text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Sunday, tên thật: Jin Bo Ra (tiếng Hàn: 진보라, sinh ngày 12 tháng 1 năm 1987), là một ca sĩ người Hàn Quốc. Cô hoạt động bên Nhật Bản trước khi ra mắt vào năm 2004 với vai trò là một ca sĩ solo và tung album đầu tiên. Danh sách album. Album cùng với The Grace. Xem bài chi tiết ở trang The Grace
1
null
James Hutton (Edinburgh, 3 tháng 6 năm 1726 – 26 tháng 3 năm 1797) là nhà tự nhiên học, địa chất học, vật lý học, nhà sản xuất hóa chất và nhà nông học thực nghiệm người Scotland. Công trình của ông đã giúp thiết lập nên nền tảng của địa chất học hiện đại. Các giả thuyết của ông về địa chất và niên đại địa chất, còn được gọi là deep time, nằm trong các giả thuyết được gọi là thuyết hỏa thành và đồng nhất. Ông cũng được ghi nhận là nhà khoa học đầu tiên đã bày tỏ quan điểm Trái Đất là một thực thể sống và nên được xem là một siêu cơ quan ("superorganism").
1
null
Harumafuji Kōhei (kanji: 日馬富士公平), sinh ngày 14 tháng 4 năm 1984, tên thật là Davaanyam Byambadorj (tiếng Mông Cổ: Даваанямын Бямбадорж), trước đó có tên Ama Kōhei, là một võ sĩ sumo đã nghỉ hưu. Anh được nhận danh hiệu yokozuna, danh hiệu cao nhất của môn sumo, ngày 26 tháng 9 năm 2012. Mang quốc tịch Mông Cổ, là yokozuna quốc tịch nước ngoài thứ năm, yokozuna người gốc nước ngoài thứ tư, yokozuna người gốc Mông Cổ thứ ba trong lịch sử sumo chuyên nghiệp. Anh được phong danh hiệu yokozuna ngày 16 tháng 9 năm 2012 sau hai giải thắng tuyệt đối tất cả các trận. Harumafuji thừa nhận đã hành hung võ sĩ đồng hương Mông Cổ Takanoiwa trong một giải sumo khu vực vào cuối tháng 10 năm 2017. Anh rút lui khỏi giải đấu sumo tháng 11 năm 2017 ngay sau khi các cáo buộc được đưa ra. Vào ngày 29 tháng 11 năm 2017, người quản lý (toshiyori), Asahifuji Seiya, đã đệ trình lá đơn từ chức của Harumafuji tới Hiệp hội Sumo Nhật Bản.
1
null
Dame Jane Morris Goodall (tên khai sinh Valerie Jane Morris-Goodall, ngày 3 tháng 4 năm 1934 -) là nhà linh trưởng học, tập tính học và nhân chủng học người Anh và là sứ giả hòa bình của Liên Hợp Quốc. Bà được xem là chuyên gia hàng đầu thế giới về tinh tinh với 45 năm nghiên cứu về các mối quan hệ xã hội và gia đình của tinh tinh hoang dã trong vườn quốc gia Gombe Stream, Tanzania. Tham khảo. - Bộ phim "Cuộc đời huyền thoại của Jane Goodal" là bộ phim kể về cuộc đời và hành trình của bà khi sống và nghiên cứu về các loài động vật ở Gombe, nhất là loài tinh tinh trong gần 50 năm.
1
null
Vườn quốc gia Gombe Stream là một vườn quốc gia tại Tanzania. Ở đây bảo tồn loài tinh tinh. Vườn quốc gia này được thiết lập năm 1968, có diện tích 52 km2 rừng chạy dọc theo các đồi bờ đông của hồ Tanganyika., cách thủ phủ khu vực tây Tanzania Kigoma 20 km về phía bắc. Khu vực này có đặc trưng bởi các thung lũng dốc và cây rừng gồm đồng cỏ và tre núi đến rừng mưa nhiệt đới. Chỉ có thể tiếp cận được bằng thuyền, vườn quốc gia này nổi tiếng về nơi Jane Goodall tiên phong trong nghiên cứu hành vi tiến hành trên quần thể tinh tinh. Cộng đồng chimpanzee Kasakela, nổi bật trong nhiều sách và phim tài liệu, sinh sống ở vườn quốc gia Gombe Stream. Tính đa dạng cao của Gombe Stream khiến nó là một điểm đến ngày càng phổ biến của du khách. Ngoài tinh tinh, các loài linh trưởng sinh sống ở Gombe Stream bao gồm khỉ đầu chó ô liu, khỉ đuôi đỏ và vervet monkeys. Vườn quốc gia cũng có hơn 200 loài chim và heo bụi rậm Cũng có 11 loài rắn, và đôi khi hà mã và báo hoa mai. Du khách đến vườn quốc gia này có thể đi bộ xuyên rừng ngắm tinh tinh cũng như bởi và bơi có ống thở ở hồ Tanganyika với 100 loài cá cichlidae.
1
null
Theophrastos ( ; khoảng 371khoảng 287 TCN), là một người sống ở vùng Eresos thuộc Lesbos, là người kế tục Aristotle trong trường phái tiêu dao. Ông tới Athena khi còn trẻ, và ban đầu học ở một trường của Plato. Sau khi Plato ông gắn bó với Aristotle. Aristotle đã truyền lại cho Theophrastos các tác phẩm của ông, và chỉ định ông là người thừa kế ở Lyceum. Theophrastus đã lãnh đạo trường phái tiêu dao trong 36 năm, thời kì mà trường phái này lớn mạnh nhanh chóng. Sau cái chết của ông, những người Athena vinh danh ông với một đám tang công cộng. Người kế tục ông trong vai trò lãnh đạo trường phái là Strato của Lampsacus. Theophrastos có những mối quan tâm rộng khắp, trải từ sinh học và vật lý tới đạo đức học và siêu hình học. Hai công trình thực vật học còn sót lại của ông, "Điều tra thực vật" và "Bàn về nguồn gốc cây cối", có một tầm ảnh hưởng quan trọng lên khoa học thời Trung cổ. Ngày nay cũng còn các tác phẩm khác lưu lại của ông như "Bàn về các phẩm chất đạo đức", "Bàn về cảm giác", "Bàn về những hòn đá", và các đoạn trong các cuốn "Vật lý học" và "Siêu hình học", tất cả được viết bằng tiếng Hy Lạp. Ông cũng nghiên cứu ngữ pháp và ngôn ngữ, cũng như kế tục công trình của Aristotle về logic. Ông cũng đã xem không gian thuần túy là sự sắp xếp và chuyển động của các vật thể, thời gian như sự tình cờ của chuyển động, và chuyển động là một hậu quả cần thiết của mọi hoạt động. Trong đạo đức học, ông coi hạnh phúc là phụ thuộc vào những ảnh hưởng bên ngoài cũng như đức hạnh, và đã nói câu nổi tiếng rằng "đời sống bị thống trị bởi vận may, chứ không phải đức khôn ngoan". Trước tác. Ấn bản hiện đại. Nhà xuất bản Brill. The International Theophrastus Project started by Brill Publishers in 1992.
1
null
Nước tiểu, nước đái hay niệu là một chất lỏng thường vô trùng do thận tiết ra và lưu trữ trong cơ thể tại bàng quang. Khi tiểu tiện, nước tiểu được đào thải ra khỏi cơ thể qua niệu đạo. Quá trình trao đổi chất của các tế bào tạo ra nhiều sản phẩm, một số thì giàu nitơ như urê hay axit uric và creatinin, cần phải loại bỏ khỏi máu. Những sản phẩm này cuối cùng bị tống ra khỏi cơ thể qua một quá trình gọi là tiểu tiện, đây là cách cơ bản để bài tiết các chất hòa tan trong nước khỏi cơ thể. Các chất hóa học này có thể được nhận dạng và được phân tích bằng cách phân tích nước tiểu. Các điều kiện bệnh nhất định có thể làm cho nước tiểu nhiễm các tác nhân gây bệnh. Nước tiểu có vai trò trong chu trình nitơ của Trái Đất. Trong hệ sinh thái cân bằng, nước tiểu làm phong phú đất và do đó giúp cây phát triển. Do đó, nước tiểu có thể được sử dụng làm phân bón. Một số động vật sử dụng nó để đánh dấu lãnh thổ. Trong lịch sử, nước tiểu để lâu hoặc lên men cũng được sử dụng để sản xuất thuốc súng, làm chất tẩy trong hộ gia đình, chất thuộc da và chất nhuộm vải. Nước tiểu và phân người được gọi chung là chất thải của con người hoặc chất bài tiết của con người, và được quản lý bằng hệ thống vệ sinh. Nước tiểu và phân gia súc cũng yêu cầu phải xử lý thích hợp nếu mật độ dân số chăn nuôi cao. Sinh lý học. Hầu hết các động vật có hệ thống bài tiết để loại bỏ chất thải độc hại hòa tan. Ở người, chất thải hòa tan được bài tiết chủ yếu bởi hệ thống tiết niệu và, ở mức độ thấp hơn về mặt urê, được loại bỏ bằng mồ hôi. Hệ thống tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Hệ thống này tạo ra nước tiểu bằng một quá trình lọc, tái hấp thu và bài tiết ở ống thận. Thận trích xuất các chất thải hòa tan từ máu, cũng như nước dư thừa, đường và một loạt các hợp chất khác. Nước tiểu thu được chứa nồng độ urê cao và các chất khác, bao gồm cả độc tố. Nước tiểu chảy từ thận qua niệu quản, bàng quang và cuối cùng là niệu đạo trước khi đi ra khỏi cơ thể. Thời lượng. Nghiên cứu xem xét thời gian đi tiểu trong một loạt các loài động vật có vú cho thấy chín loài có vú lớn đi tiểu tiện trong 21 ± 13 giây bất kể kích thước cơ thể. Các loài nhỏ hơn bao gồm động vật gặm nhấm và dơi không thể tạo ra dòng nước tiểu và thay vào đó đi tiểu tiện thành một loạt giọt nước rời nhau. Đặc điểm. Đường đi. Nước tiểu chính được đổ vào bể thận qua ống dẫn nước tiểu xuống tích trữ ở bóng đái rồi được thải ra ngoài nhờ hoạt động của cơ vòng ống đái, cơ bóng đái và cơ bụng. Định lượng. Mức thải nước tiểu trung bình ở người trưởng thành là khoảng 1,4 L nước tiểu mỗi người mỗi ngày với mức bình thường là 0,6 đến 2,6 L mỗi người mỗi ngày, được thải ra ngoài trong khoảng 6 đến 8 lần tiểu mỗi ngày tùy thuộc vào tình trạng hydrat hóa, mức độ hoạt động, các yếu tố môi trường, cân nặng và sức khỏe của cá nhân. Sản xuất quá nhiều hoặc quá ít nước tiểu đều cần được chăm sóc y tế. Poly niệu là tình trạng sản xuất quá nhiều nước tiểu (> 2,5 L / ngày), thiểu niệu khi <400 mL nước tiểu được sản xuất và vô niệu khi lượng nước tiểu <100 mL mỗi ngày. Thành phần. Khoảng 91-96% nước tiểu là nước. Nước tiểu cũng chứa một loại muối vô cơ và các hợp chất hữu cơ, bao gồm protein, hormone và một loạt các chất chuyển hóa, thay đổi theo những gì được đưa vào cơ thể. Tổng chất rắn trong nước tiểu trung bình là 59 g mỗi người mỗi ngày. Chất hữu cơ chiếm từ 65% đến 85% chất rắn khô trong nước tiểu, với chất rắn dễ bay hơi bao gồm 75-85% tổng chất rắn. Urê là thành phần lớn nhất của chất rắn trong nước tiểu, chiếm hơn 50% tổng số. Ở cấp độ nguyên tố, nước tiểu của con người chứa 6,87 g/L carbon, 8,12 g/L nitơ, 8,25 g/L oxy và 1,51 g/L hydro. Tỷ lệ chính xác thay đổi theo từng cá nhân và với các yếu tố như chế độ ăn uống và sức khỏe khá nhau. Ở người khỏe mạnh, nước tiểu chứa rất ít protein; dư thừa protein là gợi ý của bệnh tật. Màu sắc. Nước tiểu thay đổi về bên ngoài, chủ yếu phụ thuộc vào mức độ hydrat hóa của cơ thể, cũng như các yếu tố khác. Nước tiểu bình thường là một chất lỏng trong suốt từ không màu đến hổ phách nhưng thường có màu vàng nhạt. Trong nước tiểu của một cá nhân khỏe mạnh, màu sắc chủ yếu đến từ sự hiện diện của urobilin. Urobilin là một sản phẩm thải cuối cùng do sự phân hủy hem từ huyết sắc tố trong quá trình phá hủy các tế bào máu lão hóa. Nước tiểu không màu cho thấy quá nhiều hydrat hóa, thường thích hợp hơn là mất nước (mặc dù nó có thể loại bỏ các muối thiết yếu ra khỏi cơ thể). Nước tiểu không màu trong các xét nghiệm ma túy có thể gợi ý một nỗ lực để tránh phát hiện các loại thuốc bất hợp pháp trong máu thông qua quá trình hydrat hóa.
1
null
Googleplex, tên của trụ sở của Google tại 1600 Amphitheatre Parkway, Mountain View, Santa Clara, California, Mỹ; Gần San Jose. Googleplex là từ ghép giữa Google và Googolplex, tên được đặt cho số lớn 10(10100), hay 10googol. Khu phức hợp ban đầu, có diện tích văn phòng là 2.000.000 feet vuông (190.000 m2), là khu tập thể hình vuông lớn thứ hai của Google về các tòa nhà của Google. Một tòa nhà lớn nhất của Google là toà nhà 111 Eighth Avenue rộng 2.900.000 foot (270.000 m2) tại thành phố New York, nơi mà Google mua vào năm 2010. Một khi khu nghỉ dưỡng rộng 1.100.000 foot vuông (100.000 m2) 2015, Googleplex đã trở thành bộ sưu tập lớn nhất của các tòa nhà của Google với 3.100.000 feet vuông (290.000 m2). Lịch sử. Các cơ sở của SGI cũ được Google cho thuê bắt đầu từ năm 2003. Một thiết kế lại nội thất đã được hoàn thành bởi Clive Wilkinson Architects vào năm 2005. Tháng 6 năm 2006, Google đã mua lại một số thuộc tính của Silicon Graphics, trong đó có Googleplex, với giá 319 triệu USD. Clive Wilkinson Architects đã hoàn thành bản thiết kế lại nội thất vào năm 2005. Vào tháng 6 năm 2006, Google đã mua một số tài sản của Silicon Graphics, bao gồm cả Googleplex, với giá 319 triệu đô la. Vì các tòa nhà có chiều cao tương đối thấp, nên các khu phức hợp trải rộng trên một diện tích đất lớn. Nội thất của trụ sở chính được trang bị các vật dụng như bóng đèn bóng và quả bóng cao su khổng lồ. Sảnh đợi có một cây đàn piano và một bản chiếu các truy vấn tìm kiếm trực tuyến hiện tại của Google. Các tiện nghi bao gồm phòng giặt là miễn phí (Tòa nhà 40, 42 & CL3), hai bể bơi nhỏ, nhiều sân bóng chuyền cát, và mười tám phòng ăn với các thực đơn đa dạng. Google cũng đã cài đặt các bản sao của SpaceShipOne và bộ xương khủng long. Từ năm 2007, trang web này đã có một loạt các tấm pin mặt trời bao phủ cho các mái nhà của tám tòa nhà và hai ô tô năng lượng mặt trời, và có khả năng sản xuất 1,6 megawatt điện. Vào thời điểm cài đặt, Google cho rằng đây là công ty lớn nhất Hoa Kỳ trong số các tập đoàn. Các tấm cung cấp điện cần thiết cho 30% nhu cầu điện cao điểm trong các tòa nhà năng lượng mặt trời của họ. Bốn máy Bloom 100 kW năng lượng đã được vận chuyển đến Google vào tháng 7 năm 2008, khiến Google trở thành khách hàng đầu tiên của Bloom Energy. Các bức tượng trên sân cỏ của Android (trước đây nằm ngoài Tòa nhà 44 trên đường Charleston), hiện đang nằm trong khuôn viên của Google vào năm 1981 tại Landings Drive (ở 37.4184135°N 122.0879531°W) và bao gồm một bức tượng màu xanh lá cây khổng lồ của biểu tượng Android và các bức tượng bổ sung để Đại diện cho tất cả các phiên bản của hệ điều hành Android.
1
null
Khỉ đỏ colobus là một loài khỉ Cựu thế giới thuộc phân chi Piliocolobus, chi Procolobus. Chúng có mối quan hệ gần gũi với khỉ colobus trắng và đen (chi "Colobus") và vài loài thường được tìm thấy trong các nhóm với khỉ xanh. Loài Khỉ đỏ colobus Đông Phi thường bị loài tinh tinh thông thường săn bắt và ăn thịt. Phân bố. Loài này được tìm thấy ở miền Tây, miền Trung và Đông châu Phi, trong các khu rừng nhiệt đới ẩm ướt trừ loài khỉ đỏ colobus Zanzibar lại sống ở vùng cây bụi ven biển. Do mất môi trường sống, cùng tình trạng săn bắn nên hầu hết các phân loài của khỉ đỏ colobus nằm trong nhóm các loài đe dọa ở châu Phi và là một trong 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất trên thế giới, được IUCN xếp vào các nhóm nguy cấp hoặc cực kỳ nguy cấp . Phân loại. Khỉ đỏ colobus được chia thành 10 phân loài theo khu vực sinh sống và đặc điểm màu sắc lông cũng như một số chi tiết về hình dáng. Thức ăn. Thức ăn chủ yếu của khỉ đỏ colobus là lá cây non, hoa và cả trái cây xanh. Điều đặc biệt là dạ dày của khỉ colobus có thể tiêu hóa được một số loại lá cây có chứa độc tố (như xyanua) mà các loài khỉ khác không làm được
1
null
Pagerank là thuật toán phân tích các liên kết được dùng trong Google Search để xếp hạng các trang web. Mô tả. Giá trị Pagerank hình thành từ thuật toán toán học dựa trên webgraph: các trang world wide web được coi như các đỉnh và các đường link là các cạnh. Khi hình thành webgraph người ta có tính đến những trang của các cơ quan có thẩm quyền như cnn.com hay usa.gov. Giá trị xếp hạng cho thấy tầm quan trọng của từng trang cụ thể. Mỗi đường link tới trang web sẽ được tính như 1 sự hỗ trợ làm tăng thêm giá trị Pagerank. Giá trị Pagerank của trang được định nghĩa đệ quy và phụ thuộc vào số lượng và giá trị của các trang mà có link dẫn đến trang đó (incoming links). Một trang web có chứa nhiều link liên kết từ các trang web có giá trị PageRank cao thì giá trị PageRank của trang đó cũng sẽ cao. Có rất nhiều bài viết đã được xuất bản ra công chúng dựa trên nghiên cứu gốc của Page và Brin. Trên thực tế khái niệm PageRank rất khó để thao tác. Đã có nhiều nghiên cứu tiến hành xác định những ảnh hưởng sai tới PageRank ranking. Mục đích là tìm một cách loại bỏ hiệu quả những link từ các văn bản với những ảnh hưởng sai tới PageRank. Thuật toán. Pagerank là phân bố xác suất, được sử dụng để thể hiện khả năng khi một người click chuột ngẫu nhiên vào đường link và sẽ tới được trang web cụ thể. Pagerank có thể được tính cho các tập văn bản với tài liệu có độ dài bất kỳ. Khi bắt đầu tính toán thì sự phân bổ đó được chia đều cho tất cả những văn bản trong tập văn bản. Các tính toán Pagerank cần một số lần "lặp đi lặp lại" qua các văn bản trong tập để có thể đạt được giá trị thực tế một cách thiết thực hơn. Xác suất có giá trị từ 0 đến 1. Với giá trị 0.5, thường được hiểu là "50% cơ hội" của một việc gì đó có thê xảy ra. Trong Pagerank, 0.5 có nghĩa là 50% cơ hội một người nào đó click vào một link ngẫu nhiên để được chuyển đến văn bản đó (giá trị pagerank = 0.5) Thuật toán được đơn giản hóa. Giả sử một nhóm gồm 4 trang web: A, B, C, D. những liên kết từ một trang đến chính nó không được tính, mỗi trang web có 1 đường dẫn duy nhất đến 1 trang web khác. Giá trị Pagerank của các trang ban đầu được cho là bằng nhau. Tổng giá trị Pagerank trên tất cả các trang là tổng số trang web tại thời điểm đó, do đó mỗi trang trong ví dụ này sẽ có một pagerank ban đầu tương đương với 1. Tuy nhiên trong phần còn lại và các ví dụ của bài này sẽ có giá trị tương đối từ 0 đến 1. Do đó giá trị ban đầu cho mỗi trang là 0.25. Pagerank chuyển từ một trang đến các trang khác bằng các đường link, trong những bước tính tiếp theo giá trị sẽ được chia đều cho tất cả các liên kết đi. Nếu các liên kết duy nhất trong hệ thống từ các trang B, C và D tới A, mỗi liên kết sẽ chuyển giá trị bằng 0.25 Pagerank A khi tính trong lần tiếp theo, tổng cộng là 0,75. Khác với ví dụ trên, B có liên kết đến trang C và A, trong khi D có các link đến cả ba trang. Như vậy trong bước tiếp theo, trang B sẽ chuyển tải một nửa giá trị của mình, tương đương với 0.125 tới trang A và 0.125 tới trang C. Khi trang D có 3 liên kết trỏ đi, có nghĩa nó sẽ chuyển 1/3 giá trị của mình, tương đương với 0.083 tới A. PageRank được tính cho 1 outbound link sẽ bằng số score pagerank của document đó chia cho số outbound link L() Công thức chung, giá trị Pagerank đối với bất kỳ trang u có thể tính như sau: Giá trị PageRank đối với trang u phụ thuộc vào giá trị Pagerank của từng trang v có chứa trong set Bu (tập hợp có chứa các trang có link đến trang u), chia cho số "L" ("v") các link từ trang v. Yếu tố damping. Lý thuyết PageRank cho rằng, ngay cả một người dùng giả thiết click ngẫu nhiên vào các trang web cuối cùng cũng sẽ dừng lại. Xác suất người dùng tiếp tục click trong bất cứ bước nào được gọi là yếu tố damping. Có nhiều nghiên cứu đã thử các giá trị yếu tố damping, giá trị ước lượng bằng 0.85 là người dùng sẽ tiếp tục lướt web. Công thức tính Pagerank có tính đến yếu tố damping sử dụng mô hình khi người dùng bất kỳ sẽ cảm thấy chán sau một vài lần click và chuyển đến vài trang web khác một cách ngẫu nhiên. Như vậy: Công thức trên sử dụng mô hình khi người dùng ngẫu nhiên cảm thấy chán sau khi click và được chuyển đến một số trang ngẫu nhiên. Giá trị Pagerank thể hiện những cơ hội mà người dùng ngẫu nhiên sẽ được chuyển đến trang đó bằng cách click vào các đường link. Mô hình này có thể được hiểu tương tự như Markov chain, trong đó các tỉnh là các trang web, quá trình di chuyển có xác suất ngang nhau được coi như các link giữa các trang web. Nếu như trang web không có đường link đến các trang khác, nó sẽ thành ngõ cụt và việc truy cập ngẫu nhiên sẽ dừng lại. Nhưng nếu người dùng đến trang không có các link khác, thì người dùng sẽ chọn ngẫu nhiên một trang khác để tiếp tục truy cập. Khi tính Pagerank, những trang không có link trỏ đi các trang khác sẽ được giả định có link trỏ đến tất cả các trang trong tập văn bản. Và như vậy giá trị Pagerank sẽ được chia đều cho các trang khác. Nói một cách khác, để công bằng với những trang web có outbound link, thì các truy cập ngẫu nhiên sẽ được thêm vào tất cả những trang trong Web, với xác suất d=0.85, được ước tính từ tần số trung bình mà người dùng sử dụng khi đánh dấu một tính năng bằng trình duyệt. formula_8 - là các trang được cân nhắc, formula_9 - tập hợp những trang có link đến formula_10, formula_11 - số lượng link trỏ ra trong formula_12, "N"– tổng số trang web.
1
null
Tinh tinh ("Pan troglodytes"), còn gọi là hắc tinh tinh, tinh tinh thông thường, là một loài trong chi Tinh tinh ("Pan"), Họ Người, bộ Linh trưởng, được Blumenbach mô tả vào năm 1775.. Mô tả. Tinh tinh thường sinh sống ở Tây và Trung Phi. Họ hàng gần nhất với nó là bonobo ("Pan paniscus"), được tìm thấy tại các cánh rừng của Cộng hòa dân chủ Congo. Ranh giới địa lý giữa hai loài này là sông Congo. Tinh tinh trưởng thành có thể cân nặng và cao khi đứng thẳng. Thời gian mang thai kéo dài 8 tháng. Con tinh tinh sơ sinh là cai sữa khoảng ba năm tuổi, nhưng thường duy trì một mối quan hệ gần gũi với mẹ của nó trong vài năm nữa, nó đạt đến tuổi dậy thì ở độ tuổi lên 8 hoặc 10, và tuổi thọ của nó trong điều kiện nuôi nhốt là khoảng 50 năm. Tinh tinh sống phổ biến ở các nhóm có từ 15 đến 150 thành viên, mặc dù các cá thể đi và kiếm thức ăn thành nhóm nhỏ hơn nhiều trong ngày. Cuộc sống các loài trong một hệ thống cấp bậc nghiêm ngặt, con đực thống trị, có nghĩa là tranh chấp có thể được giải quyết mà không cần bạo lực. Gần như tất cả các quần thể tinh tinh đã được ghi nhận có thể sử dụng các công cụ, dậy được sửa đổi, đá, cỏ, và lá và sử dụng chúng để lấy mật ong, mối, kiến, các loại hạt, và nước. Loài này cũng đã được tìm thấy tạo gậy mài nhọn để đâm Galago senegalensis ra khỏi lỗ nhỏ trên cây. Tinh tinh được liệt kê trong Sách đỏ IUCN và loài nguy cấp. Từ 170.000 và 300.000 cá thể được ước tính trên phạm vi của nó trong rừng và hoang mạc của Tây và Trung Phi. Các mối đe dọa lớn nhất đối với tinh tinh là tình trạng phá hủy môi trường sống, săn bắn và bệnh tật. Tinh tinh hiếm khi thọ quá 40 năm trong điều kiện sống hoang dã, nhưng có thể sống tới 60 năm trong điều kiện giam giữ và con tinh tinh có tên gọi là Cheetah trong phim Tarzan sống đến 80 tuổi. Mặc dù khoa học từ lâu đã nghi ngờ tuyên bố này, nhưng nó đã được chứng minh rằng tinh tinh có thể cư xử đoàn kết với các thành viên trong nhóm của chúng và tự đặt mình ở vị trí thứ hai. Một nghiên cứu năm 2022 chứng tỏ hành vi học tập mang tính xã hội tồn tại ở loài tinh tinh, dựa trên bằng chứng về hoạt động đào giếng tìm nước sạch.
1
null
Galago senegalensis là một loài linh trưởng nhỏ trong họ Galagidae. Loài này sinh sống ở châu Phi phía nam sa mạc Sahara và các đảo gần đó bao gồm Zanzibar. Chúng có xu hướng sống trong khu vực rừng khô và các vùng thảo nguyên. Chúng là những động vật linh trưởng nhỏ (130mm và 95-300 gram) với bộ lông dày có màu từ xám bạc màu nâu sẫm. Chúng có đôi mắt lớn, cho tầm nhìn ban đêm tốt, chân sau mạnh mẽ, và đuôi dài, giúp chúng cân bằng. Tai của chúng được tạo thành từ bốn phân đoạn và mỗi đoạn có thể uốn cong về sau, để hỗ trợ thính giác của chúng khi săn bắt côn trùng vào ban đêm. Chế độ ăn uống ăn tạp của chúng là một hỗn hợp của các loài động vật nhỏ khác, bao gồm chim và côn trùng, trái cây, hạt, hoa, trứng, các loại hạt, và nướu cây. Loài này sinh sản hai lần một năm, vào đầu mùa mưa (tháng mười một) và kết thúc mùa mưa (tháng hai). Chúng là loài đa thê, và những con mẹ nuôi con trong tổ được làm từ lá. Mỗi lứa có 1-2 con non, với thời kỳ thai nghén kéo dài 110-120 ngày. Con non được sinh ra với đôi mắt nửa khép kín, không thể di chuyển độc lập. Sau một vài ngày, con mẹ mang con sơ sinh trong miệng của mình, và để lại nó trên các cành cây thuận tiện trong khi cho ăn. Con cái trưởng thành duy trì vùng lãnh thổ, nhưng chia sẻ với con cái của chúng. Con đực rời khỏi vùng lãnh thổ của mẹ sau tuổi dậy thì, nhưng con cái thì vẫn còn ở lại với mẹ, hình thành các nhóm xã hội bao gồm các con cái có mối quan hệ liên quan chặt chẽ và trẻ chưa trưởng thành của chúng. Con đực trưởng thành duy trì vùng lãnh thổ riêng biệt, chồng chéo với những con trong các nhóm xã hội con cái, nói chung, một con đực trưởng thành có quan hệ bạn tình với tất cả các con cái trong một khu vực. Con đực mà không thành lập lãnh thổ đó đôi khi hình thành các nhóm độc thân nhỏ. Loài này giao tiếp cả hai bằng cách hoặc gọi cho nhau hoặc bằng cách đánh dấu đường đi bằng nước tiểu của chúng. Vào cuối đêm, các thành viên nhóm sử dụng một tiếng gọi tập hợp đặc biệt và tập hợp ngủ với nhau trong một tổ làm bằng lá, một nhóm nhánh cây, hoặc trong một lỗ trong một cây. Một nghiên cứu mới đây về tinh tinh thông thường phương Tây cho thấy rằng loài này bị loài tinh tinh thông thường phương Tây săn bắt bằng cây gậy đã được chúng vuốt nhọn. Trong thời gian nghiên cứu nó đã được quan sát thấy rằng tinh tinh tìm kiếm các hốc nơi loài Galago senegalensis có thể chọn làm nơi ngủ. Sau khi nơi ngủ đã được tìm thấy, các con tinh tinh đã bẻ một nhánh cây gần đó và mài nhọn đầu cành cây bằng cách sử dụng răng của chúng. Họ sau đó sẽ chúng sẽ nhanh chóng và liên tục đâm vào lỗ ngủ của Galago senegalensis. Sau một thời gian đâm, chúng lôi cành cây ra và nếm thử hoặc ngửi mũi, có lẽ là tìm kiếm máu. Một khi đã xác nhận đã tìm ra con mồi trong lỗ theo cách này, chúng liền thò vào lỗ hoặc đập vỡ lỗ ngủ để lấy cơ thể của các Galago senegalensis và ăn thịt nó. Mặc dù phương pháp này đã được quan sát thấy thành công một lần trong 22 nỗ lực, nó tỏ ra tiết kiệm năng lượng hiệu quả hơn so với phương pháp truyền thống rượt theo các con mồi này cắn vỡ sọ nó trên một tảng đá gần đó.
1
null
Kigoma là thị xã và cảng hồ ở phía tây Tanzania, bên bờ đông hồ Tanganyika và gần với biên giới với Burundi. Thị xã là thủ phủ của vùng Kigoma xung quanh và có dân số 135.234 (điều tra năm 2007) và độ cao 775 m. Thị xã mậu dịch lịch sử Ujiji có cự ly 6 km về phía đông nam Kigoma.
1
null
Binh chủng Pháo Phòng không là một binh chủng thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân, Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là binh chủng có bề dày lịch sử chiến đấu lớn nhất trong tất cả các binh chủng thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân. Các đơn vị thuộc binh chủng này có nhiệm vụ là sử dụng các vũ khí được trang bị chủ yếu là các súng phòng không và pháo cao xạ phối hợp cùng các binh chủng khác thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân, tiêu diệt các phương tiện bay của đối phương và bảo vệ vùng trời của Việt Nam cùng các mục tiêu, cụm mục tiêu kinh tế - chính trị quan trọng trên vùng lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam. Năm 1982, Binh chủng Pháo Cao xạ được nhà nước trao tăng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày thành lập: 1 tháng 4 năm 1953, ngày thành lập Trung đoàn 367, trung đoàn Pháo Cao xạ chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lịch sử. Trong Chiến tranh Đông Dương. Trong Chiến tranh Đông Dương, tuy đã có một phần lợi thế và sức mạnh nhằm đối chọi lại với quân Pháp ở Đông Dương nhưng Việt Minh vẫn hoàn toàn yếu thế trước những đòn tấn công của quân Pháp từ trên không và hoàn toàn không có lực lượng phòng không hay không quân để đối phó. Không quân Pháp làm chủ toàn bộ bầu trời Đông Dương. Vì vậy, ngày 9 tháng 3 năm 1949, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu để nghiên cứu các phương pháp chống trả. Chỉ đến khi sau Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu có được những viện trợ quý giá từ chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó có những khẩu đội súng phòng không 12,7mm. Lực lượng Không quân Pháp sau những bất ngờ đầu tiên, vẫn duy trì được ưu thế. Tuy nhiên, không lâu sau, tháng 5 năm 1951, người Việt đã cho thành lập Đại đội 612, đơn vị phòng không đầu tiên sử dụng 4 khẩu 37mm. Ban Nghiên cứu Không quân được giải thể và hầu hết cán bộ của Ban được chuyển thuộc vào đơn vị phòng không đang được thành lập. Đến đầu năm 1953, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 8 tiểu đoàn phòng không, với 500 súng máy phòng không 12,7mm và 4 khẩu pháo cao xạ 37mm. Ngày 1 tháng 4 năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhân danh Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (chủ tịch Hồ Chí Minh) đã ký quyết định số 06/QĐ thành lập Trung đoàn Pháo cao xạ 367 có khí tài là những khẩu pháo cao xạ 61-K 37 mm viện trợ từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được biên chế thành 6 tiểu đoàn.. Và ngày này cũng được chọn làm ngày thành lập Binh chủng Pháo Phòng không-binh chủng đầu tiên của Quân chủng Phòng không-Không quân Việt Nam. Sau 8 tháng huấn luyện tại Trung Quốc, ngày 1 tháng 12 năm 1953, toàn bộ đội hình Trung đoàn cùng khí tài đã về nước và tập kết ở tây bắc thị xã Tuyên Quang. Năm 1954, Trung đoàn 367 chính thức tham chiến vào Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, Trung đoàn cao xạ 367 đã lập được nhiều chiến công quan trọng, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội khắp năm châu. Trong chiến dịch lịch sử này, tuy bộ đội Phòng không còn non trẻ nhưng đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ ác liệt, chiến đấu dũng cảm kiên cường bám sát yểm trợ các đơn vị bộ binh tiến công, dùng hoả lực phòng không bao vây không phận, cắt đứt con đường tiếp tế duy nhất của địch ở Điện Biên Phủ, làm cho địch hoàn toàn bị cô lập, tạo điều kiện cho bộ binh bao vây, áp sát, tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Điện Biên phủ. Kết thúc chiến dịch đã bắn rơi 52 máy bay (trong đó có 2 trực thăng), bắn bị thương hàng trăm chiếc khác. Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Bắt đầu từ những năm 1954-1955, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu có cơ hội và thực hiện nâng cấp, đào tạo bài bản cho các đơn vị thuộc binh chủng Pháo phòng không cũng như thành lập nhiều đơn vị mới. Cũng từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 mà nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu được mở rộng mối quan hệ với nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác trên thế giới mà đặc biệt là Liên Xô. Năm 1954, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh đã cử 250 cán bộ, chiến sĩ sang Liên Xô học kỹ thuật pháo phòng không để chuẩn bị cho việc tiếp nhận pháo cao xạ Flak 88mm do Đức sản xuất. Số pháo phòng không 88mm này được Hồng quân Liên Xô thu giữ sau cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ hai, nay viện trợ lại cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau này còn có thêm biến thể Flak 37, Flak 41 tiếp tục có những cải tiến khác được viện trợ cho lực lượng phòng không Việt Nam. Từ năm 1959, Việt Nam bắt đầu thành lập thêm nhiều binh chủng mới thuộc binh chủng Phòng không - Không quân có chuyên môn kỹ thuật cao, đạt trình độ công nghệ tiên tiến lúc bấy giờ như binh chủng ra đa, binh chủng tên lửa phòng không và đặc biệt là việc thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam vào ngày 24-1-1959. Các cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị này đều được cử đi nước ngoài học tập, nghiên cứu cách sử dụng vũ khí, khí tài mới. Đầu những năm 1960, viện trợ cho binh chủng pháo phòng không bắt đầu tăng về cả chủng loại lẫn số lượng bao gồm từ các loại súng máy hạng nặng phòng không DShK 12,7 mm, ZPU-1/2/4 14,5 mm cho đến các loại pháo cao xạ ZU-23-2 23 mm 61-K 37 mm, S-60 AZP 57 mm, KS-19 100 mm... Các loại vũ khí này được biên chế theo cấp tiểu đoàn, trung đoàn và bố trí tại nhiều trọng điểm đánh phá ném bom của không quân Mỹ ở miền bắc như Hải Phòng, Hà Nội, các khu vực kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng và dọc theo các binh trạm trên tuyến Đường Trường Sơn. Cuối chiến tranh, Liên Xô còn viện trợ thêm cho Quân đội nhân dân Việt Nam hai loại pháo cao xạ tự hành như ZSU-57-2, ZSU-23-4. Tổng cộng trong Chiến tranh Việt Nam thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được viện trợ khoảng hơn 5.000 vũ khí phòng không các loại, từ súng máy 12,7mm cho tới pháo cao xạ 100mm, mà 2 nhà cung cấp chính là Liên Xô và Trung Quốc. Các sự kiện tiêu biểu. Sau năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh ra Nghị định số 34/NĐA nâng cấp Trung đoàn Phòng không 367 lên thành Đại đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 367 trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh vào ngày 21 tháng 9 năm 1954. Hoàng Kiện làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phụng làm Chính ủy, Lê Văn Tri làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Đại đoàn được biên chế các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp và ba trung đoàn 681, 685, 689, trang bị pháo 88mm và 40mm sắp nhận được từ phía Liên Xô. Theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu, để giữ bí mật lực lượng, các trung đoàn 681, 685, 689 được gọi là các tiểu đoàn 12, 13, 14. Sau khi được tổ chức và huấn luyện ở Vai Cầy, Thái Nguyên, đêm ngày 16 tháng 12 năm 1955, Đại đoàn 367 hành quân về tiếp quản Hà Nội. Ngày 21-3-1958, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 047/NĐ quyết định tách Sư đoàn Pháo Cao xạ 367 khỏi Bộ Tư lệnh Pháo binh, tổ chức thành Bộ Tư lệnh Phòng không trực thuộc Bộ Quốc phòng Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để đáp ứng yêu cầu chiến đấu hiệp đồng chỉ huy thống nhất, ngày 22-10-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh và Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 50/QĐ thành lập Quân chủng Phòng không- Không quân, trên cơ sở hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân. Ngày 19 tháng 5 năm 1965, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (từ tháng 3 năm 1967 đổi là Sư đoàn phòng không 361) và Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng (từ tháng 3 năm 1967 đổi là Sư đoàn phòng không 363). Ngày 21 tháng 6 năm 1966, thành lập Sư đoàn phòng không 367. Tiền thân là trung đoàn pháo cao xạ 367. Tháng 1 năm 1968, thành lập Sư đoàn phòng không 375 thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Ngày 27 tháng 5 năm 1968, thành lập Sư đoàn phòng không 377. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, thành lập Sư đoàn phòng không 673 tại Trị-Thiên. Các chiến công. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Quân chủng Phòng không- Không quân đã bắn rơi 2.635 máy bay trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị quân dân Việt Nam bắn rơi trên miền Bắc, gồm tất cả các kiểu loại hiện đại nhất của không quân Mỹ trong đó có 64 chiếc B-52, 13 chiếc F-111, tiêu diệt và bắt sống nhiều phi công Mỹ. Trong những con số kể trên thì lực lượng pháo phòng không cũng góp một phần không nhỏ vào những chiến thắng này. Trong chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội năm 1952, lực lượng pháo phòng không được ghi nhận đã bắn hạ 2 chiếc B-52 bằng pháo cao xạ 100mm, ngoài ra còn bắn hạ hàng chục máy bay các loại khác bằng các loại pháo cao xạ cỡ lớn - nhỏ khác nhau (trong đó có 1 chiếc F-111 bị hạ bằng súng máy 14,5mm). Các sư đoàn phòng không được tuyên dương khen thưởng sau chiến tranh bao gồm Sư đoàn 361, 363, 365, 367 và 375. Tại cầu Long Biên Hà Nội, các lực lượng vũ trang của Quân đội nhân dân Việt Nam bảo vệ cầu trong những năm 1965-1967 đã thả bóng bay, tạo sương mù của lực lượng bộ đội hoá học đối với máy bay Mỹ. Đặc biệt các tiểu đội lính pháo cao xạ 12,7 ly đã anh dũng cắm chốt tử thủ trên các đỉnh cao nhất của cầu để bắn các phi đội F4 của Mỹ ném bom phá cầu. Hàng ngày các anh đã trực chiến 24/24 ăn ở sinh hoạt tại chỗ, được đồng đội tiếp tế cơm nước từ dưới kéo lên. Từ năm 1975 đến nay. Sau Chiến tranh Việt Nam, không quân Mỹ ngừng đánh phá, Quân đội Sài Gòn tan rã, các đơn vị thuộc binh chủng pháo phòng không thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ vùng trời lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Đến năm 1979, các đơn vị pháo phòng không tham gia Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 và Chiến tranh biên giới Tây Nam trong nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực bộ binh và phòng không. Ngày nay, hòa bình hoàn toàn được lập lại tại Việt Nam. Binh chủng Pháo phòng không tiếp tục canh giữ bầu trời Việt Nam. Để tăng hiệu quả trong việc tác chiến và huấn luyện, cũng như góp phần vào quá trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng pháo phòng không cũng được hiện đại hóa, điển hình như việc nâng cấp pháo phòng không 37 mm với nhiều chức năng được tự động hóa, phục vụ chiến đấu cả ngày lẫn đêm, tăng độ chuẩn xác. Việt Nam hiện nay đang sở hữu một lưới lửa phòng không đa tầm và dày đặc, có thể chống trả lại một cuộc tấn công đường không quy mô lớn mà trong đó hệ thống pháo cao xạ đang nhận nhiệm vụ ở tầm thấp, phối hợp với các đơn vị tên lửa phòng không, không quân làm chủ bầu trời hiệu quả. Các đơn vị hiện nay. Hiện nay có 6 sư đoàn phòng không chủ lực của Quân chủng Phòng không-Không quân. Các sư đoàn này bao gồm các trung đoàn tên lửa phòng không cùng pháo cao xạ phối hợp tác chiến, cụ thể:
1
null
Arsenal Shipka là loại súng tiểu liên do công ty Arsenal tại Bulgaria phát triển vào năm 1996. Tên của súng được đặc theo tên của vùng núi Shipka Pass gần Kazanlak nơi đặc trụ sở chính của Arsenal tại Balkans. Đây là nơi mà quân tình nguyện Bulgaria và quân đội Nga đã đánh bại đội quân của đế quốc Ottoman trong cuộc chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878) và giải phóng Bulgaria. Súng được phát triển để trang bị cho các lực lượng quân đội và cảnh sát Bulgaria nhất là cho các nhóm lái phương tiện cơ giới, phi công và những lực lượng thường phải chiến đấu tầm gần cũng như dùng cho việc xuất khẩu. Thiết kế. Shipka dùng cơ chế nạp đạn blowback và bắn với khóa nòng mở. Thân súng chia ra làm hai phần trên và dưới, phần dưới gồm cả cò súng và vòng bảo vệ cò súng làm bằng nhựa tổng hợp còn phần trên làm bằng thép. Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi. Báng súng dạng khung có thể gấp lên trên để tiết kiệm không gian. Mẫu thử nghiệm của súng sử dụng đạn 9×25mm Mauser với hộp đạn chứa 30 viên. Mẫu dùng để chế tạo hàng loạt sử dụng đạn 9×18mm Makarov với hộp đạn 32 viên và khi Bulgaria gia nhập NATO thì mẫu sử dụng đạn 9×19mm Parabellum được giới thiệu với hộp đạn 25 viên.
1
null
Samed Yeşil (, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1994) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đức, hiện đang chơi ở vị trí tiền đạo cho Ankara Demirspor, một câu lạc bộ của Thổ Nhĩ Kỳ. Yeşil đã từng thi đấu cho các đội tuyển trẻ của Đức. Anh đặc biệt thành công với đội tuyển bóng đá U-17 của họ, đội bóng giành ngôi á quân tại giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu năm 2011 và hạng ba tại U-17 World Cup 2011. Anh cũng là vua phá lưới giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu 2011. Sự nghiệp. Giai đoạn đầu. Samed Yesil là người gốc Thổ Nhĩ Kỳ sinh ra tại Düsseldorf. Anh đã gây ấn tượng mạnh ở các hệ thống bóng đá trẻ của Đức khi đã ghi được 22 bàn thắng chỉ sau 26 trận cho các đội U-16, U-17 và U-18. Trong khoảng thời gian gắn bó cùng U-17 Đức, Samed Yesil đã có tới 19 bàn thắng trong 21 lần ra sân. Mùa Hè năm 2011, chân sút gốc Thổ này đã giành danh hiệu chiếc giày bạc tại giải vô địch U17 thế giới với 6 bàn thắng, giúp U-17 Đức giành vé vào bán kết. Yeşil đã ghi được 57 bàn thắng trong 71 trận đấu trong đội trẻ của Bayer Leverkusen trong khoảng thời gian từ năm 2010-2012. Yeşil đã có 5 lần ra sân cho đội một Leverkusen. Liverpool. Trong kỳ chuyển nhượng mùa hè năm 2012, Samed Yesil đã gia nhập Anfield. Sau khi hoàn tất thủ tục kiểm tra y tế tại đây, chân sút trẻ người Đức đã hoàn tất bản hợp đồng trị giá 1 triệu bảng với Quỷ đỏ vùng Merseyside. Một trong những nguyên nhân khiến Samed Yesil quyết định chọn Liverpool là bến đỗ mới bởi lời khuyên của HLV Leverkusen, Sami Hyypia, người đã từng có 10 năm gắn bó với sân Anfield. FC Luzern. Ngày 31 tháng 8 năm 2015, Yesil gia nhập đội bóng Thụy Sĩ FC Luzern theo thỏa thuận cho mượn có thời hạn một mùa. Ankara Demirspor. Vào ngày 26 tháng 12 năm 2019, Yeşil đã ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng 3 trong hệ thống giải đấu của Thổ Nhĩ Kỳ, Ankara Demirspor, theo dạng chuyển nhượng tự do.
1
null
Oussama Assaidi (sinh ngày 15 tháng 08 năm 1988) là cầu thủ bóng đá người Maroc đang thi đấu cho câu lạc bộ Twente ở vị trí tiền vệ cánh. Assaidi bắt đầu sự nghiệp của mình ở Hà Lan trong màu áo AZ. Sau khi không được AZ ký hợp đồng chuyên nghiệp, anh chuyển sang chơi cho câu lạc bộ hạng hai FC Omniworld và sau đó là De Graafschap trước khi gia nhập Heerenveen vào năm 2009. Màn trình diễn ấn tượng tại Abe Lenstra Stadion đã giúp cầu thủ người Maroc được nhiều câu lạc bộ lớn ở châu Âu chú ý. Assaidi ký hợp đồng với Liverpool vào tháng 8 năm 2012 với mức phí 2,4 triệu bảng. Dẫu vậy, Ngoại hạng Anh không phải bến bờ phù hợp với Assaidi. Anh không thể cạnh tranh được một suất đá chính tại Liverpool và phải thi đấu cho Stoke City hai năm liên tiếp theo dạng cho mượn trước khi khi bị bán cho Al-Ahli Dubai vào tháng 1 năm 2015. Năm 2017, anh trở về Hà Lan đầu quân cho Twente. Là tuyển thủ quốc gia từ năm 2011, Assaidi đã cùng đội tuyển Maroc tham dự Cúp bóng đá châu Phi vào năm 2012 và 2013.
