content
stringlengths
465
7.22k
question
stringlengths
10
193
answer
stringlengths
1
76
Một trong những chức trách chính của thượng nghị sĩ hoặc dân biểu là phục vụ cử tri trong khu vực bầu cử. Các nghị sĩ thường nhận hàng ngàn lá thư, cuộc gọi, và e-mail từ cử tri để bày tỏ quan điểm, hoặc sự bất bình đối với lập trường hoặc phiếu bầu của nghị sĩ ấy tại quốc hội. Nhiều cử tri yêu cầu họ giải quyết các khó khăn, hoặc giải đáp thắc mắc. Các thành viên quốc hội đều cố xây dựng một hình ảnh tích cực tại các hạt bầu cử, thay vì để cử tri than phiền về mình. Như thế, trách nhiệm của họ là đáp ứng, xông xáo để giúp đỡ cử tri lúc họ gặp nhiều phiền phức khi tiếp cận bộ máy hành chính. Đây là lúc các nghị sĩ quốc hội và nhân viên của họ thực thi chức năng thanh tra nhà nước cấp liên bang. Trong thực tế, chức trách không chính thức này ngày càng làm tiêu tốn nhiều thì giờ mà các nghị sĩ có thể dành cho việc chuẩn bị hoặc xem xét các dự luật.
Nhiều cử tri có requests về những vấn đ ngươi
giải quyết các khó khăn
Một trong những chức trách chính của thượng nghị sĩ hoặc dân biểu là phục vụ cử tri trong khu vực bầu cử. Các nghị sĩ thường nhận hàng ngàn lá thư, cuộc gọi, và e-mail từ cử tri để bày tỏ quan điểm, hoặc sự bất bình đối với lập trường hoặc phiếu bầu của nghị sĩ ấy tại quốc hội. Nhiều cử tri yêu cầu họ giải quyết các khó khăn, hoặc giải đáp thắc mắc. Các thành viên quốc hội đều cố xây dựng một hình ảnh tích cực tại các hạt bầu cử, thay vì để cử tri than phiền về mình. Như thế, trách nhiệm của họ là đáp ứng, xông xáo để giúp đỡ cử tri lúc họ gặp nhiều phiền phức khi tiếp cận bộ máy hành chính. Đây là lúc các nghị sĩ quốc hội và nhân viên của họ thực thi chức năng thanh tra nhà nước cấp liên bang. Trong thực tế, chức trách không chính thức này ngày càng làm tiêu tốn nhiều thì giờ mà các nghị sĩ có thể dành cho việc chuẩn bị hoặc xem xét các dự luật.
Chức trách chính của thượng nghị sĩ hoặc dân biểu là gì?
phục vụ cử tri trong khu vực bầu cử
Một trong những chức trách chính của thượng nghị sĩ hoặc dân biểu là phục vụ cử tri trong khu vực bầu cử. Các nghị sĩ thường nhận hàng ngàn lá thư, cuộc gọi, và e-mail từ cử tri để bày tỏ quan điểm, hoặc sự bất bình đối với lập trường hoặc phiếu bầu của nghị sĩ ấy tại quốc hội. Nhiều cử tri yêu cầu họ giải quyết các khó khăn, hoặc giải đáp thắc mắc. Các thành viên quốc hội đều cố xây dựng một hình ảnh tích cực tại các hạt bầu cử, thay vì để cử tri than phiền về mình. Như thế, trách nhiệm của họ là đáp ứng, xông xáo để giúp đỡ cử tri lúc họ gặp nhiều phiền phức khi tiếp cận bộ máy hành chính. Đây là lúc các nghị sĩ quốc hội và nhân viên của họ thực thi chức năng thanh tra nhà nước cấp liên bang. Trong thực tế, chức trách không chính thức này ngày càng làm tiêu tốn nhiều thì giờ mà các nghị sĩ có thể dành cho việc chuẩn bị hoặc xem xét các dự luật.
Chức trách không chính thức nào làm tiêu tốn nhiều thời gian của các nghị sĩ?
thanh tra nhà nước cấp liên bang
Dãy núi Rocky hay đơn giản là Rockies (phát âm như "Roóc-ky", đôi khi còn được biết đến với tên Rặng Thạch Sơn), là dãy núi khá rộng ở miền Tây Bắc Mỹ. Dãy núi Rocky chạy dài hơn 4.800 kilômét (3.000 dặm) từ cực bắc British Columbia (Canada) đến New Mexico (Hoa Kỳ). Đỉnh cao nhất là Núi Elbert ở Colorado cao 4.401 mét (14.440 foot) trên mực nước biển. Núi Robson ở British Columbia có độ cao 3.954 m (12.972 foot) là đỉnh cao nhất của Dãy núi Rocky phần phía Canada. Song song với dãy Rocky nhưng lui về phía tây là dãy núi Cascade và dãy núi Duyên hải Thái Bình Dương (Pacific Coast Ranges).
Đỉnh cao nhất của Dãy núi Rockies là gì?
Núi Elbert
Dãy núi Rocky hình thành cách đây 80 đến 55 triệu năm bởi biến động địa thể "Laramide" khi những mảng kiến tạo từ phía tây bị dồn vùi xuống dưới mảng Bắc Mỹ, đôn cao mặt đất sinh ra rặng núi cao. Kể từ đó, do quá trình xói mòn thiên nhiên của nước và băng mà đất đá bị rạn nứt, chỗ thì khoét sâu thành thung lũng và lòng chảo, chỗ thì tỉa gọt đỉnh núi thêm chót vót. Cuối thời kỳ băng hà gần đây nhất, con người mới đặt chân đến vùng núi Rocky; đó là thổ dân châu Mỹ. Sau đó, người gốc châu Âu, như Alexander MacKenzie, Meriwether Lewis và William Clark dần dẫn cuộc xâm nhập dãy núi, thám hiểm địa hình cùng tìm kiếm khoáng sản và lông thú (những nguồn tài nguyên giá trị rất được ưa chuộng vào thế kỷ 18-19). Cho đến nay vùng núi Rocky vẫn là miền đất tương đối thưa dân cư, không như vùng đồng bằng phía đông lục địa hay duyên hải Thái Bình Dương phía tây.
Dãy núi Rocky hình thành cách đây bao nhiêu triệu năm?
80 đến 55 triệu năm
Có nhiều nhân tố môi trường phân bố rộng khắp trong dãy núi Rockey. Dãy Rocky nằm ở vĩ độ giữa sông Liard ở British Columbia (59° B) và Rio Grande ở New Mexico (35° B). Đồng đỏ lớn xuất hiện ở độ cao bằng hoặc nhỏ hơn 1.800 foot (550 m), trong khi đỉnh cao nhất trong dãy núi là núi Elbert ở độ cao 14.440 foot (4.400 m). Giáng thủy dao động từ 10 inch (250 mm) mỗi năm ở các thung lũng phía nam đến 60 inch (1.500 mm) mỗi năm theo khu vực ở các đỉnh phía bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm có thể dao động từ 20 °F (−7 °C) ở Prince George, British Columbia đến 43 °F (6 °C) ở Trinidad, Colorado. Vì vậy, không có một hệ sinh thái nguyên khối duy nhất cho toàn bộ dãy núi Rocky.
Độ cao đỉnh cao nhất trong dãy núi Rocky là bao nhiêu?
14.440 foot
Có nhiều nhân tố môi trường phân bố rộng khắp trong dãy núi Rockey. Dãy Rocky nằm ở vĩ độ giữa sông Liard ở British Columbia (59° B) và Rio Grande ở New Mexico (35° B). Đồng đỏ lớn xuất hiện ở độ cao bằng hoặc nhỏ hơn 1.800 foot (550 m), trong khi đỉnh cao nhất trong dãy núi là núi Elbert ở độ cao 14.440 foot (4.400 m). Giáng thủy dao động từ 10 inch (250 mm) mỗi năm ở các thung lũng phía nam đến 60 inch (1.500 mm) mỗi năm theo khu vực ở các đỉnh phía bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm có thể dao động từ 20 °F (−7 °C) ở Prince George, British Columbia đến 43 °F (6 °C) ở Trinidad, Colorado. Vì vậy, không có một hệ sinh thái nguyên khối duy nhất cho toàn bộ dãy núi Rocky.
Giáng thủy trung bình hàng năm ở các đỉnh phía bắc của dãy Rocky là bao nhiêu?
60 inch
Có nhiều nhân tố môi trường phân bố rộng khắp trong dãy núi Rockey. Dãy Rocky nằm ở vĩ độ giữa sông Liard ở British Columbia (59° B) và Rio Grande ở New Mexico (35° B). Đồng đỏ lớn xuất hiện ở độ cao bằng hoặc nhỏ hơn 1.800 foot (550 m), trong khi đỉnh cao nhất trong dãy núi là núi Elbert ở độ cao 14.440 foot (4.400 m). Giáng thủy dao động từ 10 inch (250 mm) mỗi năm ở các thung lũng phía nam đến 60 inch (1.500 mm) mỗi năm theo khu vực ở các đỉnh phía bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm có thể dao động từ 20 °F (−7 °C) ở Prince George, British Columbia đến 43 °F (6 °C) ở Trinidad, Colorado. Vì vậy, không có một hệ sinh thái nguyên khối duy nhất cho toàn bộ dãy núi Rocky.
Độ cao của đỉnh cao nhất trong dãy núi Rocky là bao nhiêu?
14.440 foot (4.400 m)
Thay vào đó, các nhà sinh thái học chia dãy núi Rocky thành một số đới sinh học. Mỗi đới được xác định nếu chúng có thể hỗ trợ cho các loại cây thân gỗ, và sự có mặt của một hoặc nhiều loài cây chỉ thị. Hai đới không hỗ trợ sự sống của cây thân gỗ là các đồng cỏ và Alpine tundra. Đại Bình nguyên Bắc Mỹ nằm ở phía đông của dãy Rocky, và đặc trưng bởi các đồng cỏ lớn (ở độ cao dưới 1.800 foot (550 m)). Alpine tundra phân bố ở những khu vực cao hơn đường ranh cây thân gỗ ở dãy núi Rocky dao động từ 12.000 foot (3.700 m) ở New Mexico đến 2.500 foot (760 m) ở đầu tân cùng phía bắc của dãy Rocky (gần Yukon).
Hai đới nào trong dãy núi Rocky không hỗ trợ sự sống của cây thân gỗ?
đồng cỏ và Alpine tundra
Thay vào đó, các nhà sinh thái học chia dãy núi Rocky thành một số đới sinh học. Mỗi đới được xác định nếu chúng có thể hỗ trợ cho các loại cây thân gỗ, và sự có mặt của một hoặc nhiều loài cây chỉ thị. Hai đới không hỗ trợ sự sống của cây thân gỗ là các đồng cỏ và Alpine tundra. Đại Bình nguyên Bắc Mỹ nằm ở phía đông của dãy Rocky, và đặc trưng bởi các đồng cỏ lớn (ở độ cao dưới 1.800 foot (550 m)). Alpine tundra phân bố ở những khu vực cao hơn đường ranh cây thân gỗ ở dãy núi Rocky dao động từ 12.000 foot (3.700 m) ở New Mexico đến 2.500 foot (760 m) ở đầu tân cùng phía bắc của dãy Rocky (gần Yukon).
Dãy Rocky được chia thành bao nhiêu đới sinh học?
một số đới
USGS xác định có 10 vùng có rừng bao phủ trong dãy Rocky. Những vùng ở phía nam, những khu vực ấm hơn, hoặc khô hơn được xác định bởi sự có mặt của các loài pinyon pine/juniper, ponderosa pine, hoặc sồi hỗn tạp với thông. Xa về phía bắc, lạnh hơn, hoặc những khu vực lạnh hơn hoặc ẩm ướt được xác định bởi sự có mặt của các loài Douglas-fir, loài thuộc dãy núi Cascade (như western hemlock), lodgepole pine/quaking aspen, hoặc fir hỗn tạp với spruce. Gần đường ranh cây thân gỗ, các đới có thể bao gồm các loài thông trắng (như whitebark pine hoặc bristlecone pine); hoặc hỗn tạp của các loài thông trắng, fir, và spruce giống như loài krummholz thân bụi. Cuối cùng, các dòng sông và hẻm vực có thể tạo thành một khu vực rừng thuần nhất ở các vùng khô hơn trong dãy núi.
Trong dãy Rocky, loài thông nào có thể được tìm thấy ở gần đường ranh cây thân gỗ?
thông trắng
Hiện trạng sinh tồn của hầu hết các loài ở dãy núi Rocky không được biết rõ do thông tin không đầy đủ. Những khu định cư của người Âu-Mỹ trong dãy núi đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến các loài bản địa. Ví dụ như một vài loài đã bị suy giảm như cóc Tây Bắc Mỹ (Anaxyrus boreas), Oncorhynchus clarki stomias (cá hồi lưng xanh?), cá tầm trắng, trĩ đuôi trắng (Lagopus leucura), thiên nga kèn, và cừu sừng to. Trong phần dãy núi thuộc Hoa Kỳ, các loài động vật ăn thịt đầu bảng gấu xám Bắc Mỹ và sói xám đã bị tiêu diệt ở những nơi phân bố nguyên thủy của chúng, nhưng một phần đã được hồi phục do chính sách bảo tồn và tái du nhập. Các loài đang dần hồi phục khác như đại bàng đầu trắng và cắt lớn.
Các loài động vật ăn thịt đầu bảng nào đã bị tiêu diệt ở những nơi phân bố nguyên thủy của chúng ở phần dãy núi Rocky thuộc Hoa Kỳ?
gấu xám Bắc Mỹ và sói xám
Hiện trạng sinh tồn của hầu hết các loài ở dãy núi Rocky không được biết rõ do thông tin không đầy đủ. Những khu định cư của người Âu-Mỹ trong dãy núi đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến các loài bản địa. Ví dụ như một vài loài đã bị suy giảm như cóc Tây Bắc Mỹ (Anaxyrus boreas), Oncorhynchus clarki stomias (cá hồi lưng xanh?), cá tầm trắng, trĩ đuôi trắng (Lagopus leucura), thiên nga kèn, và cừu sừng to. Trong phần dãy núi thuộc Hoa Kỳ, các loài động vật ăn thịt đầu bảng gấu xám Bắc Mỹ và sói xám đã bị tiêu diệt ở những nơi phân bố nguyên thủy của chúng, nhưng một phần đã được hồi phục do chính sách bảo tồn và tái du nhập. Các loài đang dần hồi phục khác như đại bàng đầu trắng và cắt lớn.
