text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Khướu bụi đầu đỏ (danh pháp hai phần: Stachyridopsis ruficeps) là một loài chim thuộc họ Họa mi. Khướu bụi đầu đỏ phân bố nhiều nơi khác nhau, trên tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á, đó là loài đặc hữu của Bhutan, Hồng Kông, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam. Môi trường sống tự nhiên của nó là rừng đất thấp ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới và rừng núi ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.
1
null
Nhạn xanh tím (danh pháp hai phần: Tachycineta thalassina) là một loài chim thuộc họ Nhạn. Nhạn xanh tím có môi trường sống sinh sản là khu vực bán mở ở phía tây Bắc Mỹ từ Alaska đến Mexico. Chúng làm tổ trong hốc trong cây hoặc hốc đá, đôi khi tạo thành bầy đàn nhỏ. Chúng di chuyển theo đàn Trung và miền bắc Nam Mỹ. Chúng kiếm ăn theo đàn, thường bay tương đối cao, nhưng đôi khi bay thấp trên mặt nước. Chúng ăn côn trùng gồm muỗi, bướm ngày, phù du và bướm đêm.
1
null
Bộ Phù du (danh pháp khoa học: Ephemeroptera), gọi theo cách dân dã/gian là con thiêu thân, con vật vờ, là một bộ (sinh học) thuộc một nhóm Palaeoptera, cùng với bộ Chuồn chuồn. Bộ này có hơn 3000 loài trên toàn thế giới, được chia làm 400 chi trong 42 họ. Đặc điểm. Phù du là nhóm côn trùng tương đối nguyên thủy, thể hiện một số đặc điểm cổ xưa có lẽ đã hiện diện ở những côn trùng bay đầu tiên. Ấu trùng của phù du sống trong nước ngọt và chỉ sống ở môi trường nước sạch, không bị ô nhiễm. Bộ Phù du sống trong nước, có thể sống từ 1 đến 3 năm, sau khi lột xác lên bờ chúng chỉ có thể sống trong vài giờ ngắn ngủi. Phân loại. Dưới đây là bản phân loại truyền thống của Peters và Campbell (1991), trong tác phẩm Côn trùng của Úc (Insects of Australia) Phân bộ Pannota Phân bộ Schistonota Tại Việt Nam. Chu kỳ sinh trưởng. Một số loài thuộc bộ phù du sinh trưởng trong môi trường tự nhiên ở vùng sông Hồng ở các huyện như Khoái Châu, Văn Giang, Việt Nam, được người dân địa phương gọi là con vật vờ, vờ vờ hay con vờ. Khi trưởng thành con vờ to bằng con châu chấu nhưng trắng muốt, cánh mỏng tang, bay vật vờ ở mặt nước. Ấu trùng của con vờ sống trong nước, sau khi trưởng thành, con vờ chỉ sống được vài tiếng nên chúng được coi là quán quân chết yểu. Cả tháng vật vờ lên lột xác vài ngày, đẻ trứng rồi chết. Trứng nhanh chóng nở thành ấu trùng rồi rơi lại trở về đáy sông tiếp tục lặp lại chu kỳ sinh trưởng chờ ngày được ngoi lên mặt nước lột xác. Thời xưa hai bên sông Hồng còn rậm rạp, hoang sơ, tới mùa con vật vờ xuất hiện rất nhiều, có những đám cỏ mấp mé bờ sông con vật vờ đậu kín. Mùa xuất hiện con vật vờ cũng là thời điểm các loài chim trời, chim nước tha hồ kiếm ăn, no bụng. Các loài cá săn mồi ở sông Hồng cũng xuất hiện nhiều hơn. Khai thác giá trị kinh tế. Vật vờ trưởng thành chỉ sống vài giờ, vì thế dân ven dòng sông Hồng muốn thu hoạch chúng phải chờ tới gần cuối mùa xuân khi thời tiết thay đổi rõ nét (thu hoạch theo mùa(. Khi xưa dân ven dòng sông Hồng bắt ăn và coi là một món ăn/thực phẩm lạ miệng sau một năm. Giờ đây vì sự đô thị hóa lẫn môi trường sống bị thu hẹp vì ô nhiễm khiến số lượng sụt giảm thì vật vờ được bán làm món ăn/thực phẩm đặc sản. Khi được nhiều thực khách phát hiện làm ra nhiều món đặc sản, ăn bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe thì giá bán vật vờ tăng đến cao chót vót. Thông thường, con vật vờ mua ngay tại bến thuyền dao động 300.000-350.000 đồng/kg, ra tới chợ người bán lẻ bán giá 400.000-500.000 đồng/kg. Con vật vờ khi vào nhà hàng đặc sản chế biến thì có giá 1 triệu đồng/kg, ăn một đĩa vật vờ đã tốn tới 200.000-300.000 đồng. Trong văn hóa. Trong văn hóa thì các loài phù du hay thiêu thân có ý nghĩa ẩn dụ. "Phù du" hay chỉ về sự không có gì, chẳng quan trọng (""tiền bạc là phù du"), rồi "kiếp phù du" hay "đời phù du" chỉ về kiếp sống, đời người nhỏ bé phiêu dạt, phiêu linh. Thiêu thân nghĩa là thiêu cháy thân xác bằng ngọn lửa, là cảnh tượng quen thuộc khi những con côn trùng nhỏ lao vào ánh đèn, ngọn lửa từ đó chỉ sự thí mạng vô ích, quay cuồng, ngày nay thường ví von với những người chơi ma túy đến hủy hoại thân xác (thiêu thân bay lắc) hay những người hám lợi cả tin, mê muội lao vào trò đen đỏ, đa cấp. Thiêu thân được nhắc đến trong bài hát "Giống như con thiêu thân lao vào trò vui thế gian, giống như con ong vàng thích tình ái mật ngọt" và bài hát có tên "Con thiêu thân" của Lâm Chấn Khang. Dân gian Việt Nam mượn hình ảnh con thiêu thân để diễn tả sự ngu dốt của con người, khi quá đam mê những thói quen có hại cho mình và người khác để rồi đánh mất chính mình mà sống trong đau khổ lầm mê. Trong văn hóa dân gian Việt Nam còn có câu chuyện "Sự tích con thiêu thân"". Tham khảo. [[Thể loại:Bộ Phù du| ]] [[Thể loại:Bộ côn trùng|Cánh phù du]] [[Thể loại:Động vật phù du|C]] [[Thể loại:Sinh vật thủy sinh|C]] [[Thể loại:Côn trùng ăn được]]
1
null
Xích Liệp Giác () là một hòn đảo tại vùng biển phía tây của Hồng Kông. Xích Liệp Giác cùng với đảo Lãm Châu nhỏ hơn đã được san bằng và hợp nhất thông qua cải tạo đất, hình thành nên một vùng đất rộng để làm nền cho Sân bay quốc tế Hồng Kông, vốn bắt đầu các hoạt động thương mại từ năm 1998. Do đó, sân bay quốc tế này còn được gọi là "Sân bay Chek Lap Kok". Hong Kong SkyCity, một tổ hợp kinh doanh và giải trí, cũng nằm trên đảo Xích Liệp Giác. Nó bao gồm trung tâm triển lãm và hội nghị AsiaWorld-Expo, hoạt động từ năm 2005. Cathay Pacific City, trụ sở chính của Cathay Pacific, và các trụ sở chính của Dragonair và Hong Kong Airlines cũng nằm trên nền sân bay. Tên gọi. Tên gọi của đảo có thể bắt nguồn từ sự trơ trụi của đảo, hình dạng của hòn đảo giống như con cá pecca kẽ đỏ ('xích liệp', 赤鱲), hoặc loài cá này từng phong phú trong vùng lân cận của đảo. Địa lý. Xích Liệp Giác nằm ở phía bắc của đảo Đại Nhĩ Sơn, ở ngoài khơi của Mã Loan Dũng và Đông Dũng. Trước khi xây dựng nền cho sân bay, Xích Liệp Giác là một hòn đảo nhỏ và nhiều đồi núi, dài khoảng 4 km, với diện tích 3,02 km² (other sources mention 2.8 km²). Phần cực nam của đảo tạo thành một bán đảo nhỏ, phần lớn vẫn chưa được phát triển. Khu vực này đối mặt với Đông Dũng và nay được đặt tên là "Quan Cảnh Sơn" (Scenic Hill). Đó là nơi có công viên Cổ Diêu (Ancient Kiln Park) và trạm góc đảo sân bay của tuyến cáp treo Ngang Bình 360. Lịch sử. Hòn đảo có người cư trú không ổn định kể từ thời đại đồ đá mới giữa cách đây 6.000 năm. Trong thế kỷ 19 và 20, các cư dân trên đảo Xích Liệp Giác làm nông nghiệp, bao gồm trồng lúa, và khai thác đá. Dân cư trên đảo là khoảng 200 trong thập niên 1950, tăng mạnh trong thập niên 1960. Sau đó, dân cư trên đảo suy giảm và cuối cùng chỉ còn khoảng 20 còn ở lại khi dự án xây dựng sân bay mới được công bố vào đầu thập niên 1990. Thôn làm nông nghiệp và đánh cá ban đầu trên đảo được tái định cư đến thôn Xích Liệp Giác (赤鱲角村) gần Đông Dũng trên đảo Đại Nhĩ Sơn. Một miếu Thiên Hậu được xây dựng vào năm 1823 ở đông bắc của đảo. Toàn bộ miếu được xây dựng bằng đá hoa cương khai thác trên đảo. Miếu đã bị phá hủy vào năm 1991 và được xây dựng lại vào năm 1994 ở vị trí hiện nay. Ếch cây Romer ("Philautus romeri"), một loài ếch độc nhất vô nhị với kích thước chỉ bằng ngón tay, nó chỉ được tìm thấy tại Hồng Kông, và đã được di dời từ Xích Liệp Giác đến môi trường sống mới trên đảo Đại Nhĩ Sơn trước khi xây dựng sân bay.
1
null
Nokia C5-06 Đây là một bản rút gọn của C5-03. Chỉ lược bỏ 3G và thay thế camara 5.0 Mp bằng camera 2.0; C5-06 là một phiên bản smartphone giá rẻ, được nhiều sự lựa chọn. tuy sức mạnh có yếu hơn c5-03 nhưng phần lớn các tính năng của nó đều hoàn thiện. C5-06 sử dụng hệ điều hành Symbian S60v5 và hỗ trợ cảm biến gia tốc. C5-06 được trang bị màn hình 360x640 với màn hình cảm ứng điện trở, máy hỗ trợ công nghệ Flash (flash 4.0). Hiện nay, C5-06 đã nâng cấp tới FW 23.
1
null
Lập trình ngôn ngữ tư duy (tiếng Anh: Neuro-linguistic programming hay NLP) là một phương pháp tiếp cận giả khoa học để giao tiếp, phát triển cá nhân và liệu pháp tâm lý được Richard Bandler và John Grinder ở California, Hoa Kỳ tạo ra vào những năm 1970. Những người sáng tạo ra NLP khẳng định có mối liên hệ giữa các quá trình thần kinh ("neuro-"), ngôn ngữ ("(linguistic") và các mẫu hành vi học được thông qua kinh nghiệm ("programming"), và chúng có thể được thay đổi để đạt được các mục tiêu cụ thể trong cuộc sống. Bandler và Grinder cũng tuyên bố rằng phương pháp luận NLP có thể "mô hình hóa" các kỹ năng của những người xuất chúng, cho phép bất kỳ ai cũng có được những kỹ năng đó. Họ cũng tuyên bố rằng, thường trong một phiên duy nhất, NLP có thể điều trị các vấn đề như ám ảnh, trầm cảm, rối loạn tic, bệnh tâm thần, cận thị, dị ứng, cảm lạnh thông thường, và rối loạn học tập. NLP đã được một số nhà trị liệu thôi miên và cả các công ty tổ chức các cuộc hội thảo được tiếp thị là đào tạo lãnh đạo cho các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ áp dụng. Không có bằng chứng khoa học nào chứng minh cho những tuyên bố của những người ủng hộ NLP và nó đã bị coi là giả khoa học. Các đánh giá khoa học cho rằng NLP dựa trên những phép ẩn dụ lỗi thời về cách thức hoạt động của bộ não không phù hợp với lý thuyết thần kinh hiện tại và chứa nhiều lỗi thực tế. Các bài đánh giá cũng cho thấy rằng tất cả các nghiên cứu hỗ trợ về NLP đều có những sai sót đáng kể về phương pháp luận và số lượng nghiên cứu có chất lượng cao hơn gấp ba lần đã không thể tái tạo "những tuyên bố phi thường" của Bandler, Grinder và những người thực hành NLP khác. Khởi nguồn. Theo Bandler và Grinder, NLP bao gồm một phương pháp luận được gọi là "mô hình hóa", cộng với một tập hợp các kỹ thuật mà chúng có được từ các ứng dụng ban đầu của nó. Trong số các phương pháp được coi là cơ bản như vậy, chúng có nhiều nguồn gốc từ công trình của Virginia Satir, Milton Erickson và Fritz Perls. Bandler và Grinder cũng dựa trên lý thuyết của Gregory Bateson, Alfred Korzybski và Noam Chomsky (đặc biệt là ngữ pháp chuyển đổi), cũng như các ý tưởng và kỹ thuật từ Carlos Castaneda. Bandler và Grinder tuyên bố rằng phương pháp luận của họ có thể mã hóa cấu trúc vốn có của "ma thuật" trị liệu như được thực hiện trong liệu pháp của Perls, Satir và Erickson, và thực sự khả thi đối với bất kỳ hoạt động phức tạp nào của con người, và sau đó từ mã hóa đó, cấu trúc và hoạt động của nó có thể được người khác học hỏi. Cuốn sách năm 1975 của họ, "The Structure of Magic I: A Book about Language and Therapy", nhằm mục đích là một bản mã hóa các kỹ thuật trị liệu của Perls và Satir. Bandler và Grinder nói rằng họ đã sử dụng quy trình "lập mô hình" của riêng mình để tạo mô hình Virginia Satir để họ có thể tạo ra cái mà họ gọi là "Meta-Model", một mô hình để thu thập thông tin và thách thức ngôn ngữ cũng như tư duy cơ bản của khách hàng. Họ tuyên bố rằng bằng cách thách thức các sai lệch ngôn ngữ, chỉ định khái quát và khôi phục thông tin đã xóa trong các tuyên bố của khách hàng, các khái niệm ngữ pháp chuyển đổi của "cấu trúc bề mặt" mang lại sự trình bày đầy đủ hơn về "cấu trúc sâu" bên dưới và do đó có lợi ích cho việc điều trị. Các khái niệm "anchoring", "future pacing" và "representational systems" cũng được lấy từ Satir. Ngược lại, "Mô hình Milton" (Milton model) — một mô hình ngôn ngữ thôi miên có chủ đích của Milton Erickson — được Bandler và Grinder mô tả là “mơ hồ một cách nghệ thuật” và mang tính ẩn dụ. Milton-Model được sử dụng kết hợp với Meta-Model như một chất làm mềm, để tạo ra "trạng thái xuất thần" và cung cấp gợi ý điều trị gián tiếp. Tuy nhiên, giảng viên trợ giảng trong ngôn ngữ học Karen Stollznow mô tả các tham khảo Bandler và Grinder đã nhắc đến chỉ đơn thuần là việc chèn tên. Ngoài Satir, những người mà Bandler và Grinder cho là có ảnh hưởng, thực ra không hợp tác với Bandler hoặc Grinder. Bản thân Chomsky không có mối liên hệ nào với NLP; công việc ban đầu của ông là lý thuyết, không phải trị liệu. Stollznow viết, "ngoài việc mượn thuật ngữ, NLP không có sự tương đồng đích thực với bất kỳ lý thuyết hoặc triết học nào của Chomsky — dù là theo ngôn ngữ, nhận thức hoặc chính trị." Thiếu cơ sở khoa học. Cán cân bằng chứng khoa học phát hiện ra NLP chủ yếu là một thứ giả khoa học đầy tai tiếng. Các báo cáo khoa học chỉ ra nó chứa đựng nhiều lỗi về căn cứ, và không tạo ra kết quả như những người đề xướng đã cam đoan. Theo Clinical Psychologist Grant Devilly (2005), do đó sự phổ biến của NLP đã giảm đi trong như năm 1970. Những lời chỉ trích vượt qua sự thiếu hụt bằng chứng thực nghiệm về tính hiệu quả, cho rằng NLP thể hiện một số tính chất , tiêu đề , khái niệm và thuật ngữ giả khoa học. NLP được dùng như một ví dụ cho giả khoa học và hỗ trợ việc giảng dạy khoa học cơ bản ở cấp độ chuyên môn và đại học. NLP cũng xuất hiện trong danh sách các phương pháp can thiệp không đáng tin dựa trên sự thống nhất của chuyên gia và được bình duyệt. Trong nghiên cứu được thiết kế để xác định "quack factor" (các phương pháp giả dối, bị phản chứng) trong việc thực hành chữa bệnh tâm lý, Norcross "et al." (2006) liệt kê NLP là có thể hoặc hầu như chắc chắn không đáng tin cho việc chữa trị các vấn đề hành vi. Norcross "et al." (2010) liệt kê NLP trong tốp mười phương pháp can thiệp mất uy tín nhất và Glasner-Edwards and Rawson (2010) liệt kê NLP là "chắc chắn không đáng tin." Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng NLP không thành công trong việc đạt được những kết quả đáng tin cây đối với những trụ cột của nó. Đầu những năm 1980, NLP được quảng cáo là một tiến bộ quan trọng trong tâm lý trị liệu và tư vấn, và thu hút một số quan tâm trong nghiên cứu tư vấn và tâm lý học lâm sàng. Tuy nhiên, khi các thử nghiệm có kiểm soát không cho thấy bất kỳ lợi ích nào từ NLP và những người ủng hộ của nó đã đưa ra những tuyên bố ngày càng đáng ngờ, mối quan tâm khoa học đối với NLP đã phai nhạt. Nhiều đánh giá tài liệu và phân tích tổng hợp cũng đã không thể đưa ra bằng chứng cho các giả định hoặc hiệu quả của NLP như một phương pháp trị liệu. Trong khi một số học viên NLP đã lập luận rằng việc thiếu hỗ trợ theo kinh nghiệm là do nghiên cứu NLP không đủ, nhiều ý kiến ​​khoa học đồng thuận là NLP là giả khoa học và nó đang cố gắng bác bỏ những phát hiện nghiên cứu chính thức dựa trên những lập luận này. Họ thừa nhận rằng: "NLP không có cơ sở bằng chứng và các học viên NLP đang tìm kiếm sự tín nhiệm sau đại học." Các khảo sát trong cộng đồng học thuật đã cho thấy NLP bị mất uy tín rộng rãi trong giới khoa học. Trong số các lý do để coi NLP là giả khoa học là bằng chứng ủng hộ nó chỉ giới hạn ở giai thoại và lời khai cá nhân, không phải là số liệu thống kê chính xác, ngược với phương pháp khoa học, rằng nó không có cơ sở bởi kiến thức khoa học về khoa học thần kinh và ngôn ngữ học, và cái tên "lập trình ngôn ngữ tư duy" chỉ là sử dụng các từ biệt ngữ khoa học để gây ấn tượng với người đọc và làm xáo trộn ý tưởng, trong khi bản thân NLP không liên quan đến bất kỳ hiện tượng nào với cấu trúc thần kinh và không có gì chung với ngôn ngữ học hoặc lập trình. Trong thực tế, trong giáo dục, NLP đã được sử dụng như một ví dụ chính của giả khoa học. Nguyên lý chung. NLP đã được đưa ra để nghiên cứu về cách mỗi cá nhân hành xử theo thói quen như thế nào. Các nhà nghiên cứu ủng hộ cho rắng với NLP, một người có thể học hỏi từ người khác những mô thức nào có ích và phục vụ họ. Sau đó họ có thể luyện tập những mô thức mới cho hành vi của mình (giống như tái lập trình não bộ) nhằm "tiến bộ hơn trong những trường hợp mà trước kia họ đã ứng xử không hiệu quả". NLP nhằm vào việc thay đổi tận gốc của hành vi, tức thay đổi lối tư duy dẫn đến hành vi. Theo đó, cuộc sống, năng lực cũng như trình độ đều là hệ quả của cách con người suy nghĩ. Việc thay đổi tận gốc vì vậy là điều bắt buộc "nếu một người muốn nâng cao bất cứ kỹ năng nào, hoặc thay đổi các thói quen đã bám rễ". Trong nhiều trường hợp, việc thay đổi này khá dễ dàng và mang lại hiệu quả cao. Một trong những cơ sở của nó là con người giao tiếp với thế giới bên ngoài thông qua 5 giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, và vị giác. Chúng ta tiếp nhận những tác nhân kích thích từ bên ngoài, và tái tạo lại chúng bên trong não bộ dưới một hình thức khác. Nó được cho rằng việc này hình thành bên trong não bộ mỗi người một thế giới thu nhỏ và chủ quan của riêng họ. Việc tổng hợp tất cả những gì ta thu nhận từ bên ngoài vào não bộ tạo nên những mô thức hành vi và phản ứng trong các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống, việc này còn được gọi là "lập trình". Những người sáng lập ra NLP đã khẳng định rằng, mọi người không phản ứng trực tiếp với thế giới chung quanh. Trước tiên, họ dùng những gì thu nhận được từ thế giới bên ngoài trong quá trình sống và lớn lên của bản thân để "lập trình" cho bộ não của mình, rồi cứ thế mà "hành động" và "phản ứng" (một cách gần như "tự động") theo các chương trình đã được "cài sẵn" đó. "Lợi ích". Các nhà sáng lập và nghiên cứu NLP tin rằng: nếu con người có thể sử dụng một cách hiệu quả những nguyên lý và kỹ thuật trong NLP, họ có thể đạt được khả năng giao tiếp đầy nghệ thuật, có được một cuộc sống hạnh phúc, giàu có và mãn nguyện hơn, và đã có nhiều giai thoại khẳng định một số nhân vật thành công nhờ áp dụng NLP. Mặc dù vậy, chưa có đủ bằng chứng thống kê khoa học để biết liệu các hiệu quả này có phải là đáng lưu ý (significant). Khóa học NLP giúp bạn tìm thấy mục tiêu của bản thân, khơi nguồn cảm hứng và giúp khai phá tiềm năng trong con người bạn. Cụ thể, giá trị bản thân bạn sẽ được nâng cao với việc bước vào thế giới NLP: Ứng dụng của NLP. NLP căn bản được sử dụng như một liệu pháp bổ trợ của các nhà trị liệu thực hành trong các chuyên ngành trị liệu khác nhau. Ngoài ra, nó cũng được coi là một phương pháp điều trị đặc hiệu được gọi là “Neurolinguistic Psychotherapy” được công nhận bởi Hội đồng Tâm lý Vương quốc Anh. Phương pháp này cũng đã được sử dụng để nghiên cứu về sự ảnh hưởng của niềm tin đối với bệnh tật. Và các nhà khoa học đã nhận thấy cách bác sĩ trao đổi thông tin với bệnh nhân có thể ảnh hưởng tốt hoặc xấu đối với quá trình phục hồi. Từ đó có thể tạm đưa ra kết luận rằng, niềm tin có mối tương quan thuận đối với sức khỏe thể chất của con người.
1
null
Thanh Y (, ), là một hòn đảo ở khu vực đô thị của Hồng Kông, ở phía tây bắc của đảo Hồng Kông và ở phía nam của Thuyên Loan. Với diện tích 10.69 km², hòn đảo đã được mở rộng đáng kể nhờ cải tạo đất tại hầu hết các vùng bờ biển tự nhiên và hợp nhất với các đảo nhỏ Nha Ưng Châu và Châu Tể. Ba vịnh hay bến tàu chính là Thanh Y Đường, Môn Tể Đường và vịnh Thanh Y ở phía đông bắc của đảo đã bị cải tạo hoàn toàn để hình thành nên các khu đô thị mới. Hòn đảo có thể được phân chia làm bốn, một phần tư phía đông bắc là khu dân cư, một phần tư đông nam là Thanh Y thị, một phần tư phía tây nam có ngành công nghiệp nặng, trong khi một phần tư phía tây bắc có một tuyến đường mòn thư giãn, một giao điểm giao thông và một số cơ sở công nghiệp đóng tàu. Hòn đảo nằm ở phần tây bắc của cảng Victoria và một bị giới hạn một phần của điều luật hạn chế cải tạo đất tại khu vực cảng. Tên gọi. Thanh Y (青衣) có nghĩa là "quần áo màu xanh", song cũng là tên tiếng Hán của một loài cá, có lẽ là Choerodon schoenleinii, từng xuất hiện nhiều ở vùng biển lân cận của đảo. Người dân đặt tên cho đảo theo loài cá này. Thanh Y Đàm (青衣潭, "nghĩa." vũng Thanh Y) hay Thanh Y Đàm Sơn (青衣潭山, "nghĩa." Đồi vũng Thanh Y) cũng xuất hiện trên một số bản đồ ban đầu của Trung Quốc. Hòn đảo cũng từng được biết đến với tên gọi Xuân Hoa Lạc (春花落), hoặc đảo Chun Fa trên một số bản đồ phương Tây. Ngày nay, Xuân Hoa Lạc vẫn là tên một địa điểm hay một thôn cũ ở góc đông nam của hòn đảo. Các văn bản của chính quyền dưới thời nhà Minh đã đặt tên cho vùng nước xung quanh Xuân Hoa Lạc là Xuân Hoa Dương (春花洋). Hải quân nhà Minh đã đánh bại các đội tàu hải tặc ở đây. Hành chính. Khu đô thị Thanh Y, cùng với khu đô thị Quỳ Dũng, là một phần của khu đô thị mới Thuyên Loan tại quận Quỳ Thanh ở Tân Giới. Mặc dù Thanh Y là một đảo xa trung tâm, song nó không trực thuộc Ly Đảo. Về mặt lịch sử, đảo Thanh Y, với Quỳ Dũng, thường nằm trong cùng một đơn vị hành chính của Thuyên Loan vì người dân các khu dân cư ở đó gần gũi và gắn bó với nhau. Tuy nhiên, không giống như Quỳ Dũng, nơi các thôn là một phần của Ủy ban hương sự Thuyên Loan, đảo Thanh Y có Ủy ban hương sự Thanh Y riêng của mình. Ủy ban hương sự là một thể chế chính trị quan trọng cho đến khi thành lập khu nghị hội và khu vực thị chính cục (nay đã bãi bỏ). Dân số. Có khoảng 4.000 người sinh sống trên đảo khi người Anh đoạt lấy Tân Giới vào khoảng năm 1898. Một trăm năm sau, dân cư đã tăng lên 50 lần; theo điều tra dân số năm 2001 thì trên đảo Thanh Y có 193.432 cư dân trong 55.478 hộ gia đình. Trong một ước tính năm 2007, có khoảng 200.400 người sinh sống trên đảo. Dân cư trên đảo dự kiến sẽ tăng lên 203.300 trong tương lai gần. Hầu hết dân cư sinh sống tại khu đô thị Thanh Y. Địa lý. Thanh Y là một hòn đảo đồi núi với Tam Chi Hương ở phía nam và Liêu Đỗ Sơn ở phía đông bắc. Có thể trông thấy vùng đồng bằng nhỏ xung quanh Thanh Y Đường ở phía đông bắc của hòn đảo. Các khối đá trên đảo chủ yếu là đá hoa cương và để lộ ra do việc xây dựng các công trình nhà ở, công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Mặc dù hòn đảo không nằm dưới sự quản lý của vườn quốc gia, song hầu hết các khu vực đồi núi vẫn còn giữ được màu xanh. Tam Chi Hương Cao 334 mét và là một rào cản ngăn cách các cơ sở công nghiệp ở phía tây và khu dân cư ở phía đông.
1
null
Nam Xương nữ tử truyện hay Nam Xương nữ tử lục (chữ Hán: 南昌女子傳), được diễn Nôm thành Chuyện người con gái Nam Xương, là nhan đề của câu chuyện thứ 16 trong 20 truyện được chép lại trong tác phẩm "Truyền kỳ mạn lục" bằng chữ Hán của danh sĩ Nguyễn Dữ cuối thế kỉ XVI nhà Lê Sơ, đầu thời nhà Mạc. Tác phẩm dựa trên một câu chuyện dân gian về một nỗi oan khuất của một người thiếu phụ. Tác giả. Nguyễn Dữ – có sách phiên âm là Nguyễn Tự là một danh sĩ sống vào thế kỉ XVI, thời kỳ triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là học trò của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, là người học rộng, tài cao, am hiểu văn chương. Ông làm quan được một năm sau đó về sống ẩn dật ở Thanh Hóa. Nguồn gốc. "Chuyện người con gái Nam Xương" là thiên truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của "Truyền kỳ mạn lục" (Cùng với 11 trong 20 truyện về phụ nữ). Nguồn gốc của truyện bắt nguồn từ một truyện cổ tích dân gian tên là "Vợ chàng Trương". Tóm tắt tác phẩm. Truyện lấy bối cảnh từ thời nhà Trần cho đến nhà Hồ. Truyện kể về người con gái có tên Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương. Nàng là người có dung hạnh vẹn toàn. Chồng là Trương Sinh, là con một nhà hào phú, ít học, tính tình hay ghen, luôn đề phòng với Vũ Nương. Vì ít học nên Trương Sinh phải đi lính, để lại mẹ già và Vũ Nương ở nhà. Một thời gian sau, nàng sinh ra đứa con đầu lòng đặt tên là Đản. Ở nhà, Vũ Nương chăm nom con và mẹ chồng rất mực chu đáo. Vì nhớ thương con, mẹ chồng nàng ngày càng ốm nặng rồi mất, nàng lo tang ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình. Để đỡ nhớ chồng và sợ con thiếu thốn tình cha, nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng của mình trên vách và nói với con đó là cha Đản. Sau cuộc chiến, Trương Sinh trở về. Biết tin mẹ già mất, con vừa học nói. Chàng đau buồn ra thăm mộ mẹ, bế bé Đản theo, ra đến đồng đứa trẻ quấy khóc và bảo :"Trương Sinh không phải là cha Đản, cha Đản đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi thé nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả". Vì tính hay ghen, Trương Sinh đã mắng mỏ Vũ Nương rất ác liệt rồi đuổi nàng đi, dù cho hàng xóm thanh minh. Không thể thanh minh được, Vũ Nương đã nhảy xuống dòng sông Hoàng Giang tự tử, để lấy cái chết minh oan cho chính sự trong sạch của mình. Nàng được Linh Phi, vợ của vua Nam Hải cứu. Vào một đêm phòng không vắng vẻ, chàng ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con chỉ vào bóng chàng và bảo đó là cha, Trương Sinh mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi. Phan Lang - một người cùng làng với nàng - một đêm nằm mộng có người con gái áo xanh xin tha mạng. Ngày hôm sau có người mang rùa mai xanh đến, chàng mang đi thả. Lúc này, chiến tranh Đại Ngu - Đại Minh nổ ra, quân Minh tiến đến ải Chi Lăng, nhân dân trong nước sợ hãi, trốn ra biển, trong đó có Phan Lang, thì bị đắm tàu, chết đuối. Thây Phan Lang trôi dạt vào một động rùa, Linh Phi thấy vậy liền cứu sống chàng để trả ơn nghĩa xưa. Ở dưới thủy cung, chàng gặp lại Vũ Nương; Vũ Nương nhờ Phan Lang trở về dương thế nhắn nhủ chàng Trương rằng nếu còn nhớ tình xưa thì hãy lập đàn giải oan cho mình tại bến Hoàng Giang. Trương bèn làm vậy, quả thấy Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa ở giữa dòng với cờ tán, võng lọng rực rỡ cả một đoạn sông, thoắt ẩn thoắt hiện. Nàng nói lời đa tạ và từ biệt chàng vì "chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Đền Vũ Điện. Đền Vũ Điện ở xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi thờ vợ chàng Trương, người làng Trương Xá, cũng thuộc xã Chân Lý ngày nay. Theo truyền thuyết của người dân địa phương thì ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ XV, ngay sau cái chết oan uổng của bà Vũ. Ban đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ nứa lá tranh tre do dân địa phương dựng nên. Sau khi có chiếu của vua Lê Thánh Tông, ngôi miếu mới được sửa lại thành một ngôi đền bề thế, khang trang. Ban đầu, ngôi đền được xây dựng ngoài bãi ven sông Hồng, trên một bãi đất rộng mấy chục mẫu, dân cư sống thành làng. Sau vì nước lũ xói mòn, bãi bị lở nên đền phải dời vào vị trí như hiện nay.
1
null
Dalmatia (, ; là một vùng lịch sử của Croatia nằm trên bờ biển phía đông của biển Adriatic. Vùng trải dài từ đảo Rab ở tây bắc đến vịnh Kotor ở đông nam. Trong nội địa, Zagora thuộc Dalmatia có chiều rộng dao động từ 50 km ở phía bắc đến chỉ vài km ở phía nam. Tên gọi của loài chó Dalmatia bắt nguồn từ tên vùng Dalmatia, cũng như dalmatic, một lễ phục tế lễ của các phó tế và Giám mục trong Giáo hội Công giáo Rôma. Tên gọi Dalmatia bắt nguồn từ tên gọi bộ tộc Dalmatae, liên hệ với tiếng Illyria delme, "dele" trong tiếng Albania hiện đại, nghĩa là "cừu". Trong thời cổ xưa, tỉnh Dalmatia của La Mã lớn hơn rất nhiều so với quận Dalmatia của Croatia ngày nay, trải dài từ Istria ở phía bắc đến Albania lịch sử ở phía nam. Dalmatia không chỉ là một đơn vị địa lý, mà còn là một thực thể dựa trên nền văn hóa và các kiểu định cư tương tự nhau, một vành đai bờ biển hẹp phía đông biển Adriatic, khí hậu Địa Trung Hải, thảm thực vật lá cứng của tỉnh Illyria, nền cácbon Adriatic, và địa mạo karst. Địa lý. Dãy núi Dinaric Alps bao phủ hầu hết các khu vực, chạy từ tây-bắc đến đông-nam. Vùng bờ biển có khí hậu Địa Trung Hải, trong khi vào sâu trong nội địa thì khí hậu mang tính lục địa vừa phải. Tại các khu vực đồi núi, mùa đông giá lạnh và có tuyết rơi, trong khi mùa hè nóng và khô. Ở phía nam, mùa đông êm dịu hơn. Qua nhiều thế kỷ, nhiều cánh rừng đã bị chặt hạ và chúng bị thay thế bằng các cây bụi. Có thảm thực vật thường xanh ở vùng ven biển. Đất đai Dalmatia thường xấu, ngoại trừ tại các đồng bằng ở những khu vực có các đồng cỏ tự nhiên, đất đai màu mỡ và mùa hè ấm áp cung cấp cơ hội cho công việc canh tác. Ở những nơi khác, việc canh tác chủ yếu là không thể vì địa hình đồi núi, mùa hè nóng và đất xấu, song Ô liu và nho có thể phát triển tốt. Các vùng núi đá vôi có ranh giới với khu vực ven biển sản xuất các loại nho để sản xuất rượu với chất lượng cao, đặc biệt là các vườn nho tại khu vực Dingač. Dalmatia khan hiếm tài nguyên thiên nhiên song có một lượng đáng kể bô-xít. Điện năng chủ yếu được sản xuất tại các nhà máy thủy điện. Các ngọn núi lớn nhất Dalmatia là Dinara, Mosor, Svilaja, Biokovo, Moseć, Veliki Kozjak và Mali Kozjak. Bộ phận của vùng Dalmatia lịch sử, khu vực ven biển giữa Istria và vịnh Kotor, bao gồm núi Orjen tại Montenegro với cao độ 1894 m. Tại Dalmatia ngày nay, đỉnh cao nhất là Dinara (1913 m), song không phải là một ngọn núi ven biển, các ngọn núi ven biển cao nhất thuộc Dinaric là Biokovo (Sv. Jure 1762 m) và Velebit (Vaganski vrh 1758 m), mặc dù Vaganski vrh nằm ở Lika-Senj. Các hòn đảo lớn nhất của Dalmatia là Brač, Cres, Dugi Otok, Hvar, Korčula, Krk, Lastovo, Mljet, Pag, Pašman, Ugljan, and Vis . Các sông chính là Zrmanja, Krka, Cetina và Neretva. Biển Adriatic có chất lượng nước tốt, cùng với một số lượng lớn các vịnh nhỏ, hải đảo và eo biển, đã khiến cho Dalmatia trở thành một nơi hấp dẫn đối với các cuộc đua thuyền, du lịch hàng hải, và du lịch nói chung. Dalmatia cũng có một vài vườn quốc gia-cũng là những nơi thu hút du lịch: sông vùng đá vôi Paklenica, quần đảo Kornati, các ghềnh trên sông Krka và đảo Mljet. Hành chính. Phần lớn Dalmatia nằm tại Croatia, gần tương đương với bốn hạt cực nam của nước này, được liệt kê từ bắc xuống nam: Các thành phố lớn tại vùng Dalmatia của Croatia là Biograd, Kaštela, Sinj, Solin, Omiš, Knin, Metković, Makarska, Trogir, Ploče, và Imotski.
