Lawton (Nicholas D'Agosto) cùng với nhóm đồng nghiệp của mình đi đến công ty trong một chuyến xe buýt thì Sam tình cờ mơ thấy chiếc cầu mà chiếc xe buýt anh đi sẽ ngã xưống cùng mọi người sẽ chết. Anh gọi tất cả đồng nghiệp của anh ra khỏi chuyến xe khi anh vừa tỉnh dậy, anh đã "đánh lừa Thần Chết" cùng tất cả những người ngăn ngừa chuyến xe buýt đó.Kết thúc chuyến đi, từng người từng người chết trong bí ẩn. Cái chết. Trong chuyến xe buýt đấy lẽ ra có tám người tử nạn nhưng nhờ Sam cứu thoát. Thứ tự tử nạn là: Nhưng nếu trong danh sách Thần Chết có người giết một người khác thì tên người đó sẽ được gạch và sống tiếp Issac Palmer. - Các bạn đừng nên lừa dối và chọc giận Thần Chết nếu không số phận của các bạn sẽ rất nghiệt ngã đấy. Còn nữa, khi một người trong danh sách Thần Chết giết một người khác thì tên người đó sẽ bị chuyển xuống sau và sống cuộc sống của người đó. Peter Friedkin, Đặc vụ Jim Block. Vì còn ấm ức cái chết của Candice nên anh hận thù Sam và Molly. Buổi tối hôm ấy, Sam ở lại nhà hàng và có một cuộc hẹn hò cùng Molly để lập kế hoạch đẩy lùi tên mình ở danh sách Thần Chết. Peter mở cửa vào nhà hàng nói chuyện cùng Sam và Molly. Peter nói anh không nỡ giết những người khác để sống nên anh đẩy Sam vào nhà bếp và tấn công anh ta cùng Molly. Peter định úp mặt Sam vào chảo dầu nhưng Sam đánh trả. Molly cố sức tấn công Peter nhưng không được. Bây giờ Peter đánh Sam bằng những cú đấm liên hoàn. Nghe có tiếng súng, đặc vụ Jim Block vào nhà hàng nhưng ông đã bị Peter bắn chết. Sau đó Molly không thể trốn ở đâu, cô nép vào một góc nhưng Peter đã thấy cô. Anh nói rằng xuống địa ngục nói lời chào với Candice giùm. Peter định đâm chết cô nhưng đã bị Sam dùng một cây xiên đâm chết.
1
null
Lớp tàu khu trục B bao gồm chín tàu khu trục của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, được đặt hàng như một phần của Dự trù Ngân sách Hải quân 1928, được hạ thủy vào năm 1930 và nhập biên chế vào năm 1931. Lớp này có đặc tính tương tự như lớp A dẫn trước, chỉ với những cải tiến nhỏ. Chúng được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và năm chiếc đã bị đánh chìm trong chiến đấu; có số phận không may là tàu chiến đầu tiên của Anh bị đánh chìm trong chiến tranh, khi nó trúng mìn tại cửa sông Thames chỉ hai tháng sau khi chiến tranh được tuyên bố. Thiết kế. Khác biệt chính của lớp B so với lớp A là chúng được cung cấp thiết bị quét mìn thay cho trang bị Asdic (sonar) và mìn sâu để phù hợp hơn cho nhiệm vụ chống tàu ngầm. Không giống soái hạm khu trục của lớp A, được chế tạo dựa trên cùng lườn tàu của các tàu chị em; chiếc soái hạm to hơn của lớp A tỏ ra không tương thích chiến thuật đối với chi hạm đội mà nó chỉ huy, khi có tốc độ nhanh hơn vài knot và bán kính hoạt động cũng rộng hơn. Hậu quả là "Keith" quá nhỏ để có thể chứa toàn thể ban tham mưu đơn vị, và "Blanche" được trang bị như một tàu chỉ huy hải đội để chuyên chở những người còn lại. Các cải tiến trong chiến tranh. Những chiếc bị mất sớm trong chiến tranh chỉ có ít cải tiến, nếu có chỉ giới hạn trong việc thay thế các ống phóng ngư lôi phía sau bằng một khẩu đội QF 12 pounder phòng không. Giống như những tàu khu trục cũ của Anh đương thời, chúng được chuyển sang nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải khi các con tàu mới hơn đã sẵn sàng cho những nhiệm vụ ở hạm đội. Công việc cải tiến bao gồm việc bổ sung pháo 12-pounder phòng không nêu trên, hạ thấp cột ăn-ten trước để cải thiện góc bắn của vũ khí. Tháp pháo ‘Y’ được tháo dỡ để lấy thêm chỗ cho thiết bị thả mìn sâu. Một bộ radar bước sóng mét Kiểu 286 cồng kềnh được bổ sung cho một số con tàu khi nó sẵn có. Dựa trên thiết bị ASV của Không quân Hoàng gia Anh, và được dự định dùng để cảnh báo tàu ngầm đối phương nổi lên mặt nước, thiết bị này bao gồm một ăn-ten cố định quét một góc trước mũi tàu, đòi hỏi con tàu phải thường xuyên đổi hướng để thay đổi hướng quét. Pháo 12-pounder phòng không sau này được tháo dỡ trên những tàu còn sống sót, lấy chỗ để mang thêm mìn sâu. Pháo phòng không QF 2 pounder cũng được thay bằng QF 20 mm Oerlikon khi chúng sẵn có, và tăng cường thêm một cặp vào vị trí của đèn pha tìm kiếm. sau này được thêm một cặp lên tổng cộng 6 khẩu Oerlikon. , và "Bulldog" sau này được trang bị radar cải tiến thay cho máy đo tầm xa và bộ điều khiển hỏa lực; radar bước sóng centi-mét Kiểu 271 trở nên rất hữu ích khi có thể phát hiện kính tiềm vọng của tàu ngầm đối phương ở những điều kiện thích hợp. "Bulldog" và "Beagle" được tháo dỡ tháp pháo 'A' để trang bị Hedgehog, một dàn súng cối chống tàu ngầm bắn ra phía trước. "Bulldog" còn được trang bị một khẩu pháo QF 2 pounder Mk.VIII trước mũi vào năm 1944 để đối phó với mối đe dọa của các tàu E boat Đức.
1
null
HMS "Keith" là một soái hạm khu trục dẫn đầu lớp tàu khu trục B được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào năm 1930. Thoạt tiên được phân về Hạm đội Địa Trung Hải, nó được đưa về lực lượng dự bị sau khi hoàn tất sửa chữa hư hại do va chạm. Trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha những năm 1936-1939, con tàu hoạt động trở lại, trải qua một thời gian tại vùng biển Tây Ban Nha, thi hành việc cấm vận vũ khí mà Pháp và Anh áp đặt cho cả hai phe trong cuộc xung đột. Vào đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, "Keith" hộ tống các đoàn tàu vận tải và tuần tra chống tàu ngầm trước khi bị máy bay Đức đánh chìm trong cuộc triệt thoái Dunkirk vào năm 1940. Thiết kế và chế tạo. "Keith" có trọng lượng choán nước tiêu chuẩn , và lên đến khi đầy tải. Con tàu có chiều dài chung , mạn thuyền rộng và độ sâu của mớn nước là . Nó được cung cấp động lực bởi hai turbin hơi nước Parsons, dẫn động hai trục, tạo ra một công suất tổng cộng cho phép nó đạt được tốc độ tối đa . Hơi nước cho turbine được cung cấp bởi ba nồi hơi ống nước Admiralty. "Keith" mang theo tối đa dầu đốt, đủ cho tầm hoạt động ở tốc độ đường trường . Thành phần thủy thủ đoàn bao gồm 175 sĩ quan và thủy thủ. Con tàu được trang bị bốn khẩu pháo QF Mk. IX L/45 trên bệ Mk.XIV nòng đơn; và để tự vệ phòng không, "Keith" có hai khẩu QF 2 pounder Mk.II L/39 (40 mm) đặt trên các bệ giữa các ống khói. Nó còn có hai bệ ống phóng ngư lôi bốn nòng bên trên mặt nước sử dụng ngư lôi. Một đường ray thả mìn sâu cùng hai máy phóng dùng để chống tàu ngầm, thoạt tiên mang theo 20 quả mìn sâu, nhưng được tăng lên 35 quả không lâu sau khi chiến tranh bắt đầu. Là chiếc đầu chiến đầu tiên của Hải quân Anh được đặt tên HMS "Keith", nó được đặt hàng vào ngày 22 tháng 3 năm 1929 tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow, trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo Hải quân 1928. "Keith" được đặt lườn vào ngày 1 tháng 10 năm 1929, hạ thủy vào ngày 10 tháng 7 năm 1930 và hoàn tất vào ngày 20 tháng 3 năm 1931 với chi phí 219.800 Bảng Anh, không tính đến các thiết bị do Bộ Hải quân Anh cung cấp như pháo, đạn dược và thiết bị liên lạc. Lịch sử hoạt động. Sau khi được đưa vào hoạt động, "Keith" được phân về Chi hạm đội Khu trục 4 trong vai trò soái hạm. Ngoài một đợt sửa chữa tại Xưởng tàu Chatham từ ngày 4 tháng 9 đến ngày 18 tháng 10 năm 1933, chiếc tàu khu trục hoạt động cùng Hạm đội Địa Trung Hải cho đến năm 1936. "Keith" bị tai nạn va chạm với chiếc tàu hơi nước Hy Lạp "Atonis G. Lemos" trong hoàn cảnh sương mù dày đặc trong eo biển Anh Quốc vào ngày 24 tháng 8 năm 1936, lúc nó đang trên đường từ Gibraltar đi Portsmouth cho một đợt tái trang bị khác. Công việc trang bị chỉ hoàn tất vào ngày 13 tháng 2 năm 1937, và nó trải qua sáu tháng tiếp theo trong thành phần dự bị tại Sheerness. Con tàu hoạt động trở lại vào ngày 14 tháng 8 năm 1937 thay thế cho soái hạm của Chi hạm đội Khu trục 6, , khi chiếc này được sửa chữa sau một vụ va chạm. "Keith" trải qua nhiều tháng được bố trí ngoài khơi vịnh Biscay trong thời gian cuộc Nội chiến Tây Ban Nha diễn ra, và sau đó đặt căn cứ tại Gibraltar. Con tàu quay trở về Sheerness vào ngày 4 tháng 11, và lại được đưa về lực lượng dự bị. Nó trải qua một đợt tái trang bị ngắn tại Chatham từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 1938. Sau khi hoàn tất, "Keith" gia nhập trở lại Chi hạm đội Khu trục 4, giờ đây trực thuộc Hạm đội Nhà. Nó được điều động đưa thủy thủ đoàn của đến Chi hạm đội Khu trục 5 tại Gibraltar vào ngày 17 tháng 1 năm 1939. Con tàu tiếp tục ở lại cùng Chi hạm đội 5 cho đến tháng 4, khi quay trở về nhà; được sửa chữa tại Chatham từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7, và lại được đưa về lực lượng dự bị vào ngày 31 tháng 7. Không lâu trước khi chiến tranh bắt đầu vào tháng 9, chiếc tàu khu trục được cho hoạt động trở lại và được phân về Chi hạm đội Khu trục 17 thuộc Hạm đội Nhà. Vào ngày 3 tháng 9, nó được điều về Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây để tuần tra chống tàu ngầm, đặt căn cứ tại Milford Haven. Ngày 10 tháng 9, "Keith" hộ tống một đoàn tàu vận tải chuyên chở Lực lượng Viễn chinh Anh (BEF) sang Pháp. Đến ngày 29 tháng 10, nó được điều sang Chi hạm đội Khu trục 22 ở Harwich và trở thành soái hạm năm ngày sau. Sang tháng 12, "Keith" tiến hành sửa chữa chân vịt của nó tại xưởng tàu Devonport, kéo dài cho đến ngày 10 tháng 1 năm 1940. Nó được chuyển sang Chi hạm đội Khu trục 19 vào tháng 2, và đã hộ tống cho con tàu chị em vào ngày 5 tháng 3, khi nó kéo chiếc tàu chở dầu "John F. Meyer" bị hư hại đến Southampton. Chiếc tàu khu trục tiếp nối nhiệm vụ hộ tống và tuần tra cho đến tháng 5, khi Đức tấn công Pháp. Ngày 10 tháng 5 năm 1940, Đức xâm chiếm Pháp và các nước vùng trũng. Ngày hôm đó "Keith" và tàu chị em hộ tống các tàu tuần dương hạng nhẹ và khi chúng vận chuyển vàng thỏi từ cảng Hà Lan IJmuiden đến Anh Quốc để cất giữ an toàn. Đến ngày 12 tháng 5, nó đi đến Hook of Holland thuộc Hà Lan để triệt thoái binh lính Đồng Minh. Khi tàu khu trục mắc cạn vào ngày 19 tháng 5 sau khi bị hư hại do máy bay Đức tấn công, "Keith" đã đánh đắm nó. Ngày 21 tháng 5, "Keith" là một trong số ba tàu khu trục đã giúp di tản 468 thường dân khỏi Pháp. Hai ngày sau, con tàu có mặt tại Boulogne-sur-Mer, đón binh lính Anh lên tàu đề triệt thoái, khi nó bị bộ binh Đức tấn công. Con tàu trúng đạn súng cối và súng máy làm thiệt mạng hạm trưởng và nhiều người khác bị thương. "Keith" lên đường quay về Anh ngay sau đó. Trong đêm 30-31 tháng 5, con tàu tham gia Chiến dịch Dynamo khi nó giúp triệt thoái 992 binh lính Đồng Minh đến Dover. Nó quay trở lại De Panne sáng hôm sau và trở thành soái hạm của Chuẩn đô đốc Frederic Wake-Walker, chỉ huy việc triệt thoái. Con tàu bị máy bay đối phương tấn công sáng hôm đó; đợt thứ nhất làm hư hại bánh lái, và trong đợt thứ hai, một quả bom xâm nhập ống khói phía sau và phát nổ trong phòng nồi hơi số 2, làm thiệt mạng mọi người tại đây và gây ra một đám cháy. Hoàn toàn mất động lực, con tàu bị chết đứng và lệnh bỏ tàu được ban ra. "Keith" chìm lúc 09 giờ 45 phút tại tọa độ . Ba sĩ quan và 33 thủy thủ thiệt mạng trong cuộc tấn công, tám sĩ quan và 123 thủy thủ được giải cứu.
1
null
Serra de Tramuntana (phát âm tiếng Catalan: "[sɛrə ðe tɾəmuntanə]", Tây Ban Nha: "Sierra de Tramontana") là một dãy núi nằm theo hướng Đông bắc-Tây nam cũng là cột xương sống phần bắc của đảo Mallorca thuộc Tây Ban Nha. Địa danh này cũng dùng đặt tên cho cảnh quan văn hóa của khu vực. và được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào ngày 27 tháng 6 năm 2011. Địa lý. Đỉnh cao nhất của dãy núi là Puig Major đạt 1.445 mét; đây cũng là đỉnh núi cao nhất của cả quần đảo Balearic. Cách đó không xa là đỉnh Puig de Massanella cao thứ nhìa, đo được 1.364 mét. Phần cực nam của dãy Tramuntana có tên là Serra de Na Burguesa. Khí hậu của dãy Tramuntana so với vùng bình nguyên thì ẩm ướt nhiều, vũ lượng hàng năm đạt 1.507 mm (59,3 inch), trong khi những nơi khác trên đảo chỉ có khoảng 400mm (15 inch). Vì ở trên cao nhiệt độ mát mẻ, mỗi năm cũng có vài ngày có tuyết rơi. Văn hóa. Cảnh quan văn hóa của Serra de Tramuntana là dãy núi cao chạy song song với bờ biển phía tây của đảo Mallorca. Từ xưa việc trồng trọt đã trông vào nguồn nước mà cư dân đảo đã lập ra một hệ thống dẫn nước vào ruộng. Để tận dụng đất đai trên triền núi dốc, nông dân phải vỡ đất làm ruộng bậc thang kè bằng đá cùng các công trình làm đập chứa nước và dẫn nước. Toàn vùng phong cảnh hoang sơ đường đất, lác đác những làng mạc, với ngọn thánh đường, trang trại, và ở ven cửa biển thì có mấy ngọn hải đăng. Các đô thị. "Dân số vào ngày 1 tháng 1 năm 2008"
1
null
Tài trợ hay còn gọi là đài thọ hay cấp quỹ hay chu cấp kinh phí là việc cung cấp tài nguyên, nguồn lực thường là dưới hình thức tiền (làm tài chính), hoặc các giá trị khác như nỗ lực hoặc thời gian (vốn cổ phần mồ hôi), cho một dự án, một người, một doanh nghiệp, hoặc bất kỳ tổ chức tư nhân hoặc công cộng nào khác. Quá trình tập hợp và thu thập quỹ được gọi là gây quỹ. Các nguồn tài trợ bao gồm tín dụng, vốn mạo hiểm, quyên góp, viện trợ, tiết kiệm, trợ cấp và thuế. Các tài trợ như quyên góp, trợ cấp và viện trợ không có các yêu cầu trực tiếp cho hoàn vốn đầu tư được mô tả như "tài trợ mềm" hay "tài trợ đám đông". Tài trợ tạo điều kiện cho việc trao đổi quyền sở hữu vốn cổ phần trong một công ty cho đầu tư vốn thông qua một cổng thông tin tài trợ trên mạng như theo Jumpstart Our Business Startups Act (thay thế, "JOBS Act of 2012") (Hoa Kỳ) được biết đến như tài trợ đám đông vốn chủ sở hữu. Các quỹ có thể được phân bổ cho các mục đích cả ngắn hạn và dài hạn. Những người tài trợ thường được ví von là Mạnh Thường Quân. Kinh tế. Trong kinh tế các quỹ được đưa vào thị trường nhu vốn bởi những người cho vay và được nhận như các khoản vay của các người vay. Có hai cách trong đó vốn có thể kết thúc ở người vay. Người cho vay có thể cho vay vốn tới một trung gian tài chính đổi lại tiền lãi. Các trung gian tài chính này sau đó tái đầu tư số tiền đổi lại một tỷ lệ lãi cao hơn. Việc sử dụng các trung gian tài chính để tài trợ cho các hoạt động được gọi là tài chính gián tiếp. Người cho vay cũng có thể đi theo các thị trường tài chính cho vay trực tiếp đến người vay. Phương pháp này được gọi là tài chính trực tiếp.
1
null
Tài trợ hạt giống, đôi khi được gọi là tiền hạt giống, là một hình thức cung cấp chứng khoán trong đó một nhà đầu tư mua một phần của một doanh nghiệp. Thuật ngữ "hạt giống" cho thấy rằng đây là một khoản đầu tư ban đầu, có nghĩa là để hỗ trợ kinh doanh cho đến khi nó có thể tạo ra tiền riêng của mình, hoặc cho đến khi nó đã sẵn sàng cho các đầu tư thêm. Lựa chọn tiền hạt giống bao gồm tài trợ của bạn bè và gia đình, tài trợ thiên thần và gần đây - tài trợ đám đông. Sử dụng. Tiền hạt giống có thể được sử dụng để trả cho các hoạt động sơ bộ như nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm. Các nhà đầu tư có thể chính là những người sáng lập, sử dụng tiết kiệm và các khoản vay. Họ có thể là các thành viên gia đình và bạn bè của những người sáng lập. Các nhà đầu tư cũng có thể là các nhà đầu tư thiên thần bên ngoài, các nhà đầu tư mạo hiểm hoặc các nhà đầu tư được công nhận. Vốn hạt giống có thể được phân biệt với vốn mạo hiểm trong đó vốn mạo hiểm có xu hướng liên quan đến nhiều tiền hơn đáng kể, một nghiệp vụ dài tay, và phức tạp hơn nhiều trong các hợp đồng và cơ cấu công ty mà đi kèm với đầu tư. Tài trợ hạt giống liên quan đến một rủi ro cao hơn tài trợ vốn mạo hiểm bình thường do nhà đầu tư không nhìn thấy bất kỳ dự án hiện có nào để đánh giá đối với tài trợ. Do đó, các khoản đầu tư thường thấp hơn (trong khoảng hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn đô la) so với đầu tư vốn mạo hiểm bình thường (trong khoảng hàng trăm ngàn đến hàng triệu đô la), đối với các mức tương tự của cổ phần trong công ty. Tiền hạt giống cũng có thể đến từ tài trợ đám đông hoặc từ bootstrapping tài chính chứ không phải là cung cấp vốn cổ phần. Bootstrapping trong bối cảnh này có nghĩa là việc sử dụng dòng tiền của một xí nghiệp hiện đang tồn tại. Các nhà đầu tư đưa ra quyết định của họ có tài trợ hay không cho một dự án dựa trên sức mạnh nhận thức của ý tưởng và các khả năng, kỹ năng và lịch sử của những người sáng lập.
1
null
Gilles de Binche còn được gọi là Gilles de Bins (sinh khoảng 1400 đến 1420 - mất năm 1460), là một nhà soạn nhạc thuộc Trường nhạc Pháp-Flemish, một trong những thành viên đầu tiên của Trường phái Burgundian, ngoài ra ông còn là một trong ba nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất ở đầu thế kỷ 15 cùng với Guillaume Dufay và John Dunstaple. Ông là con trai của Jean và Johanna de Binche. Cha ông là một ủy viên hội đồng cho Công tước Guillaume IV Hainault, và cũng đã có một vị trí trong một nhà thờ ở Mons. Không có gì được biết về ông cho đến khi 1419. Trong năm 1423, ông đã đến sống ở Lille. Khoảng thời gian này ông có thể là một người lính phục vụ người Bourgogne, hoặc có lẽ là Bá tước người Anh Suffolk, ông có thể được nhắc đến trong bài thánh ca tưởng niệm về cái chết của mình bởi Johannes Ockeghem. Khoảng cuối những năm 1420 ông tham gia nhà thờ triều đình của Bourgogne. Âm nhạc và ảnh hưởng. Các tác phẩm của ông thường nói về tình yêu phong nhã và tinh thần hiệp sĩ. Các tác phẩm của ông phần lớn là rondeaux rất thịnh hành vào thời kì đó. Các ca khúc của ông thường được xem là hay nhất và phổ biến nhất vào thế kỷ 15 và làm nền cho các nhạc sĩ thời sau
1
null
Giáo hội Công giáo Rôma phân chia phẩm trật giáo sĩ thành ba chức cơ bản gọi là chức thánh (hoặc thánh chức): giám mục, linh mục và phó tế. Theo Giáo hội, thuật ngữ "hiearchy" (nghĩa là "thừa kế" hoặc "kế vị") để chỉ những người có thẩm quyền trong một đơn vị giáo hội của họ. Thẩm quyền cơ bản nhất là chức "giám mục" vì họ được coi là những người kế vị trực tiếp từ các tông đồ, trong khi chức thấp hơn là "linh mục" và "phó tế" phục vụ như người trợ lý và cộng tác của giám mục. Như vậy, phẩm trật trong Giáo hội Công giáo Rôma đôi khi cũng được chỉ riêng về chức giám mục mà thôi. Đa số các giáo phận Công giáo đều do một giám mục lãnh đạo. Giáo phận được chia thành các cộng đoàn giáo dân nhỏ hơn được gọi là giáo xứ, mỗi giáo xứ cũng do một hoặc nhiều linh mục coi sóc. Các linh mục ở những giáo xứ lớn có thể có thêm các phó tế phụ giúp mục vụ và quản nhiệm. Tất cả các phó tế, linh mục và giám mục đều có quyền giảng đạo, giải thích Kinh Thánh cử hành nghi thức các bí tích rửa tội, hôn phối và tang lễ. Nhưng chỉ có các linh mục và giám mục mới có quyền cử hành Bí tích Thánh Thể, Bí tích Hòa Giải (giải tội), Bí tích Thêm Sức (linh mục có thể cử hành nếu có sự ủy quyền của giám mục) và Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Chỉ có giám mục mới có quyền cử hành Bí tích Truyền Chức Thánh, tức là truyền chức linh mục hoặc tấn phong chức giám mục. Chức giám mục. Giám mục là những người đã có sự viên mãn về chức vụ mục tử và được gia nhập vào Hàng Giám mục, nên họ được coi là những người kế vị các tông đồ và là những mục tử chính trong Giáo hội. Họ có thẩm quyền giáo huấn, cử hành các nghi thức bậc cao, tham gia vào việc quản trị và đại diện cho Giáo hội. Theo truyền thống, họ sử dụng cụm từ "Hiền Huynh" (hoặc "Hiền Đệ") trong các văn bản chính thức gửi cho một giám mục khác. Vai trò tiêu biểu của một giám mục là quản trị mục vụ cho một giáo phận. Giám mục đang giữ chức này được gọi là "Giám mục chính tòa" với các quyền và nghĩa vụ theo Giáo Luật Công giáo. Các giám mục cũng có thể được bổ nhiệm để hỗ trợ cho giám mục khác (những vị này gọi là "Giám mục Phụ tá") hoặc để đảm trách các công việc hành chính trong Giáo triều Rôma, thông thường, nhóm giám mục này gọi là "Giám mục Hiệu tòa". Các giám mục trong lãnh thổ một quốc gia hoặc khu vực xác định có thể thiết lập một Hội đồng Giám mục khi có sự chấp thuận của Tòa Thánh. Họ tổ chức họp định kỳ để thảo luận về các vấn đề liên quan đến giáo hội tại khu vực lãnh thổ thuộc quyền. Trong một số lĩnh vực, đặc biệt là phụng vụ, chỉ có hội đồng giám mục mới được quyền quyết định. Quyết định được đưa ra bằng biểu quyết. Khi đạt ít nhất là 2/3 phiếu thuận, có xác nhận của Tòa Thánh thì quyết định đó của hội đồng bắt buộc mọi giám mục tuân thủ và thi hành. Việc tấn phong một linh mục lên chức giám mục cần có thư bổ nhiệm của giáo hoàng. Thông thường, nghi lễ này cần ít nhất ba giám mục chủ trì (một vị chủ phong và hai vị phụ phong), nếu bất khả kháng chỉ cần một vị mặc dù trên nguyên tắc chỉ cần một vị là việc tấn phong hoàn thành.. Việc tấn phong chức giám mục được coi là Bí tích Truyền Chức Thánh viên mãn. Vì vậy, một giám mục nghỉ hưu vẫn được coi là một giám mục vì bản chất chức vụ này là vĩnh viễn, không có nhiệm kỳ. Mặt khác, chức danh tổng giám mục là danh dự, không thay đổi bản chất của chức vụ giám mục, nên các tổng giám mục không có thẩm quyền mục vụ trên các giám mục khác. Giáo hoàng, về bản chất chức vụ cũng là một giám mục vì ông là giám mục của Giáo phận Rôma. Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô - tông đồ trưởng, là thượng phụ của Giáo hội Công giáo nghi lễ Latinh, cũng là người đứng đầu Giáo hội Công giáo Hoàn vũ. Một số các giáo hội Công giáo Đông phương cũng do một thượng phụ, hay tổng giám mục lãnh đạo, nhưng đều phục quyền Thượng phụ Latinh (tức giáo hoàng). Trong Giáo hội nghi lễ Latinh, các giáo phận thường được nhóm lại với nhau thành giáo tỉnh, trong đó có một giáo phận quan trọng được nâng lên làm tổng giáo phận với một số thẩm quyền rất hạn chế trên các giáo phận khác. Giáo hoàng. Điều rõ nhất để phân biệt Giáo hội Công giáo Rôma với các nhánh Kitô giáo khác là mối quan hệ giữa các thành viên và giáo hoàng. Sách Giáo Lý của Giáo hội Công giáo, trích dẫn từ Hiến chế "Lumen Gentium" ("Ánh sáng Muôn dân") của Công đồng Vatican II viết rằng: "...Giáo hoàng Rôma, đấng kế vị thánh Phêrô, Thủ Lãnh của cộng đoàn Giám mục; nhưng quyền tối thượng trên tất cả các Chủ Chăn và tín hữu của Giáo hoàng Rôma vẫn luôn luôn được bảo toàn trọn vẹn. Thực vậy, do nhiệm vụ của mình, là Đại Diện Chúa Kitô và Chủ Chăn của toàn thể Giáo hội, Đức Giáo hoàng Rôma có một quyền bính trọn vẹn, tối cao, phổ quát trên Giáo hội, và bao giờ Ngài cũng được tự do thi hành quyền bính ấy, Giám mục Đoàn kế vị cộng đoàn Tông Đồ trong việc giáo huấn và chăn dắt, chính trong Giám mục Đoàn mà cộng đoàn Tông Đồ được trường tồn". Đôi khi, giáo hoàng cũng sử dụng danh hiệu không chính thức là "Tôi tớ của các Tôi tớ Chúa". Thực ra, giáo hoàng không lãnh đạo tự do theo kiểu độc tài, ông có sự cố vấn của Giáo triều Rôma, Hồng y Đoàn, các nghị phụ... mặc dù bản thân ông là trọng tài cuối cùng của tất cả các chính sách trong giáo hội. Sự hiệp thông giữa các giám mục với giáo hoàng là điều cần thiết để duy trì sự tồn tại của Hàng Giám mục. Thượng phụ. Người đứng đầu của một số Giáo hội tự trị (tiếng Latinh: "sui iuris") thuộc Công giáo Đông phương được gọi là thượng phụ. Chính giáo hoàng cũng được coi là một thượng phụ vì ông đứng đầu Giáo hội Latinh (danh hiệu này không còn được sử dụng kể từ Giáo hoàng Biển Đức XVI). Các thượng phụ Đông phương được bầu ra bởi các thượng hội đồng giám mục trong giáo hội thuộc quyền họ.
