text stringlengths 1 148k | label int64 0 2 | __index_level_0__ int64 0 113k ⌀ |
|---|---|---|
Asa Griggs Candler (30 tháng 12 năm 1851 - 12 tháng 3 năm 1929) là một doanh nhân trùm tư bản người Mỹ với khối tài sản kiếm được từ việc kinh doanh Coca-Cola. Ông cũng đồng thời là thị trưởng thứ 44 của Atlanta, Georgia từ năm 1916 đến năm 1919. Candler Field, ngày nay là Sân bay quốc tế Hartsfield-Jackson Atlanta, được đặt tên theo ông. Công viên Candler ở Atlanta cũng được đặt tên theo ông.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Candler sinh ra tại Rome, Georgia. Ông bắt đầu sự nghiệp kinh doanh bằng việc là chủ một hiệu thuốc và sản xuất những loại thuốc được cấp bằng sáng chế. Vào năm 1887, ông đã mua công thức Coca-Cola từ người sáng tạo ra nó John Pemberton vài người có cổ phần khác với giá 550 đô la. Thành công của Coca-Cola phần lớn dựa vào chiến lược marketing mạnh mẽ của Candler. Candler đã kiếm được hàng triệu đô la từ sự đầu tư của mình, cho phép ông xây dựng tập đoàn "Central Bank and Trust", đầu tư vào bất động sản và trở thành một nhà hảo tâm lớn. Ông đã tặng 1 triệu đô la cùng với nhiều đất đai cho trường Đại học Emory, nơi ông học thần học khi chuyển từ Oxford, Georgia tới Atlanta. | 1 | null |
Bầu cử Hoa Kỳ 2012 là cuộc bầu cử toàn quốc Hoa Kỳ diễn ra vào thứ ba, ngày 6 tháng 11 năm 2012. Cuộc bầu cử này gồm có nhiều cuộc bầu cử địa phương thay vì chỉ có 1 cuộc bầu cử toàn quốc. Trong cuộc bầu cử này gồm có cuộc bầu cử tổng thống, quốc hội, và địa phương. Trong Quốc hội, toàn bộ 435 ghế trong Hạ nghị viện đều được bầu cho khóa 113, và 33 trong 100 ghế của Thượng nghị viện cũng được bầu lại. Tại cấp địa phương, 13 trong 50 thống đốc tiểu bang cũng được bầu. Thêm vào đó, vô số chức vụ địa phương khác và nhiều cuộc trưng cầu dân ý cũng được đưa vào lá phiếu.
Tổng thống.
Tổng thống đương nhiệm Barack Obama, người đang ứng cử cho nhiệm kỳ thứ 2 và cuối cùng của mình, là ứng cử viên chính thức của Đảng Dân chủ. Đối thủ chính của ông là cựu Thống đốc tiểu bang Massachusetts Mitt Romney, ứng cử viên của Đảng Cộng hòa. Hai ứng cử viên khác cũng hiện diện trên đủ lá phiếu để có cơ hội giành đa số phiếu đại cử tri đoàn để thắng cử trên lý thuyết: cựu Thống đốc tiểu bang New Mexico Gary Johnson, ứng cử viên của Đảng Tự do; và Jill Stein, ứng cử viên của Đảng Xanh. Virgil Goode, ứng cử viên Đảng Lập hiến, và Rocky Anderson, ứng cử viên Đảng Công lý hiện diện trên đủ lá phiếu nếu tính luôn các phiếu cho phép tự điền tên.
Đây là cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên kể từ cuộc Điều tra dân số năm 2010 đã thay đổi phân chia số phiếu cho Đại cử tri đoàn.
Quốc hội.
Thượng nghị viện.
Theo Hiến pháp, cứ mỗi 2 năm thì 1/3 trong số ghế thượng nghị sĩ được bầu vào nhiệm kỳ 6 năm. Năm 2012, 33 thượng nghị sĩ thuộc "Khối 1" được bầu, với nhiệm kỳ bắt đầu từ ngày 3 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 3 tháng 1 năm 2019. Thêm vào đó, các ghế trống trong Quốc hội khóa 112 cũng được đưa ra bầu (hiện nay chưa có ghế trống nào). Hiện nay, Đảng Dân chủ được dự kiến sẽ có 21 ghế được đưa ra bầu, cộng thêm hai ghế độc lập theo phe Dân chủ, trong khi Đảng Cộng hòa chỉ có 10 ghế được đưa ra bầu. Trước cuộc bầu cử, Thượng nghị viện gồm có 47 Thượng nghị sĩ là thành viên đảng Cộng Hòa, 51 thành viên đảng Dân chủ, và 2 thành viên độc lập.
Hạ nghị viện.
Tất cả 435 ghế dân biểu đều được bầu cho cuộc bầu cử này. Vì đây là cuộc bầu cử đầu tiên sau cuộc phân chia khu vực bầu cử, một số khu bầu cử có nhiều hơn một người tại vị.
Trước cuộc tổng tuyển cử, Hạ nghị viện gồm có 190 ghế đảng Dân chủ và 240 ghế đảng Cộng hòa. Hiện đang có 5 ghế trống.
Tiểu bang.
Thống đốc.
Có 11 ghế thống đốc tiểu bang, cùng với ghế thống đốc lãnh thổ Samoa thuộc Mỹ và Puerto Rico được đưa ra bầu. Trong các thống đốc, có 3 người (Mitch Daniels của Indiana, Brian Schweitzer của Montana, và Togiola Tulafono của Samoa thuộc Mỹ) đang ở nhiệm kỳ tối đa và không thể tái ứng cử. Thêm vào đó, Scott Walker của Wisconsin đã thắng 1 cuộc bầu cử bãi nhiệm vào ngày 5 tháng 6.
Trưng cầu dân ý.
Nhiều tiểu bang và lãnh thổ có đưa ra một số trưng cầu dân ý, trong đó có:
Bầu cử địa phương.
Có nhiều chức vụ và trưng cầu dân ý cấp địa phương được đưa ra bầu, trong đó có: | 1 | null |
Cuộc vây hãm Péronne là một trận bao vây nổi bật trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, đã diễn ra từ ngày 26 tháng 12 năm 1870 cho đến ngày 9 tháng 1 năm 1871, tại pháo đài Péronne của Pháp. Lực lượng vây hãm của người Đức, dưới quyền chỉ huy của các Trung tướng Von Goeben và Von Barnekow, đã buộc quân đội Pháp tại Péronne – vốn đã không thể được giải nguy – phải đầu hàng sau suốt hơn một tuần lễ hứng chịu sự pháo kích dồn dập của quân đội Phổ. Với chiến thắng này, quân đội của Von Barnekow đã bắt giữ được lực lượng trú phòng gồm hàng nghìn người của Pháp trong pháo đài Péronne (trong đó có 150 thủy quân lục chiến và cả lính "Garde Mobile"), đồng thời thu được một số lượng lớn đại bác và vật liệu chiến tranh về tay mình. Nhìn chung, ưu thế về pháo binh của Phổ cũng như sự năng động của các sĩ quan Đức được xem là đã dẫn đến thắng lợi của quân đội Đức trong những trận vây hãm pháo đài của Pháp, và thành công trong trận vây hãm Péronne đã mang lại cho họ toàn bộ chiến tuyến sông Somme vốn sẽ đóng vai trò quan trọng đối với họ.
Pháo đài Péronne nằm trên sông Somme tuy không có giá trị chiến lược cao, nhưng đe dọa đến các vận động của Binh đoàn thứ nhất của Phổ từ phía sau, và ngăn trở sự liên lạc giữa tuyến đường sắt tại Amiens với Tergnier. Do đó, quân đội Pháp trú phòng tại Péronne đã gây cho quân đội Đức chú ý, và Trung tướng Von Barnekow đã được lệnh đánh chiếm Péronne cùng với một lực lượng vây hãm của mình. Trước tình hình khó khăn của mình, Binh đoàn thứ nhất cũng tiến hành bày bố đội hình yểm trợ cho đoàn quân vây hãm Péronne, và các lực lượng yểm trợ này án ngữ tại Bapaume. Trung tướng August Karl von Goeben là người chỉ huy trưởng của các lực lượng vây hãm và yểm trợ. Sau một vài cuộc giao tranh lẻ tẻ giữa quân đội hai phe, vào ngày 27 tháng 12 năm 1870, quân đội Đức đã khơi mào cuộc phong tỏa Péronne. Trong ngày hôm đó, với vài khẩu đội pháo dã chiến Trung tướng Georg von Kameke của Đức đã tiến hành pháo kích nhanh chóng gây cháy trong thị trấn. Suốt từ ngày 27 cho đến ngày 29 tháng 12, quân Đức đã tiếp tục cuộc công pháo của mình và đôi khi họ vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân Pháp. Người chỉ huy lực lượng pháo binh Đức tại Amiens, Thượng tá Schmidt đã chuẩn bị phương tiện vây hãm cho quân Đức tại Péronne, và vào ngày 30 tháng 6 thì các khẩu pháo này đã được đưa đến Péronne. Trong khi đó, Binh đoàn phương Bắc của Pháp do tướng Louis Faidherbe chỉ huy đã triệt thoái khỏi Amiens. Vào ngày 2 tháng 1 năm 1871, quân đội Đức bắt đầu nã pháo, đồng thời một đội quân Pháp trên đường tiến từ Arras tới Bapaume để cứu viện cho Péronne đã bị quân Đức đẩy lùi. Trong vòng 2 ngày, cuộc công pháo của Đức đã gặt hái thành quả, nhưng sau đó phải tạm ngưng: giao chiến tại Bapaume lại bùng nổ vào ngày 3 tháng 1, trong đó quân đội Đức đã đập tan ý định giải vây cho Péronne của Faidherbe.
Sau thắng lợi tại Bapaume, pháo binh của lực lượng vây hãm đã được tăng viện đáng kể, đồng thời họ tiếp tục nã đạn quyết liệt. Trước tình thế tuyệt vọng, đội quân trú phòng của Pháp tại pháo đài Péronne dưới sự chỉ huy của Đại tá Gamier cuối cùng đã đầu hàng quân đội Đức vào ngày 9 tháng 1 sau 14 ngày chịu trận. Trong trận bao vây Péronne, cuộc pháo kích của lực lượng pháo binh Phổ đã gây cho thị trấn bị hủy hoại đáng kể. | 1 | null |
Sở Khoảnh Tương vương (chữ Hán: 楚頃襄王, 329 TCN-263 TCN, trị vì 298 TCN - 263 TCN), hay còn gọi là Sở Tương vương (楚襄王), tên thật là Hùng Hoành (熊橫) hay Mị Hoành (芈橫), là vị vua thứ 41 của nước Sở - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.
Thái tử nước Sở.
Hùng Hoành là con của Sở Hoài vương, vua thứ 40 của nước Sở. Năm 302 TCN, liên quân ba nước Tề-Hàn-Ngụy hợp sức tấn công Sở. Sở Hoài vương cử Hùng Hoành sang nước Tần cầu cứu. Vua Tần Chiêu Tương vương sai Khách khanh là Thông giúp Sở. Quân ba nước rút lui.
Trong thời gian ở Tần, Hùng Hoành có mâu thuẫn với đại phu Hữu Tư của Tần. Năm 301 TCN, Hùng Hoành giết Hữu Tư rồi trốn về nước Sở.
Năm 299 TCN, Tần Chiêu Tương vương lại đánh Sở, giết hai vạn quân nước Sở. Sở Hoài vương hoảng sợ, sai Hùng Hoành sang Tề xin giúp.
Năm 298 TCN, Sở Hoài vương bị vua Tần lừa sang hội nghị rồi bắt giam. Người nước Sở sang đón thái tử Hoành từ nước Tề về để nối ngôi. Tề Mẫn vương ban đầu muốn dùng thái tử để ép nước Sở cắt đất Hoài Bắc cho mình, nhưng có người can gián nếu thái tử không về thì đất Dĩnh Trung sẽ lập vua khác, Tề có con tin cũng không được gì lại mang tiếng bất nghĩa. Tề Mẫn vương bèn đưa Hùng Hoành về nước. Người nước Sở lập ông làm vua, tức Sở Khoảnh Tương vương. Khoảnh Tương vương lên ngôi ngay khi vua cha còn chưa qua đời.
Thần phục nước Tần.
Sau khi bắt giữ Sở Hoài vương, vua Tần cử sứ sang nước Sở đòi nộp đất đổi lấy Hoài vương, tuy nhiên sau đó thấy nước Sở đã có vua mới, Tần Chiêu vương giận dữ, đem quân vượt Vũ Quan đánh Sở, đánh bại quân Sở, chém đầu 5 vạn người. Nước Sở mất 15 thành về tay Tần.
Năm 296 TCN, cha Sở Tương vương là Sở Hoài vương mất ở nước Tần, vua Tần sai trả thi thể về nước an táng.
Năm 293 TCN, quân Tần đánh bại liên quân Hàn, Ngụy ở Y Khuyết, nhân đó gửi thư uy hiếp nước Sở. Sở Tương vương đành giảng hòa với Tần, lập lại hòa bình.
Chiến tranh với Tống và Tề.
Năm 286 TCN, vì Tống Khang vương lấn đất của Sở cùng với Ngụy, và Tề, Tề Mẫn vương kêu gọi ba nước cùng nhau đánh Tống. Sở Tương vương hưởng ứng, đem quân cùng đánh Tống. Quân 3 nước đánh bại quân Tống giết chết vua Tống và diệt nước Tống, chia đất Tống làm ba, mỗi bên lấy một phần.
Năm 285 TCN, Sở Tương vương đến yết kiến Tần Chiêu vương ở đất Uyển.
Cùng năm, Tề Mẫn vương gây chiến với Sở chiếm Hoài Bắc. Sau đó Yên Chiêu vương muốn đánh Tề, cử sứ sang nước Sở liên lạc Sở Tương vương cùng nhau xuất quân. Sở Tương vương đồng ý, liên kết với các nước Yên và Triệu, Tần, Ngụy đánh Tề. Năm 285 TCN, liên quân đánh bại quân Tề ở Tế Tây.
Năm 282 TCN, Tề Mẫn vương bị quân Yên chiếm hết 70 thành, chạy về thành Cử, cầu cứu nước Sở, hứa sẽ dâng cho Hoài Bắc. Sở Khoảnh Tương vương sai Náo Xỉ đem quân giúp Tề. Khi vào thành Cử, Náo Xỉ dùng thế lực giết chết Tề Mẫn vương, khôi phục đất Hoài Bắc lại cho nước Sở.
Mất Dĩnh đô, dời về đất Trần.
Năm 283 TCN, Sở Tương vương cùng Tần Chiêu vương hội minh ở đất Yên. Đến mùa thu năm đó, ông lại đến hội cùng vua Tần ở ấp Nhương.
Năm 280 TCN, Tần Chiêu vương đánh Sở, quân Sở thất bại. Sở Tương vương phải cắt đất Thượng Dung và Hán Bắc dâng cho nước Tần.
Năm 279 TCN, Tần Chiêu vương sai Bạch Khởi và Trương Nhược đem quân đánh Sở. Bạch Khởi tràn quân vào chiếm đất Yên và đất Lăng nay thuộc vùng , sau đó tràn vào Dĩnh đô, chiếm được Dĩnh Đô. Đại thần Khuất Nguyên tự tử. Sở Tương vương phải thiên đô sang đất Trần. Khu lăng mộ các tiên vương nước Sở bị Bạch Khởi thiêu trụi nên bị đổi gọi là Di Lăng.
Năm 277 TCN, Bạch Khởi chiếm đất đất Vu Trung và đất Kiềm Trung của nước Sở, sáp nhập vào Tần.
Năm 276 TCN, Sở Tương vương thu thập được hơn 10 vạn quân, đem quân chiếm lại 15 ấp ở Giang Bàng từ tay nước Tần. Đến năm 273 TCN, ông cử ba vạn quân hợp sức với Tam Tấn (Hàn, Ngụy, Triệu) đánh nước Yên.
Qua đời và truyền ngôi.
Năm 272 TCN, Sở Tương vương thiết lập lại hòa bình với nước Tần, cử Tả đồ đưa thái tử Hùng Nguyên sang Tần làm con tin.
Năm 263 TCN, ông bệnh nặng, thái tử Hùng Nguyên đang làm con tin ở Tần, được Xuân Thân quân Hoàng Yết đưa về nước. Không lâu sau, Sở Khoảnh Tương vương qua đời. Ông làm vua tổng cộng 36 năm. Thái tử Hùng Nguyên được lập lên ngôi tức Sở Khảo Liệt vương. | 1 | null |
Sở Khảo Liệt Vương (chữ Hán: 楚考烈王,310 TCN-238 TCN, trị vì 262 TCN-238 TCN), tên thật là Hùng Nguyên (熊元) hay Mị Nguyên (芈元), còn gọi là Hùng Hoàn (熊完), là vị vua thứ 42 của nước Sở - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.
Làm con tin ở Tần.
Hùng Nguyên là con của Sở Khoảnh Tương vương, vua thứ 41 của nước Sở. Năm 272 TCN, Sở Khoảnh Tương vương giảng hòa cùng nước Tần, cử Tả đồ đưa Hùng Nguyên sang Tần làm con tin. Ở nước Tần, Hùng Nguyên được Tần Chiêu Tương vương gả con gái, sau sinh ra Xương Bình quân.
Năm 263 TCN, ở nước Sở Sở Khoảnh Tương vương ốm nặng sắp mất. Tả đồ Hoàng Yết phụng mệnh đi sứ đón thái tử Hùng Nguyên về nối ngôi. Hoàng Yết lo vua Tần sẽ bắt giữ ông để đe dọa nước Sở, bèn nghĩ cách cho ông trốn về. Hoàng Yết bảo Hùng Nguyên giả làm người đánh xe của mình, còn người đánh xe giả làm Hoàng Yết, còn Hoàng Yết ở lại thay thế thái tử.
Nhờ mưu kế của Hoàng Yết, Hùng Nguyên trốn thoát được về nước. Ba tháng sau, Sở Tương vương qua đời, Hùng Nguyên lên nối ngôi, tức Sở Khảo Liệt vương. Cùng lúc đó ở nước Tần, Tần Chiêu Tương Vương tuy biết mưu của Hoàng Yết nhưng vẫn thả Hoàng Yết về để nước Sở mang ơn nước Tần.
Sở Khảo Liệt vương phong Hoàng Yết làm Lệnh doãn, ăn lộc ở đất Ngô, hiệu là Xuân Thân quân, đảm nhiệm mọi việc lớn nhỏ.
Chống Tần.
Cứu Hàm Đan.
Cùng năm 272 TCN, Sở Khảo Liệt vương lập lại hòa bình với nước Tần, dâng châu Vu cho Tần.
Năm 258 TCN, quân nước Tần đánh Triệu, bao vây Hàm Đan. Bình Nguyên quân Triệu Thắng đích thân sang Sở đề nghị Sở Khảo Liệt vương cứu Triệu.
Khi đến nước Sở, Bình Nguyên quân cùng Sở Khảo Liệt vương bàn chuyện rất lâu nhưng Sở Khảo Liệt vương vẫn chưa đồng ý. Mao Toại (người khách trong nhà Bình Nguyên quân]] tiến lên uy hiếp Sở Khảo Liệt vương, rồi dùng lời lẽ phân tích lợi hại của việc bỏ hợp tung sẽ không chỉ hại nước Triệu mà còn hại cho nước Sở. Sở Khảo Liệt vương sợ hãi, vội cùng uống máu ăn thề và điều quân đi cứu Triệu. Sở cử tướng Cảnh Dương liên quân cùng Triệu và Ngụy, tiến đến Tân Trung, giải nguy cho Hàm Đan, buộc quân Tần rút lui.
Dời đô Thọ Xuân.
Năm 256 TCN, Sở Khảo Liệt vương cử Hoàng Yết mang quân diệt nước Lỗ, chiếm phía nam Sơn Đông. Cùng trong năm đó, Sở quốc định ước với các chư hầu và thiên tử nhà Chu cùng nhau phạt Tần, nhưng quân chư hầu cuối cùng không đánh mà tự tan. Sau vụ này, Tần vương cử binh tiến đánh Lạc Dương, tiêu diệt Tây Chu.
Năm 251 TCN, Tần Chiêu Tương vương qua đời. Khảo Liệt vương cử Hoàng Yết sang nước Tần điếu tang.
Mười năm sau (247 TCN), quân Tần vây hãm kinh đô Đại Lương của nước Ngụy. Sở Khảo Liệt vương cử quân liên hiệp với các nước Triệu, Hàn, Yên cứu Ngụy, đánh tan quân Tần ở Hà Ngoại, buộc quân Tần cố thủ không dám ra.
Năm 241 TCN, tướng Bàng Noãn nước Triệu khởi xướng việc hợp tung chống Tần, tôn Sở Khảo Liệt vương làm "tung ước trưởng". Nhưng liên quân vừa tới Diêm Thị thì bị quân Tần đánh bại. Sau trận này, Sở Khảo Liệt Vương dời đô về Thọ Xuân để tránh xa nước Tần, đổi tên là Dĩnh. Hoàng Yết trả lại đất phong của mình ở Hoài Bắc cho vua Sở để làm bình phong cho kinh đô mới. Sở Khảo Liệt vương bèn đổi Hoài Bắc thành quận huyện trực thuộc, lấy vùng Giang Đông, gồm một dải Tô Châu phong cho Hoàng Yết.
Qua đời và truyền ngôi.
Sở Khảo Liệt vương lấy con gái Tần Chiêu Tương vương sinh Hùng Khải, sau khi ông về nước thì mẹ con Khải vẫn ở Tần. Đến khi lên ngôi, Khảo Liệt vương có một người con là Phụ Sô nhưng không lập làm thái tử. Sau Khảo Liệt vương tuổi đã cao, Hoàng Yết có người thiếp là Lý thị đang có mang, bèn học theo Lã Bất Vi mang Lý thị dâng cho ông để con mình được làm vua. Lý thị sinh đôi được hai người con trai là Hàn và Do, Sở Khảo Liệt vương lập Hãn làm thái tử.
Năm 238 TCN, Sở Khảo Liệt vương qua đời. Ông ở ngôi 25 năm. Xuân Thân quân định vào cung lập Hùng Hãn lên ngôi, Chu Anh khuyên Xuân Thân quân nên phòng bị vì Chu Anh ngờ vực Lý Viên (anh Lý thị) muốn phản Hoàng Yết. Tuy nhiên Hoàng Yết không nghe lời Chu Anh, tự mình vào cung và bị Lý Viên giết. Lý Viên tôn Hùng Hãn mới 7 tuổi làm vua, tức Sở U Vương. | 1 | null |
Ga Nha Trang là một nhà ga xe lửa chính trên tuyến đường sắt Bắc Nam thuộc địa phận tỉnh Khánh Hoà, tiếp nối sau ga Lương Sơn và trước ga Cây Cầy. Ga tọa lạc tại số 17 đường Thái Nguyên, phường Phước Tân, thành phố Nha Trang.
Ga Nha Trang cách ga Đà Nẵng 523,5 km về phía bắc, cách ga Quảng Ngãi 387 km về phía bắc, cách ga Diêu Trì 219 km về phía bắc, cách ga Tuy Hoà 117 km về phía bắc, cách ga Tháp Chàm gần 93 km về phía nam, cách ga Bình Thuận 236 km về phía nam và cách ga Sài Gòn 411 km về phía nam. Lý trình ga: Km 1314 + 930.
Nhà ga là nơi chứng kiến nhân dân Việt Nam nổ súng chống Pháp rạng sáng ngày 23 tháng 10 năm 1945. Hiện nay, ga còn là một di tích lịch sử.
Lịch sử hình thành.
Ga Nha Trang được khánh thành ngày 2 tháng 9 năm 1936. Là nơi chứng kiến nhân dân Khánh Hòa đứng lên đấu tranh, nố súng chống thực dân Pháp. Cho đến ngày nay, ga Nha Trang vẫn còn giữ được kiến trúc độc đáo thời Pháp.
Vào thời đó, trước ga có một vườn hoa rộng, nay là công viên Võ Văn Ký (bây giờ là công viên 23/10), mang tên người chỉ huy trận đánh quân Pháp ở ga Nha Trang đêm 23 tháng 10 năm 1945 đã hy sinh anh dũng tại nơi đây. Hai bên là hai khách sạn, hai tòa nhà giống hệt nhau về vẻ ngoài và kiểu dáng kiến trúc. Với sự hài hòa, khoáng đạt, độc đáo của cảnh quan kiến trúc, ga Nha Trang được coi là ga đẹp thứ nhì Đông Dương, chỉ sau ga Đà Lạt.
Các chuyến tàu.
Ngoài tuyến đường sắt Thống Nhất còn có các tuyến tàu địa phương như tuyến Sài Gòn – Nha Trang (SNT), tuyến Sài Gòn – Quy Nhơn (SQN)...
Di dời ga.
Hiện nay có 2 phương án đề xuất di dời ga: | 1 | null |
"Be Quiet" là một ca khúc của nam ca sĩ người Mỹ gốc Cuba Pitbull. Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ tư cho "El Mariel", album phòng thu thứ hai của anh, và được phát hành vào ngày 31 tháng 10 năm 2006. Ca khúc này được sản xuất bởi Shakespeare.
Danh sách thực hiện.
Danh sách thực hiện được lấy từ ghi chú trong album "El Mariel". | 1 | null |
"Secret Admirer" là một ca khúc của nam ca sĩ người Mỹ gốc Cuba Pitbull hợp tác với Lloyd. Ca khúc được phát hành vào ngày 27 tháng 11 năm 2007 và là đĩa đơn đầu tiên của "The Boatlift", album phòng thu thứ ba của anh. Ca khúc được sáng tác bởi Armando C. Pérez, Carl Mahone, Juan Salinas, Oscar Salinas, David Terry và được sản xuất bởi Play-N-Skillz.
Video âm nhạc.
Video âm nhạc cho "Secret Admirer" được đạo diễn bởi David Rousseau. Trong video có sự xuất hiện của cả Pitbull và Lloyd. | 1 | null |
"Sticky Icky" là một ca khúc của nam ca sĩ người Mỹ gốc Cuba Pitbull. Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ tư cho "The Boatlift", album phòng thu thứ ba của anh, và được phát hành vào ngày 15 tháng 5 năm 2007. Ca khúc được sáng tác bởi Armando C. Pérez, Jonathan Smith, Joseph G. Jones và được sản xuất bởi Lil Jon. | 1 | null |
"Can't Stop Me Now" là một ca khúc của nam ca sĩ người Mỹ gốc Cuba Pitbull. Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ năm cho "Rebelution", album phòng thu thứ tư của anh, và được phát hành vào ngày 14 tháng 6 năm 2010. Ca khúc có sự góp giọng của The New Royales.
Danh sách thực hiện.
Danh sách thực hiện được lấy từ ghi chú trong album "Rebelution". | 1 | null |
"Maldito Alcohol" là một ca khúc của nam ca sĩ nhạc rap người Mỹ gốc Cuba Pitbull. Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ hai cho "Armando", album phòng thu thứ năm của anh, và được phát hành vào ngày 16 tháng 3 năm 2010 đưới định dạng đĩa CD và tải kỹ thuật số. "Maldito Alcohol" được sản xuất bởi Afrojack và DJ Buddha. | 1 | null |
HMCS "Saguenay" (D79/I79) là một tàu khu trục thuộc lớp "River" của Hải quân Hoàng gia Canada đã phục vụ từ năm 1931 đến năm 1945. Nó tương tự như những chiếc tàu khu trục lớp A của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc.
"Saguenay" được chế tạo bởi hãng John I. Thornycroft & Company tại Woolston, Hampshire, Anh; và đưa vào phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Canada ngày 21 tháng 5 năm 1931 tại Portsmouth, Anh. Nó cùng với con tàu chị em HMCS "Skeena" là những chiếc đầu tiên được chế tạo đặc biệt cho Hải quân Canada. Hai vị chỉ huy đầu tiên của "Saguenay" sau này là những Đô đốc Canada quan trọng tham gia trận Đại Tây Dương. Nó về đến Halifax vào ngày 3 tháng 7 năm 1931.
Trong tháng đầu tiên của Chiến tranh Thế giới thứ hai, "Saguenay" trợ giúp vào việc hộ tống các đoàn tàu vận tải tại khu vực Halifax. Đến cuối tháng 9 năm 1939, nó được điều về Hải đội Hoa Kỳ và Tây Ấn đặt căn cứ tại Kingston, Jamaica.
Vào ngày 23 tháng 10, nó đụng độ với tàu chở dầu mang cờ Đức "Emmy Friederich" khiến tàu đối phương phải tự đánh đắm, trở thành tàu khu trục Canada đầu tiên tác chiến trong chiến tranh. Sang tháng 12, "Saguenay" quay trở lại Halifax tham gia việc hộ tống các đoàn tàu vận tải tại chỗ, một vai trò mà nó đảm trách cho đến ngày 16 tháng 10 năm 1940 khi nó được chuyển sang Greenock, Scotland để phục vụ như tàu hộ tống các đoàn tàu vượt Bắc Đại Tây Dương. Vào ngày 1 tháng 12 năm 1940, "Saguenay" trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm Ý "Argo" ở vị trí cách về phía Tây Ireland trong khi đang hộ tống đoàn tàu vận tải HG-47. Nó xoay xở quay trở về Barrow-in-Furness bằng chính động lực của nó, nhưng với tổn thất 21 người thiệt mạng và phần lớn mũi tàu bị phá hủy.
Sau khi được sửa chữa tại Greenock, nó quay trở lại hoạt động vào ngày 22 tháng 5 năm 1941, được phân về Đội hộ tống C-3 và đã hộ tống các đoàn tàu vận tải ON-93, HX-191, ONS-104, SC-90, ON-115, HX-202, ON-121, SC-98, ON-131, HX-210 và ON-141 trước khi bị va chạm trong khi hộ tống đoàn tàu SC-109. Vào ngày 15 tháng 11 năm 1942, "Saguenay" bị chiếc tàu chở hàng Panama "Azra" húc phải ngoài khơi mũi Race, Newfoundland; chấn động do va chạm làm rơi các quả mìn sâu của nó khỏi tàu và phát nổ dưới nước, làm phá hủy phần đuôi tàu.
"Saguenay" quay trở về cảng Saint John, New Brunswick, nơi nó được hàn kín những hư hại phía đuôi. Đến ngày 23 tháng 5 năm 1943, nó được chuyển sang Halifax để phục vụ cùng Lực lượng Hộ tống Đại dương phía Tây, hoạt động từ Halifax và St. John's, Newfoundland. Vào tháng 10 năm 1943, nó được kéo đến Digby, Nova Scotia, và được phân về HMCS "Cornwallis", căn cứ huấn luyện tân binh của Hải quân Canada, được sử dụng trong việc huấn luyện kỹ thuật hải quân và tác xạ cho đến ngày 30 tháng 7 năm 1945. "Saguenay" bị loại bỏ vào cuối năm 1945 và bị tháo dỡ vào năm 1946. | 1 | null |
HMCS "Skeena" (D59/I59) là một tàu khu trục thuộc lớp "River" của Hải quân Hoàng gia Canada đã phục vụ từ năm 1931 đến năm 1944. Nó tương tự như những chiếc tàu khu trục lớp A của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc.
"Skeena" được chế tạo bởi hãng John I. Thornycroft & Company tại Woolston, Hampshire, Anh; và đưa vào phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Canada ngày 10 tháng 6 năm 1931 tại Portsmouth, Anh. Nó cùng với con tàu chị em HCMS "Saguenay" là những chiếc đầu tiên được chế tạo đặc biệt cho Hải quân Canada. Nó về đến Halifax vào ngày 3 tháng 7 năm 1931.
Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra, "Skeena" đã cứu vớt 65 người sống sót từ chiếc tàu buôn Anh "Manipur", vốn bị tàu ngầm Đức "U-57" đánh chìm ngoài khơi mũi Wrath vào ngày 17 tháng 7 năm 1940. Vào ngày 2 tháng 9, nó đã cứu vớt 19 người sống sót từ chiếc tàu buôn Anh "Thornlea" bị tàu ngầm "U-46" đánh chìm tại Bắc Đại Tây Dương. Đến ngày 23 tháng 11, nó lại vớt 6 người sống sót từ chiếc tàu buôn Na Uy "Bruce" bị hư hại bởi tàu ngầm "U-100" cùng 9 người từ chiếc tàu buôn Na Uy "Salonica" bị "U-100" đánh chìm gần đó.
"Skeena" được phân về Đội hộ tống C-3 và đã hộ tống các đoàn tàu vận tải ON 93, HX 191, ONS 104, SC 90, ON 115, HX 202, ON 121, SC 98, ON 131, HX 210, ON 141, SC 109, ON 152 trước khi được tái trang bị vào tháng 1 năm 1943. Vào ngày 31 tháng 7 năm 1942, nó ghi được chiến công đầu tiên khi cùng với HMCS "Wetaskiwin" thả mìn sâu đánh chìm được tàu ngầm Đức "U-588" trong khi đang hộ tống đoàn tàu vận tải ON 115 ở tọa độ .
"Skeena" bị mất trong một cơn bão vào đêm 24 tháng 10 năm 1944. Nó thả neo ngoài khơi Reykjavík, Iceland khi bị gió bão giật đứt dây neo và bị các cơn sóng cao đẩy mắc cạn ngoài khơi đảo Viðey với tổn thất 15 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng. Lườn tàu bị loại bỏ và được bán cho Iceland vào tháng 6 năm 1945. Nó được cho nổi trở lại và tháo dỡ sau đó. Chân vịt con tàu được trục vớt và bảo tồn tại một đài lưu niệm gần bến phà của đảo Viðey. | 1 | null |
Roth-Krnka M.7 là loại súng ngắn bán tự động đầu tiên trong dòng súng này từng được thông qua để phục vụ trong bất kỳ lực lượng quân đội lớn nào trên thế giới mà trong trường hợp này là lực lượng kỵ binh Kaiserliche und Koenigliche Armee của đế quốc Áo-Hung trong khi các nơi khác vẫn sử dụng súng ngắn ổ xoay. Súng được phát triển dựa trên thiết kế của hai nhà thiết kế súng nổi tiếng là Georg Roth và Karel Krnka. M.7 đã được chế tạo từ năm 1908 đến năm 1917 và khoảng 90.000 khẩu đã được sản xuất tại nhà máy vũ khí Steyr và FEG nên nó thường được gọi là Roth-Steyr M1907.
Thiết kế.
Roth-Krnka M.7 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng độ giật lùi nòng ngắn, nòng xoay tại chỗ cùng hai bộ móc khóa với hai móc lớn mỗi bộ để khóa cố định nòng với một đặc điểm thú vị là thoi nạp đạn rất dài. Bộ khóa nằm phía trước được đặc khớp vào hai rãnh xoắn khắc trong ống bao quanh nòng súng, nó sẽ làm nòng súng xoay 90 độ khi lùi lại. Bộ khóa phía sau sẽ móc vào thoi nạp đạn để khóa cố định, khi nòng xoay lúc lùi lại nó sẽ mở khóa thoi nạp đạn và cung cấp động lực để đẩy thoi nạp đạn lùi lại bắt đầu chu kỳ nạp đạn. Nòng sẽ ngừng lại và giữ cố định trong khi thoi nạp đạn lùi về phía sau để nhả vỏ đạn, nó sẽ chỉ trở về chỗ cũ khi thoi nạp đạn được lò xo đẩy trở về khớp với các móc và đẩy nòng súng lên cũng như xoay để khóa cố định.
Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi. Hộp đạn của súng được đặc cố định trong tay cầm của súng và xạ thủ sẽ dùng một cái kẹp đạn thiết kế cho súng để đẩy đạn vào hộp đạn thông qua khe nhả vỏ đạn phía trên lúc thoi nạp đạn được khóa giữ cố định phía sau. Sau khi đẩy đạn vào xong xạ thủ sẽ nhấn một nút ở phía bên thân súng để thoi nạp đạn được đẩy lên trên trở về vị trí cũ nạp đạn và chuẩn bị bắn. Nếu cần lấy đạn ra khỏi súng thì xạ thủ sẽ kéo thoi nạp đạn về phía sau và nhấn vào nút nhả đạn thì lò xo trong hộp đạn sẽ đẩy tất cả đạn trong nó ra ngoài. | 1 | null |
Tháp Mường Bám, còn gọi là Thạt Bản Lào, là di tích kiến trúc nghệ thuật ở "bản Lào" xã Mường Bám huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La, Việt Nam .
Tháp Mường Bám được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia tại Quyết định số 4064/QĐ-BVHTTDL ngày 24/10/2012.
Vị trí.
Tháp Mường Bám ở bản Lào, còn được gọi theo tiếng Lào là "Thạt Bản Lào". Tháp cách thị trấn Thuận Châu hơn 70 km về phía tây nam .
Đường đi từ thị trấn Thuận Châu theo đường tỉnh 108 đi 45 km đến thị tứ xã Co Mạ. Từ đó theo đường liên huyện đi Mường Bám khoảng 28 km là tới bản Lào.
Từ năm 2013 Thủy điện Nậm Hóa trên dòng Nậm Húa tại xã Mường Bám đã hoàn thành. Thạt Bản Lào ở cách Thủy điện Nậm Hóa 1 cỡ 1 km đường thẳng.
Mô tả.
Tháp do người dân tộc Lào xây dựng, đã chọn đất kỹ lưỡng theo phong thủy, là quả đồi có bề mặt rộng khoảng 1 ha, cách Nậm Húa khoảng 300 m.
Quần thể có 5 tháp, một tháp to ở giữa và 4 tháp con ở xung quanh theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mặt Tháp quay về hướng đông và nhìn ra ngã ba suối Nậm Húa. Núi chắn hai bên theo hướng Bắc, Nam tựa thế tay ngai. Bên trái, phải, phía sau Tháp có dẫy núi tựa người đang ngồi thiền. Quần thể Tháp có vị thế rất tĩnh lặng, uy nghi.
Tất cả năm tháp đều được xây bằng một loại vật liệu, chủ yếu là gạch vồ màu đỏ, kích thước lớn dài 35 cm, rộng 15 cm, dày 7 cm được gắn kết với nhau bằng vôi, cát, và mật. Các hoạ tiết hoa văn được làm bằng vữa đắp nổi, nhiều chỗ gắn thêm vào những hình đất nung trang trí. | 1 | null |
George Graham (sinh ngày 30 tháng 11 năm 1944) là một cựu cầu thủ bóng đá và huấn luyện viên người Scotland. Ông được biết đến nhiều nhất bởi sự thành công của mình tại câu lạc bộ Arsenal, là một cầu thủ trong những năm 1960, 1970 và sau đó là huấn luyện viên từ năm 1986 cho đến năm 1995.
Cuộc sống.
Là con út trong bảy người con, Graham lớn lên trong nghèo đói ở Bargeddie, gần Coatbridge. Ông được nuôi nấng bởi mẹ của mình, Janet, sau khi cha ông, Robert Young Graham, chết vì bệnh lao và suy tim vào ngày Giáng sinh năm 1944, khi George chưa đầy một tháng tuổi. Chị gái của ông cũng chết vì bệnh lao ở tuổi 19, vào năm 1951. Khi lớn lên, Graham cho thấy tiềm năng đầy hứa hẹn một cầu thủ bóng đá, và Newcastle United, Chelsea và Aston Villa đã thể hiện sự quan tâm cho chàng trai trẻ Graham.
Sự nghiệp chơi bóng.
Mặc dù là người Scotland, Graham chỉ chơi bóng ở Anh và Hoa Kỳ. Ông ký hợp đồng với Aston Villa vào năm 1961, vào ngày sinh nhật thứ 17 của ông. Ông đã trải qua ba mùa giải ở câu lạc bộ Birmingham, nhưng chỉ được ra sân tám lần - mặc dù một trong số đó là trận chung kết League Cup năm 1963 thất bại trước câu lạc bộ Birmingham City. Chelsea đã đưa ông về vào tháng 7 năm 1964 với giá £ 5000. Graham ghi được 35 bàn thắng trong 72 trận cho câu lạc bộ và giành được một huy chương League Cup vào năm 1965, nhưng ông cùng với một số cầu thủ Chelsea khác ngày càng xung đột với huấn luyện viên Tommy Docherty. Đỉnh điểm của xung đột này là việc Graham và bảy người khác được Docherty gửi về nhà và xử lý kỷ luật vì vi phạm lệnh giới nghiêm trước trận đấu vào năm 1965.
Bertie Mee của Arsenal đang tìm kiếm một sự thay thế cho Joe Baker, và trả £ 75,000 cộng với Tommy Baldwin năm 1966 để mang Graham về Highbury. Ông có trận mở màn vào ngày 01 tháng 10 năm 1966 trên sân nhà trước Leicester City, và mặc dù kết quả là một thất bại 4-2 ngay lập tức ông đã trở thành một thành viên thường trực trong đội hình Arsenal. Ông là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Arsenal trong cả hai mùa giải 1966-67 và 1967-68, bắt đầu ở vị trí tiền đạo trung tâm cho câu lạc bộ, nhưng sau đó chuyển vào bên trong với việc John Radford di chuyển từ cánh phải lên phía trước.
