title stringlengths 2 48 | url stringlengths 33 142 | contents list |
|---|---|---|
Caramel | https://vi.wikipedia.org/wiki/Caramel | [
{
"section": "summary",
"content": "Caramel, còn gọi nước hàng, đường thắng hay kẹo đắng, là loại nước có màu nâu, thu được bằng cách đun nóng các loại đường. Nước caramel được dùng để tạo hương vị cho các loại bánh (bánh flan, bánh trứng), kẹo, kem lạnh hoặc dùng trong chế biến một số món ăn châu Á như thịt kho, cá kho...\nQuá trình caramel hóa xảy ra khi gia nhiệt chậm các loại đường ở nhiệt độ khoảng 170 °C (340 °F). Khi đường tan chảy, các phân tử bị phá vỡ và tái tạo thành các hợp chất có màu sắc và hương vị đặc trưng."
},
{
"section": "Hóa học",
"content": "Caramel hóa là việc loại bỏ nước khỏi đường, dẫn đến đồng phân hóa và trùng hợp đường thành các hợp chất cao phân tử. Các hợp chất như difructoza-anhydrid có thể được tạo ra từ các monosacarit sau khi mất nước. Các phản ứng phân mảnh tạo nên các hợp chất phân tử lượng thấp dễ bay hơi và có thể tạo hương vị. Phản ứng trùng hợp tạo thành các hợp chất cao phân tử sẽ làm cho sản phẩm có màu nâu đậm."
},
{
"section": "Chất tạo màu caramel",
"content": "Chất tạo màu caramel (150/E150) là chất lỏng, đậm đặc, màu nâu đậm, vị đắng thu được từ phản ứng caramel hóa đường và được đóng chai để dùng trong công nghiệp thực phẩm. Các loại đồ uống như nước cola sử dụng màu caramel."
}
] |
Bánh rế | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_r%E1%BA%BF | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh rế là loại bánh ngọt được làm bằng khoai lang và đường nấu chảy được tưới lên mặt bánh như cái rế. Tương tự như cách đặt tên của chả giò rế, bánh tráng rế...\nBánh là đặc sản của nhiều nơi như Sóc Trăng, Bình Định, Phan Rang, Phan Thiết..."
},
{
"section": "Màu sắc bánh",
"content": "Bánh rế có 2 màu:\n\nBánh có có màu nâu đỏ, hơi giống màu cánh gián, hình dáng giống thứ đồ mà người ta dùng để đặt xoong, nồi nhưng nhỏ nhắn hơn rất nhiều, với vô số những sợi rất mảnh xoắn xuýt, đan bện vào nhau. Bánh rế xuất xứ từ vùng Phan Thiết, Phan Rang. Loại này người dân làm từ khoai lang Dương Ngọc có giá cao hơn bánh rế làm từ khoai lang và khoai mì.Bánh rế vàng: làm bằng khoai lang và khoai mì, màu vàng ươm như mật. Để làm bánh rế loại này, việc đầu tiên là lột củ mì (sắn), gọt vỏ củ khoai lang. Rồi sò (bào) thành sợi. Do quá mỏng và dài nên những sợi củ ấy quấn lấy nhau. Cái độc đáo của bánh nằm ở chỗ đó. Giá loại bánh này rẻ hơn bánh rế làm bằng khoai lang Dương Ngọc."
},
{
"section": "Cách thực hiện",
"content": "Cách thực hiện khá đơn giản\n\nVề phần khuôn bánh:Khuôn để đổ bánh tựa như là cái vá (môi) múc canh. Dầu phải đổ cả chảo cho ngập bánh và phải để cho sôi mới bỏ sợi củ lang, củ mì vào khuôn. Bỏ thật nhanh tay và cũng phải rất nhanh tay để ép từng búi sợi xuống khuôn và dàn cho thật mỏng. Rưới đường đã sên sẵn, ngay khi vừa vớt ra.Những chiếc bánh được xếp chồng lên nhau, khi đã nguội, y hệt như đồ chơi con nít. Nhìn, rất thích mà ăn lại càng thích hơn. Bánh cho ta một hương vị rất là đặc biệt. Đó là sự hòa lẫn, quyện chặt của một hỗn hợp những hương vị: cái bùi bùi của tinh bột, cái beo béo của dầu, cái ngon ngọt của đường mật và không thể thiếu độ giòn tan.Bánh rế ngon là bánh rế giòn, không vỡ vụn và đặc biệt không ngọt quá.\n\nChiên bánhĐể làm bánh rế mì, từ củ mì tươi sau khi đã lột vỏ, người ta xắt dài nhỏ như cộng rạ cỡ 3–5 cm. Dùng một chảo con có lòng sâu và một lò than nhỏ, chế dầu dừa vào chảo một ít, khi dầu bắt đầu sôi người ta cho vào chảo dầu chừng một nắm củ mì đã được xắt nhỏ như đã nói, dùng một vá có cán dài, lòng vá sâu tròn, và một đôi đũa, lấy đũa vạch mì cộng cho đều trong lòng chảo, rồi dùng lưng vá để đè các cộng mì sát xuống lòng chảo. Dầu làm cho mì chín kết đính vào nhau, sau trở màu vàng là đã chín. Dùng đũa vớt ra ngoài, tiếp tục chế thêm ít dầu nữa rồi chiên cái khác.\n\nSên đườngNhờ chảo nhỏ có lòng sâu nên bánh cũng có hình thù như chảo và giống cái rế mà nông dân ta thường dùng lót các nồi niêu nên gọi là bánh rế. Chiên hết số sợi mì đã thành bánh rế xong, thì dùng một chảo khác có đường và ít nước được bắc lên lò lửa. Đường chảy ra, người ta từ từ lấy từng bánh một nhúng lưng bánh vào chảo đường rồi lấy ra làm cái khác, cho đến khi cả rổ bánh được ngào đường mới thôi. Nhờ có chiên dầu nên bánh rế vừa giòn, vừa béo, vừa thơm, vừa ngọt.\n\nThành phẩmNgười ta phơi khô cho ráo đường, cho vào bịch, mỗi bịch từ 5 đến sáu cái xếp đều đặn lên nhau."