1
null
Súng ngắn bán tự động Luger P08, tên gốc là Pistole Parabellum 1908 hoặc là Parabellum-Pistole (Pistol Parabellum) là loại súng ngắn thông dụng của quân đội Đức trong suốt hai cuộc Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai. Lịch sử. Năm 1898, một chuyên gia vũ khí người Đức gốc Áo của tập đoàn vũ khí Deutsch Waffen und Munitionsfarbiken tên là George Johann Luger đã thiết kế ra Luger P08. Hai năm sau, nó được nhà máy quân sự Đức Deutsche Waffen und Munitionsfabriken (gọi tắt là DWM) sản xuất. Có thể nói, Luger P08 là một khẩu súng có thiết kế dựa theo khẩu súng ngắn Borchardt C-93 của nhà thiết kế vũ khí Hugo Borchardt. Khẩu Luger được quân đội Thụy Sĩ sử dụng đầu tiên vào tháng 5 năm 1900. Tuy là đất nước thiết kế và sản xuất, nhưng phải đến năm 1904 thì quân đội Đức mới dùng đến nó. Luger P08 sử dụng loại đạn 9x19mm Parabellum. Súng không chỉ được dùng bởi quân đội Đế quốc Đức, quân đội phát xít Đức mà còn được quân kháng chiến người Do Thái sử dụng như là vũ khí chính của họ. Trong hai cuộc thế chiến. Trong thời gian thế chiến thứ nhất bùng nổ thì Luger được trang bị gần như cho toàn bộ sĩ quan trong quân đội Đức. Nhưng khi thế chiến thứ hai diễn ra, khẩu Walther P38 được thiết kế nhằm thay thế cho khẩu súng lục này thì Luger chỉ còn được sử dụng bởi những vị sĩ quan có quân hàm cỡ thấp nhất là những trung tá trở lên. Nếu như có lính Đức sử dụng nó thì phần lớn đều là lính xung kích (lính tuyến đầu của quân đội Đức được trang bị súng tiểu liên MP-40 với súng ngắn Luger) hoặc lính phải lập công trạng lớn mới sở hữu được cho mình một khẩu P08. Chắc có lẽ vào lúc đó, số lượng súng Luger có hạn. Luger P08 có nhược điểm là nếu như để một hạt cát hoặc hạt đất rơi vào nòng hay vào bất cứ bộ phận nào của súng thì độ chính xác của súng sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và làm cho khẩu súng bị kẹt, không bắn được. Thậm chí, có nhiều trường hợp sĩ quan Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất còn bị giết chết oan chỉ vì khẩu Luger của họ dính bẩn và khi họ bóp cò, cả khẩu Luger phát nổ và giết chết họ. Chính vì thế, nên bao súng của các sĩ quan phải có khả năng che kín hết cả khẩu súng. Đây cũng là khẩu súng ngắn tiêu chuẩn của các sĩ quan và binh lính của quân đội Thụy Điển trong Thế chiến thứ hai. Đối với các sĩ quan Mỹ, có khẩu Luger P08 trong tay không khác gì đang giữ một huy chương quý giá, nó quý giá đến nỗi người lính Đồng minh nào tham chiến trong thế chiến thứ hai cũng đều muốn đem về một khẩu như là chiến lợi phẩm. Luger cũng được quân đội Mỹ từ châu Âu gửi đến cho những quân đội Mỹ đang chiến đấu ở mặt trận châu Á - Thái Bình Dương như là một món quà. Trong thời gian chính phủ Mỹ cần chọn súng ngắn tốt cho quân sự và cảnh sát thì họ chỉ chọn Colt M1911 chứ không chọn Luger. Điều đặc biệt khác là Colt M1911 có thể thiết kế chế độ bắn liên thanh còn Luger thì không. Điều nguy hiểm của Luger là nó thường bị cướp cò, bởi vậy ai muốn dùng nó thì phải khóa chốt an toàn cẩn thận trước khi bỏ vào bao súng, nếu không may bị một viên đạn của Luger ghim vào thì sẽ chết ngay, không thể cứu vãn được.
1
null
Trận Châteaudun là một trận đánh tại miền tây bắc Pháp trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, diễn ra vào ngày 18 tháng 10 năm 1870. Trong trận chiến này, quân đội Đức do tướng Friedrich Wilhelm Ludwig von Wittich chỉ huy đã tấn công thành phố Châteaudun và chiếm được thành phố này sau khi tiêu diệt lực lượng bao gồm lính franc-tireur và một quân đoàn tự do của Pháp do một người Ba Lan là Joseph de Lipowski chỉ huy, trong cuộc chiến kéo dài 9 tiếng đồng hồ. Mặc dù kết thúc với thất bại, cuộc kháng cự của quân đội Pháp tại Châteaudun được một tài liệu ghi nhận là huyền thoại. Cuộc giao chiến tại Châteaudun đã được tranh vẽ của Philippoteaux đưa vào bất tử (hiện nay nguyên bản của bức tranh này nằm ở văn phòng thị trưởng Châteaudun). Tuân thủ thượng lệnh, tướng Wittich – tư lệnh sư đoàn số 22 của Đức – tiến đánh từ Orléans về hướng tây bắc, và tiến đánh Châteaudun trên sông Loire – nơi được lực lượng không chính quy của Lipowski phòng ngự. Các lực lượng của Wittich có lợi thế áp đảo về quân số, và mỗi một binh lính Pháp lại chiến đấu với 10 binh lính Phổ, bất chấp làn đạn dồn dập và khốc liệt của lực lượng pháo binh Phổ. Vào khoảng lúc 6 giờ tối, chiến ngại vật Rue Galante (Rue de Civry) của Pháp bị cô lập, gặp bất lợi và phải bỏ cuộc. Giờ đây, cuộc tiến công của quân đội Phổ không thể nào bị đẩy lùi. Lính bắn tỉa Pháp triệt thoái vào trung tâm thị trấn, mặc dù trời tối. Người Phổ quyết tâm đánh chiếm khu chợ tại Châteaudun, và họ đã tấn công dồn dập. Một trận đánh khủng khiếp trong đêm bùng nổ, trong đó hai bên đánh giáp lá cà. Quân Phổ phải chiếm giữ từng căn nhà một. Đã 3 lần quân Pháp đẩy lùi quân Phổ tại Rues de Chartres (Rue Jean Moulin) và d'Orléans (Rue de la République), và thây tử sĩ chất đống trên chiến địa. Cuối cùng, quân đội Đức đã giành được chiến thắng, mà một phần là nhờ vào thế mạnh về pháo binh của họ. Trước tình thế vô vọng, và Châteaudun đã bị quân Đức công pháo và đốt ra tro, quân phi chính quy Pháp trấn giữ Châteaudun đã tiến hành một cuộc triệt thoái, để lại một số tù binh trong tay quân Đức. Để trả đũa cuộc kháng cự của lính du kích quân franc-tireur và Vệ binh Quốc gia Pháp tại Châteaudun, tướng Wittich đã tiến hành bắn phá Châteaudun và các ngôi làng lân cận. Nhiều ngôi nhà bị phá hủy, trong khi một số dân thường không tham chiến, kể cả phụ nữ, bị thảm sát. Vào ngày 21 tháng 10 năm 1870, sư đoàn của Wittich tiến đánh Chartres, tại đây các khẩu đội pháo của họ đã đánh bật một đợt tiến công của quân Pháp, và Chartres đã đầu hàng quân Đức. Như một trong những vị tướng dữ tợn nhất trong quân đội Phổ, Wittich đã được mệnh danh là "Tay đồ tể của Châteaudun". Người Pháp đã giành lại Châteaudun vào ngày 6 tháng 11 năm 1870.
1
null
Trung tâm lịch sử của Lima là một di sản thế giới được UNESCO công nhận từ năm 1988. Mặc dù bị tàn phá nặng nề bởi động đất nhưng thành phố được mệnh danh là "Thành phố của các vị vua" này cho đến giữa thế kỷ 18 vẫn là thủ đô và thành phố quan trọng nhất thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Nhiều tòa nhà của nó chẳng hạn như Tu viện São Francisco là kết quả của văn hóa kiến trúc của người bản địa và những người định cư ở Cựu Thế giới. Trung tâm lịch sử của Lima là một trong những địa điểm du lịch được ghé thăm nhiều nhất ở Peru. Lịch sử. Thành phố Lima, thủ đô của Peru, được thành lập bởi Francisco Pizarro vào ngày 18 tháng 1 năm 1535 và được đặt tên là "Thành phố của các vị vua". Tuy nhiên cái tên ban đầu của nó có thể bắt nguồn từ tiếng Aymara "lima-limaq" (có nghĩa là "hoa vàng"), hoặc cách phát âm tiếng Tây Ban Nha của từ "rimaq" trong tiếng Quechuan. Lima được thành lập vào ngày 5 tháng 1 năm 1535. Thành phố có vai trò quan trọng ở "tân thế giới" từ năm 1542, khi Charles V là người cai quản Lima. Đến đầu thế kỷ 18, thành phố đã thoát khỏi sự cai trị thuộc địa của Tây Ban Nha. Trung tâm lịch sử. Trung tâm lịch sử của Lima là bằng chứng cho sự phát triển kiến trúc đô thị thuộc địa Tây Ban Nha, có tầm quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa ở Peru nói riêng và Mỹ Latinh nói chung. Với rất nhiều các quảng trường, các nhà thờ, tu viện, cung điện và các tòa nhà thế kỷ 17, 18. Các công trình mang đậm lối kiến trúc kết hợp giữa Hispano và Baroque. Tòa nhà nổi bật nhất ở Lima chính là San Francisco de Lima, một tu viện thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha. Cùng với Santa Catalina de Arequipa, đây là một trong hai công trình kiến trúc được bảo tồn tốt nhất cho đến ngày nay. Ngoài ra, trung tâm lịch sử Lima có rất nhiều các công trình lịch sử như:
1
null
Tàu tuần tra lớp Hateruma (tiếng Nhật: はてるま型巡視船, "hateruma-gata junshisen") là một lớp tàu tuần tra của Cảnh sát Biển Nhật Bản. Cảnh sát Biển Nhật Bản bắt đầu được trang bị tàu tuần tra lớp Hateruma từ đầu năm tài chính 2008. Cho tới nay, có 9 tàu thuộc lớp này đang phục vụ, mang số hiệu từ PL61 đến PL69. Theo cách phân loại của Nhật Bản, lớp này được xếp vào nhóm tàu tuần tra cỡ lớn, nên số hiệu thường có chữ PL (viết tắt của Patrol - tuần tra, và Large - cỡ lớn). Một chiếc tiêu chuẩn thuộc lớp Hateruma có lượng giãn nước là 1300 tấn, dài 89 mét, rộng 11 mét, trang bị 4 động cơ diesel hoặc 4 động cơ bơm đẩy phản lực. Tàu có vận tốc thiết kế là 27 knot. Số lượng cán bộ, chiến sĩ trên mỗi tàu là 30 người. Trang bị trên tàu gồm chỉ một súng máy 30 mm với hệ thống dẫn bắn quang học, 1 vòi phun nước cao áp, 2 xuồng cảnh sát đa năng cao tốc loại 7 mét và 2 xuống loại 4,8 mét. Trong số 9 chiếc đã được chế tạo, có 7 chiếc do công ty Đóng tàu Mitsui chế tạo và 2 chiếc do công ty Công nghiệp Nặng Mitsubishi chế tạo.
1
null
Lioré et Olivier LeO H-47 là một loại tàu bay chở khách của Pháp, được chế tạo vào năm 1936. Nó được thiết kế làm máy bay chở khách vượt Nam Đại Tây Dương, đến khi Chiến tranh thế giới II nổ ra, nó được Hải quân Pháp sử dụng làm máy bay tuần tra biển.
1
null
Kèn bầu là nhạc khí hơi, sử dụng dăm kép (còn gọi là Kèn già nam, Kèn loa, Kèn bóp, Kèn bát). Kèn Bầu là nhạc khí hơi dăm kép rất phổ biến trên toàn thế giới, đồng thời một số nước khác ở Châu Âu hay Châu Á (trừ Nhật Bản và Lào) cũng có. Kèn Bầu được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí của các dân tộc Việt Nam như Tày, Chăm. Nó là nhạc cụ do nam giới sử dụng trong việc đón khách, đám cưới, đám tang, trong hội hè của các dân tộc thiểu số và là thành phần quan trọng nghệ thuật nhã nhạc cung đình Huế và chầu văn của người Kinh. Người ta thường diễn tấu nhạc cụ này với trống, chũm choẹ và chuông, đôi khi kết hợp với thanh la. Lịch sử. Lịch sử của kèn bầu bắt nguồn từ triều đại Achaemenid (550-330 trước Công nguyên), nó gọi là kèn (sornā) Sarnā (tiếng Ba Tư:سورنا, سُرنا sornā, hay سورنای, سُرنای sornāy, hoặc Surna and Zurna) của người Ba Tư và được sử dụng để chơi vào cuối ngày từ cổng thành phố hoặc từ tòa nhà chính quyền địa phương. Phong tục này vẫn tồn tại ở Anh cho đến thế kỷ 19, thị trấn chờ chơi khăn choàng để đánh dấu giờ. Nhạc cụ chủ yếu được chơi ngoài trời trong âm nhạc khu vực của Iran trong các nghi lễ lễ hội (nhà thơ Ba Tư Molana Rumi đã đề cập đến sorna và dohol trong những bài thơ của ông). Achaemenid sorna là một nhạc cụ lớn như kèn, nhưng trong những ngày sau đó đã giảm kích thước và trở nên giống như (Ô-boa), hoặc dozale (oboe kép), được đặc trưng bởi thân gỗ có hình dạng đơn giản, với một rung chuông nặng nề. Trước đây được phân loại là một cây kèn, nhưng đây là một ý tưởng sai lầm dựa trên tiếng chuông của ô-boa và phôi tự do thường tạo ra sự tương đồng bề ngoài với một chiếc kèn đồng, đặc biệt là nếu oboe được trang bị như rất nhiều vòng. Theo Shahnameh, chính vua Jamshid đã nghĩ ra Sornā. Ngoại trừ các bằng chứng văn học, còn có một số đồ tạo tác từ đế quốc Sasan (224-651 CE), mô tả Sorna, một nhạc khí hình phễu bằng bạc như vậy, hiện đang ở Bảo tàng Hermitage. Cây zurna được làm từ gỗ mọc chậm và cứng của cây ăn quả như mận hoặc quả mơ (Prunus armeniaca). Có một số loại zurna khác nhau. Loại dài nhất (và thấp nhất) là kaba zurna, được sử dụng ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ và Bulgaria, loại ngắn nhất (và cao nhất), có thể làm bằng xương, là loại zurna được chơi ở Messolonghi và các làng khác của vùng Aetolia-Acarnania ở Hy Lạp. , họ hàng của sorna và là kèn bầu dăm của Thổ Nhĩ Kỳ, được tìm thấy ở hầu hết mọi nơi mà cây sậy thông thường mọc lên vì nó sử dụng một cây sậy hình trụ ngắn được buộc vào một ống đồng hình nón ở một đầu, dẹt vào một khe hẹp ở đầu kia làm nguồn âm thanh. Nó đòi hỏi áp lực cao để đưa ra bất kỳ giai điệu nào và khi thực hiện, nó gần như liên tục to, cao, sắc nét và xuyên thấu. Nhu cầu về áp suất cao làm cho nó phù hợp để chơi mà không ngừng sử dụng nhịp thở tròn. Một đĩa kiểu núm vú nhỏ mà môi có thể dựa vào giúp cơ môi giữ không khí áp suất cao, nghỉ ngơi và phục hồi trong các buổi chơi dài không ngừng nghỉ. Sự kết hợp giữa âm lượng không đổi và không ngừng chơi khiến zurna không phù hợp lắm để nhấn mạnh nhịp điệu. Do đó, nó đã được chơi gần như bất biến cùng với những chiếc trống lớn vừa cung cấp nhịp điệu và tần số thấp hơn ở xa hơn âm thanh cao lớn của Zurnas. Nó có một lỗ hình trụ, và một chiếc chuông mở ra theo đường cong parabol, do đó thích nghi để phản xạ âm thanh thẳng về phía trước. Bởi vì âm thanh to và có tính định hướng cao cũng như tiếng đệm của trống lớn, nó đã được chơi ngoài trời trong lịch sử, trong các sự kiện lễ hội như đám cưới và lễ kỷ niệm công cộng. Nó cũng đã được sử dụng để thu thập đám đông để đưa ra thông báo chính thức. Việc sử dụng zurna như một biểu tượng của quyền lực cai trị, sau này được phát triển cho các ban nhạc Janissary, và cuối cùng là âm nhạc quân đội. Bảy lỗ ở mặt trước và một lỗ ngón tay cái, cung cấp một phạm vi trên một quãng tám bao gồm một số chuyển vị. Kèn sorna của Ba Tư được du nhập tới Ấn Độ với tên gọi Shehnai cũng được gọi là ô-boa Ấn Độ. Nó có thể đã phát triển kể từ Nay Ba Tư. Có những đại diện của Nay trên các ngôi mộ Ai Cập có niên đại từ 3000 trước Công nguyên, ở Ấn Độ, Shehnai là một trong chín công cụ gắn liền với các tòa án của hoàng gia. Nó được gọi là Mangal Vadya, dịch là "công cụ cho phép." Âm thanh cho phép Shehnai là lý do tại sao nó được liên kết với các nghi lễ tôn giáo. Ngày nay, Shehnai vẫn đang chơi trong các ngôi đền. Điều kiện này đã thực hiện một công cụ cần thiết trong các đám cưới và lễ hội Ấn Độ ở phía bắc. Từ đó 2 loại kèn dăm của các quốc gia đạo Hồi này cũng được dùng để biểu diễn văn nghệ đường phố với trò thôi miên rắn - một trò tiêu khiển vô cùng nguy hiểm nhưng cũng đem lại lợi nhuận. Tục thôi miên rắn này được truyền dạy cho hầu hết các trẻ em cư dân Hồi giáo từ năm 2 tuổi. Thông thường, những người đàn ông khi tiến hành nghi lễ này họ để những con rắn vào trong những chiếc giỏ nhỏ hình tròn được kết bằng mây đan. Họ coi con rắn giống như vật thần thánh của mình và bắt đầu tiến hành thổi cho chúng nghe tiếng kèn. (Có thể dẫn chứng này được công nhận trong sử thi Nghìn lẻ một đêm). Để được coi là thành công và có khả năng điều khiển con rắn biểu hiện rõ rệt nhất đó là những con rắn phải lắc lư theo tiếng khèn của người thổi. Trong tự nhiên, hầu hết các loài rắn đều khá nhút nhát và chúng tấn công giống như một bản năng để bảo vệ chính mình. Tục thôi miên rắn được thực hiện dựa trên nhiều yếu tố rất khắt khe như cách ngồi tạo khoảng cách với con rắn như thế nào cho phù hợp. Những kinh nghiệm này được truyền dạy từ đời này qua đời khác và mỗi người đều có nghệ thuật thôi miên riêng để không bị những chú rắn độc đó tấn công. Một số ý kiến cho rằng thôi miên rắn tức là phương pháp gây nghiện cho rắn nhưng nó thường rất hiếm. Kèn sorna của Ba Tư và shehnai [Ấn Độ thông qua Con đường tơ lụa, đến với người dân Trung Quốc với tên gọi kèn toả nột (), còn được gọi là "hải địch" (海笛, bính âm:hǎidí) có từ thời Tấn (265-420), có một sự đồng thuận rằng kèn bầu toả nột đến từ nguồn gốc bên ngoài lãnh thổ của các triều đại Trung Quốc cổ đại, có thể đã được phát triển từ các loại kèn dăm Trung Á, từ đó tên tiếng Trung của nó có thể được bắt nguồn từ đó. Các nguồn khác nói rõ nguồn gốc của kèn toả nột là từ Ả Rập, hoặc Ấn Độ. Các loại kèn của Châu Âu cũng bắt nguồn từ nhạc cụ cổ xưa này. Một nhạc sĩ chơi một nhạc cụ rất giống với kèn bầu tỏa nột được thể hiện trên bản vẽ trên tượng đài tôn giáo Con đường tơ lụa ở phía tây tỉnh Tân Cương có niên đại từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5, và các mô tả có từ thời kỳ này được tìm thấy ở Sơn Đông và các vùng khác ở phía bắc Trung Quốc mô tả nó được chơi trong đám rước quân sự, đôi khi trên lưng ngựa. Nó không được đề cập đến trong văn học Trung Quốc cho đến thời nhà Minh (1368 - 1644), nhưng đến thời điểm này, tỏa nột đã được thiết lập ở miền bắc Trung Quốc. Tên gọi ở Việt Nam. Do kèn bầu là nhạc cụ phổ biến nên tên gọi của nó rất đa dạng theo vùng miền. Người Giáy gọi kèn bầu là "Pí lè". Người Dao gọi Pí lè là "Dặc", người Chăm gọi là "Kèn Saranai", một số dân tộc khác gọi là "Pí kẻo" hay "Pí kiểu". Một số nhạc sĩ người Việt gọi nhạc cụ này là "kèn Tàu". Một số loại kèn bầu khác trên thế giới. Hne (Miến Điện). Hne (tiếng Miến Điện: နှဲ) có một cây sextuple (được gọi là hnegan), được làm từ lá non của cây cọ non, được ngâm trong sáu tháng. Thân của hne được làm bằng gỗ, với một lỗ hình nón và bảy lỗ ngón tay ở phía trước, đặt theo một đường thẳng, với một cái chuông (ချူ, chu) được treo ở trên cùng. Nó có một chiếc chuông kim loại sáng loáng và có âm thanh lớn, và được sử dụng trong một bản hòa tấu cùng với mộc cầm, chiêng được điều chỉnh và trống được điều chỉnh. Có hai dạng riêng biệt: dạng nhỏ hơn được gọi là hne galay (နှဲ ကလေး) trong khi dạng lớn hơn được gọi là hne gyi (နှဲကြီး). Cái trước được sử dụng cho các bài hát trong khóa thông thường của thang chính diatonic, trong khi cái sau được sử dụng cho các bài hát theo phong cách lớn ở chế độ subdominant. Hne thường dùng trong nhạc cung đình, hoà tấu dân ca và múa rối. Pí mon (Thái Lan). Pí mon (tiếng Thái: ปี่ สอง) là kèn bầu của Thái Lan, như pí choa nhưng lớn hơn. Lao-pí (เลาปี่, thân của pí) được làm từ gỗ. Lamphoong (ลำโพง, miệng của pí) được làm từ kim loại. Các pí mon thường được chơi trong bản hòa tấu nhạc cung đình hoàng gia Thái và những bài dân ca Thái, kể cả múa mặt nạ . Pí choa (Thái Lan). Pí choa (ปี่ชวา) hay pí-xoỏng-thon (pi song thon ปี่ สอง ท่อน) là loại kèn bầu gỗ Thái Lan Các thành phần chính bao gồm: Laopi (thân kèn), làm bằng gỗ cứng hoặc ngà voi, dài khoảng 27 cm, có thể cắt, tạo hình, khoan, 7 lỗ, được sắp xếp theo vị trí giống như ống sáo. Loa kèn pí choa được làm bằng gỗ cứng hoặc ngà voi. Phổ biến để sử dụng cùng một chất liệu như Lao Pi Có thể tách rời khỏi vòng lặp một cách độc lập. Cuối loa hơi loe ra để khuếch đại âm thanh. Đầu thổi làm từ lá cọ khô, ráp 4 miếng mỏng lại với nhau và gắn vào một thanh kim loại nhỏ. (Gọi là móc buộc), được làm bằng đồng thau hoặc bạc, được gọi là "kamphuat". Từ một số bằng chứng, họ đã sử dụng pi chawa trong Krabuan Phayuhayattra (กระบวน พยุหยาตรา, hành quân) vào thời kỳ tiền Ayutthaya. Các pi chawa ngày nay được sử dụng chủ yếu trong các nghi thức tang lễ. Pí nài. Pí nài (ปี่ใน) Thái Lan được làm từ gỗ lim, dài khoảng 30 cm, được chia làm 3 đoạn ghép lại với nhau, có tất cả 8 lỗ và 1 chiếc lưỡi kèn (được làm từ lá thốt nốt khô). Dăm kèm có 1 đầu dẹp, một đầu tròn được cột chặt vào ống nối. Dăm kèn có vai trò quan trọng đặc biệt, nó không được quá khô cứng cũng như không được quá mềm mỏng. Dăm kèn phải đảm bảo được sự ngân vang từ đầu đến cuối không được cắt ngang khi chưa dứt bản nhạc. Thân kèn Có hình ống phình ở giữa và loe 2 đầu. Trên thân kèn được khoét các lỗ bấm để xác định cao độ. Ống nối được gắn vào thân bằng một loại sáp để đảm bảo không bị hở. Lúc diễn tấu, người chơi đặt dăm kèn thẳng đứng cắt ngang lưỡi và thổi để tạo ra âm thanh. Kỹ thuật khó nhất khi diễn tấu pí nài là cách lấy hơi. Người chơi phải vừa thổi, vừa lấy hơi bằng mũi để làm sao tiếng kèn không bị ngắt khi chưa hết bản nhạc. Trong quá trình diễn tấu, người chơi có thể áp dụng các kỹ thuật điều khiển lưỡi để tạo ra các âm thanh đặc biệt. Pí nài cùng với khèn bè, , , saw duang... trong . Sralai (Campuchia). Sralai (tiếng Khmer: ស្រឡៃ) là kèn của người Campuchia thuộc họ hơi chi dǎm kép. Loa kèn thân tròn, hơi bầu ở giữa, loe ở đầu, dài khoảng 10 – 11 cm, làm bằng ngà voi, sừng trâu hoặc gỗ quí (trắc, cẩm lai). Thân kèn là một ống rỗng ruột làm bằng gỗ quý (lim xanh, mun), dài 20 – 21 cm lớn dần về phía tiếp giáp với loa kèn. Thân kèn có 8 lỗ bấm,7 lỗ bấm trên cách đều nhau khoảng 2 cm (lỗ số 1 kể từ loa kèn trở xuống),1 lỗ bấm dưới (nằm giữa lỗ 6 và 7, sát phần tiếp giáp với cọc dǎm). Cọc dǎm dài 6 cm, làm bằng bạc hoặc đồng thau uốn thành hình tổ sâu. Phần lớn cắm vào thân kèn, phần nhỏ dùng để gắn dǎm kèn. Dǎm kèn (lưỡi gà) làm bằng lá nón hoặc lá buông. Kèn Sralai có các âm: Đô – Mi – Fa – Sol – La – Si. Khi thổi kèn Xaranai/Saranai người thổi không được ngắt hơi. Để đạt được kỹ thuật này người ta ứng dụng cách luồn hơi (dùng một phần hơi nhỏ ở khoang miệng đẩy vào dǎm kèn, cùng lúc lấy hơi đằng mũi chứa đầy phổi). Kèn Xaranai có vai trò lớn trong dàn nhạc truyền thống của người Khmer vì âm thanh của kèn vang, khoẻ và thường đi giai điệu khi hòa tấu các bài dân ca hay hoà tấu nhạc cung đình và kịch mặt nạ dân gian Lkhon Khol Wat Svay Andet. Kèn sralai có nguồn gốc từ các loại kèn pí của Thái Lan, trong đó có pí-nài (tiếng Thái:ปี่ใน). Người Chăm ở Việt Nam có loại kèn tương tự gọi là saranai. Taepyeongso (Triều Tiên và (Hàn Quốc). Trong âm nhạc truyền thống Hàn Quốc, Daechwita (대취타, Hán Việt: Đại xuý đả) là một khúc quân nhạc thường được chơi trên đường diễu hành của đoàn quan quân tháp tùng những chuyến xuất cung của nhà Vua hoặc tại các cuộc diễu binh. "Chwita" ở đây theo chữ Hán có nghĩa là "xúy đả", tức là "thổi" và "đánh", thể hiện rằng nhạc phẩm được diễn tấu bằng nhạc khí hơi và nhạc cụ gõ gồm kèn, sáo (hơi) và trống (gõ) trong các chuyến diễu hành, giống như ở Việt Nam có Nhã nhạc Cung đình Huế. Các loại nhạc khí dùng hơi và thuộc bộ gõ có tính cơ động cao là nhạc khí chủ yếu được chơi trong các cuộc diễu hành. Quân nhạc Chwita có rất nhiều nhạc phẩm, và trong số đó, Daechwita (Đại xúy đả) là nhạc phẩm tiêu biểu nhất của dòng quân nhạc Chwita. Các loại nhạc khí hơi được dùng trong quân nhạc Chwita là kèn sò Nagak và kèn hiệu Nabal. Điểm đặc biệt ở đây là các nhạc khí hơi này đều cùng phát ra một tông âm thanh. Sự kết hợp của tiếng kèn bầu Taepyeongso (태평소) sẽ làm cho khúc quân nhạc Chwita thêm dồn dập, bi ai và hùng tráng. Cấu tạo và ý nghĩa của cây kèn bầu Taepyeongso: Đa phần nhạc khí hơi truyền thống của Hàn Quốc được làm từ ống tre hoặc trúc. Thế nhưng kèn bầu Taepyeongso lại có ống thổi được làm bằng chất liệu gỗ cứng như cây hồng táo hoặc cây liễu khoét bỏ phần ruột. Ở phần đầu ngậm để thổi, còn gọi là dăm kèn, người ta gắn một màng mỏng gọi là "Seo" được làm bằng thân cây lau sậy để tạo âm thanh cho cây kèn. Ở đầu còn lại, người ta gắn một cái bầu làm bằng kim loại có hình dạng giống như cái phễu, gọi là Dongpallang (Đồng bát lang), để âm thanh của cây kèn có thể vang xa. Trong số các nhạc khí hơi truyền thống của Hàn Quốc, kèn bầu Taepyeongso là loại nhạc khí có âm lượng lớn nhất và mang lại cảm giác bi lụy, rợn người khiến nhạc cụ này trở thành loại nhạc khí không thể thiếu trong các dàn quân nhạc, lễ diễu hành và các buổi biểu diễn nghệ thuật ngoài trời và đám tang. Âm nhạc tế lễ Tông Miếu Jongmyo Jeryeak là loại hình âm nhạc được trình diễn trong các nghi thức quan trọng của cung đình. Nhạc tế lễ Tông Miếu có hai thể loại. Một là Botaepyeong (Bảo thái bình) ca ngợi công đức và học vấn, hai là Jeongdaeeop (Chính đại nghiệp) ca ngợi chiến công điều binh khiển tướng của các vị tiên đế. Đặc biệt là khi diễn tấu thể loại âm nhạc Jeongdaeeop, cây kèn bầu Taepyeongso có tác dụng mang lại bầu không khí hùng tráng cho nghi lễ. Chữ "Taepyeong" trong tên gọi của cây kèn "Taepyeongso" có nghĩa là "thái bình" trong từ "Thái bình thịnh trị" hay từ "Thiên hạ thái bình", thể hiện nguyện vọng quốc thái dân an của người dân qua từng âm điệu của cây kèn bầu Taepyeongso. Trong nông nhạc truyền thống của Hàn Quốc, cây kèn bầu Taepyeongso cũng có một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là khi thể hiện nhịp điệu Neungge & được tấu trong tang lễ người quá cố. Lòng người ở đâu dường như cũng giống nhau. Để đưa tiễn người vừa kết thúc cõi dương tới một thế giới khác, người ta cũng thổi kèn bầu Taepyeongso để cầu nguyện bình an cho người ra đi. Kèn bầu Taepyeongso còn có tên gọi là Hojeok (Hồ địch) vì được du nhập vào Hàn Quốc từ Mông Cổ. Cây kèn này còn được gọi là "Soenap" theo kiểu phát âm của Hàn Quốc, là "Surna" ở vùng Trung Á, là "Shanai" ở vùng Bắc Ấn, và là "Xô-na" ở Trung Quốc. Có khi, Taepyeongso còn được gọi là "Nallari" theo âm sắc đặc trưng của nó. Truyền rằng kèn bầu Taepyeongso vốn là nhạc khí được chế tác ở vùng Tây Á và được du nhập vào Hàn Quốc từ Mông Cổ vào cuối triều đại Goryeo theo con đường tơ lụa. Saenap (Bắc Triều Tiên). Năm 1970, người Bắc Triều Tiên đã cải tiến loại kèn bầu Taepyeongso thành kèn Jangsaenap (장새납) có thân kèn dài và nhiều lỗ hơi hơn. Khi chơi kèn Jangsaenap, người nghệ sĩ không dùng ngón tay bịt lỗ hơi mà dùng dụng cụ ấn gọi là Nureugae (누르개) nên cách chơi cũng dễ hơn và thể hiện được đa dạng âm điệu hơn. Đây là sự kết hợp giữa kèn ô-boa phương Tây và kèn bầu Taepyeongso. Toả nột (Trung Quốc). Kèn toả nột âm sắc sáng, âm lượng khá lớn, phía trên có lỗ âm, khống chế cao độ của âm bằng cách ấn các ngón tay trái và tay phải. Đầu trên của nó có lắp một cái ống đồng giống với cái còi, đầu dưới gắn một vành loa làm bằng đồng, kèn toả nột diễn tấu bằng cách dùng môi khống chế còi để điều chỉnh sự thay đổi về âm lượng, cao độ của âm và âm sắc, và vận dụng các kỹ thuật, cho nên có thể khống chế được âm chuẩn khá là khó, nhưng đồng thời âm sắc âm lượng của nó khá lớn, do vậy kèn toả nột là một loại nhạc cụ có tính biểu cảm rất lớn. Một nghệ sỹ diễn tấu kèn toả nột giỏi cần phải có khả năng điều chỉnh còi rất tốt. Kèn toả nột thường được dùng diễn tấu trong các vở kinh kịch, dân ca Trung Quốc ở một số nơi và được dùng rộng rãi trong các hoạt động ngoài trời trong dân gian, như hiếu hỷ chúc tụng, lễ hội và tang ma. Ngày nay, kèn toả nột cũng được dùng trong nhạc thính phòng. Kèn gyaling (, tiếng Anh: cũng gọi là', ', ', ', ', ', ) là một loại kèn bầu truyền thống bằng gỗ được sử dụng ở Tây Tạng. Như tên gọi của nó, nó là loại kèn dăm kép (giống như kèn toả nột Trung Quốc) được sử dụng chủ yếu trong các tu viện Tây Tạng trong lễ puja (tụng kinh và cầu nguyện) và được liên kết với các vị thần hòa bình và ý tưởng về lòng sùng kính. Loại kèn này chỉ được các tu sĩ của đạo Phật sử dụng. Vùng Okinawa (Nhật Bản). Kèn bầu toả nột Trung Quốc được truyền bá và du nhập vào Vương quốc Lưu Cầu năm 1653 cùng dòng nhạc cung đình Uzagaku (御座楽). Âm giai nhạc Uzagaku có nét tương đồng với âm nhạc vùng Tây Nguyên ở Việt Nam, nó chuyên được sử dụng cho các lễ hội Hoàng tộc nhằm mang lại cảm giác hào hứng, rộn ràng. Cấu tạo. Kèn Bầu Việt Nam có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, chia làm ba loại: Kèn bầu Trung Quốc (tỏa nột) chia làm các loại sau: Kèn bầu có 3 phần chính: Màu âm, Tầm âm. Âm thanh kèn Bầu khỏe, vang, hơi chói tai (ở âm cao) thích hợp nhạc điệu mạnh, chân thực, đồng thời có khả năng thể hiện tình cảm, đôi khi ảm đạm và có màu bi thảm. Muốn thay đổi màu âm có thể dùng bộ phận hãm tiếng, âm thanh sẽ giảm đi nhưng có phần mờ đục. Tầm âm Kèn Loa (Fa) rộng hai quãng tám: từ Fa1 đến Fa3 (f1 đến f3) Khoảng âm dưới: âm thanh hơi rè, diễn tả tình cảm bi thiết. Khoảng âm giữa: âm thanh vang, trong sáng, hùng mạnh. Khoảng âm cao: âm thanh sắc nhọn, chói chang.