Với Arsenal, Graham là một trong những thành viên giành ngôi Á quân trong cả hai trận chung kết League Cup năm 1968 và 1969, trước khi giành huy chương ở chung kết Inter-Cities Fairs Cup 1969-1970. Sau đó ông trở thành một phần không thể thiếu của trong cú đúp chiến thắng của Arsenal 1970-1971, và thậm chí đã được xác nhận ghi bàn gỡ hòa của Arsenal trong trận chung kết cúp FA với Liverpool, mặc dù Eddie Kelly mới được chính thức ghi nhận cho bàn thắng đó.
Chiến thắng cú đúp ấy đã thu hút sự chú ý của Scotland và Graham đã được lựa chọn cho đội tuyển quốc gia lần đầu tiên gặp Bồ Đào Nha vào ngày 13 tháng 10 năm 1971. Ông giành chiến thắng mười hai trận cùng Scotland, ghi được ba bàn thắng, với trận đấu cuối cùng là gặp Brasil vào ngày 30 tháng 6 năm 1973. Khi đó, tuy nhiên, Graham đã không còn là một cầu thủ của Arsenal.
Sự xuất hiện của Alan Ball ở giữa 1971-1972 đã làm cho vị trí của mình trong đội hình Arsenal ít đảm bảo và do đó ông được chuyển nhượng với giá £ 120.000 cho Manchester United vào tháng 12 năm 1972. Tổng cộng, ông đã chơi 308 trận cho Arsenal, ghi được 77 bàn thắng. Ông đã dành hai năm tại United, và đã được chuyển xuống hạng Hai, trước khi tiếp tục sự nghiệp của mình ở Anh tại Portsmouth và Crystal Palace. Ông đã chơi mùa hè năm 1978 ở Mỹ cho California Surf.
Sự nghiệp huấn luyện.
Millwall.
Sau khi giải nghệ, ông đã trở thành một huấn luyện viên tại Crystal Palace và sau đó Queens Park Rangers. Vào ngày 06 Tháng 12 năm 1982 Graham được bổ nhiệm làm giám đốc của Millwall, những người sau đó dưới cùng của Sư đoàn thứ ba tuổi. Graham quay bên xung quanh trong một khoảng thời gian ngắn, họ tránh xuống hạng mùa giải đó và trong 1984-1985 họ đã được thăng Second Division. Sau khi ông rời câu lạc bộ vào năm 1986, họ tiếp tục giành chiến thắng trong hạng hai và giành chiến thắng thăng đầu tiên trong 1987-1988.
Arsenal.
Thành tựu của Graham tại Millwall thu hút sự chú ý từ các câu lạc bộ lớn hơn, và với việc sa thải Don Howe như huấn luyện viên của Arsenal tháng 3 năm 1986, Giám đốc Arsenal đã quan tâm đến việc bổ nhiệm Alex Ferguson, người quản lý Aberdeen, là người quản lý mới của họ với Graham như trợ lý của ông. Tuy nhiên, Ferguson (sau đó phụ trách tạm thời của đội tuyển quốc gia Scotland sau cái chết của Jock Stein vào tháng Chín trước, và vẫn còn phụ trách Aberdeen) đã quyết định đợi đến sau World Cup mùa hè năm đó trước khi quyết định tương lai của mình, và vì vậy Giám đốc Arsenal bổ nhiệm Graham là người quản lý mới của họ vào ngày 14 tháng 5 năm 1986.
Một tháng sau khi đến Arsenal, Graham đã được liên kết với các công việc như quản lý của đội tuyển quốc gia Scotland, nhưng công việc đã đi đến Andy Roxburgh thay thế.
Arsenal đã không giành được một danh hiệu kể từ khi FA Cup năm 1978-1979, và bị trôi mất từ các đội bóng hàng đầu ở giải. Graham xóa ra nhiều những người thủ cựu và thay thế chúng bằng bản hợp đồng mới và người chơi thăng cấp từ đội trẻ, trong khi áp đặt kỷ luật nghiêm ngặt hơn nhiều so với người tiền nhiệm của mình, cả trong phòng thay đồ và trên sân. Hình thức của Arsenal ngay lập tức cải thiện, vì vậy mà câu lạc bộ là hàng đầu của Liên đoàn vào dịp Giáng sinh năm 1986, trăm năm của câu lạc bộ, lần đầu tiên trong một thập kỷ.
Arsenal hoàn thành thứ tư trong mùa giải đầu tiên của Graham phụ trách, và họ tiếp tục giành League Cup năm 1987. Trong khi Arsenal thua trận chung kết League năm sau (3-2 thất bại gây sốc cho Luton Town), hình thức League dần được cải thiện. Bên Graham đặc trưng kỷ luật phòng thủ chặt chẽ, thể hiện bởi đội trưởng trẻ tuổi Tony Adams, người đã cùng với Lee Dixon, Steve Bould, Nigel Winterburn, hình thành cơ sở phòng thủ của câu lạc bộ trong hơn một thập kỷ. Tuy nhiên, trái với niềm tin phổ biến, trong thời gian này Graham của Arsenal không phải là một bên hoàn toàn phòng thủ, Graham cũng sử dụng tiền vệ có khả năng như David Rocastle, Michael Thomas và Paul Merson, và tiền đạo Alan Smith, người ghi bàn nhiều tác thường xuyên mang lại cho anh nhiều hơn 20 bàn thắng mỗi mùa.
Vào cuối mùa giải thứ ba của Graham (1988-1989), câu lạc bộ giành chức vô địch đầu tiên của họ kể từ năm 1971 (khi Graham đã là một cầu thủ của Arsenal), trong thời trang rất ấn tượng, trong trận đấu cuối cùng của mùa giải trước Liverpool tại Anfield, Arsenal cần thiết để giành chiến thắng bằng hai mục tiêu để có những tiêu đề, Alan Smith ghi bàn cho Arsenal ở đầu hiệp thứ hai để làm cho nó 1-0, nhưng khi thời gian trôi qua Arsenal phải vật lộn để có được một thứ hai, và với 90 phút đi trên đồng hồ, Arsenal vẫn cần thêm một bàn thắng. Chỉ có vài giây để đi, một bộ phim-Smith trên tìm thấy Michael Thomas tăng hàng phòng ngự Liverpool, tiền vệ trẻ bình tĩnh quả tâng bóng qua Bruce Grobbelaar vào lưới, và Arsenal được vào Champions League.
Sau khi kết thúc thứ tư trong năm 1990, Graham đã ký hợp đồng với thủ môn David Seaman và cầu thủ chạy cánh người Thụy Điển Anders Limpar trong mùa gần, cả hai cầu thủ đã chứng minh quan trọng như Arsenal giành được một danh hiệu thứ hai trong 1990-1991 và đạt FA Cup bán kết, thua kình địch Tottenham Hotspur.
Arsenal đã hoàn thành trước á quân Liverpool trong cuộc đua giành chức vô địch mùa giải đó, và trong tháng hai của mùa giải mà Liverpool Kenny Dalglish đã bất ngờ tuyên bố từ chức của mình như quản lý - và tên của Graham là một trong những đề cập bởi các phương tiện truyền thông như một thể kế thừa cho Dalglish. Tuy nhiên, Graham đã nhanh chóng loại trừ mình ra khỏi các hoạt động, và công việc đến Graeme Souness thay thế.
Graham tiếp tục ký tiếp hợp đồng với tiền đạo và cuối cùng thứ hai mọi thời Ian Wright ghi bàn từ Crystal Palace vào mùa thu năm 1991, nhập cảnh đầu tiên của câu lạc bộ ở Cúp châu Âu trong 20 năm (họ đã không thể cạnh tranh trong giải đấu 1989-1990 do lệnh cấm các câu lạc bộ Anh ở đấu trường châu Âu phát sinh từ thảm họa Heysel năm 1985).
Tuy nhiên, cuộc phiêu lưu vô địch châu Âu một thời gian ngắn. Arsenal đã bị loại bởi S.L. Benfica ở vòng thứ hai và thất bại trong việc làm cho vòng bảng hấp dẫn. 1991-1992 đưa được nhiều sự thất vọng khi các Pháo thủ đã bị loại khỏi FA Cup ở vòng thứ ba của Wrexham thấp kém, mặc dù Arsenal đã làm khá tốt trong các giải đấu và hoàn thành thứ tư.
Sau khi mùa giải này, Graham thay đổi chiến thuật của mình, ông đã trở thành phòng thủ nhiều hơn và hóa ra bên ít tấn công có đầu óc, mà phụ thuộc chủ yếu vào các bàn thắng của Wright chứ không phải là toàn đội. Giữa 1986-1987 và 1991-1992 Arsenal trung bình 66 bàn thắng một mùa giải (điểm 81 trong 1991-1992), nhưng giữa 1992-1993 và 1994-1995 chỉ có trung bình 48, điều này chỉ bao gồm 40 giai đoạn 1992-93, khi câu lạc bộ đã hoàn thành 10 trong mùa giải khai mạc của FA Premier League, ghi được ít hơn bất kỳ đội bóng khác trong việc phân chia.
Graham của Arsenal đã trở thành chuyên gia Cup, và trong 1992-1993 Arsenal trở thành đội đầu tiên giành chiến thắng FA Cup và League Cup đôi, cả hai lần Arsenal đánh bại Sheffield Wednesday, 2-1 trong trận chung kết cúp League và 2-1 sau khi một phát lại trong FA Cup lại. Mùa giải tiếp theo họ tiếp tục trong bối cảnh đó, chiến thắng UEFA Cup Winners' Cup, danh hiệu thứ hai châu Âu, trong Arsenal yêu thích nhịp cuối cùng và chủ Parma 1-0 với một hiệu suất phòng ngự chặt chẽ và mục tiêu phút 21 Alan Smith từ một bàn chân trái volley.
Cup 1994 Cup Winners 'được chứng minh là danh hiệu cuối cùng của George Graham ở câu lạc bộ; tháng Hai sau, ông đã bị sa thải sau khi gần chín năm phụ trách, sau khi nó được phát hiện, ông đã chấp nhận thanh toán bất hợp pháp £ 425,000 từ đại lý Na Uy Rune Hauge sau của Arsenal năm 1992 mua lại của John Jensen và Pal Lydersen, hai trong số các khách hàng của Hauge. Graham cuối cùng đã bị cấm cho một năm do Hiệp hội bóng đá cho sự tham gia của mình trong vụ bê bối, sau khi ông thừa nhận ông đã nhận được "món quà không mong muốn" từ Hauge.
Leeds United.
Sau khi phục vụ lệnh cấm của ông, George Graham trở lại quản lý bóng đá đến với Leeds United vào tháng 9 năm 1996. Ông đã tiếp nhận một đội Leeds mà đang đấu tranh chống xuống hạng vào thời điểm và ưu tiên hàng đầu của ông là bảo vệ, mặc dù Leeds ghi bàn ít hơn bất kỳ câu lạc bộ Premiership khác (28) họ vẫn hoàn thành trong một nơi an toàn thứ 13. Đưa vào các cầu thủ như Jimmy Floyd Hasselbaink trong mùa gần, 1997-98 thấy Leeds ghi hai bàn là mục tiêu nhiều như kết thúc mùa giải trước thứ năm ở giải Ngoại hạng và an toàn UEFA Cup mùa tới.
Tottenham Hotspur.
Trong tháng 10 năm 1998 chính tả hai năm Graham như Leeds đã kết thúc khi ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Tottenham Hotspur. Chỉ năm tháng sau khi cáo buộc mà ông dẫn dắt câu lạc bộ giành chiến thắng trước Leicester City ở League Cup năm 1999, và cùng với nó một vị trí tại UEFA Cup 1999-2000. Ông đã bị sa thải vào ngày 15 tháng 3 năm 2001, ngay sau khi câu lạc bộ đã được mua bởi ENIC, cho bị cáo buộc vi phạm hợp đồng. Câu lạc bộ nói rằng Graham đã được cấp "một số cảnh báo bằng văn bản trước khi sa thải của ông đã cho ra những gì được coi là do câu lạc bộ như là thông tin cá nhân" trước khi, trước đó trong tuần đó, dường như thông báo cho phương tiện truyền thông, ông đã có "một ngân sách hạn chế" cho người chơi mới và bày tỏ sự thất vọng của mình với nó. Điều này dẫn đến anh được triệu tập tới một cuộc họp với Spurs phó chủ tịch David Buchler, sau đó ông đã bị sa thải. Buchler sau đó đặt câu hỏi liệu Graham đã có những lợi ích của câu lạc bộ ở tim và mô tả hành vi của mình trong cuộc họp là "tích cực và thách thức". Đại diện hợp pháp của Graham đã đưa ra một tuyên bố bày tỏ ông "sốc và buồn bã đã bị sa thải và không thể tin được một cái cớ mỏng manh đã được đưa ra". Nó đã đi vào để nói rằng Graham "tin ENIC luôn có ý định sa thải ông." Mặc dù hướng dẫn câu lạc bộ danh hiệu đầu tiên của mình trong tám mùa, Graham không thể đạt được một kết thúc cao hơn phần mười trong giải Ngoại hạng và vẫn không phổ biến với một phần lớn của ủng hộ, bởi vì vai trò trước đây của ông tại Arsenal, đại kình địch của Tottenham Hotspur.
Từ năm 2001.
Ông đã được ra khỏi nghề huấn luyện viên kể từ đó, tập trung vào sự nghiệp của mình như một bình luận viên bóng đá cho kênh Sky Sports.
Tuy nhiên, ông đã được liên kết với một số vị trí tuyển dụng quản lý sau khi rời Tottenham Hotspur. Tháng Mười năm 2001, sau khi miễn nhiệm Peter Taylor ở Leicester City, ông đã được liên kết với vị trí tuyển dụng đó, nhưng nó đã được lấp đầy bởi Dave Bassett thay thế.
Mùa giải tiếp theo, với Glenn Roeder bị chỉ quyền lãnh đạo của một West Ham United bên nhóm cho Premier League xuống hạng, tên Graham được nhắc đến như một sự thay thế có thể, nhưng Roeder thực sự kéo dài cho đến tuần đầu của mùa giải 2003-04 và lần này có rất ít đề cập đến tên Graham trong việc săn tìm một người kế nhiệm, đã kết thúc với việc bổ nhiệm Alan Pardew. Trong mùa giải gần năm 2003, sự từ chức của Graham Taylor tại Aston Villa thấy tên của Graham đề cập bởi các phương tiện truyền thông như là một kế có thể, nhưng lại không có gì đến nó, với vị trí tuyển dụng này đang được lấp đầy bởi David O'Leary, người đã chơi dưới Graham tại Arsenal và làm việc như trợ lý của ông tại Leeds United. Ông và O'Leary đã cả hai được đề cập là ứng cử viên cho công việc ở Sunderland hai lần trong mùa giải 2002-03 sau sự ra đi của Peter Reid vào tháng Mười và Howard Wilkinson vào tháng Ba.
Graham đã tiết lộ rằng ông bị viêm khớp. "Tôi yêu golf của tôi, nhưng vì viêm khớp của tôi, tôi đã không thi đấu nhiều trong hai năm qua, nếu có. Khi tôi là một cầu thủ, khi tôi đã có rất nhiều thời gian trên tay của tôi, tôi đã xuống đến điểm chấp tám. Nhưng khi tôi là người quản lý, tôi đã đi lại đến 12. tôi vừa mới đưa lên quần vợt và phải nói rằng tôi không phải là rất tốt. "
Danh hiệu.
Cầu thủ.
Chelsea
Arsenal
Huấn luyện viên.
Millwall
Arsenal
Tottenham Hotspur | 1 | null |
Tàu tên lửa loại nhỏ Mirage (tiếng Nga: "Мираж") là tên hiệu của loại tàu tuần tiễu cao tốc loại nhỏ thuộc đề án 1234.1 của Nga (tiếng Nga: "Проект 1234.1"). Được xếp vào loại tàu tên lửa loại nhỏ ("Малый ракетный корабль" - МРК, MRK) theo phân loại của Hải quân Liên Xô, "Mirage" có kích thước nhỏ, gọn, nhẹ, tốc độ cao (50 hải lý/giờ), hoạt động linh hoạt và vũ khí đáng gờm so với kích cỡ của nó.
Đặc điểm.
Tàu có kích thước nhỏ: Dài 35,45 m, rộng 6,79 m, cao 2,76 m. Trọng lượng choán nước là 120 tấn. Vận tốc tối đa lên đến 50 hải lý/giờ tức 93 km/h. Tàu sử dụng 2 động cơ diesel M520B 2 trục, 2 động cơ waterjets (phản lực nước) giúp tàu có thể đạt sức đẩy 10.800 mã lực.
Vũ trang.
1 khẩu AK-306 thuộc loại pháo cao tốc tự động 6 nòng 30 mm nằm phía trước tàu, tốc độ bắn 600 phát/phút, tầm bắn là 4.000m, sơ tốc 900 m/s, dự trữ đạn là 500 viên. 2 súng máy 14,5 mm. Hệ thống tên lửa phòng không Igla-1M với 2-4 (tùy chiếc mà số ống phóng Igla khác nhau) sử dụng tên lửa MANPADS dẫn đường bằng Ir thụ động được nạp sẵn, có thể mang theo khoảng 10-12 tên lửa Igla dự trữ. 1 súng phóng lựu chống ngầm cầm tay DP-64 nằm ở đuôi tàu. Hệ thống tên lửa SHTURM với 6 tên lửa Shturm hoặc ATAKA tầm bắn 5,8 km để chống đổ bộ.
Hệ thống SHTURM.
Hệ thống vũ khí đa năng Shturm với thành phần chính là tên lửa 9M114 đã được quân đội Nga trang bị trên các tàu tuần tra của lực lượng hải quân. Các nhà quân sự đánh giá, Shturn là hệ thống vũ khí hoạt động tin cậy, có tính năng và hiệu quả chiến đấu trên chiến trường cao.
Hệ thống Shturn sau khi được cải tiến thiết bị cơ sở, ngoài việc bắn tên lửa 9M-114 còn có khả năng bắn tên lửa Ataka. Khi sử dụng tên lửa Ataka đã khiến cho hệ thống Shturn tăng hiệu quả sát thương, tăng tầm lên tới 6.000m. Khi lắp Shturn lên tàu, chúng được sử dụng như một mô-đun cố định dạng công-ten-nơ. Hệ thống Shturn điều khiển tên lửa trong phạm vi tầm bay 6.000m. Hệ thống Shturn hoạt động ở nhiều dạng chế độ điều khiển, bao gồm: Điều khiển bán tự động; bằng sóng ra-đi-ô, bằng hồng ngoại hoặc điều khiển bằng tín hiệu điện.
Toàn bộ hệ thống Shturn, bao gồm cả giàn phóng, nặng 48,5 kg, dài 1.832mm. Tên lửa sử dụng cho Shturn có cỡ nòng 130mm, tốc độ bay siêu âm. Đầu đạn chiến đấu của tên lửa Ataka hoặc 9M-114 có ba loại. Loại đầu đạn nổ lõm nối tiếp có khả năng phá huỷ được tất cả mục tiêu được bảo vệ cao như xe tăng chiến đấu chủ lực tiên tiến với vỏ giáp phản ứng nổ (ERA). Khả năng xuyên giáp từ phía sau lớp vỏ ERA của tên lửa tới 800mm. Loại đầu đạn nổ phá dùng để sát thương sinh lực, phá huỷ các loại xe bọc thép chở quân hạng nhẹ, các công sự như lô cốt và tàu nhỏ. Loại đầu đạn dạng thanh xuyên dùng để tiêu diệt các loại máy bay trực thăng và các mục tiêu trên không khác.
Phục vụ trong Quân chủng Hải quân Việt Nam.
Vào những năm 2000-2005, Hải quân Nhân dân Việt Nam có đặt mua của Nga 4 chiếc tàu tuần tra cao tốc thuộc đề án 14310, cùng hợp đồng này là hợp đồng mua các tên lửa Shturm, tên lửa Igla-1M nhằm trang bị cho loại 4 chiếc tàu này. Toàn bộ 4 chiếc được giao từ 1-2 năm sau.
Tham khảo.
Mirage Class (Type 14310), Russia | 1 | null |
Sở Cung vương (chữ Hán: 楚共王 hay 楚龔王, 600 TCN-560 TCN), tên thật là Hùng Thẩm (熊審) hay Mị Thẩm (羋審), là vị vua thứ 26 của nước Sở - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.
Hùng Thẩm con của Sở Trang vương, vua thứ 25 của nước Sở. Năm 591 TCN, Sở Trang vương qua đời, Hùng Thẩm lên ngôi, tức là Sở Cung vương.
Tranh chấp nội bộ.
Sở Cung vương lên ngôi còn nhỏ tuổi, việc lớn trong nước do Lệnh doãn (tương đương với tướng quốc) là Tử Trọng quyết định.
Năm 585 TCN, đại phu nước Sở là Tích Công bỏ Sở trốn sang Tấn, được vua Tấn trọng dụng, trở thành mưu thần nước Tấn.
Lôi kéo nước Trịnh.
Năm 589 TCN, Sở Cung vương mang quân đánh nước Vệ, có quân nước Trịnh giúp. Vệ Định công phải xin giảng hòa. Sở Cung vương lại sang đánh Lỗ. Lỗ Thành công cũng phải thần phục. Sở Cung vương hội chư hầu tại đất Thục (thuộc nước Lỗ).
Năm 588 TCN, Khước Chí xin dùng thi thế Tương Lão và công tử Cốc Thần (con của Sở Trang vương) để đổi lấy tướng Tấn bị Sở bắt là Tuân Oanh, Sở Cung vương nhận lời, thả Oanh về Tấn.
Do nước Trịnh đánh nước Hứa, Hứa Linh công kiện nước Trịnh với Sở Cung vương. Sở Cung vương triệu kiến nước Trịnh. Năm 586 TCN Trịnh Điệu công phải sang nước Sở triều kiến, Sở Cung vương vua Sở bắt 2 đại phu nước Trịnh là Hoàng Thú và Tử Quốc. Trịnh Điệu công thấy vậy lại bỏ Sở theo Tấn.
Năm 585 TCN, nước Tấn xuất binh đánh nước Sái. Sở Cung vương đem binh lực từ hai huyện Tức và Thân đến cứu Sái. Quân Tấn cho rằng nếu như có thắng trận thì đó cũng chỉ là chiến thắng trước hai huyện của Sở chứ không phải là thắng Sở, còn nếu chẳng may thất bại thì sẽ là một sỉ nhục, do vậy rút lui.
Năm 584 TCN, Sở Cung vương lại sang đánh Trịnh. Nước Tấn dẫn chư hầu đi cứu. Hai tướng Trịnh là Cung Trọng và Hầu Vũ mang quân ra địch, bắt được tướng Sở là Chung Nghi mang nộp cho Loan Thư nước Tấn. Trịnh lại hội thề với Tấn.
Năm 583 TCN, Sở Cung vương dùng của cải biếu nước Trịnh để lôi kéo. Trịnh Thành công (tức công tử Hỗn) lại cùng Sở hội họp rồi để giữ quan hệ cả với nước Tấn, bị Tấn Cảnh Công bắt giữ, người nước Trịnh phải chịu quy phục và gửi con tin để nước Tấn thả Trịnh Thành công.
Thua trận ở Yển Lăng.
Tháng 2 năm 575 TCN, Sở Cung vương sai công tử Thành lấy ruộng ở Nhữ Âm biếu nước Trịnh để lôi kéo. Trịnh Thành công lại bỏ Tấn theo Sở, cùng thề với nước Sở. Tấn Lệ công lại họp quân chư hầu đánh Trịnh. Trịnh Thành công cầu cứu Sở. Tháng 5 năm đó, Sở Cung vương đem quân tiến lên phía Bắc cứu Trịnh. Hai bên giao chiến ở đất Yển Lăng thuộc nước Trịnh.
Quân Sở bí mật áp sát vào doanh trại quân Tấn vào ban đêm. Quân Tấn không nao núng, đem binh ra chống cự. Tướng nước Tấn là Miêu Bí Hoàng khuyên Tấn Lệ công, cho rằng Trung quân của Sở mạnh không đánh được, mà Tả quân và Hữu quân thì có quân Trịnh và Đông Di nên yếu và huấn luyện kém, nên kìm kẹp vào hai bên này rồi mới đánh Trung quân. Tấn Lệ công nghe theo, dẫn Trung quân đánh vào hai bên tả hữu của Sở, bao vây quân trại. Nhân lúc quân Sở rối loạn, Thượng quân và Hạ quân của nước Tấn cũng thừa cơ đến tập kích vào trung quân nước Sở. Sở Cung vương thấy quân Tấn tấn công bạc nhược, bèn dẫn trung quân ra phản công, nhưng mắc mưu của Miêu Bí Hoàng nên bị đánh bại, bản thân ông bị bắn chột một mắt, phải lui quân.
Quân Tấn đánh thắng Trung quân, lập tức tiến công vào Tả quân và Hữu quân. Quân Sở thất bại, thương vong trầm trọng, cũng phải thu binh rút lui, đến Hạ Gian thì thu thập thêm binh lính, chuẩn bị tái chiến. Sở Cung vương triệu Trung quân tướng Tử Phản (子反) đến bản thảo về kế hoạch tác chiến cho ngày hôm sau, nhưng bắt gặp Tử Phản say rượu. Sở Cung vương sợ quân Tấn thừa cơ tập kích nên quyết định rút lui, và sai quân đưa Tử Phản về. Khi Tử Phản tỉnh rượu, Sở Cung vương ra lệnh tha cho nhưng Tử Phản xấu hổ đã tự sát. Quân Sở thất bại.
Năm 573 TCN, Sở Cung vương hận Tấn vì trận thua Yển Lăng, bèn cho người đến nói với Tấn Lệ công: "Sở dĩ có trận Yển Lăng vì Khước Chí gọi quân Sở đến vì ý đồ làm loạn nước Tấn để đưa công tử Chu về làm vua."
Từ đó Tấn Lệ công muốn giết Khước Chí, bèn sai Tư Đồng giết ba đại phu họ Khước và cho Tư Đồng lên làm đại phu. Loan Thư và Tuân Yển sợ bị giết nên làm binh biến giết Lệ công, đón công tử Chu về làm vua tức Tấn Điệu công.
Nỗ lực giành lại ngôi bá chủ.
Tháng 6 năm 573 TCN, Trịnh Thành công đem quân đánh Tống, đến ngoại thành nước Tống. Trịnh Thành công mời Sở Cung vương cùng đánh Tống. Sở Cung vương và Trịnh Thành công hợp quân chiếm U Khâu của Tống, rồi tiến tới Bành Thành. Vua Sở cho các đại phu Ngư Thạch, Hướng Vi Nhân, Lân Chu, Hướng Đái, Ngư Phủ, Tống Hồi và Lưu Hạ Tam đã bỏ trốn sang Sở trước đó ba trăm chuyến xe phòng thủ và đưa về Bành Thành. Năm sau, chư hầu đem quân cứu Tống, giết Ngư Thạch, trả Bành Thành cho Tống Bình công.
Tháng 7 năm 571 TCN, nước Tấn hội chư hầu đắp thành Hổ Lao để khống chế nước Trịnh, nước Trịnh đành phải lại theo Tấn.
Năm 568 TCN, Sở Cung vương sai quân đánh nước Trần, giữa đường đi ngang qua nước Đốn, buộc nước này thần phục. Trần Ai công thấy vậy bèn mang quân vây nước Đốn. Quân Sở bèn tấn công nước Trần để cứu Đốn. Trần Ai công cầu cứu nước Tấn. Tấn Điệu công bèn hội quân chư hầu đi cứu Trần. Quân Sở phải rút về.
Năm 565 TCN, Sở Cung vương lại sai công tử Trinh đánh nước Trần. Nước Trần lại cầu cứu nước Tấn. Tấn Điệu công họp chư hầu để cứu Trần mà không quả quyết tiến quân. Trần Ai công phải xin giảng hòa với Sở.
Tháng 9 năm đó, Sở Cung vương cử công tử Trinh mang quân đánh Trịnh vì tội theo Tấn đánh Sái. Nước Trịnh lại xin giảng hòa và theo nước Sở.
Năm 564 TCN, Tấn Điệu công hội chư hầu đánh Trịnh, buộc nước Trịnh đầu hàng. Sở Cung vương thấy vậy cũng đánh Trịnh, Trịnh lại theo Sở. Các chư hầu theo Tấn lại vây đánh nước Trịnh ở ngoài ải Hổ Lao. Công tử Trinh nước Sở mang quân cứu Trịnh nhưng rốt cục hai bên đều bãi binh.
Năm 562 TCN, Tấn Điệu công đem quân đánh Trịnh. Sở Cung vương bèn sai sứ mượn quân nước Tần để cứu Trịnh. Tần Cảnh công mang quân giúp Sở. Nước Trịnh lại xin theo Sở, cùng nhau đánh nước Tống. Nước Tấn bèn kéo chư hầu tới cứu Tống và đánh Trịnh. Trịnh Giản công lại muốn theo Tấn, bèn sai sứ là Lương Tiêu và Thạch Xước đến gặp Sở Cung vương báo. Vua Sở tức giận bèn bắt giữ các sứ giả nước Trịnh.
Xung đột với nước Ngô.
Vua Ngô là Ngô Thọ Mộng đã xưng vương ngang với nước Sở. Năm 584 TCN, đại phu nước Sở là Vu Thần oán trách tướng nước Sở là Tử Phản, bỏ trốn sang nước Tấn. Nước Tấn cử Vu Thần đi sứ nước Ngô. Thọ Mộng thu dụng Vu Thần. Vu Thần dạy cho người Ngô cách đi xe và dùng binh pháp.
Thọ Mộng dùng con Vu Thần làm quan nước Ngô giúp nước Ngô hùng mạnh. Từ đó thế lực nước Ngô ngày càng lớn, Ngô Thọ Mộng nhiều lần mang quân đánh phá nước Sở.
Năm 570 TCN, Sở Cung vương mang quân đánh Ngô để báo thù, tiến đến đất Hành Sơn mới rút lui.
Mùa thu năm 560 TCN, Ngô-Sở lại xảy ra chiến tranh. Quân Sở đánh bại quân Ngô
Qua đời.
Năm 560 TCN, Sở Cung vương uất ức trận thua ở Yển Lăng nên lâm bệnh nặng. Trước khi mất, ông yêu cầu được đặt thụy Linh vương hay Lệ vương để nói lên sự xấu hổ trong việc thua trận ở Yển Lăng nhưng sau khi ông mất, lệnh doãn nước Sở cho là thụy không tốt nên đặt là Cung vương.
Sở Cung vương có năm người con trai là công tử Chiêu, công tử Vi, công tử Bỉ, công tử Hắc Quang và công tử Khí Tật. Theo Sử ký, Sở Cung vương muốn biết trong các con ai có số làm vua bèn chôn khối ngọc ở tông miếu, rồi triệu năm người con vào. Công tử Khí Tật còn nhỏ được ẵm vào đúng chỗ khối ngọc, nhưng Cung vương không lập làm thái tử mà lập công tử Chiêu. Sau khi Sở Cung vương qua đời, công tử Chiêu lên nối ngôi, tức Sở Khang vương.
Gia đình.
Vợ chính của Sở Cung vương không có con. Những người vợ khác sinh ra 5 người con trai. Theo Tả truyện, 5 người con của Sở Cung vương đều là con vợ thứ, không người nào có quyền đương nhiên làm thái tử. Sở Cung vương tế thần sông núi, xin chọn lấy người nối ngôi. Tế xong, Cung vương mang thẻ ngọc đến trước các miếu thần, khấn xin: nếu trong các con ông ai được nối ngôi thì tới trước thẻ ngọc quỳ làm lễ. Sau đó ông cùng một người thứ phi là Ba Cơ mang chôn giấu trong thái miếu và truyền lệnh cho 5 người con trai lần lượt vào làm lễ, bắt đầu từ người nhiều tuổi nhất. Cung vương bí mật quan sát thấy: công tử Chiêu đứng dang 2 chân 2 bên cái thẻ; kế tiếp công tử Kiền chống khuỷu tay lên thẻ; tiếp theo công tử Bỉ đứng xa thẻ; tới lượt công tử Hắc Quang cũng đứng xa thẻ; cuối cùng tới công tử Khí Tật còn bé, được một viên quan bế vào, 2 lần quỳ lên nút dây thẻ. Về sau, trong 5 người thì có bốn người thay nhau làm vua trong 44 năm:
Cháu: | 1 | null |
"Tu Cuerpo" là một ca khúc của nam ca sĩ nhạc rap người Mỹ gốc Cuba Pitbull với sự góp giọng của nam ca sĩ-nhạc sĩ Jencarlos. Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ tư cho "Armando", album phòng thu thứ năm của Pitbull, và được phát hành vào ngày 15 tháng 2 năm 2011. Đây là một ca khúc nhạc hip hop và latin pop.
Bối cảnh.
Sau khi phát hành "Bon, Bon", "Tu Cuerpo" được chọn làm đĩa đơn thứ tư cho "Armando", album phòng thu thứ năm của Pitbull, và được phát hành vào ngày 15 tháng 2 năm 2011. Tuy nhiên, đĩa đơn này lại được phát hành sau khi "Hey Baby (Drop It to the Floor)", đĩa đơn đầu tiên trong album phòng thu thứ sáu của anh, "Planet Pit", được phát hành.
Tham gia thực hiện.
Danh sách thực hiện được lấy từ ghi chú trong album "Armando". | 1 | null |
Arauca là một tỉnh của Colombia nằm ở phí bắc của Orinoco, Colombia giáp ranh với bang Apure của Venezuela. Ranh giới phía nam của nó là sông Casanare và sông Meta, cũng là ranh giới với các tỉnh Casanare và Vichada. Ranh giới phía tây với tỉnh Boyacá. Mỏ dầu Caño Limón thuộc tỉnh này chiếm 30% sản lượng dầu của Colombia. Thủ phủ của tỉnh này là Arauca.
Các đô thị.
Tỉnh Arauca có 7 đô thị. | 1 | null |
Đặng Văn Thành (sinh ngày 11 tháng 4 năm 1960) là một doanh nhân người Việt gốc Hoa.
Tiểu sử.
Đặng Văn Thành, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1960 tại Sài Gòn, xuất thân từ một gia đình có cha là đông y sĩ người Hoa gốc Hải Nam.
Sự nghiệp.
Ông đi nghĩa vụ quân sự từ năm 1978 tới 1980. Đặng Văn Thành khởi đầu từ nghề kinh doanh mật rỉ từ cuối thập niên 1980 với cơ sở Thành Công sản xuất kinh doanh cồn, CO2 và mật rỉ đường dùng trong sản xuất bột ngọt, cồn, men thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc...
Từ 1989 – 1990 ông là Chủ nhiệm HTX tín dụng Thành Công.
Từ 1993 – 1994 ông trở thành Ủy viên HĐQT Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Từ năm 1995 cho tới khi xuống chức vào ngày 02.11.2012 ông đã là Chủ tịch Hội đồng quản trị Sacombank liên tục trong 18 năm.
Ba công ty chính liên quan đến nghiệp kinh doanh của gia đình ông Đặng Văn Thành là Sacombank (ngân hàng), Thành Thành Công (mía đường) và Sacomreal (bất động sản).
Tập đoàn Thành Thành Công (TTC) ra đời từ những năm 1979 với ngành nghề kinh doanh ban đầu là chuyên sản xuất kinh doanh cồn, CO2 và mật rỉ đường dùng trong sản xuất bột ngọt, cồn, men thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc.
Tuy nhiên, TTC chỉ tăng trưởng mạnh kể từ giai đoạn 2006-2007 đúng vào giai đoạn hoạt động ngân hàng Sacombank ở thời kỳ đỉnh cao. Lúc đó, cổ phiếu Sacombank cũng được đưa lên sàn chứng khoán giao dịch với sự chào đón rất nồng nhiệt từ các nhà đầu tư. TTC bằng sự hỗ trợ của nguồn tín dụng đã đi lên như diều gặp gió. Sự phát triển nhanh chóng của TTC trong thời kỳ đó có phần nhờ sự hỗ trợ đắc lực của nguồn vốn ngân hàng, đặc biệt là Sacombank, nơi ông Thành giữ chức chủ tịch.
Tuy nhiên Sacombank đã bị gia đình ông Trầm Bê thâu mua (6,78%) và vào ngày 29 tháng 9 năm 2014 được phép sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank) cũng thuộc gia đình ông ta (hơn 20% cổ phần). (mặc dầu Eximbank là cổ đông lớn (nắm hơn 10% cổ phần Sacombank), đại diện cho nhóm cổ đông nắm giữ tới 51% cổ phần Sacombank). Thậm chí, ông và con trai là Đặng Hồng Anh gán 80 triệu cổ phần, tương đương 7,4% vốn của Sacombank để cấn trừ nợ.
Nguyên nhân được ban điều hành mới đưa ra là để cấn trừ vào các khoản cho vay, đầu tư cổ phiếu và các khoản khác mà nhóm công ty thuộc nhóm TTC đang thiếu tại Sacombank. Cụ thể, có khoảng gần 172 tỷ đồng từ công ty Tín Việt; trên 678 tỷ đồng tại Sacomreal; hơn 329 tỷ đồng đầu tư vào trái phiếu Sacomreal; 18 tỷ đồng cho vay Thành Thành Công; khoảng 192 tỷ đồng đầu tư vào trái phiếu Thành Thành Công; hơn 148 tỷ đồng đầu tư vào trái phiếu công ty Đặng Huỳnh; gần 59 tỷ đồng cho vay công ty Thành Ngọc.
Đổi lại, TTC đã chuyển hóa các khoản nợ đó tài sản tạo ra một khởi đầu mới cho sự phát triển sự nghiệp của ông cùng gia đình.
Tài sản.
Tính đến ngày 03/11/2012, ông Đặng Văn Thành là người giàu thứ 16 trên sàn chứng khoán Việt Nam với lượng cổ phiếu STB trị giá 798 tỷ đồng. Con trai cả của ông Thành là ông Đặng Hồng Anh ở vị trí thứ 17 với lượng cổ phiếu trị giá 767 tỷ đồng. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 10/12/2012 giữa gia đình ông Đặng Văn Thành và Ngân hàng Sacombank, hai bên đồng ý về việc nhận chuyển nhượng số cổ phần (79,84 triệu cổ phiếu STB) với tổng giá trị là 1.597 tỷ đồng để cấn trừ vào khoản cho vay của gia đình ông để đầu tư trái phiếu và vào các công ty con.
Từ ngày 10/05/2013, ông Đặng Văn Thành chỉ còn nắm giữ gần 17,7 triệu cổ phiếu, tương đương 1,82% cổ phiếu STB đang lưu hành và ông Đặng Hồng Anh nắm giữ hơn 37,1 triệu cổ phiếu STB, tương đương 3,81% lượng cổ phiếu STB đang lưu hành.
Gia đình.
Ông Đặng Văn Thành và bà Huỳnh Bích Ngọc có bốn người con. Hai người con lớn Đặng Hồng Anh và Đặng Huỳnh Ức My đã theo cha mẹ kinh doanh từ lâu.
Bà Huỳnh Bích Ngọc hiện tại là phó Chủ tịch HĐQT công ty cổ phần đầu tư Thành Thành Công và là phó chủ tịch thường trực HĐQT của CTCP Địa ốc Sài Gòn Thương Tín - Sacomreal.
Ông Đặng Hồng Anh (37 tuổi) hiện đang nắm giữ 23.775.456 cổ phiếu của CTCP Địa ốc Sài Gòn Thương Tín - Sacomreal (chiếm 10,43%).
Bà Đặng Huỳnh Ức My (36 tuổi) theo mẹ kinh doanh trong lĩnh vực mía đường. Hiện bà Ức My là chủ tịch HĐQT của công ty cổ phần đầu tư Thành Thành Công, thành viên HĐQT của công ty cổ phần Mía đường Thành Thành Công Tây Ninh. | 1 | null |
Monywa là đô thị lớn thứ bảy ở Myanmar xét theo nhân khẩu. Đây là trung tâm hành chính của thị xã Monywa thuộc huyện Monywa và là thành phố lớn nhất vùng Sagaing ở phía Bắc Myanmar mặc dù không phải là thủ phủ của vùng này. Thành phố nằm bên bờ Đông của sông Chindwin. Người ta có thể đến Monywa từ Mandalay bằng tàu hỏa hoặc bằng ô tô. Monywa có dân số là 185.783 người.
