content
stringlengths
465
7.22k
question
stringlengths
10
193
answer
stringlengths
1
76
Một nguồn thu quan trọng của thuế gián thu là portoria, thuế quan và thuế cầu đường đối với việc nhập khẩu và xuất khẩu, bao gồm cả giữa các tỉnh. Những khoản thuế đặc biệt còn được áp dụng đối với việc buôn bán nô lệ. Vào cuối triều đại của mình, Augustus tiến hành đánh thuế 4 phần trăm đối với việc bán nô lệ, và sau này Nero chuyển từ thu thuế người mua sang thu thuế của người bán, những người phản ứng bằng cách tăng giá bán của họ. Một chủ nô nếu giải phóng một nô lệ thì cũng phải trả "thuế tự do", tính theo 5 phần trăm giá trị.
Người bán phản ứng như thế nào khi Nero chuyển từ thu thuế người mua sang thu thuế người bán?
tăng giá bán
Một nguồn thu quan trọng của thuế gián thu là portoria, thuế quan và thuế cầu đường đối với việc nhập khẩu và xuất khẩu, bao gồm cả giữa các tỉnh. Những khoản thuế đặc biệt còn được áp dụng đối với việc buôn bán nô lệ. Vào cuối triều đại của mình, Augustus tiến hành đánh thuế 4 phần trăm đối với việc bán nô lệ, và sau này Nero chuyển từ thu thuế người mua sang thu thuế của người bán, những người phản ứng bằng cách tăng giá bán của họ. Một chủ nô nếu giải phóng một nô lệ thì cũng phải trả "thuế tự do", tính theo 5 phần trăm giá trị.
Thuế đặc biệt nào được áp dụng đối với việc buôn bán nô lệ vào cuối triều đại Augustus?
thuế 4 phần trăm
Moses Finley là người đề xướng chính cho quan điểm quan điểm rằng nền kinh tế La Mã là "kém phát triển và chưa hoàn thiện", và nó mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp, với các trung tâm đô thị tiêu thụ nhiều hơn so với khả năng sản xuất của chúng trong điều kiện về thương mại và công nghiệp; các nghệ nhân có địa vị thấp, công nghệ chậm phát triển; và "thiếu hợp lý về kinh tế." Những quan điểm hiện tại thì lại phức tạp hơn. Những cuộc chinh phục lãnh thổ đã cho phép tiến hành một quá trình tái tổ chức quy mô lớn việc sử dụng đất mà tạo ra thặng dư nông nghiệp và sự chuyên môn hóa, đặc biệt là ở phía bắc châu Phi. Một số thành phố được biết đến với các ngành công nghiệp cụ thể hoặc hoạt động thương mại, và quy mô xây dựng trong các khu vực đô thị đã cho thấy ngàng công nghiệp xây dựng đã đóng một vai trò quan trọng Những cuộc giấy cói đã bảo tồn các phương pháp kế toán phức tạp cho thấy các yếu tố của chủ nghĩa duy lý kinh tế, và cũng đã có sự lưu hành tiền tệ ở mức độ cao trong đế quốc Mặc dù các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông bị hạn chế vào thời cổ đại, việc vận chuyển hàng hóa vào thế kỷ 1 và 2 đã trải dài một cách rộng khắp, và các tuyến đường thương mại kết nối các nền kinh tế trong khu vực. Những hợp đồng tiếp tế cho quân đội, mà vốn đóng quân ở tất cả các nơi trong đế quốc, đã thu hút các thương nhân địa phương ở gần các căn cứ (Castrum), trên địa bàn tỉnh, và giữa các tỉnh. Đế quốc có lẽ được đánh giá tốt nhất ở việc có một mạng lưới các nền kinh tế khu vực, dựa trên một hình thức của "chủ nghĩa tư bản chính trị" trong đó nhà nước giám sát và quy định các hoạt động thương mại để đảm bảo nguồn thu của nó Tăng trưởng kinh tế của đế quốc mặc dù không thể so sánh với các nền kinh tế hiện đại, nhưng nó đã lớn hơn so với hầu hết các xã hội khác trước khi tiến hành công nghiệp hóa.
Theo Moses Finley, nền kinh tế La Mã có đặc điểm gì?
kém phát triển và chưa hoàn thiện
Moses Finley là người đề xướng chính cho quan điểm quan điểm rằng nền kinh tế La Mã là "kém phát triển và chưa hoàn thiện", và nó mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp, với các trung tâm đô thị tiêu thụ nhiều hơn so với khả năng sản xuất của chúng trong điều kiện về thương mại và công nghiệp; các nghệ nhân có địa vị thấp, công nghệ chậm phát triển; và "thiếu hợp lý về kinh tế." Những quan điểm hiện tại thì lại phức tạp hơn. Những cuộc chinh phục lãnh thổ đã cho phép tiến hành một quá trình tái tổ chức quy mô lớn việc sử dụng đất mà tạo ra thặng dư nông nghiệp và sự chuyên môn hóa, đặc biệt là ở phía bắc châu Phi. Một số thành phố được biết đến với các ngành công nghiệp cụ thể hoặc hoạt động thương mại, và quy mô xây dựng trong các khu vực đô thị đã cho thấy ngàng công nghiệp xây dựng đã đóng một vai trò quan trọng Những cuộc giấy cói đã bảo tồn các phương pháp kế toán phức tạp cho thấy các yếu tố của chủ nghĩa duy lý kinh tế, và cũng đã có sự lưu hành tiền tệ ở mức độ cao trong đế quốc Mặc dù các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông bị hạn chế vào thời cổ đại, việc vận chuyển hàng hóa vào thế kỷ 1 và 2 đã trải dài một cách rộng khắp, và các tuyến đường thương mại kết nối các nền kinh tế trong khu vực. Những hợp đồng tiếp tế cho quân đội, mà vốn đóng quân ở tất cả các nơi trong đế quốc, đã thu hút các thương nhân địa phương ở gần các căn cứ (Castrum), trên địa bàn tỉnh, và giữa các tỉnh. Đế quốc có lẽ được đánh giá tốt nhất ở việc có một mạng lưới các nền kinh tế khu vực, dựa trên một hình thức của "chủ nghĩa tư bản chính trị" trong đó nhà nước giám sát và quy định các hoạt động thương mại để đảm bảo nguồn thu của nó Tăng trưởng kinh tế của đế quốc mặc dù không thể so sánh với các nền kinh tế hiện đại, nhưng nó đã lớn hơn so với hầu hết các xã hội khác trước khi tiến hành công nghiệp hóa.
Ai là người đề xướng chính cho quan điểm nền kinh tế La Mã là "kém phát triển và chưa hoàn thiện"?
Moses Finley
Thời kì đầu đế quốc đã có sự lưu hành tiền tệ đạt đến một mức độ gần như phổ quát, với ý nghĩa của việc sử dụng tiền như một cách để thể hiện giá cả và các khoản nợ. Đồng sestertius (số nhiều sestertii, tiếng Anh "sesterces", ký hiệu là HS) là đơn vị cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4, mặc dù đồng denarius bạc, trị giá bốn sesterces, cũng đã được sử dụng trong việc thanh toán vào triều đại Severus. Đồng tiền có giá trị nhỏ nhất thường được lưu hành là đồng as (số nhiều asses), bằng một phần tư đồng sestertius. Vàng nén và thỏi dường như không được tính là pecunia, "tiền", và chỉ được sử dụng trên các vùng biên giới để giao dịch kinh doanh hoặc mua bất động sản. Người La Mã vào thế kỷ 1 và 2 tính số lượng tiền, chứ không phải cân chúng -một dấu hiệu cho thấy đồng tiền được định giá ngay trên mặt của nó và không phải dựa vào hàm lượng kim loại của đồng tiền. Khuynh hướng đối với tiền định danh này cuối cùng dẫn đến làm giảm giá trị của tiền xu La Mã, với những hậu quả để lại vào thời kì cuối của đế quốc. Sự tiêu chuẩn hóa đối với tiền trong toàn đế quốc đã thúc đẩy thương mại và hội nhập thị trường Với số lượng lớn tiền xu kim loại trong lưu thông đã làm tăng nguồn cung tiền cho các giao dịch hoặc tiết kiệm.
Đồng tiền có giá trị nhỏ nhất thường được lưu hành trong thời kì đầu đế quốc La Mã là gì?
đồng as
Thời kì đầu đế quốc đã có sự lưu hành tiền tệ đạt đến một mức độ gần như phổ quát, với ý nghĩa của việc sử dụng tiền như một cách để thể hiện giá cả và các khoản nợ. Đồng sestertius (số nhiều sestertii, tiếng Anh "sesterces", ký hiệu là HS) là đơn vị cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4, mặc dù đồng denarius bạc, trị giá bốn sesterces, cũng đã được sử dụng trong việc thanh toán vào triều đại Severus. Đồng tiền có giá trị nhỏ nhất thường được lưu hành là đồng as (số nhiều asses), bằng một phần tư đồng sestertius. Vàng nén và thỏi dường như không được tính là pecunia, "tiền", và chỉ được sử dụng trên các vùng biên giới để giao dịch kinh doanh hoặc mua bất động sản. Người La Mã vào thế kỷ 1 và 2 tính số lượng tiền, chứ không phải cân chúng -một dấu hiệu cho thấy đồng tiền được định giá ngay trên mặt của nó và không phải dựa vào hàm lượng kim loại của đồng tiền. Khuynh hướng đối với tiền định danh này cuối cùng dẫn đến làm giảm giá trị của tiền xu La Mã, với những hậu quả để lại vào thời kì cuối của đế quốc. Sự tiêu chuẩn hóa đối với tiền trong toàn đế quốc đã thúc đẩy thương mại và hội nhập thị trường Với số lượng lớn tiền xu kim loại trong lưu thông đã làm tăng nguồn cung tiền cho các giao dịch hoặc tiết kiệm.
Đơn vị tiền tệ cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4 là gì?
Đồng sestertius
Thời kì đầu đế quốc đã có sự lưu hành tiền tệ đạt đến một mức độ gần như phổ quát, với ý nghĩa của việc sử dụng tiền như một cách để thể hiện giá cả và các khoản nợ. Đồng sestertius (số nhiều sestertii, tiếng Anh "sesterces", ký hiệu là HS) là đơn vị cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4, mặc dù đồng denarius bạc, trị giá bốn sesterces, cũng đã được sử dụng trong việc thanh toán vào triều đại Severus. Đồng tiền có giá trị nhỏ nhất thường được lưu hành là đồng as (số nhiều asses), bằng một phần tư đồng sestertius. Vàng nén và thỏi dường như không được tính là pecunia, "tiền", và chỉ được sử dụng trên các vùng biên giới để giao dịch kinh doanh hoặc mua bất động sản. Người La Mã vào thế kỷ 1 và 2 tính số lượng tiền, chứ không phải cân chúng -một dấu hiệu cho thấy đồng tiền được định giá ngay trên mặt của nó và không phải dựa vào hàm lượng kim loại của đồng tiền. Khuynh hướng đối với tiền định danh này cuối cùng dẫn đến làm giảm giá trị của tiền xu La Mã, với những hậu quả để lại vào thời kì cuối của đế quốc. Sự tiêu chuẩn hóa đối với tiền trong toàn đế quốc đã thúc đẩy thương mại và hội nhập thị trường Với số lượng lớn tiền xu kim loại trong lưu thông đã làm tăng nguồn cung tiền cho các giao dịch hoặc tiết kiệm.