1
null
Thanh la hoặc phèng la, đồng la là một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Kinh. Ở miền Nam được gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang. Cấu tạo. Được làm bằng đồng hợp kim với thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Mặt là trung tâm phát âm, thành là trung tâm nhân to tiếng.Thanh la của Nhà hát Chèo Việt Nam có đường kính 15 cm, dùi dài 20 cm. Diễn tấu. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng. Âm thanh cao, vang, vui, trong trẻo, đánh mạnh nghe chói tai. Thanh la có hai thứ tiếng: Tiếng Thanh la bao giờ cũng đi sát với tiếng trống đế: tiếng "vang" của Thanh la hòa nhịp với tiếng da của trống đế và tiếng "nặng" của Thanh la đi cùng với tiếng đanh của tang trống đế trong Dàn nhạc Chèo cổ. Sử dụng. Thanh la được sử dụng trong dàn đại nhạc, dàn nhạc lễ Nam Bộ, trong ban nhạc chèo, chầu văn và dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
1
null
Sir Muhammad Iqbal ()Sir Muhammad Iqbal (tiếng Urdu: محمد اقبال) (tháng 9 năm 1877 - 21 tháng 4 năm 1938), còn được gọi là Allama Iqbal (tiếng Urdu: علامہ اقبال), là một nhà triết học, nhà thơ và nhà chính trị ở Ấn Độ thuộc Anh được coi là người đã tạo ra cảm hứng cho phong trào Pakistan. Ông được coi là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong văn học Urdu với tác phẩm văn học sáng tác bằng cả tiếng Urdu và tiếng Ba Tư. Allama Muhammad Iqbal đã đề xuất việc tạo lập một quê hương riêng biệt cho những người Hồi giáo Ấn Độ. Tuy nhiên, Iqbal cũng đã viết Tarana-e-Hind nói lên niềm tin vào một nước Ấn Độ thống nhất và hùng mạnh. Cuốn sách The Reconstruction of Religious Thought in Islam (Tái thiết Tư tưởng Tôn giáo trong Đạo Hồi) của ông là một tác phẩm lớn của triết học Hồi giáo hiện đại. Iqbal được người Pakistan, Ấn Độ và các học giả văn học quốc tế ngưỡng mộ như một nhà thơ cổ điển nổi bật. Mặc dù Iqbal được biết nhiều nhất là một nhà thơ nổi tiếng, ông cũng là một được mọi người ca ngợi là "nhà tư tưởng triết học Hồi giáo thời hiện đại". Cuốn sách thờ đầu tiên của ông "Asrar-e-Khudi" bằng tiếng Ba Tư vào năm 1915, và cuốn sách khác của thơ bao gồm "Rumuz-i-Bekhudi", "Payam-i-Mashriq" và "Zabur-i-Ajam". Trong số này các tác phẩm bằng tiếng Urdu được biết đến là "Bang-i-Dara", "Bal-i-Jibril", "Zarb-i Kalim" và một phần của "Armughan-e-Hijaz". Tại Iran và Afghanistan, ông đã nổi tiếng là Iqbāl-e Lāhorī (اقبال لاهوری) (Iqbal của Lahore), và ông được đánh giá cao nhất cho tác phẩm bằng tiếng Ba Tư. Cùng với các tác phẩm thơ bằng tiếng Urdu và Ba Tư thơ, các bài giảng và văn học bằng tiếng Urdu và tiếng Anh có ảnh hưởng rất lớn trong các tranh chấp văn hóa, xã hội, tôn giáo, chính trị trong nhiều năm. Năm 1922, ông được vua George V của Vương quốc Anh phong tước hiệu hiệp sĩ với danh hiệu "Sir". Trong khi nghiên cứu pháp luật và triết học ở Anh, Iqbal đã trở thành một thành viên chi nhánh London của Liên đoàn Hồi giáo Ấn Độ. Sau đó, trong một bài phát biểu nổi tiếng nhất của ông Iqbal thôi thúc việc tạo lập một nhà nước Hồi giáo ở Tây Bắc Ấn Độ. Điều này đã diễn ra trong bài phát biểu chủ tịch của ông trong phiên họp của Liên đoàn. Ông là bạn rất thân với người sáng lập của Pakistan, Mohammad Ali Jinnah.. Trong phần lớn Nam Á và thế giới nói tiếng Urdu, Iqbal được coi là "Shair-e-Mashriq" (شاعر مشرق) (Nhà thơ của phương Đông). Ông còn được gọi là Muffakir-e-Pakistan (مفکر پاکستان) (nhà tư tưởng của Pakistan) và Hakeem-ul-Ummat (حکیم الامت) (Sage Ummah). Chính phủ Pakistan chính thức gọi ông là một "nhà thơ quốc gia". Sinh nhật của ông "Yōm-e Welādat-e Muḥammad Iqbāl" (یوم ولادت محمد اقبال) hoặc (Iqbal Day) là một ngày nghỉ lễ công chúng tại Pakistanb. Tiểu sử. Iqbal sinh ra ở Sialkot, trong tỉnh Punjab của Ấn Độ thuộc Anh (nay là Pakistan). Tổ tiên của ông là Kashmiri Pandits, Brahmins của dòng họ Sapru từ Kashmir đã chuyển sang Hồi giáo. Vào thế kỷ 19, khi người Sikh đang nắm quyền cai trị Kashmir, ông nội của ông đã di cư đến Punjab. Iqbal thường đề cập và hồi tưởng về dòng dõi Kashmiri Pandit Brahmin của mình trong các tác phẩm của ông. Cha của Iqbal, Shaikh Noor Mohammad, là một thợ may, không được học hành bài bản nhưng là một người sùng đạo. Mẹ Iqbal, Imam Bibi, là một phụ nữ lịch lãm và khiêm tốn giúp đỡ người nghèo và giải quyết các vấn đề của những người hàng xóm. Bà qua đời ngày 09 tháng 11 năm 1914 ở Sialkot. Iqbal lên 4 khi vào học kinh Qur'an trong một nhà thờ Hồi giáo, ông học tiếng Ả Rập từ thầy giáo Syed Mir Hassan, người đứng đầu madrassa và giáo sư tiếng Ả Rập tại Scotch Mission College ở Sialkot, nơi Iqbal hoàn tất matriculation năm 1893. Ông nhận Intermediate với văn bằng Faculty of Arts từ Murray College Sialkot năm 1895. Cùng năm đó, ông nhận bằng cử nhân ngành triết học, văn học Anh và tiếng Ả Rập là các môn học của ông từ Government College Lahore vào năm 1897, và đã giành huân chương Khan Bahadurddin FS Jalaluddin do ông được điểm cao hơn trong lớp học tiếng Ả Rập. Năm 1899, ông đã nhận được bằng thạc sĩ từ cùng một trường đại học và xếp hạng nhất ở Đại học Punjab, Lahore. Iqbal đã kết hôn ba lần, năm 1895 lúc dang học cử nhân ông đã kết hôn lần đầu với Karim Bibi, con gái bác sĩ Gujarat Khan Bahadur Ata Muhammad Khan, thông qua một cuộc hôn nhân sắp đặt. Họ có con gái Miraj Begum và con trai Aftab Iqbal. Sau đó cuộc hôn nhân thứ nhì của Iqbal là với mẹ Sardar Begum của Javid Iqbal và cuộc hôn nhân thứ ba với Mukhtar Begum tháng 12 năm 1914.
1
null
Áp Lợi Châu (, ), hay đảo Aberdeen, là một hòn đảo của Hồng Kông, nằm ở phía tây nam của đảo Hồng Kông, cạnh cảng Aberdeen và eo biển Aberdeen, với diện tích 1,30 km². Về mặt hành chính, Áp Lợi Châu là một phần của quận Nam. Áp Lợi Châu là một trong số các đảo có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới. Tên gọi. Từ "Lợi" (脷) trong tiếng Quảng Đông nghĩa là "lưỡi", "Áp Lợi Châu" có nghĩa là "đảo lưỡi vịt" do đảo có hình dạng dài hẹp giống như lưỡi con vịt. Trong tiếng Quảng Đông, từ "lưỡi" đọc gần như từ thực (蝕), song vì kỵ húy nên đổi sang gọi là "lợi", về sau sáng tạo ra chữ "脷". Lịch sử. Một bản đồ từ thời nhà Minh đã thể hiện đảo Áp Lợi Châu. Trên bản đồ đó có đánh dấu Hương Cảng thôn (香港村). Có lẽ tên gọi "Hồng Kông" bắt nguồn từ nơi đây. Áp Lợi Châu che chắn cho cảng Aberdeen, tạo thành một nơi tránh trú bão tuyệt vời, và trên đảo có một thôn chài lưới trước Chiến tranh Nha Phiến lần thứ nhất. Theo Điều ước Nam Kinh, đảo được nhượng cho người Anh cùng với đảo Hồng Kông vào năm 1841. Từ đó, hòn đảo nhỏ này ít được chú ý đến. Năm 1968, Điện lực Hồng Kông đã cho mở một nhà máy điện trên đảo để cung cấp điện năng cho hoàn bộ hòn đảo Hồng Kông. Năm 1980, một cây cầu đã được xây dựng để kết nối Áp Lợi Châu với đảo Hồng Kông và tạo động lực cho hòn đảo phát triển kinh tế một cách nhanh chóng. Các bất động sản nhà ở công cộng đã được xây dựng để cung cấp nơi ở cho những người dân chịu thiệt hại trong một vụ cháy tại khu tránh bão Aberdeen. Năm 1989, chức năng cung cấp điện được chuyển cho nhà máy điện trên đảo Nam Nha. Nhà máy điện cũ bị phá bỏ và nền cũ của nhà máy được tái phát triển thành khu dân cư Hải Di Bán Đảo cùng với các hoạt động cải tạo đất. Địa lý và nhân khẩu. Phần phía bắc của đảo có mật độ dân cư cao nhất, trong khi phần phía nam có mật độ dân cư thấp hơn. Đồi cao nhất trên đảo là Ngọc Quế Sơn (玉桂山), với cao độ 196 m. Đảo bao gồm bốn khu bất động sản nhà ở chính là Lợi Đông thôn, Áp Lợi Châu đại nhai, Áp Lợi Châu thôn và Nam Di Bán Đảo, mỗi khu trong đó bao gồm một vài tòa nhà cao tầng. Có một khu bất động sản công nghiệp ở cực nam của hòn đảo. Năm 2001, dân số trên đảo Áp Lợi Châu là 86.782 người, trên một diện tích 1,30 km², khiến mật độ dân số trên đảo là 66.755 người/km², và là một trong những đảo có mật độ dân số lớn nhất trên thế giới. Ten gọi Áp Lợi Châu cũng được dùng để đặt cho Thành hệ địa chất Áp Lợi Châu, bao phủ hầu hết phía nam của đảo Hồng Kông.
1
null
George V (3 tháng 6 năm 1865– 20 tháng 1 năm 1936) là Quốc vương Vương quốc Anh và các quốc gia tự trị của Anh, và Hoàng đế Ấn Độ, từ 6 tháng 5 năm 1910 cho đến khi mất năm 1936. Ông tên đầy đủ là George Frederick Ernest Albert, là con trai thứ hai của Thân vương xứ Wales Albert Edward (về sau là Quốc vương Edward VII), và là cháu nội của Nữ vương Anh đương thời, Victoria của Anh. Tại thời điểm chào đời, ông đứng thứ ba trong danh sách kế vị của Anh sau cha và anh trai, Vương tôn Albert Victor, Công tước xứ Clarence và Avondale. Từ 1877 đến 1891, George phục vụ trong Hải quân Vương thất, cho đến khi anh của ông đột ngột qua đời vào đầu năm 1892. Sau cái chết của Victoria của Anh năm 1901, cha của George trở thành Quốc vương Anh và Hoàng đế Ấn Độ, và George được tấn phong Thân vương xứ Wales. Ông kế vị cha mình năm 1910. Ông là vị Hoàng đế duy nhất của Ấn Độ có mặt trong buổi lễ đăng cơ của mình. Thời đại của ông chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng hòa Ireland, và phong trào giành độc lập Ấn Độ, tất cả đã làm thay đổi đáng kể tình hình chính trị. Đạo luật Nghị viện 1911 thiết lập quyền lực tối cao của Hạ viện Anh được lập nên qua bầu cử đối với Thượng viện không qua bầu cử. Bởi hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914–18) đế quốc của những người anh em họ của ông, Sa hoàng Nicholas II của Nga và Đức hoàng Wilhelm II suy yếu trong khi đế quốc Anh mở rộng phạm vi của nó lên tới cực đại. Năm 1917, George trở thành quân vương đầu tiên của Nhà Windsor, mà ông đổi tên từ tên cũ nhà Saxe-Coburg và Gotha theo kết quả của phong trào chống Đức khắp cả nước. Năm 1924 ông bổ nhiệm chính phủ đảng Lao động đầu tiên và năm 1931, Đạo luật Westminster công nhận rằng các lãnh địa của đế quốc là các quốc gia riêng biệt, độc lập trong Khối thịnh vượng chung. Ông bị quấy rầy bởi bệnh tật trong những năm cuối trị vì và sau khi chết, người kế vị ông là con trai trưởng, Edward VIII. Cuộc sống ban đầu và giáo dục. George chào đời ngày 3 tháng 6 năm 1865, tại Marlborough House, London. Ông là con trai thứ hai của Vương tử Albert Edward, Thân vương xứ Wales (sau này là Quốc vương Edward VII) và Vương phi xứ Wales (sau này là Vương hậu Alexandra. Cha ông là con trai lớn của Victoria của Anh và Vương tế Albrecht. Mẹ ông là con gái lớn của Quốc vương Đan Mạch Christian IX. Là con trai của Thân vương xứ Wales, George mang danh hiệu "Vương tôn George xứ Wales Điện hạ" từ lúc chào đời. Ông được rửa tội ở Lâu đài Windsor ngày 7 tháng 7 năm 1865 bởi Tổng Giám mục Canterbury, Charles Longley. Là con thứ của Thân vương xứ Wales, không có nhiều cơ hội cho George có thể trở thành Quốc vương. Ông đứng thứ ba trong danh sách kế vị ngai vàng, sau cha và anh trai, Vương tôn Albert Victor. George chỉ nhỏ hơn 17 tháng tuổi so với Albert Victor, và hai Vương tôn được giáo dục cùng nhau. John Neale Dalton được bổ nhiệm làm gia sư của họ năm 1871. Cả Albert Victor lẫn George đều không có trí thông minh nổi trội. Vì cha của họ nghĩ rằng hải quân là "nơi rèn luyện khả dĩ nhất cho bất cứ cậu trai nào", vào tháng 9 1877, khi George được 12 tuổi, cả hai anh em cùng được gửi đến rèn luyện trên con tàu HMS "Britannia" tại Dartmouth, Devon. Trong ba năm từ 1879, hai Vương tôn phục vụ trên tàu , và được kèm kẹp bởi Dalton. Họ đã chu du khắp các thuộc địa của đế quốc Anh tại Caribbean, Nam Phi và Australia, và đến thăm Norfolk, Virginia, cũng như Nam Mỹ, Địa Trung Hải, Ai Cập và Đông Á. Năm 1881 trong một chuyến thăm Nhật Bản, George đã lệnh cho một họa sĩ địa phương xăm một con rồng màu xanh và màu đỏ trên cánh tay ông, và đã được tiếp kiến Nhật hoàng Minh Trị. George và anh trai ông biếu tặng Chiêu Hiến Hoàng hậu hai chú Kangaroo chân to đến từ Úc. Dalton đã viết một bài tường thuật về chuyến hành trình của họ mang tên "The Cruise of HMS Bacchante". Giữa Melbourne và Sydney, Dalton ghi nhận lại hiện tượng "người Hà Lan bay", một con tàu ma huyền thoại. Khi họ trở về Anh, Victoria của Anh phàn nàn rằng các cháu bà không thể nói được tiếng Pháp và tiếng Đức, nên họ phải trải qua sáu tháng ở Lausanne để học thêm ngoại ngữ nhưng cũng chẳng đến đâu. Sau Lausanne, hai anh em bị chia ra; Albert Victor theo học ở Trinity College, Cambridge, trong khi George tiếp tục ở Hải quân vương thất. Ông đi vòng quanh thế giới, thăm nhiều vùng trong đế quốc Anh. Trong suốt sự nghiệp hải quân của mình ông chỉ huy "Torpedo Boat 79" ở bờ biển Anh và sau đó là trên trạm ở Bắc Mĩ, trước khi hoạt động cuối cùng là chỉ huy HMS "Melampus" trong thời gian 1891-1892. Từ đó về sau, những địa vị của ông trong hải quân chủ yếu chỉ là trên danh nghĩa. Hôn nhân. Là một người trẻ tuổi phục vụ trong hải quân, Vương tôn George trong nhiều năm phải nằm dưới sự điều động của chú ông, Vương tử Alfred, Công tước xứ Edinburgh, người đóng quân ở Malta. Ở đó, ông ngày càng gần gũi và đem lòng yêu con gái của người chú, tức là em họ của ông, Vương tôn nữ Marie xứ Edinburgh. Bà nội, cha và chú của ông đều chấp thuận mối quan hệ này, nhưng mẹ của ông, Vương phi xứ Wales, và mẹ của Marie, Maria Alexandrovna, Bà Công tước xứ Edinburgh, đều phản đối. Vương phi xứ Wales nghĩ rằng gia đình này quá thân Đức, còn Bà Công tước xứ Edinburgh không thích nước Anh. Bà Công tước cay đắng trước sự thật rằng bà phải chịu vai vế thấp hơn Vương phi xứ Wales vì chồng bà là con thứ của Victoria của Anh. Trong khi đấy, bà vốn là Hoàng nữ duy nhất của Sa hoàng Aleksandr II của Nga. Còn Vương phi xứ Wales có cha là một tiểu vương hầu nước Đức, sau này bỗng dưng được bước lên ngai vàng Đan Mạch. Bị mẹ đứng sau lưng chỉ dẫn, Marie từ chối khi George cầu hôn bà. Bà đã kết hôn với Ferdinand, người kế vị ngôi vua Romania, năm 1893. Tháng 11 năm 1891, anh trai của George, Vương tôn Albert Victor đính hôn với cô em họ xa, Công nữ Victoria Mary xứ Teck. Bà có tên thường gọi ở nhà là "May", biệt danh được đặt theo tháng sinh của bà. Cha của May, Francis, Công tước Teck, là con cháu chi xa của nhà Württemberg và ông có một cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối. Vợ ông, Mary Adelaide xứ Cambridge, là cháu nội của Quốc vương George III và là em họ của Victoria của Anh. Ngày 14 tháng 1 năm 1892, sáu tuần sau lễ đính hôn chính thức, Albert Victor chết vì bệnh viêm phổi, để lại George bấy giờ đứng thứ hai trong danh sách kế vị, và khả năng rất cao sẽ nối ngôi sau phụ thân. George cũng chỉ mới hồi phục sau căn bệnh trầm trọng của chính ông, sau khi nằm liệt giường suốt sáu tuần vì sốt thương hàn, căn bệnh được cho là đã gây ra cái chết của tổ phụ ông, Vương tế Albert. Victoria của Anh vẫn coi Công nương May là sự lựa chọn phù hợp cho cháu của bà, và George cùng May trở nên thân thiết trong thời gian có tang. Một năm sau cái chết của Albert Victor, George cầu hôn May và được chấp nhận. Họ kết hôn ngày 6 tháng 7 năm 1893 tại Nhà nguyện vương thất thuộc Cung điện St James, London. Trong suốt quãng đời về sau, họ vẫn tận tình với nhau. George, theo sự thú nhận của chính ông, không thể dễ dàng bày tỏ cảm xúc qua lời nói, nhưng họ thường gửi cho nhau những lá thư yêu thương và những dấu hiệu âu yếm. Công tước xứ York. Cái chết của người anh chính thức chấm dứt sự nghiệp hải quân của George, vì ông là người thứ hai kế vị ngai vàng, sau cha ông. George được tấn phong Công tước xứ York, Bá tước Inverness và Nam tước Killarney bởi Victoria của Anh ngày 24 tháng 5 năm 1892, và nhận được những bài học về lập hiến từ J. R. Tanner. Sau khi George kết hôn với May, bà mang danh hiệu "Công tước phu nhân xứ York Điện hạ". Công tước và Bà Công tước xứ York sống chủ yếu tại York Cottage, một ngôi nhà tương đối nhỏ tại Sandringham, Norfolk, cuộc sống của họ giống như một gia đình trung lưu ấm cúng hơn là gia đình vương thất. George thích sự đơn giản, gần như tĩnh lặng, cuộc sống của ông tương đối phẳng lặng so với cách sống năng động của cha ông. Người viết tiểu sử chính thức, Harold Nicolson, sau đó thất vọng về thời gian George làm Công tước xứ York, viết rằng: "Ông ấy có thể hoàn toàn xứng đáng là một vị chuẩn úy hải quân trẻ và một vị Quốc vương già khôn ngoan, nhưng khi là Công tước nhà York ... ông không làm gì cả ngoại trừ giết ["tức là." săn bắn] động vật và dán tem." George là một người thích thú cuồng nhiệt đối với việc sưu tầm tem, điều mà Nicolson xem thường, nhưng George đã đóng một vai trò lớn trong việc xây dựng Bộ sưu tập tem vương thất, bộ sưu tập toàn diện nhất của Vương quốc Anh và Khối Thịnh vượng chung trên thế giới, trong một vài trường hợp đã đạt giá kỉ lục đối với các mặt hàng. George và May có năm con trai và một con gái. Randolph Churchill tuyên bố rằng George là một người cha nghiêm khắc, đến mức mà các con ông đều khiếp sợ ông, và George đã nhận xét trước mặt Edward Stanley, Bá tước Derby thứ 17: ""Cha tôi sợ bà nội, tôi thì sợ cha tôi, và tôi hoàn toàn chắc chắn các con tôi khiếp sợ tôi"." Trên thực tế, không có nguồn trực tiếp cho những đánh giá đó và có khả năng là cách làm cha của George không khác mấy so với hầu hết mọi người vào thời điểm đó. Tháng 10 năm 1894, dượng của George, Sa hoàng Aleksandr III, chết và em họ (bên ngoại) ông, Sa hoàng Nicholas II, kế vị ngai vàng Nga. Theo yêu cầu của phụ thân, "trong sự kính trọng tưởng nhớ người dượng tội nghiệp Sasha", George cùng cha mẹ đến St. Petersburg tham dự tang lễ. George và song thân của ông vẫn ở Nga một tuần sau hôn lễ của Nicholas với một người em họ khác (bên nội), Công nương Alix xứ Hessen-Darmstadt, người mà Victoria của Anh từng hi vọng là sẽ kết hôn với anh trai của George. Thân vương xứ Wales. Là Công tước và Công nương xứ York, George và May đã tham dự rất nhiều sự kiện công cộng. Khi Victoria của Anh tạ thế ngày 22 tháng 1 năm 1901, cha của George kế vị ngôi vua với vương hiệu Edward VII. George kế thừa các tước hiệu Công tước Cornwall và Công tước Rothesay, và trong nhiều khoảng thời gian còn lại của những năm đó, ông mang hiệu "Công tước xứ Cornwall và xứ York Điện hạ". Năm 1901, George và May du lịch khắp đế quốc Anh. Điểm đến của họ bao gồm Gibraltar, Malta, Port Said, Aden, Ceylon, Singapore, Australia, New Zealand, Mauritius, Nam Phi, Canada, và Thuộc địa Newfoundland. Chuyến công du được trù tính bởi Bộ trưởng thuộc địa Joseph Chamberlain với sự ủng hộ của Thủ tướng Huân tước Salisbury để tán thưởng cho các thuộc địa vì họ đã tham gia tích cực vào Chiến tranh Nam Phi giai đoạn 1899 - 1902. George đã ban thưởng hàng ngàn huân chương đặc biệt Chiến tranh Nam Phi cho quân đội các thuộc địa. Ở Nam Phi, vương thất gặp các lãnh tụ dân sự, các nhà lãnh đạo châu Phi, và các tù nhân Boers, và được chào đón bằng những nghi lễ công phu, quà tặng đắt tiền, và pháo bông. Mặc dù vậy, không phải tất cả người dân phản ứng tích cực với chuyến đi này. Nhiều người Cape gốc Âu tức giận với sự phô trương và lãng phí, chiến tranh đã làm suy yếu khả năng dung hoà văn hóa Phi châu-Hà Lan của họ vì họ bây giờ là thần dân Anh. Các nhà phê bình trong các bài báo tiếng Anh chỉ trích về chi phí khổng lồ vào thời điểm mà mọi gia đình phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng. Ở Australia, Công tước khai mạc phiên họp đầu tiên của Quốc hội Úc vào lúc hình thành khối Thịnh vương chung Australia. Ở New Zealand, ông ca ngợi những giá trị quân sự, lòng dũng cảm, trung thành và tuân theo phận sự của người dân New Zealand, và chuyến đi đem đến cho New Zealand cơ hội để thể hiện sự tiến bộ của họ, đặc biệt là trong việp áp dụng và cập nhật những chuẩn mực của nước Anh trong ngành truyền thông và công nghiệp chế biến. Mục tiêu ngầm là quảng cáo cho sự thu hút của New Zealand đối với khách du lịch và người nhập cư tiềm năng, trong khi tránh né những thông tin về mâu thuẫn xã hội gia tăng, bằng cách tập trung sự chú ý của báo chí Anh về một vùng đất ít người biết tới. Khi trở về Anh, trong một bài phát biểu tại Guildhall, London, George cảnh báo về "những ấn tượng dường như chiếm ưu thế hơn những người anh em cách chúng ta qua đại dương, Đất nước già phải tỉnh dậy nếu muốn duy trì vị trí cũ về tính ưu việt trong thương mại thuộc địa của mình chống lại đối thủ cạnh tranh ngoại quốc." Ngày 9 tháng 11 năm 1901, George được phong tước Thân vương xứ Wales và Bá tước xứ Chester. Vua Edward muốn chuẩn bị cho con trai vai trò tương lai của ông trên cương vị Quốc vương. Ngược lại với Edward, người mà Victoria của Anh cố tình loại ông ra khỏi những công việc nhà nước, George được phép tiếp cận rộng rãi các tài liệu quốc gia của cha ông. George dần dần cho phép vợ ông xem các giấy tờ của ông, vì ông coi bà là người tư vấn và bà thường giúp chồng chuẩn bị cho những bài phát biểu. Là Thân vương xứ Wales, George ủng hộ những cải cách trong đào tạo hải quân, bao gồm việc các học viên được rèn luyện trong độ tuổi từ 12 và 13, và nhận được nền giáo dục giống nhau, dù cho địa vị và định hướng sau cùng của họ. Các cải cách được thực hiện bởi Đại thần hải vụ thứ hai (sau đó là thứ nhất), Jacky Fisher. Từ tháng 11, 1905 đến tháng 3, 1906, George và May đến thăm Ấn Độ thuộc Anh, nơi ông tỏ ra tức giận bởi nạn phân biệt chủng tộc và vận đông cho sự tham gia nhiều hơn của người Ấn Độ trong chính phủ quốc gia. Chuyến đi diễn ra gần như ngay lập tức sau chuyến thăm Tây Ban Nha dự hôn lễ của Quốc vương Alfonso XIII với Victoria Eugenie của Battenberg, người em họ của George, trong sự kiện đó cô dâu và chú rể suýt chút nữa là bị ám sát. Một tuần sau khi trở về Anh, George và May đến Na Uy dự lễ đăng quang của Quốc vương Haakon VII, em họ của George, với Vương hậu Maud, em gái của George. Quốc vương và Hoàng đế. Ngày 6 tháng 5 năm 1910, Quốc vương Edward mất, và George lên ngôi. Ông viết trong quyển nhật ký, "Tôi đã mất đi người bạn tuyệt vời nhất và người cha tuyệt vời nhất ... Tôi không bao giờ to tiếng với ông ấy trong suốt cuộc đời tôi. Tôi đau lòng và choáng ngợp với sự đau buồn nhưng nhờ Chúa tôi sẽ gánh vác trách nhiệm và May thân yêu là niềm an ủi của tôi vì cô ấy luôn là như vậy. Xin Chúa cho tôi sức mạnh và hướng dẫn tôi thực hiện các nhiệm vụ nặng nề đang đặt trên vai tôi". George không thích thói quen của vợ ông là dùng tên "Victoria Mary" khi ký vào các văn bản và tài liệu và đòi bà bỏ đi một trong hai chữ đó. Cả hai người đều nghĩ rằng bà không nên được gọi là Vương hậu Victoria (trong tiếng Anh là "Queen Victoria", rất giống với tước hiệu của Victoria của Anh), và vì thế bà được gọi là Vương hậu Mary. Cuối năm đó, một tuyên truyền viên Cấp tiến, Edward Mylius, đã xuất bản một tài liệu giả dối loan tin rằng George đã bí mật kết hôn ở Malta với một người đàn ông trẻ, và cuộc hôn nhân của ông với Vương hậu Mary là theo chế độ đa thê. Lời nói dối lần đầu được xuất bản năm 1893 nhưng George nhún vai xem đó như một trò đùa. Trong một nỗ lực để dẹp tan những tin đồn, Mylius bị bắt giữ, xét xử và bị kết án phỉ báng hình sự, và bị bỏ tù một năm. George phản đối những đoạn có nội dung chống Công giáo trong Tuyên bố đăng quang mà ông sẽ đọc trong phiên khai mạc đầu tiên của Quốc hội. Ông cho biết rằng ông sẽ từ chối khai mạc Quốc hội trừ phi tuyên bố được sửa đổi. Vì vậy, Tuyên bố lên ngôi 1910 rút ngắn nội dung hơn và loại bỏ phần nhiều những từ ngữ gây khó chịu. Lễ đăng quang của George và Mary diễn ra tại Tu viện Westminster ngày 22 tháng 6 năm 1911, và tổ chức Liên hoan đế quốc ở London. Tháng 7, Vua và Vương hậu đến thăm Ireland trong năm ngày; họ nhận được sự chào đón cuồng nhiệt, với hàng ngàn người đứng hai bên đường cổ vũ cho cuộc diễu hành. Cuối năm 1911, Quốc vương và Vương hậu đến Ấn Độ làm lễ lên ngôi, nơi đây họ nhận được sự triều kiến của các chức sắc Ấn Độ và các hoàng thân với cương vị Hoàng đế và Hoàng hậu Ấn Độ ngày 12 tháng 12 năm 1911. George được tôn làm Hoàng đế của Ấn Độ tại buổi lễ, và tuyên bố dời đô từ Calcutta tới Delhi. Họ đi khắp tiểu lục địa, và George có cơ hội tham gia trò chơi săn bắn lớn tại Nepal, bắn hạ được 21 con hổ, tám con tê giác và một con gấu trong hơn 10 ngày. Ông là một tay thiện xa lão luyện và cừ khôi. Ngày 18 tháng 12 năm 1913 ông đã bắn được hơn 1000 con chim trĩ trong sáu giờ tại tư gia của Nam tước Burnham, dù cho ông thậm chí đã thừa nhận vào ngày hôm đó rằng "chúng ta đã đi xa một chút". Hoạt động chính trị. George kế vị ngai vàng vào thời điểm chính trị bất ổn. Ngân sách của dân, một dự luật của Lloyd George bị bác bỏ năm trước bởi Đảng bảo thủ và đảng viên Hợp nhất - chi phối Thượng viện, trái với nguyên tắc thông thường là các lãnh chúa sẽ không phủ quyết những dự luật tài chính. Thủ tướng đảng Tự do H. H. Asquith đề nghị vua tiên vương đưa ra cam kết rằng ông ta sẽ tấn phong các khanh tướng của đảng Tự do vào Thượng viện một số lượng đủ để thông qua dự luật. Edward đã miễn cưỡng bằng lòng, với điều kiện các khanh tướng vẫn từ chối ngân sách sau hai lần bầu cử liên tiếp. Sau tuyển cử tháng 1 năm 1910, các khanh tướng Bảo thủ chấp nhận ngân sách, trong tình hình là chính phủ hiện tại đã có sự ủy nhiệm của cử tri, để thông qua dự luật mà không cần Thượng viện. Asquith cố gắng hạn chế quyền lực của các Lãnh chúa thông qua việc cải cách hiến Pháp, và một lần nữa bị bác bỏ ở Thượng viện. Một hội nghị cải cách hiến pháp bị thất bại vào tháng 11 năm 1910 sau 21 cuộc họp. Asquith và Huân tước Crewe, người lãnh đạo đảng Tự do trong Thượng viện, đề nghị George ban lệnh giải thể, dẫn đến cuộc bầu cử thứ hai, và hứa tấn phong đủ số lượng các khanh tướng đảng Tự do nếu Thượng viện lại bác dự luật một lần nữa. Nếu George từ chối, chính phủ Tự do sẽ từ chức, điều này sẽ dẫn đến sự lan truyền trong các đảng chính trị rằng Quốc vương đã đứng về phe "các khanh tướng chống lại người dân". Hai thư ký riêng của Quốc vương, Huân tước Knollys và Stamfordham, cho ông những lời khuyên trái ngược nhau. Knollys, đảng viên Tự do, khuyên George chấp nhận yêu cầu của Chính phủ, trong khi Stamfordham, thuộc đảng liên minh, khuyên George chấp nhận nội các từ nhiệm. Cũng như phụ thân, George miễn cưỡng đồng ý giải tán chính phủ và tấn phong khanh tướng, mặc dù ông cảm thấy các bộ trưởng đã lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm của vị vua mới lên ngôi để doạ nạt ông. Sau cuộc tuyển cử tháng 12 năm 1910, các Lãnh chúa thông qua dự luật trong lúc mối đe dọa tràn ngập Thượng viện với các khanh tướng mới. Tiếp theo là Đạo luật Nghị viện 1911 vĩnh viễn loại bỏ – với một vài trường hợp ngoại lệ – quyền phủ quyết của Thượng viện. Quốc vương về sau nhận thấy rằng Knollys đã ngăn giữ không cho đến tai ông những thông tin rằng phe đối lập đã chuẩn bị thành lập chính phủ nếu đảng Tự do đồng loạt từ chức. Các cuộc tuyển cử năm 1910 đã để lại hậu quả là chính phủ của đảng Tự do phải phụ thuộc vào sự ủng hộ của Đảng Dân tộc Ireland. Theo mong muốn của Đảng dân tộc, Asquith giới thiệu đạo luật trao quyền tự trị cho Ireland, nhưng Đảng Bảo thủ và Liên minh chống lại. Bất bình gia tăng đối với Dự luật Tự Trị, thứ sẽ không bao giờ thành luật nếu không có Đạo luật Nghị viện, quan hệ giữa Knollys và đảng Bảo thủ ngày càng tồi tệ, và ông ta bị ép phải về hưu. Trong tuyệt vọng để tránh viễn cảnh nội chiến ở Ireland giữa Liên minh và Đảng Dân tộc, George triệu tập một cuộc gặp giữa tất cả các bên tại Cung điện Buckingham vào tháng 7 năm 1914 trong một nỗ lực để đàm phán. Sau 4 ngày, cuộc họp kết thúc mà không đi đến thỏa thuận nào. Ngày 18 tháng 9 năm 1914, Quốc vương – vốn đã cân nhắc việc phủ quyết – lại đồng tình Dự luật Tự trị sau khi nó đã được thông qua bởi Westminster, nhưng việc thực hiện nó bị hoãn lại bởi đạo luật treo vì sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiến tranh thế giới thứ nhất. Từ 1914 đến 1918, Anh và các đồng minh tham gia chiến tranh với Liên minh Trung tâm, được lãnh đạo bởi Đế quốc Đức. Hoàng đế Đức Wilhelm II, người đã cho dân Anh chứng kiến nỗi kinh hoàng của chiến tranh, là anh họ của Quốc vương George V. Ông nội của Quốc vương và ông ngoại của Đức hoàng là Albrecht xứ Sachsen-Coburg và Gotha; do đó, Quốc vương và các con ông từ lúc chào đời đã mang danh hiệu Prince và Princess của xứ Saxe-Coburg và Gotha và Công tước và Công nương xứ Saxony. Vương hậu Mary, mặc dù là người Anh theo huyết thống của mẹ bà, nhưng cha bà là Công tước xứ Teck, một hậu duệ của Công tước Württemberg nước Đức. Nhà vua có anh em rể và anh em họ là thần dân Anh nhưng mang danh hiệu Đức chẳng hạn như Công tước và Công nương xứ Teck, Vương thân và Công nương xứ Battenberg, và Vương thân và Công nương Schleswig-Holstein. Khi H. G. Wells viết về "triều đình ngoại quốc và tẻ nhạt", George tuyên bố một câu nổi tiếng: "Trẫm có thể gọi là tẻ nhạt, nhưng trẫm sẽ bị nguyền rủa nếu như trẫm ngoại quốc." Ngày 17 tháng 7 năm 1917, George xoa dịu dân Anh bằng cách ra một thông cáo vương thất đổi tên triều đình từ tên Đức là Nhà Saxe-Coburg và Gotha thành Nhà Windsor. Ông và tất cả bà con người Anh từ bỏ các danh hiệu Đức, mà chấp nhận tên họ Anh. George bù trừ những bà con nam bằng cách tấn phong họ là quý tộc Anh. Em họ của ông, Vương thân Louis xứ Battenberg, người vào đầu cuộc chiến bị buộc phải từ chức Hải vụ Đại thần thứ nhất vì phong trào chống Đức, trở thành Louis Mountbatten, Hầu tước Milford Haven thứ nhất, trong khi anh trai của Vương hậu hậu Mary đổi thành Adolphus Cambridge, Hầu tước Cambridge thứ nhất, và Alexander Cambridge, Bá tước Athlone thứ nhất. Em họ của George Công nương Marie Louise và Công nương Helena Victoria xứ Schleswig-Holstein phải từ bỏ đất phong của họ. Trong Những lá thư rõ ràng công bố ngày 11 tháng 12 năm 1917 Quốc vương giới hạn kính xưng "His (or Her) Royal Highness" và chức tước trên danh nghĩa "Prince (hoặc Princess) của Liên hiệp Anh và Ireland" đối với các con của Quốc vương, và con trai trưởng còn sống của Thân vương xứ Wales. Những lá thư rõ ràng cũng chỉ rõ rằng "kính xưng Royal Highness, Highness hay Serene Highness, và những chức tước trên danh nghĩa của Prince và Princess sẽ ngừng cấp ngoại trừ những chức danh đã được cấp và vẫn không bị hủy bỏ". Người thân của George đã đứng về phe Đức, chẳng hạn như Prince Ernst August của Hanover, Công tước Cumberland và Teviotdale thứ ba (cháu chắt nội đích tôn của George III) và Vương thân Carl Eduard, Công tước Albany và công tước đương nhiệm của Saxe-Coburg và Gotha (cháu nội dòng nam của Victoria của Anh), bị đình chỉ tư cách quý tộc anh bởi Đạo luật tước danh hiệu năm 1919. Dưới áp lực từ Vương thái hậu Alexandra, George cũng từ bỏ những cờ lệnh Gater của các thân thuộc người Đức của ông trong Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor. Khi Sa hoàng Nikolai II của Nga, người em họ của George V (mẹ của hai người là chị em với nhau), bị lật đổ trong Cách mạng Nga 1917, chính phủ Anh cho phép Nga hoàng và gia đình đến cư trú tại đất nước này, nhưng George V lo ngại rằng việc cho Sa hoàng tị nạn sẽ là hành động tự sát chính trị và rất rủi ro dẫn đến một cuộc cách mạng, nên ông nghĩ rằng sự hiện diện của hoàng gia Nga là không phù hợp. Mặc dù những tuyên bố về sau của Huân tước Mountbatten của Miến Điện rằng Thủ tướng Lloyd George phản đối việc cứu viện cho hoàng gia Nga, những bức thư của Lord Stamfordham gợi ý rằng chính George V là người phản đối ý kiến này, chứ không theo lời khuyên từ chính phủ. Chi tiết kế hoạch cuộc giải cứu được thực hiện bởi MI1, một chi nhánh của cơ quan mật vụ Anh, nhưng vì thế lực ngày càng lớn của những người cách mạng Bolshevik và những khó khăn lớn hơn từ cuộc chiến tranh, kế hoạch không bao giờ được thực hiện. Nga hoàng và gia đình ông vẫn ở Nga, nơi họ bị giết bởi những người Bolsheviks năm 1918. Vào năm sau, Hoàng thái hậu nước Nga (dì của George) Maria Feodorovna (Dagmar của Đan Mạch) cùng các thành viên khác của hoàng gia được cứu thoát ở Crimea bởi các tàu Anh. Hai tháng trước khi kết thúc chiến tranh, con trai út của Quốc vương, John, chết ở tuổi 13 sau một thời gian dài bệnh tật. George đã được Vương hậu Mary thông báo về cái chết của cậu, bà viết, "[John] là người khiến chúng tôi lo lắng trong nhiều năm ... Sự suy sụp đầu tiên trong gia đình chúng tôi thật khó chịu nhưng mọi người thật tốt bụng & cảm thông & và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều." Tháng 5 năm 1922, Quốc vương đến thăm Bỉ và miền bắc nước Pháp, thăm nghĩa trang chiến tranh thế giới và đài tưởng niệm được xây dựng bởi Imperial War Graves Commission. Sự kiện được miêu tả trong một bài thơ, "The King's Pilgrimage" của Rudyard Kipling. Chuyến thăm này, và một chuyến thăm ngắn đến Ý năm 1923, là những lần hiếm hoi George đồng ý rời khỏi nước Anh làm việc công sau khi chiến tranh chấm dứt. Trị vì sau Đại chiến. Trước chiến tranh thế giới, nhiều nước châu Âu được cai trị bởi các quân vương là người thân của George, nhưng trong và sau thế chiến, chế độ quân chủ ở Áo, Đức, Hi Lạp, Tây Ban Nha, cũng như Nga, suy yếu hoặc diệt vong bởi các cuộc cách mạng và chiến tranh. Tháng 3 năm 1919, Trung tá Edward Lisle Strutt được sự ủy nhiệm của cá nhân Quốc vương đến hộ tống cựu hoàng Karl I của Áo và gia đình ông ta đến tị nạn tại Switzerland. Năm 1922, một con tàu của Hải quân hoàng gia được gửi đến Hi Lạp để giải cứu em họ của George, Vương tử và Công nương Andrew. Vương tử Andrew là cháu của Thái hậu Alexandra thông qua anh trai của bà là Georgios I của Hy Lạp, và Công nương Andrew là con gái của Vương thân