Loài nào đã suy giảm do ảnh hưởng tiêu cực của người Âu-Mỹ trong dãy núi?
cóc Tây Bắc Mỹ
Ở Viện Đại học Bologna thời Trung cổ, tập thể giảng viên được gọi là collegium, còn tập thể sinh viên được gọi là universitas. Tuy vậy một số sinh viên sống trong các collegium. Ở hầu hết các viện đại học cuối thời Trung cổ, collegium có nghĩa là một cư xá dành cho sinh viên, thường là những sinh viên sắp tốt nghiệp với bằng cử nhân hay các bằng cấp cao hơn. Các trường đại học (college) phát triển mạnh nhất ở các viện đại học Paris, Oxford, và Cambridge. Vào thế kỷ 13, những viện đại học (university) này đều có các trường đại học; đáng chú ý có Sorbonne của Viện Đại học Paris, Merton của Viện Đại học Oxford, và Peterhouse của Viện Đại học Cambridge. Đến năm 1500, có ít sinh viên sống bên ngoài các trường đại học. Các trường đại học có thư viện và dụng cụ nghiên cứu khoa học, và cấp lương bổng định kỳ cho các tiến sĩ và gia sư giúp các sinh viên chuẩn bị thi lấy bằng. Hoạt động giảng dạy của các trường đại học làm lu mờ hoạt động giảng dạy của viện đại học. Thực vậy, những người làm việc cho viện đại học không phải làm gì nhiều ngoài việc tổ chức các kỳ thi cho các sinh viên đã được đào tạo ở nhiều trường đại học khác nhau.
Đến năm 1500, tình hình sinh viên sống bên ngoài các trường đại học thế nào?
ít
Ý tưởng cho rằng trường đại học đào tạo để lấy bằng và viện đại học cấp bằng trở nên rất phổ biến trong hệ thống giáo dục Anh thế kỷ 19. Có hai trường đại học được thành lập ở London vào thập niên 1820, nhưng đến năm 1836 Viện Đại học London mới được thành lập để cấp bằng cho các sinh viên của hai trường này. Nhiều trường đại học khác - hầu hết ở cách xa nhau – liên kết với Viện Đại học London. Viện Đại học Durham được thành lập vào năm 1837 theo mô hình của Viện Đại học Oxford với vài trường đại học để sinh viên sinh sống và học tập. Viện đại học này sau đó liên kết thêm với những trường đại học ở nơi khác - một số ở các thuộc địa của Anh. Các trường đại học liên kết với viện đại học trường thành lập bởi những người Công giáo Roma ở Ireland vào thập niên 1850; sinh viên của các trường đại học này thường thi lấy bằng ở các viện đại học đã được thiết lập trước đó cho đến khi Viện Đại học Quốc gia Ireland được thành lập vào năm 1908. Các viện đại học khác có các trường đại học cũng được thành lập. Nhưng các viện đại học ở Anh thành lập sau năm 1879 không có các trường đại học. Viện Đại học St. Andrews ở Scotland bao gồm hai trường đại học.
Viện đại học nào được thành lập theo mô hình của Viện Đại học Oxford?
Viện Đại học Durham
Ý tưởng cho rằng trường đại học đào tạo để lấy bằng và viện đại học cấp bằng trở nên rất phổ biến trong hệ thống giáo dục Anh thế kỷ 19. Có hai trường đại học được thành lập ở London vào thập niên 1820, nhưng đến năm 1836 Viện Đại học London mới được thành lập để cấp bằng cho các sinh viên của hai trường này. Nhiều trường đại học khác - hầu hết ở cách xa nhau – liên kết với Viện Đại học London. Viện Đại học Durham được thành lập vào năm 1837 theo mô hình của Viện Đại học Oxford với vài trường đại học để sinh viên sinh sống và học tập. Viện đại học này sau đó liên kết thêm với những trường đại học ở nơi khác - một số ở các thuộc địa của Anh. Các trường đại học liên kết với viện đại học trường thành lập bởi những người Công giáo Roma ở Ireland vào thập niên 1850; sinh viên của các trường đại học này thường thi lấy bằng ở các viện đại học đã được thiết lập trước đó cho đến khi Viện Đại học Quốc gia Ireland được thành lập vào năm 1908. Các viện đại học khác có các trường đại học cũng được thành lập. Nhưng các viện đại học ở Anh thành lập sau năm 1879 không có các trường đại học. Viện Đại học St. Andrews ở Scotland bao gồm hai trường đại học.
Viện Đại học London được thành lập vào năm nào?
1836
Canada có các trường đại học ở các tỉnh New Brunswick, Nova Scotia, Prince Edward Island, và Ontario từ thế cuối thế kỷ 18, nhưng hầu hết các trường đại học ở phần Canada nói tiếng Anh liên kết với các viện đại học. Các trường đại học được thành lập ở Cape Province, Nam Phi, vào cuối thế kỷ 19; hầu hết sau đó trở thành các viện đại học. Ở Úc, các viện đại học không có trường đại học được thành lập vào thế kỷ 19. Nhưng các trường sư phạm và trường giáo dục bậc cao vẫn tồn tại - và cấp bằng cử nhân. Trường đại học duy nhất ở New Zealand không phải trường sư phạm là một cơ sở giáo dục đại học liên kết với một viện đại học. Các nước cựu thuộc địa Anh ở châu Phi trước đây có các trường đại học; sau khi giành được độc lập thì lập ra các viện đại học quốc gia, thường theo mô hình Viện Đại học London.
Hầu hết các trường đại học ở Canada có liên kết với tổ chức nào?
viện đại học
Ở Hoa Kỳ, trường đại học có thể chỉ một cơ sở giáo dục đại học hệ bốn năm cấp bằng cử nhân, hoặc một trường đại học cộng đồng hay tư thục hệ hai năm cấp bằng associate. [Điều này không có nghĩa là trường đại học chỉ cấp bằng cử nhân hay associate. Một số trường đại học còn có các chương trình đào tạo sau đại học và cấp bằng thạc sĩ và tiến sĩ, ví dụ: Trường Đại học Boston và Trường Đại học Dartmouth.] Trường đại học hệ bốn năm thường nhấn mạnh đến giáo dục trong các ngành khai phóng hay giáo dục tổng quát, thay vì có tính huấn nghệ hoặc nhấn mạnh đến giáo dục kỹ thuật. Đây có thể là một trường đại học khai phóng tư thục độc lập, hoặc là một bộ phận chuyên về giáo dục bậc đại học của một viện đại học công lập hay tư thục. Bộ phận của viện đại học cung cấp giáo dục chuyên nghiệp hay sau đại học thường gọi là trường đại học (college), trường (school), hay trường sau đại học (graduate school) [Nhiều viện đại học Hoa Kỳ hiện nay có một trường sau đại học có chức năng điều phối các chương trình sau đại học trong các trường đại học cấu thành viện đại học, chứ không nhất thiết có các trường riêng cho các bậc đại học và sau đại học]. Từ college cũng được dùng để chỉ các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp có cấp bằng như các trường sư phạm và trường nông nghiệp công lập.
Tại Hoa Kỳ, ngoài bằng cử nhân hay associate, một số trường đại học còn cấp bằng nào khác?
thạc sĩ và tiến sĩ
Ở Hoa Kỳ, trường đại học có thể chỉ một cơ sở giáo dục đại học hệ bốn năm cấp bằng cử nhân, hoặc một trường đại học cộng đồng hay tư thục hệ hai năm cấp bằng associate. [Điều này không có nghĩa là trường đại học chỉ cấp bằng cử nhân hay associate. Một số trường đại học còn có các chương trình đào tạo sau đại học và cấp bằng thạc sĩ và tiến sĩ, ví dụ: Trường Đại học Boston và Trường Đại học Dartmouth.] Trường đại học hệ bốn năm thường nhấn mạnh đến giáo dục trong các ngành khai phóng hay giáo dục tổng quát, thay vì có tính huấn nghệ hoặc nhấn mạnh đến giáo dục kỹ thuật. Đây có thể là một trường đại học khai phóng tư thục độc lập, hoặc là một bộ phận chuyên về giáo dục bậc đại học của một viện đại học công lập hay tư thục. Bộ phận của viện đại học cung cấp giáo dục chuyên nghiệp hay sau đại học thường gọi là trường đại học (college), trường (school), hay trường sau đại học (graduate school) [Nhiều viện đại học Hoa Kỳ hiện nay có một trường sau đại học có chức năng điều phối các chương trình sau đại học trong các trường đại học cấu thành viện đại học, chứ không nhất thiết có các trường riêng cho các bậc đại học và sau đại học]. Từ college cũng được dùng để chỉ các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp có cấp bằng như các trường sư phạm và trường nông nghiệp công lập.
Trường đại học hệ bốn năm tại Hoa Kỳ thường nhấn mạnh đến giáo dục nào?
khai phóng hay giáo dục tổng quát
Vào năm 1783, Hoa Kỳ có 9 trường đại học trước đó được phép cấp bằng cử nhân và lúc đó đôi khi được gọi là các viện đại học. Sau khi Hoa Kỳ giành được độc lập, các bang thiết lập các viện đại học tương tự như các trường đại học thời thuộc địa; các trường đại học sư phạm và các trường đại học nông nghiệp cũng được thành lập. Viện Đại học Cornell, ở Ithaca, New York, mở cửa đón sinh viên từ năm 1868 lúc đó là viện đại học Hoa Kỳ đầu tiên được chia thành các trường đại học có các chương trình đào tạo và trao các bằng cấp khác nhau. Khi Viện Đại học Johns Hopkins khai giảng vào năm 1876, về mặt quản trị nó được chia thành một trường đại học dành cho bậc đại học và một trường sau đại học. Nhiều viện đại học công lập sau đó nhanh chóng bắt chước mô hình này; vào thập niên 1890, Yale, Harvard, và những viện đại học tư thục khác cũng làm theo.
Trường đại học đầu tiên được chia thành các trường đại học có các chương trình đào tạo và trao các bằng cấp khác nhau là trường nào?
Viện Đại học Cornell
Vào năm 1783, Hoa Kỳ có 9 trường đại học trước đó được phép cấp bằng cử nhân và lúc đó đôi khi được gọi là các viện đại học. Sau khi Hoa Kỳ giành được độc lập, các bang thiết lập các viện đại học tương tự như các trường đại học thời thuộc địa; các trường đại học sư phạm và các trường đại học nông nghiệp cũng được thành lập. Viện Đại học Cornell, ở Ithaca, New York, mở cửa đón sinh viên từ năm 1868 lúc đó là viện đại học Hoa Kỳ đầu tiên được chia thành các trường đại học có các chương trình đào tạo và trao các bằng cấp khác nhau. Khi Viện Đại học Johns Hopkins khai giảng vào năm 1876, về mặt quản trị nó được chia thành một trường đại học dành cho bậc đại học và một trường sau đại học. Nhiều viện đại học công lập sau đó nhanh chóng bắt chước mô hình này; vào thập niên 1890, Yale, Harvard, và những viện đại học tư thục khác cũng làm theo.
Viện đại học nào là viện đại học Hoa Kỳ đầu tiên được chia thành các trường đại học?
Cornell
Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa. Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản. Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (nay thuộc Đại học Huế), và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ. Loại này gồm có Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộc Đại học Đà Nẵng), và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Loại trường đại học tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản ở Việt Nam là gì?
trường đại học tổng hợp
Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa. Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản. Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (nay thuộc Đại học Huế), và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ. Loại này gồm có Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộc Đại học Đà Nẵng), và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường Đại học Bách khoa đầu tiên tại Việt Nam là trường nào?
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa. Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản. Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (nay thuộc Đại học Huế), và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ. Loại này gồm có Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộc Đại học Đà Nẵng), và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nào?
nhân văn và khoa học cơ bản
Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa. Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản. Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (nay thuộc Đại học Huế), và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ. Loại này gồm có Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộc Đại học Đà Nẵng), và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường đại học tổng hợp đầu tiên của Việt Nam là trường nào?
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Trường đại học cộng đồng là cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành được thành lập ở Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình trường đại học cộng đồng ở Việt Nam là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Nam California năm 1970 với tựa đề Community Junior College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó vào công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).
Khái niệm trường đại học cộng đồng ở Việt Nam khởi nguồn từ nghiên cứu của ai?
Đỗ Bá Khê
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang (1971) ở Định Tường, sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng. Các trường đại học cộng đồng khác gồm có: Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long. Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Cơ sở giáo dục đại học cộng đồng đầu tiên được thành lập ở đâu?
Định Tường
Đảo Wake (còn gọi là Rạn san hô vòng Wake) là một rạn san hô vòng nằm ở Tây Thái Bình Dương, thuộc phần đông bắc tiểu vùng Micronesia, cách Guam 2.416 km (1.501 dặm) về phía đông, Honolulu 3.698 km (2.298 dặm) về phía tây và Tokyo 3.204 km (1.991 dặm) về phía đông nam. Wake là một lãnh thổ chưa hợp nhất và phi tổ chức của Hoa Kỳ. Đây là một trong những hòn đảo cô lập nhất trên thế giới, nơi gần nhất có người ở là rạn san hô vòng Utirik thuộc quần đảo Marshall cách đó 953 km (592 dặm) về phía đông nam.
Rạn san hô vòng Utirik cách đảo Wake bao xa?
