content
stringlengths
465
7.22k
question
stringlengths
10
193
answer
stringlengths
1
76
Nghệ thuật tạo hình và điêu khắc sớm nhất được biết đến tại Ireland là các chạm khắc thời kỳ đồ đá mới tại các di chỉ như Newgrange và có vết tích qua các đồ tạo tác thời kỳ đồ đồng và các chạm khắc tôn giáo và các thủ bản chiếu sáng thời Trung Cổ. Trong thế kỷ XIX và XX, có một truyền thống mạnh về hội họa xuất hiện, với các nhân vật như John Butler Yeats, William Orpen, Jack Yeats và Louis le Brocquy. Các nghệ sĩ thị giác Ireland đương đại nổi tiếng gồm có Sean Scully, Kevin Abosch, và Alice Maher.
Nghệ thuật tạo hình và điêu khắc sớm nhất tại Ireland là gì?
chạm khắc thời kỳ đồ đá mới
Nghệ thuật tạo hình và điêu khắc sớm nhất được biết đến tại Ireland là các chạm khắc thời kỳ đồ đá mới tại các di chỉ như Newgrange và có vết tích qua các đồ tạo tác thời kỳ đồ đồng và các chạm khắc tôn giáo và các thủ bản chiếu sáng thời Trung Cổ. Trong thế kỷ XIX và XX, có một truyền thống mạnh về hội họa xuất hiện, với các nhân vật như John Butler Yeats, William Orpen, Jack Yeats và Louis le Brocquy. Các nghệ sĩ thị giác Ireland đương đại nổi tiếng gồm có Sean Scully, Kevin Abosch, và Alice Maher.
Kể tên một nghệ sĩ thị giác Ireland đương đại.
Sean Scully
Nhà triết học và thần học người Ireland Johannes Scotus Eriugena được cho là nằm trong số trí thức hàng đầu vào sơ kỳ Trung Cổ. Nhà thám hiểm người Ireland Ernest Henry Shackleton là một trong các nhân vật chính thám hiểm châu Nam Cực. Ông cùng đoàn thám hiểm của mình là những người đầu tiên tiếp cận núi Erebus và khám phá địa điểm gần đúng của Cực Nam từ. Robert Boyle là một trong những người sáng lập hoá học hiện đại và nổi tiếng vì xây dựng định luật Boyle. Nhà vật lý học thế kỷ XIX John Tyndall phát hiện hiệu ứng Tyndall. Nicholas Callan phát minh cuộn cảm, biến áp, và phương thức ban đầu của mạ điện vào thế kỷ XIX.
Ai là người sáng lập hóa học hiện đại?
Robert Boyle
Nhà triết học và thần học người Ireland Johannes Scotus Eriugena được cho là nằm trong số trí thức hàng đầu vào sơ kỳ Trung Cổ. Nhà thám hiểm người Ireland Ernest Henry Shackleton là một trong các nhân vật chính thám hiểm châu Nam Cực. Ông cùng đoàn thám hiểm của mình là những người đầu tiên tiếp cận núi Erebus và khám phá địa điểm gần đúng của Cực Nam từ. Robert Boyle là một trong những người sáng lập hoá học hiện đại và nổi tiếng vì xây dựng định luật Boyle. Nhà vật lý học thế kỷ XIX John Tyndall phát hiện hiệu ứng Tyndall. Nicholas Callan phát minh cuộn cảm, biến áp, và phương thức ban đầu của mạ điện vào thế kỷ XIX.
Người nào phát minh cuộn cảm, biến áp, và phương thức ban đầu của mạ điện vào thế kỷ XIX?
Nicholas Callan
Nhà triết học và thần học người Ireland Johannes Scotus Eriugena được cho là nằm trong số trí thức hàng đầu vào sơ kỳ Trung Cổ. Nhà thám hiểm người Ireland Ernest Henry Shackleton là một trong các nhân vật chính thám hiểm châu Nam Cực. Ông cùng đoàn thám hiểm của mình là những người đầu tiên tiếp cận núi Erebus và khám phá địa điểm gần đúng của Cực Nam từ. Robert Boyle là một trong những người sáng lập hoá học hiện đại và nổi tiếng vì xây dựng định luật Boyle. Nhà vật lý học thế kỷ XIX John Tyndall phát hiện hiệu ứng Tyndall. Nicholas Callan phát minh cuộn cảm, biến áp, và phương thức ban đầu của mạ điện vào thế kỷ XIX.
Nhà vật lý học nào phát hiện hiệu ứng Tyndall?
John Tyndall
Nhà triết học và thần học người Ireland Johannes Scotus Eriugena được cho là nằm trong số trí thức hàng đầu vào sơ kỳ Trung Cổ. Nhà thám hiểm người Ireland Ernest Henry Shackleton là một trong các nhân vật chính thám hiểm châu Nam Cực. Ông cùng đoàn thám hiểm của mình là những người đầu tiên tiếp cận núi Erebus và khám phá địa điểm gần đúng của Cực Nam từ. Robert Boyle là một trong những người sáng lập hoá học hiện đại và nổi tiếng vì xây dựng định luật Boyle. Nhà vật lý học thế kỷ XIX John Tyndall phát hiện hiệu ứng Tyndall. Nicholas Callan phát minh cuộn cảm, biến áp, và phương thức ban đầu của mạ điện vào thế kỷ XIX.
Ernest Henry Shackleton là một trong những người đầu tiên tiếp cận núi nào?
Erebus
Nhà vật lý học người Ireland Ernest Walton giành giải Nobel vật lý năm 1951. Ông cùng với John Cockcroft là người đầu tiên phân tách hạt nhân nguyên tử bằng phương pháp nhân tạo và có đóng góp cho phát triển một thuyết mới về phương trình sóng. Nam tước xứ Kelvin là William Thomson là người được lấy danh để đặt cho đơn vị nhiệt độ tuyệt đối Kelvin. Joseph Larmor tạo ra các phát kiến trong hiểu biết về điện học, động lực học, nhiệt động lực học và thuyết điện tử về vật chất. Tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông là Aether and Matter, một cuốn sách về vật lý lý thuyết phát hành vào năm 1900.
Ai được lấy danh để đặt cho đơn vị nhiệt độ tuyệt đối Kelvin?
William Thomson
Nhà vật lý học người Ireland Ernest Walton giành giải Nobel vật lý năm 1951. Ông cùng với John Cockcroft là người đầu tiên phân tách hạt nhân nguyên tử bằng phương pháp nhân tạo và có đóng góp cho phát triển một thuyết mới về phương trình sóng. Nam tước xứ Kelvin là William Thomson là người được lấy danh để đặt cho đơn vị nhiệt độ tuyệt đối Kelvin. Joseph Larmor tạo ra các phát kiến trong hiểu biết về điện học, động lực học, nhiệt động lực học và thuyết điện tử về vật chất. Tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông là Aether and Matter, một cuốn sách về vật lý lý thuyết phát hành vào năm 1900.
Nhà vật lý học nào có tác phẩm có ảnh hưởng nhất là Aether and Matter?
Joseph Larmor
Nhà vật lý học người Ireland Ernest Walton giành giải Nobel vật lý năm 1951. Ông cùng với John Cockcroft là người đầu tiên phân tách hạt nhân nguyên tử bằng phương pháp nhân tạo và có đóng góp cho phát triển một thuyết mới về phương trình sóng. Nam tước xứ Kelvin là William Thomson là người được lấy danh để đặt cho đơn vị nhiệt độ tuyệt đối Kelvin. Joseph Larmor tạo ra các phát kiến trong hiểu biết về điện học, động lực học, nhiệt động lực học và thuyết điện tử về vật chất. Tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông là Aether and Matter, một cuốn sách về vật lý lý thuyết phát hành vào năm 1900.
Nhà vật lý học nào đã giành giải Nobel vật lý năm 1951?
Ernest Walton
George Johnstone Stoney giới thuật thuật ngữ electron vào năm 1891. John Stewart Bell là người tạo ra định lý Bell và một bài viết liên quan đến phát hiện tính dị thường Bell-Jackiw-Adler. Các nhà toán học đáng chú ý gồm có William Rowan Hamilton, nổi tiếng với công trình về cơ học cổ điển và phát minh bộ bốn quaternion. Francis Ysidro Edgeworth có đóng góp trong hộp Edgeworth, và nó vẫn duy trì ảnh hưởng trong thuyết kinh tế vi mô tân cổ điển cho đến nay; trong khi Richard Cantillon truyền cảm hứng cho Adam Smith và những người khác. John B. Cosgrave là một chuyên gia trong lý thuyết số và phát hiện một số nguyên tố 2000 số vào năm 1999 và một hợp số Fermat kỷ lục vào năm 2003. John Lighton Synge đóng góp vào phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học, bao gồm cơ học và phương pháp hình học trong thuyết tương đối rộng. Kathleen Lonsdale sinh tại Ireland và nổi tiếng vì công trình của bà về tinh thể học.
Ai là người giới thuật thuật ngữ electron vào năm 1891?
George Johnstone Stoney
George Johnstone Stoney giới thuật thuật ngữ electron vào năm 1891. John Stewart Bell là người tạo ra định lý Bell và một bài viết liên quan đến phát hiện tính dị thường Bell-Jackiw-Adler. Các nhà toán học đáng chú ý gồm có William Rowan Hamilton, nổi tiếng với công trình về cơ học cổ điển và phát minh bộ bốn quaternion. Francis Ysidro Edgeworth có đóng góp trong hộp Edgeworth, và nó vẫn duy trì ảnh hưởng trong thuyết kinh tế vi mô tân cổ điển cho đến nay; trong khi Richard Cantillon truyền cảm hứng cho Adam Smith và những người khác. John B. Cosgrave là một chuyên gia trong lý thuyết số và phát hiện một số nguyên tố 2000 số vào năm 1999 và một hợp số Fermat kỷ lục vào năm 2003. John Lighton Synge đóng góp vào phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học, bao gồm cơ học và phương pháp hình học trong thuyết tương đối rộng. Kathleen Lonsdale sinh tại Ireland và nổi tiếng vì công trình của bà về tinh thể học.
Định lý Bell và bài viết về tính dị thường Bell-Jackiw-Adler được ai tạo ra?
John Stewart Bell
Trong hầu hết các môn thể thao, có một đội tuyển quốc tế duy nhất đại diện toàn đảo Ireland. Ngoại lệ đáng chú ý là bóng đá, song trước thập niên 1950 thì hai hiệp hội bóng đá vẫn tổ chức các đội tuyển quốc tế với tên gọi "Ireland". Bóng đá Gaelic là môn thể thao phồ biến nhất tại Ireland xét theo số khán giả theo dõi thi đấu và quy mô tham gia của cộng đồng, với khoảng 2.600 câu lạc bộ trên đảo. Năm 2003, bóng đá Gaelic chiếm 34% tổng số khán giả thể thao, tiếp đến là hurling với 23%, bóng đá với 16% và rugby với 8% và chung kết bóng đá Gaelic toàn Ireland là sự kiện được theo dõi nhiều nhất vào mỗi mùa thể thao. Bóng đá là môn thể thao đội tuyển được chơi phổ biến nhất tại Bắc Ireland. Bơi, golf, aerobic, bóng đá, đi xe đạp, bóng đá Gaelic và billiards/snooker là các hoạt động thể thao có mức độ tham gia cao nhất.
Môn thể thao phổ biến nhất tại Ireland xét theo số khán giả theo dõi thi đấu và quy mô tham gia của cộng đồng là gì?
Bóng đá Gaelic
Bóng đá Gaelic, hurling và bóng ném Gaelic là các môn thể thao truyền thống Ireland được phổ biến nhất, chúng được gọi chung là thể thao Gaelic. Các môn thể thao Gaelic chủ yếu nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội Thể thao Gaelic (GAA). Trụ sở của hiệp hội (và sân vận động chính trên đảo) là sân Croke Park có sức chứa 82.500 tại phía bắc Dublin. Mọi vận động viên thuộc hiệp hội đều là nghiệp dư, dù có thi đấu ở cấp cao nhất, họ không nhận lương song được phép nhận một lượng thu nhập hạn chế liên quan đến thể thao đến từ các nhà tài trợ thương mại.
Hiệp hội quản lý chủ yếu các môn thể thao Gaelic là gì?
Hiệp hội Thể thao Gaelic (GAA)
Bóng đá Gaelic, hurling và bóng ném Gaelic là các môn thể thao truyền thống Ireland được phổ biến nhất, chúng được gọi chung là thể thao Gaelic. Các môn thể thao Gaelic chủ yếu nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội Thể thao Gaelic (GAA). Trụ sở của hiệp hội (và sân vận động chính trên đảo) là sân Croke Park có sức chứa 82.500 tại phía bắc Dublin. Mọi vận động viên thuộc hiệp hội đều là nghiệp dư, dù có thi đấu ở cấp cao nhất, họ không nhận lương song được phép nhận một lượng thu nhập hạn chế liên quan đến thể thao đến từ các nhà tài trợ thương mại.