Louis xứ Battenberg, một vương thân người Đức được phong làm quý tộc Anh năm 1917. Các con của họ bao gồm Prince Philip, người về sau kết hôn với cháu nội của George, Elizabeth II. Chế độ quân chủ ở Hi Lạp được trung hưng lần nữa không lâu trước cái chết của George. Bất ổn chính trị tiếp tục gia tăng ở Ireland vì Đảng dân tộc phát động cuộc chiến vì nền độc lập; George bày tỏ nỗi kinh hoàng của ông vì việc chính phủ cho phép sự giết chóc và trả đũa với Thủ tướng David Lloyd George. Tại phiên khai mạc Quốc hội Bắc Ireland ngày 22 tháng 6 năm 1921, Quốc vương, trong bài phát biểu một phần được soạn bởi Lloyd George và tướng Jan Smuts, kêu gọi hòa giải. Một vài tuần sau, một thỏa thuận ngừng bắn được công bố. Các cuộc đàm phán giữa Anh và những người li khai Ireland đã dẫn đến Hiệp ước Anh-Ireland. Cuối năm 1922, Ireland được phân chia, Nhà nước Ireland tự do được thành lập, và Lloyd George rời khỏi chức vụ. Quốc vương và các cố vấn lo ngại về sự trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội và phong trào công nhân ngày càng phát triển, điều mà họ nhầm lẫn là có liên quan đến chủ nghĩa cộng hòa. Các nhà xã hội không còn tin tưởng và những khẩu hiệu chống lại nền quân chủ và sẵn sàng đi đến thỏa thuận nếu phe bảo hoàng tỏ có những hành động trước. George đã chấp thuận một nền dân chủ rộng rãi hơn nữa, kể cả việc vượt qua lằn ranh giai cấp và đem đến một chế độ quân chủ gần gũi hơn với quần chúng và tầng lớp lap động-một sự thay đổi như một vở kịch cho Quốc vương, người bây giờ đang thoải mái nhất với các sĩ quan hải quân và quý tộc có đất đai. Ông thiết lập mối quan hệ thân thiện với các chính trị gia Công đảng và cán bộ công đoàn. Ông từ bỏ cách ứng xử xa lánh xã hội của vương thất và tăng cường tính đại chúng của nó trong cuộc khủng hoảng những năm 1920 và trong hơn hai thế hệ sau đó. Những năm từ 1922 đến 1929 chứng kiến sự thay đổi thường xuyên trong chính phủ. Năm 1924, George bổ nhiệm Thủ tướng Công đảng đầu tiên, Ramsay MacDonald, trong sự vắng mặt của thế đa số trong ba đảng lớn. Sự tiếp thu lịch thiệp và hiểu biết của George đối với chính phủ Công đảng đầu tiên (kéo dài chưa tới một năm) làm lắng đi những nghi ngờ của các cảm tình viên trong đảng. Trong Tổng tấn công năm 1926 nhà vua khuyên chính phủ đảng Bảo thủ của Stanley Baldwin chống lại những hành động khiêu khích, và một ngoại lệ khi ông gợi ý rằng những kẻ tấn công là "nhà cách mạng" nói rằng, "Hãy sống với tiền lương của họ trước khi các ngươi đánh giá họ" Năm 1926, George tổ chức Hội nghị đế quốc ở London tại đó Tuyên ngôn Balfour chấp nhận các lãnh địa Anh được tăng thêm quyền tự trị "Cộng đồng tự trị trong đế quốc Anh, bình đẳng về địa vị, không bên nào nằm dướng bên nào". Năm 1931, Quy ước Westminster chính thức xác lập vị trí của George là "biểu tượng của liên kết tự do giữa các thành viên trong Khối thịnh vượng chung các quốc gia". Tuyên ngôn xác định "bất kì thay đổi nào trong luật pháp động chạm đến chuyện kế vị ngai vàng hay các huy hiệu và danh hiệu hoàng gia" đều đòi hỏi phải có sự chấp thuận của Nghị viện của các thuộc địa cũng như Nghị viện tại Westminster, chính phủ Anh không thể ban hành luật pháp cho các lãnh địa, ngoại trừ có thỏa thuận từ trước. Trong sự bùng nổ của khủng hoảng tài chính thế giới, Quốc vương khuyến khích thành lập một Chính phủ Dân tộc năm 1931 lãnh đạo bởi MacDonald và Baldwin, và tình nguyện cắt giảm danh sách dân sự để giúp cân bằng ngân sách. Ông quan tâm đến sự mạnh lên của Đức dưới thời Adolf Hitler và Đảng Quốc xã. Năm 1934, Quốc vương thẳng thắn nói với sứ thần Đức Leopold von Hoesch rằng Đức quốc bây giờ là hiểm họa của thế giới, và đang hướng về một cuộc chiến tranh trong vòng 10 năm nếu mọi chuyện vẫn như thế này; ông cảnh báo đại sứ Anh tại Berlin Eric Phipps để mắt tới đảng Quốc xã. Năm 1932, George đồng ý phát biểu thông điệp Giáng sinh vương thất trên radio, một sự kiện về sau trở thành thông lệ hàng năm. Lúc ông không thích sự đổi mới này nhưng đã bị thuyết phục bởi những lập luận rằng đó là điều mà thần dân của ông muốn. Vào dịp Lễ kỉ niệm bạc của ông năm 1935, ông đã là một vị Quốc vương được yêu quý, ông nói lời đáp tạ sự bợ đỡ của đám đông rằng, "Trẫm không thể hiểu được, sau tất cả mọi thứ trẫm vẫn chỉ là một thằng cha rất bình thường." Quan hệ của George với trưởng tử và người thừa kế, Edward, trở nên tồi tệ trong những năm cuối đời. George thất vọng về thất bại của Edward trong việc ổn định cuộc sống và kinh hoàng vì mối quan hệ của anh ta với những phụ nữ đã có chồng. Ngược lại, ông thương yêu Vương tử thứ hai, Vương tử Albert (về sau là George VI), và cưng chiều đứa cháu gái lớn tuổi nhất của ông, Princess Elizabeth; ông đặt biệt danh cho cô ta là "Lilibet", và cô trìu mến gọi ông là "Người ông Anh quốc". Năm 1935, George nói với con trai ông Edward: "Sau khi trẫm chết đi, cậu sẽ hủy hoại chính cậu trong 12 tháng", và nói với Albert cùng Elizabeth: "Trẫm cầu Chúa rằng con trưởng của trẫm sẽ không bao giờ kết hôn và có con, để không có gì ngăn cản Bertie và Lilibet đến ngai vàng." Suy yếu và qua đời. Chiến tranh thế giới thứ nhất gây ra nhiều thiệt hại cho sức khỏe của George: ông bị thương nặng ngày 28 tháng 10 năm 1915 khi ngã ngựa trong một chuyến duyệt quân ở Pháp, và thói quen hút thuốc của ông làm trầm trọng hơn các vấn đề về hô hấp. Ông mắc bệnh nghẽn phổi mãn tính và viêm màng phổi. Năm 1925, theo chỉ định của các bác sĩ, ông miễn cưỡng đi điều dưỡng ở Địa Trung Hải, và đó là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của ông kể từ sau chiến tranh, và cũng là lần cuối. Tháng 11 năm 1928, ông lâm bệnh nặng có vẻ do nhiễm trùng máu, và trong hai năm tiếp theo con trai ông Edward đã gánh vác nhiều nhiệm vụ của ông. Năm 1929, một đề nghị ra nước ngoài điều dưỡng bị nhà vua bác bỏ "bằng những câu nói cứng rắn". Thay vào đó, ông nghỉ ngơi ba tháng ở Craigweil House, Aldwick, tại khu resort trên bờ biển Bognor, Sussex. Vì kết quả của chuyến thăm của ông, thị trấn được mang thêm tên hậu tố "Regis", tiếng Latinh có nghĩa là "của quốc vương". Một huyền thoại khác về sau được phổ biến rằng những lời cuối cùng của ông, khi ông được thông báo rằng ông sẽ sớm hồi phục để lại đến thăm thị trấn, là "Bugger Bognor!" George không bao giờ hồi phục hoàn toàn. Trong những năm cuối, ông thỉnh thoảng phải dùng bình oxi. Cái chết của em gái ông thương yêu Victoria tháng 12 năm 1935 làm ông buồn phiền sâu sắc. Vào buổi chiều ngày 15 tháng 1 năm 1936, Quốc vương bước vào phòng ngủ của ông ở dinh thự Sandringham và phàn nàn là bị cảm lạnh; ông vẫn ở trong phòng cho đến lúc chết. Ông trở nên yếu dần đi, lúc mê lúc tỉnh. Thủ tướng Baldwin về sau nói rằng: Ngày 20 tháng 1, ông đã gần chết. Các bác sĩ riêng của ông, đứng đầu là Huân tước Dawson của Penn, cho phát một bản tin với những từ ngữ sau đó trở nên nổi tiếng: "Cuộc đời của Quốc vương đang tiến gần đến hồi kết" Nhật ký riêng của Dawson, được lật ra sau cái chết của ông và được công bố năm 1986, tiết lộ những lời cuối cùng của ông, là một lời nguyền rủa "Chúa nguyền rủa nhà ngươi!", nói với y tá của ông, Catherine Black, khi cô ta đưa cho ông một viên thuốc an thần vào ngày 20 tháng 1. Dawson viết rằng ông đã đẩy nhanh cái chết của Quốc vương bằng cách cho ông một mũi có kết hợp morphine và cocaine. Dawson ghi chú ông hành động như vậy để bảo vệ nhân phẩm của Quốc vương, giảm sự căng thẳng của gia đình, và do đó Quốc vương qua đời lúc 11:55 tối. và sự việc được công bố trên bản tin sáng của báo "The Times" chứ không phải là "một tờ báo buổi tối không thích hợp". Nhà soạn nhạc người Đức Paul Hindemith đi đến một xưởng phim BBC vào buổi sáu sau khi Quốc vương qua đời và dành sáu giờ để viết "Trauermusik" (nhạc tang lễ). Nó được trình chiều vào buổi chiều cùng ngày trên chương trình phát sóng trực tiếp của BBC, với Adrian Boult tiến hành BBC Symphony Orchestra và nhạc sĩ độc tấu. Tại đám rước di thể của George vào quan tài tại Đại sảnh Westminster, một phần của Imperial State Crown rơi từ trên quan tài xuống rãnh nước. Vị tân vương Edward VIII, thấy được hình ảnh đó và cho rằng nó là một điều xấu cho triều đại mới của ông. Như một dấu hiệu cho thấy sự tôn trọng người cha quá cố, bốn người con trai còn sống của George V là: Edward, Albert, Henry, và George, đứng suốt đêm để canh giữ quan tài, được gọi là "Sự thức khuya của các Vương tử, tại nhà táng vào cái đêm trước đám tang. Sự kiện như thế không được lặp lại cho đến ngày mất của con dâu George, Thái hậu Elizabeth, năm 2002. George V được chôn cất tại Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor, ngày 28 tháng 1 năm 1936.. Sau khi George V qua đời, con trai đầu lên ngôi vào 20/1/1936 là Edward VIII và thoái vị ngay trong năm đó, và em trai ông ta Albert, Công tước York, lên ngôi vua (lấy vương hiệu là George VI). Miêu tả trên màn ảnh. Trên màn ảnh, George được khắc họa bởi: Danh hiệu, huy hiệu, huân chương. Danh hiệu. Danh hiệu đày đủ của nhà vua là ""His Majesty" George V, bởi Ân điển của Chúa, của Nước Anh thống nhất Liên hiệp Anh và Ireland và của các thuộc địa Anh bên kia biển, Vua, Người Bảo vệ Đức tin, Hoàng đế Ấn Độ" cho đến khi Đạo luật Danh hiệu hoàng gia và Nghị viện 1927, nó được đổi thành ""His Majesty" George V, bởi Ân điển của chúa, của Liên hiệp Anh, Ireland và các thuộc địa Anh bên kia biển, Vua, Người Bảo vệ Đức tin, Hoàng đế Ấn Độ". Vinh dự ở Anh. Sau khi kế vị ngai vàng Anh năm 1910, George trở thành quân vương sở hữu tất cả huân chương được trao tặng ở đế quốc Anh (sau đó) Khối Thịnh vượng chung, bao gồm những thứ trao tặng cho ông trước khi kế vị.
1
null
RAI (Tiếng Ý: "Radiotelevisione Italiana") là đài truyền hình quốc gia thuộc sở hữu của . Đây là một trong những đài truyền hình lớn nhất ở Ý, cạnh tranh với Mediaset và các đài truyền hình khác. RAI có lưu lượng khán giả xem truyền hình tương đối cao với tỷ lệ là 35,9%. Chỉ trích. Quản lý kém minh bạch. Năm 2008, một bài báo trên L'Espresso đã cáo buộc RAI quản lý kém minh bạch dẫn đến lãng phí ngân sách liên tục và cấu trúc bên trong quá nặng nề, chẳng hạn như gây thất thoát cho việc sản xuất các chương trình phát thanh và truyền hình. Bê bối tham nhũng và hối lộ. RAI đã bị điều tra và bị phạt (với nhiều giám đốc điều hành bị bắt hoặc bị sa thải) vì những khoản chi tiêu phi lý và những món quà đáng ngờ. Có bằng chứng cho rằng các bữa tối, đồng hồ đắt tiền và đồ trang sức đều được RAI trả cho những người không liên quan đến công ty. Năm 2022, một vụ bê bối mới đã được điều tra liên quan đến tham nhũng và hối lộ. Ít nhất 5 người đã bị bắt giữ.
1
null
Televisión Española là hãng truyền hình công cộng quốc doanh của Tây Ban Nha. TVE thuộc Tổng công ty RTVE có trách nhiệm chung trong việc cung cấp dịch vụ công cho các đài phát thanh và truyền hình quốc gia. Người điều hành là vị Tổng Giám đốc do Quốc hội Tây Ban Nha bổ nhiệm, vị Tổng giám đốc có trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng quản trị cũng như trước một ủy ban quốc hội gồm tất cả các đảng theo quy định tại Luật Phát thanh và Truyền hình công cộng năm 2006. Kinh phí hoạt động trước đây của TVE của được tài trợ kết hợp từ doanh thu quảng cáo và trợ cấp từ chính phủ Tây Ban Nha, nhưng kể từ tháng 1 năm 2010, hãng chỉ còn được hỗ trợ bởi các khoản trợ cấp.
1
null
Nazim Hikmet Ran (1902 - 1963) Tên thường gọi là Nazim Hikmet (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ phát âm là: [na ː zɯm hicmet]) là một nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia người Thổ Nhĩ Kỳ. Đồng thời, ông cũng là nhà cách mạng, "một người cộng sản lãng mạn" và đã có nhiều thời gian trưởng thành ở nhà tù, nước ngoài. Cuộc đời. Gia đình. Ông sinh vào ngày 15 tháng 1 năm 1902 Salonica, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, ngày nay là thành phố Thessaloniki, miền Đông Bắc Hy Lạp. Bố ông là Hikmet Bey, là con của một sĩ quan phục vụ trong quân đội Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc nhỏ, ông được hưởng một nền giáo dục tốt và sớm bộc lộ năng khiếu văn chương của mình. Thời thơ ấu. Ông được học tiếng Pháp tại hồi học trung học, sau đó chuyển đến Mektebi Numune. Năm 1913, theo sự hướng dẫn của gia đình, ông đã vào học tại trường sĩ quan Hải quân ở Heybeliada nhưng bị đuổi học vì đã theo phong trào cách mạng của thủy thủ. Một số tài liệu lại ghi rằng, ông tốt nghiệp nhưng vì ốm nặng nên không phải đi phục vụ quân đội hải quân. Hoạt động. Năm 1920, ông đã viết bài thơ Tù nhân của 40 tên cướp nhằm kêu gọi nhân dân chống lại quân xâm lược thực dân Anh và chính quyền phong kiến Thổ Nhĩ Kỳ. Vì vậy, ông đã bị truy nã nên đã phải trốn đến vùng Anatolia, nơi hoạt động cách mạng của nhà cách mạng Mustafa Kemal Pasha đang phát động chiến tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ phong kiến. Năm 1921, Ông sang Liên Xô theo học tại trường cộng sản Phương Đông và gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô. 3 năm sau, ông về nước và gia nhập Đảng Cộng sản Thổ Nhĩ Kỳ và bắt đầu hoạt động báo chí cách mạng. Lúc này, phong trào cách mạng đang bị đang áp khốc liệt, ông bị kết tội xúi giục binh biến và bị trục xuất trong 15 năm. Ông đã sang cư trú tại Liên Xô. Nhưng chỉ 1 năm sau đó, ông đã bí mật trở về nước và tham gia các hoạt động cách mạng. Năm 1932, tập thơ Bức điện đến vào ban đêm được xuất bản, cùng với đó là bản án 5 năm tù vì kêu gọi lật đổ chính quyền của ông. Năm 1952, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân, chính quyền đã phải trả tự do cho ông nhưng bị trục xuất. Sau đó, ông trở lại Liên Xô sống lưu vong và tiếp tục sáng tác văn học, phục vụ cho phong trào đấu tranh vì Hòa bình thế giới. Ông mất vào ngày 3 tháng 6 năm 1963 tại Moscow khi không còn được về lại quê hương của ông. Thành tựu. Ông đã từng là Ủy viên của Hội đồng Hòa bình thế giới (1951) và đã được trao giải thưởng quốc tế vì hòa bình năm (1950) Sự nghiệp. Tập thơ đầu tiên của ông được xuất bản khi ông mới 15 tuổi, đánh dấu tài năng của ông. Sau đó là hàng loạt các tác phẩm thuộc nhiều thể loại bao gồm cả: thơ, tiểu thuyết, kịch, lý luận, phê bình văn học bao gồm: Ngoài ra là rất nhiều các kịch bản phim, các bản dịch thuật, tác phẩm chính luận và phê bình văn học có giá trị. Ông là người có công lao lớn trong việc đổi mới thơ ca hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ, không chịu sự gò bó trong các quy tắc cũ kĩ, sáo rỗng, rập khuôn về hình thức lẫn nội dung nữa. Thể thơ ông sử dụng là thể thơ tự do, âm điệu hào hùng, khoáng đạt với các đề tài về chính trị, thời sự đương đại và triết lý sâu sắc. Thơ của ông được dịch ra khoảng 50 thứ tiếng trên thế giới. Ông có vị trí đáng kể làm thay đổi diện mạo văn học thế giới trong thế kỷ 20.
1
null
Vega Lutch là loại là loại máy bay không người lái tầm trung thử nghiệm được phát triển bởi công ty Vega tạ Nga. Loại máy bay này được giới thiệu lần đầu trong triển lãm hàng không MAKS năm 2011. Nó được chế tạo để có thể đảm nhiệm được nhiều chức năng chuyên về quân sự khác nhau như tìm kiếm, định vị và xác định các mục tiêu trên đường đi tuần tra cũng như có thể thực hiện các nhiệm vụ không kích vào các mục tiêu khác nhau. Vì thế nó sẽ rất thích hợp cho việc tuần tra các khu vực biên giới mà quân đội bình thường không thể tiếp cận. Ngoài ra Lutch cũng có thể được dùng cho việc xuất khẩu. Lutch được thiết kế dựa trên Sigma 5 nên có hình dáng khá giống loại máy bay này. Được trang bị động cơ 4 pít ton Rotax-914 có thể sử dụng nhiên liệu bình thường của các loại xe hơi mà không cần đến các loại nhiên liệu đặc biệt cho máy bay để tiết kiệm chi phí vận hành. Cánh máy bay có thể gấp để tiết kiệm không gian khi vận chuyển, cũng như máy bay có thể được triển khai chuẩn bị bởi một người trong một thời gian ngắn. Bán kính hoạt động của máy bay là 250 km đến 350 km và đang phát triển để tăng lên 500 km. Trần bay ở độ cao 7000 m, có thể bay liên tục 18 tiếng với tốc độ 270 km/h có thể tăng lên 30 tiếng với một bình nhiên liệu phụ. Trọng lượng cất cánh tối đa là 800 kg. Lutch không cần đường băng chuyên dụng để cất cánh mà chỉ cần một đường dất thẳng tương đối chắc dài tối thiểu 130 m.
1
null
Cuốn chiếu, hay đơn giản là chiếu là các động vật chân khớp thuộc lớp Chân kép (tên khoa học Diplopoda) hoặc lớp Chân môi, phân ngành Nhiều chân. Nó được gọi là lớp Chân kép vì các loài cuốn chiếu đều có hai cặp chân trong mỗi đốt, ngoại trừ đốt đầu tiên nằm sau phần đầu không có chân). Hiện tượng này có nguyên do vì mỗi "đoạn" của cuốn chiếu là do hai đốt nhập lại mà thành. Phần lớn các loài cuốn chiếu có cơ thể gần như hình ống tuýp tròn, mặc dù một số loài có thân hình dẹp theo mặt bụng-lưng, trong khi đó các loài cuốn chiếu thuộc siêu bộ Sâu đá ("Oniscomorpha") có chiều dài rất ngắn và khi cuộn tròn cơ thể thì trông như một quả bóng, giống như các loài mọt ẩm ("Armadillidiidae"). Tên "cuốn chiếu" trong tiếng Việt xuất phát từ tập tính cuộn tròn cơ thể của nhóm sinh vật này, giống như khi người ta cuốn một chiếc chiếu. Một số địa phương còn gọi cuốn chiếu là "con trăm chân". Trong tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác, cuốn chiếu được gọi là "millipede" (bắt nguồn từ tiếng La Tinh ' "một nghìn" và ' "chân"), mặc dù chưa có loài cuốn chiếu nào được phát hiện có số lượng chân đạt đến 1000 cái, cho đến khi loài "Eumillipes persephone" được phát hiện gần đây với hơn 1300 cái, phá vỡ kỷ lục động vật nhiều chân nhất trước đó của "Illacme plenipes" với 750 cái. Thông thường, số chân cuốn chiếu dao động trong khoảng 40-400 chân. Trên thế giới hiện có khoảng 10.000 loài cuốn chiếu phân làm 13 bộ và 115 họ, mặc dù các ước tính cho rằng đây chỉ là một phần nhỏ trong số tổng loài cuốn chiếu trên thế giới. Loài cuốn chiếu khổng lồ châu Phi "Archispirostreptus gigas" là loài cuốn chiếu lớn nhất trên thế giới. Cuốn chiếu là các động vật ăn vụn hữu cơ. Phần lớn chúng ăn các lá cây khô mục và các phần khô mục khác của thực vật, khi ăn chúng dùng nước bọt làm ẩm và mềm các thức ăn sau đó cắn nhai bằng hàm cặp. Đôi khi, cuốn chiếu có thể gây hại cho cây trồng, nhất là cây trồng trong các nhà kính, khi chúng ăn các cây con mới nảy mầm. Dấu hiệu của sự phá hại của cuốn chiếu là các lớp vỏ ngoài cây non bị bong tróc cùng những thương tổn bất quy tắc trên ngọn cây. Cuốn chiếu có thể dễ dàng được phân biệt với rết, những loài cũng nằm trong phân ngành Nhiều chân, nhưng thuộc lớp Chân môi, có họ hàng xa và ngoại hình khá giống với cuốn chiếu. Trong khi cuốn chiếu di chuyển khá chậm chạp, và ăn lá cây mục, rết di chuyển rất nhanh, và là các loài có độc, chuyên ăn thịt, và chỉ có một cặp chân trên mỗi đốt. Tiến hóa. Cuốn chiếu được cho là những loài động vật đầu tiên sinh sống trên đất liền trong kỷ Silur. Thức ăn của các loài cuốn chiếu sơ khai này có lẽ là rêu và các loài thực vật có mạch nguyên thủy. Loài cuốn chiếu cổ xưa nhất từng được biết đến, "Pneumodesmus newmani", sống cách đây 428 triệu năm và có chiều dài . Trong kỷ Than đá sớm, (), "Arthropleura" trở thành loài động vật không xương sống lớn nhất từng tồn tại trên trái đất, với chiều dài lên tới . Đặc điểm. Chiều dài của cuốn chiếu dao động trong khoảng rất lớn, có thể từ , và có thể có từ 11 đến hơn 100 đốt. Nhìn chung chúng có màu nâu hay đen mặc dù một số loài mang màu sắc khá sặc sỡ. Đặc điểm nổi bật nhất của cuốn chiếu là số lượng chân cực kì lớn. Trên thực tế cuốn chiếu là nhóm động vật nhiều chân nhất thế giới, với loài "Illacme plenipes" đứng đầu bảng với 750 cái. Số lượng chân lớn khiến các loài cuốn chiếu di chuyển chậm nhưng có sức đào bới rất khỏe. Với các chân và cả cơ thể di chuyển theo dạng sóng, cuốn chiếu có thể dễ dàng chui đầu xuống dưới đất sâu. Chúng cũng có khả năng "xây dựng" khá tốt, thể hiện trong việc củng cố các hang đào bằng các vật liệu sẵn có chung quanh. Cơ thể cuốn chiếu phân làm nhiều đốt và vì vậy chúng di chuyển theo dạng sóng, về phía trước và có thể cả về phía sau. Phần đầu của cuốn chiếu thường có dạng tròn ở mặt trên và dẹt ở mặt dưới, phần dưới của đầu cũng mang hàm nhai rất lớn. Cơ thể có hình dạng ống tuýp tròn hay dẹt, với một tấm làm bằng chitin ở lưng, mỗi tấm ở một bên hông, và 2 hay 3 tấm ở mặt bụng. Nhiều loài cuốn chiếu có các tấm này hòa lẫn với nhau ở các mức độ khác nhau, đôi khi hợp nhất lại thành một vòng hình nhẫn. Các tấm này rất cứng và được tích hợp các muối calci trong thành phần hóa học. Do không có các lớp chống thoát nước dạng sáp, cuốn chiếu dễ mất nước qua da và phải dành phần lớn thời gian chui rúc trong đất ẩm hay ở những nơi có không khí ẩm. Trái với rết hay các động vật có cấu tạo tương tự khác, mỗi đốt của cuốn chiếu có 2 cặp chân (từ đó hình thành cái tên "chân kép" "Diplopoda") chứ không phải 1 cặp. Nguyên do của việc này là, thật ra mỗi "đốt" của cuốn chiếu là do 2 đốt nhập lại với nhau ngay từ hồi giai đoạn bào thai; vì vậy chúng cũng được gọi là các "đốt kép". Một số đốt đầu nằm ngay sau phần đầu không nhập với nhau như vậy: đốt đầu tiên không có chân và được đặt tên là "đốt cổ", các đốt từ 2-4 chỉ có 1 cặp chân mỗi đốt. Đối với một số loài cuốn chiếu, một vài đốt cuối cùng cũng không có chân, và đốt ngay chót cùng của con vật mang một cái trâm. Cuốn chiếu hô hấp thông qua hai cặp lỗ thở tại mỗi đốt kép. Các lỗ thở này thông với một khoang trong cơ thể và từ đó nối thông với hệ thống khí quản. Tim chạy dọc theo chiều dài cơ thể với một động mạch chủ chạy tới đầu. Cơ quan bài tiết bao gồm một cặp vi quản Malpighi nằm gần phần giữa của ruột. Đầu cuốn chiếu có một cặp cơ quan cảm giác gọi là cơ quan Tömösváry. Chúng tọa lạc ngay tại phần trước và bên của râu và sắp xếp thành một vòng bầu dục ở gốc râu. Có khả năng cơ quan này được dùng để cảm nhận độ ẩm môi trường và có thể có khả năng cảm thụ các chất hóa học. Mắt của cuốn chiếu là mắt kép, bao gồm nhiều mắt đơn phẳng sắp xếp thành cụm ở trước và hai bên đầu. Nhiều loài cuốn chiếu, bao hàm các loài chuyên sống trong hang đào như "Causeyella", có mắt bị tiêu biến khi lớn lên. Theo Sách Kỷ lục Guinness loài cuốn chiếu châu Phi khổng lồ "Archispirostreptus gigas" có thể dài tới . Khẩu phần. Phần lớn các loài cuốn chiếu có nguồn thức ăn là thực vật, cụ thể là những phần cây, lá mục hoặc trộn lẫn trong đất. Một số loài cuốn chiếu là động vật ăn tạp hay động vật ăn thịt, con mồi của chúng là các loài chân khớp nhỏ như côn trùng, rết hay giun đất. Một số loài cuốn chiếu có phần phụ miệng nhọn như một chiếc kim tiêm, giúp chúng hút dịch quả. Hệ tiêu hóa của cuốn chiếu có dạng một đường ống đơn giản với hai tuyến nước bọt giúp tiêu hóa thức ăn. Nhiều loài cuốn chiếu dùng nước bọt thấm ướt và làm mềm thức ăn trước khi ăn chúng. Sinh sản. Cuốn chiếu đực có thể được phân biệt với cuốn chiếu cái bởi 1 hay 2 cặp chân đặc biệt được biến đổi thành chân giao cấu. Chân giao cấu thường nằm ở đốt thứ 7 và có tác dụng đưa các khối tinh dịch vào cơ thể cuốn chiếu cái trong quá trình giao phối. Một vài loài cuốn chiếu sinh sản đơn tính và trong quần thể có rất ít hoặc không có con đực. Lỗ sinh dục của cuốn chiều nằm ở đốt thứ 3 và ở con đực, nó thường đi kèm bởi 1 hay 2 dương vật, và chân sinh dục sẽ hứng lấy tinh dịch tiết từ dương vật để đưa vào cơ thể con cái. Lỗ sinh dục ở cuốn chiếu mở vào một khoang gọi là âm hộ - vốn được che phủ bởi một lớp có hình dạng như chiếc mũ trùm đầu, và có chức năng tích trữ tinh dịch nhận được sau khi giao phối. Mỗi lứa cuốn chiếu đẻ chừng 10-300 trứng, tùy theo loài, và trứng được thu tinh ngay khi đẻ bằng tinh trùng tích chứa trong âm hộ. Nhiều loài cuốn chiếu bỏ mặc trứng trên đất ẩm hay các vụn mục hữu cơ, nhưng một số loài khác xây tổ bảo vệ trứng bằng phân khô. Trứng cuốn chiếu sẽ nở trong vòng vài tuần và cuốn chiếu mới đẻ thường chỉ có 3 cặp chân, theo sau đó là 4 đốt không chân. Khi lớn lên, cuốn chiếu lột xác nhiều lần, sau mỗi lần lột xác thì số đốt và số chân tăng dần lên. Một số loài chỉ lột xác trong các hang đào được chuẩn bị đặc biệt - các hang này cũng là nơi trú ẩn trong mùa khô hạn - và đa số loài sau khi lột xác sẽ ăn luôn phần vỏ cũ. Tuổi thọ cuốn chiếu thường kéo dài từ 1-10 năm, tùy loài. Tự vệ. Do tốc độ di chuyển chậm và thiếu khả năng cắn, đốt, phương pháp tự vệ chủ yếu của cuốn chiếu là cuộn tròn cơ thể thành hình xoắn ốc nhằm sử dụng lớp vỏ cứng ở mặt lưng bảo vệ phần chân và các phần dễ tổn thương của cơ thể. Nhiều loài cuốn chiếu sở hữu một biện pháp phòng vệ thứ cấp là tiết ra một số chất độc hay khí hydro xyanua thông qua các lỗ siêu nhỏ tại các tuyến tiết mùi thơm dọc theo hai bên cơ thể. Một số chất độc này là các chất ăn da và có thể ăn mòn lớp vỏ của kiến cũng như của nhiều loài côn trùng săn mồi khác, cũng như làm bỏng da và mắt của các loài săn mồi to lớn hơn. Một số động vật như khỉ Capuchin được ghi nhận là đã cọ những con cuốn chiếu lên người để cơ thể được bao phủ lớp chất độc của cuốn chiếu, nhờ đó giúp cho khỉ không bị muỗi đốt. Ít nhất một loài cuốn chiếu là "Polyxenus fasciculatus" có mang trên mình những chiếc lông cứng để chống lại kiến. Đối với con người, nọc độc của cuốn chiếu không nguy hiểm. Chúng thường chỉ gây ra những tác động nhỏ, chủ yếu là làm mất màu da. Tuy nhiên một số nọc độc mạnh hơn có thể gây đau nhức, phù, ban đỏ, rộp da, eczema và nứt da. Nếu nọc độc dây vào mắt có thể gây đau mắt hoặc các hệ quả nghiêm trọng hơn như viêm màng kết và viêm giác mạc. Các biện pháp sơ cứu bao gồm rửa sạch nơi nhiễm độc bằng nước, sau đó là làm giảm nhẹ tác động của nọc tại nơi nhiễm. Phân loài. Những loài cuốn chiếu hiện còn sống được chia làm 15 bộ trong 3 phân lớp. Phân lớp cơ sở Penicillata bao hàm 160 loài có bộ xương ngoài chưa được calci hóa và được bao phủ bởi lông cứng. Những loài cuốn chiếu khác, theo định nghĩa khắt khe, thuộc về nhóm Chilognatha. Phân lớp Pentazonia bao hàm các loài sâu đá với thân hình rất ngắn và khi cuộn tròn lại nhìn trông như quả bóng. Phân lớp Helminthomorpha bao hàm phần lớn các loài cuốn chiếu được biết. Các phân nhóm của cuốn chiếu theo thứ tự phân loài học từ loài cơ sở nhất đến loài tiến hóa cao nhất là:
1
null
Trần Trung Lập (? - 1940) là một nhà cách mạng Việt Nam chống Pháp, tư lệnh Việt Nam Kiến quốc quân. Thân thế và tham gia cách mạng. Nguyên quán ông ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, sau gia đình ông ra cư ngụ ở tỉnh Bắc Giang. Từ thời trẻ, ông sớm bộc lộc nhiệt thành yêu nước. Đầu thập niên 1910, ông xuất dương ra nước ngoài liên lạc với chí sĩ Phan Bội Châu. Ông gia nhập Việt Nam Quang phục Hội, được chọn cử đi học về quân sự ở Quảng Châu để làm nòng cốt cho lực lượng Quang phục quân về sau. Chiến đấu trong lực lượng Quang phục quân. Tháng 3 năm 1915, Việt Nam Quang phục Hội chủ trương đánh úp Móng Cái, Lạng Sơn, Hà Khẩu với ba đường do Nguyễn Mạnh Hiếu, Nguyễn Thượng Hiền và Hoàng Trọng Mậu chỉ huy. Do bất đồng nội bộ nên cuối cùng, chỉ mỗi lực lượng của Hoàng Trọng Mậu tiến hành cuộc tấn công đồn Tà Lùng thuộc châu Đà Long (nay thuộc thị trấn Tà Lùng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng), dự định chiếm lĩnh và lập căn cứ trên đất Việt sửa soạn cho cuộc tổng khởi nghĩa. Đêm 12, rạng ngày 13 tháng 3 năm 1915, Trần Trung Lập tham gia đoàn nghĩa quân Quang phục Hội do Hoàng Trọng Mậu và Đinh Hồng Việt chỉ huy, xuất phát từ Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), vượt biên giới, tập kích đánh vào đồn Tà Lùng. Cùng đi trong đoàn quân này có nhà cách mạng Vũ Hải Thu, lãnh tụ tương lai của tổ chức Việt Cách sau này. Tuy nhiên, cuộc tập kích thất bại chỉ một giờ sau đó, khii không công phá được đồn và lực lượng tiếp viện của quân Pháp kéo đến. Sau hơn một giờ giao tranh mà không phá được, nghĩa quân phải rút lui về Trung Quốc khi trời dần sáng. Không lâu sau, các thủ lĩnh Hoàng Trọng Mậu và Đinh Hồng Việt cũng bị thực dân Pháp bắt được và xử tử. Lực lượng Quang phục quân tan rã, nhiều chí sĩ, nghĩa quân bị bắt giam, tù đày. Tháng 8 năm 1917, ông cùng với một số thành viên Quang phục Hội, bắt liên lạc với Lương Ngọc Quyến, chuẩn bị cho Khởi nghĩa Thái Nguyên. Đêm 30 tháng 8 năm 1917, khởi nghĩa nổ ra. Nghĩa quân nhanh chóng chiếm được thành Thái Nguyên và làm chủ toàn tỉnh lỵ, truyền hịch kêu gọi các nơi hưởng ứng nổi dậy cùng ngoại viện từ bên Trung Quốc và Nhật đến vì tin rằng Việt Nam Quang phục Hội có lực lượng đợi sẵn để trợ lực. Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa cũng tuyên bố độc lập, lấy quốc hiệu là "Đại Hùng", cho trương cờ Ngũ tinh liên châu của Việt Nam Quang phục Hội trên cửa thành. Tuy nhiên, đến ngày 2 tháng 9 năm 1917 thì quân Pháp bắt đầu phản công. Nghĩa quân tan vỡ, Lương Ngọc Quyến tử thương, Đội Cấn sau đó dẫn số nghĩa quân còn lại đào thoát nhưng bị quân Pháp truy kích quyết liệt nên số còn lại cũng nhanh chóng tan rã. Đội Cấn sau đó tự sát để không bị bắt. Trần Trung Lập và một số đồng chí đào thoát được trở lại sang Trung Quốc tìm cách gây dựng lại lực lượng. Xây dựng lực lượng Kiến quốc quân. Bấy giờ, đất nước Trung Hoa đang trong thời kỳ hỗn chiến giữa các quân phiệt. Trong gần 20 năm, Trần Trung Lập và các đồng chí gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển lực lượng, vừa chiêu mộ thêm thành viên, vừa tìm cách học hỏi thêm kiến thức quân sự. So với các vùng khác, địa bàn Quảng Châu có nhiều thuận lợi khi các lực lượng cách mạng Trung Quốc lấy nơi đây làm cơ bản để từng bước phát triển lực lượng chống lại các quân phiệt. Khi Chiến tranh Trung-Nhật, Quảng Châu nhanh chóng rơi vào tầm kiểm soát của quân Nhật. Với sự hỗ trợ của người Nhật, hoàng thân Cường Để đã tìm cách tập hợp các đồng chí Việt Nam tại miền Nam Trung Hoa như Vũ Hải Thu, Đặng Sư Mặc, Trần Trung Lập, và Hoàng Nam Hùng... Nhân cơ hội Pháp đầu hàng Đức tại Âu châu, phải ký hàng loạt các hiệp ước nhường cho Nhật nhiều đặc quyền quân sự và kinh tế ở Đông Dương. Trong đó có hiệp ước ký ngày 30-8-1940, Pháp đồng ý để quân đội Nhật được hưởng một số tiện nghi quân sự ở Bắc Việt nhắm chấm dứt tranh chấp với Trung Hoa. Trần Trung Lập, chỉ huy Việt Nam Kiến Quốc Quân, đánh chiếm Lạng Sơn vào ngày 23 tháng 9 năm 1940. Tuy nhiên sau đó Nhật thỏa thuận với Pháp ngưng yểm trợ cho Việt Nam Kiến quốc quân. Thua trận, Trần Trung Lập bị Pháp bắt tại Bắc Giang ngày 26-12-1940, hai ngày sau ông bị xử bắn. Tên ông được đặt cho một con đường ở Q.6, TP. Hồ Chí Minh
1
null
Nhà máy điện gió Bạc Liêu là nhà máy điện gió đặt tại ấp Biển Đông A, xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Đây là nhà máy điện gió ven biển đầu tiên của Việt Nam và lớn nhất cả nước, được xây từ năm 2010. Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 3 năm 2020 đã đóng góp cho mạng lưới điện quốc gia 1 tỷ kWh. Xây dựng và năng lực. Dự án xây dựng nhà máy được chia làm 3 giai đoạn, chủ đầu tư dự án là Công ty trách nhiệm hữu hạn Xây dựng - Thương mại và Du lịch Công Lý, vốn đầu tư 5.217 tỷ đồng, công trình trên diện tích 1.300 ha. Dự án điện gió Bạc Liêu được đầu tư bằng nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng Xuất - nhập khẩu Hoa Kỳ (US-Exim). Giai đoạn 1. Khởi công ngày 9 tháng 9 năm 2010, tính đến tháng 10 năm 2012, đã có 10 trụ và turbin gió được lắp đặt xong, hoàn thành giai đoạn 1, công suất 16 MW. Vốn cho giai đoạn này là 963 tỷ đồng. Nhà máy đưa điện vào thương mại vào tháng 8 năm 2013 trong đó trụ được đưa vào thương mại đầu tiên là vào ngày 29 tháng 5 năm 2013. Giai đoạn 2. Khởi công vào tháng 11 năm 2013, đến ngày 17 tháng 1 năm 2016, hoàn thành giai đoạn 2, nhà máy có thêm 52 trụ turbin điện gió với công suất hơn 83 MW. Vốn cho giai đoạn này là 4.254 tỷ đồng. Giai đoạn này hoàn thành đã nâng lên tổng cộng 62 trụ turbin gió với tổng công suất là 99,2 MW và điện năng sản xuất mỗi năm khoảng 320 triệu kWh. Giai đoạn 3. Dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu giai đoạn 3 có công suất lắp máy 142 MW với thêm 71 trụ turbin gió, khởi công ngày 30 tháng 1 năm 2018. Mỗi trụ turbin có công suất khoảng 2,5 - 3,5 MW, sản lượng điện dự kiến phát hàng năm là 373 triệu kWh Khi giai đoạn 3 của dự án hoàn thành, nhà máy sẽ có tổng cộng 133 trụ turbin gió, nâng tổng công suất lên 241,2 MW, vốn dự kiến 8.850 tỷ đồng. Mỗi turbin có công suất xấp xỉ 1,6 MW do hãng General Electrics (GE) cung cấp, cấu tạo thép đặc biệt không gỉ, cao 80 m, đường kính 4 m, nặng trên 200 tấn, cánh quạt được làm bằng nhựa đặc biệt, dài 42 m, có hệ thống điều khiển tự gập lại để tránh hư hỏng khi bão lớn. Loại turbine này có chất lượng công nghệ cao, đã được GE nghiên cứu nhiệt đới hóa. Toàn bộ hệ thống được xây dựng trên biển, vùng có điều kiện địa chất công trình phức tạp với chiều dày lớp đất yếu lớn. Công ty nghiên cứu thiết kế móng trụ turbine là Công ty CP tư vấn thiết kế XD Giao thông thủy (TEDI WECCO) thuộc TCT Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải (TEDI). Vai trò kinh tế, xã hội. Dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu được xem là đầu tư lớn nhất của Bạc Liêu, khai phá vùng bãi bồi ven biển tạo ra năng lượng sạch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của vùng đồng bằng sông Cửu Long, góp phần phát triển đất nước. Dự án là 1 trong 5 trụ cột phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Nhà máy điện gió Bạc Liêu đón nhận 200.000 lượt khách du lịch đến tham quan mỗi năm.