Tại Monywa có một số cơ sở giáo dục và nghiên cứu bậc cao như Trường Đại học Tổng hợp Monywa, Trường Đại học Sư phạm Monywa, Viện Nghiên cứu Kinh tế Monywa, Trường Đại học Công nghệ Monywa, Trường Đại học Công nghệ thông tin Monywa. | 1 | null |
Dong Thành () là một khu của địa cấp thị Yết Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Dong Thành nằm ở trung bộ của đồng bằng Triều Sán, thuộc trung du lưu vực Dong Giang, và là trung tâm đô thị của Yết Dương. Dong Thành có diện tích 91,26 km², dân số năm 2007 là 394.400 người. Cư dân Dong Thành nói tiếng Triều Châu. Trên địa bàn Dong Thành có quốc lộ 206, quốc lộ 324, tỉnh lộ 1930 và tuyến đường sắt Quảng Châu-Mai Châu-Sán Đầu chạy qua. | 1 | null |
Huệ Lai () là một huyện duyên hải duy nhất của địa cấp thị Yết Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Huệ Lai có diện tích đất liền 1048,7 km², diện tích vùng biển là 7.689 km², đường bờ biển dài khoảng 82 km. Dân số toàn huyện năm 2006 là khoảng 1,14 triệu người. Chính quyền nhân dân huyện Huệ Lai đặt tại trấn Huệ Thành. Nhà máy phong điện Thạch Bi có tổng công suất 100.000 kW, là nhà máy điện gió công suất lớn nhất tại Quảng Đông.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Huệ Lai là 21 °C và lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1723 mm, trung bình hàng năm có 2039 giờ nắng.
Trên địa bàn huyện Huệ Lai có tuyến quốc lộ 324 và một số tuyến tỉnh lộ chạy qua. Ngoài ra, trên địa bàn còn có tuyến đường cao tốc Thâm Quyến-Sán Đầu, đường sắt cao tốc Hạ Môn-Thẩm Quyến. Huệ Lai có cảng Thần Tuyền (神泉港) và cảng Tĩnh Hải (靖海港). | 1 | null |
(sinh năm 1989) là một đấu thủ và người biểu diễn yo-yo. Anh từng 4 lần vô địch thế giới (gần đây nhất vào năm 2012), có hai kỉ lục thế giới về "số lần thực hiện eli hops nhiều nhất trong 30 giây" và "thời gian nhanh nhất để làm rơi đồng xu trên tai 15 người với kĩ thuật yo-yo loop the loop".
Em gái của Hiroyuki, Megumi Suzuki, cũng đã có một kỉ lục thế giới về số lần nhảy dây trong 30 giây.
Thân thế sự nghiệp.
Sinh ngày 23 tháng 6 năm 1989 tại Aichi, Nhật Bản, từ nhỏ Hiroyuki đã tham gia huấn luyện để trở thành đấu thủ môn nhảy dây, tuy nhiên sau đó anh đã từ bỏ vì không thể đánh bại nổi em gái mình.
Năm 2001, lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình, Hiroyuki tham gia World Yo-Yo Contest (giải vô địch yo-yo thế giới). Tại giải này, Hiroyuki đã sử dụng điệu nhạc Micky Mouse cho bài biểu diễn của mình, do đó anh đôi khi được gọi là "Mickey".
Anh tốt nghiệp trường trung học Nishio vào tháng 3 năm 2008. Sau đó, anh trúng tuyển vào Khoa Ngôn ngữ giao tiếp của Đại học Aichi Shukutoku trong tháng 4 năm đó. Nó đã được đổi tên là "Khoa Văn hóa toàn cầu và Truyền thông" vào năm 2010.
Ngày 13 tháng 3 năm 2011, anh được trao giải thưởng 2011 trưởng Đại học, giải thưởng cho những bài biểu diễn tuyệt vời trong các cuộc thi và thành công trong sự nghiệp kinh doanh yo-yo. Anh nghiệp Đại học Aichi Shukutoku tháng 3 năm 2012.
Trong tháng 8 năm 2012, ông đã giành danh hiệu thế giới thứ 4 trong cuộc thi Yo-Yo thế giới ở thể loại 1A. | 1 | null |
Hứa Tĩnh (; ?-222), tên tự là Văn Hưu (文休), là đại thần cuối thời Đông Hán, công thần khai quốc nhà Quý Hán thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Trước khi trở thành đại thần Thục Hán, ông từng lưu lạc ở nhiều nơi, trong đó có miền Bắc Việt Nam hiện nay.
Lưu lạc.
Hứa Tĩnh là người huyện Bình Dư, quận Nhữ Nam thuộc Dự châu. Ông là anh họ của danh sĩ Hứa Thiệu – người đã xem tướng mạo và dự đoán về tiền đồ của Tào Tháo khi Tào Tháo còn trẻ.
Hứa Tĩnh và Hứa Thiệu đương thời đều là người có tiếng trong các danh sĩ, thích bình phẩm mọi người trong làng, mỗi tháng đều thay nhau đưa ra chủ đề bình phẩm. Do đó người trong quận Nhữ Nam có tục bình luận vào đầu tháng, nhiều người có hy vọng qua sự bình phẩm của anh em Hứa Tĩnh và Hứa Thiệu để trở nên nổi tiếng.
Thời Hán Linh Đế, Hứa Tĩnh làm Thượng thư lang ở Lạc Dương. Sang thời Hán Thiếu Đế, Đổng Trác lên nắm quyền, dùng Chu Bí ở Hán Dương làm Lại bộ thượng thư, cùng với Hứa Tĩnh trù hoạch lựa chọn đường tiến thoái cho kẻ sĩ trong thiên hạ, gạt bỏ những kẻ xấu xa gian ác, vinh danh đề bạt ẩn sĩ hiền năng. Ông và Chu Bí tiến cử Tuân Sảng, Hàn Dung, Trần Kỷ ở Dĩnh Xuyên dùng và các chức công, khanh, quận thú, đề cử Thượng thư Hàn Phức làm Ký châu mục, Thị trung Lưu Đại làm Thứ sử Duyện châu, Trương Tư ở Dĩnh Xuyên làm Thái thú Nam Dương, Khổng Trụ ở Trần Lưu làm Thứ sử Dự châu, Trương Mạc ở Đông Quận làm Thái thú Trần Lưu.
Sau đó ông được đổi làm Thái thú Ba quận, nhưng ông không theo nên lại bổ nhiệm làm Ngự sử trung thừa. Trong những người do Chu Bí và Hứa Tĩnh tiến cử, Hàn Phức, Trương Mạc theo liên minh của Viên Thiệu khởi binh chống Đổng Trác. Đổng Trác tức giận, quát mắng Chu Bí rồi sai bắt ra chém ở bên ngoài. Cùng lúc, anh họ Hứa Tĩnh là Trần Tương Sướng (cha của Trần Chi) lại hợp mưu với Khổng Trụ cùng chống Đổng Trác. Hứa Tĩnh lo sợ bị Đổng Trác giết, bèn bỏ chạy trốn đến chỗ Khổng Trụ ở nước Trần.
Khổng Trụ qua đời, Hứa Tĩnh chạy đến Thọ Xuân theo Thứ sử Dương châu là Trần Vĩ. Trần Vĩ qua đời, Dương châu xảy ra loạn lạc (tranh chấp giữa Viên Thiệu, Viên Thuật rồi giữa Tôn Sách và Lưu Do), Hứa Tĩnh đến Cối Kê theo thái thú Vương Lãng (người dưới quyền Lưu Do, đều do triều đình Trường An của Lý Thôi bổ nhiệm), vốn là một người bạn cũ. Tại đây ông gặp Đô úy Ngô quận là Hứa Cống vừa bị Tôn Sách đánh bại chạy tới.
Trong thời gian ở Cối Kê, Hứa Tĩnh lại thu nhận cứu giúp họ hàng làng xóm, gánh vác việc an ủi cấp dưỡng, tỏ ra là người nhân hậu.
Không lâu sau Tôn Sách tiếp tục bình định Giang Đông, đánh vào Cối Kê. Vương Lãng thua chạy đến Đông Dã, còn Hứa Tĩnh chạy xa hơn, sang tận Giao châu (Việt Nam). Trong khi chạy trốn, Hứa Tĩnh tự mình ngồi giữ ở bến sông, trước tiên nâng đỡ những người nương tựa cùng theo, thân sơ hết thảy lên đã lên đường rồi mới đi. Đương thời ai trông thấy cũng khen ngợi ông. Thái thú quận Giao Chỉ (thuộc Giao châu, tương đương Bắc Bộ Việt Nam hiện nay) là Sĩ Nhiếp gặp và trọng đãi ông.
Tào Tháo nắm Hán Hiến Đế ở Hứa Xương, sai người đến Giao châu mời Hứa Tĩnh về giúp mình. Nhưng Hứa Tĩnh từ chối, ông viết một lá thư gửi Tào Tháo, khuyên Tào Tháo làm trung thần nhà Hán.
Phục vụ chính quyền Tây Xuyên.
Sau đó ông nhận được lời mời của châu mục Ích châu là Lưu Chương. Hứa Tĩnh từ Giao châu sang Ích châu theo Lưu Chương. Ông lần lượt giữ các chức vụ Thái thú Ba quận, Thái thú Quảng Hán và Thái thú Thục quận.
Năm 215, Lưu Bị thu phục Ích châu, Hứa Tĩnh muốn lén mở cửa thành đầu hàng, nhưng kế hoạch bị lộ. Tuy nhiên Lưu Chương cũng bỏ qua không trị tội ông.
Vì việc Hứa Tĩnh không trung thành với chủ cũ, Lưu Bị bất tín nhiệm ông. Nhưng sau đó nhờ có Pháp Chính tiến cử ông với Lưu Bị, Lưu Bị phong ông làm Trưởng sử phủ Tả tướng quân.
Năm 219, Lưu Bị xưng làm Hán Trung vương, Hứa Tĩnh được thăng làm Thái phó. Năm 221, Lưu Bị xưng làm hoàng đế, Hứa Tĩnh được phong làm Tư đồ.
Hứa Tĩnh yêu quý các nhân sĩ, dù tuổi cao nhưng vẫn thường khuyên bảo những nhân sĩ trẻ tuổi, cùng nhau đàm luận rất nhiều.
Năm 222, Hứa Tĩnh qua đời, không rõ ông bao nhiêu tuổi. Theo Tam quốc chí, Thục chí, Hứa Tĩnh truyện, lúc đó Hứa Tĩnh ngoài 70 tuổi.
Gia đình.
Con Hứa Tĩnh là Hứa Khâm (许钦), mất trước ông. Con Hứa Khâm là Hứa Du (许游), trong những năm niên hiệu Cảnh Diệu (258-262) nhà Hán làm Thượng thư.
Trong văn hóa.
Hứa Tĩnh trong tiểu thuyết "Tam quốc diễn nghĩa" của La Quán Trung được nhắc đến rất ít, khi Lưu Bị vào Tây Xuyên và được tiến cử vào bộ máy cai trị mới. | 1 | null |
Chiến dịch đổ bộ Moonsund (29 tháng 9 - 24 tháng 11 năm 1944) (, theo một số tài liệu Estonia là Chiến dịch phòng ngự quần đảo Tây Estonia () là một trận tấn công đổ bộ do quân đội Liên Xô tổ chức trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Xô-Đức thuộc thế chiến thứ hai. Mục tiêu của chiến dịch là quét sạch quân Đức thuộc Cụm Tập đoàn quân Bắc ra khỏi quần đảo Tây Estonia (hay còn gọi là quần đảo Moonsund) thuộc lãnh thổ Estonia trên khu vực duyên hải biển Ban Tích. Lực lượng tham gia của quân đội Liên Xô là Tập đoàn quân số 8 thuộc Phương diện quân Leningrad.
Bối cảnh.
Sau nhiều trận chiến quyết liệt và dữ dội với quân Đức từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1944, Phương diện quân Leningrad phối hợp với các mũi tấn công của ba Phương diện quân Baltic (Liên Xô) cuối cùng đã đẩy lui Cụm Tập đoàn quân Bắc của Đức Quốc xã sang bờ Tây sông Narva và dần dần quét sạch quân Đức khỏi lãnh thổ Estonia. Một bộ phận quân Đức dạt sang các đảo nhỏ của Estonia nằm ở phía Bắc vịnh Riga (gọi là quần đảo Moonsund hay quần đảo Tây Estonia) và tiếp tục tổ chức chống cự tại đây. Đến cuối tháng 9 năm 1944, sau khi giải phóng lãnh thổ Estonia trên lục địa châu Âu, phương diện quân Leningrad tiếp tục tổ chức các cuộc tấn công đổ bộ nhằm thanh toán nốt số quân Đức còn sót lại trên quần đảo này.
Binh lực và kế hoạch.
Quân đội Đức Quốc xã.
Binh lực tổng cộng 11.500 người, 2 tàu khu trục, 2 tàu phóng lôi, 14 tàu quét mìn, 22 tàu đổ bộ các loại.
Diễn biến.
Vormsi và Muhu.
Ngày 27 tháng 9, Tập đoàn quân số 8 nổ súng tấn công và ngay trong ngày hôm đó, một tiểu đoàn hải quân đánh bộ Liên Xô đã đánh chiếm Vormsi, một đảo nhỏ nằm ở phần Đông Bắc của quần đảo Moonsund. Sau đó, quân đội Liên Xô hướng đòn tấn công sang Muhu, một đảo nhỏ nằm ngay sát bờ Đông Bắc của Saaremaa, đảo lớn nhất trong cụm Moonsund. Việc xây dựng hệ thống cầu bắc từ lục địa Estonia qua eo biển Suur väin tới Muhu phải mất vài ngày và vì vậy, trước hết, một đơn vị trinh sát sẽ được đổ bộ lên đảo này. Nhóm đổ bộ đầu tiên do Đại úy Kelberg chỉ huy bí mật vượt eo biển và đã tổ chức các hoạt động theo dõi, giám sát suốt nhiều giờ. Nhóm thứ hai trong đêm đó cũng đổ bộ lên Muhu và thông qua hệ thống điện đài vô tuyến báo cáo về sở chỉ huy tất cả các hoạt động chuyển quân và hệ thống phòng ngự của quân Đức trên đảo. Các thông tin này về sau đóng một vai trò rất quan trọng đối với cuộc đổ bộ lên đảo Muhu của quân đội Liên Xô.
Cuộc đổ bộ lên đảo Muhu và cảng Kuivastu mở màn vào sáng sớm ngày 29 tháng 9. Lực lượng tấn công đầu tiên gồm 1.150 binh sĩ cập bờ hòn đảo dưới sự yểm hộ của các tàu phóng lôi thuộc Hạm đội Ban Tích. Quân Đức trên đảo đã bắn trả dữ dội như không ngăn được đợt tiến công của Hồng quân Xô Viết. Cho đến ngày 30, quân đội Liên Xô đã thực hiện 181 lượt chuyên chở, đưa 5.600 binh sĩ thuộc sư đoàn bộ binh số 249 lên đảo Muhu. Theo sau các tàu chiến là các đơn vị đổ bộ lưỡng thê. Đến ngày 1 tháng 10, Muhu được giải phóng. Trong trận đánh này, trung sĩ N. N. Matyashin và E. Yu. Tyakhe được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì thành tích chiến đấu xuất sắc.
Hiiumaa.
Ngày 2 tháng 10, quân đội Liên Xô bắt đầu công kích Hiiumaa. Trên hòn đảo lớn này, quân Đức đã xây dựng những hệ thống hầm hào, lô cốt và nhiều công sự khác ngay từ mùa thu năm 1943. Lực lượng đồn trú trên đảo chủ yếu là lính thủy đánh bộ cùng với tàn binh dạt từ Tallinn và Haapsalu về. Ngày đầu tiên của cuộc đổ bộ được đánh dấu bằng những trận công kiên dữ dội nhằm thủ tiêu các cứ điểm mạnh ở xã Käina và thị trấn Kärdla. Trận chiến kéo dài cho đến tận nửa đêm, khi mà đội hình quân Đức đã dần dần rối loạn và rã ngũ. Trưa ngày 3 tháng 10 Hiiumaa được giải phóng. Quân đội Liên Xô bắt được 300 tù binh cùng với nhiều chiến lợi phẩm.
Saaremaa.
Giai đoạn đầu tiên.
Hòn đảo lớn nhất thuộc Moonsund - Saaremaa - bị quân đội Liên Xô công kích vào ngày 5 tháng 10. Trong thời gian này, sư đoàn bộ binh số 218 (Đức) từ Riga đã chuyển về trú đóng tại đây. Theo kế hoạch, quân đội Liên Xô sẽ tổ chức 2 mũi công kích đánh từ đảo Hiiumaa xuống và từ thành phố Haapsalu sang. Quân đoàn bộ binh số 8 sẽ băng qua một chiếc cầu phao để tiếp cận hòn đảo này, tuy nhiên chiếc cầu đã bị quân Đức phá sập trong quá trình lui binh. Vì vậy, trong vòng ít ngày lực lượng công binh đã phải tiến hành sửa chữa cây cầu dưới làn mưa đạn pháo dữ dội của phía Đức. Tuy nhiên quá trình sửa chữa nhanh chóng hoàn tất và hàng nghìn binh sĩ Liên Xô cùng với xe tăng, pháo tự hành và đại bác lần lượt băng qua cây cầu để và đặt chân lên Saaremaa. Cùng lúc này, lực lượng tàu đổ bộ cũng tiếp cận bờ biển Saaremaa với sự yểm hộ của đại bác trên các tàu chiến thuộc hạm đội Ban Tích. Sau một trận kịch chiến kéo dài vài giờ, quân đội Liên Xô đã thiết lập bộ bàn đạp đổ bộ vững chắc lên hòn đảo. Quân Đức triệt thoái về tuyến phòng ngự thứ hai cách bờ biển 6-10 cây số, tuy nhiên phòng tuyến này cũng nhanh chóng bị xuyên thủng. Không lâu sau đó, quân đoàn bộ binh Estonia số 8 (Liên Xô) đã cắt đứt tuyến đường bộ dẫn tới Kuressaare, thành phố lớn thứ 11 của Estonia và là trung tâm hành chính của Saaremaa. Quân đồn trú Đức vội vã tổ chức nhiều đợt phản kích hòng đẩy lui quân đội Liên Xô nhưng không thành công. Ngày 7 tháng 10, thành phố và cảng Kuressaare được giải phóng. Sang ngày 8, quân Đức đã bị quét sạch khỏi phần lớn Saaremaa và rút về phòng thủ tại bán đảo Sõrve nằm ở mỏm Tây Nam của Saaremaa. Tiếp đó, trận Tehumardi diễn ra vào đêm 8 rạng ngày 9 tháng 10 đã quyết định thắng lợi của quân đội Liên Xô trong giai đoạn đầu tiên của chiến dịch đổ bộ Moonsund. Chỉ trong vòng chưa đầy 2 tuần, quân đội Liên Xô đã giải phóng phần lớn lãnh thổ của quân đảo Tây Estonia.
Cuộc chiến tại bán đảo Sõrve.
Tuy nhiên mỏm đất Sõrve còn lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Khu vực này - được quân Đức gọi là "lá chắn Ibre" vì nó là bình phong che mặt vịnh Ibre - nhanh chóng được biến thành một "pháo đài" với hệ thống hầm hào chằng chịt cùng với niều hỏa điểm, boong ke kiên cố và vô số các vật cản chống tăng. Tại eo Kaimiri, khu vực hẹp nhất của bàn đảo, quân Đức bố trí đến 4 lớp phòng thủ và ném vào đây đủ loại vật cản và công sự chống tăng, chống bộ binh mà họ có được. Thêm vào đó, các khẩu đại bác Đức đủ loại đã hoạt động hết công suất, tạo một màn lửa dày đặc cản bước tiến của các mũi tấn công Liên Xô. Trong mỗi cây số mặt trận có đến 8 khẩu đội pháo và 5 khẩu đội cối nhằm vào các đội hình Hồng quân, và do phần nhiều chúng được bố trí ở bờ biển hoặc trong các rừng cây nên hoạt động phối hợp bắn phá của quân Đức rất khó phát hiện. Đồng thời, địa hình chật hẹp của bán đảo đã khiến quân đội Liên Xô gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai và vận động binh lực. Nói cách khác, suốt một thời gian dài quân đội Liên Xô bị "mắc kẹt" ở bán đảo Sõrve và lâm vào tình thế rất khó khăn. Đợt tấn công ngày 14-18 tháng 10 nhằm chọc thủng phòng tuyến Đức không thành công. Trận đổ bộ vào Vyntra ở sau lưng bán đảo cũng bị quân Đức đẩy lui và chịu thiệt hại lớn.
Cuối cùng, mãi đến ngày 18 tháng 11, sau một đợt bắn chuẩn bị dữ dội của pháo binh và một trận oanh tạc cường độ cao không kém của không quân, phòng tuyến của quân Đức mới bị xuyên thủng. Quân đội Liên Xô tiếp tục tấn công và dần dần đẩy lui quân Đức hết từ phòng tuyến này sang phòng tuyến khác. Ngày 23 tháng 11, Hồng quân mở đợt tổng công kích cuối cùng vào lực lượng Đức còn bám trụ trên mỏm đất Sõrve với hướng tấn công chính tại trục Ade-Genga. Sau một đợt pháo kích, xe tăng và bộ binh Liên Xô đồng loạt xung phong và nhanh chóng đánh thiệt hại nặng lực lượng Đức phòng thủ tại bán đảo. Đến cuối ngày, trận tuyến của quân Đức bị tràn ngập và rõ ràng họ chỉ còn có thể chống giữ không quá vài giờ nữa. Sang sáng ngày 24, phần lớn quân Đức bị đánh tan và trên bán đảo chỉ còn các nhóm tàn binh lẻ tẻ tiếp tục kháng cự. Trong những ngày cuối cùng tại Sõrve, quân đội Đức Quốc xã đã huy động lực lượng hải quân bắn yểm trợ cho số quân đồn trú trên bán đảo, trong đó có 2 chiếc tàu tuần dương hạng nặng là "Đô đốc Scheer" và "Vương công Eugene", tuy nhiên lực lượng này không đủ để thay đổi tình hình. Hạm đội Ban Tích của Liên Xô cũng tiến hành các hoạt động yểm hộ tương tự và lực lượng hải binh của hai bên đã có vài cuộc chạm súng nhỏ trên biển.
Trước tình hình không còn có thể cứu vãn, chỉ huy Cụm Tập đoàn quân Bắc Ferdinand Schörner hạ lệnh triệt thoái khỏi bán đảo vào ngày 23 tháng 11. Việc này trái với lệnh tử thủ của Hitler, nhưng may mắn cho Schörner ông ta đã không bị Quốc trưởng trừng phạt. Nguyên do của sự may mắn này đến nay vẫn chưa được rõ ràng, có thể là thái độ ủng hộ chủ nghĩa Quốc xã của Schörner đã cứu ông ta thoát nạn, hoặc cũng có thể Hitler cuối cùng đã hiểu rằng Schörner làm đúng. Rạng sáng ngày 24 tháng 11, số lính Đức còn sống sót, chừng 4.500 người và 700 thương binh - chiếm 25% binh lực ban đầu - đã được hải đội do thiếu tướng Karl Henke chỉ huy di tản đến Ventspils trên bán đảo Kurland. Tù binh Liên Xô và một số người dân Estonia cũng được đưa khỏi đảo trước đó. Toàn bộ số đại bác, xe bọc thép và vũ khí nặng đều bị bỏ lại và phá hủy, 1.400 con ngựa cũng bị bắn hạ để quân đội Liên Xô không thể sử dụng được chúng. Ngày 24 tháng 11 toàn bộ quần đảo Tây Estonia sạch bóng quân phát xít Đức.
Kết quả.
Tại bán đảo Sõrve, quân đội Liên Xô đã đánh bại các sư đoàn bộ binh số 23, 218, 215, tiểu đoàn pháo binh phòng vệ bờ biển số 531, 532, tiểu đoàn số 583 của Đức. Thiệt hại của quân Đức là 7.000 người chết, 700 người bị bắt và 100 tàu bị đánh chìm. Phần lớn các đảo đều được quân đội Liên Xô giải phóng nhanh chóng do các địa điểm đổ bộ làm quân Đức bất ngờ và việc tấn công được tổ chức liên tục không nghỉ, khiến quân Đức không kịp trở tay. Duy tại Sõrve phát xít Đức đã chống cự hơn 1 tháng rưỡi và cầm chân 1 quân đoàn của quân đội Liên Xô. | 1 | null |
Quần đảo Frisia, cũng gọi là quần đảo Wadden hay quần đảo biển Wadden, là một dãy đảo ở rìa phía đông của biển Bắc, nằm ở tây bắc của châu Âu, trải dài từ tây bắc Hà Lan qua Đức đến phía tây của Đan Mạch. Dãy đảo tạo thành tấm chắn cho khu vực biển Wadden (phần lớn trở nên khô hạn khi thủy triều xuống thấp) khỏi biển Bắc.
Quần đảo Frisia, cùng với bờ biển tại Vùng lõm Đức trên lục địa, tạo thành vùng Frisia, quê hương truyền thống của người Frisia. Nói chung, thuật ngữ quần đảo Frisia được sử dụng để chỉ các hòn đảo có cư dân nói tiếng Frisia và có người Frisia sinh sống. Ngược lại, thuật ngữ quần đảo Wadden được sử dụng để chỉ toàn bộ quần đảo, bao gồm các hòn đảo có cư dân nói tiếng Đan Mạch ở xa về phía bắc, phía tây bờ biển của bán đảo Jutland.
Hầu hết quần đảo Frisia là các khu vực được bảo vệ, và một khu bảo tồn loài hoang dã quốc tế đã được hình thành với sự phối hợp của các nước Hà Lan, Đức và Đan Mạch. Tuy nhiên, các mỏ khí thiên nhiên và dầu mỏ vẫn tiếp tục được khoan, quần đảo cũng nằm gần các cửa sông Ems, Weser và Elbe; vì thế giao thông đường thủy cũng tạo ra căng thẳng trong việc bảo đảm cả bảo vệ các loài hoang dã lẫn kinh tế. | 1 | null |
Hò kéo thuyền trên sông Volga là tên tiếng Việt của một bài dân ca Nga mang tên là Ey, ukhnem! (, tạm dịch "Hò, dô, hò !") hay Dubinushka (). Bài hát được nhà soạn nhạc M. A. Balakirev sưu tầm và tập hợp trong một tuyển tập dân ca ấn hành năm 1866. Đây là một bài hò phổ biến của những người phu kéo thuyền Nga ("burlak") sống ở vùng sông Volga. Ban đầu, M. A. Balakirev chỉ xuất bản khổ đầu của bài hát và những khổ sau được thêm vào trong những năm sau đó. Bài hát này là cảm hứng cho tác phẩm Những người phu kéo thuyền trên sông Volga ("Бурлаки на Волге") của danh họa I. Ye. Repin. Một tên khác của bài hát là "Bài cả của những người phu kéo thuyền tại sông Volga".
Nghệ sĩ opera F. I. Shalyapin đã góp nhiều công sức trong việc phổ biến bài hát này ra toàn thế giới và ông là một trong những ca sĩ thành danh với bài hát này. Ngoài ra Glenn Miller cũng trình diễn bài hát dưới dạng jazz và khiến nó thành bài hát được yêu thích nhất ở Hoa Kỳ trong năm 1941. Nhà soạn nhạc Tây Ban Nha Manuel De Falla cũng sáng tác một phiên bản của bài hát vào năm 1922 dưới cái tên "Bài ca của những người kéo thuyền tại sông Volga" "Canto de los remeros del Volga (del cancionero musical ruso)". Ông biên soạn phiên bản này theo chỉ thị của nhà ngoại giao Ricardo Baeza vốn đang thực thi nhiệm vụ của Hội Quốc liên trong việc quyên tiền hỗ trợ cho hơn 2 triệu tù binh và dân tị nạn Nga trong Thế chiến thứ nhất, và tất cả những lợi nhuận kiếm được từ việc phát hành bài hát đều được đóng góp cho chương trình này. | 1 | null |
Thêôđorô (Theodoros) II (tiếng Hy Lạp: Πάπας και Πατριάρχης Αλεξανδρείας και πάσης Αφρικής Θεόδωρος Β΄, tên lúc sinh là Nikolaos Horeftakis vào ngày 25 tháng 11 năm 1954) là giáo trưởng giáo hội chính thống phương Đông của Alexandria và tất cả châu Phi.
Ông sinh ra trên đảo của Crete thuộc Hy Lạp trong năm 1954, nơi ông hoàn tất chương trình trung học. Ông tốt nghiệp Trường Giáo hội Rizarios tại Athena và có bằng từ ngành Thần học của Đại học Aristotle Thessaloniki. Ông cũng nghiên cứu Lịch sử Nghệ thuật, Văn học và Triết học ở Odessa. Từ 1975 đến 1985 ông giữ chức phó chủ giáo và hiệu trưởng của Metropolis Thánh Lambis và Sfakion ở Crete, nơi ông đã phát triển đáng kể giảng và các hoạt động từ thiện (ký túc xá cho thanh niên nghèo). Từ 1985-1990, ông giữ chức vụ giám mục Tòa Thượng phụ ở Nga, có trụ sở tại thành phố Ucraina của Odessa, trong nhiệm kỳ VI Tổ Nicholas và Parthenios.
Theodore thành lập Viện Văn hóa và Bảo tàng Philiki Eterea Hy Lạp với 600 trẻ em, nơi các em được dạy kiến thức toàn diện của Hy Lạp. Năm 1990, ông được thụ phong Giám mục Kyrene và được bổ nhiệm làm đại diện của Patriarch Parthenios trong Athena (1990-1997). Ông luôn luôn đi kèm Parthenios Thượng phụ đi du lịch khắp châu Phi và nhiều hội nghị quốc tế, tín ngưỡng và thần học. | 1 | null |
National Broadcasting Company (NBC) là một mạng lưới phát thanh và truyền hình thương mại bằng tiếng Anh của Mỹ. NBC là tài sản chủ lực của bộ phận NBC Entertainment của NBCUniversal, một bộ phận của Comcast. Trụ sở chính của NBC được đặt tại 30 Rockefeller Plaza ở Thành phố New York với các văn phòng lớn đóng ở gần Los Angeles và Chicago. NBC đôi lúc được gọi là "Peacock Network," (mạng lưới phát thanh con công) do logo của NBC hình mào con công. Được lập năm 1926 bởi Radio Corporation of America (RCA), NBC đã là mạng lưới phát thanh lớn đầu tiên ở Hoa Kỳ. Năm 1986, việc kiểm soát NBC chuyển sang cho General Electric (GE), thông qua việc GE trả 6,4 tỷ USD mua lại từ RCA. GE trước đó đã sở hữu RCA và NBC cho đến năm 1930, khi hãng bị buộc phải bán công ty do các vụ kiện chống độc quyền.
Sau vụ mua lại năm 1986, CEO của NBC đã là Bob Wright, cho đến khi ông nghỉ hưu và chuyển vị trí này cho Jeff Zucker. Hệ thống này hiện thuộc công ty truyền thông NBCUniversal, là một liên doanh của Comcast và General Electric từ năm 2011 (và trước thời gian đó là thuộc sở hữu chung của GE và công ty mẹ Universal Music Group hiện nay Vivendi). Do vụ sáp nhập, Zucker đã rời NBC và được thay bởi Steve Burke.
NBC có 10 đài sở hữu-và-vận hành và gần 200 đài tiếp sóng ở Hoa Kỳ và các lãnh thổ của Hoa Kỳ. | 1 | null |
Hypsypops rubicundus, tên thông thường là cá thia Garibaldi, là loài cá biển duy nhất thuộc chi Hypsypops trong họ Cá thia. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1854.
Từ nguyên.
Từ định danh của chi được ghép bởi hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ đại: "hypso" ("cao") và "ops" ("mắt"), hàm ý đề cập đến mắt nằm ở vị trí cao trên đầu.
Từ định danh của loài, "rubicundus", trong tiếng Latinh có nghĩa là "đỏ ửng", hàm ý đề cập đến tông màu đỏ cam nổi bật trên cơ thể của chúng.
Phạm vi phân bố và môi trường sống.
"H. rubicundus" là một loài bản địa của vùng biển Đông Bắc Thái Bình Dương. Loài này có phạm vi trải dài từ vùng biển phía bắc bang California (Hoa Kỳ) đến cực nam của bán đảo Baja California và phía tây nam vịnh California, bao gồm đảo Guadalupe và Rocas Alijos ngoài khơi; loài này cũng được ghi nhận tại quần đảo Marías (México), nhưng đây có thể là những cá thể lang thang.
Loài này sống trên nền ở đáy đá ở những vùng nước trong, thường là gần các khe đá và các hang nhỏ, nhưng đôi khi cũng được bắt gặp trong các rừng tảo bẹ ở độ sâu đến ít nhất là 30 m.
Mô tả.
"H. rubicundus" có chiều dài cơ thể tối đa được ghi nhận là trên 30 cm, và tuổi thọ tối đa được biết đến của loài này là 20 năm tuổi. Cá đực và cá cái trưởng thành có màu cam tươi trên toàn bộ cơ thể và các vây. Tất cả các vây của chúng đều có viền màu xanh lam mờ ở rìa. Cá con đang lớn có màu cam ửng đỏ (sẫm hơn so với cá trưởng thành), lốm đốm các vệt màu xanh lam óng và sẽ tiêu biến khi trưởng thành.
Số gai ở vây lưng: 12; Số tia vây ở vây lưng: 16–17; Số gai ở vây hậu môn: 2; Số tia vây ở vây hậu môn: 13–14; Số tia vây ở vây ngực: 21–23.
Sinh thái.
Thức ăn.
Thức ăn của "H. rubicundus" chủ yếu là các loài thủy sinh không xương sống như động vật hình rêu và giun nhiều tơ, nhưng cũng ăn cả tảo và bọt biển. Chế độ ăn bọt biển được cho là góp phần làm cho loài này trở nên sáng màu hơn"."
Sinh sản.
Mùa sinh sản diễn ra vào tháng 4 và kéo dài đến tháng 10. Như những loài cá thia biển khác, cá đực xây tổ và chăm sóc trứng. Vào khoảng tháng 3, cá đực sẽ loại bỏ một số loài tảo nhất định trong khu vực để tảo đỏ có thể phát triển, là khu vực mà cá cái đẻ trứng lên đó.
Đến thời điểm sinh sản, cá cái sẽ rời lãnh thổ của chúng với các vây dựng đứng. Đây là hành vi để cá đực có thể nhận diện ra cá cái, nếu không, cá cái sẽ bị cá đực từ chối, thậm chí là bị cá đực xua đuổi. Sau khi bơi vào tổ của cá đực, cá cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách cọ xát phần bụng vào lớp tảo trong tổ.
Tuy nhiên, cá cái dù đã bơi vào tổ của cá đực nhưng vẫn có thể không đẻ trứng, được xem là một sự từ chối của cá cái đối với cá đực. Trong vài trường hợp, nếu tổ của cá đực đã có trứng của những con cá cái trước đó, cá đực sẽ xua đuổi con cá cái đến sau, và cá cái thậm chí có thể cắn xé trứng trong tổ của cá đực.
Trong quá trình tán tỉnh, và cả khi bị quấy rầy, "H. rubicundus" có thể tạo ra một âm thanh lớn mà những thợ lặn cũng có thể nghe thấy được. Tần số mà loài này có thể phát ra được ghi nhận trong khoảng 75–100·Hz.
Thương mại.
"H. rubicundus" khá phổ biến ở vùng bờ biển Nam California. Mặc dù không nằm trong danh sách các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, nhưng nhiều lo ngại cho rằng, việc đánh bắt nhằm mục đích thương mại của ngành công nghiệp cá cảnh nước mặn đã làm suy giảm số lượng của chúng tại vùng biển này.
Vào năm 1995, Cơ quan lập pháp bang California đã ra lệnh cấm đánh bắt "H. rubicundus" vì mục đích thương mại. "H. rubicundus" được công nhận là loài cá biển biểu tượng của bang California, bên cạnh các loài như gấu xám California và chim cút California. | 1 | null |
Dascyllus flavicaudus là một loài cá biển thuộc chi "Dascyllus" trong họ Cá thia. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1977.
Từ nguyên.
Từ định danh "flavicaudus" được ghép bởi hai âm tiết trong tiếng Latinh: "flavus" ("vàng") và "cauda" ("đuôi"), hàm ý đề cập đến vây đuôi màu vàng của loài cá này.
Phạm vi phân bố và môi trường sống.
"D. flavicaudus" được phân bố ở các đảo quốc thuộc châu Đại Dương tại Nam Trung Thái Bình Dương, bao gồm quần đảo Société, quần đảo Tuamotu, quần đảo Pitcairn và đảo Rapa Iti.
"D. flavicaudus" sống trên các rạn san hô viền bờ ở độ sâu đến ít nhất là 40 m, thường được tìm thấy gần các cụm san hô phân nhánh "Pocillopora".
Mô tả.
Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở "D. flavicaudus" là 12 cm. Cơ thể có màu nâu sẫm, hơi ánh xanh lam ở lớp vảy trên thân. Phần ngọn của gai vây lưng (trừ phần gốc màu vàng nhạt và phần vây mềm gần như trong suốt), vây hậu môn và vây bụng sẫm đen hơn. Vây đuôi màu vàng tươi. Vây ngực trong suốt, có đốm đen ở gốc vây. Tuy nhiên, chúng có thể chuyển sang kiểu màu xám trên toàn cơ thể (trừ các vây) hoặc chỉ xám ở đầu.
Số gai ở vây lưng: 12; Số tia vây ở vây lưng: 15–16; Số gai ở vây hậu môn: 2; Số tia vây ở vây hậu môn: 13–14; Số gai ở vây bụng: 1; Số tia vây ở vây bụng: 5; Số tia vây ở vây ngực: 20–21.
Sinh thái học.
Thức ăn của "D. flavicaudus" chủ yếu là các loài động vật phù du. Chúng có thể sống thành nhóm với một con đực đứng đầu cùng bầy cá cái nhỏ hơn trong hậu cung của nó. Cá đực có tập tính bảo vệ và chăm sóc trứng; trứng có độ dính và bám vào nền tổ.
"D. flavicaudus" có thể tạo ra âm thanh trong nhiều trường hợp, như khi cá đực thực hiện các màn tán tỉnh với cá cái, rượt đuổi/chiến đấu với những cá thể cùng loài hoặc khác loài, cũng như khi cá đực nhảy báo hiệu khi cá cái ghé lãnh thổ của nó hoặc để cảnh báo những con đực khác xâm phạm lãnh thổ.
Phân loại học.
"D. flavicaudus" nằm trong nhóm phức hợp loài "Dascyllus reticulatus" cùng với "Dascyllus carneus" và "Dascyllus marginatus". Phức hợp "Dascyllus trimaculatus" được tách ra từ phức hợp "reticulatus" vào khoảng 3,9 triệu năm trước (Thế Pleistocen).
McCafferty và cộng sự (2002) phát hiện rằng, quần thể "D. reticulatus" được chia thành hai dòng khác nhau và tách biệt về mặt địa lý, dòng phía bắc phạm vi có quan hệ cận ngành với "D. flavicaudus", còn dòng thứ hai hợp thành nhóm chị em với "D. carneus". McCafferty và cộng sự không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt nào trong trình tự DNA ty thể (mtDNA) để phân biệt giữa "D. flavicaudus" và dòng "D. reticulatus" phía bắc. Nếu chúng được xếp vào nhóm loài đồng nghĩa với nhau, cái tên "Dascyllus reticulatus" sẽ được ưu tiên hơn "Dascyllus flavicaudus". | 1 | null |
Avro 504 là một loại máy bay hai tầng cánh trong Chiến tranh thế giới I, do hãng Avro thiết kế chế tạo và được nhiều hãng khác sản xuất theo giấy phép. Việc sản xuất diễn ra trong chiến tranh và tiếp tục được thực hiện thêm 20 năm, tổng cộng đã có 8.970 chiếc được chế tạo. Đây là loại máy bay được chế tạo nhiều nhất từng hoạt động trong Chiến tranh thế giới I.
Các nhà sản xuất.
Các công ty sau đây sản xuất Avro 504 theo giấy phép. | 1 | null |
Đuôi cứng nâu (danh pháp hai phần: Certhia americana) là một loài chim thuộc họ Đuôi cứng ("Certhiidae"). Đây là loài chim đuôi cứng duy nhất ở Bắc Mỹ. Chim trưởng thành có các đốm sáng bên trên, giống như các mảnh vỏ cây, với bên dưới màu trắng. Chúng có mỏ dài và mỏng hơi cong về phía dưới và đuôi cứng để hỗ trợ nó leo lên trên. Con trống hơi lớn hơn con mái. Loài chim này có độ dài 11,7–13 cm. Môi trường sinh sản của chúng là rừng trưởng thành, đặc biệt là rừng thông ở Canada, Alaska và đông bắc và tây Hoa Kỳ. Chúng là loài không di cư trong phần lớn phạm vi phân bố; nhiều con ở phía bắc di cư về phía nam đến Hoa Kỳ. | 1 | null |
Trâu Canh (khoảng 1314 – 1369) là người nhà Nguyên (Trung Quốc), về sau trở thành thầy thuốc có tiếng dưới thời nhà Trần (khoảng từ 1314–1369) trong lịch sử Việt Nam. Làm quan đến Quan Phục Hầu Tuyên Huy Viện Đại Sứ kiêm Thái Y Sứ.