1
null
Diego Ortiz ("khoảng" 1510 – "khoảng" 1570) là một nhà soạn nhạc và là người nghiên cứu âm nhạc người Tây Ban Nha. Ông đã phục vụ cho một phó vương người Tây Ban Nha ở Napoli và sau đó là vua Felipe II của Tây Ban Nha. Tuy có rất ít thông tin về cuộc sống của Ông, nhưng ông được cho là đã được sinh ra ở thành phố Toledo ở Tây Ban Nha và qua đời ở Napoli thuộc Ý. Sự nghiệp. Ortiz đã xuất bản hai cuốn sách nhạc:
1
null
Viện Công nghệ California (tiếng Anh: "California Institute of Technology", thường gọi là "Caltech") là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở Pasadena, California, Hoa Kỳ. Caltech có sáu đơn vị thành viên, hướng trọng tâm vào các ngành khoa học và kỹ thuật và là 1 trong 10 đại học hàng đầu thế giới. Khuôn viên chính rộng 50 hecta, nằm cách trung tâm thành phố Los Angeles chừng 18 cây số về phía đông nam. Ban đầu được Amos G. Throop thành lập như một trường dự bị và dạy nghề vào năm 1891, ngôi trường này đã thu hút các nhà khoa học nổi tiếng đầu thế kỷ 20 như George Ellery Hale, Arthur Amos Noyes, và Robert Andrews Millikan. Hệ đào tạo dự bị và dạy nghề xóa bỏ từ năm 1910 và trường có tên như ngày nay từ năm 1921. Năm 1934, Caltech được gia nhập Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ. Những cơ sở tiền thân của Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA sau này được thành lập trong khoảng từ 1936 đến 1943; ngày nay Caltech vẫn tiếp tục quản lý và vận hành phòng thí nghiệm này. Caltech là một trong số một nhóm nhỏ các viện công nghệ ở Hoa Kỳ có xu hướng tập trung chủ yếu vào các ngành kỹ thuật và khoa học ứng dụng. Mặc dù có quy mô nhỏ, 72 cựu sinh viên và giảng viên Caltech đã được trao 73 giải Nobel (Linus Pauling là người đầu tiên trong lịch sử nhận 2 giải cá nhân), 4 huy chương Fields, 6 Giải Turing và 72 người đã nhận Huy chương Khoa học Quốc gia hay Huy chương Công nghệ và Sáng kiến Quốc gia của Hoa Kỳ, 112 giảng viên là viện sĩ của các Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ, 4 trưởng khoa học gia của Không quân Hoa Kỳ. Caltech quản lý 332 triệu đô-la tiền tài trợ nghiên cứu năm 2011 và nhận 2.93 tỷ đô-la tiền hiến tặng trong năm 2018. Caltech cũng là một đối thủ cạnh tranh lâu năm của Viện Công nghệ Massachusetts. Năm 2012-2013, Caltech xếp thứ nhất thế giới trong bảng xếp hạng các viện đại học của Times Higher Education. Lịch sử. Trường Đại học Throop. Khởi đầu, Caltech là một trường dạy nghề do Amos G. Throop, một chính trị gia và một doanh nhân, thành lập ở Pasadena vào năm 1891. Ngôi trường sau đó được biết đến với các tên gọi Viện Đại học Throop ("Throop University"), Viện Bách khoa Throop ("Throop Polytechnic Institute" and Manual Training School), và Trường Đại học Công nghệ Throop ("Throop College of Technology"), trước khi được đổi thành tên gọi Viện Công nghệ California (Caltech) vào năm 1920. Ngôi trường dạy nghề ban đầu bị giải tán và chương trình dự bị đại học được tách ra để thành lập Trường Bách khoa (Polytechnic School) độc lập vào năm 1907. Vào lúc mà nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ chỉ mới bắt đầu nhen nhóm, George Ellery Hale, một nhà thiên văn học từ Viện Đại học Chicago, đã thành lập Đài Quan trắc Thiên văn Mount Wilson vào năm 1904. Ông tham gia hội đồng quản trị của Throop vào năm 1907, và bắt đầu ngay vào việc phát triển cơ sở này và toàn bộ vùng Pasadena thành một địa điểm văn hóa và khoa học quan trọng. Ông giúp đưa James A. B. Scherer, một học giả văn học không có chuyên môn trong lĩnh vực khoa học nhưng là một nhà quản trị có năng lực và một người gây quỹ hiệu quả, vào chức vụ viện trưởng của Throop vào năm 1908. Scherer thuyết phục Charles W. Gates, một thành viên hội đồng quản trị và một doanh nhân đã về hưu, hiến tặng 25.000 USD để xây dựng Phòng Thí nghiệm Gates, tòa nhà khoa học đầu tiên trong khuôn viên. Hai cuộc chiến tranh thế giới. Năm 1910, Throop chuyển đến địa điểm hiện nay, khu đất do Arther Fleming hiến tặng. Theodore Roosevelt có bài phát biểu ở Viện Bách khoa Throop vào ngày 21 tháng 3 năm 1911, trong đó ông tuyên bố: "Tôi muốn thấy những cơ sở như Throop đào tạo 100 sinh viên thì có 99 sinh viên làm những công việc kỹ nghệ nhất định giỏi hơn bất kỳ ai khác; tôi muốn thấy những sinh viên này làm được như những gì đang được tiến hành ở công trình kênh đào Panama và ở những công trình thủy lợi kỳ vĩ trong nước - còn người sinh viên còn lại thì tôi muốn thấy kiểu đào tạo văn hóa khoa học sẽ khiến anh ta và những người như anh ta tạo nên một thế hệ mà đôi khi sản sinh ra một người như nhà thiên văn xuất chúng của quý vị, George Ellery Hale." Cùng năm đó, một dự luật được trình ở Cơ quan Lập pháp California kêu gọi thành lập một "Viện Công nghệ California" được tài trợ bằng quỹ công, với ngân sách ban đầu một triệu đô-la, gấp 10 lần ngân sách của Throop vào lúc đó. Hội đồng quản trị đề nghị giao Throop cho tiểu bang, nhưng các viện trưởng của Viện Đại học Stanford và Viện Đại học California thông qua vận động hành lang đã đánh bật dự luật này, do đó Throop phát triển với tư cách là một viện giáo dục định hướng nghiên cứu khoa học duy nhất ở miền nam California, tính cả công lập và tư thục, cho đến lúc bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ hai khi cần thiết phải mở rộng hoạt động giáo dục dựa trên nghiên cứu. Triển vọng của Throop đã thu hút nhà hóa lý Arthur Amos Noyes từ MIT đến phát triển cơ sở này và hỗ trợ trong việc biến nó thành một trung tâm khoa học và công nghệ. Với việc nổ ra Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hale thành lập Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia để điều phối và hỗ trợ nghiên cứu khoa học nhằm giải các bào toán trong quân sự. Mặc dù Hale ủng hộ ý tưởng chính quyền liên bang cấp tiền cho nghiên cứu khoa học, ông đã không đi theo lối sử dụng một dự luật liên bang vốn đã có thể giúp cấp tài trợ cho nghiên cứu kỹ thuật ở các trường đại học được cấp đất, thay vì vậy ông tìm cách quyên góp được một triệu đô-la cho quỹ nghiên cứu quốc gia từ những nguồn tư nhân. Thông qua Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia, Hale vận động để khoa học đóng một vai trò lớn hơn trong các vấn đề quốc gia, và cùng lúc để Throop đóng một vai trò mang tầm quốc gia trong khoa học. Những khoản tài trợ mới được dành cho nghiên cứu vật lý, vốn dẫn đến việc thiết lập Phòng Thí nghiệm Norman Bridge, nơi đã thu hút nhà vật lý thực nghiệm Robert Andrews Millikan đến từ Viện Đại học Chicago vào năm 1917. Trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hale, Noyes và Millikan cùng làm việc với nhau ở Washington D.C. trong Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia. Sau đó họ tiếp tục cộng tác trong việc phát triển Caltech. Dưới sự lãnh đạo của Hale, Noyes và Millikan (cùng với sự hỗ trợ của nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của vùng Nam California), Caltech đã được danh tiếng ở phạm vi quốc gia vào thập niên 1920. Vào ngày 29 tháng 11 năm 1921, các thành viên hội đồng quản trị tuyên bố chính sách của Caltech là theo đuổi những nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt và cùng lúc đó "tiếp tục có những khóa học được thiết kế và giảng dạy cẩn thận trong lĩnh vực kỹ thuật và khoa học thuần túy dựa trên các ngành khoa học cơ bản gồm toán, vật lý, và hóa học; mở rộng và làm phong phú chương trình học với nhiều thời lượng giảng dạy trong các môn như ngôn ngữ và văn chương tiếng Anh, lịch sử, và kinh tế học; và tiếp sức mạnh cho tất cả các hoạt động đó bằng tinh thần nghiên cứu mạnh mẽ." Năm 1923, Millikan được trao giải Nobel Vật lý. Năm 1925, Caltech thiết lập khoa địa chất và tuyển dụng William Bennett Munro, lúc đó là trưởng phân khoa Lịch sử, Quản lý Nhà nước, và Kinh tế học ở Viện Đại học Harvard, để giúp tạo ra phân khoa nhân văn và khoa học xã hội ở Caltech. Năm 1928, một phân khoa sinh học được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Thomas Hunt Morgan, nhà sinh học danh tiếng nhất của Hoa Kỳ vào lúc đó và là người đã khám phá ra vai trò của gene và chromosome trong di truyền. Năm 1930, Phòng Thí nghiệm Hải dương Kerckhoff được thiết lập ở Corona del Mar dưới sự điều hành của Giáo sư George MacGinitie. Năm 1926, trường sau đại học về hàng không (aeronautics) được thành lập, nơi đã thu hút Theodore von Kármán. Kármán sau này giúp thành lập Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (Jet Propulsion Laboratory) và đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa Caltech thành một trong những trung tâm khoa học tên lửa của thế giới. Năm 1928, Đài Quan trắc Thiên văn Palomar bắt đầu được xây dựng. Millikan làm việc với tư cách "Chủ tịch của Hội đồng Điều hành" (có vai trò như viện trưởng của Caltech) từ năm 1921 đến 1945. Ảnh hưởng của ông lớn đến nỗi đôi khi người ta nhắc đến Caltech với tên "Ngôi trường của Millikan." Ngày sau khi gia nhập Caltech, Millikan đã khởi sự một chương trình học giả-khách mời. Các nhà khoa học đã chấp nhận lời mời của ông đến giảng dạy và nghiên cứu ngắn hạn ở caltech bao gồm những nhân vật nổi tiếng như Paul Dirac, Erwin Schrödinger, Werner Heisenberg, Hendrik Lorentz và Niels Bohr. Albert Einstein đã đến Caltech lần đầu vào năm 1931 để hoàn thiện Lý thuyết tương đối tổng quát của mình; ông trở lại Caltech sau đó với tư cách giáo sư thỉnh giảng vào năm 1932 và 1933. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Caltech là một trong 131 trường đại học và viện đại học trên toàn quốc tham gia Chương trình Đào tạo cho Hải quân (V-12 Navy College Training Program) theo đó chuẩn bị cho sinh viên để họ trở thành sĩ quan Hải quân. Hải quân Hoa Kỳ cũng đã duy trì trong khuôn viên của Caltech một trường huấn luyện hải quân về kỹ thuật hàng không, nhân viên tại chỗ để giám sát vũ khí đạn dược và phương tiện hải quân, và một sĩ quan làm nhiệm vụ liên lạc với Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng. Giai đoạn phát triển thời hậu chiến. Trong các thập niên từ 1950 đến 1970, Caltech là nơi có Murray Gell-Mann và Richard Feynman, hai người có công trình đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng Mô hình chuẩn của vật lý hạt cơ bản. Bên ngoài cộng đồng những người làm vật lý, Feynman còn được biết đến như một nhà giáo xuất chúng và một nhân vật thú vị và khác thường. Trong thời kỳ Lee A. DuBridge làm viện trưởng Caltech (1946–1969), số giảng viên Caltech tăng gấp đôi và diện tích khuôn viên tăng gấp ba. Không giống như những người tiền nhiệm của mình, DuBridge rất chào đón những khoản tài trợ của chính quyền liên bang dành cho nghiên cứu khoa học. Những lĩnh vực nghiên cứu mới nở rộ, bao gồm sinh hóa học, khoa học về các hành tinh, vật lý thiên văn hạt nhân, và địa hóa học. Một kính thiên văn đường kính 500 cm (200 inch) được xây dựng gần Núi Palomar vào năm 1948; đây là kính thiên văn mạnh nhất thế giới trong khoảng thời gian hơn 40 năm. Caltech mở cửa đón các nữ sinh viên bậc đại học vào năm 1970, trong nhiệm kỳ viện trưởng của Harold Brown; số nữ sinh này chiếm 14% tổng số sinh viên năm nhất. Kể từ đó, tỷ lệ sinh viên nữ ở Caltech đã tăng dần lên. Sinh viên bậc đại học ở Caltech trước nay được biết là ít quan tâm đến chính trị; chỉ có một cuộc biểu tình phản đối có tổ chức của sinh viên vào tháng 1 năm 1968 bên ngoài phòng thu của NBC ở Burbank, khi nghe tin đồn là NBC sẽ ngừng chiếu phim Star Trek. Năm 1973, các sinh viên sống trong Dabney House biểu tình nhân một chuyến thăm của tổng thống Hoa Kỳ, với biểu ngữ mang dòng chữ đơn giản "Impeach Nixon" (Phế truất Nixon). Trong tuần lễ sau đó, Ross McCollum, chủ tịch Công ty Dầu lửa Quốc gia (National Oil Company), viết thư ngỏ gởi các sinh viên ở Dabney House nói rằng vì những hành động đó của sinh viên, ông quyết định sẽ không hiến tặng một triệu đô-la cho Caltech. Gia đình Dabney, vốn là những người theo Đảng Cộng hòa, ly khai với Dabney House (khu nhà được xây bằng tiền của gia đình Dabney) sau khi nghe nói đến cuộc biểu tình. Thế kỷ 21. Kể từ năm 2000, Dự án Trước tác của Einstein (Einstein Papers Project) được đưa về Caltech. Dự án này được thiết lập vào năm 1986 nhằm kết tập, bảo tồn, phiên dịch, và xuất bản những trước tác trong di sản Albert Einstein để lại sau khi mất và từ những bộ sưu tập khác. Vào học kỳ mùa Thu năm 2008, trong khóa sinh viên năm nhất có 42% là nữ, đây là con số cao kỷ lục ở Caltech. Cũng trong năm đó, Caltech kết thúc chiến dịch vận động gây quỹ kéo dài sáu năm. Chiến dịch này thu được hơn 1,4 tỉ dô-la từ hơn 16.000 tổ chức và cá nhân. Gần một nửa số tiền đó được dùng để hỗ trợ các chương trình giáo dục và các dự án của Caltech.
1
null
Jacopo Peri (sinh ngày 20 tháng 8 năm 1561 - mất ngày 12 tháng 8 năm 1633) là một nhà soạn nhạc người Ý, ông còn là ca sĩ ở giai đoạn chuyển tiếp giữa thời kỳ Phục hưng và phong cách nghệ thuật Baroque, và thường được cho rằng là đã phát minh ra opera. Sinh ra ở Roma nhưng ông hoạt động ở Florence cùng với Cristofano Malvezzi. Cả hai tiếp tục làm việc tại một số nhà thờ Kitô giáo ở đó với vai trò như là một ca sĩ và là một nghệ sĩ đàn Organ. Ông đã viết tác phẩm đầu tiên là một vở opera mang tên Dafne (khoảng năm 1597), và cũng là vở opera đầu tiên đã tồn tại cho đến ngày nay, thứ hai là Euridice (1600).
1
null
Huy chương Copley là một giải thưởng khoa học do Hội Hoàng gia Luân Đôn trao tặng cho "thành tích xuất sắc trong bất kỳ lĩnh vực nào của khoa học". Được trao hàng năm kể từ 1731 với người nhận giải đầu tiên là Stephen Gray (1666-1736), đây là giải thưởng lâu đời mà Hội Hoàng gia vẫn còn trao, và có lẽ là giải thưởng khoa học lâu đời nhất trên thế giới. Giải thưởng hiện nay là một huy chương bạc mạ vàng cùng với 5000 bảng Anh. Giải thưởng này được trao cho nhiều nhà khoa học nổi tiếng, người Anh cũng như ngoại quốc, bao gồm 52 nhà khoa học được giải Nobel (17 Nobel Vật lý, 21 Nobel Y học, 14 Nobel Hóa học). Dorothy Crowfoot Hodgkin là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất từng nhận giải này.
1
null
Tư tưởng Mao Trạch Đông (Trung văn phồn thể: 毛澤東思想; Trung văn giản thể: 毛泽东思想; âm Hán Việt: Mao Trạch Đông tư tưởng), hay còn gọi là chủ nghĩa Mao (), là kết quả của sự kết hợp lý luận cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin với thực tiễn cụ thể của cách mạng Trung Quốc, là thành quả lý luận trọng đại nhất của quá trình Trung Quốc hoá chủ nghĩa Marx-Lenin . Tư tưởng Mao Trạch Đông là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin tại Trung Quốc, là nguyên tắc lý luận và sự tổng kết kinh nghiệm chính xác đã được thực tiễn chứng minh là thích hợp với cách mạng và kiến thiết Trung Quốc, là kết tinh trí tuệ tập thể của Đảng Cộng sản Trung Quốc . Một số bài viết của Mao Trạch Đông cũng được Nhà Xuất Bản Ngoại Ngữ Bắc Kinh, Trung Quốc dịch ra tiếng Anh và xuất bản thành sách. Nguồn gốc. Lưu Thiếu Kỳ (劉少奇) là người đầu tiên đề xuất khái niệm "tư tưởng Mao Trạch Đông" . Sau khi trở thành nhân vật số hai trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lưu Thiếu Kỳ ngày càng cảm thấy đã đến lúc phải chỉnh lý một cách có hệ thống và toàn diện đường lối của Đảng, tổng kết thành kinh nghiệm đấu tranh và phương pháp tư tưởng. Lưu Thiếu Kỳ đã đặt cho bộ phương pháp này một cái tên thông tục dễ hiểu là "tư tưởng Mao Trạch Đông". Ngày 23 tháng 4 năm 1945, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức ở Đại lễ đường trung ương Dương Gia Lĩnh (楊家嶺), khi đọc "Báo cáo về việc sửa đổi Chương trình Đảng" (关于修改党章的报告), Lưu Thiếu Kỳ đã lần đầu trình bày một cách có hệ thống về "tư tưởng Mao Trạch Đông". Đại hội VII đã thông Chương trình Đảng mới, xác định lấy tư tưởng Mao Trạch Đông tức là tư tưởng thống nhất giữa chủ nghĩa Marx-Lenin với thực tiễn cách mạng Trung Quốc làm kim chỉ nam cho mọi công tác của toàn đảng . Bản thân Mao Trạch Đông lúc đầu không muốn sử dụng khái niệm "tư tưởng Mao Trạch Đông" . Trước khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Mao Trạch Đông đã yêu cầu trong các xuất bản phẩm và văn kiện của Đảng không được dùng cách gọi "tư tưởng Mao Trạch Đông" nữa. Do Mao Trạch Đông nhiều lần phản đối nên Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức quyết định không sử dụng khái niệm tư tưởng Mao Trạch Đông nữa. Ngày 5 tháng 12 năm 1954, Ban Tuyên truyền Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc theo chỉ thị của Ban Thư ký Trung ương Đảng đã ra "Thông tri về việc nên hiểu thế nào về tư tưởng Mao Trạch Đông" (关于毛泽东思想应如何解释的通知) yêu cầu các đảng viên từ nay không dùng cách gọi "tư tưởng Mao Trạch Đông" nữa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức vào tháng 9 năm 1956 đã quyết định thay cách diễn đạt "tư tưởng Mao Trạch Đông" trong Chương trình Đảng bằng "Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm kim chỉ nam cho hành động của mình". Đến đầu niên đại 60 thế kỷ XX Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mới quyết định khôi phục lại cách gọi "tư tưởng Mao Trạch Đông". Năm 1982, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Trung Quốc lại đưa tư tưởng Mao Trạch Đông vào trong Chương trình Đảng, xác định rõ: "Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho hành động của mình". Tháng 4 năm 1969, Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, một khối lượng lớn văn kiện cần phải được phiên dịch sang tiếng nước ngoài. Trong quá trình phiên dịch phát sinh một vấn đề là cách dịch nào thì chuẩn và hay cho tên gọi "tư tưởng Mao Trạch Đông" bởi vì từ "tư tưởng" trong ngoại văn có nhiều phương thức lý giải và biểu đạt khác nhau, có người còn chủ trương dịch thành "Maoism". Người có trách nhiệm dịch thuật xin ý tưởng thủ tướng Chu Ân Lai, thủ tướng Chu Ân Lai lại đi xin ý kiến Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông sau khi xem xét đã chọn cách dịch "Mao Zedong Thought", không dùng những cách dịch như "Mao Zedong Idea" hay "Maoism".. Ở bên ngoài Trung Quốc đại lục tư tưởng Mao Trạch Đông có thể bị đồng nhất và dùng lẫn lộn với "chủ nghĩa Mao". Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc chưa từng chính thức sử dụng tên gọi "chủ nghĩa Mao" làm tên gọi khác của tư tưởng Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông không hề đề xuất hệ thống giá trị độc lập của riêng mình, Mao Trạch Đông chỉ đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, luôn phản đối chủ nghĩa Xét lại. Nhiều người cho rằng Mao Trạch Đông có quan niệm tương đối sâu về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa dân tuý nhưng tư tưởng Mao Trạch Đông không bao gồm những nguyên tố đó. Chủ nghĩa Mao là thể hỗn hợp của các nguyên tố đó. Nhận xét. Theo Tô Duy Hợp, Giám đốc Trung tâm Khoa học Tư duy ở Hà Nội thì: Nhà phê bình Lại Nguyên Ân góp ý về Chủ thuyết Mao và văn nghệ là: Ngay việc kiểm soát báo chí tại Á châu cũng là di sản của tư tưởng Mao.
1
null
Huân tước Roger Penrose (sinh 8 tháng 8 năm 1931), là một nhà vật lý toán, toán học thường thức và triết học người Anh. Ông hiện là Giáo sư Rouse Ball Toán học danh dự tại Viện Toán học của Đại học Oxford, thành viên danh dự của Đại học Wadham, Oxford; là thành viên danh dự của Đại học St John's, Đại học Cambridge và Đại học London (UCL). Ông là thành viên của Hội Hoàng gia Luân Đôn. Penrose nổi tiếng trên thế giới với các công trình nghiên cứu về vật lý toán, đặc biệt là những đóng góp của ông đối với thuyết tương đối tổng quát và vũ trụ học. Ông nhận nhiều giải thưởng lớn, bao gồm Giải Wolf năm 1988 cùng với Stephen Hawking. Năm 2020, Roger Penrose được trao giải Nobel Vật lý 2020 cho chứng minh sự hình thành của lỗ đen là một hệ quả tất yếu của thuyết tương đối tổng quát và Andrea M. Ghez cùng với nhà vật lý thiên văn Reinhard Genzel được trao giải Nobel Vật lý cho khám phá ra lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm Ngân Hà.