953 km (592 dặm)
Đảo Wake (còn gọi là Rạn san hô vòng Wake) là một rạn san hô vòng nằm ở Tây Thái Bình Dương, thuộc phần đông bắc tiểu vùng Micronesia, cách Guam 2.416 km (1.501 dặm) về phía đông, Honolulu 3.698 km (2.298 dặm) về phía tây và Tokyo 3.204 km (1.991 dặm) về phía đông nam. Wake là một lãnh thổ chưa hợp nhất và phi tổ chức của Hoa Kỳ. Đây là một trong những hòn đảo cô lập nhất trên thế giới, nơi gần nhất có người ở là rạn san hô vòng Utirik thuộc quần đảo Marshall cách đó 953 km (592 dặm) về phía đông nam.
Đảo Wake cách nơi gần nhất có người ở bao xa?
953 km
Đảo Wake do Không quân Hoa Kỳ quản lý dưới thỏa thuận với Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Sân bay Wake Island được sử dụng chủ yếu làm điểm tiếp nhiên liệu dừng và hạ cánh khẩn cấp cho máy bay quân sự ở giữa Thái Bình Dương là trung tâm diễn ra các hoạt động. 3.000 m (9.800 ft) là độ dài đường băng lớn nhất ở quần đảo Thái Bình Dương. Tọa lạc phía nam đường băng là Wake Island Launch Center, một cơ sở phóng tên lửa Reagan Test Site (chỗ thử tên lửa Reagan) do Cơ quan phòng thủ tên lửa (MDA) và Bộ tư lệnh phòng thủ tên lửa và không gian lục quân Hoa Kỳ (SMDC) điều hành. Có khoảng 94 người sống trên đảo và việc tiếp cận đảo bị hạn chế.
Đảo Wake do ai quản lý?
Không quân Hoa Kỳ
Đảo Wake do Không quân Hoa Kỳ quản lý dưới thỏa thuận với Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Sân bay Wake Island được sử dụng chủ yếu làm điểm tiếp nhiên liệu dừng và hạ cánh khẩn cấp cho máy bay quân sự ở giữa Thái Bình Dương là trung tâm diễn ra các hoạt động. 3.000 m (9.800 ft) là độ dài đường băng lớn nhất ở quần đảo Thái Bình Dương. Tọa lạc phía nam đường băng là Wake Island Launch Center, một cơ sở phóng tên lửa Reagan Test Site (chỗ thử tên lửa Reagan) do Cơ quan phòng thủ tên lửa (MDA) và Bộ tư lệnh phòng thủ tên lửa và không gian lục quân Hoa Kỳ (SMDC) điều hành. Có khoảng 94 người sống trên đảo và việc tiếp cận đảo bị hạn chế.
Quần đảo Thái Bình Dương có độ dài đường băng lớn nhất là bao nhiêu?
3.000 m
Đảo Wake do Không quân Hoa Kỳ quản lý dưới thỏa thuận với Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Sân bay Wake Island được sử dụng chủ yếu làm điểm tiếp nhiên liệu dừng và hạ cánh khẩn cấp cho máy bay quân sự ở giữa Thái Bình Dương là trung tâm diễn ra các hoạt động. 3.000 m (9.800 ft) là độ dài đường băng lớn nhất ở quần đảo Thái Bình Dương. Tọa lạc phía nam đường băng là Wake Island Launch Center, một cơ sở phóng tên lửa Reagan Test Site (chỗ thử tên lửa Reagan) do Cơ quan phòng thủ tên lửa (MDA) và Bộ tư lệnh phòng thủ tên lửa và không gian lục quân Hoa Kỳ (SMDC) điều hành. Có khoảng 94 người sống trên đảo và việc tiếp cận đảo bị hạn chế.
Độ dài đường băng lớn nhất ở quần đảo Thái Bình Dương là bao nhiêu?
3.000 m (9.800 ft)
Vào ngày 11 tháng 12 năm 1941, đảo Wake đã trở thành nơi ghi dấu bước lùi đầu tiên về quân sự của Đế quốc Nhật Bản trong cuộc chiến với quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hải quân, Thủy quân lục chiến và một số nhân viên dân sự đã đẩy lùi cuộc xâm lăng của người Nhật, đánh đắm hai tàu khu trục và một tàu chở lính. Tuy nhiên sau đó 12 ngày, vào ngày 23 tháng 12, quân Nhật đã chiếm được đảo nhờ sự hỗ trợ lớn lao của những chiếc máy bay xuất phát từ tàu sân bay trở về từ trận Trân Châu Cảng. Hòn đảo chịu sự chiếm đóng của quân đội Nhật cho đến cuối cuộc chiến.
Quân Nhật đã chiếm được đảo Wake vào ngày nào?
23 tháng 12
Vào ngày 11 tháng 12 năm 1941, đảo Wake đã trở thành nơi ghi dấu bước lùi đầu tiên về quân sự của Đế quốc Nhật Bản trong cuộc chiến với quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hải quân, Thủy quân lục chiến và một số nhân viên dân sự đã đẩy lùi cuộc xâm lăng của người Nhật, đánh đắm hai tàu khu trục và một tàu chở lính. Tuy nhiên sau đó 12 ngày, vào ngày 23 tháng 12, quân Nhật đã chiếm được đảo nhờ sự hỗ trợ lớn lao của những chiếc máy bay xuất phát từ tàu sân bay trở về từ trận Trân Châu Cảng. Hòn đảo chịu sự chiếm đóng của quân đội Nhật cho đến cuối cuộc chiến.
Đảo Wake đã trở thành nơi ghi dấu bước lùi đầu tiên về quân sự của Đế quốc Nhật Bản vào ngày nào?
11 tháng 12 năm 1941
Ngày 28 tháng 8 năm 2006, Không quân Hoa Kỳ di tản tất cả 188 người sống trên đảo và đình hoản mọi hoạt động khi bão Ioke, mạnh cấp 5, đi về hướng Đảo Wake. Vào 31 tháng 8, tâm phía tây nam của bão đi qua đảo với sức gió trên 185 dặm một giờ (300 km/h) làm biển dâng lên và sóng to cao đến 20 ft (6m) trực tiếp vào trong phá nước gây thiệt hại lớn. Một đội kiểm định và sửa chữa của Không quân Hoa Kỳ quay trở lại đảo tháng 9 năm 2006 và tu sửa lại phần nào khu vực sân bay và các cơ sở tiện nghi để sau đó đưa mọi thứ trở lại bình thường.
Bão Ioke mạnh cấp mấy khi đi qua Đảo Wake?
cấp 5
Ngày 28 tháng 8 năm 2006, Không quân Hoa Kỳ di tản tất cả 188 người sống trên đảo và đình hoản mọi hoạt động khi bão Ioke, mạnh cấp 5, đi về hướng Đảo Wake. Vào 31 tháng 8, tâm phía tây nam của bão đi qua đảo với sức gió trên 185 dặm một giờ (300 km/h) làm biển dâng lên và sóng to cao đến 20 ft (6m) trực tiếp vào trong phá nước gây thiệt hại lớn. Một đội kiểm định và sửa chữa của Không quân Hoa Kỳ quay trở lại đảo tháng 9 năm 2006 và tu sửa lại phần nào khu vực sân bay và các cơ sở tiện nghi để sau đó đưa mọi thứ trở lại bình thường.
Bão Ioke có sức gió bao nhiêu dặm một giờ khi đi qua Đảo Wake?
185
Một vài câu chuyện truyền khẩu hiếm hoi của người Marshall bản xứ đã ám chỉ rằng trước khi người châu Âu tới thám hiểm vùng này thì các cư dân Marshall gần đó đã đến nơi ngày nay là Đảo Wake mà họ gọi là Enen-kio sau khi một loại hoa bụi màu cam nhỏ được tìm thấy trên đảo. Theo tôn giáo Marshall cổ, những bùa phép xâm quanh trên người các tù trưởng gọi là Iroijlaplap được xâm bằng xương người còn tươi vì thế đòi hỏi phải có người chịu hy sinh. Một người có thế cứu lấy mình mà không phải hy sinh nếu người ấy lấy được xương cánh của một con chim biển thật to mà nghe nói là chỉ sống ở đảo Enen-kio. Thế là các nhóm nhỏ sẽ đi đến đảo với hy vọng lấy được và mang về cái xương như thế để cứu lấy một mạng người.
Người dân Marshall bản xứ gọi Đảo Wake là gì?
Enen-kio
Dựa vào câu chuyện truyền khẩu này cùng với khái niệm về quyền sử dụng đất trước tiên để tuyên bố chủ quyền, như thường thấy trong văn hóa người Marshall làm lý lẽ trong dàn xếp các vụ tranh chấp đất đai, một nhóm nhỏ người có nguồn gốc Marshall ly khai, tự gọi họ là Vương quốc EnenKio và tuyên bố chủ quyền đối với Đảo Wake. Chính quyền Quần đảo Marshall và Hoa Kỳ, cả hai cũng đang tranh chấp chủ quyền trên đảo, mạnh mẽ bác bỏ lời tuyên bố chủ quyền này. Không có bằng chứng cho rằng có khu định cư thường trực của cư dân đảo Marshall trên Đảo Wake.
Ai mạnh mẽ bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Vương quốc EnenKio đối với Đảo Wake?
Chính quyền Quần đảo Marshall và Hoa Kỳ
Dựa vào câu chuyện truyền khẩu này cùng với khái niệm về quyền sử dụng đất trước tiên để tuyên bố chủ quyền, như thường thấy trong văn hóa người Marshall làm lý lẽ trong dàn xếp các vụ tranh chấp đất đai, một nhóm nhỏ người có nguồn gốc Marshall ly khai, tự gọi họ là Vương quốc EnenKio và tuyên bố chủ quyền đối với Đảo Wake. Chính quyền Quần đảo Marshall và Hoa Kỳ, cả hai cũng đang tranh chấp chủ quyền trên đảo, mạnh mẽ bác bỏ lời tuyên bố chủ quyền này. Không có bằng chứng cho rằng có khu định cư thường trực của cư dân đảo Marshall trên Đảo Wake.
Nhóm người nào tuyên bố chủ quyền đối với Đảo Wake dựa trên quyền sử dụng đất trước tiên?
Vương quốc EnenKio
Dựa vào câu chuyện truyền khẩu này cùng với khái niệm về quyền sử dụng đất trước tiên để tuyên bố chủ quyền, như thường thấy trong văn hóa người Marshall làm lý lẽ trong dàn xếp các vụ tranh chấp đất đai, một nhóm nhỏ người có nguồn gốc Marshall ly khai, tự gọi họ là Vương quốc EnenKio và tuyên bố chủ quyền đối với Đảo Wake. Chính quyền Quần đảo Marshall và Hoa Kỳ, cả hai cũng đang tranh chấp chủ quyền trên đảo, mạnh mẽ bác bỏ lời tuyên bố chủ quyền này. Không có bằng chứng cho rằng có khu định cư thường trực của cư dân đảo Marshall trên Đảo Wake.
Đảo Wake đang có tranh chấp chủ quyền giữa những bên nào?
Quần đảo Marshall và Hoa Kỳ
Ngày 20 tháng 10 năm 1568, Álvaro de Mendaña de Neyra, một nhà thám hiểm Tây Ban Nha, cùng với hai con tàu Los Reyes và Todos Santos, khám phá ra "một hòn đảo thấp cằn cỏi có chu vi khoảng chừng 8 dặm biển", (league, đơn vị xưa, khoảng 3 hải lý ngày nay). Ông đặt tên là "San Francisco". Dần dần đảo được đặt tên theo Thuyền trưởng William Wake của tàu Prince William Henry khi viếng thăm đảo vào năm 1796. Ngày 20 tháng 12 năm 1840, đoàn thám hiểm của Charles Wilkes thuộc Hải quân Hoa Kỳ đổ bộ lên đảo và thị sát. Đêm 4 tháng 3 năm 1866, chiếc xà lan 650 tấn Libelle của Đức đụng phải đá ngầm của Đảo Wake trong lúc bão. Tàu đang trên đường đi từ San Francisco đến Hồng Kông.
Nhà thám hiểm nào khám phá ra Đảo Wake?
Álvaro de Mendaña de Neyra
Ngày 20 tháng 10 năm 1568, Álvaro de Mendaña de Neyra, một nhà thám hiểm Tây Ban Nha, cùng với hai con tàu Los Reyes và Todos Santos, khám phá ra "một hòn đảo thấp cằn cỏi có chu vi khoảng chừng 8 dặm biển", (league, đơn vị xưa, khoảng 3 hải lý ngày nay). Ông đặt tên là "San Francisco". Dần dần đảo được đặt tên theo Thuyền trưởng William Wake của tàu Prince William Henry khi viếng thăm đảo vào năm 1796. Ngày 20 tháng 12 năm 1840, đoàn thám hiểm của Charles Wilkes thuộc Hải quân Hoa Kỳ đổ bộ lên đảo và thị sát. Đêm 4 tháng 3 năm 1866, chiếc xà lan 650 tấn Libelle của Đức đụng phải đá ngầm của Đảo Wake trong lúc bão. Tàu đang trên đường đi từ San Francisco đến Hồng Kông.
Thuyền trưởng đặt tên cho Đảo Wake là gì?
William Wake
Ngày 20 tháng 10 năm 1568, Álvaro de Mendaña de Neyra, một nhà thám hiểm Tây Ban Nha, cùng với hai con tàu Los Reyes và Todos Santos, khám phá ra "một hòn đảo thấp cằn cỏi có chu vi khoảng chừng 8 dặm biển", (league, đơn vị xưa, khoảng 3 hải lý ngày nay). Ông đặt tên là "San Francisco". Dần dần đảo được đặt tên theo Thuyền trưởng William Wake của tàu Prince William Henry khi viếng thăm đảo vào năm 1796. Ngày 20 tháng 12 năm 1840, đoàn thám hiểm của Charles Wilkes thuộc Hải quân Hoa Kỳ đổ bộ lên đảo và thị sát. Đêm 4 tháng 3 năm 1866, chiếc xà lan 650 tấn Libelle của Đức đụng phải đá ngầm của Đảo Wake trong lúc bão. Tàu đang trên đường đi từ San Francisco đến Hồng Kông.