1
null
Vệ Huệ công (chữ Hán: 衞惠公; trị vì: 699 TCN-696 TCN và 688 TCN-669 TCN), tên thật là Vệ Sóc (衞朔), là vị vua thứ 16 của nước Vệ – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Sát hai huynh đoạt vị. Vệ Sóc là con trai út của Vệ Tuyên công - quốc quân đời thứ 15 của Vệ quốc, mẫu thân là bà Tuyên Khương, vốn là công chúa Tề quốc. Trước kia Tuyên công vụng trộm với nàng hầu của phụ thân là Di Khương, sinh được một con trai đặt tên là Cấp Tử. Khi Cấp Tử đến tuổi trưởng thành, Tuyên công cầu hôn công chúa nước Tề cho Cấp Tử, nhưng sau lại thấy Tuyên Khương là người có nhan sắc, bèn cướp là vợ mình, đưa vào ở Tân đài. Tuyên Khương sau đó sinh được hai con, đặt tên là Thọ Tử và Sóc Tử. Khi hai công tử của Tuyên Khương trưởng thành, thì tính tình trái ngược nhau. Thọ thì hiền hậu, nhân từ, tôn kính trưởng huynh Cấp Tử, còn Sóc thì lòng dạ hiểm ác, có ý tranh đoạt ngôi trừ vị. Tuyên công vì sủng ái Di Khương nên cũng có ý lập con của bà làm Thế tử mà phế truất Cấp Tử. Trong ngày sanh nhật Cấp Tử, công tử Thọ đến chúc mừng, hai bên rất là tương đắc. Công tử Sóc có ý bực mình, gièm pha với mẹ rằng Cấp Tử bắt mình phải gọi hắn là cha, vì cớ ngày xưa Tuyên Khương đáng lẽ phải là vợ Cấp Tử. Bà Tuyên Khương do vậy lo sợ ngày sau nếu Cấp Tử lên ngôi thì sẽ trả thù mình, nên gièm pha cùng Tuyên công. Tuyên công bèn gọi Di Khương đến trách mắng khiến bà sinh hận tự tử. Sau đó công tử Sóc lại bày kế với Tuyên công sai Cấp Tử đi sứ Tề quốc, rồi mướn sát thủ chặn đường giết chết. Việc bị công tử Thọ biết được, bèn cố tình chuốc rượu Cấp Tử rồi giả mạo làm Cấp Tử để chịu chết thay. Cấp Tử tỉnh dậy biết Thọ chết thế mình, bèn đi lên gặp bọn sát thủ và xưng là thân phận thực sự, bọn sát thủ giết luôn Cấp Tử. Vệ Tuyên công bèn lập Sóc làm thế tử. Kế vị và bị lật đổ. Năm 700 TCN, Vệ Tuyên công vì bị ám ảnh bởi cái chết của hai vị công tử mà sinh bệnh rồi chết. Vệ Sóc lên nối ngôi, tức là Vệ Huệ công, bấy giờ còn nhỏ tuổi. Năm 697 TCN, Tống Trang công không ủng hộ Trịnh Chiêu công nên kêu gọi chư hầu các nước Lỗ, Vệ, Trần, Sái đánh Trịnh. Vệ Huệ công hưởng ứng, nhưng cuối cùng liên quân không thắng phải rút lui. Công tử Chức và công tử Tiết vốn là người được Vệ Tuyên công giao giúp Cấp Tử và công tử Thọ, đều rất bất bình việc Vệ Huệ công được lập. Tháng 11 năm 697 TCN, công tử Tiết và công tử Chức làm binh biến, Vệ Huệ công phải bỏ chạy sang nước Tề. Công tử Chức và công tử Tiết lập em cùng mẹ của Cấp Tử là công tử Kiềm Mâu lên ngôi. Vệ Huệ công được cữu phụ là Tề Tương công cho nương nhờ. Phục vị. Vệ Huệ công xin nước Tề cứu giúp. Tề Tương công khi đó vì cớ Kiềm Mâu là phò mã của Vương thất, mà mình đang cầu hôn với nhà Chu, nên nhiều lần chần chừ. Đến sau khi nàng Vương cơ đã chết mới triệu tập các nước Lỗ, Tống, Sái mấy lần cùng Tề mang quân đánh Vệ, nhưng không thắng được. Năm 688 TCN, Tề Tương công lại tiến vào nước Vệ. Kiềm Mâu sai người cầu cứu nhà Chu. Chu Trang Vương sai Tử Đột đi cứu Vệ. Quân nhà Chu ít và yếu không địch nổi quân Tề. Tử Đột tử trận, Kiềm Mâu bỏ chạy sang nhà Chu. Tề Tương công giết công tử Tiết, công tử Chức và lập lại Vệ Huệ công. Để củng cố quân vị của Vệ Huệ công, Tề Tương công ép em gái mình là Tuyên Khương tái giá với Chiêu bá Ngoan cũng là một người em cùng mẹ với Cấp Tử, để ngăn ngừa Ngoan nổi loạn. Tuyên Khương ở với Ngoan sinh được hai con trai, về sau chính là Vệ Đới công và Vệ Văn công. Năm 681 TCN, Tống quốc có loạn: Nam Cung Trường Vạn sát hại Tống Mẫn công. Người nước Tống cùng nhau lập em Mẫn công là Hoàn công lên ngôi và tiến đánh về kinh, Nam Cung Trường Vạn chạy sang nước Trần, còn tướng khác theo Tử Du là Mạnh Hoạch bỏ chạy sang nước Vệ. Vệ Huệ công muốn dung nạp Mạnh Hoạch không trả cho nước Tống, nhưng Thạch Kỳ Tử khuyên nên trả cho nước Tống, không nên chứa kẻ phản loạn. Vệ Huệ công bèn bắt Mạnh Hoạch trả cho nước Tống. Năm 675 TCN, đại thần Biên Bá nhà Chu bất mãn vì Chu Huệ Vương, cùng 4 đại thần khác ngầm mượn quân chư hầu của Yên Trang công và Vệ Huệ công về đánh Chu Huệ vương. Vệ Huệ công vì oán nhà Chu từng ủng hộ Vệ Kiềm Mâu nên nhận lời giúp Biên Bá, cùng Yên Trang công đánh Chu Huệ Vương. Thiên tử nhà Chu bỏ chạy sang nương nhờ nước Trịnh. Biên Bá lập vương tử Đồi lên ngôi vua. Năm 673 TCN Trịnh Lệ công cùng Quắc công liên minh giúp Huệ vương, mang quân đánh Lạc ấp, giết chết Tử Đồi và dựng lại Chu Huệ vương. Năm 669 TCN, Vệ Huệ công mất. Ông làm vua lần thứ nhất được 4 năm, lần thứ 2 được 20 năm, tổng cộng 24 năm. Con ông là Cơ Xích lên nối ngôi, tức là Vệ Ý công.
1
null
Vệ Kiềm Mâu (chữ Hán: 衞黔牟; trị vì: 695 TCN-688 TCN), tên thật là Cơ Kiềm Mâu (姬黔牟), là vị vua thứ 17 nước Vệ – một chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Vệ Kiềm Mâu là con thứ của Vệ Tuyên công – vua thứ 15 nước Vệ và là em của thế tử Cấp Tử - con trưởng của Vệ Tuyên công. Mẹ ông là Di Khương, cũng là mẹ của Cấp Tử. Do sự hãm hại của cha, mẹ kế Tuyên Khương và em Cơ Sóc, Cấp Tử và một người em khác là công tử Thọ bị giết. Cơ Sóc được lập làm thế tử. Năm 700 TCN, Vệ Tuyên công mất, người em con vợ thứ của cha là Cơ Sóc lên nối ngôi, tức là Vệ Huệ công. và , hai em của Tuyên công, vốn được Tuyên công giao giúp Cấp Tử và công tử Thọ, đều rất bất bình việc Vệ Huệ công được lập. Tháng 11 năm 697 TCN, công tử Tiết và công tử Chức làm đảo chính, Huệ công phải bỏ chạy sang nước Tề. Công tử Chức và công tử Tiết lập Kiềm Mâu lên ngôi, còn gọi là Công tử Kiềm Mâu hay Vệ Kiềm Mâu. Vệ Huệ công xin nước Tề cứu giúp. Tề Tương công bèn gọi các nước Lỗ, Tống, Sái mấy lần cùng Tề mang quân đánh Vệ, nhưng không thắng được. Năm 688 TCN, Tề Tương công lại tiến vào nước Vệ. Kiềm Mâu sai người cầu cứu nhà Chu. Chu Trang Vương sai Tử Đột đi cứu Vệ. Quân nhà Chu ít và yếu không địch nổi quân Tề. Tử Đột tử trận, Kiềm Mâu bỏ chạy sang nhà Chu. Tề Tương công giết công tử Tiết, công tử Chức. Tề Tương công lập lại Vệ Huệ công. Vệ Kiềm Mâu làm vua được 8 năm, không rõ kết cục ra sao.
1
null
Cá ép thông thường (danh pháp khoa học: Remora remora) là một loài cá thuộc họ Cá ép. Vây lưng của nó đó có 22 - 26 vây tia mềm, có vai trò như một cốc hút, tạo ra một chân không để cho phép nó để bám vào các động vật biển lớn hơn, chẳng hạn như cá voi, cá heo, cá mập và rùa biển. Loài cá này có một vây lưng và vây hậu môn như giác hút. Cơ thể của nó có thể là màu nâu, đen hoặc màu xám. Cá ép thông thường và vật chủ bị nó bám dường như tham gia vào một mối quan hệ hội sinh, chứ không có vẻ gây tác động tiêu cực con cá chủ của nó. Con cá chủ cung cấp nước chuyển động nhanh để rửa mang của nó và một luồng thực phẩm ổn định, mang nó đi theo và bảo vệ nó. Cá ép thông thường bám vào con chủ trong thời gian có thể kéo dài đến ba tháng. Trong thời gian này, cá ép thông thường có thể di chuyển nơi bám của nó nếu nó cảm thấy bị đe dọa. Nó không thể tồn tại trong nước tĩnh lặng; nó cần dòng nước chảy qua mang của nó để cung cấp oxy. Loài cá này được tìm thấy trong vùng nước biển ấm áp và đã được nhìn thấy ở Tây Địa Trung Hải và Đại Tây Dương, cũng như Biển Bắc. Một cặp cá ép thông thường giao phối có thể bám vào cùng một vật chủ, và trung thành với con chủ. Cá ép thông thường ăn thức ăn thừa từ con cá chủ của nó, cũng như các sinh vật phù du và các loài chân chèo ký sinh trùng.
1
null
Ga Bình Thuận trước đây có tên gọi là Ga Mương Mán, là một nhà ga chính trên tuyến đường sắt Bắc Nam tại xã Mương Mán, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận nằm giữa ga Hàm Liêm và ga Hàm Cường Tây. Ga Bình Thuận cách ga Diêu Trì 456 km về phía bắc, cách ga Nha Trang 236 km về phía bắc, cách ga Tháp Chàm 144 km về phía bắc, cách ga Biên Hoà 146 km về phía nam và cách ga Sài Gòn 175 km về phía nam. Lý trình ga: Km 1551 + 150. Ga còn có 1 đường tàu khác dẫn về Ga Phan Thiết thuộc thành phố Phan Thiết (cách Ga Bình Thuận khoảng 9 km). Ga Bình Thuận do Xí nghiệp vận tải đường sắt Sài Gòn quản lý, với năng lực xếp dỡ hàng hóa 10 xe/ngày.
1
null
Bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính, theo đó một doanh nghiệp bán các khoản phải thu của nó (ví dụ, các hóa đơn) cho một bên thứ ba (gọi là người bao thanh toán) với một chiết khấu. Trong bao thanh toán "ứng trước", người bao thanh toán cung cấp tài chính cho người bán các khoản phải thu trong hình thức của một tiền mặt "ứng trước," thường 70-85% so với giá mua của các khoản, với số dư của giá mua đã được trả tiền, ròng phí chiết khấu của người bao thanh toán (hoa hồng) và các tính phí khác, khi thu thập từ khách hàng của tài khoản. Trong bao thanh toán "trưởng thành", người bao thanh toán không ứng trước trên các tài khoản đã mua; đúng hơn, giá mua được thanh toán vào hoặc vào khoảng thời gian đáo hạn trung bình của các tài khoản được mua trong cả loạt. Bao thanh toán không phải là gì? Bao thanh toán không truy đòi không phải là một khoản vay. Một người cho vay quyết định cấp tín dụng cho một công ty dựa trên tài sản, lưu chuyển tiền tệ và lịch sử tín dụng. Một người bao thanh toán quan tâm nhiều hơn với tín dụng xứng đáng của các khách hàng của công ty. Nghiệp vụ bao thanh toán thường được cấu trúc như một mua một tài sản tài chính, cụ thể là các khoản phải thu. Một bao thanh toán không truy đòi giả định "rủi ro tín dụng" mà một tài khoản sẽ không thu được chỉ do không có khả năng tài chính của con nợ tài khoản phải trả. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, nếu bao thanh toán không chịu rủi ro tín dụng trong các tài khoản đã mua, trong hầu hết trường hợp tòa án sẽ xếp loại lại nghiệp vụ này như một cho vay bảo đảm. Nó khác với forfaiting theo nghĩa forfaiting là một hoạt động dựa trên nghiệp vụ liên quan đến các nhà xuất khẩu, trong đó hãng bán một trong các nghiệp vụ của nó, trong khi bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính liên quan tới việc bán một phần các khoản phải thu của hãng này. Bao thanh toán là một từ thường bị lạm dụng đồng nghĩa với "chiết khấu hóa đơn", được gọi là "chuyển nhượng các khoản phải thu" trong Kế toán Mỹ ("Những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung"/ "GAAP" được nhân giống bởi FASB) - bao thanh toán là việc bán các khoản phải thu, trong khi chiết khấu hóa đơn là việc vay khi mà khoản phải thu được sử dụng làm tài sản thế chấp. Tuy nhiên, trong một số thị trường khác, chẳng hạn như Vương quốc Anh, chiết khấu hóa đơn được coi là một hình thức bao thanh toán liên quan đến việc chuyển nhượng các khoản phải thu và được bao gồm trong thống kê bao thanh toán chính thức. Do đó nó không được coi là vay ở Anh. Ở Anh sắp xếp thường được giữ bí mật trong đó con nợ không được thông báo về việc chuyển nhượng khoản phải thu và người bán khoản phải thu tiến hành thu nợ thay cho người bao thanh toán. Tại Anh, khác biệt chính giữa bao thanh toán và chiết khấu hóa đơn là tính bí mật. Bao thanh toán làm việc như thế nào. Ba bên liên quan trực tiếp là: người bán khoản phải thu, con nợ (con nợ tài khoản, hoặc khách hàng của người bán), và bao thanh toán. Khoản phải thu bản chất là một tài sản tài chính liên quan đến trách nhiệm nợ của con nợ trả tiền nợ cho người bán (thường là cho công việc đã thực hiện hoặc hàng hoá bán ra). Người bán sau đó bán một hoặc nhiều hoá đơn của nó (các khoản phải thu) với giá giảm cho bên thứ ba, tổ chức tài chính chuyên biệt (còn gọi là người bao thanh toán), thường là, trong bao thanh toán ứng trước, để có được tiền mặt. Việc bán các khoản phải thu về cơ bản chuyển quyền sở hữu của các khoản phải thu cho người bao thanh toán, bằng cách chỉ định người bao thanh toán có được tất cả các quyền liên quan đến các khoản phải thu. Theo đó, người bao thanh toán có được quyền nhận các khoản thanh toán của con nợ với số tiền hóa đơn và, trong bao thanh toán miễn truy đòi, phải chịu những tổn thất nếu con nợ tài khoản không trả số tiền hóa đơn chỉ do mình hoặc không có khả năng tài chính để trả tiền. Thông thường, các con nợ tài khoản được thông báo về việc bán khoản phải thu, và người bao thanh toán khởi kiện con nợ và làm tất cả các thu thập, tuy nhiên, bao thanh toán không thông báo, khi mà khách hàng (người bán) thu thập các khoản bán cho người bao thanh toán, như là đại lý của người bao thanh toán, cũng xảy ra. Có ba phần chính đối với nghiệp vụ bao thanh toán "ứng trước"; (a) ứng trước, một tỷ lệ phần trăm của mệnh giá hóa đơn được thanh toán cho bên bán tại thời điểm bán, (b) dự trữ, phần còn lại của giá mua được giữ cho đến khi thanh toán bởi con nợ tài khoản được thực hiện và (c) phí chiết khấu, chi phí liên quan đến nghiệp vụ được trích từ dự trữ, cùng với các chi phí khác, khi thu thập, trước khi dự trữ được giải ngân cho khách hàng của bao thanh toán. Đôi khi bao thanh toán tính phí người bán ("khách hàng" của bao thanh toán) cả một phí chiết khấu, cho giả thiết của bao thanh toán về rủi ro tín dụng và các dịch vụ khác được cung cấp, cũng như tiền lãi trên ứng trước của bao thanh toán, căn cứ vào thời gian ứng trước, thường được coi như một cho vay (được hoàn trả bằng set-off với nghĩa vụ mua của bao thanh toán, khi tài khoản được thu thập), là đáng chú ý. Bao thanh toán cũng ước tính số tiền mà có thể không được thu thập do không thanh toán, và tính toán điều này trong giá cả, khi xác định giá mua phải trả cho người bán. Lợi nhuận tổng thể của bao thanh toán là sự khác biệt giữa giá nó trả tiền cho hóa đơn và số tiền nhận được từ con nợ, trừ đi số tiền bị mất do không thanh toán. Xử lý theo GAAP. Tại Hoa Kỳ, dưới các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung các khoản phải thu được coi là "đã bán", theo Tuyên bố các chuẩn mực kế toán tài chính số 140, khi người mua "không truy đòi". Hơn nữa, để xử lý các nghiệp vụ như một bán hàng theo GAAP, trách nhiệm nợ tiền của người bán dưới bất kỳ điều khoản "truy đòi" nào phải được dễ dàng ước tính tại thời điểm bán hàng. Nếu không, nghiệp vụ tài chính được coi là một "cho vay", với các khoản phải thu được sử dụng như tài sản thế chấp. Lịch sử. Nguồn gốc của bao thanh toán nằm trong tài trợ thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế. Người ta nói rằng bao thanh toán bắt nguồn từ văn hóa Lưỡng Hà cổ đại, với các quy tắc của bao thanh toán được bảo vệ trong Quy phạm luật pháp của Hammurabi. Bao thanh toán như một thực tế của cuộc sống kinh doanh được tiến hành trong nước Anh trước năm 1400, và nó đã đến Mỹ với người hành hương, khoảng năm 1620. Nó xuất hiện để có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động ngân hàng bán buôn ban đầu. Tuy nhiên sau này tiến hóa bằng cách mở rộng tới tài chính phi thương mại liên quan như nợ có chủ quyền. Như tất cả các công cụ tài chính, bao thanh toán đã tiến hóa qua nhiều thế kỷ. Điều này đã được thúc đẩy bởi những thay đổi trong tổ chức của các công ty, công nghệ, đặc biệt là du hành đường không và các công nghệ truyền thông không đối mặt bắt đầu với điện báo, tiếp theo là điện thoại và sau đó máy tính. Những điều này cũng thúc đẩy và được thúc đẩy bởi những biến đổi của khuôn khổ pháp luật phổ biến ở Anh và Hoa Kỳ. Các chính phủ là người đến trễ để tạo thuận lợi cho thương mại được tài trợ bởi bao thanh toán. Thông luật Anh ban đầu cho rằng trừ khi con nợ đã được thông báo, sự chuyển nhượng giữa người bán hoá đơn và người bao thanh toán là không hợp lệ. Điều chỉnh pháp luật Chính phủ Liên bang Canada sự chuyển nhượng của tiền được sở hữu bởi nó vẫn phản ánh lập trường này cũng như pháp luật của chính quyền tỉnh theo mô hình của nó. Mãi đến cuối thế kỷ hiện tại các tòa án đã nghe các lập luận rằng không có thông báo của con nợ sự chuyển nhượng đã là không hợp lệ. Tại Hoa Kỳ, năm 1949 phần lớn các chính quyền tiểu bang đã thông qua một quy tắc mà con nợ không phải được thông báo, như vậy mở ra khả năng sắp xếp bao thanh toán không thông báo. Ban đầu ngành công nghiệp đã chiếm hữu thực tế hàng hóa, cung cấp tiền mặt ứng trước cho nhà sản xuất, tài trợ tín dụng mở rộng tới người mua và bảo hiểm sức mạnh tín dụng của người mua. Ở Anh kiểm soát thương mại do đó thu được kết quả trong một Đạo luật của Quốc hội vào năm 1696 để giảm thiểu các thế lực độc quyền trong những người bao thanh toán. Với sự phát triển của các doanh nghiệp lớn đã xây dựng lực lượng bán hàng của riêng mình, các kênh phân phối, và hiểu biết về sức mạnh tài chính của khách hàng của họ, nhu cầu cho các dịch vụ bao thanh toán đã được định hình lại và ngành công nghiệp và trở thành chuyên biệt hơn. Đến thế kỷ XX ở Hoa Kỳ bao thanh toán vẫn là hình thức chủ yếu để tài trợ vốn lưu động cho tốc độ tăng trưởng cao sau đó của công nghiệp dệt may. Trong ngành này bao thanh toán xảy ra bởi vì cấu trúc của hệ thống ngân hàng Mỹ với vô số các ngân hàng nhỏ và các hạn chế hậu quả trên số tiền mà có thể được tạm ứng một cách thận trọng bởi bất kỳ một ngân hàng nào trong số họ cho một công ty. Ở Canada, với các ngân hàng quốc gia của nó những hạn chế là ít hạn chế và do đó bao thanh toán đã không phát triển rộng rãi như ở Mỹ. Dù sao thì sau đó bao thanh toán cũng đã trở thành hình thức thống trị của tài chính trong công nghiệp dệt may Canada. Bao thanh toán hiện đại. Lý do bao thanh toán ngày nay vẫn còn bao gồm nhiệm vụ tài chính của việc ứng trước các quỹ cho các công ty nhỏ phát triển nhanh chóng bán cho các tổ chức có uy tín tín dụng lớn hơn. Trong khi hầu như không chiếm hữu của hàng bán, những người bao thanh toán cung cấp các kết hợp khác nhau của tiền bạc và dịch vụ hỗ trợ khi ứng trước các quỹ. Những người bao thanh toán thường cung cấp cho khách hàng của họ bốn dịch vụ chính: thông tin về độ tin cậy tín dụng của khách hàng tiềm năng của họ trong nước và quốc tế, và, trong bao thanh toán miễn truy đòi, chấp nhận rủi ro tín dụng cho các tài khoản "đã được chấp thuận"; giữ được lịch sử thanh toán của khách hàng (ví dụ, sổ kế toán các khoản phải thu); báo cáo quản lý hàng ngày trên các khoản thu; và, làm các cuộc gọi thực thu. Chức năng tín dụng bên ngoài mở rộng thị trường địa chỉ hiệu quả các công ty nhỏ và bảo vệ nó khỏi tác động phá hoại đe dọa sự sống còn của một phá sản hoặc khó khăn tài chính của một khách hàng lớn. Một dịch vụ quan trọng thứ hai là hoạt động của các chức năng các tài khoản phải thu. Dịch vụ này loại bỏ sự cần thiết và chi phí cho đội ngũ nhân viên có tay nghề cao thường xuyên được thấy trong các công ty lớn. Mặc dù ngày nay thậm chí họ đang outsourcing các chức năng văn phòng phía sau như vậy. Quan trọng hơn, các dịch vụ này bảo hiểm cho các doanh nhân và người chủ chống lại một nguồn chính của một cuộc khủng hoảng thanh khoản và vốn chủ sở hữu của họ. Trong nửa sau của thế kỷ XX sự ra đời của máy tính giảm bớt gánh nặng kế toán của các bao thanh toán và sau đó các công ty nhỏ. Điều này cũng xảy ra đối với khả năng của họ để có được thông tin về mức độ tín nhiệm nợ của con nợ. Giới thiệu của Internet và các trang web đã tăng tốc quá trình này trong khi giảm chi phí. Thông tin tín dụng và bảo hiểm ngày nay có sẵn bất cứ lúc nào trong ngày hay đêm trên mạng. Trang web cũng đã làm cho nó có thể đối với các bao thanh toán và khách hàng của họ để cộng tác trong thời gian thực trên các thu thập. Chấp nhận các văn bản ký kết cung cấp bằng fax như là ràng buộc pháp lý đã loại bỏ sự cần thiết phải bàn giao các "bản gốc" vật lý, do đó làm giảm sự chậm trễ thời gian cho các doanh nhân. Với những tiến bộ trong công nghệ này, các nhà cung cấp dịch vụ bao thanh toán hóa đơn thường thích ứng với một ngành công nghiệp cụ thể. Điều này thường ảnh hưởng đến các dịch vụ khác được cung cấp bởi bao thanh toán để thích ứng tốt nhất dịch vụ bao thanh toán cho các nhu cầu của doanh nghiệp. Một ví dụ về điều này bao gồm một bao thanh toán chuyên gia tuyển mộ cung cấp bảng lương và hỗ trợ văn phòng phía sau với điều kiện bao thanh toán; một bao thanh toán phân phối/bán buôn có thể không cung cấp dịch vụ bổ sung này. Những khác biệt này có thể ảnh hưởng đến chi phí của điều kiện, cách tiếp cận bao thanh toán sử dụng khi thu thập tín dụng, các dịch vụ hành chính trong điều kiện và kích cỡ tối đa hoá đơn có thể được bao thanh toán. Đến thập niên đầu của thế kỷ hai mươi mốt một lý do chính sách công cơ bản cho bao thanh toán vẫn là sản phẩm rất phù hợp cho các nhu cầu của các công ty phát triển nhanh chóng cải tiến có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Một lý do chính sách công thứ hai là cho phép kinh doanh tốt về cơ bản được miễn các thử nghiệm mất thời gian và quản lý tốn kém cùng các đau khổ của bảo hộ phá sản cho các nhà cung cấp, nhân viên và khách hàng hoặc để cung cấp một nguồn kinh phí trong quá trình tái cơ cấu công ty để nó có thể tồn tại và phát triển. Cơ sở hợp lý cho việc sử dụng bao thanh toán. Bao thanh toán là một phương pháp được sử dụng bởi một số công ty để có được tiền mặt. Một số công ty bao thanh toán các tài khoản khi số dư tiền mặt có sẵn do công ty nắm giữ không đủ đáp ứng các nghĩa vụ hiện tại và đáp ứng các nhu cầu tiền mặt khác của nó, chẳng hạn như đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mới; tuy nhiên, trong các ngành công nghiệp khác, chẳng hạn như hàng dệt may hoặc may mặc, ví dụ, các công ty có tài chính lành mạnh bao thanh toán các tài khoản của họ đơn giản chỉ vì đây là phương pháp tài chính có tính lịch sử. Việc sử dụng bao thanh toán để có được tiền mặt cần thiết đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngay lập tức của một công ty sẽ cho phép công ty duy trì một số dư tiền mặt hoạt động nhỏ hơn. Bằng cách giảm kích thước của số dư tiền mặt của nó, nhiều tiền hơn được làm sẵn có cho đầu tư phát triển của công ty. Bao thanh toán nợ cũng được sử dụng như một công cụ tài chính để cung cấp kiểm soát dòng tiền tốt hơn đặc biệt là nếu một công ty hiện đang có rất nhiều các khoản phải thu với các điều khoản tín dụng khác nhau để quản lý. Một công ty bán các hóa đơn của mình với giá giảm đến mệnh giá của chúng khi công ty tính toán rằng nó sẽ được tốt hơn bằng cách sử dụng tiền thu được để thúc đẩy tăng trưởng của chính mình hơn là bằng hiệu quả hoạt động của nó như "ngân hàng của khách hàng." Theo đó, bao thanh toán xảy ra khi tỉ lệ thu hồi vốn trên số tiền đầu tư vào sản xuất vượt quá các chi phí liên quan đến việc bao thanh toán các khoản phải thu. Vì vậy, sự đánh đổi giữa thu hồi vốn của công ty có được trong đầu tư sản xuất và chi phí của việc sử dụng một bao thanh toán là rất quan trọng trong việc xác định mức độ bao thanh toán được sử dụng và số lượng tiền mặt của công ty nắm giữ trên tay. Nhiều doanh nghiệp có dòng tiền thay đổi. Nó có thể là tương đối lớn trong một khoảng thời gian này, và tương đối nhỏ trong khoảng thời gian khác. Bởi vì điều này, các doanh nghiệp thấy nó cần thiết để duy trì một sự cân bằng tiền mặt cũng như sử dụng các phương pháp như bao thanh toán, để giúp họ có thể bao gồm nhu cầu tiền mặt ngắn hạn của họ trong những giai đoạn mà trong đó các nhu cầu vượt quá lưu lượng tiền mặt. Sau đó mỗi doanh nghiệp phải quyết định nó muốn phụ thuộc bao nhiêu vào bao thanh toán để trang trải các dòng thác tiền mặt ngắn, số dư tiền mặt lớn thế nào nó muốn duy trì để đảm bảo nó có đủ tiền mặt trên tay trong các thời kỳ dòng tiền thấp. Nói chung, sự thay đổi trong dòng tiền sẽ quyết định kích thước của số dư tiền mặt một doanh nghiệp sẽ có xu hướng giữ cũng như mức độ nó có thể phải phụ thuộc vào các cơ chế tài chính như bao thanh toán. Biến đổi dòng tiền liên quan trực tiếp đến 2 yếu tố: Nếu dòng tiền có thể giảm mạnh, doanh nghiệp sẽ thấy nó cần một lượng lớn tiền mặt từ hoặc tiền mặt có sẵn hoặc từ một bao thanh toán để trang trải các nghĩa vụ của mình trong thời gian này. Tương tự như vậy, một dòng tiền tương đối thấp có thể kéo dài, tiền mặt cần hơn này là cần thiết từ một nguồn khác (các số dư tiền mặt hoặc một bao thanh toán) để trang trải các nghĩa vụ của mình trong thời gian này. Như đã nêu, doanh nghiệp phải cân đối chi phí cơ hội của việc mất một thu hồi trên tiền mặt mà nếu không thì có thể đầu tư, đối với các chi phí liên quan đến việc sử dụng bao thanh toán. Số dư tiền mặt một doanh nghiệp nắm giữ bản chất là một nhu cầu tiền giao dịch. Như đã nói, quy mô của số dư tiền mặt công ty quyết định nắm giữ có liên quan trực tiếp đến sự miễn cưỡng của nó để trả các chi phí cần thiết để sử dụng một bao thanh toán để tài trợ cho các nhu cầu tiền mặt ngắn hạn của nó. Vấn đề phải đối mặt của doanh nghiệp trong việc quyết định kích thước của số dư tiền mặt nó muốn duy trì trên tay tương tự như quyết định nó phải đối mặt khi quyết định bao nhiêu hàng tồn kho cần duy trì. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải cân đối chi phí của việc thu được tiền mặt từ một bao thanh toán so với chi phí cơ hội của việc mất Tỷ suất hoàn vốn nó kiếm được trên đầu tư trong kinh doanh của mình. Giải pháp cho vấn đề này là: ở đây Định nghĩa khác của Chuỗi bao thanh toán quốc tế: Bao thanh toán quốc tế làm việc như thế nào? Không có gì là phức tạp về bao thanh toán. Nó chỉ đơn giản là một gói độc đáo của các dịch vụ được thiết kế để giảm bớt các vấn đề truyền thống của bán hàng trên tài khoản mở. Các dịch vụ điển hình bao gồm điều tra mức độ tin cậy của người mua, giả định rủi ro tín dụng và cho bảo vệ 100% chống lại các write-off, thu thập và quản lý các khoản phải thu và cung cấp tài chính thông qua các ứng trước tiền mặt ngay lập tức đối với thu hồi nợ. Khi bao thanh toán xuất khẩu được thực hiện bởi các thành viên của FCI, dịch vụ liên quan đến hoạt động năm hoặc sáu giai đoạn. Không chỉ là từng giai đoạn được thiết kế để đảm bảo các bán hàng xuất khẩu phi rủi ro, nó cho phép các nhà xuất khẩu cung cấp các điều khoản hấp dẫn hơn cho các khách hàng ở nước ngoài. Cả nhà xuất khẩu và khách hàng cùng được hưởng lợi bằng cách chi tiêu ít thời gian và tiền bạc nhất trong quản lý và tài liệu. Trong mọi trường hợp, các nhà xuất khẩu được đảm bảo giải quyết tốt nhất ở mỗi quốc gia. Điều này là do các người bao thanh toán xuất khẩu không bao giờ chỉ định một người bao thanh toán nhập khẩu chỉ vì công ty là thành viên hội viên của FCI. Người bao thanh toán nhập khẩu được mời để cạnh tranh cho kinh doanh và những người với các dịch vụ cao cấp được lựa chọn. Trong một số trường hợp, các thành viên FCI xử lý kinh doanh của khách hàng của họ mà không cần đến một người bao thanh toán khác. Điều này đang trở thành phổ biến hơn trong Liên minh châu Âu, nơi biên giới quốc gia đang dần biến mất. Tuy nhiên các thành viên của FCI tiến hành kinh doanh của họ, một điều vẫn nhất định. Mục đích của họ là làm cho việc bán hàng trong thế giới phức tạp của trao đổi quốc tế dễ dàng đối với khách hàng của họ cũng như giao dịch với các khách hàng địa phương. Những người chi trả hóa đơn (các con nợ). Các công ty và các tổ chức lớn như các chính phủ thường có các quy trình chuyên môn để đối phó với một khía cạnh của bao thanh toán, chuyển hướng thanh toán đến các người bao thanh toán sau khi nhận được thông báo của bên thứ ba (ví dụ, người bao thanh toán) người mà họ sẽ thực hiện thanh toán. Nhiều nhưng không phải tất cả các tổ chức như vậy có đủ kiến ​​thức về việc sử dụng bao thanh toán của các doanh nghiệp nhỏ và phân biệt rõ ràng giữa việc sử dụng của nó bởi các công ty phát triển nhanh chóng nhỏ và các vòng quay. Phân biệt giữa chuyển nhượng trách nhiệm thực hiện công việc và chuyển nhượng các quỹ tới người bao thanh toán là trung tâm các quá trình của khách hàng/con nợ. Các công ty đã mua từ một nhà cung cấp cho một lý do và do đó nhấn mạnh vào mà công ty thực hiện cam kết công việc. Tuy nhiên, một khi công việc đã được thực hiện nó là một vấn đề của sự thờ ơ của những người được trả. Ví dụ: General Electric có các quy trình rõ ràng phải theo phân biệt giữa các nhạy cảm công việc và nhạy cảm thanh toán. Các hợp đồng trực tiếp với Chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu một Assignment of Claims đó là một sửa đổi hợp đồng cho phép thanh toán cho các bên thứ ba (những người bao thanh toán). Bao thanh toán ngược. Chúng ta có thể thấy là hiện nay có một quá trình phát triển mới: các bao thanh toán ngược, hoặc tài chính chuỗi cung cấp. Nó sử dụng những thế mạnh của quá trình bao thanh toán, nhưng thay vì được bắt đầu bởi nhà cung cấp, đó là người mua tạo ra giải pháp hướng tới một người bao thanh toán. Bằng cách đó, người mua củng cố tài chính của hoá đơn, và nhà cung cấp được một lãi suất tốt hơn.