1
null
Thomas Ravenscroft (trước 1582 hoặc 1592-1635) là một nhạc sĩ, nhà lý thuyết âm nhạc và là một biên tập viên người Anh đóng góp nhiều cho phong cách "Nhạc dân gian". Cuộc sống ở những giai đoạn đầu của ông rất ít được biết đến. Năm 1594, Ông được lựa chọn tham gia hát hợp xướng trong nhà thờ Thánh Paul và ở đó cho đến năm 1600 dưới sự đạo của Thomas Giles. Ông có thể đã từng được nhận bằng cử nhân năm 1605 từ Cambridge. Các tác phẩm của ông gồm 3 bộ sưu tập là "Pammelia" (1609), "Deuteromelia or The Seconde Part of Musicks Melodie" (1609) và "Melismata" (1611). Ông đã sáng tác 4 fantasia cho đàn viol. Ngoài ra ông còn viết hai luận án về lý thuyết âm nhạc, thứ nhất là "A Briefe Discourse of the True" (xuất bản tại Luân Đôn năm 1614) và "A Treatise of Musick" (chưa được xuất bản).
1
null
Tegernsee là một thị trấn thuộc Miesbach (huyện), bang Bayern, Đức. Nó nằm bên hồ Tegernsee, độ cao là 747 m (2,451 ft.) trên mặt biển. Thị trấn này khởi đầu từ tu viện Tegernsee được xây vào năm 746. Ngày nay, nó là một nơi nghỉ mát, được bao quanh bởi đồi núi. Về kinh tế Tegernsee phần lớn sống nhờ du lịch. Tegernsee nằm trên quốc lộ B307, chạy từ Gmund am Tegernsee tới đập Sylvenstein. Nó cũng là trạm cuối của tuyến đường xe lửa Tegernsee-Bahn. Địa lý. Tegernsee nằm ở phía Đông hồ Tegernsee, cạnh xã Gmund am Tegernsee và Hausham về phía Bắc, Schliersee về phía Đông và Rottach-Egern về phía Nam. Nó cách thủ đô bang Bayern Munich khoảng về phía Bắc, và bang Tyrol khoảng về phía Nam. Suối Alpbach (Tegernsee), chạy ngang trung tâm của Tegernsee. Sông Rottach (Tegernsee) chảy một phần dọc theo ranh giới giữa 2 xã Tegernsee và Rottach-Egern. Ngọn núi Baumgartenschneid, cao 1448m, nằm gần thị trấn. Theo cuộc điều tra dân số vào năm 2010, Tegernsee có 3.889 dân cư, trong đó 1.672 là nam and 2.217 nữ. Thị trấn thân hữu. Thị xã Tegernsee 2006 kết bạn với thị trấn Dürnstein ở bang Niederösterreich, Áo. Lịch sử. Vào giữa thế kỷ thứ 8 – theo truyền thuyết vào năm 746 – anh em Adalbert và Ottokar lập nên tu viện Kloster Tegernsee, cho tới khi bị quốc hữu hóa vào năm 1803 được nhà dòng Benediktiner cai quản. Địa điểm này phát triển thành nơi cư trú của những người đi tu và nơi trồng trọt của tu viện. Khi tu viện được vua Bayern Maximilian I của Bayern lấy và trở thành một lâu đài, làng này trở thành nơi nghỉ mát. Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Tegernsee cũng như cả vùng chung quanh lôi cuốn các nghệ sĩ tới ở. Dưới thời Hitler thung lũng Tegernseer Tal được cán cán bộ cao cấp ưa chuộng, vì thế còn được gọi là "Lago di Bonzo" (từ chữ Bonze). Vào cuối Thế chiến thứ hai các khách sạn của thị trấn được dùng làm nhà thương. Khoảng 12 ngàn người bị thương và các người di tản dân sự được đưa tới đây cư trú.
1
null
JFK là một bộ phim điều tra vụ án chính trị của Mỹ công chiếu năm 1991 của đạo diễn Oliver Stone. Bộ phim nói về các sự kiện dẫn đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy (viết tắt JFK), các sự kiện trong phim tố cáo sự che đậy vụ ám sát JFK qua con mắt của cựu Công tố viện Quận New Orleans: Jim Garrison (Kevin Costner). Garrison đệ đơn cáo buộc chống lại doanh nhân New Orleans: Clay Shaw (Tommy Lee Jones) cho sự tham gia của ông trong một âm mưu ám sát Tổng thống, mà Lee Harvey Oswald (Gary Oldman) đã được cho là thủ phạm sau hai cuộc điều tra của chính phủ: Ủy ban Warren, và Hạ viện Hoa kỳ về vụ ám sát (trong đó kết luận rằng thủ phạm bắn súng có tên Oswald). Bộ phim được chuyển thể bởi Stone và Zachary Sklar từ hai cuốn sách "Trên đường mòn của các sát thủ" của Jim Garrison và Crossfire; "Âm mưu giết Kennedy" của Jim Marrs. Stone mô tả trong nội dung phim này như là một "phi huyền thoại" đến "huyền thoại hư cấu" của Ủy ban điều tra Warren. Bộ phim đã trở nên đề tài gây tranh cãi. Sau buổi ra mắt phim "JFK", nhiều tờ báo lớn của Mỹ đăng bài xã luận cáo buộc Stone đã bóp méo sự kiện lịch sử, bao gồm cả giả thuyết Tổng thống Lyndon B. Johnson là một phần của một cuộc đảo chính giết Kennedy. Bất chấp những tranh cãi xung quanh việc miêu tả lịch sử của nó, "JFK" đã nhận được lời khen ngợi từ diễn xuất, chỉ đạo, nhạc phim, biên tập và kỹ thuật quay phim. Sau một khởi đầu chậm chạp tại các rạp chiếu, bộ phim dần dần trở nên ăn khách và đã thu về hơn $ 205,000,000 tại các phòng vé trên toàn cầu. "JFK" được đề cử tám giải Oscar (bao gồm Phim hay nhất) và giành được hai giải: Quay phim xuất sắc nhất và Biên tập phim xuất sắc nhất. Đây là bộ phim thành công nhất trong bộ ba phim của đạo diễn Oliver Stone thực hiện về các Tổng thống Mỹ, sau đó là Nixon với Anthony Hopkins trong vai chính và phim W. với Josh Brolin vai George W. Bush. Nội dung. Bộ phim mở đầu bằng bài diễn văn kết thúc nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ sắp mãn nhiệm Dwight D. Eisenhower, trong đó ông cảnh báo về việc xây dựng các khu công nghiệp - căn cứ quân sự và hiểm họa từ những cuộc xung đột vũ trang xảy ra trên khắp thế giới. Người kế vị Tổng thống Mỹ - John F. Kennedy, đã có nhiều chính sách gây tranh cãi liên quan đến Chiến tranh Việt Nam và Khủng hoảng tên lửa Cuba, điều này đã gây ra nhiều tranh luận xung quanh ông, trong đó họ cho rằng ông đã có chiều hướng ngả dần về phía Cộng sản. Ngày 22 tháng 11 năm 1963, ông bị ám sát tại Dallas, gây chấn động giới chính trị toàn nước Mỹ. Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson kế vị, trở thành Tổng thống thứ 36 của Mỹ. Bộ phim theo chân Jim Garrison, một Công tố Quận New Orleans, và cuộc điều tra của ông xoay quanh việc tìm ra chân tướng vụ ám sát Tổng thống Kennedy. Trong một lần xem tin tức, ông phát hiện ra có uẩn khúc với tình nghi Lee Harvey Oswald, lúc này anh ta đang bị bắt vì tội giết chết một viên cảnh sát vùng Dallas là J.D.Tippit. Bất ngờ thay, một người tên Jack Ruby đã giết chết Lee trong sự bàng hoàng của mọi người và truyền thông. Jim cùng các cộng sự sau đó đã điều tra các mối liên kết tại New Orleans liên quan đến vụ ám sát Tổng thống, bao gồm cả một phi công tư nhân tên David Ferrie. Tuy nhiên, cuộc điều tra bị cản trở bởi Chính phủ Liên Bang và Jim cùng các cộng sự buộc phải dừng lại. Năm 1966, Jim đọc Bản báo cáo của Ủy ban Warren và phát hiện ra điều bất thường. Ông cùng các nhân viên của mình đã tiến hành mở cuộc điều tra trở lại. Ông cho thẩm vấn những người có liên quan đến Oswald và Ferrie, trong đó có Willie O'Keefe - một trai bao đang chịu án 5 năm tù giam vì tội mại dâm. Willie khai rằng anh ta đã chứng kiến cảnh Ferrie bàn bạc về việc ám sát Tổng thống, đồng thời anh ta cũng từng gặp Oswald trong một thời gian ngắn, và có quan hệ tình cảm với một người đàn ông tên là "Clay Bertrand". Jim cùng cộng sự sau đó đưa ra giả thuyết Oswald là một đặc vụ của Cơ quan Tình báo CIA và bị buộc tội cho vụ ám sát. Năm 1967, Jim và nhóm của ông nói chuyện với một số nhân chứng về vụ ám sát Kennedy, bao gồm Jean Hill , một giáo viên. Cô nói rằng đã chứng kiến ​​một tay súng bắn từ bãi cỏ, rằng Sở Mật vụ đã đe dọa cô, ép cô khai rằng ba phát súng đến từ kho lưu trữ sách, đồng thời lời khai của cô đã bị Ủy ban Warren sửa đổi. Một cộng sự của Jim cũng bắn thử một khẩu súng trường rỗng từ Kho lưu trữ Sách của Trường học Texas. Từ đó, họ suy luận Oswald được cho là đã bắn Kennedy, đồng thời họ cũng kết luận rằng Oswald quá kém để thực hiện những phát bắn đó, cho thấy có hơn một tay súng đã tham gia vụ ám sát. Jim tin rằng Clay Shaw - một doanh nhân thành đạt hiện đang sinh sống tại New Orleans là Clay Bertrand. Khi Clay bị thẩm vấn, ông ta phủ nhận mọi chứng cứ về việc gặp Ferrie, O'Keefe hay Oswald. Cuộc điều tra trở nên gặp khó khăn khi một số nhân chứng quan trọng tỏ ra sợ hãi và từ chối làm chứng, trong khi những nhân chứng khác như Ruby và Ferrie, bị thủ tiêu một cách đáng ngờ. Trước khi chết, Ferrie nói với Jim rằng bản thân mình đang bị săn đuổi, và tiết lộ rằng thực sự có một âm mưu giết Tổng thống Kennedy. Jim gặp một nhân vật cấp cao ở Washington DC, người tự nhận mình là "X". X gợi ý rằng đã có một cuộc đảo chính ngầm ở những nhân vật cấp cao trong Chính phủ, liên quan đến các thành viên của CIA , Mafia , lãnh đạo các khu tổ hợp công nghiệp-quân sự, Sở Mật vụ , FBI. Tổng thống đương thời Lyndon B. Johnson cũng bị cho là đồng phạm hoặc có động cơ che đậy sự thật của vụ ám sát. X cho rằng Kennedy bị giết vì bản thân ông muốn kéo nước Mỹ ra khỏi Chiến tranh Việt Nam và loại bỏ vai trò của CIA. X khuyến khích Jim tiếp tục điều tra và truy tố Clay Shaw. Clay Shaw sớm bị buộc tội âm mưu ám sát Tổng thống. Một số nhân viên của Jim bắt đầu trở nên chán nản và dần rút lui khỏi cuộc điều tra. Cuộc hôn nhân của Jim cũng dần trở nên căng thẳng khi vợ ông, Liz phàn nàn rằng ông dành nhiều thời gian cho vụ án hơn là cho gia đình của mình. Sau một cuộc điện thoại nặc danh ác ý với con gái của mình, Liz cáo buộc Jim là kẻ ích kỷ và cố tình chèn ép Clay Shaw chỉ vì ông ta là người đồng tính. Ngoài ra, các phương tiện truyền thông liên tục công kích, chỉ trích Jim vì các cuộc điều tra của ông đã làm lãng phí tiền thuế của nhân dân. Jim nghi ngờ vụ ám sát Martin Luther King Jr. và vụ ám sát Robert F. Kennedy có liên quan đến nhau. Phiên tòa xét xử Clay Shaw diễn ra vào năm 1969. Jim Garrison trình bày trước tòa về việc bác bỏ "lý thuyết viên đạn ma thuật", đồng thời ông đề ra giả thuyết đã có ba kẻ tham gia vụ ám sát và đã bắn sáu phát súng, sau đó chúng đã đổ cho Oswald về tội giết Kennedy và Tippit. Tuy nhiên, bồi thẩm đoàn đã tuyên trắng án cho Clay Shaw sau chưa đầy một tiếng đồng hồ. Các thành viên của bồi thẩm đoàn tuyên bố công khai rằng họ tin thực sự đã có một âm mưu đằng sau vụ ám sát, nhưng không đủ bằng chứng để liên kết Shaw với âm mưu đó. Bộ phim kết thúc với những dòng chú thích ghi lại rằng vào năm 1979, Richard Helms, Giám đốc Điều hành CIA năm 1963, thừa nhận Clay Shaw làm việc cho CIA. Clay Shaw qua đời năm 1974 vì bệnh ung thư phổi. Đến năm 1978, Jim Garrison được bầu làm Thẩm phán của Tòa án thẩm phán Louisiana tại New Orleans. Ông tái đắc cử vào năm 1988. Cho đến nay, ông vẫn là người duy nhất theo đuổi vụ ám sát Tổng thống Kennedy. Ủy ban điều tra Quốc hội từ năm 1976 đến năm 1979 tìm thấy một "âm mưu có thể xảy ra" trong vụ ám sát John F. Kennedy và đề nghị Bộ Tư Pháp tiến hành điều tra thêm. Nhưng đến năm 1991, Bộ Tư Pháp vẫn không tiến hành điều tra. Hồ sơ của Ủy ban điều tra vụ ám sát Kennedy bị khóa lại đến năm 2029. FACT: Sau bộ phim này, năm 1992 Quốc hội thông qua luật chỉ định một ban hội thẩm để xem xét tất cả hồ sơ, từ những gì còn lại, và làm rõ cho công chúng Mỹ được biết. Các diễn viên. Donald Sutherland vai X, một đại tá trong Lực lượng Không quân Hoa Kỳ, tác giả, chủ ngân hàng, và chỉ trích chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt là các hoạt động của CIA.
1
null
Bayrischzell là một xã thuộc Miesbach (huyện) của bang Bayern, Đức. Địa lý. Bayrischzell nằm ở dãy núi Mangfall giữa thị xã Schliersee ở phía Tây và xã Oberaudorf ở phía Đông. Làng này nằm dưới chân ngọn núi Wendelstein, nằm về phía Đông Nam của Miesbach cách đó 23 km, 25 km Tây Bắc của Kufstein và 20 km phía Tây của Oberaudorf. Ortsteile. Xã Bayrischzell có 15 làng có tên chính thức: Thể thao và giải trí. Làng Sudelfeld có 19 giây kéo và khoảng 31 km đường đi ski alpine, là một trong những khu đi ski có tiếng tại vùng Bayrischer Alpen và cũng là vùng đi ski lớn nhất ở Đức. Từ năm 1970 có xe cáp chạy từ Bayrischzell-Osterhofen lên ngọn núi Wendelstein. Khu đi ski Wendelstein với khoảng 10 km đường dành cho những người đi giỏi. Trung tâm đi trượt tuyết vượt đồng. Vào mùa đông có khoảng 96 km đường đi cho những người chơi trượt tuyết vượt đồng. Vào mùa hè thì có khoảng 28 km đường nordic walking. Ngoài ra còn có một hồ bơi ngoài trời có lò sưởi, sân chơi tennis và nơi chơi Minigolf và mùa đông có sân chơi trượt băng và chỗ chơi Eisstock (ice stock).
1
null
Rain Man là một bộ phim tâm lý Mỹ của đạo diễn Barry Levinson. Được công chiếu vào năm 1988, phim kể câu chuyện về Charlie Babbit, một cậu thanh niên ích kỷ, hẹp hòi và người anh trai mắc chứng tự kỷ Raymond, người mà Charlie trước nay chưa hề biết. Trong phim, Dustin Hoffman thủ vai Raymond Babbit, vai diễn được xây dựng dựa theo Kim Peek. Tom Cruise đóng vại cậu em trai Charlie, Valeria Golino vai cô bạn gái Susanna. "Rain Man" đã nhận được phản hồi rất tốt từ giới phê bình và công chúng khi phim mới ra mắt, chủ yếu về vai diễn độc đáo của Hoffman và kịch bản hấp dẫn, cuốn hút. Phim giành được bốn giải Oscar vào lễ trao giải lần thứ 61,(năm 1989) bao gồm phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, kịch bản gốc xuất sắc nhất và nam diễn viên chính xuất sắc nhất (cho Hoffman). Ngoài ra phim còn đoạt giải Gấu Vàng tại liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 39. Nội dung. Charlie Babbit (Tom Cruise) là một anh chàng chuyên bán ô tô tại Los Angeles. Anh đang có một vụ nhập bốn chiếc Lamborghini. Tuy nhiên, nếu những chiếc xe không đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường, EPA sẽ ngăn cản việc nhập xe, và anh sẽ bị mất một số tiền rất lớn. Trong chuyến đi nghỉ cuối tuần với cô bạn gái Susanna (Valeria Golino), Charlie bất ngờ nhận được tin cha mình qua đời. Đến Cincinnati, Ohio để giải quyết các vấn đề về thừa kế, anh bàng hoàng nhận ra rằng bố chỉ để lại cho mình chiếc Buick Roadmaster cổ lỗ đời 1949 và vài bụi hồng mà ông trồng trước nhà. Toàn bộ phần tài sản còn lại, trị giá 3 triệu đôla, sẽ được chuyển đến viện tâm thần cho một người nhận giấu tên. Cuối cùng, Charlie đã khám phá ra rằng người nhận là Raymond, người anh trai mà trước đây anh chưa hề nghe nói tới. Điều này làm anh đặt ra một câu hỏi xuyên suốt cả bộ phim: "Sao không ai nói cho tôi biết tôi có anh trai?" ("Why didn't somebody tell me I had a brother?"). Raymond bị mắc chứng tự kỷ, tuy nhiên lại có một trí nhớ phi thường, mặc dù anh thường chẳng hiểu gì về những thứ mình nhớ được. Anh cũng có khả năng tính toán siêu phàm - có thể đếm hàng trăm vật nhỏ cùng lúc và làm được những phép tính vô cùng lớn chỉ trong vài giây. Tuy nhiên, Raymond rất sợ thay đổi và luôn luôn sinh hoạt theo một thời gian biểu cứng nhắc, kể cả các hoạt động cũng phải lặp đi lặp lại, như ăn cùng một thứ đồ ăn, nhắc lại đúng một câu trong tiết mục hài (mặc dù không hiểu gì). Thông thường, anh rất nhút nhát và ngại tiếp xúc với mọi người, nhưng khi bị căng thẳng có thể có những hành động bất thường rất khó kiểm soát. Quyết định phải giành lại số tiền mà anh nghĩ mình xứng đáng được hưởng, Charlie đưa Raymond đi xuyên Mỹ bằng xe hơi (vì Raymond sợ đi máy bay) đến Los Angeles để gặp luật sư. Anh dự định ép bác sĩ Bruner (Jerry Molen) nhường nửa phần thừa kế cho mình để giành quyền giám hộ Raymond. Cảm thấy ghê tởm trước hành động vụ lợi này, Susanna đã rời Cincinati, bỏ lại hai anh em. Trong chuyến đi, Charlie hiểu thêm về tình trạng của anh trai mình. Lúc đầu, chứng tự kỷ của Raymond gây cho cả hai người không ít khó khăn và bực bội. Charlie cũng biết được lý do tại sao Raymond không được sống cùng với gia đình mà bị chuyển vào viện tâm thần khi em trai vẫn còn rất nhỏ - vì một tai nạn mà Raymond đã gây ra cho em. Khi Raymond hát bài "I Saw Her Standing There" của "The Beatles", Charlie mới đột ngột nhớ ra Raymond chính là người bạn thời thơ ấu "Rain Man" mà mình luôn nghĩ chỉ là nhân vật trong tưởng tượng. Vụ nhập ô tô không thành, Charlie mắc nợ một khoản tiền khá lớn. Để có tiền trả nợ, anh đã đưa Raymond đến Las Vegas và thắng đậm nhờ tài đếm bài của Raymond. Ở bên Raymond, Charlie càng ngày càng thấy thương cảm, yêu quý người anh trai của mình, và thấy cần phải bảo vệ anh. Khi gặp luật sư, Charlie đã tỏ ra không hề quan tâm tới số tiền mà chỉ muốn giành quyền chăm sóc Raymond. Tuy nhiên, Raymond lại không thể quyết định được mình muốn về Cincinnati hay muốn ở lại Los Angeles. Anh càng trở nên căng thẳng khi bị bắt ép trả lời. Trước tình hình đó, Charlie đã quyết định đưa anh trai trở lại viện tâm thần. Phim được khép lại khi hai anh em chia tay nhau tại ga xe lửa, và Charlie hứa sẽ đến Ohio thăm Raymond. Đánh giá và giải thưởng. Nhìn chung, "Rain Man" nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. Trên trang web Rotten Tomatoes, phim có điểm số 7.9/10 và 90% đánh giá tốt. Trong lễ trao giải Oscar lần thứ 61 (năm 1989), "Rain Man" đã giành được bốn giải Oscar dành cho phim hay nhất, nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Dustin Hoffman), đạo diễn xuất sắc nhất và kịch bản gốc xuất sắc nhất. Ngoài ra, phim còn được đề cử bốn giải Oscar khác: chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất, quay phim xuất sắc nhất, biên tập xuất sắc nhất và nhạc phim hay nhất. Cũng trong năm 1989, phim giành giải Gấu vàng tại Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 39.
1
null
Henry William Dalgliesh Cavill (; sinh ngày 5 tháng 5 năm 1983) là một diễn viên người Anh. Anh được biết đến với vai diễn Charles Brandon trong "The Tudors" (2007–2010) của Showtime, nhân vật Siêu Nhân của DC Comics trong Vũ trụ Mở rộng DC, Geralt of Rivia trong loạt phim giả tưởng "The Witcher" (2019–nay) của Netflix, cũng như Sherlock Holmes trong phim "Enola Holmes" của Netflix (2020). Cavill bắt đầu sự nghiệp của mình với các vai diễn trong các bộ phim chuyển thể "The Count of Monte Cristo" (2002) và "I Capture the Castle" (2003). Sau đó, anh đóng các vai phụ trong một số phim truyền hình, bao gồm "The Inspector Lynley Mysteries" của BBC, "Midsomer Murders" của ITV và "The Tudors" của Showtime . Anh ấy đã xuất hiện trong các bộ phim studio khác, chẳng hạn như "Tristan & Isolde" (2006), "Stardust" (2007), "Immortals" (2011) và "Sand Castle" (2017). Cavill đã được quốc tế công nhận với vai diễn Siêu nhân trong các phim siêu anh hùng của Vũ trụ Mở rộng DC "Man of Steel" (2013), ' (2016), "Justice League" (2017) và "Zack Snyder's Justice League" (2021). Anh cũng đóng vai chính trong các bộ phim điệp viên "The Man from U.N.C.L.E." (2015) và ' (2018). Đầu đời. Cavill chào đời ở đảo Jersey thuộc Quần đảo Eo biển, là người thứ tư trong năm người con trai. Mẹ anh, Marianne, làm thư ký ở một ngân hàng, và cha anh, Colin, là một nhà môi giới chứng khoán. Anh được giáo dục tại trường St. Michael's ở Saint Saviour, Jersey trước khi vào trường Stowe, một trường nội trú ở Stowe, nước Anh. Anh bắt đầu việc diễn xuất qua các vở kịch ở trường và từng nói rằng nếu không trở thành diễn viên, anh sẽ gia nhập quân đội hoặc vào đại học để học về lịch sử cổ đại, cụ thể là Ai Cập học. Trong thời gian ở Stowe, Cavill được dịp gặp gỡ nam diễn viên Russell Crowe. Crowe đến ngôi trường để quay những cảnh của bộ phim "Proof of Life". Cavill lúc đó được đóng vai phụ, và nhân cơ hội để nhờ Crowe cho lời khuyên về sự nghiệp diễn xuất. Sau này, Cavill và Crowe đã làm việc chung trong bộ phim "Man of Steel". Đời tư. Ngày 4 tháng 5 năm 2011, bạn gái của anh, một vận động viên cưỡi ngựa vượt chướng ngại vật có tên Ellen Whitaker, công bố tin hai người đã đính hôn. Ngày 18 tháng 8 năm 2012, cặp đôi đã chia tay. Cavill bắt đầu hẹn hò với nữ diễn viên và cựu nghệ sĩ võ thuật người Mỹ Gina Carano từ tháng 9 năm 2012. Tháng 7 năm 2013, Cavill hẹn hò với nữ diễn viên Kaley Cuoco và chia tay nhau chỉ ít tuần sau đó. Trong một lần phỏng vấn với TV Guide và một bài báo mạng bởi Daily Record, Cavill chia sẻ anh từng bị bắt nạt vì quá béo khi còn nhỏ. Tuy nhiên, Cavill cho biết mình không để bụng về những kẻ bắt nạt đó.