1
null
Chiến dịch Gorodok (1943) là hoạt động quân sự quy mô lớn đầu tiên của Phương diện quân Pribaltic 1 (Liên Xô) kể từ khi nó được đổi tên từ Phương diện quân Kalinin ngày 20 tháng 10 năm 1943. Chiến dịch được thực hiện từ ngày 2 tháng 11 đến ngày 31 tháng 12 năm 1943 nhằm đánh tiêu hao Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) đang phòng thủ trên khu vực đông bắc của cái gọi là "Ban công Byelorussia" do tuyến phòng thủ lồi sang phía đông của quân đội Đức Quốc xã tạo nên. Sau 18 ngày chiến đấu, Quân đội Liên Xô đã đánh bại 11 sư đoàn Đức, trong đó, tiêu diệt 3 sư đoàn; mở rộng khu vực bàn đạp Nevel sang phía tây bắc, phía tây và phía nam, đánh chiếm thị trấn Gorodok, cắt đứt đường sắt Vitebsk - Polotsk và bao vây Vitebsk từ phía tây, phía bắc và phía đông. Mặc dù chưa chiếm được Vitebsk như mục tiêu đề ra nhưng Phương diện quân Pribaltic 1 (Liên Xô) đã cải thiện được thế trận vững chắc trên cánh Bắc của mặt trận Byelorussia, tạo điều kiện để phối hợp với các Phương diện quân Byelorussia 1, 2 và 3 tiến hành thành công Chiến dịch Bagration sau đó nửa năm, đánh đuổi quân đội Đức Quốc xã ra khỏi lãnh thổ Liên Xô, giải phóng Byelorussia sau 3 năm bị quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng. Tình huống mặt trận. Do kết quả của Chiến dịch tấn công Nevel, quân đội Liên Xô đã có một bàn đạp lợi hại để tiếp tục phát triển tấn công. Tuy nhiên, với binh lực chỉ có hai tập đoàn quân xung kích (tổng cộng 12 sư đoàn), Phương diện quân Kalinin không đủ lực lượng để tiếp tục thực hiện kế hoạch. Ngày 20 tháng 10, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô ra chỉ lệnh cơ cấu lại các Phương diện quân trên mặt trận Xô-Đức. Theo đó, Phương diện quân Kalinin được đổi thành Phương diện quân Pribaltic 1. Thượng tướng Ivan Khristoforovich Bagramian được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Phương diện quân này, thay thế thượng tướng Andrei Ivanovich Yeryomenko được điều động về Đại bản doanh và sau đó đến chỉ huy Tập đoàn quân độc lập Duyên hải tại mặt trận Krym. Sau khi mất Nevel, quân đội Đức Quốc xã tổ chức nhiều trận phản kích ở phía nam thành phố này và tạm thời chặn đứng quân đội Liên Xô tại tuyến phòng ngự giữa các hồ Nevel, Yemnets, Ordovo, Yezerishe và Senitsa. Tuy nhiên, bằng các trận đánh lấn quy mô nhỏ cấp sư đoàn và trung đoàn, các tập đoàn quân xung kích 3 và 4 (Liên Xô) đã mở rộng phạm vi kiểm soát xung quanh Nevel. Khi tiếp nhận Phương diện quân Pribaltic 1, tướng I. Kh. Bagramian cho rằng các trận đánh nhỏ lẻ nhưng rất ác liệt, tích tụ thương vong lớn cho quân đội Liên Xô nhưng đem lại ít kết quả. Cần phải tạo ra một bước đột phá để tiếp cận Vitebsk mới có thể thúc đẩy sự phát triển tấn công của Phương diện quân. Ngoài mục tiêu mở rộng bàn đạp Nevel, cần phải thủ tiêu cụm quân Đức tại phía bắc Gorodok, nơi xuất phát của các cuộc phản kích của quân Đức vào phía nam Nevel. Từ đó mới có thể tạo ra những bước ngoặt mới. Cuối năm 1943, các diễn biến chiến sự lớn trên mặt trận Xô-Đức diễn ra chủ yếu tại khu vực sông Dniepr và xung quanh Leningrad. Ở Ukraina, quân đội Liên Xô giải phóng Kiev và bắt tay vào các chiến dịch thu hồi vùng hữu ngạn sông Dniepr, Ở phía bắc, Phương diện quân Leningrad và Phương diện quân Volkhov đã phá vỡ vòng phong tỏa Leningrad và không ngừng đẩy quân Đức cũng như quân Phần Lan ra xa thành phố. Trên hướng Tây, sau khi giải phóng các khu vực Smolensk, Roslavl, Bryansk, các phương diện quân Liên Xô phải dừng lại trước các cửa ngõ tiến vào Byelorussia do một phần lực lượng dự bị đã sử dụng hết, một phần lớn đã được điều đi tăng cường cho các mặt trận phía bắc và phía nam trong các chiến dịch tấn công lớn. Để tạo ra bước ngoặt, Phương diện quân Pribaltic 1 cần được bổ sung lực lượng hoặc thu hẹp chính diện. Xét thấy các trận tấn công vỗ mặt của Phương diện quân Tây trên khu vực Orsha và Mogilev khó thu được kết quả khả quan. Ngày 19 tháng 11 năm 1943, STAVKA điều động Tập đoàn quân cận vệ 11 (lúc này đã hoàn thành Chiến dịch tấn công Bryansk) cho Phương diện quân Pribaltic 1, điều động Tập đoàn quân cận vệ 6 tăng cường cho Phương diện quân Pribaltic 2 Phương diện quân Pribaltic 1 chuyển giao Tập đoàn quân 39 cho Phương diện quân Byelorussia 3 (Phương diện quân Tây cũ). Tập đoàn quân xung kích 3 cũng được chuyển giao cho Phương diện quân Pribaltic 2. Chính diện của Phương diện quân Pribaltic được thu hẹp bớt khoảng 100 km, trong đó có hơn 70 km chính diện hướng Tây và tây bắc Nevel được chuyển giao cho Phương diện quân Pribaltic 2. Binh lực và kế hoạch. Quân đội Liên Xô. Binh lực. Phương diện quân Prialtic 1 do thượng tướng I. Kh. Bagramian làm tư lệnh, sử dụng cánh phải tấn công hướng Nevel - Gorodok. Binh lực bao gồm: Phương diện quân Pribaltic 2 do thượng tướng M. M. Popov làm tư lệnh, sử dụng cánh trái tấn công trên hướng Nevel - Pskov. Binh lực bao gồm: Kế hoạch. Sau Chiến dịch tấn công Nevel, tướng K. N. Galitsky vẫn kiên trì yêu cầu STAVKA và tư lệnh Phương diện quân Kalinin điều động thêm binh lực tăng cường để tiếp tục tấn công, mở rộng bàn đạp. Đặc biệt, do quân Đức Liên tục phản kích, thành phố Nevel đã trở thành một "thành phố mặt trận" do chỉ cách tiền duyên chưa đến 10 km, nằm trong tần bắn của pháo binh Đức. Đại bản doanh bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô cũng diễn ra cuộc tranh luận giữa việc tiếp tục tấn công hoặc tạm dừng tấn công để chờ đến khi tập trung đầy đủ lực lượng dự bị, vũ khí, phương tiện và tạo được một thế trận có lợi trên hướng Tây. Trước những ý kiến ngược chiều nhau, Tổng tư lệnh I. V. Stalin chọn giải pháp trung bình. Ông ra lệnh cho các phương diện quân trên hướng Tây mở một số chiến dịch đệm, vừa để tạo thế cho các chiến dịch tấn công chiến lược sau này, vừa để giam chân các binh đoàn xe tăng mạnh của quân đội Đức Quốc xã, không để cho quân Đức điều các binh đoàn này xuống mặt trận Ukraina. Do các nguyên soái G. K. Zhukov và A. M. Vasilevsky đã điều phối hoạt động của 4 phương diện quân Ukraina, Tổng tư lệnh I. V. Stalin giao cho nguyên soái pháo binh N. N. Voronov tiếp tục chỉ đạo hoạt động của các phương diện quân trên hướng Tây, bao gồm cả các phương diện quân Pribaltic 1 và 2. Kế hoạch tấn công của hai phương diện quân Pribaltic khá đơn giản. Phương diện quân Pribaltic 2 sẽ mở một mũi tấn công từ tây bắc bàn đạp Nevel lên tuyến sông Velikan ở phía bắc, bao vây cụm quân Đức tại Novosokolniki. Phương diện quân Pribaltic 1 sẽ mở mũi tấn công từ tây nam bàn đạp Nevel xuống phía nam sông Tây Dvina, bao vây cụm quân Đức tạo Gorodok và đánh chiếm Vitebsk. Mỗi phương diện quân đều được bổ sung những sinh lực mới gồm các tập đoàn quân cận vệ 6 và 11. Mỗi tập đoàn quân đều có một quân đoàn xe tăng. Các mũi tấn công chủ yếu đều xuất phát từ Nevel. Các hướng thứ yếu tại phía đông Novosokolniki và phía đông khu vực Gorodok - Vitebsk có nhiệm vụ thu hút chủ lực quân Đức ra khỏi các hướng tấn công chính. Quân đội Đức Quốc xã. Binh lực. Tập đoàn quân xe tăng 3 thuộc Cụm tập đoàn quân Trung tâm do thượng tướng Georg-Hans Reinhardt làm tư lệnh, phòng thủ hướng Gorodok - Vitebsk. Binh lực gồm có: Tập đoàn quân 16 thuộc Cụm tập đoàn quân Bắc do thượng tướng Christian Hansen làm tư lệnh, cánh phải của Tập đoàn quân này phòng thủ trên hướng Novosokoniki - Pskov. Binh lực gồm có: Kế hoạch. Sau khi bị quân đội Liên Xô đánh bật khỏi Nevel, Tổng hành dinh quân đội Đức Quốc xã đã điều động bổ sung cho Tập đoàn quân xe tăng 3 5 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn xe tăng. Quân đoàn bộ binh 43 thuộc Tập đoàn quân 16 cũng được tăng cường các sư đoàn bộ binh xung kích 5 và 6 rút từ hướng Leningrad. Trên hướng Tây và tây bắc Nevel, các quân đoàn bộ binh 10 và 43 (Đức) thiết lập các tuyến phòng thủ dọc theo sông Drissa và sông Velikan, trong đó có các trung tâm phòng ngự mạnh tại Idritsa, Pustoshka và Novosokolniki. Trên hướng tây nam và Nam Nevel, Tập đoàn quân xe tăng 3 cũng tổ chức phòng thủ nhiều lớp trên các con sông Obol, Obsyanks che chở cho cụm cứ điểm Gorodok và sông Tây Dvina che chở cho Vitebsk. Các sư đoàn xe tăng, các trung đoàn cơ giới và pháo tự hành có nhiệm vụ lập nhiều chốt chặn tại các tuyến đường sắt và đường bộ nối Nevel với Polotsk, với Pskov và Nevel qua Gorodok đến Vitebsk. Một loạt các hồ từ Tây sang Đông gồm các hồ Sintsa, Yemnets, Ordovo, Yeritse, Sennitsa và dải hồ-đầm lầy chạy từ Bắc xuống Nam gồm các hồ Sbino, Bernovo, Chernovo và Kosho, cũng được lợi dụng như những chướng ngại tự nhiên, kết hợp với các bãi mìn để hạn chế sức mạnh của xe tăng, thiết giáp. Ngày 6 tháng 11 năm 1943, Adolf Hitler đến Vitebsk để úy lạo sĩ quan và binh sĩ Đức thuộc Cụm tập đoàn quân Trung tâm. Đây cũng là lần duy nhất, Hitler đi thăm quân Đức ở ngay sát mặt trận như vậy, 6 sư đoàn cảnh binh SS và hàng vạn mật vụ Gestapo được huy động để bảo đảm an toàn cho chuyến tàu hỏa đặc biệt chở Hitler trên suốt dọc tuyến đường sắt Berlin - Warshawa - Minsk. Thế giới chỉ được thông tin về chuyến đi thăm mặt trận này của Hitler ba ngày sau đó qua Đài phát thanh Berlin, khi Hitler đã về đến Berlin an toàn. Một tuần sau đó, hãng phim Wochenshau theo lệnh của Paul Joseph Göbbels đã làm một bộ phim tài liệu dài 30 phút về chuyến thăm mặt trận này của Hitler. Dư luận phương Tây cho rằng chuyến đi mặt trận này là đòn tuyên tuyền đáp trả cuộc đi thăm mặt trận tại Phương diện quân Kalinin của Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô Iosif Vissarionovich Stalin trước đó mấy tháng. Tại Vitebsk, Hitler yêu cầu thống chế Ernst Busch, Tư lệnh Cụm tập đoàn quân Tập đoàn quân Trung tâm (Đức) phải tấn công để loại bỏ mối nguy hiểm do "chỗ lồi Nevel" đang bị quân đội Liên Xô chiếm giữ gây ra. Đến ngày 13 tháng 12, khi quân đội Liên Xô phát động chiến dịch tấn công Gorodok - Vitebsk. Hitler vẫn yêu cầu Bộ Tổng tham mưu quân đội Đức quốc xã nhắc nhở thống chế Ernst Busch về việc này: Diễn biến. Tạo thế ở phía bắc Vitebsk. Tại phía nam Nevel, ngày 2 tháng 11, Tập đoàn quân xung kích 4 (Liên Xô) bắt đầu tấn công vào tuyến phòng thủ của quân Đức dọc theo các hồ Sintsa, Emenets, Ordovo. Ngày 6 tháng 11, các chốt chặn của Sư đoàn bộ binh 252 (Đức) dọc theo con đường sắt Nevel - Polotsk lần lượt bị thất thủ. Các sư đoàn bộ binh 154, 381 và Lữ đoàn xe tăng 236 bắt đầu mở rộng cuộc tấn công sang hướng tây nam và hướng Nam. Ngày 8 tháng 11, Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) mở cuộc phản kích lớn bằng quân của Sư đoàn đổ bộ đường không 6 (được tăng viện thay Sư đoàn đổ bộ dường không 2 đã bị tiêu diệt) và một trung đoàn xe tăng của Sư đoàn xe tăng 20 vào thị trấn Khvoshno, đẩy lùi Sư đoàn bộ binh 156 (Liên Xô) về phía bắc sâu 1,5 km. Ngày 9 tháng 11, Sư đoàn bộ binh 47 (Tập đoàn quân xung kích 4) được điều đến tăng viện đã chặn đứng cuộc phản công của 6 tiểu đoàn bộ binh và hơn 50 xe tăng Đức. Ngày 11 tháng 11, Sư đoàn bộ binh 154 (Liên Xô) chiếm được điểm cao 255 phía nam hồ Sintsa, Sư đoàn bộ binh 381 đã khống chế toàn bộ đoạn đường sắt và đường bộ từ Polotsk đi Nevel, loại bỏ nguy cơ phản công của quân Đức từ phía tây nam vào Nevel. Ngày 12 tháng 11, Quân đoàn bộ binh cận vệ 2 và Sư đoàn bộ binh 334 di chuyển theo con đường sắt vừa chiếm được đã tập kết ở phía tây hồ Svino. Ngày 13 tháng 11, Quân đoàn kỵ binh cận vệ 3 vừa được tăng viện cho Tập đoàn quân xung kích 4 đã mở cuộc tấn công từ phía đông hồ Svino dọc theo sông Obol xuống phía nam. Đòn đột kích bất ngờ của kỵ binh Liên Xô đã đánh tan hai trung đoàn bộ binh của Sư đoàn an ninh 201, buộc sư đoàn này phải tháo chạy về phía nam sông Obol. Tuyến phòng thủ của quân Đức ở phía tây bắc Gorodok bị thủng một mảng lớn. Ngày 16 tháng 11, Quân đoàn kỵ binh cận vệ 3 vượt sông Obol và tiếp tục tấn công. Ngày 19 tháng 11, tướng Georg-Hans Reinhardt tung Sư đoàn xe tăng 20 và Trung đoàn biệt kích 113 ra chặn đường tiến của Quân đoàn kỵ binh cận vệ 3 nhưng vô hiệu. Ngày 22 tháng 11, các sư đoàn kỵ binh cận vệ 4, 5 và Trung đoàn pháo tự hành 1814 đã có mặt ở vùng hồ Kosho, tây bắc Gorodok. Theo sau các đơn vị này là Quân đoàn xe tăng 5 và Quân đoàn bộ binh cận vệ 22. Đòn đột kích của kỵ binh và xe tăng Liên Xô đã tạo thành một chỗ lồi rộng từ 20 đến 25 km, sâu 45 km về hướng Vitebsk. Ngày 24 tháng 11, Quân đoàn bộ binh cận vệ 22 (Liên Xô) đánh chiếm thị trấn Mishnyevichi, uy hiếp phía tây Vitebsk. Tướng Georg-Hans Reinhardt buộc phải huy động cụm quân phòng thủ ở Vitebsk ra hướng Sirotino (Sirocina) phối hợp với Sư đoàn bộ binh 206 và Trung đoàn biệt kích 36 giữ cửa ngõ phía tây Vitebsk. Bế tắc trên hướng Novosokolniki. Ở phía bắc, Phương diện quân Pribaltic 2 sử dụng Tập đoàn quân xung kích 3 và Tập đoàn quân cận vệ 6 mới được điều đến mặt trận mở hai hướng tấn công sang phía tây và phía bắc. Ngày 15 tháng 11, Tập đoàn quân xung kích 3 sử dụng các lữ đoàn xe tăng 78, 92 và 118 mở đường cho các Quân đoàn bộ binh 79 và 90 tấn công sang phía tây. Ngày 18 tháng 11, Quân đoàn bộ binh 90 và các lữ đoàn xe tăng 78 và 118 đã vượt sông Drissa, đánh bật Quân đoàn bộ binh 43 (Đức) khỏi khu vực hồ Sintsa, Ở hướng tây bắc Nevel, Tập đoàn quân cận vệ 6 triển khai tấn công dọc theo đường bộ đi Pskov, làm như đang tấn công đánh chiếm thành phố này. Ngày 23 tháng 11, Quân đoàn bộ binh cận vệ 23, Lữ đoàn xe tăng cận vệ 38 và các trung đoàn xe tăng cận vệ 3, 27, 30 bẻ mũi tấn công lên phía bắc, tiến về đầu mối giao thông Pustoshka. Phát hiện ý đồ bao vây khu vực Novosokolniki của quân đội Liên Xô, ngày tướng Christian Hansen điều Quân đoàn bộ binh 10 gồm 4 sư đoàn bộ binh và 4 trung đoàn xe tăng hạng nặng từ Staraya Russa xuống trấn giữ tuyến đường sắt Novosokolniki - Idritsa. Ngày 25 tháng 11, Quân đoàn bộ binh 10 (Đức) chặn được đòn tấn công của Quân đoàn bộ binh cận vệ 23 và Lữ đoàn xe tăng cận vệ 38 thuộc Tập đoàn quân cận vệ 6 (Liên Xô) tại khu vực nhà ga Pustoshka. Ở phía bắc Nevel, hai trung đoàn xe tăng và 2 sư đoàn bộ binh Đức triển khai phản kích vào phía sau Cụm cơ động của Tập đoàn quân cận vệ 6 đang tấn công lên phía bắc, buộc tướng I. M. Chistyakov phải tung các quân đoàn bộ binh còn tại và 5 trung đoàn xe tăng để tổ chức phòng thủ tại khu vực Bykovo (???) và các eo đất giữa các hồ Malyi Ivan, Bolshoi Ivan, Karatai. Không bỏ ý đồ tấn công, ngày 26 tháng 11, tướng M. M. Popov gọi điện trực tiếp cho Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô xin điều hai quân đoàn xe tăng đến Phương diện quân Pribaltic 2 với lời cam đoan sẽ đánh chiếm Idritsa trong vòng vài ba ngày. 16 giờ chiều 26 tháng 11, đại tướng A. I. Antonov Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô truyền đạt đến tướng M. M. Popov ý kiến của Tổng tư lệnh tối cao I. V. Stalin: Không còn thê đội 2 tiếp sức, cụm cơ động của Tập đoàn quân cận vệ 6 không thể tiến đến tuyến sông Velikan theo kế hoạch. Tập đoàn quân xung kích 3 cũng không còn lực lượng dự bị để tấn công lên Idritsa. Chiến dịch tạo thế của Phương diện quân Pribaltic 2 buộc phải dừng lại. Hợp vây quân Đức ở phía nam Nevel. Phương diện quân Pribaltic 1 có hai tuần tạm dừng tấn công để bố trí lại binh lực và điều chỉnh kế hoạch. Theo như kế hoạch cũ thì các tập đoàn quân xung kích 4, cận vệ 11 sẽ đảm nhận mũi chủ công và đồng loạt tấn công trên chính diện từ hồ Ordovo đến hồ Kosho để đánh chiếm Gorodok và phát triển xuống Vitebsk. Tuy nhiên, do Tập đoàn quân xung kích 4 đã tiến sâu xuống phía nam nên binh lực bị dàn mỏng. Ở phía đông Gorodok, Tập đoàn quân 43 với binh lực yếu hơn không thể bịt được cửa mở rộng đến hơn 60 km từ Gorodok đến phía tây Suraz. Nơi tiếp giáp của Tập đoàn quân 43 với Tập đoàn quân cận vệ 11 ở phía bắc và Tập đoàn quân 39 ở phía nam bị ngăn cách bởi các vùng đất trũng lầy lội dọc theo các con sông Obsyaka và Tây Dvina. Tướng I. Kh. Bagramyan quyết định chọn giải pháp bao vây và tiêu diệt cụm quân Đức ở khu vực phía nam hồ Ordovo trước khi đánh chiếm Gorodok. Các cánh quân xung kích gồm Quân đoàn xe tăng cận vệ 1 và Quân đoàn xe tăng 5, các quân đoàn bộ binh cận vệ 8, 36 (Tập đoàn quân cận vệ 11) và các quân đoàn bộ binh cận vệ 2, 22 (Tập đoàn quân xung kích 4). Nửa đêm 12 tháng 12 đến trước bình minh ngày 13 tháng 12, trên dải tấn công của Tập đoàn quân cận vệ 11, Quân đoàn xe tăng cận vệ 1 bắt đầu triển khai trên tiền duyên. Do điều kiện chuyển quân gấp nên chỉ có hơn 50% số xe tăng và pháo tự hành của Quân đoàn có mặt tại vị trí xuất phát tấn công. Lữ đoàn xe tăng 159 (27 xe tăng T34), Trung đoàn pháo chống tăng 338 (12 pháo tự hành 85 mm), một tiểu đoàn của Trung đoàn pháo phòng không 1720 và Quân đoàn bộ binh cận vệ 36 sẽ hợp thành thê đội 1 cánh phải, có nhiệm đột phá từ Zhukovo (???). Lữ đoàn xe tăng 117 (21 xe tăng T-34), Trung đoàn pháo tự hành 1437 (12 pháo tự hành SU-122), 2 tiểu đoàn của Trung đoàn pháo phòng không 1720 hợp thành thê đội 1 cánh trái, đột kích từ khu vực Bodnikov (???). Thê đội 2 gồm Lữ đoàn cơ giới 44, Lữ đoàn xe tăng cận vệ 10 và Quân đoàn bộ binh cận vệ 16 được tăng cường tiểu đoàn 2 súng cối hạng nặng của Sư đoàn súng cối 108 (12 súng cối 120 mm đặt trên xe xích) đóng tại làng Avdeykov (???). Trung đoàn pháo nòng dài cận vệ 93, Trung đoàn lựu pháo 1320 và Trung đoàn phòng không 1279 cũng được triển khai ngay sau tuyến tấn công. Sở chỉ huy chiến dịch và Trung đoàn pháo phản lực gồm 5 đại đội BM-13 đóng tại Dubrovka. Mật độ pháo binh của Tập đoàn quân cận vệ 11 đạt đến 180 nòng súng trên 1 km chính diện tấn công. Trên tuyến tấn công của Tập đoàn quân xung kích 4, rạng sáng ngày 13 tháng 12, Quân đoàn xe tăng 5 và các Quân đoàn bộ binh cận vệ 2, 22 đã vào vị trí. Do triển khai tấn công từ eo đất hẹp giữa hai hồ Bernovo và Chernovo nên Tập đoàn quân xung kích 4 chỉ triển khai một mũi tấn công. Thê đội 1 gồm toàn bộ Quân đoàn xe tăng 5 (80 xe tăng T-34, 21 xe tăng T-26, 36 pháo tự hành Su-85 và Su-122) và Quân đoàn bộ binh cận vệ 2. Thê đội 2 gồm Lữ đoàn xe tăng cận vệ 34 (41 xe tăng T-34) và Quân đoàn bộ binh cận vệ 22. Lực lượng dự bị gồm Lữ đoàn xe tăng 236, Tiểu đoàn xe tăng độc lập 171 và Quân đoàn bộ binh 60. Do thiếu pháo binh hạng nặng nên tướng K. N. Galitsky đã giảm mật độ pháo binh ở hướng thứ yếu xuống còn 30 khẩu/km chính diện để đạt được mật độ 84 khẩu/km chính diện ở hướng đột phá. Trinh sát mặt trận đã tìm hiểu cụm quân Đức đóng ở mỏm đất nhô phía bắc chỗ lồi Gorodok và phát hiện thấy Quân đoàn bộ binh 9 (Đức) bố trí tại đây các Sư đoàn bộ binh 83 và 129 (13 tiểu đoàn), Cụm tác chiến sư đoàn bộ binh 113, Tiểu đoàn công binh 214, tại nhà ga Buchikha (???) có Trung đoàn xe tăng 24 của Sư đoàn xe tăng 20 gồm 80 xe tăng. 7 giờ sáng ngày 13 tháng 12, trên khu vực Nevel - Gorodok, trời đầy mây thấp. Tầm nhìn xa chỉ từ 2 đến 3 km. Tướng N. F. Papivin báo cáo cho tư lệnh phương diện quân I. Kh. Bagramyan biết việc sử dụng không quân oanh tạc và không quân cường kích sẽ rất khó khăn. Tuy nhiên, I. Kh. Bagramyan quyết định không thay đổi kế hoạch. Ông chỉ cho lui lại giờ G thêm 1 giờ 30 phút chờ cho mây tan bớt và trời ấm lên. 9 giờ sáng 13 tháng 12, loạt đạn lựu pháo đầu tiên của Tập đoàn quân cận vệ 11 và Tập đoàn quân xung kích 4 bắt đầu nổ tung trên các chiến hào tuyến 1 của quân Đức. Sau 15 phút xạ kích, pháo binh ngừng bắn 5 phút. Qua đối kính pháo, các chỉ huy pháo binh Liên Xô quan sát thấy quân Đức trong các tuyến phòng thủ thứ hai và thứ ba bắt đầu di chuyển ra tuyến đầu. Phút thứ 20 của trận pháo kích, các khẩu pháo nòng dài bắt đầu lên tiếng. Chúng bắn sâu vào tuyến phòng thủ phía trong của quân Đức, nơi các tiểu đoàn quân Đức đang di chuyển ra phía ngoài. Các khẩu đội lựu pháo cũng được lệnh tăng tầm bắn trong khi các loại súng cối 81 mm và 120 mm tiếp tục nã đạn lên tuyến phòng thủ đầu tiên, vô hiệu hóa nốt các hỏa điểm còn sống sót của quân Đức. 15 phút cuối của trận pháo kích, các loạt đạn Katyusha tạo nên những quầng lửa chạy dài trên tuyến phòng thủ thứ ba của quân Đức. Tiếng réo của đạn bay và tiếng gầm của đạn nổ các cỡ tạo thành một mớ âm thanh hỗn tạp, đinh tai nhức óc ngay cả đối với những người đã từng quen với chiến trận. 10 giờ 15 phút, tại cánh quân phía đông, công binh Liên Xô bắt đầu lao các nhịp cầu gỗ trên các bãi lầy cho xe tăng vượt qua. 10 giờ 45 phút, các lữ đoàn xe tăng 159 và 117 đã tràn sang bên kia đồng lầy và cùng với bộ binh xông lên. Trong giờ tấn công đầu tiên, họ đã vượt qua 500 mét trên các tuyến phòng thủ đầu tiên và thứ hai của quân Đức. 18 giờ chiều ngày 13 tháng 12, Lữ đoàn xe tăng 117 chiếm làng Bulin (???), cách tuyến xuất phát tấn công khoảng 10 km. 20 giờ tối, Lữ đoàn xe tăng 159 cắt đứt đường cao tốc Nevel - Vitebsk ở phía tây làng Pilkovo (???) sau khi tiến công được 15 km. Tại cánh quân phía tây, 10 giờ 15 phút, các cỡ pháo của Tập đoàn quân xung kích 4 (Liên Xô) bắt đầu khai hỏa. Tuy mật độ đạn không được dày nhưng cũng đủ để chế áp các khẩu đội pháo, súng cối và tiêu diệt các hỏa điểm súng máy của quân Đức trên tuyến đầu. 10 giờ 45 phút, Quân đoàn xe tăng 5 kéo theo Quân đoàn bộ binh cận vệ 2 bắt đầu xung phong. Trên cánh trái, Sư đoàn bộ binh 381 gặp phải sức kháng cự cứng rắn của quân Đức tại các ngôi làng Morozniki (???) và Krepin (???) khi họ tấn công từ phía nam hồ Bernovo. Thậm chí, quân Đức đã chặn đứng Sư đoàn bộ binh 90 (Liên Xô). Tướng V. I. Svetsov điều Lữ đoàn xe tăng 70 từ thê đội hai lên trợ chiến cho Sư đoàn 90 cũng chỉ đạt được kết quả thực hiện chiều sâu nhiệm vụ từ 1,5 đến 2 km trong ngày tấn công đầu tiên. Hướng tấn công của quân đội Liên Xô từ phía bắc hồ Chernovo đạt được kết quả khả quan hơn. Tại đây, Quân đoàn bộ binh cận vệ 22 có hai lữ đoàn xe tăng 24 và 41 dẫn đầu đã tiến sâu 8 km trong ngày đầu tiên và chỉ còn cách đường sắt Nevel - Gorodok hơn 3 km. Ngày 14 tháng 12, Tập đoàn quân cận vệ 11 tiếp tục tấn công. Quân Đức điều đến phía tây làng Pylkov (???) Trung đoàn bộ binh 428 và hai tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 427 tiến hành phản kích với sự yểm hộ của Trung đoàn pháo binh 2 và Tiểu đoàn súng cối 129 thuộc Sư đoàn bộ binh 129. Cuộc chiến giành giật đoạn đường cao tốc từ Kayki (???) qua Suchki (???) đến Lopaukh (???) kéo dài suốt ngày 14 tháng 12. Lữ đoàn xe tăng 159 và Quân đoàn bộ binh cận vệ 36 hầu như dẫm chân tại chỗ. 5 xe tăng T-34 bị pháo binh Đức bắn cháy. Để vượt qua điểm nút Suchky, ngày 15 tháng 12, tướng K. N. Galitsky điều Lữ đoàn cơ giới 44 và Sư đoàn bộ binh cận vệ 31 đến khu vực Suchki và Lopaukh. Cuối ngày 16 tháng 12, Quân đoàn xe tăng cận vệ 1 và Quân đoàn bộ binh 36 đã đánh bật được quân Đức sang phía tây đường bộ Nevel - Gorodok. Ngày 16 tháng 12, Lữ đoàn xe tăng 159 và Quân đoàn bộ binh cận vệ 36 tiếp tục đánh chiếm các làng Mekhovoye (???) và Froly (???), vòng lên bao vây trung tâm phòng ngự Bychikha (Bycycha) của quân Đức từ phía bắc. 12 giờ cùng ngày, Lữ đoàn xe tăng 117 và Lữ đoàn xe tăng 89 vừa đến mặt trận dẫn đầu Quân đoàn bộ binh cận vệ 8 đánh chiếm căn cứ hỏa lực pháo binh của Quân đoàn bộ binh 53 (Đức) tại phía bắc Voronyat (???), đánh chiếm các cứ điểm phòng thủ của Sư đoàn bộ binh 246 và 256 (Đức) tại Drozhakhov (???) và Byki ở phía nam Bychikha. Trên cánh Tây, thành công của Sư đoàn bộ binh cận vệ 47 (Liên Xô) đã thúc đẩy cuộc tấn công. Ngày 15 tháng 12, Quân đoàn xe tăng 5 và các 4 sư đoàn của Quân đoàn bộ binh cận vệ 2 tiếp tục tiến lên. Sư đoàn bộ binh 90 đánh chiếm nhà ga Roslyakh (Roslyja), cắt đứt đường sắt Nevel - Gorodok ở phía bắc Bychikha. Sư đoàn bộ binh 381 đánh chiếm điểm cao 229,7. Từ đây, lựu pháo của quân đội Liên Xô đã có thể bắn trực chỉ vào Bychikha. Sư đoàn bộ binh 47 tiếp tục vòng xuống phía nam, đánh chiếm cụm phòng ngự của quân Đức tại nhà ga Bychikha. Tối 16 tháng 12, Quân đoàn xe tăng cận vệ 1 và Quân đoàn xe tăng 5 gặp nhau tại làng Blokhi (???), hoàn thành cuộc tấn công bao vây các sư đoàn của Quân đoàn bộ binh 9 (Đức) tại phía bắc Bychikha. Ngày 17 tháng 12, Tập đoàn quân Xung kích 4 được lệnh tung thê đội 2 vào trận để tiêu diệt 3 sư đoàn Đức trong vòng vây từ tuyến hồ Bernovo, Svino, Ordovo, Ezerishye đến Zhukovo, phía bắc tuyến Zhukovo, Bychikha, hồ Chernovo. Tập đoàn quân cận vệ 11 được lệnh vừa giữ vòng vây bên ngoài, vừa tập trung lại lực lượng để tổ chức tấn công về hướng Gorodok - Vitebsk trong khi quân Đức còn chưa kịp "hồi sức". Ngày 18 tháng 9, các sư đoàn bộ binh 87, 211 và trung đoàn còn lại của Sư đoàn xe tăng 20 (Đức) tổ chức đột kích phá vây qua sông Obol về phía tây bắc hồ Svino nhưng không thoát. Quân đoàn kỵ binh cận vệ 3 (Liên Xô) đã huy động các sư đoàn kỵ binh cận vệ 5, 6 và Trung đoàn pháo tự hành 1814 đập tan cuộc đột kích phá vây. Tàn quân Đức chạy ngược trở lại phía đông sông Obol. Sau 5 ngày giao chiến ác liệt, ngày 22 tháng 12, Quân đoàn bộ binh cận vệ 2 và Quân đoàn bộ binh 60 cũng các lữ đoàn xe tăng 34 và 236 đã kết liễu cánh quân Đức bị vây; tiêu diệt và làm bị thương hơn 20.000 sĩ quan và binh lính Đức, bắt hơn 2.000 tù binh; phá hủy 69 xe tăng, 164 pháo, 123 súng cối, 586 súng máy hạng nặng, 760 ô tô các loại và 16 kho hàng. Quân đội Liên Xô thu giữ 37 xe tăng và pháo tự hành, 194 pháo, 75 súng cối, 110 ô tô, 24 kho vũ khí, đạn dược và thiết bị quân sự. Trước mắt Phương diện quân Pribaltic 1 còn nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch: đánh chiếm Gorodok và tấn công Vitebsk. Giải phóng Gorodok. Trong giai đoạn cuối của chiến dịch này, thượng tướng I. Kh. Bagramyan dự định tấn công Vitebsk bằng hai mũi đột kích. Tập đoàn quân cận vệ 11 sau khi hoàn thành bao vây cụm quân Đức ở khu vực phía bắc Bychikha sẽ quay mũi xuống phía nam, phối hợp với cánh phải của Tập đoàn quân xung kích 4 đánh chiếm Gorodok và phát triển xuống Vitebsk. Tập đoàn quân 43 sẽ đánh một đòn bổ trợ vào Quân đoàn bộ binh 6 (Đức) đang phòng ngự từ Smolovka qua hồ Vymno đến sông Tây Dvina và tiến dọc theo con sông này về Vitebsk. Trong một hoạt động phối hợp, Tập đoàn quân 39 (Phương diện quân Byelorussia 3) từ khu vực Lyozna sẽ đánh đòn vu hồi từ phía đông vào Vitebsk. Tuy nhiên, sau hơn một tuần chiến đấu, các lực lượng Hồng quân cũng bị tiêu hao đáng kể, nhất là xe tăng. Ngoài 13 xe tăng bị quân Đức phá hủy còn có 18 chiếc khác đang được sửa chữa và hơn 10 chiếc mắc lầy đang chờ được kéo lên. Trong các trận đánh tạo thế và giai đoạn tấn công đầu tiên của chiến dịch, pháo binh Phương diện quân Pribaltic 1 đã tiêu thụ hơn hơn 350.000 viên đạn (kể cả đạn Katyusha, đạn súng cối và đạn pháo chống tăng các cỡ). Họ chỉ còn lại 112.290 viên. Theo tính toán của trung tướng pháo binh N. M. Khlevnikov, chỉ huy pháo binh của Phương diện quân, cần phải bổ sung thêm 127.000 viên đạn pháo từ 45 mm trở lên để có thể duy trì hỏa lực trong một tuần tiếp theo của chiến dịch. Một số pháo hạng nặng vẫn còn bị kẹt lại phía sau do thiếu sức kéo và địa hình lầy lội. Vì vậy, cuộc tấn công bị hoãn đến ngày 24 tháng 12. Trước tình thế không thể đảo ngược và các thiệt hại lớn về quân số và phương tiện, tướng Georg-Hans Reinhardt buộc phải co về phòng thủ. Ngày 21 tháng 12, Quân Đức rút bỏ một loạt tiền đồn trên khu vực sông Obsyanka, các cứ điểm Sudary (???), Smolovka để tập trung quân phòng thủ Gorodok và Vitebsk. Ngày 22 tháng 12, trinh sát của Tập đoàn quân 43 (Liên Xô) báo cáo về việc "trước mặt họ không có địch". Không thể chần chừ thêm một ngày, đêm 22 rạng ngày 23 tháng 12, tướng I. Kh. Bagramyan ra lệnh tấn công. Mãi đến 11 giờ sáng 23 tháng 12, các Quân đoàn xe tăng 5 và cận vệ 1 mới có thể xuất phát tấn công sau một giờ pháo kích. Cánh phải của Tập đoàn quân 43 nhanh chóng đánh chiếm cứ điểm Sudary chỉ còn một tiểu đoàn Đức ở lại chặn hậu và dễ dàng vượt qua sông Obsyanka. 13 giờ cùng ngày, Quân đoàn bộ binh 91 đánh chiếm cứ điểm Smolovka. Trên hướng tấn công chủ yếu, Quân đoàn xe tăng 5 kéo theo Quân đoàn bộ binh cận vệ 8 tiến dọc theo con đường sắt từ Bychikha đi Gorodok. Bên trái họ, Quân đoàn xe tăng cận vệ 1 (chỉ còn lại 54 xe tăng hoạt động được) dẫn đầu Quân đoàn bộ binh cận vệ 16 tấn công dọc theo đường cao tốc Nevel - Vitebsk. Chiều 23 tháng 12, các đơn vị và xe tăng và bộ binh Liên Xô đã áp sát Gorodok từ ba phía. Tướng I. Kh. Bagramyan quyết định không dừng lại mà tổ chức tấn công tiếp tục vào nửa đêm 23, rạng sáng ngày 24 tháng 12, không chờ pháo binh theo kịp để yểm hộ. 2 giờ sáng ngày 24 tháng 12, các sư đoàn bộ binh 26 và 83 tổ chức tấn công Gorodok từ hướng Tây với sự yểm hộ của Lữ đoàn xe tăng cận vệ 34 và Tiểu đoàn xe tăng cận vệ 2. Quân đoàn bộ binh cận vệ 16 và Lữ đoàn xe tăng 159 tấn công từ phía đông. Quân Đức đã bỏ lỏng khu vực cánh đồng lầy phía bắc Gorodok, nơi con đường sắt phải vòng tránh sang phía đông vì cho rằng xe tăng không thể tấn công từ đây. Tiểu đoàn xe tăng 2 của Lữ đoàn xe tăng 236 đã làm quân Đức bất ngờ bằng việc sử dụng tất cả những vật liệu ván sàn thu được từ các toa tàu hỏa bị phá hỏng của quân Đức để lát đường cho xe tăng tiến lên. 4 xe tăng T-34 xuất hiện bất ngờ đã tiêu diệt 4 xe tăng PZ-IV và hai pháo tự hành Stg-85 của quân Đức. Quân đoàn bộ binh cận vệ 16 từ phía bắc tràn vào Gorodok, phối hợp với Quân đoàn bộ binh 8 giải phóng Gorodok. Quân đội Liên Xô bắt giữ hơn 30 lính Đức mang theo các bình xăng và lựu đạn đi đốt phá các khu phố. 8 giờ tối 24 tháng 12, Đài phát thanh Moskva truyền đi nhật lệnh của Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô chúc mừng Phương diện quân Pribaltic 1 giải phóng Gorodok. Ngay sau bản nhật lệnh, pháo binh quân khu Moskva bắn 12 loạt pháo hoa từ 124 khẩu đại bác chào mừng thắng lợi của phương diện quân này. Dừng lại trước cửa ngõ Vitebsk. Trong 10 ngày sau đó, Tập đoàn quân xung kích 4 tiếp tục tấn công xuống phía nam, đánh chiếm Murozhnitsa, cắt đứt cả đường sắt và đường bộ từ Vitebsk đi Vinius và uy hiếp Vitebsk từ phía tây. Tập đoàn quân cận vệ 11 tiếp tục mở rộng chiến dịch, đưa tuyến mặt trận sâu thêm 5 đến 10 km về phía nam đến hồ Savchensky và thị trấn cùng tên. Tập đoàn quân 43 cũng thiết lập trận tuyến mới phía nam hồ Vymno, cách Vitebsk gần 20 km về phía đông bắc. Trên hướng Tây, Tập đoàn quân 39 cũng mở một chiến dịch nhỏ, đánh chiếm thị trấn Koobti và một chỗ lồi sâu từ 5 đến 10 km, rộng 25 km phía đông nam Vitebsk khoảng 15 km. Ngày 31 tháng 12 năm 1943, Phương diện quân Pribaltic 1 dừng tấn công. Trên cơ sở những bàn đạp chiếm được phía tây, phía đông và phía bắc Vitebsk, ngày 3 tháng 2 năm 1944, Phương diện quân Pribaltic 1 tiếp tục mở một chiến dịch mới nhằm đánh chiếm Vitebsk. Từ bàn đạp Morozhnitsa (???), Tập đoàn quân xung kích 4 sử dụng Quân đoàn kỵ binh cận vệ 3, Lữ đoàn xe tăng 34 và Quân đoàn bộ binh 60 tấn công vào Gorbachi (???), phía tây Vitebsk 10 km. Tập đoàn quân cận vệ 11 điều động Quân đoàn bộ binh cận vệ 8, Lữ đoàn xe tăng cận vệ 10 đột phá tuyến phòng thủ của Quân đoàn bộ binh 53 (Đức) tại khu vực Savchensky (Sauconki). Tập đoàn quân 43 tiến công dọc theo sông Tây Dvina đến Boldaryevo (???), đông bắc Vitebsk. Mặc dù được sự yểm hộ của pháo binh với mật độ lên đến 150 khẩu/km chính diện, trong đó có 120 khẩu lựu pháo 152 mm, súng cối 120 mm và 122 mm. Tuy nhiên, do trinh sát pháo binh không tỷ mỷ nên kế hoạch pháo kích bị phá vỡ, không đạt được mục tiêu chế áp các trận địa pháo của quân Đức. Trong số 69 khẩu pháo/1 km chính diện của quân Đức, chỉ có 17 khẩu bị tiêu diệt. Số còn lại vẫn tiếp tục phát huy hỏa lực. Chính các lữ đoàn xe tăng cận vệ 19 và 34 đã bị thiệt hại nặng do hỏa lực đó. Sau 5 ngày tấn công, quân đội Liên Xô trên hướng Vitebsk chỉ tiến thêm không quá 6 km. Ngày 8 tháng 2 năm 1944 tướng I. Kh. Bagramyan phải ra lệnh đình chỉ các cuộc tấn công, chuyển toàn bộ Phương diện quân Pribaltic 1 sang tư thế phòng ngự tích cực. Kết quả, đánh giá và ảnh hưởng. Kết quả. Các thông tin từ phía Liên Xô cho biết trong chiến dịch Gorodok, họ đã loại khỏi vòng chiến đấu 65.000 sĩ quan và binh lính Đức, bắt 3.300 tù binh, giải phóng 1.220 điểm dân cư, trong đó có thành phố Gorodok. Các nguồn thống kê lưu trữ Đức cho biết, tại các trận đánh trong tháng 11 và 12 năm 1943 trên mặt trận phía đông, Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) tổn thất 10.357 người chết, 4.057 người mất tích, 21.910 người bị thương. Tính chung cho cả Chiến dịch tấn công Nevel và Chiến dịch Gorodok (1943) được Phương diện quân Kalinin (từ ngày 20 tháng 10 đổi thành Phương diện quân Pribaltic 1) tổ chức trên cùng một hướng, quân đội Liên Xô đã huy động tổng cộng 198.000 quân. Tổng thiệt hại về nhân lực gồm 43.551 người chết và mất tích, 12.535 người bị thương. Kết quả có tính chiến lược, chiến thuật là quân đội Liên Xô không những đã bảo vệ thành công bàn đạp Nevel mà còn mở rộng lên gấp hơn ba lần, chia cắt sâu và rộng hơn tuyến tiếp giáp giữa Cụm tập đoàn quân Trung tâm và Cụm tập đoàn quân Bắc (Đức); đồng thời đe dọa cánh Bắc của Cụm tập đoàn quân Trung tâm và uy hiếp nghiêm trọng cụm phòng thủ Vitebsk, một trong 5 cụm phòng thủ chiến lược của quân đội Đức Quốc xã trên cái gọi là "ban công Byelorussia". So với kế hoạch đặt ra, Phương diện quân Pribaltic 1 vẫn chưa đạt được mục tiêu đánh chiếm thành phố Vitebsk. Đánh giá. Quân đội Liên Xô. Trong giai đoạn đầu, nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng, tiến hành trinh sát chu đáo, vạch kế hoạch tỷ mỷ, sử dụng các đòn đột kích mạnh và tập trung vào những chỗ yếu trên tuyến phòng ngự của Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức); quân đội Liên Xô đã thu được thành công rất to lớn. Đòn đánh hợp vây của hai cánh quân xung kích do hai quân đoàn xe tăng làm nòng cốt đã chia cắt và bao vây hơn 3 sư đoàn Đức ở "mỏm" Bychikha - Ezerishe. Việc phân công cho thê đội 2 của Tập đoàn quân xung kích 4 tiêu diệt cụm quân Đức tại đây và Tập đoàn quân cận vệ 11 tiếp tục tấn công xuống Gorodok là một sự bố trí hợp lý. Trong quá trình thanh toán hơn 3 sư đoàn Đức bị vây, quân Đức đã tìm cách chọc thủng vòng vây tại khu vực đóng quân của Tập đoàn quân xung kích 4. Cuộc phá vây này của quân Đức đã thất bại nhờ lực lượng kỵ binh đủ mạnh của Quân đoàn kỵ binh cận vệ 3. Chiến thuật pháo kích của quân đội Liên Xô trong giai đoạn đầu cũng được bố trí khoa học. Các mục tiêu đều được đo đạc chính xác và phân công chi tiết cho từng đại đội pháo binh đảm nhận. Do đó, các trận địa pháo của quân Đức trong khu vực bị tấn công đều phản pháo yếu ớt. Bộ binh và xe tăng Liên Xô ít chịu áp lực của pháo binh đối phương. Về không quân thì mặc dù thời tiết trên khu vực tấn công không thuận lợi nhưng Tập đoàn quân không quân 3 đã chuyển mục tiêu oanh tạc chủ yếu nhằm vào các tuyến giao thông của quân Đức từ tuyến sau ra mặt trận, ngăn chặn đáng kể các hoạt động chuyển quân tăng viện cho tuyến đầu của quân Đức. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau của chiến dịch, các cấp chỉ huy của Phương diện quân Pribaltic 1 bắt đầu tỏ ra chủ quan, đánh giá thấp chiến thuật co cụm phòng thủ của Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức). Việc chiếm được Gorodok một cách chóng vánh chỉ sau hai ngày tấn công đã càng làm tăng thêm tâm lý chủ quan thỏa mãn đó. Mặt khác, do kế hoạch ban đầu chỉ tính toán tỷ mỷ cho mục tiêu Gorodok. Còn mục tiêu thứ hai là Vitebsk thì một mình Phương diện quân không thể hoàn thành nổi. Đòn tấn công đơn độc của Tập đoàn quân 39 (Phương diện quân Byelorussia 3) vào Koopti không thể đủ để thu hút chủ lực Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) sang phía đông. Trên thực tế, Tập đoàn quan xe tăng 3 (Đức) chỉ điều đến đây một sư đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh và một trung đoàn xe tăng chốt chặn ở những điểm cao hiểm yếu đã có thể ngăn cả Tập đoàn quân 39 (Liên Xô) không thể tiến xa hơn. Nguyên soái pháo binh N. N. Voronov đã phân tích sai lầm của thượng tướng I. Kh Bagramyan khi ông chỉ tin vào quân báo của phương diện quân mà không chú ý đến những phát hiện của trinh sát pháo binh mà trung tướng N. M. Khlevnikov, chỉ huy pháo binh của Phương diện quân Pribaltic 1 đã thu thập được. N. N. Voronov coi đó là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho các trận tấn công Vitebsk của phương diện quân này từ cuối tháng 12 năm 1943 đến đầu tháng 2 năm 1944 không thành công: N. N. Voropov cũng cho rằng sau thất bại ở phía bắc Gorodok, quân Đức đã đoán được mũi tiến công chủ yếu của Hồng quân sẽ hướng về Vitebsk. Và tướng Georg-Hans Reinhardt sẽ thà phải bỏ Gorodok để giữ chắc Vitebsk còn hơn cố giữ cả hai để rồi sẽ mất cả hai. Qua trinh sát, quân Đức nắm chắc ngày giờ cuộc tấn công của Phương diện quân Pribaltic 1 (ngày 3 tháng 2) nên đã chuẩn bị đối phó rất chi tiết; bao gồm cả việc phòng tránh hỏa lực pháo binh. Quân đội Đức Quốc xã. Trong lần duy nhất đi thăm mặt trận ở sát tiền duyên, Hitler đã đúng khi đánh giá sự nguy hiểm của "chỗ lồi" Nevel đối với mặt trận của các cụm tập đoàn quân Bắc và Trung tâm (Đức) nhưng lại không nhận thấy sự nguy hiểm của một chỗ lồi khác đã hình thành ngay tại sườn trái của Tập đoàn quân xe tăng 3 trên khu vực trung lưu sông Obol mà tiền tiêu của nó trải dài từ Mishnyevichi đến phía tây Gorodok. Tướng Georg-Hans Reinhardt không hề "sao lãng" nhiệm vụ mà Führer giao cho và vẫn tấn công về hướng Nevel. Tuy nhiên, việc tấn công từ một "cái túi tác chiến" trên hướng Gorodok - Bychikha - Ezerishe là một sai lầm chiến thuật rất nghiêm trọng của viên tướng dày dạn kinh nghiệm này. Việc để Tập đoàn quân xung kích 4 (Liên Xô) đột phá sâu vào sườn trái của Tập đoàn quân xe tăng 3 đã tạo nên một nguy cơ lớn không chỉ cho các cụm phòng thủ Gorodok - Vitebsk từ phía tây mà còn đe dọa làm sụp đổ toàn bộ tuyến phòng thủ trên cánh Bắc của Cụm tập đoàn quân Trung tâm. Trong quá trình tác chiến trên hướng Gorodok - Nevel, Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) tập trung chủ lực sang hướng Đông, đã để cho Tập đoàn quân kích 4 đột phá dễ dàng vào sườn trái và áp sát Gorodok. Nếu Bộ chỉ huy Phương diện quân Pribaltic 1 mạnh dạn hơn nữa, họ có thể mở các cửa đột phá sâu hơn về phía nam "cái túi tác chiến" Gorodok - Ezerishe và hậu quả sẽ rất khó lường đối với toàn bộ cánh bắc của cụm tập đoàn quân Trung tâm. Chỉ đến khi bị mất 3 sư đoàn rơi vào vòng vây của quân đội Liên Xô trên khu vực phía bắc Bychikha, tướng Georg-Hans Reinhardt mới vội vã rút các quân đoàn 9, 53 và sư đoàn còn lại của Quân đoàn bộ binh 9 về giữ Vitebsk và đó là quyết định mặc dù muộn nhưng duy nhất chính xác của tướng Georg-Hans Reinhardt trong chiến dịch này. Ảnh hưởng. Mặc dù vẫn giữ được Vitebsk nhưng điều đó không có nghĩa là thế trận của quân đội Đức Quốc xã trên cánh Bắc Byelorussia được cải thiện. Mất Gorodok và mất một lực lượng đáng kể bị hợp vây và tiêu diệt tại phía bắc Bychikha, Cụm phòng thủ Vitebsk của Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) mất một cứ điểm phòng thủ tuyến ngoài quan trọng và trở nên trơ trọi trong vòng vây chưa khép kín từ ba phía của Quân đội Liên Xô. Các trận đột kích cấp sư đoàn của Quân đoàn bộ binh 53 nhằm giành lại đoạn đường sắt từ Vitebsk đi Vinius chạy qua Murozhnitsa không thành công càng làm tăng nguy cơ đối với quân Đức trên cánh Bắc của Cụm tập đoàn quân Trung tâm. Cho dù Phương diện quân Pribaltic 1 chưa lấy lại được Vitebsk nhưng thế trận trên hướng Vitebsk đã hoàn toàn có lợi cho họ. Và việc Hồng quân Liên Xô lấy lại Vitebsk chỉ còn là vấn đề thời gian.
1
null
Trương Hoằng Phạm (, 1238–1280) là một viên tướng lãnh người Hán dưới trướng của nhà Nguyên Mông vào thế kỷ thứ XIII trong lịch sử Trung Quốc. Trương Hoằng Phạm là viên tướng chỉ huy đợt tấn công truy đuổi hoàng gia nhà Tống trong trận đánh cuối cùng ở Nhai Sơn trong trận Nhai Môn, với chiến thắng quyết định của Trương Hoằng Phạm, nhà Tống chấm dứt tồn tại, nhà Nguyên cai trị toàn bộ Trung Hoa. Trương Hoằng Phạm cũng được biết đến là người đã tổ chức bắt gọn Văn Thiên Tường, một nhân vật đề kháng cuối cùng của nhà Tống. Xuất thân. Trương Hoằng Phạm sinh vào năm thứ 10 triều Nguyên Thái tông (1238), là con trai thứ 9 của danh tướng nhà Nguyên Trương Nhu. Tuy xuất thân nhà võ quan, nhưng Trương được cho là có khí chất thi nhân. Năm Trung Thống thứ 3 (1262), Trương làm Hành quân tổng quản, tham gia thảo phạt tướng Lý Đàn ở Tế Nam. Năm Chí Nguyên thứ 6 (1269), Trương 3 lần đến Tương Dương tham dự trận Phàn Thành. Chiến công. Vào năm 1279, lực lượng truy đổi của Trương Hoằng Phạm được tăng viện nhờ quân của Lý Hằng. Chỉ huy quân Tống là Trương Thế Kiệt cho xích cả ngàn con thuyền của quân Tống lại với nhau nhằm che chở cho chiếc thuyền của Tống Đế Bính nằm ở trung quân, quân Tống có lực lượng đông tới 200.000 người (nhưng thực tế trong số này có rất nhiều quan lại, người hầu). Các thuyền chiến của quân Tống đều được trát bùn để chống hỏa công. Đứng trước lực lượng hùng hậu của đối phương, Trương Hoằng Phạm quyết định không tấn công trực tiếp mà bao vây khu vực Nhai Môn, cắt đứt hoàn toàn mọi đường liên lạc và tiếp tế của quân Tống với bên ngoài. Ngày 18 tháng 3 năm 1279, Trương Hoằng Phạm bắt đầu lập kế hoạch tấn công quân Tống, ông quyết định không dùng đại bác công phá vì cho rằng nó sẽ phá vỡ chuỗi xích gắn liền các thuyền Tống với nhau khiến chúng dễ dàng chạy thoát. Ngày 19 tháng 3 năm 1279, Trương Hoằng Phạm chia quân Nguyên ra làm bốn phần trong đó 3 phần tấn công quân Tống từ các hướng Đông, Bắc và Nam còn đích thân Trương Hoằng Phạm chỉ huy một đội chiến thuyền dự bị. Lực lượng ô hợp và mệt mỏi của quân Tống nhanh chóng bị quân Nguyên thiện chiến áp đảo, kết quả là đội hình chiến thuyền Tống trở nên hỗn loạn và dần dần thất bại.
1
null
Trương Thế Kiệt () là một viên danh tướng nhà Tống giữ chức đô đốc thủy quân Tống trong cuộc chiến chống lại sự xâm lăng của quân đội Nguyên Mông, anh hùng dân tộc Trung Quốc. Ông là chỉ huy quân Tống trong trận Nhai Môn chống lại quân Nguyên do Trương Hoằng Phạm chỉ huy, kết cục là quân Tống thất bại và nhà Tống mất nước. Tuy vậy người Trung Quốc đời sau vẫn tôn vinh tinh thần tận trung báo quốc của Trương Thế Kiệt, ông cùng với Văn Thiên Tường, Lục Tú Phu được gọi là "Tống vong tam kiệt" (ba vị anh hùng khi nhà Tống diệt vong). Kháng chiến. Sau khi phần lớn lãnh thổ đất đai rơi vào tay quân đội Mông Cổ, Trương Thế Kiệt đề nghị triều đình nhà Tống phải chạy tới Tuyền Châu vì ông cho rằng tại đây mình sẽ mượn được thêm thuyền để duy trì cuộc kháng chiến. Tuy nhiên dự định của Trương Thế Kiệt thất bại buộc triều đình nhà Tống phải tiếp tục lênh đênh trên biển để đi xuống Quảng Đông nhằm liên kết với lực lượng của Văn Thiên Tường đang chiến đấu ở đây. Chuyến đi cực nhọc này đã khiến Tống Đoan Tông đổ bệnh và qua đời ngày 8 tháng 5 năm 1278 tại trấn Mai Oa trên đảo Lạn Đầu. Để duy trì nhà Tống, hai đại thần Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu buộc phải chọn một đứa trẻ trong hoàng gia có tên Triệu Bính lên ngôi, đây là Tống Đế Bính, vị vua cuối cùng của nhà Tống. Trong lúc đó, hy vọng cuối cùng trên bộ của Trương Thế Kiệt cũng không còn khi Văn Thiên Tường rơi vào tay quân đội nhà Nguyên. Ở vào thế đường cùng, Trương Thế Kiệt quyết định dừng đoàn thuyền tại Nhai Môn, Quảng Đông để đối đầu với lực lượng truy đuổi do Trương Hoằng Phạm lãnh đạo. Sở dĩ ông chọn Nhai Môn vì đây là vùng có địa thế hết sức hiểm yếu, phía Đông là Nhai sơn, phía Tây là Thang Bình sơn khiến cho việc phòng thủ trở nên dễ dàng. Trận Nhai Môn. "Bài chi tiết: Trận Nhai Môn" Để đối phó với quân Nguyên do Trương Hoằng Phạm thống lĩnh, Trương Thế Kiệt cho xích cả ngàn con thuyền của quân Tống lại với nhau nhằm che chở cho chiếc thuyền của Tống Đế Bính nằm ở trung quân. Các thuyền chiến của quân Tống đều được trát bùn để chống hỏa công. Tuy quân Tống có lực lượng đông tới 200.000 người nhưng thực tế trong số này có rất nhiều quan lại, người hầu, chưa kể tới hoàng gia nhà Tống vốn không hề thích hợp với việc phòng thủ lâu dài trong điều kiện khó khăn trên biển. Sau khi thường xuyên hứng chịu những cuộc đụng độ nhỏ trong nhiều ngày, quân Tống không hề chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn của quân Nguyên vào ngày 18 tháng 3 năm 1279. Lực lượng ô hợp và mệt mỏi của quân Tống nhanh chóng bị quân Nguyên thiện chiến áp đảo, kết quả là đội hình chiến thuyền Tống trở nên hỗn loạn và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Trương Thế Kiệt. Trong lúc ông đang dẫn thuyền tới bảo vệ Tống Đế Bính thì đại thần phụ chính Lục Tú Phu do thấy tình thế tuyệt vọng của quân Tống đã quyết định ôm nhà vua nhảy xuống biển tự tử. Cái chết của vua Tống đã kéo theo sự tự tử của nhiều người Tống khác và kết thúc luôn hy vọng kháng chiến của Trương Thế Kiệt và những người ủng hộ nhà Tống. Quân Tống đại bại còn Trương Thế Kiệt sau khi thoát khỏi Nhai Môn đã dong thuyền ra biển và mất tích trong một trận bão.
1
null
Lục Tú Phu (chữ Hán: "陸秀夫"; bính âm: Lù Xiùfū, 1236-1279,) là thừa tướng nhà Tống, một trong những lãnh đạo của triều Nam Tống trong cuộc chiến chống lại sự xâm lăng của quân đội Nguyên Mông. Trong trận Nhai Môn, khi thế trận quân Tống thất bại trước sự tấn công của quân Nguyên do Trương Hoằng Phạm chỉ huy, Lục Tú Phu đã cõng vua Tống đế Bính nhảy xuống biển tự vẫn chứ quyết không làm tù binh chịu nỗi nhục mất nước. Sử Trung Quốc xếp ông cùng với Văn Thiên Tường và Trương Thế Kiệt là "Tống vong tam kiệt" (ba vị anh hùng thời nhà Tống diệt vong). Thân thế. Lục Tú Phu xuất thân trong gia đình quý tộc, nhiều đời kết thông gia với tông thất nhà Tống. Năm Bảo Hựu thứ 4 (1256), ông đỗ Tiến sĩ, cùng khoa với Văn Thiên Tường. Thời còn trẻ, ông làm một chức quan nhỏ thủ hạ cho Đại tướng Lý Đình Chi. Ông tính cách trầm tĩnh, mọi việc đều xử trí thỏa đáng khiến mọi người ai cũng tin tưởng. Về sau, nhờ Lý Đình Chi tiến cử, ông làm Tư nông thị thừa trong triều đình Nam Tống, trông coi mọi việc về nông nghiệp, rồi thăng tiến dần, làm quan đến Lễ bộ Thị lang. Hai lần lập vua. Năm Đức Hựu thứ 2 (1276), Lâm An bị vây hãm, tiểu hoàng đế mới 5 tuổi Tống Cung Đế bị bắt. Lục Tú Phu cùng với Trần Nghi Trung, Trương Thế Kiệt đưa 2 hoàng tử con vua Tống Độ Tông là Ích vương Triệu Thị mới 7 tuổi và Vệ vương Triệu Bính mới 4 tuổi xuống phía Nam. Cùng năm đó, triều thần tôn Ích vương lên ngôi tại Phúc Châu, lấy niên hiệu là Cảnh Viêm, sử gọi là Tống Đoan Tông. Lục Tú Phu có công phò tá, được thăng làm Thiêm thư Khu mật viện sứ. Triều đình lưu vong tuy ở một địa bàn hẹp, binh mã cũng không nhiều, nhưng Lục Tú Phu cũng tổ chức một cách nghiêm ngặt dựa theo luật lệ của triều đình, hàng ngày đều có thiết triều, giúp cho Hoàng đế xử lý mọi việc. Ông tuy là một văn nhân, nhưng với việc hành quân hay đánh trận cũng có những kinh nghiệm nhất định, là một đại thần thạo cả việc văn lẫn việc võ. Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu cho rằng Cương Châu chỉ là một hòn đảo nhỏ, không thể ở lâu dài, bèn đưa Triệu Thị tới Nhai Sơn thuộc Tân Hội. Lục Tú Phu cử người tới đảo Hải Nam để trưng tập lương thảo, tổ chức dân công xây dựng các công sự phòng ngự, lại sử dụng thời gian nhàn rỗi dạy cho Tiểu Hoàng đế Triệu Thị mới 8 tuổi đọc sách, Trương Thế Kiệt đảm nhận việc chiêu binh mãi mã, huấn luyện quân đội. Họ chuẩn bị xây dựng căn cứ địa ở đó, đợi thời cơ khôi phục triều Tống. Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, Tống Đoan Tông đổ bệnh và qua đời ngày 8 tháng 5 năm 1278 tại trấn Mai oa. Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt lập Vệ vương Triệu Bính mới 7 tuổi lên ngôi, lấy niên hiệu là Tường Hưng,sử gọi là Tống đế Bính. Mẹ ruột của Tống Đoan tông là Dương thái hậu thùy liêm thính chánh. Lục Tú Phu được phong là Tả thừa tướng, cùng Trương Thế Kiệt làm đại thần phụ chánh. Chống quân Nguyên. Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu lập tức tổ chức lại đội hình kháng cự quân Nguyên nhưng do quân Nguyên thiện chiến áp đảo, kết quả là đội hình chiến thuyền Tống trở nên hỗn loạn và tan rã, đại thần phụ chính Lục Tú Phu do thấy tình thế tuyệt vọng của quân Tống đã quyết định ôm nhà vua nhảy xuống biển tự tử. Cái chết của vua Tống đã kéo theo sự tự tử của nhiều người Tống khác. Kết quả quân Tống đại bại và mất nước.
1
null
Galagoides demidovii là một loài linh trưởng trong họ Galagidae. Chúng được Johann Fischer von Waldheim mô tả năm 1806. Loài này có thể được tìm thấy ở Angola, Bénin, Burkina Faso, Burundi, Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Congo, Cộng hòa Dân chủ Congo, Bờ Biển Ngà, Guinea Xích đạo, Gabon, Ghana, Guinea, Liberia, Mali, Nigeria, Rwanda, Sierra Leone, Tanzania, Togo, Uganda, có thể ở Kenya, và có thể ở Malawi.
1
null
Xuồng CQ hay còn gọi là Xuồng Chủ Quyền là một loại phương tiện được nhiều đơn vị đóng quân của Việt Nam sử dụng trên Biển Đông. Xuồng có khả năng trượt trên san hô, đá cuội, không bị chìm, không bị thủng hay méo khi va đập. Đặc biệt, xuồng CQ có khả năng chạy xuyên qua sóng, chịu thêm được 1-2 cấp sóng so với xuồng thông thường. Xuồng CQ giúp vận chuyển người và hàng hóa ra vào những điểm đảo/đá hay giữa điểm đảo/đá này và điểm đảo/đá khác do Việt Nam kiểm soát ở quần đảo Trường Sa thuộc Biển Đông. Xuồng đã nhiều lần cứu hộ cho ngư dân và tàu cá gặp nạn, đồng thời ngăn chặn rất nhiều lượt tàu nước khác xâm nhập vào khu vực quần đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền này. Xuồng CQ còn được gọi là "Xuồng cao tốc Trường Sa" hoặc "Xuồng Cá Mập". Thông số kỹ thuật. Xuồng CQ được chế tạo bởi Viện Kỹ thuật Hải quân trực thuộc Bộ Quốc phòng (Việt Nam). Chủ dự án là Đại tá Bùi Sĩ Tạo - nguyên trưởng phòng kĩ thuật vỏ tàu của Viện Kỹ thuật Hải quân. Xuồng CQ được bắt đầu nghiên cứu và chế tạo vào đầu năm 2005 khi mà tình hình khu vực Biển Đông có nhiều biến động. Bộ tư lệnh Hải quân (Việt Nam) đã giao cho Viện kỹ thuật Hải quân nghiên cứu chế tạo một chiếc xuồng khắc phục được những nhược điểm mà những chiếc xuồng cũ đang gặp phải. Sau gần một năm, chiếc xuồng nghiên cứu đã hoàn thành trên bản vẽ và về phần lý thuyết, chiếc xuồng có thể đạt được những tính năng như yêu cầu đặt ra và tất cả cùng bắt tay vào chế tạo chiếc xuồng đầu tiên. Phần vỏ tàu được chế tạo từ vật liệu composite, có khả năng chịu được lực tác động lớn đồng thời có tuổi thọ cao. Tháng 3 năm 2006, chiếc xuồng đầu tiên do Phòng Vỏ tàu nghiên cứu chế tạo đã hoàn thành và được đặt tên là xuồng CQ-01 ("xuồng Chủ Quyền 01"). Từ năm 2007, Hải quân Việt Nam đã chế tạo nhiều xuồng CQ và cải tiến nhiều tính năng quan trọng. Xuồng CQ có tải trọng hơn 1 tấn và có thể chở tối đa 15 người. Vật liệu đóng xuồng. Xuồng CQ được đóng bằng vật liệu composite giúp cho xuồng nhẹ, chịu nén, chịu kéo và chịu ăn mòn tốt. Vật liệu composite rất nhẹ; khối lượng chỉ bằng 40% so với nhôm ở cùng thể tích. Nhờ ưu điểm này mà vật liệu composite đã được sử dụng để thay thế kim loại trong các sản phẩm của ngành cơ khí, chế tạo máy...và đóng xuồng XQ. Người ta có thể phủ lên mặt vật liệu composite một lớp nhũ có ánh kim để tạo cảm giác giống kim loại. Thành phần cấu tạo: Động cơ. Động cơ của xuồng CQ có hiệu Yanmar 4LHA-STP với công suất 240 HP/3.300 vòng phút và thiết bị đẩy đồng bộ theo máy. Động cơ có xuất xứ từ Nhật Bản. Đặc tính: Vũ khí. Xuồng CQ được trang bị súng NSV loại súng máy sử dụng loại đạn 12.7x108mm của Liên Xô, được thiết kế bởi G. I. Nikitin (Г. И. Никитин), Y. S. Sokolov (Ю. М. Соколов) và V. I. Volkov (В. И. Волков). NSV được thiết kế để thay thế khẩu DShK và đã được đưa vào sử dụng trong quân đội Liên Xô năm 1971. Nó đã bị cho ra khỏi biên chế vì bị thay thế bởi súng máy hạng nặng Kord và không còn được sản xuất tại Nga. Bản quyền sản xuất NSV được trao cho Kazakhstan sau khi Liên Xô tan rã. NSV được sản xuất tại Bulgaria, Ấn Độ, Ba Lan và Nam Tư dưới giấy phép sản xuất có bản quyền.
1
null
Chim mò sò (danh pháp khoa học: Haematopus ostralegus) là một loài chim trong họ Haematopodidae. Đây là loài "Haematopus" phổ biến nhất, với ba chủng sinh sản ở Tây Âu, trung bộ Á-Âu, Kamchatka, Trung Quốc và bờ biển tây Triều Tiên. Đây là loài chim biểu tượng của quần đảo Faroe nơi nó được gọi là "tjaldur". Đây à một trong những loài chim lội nước lớn nhất trong khu vực. Nó dài 40–45 cm (mỏ dài 8–9 cm) với sải cánh dài khoảng 80–85 cm. Chúng là loài chim ồn ào, có bộ lông màu đen và trắng, chân màu đỏ và mỏ rộng mạnh mẽ màu đỏ được sử dụng để đập hoặc nạy vỏ các loài động vật thân mềm mở con ốc hay đào giun dưới đất.