Đơn vị cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4 là gì?
sestertius
Một người chủ ngân hàng gửi tiền chuyên nghiệp (argentarius, coactor argentarius, hoặc sau này là nummularius) nhận và giữ những khoản tiền gửi trong một thời hạn nhất định hoặc không thời hạn và cho bên thứ ba vay tiền. Tầng lớp nguyên lão đã tham gia rất nhiều vào việc cho tư nhân vay, cả các chủ nợ và khách hàng vay, cho vay từ tài sản cá nhân của họ trên cơ sở các mối quan hệ xã hội. Chủ sở hữu của một món nợ có thể sử dụng nó như một phương tiện thanh toán bằng cách chuyển nó cho một bên khác, không dùng tiền mặt trao tay. Mặc dù đôi khi người ta cho rằng La Mã cổ đại thiếu "giấy" hoặc giao dịch tài liệu, các hệ thống của các ngân hàng trên khắp đế quốc cũng cho phép trao đổi một khoản tiền rất lớn mà không có sự vận chuyển tiền tự nhiên, một phần vì những rủi ro của việc di chuyển số lượng lớn tiền mặt, đặc biệt là bằng đường biển. Chỉ có một vụ thiếu tín dụng nghiêm trọng được biết đến và đã xảy ra vào đầu thời đế quốc, một cuộc khủng hoảng tín dụng vào năm 33 SCN mà khiến cho một số nguyên lão gặp phải rủi ro, chính quyền trung ương đã giải cứu thị trường thông qua một khoản vay 100 triệu HS được hoàng đế Tiberius thực hiện vào ngành ngân hàng (Mensae). Nói chung, số vốn khả dụng vượt quá số lượng cần thiết cho khách hàng vay. Bản thân chính quyền trung ương không vay tiền, và cũng không có nợ công để cần bù đắp cho thâm hụt ngân sách từ dự trữ tiền mặt.
Người chủ ngân hàng chuyên nghiệp trong La Mã cổ đại được gọi là gì?
argentarius
Các vị hoàng đế của triều đại Antoninus và Severus về mặt tổng thể đều đã làm mất giá trị đồng tiền, đặc biệt là đồng denarius, dưới áp lực của việc biên chế quân đội. Lạm phát đột ngột dưới triều đại Commodus đã gây tổn hại đối với thị trường tín dụng. Vào giữa những năm 200, nguồn cung tiền đồng giảm mạnh Tình cảnh của cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba- chẳng hạn như việc giảm sút thương mại đường dài, hoạt động khai thác mỏ bị gián đoạn, và việc vận chuyển tiền đúc vàng ra bên ngoài đế quốc bởi những kẻ thù xâm lược- đã làm suy giảm mạnh nguồn cung tiền và ngành ngân hàng cho đến năm 300 Mặc dù tiền xu La Mã từ lâu đã là tiền định danh hoặc tiền tệ tín dụng, những lo ngại kinh tế chung đã lên đến đỉnh điểm dưới triều đại Aurelianus, và giới ngân hàng mất niềm tin vào đồng tiền hợp pháp của chính quyền trung ương. Mặc dù Diocletianus sau này giới thiệu đồng solidus vàng và những cải cách tiền tệ, thị trường tín dụng của đế quốc sẽ không bao giờ phục hồi mạnh mẽ lại như nó trước đây.
Thị trường tín dụng của đế quốc La Mã mất niềm tin vào điều gì dưới triều đại Aurelianus?
đồng tiền hợp pháp của chính quyền trung ương
Các vị hoàng đế của triều đại Antoninus và Severus về mặt tổng thể đều đã làm mất giá trị đồng tiền, đặc biệt là đồng denarius, dưới áp lực của việc biên chế quân đội. Lạm phát đột ngột dưới triều đại Commodus đã gây tổn hại đối với thị trường tín dụng. Vào giữa những năm 200, nguồn cung tiền đồng giảm mạnh Tình cảnh của cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba- chẳng hạn như việc giảm sút thương mại đường dài, hoạt động khai thác mỏ bị gián đoạn, và việc vận chuyển tiền đúc vàng ra bên ngoài đế quốc bởi những kẻ thù xâm lược- đã làm suy giảm mạnh nguồn cung tiền và ngành ngân hàng cho đến năm 300 Mặc dù tiền xu La Mã từ lâu đã là tiền định danh hoặc tiền tệ tín dụng, những lo ngại kinh tế chung đã lên đến đỉnh điểm dưới triều đại Aurelianus, và giới ngân hàng mất niềm tin vào đồng tiền hợp pháp của chính quyền trung ương. Mặc dù Diocletianus sau này giới thiệu đồng solidus vàng và những cải cách tiền tệ, thị trường tín dụng của đế quốc sẽ không bao giờ phục hồi mạnh mẽ lại như nó trước đây.
Các vị hoàng đế của triều đại nào đã làm mất giá đồng tiền?
Antoninus và Severus
Các vị hoàng đế của triều đại Antoninus và Severus về mặt tổng thể đều đã làm mất giá trị đồng tiền, đặc biệt là đồng denarius, dưới áp lực của việc biên chế quân đội. Lạm phát đột ngột dưới triều đại Commodus đã gây tổn hại đối với thị trường tín dụng. Vào giữa những năm 200, nguồn cung tiền đồng giảm mạnh Tình cảnh của cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba- chẳng hạn như việc giảm sút thương mại đường dài, hoạt động khai thác mỏ bị gián đoạn, và việc vận chuyển tiền đúc vàng ra bên ngoài đế quốc bởi những kẻ thù xâm lược- đã làm suy giảm mạnh nguồn cung tiền và ngành ngân hàng cho đến năm 300 Mặc dù tiền xu La Mã từ lâu đã là tiền định danh hoặc tiền tệ tín dụng, những lo ngại kinh tế chung đã lên đến đỉnh điểm dưới triều đại Aurelianus, và giới ngân hàng mất niềm tin vào đồng tiền hợp pháp của chính quyền trung ương. Mặc dù Diocletianus sau này giới thiệu đồng solidus vàng và những cải cách tiền tệ, thị trường tín dụng của đế quốc sẽ không bao giờ phục hồi mạnh mẽ lại như nó trước đây.
Loại tiền tệ nào bị mất giá dưới triều đại Antoninus và Severus?
đồng denarius
Các khu vực khai thác khoáng sản chính của đế quốc là Tây Ban Nha (vàng, bạc, đồng, thiếc, chì); Gaul (vàng, bạc, sắt), Anh (chủ yếu là sắt, chì, thiếc), các tỉnh Danube (vàng, sắt); Macedonia và Thrace (vàng, bạc) và Tiểu Á (vàng, bạc, sắt, thiếc). Việc tập trung khai mỏ trên quy mô lớn - trong lòng đất và bằng các phương tiện khai thác lộ thiên và dưới lòng đất - đã diễn ra từ dưới triều đại của Augustus cho đến đầu thế kỷ thứ 3, khi sự bất ổn của đế quốc đã gián đoạn quá trình khai thác. Ví dụ như các mỏ vàng của Dacia đã có thể không còn được người La Mã khai thác sau khi tỉnh này bị từ bỏ vào năm 271. Khai thác mỏ dường như đã khôi phục lại được một phần trong suốt thế kỷ thứ 4.
Tây Ban Nha chủ yếu khai thác khoáng sản nào?
vàng, bạc
Khai thác thủy lực, mà được Pliny gọi là Ruina montium ("hủy hoại những ngọn núi"), đã cho phép khai thác các kim loại thường và kim loại quý trên quy mô công nghiệp nguyên thủy. Tổng sản lượng sắt hàng năm ước tính khoảng 82.500 tấn sản lượng đồng được sản xuất với tốc độ hàng năm là 15.000 tấn, và chì là 80.000 tấn, những cấp độ sản xuất chưa từng có cho đến cuộc cách mạng công nghiệp; Chỉ riêng Tây Ban Nha đã chiếm 40 phần trăm sản lượng chì thế giới Sản lượng chì cao là do nó là một sản phẩm phụ của quá trình khai thác bạc quy mô lớn đạt 200 tấn mỗi năm. Vào giai đoạn cao điểm vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2, kho bạc La Mã được ước tính có khoảng 10.000 tấn, lớn hơn từ 5 tới 10 lần hơn toàn bộ lượng bạc của châu Âu thời trung cổ và các Caliphate vào khoảng 800 SCN. Như một dấu hiệu cho quy mô sản xuất kim loại của người La Mã, ô nhiễm chì trong các tảng băng ở Greenland tăng gấp bốn lần so với mức tiền sử của nó trong thời kỳ đế quốc, và sau đó tiếp tục giảm.
Kho bạc La Mã vào giai đoạn cao điểm ước tính khoảng bao nhiêu tấn?
10.000 tấn
Khai thác thủy lực, mà được Pliny gọi là Ruina montium ("hủy hoại những ngọn núi"), đã cho phép khai thác các kim loại thường và kim loại quý trên quy mô công nghiệp nguyên thủy. Tổng sản lượng sắt hàng năm ước tính khoảng 82.500 tấn sản lượng đồng được sản xuất với tốc độ hàng năm là 15.000 tấn, và chì là 80.000 tấn, những cấp độ sản xuất chưa từng có cho đến cuộc cách mạng công nghiệp; Chỉ riêng Tây Ban Nha đã chiếm 40 phần trăm sản lượng chì thế giới Sản lượng chì cao là do nó là một sản phẩm phụ của quá trình khai thác bạc quy mô lớn đạt 200 tấn mỗi năm. Vào giai đoạn cao điểm vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2, kho bạc La Mã được ước tính có khoảng 10.000 tấn, lớn hơn từ 5 tới 10 lần hơn toàn bộ lượng bạc của châu Âu thời trung cổ và các Caliphate vào khoảng 800 SCN. Như một dấu hiệu cho quy mô sản xuất kim loại của người La Mã, ô nhiễm chì trong các tảng băng ở Greenland tăng gấp bốn lần so với mức tiền sử của nó trong thời kỳ đế quốc, và sau đó tiếp tục giảm.
Tổng sản lượng sắt hàng năm của người La Mã ước tính là bao nhiêu?
82.500 tấn
Khai thác thủy lực, mà được Pliny gọi là Ruina montium ("hủy hoại những ngọn núi"), đã cho phép khai thác các kim loại thường và kim loại quý trên quy mô công nghiệp nguyên thủy. Tổng sản lượng sắt hàng năm ước tính khoảng 82.500 tấn sản lượng đồng được sản xuất với tốc độ hàng năm là 15.000 tấn, và chì là 80.000 tấn, những cấp độ sản xuất chưa từng có cho đến cuộc cách mạng công nghiệp; Chỉ riêng Tây Ban Nha đã chiếm 40 phần trăm sản lượng chì thế giới Sản lượng chì cao là do nó là một sản phẩm phụ của quá trình khai thác bạc quy mô lớn đạt 200 tấn mỗi năm. Vào giai đoạn cao điểm vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2, kho bạc La Mã được ước tính có khoảng 10.000 tấn, lớn hơn từ 5 tới 10 lần hơn toàn bộ lượng bạc của châu Âu thời trung cổ và các Caliphate vào khoảng 800 SCN. Như một dấu hiệu cho quy mô sản xuất kim loại của người La Mã, ô nhiễm chì trong các tảng băng ở Greenland tăng gấp bốn lần so với mức tiền sử của nó trong thời kỳ đế quốc, và sau đó tiếp tục giảm.