1
null
Numerianus (; ? – 284) là Hoàng đế La Mã từ năm 282 đến 284 với người anh trai Carinus. Cả hai đều là con của Carus, một viên tướng được thăng lên chức Pháp quan thái thú ("Praetorian prefect") dưới thời Hoàng đế Probus vào năm 282. Triều đại. Năm 282, các quân đoàn lê dương vùng thượng nguồn sông Danube ở Raetia và Noricum đã tôn cha của Numerianus là Pháp quan thái thú Marcus Aurelius Carus làm Hoàng đế, bắt đầu một cuộc nổi loạn chống lại Hoàng đế Probus. Quân của Probus đang đóng tại Sirmium (Sremska Mitrovica, Serbia) đã quyết định họ không muốn chiến đấu với Carus mà thay vào đó ra tay ám sát Probus. Carus lúc này đã sáu mươi tuổi muốn thiết lập một triều đại bèn phong cho Carinus và Numerianus làm "Ceasar". Năm 283, Carus để Carinus ở lại phụ trách phía Tây và di chuyển với Numerianus và viên Pháp quan thái thú Arrius Aper về phía Đông để tiến hành chiến tranh chống lại Đế quốc Sassanid. Người Sassanid đã bị lôi kéo vào một vụ tranh chấp liên tiếp kể từ sau khi Shapur qua đời và ở thế bị động trước bước tiến công của Carus. Theo Zonaras, Eutropius và Festus cho biết thì Carus đã giành đại thắng chống lại quân Ba Tư, tiến binh chiếm được Seleucia và thủ đô Ctesiphon của người Sassanid (gần khu vực nay là Al-Mada'in, Iraq) cùng các thành phố trên bờ đối diện sông Tigris. Trong lễ kỷ niệm, Numerianus, Carus và Carinus đều đoạt hết tước hiệu "Persici maximi" của Ba Tư. Ít lâu sau thì Carus đột nhiên mất vào tháng 7 hoặc đầu tháng 8 năm 283, có tin đồn ông bị sét đánh trúng. Đồng Hoàng đế. Cái chết của Carus để lại Numerianus và Carinus cùng làm "Augusti" mới. Carinus nhanh chóng khởi hành từ Gaul tới Roma, cuối cùng cũng đến kịp lúc vào tháng 1 năm 284, trong khi Numerianus vẫn còn nấn ná ở phía Đông. Quân đội La Mã rút khỏi Ba Tư một cách trật tự và chẳng gặp phải bất cứ sự kháng cự nào, cũng vì vua Ba Tư là Bahram II vẫn còn đang bận việc tranh đấu để thâu tóm quyền hành từ tay các phe nhóm soán đoạt khác. Đến tháng 3 năm 284, Numerianus chỉ tới được Emesa (nay là Homs) ở Syria; sang tháng 11, mới đến được Tiểu Á. Ở Emesa dường như ông vẫn còn sống và có sức khỏe tốt, cũng như ban bố các huấn lệnh còn tồn tại chỉ mang tên mình ở đó. Những đồng tiền xu được phát hành đều mang tên ông ở Cyzicus được một thời gian trước khi kết thúc năm 284, nhưng thật khó mà biết được liệu ông vẫn còn trong mắt công chúng tại thời điểm đó. Kể từ sau hành trình tới Emesa, đoàn tùy tùng của Numerianus trong đó có viên thái thú Aper đã kể lại rằng Hoàng đế bị chứng viêm mắt và buộc phải di chuyển trên một cỗ xe tứ mã che kín. Khi đoàn quân vừa tới Bithynia, một số binh sĩ của Numerianus chợt ngửi thấy mùi giống như là có xác chết đang phân hủy bốc ra từ cỗ xe tứ mã. Họ vội tiến lại gần mở rèm cửa và phát hiện Numerianus đã chết từ đời nào. Sau khi qua đời. Aper chính thức loan báo những tin tức về cái chết của Numerianus ở Nicomedia (İzmit) vào tháng 11 năm 284. Các tướng lĩnh và bảo dân quan của Numerianus bèn cho mở một hội đồng để bầu chọn người kế vị ngôi Hoàng đế. Sau một hồi bàn luận cuối cùng hội đồng đã quyết định chọn Diocletianus nguyên là chỉ huy cánh kị binh trong đội Cấm vệ quân làm Hoàng đế La Mã. Bất chấp những nỗ lực của Aper để tìm kiếm sự ủng hộ. Quân đội phía Đông tập trung trên một ngọn đồi bên ngoài Nicomedia và nhất trí chào đón vị "Augustus" mới của họ. Ban đầu Diocletianus cứ một mực từ chối, rồi sau cùng do quần thần cố nài ép thì ông mới chịu chấp nhận bộ hoàng bào màu tím và rút thanh gươm dưới ánh sáng mặt trời, tuyên thệ mình vô can về cái chết của Numerianus. Thay vào đó ông đổ tội cho Aper đã giết chết Numerianus và cố che giấu hành vi mưu phản này. Trước ánh mắt theo dõi của toàn thể binh lính, Diocletianus đã mau chóng rút gươm và đâm chết Aper ngay lập tức. Nguyên nhân cái chết của Numerianus cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tính cách. Dựa theo nguồn sử liệu không xác thực "Historia Augusta" cho biết Numerianus là một văn nhân uyên bác, hòa đồng, tử tế và nổi tiếng về tài hùng biện và làm thơ tuyệt vời. Tuy nhiên, chẳng có nguồn tài liệu nào đề cập bất cứ điều gì về tính cách của ông.
1
null
Carinus (; ? – 285) là Hoàng đế La Mã từ năm 282 đến 285. Là trưởng nam của Hoàng đế Carus và anh của Hoàng đế Numerianus, ông được cha mình bổ nhiệm là "Caesar" và đồng Hoàng đế nửa phần phía tây của Đế quốc La Mã sau khi kế vị ngôi báu. Những tài liệu chính thức về tên tuổi và binh nghiệp của ông mới được tiết lộ qua lời tuyên truyền có phần bôi bác từ kình địch Diocletianus. Triều đại. Carinus đã thành công khi tiến hành thảo phạt các bộ lạc Quadi gốc German, nhưng ngay sau đó đã giao việc phòng thủ vùng thượng sông Danube cho viên trấn thủ của mình rồi vội vàng quay trở về Roma, mà theo các nguồn tài liệu còn lại có phần phỉ báng ông và khẳng định rằng Hoàng đế chỉ mãi lo ăn chơi trác táng quá độ mà bỏ bê chính sự. Một điều chắc chắn là Carinus đã tổ chức lễ "Ludi Romani" hàng năm với quy mô tráng lệ xa hoa xưa nay chưa từng có. Sau cái chết của Carus, quân đội ở phía đông đòi quay trở về châu Âu dẫn đến việc Numerianus, con út của Carus đã buộc phải tuân theo vì sợ quân đội nổi loạn gây nguy hiểm đến tính mạng. Trong thời gian dừng chân tại Chalcedon thì đột nhiên binh lính phát hiện ra Numerianus đã chết bất đắc kỳ tử. Diocletianus lúc này là chỉ huy đội vệ binh tuyên bố rằng Numerianus đã bị thuộc hạ của mình ám sát và nghiễm nhiên được quân sĩ tôn lên làm Hoàng đế. Carinus dẫn đại quân rời khỏi Roma cùng một lúc và ban đầu đến phía đông chỉ định hội kiến Diocletianus. Trên đường hành quân qua Pannonia ông còn ra tay triệt hạ kẻ tiếm ngôi Sabinus Iulianus và bất chợt đụng phải quân của Diocletianus ở Moesia. Cái chết. Carinus đã thành công trong nhiều trận giao tranh. Trong trận sông Margus (Morava), theo một tài liệu cho biết chính nhờ sự dũng cảm mà quân của Hoàng đế đã trụ vững ngay trong ngày đầu giao chiến, giữa lúc chuẩn bị tiến công áp đảo quân đối phương thì Carinus lại bị một viên hộ dân quan hộ tống ra tay ám sát cũng do ông đã quyến rũ vợ của người này khiến anh ta tức giận mà trả thù. Một nguồn tài liệu khác thì cho rằng cuộc chiến kết thúc với phần thắng lợi hoàn toàn về phía quân của Diocletianus và quân của Carinus đã bỏ rơi ông ngay lập tức. Tài liệu này còn xác nhận bởi thực tế là Diocletianus đã quy hàng được viên chỉ huy quân Cấm vệ (Praetorian Guard) dưới trướng Carinus là Titus Claudius Aurelius Aristobulus khiến đại quân Carinus tan vỡ nhanh chóng tạo điều kiện thuận lợi cho Diocletianus giành đại thắng. Danh tiếng. Carinus nổi danh là một trong những Hoàng đế La Mã tệ nhất. Điều ô nhục cũng có thể là do chính Diocletianus thổi phồng lên. Ví dụ như theo bộ sử "Historia Augusta" (không đáng tin cậy) thì Carinus đã kết hôn với chín người vợ, trong khi bỏ qua việc đề cập đến người vợ thực sự duy nhất của ông là Magnia Urbica có với ông một đứa con trai là Marcus Aurelius Nigrinianus. Sau khi ông chết, Diocletianus ra lệnh đem ra bêu rếu sự tưởng niệm về Carinus và tên của ông cùng vợ đã bị xóa khỏi bản khắc. Liên kết ngoài. hohoho
1
null
Carus (; 224 – 283), là Hoàng đế La Mã từ năm 282 đến 283. Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi của mình, Carus đã thành công khi tiến hành thảo phạt các bộ tộc hung tợn German và người Sarmatia dọc theo biên giới sông Danube để củng cố cương thổ của Đế quốc trước hiểm họa ngoại xâm. Trong các chiến dịch chống lại Đế quốc Sassanid, ông đã dẫn quân cướp phá thủ đô Ctesiphon của người Ba Tư nhưng chinh chiến chưa được bao lâu thì mất ngay sau đó. Cả hai người con là Carinus và Numerianus đều kế vị ông và lập ra một triều đại mới dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhằm góp phần ổn định hơn nữa cho một Đế quốc La Mã đang dần hồi sinh. Triều đại. Carus mà tên của ông trước khi lên ngôi có thể là Marcus Numerius Carus, sinh ra tại Narbo (nay là Narbonne) ở Gaul nhưng được gia đình gửi lên học ở Roma. Lúc đầu ông chỉ là một Nguyên lão nghị viên và từng giữ các chức vụ dân sự và quân sự trước khi được Hoàng đế Probus bổ nhiệm chức Thống lĩnh Cấm vệ quân (Prefect of the Praetorian Guard) vào năm 282. Sau khi Probus bị ám sát tại Sirmium, Carus được binh sĩ tôn làm Hoàng đế La Mã. Mặc dù Carus thề sẽ báo thù cho cái chết của Probus, ông vẫn bị mọi người tình nghi là kẻ đồng lõa có phần tiếp tay cho vụ ám sát Probus để mưu đồ chiếm lấy ngôi báu. Carus có vẻ chẳng muốn trở về Roma sau khi lên ngôi, thay vào đó ông lại hài lòng khi tự mình chuyển lời cáo thị cho Viện Nguyên lão với ý định buộc họ phải công nhận ông là hoàng đế hợp pháp. Để củng cố triều đại mới, Hoàng đế tự mình ban danh hiệu "Caesar" cho hai con là Carinus và Numerianus, rồi ông giao Carinus phụ trách phần phía tây của Đế quốc và dắt Numerianus theo cùng trong một chuyến viễn chinh thảo phạt người Ba Tư, vốn đã được Probus dự tính tư trước. Nhờ công lao đánh bại người Quadi và Sarmatia trên sông Danube, mà Hoàng đế đã được trao danh hiệu "Germanicus Maximus", chẳng mấy chốc đại quân của Carus đã tràn qua Thrace và Tiểu Á, tiến hành sáp nhập Lưỡng Hà, đánh chiếm Seleucia và Ctesiphon và tổ chức hành quân vượt sông Tigris truy kích bại binh Ba Tư. Vua Sassanid là Bahram II lúc này bị hạn chế bởi mâu thuẫn nội bộ và quân đội của ông đang bận rộn chinh chiến ở khu vực ngày nay là Afghanistan, đã không thể bảo vệ hữu hiệu lãnh thổ của mình trước bước tiến quân thù. Chiến thắng của Carus đã rửa nhục cho tất cả những thất bại trước đó của Đế quốc La Mã trong cuộc chiến chống lại người Ba Tư và cũng vì chiến công oanh liệt này mà ông nhận được danh hiệu "Persicus Maximus". Những tưởng công cuộc chinh phục Đế quốc Ba Tư của Carus sắp thành thì bất chợt Hoàng đế bỗng nhiên đột tử, hung tin này do các tướng lĩnh công bố sau một trận ác chiến xảy ra vào tháng 7 hoặc tháng 8 năm 283. Cái chết của ông phần nhiều được đồn đoán là do mắc bệnh, bị sét đánh trúng, hay bị thương nặng trong chiến dịch chống lại người Ba Tư. Trên thực tế là ông đã chỉ huy chiến dịch giành được thắng lợi vang dội và người con Numerianus kế vị ông mà không có ai phản đối, cũng có tài liệu cho rằng cái chết của Carus có thể là do các nguyên nhân tự nhiên.
1
null
Pulau Hantu hay đảo Quỷ, là hòn đảo nhỏ ngoài khơi phía Nam Singapore. Trong tiếng Mã Lai "Pulau Hantu" có nghĩa là "hòn đảo của những bóng ma" vì người ta tin rằng hồn ma của các chiến binh Mã Lai cổ xưa vẫn lang thang trên đảo sau cuộc tử chiến tai đôi của họ tại đây. Pulau Hantu được tạo thành từ hai hòn đảo nhỏ là Pulau Hantu Besar (Đảo ma lớn) và Pulau Hantu Kechil (Đảo ma nhỏ), với tổng diện tích 12,6 ha, cả hai đều có những khu dã ngoại và chòi nghỉ cho một ngày thú vị ngoài trời. Với những vùng vịnh, bãi biển nằm rải rác kèm theo làn nước trong xanh đã khiến nơi đây trở thành địa điểm tuyệt vời cho các hoạt động như câu cá, bơi lội và lặn snorkelling. Sinh vật biển và san hô ở đây cũng rất phong phú.
1
null
Đọc kinh là thuật ngữ mà người Công giáo tại Việt Nam dùng để chỉ việc đọc các lời cầu nguyện hoặc các văn thánh trong cộng đoàn giáo xứ, nhất là lời cầu nguyện và xướng đáp trong thánh lễ. So với Giáo hội Công giáo Rôma toàn cầu, phụng vụ Công giáo tại Việt Nam và các cộng đoàn Công giáo Việt Nam hải ngoại khá là đặc biệt vì sử dụng cung ngâm tụng khi đọc kinh. Trong suốt thánh lễ, tất cả các xướng đáp và lời nguyện được hát hoặc hô vang tiệm cận đến cung hát, rất ít khi theo cung điệu nói. Chính vì vậy, những lời cầu nguyện chung theo cộng đoàn trong thánh lễ, thí dụ như Kinh Lạy Cha, khác với trong một bối cảnh riêng tư. Thánh lễ tiếng Việt hầu như không sử dụng cung điệu kiểu Bình ca Gregoriano tây phương, bởi vì bản dịch tiếng Việt của Sách Lễ Rôma và Nghi thức Thánh lễ không có một nốt nhạc nào. Giọng đọc kinh của người Việt không được biên soạn hoặc ứng khẩu mà tuân theo một phương pháp chỉ định một nốt hoặc đôi nốt dứt khoát cho mỗi thanh điệu của tiếng Việt. Tùy giáo phận, các thanh điệu được xếp theo hai ba dấu trụ. Thí dụ các giáo xứ Tây Đàng Ngoài sử dụng ba dấu trụ fa-xon-la, nên phần đầu tiên của Kinh Kính Mừng trở thành: <score> \addlyrics { Kính mừng Ma -- ri -- a đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở __ cùng Bà </score> Có người cho rằng kiểu đọc kinh trong phụng vụ Công giáo của người Lào và người H'Mông là do ảnh hưởng của người Việt Nam. Nói chung, các ngôn ngữ có thanh điệu không đọc kinh với cung ngâm tụng, nhưng người Công giáo Phúc Châu tại Phúc Kiến có một phong tục tương tự.
1
null
Pulau Ubin là một hòn đảo nhỏ (10.19 km²) nằm ở vùng biển Đông Bắc của Singapore về phía tây của đảo Pulau Tekong. Đảo thuộc eo biển Johore, là hàng rào giữa thành bang Malaysia và phía bắc. Nơi đây là một trong những vùng làm nông nghiệp cuối cùng ở Singapore, đảo Pulau Ubin hay đảo Granite gần Changi Point, được coi là gần giống với ngôi làng "Kangpong" ở Mã Lai vào những năm 1960. Những ngôi nhà được lợp ngói nằm giữa vùng đồi rừng và có vài mỏ đá granite. Trong tiếng Mã Lai thì Pulau có nghĩa là "hòn đảo", còn Ubin bắt nguồn từ chữ "gạch lát sàn bằng đá granite", từng được công nhân Trung Quốc khai thác ở đây. Người Mã Lai còn gọi hòn đảo này là "Pulau Batu Ubin" hoặc "đảo đá Granite". Sau khi các mỏ đá đóng cửa vào những năm 1970, công nhân dời đi và hòn đảo rơi vào tình trạng bị bỏ quên. Đến những năm 1990, chính phủ Singapore đã soạn thảo kế hoạch hiện đại hóa Pulau Ubin nhưng cho đến khi phát hiện ra những điều kỳ diệu ở đây và những người bảo thủ tìm cách để bảo tồn nét văn hóa thôn bản.
1
null
Đảo Kusu là một trong những đảo ở quần đảo Nam của Singapore, nằm hòn đảo chính của Singapore ​​khoảng 5,6 km về phía nam, ngoài khơi eo biển Singapore. Theo tiếng Hoa nơi đây còn được gọi là "Đảo Peak" hay "Đảo Rùa" vì nơi đây có ngôi đền Trung Hoa nổi tiếng tên là Đại Bá Công (大伯公) được xây dựng vào năm 1923. Ngoài ra trên đỉnh đảo còn có ba cái miếu hướng đến Mã Lai, nơi mà mọi người sẽ leo lên 152 bậc thang để cầu nguyện. Đảo Kusu là nơi có vùng đất thánh linh thiêng và là điểm đến của cuộc hành hương Kusu. Từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, hàng ngàn người lại cùng nhau tới đảo để cầu nguyện.
1
null
Pulau Sudong là hòn đảo san hô nằm ngoài khơi bờ biển phía nam của Singapore với diện tích 209 hecta, nó đã được mở rộng thông qua quá trình cải tạo đất vào cuối những năm 1970. Đây là hòn đảo được đặt dưới sự quản lý của Lực lượng vũ trang Singapore, là căn cứ hải - không quân của đảo quốc này. Chính vì vậy, hầu hết khu vực đảo vẫn còn được bao phủ bởi thảm thực vật dày đặc - hòn đảo này là một thiên đường động vật hoang dã cho các loài chim di cư và nhiều thực vật.
1
null
Đảo Chị Em, hay đảo Tỷ Muội, là hai trong số các đảo nằm ở phía nam của Singapore. Đảo nằm về phía nam đảo chính của Singapore, ngoài khơi eo biển Singapore. Đảo Chị, theo tiếng Mã Lai gọi là "(Pulau) Subar Laut" (nghĩa là "biển trù phú", "pulau" là đảo), nằm hướng ra biển, có diện tích khoảng . Đảo Em, trong tiếng Mã Lai gọi là "(Pulau) Subar Darat" (nghĩa là "đất màu mỡ", "pulau" là đảo), nằm hướng về đảo chính của Singapore, với diện tích khoảng . Truyền thuyết. Theo truyền thuyết, có 2 chị em nọ rất gắn bó với nhau, không bao giờ tách rời. Thậm chí, họ còn thề nguyền nếu có kết hôn, họ sẽ cưới một cặp anh em để được cùng sống bên nhau mãi mãi. Một ngày nọ, một người bị cướp biển bắt đi, người còn lại bơi đuổi theo trong tuyệt vọng, cuối cùng bị chết đuối. Người bị bắt đi, vì quá đau lòng nên cũng nhảy xuống biển tự sát. Ngày hôm sau, dân làng thấy có 2 hòn đảo nổi lên cạnh nhau, từ đó họ gọi 2 đảo này là đảo Chị Em. Ngăn giữa hai đảo là một con kênh hẹp được những người đi dã ngoại rất ưa thích vì ở đây có bóng cây cọ râm mát, có chòi hóng gió trên bờ biển.
1
null
Cá sú mì (danh pháp hai phần: Cheilinus undulatus) là một loài cá biển thuộc chi "Cheilinus", cũng là loài lớn nhất trong họ Cá bàng chài. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1835. Từ nguyên. Tính từ định danh "undulatus" trong tiếng Latinh nghĩa là "gợn sóng", không rõ hàm ý, có lẽ đề cập đến các vân sọc trên cơ thể của loài cá này. Phạm vi phân bố và môi trường sống. "C. undulatus" là loài có phạm vi phân bố rộng nhất trong chi "Cheilinus". Từ Biển Đỏ dọc theo bờ biển Đông Phi, loài này được phân bố rộng khắp các vùng biển thuộc khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trải dài về phía đông đến Tuamotu, giới hạn phía bắc đến vùng biển phía nam Nhật Bản, xa về phía nam đến rạn san hô Great Barrier và Nouvelle-Calédonie. Ở Việt Nam, loài này được ghi nhận tại vùng biển Nha Trang, Côn Đảo, cù lao Chàm (Quảng Nam), quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. "C. undulatus" sống trên các rạn viền bờ và trong đầm phá ở độ sâu đến ít nhất là 100 m. Cá con sống gần bờ, thường tập trung ở khu vực rừng ngập mặn, hay các thảm cỏ biển gần kề rạn san hô, đặc biệt là khu vực có nhiều san hô cành "Acropora". Mô tả. "C. undulatus" là loài có kích thước lớn nhất trong họ Cá bàng chài, với chiều dài lớn nhất được biết đến là 250 cm và nặng khoảng 191 kg. Chúng có bộ hàm rất chắc với bờ môi dày thịt; mỗi hàm có hai răng nanh nằm ở phía trước. Cá đực trưởng thành có một bướu lớn nhô ra ở trán. "C. undulatus" có màu ô liu đến xanh lục; vảy cá có các vạch đen. Đầu của những cá thể trưởng thành chuyển sang màu lục lam đến xanh lam với các vệt vàng gợn sóng. Sau mắt có hai đường sọc đen. Vây đuôi bo tròn. Cá con có màu sắc sáng hơn. Ngoài hai đường sọc đen sau mắt như cá trưởng thành, cá con có thêm hai sọc đen từ trước mắt băng chéo xuống mõm. Số gai ở vây lưng: 9; Số tia vây ở vây lưng: 10; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây ở vây hậu môn: 8; Số tia vây ở vây ngực: 12; Số gai ở vây bụng: 1; Số tia vây ở vây bụng: 5. Sinh thái học. Thức ăn. Thức ăn của "C. undulatus" là các loài thủy sinh không xương sống có vỏ cứng, bao gồm động vật thân mềm, động vật giáp xác và cầu gai nhờ sở hữu bộ hàm chắc khỏe, ngoài ra chúng còn có thể ăn những loài cá nhỏ hơn. Sao biển gai "Acanthaster planci", một trong những loài sao biển lớn nhất thế giới, đã được tìm thấy trong dạ dày của một cá thể "C. undulatus" nặng khoảng 45 kg. Khi ăn các loài cầu gai, "C. undulatus" được quan sát là ngậm chúng trong miệng và bơi đến một tảng đá thích hợp, sau đó đập liên tục vào đá đến khi lớp vỏ cứng của cầu gai vỡ nát. Điều này cũng được đã quan sát ở một số loài cá bàng chài khác như "Halichoeres garnoti", "Thalassoma hardwicke", "Choerodon anchorago", "Choerodon graphicus" và "Choerodon schoenleinii". Ngoài ra, nhiều mẫu san hô "P. eydouxi" (= "Pocillopora grandis") cũng được tìm thấy trong dạ dày của nhiều mẫu vật "C. undulatus", được cho là chúng đã cắn vụn loài san hô này để tìm kiếm cua "Trapezia", một loài cộng sinh với san hô "Pocillopora". "C. undulatus" đôi khi cũng "hợp tác" săn cá cùng với cá mú "Plectropomus pessuliferus", được quan sát tại Biển Đỏ. Sinh sản và phát triển. "C. undulatus" có thể sống đến ít nhất 30 năm và thuần thục sinh dục trong khoảng 5 năm đầu đời (chiều dài cơ thể nằm trong khoảng 35–50 cm). "C. undulatus" là loài lưỡng tính tiền nữ, tức cá đực trưởng thành đều phải trải qua giai đoạn là cá cái; những cá thể trên có chiều dài trên 1 m hầu hết là cá đực. Vào thời điểm sinh sản, "C. undulatus" hợp thành những nhóm khoảng vài chục và có thể lên đến hơn một trăm con. Chúng hầu như không di chuyển quá xa để cùng tập hợp đẻ trứng. Trứng có hình cầu, đường kính khoảng 0.65 mm, không có sắc tố. Bảo tồn. "C. undulatus" được xếp vào danh sách Loài nguy cấp trong Sách Đỏ IUCN và Phụ lục II của Công ước CITES. Tại Việt Nam, loài này cũng đã nằm trong Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm cần bảo tồn với cấp độ "Có nguy cơ tuyệt chủng rất lớn". Số lượng cá sú mì "C. undulatus" đã suy giảm nghiêm trọng do một số mối đe dọa, bao gồm: Như trên, một trong những nguyên nhân suy giảm số lượng là khai thác thiếu bền vững phục vụ cho buôn bán thực phẩm sống. Sabah (nằm trên Đảo Borneo) là một nguồn chính cung cấp cá sú mì. Ngành công nghiệp đánh cá đặc biệt quan trọng tại đây, bởi vì tỷ lệ đói nghèo cao. Việc xuất khẩu của cá này ra khỏi Sabah đã dẫn đến sự suy giảm khoảng 99% số lượng tại đây. Trong nỗ lực bảo vệ loài này đã có một lệnh cấm xuất khẩu ra ngoài. Tuy nhiên, điều này không ngăn chặn tình trạng bất hợp pháp, không được báo cáo. Việc bảo vệ bởi tổ chức CITES được tiến hành ở khu vực này, bởi Bộ thủy sản của Malaysia, Sabah nơi cấp giấy phép để điều chỉnh các hoạt động đánh cá. Cá sú mì "C. undulatus" được xem là một loài bảo trợ. Điều này có nghĩa là những loài khác có cùng khu vực phân bố với "C. undulatus" sẽ bị thu hẹp phạm vi lại nhưng có lợi là được bảo vệ cùng với "C. undulatus". "C. undulatus" có lịch sử bị đánh bắt thương mại ở Úc, nhưng đã được bảo vệ ở Queensland từ năm 2003 và Tây Úc từ năm 1998. Ở Quảng Đông (Trung Quốc), giấy phép được yêu cầu trong việc mua bán của loài này; Indonesia cho phép đánh bắt chỉ để nghiên cứu, nuôi trồng, và cấp giấy phép đánh bắt thủ công; Maldives lập lệnh cấm xuất khẩu năm 1995. Papua New Guinea cấm xuất khẩu của cá có chiều dài hơn 65 cm. tổng chiều dài, và Niue đã cấm tất cả các loại hình đánh bắt cho loài này. Tình trạng khai thác bất hợp pháp không được kiểm soát (IUU). Philippines, Indonesia và Malaysia là ba nơi xuất khẩu lớn nhất của "C. undulatus". Cá có giá bán cao nhất ở châu Á, đặc biệt là nếu bị bắt sống, và nó là một món ăn ở những nơi như Malaysia. Bất hợp pháp không được kiểm soát và không được báo cáo (IUU) các hoạt động đã được xác định là yếu tố đóng góp để sự thất bại của những nỗ lực bảo tồn. Mặc dù CITES đã đặt một lệnh cấm xuất khẩu cá Sú mì, vẫn còn nhiều trường hợp của buôn lậu cá tại biên giới Malaysia–Philippines. Bốn chính yếu tố đã dẫn đến sự tồn tại của IUU: Sản lượng xuất khẩu hàng đầu của cá Sú mì ở Malaysia đã ở Sandakan, Papar, và Tawua. Cá có thể được mua từ $45.30 tới $69.43, trong khi những giá bán lẻ dao động từ US$60.38 tới $120.36.