1
null
Trầm Bê sinh ngày 10 tháng 9 năm 1959, là dân tộc Hoa, sinh ra tại Trà Vinh, trình độ học vấn 6/12, là thành viên Hội đồng Quản trị của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI), Chủ tịch Hội đồng Quản trị Bệnh viện Triều An. Ngoài ra, ông còn cùng với gia đình tham gia Hội đồng Quản trị của một số công ty như Ngân hàng Phương Nam, Công ty Vàng bạc Đá quý Phương Nam, Công ty Chứng khoán Phương Nam và gần đây nhất là Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Xung quanh ông và gia đình có một số chuyện lùm xùm như sừng tê giác, hình ảnh gia đình ông tràn ngập nơi chánh điện. Ngày 1 tháng 8 năm 2017, Trầm Bê bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng của Bộ Công an Việt Nam bắt tạm giam trong vòng 4 tháng về hành vi Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát tổng cộng hơn 15.000 tỷ đồng. Tính cách. Trầm Bê là một nhân vật vô cùng kỹ tính, hiếm khi phát biểu trước báo chí, gây nhiều sự tò mò vì chỉ nghe tiếng mà không biết ông xuất phát từ đâu. Sự nghiệp. Trầm Bê chỉ mới học đến lớp 6. Từ năm 1991 - 1994 Trầm Bê bắt đầu sự nghiệp là Giám đốc Công ty Chế biến Lâm sản Đông Anh. Từ năm 1995 - 2001 ông làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của công ty Chế biến Lâm sản Đông Anh. Nam 1999 ông tham gia vào thị trường bất động sản, đầu tư vào BCCI với vai trò là thành viên Hội đồng Quản trị. Đây là thời kỳ BCCI đang rất phát triển. Năm 2001, Trầm Bê cùng với bác sĩ Nguyễn Hải Nam và Lâm Trung Lương góp vốn để xây dựng bệnh viện Triều An . Từ năm 2002 - 2004 Công ty Chế biến Thủy hải sản Sơn Sơn do ông làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị chiếm lĩnh toàn bộ thị trường chiếu xạ thanh long tại Việt Nam, đây là điều kiện cần thiết về vệ sinh an toàn thực phẩm để được phép xuất khẩu trái thanh long. Mãi cho đến năm 2009, thế độc quyền này mới mất đi khi có nhà máy chiếu xạ thanh long thứ hai do Công ty Cổ phần An Phú đầu tư. Ông Nguyễn Thuận, Chủ nhiệm Hợp tác xã Thanh long Hàm Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thanh long Bình Thuận nhận xét về công ty Sơn Sơn của ông Trầm Bê vào cuối năm 2008, khi công ty này vẫn còn độc quyền về chiếu xạ thanh long: Còn ông đã từng nói: Về lãnh vực tài chính ngân hàng, năm 2004 Trầm Bê tham gia đầu tư và trở thành thành viên Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Phương Nam (SouthernBank). Đây cũng là những năm mà ngân hàng phát triển mạnh nhất đạt doanh thu trên 1.000 tỷ đồng cùng lợi nhuận ròng gần 200 tỷ đồng trong năm 2007. Tháng 2 năm 2012 ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Sacombank . Ngân hàng Phương Nam 2008 cho ra đời Công ty Vàng bạc Đá quý Phương Nam (NJC) vào năm 2007 và Công ty Chứng khoán Phương Nam (PNS). Tại công ty NJC Trầm Bê là Phó chủ tịch, đưa con gái Trầm Thuyết Kiều (sở hữu 11% cổ phần) nắm giữ chức Phó giám đốc của NJC. Còn tại PNS, sau 3 năm thành lập, con trai út của Trầm Bê là Trầm Khải Hòa đã được cha đưa lên làm Chủ tịch Hội đồng quản trị. Hiện tại (2015) Trầm Trọng Ngân và Trầm Khải Hòa đã được nâng mức tỉ lệ sở hữu tại PNS lên thành 6,09%. Khi thành công với Ngân hàng Phương Nam, ông Trầm Bê bắt tay vào việc thâu tóm Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín Sacombank. Đầu tháng 2/2012 Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được ủy quyền diện cho nhóm cổ đông đa số (bao gồm cả Trầm Bê), yêu cầu bầu lại toàn bộ ban lãnh đạo của Sacombank. Qua cuộc bầu cử chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Sacombank được trao cho ông Trầm Bê, sau khi ông rời khỏi ghế Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Phương Nam. Con trai ông Trầm Trọng Ngân trở thành Phó chủ tịch thường trực Ngân hàng Phương Nam. Còn người con trai khác Trầm Khải Hòa cũng trở thành một thành viên trong Hội đồng quản trị của Sacombank bắt đầu từ tháng 5/2012. Ngày 13 tháng 8 năm 2015, Ngân hàng Nhà nước đã đồng ý cho 2 ngân hàng SouthernBank và Sacombank sáp nhập lại. thì cuối cùng "lễ cưới" giữa hai ngân hàng này cũng đã được tổ chức vào ngày 13/8, dựa trên cơ sở tự nguyện của cả hai ngân hàng. Sacombank như vậy sẽ thuộc nhóm 5 ngân hàng lớn nhất Việt Nam với tổng tài sản đạt 290.861 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt 22.645 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 18.853 tỷ đồng; mạng lưới hoạt động lên đến 567 điểm giao dịch trên cả nước và hai nước Lào, Campuchia; tổng số cán bộ, nhân viên là 15.510 người. Tài chính. Ước đoán số tài sản của ông Bê khoảng 200 tỷ đồng căn cứ vào cương vị cổ đông chính của Ngân hàng Phương Nam và Chủ tịch HĐQT Bệnh viện Triều An, bệnh viện tư lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh. Trầm Bê còn nắm khoảng chục Công ty khác với số vốn hàng trăm tỷ đồng một công ty như: Công ty Hàm Giang, Sơn Sơn hay có cổ phần khá lớn trong Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh (BCCI). Một trong những công trình lớn được ông đầu tư (thông qua Công ty TNHH Xây dựng Hàm Giang) là Cụm Cảng Long Toàn có số vốn khoảng 1.700 tỷ đồng, diện tích trên 170ha tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Dự án được khởi công vào đầu năm 2010. Một dự án lớn khác là đầu tư 60 triệu USD để mua lại khu Cupertino Square, trước đây được biết dưới cái tên là Valco Fashion Park, ở Cupertino, California, Hoa Kỳ, mà vừa mới được bán lại (tháng 11 năm 2014) với giá 116 triệu. Gia đình. Trầm Bê có vợ là Viên Đông Anh. Hai ông bà có ba người con là Trầm Trọng Ngân, Trầm Thuyết Kiều và Trầm Khải Hòa. Họ hiện đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong các công ty mà ông đã tham gia đầu tư. Trầm Trọng Ngân, con trai trưởng Trầm Bê, Tổng Giám đốc của Công ty Sơn Sơn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Sacombank. Khối lượng cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã HoSE: STB) mà Trầm Trọng Ngân nắm giữ là 40 triệu đơn vị, chiếm 4,11% vốn điều lệ của STB . Năm 2005 Trầm Trọng Ngân từng bị băng nhóm Bình "kiểm" bắt cóc đòi tiền chuộc 10 triệu USD . Ra tòa Bình kiểm trả lời vì biết rõ ông Bê rất giàu nên tổ chức vụ bắt cóc đòi tiền chuộc nhiều nhất Việt Nam từ xưa đến nay Trầm Thuyết Kiều (sinh 1983) hiện nắm gần 10% cổ phần và là Phó Tổng giám đốc Khối khách hàng tổ chức Ngân hàng Phương Nam. Trầm Thuyết Kiều cũng là Phó Tổng Giám đốc Công ty Vàng bạc đá quý Phương Nam (NJC) . Tính đến tháng 9 năm 2011 Trầm Thuyết Kiều nắm giữ 7,36% cổ phần ngân hàng này . Năm 2008, trên cương vị là Phó Chủ tịch NJC, Trầm Bê đưa Trầm Thuyết Kiều (sở hữu 11% cổ phần) lên nắm giữ chức Phó tổng Giám đốc. Trầm Khải Hòa (sinh 1988) là con trai út của Trầm Bê, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty chứng khoán Phương Nam, thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank (từ tháng 5 năm 2012). Ngày 20 tháng 9 năm 2012, Ủy ban chứng khoán Nhà nước xử phạt vi phạm hành chính đối với Trầm Khải Hòa và Công ty chứng khoán Phương Nam vì đã mua 540 000 cổ phiếu của Sacombank từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 22 tháng 6 năm 2012 mà không báo cáo theo quy định.. Hoạt động từ thiện. Qua báo chí có thể thấy gia đình ông Trầm Bê đã chi nhiều tiền cho công tác từ thiện như xây trường học, xây chùa. Trong số đó có công trình nổi tiếng là Chùa Vàm Ray tại quê hương của ông. Đây được xem là ngôi chùa Khmer lớn nhất Việt Nam.. Tuy nhiên việc cổng chùa mang tên ông, thậm chí hình ảnh gia đình ông còn tràn ngập nơi chánh điện... đã gây phản cảm cho nhiều người. Dư luận. Ngày 3 tháng 10 năm 2012, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (Wildlife Conservation Society) có công văn gửi Công an huyện Trà Cú (tỉnh Trà Vinh) và Công an tỉnh Trà Vinh về việc ông Trầm Bê (xã Hàm Giang, huyện Trà Cú) mới bị trộm lấy cắp sừng tê giác. Dựa theo thông tin trên báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, hiệp hội cho rằng, chiếc sừng này có khả năng là sừng được mua bán bất hợp pháp.. Dù vụ việc đã được đăng tải trên nhiều báo và dư luận quan tâm nhưng ông Trầm Bê vẫn im lặng, chưa có động thái trình báo công an.. Theo Công an tỉnh Trà Vinh, sở dĩ công an nắm được tin ông Trầm Bê bị mất chiếc sừng tê giác là do bảo vệ và người làm công biệt thự của ông này trình báo công an xã ngày 27 tháng 9 năm 2012 . Ngày 5 tháng 10 năm 2012 Trầm Bê đã cung cấp cho báo chí tài liệu và bằng chứng của việc được một người bạn tặng con tê giác đã được làm khô nhân dịp tân gia của gia đình ông vào ngày 1 tháng 3 năm 2007. Theo đó con tê giác này đã được Cites (Cơ quan Quản lý việc buôn bán quốc tế các động vật hoang dã nguy cấp) Nam Phi và Cites Việt Nam chứng thực.. Tuy nhiên dư luận còn nhiều thông tin chưa rõ ràng về việc Trầm Bê có lẽ có đến 2 phiên bản khô của tê giác, cũng như tính xác thực của vấn đề. Vụ án cho vay gây thiệt hại cho VNCB. Ngày 1 tháng 8 năm 2017, Trầm Bê bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng của Bộ Công an Việt Nam bắt tạm giam trong vòng 4 tháng về hành vi Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Cùng bị bắt giam 4 tháng là ông Phan Huy Khang (nguyên thành viên hội đồng tín dụng, nguyên Tổng giám đốc Sacombank) và 15 người là cựu cán bộ các ngân hàng TPBank, BIDV, giám đốc các công ty... Chín người khác cũng bị khởi tố, song được tại ngoại. Vụ này nằm trong tiến trình điều tra giai đoạn hai, của vụ án Phạm Công Danh (nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng xây dựng Việt Nam - VNCB, Tập đoàn Thiên Thanh) gây thất thoát 6.000 tỷ đồng. Bị cáo Phạm Công Danh khai là vì áp lực từ việc tăng vốn điều lệ, chi trả chăm sóc khách hàng nên mới phải vay tiền. Phan Thành Mai (nguyên Tổng giám đốc VNCB) đã giúp Phạm Công Danh rút hơn 6.000 tỉ đồng của VNCB gửi vào 3 ngân hàng TPBank, BIDV và Sacombank để đảm bảo cho 29 lượt công ty của Danh vay số tiển trên. Tại ngân hàng Sacombank, Phan Huy Khang (nguyên Tổng giám đốc) chấp nhận ý kiến chỉ đạo của Trầm Bê, ký duyệt cho 6 công ty của Phạm Công Danh vay 1.700 tỉ đồng không thẩm định kỹ khách hàng vay, không thẩm định phương án kinh doanh. Khi hết hạn cho vay, Sacombank tự động trừ nợ số tiền 1.700 tỉ đồng trên tài khoản của VNCB gửi tại Sacombank, gây thất thoát cho VNCB số tiền 1.700 tỉ đồng. Về tội này, ông Trầm Bê ngày 6.8.2018 bị TAND TPHCM tuyên án 4 năm tù. Vụ án Dương Thanh Cường. Trong vụ án Dương Thanh Cường, Trầm Bê bị phạt 3 năm tù về tội Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, biết rõ Công ty Bình Phát không đủ điều kiện được cấp tín dụng nhưng vẫn để xuất cho vay, phê duyệt cho vay dẫn đến việc Ngân hàng Phương Nam bị thiệt hại 505 tỉ đồng.
1
null
Vụ VatiLeaks (theo cách chơi chữ của từ WikiLeaks trong giới truyền thông) là một vụ bê bối liên quan trực tiếp đến Tòa Thánh Vatican xảy ra vào đầu năm 2012 bắt đầu bằng sự kiện người quản gia của Giáo hoàng Biển Đức XVI, người từng có lúc được coi là thân tín nhất của Giáo hoàng có tên Paolo Gabriele bị bắt vì tình nghi làm rò rỉ tài liệu mật, còn chủ tịch ngân hàng của Tòa Thánh bị sa thải. Điều này khiến Giáo hoàng phải chỉ đạo Giáo triều Rôma thành lập một hội đồng đặc biệt để điều tra vì nó làm ảnh hưởng đến uy tín của Tòa Thánh. Những tài liệu bị tiết lộ cho thấy tình trạng tham nhũng và bè phái đấu đá nhau trong Vatican. Vụ việc xét xử này được công khai và đây là một phiên tòa chưa từng có trong lịch sử của Vatican. Vụ án được hàng trăm nhà báo và phóng viên truyền hình trên toàn thế giới chú ý theo dõi, mặc dù Văn phòng báo chí Tòa Thánh nhiều lần cố gắng giảm sự chú ý đến sự kiện này đến mức tối đa. Bị cáo và vụ việc. Paolo Gabriele, người từng có lúc được coi là thân tín nhất của Giáo hoàng, là một viên chức cấp thấp, một người trung thành của Giáo hoàng vì ông này là người đầu tiên và là người cuối cùng hằng ngày gặp mặt Giáo hoàng qua việc chuẩn bị lễ phục, bữa cơm cho Giáo hoàng; ông này còn làm nhiệm vụ cầm dù che nắng, che mưa, chỉnh trang phục cho Giáo hoàng, đứng bên cạnh ông ấy trong những bức hình chụp chính thức, hoặc đứng đằng trước Giáo hoàng trên chiếc xe popemobile nổi tiếng khi công du hay gặp gỡ các tín đồ tại quảng trường Thánh Phêrô. Paolo Gabriele bị Vatican cho rằng ông này là gián điệp và là một kẻ phản bội, ngày 23 tháng 05 năm 2012, người ta đã tiến hành lục soát nhà riêng của Gabriele và tìm được hằng chục tài liệu mật của Tòa Thánh Sự kiện này dẫn đến ông này bị cáo buộc là suốt nhiều tháng đã in sao và đánh cắp hàng chục tài liệu mật của Giáo hoàng, rồi những đồng sự của ông này tuồn ra cho nhà báo Gianluigi Nuzzi. Sau đó, nhà báo này đã tiết lộ những chuyện thâm cung bí sử, như nạn tham nhũng và bè phái trong Vatican, việc quản lý của ngân hàng Vatican... có liên quan đến hồng y Tarcisio Bertone trong đó nhấn mạnh tình trạng tham nhũng và thiếu minh bạch về tài chính của cơ quan Tòa Thánh. Bên cạnh đó những thông tin này vô hình trung đã tiết lộ về một cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ Tòa Thánh, kể cả âm mưu sắp xếp ngôi vị Giáo hoàng, có phóng viên còn mô tả Tòa Thánh là "ổ rắn độc". Paolo Gabriele cho biết rằng chính ông đã hành động để tố cáo cái xấu và nạn tham nhũng bên trong Vatican do Giáo hoàng đã không có thông tin gì về những chuyện này và vụ việc này đối với Vatican do ông tạo ra là điều tốt để đưa Vatican trở lại con đường đúng. Ông cũng cho rằng mình là nội ứng của Thánh Linh trong sứ mạng bài trừ sai trái và tham nhũng trong Giáo hội nhờ sự trợ giúp của các phương tiện truyền thông. Ông Gabriele phát biểu rằng: "Là nhân chứng của sự thật có nghĩa là phải sẵn sàng trả giá". Tuy nhiên đáp lại, Giáo hoàng cho biết ông đã rất đau lòng vì sự phản bội của người mình tin tưởng, yêu thương và tôn trọng. Giáo hoàng vẫn duy trì quan điểm cho rằng những dư luận hoàn toàn vô căn cứ, được các phương tiện truyền thông phóng đại và những dư luận ấy đã vượt quá sự kiện, cung cấp một bức tranh không đúng với thực tế về Tòa Thánh. Hồng y Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội đồng Tòa thánh về Văn hóa cũng khẳng định rằng dứt khoát là có những vấn đề khiến ông không phủ nhận và rằng trong lịch sử, đôi khi phải bước đi trong vũng bùn, ở mức độ nào đó, đây là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên Gianfranco Ravasi cũng đồng tình với quan điểm của Giáo hoàng rằng vẫn luôn luôn có sự nhấn mạnh quá đáng đến mức cung cấp một hình ảnh không đúng với thực tế về Tòa Thánh, phương pháp quen thuộc của truyền thông ngày nay là tập trung vào những chuyện quá khích, các sự kiện được vận dụng để xây dựng những huyền thoại.
1
null
Súng trường M1941 Johnson là một loại súng trường bán tự động dùng bởi quân đội Mỹ trong thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiên, nó cũng được dùng bởi quân cộng sản lẫn lính chính phủ Trung Quốc trong cuộc nội chiến Trung Quốc. Súng được ông Melvin Johnson thiết kế vào năm 1939 nhưng đến năm 1941 nó mới được quân đội Mỹ sử dụng và đặt tên là M1941 Johnson. Khẩu súng Johnson này được thiết kế rất đặc biệt với ổ đạn tròn. Ngoài ra, quân đội Mỹ cũng phát triển khẩu súng này thành phiên bản súng máy hạng nhẹ. Nó sử dụng đạn.30-06 Springfield. Ban đầu, quân đội Mỹ dự định sẽ sử dụng nó như là khẩu súng trường bán tự động nhưng khi mà Thế chiến thứ 2 nổ ra thì quân đội Mỹ lại từ chối nó vì khẩu M1 Carbine nhẹ hơn, rẻ tiền hơn, có cấu tạo đơn giản hơn nên cũng dễ sản xuất hơn khẩu Johnson. Quân đội Mỹ sản xuất khoảng 70,000 cây Johnson từ năm 1939 đến năm 1945
1
null
James, Bá tước xứ Wessex, tên đầy đủ là James Alexander Philip Theo Mountbatten-Windsor (sinh vào ngày 17 tháng 12 năm 2007) là con trai của Vương tử Edward, Công tước xứ Edinburgh và phu nhân Sophie Helen Rhys-Jones, và là cháu trai nhỏ nhất của Nữ vương Elizabeth II của Anh. Hiện nay cậu xếp thứ 15 trong danh sách kế vị ngai vàng nước Anh. Vào thời điểm sinh ra, cậu xếp thứ 8 trong danh sách này. Thời thơ ấu. James được sinh lúc 16 giờ 20 phút ngày 17 tháng 12 năm 2007 tại Bệnh viện Frimley Park bắng phương pháp mổ lấy thai. Tên đầy đủ của James là James Alexander Philip Theo, được thông báo vào ngày 21 tháng 12 cùng năm. James được rửa tội vào ngày 19 tháng 4 năm 2008 tại nhà nguyện thuộc Lâu đài Windsor bởi Giám mục David Conner, trước sự chứng kiến của cha mẹ đỡ đầu là Alastair Bruce xứ Crionaich, Duncan Bullivant, Thomas Hill, Denise Poulton và Jeanye Irwin, và ông bà nội là Nữ vương Elizabeth II và Vương phu Philip, Công tước xứ Edinburgh. Thân phận Vương thất. James nằm trong danh sách Vương thất, nhưng không được hiển thị như một Vương tôn, và cũng không có kính xưng "Điện hạ (HRH)" trong tước hiệu, mà chỉ là James, Bá tước xứ Wessex. James hiện đứng thứ 14 trong danh sách kế vị ngai vàng nước Anh, trên chị mình, Lady Louise Windsor. Cậu sẽ thừa kế tước vị Bá tước xứ Wessex của cha mình, Vương tử Edward và sẽ truyền lại cho con cháu, tuy nhiên sẽ không kế vị tước hiệu Công tước xứ Edinburgh.
1
null
Ong nghệ là tên gọi dùng để chỉ các loài ong thuộc chi Bombus trong họ Apidae. Có hơn 250 loài trong chi này, phân bố chủ yếu ở bán cầu Bắc tuy nhiên chúng cũng có mặt ở Nam Mỹ. Các loài này được du nhập vào New Zealand và Tasmania. Chi này là nhóm còn tồn tại duy nhất trong tông Bombini, mặc dù một số chi liên quan đã tuyệt chủng (ví dụ: "Calyptapis") được biết đến từ các hóa thạch. Chúng được tìm thấy chủ yếu ở độ cao hoặc vĩ độ cao hơn trong Bắc bán cầu, mặc dù chúng cũng được tìm thấy ở Nam Mỹ nơi một số loài nhiệt đới vùng thấp đã được xác định. Ong vò vẽ châu Âu cũng đã được giới thiệu cho New Zealand và Tasmania. Ong vò cái có thể chích nhiều lần, nhưng thường bỏ qua con người và các động vật khác. Ong nghệ là những loài côn trùng có tổ chức xã hội, điểm đặc trưng của chúng là lông màu đen và vàng thường tạo thành dải. Tuy nhiên, một số loài cơ thể có màu cam hoặc đỏ, hoặc cơ thể đen hoàn toàn. Các tổ ong nghệ thường nhỏ hơn của ong mật, có tổ chỉ có 50 cá thể. Ong nghệ đẻ nhờ là loài đẻ nhờ tổ và không xây tổ; các con ong chúatheir queens hung hăng xâm lược tổ của các loài ong nghệ khác, giết chết các con ong chúa thường trú và sau đó đẻ trứng, được chăm sóc bởi các con ong thợ thường trú ở tổ chiếm được. Ong nghệ ký sinh tổ trước đây được phân loại là một chi riêng biệt, nhưng bây giờ thường được coi là thành viên của "Bombus". Loài ong vò vẽ có thân tròn phủ lông mềm (các lông cứng phân nhánh dài, khiến chúng xuất hiện và cảm thấy mờ. Chúng có cảnh báo màu xua đuổi, thường bao gồm các dải màu tương phản và các loài ong khác nhau trong một khu vực thường giống nhau trong sự bảo vệ lẫn nhau bắt chước kiểu Müller. Các loài côn trùng vô hại như ruồi giả ong thường có được sự bảo vệ khỏi giống như ong nghệ, trong bắt chước kiểu Bates, và có thể bị nhầm lẫn với chúng. Ong nghệ làm tổ có thể được phân biệt với những con ong nghệ ký sinh tổ lớn, mờ tương tự bằng hình dạng của chân sau cái. Trong ong vò vẽ làm tổ, nó được sửa đổi để tạo thành giỏ phấn hoa, một vùng sáng bóng được bao quanh bởi một dải lông dùng để vận chuyển phấn hoa, trong khi ở ong nghệ ký sinh tổ, chân sau có lông tròn và hạt phấn được nêm vào giữa các sợi lông để vận chuyển. Giống như họ hàng của chúng, ong mật, ong vò vẽ lấy mật hoa, sử dụng lưỡi lông dài của chúng để vắt chất lỏng; vòi được gập dưới đầu trong suốt chuyến bay. Ong nghệ thu thập mật hoa để thêm vào các kho chứa trong tổ, và phấn hoa để nuôi con non của chúng. Chúng tìm kiếm thức ăn bằng cách sử dụng các mối quan hệ màu sắc và không gian để xác định hoa để lấy mật. Một số loài ong vò vẽ ăn cắp mật hoa, tạo một lỗ gần gốc hoa để tiếp cận mật hoa trong khi tránh chuyển phấn hoa. Ong nghệ là tác nhân thụ phấn quan trọng trong nông nghiệp, vì vậy sự suy giảm của chúng ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á là một nguyên nhân gây lo ngại. Sự suy giảm đã được gây ra bởi mất môi trường sống, cơ giới hóa của nông nghiệp và thuốc trừ sâu.
1
null
Danh sách trình bày ở đây có nguồn gốc từ một danh sách kiểm tra của ong nghệ trên thế giới (thảo luận về tình trạng của loài) và được sử dụng trong phát sinh loài Bombus gần đây nhất. Các loài được nhóm lại theo phân chi theo sửa đổi gần đây nhất.
1
null
Diên Hồng là tên một cung điện trong kinh thành Thăng Long thời nhà Trần, nơi đã diễn ra hội nghị Diên Hồng do Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Hoàng đế Trần Nhân Tông tổ chức để hỏi ý kiến bô lão cả nước về chủ trương hòa hay đánh khi quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt lần thứ hai vào tháng Chạp năm Giáp Thân (khoảng đầu năm 1285). Danh xưng Diên Hồng còn được đặt cho:
1
null
Vụ đắm phà Nam Nha năm 2012 xảy ra vào ngày 1 tháng 10 năm 2012 ở ngoài khơi Hồng Kông, gần đảo Nam Nha, Hồng Kông khi tàu chở khách đâm vào phà. Vụ đắm phà diễn ra vào lúc 20:20 giờ Hồng Kông, nửa tiếng trước khi bắt đầu bắn pháo hoa kỷ niệm Quốc khánh Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trên tàu chở khách có 127 người, vụ đắm phà khiến 39 người thiệt mạng và 92 người bị thương. Đây là tai nạn hàng hải nghiêm trọng nhất ở Hồng Kông kể từ năm 1971. Diễn biến. Chiếc phà Lamma IV chìm một nửa dưới nước với mũi phà hướng lên trên theo góc 90 độ. Lực lượng cứu hộ đã vớt được 123 người, nhưng nhiều người trong số họ đã chết. Vụ đắm phà xảy ra do hai chiếc phà chở khách đâm vào nhau. Chiếc phà bị chìm Lamma IV thuộc sở hữu của công ty Power Assets Holdings Ltd, đang chở 124 hành khách và thủy thủ đến xem bắn pháo hoa ở cảng Hồng Kông và bị đâm ngang, phà Lamma IV chìm một nửa dưới nước với mũi phà hướng lên trên theo góc 90 độ. Chiếc phà này có công suất thiết kế là 200 hành khách và có đầy đủ trang thiết bị cứu sinh trên tàu. Chiếc phà thứ hai "Sea Smooth", thuộc công ty Hong Kong & Kowloon Ferry Holdings Ltd, chở 100 hành khách và chỉ có vài hành khách bị thương nhẹ sau vụ tại nạn, chiếc phà này không bị hư hại nghiêm trọng và tiếp tục hành trình sau vụ tai nạn. Một số hành khách ở phà chìm không biết bơi và một số hành khách bị chấn thương sau khi hai phà đụng nhau vì vậy họ không thể thoát khỏi con tàu. Các nhân viên cứu hộ đã vớt được 123 người. Hơn 100 hành khách được đưa đến năm bệnh viện, trong đó có 9 hành khách trong tình trạng trọng thương.
1
null
An Nghĩa là một xã thuộc huyện An Lão, tỉnh Bình Định, Việt Nam. Hành chính. Xã An Nghĩa được chia thành 5 thôn: 1, 2, 3, 4, 5. Hiệu chỉnh đường địa giới hành chính. Ngày 22.9, UBND tỉnh ban hành văn bản thống nhất phương án hiệu chỉnh đường địa giới hành chính (ĐGHC) giữa xã An Nghĩa (huyện An Lão) và xã Đắk Mang, xã Ân Sơn (huyện Hoài Ân) theo đề nghị của Sở Nội vụ. Theo đó, huyện Hoài Ân sẽ chuyển giao 1.028 ha diện tích tự nhiên cho huyện An Lão quản lý; trong đó xã Đắk Mang chuyển giao 261 ha, xã Ân Sơn chuyển giao 767 ha. Được biết, huyện Hoài Ân và huyện An Lão được thành lập trên cơ sở chia tách huyện Hoài An theo Quyết định số 41/HĐBT ngày 24.8.1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Xã An Nghĩa được thành lập trên cơ sở chia tách từ xã An Quang (huyện An Lão) theo Quyết định số 15/HĐBT ngày 19.2.1986 của Hội đồng Bộ trưởng. Sau khi thành lập, đường ĐGHC giữa huyện Hoài Ân và huyện An Lão, giữa xã An Nghĩa và xã Đắk Mang, Ân Sơn được xác định trong hồ sơ chia tách đơn vị hành chính. Thực hiện Chỉ thị số 364-CT ngày 6.11.1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), tuyến ĐGHC giữa xã An Nghĩa và xã Đắk Mang, xã Ân Sơn được các địa phương xác lập, xác nhận pháp lý trên nền bản đồ địa hình Hệ tọa độ HN-72. Tuy nhiên trong quá trình thi công lập bản đồ ĐGHC, đơn vị thi công và chính quyền địa phương thiếu bước kiểm tra, đối chiếu giữa hồ sơ, bản đồ với thực tế quản lý dẫn đến sai sót như: Trụ sở UBND, trường học, trạm y tế xã An Nghĩa, đất sản xuất, các công trình thủy lợi, đường giao thông của xã An Nghĩa đều nằm trên địa phận xã Đắk Mang và Ân Sơn. Tại khu vực này có 119 hộ với 439 nhân khẩu của 3 thôn (1, 2, 5) của xã An Nghĩa đang sinh sống và sản xuất. Sau nhiều năm tiến hành các thủ tục, công đoạn cần thiết, đến nay việc tranh chấp ĐGHC nói trên mới có phương án giải quyết dứt điểm.
1
null
An Phúc là một xã thuộc huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam. Địa lý. Xã An Phúc nằm ở phía đông nam huyện Đông Hải, có vị trí địa lý: Xã An Phúc có diện tích 57,68 km², dân số năm 2019 là 11.639 người, mật độ dân số đạt 202 người/km². Hành chính. Xã An Phúc được chia thành 7 ấp: Cái Keo, Chòi Mòi, Long Phú, Minh Thìn, Minh Thìn A, Phước Thắng, Phước Thắng A. Lịch sử. Ngày 4 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 142-CP về việc chia xã An Trạch (trừ ấp Khúc Tréo và ấp Nhàn Dân cắt sang xã Phong Thạnh Tây) thành năm xã lấy tên là xã An Hòa, xã An Bình, xã An Hạnh, An Phúc và xã An Trạch. Ngày 14 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 33B-HĐBT về việc sáp nhập xã An Định vào xã An Phúc. Xã An Phúc có 5.446 hécta đất với 7.236 nhân khẩu. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau. Khi đó, xã An Phúc thuộc huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 24 tháng 12 năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2001/NĐ-CP<ref name=98/2001/NĐ-CP></ref> về việc chuyển xã An Phúc thuộc huyện Giá Rai về huyện Đông Hải mới thành lập quản lý. Kinh tế - xã hội. Kinh tế. Nền kinh tế của xã chủ yếu là nuôi trồng thủy hải sản: quảng canh và bán công nghiệp. Xã hội. Ngày 25/1/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 131/QĐ-TTg phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2016 - 2020. Danh sách này gồm 291 xã thuộc 23 tỉnh được hỗ trợ đầu tư theo Quyết định1722/QĐ-TTg năm 2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Xã An Phúc là 1 trong 7 xã của tỉnh Bạc Liêu nằm trong chương trình cùng với các xã: Long Điền Đông, Long Điền Tây, Điền Hải (huyện Đông Hải); Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình); Vĩnh Trạch Đông (TP. Bạc Liêu). Giáo dục. Các trường học trên địa bàn xã An Phúc: Y tế. Hiện nay, xã có 1 trạm y tế tại ấp Cái Keo. Chợ. Trên địa bàn xã có chợ Cái Keo tại ấp Cái Keo.