}
] |
Phở | https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%9F | [
{
"section": "summary",
"content": "Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam và được xem là một trong những món ăn tiêu biểu cho nền ẩm thực Việt Nam.\nThành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng cùng với thịt bò hoặc thịt gà cắt lát mỏng. Thịt bò thích hợp nhất để nấu phở là thịt, xương từ các giống bò ta (bò nội, bò vàng). Ngoài ra còn kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt, vân vân. Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của người dùng. Phở thông thường được dùng để làm món điểm tâm buổi sáng hoặc lót dạ buổi đêm; nhưng ở các thành phố lớn, món ăn này có thể được thưởng thức cả ngày. Tại các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số vùng miền khác, phở được bày kèm với đĩa rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở; tuy nhiên tại Hà Nội thông thường sẽ không có đĩa rau sống này. Phở thường là phở bò hay phở gà, nhưng đôi khi cũng có những biến thể khác, đặc biệt là phở sốt vang, phở khô, phở xào, phở chua, phở vịt ở Cao Bằng, và phở thịt quay ở các tỉnh miền núi phía Bắc.\nNước dùng cho nồi phở thường là nước dùng trong được ninh từ xương bò (hoặc xương lợn), kèm theo nhiều loại gia vị bao gồm quế, hồi, gừng nướng, thảo quả, sá sùng, đinh hương, hạt mùi, hành khô nướng. Thịt dùng cho món phở là thịt bò (với đủ loại thịt bắp, nạm, gầu được làm tái, hay chín hẳn) hoặc thịt gà (gà ta già luộc, xé thịt cho thịt ngọt đậm đà). \"Bánh phở\" theo truyền thống được làm từ bột gạo, tráng thành tấm mỏng rồi cắt thành sợi. Phở luôn được thưởng thức khi còn nóng hổi. Theo đó, để có một bát phở ngon và đậm vị, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng của người nấu, trong đó quan trọng nhất đó chính là nồi nước dùng."
},
{
"section": "Nguồn gốc",
"content": "Một trong những tài liệu đầu tiên nhắc đến phở là cuốn từ điển Hán-Việt Nhật Dụng Thường Đàm (日用常談) của Phạm Đình Hổ biên soạn vào năm 1827. Trong mục thực phẩm, cụm từ chữ Hán 玉酥餅 \"ngọc tô bính\" được chú thích bằng chữ Nôm là 𩛄普𤙭 \"bánh phở bò\".Phở như ngày nay được cho là đã ra đời và định hình vào những năm đầu thế kỷ 20. Hà Nội hay Nam Định là địa phương thường được cho là xuất xứ của phở. Ở Nam Định, phở có nguồn gốc từ làng Vân Cù (xã Đồng Sơn, Nam Trực), nổi tiếng với dòng họ Cồ đã mang nghề nấu phở gia truyền đi khắp mọi nơi sinh cơ lập nghiệp. Món phở được tin là bắt đầu phổ biến trong bối cảnh hình thành Nhà máy dệt Nam Định. Phở cũng xuất hiện ở Hà Nội từ những năm đầu thế kỷ 20, đây cũng được biết đến là nơi đã làm cho món ăn này trở nên nổi tiếng. Tuy nhiên một số nhà văn, nhà thơ và nhà sử học đều nghiên cứu và thống nhất cho rằng phở xuất hiện đầu tiên tại Ô Quan Chưởng - Hà Nội bởi thời gian Pháp thuộc địa, Ô Quan Chưởng là nơi tập kết xương bò bỏ đi không dùng tới, người dân đã dùng để ninh và tạo nên món phở từ đó.\nCó người nói rằng phở bắt nguồn từ một món ăn Quảng Đông mang tên \"ngưu nhục phấn\" (tiếng Trung: 牛肉粉; bính âm: niúròu fěn; Việt bính: ngau4 juk6 fan2).Cũng có giả thuyết khác cho rằng, phở có nguồn gốc từ phương pháp chế biến món thịt bò hầm của Pháp pot-au-feu (đọc như \"pô tô phơ\") kết hợp với các loại gia vị và rau thơm trong ẩm thực Việt Nam.\nCũng có ý kiến cho rằng phở vốn bắt nguồn từ món \"xáo trâu\" (dùng sợi bún) của Việt Nam, sau được biến tấu thành món \"xáo bò\" dùng bánh cuốn.Tuổi khai sinh của phở không được sử liệu ghi nhận chính thức. Các cuốn tự điển Việt như Tự điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ \"phở\". Tự điển Huỳnh Tịnh Của (1895), Tự điển Genibrel (1898) cũng vậy\nP.Huard và M.Durand đã phân tích chữ phở tiếng Nôm gồm ba chữ Hán ghép lại: a/chữ mễ (lúa), b/chữ ngôn (lời nói), c/chữ phổ (phổ biến).\nTừ phở hiểu nôm là món ăn chế biến từ lúa gạo phổ biến trong đại chúng và phát âm là \"phổ\". Tiếng rao của các hàng quà rong vốn dĩ nghe rất du dương có vần, có điệu, đôi khi còn luyến láy như hát biến âm đủ thanh sắc rót vào tai người nghe\nNguyễn Công Hoan (1903-1977) ghi nhận: \"1913... trọ số 8 hàng Hài... thỉnh thoảng tối được ăn phở (gánh phở rong). Mỗi bát 2 xu, có bát 3 xu, 5 xu\"\nTiếng rao món phở âm Nôm: \"phố đây, phố ơ! Danh từ phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo: \"Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò\"Năm 1939, phở gà xuất hiện, bởi khi ấy một tuần có hai ngày: thứ hai và thứ sáu không có thịt bò bán. Chưa rõ vì sao có sự cố này, song có lẽ một nguyên nhân khó thể bỏ qua đó là việc giết mổ trâu bò luôn bị hạn chế suốt thời phong kiến, do trâu bò vẫn là sức kéo chính cho nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Bởi vậy, nhiều chủ quán phở bò đành phải đóng cửa vào hai ngày không có thịt bò trong tuần, tạo điều kiện cho phở gà phát triển. Từ sau năm 1939, hai món phở bò và phở gà đã chính thức ngự trị và song hành cùng nhau trong lòng ẩm thực Việt."
},
{
"section": "Giá trị dinh dưỡng",
"content": "Phở là món ăn tổ hợp của các chất vị. Trong bát phở có chứa 18-20 loại thực phẩm gốc động vật và thực vật tự nhiên. Điều đặc biệt nhất ở phở là các nguyên liệu đó được sử dụng gần như ở trạng thái nguyên thủy và tự phối hợp với nhau hài hòa để tạo nên một hương vị đặc trưng rất lạ lẫm, ngon miệng, dễ tiêu hóa.\nNước dùng là phần quan trọng của phở. Calci từ xương, tủy; chất nhờn từ gân sụn tan ra là những hoạt chất cực tốt trị bệnh khớp ở tuổi già và giúp phát triển cơ thể ở tuổi trẻ. Trong nước dùng còn có hương vị được hòa tan từ các nguyên liệu khô như thảo quả, hạt mùi thơm, quế thanh, hồ tiêu, gừng, hành ta, nước mắm, muối ăn... là nguồn cung cấp khoáng chất (sắt, kẽm) và vitamin (Vitamin B2, Vitamin B3, vitamin B5) giúp nâng cao chất lượng máu và góp phần bảo vệ thành mạch máu. \nThịt bò có nhiều axit amonia, Creatinin, carnitine và khoáng chất kali hỗ trợ cơ bắp phát triển săn chắc. Nó chứa khoảng 50% lượng chất béo thuộc dạng chưa bão hòa, chất cytocilin và vitamin B12 cùng các loại rau, củ, quả tươi có tác dụng điều hòa Cholesterol trong máu và các tế bào của cơ thể con người. \nBánh phở tươi cung cấp rất nhiều dinh dưỡng cho mỗi thực khách (3 mg đạm, 0,5 mg B1, 1,2 mg B5/bát)."