Quy trình khai thác thủy lực cho phép khai thác kim loại thường và kim loại quý với tốc độ sản xuất nào?
công nghiệp nguyên thủy
Khai thác thủy lực, mà được Pliny gọi là Ruina montium ("hủy hoại những ngọn núi"), đã cho phép khai thác các kim loại thường và kim loại quý trên quy mô công nghiệp nguyên thủy. Tổng sản lượng sắt hàng năm ước tính khoảng 82.500 tấn sản lượng đồng được sản xuất với tốc độ hàng năm là 15.000 tấn, và chì là 80.000 tấn, những cấp độ sản xuất chưa từng có cho đến cuộc cách mạng công nghiệp; Chỉ riêng Tây Ban Nha đã chiếm 40 phần trăm sản lượng chì thế giới Sản lượng chì cao là do nó là một sản phẩm phụ của quá trình khai thác bạc quy mô lớn đạt 200 tấn mỗi năm. Vào giai đoạn cao điểm vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2, kho bạc La Mã được ước tính có khoảng 10.000 tấn, lớn hơn từ 5 tới 10 lần hơn toàn bộ lượng bạc của châu Âu thời trung cổ và các Caliphate vào khoảng 800 SCN. Như một dấu hiệu cho quy mô sản xuất kim loại của người La Mã, ô nhiễm chì trong các tảng băng ở Greenland tăng gấp bốn lần so với mức tiền sử của nó trong thời kỳ đế quốc, và sau đó tiếp tục giảm.
Tổng sản lượng chì của người La Mã hàng năm là bao nhiêu tấn?
80.000
Đế quốc La Mã hoàn toàn bao quanh Địa Trung Hải, và họ gọi nó là "biển của chúng tôi" (Mare Nostrum). Tàu thuyền của người La Mã đã đi lại khắp Địa Trung Hải cũng như các con sông chính của Đế quốc, trong đó có sông Guadalquivir, Ebro, Rhône, Rhine, sông Tiber và sông Nile. Việc vận chuyển bằng đường biển thường được chọn nếu có thể, và vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ là rất khó khăn. Phương tiện đi lại, bánh xe, và tàu thuyền cho thấy sự tồn tại của một số lượng lớn các thợ mộc lành nghề.
Người La Mã gọi Địa Trung Hải là gì?
biển của chúng tôi
Vận tải bằng đường bộ thì sử dụng hệ thống các con đường La Mã tiên tiến. Các loại thuế bằng hiện vật được các cộng đồng đóng bao gồm việc cung cấp lương thực cho các nhân viên, động vật, hoặc phương tiện cho các cursus publicus, hệ thống bưu điện nhà nước và dịch vụ vận tải đã được Augustus thành lập Các trạm ngựa nằm dọc theo những con đường mỗi 7-12 dặm La Mã, và có xu hướng phát triển thành một làng hoặc trạm buôn bán. Một mansio (số nhiều mansiones) là một trạm dịch vụ tư nhân đặc quyền của triều đình đế quốc dành cho cursus publicus. Các nhân viên hỗ trợ tại một cơ sở như vậy bao gồm người dắt la, thư ký, thợ rèn, xe ngựa, một thầy thuốc thú y, một vài quân cảnh và người đưa thư. Khoảng cách giữa mansiones được xác định bằng quãng đường một chiếc xe ngựa có thể đi di chuyển trong một ngày. La là loài động vật thường được sử dụng cho xe kéo, và nó có thể đi được khoảng 4 dặm mỗi giờ. Như một ví dụ về tốc độ thông tin liên lạc, một người đưa tin ít nhất phải mất chín ngày để đi đến Rome từ Mainz thuộc tỉnh Thượng Germania, ngay cả khi đang có một vấn đề cấp bách Ngoài các mansiones, một số quán rượu cũng cung cấp chỗ ở cũng như ăn uống, một nhãn được ghi lại trong một lần lưu lại cho thấy chi phí cho rượu vang, bánh mì, thức ăn cho con la, và chi phí của một gái mại dâm.
Quãng đường một chiếc xe ngựa có thể di chuyển trong một ngày là bao nhiêu?
khoảng 4 dặm
Vận tải bằng đường bộ thì sử dụng hệ thống các con đường La Mã tiên tiến. Các loại thuế bằng hiện vật được các cộng đồng đóng bao gồm việc cung cấp lương thực cho các nhân viên, động vật, hoặc phương tiện cho các cursus publicus, hệ thống bưu điện nhà nước và dịch vụ vận tải đã được Augustus thành lập Các trạm ngựa nằm dọc theo những con đường mỗi 7-12 dặm La Mã, và có xu hướng phát triển thành một làng hoặc trạm buôn bán. Một mansio (số nhiều mansiones) là một trạm dịch vụ tư nhân đặc quyền của triều đình đế quốc dành cho cursus publicus. Các nhân viên hỗ trợ tại một cơ sở như vậy bao gồm người dắt la, thư ký, thợ rèn, xe ngựa, một thầy thuốc thú y, một vài quân cảnh và người đưa thư. Khoảng cách giữa mansiones được xác định bằng quãng đường một chiếc xe ngựa có thể đi di chuyển trong một ngày. La là loài động vật thường được sử dụng cho xe kéo, và nó có thể đi được khoảng 4 dặm mỗi giờ. Như một ví dụ về tốc độ thông tin liên lạc, một người đưa tin ít nhất phải mất chín ngày để đi đến Rome từ Mainz thuộc tỉnh Thượng Germania, ngay cả khi đang có một vấn đề cấp bách Ngoài các mansiones, một số quán rượu cũng cung cấp chỗ ở cũng như ăn uống, một nhãn được ghi lại trong một lần lưu lại cho thấy chi phí cho rượu vang, bánh mì, thức ăn cho con la, và chi phí của một gái mại dâm.
Các trạm dịch vụ tư nhân đặc quyền dành cho hệ thống bưu điện nhà nước của đế quốc được gọi là gì?
mansiones
Vận tải bằng đường bộ thì sử dụng hệ thống các con đường La Mã tiên tiến. Các loại thuế bằng hiện vật được các cộng đồng đóng bao gồm việc cung cấp lương thực cho các nhân viên, động vật, hoặc phương tiện cho các cursus publicus, hệ thống bưu điện nhà nước và dịch vụ vận tải đã được Augustus thành lập Các trạm ngựa nằm dọc theo những con đường mỗi 7-12 dặm La Mã, và có xu hướng phát triển thành một làng hoặc trạm buôn bán. Một mansio (số nhiều mansiones) là một trạm dịch vụ tư nhân đặc quyền của triều đình đế quốc dành cho cursus publicus. Các nhân viên hỗ trợ tại một cơ sở như vậy bao gồm người dắt la, thư ký, thợ rèn, xe ngựa, một thầy thuốc thú y, một vài quân cảnh và người đưa thư. Khoảng cách giữa mansiones được xác định bằng quãng đường một chiếc xe ngựa có thể đi di chuyển trong một ngày. La là loài động vật thường được sử dụng cho xe kéo, và nó có thể đi được khoảng 4 dặm mỗi giờ. Như một ví dụ về tốc độ thông tin liên lạc, một người đưa tin ít nhất phải mất chín ngày để đi đến Rome từ Mainz thuộc tỉnh Thượng Germania, ngay cả khi đang có một vấn đề cấp bách Ngoài các mansiones, một số quán rượu cũng cung cấp chỗ ở cũng như ăn uống, một nhãn được ghi lại trong một lần lưu lại cho thấy chi phí cho rượu vang, bánh mì, thức ăn cho con la, và chi phí của một gái mại dâm.
Các trạm dịch vụ tư nhân dành cho cursus publicus được gọi là gì?
mansio
Những dòng chữ khắc ghi lại 268 ngành nghề khác nhau trong thành phố Rome, và 85 ở Pompeii. Hiệp hội nghề nghiệp hoặc các Hội thương gia (collegia) được chứng thực cho một loạt các ngành nghề, trong đó có ngư dân (piscatores), người buôn muối (salinatores), người buôn bán dầu ô liu (olivarii), người làm trò mua vui (scaenici), người buôn bán gia súc (pecuarii), thợ kim hoàn (aurifices), người đánh xe (asinarii hoặc muliones), và thợ đá (lapidarii) Đôi khi có những nghề khá đặc biệt: một collegium tại Rome bị hạn chế nghiêm ngặt đối với thợ thủ công làm việc với ngà voi và gỗ cam quýt.
Hiệp hội nghề nghiệp nào được chứng thực cho những người buôn bán dầu ô liu?
olivarii
Các công việc được thực hiện bởi những người nô lệ rơi vào năm loại chung: nội trợ, trên các văn bia ghi lại ít nhất 55 công việc khác nhau trong gia đình, phục vụ hoàng gia hoặc công cộng; hàng thủ công đô thị và dịch vụ, nông nghiệp và khai thác khoáng sản Tù nhân cung cấp phần lớn lao động trong các mỏ hoặc mỏ đá, nơi mà điều kiện làm việc nổi tiếng là tàn bạo. Trong thực tế, có rất ít sự phân công lao động giữa nô lệ và người tự do. Một số lượng lớn những người lao động thông thường được sử dụng trong nông nghiệp: trong hệ thống canh tác công nghiệp của Ý (latifundia), có thể chủ yếu là nô lệ, nhưng trên khắp đế quốc, nô lệ lao động trong nông nghiệp có lẽ là ít quan trọng hơn so với các hình thức lao động phụ thuộc vào những người về cơ bản không phải là nô lệ.
Tù nhân thường làm việc ở đâu?
mỏ hoặc mỏ đá
Các công việc được thực hiện bởi những người nô lệ rơi vào năm loại chung: nội trợ, trên các văn bia ghi lại ít nhất 55 công việc khác nhau trong gia đình, phục vụ hoàng gia hoặc công cộng; hàng thủ công đô thị và dịch vụ, nông nghiệp và khai thác khoáng sản Tù nhân cung cấp phần lớn lao động trong các mỏ hoặc mỏ đá, nơi mà điều kiện làm việc nổi tiếng là tàn bạo. Trong thực tế, có rất ít sự phân công lao động giữa nô lệ và người tự do. Một số lượng lớn những người lao động thông thường được sử dụng trong nông nghiệp: trong hệ thống canh tác công nghiệp của Ý (latifundia), có thể chủ yếu là nô lệ, nhưng trên khắp đế quốc, nô lệ lao động trong nông nghiệp có lẽ là ít quan trọng hơn so với các hình thức lao động phụ thuộc vào những người về cơ bản không phải là nô lệ.
Trong hệ thống canh tác công nghiệp của Ý (latifundia), người lao động chính là ai?
nô lệ
Các công việc được thực hiện bởi những người nô lệ rơi vào năm loại chung: nội trợ, trên các văn bia ghi lại ít nhất 55 công việc khác nhau trong gia đình, phục vụ hoàng gia hoặc công cộng; hàng thủ công đô thị và dịch vụ, nông nghiệp và khai thác khoáng sản Tù nhân cung cấp phần lớn lao động trong các mỏ hoặc mỏ đá, nơi mà điều kiện làm việc nổi tiếng là tàn bạo. Trong thực tế, có rất ít sự phân công lao động giữa nô lệ và người tự do. Một số lượng lớn những người lao động thông thường được sử dụng trong nông nghiệp: trong hệ thống canh tác công nghiệp của Ý (latifundia), có thể chủ yếu là nô lệ, nhưng trên khắp đế quốc, nô lệ lao động trong nông nghiệp có lẽ là ít quan trọng hơn so với các hình thức lao động phụ thuộc vào những người về cơ bản không phải là nô lệ.