Tiểu sử.
Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (quyển VII, kỷ nhà Trần) chép vắn tắt về nhân vật Trâu Canh như sau:
Nói về việc chữa bệnh của ông, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép:
Kể từ đó trở đi, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" không chép thêm gì về thầy thuốc Trâu Canh, chỉ cho biết rằng: "Dòng dõi của Canh đến triều nay còn có người là Trâu Bảo, được của do Trâu Canh cất giữ trở nên giàu có, nhưng cũng vì thế mà trở nên lụn bại".
Dưới góc độ y khoa hiện đại.
Nghiên cứu toa thuốc điều trị bệnh liệt dương của Trâu Canh cho vua Trần Dụ Tông, theo BS. Hồ Đắc Duy, có hai yếu tố cần được phân tích:
Cả hai yếu tố này đều có sự tàng ẩn không bình thường.
Tất cả chẳng qua là một đòn tâm lý ác liệt đối với vua Dụ Tông. Bởi điều trị liệt dương là điều trị cảm xúc, điều trị cái nguyên nhân tâm lý đã gây ra hậu quả liệt dương như các cơ chế y khoa hiện đại. Lưu ý trước đây, chính Trâu Canh là người đã nói câu "...chỉ sợ sẽ bị liệt dương" đã khiến nhà vua (khi ấy còn là một đứa trẻ 4 tuổi) bị ám ảnh từ đó. Và người duy nhất có thể phá bỏ cái định kiến ấy không ai khác hơn là Trâu Canh, vì trước đây ông đã từng cứu sống vị vua này. Phương pháp kỳ dị của ông ta lại được Hoàng gia đồng tình vun vào, ngay cả Công chúa Thiên Ninh, (con gái Hiến Từ Thái hậu) cũng chấp nhận. Điều này càng gây cho Dụ Tông lòng "tự tin". Có thể lòng tự tin ấy đã đánh đổ các định kiến Dụ Tông chiến thắng được sự bất lực.
Tóm lại, những điều ""quái đản" mà Trâu Canh đưa ra trong toa thuốc này chỉ là "một ấn tượng khủng khiếp làm cái chìa khóa để xóa bỏ cái định kiến"". Ông ta đã làm động tác của một nhà phân tâm học hiện đại với một số ma thuật cho đến nỗi Thượng hoàng Trần Minh Tông phải chán ghét thậm tệ nhưng không thể giết chết Trâu Canh được, mặc dù ông ta đã phạm tội tày trời.
Còn theo nghiên cứu của BS. Trần Minh Đức, thì thầy thuốc Trâu Canh đã chữa bệnh bất lực cho vua Duệ Tông bằng cách "kích thích tâm lý" (áp dụng tâm lý "ăn trái cấm"). Đây là cách chữa bệnh tân tiến vào thời đó. Tuy nhiên, việc làm ấy xét ra vừa vô đạo (giết đứa trẻ để lấy mật uống) mà cũng vừa vô luân (loạn luân với chị ruột). Và cũng theo bác sĩ này, thì Trâu Canh chính là "nhà tình dục học đầu tiên ở Việt Nam". | 1 | null |
Chi Xúc cá (Rynchopidae) là một chi chim dạng nhàn thuộc họ Mòng biển (Laridae). Chi Xúc cá bao gồm các loài được ghi nhận ở Nam Á, châu Phi và châu Mỹ.
Đặc điểm riêng có của 3 loài trong chi Xúc cá là chiếc mỏ không cân xứng: hàm dưới dài hơn hàm trên. Điểm thích nghi nổi bật này giúp chúng bắt cá theo một cách thức độc nhất vô nhị, cụ thể chúng sẽ bay nhanh và sát dòng nước, rồi hàm dưới của mỏ lướt trên mặt nước để "xúc" những con cá nhỏ không kịp trốn thoát. Thỉnh thoảng có tài liệu xếp chim xúc cá vào Họ mòng biển (Laridae) nhưng những tài liệu khác tách chúng ra và xem chúng là nhóm chị em của Họ Nhàn. Loài "Rynchops niger" ("chim xúc cá đen") là loài chim duy nhất (được biết) có con ngươi dạng khe hở; do mỏ của chúng nằm trong tầm quan sát của mắt nên chim có khả năng định vị chiếc mỏ một cách cẩn thận khi bắt mồi. "Chim xúc cá đen" bay rất nhanh và hợp thành từng đàn lớn dọc các dòng sông và bãi cát ven biển.
Xúc cá là loài chim nhiệt đới và cận nhiệt, đẻ từ 3-6 quả trứng trên các bãi cát ven biển. Chim mái đảm trách nhiệm vụ ấp trứng. Do phạm vi làm tổ bị giới hạn như vậy nên địa điểm sinh sản của ba loài trong họ này dễ bị quấy rầy. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế xếp loài "Rynchops albicollis" vào loại dễ bị tổn thương không chỉ bởi nguyên nhân vừa nêu mà còn vì những địa điểm chim đến sinh sản như sông và hồ hiện đang bị thoái hoá và tàn phá.
Trong thời kì về sau, một số bản in các công trình nghiên cứu của Linnaeus thường viết sai tên chi thành "Rhynchops" so với cách viết đúng là "Rynchops" trong ấn bản nguyên thủy của ông. | 1 | null |
Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh (tiếng Anh: Bac Ninh Radio - Television Station) là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh bằng các chương trình phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử và tạp chí. Đài chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình; thực hiện sự hướng dẫn của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam về nghiệp vụ và kỹ thuật Phát thanh - Truyền hình.
Khen thưởng.
Năm 2008, Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. | 1 | null |
Chim xúc cá đen (danh pháp hai phần: Rynchops niger) là một loài chim thuộc họ Xúc cá. Loài chim này phân bố ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Quần thể phía bắc trú đông ở các vùng nước ấm hơn của Caribbean và các bờ biển cận nhiệt đới Thái Bình Dương, còn quần thể Nam Mỹ chỉ di chuyển ngắn để tránh lũ hàng năm làm ngập khu vực sinh sản của chúng chỗ cạn của sông.
Nó là loài lớn nhất trong ba loài xúc cá, dài với sải cánh dài n. Loài này cân nặng từ , con trống cân nặng từ , so với con mái nhỏ hơn với cân nặng từ .
Loài xúc cá đen này có chiếc mỏ không cân xứng: hàm dưới dài hơn hàm trên. Điểm thích nghi nổi bật này giúp chúng bắt cá theo một cách thức độc nhất vô nhị, cụ thể chúng sẽ bay nhanh và sát dòng nước, rồi hàm dưới của mỏ lướt trên mặt nước để "xúc" những con cá nhỏ không kịp trốn thoát. Đây là loài chim duy nhất được người ta biết đến có con ngươi dạng khe hở; do mỏ của chúng nằm trong tầm quan sát của mắt nên chim có khả năng định vị chiếc mỏ một cách cẩn thận khi bắt mồi. "Chim xúc cá đen" bay rất nhanh và hợp thành từng đàn lớn dọc các dòng sống và bãi cát ven biển. | 1 | null |
Guanacaste là một trong số bảy tỉnh của Costa Rica, với vị trí ở vùng tây bắc nước này. Phía tây giáp biển Thái Bình Dương; bắc giáp tỉnh Rivas của Nicaragua; đông là tỉnh Alajuela. Nam và đông nam giáp tỉnh Puntarenas. Với diện tích lớn nhưng dân số nhỏ nên đây là tỉnh thưa dân nhất của Costa Rica.
Diện tích Guanacaste là với tổng số dân cư năm 2010 là 326.953 người. Thủ phủ của Guanacaste là Liberia. Các thị trấn khác là Cañas và Nicoya.
Phân chia hành chính.
Guanacaste được chia thành 11 tổng ("cantón"). Danh mục sau đây liệt kê 11 tổng và lỵ sở (phần trong ngoặc).
Về mặt địa lý, Guanacaste chiếm phầnn lớn bán đảo Nicoya. | 1 | null |
San José là một tỉnh của Costa Rica, nằm ở trung tâm của quốc gia này. Nó có ranh giới với các tỉnh (theo chiều kim đồng hồ) Alajuela, Heredia, Limón, Cartago và Puntarenas. Thủ phủ của tỉnh này là thành phố San José. Tỉnh San José có diện tích 4.965,9 km². và dân số năm 2011 là 1.404.242 người.
Phân chia hành chính.
Tỉnh San José được chia thành 20 tổng, gồm:
Tổng (thủ phủ): | 1 | null |
Proteasomes là phức hợp protein bên trong tất cả các sinh vật nhân chuẩn và cổ khuẩn, và trong một số vi khuẩn. Ở eukaryote, chúng nằm trong nhân và tế bào chất. Chức năng chính của các proteasome là tiêu hủy các protein không cần thiết hoặc bị hư hỏng bởi sự phân giải protein, một phản ứng hóa học phá vỡ liên kết peptit. Các enzym thực hiện phản ứng như vậy được gọi là protease. Proteasomes là một phần của một cơ chế chính mà nhờ đó các tế bào điều chỉnh nồng độ của protein đặc biệt và phân hủy protein cuộn sai. Quá trình suy phá hủy tạo ra các peptide dài khoảng 7-8 amino acid, mà sau đó có thể được tiếp tục bị phá hủy tthành các amino acid và được sử dụng trong tổng hợp protein mới.
Protein được đánh dấu để làm thoái biến bằng một loại protein nhỏ có tên là ubiquitin. Phản ứng đánh dấu được xúc tác bởi các enzyme gọi là ubiquitin ligases. Một khi một protein được đánh dấu bằng một phân tử ubiquitin duy nhất, đây là một tín hiệu ligases khác để gắn các phân tử ubiquitin thêm. Kết quả là một chuỗi polyubiquitin bị ràng buộc bởi proteasome, cho phép nó làm suy biển protein gắn thẻ.
Về cấu trúc, proteasome là một phức hợp hình trụ có chứa một "lõi" của bốn vòng tròn xếp chồng lên nhau xung quanh một lỗ trung tâm. Mỗi vòng gồm bảy protein riêng lẻ. Hai vòng trong gồm bảy tiểu đơn vị β có chứa 3-7 các địa điểm hoạt động của protease. Những địa điểm này được đặt trên bề mặt bên trong của những vòng nhẫn, để các protein mục tiêu phải đi vào lỗ trung tâm trước khi nó bị suy biến. Hai vòng ngoài từng có 7 tiểu đơn vị α có chức năng là để duy trì một "cửa" mà thông qua đó các protein vào ống. Các tiểu đơn vị α được kiểm soát bằng cách liên kết với "mũ" cấu trúc hoặc các hạt quản lý nhận ra thẻ polyubiquitin gắn liền với chất nền protein và bắt đầu quá trình suy biến. Toàn bộ hệ thống của ubiquitination và suy biến proteasome được biết đến với tên hệ thống ubiquitin-proteasome.
Các con đường biến proteasome là điều cần thiết cho nhiều quá trình tế bào, bao gồm cả chu kỳ tế bào, quy định biểu hiện gen, và phản ứng với stress oxy hóa. Tầm quan trọng của suy thoái thủy phân protein bên trong tế bào và vai trò của ubiquitin trong con đường thủy phân protein đã được thừa nhận khi trao giải Nobel Hóa học năm 2004 cho Aaron Ciechanover, Avram Hershko và Irwin Rose. | 1 | null |
Trận Cantigny là cuộc tấn công lớn đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ trên Mặt trận phía Tây nói riêng cũng như trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nói chung, đã diễn ra vào ngày 28 cho đến ngày 31 tháng 5 năm 1918 tại vùng Picardy ở miền bắc nước Pháp. Là một phần của trận sông Aisne lần thứ ba – một chiến dịch tấn công của quân đội Đức, trận đánh này đã kết thúc với chiến thắng của Sư đoàn số 1 của "Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ" do tướng Robert Lee Bullard chỉ huy trước Tập đoàn quân số 18 của Đế quốc Đức do tướng Oskar von Hutier chỉ huy. Cuộc giao tranh tại Cantigny đã góp phần thể hiện khả năng chiến đấu của quân đội Mỹ – vốn sẽ đóng vai trò quan trọng đến kết cuộc của chiến tranh – tương đương với quân đội Đức.
Trong chiến dịch Michael – một phần của hàng loạt chiến dịch tấn công lớn của Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất Erich Ludendorff của Đức vào đầu năm 1918, quân Đức đã đánh chiếm làng Cantigny và biến nơi đây thành một ngôi làng công sự cho mình. Từ cuối tháng 4, quân Mỹ đã tiếp cận khu vực Cantigny. Dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hanson E. Ely, một Trung đoàn Bộ binh thuộc Sư đoàn số 28 đã được lệnh đánh chiếm Cantigny. Người tổng chỉ huy lực lượng Viễn chinh Mỹ John J. Pershing đã quan sát cuộc tiến công này – nổ ra vào ngày 28 tháng 5 sau một đợt pháo chuẩn bị. Không quân Pháp đã yểm trợ cho cuộc tấn công của quân đội Mỹ, và lực lượng bộ binh Mỹ đã theo bước xe tăng Pháp đã nhanh chóng tiến chiếm mục tiêu của mình tại Cantigny. Ngay lập tức, quân đội Đức phản công và một tiểu đoàn bộ binh Mỹ đã được đưa vào vị trí bị đe dọa trên chiến tuyến. Trong vài ngày sau thắng lợi tại Cantigny, pháo binh và bộ binh của Mỹ đã đẩy lùi hàng loạt cuộc phản kích dữ dội của quân Đức.
Đa số thiệt hại của quân Mỹ đã xảy ra trong giai đoạn cố thủ làng Cantigny. Trong khuôn khổ của Mặt trận phía Tây, trận Cantigny chỉ là một cuộc giao chiến lẻ tẻ, tuy nhiên Pershing đã khẳng định sự thắng lợi của các lực lượng của ông. Chiến thắng của quân đội Hoa Kỳ tại Cantigny đã lên dây cót cho tinh thần của khối Hiệp Ước. Sau thắng lợi này, quân Mỹ sẽ còn thực hiện các cuộc tấn công vào đầu tháng 6. | 1 | null |
Puntarenas là một tỉnh của Costa Rica nằm ở phía tây của quốc gia này, dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, và là tỉnh lớn nhất của Costa Rica. Tỉnnh Puntarenas giáp ranh với các tỉnh Guanacaste, Alajuela, San José và Limón, và giáp với hai tỉnh Bocas del Toro và Chiriquí của nước láng giềng là Panama.
Thủ phủ của thành phố là Puntarenas. Tỉnh Puntarenas có diện tích , và dân số năm 2011 là 410.929.
Phân chia hành chính.
Tỉnh Puntarenas được chia thành 11 tổng. Về mục đích hành chính, đảo Isla del Coco, trên Thái Bình Dương cách bờ biển được xem là một phần của tỉnh này. Các tổng gồm:
Canton (thủ phủ): | 1 | null |
"Don't Stop the Party" là một ca khúc của nam ca sĩ người Mỹ Pitbull thu âm cho album phòng thu thứ bảy của anh, "Global Warming". Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ ba của album và được phát hành vào ngày 25 tháng 9 năm 2012 bởi hãng đĩa RCA. Ca khúc này được sản xuất bởi Urales "DJ Buddha" Vargas, DJ/nhà sản xuất TJR, và Marc Kinchen. "Don't Stop the Party" có sử dụng một đoạn nhạc từ một ca khúc nổi tiếng của TJR có tên là "Funky Vodka".
Video âm nhạc.
Video âm nhạc cho ca khúc được phát hành đầu tiên trên kênh VEVO chính thức của Pitbull vào ngày 26 tháng 10 năm 2012. Video được đạo diễn bởi David Rosseau và đến nay đã đạt được hơn 4 triệu lượt xem.
Tham gia thực hiện.
Thông tin được lấy từ ghi chú trong đĩa đơn "Don't Stop the Party" | 1 | null |
Puntarenas là thủ phủ và là thành phố lớn nhất trong tỉnh Puntarenas, Costa Rica, bên bờ Thái Bình Dương. Puntarenas là một trong những vùng du lịch quan trọng của Costa Rica với bờ biển có nhiều đảo và vịnh, các bãi biển, hoạt động du lịch của thành phố này mang lại 2,111 tỷ USD ngoại hối trong năm 2010.
Thành phố này được kết nối với San José bằng đường bộ và đường sắt với chiều dài khoảng 99–120 km.
Cảng chính của nó đồng thời là cảnh quan trọng của quốc gia này là Caldera. Các mặt hàng quan trọng xuất qua cảng này như chuối, cà phê và các sản phẩm chế biến khác. Từ đây có những chuyến phà từ Puntarenas đến bán đảo Nicoya,
Khí hậu.
Puntarenas nhìn chung có khí hậu nóng hơn thung lũng trung tâm Costa Rica, với nhiệt độ ca trong ngày từ 30 °C đến 35 °C trong các tháng lạnh nhất và nóng nhất. | 1 | null |
Đảo Reichenau () là một hòn đảo nằm trên hồ Constance, thuộc huyện Konstanz, tỉnh Freiburg, bang Baden-Württemberg, miền Nam nước Đức. Với tổng diện tích đất , chu vi là , hòn đảo có chiều dài và rộng nhất đạt . Điểm cao trung bình so với mặt hồ là và điểm cao nhất đạt so với mực nước biển.
Reichenau được kết nối với đất liền bằng một đường đắp cao hoàn thành vào năm 1838, nằm giữa tàn tích của lâu đài Schopflen và đầu phía đông của đảo Reichenau có chiều dài và rộng được gọi là Bruckgraben. Một cây cầu đường bộ thấp cho phép những chiếc thuyền thông thường ngoại trừ thuyền buồm qua lại.
Lịch sử.
Tu viện được một người có tên là Thánh Pirmin thành lập vào năm 724. Ông đã rời khỏi Tây Ban Nha nhằm trốn chạy những người Moor. Tu viện phát triển khi Pirmin rời đi. Với những cải cách sau đó, tu viện trở thành trường học, thư viện sách quan trọng với rất nhiều các cuốn sách quý, trong đó người có công lớn là Reginbert của Reichenau. Ngoài ra là rất nhiều các bản thảo viết tay nổi tiếng khắp châu Âu, các tác phẩm nghệ thuật. Những năm tiếp theo, có rất nhiều những học giả, nhà thơ đã sống ở đây như Walahfrid Strabo, Berno của Reichenau. Đến cuối thế kỷ 11, dưới thời Giáo hoàng Grêgôriô VII, tu viện bắt đầu suy yếu, ảnh hưởng từ Tu viện Thánh Gall.
Tu viện Reichenau là nơi chôn cất Burchard III và Herman I, hai vị công tước xứ Swabia.
Mô tả.
Tu viện Reichenau nằm trên đảo được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Thánh đường nhà thờ dành riêng cho Đức Mẹ Maria và Thánh sử Máccô. Hai nhà thờ nữa được xây dựng trên đảo tận hiến cho Thánh George, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của Reichenau bao gồm các bức tranh tường Ottoman Phục hưng trong nhà thờ Thánh George như là Phép là của Chúa tồn tại là thường từ thế kỷ thứ 10. Người bảo hộ tu viện sống trong một tòa nhà bằng đá hai tầng có hai khung gỗ được thêm vào thế kỷ 14 là một trong những tòa nhà khung gỗ lâu đời nhất ở miền nam nước Đức.
Ngày nay hòn đảo này cũng nổi tiếng với các trang trại rau. Wollmatinger Ried là một khu bảo tồn thiên nhiên rộng lớn, một vùng đất ngập nước nhiều lau sậy được cư trú bởi nhiều loài chim như là một điểm dừng chân trong chuyến di cư hàng năm của chúng. | 1 | null |
Chất thải phóng xạ là chất thải chứa vật liệu phóng xạ. Chất thải phóng xạ thường là sản phẩm phụ của việc sản xuất năng lượng hạt nhân, việc sử dụng phản ứng phân hạch hay công nghệ hạt nhân trong những ngành khác như nghiên cứu và y dược. Chất thải phóng xạ rất nguy hiểm với tất cả sinh vật và môi trường, và được kiểm soát bởi các cơ quan chính phủ nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường tự nhiên.
Chất phóng xạ phân rã dần theo thời gian nên chất thải phóng xạ cần phải được cô lập và chứa trong các cơ sở xử lý phù hợp trong thời gian đủ dài cho đến khi hết nguy hiểm. Khoảng thời gian đó phụ thuộc vào loại chất thải và các đồng vị phóng xạ. Hiện nay, những phương pháp quản lý chất thải phóng xạ là cách ly và trữ chất thải ngắn hạn, trữ gần bề mặt cho chất thải cấp thấp và một số chất thải trung gian, và chôn sâu hay phân chia / chuyển hóa đối với chất thải cấp cao.
Một bản tóm tắt lượng chất thải phóng xạ và các biện pháp quản lý chất thải phóng xạ của hầu hết các nước phát triển được xem xét và phê duyệt định kỳ theo như Công ước chung về An toàn Quản lý Nhiên liệu đã qua sử dụng và về An toàn Quản lý Chất thải phóng xạ của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).
Bản chất và ý nghĩa.
Chất thải phóng xạ thường chứa một lượng hạt nhân phóng xạ: các nguyên tố ở trạng thái không bền phân rã, phát ra bức xạ ion hóa, có thể gây nguy hiểm cho con người và môi trường. Bức xạ của những đồng vị phóng xạ dạng và mức độ khác nhau, cũng như tồn tại trong những thời gian khác nhau.
Vật lý.
Tính phóng xạ của mọi chất thải phóng xạ yếu dần theo thời gian. Tất cả hạt nhân phóng xạ trong chất thải có chu kỳ bán rã—thời gian dể một nửa nguyên tử phân rã—và cuối cùng, tất cả chất thải phóng xạ phân rã thành những nguyên tố không phóng xạ (tức là, hạt nhân bền). Một số nguyên tố phóng xạ (như plutoni-239) sẽ mất hàng trăm ngàn năm để hết nguy hiểm với con người và những sinh vật khác. Những chất khác cần hàng triệu năm. Vì thế, những chất thải này phải được bảo vệ trong nhiều thế kỉ cách ly khỏi môi trường tự nhiên trong hàng ngàn năm. Theo quy luật của chu kỳ bán rã phóng xạ, tốc độ phân rã tỷ lệ nghịch với thời gian phân rã. Nói cách khác, bức xạ từ đồng vị dài hạn như iod-129 sẽ ít hơn nhiều so với một đồng xạ ngắn hạn như iod-131. Hai bảng bên cho thấy một số đồng vị phóng xạ phổ biến, chu kỳ bán rã, và hiệu suất phân hạch của chúng so với hiệu suất phân hạch của urani-235.
Năng lượng và dạng của bức xạ ion hóa phát ra bởi chất phóng xạ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự nguy hiểm của nó với con người. Tính chất hóa học của nguyên tố phóng xạ quyết định tính di động của hợp chất đó cũng như khả năng lan ra môi trường và đầu độc con người. Không chỉ thế, nhiều đồng vị phóng xạ không phân rã ngay thành dạng bền mà thành chất phóng xạ trong một chuỗi phân rã trước khi đạt được trạng thái bền.
Dược động học.
Tiếp xúc với chất thải phóng xạ có thể làm hại, thậm chí là chết. Với con người, một lượng 1 sievert có 5.5% nguy cơ gây ung thư, và các cơ quan quản lý cho rằng nguy cơ này tỉ lệ với liều lượng ngay cả với liều lượng thấp. Bức xạ ion hóa có thể xóa các đoạn mã trong nhiễm sắc thể. Một sinh vật đang phát triển như bào thai bị chiếu xạ có thể gây nên bất thường bẩm sinh, nhưng nhiều khả năng bất thường này nằm trong giao tử. Những đột biến do chiếu xạ ở người không nhiều, cũng như ở hầu hết động vật có vú, nhờ có các cơ chế sửa chữa tế bào mà trong số đó có những cơ chế chỉ mới được phát hiện. Chúng bao gồm sửa chữa DNA, RNA thông tin và protein, cũng như tiêu thể tiêu hóa nội bào những protein hỏng, thậm chí là tế bào tự chết
Tùy vào dạng phân rã và cách thức và tốc độ mà cơ thể xử lý nó, mối nguy hại do tiếp xúc với bức xạ của một hạt nhân phóng xạ sẽ thay đổi. Ví dụ, Iod-131 có tuổi thọ ngắn và phóng xạ beta và tia gamma, nhưng vì tập trung ở tuyến giáp, nó có thể nguy hiểm hơn là Caesi-137 do Cs-137 tan được trong nước nên được bài tiết ra ngoài bằng nước tiểu. Tương tự, các Actini phân rã alpha và radi được coi là cực độc do chúng có thời gian bán thải rất dài và bức xạ của chúng có hệ số RBE cao, gây ra tác động lớn cho các mô. Chính vì sự khác biệt ấy, cách xác định chấn thương về mặt sinh học rất khác nhau tùy vào hạt nhân phóng xạ, thời gian chiếu xạ
và đôi khi là bản chất của hợp chất hóa học chứa hạt nhân phóng xạ.
Nguồn.
Chất thải phóng xạ đến từ nhiều nguồn khác nhau. Ở những nước có nhà máy điện hạt nhân, vũ khí hạt nhân, hay nhà máy xử lý nhiên liệu hạt nhân, phần lớn chất thải bắt nguồn từ chu trình nhiên liệu hạt nhân và tái chế vũ khí hạt nhân. Một số nguồn khác bao gồm chất thải y tế và công nghiệp, cũng như chất phóng xạ xuất hiện tự nhiên (NORM), chúng được tập trung lại thông qua việc xử lý hay tiêu thụ than, dầu khí, và một số khoáng chất như bên dưới.
Chu trình nhiên liệu hạt nhân.
Giai đoạn đầu.
Chất thải từ giai đoạn đầu trong chu trình nhiên liệu hạt nhân thường là chất thải phóng xạ alpha từ việc khai thác urani, thường chứa Radi và sản phẩm phân rã của Radi.
Urani dioxide (UO2) đậm đặc từ các mỏ có tính phóng xạ gấp hàng ngàn lần đá hoa cương dùng trong xây dựng. Nó được tinh chế từ Urania (U3O8), rồi được biến đổi thành khí urani hexafluorua (UF6). UF6 trải qua quá trình làm giàu urani để tăng lượng U-235 từ 0.7% đến khoảng 4.4% (LEU). Sau đó được biến thành oxit gốm cứng (UO2) để tạo nên nhiên liệu của lò phản ứng.
Sản phẩm phụ chính của quá trình làm giàu Urani là Urani nghèo (DU), chủ yếu gồm đồng vị U-238, với tỉ lệ U-235 khoảng 0.3%. Nó được chứa trong UF6 hoặc U3O8. Khối lượng riêng cực kỳ cao của nó có một số ứng dụng như đan chống tăng, và thậm chí là sống thuyền buồm ít nhất một lần. Nó cũng được dùng với plutoni để làm MOX (nhiên liệu oxit hỗn hợp) và để pha loãng (làm nghèo) Urani được làm giàu có nguồn gốc từ vũ khí, để được chuyển hướng làm nhiên liệu cho lò phản ứng.
Giai đoạn cuối.
Giai đoạn cuối của chu trình nhiên liệu hạt nhân, phần lớn là nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, chứa sản phẩm phân hạch phát ra bức xạ beta và gamma, actini phóng xạ hạt alpha như urani-234 (chu kỳ bán rã 245 ngàn năm), neptuni-237 (2.144 triệu năm), plutoni-238 (87.7 năm) và americi-241 (432 năm), thậm chí là chất phát xạ neutron như californi (chu kỳ bán rã 898 năm đối với Cf-251). Những đồng vị này được hình thành trong các lò phản ứng hạt nhân.
Cần phải phân biệt giữa việc xử lý urani để sản xuất nhiên liệu và việc tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng. Nhiên liệu đã qua sử dụng chứa sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ cao (xem chất thải cấp cao ở dưới), trong đó có nhiều sản phẩm hấp thụ neutron, gọi là chất độc neutron. Ngay cả khi loại bỏ các thanh điều khiển, chúng vẫn sẽ hấp thụ neutron nhiều đến một mức nhất định khi phản ứng dây chuyền ngừng lại. Khi ấy nhiên liệu trong lò phản ứng phải được thay thế bằng nhiên liệu mới, tuy rằng lượng urani-235 và plutoni vẫn còn đáng kể. Tại Mỹ, nhiên liệu đã qua sử dụng này thường được "chứa", trong khi ở những nước như Nga, Anh, Pháp, Nhật Bản và Ấn Độ, nó được tái chế để loại bỏ các sản phẩm phân hạch rồi được tái sử dụng. Sản phẩm phân hạch ấy là một dạng đậm đặc của chất thải cấp cao, cũng như những hóa chất được dùng trong quá trình xử lý.
Thành phần nhiên liệu và tính phóng xạ lâu dài.
Việc sử dụng nhiều loại nhiên liệu trong lò phản ứng hạt nhân tạo ra thành phần các loại nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng (NLĐQSD) khác nhau, với mức độ phóng xạ theo thời gian khác nhau.
Chất thải phóng xạ tuổi thọ cao từ giai đoạn cuối của chu trình nhiên liệu ảnh hưởng đến việc quản lý chất thải cho NLĐQSD. Đối với phân rã phóng xạ dài hạn, các Actini có trong NLĐQSD đóng vai trò quan trọng do chúng có chu kỳ bán rã dài đặc trưng. Tùy vào nhiên liệu dùng trong lò phản ứng hạt nhân, thành phần Actini trong NLĐQSD sẽ có sự khác biệt.
Một ví dụ là việc sử dụng thori làm nhiên liệu hạt nhân. Th-232 là một kim loại giàu có thể trải qua một phản ứng bắt neutron và hai phân rã beta trừ để tạo thành kim loại phân hạch U-233. Do đó, NLĐQSD của chu trình có thori sẽ chứa U-233. Sự phân rã của nó tác động lớn đến đường mức độ phóng xạ dài hạn của NLĐQSD trong khoảng một triệu năm. So sánh giữa cường độ phóng xạ của U-233 cho ba loại NLĐQSD được biểu diễn trong biểu đồ bên phải. Nhiên liệu được dùng là thori cùng plutoni lò phản ứng (RGPu), thori cùng plutoni vũ khí (WGPu) và nhiên liệu oxit hỗn hợp (MOX, không có thori). Với RGPu và WGPu, có thể thấy lượng U-233 ban đầu và phân rã trong khoảng một triệu năm. Điều này ảnh hưởng đến tổng mức độ phóng xạ của ba loại nhiên liệu. Sự vắng mặt của U-233 và các sản phẩm phụ của nó trong nhiên liệu MOX dẫn đến cường độ phóng xạ thấp hơn trong vùng 3 của đồ thị dưới, trong khi các đường biểu diễn RGPu và WGPu cao hơn do vẫn còn U-233 không phân rã hết. Việc tái chế hạt nhân có thể loại bỏ các Actini từ NLĐQSD để sử dụng hoặc phá hủy (xem Sản phẩm phân hạch tuổi thọ cao).
Lo ngại về phổ biến vũ khí hạt nhân.
Vì urani và plutoni là vật liệu cho vũ khí hạt nhân, nhiều người lo ngại về sự phổ biến của chúng. Plutoni thường là (trong nhiên liệu đã qua sử dụng) plutoni lò phản ứng. Plutoni-239, rất thích hợp cho vũ khí hạt nhân, chứa một lượng lớn tạp chất không mong muốn như: plutoni-240, plutoni-241, and plutoni-238. Rất khó để tách chiết những đồng vị này, và có những cách ít tốn kém hơn để thu được vật liệu phân hạch (ví dụ như, làm giàu urani hay các lò phản ứng sản xuất plutoni chuyên dụng).
Chất thải cấp cao chứa rất nhiều sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ cao, hầu hết có tuổi thọ tương đối ngắn. Điều này dấy lên lo ngại rằng nếu chất thải được lưu trữ, có thể là trong kho địa chất sâu, qua nhiều năm sản phẩm phân hạch phân rã, làm giảm tính phóng xạ của chất thải khiến plutoni dễ tiếp cận hơn. Tạp chất Pu-240 phân rã nhanh hơn Pu-239, làm chất lượng của vật liệu tăng dần theo thời gian (trong khi số lượng của nó giảm theo thời gian). Vì thế, một số ý kiến cho rằng, khi thời gian trôi, những khu vực lưu trữ có nguy cơ trở thành "mỏ plutoni", từ đó vật liệu cho vũ khí hạt nhân có thể thu được tương đối dễ dàng. Những ý kiến phản bác chỉ ra rằng việc thu hồi vật liệu có ích từ những kho lưu trữ được đóng kín khó đến mức những phương pháp khác còn đáng xem xét hơn. Cụ thể, nhiệt độ (80 độ C với đá ở xung quanh) và tính phóng xạ cao khiến việc khai thác những kho lưu trữ này đặc biệt khó khăn, còn các phương pháp làm giàu tốn nhiền tiền bạc.
Pu-239 phân rã thành U-235 có chu kỳ bán rã rất dài (khoảng 109 năm) và phù hợp để dùng trong vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, các lò phản ứng hiện đại làm giàu U-235 tương đối vừa phải so với U-238, nên U-238 đóng vai trò là chất biến tính cho U-235 được tạo ra do plutoni phẫn rã.
Một giải pháp là tái chế plutoni để làm nhiên liệu, như trong lò phản ứng neutron nhanh. Trong các lò phản ứng nhanh tích hợp, phần plutoni và urani riêng biệt chứa tạp chất là các Actini và không thể dùng làm vũ khí hạt nhân.
Tháo dỡ vũ khí hạt nhân.
Chất thải từ việc tháo dỡ vũ khí hạt nhân hiếm khi chứa phóng xạ beta hay gamma ngoại trừ triti và americi. Nhiều khả năng nó chỉ có các actini phóng xạ alpha như Pu-239, một vật liệu phân hạch dùng trong bom nguyên tử, cùng một số vật liệu với cường độ phóng xạ cao hơn nhiều như Pu-238 hay Po.
Trong quá khứ tác nhân kích hoạt neutron cho bom nguyên tử thường là beryli và một chất phóng xạ alpha mạnh như poloni; có thể thay thế poloni với Pu-238. Vì lý do quốc phòng, thiết kế chi tiết của bom nguyên tử hiện đại thường không được công bố rộng rãi. Một số loại bom có thể có máy phát nhiệt điện hạt nhân phóng xạ dùng Pu-238 làm nguồn cấp điện lâu dài cho các thiết bị điện tử khác.
Nhiều khả năng là vật liệu phân hạch của một quả bom cũ cần tân trang sẽ chứa sản phẩm phân rã của những đồng vị của plutoni dùng trong nó, có thể gồm gồm U-236 từ Pu-240 lẫn tạp chất, cùng với U-235 từ sự phân rã của Pu-239. Do các đồng vị Pu này có chu kỳ bán rã tương đối dài, các chất thải do vật liệu trong quả bom phân rã là rất ít, và chắc chắn, ít nguy hiểm hơn nhiều (thậm chí về cường độ phóng xạ) so với chính Pu-239.
Phân rã beta của Pu-241 tạo thành Am-241; sự gia tăng americi có thể nghiêm trọng hơn là sự phân rã của Pu-239 và Pu-240 do americi là một chất phóng xạ gamma (tăng sự phơi nhiễm bên ngoài với con người) và phóng xạ alpha làm tăng nhiệt. Có một số cách để tách plutoni khỏi americi; bao gồm các quy trình nhiệt độ cao và tách chiết bằng dung môi nước/hữu cơ. Quy trình PUREX (Tách chiết oxy hóa khử Plutoni và Urani) thu gọn có thể dùng cho việc phân tách này. Urani trong tự nhiên không phân hạch được do nó chứa 99.3% U-238 và chỉ 0.7% là U-235.
Chất thải tàn dư.
Bắt nguồn từ các hoạt động trong ngành công nghiệp radi, khai thác urani, và các chương trình quân sự trong quá khứ, nhiều khu vực hiện nay bị nhiễm xạ. Chỉ riêng nước Mỹ, Bộ Năng lượng (DOE) khẳng định có "hàng triệu gallon chất thải phóng xạ", "hàng ngàn tấn nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và vật liệu" cũng như "một lượng lớn đất và nước bị ô nhiễm." Mặc dù lượng chất thải rất lớn, Bộ Năng lượng đã đặt mục tiêu làm sạch tất cả những nơi bị ô nhiễm trước năm 2025. Ví dụ, trung tâm sản xuất nguyên liệu Fernald, bang Ohio có "31 triệu pound sản phẩm urani", "2.5 tỉ pound chất thải", "2.75 triệu yard khối đất và mảnh vụn nhiễm xạ", và một phần rộng "223 acre của Tầng ngậm nước Miami Lớn có mức urani vượt quá tiêu chuẩn uống được." Hoa Kỳ có ít nhất 108 địa điểm được cho là bị nhiễm xạ và không thể sử dụng, nhiều nơi rộng hàng ngàn mẫu Anh. DOE mong muốn sẽ làm sạch hoặc giảm thiểu phần lớn hoặc tất cả trước 2025, sử dụng một số phương pháp hiện đại như geomelting, tuy nhiên sẽ rất khó khăn và phải thừa nhận một số nơi không thể được phục hồi. Trong số 108 địa điểm này, Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge, có ít nhất "167 nơi rò rỉ chất phóng xạ" tại một trong ba phân khu của khu vực rộng này. Một số địa điểm có đặc điểm đơn giản hơn và việc dọn dẹp đã được DOE hoàn thành, hoặc ít nhất là đóng cửa những khu vực đó.
Y tế.
Chất thải y tế phóng xạ thường chứa các chất phóng xạ beta và tia gamma và thường là chất thải cấp thấp. Trong chẩn đoán y tế hạt nhân một số chất phóng xạ gamma ngắn hạn như tecneti-99m được sử dụng. Có thể loại bỏ phần lớn chất này bằng cách để nó phân rã trong thời gian ngắn trước khi xử lý như chất thải thông thường. Các đồng vị khác được dùng trong y dược, với chu kỳ bán rã trong ngoặc đơn, gồm:
Công nghiệp.
Chất thải có nguồn gốc công nghiệp có thể chứa chất phóng xạ alpha, beta, neutron hoặc gamma. Phóng xạ gamma được dùng trong X quang còn chất phát xạ neutron được dùng trong nhiều lĩnh vực như thăm dò giếng dầu.
Vật liệu phóng xạ tự nhiên.
Các chất có chứa phóng xạ tự nhiên được gọi là NORM. Sau khi quá trình xử lý của con người phơi nhiễm hoặc tích tụ tính phóng xạ (như khai thác mỏ đưa than lên mặt đất hay đốt than tạo ra tro cô đặc), chúng trở thành chất phóng xạ tự nhiên được công nghệ tăng cường (TENORM). Rất nhiều chất thải loại này là chất phát xạ hạt alpha từ các chuỗi phẫn rã của urani và thori. Nguồn phóng xạ chính trong cơ thể con người là kali-40 (40K), vào khoảng 17 mg trong cơ thể và thu vào 0.4 mg mỗi ngày. Hầu hết các loại đá, tùy vào thành phần, có mức độ phóng xạ thấp. Thường nằm trong khoảng 1 milisievert (mSv) đến 13 mSv mỗi năm tùy vị trí, phơi nhiễm phóng xạ trung bình vào mức 2.0 mSv trên đầu người mỗi năm. Lượng phóng xạ này chiếm phần lớn lượng phóng xạ con người thường thu nhận (với sự phơi nhiễm trung bình mỗi năm từ những nguồn khác khoảng 0.6 mSv theo các xét nghiệm y tế, 0.4 mSv từ các tia vũ trụ, 0.005 mSv từ tàn dư các cuộc thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển trong quá khứ, 0.005 mSv từ phơi nhiễm công việc, 0.002 mSv từ thảm họa Chernobyl, và 0.0002 mSv từ chu trình nhiên liệu hạt nhân).
TENORM không được kiểm soát hạn chế bằng chất thải lò phản ứng hạt nhân, tuy nhiên nguy cơ phóng xạ của những vật liệu này là tương đương.
Than.