1
null
Skytrax là một hãng tư vấn đóng trụ sở ở Vương quốc Anh, ban đầu được biết tới với tên gọi Inflight Research Services (Dịch vụ Nghiên cứu trên chuyến bay), trong đó có một trong những tạp chí và trang mạng xếp hạng các hãng hàng không và sân bay lớn nhất. Tổ chức này tiến hành nghiên cứu các hãng hàng không thương mại, hãng cũng tiến hành khảo sát các hãng hàng không quốc tế đế tìm ra các phi hành đoàn, sân bay, hãng hàng không, phòng chờ hãng hàng không, dịch vụ vui chơi giải trí trong chuyến bay, suất ăn trên máy bay, và các yếu tố khác nhau của đi lại bằng đường hàng không. Ngoài các cuộc điều tra, Skytrax có một diễn đàn hàng không nơi hành khách cung cấp cho các hành khách tiềm năng khác cảm giác của họ đối với một hãng hàng không trước khi chọn bay với họ. Họ cũng có đánh giá chuyến bay, kiểm tra chuyến bay, và các cuộc điều tra sự hài lòng. Skytrax là hãng được biết nhiều nhất cho các giải thưởng sân bay thế giới hàng năm và hàng hàng không thế giới hàng năm của họ cũng như xếp hạng cho các hãng hàng không và các sân bay. Nghiên cứu của Dịch vụ nghiên cứu trên chuyến bay đã được sử dụng bởi chính phủ Anh trong việc xây dựng chính sách vận chuyển hàng không, ví dụ như trong báo cáo thứ năm về công nghệ và khoa học của Ủy bang lựa chọn của Thượng viện Anh. Giải thưởng. Skytrax trao các giải thưởng hàng năm cho các sân bay và các hãng hàng không có hoạt động nổi bật và dịch vụ tốt nhất Bảng xếp hạng các hãng hàng không. Các Hãng hàng không 5 sao. Nguồn: Xếp hạng sân bay. Sân bay 5 sao của thế giới. Nguồn:
1
null
Rối loạn tiêu hóa là một hội chứng được tạo ra bởi sự co thắt bất thường của các cơ vòng trong hệ tiêu hóa làm cơ thể đau bụng và thay đổi vấn đề đại tiện. Đây không phải là một căn bệnh dẫn đến tử vong mà "chỉ" là một hội chứng tuy khó chịu, nhưng hoàn toàn không nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, khi bị rối loạn tiêu hóa, người bệnh sẽ gặp những bất tiện trong sinh hoạt do bị thay đổi về chuyện đại tiện, bị đầy hơi hoặc đau bụng. Đây là một hội chứng rất thông thường, mà gần như ai cũng có thể bị. Theo những nghiên cứu gần đây, người ta nhận thấy rối loạn tiêu hóa có thể gây ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó sự bài tiết của chất serotonin nơi tiết hợp thần kinh chạy dọc theo hệ thống tiêu hóa có thể đóng một vai trò chính yếu. Một giả thuyết khác được đưa ra với khí methane thặng dư trong ruột già (và ruột non) đưa đến rối loạn tiêu hóa. Thay đổi vấn đề đại tiện. Triệu chứng này tiến triển chậm nhưng mỗi ngày một trầm trọng hơn. Sự thay đổi thói quen đại tiện trở nên rõ ràng hơn. Đi vệ sinh bỗng dưng không còn đều đặn như trước. Hơn nữa, người bệnh cảm thấy đau bụng từng cơn, ngày táo bón, ngày tiêu chảy. Tùy theo bệnh tình, mà người bệnh có khuynh hướng táo bón nhiều hơn tiêu chảy hoặc ngược lại. Đau bụng. Những cơn đau bụng thay đổi tùy theo cá nhân và được diễn tả như đau sơ sơ, nhè nhẹ, lâm râm, quặn từng cơn, nặng bụng, sình bụng, xon xót, ran rát, đau như "dao cắt". Đau có thể liên tục, nhè nhẹ suốt ngày, co thắt, nhức nhối từng cơn. Bệnh nhân thường đau bụng dưới bên tay trái, nhưng họ cũng có thể bị đau ở nhiều chỗ khác nhau. Đau cùng một lúc, hoặc mỗi ngày đau một chỗ khác nhau. Họ cũng có thể bị đau toàn bụng chứ không nhất thiết đau ở vị trí nào nhất định. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, cơn đau có thể lan ra sau lưng. Đầy hơi. Sình bụng là một trong những triệu chứng tiêu biểu của rối loạn tiêu hóa. Bụng "căng to như cái trống". Bệnh nhân ợ hơi liên tục hoặc "đánh rắm" liên miên. Bụng thường rất thon nhỏ vào buổi sáng khi mới thức dậy, rồi to dần khi ngày từ từ trôi qua. Bụng "phì lớn" nhanh như người có bầu. Ngoài ra, một số bệnh nhân có những triệu chứng của bệnh đau dạ dày, với những cơn ợ chua, đắng hoặc hôi miệng, buồn nôn, nôn mửa, v.v… Tâm lý đóng một vai trò quan trọng khi nói về hội chứng rối loạn tiêu hóa. Vì thế buồn phiền, chán nản, u sầu sẽ làm những triệu chứng kể trên trở nên thường xuyên và trầm trọng hơn kể cả phụ nữ trong những ngày thấy kinh nguyệt cũng có thể gặp rối loạn tiêu hóa. Xác định bệnh. Vì rối loạn tiêu hóa mang cùng triệu chứng với nhiều bệnh hiểm nghèo hơn, đáng kể nhất là ung thư (nhất là ung thư đường ruột), hoặc các bệnh khác như bệnh đau bao tử, bệnh ợ chua, bệnh nhiễm khuẩn, viêm đại tràng, bệnh liên quan đến tuyến giáp trạng, sán lãi, viêm tụy tạng mạn tính, bệnh không dung nạp sữa (lactose intolerance)…, bệnh nhân cần đi khám và làm các xét nghiệm để chẩn đoán xác định. Tùy theo tình trạng bệnh lý và tuổi tác, bác sĩ sẽ có những chỉ định xét nghiệm khác nhau. Sau đây là những điều bạn nên biết: Nếu tự nhiên bị biếng ăn, mất ngủ, sút cân, nóng sốt, đại tiện ra máu, mất quá nhiều nước, hoặc cơ thể trở nên khác thường một cách kỳ lạ vô nguyên cớ, nhất là ở những người trên 50 tuổi, có lẽ đây không phải là những triệu chứng của hội chứng rối loạn tiêu hóa. Những bệnh nhân này nên đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Cách chữa trị hiệu quả? Thay đổi cách thức ăn uống: Thức ăn, nước uống không gây ra rối loạn tiêu hóa nếu bảo đảm vệ sinh, tuy nhiên cũng có loại thức ăn đồ uống có thể làm "bệnh" trở nên trầm trọng hơn. Dùng thuốc khi nào? Tùy theo từng cá nhân, bác sĩ có thể sẽ phải chữa trị bằng nhiều loại thuốc khác nhau. Tuy nhiên trong trường hợp rối loạn tiêu hóa, thuốc chỉ đóng một vai trò phụ trong việc chữa trị mà thôi. Nếu dùng chỉ nên dùng khi thật cần thiết và càng dùng ít càng tốt. Các loại thuốc tiêu biểu như dicyclomine HCl (Sudopam Tablet), hyoscyamine sulfate (levsin) có thể thuyên giảm chứng đau bụng kèm theo tiêu chảy. Vì bệnh có khuynh hướng thay đổi theo chu kỳ từ tiêu chảy đến táo bón, nên bệnh nhân thường uống thuốc cầm loperamide (imodium) hoặc diphenoxylate (lomotil) khi bị tiêu chảy và uống thuốc sổ khi bị táo bón. Một số bệnh nhân rối loạn tiêu hóa với biểu hiện tiêu chảy có thể cảm thấy dễ chịu hơn khi uống amitriptyline (elavil), một loại thuốc chữa bệnh u sầu. Tóm lại: Tuy hội chứng tiêu hóa vẫn được xem là một "bệnh tâm lý", một số thuốc có thể làm thuyên giảm những triệu chứng một cách đáng kể, tuy nhiên, sự thành công trong việc chữa trị một phần phụ thuộc chế độ ăn uống của người bệnh. Kết luận. Điều quan trọng phải đi khám để bác sĩ kiểm tra loại trừ các bệnh về đường tiêu hóa khác, nếu bạn chỉ bị rối loạn tiêu hóa thì nên bình tĩnh chữa trị, điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý, có thể dùng thêm men tiêu hóa như Golden LAB…. để ổn định và tăng cường sức khỏe đường tiêu hóa, giúp giảm và triệt tiêu các triệu chứng của rối loạn tiêu hóa.
1
null
Göreme (; tiếng Hy Lạp cổ: "Κόραμα", Kòrama) tọa lạc giữa các kiến tạo đá "ống khói thần tiên" là một thị xã ở Cappadocia, một vùng lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ. Thị xã này nằm ở tỉnh Nevşehir ở trung bộ Anatolia và có dân số khoảng 2500 người. Đây là một vườn quốc gia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1985, vườn quốc gia này và khu núi đá Cappadocia được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
1
null
Kaymakli (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Kaymaklı; Cappadocian Greek: Ανακού) là một thành phố ngầm nằm cách trung tâm thành phố Kaymakli khoảng 20 km ở khu vực miền trung Tiểu Á của Thổ Nhĩ Kỳ. Lần đầu tiên mở cửa cho khách du lịch vào năm 1964, khu vực cách tỉnh Nevşehir khoảng 19 km, trên đường Nevşehir-Niğde. Lịch sử. Tên cổ là Enegup. Các hang động có thể lần đầu tiên được xây dựng trong đá núi lửa mềm bởi người Phrygian, một người Ấn-Âu, trong thế kỷ thứ 8 thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, theo Bộ Văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Xây dựng vào khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 10, thành phố ngầm Kaymakli có diện tích rộng tới 2,5km2, gồm nhiều tầng ngầm với các công trình như phòng ngủ, nhà bếp, nhà thờ, hầm mộ, kho chứa, nhà sản xuất rượu… Lối vào thành phố là một căn hầm đào bên dưới tảng đá basalt (loại đá hình thành do núi lửa phun trào), ăn thông với hành lang chính rộng hơn 15m. Bên trái có kho chứa, nhà xưởng, bên phải là nơi sinh hoạt cộng đồng. Từ đây có các hành lang nhỏ dẫn đến những căn phòng lớn nhỏ được khoét sâu vào các tầng đá tuff (loại đá hình thành do những mảnh vụn của núi lửa lắng đọng và nén lại). Các căn phòng này xinh xắn, có màu sắc sặc sỡ và sinh động.
1
null
Özkonak là một thành phố cổ được xây dựng ở sườn phía bắc của Mt. Idis khoảng 14 km về phía đông bắc của huyện Avanos ở tỉnh Nevşehir, thuộc khu vực miền trung Tiểu Á của Thổ Nhĩ Kỳ. Sự miêu tả. Thành phố có nhiều tầng được tạo thành từ đá granit núi lửa. Các khu vực lớn hơn của nó được kết nối với nhau bằng các đường hầm và nó chứa một hệ thống thông tin liên lạc đường ống đạt đến từng cấp độ của nó. Tính năng này là duy nhất khi so sánh với Thành phố ngầm Kaymakli và Thành phố ngầm Derinkuyu. Mỗi phòng chạm khắc đều có hệ thống thông gió được cung cấp bởi các đường ống tiếp theo khi thành phố bị niêm phong trong các cuộc bao vây. Lịch sử. Thành phố có lẽ được xây dựng bởi người dân Byzantine Cappadocia, mặc dù niên đại tuổi không chắc chắn và có thể muộn hơn. Thành phố ngầm Özkonak được phát hiện vào năm 1972 bởi một nông dân địa phương tên Latif Acar, người tò mò không biết “lượng nước thừa của vụ mùa chảy đi đâu”. Latif đã phát hiện ra một căn phòng dưới lòng đất, sau đó được khai quật, tiết lộ cả một thành phố có thể chứa 60.000 người trong vòng ba tháng. Mặc dù chỉ có bốn tầng hiện đang mở, nhưng khu phức hợp chứa tổng cộng mười tầng, đến độ sâu 40m. Không giống như các thành phố ngầm khác trong khu vực này, có những lỗ hổng phía trên các đường hầm được sử dụng để đổ dầu nóng vào kẻ thù. Cũng giống như Kaymaklı và Derinkuyu, Özkonak có giếng nước, hệ thống thông gió, rượu nho và cửa đá có thể di chuyển.
1
null
Tâm bệnh học là một ngành nghiên cứu về các bệnh tâm trí, những khổ đau tinh thần và các hành vi bất thường/thích ứng sai. Thuật ngữ này thường được dùng trong ngành tâm thần học – lĩnh vực mà tâm bệnh học được đề cập tới như các quá trình mang tính bệnh lý. Tâm lý học bất thường (abnormal psychology) cũng là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực phi y học của tâm lý học. Tuy nhiên nội dung trong mục bài này được viết thiên theo hướng Tâm thần học (Psychiatry) của Hoa Kỳ, không mang tính đại diện cho tất cả lĩnh vực này; bởi Tâm thần học tại Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng nhiều từ Dược học (thuốc hỗ trợ những khó khăn tâm lý) và Y học, hoặc các liệu pháp tâm lý ngắn hạn (CBT, REBT), trong khi các phân nhánh lâm sàng của Phân tâm học lại là hướng phát triển chính của Tâm bệnh học khu vực châu Âu từ đầu TK 20 tới nay. Bạn đọc chú ý. Đại cương. Có nhiều chuyên ngành khác nhau trong nghiên cứu về các bệnh lý hay khổ đau tinh thần. Đáng chú ý nhất là các nhà tâm thần học và tâm lý học lâm sàng, họ đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực này, có thể là trong trị liệu lâm sàng các bệnh tâm thần hoặc nghiên cứu nguồn gốc, sự phát triển và những biểu hiện ra các trạng thái; hay thường là quan tâm tới cả hai mảng. Ví dụ như một nhà thần kinh học có thể tập trung vào những biến đổi của não bộ có liên quan tới các bệnh tâm thần. Bởi thế nên một số người được xem như một nhà tâm lý – tâm bệnh học và họ có thể là một chuyên gia trong số những người đặc biệt quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực này. Các nhà tâm thần học đặc biệt quan tâm tới việc mô tả tâm bệnh học, chủ yếu hướng tới mô tả các triệu chứng và hội chứng bệnh tâm thần. Đây là hai cơ sở để chẩn đoán các cá thể bệnh nhân (để xem trải nghiệm của bệnh nhân có trùng khớp với các tiêu chí đã định sẵn không) hoặc để xây dựng nên các hệ chẩn đoán (như sổ tay chẩn đoán DSM chẳng hạn: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder) nhằm xác định chính xác các dấu hiệu và triệu chứng có thể làm thành một chẩn đoán. Việc này cũng nhằm nhóm các hành vi và trải nghiệm vào các tiêu chí chẩn đoán đặc thù (ví dụ như: trầm uất, nhiễu tâm hoang tưởng, tâm thần phân liệt…). Trước khi chẩn đoán một rối loạn tâm lý, nhà thực hành lâm sàng phải nghiên cứu về các chủ đề hay các điều dị thường trong các rối loạn tâm lý. Một số vấn đề lớn như: sự sai lạc/hành vi lệch chuẩn (Deviance), đau khổ (Distress), lệch lạc/suy giảm chức năng (Dysfunction) hoặc tình trạng nguy cơ (Danger). Những chủ đề này được xem như bốn loại rối nhiễu (4 D) mang tính bất thường.
1
null
Tàu thông báo hay "thông báo hạm" (tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là "Aviso") là một loại tàu phục vụ trong hải quân Pháp và hải quân Bồ Đào Nha, tương đương với xà lúp hiện đại. Loại tàu này thường có trọng tải thấp và có khả năng di chuyển nhanh nhằm đảm trách nhiệm vụ giao liên. Trong cuốn "Từ điển Hàng hải Pháp 1788 – 1792" ("Dictionnaire de la Marine Française 1788 – 1792"), tác giả Nicolas-Charles Romme đã định nghĩa tàu thông báo là một "loại tàu nhỏ được thiết kế để chuyển lệnh hoặc chuyển thông báo". Từ "aviso" trong tiếng Pháp xuất phát từ cách nói gọn của cụm từ "barca de aviso" trong tiếng Tây Ban Nha. Ngày nay người ta không còn dùng khái niệm này nữa. Lịch sử. Khi kỉ nguyên tàu buồm chấm dứt và sóng vô tuyến chưa được được sử dụng rộng rãi để truyền tin, khái niệm tàu thông báo được dùng để mô tả một chiếc tàu có tốc độ nhanh với kích cỡ vừa phải (cỡ tàu phóng lôi) dùng trong hoạt động thông tin liên lạc giữa các liên đội tàu với nhau. Hải quân Pháp từng có một số lớp tàu thông báo khác nhau: ba mươi chiếc lớp "Arras" vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, chín chiếc thông báo hạm thuộc địa lớp "Bougainville" trong thời kì 1932-1958, mười ba chiếc dò mìn lớp "Élan" trong thời kì 1938-1963, sáu chiếc lớp "Chamois" (1938-1966), chín chiếc hộ tống lớp "Commandant Rivière" (1962-1996) và mười bảy chiếc loại A69-lớp "d'Estienne d'Orves" trong thời kì 1976-2012 khi chín chiếc đang hoạt động sẽ bị tái phân loại thành "tàu tuần tra ngoài khơi". Về đặc điểm, các tàu thông báo của Pháp phục vụ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai có lượng giãn nước từ 300 đến 700 tấn, tốc độ từ 13 đến 20 hải lí/giờ, thường có các vũ khí chính là hai súng 100 li (milimét), hai súng 138 li hoặc bốn súng 100 li. Các loại tàu thông báo thời thuộc địa, ví dụ lớp Bougainville, thường có kích cỡ lớn hơn nhằm phục vụ ở các vùng hải ngoại. Thời đế quốc Bồ Đào Nha, hải quân nước này cũng chế tạo tàu thông báo. Họ tạo ra các tàu thông báo hạng nhất thuộc lớp "Afonso de Albuquerque" với lượng giãn nước 2.400 tấn và các tàu hạng hai thuộc lớp "Gonçalo Velho" hoặc "Pedro Nunes" với lượng giãn nước 1.200-1.700 tấn. Ngày nay. Các tàu thông báo hiện đại đã được phát triển thêm khả năng tham chiến, nhỏ hơn tàu corvette nhưng lớn hơn tàu tuần tra. Chúng thường tham gia các trận chiến với vai trò chống tàu ngầm và phòng vệ bờ biển. NATO xem loại tàu này là các tàu corvette.
1
null
Windtalkers (tựa tiếng Việt: Những người đọc mã) là một bộ phim chiến tranh - hành động Mỹ của đạo diễn Ngô Vũ Sâm (John Woo) thực hiện. Phim được công chiếu vào năm 2002, có sự tham gia của nam diễn viên gạo cội Nicolas Cage cùng với Adam Beach, Christian Slater, Roger Willie và Peter Stormare. Câu khẩu hiệu của bộ phim là "The Navajo Has the Code. Protect the Code at All Costs" (dịch tiếng Việt: "Bộ tộc Navajo có mật mã. Bảo vệ mật mã bằng mọi giá"). Nội dung. Năm 1944, ở mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai, quân đội Mỹ rất đau đầu khi những thông tin họ truyền cho nhau đều bị quân Nhật giải mã thành công, gây ra thương vong lớn cho quân Mỹ. Cuối cùng, quân Mỹ quyết định sử dụng ngôn ngữ của bộ tộc da đỏ Navajo trên cao nguyên Arizona, vì người Nhật chưa từng biết đến sự tồn tại của bộ tộc này. Những người đàn ông Navajo bắt đầu tham gia quân đội Mỹ, họ được đào tạo thành lính điện đài, trong đó có đôi bạn thân Ben Yahzee và Charlie Whitehorse. Ngày tấn công hòn đảo Saipan đã cận kề, hai Trung sĩ Joe Enders và Pete "Ox" Henderson được cấp trên ra lệnh bảo vệ Yahzee và Whitehorse, họ không được để hai chàng da đỏ bị quân Nhật bắt trong tình trạng còn sống. Vài ngày sau, quân Mỹ đổ bộ vào đảo Saipan, họ bị pháo binh Nhật bắn trả dữ dội. Khi tất cả mọi người đều hăng say bắn giết thì Yahzee lại không hề xả súng về phía quân Nhật, anh hơi nhút nhát do lần đầu ra chiến trường. Yahzee và Whitehorse lấy điện đài gọi các tàu chiến ngoài biển bắn vào các đội pháo binh Nhật, từ đó quân Mỹ chiếm được bờ biển. Quân Mỹ tiến sâu vào hòn đảo, trên đường đi họ bị bắn nhầm bởi pháo binh Mỹ, lúc đó lính Nhật cũng đang tràn lên, điện đài thì bị hỏng. Enders và Yahzee nghĩ ra cách để Yahzee cải trang thành lính Nhật, còn Enders giả vờ làm tù binh. Hai người đi đến chỗ quân Nhật, giết vài tên lính Nhật rồi cướp điện đài của chúng gọi pháo binh Mỹ đổi hướng bắn về phía quân Nhật. Cả trung đội rất nể phục trí thông minh cũng như lòng can đảm của Enders và Yahzee. Buổi tối, Enders và Yahzee uống rượu với nhau. Enders chia sẻ rằng trước đây anh cùng một số đồng đội khác từng nhận lệnh phòng thủ khu đầm lầy ở đảo Guadalcanal, anh là người duy nhất sống sót sau trận đánh, nhưng hình ảnh nhóm đồng đội tử trận cứ luôn ám ảnh trong đầu anh. Ngày hôm sau, quân Mỹ tìm thấy một ngôi làng chỉ toàn phụ nữ và trẻ em, dân trong làng rất thân thiện chứ không xem họ là kẻ thù. Quân Nhật bất ngờ tấn công ngôi làng, lính Mỹ tập hợp lại để chiến đấu. Một nhóm lính Nhật giết Ox rồi cố gắng bắt giữ Whitehorse vì chúng biết anh là người Navajo, Enders thấy thế nên ném lựu đạn giết hết nhóm lính Nhật lẫn Whitehorse. Khi trận đánh kết thúc, Yahzee vô cùng giận Enders vì đã làm chết người bạn thân của mình. Quân đội Mỹ tiếp tục tiến sâu vào đảo Saipan, đoàn xe tăng - thiết giáp Mỹ bị phục kích bởi các đơn vị pháo binh Nhật trên đồi, còn đội của Enders phải chạm trán quân lính cảm tử. Yahzee bắn giết điên cuồng như muốn trả thù cho Whitehorse, hành động của anh khiến Enders cũng như cả đội ngạc nhiên. Yahzee gọi máy bay đến hỗ trợ, sau đó anh nhìn thấy lính Nhật xông lên ồ ạt nên bảo Enders bắn mình để không bị lính Nhật bắt. Tuy nhiên Enders đã cõng Yahzee chạy đến chỗ an toàn chứ không giết anh, và Enders không may bị trúng đạn ngay ngực. Một lát sau, máy bay đến thả bom vào pháo binh Nhật trên đồi, cứu mạng lực lượng thiết giáp Mỹ. Trước khi chết, Enders cho Yahzee biết rằng anh giết Whitehorse cũng vì mệnh lệnh cấp trên giao. Khi chiến tranh kết thúc, Yahzee trở về Arizona và cầu nguyện cho linh hồn Enders theo phong tục Navajo để tỏ lòng biết ơn người đã bảo vệ mình ngoài chiến trường.
1
null
hay còn được gọi là Rio, là một diễn viên phim khiêu dâm Nhật Bản, khởi nghiệp năm 2005 và những bộ phim cô đóng được sản xuất bởi Max-A và S1. Chỉ sau những bộ phim khiêu dâm cô đóng trong năm đầu tiên của sự nghiệp, cô đã giành giải thưởng Best New Actress (Diễn viên mới xuất sắc nhất) năm 2006. Cuối năm 2007, cô đã đổi nghệ danh của mình thành Rio. Cuộc đời và sự nghiệp. Yuzuki Tina sinh ngày 29 tháng 10 năm 1986 tại Tokyo, Nhật Bản. Cũng giống các diễn viên khác như Maria Ozawa, Hanai Meisa và Ohura Anna, Yuzuki mang trong mình 2 dòng máu. Cha cô là người Nhật còn mẹ cô là người Bồ Đào Nha. Tiếng Bồ Đào Nha mà cô học được là từ mẹ của mình. Khởi nghiệp với Max-A. Phim người lớn đầu tay của Yuzuki là vào tháng 11 năm 2005 được phát hành bởi Max-A với tựa đề "Hot Wind (Cơn Gió Nóng)". Đạo diễn của Yuzuki khi đó lấy tên "Toshio" (là người sẽ tiếp tục làm việc với diễn viên trong suốt sự nghiệp của diễn viên đó). Max-A đã chọn Yuzuki làm tâm điểm cho việc phát hành phim tháng 5 năm 2006 với bộ phim "My Wife is Tina! (Vợ Tôi là Tina!)", đây là video đầu tiên trong seri nội trợ và mới kết hôn của công ty này. Cuối năm 2006, lại một lần nữa Max-A chọn Yuzuki làm tâm điểm cho một seri mới, "Urekko" (một thể loại tạp chí hàng tháng tại Nhật), xuất bản vào tháng 12 năm 2006. Trong tháng 7 năm 2006, Yuzuki đã có sự đột phá trong thể loại loạn luân với bộ phim "Sister's Secret (Bí Mật Chị Em)". Sự hợp tác khác giữa Yuzuki và đạo diễn Toshio là vào tháng 3 năm 2007, trong một bộ phim có tựa đề "High School Uniform and Machine-Gun". Rio và S1. Bắt đầu từ ngày 12 tháng 10 năm 2007, bộ phim "Endless Ecstasy Fuck", được sản xuất bởi Max-A, Yuzuki đã thay đổi nghệ danh của mình thành Rio. Kể từ đó, cái tên Rio được sử dụng trong tất cả các video sau này của cô. Sau 2 năm độc quyền làm phim với Max-A, Yuzuki đã chuyển sang làm phim cho S1 No.1 Style, là công ty con của công ty sản xuất phim khiêu dâm lớn nhất Nhật Bản - Tập đoàn Hokuto (the Hokuto Corporation). Bộ phim đầu tiên của cô ở đây là "Risky Mosaic Rio", với đạo diễn Hideto Aki vào tháng 2 năm 2008. Cô tiếp tục làm việc tại S1, với khoảng mỗi phim một tháng. Trong lĩnh vực giải trí khác, Yuzuki cùng với những diễn viên khác của S1 xuất hiện trong chương trình chương trình TV buổi đêm với tên gọi "Please Muscat" (nhóm nhạc "Ebisu Muscats") được phát sóng lần đầu vào tháng 4 năm 2008. Năm 2009, Rio thủ vai chính trong một bộ phim kinh dị khiêu dâm, nội dung về sự trả thù của một nữ sinh làm gái mại dâm, "Stop the Bitch Campaign", với đạo diễn Kosuke Suzuki, và Kenichi Endo đóng vai kẻ thủ ác. Cũng trong năm 2009, cô là một trong 3 diễn viên phim người lớn xuất hiện trong chương trình TV Nhật Bản-Hàn Quốc "Korean Classroom" được phát sóng ở Hàn Quốc tháng 5 năm 2009. Cùng với các diễn viên Sora Aoi và Mihiri, cô tới Hàn Quốc để hoàn thành 4 phần của chương trình. Cùng năm đó, Yuzuki tham gia vở kịch nói "Kosupure tantei" được chuyển thể từ cuốn manga cùng tên. Và bộ phim được sản xuất bởi công ty Ace-Deuce vào tháng 6 năm 2009. Trong một chương trình TV, Yuzuki đóng vai Lisa trong phần đầu và phần cuối (phần 11) của vở kịch "Unubore Deka (うぬぼれ刑事)" cùng với Tomoya Nagase, Toma Ikuta và Mika Nakashima từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2010. Cùng năm đó, cô đóng vai kẻ giết người trong bộ phim "Keishicho Minamidaira Han - Nana Nin No Keiji (警視庁南平班〜七人の刑事〜)" được chiếu vào ngày 23 tháng 8 năm 2010. Giải thưởng. Năm 2006, trong lễ trao giải AV Actress Grand Prix, ngành công nghiệp phim người lớn Nhật Bản đã trao giải Best New Actress cho Yuzuki. Cô cũng nhanh chóng nổi tiếng khi nhận giải Best Actress năm 2008 trong lễ trao giải Adult Broadcasting Awards trên chương trình tivi dành cho người lớn "Cherry Bomb" trên kênh "SKY PerfecTV!". Ngoài ra, tháng 11 năm 2008, bộ phim "Double Risky Mosaic, Rio & Yuma", với sự góp mặt của Yuma Asami, đã giúp S1 studio tham gia vào giải thưởng AV GrandPrix năm 2009. Bộ phim được xếp hạng đầu trong lễ trao giải, và cũng nhận được nhiều giải thưởng cao trong các thể loại khác: DVD bán chạy, Giải thưởng cho các đại lý phân phối đĩa, Thiết kế bìa đĩa, và Giải thưởng cho diễn viên xuất sắc nhất.
1
null
Đồng bằng Thanh Hóa là vùng đồng bằng nằm trong địa giới hành chính tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam, chủ yếu được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Mã, hệ thống sông Yên và hệ thống sông Bưởi. Một phần của đồng bằng này, bao gồm các xã phía bắc huyện Nga Sơn thực chất thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. =Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng== Đồng bằng Thanh Hóa có dạng một tam giác châu, với đỉnh là vùng Bái Thượng (huyện Thọ Xuân), đáy là đường bờ biển từ Nga Sơn đến Tĩnh Gia. Rìa phía bắc của đồng bằng được giới hạn bởi dãy núi Thạch Thành - Bỉm Sơn, rìa phía tây nam là dãy núi thuộc huyện Như Thanh. Bề mặt đồng bằng này hơi nghiêng về phía Biển Đông. Độ cao địa hình từ 7 m đến 1 m, có nhiều núi đồi dạng đảo sót với độ cao từ vài chục mét đến vài trăm mét, trong đó có một số núi đá vôi dốc đứng. Đồng bằng này được cấu tạo từ đất đá bở rời Đệ Tứ với chiều dày từ 5 m đến 70–80 m, phủ trên các đá cổ Proterozoi đến Neogen. Trên đồng bằng Thanh Hóa có ba loại đất trồng phổ biến: Khí hậu. Đồng bằng Thanh Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, có mùa đông ngắn và mùa hạ kéo dài. Thời kì lạnh nhất là tháng 1 đến tháng 2, nhiệt độ trung bình là 18 ⁰C; thời kì nóng nhất là tháng 6 đến tháng 7 với nhiệt độ trung bình đạt 29 ⁰C. Phạm vi hành chính, diện tích và dân số. Phạm vi hành chính của đồng bằng Thanh Hóa gồm thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn và thị xã Bỉm Sơn (trừ phường Bắc Sơn), các huyện Thiệu Hoá, Nông Cống, Đông Sơn, Hoằng Hoá, Nga Sơn, Hậu Lộc, Quảng Xương, Thọ Xuân (trừ các xã Xuân Phú, Thọ Lâm, Xuân Châu, Xuân Thắng, Quảng Phú), Vĩnh Lộc (trừ các xã Vĩnh Hưng, Vĩnh Hùng, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Quang, Vĩnh Long), Triệu Sơn (trừ các xã Thọ Sơn, Bình Sơn, Thọ Bình, Triệu Thành), Tĩnh Gia (trừ các xã Phú Sơn, Phú Lâm, Trường Lâm, Tân Trường), Hà Trung (trừ các xã Hà Long, Hà Đông, Hà Lĩnh, Hà Sơn, Hà Tiến, Hà Tân), Yên Định (trừ xã Yên Lâm). Diện tích của đồng bằng Thanh Hóa, bao gồm toàn bộ diện tích các đơn vị hành chính nêu trên, vào khoảng 2.600 km² (chiếm khoảng 24% diện tích tỉnh Thanh Hóa), với dân số tương ứng trong thời kì 1999-2009 là khoảng 7,400,000 người (chiếm khoảng 91% dân số tỉnh Thanh Hóa), mật độ dân số đạt khoảng 1 034 người/km². Số liệu này có thể bao gồm vùng đồi thấp ở rìa đồng bằng. Theo một tài liệu khác, diện tích của đồng bằng Thanh Hóa là 1.800 km².
1
null
Rhyolite là một thị trấn ma ở quận Nye trong tiểu bang Nevada của Hoa Kỳ. Thành phố ơ trong các đồi Bullfrog, khoảng 120 dặm (190 km) về phía tây bắc của Las Vegas, gần rìa phía đông của Thung lũng Chết. Thị trấn bắt đầu vào đầu năm 1905 như là một trong các trại khai thác một số mọc lên sau khi một phát hiện vàng trên các ngọn đồi xung quanh. Trong một cơn sốt vàng tiếp theo, hàng ngàn người tìm kiếm vàng, các nhà phát triển, thợ mỏ, và các nhà cung cấp dịch vụ đổ xô đến khu vực khai thác mỏ Bullfrog. Nhiều khu định cư trong ryolit, nằm trong lưu vực sa mạc che chở gần sản xuất lớn nhất của khu vực, mỏ Montgomery Shoshone.
1
null
Henry Spratly là một người làm bản đồ nổi tiếng vì sự kiện khảo sát và đặt tên tiếng Anh cho đá Vành Khăn ("Mischief Reef") vào năm 1791 trong lúc đi ngang qua vùng quần đảo Trường Sa. Theo đó, tên của ám tiêu này được đặt theo họ của thủy thủ người Đức Heribert Mischief. Đôi khi người ta nhầm lẫn rằng tên tiếng Anh của đảo Trường Sa và quần đảo Trường Sa là phát xuất từ họ của Henry Spratly nhưng đây chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên vì thực ra những tên gọi đó bắt nguồn từ họ của Richard Spratly, người du hành đến Trường Sa năm 1843.
1
null
Chlamyphorus truncatus là một loài thú có mai thuộc họ Dasypodidae, có vỏ xương. Nó được tìm thấy ở Argentina nơi nó sinh sống ở đồng cỏ và đồng bằng cát với cây bụi gai và cây xương rồng. Loài này có đôi mắt nhỏ, mượt lông màu trắng vàng, và vỏ lưng linh hoạt chỉ gắn liền với cơ thể của chúng bằng một màng lưng mỏng. Ngoài ra, đuôi hình nhô ra từ một tấm thẳng đứng ở phía sau cùng của vỏ. Loài này thể hiện thói quen ăn đêm và đơn độc và có một chế độ ăn chủ yếu bao gồm côn trùng, giun, ốc, và các bộ phận khác nhau của cây.
1
null
Kakapo hay vẹt cú (Māori: kākāpō, nghĩa là "vẹt đêm"), danh pháp hai phần: "Strigops habroptilus", là một loài chim trong họ Strigopidae. Nó là một loài vẹt không bay được đặc hữu New Zealand. Phân loại và đặt tên. Kakapo được nhà điểu học người Anh George Robert Gray mô tả lần đầu năm 1845. Tên khoa học của nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại, tên chi ("Strigops") "strix", sở hữu cách "strigos" "cú", và "ops" "mặt", tên loài ("habroptilus") "habros" "mềm", và "ptilon" "lông vũ". Nghiên cứu phát sinh chủng loài hiện nay đã chứng minh vị trí độc nhất của Kakapo trong chi "Strigops" cũng như với các họ hàng gần nhất là vẹt caca New Zealand và vẹt Kea (cả hai đều thuộc chi "Nestor"). Chúng được coi là thuộc về liên họ Strigopoidea (= Nestoroidea) Kakapo cũng được đề xuất đặt trong họ Strigopidae. Một số tác giả cho rằng tổ tiên chung của kakapo và "Nestor" bị cô lập với các loài vẹt còn lại khi New Zealand tách ra khỏi siêu lục địa Gondwana, khoảng 80-85 triệu năm trước và khoảng 70 triệu năm trước thì kakapo rẽ khỏi chi "Nestor". Tuy nhiên, ngay trong Wright "et al." (2008) thì các tác giả cũng đưa ra một số liệu thời gian khác cho sự tách ra của tổ tiên chung của kakapo + "Nestor" khỏi các dạng vẹt khác là 50 triệu năm trước và điều này là khá phù hợp với các kết quả phân tích của Jarvis "et al." (2014) khi cho rằng Psittaciformes tách ra khỏi Passeriformes khoảng 55 triệu năm trước. Bảo tồn. Kakapo là loài cực kỳ nguy cấp, tính đến tháng 6 năm 2016, chỉ 154 cá thể đang sống được biết đến, hầu hết trong số đó đã được đặt tên gọi. Sự vắng mặt của động vật ăn thịt khiến loài này mất khả năng bay. Do quá trình thực dân hóa của người Polynesia và người châu Âu và họ du nhập những động vật ăn thịt chẳng hạn như mèo, chuột, chồn sương, và chồn ecmin, Kakapo đã gần như bị xóa sổ. Những nỗ lực bảo tồn bắt đầu vào những năm 1890, nhưng không thành công lắm, người ta cũng có kế hoạch phục hồi Kakapo trong những năm 1980. Tính đến tháng 4 năm 2012, những con Kakapo sống sót được bảo tồn trên ba hải đảo không có loài săn mồi, trên các đảo Codfish (Whenua Hou), Anchor và Little Barrier, được giám sát chặt chẽ. Hai đảo lớn Fiordland, Resolution và Secretary, là chủ đề của các hoạt động phục hồi sinh thái quy mô lớn để chuẩn bị tự duy trì hệ sinh thái với môi trường sống thích hợp cho các con Kakapo.
1
null
Viện Hàn lâm Pháp (tiếng Pháp:L'Académie française) là thể chế học thuật tối cao liên quan tới tiếng Pháp. Hàn lâm viện này được thành lập năm 1635 bởi Hồng y Richelieu, người đứng đầu nội các của Vua Louis XIII. Bị giải tán năm 1793 trong Cách mạng Pháp, nó được khôi phục năm 1803 bởi Napoleon Bonaparte. Viện Hàn lâm Pháp bao gồm 40 thành viên, được biết dưới tên "immortels" (những người bất tử). Viện hàn lâm Pháp tập hợp những nhân vật nổi bật trong giới văn học (các nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà soạn kịch, nhà phê bình văn học), cả những triết gia, nhà sử học, nhà khoa học nổi tiếng – và theo truyền thống - gồm cả những nhân vật quân sự, chính khách và tôn giáo quyền cao chức trọng. Các thành viên mới được bầu bởi các thành viên đương vị. Các viện sĩ giữ vị trí này suốt đời, trừ khi họ bị loại bỏ do tư cách sai trái. Philippe Pétain, được gọi là "Nguyên soái của Pháp" sau chiến thắng Verdun trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, được bầu vào Viện năm 1931 và, sau khi trở thành Quốc trưởng của chính phủ Vichy trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bị buộc phải từ chức năm 1945. Cơ quan này đóng vai trò có thẩm quyền chính thức về ngôn ngữ; nó tham gia vào việc xuất bản từ điển chính thức. Tuy nhiên, những quyết định của nó lại không phải là bắt buộc với công chúng hoặc chính phủ. Được sáp nhập vào Institut de France khi viện này được thành lập ngày 25.10.1795, Viện hàn lâm Pháp là viện hàn lâm đầu tiên trong 5 viện hàn lâm của Pháp. Nhiệm vụ được trao cho viện ban đầu là chuẩn hóa ngôn ngữ Pháp, đưa ra những quy tắc ngữ pháp, làm cho tiếng Pháp trong sáng và dễ hiểu cho mọi người. Trong tinh thần đó, Viện bắt đầu soạn một quyển từ điển: ấn bản đầu tiên của quyển "Dictionnaire de l'Académie française" (Từ điển của Viện hàn lâm Pháp) được xuất bản năm 1694 và ấn bản lần thứ 9 đang được biên soạn. Chức năng. Điều XXIV của "Quy chế" định rõ rằng «chức năng chính của Viện hàn lâm Pháp là làm việc hết sức cẩn thận, kỹ càng để đưa ra những quy tắc chắc chắn cho ngôn ngữ của chúng ta, và làm cho nó trong sáng, hùng hồn, đủ sức lột tả được nghệ thuật và khoa học». Xác định tiêu chuẩn ngôn ngữ Pháp. Nhiệm vụ đầu tiên của Viện là ghi nhận và nghiên cứu mọi biến đổi về ngữ điệu, cách phát âm và chính tả, rồi rút ra dạng mạch lạc nhất có thể dùng làm chuẩn mực cho các thợ in, các biên tập viên luật pháp và tài liệu hành chính, cho việc giáo dục. Để hoàn thành nhiệm vụ, Viện đã làm việc theo 2 hướng: Ngày nay, Viện vẫn tiếp tục công trình này chuẩn bị cho việc xuất bản quyển Từ điển của Viện hàn lâm Pháp ("Dictionnaire de l'Académie française") trong tương lai, ấn định việc sử dụng ngôn ngữ, và tham gia vào nhiều ủy ban thuật ngữ khác nhau. Trung thành với nhiệm vụ ban đầu là thiệt lập các tiêu chuẩn cho ngôn ngữ chính thức, Viện hàn lâm Pháp phản đối việc nêu các ngôn ngữ khu vực trong Hiến pháp của Pháp, theo một tuyên bố công bố ngày 12.6.2008. Thực ra – theo các viện sĩ - việc đề cập này sẽ khiến Pháp phải chuẩn y Hiến chương ngôn ngữ khu vực hoặc ngôn ngữ thiểu số của châu Âu (Charte européenne des langues régionales ou minoritaires), điều mà Viện không muốn. Vai trò của Viện hàn lâm Pháp. Các việc sửa chính tả. Trong bài diễn văn ngày 24.10.1989, thủ tướng Pháp đã đề nghị Conseil supérieur de la langue française (Hội đồng tối cao ngôn ngữ Pháp) suy nghĩ kỹ 5 điểm liên quan tới chính tả: Năm điểm nêu trên không chỉ liên quan tới chính tả của từ ngữ hiện hữu, mà còn liên quan tới các từ ngữ sẽ được đặt ra, nhất là những từ khoa học và kỹ thuật. Được "Hội đồng tối cao ngôn ngữ Pháp" trình bày, những sửa đổi này đã được Viện Hàn lâm Pháp nhất trí tán thành, cũng như "Hội đồng tối cao ngôn ngữ Pháp" của Québec (Canada) và "Hội đồng ngôn ngữ cộng đồng tiếng Pháp" của Bỉ. Những sửa đổi này đã được đăng trong "Công báo Pháp" ngày 6.12.1990. Những sửa đổi này, giảm nhẹ nội dung và phạm vi của chúng, được tóm tắt như sau: Việc làm giàu ngôn ngữ Pháp. Việc phát triển khoa học và kỹ thuật từng tiến triển nhanh từ những thập niên trước đã có xu hướng thuận lợi cho việc bành trướng của tiếng Anh, thiệt cho tiếng Pháp. Để tránh việc dung những tthuật ngữ anglo-Saxon, và những thuật ngữ nước ngoài rất thông thường trong các lãnh vực kỹ thuật nơi không ngừng xuất hiện những thực tế mới phải đặt tên, chính quyền đã đưa ra một quyết định về hệ thống thuật ngữ và việc dùng các từ mới. Quyết định này đã được đặt ra bởi sắc lệnh ngày 3.7.1996 liên quan tới việc làm giàu ngôn ngữ Pháp phù hợp với luật về ngôn ngữ Pháp tức luật Toubon ngày 4.8. 1994. Viện hàn lâm Pháp như vậy có tham gia đóng góp vào quyết định làm giàu ngôn ngữ Pháp cùng với Délégation générale à la langue française et aux langues de France (Phái đoàn chung về ngôn ngữ Pháp và các ngôn ngữ (địa phương) ở Pháp), Commission générale de terminologie et de néologie (Ủy ban chung về hệ thống thuật ngữ và việc dùng các từ mới), và những Commissions spécialisées de terminologie et de néologie (Ủy ban chuyên môn về hệ thống thuật ngữ và việc dùng các từ mới) làm việc trong các bộ . Viện hàn lâm Pháp có đại diện ở nhiều giai đoạn trong quá trình soạn thảo các thuật ngữ. Viện tham gia vào các công việc của những ủy ban chuyên môn, trong mọi lãnh vực (tin học, viễn thông, vận tải, khoa công trình hạt nhân, thể thao vv...) đề nghị những thuật ngữ tiếng Pháp để chỉ rõ những khái niệm mới. Viện là thành viên của Ủy ban chung xem xét những đề nghị của những ủy ban chuyên môn, và cho phép Công báo xuất bảnnhững thuật ngữ. Những thuật ngữ và định nghĩa của chúng cũng được xuất bản trên trang internet FranceTerme mà những nhà chuyên môn và quần chúng đều truy cập được. Việc sử dụng các thuật ngữ tiếng Pháp thay cho các thuật ngữ nước ngoài như vậy trở thành bắt buộc trong các cơ quan hành chính và các cơ sở công cộng. Khuyến khích hoạt động văn học. Nhiệm vụ thứ hai của Viện - việc bảo trợ văn học – không được dự trù trong quy chế ban đầu, bắt nguồn từ việc xử lý các tài sản tặng dữ và tài sản di tặng được trao cho viện từ thời Chế độ cũ. Như vậy, Viện hàn lâm Pháp hiện nay trao khoảng 60 giải thưởng văn học hàng năm, trong đó có Giải thưởng lớn Văn học của Viện Hàn lâm Pháp, Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp, Giải thưởng lớn văn học Paul Morand, Giải thưởng lớn của Cộng đồng Pháp ngữ vv... Viện hàn lâm Pháp cũng cấp các khoản trợ cấp cho những hội văn hóa hay hội trí thức, những việc từ thiện, trợ cấp cho các gia đình đông con, các quả phụ nghèo và một số học bổng. Lịch sử. Nguồn gốc Viện hàn lâm Pháp bắt đầu từ những cuộc họp không chính thức của nhóm nhà văn học thuộc «hội Conrart» từ năm 1629 tại số 135 phố Saint-Martin, nơi cư ngụ của Valentin Conrart, cố vấn của vua Louis XIII. Các cuộc họp mặt văn học này đã gợi ý cho hồng y Richelieu lập ra dự án thành lập Viện hàn lâm Pháp, biến các cuộc họp này thành một hội đoàn văn học dưới quyền nhà vua, theo mẫu Accademia della Crusca thành lập ở Firenze (Ý) năm 1583 và đã xuất bản tập "Vocabolario" (Ngữ vựng) năm 1612. Conrart xin lettre patente, soạn thảo quy chế và điều lệ ngày 13.3.1634, được hồng y Richelieu chứng thực ngày 16.2.1635, và được vua Louis XIII ký ngày 22.2.1635 (ngày được coi là ngày khai sinh chính thức của Viện) và được đăng ký ở Nghị viện Paris ngày 16.7.1637. Viện gồm 22 viện sĩ, trong đó có chín người trong nhóm ban đầu cộng thêm 13 viện sĩ mới. Valentin Conrart trở thành thư ký suốt đời từ năm 1634 tới 1675; hồng y Richelieu được phong là cha đẻ và người bảo trợ của Viện. Quyển "Histoire de l'Académie françoise" (tập một xuất bản năm 1653) do Paul Pellisson, một viện sĩ của Viện viết, tập thứ hai do Pierre-Joseph Thoulier d'Olivet viết thuật lại lịch sử của Viện, được xuất bản năm 1729), soạn thảo từ các sổ sách của Viện Hàn lâm Pháp và dưới ảnh hưởng của các viện sĩ, là nguồn duy nhất về việc thành lập Viện hàn lâm này. Pellisson cho rằng Viện không có tính mục đích bác học nào như académie de Baïf thành lập năm 1570 và "Hội văn học Mersenne" hoặc tính mục đích chính trị như "Hội Dupuy", tuy nhiên chuyện thuật lại của ông quên rằng "câu lạc bộ Conrart" qui tụ các nhà văn, các nhà quý tộc lớn và cũng nhằm mục đích trao đổi các thông tin để tạo cho nhóm này vị trí ưu tiên trong lãnh vực chính trị, xã hội ở thời đại này. Hơn nữa, Viện hàn lâm cho ý kiến về các tác phẩm văn học (xem sự can thiệp của Viện vào «cuộc tranh luận về tác phẩm Le Cid của Corneille»), hồng y Richelieu xem đây là một phương tiện để kiểm soát sinh hoạt văn hóa và trí thức Pháp. Trong ý muốn thu thập, hồng y Richelieu muốn ngôn ngữ Pháp là việc của những người đại diện các lãnh vực tri thức khác nhau (các giáo sĩ, các quân nhân - người đầu tiên là công tước Armand de Coislin năm 1652 - các nhà ngoại giao, rồi các nhà văn và triết gia - người đầu tiên là Montesquieu năm 1727 - dưới triều vua Louis XV người đã đe dọa bãi bỏ Viện hàn lâm khi viện muốn độc lập nhờ "Phong trào Ánh Sáng") và quyết định là Viện hàn lâm mở ra cho 40 viện sĩ bình đẳng và độc lập, vì thế Viện không cần trợ cấp. Đặc tính chính thức của Viện «những người tài trí» được hình thành, ban đầu Viện họp ở bất cứ nhà viện sĩ nào, sau đó họp tại nhà quan chưởng ấn Pierre Séguier từ năm 1639, theo ý kiến của Colbert họp tại cung điện Louvre từ năm 1672, và cuối cùng họp ở collège des Quatre-Nations (trở thành Institut de France năm 1795) từ năm 1805 tới ngày nay. Trong 3 thế kỷ rưỡi tồn tại, trong đó Viện đã là hiện thân của quyền hành dưới các triều vua Louis XIII và Louis XIV, biểu lộ tư tưởng cách mạng dưới các triều vua Louis XV và Louis XVI, Viện đã biết duy trì thể chế của mình, hoạt động đều đặn, ngoại trừ sự gián đoạn từ năm 1793 tới năm 1803 trong thời Convention thermidorienne, thời Chế độ đốc chính và lúc khởi đầu thời Chế độ tổng tài. Năm 1694 Viện xuất bản ấn bản đầu tiên quyển Dictionnaire de l'Académie française ("Từ điển của Viện hàn lâm Pháp"). Năm 1793, do sắc lệnh ngày 8.8.1793, Hội nghị quốc ước bãi bỏ mọi viện hàn lâm hoàng gia, trong đó có Viện hàn lâm Pháp, và xác định lệnh cấm bầu các thành viên mới thay thế cho các thành viên đã tạ thế. Trong thời Cách mạng Pháp, tu sĩ Morellet đã cứu vãn các hồ sơ lưu trữ của Viện hàn lâm bằng cách đem về cất giấu ở nhà ông. Năm 1795 (sắc lệnh ngày 22.8.1795) các Viện hàn lâm này được thay thế bằng một Viện duy nhất: Institut de France. luật về việc tổ chức Ủy ban giáo dục công cộng ngày 3 tháng Sương mù năm IV (tức ngày thứ Ba 25.10.1795) quyết định việc tổ chức Viện. Do nghị định ngày 3 tháng pluviôse (tháng mưa) năm XI (tức 23.1.1803) Napoléon Bonaparte - viên tổng tài thứ nhất - quyết định phục hồi các viện hàn lâm cũ, nhưng chỉ đơn giản là những ngành (hay đơn vị) của Institut de France. Đơn vị thứ hai «ngành ngôn ngữ và văn học Pháp» trên thực tế tương ứng với Viện hàn lâm Pháp cũ. Ngày 21.3.1816, vua Louis XVIII, muốn trở lại với thời kỳ tiền cách mạng, đã trả lại tên cũ - Viện hàn lâm - cho các đơn vị (hay ngành) đã bị Bonaparte đổi tên, nhưng tự cho phép ông có quyền ưu tiên chọn lựa các viện sĩ. Lưu ý là năm 1800, theo lời xúi giục của Jean-Pierre Louis de Fontanes, André Morellet và Jean Baptiste Antoine Suard, Lucien Bonaparte - lúc bấy giờ là bộ trưởng bộ Nội vụ - từng mơ ước trở thành một viện sĩ, đã nhắm tổ chức lại Viện hàn lâm Pháp. Viên tổng tài thứ nhất, người anh của ông (tức Napoléon Bonaparte) xuất thân từ cuộc Cách mạng, chống đối dự án này và đã viết cho ông ta ngày 26 tháng messidor năm VIII (tức 15.7.1800) như sau: Chủ nghĩa yêu nước nẩy sinh từ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất dành ưu tiên cho việc tuyển chọn nhiều thống chế (người đầu tiên là thống chế Lyautey năm 1912). Trong thời bị Đức chiếm đóng, Viện hàn lâm Pháp đã có những viện sĩ cộng tác với kẻ thù (như Charles Maurras, Abel Bonnard, Abel Hermant vv… và thống chế Pétain) từ năm 1929. Một truyền thuyết muốn rằng François Mauriac là linh hồn của cuộc kháng cự hàn lâm trong khi chính Georges Duhamel được bầu tạm thời vào chức thư ký vĩnh viễn năm 1942 là người đã tránh cho Viện hàn lâm khỏi bị lệ thuộc vào chế độ Vichy, đặc biệt là bằng việc đình chỉ các cuộc bầu cử (viện sĩ) như (từng xảy ra) năm 1790. Khi nước Pháp được giải phóng, giới trí thức bị Comité national des écrivains ("Ủy ban nhà văn quốc gia") thanh lọc và muốn bãi bỏ Viện hàn lâm này. Georges Duhamel đã bảo vệ thành công sự nghiệp của viện trước tướng Charles de Gaulle. Bộ luật về tội indignité nationale dự trù là mọi người bị coi là mắc tội này và thuộc vào một cơ quan hiến định sẽ bị tự động khai trừ - đã không bao gồm những viện sĩ cộng tác với kẻ thù ở Viện hàn lâm này. Viện hàn lâm từ đó lại tìm được sự độc lập hoàn toàn về chính trị và tài chính đối với "Institut de France" do loi de programme pour la recherche de 2006 (luật về chương trình nghiên cứu năm 2006). Marguerite Yourcenar là nữ viện sĩ đầu tiên được bầu vào Viện hàn lâm Pháp năm 1980, như một sự công nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trước «bộ lạc 40 người nam» này, trong khi Léopold Sédar Senghor là người châu Phi đầu tiên trở thành viện sĩ năm 1983. Nguồn gốc 40 ghế bành. Nguồn gốc các ghế bành của Viện hàn lâm Pháp do viện sĩ Charles Pinot Duclos thuật lại như sau: «Trước đây chỉ có một ghế bành trong Viện hàn lâm, đó là ghế của ông giám đốc. Mọi viện sĩ, dù thuộc cấp bậc nào, cũng chỉ ngồi ở ghế tựa. Viện sĩ cardinal d'Estrées, trở nên quá tàn tật, đã yêu cầu được phép cho mang đến một ghế ngồi thuận tiện hơn là một ghế tựa. Người ta báo cáo việc này lên vua Louis XIV, nhà vua thấy rằng nên đáp ứng yêu cầu của César d’Estrées nhưng cũng để tránh việc phân biệt đối xử với các viện sĩ khác, đã ra lệnh cho người quản lý kho đồ gỗ cho đem 40 ghế bành tới Viện, và do đó xác nhận vĩnh viễn sự bình đẳng trong Viện.. » Ghế bành thứ 41. Một số lượng lớn các nhà văn, thường là nổi tiếng, chưa hề bước qua cửa Viện hàn lâm, vì họ chưa bao giờ là ứng viên, hoặc không trúng cử, hoặc đã từ trần sớm. Thuật ngữ ghế bành thứ 41 do nhà văn Arsène Houssaye sáng tạo ra năm 1855 để chỉ những nhà văn nêu trên. Trong số những tên tuổi lẫy lừng, có thể nêu tên những người như René Descartes, Molière, Blaise Pascal, François de La Rochefoucauld, Jean-Jacques Rousseau, Denis Diderot, Pierre-Augustin Caron de Beaumarchais, André Chénier, Honoré de Balzac, Alexandre Dumas cha, Théophile Gautier, Gustave Flaubert, Stendhal, Gérard de Nerval, Guy de Maupassant, Charles Baudelaire, Émile Zola, Alphonse Daudet, Marcel Proust. Từ chối ghế được đề nghị. Người ta biết hiếm có nhà trí thức hay nhà khoa học đã khước từ vinh dự khi được bầu vào số «những người bất tử» ("tức viện sĩ"). Tuy nhiên đã có vài người từ chối vinh dự này, như Marcel Aymé (do François Mauriac đề nghị năm 1950). Ông viết: "Tôi rất biết ơn ông đã nghĩ tới tôi về Quai Conti (tức trụ sở Viện hàn lâm Pháp)…. Rất xúc động, tôi xin trả lời «cái nháy mắt» của ông đã làm tôi tự hào. Tuy nhiên, tôi phải nói với ông rằng tôi cảm thấy mình không có tài năng của một viện sĩ. Là nhà văn, tôi luôn sống một mình, xa các bạn đồng nghiệp, nhưng không hề do kiêu căng, mà trái lại, do tính rụt rè và cũng do tính lười biếng của tôi. Tôi sẽ trở thành cái gì nếu tôi được ở trong nhóm 40 nhà văn đó? Tôi sẽ cuống lên không còn tỉnh táo và chắc chắn, tôi sẽ không thể đọc được bài diễn văn (nhậm chức) của mình. Như vậy ông sẽ làm một việc thu hoạch tồi đấy". Cũng vậy, Georges Bernanos đã từ chối khi người ta đề nghị đưa ông vào Viện hàn lâm. Thêm vào đó, Viện hàn lâm không phải lúc nào cũng có một danh tiếng tốt đẹp bên cạnh những thế hệ nhà văn mới. Frédéric Beigbeder coi Viện này «như một hội đồng những người già lẫn cẫn mệt mỏi», còn đối với Didier Daeninckx thì viện hàn lâm này là «nhà xác của ngôn ngữ, cảnh sát của từ điển», tầm quan trọng và địa vị của nó trong giới văn học, nghệ thuật đôi khi phải đặt thành vấn đề. Nhiều nhà văn như Daniel Pennac, Jean Echenoz, Simon Leys, Le Clézio, Patrick Modiano, Milan Kundera, Pascal Quignard hoặc Tonino Benacquista đã từ chối lời đề nghị tự giới thiệu mình với Viện hàn lâm. Quy chế và tổ chức. Như ghi nhận của loi de programme pour la recherche de 2006 ("luật về chương trình nghiên cứu năm 2006"), Viện hàn lâm Pháp là một pháp nhân công pháp với quy chế đặc biệt do hội đồng viện sĩ của viện quản lý, nghĩa là một thiết chế công cộng trung ương của nước Pháp. Viện bầu ra người thư ký vĩnh viễn,tức là cho tới khi ông ta chết hoặc từ chức. Đây là nhân vật quan trọng nhất của Viện. Viện cũng bầu ra - mỗi 3 tháng - một vị chủ tịch để chủ tọa các buổi họp của Viện. Những «người bất tử». Viện hàn lâm Pháp gồm 40 viện sĩ, được bầu bởi những viện sĩ đương nhiệm của viện. Từ ngày thành lập, Viện đã có trên 700 viện sĩ (tới năm 2009 là 719). Viện tập họp các thi sĩ, các tiểu thuyết gia, các nhà soạn kịch, các triết gia, các sử gia, các bác sĩ y khoa, các nhà khoa học, các nhà dân tộc học, các nhà phê bình nghệ thuật, các nhà quân sự, các chính khách, các chức sắc giáo hội đặc biệt lừng danh trong lãnh vực ngôn ngữ Pháp. Các viện sĩ có biệt danh là những người bất tử do khẩu hiệu À l’Immortalité ("để lưu danh muôn thuở"), khắc trên dấu triện được người sáng lập - hồng y Richelieu – trao cho Viện. Khẩu hiệu này nguyên thủy nhằm chỉ ngôn ngữ Pháp chứ không chỉ các viện sĩ. Các viện sĩ thường được mời gọi hãy là những quan tòa làm sáng tỏ việc sử dụng đúng cách các từ ngữ, và do đó định rõ những khái niệm và những giá trị của các từ ngữ này. Quyền uy tinh thần này về mặt ngôn ngữ bắt rễ trong các cách sử dụng, các truyền thống. Khái niệm nói trên (lưu danh muôn thuở, bất tử) đã nhanh chóng nới rộng để chỉ các viện sĩ vì những danh tiếng họ để lại sau khi chết, sự bất tử về văn học mà nhà vua trao cho để đổi lấy việc thống nhất ngôn ngữ của vương quốc và sự độc lập của nó đối với Giáo hội. Kể từ thế kỷ 18, các viện sĩ cũng như mọi nhà văn đã triển khai một đạo đức học không muốn phục vụ quyền lực, mà giữ danh hiệu «những người bất tử» này. Edmond Rostand, bản thân là viện sĩ, đã cười nhạo Viện Hàn lâm Pháp trong vở kịch "Cyrano de Bergerac" bằng cách nêu ra cách hài hước các viện sĩ bị quên lãng của thế hệ thứ nhất: «François d'Arbaud de Porchères, François de Cauvigny de Colomby, Amable de Bourzeis, Bourdon, Arbaud… / Tất cả những tên tuổi này mà không ai sẽ bị chết, thật đẹp mặt!» Tư cách viện sĩ là một phẩm tước không thể bãi miễn. Không ai có thể từ chức ở Viện hàn lâm Pháp. Ít ra thì người tuyên bố từ chức cũng không được ai thay thế trước khi vị đó qua đời: trường hợp Pierre Benoit, Pierre Emmanuel và Julien Green là những ví dụ. Viện hàn lâm Pháp có thể tuyên bố khai trừ một viện sĩ vì những lý do nghiêm trọng, nhất là làm mất danh dự. Những vụ khai trừ này trong lịch sử là hết sức hiếm. Một số người đã bị khai trừ sau Chiến tranh thế giới thứ hai vì việc cộng tác với kẻ thù: Charles Maurras, Abel Bonnard, Abel Hermant, Philippe Pétain. Nữ viện sĩ. Năm 1980, Marguerite Yourcenar, nữ tiểu thuyết gia kiêm người viết tiểu luận, trở thành phụ nữ đầu tiên được bầu vào Viện hàn lâm Pháp. Sau đó, Viện đã có thêm các nữ viện sĩ Jacqueline de Romilly trong năm 1988, Hélène Carrère d'Encausse năm 1990, Florence Delay năm 2000, Assia Djebar năm 2005, Simone Veil năm 2008 và Danièle Sallenave năm2011. Áo viện sĩ (habit vert) mà các viện sĩ mặc – cùng với bicorne (mũ 2 sừng), áo choàng và thanh kiếm – trong các buổi họp long trọng ở Viện hàn lâm, đã được họa sĩ Jean-Baptiste Isabey vẽ mẫu dưới thời Chế độ tổng tài. Phẩm phục này dùng chung cho các viện sĩ của "Institut de France". Các «người bất tử» cũng như các giáo sĩ được miễn trừ, cũng như không phải đeo kiếm. Tuy nhiên các nữ viện sĩ Jacqueline de Romilly, Helène Carrère d'Encausse, Florence Delay và Simone Veil đã mặc áo viện sĩ trong lễ tiếp đón họ vào Viện. Nữ viện sĩ Helène Carrère d'Encausse là nữ viện sĩ đầu tiên đeo kiếm - một vũ khí do người thợ kim hoàn Goudji nước Gruzia làm. Các nữ viện sĩ Florence Delay, Assia Djebar và Simone Veil cũng đã chọn đeo kiếm. Nữ viện sĩ Jacqueline de Romilly đã nhận một ghim cài (broche) trượng trưng sau khi được bầu vào "Académie des inscriptions et Belles-Lettres" năm 1975. Số viện sĩ đầy đủ. Số 40 viện sĩ chỉ được hoàn toàn đầy đủ lần đầu tiên trong lịch sử vào ngày 14.2.1639 (ngày bầu viện sĩ Daniel de Priézac), tức là gần 50 năm sau những cuộc bổ nhiệm đầu tiên. Số lượng này được giữ cho tới ngày 5.5.1640 (viện sĩ François d'Arbaud de Porchères từ trần), sau đó sớm được Olivier Patru thay thế. Cho tới cuối nửa thế kỷ thứ 19, số lượng viện sĩ thường đầy đủ. Mỗi khi có một viện sĩ từ trần thì ngay sau đó đã có cuộc bầu viện sĩ mới thay thế. Một số ví dụ: Sau đó, thời hạn bầu cử và thâu nhận vào viện kéo dài đáng kể. Ngày nay phải mất khoảng 1 năm sau khi một viện sĩ qua đời mới có một cuộc bầu cử thay thế, và phải mất khoảng 1 năm nữa mới diễn ra việc thu nhận viện sĩ mới vào viện, để số 40 viện sĩ hiếm khi đầy đủ. Cho tới ngày nay, số lượng viện sĩ đạt mức đầy đủ lần chót từ ngày 26.3.2009 (ngày bầu François Weyergans) tới ngày 14.4.2009 (Maurice Druon qua đời). Nhưng nếu tính số viện sĩ chính thức tại Viện Hàn lâm mà không tính những người mới đắc cử và chưa làm lễ nhậm chức, thì số lượng viện sĩ đầy đủ của Viện chỉ đạt được trong 24 ngày suốt thế kỷ 20, còn thế kỷ 21 thì chưa có ngày nào đầy đủ. Những thời kỳ Viện có đầy đủ viện sĩ: Nếu không tính đến việc khai trừ "trên thực tế " Charles Maurras và Philippe Pétain vì mắc tội indignité nationale (bất xứng với quốc gia), thì có 2 thời kỳ khác trong đó Viện có đầy đủ viện sĩ:
1
null
Dưới đây là danh sách các biểu trưng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Huân chương. Huân chương cao quý Bảo quốc Huân chương<br>(đeo ở ngực) Bảo quốc Huân chương<br>(gắn trên nắp túi áo) Cấp hàm từ sau năm 1964 đến 1975. Hạ sĩ Hạ sĩ nhất Trung sĩ Trung sĩ nhất Thượng sĩ Thượng sĩ nhất Chuẩn úy Thiếu úy Trung úy Đại úy Thiếu tá Trung tá Đại tá Chuẩn tướng Thiếu tướng Trung tướng Đại tướng Thống tướng
1
null
Nha lộ vận tại Hoa Kỳ (, viết tắt là "DMV") là một cơ quan cấp tiểu bang với hai chức năng chính là thu thuế lưu thông và cấp bằng lái xe. Ở Canada cũng có một tổ chức tương tự do các tỉnh bang giám sát. Chức năng. Cấp bằng lái xe. Bằng lái xe tại Hoa Kỳ được dùng như thẻ căn cước, một loại giấy tờ tùy thân. Muốn có bằng lái xe thì phải đậu lượt khảo thí, thường là bài thi viết nhưng cũng có thể kèm theo đó là lượt thi lái. Trong số 50 tiểu bang tại Hoa Kỳ thì 18 tiểu bang có bài thi bằng tiếng Việt. Cấp giấy chủ quyền xe cộ. Khi người mua xe trả góp thì ngân hàng tài trợ giữ giấy chủ quyền cho đến khi người mua thanh toán toàn phần số tiền nợ. Lúc đó ngân hàng sẽ ký giao giấy chủ quyền cho người mua. Nha lộ vận theo đó cấp giấy chứng nhận chủ quyền, thường màu hồng nên thông thường gọi là "pink slip". Người có "pink slip" là người có toàn quyền sang nhượng xe cho người khác. Thu thuế lưu hành. Xe cộ lưu hành phải được đăng bộ với nha lộ vận và nộp một phí khoản hàng năm. Số tiền đó các tiểu bang thường dùng trang trải việc tu bổ cầu cống, đường sá. Loại thuế này căn cứ trên giá trị chiếc xe di dịch có nơi là 0,65% (California 2012), có khi lên tới 2%. Vì giá trị xe cũ ít hơn xe mới nên trong thời gian 11 năm đầu, thuế lưu hành giảm dần. Khi sang nhượng lại xe thì thuế lưu hành sẽ căn cứ trên giá bán lại. Một số tiểu bang như California còn ra luật chỉ cấp phép lưu hành nếu xe đã được kiểm tra hợp đủ một số tiêu chuẩn về khói xe để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
1
null
Google Data Liberation Front là một nhóm kỹ sư thuộc Google có nhiệm vụ là "giúp người dùng dễ dàng mang dữ liệu vào và ra khỏi các dịch vụ của Google". Hiện tại nhóm này hỗ trợ việc lấy dữ liệu ra từ 25 dịch vụ của Google. Nhóm này được thành lập để đảm bảo rằng các cá nhân và công ty sử dụng các dịch vụ của Google đều có thể lấy dữ liệu của họ trước khi chấm dứt sử dụng dịch vu của Google.. Google Takeout. Sau 4 năm nghiên cứu tời năm 2007 tới năm 2012, nhóm đã cho ra sản phẫn đầu tiên mang tên Google Takeout, cho phép người dùng tải về tất cả dữ liệu của họ ở mọi thời điểm Google Takeout đã bị chỉ trích vì dịch vụ hiện tại chưa cho phép lây dữ liệu từ nhiều dịch vụ của Google
1
null
COP.357 Derringer là loại súng ngắn khá độc đáo được thiết kế bởi Robert Hillberg dựa trên mẫu trước đó của ông. Súng được thiết kế như một loại vũ khí tự vệ cho dân sự và lực lượng cảnh sát khi họ không làm nhiệm vụ và không mang theo vũ khí chính hoặc dùng làm vũ khí dự phòng, từ COP là viết tắt của Compact Off-Duty Police. Thiết kế. COP.357 Derringer có thiết kế khá độc đáo với bốn nòng và mỗi nòng sẽ được lắp một viên đạn cũng như mỗi nòng có kim điểm hỏa riêng. Súng sử dụng cơ chế nạp đạn từ sau nòng vì thế khi nạp đạn xạ thủ sẽ kéo một thanh trượt nằm phía trên thân súng để nó tách nòng súng ra khỏi thân súng, bẻ phần sau nòng súng lên phía trên nếu có vỏ đạn cũ thì xạ thủ sẽ dùng tay lấy ra và nạp đạn mới vào sau đó gấp lại như cũ để chuẩn bị bắn. Búa điểm hỏa nằm bên trong súng khi bóp cò búa sẽ nện vào một bánh răng nối với một trong bốn kim điểm hỏa, bánh răng này sẽ quay để nối với kim điểm hỏa ở nòng khác khi bóp cò và cứ như thế cho dù đã bắn hết đạn đến khi xạ thủ ngừng bóp cò. Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi. Do súng và các bộ phận được làm bằng thép dày đặc biệt là phần nòng súng được làm từ cả một khối thép nên súng rất bền nhưng chính vì việc đó mà súng bị đánh giá là quá nặng cho một loại súng tự vệ cũng như cò súng quá nặng để có thể bắn nhanh.