1
null
An Trạch là một xã thuộc huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam. Địa lý. Xã An Trạch nằm ở phía tây huyện Đông Hải, có vị trí địa lý: Xã An Trạch có diện tích 49,22 km², dân số năm 2019 là 13.460 người, mật độ dân số đạt 274 người/km². Hành chính. Xã An Trạch được chia thành 9 ấp: Anh Dũng, Hiệp Vinh, Hoàng Minh, Hoàng Minh A, Lung Lá, Thành Thưởng, Thành Thưởng A, Văn Đức A, Văn Đức B. Lịch sử. Thời Pháp thuộc. Năm 1896, hai tổng Long Thủy và Quảng Long cùng thuộc hạt tham biện Bạc Liêu có các làng trực thuộc như sau: Tổng Quảng Long trong đó có làng An Trạch. Ngày 5 tháng 10 năm 1917, thực dân Pháp thành lập quận Giá Rai thuộc tỉnh Bạc Liêu. Quận Giá Rai gồm tổng Quảng Long trong đó có làng An Trạch. Từ năm 1976 đến nay. Sau năm 1975, xã An Trạch thuộc huyện Giá Rai, tỉnh Minh Hải. Ngày 4 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 142-CP về việc: Ngày 14 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 33B-HĐBT về việc: Xã An Hoà có 5.221 hécta đất với 10.228 nhân khẩu. Xã An Trạch có 4.558 hécta đất với 10.150 nhân khẩu. Ngày 13 tháng 4 năm 1991, Ban Tổ chức Chính phủ ban hành Quyết định 183/QĐ-TCCP<ref name=183/QĐ-TCCP>Quyết định 183/QĐ-TCCP điều chỉnh địa giới một số xã thuộc huyện Giá Rai, tỉnh Minh Hải</ref> về việc sáp nhập xã An Hòa vào xã An Trạch. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau. Khi đó, xã An Trạch thuộc huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 24 tháng 12 năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2001/NĐ-CP<ref name=98/2001/NĐ-CP></ref> về việc chuyển xã An Trạch thuộc huyện Giá Rai về huyện Đông Hải mới thành lập quản lý. Kinh tế - xã hội. Kinh tế. Xã An Trạch là một xã nghèo của huyện Đông Hải của tỉnh Bạc Liêu. Hiện nay đang nâng cấp tuyến đường Nguyễn Trung Trực điểm đầu tư cầu Định Thành qua xã An Trạch và xã An Trạch A (huyện Đông Hải) đến phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai. Tuyến đường Hùng Vương từ ngã tư xã An Trạch qua các ấp Văn Đức, Hoàng Minh, về xã Định Thành, (huyện Đông Hải). Khi hoàn thiện rất dễ lưu thông. Nên muốn kêu gọi các nhà đầu tư và công ty về đây xây dựng tạo ra một diện mạo mới cho toàn xã An Trạch. Xã hội. Giáo dục. Các trường học trên địa bàn xã An Trạch: Y tế. Hiện nay, xã có 1 trạm y tế xã tại ấp Văn Đức A. Bác sĩ Bùi Văn Toàn_ Trưởng trạm y tế. Du lịch. Trên địa bàn xã có: Chú thích. an trạch là một xã nghèo của tỉnh. hiện nay đang cấp tuyến đường Nguyễn Trung trực điểm đầu tư cầu định thành qua xã An trạch và xã An trạch a đến phường họ phòng thi xã giá rai. Khi hoàn thiện rất dễ lưu thông. Nên muốn kêu gọi các nhà đầu tư và CTY về đây xây dựng tạo ra một diện mạo mới cho toàn xã An trạch. Để vượt qua những khó khăn trong việc làm như hiện nay
1
null
Bắc An là một xã thuộc thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Địa lý. Xã Bắc An nằm ở phía bắc thành phố Chí Linh, có vị trí địa lý: Xã Bắc An có diện tích 27,72 km², dân số năm 2010 là 4.366 người, mật độ dân số đạt 158 người/km². Lịch sử. Sau năm 1975, Bắc An là một xã thuộc huyện Chí Linh. Ngày 14 tháng 2 năm 2002, thành lập thị trấn Bến Tắm trên cơ sở 412,88 ha diện tích tự nhiên và 5.703 người của xã Bắc An. Xã Bắc An còn lại 4.074,12 ha diện tích tự nhiên và 6.001 người. Ngày 12 tháng 2 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/NQ-CP thành lập thị xã Chí Linh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Chí Linh, điều chỉnh 1.613,36 ha diện tích tự nhiên và 2.710 người của xã Bắc An vào thị trấn Bến Tắm để thành lập phường Bến Tắm thuộc thị xã Chí Linh. Xã Bắc An còn lại 2.771,78 ha diện tích tự nhiên và 4.366 người. Ngày 10 tháng 1 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH14<ref name="623/NQ-UBTVQH14"></ref> thành lập thành phố Chí Linh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Chí Linh. Xã Bắc An thuộc thành phố Chí Linh như hiện nay.
1
null
Bảo Hưng là một xã thuộc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, Việt Nam. Địa lý. Xã Bảo Hưng có vị trí địa lý: Xã Bảo Hưng có diện tích 10,42 km², dân số năm 2019 là 2.866 người, mật độ dân số đạt 275 người/km². Hành chính. Xã Bảo Hưng được chia thành 7 thôn: Bảo Lâm, Bảo Long, Bình Trà, Chiến Khu, Đồng Quýt, Khe Ngay, Trực Thanh.
1
null
Bình La là một xã thuộc huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Xã Bình La có diện tích 33,59 km², dân số năm 1999 là 1.367 người, mật độ dân số đạt 41 người/km². Theo thống kê năm 2019, xã Bình La có diện tích 33,59 km², dân số là 1.337 người, mật độ dân số đạt 40 người/km².
1
null
Bồng Lai là một phường thuộc thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Địa lý. Phường Bồng Lai nằm ở phía nam thị xã Quế Võ, có vị trí địa lý: Phường có diện tích 6,62 km², dân số năm 2022 là 9.677 người, mật độ dân số đạt 1.461 người/km². Lịch sử. Trước đây, Bồng Lai là một xã thuộc huyện Quế Võ. Ngày 13 tháng 2 năm 2023, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 723/NQ-UBTVQH15 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 4 năm 2023). Theo đó, thành lập thị xã Quế Võ và thành lập phường Bồng Lai thuộc thị xã Quế Võ trên cơ sở toàn bộ 6,62 km² diện tích tự nhiên, 9.677 người của xã Bồng Lai.
1
null
Đăk Long là một xã thuộc huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Địa lý. Xã Đăk Long nằm ở phía bắc của huyện Đăk Hà, cách trung tâm huyện 20 km, có vị trí địa lý: Xã Đăk Long có diện tích 58 km², dân số năm 2019 là 3.795 người, mật độ dân số đạt 65 người/km². Hành chính. Xã Đăk Long được chia thành 7 thôn đến năm 2020 xã sáp nhập lại các thôn đến nay trên địa bàn xã có 5 thôn gồm: Thôn Tua Team, Thôn Pa Cheng, Thôn Đăk Xế Kơ Ne, thôn Kon Teo Đăk Lấp và thôn Kon Đao Yôp. Trung tâm Hành chính xã đặt tại thôn Pa Cheng. Lịch sử. Trước năm 2013, địa bàn xã Đăk Long là một phần của các xã Đăk Pxi, Đăk Hring. Ngày 20 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết 126/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập mới 2 xã thuộc huyện Đắk Hà, 3 xã thuộc huyện Sa Thầy và mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây thuộc thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum<ref name="126/NQ-CP">Nghị quyết 126/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập mới 2 xã thuộc huyện Đắk Hà, 3 xã thuộc huyện Sa Thầy và mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây thuộc thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum</ref>. Theo đó, thành lập xã Đăk Long trên cơ sở: Xã Đăk Long có 5.800 ha diện tích tự nhiên và 4.401 nhân khẩu. Theo kết quả rà soát năm 2020 xã Đăk Long có tổng diện tích tự nhiên là 6029ha.
1
null
Đăk Ngọk là một xã thuộc huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Địa lý. Xã Đăk Ngọk nằm ở trung tâm huyện Đăk Hà, có vị trí địa lý: Xã Đăk Ngọk có diện tích 39,17 km², dân số năm 2019 là 4.163 người, mật độ dân số đạt 106 người/km². Lịch sử. Trước năm 2013, địa bàn xã Đăk Ngọk là một phần của xã Ngok Wang và thị trấn Đăk Hà. Ngày 20 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết 126/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập mới 2 xã thuộc huyện Đắk Hà, 3 xã thuộc huyện Sa Thầy và mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây thuộc thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum<ref name="126/NQ-CP">Nghị quyết 126/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập mới 2 xã thuộc huyện Đắk Hà, 3 xã thuộc huyện Sa Thầy và mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây thuộc thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum</ref>. Theo đó, thành lập xã Đăk Ngọk trên cơ sở: Xã Đăk Ngọk có 3.917,39 ha diện tích tự nhiên và 4.272 nhân khẩu.
1
null
Cái Vồn là một phường thuộc thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam. Địa lý. Phường Cái Vồn có vị trí địa lý: Phường có diện tích 2,19 km², dân số năm 2012 là 18.375 người, mật độ dân số đạt 8.385 người/km². Hành chính. Phường Cái Vồn được chia thành 5 khóm: 1, 2, 3, 4, 5.<ref name=19/2017/TT-BTNMT></ref> Lịch sử. Cái Vồn vốn là tên một ngôi chợ thuộc thôn Mỹ Thuận, tổng An Trường, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang dưới thời Nguyễn. Cái Vồn còn được gọi là Cái Nhồn, theo cách gọi người miền Tây. Năm 1932, Cái Vồn trở thành tên một quận thuộc tỉnh Cần Thơ dưới thời Pháp thuộc, do đổi tên từ quận Trà Ôn trước đó. Năm 1957, quận Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long được thành lập theo Nghị định số 10-BNV-NC-NĐ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, quận lỵ đặt tại Cái Vồn, về mặt hành chính thuộc xã Mỹ Thuận. Sau năm 1975, Cái Vồn là thị trấn huyện lỵ huyện Bình Minh, được thành lập do tách đất từ xã Thành Lợi (ấp Thành Phước thuộc khu vực phà Hậu Giang tức phường Thành Phước ngày nay và khóm 2-3-4 phường Cái Vồn ngày nay) và một phần nhỏ xã Mỹ Thuận (ấp Mỹ Thới thuộc khu vực quận lỵ trước đây, tức khóm 1 phường Cái Vồn ngày nay). Ngày 17 tháng 9 năm 2010, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định 844/QĐ-BXD về việc công nhận thị trấn Cái Vồn là đô thị loại IV. Ngày 28 tháng 12 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 89/NQ-CP<ref name="89/NQ-CP"></ref>. Theo đó: Sau khi thành lập, phường Cái Vồn có 219,15 ha diện tích tự nhiên và 18.375 người. Tiền thân của phường là các khóm 1, 2, 3, 4 của thị trấn Cái Vồn cũ và một phần của các ấp Thuận Thới và Thuận Tân A của xã Thuận An. Hiện nay, phường Cái Vồn được chia thành 5 khóm: 1, 2, 3, 4, 5. Khóm 5 được hình thành từ phần diện tích của xã Thuận An cũ.
1
null
Cát Lâm là một xã thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Việt Nam. Xã có diện tích 69,55 km², dân số năm 2014 là 7.150 người, mật độ dân số đạt 103 người/km². Kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp. Hành chính. Xã Cát Lâm được chia thành 5 thôn: An Điềm, Đại Khoang, Hiệp Long, Long Định, Thuận Phong.
1
null
Cổ Thành là một phường thuộc thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Địa lý. Phường Cổ Thành nằm ở phía tây nam thành phố Chí Linh, có vị trí địa lý: Phường Cổ Thành có diện tích 8,15 km², dân số năm 2018 là 7.246 người, mật độ dân số đạt 889 người/km². Lịch sử. Sau năm 1975, Cổ Thành là một xã thuộc huyện Chí Linh. Ngày 16 tháng 1 năm 1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 19-CP. Theo đó, sáp nhập 3 thôn Phao Sơn, Thạch Thủy và Bình Giang của xã Cổ Thành vào thị trấn Phả Lại, sáp nhập các thôn Cổ Châu, Lý Dương, Đồng Tâm, Hoà Bình và các xóm An Thành, Ninh Giàng, Tu Ninh của xã Nhân Huệ vào xã Cổ Thành. Ngày 12 tháng 2 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/NQ-CP thành lập thị xã Chí Linh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Chí Linh, xã Cổ Thành thuộc thị xã Chí Linh. Ngày 10 tháng 1 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH14 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2019) thành lập phường Cổ Thành thuộc thị xã Chí Linh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Cổ Thành và thành lập thành phố Chí Linh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Chí Linh.
1
null
5S là tên của một phương pháp quản lý, sắp xếp nơi làm việc. Nó được viết tắt của 5 từ trong tiếng Nhật gồm: Seiri (整理 Sàng lọc), Seiton (整頓 Sắp xếp), Seiso (清掃 Sạch sẽ), Seiketsu (清潔 Săn sóc), và Shitsuke (躾 Sẵn sàng). 5S được áp dụng lần đầu tiên ở Toyota và phát triển rất nhanh sau đó ở các công ty Nhật Bản. Sau đó được phổ biến sang nhiều nước khác. Ở Việt Nam, 5S lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1993, ở 1 công ty Nhật (Vyniko). Hiện nay, rất nhiều công ty sản xuất ở Việt Nam áp dụng 5S vì có nhiều lợi ích từ 5S như: chỗ làm việc sạch sẽ, gọn gàng, mọi người đều cảm thấy thoải mái, vui vẻ, năng suất lao động cao, hiệu quả tức thời, hiện ra ngay trước mắt, tạo hình ảnh tốt cho công ty. Một ví dụ điển hình của áp dụng hiệu quả 5S ở Việt Nam là công ty CNC VINA. Tại một số cơ quan công sở của Việt Nam áp dụng 5S vào phong trào cơ quan, ví dụ như Sở Ngoại vụ TP. Đà Nẵng. 5S được một số nơi phát triển lên thành 6S. S thứ 6 là Safety (An toàn), nhưng bản thân nếu làm đúng 5S kể trên là đã gồm an toàn cho nhân viên rồi. Tuy nhiên, ở một số công ty Nhật, 5S lại được rút gọn lại thành 3S (lấy 3S đầu tiên) do mọi người đều sẵn sàng làm 3S và luôn luôn ý thức, kỷ luật tốt.
1
null
Diên An là một xã thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Xã Diên An có diện tích 8,56 km², dân số năm 1999 là 7.827 người, mật độ dân số đạt 915 người/km². Tính đến năm 2012, dân số Diên An đạt 10.450 người, mật độ dân số là 1.221 người/km².
1
null
Diên Tân là một xã thuộc huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa. Xã Diên Tân có diện tích 43,65 km², dân số 2.749 người, mật độ dân số đạt 63 người/km². Địa danh này nổi tiếng với loại nước khoáng thiên nhiên Đảnh Thạnh. Nguồn nước khoáng được khai thác ở thôn Đảnh Thạnh ở độ sâu 220m, nhiệt độ tại vòi trên 72⁰C, dưới chân núi Hòn Chuông.
1
null
Đông là một xã thuộc huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, Việt Nam. Địa lý. Xã Đông nằm ở phía Đông Nam huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, cách trung tâm huyện 5 km, có vị trí địa lý: Địa hình. Là xã ven đô, có địa hình thuộc vùng trung du và tương đối bằng phẳng. Hành chính. Xã Đông được chia thành 11 thôn làng. Lịch sử. Xã Đông là một xã được thành lập theo Nghị định số 181/NĐ-HĐBT, ngày 28 tháng 12 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), toàn xã có diện tích tự nhiên 16.416 ha. Năm 2006, Chính phủ ban hành nghị định số 39/NĐ-CP về chia tách xã mới là xã Đắk Smar từ xã Đông. Hiện nay, xã Đông có tổng diện tích tự nhiên 3.597,84 ha; có 4.401 hộ 5.881 khẩu. Kinh tế. Là một xã vùng II với cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển dịch vụ, qua quá trình sản xuất người dân đã dần tích lũy kinh nghiệm, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi. Với địa hình đất đai vừa đồi núi vừa đất bằng và cây trồng chủ lực là mía, mỳ, cà phê và một số cây rau màu như: ớt, dưa, bí, chanh dây... về vật nuôi chủ yếu là: bò lai, bò thịt, heo hướng nạc. Bên cạnh hiện đang vận động nhân dân chuyển dần sang cây Keo lai đối với những vùng đất đồi, đất đốc hoang hóa, bạc màu... từ đó kinh tế từng bước phát triển nhanh. Giao thông. Xã có đường tỉnh lộ 669 chạy qua lợi thế trong việc giao lưu trao đổi, buôn bán hang hóa.
1
null
Đồng Minh là một xã thuộc huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Xã Đồng Minh có diện tích 6,52 km², dân số năm 1999 là 7.341 người, mật độ dân số đạt 1.126 người/km². Tại đây có làng Bảo Hà nổi tiếng về nghề truyền thống như tạc tượng, múa rối. Tương truyền, cụ Nguyễn Công Huệ là người có công sáng lập, truyền dạy nghề tạc tượng cho dân làng Đồng Minh. Năm 1991, miếu Bảo Hà, tên chính thức là "Tam xã thượng đẳng từ" được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia, là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề.
1
null
Đồng Nai Thượng là một xã thuộc huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Địa lý. Xã Đồng Nai Thượng nằm ở bắc huyện Cát Tiên, có vị trí địa lý: Xã có diện tích 93,95 km², dân số năm 2002 là 2.429 người, mật độ dân số đạt 26 người/km². Lịch sử. Xã được thành lập vào năm 2002 trên cơ sở điều chỉnh 9.395 ha diện tích tự nhiên và 2.429 người của xã Tiên Hoàng.
1
null
Trương Định là một phường thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phường Trương Định có diện tích 0,52 km², dân số năm 2022 là 21.087 người, mật độ dân số đạt người/km². Khí hậu. Khí hậu ẩm và cận nhiệt đới .  Nhiệt độ trung bình là 23 ° C. Tháng ấm nhất là tháng Bảy, ở 28  ° C , và tháng Giêng lạnh nhất, ở 18 ° C.  Lượng mưa trung bình là 2.285 mm mỗi năm. Tháng ẩm ướt nhất là tháng 8, với lượng mưa 462 mm và tháng 1 ẩm ướt nhất với 17 mm.
1
null
Đông Quan là một xã thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Địa lý. Xã Đông Quan nằm ở trung tâm huyện Lộc Bình, có vị trí địa lý: Xã Đông Quan có diện tích 73,59 km², dân số năm 2018 là 6.791 người, mật độ dân số đạt 92 người/km². Lịch sử. Địa bàn xã Đông Quan hiện nay trước đây vốn là hai xã Đông Quan và Quan Bản thuộc huyện Lộc Bình. Trước khi sáp nhập, xã Đông Quan có diện tích 53,53 km², dân số là 4.675 người, mật độ dân số đạt 87 người/km². Xã Quan Bản có diện tích 20,06 km², dân số là 2.116 người, mật độ dân số đạt 105 người/km². Ngày 21 tháng 11 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 818/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Lạng Sơn (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020). Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của xã Quan Bản vào xã Đông Quan.
1
null
Kênh Lò Gốm là con kênh đào dài khoảng 3 km trên địa bàn Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Kênh này nối từ ngã tư rạch Lò Gốm, kênh Tàu Hủ và rạch Ruột Ngựa đến ngã ba nơi hợp lưu với kênh Đôi. Lịch sử. Kênh Lò Gốm (tên tiếng Pháp là "canal des Poteries") được chính quyền thực dân Pháp cho đào trong hai năm 1894–1895 để thay thế cho tuyến đường thủy rạch Ruột Ngựa – rạch Cát lúc bấy giờ đang bị bồi lấp. Lò Gốm vốn là địa danh tại vùng đất Chợ Lớn xưa. Theo một số tài liệu của Pháp, tại Chợ Lớn vào cuối thế kỷ XIX có khoảng 30 lò gốm tập trung ở Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai... Bản đồ Thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ từ cuối năm 1815 có ghi địa danh Xóm Lò Gốm ở khoảng làng Phú Lâm – Phú Định (ngày nay là khu vực giáp ranh Quận 6 và Quận 8). Ngày nay, dấu tích của xóm Lò Gốm xưa chỉ còn lại di tích Lò gốm cổ Hưng Lợi tại Phường 16, Quận 8 (xưa thuộc làng Hòa Lục).
1
null
Gia Cát là một xã thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Xã Gia Cát có diện tích 33,42 km², dân số năm 1999 là 4.403 người, mật độ dân số đạt 132 người/km². Theo thống kê năm 2019, xã Gia Cát có diện tích 33,42 km², dân số là 5.269 người, mật độ dân số đạt 158 người/km².
1
null
Giang Sơn là một xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Đền Du Tràng. Đền Du Tràng thờ hai vị tướng vốn là người Du Tràng nhưng không thuần phục sứ quân Lý Khuê, sau họ đem theo quân lính về Hoa Lư gia nhập lực lượng Đinh Bộ Lĩnh và có công dẹp loạn 12 sứ quân, lập ra triều đại nhà Đinh.
1
null
Giao Châu là một xã thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, Việt Nam. Xã Giao Châu phía Đông giáp xã Giao Nhân, phía Tây giáp xã Giao Yến, phía Bắc giáp xã Giao Tiến và Hoành Sơn, phía Đông Nam giáp xã Giao Long và Tây Nam giáp xã Bạch Long. Lịch sử: Từ năm 1945 trở về trước, các thôn làng của xã Giao Châu còn chung đơn vị hành chính với một số xã, các thôn Sa Châu, Tiên Chưởng cùng với thôn Duyên Thọ của xã Giao Nhân ngày nay. Năm 1946 thành lập xã Thọ Tiên Châu, năm 1956 xã Thọ Tiên Châu được tách thành hai xã Giao Châu và Giao Nhân. Đầu năm 1946 thành lập xã Minh Đức đến năm 1953 hợp nhất Minh Đức và Tân Dân thành xã Giao Tân. Cuối năm 1957 tách thôn Đắc Sở, Thúy Rĩnh, Hiệt Củ và xóm Bắc-Quân Lợi thành xã Giao Minh. Tháng 8 năm 1968 hai thôn Đắc Sở, Thúy Rĩnh được sát nhập và xã Giao Châu. Xã Giao Châu có bốn thôn là Sa Châu, Tiên Chưởng, Đắc Sở và Thúy Rĩnh. Đến nay xã có 12 xóm gồm Tiên Thủy, Tiên Thành, Tiên Hưng, Tiên Long, Minh Đoàn, Minh Lạc, Minh Thắng, Thành Thắng, Mỹ Bình, Lạc Thuần, Tây Sơn và xóm Đông Sơn. Có 02 hợp tác xã Nông nghiệp "(Nay gọi là HTX Sản xuất Kinh doanh dịch vụ Nông nghiệp)" với 15 đội sản xuất, HTX SXKDDVNN Minh Châu có 05 đội sản xuất, HTX SXKDDVNN Tân Châu có 10 đội sản xuất. Địa lý: Xã Giao Châu là xã nằm ở trung tâm của huyện Giao Thủy, cách thị trấn Ngô Đồng của huyện khoảng 05 km. Với diện tích tự nhiên 783,39 ha trong đó diện tích đất trồng lúa là 468,478 ha, xã có Quốc lộ 37B chạy qua và có tuyến sông Cồn Nhất bắt nguồn từ sông Hồng chảy qua nên rất thuận lợi về giao thông và phục vụ tưới tiêu thủy lợi. Tổng dân số của xã đến thời điểm 01/9/2021 là 9.672 khẩu với 2.701 hộ, được chia thành 12 xóm. Tôn giáo: Xã có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
1
null
Hà Sơn là một xã thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Từ xa xưa trên địa bàn xã này có tuyến kênh Nhà Lê nối từ kinh đô Hoa Lư đến Đèo Ngang đi qua, là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và được coi là tuyến đường Hồ Chí Minh trên sông vì những đóng góp cho các cuộc chiến tranh của người Việt (hiện là một đoạn của sông Lèn theo tên gọi địa phương).
1
null
Hà Tiến là một xã thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Địa lý. Xã Hà Tiến nằm ở phía tây huyện Hà Trung, có vị trí địa lý: Xã có diện tích 18,17 km², dân số năm 2019 là 6.405 người, mật độ dân số đạt 352 người/km². Lịch sử. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, địa bàn xã Hà Tiến hiện nay thuộc hai tổng Đông Bạn và Nam Bạn của huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Sau năm 1945, huyện Hà Trung được chia thành 10 xã, trong đó có xã Tân Tiến. Đến năm 1954, xã Tân Tiến được chia thành ba xã Hà Giang, Hà Tân và Hà Tiến.
1
null
Hải Cảng là một phường thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Việt Nam. Phường Hải Cảng có diện tích 3,02  km², dân số năm 2019 là 50.002 người, mật độ dân số đạt 16.557 người/km². Hành chính. Phường Hải Cảng được chia thành 11 khu vực: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 ("Hải Minh"), 10, 11.
1
null
Cầu Dã Viên còn gọi là cầu Dạ Viên, là một cây cầu bắc qua sông Hương ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Giới thiệu sơ lược. Cầu được khởi công xây dựng với tên gọi là "cầu đường bộ Bạch Hổ" (chạy song song với tuyến cầu sắt Bạch Hổ dùng cho tàu hỏa), và khánh thành ngày 31 tháng 8 năm 2012. Tháng 12 năm ấy, sau khi lấy ý kiến của nhân dân trên địa bàn và những người yêu Huế ở trong và ngoài nước, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã biểu quyết thông qua với hơn 77% số phiếu tán thành, và chính thức đặt tên là cầu Dã Viên . Cầu dài 542,5 m (gồm cả đường dẫn), rộng 24,5 m với bốn làn xe và hai lề đường dành cho người đi bộ. Cầu có năm nhịp và lan can. Điểm đầu cầu Bạch Hổ tại ngã ba giao với Quốc lộ 1 và đường Kim Long, điểm cuối nối với đường Bùi Thị Xuân. Dọc theo thân cầu có sáu vọng lâu để người dân và du khách có thể ngồi hóng mát, ngắm cảnh.. Thông tin liên quan. Trước khi có "cầu đường bộ Bạch Hổ" (tức cầu Dã Viên), thì nơi đây đã có "cầu sắt Bạch Hổ" dùng cho tàu hỏa. Theo bài viết "Cồn Dã Viên - Bạch Hổ của kinh thành Huế" đăng tải trên website "Đài Tiếng nói Việt Nam", thì vào năm 1908, tuyến đường sắt Huế – Quảng Trị được thiết lập, và hai cây cầu Bạch Hổ và Dã Viên có kết cấu bằng thép giống nhau đã được xây dựng. Cầu Bạch Hổ nối bờ bắc sông Hương tới cồn Dã Viên, có chiều dài 302,1 m. Cầu Dã Viên nối cồn với bờ nam sông Hương thuộc phường Đúc, dài 102,7 m. Cả hai cây cầu này đều có lối đi rất nhỏ hai chiều xuôi ngược biệt lập nằm ở một bên cầu. Lối đi này dành cho xe 2 bánh, không dành cho người đi bộ. Hai cây cầu đường sắt nguyên bản đã bị hư hại trong chiến tranh và đã được trùng tu. Đây là hai cây cầu độc lập của tuyến đường sắt, nhưng do quan niệm cồn Dã Viên là "bạch hổ" của Kinh thành, nên người dân Huế vẫn gọi chung tuyến giao thông ấy là "cầu sắt Bạch Hổ" Tranh cãi về tên cầu. Đã có nhiều tranh cãi về tên gọi "cầu Bạch Hổ". Theo đó, cây cầu đường sắt bắc qua sông Hương hiện nay khi được đưa vào sử dụng năm 1908 vốn mang tên là cầu Dã Viên, là cầu chung đường sắt và đường bộ chứ không mang tên Bạch Hổ. Còn cầu Bạch Hổ vốn là tên của cây cầu nhỏ bắc qua sông Kẻ Vạn trên con đường ven sông Hương đi chùa Thiên Mụ và khu Văn Thánh. Cầu được dựng bằng gỗ dưới đời Gia Long và được đặt tên là Bạch Hổ để đối xứng với cầu Thanh Long bắc qua Ngự Hà ở phía đông Kinh thành. Về sau, vua Minh Mạng cho đổi tên thành cầu Lợi Tế, tuy nhiên người dân vẫn quen gọi là cầu Bạch Hổ. Hiện nay tấm bia "Lợi Tế kiều" bằng đá vẫn còn tồn tại ở đầu cầu. Bản đồ Huế năm 1968 do quân đội Hoa Kỳ vẽ vẫn thể hiện rất rõ tên gọi hai cây cầu Bạch Hổ và Dã Viên. Năm 1990, cầu Bạch Hổ bị sập vì quá tải, nên được xây mới bằng bê tông cốt thép. Tuy nhiên lúc này chính quyền lại đổi tên thành cầu Kim Long, còn cầu Bạch Hổ lại trở thành tên của cây cầu đường sắt.
1
null
Hàm Giang là một xã thuộc huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam. Địa lý. Xã Hàm Giang nằm ở phía tây nam của huyện Trà Cú, có vị trí địa lý: Xã Hàm Giang có diện tích 16,52 km², dân số năm 2019 là 7.557 người, mật độ dân số đạt 457 người/km². Hành chính. Xã Hàm Giang được chia thành 7 ấp: Chợ, Nhuệ Tứ A, Nhuệ Tứ B, Trà Tro, Trà Tro A, Trà Tro B, Trà Tro C. Lịch sử. Sau năm 1975, Hàm Giang là một xã thuộc huyện Trà Cú. Ngày 1 tháng 8 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 86/2008/NĐ-CP<ref name=86/2008/NĐ-CP>Nghị định số 86/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thị trấn thuộc huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh</ref> về việc thành lập xã Hàm Tân thuộc huyện Trà Cú trên cơ sở điều chỉnh 2.098 ha diện tích tự nhiên và 7.759 nhân khẩu của xã Hàm Giang. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Hàm Giang còn lại 1.652 ha diện tích tự nhiên và 7.111 nhân khẩu. Ngày 15 tháng 10 năm 2019, Hội đồng Nhân dân tỉnh Trà Vinh ban hành Nghị quyết 157/NQ-HĐND<ref name=157/NQ-HĐND></ref> về việc sáp nhập ấp Cà Tốc vào ấp Chợ.
1
null
Hòa Lạc là một xã thuộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Xã Hòa Lạc có diện tích 27,86 km², dân số năm 1999 là 4.042 người, mật độ dân số đạt 145 người/km². Theo thống kê năm 2019, xã Hòa Lạc có diện tích 27,86 km², dân số là 4.892 người, mật độ dân số đạt 176 người/km².
1
null
Hòa Nghĩa là một xã thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, Việt Nam. Địa lý. Xã Hòa Nghĩa nằm ở trung tâm huyện Chợ Lách, có vị trí địa lý: Xã Hòa Nghĩa có diện tích là 17,93km², dân số năm 1999 là 11,033 người, mật độ dân số là 450 người/km². Hành chính. Xã Hòa Nghĩa được chia làm 9 ấp: Bình Thanh, Bình An, Đại An, Hòa Thạnh, Long Hiệp, Hưng Nhơn, Nhơn Phú, Định Bình. Tham khảo. [người viết: Huỳnh Trung Quốc]
1
null
Hoàng Việt là một xã thuộc huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Địa lý. Xã Hoàng Việt nằm ở phía nam huyện Văn Lãng, có vị trí địa lý: Xã Hoàng Việt có diện tích 26,50 km², dân số năm 2018 là 3.808 người, mật độ dân số đạt 144 người/km². Lịch sử. Ngày 21 tháng 11 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 818/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Lạng Sơn (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020). Theo đó, sáp nhập 9,17 km² diện tích tự nhiên và 1.414 người của xã Hoàng Việt (gồm 5 thôn: Thâm Mè A, Thâm Mè B, Khun Slam, Nà Khách, Lũng Cùng) vào thị trấn Na Sầm. Xã Hoàng Việt còn lại 26,50 km² diện tích tự nhiên và 3.808 người.
1
null
Hồng Gai (còn được gọi là Hòn Gai) là một phường thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Địa lý. Phường Hồng Gai nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long, có vị trí địa lý: Phường có diện tích 1,72 km², dân số năm 1999 là 7.836 người, mật độ dân số đạt 4.556 người/km². Lịch sử. Phường Hạ Long thuộc thị xã Hồng Gai được thành lập ngày 10/9/1981 từ hai tiểu khu Hạ Long và Ba Đèo. Đến năm 1993, thành phố Hạ Long được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Hồng Gai. Phường Hạ Long thuộc thành phố Hạ Long. Ngày 28 tháng 10 năm 1996, đổi tên phường Hạ Long thành phường Hồng Gai.
1
null
Hùng Cường là một xã thuộc thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam. Địa lý. Xã Hùng Cường có vị trí địa lý: Xã Hùng Cường có diện tích 5,29 km², dân số năm 2019 là 4.486 người, mật độ dân số đạt 847 người/km². Lịch sử. Ngày 6 tháng 8 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 95/NQ-CP<ref name=95/2013/NQ-CP></ref> về việc điều chỉnh toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Hùng Cường thuộc huyện Kim Động về thành phố Hưng Yên quản lý.
1
null
Kim Xuyên là một xã thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Địa lý. Xã Kim Xuyên có vị trí địa lý: Xã Kim Xuyên có diện tích 8,93 km², dân số 8.606 người, mật độ dân số 964 người/km². Xã có Quốc lộ 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua dọc xã theo hướng Đông Tây dài khoảng 3,5 km, chia xã thành hai nửa; nửa phía bắc có thôn Phương Duệ (còn gọi là Ròi), nửa phía nam có thôn Thiện Đáp (còn gọi là Giúp) và thôn Quỳnh Khê (còn gọi là Quỵnh) nằm ở hai bên. Ven đường cũng hình thành những khu dân cư mới. Hành chính. Xã Kim Xuyên được chia thành 3 thôn: Quỳnh Khê (xóm 1, 2, 3), Thiện Đáp (xóm 4, 5), Phương Duệ (xóm 6, 7).
1
null
Lạc An là một thị trấn thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Việt Nam. Địa lý. Xã Lạc An nằm ở phía đông nam huyện Bắc Tân Uyên, có vị trí địa lý: Xã Lạc An có diện tích 35,09 km², dân số năm 2022 là 11.576 người , mật độ dân số đạt 330 người/km². Hành chính. Thị Trấn Lạc An được chia thành 4 khu phố: 1, 2, 3, 4 và 1 ấp: Giáp Lạc. Lịch sử. Sau năm 1975, Lạc An là một xã thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ngày 17 tháng 11 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định 190/2004/NĐ-CP<ref name="190/2004/NĐ-CP"></ref>. Theo đó: Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Lạc An có 3.565 ha diện tích tự nhiên và 6.958 người. Từ ngày 29 tháng 12 năm 2013, xã Lạc An trực thuộc huyện Bắc Tân Uyên như hiện nay.
1
null
Giống như hầu hết các thành phố lớn, các khu vực đô thị Newcastle có một hệ thống rộng lớn của các liên kết đường bộ và vận tải đường bộ dựa trên các dịch vụ công cộng (xe buýt, taxi...) trải rộng hầu hết các vùng của cả Newcastle và hồ Macquarie và mở rộng vượt ra ngoài khu vực đô thị. Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ tương đối nhỏ của dân cư dọc các tuyến đường vận tải đường sắt lớn mới sử dụng đường tàu và các dịch vụ phà được giới hạn chỉ dành cho những người đi lại giữa Newcastle và Stockton. Trong khu vực đô thị, xe ô tô vẫn là hình thức ưu thế của giao thông vận tải. Tại thời điểm Tổng điều tra dân số năm 2001, chưa đến 4% dân số bắt các phương tiện giao thông công cộng, trong đó có khoảng 2,5% là đi bằng xe buýt và 1% sử dụng tàu hoặc phà để đi làm. Mặt khác, hơn 72% dân số sử dụng xe hơi khi đi làm. Newcastle, giống như tất cả các trung tâm đô thị lớn của Úc, có một hệ thống xe điện, tuy nhiên đã đóng cửa vào năm 1950. Đường bộ. Newcastle kết nối với các thành phố xung quanh nhờ các tuyến đường chính: Đường xa lộ Sydney-Newcastle (phía Nam), đường cao tốc New England (phía Tây) và đường cao tốc Pacific (phía Bắc). Hunter Street, phố mua sắm chính ở trung tâm thành phố Newcastle, là liên kết chính đến cao tốc Pacific. Dịch vụ xe buýt trong vòng Newcastle được điều hành bởi Newcastle Buses & Ferries, một chi nhánh của Cơ quan Vận tải bang New South Wales. Tại Newcastle, các tuyến xe buýt cố định đều miễn phí vé.Ở đây sóng điều khiển phát ra từ bến đỗ cuối cùng của xe buýt gần trạm Newcastle thuộc Đường sắt thành phố trên bờ sông của trung tâm Newcastle. Điểm trung chuyển chính được đặt tại Đại học Newcastle, Wallsend, Glendale, Warners Bay, Belmont, Charlestown, Westfield Kotara và trạm Broadmeadow. Đường sắt. Newcastle là phục vụ bởi hai tuyến đường sắt thành phố cung cấp các dịch vụ đi lại địa phương và khu vực. Newcastle & Tuyến Centre Coast có dịch vụ tàu chạy mỗi giờ tới Sydney và thậm chí tần suất thường xuyên hơn Centre Coast. Line Hunter phục vụ chặng Mailand hai chuyến mỗi giờ và vài chuyến một ngày đi Scone và Dungog. CountryLink (dịch vụ đường sắt liên tỉnh / tiểu bang) vận hành hai tuyến chạy xuyên Newcastle qua trạm qua Broadmeadow. Dịch vụ này cung cấp những chuyến đi tới Moree, Armidale, Brisbane và Sydney. Newcastle đã từng mở dịch vụ hành khách đường sắt tới Belmont, Toronto, Lake Macquarie, Wallsend, Kurri Kurri và một số thị trấn, làng mạc giữa Maitland và Cessnock, nhưng những tuyến này hiện đã bị đóng cửa. Cuối những năm 1990 nảy sinh cuộc tranh luận về tương lai của tuyến đường sắt vào trung tâm Newcastle. Chính phủ New South Wales đã có kế hoạch cắt đường tại trạm Broadmeadow, kết thúc dịch vụ đường sắt vào Newcastle ở trung tâm thành phố, và bán đất đường sắt cũ để phát triển. Tuy nhiên, đề xuất này sau đó chìm xuống. Đường thủy. Cảng của Newcastle là quan trọng đối với đời sống kinh tế của Newcastle và vùng Hunter Valley xa hơn nữa. Hơn 90 triệu tấn than được vận chuyển thông qua cơ sở mỗi năm - cảng xuất khẩu than lớn nhất trên thế giới. Cảng Newcastle được coi là cảng đầu tiên của Australia. Than lần đầu tiên được xuất khẩu từ cảng vào năm 1799. Newcastle Buses & Ferries vận hành dịch vụ phà qua sông Hunter giữa trung tâm thành phố Newcastle và Stockton. Đường không. Sân bay Newcastle nằm cách trung tâm thành phố Newcastle 15 km (9 dặm) về phía bắc. Sân bay là một liên doanh giữa Hội đồng thành phố Newcastle và Hội đồng cảng Stephens và tăng trưởng nhanh chóng từ năm 2000 như là một kết quả của sự gia tăng trong hoạt động hàng không chi phí thấp. Sân bay này nằm tại RAAF Based Williamtown, thuộc Không quân Hoàng gia Úc trên đất thuê từ Bộ Quốc phòng. Newcastle Heliport vận hành dọc theo khu vực thấp hơn của cảng Newcastle. Việc đóng cửa của sân bay Belmont, thường được gọi là Aeropelican, trong các vùng ngoại ô hồ Macquarie của Marks Point đã làm cho Williamtown trở thành sân bay lớn duy nhất ở Newcastle.