Than chứa một lượng nhỏ chất phóng xạ như urani, bari, thori và kali, nhưng, trong trường hợp than nguyên chất, nồng độ trung bình của những chất này ít hơn nhiều so với trong vỏ Trái Đất. Địa tầng xung quanh, nếu là đá phiến sét hay đá bùn, thường chứa nhiều phóng xạ hơn trung bình cũng như thành phần tro của than. Do khó cháy, những chất khoáng có cường độ phóng xạ cao tập trung nhiều trong tro bay. Tính phóng xạ của tro bay xấp xỉ bằng với đá phiến sét và nhỏ hơn đá phosphat, nhưng lại nguy hiểm hơn do một lượng nhỏ tro bay trong không khí có thể bị con người hít vào. Theo báo cáo của Hội đồng Quốc gia về Bảo vệ và Đo lường Phóng xạ Hoa Kỳ, phơi nhiễm dân số từ nhà máy điện 1000-MWe vào khoảng 490 rem-người/năm đối với nhà máy điện than, gấp hơn 100 lần so với mức 4,8 rem-người/năm của nhà máy điện hạt nhân. (Liều phơi nhiễm từ chu trình nhiên liệu hạt nhân là 136 rem-người/năm; con số tương ứng cho việc sử dụng than từ khi khai thác đến lúc bỏ đi "có lẽ là ẩn số".)
Dầu khí.
Chất thải từ ngành công nghiệp dầu và khí thường chứa radi và các sản phẩm phân rã của nó. Cặn sulphat từ mỏ dầu có thể chứa một lượng lớn radi, trong khi nước, dầu và khí từ giếng dầu thường chứa radon. Radon phân rã thành các chất rắn phóng xạ tạo nên lớp phủ trong lòng đường ống dẫn. Trong các nhà máy lọc dầu, khu vực xử lý propan thường bị nhiễm phóng xạ nhiều hơn do radon có nhiệt độ sôi gần với propan.
Phân loại.
Việc phân loại chất thải phóng xạ có sự khác biệt giữa các nước. Tiêu chuẩn An toàn Chất thải Phóng xạ (RADWASS), được xuất bản bởi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cũng đóng một phần quan trọng.
Đuôi quặng cối xay.
Đuôi quặng urano là sản phẩm phụ bỏ đi còn sót lại sau quá trình xử lý thô quặng urani. Cường độ phóng xạ của chúng không quá cao. Đuôi quặng cối xay đôi khi còn được gọi là chất thải 11(e)2, xuất phát từ số phần định nghĩa nó trong Đạo luật Năng lượng Nguyên tử 1946. Đuôi quặng urani cũng chứa kim loại nặng nguy hiểm hóa học như chì và asen. Những gò đuôi quặng rộng lớn hiện diện ở nhiều địa điểm khai thác cũ, nhất là ở các bang Colorado, New Mexico, và Utah của Hoa Kỳ.
Tuy đuôi quặng urani không có tính phóng xạ cao, chúng có chu kỳ bán rã dài. Chúng thường chứa radi, thori và dấu vết của urani.
Chất thải cấp thấp.
Chất thải cấp thấp (LLW) được tạo ra từ bệnh viện và công nghiệp, cũng như chu trình nhiên liệu hạt nhân. Chất thải cấp thấp bao gồm giấy, vải vụn, dụng cụ, quần áo, và những vật liệu khác chứa một lượng nhỏ chất phóng xạ tuổi thọ ngắn. Những vật có nguồn gốc từ một khu vực nhiễm xạ thường được phân loại là LLW, một biện pháp phòng ngừa ngay cả khi có ít khả năng nó bị nhiễm chất phóng xạ. LLW như thế thường có tính phóng xạ không cao hơn những vật xuất phát từ khu vực không nhiễm xạ. Một số ví dụ của chất thải cấp thấp như giẻ lau, cây lau, ống, xác động vật thí nghiệm, vân vân.
Một số LLW có mức phóng xạ cao cần được bảo vệ khi xử lý và vận chuyển, tuy nhiên hầu hết LLW đều thích hợp để chôn gần bề mặt. Để giảm kích thước, người ta thường ép chặt hoặc đốt nó trước khi chôn. LLW được chia thành bốn cấp: cấp A, cấp B, cấp C, và cao hơn cấp C.
Chất thải cấp trung bình.
Chất thải cấp trung bình (ILW) chứa lượng phóng xạ lớn hơn và thường là cần ngăn cách, nhưng không cần làm lạnh. Chất thải cấp trung bình gồm nhựa cây, nước thải và vỏ che nhiên liệu hạt nhân kim loại, cũng như vật liệu bị nhiễm xạ trong việc tháo dỡ lò phản ứng hạt nhân. Chúng có thể được làm đông lại trong bê tông hay xi măng để vứt bỏ. Thông thường, chất thải ngắn ngày (chủ yếu là các chất không phải nhiên liệu từ lò phản ứng) thường được chôn ở gần mặt đất, còn chất thải tuổi thọ cao hơn (từ nhiên liệu và xử lý nhiên liệu) được để ở kho địa chất. Luật pháp Hoa Kỳ không định nghĩa loại chất thải này, cụm từ này chỉ được dùng ở châu Âu và những khu vực khác.
Chất thải cấp cao.
Chất thải cấp cao (HLW) được sản sinh ra từ lò phản ứng. Định nghĩa chính xác của chất thải cấp cao không thống nhất trên toàn thế giới. Sau khi một thanh nhiên liệu hoàn tất một chu trình nhiên liệu và được lấy ra khỏi lõi, nó được xem là chất thải cấp cao. Thanh nhiên liệu có chứa sản phẩm phân hạch và các nguyên tố siêu urani được tạo ra trong lõi lò phản ứng. Nhiên liệu đã dùng này có cường độ phóng xạ cao và thường rất nóng, đồng thời chiếm 95 phần trăm tổng lượng phóng xạ tạo ra từ quá trình sản xuất điện hạt nhân. Lượng HLW trên toàn cầu hiện đang tăng khoảng 12.000 tấn mỗi năm, tương đương 100 chiếc xe buýt hai tầng hay một tòa nhà hai tầng với diện tích bằng một sân bóng đá. Một nhà máy điện hạt nhân công suất 1000 MW tạo ra khoảng 27 tấn nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng (không được tái xử lý) mỗi năm. Năm 2010, có xấp xỉ 250.000 tấn HLW, không tính lượng chất thải rò rỉ ra môi trường do tai nạn hay thử nghiệm. Nhật Bản ước tính có 17.000 tấn HLW được lưu giữ năm 2015. HLW đã được vận chuyển sang những nước khác để chứa hoặc xử lý, và trong một số trường hợp, được mang về làm nhiên liệu mới.
Chất thải phóng xạ từ thanh nhiên liệu đã dùng chủ yếu chứa Caesi-137 và stronti-90, nhưng cũng có khả năng chứa plutoni, có thể coi là chất thải siêu urani. Chu kỳ bán rã của những nguyên tố phóng xạ này có thể chênh lệch rất lớn. Một số nguyên tố, như Caesi-137 và stronti-90, có chu kỳ bán rã khoảng 30 năm. Trong khi đó, chu kỳ bán rã của plutoni có thể dài đến 24.000 năm.
Tranh cãi xung quang việc quản lý chất thải cấp cao đã hạn chế sự phát triển của năng lượng hạt nhân trên toàn cầu. Hầu hết các nhà khoa học đồng ý rằng giải pháp lâu dài tốt nhất là chôn sâu địa chất, dưới mỏ hoặc lỗ khoan. Tuy nhiên, gần sáu thập kỷ kể từ khi năng lượng hạt nhân trong thương mại xuất hiện, chưa một chính phủ nào làm được một hầm chôn chất thải dân sự hạt nhân cấp cao, tuy rằng Phần Lan đã hoàn thành một phần việc xây dựng cơ sở như thế, kho nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng Onkalo. Dù việc tái xử lý hay tái chế năng lượng hạt nhân đã qua sử dùng khả thi và đang được nghiên cứu, nó vẫn thải ra chất phóng xạ và không phải là một giải pháp trọn vẹn, nhưng vẫn có thể giảm lượng chất thải một cách đáng kể và hiện có nhiều dự án như thế trên toàn cầu. Chôn sâu địa chất hiện vẫn là cách duy nhất để xử lý trọn vẹn chất thải hạt nhân cấp cao. Chiến dịch Morris hiện là điểm lưu trữ chất thải phóng xạ cấp cao duy nhất ở Hoa Kỳ.
Chất thải siêu urani.
Chất thải siêu urani (CTSU) là một phân loại chất thải được dùng ở Hoa Kỳ. Luật pháp Mỹ định nghĩa CTSU là chất thải có chứa hạt nhân siêu urani phóng xạ hạt alpha với chu kỳ bán rã dài hơn 20 năm và độ đậm đặc lớn hơn 100 nCi/g (3.7 MBq/kg), không bao gồm chất thải cấp cao. Các nguyên tố với số hiệu nguyên tử lớn hơn urani được gọi là nguyên tố siêu urani. Vì chu kỳ bán rã của chúng rất dài, CTSU được xử lý cẩn thận hơn so với chất thải cấp thấp hay trung bình. Tại Mỹ, nó có nguồn gốc chủ yếu từ việc sản xuất vũ khí hạt nhân, bao gồm quần áo, dụng cụ, giẻ lau, chất cặn, mảnh vụn và những vật khác chứa một lượng nhỏ chất phóng xạ (chủ yếu là plutoni).
Theo quy định, chất thải siêu urani được phân thành "xử lý gần" (CH) và "xử lý từ xa" (RH) dựa trên cường độ liều lượng phóng xạ đo trên bề mặt vật chứa chất thải. CTSU CH có lượng phóng xạ bề mặt không quá 200 mrem trên giờ (2 mSv/h), trong khi với CTSU RH con số này trên 200 mrem/h (2 mSv/h). Mỹ hiện vứt bỏ CTSU do các cơ sở quân sự tạo ra tại Nhà máy Thí điểm Cô lập Chất thải (WIPP) ở New Mexico. Các nước khác không phân loại chất thải này mà dùng biến thể của hệ thống chất thải theo cấp.
Phòng ngừa.
Trên lý thuyết, một cách để giảm lượng chất thải là cho dừng các lò phản ứng hiện giờ bằng lò phản ứng thế hệ thứ tư, tạo ra ít chất thải hơn trên lượng năng lượng sản xuất. Có lò phản ứng nhanh có thể tiêu thụ một phần chất thải hiện có. Năm 2014, Cơ quan tháo dỡ hạt nhân (NDA) của Anh đưa ra tuyên bố lập trường về tiến độ quản lý plutoni, tóm tắt những kết luận của nghiên cứu do NDA cùng chính phủ Anh thực hiện.
Quản lý.
Được các nhà khoa học quan tâm đặc biệt là hai sản phẩm phân hạch tuổi thọ cao, Tc-99 (chu kỳ bán rã 220.000 năm) và I-129 (chu kỳ bán rã 15.7 triệu năm), là chất phóng xạ chủ yếu trong nhiên liệu đã qua sử dụng sau vài ngàn năm. Những nguyên tố siêu urani gây nhiều phiền phức nhất là Np-237 (chu kỳ bán rã hai triệu năm) và Pu-239 (chu kỳ bán rã 24.000 năm). Chất thải hạt nhân phải được xử lý và quản lý rất cẩn thận để tránh tiếp xúc với sinh quyển. Điều này cần việc xử lý và chiến lược quản lý lâu dài gồm lưu trữ, phế bỏ hay biến đổi chất thải trở nên vô hại. Chính phủ nhiều quốc gia đang xem xét nhiều phương thức quản lý và loại bỏ chất thải, tuy nhiên không có nhiều tiến bộ trong việc quản lý chất thải dài hạn.
Vào nửa sau của thế kỷ 20, một số cách vứt bỏ chất thải hạt nhân được nghiên cứu bởi các cường quốc hạt nhân, gồm:
Ở Mỹ, chính sách quản lý chất thải hoàn toàn bị phá vỡ với việc ngừng thi công, hoàn thành Kho chứa chất thải hạt nhân núi Yucca. Hiện tại có 70 nhà máy điện hạt nhân giữ nhiên liệu đã qua sử dụng. Ủy ban A Blue Ribbon do Tổng thống Obama chỉ định nghiên cứu các giải pháp khác trong tương lai, và kho chứa địa chất sâu có vẻ được ủng hộ.
Xử lý sơ bộ.
Thủy tinh hóa.
Lưu giữ chất thải lâu dài cần ổn định chất thải để nó không phản ứng hay phân hủy trong thời gian dài. Trên lý thuyết, một cách để thực hiện điều đó là thủy tinh hóa. Hiện nay, tại Sellafield, chất thải cấp cao (sản phẩm tinh lọc của chu trình đầu tiên của PUREX) được trộn với đường và được nung vôi, quá trình dẫn chất thải qua một ống xoay tròn được đun nóng. Mục đích của việc này là làm bốc hơi hơi nước tron chất thải và khử nitrat từ sản phẩm phân hạch, làm tăng sự ổn định của thủy tinh tạo thành.
Sản phẩm tạo thành liên tục được đưa vào một lò nung cảm ứng cùng những mảnh thủy tinh vỡ. Thủy tinh được tạo ra với các chất thải gắn chặt vào cấu trúc ma trận tinh thể của nó khi đông cứng lại. Dưới dạng nóng chảy, chất này được đổ vào các bình chứa hình trụ tròn làm bằng thép không gỉ. Khi nguội, chất lỏng này hóa rắn ("thủy tinh hóa") và trở thành thủy tinh có tính chống nước cao.
Sau khi đổ đầy bình chứa, một con dấu được hàn lên nắp bình. Bình được rửa sạch và sau khi kiểm tra sự nhiễm xạ ở bên ngoài, chiếc bình thép được đem đi lưu trữ, thường là trong một kho dưới lòng đất. Theo đó, chất thải được dự đoán là sẽ bất động trong hàng ngàn năm.
Thủy tinh trong các bình chứa thường là một hợp chất đen bóng. Đường được thêm vào để kiểm soát lượng rutheni và ngăn chặn sự hình thành của hợp chất dễ bay hơi RuO4 có chứa các đồng vị phóng xạ của rutheni. Ở phương Tây, thủy tinh được dùng thường là thủy tinh borosilicat (tương tự Pyrex), trong khi ở khối Xô Viết cũ hay sử dụng thủy tinh phosphat. Lượng sản phẩm phân hạch trong thủy tinh phải nằm trong giới hạn vì một số (palladi, các kim loại khác trong nhóm Pt, và teluride) có thể hình thành dạng kim loại tách khỏi thủy tinh. Thủy tinh hóa hàng loạt sử dụng điện cực để làm nóng chảy chất thải để được chôn dưới lòng đất. Tại Đức một nhày máy thủy tinh hóa đang hoạt động, xử lý chất thải từ một nhà máy thí điểm tái chế nhỏ đã đóng cửa.
Trao đổi ion.
Chất thải phóng xạ cấp trung bình trong ngành công nghiệp hạt nhân thường được xử lý bằng trao đổi ion hoặc các phương pháp khác để tập trung lượng phóng xạ vào một chỗ. Lượng lớn chất thải còn lại ít phóng xạ hơn thường được xử lý rồi thải bỏ. Ví dụ, có thể dùng khối sắt hydroxide để loại bỏ kim loại phóng xạ khỏi dung dịch hỗn hợp. Sau khi những đồng vị phóng xạ này được hấp thụ vào sắt hydroxide, sản phẩm được đặt trong một cái trống kim loại trước khi được trộn với xi măng để tạo thành dạng chất thải rắn. Để có được chất lượng lâu dài (độ ổn định cơ học) tốt hơn, chúng có thể là hỗn hộp gồm tro bay hoặc xỉ lò cao, và xi măng Portland, thay vì xi măng thông thường (làm từ xi măng Portland, sỏi và cát).
Synroc.
Synroc (đá tổng hợp) của Úc là một cách thức tinh vi hơn để xử lý chất thải, và quy trình này có thể được dùng trong thương mại cho chất thải dân sự (hiện đang phát triển cho chất thải của quân đội Mỹ). Synroc được phát minh bởi Giáo sư Ted Ringwood (một nhà địa hóa học) tại Đại học Quốc gia Úc. Synroc chứa pyrochlore và khoáng chất dạng cryptomelane. Synroc nguyên gốc (Synroc C) được thiết kế cho chất thải lỏng cấp cao (sản phẩm tinh lọc của PUREX) từ lò phản ứng nước nhẹ. Các khoáng chất chính trong Synroc là hollandit (BaAl2Ti6O16), zirconolit (CaZrTi2O7) và perovskit (CaTiO3). Zirconolit và perovskit là nơi giữ các actini; stronti và bari sẽ được giữ trong perovskit, còn Caesi được giữ trong hollandit.
Quản lý dài hạn.
Khoảng thời gian được xem xét trong việc xử lý chất thải hạt nhân vào khoảng từ 10.000 đến 1.000.000 năm, dựa trên các nghiên cứu về tác động của các liều phóng xạ.
Các nhà nghiên cứu cho rằng những chẩn đoán về tác hại lên sức khỏe trong khoảng thời gian đó cần phải được xem xét nghiêm túc.
Những nghiên cứu thực tế chỉ xét đến 100 năm khi có kế hoạch hiệu quả và đánh giá chi phí. Hoạt động dài hạn của chất thải phóng xạ vẫn đang là chủ đề của nhiều dự án nghiên cứu.
Thải bỏ trên mặt đất.
Kho chứa khô thường có: đưa chất thải từ bể nhiên liệu đã qua sử dụng và đóng dấu (cùng với một khí trơ) trong một bình thép và được đặt trong một trụ bê tông để chắn phóng xạ. Đây là một phương pháp khá tiết kiệm có thể được thực hiện tại một cơ sở trung tâm hoặc cạnh lò phản ứng. Chất thải có thể dễ dàng lấy ra để tái xử lý.
Thải bỏ địa chất.
Quá trình chọn lựa kho chứa địa chất sâu cho chất thải cấp cao và nhiên liệu đã qua sử dụng đang được thực hiện ở một số quốc gia và dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động lần đầu vào khoảng sau năm 2010. Ý tưởng chính là tìm một khu vực địa chất lớn, ổn định và dùng công nghệ đào mỏ để tạo một đường hầm, hoặc một máy khoan đường hầm (giống những cái dùng để xây dựng Đường hầm eo biển Manche) để khoan một lỗ sâu đến dưới bề mặt nơi phòng kho có thể được tạo ra để bỏ chất thải phóng xạ cấp cao. Mục đích là cách ly hoàn toàn chất thải hạt nhân khỏi môi trường sống của con người.
Do một số chất phóng xạ có chu kỳ bán rã dài hơn một triệu năm, ngay cả rò rỉ thùng chứa hay tỉ lệ dịch chuyển hạt nhân phóng xạ nhỏ nhất cũng phải được tính đến. Ngoài ra, một số chất phóng xạ có thể cần hơn một chu kỳ bán rã trước khi tính phóng xạ giảm xuống mức an toàn cho sinh vật. Một đánh giá năm 1980 của Chương trình xử lý chất thải phóng xạ bởi Viện Khoa học Quốc gia Thụy Điển cho thấy xấp xỉ cần khoảng vài trăm ngàn năm—có thể lên đến một triệu năm—để cách ly chất thải hoàn toàn.
Dữ liệu hàm lượng oxy trong giai đoạn dài 25 năm cho thấy những vùng nước sâu ở Bắc Đại Tây Dương không tương tác với vùn nước nông trong khoảng 140 năm, dẫn đến ý kiến về việc chôn chất thải phóng xạ dưới dáy đại dương. Chúng bao gồm chôn lấp dưới một đồng bằng biển thẳm ổn định, chôn dưới một vùng hút chìm để nó từ từ mang chất thải xuống quyển manti, và chôn lấp dưới một hòn đảo cô lập, tự nhiên hoặc nhân tạo.
Tuy những phương pháp này đều có ưu điểm và góp phần trong nỗ lực quốc tế trong việc xử lý chất thải phóng xạ, chúng cần sự sửa đổi bổ sung của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển. Điều 1 (Định nghĩa), số 7, Dự thảo 1996 của Công Ước về Phòng Ngừa Ô Nhiễm Biển bằng việc Thải Chất Thải và Các Chất Khác (Công Ước Thải Bỏ Luân Đôn), ghi rằng:
Phương pháp thải bỏ chất thải ở vùng hút chìm lục địa loại bỏ chất thải tại một vùng hút chìm từ đất liền nên không vi phạm các quy định quốc tế. Đây được coi là phương pháp xử lý chất thải phóng xạkhả thi nhất, và là công nghệ xử lý chất thải hạt nhân tiên tiến nhất trước năm 2001.
Một hướng đi khác có tên Remix & Return trộn chất thải cấp cao với mỏ urani cùng đuôi quặng cối xay cho đến khi đạt được mức phóng xạ của ban đầu của quặng urani, rồi thay nó cho các mỏ urani không hoạt động. Việc này giúp tạo thêm việc làm cho các thợ mỏ đồng thời xử lý, và tạo điều kiện cho một chu trình từ đầu đến cuối cho vật liệu phóng xạ, nhưng lại không thích hợp với nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng chưa được tái xử lý do có chứa những nguyên tố phóng xạ rất độc như plutoni.
Bỏ trong lỗ khoan sâu đặt chất thải phóng xạ sâu tới 5 km (3,1 dặm) dưới bề mặt trái Đất và dựa vào lá chắn địa chất khổng lồ này để biệt lập chất thải an toàn và vĩnh viễn để nó không gây hại đến môi trường. Vỏ Trái Đất chứa 120 nghìn tỷ tấn thori và 40 nghìn tỷ tấn urani (chủ yếu là các dấu vết có nồng độ vài phần triệu trong lớp vỏ nặng 3 × 1019 tấn), cùng với nhiều nguyên tố phóng xạ khác. Do tỉ lệ hạt nhân phân rã trong một đơn vị thời gian tỉ lệ nghịch với chu kỳ bán rã của đồng vị đó, cường độ phóng xạ của các hạt nhân phóng xạ do con người tạo ra (hàng nghìn tấn thay vì hàng nghìn tỷ tấn) sẽ giảm dần khi các đồng vị phóng xạ, với chu kỳ bán rã ngắn hơn đa số các đồng vị phóng xạ trong tự nhiên, phân rã.
Tháng 1 năm 2013, hội đồng hạt Cumbria bác bỏ đề xuất của chính phủ Anh về việc xây dựng một bãi chứa chất thải hạt nhân dưới lòng đất gần Vườn quốc gia Lake District. Ed Davey, Bộ trưởng Bộ Năng lượng, nói: "Đối với bất kỳ cộng đồng nào, sẽ có những lợi ích chung to lớn và đáng giá hàng trăm tiệu bảng", tuy nhiên, đại diện của địa phương bỏ phiếu 7–3 chống lại việc tiếp tục nghiên cứu, sau khi có bằng chứng của các nhà địa chất độc lập cho rằng "Địa tầng gấp khúc của hạt không đáng tin cậy trong việc để những chất nguy hiểm và những mối nguy kéo dài hàng ngàn năm."
Biến tố.
Có nhiều đề xuất về những lò phản ứng tiêu thụ chất thải hạt nhân và biến đổi nó thành những dạng chất thải khác ít nguy hiểm hoặc tuổi thọ ngắn hơn. Cụ thể, Lò phản ứng tích hợp nhanh là một lò phản ứng được cho là dùng chu trình nhiên liệu hạt nhân mà không tạo ra chất thải siêu urani, thậm chí có thể tiêu thụ chúng. Mặc dù đã được thử nghiệm trên quy mô lớn, nhưng dự án đã bị chính phủ Hoa Kỳ hủy bỏ. Một hướng đi khác, được xem là an toàn hơn nhưng cần phát triển thêm, là dùng các lò phản ứng subcritical để biến tố phần chất thải siêu urani sót lại.
Một đồng vị có trong chất thải phóng xạ và đáng lo ngại về khả năng lan rộng là Pu-239. Lượng plutoni lớn này được tạo ra trong những lò phản ứng chạy urani và trong quá trình tái xử lý plutoni cho vũ khí trong các chương trình quân sự. Một giải pháp để loại bỏ plutoni là sử dụng nó làm nhiên liệu cho Lò phản ứng Nước Nhẹ truyền thống (LWR). Một vài loại nhiên liệu với các hiệu quả loại bỏ plutoni khác nhau đang được nghiên cứu.
Biến tố bị cấm ở Mỹ từ tháng 4 năm 1971 bởi Tổng thống Carter do mối nguy của việc plutoni lan rộng, nhưng Tổng thống Reagan dỡ bỏ lệnh cấm năm 1981. Vì những thiệt hại và rủi ro kinh tế, việc xây dựng nhà máy tái xử lý không được tiếp tục trong thời gian này. Tuy nhiên, nghiên cứu về phương pháp này tiếp tục ở châu Âu do nhu cầu năng lượng cao, trong đó là dự án một lò phản ứng hạt nhân thực tế mang tên Myrrha có thể biến tố được. Một chương trình nghiên cứu khác mang tên ACTINET đã được Liên minh châu Âu bắt đầu để thực hiện biến tố trên quy mô công nghiệp. Theo Quan Hệ Đối Tác Năng lượng Hạt Nhân Toàn Cầu (GNEP) của Tổng thống Bush năm 2007, Hoa Kỳ hiện đang khuyến khích nghiên cứu về công nghệ biến tố cần để giải quyết vấn đề xử lý chất thải hạt nhân.
Đã có một số nghiên cứu lý thuyết sử dụng lò phản ứng nhiệt hạch để "đốt actini", với một plasma lò phản ứng nhiệt hạch như trong tokamak, có thể được "kích thích" bằng một lượng nhỏ nguyên tử siêu urani và biến tố chúng (tức hợp hạch trong trường hợp các actini) thành những nguyên tố nhẹ hơn sau khi liên tục bị neutron năng lượng cao, tạo ra trong quá trình hợp hạch deuteri và triti trong lò phản ứng, dội vào. Một nghiên cứu tại MIT cho thấy chỉ cần 2 hay 3 lò phản ứng nhiệt hạch với thông số tương tự ITER là có thể biến tố toàn bộ lượng "tiểu actini" (actini dùng trong nhiên liệu hạt nhân trừ plutoni và urani) hàng năm từ những lò phản ứng nước nhẹ hiện đang hoạt động tại Mỹ đồng thời tạo ra khoảng 1 gigawatt năng lượng từ mỗi lò phản ứng.
Tái sử dụng.
Một giải pháp khác là tìm cách dùng những đồng vị trong chất thải hạt nhân để tái sử dụng chúng.
Hiện, Caesi-137, stronti-90 và một số đồng vị khác được chiết cho một số ứng dụng công nghiệp như chiếu xạ thực phẩm và máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ. Tuy tái sử dụng không hoàn toàn loại bỏ nhu cầu quản lý các chất phóng xạ, nó có thể làm giảm đáng kể lượng phóng xạ thải ra.
Phương Pháp Sản Xuất Hydrocarbon Bằng Hạt Nhân, là một phương pháp chứa tạm thời hay vĩnh viễn chất thải hạt nhân bằng cách để chất thải vào một hay nhiều kho hay lỗ khoan xây trong một hệ thống dầu phi truyền thống. Nhiệt của vật liệu thải làm biến đổi tính chất hóa học và/hoặc tính chất vật lý của vật liệu hydrocarbon trong hệ thống ngầm này để có thể loại bỏ vật liệu đã bị biến đổi này. Tính phóng xạ của chất thải phóng xạ cấp cao cho phép sự chống phổ biến plutoni đặt ở ngoại vi kho hoặc phần sâu nhất của lỗ khoan.
Lò phản ứng sinh sản (lò phản ứng tạo ra nhiều vật liệu phân hạch hơn lượng tiêu thụ) có thể chạy bằng U-238 và các nguyên tố siêu urani, thứ chiếm hầu hết lượng phóng xạ của nhiên liệu đã qua sử dụng trong khoảng thời gian 1.000–100.000 năm.
Bỏ ngoài không gian.
Việc bỏ ngoài vũ trụ rất hấp dẫn vì loại bỏ chất thải khỏi Trái Đất. Tuy nhiên, nó có một số hạn chế nhất định như khả năng thất bại của tên lửa đẩy, có thể làm chất phóng xạ lan rộng khắp bầu khí quyển và toàn thế giới. Cần phải có nhiều lần phóng vì không tên lửa đơn lẻ nào có thể mang nhiều chất thải so với lượng thải ra. Điều này khiến giải pháp vô cùng đắt đỏ và làm tăng nguy cơ của một vụ phóng thất bại.
Hơn thế nữa, cần phải đạt được thỏa thuận quốc tế về quy định và cách tổ chức một chương trình như thế.
Giá thành cao và độ tin cậy thấp của các hệ thống phóng tên lửa vào không gian trở thành một động lực cho những hệ thống không dùng tên lửa như mass driver, thang máy vũ trụ và những giải pháp khác.
Kế hoạch xử lý cấp quốc gia.
Thụy Điển và Phần Lan hiện đang tiến xa nhất trong việc nghiên cứu một công nghệ xử lý nhất định, trong khi nhiều nước khác tái xử lý nhiên liệu hoặc ký hợp đồng với Pháp hay Anh làm giúp họ và lấy lại plutoni và chất thải cấp cao thành phẩm. "Một lượng lớn plutoni tồn đọng từ tái xử lý đang tăng dần ở nhiều quốc gia... Tính kinh tế của việc tái xử lý là câu hỏi lớn trong bối cảnh urani rất rẻ hiện nay."
Tại nhiều nuốc châu Âu (như Anh, Phần Lan, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ) nguy cơ hay giới hạn liều lượng của một người bình thường bị chiếu xạ từ một cơ sở chất thải hạt nhân cấp cao trong tương lai nghiêm ngặt hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Ủy ban Quốc tế về Bảo vệ Phóng xạ (ICRP) hay ở Mỹ. Giới hạn ở châu Âu thường chặt hơn tiêu chuẩn được đề xuất năm 1990 bởi ICRP gấp 20 lần, và gấp 10 lần so với tiêu chuẩn đề ra bởi Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) cho Kho chứa chất thải hạt nhân núi Yucca trong 10.000 năm sau khi đóng cửa.
Quy định của EPA cho thời gian sau 10.000 năm lỏng hơn 250 lần giới hạn của châu Âu. EPA đề xuất một giới hạn pháp lý tối đa là 3.5 milisievert trên mỗi người trong một năm sau 10.000 năm, mặc dù Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) dự đoán rằng liều thực tế sẽ thấp hơn rất nhiều. Hàng nghìn năm sau, khi hầu hết hạt nhân phóng xạ với chu kỳ bán rã ngắn đã phân rã hết, chôn chất thải hạt nhân sẽ làm tăng tính phóng xạ của đất đá ở Mỹ (rộng gần 10 triệu km²) khoảng 1 phần 1 triệu trên tổng khối lượng chất phóng xạ tự nhiên có trong thể tích đó, nhưng những khu vực lân cận của kho chứa đó sẽ có mức tập trung chất phóng xạ nhân tạo cao hơn nhiều so với mức trung bình.
Vứt bỏ trái phép.
Các nhà chức trách Ý đang điều tra băng nhóm mafia 'Ndrangheta bị buộc tội vận chuyển và vứt bỏ trái phép chất thải hạt nhân. Theo một whistleblower, một quản lý của cơ quan nghiên cứu năng lượng quốc gia của Ý, Enea, đã trả tiền cho nhóm để vứt 600 thùng phuy chứa chất thải phóng xạ và độc hại từ Ý, Thụy Sĩ, Pháp, Đức và Mỹ, đến Somalia, nơi chất thải được chôn sau khi mua chuộc những chính quyền địa phương. Một số nhân viên cũ của Enea bị nghi ngờ đã trả tiền cho băng tội phạm để trốn tránh trách nhiệm trong những năm 1980 và 1990. Chuyến hàng đến Somalia tiếp tục trong thập kỷ 90, đồng thời 'Ndrangheta cho nổ tàu chở chất thải, gồm cả chất thải phóng xạ, khiến chúng chìm xuống đáy biển ngoài khơi Calabria. Theo nhóm hoạt động vì môi trường Legambiente, các cựu thành viên của 'Ndrangheta nói rằng họ được trả tiền để đắm chìm tày với chở vật liệu phóng xạ trong suốt 20 năm qua.
Tai nạn.
Một số vụ tai nạn đã xảy ra do chất thải phóng xạ không được vứt bỏ hợp lý, vỏ bảo vệ trong vận chuyển bị hư hỏng, hoặc đôi khi nó bị bỏ hay thậm chí là ăn trộm từ một cửa hàng chất thải. Tại Liên Xô, chất thải ở Hồ Karachay bị thổi bay khắp khu vực trong một cơn bão cát sau khi nước ở một phần hồ đã rút. Tại Bình nguyên Maxey, một cơ sở xử lý chất thải hạt nhân cấp thấp ở vùng trũng của Kentucky, những rãnh ngăn bị phủ đất thay vì thép hay xi măng và sụp khi mưa nặng hạt và làm ngập chúng. Nước đổ vào các rãnh này bị nhiễm phóng xạ và phải được xử lý tại chính cơ sở này. Trong những tai nạn chất thải phóng xạ khác, hồ hay ao với chất thải phỏng xạ thường tràn vào những con sông khi có bão lớn. Ở Ý, một số chỗ để chất thải hạt nhân thải chúng ra nước sông, làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân. Tại Pháp, vào mùa hè năm 2008, nhiều tai nạn đã xảy ra; một trong số đó, ở nhày máy của Areva thuộc Tricastin, một số báo cáo cho rằng trong quá trình tháo nước, chất lỏng chứa urani chưa qua xử lý tràn ra khỏi một bể chứa lỗi và khoảng 75 kg vật liệu phóng xạ thấm vào đất và hai con sông gần đó; ở một vụ khác, hơn một trăm nhân viên bị nhiễm liều lượng phóng xạ thấp.
Việc thu lượm chất phóng xạ bỏ đi cũng là nguyên nhân cho một số vụ tai nạn ô nhiễm phóng xạ đã xảy ra, chủ yếu ở các quốc gia đang phát triển, nơi có quy định về hóa chất độc hại không quá nghiêm ngặt (đôi khi là nhận thức kém về phóng xạ và sự nguy hiểm của chúng) và có thị trường phế liệu và sắt vụn. Những kẻ đi gom và những người mua chúng thường không biết vật đó có phóng xạ hay không mà chọn dựa trên giá trị hay tính thẩm mỹ. Ngoài ra, sự thiếu trách nhiệm chủ sở hữu vật liệu phóng xạ, thường là bệnh viện, trường đại học hay quân đội, cũng như không có quy định về chất thải phóng xạ phóng xạ liên quan hay điều luật không được thi hành, trở thành những nguyên nhân của sự nhiễm xạ. Điển hình như một tai nạn do kim loại vụn phóng xạ bắt nguồn từ một bệnh viện tại Goiânia ở Brasil.
Những tai nạn vận chuyển có nhiên liệu hạt nhẫn đã dùng từ các nhà máy không có nhiều hậu quả nghiêm trọng nhờ độ bền của những bình chứa chất phóng xạ.
Ngày 15 tháng 12 năm 2011, phát ngôn viên Osamu Fujimura của chính phủ Nhật Bản thừa nhận rằng có chất phóng xạ trong chất thải của những cơ sở hạt nhân tại Nhật. Tuy Nhật Bản đã cam kết năm 1977 sẽ điều tra theo như thỏa thuận với IAEA, các bản báo cáo bị giữ bị mật trước các điều tra viên của IAEA. Nhật Bản có thỏa luận với IAEA về lượng urani và plutoni giàu rất lớn, phát hiện trong chất thải hạt nhân bị bỏ đi từ những nhà máy này. Tại buổi họp báo Fujimura nói rằng: "Dựa trên những cuộc điều tra đã có, hầu hết các hợp chất hạt nhân đều đã được xử lý đúng cách, và từ góc nhìn đó, không có vấn đề gì trong công tác bảo đảm an toàn." Nhưng theo ông ta, vấn đề này vẫn đang trong quá trình điều tra vào thời điểm đó. | 1 | null |
Lâu đài Alnwick (; ) là một lâu đài và khu nhà thôn quê ở thị xã cùng tên ở hạt Northumberland của Anh. Lâu đài là nơi ở của công tước của Northumberland, được xây dựng sau chiếm đóng của người Norman, và đã được trùng tu và sửa đổi một số lần. Nó là tòa nhà hạng I theo phân loại của Anh.
Lâu đài Alnwick canh gác một con đường chạy qua sông Aln. Yves de Vescy, Baron of Alnwick, erected the first parts of the castle in about 1096. Nó đã được xây để bảo vệ biên giới phía bắc Anh khỏi sự xâm chiếm của Scotland và những kẻ cướp biên giới. Lâu đài đã được đề cập lần đầu năm 1136 khi nó bị chiếm bởi vua David I của Scotland. Tại thời điểm này nó được mô tả là "rất mạnh". Nó bị bao vây năm 1172 và một lần nữa vào năm 1174 bởi William Sư tử, vua của Scotland và William đã bị bắt bên ngoài tường thành trong trận Alnwick. Eustace de Vesci, chúa của Alnwick, đã bị buộc tội đồng phạm cùng Robert Fitzwalter mưu phản chống lại vua John năm 1212. Đáp lại, John đã ra lệnh phá hủy lâu đài Alnwick và lâu đài Baynard (lâu đài sau là cứ điểm của Fitzwalter), tuy nhiên những chỉ thị của ông không được thi hành ở Alnwick. | 1 | null |
Kernavė là thị trấn thuộc Širvintos, nằm về phía tây bắc của thủ đô Vilnius, Litva.
Nơi đây có địa điểm khảo cổ học Kernavė, nằm trong Thung lũng sông Neris, đại diện về khu định cư trong khu vực Baltic ở châu Âu trong những thiên niên kỷ thứ 10.
Di sản khảo cổ ở Kernavė bao gồm thị trấn cổ Kernave, đồi pháo đài, địa điểm khảo cổ các khu định cư và các di tích, địa điểm khác thời kỳ đồ đá đến thời kỳ Trung cổ. Ấn tượng nhất là nền móng của 5 pháo đài, một phần của một hệ thống phòng thủ quan trọng, bảo vệ thị trấn Kernave thời Trung cổ. Đến thế kỷ 14, các pháo đài bị phá hủy bởi đế chế Teuton, nhưng những dấu tích của nó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. | 1 | null |
Mbuji-Mayi (tên cũ là Bakwanga) là thủ phủ của tỉnh Kasai-Oriental ở nam trung bộ Cộng hòa Dân chủ Congo. Đây là thành phố lớn thứ ba ở quốc gia này, sau thủ đô Kinshasa và là thành phố lớn thứ hai Lubumbashi nhưng lớn hơn Kisangani và Kananga. Thành phố này lớn thứ ba quốc gia này mặc dù dân số chính xác không được biết đến. Ước tính của CIA Factbook 2010 thì dân số ước khoảng 1.480.000 người đến con số 3.500.000 người theo ước tính của Liên Hợp Quốc vào năm 2008. ]
Mbuji-Mayi nằm trong xứ Luba bên sông Sankuru. Tên Mbuji-Mayi xuất phát từ ngôn ngữ địa phương, Tshiluba và dịch là "nước dê," một tên bắt nguồn từ số lượng lớn các dê trong khu vực và vị trí của thành phố trên Sankuru, làm cho nó một địa điểm cấp nước tưới chính. Mặc dù dân số đông, thành phố vẫn còn là xứ hẻo lanh, ít có kết nối với các tỉnh lân cận hoặc với Kinshasa và Lubumbashi. Thành phố được kết nối hàng không thông qua các sân bay Mbuji Mayi. | 1 | null |
Bandundu là một trong 10 tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo. Nó giáp ranh với các tỉnh Kinshasa và Bas-Congo ở phía tây, Équateur ở phía bắc, và Kasai-Occidental ở phía đông, nó cũng có đường biên giới với các bang Pool, Plateaux của Cộng hòa Congo và các tỉnh Uíge, Malanjie, Lunda Norte của Angola. Tỉnh lị là Thành phố Bandundu.
Năm 1966, Bandundu được thành lập khi sáp nhập 3 vùng chính trị Kwilu, Kwango, và Mai-Ndombe.
Địa lý.
Cảnh quan của Bandundu chủ yếu là địa hình cao nguyên bao phủ ở savanna, bị cắt bởi các con sông và suối thường có ranh giới là các khu rừng thưa.
Tỉnh bị chia cắt bởi sông Kasai đổ vào sông Congo ở ranh giới phía tây của tỉnh. Các sông lớn khác là sông Kwango, Kwenge, Kwilu và Lukenie.
Hồ Mai-Ndombe là hồ lớn nhất ở đây, kết hợp với khu vực xung quanh hình thành một khu vực thuộc vùng đất ngập nước Tumba-Ngiri-Maindombe.
Kinh tế.
Hầu hết các làng nằm ở độ cao lớn hơn, các dân làng phải làm rẫy trong thung lũng. Các loại cây trồng chính là khoai mì (sắn), ngô, bí, và đậu. Dân làng nuôi gà, vịt, dê, cừu và gia súc, và ngoài ra còn có cá và thịt thú rừng.
Phân chia hành chính.
Tỉnh này được chia thành các thành phố Bandundu và Kikwit và các huyện gồm Kwango, Kwilu, Mai-Ndombe và Plateaux.