1
null
Mèo đi hia (tiếng Anh: Puss In Boot; hoặc "Master Cat;" ) là một câu chuyện cổ tích Pháp. Lịch sử. Truyện kể về một chú mèo sử dụng tài năng và trí thông minh để giúp đỡ chủ nghèo xơ xác và xuất thân hèn mọn của mình có được quyền lực, sự giàu sang và cưới được công chúa. Câu chuyện được viết vào cuối thế kỷ 17 bởi Charles Perrault (1628–1703), một công chức nghỉ hưu và cũng là thành viên Viện Hàn lâm Pháp. Bản thảo đã được viết tay và minh họa 2 năm trước khi truyện được xuất bản bởi Nhà xuất bản Barbin năm 1697 trong bộ sưu tập tám truyện cổ tích của Perrault gọi là "Histoires ou contes du temps passé". Cuốn sách ngay lập tức giành được thành công vang dội và còn tiếp tục được ưa thích trên khắp thế giới cho đến ngày nay,truyện còn được chuyển thể thành 1 bộ phim cùng tên với truyện. Cốt truyện. Câu chuyện bắt đầu với việc một bác thợ xay già qua đời và để lại gia tài là một cối xay gió, một con lừa và một con mèo cho ba người con trai. Người con trai cả giành lấy cối xay gió, người anh hai có được con lừa, còn phần của người em út là con mèo. Nhưng, đó không phải một con mèo bình thường, nó biết nói - yêu cầu anh chàng út cho nó một đôi hia và đã được đáp ứng. Nhất quyết muốn cho chủ của mình được giàu sang, mèo đã dùng mưu bẫy được một con thỏ trong rừng rồi đem đến biếu nhà vua coi như một món quà đến từ chủ của mình, hầu tước xứ Carabas, một tước hiệu do mèo đặt ra. Ngày lại ngày, mèo đi săn và nuôi sống được chủ của mình.Bên cạnh đó, nó còn đem dâng nhà vua những con mồi săn được, lúc thì một cặp gà gô, khi thì một con thỏ đế béo tốt, cứ vậy trong vòng vài tháng. Một hôm, khi thấy đã đến lúc, mèo đi hia thuyết phục chủ của mình đi ra bờ sông tắm khi biết nhà vua và công chúa sắp đi qua đây. Thực vậy, một lát sau xe của đức vua đến. Mèo nói với nhà vua rằng chủ nhân của mình, hầu tước xứ Carabas, bị trộm mất quần áo khi đang tắm,thực ra mèo đã giấu quần áo của chàng vào sau tảng đá. Nhà vua nghe vậy, truyền cho người hầu lấy một trong số những bộ quần áo của mình cho chàng mặc và đưa chàng ngồi chung xe. Khoác trên mình bộ áo của nhà vua, chàng út trông chẳng khác nào một nhà quý tộc khôi ngô và lập tức lọt vào mắt xanh của công chúa. Con mèo đã chạy nhanh về phía trước theo con đường mà xe của nhà vua sắp đi qua. Trên đường, gặp bất cứ người nông dân nào đang gặt lúa hay đang chăn gia súc hoặc đốn củi, mèo đi hia đều yêu cầu người đó nói với nhà vua rằng mảnh đất này thuộc về "hầu tước xứ Carabas", nếu không,họ sẽ gặp họa sát thân. Tiếp đó, mèo chạy đến một tòa lâu đài lộng lẫy hơn cả cung điện nhà vua, là nơi ở của một phù thủy tàn ác có thể tự biến mình thành các sinh vật khác nhau. Theo lời sai bảo của mèo,phù thủy biến thành một con sư tử rồi cuối cùng biến thành một con chuột. Khi đó, mèo vồ lấy chuột rồi nhai ngấu nghiến. Khi nhà vua đến tòa lâu đài, ngài rất ấn tượng với sự giàu sang của hầu tước xứ Carabas và liền gả công chúa cho chàng. Sau đó, mèo đi hia sống cuộc đời hạnh phúc nhưng chỉ bắt chuột như một thú tiêu khiển.
1
null
Tamgaly là một trang địa điểm khảo cổ thuộc Semirechye, Kazakhstan. Tamgaly nằm cách Almaty 120 km về phía tây bắc. Phần lớn của địa điểm khảo cổ này là các bức tranh khắc đá 5000 năm trong các hẻm núi. Các bức tranh khắc đá chủ yếu là từ Thời đại đồ đồng, nhưng [1] trong một số ít là có từ vào Thời đại đồ sắt và thời Trung Cổ. Tên Tamgaly trong tiếng Kazakhstan và các ngôn ngữ gốc Thổ Nhĩ Kỳ có nghĩa là "vẽ hoặc nơi đánh dấu". Tamgaly đã trở thành một di sản thế giới của UNESCO vào năm 2004.
1
null
Vệ Thanh (giản thể: 卫青, phồn thể: 衛青, ?-106 TCN), tên gốc là Trịnh Thanh, biểu tự Trọng Khanh (仲卿), là tướng lĩnh nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông nổi tiếng với thân phận em trai của Vệ Tử Phu, Hoàng hậu thứ hai của Hán Vũ Đế; ngoài ra còn là phu quân của Bình Dương công chúa, chị ruột cùng mẹ với Vũ Đế. Dưới thời Hán Vũ Đế, ông vào cung làm thị vệ, được phong các chức vụ Kiến Chương giám, Thị trung, Thái trung đại phu, Xa kị tướng quân rồi Quan nội hầu, Đại tướng quân và Đại tư mã, đồng thời được Vũ Đế phong tước Trường Bình hầu, thực ấp lên tới 16,700 hộ. Không những thế, Vũ Đế còn gả người chị mình vô cùng thân thiết là Bình Dương công chúa cho Vệ Thanh. Trong những năm từ 129 TCN đến 119 TCN, Vệ Thanh từng bảy lần đại thắng quân Hung Nô ở phía bắc, khiến Hung Nô suy yếu trầm trọng, lập nhiều đại công cho triều đình. Ông qua đời vào năm 106 TCN, được truy tôn là Trường Bình Liệt hầu, con cháu tiếp tục được kế tập tước hầu. Vệ Thanh được xem là một trong các đại danh tướng trong lịch sử phong kiến Trung Quốc cùng với Bạch Khởi, Hàn Tín, Lý Tĩnh, Nhạc Phi và Từ Đạt, do có công đánh quân rợ phía bắc mở rộng bờ cõi cho nhà Hán và là tấm gương sáng cho các tướng lĩnh đời sau. Thân thế. Ông là người huyện Bình Dương, Hà Đông. Mẹ là Vệ Ẩu, có ghi chép là thiếp của Bình Dương hầu Tào Thọ. Vệ Ẩu đa tình, trước khi lấy Bình Dương hầu đã có 1 con trai và 3 con gái với người khác (trong số đó có Vệ Tử Phu, sau là Hoàng hậu của Hán Vũ Đế). Sau khi lấy Bình Dương hầu, bà tư thông với gia nô trong phủ là Cấp sự Trịnh Quý, sinh ra con trai, đặt tên Trịnh Thanh (鄭青). Sau khi chào đời, Trịnh Thanh bị đuổi ra khỏi Bình Dương phủ nên sống với cha và bị bắt đi chăn cừu. Tuy nhiên chỉ vài năm sau, vợ cả của Trịnh Quý sinh được con nên ghét bỏ Trịnh Thanh. Ông về ở với mẹ tại Bình Dương phủ, đổi họ Vệ nên từ đó gọi là Vệ Thanh (卫青). Vì không phải con của Bình Dương hầu nên từ bé, Vệ Thanh cùng với anh chị làm gia nô trong phủ. Đến tuổi trưởng thành, Vệ Thanh làm mã phu, theo hầu chị ruột Hán Vũ Đế là Bình Dương công chúa, cũng là vợ cả của Tào Thọ. Khi Công chúa ra ngoài đều có Vệ Thanh cưỡi ngựa theo bảo vệ. Được trọng dụng. Mùa xuân năm 139 TCN, chị khác cha của Vệ Thanh là Vệ Tử Phu được Hán Vũ Đế ân hạnh, nạp làm cung phi. Vệ Thanh nhờ đó được tuyển vào cung làm chức Cấp sự kiến chương doanh, làm việc ở cung Kiến Chương. Sự tích kể có lần Vệ Thanh vào cung, gặp một người tội phạm. Người này thấy cốt cách của Vệ Thanh, đoán rằng về sau Vệ Thanh sẽ được phong hầu. Vũ Đế ngày càng sủng ái Vệ Tử Phu, khiến Hoàng hậu khi đó là Trần A Kiều vô cùng đố kị. Để trả thù, Quán Đào công chúa, mẹ của Trần hoàng hậu đã bắt nhốt Vệ Thanh vào ngục, chuẩn bị xử tử. May thay một người bạn của Vệ Thanh là Công Tôn Ngao đã giúp ông trốn thoát. Vũ Đế nghe tin vô cùng tức giận, bèn theo ý của Vệ Tử Phu cho gọi Vệ Thanh, thấy người cao lớn, giỏi võ nghệ, liền cho làm Kiến Chương giám, thống lĩnh đội cận vệ, hàm Thị trung. Đồng thời tấn phong Vệ Tử Phu làm Phu nhân, và phong cả người anh trưởng của Vệ Thanh và Vệ Tử Phu là Vệ Trường Quân làm Thị trung. Do muốn hạn chế quyền lực của thân tộc họ Lưu, Vũ Đế trở nên trọng dụng thân tín ngoại thích. Vệ phu nhân liên tục sinh 3 Công chúa, gần như độc sủng, do đó Vệ Thanh càng được Vũ Đế tin tưởng, thăng dần tới chức Thái Trung đại phu. Hai người chị khác của Vệ Thanh là Vệ Quân Nhụ và Vệ Thiếu Nhi cũng được ban hôn sự tốt. Vũ Đế sau đó phế truất Trần hậu, lập Vệ phu nhân làm Kế hậu, khiến cả nhà họ Vệ trở nên vô cùng hiển quý. Năm 129 TCN, chồng của Bình Dương công chúa là Tào Thọ qua đời. Vợ của Vệ Thanh là Thẩm thị cũng mất sớm nên có người khuyên công chúa lấy Vệ Thanh, nhưng công chúa ngần ngại vì Vệ Thanh vốn chỉ là thị vệ trong nhà mình, bèn đi gặp Vệ hoàng hậu hỏi ý kiến. Vệ hậu muốn gia đình mình càng thân thiết với hoàng tộc nên vô cùng ủng hộ rồi xin lên Vũ Đế. Vũ Đế rất vui mừng, hạ chiếu cho Vệ Thanh kết duyên cùng Bình Dương công chúa. Trước đó, Vệ Thanh có ba con trai là Vệ Kháng, Vệ Bất Nghi và Vệ Đăng, sau cùng Bình Dương có thêm một con gái. Bảy lần thắng Hung Nô. Lần thứ nhất. Năm 129 TCN, quân Hung Nô ở miền bắc đem quân nam tiến đánh nhà Hán, tiến đến vùng Thượng Cốc. Hán Vũ Đế nghe tin, bèn cử 4 vạn quân chia làm bốn đường, phong Vệ Thanh làm Xa kị tướng quân, cùng Lý Quảng và Công Tôn Hạ dẫn quân chống cự với giặc. Đạo quân Vệ Thanh nhanh chóng dẹp tan quân Hung Nô, tiến đến tận Long Thành (nơi phát tích của Hung Nô), tuy nhiên hai đạo của Lý Quảng và Công Tôn Ngao lại thất bại. Mặc dù vậy, Vũ Đế vẫn trọng thưởng cho công lao này của Vệ Thanh, phong ông làm Quan nội hầu. Lần thứ hai. Mùa thu năm 128 TCN, một lần nữa Vệ Thanh dẫn ba vạn kị binh chiến đấu với Hung Nô, xuất kích vào Nhạn Môn Quan, giết hơn 1000 quân Hung Nô. Lần thứ ba. Bước sang mùa xuân năm 127 TCN, ông lại tiếp tục dẫn 40000 quân tiến vào Vân Trung chống Hung Nô, đánh bại và tiêu diệt hai đạo quân Hung Nô do Bạch Dương Vương và Lâu Phiền Vương chỉ huy, chém và bắt sống hơn 1000 người, thu phục và sáp nhập vùng đất Hà Sáo của Hung Nô mà gần như không mất một binh sĩ nào, toàn quân khải hoàn trở về. Chiến thắng này có ý nghĩa quan trọng, giải quyết được mối đe dọa của Hung Nô đối với kinh đô Trường An. Do lập được công to, Vệ Thanh tiếp tục được phong tước Trường Bình hầu với thực ấp ban đầu là 3800 hộ. Lần thứ tư. Tuy nhiên quân Hung Nô không chịu thất bại. Ngay sau khi lên ngôi, thiền vu Y Trĩ Tà lập tức chuẩn bị phát động chiến tranh với Đại Hán lần nữa. Năm 126 TCN, hơn vạn quân Hung Nô được lệnh nam tiến, công đánh Đại Quận, giết thái thú Cung Hữu và bắt hơn 1000 người. Năm sau, 124 TCN, hơn 3 vạn quân Hung Nô lại tràn sang, tiến công vào Đại quận, Định Tương, Thượng Quận. Tướng Hung là Hữu Hiền Vương do oán hận nhà Hán nên cũng nhiều lần tiến vào Hà Sáo, giết chết rất nhiều người dân vô tội. Trước sức mạnh của Hung Nô, Vệ Thanh lại lần thứ tư xuất chinh, dẫn 3 vạn kị binh ra Cao Khuyết, cộng thêm các cánh quân Hán khác là gần 10 vạn người, phối hợp cùng đánh Hung Nô. Vệ Thanh dẫn quân tiến đánh thần tốc, một ngày đi được hơn 6-7 trăm dặm, tiến đánh Hữu Hiền Vương. Hữu Hiền Vương đang say khướt và không địch nổi quân Hán, bèn bỏ trốn. Lần xuất chinh thứ tư của Vệ Thanh tiếp tục giành được thắng lợi, bắt sống 15,000 quân và mười mấy quý tộc Hung Nô. Hán Vũ Đế vô cùng vui mừng, bèn phong Vệ Thanh làm Đại tướng quân và ban thêm cho ông 8700 hộ nữa. Vũ Đế còn định phong cho ba người con của ông lên tước hầu tất cả, nhưng ông không đồng ý và khuyên Vũ Đế hãy thưởng cho các thuộc tướng của mình. Theo lời thỉnh cầu của Vệ Thanh, 7 tướng lĩnh đánh Hung Nô đã được phong tước hầu. Lần thứ năm và lần thứ sáu. Mùa xuân và mùa hạ năm 123 TCN, Vệ Thanh hai lần liên tiếp đưa quân lên phía bắc đánh Hung Nô. Lần thứ nhất, ông cùng người cháu là Hoắc Khứ Bệnh chia quân làm hai đường tiến công. Cánh của Vệ Thanh tiến vào nơi đóng quân của Thiền vu Hung Nô Y Trĩ Tà và giành được đại thắng, tiêu diệt hơn vạn quân Hung. Tuy nhiên về sau, hai tướng Hung Nô là Tô Kiến và Triệu Tín kịp thời cứu được thiền vu. Về cánh quân của Hoắc Khứ Bệnh cũng giành chiến thắng trước Hung Nô, tiêu diệt 2028 tên địch. Lần thứ bảy. Mùa xuân năm 119 TCN, Hán Vũ Đế lại cử Vệ Thanh cùng Hoắc Khứ Bệnh mỗi người dẫn 5 vạn kị quân thành hai đường đánh Hung Nô, lại cho hơn 14 vạn ngựa chiến và 50 vạn bộ tốt và hậu cần. Đây là lần thứ bảy Vệ Thanh tấn công Hung Nô. Quân Hán tiến vào Đại Quận, đánh bại quân của Tả Hiền Vương, buộc ông này phải đem 4 vạn quân đầu hàng nhà Hán. Sau đó Vệ Hoắc mỗi người chia quân theo hai phía đông-tây, cánh của Hoắc Khứ Bệnh tiến đánh Đại quận, còn cánh của Vệ Thanh đi về phía đông, thu phục Định Tương. Vệ Thanh đưa quân đi được về phía bắc gần 1000 dặm thì gặp quân chủ lực của Thiền vu Hung Nô. Ban đầu quân Hán có gặp một số khó khăn nhưng sau đó Vệ Thanh lại ra lệnh dùng thế trận chiến xa và dùng 5000 kị binh phối hợp tạo thành thế trận liên hoàn để đối đầu với quân số đông của Hung Nô, làm quân Hung Nô mất nhuệ khí. Giữa lúc hai bên đang giao tranh thì bỗng có giông tố nổi lên. Vệ Thanh khéo léo lợi dụng sức gió yểm hộ đã cho quân xuất kích, tiến đánh thẳng vào cánh quân của thiền vu. Thiền vu Y Trĩ Tà hoảng sợ, bỏ trốn về phía bắc không dám quay lại, còn quân Hung Nô bị đánh cho đại bại. Quân Hán chém hơn 1 vạn thủ cấp, và tiếp tục hành quân về phía bắc, đuổi theo thiền vu Hung Nô, tiến đến thành Triệu Tín. Chiến dịch đánh Hung Nô lần thứ bảy của Vệ Thanh kết thúc với thắng lợi hoàn toàn dành cho quân Hán, đẩy Hung Nô về tận sa mạc phía bắc và giải quyết được nạn Hung Nô uy hiếp triều đình. Sau khi ca khải hoàn trở về, Vệ Thanh cùng Hoắc Khứ Bệnh đều được Vũ Đế phong làm Đại Tư mã. Tuy nhiên cũng trong trận đánh này, lão tướng Lý Quảng do hành quân chậm và đến trễ nên bị Vệ Thanh ra lệnh truy cứu. Lý Quảng cảm thấy tự ái, bèn rút gươm tự sát. Con Quảng là Lý Cảm đang làm tướng dưới quyền Hoắc Khứ Bệnh cho rằng Vệ Thanh hãm hại cha mình, nên cầm kích vào nơi ở của Vệ Thanh. Ban đầu ông muốn trị tội Lý Cảm. Hoắc Khứ Bệnh nghe tin đó, sợ mạo phạm cậu, bèn nhân lúc đi săn cùng thuộc hạ đã bắn chết Lý Cảm. Vũ Đế biết được nhưng cũng bỏ qua việc này, nói rằng Lý Cảm bị hươu xô mà chết. Qua đời. Do lập được chiến công hiển hách trong chiến tranh với Hung Nô nên Vệ Thanh liên tiếp được hậu thưởng. Đến cuối đời, phong ấp của ông đã lên tới 20,200 hộ. Những năm cuối đời, Vệ Thanh cũng tiếp tục được thăng chức và mở rộng quyền hành. Năm 117 TCN, Hán Vũ Đế bỏ chức thái úy, giao luôn cho Vệ Thanh (đang làm Đại tư mã) quyền Thái úy, quyền lực ngang bằng với tể tướng. Vũ Đế còn muốn các đại thần bái lạy Vệ Thanh nhưng đại thần Cấp Ảm không chịu. Vệ Thanh thấy vậy chẳng những không giận mà còn kính trọng Cấp Ảm. Năm 106 TCN, Vệ Thanh lâm bệnh qua đời, được truy tặng thụy hiệu là Trường Bình Liệt hầu. Tính từ khi được sung vào cung năm 139 TCN đến khi mất, ông hoạt động được hơn 30 năm, không rõ bao nhiêu tuổi. Thi hài ông được an táng cùng Bình Dương Công chúa ở núi Tượng Lô. Từ sau cái chết của Vệ Thanh, Vệ hậu và thái tử Lưu Cứ mất đi chỗ dựa, bị các quần thần tìm cớ hãm hại. Kết quả là năm 91 TCN, vụ án Vu Cổ xảy ra, Hoàng hậu và thái tử đều bị hại sau án Vu Cổ. Con trai ông là Vệ Kháng (được kế tập tước hầu) cũng bị vu khống là có dính dáng vào việc này nên cũng bị giết. Hai người con còn lại cũng bị liên lụy và bị tước bỏ tước vị. Mãi đến đời Hán Tuyên Đế, gia tộc họ Vệ mới được phục hồi lại thân phận. Sang đời Hán Bình Đế, người chắt của Vệ Thanh là Vệ Huyền được phong chức Thị trung và Quan nội hầu. Đánh giá. Dường như Tư Mã Thiên không có thiện cảm với Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh. Trong Sử ký, "Vệ Tướng quân Phiêu kị tướng quân liệt truyện", Tư Mã Thiên cho rằng Vệ Thanh vốn dĩ là ngoại thích, xuất thân thấp hèn, là đứa con không chính thống, chỉ dựa vào sự sủng ái của Vũ Đế đối với Vệ hậu mà được trọng dụng, thậm chí còn miêu tả ông như một con người có tác phong mềm yếu và không đánh giá cao chiến công của ông. Các sử gia đời sau cũng đánh giá Tư Mã Thiên có thái độ bất công đối với Vệ Thanh, có thể là do sự uất ức của ông này trong vụ việc của Lý Quảng Lợi mà có sự căm ghét đối với những người thuộc ngoại thích. Thậm chí Tư Mã Thiên còn ám chỉ việc ông được trọng dụng không phải do tài năng mà do thế lực của Hoàng hậu trong mục Nịnh hạnh truyện. Tuy nhiên trong phần Hoài Nam Hành Sơn liệt truyện, Tư Mã Thiên lại đánh giá cao phẩm chất của Vệ Thanh qua việc viết thủ hạ của Hoài Nam vương khen ngợi tính cách của ông. Nhiều tướng lĩnh nổi danh đời sau như Tào Chương (đời Tam Quốc, con trai Tào Tháo), Lý Tĩnh (đời nhà Đường) hay Nhạc Phi, Tông Trạch, Tô Tuấn (cha Tô Đông Pha) (đời nhà Tống), Thích Kế Quang (đời nhà Minh) đều đánh giá cao về công lao, tài năng cầm quân và phẩm chất của Vệ Thanh.
1
null
Tài chính quản lý hay tài chính quản trị là nhánh của tài chính mà chính nó liên quan với ý nghĩa quản lý của các kỹ thuật tài chính. Nó tập trung vào việc đánh giá hơn là kỹ thuật. Sự khác biệt giữa phương pháp tiếp cận quản lý và kỹ thuật có thể được nhìn thấy trong những câu hỏi người ta có thể yêu cầu của các báo cáo hàng năm. Mối quan tâm của một cách tiếp cận kỹ thuật chủ yếu là đo lường. Nó yêu cầu: là tiền được phân loại đúng không? Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) có được theo không? Mục đích của phương pháp tiếp cận quản lý, tuy nhiên, là để hiểu các con số có ý nghĩa gì. Tài chính quản lý là một cách tiếp cận liên ngành vay mượn từ cả kế toán quản trị và tài chính doanh nghiệp. Quản lý tài chính tạo ra giá trị và sự nhanh nhẹn tổ chức thông qua việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm trong số các cơ hội kinh doanh cạnh tranh. Nó là một trợ giúp để thực hiện và giám sát các chiến lược kinh doanh và giúp đạt được các mục tiêu kinh doanh. Vai trò của kế toán quản trị. Để giải thích các kết quả tài chính theo cách mô tả ở trên, các nhà quản lý sử dụng các kỹ thuật Phân tích tài chính. Các nhà quản lý cũng cần phải xem xét cách phân bổ nguồn lực trong một tổ chức. Họ cần phải biết mỗi chi phí hoạt động là gì và lý do tại sao. Những câu hỏi này yêu cầu các kỹ thuật kế toán quản lý như tính chi phí dựa trên hoạt động. Các nhà quản lý cũng cần phải lường trước các chi phí trong tương lai. Để có được một sự hiểu biết tốt hơn về tính chính xác của quá trình lập ngân sách, họ có thể sử dụng lập ngân sách biến động. Vai trò của tài chính doanh nghiệp. Tài chính Quản lý cũng được quan tâm trong việc xác định cách sử dụng tiền tốt nhất để cải thiện các cơ hội trong tương lai để kiếm tiền và giảm thiểu tác động của các cú sốc tài chính. Để thực hiện những mục tiêu này tài chính quản lý sử dụng các kỹ thuật sau đây vay mượn từ tài chính doanh nghiệp:
1
null
Trong kế toán quản trị, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (thuật ngữ tiếng Anh: "Cash conversion cycle", viết tắt: CCC) đo lường bao lâu một công ty sẽ bị tước tiền mặt nếu nó tăng đầu tư vào các nguồn lực để mở rộng bán hàng cho khách hàng. Do đó nó là một thước đo rủi ro thanh khoản kéo theo bởi sự tăng trưởng. Tuy nhiên, việc rút ngắn CCC tạo ra những rủi ro riêng của nó: trong khi một công ty thậm chí có thể đạt được một CCC tiêu cực bằng cách thu thập từ khách hàng trước khi chi trả nhà cung cấp, một chính sách thu thập nghiêm ngặt và thanh toán lỏng lẻo không phải là luôn luôn bền vững. Định nghĩa. Dẫn xuất. Thiếu hụt dòng tiền. Thuật ngữ "chu kỳ chuyển đổi tiền mặt" đề cập đến khoảng thời gian giữa chi tiêu tiền mặt và thu thập tiền mặt của một công ty. Tuy nhiên, CCC không thể quan sát trực tiếp trong dòng tiền, bởi vì những điều này cũng chịu ảnh hưởng của đầu tư và các hoạt động tài chính; nó phải được bắt nguồn từ dữ liệu Báo cáo về vị thế tài chính liên quan đến các hoạt động của công ty. Phương trình mô tả nhà bán lẻ. Mặc dù thuật ngữ "chu kỳ chuyển đổi tiền mặt" áp dụng một cách kỹ thuật cho một công ty trong bất kỳ ngành công nghiệp nào, phương trình này được xây dựng một cách tổng quát để áp dụng cụ thể vào một nhà bán lẻ. Vì các hoạt động của một nhà bán lẻ bao gồm việc mua và bán hàng tồn kho, phương trình này mô hình thời gian giữa Phương trình mô tả một công ty mua và bán trên tài khoản. Ngoài ra, phương trình này được viết để chứa một công ty "mua và bán trên tài khoản". Đối với một công ty "chỉ có tiền", phương trình chỉ cần dữ liệu từ hoạt động bán hàng (ví dụ các thay đổi trong hàng tồn kho), bởi vì "tiền mặt chi tiêu" sẽ có thể được đo lường trực tiếp như "mua hàng tồn kho", và "tiền mặt thu thập" sẽ có thể được đo lường trực tiếp như " bán hàng tồn kho". Tuy nhiên, không tồn tại tương ứng 1:1 cho một công ty "mua và bán trên tài khoản" như vậy: Các tăng hoặc giảm trong hàng tồn kho không làm dòng tiền dịp mà là các phương tiện kế toán (các khoản phải thu và phải trả, tương ứng); các tăng và giảm trong tiền mặt sẽ loại bỏ các phương tiện kế toán này (các khoản phải thu và phải trả, tương ứng) khỏi sổ sách. Như vậy, CCC phải được tính toán bằng cách truy tìm một sự thay đổi bằng tiền mặt thông qua tác động của nó đối với các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản phải trả, và cuối cùng trở lại tiền mặt - do đó, thuật ngữ "chu kỳ chuyển đổi tiền mặt", và quan sát mà bốn tài khoản này "nói lên" với nhau. Bằng cách lấy bốn nghiệp vụ này theo cặp, các nhà phân tích chú ý đến năm khoảng thời gian quan trọng, được gọi là các chu kỳ chuyển đổi (hoặc giai đoạn chuyển đổi): Kiến thức của ba chu kỳ chuyển đổi bất kỳ này cho phép nguồn gốc của chu kỳ chuyển đổi thứ tư (bỏ qua một bên "chu kỳ vận hành", mà chỉ là tổng của "giai đoạn chuyển đổi hàng tồn kho" và "giai đoạn chuyển đổi các khoản phải thu".) Do đó, Trong tính toán mỗi một trong ba chu kỳ chuyển đổi thành phần, phương trình Thời gian = Cấp/Tỷ lệ được sử dụng (vì mỗi khoảng thời gian gần bằng Thời gian cần thiết để cấp của nó có thể đạt được tại Tỷ lệ tương ứng của nó). (Lt1+Lt2)/2. Mục đích của CCC. Mục đích của nghiên cứu chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tính toán của nó là để thay đổi các chính sách liên quan đến tín dụng mua hàng và tín dụng bán hàng. Tiêu chuẩn thanh toán tín dụng mua hàng hoặc nhận tiền mặt từ các con nợ có thể được thay đổi trên cơ sở báo cáo của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Nếu nó cho khả năng thanh toán tiền mặt tốt, chính sách tín dụng trong quá khứ có thể được duy trì. Mục đích của nó cũng là để nghiên cứu dòng tiền của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền mặt và nghiên cứu chu trình chuyển đổi tiền mặt sẽ rất hữu ích cho việc phân tích dòng tiền.