},
{
"section": "Biến tấu",
"content": "Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: Phở Bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam). Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt và nhiều rau. Bánh phở ở miền Nam nhỏ hơn ở miền Bắc.\nTrước đây, chỉ có phở bò chín với đầy đủ \"chín-bắp-nạm-gầu\", về sau, thực khách chấp nhận cả phở tái, phở gà. Đi xa hơn, có nhà hàng thử nghiệm với cả thịt vịt, ngan nhưng không mấy thành công. Ngoài ra còn một số món ẩm thực từ nguyên liệu bánh phở truyền thống như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán...\nNgoài những kiểu chế biến truyền thống là phở chan nước dùng, ngày nay người ta còn tạo ra nhiều loại phở khác như phở cuốn, phở áp chảo, phở xào, phở bò viên sa tế... và phở trong công nghiệp chế biển thực phẩm như phở ăn liền, phở chay, phở công nghiệp...Tại Hà Nội thì ăn phở với quẩy trong khi người Sài Gòn chỉ ăn quẩy với cháo. Người Gia Lai có món phở khô hay còn gọi là \"phở hai tô\" với sợi phở nhỏ và dai như sợi hủ tiếu Mỹ Tho và chén nước dùng để riêng.\nVà một số người kinh doanh ăn uống hiện nay lạm dụng tên gọi \"phở\" để gọi một số món ăn hoàn toàn không phải là phở do nguyên liệu và cách chế biến khác, gia vị khác và hình thức cũng khác.\nCá biệt có quán bán tô phở với thịt bò Kobe và giá đến 850 nghìn đồng ở Hà Nội , phở thố đá với thịt bò 7 loại, bò Kobe và nấm truffle đen giá 100 USD ở Thành phố Hồ Chí Minh hoặc tô phở AnQi tại nhà hàng Tiato ở California với thịt bò Kobe loại A 5 Wagyu đắt nhất, tôm hùm xanh cực hiếm, nấm truffle alba trắng loại tốt, nước dùng nấu bằng gan ngỗng béo và giá khởi điểm 5.000 đô la để từ thiện một bệnh viện trẻ em."
},
{
"section": "Phở tại hải ngoại",
"content": "Những người Việt Nam vượt biên sau Chiến tranh Việt Nam và định cư ở các nước phương Tây đã làm cho phở được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới. Đã có nhiều nhà hàng phở ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc và Canada. Những người Việt Nam đi du học, xuất khẩu lao động ở các nước thuộc Khối xã hội chủ nghĩa, rồi định cư cũng mang phở đến khu vực Đông Âu như các nước Nga, Ba Lan và Cộng hòa Séc.\nPhở đã dần lan tỏa sang cộng đồng người Hoa Kỳ. Phần lớn quán phở Việt ở Mỹ dùng bánh phở khô chứ không dùng bánh phở tươi như ở Việt Nam vì lý do dễ bảo quản. Phở rất phổ biến ở California đặc biệt ở vùng Little Saigon, được nhiều người, nhiều giới biết đến. Tại đây có quán cũ đã mở hơn 40 năm, có quán mới vài ba năm. Quán có những tên bằng số như phở 54, phở 45, phở 86. Quán mang những cái tên lạ như phở Lú, phở Tàu Bay, hoặc những tên rất Việt Nam như phở Nguyễn Huệ, phở Quang Trung. Còn nhiều tiệm khác tuy không có chữ \"phở\" ở bảng hiệu nhưng không hề thiếu món ăn đặc thù Việt Nam này.Không chỉ có người Việt nấu phở mà cả người Hoa Kỳ cũng mở quán phở. Năm 1990, một đầu bếp người Hoa Kỳ có tên Didi Emmons đã tự mở quán phở đầu tiên ở thành phố Cambridge, Massachusetts, và rồi nhanh chóng lan tỏa ra nhiều bang nước Hoa Kỳ. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê không chính thức năm 2005 cho biết doanh thu các cửa hàng phở Việt Nam trên toàn Hoa Kỳ lên tới khoảng 500 triệu USD một năm.Tháng 5 năm 2009, ông Nguyễn Trọng Thìn - chủ quán phở thìn Lò Đúc (Hà Nội), nhận được thư mời của một giám đốc người Hàn Quốc cho biết muốn mở phở Việt tại Seoul. Sau khi tiếp nhận kỹ thuật nấu phở của ông Thìn, phía Hàn Quốc đã đề nghị ông hợp tác mở quán phở tại Seoul, nhưng vì việc kinh doanh ở nhà nên ông đã từ chối và tặng lại công thức nấu để họ tự hoạt động và họ đã mở hai tiệm Pho Tang (Phở Tặng - với hàm ý phở nấu từ công thức do người Việt Nam tặng). Năm 2019, Phở Thìn Lò Đúc đã xuất hiện ở nước ngoài tại Tokyo, Nhật Bản và Melbourne, Úc.\nPhở 24 là thương hiệu Việt Nam đầu tiên tiến hành nhượng quyền kinh doanh cửa hàng phở và đã xây dựng được hệ thống khoảng hơn 20 cửa hàng phở ở ngoài Việt Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (từ năm 2003 - 2011). Từ cửa hàng nhượng quyền đầu tiên ở Jakarta năm 2005, Phở 24 đã có mặt tại rất nhiều thành phố lớn trên thế giới như Seoul, Hồng Kông, London, Melbourne..."