Các thành phố và thị trấn cùng với dân số năm 2010 như sau: | 1 | null |
Túc Cần Minh Đạt (), ? – 531), tướng lĩnh khởi nghĩa Quan Lũng trong giai đoạn sau của phong trào Lục Trấn khởi nghĩa phản kháng nhà Bắc Ngụy.
Quá trình khởi nghĩa.
Tháng 10 năm Chính Quang thứ 5 (524), thủ lĩnh nghĩa quân là Cao Bình vương Hồ Sâm phái Túc Cần Minh Đạt xâm nhiễu 3 châu Bân, Hạ, Bắc Hoa, triều đình phái Đô đốc Bắc Hải vương Nguyên Hạo soái quân thảo phạt.
Tháng 4 năm Chính Quang thứ 6 (525), Hồ Sâm chiếm cứ Cao Bình, phái bọn đại tướng Mặc Kỳ Sửu Nô, Túc Cần Minh Đạt xâm nhập Kính Châu, tướng quân Lư Tổ Thiên, Y Úng Sanh soái quân thảo phạt nhưng không có kết quả. Sau khi Tiêu Bảo Dần, Thôi Duyên Bá đánh bại Mạc Chiết Thiên Sanh, bèn lãnh quân hội họp với Lư Tổ Thiên tại An Định, cả thảy 12 vạn người, 8000 kỵ binh.
Mặc Kỳ Sửu Nô đóng quân cách 7 dặm An Định về phía tây bắc, không ngừng phái khinh kị khiêu chiến, nhưng khi đại quân Bắc Ngụy đến thì lui chạy. Thôi Duyên Bá cậy mình vũ dũng, lại vừa thắng trận, vì thế tự đề nghị đảm nhiệm tiền phong. Thôi Duyên Bá bày trận: mặt ngoài dựng thuẫn lớn, mặt trong kết xích; để bọn tráng sĩ ở ngoài, xe cộ quân nhu ở trong, tạo thành một khối vững chắc. Quan quân men đồng cỏ phía bắc An Định tiến lên, vào lúc sắp khai chiến, có vài trăm kỵ binh nghĩa quân trá xưng là dâng lên danh sách đầu hàng, cầu xin Thôi Duyên Bá tạm hoãn tấn công. Tiêu Bảo Dần, Thôi Duyên Bá chưa kịp phát hiện, Túc Cần Minh Đạt đã đem quân từ hướng đông bắc xông đến, trong khi kỵ binh trá hàng cũng từ phía tây tiếp cận, trước sau giáp kích. Thôi Duyên Bá lên ngựa ra sức đánh giết, đuổi theo đến tận doanh trại của nghĩa quân. Trong khi quan quân phần lớn là bộ binh, bắt đầu tỏ ra mỏi mệt, thì nghĩa quân đều là kỵ binh, thừa cơ lọt qua những tấm thuẫn. Vì thế quan quân đại bại, tử thương gần 2 vạn người, Tiêu Bảo Dần thu tàn quân về giữ An Định.
Thôi Duyên Bá lấy làm sỉ nhục, bèn tu sửa binh khí, chiêu mộ dũng sĩ, rồi từ An Định tây tiến, đóng trại tại vị trí cách doanh trại của nghĩa quân 7 dặm. Ngày Nhâm thìn tháng ấy, Thôi Duyên Bá không hề báo cáo với Tiêu Bảo Dần, đơn độc tập kích doanh trại của nghĩa quân, trong chớp mắt đã san bằng mấy lớp rào lũy của địch. Nghĩa quân phát hiện quan quân tranh nhau cướp bóc, bèn quay lại tấn công. Quan quân một lần nữa đại bại, mất đến vạn người, Thôi Duyên Bá trúng tên mà chết. Nghe tin Thôi Duyên Bá tử trận, trong triều ngoài cõi đều chấn động.
Tháng 10 năm Vĩnh An thứ 3 (530), vào lúc Nhĩ Chu Thiên Quang sắp hạ thành Bình Lương, Túc Cần Minh Đạt thỉnh cầu đầu hàng, nhưng về sau lại bỏ trốn lên phía bắc. Nhĩ Chu Thiên Quang phái Hạ Bạt Nhạc soái quân thảo phạt, ông trốn xuống Hạ Châu ở phía đông. Hạ Bạt Nhạc nghe tin Nhĩ Chu Vinh đã chết, nên không tiếp tục đuổi theo, mà quay về Kính Châu để đợi Nhĩ Chu Thiên Quang.
Tháng 4 năm sau (531), Nhĩ Chu Thiên Quang điều binh chinh thảo Túc Cần Minh Đạt. Ngày Quý hợi tháng ấy, ông bị bắt về Lạc Dương xử trảm. | 1 | null |
Liên Hội đồng Giám mục Á châu (tiếng Anh: Federation of Asian Bishops' Conferences - FABC) là một tổ chức liên kết các hội đồng Giám mục Công giáo Rôma của các quốc gia, vùng lãnh thổ ở khu vực Đông, Nam, Đông-Nam và Trung Á. Liên hội đồng này thúc đẩy sự đoàn kết và trách nhiệm chung cho Giáo hội và phúc lợi xã hội trong khu vực. Các quyết định của hội không có hiệu lực pháp lý ràng buộc; sự chấp nhận các quyết định là một sự biểu lộ tinh thần trách nhiệm đồng đoàn.
Liên hội đồng bao gồm Hội đồng Giám mục của 16 quốc gia/liên quốc gia sau: Bangladesh, Đông Timor, Ấn Độ (gồm cả ba Giáo hội theo lễ nghi Latinh, Syro-Malabar, và Syro-Malankara), Indonesia, Nhật Bản, Kazakhstan, Hàn Quốc, liên quốc gia Lào-Campuchia, liên quốc gia Malaysia-Singapore-Brunei, Myanmar, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc), Thái Lan và Việt Nam. Các quan sát viên là Hong Kong, Macau, Mông Cổ, Nepal, Novosibirsk (Nga), Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan. | 1 | null |
Kasai-Occidental (Kasai Tây) là một tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo. Thủ phủ tỉnh đóng tại Kananga, thành phố lớn nhất tỉnh. Kasai-Occidental giáp tỉnh Bandundu về phía tây, Équateur ở phía bắc, Kasai-Oriental về phía đông, và Katanga ở phía đông nam. Phía nam giáp tỉnh Lunda Norte của Angola. Tỉnh này được lấy tên từ sông Kasai, chảy qua huyện Kasai từ nam đến bắc.
Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức. Tiếng Luba-Kasai được nói khoảng 6,3 triệu người trong khu vực Kasai sử dụng và là một trong bốn ngôn ngữ quốc gia của nước Cộng hòa Dân chủ Congo.
Phân chia hành chính.
Tỉnh được chia thành các huyện Kasai và huyện Lulua, với trụ sở chính của họ tại các thị xã Luebo và Tshimbulu.
Các thành phố, thị xã trên 20.000 dân | 1 | null |
Bas-Congo hay Kongo Trung là một trong 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo, giáp biên giới với các bang Pool, Bouenza, Niari, Kouilou của Cộng hòa Congo và các tỉnh Cabinda, Zaire, Uíge của Angola.
Phân cấp hành chính.
Tỉnh lị của Bas-Congo là thành phố Matadi. Tỉnh này còn 1 thành phố khác là Boma. Các đơn vị hành chính khác của tỉnh được gọi là huyện gồm Bas-Fleuve, Cataractes và Lukaya. Các thị trấn và dân số năm 2010 được liệt kê dưới đây:
Theo , Cộng hòa Dân chủ Congo đã từng được chia thành 25 tỉnh chỉ tồn tại trong vòng 36 tháng (đến 18 tháng 2 năm 2009); Bas-Congo đang được xem xét đổi tên thành Kongo Central. Đến tháng 10 năm 2010, việc đổi tên vẫn chưa được thực hiện. | 1 | null |
Équateur là một trong 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo. Nó nằm ở phía bắc của quốc gia này, giáp ranh với Cộng hòa Congo ở phía tây, Cộng hòa Trung Phi ở phía bắc, và tỉnh Orientale ở phía đông, và phía nam với Kasai-Oriental, Kasai-Occidental, và Bandundu.
Tên gọi "Équateur" trong tiếng Pháp có nghĩa là Xích đạo, đường này nằm cách phía nam của thủ phủ tỉnh này là Mbandaka hơn . | 1 | null |
Carcharhinus falciformis là một loài cá trong họ Carcharhinidae. Nó là một trong các loài cá mập có nhiều ở vùng biển khơi, và có thể được tìm thấy trên khắp thế giới ở các vùng nước nhiệt đới. Tính di động cao và di cư nhiều, loài cá này thường được tìm thấy ở thềm lục địa ở độ sâu đến . Nó có thân thon thả và thuôn và thường có độ dài . | 1 | null |
Kasai-Oriental ("Đông Kasai") là một trong 11 đơn vị hàng chính cấp tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo. Tỉnh này giáo với các tỉnh Kasai-Occidental ở phía tây, Équateur phía tây bắc, Orientale phía đông bắc, Maniema phía đông, và Katanga phía nam. Tỉnh lị là Mbuji-Mayi. Kasai-Oriental là một trong những khu vực có nhiều kim cương trên thế giới.
Khai thác kim cương.
Khu vực thuộc Mbuji-Mayi là nơi hàng năm sản xuất 1/8 về khối lượng kim cương công nghiệp trên thế giới, mỏ được điều hành bởi công ty khai thác mỏ Bakwanga ("Société Minière de Bakwanga"). Đây là nơi có tích tụ kim cương lớn nhất trên thế giới, trong đó tập trung nhiều hơn so với ở Kimberley, Nam Phi. Mbuji-Mayi xử lý hầu hết lượng kim cương công nghiệp sản xuất ở Congo. | 1 | null |
Katanga trước đây là một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo, giáp biên giới với các tỉnh Lunda Norte, Lunda Sul và Moxico của Angola, các tỉnh Bắc-Tây Zambia, Copperbelt, Trung Zambia và Luapula của Zambia và hồ Tanganyika. Vùng tỉnh lị của Katanga là Lubumbashi. Tỉnh có diện tích 497.000 km², lớn hơn bang California của Hoa Kỳ và lớn hơn Bỉ 16 lần. Trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên cao nguyên Katanga. Phần phía đông của tỉnh là khu vực khai thác nhiều loại mỏ cung cấp cobalt, đồng, thiếc, radi, urani và kim cương. Tỉnh lị của tỉnh Katanga là Lubumbashi, là thành phố lớn thứ 2 ở quốc gia này.
Năm 2015, Katanga bị chia làm 4 tỉnh: Tanganyika, Thượng Lomami (Haut-Lomami), Lualaba và Thượng Katanga (Haut-Katanga). Lubumbashi trở thành tỉnh lị của tỉnh Thượng Katanga. | 1 | null |
Váy maxi (hay còn gọi là "đầm maxi") là kiểu váy dài mềm mại tạo cảm giác thoải mái cho người mặc nên rất được phái nữ, người mang thai và các ngôi sao nổi tiếng ưa chuộng vì tính chất thanh lịch, lãng mạn và kín đáo. Maxi xuất phát từ cụm từ minimum và maximum trong tiếng Anh, maxi là viết tắt của maximum nó thể hiện sự rộng rãi thoải mái phần thân trên của bộ trang phục. Đó cũng là nguồn gốc xuất phát của trang phục váy (đầm) Maxi. Váy Maxi thường có chiều dài chạm mắt cá chân hoặc dài hơn. Trang phục được thiết kế ôm lấy phần ngực người mặc và thả lỏng từ eo trở xuống. Nhiều váy maxi lại được cách điệu thêm phần thắt lưng để tôn lên vòng eo của bạn gái. Váy thường được làm từ vải cotton, polyester hoặc mới nhất là denim.
Các kiểu váy.
Váy maxi có đến hàng trăm, hàng nghìn kiểu thiết kế khác nhau, từ những ô vuông kẻ sọc, chấm bi, họa tiết hoa cho đến những thiết kế sử dụng sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các tông màu.
Váy maxi còn lựa chọn là váy áo của cô dâu trong dịp lễ cưới, đính hôn. | 1 | null |
Maniema là một trong 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo. Tỉnh lị của nó là Kindu.
Địa lý.
Maniema giáp với tỉnh Kasai-Oriental ở phía tây, Orientale ở phía bắc, Bắc Kivu và Nam Kivu ở phía đông, và Katanga ở phía nam.
Phân chia đơn vị hành chính.
Maniema gồm thành phố Kindu và 7 vùng lãnh thổ | 1 | null |
Orientale (hay Oriental; trước đây là Haut-Zaïre, sau đó Haut-Congo) là một trong 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Dân chủ Congo, giáp biên giới với các vùng Tây và Bắc của Uganda ở phía đông, Trung Equatoria và Đông Equatoria của Nam Sudan ở phía đông bắc, Haut-Mbomou và Mbobou của Cộng hòa Trung Phi. Tỉnh lị của nó là Kisangani. | 1 | null |
Bad Boy Latino là một hãng đĩa thu âm nhạc hip hop Latin được thành lập vào năm 2005 bởi Sean Combs và Pitbull.
Bối cảnh.
Năm 2004, Sean Combs đã quyết định mở rộng hãng đĩa thu âm Bad Boy Records của mình. Đầu tiên anh mở một hãng đĩa ở miền nam, Bad Boy South, và sau đó là một hãng đĩa Latin. Năm 2005, Bad Boy Latino được thành lập. VIệc mở rộng đã được cấp cho Bad Boy thông qua thỏa thuận mới với hãng đĩa Atlantic. | 1 | null |
James Patrick Caviezel, Jr. [1] (; sinh ngày 26 tháng 9 năm 1968) hay Jim Caviezel là một diễn viên điện ảnh và diễn viên truyền hình người Mỹ, nổi tiếng với vai diễn Chúa Giê-su Christ trong "The Passion of the Christ" (2004) và đóng vai chính John Reese trong loạt phim "Person of Interest" (2011—2016) của đài CBS.[2] Các vai diễn đáng chú ý khác của anh bao gồm Slov trong "G.I. Jane" (1997), Private Witt trong "The Thin Red Line" (1998), Thám tử John Sullivan trong "Frequency" (2000), Edmond Dantès trong "The Count of Monte Cristo" (2002), William Hobbes trong "Escape Plan" (2013), và Bob Ladouceur trong "When the Game Stands Tall" (2014).[3]
Đầu đời.
Caviezel sinh ra ở Mount Vernon, Washington, Hoa Kỳ, anh là con trai của Margaret (nhũ danh Lavery), một cựu diễn viên sân khấu và bà nội trợ, và James Caviezel, một bác sĩ chỉnh hình.[3][4] Anh có một người em trai tên là Timothy, và ba người chị em, Ann, Amy và Erin. Ông lớn lên trong một gia đình Công giáo gắn bó chặt chẽ ở Conway, Washington.[5][6] Họ của anh là tiếng Romansh. Cha anh là người gốc Slovakia và Thụy Sĩ, trong khi mẹ anh là người Ireland.[7][8]
Sự nghiệp.
Caviezel bắt đầu tham gia diễn xuất trong các vở kịch ở quê hương Seattle, Washington. Anh đã giành được thẻ thành viên Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh của mình với một vai nhỏ trong bộ phim "My Own Private Idaho" năm 1991. Sau đó anh chuyển đến Los Angeles để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Khi anh ấy quyết định chuyển đi, "mọi người nghĩ rằng tôi mất trí"— anh nói.[9] Anh được nhận học bổng để theo học diễn xuất tại Trường Nghệ thuật Juilliard ở New York vào năm 1993, nhưng anh đã từ chối để đóng vai Warren Earp trong bộ phim "Wyatt Earp" năm 1994.[10][11] Sau đó anh còn xuất hiện trong các tập phim của "Murder", "She Wrote" và "The Wonder Years". Sau khi xuất hiện trong G.I. Jane (1997), anh đã có một màn trình diễn đột phá trong bộ phim về Thế chiến thứ Hai, "The Thin Red Line", năm 1998 do Terrence Malick đạo diễn. Anh đã đóng vai Black John, một lính du kích (tiếng Anh: "Bushwhacker") Missouri, trong "Ride with the Devil" (1999), một bộ phim về cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.[2] Jim còn thủ vai "Jerry" trong bộ phim "Pay It Forward" năm 2000. | 1 | null |
Jean-Claude Van Damme tên khai sinh Jean-Claude Camille François Van Varenberg (sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960) là một nam diễn viên điện ảnh và võ sĩ người Mỹ gốc Bỉ. Ông là một trong những siêu sao hành động võ thuật nổi tiếng nhất trong nền điện ảnh Mỹ. Những bộ phim thành công nhất của Van Damme gồm có Bloodsport (1988), Kickboxer (1989), Universal Soldier (1992), Hard Target (1993), Timecop (1994), Sudden Death (1995), JCVD (2008) và The Expendables 2 (2012).
Tiểu sử.
Jean-Claude Van Damme sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Berchem-Sainte-Agathe, Brussels, nước Bỉ. Bà nội ông là người Do Thái. Mẹ ông là Eliana Van Varenberg và bố ông là Eugène Van Varenberg, hai người đã ly hôn từ lâu. Hiện tại Van Damme cùng vợ và 3 người con của mình đang sống và làm việc tại nước Mỹ.
Van Damme đã học võ thuật từ năm 10 tuổi, lúc đó ông còn yếu ớt, hay bị bạn bè bắt nạt nên bố ông quyết định cho ông đi học võ. Ông học bốn môn võ là Karate, Taekwondo, quyền Anh và Muay Thái. Trước khi trở thành diễn viên thì Van Damme đã từng tham gia nhiều trận đấu võ và nhận được nhiều chiến thắng cũng như chức vô địch. Năm 1984, Van Damme bắt đầu tham gia vào lĩnh vực điện ảnh, bộ phim đầu tiên trong sự nghiệp của ông là "Monaco Forever".
Sự nghiệp.
Phim điện ảnh.
Và nhiều bộ phim khác | 1 | null |
Nhà Chu (1066 TCN - 256 TCN) là triều đại dài nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến Trung Quốc, nếu tính từ Hậu Tắc được Đường Nghiêu phân phong thì sự hiện diện của nó trên vũ đài lịch sử trải dài tới hơn 2000 năm. Để mở rộng và củng cố nền thống trị, quản lý hiệu quả những vùng đất rộng lớn đã chinh phục, nhà Chu thực hiện chế độ phân phong cho các anh em, công thần, con cháu các vua đời trước. Tại mỗi vùng đất nhất định, nhà Chu giao đất và dân cho họ thành lập những quốc gia có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Thực ra việc cắt đất phong hầu đã có từ thời viễn cổ, tuy nhiên thời đó còn khiếm khuyết sử liệu nên rất khó kiểm chứng. Dưới đây là bảng thống kê "danh sách các vị quân chủ chư hầu" của triều đại nhà Chu, trong đó có liệt kê cả những vị quân chủ và tổ tiên nhiều thế hệ của một số nước đã có từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế, nhà Hạ và nhà Thương.
12 nước Chư hầu mạnh thời Xuân Thu và 7 nước Chư hầu lớn thời Chiến Quốc (春秋十二諸侯和戰國七雄).
Nước Tề (齊國).
Thủ lĩnh họ Điền nước Tề (齊国田氏領袖).
chú thích: năm sinh tuất của các vua Trung Sơn chưa được xác nhận, chỉ có tính tham khảo. | 1 | null |
Laser He-Ne là loại laser sử dụng các mức năng lượng của nguyên tử hay phân tử, sử đảo lộn tích lũy trong hệ các mức nguyên tử hay phân tử là kết quả của quá trình trao đổi năng lượng.
Môi trường laser bao gồm hỗn hợp khí nguyên tử He và Ne ở áp suất toàn phần thấp (một – vài chục Torr). Các dịch chuyển quang học cho bức xạ laser xảy ra trong các nguyển tử Ne. Khí He làm vai tró khí đệm, tiếp nhận năng lượng kích thích do quá trình phóng điện trong ống laser và truyền năng lượng kích thích này chó các nguyên tử khí Ne đang ở trạng thái cơ bản nhờ va chạm không đàn hồi. Sự trao đổi năng lượng thực hiện giữa mức siêu bền 21S của He với mức 3s của Nê-ông. Sự dích chuyển từ 3s xuống các mức của 2p có thể cho các bức xạ ở bước sóng 6328, 6320, 5941 và 5435Ȧ (sự dịch chuyển từ 3s xuống 3p cho bức xạ 3,39 µm). Công suất bức xạ với các vạch trong vùng khả kiến thường là nhỏ từ 1 đến 10 mW ở chế độ liên tục; nếu người ta tăng dòng phóng điện hay áp suất của khí thì sẽ xuất hiện các cơ chế phá hủy mức siêu bền. Laser này có thể hoạt động ở chế độ đa mode; đó là trường hợp các laser thường thấy với giá thành khoảng dưới 1000 USD. Nó có thể hoạt động ở chế độ đơn mode để thu được tần số khá ổn định.
Sự chuyển cộng hưởng năng lượng là rất đặc biệt trong trường hợp He-Ne. Theo các điều kiện phóng điện, một trong các cơ chế chuyển có thể là rất dễ dàng và ta thu được các phát xạ hoặc ở 1,14 µm hoặc ở 0,632 µm và 3,39 µm. | 1 | null |
Archer Kent Blood (20 tháng 3 năm 1923 – 3 tháng 9 năm 2004) là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Bangladesh. Ông đảm nhận vị trí Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Dhaka, Bangladesh, khi đó gọi là Đông Pakistan. Ông nổi tiếng vì đã gửi bức điện mệnh danh Blood telegram với lời lẽ đanh thép, phản đối tội ác do quân đội Pakistan tiến hành trong cuộc Chiến tranh giải phóng Bangladesh.
Tiểu sử.
Archer Blood sinh tại Chicago. Ông tốt nghiệp trường cao học Lynchburg, Virginia và có bằng cử nhân từ đại học Virginia năm 1943. Ông nhận bằng Thạc sĩ chuyên ngành quan hệ quốc tế từ đại học George Washington năm 1963. Ông phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ tại Bắc Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai. Ông gia nhập bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 1947. Ông đến Dhaka, Đông Pakistan với tư cách Tổng lãnh sự Hoa Kỳ năm 1970. Ông cũng từng phục vụ tại Hy Lạp, Algérie, Đức, Afghanistan và kết thúc sự nghiệp ngoại giao của mình với vị trí Trưởng phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại sứ quán Hoa Kỳ ở New Delhi, Ấn Độ, nghỉ hưu năm 1982.
Archer Blood mất vì chứng xơ cứng động mạch ngày 3 tháng 9 năm 2004 tại Fort Collins, Colorado, nơi ông cư ngụ từ năm 1993. "Khi Archer K. Blood từ trần tháng trước, tại nơi ông hưu trí ở Colorado, gia đình, một vài người bạn lâu năm, và cả một quốc gia để tang ông, nhưng quốc gia đó không phải đất nước của ông, mà là Bangladesh." Tin ông từ trần xuất hiện trên trang nhất tại Bangladesh, nhưng may lắm là xuất hiện trong mục cáo phó trong báo chí Hoa Kỳ. Bangladesh gửi một phái đoàn đến tham dự lễ tang ông tại Fort Collins, và bà quả phụ Blood nhận được rất nhiều lời thăm viếng chia buồn từ người Bangladesh. Tờ Washington Post trong lời điếu văn dành cho ông, đã ghi nhận cống hiến của ông trong việc mang lại dáng dấp đạo đức cho nền ngoại giao Hoa Kỳ.
Tháng 5 năm 2005, ông Archer Blood được truy tặng giải thưởng Outstanding Services Award bởi Bangladeshi-American Foundation, Inc. (BAFI) tại hội nghị Bangladeshi-American Conference lần thứ nhất. Ông nhận được giải thưởng này vì vai trò của ông trong sứ mệnh nhân đạo và vì lập trường quả cảm chống lại chính sách ngoại giao chính thức từ Chính phủ Hoa Kỳ, khi quân đội Pakistan đang tiến hành một chiến dịch tàn sát diệt chủng tại Đông Pakistan, nay là Bangladesh. Con trai của ông, Peter Blood, thay mặt gia đình nhận giải thưởng này. Tiếp đó, ngày 13 tháng 12 năm 2005, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Dhaka khai trương thư viện American Center, để vinh danh ông. Tại lễ cắt băng khánh thành có mặt Trưởng phái đoàn ngoại giao Judith Chammas, bà quả phụ Margaret Blood và các con Shireen Updegraff và Peter Blood.
The Blood telegram.
Bức điện tín "Blood telegram" (ngày 6 tháng 4 năm 1971) được coi là bức điện phản kháng mạnh mẽ nhất do một viên chức ngoại giao viết cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Bức điện được ký bởi 29 viên chức Mỹ. Trong nội dung bức điện tín có:
"Chính phủ của chúng ta đã thất bại trong việc tố cáo sự đàn áp phong trào dân chủ. Chính phủ của chúng ta đã thất bại trong việc tố cáo những hành động hung tàn. Chính phủ của chúng ta đã thất bại trong việc tiến hành các biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ các công dân của mình, trong khi nằm phơi bụng ra để xoa dịu chính quyền Tây Pakistan và giảm nhẹ phản ứng tiêu cực trong quan hệ quốc tế mà họ đáng phải hứng chịu. Chính phủ của chúng ta mang những biểu hiện mà người ta gọi là vô đạo đức,(...) Nhưng chúng ta đã không can thiệp, dù chỉ về mặt đạo lý, với lý do là những gì đang diễn ra trong cuộc xung đột Awami mà đáng tiếc là thuật ngữ diệt chủng vốn bị lạm dụng, là xác đáng, chỉ thuần túy là một vấn đề nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Những người thường dân Hoa Kỳ đã bầy tỏ sự ghê tởm của mình. Chúng ta, với tư cách là các công chức dân sự, bầy tỏ sự bất đồng với chính sách ngoại giao hiện hành, và nhiệt thành mong mỏi rằng quyền lợi chân chính và lâu dài của chúng ta tại đây được xác định và chính sách của chúng ta được sửa đổi."
<br><br>
Trong một bức điện trước đó (ngày 27 tháng 3 năm 1971), Archer Blood viết về những gì quan sát thấy tại Dhaka dưới tiêu đề "Diệt chủng chọn lọc":
"1. Tại Decca chúng ta chứng kiến trong câm lặng và kinh hoàng ách khủng bố do quân đội Pak[istani] tiến hành. Các chứng cớ cho thấy chính quyền MLA có danh sách các ủng hộ viên của Liên đoàn AWAMI, mà họ diệt trừ một cách có hệ thống bằng cách bắt giữ họ tại tư gia rồi bắn bỏ."
<br>
"2. Trong số những người có tên trong danh sách bị loại trừ, ngoài những người nằm trong guồng máy A.L. (Liên đoàn Awami) còn có các lãnh đạo sinh viên và giáo sư đại học. Trong phân mục thứ nhì này, theo báo cáo mà ta có được, Fazlur Rahman trưởng khoa triết học và là người Hindu, M. Abedin, trưởng khoa lịch sử, đã bị sát hại. Razzak, khoa khoa học chính trị theo lời đồn đã bị giết. Ngoài ra trong danh sách còn gồm đại bộ phận các Thượng nghị sĩ được bầu ra của MNA (Nghị viện) và Hạ nghị sĩ của MPA (cấp tỉnh)."
<br>
"3. Ngoài ra, với sự hỗ trợ từ quân đội Pakistan, những người Hồi giáo không có xuất xứ từ Bengal đang tấn công một cách có hệ thống các khu phố của dân nghèo và giết hại người Bengal và Hindu."
<br>
Mặc dù ông Archer Blood đã được lên kế hoạch tiếp tục một nhiệm kỳ 18 tháng nữa tại Dhaka, Tổng thống Hoa Kỳ Richard M. Nixon và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Henry Kissinger cho triệu hồi ông về, vì sự phản kháng của ông đi ngược lại mong muốn của họ dùng Tây Pakistan để mở một kênh ngoại giao với Trung Quốc và đối lại với Liên Xô. | 1 | null |
Andrianampoinimerina (); phiên âm theo Tiếng Việt là: An-đria-nam-phôi-ni-mê-gi-na; (1745–1810) là một vị vua, người đã cai trị Vương quốc Imerina từ năm 1787 tới khi mất. Thời gian trị vì của ông đánh dấu sự tái thống nhất của Imerina sau 77 năm nội chiến, sau đó giúp mở rộng vương quốc tới các vùng lân cận, và như thế đã khởi đầu sự thống nhất Madagascar dưới sự dẫn dắt của người Merina. Andrianampoinimerina là một anh hùng văn hóa và gần như được thần thoạt hóa bởi người Merina, được xem như một trong các thủ lĩnh quân sự và chính trị vĩ đại nhất Madagascar.
Andrianampoinimerina tiếm ngôi chú mình, Vua Andrianjafy, người đã trị vị Imerina Avarandrano (Bắc Imerina). Trước thời Andrianampoinimerina, Imerina Avarandrano đã xung đột với ba tỉnh của vương quốc Imerina cũ (mà đã được thống nhất bởi Vua Andriamasinavalona một thế kỷ trước). Andrianampoinimerina chọn Ambohimanga làm kinh đô, nơi ở hoàng gia của ông vẫn còn lại tới nay. Từ Ambohimanga, ông liên tục mở rộng quyền lực ra khắp Imerina và rồi chiếm cả vùng Cao Địa, thu được đất của người Betsileo, Sihanaka, Bezanozano và Bara. Trong thời gian trị vì 23 năm, Andrianampoinimerina đã thống nhất Imerina thành công và mở rộng đáng kể Vương quốc Merina, với ý định thống nhất toàn Madagascar. Con trai ông, Radama I, tiếp tục cuộc chinh phục mà Andrianampoinimerina đã bắt đầu.
Ban đầu.
Quốc vương Andrianampoinimerina, sinh vào khoảng năm 1740 trong ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của Alahamady, tại Kaloy, ông có tên khai sinh là Ramboasalamarazaka, ông là người con trai thứ ba của Andriamiaramanjaka, vua của Anjafy và Kaloy, và nhất phẩm hoàng hậu của ông ta, công chúa Ranavalonandriambelomasina, con gái của Vua Andriambelomasina.
Cai trị.
Xung đột với chú.
Truyền thống truyền miệng được ghi lại bởi các nhà truyền giáo Dòng Tên vào cuối thế kỷ thứ mười tám cho thấy rằng Andriambélomàsina, người cai trị Imerina (lãnh thổ của dân tộc Merina) từ năm 1730 đến năm 1770, và sau đó con trai cả của ông, Andrianjafy đã kế vị ông, tiếp theo sẽ là cháu trai ông Ramboàsalàma (Andrianampoinimerina), con trai của người con gái lớn của ông. Tuy nhiên, Andrianjafy, chú của Andria... không muốn truyền ngôi cho cháu mình mà ông có ý định cho con trai của mình thế chỗ, sau đó ông âm mưu giết chết Ramboàsalàma, hoàng tử đã lo sợ cho mạng sống của mình, và thế rồi, ông ta chạy trốn về phương Bắc. Ông phải sống lông đông vất vả ở đây suốt nhiều tháng trời. Cuối cùng, dưới sự hậu thuẫn của một tá thủ lĩnh Merina, Ramboàsalàma trở lại vương quốc vào năm 1787, tiến vào thành phố kinh đô Ambohimànga và ông đã đày người chú của mình, sau đó ông ta bị tử hình. Ramboàsalàma sau đó được trao vương miện, ông lên ngôi lấy hiệu là Andrianampoinimerina, có nghĩa là "vị vua của nhân dân Imerina".
Nhà nước.
Triều đại của quốc vương Andrianampoinimerina được đánh dấu bằng các tổ chức của các tổ chức chính phủ và quân đội khác nhau, điều này đã tạo cho nhà nước non trẻ một nền tảng vững chắc. Cấu trúc hành chính này một phần được hiện thực hóa bằng cách sử dụng, cải tạo và tổ chức lại một loạt các thể chế truyền thống như các hội đồng hùng biện hoàng gia vĩ đại, "Kabary ", thiết lập các cấu trúc pháp lý dưới dạng tòa án và các cấu trúc thương mại. Tuy nhiên, rõ ràng rằng quy mô của vương quốc dưới thời Andrianampoinimerina có nghĩa là các kỹ thuật hành chính mới phải được tìm thấy để bổ sung và tổ chức các thể chế cũ. Từ khi bắt đầu triều đại của quốc vương Andrianampoinimerina, vào khoảng năm 1787, nhà nước Merina bắt đầu phát triển một số hình thức quan liêu và một đội quân thường trực. Thủ đô của vương quốc đã được chuyển từ làng Ambohimanga cũ sang làng Antananarivo (thủ đô trước đó). Sau đó, bó vươn mình biến thành một thị trấn lớn.
Di dời kinh đô.
Sau khi lên ngôi và sau nhiều năm cai trị và sau nhiều năm chinh chiến để mở rộng bờ cõi, cuối cùng quốc vương Andrianampoinimerina mới để ý đến kinh đô của mình. Ông nhận thấy kinh đô Ambohimanga không còn phù hợp với vương quốc của mình nữa, để phù hợp với biểu tượng của vương quốc Merina thiêng liêng liên quan đến chiều cao, không gian và định hướng, thế là đức vua đã quyết định đi tìm một nơi thật hoàng hảo để chuẩn bị ra chiếu di dời kinh đô. Cuối cùng, vào năm 1792, ông đã quyết định chọn: Rova Antananarivo, là một nơi hẻo lánh nằm ở vùng trung tâm và tại đỉnh đồi cao nhất trong vương quốc, và ở trung tâm của không gian đô thị mở rộng xung quanh nó. Sau đó, ông ban hành sắc chỉ dời kinh đô từ Ambohimanga đến Rova of Antananarivo. Sau khi dời đô, nhà vua đã tiến hành mở rộng đáng kể tân đô, ông cho đặt các biểu tượng của Rova linh thiêng, ông còn cải thiện nhiều ngôi nhà ở đó. Điều này bao gồm việc tái thiết đã diễn ra vào năm 1800 ở Besakana (có nghĩa là "ngai vàng của vương quốc") được xây dựng dưới triều vua Andrianjaka vào đầu những năm 1600 như là nơi ở của hoàng gia đầu tiên tại Antananarivo - sau đó, nó trở thành trong nhiều ngôi nhà mà đã được quốc vương Andrianampoinimerina sử dụng làm nơi ở, nơi cư trú thay cho Mahitsielafanjaka sau khi ông chuyển thủ đô từ Ambohimanga đến Antananarivo.
Rova Antananarivo.
Bản thân đức vua Andrianampoinimerina sau khi dời đô cũng có những thiết kế hoành tráng cho tân thủ đô của mình: đầu tiên, ông cho xây dựng lại Antananarivo trong một đô thị mới của vương quốc Merina. Mục tiêu của ông là tạo ra một "thành phố hình ảnh của Imerina", giống như một mô hình thu nhỏ của nó, một mẫu đại diện của khu vực nông thôn. Do đó, ông chăm sóc và chỉnh sửa lại nền tảng thành phố, ông đã cho người quy hoạch lại nơi đây. Mục tiêu của nhà vua là biến Antananarivo trở thành một thành phố đại diện cho cả quốc gia nhờ thành phần dân số mở rộng ra toàn đảo, một tham vọng rõ ràng của ông là nhấn mạnh đến ơn gọi chính trị được giao cho thủ đô. Thành phố có thể được nhân đôi và chiếm ưu thế trong các khu vực bị chinh phục: một mục tiêu đô thị cụ thể là hiện đại hóa ngay từ đầu thành phố ". Đặc điểm của một mô hình đô thị ban đầu bắt nguồn sâu sắc trong xã hội Merina ở nông thôn, một mô hình đô thị được sinh ra ở tân đô Antananarivo được đặc trưng bởi vai trò cơ bản của một không gian hoàng gia, cao và linh thiêng, và bởi sự phân bố dân số theo thứ bậc không gian. Rova trước hết là trung tâm và là biểu tượng của thành phố chính trị Antananarivo, hành chính và quân sự. Toàn bộ thành phố được tổ chức từ "đầu mối" này, cả về thời gian và tâm linh của vương quốc Merina.
Chính sách điều hành các sắc tộc khác.
Quốc vương Andrianampoinimerina sau khi lên ngôi đã lên kế hoạch phân bổ một phần tư cho mỗi nhóm dân tộc trên đảo, bao gồm cả Antandroy (một nhóm dân tộc từ phía nam Madagascar) chưa chịu sự điều chỉnh. - câu chuyện về đại diện của các nhóm dân tộc bị chinh phục gần đây, chẳng hạn như Betsileo và Sakalava, ở Tanjombato và Manjakaray, và còn với nhiều dân tộc khác.
Buôn bán nô lệ.
Thời kỳ cai trị của quốc vương Andrianampoinimerina tương ứng với sự phát triển gia tăng việc xuất khẩu nô lệ từ hòn đảo lớn Madagascar sang đảo Reunion (ngày nay là tỉnh Réunion của Pháp), Mauritius và còn xa hơn nữa. Các nô lệ được nhà vua đem bán, đổi lại, những người mua đưa lại cho quốc vương súng đạn và nhiều thứ vũ khí khác, điều đó giúp nhà vua thuận lợi hơn trong việc mở rộng nhà nước Merina. Việc buôn bán nô lệ của vương quốc trong thời của ông nhiều đến mức đã khiến cho Ellis, một trong những nhà buôn đầu tiên ở xứ Merina phải thốt lên rằng:
""Trong triều đại của quốc vương Impoina (Andrianampoinimerina), vương quốc Imerina và nội địa của đất nước nói chung trở thành một siêu thị cho nô lệ, họ chủ yếu là các tù nhân bị bắt trong chiến tranh, những người được trao đổi với những người buôn bán nô lệ để lấy vũ khí và đạn dược, qua đó các cuộc chinh phạt có thể được thực hiện, và cung cấp thêm cho thị trường nô lệ được sản xuất"."
Quan điểm tương tự được đưa ra bởi nhà sử học Merina Raombana, ông ta đã trút cơn giận của mình lên nhà vua bằng cách mô tả ông như là một kẻ buôn bán nô lệ chính hiệu, nhưng đồng thời ông cũng cho thấy thành công của ông đối với loại hoạt động này. Sự phát triển mạnh mẽ của vương quốc Merina ở quy mô lớn dưới thời quốc vương Andrianampoinimerina không chỉ đơn giản được giải thích bằng việc buôn bán nô lệ của ông.
Giao thương.
Andrianampoinimerina cũng thiết lập mối quan hệ với người châu Âu, đặc biệt là với những thương nhân người Pháp buôn bán vũ khí cho nô lệ. Có đến mười tám phần trăm số nô lệ ở Merina được xuất khẩu hàng năm sang lle de France (nay là Mauritius) và Bourbon (Réunion). Barthélemy Hugon, một thương nhân châu Âu, đã viết về Nampoina vào năm 1808 trong nhật ký, "Ông ta không nghi ngờ gì, ông ta chính là người giàu nhất, đáng sợ nhất, giác ngộ nhất và có được một vương quốc lớn nhất, trong tất cả các vương quốc khác ở Madagascar."
Cái chết và người kế tự.
Quốc vương Andrianampoinimerina băng hà trong nhà Mahitsielafanjaka bên trong kinh đô Rova Antananarivo vào ngày 6 tháng 7 năm 1810 ở tuổi 65, ông có nhiều mười một đứa con trai và mười ba đứa con gái của ông.qua đời năm 1810. Vào thời điểm ông qua đời, đức vương đã biến cho vương quốc Imerina có lẽ đã trở thành vương quốc hùng mạnh nhất trên đảo Madagascar. Sau khi băng hà, thi hài ông được chôn trong một chiếc xuồng bạc. Con trai ông lên kế vị: tức đức vương Radama I. Mặc dù ông chưa bao giờ chinh phục được toàn bộ xứ Madagascar, nhưng giấc mơ của Andrianampoinimerina sẽ được con trai ông, Radama I tiếp tục thực hiện. Trước khi băng hà ông đã nói với vị vua tương lai rằng:
"Biển là biên giới của cánh đồng lúa của chúng ta" (ý nói, Radama sau khi kế vị phải mở rộng bờ cõi quốc gia cho thông được với biển)"," Radama đã thề với cha mình rằng ông nhất định sẽ đạt được tham vọng này.
Xem thêm.
•Muhammad Ali của Ai Cập.
•Mehmed II. | 1 | null |
Knut (sinh ngày 5 tháng 12 năm 2006 – chết ngày 19 tháng 3 năm 2011) là một con gấu Bắc Cực được các nhân viên của Sở thú Berlin nuôi lớn, chết ở tuổi thứ tư.