Trụ sở chính của Hiệp hội Thể thao Gaelic nằm ở đâu?
sân Croke Park
Bóng đá Gaelic, hurling và bóng ném Gaelic là các môn thể thao truyền thống Ireland được phổ biến nhất, chúng được gọi chung là thể thao Gaelic. Các môn thể thao Gaelic chủ yếu nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội Thể thao Gaelic (GAA). Trụ sở của hiệp hội (và sân vận động chính trên đảo) là sân Croke Park có sức chứa 82.500 tại phía bắc Dublin. Mọi vận động viên thuộc hiệp hội đều là nghiệp dư, dù có thi đấu ở cấp cao nhất, họ không nhận lương song được phép nhận một lượng thu nhập hạn chế liên quan đến thể thao đến từ các nhà tài trợ thương mại.
Môn thể thao truyền thống Ireland nào được quản lý bởi Hiệp hội Thể thao Gaelic?
Thể thao Gaelic
Bóng đá Gaelic, hurling và bóng ném Gaelic là các môn thể thao truyền thống Ireland được phổ biến nhất, chúng được gọi chung là thể thao Gaelic. Các môn thể thao Gaelic chủ yếu nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội Thể thao Gaelic (GAA). Trụ sở của hiệp hội (và sân vận động chính trên đảo) là sân Croke Park có sức chứa 82.500 tại phía bắc Dublin. Mọi vận động viên thuộc hiệp hội đều là nghiệp dư, dù có thi đấu ở cấp cao nhất, họ không nhận lương song được phép nhận một lượng thu nhập hạn chế liên quan đến thể thao đến từ các nhà tài trợ thương mại.
Sân vận động chính của Hiệp hội Thể thao Gaelic có sức chứa bao nhiêu?
82.500
Hiệp hội Bóng đá Ireland (IFA) ban đầu là thể chế quản lý bóng đá trên toàn đảo. Bóng đá được chơi theo cách có tổ chức tại Ireland kể từ thập niên 1870, Cliftonville F.C. tại Belfast là câu lạc bộ bóng đá lâu năm nhất tại Ireland. Bóng đá trở thành môn thể thao phổ biến nhất quanh Belfast và tại Ulster, đặc biệt là trong các thập niên đầu. Năm 1921, các câu lạc bộ có trụ sở tại Dublin tách ra để thành lập Hiệp hội Bóng đá Nhà nước Ireland Tự do. Hiện nay, hiệp hội miền nam đảo mang tên Hiệp hội Bóng đá Ireland (FAI). FAI được FIFA công nhận vào năm 1923, song IFA và FAI tiếp tục tuyển chọn thành viên đội tuyển từ toàn đảo Ireland, một số cầu thủ thi đấu quốc tế cho cả hai đội tuyển. Năm 1950, FIFA chỉ đạo các hiệp hội chỉ tuyển chọn cầu thủ trong lãnh thổ tương ứng của họ, và đến năm 1953 thì chỉ đạo rằng đội tuyển của FAI được gọi là "Cộng hoà Ireland" và đội tuyển của IFA được gọi là "Bắc Ireland". Bắc Ireland giành quyền tham gia vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới vào các năm 1958, 1982 và 1986. Cộng hoà Ireland cũng giành quyền tham gia vòng chung kết giải đấu này vào các năm 1990, 1994, 2002. Trên toàn đảo Ireland, có sự quan tâm đáng kể đến giải Ngoại hạng Anh, và trên mức độ thấp hơn là Ngoại hạng Scotland.
Câu lạc bộ bóng đá lâu năm nhất tại Ireland là gì?
Cliftonville F.C.
Ireland có một đội tuyển quốc gia chung trong môn bóng bầu dục, và có hiệp hội chung là Liên đoàn Bóng bầu dục Ireland (IRFU). Đội tuyển bóng bầu dục Ireland thi đấu tại tất cả các mùa giải vô địch thế giới, từng nhiều lần vào đến tứ kết. Ireland từng đăng cai giải vô địch bóng bầu dục thế giới trong các năm 1991 và 1999. Bóng bầu dục Ireland ngày càng tăng tính cạnh tranh ở cả cấp quốc tế và địa phương từ khi môn thể thao này được chuyên nghiệp hoá vào năm 1994. Ngoài ra, Ireland ngày càng thành công tại giải vô địch bóng bầu dục sáu quốc gia châu Âu.
Ireland có đội tuyển bóng bầu dục quốc gia nào?
Ireland
Ireland có một đội tuyển quốc gia chung trong môn bóng bầu dục, và có hiệp hội chung là Liên đoàn Bóng bầu dục Ireland (IRFU). Đội tuyển bóng bầu dục Ireland thi đấu tại tất cả các mùa giải vô địch thế giới, từng nhiều lần vào đến tứ kết. Ireland từng đăng cai giải vô địch bóng bầu dục thế giới trong các năm 1991 và 1999. Bóng bầu dục Ireland ngày càng tăng tính cạnh tranh ở cả cấp quốc tế và địa phương từ khi môn thể thao này được chuyên nghiệp hoá vào năm 1994. Ngoài ra, Ireland ngày càng thành công tại giải vô địch bóng bầu dục sáu quốc gia châu Âu.
Đội tuyển quốc gia bóng bầu dục của Ireland thi đấu ở giải nào?
vô địch thế giới
Ireland có một đội tuyển quốc gia chung trong môn bóng bầu dục, và có hiệp hội chung là Liên đoàn Bóng bầu dục Ireland (IRFU). Đội tuyển bóng bầu dục Ireland thi đấu tại tất cả các mùa giải vô địch thế giới, từng nhiều lần vào đến tứ kết. Ireland từng đăng cai giải vô địch bóng bầu dục thế giới trong các năm 1991 và 1999. Bóng bầu dục Ireland ngày càng tăng tính cạnh tranh ở cả cấp quốc tế và địa phương từ khi môn thể thao này được chuyên nghiệp hoá vào năm 1994. Ngoài ra, Ireland ngày càng thành công tại giải vô địch bóng bầu dục sáu quốc gia châu Âu.
Liên đoàn nào chịu trách nhiệm quản lý đội tuyển bóng bầu dục Ireland?
Liên đoàn Bóng bầu dục Ireland (IRFU)
Ẩm thực Ireland chịu ảnh hưởng từ cây trồng và vật nuôi trong khí hậu ôn hoà trên đảo, và từ hoàn cảnh xã hội-chính trị trong lịch sử. Chẳng hạn, từ thời kỳ Trung Cổ cho đến khi du nhập khoai tây vào thế kỷ XVI thì đặc điểm chi phối của kinh tế Ireland là chăn nuôi gia súc, số lượng gia súc mà một người sở hữu tương đương với địa vị xã hội của họ. Do đó, những người chăn nuôi tránh giết bò sữa. Vì thế, thịt lợn và thịt trắng phổ biến hơn thịt bò, và thịt muối cùng bơ muối là trung tâm trong bữa ăn tại Ireland kể từ thời Trung Cổ. Kể từ khi khoai tây được đưa đến vào nửa cuối thế kỷ XVI, nó có ảnh hưởng lớn đến ẩm thực trên đảo. Bần cùng khiến người dân sử dụng khoai tây và đến giữa thế kỷ XIX đại đa số cư dân có bữa ăn là khoai tây và sữa. Một gia đình điển hình gồm vợ chồng và bốn con ăn hết 18 stone (110 kg) khoai tây mỗi tuần. Do đó, các món ăn được cho là món ăn dân tộc có cách thức nấu không tinh tế, như món hầm Ireland, thịt muối và cải bắp, bánh kếp khoai tây boxty, và món colcannon gồm khoai tây nghiền cùng với cải xoăn hoặc cải bắp.
Người Ireland ăn gì nhiều nhất trong thế kỷ XIX?
khoai tây và sữa
Ẩm thực Ireland chịu ảnh hưởng từ cây trồng và vật nuôi trong khí hậu ôn hoà trên đảo, và từ hoàn cảnh xã hội-chính trị trong lịch sử. Chẳng hạn, từ thời kỳ Trung Cổ cho đến khi du nhập khoai tây vào thế kỷ XVI thì đặc điểm chi phối của kinh tế Ireland là chăn nuôi gia súc, số lượng gia súc mà một người sở hữu tương đương với địa vị xã hội của họ. Do đó, những người chăn nuôi tránh giết bò sữa. Vì thế, thịt lợn và thịt trắng phổ biến hơn thịt bò, và thịt muối cùng bơ muối là trung tâm trong bữa ăn tại Ireland kể từ thời Trung Cổ. Kể từ khi khoai tây được đưa đến vào nửa cuối thế kỷ XVI, nó có ảnh hưởng lớn đến ẩm thực trên đảo. Bần cùng khiến người dân sử dụng khoai tây và đến giữa thế kỷ XIX đại đa số cư dân có bữa ăn là khoai tây và sữa. Một gia đình điển hình gồm vợ chồng và bốn con ăn hết 18 stone (110 kg) khoai tây mỗi tuần. Do đó, các món ăn được cho là món ăn dân tộc có cách thức nấu không tinh tế, như món hầm Ireland, thịt muối và cải bắp, bánh kếp khoai tây boxty, và món colcannon gồm khoai tây nghiền cùng với cải xoăn hoặc cải bắp.
Thịt phổ biến hơn thịt bò tại Ireland là gì?
thịt lợn và thịt trắng
Ẩm thực Ireland chịu ảnh hưởng từ cây trồng và vật nuôi trong khí hậu ôn hoà trên đảo, và từ hoàn cảnh xã hội-chính trị trong lịch sử. Chẳng hạn, từ thời kỳ Trung Cổ cho đến khi du nhập khoai tây vào thế kỷ XVI thì đặc điểm chi phối của kinh tế Ireland là chăn nuôi gia súc, số lượng gia súc mà một người sở hữu tương đương với địa vị xã hội của họ. Do đó, những người chăn nuôi tránh giết bò sữa. Vì thế, thịt lợn và thịt trắng phổ biến hơn thịt bò, và thịt muối cùng bơ muối là trung tâm trong bữa ăn tại Ireland kể từ thời Trung Cổ. Kể từ khi khoai tây được đưa đến vào nửa cuối thế kỷ XVI, nó có ảnh hưởng lớn đến ẩm thực trên đảo. Bần cùng khiến người dân sử dụng khoai tây và đến giữa thế kỷ XIX đại đa số cư dân có bữa ăn là khoai tây và sữa. Một gia đình điển hình gồm vợ chồng và bốn con ăn hết 18 stone (110 kg) khoai tây mỗi tuần. Do đó, các món ăn được cho là món ăn dân tộc có cách thức nấu không tinh tế, như món hầm Ireland, thịt muối và cải bắp, bánh kếp khoai tây boxty, và món colcannon gồm khoai tây nghiền cùng với cải xoăn hoặc cải bắp.
Trong lịch sử Ireland, vào thời kỳ nào chăn nuôi là đặc điểm chi phối của nền kinh tế?
thời kỳ Trung Cổ
Kể từ một phần tư cuối của thế kỷ XX, khi Ireland trở nên thịnh vượng, văn hoá ẩm thực Ireland mới dựa trên các nguyên liệu truyền thống kết hợp các ảnh hưởng quốc tế đã xuất hiện. Nền ẩm thực này dựa trên rau cá tươi (đặc biệt là cá hồi, cá hồi chấm, hàu, trai), cũng như các loại bánh mì soda truyền thống và các loại pho mát thủ công đa dạng được sản xuất khắp nơi. Một ví dụ về nền ẩm thực mới này là "Dublin Lawyer": tôm hùm nấu trong whiskey và kem. Tuy nhiên, khoai tây vẫn là một đặc điểm cơ bản trong nền ẩm thực này và Ireland vẫn là nơi tiêu thụ khoai tây bình quân cao nhất tại châu Âu.
Loại thực phẩm nào vẫn là một đặc điểm cơ bản trong nền ẩm thực Ireland?
khoai tây
Kể từ một phần tư cuối của thế kỷ XX, khi Ireland trở nên thịnh vượng, văn hoá ẩm thực Ireland mới dựa trên các nguyên liệu truyền thống kết hợp các ảnh hưởng quốc tế đã xuất hiện. Nền ẩm thực này dựa trên rau cá tươi (đặc biệt là cá hồi, cá hồi chấm, hàu, trai), cũng như các loại bánh mì soda truyền thống và các loại pho mát thủ công đa dạng được sản xuất khắp nơi. Một ví dụ về nền ẩm thực mới này là "Dublin Lawyer": tôm hùm nấu trong whiskey và kem. Tuy nhiên, khoai tây vẫn là một đặc điểm cơ bản trong nền ẩm thực này và Ireland vẫn là nơi tiêu thụ khoai tây bình quân cao nhất tại châu Âu.
Món ăn "Dublin Lawyer" được chế biến ra sao?
hùm nấu trong whiskey và kem
Ireland từng chi phối thị trường whiskey thế giới khi sản xuất 90% lượng whiskey vào lúc đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do hậu quả từ hành vi bán rượu lậu khi Hoa Kỳ cấm rượu (họ bán whiskey chất lượng kém với nhãn hiệu giống như của Ireland khiến dân chúng mất đi niềm tin vào nhãn hiệu Ireland) và thuế quan đối với whiskey của Ireland trên khắp Đế quốc Anh trong Chiến tranh Mậu dịch Anh-Ireland thập niên 1930, thị phần của whiskey Ireland trên thế giới giảm chỉ còn 2% vào giữa thế kỷ XX.
Thị phần của whiskey Ireland trên thế giới giảm xuống còn bao nhiêu vào giữa thế kỷ XX?