1
null
Nạn phá rừng ở Việt Nam là một trong những vấn nạn ở Việt Nam. Theo báo cáo số liệu năm 2005 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam là nước có tỉ lệ phá rừng nguyên sinh đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Nigeria. Nguyên nhân mất rừng do sự yếu kém và tham nhũng trong công tác bảo vệ rừng, sự thông đồng, cấu kết, tiếp tay, chia chác của các giới chức hữu quan cũng như lực lượng kiểm lâm đã tiếp tay cho lâm tặc chặt phá rừng. Các hình thức phá rừng ngày càng tinh vi và trắng trợn như chuyển đổi rừng, phê duyệt các dự án đầu tư đã gây bất bình trong dư luận nhưng lại bị chính quyền cố tình bỏ lơ. Bên cạnh đó nhờ các nỗ lực bảo vệ và trồng mới rừng của chính phủ Việt Nam, tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam không ngừng tăng lên từ năm 1996 đến nay nhưng tỷ lệ rừng tự nhiên trong tổng diện tích rừng lại giảm. Thực trạng. Tổng cục Lâm nghiệp thống kê khoảng 22.800 ha rừng bị thiệt hại giai đoạn 2011-2019, trong đó nguyên nhân cháy rừng gần 14.000 ha, phá rừng hơn 9.000 ha. Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), chỉ hơn 5 năm (2012-2017), diện tích rừng tự nhiên bị mất do chuyển mục đích sử dụng rừng tại các dự án được duyệt chiếm 89% tổng diện tích rừng giảm; còn lại là do phá rừng trái pháp luật làm mất 11%. Từ tổng hợp của 58 tỉnh, thành phố trên cả nước cho thấy, trong khoảng 5 năm qua, các cơ quan nhà nước đã phê duyệt chuyển mục đích sử dụng rừng gần 38.300 ha/1.892 dự án. Trong đó rừng tự nhiên gần 19.000 ha, rừng trồng hơn 15.800 ha, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp trên 3.500 ha. Việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, phá rừng lấy đất trồng cao su... là nguyên nhân chính làm mất rừng tự nhiên. Đáng lưu ý, một số vụ phá rừng nghiêm trọng ở các tỉnh Tây Nguyên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Nghệ An, Bắc Kạn, Điện Biên được phát hiện chậm.Theo Bộ NN&PTNT, chính việc xử lý thiếu kiên quyết, không nhất quán, thậm chí có biểu hiện né tránh trách nhiệm, làm ngơ, tiếp tay cho người phá rừng, gây thiệt hại lớn đối với tài nguyên rừng, gây bức xúc trong xã hội. Tây Nguyên. Chỉ trong 5 năm (tính đến 2013), khu vực Tây Nguyên mất đến hơn 130.000 ha rừng (trong số 2,84 triệu ha). Trong đó rừng tự nhiên mất hơn 107.400 ha, rừng trồng mất trên 22.200 ha. Trong 5 năm qua các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho hơn 700 dự án trên đất lâm nghiệp với tổng diện tích gần 216.000 ha, trong đó có hơn 100.000 ha chuyển sang trồng cao su. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp lợi dụng dự án để chiếm phá, khai thác rừng hoặc không đủ năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm khiến rừng bị tàn phá, lấn chiếm trái phép. Từ đầu năm 2017 đến nay phát hiện 757 vụ, tăng 88 vụ (13%), diện tích rừng bị thiệt hại gần 420 ha, tăng 145 ha (trên 50%) so với cùng kỳ 2016. Tại Đắk Nông, diện tích rừng bị phá từ đầu năm đến nay tới 225 ha, tăng gần 100 ha so với cùng kỳ năm ngoái. Tây Bắc. Ở khu vực Tây Bắc được nhắc đến nhiều là ở tỉnh Điện Biên. Tại huyện Mường Nhé, từ năm 2016 đến 9/2017, đã phát hiện 295 vụ phá rừng trái pháp luật, thiệt hại 288 ha rừng. Hậu quả. Lũ lụt, sạt lở. GS Nguyễn Ngọc Lung, chuyên gia ngành lâm nghiệp Việt Nam cho rằng, lũ lụt, sạt lở ngày càng trầm trọng là do mất rừng. Rừng nhiệt đới có nhiều tầng, có cây 40-50m, dưới còn có thảm thực vật và các tầng cây khác. Nếu lượng mưa không lớn, nước chỉ ở trên tầng các lá cây, thậm chí không rơi được xuống đất. Còn khi nước mưa xuống đất, đã có lớp đầu thảo mục (cành, lá cây mục…) sẽ giữ nước tới 80-90% và ngấm dưới đất tạo thành mạch nước ngầm. Còn nước mặt 10-20% là lượng nhỏ, ít có khả năng gây lũ ống, lũ quét cho con người. Cũng theo ông, với các loại rừng khác, chỉ có tác dụng cản lũ và giữ nước khoảng 20-50% so với rừng tự nhiên. Gây đến nhiều loài vật bị tuyệt chủng. Rừng vốn là nhà của nhiều loài động vật, khi phá rừng, các loài động vật sẽ không còn nơi sống và sẽ chết dần chết mòn. Làm mất cân bằng khí hậu. Khi rừng bị phá hại, lượng cacbon diocide (Co2) không còn bị cây rừng hấp thụ sẽ càng tăng cao dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Nỗ lực. Cộng đồng quốc tế đã phải có những nỗ lực yểm trợ. Theo Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới, Việt Nam có gần 1.534 loài động thực vật và 10.500 loài thực vật có mạch, 3,4% đã được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế bảo vệ. Tổng diện tích rừng tại Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi, sau nhiều thập kỉ xảy ra nạn phá rừng thì độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể từ đầu những năm 1990. Vào năm 2005, Khoảng 12.931.000 ha (tương đương với 39,7% diện tích đất của Việt Nam) đã được trồng rừng, mặc dù chỉ có khoảng 85.000 ha (0,7% của độ che phủ đất) là rừng nguyên sinh, với nhiều hình thức rừng khác nhau. Đến năm 2018, diện tích đất có rừng ở Việt Nam là 14.491.295 ha. Trong đó, có 10.255.525 ha rừng tự nhiên; 4.235.770 ha rừng trồng. Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỉ lệ che phủ toàn quốc là 13.785.642 ha, tỉ lệ che phủ là 41,65%. Năm 2019 tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 41,85%. Năm 2020 tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 42%.
1
null
Cỗ máy thời gian (tiếng Anh: "The Time Machine") là một tiểu thuyết thuộc thể loại khoa học viễn tưởng của nhà văn H. G. Wells, được xuất bản vào năm 1895. Đây là một khái niệm phổ biến khi đề cập đến việc du hành thời gian, việc này có thể thực hiện được bằng một cỗ xe mà nhà du hành có thể điều khiển đến bất kì nơi nào mà họ muốn đến. Thuật ngữ "cỗ máy thời gian" lần đầu tiên được đặt ra bởi Well trong tác phẩm của ông. Tiểu thuyết "Cỗ máy thời gian" đã từng được chuyển thể thành 2 bộ phim điện ảnh cùng tên là Cỗ máy thời gian (phim 1960) và Cỗ máy thời gian (phim 2002), cũng như 2 loạt phim truyền hình, và nhiều truyện tranh khác. Ý tưởng về cỗ máy thời gian cũng đã truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học cũng như nhiều sản phẩm giải trí khác. Cốt truyện. Nhân vật chính của cuốn sách là một nhà khoa học và nhà phát minh nho nhã sống tại Richmond, Surrey ở Anh thời Victoria, và chỉ đơn giản được người kể chuyện gọi là Người du hành thời gian. Người kể chuyện kể lại câu chuyện về người du hành cho khách ăn tối cùng ông nghe lúc đó chỉ đơn giản là một chiều không gian thứ tư, và sự mô tả của ông về một mô hình cỗ máy sử dụng cho việc dịch chuyển thông qua nó. Ông tiết lộ rằng ông đã xây dựng một cỗ máy có khả năng mang một người xuyên qua thời gian, và trở lại vào bữa ăn tối trong tuần sau để kể lại một câu chuyện đáng chú ý, trở thành người kể chuyện mới. Trong câu chuyện mới, Time Traveller kiểm tra thiết bị của mình với một cuộc hành trình mà đưa ông đến năm 802.701, nơi ông gặp Eloi, một xã hội của những con người nhỏ bé, thanh lịch, và trẻ con. Họ sống trong các cộng đồng nhỏ với nhà cửa lớn và hiện đại nhưng đang dần xuống cấp, không làm việc và chỉ ăn toàn hoa quả. Những nỗ lực của ông để giao tiếp với họ bị cản trở bởi họ thiếu sự tò mò, kỷ luật, và ông cho rằng họ là một xã hội hòa bình, kết quả của việc nhân loại chinh phục thiên nhiên với công nghệ, và tiếp đó tiến hóa để thích nghi với một môi trường mà trong đó sức mạnh và trí tuệ không còn thuận lợi cho sự sống còn. Trở lại với nơi ông đến, Người du hành thời gian ngạc nhiên khi thấy cỗ máy thời gian của ông bị mất tích, và cuối cùng biết được rằng nó đã bị một đám người kéo bỏ vào công trình gần đó với cánh cửa nặng nề, bị khóa từ bên trong,giống như Sphinx. May mắn thay, ông đã loại bỏ đòn bẩy của máy trước khi rời khỏi nó. Sau đó trong bóng tối, ông đã bị đe dọa bởi các Morlocks,loài vượn người sống trong bóng tối dưới lòng đất và chỉ lên trên mặt đất vào ban đêm. Trong ngôi nhà của họ, ông phát hiện ra các máy móc và công nghệ có thể biến mặt đất thành thiên đường. Ông làm thay đổi lý thuyết của ông, suy đoán rằng loài người đã phát triển thành hai loài: nhóm nhàn rỗi đã trở thành loài Eloi lười biếng, và các tầng lớp lao động bị áp bức đã trở thành loài Morlocks bạo tàn sợ ánh sáng. Suy luận rằng Morlocks đã lấy cỗ máy thời gian của mình, ông khám phá các đường hầm của Morlock, khám phá ra vì thiếu thức ăn,họ ăn các Eloi. Sự suy luận lại của ông là mối quan hệ của họ không phải là lãnh chúa và đầy tớ,mà như gia súc và chủ trại. Người du hành lý luận rằng trí thông minh là kết quả và là sự ứng phó trước nguy hiểm; không có thách thức để Eloi đối mặt, họ đã mất tinh thần, trí tuệ và thể chất của nhân loại tới mức tận cùng. Trong khi đó, ông cứu một Eloi tên Weena khỏi chết đuối và không ai trong số các Eloi khác có bất kỳ thông báo về hoàn cảnh của cô, và họ phát triển một mối quan hệ tình cảm ngây thơ trong suốt nhiều ngày. Ông đem Weena theo trong một chuyến thám hiểm đến một cấu trúc cạnh đó mà hóa ra là phần còn lại của một bảo tàng, nơi ông tìm thấy một nguồn cung cấp diêm và sáng tạo ra thứ vũ khí đánh lại Morlocks, những kẻ mà ông sợ phải đấu tranh để có lại máy tính của mình. Ông dự định sẽ đưa Weena trở lại thời của mình. Bởi vì cuộc hành trình dài và mệt mỏi trở về nhà của Weena, họ dừng lại trong rừng, và sau đó họ bị Morlocks bắt trong đêm, và Weena ngất xỉu. Người du hành chỉ thoát được khi một cây đuốc nhỏ mà ông đã để lại phía sau để ngăn Morlocks bắt kịp họ trở thành một đám cháy rừng; Weena đã thất lạc trong ngọn lửa,cũng giống như lũ Morlocks. Các Morlocks mở Sphinx và sử dụng cỗ máy thời gian làm mồi để gài bẫy người du hành, không biết rằng ông sẽ sử dụng nó để trốn thoát. Ông điều khiển các đòn bẩy về phía trước và đưa ông đi xa hơn đến khoảng 30 triệu năm sau thời mình. Ở đó, ông nhìn thấy một số các sinh vật sống cuối cùng trên một Trái Đất đang chết mòn,một sinh vật đáng sợ giống cua đang lang thang trên bãi biển màu đỏ máu để đuổi bắt một con bướm khổng lồ trong một thế giới tràn ngập thảm thực vật đơn giản. Ông tiếp tục thực hiện những chuyến ghé thăm ngắn hạn qua thời gian, thấy vòng quay của Trái đất dần dần chấm dứt và mặt trời trở nên lớn hơn, đỏ hơn, và sáng hơn, và cả thế giới rơi vào  im lặng và giá lạnh như một sinh vật sống cuối cùng đang bị thoái hóa. Vô cùng sửng sốt, ông đi lại vào máy và quay về Victoria, đi đến phòng thí nghiệm của mình ở Richmond (kể từ khi ông đi du hành trong thời gian, không gian) chỉ ba giờ sau khi ông rời đi. Làm gián đoạn bữa ăn tối, ông khẳng định cuộc phiêu lưu của mình với những du khách hoài nghi của mình,đưa ra bằng chứng về hai loại hoa lạ màu trắng Weena đã để trong túi của mình. Người kể chuyện ban đầu đã tiếp nhận và thuật lại rằng ông trở về nhà Người du hành ngày hôm sau, thấy anh ta đang chuẩn bị lần cuối cho một cuộc hành trình khác.
1
null
Happy World! (ハッピーワールド) là loạt manga do Takeshita Kenjirou thực hiện và đăng trên tạp chí Ultra Jump của Shueisha từ ngày 19 tháng 5 năm 2000 đến ngày 19 tháng 5 năm 2006. Cốt truyện xoay quanh Ōmura Takeshi một nam sính trung học bị lời nguyền luôn gặp xui, mỗi ngày là một cuộc đấu tranh giữa cậu và số xui như bị chó rượt, nhà cháy, lọt hố... và một nữ thiên sứ đã được phái đến để giúp đỡ cậu. Qua thời gian cậu đã kết bạn với những học sinh co các hoàn cảnh khác cũng như tình cảm bắt đầu hình thành giữa mọi người. KSS đã thực hiện chuyển thể anime của loạt manga dưới dạng OVA và phát hành từ ngày 13 tháng 12 năm 2002 đến ngày 27 tháng 6 năm 2003 với 3 tập. Truyền thông. Manga. Loạt manga được Takeshita Kenjirou thực hiện và đăng trên tạp chí Ultra Jump của Shueisha từ ngày 19 tháng 5 năm 2000 đến ngày 19 tháng 5 năm 2006. Nét vẽ cũng dẫn thay đổi theo thời gian từ khi nhân vật còn nhỏ cho đến khi lớn lên và trưởng thành với nhiều chủ đề và thể loại khác nhau xuyên suốt câu truyện từ lãng mạn hài hước cho đến xung đột kịch tính. Shueisha sau đó đã tập hợp các chương lại và phát hành thành 11 tankōbon. OVA. KSS đã thực hiện chuyển thể anime của loạt manga dưới dạng OVA và phát hành vào ngày 13 tháng 12 năm 2002, ngày 28 tháng 3 và ngày 27 tháng 6 năm 2003 với 3 tập. Âm nhạc. Bộ OVA có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. bài hát mở đầu có tên "Kami-sama no Okuri mono ~Naked Angel~" (神様の贈り物~Naked Angel~) do Millio trình bày, bài hát kết thúc có tên "Shiawase Biyori" (幸せ日和) do Hanamura Satomi trình bày. Đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 09 tháng 9 năm 2002.
1
null
Carl Edward Sagan (; 9 tháng 11 năm 1934 – 20 tháng 12 năm 1996) là nhà thiên văn học, vật lý thiên văn, vũ trụ học, sinh học vũ trụ, tác giả sách, nhà phổ biến khoa học và là nhà phát ngôn khoa học người Mỹ. Đóng góp quan trọng nhất của ông là cho việc khám phá nhiệt độ bề mặt rất cao trên Kim Tinh. Tuy nhiên ông lại được biết đến nhiều nhất trong những nghiên cứu khoa học về sự sống ngoài Trái Đất, bao gồm cả việc chứng thực thí nghiệm tạo amino acid từ các chất hóa học cơ bản nhờ phóng xạ. Sagan đã thu thập những tin nhắn đầu tiên để gửi vào không gian: tấm thông điệp Pioneer và đĩa ghi âm vàng Voyage, các lời nhắn được gắn trên các con tàu vũ trụ để phòng trường hợp người ngoài Trái Đất có thể tìm thấy và xem chúng. Ông đã xuất bản hơn 600 bài báo khoa học, và là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 20 cuốn sách. Ông viết nhiều sách phổ biến khoa học như "Những con Rồng của vườn Địa Đàng" (The Dragons of Eden), " Não Broca" (Broca' brain), và "Đốm Xanh Mờ" (Pale blue dot). Đặc biệt, ông là đồng tác giả và người dẫn chuyện cho chuỗi chương trình truyền hình rất thành công của năm 1980 "" (Cosmos: A personal voyage). Là chuỗi chương trình đạt số lượt xem nhiều nhất trong lịch sử truyền hình công cộng Hoa Kỳ, Cosmos đã được ít nhất 500 triệu người ở hơn 60 quốc gia theo dõi. Cuốn sách "Vũ trụ" (Cosmos) cũng được viết đồng thời cùng với chương trình này. Sagan đã viết tiểu thuyết khoa học viễn tưởng "Liên lạc" (Contact), và đã được dựng thành phim cùng tên năm 1997. Các tài liệu của ông, khoảng 595,000 mục, hiện được lưu trữ ở thư viện Quốc hội - Hoa Kỳ. Carl Sagan luôn là người ủng hộ các câu hỏi còn nhiều nghi vấn trong khoa học và các phương pháp khoa học, tiên phong trong lĩnh vực sinh học ngoài Trái Đất, và thúc đẩy Chương trình nghiên cứu trí tuệ ngoài Trái Đất SETI. Ông dành gần như toàn bộ sự nghiệp của mình ở cương vị giáo sư trường ĐH Cornell, nơi ông điều hành phòng thí nghiệm nghiên cứu hành tinh. Sagan cùng với các tác phẩm của ông đã đạt được nhiều phần thưởng và huân chương danh giá, bao gồm NASA Distinguished Public Service Medal, National Academy of Sciences Public Welfare Medal (Huân chương cho những đóng góp trong khoa học đại chúng của Học viện Quốc gia), the Pulitzer Prize for General Non-Fiction (Giả Pulitzer cho tiểu thuyết không phải khoa hoc viễn tưởng) cho cuốn sách "Những con Rồng của Vườn Địa Đàng", còn với tác phẩm Cosmos, cũng giành 2 giải Emmy, giải Peabody và giải Hugo. Carl Sagan từng kết hôn 3 lần và có ba người con. Ông qua đời ngày 20 tháng 12 năm 1996 ở tuổi 62 vì viêm phổi. Sự nghiệp giáo dục và khoa học. Từ năm 1960 đến 1962, Sagan làm việc tại Viện Miller, Đại học California, Berkeley. Trong khoảng thời gian này, ông đăng tải một bài viết trên tập san Science bàn về khí quyển của Sao Kim vào năm 1961, đồng thời cộng tác với đội Mariner 2 của NASA, và đảm nhiệm chức vụ "Cố vấn Khoa học Hành tinh" cho RAND Corporation. Sau khi bài viết của Sagan được đăng tải trên tập san Science vào năm 1961, hai nhà thiên văn học Fred Whipple và Donald Menzel của Đại học Harvard đã mời Sagan tham dự một hội thảo chuyên đề tổ chức ở Harvard và sau đó đề nghị ông nhận chức giảng viên tại cơ quan này. Sagan mong muốn được phong làm phó giáo sư (assistant professor), Whipple và Menzel đã thuyết phục được Harvard đáp ứng nguyện vọng này. Tại đây, từ năm 1963 đến 1968, Sagan làm giảng viên, thực hiện nghiên cứu và cố vấn cho sinh viên đang học hệ sau đại học, đồng thời làm việc tại Đài Quan sát Vật lý thiên văn Smithsonian đặt tại Cambridge, Massachusetts. Năm 1968, Sagan không được nhận vào biên chế (tenure) của trường Harvard. Về sau ông cho biết đây là một quyết định rất bất ngờ. Có vài nguyên nhân được đưa ra, trong đó có việc Sagan quan tâm tới quá nhiều lĩnh vực (trong khi thường thường chuyên gia thành danh chỉ chuyên về một lĩnh vực hẹp. Thêm vào đó, có lẽ còn vì sự ủng hộ khoa học đại chúng mạnh mẽ của Sagan - đó là điều một số nhà khoa học coi là việc ít nhiều lợi dụng thành quả của người khác vì mục đích tư lợi cá nhân. Từ trước khi Sagan bị từ chối đưa vào biên chế khá lâu, nhà thiên văn học Thomas Gold của Đại học Cornell đã lôi kéo Sagan về làm việc tại Cornell, ở Ithaca, New York. Giờ đây, sau chuyện không may tại Harvard, Sagan liền đồng ý đề nghị của Gold và trong suốt gần 30 năm sau đó cho đến khi qua đời năm 1966, Sagan là thành viên của Đại học Cornell. Khác với Harvard, khoa thiên văn học của Cornell nhỏ hơn và dễ chịu hơn, nơi đây đã nhiệt tình chào đón Sagan như một ngôi sao đang nổi trong ngành. Sau hai năm làm phó giáo sư (associate professor), Sagan chính thức trở thành giáo sư của Đại học Cornell vào năm 1970 và nhận chức vụ điều hành Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Hành tinh tại đây. Từ 1972 đến 1981, Sagan là phó giám đốc Trung tâm Vật lý vô tuyến và Nghiên cứu Vũ trụ (CRSR) tại Cornell. Năm 1976, ông trở thành Giáo sư Thiên văn học và Khoa học vũ trụ David Duncan - vị trí mà Sagan sẽ giữ suốt đời. Tên tuổi của Sagan gắn liền với chương trình chinh phục vũ trụ của Hoa Kỳ ngay từ những ngày đầu. Từ thập niên 1950 trở đi, Sagan làm cố vấn cho NASA, tại đây một trong những trách nhiệm của ông là đưa ra chỉ dẫn cho phi hành gia Apollo trước các chuyến bay tới Mặt Trăng. Saga đóng công góp sức cho nhiều sứ mệnh tàu thăm dò khám phá hệ Mặt Trời, sắp xếp các thí nghiệm trong nhiều chuyến thám hiểm. Ông là tác giả của tin nhắn vật lý đầu tiên gửi vào vũ trụ: một tấm dát vàng, gắn vào tàu thăm dò Pioneer 10, phóng năm 1972. Tàu Pioneer 11, mang theo phiên bản của tấm kim loại này, được phóng vào vũ trụ cùng năm đó. Sagan tiếp tục cải tiến thiết kế để tạo ra tin nhắn phức tạo nhất - Đĩa vàng Voyager, được hai tàu Voyager mang vào vũ trụ vào năm 1977. Sagan thường đứng lên phản đối những quyết định nhằm cung cấp tài chính cho chương trình tàu con thoi và Trạm Vũ trụ Quốc tế, tác động xấu tới các sứ mệnh robot. Thành tự khoa học. Cựu sinh viên của Sagan - David Morrison - mô tả thầy mình là "người giàu ý tưởng" và là bậc thầy về tranh luận vật lý dựa trên trực giác và tính nhẩm. Gerald Kuiper từng nói: "Một số người giỏi việc nghiên cứu chuyên môn một lĩnh vực lớn trong phòng thí nghiệm; số khác giỏi liên kết các ngành khoa học. Tiến sĩ Sagan thuộc nhóm thứ hai." Sagan là người góp công sức chủ yếu cho khám phá nhiệt độ bề mặt cực cao trên Sao Kim. Đầu thập niên 1960, không ai biết chắc điều kiện bề mặt của Sao Kim như thế nào, Sagan đã nêu ra các kịch bản trong một báo cáo mà sau này được đưa vào trong cuốn sách "Các hành tinh" (Planets). Quan điểm riêng của Sagan là Sao Kim rất khô và nóng, trái ngược với hình ảnh thiên đường mát lành mà nhiều người tưởng tượng ra. Sagan nghiên cứu tín hiệu vô tuyến từ Sao Kim và kết luận nhiệt độ bề mặt trên hành tinh này là 500°C. Với tư cách là nhà khoa học khách mời của Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (JPL), Sagan đóng góp nhiều cho các sứ mệnh Mariner đầu tiên đi tới Sao Kim, ông phụ trách phần thiết kế và quản lý dự án. Năm 1962, Mariner 2 đã xác nhận kết luận của ông về tình trạng bề mặt Sao Kim là đúng. Sagan là một trong những người đầu tiên đưa ra giả thuyết vệ tinh Titan của Sao Thổ có đại dương chứa hợp chất lỏng trên bề mặt và vệ tinh Europa của Sao Mộc sở hữu những đại dương nước ẩn dưới bề mặt. Điều này có thể khiến Europa trở thành nơi tiềm năng có khả năng sinh tồn. Đại dương nước ẩn dưới bề mặt Europa về sau đã được tàu thăm dò Galileo xác nhận một cách gián tiếp. Bí ẩn màn sương mù màu đỏ trên Titan cũng được giải quyết nhờ công của Sagan. Thì ra màn sương mù màu đỏ này là các phân tử hữu cơ phức tạp không ngừng rơi xuống bề mặt Titan. Sagan tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về khí quyển Sao Kim và Sao Thổ cũng như sự thay đổi các mùa trên Sao Hỏa. Ông cũng nhận ra biến đổi khí hậu là thảm họa nhân tạo đang dần hiện diện rõ, và so sánh hiện tượng này với việc Sao Kim biến thành hành tinh nóng bức, khắc nghiệt với sự sống do hiệu ứng nhà kính. Năm 1985, Sagan làm chứng trước Quốc hội Hoa Kỳ về việc hiệu ứng nhà kính sẽ thay đổi khí hậu toàn cầu. Sagan cùng đồng sự tại trường Cornel, Edwin Ernest Salpeter, đưa ra phỏng đoán về sự sống trên các đám mây của Sao Mộc, dựa trên phát hiện thành phần bầu khí quyển dày đặc của hành tinh này rất giàu phân tử hữu cơ. Ông nghiên cứu sự biến đổi về màu sắc đã được ghi nhận trên bề mặt Sao Hỏa và kết luận rằng đây không phải là sự thay đổi các mùa hay thảm thực vật như đa số vẫn đang tin, mà là sự chuyển dịch các luồng bụi bề mặt gây ra bởi gió bão. Sagan cũng nổi tiếng vì nghiên cứu về khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất, trong đó nổi bật là thí nghiệm chứng minh quá trình sản sinh amino acid từ các chất hóa học cơ bản dưới tác động của phóng xạ. Năm 1994, Sagan được trao Huân chương vì Phúc lợi Cộng đồng, giải thưởng cao quý nhất của Viện Khoa học Quốc gia dành cho "những đóng góp xuất sắc trong việc ứng dụng khoa học vì phúc lợi xã hội". Sagan không được chấp nhận làm thành viên của Viện này, lý do được đưa ra là các hoạt động của Sagan trên kênh truyền thông khiến nhiều nhà khoa học không ưa ông. Tính đến năm 2017, Sagan là nhà khoa học ngành SETI (tìm kiếm trí tuệ ngoài Trái Đất) được trích dẫn nhiều nhất và cũng là một trong những nhà khoa học hành tinh được trích dẫn nhiều nhất. Truyền bá khoa học trên TV. Năm 1980, Sagan là đồng biên kịch và người dẫn chuyện của xê-ri 13 tập chiếu trên đài PBS, từng giành nhiều giải thưởng: " (Vũ trụ: Một cuộc du hành cá nhân)" - xê-ri được xem nhiều nhất trong lịch sử truyền hình công cộng Hoa Kỳ tính cho tới năm 1990. Ít nhất 500 triệu người tại 60 quốc gia đã xem chương trình này. Cuốn sách "Vũ trụ (Cosmos)" do Sagan viết cũng được xuất bản đi kèm với xê-ri này. Vì đã là cây bút khoa học nổi tiếng từ trước với nhiều tác phẩm đắt khách, trong đó có cuốn "Rồng của Vườn Địa đàng (The Dragons of Eden)" giúp Sagan đoạt giải Pulitzer năm 1977, cho nên ông được mời viết kịch bản và dẫn chuyện cho chương trình này. Chương trình hướng tới khán giả đại chúng, Sagan tin rằng họ đã mất hứng thú với khoa học, một phần vì hệ thống giáo dục bức bối. Mỗi tập trong số 13 tập chú trọng vào một chủ đề hoặc một con người cụ thể, qua đó thể hiện được sự vận động đồng thời của vạn vật trong vũ trụ. Chương trình thảo luận rất nhiều chủ đề khoa học, gồm cả nguồn gốc sự sống và góc nhìn về vị trí của con người trên Trái Đất. Chương trình đã giành được giải Emmy, cùng với giải Peabody, và đưa Sagan từ một nhà thiên văn học ít người biết trở thành biểu tượng văn hóa đại chúng. Tạp chí Time đăng tải một câu chuyện về Sagan với hình ảnh của ông được đưa lên trang bìa ngay sau khi chương trình phát sóng, gọi ông là "nhà sáng tạo, biên kịch chủ đạo và người dẫn chuyện của chương trình". Năm 2000, "Cosmos" đã được phát hành dưới dạng bộ đĩa DVD cải tiến. "Hàng tỉ tỉ". Sau khi chương trình Cosmos lên sóng, Sagan gắn liền với câu nói cửa miệng "hàng tỉ tỉ (billions and billions)", dù thực ra ông chưa từng sử dụng cụm từ này trong xê-ri Cosmos. Thay vào đó, ông dùng cụm "billions upon billions". Richard Feynman, tiền bối của Sagan, đã sử dụng cụm từ "billions and billions" nhiều lần trong các "cuốn sách đỏ" ông viết. Tuy nhiên, việc Sagan thường xuyên dụng từ "billions v"à đặc biệt nhấn mạnh âm "b" (ông cố tình làm vậy, thay vì dùng cách nói "billions with a b (từ billion có chữ b", thường dùng để phân biệt từ "billion" với từ "illinois") đã khiến ông trở thành đối tượng ưa thích của các danh hài, trong đó có Johnny Carson, Gary Kroeger, Mike Myers, Bronson Pinchot, Penn Jillette và Harry Shearer.
1
null
Giuse Lê Đức Triệu (1922 - 2007) là một linh mục công giáo người Việt, ông được biết đến nhiều với vai trò là một nhạc sĩ công giáo với bút hiệu là Hoài Đức. Ông nguyên là tổng thư ký thường trực Ủy ban Thánh nhạc toàn quốc, nguyên chủ tịch phong trào "Công lý hòa bình" Buôn Ma Thuột. Giám đốc Caritas giáo phận Buôn Ma Thuột. Tiểu sử. Giuse Lê Đức Triệu sinh ngày 01 tháng 07 năm 1922, tại xã Vỉ Nhuế, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Nay là xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, thuộc giáo xứ Vỉ Nhuế, giáo hạt Nam Định, tổng giáo phận Hà Nội. Từ năm 1933 đến năm 1939: ông theo học tại Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Nội. Từ năm 1945 đến năm 1953: ông học tại Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Năm 1959: Giuse Lê Đức Triệu được thụ phong linh mục tại nhà thờ Jeanne d’ Arc Ngã Sáu, Chợ Lớn. Từ năm 1959 đến năm 1975: ông là giám luật, giáo sư âm nhạc, giáo sư tiếng Latinh. Ông dạy Toán, Lý, Hóa tại chủng viện Piô XII. Ông làm Giáo sư chủng viện Thừa sai Kontum. Quản lý Nhà Chung giáo phận Buôn Ma Thuột. Chủ tịch phong trào Công Lý Hòa Bình Buôn Ma Thuột. Giám đốc Caritas. Từ năm 1967 đến năm 1968 Ông là tổng Thư ký thường trực của ủy ban Thánh nhạc. Từ năm 1977 đến năm 1987: Ông tập trung cải tạo qua các trại: Mêvan, Tân Kỳ (Hà Tĩnh), Phú Sơn (Bắc Thái),Thanh Cẩm (Thanh Hóa). Từ năm 1999: Ông lâm trọng bệnh, an dưỡng tại nhà hưu các linh mục gốc Hà Nội. Linh mục Giuse Lê Đức Triệu qua đời: ngày 07 tháng 07 năm 2007. Sự nghiệp. Linh mục nhạc sĩ Hoài Đức, tức Cha cố Giuse Lê Đức Triệu, là một tên tuổi lớn trong nền Thánh Ca Việt Nam.. Ông được đánh giá là " một trong những tác giả viết những tác phẩm thánh ca mở đầu cho nền âm nhạc Công giáo Việt Nam" . Linh mục nhạc sĩ Phêrô Mai Tính (tức nhạc sĩ Mi Trầm), Trưởng ban Thánh nhạc giáo phận Nha Trang, đã viết về ông: Nhà thơ, MC Lê Đình Bảng- người có công sưu tầm, tìm hiểu Thánh ca Hoài Đức, trong bài phỏng vấn với nhạc sĩ Hoài Đức vào năm 1996 trên báo Công giáo và Dân tộc đã viết: Tác phẩm. Quá trình sáng tác của nhạc sĩ Hoài Đức có thể chia làm ba giai đoạn: Khi nói về những sáng tác của Hoài Đức, nhạc sĩ Duy Tân đã nói: Sáng tác Thánh nhạc. Tổng cộng trên 100 bài được in trong các tuyển tập "Cung Thánh" của nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh (1945 – 1975). Các bài hát nổi tiếng: Thánh Tâm Giêsu, Vua đất Việt. Bài hát được sáng tác năm 1945, đây là tác phẩm đầu tiên của nhạc sĩ Hoài Đức. Cao Cung Lên. Đây là bài hát được coi là một trong những bài Thánh ca Giáng sinh bất hủ ở Việt Nam,sáng tác năm 1946. Theo Lê Đình Bảng thì" "Cao Cung Lên là một hiện tượng, một trong những bản thánh ca Giáng Sinh được nhiều người biết, hát thuộc lòng và mến mộ nhất". Ghi nhận. Trước năm [[1975]], [[linh mục]] Hoài Đức là một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, đảm trách chức vụ quản lý Toà tổng [[Giám mục]] [[Buôn Ma Thuột|Buôn Mê Thuột]], nguyên [[tổng giám đốc điều hành|giám đốc]] [[Caritas Việt Nam|Caritas]] của [[giáo phận Ban Mê Thuột|giáo phận Buôn Mê Thuột]] – một tổ chức chuyên hoạt động xã hội trong lĩnh vực từ thiện, bác ái, đã đóng góp nhiều thành quả xã hội thiết thực cho người nghèo. Ngày [[8 tháng 9|08 tháng 09]] năm [[1970]], chính quyền [[Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam cộng hòa]] [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]] (trước [[1975]]) đại diện là [[Giám mục]] [[giáo phận Ban Mê Thuột|giáo phận Buôn Mê Thuột]] và [[đại tá]] tỉnh trưởng của [[Đắk Lắk|Đắc Lắc]] đã trao tặng huy hiệu "Đệ Nhất Hạng Xã Hội Bội Tinh" cho nhạc sĩ Hoài Đức nhằm ghi nhận những đóng góp của ông cho xã hội lúc đó. Liên kết ngoài. [[Thể loại:Nhạc sĩ Việt Nam|L]] [[Thể loại:Linh mục Công giáo người Việt|L]] [[Thể loại:Nhạc sĩ thánh ca Việt Nam|L]] [[Thể loại:Nhạc sĩ Công giáo|L]]
1
null
Trộm cắp là một hành vi phạm tội khi một người hoặc một nhóm người lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đối tượng tác động có thể là tiền, dịch vụ, thông tin...mà không có sự cho phép của chủ nhân. Nói cách khác, mục đích trộm cắp là tước đoạt quyền sở hữu chính đáng của món đồ. Từ này đôi khi được sử dụng chung với từ "cướp", tuy nhiên đây lại là hai từ có ngữ nghĩa khác nhau và tuy cùng mục đích nhưng trộm và cướp vẫn xảy ra theo hai tính chất trái ngược. Nếu thành công, tài sản bị trộm sẽ không thể hoàn trả lại. Phân biệt. Hành vi trộm cắp (ăn trộm) thường cần phân biệt với cướp giật (ăn cướp). Ăn trộm thường chỉ các hành vi lén lút, bí mật để chiếm đoạt tài sản trái phép mà chủ nhân không biết còn ăn cướp chỉ các hành vi cưỡng đoạt trực tiếp sự vật từ nạn nhân và có thể dùng vũ lực để ép buộc hoặc đe dọa. Người hay nhóm người có hành vi trộm cắp gọi là kẻ trộm, đạo chích hay đạo tặc. Người ta còn dùng hậu tố "tặc" ghép sau (hoặc "trộm" ghép trước) một từ khác để phân loại chi tiết các loại trộm cắp như: lâm tặc (trộm tài nguyên rừng), tin tặc (trộm thông tin), cao su tặc... trong tiếng Anh còn phân loại thêm hành vi trộm đêm (bugaler) hay trộm nhà. Tính chất. Trộm cắp là một hành vi phạm tội cơ bản và được xem là phi pháp gần như mọi nơi. Kẻ trộm cắp ăn cắp của người khác để phục vụ cho chúng hoặc bán những thứ ăn cắp được để lấy tiền. Hành vi trộm cắp rất đa dạng từ những vụ cắp vặt thực hiện ngay khi có cơ hội cho tới các âm mưu trộm cắp được lên kế hoạch hết sức tinh vi. Hàng hóa trộm cắp được nếu cần bán đi để lấy tiền (phi tang) thường chuyển hay bán đi vào những nơi không yêu cầu kiểm tra rõ nguồn gốc hàng hóa như chợ đen Ngăn ngừa. Nhiều thiết bị như khóa hay chuông báo động... có thể dùng để chống trộm cắp. Chúng không bảo đảm an toàn tuyệt đối và vẫn có thể bị những tên trộm giỏi, lành nghề (thường gọi là đạo chích) vượt qua vì vậy việc không ngừng cải tiến các thiết bị chống trộm là rất cần thiết.
1
null
Chìa vôi trắng (tên khoa học: Motacilla alba) là một loài chim thuộc họ Chìa vôi (Motacilidae). Loài chim này phân bố rất rộng tại cả châu Á, châu Âu và một phần của Bắc Phi. Chúng thích sinh sống tại những môi trường nông thôn mở, thường là gần các khu vực nguồn nước, các khu dân cư của con người kể cả các thành phố. Khả năng thích nghi với môi trường của chúng là rất tốt. Loài chìa vôi trắng này cũng được chọn làm biểu tượng quốc gia của đất nước Latvia (châu Âu). Do có phạm vi phân bố rộng nên hiện có khá nhiều phân loài của chúng đã được ghi nhận. Hình thái. Chim chìa vôi trắng là những con chim mảnh khảnh, chiều dài cơ thể khi trưởng thành vào khoảng 16–21 cm với cái đuôi dài đặc trưng liên tục vẫy qua vẫy lại. Màu sắc cơ bản của chúng là màu xám ở trên lưng và màu trắng phía dưới, khuôn mặt màu trắng trong khi mỏ và phần cổ họng màu đen. Tiếng kêu của chúng là một dạng "chisick" sắc nét. Nói chung chúng có tiếng hót khá dễ nghe và trong trẻo. Phân bố. Loài chim này sinh sống trên khắp lục địa Á - Âu lên đến vĩ tuyến 75 độ vĩ Bắc, chỉ trừ khu vực Bắc Cực và những nơi có nhiệt độ trung bình vào mùa đông dưới 4 độ C. Chúng cũng có mặt tại Morocco và Tây Alaska, một bộ phận tại khu vực Địa Trung Hải, Trung Đông, Ấn Độ, Đông Nam Á. Thức ăn. Thói quen ăn uống của loài chim này thay đổi theo từng khu vực phân bố nhưng nhìn chung thì thủy sản, côn trùng và động vật không xương sống nhỏ là thành phần chính trong thực đơn của chúng. Tập tính sinh sản. Chìa vôi trắng là loài chim sinh sống theo chế độ "một vợ một chồng" và cũng là loài bảo vệ lãnh thổ. Mùa sinh sản của chúng thường từ tháng Tư cho đến tháng Tám hàng năm. Cả chim bố và chim mẹ đều cùng có trách nhiệm xây tổ, thường là chim bố sẽ làm các việc chính như tìm vị trí, dọn dẹp... trong khi chim mẹ chịu trách nhiệm trang trí và sửa sang. Tổ của chúng thường được làm trong những lỗ hang hoặc các hốc nhỏ, thói quen truyền thống là các hang hốc dọc theo những con sông, suối, tuy nhiên chúng đã thích nghi để làm tổ trong các hốc tường, gầm cầu hay các tòa nhà lớn trong khu vực của con người. Mỗi lứa chim mẹ đẻ khoảng 3-8 quả trứng, thông thường là 4-6 quả. Trứng của chúng có màu kem, kích thước trung bình vào khoảng 21x15 mm. Cả chim trống và chim mái đều tham gia ấp trứng, dù chim mái là thường xuyên hơn bao gồm cả vào ban đêm. Trứng bắt đầu nở sau khoảng 12 ngày (cá biệt có thể đến 16 ngày). Cả chim bố và chim mẹ sẽ chăm sóc chim non cho đến khi chúng được khoảng 2 tuần tuổi. Phân loại và hệ thống học. Chìa vôi trắng là một trong số các loài chim được Linnaeus mô tả lần đầu trong tác phẩm "Systema Naturae" ấn bản lần thứ 10 năm 1758 và cho đến nay nó vẫn mang tên khoa học gốc là "Motacilla alba". Tên Latinh của chi có nghĩa gốc là "vật di chuyển nhỏ", nhưng có lẽ các tác giả thời Trung cổ nghĩ rằng nó có nghĩa là "đuôi vẫy", từ đó mà phát sinh từ Latinh mới "cilla" để chỉ "đuôi". Tính từ định danh "alba" là từ Latinh để chỉ "màu trắng". Trong phạm vi chi "Motacilla", các họ hàng gần nhất của chìa vôi trắng dường như là các loài chìa vôi đen trắng khác như chìa vôi Nhật Bản ("Motacilla grandis") và chìa vôi mày trắng ("Motacilla maderaspatensis") (và có thể cả chìa vôi Mekong ("Motacilla samveasnae"), với vị trí phát sinh chủng loài của nó vẫn còn bí ẩn). Có thể là cùng với các loài này nó tạo thành một siêu loài. Tuy nhiên, các dữ liệu trình tự mtDNA cytochrome "b" và NADH dehydrogenase khối phụ 2 gợi ý rằng chìa vôi trắng tự bản thân nó có thể là đa ngành hoặc cận ngành (nghĩa là loài này tự bản thân nó không phải là một kiểu gộp nhóm chặt chẽ đơn lẻ). Tuy nhiên, các nghiên cứu phát sinh chủng loài khác sử dụng mtDNA lại gợi ý rằng vẫn có sự di dời gen đáng kể giữa các chủng và tính gần gũi do đó mà ra làm cho "Motacilla alba" vẫn chỉ là một loài đơn lẻ. Một nghiên cứu gợi ý về sự tồn tại của chỉ 2 nhóm là:
1
null
9GAG là một trang web giải trí có trụ sở chính tại Hồng Kông với chủ đề là các hình ảnh do người dùng cung cấp cho phép người dùng tải lên và chia sẻ nội dung do chính người dùng tạo hoặc những nội dung khác từ các nền tảng mạng xã hội trực tuyến bên ngoài. Được ra mắt vào ngày 11 tháng 4 năm 2008, trang web đã đạt một tỷ lượt xem vào tháng 12 năm 2011 và đã trở nên phổ biến trên các nền tảng mạng xã hội trực tuyến như Facebook, Twitter và Instagram. 9GAG thường xuyên cập nhật các bài báo, hình ảnh và video liên quan đến các chủ đề thời sự nóng hổi bằng phong cách hài hước độc đáo. Gần đây 9GAG hay sử dụng hình ảnh những chú chó mèo đáng yêu - một cách hiệu quả để giành được nhiều cảm tình và phản hồi tích cực từ khán giả.