Knut sinh ra ở Sở thú Berlin, gấu mẹ 20 tuổi tên là Toscam một con gấu trong đoàn xiếc từ Đông Đức sinh ra ở Canada, lúc được 13 tuổi thì giao phối với Lars, có nguồn gốc từ Tierpark Hellabrunn ở Munich. Sau một thời kỳ mang thai không phức tạp, Knut và một con gấu anh em không được đặt tên đã được sinh ra ngày 5 tháng 12 năm 2006. Tosca đã từ chối các con mình không rõ lý do, bỏ rơi chúng trên một tảng đá ở trong chuồng nhốt gấu trắng Bắc Cực. Những nhân viên vườn thú đã cứu cặp đôi by scooping them out of the enclosure with an extended fishing net, nhưng con gấu được sinh ra cùng Knut đã chết do bị nhiễm trùng 4 ngày sau đó. Knut là con gấu trắng bắc cực đầu tiên được sinh ra và sống sót ở Sở thú Berlin trong vòng 30 năm. Chỉ có kích thước bằng một con chuột lang nhà, con gấu con này đã trải qua 44 ngày tại lồng nuôi trước khi người chăm sóc thú Thomas Dörflein bắt đầu nuôi nó.
Knut bị gấu mẹ bỏ rơi khi mới chào đời nhưng may mắn mạnh khỏe nhờ bàn tay chăm sóc của con người. Đây là con gấu Bắc Cực con đầu tiên được sinh ra và sống sót trải qua thời kỳ sơ sinh tại Sở thú Berlin trong hơn 30 năm. Trong một thời gian là chủ đề của tranh cãi quốc tế, con gấu này đã trở thành một điểm thu hút du lịch và thành công thương mại. Sau khi tờ báo lá cải "Bild" của Đức chạy một trích dẫn từ một nhà hoạt động quyền động vật chỉ trích việc giữ gấu con trong điều kiện nuôi nhốt, người hâm mộ trên toàn thế giới tập hợp hỗ trợ việc con người nuôi chú gấu này. Trẻ em phản đối bên ngoài sở thú, và e-mail và thư bày tỏ sự cảm thông cho cuộc sống của cub được gửi từ khắp nơi trên thế giới.
Những nhà hoạt động trong phong trào bảo vệ quyền thú vật phản đối kịch liệt. Theo họ khi một con gấu bị mẹ chối bỏ nhất định có nguyên nhân, ví dụ Knut có một khuyết tật nào đó và ông ta mang về nuôi có nghĩa là ông đã can thiệp vào sự chọn lọc tự nhiên.
Knut trở thành trung tâm của các phương tiện thông tin đại chúng là một hiện tượng gọi là "Knutmania" kéo dài toàn cầu, Knut lên trang nhất nhiều nhật báo và tạp chí. Nhạc sĩ, nhà thơ viết về nó. Knut còn là chủ đề của một nhật ký trên mạng bằng tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha do một phóng viên địa phương lập ra. Tạp chí Vanity Fair chuyên về văn hóa nghệ thuật đã đưa Knut ra trang bìa cạnh tranh cùng nam diễn viên nổi tiếng Leonardo DiCaprio. Giới kinh doanh không bỏ lỡ cơ hội khi tung ra gấu bông Knut, kẹo, kem có hình ảnh Knut. Nhờ điều này, chú gấu con đã tạo ra sự gia tăng đáng kể doanh thu, ước tính khoảng 5.000.000 €, tại Sở thú Berlin trong năm 2007. Số lượng khách tham quan trong năm tăng khoảng 30%, khiến cho năm đó là năm có lợi nhuận cao nhất trong lịch sử 163 năm.
Ngày 19 tháng ba 2011, Knut bất ngờ qua đời ở tuổi lên bốn. Chú gấu bị chết đuối khi đang lội xuống nước trong khuôn viên chuồng thú trước khi gặp phải một cơn co giật ngắn do bệnh viêm não, rồi sau đó chết trước sự chứng kiến của hàng trăm du khách. Cái chết của Knut đã khiến người dân Berlin tiếc thương. Thông tin về sự ra đi của nó nhanh chóng lan truyền khắp thành phố. Những người hâm mộ Knut đã tới tận vườn thú, tập hợp trước cửa chuồng của nó để tưởng nhớ chú gấu.
Thị trưởng Berlin Klaus Wowereit gọi cái chết của Knut là "đau buồn" và "tất cả chúng ta đều yêu quý nó. Knut là ngôi sao của các vườn thú Berlin". | 1 | null |
Serra do Mar ( tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là "Dãy núi của biển") là một hệ thống núi dài 1.500 km bao gồm các núi dốc đứng ở Đông Nam Brazil.
Địa lý.
Serra do Mar chạy song song với bờ biển Đại Tây Dương từ tiểu bang Espírito Santo xuống tới Santa Catarina., mặc dù một số tài liệu ghi rằng dãy Serra Geral cũng thuộc Serra do Mar, trong trường hợp đó thì phạm vi của nó sẽ mở rộng xuống tận bang Rio Grande do Sul.
Dãy núi chính tạo thành ranh giới giữa vùng duyên hải ven biển với vùng cao nguyên, nơi có độ cao trung bình từ 500 đến 1.300 mét (1.600 đến 4.300 ft). Đó là một phần của Vách đá Lớn chạy dọc theo bờ biển phía đông của nam Brazil, bắt đầu từ thành phố Salvador, Bahia.
Các khu dự trữ sinh quyển Đại Tây Dương.
Bao gồm 25 khu rừng nhiệt đới, là các khu bảo tồn, các khu dự trữ sinh quyển thuộc các tiểu bang Paraná và São Paulo là những khu vực rộng lớn được bảo tồn ở Đông Nam Brazil. Các khu rừng là các ngọn núi bao phủ bởi rừng rậm, các vùng đất ngập nước, các rừng đảo, rừng ven biển, khu vực này bao gồm một môi trường thiên nhiên phong phú và phong cảnh rừng tự nhiên rất đẹp như các đảo, cửa sông, thác nước, núi đá vôi cùng hệ động thực vật hoang dã phong phú.
Các khu rừng là các địa điểm còn lại của rừng Đại Tây Dương ở Brazil, thể hiện sự phong phú của động thực vật, lịch sử tiến hóa. Các khu rừng ở đây phát triển từ thời kỳ băng hà, với một hệ sinh thái phức tạp và đa dạng sinh học cao với số lượng 70% các loài thực vật, 85% các loài động vật linh trưởng và% 39 động vật có vú của thế giới. Các loài đáng chú ý gồm có: báo đốm, mèo rừng, rái cá, 20 loài dơi, 350 loài chim và các loài linh trưởng đang có nguy cơ tuyệt chủng (khỉ hú nâu, khỉ sư tử mặt đen tamarin). Ngoài ra là một số loài khác như: đại bàng lớn nhất châu Mỹ Đại bàng Harpy, vẹt đuôi đỏ Amazon (Red-tailed Amazon) hay loài chim Pipile jacutinga...
Di sản này bao gồm các khu rừng trên núi Serra do Mar, tại cao nguyên Brazil, từ các đồng bằng ven biển Đông Nam đến các khu bảo tồn tự nhiên ở cửa sông Iguape-Cananéira, Paranagua, các vùng ngập mặn, đầm phá cửa sông Ribeira, các cồn cát, bãi biển rộng lớn.
25 khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển thuộc di sản Các khu dự trữ sinh quyển Đại Tây Dương bao gồm: | 1 | null |
Vườn bách thú Berlin (tiếng Đức: Zoologischer Garten Berlin) là vườn thú nổi tiếng lâu đời nhất và tốt nhất tại Đức. Khai trương vào năm 1844, vườn thú có diện tích 34 ha và nằm trong khuôn viên công viên Tiergarten của Berlin. Với hơn 1.500 loài khác nhau và khoảng 17.500 cá thể, sở thú trình bày các bộ sưu tập toàn diện nhất của các loài trên thế giới.
Vườn thú và bể nuôi cá của nó đã có gần 3 triệu lượt khách vào năm 2011. Nó được coi là vườn thú được tham quan nhiều nhất ở châu Âu và một trong những vườn thú nổi tiếng nhất trên toàn thế giới. Con gấu Bắc Cực tên là Knut, và Bao Bao (宝宝, "Bảo Bảo"), một con gấu trúc lớn đã góp phần vào hình ảnh công chúng của sở thú.
Sở thú hợp tác với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, và các vườn thú khác trên khắp thế giới. Sở thú duy trì và thúc đẩy chương trình nhân giống các loài nguy cấp châu Âu, giúp bảo vệ một số loài có nguy cơ tuyệt chủng, và tham gia vào các chương trình tái áp một số loài.
Lịch sử.
Mở cửa vào ngày 01 tháng 8 năm 1844, Zoologischer Garten Berlin là sở thú đầu tiên ở Đức. Thủy cung mới mở cửa vào năm 1913. Các loài động vật đầu tiên được Friedrich Wilhelm IV của Phổ hiến từ bầy thú và chim của Tiergarten.
Trong thế chiến II, khu vực vườn thú đã bị phá hủy hoàn toàn và chỉ có 91 trong tổng số 3.715 loài động vật sống sót, trong đó có hai con sư tử, hai con linh cẩu, một con voi con bò châu Á, một con hà mã, mười con khỉ đầu chó Hamadryas, tinh tinh và một con cò đen. Chiến tranh kết thúc, vườn thú được tăng cường với tháp sở thú, một tháp phòng không khổng lồ là một trong các khu vực còn lại cuối cùng của kháng chiến của Đức Quốc xã chống lại Hồng quân, với nhiên liệu và vũ khí chống máy bay bảo vệ chống lại các lực lượng không quân đồng minh.
Sau trận chiến Berlin năm 1945, một số động vật biến mất hoặc bị lính Hồng quân ăn thịt.
Sau khi bị phá hủy, sở thú và bể cánh cảnh được xây dựng lại trên các nguyên tắc hiện đại nhất để trưng bày các loài động vật càng gần với môi trường tự nhiên của chúng càng tốt. Sự thành công đạt được ở động vật nuôi sinh sản, bao gồm cả một số loài quý hiếm, thể hiện hiệu quả của những phương pháp mới. | 1 | null |
Rừng Đại Tây Dương () là khu vực rừng ở Nam Mỹ kéo dài dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Brazil từ bang Rio Grande do Norte ở phía Bắc cho đến Rio Grande do Sul ở phía nam, kéo sâu vào trong nội địa cho tới Paragoay và tỉnh Misiones của Argentina, nơi được biết đến như là Selva Misionera.
Rừng Đại Tây Dương có nhiều loại cảnh quan và vùng sinh thái bao gồm rừng nhiệt đới lá rộng, Rừng lá rộng khô cận nhiệt đới và nhiệt đới, Đồng cỏ, thảo nguyên, cây bụi nhiệt đới và cận nhiệt đới và rừng ngập mặn ven biển. Rừng Đại Tây Dương được đặc trưng bởi sự đa dạng sinh học cao và đặc hữu.
Đây là môi trường tự nhiên đầu tiên mà người Bồ Đào Nha gặp phải cách đây 500 năm, khi nó được cho là có diện tích từ 1 triệu đến 1,5 triệu km vuông và kéo sâu vào trong đất liền. Hơn 85% diện tích ban đầu đã bị phá huỷ, nhiều loài thực vật đã bị đe doạ và nhiều loài động vật đang bên bờ vực của tuyệt chủng.
Lịch sử.
Trong thời kỳ băng giá ở Pleistocene, Rừng Đại Tây Dương đã bị thu hẹp, được phân cách bằng những khu rừng khô hoặc bán sa mạc. Một số bản đồ thậm chí cho thấy rừng sống sót trong các khu vực ẩm ướt cách xa bờ biển, nơi các loài cây rừng nhiệt đới đặc hữu phát triển chung với nhiều loài thực vật của khí hậu lạnh. Không giống như phân bố của các khu rừng mưa cận xích đạo, những khu rừng Đại Tây Dương chưa bao giờ được phân định chi tiết rõ ràng ranh giới của nó.
Các rừng nhiệt đới bờ biển Đại Tây Dương.
là các khu rừng dọc bờ biển Đại Tây Dương thuộc bang Bahia và Espirito Santo, phía Đông bắc Brazil bao gồm 8 khu vực bảo vệ với diện tích 112.000 ha, là các khu rừng nhiệt đới Đại Tây Dương mang tính đa dạng sinh học cao, với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm được bảo tồn ở Đông bắc Brazil.
Đây là các khu vực ngập nước, các rừng nhiệt đới cửa sông, ven biển với phía Tây là cao nguyên đá vôi Sierras. Các địa điểm với độ ẩm cao nên thực vật ở đây rất phong phú với dày đặc các loài cây lá rộng, tán cao, cây dây leo, cây bụi, thực vật ký sinh.. đặc biệt là loài cây Pau Brasil (một loài cây lấy gỗ sản xuất đàn vĩ cầm và thuốc nhuộm duy nhất chỉ có ở khu vực). Động vật nổi bật nhất là các loài chim và động vật linh trưởng đặc hữu của rừng Đại Tây Dương và một số loài khác như: lười, nhím bristlespined, báo đốm..
Các khu rừng nhiệt đới bờ biển Đại Tây Dương được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1999 bao gồm 8 khu rừng là: | 1 | null |
Chim lội hay chim đầm lầy là một tập hợp các loài chim thuộc bộ Rẽ (Charadriiformes), trừ các loài chim biển thuộc họ Chim cướp biển (Stercorariidae), mòng biển (Laridae), họ Nhàn (Sternidae), họ Xúc cá (Rynchopidae) và họ Chim anca (Alcidae).
Đa số các loài sống tại các môi trường đầm lầy hay ven biển. Nhiều loài sống ở Bắc Cực và miền ôn đới thường di trú. Vài loài chim vùng Bắc Cực, ví dụ loài rẽ nhỏ ("Calidris minuta"), là một vài trong số những loài chim di trú xa nhất và trải qua mùa không sinh sản ở Nam bán cầu. Trong khi đó, các loài sống ở vùng nhiệt đới thường định cư một chỗ và chỉ chuyển đi nơi khác để tránh mưa.
Đa số các loài chim lội bắt động vật không xương sống trong bùn hay mặt đất để ăn. Các loài khác nhau lại có chiều dài mỏ khác nhau, giúp chúng kiếm mồi trong cùng một khu vực sống mà không phải trực tiếp cạnh tranh nhau về nguồn thức ăn. Nhiều loài chim lội có các mút thần kinh nhạy cảm ở đầu mỏ, cho phép chúng dò tìm con mồi trốn trong bùn và đất mềm. Một số loài chim lớn hơn, đặc biệt là những loài sống nơi khô ráo hơn, thì ăn côn trùng và động vật bò sát nhỏ.
Nhiều loài chim lội kích thước nhỏ sống ở vùng ven biển. "Calidris minutilla" là loài nhỏ nhất trong số này; chim trưởng thành chỉ có khối lượng 15,5 g và chỉ dài 13 cm. Người ta cho rằng loài lớn nhất là loài rẽ mỏ cong hông nâu ("Numenius madagascariensis") với chiều dài 63 cm và khối lượng 860 g. Tuy nhiên, loài "Esacus magnirostris" mới là loài có khối lượng cơ thể lớn nhất, đạt 1 kg.
Theo phân loại Sibley-Ahlquist, chim lội và nhiều nhóm chim khác được nhập làm một bộ lớn là bộ Hạc. Tuy nhiên, cách phân loại bộ Charadriiformes là một trong những điểm hạn chế nhất của phân loại Sibley-Ahlquist bởi lý do lai phân tử DNA không thể giải đáp thoả đáng mối quan hệ qua lại trong nhóm. Trước đây, người ta xếp các loài chim lội vào chung một phân bộ là Charadrii nhưng việc làm này có vẻ mang tính "phân loại kiểu sọt rác" (tức là dồn chung các loài vào một chỗ do không biết phải xếp chúng ở nơi nào khác) bởi có không dưới bốn nòi charadrii trong cận ngành được gộp vào đây. Căn cứ vào các nghiên cứu về sau (Ericson & ctg, 2003; Paton & ctg, 2003; Thomas & ctg, 2004a, b; van Tuinen & ctg, 2004; Paton & Baker, 2006), có thể chia chim lội thành:
Để giữ tính thống nhất với cách phân nhóm truyền thống thì phân bộ Thinocori có thể được gộp với Scolopaci, còn Chionidi thì gộp với Charadrii.
Theo Paton & ctg (2003) và Thomas & ctg (2004b), bốn nòi (tức phân bộ) "chim lội" khác biệt nhau đã xuất hiện từ khoảng giới tuyến Creta-Paleogen. Tầm hiểu biết càng ngày càng sâu sắc hơn về lịch sử tiến hoá thời kì đầu của các loài chim hiện đại khiến người ta cho rằng nhận định của các tác giả trên là đúng. | 1 | null |
Khỉ đầu chó Hamadryas (danh pháp hai phần: Papio hamadryas) là một loài khỉ đầu chó trong họ khỉ Cựu thế giới. Nó là loài khỉ đầu chó cực bắc nhất, là loài bản địa Sừng châu Phi và mũi tây nam của bán đảo Ả Rập. Các khu vực này là nơi cư trú với lợi thế có ít loài kẻ thù tự nhiên ít hơn so với miền Trung hoặc miền Nam châu Phi, nơi cư trú của con khỉ đầu chó khác. Khỉ đầu chó Hamadryas là một con vật linh thiêng đối với Ai Cập cổ đại và xuất hiện trong các vai trò khác nhau trong tôn giáo Ai Cập cổ đại, do đó tên khác là 'khỉ đầu chó thiêng liêng'.
Mô tả.
Ngoài sự khác biệt kích thước nổi bật giữa các con đực và con cái (con đực thường lớn gấp hai lần con cái), là đặc tính phổ biến cho tất cả các con khỉ đầu chó, loài này cũng cho thấy sự dị hình lưỡng tính trong màu sắc. Lông của con đực là màu trắng bạc màu và có một lớp lông bờm rõ rệt (bờm và lớp phủ) mà chúng phát triển khoảng 10 tuổi, trong khi những con cái không có lông bờm và có màu nâu. Khuôn mặt của chúng có màu sắc trong phạm vi màu từ đỏ sang nâu nhạt đến nâu sẫm.
Con đực có thể dài đến và cân nặng ; con cái nặng và thân dài . Đuôi dài thêm một 40–60 cm (16–24 in) cho chiều dài, và kết thúc trong một chùm nhỏ. Con non có màu tối tối và trở nên sáng sau khoảng một năm. Khỉ đầu chó Hamadryas trưởng thành tính dục tại khoảng 4-5 tuổi ở con cái và 5-7 tuổi đối với con đực.
Phạm vi sinh sống.
Khỉ đầu chó hamadryas ăn trái cây trong điều kiện nuôi nhốt, mặc dù trái cây không phải là một phần thường xuyên của chế độ ăn uống của nó trong tự nhiên.
Phạm vi của khỉ đầu chó kéo dài từ Biển Đỏ ở Eritrea Ethiopia và Somalia. Khỉ đầu chó là nguồn gốc và sống ở tây nam Arabia, Yemen và Ả Rập Xê Út Khỉ đầu chó Hamadryas khỉ đầu chó sống ở khu vực bán sa mạc, thảo nguyên và các khu vực đá, cần có các vách đá để ngủ và tìm kiếm nguồn nước. Khỉ đầu chó hamadryas là loài ăn tạp và thích nghi với môi trường sống tương đối khô. Trong mùa mưa, khỉ đầu chó ăn nhiều loại thức ăn, hoa, hạt, cỏ, rễ hoang dã, và lá từ cây keo Trong mùa khô, các con khỉ đầu chó ăn lá của lá glabra Dobera và sisal. Khỉ đầu chó Hamadryas cũng ăn côn trùng, bò sát và các loài động vật có vú nhỏ. Một con thậm chí còn quan sát mang một dik dik chết.
Hoạt động uống của các con khỉ đầu chó cũng phụ thuộc theo mùa. Vào mùa mưa, những con khỉ đầu chó không phải đi xa để tìm vũng nước. Khỉ đầu chó ngủ trưa tại hố nước. Khỉ đầu chó Hamadryas cũng đào hố để lấy nước uống ở vị trí chỉ là một khoảng cách ngắn từ hố nước tự nhiên. | 1 | null |
Khu bảo tồn linh dương Ả Rập là một khu bảo tồn động vật hoang dã nằm ở miền Trung và vùng ven biển Coastal Hills của Oman. Nơi đây có hệ thực vật đa dạng, cùng với các loài động vật quý hiếm điển hình của bán đảo Ả Rập, trong đó có linh dương sừng thẳng Ả Rập được cho là đã tuyệt chủng vào năm 1972 nhưng đã được tìm thấy ở nơi đây vào năm 1982. Ngoài ra là các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng và các loài đặc hữu bao gồm dê núi Nubia, sói Ả rập, lửng mật, linh miêu tai đen và quần thể lớn loài linh dương núi đá Ả Rập.
Giá trị nổi bật về bảo tồn các loài sinh vật bản địa là những gì có ở Khu bảo tồn linh dương Ả Rập. Vì vậy, năm 1994, UNESCO đã đưa khu vực vào danh sách các di sản thế giới.
Nhưng sau đó, số cá thể linh dương Ả Rập đã giảm từ 450 cá thể năm 1996 xuống còn 65 cá thể do tình trạng săn bắn và môi trường sống bị thay đổi. Cùng với đó, chính phủ Oman đã lên kế hoạch và tiến hành thăm dò dầu mỏ trong khu vực bảo tồn làm phá hủy tính toàn vẹn và ảnh hưởng đến sự tuyệt chủng của một số loài động vật trong đó có linh dương Ả Rập. Vì vậy, Ngày 28 tháng 6 năm 2007, UNESCO đã loại di sản này ra khỏi danh sách di sản thế giới, và đây là di sản đầu tiên bị gỡ bỏ. | 1 | null |
Khu học chính Đặc khu Columbia (tiếng Anh: "District of Columbia Public Schools") là một học khu tại Đặc khu Columbia, Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ.
Khu học chính Đặc khu Columbia bao gồm trên 139 trong số 238 trường tiểu học và trung học công và các trung tâm học tập nằm ở Washington, DC. Những trường này gồm có các trường trước mẫu giáo đến lớp mười hai. Đến trường là bắt buộc đối với học sinh độ tuổi từ 5-18 tuổi trong khu học chính này, với độ tuổi phải nhập trường mẫu giáo từ 5 tuổi được quy định từ năm 2000. Đa số các trường thuộc quản lý của DCPS có một ngày bắt đầu mùa thu trong khoảng thời gian từ ngày 18 tháng 8 và ngày 04 tháng 9, và một ngày học kéo dài 6 giờ (trừ trường mẫu giáo nửa ngày).
Thành phần dân tộc của học sinh ghi danh vào năm 2012 là 72% là người Mỹ gốc Phi da đen, 14% là người gốc Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha (của bất kỳ chủng tộc), 10% trắng, và 4% các chủng tộc khác. Đặc khu có dân số gồm 42% là người da trắng, 51% da đen và 10% là người gốc Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha (thuộc bất kỳ chủng tộc nào). Gentrification và những thay đổi nhân khẩu học trong nhiều khu phố DC đã tăng tỷ lệ người da trắng và gốc Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha trong thành phố, trong khi dân da đen sụt giảm dân số. Trong năm 2008, DCPS có tỷ lệ 84,4% người đen, 9,4% là người gốc Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha (của bất kỳ chủng tộc nào), 4,6% da trắng, và 1,6% của các chủng tộc khác. | 1 | null |
"Pause" là một ca khúc của nam ca sĩ nhạc rap người Mỹ Pitbull nằm trong album phòng thu thứ sáu của anh, "Planet Pit". Ca khúc này được sáng tác bởi Armando C. Perez, Adrian Santalla, Abdesamad Ben Abdelouahid, Ari Kalimi, Urales Vargas và được sản xuất bởi Drop, Affect và DJ Buddha. Ca khúc đã lọt vào bảng xếp hạng New Zealand Singles Chart tại vị trí thứ 33.
"Pause" được sử dụng để quảng bá cho chương trình luyện tập sức khỏe của Zumba. Ngoài ra, "Pause" cũng là ca khúc chủ đề của video trò chơi "Zumba Fitness 2". | 1 | null |
"Fuego" là một ca khúc của nam ca sĩ nhạc rap người Mỹ Pitbull nằm trong album phòng thu thứ hai của anh, "El Mariel". Ca khúc này được sáng tác bởi Chad Butler, Crooms, William Landrón, Armando Pérez, trong khi việc sản xuất được giao cho Mr. Collipark. Phiên bản phối khí của ca khúc trong album "The Boatlift" có xuất hiện trong video trò chơi "Madden NFL 2008".
Tham gia thực hiện.
Thông tin được lấy từ ghi chú trong album "El Mariel" | 1 | null |
Hình Cảo (, ? - 529), người Hà Gian , thủ lĩnh khởi nghĩa lưu dân ở Thanh Châu cuối đời Bắc Ngụy.
Quá trình khởi nghĩa.
Ông xuất thân là địa chủ sĩ tộc, từng nhiệm chức U Châu bình bắc phủ chủ bộ.
Sau khi Đỗ Lạc Chu, Tiên Vu Tu Lễ nổi dậy, quan dân các châu Doanh, Ký lưu vong đến một dải Thanh Châu; chịu sự áp bức và kỳ thị của địa chủ, quan lại địa phương. Bọn họ đề cử Hình Cảo làm thủ lĩnh. Ông soái lưu dân đóng chiếm Mạc Thành , về sau xuống phía nam chiếm Bắc Hải . Vào tháng 6 năm Kiến Nghĩa đầu tiên (528) tại đây dựng cờ khởi nghĩa, cất quân phản Ngụy, tự xưng Hán vương, đặt niên hiệu là Thiên Thống, rất được lưu dân hưởng ứng. Trong thời gian một tuần, lực lượng đã vượt quá hơn 10 vạn hộ, tiến đánh chiếm được một số thành trì thuộc Quang Châu .
Tháng 4 năm sau, nghĩa quân bị quan quân do Thượng Đảng vương Nguyên Thiên Mục và Nhĩ Chu Triệu chỉ huy đánh bại ở Tế Nam, Hình Cảo bị bắt về Lạc Dương xử tử, khởi nghĩa cáo chung. | 1 | null |
"Vida 23" là một ca khúc của nam ca sĩ nhạc rap người Mỹ Pitbull nằm trong album phòng thu thứ năm của anh, "Armando". Ca khúc được sáng tác bởi Clinton Sparks, William Grigahcine, Armando Pérez, trong khi việc sản xuất được giao cho Clinton Sparks và DJ Snake. Pitbull đã biểu diễn ca khúc này tại lễ trao giải Giải Latin Grammy năm 2011.
Tham gia thực hiện.
Thông tin được lấy từ ghi chú trong album "Armando". | 1 | null |
Phân họ Nhàn (danh pháp khoa học: Sterninae) là một nhóm các loài chim biển thuộc họ Mòng biển (Laridae). Chim nhàn có mối quan hệ gần với mòng biển và chim xúc cá. Chúng phân bố trên toàn thế giới.
Tổng quan về hệ thống học.
Theo Sibley và Monroe (1990), các loài nhàn hợp thành một tông (Sternini) gồm 45 loài trong 7 chi ("Anous", "Procelsterna", "Gygis", "Phaetusa", "Larosterna", "Chlidonias", "Sterna"), với phần lớn các loài nhàn (32 loài) thuộc về chi "Sterna". Các hệ thống phân loại khác công nhận các loài nhàn như một phân họ (Sterninae), như trong American Ornithologist's Union, 1998, Higgins và Davies, 1996.
Hệ thống phân loại các loài nhàn nói trên dường như chịu ảnh hưởng chủ yếu từ sự sửa đổi phân loại họ Laridae của Moynihan (1959). Moynihan sử dụng kiến thức về hình thái học và tập tính để phân loại 42 loài nhàn trong 3 chi ("Anous", "Larosterna", "Sterna") với đa phần các loài thuộc chi "Sterna". Tuy nhiên, phân tích trình tự DNA đã ủng hộ quan điểm chia "Sterna" thành nhiều chi nhỏ. Trái với sửa đổi kiểu "gộp thập cẩm" của Moynihan, phân loại của Gochfeld và Burger (1996) phân chia 43 loài nhàn thành 10 chi ("Anous", "Procelsterna", "Gygis", "Phaetusa", "Gelochelidon", "Hydroprogne", "Larosterna", "Chlidonias", "Sterna", "Thalasseus") trong họ Sternidae. Các nhóm được công nhận trong cả hai hệ phân loại này chủ yếu dựa vào các tiêu chí suy đoán như bề ngoài và tập tính. Ngoài ra, việc sử dụng các phân loại dựa trên hình thái và tập tính này để hiểu thêm về sự tiến hóa các dấu vết lịch sử sự sống bị hạn chế do bất kỳ suy luận nào về tập tính hay hình thái từ những sơ đồ này đều là vòng quanh.
Đánh giá bao hàm toàn diện nhất về các mối quan hệ trong các loài nhàn có sử dụng các phương pháp có tính hệ thống là nghiên cứu kiểu hình của Schnell (1970a, b) về họ Laridae, trong đó bao gồm 42 loài nhàn. Tuy nhiên, các kết quả thu được từ nghiên cứu này khó diễn giải sang các mối quan hệ phát sinh chủng loài.
Bridge và ctv. (2005) đặt "Anous" và "Gygis" trong họ Sternidae. Ngược lại, Baker và ctv. (2007) lại thấy rằng "Anous" và "Gygis" là cơ sở đối với nhóm bao gồm các loài mòng biển (Laridae s. s.), nhóm nhàn còn lại và chim xúc cá ("Rynchops"). Trong phân tích tổng hợp của mình, Ödeen và ctv (2010) gộp "Anous", "Gygis", và có lẽ cả "Procelsterna" là cơ sở trong Laridae s.l., với một tam phân (trichotomy) giữa chim xúc cá, mòng bể và các loài nhàn còn lại. Họ cũng lưu ý rằng sự sắp xếp này có hỗ trợ yếu. Họ cũng đưa ra một cây phát sinh chủng loài dựa theo ti thể có độ hỗ trợ khá hơn một chút, trong đó đặt "Gygis" cùng nhóm với các loài nhàn khác; còn "Anous" thì cùng nhóm với mòng bể và chim xúc cá. Gần đây nhất, Jackson và ctv. (2012) xem xét nhiều gen hơn, nhưng loại bỏ nhóm gồm "Anous" và "Procelsterna". Phân tích tổng hợp sinh ra từ đó đặt nhàn trắng ("Gygis") là nhóm chị em với các loài nhàn khác, còn chim xúc cá ("Rynchops") là nhóm cơ sở. Các kết quả DNA ti thể là hơi khác một chút và đặt nhàn trắng là nhóm cơ sở, sau đó tới chim xúc cá, tiếp theo là mòng bể và các loài nhàn còn lại.
Điều này gợi ý rằng họ Laridae s. l. bao gồm 5 nhóm chính: mòng bể, nhàn, chim xúc cá, nhàn thuộc chi "Anous" và có lẽ cả chi "Procelsterna", và nhàn trắng ("Gygis"). Cho tới nay vẫn chưa có sự đồng thuận về việc chúng khớp vào cây phát sinh chủng loài như thế nào, vì thế gợi ý tốt nhất hiện tại (năm 2012) là xử lý chúng trong một ngũ phân gồm 5 phân họ là Gyginae ("Gygis"), Rynchopinae ("Rynchops"), Anoinae ("Anous" và "Procelsterna"), Sterninae và Larinae).
Tên chi "Sterna" có vẻ bắt nguồn từ tiếng Anh thượng cổ "stearn" và những người nói ngôn ngữ vùng Friesland cũng dùng từ này để gọi chim nhàn.
Phân loại.
Phân loại dưới đây lấy theo nghiên cứu DNA ti thể và Bridge & ctv (2005),:
Phát sinh chủng loài.
Cây phát sinh chủng loài của họ Laridae "sensu lato" vẽ dưới đây dựa theo các kết quả nghiên cứu đã liệt kê tại phần Tổng quan về hệ thống học. Họ Nhàn như định nghĩa trong phần Phân loại là tổ hợp của ba nhánh Sterninae + Anoinae + Gyginae.
Miêu tả.
Nhìn chung chim nhàn có kích cỡ từ vừa đến lớn với đặc thù bộ lông màu xám hoặc trắng, thường là với những vết đen trên đầu. Chúng có chiếc mỏ hơi dài và chân có màng. Cơ thể nhẹ và thuôn hơn mòng biển; hình dáng khi bay trông thanh lịch với đuôi dài và đôi cánh dài, hẹp. Nhàn thuộc chi "Sterna" có đuôi toè sâu; nhàn thuộc chi "Chlidonias" và "Larosterna" có đuôi toè nông trong khi các loài chim noddy (thuộc các chi "Anous", "Procelsterna" và "Gygis") có đuôi dạng "mũi nhọn cắt rãnh". Khối lượng và chiều dài cơ thể chim nhàn dao động từ 42 g - 23 cm của loài "Sternula antillarum" đến 630 g - 53 cm của loài nhàn Caxpia. Chúng phát ra những tiếng kêu đơn âm và chói tai.
Tập tính.
Nhiều loài nhàn sinh sản ở các vùng ôn đới là những loài chim di trú đường dài. "Nhàn Bắc Cực" ("Sterna paradisaea") di trú từ khu vực sinh sản ở vùng Bắc Cực-cận Bắc Cực đến vùng nước quanh Nam Cực và có lẽ là loài đón nhận nhiều ánh sáng ban ngày hơn bất kì loài vật nào khác. Mùa hè năm 1982, một con "Sterna paradisaea" đã được người ta gắn vòng theo dõi từ khi còn là chim non (chưa bay được) ở quần đảo Farne, ngoài khơi bờ biển Northumberland thuộc miền đông đảo Anh. Nó đã bay đến Melbourne thuộc Úc vào tháng 10 năm 1982, trải qua một hành trình trên biển dài hơn 22.000 km chỉ trong vòng ba tháng sau khi đủ lông đủ cánh, tương đương 240 km/ngày. Đây là một trong những hành trình của chim dài nhất từng được ghi nhận.
Kiếm ăn.
Đa số các loài chim nhàn (các chi "Sterna", "Anous", "Procelsterna" và "Gygis") săn cá bằng cách lặn xuống, thường là sau khi đã lượn lờ trên mặt nước. Trong khi đó, nhàn thuộc chi "Chlidonias" bắt côn trùng trên bề mặt các vùng nước ngọt. Chim nhàn bay lượn nhẹ nhàng không thường xuyên; một vài loài, điển hình là nhàn nâu ("Onychoprion fuscatus") có thể vút cao khỏi mặt biển. Ngoài việc tắm thì chim này hiếm khi bơi mặc dù chân của chúng có màng.
Sinh sản.
Nhìn chung, chim nhàn làm tổ thành từng sân chim lớn với mật độ cao (ngoại trừ loài nhàn trắng). Tuỳ thuộc vào loài và môi trường sống mà tổ chim có thể chỉ là một chỗ đất nạo không được lót trên mặt đất hay là một đám mỏng manh gồm cành cây và thực vật trôi nổi. Chim nhàn nói chung sống lâu; một vài loài có thể sống 25-30 năm. | 1 | null |
Nhàn Bắc Cực (danh pháp hai phần: "Sterna paradisaea") là một loài chim thuộc họ Nhàn. Đây là loài chim di cư một cách mạnh mẽ, chúng nhìn thấy hai mùa hè mỗi năm vì nó di chuyển từ khu vực sinh sản phía bắc dọc theo một con đường quanh co với các đại dương xung quanh Nam Cực và trở lại, một chuyến đi vòng khoảng 70.900 km mỗi năm. Loài chim này di trú từ khu vực sinh sản ở vùng Bắc Cực-cận Bắc Cực đến vùng nước quanh Nam Cực và có lẽ là loài đón nhận nhiều ánh sáng ban ngày hơn bất kì loài vật nào khác. Mùa hè năm 1982, một con nhàn Bắc Cực đã được người ta gắn vòng theo dõi từ khi còn là chim non (chưa bay được) ở quần đảo Farne, ngoài khơi bờ biển Northumberland thuộc miền đông đảo Anh. Nó đã bay đến Melbourne thuộc Úc vào tháng 10 năm 1982, trải qua một hành trình trên biển dài hơn 22.000 km chỉ trong vòng ba tháng sau khi đủ lông đủ cánh, tương đương 240 km/ngày. Đây là một trong những hành trình của chim dài nhất từng được ghi nhận.
Chúng bay theo đường zigzag từ Greenland đến Nam Cực thay vì bay thẳng một mạch, chúng bay đến châu Phi rồi sang Nam Mỹ trước khi bay lên Bắc Cực khiến đường bay làm tốn thêm hàng ngàn km, với đường bay như vòng vo này, chúng lợi dụng được sức gió và không bao giờ phải bay ngược gió.
Trung bình loài nhạn biển bắc cực này sống 30 năm và như vậy trong cuộc đời của mình, loài chim này sẽ bay tổng cộng 2,4 triệu km - tương đương với ba chuyến đi từ Trái Đất đến Mặt Trăng và trở về.
Nhàn Bắc Cực bay cũng như liệng nhẹ trong không trung, thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của chúng khi đang bay. Nó làm tổ một lần mỗi 1-3 năm (tùy thuộc vào chu kỳ giao phối của nó), một khi nó đã hoàn tất làm tổ nó lại bay lên không trung để thực hiện chuyến di cư dài về phía nam.
Chim nhàn Bắc Cực là loài chim kích thước trung bình. Chúng có chiều dài 33–39 cm và sải cánh dài 76–85 cm. Bộ lông của chúng chủ yếu có màu xám và trắng, với mỏ đỏ (dài bằng đầu, thẳng, với gonys rõ ràng) và bàn chân đỏ, trán trắng, gáy và chỏm đầu màu đen (sọc trắng), và má trắng.
Nhàn biển Bắc Cực là loài chim sống thọ, với nhiều con sống thọ đến ba mươi tuổi. Chúng ăn động vật không xương sống biển chủ yếu là cá và nhỏ. Số lượng loài này dồi dào, với ước tính khoảng 1.000.000 cá thể. Trong khi xu hướng trong số lượng loài này chưa được người ta không biết đến, khai thác trong quá khứ đã làm giảm số lượng chim này ở một vùng phía nam của phạm vi của nó.
Phân bố và di cư.
Nhàn Bắc Cực có phạm vi phân bố sinh sản quanh vòng cực, trên toàn thế giới liên tục, không có phân loài được công nhận. Nó có thể được tìm thấy ở các vùng ven biển trong các xứ ôn đới lạnh hơn của Bắc Mỹ và đại lục Á-Âu trong mùa hè miền Bắc. Trong khi trú đông trong mùa hè phía Nam, nó có thể được tìm thấy trên biển, đến rìa phía nam của băng Nam Cực.
Nhàn Bắc Cực là nổi tiếng cho việc di chuyển của nó, nó bay từ khu vực sinh sản ở Bắc Cực đến Nam Cực và ngược lại mỗi năm.
Nghiên cứu sử dụng các thiết bị theo dõi gắn vào những con chim đã được xuất bản vào tháng 1 năm 2010 và cho thấy rằng các ví dụ về đường bay dài ở trên thực tế không phải bất thường đối với loài chim này, 11 con nhàn Bắc Cực giao phối trong Greenland hoặc Iceland mỗi con bay 70.900 km trên trung bình trong một năm, với độ dài đường bay tối đa 81.600 km. Sự khác biệt từ ước tính trước đây là do loài nhàn này được tìm thấy bay vòng để tận dụng gió. Nhàn Bắc Cực sinh sống trung bình khoảng hai mươi năm, và sẽ bay trong suốt đời nó tổng cộng chiều dài 2,4 triệu km (1,5 triệu dặm).
Nhàn Bắc Cực thường di chuyển ngoài khơi xa. Do đó, chúng hiếm khi được nhìn thấy từ đất bên ngoài mùa sinh sản. | 1 | null |
Umi ga Kikoeru (海がきこえる) là bộ phim amine do hãng Studio Ghibli thực hiện với sự đạo diễn của Mochizuki Tomomi và Nakamura Kaori viết kịch bản. Bộ phim được chuyển thể từ bộ tiểu thuyết cùng tên của Himuro Saeko. Bộ phim không công chiếu ở các rạp trong lần đầu ra mắt mà phát sóng trên truyền hình vào ngày 05 tháng 5 năm 1993 ở kênh Nippon TV như một chương trình phát sóng đặc biệt chuẩn bị cho sự ra mắt phần hai của bộ tiểu thuyết.
Studio Ghibli đã để những nhân viên trẻ nhất trong hãng thực hiện bộ phim này với dự định để họ có kinh nghiệm cũng như kinh phí thực hiện sẽ thấp. Tuy nhiên kinh phí lại vượt quá dự định và thời gian thực hiện lâu hơn dự tính.
Sơ lược cốt truyện.