},
{
"section": "Công nghệ chế biến phở",
"content": "Năm 2006, PGS.TS Trần Doãn Sơn (Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã sáng chế thành công máy làm bánh phở tươi kiểu one touch - một nút nhấn xuất sang Hoa Kỳ, đầu này cho bột vào, đầu kia ra bánh phở tươi chỉ trong năm phút. Tháng 1 năm 2007, công ty Imperial (Hoa Kỳ) ký nhập khẩu bảy máy với giá 6.500 USD/máy.\nTừ năm 2012 trở lại đây, hệ thống nồi ninh nước phở đã được hiện đại hóa bằng công nghệ cao với sự hỗ trợ của ngành điện tử - tin học. Hệ thống nồi inox liên hoàn được áp dụng cho ra đời các kiểu nồi hầm ninh bán tự động hoặc hoàn toàn tự động. Loại cao cấp hoàn toàn tự động còn có chương trình mô phỏng chế độ ninh xương truyền thống tự điều tiết nhiệt lượng, thời gian ninh cho chất lượng nước dùng rất cao. Hệ thống còn có van xả giúp rửa, vệ sinh nồi sạch sẽ."
}
] |
Sorbetes | https://vi.wikipedia.org/wiki/Sorbetes | [
{
"section": "summary",
"content": "Sorbetes là loại kem truyền thống có nguồn gốc từ Philippines và có đặc điểm độc đáo là sử dụng nước cốt dừa hoặc sữa carabao. Thường được gọi một cách dân dã là \"kem bẩn\", trông có hơi khác biệt so với loại kem tương tự là sorbet. Theo truyền thống Philippines thì loại kem này được những người bán hàng rong gọi là \"sorbeteros\" bày bán trong những chiếc xe đẩy bằng gỗ đầy màu sắc. Món này có nhiều hương vị khác nhau (thường được nhuộm bằng màu sáng) đựng trong vỏ ốc quế nhỏ hoặc dạng bánh kẹp và gần đây hơn là loại kem sandwich kẹp bằng loại bánh mì pandesal.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Sa tế | https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_t%E1%BA%BF | [
{
"section": "summary",
"content": "Sa tế là hỗn hợp phụ gia tẩm ướp thực phẩm với nguyên liệu chính là ớt (ớt bột hoặc ớt tươi) và dầu ăn ngoài ra có thể có thêm sả. Sa tế có nguồn gốc từ người Mã Lai gốc Ấn Độ với các loại gia vị đậm đà chính gốc Ấn Độ. Sa tế được sử dụng như một loại gia vị cho một số món ăn đặc biệt là giúp cho nước lẩu, nước lèo có mùi thơm hấp dẫn, màu đỏ bềnh bồng cũng như chất váng đóng trên mặt của nước lẩu, nước lèo được người tiêu dùng ưa chuộng."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Sa tế cũng là một loại nước sốt Trung Quốc, chủ yếu được sử dụng ở Phúc Kiến, Triều Châu, và các món ăn Đài Loan. Nguyên thủy được gọi là sốt Shacha (tiếng Trung: 沙茶; Bạch thoại tự: sa-te; Hán Việt: Sá trà; Sa tê là đọc theo âm Phúc Kiến và Bạch Thoại) được làm từ dầu đậu tương, tỏi, hẹ, ớt, cá, và tôm khô, có một hương vị thơm ngon và hơi cay.Sa tế còn là nguyên liệu phụ thêm cho các món sốt ớt sa tế, thịt nướng sa tế, dê nấu sa tế thơm lừng mùi cà ri, nghệ, hồi, quế, ngò, tiêu... Màu sắc hấp dẫn, phảng phất hương vị Đông phương huyền bí, lôi cuốn, các món ăn có sa tế nhanh chóng phổ biến sang Singapore, Indonesia, Hồng Kông, Sài Gòn và nhiều nơi khác."
},
{
"section": "Ở Việt Nam",
"content": "Ở Việt Nam, người Hoa ở Chợ Lớn du nhập và đã địa phương hóa cho hợp khẩu vị bản xứ phụ gia sa tế, họ đã bớt đi liều lượng những thứ gia vị căn bản nhằm giảm mùi hôi nồng. Hãm vị cay, phối trộn thêm bột đậu phộng, nước chấm Tàu.., định hình loại sa tế Sài Gòn, thơm dịu, tươi sắc, vị cay - chua - béo - mặn - ngọt, nhẹ nhàng."
},
{
"section": "An toàn thực phẩm",
"content": "Tuy sa tế là một món phụ gia thông dụng, tuy nhiên có những cảnh báo cho rằng sa tế sử dụng ớt bột sẽ có nguy cơ nhiễm chất gây ung thư RhodamineB và dầu ăn dùng để chiên ớt và các thành phần khác rất dễ bị oxy hóa… và đặc biệt, nếu không được bảo quản đúng sẽ gây ra các mầm bệnh tật. Đặc biệt là một số cơ sở sản xuất kém chất lượng, sản xuất các loại Sa tế kém chất lượng, gây ung thư.Ngoài ra, dầu ăn khi đã được chiên cùng với ớt bột, nước và các chất khác để lâu sẽ xảy ra hiện tượng oxy hóa. Khi dầu ăn bị oxy hóa sẽ không giữ được các đặc trưng ban đầu của gia vị sa tế nữa. Cụ thể như dầu ăn sẽ tạo ra các chất để tác dụng với ớt, nước... tạo ra mùi khó chịu, không còn thơm như ban đầu, các axit sẽ tạo ra các sản phẩm oxy hóa bậc cao như andehit, xêtôn, peroxide... Các chất này tạo ra các gốc tự do, khi ăn vào cơ thể sẽ tạo ra các mầm mống nguy cơ ung thư.\nChưa kể đến Tình trạng dùng sa tế trong thời gian dài, đã mở nắp nhưng không dùng hết trong một lần, lại bảo quản kém cũng khiến các thành phần bị biến đổi, khi lấy ra dùng có thể bị dây các loại thức ăn khác hay nước lạnh vào khiến sa tế dễ bị ôi thiu, lần ăn sau dễ mắc các bệnh tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm...Trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc cũng đưa tin về một loại gia vị lẩu có chứa chất gây ung thư hay còn gọi là sa tế Tứ Xuyên, loại gia vị nguy hiểm này đang được bày bán tràn lan, công khai tại các chợ ở Việt Nam, hầu hết các quán lẩu trên địa bàn Hà Nội đều mua loại gia vị này để chế biến thực phẩm.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Chi Niễng | https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi_Ni%E1%BB%85ng | [
{
"section": "summary",
"content": "Zizania là một chi thực vật có hoa trong họ Hòa thảo (Poaceae)."