2%
Đế quốc La Mã, hay còn gọi là Đế quốc Roma (tiếng Latinh: IMPERIVM ROMANVM) là thời kỳ hậu Cộng hòa của nền văn minh La Mã cổ đại. La Mã từng là một đế quốc rộng lớn tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ 1 TCN cho đến khoảng thế kỷ thứ 5 hay thế kỷ thứ 6, gồm phần đất những nước vây quanh Địa Trung Hải ngày nay. Đế quốc La Mã là sự tiếp nối của Cộng hòa La Mã và nằm trong giai đoạn cuối cùng của thời cổ điển.. Nó được tính từ khi Augustus bắt đầu trị vì từ năm 27 TCN và có nhiều mốc kết thúc khác nhau.
Đế quốc La Mã được thành lập vào thời kỳ nào?
thời kỳ hậu Cộng hòa
Hai thế kỷ đầu của đế quốc ghi dấu với nền Thái bình La Mã (Pax Romana), một giai đoạn hòa bình thịnh trị chưa từng thấy. Sự mở rộng cương thổ của La Mã đã bắt đầu từ thời Cộng hòa, nhưng đạt tới cực đỉnh vào thời hoàng đế Traianus. Ở đỉnh cao, Đế quốc La Mã kiểm soát gần 6.5 triệu km2, tuy rằng những người kế tục đã từ bỏ phần lớn đất đai mà ông chiếm được. Vì sự rộng lớn và bền vững dài lâu của mình, những thể chế và văn hóa của Đế quốc La Mã có những ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến sự phát triển của ngôn ngữ, tôn giáo, kiến trúc, triết học, luật pháp trong những vùng mà nó cai trị, đặc biệt là châu Âu, và nhờ vào chủ nghĩa bành trướng của châu Âu, sau này chúng lan ra toàn thế giới hiện đại.
Đế quốc La Mã kiểm soát bao nhiêu diện tích ở thời hoàng đế Traianus?
6.5 triệu km2
Hai thế kỷ đầu của đế quốc ghi dấu với nền Thái bình La Mã (Pax Romana), một giai đoạn hòa bình thịnh trị chưa từng thấy. Sự mở rộng cương thổ của La Mã đã bắt đầu từ thời Cộng hòa, nhưng đạt tới cực đỉnh vào thời hoàng đế Traianus. Ở đỉnh cao, Đế quốc La Mã kiểm soát gần 6.5 triệu km2, tuy rằng những người kế tục đã từ bỏ phần lớn đất đai mà ông chiếm được. Vì sự rộng lớn và bền vững dài lâu của mình, những thể chế và văn hóa của Đế quốc La Mã có những ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến sự phát triển của ngôn ngữ, tôn giáo, kiến trúc, triết học, luật pháp trong những vùng mà nó cai trị, đặc biệt là châu Âu, và nhờ vào chủ nghĩa bành trướng của châu Âu, sau này chúng lan ra toàn thế giới hiện đại.
Đế quốc La Mã đạt tới cực đỉnh vào thời hoàng đế nào?
Traianus
Roma đã bắt đầu sáp nhập các tỉnh mới của nó từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, và quá trình này kéo dài suốt bốn thế kỷ trước khi lãnh thổ của nó đạt đến mức cực đỉnh, và theo chiều hướng là một "đế chế" trong khi vẫn cai trị như là một nhà nước cộng hòa. Các tỉnh Cộng hòa thì được cai quản bởi các viên cựu chấp chính quan và cựu pháp quan, vốn được bầu hàng năm và nắm giữ quyền lực tuyệt đối . Với việc tập trung quá nhiều của cải cũng như sức mạnh quân đội trong tay của một vài người thông qua quyền cai trị các tỉnh, nó đã trở thành nhân tố chính trong quá trình chuyển từ nhà nnước cộng hòa sang chế độ quân chủ chuyên chế.
Các tỉnh Cộng hòa được cai quản bởi ai?
viên cựu chấp chính quan và cựu pháp quan
Roma đã bắt đầu sáp nhập các tỉnh mới của nó từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, và quá trình này kéo dài suốt bốn thế kỷ trước khi lãnh thổ của nó đạt đến mức cực đỉnh, và theo chiều hướng là một "đế chế" trong khi vẫn cai trị như là một nhà nước cộng hòa. Các tỉnh Cộng hòa thì được cai quản bởi các viên cựu chấp chính quan và cựu pháp quan, vốn được bầu hàng năm và nắm giữ quyền lực tuyệt đối . Với việc tập trung quá nhiều của cải cũng như sức mạnh quân đội trong tay của một vài người thông qua quyền cai trị các tỉnh, nó đã trở thành nhân tố chính trong quá trình chuyển từ nhà nnước cộng hòa sang chế độ quân chủ chuyên chế.
Viên chức nào cai quản các tỉnh Cộng hòa?
cựu chấp chính quan và cựu pháp quan
Vì là vị hoàng đế đầu tiên, Augustus đã đảm nhận địa vị chính thức này nhờ vào việc ông đã phục hồi nền Cộng hòa, và điều chỉnh quyền hạn của mình một cách cẩn thận trong khuôn khổ các nguyên tắc của hiến pháp cộng hòa. Ông từ chối danh hiệu mà người La Mã kết hợp với chế độ quân chủ, và thay vào đó tự gọi mình là Princeps, "Đệ nhất công dân". Các chấp chính quan tiếp tục được bầu, quan bảo dân của người bình dân thì tiếp tục có quyền ban hành những điều luật, và các nguyên lão vẫn được tranh luận trong Curia. Tuy nhiên, Augustus cũng còn là người tạo ra tiền lệ đó là các vị hoàng đế là người quyết định cuối cùng, với sự ủng hộ của quân đội.
Augustus tự gọi mình là gì?
Đệ nhất công dân
Vì là vị hoàng đế đầu tiên, Augustus đã đảm nhận địa vị chính thức này nhờ vào việc ông đã phục hồi nền Cộng hòa, và điều chỉnh quyền hạn của mình một cách cẩn thận trong khuôn khổ các nguyên tắc của hiến pháp cộng hòa. Ông từ chối danh hiệu mà người La Mã kết hợp với chế độ quân chủ, và thay vào đó tự gọi mình là Princeps, "Đệ nhất công dân". Các chấp chính quan tiếp tục được bầu, quan bảo dân của người bình dân thì tiếp tục có quyền ban hành những điều luật, và các nguyên lão vẫn được tranh luận trong Curia. Tuy nhiên, Augustus cũng còn là người tạo ra tiền lệ đó là các vị hoàng đế là người quyết định cuối cùng, với sự ủng hộ của quân đội.
Augustus gọi mình là gì thay vì các danh hiệu hoàng gia?
Princeps
Triều đại của Augustus đã kéo dài hơn 40 năm, và nó đã được mô tả trong các tác phẩm văn học thời kì này như là một "Thời Đại Hoàng Kim". Augustus đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì "Nguyên Thủ" (27 TCN-284 CN), 200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã ("Pax Romana"). Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn hóa, luật pháp và tôn giáo. Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra, nhưng chúng lại bị dập tắt một cách "không thương tiếc và nhanh chóng" khi xảy ra, giống như ở Britain và Gaul. Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng.
Thời kì Thái bình La Mã được biết đến như thế nào khác?
Pax Romana
Triều đại của Augustus đã kéo dài hơn 40 năm, và nó đã được mô tả trong các tác phẩm văn học thời kì này như là một "Thời Đại Hoàng Kim". Augustus đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì "Nguyên Thủ" (27 TCN-284 CN), 200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã ("Pax Romana"). Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn hóa, luật pháp và tôn giáo. Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra, nhưng chúng lại bị dập tắt một cách "không thương tiếc và nhanh chóng" khi xảy ra, giống như ở Britain và Gaul. Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng.
Thời kì Thái bình La Mã ("Pax Romana") kéo dài bao nhiêu năm?
200 năm
Triều đại của Augustus đã kéo dài hơn 40 năm, và nó đã được mô tả trong các tác phẩm văn học thời kì này như là một "Thời Đại Hoàng Kim". Augustus đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì "Nguyên Thủ" (27 TCN-284 CN), 200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã ("Pax Romana"). Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn hóa, luật pháp và tôn giáo. Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra, nhưng chúng lại bị dập tắt một cách "không thương tiếc và nhanh chóng" khi xảy ra, giống như ở Britain và Gaul. Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng.
Đế quốc La Mã cổ đại có tên gọi nào khác?
thời kì Thái bình La Mã
Vespasianus đã trở thành người sáng lập của triều đại Flavius chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, trước khi nó được kế tục bởi triều đại Nerva-Antoninus mà tạo nên cái gọi là "Ngũ Hiền Đế": Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và vị hoàng đế triết gia Marcus Aurelius. Theo quan điểm của sử gia Hy Lạp, Dio Cassius, một người đương thời, với việc hoàng đế Commodus lên kế vị trong 180 CN đã đánh dấu sự suy yếu "từ một vương quốc của vàng trở thành một vương quốc của gỉ sắt" -bình luận nổi tiếng trên đã khiến một số nhà sử học, đặc biệt là Edward Gibbon coi triều đại của Commodus đã bắt đầu sự suy tàn của Đế chế La Mã.
Triều đại Flavius được kế tục bởi triều đại nào?
Nerva-Antoninus
Vespasianus đã trở thành người sáng lập của triều đại Flavius chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, trước khi nó được kế tục bởi triều đại Nerva-Antoninus mà tạo nên cái gọi là "Ngũ Hiền Đế": Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và vị hoàng đế triết gia Marcus Aurelius. Theo quan điểm của sử gia Hy Lạp, Dio Cassius, một người đương thời, với việc hoàng đế Commodus lên kế vị trong 180 CN đã đánh dấu sự suy yếu "từ một vương quốc của vàng trở thành một vương quốc của gỉ sắt" -bình luận nổi tiếng trên đã khiến một số nhà sử học, đặc biệt là Edward Gibbon coi triều đại của Commodus đã bắt đầu sự suy tàn của Đế chế La Mã.
Đế chế La Mã bắt đầu suy tàn dưới triều đại của vị hoàng đế nào?
Commodus
Năm 212, dưới thời trị vì của Caracalla, quyền công dân La Mã đã được ban cho tất cả các cư dân tự do của Đế quốc. Tuy nhiên, bất chấp điều này, triều đại Severus lại là một triều đại hỗn loạn-và các vị hoàng đế của triều đại này thường xuyên bị sát hại hoặc bị hành quyết-và tiếp sau sự sụp đổ của nó, Đế quốc La Mã đã bị nhấn chìm bởi cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba, một thời kì của cuộc xâm lược, nội chiến, suy thoái kinh tế, và bệnh dịch . Trong việc định rõ các thời kỳ lịch sử, cuộc khủng hoảng này đôi khi được xem như là đã đánh dấu sự chuyển đổi từ thời kì cổ đại tới thời kì Hậu cổ đại. Ảo tưởng vốn tàn lụi về nền Cộng hòa cũ đã phải hy sinh cho mục ích thiết lập lại trật tự: Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đã đưa Đế quốc thoát khỏi bờ vực của sự sụp đôt, nhưng lại từ chối đóng vai trò của một Nguyên Thủ và thay vào đó đã trở thành vị hoàng đế đầu tiên được đề cập thường xuyên như là Dominus, "chủ nhân" hay " Chúa Tể".
Quyền công dân La Mã được ban cho những ai dưới thời Caracalla?
các cư dân tự do của Đế quốc
Năm 212, dưới thời trị vì của Caracalla, quyền công dân La Mã đã được ban cho tất cả các cư dân tự do của Đế quốc. Tuy nhiên, bất chấp điều này, triều đại Severus lại là một triều đại hỗn loạn-và các vị hoàng đế của triều đại này thường xuyên bị sát hại hoặc bị hành quyết-và tiếp sau sự sụp đổ của nó, Đế quốc La Mã đã bị nhấn chìm bởi cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba, một thời kì của cuộc xâm lược, nội chiến, suy thoái kinh tế, và bệnh dịch . Trong việc định rõ các thời kỳ lịch sử, cuộc khủng hoảng này đôi khi được xem như là đã đánh dấu sự chuyển đổi từ thời kì cổ đại tới thời kì Hậu cổ đại. Ảo tưởng vốn tàn lụi về nền Cộng hòa cũ đã phải hy sinh cho mục ích thiết lập lại trật tự: Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đã đưa Đế quốc thoát khỏi bờ vực của sự sụp đôt, nhưng lại từ chối đóng vai trò của một Nguyên Thủ và thay vào đó đã trở thành vị hoàng đế đầu tiên được đề cập thường xuyên như là Dominus, "chủ nhân" hay " Chúa Tể".
Đế quốc La Mã đã bị nhấn chìm bởi cuộc khủng hoảng nào sau sự sụp đổ của triều đại Severus?
cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba
Hoàng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế). Sau thời ông tình hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I - vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đô của đế quốc ở phía Đông là Constantinopolis - lập lại. Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một trục Đông-Tây (Constantinopolis/Roma). Theodosius I là hoàng đế cuối cùng trị vì cả đông lẫn tây, và mất năm 395 sau khi đưa Ki-tô giáo lên làm quốc giáo của đế quốc.
Hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế được gọi là gì?
Tứ đầu chế
Hoàng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế). Sau thời ông tình hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I - vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đô của đế quốc ở phía Đông là Constantinopolis - lập lại. Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một trục Đông-Tây (Constantinopolis/Roma). Theodosius I là hoàng đế cuối cùng trị vì cả đông lẫn tây, và mất năm 395 sau khi đưa Ki-tô giáo lên làm quốc giáo của đế quốc.