1
null
là sê-ri anime truyền hình Nhật Bản được sản xuất bởi Studio Production I.G, được đạo diễn bởi  Naoyoshi Shiotani & Katsuyuki Motohiro, và viết kịch bản bởi Gen Urobuchi. Bộ phim anime được phát sóng trên chương trình Noitamina của đài truyền hình Fuji Television Network từ giữa 10/2012 và 03/2013. Cốt truyện lấy địa điểm ở một phản-không tưởng tương lai những người độc đoán, nơi mà các sensors (cảm biến) công cộng khắp mọi nơi liên tục quyét chỉ số Psycho-Pass của bất kỳ công dân trong một khoảng cách. Những sensors (cảm biến) đo trạng thái tinh thần, nhân cách, và những xác suất khi công dân có thể sẽ chuyển giao thành tội ác (tội phạm tiềm ẩn), những nhà chức trách cảnh báo khi một ai đó vượt quá ngưỡng quy tắc đã công nhận. Để thi hành lệnh, những sĩ quan Public Safety Bureau (Cục An Ninh Dân Sự) đem theo những vũ khí trao tay được gọi là khẩu Dominator. Cốt truyện đi theo Akane Tsunemori, Shinya Kogami, và những thành viên khác trong một đơn vị  Unit One thuộc Phòng Điều tra Hình Sự của Public Safety Bureau (Cục An Ninh), và những tội ác mà họ điều tra sử dụng khẩu Dominator. Psycho-Pass được hình thành từ sự quan tâm của Production I.G trong cách làm một người kế nghiệp những thành tựu của Oshii Mamoru. Bộ phim được lấy cảm hứng từ những phim live-action. Đạo diễn chính Katsuyuki Motohiro cố gắng thăm dò chủ đề tâm lý học trong tầng lớp trẻ tuổi trong xã hội dùng cốt truyện đen tối. Những thói quen cá nhân được sử dụng để tập trung vào cái phản-không tưởng với tuyến nhân vật sống bên trong. Phim được cấp phép cho Funimation tại Bắc Mỹ. Một mùa anime thứ hai đã được bắt đầu vào tháng 10 năm 2014, với một phim anime phát hành vào tháng 1 năm 2015. Một manga chuyển thể đã được tuần tự trên tạp chí Jump Square của Shueisha và một số novel, bao gồm một chuyển thể và các tiền truyện với cốt truyện gốc đã được công bố. Một chương đoạn chuyển thể video game được gọi là "Chimi Chara Psycho-Pass được phát triển bởi các nhân sự của" Nitroplus trong sự cộng tác với Production I.G. Những novel mới và manga khác đăng từng số vào năm 2014. Cốt truyện. Xây dựng Psycho-Pass được lên kế hoạch vào năm 2013. Hệ thống Sibyl (シビュラシステム "Shibyura Shisutemu"?) có hiệu lực đo lường những trạng thái tâm lý của người dân, nhân cách, và những xác suất của cá nhân có thể sẽ chuyển giao thành tội ác (tội phạm tiềm ẩn), sử dụng một "cymatic scan" (quyét sóng âm thanh - khoa học nghiên cứu âm thanh và sự rung động của nó) của bộ não. Những mức đánh giá kết quả được gọi là một Psycho-Pass (サイコパス "Saikopasu"?) hay hệ số tinh thần. Khi xác suất của một cá nhân trong mức chỉ số tội phạm chừng mực bởi Hệ Số Tội Phạm (Crime Coefficient, 犯罪係数 "Hanzaikeisū"?) biểu thị trội hơn một cấp độ cho phép trong một cá nhân, "thi hành viên" (Enforcer) hoặc "giám sát viên" (Inspector) sẽ truy kích, bắt giữ, và giết nếu cần thiết. Mạch truyện Cốt truyện tập trung phần lớn vào Akane Tsunemori, một "giám sát viên" mới của Unit One - một đơn vị sĩ quan từ Phòng Điều Tra Hình Sự (Criminal Investigation Division) của Cục An Ninh Dân Sự (Public Safety Bureau). Tsunemori truy tìm những kẻ phạm tội bên cạnh đội đặc biệt của cái gọi là những Tội Phạm Tiềm Ẩn (latent criminal) mang tên "Thi Hành Viên" (Enforcer). Những Giám Sát Viên và những Thi Hành Viên sử dụng những khẩu súng cầm tay lớn gọi là "Dominator" - những vũ khí đặc biệt được thiết kế chỉ để bắn những người có sự cao-hơn-mức chấp nhận Hệ Số Tội Phạm Tiềm Ẩn (Crime Coefficient). Akane đã xấu hổ việc Thi Hành Viên Shinya Kogami bị trúng đạn trong khi cô trải qua nhiệm vụ đầu tiên để bảo vệ một Tội Phạm Tiềm Ẩn. Shinya Kogami cảm ơn cô đã ngăn cản anh trở thành một kẻ giết người, cái thuyết phục Akane ở lại. Cô được kèm cặp bởi cựu thanh tra Nobuchika Ginoza, một người đàn ông nghiêm nghị - người đánh giá thấp các Thi Hành Viên. Tomomi Masaoka, một người đàn ông trung tuổi, người từng là thám tử. Shusei Kagari, một chàng trai trẻ tuổi thảnh thơi, đã là một tội phạm tiềm ẩn từ khi còn là một đứa trẻ. Và Yayoi Kunizuka, trước là một nhạc sĩ đã bị đảo ngược thành Tội Phạm Tiềm Ẩn sau khi bị chấn động ảnh hưởng từ một kẻ khủng bố. Trong lúc điều tra nghiên cứu đầu tiên của Akane, nhóm được biết về sự tồn tại của Shogo Makishima, một người có trí tuệ - kẻ chịu trách nhiệm cho nhiều tội ác. Hiện tại không thể xác định dấu hiệu phạm tội (Criminally Asymptomatic, 免罪体質 "Menzai Taishitsu"?), tâm lý tội phạm của Makishima luôn ở một Hệ Số Tội Phạm thấp (Crime Coefficient), làm anh ta an toàn khỏi Hệ thống Sibyl System và các khẩu Dominator. Những Giám Sát Viên và những Thi Hành Viên bắt đầu truy tìm Makishima, một kẻ đang cố gắng phá bỏ xã hội tạo bởi Hệ thống Sibyl System. Để làm được điều này, anh ta gây ra cuộc náo loạn ở một thành phố để kéo cảnh sát chạy xa khỏi tòa tháp của Bộ Sứ Khỏe và Hạnh Phúc một cách tài tình khéo léo, nơi Sibyl System được đặt. Akane và Kogami ngăn chặn ảnh hưởng tác động của Makishima trong khi Thi Hành Viên Shūsei Kagari lần dấu một người trong đồng minh của Makishima đến tòa tháp - nơi người đứng đầu Cục An Ninh Joshu Kasei giết chết đồng minh của Makishima và Kagari để giữ hình thái thật của Sibyl như một bí mật. Kasei nói với Makishima rằng Sibyl là một hivemind (tập hợp lý trí) của những cá thể không có dấu hiệu tội phạm tương tự và mong muốn anh tham gia Hệ thống Sibyl nhưng Makishima trốn thoát. Hiểu rõ sự thật đằng sau việc trốn thoát của Makishima, Kogami rời nhóm để giết anh ta. Akane sau đó trực tiếp được tiếp xúc với Sibyl system, nơi ra lệnh cô truy bắt sống Makishima. Cô đồng ý thực hiện dựa trên một điều kiện rằng họ phải rút lại lệnh hành hình với Kogami. Kiến thức hiểu biết mà Makishima đã lên kế hoạch giao thác cuộc khủng bố sinh học để làm suy yếu nền kinh tế Nhật Bản và làm cho Hệ thống Sibyl System bị hạ thấp dần, Phòng điều tra nghiên cứu kẻ phạm tội tìm kiếm cả hai Makishima và Kogami. Tại địa điểm đó, Makishima thử giết chết Ginoza nhưng Masaoka đã cứu cuộc sống của anh (con trai) để cứu vớt mình. Mặc những cố gắng của Akane, Kogami giết chết Makishima và bạn đồng chí xưa của ngày trước không bao giờ nhìn thấy anh ấy lại lần nữa. Trong mùa anime thứ hai, Akane bây giờ là trưởng nhóm của một Unit One khôi phục lại, bao gồm một Giám Sát Viên mới Mika Shimotsuki. Ginoza, người bị giáng cấp thành Thi Hành Viên. Yayoi và hai Thi Hành Viên Sakuya Togane cùng Sho Hinakawa. Gương mặt đe dọa trong hình thể mới đến từ Kirito Kamui, một tội phạm có trí tuệ, người khá giống Shogo có ý định phá hỏng Sybil System bằng cách khai thác, thay vào những thiếu sót của nó sự tàn phá. Sự lành nghề trong việc tránh xa tất cả các hình thể dò ra và có khả năng giúp đỡ những người ủng hộ anh để giữ Hệ Số Tội Phạm của họ thấp, chỉ một vài tin rằng anh thực sự tồn tại,bao gồm cả Akane. Sản xuất. Bộ phim được chỉ đạo bởi Naoyoshi Shiotani, viết kịch bản bởi Gen Urobuchi, và mô tả thiết kế nhân vật bởi Akira Amano. Nó xuất sắc khi Kana Hanazawa vào vai Akane Tsunemori, Tomokazu Seki vào vai Shinya Kogami và Takahiro Sakurai vai Shogo Makishima. Nguyên gốc "Psycho-Pass" từ sự quan tâm của Production I.G trong cách làm một người kế nghiệp những thành tựu Ghost in the Shell "và Patlabor" của Oshii Mamoru, công ty đã thuê Katsuyuki Motohiro - người phù hợp đạo diễn chỉ đạo series - và người kỳ cựu I.G họa sĩ hoạt họa Naoyoshi Shiotani giám sát hướng dẫn. Motohiro được yêu cầu trở lại để làm anime sau một gián đoạn dài nhưng ông ấy cần một người viết kịch bản thuyết phục, lôi cuốn. Motohiro và dàn nhân sự của ông ngạc nhiên với đóng góp của Urobuchi Gen về series anime "Puella Magi Madoka Magica". Motohiro bị thôi miên bởi "Madoka Magica, ông đọc các sản phẩm khác từ" Urobuchi, cái đã thuyết phục ông nói chuyện với Urobuchi. Đầu mùa năm 2011, Motohiro đề nghị Urobuchi rằng cộng tác để làm việc cùng nhau. Ban đầu của việc làm bộ phim anime, Motohiro nói với Naoyoshi Shiotani không muốn làm bất cứ điều gì không thể vào một live-action. Trước khi công việc trên "Psycho-Pass" đã bắt đầu, Shiotani đang bận rộn với phim "Blood-C: The Last Dark". Ngay khi công việc của ông với bộ phim kết thúc, Shiotani được tập trung vào chất lượng series Psycho-Pass. Sau tập 16, điều đó chứng minh thử thách lớn nhất và phổ biến nhất của Series, đội ngũ thành lập "out of stamina" (ngoài sức chịu đựng) của chính họ. Hai tập tiếp theo được làm bởi một đội bên ngoài, được phản ánh trong những vấn đề với animation. Trong phản ứng lại điều đó, người sản xuất của những tập đó nói rằng trong khi ông đã chờ đợi nhiều vấn đề, ông đã làm nó tốt nhất mà ông có thể. Shiotani cũng đã xin lỗi về chất lượng của tập phim. Đội ngũ ban đầu đã tiếp tục làm từ tập 19 đến khi kết thúc. Họ đã quyết định làm lại tập 17 và tập 18 cho việc bán phát hành của họ. Bộ phim được công bố lần đầu muộn vào tháng 3/2012 bởi Fuji TV tại hội nghị thúc ép Noitamina của nó. Tháng 3/2013, Shiotani đã phát biểu ở đó có thể có một mùa anime thứ hai nếu bộ phim đón nhận rộng rãi đủ để ủng hộ. Một phát triển của mùa anime thứ hai đã bắt đầu, Shiotani nói những tập mới nhiều khó khăn hơn để làm tốt những thứ trong mùa anime đầu tiên. Ông nói " nó sẽ có nhiều thứ hơn tính cứng rắn của phim" bởi vì đội ngũ có tính kiên định vững vàng. Đối với mùa thứ hai Tow Ubukata thay thế Urobuchi người viết chính. Ubukata đề cập việc ông có xu hướng ý tưởng mở rộng cách xây dựng hình thức của phần tiếp theo. Như một kết quả đưa ra kịch bản của bộ phim anime truyền hình và phim, Ubukata đã phải viết tính cách của các nhân vật. Mặc dù thời gian để sản xuất ngắn ngủi, ông vẫn có thời gian để thảo luận với đội ngũ nhân sự series mùa đầu tiên. Shiotani hỗ trợ đội nhóm cho tập cuối, điều Ubukata hài lòng. Thiết kế Sau khi nghe bình luận từ phía Atsuko Ishizuka, đạo diễn của phim The Pet Girl of Sakurasou, xung quanh phương diện tuyến nhân vật được thiết kế lần đầu. Shiotani hiểu rõ khi nó đối diện với đội nhóm của ông. Truyền thông. Anime. Bản anime chuyển thể của "Psycho-Pass" được thực hiện bởi xưởng phim Production I.G. sau đó phát sóng trên Noitamina của kênh Fuji TV từ 12 tháng 10 năm 2012 đến 22 tháng 3 năm 2013. Toho cũng bắt đầu phát hành bản đĩa DVD và Blu-ray từ 21 tháng 12 năm 2012. Funimation mua bản quyền và công chiếu bản tiếng Anh trực tuyến trên trang web của hãng Tại Vương Quốc Anh, anime được Manga Entertainment cấp phép và phát hành tại Úc bởi Madman Entertainment. Vào ngày 6 tháng 7 năm 2013, giám đốc xưởng Production I.G. Là Ishikawa Mitsuhisa xác nhận tại Anime Expo mùa hai của anime hiện nằm trong quá tình sản xuất. Sau khi hoàn thành, mùa hai được phát sóng với tên "Psycho-Pass 2" vào tháng 10 năm 2014, kèm theo đó là một bản phim dài chuyển thể công chiếu vào đầu 2015. Tập bốn của mùa hai bị hoãn lại do có cảnh giống với một vụ giết người ngoài đời tại Nhật Bản xảy ra cùng thời điểm. Đạo diễn Shiotani Naoyoshi bày tỏ lời xin lỗi trên Twitter của ông, tuy nhiên Funimation lại phát sóng tập bị hoãn này. Mùa hai cũng được đóng gói thành một hộp đĩa Blu-ray vào tháng 10 năm 2014. Mùa ba phát sóng trên Noitamina của Fuji TV từ ngày 24 tháng 10 năm 2019 đến 12 tháng 12 cùng năm, Amazon phát trực tuyến mùa này cả trong và ngoài Nhật Bản trên dịch vụ Prime Video của công ty. Đội ngũ cũ của hai mùa trước trở lại sản xuất. Vào 12 tháng 6 năm 2015, Bộ Văn hóa của Trung Quốc từ chối nhập "Psycho-Pass" cùng 38 tựa anime và manga vào nước, Bộ đánh giá anime "chứa các cảnh bạo lực, khiêu dâm, khủng bố và tội ác chống đạo đức có thể kích thích trẻ vị thành niên thực hiện các hành vi này". Phim. Vào tháng 9 năm 2013, trang mạng chính thức của Noitamina cho biết mùa hai và một phim dài chiếu rạp "" sắp được công chiếu. Phim được đặt giới hạn độ tuổi 15+ do chứa cảnh bạo lực mạnh và những màn tra tấn cơ thể. Khởi chiếu từ 9 tháng 1 măm 2015, do Shiotani Naoyoshi đạo diễn và Urobuchi cùng Fukami soạn kịch bản. Đầu năm 2016, Funimation phát hành bản lồng tiếng Anh của ohim và khởi chiếu tại 600 rạp ở Hoa Kỳ và Canada. Bài hát chủ đề thực hiện bởi Ling Tosite Sigure. Vào tháng 3 năm 2018, trong một livestream của Fuji TV thông báo bản chiếu rạp thứ hai gồm ba phần phim tên "". Phần đầu tiên tên , khởi chiếu lần lượt vào năm 2019 là ngày 25 tháng 1, phần thứ hai "Case.2 First Guardian" vào 15 tháng 2 và phần thứ ba "Case.3 Onshū no Kanata ni" vào 3 tháng 8. Shiotani Naoyoshi và Kanno Yugo trở lại với vai trò đạo diện và nhà soạn nhạc. Yoshigami Ryō viết phần kịch bản cùng Fukami. Production I.G sản xuất và Toho phân phối. Sau mùa thứ ba, "Psycho-Pass" nhận thêm bản phim dài chiếu rạp tên "", được sản xuất bởi đội ngũ cũ và công chiếu vào 27 tháng 3 năm 2020. Manga. Bản manga của phim do họa sĩ Miyoshi Hikaruk minh họa tên , đăng tuần tự trên tạp chí "Jump Square" của nhà xuất bản Shueisha từ ngày 2 tháng 11 năm 2012. Tập "tankōbon" đầu tiên chính thức phát hành vào tháng 2 năm 2013. Vào tháng 11 năm 2013, tính lúc này bộ truyện có đến ba tập truyện và bán được tổng cộng 380.00 bản tại Nhật Bản, con số này tăng lên một triệu vào cuối năm 2014. Một manga khác tên minh họa bởi Sai Natsuo và do Gotou Midori sàn tác, bắt đầu xuất bản trên tạp chí "Monthly Comic Blade" của Mag Garden kể từ 30 tháng 6 năm 2014. Dark Horse Comics mua bản quyền và phát bản tiếng Anh của bộ truyện này vào tháng 11 năm 2016. Light novel. Một phiên bản tiểu thuyết do Fukami Makoto chấp bút được Mag Garden phát hành thành hai tập trong ngày 4 tháng 2 và 4 tháng 4, 2013. Một tiểu tuyết tiền truyện tiếp theo có tên viết bởi Takaba Aya, trước khi tiểu thuyết này được phát hành in ấn, nó được xuất bản trong mục "Noitamina Novel" trên trang mạng của Noitamina. Một tiểu thuyết khác đề cập về bốn nhân vật trong phim do Yoshigami Ryō chấp bút được xuất bản vào số tháng 8 tạp chí "S-F Magazine" của Hayakawa Publishing vào 25 tháng 6 năm 2014, sau này Hayakawa Bunko JA xuất bản dạng in ấn vào tháng 10. Hayakawa Bunko JA cũng phát hành cuốn "Psycho Pass Genesis" vào cuối năm 2014. Trò chơi điện tử. Vào tháng 5 năm 2014, 5pb. phát triển một trò chơi điện tử dựa trên bản phim tên "Psycho-Pass: Mandatory Happiness" phát hành cho hệ máy Xbox One, PlayStation Vita và PlayStation 4 vào tháng 12 năm 2015. Trò chơi lấy bối cảnh câu chuyện viết bởi Urobuchi, dựa theo sáu tập đầu anime mùa một và một nhóm nhân vật chính đối đầu kẻ thù trên một hòn đảo hẻo lánh. NIS America đã phát hành bản tiếng Anh của "Psycho-Pass: Mandatory Happiness" cho PlayStation 4, PlayStation Vita và PC thông qua cửa hàng Steam vào 13 tháng 11 năm 2016 Tại Bắc Mỹ vài 16 tháng 9 cùng năm tại Châu Âu.
1
null
Chìa vôi Nhật Bản, tên khoa học Motacilla grandis, là một loài chim trong họ Motacillidae. Loài này sinh sản ở Nhật Bản và Triều Tiên. Chim chìa vôi Nhật Bản lang thang đã được ghi nhận tại Đài Loan, miền đông Trung Quốc và xa đông Nga. Tại Nhật Bản, loài này phổ biến chung về phía bắc từ Kyushu, nhưng không phổ biến ở miền Bắc và miền Trung Hokkaido. Nó sinh sản gần nơi sống của con người ở nông thôn đồi núi. Chúa ưa thích mép nước trên các dòng sông, ao, và các hồ nội địa có đáy sỏi.
1
null
Hành chính Việt Nam thời An Dương Vương phản ánh bộ máy chính quyền từ trung ương tới địa phương của Việt Nam thời An Dương Vương trong lịch sử Việt Nam. Chính quyền trung ương. An Dương Vương lấy quốc hiệu là Âu Lạc. Đây là nhà nước đầu tiên được xây dựng với 2 thành phần chủng tộc Âu Việt và Lạc Việt, lãnh thổ từ phía nam Quảng Tây tới Hoành Sơn thuộc Trung Bộ Việt Nam hiện nay. Biên giới phía tây thì khó xác định rõ ràng, khoảng miền thượng lưu sông Đà, sông Mã, sông Chu, sông Lam hiện nay. Kinh đô Âu Lạc ở Tây Vu (sau là Phong Khê), tức là Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội hiện nay). Sử sách không ghi chép về cách thức tổ chức bộ máy chính quyền trung ương thời An Dương Vương, không rõ tổ chức ra sao. Chính quyền địa phương. Các bộ sử cổ Việt Nam đều không ghi chép về các địa danh hành chính của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương. Sử gia Đào Duy Anh căn cứ theo những ghi chép của thời Triệu và thời thuộc Hán sau này về việc các chính quyền người Hán vẫn duy trì chế độ Lạc tướng của người Lạc Việt tự cai quản trong bộ lạc, xác định rằng việc nhà Hán chia các huyện của vùng đất Âu Lạc cổ là dựa trên cơ sở lãnh địa của các bộ lạc người Việt cũ. Căn cứ theo các huyện thời thuộc Hán thì các bộ lạc thời An Dương Vương gồm có:
1
null
Địa lý nhân văn là một trong 2 phân ngành của địa lý. Địa lý nhân văn là một nhánh của khoa học xã hội nghiên cứu về thế giới, con người, cộng đồng và văn hóa có sự nhấn mạnh mối liên hệ của không gian và vị trí địa lý. Địa lý nhân văn khác với địa lý tự nhiên chủ yếu tập trung nhiều vào nghiên cứu các hoạt động của con người và dễ tiếp thu các phương pháp nghiên cứu định lượng hơn. Các lĩnh vực của địa lý nhân văn gồm:
1
null
Giải cứu binh nhì Ryan (tựa tiếng Anh: Saving Private Ryan) là một bộ phim chiến tranh sử thi của Mỹ năm 1998 do Steven Spielberg đạo diễn và được biên kịch bởi Robert Rodat. Lấy bối cảnh ở Cuộc tấn công bờ biển Normandy trong Thế chiến II, bộ phim được biết đến nhờ những hình ảnh khốc liệt của chiến tranh trong 27 phút mở đầu, nói về cuộc tấn công ở bãi biển Omaha trong trận Normandy. Bộ phim theo chân Đại úy John H. Miller (Tom Hanks) và đội của anh (Tom Sizemore, Edward Burns, Barry Pepper, Giovanni Ribisi, Vin Diesel, Adam Goldberg và Jeremy Davies) khi họ tìm kiếm một người lính nhảy dù, Binh nhất James Francis Ryan (Matt Damon), người đã có ba anh trai bị giết trong chiến tranh. Bộ phim đánh dấu sự hợp tác giữa DreamWorks Pictures, Paramount Pictures, Amblin Entertainment và Mutual Film Company, được DreamWorks phân phối ở Bắc Mỹ và Paramount phát hành ở thị trường quốc tế. Nhà sản xuất Mark Gordon đã đưa ra ý tưởng của Rodat, được lấy cảm hứng từ anh em nhà Niland, cho Paramount Pictures vào năm 1996. Spielberg, người thành lập DreamWorks Pictures, đã tham gia chỉ đạo dự án và cả DreamWorks và Paramount cùng bắt tay sản xuất và phát hành bộ phim. Sau khi các diễn viên trải qua khóa đào tạo được giám sát bởi cựu chiến binh hải quân Dale Dye, bộ phim đã bắt đầu bấm máy vào tháng 6 năm 1997 và kéo dài hai tháng. Những cảnh quay Ngày D của tác phẩm được quay ở bãi biển Omaha, Curracloe Strand, Ballinesker, ngay phía đông của Curracloe, County Wexford, Ireland và sử dụng các thành viên quân dự bị thuộc Quân đội Ireland làm lính bộ binh cho phân đoạn cuộc đổ bộ Normandy. Sau khi công chiếu vào ngày 24 tháng 7 năm 1998, tác phẩm đã nhận về vô vàn lời tán dương từ các nhà phê bình và khán giả vì diễn xuất của các diễn viên (đặc biệt là Hanks), chủ nghĩa hiện thực, phần hiệu ứng, nhạc nền, kịch bản và lối chỉ đạo của Spielberg, đồng thời còn được đưa vào danh sách mười tác phẩm điện ảnh hay nhất năm 1998. Đây là một thành công phòng vé, thu về 216,8 triệu USD trong nội địa, khiến nó trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất năm 1998 tại Hoa Kỳ, và cao thứ hai trên toàn thế giới với doanh thu 480,8 triệu USD. "Giải cứu binh nhì Ryan" cũng đã thu về 44 triệu USD từ việc phát hành trên các băng video gia đình vào tháng 5 năm 1999. Bộ phim đã giành được nhiều giải thưởng, bao gồm Phim chính kịch hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải Quả cầu vàng, Hiệp hội các nhà sản xuất phim Hoa Kỳ, Hiệp hội đạo diễn Hoa Kỳ và Giải Lựa chọn của giới phê bình điện ảnh. Phim cũng được đề cử mười một hạng mục tại lễ trao giải Oscar lần thứ 71, và đã chiến thắng năm hạng mục, trong đó có Đạo diễn xuất sắc thứ hai cho Spielberg, Dựng phim xuất sắc nhất, Quay phim xuất sắc, Hòa âm hay nhất và Biên tập âm xuất sắc nhất, mặc dù đã để thua giải Oscar cho phim hay nhất vào tay "Shakespeare in Love". Đây cũng là một trong những đợt trao giải Oscar gây tranh cãi nhất cho đến thời điểm hiện tại. Kể từ khi phát hành, "Giải cứu binh nhì Ryan" đã được ca ngợi như một trong những bộ phim có ảnh hưởng nhất trong thể loại phim chiến tranh. Nó đã trở thành hình mẫu cho các bộ phim và trò chơi Thế chiến II sau này. Năm 2007, "Giải cứu binh nhì Ryan" được xếp hạng là phim thứ 71 trong Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ. Năm 2014, bộ phim đã được Viện lưu trữ phim quốc gia lưu giữ trong Thư viện Quốc hội, được xem là"có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử và thẩm mỹ". Nội dung. Bộ phim lấy bối cảnh chiến tranh thế giới thứ II,vào ngày 6 tháng 6 năm 1944, quân đội Mỹ đổ bộ vào bờ biển Normandy trước sự kháng cự dữ dội của quân đội Đức. Xác lính Mỹ nằm đầy trên bãi biển, không ai có thể dám tiến lên bờ biển.Trước tình hình đó, Đại úy John H. Miller dẫn binh lính của ông ta chạy qua các lô cốt và giết nhiều lính Đức, mở đường cho quân Mỹ chiếm bờ biển. Nhờ thế quân Mỹ nhanh chóng kiểm soát được bờ biển trong tay. Ở Washington DC, Tướng quân George Marshall nhận được báo cáo rằng ba người trong số bốn anh em nhà Ryan đều tử trận trên chiến trường và mẹ của họ cũng nhận được bức điện tín tương tự như vậy. Cảm động trước hoàn cảnh nhà Ryan, Đại tướng Marshall ra lệnh một đội lính Mỹ đi tìm người con trai út James Francis Ryan về. Đội của Đại úy Miller là đội nhận lệnh tìm Ryan, ông ta dẫn bảy người lính đi theo là: Horvath, Reiben, Jackson, Mellish, Caparzo, Wade và Upham. Đội của Miller chỉ biết Ryan thuộc Sư đoàn Không vận 101, anh ta nhảy dù lạc đâu đó ở Normandy chứ họ không biết chính xác anh ta lạc ở đâu. Đến vùng ngoại ô Neuville, Caparzo bị lính bắn tỉa Đức bắn và sau đó tên Đức cũng bị Jackson bắn lại. Sau đó, đội của Miller gặp nhóm lính dù từ Sư đoàn Không vận 101 do Đại úy Fred Hamill chỉ huy. Miller thấy một Binh nhì Ryan nhưng thực ra anh này là James Frederick Ryan chứ không phải James Francis Ryan. Miller cùng binh lính tiếp tục đi tìm James Francis Ryan, họ đến Vierville, nơi đây rất đông lính Mỹ, có người cho Miller biết đội của Ryan đang làm nhiệm vụ bảo vệ cây cầu ở Ramelle. Trên đường đến Ramelle, đội của Miller tiêu diệt một tổ súng máy Đức, Wade phải hi sinh do bị súng máy bắn trúng. Tên tù binh biệt danh Steamboat Willie van xin Miller tha mạng cho hắn, Miller lấy khăn bịt mắt Steamboat Willie lại rồi bắt hắn bước đi 1000 bước chân mới được tháo khăn ra. Reiben chứng kiến cái chết của hai đồng đội nên anh ta cảm thấy khó chịu và có ý định đào ngũ, Horvath đã cản Reiben lại, Reiben miễn cưỡng ở lại đội. Cuối cùng, đội của Miller tìm được Ryan khi họ đến Ramelle. Mặc dù Miller có kể Ryan nghe chuyện ba người anh của Ryan đều chết nhưng Ryan vẫn không chịu về, anh ta không muốn bỏ những đồng đội khác. Miller và binh lính của ông quyết định ở lại bảo vệ cây cầu giúp đội của Ryan. Tất cả lính Mỹ chuẩn bị đạn dược, súng máy, bom mìn để phục kích quân Đức. Một lúc sau, quân Đức đến nơi, chúng có năm mươi lính bộ binh đi chung với hai xe tăng Tiger, hai pháo tự hành Marder. Trận đánh bắt đầu diễn ra, quân Mỹ - quân Đức bắn giết nhau ác liệt, Miller cho lính bảo vệ Ryan bằng mọi giá. Quân Mỹ tiêu diệt một chiếc xe tăng, hai khẩu pháo và gần hết lính Đức, nhưng chúng lại kéo thêm lính đến, trong đó có cả Steamboat Willie. Lính Mỹ rút về bên kia cây cầu, Steamboat Willie bắn Miller đúng lúc ông tính cho nổ tung cây cầu. Chiếc xe tăng Tiger còn lại đang qua cầu thì bị máy bay P-51 Mustang của Mỹ bay ngang bắn nổ, lúc đó xe tăng Sherman cũng như rất nhiều lính Mỹ khác xuất hiện. Quân Đức sợ hãi bỏ chạy, Upham chạy ra bắn chết Steamboat Willie để trả thù cho Miller. Sau trận đánh này thì Horvath, Jackson, Mellish và Miller hi sinh; ba người duy nhất sống sót là Upham, Reiben và Ryan. Trước khi chết Miller có dặn Ryan sau này ráng sống tốt để không uổng công cả đội ông hi sinh vì anh ta. Nhiều năm sau, Ryan, lúc này đã già, đi đến nghĩa trang liệt sĩ cùng với vợ và con cháu. Sau một hồi lâu đứng trước mộ của Đại úy Miller, Ryan hỏi vợ rằng ông có sống tốt như lời dặn của đại úy Miller hay không, và bà ấy nói có. Tiếp nhận. Doanh thu. "Giải cứu binh nhì Ryan" đã được phát hành tại 2.463 rạp vào ngày 24 tháng 7 năm 1998 và thu về 30,5 triệu USD vào cuối tuần công chiếu, đứng ở vị trí số một và vẫn tiếp tục dẫn đầu trong bốn tuần tiếp theo cho đến khi bị "Blade" vượt mặt trong tuần thứ năm phát hành. Bộ phim đã thu về 216,5 triệu USD ở Mỹ và Canada và 265,3 triệu USD ở các lãnh thổ khác, nâng tổng doanh thu trên toàn thế giới lên đến 480,8 triệu USD. Đây là bộ phim Hoa Kỳ có doanh thu cao nhất năm 1998, trong khi "Armageddon" lại là bộ phim có doanh thu cao nhất năm 1998 trên toàn thế giới. Box Office Mojo ước tính rằng bộ phim đã bán được hơn 45,74 triệu vé tại Hoa Kỳ và Canada. Phản hồi. "Giải cứu binh nhì Ryan" đã nhận được sự tán dương từ các nhà phê bình và khán giả; phần lớn lời khen ngợi đều dành cho đạo diễn Spielberg, những cảnh chiến đấu chân thật, diễn xuất của các diễn viên, phần âm nhạc của John Williams, kỹ xảo hình ảnh, biên tập và kịch bản phim. Trên hệ thống tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes, bộ phim nhận được 'được chứng nhận tươi' là 93% dựa trên 139 đánh giá với điểm trung bình là 8,64/10. Sự đồng thuận nêu rõ"Với diễn xuất tuyệt vời của Tom Hanks, bộ phim chiến tranh thực tế của Steven Spielberg hầu như định nghĩa lại thể loại này". Bộ phim cũng có số điểm 91 trên 100 trên trang Metacritic dựa trên 35 bài phê bình. Nhiều hiệp hội phê bình, như Hội phê bình phim New York và Hiệp hội phê bình phim Los Angeles, đã chọn "Giải cứ binh nhì Ryan" là"Bộ phim của năm". Roger Ebert đã cho bộ phim bốn trên bốn sao và gọi đó là"một trải nghiệm tuyệt vời". Janet Maslin của Thời báo New York gọi đó là"bộ phim chiến tranh hay nhất mọi thời đại của chúng ta."Gene Siskel, nói rằng bộ phim"hoàn thành điều mà tôi được dạy là khó khăn nhất khi làm một bộ phim hành động phản chiến hay, ít nhất, một bộ phim không bằng cách nào đó tôn vinh hoặc làm trái sự thật về cuộc chiến". Giải thưởng. Bộ phim gặt hái được mười một đề cử tại tại Giải Oscar lần thứ 71, bao gồm Phim hay nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Tom Hanks và Kịch bản gốc xuất sắc nhất. Bộ phim sau đó đã chiến thắng năm hạng mục, bao gồm Quay phim xuất sắc nhất, Hòa âm hay nhất, Biên tập âm thanh xuất sắc nhất, Dựng phim xuất sắc nhất, và Đạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg; đây cũng là chiến thắng thứ hai của ông trong hạng mục đó. "Giải cứu binh nhì Ryan" đã để lọt giải Phim hay nhất vào tay "Shakespeare in Love", là một trong số ít bộ phim giành được giải Đạo diễn xuất sắc nhất mà không giành giải Phim hay nhất. Quyết định của Viện hàn lâm đã dẫn đến một làn sóng chỉ trích trong những năm gần đây, và nhiều người coi đây là một trong những buổi lễ gây tranh cãi nhất. Trong một cuộc thăm dò vào năm 2015, các thành viên của Viện hàn lâm nói rằng, nếu có cơ hội thứ hai, họ sẽ trao giải Oscar cho Phim hay nhất cho "Giải cứu binh nhì Ryan".
1
null
Ngư học (từ tiếng Hy Lạp: ἰχθύς, ikhthus, "cá" và λόγος, biểu tượng, "nghiên cứu") là một nhánh của động vật học nghiên cứu về cá. Đối tượng bao gồm cá xương (Osteichthyes), cá sụn (Chondrichthyes), và cá không hàm (Agnatha). Trong khi một số lượng lớn các loài đã được phát hiện và mô tả, khoảng 250 loài mới được chính thức được khoa học khoa học miêu tả mỗi năm. Theo FishBase, 32.200 loài cá đã được mô tả đến tháng 3 năm 2012. Số loài cá còn nhiều hơn tổng số các loài động vật có xương sống khác như: động vật có vú, động vật lưỡng cư, bò sát và các loài chim.
1
null
Cộng hoà Morac-Songhrati-Meads là một vi quốc gia do đại tá hải quân người Anh James George Meads lập ra vào thập niên 1870 tại khu vực quần đảo Trường Sa. Lịch sử. Lịch sử của nước "Cộng hòa Morac-Songhrati-Meads" khởi đầu từ thập niên 1870 khi đại tá Meads khám phá Biển Đông và tuyên bố rằng mình có quyền đối với quần đảo (bất chấp các tuyên bố chủ quyền trước đó của các quốc gia khác). Con cháu của Meads tiếp tục thừa nhận tính hợp pháp của tuyên bố trên và quyền sở hữu đối với các nguồn tài nguyên của đảo. Vương quốc Nhân Đạo. Năm 1914, con trai của James George Meads là Franklin M. Meads lập ra một thực thể đối địch khác với tên gọi "Vương quốc Nhân Đạo". Hai phe nhóm này tiếp tục chiếm cứ một số đảo cho đến khi bị lực lượng Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai đuổi đi. Sau cái chết của Franklin vào năm 1945, con trai của ông là Josiah lên nắm quyền lãnh đạo nhưng chưa được bao lâu thì cũng thiệt mạng. Con trai thứ là Morton F. Meads lên nối ngôi nhưng còn rất nhỏ tuổi. Năm 1963, vương quốc Nhân Đạo tái thống nhất với nước cộng hòa. Nỗ lực pháp lý để được công nhận. Trong thập kỉ tiếp theo, cộng hoà này hầu như chìm vào quên lãng và chỉ trở lại vào năm 1972 khi nhà lãnh đạo Morton Meads thất bại trong việc thỉnh cầu Liên Hợp Quốc, Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Dân Quốc) và Philippines công nhận vương quốc của ông và các tuyên bố chủ quyền liên quan. Về sau, gần như toàn bộ nhóm lãnh đạo của vương quốc này chết đuối trong một vụ đắm tàu, trừ Meads. Năm 1985, một lần nữa Meads lại tái xuất trước công luận khi ông này kiện Hoa Kỳ và các nước khác để đòi món tiền trị giá 25 tỉ đô la do phải chịu đựng "sự cạnh tranh không công bằng, sự quấy rối, sự phá hoại". Đơn kiện này bị bỏ qua.
1
null
Chìa vôi Mê Kông (danh pháp khoa học: Motacilla samveasnae) là một loài chim thuộc họ Chìa vôi ("Motacillidae").. Danh pháp của loài được đặt tên theo nhà điểu học Campuchia Sam Veasna. Loài này sinh sản ở Campuchia, Lào. Đây là loài đến Thái Lan nhưng không sinh sản ở đó và cũng hiện diện ở Việt Nam.
1
null
Quốc lộ 91C (tiền thân là tỉnh lộ 956) là một tuyến đường chạy hoàn toàn trên địa bàn tỉnh An Giang với tổng chiều dài là 35,5 km. Tuyến đường có điểm đầu kết nối với quốc lộ 91 tại lý trình Km117+000 thuộc địa bàn thành phố Châu Đốc và điểm cuối tại cửa khẩu Khánh Bình thuộc thị trấn Long Bình, huyện An Phú. Ngoài ra, tuyến đường còn kết nối với tuyến quốc lộ 21 của Campuchia. Hiện nay, quốc lộ 91C cùng với tỉnh lộ 957 là hai tuyến giao thông chính trên địa bàn huyện An Phú.
1
null
Sân bay Hang Nadim là một sân bay ở Batam, quần đảo Riau, Indonesia. Sân bay được đặt tên theo Laksamara Hang Nadim và có đường băng dài hơn 4000 m, ban đầu được xây để làm dự bị cho sân bay Changi của Singapore trong trường hợp hạ cánh khẩn cấp. Tuy nhiên sân bay Changi đã được đầu tư phát triển, trong khu vực tam giác tăng trưởng Sijori có 5 sân bay lớn sân bay quốc tế Senai ở Johor Bahru, sân bay Raja Haji Fisabilillah ở Tanjung Pinang, đảo Bintan và sân bay Seletar.
1
null
Chìa vôi Madagascar (danh pháp hai phần: Motacilla flaviventris) là một loài chim trong họ Chìa vôi. Đây là loài đặc hữu của Madagascar. Môi trường sinh sống tự nhiên của nó là sông và thảo nguyên đất thấp ngập nước hay ẩm ướt theo mùa nhiệt đới và cận nhiệt đới.
1
null
Chim mò ốc Mỹ (danh pháp hai phần: "Haematopus palliatus") là một loài chim trong họ Haematopodidae. Loài chim này có lông thân màu đen và trắng và mỏ màu cam dày và dài. Loài chim này dài khoảng 42 – 52 cm. Loài này có ở bờ biển Đại Tây Dương của Bắc Mỹ từ New England đến bắc Florida, nơi nó cũng được tìm thấy ở vịnh Mexico, và phía nam đến bắc Nam Mỹ. Nó cũng được tìm thấy ở bờ Thái Bình Dương của México, Trung Mỹ và miền bắc Nam Mỹ. Trong thế kỷ 19, chúng đã trở thành tuyệt chủng cục bộ ở phía đông bắc do hoạt động săn bắn phục vụ thị trường và nhặt trứng. Sau khi nhận được bảo hộ theo Đạo luật hiệp ước chim di cư, phạm vi phân bố của chúng mở rộng về phía Bắc để tái chiếm lĩnh môi trường sống lịch sử ở New England. Chim mò sò Mỹ gắn chặt với môi trường sống ven biển. Chúng làm tổ trên các bãi biển trên các đảo ven biển và ăn động vật không xương sống biển. Mỏ nặng lớn, được sử dụng để dò vỏ ốc mở của động vật thân mềm. Chim mò sò Mỹ đẻ một tổ hai hoặc ba quả trứng. Vào mùa đông, chúng được tìm thấy trong đàn dọc theo bờ biển từ trung tâm New Jersey đến vịnh Mexico.
1
null
Sân bay Seletar là một sân bay ở Seletar, Singapore. Sân bay hoàn thành năm 1928. Đây là sân bay quốc tế đầu tiên của Singapore. Sân bay thuộc quản lý của Tập đoàn Changi. Đã có đề xuất kéo dài đường băng từ 1826 lên 2000m để phục vụ cho hàng không giá rẻ nhưng sân bay Changi đã có nhà ga dành cho hàng không giá rẻ.
1
null
Dãy núi Quặng (, , cả hai đều có nghĩa đen là dãy núi quặng) tại Trung Âu từng là biên giới tự nhiên giữa Sachsen và Bohemia trong khoảng 800 năm, từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 20. Ngày nay, biên giới giữa Đức và Cộng hòa Séc chạy ngay phía bắc đỉnh chính của dãy núi. Các đỉnh cao nhất là Klínovec (tiếng Đức:"Keilberg"), cao trên mực nước biển và Fichtelberg (). Khu vực này có vai trò quan trọng trong việc đóng góp nguồn quặng thời kỳ đồ đồng và như là nền tảng cơ sở của những giai đoạn quá độ ban đầu của khai mỏ và luyện kim từ thủ công sang công nghiệp quy mô lớn tại châu Âu, một quá trình mở đường cho sự phát triển của cách mạng công nghiệp sau này.
1
null
Saint Helier (; tiếng Pháp: "Saint-Hélier" , Jèrriais: "Saint Hélyi") là một trong 12 giáo xứ hành chính của Jersey, bộ phận lớn nhất của Quần đảo Eo Biển tại eo biển Manche. St. Helier có dân số khoảng 28.000, tức khoảng 31,2% tổng dân số của Jersey, và là thủ phủ của hòn đảo (mặc dù tòa nhà chính quyền nằm ở St. Saviour). Khu vực đô thị của giáo xứ St. Helier tạo thành đô thị lớn nhất Jersey, song một số khu vực của đô thị này nằm trên địa phận của giáo xứ St. Saviour kế cận, với các vùng ngoại ô trải dài đến St. Lawrence và St. Clement. Phần lớn St. Helier chủ yếu là nông thôn. Giáo xứ có diện tích , tức 9% tổng diện tích của đảo (bao gồm diện tích đất cải tạo là hay 200 ha).
1
null
Saint Peter Port là thủ phủ của Guernsey và cũng là cảng chính của đảo. Dân số vào năm 2001 là 16.488 người. Trong tiếng Guernésiais và trong tiếng Pháp, ngôn ngữ lịch sử và chính thức của Guernsey, tên của thị trấn và giáo xứ xung quanh là "St Pierre Port". Từ "port" phân biệt giáo xứ này với "Saint Pierre Du Bois".
1
null
Grytviken (trong tiếng Thụy Điển có nghĩa là "Vũng cái Hũ") là điểm định cư chính của lãnh thổ Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich thuộc Anh Quốc tại Nam Đại Tây Dương. Điểm định cư này được nhà vẽ bản đồ người Thụy Điển Johan Gunnar Andersson đặt tên vào năm 1902, ông đã tìm thấy các hũ cũ của người Anh dùng để nấu mỡ hải cẩu thành dầu tại đó. Đây là bến cảng tốt nhất trên đảo, gồm có một vịnh (Vịnh King Edward) trong một vịnh lớn hơn (Vịnh Cumberland Đông). Đây là nơi ẩn náu khá tốt, có một diện tích đất bằng phẳng đáng kể nên có thể xây dựng các tòa nhà, và có một nguồn cung cấp nước ngọt.
1
null
Nguyễn Hữu Khiếu (1915 - 2005) là nhà chính trị, nhà ngoại giao Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, khóa IV, đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III, khóa IV (1960-1975), đã từng giữ các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, Bộ trưởng Bộ Lao động (1965-1974), Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Liên Xô, Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên (3/1976-9/1976), Bí thư Ban Cán sự Đảng Ngoài nước. Tiểu sử. Nguyễn Hữu Khiếu còn có tên gọi khác là Thiện, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1915. Ông có quê quán ở xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Quá trình hoạt động cách mạng. Từ năm 1940 đến năm 1943, Nguyễn Hữu Khiếu bị thực dân Pháp giam tại nhà lao Đăk Mil (huyện Đắk Mil, tỉnh Đắc Nông). Tháng 3 năm 1945 ông là Ủy viên Xứ ủy Ai Lao tại Lào. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm Phó Bí thư Liên khu ủy Liên khu 4 kiêm Giám đốc Công an Liên khu IV. Với cương vị Giám đốc Công an khu 4 Nguyễn Hữu Khiếu là người rất thương đồng đội, tin tưởng đồng đội. Ông rất hiểu và biết "dùng" cán bộ của mình để bố trí đúng người đúng việc vì lực lượng Công an Khu 4 lúc bấy giờ được ông tập hợp rất nhiều người ở nhiều ngành nghề tham gia, đại bộ phận là nhân viên còn rất trẻ. Ông biết "cài cắm" ai vào nhiệm vụ nào để hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất. Trong lúc bộn bề công việc mà vẫn đạp xe hơn năm chục cây số, thay mặt nhà trai đi hỏi vợ cho cán bộ của mình. Anh em ốm đau, ông dặn dò hậu cần phải chăm lo tốt bữa ăn cho anh em. Ông đã xây dựng lực lượng Công an Khu 4 trong sạch, vững mạnh, không có một cán bộ nào phạm sai lầm nghiêm trọng. Đặc biệt, ông rất quan tâm đào tạo cán bộ kế cận. Trong các cuộc họp giao ban của Ban giám đốc, ông đều mời lãnh đạo phòng, ban tới dự, cùng nghe chủ trương, cùng bàn biện pháp, lắng nghe ý kiến của anh em. Vì vậy, không khó khăn khi bố trí cán bộ thay thế. Ông dặn dò của nhân viên dưới quyền: "Sự rèn luyện của người chiến sĩ cũng như rèn một cái dùi, lấy cái dùi ấy đâm vào vách đất, thì đừng vội tự mãn - phải rèn cho đến khi đem nó đâm vào tường vôi mà không bị quằn mũi". Ông là người có tầm nhìn chiến lược, dự đoán được ngày hòa bình lập lại và trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó tích cực, tranh thủ chuẩn bị lực lượng tình báo để tung vào hàng ngũ kẻ thù bằng nhiều con đường, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài. Nhiều cán bộ tình báo đã ở vị trí lãnh đạo, giữ trọng trách trong bộ máy của địch, biết cách dùng địch để địch mắc mưu ta, khiến chúng không lường được. Công tác chính quyền dân sự và ngoại giao. Sau năm 1954, ông tiếp tục giữ các cương vị quan trọng Đại biểu Quốc hội Việt Nam (Khóa II, Khóa III, Khóa IV), Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, Bộ trưởng Bộ Lao động Việt Nam, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Liên Xô. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ 3, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương. Từ năm 1960 đến năm 1965, ông tham gia công tác Quốc hội, được bầu làm Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách . Ngày 11 tháng 10 năm 1965 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 166 miễn nhiệm chức ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ông để chuyển sang nhận nhiệm vụ ở Hội đồng Chính phủ. Tháng 10 năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Lao động, nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thay ông Nguyễn Văn Tạo cho đến tháng 4 năm 1974. Người thay thế ông là ông Nguyễn Thọ Chân. Từ tháng 3 năm 1974 đến tháng 3 năm 1976, ông được bổ nhiệm chức vụ Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Liên Xô thay cho ông Võ Thúc Đồng theo Nghị quyết số 440 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1975 ông còn kiêm thêm chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Afghanistan. Từ ngày 6 tháng 3 năm 1976 đến tháng 9 năm 1976, ông là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của tỉnh Bình Trị Thiên (Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên). Đến tháng 10 ông Bùi San được Ban Bí thư Trung ương Đảng cử thay ông làm Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV (1976 – 1982). Từ năm 1976 đến năm 1980, ông tiếp tục làm Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô lần thứ 2. Khi hết nhiệm kỳ, người thay thế là ông Nguyễn Hữu Mai. Sau đó ông giữ chức vụ Bí thư Ban Cán sự Đảng ngoài nước cho đến khi nghỉ hưu. Ông mất đột ngột tại Hà Nội vào ngày 1 tháng 1 năm 2005, không lâu sau lễ mừng thọ 90 tuổi. Gia đình. Nguyễn Hữu Vinh hay còn gọi là Anh Ba Sàm là con trai của ông. Nguyễn Hữu Vinh sinh ngày 15/09/1956 ở Hà Nội. Là con út trong gia đình (anh cả Nguyễn Hữu Dũng, anh trai Nguyễn Hữu Thọ, chị gái Nguyễn Thị Hữu Thiện) có truyền thống cách mạng.
1
null
Giấy vệ sinh đã được biết tới từ thế kỷ 14 tại Trung Quốc. Lúc đó, chỉ có những người trong hoàng tộc là được sử dụng giấy vệ sinh. Sau đó, giấy vệ sinh đã được làm dưới dạng các tờ giấy với độ dài khoảng 2–3 feet (tương đương với 61–91 cm). Giấy vệ sinh đã được sản xuất đại trà (tại nhà máy) vào năm 1857 bởi Joseph Gayetty và sau đó 40 năm, năm 1897 thì giấy vệ sinh dạng cuộn như hiện nay đã được chào bán bởi Scott Paper Company tại Philadelphia (Mỹ). Tại Việt Nam. Tại Việt Nam, giấy vệ sinh đang được sản xuất và sử dụng rộng rãi từ thành thị đến nông thôn với hai loại chủ yếu là giấy vệ sinh có lõi và không lõi với chiều cao cuộn khoảng 80 – 110 mm và đường kính cuộn khoảng từ 50 – 130 mm. các cuộn giấy thường được cắt tờ (sheet) sẵn dưới dạng răng cưa có chiều dài khoảng 90 – 20 cm để dễ dàng ngắt đoạn khi sử dụng. Trên thị trường hiện nay có hai loại chất liệu giấy chủ yếu, một loại được sản xuất từ nguồn nguyên liệu bột giấy nguyên chất và loại còn lại sản xuất từ nguồn bột giấy tái chế. Đối với loại làm bằng nguyên liệu bột giấy nguyên chất giá thành có cao hơn một chút nhưng sử dụng rất tiết kiệm và an toàn cho người sử dụng, giấy có đặc điểm là mềm, mịn, dai, trắng, trên mặt giấy không chứa các tạp chất với đủ màu sắc khác nhau, khi cầm lên thấy rất mềm mại và mát tay; đối với loại giấy sản loại giấy sản xuất từ nguồn nguyên liệu tái chế giấy thường đen, mủn, nhiều bụi, mặt giấy khô ráp, có nhiều chấm bẩn màu đen, xanh, đỏ. Đặc biệt trong vài năm trở lại đây ở Việt Nam bắt đầu có xu hướng sử dụng giấy vệ sinh cuộn lớn (jumbo roll tisue paper) trong các nhà vệ sinh công cộng, các công ty, tòa nhà, nhà hàng... nhằm tiết kiệm chi phí. Một cuộn giấy cuộn lớn có lượng giấy tương đương với khoảng 10 - 20 cuộn giấy nhỏ thông thường, giúp tiết kiệm chi phí bao bì, giảm hao hụt do không bị mất cắp và giấy không bị rơi xuống sàn, tiết kiệm chi phí nhân công.
1
null
Korovin TK (Пистолет Коровина, Тульский Коровин) là loại súng ngắn bán tự động do Sergey Korovin thiết kế tại Tulsky Oruzheiny Zavod (Тульский оружейный завод) sau khi nhận được yêu cầu về một loại vũ khí nhỏ nhẹ để dùng trong thể thao và tự vệ. Loại súng này đã được dùng như một loại vũ khí tự vệ cho các cán bộ cao cấp của Hồng quân và các quan chức của chính phủ Liên Xô cũng như các sĩ quan đơn vị giữ gìn an ninh của NKVD hay được sử dụng cho nhiều mục đích khác. Lịch sử. Sergey Korovin đã thiết kế khẩu súng đầu tiên của mình sử dụng đạn 7.65 mm (.32 ACP) vào năm 1922 cho quân đội khi làm việc tại Tulsky Oruzheiny Zavod. Kết quả kiểm tra cho thấy súng có độ tin cậy cao, an toàn và dễ sử dụng nhưng khẩu súng này quá phức tạp và nặng cho việc chế tạo hàng loạt nên súng chỉ dừng lại ở việc thử nghiệm. Đến khoảng năm 1925 thì ông nhận được một yêu cầu đến từ tổ chức thể dục thể thao Dinamo được chính phủ bảo trợ về một loại súng sử dụng đạn 6.35mm (.25ACP) để dùng cho thể thao và tự vệ. Năm 1926, rút kinh nghiệm từ thiết kế trước Korovin đã hoàn tất mẫu thiết kế và bắt đầu sản xuất từ cuối năm đó. Với kích thước nhỏ gọn nó thu hút được sự quan tâm của các chỉ huy và sĩ quan khi không phải mang một khẩu súng ngắn cồng kềnh theo mình và dễ cất giấu hơn. Súng không được trang bị cho quân đội mà được dùng như một loại vũ khí tự vệ cho các cán bộ cao cấp của Hồng quân hay các quan chức của chính phủ Liên Xô và các đơn vị giữ gìn an ninh của NKVD cũng như được sử dụng cho nhiều mục đích khác như một phần thưởng, quà… Nó được xem là biểu tượng của cấp bật trong lực lượng quân đội Liên Xô. Và dù không phải là thứ vũ khí được tạo ra để chiến đấu vì sức sát thương khá thấp và độ chính xác không cao nhưng nó cũng đã được dùng trong chiến tranh thế giới thứ hai trong một số trường hợp mà tiêu biểu là việc trung tướng Michael G. Efremov đã dùng súng để chiến đấu phá ra khỏi vòng vây năm 1942. Có khoảng 300000 khẩu đã được chế tạo từ năm 1926 đến 1935. Thiết kế. Korovin TK sử dụng cơ chế nạp đạn blowback, hoạt động đơn, lò xo đẩy khối trược nằm dưới nòng súng với thiết kế đơn giản để dễ chế tạo. Nút khóa an toàn nằm phía bên trái súng, hộp đạn của súng có một hàng đạn chứa được 8 viên. Miếng đệm tay cầm có thể được làm bằng nhiều loại vật liệu khác nhau như nhựa tổng hợp hay gỗ, đính thêm kim cương, mạ vàng nếu là quà hay khắc thêm các rảnh để dễ cầm hơn. Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi. Và mặc dù được thiết kế để bắn đạn 6.35x16mm (.25 ACP) nhưng do thân súng khá chắc nên súng có thể bắn các loại đạn có áp lực và sơ tốc cao hơn gây sát thương lớn hơn với sơ tốc tăng khoảng khoảng 25% so với thiết kế ban đầu mà không làm hỏng súng. Đến những năm 1930 thì thiết kế lắp ráp bằng đinh vít của súng được thay bằng chốt lò xo.
1
null
Hội Linh mục Xuân Bích (tiếng Latinh: "Societas Presbyterorum a S. Sulpitio", tiếng Pháp: "Compagnie des Prêtres de Saint-Sulpice") là một hội đời sống tông đồ của Giáo hội Công giáo, được đặt theo tên của Thánh Sulpice le Pieux (phiên âm tiếng Việt là Xuân Bích), khởi hứng từ một câu thơ nho "Xuân thảo bích sắc" (cỏ mùa xuân màu xanh). Thông thường, các linh mục muốn làm thành viên của Hội Linh mục Xuân Bích thì trước đó phải có một số năm làm công tác mục vụ. Điểm đặc biệt của Hội Linh mục Xuân Bích là các linh mục vẫn giữ lại giáo tịch trong giáo phận của họ ("incardination") ngay cả khi gia đã nhập hội này. Mục đích của hội chủ yếu là giáo dục, đào tạo linh mục và đảm nhận một số trách vụ tại các giáo xứ trong mức độ nhất định. Ngày nay, Hội Linh mục Xuân Bích được chia thành ba tỉnh hội, hoạt động ở các quốc gia khác nhau: tỉnh hội Pháp (gồm Pháp, Việt Nam, vài nước châu Phi), tỉnh hội Canada (gồm Canada, Nhật Bản và Colombia), tỉnh hội Hoa Kỳ (gồm Hoa Kỳ và Zambia). Tổ chức. Hội Linh mục Xuân Bích là một hiệp hội linh mục cấp giáo phận, họ có đời sống chung nhưng lại không có lời khấn như nhiều dòng tu Công giáo khác. Vì các linh mục Xuân Bích vẫn giữ giáo tịch tại giáo phận gốc nên họ vẫn là linh mục của giáo phận đó chứ không phải tu sĩ dòng và họ cũng gọi tổ chức của mình là Hội Linh mục Xuân Bích (hoặc đơn giản là Hội Xuân Bích) chứ không gọi là Dòng Xuân Bích. Tuy nhiên, các giám mục thường nhường "quyền" quản lý các linh mục thuộc hội này cho vị bề trên của hội, để có thể gửi họ tới bất cứ nơi đâu có nhu cầu.
1
null
Nguyễn Hữu Mai tức Nguyễn Từ (1914-1987), quê ở tại Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, là nhà hoạt động cách mạng, nhà chính trị Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, khóa IV, đã giữ các chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt, Phó Trưởng ban Công nghiệp Trung ương, Thứ trưởng Bộ Giao thông-Bưu điện, Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ Điện Than, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô. Hoạt động cách mạng. Năm 1936 tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào dân chủ khi là học sinh Trường Kỹ nghệ thực hành Huế. Sau khi học xong làm thợ sửa chữa xe lửa tại Đà Nẵng, tham gia vận động tuyên truyền cách mạng trong giới công nhân. Năm 1940 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1942 bị thực dân Pháp bắt tại Đà Nẵng, bị kết án 15 năm tù khổ sai bị giam tại các nhà tù Hoả Lò Hà Nội, Sơn La, cuối 1943 bị đầy ra Côn Đảo. Ông cùng ngồi tù Côn Đảo với các bạn tù chính trị như Vũ Xuân Chiêm, Nguyễn Văn Vịnh, Mai Chí Thọ, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Thọ Chân, Võ Thúc Đồng, Nguyễn Đức Thuận, Trần Diệp... Tháng 9-1945 ông được giải thoát và năm 1946 ông ra miền bắc nhận nhiệm vụ mới. Hoạt động chính trị. Do có chuyên môn kỹ thuật ông được Đảng phân công phụ trách các ngành liên quan đến kỹ thuật – công nghiệp đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng. Ủy viên Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phó Tổng thư ký (năm 1950). Giám đốc Sở Vận tải thuộc Bộ Giao thông Công chính (năm 1951) Thành viên Tiểu ban Công vận của Ban chấp hành Trung ương Đảng (năm 1951) Trưởng ban vận tải tiền phương, tổng chỉ huy về vận tải của Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954) Tổng cục trưởng đầu tiên của Tổng cục Đường sắt (1955 – 1957) thuộc Bộ Giao thông Bưu điện, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và Bưu điện (1957 – 1960), Phó Trưởng ban Công nghiệp Trung ương (1960 - 1965), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Giao thông Bưu điện (năm 1965 - 1967), Trưởng ban Công nghiệp Trung ương, Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng (tháng 11 năm 1967 đến tháng 12 năm 1969), Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Điện và Than (tháng 12 năm 1969 đến tháng 4 năm 1974), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước (1974 – 1980) hàm Bộ trưởng, Sau đó ông còn đảm nhận chức vụ Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô (1980 - 1982).. Đại sứ tiền nhiệm là ông Nguyễn Hữu Khiếu, người kế nhiệm là ông Đinh Nho Liêm. Ông có nhiều đóng góp quý báu trong quá trình phục hồi kinh tế, phát triển công nghiệp tại miền Bắc. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III (1960), Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV (1976) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Vinh danh. Do các cống hiến của ông cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, năm 1984 ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.
1
null
Regina Encarnacion Ansong Velasquez hay còn được khán giả biết đến với nghệ danh là Regine Velasquez (sinh ngày 22 tháng 04 năm 1970 tại Manila, Philippines) là một nữ ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, người dẫn chương trình, đạo diễn phim, nhà thiết kế thời trang kiêm người mẫu nổi tiếng người Philippines.