},
{
"section": "Loài",
"content": "Chi Zizania gồm các loài:\n\nZizania aquatica\nZizania aquatica var. angustifolia\nZizania aquatica var. brevis\nZizania aquatica var. interior\nZizania aquatica var. subbrevis\nZizania aquatica subsp. angustifolia\nZizania aquatica subsp. brevis\nZizania aristata\nZizania bonariensis\nZizania caduciflora\nZizania ciliata\nZizania clavulosa\nZizania dahurica\nZizania effusa\nZizania fluitans\nZizania interior\nZizania latifolia: Niễng\nZizania lenticularis\nZizania liliacea\nZizania mezii\nZizania microstachya\nZizania mutica\nZizania natans\nZizania nutans\nZizania palustris\nZizania palustris subsp. interior\nZizania palustris f. purpurea\nZizania retzii\nZizania subtilis\nZizania terrestris\nZizania texana"
}
] |
Hạt dưa | https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1t_d%C6%B0a | [
{
"section": "summary",
"content": "Hạt dưa là một món ăn nhâm nhi trong ngày Tết của người Việt Nam, đây là món chủ nhà đãi khách trong dịp Tết. Nguyên liệu chính của món hạt dưa đơn giản là chỉ từ những hạt của các loại dưa nhưng chủ yếu là dưa gang. Hạt dưa gang được tách ra và nướng lên làm phần bên trong hạt chín. Khi thưởng thức, người ta sẽ dùng răng (thường là răng cửa) cắn mạnh vào đầu hạt dưa và tách làm đôi hạt dưa để ăn phần lõi màu vàng bên trong gọi là chíp hạt dưa hay cúp hạt dưa. Thực khách vừa nhâm nhi hạt dưa vừa uống trà, trò chuyện giúp không khí Tết thêm sinh động.\nNhân hạt dưa có vị béo, thơm khá đặc trưng. Ngoài hạt dưa hấu là chủ yếu còn có hạt bí, hạt hướng dương. Hạt dưa thường được tẩm màu đỏ hay màu đen bên ngoài, màu đỏ của hạt dưa tượng trưng cho sự may mắn. Màu hồng đỏ của hạt dưa nhuộm bằng phẩm màu thực phẩm thường đem lại sắc hồng tươi thắm cho đôi môi. Đây cũng là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam. Không chỉ lễ Tết, ngày nào trong năm cũng có hạt dưa đỏ để ăn. Vào quán trà chén ven đường phố cũng có món hạt dưa, vào các nhà hàng cũng có món hạt dưa. Sinh nhật, cưới hỏi, người ta vẫn cúp hạt dưa."
},
{
"section": "Một số công dụng",
"content": "Hạt dưa là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và rất hữu ích với người bị viêm gan, rối loạn lipid máu... Ăn hạt dưa thường xuyên giúp tăng cường trí nhớ và chức năng não-thần kinh, phục hồi nhanh sức hoạt động của tế bào não. Hạt dưa chứa nhiều chất dinh dưỡng như protid, glucid, lipid, vitamin B1, B2, E, PP, calci, sắt, kẽm, phosphor, selen... Trong đó, protid của hạt dưa là chất đạm không thể thiếu cho thần kinh, cơ bắp, huyết dịch, nội tạng, xương khớp. Chất glucid trong hạt dưa là thành phần chính cấu tạo tế bào và thần kinh.Theo Đông y, hạt dưa có vị ngọt, tính mát khi chưa rang chín, sau khi rang có tính bình, tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp, tăng cường sinh lực. Nếu dùng chữa bệnh thì dùng hạt dưa luộc tốt hơn hạt dưa rang. Y học cổ truyền cho rằng hạt dưa làm mát phổi, tan đàm, điều hòa hệ tiêu hóa. Người bị ho do phổi nóng, đàm nhiều, ăn uống kém nên dùng. Có nghiên cứu ghi nhận hạt dưa có tác dụng giúp ổn định men gan và lượng lipid huyết thanh rất có ích cho người bị viêm gan và những người bị rối loạn lipid máu (mỡ trong máu cao), giúp phòng ngừa xơ vữa động mạch. \nCũng có các nghiên cứu cho thấy, hạt dưa giúp tăng cường trí nhớ, nâng cao chức năng não-thần kinh, nhanh chóng phục hồi sức hoạt động của tế bào não. Chất béo trong hạt dưa, phần nhiều là acid béo không bão hòa, sẽ giúp ích trong việc phòng ngừa xơ cứng động mạch, bệnh mạch vành, chứng cao mỡ máu..."
},
{
"section": "Nguy cơ",
"content": "Tuy hạt dưa là món ăn ngon và vui trong ngày Tết tuy nhiên trước đây khá lâu cũng có nhiều cảnh báo về những nguy cơ khi ăn hạt dưa như một số nơi phát hiện hạt dưa có chất gây ung thư bởi tính chất độc hại của phẩm màu công nghiệp được dùng để nhuộm hạt dưa. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, màu công nghiệp Rhodamin B là chất độc có thể gây ngộ độc hoặc gây ung thư nếu dùng lâu dài nên bị cấm sử dụng trong thực phẩm. Rhodamin B là một hợp chất hóa học thường được sử dụng như thuốc nhuộm đánh dấu vết để xác định hướng và lưu tốc của dòng chảy. Thuốc nhuộm rhodamin phát huỳnh quang, do đó có thể phát hiện dễ dàng bằng huỳnh quang kế. Do giá thành thấp, giúp màu sắc tươi tắn, sặc sỡ, bền màu nên trước đây các cơ sở sản xuất hạt dưa thường chọn phẩm màu này để nhuộm màu mà không biết rằng nó là một chất độc hại. Tuy nhiên ngày nay khi các thông tin về chất này được phổ biến rộng rãi thì không ai sử dụng nó trong chế biến hạt dưa nữa. Bên cạnh việc quản lý xuất xứ hàng hóa và các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm được các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ thì nhận thức của người tiêu dùng cũng đã được nâng cao nên nếu hạt dưa nhuộm phẩm màu thì không thể tiêu thụ được do đó các cơ sở sản xuất ngày nay không ai dùng phẩm màu để nhuộm hạt dưa mà tất cả đều để nguyên màu tự nhiên của hạt dưa khi chế biến. Bên cạnh đó các biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm cũng được các cơ sở sản xuất thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo tiêu chuẩn GMP nên các sản phẩm hạt dưa ngày nay đang lưu thông trên thị trường có nhãn mác và số hiệu đăng ký, mã vạch, tên cơ sở sản xuất, địa chỉ sản xuất rõ ràng đều là những sản phẩm đảm bảo độ an toàn cao cho người sử dụng.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Bánh phồng | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_ph%E1%BB%93ng | [
{
"section": "summary",
"content": "Trong Ẩm thực Việt Nam, bánh phồng là các loại bánh được làm từ bột ngũ cốc kết hợp gia vị, phụ gia, sau đó được chiên phồng trong mỡ nước hay dầu ăn.\nBánh phổ biến tại nhiều vùng trong cả nước, nổi tiếng tại Bến Tre và các tỉnh miền Tây Nam Bộ Việt Nam."