Tàu Libelle bị đắm vào ngày nào?
4 tháng 3 năm 1866
Ngày 20 tháng 10 năm 1568, Álvaro de Mendaña de Neyra, một nhà thám hiểm Tây Ban Nha, cùng với hai con tàu Los Reyes và Todos Santos, khám phá ra "một hòn đảo thấp cằn cỏi có chu vi khoảng chừng 8 dặm biển", (league, đơn vị xưa, khoảng 3 hải lý ngày nay). Ông đặt tên là "San Francisco". Dần dần đảo được đặt tên theo Thuyền trưởng William Wake của tàu Prince William Henry khi viếng thăm đảo vào năm 1796. Ngày 20 tháng 12 năm 1840, đoàn thám hiểm của Charles Wilkes thuộc Hải quân Hoa Kỳ đổ bộ lên đảo và thị sát. Đêm 4 tháng 3 năm 1866, chiếc xà lan 650 tấn Libelle của Đức đụng phải đá ngầm của Đảo Wake trong lúc bão. Tàu đang trên đường đi từ San Francisco đến Hồng Kông.
Hòn đảo nào được đặt tên theo Thuyền trưởng William Wake?
Đảo Wake
Nhân sự quân sự của Hoa Kỳ đã rời đảo và không có cư dân bản xứ trên đảo. Đảo Wake cùng với hải giới không xác định rõ ràng bị tuyên bố chủ quyền bởi Cộng hòa Quần đảo Marshall, và còn một số nhân viên dân sự sống trên đảo. Tính đến tháng 8 năm 2006, có chừng 200 nhân sự hợp đồng đang hiện diện trên đảo. Đảo vẫn là một vị trí chiến lược trong Bắc Thái Bình Dương và phục vụ như một nơi đáp khẩn cấp cho các chuyến bay liên Thái Bình Dương. Một vài cơ sở phương tiện thời Chiến tranh thế giới thứ hai và xác máy bay, tàu chiến còn trên đảo.
Đảo Wake do ai tuyên bố chủ quyền?
Cộng hòa Quần đảo Marshall
Nhân sự quân sự của Hoa Kỳ đã rời đảo và không có cư dân bản xứ trên đảo. Đảo Wake cùng với hải giới không xác định rõ ràng bị tuyên bố chủ quyền bởi Cộng hòa Quần đảo Marshall, và còn một số nhân viên dân sự sống trên đảo. Tính đến tháng 8 năm 2006, có chừng 200 nhân sự hợp đồng đang hiện diện trên đảo. Đảo vẫn là một vị trí chiến lược trong Bắc Thái Bình Dương và phục vụ như một nơi đáp khẩn cấp cho các chuyến bay liên Thái Bình Dương. Một vài cơ sở phương tiện thời Chiến tranh thế giới thứ hai và xác máy bay, tàu chiến còn trên đảo.
Nhân sự trên đảo Wake là những ai?
200 nhân sự hợp đồng
Richard I (8 tháng 9 1157 – 6 tháng 4, 1199) là Vua nước Anh từ 6 tháng 7, 1189 cho tới khi mất. Ông cũng là Công tước của Normandy, Aquitaine, Gascony, Lãnh chúa của Cyprus, Bá tước của Anjou, Maine, Nantes, và Lãnh chúa của Brittany vào nhiều thời điểm khác nhau trong cùng khoảng thời gian đó. Ông còn được biết đến với biệt danh Richard Tim Sư Tử hay Richard Sư Tử Tâm (Richard the Lionheart), thậm chí trước khi lên ngôi bởi lòng dũng cảm và tài năng lãnh đạo quân sự kiệt xuất. Người Saracen gọi ông là Melek-Ric hay Malek al-Inkitar – Vua nước Anh.
Richard I còn được gọi là gì bởi người Saracen?
Melek-Ric
Richard I (8 tháng 9 1157 – 6 tháng 4, 1199) là Vua nước Anh từ 6 tháng 7, 1189 cho tới khi mất. Ông cũng là Công tước của Normandy, Aquitaine, Gascony, Lãnh chúa của Cyprus, Bá tước của Anjou, Maine, Nantes, và Lãnh chúa của Brittany vào nhiều thời điểm khác nhau trong cùng khoảng thời gian đó. Ông còn được biết đến với biệt danh Richard Tim Sư Tử hay Richard Sư Tử Tâm (Richard the Lionheart), thậm chí trước khi lên ngôi bởi lòng dũng cảm và tài năng lãnh đạo quân sự kiệt xuất. Người Saracen gọi ông là Melek-Ric hay Malek al-Inkitar – Vua nước Anh.
Biệt danh của Richard I là gì?
Richard Sư Tử Tâm
Richard I (8 tháng 9 1157 – 6 tháng 4, 1199) là Vua nước Anh từ 6 tháng 7, 1189 cho tới khi mất. Ông cũng là Công tước của Normandy, Aquitaine, Gascony, Lãnh chúa của Cyprus, Bá tước của Anjou, Maine, Nantes, và Lãnh chúa của Brittany vào nhiều thời điểm khác nhau trong cùng khoảng thời gian đó. Ông còn được biết đến với biệt danh Richard Tim Sư Tử hay Richard Sư Tử Tâm (Richard the Lionheart), thậm chí trước khi lên ngôi bởi lòng dũng cảm và tài năng lãnh đạo quân sự kiệt xuất. Người Saracen gọi ông là Melek-Ric hay Malek al-Inkitar – Vua nước Anh.
Richard I được gọi là gì bởi người Saracen?
Melek-Ric hay Malek al-Inkitar
Richard I (8 tháng 9 1157 – 6 tháng 4, 1199) là Vua nước Anh từ 6 tháng 7, 1189 cho tới khi mất. Ông cũng là Công tước của Normandy, Aquitaine, Gascony, Lãnh chúa của Cyprus, Bá tước của Anjou, Maine, Nantes, và Lãnh chúa của Brittany vào nhiều thời điểm khác nhau trong cùng khoảng thời gian đó. Ông còn được biết đến với biệt danh Richard Tim Sư Tử hay Richard Sư Tử Tâm (Richard the Lionheart), thậm chí trước khi lên ngôi bởi lòng dũng cảm và tài năng lãnh đạo quân sự kiệt xuất. Người Saracen gọi ông là Melek-Ric hay Malek al-Inkitar – Vua nước Anh.
Richard I còn được biết đến với biệt danh nào?
Richard Tim Sư Tử
Richard sinh ngày 8 tháng 9, 1157, tại Cung điện Beaumont, Oxford, Vương quốc Anh. Là người con trai thứ 3 trong số 8 người con của vua Henry II và nữ hoàng Eleanor, Richard là em trai của William IX, Bá tước của Poitiers; Henry, nhà Vua trẻ; và Matilda, Công nương xứ Saxony. Đồng thời Richard còn là anh trai của Geoffrey II, Công tước xứ Brittany; Leonora, Nữ hoàng của Castile; Joan, Nữ hoàng của Sicilia; và John, Bá tước xứ Mortain, người sau này sẽ nối ngôi ông. Ngoài ra, Richard cũng là em cùng mẹ khác cha với Marie, Nữ bá tước Champagne và Alix của Pháp.
Richard sinh ngày nào?
8 tháng 9, 1157
Richard sinh ngày 8 tháng 9, 1157, tại Cung điện Beaumont, Oxford, Vương quốc Anh. Là người con trai thứ 3 trong số 8 người con của vua Henry II và nữ hoàng Eleanor, Richard là em trai của William IX, Bá tước của Poitiers; Henry, nhà Vua trẻ; và Matilda, Công nương xứ Saxony. Đồng thời Richard còn là anh trai của Geoffrey II, Công tước xứ Brittany; Leonora, Nữ hoàng của Castile; Joan, Nữ hoàng của Sicilia; và John, Bá tước xứ Mortain, người sau này sẽ nối ngôi ông. Ngoài ra, Richard cũng là em cùng mẹ khác cha với Marie, Nữ bá tước Champagne và Alix của Pháp.
Richard sinh năm nào?
1157
Vì chỉ là con trai thứ ba của vua Henry II nên Richard không được nghĩ là sẽ thừa kế ngai vàng. William IX, con trai cả của Henry II và Eleanor mất năm 1156, trước khi Richard ra đời. Richard thường được xem như người con mà Eleanor yêu thương nhất. Cha ông, Henry, là người gốc Norman-Angevin và là cháu cố của William Kẻ chinh phục. Người thân thuộc gốc Anh gần nhất trong phả hệ của gia đình Richard là Edith, vợ của Henry I của Anh. Nhà sử học đương thời Ralph de Diceto tra gốc gác gia đình ông từ Edith đến tận các vị vua Anglo-Saxon của Anh và Alfred Đại đế, và từ đó cho thấy họ có gốc gác với Noah và Woden. Theo như truyền thuyết Angevin, thậm chí có cả dòng máu ác quỷ trong gia đình.
Cha của Richard là người gốc gì?
Norman-Angevin
Vì chỉ là con trai thứ ba của vua Henry II nên Richard không được nghĩ là sẽ thừa kế ngai vàng. William IX, con trai cả của Henry II và Eleanor mất năm 1156, trước khi Richard ra đời. Richard thường được xem như người con mà Eleanor yêu thương nhất. Cha ông, Henry, là người gốc Norman-Angevin và là cháu cố của William Kẻ chinh phục. Người thân thuộc gốc Anh gần nhất trong phả hệ của gia đình Richard là Edith, vợ của Henry I của Anh. Nhà sử học đương thời Ralph de Diceto tra gốc gác gia đình ông từ Edith đến tận các vị vua Anglo-Saxon của Anh và Alfred Đại đế, và từ đó cho thấy họ có gốc gác với Noah và Woden. Theo như truyền thuyết Angevin, thậm chí có cả dòng máu ác quỷ trong gia đình.
Cha của Richard là ai?
Henry II
Vì chỉ là con trai thứ ba của vua Henry II nên Richard không được nghĩ là sẽ thừa kế ngai vàng. William IX, con trai cả của Henry II và Eleanor mất năm 1156, trước khi Richard ra đời. Richard thường được xem như người con mà Eleanor yêu thương nhất. Cha ông, Henry, là người gốc Norman-Angevin và là cháu cố của William Kẻ chinh phục. Người thân thuộc gốc Anh gần nhất trong phả hệ của gia đình Richard là Edith, vợ của Henry I của Anh. Nhà sử học đương thời Ralph de Diceto tra gốc gác gia đình ông từ Edith đến tận các vị vua Anglo-Saxon của Anh và Alfred Đại đế, và từ đó cho thấy họ có gốc gác với Noah và Woden. Theo như truyền thuyết Angevin, thậm chí có cả dòng máu ác quỷ trong gia đình.
Theo Ralph de Diceto, Richard có quan hệ huyết thống với ai?
Noah và Woden
Vì chỉ là con trai thứ ba của vua Henry II nên Richard không được nghĩ là sẽ thừa kế ngai vàng. William IX, con trai cả của Henry II và Eleanor mất năm 1156, trước khi Richard ra đời. Richard thường được xem như người con mà Eleanor yêu thương nhất. Cha ông, Henry, là người gốc Norman-Angevin và là cháu cố của William Kẻ chinh phục. Người thân thuộc gốc Anh gần nhất trong phả hệ của gia đình Richard là Edith, vợ của Henry I của Anh. Nhà sử học đương thời Ralph de Diceto tra gốc gác gia đình ông từ Edith đến tận các vị vua Anglo-Saxon của Anh và Alfred Đại đế, và từ đó cho thấy họ có gốc gác với Noah và Woden. Theo như truyền thuyết Angevin, thậm chí có cả dòng máu ác quỷ trong gia đình.
Con trai cả của vua Henry II mất vào năm nào?
1156
Trong khi cha mình đi tuần du lãnh địa của mình từ Scotland cho đến Pháp, Richard có lẽ đã ở lại Anh. Ông được chăm sóc bởi vú nuôi tên là Hodierna, và khi lên ngôi ông đã cho bà một khoản tiền thưởng lớn. Người ta biết rất ít về học vấn của ông. Mặc dù sinh ra ở Oxford nhưng Richard không biết nói tiếng Anh; ông là một người được dạy dỗ tốt và có thể làm thơ bằng tiếng Limousin (lenga d’òc) và tiếng Pháp. Ông được mô tả là rất quyến rũ với mái tóc đỏ vàng và đôi mắt xanh nhạt. Và có lẽ ông cao hơn mức trung bình: Theo như Clifford Brewer, Richard cao khoảng 1m96 nhưng vì di hài ông đã mất vào khoảng Cuộc cách mạng Pháp nên người ta không bao giờ biết được chiều cao chính xác của ông. Từ nhỏ ông đã thể hiện năng lực quân sự và chính trị xuất chúng, được chú ý bởi tinh thần hiệp sĩ và lòng dũng cảm khi ông đàn áp những người quý tộc nổi loạn trong lãnh thổ của mình. Anh trai ông Henry được tôn làm vua nước Anh trong khi cha ông còn sống.
Richard cao khoảng bao nhiêu?