1
null
Vốn lưu động (thuật ngữ tiếng Anh: "Working capital", viết tắt WC) là một thước đo tài chính đại diện cho thanh khoản vận hành có sẵn cho một doanh nghiệp, tổ chức hoặc thực thể khác, bao gồm cả cơ quan chính phủ. Cùng với các tài sản cố định như nhà máy và thiết bị, vốn lưu động được coi là một phần của vốn hoạt động. Vốn lưu động được tính như tài sản hiện tại trừ nợ ngắn hạn. Nó là một nguồn gốc của vốn lưu động, thường được sử dụng trong các kỹ thuật định giá như DCFS (các dòng tiền chiết khấu). Nếu tài sản hiện tại ít hơn nợ ngắn hạn, một thực thể có một thiếu vốn lưu động, còn được gọi là thâm hụt vốn lưu động. Một công ty có thể được ưu đãi với tài sản và lợi nhuận nhưng có khả năng thanh khoản thấp nếu tài sản của nó không thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền mặt. Vốn lưu động lớn hơn 0 là cần thiết để đảm bảo rằng một công ty có thể tiếp tục các hoạt động của nó và nó có đủ các quỹ để đáp ứng cả nợ ngắn hạn trưởng thành cũng như các chi phí vận hành sắp tới. Việc quản lý vốn lưu động liên quan đến quản lý hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả, và tiền mặt. Tính toán. "Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn" bao gồm "ba tài khoản" là đặc biệt quan trọng. Các tài khoản này đại diện cho các lĩnh vực kinh doanh mà các nhà quản lý có tác động trực tiếp nhất: Phần ngắn hạn của nợ (phải trả trong vòng 12 tháng) là rất quan trọng, bởi vì nó đại diện cho một tuyên bố ngắn hạn đối với tài sản ngắn hạn và thường được bảo đảm bằng tài sản dài hạn. Các loại phổ biến của nợ ngắn hạn là các khoản vay ngân hàng và các dòng tín dụng. Một gia tăng trong vốn lưu động cho thấy doanh nghiệp đã hoặc tăng tài sản ngắn hạn (mà nó đã tăng các khoản phải thu hoặc các tài sản ngắn hạn khác) hoặc đã giảm nợ ngắn hạn - ví dụ đã vừa trả hét một số chủ nợ ngắn hạn, hoặc một sự kết hợp của cả hai. "Những gợi ý trên M&A:" Định nghĩa thương mại chung của vốn lưu động cho mục đích điều chỉnh vốn lưu động trong một nghiệp vụ M&A (tức là cho một cơ chế điều chỉnh vốn lưu động trong một thỏa thuận mua bán) là bằng: "Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn không bao gồm tài sản thuế thu nhập hoãn lại/nợ phải trả, tiền mặt dư thừa, tài sản thừa và/hoặc số dư tiền gửi". Các mục số dư tiền mặt thường thu hút một điều chỉnh giá mua một-cho-một. Quản lý vốn lưu động. Các quyết định liên quan đến vốn lưu động và tài chính ngắn hạn được gọi là "quản lý vốn lưu động". Điều này liên quan đến việc quản lý các mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn của một công ty và nợ ngắn hạn của nó. Mục tiêu của quản lý vốn lưu động là để đảm bảo rằng công ty có thể tiếp tục các hoạt động của nó và nó có dòng tiền đủ để đáp ứng cả nợ ngắn hạn trưởng thành và các chi phí hoạt động sắp tới. Tiêu chí quyết định. Theo định nghĩa, quản lý vốn lưu động đòi hỏi quyết định nói chung ngắn hạn, liên quan đến thời gian một năm tiếp theo, vốn là những việc "có thể đảo ngược". Những quyết định này do đó không được thực hiện trên cơ sở tương tự như các quyết định đầu tư vốn (NPV hoặc có liên quan, như ở trên); thay vào đó, chúng sẽ được dựa trên các dòng tiền mặt, hoặc khả năng lợi nhuận, hoặc cả hai. Quản lý vốn lưu động. Được hướng dẫn bởi các tiêu chí trên, việc quản lý sẽ sử dụng một sự kết hợp của các chính sách và kỹ thuật cho việc quản lý vốn lưu động. Các chính sách nhằm mục đích quản lý "Tài sản ngắn hạn" (thường tiền mặt và tương đương tiền, hàng tồn kho và các con nợ) và các nguồn tài chính ngắn hạn, như các dòng tiền và thu hồi vốn được chấp nhận. Cách tính vốn lưu động. Ta có thể tính vốn lưu động qua công thức dưới đây Trong đó: Tài sản ngắn hạn: là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tài sản này có thể chuyển đổi được thành tiền mặt trong thời gian một năm. Tài sản ngắn hạn có thể là tiền tệ, hàng hóa, tiền lương, tiền đầu tư, tiền tiết kiệm,… Nợ ngắn hạn: là những khoản nợ mà doanh nghiệp cần phải trả. Số nợ này phải trả trong vòng một năm, bao gồm các khoản nợ phải trả và nợ dồn. Ngoài công thức tính trên, chúng ta còn có một số tiêu chí đánh giá vốn lưu động khác như: Khả năng thanh toán hiện thời, khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh,…
1
null
Nhái cây Waza, tên khoa học: Gracixalus nonggangensis, là một loài ếch thuộc họ Rhacophoridae đặc hữu của Việt Nam. Loài nhái cây này được đặt theo được đặt theo tên của Hiệp hội Các vườn thú thế giới (WAZA) để ghi nhận những đóng góp của tổ chức này đối với công tác bảo tồn các loài động vật hoang dã nói chung và ếch nhái nói riêng. Mẫu vật của loài này đã được thu thập ở vùng núi đá vôi ở phía đông tỉnh Cao Bằng ở độ cao 400-650m so với mực nước biển. Loài nhái cây này sinh sống ở các Thung lũng đá vôi hoặc cửa hang động, khá xa nguồn nước.
1
null
Lâm Đại (tiếng Anh: Linda Lin Dai, tiếng Trung: 林黛), sinh ngày 26 tháng 12 năm 1934 tại Quế Lâm, mất ngày 17 tháng 7 năm 1964, là một diễn viên nổi tiếng của Hồng Kông trong các thập niên 1950, 1960 với các phim tiếng Phổ thông. Bà còn là một ngôi sao dưới sự quản lý của hãng Thiệu Thị Huynh Đệ. Lâm Đại từng bốn lần giành giải thưởng Diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim châu Á Thái Bình Dương với những bộ phim của hãng Thiệu Thị. Năm 1958, trong thời gian tham gia khoá học ngắn hạn về phim truyền hình và ngôn ngữ học tại Đại học Columbia, New York, bà đã gặp và phải lòng Long Shengxun, con trai của Long Yun, một cựu thống đốc của tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Hai người cưới nhau vào ngày 12 tháng 2 năm 1961 tại Hong Kong. Tháng bảy năm 1964, vì đau buồn chuyện gia đình, bà đã tự tử bằng thuốc ngủ và khí gas, tại nhà riêng ở Hong Kong. Cái chết của bà đã làm chấn động cộng đồng người Trung Quốc lúc bấy giờ. Khi đó, bà vẫn còn hai phim chưa hoàn tất là "Bảo liên đăng" và "Lam Dữ Hắc" ("Blue and Black" I, II).
1
null
John Dunstaple (hay Dunstable) (1390-1453) là nhà soạn nhạc người Anh. Ông là nhà soạn nhạc thuộc thời kỳ Phục hưng. Ông là một trong bốn thành viên của trường phái Burgundian. Ông chủ trương một phong cách âm nhạc đơn giản hơn vì ông cùng với các nhà soạn nhạc đương thời cảm thấy ars nova có gì đó khô khan, quá nhấn mạnh vào đối âm và khó nghe. Âm nhạc của ông thanh nhã, ảnh hưởng tới các nhà soạn nhạc ở lục địa châu Âu, trong đó nổi bật là những nhà soạn nhạc phục vụ công tước Bourgogne ở miền bắc Pháp.
1
null
Tham khảo. Fred Hoyle (1915-2001) là nhà thiên văn học người Anh. Ông sống đời thiên văn của mình hoàn toàn tại Viện Thiên văn học của Cambridge. Ông là một trong những người ủng hộ thuyết của Albert Einstein về sự phát triển của vũ trụ. Thuyết này cho rằng vũ trụ sau khi được hình thành không giãn ra cũng không co lại, vẫn ở trạng thái như thế cho đến bây giờ. Thêm vào đó, Hoyle còn là một trong những người bác bỏ thuyết Big Bang. Ngoài ra, ông còn là một nhà văn khoa học viễn tưởng.
1
null
Johann Gottfried Galle (9 tháng 6 năm 1812 - 10 tháng 7 năm 1910) là nhà thiên văn học người Đức. Ông làm việc và nghiên cứu tại đại Đài thiên văn học Berlin và Đại học Breslau. Ông là người giúp danh tiếng của Urbain Le Verrier được mọi người biết đến nhờ việc phát hiện ra sao Hải Vương. Vào ngày 23 tháng 9 năm 1846, ông được Le Verrier chỉ lên bầu trời vị trí của một hành tinh chưa được biết tới mà nhà khoa học người Pháp đã tính toán ra trong một thời gian dài. Ông hướng kính thiên văn vào vị trí đó và phát hiện một hành tinh màu xanh nước biển. Ông vui mừng thông báo cho nhà thiên văn người Pháp về sự phát hiện đó. Nhờ đó, Le Verrier được biết tới khắp châu Âu.
1
null
Konrad Ernst von Goßler (28 tháng 12 năm 1848 tại Potsdam – 7 tháng 2 năm 1933 tại Eisenach) là một Thượng tướng bộ binh của Vương quốc Phổ, đã từng tham chiến trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức (1870 – 1871). Từ năm 1908 cho đến năm 1910, ông là Thống đốc của pháo đài Mainz. Về sau, ông tham gia một số trận đánh hết sức khốc liệt trên Mặt trận phía Tây trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Thân thế. Konrad Ernst von Goßler sinh ngày 28 tháng 12 năm 1848, trong một gia đình quý tộc có lẽ là khởi nguồn từ làng Gosel ở Egerland, và đã đến lập nghiệp tại Gürth (nay là một địa danh thuộc Bad Brambach ở Vogtland) từ trước năm 1630. Thân phụ của ông là Thủ tướng Vương quốc Phổ Karl Gustav von Goßler (1810 – 1885), "Kronsyndikus" (Tư vấn luật pháp của Vương triều) và Chủ tịch Tòa án Tối cao Địa phương Königsberg, với bà "Sophie von Mühler" (1816 – 1877), con gái của Bộ trưởng Luật pháp và Quốc vụ khanh Vương quốc Phổ Heinrich Gottlob von Mühler (1780 – 1857). Cặp đôi này có bốn người con: Quốc vụ khanh Vương quốc Phổ và Chủ tịch Tối cao ("Oberpräsident") tỉnh Tây Phổ Gustav (1838 – 1902), Quốc vụ khanh và Bộ trưởng Chiến tranh Phổ – Thượng tướng bộ binh Heinrich (1841 – 1927), Thượng tướng bộ binh Konrad (1848 – 1933) và Trung tướng Wilhelm von Goßler (1850 – 1928). Vào ngày 7 tháng 8 năm 1878, ở Berlin, Goßler thành hôn với "Klara Klaatsch" (18 tháng 6 năm 1857 tại Berlin – 29 tháng 6 năm 1931 tại Eisenach), con gái của "Geheimen Sanitätsrats" (danh hiệu dành cho một dược sĩ xuất sắc) của Phổ, "August Klaatsch" (chắt của y sĩ và công dân danh dự thành phố Berlin, Bác sĩ Ernst-Ludwig Heim), với bà "Julie Schwendler". Cuộc hôn nhân này đã mang lại cho họ 4 người con. Sự nghiệp quân sự. Tại trường trung học Königsberg, Goßler đã hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp phổ thông của mình (gọi là Abitur) và vào ngày 13 tháng 3 năm 1868, ông gia nhập Trung đoàn Phóng lựu "Franz" với vai trò là một học viên sĩ quan ("Fahnenjunker"). Vào ngày 10 tháng 10 năm 1868, ông được phong quân hàm chuẩn úy rồi vào ngày 14 tháng 10 năm 1869, ông được thăng cấp thiếu úy. Vào ngày 19 tháng 7 năm 1870, ông được bổ nhiệm vào Tiểu đoàn I "Hamm" trong Trung đoàn Phóng lựu Dân quân Cận vệ số 2. Với đơn vị này, ông đã tham chiến trong cuộc cuộc chiến tranh với Pháp (1870 – 1871). Vào ngày 13 tháng 8 năm 1870, với cấp bậc trung úy của Trung đoàn Phóng lựu Dân quân Cận vệ số 2, ông đến sông Selz, gần thành phố Rastatt trên sông Rhein. Ông đã tham gia trong cuộc vây hãm Strasbourg, thủ phủ vùng Alsace của Pháp, và được tặng thưởng Huân chương Thập tự Sắt hạng II vì có công đập tan cuộc phá vây quy mô lớn của quân Pháp vào ngày 2 tháng 9 năm 1870. Sau đó, ông tham gia cuộc vây hãm Paris. Sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, ông là sĩ quan phụ tá của một tiểu đoàn bắn súng hỏa mai và vào ngày 12 tháng 2 năm 1876 ông được thuyên chuyển vào Trung đoàn Cận vệ số 4 ở Koblenz. Ngày 13 tháng 5 năm 1880, ông gia nhập Bộ Tổng tham mưu ở kinh đô Berlin. Sau đó, ngày 8 tháng 11 năm 1881, ông được lãnh chức sĩ quan phụ tá của Lữ đoàn Bộ binh số 55 tại Karlsruhe. Ngày 13 tháng 9 năm 1882, ông được lên quân hàm Đại úy. Ngày 15 tháng 11 năm 1883, ông được nhậm một chức đại đội trưởng trong Tiểu đoàn Hamm. Sau khi trải qua một số chức vụ, ông trở thành một tiểu đoàn trưởng vào năm 1892. Từ năm 1908 cho đến năm 1910, ông giữ chức Thống đốc của pháo đài Mainz. Ngày 11 tháng 9 năm 1907, ông được phong cấp Thượng tướng bộ binh. Ngày 7 tháng 3 năm 1910, ông xuất ngũ với danh hiệu của Trung đoàn Phóng lựu Cận vệ số 2 Hoàng đế Franz. Tuy nhiên, khi nhận được lệnh của Chính phủ bổ nhiệm ông làm Tướng tư lệnh Quân đoàn Trừ vị VI (ở Schlesien) trong đêm ngày 2 tháng 8 năm 1914 – ngày tổng động viên đầu tiên của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông đã không chần chừ trở lại quân ngũ. Schlesien vốn là một địa danh quen thuộc với binh nghiệp của ông, và ông đã trải qua 3 năm làm tham mưu trưởng sư đoàn tại đây và 5 năm làm Sư trưởng của Sư đoàn số 11 ở Breslau, thủ phủ Schlesien. Lính Schlesien đã chiến đấu trên Mặt trận phía Tây như một phần thuộc Tập đoàn quân số 5 do Thái tử Wilhelm thống lĩnh. Vào mùa xuân năm 1916, quân đoàn đã tham chiến ở Verdun, nơi họ chịu nhiều thiệt hại. Sau đó, mùa hè năm 1916, tướng von Goßler và các lực lượng trừ bị dưới quyền ông đã chuyển đến sông Somme, nơi họ chiến đấu cùng với Tập đoàn quân số 1 của Đức. Để ghi nhận tài năng chỉ huy và lòng dũng cảm của ông trong những trận đánh này, ông được trao tặng Huân chương Quân công cao quý của Phổ. Vào ngày 10 tháng 2 năm 1917, khi ông 68 tuổi, tướng von Goßler được giải ngũ. Ông từ trần vào ngày 7 tháng 2 năm 1933.
1
null
Moritz Ferdinand Freiherr von Bissing (30 tháng 1 năm 1844 tại Thượng Bellmannsdorf, hạt Lauban, tỉnh Schlesien – 18 tháng 4 năm 1917 tại Trois Fontaines ở Bỉ), được phong hàm Nam tước Phổ vào ngày 31 tháng 3 năm 1858, là một sĩ quan quân đội Phổ, đã từng tham chiến trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ (1866) và cuộc Chiến tranh Pháp-Đức (1870 – 1871). Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền của nước Bỉ bị Đức chiếm đóng và lên quân hàm Thượng tướng vào nửa cuối năm 1914. Gia đình. Moritz sinh ngày 30 tháng 1 năm 1844, trong một gia đình quý tộc có lẽ là xuất xứ từ Schwaben. Ông là con trai của địa chủ Moritz von Bissing (1802 – 1860), chủ các điền trang Thượng và Hạ Bellmannsdorf, được phong hàm Nam tước vào ngày 17 tháng 7 năm 1852, và người vợ của ông này là bà Nam tước Dorothea Freiin von Gall (1800 – 1847). Ông là cháu nội của Đại tá Hans August von Bissing và người vợ của ông này là Auguste von Gröna, con gái ngoài giá thú của Vương công Friedrich Albrecht xứ Anhalt-Bernburg. Bà von Gall là con gái của viên Thượng tá Phổ, đồng thời là một giám đốc cảnh sát, Christian Freiherr von Gall và người vợ của ông này là Charlotte Dorothea von Reibnitz. Vào ngày 22 tháng 8 năm 1872, tại Dresden, Bissing thành hôn với bà Myrrha Wesendonck (người Thụy Sĩ, 7 tháng 8 năm 1851 tại Zürich – 10 tháng 7 năm 1888 tại München), con gái của thương gia Otto Wesendonck (1815 – 1896) và Agnes Mathilde Luckemeyer (1828 – 1902), con gái của thương nhân Karl Luckemeyer và Johanna, tên khai sinh là Stein. Với tên gọi Mathilde Wesdendonck – có lẽ bà lấy tên này để làm đẹp lòng chồng (ông Wesendonck có người vợ thứ nhất và một người chị đều là Mathilde và đều đã mất), bà Mathilde được biết đến như là một tác giả, bạn và có lẽ là người tình của nhà soạn nhạc Richard Wagner. Người con trai trưởng của ông là nhà Ai Cập học nổi tiếng, Giáo sư–Tiến sĩ Friedrich Wilhelm Freiherr von Bissing (1873 – 1956). Tiểu sử. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1865, ông đã gia nhập quân đội Phổ với quân hàm Thiếu úy. Sau đó, người sĩ quan kỵ binh trẻ tuổi đã tham chiến trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866 và cuộc Chiến tranh Pháp-Đức vào các năm 1870 – 1871. Vào ngày 16 tháng 11 năm 1871, ông được thăng cấp Trung úy. Ngày 1 tháng 6 năm 1875, ông được phong quân hàm Trưởng quan kỵ binh ("Rittmeister"). Vào năm 1882, Trung đoàn Khinh kỵ binh "Vua Wilhelm I" (số 1 Rhein) số 7 tại Bonn rồi vào năm 1883 ông tham gia trong Bộ Tổng tham mưu. Năm 1887, ông được cử làm sĩ quan trợ lý của Thái tử Wilhelm, sau đó, vào ngày 15 tháng 6 năm 1888, ông được bổ nhiệm làm "Sĩ quan hầu cận thường nhận của các Hoàng đế và Quốc vương" tại kinh đô Berlin, phụng sự cho tân Hoàng đế Wilhelm II. Vào ngày 19 tháng 6 năm 1888, ông được lên quân hàm Thượng tá. Ông giữ chức vụ của mình cho đến ngày 18 tháng 2 năm 1889, ông lãnh chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Gardes du Corps ở Potsdam. Vào ngày 23 tháng 5 năm 1890, ông được thăng cấp Đại tá, rồi vào ngày 20 tháng 5 năm 1893, ông được ủy nhiệm làm Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Kỵ binh Cận vệ số 1. Năm 1894, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Ngày 1 tháng 9 năm 1897, ông được bổ nhiệm làm Sư trưởng của Sư đoàn Bộ binh số 29 tại Freiburg im Breisgau. Cùng năm đó, ông lên quân hàm Trung tướng vào ngày 10 tháng 9, rồi vào ngày 27 tháng 1 năm 1902 ông được phong cấp Thượng tướng kỵ binh. Từ ngày 18 tháng 5 năm 1901 cho đến tháng 12 năm 1907, ông thay thế Ernst von Bülow làm Tư lệnh của Quân đoàn VII ở Münster. Kể từ năm 1908, ông xuất ngũ về sống tại điền trang Rettkau trong làng Groß Gräditz ở hạt Glogau (Hạ Schlesien). Từ năm 1910 cho đến khi qua đời vào tháng 4 năm 1917, ông là một thành viên của Viện Quý tộc Phổ. Ông còn tham gia Giải Vô địch Wimbledon 1912 và bị loại ở vòng 2. Khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào đầu tháng 8 năm 1914, ông được triệu hồi vào Tập đoàn quân số 7 trên Mặt trận phía Tây. Kể từ ngày 2 tháng 8 cho đến ngày 24 tháng 11 năm 1914, ông giữ chức vụ Phó Tướng tư lệnh tại đại bản doanh của Quân đoàn VII ở Münster, điều hành sự vụ ở hậu phương trong khi Tướng tư lệnh Karl von Einem tham chiến ở xa trường. Sau đó, ông được thuyên chuyển làm Toàn quyền của Bỉ bị Đức chiếm đóng, thay cho tướng Colmar von der Goltz, người được điều đi chỉ huy các tập đoàn quân Đức ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông tại nhiệm cho đến khi qua đời ba năm sau đó và là người có ảnh hưởng lớn nhất đến chính sách cai trị của Đức ở Bỉ. Ngày 24 tháng 12 năm 1914, ông được lên quân hàm Thượng tướng. Trong thời kỳ cầm quyền của mình, Bissing còn được biết đến vì là người đã ký lệnh tử hình nữ y tá người Anh Edith Cavell vào năm 1915. Moritz von Bissing đã sử dụng quyền hành không giới hạn và quyền tự trị trên thực tế của mình đã hình thành bộ máy chiếm đóng, bỏ qua những mâu thuẫn về quyền lợi để thực thi một chính sách chặt chẽ vừa phục vụ quyền lợi của đất nước ông mà vừa bảo vệ Bỉ thoát khỏi sự diệt vong. Không lâu sau khi ông lên nắm quyền, Bộ Chỉ huy Tối cao của Đức đã chia nước Bỉ làm 3 vùng chiếm đóng. Khu vực lớn nhất được đặt dưới sự điều khiển của Chính quyền Trung ương, đứng đầu là tướng von Bissing. Khu vực này bao gồm thủ đô Brussels và phần lớn vùng phụ cận. Khu vực thứ hai gồm thâu các thành phố Ghent và Antwerp, nắm dưới sự kiểm soát của Tập đoàn quân số 4. Khu vực thứ ba là vùng ven biển của Bỉ dưới sự bảo hộ của Hải quân Đức. Để dễ bề quản lý Bỉ, người Đức cần phải có một bộ máy quan liêu dân sự lớn để hỗ trợ cho quân đội. Một số công chức được phái đến từ Đức, nhưng chỉ một số ít cá nhân có khả năng về ngoại ngữ và kinh nghiệm về hành chính mà việc quản lý một guồng máy phức tạp của một thuộc quốc đòi hỏi. Trước sự ít ỏi của các viên chức Đức trong bộ máy cai trị tại Bỉ (trong đó có Tiến sĩ Wilhelm von Sandt là người đứng đầu hệ thống quản lý dân sự), Von Bissing đã phối hợp những người này với các bộ trưởng và viên chức của Chính phủ Bỉ trước khi bị Đức xâm chiếm. Ông giữ cho cơ cấu hành chính của Bỉ được nguyên vẹn nhất có thể và cho đội ngũ công chức người Đức tham gia cai quản. Chính phủ Bỉ thời tiền chiến, vốn đã dời đến Le Havre ở Pháp, đã chỉ thị cho các luật gia và viên chức phối hợp với người Đức để bảo vệ quyền lợi của dân chúng Bỉ. Ở Bỉ có hai nhóm sắc tộc khác nhau, mỗi sắc tộc chiếm phân nửa quốc gia này. Người Bỉ vùng Vlaanderen có ngôn ngữ và văn hóa tương đồng với Đức, trong khi người Bỉ gốc Pháp (vùng Wallonie) có chung ngôn ngữ và văn hóa với Pháp. Với chính sách Vlaanderen ("Flamenpolitik"), chính quyền Đức chủ trương lợi dụng mâu thuẫn sắc tộc để dễ cai trị Bỉ. Thực thi chính sách này, Bissing đã chú trọng đến sự phát triển về kinh tế và văn hóa của Vlaanderen. Năm 1915, Trường Đại học Ghent, với ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp, được chuyển thành một học viện hoàn toàn sử dụng tiếng Vlaanderen. Do Thủ tướng Đức Bethmann-Hollweg cổ vũ các nhà dân tộc chủ nghĩa Vlaanderen tuyên bố độc lập và hòa nhập với người Đức, Von Bissing đã triệu tập một hội đồng để tiến hành chia cắt Bỉ, và theo một sắc lệnh ban bố vào ngày 21 tháng 3 năm 1917, nước Bỉ bị chia làm hai khu hành chính: Vlaanderen và Wallonia. Dựa theo quyết định của các nhà dân tộc chủ nghĩa Wallonia năm 1912 nhằm công nhận Namur như một thành phố trung ương của Wallonia, ông thiết lập bộ máy hành chính Walloonia ở đây. Wallonia khi ấy bao gồm 4 tỉnh miền nam Bỉ và một phần của tỉnh Brabant: quận Nivelles, qua đó thực hiện một yêu sách khác của phong trào Walloonia: thành lập Brabant thuộc Wallonia. Vùng Vlaanderen có thủ phủ ở Brussels, và được hình thành từ 4 tỉnh miền bắc Bỉ, cùng với các quận Brussels và Leuven. Đây là nỗ lực đầu tiên để chia cắt Bỉ dựa theo khác biệt về ngôn ngữ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Bissing chia sẻ nhiệt huyết với Chính phủ Berlin về việc chia cắt hoàn toàn Bỉ ngay lập tức. Khác với giới cầm quyền Đức ở Berlin, ông hiểu rằng phần lớn người dân Vlaanderen không muốn phân chia đất nước của mình. Thậm chí việc chuyển ngôn ngữ chính thức của Trường Đại học Ghent từ tiếng Pháp sang tiếng Vlaanderen cũng vấp phải sự kháng cự của họ. Mặc dù nhiều tổ chức hoạt động ở Vlaanderen ủng hộ biện pháp này, phần lớn người Vlaanderen phản đối vì cho rằng đây là một quyết định chia rẽ nước mình. Mặc dù, Bissing tuân thủ áp dụng mọi quyết định chính trị và chính sách kinh tế mà triều đình đề xướng, ông cố gắng làm điều đó theo một cách ngăn chặn Bỉ bị chia cắt và khai thác. Ông từ trần vào ngày 18 tháng 4 năm 1917 tại Trois Fontaines gần Brussels. Ông được mai táng trong nghĩa trang Invalidenfriedhof ở Berlin. Ngôi mộ của ông hiện không còn tồn tại. Ghi chú. Chú ý đến tên gọi của ông: "Freiherr" là một tước hiệu, tương đương với Nam tước, chứ không phải là một tên riêng hoặc tên lót. Trước năm 1919, tước hiệu nằm ở phía trước tên riêng. Tước hiệu cũ của những người còn sống sau năm 1919 là thành phần thuộc tên họ, do đó nằm phía sau tên thánh và không thể được dịch. Tước vị tương đương với "Nữ Nam tước" là "Freifrau" hoặc "Freiin".