Phần lớn tù nhân được sử dụng để cung cấp lao động ở đâu?
trong các mỏ hoặc mỏ đá
Những đóng góp chính của người La Mã đối với kiến trúc là cung vòm và mái vòm. Ngay cả sau khi trải qua hơn 2.000 năm một số cấu trúc La Mã vẫn còn đứng vững, một phần do những phương pháp chế tạo xi măng và bê tông tinh vi Các con đường La Mã được coi là những con đường tiên tiến nhất xây dựng cho đến đầu thế kỷ 19. Hệ thống đường sá tạo điều kiện cho việc duy trì trật tự của quân đội, giao thông và thương mại. Những con đường có thể chịu được lũ lụt và các mối đe dọa môi trường khác. Ngay cả sau khi chính quyền trung ương sụp đổ, một số tuyến đường vẫn có thể sử dụng trong hơn một ngàn năm.
Hai đóng góp chính của người La Mã đối với kiến trúc là gì?
cung vòm và mái vòm
Người La Mã đã xây dựng nhiều cầu máng. Một luận án còn sót lại tới ngày nay của Frontinus, người từng giữ chức vụ curator aquarum (ủy viên về nước) dưới thời Nerva, đã phản ánh vai trò hành chính quan trọng đối với việc bảo đảm cung cấp nước. Sau khi nước đi qua cầu máng, nó được tập trung vào các bể chứa nước và theo các đường ống để tới các đài phun nước công cộng, phòng tắm, nhà vệ sinh, hoặc các khu công nghiệp. Các hệ thống cống dẫn nước chính trong thành phố Roma là Aqua Claudia và Aqua Marcia. Một hệ thống phức tạp còn được xây dựng để cung cấp nước cho Constantinoplis từ nơi cách nó hơn 120 km dọc theo một tuyến đường quanh co dài hơn 336 km. Người La Mã cũng đã sử dụng cống dẫn nước trong hoạt động khai thác khoáng sản phong phú của họ trên toàn đế quốc, tại các địa điểm như Las Médulas và Dolaucothi ở miền Nam xứ Wales.
Các hệ thống cống dẫn nước chính trong thành phố Roma là gì?
Aqua Claudia và Aqua Marcia
Người La Mã đã xây dựng nhiều cầu máng. Một luận án còn sót lại tới ngày nay của Frontinus, người từng giữ chức vụ curator aquarum (ủy viên về nước) dưới thời Nerva, đã phản ánh vai trò hành chính quan trọng đối với việc bảo đảm cung cấp nước. Sau khi nước đi qua cầu máng, nó được tập trung vào các bể chứa nước và theo các đường ống để tới các đài phun nước công cộng, phòng tắm, nhà vệ sinh, hoặc các khu công nghiệp. Các hệ thống cống dẫn nước chính trong thành phố Roma là Aqua Claudia và Aqua Marcia. Một hệ thống phức tạp còn được xây dựng để cung cấp nước cho Constantinoplis từ nơi cách nó hơn 120 km dọc theo một tuyến đường quanh co dài hơn 336 km. Người La Mã cũng đã sử dụng cống dẫn nước trong hoạt động khai thác khoáng sản phong phú của họ trên toàn đế quốc, tại các địa điểm như Las Médulas và Dolaucothi ở miền Nam xứ Wales.
Người từng giữ chức curator aquarum dưới thời Nerva là ai?
Frontinus
Giữa các triều đại của hoàng đế Augustus và Traianus, Đế quốc La Mã đã giành được những vùng lãnh thổ rộng lớn ở cả phía Đông và phía Tây. Ở phía Tây, sau một vài chiến thắng trong năm 16 TCN,, quân đội La Mã đã mở rộng biên giới đế quốc về phía bắc và phía đông của Gaul, chinh phục rất nhiều đất đai xứ Germania. Mặc dù vậy, La Mã đã bị mất một đạo quân lớn cùng với hầu hết binh lính của nó với thảm bại của Varus trong trận rừng Teutoburg vào năm 9 CN. Được xem là thất bại quân sự lớn nhất của Đế quốc La Mã, thảm họa này đã chấm dứt quá trình bành trướng của họ về mạn Đông sông Rhine.
Thất bại quân sự lớn nhất của Đế quốc La Mã được gọi là gì?
thảm bại của Varus
Giữa các triều đại của hoàng đế Augustus và Traianus, Đế quốc La Mã đã giành được những vùng lãnh thổ rộng lớn ở cả phía Đông và phía Tây. Ở phía Tây, sau một vài chiến thắng trong năm 16 TCN,, quân đội La Mã đã mở rộng biên giới đế quốc về phía bắc và phía đông của Gaul, chinh phục rất nhiều đất đai xứ Germania. Mặc dù vậy, La Mã đã bị mất một đạo quân lớn cùng với hầu hết binh lính của nó với thảm bại của Varus trong trận rừng Teutoburg vào năm 9 CN. Được xem là thất bại quân sự lớn nhất của Đế quốc La Mã, thảm họa này đã chấm dứt quá trình bành trướng của họ về mạn Đông sông Rhine.
Thảm bại của Varus xảy ra vào năm nào?
9 CN
La Mã sau đó đã hồi phục và tiếp tục bành trướng và vượt ra ngoài biên giới của thế giới được biết đến. Dưới thời Tiberius, tướng Germanicus lại tổ chức các chiến dịch tấn công Germania trong các năm 15 - 17, nhưng không mấy thành công và chịu nhiều thiệt hại. Mặc dù vậy, để tuyên dương những trận thắng của Germanicus trước quân German trong các chiến dịch của mình, ông được Hoàng đế tổ chức lễ diễu binh khải hoàn vào năm 17. Người La Mã xâm chiếm đảo Anh vào năm 43, chiếm đóng khu vực nội địa,, và xây dựng hai căn cứ quân sự để bảo vệ vùng đất này chống lại các cuộc khởi nghĩa và những cuộc tấn công từ phía bắc.
Người La Mã xâm chiếm đảo Anh vào năm nào?
43
La Mã sau đó đã hồi phục và tiếp tục bành trướng và vượt ra ngoài biên giới của thế giới được biết đến. Dưới thời Tiberius, tướng Germanicus lại tổ chức các chiến dịch tấn công Germania trong các năm 15 - 17, nhưng không mấy thành công và chịu nhiều thiệt hại. Mặc dù vậy, để tuyên dương những trận thắng của Germanicus trước quân German trong các chiến dịch của mình, ông được Hoàng đế tổ chức lễ diễu binh khải hoàn vào năm 17. Người La Mã xâm chiếm đảo Anh vào năm 43, chiếm đóng khu vực nội địa,, và xây dựng hai căn cứ quân sự để bảo vệ vùng đất này chống lại các cuộc khởi nghĩa và những cuộc tấn công từ phía bắc.
Hoàng đế La Mã tổ chức lễ diễu binh khải hoàn cho vị tướng nào vào năm 17?
Germanicus
Vào năm 69, Marcus Salvius Otho đã sát hại hoàng đế Galba và tự mình xưng đế, Tuy nhiên, Vitellius cũng tấn phong mình làm Hoàng đế. Otho sau đó đã rời Roma, và giao chiến với Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ nhất, nhưng quân đội của phe Otho lại thua trận và buộc phải rút về trại của họ, và ngày hôm sau họ đầu hàng lực lượng của phe Vitellius. Trong khi đó, các lực lượng quân đội đang đóng quân tại các tỉnh Trung Đông như Judaea và Syria đã tôn Vespasianus lên làm hoàng đế. Quân đội của Vespasianus và Vitellius sau đó đã giao tranh trong trận Bedriacum lần thứ hai, kết quả là quân đội của phe Vitellius bị đánh tan tác. Vespasianus, sau khi thành công trong việc kết thúc cuộc nội chiến, đã được tuyên bố làm hoàng đế.
Ai đã sát hại hoàng đế Galba?
Marcus Salvius Otho
Vào năm 69, Marcus Salvius Otho đã sát hại hoàng đế Galba và tự mình xưng đế, Tuy nhiên, Vitellius cũng tấn phong mình làm Hoàng đế. Otho sau đó đã rời Roma, và giao chiến với Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ nhất, nhưng quân đội của phe Otho lại thua trận và buộc phải rút về trại của họ, và ngày hôm sau họ đầu hàng lực lượng của phe Vitellius. Trong khi đó, các lực lượng quân đội đang đóng quân tại các tỉnh Trung Đông như Judaea và Syria đã tôn Vespasianus lên làm hoàng đế. Quân đội của Vespasianus và Vitellius sau đó đã giao tranh trong trận Bedriacum lần thứ hai, kết quả là quân đội của phe Vitellius bị đánh tan tác. Vespasianus, sau khi thành công trong việc kết thúc cuộc nội chiến, đã được tuyên bố làm hoàng đế.
Quân đội nào đã đánh tan quân đội của Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ hai?
Quân đội của Vespasianus
Vào năm 69, Marcus Salvius Otho đã sát hại hoàng đế Galba và tự mình xưng đế, Tuy nhiên, Vitellius cũng tấn phong mình làm Hoàng đế. Otho sau đó đã rời Roma, và giao chiến với Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ nhất, nhưng quân đội của phe Otho lại thua trận và buộc phải rút về trại của họ, và ngày hôm sau họ đầu hàng lực lượng của phe Vitellius. Trong khi đó, các lực lượng quân đội đang đóng quân tại các tỉnh Trung Đông như Judaea và Syria đã tôn Vespasianus lên làm hoàng đế. Quân đội của Vespasianus và Vitellius sau đó đã giao tranh trong trận Bedriacum lần thứ hai, kết quả là quân đội của phe Vitellius bị đánh tan tác. Vespasianus, sau khi thành công trong việc kết thúc cuộc nội chiến, đã được tuyên bố làm hoàng đế.
Marcus Salvius Otho đã sát hại hoàng đế nào?
Galba
Cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất, đôi khi được gọi là Cuộc đại khởi nghĩa, là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong ba cuộc khởi nghĩa lớn của người Do Thái ở tỉnh Judaea chống lại Đế quốc La Mã. Những thành công ban đầu của người Do Thái khi chống lại La Mã chỉ càng thu hút thêm sự chú ý lớn hơn từ Hoàng đế Nero, ông ta đã giao cho tướng Vespasianus nhiệm vụ đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Đến năm 68, sự kháng cự của người Do Thái ở khu vực phía Bắc, vùng Galile, đã bị nghiền nát và trong năm 70 năm, Jerusalem đã bị chiếm cùng với đó Đền thờ thứ hai đã bị phá hủy. Năm 115, một cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục nổ ra trong tỉnh, dẫn đến cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ hai mà còn được gọi là Chiến tranh Kitos, và một lần nữa là vào năm 132, lần này được gọi là cuộc khởi nghĩa của Bar Kokhba. Cả hai cuộc khởi nghĩa này đều bị đàn áp dã man.
Đền thờ thứ hai bị phá hủy vào năm nào?
70
Cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất, đôi khi được gọi là Cuộc đại khởi nghĩa, là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong ba cuộc khởi nghĩa lớn của người Do Thái ở tỉnh Judaea chống lại Đế quốc La Mã. Những thành công ban đầu của người Do Thái khi chống lại La Mã chỉ càng thu hút thêm sự chú ý lớn hơn từ Hoàng đế Nero, ông ta đã giao cho tướng Vespasianus nhiệm vụ đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Đến năm 68, sự kháng cự của người Do Thái ở khu vực phía Bắc, vùng Galile, đã bị nghiền nát và trong năm 70 năm, Jerusalem đã bị chiếm cùng với đó Đền thờ thứ hai đã bị phá hủy. Năm 115, một cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục nổ ra trong tỉnh, dẫn đến cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ hai mà còn được gọi là Chiến tranh Kitos, và một lần nữa là vào năm 132, lần này được gọi là cuộc khởi nghĩa của Bar Kokhba. Cả hai cuộc khởi nghĩa này đều bị đàn áp dã man.
Cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất diễn ra ở đâu?
Judaea
Cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất, đôi khi được gọi là Cuộc đại khởi nghĩa, là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong ba cuộc khởi nghĩa lớn của người Do Thái ở tỉnh Judaea chống lại Đế quốc La Mã. Những thành công ban đầu của người Do Thái khi chống lại La Mã chỉ càng thu hút thêm sự chú ý lớn hơn từ Hoàng đế Nero, ông ta đã giao cho tướng Vespasianus nhiệm vụ đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Đến năm 68, sự kháng cự của người Do Thái ở khu vực phía Bắc, vùng Galile, đã bị nghiền nát và trong năm 70 năm, Jerusalem đã bị chiếm cùng với đó Đền thờ thứ hai đã bị phá hủy. Năm 115, một cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục nổ ra trong tỉnh, dẫn đến cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ hai mà còn được gọi là Chiến tranh Kitos, và một lần nữa là vào năm 132, lần này được gọi là cuộc khởi nghĩa của Bar Kokhba. Cả hai cuộc khởi nghĩa này đều bị đàn áp dã man.
Cuộc khởi nghĩa của người Do Thái đầu tiên chống lại Đế chế La Mã được gọi là gì?
Cuộc đại khởi nghĩa
Do đã triển khai lực lượng kỵ binh nặng hùng mạnh và lực lượng kị cung cơ động, Parthia là kẻ thù ghê gớm nhất của Đế quốc La Mã ở phía đông. Traianus đã tiến hành chiến dịch chống lại người Parthia và ông đã chiếm được kinh đô của họ trong một thời gian ngắn, đặt một vị vua bù nhìn lên ngai vàng, nhưng các vùng lãnh thổ này sau đó đã bị từ bỏ. Năm 161, vua Parthia là Vologases IV phục hưng quốc gia, mới đem quân đánh Armenia, trục xuất vua bù nhìn thân La Mã, lập người nhà Arsaces là Bakur làm vua. Các thống đốc La Mã Lucius Attidius Cornelianus và Marcus Sedatius Severianus đưa quân vào Armenia, bị thua luôn. Năm 161, Marcus Aurelius lên ngôi hoàng đế, sai tướng Gaius Avidius Cassius đánh Parthia. Thành Seleucia trên sông Tigris của Parthia bị phá hủy, và người Parthia giảng hòa nhưng bị buộc phải nhượng vùng Tây Lưỡng Hà cho La Mã.
Năm 161, ai lên ngôi hoàng đế La Mã?
Marcus Aurelius
Cuộc sống ở Đế chế La Mã thường xoay quanh thành phố Roma, và bảy ngọn đồi nổi tiếng của nó. Thành phố cũng đã có một số nhà hát, gymnasia, các quán rượu, phòng tắm và nhà thổ. Trên khắp các vùng đất nằm dưới sự kiểm soát của Rome, trình độ kiến trúc các căn nhà ở đều rất khiêm tốn tới cả những biệt thự thôn quê, và ngay trong kinh đô Rome, các căn nhà ở trên đồi Palatine thanh lịch, mà từ đó từ "cung điện" được hình thành. Phần lớn dân số sống ở trung tâm thành phố, gói gọn trong các khu nhà chung cư.
Trong Đế chế La Mã, các căn nhà ở trên đồi nào được gọi là "cung điện"?
Palatine
Cuộc sống ở Đế chế La Mã thường xoay quanh thành phố Roma, và bảy ngọn đồi nổi tiếng của nó. Thành phố cũng đã có một số nhà hát, gymnasia, các quán rượu, phòng tắm và nhà thổ. Trên khắp các vùng đất nằm dưới sự kiểm soát của Rome, trình độ kiến trúc các căn nhà ở đều rất khiêm tốn tới cả những biệt thự thôn quê, và ngay trong kinh đô Rome, các căn nhà ở trên đồi Palatine thanh lịch, mà từ đó từ "cung điện" được hình thành. Phần lớn dân số sống ở trung tâm thành phố, gói gọn trong các khu nhà chung cư.
Phần lớn dân số thành phố Rome sống ở đâu?
các khu nhà chung cư
Hầu hết các thị trấn và thành phố La Mã đều đã có một khu chợ và các đền thờ, cũng như chính bản thân thành phố Roma. Hệ thống cống dẫn nước được xây dựng để đưa nước đến các trung tâm đô thị và được sử dụng như một con đường để nhập khẩu rượu vang và dầu từ nước ngoài. Địa chủ thường cư trú ở các thành phố và việc chăm sóc điền trang của họ được giao lại cho những người quản lý trang trại. Để kích thích năng suất lao động cao hơn nhiều, nhiều địa chủ đã giải phóng một số lượng lớn nô lệ. Vào triều đại của Augustus, các nô lệ Hy Lạp có học thức trong nhà đã dạy học cho các trẻ em nam La Mã (đôi khi ngay cả các cô gái). Các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp được dùng để trang trí cảnh quan cho khu vườn mang phong cách Hy Lạp trên đồi Palatine hoặc trong các biệt thự.
Người nào dạy học cho các trẻ em nam La Mã?
nô lệ Hy Lạp có học thức
Hầu hết các thị trấn và thành phố La Mã đều đã có một khu chợ và các đền thờ, cũng như chính bản thân thành phố Roma. Hệ thống cống dẫn nước được xây dựng để đưa nước đến các trung tâm đô thị và được sử dụng như một con đường để nhập khẩu rượu vang và dầu từ nước ngoài. Địa chủ thường cư trú ở các thành phố và việc chăm sóc điền trang của họ được giao lại cho những người quản lý trang trại. Để kích thích năng suất lao động cao hơn nhiều, nhiều địa chủ đã giải phóng một số lượng lớn nô lệ. Vào triều đại của Augustus, các nô lệ Hy Lạp có học thức trong nhà đã dạy học cho các trẻ em nam La Mã (đôi khi ngay cả các cô gái). Các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp được dùng để trang trí cảnh quan cho khu vườn mang phong cách Hy Lạp trên đồi Palatine hoặc trong các biệt thự.
Các đền thờ có trong hầu hết các thị trấn và thành phố nào?
La Mã
Hầu hết các thị trấn và thành phố La Mã đều đã có một khu chợ và các đền thờ, cũng như chính bản thân thành phố Roma. Hệ thống cống dẫn nước được xây dựng để đưa nước đến các trung tâm đô thị và được sử dụng như một con đường để nhập khẩu rượu vang và dầu từ nước ngoài. Địa chủ thường cư trú ở các thành phố và việc chăm sóc điền trang của họ được giao lại cho những người quản lý trang trại. Để kích thích năng suất lao động cao hơn nhiều, nhiều địa chủ đã giải phóng một số lượng lớn nô lệ. Vào triều đại của Augustus, các nô lệ Hy Lạp có học thức trong nhà đã dạy học cho các trẻ em nam La Mã (đôi khi ngay cả các cô gái). Các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp được dùng để trang trí cảnh quan cho khu vườn mang phong cách Hy Lạp trên đồi Palatine hoặc trong các biệt thự.
Địa chủ thường cư trú ở đâu?
các thành phố
Hầu hết các thị trấn và thành phố La Mã đều đã có một khu chợ và các đền thờ, cũng như chính bản thân thành phố Roma. Hệ thống cống dẫn nước được xây dựng để đưa nước đến các trung tâm đô thị và được sử dụng như một con đường để nhập khẩu rượu vang và dầu từ nước ngoài. Địa chủ thường cư trú ở các thành phố và việc chăm sóc điền trang của họ được giao lại cho những người quản lý trang trại. Để kích thích năng suất lao động cao hơn nhiều, nhiều địa chủ đã giải phóng một số lượng lớn nô lệ. Vào triều đại của Augustus, các nô lệ Hy Lạp có học thức trong nhà đã dạy học cho các trẻ em nam La Mã (đôi khi ngay cả các cô gái). Các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp được dùng để trang trí cảnh quan cho khu vườn mang phong cách Hy Lạp trên đồi Palatine hoặc trong các biệt thự.
Đâu là nơi cung cấp nước cho các trung tâm đô thị La Mã?
Hệ thống cống dẫn nước
Sự mở rộng của đế quốc đồng nghĩa với việc cư dân La Mã bao gồm người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau, sự cúng bái những vị thần với số lượng ngày một gia tăng được khoan dung và chấp nhận. Chính quyền Đế quốc nói riêng và người La Mã nói chung, đều có xu hướng rất khoan dung cho phần lớn tôn giáo và tín ngưỡng, sao cho họ không gây bất an. Điều đó dễ dàng được các đức tin khác đồng thuận do các nghi thức tế thần và lễ hội La Mã thường được thêm bớt cho phù hợp với văn hóa và bản sắc địa phương. Do người La Mã theo Đa Thần giáo, họ cũng dễ dàng đồng hòa thần linh của các tộc người mà họ chinh phạt. Một cá nhân có thể cúng tế cả chư thần La Mã để thể hiện bản sắc La Mã của anh ta và tôn giáo cá nhân, vốn được xem là một phần của đặc điểm cá nhân của anh em. Cũng có những giai đoạn chính quyền tổ chức các cuộc bách hại, nhất là với Kitô giáo.
Chính quyền Đế quốc La Mã có thái độ gì đối với phần lớn tôn giáo và tín ngưỡng?
khoan dung
Sự mở rộng của đế quốc đồng nghĩa với việc cư dân La Mã bao gồm người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau, sự cúng bái những vị thần với số lượng ngày một gia tăng được khoan dung và chấp nhận. Chính quyền Đế quốc nói riêng và người La Mã nói chung, đều có xu hướng rất khoan dung cho phần lớn tôn giáo và tín ngưỡng, sao cho họ không gây bất an. Điều đó dễ dàng được các đức tin khác đồng thuận do các nghi thức tế thần và lễ hội La Mã thường được thêm bớt cho phù hợp với văn hóa và bản sắc địa phương. Do người La Mã theo Đa Thần giáo, họ cũng dễ dàng đồng hòa thần linh của các tộc người mà họ chinh phạt. Một cá nhân có thể cúng tế cả chư thần La Mã để thể hiện bản sắc La Mã của anh ta và tôn giáo cá nhân, vốn được xem là một phần của đặc điểm cá nhân của anh em. Cũng có những giai đoạn chính quyền tổ chức các cuộc bách hại, nhất là với Kitô giáo.
Người La Mã có xu hướng khoan dung với điều gì?
phần lớn tôn giáo và tín ngưỡng
Trong một nỗ lực nhằm để tăng cường lòng trung thành, các cư dân của đế quốc đã được kêu gọi tham gia thờ cúng hoàng đế để tỏ lòng tôn kính đối với những vị hoàng đế (thường là đã qua đời) như là các á thần Một vài hoàng đế tự mình tuyên bố là vị thần trong khi đang còn sống với hoàng đế, đó là các trường hợp ngoại lệ và những vị hoàng đế này vào thời điểm đó bị coi là mất trí một cách rộng rãi (chẳng hạn như Caligula). Làm như vậy trong giai đoạn đầu thời đế quốc sẽ mạo hiểm tiết lộ một cách nông cạn những gì mà Hoàng đế Augustus gọi là "khôi phục nhà nước Cộng hòa". Kể từ đó, công cụ này chủ yếu là cách mà mỗi một vị Hoàng đế sử dụng để kiềm chế thần dân của mình.