1m96
Vào tháng 3, 1159, một cuộc hôn nhân chính trị đã được sắp xếp giữa Richard và một người con gái của Ramon Berenguer IV, Bá tước Barcelona. Tuy nhiên, hôn ước bất thành và cuộc hôn nhân đã không diễn ra. Anh trai Henry của ông cưới Margaret, con gái Louis VII của Pháp, vào ngày 2 tháng 11, 1160. Mặc cho liên minh giữa nhà Plantagenet và nhà Capetian, gia đình nắm ngai vàng nước Pháp, hai nhà thỉnh thoảng vẫn có xung đột. Vào năm 1168, Giáo hoàng Alexander III buộc phải can thiệp để có được một hòa ước giữa hai gia đình. Henry II đã xâm chiếm Brittany, kiểm soát xứ Gisors và xứ Vexin, vốn là của hồi môn cho Margaret. Đầu những năm 1160, đã có những lời đề nghị rằng Richard nên cưới Alys (Alice), con gái thứ tư của Louis VII; nhưng vì sự đối đầu giữa vua Pháp và vua Anh nên Louis cản trở cuộc hôn nhân. Một hòa ước được ký vào tháng 1, 1169 và Richard được hứa hôn với Alys. Henry II dự định sẽ phân chia lãnh thổ của mình và vợ cho các con: Henry sẽ là vua nước Anh và xứ Anjou, Maine và Normandy trong khi Richard sẽ thừa kế Aquitaine từ mẹ mình và trở thành Bá tước xứ Poitiers, và Geoffrey sẽ được hưởng Brittany thông qua hôn nhân với Constance, người được thừa kế vùng đất này. Tại buổi lễ mà hôn ước giữa Richard và Alys được xác nhận, Henry thể hiện sự thần phục vua nước Pháp, và vì vậy đảm bảo một mối ràng buộc giữa hai người.
Ai được hứa hôn với Richard vào tháng 1, 1169?
Alys
Sau khi lâm bệnh nặng vào 1170, Henry II bắt đầu thực hiện kế hoạch phân chia vương quốc, mặc dù ông vẫn sẽ có toàn quyền với lãnh địa của các con mình. Vào năm 1171, Richard khởi hành đến Aquitaine với mẹ mình và Henry phong ông là Công tước xứ Aquitaine theo yêu cầu của Eleanor. Richard và mẹ ông du ngoạn quanh xứ Aquitaine vào năm 1171 nhằm giành được tình cảm của người dân. Họ cùng nhau đặt tảng đá tưởng niệm của Tu viện thánh Augustine ở Limoges. Vào tháng 6, 1172, Richard được chính thức công nhận là Công tước xứ Aquitaine khi ông được trao cây thương và huy hiệu Công tước; buổi lễ diễn ra ở Poitiers và được lặp lại tại Limoges, nơi ông đeo chiếc nhẫn của thánh Valerie, hiện thân của Aquitaine.
Richard được chính thức công nhận là Công tước xứ Aquitaine khi nào?
tháng 6, 1172
Ba người anh em cùng thề trước triều đình Pháp là họ sẽ không đàm phán với Henry nếu không nhận được sự ưng thuận của Louis VII và các nam tước Pháp. Với sự hỗ trợ của Louis, Henry the Young King kêu gọi nhiều nam tước về phía mình nhờ hứa hẹn họ lãnh thổ và tiền bạc; trong đó có Philip, Bá tước xứ Flanders, người được hứa sẽ nhận được 1000 bảng Anh và một vài tòa lâu đài. Ba anh em cũng nhận được vài sự ủng hộ ở Anh, và sẵn sàng nổi dậy; chỉ huy bởi Robert de Beaumont, Bá tước thứ ba của Leicester, những người tham gia cuộc nổi loạn ở Anh bao gồm Hugh Bigod, Bá tước thứ nhất của Norfolk, Hugh de Kevelioc, Bá tước thứ năm của Chester và William I của Scotland. Liên minh này ban đầu khá thành công, và vào tháng 7, 1173 họ đã bao vây được Aumale, Neuf-Marché và Verneuil; Hugh de Kevelioc đã chiếm được Dol (thuộc Brittany). Richard đến Poitou và kêu gọi các nam tước trung thành với ông và mẹ chống lại Henry II. Eleanor bị bắt, nên Richard phải tự mình dẫn dắt chiến dịch chống lại những người ủng hộ Henry ở Aquitaine. Ông tiến chiếm La Rochelle, nhưng bị chống cự bởi người dân tại đó; sau đó ông rút quân về thành Saintes, lập căn cứ chỉ huy tại đây.
Ai là người hứa sẽ nhận được 1000 bảng Anh và một vài tòa lâu đài?
Philip, Bá tước xứ Flanders
Ba người anh em cùng thề trước triều đình Pháp là họ sẽ không đàm phán với Henry nếu không nhận được sự ưng thuận của Louis VII và các nam tước Pháp. Với sự hỗ trợ của Louis, Henry the Young King kêu gọi nhiều nam tước về phía mình nhờ hứa hẹn họ lãnh thổ và tiền bạc; trong đó có Philip, Bá tước xứ Flanders, người được hứa sẽ nhận được 1000 bảng Anh và một vài tòa lâu đài. Ba anh em cũng nhận được vài sự ủng hộ ở Anh, và sẵn sàng nổi dậy; chỉ huy bởi Robert de Beaumont, Bá tước thứ ba của Leicester, những người tham gia cuộc nổi loạn ở Anh bao gồm Hugh Bigod, Bá tước thứ nhất của Norfolk, Hugh de Kevelioc, Bá tước thứ năm của Chester và William I của Scotland. Liên minh này ban đầu khá thành công, và vào tháng 7, 1173 họ đã bao vây được Aumale, Neuf-Marché và Verneuil; Hugh de Kevelioc đã chiếm được Dol (thuộc Brittany). Richard đến Poitou và kêu gọi các nam tước trung thành với ông và mẹ chống lại Henry II. Eleanor bị bắt, nên Richard phải tự mình dẫn dắt chiến dịch chống lại những người ủng hộ Henry ở Aquitaine. Ông tiến chiếm La Rochelle, nhưng bị chống cự bởi người dân tại đó; sau đó ông rút quân về thành Saintes, lập căn cứ chỉ huy tại đây.
Henry the Young King đã kêu gọi những ai về phía mình?
các nam tước
Ba người anh em cùng thề trước triều đình Pháp là họ sẽ không đàm phán với Henry nếu không nhận được sự ưng thuận của Louis VII và các nam tước Pháp. Với sự hỗ trợ của Louis, Henry the Young King kêu gọi nhiều nam tước về phía mình nhờ hứa hẹn họ lãnh thổ và tiền bạc; trong đó có Philip, Bá tước xứ Flanders, người được hứa sẽ nhận được 1000 bảng Anh và một vài tòa lâu đài. Ba anh em cũng nhận được vài sự ủng hộ ở Anh, và sẵn sàng nổi dậy; chỉ huy bởi Robert de Beaumont, Bá tước thứ ba của Leicester, những người tham gia cuộc nổi loạn ở Anh bao gồm Hugh Bigod, Bá tước thứ nhất của Norfolk, Hugh de Kevelioc, Bá tước thứ năm của Chester và William I của Scotland. Liên minh này ban đầu khá thành công, và vào tháng 7, 1173 họ đã bao vây được Aumale, Neuf-Marché và Verneuil; Hugh de Kevelioc đã chiếm được Dol (thuộc Brittany). Richard đến Poitou và kêu gọi các nam tước trung thành với ông và mẹ chống lại Henry II. Eleanor bị bắt, nên Richard phải tự mình dẫn dắt chiến dịch chống lại những người ủng hộ Henry ở Aquitaine. Ông tiến chiếm La Rochelle, nhưng bị chống cự bởi người dân tại đó; sau đó ông rút quân về thành Saintes, lập căn cứ chỉ huy tại đây.
Ai bị bắt trong cuộc nổi loạn chống lại Henry II?
Eleanor
Ba người anh em cùng thề trước triều đình Pháp là họ sẽ không đàm phán với Henry nếu không nhận được sự ưng thuận của Louis VII và các nam tước Pháp. Với sự hỗ trợ của Louis, Henry the Young King kêu gọi nhiều nam tước về phía mình nhờ hứa hẹn họ lãnh thổ và tiền bạc; trong đó có Philip, Bá tước xứ Flanders, người được hứa sẽ nhận được 1000 bảng Anh và một vài tòa lâu đài. Ba anh em cũng nhận được vài sự ủng hộ ở Anh, và sẵn sàng nổi dậy; chỉ huy bởi Robert de Beaumont, Bá tước thứ ba của Leicester, những người tham gia cuộc nổi loạn ở Anh bao gồm Hugh Bigod, Bá tước thứ nhất của Norfolk, Hugh de Kevelioc, Bá tước thứ năm của Chester và William I của Scotland. Liên minh này ban đầu khá thành công, và vào tháng 7, 1173 họ đã bao vây được Aumale, Neuf-Marché và Verneuil; Hugh de Kevelioc đã chiếm được Dol (thuộc Brittany). Richard đến Poitou và kêu gọi các nam tước trung thành với ông và mẹ chống lại Henry II. Eleanor bị bắt, nên Richard phải tự mình dẫn dắt chiến dịch chống lại những người ủng hộ Henry ở Aquitaine. Ông tiến chiếm La Rochelle, nhưng bị chống cự bởi người dân tại đó; sau đó ông rút quân về thành Saintes, lập căn cứ chỉ huy tại đây.
Ba anh em đã kêu gọi những ai về phía họ?
nhiều nam tước
Trong khi đó Henry II đã huy động một đạo quân tốn kém với hơn 20000 lính đánh thuê để đàn áp cuộc nổi loạn. Ông hành quân đến Verneuil, và Louis rút lui. Đội quân tiếp tục giành lại Dol và chiếm toàn bộ xứ Brittany. Đến lúc này Henry II đưa ra lời cầu hòa với các con mình; nhưng theo lời khuyên của Louis, hòa ước bị từ chối. Lực lượng của Henry II bất ngờ chiếm Saintes và bắt giữ phần lớn quân đồn trú tại đây, dù Richard đã thoát được với một toán lính nhỏ. Ông ẩn náu tại Château de Taillebourg cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Henry the Young King và Công tước xứ Flanders dự định sẽ đổ bộ lên nước Anh để hỗ trợ cuộc nổi loạn dẫn đầu bởi Bá tước xứ Leicester. Thấy trước được điều này, Henry II trở về Anh với 500 quân và tù binh (bao gồm Eleanor cùng với vợ và hôn thê của các con mình), nhưng khi đến nơi ông mới phát hiện ra cuộc nổi loạn đã bị dập tắt. William I của Scotland và Hugh Bigod bị bắt vào ngày 13 và 25 tháng 7. Henry II về lại Pháp và bao vây Rouen, nơi Henry the Young King hợp quân với Louis VII sau khi ông từ bỏ kế hoạch xâm chiếm nước Anh. Louis bị đánh bại và một hòa ước được ký kết vào tháng 9, 1174, Hòa ước Montlouis.
Henry II trở về Anh với bao nhiêu quân và tù binh?
500 quân và tù binh
Trong khi đó Henry II đã huy động một đạo quân tốn kém với hơn 20000 lính đánh thuê để đàn áp cuộc nổi loạn. Ông hành quân đến Verneuil, và Louis rút lui. Đội quân tiếp tục giành lại Dol và chiếm toàn bộ xứ Brittany. Đến lúc này Henry II đưa ra lời cầu hòa với các con mình; nhưng theo lời khuyên của Louis, hòa ước bị từ chối. Lực lượng của Henry II bất ngờ chiếm Saintes và bắt giữ phần lớn quân đồn trú tại đây, dù Richard đã thoát được với một toán lính nhỏ. Ông ẩn náu tại Château de Taillebourg cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Henry the Young King và Công tước xứ Flanders dự định sẽ đổ bộ lên nước Anh để hỗ trợ cuộc nổi loạn dẫn đầu bởi Bá tước xứ Leicester. Thấy trước được điều này, Henry II trở về Anh với 500 quân và tù binh (bao gồm Eleanor cùng với vợ và hôn thê của các con mình), nhưng khi đến nơi ông mới phát hiện ra cuộc nổi loạn đã bị dập tắt. William I của Scotland và Hugh Bigod bị bắt vào ngày 13 và 25 tháng 7. Henry II về lại Pháp và bao vây Rouen, nơi Henry the Young King hợp quân với Louis VII sau khi ông từ bỏ kế hoạch xâm chiếm nước Anh. Louis bị đánh bại và một hòa ước được ký kết vào tháng 9, 1174, Hòa ước Montlouis.
Henry II về lại Pháp để làm gì?
bao vây Rouen
Trong khi đó Henry II đã huy động một đạo quân tốn kém với hơn 20000 lính đánh thuê để đàn áp cuộc nổi loạn. Ông hành quân đến Verneuil, và Louis rút lui. Đội quân tiếp tục giành lại Dol và chiếm toàn bộ xứ Brittany. Đến lúc này Henry II đưa ra lời cầu hòa với các con mình; nhưng theo lời khuyên của Louis, hòa ước bị từ chối. Lực lượng của Henry II bất ngờ chiếm Saintes và bắt giữ phần lớn quân đồn trú tại đây, dù Richard đã thoát được với một toán lính nhỏ. Ông ẩn náu tại Château de Taillebourg cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Henry the Young King và Công tước xứ Flanders dự định sẽ đổ bộ lên nước Anh để hỗ trợ cuộc nổi loạn dẫn đầu bởi Bá tước xứ Leicester. Thấy trước được điều này, Henry II trở về Anh với 500 quân và tù binh (bao gồm Eleanor cùng với vợ và hôn thê của các con mình), nhưng khi đến nơi ông mới phát hiện ra cuộc nổi loạn đã bị dập tắt. William I của Scotland và Hugh Bigod bị bắt vào ngày 13 và 25 tháng 7. Henry II về lại Pháp và bao vây Rouen, nơi Henry the Young King hợp quân với Louis VII sau khi ông từ bỏ kế hoạch xâm chiếm nước Anh. Louis bị đánh bại và một hòa ước được ký kết vào tháng 9, 1174, Hòa ước Montlouis.