Tên tân đô của đế quốc do Constantinus I thành lập là gì?
Constantinopolis
Hoàng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế). Sau thời ông tình hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I - vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đô của đế quốc ở phía Đông là Constantinopolis - lập lại. Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một trục Đông-Tây (Constantinopolis/Roma). Theodosius I là hoàng đế cuối cùng trị vì cả đông lẫn tây, và mất năm 395 sau khi đưa Ki-tô giáo lên làm quốc giáo của đế quốc.
Ai là người thành lập tân đô Constantinopolis?
Constantinus I
Đế quốc La Mã là một trong những đế quốc lớn nhất trong lịch sử. Thành ngữ Latinh imperium sine fine ("đế quốc mà không có điểm kết thúc" ) nhằm nêu lên sự mơ tưởng rằng đế quốc không bị giới hạn về cả thời gian hay không gian. Trong bộ sử thi Aeneid của Vergil, sự vô hạn của đế quốc được nói là do vị thần Jupiter ban cho những người La Mã. Tuyên bố về sự thống trị thế giới này đã được tiếp tục nhắc đến và tồn tại cho đến khi Đế quốc nằm dưới sự thống trị của Kitô giáo vào thế kỷ thứ 4.
Đế quốc La Mã còn được gọi là gì?
imperium sine fine
Trong thực tế, công cuộc bành trướng của người La Mã đã được thực hiện chủ yếu dưới thời Cộng hoà, mặc dù các vùng ở khu vực bắc Âu đã được chinh phục vào thế kỷ 1, khi mà người La Mã đã củng cố quyền lực của họ ở châu Âu, châu Phi và châu Á. Trong suốt triều đại của Augustus, một "bản đồ toàn cầu của thế giới được biết đến" đã được trưng bày lần đầu tiên trước công chúng tại Rome, trùng thời điểm với tác phẩm toàn diện nhất về địa lý chính trị tồn tại từ thời cổ đại, Geography của nhà văn người Pontos gốc Hy Lạp Strabo Khi Augustus qua đời, tác phẩm nhằm ca ngợi về những thành tựu của ông (Res Gestae) đã mô tả những nét đặc trưng nổi bật theo danh mục về địa lý của các dân tộc và những nơi bên trong đế quốc. Địa lý, điều tra dân số, và những văn thư ghi lại được lưu giữ một cách kĩ càng là những mối quan tâm chủ yếu của chính quyền đế quốc.
Trong suốt triều đại của ai, một "bản đồ toàn cầu của thế giới được biết đến" đã được trưng bày lần đầu tiên trước công chúng tại Rome?
Augustus
Trong thực tế, công cuộc bành trướng của người La Mã đã được thực hiện chủ yếu dưới thời Cộng hoà, mặc dù các vùng ở khu vực bắc Âu đã được chinh phục vào thế kỷ 1, khi mà người La Mã đã củng cố quyền lực của họ ở châu Âu, châu Phi và châu Á. Trong suốt triều đại của Augustus, một "bản đồ toàn cầu của thế giới được biết đến" đã được trưng bày lần đầu tiên trước công chúng tại Rome, trùng thời điểm với tác phẩm toàn diện nhất về địa lý chính trị tồn tại từ thời cổ đại, Geography của nhà văn người Pontos gốc Hy Lạp Strabo Khi Augustus qua đời, tác phẩm nhằm ca ngợi về những thành tựu của ông (Res Gestae) đã mô tả những nét đặc trưng nổi bật theo danh mục về địa lý của các dân tộc và những nơi bên trong đế quốc. Địa lý, điều tra dân số, và những văn thư ghi lại được lưu giữ một cách kĩ càng là những mối quan tâm chủ yếu của chính quyền đế quốc.
Tác phẩm nào là tác phẩm toàn diện nhất về địa lý chính trị tồn tại từ thời cổ đại?
Geography
Đế quốc đạt tới ngưỡng mở rộng lớn nhất của nó dưới thời Traianus (trị vì từ năm 98-117), trên một diện tích lên tới 5.000.000 km vuông vào năm 2009 và được chia thành bốn mươi quốc gia khác nhau hiện nay.. Dân số của nó theo ước tính truyền thống lên tới 55-60.000.000 cư dân chiếm khoảng từ một phần sáu tới một phần tư dân số của thế giới và khiến cho nó trở thành quốc gia có dân cư lớn nhất hơn bất cứ thực thể chính trị thống nhất nào ở phương Tây cho đến giữa thế kỷ 19 Những nghiên cứu nhân khẩu học gần đây đã minh chứng rằng vào lúc đỉnh điểm, đế quốc có từ 70 triệu đến hơn 100 triệu thần dân. Bất cứ thành phố nào trong ba thành phố lớn nhất của Đế quốc-Rôma, Alexandria, và Antioch- gần như đều có kích thước gấp đôi bất kỳ thành phố châu Âu vào đầu thế kỷ 17.
Vào thời Traianus, Đế quốc đạt diện tích bao nhiêu?
5.000.000 km vuông
Ngôn ngữ của người La Mã là tiếng Latin, nó đã được Vergil nhấn mạnh như một nguồn gốc của sự thống nhất và truyền thống của người La Mã. Cho đến tận thời của Alexander Severus (trị vì từ năm 222-235), Giấy khai sinh và chúc thư của công dân La Mã đều phải được viết bằng tiếng Latin. Tiếng Latin cũng còn là ngôn ngữ của các tòa án ở phía Tây và của quân đội trên khắp Đế quốc, nhưng lại không được áp dụng chính thức đối với những cư dân nằm dưới sự cai trị của người La Mã. Thánh Augustinô nhận xét rằng người La Mã ưa thích tiếng Latinh đến mức đã chấp nhận và thực hiện per societatis pacem, thông qua một hiệp ước xã hội. Chính sách này tương phản với của Alexandros Đại đế, vốn mong muốn nhằm biến tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức trên khắp đế chế của mình. Như là một hệ quả từ các cuộc chinh phục của Alexandros, ngôn ngữ Koine Hy Lạp đã trở thành ngôn ngữ chung ở khu vực quanh phía đông Địa Trung Hải và ở Tiểu Á "Biên giới ngôn ngữ họ" này đã phân chia đế quốc thành hai nửa với tiếng Latin ở Phía Tây và tiếng Hy Lạp ở Phía Đông thông qua bán đảo Balkan, tạo ra một hệ ngôn ngữ song song bên trong đế quốc La Mã.
Tiếng Latin được sử dụng như thế nào trong các tòa án ở Tây phương?
ngôn ngữ của các tòa án
Ngôn ngữ của người La Mã là tiếng Latin, nó đã được Vergil nhấn mạnh như một nguồn gốc của sự thống nhất và truyền thống của người La Mã. Cho đến tận thời của Alexander Severus (trị vì từ năm 222-235), Giấy khai sinh và chúc thư của công dân La Mã đều phải được viết bằng tiếng Latin. Tiếng Latin cũng còn là ngôn ngữ của các tòa án ở phía Tây và của quân đội trên khắp Đế quốc, nhưng lại không được áp dụng chính thức đối với những cư dân nằm dưới sự cai trị của người La Mã. Thánh Augustinô nhận xét rằng người La Mã ưa thích tiếng Latinh đến mức đã chấp nhận và thực hiện per societatis pacem, thông qua một hiệp ước xã hội. Chính sách này tương phản với của Alexandros Đại đế, vốn mong muốn nhằm biến tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức trên khắp đế chế của mình. Như là một hệ quả từ các cuộc chinh phục của Alexandros, ngôn ngữ Koine Hy Lạp đã trở thành ngôn ngữ chung ở khu vực quanh phía đông Địa Trung Hải và ở Tiểu Á "Biên giới ngôn ngữ họ" này đã phân chia đế quốc thành hai nửa với tiếng Latin ở Phía Tây và tiếng Hy Lạp ở Phía Đông thông qua bán đảo Balkan, tạo ra một hệ ngôn ngữ song song bên trong đế quốc La Mã.
Ngôn ngữ chính thức của quân đội và tòa án La Mã là gì?
Tiếng Latin
Những người La Mã mà được nhận một nền giáo dục ưu tú, thì lại học tiếng Hy Lạp như là một ngôn ngữ thơ ca, và hầu hết những người thuộc chính quyền đều có thể nói tiếng Hy Lạp. Các vị hoàng đế của triều đại Julio-Claudius đã khuyến khích những tiêu chuẩn cao đối với tiếng Latin chuẩn (Latinitas), một trào lưu ngôn ngữ được đồng nhất theo những thuật ngữ hiện đại như là tiếng La tinh cổ điển, và ủng hộ việc sử dụng chính thức tiếng Latin trong các hoạt động kinh doanh. Hoàng đế Claudius đã cố gắng để hạn chế việc sử dụng tiếng Hy Lạp, và nhân dịp này ông đã cho thu hồi quyền công dân của những người ít sử dụng tiếng Latin, nhưng ngay cả trong Viện nguyên lão, ông chỉ cần sử dụng đến song ngữ riêng của mình trong những dịp phải tiếp kiến với những sứ thần biết nói tiếng Hy lạp. Suetonius trích dẫn lời nói của ông mà đã đề cập đến "hai ngôn ngữ của chúng ta," và hoàng đế đã sử dụng hai viên thư ký hoàng gia, một dùng tiếng Hy Lạp và một là tiếng Latinh, để đề ngày tháng cho triều đại của ông.
Hoàng đế nào đã cố gắng hạn chế việc sử dụng tiếng Hy Lạp?
Claudius
Những người La Mã mà được nhận một nền giáo dục ưu tú, thì lại học tiếng Hy Lạp như là một ngôn ngữ thơ ca, và hầu hết những người thuộc chính quyền đều có thể nói tiếng Hy Lạp. Các vị hoàng đế của triều đại Julio-Claudius đã khuyến khích những tiêu chuẩn cao đối với tiếng Latin chuẩn (Latinitas), một trào lưu ngôn ngữ được đồng nhất theo những thuật ngữ hiện đại như là tiếng La tinh cổ điển, và ủng hộ việc sử dụng chính thức tiếng Latin trong các hoạt động kinh doanh. Hoàng đế Claudius đã cố gắng để hạn chế việc sử dụng tiếng Hy Lạp, và nhân dịp này ông đã cho thu hồi quyền công dân của những người ít sử dụng tiếng Latin, nhưng ngay cả trong Viện nguyên lão, ông chỉ cần sử dụng đến song ngữ riêng của mình trong những dịp phải tiếp kiến với những sứ thần biết nói tiếng Hy lạp. Suetonius trích dẫn lời nói của ông mà đã đề cập đến "hai ngôn ngữ của chúng ta," và hoàng đế đã sử dụng hai viên thư ký hoàng gia, một dùng tiếng Hy Lạp và một là tiếng Latinh, để đề ngày tháng cho triều đại của ông.
Những người La Mã có nền giáo dục ưu tú học tiếng Hy Lạp như thế nào?
ngôn ngữ thơ ca
Ở phía Đông của đế chế, pháp luật và các văn bản chính thức thường xuyên được dịch sang tiếng Hy Lạp từ tiếng La tinh. Sự giao thoa hàng ngày của hai ngôn ngữ được thể hiện trong những câu văn viết bằng song ngữ, mà thậm chí đôi khi có sự chuyển đổi qua lại giữa tiếng Hy Lạp và Latinh. Ví dụ như Văn bia của một người lính nói tiếng Hy lạp, có thể chủ yếu được viết bằng tiếng Hy Lạp, với cấp bậc và đơn vị của ông ta trong quân đội La Mã thể hiện bằng tiếng Latinh. Sau khi tất cả các cư dân tự do của đế quốc được ban cho quyền công dân La Mã vào năm 212 CN, một số lượng lớn các công dân La Mã sẽ phải biết chút ít tiếng Latinh.
Năm nào tất cả các cư dân tự do của đế chế được ban cho quyền công dân La Mã?
212 CN
Ở phía Đông của đế chế, pháp luật và các văn bản chính thức thường xuyên được dịch sang tiếng Hy Lạp từ tiếng La tinh. Sự giao thoa hàng ngày của hai ngôn ngữ được thể hiện trong những câu văn viết bằng song ngữ, mà thậm chí đôi khi có sự chuyển đổi qua lại giữa tiếng Hy Lạp và Latinh. Ví dụ như Văn bia của một người lính nói tiếng Hy lạp, có thể chủ yếu được viết bằng tiếng Hy Lạp, với cấp bậc và đơn vị của ông ta trong quân đội La Mã thể hiện bằng tiếng Latinh. Sau khi tất cả các cư dân tự do của đế quốc được ban cho quyền công dân La Mã vào năm 212 CN, một số lượng lớn các công dân La Mã sẽ phải biết chút ít tiếng Latinh.