The Ocean Waves (hay I Can Hear The Sea) lấy bối cảnh Kochi, một thị trấn cảng nhỏ nằm bên bờ biển, thanh bình và yên tĩnh, với câu chuyện tình yêu của tuổi học trò. Cốt truyện khá đơn giản: trên đường trở về quê hương tham dự buổi họp lớp cũ, Morisaki bất chợt nhìn thấy một cô gái rất giống người bạn học cũ - Rikako. Chính điều này đã gợi Morisaki nhớ lại kỷ niệm cũ thời điểm mà một cô gái đến từ Tokyo bất ngờ chuyển đến học... Toàn bộ câu chuyện chỉ xoay quanh 3 nhân vật chính: Taku Morisaki; Yutaka Matsuno; Rikako Muto.
Sản xuất.
Bộ phim amine được thực hiện với sứ chỉ đạo của Studio Ghibli nhưng hầu hết các hiệu ứng chuyển động được thực hiện với sự cộng tác của các hãng J.C.Staff, Madhouse Studios và Oh! Production những hãng đã cùng hợp tác với Ghibli trong các dự án trước đó.
Đây là bộ phim đầu tiên của Ghibli không do Miyazaki Hayao hay Takahata Isao đạo diễn. Và Mochizuki Tomomi được chọn vào vị trí đạo diễn. Bộ phim là dự án nỗ lực của các nhân viên trẻ hoàn toàn của hãng trong độ tuổi từ 20 đến 30. Phương châm để làm bộ phim này là "Rẻ, lẹ và chất lượng", tuy nhiên phim có kinh phí vượt quá dự định và thời gian thực hiện lâu hơn dự tính để đạt được chất lượng.
Phát hành.
Bộ phim không công chiếu ở các rạp trong lần đầu ra mắt mà phát sóng trên truyền hình vào ngày 05 tháng 5 năm 1993 ở kênh Nippon TV như một chương trình phát sóng đặc biệt chuẩn bị cho sự ra mắt phần hai của bộ tiểu thuyết. Anime sau đó đã được phát hành thành phiên bản DVD.
Disney đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của phim anime để phát hành ra thị trường quốc tế và Bắc Mỹ với lần phát hành đầu tiên do chi nhánh Buena Vista Home Entertainment đảm nhiệm vào tháng 6 năm 2002 trong loạt phát hành các tác phẩm của Ghibli có tên "Studio Ghibli Collection". Ngoài ra phim cũng được đăng ký phát hành ở các nước khác như Madman Entertainment đăng ký tại Úc và New Zealand, Optimum Releasing đăng ký tại Anh, Universum-Films tại Đức, Pan Vision tại Thụy Điển, Aurum tại Tây Ban Nha và Deltamac tại Đài Loan.
Album chứa các bản nhạc dùng trong phim đã phát hành vào ngày 01 tháng 5 năm 1993. | 1 | null |
Nhàn Nam Cực (danh pháp hai phần: "Sterna vittata") là một loài chim thuộc họ Nhàn. Nó phân bố trên khắp các đại dương phía Nam. Nó có bề ngoài rất tương tự xuất hiện liên quan chặt chẽ nhàn Bắc Cực, nhưng là chắc nịch hơn, và mũi cánh có màu xám thay vì đen khi đang bay. Điều đó tất nhiên là bộ lông trong mùa sinh sản trong mùa hè phía Nam, khi nhàn Bắc Cực đã thay bộ lông sang bộ lông không phải trong mùa sinh sản của chúng (mặc dù điều này không phải là hữu ích cho việc tách nó ra từ một loài khác, nhàn Nam Mỹ).
Mùa sinh sản diễn ra từ giữa tháng mười đầu tháng mười hai. Chim con nở từ tháng 12-tháng 2. Skua là những kẻ săn mồi chủ yếu ăn trứng chim và chim non loài này.
Tổng dân số toàn cầu của loài chim này là khoảng 140.000 cá thể. | 1 | null |
Nhàn (tên tiếng Anh: common tern, danh pháp hai phần: "Sterna hirundo") là một loài chim thuộc họ Nhàn. Loài chim này có một phân bố quanh cực, bốn phân loài sinh sản ở các vùng ôn đới và cận Bắc Cực của châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ. Là loài di trú mạnh mẽ, chúng trú đông ở các vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bộ lông con trưởng thành sinh sản có trên lưng màu xám sáng đến, dưới có màu trắng đến xám sáng, chỏm đầu màu đen, chân màu đỏ da cam, và mỏ hẹp nhọn. Tùy thuộc vào các phân loài, các mỏ có thể chủ yếu là màu đỏ với một đầu màu đen hoặc hoàn toàn màu đen. | 1 | null |
Holland
Hà Lan (tiếng Anh: "Holland") là một vùng nằm ở phía tây của nước Hà Lan (tiếng Anh: "Netherlands"). Khái niệm "Holland" thường được dùng để chỉ toàn bộ đất nước Hà Lan, nhưng một phần người dân Hà Lan, đặc biệt là tại các vùng khác (ngoài vùng Holland) không thích cách dùng này. | 1 | null |
Việt Khang (tên thật: Võ Minh Trí, sinh năm 1978 tại Tiền Giang) là một nhạc sĩ, ca sĩ và nhà bất đồng chính kiến Việt Nam.
Sáng tác nhạc.
Ngoài tên Việt Khang, nhạc sĩ còn dùng tên Minh Trí khi sáng tác nhạc. Ngoài 2 tác phẩm "Anh là ai" và "Việt Nam Tôi Đâu" có tiếng trong cộng đồng người Việt khắp thế giới, Việt Khang còn có 2 bài đã được thu âm là "Bạn Thân" được trình bày bởi Đan Trường và "Bà Má Miền Tây" được trình bày bởi Lý Hải.
Hoạt động đối kháng.
Việt Khang tham gia hội "Tuổi Trẻ Yêu Nước" để "tranh đấu" cho "quyền làm chủ đất nước" của người dân Việt Nam. Năm 2011, có cảm xúc trước việc nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp những cuộc biểu tình của thanh niên học sinh chống Trung Quốc xâm lấn biển đảo của Việt Nam, anh sáng tác hai bài: "Anh là ai?" và "Việt Nam tôi đâu?", sau đó tự trình diễn rồi để lên Youtube.
Anh bị bắt vào tháng 9/2011, cầm tù một thời gian, được thả ra, rồi bị bắt lại 2 tháng sau đó vào tháng 12 năm 2011. Sau đó, nhạc sĩ Trúc Hồ qua Đài Truyền hình SBTN phát động phong trào "Triệu con tim, một tiếng nói" và vận động người dân ký thỉnh nguyện thư kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ can thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam để trả tự do cho tất cả những người đấu tranh cho dân chủ. Phong trào được cộng đồng người Việt tại Mỹ hưởng ứng với hơn 150 ngàn chữ ký.
Ngày 30 tháng 10 năm 2012, nhạc sĩ bị tuyên án 4 năm tù, và 2 năm quản chế; người bạn của anh, Trần Vũ Anh Bình, bị tuyên án 6 năm và 2 năm quản chế trong cùng phiên tòa về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự. Trao đổi với BBC, luật sư Trần Vũ Hải cho biết cơ sở để bên công tố buộc tội nhạc sĩ Việt Khang tội "Tuyên truyền chống Nhà nước" là gắn với hai bài hát "Việt Nam tôi đâu?" và "Anh là ai?", thêm với việc Việt Khang tham gia vào một tổ chức chống chính quyền có tên gọi "Tuổi trẻ yêu nước".
Năm 2014, anh đã được Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao tặng Giải Nhân quyền Việt Nam cùng với bạn của anh, nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình.
Ngày 14 tháng 12 năm 2015, anh mãn án tù và được trở về nhà tại Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 8 tháng 2 năm 2018, Việt Khang rời Việt Nam sang Hoa Kỳ, nhờ sự can thiệp của chính phủ Hoa Kỳ. Cũng trong dịp này, nhạc sĩ Trúc Hồ công bố xác nhận thêm rằng, hai bài hát "Trả lại cho dân" (sáng tác dưới tên Duy Quốc Nam) và "Con đường Việt Nam" (sáng tác dưới biệt hiệu Người Tù Lương Tâm) là do Việt Khang sáng tác. Sở dĩ có tên hai tác giả này là vì khi ở trong tù, Việt Khang gửi bản nhạc ra bên ngoài cho Trúc Hồ, họ đã giữ kín thông tin về tên tác giả để bảo đảm an toàn cho Việt Khang. | 1 | null |
Tống Dương công (chữ Hán: 宋煬公), tên thật là Tử Hi (子熙), là vị vua thứ sáu của nước Tống – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.
Tử Hi là con thứ của Tống Đinh công – vua thứ 4 nước Tống và em của Tống Mẫn công – vua thứ 5 nước Tống. Sau khi Tống Mẫn công mất, Tử Hi lên nối ngôi, tức là Tống Dương công.
Tống Dương công lên ngôi một thời gian, con của vua anh Tống Mẫn công là công tử Tử Phụ Tự cho rằng mình mới đáng được lập. Vì vậy Phụ Tự giết chết ông để giành ngôi vua. Không rõ đó là thời điểm nào.
Tử Phụ Tự lên làm vua, tức là Tống Lệ công. | 1 | null |
Sticky & Sweet Tour là chuyến lưu diễn thứ tám của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna để quảng bá cho album phòng thu thứ tám của cô, "Hard Candy" (2008). Chuyến lưu diễn được bắt đầu vào tháng 8 năm 2008. Đây là chuyến lưu diễn đầu tiên của cô với hãng thu âm Live Nation. Chuyến lưu diễn được thông báo vào tháng 2 năm 2008, với thời gian và địa điểm tổ chức tại Bắc Mỹ và Liên hiệp Anh. Mặc dù đã lên kế hoạch, song chuyến lưu diễn không được tổ chức tại Úc do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính. Nhà thiết kế thời trang Arianne Phillips được giao trách nhiệm thiết kế quần áo, cùng với các nhà tạo mẫu và thương hiệu khác. Các màn trình diễn theo như kế hoạch ban đầu sẽ giống với chuyến lưu diễn Confessions Tour năm 2006. Sau đó, đến năm 2009, Madonna chỉnh sửa lại các màn trình diễn, trong đó bao gồm những ca khúc từ rất lâu.
Chuyến lưu diễn được miêu tả là "một cuộc hành trình nhạc nhảy đầy sôi động". Nó được chia làm bốn phần chính: "Pimp", phần trình diễn các ca khúc liên quan tới S&M (như "Erotica"); "Old School", phần trình diễn các ca khúc cổ điển của Madonna, đồng thời cũng gợi lên những tác phẩm của các nghệ sĩ đã mất như Keith Haring; "Gypsy", phần trình diễn nhạc dân gian Romania và nhạc dance; và "Rave", phần trình diễn các ca khúc có ảnh hưởng từ phương Đông. Chuyến lưu diễn kết thúc khi Madonna hát cùng với những fan hâm mộ. Đến năm 2009, Madonna thêm vào chuyến lưu diễn một số ca khúc của Michael Jackson để tưởng nhớ ông. Chuyến lưu diễn nhận được những ý kiến tích cực từ giới phê bình.
Sticky & Sweet Tour đã phá nhiều kỷ lục về số vé bán, độ tăng doanh thu và số lượt khán giả. Sau năm 2008, đây là chuyến lưu diễn có doanh thu về nhanh nhất, với 282 triệu đô la Mỹ, phá vỡ kỷ lục trước đó do chính cô tạo ra là Confessions Tour. Tổng thể, Madonna đã trình diễn trước hơn 3,5 triệu người hâm mộ tại 32 quốc gia, thu về 408 triệu đô la Mỹ. Đây là chuyến lưu diễn có doanh thu lớn thứ tư mọi thời đại, và là chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất mọi thời đại bởi một ca sĩ hát đơn. Tại Giải Billboard Touring năm 2009, chuyến lưu diễn này thắng giải ở hạng mục Chuyến lưu diễn hàng đầu.
Bối cảnh.
Chuyến lưu diễn chính thức được xác minh vào ngày 8 tháng 5, năm 2008 bởi Guy Oseary, quản lý của Madonna và Arthur Fogel, chủ tịch của hãng đĩa Live Nation. Tạp chí "Billboard" xác nhận rằng chuyến lưu diễn sẽ được khởi động vào ngày 23 tháng 8 năm 2008 tại Cardiff, Xứ Wales, với các màn trình diễn giống với trong năm. Nó được đặt tên là "Sticky & Sweet Tour" và được lên kế hoạch sẽ tổ chức tại 3 châu lục trong 50-60 ngày. Chuyến lưu diễn được sản xuất trên toàn cầu bởi hãng đĩa Live Nation và quảng bá cho album phòng thu "Hard Candy" của Madonna. Chuyến lưu diễn được miêu tả là "một cuộc hành trình nhạc nhảy đầy sôi động" và được chia làm bốn phần chính: "Pimp" là phần trình diễn các ca khúc liên quan tới S&M, "Old School" là phần cho các ca khúc đã lâu (khoảng thập niên 80) nhằm tưởng nhớ các nghệ sĩ đã mất như Keith Haring, "Gypsy" trình diễn các điệu nhảy dân gian của Romania và nhạc dance, và "Rave" trình diễn các ca khúc có ảnh hưởng từ phương Đông.
Vào ngày 30 tháng 1 năm 2009, Madonna thông báo quyết định tiếp tục chuyến lưu diễn vào mùa hè năm 2009, với hơn 25 chuyến tại châu Âu. Phần thứ hai của chuyến lưu diễn được bắt đầu ngày 4 tháng 7 tại The O2 Arena tại Luân Đôn, Liên hiệp Anh, sau hai tuần khuấy động tại Tel Aviv, Israel. Các ngày còn lại, Madonna sẽ trình diễn các ca khúc mà đã lâu Madonna chưa biểu diễn, theo Fogel.
Danh sách bài hát.
Nguồn: | 1 | null |
Kindu là thành phố ở Cộng hòa Dân chủ Congo, tỉnh lỵ của tỉnh Maniema. Thành phố có dân số khoảng 200.000 người, tọa lạc bên sông Congo ở độ cao khoảng 500 mét trên mực nước biển và có cự ly 400 km về phía tây Bukavu.
Kindu được kết nối đường sắt với Kalemie, Kamina và Kananga. Thành phố có một sân bay với đường băng dài 2200 mét. Đường bộ ở Maniema ở tình trạng tồi tệ. Thành phố này đã từng là một trung tâm ngà voi, vàng và buôn bán nô lệ trong thế kỷ 19. Các nhà buôn Ả Rập-nguwif Swahili đã đóng cơ sở ở đây vào khoảng năm 1860. | 1 | null |
Lopé-Okanda là khu vực bảo vệ nằm ở trung tâm Gabon. Được thành lập vào năm 2002, vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2007. Nó được thành lập dựa trên "Khu bảo tồn động vật hoang dã Lopé-Okanda" thành lập từ năm 1946, là khu vực được bảo vệ đầu tiên ở Gabon.
Lãnh thổ của khu vực này đặc trưng bởi những cánh rừng mưa nhiệt đới rộng lớn với sự đa dạng sinh học đáng chú ý cả về động thực vật. Đây là nơi có một số loài động vật có vú lớn đang có nguy cơ tuyệt chủng như Khỉ đột phía tây và Voi rừng châu Phi. Phía bắc đặc trưng bởi thảo nguyên rộng lớn được hình thành khoảng 15.000 năm trước trong thời kỳ băng hà cuối cùng.
Lopé-Okanda là nơi có sự hiện diện của những dấu tích con người cổ đại với khoảng 1.800 bản khắc đá trong hang động, nhà ở và nhiều cổ vật có niên đại từ Thời đại đồ đá mới và Thời đại đồ sắt, bằng chứng trực tiếp về một tuyến đường di cư do hậu quả của sự biến đổi khí hậu sau khi băng hà đã khiến một nhóm dân cư người Bantu di chuyển về các khu rừng phía bắc Congo sau đó mở rộng về phía bắc và phía nam châu Phi.
Địa lý.
Khu vực này nằm tại Ogoué-Ivindo và Ogoué-Lolo, Gabon. Cảnh quan văn hóa Lopé-Okanda được tạo thành bởi Vườn quốc gia Lopé và Khu bảo tồn Okanda được thành lập vào năm 1946 nằm ở thung lũng sông Ogooué.
Văn hóa.
Địa điểm này là ví dụ điển hình cho quá trình sinh sống của các dân tộc ở Tây Phi, họ sinh sống và trú ẩn xung quanh các ngọn đồi, các hang động dọc theo thung lũng sông Ogooué. Lope-Okanda nổi bật với 1.800 bức tranh đá trạm khắc thời đại đồ đá mới đến thời đại đồ sắt, kéo dài 400.000 năm lịch sử phản ánh cuộc sống và di cư của người Bantu và các dân tộc khác ở Tây Phi, ảnh hưởng và lan đến tận phía Bắc Sahara, Nam Phi và Trung Đông. Họ lao động với công việc chủ yếu là nông nghiệp, săn bắt, chăn nuôi và sinh sống trú ẩn trong các hang động và các sườn đồi.
Thiên nhiên.
Đây là hệ sinh thái đa dạng với môi trường đồng cỏ thảo nguyên cuối cùng còn lại của thời kỳ băng hà cách đây 15.000 năm, các khu rừng mưa nhiệt đới. Hệ động thực vật vô cùng phong phú, bao gồm nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cao, đặc biệt là các loài linh trưởng gồm Tinh tinh, Khỉ đột phía tây, Khỉ mặt chó, Khỉ đuôi chó, Khỉ Colobus đen, Vượn gấu. Các loài động vật ăn cỏ lớn khác gồm Voi rừng châu Phi, Hà mã, Lợn biển Tây Phi, Trâu rừng rậm châu Phi, Linh dương Sitatunga, Linh dương trung Phi. Các loài thú săn như Báo châu Phi, Beo vàng châu Phi, Chó hoang châu Phi. Ngoài ra, tại đây còn có nhiều loài chim đáng chú ý gồm Cắt nhỏ, Chim hói đầu cổ xám, Kền kền đầu trắng, Ó biển Cape. | 1 | null |
Meroë (; còn được gọi là "Meroe"; tiếng Meroe: "Medewi" hoặc "Bedewi"; Ả Rập: và "Meruwi"; Hy Lạp cổ đại: , "Meróē") là một thành phố cổ bên bờ đông của sông Nin, khoảng 6 km về phía đông bắc của ga Kabushiya, gần thị trấn Shendi và khoảng 200 km về phía đông bắc Khartoum, Sudan. Gần khu vực là một nhóm các làng được gọi là Bagrawiyah. Thành phố này là thủ đô của Vương quốc Kush trong nhiều thế kỷ. Vương quốc Kushitic của Meroë đã đặt tên là "Đảo của Meroë" cho khu vực Butana hiện đại, một khu vực được bao bọc bởi sông Nin (đoạn từ Sông Atbarah đến Khartoum), Atbarah và Nin Xanh. | 1 | null |
Khu học chánh quận Montgomery (tiếng Anh: "Montgomery County Public Schools") (MCPS) là một học khu phục vụ quận Montgomery, tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ. Đây là học khu lớn nhất ở Maryland. Năm học 2009–2010 học khu này có 11.500 giáo viên toàn thời gian giảng dạy 141.777 học sinh ở 200 trường họ.
Học sinh ở học khu này có điểm số nằm trong nhóm hàng đầu ở Hoa Kỳ về các kỳ thi Advanced Placement. Giám đốc là TS. Joshua P. Starr, người đã được thuê tháng 7 năm 2011 sau khi vị giám đốc cũ TS. Jerry Weast nghỉ hưu. | 1 | null |
Đại lộ là một con đường rộng lớn, có bốn làn xe trở lên, thường có dải bê tông phân cách . Trên dải phân cách thường trồng cây cỏ. Đại lộ thường được bố trí dọc theo các bờ sông, bãi biển, hai bên có vỉa hè rộng rãi dành riêng cho người đi bộ. Trên đại lộ thường đặt các đài kỷ niệm, các tác phẩm điêu khắc, đài phun nước, sân chơi cho trẻ em, sân chơi thể thao, quán cà phê hay quầy hàng mua sắm.
Sách tiếng Việt vào đầu thế kỷ 20 còn dùng chữ thông cù để gọi loại đường lớn này.
Đại lộ danh tiếng.
Paris, Pháp: Đại lộ Champs-Élysée. Hoa Kỳ: Đại lộ Danh vọng Hollywood
Ở Việt Nam có Đại lộ Nguyễn Huệ ở trung tâm Sài Gòn rộng 60 mét; Đại lộ Đông Tây ở phía nam. Hà Nội thì có Đại lộ Thăng Long. | 1 | null |
Auxin là hormone kích thích sự phát triển của thực vật.
Lịch sử.
Năm 1880, Darwin đã phát hiện rằng bao lá mầm của cây họ lúa rất nhạy cảm với ánh sáng. Nếu chiếu sáng một phía thì gây ra quang hướng động, nhưng nếu che tối hoặc bỏ đỉnh sinh trưởng thì hiện tượng trên không xảy ra. Ông cho rằng: đỉnh ngọn bao lá mầm là nơi tiếp nhận kích thích ánh sáng, đã sinh ra một chất nào đấy liên quan đến hiện tượng trên. Sau đó Paal (1919) và Went (1928) đã chứng minh được sự tồn tại của chất này.
Năm 1926, Frits Went (người Hà lan), làm thí nghiệm cắt ngọn của diệp tiêu và đặt ngọn này lên một khối agar trong chừng một giờ là được chiếu sáng. Sau đó đặt khối agar không có diệp tiêu này lên phần diệp tiêu còn lại. Phần diệp tiêu này tiếp tục tăng trưởng mọc cong về phía chiếu sáng và nếu đặt khối agar lệch trục diệp tiêu thì diệp tiêu cũng mọc cong ngay cả trong tối. Khối agar kiểm chứng không gây một hiệu quả nào. Rõ ràng rằng có một chất kích thích sinh trưởng đã khuếch tán từ phần ngọn diệp tiêu vào khối agar và khi đặt khối agar này lên phần diệp tiêu còn lại thì chất này được di chuyển xuống và kích thích sự tăng dài. Went gọi chất này là auxin.
Đến năm 1934, giáo sư hóa học Kogl người Hà Lan và các cộng sự đã tách ra một chất dịch chiết nấm men có hoạt tính tương tự chất sinh trưởng thực vật này. Năm 1935, Thimann cũng tách được chất này từ nấm Rhyzopus. Người ta xác định được bản chất hóa học của nó là β-axit indol axetic (AIA).
Tác dụng sinh lý.
Auxin có tác dụng tốt đến các quá trình sinh trưởng của tế bào, hoạt động của tầng phát sinh, sự hình thành rễ, hiện tượng ưu thế ngọn, tính hướng động của thực vật, sự sinh trưởng của quả và tạo ra quả không hạt...
Auxin kích thích sự sinh trưởng giãn của tế bào. Nhưng nếu kích thích với hàm lượng quá cao, tác dụng quá mạnh sẽ xảy ra hiện tượng ức chế ngược trở lại, lúc này auxin sẽ trở thành chất ức chế.
Cơ chế tác dụng.
Auxin ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của sự lớn mạnh và phát triển của thực vật, bao gồm sự mở rộng của tế bào, ức chế sự phát triển của các chồi phụ và sự đâm rễ. Các auxin tổng hợp được dùng trong loại bột làm cho bén rễ để chiết cành, và được dùng trong một số thuốc diệt cỏ, nơi mà nồng độ auxin cao sẽ tạo ra sự phát triển hết sức nhanh chóng làm cây cỏ tàn lụi đi. Chúng còn dùng để ngăn cản sự rụng trái.
Auxin có vai trò quan trọng trong sự kiểm soát sự tăng dài của tế bào. Vì tế bào thực vật có vách bao bọc, nên tế bào chỉ có thể tăng trưởng được khi vách có thể được kéo dài ra. Vách được cấu tạo bởi phần lớn là đường đa mà thành phần chính là cellulose. Ở vách sơ cấp, cellulose hiện diện dưới dạng những sợi dài liên kết với các đường đa khác để tạo ra một mạng lưới. Khi tăng trưởng các liên kết có thể bị đứt tạm thời, do đó vách tế bào trở nên đàn hồi (nới rộng) hơn và những vật liệu mới được chen vào. Auxin có vai trò chính trong cả hai quá trình trên.
Ảnh hưởng của auxin trên sự đàn hồi hóa của vách xảy ra nhanh chóng (khoảng 10 phút). Theo giả thuyết về sự tăng trưởng acid, auxin có ảnh hưởng gián tiếp bằng cách acid hóa vách tế bào. Auxin điều tiết pH của vách tế bào bằng cảm ứng sự vận chuyển tích cực ion H+ từ tế bào chất vào vách tế bào. pH acid hoạt hóa enzyme trong vách, bẻ gãy các liên kết chéo giữa các sợi cellulose. Các sợi lỏng lẻo làm tế bào trở nên đàn hồi hơn.
Môi trường trong tế bào ưu trương hơn so với dịch lỏng bên ngoài tế bào, và nước đi vào trong tế bào bởi sự thẩm thấu, tạo ra một áp suất trương bên trong tế bào. Khi vách trở nên đàn hồi hơn chúng dễ dàng được kéo căng ra. Nước tiếp tục đi vào tế bào bằng sự thẩm thấu, làm gia tăng thể tích tế bào nhưng sự gia tăng kích thước này không có sự tổng hợp ra tế bào chất mới.
Ảnh hưởng của auxin trên sự căng vách, thêm vào các vật liệu mới vào thì chậm hơn vì vách này tùy thuộc vào sự kích động của một số gen, sự tổng hợp những mARN chuyên biệt, để tổng hợp các enzim xúc tác tạo thêm những đơn vị đường đa vào vách tế bào. Khi tế bào được cung cấp auxin, nó hoạt hóa bơm ion H+ trên màng sinh chất. Ion H+ được vận chuyển tích cực từ tế bào chất vào trong vách. Sự gia tăng ion H+ hoạt hóa enzim bẻ gãy một số liên kết chéo giữa các đường đa cấu tạo vách và vách trở nên mềm dẻo hơn. Vì nước vào không bào càng lúc càng nhiều vách sẽ bị căng ra, nhưng chỉ theo một hướng. Hầu như không có sự tổng hợp tế bào chất mới trong suốt thời gian tăng trưởng theo kiểu này. Sự gia tăng thể tích tế bào là do sự phát triển của không bào. Các không bào nhỏ hòa vào nhau thành một không bào to duy nhất, có thể chiếm tối đa 97% thể tích tế bào; ở tế bào trưởng thành dãy tế bào chất ở ngoại biên chỉ chiếm 10% thể tích tế bào.
Sinh tổng hợp auxin.
Ở thực vật bậc cao, auxin được tổng hợp chủ yếu ở đỉnh ngọn chồi và từ đó được vận chuyển xuống dưới (hướng gốc).
Ngoài đỉnh ngọn, các cơ quan khác như lá non, quả non, phôi hạt đang sinh trưởng và cả tầng phát sinh cũng có khả năng tổng hợp auxin.
Tiền chất của AIA là amino acid triptophan.
Sự phân hủy auxin.
Là một quá trình quan trọng điều chỉnh hàm lượng auxin trong cây. Auxin trong cây sau khi sử dụng xong hay dư thừa sẽ bị phân hủy thành sản phẩm không có hoạt tính sinh lý. Sự phân hủy có thể bằng enzyme auxin oxydase hay bằng quang oxy hóa. | 1 | null |
Punk rock (hay gọi ngắn là punk) là thể loại nhạc rock đã phát triển từ năm 1974 đến 1976 tại Hoa Kỳ, Anh, và Úc. Bắt nguồn từ garage rock và các hình thức khác nay được gọi là nhạc protopunk, các ban nhạc punk rock né tránh sự thái quá nhận thức của nhạc rock đại chúng thập niên 1970. Các ban nhạc punk làm ra thứ âm nhạc nhanh, sắc bén, thường là với những bài hát ngắn, các nhạc cụ không rườm rà, và chủ đề thường là chính trị, đối lập hẳn với ý thức hệ thời đại đương thời. Punk bao gồm tinh thần DIY (do-it-yourself), nhiều ban nhạc tự sản xuất bản ghi âm và phân phối chúng bằng các hình thức không chính thức.
Thuật ngữ "punk" lần đầu tiên được sử dụng liên quan đến nhạc rock của một số nhà phê bình Mỹ vào đầu năm 1970, để mô tả các ban nhạc garage và những người hâm mộ họ. Tiền khởi của punk bao gồm từ âm hưởng huyên náo nguyên thủy của ban The Velvet Underground, âm thanh tần suất lớn với phong cách giận dữ của "giai cấp lao động" của The Who, kiểu guitar cường độ lớn của MC5 và the Stooges, phong cách lưỡng tính của New York Dolls (ảnh hưởng từ David Bowie và Roxy Music). Dĩ nhiên khi punk phát triển, nó tự chuyển biến hình thành vô số nhánh rẽ thống trị, gây ảnh hưởng và lai tạp với các thể loại reggae, bubblegum giữa 60, tiền psychedelic, art rock, free jazz và các dòng âm nhạc cụ thể. Theo nghĩa đen mọi thứ đều thích hợp để cân bằng. Đến cuối năm 1976, các ban nhạc như Ramones ở New York, Sex Pistols và The Clash ở Luân Đôn đã được công nhận là đội tiên phong của một phong trào âm nhạc mới. Một năm sau, punk rock lan rộng trên khắp thế giới, và nó đã trở thành một hiện tượng văn hóa lớn ở Vương quốc Anh. Đối với hầu hết các khu vực, punk bắt rễ trong những vùng địa phương có xu hướng từ chối gắn kết với xu thế chủ đạo (mainstream). Một nét tiển văn hóa punk liên quan xuất hiện, thể hiện nổi loạn trẻ trung và đặc trưng bởi phong cách đặc biệt của quần áo và đồ trang sức và một loạt các hệ tư tưởng chống độc tài.
Trong thời kỳ thuần chất nhất của xúc cảm punk, từ 1975 - 1978, là khoảng thời gian có thể coi là thời khắc phong phú nhất. Dù cho thời gian thống trị ngắn ngủi, nhưng phong cách punk vẫn duy trì cho những ban nhóm dưới cái tên bớt phiền toái hơn. Vẫn lưu giữ tác động của nó trong thập niên 90, Punk độc lập hồi sinh và bước đầu được hiện diện chính thức trên nhãn hiệu đĩa thu /được hợp pháp hóa cho giới báo chí bí mật / được coi là một phong cách mới cho các nhà phê bình âm nhạc.
Đến đầu những năm 1980, các phong cách nhanh hơn, mạnh mẽ hơn như hardcore (như Black Flag) và Oi! (như Cock Sparrer) đã trở thành phong cách chiếm ưu thế của punk rock. Các nhạc sĩ xác định lấy cảm hứng từ nhạc punk cũng theo đuổi một loạt các biến thể khác, dẫn đến việc nổi lên của post-punk và phong trào alternative rock. Sang cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21, pop punk thành thành xu thế chủ đạo, khi các ban nhạc như Green Day, Rancid, Sublime, the Offspring và Blink-182 mang thể loại phổ biến rộng rãi. | 1 | null |
Cá voi răng thuổng (danh pháp khoa học: "Mesoplodon traversii") là một loài cá voi có răng. Nó là loài cá voi ít được biết đến (và thuộc một trong những loài hiếm). Nó được đặt tên lần đầu từ một phần hàm được tìm thấy ở trên đảo Pitt (New Zealand) năm 1872, được báo cáo và minh họa năm 1873 bởi James Hector, và đã được mô tả năm sau bởi John Edward Gray, người đã đặt tên nó để vinh danh Henry Hammersley Travers, nhà sưu tập. Nó cuối cùng đã được gộp với cá voi răng dây đeo, bắt đầu sớm nhất là năm 1878 (năm 1878 Hector, người không bao giờ coi mẫu vật là khác biệt). Một vòm sọ được tìm thấy trong thập niên 1950 tại đảo White (New Zealand) ban đầu vẫn còn chưa được mô tả, nhưng sau đó được tin là từ một con cá voi mũi khoằm răng quạt.
Năm 1986, một vòm sọ bị hư hỏng đã được tìm thấy cuốn lên trên đảo Robinson Crusoe (Chile), và được mô tả như là một loài mới, Mesoplodon bahamondi hoặc cá voi mũi khoằm Bahamonde.
Trong tháng 12 năm 2010, hai mẫu vật, một con cái và một con non, đã được tìm thấy mắc kẹt trên bãi biển Opape, vịnh Plenty, New Zealand. Chúng đã được xác định là cá voi mũi khoằm Gray, nhưng phân tích sau đó di truyền cho thấy rằng chúng đại diện cho các mẫu vật hoàn chỉnh 1 của các con cá voi răng thuổng. Sau này tìm thấy, một báo cáo mô tả những con cá voi răng thuổng và phân tích một DNA của chúng sau xuất hiện trong bài báo ngày 6 tháng 11 năm 2012 của tạp chí "Current Biology".
Kết quả Các kết quả của so sánh trình tự DNA và hình thái đã cho thấy cả ba tìm thấy đến từ cùng một loài, do đó được gọi là đúng "M. traversii". Hình dáng bên ngoài chỉ được mô tả vào năm 2012, và nó có thể sẽ là loài động vật có vú lớn ít được người ta biết nhất thời hiện đại. | 1 | null |
Đậu Thái (chữ Hán: 窦泰, 500 – 537) là tướng lãnh nhà Đông Ngụy trong lịch sử Trung Quốc.
Xuất thân.
Ông tự Ninh Thế hoặc Thế Ninh, người dân tộc Tiên Ti, có hộ tịch ở huyện Hãn Thù, quận Đại An . Họ Đậu của người Tiên Ti được đổi từ họ Hột Đậu Lăng (纥豆陵) trong quá trình Hán hóa của nhà Bắc Ngụy. Họ Hột Đậu Lăng tự nhận là 1 nhánh của sĩ tộc họ Đậu vào đời Đông Hán, vì thế các sử liệu đều chép nguyên quán của Thái là huyện Quan Tân, quận Thanh Hà .
Ông cụ hoặc ông nội là Đậu La , được làm Thống Vạn trấn tướng nhà Bắc Ngụy, nhân đó định cư ở bắc biên. Cha là Đậu Nhạc, gặp khởi nghĩa Lục trấn, giúp Hoài Sóc trấn tướng Dương Quân cố thủ, kết quả bị giết. Sau này Thái hiển quý, Nhạc được tặng quan Tư đồ.
Sự nghiệp.
Đến khi trưởng thành, Thái giỏi cưỡi ngựa bắn cung, có sức mạnh và mưu lược. Cha anh của Thái đều tử trận ở trấn, ông vác hài cốt theo về với Nhĩ Chu Vinh. Ban đầu Thái được làm Tương uy tướng quân, Trướng nội đô tướng. Nhĩ Chu Vinh mượn danh nghĩa "thanh quân trắc" tiến về Lạc Dương (528), Thái được bái làm Ninh viễn tướng quân, Hổ bôn trung lang tướng, Tiền phong đô đốc. Hiếu Trang đế yên vị ở Lạc Dương, Thái nhờ công tham gia phù lập, được trừ làm Xạ Thanh hiệu úy, Gián nghị đại phu.
Năm sau (529), Thái tham gia đánh dẹp nghĩa quân Hình Cảo, được bái làm Phụ quốc tướng quân, Kiêu kỵ tướng quân, Quảng A huyện Khai quốc tử, thực ấp 300 hộ. Cao Hoan được làm Tấn Châu thứ sử, xin lấy Thái làm Trấn thành đô đốc, cho ông tham mưu quân sự. Trong những năm tiếp theo, Cao Hoan phù lập An Định vương Nguyên Lãng, đánh bại liên quân họ Nhĩ Chu ở Quảng A (531), ở Hàn Lăng (532), còn Thái được thăng thưởng 3 lần: lần đầu, được thụ làm Phủ quân tướng quân, Ngân thanh quang lộc đại phu, rồi thăng làm thị trung; lần thứ hai, được trừ làm Sứ trì tiết, Đô đốc Hiển Châu chư quân sự, Xa kỵ tướng quân, Hiển Châu thứ sử, tăng ấp 400 hộ; lần thứ 3, được chuyển trừ làm Sứ trì tiết, Đô đốc Úy châu chư quân sự, (bản) tướng quân như trước, Úy châu thứ sử.
Hiếu Vũ đế lên ngôi (532), Thái được tiến tước làm công, tăng ấp 400 hộ, tướng quân như trước, Nghi đồng tam tư. Năm sau (533), Thái đem kỵ binh tinh nhuệ tập kích Nhĩ Chu Triệu ở Tú Dung, 1 ngày 1 đêm đi được 300 dặm. Thái xuất hiện trước sân nhà của Triệu, khiến ông ta thảng thốt bỏ chạy, đến Xích Lồng lĩnh thì treo cổ tự sát. Thái được trừ làm Sứ trì tiết, Đô đốc Tương Châu chư quân sự, tướng quân như trước, Khai phủ, Tương Châu thứ sử. Năm Vĩnh Hi thứ 3 (534), Cao Hoan mượn danh nghĩa "thanh quân trắc" tiến về Lạc Dương, sai Thái cùng Tả sương đại đô đốc Mạc Đa Lâu Thái Văn cứu viện Tế Châu thứ sử Thái Tuấn, chống lại tướng đài quân là Giả Hiển Trí. Hiển Trí ngầm xin hàng, dẫn quân lui về. Quân tư Nguyên Huyền phát giác, tìm cách trì hoãn, rồi xin thêm quân. Hiếu Vũ đế sai Đại đô đốc Hầu Kỷ Thiệu đến, đôi bên giao chiến ở phía đông Hoạt Đài. Hiển Trí đem quân đầu hàng, Hầu Kỷ Thiệu tử trận.
Hiếu Tĩnh đế lên ngôi (534), Thái được trừ làm Thị trung lĩnh Ngự sử trung úy, Kinh kỳ đại đô đốc, tướng quân, khai phủ, nghi đồng đều như cũ. Thái vừa là công thần, vừa là anh em cọc chèo với quyền thần Cao Hoan, được nắm quyền Ngự sử đài, dẫu không hay bắt lỗi, nhưng bá quan vẫn lo sợ.
Cái chết.
Cuối năm Thiên Bình thứ 3 (536), Cao Hoan tấn công Tây Ngụy, lệnh Thái từ Đồng Quan tiến vào. Đầu năm sau (537), Thái đến Tiểu Quan, bất ngờ bị quyền thần Tây Ngụy là Vũ Văn Thái tập kích. Toàn quân bị diệt, Thái tự sát, hưởng thọ 38 tuổi.
Hậu sự.
Thái được nhà Đông Ngụy truy tặng làm Đại tư mã, Thái úy công, Lục thượng thư sự, thụy là Vũ Trinh.
Bắc Tề Văn Tuyên đế lên ngôi, cho tế cáo mộ của Thái. Hiếu Chiêu đế lên ngôi, đưa bài vị của Thái vào thờ trong miếu của Cao Hoan.
Năm Thiên Bảo thứ 5 (554), vợ của Thái mất. Năm sau (555), hai vợ chồng được hợp táng và được đổi đến vị trí cách kinh đô Nghiệp 20 dặm về phía tây.
Đánh giá.
Sử cũ nhận xét Thái là thân thích nên được Cao Hoan xem trọng, nhưng công danh đều là tự mình giành lấy.
Gia đình.
Vợ là Lâu Hắc Nữ (娄黑女, 496 – 554), quý tộc Tiên Ti xuất thân, họ gốc là Thất Lâu, hộ tịch ở Bình Thành, quận Đại, được phong Đốn Khâu quận quân. Hắc Nữ là em gái của Lâu Chiêu Quân – vợ của Cao Hoan.
Con là Đậu Hiếu Kính được kế tự, làm đến Nghi đồng tam tư.
Kỳ sự.
Khi xưa mẹ Thái mơ thấy gió to sấm lớn, có vẻ sắp mưa, bèn ra đình mà trông; thình lình chớp giật lóa mắt, mưa ướt đầm đìa, giật mình tỉnh dậy, phát hiện mình có thai. Đến kỳ không sanh được, bà sợ lắm. Thầy cúng nói: "Qua sông giặt quần, sanh con ắt dễ!" Bà tìm đến nơi có nước, chợt gặp một người, nói: "Đang sanh quý tử, nên dời về nam." Bà nghe theo, không lâu sau sinh ra Thái.
Vào lúc Thái sắp rời khỏi Nghiệp, trong thành có Ni cô Huệ Hóa dao truyền rằng: "Đậu hành đài, đi không về." Trước khi lên đường, nửa đêm canh ba, chợt thấy mấy ngàn người mặc áo đỏ, mũ đỏ tiến vào trong Ngự sử đài, nói "Bắt Đậu trung úy", binh sĩ túc trực đều kinh sợ. Bọn người lạ đi vào vài căn phòng, phút chốc thì biến mất. Trời sáng thấy cửa nẻo vẫn còn khóa kín, mọi người biết đó không phải là người, cho rằng lần này Thái ắt bại. | 1 | null |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.