Henry II đã huy động bao nhiêu quân lính đánh thuê để đàn áp cuộc nổi loạn?
hơn 20000
Khi Henry II và Louis VII ký hòa ước vào ngày 8 tháng 9, 1174, Richard bị loại trừ. Bị bỏ rơi bởi Louis và sợ phải đối đầu với quân đội của cha mình, Richard đến triều đình của Henry II tại Poitiers vào ngày 23 tháng 9 và cầu xin được tha thứ, than khóc và ngã xuống chân của Henry, người sau đó trao cho Richard nụ hôn hòa bình. Vài ngày sau, anh em của Richard cũng đến và mong muốn giảng hòa với cha họ. Điều khoản mà ba anh em chấp nhận ít hào phóng hơn những gì họ được để nghị trước đó trong cuộc xung đột (lúc đó Richard được đề nghị sẽ nhận được bốn tòa lâu đài tại Aquitaine và một nửa thu nhập từ lãnh địa đó) và Richard cuối cùng nhận được hai tòa lâu đài tại Poitou và một nửa thu nhập của Aquitaine; Henry the Young King nhận được hai tòa lâu đài ở Normandy; và Geoffrey nhận được một nửa xứ Brittany. Eleanor trở thành con tin của Henry II cho đến khi ông mất, phần nhiều là để đảm bảo sự ngoan ngoãn của Richard.
Vào năm nào Richard cầu xin được cha mình tha thứ?
1174
Sau cuộc chiến, công tác bình định các vùng đã nổi loạn chống lại Henry II bắt đầu. Ông du hành đến Anjou với mục đích này còn Geoffrey bình định xứ Brittany. Vào tháng 1, 1175, Richard được phái đến Aquitaine để trừng phạt những nam tước đã chiến đấu cho ông. Theo như biên niên sử về triều đại của Henry viết bởi Roger Hoveden thì phần lớn lâu đài thuộc sở hữu của những người nổi loạn phải được trả lại trạng thái ban đầu 15 ngày trước khi cuộc chiến nổ ra, trong khi những tòa lâu đài khác sẽ bị san bằng. Nếu xét trên việc lâu đài thời bấy giờ thường được xây bằng đá và nhiều nam tước đã mở rộng hoặc củng cố lại lâu đài của mình, đây không phải là điều dễ dàng. Gillingham ghi nhận rằng biên niên sử của Roger Hoveden là nguồn tư liệu chính về các hoạt động của Richard trong thời kỳ này, mặc dù ông cũng nói rằng nó chỉ ghi nhận các thành công của chiến dịch này; chính trong chiến dịch này mà Richard có được cái tên "Sư Tử Tâm". Thành công đầu tiên là cuộc vây hãm Castillon-sur-Agen. Tòa lâu đài này "vững chắc đến khủng khiếp", nhưng chỉ trong 2 tháng vây hãm những người phòng thủ đã buộc phải đầu hàng trước vũ khí công thành của ông.
Người có biệt danh là "Sư Tử Tâm" là ai?
Richard
Sau cuộc chiến, công tác bình định các vùng đã nổi loạn chống lại Henry II bắt đầu. Ông du hành đến Anjou với mục đích này còn Geoffrey bình định xứ Brittany. Vào tháng 1, 1175, Richard được phái đến Aquitaine để trừng phạt những nam tước đã chiến đấu cho ông. Theo như biên niên sử về triều đại của Henry viết bởi Roger Hoveden thì phần lớn lâu đài thuộc sở hữu của những người nổi loạn phải được trả lại trạng thái ban đầu 15 ngày trước khi cuộc chiến nổ ra, trong khi những tòa lâu đài khác sẽ bị san bằng. Nếu xét trên việc lâu đài thời bấy giờ thường được xây bằng đá và nhiều nam tước đã mở rộng hoặc củng cố lại lâu đài của mình, đây không phải là điều dễ dàng. Gillingham ghi nhận rằng biên niên sử của Roger Hoveden là nguồn tư liệu chính về các hoạt động của Richard trong thời kỳ này, mặc dù ông cũng nói rằng nó chỉ ghi nhận các thành công của chiến dịch này; chính trong chiến dịch này mà Richard có được cái tên "Sư Tử Tâm". Thành công đầu tiên là cuộc vây hãm Castillon-sur-Agen. Tòa lâu đài này "vững chắc đến khủng khiếp", nhưng chỉ trong 2 tháng vây hãm những người phòng thủ đã buộc phải đầu hàng trước vũ khí công thành của ông.
Richard được phái đến đâu để trừng phạt những nam tước đã chiến đấu cho ông?
Aquitaine
Henry có vẻ không mong muốn giao tài sản cho bất kỳ người con nào của mình vì lo sợ rằng họ có thể dùng nó để chống lại ông. Người ta nghi ngờ rằng Henry đã chiếm đoạt Công chúa Alys, hôn thê của Richard, con gái của Louis VII của Pháp với người vợ thứ hai. Điều này khiến cho một cuộc hôn nhân giữa Richard và Alys là bất khả thi dưới con mắt của nhà thờ, nhưng Henry thoái thác vì của hồi môn của Alys, xứ Vexin, rất có giá trị. Richard không dám từ bỏ Alys bởi vì bà là chị của Vua Pháp Philip II, một đồng minh thân cận.[cần dẫn nguồn]
Người ta nghi ngờ rằng Henry đã chiếm đoạt ai?
Công chúa Alys
Henry có vẻ không mong muốn giao tài sản cho bất kỳ người con nào của mình vì lo sợ rằng họ có thể dùng nó để chống lại ông. Người ta nghi ngờ rằng Henry đã chiếm đoạt Công chúa Alys, hôn thê của Richard, con gái của Louis VII của Pháp với người vợ thứ hai. Điều này khiến cho một cuộc hôn nhân giữa Richard và Alys là bất khả thi dưới con mắt của nhà thờ, nhưng Henry thoái thác vì của hồi môn của Alys, xứ Vexin, rất có giá trị. Richard không dám từ bỏ Alys bởi vì bà là chị của Vua Pháp Philip II, một đồng minh thân cận.[cần dẫn nguồn]
Vua Anh nào nghi ngờ đã chiếm đoạt hôn thê của Richard?
Henry
Henry có vẻ không mong muốn giao tài sản cho bất kỳ người con nào của mình vì lo sợ rằng họ có thể dùng nó để chống lại ông. Người ta nghi ngờ rằng Henry đã chiếm đoạt Công chúa Alys, hôn thê của Richard, con gái của Louis VII của Pháp với người vợ thứ hai. Điều này khiến cho một cuộc hôn nhân giữa Richard và Alys là bất khả thi dưới con mắt của nhà thờ, nhưng Henry thoái thác vì của hồi môn của Alys, xứ Vexin, rất có giá trị. Richard không dám từ bỏ Alys bởi vì bà là chị của Vua Pháp Philip II, một đồng minh thân cận.[cần dẫn nguồn]
Vì sao Henry lại thoái vị?
vì của hồi môn của Alys
Sau thất bại trong việc lật đổ cha mình, Richard tập trung vào việc dập tắt các cuộc nội loạn của quý tộc xứ Aquitaine, đặc biệt là lãnh địa Gascony. Sự độc ác ngày càng tăng dưới sự thống trị của ông dẫn đến một cuộc nổi dậy lớn tại đó vào năm 1179. Với hy vọng lật đổ Richard, những người nổi loạn tìm sự trợ giúp của anh em ông Henry và Geoffrey. Một bước ngoặt xảy ra tại thung lung Charente vào mùa xuân 1179. Pháo đài Taillebourg vốn được phòng thủ rất tốt và gần như không thể công phá được. Pháo đài này ba mặt là vách đá và mặt thứ tư đối diện một thị trấn với tường ba lớp. Richard đầu tiên tàn phá và cướp bóc các trang trại và đất đai xung quanh pháo đài, khiến cho quân phòng thủ bên trong không nhận được tiếp viện cũng như không có đường lui. Quân đồn trú xông ra phá vây và tấn công Richard; ông đã có thể khuất phục được họ và theo họ vào thành với cánh cửa rộng mở, ông tiếp quản pháo đài trong vòng hai ngày. Chiến thắng của Richard tại Taillebourg làm nhụt chí nhiều nam tước đang nghĩ đến việc nổi loạn và bắt họ phải thề trung thành với ông. Chiến thắng còn đem lại danh tiếng cho ông với tư cách là một chỉ huy quân sự tài ba.
Richard khuất phục quân đồn trú Taillebourg trong vòng bao nhiêu ngày?
hai ngày
Sau khi khuất phục được các nam tước của mình, Richard một lần nữa thách thức cha mình để giành lấy ngai vàng. Từ 1180 – 1183, căng thẳng giữa Henry và Richard gia tăng vì Vua Henry ra lệnh cho Richard phải thể hiện sự thần phục đối với Henry the Young King, nhưng Richard từ chối. Cuối cùng, vào năm 1183 Henry the Young King và Geoffrey, Công tước xứ Brittany xâm lược Aquitaine trong nỗ lực khuất phục Richard. Các nam tước của ông tham gia cuộc xung đột và chống lại Công tước của họ. Tuy nhiên, Richard và quân đội của ông đã ngăn được quân xâm lược, và họ hành quyết bất kỳ tù binh nào. Cuộc xung đột ngừng lại trong một khoảng thời gian ngắn vào tháng 6, 1183 khi Henry the Young King qua đời. Với cái chết của Henry the Young King, Richard trở thành người con lớn nhất và vì vậy: người thừa kế ngai vàng nước Anh. Vua Henry yêu cầu Richard từ bỏ Aquitaine (lãnh địa ông dự định sẽ trao cho người con út John như là tài sản thừa kế). Richard từ chối, và cuộc xung đột tiếp diễn. Henry II sau đó nhanh chóng cho phép John xâm lược Aquitaine.
Với cái chết của ai, Richard trở thành người thừa kế ngai vàng nước Anh?
Henry the Young King
Sau khi khuất phục được các nam tước của mình, Richard một lần nữa thách thức cha mình để giành lấy ngai vàng. Từ 1180 – 1183, căng thẳng giữa Henry và Richard gia tăng vì Vua Henry ra lệnh cho Richard phải thể hiện sự thần phục đối với Henry the Young King, nhưng Richard từ chối. Cuối cùng, vào năm 1183 Henry the Young King và Geoffrey, Công tước xứ Brittany xâm lược Aquitaine trong nỗ lực khuất phục Richard. Các nam tước của ông tham gia cuộc xung đột và chống lại Công tước của họ. Tuy nhiên, Richard và quân đội của ông đã ngăn được quân xâm lược, và họ hành quyết bất kỳ tù binh nào. Cuộc xung đột ngừng lại trong một khoảng thời gian ngắn vào tháng 6, 1183 khi Henry the Young King qua đời. Với cái chết của Henry the Young King, Richard trở thành người con lớn nhất và vì vậy: người thừa kế ngai vàng nước Anh. Vua Henry yêu cầu Richard từ bỏ Aquitaine (lãnh địa ông dự định sẽ trao cho người con út John như là tài sản thừa kế). Richard từ chối, và cuộc xung đột tiếp diễn. Henry II sau đó nhanh chóng cho phép John xâm lược Aquitaine.
Richard trở thành người thừa kế ngai vàng nước Anh sau sự kiện nào?
cái chết của Henry the Young King
Nói chung, Hoveden chủ yếu quan ngại về yếu tố chính trị trong mối quan hệ giữa Richard và Philip. Nhà sử học John Gillingham đã gợi ý rằng giả thuyết về việc Richard bị đồng tính có lẽ bắt nguồn từ một văn kiện chính thức tuyên bố rằng: như là một biểu tượng cho sự hợp tác giữa hai quốc gia, vua Anh và Pháp đã ngủ qua đêm trong cùng một chiếc giường. Ông cho rằng điều này là "một hành động chính trị được chấp nhận, không có gì nhục dục trong chuyện này; … đại loại giống như một buổi chụp hình ngày nay vậy".
Theo John Gorton, giả định về việc Richard bị đồng tính bắt nguồn từ gì?
văn kiện chính thức
Vào năm 1188, Henry II dự định nhượng lại Aquitaine cho con trai út của mình, John. Năm sau, Richard dự định giành lấy ngai vàng nước Anh trong cuộc viễn chinh với Philip chống lại cha ông. Vào ngày 4 tháng 7, 1189, lực lượng của Richard và Philip đánh bại Henry tại Ballans. Henry, với sự ưng thuận của John, đồng ý phong Richard làm Thái tử. Hai ngày sau Henry II mất tại Chinon và Richard nối ngôi ông là Vua nước Anh, Công tước Normandy và Bá tước Anjou. Roger Hoveden khẳng định rằng xác của Henry chảy máu từ mũi khi Richard có mặt tại đó, một dấu hiệu cho thấy Richard đã gây ra cái chết.
Henry II qua đời vào ngày nào?
4 tháng 7, 1189
Vào năm 1188, Henry II dự định nhượng lại Aquitaine cho con trai út của mình, John. Năm sau, Richard dự định giành lấy ngai vàng nước Anh trong cuộc viễn chinh với Philip chống lại cha ông. Vào ngày 4 tháng 7, 1189, lực lượng của Richard và Philip đánh bại Henry tại Ballans. Henry, với sự ưng thuận của John, đồng ý phong Richard làm Thái tử. Hai ngày sau Henry II mất tại Chinon và Richard nối ngôi ông là Vua nước Anh, Công tước Normandy và Bá tước Anjou. Roger Hoveden khẳng định rằng xác của Henry chảy máu từ mũi khi Richard có mặt tại đó, một dấu hiệu cho thấy Richard đã gây ra cái chết.
Richard nối ngôi Henry II làm gì?
Vua nước Anh, Công tước Normandy và Bá tước Anjou
Vào năm 1188, Henry II dự định nhượng lại Aquitaine cho con trai út của mình, John. Năm sau, Richard dự định giành lấy ngai vàng nước Anh trong cuộc viễn chinh với Philip chống lại cha ông. Vào ngày 4 tháng 7, 1189, lực lượng của Richard và Philip đánh bại Henry tại Ballans. Henry, với sự ưng thuận của John, đồng ý phong Richard làm Thái tử. Hai ngày sau Henry II mất tại Chinon và Richard nối ngôi ông là Vua nước Anh, Công tước Normandy và Bá tước Anjou. Roger Hoveden khẳng định rằng xác của Henry chảy máu từ mũi khi Richard có mặt tại đó, một dấu hiệu cho thấy Richard đã gây ra cái chết.