Ngôn ngữ nào thường xuyên được dịch sang tiếng Hy Lạp từ tiếng La tinh ở phía Đông của đế chế?
văn bản chính thức
Một trong những cải cách của hoàng đế Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đó là đã tìm cách khôi phục lại uy quyền của tiếng Latinh với những từ ngữ tiếng Hy Lạp ἡ κρατοῦσα διάλεκτος (hẽ kratousa dialektos) là minh chứng cho việc duy trì địa vị của tiếng Latin là "ngôn ngữ của quyền lực". Học giả Libanius (thế kỷ thứ 4) coi tiếng Latinh như là nguyên nhân gây ra một sự suy giảm trong chất lượng của thuật hùng biện Hy Lạp Trong những năm đầu của thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinianus đã tiến hành một nỗ lực viển vông nhằm tái khẳng định địa vị của tiếng Latin như là ngôn ngữ của pháp luật. mặc dù vào thời của ông ta, tiếng Latin không còn giữ được sự thịnh hành như là một sinh ngữ ở phía Đông.
Hoàng đế nào đã tiến hành một nỗ lực viển vông nhằm tái khẳng định địa vị của tiếng Latin như là ngôn ngữ của pháp luật?
Justinianus
Một trong những cải cách của hoàng đế Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đó là đã tìm cách khôi phục lại uy quyền của tiếng Latinh với những từ ngữ tiếng Hy Lạp ἡ κρατοῦσα διάλεκτος (hẽ kratousa dialektos) là minh chứng cho việc duy trì địa vị của tiếng Latin là "ngôn ngữ của quyền lực". Học giả Libanius (thế kỷ thứ 4) coi tiếng Latinh như là nguyên nhân gây ra một sự suy giảm trong chất lượng của thuật hùng biện Hy Lạp Trong những năm đầu của thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinianus đã tiến hành một nỗ lực viển vông nhằm tái khẳng định địa vị của tiếng Latin như là ngôn ngữ của pháp luật. mặc dù vào thời của ông ta, tiếng Latin không còn giữ được sự thịnh hành như là một sinh ngữ ở phía Đông.
Tiếng Latin thời Diocletianus là "ngôn ngữ của gì"?
quyền lực
Một trong những cải cách của hoàng đế Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đó là đã tìm cách khôi phục lại uy quyền của tiếng Latinh với những từ ngữ tiếng Hy Lạp ἡ κρατοῦσα διάλεκτος (hẽ kratousa dialektos) là minh chứng cho việc duy trì địa vị của tiếng Latin là "ngôn ngữ của quyền lực". Học giả Libanius (thế kỷ thứ 4) coi tiếng Latinh như là nguyên nhân gây ra một sự suy giảm trong chất lượng của thuật hùng biện Hy Lạp Trong những năm đầu của thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinianus đã tiến hành một nỗ lực viển vông nhằm tái khẳng định địa vị của tiếng Latin như là ngôn ngữ của pháp luật. mặc dù vào thời của ông ta, tiếng Latin không còn giữ được sự thịnh hành như là một sinh ngữ ở phía Đông.
Hoàng đế Diocletianus trị vì từ năm nào?
284-305
Ở phía Tây, tiếng Latinh có vai trò cực kì quan trọng trong việc vươn tới bộ máy chính quyền và đều này gây ra sự biến mất nhanh chóng của những bản khắc đã được sử dụng để diễn tả ngôn ngữ địa phương trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha thời La Mã) và ở Gaul. Một trong những số các khía cạnh khác biệt của nền văn hóa Gallo-La Mã đó là việc tạo ra các bản văn Gallo-Latin, và ngay tại khu vực Gallia Narbonensis, cả ba ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, Gaul) đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 1 trước CN. Ở Ý, việc sử dụng các văn bản bằng tiếng Latin đã thay thế tiếng Etruscan và Oscan vào cuối thế kỷ 1 sau CN Sự thống trị của tiếng Latinh ở giữa tầng lớp có học thức có thể đã dần làm phai mờ tính liên tục của các ngôn ngữ nói, và còn vì tất cả các nền văn hóa trong đế chế La Mã chủ yếu đều truyền miệng.
Tiếng Latinh thay thế ngôn ngữ nào ở Ý vào cuối thế kỷ 1 sau CN?
Etruscan và Oscan
Ở phía Tây, tiếng Latinh có vai trò cực kì quan trọng trong việc vươn tới bộ máy chính quyền và đều này gây ra sự biến mất nhanh chóng của những bản khắc đã được sử dụng để diễn tả ngôn ngữ địa phương trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha thời La Mã) và ở Gaul. Một trong những số các khía cạnh khác biệt của nền văn hóa Gallo-La Mã đó là việc tạo ra các bản văn Gallo-Latin, và ngay tại khu vực Gallia Narbonensis, cả ba ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, Gaul) đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 1 trước CN. Ở Ý, việc sử dụng các văn bản bằng tiếng Latin đã thay thế tiếng Etruscan và Oscan vào cuối thế kỷ 1 sau CN Sự thống trị của tiếng Latinh ở giữa tầng lớp có học thức có thể đã dần làm phai mờ tính liên tục của các ngôn ngữ nói, và còn vì tất cả các nền văn hóa trong đế chế La Mã chủ yếu đều truyền miệng.
Ngôn ngữ nào được sử dụng cùng tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh tại Gallia Narbonensis vào giữa thế kỷ 1 trước CN?
Gaul
Ở phía Tây, tiếng Latinh có vai trò cực kì quan trọng trong việc vươn tới bộ máy chính quyền và đều này gây ra sự biến mất nhanh chóng của những bản khắc đã được sử dụng để diễn tả ngôn ngữ địa phương trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha thời La Mã) và ở Gaul. Một trong những số các khía cạnh khác biệt của nền văn hóa Gallo-La Mã đó là việc tạo ra các bản văn Gallo-Latin, và ngay tại khu vực Gallia Narbonensis, cả ba ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, Gaul) đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 1 trước CN. Ở Ý, việc sử dụng các văn bản bằng tiếng Latin đã thay thế tiếng Etruscan và Oscan vào cuối thế kỷ 1 sau CN Sự thống trị của tiếng Latinh ở giữa tầng lớp có học thức có thể đã dần làm phai mờ tính liên tục của các ngôn ngữ nói, và còn vì tất cả các nền văn hóa trong đế chế La Mã chủ yếu đều truyền miệng.
Ở đâu, tiếng Latinh đã thay thế tiếng Etruscan và Oscan?
Ý
Ở phía Tây, tiếng Latinh có vai trò cực kì quan trọng trong việc vươn tới bộ máy chính quyền và đều này gây ra sự biến mất nhanh chóng của những bản khắc đã được sử dụng để diễn tả ngôn ngữ địa phương trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha thời La Mã) và ở Gaul. Một trong những số các khía cạnh khác biệt của nền văn hóa Gallo-La Mã đó là việc tạo ra các bản văn Gallo-Latin, và ngay tại khu vực Gallia Narbonensis, cả ba ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, Gaul) đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 1 trước CN. Ở Ý, việc sử dụng các văn bản bằng tiếng Latin đã thay thế tiếng Etruscan và Oscan vào cuối thế kỷ 1 sau CN Sự thống trị của tiếng Latinh ở giữa tầng lớp có học thức có thể đã dần làm phai mờ tính liên tục của các ngôn ngữ nói, và còn vì tất cả các nền văn hóa trong đế chế La Mã chủ yếu đều truyền miệng.
Tiếng Latinh thay thế tiếng Etruscan và Oscan ở Ý vào thời điểm nào?
cuối thế kỷ 1 sau CN
Ở đế quốc Tây La Mã, tiếng Latin dần dần thay thế tiếng Celtic và tiếng Italic vốn có liên quan đến nó bằng cách chia sẻ chung nguồn gốc Ấn-Âu. Tương đồng trong cú pháp và từ vựng đã tạo thuận lợi cho việc chấp nhận và sử dụng tiếng Latinh. Tiếng Basque thì lại vốn không phải là một ngôn ngữ Ấn-Âu và nó đã tiếp tục tồn tại trong khu vực dãy núi Pyrenee. Sau giai đoạn phân chia quyền lực chính trị vào thời kì hậu cổ đại, tiếng Latin đã phát triển thành các nhánh khác nhau với tính chất cục bộ mà cuối cùng đã trở thành nhóm ngôn ngữ Rôman, chẳng hạn như tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý và Romania. Vì là một ngôn ngữ quốc tế của tri thức và văn học, bản thân tiếng Latin vẫn tiếp tục là một phương tiện dùng trong các hoạt động ngoại giao và cho sự phát triển trí thức được đồng nhất với chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng cho đến tận thế kỷ 17, và đối với pháp luật và Giáo hội Giáo hội Công giáo Rôma cho đến ngày nay.
Ngôn ngữ tiếp tục tồn tại trong khu vực dãy núi Pyrenee là gì?
Tiếng Basque
Mặc dù tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ của Đế quốc Byzantine, sự phân bố ngôn ngữ ở phía Đông lại phức tạp hơn. Đa số những người nói tiếng Hy lạp sống ở bán đảo và các quần đảo của Hy Lạp, miền tây Tiểu Á, các thành phố lớn, và một số vùng ven biển. Giống như tiếng Hy Lạp và Latinh, tiếng Thracia có nguồn gốc từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, và cũng như một số ngôn ngữ đã biến mất khác ở Anatolia như tiếng Galatia, Phrygia, Pisidian, và Cappadocia, chúng chỉ được chứng thực từ những chữ khắc vào thời kì đế quốc. Có nhiều ngôn ngữ Phi Á-chủ yếu là tiếng Copt ở Ai Cập, và tiếng Aramit ở Syria và Lưỡng Hà-không bao giờ bị tiếng Hy Lạp thay thế. Những người lính Palmyra thậm chí sử dụng phương ngữ Aramaic của họ trên các chữ khắc, đây là một ngoại lệ đáng chú ý bởi vì tiếng Latinh là ngôn ngữ được dùng cho quân đội.
Ở đâu những người nói tiếng Hy Lạp chủ yếu sinh sống?
bán đảo và các quần đảo của Hy Lạp
Mặc dù tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ của Đế quốc Byzantine, sự phân bố ngôn ngữ ở phía Đông lại phức tạp hơn. Đa số những người nói tiếng Hy lạp sống ở bán đảo và các quần đảo của Hy Lạp, miền tây Tiểu Á, các thành phố lớn, và một số vùng ven biển. Giống như tiếng Hy Lạp và Latinh, tiếng Thracia có nguồn gốc từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, và cũng như một số ngôn ngữ đã biến mất khác ở Anatolia như tiếng Galatia, Phrygia, Pisidian, và Cappadocia, chúng chỉ được chứng thực từ những chữ khắc vào thời kì đế quốc. Có nhiều ngôn ngữ Phi Á-chủ yếu là tiếng Copt ở Ai Cập, và tiếng Aramit ở Syria và Lưỡng Hà-không bao giờ bị tiếng Hy Lạp thay thế. Những người lính Palmyra thậm chí sử dụng phương ngữ Aramaic của họ trên các chữ khắc, đây là một ngoại lệ đáng chú ý bởi vì tiếng Latinh là ngôn ngữ được dùng cho quân đội.
Tiếng Aramit được sử dụng ở đâu?
Syria và Lưỡng Hà
Theo luật gia Gaius, sự khác biệt quan trọng trong "Dân luật" của người La Mã đó là tất cả mọi người hoặc là những người tự do(Liberi) hoặc là nô lệ (servi). Tư cách pháp lý của người tự do xa hơn nữa có thể được xác định bằng quyền công dân của họ. Vào đầu thời kì đế quốc, chỉ có một số lượng nam giới tương đối hạn chế có được đầy đủ các quyền công dân La Mã mà cho phép họ có quyền bỏ phiếu, tranh cử, và gia nhập vào hàng ngũ thầy tế. Hầu hết người dân đều giữ những quyền hạn chế (chẳng hạn như ius Latinum,"quyền của người Latin"), nhưng đã được pháp luật bảo vệ và những đặc quyền mà người thiếu quyền công dân không được hưởng. Người tự do không được coi là công dân, nhưng sinh sống bên trong thế giới La Mã, đã giữ địa vị là peregrini, không phải người La Mã. Năm 212 CN, bằng sắc lệnh được biết đến như là Constitutio Antoniniana, hoàng đế Caracalla đã mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc. Chủ nghĩa quân bình hợp pháp này đòi hỏi một sự sửa đổi sâu rộng đối với những pháp luật hiện hành vốn đã phân chia giữa công dân và những người không phải công dân.
Ai ban hành sắc lệnh mở rộng quyền công dân cho tất cả cư dân tự do của đế quốc La Mã?
hoàng đế Caracalla
Theo luật gia Gaius, sự khác biệt quan trọng trong "Dân luật" của người La Mã đó là tất cả mọi người hoặc là những người tự do(Liberi) hoặc là nô lệ (servi). Tư cách pháp lý của người tự do xa hơn nữa có thể được xác định bằng quyền công dân của họ. Vào đầu thời kì đế quốc, chỉ có một số lượng nam giới tương đối hạn chế có được đầy đủ các quyền công dân La Mã mà cho phép họ có quyền bỏ phiếu, tranh cử, và gia nhập vào hàng ngũ thầy tế. Hầu hết người dân đều giữ những quyền hạn chế (chẳng hạn như ius Latinum,"quyền của người Latin"), nhưng đã được pháp luật bảo vệ và những đặc quyền mà người thiếu quyền công dân không được hưởng. Người tự do không được coi là công dân, nhưng sinh sống bên trong thế giới La Mã, đã giữ địa vị là peregrini, không phải người La Mã. Năm 212 CN, bằng sắc lệnh được biết đến như là Constitutio Antoniniana, hoàng đế Caracalla đã mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc. Chủ nghĩa quân bình hợp pháp này đòi hỏi một sự sửa đổi sâu rộng đối với những pháp luật hiện hành vốn đã phân chia giữa công dân và những người không phải công dân.