1
null
Chiến dịch phản công Tikhvin (10 tháng 11 năm 1941 - 30 tháng 12 năm 1941) là một trận đánh diễn ra giữa quân đội Liên Xô và quân đội Đức quốc xã trong Chiến tranh Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó diễn ra ngay sau khi giai đoạn phòng ngự ở khu vực Tikhvin kết thúc và là một thắng lợi quan trọng của quân đội Liên Xô. Chiến thắng này đã khiến kế hoạch bao vây hoàn toàn thành phố Leningrad của quân Đức bị phá sản và giúp quân đội Liên Xô giữ vững được tuyến tiếp tế với thành phố thông qua hồ Ladoga. Thời gian và địa điểm. Địa điểm. Trận đánh diễn ra ở khu vực phía Đông của tỉnh Leningrad. Phía Bắc của khu vực chiến sự được giới hạn bởi tuyến đường sắt Sinyavino - Voybokalo - Volkhov. Ranh giới phía Nam là khu vực Volkhov và tuyến đường sắt đến Tikhvin ở khu vực phía Bắc, Đông và Nam thành phố này (một số đoạn nhỏ do quân Đức chiếm giữ), sau đó vòng xuống ga Taltsy Berezhok, đi qua khu vực phía Đông và Đông Nam Malaya Vishera và tiến tới Volkhov ở phía Bắc Dubrovka (???). Ranh giới phía Tây là khu vực từ Kirishi vòng lên Tây Bắc tới Voronovo (???) và lại trở về tuyến đường sắt Sinyavino - Voybokalo - Volkhov. Đến cuối chiến dịch, trận tuyến về cơ bản chạy dọc theo bờ Đông sông Volkhov, trong đó quân đội Liên Xô chiếm giữ một số đầu cầu bên bờ Tây và quân Đức chiếm một số đầu cầu bên bờ Đông, ví dụ như tại Kirishi. Trận tuyến từ Kirishi chạy dọc lên phía Tây Bắc, chạy qua tuyến đường sắt Kirishi - Mga nhưng không hướng tới Mga mà kết thúc ở bờ Tây hồ Ladoga. Chiến sự diễn biến tại một mặt trận dài 300-350 cây số, và kết thúc chiến dịch quân đội Liên Xô đã đẩy lùi quân Đức 100-120 cây số, trung bình 1 ngày tiến được 2-2,5 cây số. Thời gian. Theo các sử liệu chính thống của Liên Xô, chiến dịch kéo dài từ ngày 10 tháng 11 đến 30 tháng 12 năm 1941. Các mốc thời gian này chỉ mang tính quy ước vì thời điểm phản công của quân đội Liên Xô trên các khu vực mặt trận không giống nhau. Quân đội Liên Xô tại Malaya Vishera phản công vào ngày 12 tháng 11, cụm tác chiến Novgorod phản công vào ngày 10 tháng 11 (đây là mốc bắt đầu chiến dịch), ở Tikhvin bắt đầu vào ngày 19 tháng 11 và ở khu vực Voybokalo là tuần đầu tiên của tháng 12. Ngày kết thúc chiến dịch cũng mang tính quy ước và được cho là mốc khi quân đội Liên Xô thu hồi lại phần lớn các lãnh thổ bị mất bên bờ Đông sông Volkhov. Chiến dịch phản công Tikhvin diễn ra ngay sau giai đoạn phòng ngự tại Tikhvin, và trước chiến dịch tấn công Lyuban. Binh lực và kế hoạch. Quân đội Đức Quốc xã. Trong giai đoạn tấn công Tikhvin, quân Đức đã vượt sông Volkhov, đánh chiếm thành phố Tikhvin, cắt đứt con đường sắt dẫn tới hồ Ladoga để tiếp tế cho Leningrad và gần như tiếp cận bờ phía Nam của hồ này. Một số đơn vị Đức đã bắt đầu hành tiến theo hướng Bologoye. Tuy nhiên, mục tiêu tối thượng của cuộc tấn công - hội quân với phía Phần Lan để hợp vây hoàn toàn Leningrad vẫn chưa thực hiện được trong khi thiệt hại của quân Đức lúc này đã quá nặng (ví dụ sư đoàn thiết giáp số 8 vào ngày 10 tháng 11 chỉ còn 38 xe tăng và 30% số xe cơ giới thông thường) và lực lượng dự bị thì không đủ, tuyến liên lạc tiếp tế thì đã kéo quá dài mà chủ yếu chỉ dựa trên các tuyến đường bộ đã đóng băng. Ở phía Nam, "cái dằm" tại Malaya Vishera vẫn đứng vững còn ở phía Bắc thì quân Đức bị chặn đứng tại vị trí cách Volkhov 6 cây số. Ở phía Đông trận tuyến dừng lại tại khu vực Ramenye, Dubrovo và Ostrov. Đến đây, việc phát triển tấn công là bất khả thi đối với phía Đức Quốc xã, dù là trên hướng nào. Trước thực tế này, phía Đức buộc phải chấp nhận dời mục tiêu hội quân với Phần Lan tại sông Svir sang năm 1942 và đình chỉ lại mọi cuộc tấn công tại Tikhvin. Lúc này tình hình ở cánh Nam tỏ ra không thuận lợi đối với quân Đức vì thiếu hụt quân dự bị, ngoài việc chuyển sang phòng ngự thì họ không còn cách nào khác. Tình trạng ở mặt Bắc tại khu vực cho tới bờ Nam hồ Ladoga thì vẫn tiếp tục không thay đổi mấy. Đối với quân đội Đức, chống giữ Tikhvin là một nhiệm vụ cực kì quan trọng nhằm duy trì một bàn đạp có lợi cho các đợt tấn công có thể xảy ra vào mùa xuân năm sau và kiểm soát tuyến đường sắt tiếp vận cho quân Đức. Tuy nhiên, như đã đề cập, lực lượng của phía Đức đã kiệt quệ sau các trận chiến dữ dội trước đó, đến mức vào ngày 17 tháng 11 Cục tác chiến chiến dịch của Bộ Tư lệnh Đức Quốc xã (OKH) đã phải yêu cầu phía Phần Lan có các hành động tích cực hơn trong việc hiệp đồng với quân Đức, tìm mọi khả năng để khởi sự cuộc tấn công từ sông Svir đến Tikhvin. W. Erfurt, đại diện của Bộ Tư lệnh Đức tại quân đội Phần Lan đã kể lại như sau: Quân đội Liên Xô. Căn cứ theo tình hình quân đội Liên Xô trong khu vực tại thời điểm này, các cán bộ chỉ huy Xô Viết quyết định tổ chức một đợt phản công lớn với mục tiêu không chỉ thu hồi lại những vùng lãnh thổ bị mất mà còn trù tính hợp vây và tiêu diệt toàn bộ quân địch ngay tại Tikhvin và ở toàn bộ bờ Đông sông Volkhov. Mục tiêu này sẽ phải hoàn thành khi quân đội Liên Xô phản công tiến tới hữu ngạn sông Volkhov và đánh chiếm một số đầu cầu bên tả ngạn. Mục tiêu này được dự tính hoàn thành bởi các đòn tấn công liên tiếp theo hai hướng giao thoa Kirishi - Gruzino. Tập đoàn quân số 4 được giao đảm trách hướng tấn công chính từ Tikhvin tới Budogoshch và Gruzino với nhiệm vụ cắt đứt quân đoàn cơ giới hóa số 39 (Đức) tại Tikhvin. Sau đó Tập đoàn quân sẽ vọt tiến lên giải phóng Volkhov và hội quân với Tập đoàn quân số 54 tại Kirishi và Tập đoàn quân số 52 tại Gruzino, cắt toàn bộ đường rút lui về bờ Tây sông Volkhov của quân Đức. Ngày 10 tháng 11, Tập đoàn quân số 4 tổ chức lực lượng của mình thành 3 cụm tác chiến chiến dịch ở các khu vực Đông, Bắc, Nam của Tikhvin, và ở giữa cụm Nam và Đông là một lực lượng khác do tướng A. A. Pavlovich chỉ huy. Theo kế hoạch, cụm Bắc sẽ tấn công xuống phía Nam, cắt đứt tuyến đường sắt và đường bộ Tikhvin - Volkhov, tiến tới cắt đứt đường rút lui về phía Tây của quân Đức. Cụm tác chiến Pavlovich thì có nhiệm vụ đánh chiếm tuyến đường bộ và đường sắt Tikhvin - Budogoshch và chặn đường rút lui về phía Tây Nam. Như vậy, nhiệm vụ chung của Tập đoàn quân số 4 không gì khác là bao vây toàn bộ quân Đức trong một "cái chảo" tại Tikhvin. Cụm Nam "trong trường hợp Ivanov và Pavlovich không hoàn thành nhiệm vụ và chiến cục ở ngoại vi phía Tây thành phố bị kéo dài" thì sẽ tấn công cắt đứt đường lui của quân Đức tại khu vực ngoại vi Tây Tikhvin. Cụm Đông và cánh trái của cụm Bắc thì sẽ đánh trực diện vào Tikhvin. Về phía mình, tập đoàn quân số 54 trước mắt là chặn những cuộc công kích của cụm quân "Beckmann" (thành lập vào ngày 20 tháng 11 năm 1941) trên hướng Volkhov - Voybokalo, sau đó sẽ phản công vào sườn trái của cụm quân này theo hướng Kirishi, cắt đường lui của quân đoàn cơ giới hóa số 39 (Đức) ở phía Tây Volkhov và tiến tới hội quân với Tập đoàn quân số 4, cùng tiêu diệt khối quân Đức bị vây. Đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này là cụm tác chiến Volkhov được thành lập vào ngày 28 tháng 11 năm 1944. đến ngày 24 tháng 12 được chuyển giao cho Tập đoàn quân số 54. Còn Tập đoàn quân số 52 phối hợp với Cụm Tác chiến chiến dịch Novgorod và Phương diện quân Tây Bắc tấn công tiêu diệt quân địch ở Malaya Vishera và tiến tới sông Volkhov, hội quân với Tập đoàn quân số 4 và hình thành nên một trận tuyến vững chắc dọc theo dòng sông. Trong đợt phản công, nhiệm vụ của cụm tác chiến mang tính hỗ trợ. На войска группы возлагалось: một tuyến phòng ngự cứng rắn gần Pakhotnaya Gorka tại cửa sông Msta gần Novgorod; trong khi lực lượng chính tiến theo hướng Selishchenskiy Posolok (Selishche), phối hợp với Tập đoàn quân số 52 đánh chiếm 1 đầu cầu bên tả ngạn sông Volkhov tại Selishchenskiy Posolok. Đóng đối diện với hai đơn vị Liên Xô này là các sư đoàn bộ binh số 126 (Đức) và sư đoàn bộ binh số 250 (Tây Ban Nha), về sau còn được tăng viện thêm các sư đoàn bộ binh số 61, 223 và 215 (Đức). Như vậy binh lực của quân đội Liên Xô trong chiến dịch bao gồm: Diễn biến. Phản công tại khu vực Malaya Vishera. Ngày 10 tháng 11 năm 1941, một phần của cụm tác chiến nổ súng phản công, tuy nhiên không thu được kết quả gì đáng kể. Ngày 12 tháng 11, một phần Tập đoàn quân số 52 cũng bắt đầu tấn công ở phía Nam và Đông của Malaya Vishera. Trong những ngày sau đó, đợt tấn công của quân đội Liên Xô tiến triển rất chậm, với mục tiêu trước mắt là giải phóng điểm dân cư Malaya Vishera. Tập đoàn quân số 52 tấn công trên một dải trận tuyến 48 cây số từ Zelenshiny (???) tới làng Poddubye 14 cây số ở phía Nam Malaya Vishera; nhưng đợt công kích của Tập đoàn quân không được tổ chức với những mũi xung kích mạnh mà kéo dài trên toàn bộ trận tuyến của bốn sư đoàn tại thê đội đầu tiên. Chính vì vậy, mũi tấn công trực diện vào các cứ điểm mạnh tại Malaya Vishera chỉ bao hàm lực lượng gồm 2 trung đoàn của sư đoàn bộ binh số 259, không nhận được sự yểm hộ đúng mức của pháo binh và thậm chí hoạt động trinh sát địa hình cũng không được thực thi đầy đủ. Đến ngày 20 tháng 11, mũi tấn công chuyển hướng và bất ngờ tập kích vào cứ điểm của quân Đức vào ban đêm, buộc quân Đức phải rút bỏ khỏi điểm dân cư này; tuy nhiên những ngày sau đó đợt tấn công vẫn tiến triển chậm. Chiến sự chỉ diễn ra tại Malaya Vishera trong ngày 16 tháng 11, tuy nhiên Franz Halder đã mô tả chiến cục trong thời điểm đó là "rất căng thẳng". Đến ngày 9 tháng 12, quân đội Liên Xô cũng chỉ mới tiến được 9 cây số ở phía Tây của Malaya Vishera. Tuy nhiên, sức ép của phía Liên Xô vẫn rất dữ dội, như theo ghi chú trong nhật ký của Franz Halder ngày 12 tháng 12. Quân Đức tiếp tục triệt thoái đều đặn, kể cả lực lượng đồng minh Tây Ban Nha trước sức tấn công của Cụm tác chiến Novgorod cũng phải lần lượt rút bỏ các điểm dân cư Posad, Otenskiy (???) và Shevelevo. Ngày 15 tháng 12, các đơn vị Đức và đồng minh được lệnh phải triệt thoái khỏi khu vực Malaya Vishera và rút về tả ngạn sông Volkhov. Ngày 23 tháng 12, quân Đức rút về bờ Tây và quân đội Liên Xô bám sát theo sau, tiếp cận sông Volkhov, khôi phục lại chiến tuyến vào tháng 10 năm 1941 và bắt đầu tổ chức đánh chiếm các đầu cầu vượt sông. Đến ngày 25, các sư đoàn số 259 và 267 đã chiếm được các đầu cầu gần Gruzino, sư đoàn bộ binh số 111 đánh chiếm khu vực Vodosye tại phía Đông Bắc Chudovo trên tuyến đường sắt Kirishi-Chudovo. Quân Đức vẫn giữ được một đầu cầu phía Đông sông Volkhov tại khu vực Gruzino cho đến khi quân đội Liên Xô mở đợt tấn công lớn giải phóng tỉnh Leningrad vào tháng 1 năm 1944. Phản công tại khu vực Tikhvin - Kirishi. Tập đoàn quân số 4 giải phóng Tikhvin. Ngày 19 tháng 11, Tập đoàn quân số 4 nổ súng tấn công. Cuộc tiến công của Tập đoàn quân ngay lập tức gặp phải sự chống cự quyết liệt của quân Đức và chiến sự nhanh chóng trở nên hết sức ác liệt. Phía Đức không chỉ kháng cự dữ dội mà còn liên tục mở nhiều đợt phản kích. Các cụm tác chiến của Tập đoàn quân số 4 đều không hoàn thành nhiệm vụ: lực lượng chính của cụm Đông (sư đoàn bộ binh số 65) đánh từ phía Đông Nam và Đông chỉ có thể tiếp cận tới ngoại ô thành phố; cụm Nam ban đầu đạt được một ít thành quả ở theo hướng Sitomlya nhưng rồi cũng phải dừng bước; cụm Pavlovich thì không đạt được thành quả gì đáng kể. Cánh phải của cụm Bắc thì thành công hơn cả khi sư đoàn bộ binh số 44 khi hạ gục một cứ điểm mạnh ở làng Lazarevichi, nhưng không thành công trong việc cắt đứt tuyến đường sắt Tikhvin - Volkhov và sau đó lại bị quân Đức đẩy khỏi Lazarevich; dầu sao do tuyến đường Tikhvin - Volkhov lúc này đã nằm trong tầm bắn của quân đội Liên Xô nên quân Đức không thể sử dụng nó để rút lui hay tiếp vận mà phải sử dụng một tuyến đường bộ chạy từ Tikhvin đi qua Lipnaya Gorka và chạy tới Budogoshch. Ngày 26 tháng 12, quân đội Liên Xô mở lại cuộc tấn công với mục tiêu như cũ, nhưng không đạt kết quả gì đáng kể. Quân đội Liên Xô bắt đầu tái tổ chức lại lực lượng và vạch kế hoạch tấn công mới. Mũi chủ lực được chuyển sang cánh trái của Tập đoàn quân. Lữ đoàn bộ binh xung kích tăng cường của cụm tác chiến Pavlovich được giao nhiệm vụ tấn công dọc theo sông Syas. Còn cánh phải của cụm tác chiến Bắc thì tổ chức một mũi phụ công. Sư đoàn số 65 sẽ tiếp tục mũi tấn công của nó vào Tikhvin, chuyển khu vực tấn công trọng yếu từ phía Nam và Tây Nam của thành phố. Trong thời gian này, vào cuối tháng 11 năm 1941 quân Đức đã điều sư đoàn bộ binh số 61 từ Baltic - vốn vừa tham chiến ở quần đảo Moonsund - sang tăng cường cho hệ thống phòng thủ tại Tikhvin. Tập đoàn quân số 4 tiếp tục nổ súng tấn công vào ngày 5 tháng 12 và lần này đã nhanh chóng thu được thành quả. Trong ngày đầu tiên, cụm tác chiến Bắc đã quét sạch quân Đức khỏi hữu ngạn sông Tikhvin tại khu vực Ovino và Lazarevich (nhưng mãi đến ngày 9 tháng 12 mới có thể vượt sông), tiến tới cắt đứt tuyến đường bộ Tikhvin - Volkhov. Cụm tác chiến Pavlovich cũng trong ngày này đánh chiếm Novoandreevo và Shibenets, cắt luôn tuyến đường bộ Tikhvin - Budogoshch và tiếp tục tiến tới Lipnaya Gorka. Cụm tác chiến Đông đến ngày 8 tháng 12 đã đục thủng khu vực phòng ngự ở vùng ngoại ô và tiến vào ngoại vi Tikhvin. Cụm tác chiến Nam tiếp tục đột phá tới Sitomlya và đánh chiếm một phần tuyến đường bộ Sitomlya - Budogoshch (mà họ đã gần tiếp cận nó vào ngày 3 tháng 12). Đứng trước nguy cơ bị bao vây, trung tướng Hennicke, tư lệnh sư đoàn bộ binh số 61 (Đức) và là chỉ huy của khối quân đồn trú Tikhvin, quyết định chống lại lệnh tử thủ của Hitler và cho quân rút bỏ thành phố. Nhằm phá vỡ vòng vây đang dần dần khép chặt, phía Đức đã tổ chức một đợt phản kích mạnh, mở một hành lang chạy thoát ra ngoài và nhờ đó đã cứu sống lực lượng đồn trú. Ngày 8 tháng 12, bộ chỉ huy Đức Quốc xã bắt đầu cho di tản khỏi Tikhvin, bỏ lại một lượng lớn vũ khí và trang bị quân sự (42 đại bác, 46 súng cối, 190 súng máy, 102 xe tải, 27 xe tăng, 10 xe bọc thép, 2.700 súng trường, 110 súng tự động, 28.000 viên đạn đại bác, 30.000 lựu đạn, 17.500 mìn, 210.000 đạn súng bộ binh cùng rất nhiều kho tàng lương thực, nhiên liệu). Sang ngày 9, các sư đoàn bộ binh số 65 (Liên Xô) từ phía Nam và sư đoàn bộ binh số 191 (Liên Xô) từ phía Đông Bắc bắt đầu mở 2 đột tấn công dữ dội vào Tikhvin, lúc này đang được chống giữ bởi lực lực lượng chặn hậu là trung đoàn bộ binh số 151 của sư đoàn bộ binh số 61 (Đức). Sau một trận chiến đường phố, Tikhvin được giải phóng vào ngày hôm đó. Cùng ngày 9 tháng 12, Thống chế Wilhelm von Leeb ra lệnh nắn thẳng trận tuyến tại khu vực, điều này đồng nghĩa với việc triệt thoái về phía Volkhov. Từ thời điểm này, trận đánh trở thành một cuộc rượt đuổi với một bên là các lực lượng truy kích của Hồng quân Xô Viết, một bên là các đội chặn hậu của quân Đức nhằm bảo vệ cho lực lượng chính rút lui an toàn và duy trì hành lang Volkhov. Cả hai bên đều chiến đấu trong tình hình thời tiết khắc nghiệt và điều kiện tiếp tế, liên lạc rất khó khăn: Ở phía Tây Nam, cụm tác chiến Đông (Trung tâm) và cụm tác chiến Nam tiếp tục cuộc truy đuổi quân Đức; còn ở phía Bắc, cụm tác chiến Bắc hành tiến tới Ostasheva Gorka - Zelenets. Theo kế hoạch của bộ tham mưu Tập đoàn quân số 4, ngày 10 tháng 12 cụm Đông phải tiếp cận sông Syas và kiểm soát bàn đạp vượt sông, đến ngày 11-12 tháng 10 thì phải quét sạch quân Đức khỏi phía Đông Sitomlya, còn cụm Bắc thì tiến tới tuyến Ostasheva Gorka (Gorka) - Zelenets. Sau đó, trong các ngày 13-15, tập đoàn quân tiếp tục truy kích quân Đức và cụm tác chiến Bắc sẽ tiến tới nhà ga Myslino và cụm Trung tâm thì mục tiêu là Budogoshch. Tuy nhiên, cuộc tấn công diễn ra chậm hơn dự kiến và mãi tới ngày 15 tháng 12, quân đội Liên Xô mới giải phóng Sitomlya và ngày 19 thì tiếp cận sông Lynka. Việc này khiến quân Đức bị đe dọa bao vây ở phía Đông Nam Volkhov và, trong tình hình Tập đoàn quân số 54 cũng đang tấn công quyết liệt, quân Đức buộc phải rút lui. Ngày 24 tháng 12 toàn bộ tuyến đường sắt Tikhvin - Volkhov sạch bóng quân Đức. Ngày 21 tháng 12, Budogoshch được giải phóng, và cũng ngày đó cánh phải của Tập đoàn quân số 4 gặp các sư đoàn cận vệ số 3 và sư đoàn bộ binh số 310 thuộc Tập đoàn quân số 54 tại sông Lynka, cách Volkhov 20 cây số về phía Đông Nam. Hôm sau (22 tháng 12), sư đoàn bộ binh số 65 và 92 thuộc tập đoàn quân số 4 tiếp cận bờ sông Volkhov giữa Kirishi và Lezno và bắt đầu tổ chức vượt sông theo chỉ thị của Đại bản doanh là mở ngay một cuộc tấn công quy mô lớn tiếp theo mà không có thời gian tạm nghỉ, với mục đích nhằm giải phóng Novgorod cùng vùng phía Đông của Leningrad. Về sau, mục tiêu cuộc tấn công được chỉnh sửa lại và nó trở thành cái gọi là chiến dịch tấn công Lyuban đầy thảm họa. Trước đó, ngày 17 tháng 12 các Tập đoàn quân số 4 và số 52 được sáp nhập thành Phương diện quân Volkhov, và Cụm tác chiến Novgorod cũng được sáp nhập vào Tập đoàn quân số 52. Trong 10 ngày cuối cùng của năm 1941, Tập đoàn quân số 4 tiếp tục tấn công, đẩy lui quân Đức về tuyến sông Volkhov và tổ chức vượt sông, tuy nhiên họ chỉ đánh chiếm được một số bàn đạp nhỏ trên tả ngạn sông Volkhov. Các cuộc tấn công nhằm xóa sổ đầu cầu của quân Đức tại Kirishi cũng không thành công. Kết quả. Chiến dịch phản công Tikhvin cùng với chiến dịch phản công Donbass-Rostov là một trong những trận phản công quy mô lớn đầu tiên của Hồng quân Xô Viết. Nếu trong giai đoạn phòng ngự ở Tikhvin, quân đội Liên Xô đã chặn đứng kế hoạch bao vây Leningrad và hội quân với quân Phần Lan của quân đội Đức, thì đợt phản công tại Tikhvin đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch đó, khiến mục tiêu của quân Đức trở nên bất khả thi về mặt chiến lược. Từ sau thất bại tại Tikhvin, quân Đức tại khu vực Tây Bắc của mặt trận Xô-Đức đã vĩnh viễn đánh mất quyền chủ động chiến lược của mình. Một số thành quả rất quan trọng của chiến dịch phản công chiến lược Tikhvin chính là thu hồi lại những vùng đất đai bị mất và khôi phục lại quyền kiểm soát tuyến đường sắt chiến lược Tikhvin-Volkhov. Chiến dịch phản công Tikhvin cùng với sự kháng cự quyết liệt của Hồng quân trong giai đoạn phòng ngự Tikhvin đã giáng cho quân Đức những tổn thất hết sức nặng nề. Tám sư đoàn Đức (trong đó có 2 sư đoàn xe tăng và 2 sư đoàn cơ giới hóa) đều bị đánh thiệt hại nặng, ví dụ như sư đoàn cơ giới hóa số 18 sau chiến dịch chỉ còn 741 người, so với binh lực ban đầu là 10.000 người. Đồng thời, những thất bại tại Tikhvin cũng buộc quân Đức phải kéo thêm 5 sư đoàn từ các khu vực khác lên tăng cường cho mặt trận này. Các hoạt động chiến sự tại Tikhvin cũng cung cấp nhiều kinh nghiệm tác chiến quý báu trong các lĩnh vực như chiến thuật và cơ cấu lực lượng, nhất là nó đã làm cho các chỉ huy Hồng quân nhận thấy sự cần thiết trong việc khôi phục lại tổ chức cấp quân đoàn. Chiến thắng Tikhvin cũng giúp củng cố tinh thần quân đội và nhân dân Xô Viết, nhất là đối với cư dân và với lực lượng phòng thủ Leningrad, và làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân Đức và các đồng minh. 1.179 quân nhân trong các tập đoàn quân số 52 và số 4 đã được trao thưởng các huân, huy chương vì thành tích chiến đấu, trong đó 11 người được trao thưởng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Tất nhiên cuộc tấn công của quân đội Liên Xô không phải là không có khuyết điểm và thiếu sót, kể cả ở cấp độ chiến thuật (thực hiện công kích vỗ mặt vào các cứ điểm mạnh của quân địch thay vì đột kích, vu hồi, bao vây, phối hợp giữa các đơn vị quân chưa được tốt) và chiến dịch. Các mục tiêu chiến dịch không được hòn thành đầy đủ. Mục tiêu bao vây và tiêu diệt hoàn toàn quân Đức ở bờ Đông sông Volkhov cũng như ở Tikhvin đã không thực hiện được. Quân Đức dù bị đánh bại và thiệt hại nặng nề nhưng vẫn rút lui có tổ chức về bồ bên kia sông Volkhov và tổ chức phòng ngự tại đây.
1
null
Võ Thúc Đồng (1914 - 2007) là một chính khách Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, IV, Đại biểu Quốc hội khóa III, IV, đã giữ các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô, Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương cùng các chức vụ quan trọng khác. Quê quán. Ông Võ Thúc Đồng sinh tháng 9-1914 tại xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Quá trình hoạt động cách mạng. Khi là học sinh trường Pháp Việt- Thanh Chương, ông đã tham gia vào Hội Xích Sinh, một tổ chức bán vũ trang của Tự vệ Đỏ (còn gọi là Xích vệ) được thành lập trong tầng lớp thanh niên học sinh yêu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tháng 10 năm 1930 ông Võ Thúc Đồng được đặc cách kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sinh hoạt tại chi bộ Kim Tinh làng Yên Lạc thuộc liên chi Giáp Tuất, tổng Đại Đồng, là một trong những Ủy viên Thường vụ Đoàn Thanh niên Cộng sản huyện Thanh Chương dẫn đội Tự vệ Đỏ làng Yên Lạc trấn áp Phó tổng Lê văn Dạng ở Lạng Khê. Khi Tỉnh ủy Nghệ An và Huyện ủy Thanh Chương về đóng tại làng Yên Lạc, ông Võ Thúc Đồng làm liên lạc và tham gia công việc ấn loát cho cơ quan đảng. Cuối năm 1931, khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp, ông cùng nhiều đồng chí khác bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Vinh sau đó bị đày đi nhà tù Lao Bảo rồi ra nhà tù Côn Đảo. Tại Côn đảo. Tại Côn Đảo, đầu tiên ông bị giam ở Banh (nhà lao), đây là trại giam lớn và cổ nhất ở Côn Đảo được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1892. Tại nhà giam này, trong thời điểm đó còn có các đồng chí Lê Hồng Phong, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Ngô Gia Tự, Lê Văn Lương, Nguyễn Duy Trinh... Suốt 13 năm sống ở " địa ngục trần gian" người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi Võ Thúc Đồng luôn nêu tấm gương bất khuất, trung kiên một lòng theo Đảng. Bọn cai ngục coi ông là một trong những người tù "cứng đầu" nên đã dùng nhiều nhục hình tra tấn nhưng không khuất phục được người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi. Tháng 8 năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Côn Đảo được giải phóng. 5 giờ chiều ngày 22-9-1945, ông Võ Thúc Đồng cùng với gần 2.000 chiến sĩ cách mạng trở về đất liền. Trở về đất liền, theo phân công của Đảng, ông liên tục đảm đương nhiều cương vị công tác quan trọng của Đảng ở nhiều địa phương phía Nam: Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Biên Hòa, Tỉnh ủy Phú Yên; Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum (tháng 3 năm 1946). Tham gia quân đội. Đầu năm 1949 khi chiến trường Bình Trị Thiên có những chuyển biến quan trọng. Để tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, ngày 18-4-1949 Bộ Tư lệnh Liên khu IV quyết định thành lập đơn vị chủ lực Trung đoàn 18 làm nòng cốt phát triển chiến tranh nhân dân, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Quảng Bình bước sang một giai đoạn mới. Trung đoàn 18 có hai tiểu đoàn 436 và 274, 3 đại đội độc lập, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội liên pháo và 2 trung đội công binh. Ông được cử làm Chính ủy Trung đoàn, ông Phùng Duy Phiên được chỉ định làm Trung đoàn trưởng, ông Nguyễn Hòa làm Trung đoàn phó. Lịch sử của Trung đoàn 18 gắn liền với vùng đất Quảng Bình và chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa với những chiến công hiển hách suốt những năm chống Pháp và sau này tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đến nay, nhiều thế hệ cán bộ của Trung đoàn vẫn không quên hình ảnh của ông- người Chính ủy đầu tiên. Lãnh đạo đảng tại Liên khu IV. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng bình năm 1949, ông được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình. Ông đã cùng với tập thể Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang, nhân dân các địa phương nổi dậy trong phong trào Quảng Bình quật khởi giành nhiều thắng lợi quan trọng. Đầu năm 1951, do yêu cầu của cách mạng, ông được Trung ương điều ra làm Phó Bí thư Liên khu ủy Liên khu IV, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 ông còn kiêm Bí thư Ban cán sự, Chính ủy các lực lượng bộ đội tình nguyện ở Mặt trận Trung Lào. Trong thời gian làm Chính ủy Mặt trận, ông đã cùng với Tư lệnh Khăm Tày chỉ huy lực lượng Liên quân Lào - Việt mở nhiều trận tiến công giải phóng nhiều vùng ở Trung Lào phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ tạo thành thế liên hoàn chiến lược góp phần giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch Điện Biên lịch sử. Chính trong thời gian này ông đã đề xuất một vấn đề có tính chiến lược là mỗi tỉnh của Liên khu IV kết nghĩa, giúp đỡ một tỉnh của bạn để xây dựng và củng cố tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt- Lào lâu dài. Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, cuối năm 1958 Liên khu IV giải tán, đầu năm 1959 ông được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An. Trong một thời gian dài ở Tỉnh Nghệ An (1959 – 1971) ông đã cùng tập thể Tỉnh ủy lãnh đạo quân và dân Nghệ An khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, cải tạo XHCN. Trong thời kỳ giặc Mỹ đánh phá miền Bắc " Cán bộ và nhân dân Nghệ An thường xuyên bắt gặp phong thái tự tin, quả quyết của Bí thư Tỉnh ủy Võ Thúc Đồng". Ông có mặt hầu hết các tuyến đường trọng điểm đảm bảo giao thông, kiểm tra từng mố cầu, bến phà, đường kéo pháo vào trận địa. Ngoài lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, ông còn hết sức quan tâm đến việc học tập của con em, việc chữa bệnh cho nhân dân, việc bảo đảm an ninh trật tự xã hội, việc xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ, sử dụng và chăm lo sự phát triển tài năng của trí thức văn nghệ sĩ. Năm 1960 Ông được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa III, Đại biểu Quốc hội khóa III Công tác ngoại giao và quản lý nông nghiệp. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV, Đại biểu Quốc hội khóa IV. Ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Liên Xô (30/10/1971 - 26/4/1974) sau khi Bạn tù Côn Đảo Nguyễn Thọ Chân kết thúc nhiệm kỳ, người kế nhiệm ông là Nguyễn Hữu Khiếu. Cả ba ông trên cương vị Đại sứ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó, thắt chặt quan hệ hữu nghị với nhân dân Liên Xô, tranh thủ có hiệu quả sự giúp đỡ của Liên Xô cho cách mạng Việt Nam. Sau đó ông chuyển sang làm việc tại Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, là cơ quan quan trọng về công tác lương thực và nông nghiệp trong những năm 1970 khi nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế vừa thoát ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ, được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Ban Quản lý Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Chủ nhiệm đầu tiên của Ủy ban là ông Hoàng Anh - Phó Thủ tướng Chính phủ. Ông làm Quyền Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương từ tháng 4 năm 1974. Ngày 19-11-1974, Quốc hội quyết định bổ nhiệm Võ Thúc Đồng giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương. Năm 1976 Ủy ban Nông nghiệp Trung ương đổi tên thành Bộ Nông nghiệp, ông giữ chức vụ Bộ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ (1976 – 30.7.1977), sau đó làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương (1977 - 1982). Ông là một trong những cán bộ được Đảng tin cậy giao cho gánh vác các trọng trách khác nhau và đều hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao phó. Suốt cuộc đời cống hiến cho cách mạng ông Võ Thúc Đồng luôn hoàn thành trọng trách của mình trên các tất cả lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao. Năm 1986 ông nghỉ hưu, sống tại nhà số 5, ngõ 4C, phố Đặng Văn Ngữ, quận Đống Đa, TP Hà Nội. Ông từ trần hồi 16h57’ ngày 27-3-2007 tại Bệnh viện Hữu nghị - Hà Nội. Nhà nước tổ chức lễ Truy điệu và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Vì những thành tích hoạt động, Ông được Đảng và Nhà nước tặng: - Huân chương Sao vàng (truy tặng năm 2007) - Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1984) - Huân chương Hữu nghị giữa các dân tộc của Đảng và Nhà nước Liên Xô - Huân Chương Itxala hạng nhất của Nhà nước CHDCND Lào - Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, nhì, ba - Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, nhì, ba -  Huy chương Quân kỳ quyết thắng -  Huân chương Chiến sĩ vẻ vang -  Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Cùng nhiều phần thưởng cao quý khác
1
null
Serge David Gnabry (; ; sinh ngày 14 tháng 7 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá người Đức hiện đang thi đấu ở vị trí tiên vệ cánh cho câu lạc bộ Bayern Munich và đội tuyển quốc gia Đức. Gnabry khởi nghiệp chơi bóng tại Anh cùng câu lạc bộ Arsenal ở giải Ngoại hạng Anh và có trận đá chuyên nghiệp đầu tiên vào tháng 9 năm 2012. Sau đó anh được đem cho mượn ngắn hạn tới West Bromwich Albion trước khi trở về Đức để đầu quân cho Werder Bremen vào năm 2016. Năm 2017, anh ký hợp đồng gia nhập Bayern München rồi được đem cho mượn tới Hoffenheim ở mùa bóng 2017–18. Mùa 2018–19, tức mùa bóng đầu tiên mà anh khoác áo Bayern, anh đã đoạt danh hiệu Bundesliga 2018–19 và được vinh danh là Cầu thủ hay nhất mùa giải. Ở mùa bóng kế tiếp, anh ghi tới 23 bàn thắng, góp công giúp Bayern giành cú ăn ba danh hiệu, tức giành được Bundesliga, DFB-Pokal và UEFA Champions League. Sau khi thi đấu cho tuyển Đức ở nhiều cấp độ đội trẻ, Gnabry có trận thi đấu quốc tế đầu tiên vào tháng 11 năm 2016 trong trận đấu thuộc khuôn khổ vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 đối đầu San Marino. Anh đã lập một cú hat-trick giúp tuyển Đức thắng đậm 8–0. Xuất thân. Gnabry chào đời tại Stuttgart, Baden-Württemberg, có cha là người Bờ Biển Ngà và mẹ là người Đức. Lúc còn nhỏ, Gnabry là một vận động viên chạy nước rút tài năng, nhưng sau cùng anh lại chọn bộ môn bóng đá thay vì theo đuổi nghiệp điền kinh. Sự nghiệp cấp câu lạc bộ. Arsenal. Câu lạc bộ cũ của Gnabry là VfB Stuttgart đã đồng ý mức phí 100.000 bảng Anh đến từ Arsenal – đội bóng đang chơi tại giải Ngoại hạng Anh vào năm 2010 để chuyển nhượng anh, nhưng Grabry quyết định chờ đến năm 2011, tức lúc anh tròn 16 tuổi để gia nhập Pháo thủ. Gnabry chính thức đầu quân cho Arsenal ở mùa giải 2011–12. Anh thi đấu cho lứa đội U-18 trong phần lớn mùa giải, nhưng rồi được đôn lên đội dự bị sau những màn thể hiện ấn tượng. Tính đến cuối mùa bóng đó, Gnabry đã thi đấu 6 trận và ghi 2 bàn thắng. Mùa 2012–13 khởi đầu tốt đẹp với Gnabry sau khi anh được triệu tập lên đội một trong trận giao hữu tiền mùa giải với FC Köln. Sau hiệp một, anh được tung vào sân thi đấu trong 24 phút, trước khi nhường chỗ cho Marouane Chamakh ở phút thứ 69. Kế đó, cầu thủ người Đức có trận đá ra mắt chuyên nghiệp cho đội một của Arsenal vào ngày 26 tháng 9 năm 2012 trong trận đấu gặp Coventry City ở Cúp Liên đoàn Anh, cụ thể anh vào sân thay Alex Oxlade-Chamberlain ở phút thứ 72 và kết quả chung cuộc là Arsenal thắng đậm Coventry 6–1. Ngày 20 tháng 10 năm 2012, anh có trận đá đầu tiên tại giải Ngoại hạng trong trận Pháo thủ thua 0–1 trước Norwich City tại sân vận động Carrow Road. Ở tuổi 17 và 98 ngày, anh trở thành cầu thủ trẻ thứ hai của Arsenal chơi bóng tại giải Ngoại hạng chỉ sau Jack Wilshere. 4 ngày sau, cầu thủ người Đức có trận đá đầu tiên tại UEFA Champions League, anh vào sân từ băng ghế dự bị trong thất bại 2–0 của Arsenal trước Schalke 04 ngay trên sân nhà. Ở trận đấu đầu tiên của mùa giải 2013–14, Gnabry giành một suất trong đội một của Arsenal gặp Aston Villa và xuất phát từ băng ghế dự bị. Sau đó, anh có trận đá chính đầu tiên cho Pháo thủ tại giải Ngoại hạng Anh vào ngày 22 tháng 9 năm 2013 trong cuộc đối đầu Stoke City sau khi Theo Walcott vắng mặt ngay trước giờ bóng lăn. Anh thi đấu trong 72 phút trước khi bị thay thế bởi Ryo Miyaichi và Arsenal giành thắng lợi 3–1 chung cuộc. Anh ghi bàn thắng chuyên nghiệp đầu tiên ở trận đấu kế tiếp gặp Swansea City giúp Arsenal giành chiến thắng 2–1 và vươn lên ngôi đầu bảng Ngoại hạng Anh. Ngày 26 tháng 10, anh giành được một quả đá phạt đền cho Arsenal trong trận gặp Crystal Palace trên sân khách, sau cùng đem lại thắng lợi 2–0 cho Pháo thủ. Khởi đầu ấn tượng của Gnabry giúp anh có được một suất đề cử cho danh hiệu Golden Boy 2013 cũng như bản hợp đồng mới có thời hạn 5 năm với Arsenal. Sau mùa giải đột phá, Gnabry bỏ lỡ gần hết mùa 2014–15 do gặp chấn thương đầu gối nghiêm trọng, làm anh vắng mặt đội một trong hơn 1 năm. Tuy nhiên, anh đã đeo băng thủ quân và thi đấu 65 phút cho U–21 Arsenal, giúp đội đánh bại U–21 Newcastle United với tỉ số 2–1 vào tháng 2 năm 2015. Cho mượn tới West Bromwich Albion. Ngày 7 tháng 8 năm 2015, Gnabry gia nhập West Bromwich Albion dưới dạng cho mượn cả mùa để tích lũy kinh nghiệm đá chính. Anh có trận đá ra mắt West Brom trong trận thua 3–2 của đội trước Chelsea vào ngày 23 tháng 8 năm 2015. Tuy nhiên, anh không có thêm lần ra sân nào nữa bởi huấn luyện viên Tony Pulis đã phát biểu vào tháng 10 rằng Gnabry "không đủ trình" để chơi cho West Brom. Vào tháng 1, anh được gọi trở lại Arsenal sau khi không giành được suất đá chính ở West Brom. Anh kết thúc mùa 2015–16 với một trận đá ở Ngoại hạng Anh và 2 trận đá tại Cúp Liên đoàn Anh. Werder Bremen. Ngày 31 tháng 8 năm 2016, Gnabry ký hợp đồng gia nhập câu lạc bộ Werder Bremen thuộc giải vô địch quốc gia Đức (Bundesliga) với mức phí được cho là 5 triệu bảng Anh. Huấn luyện viên đương nhiệm của Arsenal, ông Arsène Wenger đã rất muốn gia hạn hợp đồng của Gnabry tại Arsenal, nhưng cầu thủ này quyết định chuyển đi để có cơ hội đá chính thường xuyên hơn. Ngày 17 tháng 9 năm 2016, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong màu áo Werder Bremen trong trận thua 4–1 của đội trước Borussia Mönchengladbach. Anh thi đấu duy nhất một mùa giải cho Bremen, có 27 trận ra sân và ghi 11 bàn thắng, góp công giúp Bremen kết thúc ở vị trí thứ 8 tại Bundesliga. Bayern München. Cho mượn tới 1899 Hoffenheim. Ngày 11 tháng 6 năm 2017, câu lạc bộ Bayern München đã công bố bản hợp đồng với Gnabry có thời hạn hơn 3 năm với mức phí 8 triệu euro sau khi kích hoạt điều khoản phá vỡ hợp đồng của anh với Bremen. Ngày 14 tháng 6 năm 2017, Bayern München đã đem Gnabry tới 1899 Hoffenheim dưới dạng cho mượn cả mùa. Bản thân Gnabry cũng muốn chuyển đi để tích lũy thêm kinh nghiệm. Anh ghi bàn thắng đầu tiên và thứ hai trong chiến thắng 4–0 của đội trước RB Leipzig. Anh ghi 10 bàn thắng sau 22 lần ra sân, giúp Hoffenheim cán đích ở vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng và kiếm về cho đội một suất dự Champions League ở mùa bóng kế tiếp. Anh kết thúc mùa 2017–18 với 10 bàn thắng và 26 trận thi đấu. Anh cũng có một trận đá cho đội dự bị tại Regionalliga Südwest. 2018–nay: Đột phá và giành đĩa bạc. Ngày 2 tháng 7 năm 2018, Gnabry chính thức được khoác áo Bayern München và được chỉ định mặc áo số 22. Ngày 1 tháng 9, Gnabry có trận đá đầu tiên cho Bayern München ở Bundelisga trong chiến thắng 3–0 trước Stuttgart, anh vào sân từ ghế dự bị ở phút thứ 77. Ngày 3 tháng 11 năm 2018, Gnabry ghi pha lập công đầu tiên cho Bayern München trong trận hòa 1–1 với Freiburg. Ngày 1 tháng 12 năm 2019, Gnabry lập cú đúp bàn thắng trong chiến thắng 2–1 trước đội bóng cũ của anh là Werder Bremen. Ngày 2 tháng 3 năm 2019, Gnabry là người ghi bàn thắng thứ 4000 của Bayern München tại Bundesliga trong trận thắng 5–1 trước Gladbach, giúp Bayern trở thành đội bóng đầu tiên đạt cột mốc nói trên. Ngày 3 tháng 3 năm 2019, Gnabry đặt bút ký một bản hợp đồng mới với Bayern München kéo dài đến năm 2023 và là chân sút xuất sắc thứ hai của đội bóng vào cuối mùa giải Bundesliga, với 10 bàn thắng sau 30 trận thi đấu. Anh giành danh hiệu đĩa bạc Bundesliga đầu tiên cùng Bayern với 2 điểm nhiều hơn đội á quân Dortmund (78 điểm). Ngày 1 tháng 10 năm 2019, Gnabry ghi liền 4 bàn thắng tại UEFA Champions League 2019-20 vào lưới Tottenham Hotspur, giúp Bayern giành thắng lợi ngay trên sân khách với tỉ số 7–2. Ngày 25 tháng 2 năm 2020, anh lập cú đúp vào lưới Chelsea ở trận lượt đi vòng 16 đội của Champions League, ấn định chiến thắng 3–0 của Bayern trên sân khách. Thành tích này cũng biến anh trở thành cầu thủ đầu tiên ghi 6 bàn thắng trên sân khách tại Luân Đôn chỉ trong một mùa bóng Champions League. Ngày 14 tháng 8, anh ghi một bàn thắng trong chiến thắng 8–2 trước Barcelona ở vòng tứ kết. Ngày 19 tháng 8, anh lập cú đúp trong trận thắng 3–0 trước Lyon ở vòng bán kết, nâng thành tích của anh lên con số 9 bàn thắng sau 9 trận đá tại giải đấu. Với chiến thắng 1–0 của Bayern trước Paris Saint-Germain tại trận chung kết, anh đã giành được danh hiệu Champions League đầu tiên trong sự nghiệp cùng với đồng đội Joshua Kimmich – một đồng đội khác xuất thân từ học viện của VfB Stuttgart. Sự nghiệp cấp đội tuyển. Đội trẻ. Gnabry từng đại diện cho đội tuyển Đức thi đấu ở nhiều đội trẻ, cụ thể là lứa U–16, U–17 và U–18. Anh cũng nằm trong thành phần U–21 của tuyển Đức đăng quang giải vô địch U-21 châu Âu 2017. Thế vận hội Mùa hè 2016. Ngày 16 tháng 7 năm 2016, tuyển Olympic Đức đã lựa chọn Gnabry để tham dự Thế vận hội Mùa hè 2016. Ngày 4 tháng 8, anh có trận đá đầu tiên cho Olympic Đức trước Mexico và ghi bàn thắng đầu tiên cho đội, giúp Đức có trận hòa 2–2 với Mexico. 3 ngày sau, anh có 2 bàn thắng giúp Đức hai lần vươn lên dẫn trước Hàn Quốc, bàn thắng thứ hai của anh là một quả đá phạt ở phút bù giò giúp Đức giành được trận 3–3. Ngày 10 tháng 8, Gnabry góp thêm 2 bàn thắng nữa trong trận thắng đậm 10–0 của Đức trước Fiji. Ở vòng tứ kết khi Đức đụng độ Bồ Đào Nha, anh ghi bàn thắng thứ 6 tại giải đấu trước khi hiệp một khép lại, giúp Đức giành chiến thắng 4–0 chung cuộc. Anh kết thúc giải với danh hiệu vua phá lưới cùng đồng đội Nils Petersen và đem về cho Đức tấm huy chương bạc. Tuyển quốc gia. Ngày 4 tháng 11 năm 2016, Gnabry có lần đầu được gọi lên tuyển quốc gia Đức. 7 ngày sau, anh lập cú hat-trick trong trận đá đầu tiên cho tuyển Đức trước San Marino trong trận thắng 8–0 trên sân khách ở vòng loại giải vô địch thế giới 2018. Ngày 9 tháng 10 năm 2019, trong trận giao hữu hòa 2–2 với Argentina, Gnabry trở thành cầu thủ đạt 10 bàn thắng trong màu áo tuyển nhanh nhất với lần ra sân thứ 11 và phá kỷ lục của Miroslav Klose sớm 2 trận. Ngày 19 tháng 11 năm 2019, anh lập cú hat-trick khác trong chiến thắng 6–1 trước Bắc Ireland. Đây cũng là cú hat-trick thứ hai trong sự nghiệp cấp đội tuyển của anh.
1
null
Brest (, "Brest" Берасце, "Bieraście"; "Brest"; ; ; "Brisk"), trước đây cũng được gọi là Brest-on-Bug ("Brześć nad Bugiem" ở Ba Lan) và Brest-Litovsk ("Brześć Litewski" ở Ba Lan), là một thành phố của Belarus nằm cạnh biên giới với Ba Lan, ngay gần thành phố Terespol Ba Lan, nơi sông Bug và sông Mukhavets gặp nhau. Đây là thủ phủ của voblast Brest. Pháo đài Brest, nơi diễn ra trận tử thủ pháo đài Brest nổi tiếng năm 1941, nằm chệch về phía Tây thành phố, nằm trên một hòn đảo lớn tại ngã ba sông Bug Tây và sông Mukhavets.
1
null
George Raymond Richard Martin (sinh ngày 20 tháng 9 năm 1948) là nhà biên kịch người Mỹ và là nhà văn viết truyện giả tưởng, kinh dị, khoa học viễn tưởng. Ông được biết đến với tác phẩm A Song of Ice and Fire - Trò chơi vương quyền – bộ sử thi hùng tráng bán chạy nhất, được HBO dựng thành series phim truyền hình ăn khách. Martin được tạp chí Time bình chọn là một trong "những người có ảnh hưởng nhất trên thế giới" (2011 Time 100). Thân thế cuộc đời. George R. R. Martin sinh tại Bayonne, New Jersey, là con trai của một phu khuân vác. Sinh ra và lớn lên trong sự nghèo khó nhưng với trí tưởng tượng phong phú của mình, ngay từ khi còn bé, ông đã bắt đầu viết và bán những câu chuyện về quái vật cho lũ trẻ con ở những khu phố khác. Ông viết hẳn một câu chuyện về vương quốc thần thoại của loài rùa – con vật cưng của mình. Sau đó, ông nhanh chóng trở thành fan cuồng nhiệt của truyện tranh, hâm mộ những câu chuyện về những siêu anh hùng. Năm 1963, ông bắt đầu tham gia vào giới fan trẻ hâm mộ truyện tranh và viết các cuốn tiểu thuyết khác nhau. Năm 1965, Martin giành giải thưởng Alley cho cuốn truyện tranh về siêu anh hùng Powerman vs Blue Barrier. Truyện ngắn khoa học viễn tưởng đầu tiên của ông được xuất bản vào đầu năm 1970. Cuốn sách đầu tiên được đề cử giải thưởng Hugo và Tinh Vân là With Morning Comes Mistfall, xuất bản năm 1973 bởi tạp chí Analog. Cuốn sách thứ tư của Martin, The Rag Armageddon (1983) thất bại, "gần như phá hủy sự nghiệp của tôi vào thời điểm đó", ông nhớ lại. Tuy nhiên, nó mở đầu cho sự nghiệp truyền hình của ông. Cuốn tiểu thuyết Nightflyers của ông được chuyển thể thành bộ phim cùng tên năm 1987. Nhưng điều đó chưa khiến ông thỏa mãn bởi sự cố gắng của ông đã bị hãng phim cắt giảm kịch bản và ngân sách. Ngoài phần lớn các tác phẩm viễn tưởng và kinh dị, ông còn viết tiểu thuyết chính trị - quân sự, Night of Vampyres, nằm trong tuyển tập của Harry Turtledove, đoạt giải cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng quân sự hay nhất của thế kỷ 20. A Song of Ice and Fire/ Trò chơi vương quyền. Năm 1991, Martin trở lại sự nghiệp văn chương với bộ sử thi đồ sộ A Song of Ice and Fire/ Trò chơi vương quyền (lấy cảm hứng từ "cuộc chiến hoa hồng" và Ivanhoe). Martin bắt tay vào viết bộ tiểu thuyết này năm 1991 và xuất bản tập đầu tiên vào năm 1996. Sau đó, ông dần mở rộng kế hoạch 3 tập đầu tiên thành 4, 6 và cuối cùng là 7 tập. Tập 5 – A Dance with Dragons hoàn thành sau hơn 5 năm và được xuất bản vào năm 2011. Cuốn thứ 6 – The Winds of Winter vẫn đang được ông thực hiện. Series phim truyền hình A Game of Thrones/ Trò chơi vương quyền trên HBO. Trong suốt thời gian hoàn thành A Dance with Dragons và các dự án khác, George R. R. Martin cũng tham gia rất nhiều vào quá trình sản xuất bộ phim truyền hình dài tập A Game of Thrones chuyển thể từ bộ tiểu thuyết A Song of Ice and Fire. Sự tham gia của Martin bao gồm việc lựa chọn đội ngũ sản xuất, tham gia viết kịch bản, được ghi nhận như nhà sản xuất của series phim này. Năm 2007, HBO mua bản quyền toàn bộ A Song of Ice and Fire, dựng phim và phát sóng lần đầu tiên vào ngày 17/04/2011, mỗi tuần chiếu 1 tập, mỗi tập có độ dài hơn 1 tiếng. Season 1 của bộ phim được đề cử 13 giải Emmy và giành 2 giải. Season 2 với 10 tập được phát sóng vào tháng 1/2012, được đề cử 12 giải Emmy và giành 6 giải. Các thông tin liên quan. Tiểu thuyết thiếu nhi. The Ice Dragon Viết kịch bản game. - Elden Ring (2022) Chú thích
1
null
Sony Ericsson W980 là một chiếc điện thoại nắp gập của Sony Ericsson, được phát hành vào ngày 10 tháng 2 năm 2008. Là thành viên của dòng điện thoại nghe nhạc Walkman của Sony Ericsson, W980 sở hữu trình nghe nhạc Walkman và nhiều tính năng cao cấp như ShakeControl, chuyển bài hát bằng động tác lắc tay; TrackID giúp nhận diện bài hát và SensMe giúp chọn nhạc theo tâm trạng người nghe... W980 được trang bị công nghệ âm thanh Clear Audio. Bên dưới màn hình phụ là các phím điều khiển nghe nhạc giúp người dùng nghe nhạc thoải mái khi máy đang gập. Sony Ericsson W980 đã giành được giải Điện thoại Nghe nhạc tốt nhất của Hiệp hội Nghe nhìn châu Âu (EISA) năm 2008.