1
null
Get Your Heart On! là album phòng thu thứ tư của nhóm nhạc punk/alternative Simple Plan. Album được ra mắt ngày 21 tháng 6 năm 2011 (ngày 17 tháng Sáu ở một số nước như Úc và Hà Lan). Đĩa đơn đầu tiên của album là "Can't Keep My Hands Off You", ra mắt ngày 31 tháng 3 năm 2011. Đĩa đơn quảng bá cho "Get Your Heart On!", "Jet Lag" được ra mắt ngày 25 tháng Tư. Ngoài ra, nhóm nhạc còn cho ra các đĩa đơn khác như "Astronaut" (19 tháng 12 năm 2011) và "Summer Paradise" (13 tháng 12 năm 2011 tại Úc, 28 tháng 2 năm 2012 trên toàn thế giới). Album đạt vị trí thứ 52 trên bảng xếp hạng Billboard Top 200. Danh sách bài hát. Tất cả các bài hát đều được sáng tác và trình bày bởi Simple Plan.
1
null
Anders Jonas Ångström (; 13 tháng 8 năm 1814 - 21 tháng 6 năm 1874) là nhà vật lý học, nhà thiên văn học người Thụy Điển và là một trong những người sáng lập ra ngành khoa học về quang phổ. Ångström cũng nổi tiếng với các nghiên cứu về vật lý thiên văn, trao đổi nhiệt, địa từ học và cực quang. Ông là một trong những nhà khoa học lớn của đất nước thuộc bán đảo Scandinavia. Phần lớn cuộc đời ông gắn liền với trường Đại học Uppsala, một trong những ngôi trường danh tiếng của Thụy Điển. Khi còn là sinh viên, ông học ở đó. Và khi làm khoa học, ông cũng có thời gian tới đó để nghiên cứu và làm việc. Tên của ông được dùng làm đơn vị đo độ dài đó là đơn vị Ångström (1 Å = 10−10 m). Nó đôi khi được dùng để thể hiện kích thước của nguyên tử, chiều dài của liên kết hóa học và bước sóng ánh sáng. Đơn vị này cũng được sử dụng trong tinh thể học cũng như quang phổ học. Hố va chạm Ångström trên Mặt trăng được đặt theo tên Ångström nhằm vinh danh ông. Một trong những khu phức hợp tòa nhà chính của Đại học Uppsala, Phòng thí nghiệm Ångström được đặt tên để vinh danh ông. Tòa nhà này có nhiều phòng ban khác nhau bao gồm Khoa Vật lý và Thiên văn, Khoa Toán học, Khoa Khoa học Kỹ thuật, Viện Vật lý Vũ trụ và Khoa Hóa học.
1
null
George Gamow (1904-1968) (tên tiếng Nga: Georgiy Antonovich Gamov) là nhà vật lý, nhà thiên văn học người Mỹ gốc Liên Xô cũ. Ông là một trong những người ủng hộ thuyết Big Bang, lý thuyết nổi tiếng nhất về sự hình thành vũ trụ. Qua nghiên cứu, ông đã tiên đoán vết tích của bức xạ của vũ trụ nguyên thủy, lúc đầu nóng ít nhất là hàng triệu độ, sau nguội dần vì vũ trụ giãn nở. Sau đó, các thực nghiệm khoa học đã chứng minh những gì lý thuyết của Gamow nói đều có sự đúng đắn.
1
null
Neil Mallon Pierce Bush (sinh ngày 22 tháng 1 năm 1955) là một doanh nhân người Mỹ, nhà đầu tư, và nhà từ thiện. Ông là người con thứ tư trong sáu người con của cựu Tổng thống George Herbert Walker Bush và Barbara Bush. Năm anh chị em của ông là George Walker Bush, cựu Tổng thống của Hoa Kỳ, Jeb Bush, cựu thống đốc Florida, Robin Bush, người đã chết vì Ung thư bạch cầu vào năm 1953 khi bốn tuổi, còn lại là Marvin Bush và Dorothy. Neil Bush hiện đang là một doanh nhân có trụ sở tại Texas.
1
null
Danh sách đĩa nhạc của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc T-ara bao gồm 4 album phòng thu, 7 đĩa mở rộng (EP), 36 đĩa đơn, 6 album phòng thu bản repackage và 6 đĩa đơn quảng bá. Tháng 11 năm 2009, T-ara ra mắt album đầu tay mang tựa đề Absolute First Album. Trong số các đĩa đơn của album, ca khúc Bo Peep Bo Peep giành liên tục 5 giải trên Music Bank và Inkigayo. Đến tháng 2 năm 2010, T-ara phát hành ca khúc I Go Crazy Because Of You giành vị trí thứ #1 trên Gaon Chart và 3 giải trên các sân khấu. Năm 2010, nhóm ra mắt EP/đĩa mở rộng đầu tiên Temptastic Tháng 6 năm 2011, T-ara phát hành đĩa mở rộng John Travolta Wannabe có bản Roly Poly đã gặt hái thành công vang dội, mang về cho T-ara 2 triệu USĐ doanh thu và bài hát được download nhiều nhất ở Hàn Quốc với 4,6 triệu lượt tải, đưa T-ara lên một thành công mới. Cuối năm 2011 và đầu 2012, nhiều đĩa đơn của EP thứ ba Black Eyes và repackage Funky Town của T-ara đạt vị trí #1 trên Gaon Chart và Billboard như: Cry Cry, We Were In Love, Lovey-Dovey. Từ 2012 đến 2015, T-ara tiếp tục ra mắt các đĩa mở rộng Day By Day, Again, And & End và So Good.
1
null
Trong các hệ điều hành giống Unix, chmod là một lệnh của trình bao Unix và là lời gọi hệ thống, dùng để thay đổi quyền truy cập tập tin của các đối tượng tập tin (bao gồm cả tập tin và thư mục, hay đặt các cờ đặc biệt lên đối tượng tập tin. Chmod là viết tắt của "change mode". Lịch sử. Lệnh chmod xuất hiện lần đầu trong phiên bản 1 của AT&T Unix. Cú pháp lệnh. chmod [options] mode[,mode] file1 [file2...] Các tùy chọn thường sử dụng: Nếu đối số của lệnh là một liên kết tượng trưng, lệnh sẽ ảnh hưởng tới đối tượng đích của liên kết. Chế độ truy cập gán trên liên kết thường không được sử dụng. Để xem chế độ truy cập của tập tin, ta dùng lệnh ls hay stat: $ ls -l phoneNumbers -rwxr-xr-- 1 dgerman staff 823 Dec 16 15:03 phoneNumbers $ stat -c %a phoneNumbers 754 Các chế độ r, w, và x xác định quyền đọc (read), ghi (write) và thực thi (execute) trên tập tin. Tập tin phoneNumbers có thể được đọc, ghi, thực thi bởi chủ sở hữu dgerman, các người dùng trong nhóm staff có thể đọc và thực thi, tất cả các người dùng khác có quyền đọc. Chế độ bát phân. Định dạng số của chmod cung cấp một cách biểu diễn và gán chế độ truy cập bằng 4 ký số bát phân. 3 ký số bên phải là quyền truy cập của chủ sở hữu, nhóm và các người dùng khác, ký số thứ tư từ phải sang trái biểu diễn các cờ đặc biệt setuid, setgid và sticky. Quyền truy cập biểu diễn dạng số Ví dụ. Cho phép người dùng trong nhóm programmers có thể cập nhật tập tin: $ ls -l sharedFile -rw-r--r-- 1 jsmith programmers 57 Jul 3 10:13 sharedFile $ chmod 664 sharedFile $ ls -l sharedFile -rw-rw-r-- 1 jsmith programmers 57 Jul 3 10:13 sharedFile Do các cờ setuid, setgid và sticky không được đặt, lệnh trên tương đương với: $ chmod 0664 sharedFile Chế độ tượng trưng. Lệnh chmod cũng cho phép sử dụng các ký hiệu tượng trưng để điều chỉnh một chế độ cụ thể mà không ảnh hưởng tới các chế độ khác. Chế độ tượng trưng gồm 3 thành phần, kết hợp lại thành một chuỗi: $ chmod [tham chiếu][toán tử][chế độ] file... Tham chiếu (hay lớp) dùng để xác định những người dùng nào sẽ được điều chỉnh quyền truy cập. Tham chiếu mặc định sử dụng là "all" cho tất cả các nhóm nếu không có tham chiếu được chỉ định. Tuy nhiên việc thay đổi các quyền truy cập còn phụ thuộc vào thiết lập umask. Tham chiếu được biểu diễn bởi các ký tự sau: Chương trình chmod sử dụng một toán tử để quy định cách thay đổi chế độ của tập tin: Một ký tự sẽ biểu diễn chế độ được thêm/xóa trên tập tin. Có ba chế độ cơ bản như sau: Dùng dấu phẩy để cách các chế độ tượng trưng nếu muốn thực hiện nhiều thay đổi trong một lệnh.
1
null
Cơm kẹp một biến thể của burger, trong đó phần bánh làm từ gạo được nén thành bánh. Hãng thức ăn nhanh MOS Burger giới thiệu cơm kẹp năm 1987, và nó trở nên phổ biến tại khu vực Đông Á. Bắt đầu từ năm 2005 McDonald's cũng giới thiệu cơm kẹp tại thị trường châu Á. Tại Việt Nam, cơm kẹp được cung cấp bởi các nhãn hiệu như Lotteria, cơm kẹp và xôi nếp kẹp thịt của RicePass,VietMac... Nguồn gốc. Cơm kẹp được cho là có nguồn gốc từ Nhật Bản. Chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh MOS Burger là đơn vị đầu tiên giới thiệu bánh mì kẹp thịt trong thực đơn của họ vào năm 1987 và ngay sau đó chúng trở nên phổ biến trên khắp Đông Á, đôi khi người Nhật còn có cả sushi burger (寿司バーガー) với cơm được trộn giấm chua ngọt và các nguyên liệu tương tự món sushi quen thuộc như thịt gia súc nấu chín, hải sản tươi sống hoặc nấu chín kèm rau củ, lá rong biển nori... Ở Hàn Quốc, cơm kẹp thịt và các thức ăn mặn khác được gọi là Bap Burgers 밥버거 - (bap - 밥 có nghĩa là gạo trong tiếng Hàn). Người Hàn Quốc thích cơm kẹp thịt của họ với các loại nhân như kimchi, cá ngừ, thịt lợn với cà rốt, thịt lợn cay với bơ hoặc gà ướp xì dầu. Cơm kẹp thường được nướng áp chảo và cháy xém để có độ giòn ngon tinh tế. Cách làm cơm kẹp. Cơm đã được nấu chín, nếu như là cơm sushi thì trộn đều giấm chua ngọt vào cơm với lượng vừa phải. Đeo bao tay thực phẩm, múc một muỗng cơm lớn đổ vào lòng bàn tay rồi viên tròn lại, sau đó nhẹ nhàng ép dẹt viên cơm thành hình như miếng bánh hamburger rắc chút vừng rang (nếu là cơm sushi thì thêm mẩu nhỏ của lá nori). Làm chín nhân đối với thịt gia súc, gia cầm (như thịt viên chiên áp chảo, gà xào, rau củ xào... nhưng nếu là hải sản tươi sống như sashimi của Nhật thì thái lát mỏng và quết chút mù tạt wasabi lên miếng hải sản. Cho viên cơm dẹt đầu tiên lên, xếp nhân vào giữa và cuối cùng là viên cơm dẹt thứ hai được đắp lên.
1
null
Giacôbê Nguyễn Văn Mầu (1914 – 2013) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa của Giáo phận Vĩnh Long trong hơn 30 năm, từ năm 1968 đến năm 2001. Khẩu hiệu giám mục của ông là "Amor et Labor" – "Yêu thương và Lao khổ". Thân thế, tu tập và thời kỳ linh mục. Nguyễn Văn Mầu sinh ngày 21 hoặc 22 tháng 1 năm 1914 tại Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thuộc Giáo phận Bà Rịa). Cậu bé Mầu là con út trong gia đình gồm có 4 người con. Năm 11 tuổi, Nguyễn Văn Mầu được linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, chánh xứ Bà Rịa, dẫn dắt và hướng dẫn theo con đường tu trì. Năm 1926, cậu chính thức bắt đầu con đường tu trì bằng việc nhập học Tiểu chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Sau quá trình dài hạn tu học, ngày 21 tháng 9 năm 1940, Nguyễn Văn Mầu được thụ phong linh mục. Sau khi được ử hành nghi thức truyền chức, linh mục Mầu được bổ nhiệm lần lượt đảm trách công việc mục vụ giáo xứ khắp Địa phận Sài Gòn: sau khi thụ phong, quản nhiệm giáo xứ Lương hoà thượng. Ba năm sau đó, đảm trách quản nhiệm giáo xứ Bến Gỗ trong thời gian ngắn trước khi quản nhiệm các xứ đạo Cái Thia, Cái Sao, Cái Bèo, Mỹ Lợi từ năm 1943 đến 1947. Năm 1948, linh mục Nguyễn Văn Mầu được bổ nhiệm làm linh mục Tuyên uý Côn Đảo, Bảo Lộc trong thời gian ngắn cho đến năm 1949, khi ông được điều chuyển đến quản nhiệm giáo xứ Bảo Lộc. Năm 1950, ông tiếp tục được thuyên chuyển làm linh mục quản nhiệm Đơn Dương, Cầu Đất, Lạc Lâm, Bắc Hội, sau đó đảm trách xứ đạo Vũng Tàu từ năm 1953 đến 1955. Trong khoảng thời gian từ năm 1955 đến năm 1960, Nguyễn Văn Mầu đảm trách vai trò quản lý nhà thờ Chợ Quán và Bề trên nhà phước Chợ Quán. Trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 1964, ông đảm trách vai trò linh mục giáo xư Hưng Phú. Từ năm 1966 đến 1968, ông làm Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Giám mục. Ngày 12 tháng 7 năm 1968, Toà Thánh loan báo chọn linh mục Nguyễn Văn Mầu làm giám mục chính tòa Giáo phận Vĩnh Long. Lễ tấn phong cho vị tân chức sau đó được tổ chức vào ngày 12 tháng 9 cùng năm, với phần nghi thức truyền chức chính yếu được cử hành bởi Chủ phong là Khâm sứ Tòa Thánh Angelo Palmas cùng với hai vị phụ phong là Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Sài Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình và nguyên giám mục giáo phận Vĩnh Long Antôn Nguyễn Văn Thiện tại Vương cung thánh đường chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, Sài Gòn. Sau lễ tấn phong, ông chính thức nhận giáo phận ngày 19 tháng 9. Sau khi Việt Nam thống nhất, Tòa Thánh liền bổ nhiệm linh mục Raphael Nguyễn Văn Diệp làm giám mục phó giáo phận Vĩnh Long vào tháng 8 năm 1975. Lễ tấn phong cho giám mục Diệp diễn ra trong cùng ngày, Nguyễn Văn Mầu là chủ phong trong nghi thức truyền chức giám mục. Sau 25 năm giữ chức giám mục phó, Nguyễn Văn Diệp từ chức tháng 5 năm 2000. Đồng thời Tòa Thánh bổ nhiệm tân giám mục phó Tôma Nguyễn Văn Tân, với quyền kế vị giám mục Nguyễn Văn Mầu. Lễ tấn phong của giám mục Tân cử hành vào ngày 15 tháng 8 cùng năm. Giám mục Nguyễn Văn Mầu đóng vai trò chủ phong trong nghi thức truyền chức giám mục. Ngày 3 tháng 7 năm 2001, Tòa Thánh chấp thuận đơn xin hồi hưu của Nguyễn Văn Mầu, giám mục phó Tôma Nguyễn Văn Tân chính thức kế nhiệm. Ngày 19 tháng 9 năm 1968, Giacôbê Nguyễn Văn Mầu nhận Giáo phận Vĩnh Long khi đó có trên dưới 40.000 giáo dân. 33 năm sau, ông trao lại Giáo phận cho người kế nhiệm để nghỉ hưu, Giám mục Tôma Nguyễn Văn Tân với số giáo dân tăng lên gần con số 200.000. Nguyễn Văn Mầu qua đời lúc 3 giờ sáng, ngày 31 tháng 1 năm 2013, hưởng thọ 99 tuổi với 73 năm linh mục và 45 năm giám mục. Lễ an táng cố giám mục cử hành sau đó vào ngày 4 tháng 2 năm 2013, gồm có 13 hồng y, giám mục và hơn 200 linh mục từ Giáo phận Vĩnh Long cũng như các giáo phận khác. Tham dự lễ an táng cũng có khoảng gần 5.000 giáo dân. Tông truyền. Giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu được tấn phong giám mục năm 1968, dưới thời Giáo hoàng Phaolô VI, bởi: Giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu là giám mục Chủ phong trong nghi thức truyền chức giám mục cho các giám mục: Giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu là giám mục cử hành nghi thức truyền chức linh mục cho giám mục:
1
null
Yakovlev VVP-6 là một thiết kế thử nghiệm về một loại thiết bị mang tên lửa có thể cất hạ cánh thẳng đứng. Nó chỉ đang dừng ở giai đoạn mô hình. Phát triển. Có lẽ thiết kế cấp tiến nhất từng được đề xuất cho Yakovlev OKB, VVP-6 xuất hiện nhiều giả tưởng khoa học hơn là một nghề thủ công có thể đã được sản xuất. VVP-6 được thiết kế như một nền tảng hỗ trợ VTOL khổng lồ, hoạt động phối hợp với các máy bay phản lực VTOL, như Yak-38 của Yakovlev . Trong số nhiều chức năng được hình dung cho dòng phương tiện này là vận chuyển thực phẩm, nhiên liệu và đạn dược. Thiết kế khổng lồ, riêng phần hộp đã dài 49m. Trong một phiên bản, nó có khả năng mang một hệ thống tên lửa SAM hoàn chỉnh, bao gồm sáu tên lửa SA-2 với các bệ phóng gắn trên bề mặt trên của tàu. Tải lại và radar hỗ trợ đã được lưu trữ nội bộ. VVP-6 đã được trang bị sáu cánh quạt sáu lưỡi được gắn trên sáu giá treo kéo dài từ các mặt của tàu thủ công. Mỗi cánh quạt được điều khiển bởi bốn động cơ cánh quạt, tạo cho VVP-6 tổng cộng 24 động cơ.
1
null
Irkut MS-21 () là một loạt các máy bay chở khách phản lực của Nga, có tầm bay gần và trung bình. Có khả năng chở 150-212 hành khách, do Tổng công ty Irkut và Viện thiết kế Yakovlev thuộc United Aircraft Corporation (UAC) hợp tác phát triển. Tuy là máy bay của Nga nhưng động cơ của MS-21 là PW1000G do hãng Pratt & Whitney của Mỹ chế tạo, hệ thống điện tử của Rockwell Collins, hệ thống điều khiển tích hợp của Goodrich và đồ nội thất từ C & D Zodiac tại Huntington Beach, California. Ngoài ra các khách hàng cũng có thể chọn loại động cơ do chính Nga phát triển Aviadvigatel PD-14, động cơ hiện đang được Nga thử nghiệm.
1
null
Paul Gustave Doré (; 6 tháng 1, 1832 – 23 tháng 1, 1883) là một họa sĩ, nhà điêu khắc, chạm khắc và đồng thời cũng là người vẽ tranh minh họa Pháp. Hoạt động chủ yếu của ông là chạm khắc gỗ. Tiểu sử. Doré được sinh ra tại Strasbourg và tập truyện có hình minh họa đầu tiên của ông được xuất bản khi ông mới 15 tuổi. Tuy nhiên, tài năng của ông đã được bộc lộ từ rất sớm. Ở tuổi lên năm, ông đã là thần đồng gây rắc rối, chuyên bày ra những trò chơi khăm lớn hơn tuổi của mình. Bảy năm sau đó, ông đã tập chạm khắc với xi măng. Khi trở thành một thanh niên, ông làm nghề vẽ minh họa cho các tác phẩm văn học ở Paris, được giao nhiệm vụ mô tả các cảnh trong các cuốn sách của Rabelais, Balzac, Milton và Dante. Năm 1853, Doré được yêu cầu vẽ minh họa cho các tác phẩm của Lord Byron. Sau đó ông có thêm các hợp đồng với các nhà xuất bản Anh, trong đó có việc vẽ minh họa cho Kinh thánh dịch ra tiếng Anh. Năm 1856, ông đã tạo ra mười hai bản minh họa cỡ folio "Huyền thoại người Do Thái Lang thang" cho bài thơ ngắn mà Pierre-Jean de Ranger lấy cảm hứng từ một cuốn tiểu thuyết năm 1845 của Eugène Sue. Vào những năm 1860 ông vẽ minh họa cho bản dịch tiếng Pháp của tác phẩm "Don Quixote" của Cervantes. Cách ông mô tả ngài hiệp sĩ và người cận vệ Sancho Panza đã trở nên quá nổi tiếng đến mức nó đã ảnh hưởng đến cái nhìn của những độc giả, nghệ sĩ, các đạo diễn phim và sân khấu sau này về ngoại hình của hai nhân vật. Ông cũng chính là người vẽ minh họa cho ấn bản cỡ lớn tập thơ "The Raven" của Edgar Allan Poe; nhờ tác phẩm này nhà xuất bản Harper & Brothers đã trả cho ông 30.000 franc năm 1883. Doré tiếp tục minh họa sách cho đến khi ông qua đời tại Paris vì bệnh tật. Mộ ông được chôn ở nghĩa trang Père-Lachaise.