Vào đầu thời kì đế quốc La Mã, ai có đầy đủ các quyền công dân La Mã?
số lượng nam giới tương đối hạn chế
Theo luật gia Gaius, sự khác biệt quan trọng trong "Dân luật" của người La Mã đó là tất cả mọi người hoặc là những người tự do(Liberi) hoặc là nô lệ (servi). Tư cách pháp lý của người tự do xa hơn nữa có thể được xác định bằng quyền công dân của họ. Vào đầu thời kì đế quốc, chỉ có một số lượng nam giới tương đối hạn chế có được đầy đủ các quyền công dân La Mã mà cho phép họ có quyền bỏ phiếu, tranh cử, và gia nhập vào hàng ngũ thầy tế. Hầu hết người dân đều giữ những quyền hạn chế (chẳng hạn như ius Latinum,"quyền của người Latin"), nhưng đã được pháp luật bảo vệ và những đặc quyền mà người thiếu quyền công dân không được hưởng. Người tự do không được coi là công dân, nhưng sinh sống bên trong thế giới La Mã, đã giữ địa vị là peregrini, không phải người La Mã. Năm 212 CN, bằng sắc lệnh được biết đến như là Constitutio Antoniniana, hoàng đế Caracalla đã mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc. Chủ nghĩa quân bình hợp pháp này đòi hỏi một sự sửa đổi sâu rộng đối với những pháp luật hiện hành vốn đã phân chia giữa công dân và những người không phải công dân.
Sắc lệnh nào mở rộng quyền công dân cho tất cả cư dân tự do của đế quốc La Mã?
Constitutio Antoniniana
Những người phụ nữ La Mã tự do được coi là công dân từ thời nhà nước Cộng hoà cho tới thời Đế quốc, nhưng họ không có quyền bỏ phiếu hay nắm giữ chức vụ chính trị, hoặc phục vụ trong quân đội. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ có quyền công dân thì cũng sẽ có được điều này, thể hiện bằng cách nói ex duobus civibus Romanis natos ("trẻ em sinh ra bởi hai công dân La Mã"). Một người phụ nữ La Mã giữ tên họ của gia đình mình (nomen)trong suốt cuộc đời. Con cái thường lấy theo tên của người cha, nhưng vào thời kì đế quốc, đôi khi lại sử dụng một phần tên của người mẹ cho tên của họ, hoặc thậm chí sử dụng nó để thay thế.
Trẻ em sinh ra từ người mẹ có quyền công dân La Mã sẽ được quyền gì?
quyền công dân
Những người phụ nữ La Mã tự do được coi là công dân từ thời nhà nước Cộng hoà cho tới thời Đế quốc, nhưng họ không có quyền bỏ phiếu hay nắm giữ chức vụ chính trị, hoặc phục vụ trong quân đội. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ có quyền công dân thì cũng sẽ có được điều này, thể hiện bằng cách nói ex duobus civibus Romanis natos ("trẻ em sinh ra bởi hai công dân La Mã"). Một người phụ nữ La Mã giữ tên họ của gia đình mình (nomen)trong suốt cuộc đời. Con cái thường lấy theo tên của người cha, nhưng vào thời kì đế quốc, đôi khi lại sử dụng một phần tên của người mẹ cho tên của họ, hoặc thậm chí sử dụng nó để thay thế.
Con cái của người phụ nữ La Mã thường lấy tên họ của ai?
người cha
Những người phụ nữ La Mã tự do được coi là công dân từ thời nhà nước Cộng hoà cho tới thời Đế quốc, nhưng họ không có quyền bỏ phiếu hay nắm giữ chức vụ chính trị, hoặc phục vụ trong quân đội. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ có quyền công dân thì cũng sẽ có được điều này, thể hiện bằng cách nói ex duobus civibus Romanis natos ("trẻ em sinh ra bởi hai công dân La Mã"). Một người phụ nữ La Mã giữ tên họ của gia đình mình (nomen)trong suốt cuộc đời. Con cái thường lấy theo tên của người cha, nhưng vào thời kì đế quốc, đôi khi lại sử dụng một phần tên của người mẹ cho tên của họ, hoặc thậm chí sử dụng nó để thay thế.
Những người phụ nữ La Mã có quyền gì về mặt công dân?
được coi là công dân
Dưới triều đaị của Augustus, có đến 35 phần trăm người dân ở Ý là nô lệ, điều này khiến cho Roma trở thành một trong năm "xã hội nô lệ" trong lịch sử, trong đó những người nô lệ chiếm ít nhất một phần năm dân số và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trong môi trường đô thị, nô lệ có thể là các chuyên gia như thầy giáo, thầy thuốc, đầu bếp, người giữ sổ sách, ngoài ra thì phần lớn các nô lệ đã qua huấn luyện hoặc không có kỹ năng thì lao động ở trong các hộ gia đình hoặc các công xưởng. Các ngành nông nghiệp và công nghiệp, chẳng hạn như xay xát và khai thác mỏ, đều dựa trên việc khai thác sức lao động của nô lệ. Bên ngoài đất Ý, nô lệ chiếm trung bình khoảng từ 10 đến 20 phần trăm dân số, ở tỉnh Ai Cập thuộc La Mã thì lại thưa thớt nhưng tập trung nhiều hơn ở một số vùng của Hy Lạp. Việc mở rộng quyền sở hữu đất canh tác và các ngành công nghiệp của người La Mã sẽ bị ảnh hưởng từ thực tiễn của chế độ nô lệ ở các tỉnh..
Tỷ lệ nô lệ ở Ý dưới triều đại Augustus là bao nhiêu?
35 phần trăm
Pháp luật liên quan đến chế độ nô lệ là "cực kỳ phức tạp". Theo luật La Mã, nô lệ được coi là tài sản và không có địa vị pháp lý. Họ có thể phải chịu các hình thức nhục hình vốn không thường được áp dụng đối với công dân, bóc lột tình dục, tra tấn, và hành quyết nô lệ mà không cần xét xử. Một nô lệ bị cưỡng bức thì không phải là một vấn đề quan trọng trong pháp luật bởi lẽ tội hiếp dâm chỉ có thể bị tống giam nếu đó là người tự do; Người chủ nô có quyền khởi tố người cưỡng bức nô lệ của mình vì đã làm thiệt hại tài sản theo Luật Aquilia Nô lệ có hình thức hôn nhân không được pháp luật công nhận được gọi là conubium, nhưng đôi khi hôn nhân của họ được công nhận, và nếu cả hai được trả tự do thì họ có thể kết hôn. Sau những cuộc chiến tranh nô lệ dưới thời Cộng hòa, pháp luật dưới triều đại của Augustus và những người kế vị ông đã cho thấy một chiều hướng quan tâm đến việc kiểm soát các mối đe dọa từ các cuộc khởi nghĩa thông qua việc hạn chế kích thước của các nhóm lao động, và việc săn lùng nô lệ bỏ trốn.
Theo luật La Mã, nô lệ bị coi là gì?
tài sản
Pháp luật liên quan đến chế độ nô lệ là "cực kỳ phức tạp". Theo luật La Mã, nô lệ được coi là tài sản và không có địa vị pháp lý. Họ có thể phải chịu các hình thức nhục hình vốn không thường được áp dụng đối với công dân, bóc lột tình dục, tra tấn, và hành quyết nô lệ mà không cần xét xử. Một nô lệ bị cưỡng bức thì không phải là một vấn đề quan trọng trong pháp luật bởi lẽ tội hiếp dâm chỉ có thể bị tống giam nếu đó là người tự do; Người chủ nô có quyền khởi tố người cưỡng bức nô lệ của mình vì đã làm thiệt hại tài sản theo Luật Aquilia Nô lệ có hình thức hôn nhân không được pháp luật công nhận được gọi là conubium, nhưng đôi khi hôn nhân của họ được công nhận, và nếu cả hai được trả tự do thì họ có thể kết hôn. Sau những cuộc chiến tranh nô lệ dưới thời Cộng hòa, pháp luật dưới triều đại của Augustus và những người kế vị ông đã cho thấy một chiều hướng quan tâm đến việc kiểm soát các mối đe dọa từ các cuộc khởi nghĩa thông qua việc hạn chế kích thước của các nhóm lao động, và việc săn lùng nô lệ bỏ trốn.
Theo luật La Mã, nô lệ có địa vị pháp lý như thế nào?
không có địa vị pháp lý
Pháp luật liên quan đến chế độ nô lệ là "cực kỳ phức tạp". Theo luật La Mã, nô lệ được coi là tài sản và không có địa vị pháp lý. Họ có thể phải chịu các hình thức nhục hình vốn không thường được áp dụng đối với công dân, bóc lột tình dục, tra tấn, và hành quyết nô lệ mà không cần xét xử. Một nô lệ bị cưỡng bức thì không phải là một vấn đề quan trọng trong pháp luật bởi lẽ tội hiếp dâm chỉ có thể bị tống giam nếu đó là người tự do; Người chủ nô có quyền khởi tố người cưỡng bức nô lệ của mình vì đã làm thiệt hại tài sản theo Luật Aquilia Nô lệ có hình thức hôn nhân không được pháp luật công nhận được gọi là conubium, nhưng đôi khi hôn nhân của họ được công nhận, và nếu cả hai được trả tự do thì họ có thể kết hôn. Sau những cuộc chiến tranh nô lệ dưới thời Cộng hòa, pháp luật dưới triều đại của Augustus và những người kế vị ông đã cho thấy một chiều hướng quan tâm đến việc kiểm soát các mối đe dọa từ các cuộc khởi nghĩa thông qua việc hạn chế kích thước của các nhóm lao động, và việc săn lùng nô lệ bỏ trốn.
Nô lệ có được pháp luật công nhận về hôn nhân không?
không được pháp luật công nhận
Roma khác với các thành bang Hy Lạp ở chỗ cho phép những người nô lệ được giải phóng trở thành công dân. Sau khi được giải phóng, một nô lệ đã từng thuộc về một công dân La Mã không chỉ được hưởng sự tự do thụ động từ quyền sở hữu, mà còn cả quyền tự do chính trị thực sự (Libertas), trong đó có cả quyền biểu quyết. Một nô lệ mà đã đạt được Libertas, thì cũng còn là một libertus ("người được giải phóng", Liberta nữ) nhờ mối quan hệ với chủ cũ của mình, và sau đó đã trở thành người bảo trợ của ông ta (Patronus): hai bên tiếp tục có những nghĩa vụ thông thường và hợp pháp với nhau. Những người nô lệ được giải phóng còn được xếp vào một tầng lớp xã hội, nói chung gọi là libertini, mặc dù các nhà văn sau đó sử dụng thuật ngữ libertus và libertinus.
Những người được giải phóng khỏi cảnh làm một người đầy tớ được gọi là gì?
libertus
Roma khác với các thành bang Hy Lạp ở chỗ cho phép những người nô lệ được giải phóng trở thành công dân. Sau khi được giải phóng, một nô lệ đã từng thuộc về một công dân La Mã không chỉ được hưởng sự tự do thụ động từ quyền sở hữu, mà còn cả quyền tự do chính trị thực sự (Libertas), trong đó có cả quyền biểu quyết. Một nô lệ mà đã đạt được Libertas, thì cũng còn là một libertus ("người được giải phóng", Liberta nữ) nhờ mối quan hệ với chủ cũ của mình, và sau đó đã trở thành người bảo trợ của ông ta (Patronus): hai bên tiếp tục có những nghĩa vụ thông thường và hợp pháp với nhau. Những người nô lệ được giải phóng còn được xếp vào một tầng lớp xã hội, nói chung gọi là libertini, mặc dù các nhà văn sau đó sử dụng thuật ngữ libertus và libertinus.
Sau khi được giải phóng, nô lệ sẽ trở thành tầng lớp xã hội nào?
libertini
Một libertinus không có quyền nắm giữ chức vụ công hoặc giáo sĩ tối cao của nhà nước, nhưng người này có thể đóng một vai trò của một giáo sĩ trong tôn giáo thờ cúng hoàng đế. Ông ta cũng không thể kết hôn với một người phụ nữ từ một gia đình thuộc tầng lớp nguyên lão, cũng như bản thân ông ta không được phép đứng vào hàng ngũ nguyên lão, nhưng vào thời kì đầu của đế quốc, những nô lệ được giải phóng đã giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy quan liêu của chính phủ nhiều tới mức Hadrianus đã phải hạn chế sự tham gia của họ bằng pháp luật. Bất kỳ đứa trẻ nào được một nô lệ được giải phóng sinh ra thì đều là người tự do, với đầy đủ các quyền công dân.