},
{
"section": "Phân loại",
"content": "Bánh phồng có nhiều loại, trong đó phổ biến là bánh phồng mì, bánh phồng nếp, bánh phồng tôm, bánh phồng vẽ. Nguyên liệu làm bánh phồng mì gồm: mì (sắn), nước cốt dừa, đường cát. Nguyên liệu của bánh phồng nếp là gạo nếp, nước cốt dừa và đường. Còn bánh phồng tôm được làm từ bột và tôm. Bánh phồng vẽ dùng xôi trắng cán nát và trộn với một số hương liệu như nước gừng, nước gỗ vang, lá dứa, bột quả dành dành v.v."
},
{
"section": "Sử dụng",
"content": "Các loại bánh phồng thường được chiên phồng to lên, giòn và xốp trong chảo mỡ, dầu ăn, và được sử dụng như một món ăn khai vị hay món nhắm rượu."
}
] |
Kẹo hồ lô | https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BA%B9o_h%E1%BB%93_l%C3%B4 | [
{
"section": "summary",
"content": "Kẹo hồ lô (giản thể: 糖葫芦, phồn thể: 糖葫蘆, Hán Việt: Đường Hồ lô, pinyin: tánghúlu hay 冰糖葫芦 - Băng Đường Hồ lô, bính âm: bīngtánghúlu,), là một loại kẹo trái cây được phủ một lớp đường gắn trên xiên tre dài khoảng 20 cm. Đây là một món ăn Trung Quốc truyền thống có nguồn gốc từ miền Bắc Trung Quốc, nhưng hiện nay nó có mặt ở hầu hết các thành phố ở Trung Quốc như Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải.\nTheo truyền thống, trái cây được sử dụng là trái táo gai, nhưng trong thời gian gần đây các người làm kẹo cũng đã sử dụng nhiều loại trái cây khác nhau như cà chua anh đào, cam quýt, dâu tây, việt quất, dứa, kiwi, chuối hoặc nho. Kẹo hồ lô thường có lớp đường phủ bên ngoài dạng xi rô, nhưng cũng có các loại kẹo hồ lô với lớp vỏ sôcôla, hoặc mè rắc.Với người dân Trung Quốc nói chung và người dân Bắc Kinh nói riêng, tuổi thơ của họ gắn liền với vị ngọt của những xiên kẹo hồ lô. Tiếng rao với tiếng xe đạp lóc cóc trên những ngõ nhỏ thâm trầm của Bắc Kinh trong màn sương sớm vẫn còn quẩn quanh vương vất, những xiên kẹo đỏ rung rinh theo sau nhịp guồng xe đã trở thành vẻ đẹp không thể lẫn vào đâu của thành phố này."
},
{
"section": "Nguồn gốc",
"content": "Kẹo hồ lô ra đời từ thời đại nhà Tống (960 – 1279). Lúc bấy giờ một trong những phi tần được hoàng đế Tống Quang Tông (1147 – 1200) sủng ái mắc phải căn bệnh trầm trọng. Các thái y hoàn toàn bất lực. Sau đó một thần y trong dân gian diện kiến xin nhà vua cho phép mình chữa trị.Phương thuốc chữa trị ông đưa ra rất đơn giản nhưng kì lạ và độc đáo, ông bọc những quả táo gai trong nước đường đun nóng, ông cho Vương phi ăn từ 5 đến 10 viên trước mỗi bữa ăn và ông nói bệnh tình của Vương phi sẽ hồi phục sau 2 tuần. Phương thuốc này đã phát huy tác dụng trước sự kinh ngạc của nhà vua, quan lại và các thái y trong triều.Phương thuốc chữa bệnh này nhanh chóng được lan truyền trong dân gian khắp đất nước với cái tên kẹo hồ lô. Nó trở thành một món ăn tốt cho sức khoẻ. Ban đầu, kẹo hồ lô chỉ xiên 2 quả táo gai, một trái nhỏ ở trên và một trái to ở dưới giống những trái bầu hồ lô.Mặc dù ngày nay hầu hết những viên kẹo có từ tám đến mười viên một xiên, nhưng người Trung Quốc vẫn giữ cái tên kẹo hồ lô truyền thống của mình."
},
{
"section": "Kẹo hồ lô trong nghệ thuật",
"content": "Kẹo hồ lô cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật của người Trung Quốc. Có một nhạc sĩ đã sáng tác bài hát về những viên kẹo hồ lô ngọt ngào. Có hẳn một bộ phim truyền hình dài tập mang tên Kẹo hồ lô do nữ diễn viên nổi tiếng Từ Cầm Ca Oa đóng vai chính. Sự xuất hiện của kẹo hồ lô trong nhiều bộ phim cổ trang Trung Quốc càng tăng thêm vị thế đặc biệt của nó trong truyền thống của người Trung Hoa. Những du khách nước ngoài đến với Trung Quốc cũng muốn nếm thử món kẹo đẹp đẽ này với một cảm giác thích thú đặc biệt.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Fromage blanc | https://vi.wikipedia.org/wiki/Fromage_blanc | [
{
"section": "summary",
"content": "Fromage blanc (UK: ; phát âm tiếng Pháp: [fʁɔmaʒ blɑ̃]; hay còn được biết đến với cái tên maquée) là một loại pho mát tươi có nguồn gốc xuất xứ từ phía Bắc nước Pháp và phía Nam nước Bỉ. Cái tên này có nghĩa là \"pho mát trắng\" trong tiếng Pháp. Fromage frais (\"pho mát tươi\") khác so với fromage blanc \ntrong đó, theo pháp luật của Pháp, fromage frais phải chứa vi khuẩn sống khi bán, trong khi với fromage blanc, quá trình lên men đã bị ngưng lại.Fromage blanc là một loại phô mai mềm được làm từ sữa nguyên chất hoặc tách béo và kem. Đây là một chất bán lỏng, dạng kem, sệt. Fromage blanc nguyên chất hầu như không chứa chất béo, nhưng kem thường được thêm vào để tăng thêm hương vị, điều này cũng làm tăng thêm hàm lượng chất béo, lên tới 8% tổng trọng lượng.Fromage blanc có thể được phục vụ như món tráng miệng tương tự như sữa chua, thường được thêm trái cây, phết lên bánh mì, làm mứt hoặc dùng trong các món mặn. Ở nhiều nước phương Tây, fromage blanc được bán trong siêu thị cùng với sữa chua."