Các cư dân của đế quốc được kêu gọi làm gì trong nỗ lực tăng cường lòng trung thành?
thờ cúng hoàng đế
Trong một nỗ lực nhằm để tăng cường lòng trung thành, các cư dân của đế quốc đã được kêu gọi tham gia thờ cúng hoàng đế để tỏ lòng tôn kính đối với những vị hoàng đế (thường là đã qua đời) như là các á thần Một vài hoàng đế tự mình tuyên bố là vị thần trong khi đang còn sống với hoàng đế, đó là các trường hợp ngoại lệ và những vị hoàng đế này vào thời điểm đó bị coi là mất trí một cách rộng rãi (chẳng hạn như Caligula). Làm như vậy trong giai đoạn đầu thời đế quốc sẽ mạo hiểm tiết lộ một cách nông cạn những gì mà Hoàng đế Augustus gọi là "khôi phục nhà nước Cộng hòa". Kể từ đó, công cụ này chủ yếu là cách mà mỗi một vị Hoàng đế sử dụng để kiềm chế thần dân của mình.
Hoàng đế Caligula được coi như thế nào?
mất trí
Hệ thống y tế tại Làng Olympic là hệ thống hết sức đa dạng, có thể cung cấp bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ thể thao, bác sĩ nhãn khoa, các chuyên gia về X-quang cũng như các bác sĩ chuyên ngành như: tim, da liễu, thần kinh... và cả những chuyên gia cho các tình huống khẩn cấp. Dịch vụ được cung cấp 24 giờ một ngày và bảy ngày trong tuần trong suốt thời gian diễn ra Thế vận hội. Các bác sĩ thường xuyên túc trực tại địa điểm tập luyện và thi đấu của Thế vận hội Luân Đôn 2012. Có 66 xe cấp cứu mới được sử dụng để phục vụ tại Luân Đôn 2012 theo yêu cầu của Liên đoàn quốc tế và Ủy ban Olympic quốc tế. Những xe cấp cứu này được trang bị các thiết bị theo đúng tiêu chuẩn của dịch vụ cấp cứu Luân Đôn - được coi là dịch vụ tiêu chuẩn hàng đầu.
Hệ thống y tế tại Làng Olympic được cung cấp 24/7 trong khoảng thời gian nào?
suốt thời gian diễn ra Thế vận hội
Hệ thống y tế tại Làng Olympic là hệ thống hết sức đa dạng, có thể cung cấp bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ thể thao, bác sĩ nhãn khoa, các chuyên gia về X-quang cũng như các bác sĩ chuyên ngành như: tim, da liễu, thần kinh... và cả những chuyên gia cho các tình huống khẩn cấp. Dịch vụ được cung cấp 24 giờ một ngày và bảy ngày trong tuần trong suốt thời gian diễn ra Thế vận hội. Các bác sĩ thường xuyên túc trực tại địa điểm tập luyện và thi đấu của Thế vận hội Luân Đôn 2012. Có 66 xe cấp cứu mới được sử dụng để phục vụ tại Luân Đôn 2012 theo yêu cầu của Liên đoàn quốc tế và Ủy ban Olympic quốc tế. Những xe cấp cứu này được trang bị các thiết bị theo đúng tiêu chuẩn của dịch vụ cấp cứu Luân Đôn - được coi là dịch vụ tiêu chuẩn hàng đầu.
Hệ thống y tế tại Làng Olympic có bao nhiêu xe cấp cứu mới?
66
Làng Olympic nằm ở Thung lũng Lower Lea ở phía đông Luân Đôn do tập đoàn Lend Lease của Australia xây dựng. Kinh phí xây dựng khoảng 5,3 tỷ bảng anh và đây có thể được xem là khu vực dành cho vận động viên rộng rãi nhất trong lịch sử Olympic. Trung tâm của làng Olympic gồm một biểu tượng Olympic lớn. Làng Olympic có đầy đủ dịch vụ cho các VĐV, như thẩm mỹ viện, bar, phòng ăn với thức ăn miễn phí, khu vui chơi trong nhà và ngoài trời, khu vực luyện tập, phòng ngủ... Công viên Victory được xây dựng bao quanh làng với nhiều cây xanh, giúp các VĐV có được sự thoáng đãng và mát mẻ khi hoạt động ngoài trời.
Trung tâm của làng Olympic có gì?
biểu tượng Olympic lớn
Làng Olympic nằm ở Thung lũng Lower Lea ở phía đông Luân Đôn do tập đoàn Lend Lease của Australia xây dựng. Kinh phí xây dựng khoảng 5,3 tỷ bảng anh và đây có thể được xem là khu vực dành cho vận động viên rộng rãi nhất trong lịch sử Olympic. Trung tâm của làng Olympic gồm một biểu tượng Olympic lớn. Làng Olympic có đầy đủ dịch vụ cho các VĐV, như thẩm mỹ viện, bar, phòng ăn với thức ăn miễn phí, khu vui chơi trong nhà và ngoài trời, khu vực luyện tập, phòng ngủ... Công viên Victory được xây dựng bao quanh làng với nhiều cây xanh, giúp các VĐV có được sự thoáng đãng và mát mẻ khi hoạt động ngoài trời.
Làng Olympic được xây dựng bởi tập đoàn nào?
Lend Lease
Làng Olympic nằm ở Thung lũng Lower Lea ở phía đông Luân Đôn do tập đoàn Lend Lease của Australia xây dựng. Kinh phí xây dựng khoảng 5,3 tỷ bảng anh và đây có thể được xem là khu vực dành cho vận động viên rộng rãi nhất trong lịch sử Olympic. Trung tâm của làng Olympic gồm một biểu tượng Olympic lớn. Làng Olympic có đầy đủ dịch vụ cho các VĐV, như thẩm mỹ viện, bar, phòng ăn với thức ăn miễn phí, khu vui chơi trong nhà và ngoài trời, khu vực luyện tập, phòng ngủ... Công viên Victory được xây dựng bao quanh làng với nhiều cây xanh, giúp các VĐV có được sự thoáng đãng và mát mẻ khi hoạt động ngoài trời.
Làng Olympic nằm ở đâu?
Thung lũng Lower Lea
Làng Olympic nằm ở Thung lũng Lower Lea ở phía đông Luân Đôn do tập đoàn Lend Lease của Australia xây dựng. Kinh phí xây dựng khoảng 5,3 tỷ bảng anh và đây có thể được xem là khu vực dành cho vận động viên rộng rãi nhất trong lịch sử Olympic. Trung tâm của làng Olympic gồm một biểu tượng Olympic lớn. Làng Olympic có đầy đủ dịch vụ cho các VĐV, như thẩm mỹ viện, bar, phòng ăn với thức ăn miễn phí, khu vui chơi trong nhà và ngoài trời, khu vực luyện tập, phòng ngủ... Công viên Victory được xây dựng bao quanh làng với nhiều cây xanh, giúp các VĐV có được sự thoáng đãng và mát mẻ khi hoạt động ngoài trời.
Kinh phí xây dựng Làng Olympic là bao nhiêu?
5,3 tỷ bảng anh
Rồi chiến tranh thế giới diễn ra. Sân khấu biển đổi kỳ ảo với một màu tím biếc. Màn trình diễn đầu tiên khép lại với hình ảnh 5 vòng tròn biểu tượng của Thế vận hội và cơn mưa pháo hoa bùng nổ. Màn thứ hai miêu tả cuộc sống thường ngày của người dân Anh, với những nhân vật tiểu thuyết và điện ảnh nổi tiếng như phù thủy Voldemort, Peter Pan, cô bảo mẫu Mary Popkin... Trước đó, Nữ hoàng Anh Elizabeth II cùng diễn viên Daniel Craig bước lên trực thăng. Và Nữ hoàng Elizabeth II nhảy dù xuống sân Olympic trong một đoạn phim ghép. Đúng lúc đó, Nữ hoàng bước ra từ hàng ghế VIP trên khán đài. Sau màn diễu hành truyền thống của 10.500 vận động viên từ 204 quốc gia, Nữ hoàng Anh tuyên bố chính thức khai mạc Olympic 2012.
Ai tuyên bố chính thức khai mạc Olympic 2012?
Nữ hoàng Anh
Lễ khai mạc còn có sự tham gia của những biểu tượng điển hình nhất cho Vương quốc Anh ngoài Nữ hoàng Elizabeth II như điệp viên huyền thoại MI6 James Bond (Daniel Craig), Paul McCartney của ban nhạc Beatles và ngôi sao bóng đá David Beckham,... "Ngài" Mr.Bean thì vừa chơi đàn piano, vừa sử dụng điện thoại di động và... xỉ mũi. Trong clip hài trên màn ảnh của sân vận động, Mr Bean vào vai một vận động viên tham gia cuộc đua chạy dọc bờ biển cùng một đoàn vận động viên điền kinh và khôn khéo vượt lên dẫn đầu, về đích.
Ai tham gia cuộc đua chạy dọc bờ biển trong clip hài?
Mr.Bean
Lễ khai mạc còn có sự tham gia của những biểu tượng điển hình nhất cho Vương quốc Anh ngoài Nữ hoàng Elizabeth II như điệp viên huyền thoại MI6 James Bond (Daniel Craig), Paul McCartney của ban nhạc Beatles và ngôi sao bóng đá David Beckham,... "Ngài" Mr.Bean thì vừa chơi đàn piano, vừa sử dụng điện thoại di động và... xỉ mũi. Trong clip hài trên màn ảnh của sân vận động, Mr Bean vào vai một vận động viên tham gia cuộc đua chạy dọc bờ biển cùng một đoàn vận động viên điền kinh và khôn khéo vượt lên dẫn đầu, về đích.
Trong lễ khai mạc, ai vào vai một vận động viên tham gia cuộc đua chạy dọc bờ biển?
Mr Bean
Lễ bế mạc được bắt đầu với việc ca sĩ Emily Sande thực hiện ca khúc nổi tiếng Read all about it được viết bởi Green. Sau đó Timothy Spall tái hiện vai Thủ tướng Anh, Winston Churchill - Nhân vật mà ông đã đóng trong bộ phim The King's Speech. Spall đã đọc những lời được trích từ vở kịch Tempest nổi tiếng để bắt đầu cho buổi lễ bế mạc. Cùng với đó là mô hình những thắng cảnh, những địa điểm thi đấu Olympic của Luân Đôn. Những hình ảnh thường nhât của Olympic Luân Đôn 2012 cũng được đưa vào buổi lễ.
Ca khúc nổi tiếng nào được ca sĩ Emily Sande thực hiện tại lễ bế mạc?
Read all about it
Lễ bế mạc được bắt đầu với việc ca sĩ Emily Sande thực hiện ca khúc nổi tiếng Read all about it được viết bởi Green. Sau đó Timothy Spall tái hiện vai Thủ tướng Anh, Winston Churchill - Nhân vật mà ông đã đóng trong bộ phim The King's Speech. Spall đã đọc những lời được trích từ vở kịch Tempest nổi tiếng để bắt đầu cho buổi lễ bế mạc. Cùng với đó là mô hình những thắng cảnh, những địa điểm thi đấu Olympic của Luân Đôn. Những hình ảnh thường nhât của Olympic Luân Đôn 2012 cũng được đưa vào buổi lễ.
Ca sĩ nào đã thực hiện ca khúc Read all about it tại lễ bế mạc?
Emily Sande
Phía Bắc Việt Nam tiếp giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định khoảng gấp 3 lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Ở biển Đông có Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng còn đang trong vòng tranh chấp với Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia và Philippines.