Bất kỳ đứa trẻ nào được ai sinh ra thì đều là người tự do?
nô lệ được giải phóng
"Nguyên lão", bản thân nó thì không phải là một chức vụ được bầu ở La Mã cổ đại, một cá nhân được nhận vào Viện nguyên lão sau khi ông ta đã được bầu và giữ chức vụ là một thẩm phám hành pháp ít nhất một nhiệm kì. Một nguyên lão cũng phải đáp ứng một yêu cầu về tài sản tối thiểu là 1 triệu sestertii, vốn được xác định bởi những cuộc điều tra dân số. Nero đã ban tặng nhiều tiền bạc cho một số nguyên lão từ các dòng họ lâu đời nhưng nay họ đã trở nên quá nghèo khổ để có thể đủ điều kiện. Không phải tất cả những người có đủ điều kiện Ordo senatorius đều được lựa chọn vào một vị trí trong Viện nguyên lão, mà trong đó yêu cầu có nơi cư trú hợp pháp tại Roma. Hoàng đế thường bổ sung những vị trí còn khuyết trong hội đồng 600 thành viên bằng cách bổ nhiệm. Con trai của một nguyên lão thuộc Ordo senatorius cũng phải hội đủ điều kiện riêng của mình thì cũng mới được chấp nhận vào Viện Nguyên Lão. Một nguyên lão có thể bị mất ghế nếu ông ta vi phạm tiêu chuẩn đạo đức: ví dụ như ông ta bị cấm kết hôn với một phụ nữ được trả tự do hoặc chiến đấu trong đấu trường.
Một nguyên lão La Mã cổ đại phải đáp ứng yêu cầu về tài sản tối thiểu là bao nhiêu?
1 triệu sestertii
Các nguyên lão đã có một vầng hào quang uy tín và là tầng lớp thống trị truyền thống của những người nổi lên thông qua honorum cursus, con đường của sự nghiệp chính trị, nhưng tầng lớp kị sĩ của đế quốc lại thường nắm giữ sự giàu có và nhiều quyền lực chính trị hơn. Thành viên của tầng lớp kị sĩ được căn cứ vào tài sản, vào những ngày đầu của Roma, equites hay kị sĩ đã được phân biệt bởi việc họ có khả năng tham gia lực lượng kị binh trong quân đội (những "kị binh của nhân dân"), nhưng vào thời đế quốc, việc tham gia kị binh đã được tách riêng Một người được coi là một Kị sĩ nếu như ông ta có giá trị tài sản là 400.000 sesterces và ba thế hệ trong gia đình sinh ra là người tự do thì mới đủ điều kiện. Cuộc điều tra dân số vào năm 28 trước Công nguyên đã khám phá ra một số lượng lớn những người đủ điều kiện, và trong năm 14 CN, một ngàn kị sĩ đã được ghi nhận chỉ riêng tại Cadiz và Padua. Tầng lớp kị sĩ còn nổi lên thông qua con đường binh nghiệp(tres militiae) để nắm giữ các chức vụ quan trọng như Thái thú và Kiểm sát trưởng trong chính quyền đế quốc.
Điều kiện tài sản để trở thành Kị sĩ là bao nhiêu?
400.000 sesterces
Sự nổi lên của các nguyên lão và kị sĩ đến từ các tỉnh là một khía cạnh của biến động xã hội trong ba thế kỷ đầu của đế quốc. Tầng lớp quý tộc La Mã được dựa trên sự cạnh tranh, và không giống tầng lớp quý tộc châu Âu sau này, một gia đình La Mã không thể duy trì vị thế của nó chỉ đơn thuần thông qua thừa kế hoặc có được quyền sở hữu đất đai. Được đứng vào những ordines cao hơn mang đến sự ưu đãi và đặc quyền, nhưng cũng có một số trách nhiệm. Vào thời cổ đại, mỗi một thành phố đều phải trông đợi vào sự tài trợ từ các công dân có thế lực của nó cho những công trình công cộng, các sự kiện, và các buổi lễ (munera), chứ không phải là thu nhập từ thuế, trong đó chủ yếu là hỗ trợ cho quân đội. Để duy trì địa vị thì đòi hỏi mỗi người đều phải có những khoản chi tiêu cá nhân lớn. Những Decurion đã trở nên quan trọng đối với hoạt động của các thành phố tới mức vào giai đoạn cuối của đế quốc, khi mà những thành viên của Hội đồng thành phố ngày càng trở nên ít dần, những người đã đứng vào Viện nguyên lão lại được chính quyền trung ương khuyến khích từ bỏ vị trí của mình và trở về quê hương, trong một nỗ lực để duy trì các hoạt động dân sự.
Để duy trì địa vị thì đòi hỏi mỗi người đều phải có những gì?
khoản chi tiêu cá nhân lớn
Sự nổi lên của các nguyên lão và kị sĩ đến từ các tỉnh là một khía cạnh của biến động xã hội trong ba thế kỷ đầu của đế quốc. Tầng lớp quý tộc La Mã được dựa trên sự cạnh tranh, và không giống tầng lớp quý tộc châu Âu sau này, một gia đình La Mã không thể duy trì vị thế của nó chỉ đơn thuần thông qua thừa kế hoặc có được quyền sở hữu đất đai. Được đứng vào những ordines cao hơn mang đến sự ưu đãi và đặc quyền, nhưng cũng có một số trách nhiệm. Vào thời cổ đại, mỗi một thành phố đều phải trông đợi vào sự tài trợ từ các công dân có thế lực của nó cho những công trình công cộng, các sự kiện, và các buổi lễ (munera), chứ không phải là thu nhập từ thuế, trong đó chủ yếu là hỗ trợ cho quân đội. Để duy trì địa vị thì đòi hỏi mỗi người đều phải có những khoản chi tiêu cá nhân lớn. Những Decurion đã trở nên quan trọng đối với hoạt động của các thành phố tới mức vào giai đoạn cuối của đế quốc, khi mà những thành viên của Hội đồng thành phố ngày càng trở nên ít dần, những người đã đứng vào Viện nguyên lão lại được chính quyền trung ương khuyến khích từ bỏ vị trí của mình và trở về quê hương, trong một nỗ lực để duy trì các hoạt động dân sự.
Để duy trì địa vị trong đế quốc La Mã, người ta đòi hỏi phải có điều gì?
những khoản chi tiêu cá nhân lớn
Sự nổi lên của các nguyên lão và kị sĩ đến từ các tỉnh là một khía cạnh của biến động xã hội trong ba thế kỷ đầu của đế quốc. Tầng lớp quý tộc La Mã được dựa trên sự cạnh tranh, và không giống tầng lớp quý tộc châu Âu sau này, một gia đình La Mã không thể duy trì vị thế của nó chỉ đơn thuần thông qua thừa kế hoặc có được quyền sở hữu đất đai. Được đứng vào những ordines cao hơn mang đến sự ưu đãi và đặc quyền, nhưng cũng có một số trách nhiệm. Vào thời cổ đại, mỗi một thành phố đều phải trông đợi vào sự tài trợ từ các công dân có thế lực của nó cho những công trình công cộng, các sự kiện, và các buổi lễ (munera), chứ không phải là thu nhập từ thuế, trong đó chủ yếu là hỗ trợ cho quân đội. Để duy trì địa vị thì đòi hỏi mỗi người đều phải có những khoản chi tiêu cá nhân lớn. Những Decurion đã trở nên quan trọng đối với hoạt động của các thành phố tới mức vào giai đoạn cuối của đế quốc, khi mà những thành viên của Hội đồng thành phố ngày càng trở nên ít dần, những người đã đứng vào Viện nguyên lão lại được chính quyền trung ương khuyến khích từ bỏ vị trí của mình và trở về quê hương, trong một nỗ lực để duy trì các hoạt động dân sự.
Tầng lớp quý tộc La Mã dựa trên điều gì?
sự cạnh tranh
Ba trụ cột quan trọng của chính quyền đế quốc La Mã đó là chính quyền trung ương, quân đội, và chính quyền địa phương. Quân đội thiết lập sự kiểm soát đối với các vùng đất thông qua chiến tranh, nhưng sau khi một thành phố hoặc một dân tộc đã chịu khuất phục, thì quân đội lại đảm nhiệm nhiệm vụ giữ gìn trật tự: bảo vệ các công dân La Mã (sau năm 212 SCN, là với tất cả cư dân tự do của Đế quốc), các vùng đất nông nghiệp mà nuôi sống họ, và địa điểm tôn giáo Việc hợp tác với tầng lớp quý tộc đầy quyền lực ở các địa phương là điều cần thiết để duy trì trật tự, thu thập thông tin, và tăng thêm nguồn thu cho ngân khố. Người La Mã thường tiến hành lợi dụng tình trạng chia rẽ chính trị nội bộ bằng cách ủng hộ một trong hai phe:theo như quan điểm của Plutarch, "đó là sự bất hòa giữa các phe phái trong các thành phố mà dẫn đến việc mất quyền tự cai quản" ".
Quân đội La Mã đảm nhiệm nhiệm vụ gì sau khi chinh phục một vùng đất?
giữ gìn trật tự
Hoàng đế cũng có thẩm quyền để thực hiện một loạt các công việc đã được thực hiện bởi các kiểm duyệt viên, bao gồm cả quyền hạn kiểm soát các thành viên của viện nguyên lão Ngoài ra, hoàng đế còn kiểm soát cả tôn giáo, vì từ khi là hoàng đế, ông cũng luôn luôn đảm nhiệm chức Pontifex Maximus (Đại Tư tế) và là thành viên của mỗi nhóm trong bốn nhóm thầy tế lớn.. Trong khi những tước hiệu này đã được định rõ vào thời kì đầu của giai đoạn đế quốc, cuối cùng chúng cũng bị mất đi, và quyền lực của hoàng đế dần ít tính lập hiến và mang nhiều tính quân chủ hơn.
Người nào luôn luôn đảm nhiệm chức Pontifex Maximus ngoài chức hoàng đế?
Hoàng đế
Sau khi một vị hoàng đế qua đời, trên lý thuyết, viện nguyên lão được quyền lựa chọn vị hoàng đế mới, nhưng hầu hết các hoàng đế đều đã chọn người kế vị riêng của họ, thường là một thành viên trong gia đình. Vị Hoàng đế mới phải nhanh chóng tìm kiếm một sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta và để ổn định bối cảnh chính trị. Không có vị hoàng đế có thể hy vọng sống sót, ít ra là trị vì, mà không có lòng trung nghĩa của đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã và các quân đoàn. Để bảo đảm lòng trung thành của họ, hoàng đế thường ban cho họ donativum, một khoản tiền thưởng.
Vị hoàng đế mới phải tìm kiếm điều gì để ổn định bối cảnh chính trị?
sự thừa nhận cho địa vị mới
Sau khi một vị hoàng đế qua đời, trên lý thuyết, viện nguyên lão được quyền lựa chọn vị hoàng đế mới, nhưng hầu hết các hoàng đế đều đã chọn người kế vị riêng của họ, thường là một thành viên trong gia đình. Vị Hoàng đế mới phải nhanh chóng tìm kiếm một sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta và để ổn định bối cảnh chính trị. Không có vị hoàng đế có thể hy vọng sống sót, ít ra là trị vì, mà không có lòng trung nghĩa của đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã và các quân đoàn. Để bảo đảm lòng trung thành của họ, hoàng đế thường ban cho họ donativum, một khoản tiền thưởng.
Vị hoàng đế mới phải tìm kiếm điều gì sau khi một vị hoàng đế qua đời?
sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta
Sau khi một vị hoàng đế qua đời, trên lý thuyết, viện nguyên lão được quyền lựa chọn vị hoàng đế mới, nhưng hầu hết các hoàng đế đều đã chọn người kế vị riêng của họ, thường là một thành viên trong gia đình. Vị Hoàng đế mới phải nhanh chóng tìm kiếm một sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta và để ổn định bối cảnh chính trị. Không có vị hoàng đế có thể hy vọng sống sót, ít ra là trị vì, mà không có lòng trung nghĩa của đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã và các quân đoàn. Để bảo đảm lòng trung thành của họ, hoàng đế thường ban cho họ donativum, một khoản tiền thưởng.
Hoàng đế mới thường chọn ai làm người kế vị?
một thành viên trong gia đình
Sau khi một vị hoàng đế qua đời, trên lý thuyết, viện nguyên lão được quyền lựa chọn vị hoàng đế mới, nhưng hầu hết các hoàng đế đều đã chọn người kế vị riêng của họ, thường là một thành viên trong gia đình. Vị Hoàng đế mới phải nhanh chóng tìm kiếm một sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta và để ổn định bối cảnh chính trị. Không có vị hoàng đế có thể hy vọng sống sót, ít ra là trị vì, mà không có lòng trung nghĩa của đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã và các quân đoàn. Để bảo đảm lòng trung thành của họ, hoàng đế thường ban cho họ donativum, một khoản tiền thưởng.
Đội cận vệ nào bảo vệ hoàng đế La Mã?
đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã
Tuy quân trợ chiến (tiếng Latinh: auxilia = những hỗ trợ) không nổi danh các Binh đoàn, họ có tầm quan trọng không nhỏ. Khác với các Binh đoàn, quân trợ chiến được tuyển mộ từ người không có quyền công dân. Được tổ chức trong các đơn vị nhỏ hơn gồm toàn là lính cohort, họ được trả thù lao ít hơn các Binh đoàn, và sau 25 năm phục vụ trong quân đội, họ cùng các con mình được trao quyền công dân La Mã. Theo Tacitus quân trợ chiến cũng có số lượng xấp xỉ bằng các Binh đoàn. Từ thời điểm đó La Mã có 25 Binh đoàn với khoảng 5.000 lính, ta suy ra quân trợ chiến cũng có chừng khoảng 125.000 binh sĩ, vậy là có xấp xỉ 250 trung đoàn trợ chiến.