}
] |
Bánh tro | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_tro | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh tro, bánh gio, bánh ú tro hay bánh nẳng là một loại bánh được làm với thành phần chính là gạo nếp ngâm qua nước tro (từ tro than lá cây, nhất là lá tre) và gói lá đem luộc chín trong nồi. Phổ biến trong văn hóa ẩm thực Việt Nam tới mức có bài báo cho rằng bánh độc đáo và \"thuần Việt\", nhưng cũng thường thấy nó tương đồng với bánh gio Nhật Bản với tên gọi akumaki và bánh kiềm tống xuất xứ Trung Quốc. Loại bánh này trước kia thường xuất hiện trong lễ cúng gia tiên của người Việt vào ngày Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch bên cạnh các loại trái cây khác và thịt, xôi, chè. Hiện nay, bánh tro được làm và bán quanh năm trên khắp các vùng miền trong cả nước.\nTên gọi bánh tro (hay gio), bánh nẳng xuất phát từ phụ liệu cốt yếu nhất làm nên đặc trưng của bánh là nước tro (còn gọi là nước nẳng) pha chế từ tro than thu được sau khi đốt cháy một số loại thảo mộc, dược liệu. Bánh ú tro là tên gọi còn gợi tả cả hình dạng của bánh, do bánh thường được gói theo hình ú, vồm cao như bàn tay khi nắm lại."
},
{
"section": "Nguồn gốc",
"content": "Bánh ú tro có xuất xứ từ Quảng Đông, Trung Quốc (tiếng Trung: 碱水粽; Việt bính: gaan2 seoi2 zung3-2; Hán Việt: kiềm thủy tống) và có từ thời nhà Minh (cần phân biệt với bánh ú nhân mặn gồm thịt lợn, hạt hồ đào, hồ đào, thịt tôm, trứng muối,... vì đây là bánh ú ngọt). Danh y nhà Minh là Lý Thời Trân, trong Bản thảo cương mục từng khẳng định sự tồn tại của bánh ú, với những miêu tả như sau: \"Người xưa dùng 1 cọng cỏ lá tre (loại giống lau sậy) bao bọc gạo nấu thành bánh có góc nhọn, do bánh dùng lá tre gói thành hình có góc nhọn, dân gian gọi là thành tống. Người cận đại yêu chuộng dùng nếp hơn. Thời nay có tục vào mùng Năm tháng Năm, dùng bánh này làm lễ vật ngày Tết, hoặc dùng làm món tế Khuất Nguyên, bánh được làm xong thì đem thả xuống sông, nhân đó làm thành món ăn cho giao long\".\nCũng từ loại bánh này mà người Hoa ở Yokohama, Nhật Bản có món bánh gio gọi là akumaki. Bánh này được sản xuất tại tỉnh Kagoshima, tỉnh Miyazaki và tỉnh Kumamoto trong Lễ hội bé trai vào ngày 5 tháng 5.\nNgười ta nói rằng akumaki bắt đầu như một điều khoản dài hạn cho các samurai trong Trận Sekigahara (1600) hoặc các cuộc xâm lược của Nhật Bản tại Triều Tiên (1592-1598). Ngoài ra, Saigō Takamori (1821-1877) đã đưa akumaki trở thành một món hàng không thể phục hồi trên chiến trường trong cuộc nổi loạn Satsuma (1877). Akumaki trở nên phổ biến ở phía bắc của tỉnh Miyazaki và tỉnh Kumamoto do cuộc nổi loạn đó.\nMặc dù có mặt ở nhiều nước, nhưng nó vẫn giữ được chất lượng. Nó có thể được giữ trong khoảng một tuần ở nhiệt độ bình thường, trong khoảng hai tuần trong tủ lạnh và nó cũng có thể được đông lạnh. Từ quan điểm chuyển giao và vệ sinh, akumaki đóng gói chân không có thể được tìm thấy ở nhiều nơi như một món quà lưu niệm. Nó không được bán thương mại nói chung vì nó thường là một loại bánh kẹo tự làm. Do đó, rất khó để có được trừ khi có cơ hội đặc biệt. Gần đây, kể từ khi khai trương tuyến tàu Kyushu Shinkansen, akumaki đã thu hút sự chú ý đáng kể vì là một món ăn chậm. Akumaki được bán trong các khách sạn của Kagoshima, các trạm bên đường (michi no eki), qua internet và trong các siêu thị trên khắp quận Kagoshima."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "Bánh tro làm từ hai nguyên liệu chính gạo nếp và nước tro (hoặc nước tro Tàu). Bánh tro được biết theo cổ truyền thường là không có nhân. Thành phẩm chỉ là một khối bột trong, rất lạt, tùy thích dùng chấm với mật ong, mật đường hay đường cát. Phần nhân sau này là do tùy vùng miền và tùy người làm bánh, nhưng thường được làm với hai loại: hoặc đậu xanh đãi vỏ nấu chín tán mịn với đường, hoặc dừa già nạo nhuyễn thành cơm dừa nhồi với nước đường. Bánh thường được gói với lá tre bương hay còn gọi là tre lồ ô, loại tre có lóng dài, ống lớn và lá to bản chừng 5–6 cm và dài chừng 30 cm. Ngoài ra tùy địa phương, các loại lá như lá đót hoặc lá dong, lá chuối cũng được sử dụng. Lạt buộc bánh được làm từ bẹ thân cây chuối phơi khô tước sợi hoặc ống giang chẻ sợi.\nGạo nếp được chọn làm bánh tro thường là gạo nếp ngon để thành phẩm được mềm mượt mịn màng, không sượng cứng, trong đó nếp nhung hay nếp cái hoa vàng đều hạt là những lựa chọn tốt nhất.\nNước tro, nước nẳng là thành phần cốt yếu tạo nên hương vị và màu sắc của bánh tro khác biệt với những loại bánh khác. Nước tro thường được làm bằng cách đánh nước vôi với tro, một sản phẩm thu được sau khi đốt cháy hoàn toàn một số loại thảo dược, dược liệu. Tùy vùng miền và thậm chí tùy gia truyền của người làm bánh mà các loại cây, quả được đốt cháy làm thành tro sẽ có những dị biệt. Người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ thường làm nước nẳng bằng cây mận, cây đu đủ rừng, lá trầu không, vỏ chuối tiêu hoặc lá mua, lá vội. Người Kinh thường chưng nấu nước nẳng bằng vỏ quả sở, cây rừng, măng khô và vôị. Bánh nẳng nổi tiếng đã đi vào ngạn ngữ \"bánh nẳng chợ Tràng, gạo rang Tiên Lữ\" ở Lập Thạch Vĩnh Phúc lại được làm với nước nẳng vốn là tro của các cành xoan tươi, cành bưởi tươi (cả lá), trã vừng, lá dáng, lá si, tầm gửi cây dọc. Ở Đắc Sở huyện Hoài Đức, Hà Nội người dân thường dùng cây dền gai, rơm nếp, vỏ bưởi; ở Phú Yên là cây tầm gửi (trên loại cây lành như dâu, bưởi), cây mè (vừng) còn ở Yên Lãng là rơm nếp, bẹ cau nếp, quả vừng và măng tre. Các nguyên liệu phơi khô rồi đốt thành tro, rây cho mịn đem hòa với nước vôi theo một tỷ lệ nhất định, gạn lấy nước thật trong. Để xem nước có đạt yêu cầu hay không các nhà làm bánh thường dùng lá trầu không nhúng vào khoảng 15-20 giây, vớt ra và bỏ vào miệng nhai mà thấy nước bọt đỏ như nước quết trầu là được.\nNgoài một số loại cây cỏ được dùng đốt thành tro nói trên, cũng có những phụ phẩm khác được bổ sung vào nồi luộc bánh nhằm làm thay đổi màu sắc của bánh như măng tre cho màu đỏ, măng vòi cho màu hổ phách (vàng nâu), lá sậy cho màu vàng nhạt.\nTrong cuốn Nữ công thắng lãm của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có nêu công thức làm nước tro với cành lá cây rạ khoảng 5 phần, cây vừng khô 4 phần, lá tầm gửi 2 phần, vỏ quả xoan đâu (cây xoan trắng) 2 phần, vỏ quả bưởi một phần, lá thơm 2 phần. Các thứ ấy đốt ra lấy tro đem rây mịn. Đong một bát cho vào một bát nước ngâm. Cứ một cóng nước lại cho một bát vôi ngâm khoảng 15 ngày.Hiện nay một số nơi do không có điều kiện đốt tro đã sử dụng nước tro Tàu (lye water), một loại hóa chất với tên gọi hóa học là natri hydroxide (NaOH) hay hydroxide kali (KOH), nhằm thay thế nước tro truyền thống. Tuy nhiên lạm dụng hóa chất này có thể gây ngộ độc."