Việt Nam có bao nhiêu hòn đảo, bãi đá ngầm?
hơn 4.000
Phía Bắc Việt Nam tiếp giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định khoảng gấp 3 lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Ở biển Đông có Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng còn đang trong vòng tranh chấp với Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia và Philippines.
Việt Nam giáp với những nước nào ở phía Tây?
Lào và Campuchia
Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc năm 208 TCN (sử khác chép là 179 TCN), miền Bắc Việt Nam đã lâm vào cảnh bị đô hộ trong khoảng 1000 năm bởi nhiều triều đại của Trung Quốc (có một vài giai đoạn ngắn được độc lập sau một số cuộc khởi nghĩa) và chỉ hoàn toàn giành lại độc lập vào năm 939, sau Trận Bạch Đằng (938) của danh tướng Ngô Quyền. Qua các thế kỷ tiếp theo, các triều đại phong kiến của Việt Nam đã không ngừng giữ độc lập (chỉ có một giai đoạn ngắn bị Bắc Thuộc khoảng 20 năm dưới triều nhà Minh), phát triển tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự và đạt giai đoạn hoàng kim tại thời nhà Lê sơ dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến đầu thời nhà Nguyễn, hình dáng đất nước đã có hình dáng gần giống với hiện nay, thời Hoàng đế Minh Mạng, Đại Nam đã có các cuộc tấn công chiếm đóng các nước Campuchia, Lào. Giữa thế kỷ 19, Đế quốc Pháp xâm lược chiếm đóng Việt Nam, lập thành chính quyền thuộc địa nửa phong kiến cho đến Cách mạng tháng Tám .
Nhà nước Âu Lạc sụp đổ vào năm nào?
208 TCN
Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc năm 208 TCN (sử khác chép là 179 TCN), miền Bắc Việt Nam đã lâm vào cảnh bị đô hộ trong khoảng 1000 năm bởi nhiều triều đại của Trung Quốc (có một vài giai đoạn ngắn được độc lập sau một số cuộc khởi nghĩa) và chỉ hoàn toàn giành lại độc lập vào năm 939, sau Trận Bạch Đằng (938) của danh tướng Ngô Quyền. Qua các thế kỷ tiếp theo, các triều đại phong kiến của Việt Nam đã không ngừng giữ độc lập (chỉ có một giai đoạn ngắn bị Bắc Thuộc khoảng 20 năm dưới triều nhà Minh), phát triển tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự và đạt giai đoạn hoàng kim tại thời nhà Lê sơ dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến đầu thời nhà Nguyễn, hình dáng đất nước đã có hình dáng gần giống với hiện nay, thời Hoàng đế Minh Mạng, Đại Nam đã có các cuộc tấn công chiếm đóng các nước Campuchia, Lào. Giữa thế kỷ 19, Đế quốc Pháp xâm lược chiếm đóng Việt Nam, lập thành chính quyền thuộc địa nửa phong kiến cho đến Cách mạng tháng Tám .
Đế quốc Pháp xâm lược chiếm đóng Việt Nam vào thời nào?
Giữa thế kỷ 19
Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc năm 208 TCN (sử khác chép là 179 TCN), miền Bắc Việt Nam đã lâm vào cảnh bị đô hộ trong khoảng 1000 năm bởi nhiều triều đại của Trung Quốc (có một vài giai đoạn ngắn được độc lập sau một số cuộc khởi nghĩa) và chỉ hoàn toàn giành lại độc lập vào năm 939, sau Trận Bạch Đằng (938) của danh tướng Ngô Quyền. Qua các thế kỷ tiếp theo, các triều đại phong kiến của Việt Nam đã không ngừng giữ độc lập (chỉ có một giai đoạn ngắn bị Bắc Thuộc khoảng 20 năm dưới triều nhà Minh), phát triển tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự và đạt giai đoạn hoàng kim tại thời nhà Lê sơ dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến đầu thời nhà Nguyễn, hình dáng đất nước đã có hình dáng gần giống với hiện nay, thời Hoàng đế Minh Mạng, Đại Nam đã có các cuộc tấn công chiếm đóng các nước Campuchia, Lào. Giữa thế kỷ 19, Đế quốc Pháp xâm lược chiếm đóng Việt Nam, lập thành chính quyền thuộc địa nửa phong kiến cho đến Cách mạng tháng Tám .
Việt Nam hoàn toàn giành lại độc lập vào năm nào?
939
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập dưới tên gọi mới là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1954, người Việt đẩy lùi Thực dân Pháp sau trận thắng Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhưng Việt Nam lại bị chia cắt thành hai miền và cuốn vào một cuộc chiến tàn khốc mới theo Hiệp định Genève và việc Hoa Kỳ can thiệp vào miền Nam: Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa với hỗ trợ của Hoa Kỳ). Cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc với chiến thắng của Việt nam Dân chủ Cộng hoà (30/4/1975).
Cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày nào?
30/4/1975
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập dưới tên gọi mới là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1954, người Việt đẩy lùi Thực dân Pháp sau trận thắng Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhưng Việt Nam lại bị chia cắt thành hai miền và cuốn vào một cuộc chiến tàn khốc mới theo Hiệp định Genève và việc Hoa Kỳ can thiệp vào miền Nam: Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa với hỗ trợ của Hoa Kỳ). Cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc với chiến thắng của Việt nam Dân chủ Cộng hoà (30/4/1975).
Ngày tháng năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là gì?
2 tháng 9 năm 1945
"Việt Nam" (chữ Hán: 越南) chính thức trở thành quốc hiệu của đất nước này lần đầu tiên sau khi nhà Nguyễn (Việt Nam) được nhà Thanh (Trung Quốc) thừa nhận quốc hiệu này. Năm Gia Long nguyên niên (Tây lịch năm 1802), vua Gia Long cho người mang quốc thư và cống vật sang Trung Quốc đề nghị nhà Thanh thừa nhận quốc hiệu "Nam Việt" (南越) và phong hiệu cho vua Gia Long. Nhà Thanh không đồng ý cho nhà Nguyễn đổi quốc hiệu thành Nam Việt vì nước Nam Việt có cương vực rộng lớn, bao gồm cả tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc, lãnh thổ lúc này thì chỉ nằm trên đất Giao Chỉ. Nhà Thanh đảo ngược tên "Nam Việt" 南越 thành "Việt Nam" 越南, và triều Nguyễn chấp nhận lấy làm quốc hiệu. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, nước này trước đây chỉ có đất Việt Thường. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, cương vực sau này của nước này. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" 越南 vẫn có hai chữ "nam việt" 南越 trong tên mà lại không nhầm lẫn với nước Nam Việt, lại thể hiện được vị trí địa lý của nước này là nằm ở phía nam Bách Việt. Năm Gia Long thứ ba (Tây lịch năm 1804), vua Gia Khánh nhà Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm (齊布森) sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 越南皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.
Nhà Thanh xưng hô vua Gia Long như thế nào khi tuyên phong?
Việt Nam quốc vương
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) vào thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của con người thời tiền sử được phát hiện tại các tỉnh phía Bắc gồm Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình. Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.
Những dấu vết của người đứng thẳng được tìm thấy cách đây bao lâu?
500.000 năm
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) vào thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của con người thời tiền sử được phát hiện tại các tỉnh phía Bắc gồm Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình. Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.
Người đứng thẳng xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam cách đây bao lâu?
khoảng 500.000 năm
Đến thời đại đồ đá mới cách đây khoảng 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; hàng loạt dấu vết của việc trồng lúa đã được phát hiện trên khắp lãnh thổ, từ cao nguyên cho tới đồng bằng. Ngoài ra, con người đã bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo đạt đến đỉnh cao. Đến khoảng năm 1000 trước Công nguyên, khu vực lúa nước phát triển ở sông Hồng và sông Cả phát triển mạnh mẽ thành nền văn hóa Đông Sơn, nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ, nổi tiếng với những trống đồng Đông Sơn tinh tế. Sau đó, những nhà nước đầu tiên của người Việt, Văn Lang và Âu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Những trống đồng nào nổi tiếng gắn liền với nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ?
trống đồng Đông Sơn
Đến thời đại đồ đá mới cách đây khoảng 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; hàng loạt dấu vết của việc trồng lúa đã được phát hiện trên khắp lãnh thổ, từ cao nguyên cho tới đồng bằng. Ngoài ra, con người đã bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo đạt đến đỉnh cao. Đến khoảng năm 1000 trước Công nguyên, khu vực lúa nước phát triển ở sông Hồng và sông Cả phát triển mạnh mẽ thành nền văn hóa Đông Sơn, nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ, nổi tiếng với những trống đồng Đông Sơn tinh tế. Sau đó, những nhà nước đầu tiên của người Việt, Văn Lang và Âu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Thời đại đồ đá mới ở Việt Nam cách đây bao lâu?
5000–6000 năm
Đến năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu. Sau đó, nhà Hồ tiến hành cải cách đất nước trên nhiều lĩnh vực trước mối đe dọa xâm lược Đại Ngu từ nhà Minh. Các cuộc cải cách của nhà Hồ phần lớn bị thất bại, khiến triều đình làm mất lòng dân. Năm 1407, Đại Ngu bị nhà Minh của Trung Hoa thôn tính, giai đoạn độc lập của người Việt bị gián đoạn. Sau đó, năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nên nhà Hậu Lê, giành lại độc lập cho dân tộc Việt. Triều Hậu Lê là triều đại mà chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).
Nhà Hồ lập ra nước nào?
Đại Ngu
Đến năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu. Sau đó, nhà Hồ tiến hành cải cách đất nước trên nhiều lĩnh vực trước mối đe dọa xâm lược Đại Ngu từ nhà Minh. Các cuộc cải cách của nhà Hồ phần lớn bị thất bại, khiến triều đình làm mất lòng dân. Năm 1407, Đại Ngu bị nhà Minh của Trung Hoa thôn tính, giai đoạn độc lập của người Việt bị gián đoạn. Sau đó, năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nên nhà Hậu Lê, giành lại độc lập cho dân tộc Việt. Triều Hậu Lê là triều đại mà chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).
Nhà Hậu Lê được lập vào năm nào?
1427
Vào đầu thế kỷ XVI, khi nhà Hậu Lê suy yếu, nhà Mạc đã cướp ngôi nhà Lê. Tuy nhiên, một bộ phận quan lại trung thành với nhà Lê đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập nhà Lê. Nhà Lê trung hưng giao tranh với nhà Mạc suốt 60 năm mới giành chiến thắng, diệt được nhà Mạc. Nhưng vua Lê chỉ là bù nhìn, hai thế lực phong kiến mới của Việt Nam là tập đoàn chúa Trịnh và chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nên cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong suốt 200 năm.
Nhà Lê và nhà Mạc giao tranh trong bao lâu?
60 năm
Vào đầu thế kỷ XVI, khi nhà Hậu Lê suy yếu, nhà Mạc đã cướp ngôi nhà Lê. Tuy nhiên, một bộ phận quan lại trung thành với nhà Lê đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập nhà Lê. Nhà Lê trung hưng giao tranh với nhà Mạc suốt 60 năm mới giành chiến thắng, diệt được nhà Mạc. Nhưng vua Lê chỉ là bù nhìn, hai thế lực phong kiến mới của Việt Nam là tập đoàn chúa Trịnh và chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nên cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong suốt 200 năm.
Cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài bao lâu?
hơn 100 năm
Vào đầu thế kỷ XVI, khi nhà Hậu Lê suy yếu, nhà Mạc đã cướp ngôi nhà Lê. Tuy nhiên, một bộ phận quan lại trung thành với nhà Lê đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập nhà Lê. Nhà Lê trung hưng giao tranh với nhà Mạc suốt 60 năm mới giành chiến thắng, diệt được nhà Mạc. Nhưng vua Lê chỉ là bù nhìn, hai thế lực phong kiến mới của Việt Nam là tập đoàn chúa Trịnh và chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nên cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong suốt 200 năm.
Đâu là hai thế lực phong kiến mới của Việt Nam trong thời kỳ nhà Lê trung hưng?
chúa Trịnh và chúa Nguyễn
Đến cuối thế kỷ XVIII, xuất hiện vị tướng khởi nghĩa là Nguyễn Huệ. Ông đã đánh bại cả hai lực lượng chúa Trịnh và chúa Nguyễn, đánh bại các cuộc xâm chiếm của quân Xiêm và quân Trung Quốc, sau đó lập nên nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ mất sớm, người kế vị là Hoàng đế Cảnh Thịnh không đủ tài năng nên nhà Tây Sơn chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi và sau đó bị Nguyễn Ánh (một thành viên trong dòng họ chúa Nguyễn) cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập nên nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.
Nhà Tây Sơn bị lật đổ bởi ai?
Nguyễn Ánh
Đến cuối thế kỷ XVIII, xuất hiện vị tướng khởi nghĩa là Nguyễn Huệ. Ông đã đánh bại cả hai lực lượng chúa Trịnh và chúa Nguyễn, đánh bại các cuộc xâm chiếm của quân Xiêm và quân Trung Quốc, sau đó lập nên nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ mất sớm, người kế vị là Hoàng đế Cảnh Thịnh không đủ tài năng nên nhà Tây Sơn chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi và sau đó bị Nguyễn Ánh (một thành viên trong dòng họ chúa Nguyễn) cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập nên nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.
Ai đã lập nên nhà Tây Sơn?
Nguyễn Huệ
Sau chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần 100 năm của Thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (không được coi là biên giới quốc gia), dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước. Tuy nhiên, đã xảy ra nhiều can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ tại miền Nam. Hoa Kỳ hậu thuẫn Ngô Đình Diệm lập ra Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hỗ trợ về tài chính, quân sự và được công nhận bởi các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ. Chính phủ này tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất đất nước. Từ đây, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, được Liên Xô, Trung Quốc hỗ trợ và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Tại miền Nam thì tồn tại song song 2 chính phủ: 1 chính phủ là Việt Nam Cộng hòa được Mỹ hậu thuẫn theo chủ nghĩa tư bản và chống cộng sản, chính phủ kia là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn, theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, có lập trường chống Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng nên.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp phải rút khỏi đâu?
Đông Dương
Sau chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần 100 năm của Thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (không được coi là biên giới quốc gia), dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước. Tuy nhiên, đã xảy ra nhiều can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ tại miền Nam. Hoa Kỳ hậu thuẫn Ngô Đình Diệm lập ra Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hỗ trợ về tài chính, quân sự và được công nhận bởi các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ. Chính phủ này tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất đất nước. Từ đây, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, được Liên Xô, Trung Quốc hỗ trợ và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Tại miền Nam thì tồn tại song song 2 chính phủ: 1 chính phủ là Việt Nam Cộng hòa được Mỹ hậu thuẫn theo chủ nghĩa tư bản và chống cộng sản, chính phủ kia là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn, theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, có lập trường chống Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng nên.
Sau chiến thắng tại chiến trường nào, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương?
Điện Biên Phủ
Sau chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần 100 năm của Thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (không được coi là biên giới quốc gia), dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước. Tuy nhiên, đã xảy ra nhiều can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ tại miền Nam. Hoa Kỳ hậu thuẫn Ngô Đình Diệm lập ra Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hỗ trợ về tài chính, quân sự và được công nhận bởi các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ. Chính phủ này tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất đất nước. Từ đây, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, được Liên Xô, Trung Quốc hỗ trợ và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Tại miền Nam thì tồn tại song song 2 chính phủ: 1 chính phủ là Việt Nam Cộng hòa được Mỹ hậu thuẫn theo chủ nghĩa tư bản và chống cộng sản, chính phủ kia là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn, theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, có lập trường chống Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng nên.
Hiệp định Genève chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam trong bao lâu?
gần 100 năm
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời tại miền Nam với mục tiêu đoàn kết những người dân miền Nam có tinh thần dân tộc chủ nghĩa, muốn đánh đuổi Mỹ, lật đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa để giành độc lập, thống nhất cho Việt Nam. Xung đột quân sự dần trở nên nghiêm trọng và kéo dài suốt hai thập kỷ (gọi là cuộc Chiến tranh Việt Nam). Sau vụ đảo chính tháng 11/1963, ám sát Tổng thống Ngô Đình DIệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, tình trạng Việt Nam Cộng hòa rơi vào hỗn loạn với những vụ đảo chính và phản đảo chính liên tục xảy ra. Năm 1964, nhận thấy Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ, Hoa Kỳ chính thức can thiệp quân sự, đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Nam Việt Nam và thực hiện các đợt ném bom vào miền Bắc. Năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành tổng tấn công khắp miền Nam nhân dịp Tết Mậu Thân, gây ra những tổn thất lớn cho Hoa Kỳ và làm cho phong trào phản chiến tăng mạnh. Tới tháng 6 năm 1969, Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và được 50 quốc gia trên thế giới công nhận.
Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát vào tháng nào/năm nào?
11/1963
Đến tháng 1 năm 1973, sau những tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng trên chiến trường Việt Nam, cùng với những khó khăn trên chính trường Mỹ cộng với tác động của phong trào phản chiến trong nước và trên thế giới và việc Hoa Kỳ đã có những thỏa hiệp với chính quyền Mao Trạch Đông sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris và rút phần lớn quân khỏi Việt Nam, chỉ để lại một số cố vấn quân sự. Cuộc chiến kết thúc vào ngày ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng trước Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Hoa Kỳ rút phần lớn quân khỏi Việt Nam vào tháng năm nào?
tháng 1 năm 1973
Đến tháng 1 năm 1973, sau những tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng trên chiến trường Việt Nam, cùng với những khó khăn trên chính trường Mỹ cộng với tác động của phong trào phản chiến trong nước và trên thế giới và việc Hoa Kỳ đã có những thỏa hiệp với chính quyền Mao Trạch Đông sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris và rút phần lớn quân khỏi Việt Nam, chỉ để lại một số cố vấn quân sự. Cuộc chiến kết thúc vào ngày ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng trước Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Hoa Kỳ rút phần lớn quân khỏi Việt Nam sau sự kiện nào?
ký Hiệp định Paris
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên. Núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có nhiều dãy núi lớn và cao nguyên như các dãy núi Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở phía bắc, dãy núi Bạch Mã, Trường Sơn, cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Đồng bằng là nơi tập trung dân cư đông đúc. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Điểm cao nhất Việt Nam là bao nhiêu mét?
3.143 mét
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên. Núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có nhiều dãy núi lớn và cao nguyên như các dãy núi Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở phía bắc, dãy núi Bạch Mã, Trường Sơn, cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Đồng bằng là nơi tập trung dân cư đông đúc. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Điểm cao nhất của Việt Nam là bao nhiêu mét?
3.143
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên. Núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có nhiều dãy núi lớn và cao nguyên như các dãy núi Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở phía bắc, dãy núi Bạch Mã, Trường Sơn, cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Đồng bằng là nơi tập trung dân cư đông đúc. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Điểm cao nhất Việt Nam là gì?
Phan Xi Păng
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên. Núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có nhiều dãy núi lớn và cao nguyên như các dãy núi Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở phía bắc, dãy núi Bạch Mã, Trường Sơn, cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Đồng bằng là nơi tập trung dân cư đông đúc. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Diện tích đất canh tác chiếm bao nhiêu phần trăm tổng diện tích đất Việt Nam?
17%
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên. Núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có nhiều dãy núi lớn và cao nguyên như các dãy núi Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở phía bắc, dãy núi Bạch Mã, Trường Sơn, cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Đồng bằng là nơi tập trung dân cư đông đúc. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Điểm cao nhất Việt Nam nằm ở đâu?
đỉnh Phan Xi Păng
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến động thường xuyên. Phía bắc (phía bắc dãy Bạch Mã) có hai mùa gió chính: gió mùa đông bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh, gió tây nam nóng khô và đông nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió đông bắc vào mùa khô và gió tây nam vào mùa mưa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bão và lụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão/năm. Do nằm ở Bắc Bán Cầu, nên bão (gió mạnh từ cấp 8 trở lên) và áp thấp nhiệt đới (gió mạnh cấp 6 hoặc cấp 7) vào Việt Nam xoáy ngược chiều kim đồng hồ.
Độ ẩm tương đối trung bình của Việt Nam là bao nhiêu?
84%
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến động thường xuyên. Phía bắc (phía bắc dãy Bạch Mã) có hai mùa gió chính: gió mùa đông bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh, gió tây nam nóng khô và đông nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió đông bắc vào mùa khô và gió tây nam vào mùa mưa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bão và lụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão/năm. Do nằm ở Bắc Bán Cầu, nên bão (gió mạnh từ cấp 8 trở lên) và áp thấp nhiệt đới (gió mạnh cấp 6 hoặc cấp 7) vào Việt Nam xoáy ngược chiều kim đồng hồ.
Việt Nam có bao nhiêu giờ nắng trong một năm?
1.500 đến 3.000
Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005. Việt Nam là một trong 25 quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất. Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu.
Việt Nam có bao nhiêu loài động vật có vú?
310
Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005. Việt Nam là một trong 25 quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất. Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu.
Việt Nam được xếp hạng thứ mấy về đa dạng sinh học trên toàn thế giới?
thứ 16
Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005. Việt Nam là một trong 25 quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất. Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu.
Việt Nam có bao nhiêu loài chim được tìm thấy?
840
Việt Nam cho tới 2018 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế vào năm 2016, các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%, những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.
Đảng nào là đảng duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị ở Việt Nam?
Đảng Cộng sản Việt Nam
Việt Nam cho tới 2018 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế vào năm 2016, các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%, những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.
Tỉ lệ đại biểu là đảng viên trong Quốc hội Việt Nam năm 2016 là bao nhiêu?
95,8%
Việt Nam cho tới 2018 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế vào năm 2016, các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%, những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.
Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Việt Nam là gì?
Quốc hội Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong Điều 4 của Hiến pháp 2013, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ", mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng. Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng Bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đứng đầu đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng Bí thư từ đại hội XII (2016) là ông Nguyễn Phú Trọng.
Tổng Bí thư từ đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam là ai?
Nguyễn Phú Trọng
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong Điều 4 của Hiến pháp 2013, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ", mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng. Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng Bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đứng đầu đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng Bí thư từ đại hội XII (2016) là ông Nguyễn Phú Trọng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời theo quy định trong Điều mấy của Hiến pháp 2013?
Điều 4
Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Nhiệm vụ của Quốc hội là giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trên 90% đại biểu quốc hội là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nên quốc hội không có độc lập từ đảng, tuân thủ gần tuyệt đối các quy định của Đảng (tại các nước khác nhóm đại biểu chiếm đa số trong quốc hội cũng thường từ một đảng hay liên minh chính trị quyết định đường lối chính sách), tuy nhiên sau thời Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn. Nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch Quốc hội hiện nay (từ năm 2016) là bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Chủ tịch Quốc hội hiện nay là ai?
Nguyễn Thị Kim Ngân