Richard I nối ngôi vua nước Anh sau khi nào?
Henry II mất
Vào năm 1188, Henry II dự định nhượng lại Aquitaine cho con trai út của mình, John. Năm sau, Richard dự định giành lấy ngai vàng nước Anh trong cuộc viễn chinh với Philip chống lại cha ông. Vào ngày 4 tháng 7, 1189, lực lượng của Richard và Philip đánh bại Henry tại Ballans. Henry, với sự ưng thuận của John, đồng ý phong Richard làm Thái tử. Hai ngày sau Henry II mất tại Chinon và Richard nối ngôi ông là Vua nước Anh, Công tước Normandy và Bá tước Anjou. Roger Hoveden khẳng định rằng xác của Henry chảy máu từ mũi khi Richard có mặt tại đó, một dấu hiệu cho thấy Richard đã gây ra cái chết.
Vào năm nào, Richard nối ngôi Vua nước Anh?
1189
Khi mà tin đồn về việc Richard ra lệnh giết chết tất cả những người Do Thái lan truyền, người dân London đã bắt đầu một cuộc thảm sát. Nhiều người Do Thái đã bị đánh đập đến chết, bị cướp bóc và bị thiêu sống. Nhiều nhà cửa của người Do Thái bị đốt và nhiều người Do Thái bị buộc phải rửa tội. Vài người tìm chỗ trú trong Tháp Luân Đôn trong khi một số người khác thì trốn thoát được. Trong số những người bị giết có Jacob Orléans, một học giả Do Thái đáng kính. Roger Hoveden, trong quyển Gesta Regis Ricardi, khẳng định rằng cuộc nổi loạn xuất phát từ những kẻ ghen ghét và cố chấp và rằng Richard đã trừng trị những kẻ chủ mưu, cho những người Do Thái bị buộc cải đạo được phép quay lại tôn giáo cũ. Baldwin xứ Forde, Tổng giám mục xứ Canterbury nhận xét, "Nếu nhà vua không phải là người của Chúa, thì tốt hơn nên làm người của quỷ".
Roger Hoveden đã viết về cuộc nổi loạn như thế nào?
xuất phát từ những kẻ ghen ghét và cố chấp
Khi mà tin đồn về việc Richard ra lệnh giết chết tất cả những người Do Thái lan truyền, người dân London đã bắt đầu một cuộc thảm sát. Nhiều người Do Thái đã bị đánh đập đến chết, bị cướp bóc và bị thiêu sống. Nhiều nhà cửa của người Do Thái bị đốt và nhiều người Do Thái bị buộc phải rửa tội. Vài người tìm chỗ trú trong Tháp Luân Đôn trong khi một số người khác thì trốn thoát được. Trong số những người bị giết có Jacob Orléans, một học giả Do Thái đáng kính. Roger Hoveden, trong quyển Gesta Regis Ricardi, khẳng định rằng cuộc nổi loạn xuất phát từ những kẻ ghen ghét và cố chấp và rằng Richard đã trừng trị những kẻ chủ mưu, cho những người Do Thái bị buộc cải đạo được phép quay lại tôn giáo cũ. Baldwin xứ Forde, Tổng giám mục xứ Canterbury nhận xét, "Nếu nhà vua không phải là người của Chúa, thì tốt hơn nên làm người của quỷ".
Vị Tổng giám mục xứ Canterbury đã nhận xét gì về vua Richard?
tốt hơn nên làm người của quỷ
Khi mà tin đồn về việc Richard ra lệnh giết chết tất cả những người Do Thái lan truyền, người dân London đã bắt đầu một cuộc thảm sát. Nhiều người Do Thái đã bị đánh đập đến chết, bị cướp bóc và bị thiêu sống. Nhiều nhà cửa của người Do Thái bị đốt và nhiều người Do Thái bị buộc phải rửa tội. Vài người tìm chỗ trú trong Tháp Luân Đôn trong khi một số người khác thì trốn thoát được. Trong số những người bị giết có Jacob Orléans, một học giả Do Thái đáng kính. Roger Hoveden, trong quyển Gesta Regis Ricardi, khẳng định rằng cuộc nổi loạn xuất phát từ những kẻ ghen ghét và cố chấp và rằng Richard đã trừng trị những kẻ chủ mưu, cho những người Do Thái bị buộc cải đạo được phép quay lại tôn giáo cũ. Baldwin xứ Forde, Tổng giám mục xứ Canterbury nhận xét, "Nếu nhà vua không phải là người của Chúa, thì tốt hơn nên làm người của quỷ".
Trong số những người bị giết trong cuộc thảm sát do tin đồn về lệnh giết người Do Thái của Richard lan truyền có ai?
Jacob Orléans
Khi mà tin đồn về việc Richard ra lệnh giết chết tất cả những người Do Thái lan truyền, người dân London đã bắt đầu một cuộc thảm sát. Nhiều người Do Thái đã bị đánh đập đến chết, bị cướp bóc và bị thiêu sống. Nhiều nhà cửa của người Do Thái bị đốt và nhiều người Do Thái bị buộc phải rửa tội. Vài người tìm chỗ trú trong Tháp Luân Đôn trong khi một số người khác thì trốn thoát được. Trong số những người bị giết có Jacob Orléans, một học giả Do Thái đáng kính. Roger Hoveden, trong quyển Gesta Regis Ricardi, khẳng định rằng cuộc nổi loạn xuất phát từ những kẻ ghen ghét và cố chấp và rằng Richard đã trừng trị những kẻ chủ mưu, cho những người Do Thái bị buộc cải đạo được phép quay lại tôn giáo cũ. Baldwin xứ Forde, Tổng giám mục xứ Canterbury nhận xét, "Nếu nhà vua không phải là người của Chúa, thì tốt hơn nên làm người của quỷ".
Ai đã khẳng định rằng cuộc nổi loạn xuất phát từ những kẻ ghen ghét và cố chấp?
Roger Hoveden
Nhận thấy rằng những cuộc nổi loạn có thể làm sụp đổ triều đại của mình ngay khi ông lên đường trong cuộc Thập tự chinh, Richard ra lệnh hành quyết những kẻ chịu trách nhiệm cho những vụ giết người và khủng bố tàn bạo nhất, bao gồm cả những người nổi loạn đã vô tình đốt nhà của người Cơ đốc giáo. Ông ban hành đạo luật yêu cầu đảm bảo an toàn cho người Do Thái. Tuy nhiên, sắc lệnh này đã không được tuân thủ nghiêm ngặt, và tháng 3 năm đó bạo lực tiếp tục gia tăng, bao gồm một cuộc thảm sát tại York.
Richard ban hành sắc lệnh gì?
đảm bảo an toàn cho người Do Thái
Nhận thấy rằng những cuộc nổi loạn có thể làm sụp đổ triều đại của mình ngay khi ông lên đường trong cuộc Thập tự chinh, Richard ra lệnh hành quyết những kẻ chịu trách nhiệm cho những vụ giết người và khủng bố tàn bạo nhất, bao gồm cả những người nổi loạn đã vô tình đốt nhà của người Cơ đốc giáo. Ông ban hành đạo luật yêu cầu đảm bảo an toàn cho người Do Thái. Tuy nhiên, sắc lệnh này đã không được tuân thủ nghiêm ngặt, và tháng 3 năm đó bạo lực tiếp tục gia tăng, bao gồm một cuộc thảm sát tại York.
Người chịu trách nhiệm cho những vụ giết người và khủng bố tàn bạo nhất đã bị xử lý như thế nào theo lệnh của Richard?
hành quyết
Richard thề sẽ từ bỏ sự độc ác trong quá khứ để chứng tỏ mình đủ tư cách để tuyên thệ. Ông bắt đầu huy động và vũ trang một đạo quân Thập tự mới. Ông tiêu gần hết kho báu của cha mình (vốn rất nhiều của cải thu được từ thuế Saladin), tăng thuế và thậm chí đồng ý cho William I của Scotland từ bỏ lời thề trung thành với Richard để đổi lấy 10000 mác. Để có thêm tiền ông bán cả chức vụ, đặc quyền và đất đai cho những kẻ muốn mua. Những người đã có chức tước thì bị buộc phải trả những khoản tiền lớn để duy trì chức vụ của mình. William Longchamp, giám mục xứ Ely và Đại Chưởng ấn của nhà vua, ra giá 3000 bảng để tiếp tục giữ chức Đại Chưởng ấn. Reginald người Ý ra giá cao hơn, nhưng lại bị từ chối.
Richard huy động và vũ trang loại quân nào?
đạo quân Thập tự
Richard thu xếp vài việc cuối cùng tại châu Âu. Ông tái khẳng định việc bổ nhiệm William Fitz Ralph vào chức vụ quản gia của Normandy. Tại Anjou, Stephen xứ Tours bị tước quyền quản gia và bị tạm giam vì quản lý tài chính yếu kém. Payn de Rochefort, một hiệp sĩ Angevin, được thăng chức quản gia Anjou. Tại Poitou cựu mục sư trưởng của Benon, Peter Bertin, được phong chức quản gia, và cuối cùng ở Gascony quan chức nội vụ Helie de La Celle được chọn làm quản gia. Sau khi tái bố trí phần quân đội mà ông để lại nhằm bảo vệ các lãnh thổ ở Pháp, Richard cuối cùng lên đường trong cuộc Thập tự chinh vào mùa hè năm 1190. (Sự trì hoãn của ông bị phê bình bởi những người hát rong như Bertran de Born.) Ông trao quyền nhiếp chính cho Hugh de Puiset, giám mục của Durham, và William de Mandeville, Bá tước thứ ba của Essex – người này sau đó sớm qua đời và được thay thế bởi Đại Chưởng ấn của Richard William Longchamp. Em trai của Richard, John không hài lòng trước quyết định này và bắt đầu âm mưu chống lại William.
Richard lên đường trong cuộc Thập tự chinh vào năm nào?
1190
Richard thu xếp vài việc cuối cùng tại châu Âu. Ông tái khẳng định việc bổ nhiệm William Fitz Ralph vào chức vụ quản gia của Normandy. Tại Anjou, Stephen xứ Tours bị tước quyền quản gia và bị tạm giam vì quản lý tài chính yếu kém. Payn de Rochefort, một hiệp sĩ Angevin, được thăng chức quản gia Anjou. Tại Poitou cựu mục sư trưởng của Benon, Peter Bertin, được phong chức quản gia, và cuối cùng ở Gascony quan chức nội vụ Helie de La Celle được chọn làm quản gia. Sau khi tái bố trí phần quân đội mà ông để lại nhằm bảo vệ các lãnh thổ ở Pháp, Richard cuối cùng lên đường trong cuộc Thập tự chinh vào mùa hè năm 1190. (Sự trì hoãn của ông bị phê bình bởi những người hát rong như Bertran de Born.) Ông trao quyền nhiếp chính cho Hugh de Puiset, giám mục của Durham, và William de Mandeville, Bá tước thứ ba của Essex – người này sau đó sớm qua đời và được thay thế bởi Đại Chưởng ấn của Richard William Longchamp. Em trai của Richard, John không hài lòng trước quyết định này và bắt đầu âm mưu chống lại William.
Người nào được bổ nhiệm làm quản gia Anjou?
Payn de Rochefort
Richard đã nói rằng nước Anh "rất lạnh và luôn đổ mưa," [cần dẫn nguồn] và khi ông đang gây quỹ cho cuộc Thập tự chinh, ông được cho là đã nói, "Ta đã có thể bán luôn London nếu ta có thể tìm được người mua." Tuy nhiên, dù nước Anh là phần lãnh thổ chính của ông – đặc biệt quan trọng khi nó cho ông một tước hiệu hoàng gia để có thể đứng ngang hàng với các vị vua khác – nó không đối mặt với cả thù trong lẫn giặc ngoài trong suốt triều đại của ông, không giống nhưng phần lãnh thổ ở đại lục, và vì vậy không cần ông phải luôn có mặt tại đây. Giống như phần lớn vua Plantagenet trước thế kỷ 14, ông không cần phải học tiếng Anh. Bỏ lại quê hương trong tay nhiều quan chức khác nhau mà ông bổ nhiệm (bao gồm cả mẹ ông), Richard quan tâm tới lãnh thổ rộng lớn tại Pháp nhiều hơn. Sau khi chuẩn bị xong, ông có một đạo quân 4000 kị binh, 4000 bộ binh và một hạm đội 100 tàu.
Nước Anh không phải đối mặt với những gì trong suốt triều đại của Richard?
thù trong lẫn giặc ngoài
Vào tháng 9, 1190, Richard và Philip đến Sicilia. Sau cái chết của vua William II của Sicilia, em họ ông Tancred xứ Lecce nắm quyền và được tôn làm vua vào đầu năm 1190, mặc dù người thừa kế hợp pháp là dì của William, Constance, vợ của Hoàng đế La Mã Thần thánh Henry VI. Tancred bắt giam góa phụ của William, hoàng hậu Joan, em gái của Richard và không trao cho bà số tiền mà William để lại trong di chúc. Khi Richard đến nơi ông yêu cầu Tancred giải thoát Joan và trao cho bà tài sản thừa kế; bà được trả tự do vào ngày 28 tháng 9 nhưng không được hưởng thừa kế. Sự hiện diện của quân đội nước ngoài cũng gây ra bất an: vào tháng 10, người dân Messina nổi dậy, yêu cầu quân đội nước ngoài ra đi. Richard tấn công Messina, chiếm được nơi này vào ngày 4 tháng 10, 1190. Sau khi cướp phá và đốt cháy thành phố, Richard thành lập căn cứ tại đây, nhưng điều này lại gây căng thẳng giữa Richard và Philip Augustus. Ông ở lại đó cho đến khi Tancred đồng ý ký hiệp ước vào ngày 4 tháng 3 năm 1191. Hiệp ước được ký bởi Richard, Philip và Tancred. Các điều khoản chính bao gồm:
Richard đã chiếm được Messina vào ngày nào?