1
null
Trong các hệ điều hành Unix và giống Unix, cat là một tiện ích chuẩn dùng để nối và liệt kê các tập tin. cat là viết tắt của từ catenate - liên kết. Lịch sử. Bản cat đầu tiên trên Unix 1 được viết bởi Dennis M Ritchie (dmr) and Ken Thompson (ken) Cú pháp lệnh. Lệnh cat đi kèm với tùy chọn và một danh sách tập tin và xuất ra stdin theo thứ tự danh sách, nếu không có tập tin nào, cat đọc từ stdin. Cú pháp lệnh cat là: cat [tùy chọn] [các tập tin cách nhau khoảng trắng] Mặc định cat in kết quả ra màn hình stdout, có thể ghi kết quả ra tập tin như sau: cat [tùy chọn] [các tập tin cách nhau khoảng trắng] > [tập tin] Ta cũng có thể dùng ống pipe để truyền kết quả từ cat sang một lệnh khác, ví dụ: cat [tùy chọn] [các tập tin cách nhau khoảng trắng] | less Tùy chọn. Trên các hệ điều hành khác nhau, tùy chọn cat có thể hơi khác, ở đây ví dụ vài tùy chọn của cat của BSD và GNU: b (chỉ GNU: --number-nonblank), đánh số các dòng không trống n (chỉ GNU: --number),đánh số tất cả các dòng s (chỉ GNU: --squeeze-blank), gộp nhiều dòng trống kề nhau v (chỉ GNU: --show-nonprinting), hiển thị các ký tự không in nếu có thể (trừ tab và ký tự kết thúc dòng) t BSD, -T trên GNU kèm -v hiển thị tab dạng ^I e BSD, -E trên GNU kèm -v hiển thị ký tự kết thúc dòng dạng $ A hiển thị tất cả các ký tự, kể cả tab và ký tự kết thúc dòng dạng ^Ithe và $ Với các kiểu tập tin khác. cat có thể dùng để nối các tập tin nhị phân, nhưng với một số tập có mã quy định ở đầu - cuối tập tin (header, footer sign) tập tin sinh ra sẽ bị lỗi. Một số tập tin âm thanh và phim ảnh có thể kết nối bằng cat, như MPEG hay DV Trong các hệ điều hành khác. Lệnh tương tự trong VMS, CP/M, DOS, OS/2, và Microsoft Windows là type. Trong DOS/Windows, để gộp các tập tin ta có thể dùng cú pháp "copy /b" copy /b file1.txt + file2.txt file3.txt Lệnh này sao chép nội dung file1.txt và file2.txt từng bit một vào file3.txt
1
null
NAL hay Lớp trừu tượng hóa mạng (Network Abstraction Layer) là một phần của bộ quy chuẩn H.264/AVC và HEVC về mã hóa video. H.264 phân biệt rõ rệt giữa lớp mã hóa video (Video Coding Layer - VCL) và lớp trừu tượng hóa mạng (NAL). Kết xuất của quá trình mã hóa là dữ liệu VCL, được gói trong các gói NAL (NAL units) trước khi lưu trữ hay truyền đi. NAL được thiết kế với mục tiêu "thân thiện với đường truyền", cho phép sử dụng đơn giản và hiệu quả các dữ liệu VCL trong nhiều hệ thống đa dạng như: Việc chỉ định riêng rẽ lớp mã hóa video và lớp trừu tượng hóa mạng nhằm mục đích phân biệt giữa các đặc trưng của riêng mã hóa (tại lớp VCL) và vận chuyển (tại lớp NAL). NAL unit. Thành phần quan trọng nhất của NAL đó là NAL unit (gói NAL), mọi dữ liệu mã hóa video đều được đua vào các gói NAL unit, mỗi gói được tổ chức sao cho chúng chứa một số nguyên các byte. Dữ liệu payload trong gói NAL được lồng ghép một số các "byte chống giả lập" (emulation prevention bytes) nếu cần thiết, được chèn vào với một giá trị được định trước để ngăn ngừa việc một mẫu dữ liệu cụ thể gọi là "start code prefix" (tiếp đầu mã) bị lặp lại một cách tình cờ bên trong dữ liệu payload. Mỗi gói NAL chứa một chuỗi byte thô (Raw Byte Sequence Payload - RBSP), chứa dữ liệu video mã hóa hoặc thông tin trong header. Một ví dụ cho chuỗi các đơn vị RBSP được mô tả trong hình sau. Các đơn vị này được truyền đi như các gói NAL. Một gói NAL chứa 1 byte header cho biết loại đơn vị RBSP và dữ liệu RBSP nào được gói trong NAL unit.
1
null
Rắn lục Hòn Sơn (danh pháp: Trimeresurus "honsonensis") là một loài rắn được L.L. Grismer, Ngô Văn Trí & J.L. Grismer mô tả khoa học đầu tiên năm 2008. Chúng là loài đặc hữu và mới phát hiện ở Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang thuộc miền nam Việt Nam.
1
null
Nhái cây Quyết (danh pháp khoa học: Gracixalus quyeti) là loài ếch nhái phân bố ở Việt Nam, được miêu tả vào năm 2008 và đặt theo tên của người thu được mẫu chuẩn là Lê Khắc Quyết thuộc tổ chức Hệ Động Thực vật Quốc tế (Fauna and Flora International, FFI). Đây là loài đặc hữu của Việt Nam, được phát hiện tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
1
null
Mãi yêu (tiếng Philippines: Walang Hanggan; tiếng Anh: My Eternal) là phim truyền hình Philippines của hãng ABS-CBN. Đây là bộ phim có rating khá cao. Tính đến ngày 26 tháng 10 năm 2012 bộ phim đã đạt rating 45,4% tại Philippines. Tóm tắt phim. Chuyện phim bắt đầu bởi tình yêu đẹp nhưng đầy trắc trở của Marco Montenegro (Richard Gomez) người thừa kế của gia tộc Montenegro nổi tiếng với nghề làm rượu vang và Emily Cardenas (Dawn Zulueta) con gái một người làm công. Margaret (Helen Gamboa), mẹ Marco đã ngăn cản tình yêu không môn đăng hộ đối của con trai bằng cách khiến cho Emily phải vào tù, biến giọt máu của Marco và Emily thành con nuôi của một gia đình khác và ép Marco kết hôn với cô gái Jane Bonifacio (Rita Avila), một chủ ngân hàng giàu có. Emily thề trả thù bằng mọi giá và nhất định cô sẽ phải thành người giàu, có địa vị ngang hàng như nhà Montenegro. Daniel Cruz (Coco Martin), con trai Marco và Emily lớn lên trong một gia đình công nhân tại vườn nho kế bên trang trại nhà Montenegro. Khi có cậu chủ mới Tomas Alcantara (Joem Bascon), lên nắm quyền điều hành, Daniel phải chịu biết bao khổ cực. Người duy nhất khiến Daniel hạnh phúc chính là cô gái Katerina Alcantara (Julia Montes) thánh thiện - em gái của Tomas. Bất hạnh thay cho Daniel, Katerina chính là cô gái sẽ hứa hôn với Nathan Montenegro (Paulo Avelino) - cậu chủ giàu có của nhà Montenegro - con trai của Marco qua sự mai mối của Tomas độc ác với mục đích kiếm tiền bất chính qua Katerina. Trái tim anh như vỡ tung vào ngày Katerina lên xe hoa. Daniel nghĩ rằng Katerina vì đã hết yêu mình nên kết hôn với Nathan. Không còn gì níu kéo, Daniel ra đi. Anh gặp lại Emily và dần trở thành quân bài trong kế hoạch chống lại nhà Montenegro của người mẹ mà anh không hề hay biết. Liên kết ngoài. Trang chính thức
1
null
Cuộc đảo chính tại Ai Cập 2013 là cuộc đảo chính của quân đội lần thứ hai trong lịch sử Ai Cập. Nó được thi hành ngày 3 tháng 7 năm 2013 dưới sự chỉ đạo của vị chỉ huy quân đội và cũng là bộ trưởng quốc phòng Abd al-Fattah as-Sisi. Cuộc lật đổ chính quyền xảy ra sau những cuộc biểu tình của dân chúng nhiều ngày liên tiếp tại nhiều nơi ở Ai Cập để đòi tổng thống Mohamed Morsi từ chức. Bối cảnh. Vào ngày 30 tháng 6 năm 2013, nhân ngày kỷ niệm một năm tổng thống Ai Cập Mohamed Morsi lên nắm quyền, hàng trăm ngàn người phản đối khắp mọi nơi ở Ai Cập đòi hỏi ông ta từ chức ngay lập tức vì những diễn tiến về chính trị, kinh tế, và xã hội trong nhiệm kỳ của ông ta. Tại Cairo, hàng chục ngàn người tập trung tại công trường Tahrir Square và bên ngoài của dinh tổng thống Heliopolis, trong khi những cuộc biểu tình khác cũng được tổ chức tại Alexandria, Port Said và Suez. Các cuộc biểu tình hầu như rất yên bình, trở thành bạo động khi 5 người phản đối Morsi bị giết chết. Cùng thời gian đó, những người ủng hộ Morsi tụ tập diễn hành tại khu phố Nasr City, một quận của Cairo. Vào buổi sáng ngày 1 tháng 7, những người phản đối Morsi cướp phá cơ sở chính của phong trào Anh em Hồi giáo tại Cairo. Những người phản đối ném đồ đạc vào cửa sổ và cướp phá tòa nhà này. Bộ Y tế Ai Cập chứng nhận là 8 người đã chết trong các cuộc đụng độ chung quanh cơ sở này tại Mokattam. Các cuộc biểu tình rộng lớn đã được hoạch định bởi phong trào Tamarod, một phong trào của các thường dân mà đã tuyên bố họ đã thu nhận được 22 triệu chữ ký cho một kiến nghị kêu gọi tổng thống Morsi từ chức. Tamarod được thành lập vào tháng tư 2013 bởi các thành viên của phong trào đổi mới Ai Cập (Egyptian Movement for Change), mà đã hình thành vào năm 2004 để làm áp lực đưa tới những đổi mới về chính trị dưới sự cai trị của cựu tổng thống Hosni Mubarak. Vào tháng hai 2011, Mubarak bị tước quyền sau 18 ngày biểu tình rộng lớn, chấm 29 năm trị vì của ông ta. Trong cuộc tranh giành quyền lực kỳ này có 2 phe đối nghịch với nhau: Một bên là những người cho mình có bổn phận bảo đảm cho một chính quyền phi tôn giáo, chống lại phe kia, đồng ý cho việc hồi giáo hóa xã hội từ phía trên xuống. Phản đối. Tháng 7. Ngày 2 Tháng 7. Khi trời sập tối thì bạo động trở lại trên những đường phố của Ai Cập. Trong các cuộc đụng độ giữ phe đối lập và phe thân chính phủ Morsi vào tối thứ ba ít nhất 7 người chết vài chục người bị thương. Trong số những người bị thương, nhiều người bị nguy hiểm đến tính mạng vì vết thương do súng đạn. Theo báo chí Ai Cập thì bạo động bắt nguồn kể từ hai phía. Tại thành phố Banha phía Bắc của Cairo phe đối lập tấn công văn phòng của phong trào "Anh em Hồi giáo" tại đây và đốt cháy nó. Tại Helwan, ở bìa phía Nam của thủ đô Ai Cập, những người hâm mộ Morsi đã nhả súng vào chỗ tập hợp của phe đối lập làm bị thương nhiều người. Tại nhiều thành phố cảnh sát phải dùng hơi cay để tách rời các phe xung đột lẫn nhau. Tại trung tâm Cairo hai bên cũng đã đụng độ với nhau. Những người hỗ trợ phong trào "Anh em Hồi giáo" mang vũ khí đã lọt vào khu vực trường đại học. Chỉ riêng tại Cairo tụ tập vào tối thứ ba tổng cộng khoảng vài trăm ngàn người. Phe chống chính phủ tụ tập tại công trường Tahrir, Phe ủng hộ tổng thống Morsi tập hợp tại công trường trước đại học và chung quanh Rabaa-al-Adawija-Moschee ở phía Đông tại Nasr City. Bạo lực tình dục trong các vụ biểu tình. Ít nhất 91 phụ nữ là nạn nhân của bạo lực tình dục tại Công trường Tahrir trong thời gian biểu tình, Human Rights Watch cho biết, 46 vụ vào ngày chủ nhật, 17 vào ngày thứ hai and 23 ngày thứ ba, và 5 vụ vào thứ sáu tuần trước. Một nữ ký giả người Hà Lan cũng là nạn nhân một vụ hiếp dâm bởi 5 người đàn ông tại Công trường Tahrir vào tối thứ sáu. Phản ứng. Tháng 7. Ngày 1 Tháng 7. Vào ngày 1 tháng 7, Quân đội Ai Cập ra tối hậu thư 48 tiếng cho các đảng phái chính trị có cơ hội tới ngày 3 tháng 7 để giải quyết các đòi hỏi của người dân Ai Cập. Quân đội Ai Cập dọa là sẽ can thiệp nếu tranh cãi không được giải quyết cho tới ngày đó. 4 bộ trưởng đã từ chức trong ngày, bao gồm bộ trưởng Du lịch Hisham Zazou, Viễn thông và Công nghệ Thông tin Atef Helmi, Tư pháp Hatem Bagato và Môi trường Khaled Abdel Aal. Vào tối hôm đó thêm cả bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mohamed Kamel Amr. Coi như nội các Ai Cập bây giờ chỉ còn những người của tổng thống Morsi từ phong trào Muslim Brotherhood (Anh em Hồi giáo). Ngày 2 Tháng 7. Vào ngày 2 tháng 7, tổng thống Morsi từ chối tối hậu thư 48 tiếng của quân đội, nói là ông sẽ theo chương trình riêng hòa giải dân tộc của mình để giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị. Cũng trong ngày này Tòa Phúc thẩm Tối cao đã phán xử, giao quyền trở lại cho viện trưởng viện kiểm sát tối cao Abdel Maguid Mahmoud, mà đã bị Morsi thay thế bởi Talaat Abdallah vào ngày 22, tháng 11 năm 2012. Phát ngôn viên tổng thống và phát ngôn viên của nội các cũng đã từ chức. Vào đêm ngày 2 tháng 7 Morsi tuyên bố trong một diễn văn trên đài truyền hình, ông, vì được bầu một cách dân chủ, sẽ bảo vệ chức vụ của mình cho dù có thể thiệt hại tính mạng". Đảo chính. Ngày 3 Tháng 7. Vào buổi chiều quân đội đã tước quyền của tổng thống Morsi và áp đặt một chính quyền chuyển tiếp. Bộ trưởng quốc phòng và cũng là người chỉ huy quân đội, Abd al-Fattah as-Sisi, cho biết, hiến pháp mới mà gây nhiều tranh cãi tạm thời sẽ không có hiệu lực và sau một thời gian chuyển tiếp sẽ có bầu cử tổng thống và quốc hội lại. Chủ tịch của tòa án hiến pháp, Adli Mansur, theo như lời của Al-Sisis sẽ tạm thời lãnh đạo quốc gia. Tổng thống Morsi đã bị đưa ra khỏi dinh tổng thống, được cho rằng đang bị giữ tại doanh trại quân đội tại Cairo. 9.-14. tháng 7. Vào ngày 9. tháng 7 cựu bộ trưởng Tài chính và chuyên gia về kinh tế Hasim al-Beblawi được chọn làm thủ tướng lâm thời. Mohammed el-Baradei trở thành phó tổng thống chịu trách nhiệm cho liên hệ ngoại giao. Tuy nhiên việc lập chính quyền gặp nhiều khó khăn. Vào ngày 11. tháng 7, Belabwi giải thích, một vài chức vụ bộ trưởng còn cần phải thảo luận thêm, ông ta dự đoán là sẽ hoàn thành vào cuối ngày 15 tháng 7. Ông ta sẵn sàng chấp nhận có sự tham dự của phong trào "Anh em Hồi giáo" vào chánh phủ, nhưng nhóm này từ chối ngay lập tức, với lý do là chính phủ lâm thời không hợp pháp và phải trả lại chính quyền cho Morsi. 15. tháng 7. Vào tối ngày 15.07 trong những sự va chạm giữa phe ủng hộ nguyên tổng thống Morsi và cảnh sát tại Cairo, 7 người đã thiệt mạng, 22 người khác bị thương, và 400 người bị tạm giam. Các cuộc biểu tình ủng hộ Morsi cũng xảy ra tại các thành phố khác. Những người xuống đường tuyên bố là họ sẽ tiếp tục cho tới khi Morsi được thả ra.
1
null
Hãng phim Thiệu thị Huynh đệ (Tiếng Anh: Shaw Brothers Studio, tiếng Hoa: 邵氏片場), sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn Thiệu thị Huynh đệ (Shaw Brother Ltd, HK), là công ty chế tác phim đầu tiên và lớn nhất tại Hồng Kông. Khởi nguồn là một chi nhánh của công ty Shaw Organiztion (thành lập năm 1925 ở Singapore), ông Thiệu Dật Phu (邵逸夫) và người em Thiệu Nhân Mai (邵仁枚) đã sáng lập ra hãng phim Nam Dương Ảnh Phiến (南洋影片) như một chiến lược phát triển thị trường phim ở Đông Nam Á; sau này được đổi tên thành Thiệu thị Huynh đệ. Năm 1934, hãng đã phát hành bộ phim đầu tiên mang tên "Bạch Kim Long" (tiếng Hán: 白金龍, một thuật ngữ dùng để ám chỉ khẩu súng lục). Di sản. Đạo diễn. Hãng phim Thiệu thị là nơi làm nên tên tuổi của các đạo diễn như Hồ Kim Thuyên (King Hu), Lưu Gia Lương (Lau Kar-leung) và Trương Triệt (Chang Cheh). Trong đó, Hồ Kim Thuyên là đạo diễn đầu tiên của hãng, nổi tiếng với phim Đại tuý hiệp (Come Drink with Me), một bộ phim nói về đề tài võ thuật, khắc hoạ hình ảnh một cô gái có nghị lực phi thường và xoay quanh những chuyện tình lãng mạn trong giới võ lâm. Phim của Hồ Kim Thuyên có tiết tấu chậm, khác hẳn với phim của Trương Triệt có tiết tấu nhanh và thường nói về tình huynh đệ. Nói về Trương Triệt, tuy gia nhập sau nhưng ông đã trở thành đạo diễn nổi tiếng nhất của hãng Thiệu thị với các phim như Ngũ độc (Five Deadly Venoms), Anh hùng xạ điêu (Brave Archer), Độc thủ đại hiệp (One Armed Swordsman) và Võ hiệp Nhu đạo (Wuxia and Wushu). Nổi tiếng không kém là đạo diễn Lưu Gia Lương, phim của ông được đánh giá cao với các màn võ thuật đặc sắc, chẳng hạn như Thiếu lâm tam thập lục phòng (The 36th Chamber of Shaolin) và Ngũ lang bát quái côn (The Eigtht Diagram Pole Fighter). Diễn viên. Hoạt động theo mô hình của Holywood cũ, Thiệu thị Huynh đệ là một công ty giữ độc quyền quản lý hàng trăm diễn viên. Trong khi các công ty khác luôn xoay vòng số lượng diễn viên, Thiệu thị chỉ cố định một số nhóm diễn viên hợp tác riêng với một số đạo diễn. Nhóm Venoms Mob hoạt động từ năm 1978 đã cho ra mắt bộ phim "Ngũ độc" và nhanh chóng trở nên nổi tiếng. "Ngũ độc" gồm năm người là La Mãng, Lục Phong, Tôn Kiên, Giang Sinh và Quách Truy. Thực ra họ đã là những ngôi sao của hãng Thiệu thị trong nhiều năm trước, nhưng chỉ đến khi "Ngũ độc" được phát hành, năm người này mới thật sự nổi tiếng. Diễn viên Vi Bạch (Wei Pai), người đóng vai Xà (hay thường gọi là A Nhị) trong phim Ngũ độc, cũng là một trong số trên 15 thành viên thường xuất hiện trong các bộ phim do nhóm Venoms Mob thực hiện. Nửa đầu thập niên 1970, xuất hiện hai ngôi sao nổi tiếng qua các phim của Trương Triệt là Địch Long và Khương Đại Vệ. Về Địch Long, ông không những là một ngôi sao điển trai trong các bộ phim võ thuật, mà còn được đánh giá là một diễn viên thực lực; đặc biệt, thể hình vạm vỡ của ông cũng tạo nên một sức quyến rũ mãnh liệt đối với khán giả xem phim. Còn về Khương Đại Vệ, ông là một diễn viên có thân hình mảnh mai nhưng khoẻ mạnh, và thường đóng những vai có tính cách châm biếm đối với tiêu chuẩn anh hùng mà Địch Long thể hiện. Trong nửa thập niên còn lại, cặp đôi này bị lu mờ do sự nổi lên của Phó Thanh, diễn viên thường đảm nhận các vai đối đầu với họ trong nhiều bộ phim. Tuy nhiên, Phó Thanh đã qua đời vào năm 1983 do một tai nạn xe hơi, kết thúc một sự nghiệp ngắn ngủi nhưng huy hoàng, khi đó anh chỉ vừa 28 tuổi. Những học viên của Học viện Sân khấu Bắc Kinh (Peking Opera School) như Thành Long, Nguyên Bưu, Hồng Kim Bảo cũng từng đóng một vài phim cho Thiệu thị, mặc dù lúc đó họ vẫn chưa nổi tiếng. Nếu trong các thập niên 1960 – 1970, Thiệu thị đã tạo nên tên tuổi cho các ngôi sao võ thuật nam, thì giai đoạn những năm 50 đến đầu những năm 60 lại thời kỳ vàng son của các minh tinh nữ, điển hình là Lý Lệ Hoa, Lăng Ba, Lâm Đại, Lạc Đế, Lý Thanh... với các phim mang đậm chất lãng mạn và kịch tính. Đặc biệt "Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài" ("Butterfly Lovers") do Lăng Ba và Lạc Đế thủ diễn là một bộ phim nhạc kịch đã lấy đi nước mắt của biết bao khán giả thời bấy giờ. Đây cũng là một trong những phim thành công nhất của hãng cả về nghệ thuật lẫn doanh thu. Sự thành công này một phần lớn nhờ vào khả năng diễn xuất khéo léo của Lăng Ba khi thể hiện vai nam là Lương Sơn Bá; mặc dù trước khi phim công chiếu, cô vẫn còn là diễn viên phụ ít được biết đến. Lương – Chúc là một chuyện tình bị ngăn cấm bởi hai giai cấp xã hội, nhưng theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, ở phương diện khác nó còn ẩn chứa thông điệp về tình yêu đồng tính: Hai nhân vật chính gặp nhau, trở thành bạn và sau đó phải lòng nhau, dù rằng cả hai đều là nam sinh của một học viện (theo cốt truyện, nhân vật nữ chính phải cải nam trang để đi học vì pháp luật lúc bấy giờ ngăn cấm nam nữ thanh niên học chung với nhau). Việc tuyển chọn một nữ diễn viên vào vai nam chính cũng là một cách vừa có thể gửi thông điệp thầm kín này đến một bộ phận khán giả xem phim, cũng như không gây khó chịu cho phần đông khán giả có tư tưởng bảo thủ trong xã hội đầu thập niên 1960. Tình cảm trọn vẹn mà khán giả dành cho bộ phim đã tạo nên một kỷ lục phòng vé không thể tin nổi. Theo thống kê năm 1962, các khán giả ở Hồng Kông và Đài Loan đã mua vé xem phim rất nhiều lần, thậm chí một số còn xem đến 20 lần, giống như hiện tượng của Titanic và Cuốn theo chiều gió ở phương Tây. Kể từ cuối thập niên 1960 về sau, dòng phim nhạc kịch không còn được ưa chuộng mà bị thay thế bởi các phim võ thuật. Các nữ diễn viên nổi tiếng thuộc thể loại này là Trịnh Phối Phối, Lý Lệ Lệ và Điềm Nữu. Đặc biệt Trịnh Phối Phối một thời được mệnh danh là "Nữ hoàng võ hiệp", nổi tiếng bởi phim "Đại tuý hiệp", và gần đây là "Ngoạ hổ tàng long" của đạo diễn Lý An. Sự sở hữu và phân phối của Celestial Pictures. Vì tính phổ biến, nhiều bộ phim cổ điển - đặc biệt là các phim võ thuật - của Thiệu thị đã bị mua bán lậu trong suốt nhiều năm. Celestial Pictures (Thiên Ánh Ngu Lạc) đã giành được quyền sở hữu và phát hành những di sản (âm thanh, hình ảnh) của hãng phim này dưới hình thức DVD, con số tổng cộng gồm 760 trong số gần 1000 bộ phim. Hãng phim Thiệu thị/Shaw Villa/Thành phố Truyền hình (TVB). Phim trường Vịnh Thanh Thủy (Clearwater Bay Studio) nằm ở đường Vịnh Thanh Thủy và đường Ngân Ảnh là "nhà tổ" của Hãng phim Thiệu thị (được xây dựng trong hai năm 1960 – 1961). Phim trường này được biết đến như trụ sở bỏ trống của hãng phim TVB (1986 – 2003 và hiện tại là Thành phố truyền hình – TV City) và Celestial Pictures . Tại đây còn có nhiều căn hộ được sử dụng làm chỗ trú ngụ cho các diễn viên. Ngoài ra, Shaw House và Shaw Villa cũng toạ lạc tại nơi này. Riêng những khu vực còn bị bỏ trống từ năm 2003 sẽ được tái phát triển nhưng không cho thuê.
1
null
Svante Arrhenius (19 tháng 2 năm 1859 - 2 tháng 10 năm 1927) là nhà hóa học người Thụy Điển. Ông là người đã đoạt giải Nobel Hóa học năm 1903. Ông là người đưa ra các khái niệm mới về acide, base và muối thông qua thuyết Arrhenius. Thuyết này dựa trên sự điện li của các chất nói trên để định nghĩa về chúng. Ông còn là người đã khiến Dmitri Mendeleev mất cơ hội giành giải Nobel chỉ vì những mâu thuẫn không đáng có. Cụ thể là Mendeleev đã bác bỏ lý thuyết điện của Arrhenius. Để trả thù, với sức nặng của mình đối với Ủy ban Nobel Hóa học dù không phải là thành viên của nó, nhà khoa học người Thụy Điển cũng không công nhận sự quan trọng của bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, phát minh lớn nhất của Mendeleev. Thế là giải Nobel Hóa học 1906 rơi vào tay của Henri Moissan, nhà hóa học người Pháp và 1907 rơi vào tay của Eduard Buchner, nhà hóa học và enzyme học người Đức. Và giải Nobel lại bỏ sót một thiên tài trong hóa học để tôn vinh.
1
null
Lorenzo Romano Amedeo Carlo Avogadro di Quaregna e di Cerreto, Bá tước của Quaregna và Cerreto (sinh ngày 9 tháng 8 năm 1776 tại Turin, Piedmont - mất 1856) là nhà hóa học, nhà vật lý người Ý. Ông là người đã đề xuất định luật Avogadro và hằng số Avogadro được đặt theo tên ông, đúng bằng 6,022 140 76 × 10²³, là số nguyên tử có trong 1 mol chất. Đây là một con số rất quan trọng đối với vật lý và đặc biệt là hoá học.
1
null