1
null
Trận Beaugency, còn gọi là Trận Beaugency-Cravant, là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, diễn ra từ ngày 8 cho đến ngày 10 tháng 12 năm 1870. Trong cuộc giao chiến quyết liệt suốt 3 ngày này, "Phân bộ quân" thuộc "Binh đoàn thứ hai" của Đức do Friedrich Franz II, Đại Công tước xứ Mecklenburg, chỉ huy đã giành được Beaugency trong tay "Binh đoàn Loire" của Pháp do tướng Antoine Chanzy chỉ huy, mặc dù quân Pháp có ưu thế về mặt quân số. Với thất bại của ông ta trong trận chiến Beaugency, lực lượng của Chanzy phải tiến hành triệt thoái về Le Mans qua đường Vendóme. Sau chiến thắng của ông ta trong trận Loigny-Poupry, Đại Công tước xứ Mecklenburg đã tái chiếm Orléans, sau đó ông tiến đánh tướng Chanzy của Pháp. Vào ngày 6 tháng 12 năm 1870, quân kỵ binh thuộc "Phân bộ quân" của Mecklenburg đã tiếp cận các tiền đồn của Chanzy, vào ngày hôm sau (7 tháng 12), sư đoàn số 1 thuộc "Phân bộ quân" của Mecklenburg khi đang tiến dọc theo bờ trái sông Loire thì tiếp cận với sư đoàn Pháp dưới quyền tướng Câmo. Quân Pháp bị đánh bại, song vào ngày 8 tháng 12 năm 1870, Chanzy đã đích thân chỉ huy quân Pháp tấn công đối phương từ Mecklenburg và Marchenoir. Mecklenburg cũng khai triển toàn bộ lực lượng của mình, gồm cả quân đoàn Bayern là trung quân của ông. Nhiều người lính Đức dày dạn đã ghi nhận cuộc giao tranh dọc theo chiến tuyến Beaugency là trận đánh dữ dội nhất trong cuộc đời chinh chiến của họ. Một lần nữa, người Đức giành được lợi thế trong chiến trận, gây thiệt hại nặng nề cho người Pháp: quân Đức bắt được không ít tù binh cùng với một số khẩu pháo của đối phương. Trước tình hình đó, đoàn đại biểu của chính quyền Pháp đã quyết định rời bỏ Tours, và trong ngày hôm ấy quân Đức đã làm chủ Beaugemcy. Sang ngày hôm sau (9 tháng 12), giữa những cuộc giao chiến dồn dập, Mecklenburg đã chiếm đoạt rừng Marchenoir, cùng với một số ngôi làng nằm về hướng bắc Beaugency. Thậm chí quân Đức còn suýt bắt được Bộ trưởng Nội vụ Léon Gambetta của Pháp, song Mecklenburg ngưng chiến vì yếu thế về quân số. Nhìn chung các trận đánh này cũng có những tương quan với nhau: quân đội Đức đã giành chiến thắng do có các lực lượng mạnh mẽ, trong khi các binh đoàn Pháp dù đuối sức nhưng đã chiến đấu dũng cảm, song không chống nổi quân lực được chỉ huy và tổ chức tốt của Đức. Được tin về các sự kiện vào ngày 7 tháng 10, thống chế – hoàng thân Friedrich Karl của Phổ, tư lệnh binh đoàn thứ hai, đã tăng viện quân đoàn số 10 cho Mecklenburg, đồng thời cũng xuống lệnh cho quân đoàn số 9 cộng tác với viên tướng này ở bờ trái sông Loire. Vào ngày 10 tháng 10 năm 1870, Chanzy đã phát động một cuộc tấn công vào quân đội Đức. Tuy giành thắng lợi ban đầu, cuộc tiến công này đã quân Đức đánh bật. Cuối cùng, có lẽ là do bị quân đoàn số 9 của Đức đe dọa bên sườn, Chanzy rút chạy nhanh chóng trong thời tiết khắc nghiệt và sự truy sát của Friedrich Karl. Quân Đức đã bắt thêm một số tù binh tại Vendóme
1
null
Theo quan niệm Kitô giáo, thiên thần là những tạo vật vô hình do Thiên Chúa tạo ra để phục vụ cho các công việc của Thiên Chúa. Vào thời Trung Cổ, đã có nhiều nhà thần học cố gắng phân loại ra các cấp bậc thiên thần trên thiên đàng. Một tác giả vô danh sống ở thế kỷ thứ VI, dưới danh nghĩa là Điônisiô, trình bày một thuyết về chín phẩm thiên thần trong tác phẩm "De Coelesti Hierarchia" ("Phẩm trật trên trời"). Dựa theo mô hình của tiến trình hướng về sự toàn thiện (gồm có ba chặng: thanh luyện, soi sáng và hoàn bị), ông chia các thiên sứ thành ba cấp và mỗi cấp gồm ba đẳng, từ đó nhân ra thành chín đẳng, quen gọi là chín phẩm thiên thần, tương tự với cửu phẩm trong hàng triều thần đời xưa. Cấp một. Cấp bậc một là nhóm các thiên thần chủ yếu làm nhiệm vụ thờ phượng Thiên Chúa. Họ là những tạo vật kề cận Thiên Chúa nhất. Seraphim - Luyến thần. Seraphim (tiếng Hebrew: שְׂרָפִים "serafim", "kẻ bốc lửa") được đề cập trong Sách I-sai-a 6:1-7. Họ là những tạo vật đứng hầu cận ngai Thiên Chúa và liên tục hát lời ca ngợi: "Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!" Seraphim thường gắn liền với hai biểu tượng: - Biểu tượng thứ nhất, khá quen thuộc ở Việt Nam, áp dụng cho các ca đoàn, ca hát chúc tụng Chúa. - Biểu tượng thứ hai là lòng sốt mến, dựa theo nguyên ngữ trong tiếng Hebrew שְׂרַף (seraf) có nghĩa là "đốt cháy" hay "bừng cháy", hiện nay còn được dùng với nghĩa "rắn hổ mang", từ thuật ngữ này rất có thể Serafim có thể là loài rồng trong các thần thoại cổ xưa. Theo mô tả trong đoạn Kinh Thánh này thì Luyến thần có sáu cánh: "Mỗi vị có sáu cánh: hai cánh để che mặt, hai cánh để che chân và hai cánh để bay." Theo như một số sách thì nhóm Luyến thần gồm bốn thiên thần bay xung quanh ngai tòa Thiên Chúa, nhưng chỉ có hai luyến thần được nhắc tên là "Seraphiel" và "Metatron" (trong đó, Seraphiel được miêu tả là có cái đầu của phượng hoàng). Các Luyến thần thường xuyên cháy sáng khiến ánh sáng phát ra từ họ sáng chói đến nỗi không một ai, thậm chí là các thiên thần khác, có thể nhìn trực tiếp được. Cherubim - Minh thần. Cherubim (tiếng Hebrew":" כְּרוּבִים, krūvîm, có thể mượn từ tiếng Akkad: 𒅗𒊒𒁍 "karābu, ""được phù hộ" hay 𒅗𒊑𒁍 "karibu, "thần phù hộ"") được nhắc đến trong rất nhiều sách khác nhau, như Sách Sáng Thế 3:24, Sách Êdêkien 10:12-14, Sách Các Vua quyển thứ nhất 6: 23-28 và Sách Khải Huyền 4:6-8. "Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh." (St 3:24) Vai trò của các Cherubim trở nên quen thuộc với dân Do Thái từ khi ông Môsê cho phép đúc hai tượng Cherubim bằng vàng đặt ở đầu của hòm bia. Chính từ đó mà Thiên Chúa đã ban sấm ngôn (Xh 25,18-22; 37,7; Ds 7,89). Vì thế mà có thành ngữ "Thiên Chúa ngự trên các Cherubim" (1Sam 4,4; 2 Sam 6,2; Is 37,16). Đến khi vua Salomon xây cất đền thờ tại Giêrusalem, ông cũng duy trì tập tục đó, tạc hai tượng Cherubim bằng gỗ ôliu chạm vàng, đứng hai bên cạnh hòm bia, phủ cánh che rợp hòm bia (1V 6 23-28). Vì thế, các Minh thần Cherubim (bản Kinh Thánh tiếng Anh có đề cập đến tên gọi này) được gọi là các thiên thần hộ giá và đứng đầu trong phẩm trật thiên thần vì luôn kề cạnh bên Thiên Chúa. Hình dáng của các Minh thần được miêu tả trong sách Êdêkien 1: 5-12 theo thị kiến của nhà tiên tri này như sau: "Đây là dáng vẻ của chúng: chúng trông giống như người ta. Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. Còn chân của chúng thì thẳng; bàn chân tựa bàn chân con bê, lấp lánh như đồng sáng loáng. Bên dưới cánh, có những bàn tay giống tay người quay về bốn phía; mặt và cánh của bốn sinh vật cũng đều như thế. Cánh của chúng giáp vào nhau. Lúc đi, chúng không quay mặt vào nhau, nhưng cứ thẳng phía trước mặt mà tiến. Còn bộ mặt của chúng, thì chúng đều có mặt người, cả bốn đều có mặt sư tử bên phải, cả bốn đều có mặt bò rừng bên trái, cả bốn đều có mặt phượng hoàng. Đó là mặt của chúng. Còn cánh của chúng thì giương lên cao. Mỗi sinh vật có hai cánh giáp vào nhau và hai cánh khác phủ thân mình. Chúng cứ thẳng phía trước mặt mà đi, thần khí đẩy phía nào, chúng đi phía đó; lúc đi chúng không quay mặt vào nhau." Nhiều sách cho rằng, các Minh thần được Thiên Chúa giao nhiệm vụ cai quản cây trường sinh trong vườn Địa Đàng và ngai tòa của Ngài. Ngoài ra, nhiều người cũng nhầm lẫn hình dáng các Minh thần với các thiên thần mang hình dáng là những đứa trẻ có cánh. Ophanim - Bệ Thần hay Thronos - Ngai thần. Ophanim (tiếng Hebrew: אוֹפַנִּים, ofanim, "bánh xe") hay "Thronos" (tiếng Hy Lạp: θρόνος, "ngai vàng") cũng xuất hiện nhiều trong Kinh Thánh như: Sách Khải Huyền 11:16 và Thư gửi tín hữu Côlôxê 1: 16. Các Ophanim được miêu tả dưới hình dạng những bánh xe, có nhiều mắt trên vành bánh (theo thị kiến của tiên tri Êdêkien 1:15-21). Ngai thần thì có hình dáng là chiếc ngai vàng. Các thiên thần này biểu tượng cho công lý và quyền uy của Thiên Chúa. Cùng với Luyến thần và Minh thần, các Ngai thần không bao giờ ngủ mà canh giữ cho ngai tòa của Thiên Chúa. Các Ngai thần dường như có mối quan hệ mật thiết với các Minh thần. "Khi các thần hộ giá dừng lại, các bánh xe cũng dừng lại, khi các thần hộ giá cất mình lên, các bánh xe cũng cất lên theo, bởi vì thần khí của sinh vật ở trong các bánh xe." (Êdêkien 10:17) Cấp hai. Cấp hai là nhóm các thiên thần làm việc như những vị quản trị thiên đàng và phụ trách các vật thụ tạo. Kyriotētes - Quản thần. Quản thần (tiếng Hy Lạp: "kyriotētes, tiếng Latinh: dominationes") được coi là những thiên thần điều phối hoạt động của các thiên thần cấp dưới. Nhiệm vụ chính của họ là giữ gìn vũ trụ theo đúng quỹ đạo bằng cách gửi sức mạnh cho những nhà quản trị các quốc gia. Quản thần được miêu tả với hình dạng giống như thần linh xinh đẹp, có đôi cánh lông vũ như hình tượng chung của các thiên thần. Tuy nhiên, để phân biệt với các thiên thần khác, các Quản thần có thanh gươm ánh sáng gắn chặt vào đầu. Virtutes - Dũng thần. Dũng thần (Latinh: "Virtutes") có nhiệm vụ giám sát sự chuyển động của các thiên thể để đảm bảo rằng vũ trụ tuân theo chuyển động tự nhiên. Họ tăng thêm sức mạnh cho những nhân vật tài năng dưới trần gian. Virtutes (Dũng thần) có nghĩa là quyền năng, sức mạnh và uy lực. Dũng thần là các thiên thần luôn sẵn sàng, dũng cảm thi hành những việc phi thường. Potestates - Quyền thần. Quyền thần (Latinh: "Potestates") giám sát sự phân chia quyền lực giữa nhân loại, giữ vững ranh giới giữa thiên đàng và trần gian. Quyền thần mang hình dạng rực rỡ màu sắc và sương khói mờ ảo. Cấp ba. Là những thiên thần hoạt động như là sứ giả của Thiên Chúa hoặc là đạo binh thiên quốc. "Archaios" - Lãnh thần. Lãnh thần (tiếng Hy Lạp: Αρχαιος, Latinh: principatus) thường xuất hiện để cộng tác năng lực với Quyền thần. Lãnh thần được tạo hình có đội ​​một vương miện và mang theo một cây gậy. Nhiệm vụ của họ là thực hiện tấn phong cho các lãnh chúa xứ sở và gìn giữ thế giới vật chất, giám sát các nhóm người. Họ là những quan thầy và bảo hộ cho các lãnh quốc trên Trái Đất. Ngoài ra, Lãnh thần còn truyền cảm hứng và tư tưởng cho chúng sinh trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học. Archangelos - Tổng lãnh thiên thần. Từ Tổng lãnh thiên thần (tiếng Hy Lạp: ἀρχάνγελος, dịch nguyên từ tiếng Hebrew: רַב־מַלְאָך ""rav‘mal'ákh"," ghép của hai từ ""arch - rav" cấp cao" và ""angelos" - "mal'ákh"" "sứ giả") chỉ xuất hiện hai lần trong Tân Ước (Thêxalônica 4:16 và Giuđa 1:09). Người ta biết nhiều đến ba tổng lãnh thiên thần là Michael, Raphael và Gabriel. Trong Sách Tôbia (được Công giáo và Chính Thống giáo chấp nhận) còn đề cập đến tổng lãnh thiên thần Raphael khi Raphael nói với Tôbia rằng ông là "một trong bảy người hầu cận trước mặt Chúa" (hàm ý sáu người còn lại có Michael và Gabriel). Angelos - Thiên thần. Các "thiên thần" (tiếng Hy Lạp: "ἄγγελος", tiếng Hebrew: מַלְאָכִים "mal'akhim," nghĩa là "sứ giả" hay "đặc sứ") là cấp độ thấp nhất của hệ thống thiên sứ và được biết đến nhiều nhất. Họ là những tạo vật theo dõi công việc của chúng sinh dưới trần gian. Có nhiều loại thiên thần khác nhau, với các chức năng khác nhau. Trong Công giáo Rôma, có thiên thần hộ thủ (hoặc thiên thần bản mệnh) được tin là thiên thần theo dõi và hướng dẫn cho mỗi cá nhân.
1
null
WISE 1828+2650 (tên hiệu đầy đủ là WISEPA J182831.08+265037.8) là sao lùn nâu có nhiệt độ thấp nhất hiện được biết đến, tọa lạc ở góc Tây Nam của chòm sao Thiên Cầm. Nó được xem là thành viên nguyên mẫu của một ngôi sao có độ sáng mức Y. Cấp độ. Nó là một trong 6 sao lùn nâu cấp Y cùng với WISE 0410+1502, WISE 1405+5534, WISE 1541-2250, WISE 1738+2732 và WISE 2056+1459; và là một trong 106 sao lùn nâu trên thế giới, tính cả các hệ sao đôi). WISE 1828+2650 được phát hiện vào năm 2011 bởi tàu thăm dò Wide-field Infrared Survey Explorer (WISE). Với nhiệt độ chưa tới 300 độ K(25 độ bách phân) - thấp hơn cả thân nhiệt của con người và xấp xỉ với nhiệt độ phòng, nó hiện là sao lùn nâu có nhiệt độ thấp nhất được tìm thấy. Nó được quy cho là thành viên của lớp sao mới nhất theo phân loại quang phổ Morgan-Keena (≥Y2, ban đầu được ước tính là >Y0), mặc dù trong năm 2012 có thêm 8 sao lùn nâu cấp Y được phát hiện. Khoảng cách. Các ước tính vào năm 2011 cho kết quả khoảng cách từ WISE 1828+2650 đến Trái Đất là nhỏ hơn 9,4 pc (nhỏ hơn 30,7 năm ánh sáng). Vào năm 2012, thị sai lượng giác học của nó được công bố là 0,122 ± 0,013 giây, tương ứng với khoảng cách 8,2 pc hay 26,7 năm ánh sáng.
1
null
Mùa bóng 2012-2013 là mùa bóng lần thứ 121 câu lạc bộ Liverpool tham gia trên các giải đấu. Trong mùa này, Liverpool tham gia vào 3 hệ thống giải đấu trên các mặt trận ở nước Anh cũng như trên đấu trường châu Âu là: Giải ngoại hạng Anh, Cúp Liên đoàn Anh và UEFA Europa League. Huấn luyện viên cầm quân mùa này của Liverpool là Brendan Rodgers thay cho Kenny Dalglish. Ngay trong mùa giải này, Liverpool đã chính thức có mẫu áo đấu mới. Khác với những mùa giải trước, mùa này trang phục của Liverpool được sản xuất bởi Warrior Sport thay vì Adidas. Màu đỏ vẫn là tông màu chủ đạo trong bộ trang phục mới của đội bóng. Biểu tượng ngọn lửa vĩnh cửu được đặt ở hai bên cổ áo, và ở giữa là số 96 - số người đã thiệt mạng trong thảm họa Hillsborough. Chung cuộc mùa bóng này, Liverpool trắng tay ở tất cả các mặt trận. Tại Giải ngoại hạng Anh, Liverpool đã thua trận đầu và kết thúc giải với vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng. Câu lạc bộ này liên tục dừng bước ngay từ những vòng đầu của những giải đấu mà họ tham gia trong nước cũng như châu lục. Một đội hình thi đấu khá nghèo nàn và phục thuộc nhiều vào Luis Suarez vốn có phong độ cũng không ổn định. Gerrad thì đã cho thấy dấu hiệu của tuổi tác dù anh luôn giữ ngọn lửa trong từng trận đấu. Đội hình thi đấu. Đội hình chính. Giải ngoại hạng Anh. - "Tổng quan": Tại giải ngoại hạng Anh, Liverpool đã có trận đầu ra quân trong mùa giải mới, ngay trong trận đầu ra quân vào ngày 18 tháng 8 năm 2012, Liverpool phải làm khách trên sân của đội bóng West Bromwich Albion và kết quả Liverpool đã phải gánh chịu thất bại đầu tiên với tỷ số 0-3 trước một đối thủ tràn trề khí thế. Trận thảm bại ngày hôm đó không chỉ làm bẽ mặt Liverpool mà nó còn lấy đi mất của họ trung vệ quan trọng Daniel Agger do bị thẻ đỏ. - "Đội hình ra sân": Số 25 Pepe Reina, 5 Daniel Agger, 37 Martin Skrtel, 2 Glen Johnson, 34 Martin Kelly, 21 Lucas, 24 Joe Allen, 19 Stewart Downing, 8 Steven Gerrard, 29 Fabio Borini, 7 Luis Suarez - "Diễn biến chính": Liverpool tung ra sân với đội hình khá mạnh nhưng trong suốt hiệp 1 không tạo được thế trận tốt. Ngay trước khi hiệp 1 trận đấu kết thúc Liverpool đã phải đón nhận bàn thua từ pha ghi bàn của tiền vệ Gera bên phía đội chủ nhà. Sang hiệp 2, các cầu thủ Liverpool đã trải qua một hiệp đấu hết sức tồi tệ. Có 2 tình huống dẫn đến những quả phạt 11m của trung vệ Agger và Skrtel, anh này rời sân phút 58 với chiếc thẻ đỏ trực tiếp. Đội chủ nhà sau đó đã ghi liên tiếp hai bàn hắng. - "Tổng quan": Bước sang vòng đấu thứ 2, Liverpool gặp thử thách quan trọng trước đội bóng đương kim vô địch Manchester City. Liverpool có lợi thế sân nhà. Chung cuộc, tỷ số 2-2. Cầu thủ bóng đá ghi bàn cho Liverpool là Škrtel vào phút thứ 34' và Suárez vào phút thứ 66'. - "Đội hình": Reina, Kelly (thay bằng Enrique ở phút 66), Coates, Skrtel, Johnson, Gerrard, Lucas (thay bằng Shelvey phút thứ 5), Allen, Borini (Carroll 83), Suarez, Sterling. Về phía - "Diễn biến chính": Phút thứ 4, tiền vệ Lucas đã dính chấn thương háng và phải rời sân. Liverpool giữ thế trận rất chắc chắn, không nao núng trước những pha xử lý của các cầu thủ Manchester City và sau đó đã hai lần vượt lên dẫn trước, trong đó bàn mở tỷ số cho Liverpool đến từ một tình huống cố định và sau đó là Luis Suarez có một quả đá phạt trực tiếp. Nhưng những sai lầm ở hàng thủ đã khiến họ phải trả giá, khi để Manchester City cầm hòa 2-2 tại vòng 2 Premier League. Martin Skrtel và Luis Suarez là những người lập công cho The Kop, trong khi hai bàn gỡ của nhà đương kim vô địch được thực hiện bởi Yaya Toure và Carlos Tevez. - Liverpool đụng phải đội bóng Arsenal. Dù với lợi thế sân nhà nhưng đội bóng này đã thua với tỷ số 0-2. - "Đội hình": Reina, Johnson, Agger, Skrtel, Enrique, Gerrard, Sahin, Allen, Sterling, Suarez, Borini. - "Diễn biến chính": Arsenal đã bùng nổ trên sân Anfield, đã may mắn khi được trọng tài Howard Webb bỏ qua nhiều pha phạm lỗi nếu không họ có thể phải chịu tới 3 quả phạt đền. Tuy vậy lần lượt Podolski và Cazorla lập công, giúp Arsenal chiến thắng. - "Tổng quan": Diễn ra vào ngày 15 tháng 9 năm 2012. Liverpool đến làm khách tại sân của Sunderland, Quyết tâm giành chiến thắng, chơi hừng hực khí thế, chiếm ưu thế hơn về trên nhiều phương diện nhưng Liverpool vẫn không thể thắng chung cuộc tỷ số hòa 1-1. Cầu thủ ghi bàn phía Liverpool là Suárez ghi vào phút thứ 71'. - "Đội hình thi đấu": Reina, Kelly, Skrtel, Agger, Johnson, Allen, Gerrard, Shelvey, Borini (Downing 64’), Suarez, Sterling - "Tổng quan": Vào ngày 23 tháng 9 năm 2012, Liverpool tiếp đội bóng mạnh là MU tại sân nhà. Dù đã rất cố gắng nhưng phải gánh chịu thất bại với tỷ số 1-2. Người ghi bàn cho Liverpool là đội trưởng Gerrald ở phút thứ 76. - "Đội hình ra sân": Thủ môn Reina, Kelly, Agger, Skrtel, Johnson, Allen, Gerrard, Shelvey, Borini, Sterling và Suarez. - "Diễn biến chính": Hiệp 1 diễn ra với ưu thế của Liverpool trong khi MU tỏ ra bị động tuy vậy sau 45 phút đầu tiên vẫn chưa có bàn, thậm chí còn phải chơi thiếu người sau chiếc thẻ đỏ của Shelvey do phạm lỗi thô bạo với Evans của MU. Ngay đầu hiệp 2 Gerrard đã đưa Liverpool vươn lên dẫn trước sau cú sút trong vòng cấm. Nhưng ngay lập tức MU đã có bàn thắng gỡ của hậu vệ Rafael. Ở những phút cuối khi MU được hưởng quả 11m sau pha phạm lỗi của Johnson với Valencia. Và sau hai quả 11m không thành công từ đầu mùa giải Premier League, MU cũng có bàn thắng quyết định nhờ công của Van Perise và ấn định chiến thắng 2-1 cho đội khách. - "Tổng quan": Diễn ra vào ngày 29 tháng 9 năm 2012. Lần này tuy phải đến làm khách tại sân của Norwich City nhưng Liverpool đã có chiến thắng đầu mùa với tỷ số cách biệt: 5-2. Suárez đã lập cú hattrick vào các phút thứ 2', 38', 56'. Hai người ghi bàn còn lại là Şahin ở phút thứ 47' và đội trưởng Gerrard vào phút thứ 67'. - "Đội hình ra sân": Số 25 Pepe Reina, 5 Daniel Agger, 37 Martin Skrtel, 2 Glen Johnson, 47 Andre Wisdom, 24 Joe Allen, 4 Nuri Sahin, 8 Steven Gerrard, 31 Raheem Sterling, 7 Luis Suarez và số 30 Suso - "Diễn biến chính": Phút thứ hai của trận đấu, Suarez đã đưa Liverpool vươn lên dẫn trước. Có được lợi thế dẫn bàn từ khá sớm, Liverpool thi đấu rất thoải mái và áp đảo hoàn toàn đội chủ nhà. Liên tiếp các phút sau đó Liverpool đã ghi được tới 4 bàn thắng với sự tỏa sáng của Sahin, Gerrard và 1 cú đúp cho Suarez. Norwich dù rất nỗ lực cũng chỉ có được 2 bàn. Chiến thắng này đã giúp Liverpool có được 3 điểm đầu tiên ở mùa giải. Cúp Liên đoàn Anh. - "Tổng quan": Cúp Liên đoàn Anh vào ngày 26 tháng 9 năm 2012, Liverpool gặp lại West Brom. Một trận đấu khó khăn của Liverpool nhưng nhờ cú đúp của tân binh Nuri Sahin đã giúp cho Liverpool có cuộc lội ngược dòng thành công. Chung cuộc, Liverpool giành chiến thắng với tỷ số 2-1. - "Đội hình ra sân": Số 1 Brad Jones, 23 Jamie Carragher, 16 Sebastian Coates, 49 Jack Robinson, 47 Andre Wisdom - 19 Stewart Downing, 4 Nuri Sahin, 14 Jordan Henderson, 11 Assaidi, 12 Dani Pacheco và số 36 Samed Yesil. - "Diễn biến chính": Hiệp 1 trận đấu bắt đầu vài phút, Liverpool đã để thua từ cú dứt điểm của Gabriel Tamas. Sau đó Nuri Sahin gỡ hòa cho Liverpool. Hiện 2 diễn ra khá căng thẳng với nhiều tính huống ăn bàn nhưng cuối cùng chỉ có Sahin tiếp tục tận dụng cơ hội và đưa Livepool tới chiến thắng ở cuối trận. Europa League. Năm 2012, Liverpool được tham dự giải Europa League, họ đã thi đấu ở vòng bảng khá tốt ở lượt thứ nhất. Nhưng bắt đầu lượt thứ hai vòng bảng Europa League chứng kiến bất ngờ lớn khi Liverpool thất bại với tỷ số 2-3 ngay trên sân nhà trước Udinese. Jonjo Shelvey mở tỷ số ở phút 23 nhưng sau đó trong hiệp 2, họ để thủng lưới 3 bàn liên tiếp. Sau đó Brendan Rodgers phải đưa tiền đạo Luis Suarez vào sân anh gỡ lại một bàn cho Liverpool ở phút 75, nhưng chung cuộc Liverpool thất bại với tỷ số 2-3.
1
null
Xenocrates (; khoảng 396/5 – 314/3 tr.CN) của Chalcedon là một triết gia, nhà toán học Hy Lạp cổ đại, lãnh đạo trường học của Platon (Akademia, Ἀκαδήμεια) từ khoảng 339/8 tới 314/3 tr.CN. Các bài giảng của ông đi theo luận thuyết của Platon, nhưng ông cố gắng xác định rõ ràng và cụ thể hơn, thường với các yếu tố toán học. Ông phân biệt ba dạng tồn tại, cảm giác và tri giác, và một loại nữa tổ hợp của hai loại đó, tương ứng với quan niệm. Tính đơn nhất và tính lưỡng nguyên ong coi như các vị thần cai trị vũ trụ, và linh hồn một số tự vận động. Thượng đế tràn ngập mọi thứ, và có những thế lực hắc ám, trung gian giữa thần thánh và con người, thứ ẩn trong linh hồn. Ông cho rằng các thực thể toán học và các ý niệm của Platon là đồng nhất, không như Platon người phân biệt chúng. Trong cuốn "Đạo đức học", ông giảng rằng đức hạnh sinh ra đạo đức, nhưng những điều tốt bên ngoài có thể giúp đỡ nó và cho phép nó ảnh hưởng tới mục đích của mình.
1
null
Chương Dương là tên của địa danh lịch sử bến Chương Dương ("Chương Dương độ"). Địa danh này cùng với Hàm Tử là hai địa danh gắn liền với Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 2. Nhiều địa danh tại Việt Nam được đặt theo danh xưng này, bao gồm:
1
null
Quốc lộ 49B là con đường giao thông dọc theo Biển Đông của tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Ngày 8 tháng 2 năm 2018, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quyết định số 379/QĐ-UBND về việc công bố lại lộ giới Quốc lộ 49B có lộ giới từ 19,5 – 44 m và có chiều dài là 104,800 km. Điểm đầu tại Km 788+650, Quốc lộ 1, Ngã ba Mỹ Chánh, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Điểm cuối tại Km 869+450, Quốc lộ 1, Ngã ba Vinh Hiền, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trước đây, khi chưa có đập Thảo Long và cầu Ca Cút thì quốc lộ bị chia cắt tại cửa Thuận An. Tuy là đường Quốc lộ nhưng mặt đường chỉ rộng 3 – 5m và nhiều đoạn vẫn rất hẹp và xấu khiến cho nhiều người không biết đây là đường quốc lộ. Trong tương lai thì đây là tuyến đường chính trong việc phát triển các dịch vụ du lịch ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế.
1
null
"Pop Ya Collar" là đĩa đơn đầu tiên trích từ album phòng thu thứ ba của nam ca sĩ Usher, "8701". Đĩa đơn được chính thức phát hành vào ngày 12 tháng 2 năm 2012. Trong khi chỉ đạt được vị trí 60 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ, thì "Pop Ya Collar" lại là một thành công lớn ở Anh, khi ca khúc đạt vị trí á quân trên bảng xếp hạng UK Singles Chart. Danh sách ca khúc. CD ở Anh
1
null
"U Don't Have to Call" là một đĩa đơn trích từ album phòng thu thứ ba của nam ca sĩ người Mỹ Usher, "8701". Đây là đĩa đơn thứ ba của album ở Mỹ và là đĩa đơn thứ năm ở Anh. Ca khúc đã đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100. Ở Anh, "U Don't Have to Call" được phát hành cùng với "I Need a Girl (Part One)", một ca khúc của P. Diddy cộng tác với Usher. Đĩa đơn này đã vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart. Đĩa đơn này đã có hơn 4 triệu bản được tiêu thụ ở Mỹ. Trong ca khúc có phần hát bè được thực hiện bởi nữ ca sĩ Kelis. Video âm nhạc cho "U Don't Have to Call" được quay ở Los Angeles, tại Khách sạn Westin Bonaventure. Phối khí. Bản remix chính thức cho "U Don't Have to Call" có sự góp giọng của nam ca sĩ nhạc rap Ludacris. Danh sách ca khúc. CD ở Anh
1
null
SMS "Blücher" là chiếc tàu tuần dương bọc thép cuối cùng được Hải quân Đế quốc Đức ("Kaiserliche Marine") chế tạo. Được thiết kế để bắt kịp với những gì mà tình báo Đức tin tưởng một cách sai lầm là tính năng của lớp tàu chiến-tuần dương Anh "Invincible", "Blücher" lớn hơn mọi tàu tuần dương bọc thép bọc thép trước đây, và mang nhiều pháo hạng nặng hơn, nhưng vẫn không sánh được kích thước và vũ khí của thế hệ tàu chiến-tuần dương, vốn bắt đầu thay thế cho các tàu tuần dương bọc thép trong thành phần Hải quân Anh và Đức. "Blücher" được đặt tên theo vị Thống chế người Phổ Gebhard Leberecht von Blücher, Tư lệnh lực lượng Phổ trong trận Waterloo năm 1815. "Blücher" được đóng tại xưởng tàu Kaiserliche Werft (Xưởng tàu Đế chế) ở Kiel từ năm 1907 đến năm 1909, và được đưa ra hoạt động vào ngày 1 tháng 10 năm 1909. Nó phục vụ cùng Đội Tuần tiễu một trong hầu hết quãng đời hoạt động, bao gồm giai đoạn mở đầu của Chiến tranh Thế giới thứ nhất; đã tham các cuộc bắn phá Yarmouth cùng cuộc bắn phá Scarborough, Hartlepool và Whitby trong năm 1914. Trong trận Dogger Bank vào ngày 24 tháng 1 năm 1915, "Blücher" bị mất tốc độ đáng kể sau khi bị bắn trúng bởi hải pháo của Hải đội Tàu chiến-Tuần dương Anh dưới quyền chỉ huy của Phó đô đốc David Beatty. Chuẩn đô đốc Franz von Hipper, chỉ huy hải đội Đức, quyết định bỏ lại "Blücher" cho các tàu chiến đối phương truy đuổi nhằm cứu lấy các tàu chiến-tuần dương có giá trị hơn của mình. Dưới hỏa lực hoàn toàn áp đảo từ đối phương, "Blücher" lật úp và chìm, và các tàu khu trục Anh bắt đầu vớt những người sống sót. Tuy nhiên chúng buộc phải rút lui sau khi một khí cầu zeppelin tìm cách ném bom do nhầm tưởng "Blücher" là một tàu chiến-tuần dương Anh. Không thể biết chính xác tổn thất về nhân mạng, các con số thống kê đưa ra dao động trong khoảng từ 747 đến khoảng 1.000 người tử trận. Thiết kế. Bối cảnh. Tàu tuần dương bọc thép Đức, vốn được đặt tên "Große Kreuzer" (tàu tuần dương lớn), được thiết kế cho nhiều vai trò, bao gồm đối đầu với lực lượng trinh sát đối phương cũng như chiến đấu trong hàng chiến trận. Chiếc tàu tuần dương bọc thép cũ nhất "Fürst Bismarck" được chế tạo một cách vội vã để được bố trí đến Trung Quốc hỗ trợ cho việc dập tắt cuộc Nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900. Các tàu tuần dương bọc thép tiếp theo, ngoại trừ hai chiếc lớp "Scharnhorst", đã phục vụ cùng hạm đội trong lực lượng trinh sát. Vào ngày 26 tháng 5 năm 1906, Quốc hội Đức (Reichstag) thông qua ngân sách chế tạo "Blücher" cùng với hai thiết giáp hạm lớp "Nassau". Cho dù con tàu lớn hơn và mạnh mẽ hơn đáng kể so với mọi tàu tuần dương bọc thép trước đó, "Blücher" vẫn giữ lại tên gọi này nhằm che giấu bản chất sức mạnh của nó. Con tàu được đặt hàng dưới cái tên tạm thời "E"; thiết kế của nó bị ảnh hưởng bởi yêu cầu bắt kịp những tàu tuần dương bọc thép Anh mà người ta biết đang được chế tạo. Người Đức dự đoán các tàu chiến mới của Anh sẽ trang bị sáu hoặc tám pháo ; do đó Hải quân Đức chấp thuận một thiết kế bao gồm mười hai khẩu trên sáu tháp pháo nòng đôi, mạnh hơn đáng kể so với lớp tàu tuần dương bọc thép "Scharnhorst" của Đức trước đó vốn chỉ có tám khẩu pháo 21 cm. Một tuần sau khi có quyết định sau cùng cho phép chế tạo "Blücher", Tùy viên Hải quân sứ quán Đức tại Anh có được đặc tính chi tiết các con tàu mới của Anh, vốn được đặt tên là lớp "Invincible". Trong thực tế HMS "Invincible" mang tám khẩu pháo , cùng loại với kiểu được trang bị trên những thiết giáp hạm đương thời. Người ta nhanh chóng nhận ra đây là một kiểu tàu chiến hoàn toàn mới, mà cuối cùng sẽ được xếp loại như những tàu chiến-tuần dương. Khi chi tiết của lớp "Invincible" được bộc lộ, đã quá trễ để có thể thiết kế lại "Blücher", và cũng không có kinh phí cho việc tái thiết kế, nên công việc vẫn tiến hành theo kế hoạch. "Blücher" bị tranh luận là đã lạc hậu ngay cả trước khi việc chế tạo bắt đầu, và nhanh chóng bị các tàu chiến-tuần dương của Hải quân Đức vượt hơn, bắt đầu với chiếc "Von der Tann" được đặt hàng vào năm 1907. Cho dù vậy, "Blücher" vẫn thường được bố trí hoạt động cùng với hải đội tàu chiến-tuần dương Đức. Con tàu gây tốn kém cho Chính phủ Đức tổng cộng 28.532.000 Mác vàng Đức. Các đặc tính chung. "Blücher" có chiều dài ở mực nước là và chiều dài chung là ; mạn thuyền rộng , và khi lưới chống ngư lôi được gắn dọc bên lườn tàu mạn thuyền sẽ tăng lên . Con tàu có mớn nước phía trước mũi, nhưng kém hơn đôi chút phía đuôi. Con tàu có trọng lượng choán nước thiết kế , và tối đa khi đầy tải. Lườn tàu được cấu trúc bởi các khung thép ngang và dọc, con tàu có tổng cộng 13 ngăn kín nước và một đáy kép chiếm khoảng 65% chiều dài lườn tàu. Tài liệu lưu trữ của Hải quân Đức cho thấy sự hài lòng đối với con tàu do độ linh hoạt ngoài biển. Tuy nhiên, nó bị ảnh hưởng chòng chành nặng, và khi bẻ lái gắt nó nghiêng cho đến 10° và bị mất cho đến 55% tốc độ. Chiều cao khuynh tâm của "Blücher" là . Thủy thủ đoàn đầy đủ của nó bao gồm 41 sĩ quan và 812 thủy thủ, với thêm 14 sĩ quan và 62 thủy thủ nếu hoạt động như soái hạm của hải đội. Nó mang theo một số xuồng nhỏ, bao gồm hai xuồng gác, ba xuồng chỉ huy, hai xuồng đổ bộ, hai xuồng yawl và một xuồng nhỏ. Hệ thống động lực. "Blücher" trang bị ba động cơ hơi nước ba buồng bành trướng đặt dọc 4 xy lanh, mỗi động cơ nối với một trục chân vịt, và một bánh lái. Chân vịt giữa có đường kính trong khi hai chân vịt phía ngoài hơi lớn hơn với đường kinh . Các động cơ được bố trí trong các phòng động cơ riêng biệt, mỗi phòng còn có 6 nồi hơi kép kiểu hàng hải lên đến tổng cộng 18 nồi hơi đốt than. Con tàu có tốc độ thiết kế tối đa , nhưng nó đã đạt đến khi chạy thử máy. Ở tốc độ đi đường trường , "Blücher" có thể đi được ; nhưng với tốc độ tầm hoạt động bị giảm đáng kể chỉ còn . Con tàu được thiết kế để chở theo than, nhưng những khoảng trống trong lườn tàu có thể tận dụng để chứa cho đến . Điện năng được cung cấp từ sáu máy phát turbine công suất cho đến 1.000 KW ở điện thế 225 volt. Kỷ lục về công suất lớn nhất mà một hệ thống động cơ hơi nước chuyển động qua lại từng đạt được trên một tàu chiến là của "Blücher", đạt đến khi nó chạy thử máy vào năm 1909. Vũ khí. "Blücher" được trang bị mười hai khẩu pháo SK L/45 bắn nhanh trên sáu tháp pháo nòng đôi, gồm một cặp phía trước mũi và một cặp phía đuôi tàu, cùng hai tháp pháo mạn hai bên cấu trúc thượng tầng. Các khẩu pháo được cung cấp tổng cộng 1.020 quả đạn pháo, tức 85 quả cho mỗi khẩu pháo; mỗi quả đạn nặng và có chiều dài . Các khẩu pháo có thể hạ cho đến góc −5° và nâng tối đa cho đến góc 30°, cho phép có tầm xa tối đa . Tốc độ bắn của chúng là 4 đến 5 phát mỗi phút. Con tàu còn có một dàn pháo hạng hai bao gồm tám khẩu SK L/45 bắn nhanh bố trí trong các tháp pháo ụ kiểu MPL C/06; phân bố hai bên mạn tàu phía giữa tàu. Các khẩu pháo này có thể đối đầu mục tiêu ở cách xa . Chúng được cung cấp tổng cộng 1.320 quả đạn pháo, tức 165 quả đạn cho mỗi khẩu pháo, và có thể duy trì một tốc độ bắn từ 5 đến 7 phát mỗi phút. Đạn pháo này nặng và được nạp liều thuốc phóng RPC/12 nặng chứa trong vỏ đồng. Khẩu pháo bắn ra với lưu tốc đầu đạn , và được kỳ vọng sẽ bắn được khoảng 1.400 phát trước khi cần phải thay nòng. "Blücher" còn được trang bị mười sáu khẩu pháo SK L/45 bắn nhanh, được bố trí cả trong tháp pháo ụ lẫn trên các trục xoay; bốn tháp pháo ụ được đặt gần cầu tàu, bốn khẩu phía mũi và bốn khẩu phía đuôi, trong khi bốn khẩu đặt trên trục xoay được bố trí trên cấu trúc thượng tầng phía Chúng được cung cấp tổng cộng 3.200 quả đạn pháo, tức 200 quả cho mỗi khẩu, và có thể bắn ở tốc độ 15 phát mỗi phút. Đạn pháo nổ mạnh (HE) của chúng nặng , và được nạp liều thuốc phóng RPC/12 nặng , đạt được tầm bắn xa tối đa . Các khẩu pháo này có tuổi thọ nòng pháo được hy vọng khoảng 7.000 phát. "Blücher" còn được trang bị bốn ống phóng ngư lôi , gồm một trước mũi, một phía đuôi và một mỗi bên mạn giữa tàu, tất cả đều được đặt trên mặt nước. Con tàu mang theo tổng cộng 11 quả ngư lôi. Kiểu vũ khí này mang một đầu đạn nặng và có thể cài đặt ở hai mức tốc độ vốn sẽ ảnh hưởng đến tầm xa; ở tốc độ chúng có tầm xa tối đa , và ở tốc độ tầm xa tối đa giảm còn . Vỏ giáp. Giống như mọi tàu chiến chủ lực Đức vào thời đó, "Blücher" được trang bị thép giáp Krupp. Sàn tàu bọc thép dày , các phần trọng yếu của con tàu được bảo vệ bằng lớp thép dày hơn, còn những phần ít quan trọng của sàn tàu có lớp thép mỏng hơn. Đai giáp dày đến ở phần giữa con tàu nơi động cơ, các hầm đạn và các phần quan trọng khác được bố trí, và vuốt mỏng còn ở các phần còn lại, nhưng không kéo dài đến tận mũi và đuôi tàu. Phía sau suốt chiều dài của đai giáp là một lớp lót bổ sung bằng gỗ teak dày . Đai giáp còn được tăng cường bởi một vách ngăn chống ngư lôi dày cho dù chỉ kéo dài từ ngang tháp pháo mũi đến ngang tháp pháo đuôi. Tháp chỉ huy phía trước là phần được bảo vệ mạnh nhất của con tàu: các mặt hông của nó có vỏ giáp dày và nóc dày . Tháp chỉ huy phía sau được bảo vệ kém hơn với nóc dày và các mặt hông dày . Vùng thành trì trung tâm của con tàu có vỏ giáp dày ; các tháp pháo của dàn pháo chính có nóc dày và các mặt bên dày , trong khi các tháp pháo ụ có vỏ giáp dày . Lịch sử hoạt động. "Blücher" được hạ thủy vào ngày 11 tháng 4 năm 1908 và đưa ra hoạt động cùng hạm đội vào ngày 1 tháng 10 năm 1909. Nó đã phục vụ như là tàu huấn luyện tác xạ cho pháo thủ hải quân bắt đầu từ năm 1911. Đến năm 1914, nó được chuyển sang Đội Tuần tiễu 1 cùng với các tàu chiến-tuần dương mới "Von der Tann", "Moltke" và soái hạm "Seydlitz". Càn quét Baltic. Hoạt động đầu tiên mà "Blücher" tham gia trong chiến tranh là đợt càn quét vào biển Baltic chống lại lực lượng Hải quân Đế quốc Nga mà cuối cùng bất phân thắng bại. Vào ngày 3 tháng 9 năm 1914, cùng với bảy thiết giáp hạm tiền-dreadnought thuộc Hải đội Chiến trận 4, năm tàu tuần dương hạng nhẹ và 24 tàu khu trục, "Blücher" đã tiến vào biển Baltic với ý định lôi kéo một phần hạm đội Nga và tiêu diệt chúng. Tàu tuần dương "Augsburg" đã đụng độ với các tàu tuần dương bọc thép Nga "Bayan" và "Pallada" về phía Bắc đảo Dagö (nay là Hiiumaa). Chiếc tàu tuần dương Đức tìm cách nhữ các con tàu Nga về phía "Blücher" để nó có thể tiêu diệt chúng, nhưng đối phương đã không mắc bẫy mà thay vào đó rút lui về phía vịnh Phần Lan. Đến ngày 9 tháng 9 chiến dịch bị hủy bỏ mà không có cuộc đụng độ lớn nào giữa hai hạm đội. Bắn phá Yarmouth. Vào ngày 2 tháng 11 năm 1914, "Blücher" cùng các tàu chiến-tuần dương "Moltke", "Von der Tann" và "Seydlitz", có bốn tàu tuần dương hạng nhẹ tháp tùng, rời Jade Bight di chuyển về phía bờ biển nước Anh. Hải đội đi đến ngoài khơi Great Yarmouth lúc bình minh sáng hôm sau và đã bắn phá cảng, trong khi tàu tuần dương hạng nhẹ "Stralsund" rải một bãi mìn. Tàu ngầm Anh "D5" đã đáp trả lại cuộc tấn công, nhưng nó trúng phải một quả mìn do "Stralsund" rải và bị chìm. Không lâu sau đó, Phó đô đốc Franz von Hipper, Tư lệnh Đội Tuần tiễu 1, ra lệnh cho các con tàu dưới quyền quay trở về vùng biển nhà của Đức. Trên đường đi, sương mù dày đặc bao phủ, nên các con tàu được lệnh chờ cho đến khi tầm nhìn được cải thiện để có thể di chuyển an toàn qua các bãi mìn phòng thủ của Đức. Tàu tuần dương bọc thép "Yorck" mắc sai lầm trong định hướng đi vào một trong những bãi mìn của Đức; nó trúng hai quả thủy lôi và chìm nhanh chóng, chỉ có 127 người trong tổng số 629 thành viên thủy thủ đoàn được cứu sống. Bắn phá Scarborough, Hartlepool và Whitby. Đô đốc Friedrich von Ingenohl, Tổng tư lệnh Hạm đội Biển khơi Đức, quyết định tiến hành thêm một cuộc bắn phá khác vào bờ biển Anh Quốc với hy vọng lôi kéo một phần Hạm đội Grand vào cuộc chiến, nơi có thể bị tiêu diệt từng phần. Lúc 03 giờ 20 phút giờ Trung Âu ngày 15 tháng 12 năm 1914, "Blücher", "Moltke", "Von der Tann", chiếc tàu chiến-tuần dương mới "Derfflinger" và "Seydlitz", cùng với các tàu tuần dương hạng nhẹ "Kolberg", "Stralsund", "Strassburg" và "Graudenz" cùng hai chi hạm đội tàu phóng lôi rời Jade Estuary. Các con tàu của Hipper di chuyển lên phía Bắc, vượt qua Heligoland để đi đến hải đăng Horns Reef, nơi chúng chuyển hướng sang phía Tây hướng đến Scarborough. Mười hai giờ sau khi Hipper khởi hành, phần chủ lực của Hạm đội Biển khơi, bao gồm 14 chiếc thiết giáp hạm dreadnought và 8 thiết giáp hạm tiền-dreadnought cùng một lực lượng hộ tống gồm 2 tàu tuần dương bọc thép, 7 tàu tuần dương hạng nhẹ và 54 tàu phóng lôi lên đường để hỗ trợ từ xa. Trước đó, vào ngày 26 tháng 8 năm 1914, tàu tuần dương hạng nhẹ Đức "Magdeburg" bị mắc cạn trong vịnh Phần Lan; xác tàu bỏ lại bị Hải quân Nga chiếm, và cùng với các hải đồ của Bắc Hải, họ đã tìm thấy các quyển sổ mật mã được Hải quân Đức. Những tài liệu này được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh. Phòng 40 bắt đầu giải mã các tín hiệu của Đức, vào ngày 14 tháng 12 đã bắt được những thông điệp liên quan đến kế hoạch bắn phá Scarborough. Không thể biết được chi tiết chính xác của kế hoạch, họ chỉ đoán rằng Hạm đội Biển khơi Đức sẽ ở lại một cách an toàn trong cảng như trong đợt bắn phá trước. Bốn tàu chiến-tuần dương thuộc Hải đội Tàu chiến-tuần dương 1 Anh Quốc dưới quyền chỉ huy của Phó đô đốc David Beatty, được Hải đội Tuần dương 3 và Hải đội Tuần dương nhẹ 1 hỗ trợ cùng với sáu thiết giáp hạm dreadnought của Hải đội Chiến trận 2 sẽ phục kích các tàu chiến-tuần dương của Hipper. Trong đêm 15 tháng 12, thành phần chủ lực của Hạm đội Biển khơi Đức đã đụng độ với tàu khu trục Anh. Lo sợ một cuộc tấn công bằng ngư lôi ban đêm, Đô đốc Ingenohl ra lệnh cho các con tàu rút lui. Hipper đã không biết được sự thoái lui của Ingenohl, vẫn tiếp tục cuộc bắn phá theo kế hoạch. Khi đến được khu vực bờ biển Anh, lực lượng của Hipper được cho tách ra làm đôi: "Seydlitz", "Moltke" và "Blücher" đi lên phía Bắc để bắn phá Hartlepool, trong khi "Von der Tann" và "Derfflinger" hướng về phía Nam để bắn phá Scarborough và Whitby. Trong số các thị trấn Anh, chỉ có Hartlepool được bảo vệ bởi một khẩu đội phòng thủ duyên hải. Trong khi bắn phá Hartlepool, "Seydlitz" bị bắn trúng ba lần còn "Blücher" trúng sáu phát pháo phòng thủ duyên hải. "Blücher" chỉ bị hư hại nhẹ nhưng có đến chín người thiệt mạng và ba người khác bị thương. Đến 09 giờ 45 phút ngày 16 tháng 12, hai nhóm tập hợp trở lại và bắt đầu rút lui về phía Đông. Vào lúc này, các tàu chiến-tuần dương của Beatty đã ở vào vị trí ngăn chặn con đường mà Hipper lựa chọn để rút lui, trong khi các lực lượng khác đang trên đường tiến đến để hoàn thành việc bao vây. Đến 12 giờ 25 phút, các tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải đội Tuần tiễu 2 bắt đầu băng qua lực lượng Anh để tìm kiếm lực lượng của Hipper. Một trong các tàu tuần dương của Hải đội Tuần dương nhẹ 1 phát hiện "Stralsund" và gửi một thông báo đến Beatty. Lúc 12 giờ 30 phút, Beatty đổi hướng các tàu chiến-tuần dương dưới quyền về phía các con tàu Đức, dự đoán rằng các tàu tuần dương Đức là lực lượng tiên phong bảo vệ cho các con tàu của Hipper; nhưng thực ra các tàu chiến-tuần dương Đức còn ở cách về phía trước. Hải đội Tuần tiễu 2 vốn đang bảo vệ cho các con tàu của Beatty đã được cho tách ra để truy đuổi các tàu tuần dương Đức; nhưng do việc diễn dịch sai tín hiệu từ các tàu chiến-tuần dương Anh đã gửi, chúng quay trở lại vị trí hộ tống. Sự nhầm lẫn này cho phép các tàu tuần dương nhẹ Đức chạy thoát và báo động cho Hipper vị trí của các tàu chiến-tuần dương Anh. Các tàu chiến Đức lẻn về phía Đông Bắc lực lượng Anh và đã chạy thoát. Cả hai phía Đức và Anh đều thất vọng vì đã không chiến đấu lại đối thủ một cách hiệu quả. Uy tín của Đô đốc Ingeholh bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hậu quả của sự nhút nhát. Thuyền trưởng của "Moltke" tỏ ra gay gắt, ông cho rằng Ingenohl đã rút lui "vì ông lo sợ mười một chiếc tàu khu trục Anh vốn có thể loại bỏ dễ dàng... dưới sự lãnh đạo như thế này chúng ta sẽ chẳng đạt được gì." Lịch sử chính thức của Hải quân Đức phê phán Ingenohl đã không sử dụng lực lượng hạng nhẹ của mình để thăm dò quy mô lực lượng của hạm đội Anh, cho rằng: "Ông đưa ra quyết định không chỉ gây nguy hại đáng kể cho lực lượng phía trước ngoài khơi bờ biển Anh, mà còn cất đi khỏi Hạm đội Đức một thắng lợi chắc chắn và đáng kể." Trận Dogger Bank. Vào đầu tháng 1 năm 1915, tin tức cho biết các tàu chiến Anh tiến hành trinh sát tại khu vực Dogger Bank. Đô đốc Ingenohl thoạt tiên do dự không muốn tiêu diệt các lực lượng này, do Đội Tuần tiễu 1 tạm thời bị yếu kém trong khi "Von der Tann" đi vào ụ tàu để bảo trì định kỳ. Tuy nhiên, Chuẩn đô đốc Richard Eckermann, Tham mưu trưởng Hạm đội Biển khơi, cứ nhất định đòi thực hiện chiến dịch, nên Ingenohl bị thuyết phục và ra lệnh cho Hipper đưa các tàu chiến-tuần dương còn lại dưới quyền đến Dogger Bank. Ngày 23 tháng 1, Hipper khởi hành với cờ hiệu của mình trên chiếc "Seydlitz", được tiếp nối bởi "Moltke", "Derfflinger" và "Blücher" cùng các tàu tuần dương hạng nhẹ "Graudenz", "Rostock", "Stralsund" và "Kolberg" và 19 tàu phóng lôi thuộc các chi hạm đội 2, 5 và bán-chi hạm đội 18. "Graudenz" và "Stralsund" được phái đi hộ tống phía trước hải đội, trong khi "Rostock" và "Kolberg" lần lượt được phân sang mạn phải và mạn trái tương ứng, mỗi tàu tuần dương hạng nhẹ có một bán-chi hạm đội tàu phóng lôi phối thuộc. Một lần nữa, việc thu thập và giải mã tín hiệu vô tuyến của Đức đã đóng một vai trò quan trọng. Cho dù nhân viên giải mã Phòng 40 không thể biết được chính xác kế hoạch, họ vẫn có thể đoán được rằng Hipper sẽ tiến hành một chiến dịch tại vùng Dogger Bank. Để đối phó, Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 1 của Beatty, Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 2 của Chuẩn đô đốc Gordon Moore và Hải đội Tuần dương nhẹ 2 của Thiếu tướng Hải quân William Goodenough được cho tập trung để hội quân cùng Lực lượng Harwich của Thiếu tướng Reginald Tyrwhitt lúc 08 giờ 00 ngày 24 tháng 1 ở vị trí khoảng về phía Bắc Dogger Bank. Lúc 08 giờ 14 phút, "Kolberg" nhìn thấy chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ "Aurora" cùng nhiều tàu khu trục thuộc Lực lượng Harwich. "Aurora" khiêu khích "Kolberg" bằng một đèn pha, vào lúc mà "Kolberg" tấn công "Aurora" và ghi được hai phát trúng đích. "Aurora" bắn trả và cũng bắn trúng đối phương hai phát. Hipper lập tức cho chuyển hướng các tàu chiến-tuần dương của mình đến nơi nổ súng, trong khi hầu như đồng thời vào lúc đó, "Stralsund" trông thấy một lượng khói lớn về phía Tây Bắc vị trí của nó. Đây được xác định là một số lượng tàu chiến lớn đang hướng về phía các con tàu của Hipper. Hipper sau này nhớ lại: Hipper quay mũi về phía Nam để chạy thoát, nhưng bị giới hạn ở tốc độ , là tốc độ tối đa của chiếc tàu tuần dương bọc thép cũ "Blücher". Các tàu chiến-tuần dương Anh truy đuổi di chuyển với tốc độ , và nhanh chóng bắt kịp các con tàu Đức. Lúc 09 giờ 52 phút, "Lion" nổ súng nhắm vào "Blücher" ở khoảng cách , rồi đến lượt "Princess Royal" và "Tiger" cũng bắt đầu nổ súng không lâu sau đó. Lúc 10 giờ 09 phút, các tàu chiến Anh ghi được phát bắn trúng đầu tiên trên "Blücher"; hai phút sau, các tàu chiến Đức bắt đầu bắn trả, chủ yếu tập trung nhắm vào "Lion" ở khoảng cách . Đến 10 giờ 28 phút, "Lion" bị bắn trúng ngay mực nước, làm xé toang một lỗ hổng bên mạn tàu và làm ngập nước một khoang chứa than. Cũng trong khoảng thời gian này, "Blücher" ghi được một phát đạn pháo 21 cm trúng vào tháp pháo phía trước của "Lion"; quả đạn không thể xuyên thủng vỏ giáp, nhưng cũng có hiệu quả chấn động và tạm thờiloại khẩu pháo bên trái khỏi vòng chiến. Lúc 10 giờ 30 phút, "New Zealand", chiếc thứ tư trong hàng chiến trận của Beatty, tiếp cận "Blücher" trong tầm bắn và bắt đầu nổ súng; đến 10 giờ 35 phút, khoảng cách được rút ngắn xuống còn , khi toàn bộ hàng chiến trận Đức nằm trong tầm bắn hiệu quả của các tàu chiến Anh. Beatty ra lệnh cho các tàu chiến-tuần dương của mình nổ súng vào đối thủ Đức tương ứng đối diện song song. Đến 11 giờ, "Blücher" bị hư hại nặng nề sau khi hứng chịu nhiều quả đạn pháo hạng nặng từ các tàu chiến-tuần dương Anh. Dù sau, ba chiếc tàu chiến-tuần dương Đức dẫn đầu "Seydlitz", "Derfflinger" và "Moltke" đã tập trung hỏa lực của chúng nhắm vào "Lion", ghi được chiều phát bắn trúng, làm hỏng hai trong số ba máy phát điện của nó và làm ngập nước phòng động cơ bên mạn trái. Lúc 11 giờ 48 phút, tàu chiến-tuần dương "Indomitable" đến gần, và theo chỉ thị của Beatty, tiếp tục nả pháo để tiêu diệt "Blücher" vốn đã bị tơi tả. Nó đã bốc chấy và nghiêng nặng sang mạn trái; một trong những người sống sót kể lại những hư hại mà con tàu chịu đựng: Tuy nhiên, việc này bị ngắt quãng do các báo cáo về sự xuất hiện của tàu ngầm U-boat Đức phía trước các con tàu Anh, buộc Beatty phải ra lệnh cơ động lẩn tránh và cho phép các tàu chiến Đức gia tăng khoảng cách với những kẻ truy đuổi. Vào lúc này máy phát điện cuối cùng của "Lion" bị hỏng nốt, làm giảm tốc độ của nó xuống còn . Bên trên chiếc "Lion" bị hỏng máy, Beatty ra lệnh cho các tàu chiến-tuần dương còn lại "tấn công đoạn hậu đối phương", nhưng sai sót trong việc diễn dịch tín hiệu đã khiến các con tàu đơn thuần chỉ nhắm vào "Blücher". Nó tiếp tục kháng cự một cách ngoan cường, đẩy lui cuộc tấn công của bốn tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc Hải đội Tuần dương nhẹ 1 và bốn tàu khu trục. Tuy nhiên, soái hạm của Hải đội Tuần dương nhẹ 1, "Aurora", đã bắn hai quả ngư lôi trúng vào "Blücher". Đến lúc này mọi khẩu pháo của chiếc tàu chiến Đức đều đã im tiếng ngoại trừ tháp pháo đuôi. Một loạt bảy quả ngư lôi khác được phóng ở tầm bắn thẳng, khi trúng đích đã khiến con tàu lật úp lúc 13 giờ 13 phút. Trong suốt quá trình chiến đấu, "Blücher" đã bị bắn trúng khoảng 70-100 quả đạn pháo hạng nặng và nhiều quả ngư lôi. Khi con tàu chìm, các tàu khu trục Anh tiến về phía nó nhằm ý định cứu vớt những người sống sót. Tuy nhiên, khí cầu Zeppelin "L5" nhầm lẫn "Blücher" đang chìm là một tàu chiến-tuần dương Anh và tìm cách ném bom các tàu khu trục Anh, buộc chúng phải rút lui. Con số thương vong báo cáo khá thay đổi tùy theo nguồn tư liệu. Paul Schmalenbach cho rằng có 6 sĩ quan trong tổng số 29 và 275 thủy thủ trong tổng số 999 được vớt lên khỏi nước, đưa đến tổng số thương vong là 747 người thiệt mạng. Các nguồn tư liệu chính thức của Đức do tác giả Erich Gröner khảo sát cho rằng có 792 người đã thiệt mạng khi "Blücher" chìm, trong khi James Goldrick tham khảo các tài liệu của Anh đã báo cáo chỉ có 234 người sống sót trong tổng số thành viên thủy thủ đoàn ít nhất lên đến 1.200 người. Trong số những người được cứu vớt có cả Đại tá Hải quân ("Kapitan zur See") Erdmann, hạm trưởng của "Blücher". Ông sau đó đã từ trần vì bệnh viêm phổi trong lúc bị người Anh bắt làm tù binh. Có thêm 20 người khác qua đời trong giai đoạn bị giam giữ như tù binh. Sự tập trung mọi nỗ lực nhắm vào "Blücher" đã cho phép "Moltke", "Seydlitz" và "Derfflinger" chạy thoát. Đô đốc Hipper thoạt tiên dự định sử dụng ba tàu chiến-tuần dương của mình quay trở lại đánh vào sườn lực lượng Anh để giải vây cho "Blücher", nhưng sau khi ông biết được những hư hại nghiêm trọng mà soái hạm của mình phải chịu đựng, ông quyết định bỏ lại chiếc tàu tuần dương bọc thép cũ. Hipper sau này kể lại về quyết định của mình: Vào lúc Beatty nắm trở lại sự chỉ huy các con tàu dưới quyền sau khi chuyển sang chiếc "Princess Royal", các con tàu Đức đã dẫn trước quá xa khiến các con tàu Anh không thể nào bắt kịp; và đến 13 giờ 50 phút, Beatty từ bỏ việc truy đuổi. Hoàng đế Wilhelm II, rất tức giận về việc "Blücher" bị mất và "Seydlitz" suýt bị đánh chìm, đã ra lệnh cho Hạm đội Biển khơi phải ở lại trong cảng. Chuẩn đô đốc Eckermann bị cách chức còn Đô đốc Ingenohl bị buộc phải từ chức; ông được Đô đốc Hugo von Pohl thay thế.
1
null
"U-Turn" là một ca khúc của nam ca sĩ người Mỹ Usher, được chọn làm đĩa đơn quốc tế thứ tư từ album phòng thu thứ ba của anh, 8701. "U-Turn" đã lọt vào Top 10 ở Úc, Top 20 ở Anh, Thụy Sĩ và Top 40 ở Hà Lan. Tuy nhiên đĩa đơn này lại không được phát hành ở Mỹ. Đây là một ca khúc nhạc sàn sôi động được sản xuất bởi Jermaine Dupri. "U-Turn" được sáng tác bởi Usher, Dupri và Brian Michael Cox, người đã đồng sáng tác cho bốn ca khúc trong "8701", bao gồm cả đĩa đơn nổi tiếng "U Got It Bad". Danh sách ca khúc. CD ở Anh ("Phiên bản giới hạn, bao gồm một CD 4 ca khúc và một áp phích tặng kèm") CD mở rộng ở châu Âu CD ở Đức
1
null
"Lovers and Friends" là một ca khúc của Lil Jon & The East Side Boyz, trích từ album chung của họ, "Crunk Juice". Đĩa đơn được chính thức phát hành vào tháng 11 năm 2004. Đĩa đơn còn có sự hợp tác của Usher và Ludacris. "Lovers and Friends" đã đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100.
1
null
FX-05 Xiuhcoatl là loại súng sturmgewehr được phát triển bởi Dirección General Industria Militar Mexicana. Súng được giới thiệu lần đầu vào tháng 9 năm 2006 trong một buổi lễ duyệt binh. Hiện tại loại súng này đang được sử dụng trong lực lượng quân đội México. Phát triển. Việc phát triển FX-05 được thực hiện trong 16 tháng từ năm 2005 khi kế hoạch mua một loại súng thay thế khẩu Heckler & Koch G3 trong lực lượng quân đội México được xúc tiến. Theo kế hoạch thì khẩu Heckler & Koch G36 sẽ được mua để thay thế nhưng do giá quá cao cùng với việc loại súng này bị ngừng phát triển nên Tổng cục Công nghiệp quân sự México cùng Ban Thư ký Quốc phòng México đã bắt đầu chương trình phát triển loại súng này. Tất cả các bộ phận của súng có thể được sản xuất hoàn toàn trong nội địa để tiết kiệm chi phí. Thiết kế. FX-05 có hình dáng bên ngoài khá giống với khẩu Heckler & Koch G36 nhưng cách hoạt động và cấu trúc bên trong thì hoàn toàn khác. Súng sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén, thoi nạp đạn xoay, ống trích khí nằm ở bên trên nòng súng. Thân súng và hộp đạn được làm bằng nhựa tổng hợp chịu được áp lực cao. Nút kéo lên đạn được đặc ở cả hai bên thân súng để có thể sử dụng thuận cả hai tay. Nút khóa an toàn cũng là nút chọn chế độ bắn nằm ở phía trên cò súng và cũng ở hai bên thân súng. Điểm thú vị của súng là nòng súng không có rãnh khắc sâu lồi lõm giống như các loại súng khác mà sử dụng dạng rãnh mài hình đa giác xoắn với góc bo tròn. Thiết kế này giúp tăng khả năng sử dụng áp lực khí đẩy viên đạn vì không có nhiều không gian cho khí rò rỉ qua như rãnh lồi lõm. Trên thân súng có một thanh răng dài đẻ gắn các các loại hệ thống nhắm khác nhau như điểm ruồi có thể tháo ráp hay các loại ống nhắm hoặc quai xách để dễ cầm hơn. Báng súng có thể gấp sang một bên và nằm bên dưới khe nhả đạn để súng có thể bắn với báng gấp.