Ai được trả thù lao ít hơn các Binh đoàn?
quân trợ chiến
Tuy quân trợ chiến (tiếng Latinh: auxilia = những hỗ trợ) không nổi danh các Binh đoàn, họ có tầm quan trọng không nhỏ. Khác với các Binh đoàn, quân trợ chiến được tuyển mộ từ người không có quyền công dân. Được tổ chức trong các đơn vị nhỏ hơn gồm toàn là lính cohort, họ được trả thù lao ít hơn các Binh đoàn, và sau 25 năm phục vụ trong quân đội, họ cùng các con mình được trao quyền công dân La Mã. Theo Tacitus quân trợ chiến cũng có số lượng xấp xỉ bằng các Binh đoàn. Từ thời điểm đó La Mã có 25 Binh đoàn với khoảng 5.000 lính, ta suy ra quân trợ chiến cũng có chừng khoảng 125.000 binh sĩ, vậy là có xấp xỉ 250 trung đoàn trợ chiến.
Quân trợ chiến của La Mã được trả thù lao ít hơn ai?
Binh đoàn
Tuy quân trợ chiến (tiếng Latinh: auxilia = những hỗ trợ) không nổi danh các Binh đoàn, họ có tầm quan trọng không nhỏ. Khác với các Binh đoàn, quân trợ chiến được tuyển mộ từ người không có quyền công dân. Được tổ chức trong các đơn vị nhỏ hơn gồm toàn là lính cohort, họ được trả thù lao ít hơn các Binh đoàn, và sau 25 năm phục vụ trong quân đội, họ cùng các con mình được trao quyền công dân La Mã. Theo Tacitus quân trợ chiến cũng có số lượng xấp xỉ bằng các Binh đoàn. Từ thời điểm đó La Mã có 25 Binh đoàn với khoảng 5.000 lính, ta suy ra quân trợ chiến cũng có chừng khoảng 125.000 binh sĩ, vậy là có xấp xỉ 250 trung đoàn trợ chiến.
Quân trợ chiến được tuyển mộ từ những ai?
người không có quyền công dân
Lực lượng Hải quân La Mã (tiếng Latinh: Classis, dịch sát nghĩa. "hạm đội") không chỉ hỗ trợ trong việc tiếp tế và vận tải của các Binh đoàn, nhưng cũng góp phần bảo vệ biên thùy ở các dòng sông Rhine và Donau. Một trách nhiệm của họ là bảo vệ những con đường buôn bán rất quan trọng trên biển chống lại mối đe dọa của cướp biển. Do đó, họ tuần tra khắp biển Địa Trung Hải, một phần của Bắc Đại Tây Dương (các bờ biển của Hispania, Gallia, và Britannia), và cũng hiện diện trên Biển Đen. Song, người La Mã vẫn coi Lục quân là một nhánh cao cấp và vinh hiển hơn.
Lục quân La Mã được coi là gì?
một nhánh cao cấp và vinh hiển hơn
Quá trình để một vùng lãnh thổ bị sáp nhập trở thành một tỉnh đều phải trải qua ba bước: làm một sổ ghi danh sách các thành phố, tiến hành một cuộc tổng điều tra dân số, và vẽ bản đồ Hơn nữa những hồ sơ lưu trữ của chính quyền còn bao gồm ngày sinh và qua đời, giao dịch bất động sản, thuế và những biên bản pháp lý Trong thế kỷ 1 và 2, chính quyền trung ương đã phái khoảng 160 quan chức mỗi năm để cai trị các vùng đất bên ngoài Ý Trong số các quan chức có các "thống đốc La Mã", theo cách gọi bằng tiếng Anh: hoặc thẩm phán được bầu tại Rome, những người có tên trong viện nguyên lão và nhân dân La Mã, cai trị các tỉnh trực thuộc viện nguyên lão;. hoặc thống đốc, thường thuộc tầng lớp kị sĩ, những người nắm giữ quyền tuyệt đối của họ thay mặt cho hoàng đế ở những tỉnh không nằm dưới sự kiểm soát của viện nguyên lão, đặc biệt là tỉnh Ai Cập thuộc La Mã Một thống đốc phải khiến cho bản thân ông ta trở nên gần gũi với người dân mà ông ta cai quản. Tuy nhiên, bộ máy giúp việc của ông ta lại rất nhỏ: những cấp dưới chính thức của ông ta (apparitores), bao gồm các vệ sĩ, sứ truyền lệnh, sứ giả, những người chép bản thảo, và cận vệ; Các Legate, cả dân sự và quân sự, thường là những người thuộc tầng lớp kị sĩ và bạn bè, đang trong độ tuổi và có kinh nghiệm, hộ tống ông ta nhưng không chính thức.
Người được bầu tại Rome và có tên trong viện nguyên lão và nhân dân La Mã, cai trị các tỉnh trực thuộc viện nguyên lão được gọi là gì?
thống đốc La Mã
Tòa án La Mã nắm giữ quyền xét xử đầu tiên đối với các trường hợp liên quan đến công dân La Mã khắp đế quốc, nhưng lại có quá ít các công chức tư pháp để có thể áp đặt luật La Mã thống nhất ở các tỉnh. Hầu hết các vùng của miền đông của đế quốc đã có các bộ luật và những thủ tục pháp lý chính thức. Nói chung, chính sách của La Mã là tôn trọng mos regionis ("truyền thống vùng" hay "luật pháp của địa phương") và coi luật pháp địa phương như là một nguồn tiền lệ pháp lý và ổn định xã hội Sự phù hợp giữa luật La Mã và luật địa phương được cho là phản ánh một ius gentium cơ bản, "luật của các quốc gia" hay luật quốc tế được coi là phổ biến và nhất quán giữa tất cả các cộng đồng con người. Nếu một bộ luật tỉnh riêng biệt mâu thuẫn với luật La Mã hoặc luật pháp theo tục lệ, các quan tòa La Mã sẽ nghe kháng cáo, và hoàng đế nắm giữ thẩm quyền cuối cùng để đưa ra quyết định.
Tòa án La Mã có thẩm quyền xét xử đầu tiên đối với trường hợp nào?
công dân La Mã khắp đế quốc
Tòa án La Mã nắm giữ quyền xét xử đầu tiên đối với các trường hợp liên quan đến công dân La Mã khắp đế quốc, nhưng lại có quá ít các công chức tư pháp để có thể áp đặt luật La Mã thống nhất ở các tỉnh. Hầu hết các vùng của miền đông của đế quốc đã có các bộ luật và những thủ tục pháp lý chính thức. Nói chung, chính sách của La Mã là tôn trọng mos regionis ("truyền thống vùng" hay "luật pháp của địa phương") và coi luật pháp địa phương như là một nguồn tiền lệ pháp lý và ổn định xã hội Sự phù hợp giữa luật La Mã và luật địa phương được cho là phản ánh một ius gentium cơ bản, "luật của các quốc gia" hay luật quốc tế được coi là phổ biến và nhất quán giữa tất cả các cộng đồng con người. Nếu một bộ luật tỉnh riêng biệt mâu thuẫn với luật La Mã hoặc luật pháp theo tục lệ, các quan tòa La Mã sẽ nghe kháng cáo, và hoàng đế nắm giữ thẩm quyền cuối cùng để đưa ra quyết định.
Tòa án La Mã nắm giữ quyền xét xử đầu tiên đối với các trường hợp nào?
liên quan đến công dân La Mã khắp đế quốc
Ở phía Tây, pháp luật đã được thi hành dựa trên cơ sở địa phương hóa cao độ hay nền tảng bộ lạc, và quyền sở hữu tư nhân có thể là một sự mới lạ của thời đại La Mã, đặc biệt là trong số các bộ tộc người Celt. Luật La Mã tạo điều kiện cho việc cho một tầng lớp thân La Mã có thể đạt được sự giàu có một cách thuận lợi thông qua việc có được đặc quyền mới của mình là công dân. Sự mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc vào năm 212 đã được áp dụng thống nhất trong pháp luật La Mã, thay thế các bộ luật địa phương vốn áp dụng cho những người không phải là công dân. Những nỗ lực của Diocletianus nhằm để ổn định đế quốc sau khi kết thúc cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba bao gồm việc biên soạn hai bộ luật quan trọng trong vòng bốn năm đó là Codex Gregorianus và Codex Hermogenianus, để hướng dẫn việc cai quản các tỉnh theo những tiêu chuẩn pháp lý phù hợp.
Hai bộ luật quan trọng được biên soạn bởi Diocletianus là gì?
Codex Gregorianus và Codex Hermogenianus
Ở phía Tây, pháp luật đã được thi hành dựa trên cơ sở địa phương hóa cao độ hay nền tảng bộ lạc, và quyền sở hữu tư nhân có thể là một sự mới lạ của thời đại La Mã, đặc biệt là trong số các bộ tộc người Celt. Luật La Mã tạo điều kiện cho việc cho một tầng lớp thân La Mã có thể đạt được sự giàu có một cách thuận lợi thông qua việc có được đặc quyền mới của mình là công dân. Sự mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc vào năm 212 đã được áp dụng thống nhất trong pháp luật La Mã, thay thế các bộ luật địa phương vốn áp dụng cho những người không phải là công dân. Những nỗ lực của Diocletianus nhằm để ổn định đế quốc sau khi kết thúc cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba bao gồm việc biên soạn hai bộ luật quan trọng trong vòng bốn năm đó là Codex Gregorianus và Codex Hermogenianus, để hướng dẫn việc cai quản các tỉnh theo những tiêu chuẩn pháp lý phù hợp.
Năm nào quyền công dân được mở rộng cho tất cả các cư dân tự do của đế chế La Mã?
212
Ở phía Tây, pháp luật đã được thi hành dựa trên cơ sở địa phương hóa cao độ hay nền tảng bộ lạc, và quyền sở hữu tư nhân có thể là một sự mới lạ của thời đại La Mã, đặc biệt là trong số các bộ tộc người Celt. Luật La Mã tạo điều kiện cho việc cho một tầng lớp thân La Mã có thể đạt được sự giàu có một cách thuận lợi thông qua việc có được đặc quyền mới của mình là công dân. Sự mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc vào năm 212 đã được áp dụng thống nhất trong pháp luật La Mã, thay thế các bộ luật địa phương vốn áp dụng cho những người không phải là công dân. Những nỗ lực của Diocletianus nhằm để ổn định đế quốc sau khi kết thúc cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba bao gồm việc biên soạn hai bộ luật quan trọng trong vòng bốn năm đó là Codex Gregorianus và Codex Hermogenianus, để hướng dẫn việc cai quản các tỉnh theo những tiêu chuẩn pháp lý phù hợp.
Đế quốc La Mã đã áp dụng luật nào một cách thống nhất trong năm 212?
Luật La Mã
Việc thu thuế vào thời đế quốc lên tới khoảng 5 phần trăm tổng sản lượng. Tỷ lệ thuế điển hình đối với mỗi cá nhân dao động trong khoảng từ 2-5 phần trăm Những luật lệ về thuế lại tạo ra sự "lúng túng" trong hệ thống phức tạp của các loại thuế trực tiếp và gián tiếp, một số được thu bằng tiền mặt và một số bằng hiện vật. Các loại thuế có thể được cụ thể cho một tỉnh, hoặc đối với các loại tài sản như: thủy sản, ruộng muối;. chúng có thể có kết quả trong một thời gian hạn chế Việc thu thuế đã được chứng minh là điều cần thiết để có thể duy trì quân đội, và người nộp thuế đôi khi có thể nhận được một khoản hoàn lại nếu quân đội cướp được một lượng chiến lợi phẩm dư thừa. Thuế bằng hiện vật đã được chấp nhận từ các khu vực ít lưu hành tiền tệ, đặc biệt là đối với những người có thể cung cấp lương thực, hàng hoá đến các doanh trại quân đội.
Tỷ lệ thuế điển hình đối với mỗi cá nhân thời đế quốc là bao nhiêu?
2-5 phần trăm
Các nguồn thu chính của việc thuế trực tiếp là các cá nhân, những người nộp thuế khoán và một khoản thuế đối với đất đai của họ, có thể hiểu như là một khoản thuế đối với sản lượng của nó hoặc năng lực sản xuất Những khoản bổ sung có thể được nộp bởi những người hội đủ điều kiện miễn trừ nhất định;. Ví dụ, nông dân Ai Cập có thể ghi vào sổ các cánh đồng mà bỏ hoang và được miễn thuế tùy thuộc vào mức độ ngập lụt của sông Nile. Nghĩa vụ nộp thuế được xác định căn cứ theo các cuộc điều tra dân số.
Nghĩa vụ nộp thuế được xác định căn cứ theo gì?
các cuộc điều tra dân số
Một nguồn thu quan trọng của thuế gián thu là portoria, thuế quan và thuế cầu đường đối với việc nhập khẩu và xuất khẩu, bao gồm cả giữa các tỉnh. Những khoản thuế đặc biệt còn được áp dụng đối với việc buôn bán nô lệ. Vào cuối triều đại của mình, Augustus tiến hành đánh thuế 4 phần trăm đối với việc bán nô lệ, và sau này Nero chuyển từ thu thuế người mua sang thu thuế của người bán, những người phản ứng bằng cách tăng giá bán của họ. Một chủ nô nếu giải phóng một nô lệ thì cũng phải trả "thuế tự do", tính theo 5 phần trăm giá trị.
Vào cuối triều đại của mình, Augustus đánh thuế bao nhiêu phần trăm đối với việc bán nô lệ?
4 phần trăm