4 tháng 10, 1190
Vào tháng 9, 1190, Richard và Philip đến Sicilia. Sau cái chết của vua William II của Sicilia, em họ ông Tancred xứ Lecce nắm quyền và được tôn làm vua vào đầu năm 1190, mặc dù người thừa kế hợp pháp là dì của William, Constance, vợ của Hoàng đế La Mã Thần thánh Henry VI. Tancred bắt giam góa phụ của William, hoàng hậu Joan, em gái của Richard và không trao cho bà số tiền mà William để lại trong di chúc. Khi Richard đến nơi ông yêu cầu Tancred giải thoát Joan và trao cho bà tài sản thừa kế; bà được trả tự do vào ngày 28 tháng 9 nhưng không được hưởng thừa kế. Sự hiện diện của quân đội nước ngoài cũng gây ra bất an: vào tháng 10, người dân Messina nổi dậy, yêu cầu quân đội nước ngoài ra đi. Richard tấn công Messina, chiếm được nơi này vào ngày 4 tháng 10, 1190. Sau khi cướp phá và đốt cháy thành phố, Richard thành lập căn cứ tại đây, nhưng điều này lại gây căng thẳng giữa Richard và Philip Augustus. Ông ở lại đó cho đến khi Tancred đồng ý ký hiệp ước vào ngày 4 tháng 3 năm 1191. Hiệp ước được ký bởi Richard, Philip và Tancred. Các điều khoản chính bao gồm:
Vua William II của Sicilia mất vào khoảng thời gian nào?
đầu năm 1190
Vào tháng 9, 1190, Richard và Philip đến Sicilia. Sau cái chết của vua William II của Sicilia, em họ ông Tancred xứ Lecce nắm quyền và được tôn làm vua vào đầu năm 1190, mặc dù người thừa kế hợp pháp là dì của William, Constance, vợ của Hoàng đế La Mã Thần thánh Henry VI. Tancred bắt giam góa phụ của William, hoàng hậu Joan, em gái của Richard và không trao cho bà số tiền mà William để lại trong di chúc. Khi Richard đến nơi ông yêu cầu Tancred giải thoát Joan và trao cho bà tài sản thừa kế; bà được trả tự do vào ngày 28 tháng 9 nhưng không được hưởng thừa kế. Sự hiện diện của quân đội nước ngoài cũng gây ra bất an: vào tháng 10, người dân Messina nổi dậy, yêu cầu quân đội nước ngoài ra đi. Richard tấn công Messina, chiếm được nơi này vào ngày 4 tháng 10, 1190. Sau khi cướp phá và đốt cháy thành phố, Richard thành lập căn cứ tại đây, nhưng điều này lại gây căng thẳng giữa Richard và Philip Augustus. Ông ở lại đó cho đến khi Tancred đồng ý ký hiệp ước vào ngày 4 tháng 3 năm 1191. Hiệp ước được ký bởi Richard, Philip và Tancred. Các điều khoản chính bao gồm:
Richard tấn công và chiếm được thành phố nào vào ngày 4 tháng 10, 1190?
Messina
Các nam tước địa phương bỏ rơi Isaac, vốn dự định giảng hòa với Richard, hợp quân với ông trong cuộc Thập tự chinh và gả con gái của mình cho một người được lựa chọn bởi Richard. Nhưng Isaac đổi ý và cố gắng trốn thoát. Richard sau đó tiến hành chiếm đóng toàn bộ hòn đảo với quân đội của mình, chỉ huy bởi Guy de Lusignan. Isaac đầu hàng và bị trói bằng xích bạc vì Richard đã hứa là ông sẽ không bắt giam Isaac bằng xích sắt. Đến ngày 1 tháng 6 Richard đã chiếm được toàn bộ hòn đảo. Ông giao cho Richard de Camville và Robert xứ Thornham chức vụ thống đốc. Ông sau đó đã bán lại hòn đảo cho các Hiệp sĩ dòng Đền và cuối cùng rơi vào tay Guy Lusignan vào năm 1192 và hòn đảo trở thành một vương quốc phong kiến ổn định.
Ai trở thành thống đốc của đảo Síp?
Richard de Camville và Robert xứ Thornham
Các nam tước địa phương bỏ rơi Isaac, vốn dự định giảng hòa với Richard, hợp quân với ông trong cuộc Thập tự chinh và gả con gái của mình cho một người được lựa chọn bởi Richard. Nhưng Isaac đổi ý và cố gắng trốn thoát. Richard sau đó tiến hành chiếm đóng toàn bộ hòn đảo với quân đội của mình, chỉ huy bởi Guy de Lusignan. Isaac đầu hàng và bị trói bằng xích bạc vì Richard đã hứa là ông sẽ không bắt giam Isaac bằng xích sắt. Đến ngày 1 tháng 6 Richard đã chiếm được toàn bộ hòn đảo. Ông giao cho Richard de Camville và Robert xứ Thornham chức vụ thống đốc. Ông sau đó đã bán lại hòn đảo cho các Hiệp sĩ dòng Đền và cuối cùng rơi vào tay Guy Lusignan vào năm 1192 và hòn đảo trở thành một vương quốc phong kiến ổn định.
Isaac đầu hàng vào ngày nào?
1 tháng 6
Trước khi rời Cyprus Richard kết hôn với Berengaria của Navarre, con gái đầu của Vua Sancho VI của Navarre. Richard trở nên gần gũi với bà tại Cuộc đấu thương ở quê nhà Navarre của Berengaria. Đám cưới được tổ chức ở Limassol vào ngày 12 tháng 5, 1191 tại Nhà thờ thánh George. Đám cưới có sự tham dự của Joan, người đã rời Sicilia cùng Richard. Hôn lễ được tổ chức xa hoa và lộng lẫy với nhiều buổi yến tiệc và tiêu khiển, diễu hành và ăn mừng để đánh dấu sự kiện. Trong các buổi lễ lớn khác còn có sự đăng quang của Vua và Hoàng hậu. Richard phong mình làm Vua của Cyprus, và Berengaria làm Hoàng hậu của cả Anh và Cyprus. Khi Richard kết hôn với Berengaria ông vẫn đang chính thức đính hôn với Alys, và Richard thực hiện cuộc hôn nhân nhằm giành lấy Navarre như cha mình đã làm với Aquitaine. Hơn nữa, Eleanor cũng ủng hộ cuộc hôn nhân vì Navarre giáp với Aquitaine, qua đó bảo vệ biên giới phía nam của vùng đất của bà. Trong một thời gian ngắn, Richard đưa vợ theo cùng trong cuộc Thập tự chinh. Tuy nhiên, họ trở về riêng biệt. Berengaria gặp khó khăn trên đường về nhà cũng nhiều như Richard, và bà không nhìn thấy nước Anh cho đến sau khi chồng mình qua đời. Sau khi ông được người Đức giải thoát, Richard cảm thấy hối tiếc vì đã đưa bà về trước, nhưng ông lại không được đoàn tụ với vợ mình, và cả hai cuối cùng không có con.
Richard phong Berengaria làm Hoàng hậu của những quốc gia nào?
Anh và Cyprus
Trước khi rời Cyprus Richard kết hôn với Berengaria của Navarre, con gái đầu của Vua Sancho VI của Navarre. Richard trở nên gần gũi với bà tại Cuộc đấu thương ở quê nhà Navarre của Berengaria. Đám cưới được tổ chức ở Limassol vào ngày 12 tháng 5, 1191 tại Nhà thờ thánh George. Đám cưới có sự tham dự của Joan, người đã rời Sicilia cùng Richard. Hôn lễ được tổ chức xa hoa và lộng lẫy với nhiều buổi yến tiệc và tiêu khiển, diễu hành và ăn mừng để đánh dấu sự kiện. Trong các buổi lễ lớn khác còn có sự đăng quang của Vua và Hoàng hậu. Richard phong mình làm Vua của Cyprus, và Berengaria làm Hoàng hậu của cả Anh và Cyprus. Khi Richard kết hôn với Berengaria ông vẫn đang chính thức đính hôn với Alys, và Richard thực hiện cuộc hôn nhân nhằm giành lấy Navarre như cha mình đã làm với Aquitaine. Hơn nữa, Eleanor cũng ủng hộ cuộc hôn nhân vì Navarre giáp với Aquitaine, qua đó bảo vệ biên giới phía nam của vùng đất của bà. Trong một thời gian ngắn, Richard đưa vợ theo cùng trong cuộc Thập tự chinh. Tuy nhiên, họ trở về riêng biệt. Berengaria gặp khó khăn trên đường về nhà cũng nhiều như Richard, và bà không nhìn thấy nước Anh cho đến sau khi chồng mình qua đời. Sau khi ông được người Đức giải thoát, Richard cảm thấy hối tiếc vì đã đưa bà về trước, nhưng ông lại không được đoàn tụ với vợ mình, và cả hai cuối cùng không có con.
Richard kết hôn với Berengaria vào năm nào?
1191
Trước khi rời Cyprus Richard kết hôn với Berengaria của Navarre, con gái đầu của Vua Sancho VI của Navarre. Richard trở nên gần gũi với bà tại Cuộc đấu thương ở quê nhà Navarre của Berengaria. Đám cưới được tổ chức ở Limassol vào ngày 12 tháng 5, 1191 tại Nhà thờ thánh George. Đám cưới có sự tham dự của Joan, người đã rời Sicilia cùng Richard. Hôn lễ được tổ chức xa hoa và lộng lẫy với nhiều buổi yến tiệc và tiêu khiển, diễu hành và ăn mừng để đánh dấu sự kiện. Trong các buổi lễ lớn khác còn có sự đăng quang của Vua và Hoàng hậu. Richard phong mình làm Vua của Cyprus, và Berengaria làm Hoàng hậu của cả Anh và Cyprus. Khi Richard kết hôn với Berengaria ông vẫn đang chính thức đính hôn với Alys, và Richard thực hiện cuộc hôn nhân nhằm giành lấy Navarre như cha mình đã làm với Aquitaine. Hơn nữa, Eleanor cũng ủng hộ cuộc hôn nhân vì Navarre giáp với Aquitaine, qua đó bảo vệ biên giới phía nam của vùng đất của bà. Trong một thời gian ngắn, Richard đưa vợ theo cùng trong cuộc Thập tự chinh. Tuy nhiên, họ trở về riêng biệt. Berengaria gặp khó khăn trên đường về nhà cũng nhiều như Richard, và bà không nhìn thấy nước Anh cho đến sau khi chồng mình qua đời. Sau khi ông được người Đức giải thoát, Richard cảm thấy hối tiếc vì đã đưa bà về trước, nhưng ông lại không được đoàn tụ với vợ mình, và cả hai cuối cùng không có con.
Richard và Berengaria kết hôn vào ngày nào?
12 tháng 5, 1191
Trước khi rời Cyprus Richard kết hôn với Berengaria của Navarre, con gái đầu của Vua Sancho VI của Navarre. Richard trở nên gần gũi với bà tại Cuộc đấu thương ở quê nhà Navarre của Berengaria. Đám cưới được tổ chức ở Limassol vào ngày 12 tháng 5, 1191 tại Nhà thờ thánh George. Đám cưới có sự tham dự của Joan, người đã rời Sicilia cùng Richard. Hôn lễ được tổ chức xa hoa và lộng lẫy với nhiều buổi yến tiệc và tiêu khiển, diễu hành và ăn mừng để đánh dấu sự kiện. Trong các buổi lễ lớn khác còn có sự đăng quang của Vua và Hoàng hậu. Richard phong mình làm Vua của Cyprus, và Berengaria làm Hoàng hậu của cả Anh và Cyprus. Khi Richard kết hôn với Berengaria ông vẫn đang chính thức đính hôn với Alys, và Richard thực hiện cuộc hôn nhân nhằm giành lấy Navarre như cha mình đã làm với Aquitaine. Hơn nữa, Eleanor cũng ủng hộ cuộc hôn nhân vì Navarre giáp với Aquitaine, qua đó bảo vệ biên giới phía nam của vùng đất của bà. Trong một thời gian ngắn, Richard đưa vợ theo cùng trong cuộc Thập tự chinh. Tuy nhiên, họ trở về riêng biệt. Berengaria gặp khó khăn trên đường về nhà cũng nhiều như Richard, và bà không nhìn thấy nước Anh cho đến sau khi chồng mình qua đời. Sau khi ông được người Đức giải thoát, Richard cảm thấy hối tiếc vì đã đưa bà về trước, nhưng ông lại không được đoàn tụ với vợ mình, và cả hai cuối cùng không có con.
Richard kết hôn với ai?
Berengaria của Navarre
Vì thế mà sợi dây chính trị nối kết các sắc tộc và tôn giáo khác nhau cần thiết phải linh động và lỏng lẻo. Sultan trị vì từ thủ đô Constantinople (nay là Thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng bộ máy hành chính địa phương nằm trong tay các tiểu vương, hoàng thân, hãn vương,..., có địa phương được tự trị mọi việc ngoại trừ cái tên. Các hoàng thân Cơ đốc giáo vùng Balkan được sultan chọn, nhưng một khi đã lên nắm quyền, lòng trung thành của họ chỉ thể hiện qua việc nộp triều cống cho các sultan. Mỗi năm, từng đoàn xe goòng tải đến Constantinople vàng và những loại tiền thuế. Hãn vương người Tatar của Hãn quốc Krym cai trị từ thủ phủ Bakhchisarai như là vị lãnh chúa độc tôn, chỉ có nhiệm vụ cung ứng 20.000-30.000 kỵ binh mỗi khi các triều đình Ottoman có chiến tranh. Về phía tây cách gần 2.000 kílômét, các vùng Tripoli, Tunis và Algérie chỉ thực hành nghĩa vụ chiến tranh bằng cách điều tàu chiến (bình thường làm giàu nhờ nghề hải tặc cướp bóc tất cả các nước) đi đánh các cường quốc Hải quân theo Cơ đốc giáo như Venezia và Genova.
Ai cai trị Hãn quốc Krym?
Hãn vương người Tatar