1
null
Võ thuật tổng hợp hay Võ thuật tự do (Tiếng Anh: "mixed martial arts", viết tắt MMA), đôi khi còn được gọi với cái tên đấu lồng, là một môn thể thao đối kháng toàn diện, dựa trên các đòn đánh, vật lộn, và chiến đấu trên mặt đất, được kết hợp từ nhiều môn thể thao đối kháng cũng như võ thuật trên khắp thế giới. Thuật ngữ "mixed martial arts" được nhắc đến lần đầu trong bài đánh giá sự kiện UFC 1 của nhà phê bình truyền hình Howard Rosenberg vào năm 1993. Việc ai là người thực sự đặt ra thuật ngữ này vẫn còn đang là điều được tranh luận. Được biết võ thuật tổng hợp được sáng lập dựa trên ý tưởng tổng hợp mọi chiêu thức cơ bản của tất cả các môn võ thuật của Lý Tiểu Long nhất là từ khi Lý Tiểu Long sáng lập Tiệt quyền đạo. Có thể nói Lý Tiểu Long là tổ sư sáng lập võ thuật tổng hợp nếu xét trên vai trò người khởi xướng tổng hợp võ thuật. Ngoài ra có nhiều võ sư khác là các tổ sư khác của võ thuật tổng hợp vì đã xây dựng nên nền móng của võ thuật tổng hợp. Đầu thế kỷ 20, nhiều giải đấu võ tổng hợp khác nhau diễn ra trên khắp Nhật Bản và cả các quốc gia thuộc nhóm Tứ hổ châu Á. Tại Brasil, cũng tồn tại một môn thể thao mang tên Vale Tudo, có các võ sĩ từ rất nhiều môn phái khác nhau tham gia chiến đấu với ít hoặc không có luật lệ. Gia tộc Gracie được biết đến như những người tích cực quảng bá các trận đấu Vale Tudo, để giới thiệu rộng rãi môn phái nhu thuật Brasil của họ. Một trận đấu võ tổng hợp nổi tiếng sớm được tổ chức vào năm 1951, giữa võ sĩ judo Masahiko Kimura và đại sư môn nhu thuật Brasil Hélio Gracie tại Brasil. Ở phương Tây, ý tưởng kết hợp yếu tố của nhiều môn võ thuật đã được Lý Tiểu Long truyền bá qua môn triệt quyền đạo của ông từ những năm 1960 đến đầu những năm 1970. Tiền thân cho MMA hiện đại là trận đấu của tay đấm quyền anh Muhammad Ali và đô vật Antonio Inoki ở Nhật Bản vào năm 1975, khi nó truyền cảm hứng cho sự ra đời của hai giải đấu: Pancrase năm 1993 và Pride Fighting Championships năm 1997. Năm 1980, CV Productions, Inc. đã sáng lập giải đấu MMA được quy định đầu tiên ở Hoa Kỳ, mang tên "Tough Guy Contest" và sau này đổi tên thành "Battle of the Superfighters". Công ty được đồng ý tổ chức 10 tua đấu tại Pennsylvania. Tuy nhiên, tới năm 1983, Thượng viện bang Pennsylvania đã thông qua dự luật cấm môn thể thao này. Năm 1993, gia tộc Gracie đem nhu thuật Brasil, vốn được phát triển tại quê hương từ những năm 1920 tới Hoa Kỳ, thông qua việc thành lập công ty quảng bá MMA, Ultimate Fighting Championship (UFC). Công ty này ban đầu tổ chức một vài sự kiện thi đấu gần như không quy tắc, do ảnh hưởng của Art Davie và Rorion Gracie khi họ cố gắng nhân rộng các trận đấu Vale Tudo ở Brasil và sau đó mới thực hiện bổ sung một bộ điều luật mới (chẳng hạn như nghiêm cấm đá đối thủ khi đã đo sàn), khác với các giải đấu thiên về tính thực chiến. Những sự kiện kể trên ban đầu được quảng cáo là cuộc thi để tìm ra môn võ thuật hiệu quả nhất trong thực chiến không vũ khí, các đấu thủ từ các môn phái khác nhau sẽ đọ sức trong môi trường thi đấu tương đối ít luật lệ. Sau đó, các võ sĩ bắt đầu kết hợp nhiều môn võ khác nhau vào phong cách chiến đấu của bản thân. Những nhà tổ chức MMA đã gặp những áp lực nhất định khi phải chấp nhận những điều luật bổ sung nhằm tăng độ an toàn cho các đấu thủ, để phù hợp với những quy tắc của một môn thể thao và để mở rộng sự đón nhận chính thống từ công chúng. Theo sau những thay đổi này, MMA ngày càng trở nên phổ biến với hình thức kinh doanh trả tiền cho mỗi lượt xem, cạnh tranh với cả quyền anh lẫn đấu vật chuyên nghiệp. Lịch sử. Cổ đại. Tại Trung Quốc cổ đại, thể thao đối kháng được xuất hiện dưới hình thức "Lôi đài", một loại hình thể thao chiến đấu tổng hợp tự do, kết hợp giữa kung fu, quyền anh và đấu vật. Tại Hy Lạp cổ đại, cũng có một bộ môn mang tên pankration, với các kỹ thuật vật và đòn đánh tương tự như trong MMA ngày nay. Pankration là sự kết hợp của môn đấu vật sẵn có với quyền anh truyền thống. Ở Olympic, nó lần đầu được giới thiệu vào kỳ Olympiad thứ 33, năm 648 TCN. Điều luật của pankration quy định các đòn đánh và khóa đều được chấp nhận, và nghiêm cấm các hành vi cắn hoặc chọc vào mắt. Các võ sĩ được gọi là pankratiast, chiến đấu cho đến khi có một người không thể tiếp tục hoặc ra hiệu đầu hàng bằng cách giơ ngón trỏ, mỗi trận thi đấu không chia hiệp. Theo nhà sử học E. Norman Gardiner, "Không có môn thể thao nào phổ biến hơn môn pankration." Cũng có nhiều bằng chứng liên quan tới các môn thể thao đối kháng tổng hợp khác ở Ai Cập cổ đại, Ấn Độ và Nhật Bản. Tiền đề cho MMA hiện đại. Giữa thế kỷ 19, savate ra đời và sớm trở nên nổi bật trong làng thể thao đối kháng. Các "savateur" người Pháp thời đó luôn muốn so kè kỹ thuật với các môn phái truyền thống khác. Vài người trong số họ chạm trán với các võ sĩ quyền anh tự do người Anh trong một giải đấu tại quê nhà vào năm 1852, khi đó Rambaud với biệt danh "la Resistance" đã đánh bại Dickinson người Anh bằng các đòn đá của mình. Tuy nhiên, đội Anh vẫn giành chiến thắng trong bốn trận đấu khác của giải đấu. Những cuộc so tài tương tự giữa savateur bản địa với võ sĩ từ nhiều môn phái khác cũng tiếp tục diễn ra trong giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Chẳng hạn như trận đấu năm 1905 giữa savateur Geogre Dubois và judoka Re-nierand, kết quả chung cuộc là Re-nierand giành chiến thắng sau khi ép đối thủ phải đầu hàng hoặc như trận đấu công khai rộng rãi giữa savateur kiêm võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp, Jacques Cayron, với karateka trẻ người Nhật Mochizuki Hiroo vào năm 1957, kết thúc khi Cayron hạ gục Hiroo bằng một cú đấm móc. Bộ môn vật catch wrestling xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, là sự kết hợp từ nhiều phong cách đấu vật trên khắp thế giới bao gồm pehlwani của Ấn Độ và vật kiểu Anh. Đến lượt catch westling có những ảnh hướng to lớn tới MMA hiện đại. Các trận đấu tự do diễn ra phổ biến vào cuối những năm 1880, khi các đô vật đại diện cho trường phái catch wrestling và nhiều trường phái khác đối đầu với nhau tại các giải đấu cũng như trên các võ đài khiêu chiến ở khắp châu Âu. Tại Mỹ, lần chạm trán lớn đầu tiên giữa một võ sĩ quyền anh và một đô vật trong thời hiện đại diễn ra vào năm 1887, khi nhà vô địch quyền anh thế giới hạng nặng, Joh L. Sullivan, bước lên võ đài với chính huấn luyện viên của mình là nhà vô địch đấu vật William Muldoon và bị đánh gục chỉ trong vòng hai phút. Trận đấu công khai tiếp theo diễn ra vào cuối những năm 1890, khi Bob Fizsimmons, người sau này trở thành nhà vô địch quyền anh hạng nặng, đối đầu với nhà vô địch đấu vật châu Âu Ernest Roeber. Tháng 9 năm 1901, Frank "Paddy" Slavin, từng là ứng cử viên cho danh hiệu quyền anh của Sullivan, đã hạ gục Frank Gotch, người sau này vô địch đấu vật thế giới tại thành phố Dawson, Canada. Ren-nierand nổi tiếng sau khi đánh bại Geogre Dubois, tiếp tục tái tham gia một cuộc đấu tương tự khác, nơi anh để thua đô vật catch wrestling người Ukraina, Ivan Poddubny. Bartitsu do Edward William Barton-Wright sáng tạo vào năm 1899 sớm là một ví dụ cho võ thuật tổng hợp. Tổng hòa giữa catch wrestling, judo, quyền anh, savate, jujutsu và canne de combat (đánh gậy kiểu Pháp), bartisu được biết đến như là môn võ đầu tiên kếp hợp nhiều môn phái từ cả châu Á lẫn châu Âu. Và cũng chính từ đây người ta được chứng kiến những trận đấu theo hơi hướng MMA trên khắp nước Anh, khi các đô vật catch westling với nhiều lối đánh khác nhau từ khắp châu Âu, tới so tài với các nhà vô địch judo Nhật Bản. Trong số các tiền thân nhưng chưa phải là tổ tiên của MMA hiện đại, có các giải đấu võ tổng hợp từ khắp châu Âu, Nhật Bản, Vành đai Thái Bình Dương được tổ chức vào đầu những năm 1900. Tại Nhật Bản, những giải đấu này được gọi là "merikan", trong tiếng lóng bản địa có nghĩa là "[Đánh kiểu] người Mỹ". Merikan được tổ chức với nhiều điều luật đa dạng, võ sĩ có thể giành chiến thắng bằng chấm điểm, quật ngã (hoặc đánh gục) đối phương ba lần, hạ nốc ao và ép đầu hàng. Sambo phát triển ở Nga vào đầu những năm 1920, cũng là một môn võ thuật và thể thao đối kháng độc đáo, khi pha trộn nhiều hình thức chiến đấu khác nhau từ quyền cước, đấu vật cho tới judo. Sau Thế Chiến thứ nhất, môn đấu vật chuyên nghiệp vốn được xây dựng dựa trên nhiều quy tắc của môn catch wrestling, đã không còn thịnh hành, khi bị phân thành hai thể loại: "shoot", trong đó các võ sĩ thực sự phải thi đấu với nhau hoặc "show", phát triển thành đấu vật chuyên nghiệp hiện đại. Năm 1936, trận đấu tổng hợp giữa võ sĩ quyền anh hạng nặng Kingfish Levinsky và đô vật chuyên nghiệp Ray Steele đã diễn ra, với phần thắng dành cho Steele sau 35 giây thi đấu. Năm 1951, Brasil trở thành nơi tổ chức một trận so tài võ thuật tổng hợp đỉnh cao giữa võ sĩ judo Masahiko Kimura với cha đẻ của nhu thuật Brasil, Hélio Gracie. Kimura đánh bại Gracie bằng đòn khóa gyaku-ude-garami, sau này được đặt tên là đòn "Kimura" trong nhu thuật Brasil. Năm 1963, đô vật catch westling kiêm judoka, "Judo" Gene Lebell, gặp tay đấm quyền anh chuyên nghiệp Milo Savage trong một trận đấu tự do. Lebell dùng một đòn Harai Goshi quật ngã đối thủ rồi tiếp tục xiết cổ từ phía sau, làm Savage bất tỉnh và qua đó giành chiến thắng. Đây là trận võ tổng hợp đầu tiên được lên sóng truyền hình ở Bắc Mỹ. Đám đông đồng hương đã phẫn nộ đến mức bắt đầu la ó và ném ghế về phía Lebell. Vào ngày 12 tháng 2 năm 1963, ba karateka từ võ đường Oyama (sau này là kyokushin) đã đến Nhà thì đấu quyền anh Lumpinee ở Thái Lan để giao đấu với ba võ sĩ Muay Thái. Các karateka kyokushin lần lượt là Tadashi Nakamura, Kenji Kurosaki và Akio Fujihira (còn được biết đến với cái tên Noboru Osawa), phía Thái Lan thì chỉ có một võ sĩ là người bản địa. Nhật Bản thắng 2-1: Tadashi Nakamura và Akio Fujihira đều hạ nốc ao đối thủ của mình bằng những cú đấm, trong khi Kenji Kurosaki, người thi đấu với võ sĩ Thái Lan duy nhất thì bị hạ gục bằng một đòn cùi chỏ. Kenji Kurosaki vốn là một huấn luyện viên kyokushin chứ không phải một võ sĩ thực thụ, và ông chỉ là người thay thế cho võ sĩ được chọn ban đầu. Tháng sáu cùng năm, karateka kiêm võ sĩ quyền anh tương lai, Tadashi Sawamura, chạm trán với võ sĩ hàng đầu Thái Lan, Samarn Sor Adisorn. Kết quả, Sawamura đo sàn tới 16 lần trước khi thua cuộc. Sau trận đấu này, Sawamura đã rút ra được nhiều bài học để áp dụng vào các giải đấu kickboxing. Cuối những năm 1960 tới đầu những năm 1970, khái niệm kết hợp các yếu tố của nhiều môn võ thuật đã được Lý Tiểu Long phổ biến ở phương Tây, thông qua hệ thống triệt quyền đạo của ông. Lý Tiểu Long tin rằng, "võ sĩ giỏi nhất không phải là võ sĩ quyền anh, karate hay judo. Võ sĩ giỏi nhất là người có thể thích nghi với mọi môn phái, tự áp dụng môn phái riêng của bản thân và không tuân theo bất cứ hệ thống môn phái nào." Năm 2004, Chủ tịch UFC Dana White gọi Lý Tiểu Long là "cha đẻ của võ thuật tổng hợp", ông nói rằng: "Hãy nhìn vào cách anh ấy tập luyện, cách anh ấy ra đòn, những gì anh ấy viết. Với Lý Tiểu Long, môn phái hoàn hảo là chẳng có môn phái nào cả. Bạn học được từ mỗi thứ một chút. Kết hợp những điểm mạnh của nhiều môn phái khác nhau và rồi có thể đánh bại tất cả đối thủ." Một nhân vật cùng thời với Lý Tiểu Long, Hoàng Thuần Lương của phái Vịnh Xuân quyền, đã trở nên nổi tiếng vì tham gia từ 60 đến 100 trận "tỉ võ" bất hợp pháp với các võ sĩ Trung Quốc từ đủ các võ phái khác nhau. Ông cũng từng thi đấu và giành chiến thắng trước cả những người phương Tây, chẳng hạn như trận đấu với tay đấm quyền anh người Nga Giko, hay với một kiếm sĩ trên truyền hình. Ngoài ra, còn có thể kể đến lần chạm trán được ghi chép rõ ràng giữa ông và bậc thầy kung-fu người Đài Loan, Ngô Minh Triết. Cũng như Lý Tiểu Long, Hoàng Thuần Lương kết hợp quyền anh và kickboxing vào kỹ thuật kung-fu của mình. Trận đấu kinh điển giữa tay đấm chuyên nghiệp Muhammad Ali và đô vật chuyên nghiệp Antonio Inoki, diễn ra tại Nhật Bản vào năm 1976, có diễn biến thảm họa khi cả hai võ sĩ đều từ chối nhập trận theo phong cách thi đấu của đối thủ và kết thúc với kết quả hòa sau 15 hiệp đấu bế tắc. Muhammad Ali đã phải nằm viện ba ngày tiếp theo vì dính nhiều chấn thương chân do Antonio Inoki liên tục tung ra các cú đá trong suốt thời gian thi đấu. Trận đấu trên vẫn đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử võ thuật tổng hợp. Tại Nhật Bản, nó đã truyền cảm hứng cho các học trò của Inoki là Masakatsu Funaki và Minoru Suzuki tạo ra giải Pancrase vào năm 1993, từ đó là cơ sở cho sự ra đời của Pride Fighting Championships vào năm 1997. Năm 2007, Pride Fighting Championships bị đối thủ Ultimate Fighting Championship mua lại. Một trận đấu được ghi nhận giữa tay đấm quyền anh vô địch Golden Glover, Joey Hadley và karateka vô địch Arkansas, David Valovich diễn ra vào ngày 22 tháng 6 năm 1976 ở Memphis Blues Baseball Park, có các quy tắc tổng hợp sau: karateka được phép sử dụng nắm đấm, chân và đầu gối trong khi tay đấm quyền anh chỉ được dùng mình nắm đấm. Hadley giành chiến thằng ngay trong hiệp đầu khi hạ nốc ao đối thủ. Năm 1988, Rick Roufus thách đấu với Changpuek Kiatsongrit, không vì danh hiệu, trong một siêu trận đấu giữa Muay Thái và kickboxing. Rick Roufus vào thời điểm đó đang bất bại, giữ cả hai danh hiệu KICK Super Middleweight World và PKC Middleweight U.S. Trong khi đó, Changpuek Kiatsongrit thì đang ngày càng khó có cơ hội thượng đài ở Thái Lan vì trọng lượng của anh (70 kg) không phải là điển hình ở nước này, nơi các trận đấu thường ở mức hạng cân thấp hơn. Ngay hiệp đầu tiên, Roufus đánh gục Changpuek hai lần bằng những cú đấm, làm gãy xương hàm của Changpuek, nhưng rồi thua cuộc vì không thể tiếp tục trận đấu ở hiệp thứ tư, sau khi nhận những đòn đá thấp từ đối thủ mà anh không lường trước được. Trận đấu này đã lần đầu tiên cho khán giả, chủ yếu là người phương Tây được chứng kiến sức mạnh của những đòn đá thấp. Môn thể thao hiện đại. Phong trào dẫn tới sự ra đời môn võ thuật tổng hợp nhưng chúng ta thấy ngày nay bắt nguồn từ nhu thuật Brasil và các giải đấu Vale Tudo tại Brasil. Vale Tudo xuất hiện từ đầu những năm 1920 và trở nên nổi tiếng vì mối liên kết với "Gracie Challenge", một sự kiện được đề ra bởi Carlos Gracie và Hélio Gracie, sau đó tiếp tục được duy trì bởi các thành viên gia tộc Gracie. "Gracie Challange" thường được tổ chức trong ga ra hoặc phòng tập của các thành viên trong gia tộc. Khi ngày càng phổ biến, những cuộc đấu tổng hợp kiểu này trở thành một phần thu hút trong các lễ hội ở Brasil. Còn ở Nhật Bản, những trận đấu tổng hợp đấu vật chuyên nghiệp sớm được tổ chức với cái tên "Ishu Kakutōgi Sen" (異種格闘技戦) (nghĩa đen là "các trận đấu thể thao đối kháng không đồng nhất") và chỉ trở nên phổ biến với Antonio Inoki trong những năm 1970. Inoki là đệ tử của Rikidōzan, nhưng cũng là học trò của Karl Gotch, người đã huấn luyện cho rất nhiều đô vật catch wrestling Nhật Bản. Những trận đấu võ thuật tổng hợp đầu tiên tại Hoa Kỳ được tổ chức bởi CV Productions, Inc.. Giải đấu đầu tiên mang tên "Tough Guy Contest" diễn ra vào ngày 20 tháng 3 năm 1980, tại New Kensington, Pennsylvania, Holiday Inn. Trong cùng năm, công ty đổi tên giải đấu thành "Super Fighters" và được phê duyệt tổ chức 10 tua đấu tại Pennsylvania. Thế nhưng tới năm 1983, Thượng viện bang Pennsylvania thông qua một dự luật kêu gọi: "Cấm các giải đấu Tough Guy hoặc Battle of the Brawlers", và cấm luôn môn thể thao này. Nó một lần nữa quay trở lại Hoa Kỳ thông qua Ultimate Fighting Championship (UFC) vào năm 1993. Võ thuật tổng hợp được cả thế giới biết đến và trở nên phổ biến khi võ sĩ jiu-jitsu Royce Gracie giành chiến thắng trong giải Ultimate Fighting Championship đầu tiên, khuất phục ba võ sĩ thách đấu trong tổng thời gian 5 phút, châm ngòi cho một cuộc cách mạng trong giới võ thuật. Shooto, thể thức võ thuật tổng hợp của riêng người Nhật, được phát triển từ môn shoot wrestling năm 1985, cũng như môn shoot wrestling bắt nguồn từ Pancrase, một chương trình quảng bá ra đời vào năm 1993. Rickson Gracie vô địch hai giải đấu Vale Tudo Nhật Bản (VTJ) đầu tiên, được tổ chức vào các năm 1994 và 1995. Cùng thời gian đó, Vale Tudo Quốc tế bắt đầu phát triển thông qua các giải đấu như Giải vô địch Valte Tudo thế giới (WVC), VTJ, UVF, v.v. Pride Fighting Championships (Pride) được thành lập năm 1997 là kết quả của việc người ta ngày càng quan tâm tới võ thuật tổng hợp trong vai trò một môn thể thao, Rickson một lần nữa tham gia và vô địch giải đấu năm đó. Tại Bắc Mỹ, môn thể thao này đạt tới tầm cao mới về sự phổ biến vào tháng 12 năm 2006, khi trận tái đấu giữa nhà vô địch hạng nhẹ UFC Chuck Liddell và nhà cựu vô địch Tito Ortiz đã thu về doanh số PPV sánh ngang với một số sự kiện quyền anh lớn nhất mọi thời đại, và giúp cho tổng doanh thu PPV năm 2006 của UFC vượt qua tất cả chương trình quảng bá trong lịch sử. Năm 2007, Zuffa LLC, chủ sở hữu của UFC, đã mua lại thương hiệu của đối thủ Nhật Bản là Pride FC, và hợp nhất các võ sĩ đã ký hợp đồng dưới một chương trình quảng bá duy nhất. Đã có những cân nhắc về vấn đế hợp nhất giải đấu, điều đã từng xảy ra ở vài môn thể thao khác, chẳng hạn như trường hợp của AFL-NFL Merger trong môn bóng đá Mỹ. Nguồn gốc của thuật ngữ "MMA". Thuật ngữ "mixed martial arts" được nhắc đến lần đầu trong bài đánh giá sự kiện UFC 1 của nhà phê bình truyền hình Howard Rosenberg vào năm 1993. Nó trở nên phổ thông hơn khi một trong những trang web lớn nhất về thể thao, newfullcontact.com, tiến hành lưu trữ và tái bản các bài báo. Cụm từ "mixed martial arts" lần đầu tiên được sử dụng trong một chương trình quáng bá là vào năm 1995, bởi Rick Blume, chủ tịch và giám đốc của Battlecade Extreme Fighting, chỉ sau sự kiện UFC 7. Quan chức của UFC, Jeff Blatnick, chịu trách nhiệm về Ultimate Fighting Championship là người chính thức áp dụng tên gọi môn thể thao "mixed martial arts." Trước đây nó được biết đến trên thị trường với cái tên "Ultimate Fighting" hoặc "No Holds Barred (NHB)" cho tới khi Blatnick và John McCarthy đề xuất thuật ngữ "MMA" tại cuộc họp điều luật UFC 17 để đáp lại sự chỉ trích ngày càng tăng của công chúng. Việc ai là người thực sự đặt ra thuật ngữ này vẫn còn đang là điều được tranh luận. Quy định. Sự kiện MMA do một tiểu bang quy định đầu tiên được tổ chức tại Biloxi, Mississippi vào ngày 23 tháng 8 năm 1996, khi Ủy ban Thể thao Mississippi dưới sự chỉ đạo của William Lyons, cấp phép cho chương trình IFC's Mayhem ở bang này. Điều luật được sử dụng chủ yếu là luật kickboxing đã được điều chỉnh, được hầu hết các ủy ban thể thao cấp tiểu bang chấp thuận. Những điều luật kickboxing đã tinh chỉnh này cho phép đánh gục đối thủ và tiếp tục chiến đấu dưới mặt sàn, đồng thời không phân chia hiệp đấu. Các võ sĩ có quyền đứng lên và bắt đầu lại khi có sự cho phép của trọng tài nếu không có thêm hành động nào dưới sàn. Những điều luật kể trên chính là những quy tắc nền tảng để xác định lỗi, khu vực giao đấu, và việc sử dụng lồng trong môn MMA ngày nay. Tháng 3 năm 1997, Ủy ban Thể thao Iowa đã chính thức cấp phép cho Battlecade Extreme Fighting với điều luật được sửa đổi từ môn shootfighting. Điều luật quy định trận đấu được chia làm 3 hiệp đấu, mỗi hiệp 5 phút, với thời gian nghĩ giải lao 1 phút, võ sĩ phải mang găng tay shootfighting bắt buộc cũng như phân chia các hạng cân. Các đòn đánh bất hợp pháp được liệt kê là đánh vào háng, húc đầu, cắn, khoét mắt, giật tóc, đánh đối thủ bằng cùi chỏ khi đã đo sàn, đánh vào thận và đánh vào sau đầu bằng nắm đấm. Bám chặt vào võ đài hoặc lồng đấu vì bất kỳ lý do gì đều được coi là phạm lỗi. Mặc dù có những khác biệt nhỏ so với bộ luật Unified Rules, đặc biệt là về các đòn đánh bằng cùi chỏ, các điều luật đặt ra tại Iowa cho phép những nhà quảng bá võ thuật tổng hợp tiến hành các sự kiện hiện đại một cách hợp pháp, tại bất cứ nơi nào trên tiểu bang. Vào ngày 28 tháng 3 năm 1997, Extreme Fighting 4 được tổ chức theo các điều luật kể trên, khiến nó trở thành chương trình đầu tiên áp dụng một phiên bản điều luật hiện đại. Vào tháng 4 năm 2000, Ủy ban Thể thao Tiểu bang California (CSAC) đã bỏ phiếu nhất trí ủng hộ các điều luật mà sau này trở thành nền tảng cho bộ luật Unified Rules của MMA. Tuy nhiên, khi luật được gửi đến thủ phủ của California ở Sacramento để xem xét, người ta xác định rằng môn thể thao này nằm ngoài thẩm quyền của CSAC, khiến cuộc bỏ phiếu trước đó trở nên vô nghĩa. Vào ngày 30 tháng 9 năm 2000, Ủy ban Kiểm soát Thể thao Tiểu bang New Jersey (NJSACB) bắt đầu cho phép các đơn vị quảng bá võ thuật tổng hợp tiến hành các sự kiện tại New Jersey. Sự kiện đầu tiên có tên Battleground 2000, do IFC tổ chức tại Thành phố Atlantic. Mục đích là giúp cho NJSACB có thể quan sát thực tế và thu thập dữ liệu để xây dựng một bộ luật toàn diện nhằm điều chỉnh môn thể thao một cách hiệu quả. Vào ngày 3 tháng 4 năm 2001, NJSACB tổ chức một cuộc họp để thảo luận về quy định của các sự kiện MMA. Cuộc họp này đã cố gắng thống nhất vô số điều luật được sử dụng bởi các tổ chức võ thuật tổng hợp khác nhau. Tại đây, các quy tắc về đồng phục thi đấu đã được NJSACB, một số cơ quan quản lý, cùng nhiều nhà quảng bá võ thuật tổng hợp và các bên quan tâm thông qua. Cuối cuộc họp, tất cả các bên tham dự đã có thể thống nhất về một bộ luật chung để quản lý môn thể thao võ thuật tổng hợp. Trên thực tế, các điều luật của NJSACB đã trở thành tiêu chuẩn cho võ thuật tổng hợp chuyên nghiệp trên khắp Bắc Mỹ. Vào ngày 30 tháng 7 năm 2009, một kiến ​​nghị đã được đưa ra tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội các ủy ban quyền anh để gọi bộ luật này là "Unified Rules of Mixed Martial Arts" và được nhất trí thông qua. Vào tháng 11 năm 2005, Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu chấp thuận võ thuật tổng hợp, và cho tổ chức giải Army Combatives Championships thường niên tại Trường Chiến đấu Lục quân Hoa Kỳ. Canada chính thức hợp pháp hóa võ thuật tổng hợp sau cuộc bỏ phiếu dự luật S-209 vào ngày 5 tháng 6 năm 2013. Dự luật cho phép các tỉnh có quyền thành lập ủy ban thể thao để điều chỉnh và cấp phép các trận đấu võ thuật tổng hợp chuyên nghiệp. Các tổ chức MMA. Chương trình quảng bá. Theo danh sách của cổng thông tin MMA Tapology.com, đã có hàng trăm chương trình quảng bá MMA trên khắp thế giới, đứng ra tổ chức các sự kiện MMA. Kể từ khi UFC trở nên nổi bật trên các phương tiện truyền thông chính thống vào năm 2006, và với việc hợp nhất Pride FC năm 2007 cũng như mua lại WEC và Strikeforce, không có công ty nào có thể cạnh tranh với UFC, và đây cũng là nơi quy tụ nhiều ngôi sao trong làng MMA nhất. Các võ sĩ thường được ký hợp đồng với UFC sau khi thi đấu thành công tại các chương trình quảng bá MMA từ khắp nơi trên thế giới. Một vài chương trình quảng bá MMA tập trung vào đối tượng khách hàng tiềm năng, một số khác thì có sự pha trộn giữa khách hàng tiềm năng và kỳ cựu. Một số thì trở thành giải đấu cấp trung cho các chương trình quảng bá lớn hơn (ví dụ: LFA, CWFC), số khác thì quyết tâm để trở thành chương trình tốt nhất thế giới (ví dụ: ACB, ONE Championship). Có những chương trình chỉ tổ chức bốn buổi thi đấu một năm, nhưng cũng có những chương trình tổ chức hàng tháng. Theo ScorecardMMA.com, một trong những dịch vụ thống kê xếp hạng hàng đầu thế giới về MMA, và là nơi duy nhất hiện đang xếp hạng các chương trình quảng bá MMA trên toàn cầu; "Để xếp hạng chương trình, chúng tôi sử dụng chỉ số Promotion Score, được tính toàn từng tuần. Promotion Score của một chương trình vào một thời điểm, phụ thuộc ở độ tin cậy của sự kiện và võ sĩ mà nó đang có. Promotion Score được cấu thành từ ba thành phần chính: Tính đến ngày 26 tháng 5 năm 2018, 15 chương trình quảng bá MMA hàng đầu trên thế giới (trong số 41 chương trình được xếp hạng) là: Phòng tập. Có hàng trăm cơ sở đào tạo MMA trên khắp thế giới. Đây là danh sách những phòng tập MMA tốt nhất hiện nay trên toàn cầu, dựa vào số lượng các võ sĩ MMA hàng đầu mà họ đang huấn luyện. Thống kê trên 160 võ sĩ, tập luyện tại hơn 80 phòng tập khác nhau, nằm trong top 15 của 10 hạng cân UFC. Hệ thống điểm như sau: một nhà vô địch mang về cho phòng tập của mình 25 điểm, xếp hạng 1 mang về 15 điểm, hạng 2 mang về 10 điểm, sau đó giảm dần một điểm với mỗi thứ hạng sâu hơn, cho tới hạng 10. Như vậy, các phòng tập có thứ hạng từ 11 đến 15 đều chỉ có 1 điểm (cập nhật tháng 7 năm 2015): Phương tiện truyền thông. Trang cung cấp thông tin về lưu lượng truy cập website Alexa Internet thống kê 40 phương tiện truyền thông trực tuyến thuộc dang mục trang web "MMA news and media". Tính đến ngày 13 tháng 11 năm 2017, 10 trang web phổ biến nhất về môn thể thao này là:
1
null
Vườn quốc gia Carlsbad Caverns thuộc Eddy, tiểu bang New Mexico, miền Tây Hoa Kỳ nổi tiếng với gần 100 hang động đá vôi giống như những phòng thí nghiệm nghiên cứu về địa chất và sinh học dưới lòng đất. Vườn quốc gia này được thành lập năm 1930 với diện tích 18.926 ha. Cái tên của vườn quốc gia này gắn với một thị trấn Carlsbad gần đó. Lịch sử hình thành. Các hang động ở vườn quốc gia này được hình thành từ kỷ Permi cách đây 280 - 225 triệu năm. Người ta tìm thấy ở các hang động, nhiều nhất và đặc biệt nhất là ở hang Lechuguilla những hóa thạch cổ xưa có niên đại hàng trăm triệu năm phục vụ cho nghiên cứu khoa học thế giới như hóa thạch của san hô, bọt biển, động vật chân đốt, động vật da gai, bộ ba thùy, tảo biển... Thiên nhiên. Cảnh quan thiên nhiên trong vườn quốc gia là những hang động đá vôi hình thành do quá trình giải phóng axit sunfuric, ngoài ra là sa mạc, rừng lá kim Động vật ở đây rất nhiều loài: 64 loài động vật có vú (17 loài dơi), 331 loài chim, 44 họ ếch nhái và bò sát sinh sống nơi đây; còn thực vật rất phong phú với nhiều loài thực vật quý hiếm trong đó có một số loài xương rồng. Thành lập. Vườn quốc gia này được tìm thấy bởi một nhà thám hiểm có tên là Jim White. Ông đã tìm thấy các hang động và đặt tên cho chúng như: Big Room, New Room Mexico, Kings Palace, Queens Chamber, Papoose Room, Green Lake Room...đến những cái tên ấn tượng như Giant Dome, Bottomless Pit, Fairyland, Iceberg Rock, Temple of the Sun, và Rock of Ages tùy theo đặc điểm của từng hang. Ngày 25 tháng 10 năm 1923, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Calvin Coolidge đã ký công bố thành lập "Di tích quốc gia hang Carlsbad", sau đó là việc thiết lập vườn quốc gia vào ngày 14 tháng 5 năm 1930. Hai năm sau đó, vườn quốc gia chính thức mở cửa lần đầu tiên cho khách tham quan bằng hệ thống hai thang máy đưa khách xuống lòng đất. Ngày nay, vườn quốc gia này mở cửa quanh năm, trừ dịp Giáng sinh
1
null
Brian Jeffrey Krause (sinh ngày 1 tháng 2 năm 1969) là một diễn viên và nhà biên kịch người Mỹ. Anh được biết đến qua vai diễn Leo Wyatt trong sê-ri phim Phép thuật của đài The WB (1998-2006). Tiểu sử. Lý lịch. Brian sinh ra ở El Toro, California, là con trai của Alice và Jeff Krause. Anh là con trai út trong gia đình có hai con. Anh của Brian là Patrick Krause. Brian lớn lên ở Nam California và tham gia diễn xuất đầu tiên với vai R. J. Adams trong The Actors Workshop khi còn đang học Trung học như một cách để chống lại nhưng tên đầu gấu ở lớp Vật lý. Khi còn là thiếu niên, Brian có học ka-ra-tê và theo học tại trường El Toro High School. Anh tốt nghiệp năm 1987. Brian tiếp tục việc học ở Orange Coast College. Anh đã chơi và đạt nhiều thành tích cho trường ở bộ môn bóng đá, ghi được 4 bàn thắng với vai trò là trung vệ và tiền đạo. Nghề nghiệp. Krause đóng vai một học sinh trong sê-ri phim truyền hình "TV 101" năm 1989. Sau đó, anh tham gia diễn xuất trong một vài bộ phim như "Match Point", "American Eyes" của đài CBS Schoolbreak Special và "An American Summer", trước khi tiếp nhận vai chính Richard Lestrange trong bộ phim "Return to the Blue Lagoon". Brian cũng đóng vai chính trong bộ phim "Bandit" trước khi nổi tiếng qua vai diễn Leo Wyatt trong sê-ri phim truyền hình "Phép thuật" (1998-2006). Lúc đầu, Brian thử vai Andy Trudeau, nhưng sau đó được nhận vào vai anh thợ sửa chữa Leo Wyatt đáng yêu của Piper. Brian xuất hiện trong cả phần 8 của sê-ri "Phép thuật". Sau khi "Phép thuật" đóng máy, anh cũng xuất hiện trong các phim truyền hình và show diễn trên TV như "Mad Men" và "The Closer". Anh cũng tham gia lồng tiếng cho một vai nhỏ trong trò chơi L.A. Noire. Brian cũng xuất hiện trên YouTube trong sê-ri Chad Vader, ở phần 4 tập 4 "The Return of Brian", đóng vai chính anh, là một nhân viên cũ của Empire Market. Video này đã được đăng lên ngày 10, tháng 7 năm 2012.
1
null
Trận Bellevue (còn gọi là Trận Mézières, thỉnh thoảng gọi là Trận Sémécourt) là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức, diễn ra vào ngày 7 tháng 10 năm 1870. Trong trận chiến này, một lực lượng của quân đội Phổ do tướng Ferdinand von Kummer chỉ huy đã đánh bại cuộc phá vây của quân đội Pháp đang bị vây khốn tại Metz do Thống chế François Achille Bazaine chỉ huy. Mặc dù một quan sát viên của phía Đức cho biết rằng lực lượng của Phổ gồm gần 3 vạn quân, tài liệu của ông Robinson ghi nhận quân lực Phổ chỉ có 7 nghìn người trong trận chiến này. Thống chế Bazaine đã quyết định tiến hành một cuộc phá vây đại quy mô về hướng bắc tới Bellevue để tìm kiếm lương thực cho đội quân của ông ta vốn đang bị quân đội Đức vây hãm tại Metz. Giao tranh quyết liệt gần Mazières đã mang lại thiệt hại không nhỏ cho cả hai phía: quân Phổ chịu tổn thất 75 sĩ quan và 1.703 binh lính trong khi quân Pháp cũng chịu tổn thất 64 sĩ quan và 1.193 binh lính. Trong số đó, cả hai phe đều có một số binh sĩ bị bắt làm tù binh, và người Đức tuyên bố rằng họ bắt sống được 2 tiểu đoàn của quân Pháp và thu giữ được 3 cờ hiệu. Quân Pháp đã bị đánh bật về thành phố Metz mà không thu được thành quả nào. Sau khi cuộc phá vây vào ngày 7 tháng 10 bị bẻ gãy, đội quân Pháp bị vây hãm tại Metz không còn phát động một hoạt động quân sự lớn nào khác. Vào ngày 8 tháng 10, một cuộc giao chiến diễn ra ở Failly, và quân Đức đã đẩy lùi quân Pháp. 3 tuần sau trận chiến tại Bellevue, Metz đầu hàng quân đội Đức vào ngày 27 tháng 10 năm 1870. Sự điềm tĩnh và khả năng chiến đấu của lực lượng dân quân "Landwehr" trong quân đội Phổ - Đức đã được đánh giá cao vì vai trò của họ trong thắng lợi phòng ngự của quân Đức tại Bellevue, mặc dù đây không phải là một đội quân nhà nghề của Phổ - Đức.
1
null
Viện phụ (viện: đan viện, phụ: cha) hay tu viện trưởng (trước đây gọi là cai dòng) là người đứng đầu đan viện, quản lý về mọi mặt đời sống của các đan sĩ. Trong Giáo hội Công giáo Rôma, viện phụ không phải là chức thánh như giám mục, linh mục và phó tế, nhưng họ được đặc ân mặc phẩm phục bên ngoài như các giám mục, với mũ mitra, gậy mục tử như một biểu tượng quyền bính của một vị chủ chăn trong phạm vi đan viện. Tuy nhiên, việc viện phụ có phục tùng vị giám mục địa phương nơi đan viện tọa lạc là một vấn đề tương đối, nó tùy vào cách thức mà đan viện đó trực thuộc Tòa Thánh hay giáo phận. Thông thường, các đan viện đều trực thuộc Tòa Thánh nên họ sẽ trực tiếp tuân phục giáo hoàng nhưng vì hiện diện trong phạm vi lãnh thổ của giáo phận nên các viện phụ cũng biểu lộ sự tôn trọng và cộng tác với vị giám mục sở tại.
1
null
Thánh thần và lính hay Những chiến binh mang tên thánh và Chiến binh thần thánh (tựa tiếng Anh: Saints and Soldiers) là một bộ phim Mỹ thuộc thể loại chiến tranh, hành động của đạo diễn Ryan Little thực hiện; phim được phát hành vào năm 2003. Phần tiếp theo của phim này có tựa đề "" cũng đã được phát hành vào năm 2012. Nội dung. Tháng 1 năm 1945, ở khu rừng Malmedy của nước Bỉ, trong khi hàng chục người lính Mỹ khác đều bị quân phát xít Đức giết sạch thì có bốn người lính Mỹ đã chạy thoát. Bốn người lính Mỹ đó là Deacon, Gould, Kendrick và Gunderson. Họ lên kế hoạch tìm đường về căn cứ Đồng Minh trước khi bị quân Đức phát hiện. Trên đường đi, bốn người lính Mỹ gặp một phi công người Anh tên Oberon Winley. Winley đang lái máy bay để giao số tài liệu quan trọng cho quân Đồng Minh nhưng quân Đức đã bắn hạ máy bay của anh. Winley đồng ý đi theo bốn người lính Mỹ tìm đường về căn cứ Đồng Minh. Năm người lính thấy một ngôi nhà, trong nhà chỉ có hai mẹ con Catherine Theary và Sophie Theary. Năm người lính xin hai mẹ con cho họ được ở lại nhà, chờ cơn bão tuyết qua thì họ sẽ đi. Một chiếc xe thiết giáp Đức xuất hiện, trên xe có hai tên lính Đức, Catherine tìm cách đánh lạc hướng chúng. Một tên lính Đức định cưỡng hiếp Catherine, Deacon liền lao ra bắn chết hắn, tên lính Đức còn lại bỏ chạy. Khi bắt được tên lính Đức, Deacon mới nhận ra đó là Rudolph - một người bạn người Đức của anh, trước đây bị ép buộc tham gia quân đội Đức. Vì là bạn bè nên Deacon đã thả Rudolph đi. Năm người lính thu gom vũ khí trong chiếc xe thiết giáp Đức, sau đó họ tạm biệt mẹ con Catherine để tiếp tục lên đường. Không may năm người lính bị quân Đức phát hiện. Một trận đấu súng diễn ra. Kendrick và Gunderson bị bắn chết, Winley bị thương ở chân. Deacon, Gould và Winley tình cờ gặp lại Rudolph, anh ta bảo họ cải trang thành lính Đức và sử dụng chiếc xe jeep gần đó để tẩu thoát. Deacon, Gould và Winley lấy quần áo của xác lính Đức mặc vào người, rồi lái chiếc xe jeep. Kế hoạch bị bại lộ khi ba người đi ngang qua khu trại của quân Đức, Deacon phóng xe thật nhanh, quân Đức liền đuổi theo. Chiếc xe jeep bị lật bởi đạn súng cối, Gould và Winley tháo chạy trong khi Deacon tình nguyện ở lại bắn chặn quân Đức. Khu vực này là nơi quân Mỹ đang đóng quân, một nhóm lính Mỹ xông ra tiêu diệt quân Đức, giúp đỡ Deacon. Tuy nhiên Deacon bị một tên lính bắn tỉa Đức giết chết. Gould và Winley đã an toàn khi gặp quân Mỹ, Winley được chữa trị vết thương, số tài liệu quan trọng của anh cũng được gửi đi. Sau trận đấu súng, một số lính Đức còn sống đều bị bắt. Bộ phim kết thúc với cảnh Gould buồn bã đứng nhìn xác chết của Deacon.
1
null
Trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ (1870 – 1871), hai tập đoàn quân Phổ gồm khoảng 120.000 quân dưới sự thống lĩnh của Thân vương Friedrich Karl vây hãm 180.000 quân Pháp do Thống chế François Bazaine chỉ huy trong hệ thống pháo đài của Metz - thủ phủ vùng Lorraine (Pháp) - từ ngày 19 tháng 8 cho đến ngày 27 tháng 10 năm 1870. Quân Pháp đã tiến hành một số cuộc phá vây, tiêu biểu là trận Noisseville cuối tháng 8 và trận Bellevue đầu tháng 10, nhưng đều bất thành. Tình trạng đói kém và bệnh tật trong hàng ngũ quân Pháp cuối cùng đã dẫn đến sự thất thủ của Metz, khi Bazaine và toàn bộ binh tướng của ông đầu hàng đối phương. Cuộc bao vây. Sau khi bị Binh đoàn số 1 của Phổ dưới quyền Thượng tướng Bộ binh Karl Friedrich von Steinmetz và Binh đoàn số 2 của Phổ dưới quyền Thân vương Friedrich Karl đánh bại trong trận Gravelotte đẫm máu ngày 18 tháng 8 năm 1870, thống chế Pháp là Bazaine phải rút toàn bộ Binh đoàn sông Rhin uể oải của mình vào hệ thống pháo đài Metz. Buổi sáng ngày 19 tháng 8, được sự chuẩn y của Vua Wilhelm I, Tổng tham mưu trưởng quân đội Phổ-Đức Helmuth von Moltke ra chỉ thị tách các Quân đoàn Vệ binh, IV và II khỏi Binh đoàn số 2 của Phổ để thành lập Binh đoàn sông Maas do Thái tử Albert của Sachsen chỉ huy, cùng với Binh đoàn số 3 Liên bang Bắc Đức do Thái tử Phổ Friedrich Wilhelm tiến về hướng tây để đánh dứt điểm cánh quân chủ lực thứ hai của Pháp dưới quyền Thống chế Patrice de MacMahon. Tại Metz, Moltke tiến hành phong tỏa Binh đoàn sông Rhin bằng Binh đoàn số 1 do Steinmetz (sau bị thay bằng Thượng tướng Bộ binh Edwin von Manteuffel vào tháng 9) trên hữu ngạn sông Moselle và Binh đoàn số 2 do Friedrich Karl - người được kiêm nhiệm tổng chỉ huy lực lượng vây hãm Metz - trên tả ngạn sông Moselle. Ngày 21 tháng 8, Hoàng đế Napoléon III cùng Thống chế MacMahon thành lập Binh đoàn Châlons gồm 140.000 lính và 564 cỗ đại bác. Đối mặt với sự xuống dốc niềm tin của dư luận và sự bùng phát của các cuộc bạo động do phe cộng hòa thực hiện, Hoàng hậu Eugénie và Bộ trưởng Chiến tranh Palikao liên tục đánh điện thúc giục Napoléon rằng ông ta không thể dẫn Binh đoàn Châlons về Paris như một vị hoàng đế bại trận, vì điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của Đế chế. Trước áp lực của dư luận đòi giải nguy cho Bazaine, cộng thêm áp lực về sự cần thiết của một thắng lợi, MacMahon và Napoléon quyết định hành động. Rời Châlons, họ tiến quân đến Rheims và sau đó đến Montmédy trong một nỗ lực nhằm đi vòng sườn phía bắc của Moltke và giải vây cho Metz từ hướng tây bắc. Không may cho người Pháp, Moltke đã phát giác được cuộc hành quân này vào ngày 25 tháng 8. Sau khi đánh bại Quân đoàn V Pháp trong trận Beaumont ngày 30 tháng 8, Moltke huy động quân chủ lực các Binh đoàn số 3 và Maas hợp vây Binh đoàn Châlons tại Sedan, buộc Napoléon, MacMahon cùng 83.000 quân phải đầu hàng và bị bắt tù binh vào ngày 2 tháng 9. Trong khoảng thời gian giữa các trận thảm bại ở Gravelotte và Sedan, Bazaine chỉ tiến hành hai cuộc phá vây duy nhất. Đợt đầu là vào ngày 26 tháng 8, khi viên thống chế hạ lệnh xây thêm hai cây cầu bắc qua sông Moselle để vận chuyển 3 quân đoàn từ tả ngạn sang hữu ngạn sông Moselle. Bazaine dự định tập kết binh lực quanh thành trì St. Julien trước khi giáng mạnh vào các đội quân yếu ớt của Phổ phía đông bắc Metz và tiến ra Thionville trên mạn bắc. Nhưng quân Pháp chỉ mới đẩy lui được một số đơn vị tiền đồn Phổ thì cuộc phá vây đã đổ vỡ và quân Pháp rút trở về Metz. Quan sát trận đánh, Tư lệnh Quân đoàn VI Pháp - Thống chế François Canrobert nhận định thời tiết xấu là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại của trận đột vây này. Mưa gió đã làm chậm bước tiến của người Pháp và đem lại thời gian cho phía Phổ tăng cường phòng ngự. Trong lần đột vây thứ hai (trận Noisseville), Bazaine điều toàn bộ 2 quân đoàn tấn công vài ngàn quân Phổ gần St. Barbe trên tả ngạn sông Moselle chiều ngày 31 tháng 8. Quân Pháp giành được làng Noisseville và một số làng khác. Mặc dù các chỉ huy quân Phổ cố sức chi viện cho lực lượng bị tấn công và các khẩu đại bác của họ gây nhiều thiệt hại cho quân Pháp, phía Pháp vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số. Song trong đêm ấy, Friedrich Karl và các tướng tùy tùng đã gia cố cho các vị trí bị đe dọa bằng lực lượng mạnh. Khi Bazaine tiếp tục tiến công vào ngày 1 tháng 9, Friedrich Karl phát động phản công buộc quân Pháp phải rút vào hệ thống pháo đài Metz. Tình trạng đói kém đã trở nên trầm trọng trong khắp Metz, nơi mà các khẩu phần ăn uống đã bị cắt đứt từ ngày 4 tháng 9. Khi lượng cỏ khô và yến mạch cho ngựa ăn bị cạn kiệt, Bazaine ra lệnh bón lúa mì cho ngựa. Quyết định này làm lính Pháp không còn bánh mì để ăn và hàng ngày họ buộc phải nuôi sống bản thân chỉ bằng 350 gam thịt ngựa không ướp muối và 1/4 lít rượu vang. Ban đầu các khẩu phần ăn của lính Pháp chỉ đòi hỏi ngựa thồ, nhưng kể từ ngày 9 tháng 9 thì họ giết thịt cả ngựa chiến. Sau khi bác bỏ một kế hoạch đột vây trên hữu ngạn sông Moselle bằng các quân đoàn II, III và VI do "sự ưu việt" của quân Phổ, Bazaine xuống lệnh cho mỗi trung đoàn pháo binh, kỵ binh và mọi đại đội công binh loại 40 con ngựa ra làm thịt. Đến ngày 20 tháng 9, phân nửa số ngựa của Binh đoàn sông Rhin đã bị mổ thịt. 3 ngày sau, để thu nhặt khoai tây, 200 lính Pháp đói ăn đã tấn công các đồn bót quân Phổ trên hữu ngạn sông Moselle nhưng bị giết sạch. Để vãn hồi tình hình, Bazaine xua 40.000 quân chia làm 2 toán đi lục lọi lương thực dọc theo hai bờ sông Moselle vào ngày 7 tháng 10. Sự kiện này đã dẫn đến sự bùng nổ của trận Bellevue: trong khi pháo Phổ phá tan các xe goòng của Pháp, bộ binh Phổ từ trong các chiến hào đã giương các khẩu Chassepot mà họ thu được trong trận Sedan để xả đạn hàng loạt vào hàng ngũ quân Pháp. Khoảng 2.000 quân Pháp đã bị loại khỏi vòng chiến. Số quân Pháp còn lại cố lùng sục thức ăn trong các ngôi làng, ăn bất kỳ cái gì mà họ có thể tìm thấy rồi rút về. Do mục đích duy nhất của mình là phong tỏa Metz cho đến khi quân Pháp cạn sạch tiếp tế, quân Phổ không hề truy kích. Một số toán tản binh Pháp do đi quá xa nên đã bị lính thương kỵ binh Phổ bắt về tổng hành dinh để tra hỏi. Những tù binh "gầy gò và ốm yếu" này đã kể cho người Phổ nghe về một đội quân trú phòng đuối sức, đang đói meo và đổ bệnh do hàng ngày ăn thịt ngựa và uống nước bẩn sông Moselle. Trong thời điểm ngày 10 tháng 10 năm 1870, đã có đến 19.000 thương binh và bệnh binh Pháp nằm chật các quân y viện tại Metz. Các dịch bệnh sốt phát ban và đậu mùa hoành hành khắp thành phố. Niềm tin "Metz bất khả chiến bại" ("Metz l'invincible") chết dần trong tâm trí của người Pháp. Bên trong các pháo đài, tinh thần chiến đấu của binh sĩ Pháp đã suy sụp đến mức họ không muốn bắn vào những lính Phổ lọt vào tầm bắn của họ. Trong vùng bắn của quân Pháp, các đoàn xe tiếp tế của Phổ tha hồ cung cấp thức ăn và nước uống cho lực lượng vây hãm. Thêm vào đó, kể từ sau chiến thắng Noisseville, Friedrich Karl đã dốc sức củng cố vòng vây của mình. Ông bài trí tất cả các lực lượng của mình trong một hệ thống chiến hào nằm ngay ngoài tầm bắn của pháo Pháp và luôn sẵn sàng đập tan bất kỳ một cuộc đột vây nào của đối phương. Tình hình Binh đoàn sông Rhin từ tồi tệ đã chuyển sang tuyệt vọng. Thời tiết Lorraine vào tháng 10 rất lạnh và ẩm ướt, có mưa đều. Trong các chiến hào Phổ, những người lính phải lội bì bõm qua vũng bùn sâu đến đầu gối, ráng núp tránh trận gió bắc thổi tốc mái các ngôi nhà và làm dấy lên một cơn dịch lao phổi gây chết hàng trăm quân Phổ. Dịch kiết lỵ cũng lan tràn trong hàng ngũ quân Pháp và số lính Pháp nhiễm bệnh lên đến hàng ngàn người. Giờ đây, những bức trường thành của Metz và các pháo đài lân cận đã bị đốm bẩn bằng những graffiti bài xích Bazaine, trong đó một số được tô vào buổi tối và một số được tô ngay trong buổi sáng. Bản thân Bazaine cũng gây suy sụp tinh thần quân lực bằng những bản thông cáo hàng ngày của ông về "các cứ điểm không thể lay chuyển" ("redoutes impregnables") của quân Phổ. Kể từ tuần thứ ba của tháng 10 năm 1870, các đơn vị tiền đồn Phổ được lệnh mỗi ngày chỉ cho phép một số ít quân Pháp đào ngũ, số lính đào ngũ còn lại sẽ bị bắn và đuổi vào Metz. Những binh sĩ Pháp thoát được khỏi pháo đài đều sung sướng và ăn lấy ăn để phần lương thực mà quân Phổ cung cấp cho họ. Metz thất thủ. Vào ngày 24 tháng 10 năm 1870, trong một hội đồng chiến tranh, bộ chỉ huy quân Pháp nhận định việc tiến hành đàm phán với bộ tư lệnh lực lượng vây hãm Metz là hết sức cần thiết. Trên vòng đàm phán, phía Phổ bác bỏ mọi yêu cầu nương tay và cương quyết đòi hỏi pháo đài phải đầu hàng và Binh đoàn sông Rhin phải rời pháo đài trên tư cách là tù binh. Cuối cùng, một văn kiện đã được ký kết theo những điều khoản của người Phổ vào đêm ngày 27 tháng 10. Hôm sau, Bazaine lệnh cho các trung đoàn của mình đặt mọi hiệu kỳ và quân kỳ tại kho vũ khí Metz để giao nộp cho quân Phổ. Hành động này gây tranh cãi gay gắt vì mọi đơn vị quân Pháp đều muốn đốt các lá cờ thay vì nộp cho kẻ địch lên mặt khoe khoang trong các cung điện và nhà thờ đồn binh của họ. Buổi sáng ngày 29 tháng 10, những ngọn cờ Phổ tung bay trên các thành lũy của Metz. Khoảng 13h, hàng binh Binh đoàn sông Rhin di chuyển theo 6 ngã đường sang chiến tuyến quân Phổ. Tại mỗi vị trí được quy định, một quân đoàn Phổ tiến hành thu nhận tù binh - những người ngay lập tức được đưa vào các lều trại đã được chuẩn bị trước và được tiếp tế lương thực. Sau khi giao nộp binh lính của mình cho quân Phổ giải về Đức, các sĩ quan Pháp được phép giữ bảo kiếm và trở về pháo đài Metz, nơi họ sớm được người Phổ cung cấp thức ăn nước uống. Điều này đã làm cho nhiều lính Pháp phẫn nộ vì tin rằng các cấp trên đã "bán đứng" mình. Bazaine - Tổng tư lệnh Binh đoàn sông Rhin bại trận - rời Metz đi Kassel, thuộc Bắc Đức, để chịu sự giam cầm của người Phổ. Vì hành động đầu hàng quân Phổ, về sau ông bị Pháp lên án là phản quốc và bị kết án tử hình. Ông được Tổng thống Pháp là Patrice de MacMahon, một người bạn của ông, giảm án thành tù chung thân và bị đày ra giữa Địa Trung Hải. Trong ngày hôm ấy, Lữ đoàn số 26 Phổ đã tiến vào tiếp quản Metz. Thành phố không bị hư hại, nhưng tình trạng của các doanh trại đã cho thấy những gì mà binh sĩ hai phe phải hứng chịu trong suốt cuộc vây hãm vừa qua. Trận bao vây Metz đã đem lại cho quân Phổ tổn thất đến 240 sĩ quan và 5.500 binh lính chết hay bị thương. Đổi lại, họ bắt được một lượng tù binh khổng lồ gồm 6.000 sĩ quan và 167.000 binh lính. Con số này chỉ bị vượt mức trong các trận hợp vây thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Thêm vào đó, quân Phổ cũng thu được 56 quân kỳ, 622 pháo dã chiến và 876 pháo trong thành, 72 súng máy mitrailleuse và 260.000 súng trường. Sử gia thế kỷ 19 G. L. M. Strauss đã đánh giá cuộc đầu hàng của Metz là "một cuộc đầu hàng độc đáo trong những trang lịch sử", do, khác với Sedan và Paris, quân Pháp tại Metz chiếm ưu thế quân số so với lực lượng vây hãm Phổ. Hàng binh Pháp được vận chuyển theo đường Trèves và Saarbrücken dưới sự hộ tống của một số tiểu đoàn vệ binh quốc gia Phổ. Sau khi giải hết tù binh về Đức, các tiểu đoàn vệ binh quốc gia này sẽ tiếp tục làm nhiệm vụ quản thúc tù binh chứ không trở lại tham chiến ở Pháp. Với các cuộc đầu hàng của Binh đoàn Châlons tại Sedan và Binh đoàn sông Rhin tại Metz, người Phổ giờ đã bắt được toàn bộ quân đội Pháp trước chiến tranh. Nói như lời đùa đầy ảm đạm của thị dân Paris,"cuối cùng thì Bazaine và MacMahon đã hội quân". Sự thất thủ của Metz cũng tạo cho các Binh đoàn số 1 và số 2 Phổ rảnh tay để đối phó với lực lượng Pháp trên các mặt trận khác. Sau khi nhận định tình hình thuận lợi, Bộ Tổng chỉ huy quân Phổ tại Versailles phát lệnh cho tướng von Manteuffel kéo quân chủ lực Binh đoàn số 1 vào miền Compiègne và yểm trợ lực lượng vây hãm Paris trên mạn bắc. Đồng thời, Manteuffel còn phải chia quân đóng giữ Metz và tiến hành bao vây các pháo đài Thionville và Montmédy. Về phần mình, Friedrich Karl được lệnh đem Binh đoàn số 2 đến khu vực ven sông Loire, nơi chính phủ Cộng hòa Pháp non trẻ đã thành lập một đạo quân lớn để duy trì sự kháng cự của mình.
1
null