1
null
Lỗ Sơn là một xã thuộc huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, Việt Nam. Xã Lỗ Sơn có diện tích 16,7173 km², dân số năm 2002 là 3182 người, mật độ dân số đạt 190 người/km². Trên địa bàn xã còn gìn giữ được lễ hội đánh cá vào khoảng tháng 3 hàng năm khi đầu mùa mưa, đây là tập tục truyền thống từ thời phong kiến còn chế độ nhà Lang ở xứ Mường.
1
null
Mộc Hóa là một đơn vị hành chính cấp quận cũ tại miền Nam Việt Nam, tồn tại từ năm 1917 đến 1956. Quận Mộc Hóa được thành lập từ ngày 15 tháng 5 năm 1917, thuộc tỉnh Tân An, gồm có 2 tổng: Thanh Hòa Thượng với 9 làng, Thanh Hòa Hạ với 8 làng. Quận lỵ Mộc Hóa đặt tại làng Tuyên Thạnh. Ngày 17 tháng 02 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách quận Mộc Hoá khỏi tỉnh Tân An để thành lập tỉnh Mộc Hoá theo sắc lệnh số 21/NV.
1
null
Tào Hổ (chữ Hán: 曹虎, bính âm: Cáo Hǔ, ? – ?), tự Sĩ Uy, người Hạ Bi , tướng lĩnh nhà Nam Tề. Vì Nam sử được biên soạn vào đời nhà Đường, phải kỵ húy Đường Thái Tổ Lý Hổ, nên Lý Duyên Thọ đổi là Tào Vũ (曹武). Thời Cao đế. Ông vốn có tên là Tào Hổ Đầu. Cuối thời Lưu Tống Minh đế, đảm nhiệm Trực các tướng quân. Quế Dương vương Lưu Hưu Phạm khởi binh làm loạn, Hổ Đầu theo Tiêu Đạo Thành ra lũy Tân Đình nghênh chiến, trong trận đi đầu chém được một thủ cấp của kẻ địch đem về báo lên Đạo Thành, từ đó được ông ta nhận biết. Tiêu Đạo Thành đảm nhiệm Lĩnh quân tướng quân, Hổ Đầu được đề cử làm Phòng điện đội chủ, Trực tây trai vệ. Ngày thứ 2 sau khi Thương Ngô vương Lưu Dục bị giết, ông muốn tìm đường tránh nạn, chạy đến cửa Đông Trung Hoa thì tình cờ gặp Tiêu Đạo Thành, ông ta hỏi Hổ Đầu đi đâu, ông cố ý nói: "Tôi đang đi gặp ngài đây!" thế là ông giữ được chức vụ của mình. Tiêu Đạo Thành nắm quyền Đông phủ , để Hổ Đầu cùng Đái Tăng Tĩnh đều soái lĩnh 300 cấm quân. Sau đó được đổi nhiệm chức Đồn kị hiệu úy, kiêm chức Nam Thành lệnh. Hổ Đầu tham gia bình định cuộc nổi dậy của Viên Sán và Lưu Bỉnh ở thành Thạch Đầu, nhờ công thụ phong làm La Giang huyện nam, gia thụ Tiền quân tướng quân. Tiêu Đạo Thành kiến lập nhà Nam Tề, là Nam Tề Cao đế. Ông được tăng thực ấp thêm 400 hộ, lại thăng nhiệm Trực các tướng quân, thay làm Tế trượng quân chủ. Không lâu sau đổi nhiệm chức Ninh sóc tướng quân, Đông Hoàn thái thú. Mùa đông năm Kiến Nguyên đầu tiên (479) đông, Hổ Đầu dâng biểu thỉnh cầu gia phong hầu tước, quan viên của thượng thư tỉnh cho rằng ông chưa đủ tư cách, vì thế được đổi phong ở huyện Giám Lợi. Năm thứ 2 (480), gia thụ Du kích tướng quân, chức tước như cũ. Người ở Bành Thành , huyện Bái của Bắc Ngụy đánh tiếng khởi binh phản Ngụy, yêu cầu Nam Tề viện trợ, Cao đế vì thế phái Hổ Đầu soái lĩnh 6000 quân tiến vào 1 dải Qua Dương. Phản quân mãi không có tin tức, ông phát động tấn công doanh trại biên phòng của Bắc Ngụy, thu được vài thắng lợi. Do quân Tề tham lam cướp bóc tài vật, bị quân Ngụy thừa cơ đánh bại, thiệt hại gần 2.000 người. Thời Vũ đế. Vũ đế lên ngôi, Hổ Đầu đảm nhiệm Viên ngoại thường thị, đổi nhiệm Nam trung lang tư mã, kiêm chức Ninh sóc tướng quân, Nam Tân Thái thái thú. Năm Vĩnh Minh đầu tiên (483) lại đổi nhiệm Chinh lỗ tư mã của An Thành vương Tiêu Tú, quan chức như cũ. Năm thứ 2 (484), các dân tộc thiểu số ở khu vực Giang Châu bất mãn, Vũ đế hạ sắc thư lệnh cho Hổ Đầu lĩnh binh đồn thú Tầm Dương nhằm ổn định tình hình, rồi gia phong làm Phụ quốc tướng quân, Phạt Man quân chủ, thay làm Tầm Dương tướng. Không lâu sau đổi nhiệm Du kích tướng quân, vẫn giữ các chức Phụ quốc, Phạt Man. Vũ đế cho rằng cái tên "Hổ Đầu" quá nông cạn, vì thế hạ sắc lệnh cho ông đổi tên "Tào Hổ". Tháng 4 năm Vĩnh Minh thứ 6 (488), quân đội nông dân nổi dậy chống Nam Tề do Hoàn Thiên Sanh lãnh đạo một lần nữa đưa quân Bắc Ngụy vào chiếm Cách Thành, Vũ đế phái Tào Hổ đưa quân bản bộ đi thảo phạt. Ông lệnh cho Phụ quốc tướng quân Chu Công Ân soái 100 kỵ binh làm tiền phong dụ địch, vừa khéo đánh bại quân do thám của địch. Tào Hổ đưa quân bao vây Cách Thành, xây dựng rào lũy, cắt đứt đường lui của quân Bắc Ngụy. Không lâu sau, Hoàn Thiên Sanh đưa hơn 1 vạn quân bộ kỵ đến đánh, quân Tề hăng hái giết địch, bắt giết hơn 2000 người. Hôm sau, Tào Hổ đánh phá Cách Thành, chém chết Hổ uy tướng quân, Tương Thành thái thú Bạch Ô Chúc do Hoàn Thiên Sanh bổ nhiệm. Bị tiêu diệt hơn 2000 người, phản quân bị bức phải bỏ thành Bình Thị chạy trốn. Năm sau (489), được thăng làm Quan quân tướng quân, vẫn giữ các chức Kiêu kị như cũ. Năm thứ 8 (490), đổi nhiệm chức Thái tử tả vệ soái, sau đó lại đổi nhiệm chức Quan quân tư mã cho Tây Dương vương Tiêu Tử Minh, Quảng Lăng thái thú. Vũ đế viết trong sắc lệnh của Tào Hổ rằng: "Quảng Lăng là vùng đất tim ruột của triều đình, không phải là người được trẫm tín nhiệm, thì không thể đảm nhiệm chức thái thú ở đấy." Tùy Quận vương Tiêu Tử Long thay thế Ba Đông vương Tiêu Tử Hưởng đã bị giết đảm nhiệm Kinh Châu thứ sử, lấy quân đội của ông đi hộ tống, gia thụ cho ông làm Phụ quốc tướng quân, Trấn tây tư mã, Nam Bình nội sử. Năm thứ 11 (493), triều đình muốn bắt Ung Châu thứ sử Vương Hoán, lệnh cho Tào Hổ soái lĩnh mấy trăm bộ kị đi lừa lấy Tương Dương . Nhờ công được gia thụ Trì tiết, Đô đốc Lương, Nam - Bắc Tần, Sa 4 châu chư quân sự, Tây Nhung hiệu úy, Lương, Nam Tần 2 châu thứ sử, vẫn giữ các chức Phụ quốc như cũ. Không lâu đổi hiệu là Chinh lỗ tướng quân. Thời Minh đế. Úc Lâm vương lên ngôi, Tào Hổ đổi nhiệm Tiền tướng quân. Năm Long Xương đầu tiên (494), lại đổi nhiệm Đô đốc chư quân sự của Ung Châu, Cánh Lăng thuộc Dĩnh Châu, Tùy Quận thuộc Ti Châu, Quan quân tướng quân, Ung Châu thứ sử. Năm Kiến Vũ đầu tiên (494) thời Minh đế, đổi hiệu là Hữu tướng quân. Năm sau (495), đổi hiệu Đô đốc gọi là Giám quân, gia thụ Bình bắc tướng quân, tiến tước làm hầu, tăng tăng thực ấp thêm 300 hộ. Năm thứ 4 (497), quân Bắc Ngụy xâm phạm phía bắc Miện Thủy, Tào Hổ muốn đem quân tập trung ở Tương Dương, nhân vì ông cùng Nam Dương thái thú Phòng Bá Ngọc có mâu thuẫn, nên không thèm cứu viện, cuối cùng đưa quân triệt thoái về Phàn Thành. Quân Ngụy bao vây Nam Dương, Bắc Ngụy Hiếu Văn đế sai người làm 1 bài phú dài trào phúng Tào Hổ mượn công báo tư thù. Năm Vĩnh Thái đầu tiên (498), ông chuyển nhiệm Cấp sự trung, Hữu vệ tướng quân, Trì tiết, dưới quyền Đô đốc Trần Hiển Đạt lưu trú Tương Dương chống lại Bắc Ngụy. Độ chi thượng thư Thôi Tuệ Cảnh ở huyện Đặng đại bại, quân Ngụy thừa thắng tiến đến phía bắc Miện Thủy, Bắc Ngụy Hiếu Văn đế soái 10 vạn đại quân, đem theo nghi trượng của hoàng đế đến bao vây Phàn Thành, Tào Hổ đóng cửa cố thủ. Sau khi chủ lực quân Ngụy triệt thoái, ông phái hơn 10 cánh quân của bọn Quân chủ Điền An Chi truy kích. Thời Đông Hôn hầu. Đông Hôn hầu lên ngôi, lại được thăng làm Tiền tướng quân, Trấn quân tư mã. Năm Vĩnh Nguyên đầu tiên (499), Tào Hổ soái quân đóng giữ cầu Thanh Khê Trung, tham gia bình định cuộc nổi dậy của Thủy An vương Tiêu Diêu Quang. Được đổi nhiệm Tán kị thường thị, Hữu vệ tướng quân. Tào Hổ tính rất cương nghị, lại giỏi kết giao với khắp các loại người, vì thế trong nhà nuôi ăn có đến vài trăm người. Về sau ông sinh tật nhận hối lộ, trong thời gian nhiệm chức ở Ung Châu, Tào Hổ thu về từ 5 đến 7 vạn tiền , nhưng nô bộc, kỹ thiếp trong nhà chỉ được ăn rau, không được ăn thịt. Ông xây dựng tường ngoài thật rộng, chứa 800 thớt ngựa; gặp được ruộng vườn tốt, đều tìm cách mua lấy. Khi xưa Tào Hổ đưa quân ra Qua Dương, đem theo cả đội nhạc nổi tiếng của Thẩm Du Chi ngày trước, gọi là Ngu Nhạc. Ông thường mời các sủng thần của Đông Hôn hầu là Mai Trùng Nhi, Như Pháp Trân đến nhà xem múa hát, vàng ngọc lóa mắt, quần áo sặc sỡ, khiến bọn họ đều ham muốn. Đông Hôn hầu cho rằng Tào Hổ là lão tướng, vừa khiếp sợ uy vọng của ông, lại vừa thèm khát tài sản của ông. Vì thế Tào Hổ còn chưa lên đường nhiệm chức vụ mới, Đông Hôn hầu đã cho người đến bắt. Khi quân triều đình đến, Tào Hổ than: "Các người biết ta không có ý khác. Sở dĩ giết ta, là muốn chiếm đoạt tài sản và nữ kỹ của ta mà thôi. Hận rằng không nhìn ra việc này!" Bấy giờ ông đã ngoài 60 tuổi. Các con đã trưởng thành đều bị hại, chỉ có những người còn nhỏ là được tha. Năm Trung Hưng đầu tiên (501) thời Hòa đế, Tào Hổ được truy tặng An bắc tướng quân, Từ Châu thứ sử. Dật sự. Tào Hổ tuy là võ sĩ, nhưng rất biết nhìn người. Khi xưa ông ở Tương Dương cùng Thôi Tuệ Cảnh và Tiêu Diễn, tuy Thôi đang lúc hiển quý, nhưng Tào Hổ tính tằn tiện, không thích giao thiệp với ông ta, lại hay tặng biếu Tiêu Diễn tiền bạc, lương thực và ngựa tốt, còn nói: "Anh ắt sẽ đại quý, ta bây giờ chưa được thấy, xin gởi gắm mấy đứa con nhỏ cho anh." Bấy giờ Tiêu Diễn thiếu thốn, vay tiền của Tào Hổ lên đến 17 vạn. Tiêu Diễn lên ngôi, là Lương Vũ đế, quên đi ân huệ của Tào Hổ. Một đêm Vũ đế nằm mơ, thấy mình đang đứng giữa ruộng lúa, hai bên nước sâu không đáy, gặp Tào Vũ đến, cõng Vũ đế đi qua. Ông nói: "Anh nay đã là chủ của thiên hạ, mà lại quên lời nhờ cậy của ta năm xưa. Con ta đang nghèo đói, chỗ nợ 17 vạn trước đây, xin trả lại cho chúng làm ăn." Đế tỉnh dậy, lập tức gởi thư trả tiền cho các con của Tào Hổ là Thế Trừng, Thế Tông. Sau đó bọn họ thường xuyên được cất nhắc, trong 2, 3 năm đã được nắm quyền ở những quận lớn.
1
null
Nam Ninh là một xã thuộc huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Địa lý. Xã Nam Ninh nằm ở phía đông huyện Cát Tiên, có vị trí địa lý: Xã Nam Ninh có diện tích 36,27 km², dân số năm 2018 là 3.586 người, mật độ dân số đạt 99 người/km². Lịch sử. Sau năm 1975, địa bàn xã Nam Ninh ngày nay thuộc xã Đồng Nai, huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé. Ngày 29 tháng 12 năm 1981, Quốc hội ban hành nghị quyết chuyển xã Đồng Nai về huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng quản lý. Ngày 6 tháng 3 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 38-HĐBT. Theo đó, chia xã Đồng Nai thành 4 xã: Đồng Nai, Quảng Ngãi, Phù Mỹ, Phước Cát. Ngày 6 tháng 6 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 67-HĐBT. Theo đó: Cùng ngày, huyện Đạ Huoai được chia thành 3 huyện: Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên; các xã Mỹ Lâm và Nam Ninh chuyển sang trực thuộc huyện Cát Tiên mới thành lập. Trước khi sáp nhập, xã Nam Ninh có diện tích 20,43 km², dân số là 2.293 người, mật độ dân số đạt 112 người/km². Xã Mỹ Lâm có diện tích 15,84 km², dân số là 1.293 người, mật độ dân số đạt 82 người/km². Ngày 17 tháng 12 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 833/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Lâm Đồng (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020). Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của xã Mỹ Lâm vào xã Nam Ninh.
1
null
Nam Quan là một xã thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Xã Nam Quan có diện tích 62,12 km², dân số năm 1999 là 2.191 người, mật độ dân số đạt 35 người/km². Theo thống kê năm 2019, xã Nam Quan có diện tích 62,12 km², dân số là 2.385 người, mật độ dân số đạt 38 người/km².
1
null
Nghi Sơn là một xã thuộc thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Địa lý. Nghi Sơn là một xã đảo nằm ở phía đông nam thị xã Nghi Sơn, có vị trí địa lý: Xã Nghi Sơn nằm trên đảo Biện Sơn, có diện tích 3,07 km², trong đó đất nông nghiệp chỉ khoảng 20 ha, dân số năm 1999 là 6.463 người, mật độ dân số đạt 2.105 người/km², người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản. Lịch sử. Xã Nghi Sơn được thành lập vào ngày 14 tháng 12 năm 1984 trên cơ sở đảo Biện Sơn thuộc xã Hải Thượng. Ngày 22 tháng 4 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 thành lập thị xã Nghi Sơn trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Tĩnh Gia. Xã Nghi Sơn thuộc thị xã Nghi Sơn như hiện nay.
1
null
Nghi Thủy là một phường thuộc thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Địa lý. Phường Nghi Thủy có vị trí địa lý: Phường Nghi Thủy có diện tích 0,94 km², dân số năm 1994 là 5.400 người, mật độ dân số đạt 5.745 người/km². Lịch sử. Trước đây, phường Nghi Thủy là một phần thuộc thị trấn Cửa Lò cũ của huyện Nghi Lộc. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định 113-CP năm 1994 về việc thành lập thị xã Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An.<ref name=113/1994/CP>Nghị định 113-CP năm 1994 về việc thành lập thị xã Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An</ref> Theo đó, thành lập phường Nghi Thủy trên cơ sở diện tích tự nhiên 94 hécta với nhân khẩu 5.400 của thị trấn Cửa Lò.
1
null
Plei Ku Der còn được viết là Plei-Kou-Derr hay Pleiku Derr, là một tỉnh cũ trong lịch sử Việt Nam, tồn tại chỉ trong 3 năm: 1904-1907. Lịch sử. Sau khi thực dân Pháp nắm được quyền cai trị Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này. Về danh nghĩa, vùng đất này vẫn thuộc quyền cai trị của Nam triều, nhưng trên thực tế, kể từ năm 1889 được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn. Năm 1892, chính quyền thực dân Pháp cho đặt tòa đại lý hành chính Kon Tum, do một giáo sĩ người Pháp là Vialleton (tên Việt: Truyền) phụ trách, trực thuộc tòa công sứ Bình Định. Ngày 16 tháng 10 năm 1896, khâm sứ Trung Kỳ là Léon Jules Pol Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung Kỳ. Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ ngày 16 tháng 10 trao cho chính quyền thực dân Pháp toàn quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây. Năm 1901, chính quyền thực dân Pháp đặt sở đại lý ở Trà Mi, tỉnh Quảng Ngãi để quản lý toàn vùng sơn cước bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Tuy đây chưa phải là đất Cao nguyên nhưng được dùng làm cơ sở tiếp quản dần, tách rời vùng mạn ngược với miền xuôi. Ngày 4 tháng 7 năm 1904, chính quyền thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei Ku Der, bao gồm hai tòa đại lý hành chính là Kon Tum (trước đây thuộc Bình Định) và Cheo Reo (trước đây thuộc Phú Yên). Theo các nhà nghiên cứu, cách viết ban đầu từ "Plei-Kou-Derr" có thể thoát thai từ tiếng Jarai "Plơi Kơdưr" được phiên tự theo cách viết tiếng Pháp. "Plơi" tiếng Jarai nghĩa là "làng". Còn "Kơdưr" có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là "hướng Bắc", nghĩa thứ hai là "trên cao". Cả hai nghĩa này đều phù hợp với vị trí của Pleiku. Bởi vì ngày xưa vùng đất sinh sống của người Jarai là phía Nam của Pleiku, từ Phú Thiện trở vào. Với nghĩa thứ hai, Pleiku là làng có độ cao hơn so với các làng khác của người Jarai. Như vậy, "Plơi Kơdưr" nghĩa là "làng Bắc" hoặc "làng thượng" (trên cao). Về việc phiên tự "Kơ" thành "Kou" có thể là do lúc đó chưa có ký tự "ơ" như ngày nay nên người ta dùng hai ký tự "ou" để đọc là "ơ". Còn "Dưr" được viết thành "Derr" có thể là do lúc đó chưa có ký tự "ư" nên viết thành "e".Cái tên "Plei-Kou-Derr" có thể là từ tiếng Jrai "Plơi Kơdưr Chư Hdrông" trong tiếng Jrai có nghĩa là "Những ngôi làng phía bắc núi Chư Hdrông" (tức Núi Hàm Rồng), có lẽ ám chỉ khu vực sinh sống của người Jarai nhóm Jrai Hdrông và Jarai A-ráp xung quanh núi lửa đã tắt Chư Hdrông. Tuy nhiên, chỉ 3 năm sau, ngày 25 tháng 4 năm 1907, chính quyền thực dân Pháp lại bãi bỏ tỉnh Plei Ku Der. Toàn bộ đất đai của tỉnh Plei Ku Der gồm hai tòa đại lý hành chính Kon Tum và Cheo Reo được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như trước đó. Suốt thời gian tồn tại của mình, tỉnh Pleiku Derr đặt dưới quyền cai trị của một công sứ Pháp duy nhất: Leon Plantié.
1
null
Ngọc Lĩnh là một xã thuộc thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Địa lý. Xã Ngọc Lĩnh nằm ở phía bắc thị xã Nghi Sơn, có vị trí địa lý: Xã Ngọc Lĩnh có diện tích 8,57 km², dân số năm 1999 là 5.952 người, mật độ dân số đạt 695 người/km². Lịch sử. Trước đây, Ngọc Lĩnh là một xã thuộc huyện Tĩnh Gia. Ngày 22 tháng 4 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 thành lập thị xã Nghi Sơn trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Tĩnh Gia. Xã Ngọc Lĩnh thuộc thị xã Nghi Sơn như hiện nay.
1
null
Nguyễn Thái Học là một phường thuộc thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Việt Nam. Địa lý. Phường Nguyễn Thái Học có vị trí địa lý: Phường Nguyễn Thái Học có diện tích 1,75 km², dân số năm 2019 là 12.345 người, mật độ dân số đạt 7.054 người/km². Hành chính. Phường Nguyễn Thái Học được chia thành 15 tổ dân phố. Lịch sử. Sau năm 1975, Nguyễn Thái Học là một phường thuộc thị xã Yên Bái. Ngày 6 tháng 6 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 101-HĐBT về việc phân vạch địa giới hành chính một số phường thuộc thành phố Yên Bái. Theo đó, chia phường Nguyễn Thái Học thành 2 phường lấy tên là phường Nguyễn Thái Học và phường Yên Ninh. Phường Nguyễn Thái Học (mới) có 63 tổ dân phố (từ tổ 1 đến tổ 63) và 10.580 nhân khẩu. Ngày 11 tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 05/2002/NĐ-CP<ref name=05/2002/NĐ-CP>Nghị định 05/2002/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Yên Bái thuộc tỉnh Yên Bái</ref> về việc thành lập thành phố Yên Bái thuộc tỉnh Yên Bái. Phường Nguyễn Thái Học từ đó trực thuộc thành phố Yên Bái.
1
null
Phú Dương là một xã thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Địa lý. Xã Phú Dương nằm ở phía bắc thành phố Huế, có vị trí địa lý: Xã có diện tích 5,85 km², dân số năm 2020 là 10.981 người, mật độ dân số đạt 1.877 người/km². Hành chính. Xã Phú Dương được chia thành 9 thôn: Dương Nổ Cồn, Dương Nổ Đông, Dương Nổ Nam, Dương Nổ Tây, Lưu Khánh, Mỹ An, Phò An, Phú Khê, Thạch Căn. Lịch sử. Trước đây, Phú Dương là một xã thuộc huyện Phú Vang. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Phú Vang sáp nhập với huyện Hương Thủy thành huyện Hương Phú, xã Phú Dương thuộc huyện Hương Phú. Ngày 11 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 64-HĐBT. Theo đó, sáp nhập xã Phú Dương vào thành phố Huế. Ngày 29 tháng 9 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 345-HĐBT. Theo đó, chuyển xã Phú Dương về huyện Phú Vang vừa tái lập. Ban đầu, xã Phú Dương là huyện lỵ của huyện Phú Vang. Tuy nhiên, đến năm 2003, huyện lỵ được dời về xã Phú Đa (nay là thị trấn Phú Đa). Ngày 27 tháng 4 năm 2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1264/NQ-UBTVQH14 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2021). Theo đó, chuyển xã Phú Dương trở lại thành phố Huế quản lý. Di tích. Trên địa bàn xã có hai di tích nằm trong hệ thống di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên Huế là nhà lưu niệm Bác Hồ và đình làng Dương Nổ. Làng Dương Nổ là nơi Nguyễn Sinh Cung (Chủ tịch Hồ Chí Minh) sinh sống và học tập từ năm 1898 đến năm 1900 cùng với cha là cụ Nguyễn Sinh Sắc và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm.
1
null
Phù Lãng là một xã thuộc thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Địa lý. Xã Phù Lãng nằm ở phía đông thị xã Quế Võ, có vị trí địa lý: Văn hóa. Nơi đây nổi tiếng với làng gốm Phù Lãng, làng nghề cổ truyền từ xa xưa của vùng Kinh Bắc. Phù Lãng có trung tâm chính là phố Lê Dương hay còn gọi là Ngã 3 cảm tử, xưa gọi là thôn Phấn Trung, nay là thôn Phù Lãng.
1
null
Phù Lương là một phường thuộc thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Địa lý. Phường Phù Lương nằm ở phía đông thị xã Quế Võ, có vị trí địa lý: Phường có diện tích 7,76 km², dân số năm 2022 là 6.665 người, mật độ dân số đạt 858 người/km². Hành chính. Phường Phù Lương có 3 khu dân cư: Phù Lang, Yên Đinh và Hiền Lương. Lịch sử. Trước đây, Phù Lương là một xã thuộc huyện Quế Võ. Ngày 13 tháng 2 năm 2023, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 723/NQ-UBTVQH15 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 4 năm 2023). Theo đó, thành lập thị xã Quế Võ và thành lập phường Phù Lương thuộc thị xã Quế Võ trên cơ sở toàn bộ 7,76 km² diện tích tự nhiên, 6.665 người của xã Phù Lương.
1
null
Phúc Lâm là một xã thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phúc Lâm là một xã của huyện Mỹ Đức, nằm ở cực Bắc huyện, giáp với 2 huyện là Chương Mỹ và Ứng Hoà, phía đông có sông Đáy. Năm 2016, Xã Phúc Lâm là 1 trong 3 xã của huyện Mỹ Đức được UBND thành phố Hà Nội trao bằng công nhận Xã đạt chuẩn nông thôn mới.. Thời Bảo Đại, xã Phúc Lâm có thôn: Đường Mít và Chân Chim. Đến 1953, tách thôn Đồng Mít để ghép lập nên xã Đồng Tâm, đồng thời, nhập thôn Khảm Lâm về xã Phúc Lâm như hiện nay. xã có 4 thôn: Phúc Lâm, Chân Chim, Khảm Lâm, Phụ Yên (nhập từ năm 1953)
1
null
Tacite (Tên La Mã đầy đủ là Publius Cornelius Tacitus) là nhà sử gia người La Mã nổi tiếng nhất của nhân loại, sống vào thế kỉ thứ 1. Cuộc đời. Ông sinh vào năm 58 và mất năm 120. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiệp sĩ lâu đời và ngay từ nhỏ đã được gia đình hướng theo học Luật. Lúc bấy giờ, ông là học trò của nhiều nhà hùng biện nổi tiếng của La Mã. Sau khi trở thanh một luật sư xuất sắc, ông kết hôn với con gái của nhà cầm quyền cao cấp vào năm 77. Từ đó, con đường danh vọng của ông đã rộng mở. Tacite là một người được rất nhiều tầng lớp trí thức ngưỡng mộ và nể phục bởi tài năng và trí tuệ siêu phàm của ông. Sự nghiệp. Vào năm 78, ông được cử làm quan cai quản về Tài chính (năm 78), sau đó là Pháp quan (năm 88) và Tổng tài (năm 97). Thời gian này, ông bắt đầu viết sách, đó là những tác phẩm về thơ ca, luận văn rất đặc sắc và có giá trị. Nhưng đến nay hầu hết các tác phẩm đã bị thất lạc. Tác phẩm tiêu biểu của ông như là Đối thoại giữa những nhà hùng biện ghi lại cuộc tranh luận của Maternus Aper và Messala xung quanh lợi ích của thi ca và hùng biện. Sau đó là tác phẩm Julius Agricola kể về cuộc đời và công việc cai quản của chính người cha vợ của ông. Lần lượt sau đó là tác phẩm Biên niên sử ghi chép lại những biến cố xảy ra trong 54 năm, rồi Lịch sử hiện đại ghi lại lịch sử La Mã từ năm 68 đến năm 96. Ngoài ra là nhiều bộ sử ký ghi chép khác nhưng đều thất lạc hoặc không còn đầy đủ. Các sự kiện ghi chép của ông đều tôn trọng sự thật, không hề bao che những tội ác của nhân vật đương thời hay những bất công trong xã hội đều được ông ghi chép rất chân thật. Đây là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu các bút ký, sách và tham khảo ý kiến của nhiều nhà sử gia, nhân chứng để tổng hợp thành những tác phẩm hoàn hảo. Nhiều nhà phê bình văn học và sử gia đương đại coi ông là "Một nhà sử gia vĩ đại và lỗi lạc nhất của nhân loại". Ngoài khả năng về ghi chép sử học, ông còn là một nhà văn đầy tài năng với những tác phẩm văn thơ được đánh giá cao lúc bấy giờ.
1
null
Quốc Khánh là một xã thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Xã Quốc Khánh có diện tích 68,73 km², dân số năm 1999 là 5.941 người, mật độ dân số đạt 86 người/km². Theo thống kê năm 2019, xã Quốc Khánh có diện tích 68,73 km², dân số là 5.992 người, mật độ dân số đạt 87 người/km².
1
null
Tân Bắc là một xã thuộc huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, Việt Nam. Địa lý. Xã Tân Bắc nằm ở trung tâm huyện Quang Bình, có vị trí địa lý: Xã Tân Bắc có diện tích 62,97 km², dân số năm 2022 là 4.610 người, mật độ dân số đạt 73 người/km². Hành chính. Xã Tân Bắc được chia thành 7 thôn. Lịch sử. Ngày 1 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 146/2003/NĐ-CP<ref name=146/2003/NĐ-CP></ref> về việc: Ngày 17 tháng 11 năm 2023, UBND tỉnh Hà Giang ban hành Quyết định số 2266/QĐ-UBND<ref name=2266/QĐ-UBND>Quyết định số 2266/QĐ-UBND ngày 17/11/2023 của UBND tỉnh Hà Giang về việc công nhận xã Tân Bắc, huyện Quang Bình đạt tiêu chuẩn đô thị loại V.</ref> về việc công nhận xã Tân Bắc đạt tiêu chuẩn đô thị loại V.
1
null
Tân Hoa là một xã thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam. Địa lý. Xã Tân Hoa có diện tích 20,5 km², dân số năm 1999 là 4.938 người, mật độ dân số đạt 241 người/km². Lịch sử. Ngày 8 tháng 12 năm 2016, HĐND tỉnh Bắc Giang ban hành Nghị quyết số 41/NQ-HĐND về việc:
1
null
Tấn Mỹ là một xã thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Việt Nam. Địa lý. Xã Tấn Mỹ nằm trên cù lao Giêng, có vị trí địa lý: Xã Tấn Mỹ có diện tích 26,87 km², dân số năm 2019 là 16.238 người, mật độ dân số đạt 835 người/km². Hành chính. Xã Tấn Mỹ được chia thành 10 ấp: Tấn Bình, Tấn Hòa, Tấn Long, Tấn Hưng, Tấn Lợi, Tấn Phú, Tấn Phước, Tấn Thạnh, Tấn Thuận và Tấn Quới.
1
null
Tân Nam là một xã thuộc huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, Việt Nam. Địa lý. Xã Tân Nam nằm ở phía bắc huyện Quang Bình, có vị trí địa lý: Xã Tân Nam có diện tích 82,56 km², dân số năm 2019 là 3.092 người, mật độ dân số đạt 38 người/km². Lịch sử. Trước đây, Tân Nam là một xã thuộc huyện Xín Mần. Ngày 1 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 146/2003/NĐ-CP<ref name=146/2003/NĐ-CP>Nghị định 146/2003/NĐ-CP thành lập xã thuộc huyện Bắc Quang và thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang</ref> về việc thành lập huyện Quang Bình trên cơ sở điều chỉnh 7.683 ha diện tích tự nhiên và 2.482 nhân khẩu của xã Tân Nam thuộc huyện Xín Mần sang trực thuộc huyện Quang Bình.
1
null
Tân Trịnh là một xã thuộc huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, Việt Nam. Địa lý. Xã Tân Trịnh nằm ở phía đông huyện Quang Bình, có vị trí địa lý: Xã Tân Trịnh có diện tích 51,81 km², dân số năm 2019 là 4.656 người, mật độ dân số đạt 90 người/km². Lịch sử. Trước đây, Tân Trịnh là một xã thuộc huyện Bắc Quang. Ngày 1 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 146/2003/NĐ-CP<ref name=146/2003/NĐ-CP>Nghị định 146/2003/NĐ-CP thành lập xã thuộc huyện Bắc Quang và thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang</ref> về việc thành lập huyện Quang Bình trên cơ sở điều chỉnh xã Tân Trịnh thuộc huyện Bắc Quang sang trực thuộc huyện Quang Bình.
1
null
Tăng Thành là một xã thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Địa lý. Xã Tăng Thành nằm ở phía tây nam huyện Yên Thành, cách trung tâm huyện khoảng 2 km, có vị trí địa lý: Xã Tăng Thành có diện tích 8,22 km², dân số năm 2019 là 7.249 người, mật độ dân số đạt 881 người/km². Hành chính. Xã Tăng Thành được chia thành 7 xóm: 1 (làng Trần Phú), 2 (làng Đồng Bung), 3 (làng Trung Nguyên), 4 (làng Bình Nguyên), 5 (làng Phúc Nguyên), 6 (làng Long Hồi), 7 (làng Tích Phúc). Lịch sử. Năm 1898, xã Tăng Thành ngày nay thuộc xã Quan Hóa (gồm 4 thôn: Xuân Nguyên, Phúc Tăng, Long Hồi, Tích Phúc), tổng Quan Hoá, huyện Yên Thành, phủ Diễn Châu. Năm 1952, chia xã Quan Hóa thành hai xã Tăng Thành và xã Xuân Thành. Ngày 25 tháng 3 năm 1953, thành lập xã Tăng Thành trên cơ sở một phần địa giới và dân số của xã Quan Hoá cũ. Xã Tăng Thành gồm các làng: Long Hồi, Phúc Tăng, Tích Phúc và 1/3 làng Xuân Nguyên. Ngày 4 tháng 4 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 37-HĐBT về việc thành lập thị trấn Yên Thành trên cơ sở 69,15 ha diện tích tự nhiên và 1.089 nhân khẩu của Chòm 5, xã Tăng Thành. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Tăng Thành còn 1.145,85 hécta diện tích tự nhiên với 3.667 nhân khẩu. Ngày 12 tháng 7 năm 2019, HĐND tỉnh Nghệ An ban hành Nghị quyết số 08/NQ-HĐND về việc:
1
null
Thành Trung là một xã thuộc huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam. Địa lý. Xã Thành Trung nằm ở phía đông huyện Vũng Liêm, có vị trí địa lý: Xã Thành Trung có diện tích 16,34 km², dân số năm 2009 là 5.466 người, mật độ dân số đạt 335 người/km². Hành chính. Xã Thành Trung được chia thành 7 ấp: Thành Hiếu, Thành Hưng, Thành Lễ, Thành Lộc, Thành Qui, Thành Sơn, Thành Thuận. Lịch sử. Ngày 6 tháng 12 năm 2019, Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Nghị quyết 228/NQ-HĐND<ref name=228/NQ-HĐND></ref> về việc:
1
null
Tân Phong là một xã thuộc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Xã Thuận Thiên có diện tích 528 ha, dân số năm 1999 là 9022 người, mật độ dân số đạt 1679 người/km². Đây là xã có dự án Đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng đi qua. Vị trí địa lý. Xã Thuận Thiên nằm về phía Bắc huyện Kiến Thụy; phía Bắc giáp Sông Đa Độ; phía Đông giáp xã Hữu Bằng, phía Nam giáp xã Kiến Quốc, phía Tây giáp xã An Thái, An Lão. Từ trung tâm xã đến Trung tâm huyện lỵ theo đường 405 dài 5 km.
1
null