},
{
"section": "Thưởng thức",
"content": "Bánh tro nấu đạt yêu cầu thì khi mở ra, nếp không còn ở dạng hột mà cả cái bánh trở thành một khối bột trong, mịn chắc như một khối thạch, không nồng vôi tro. Bánh mềm mại vị nhạt tính mát, thiên về âm, có màu từ nhạt đến nâu sẫm phụ thuộc loại nước tro sử dụng. Bánh là món ăn mát lành, chống ngấy rất tốt. Khi thưởng thức bánh thường được chấm với đường cát trắng, đường thẻ, mật ong nhưng phổ biến nhất và ngon nhất là chấm với mật mía cô đặc thoảng hương vị của gừng băm vụn.\nỞ Nhật, akumaki không có mùi vị. Bánh thường được ăn với siro đường nâu và bột đậu nành rang (kinako), với một chút muối hoặc chấm mật ong. Nếu nó được ăn mà không có gì, nó có vị đắng ở cuống họng (bánh gio Bắc Kạn cũng tương tự). Tuy nhiên, nếu được ăn với siro mật đường và kinako, nó sẽ mang một hương vị hơi khác thường ngọt sắc.\nRiêng với bánh ú ngọt Quảng Đông, nó sẽ ăn giống kiểu Việt hoặc sẽ có nhân đậu đỏ nhuyễn ngào đường bên trong."
},
{
"section": "Đặc sản địa phương",
"content": "Tại Việt Nam, miền Bắc nổi tiếng có bánh tro làng Đắc Sở huyện Hoài Đức, Hà Nội; bánh gio Tây Đình, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc; bánh nẳng Chợ Tràng, Lập Thạch, Vĩnh Phúc; bánh tro Quảng Yên, Quảng Ninh; bánh nẳng Làng Dòng, Xuân Lũng, Phú Thọ, bánh nẳng của cộng đồng người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ. Miền Trung có bánh tro Yên Lãng, Thọ Xuân, Thanh Hóa, bánh tro Quảng Nam, bánh tro Phú Yên, Bình Định. Bánh gio đã có ở Bắc Kạn hàng trăm năm và là một món ăn, một đặc sản không thể thiếu của người dân Bắc Kạn. Làm bánh gio cầu kỳ đòi hỏi người làm phải khéo tay, tinh mắt. Bánh gio được gói bằng gạo nếp rẫy vừa dẻo vừa thơm. Lá để gói bánh phải là lá chít bánh tẻ, chỉ có lá chít mới làm cho bánh có màu vàng sáng và dễ bóc, khi ăn có mùi thơm rất đặc trưng. Thứ nước mật để chấm bánh được làm bằng đường mía được trồng trên đất cát, mật sánh, thơm và có màu vàng sậm. Bánh gio ngon là phải mịn, dẻo, dai và có vị đậm đặc trưng, mát, lành và để được rất lâu."
},
{
"section": "Tác dụng với sức khỏe",
"content": "Theo Đông y, bánh tro vị nhạt, tính mát ăn dễ tiêu, thích hợp nhất đối với trường hợp già yếu, trẻ em, có chứng bệnh nóng sốt âm ỉ (âm hư), những trường hợp dương thịnh gây âm hư như vào mùa hè mà cực điểm là đầu tháng năm Đoan ngọ (đoan dương - chính dương) thường gây ôn dịch thương âm. Vào dịp Tết Đoan Ngọ nó sẽ phát huy cao độ những tính năng trên do mấy ngày này người ta còn gặp nguy hại do ăn uống no say nhiều thứ béo, nhiệt, khó tiêu (rượu nếp, xoài, mít...). Bánh tro hợp với Tết Đoan Ngọ là vậy. Bánh không những trung hòa bớt độc hại trong ăn uống để bảo vệ sức khỏe trong ngày Tết Đoan Ngọ mà còn cả thời gian sau đó, giúp thanh nhiệt lợi tiểu, thải độc cho cơ thể, để phòng và góp phần chữa một số bệnh cần lợi tiểu như tăng huyết áp, thống phong (gút), sỏi thận v.v."
}
] |
Cơm gà | https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1m_g%C3%A0 | [
{
"section": "summary",
"content": "Cơm gà là món ăn được chế biến và trình bày với hình thức cơm và thịt gà. Cơm có thể dùng là cơm trắng hoặc cơm chiên, cơm rang và thịt gà được trình bày thông thường là đùi gà hay cánh gà. Món cơm gà tương đối dễ làm và phổ biến. Nhưng tùy theo từng quốc gia và tập tục địa phương mà có những phương cách thực hiện khác nhau."
}
] |
Plombières (tráng miệng) | https://vi.wikipedia.org/wiki/Plombi%C3%A8res_(tr%C3%A1ng_mi%E1%BB%87ng) | [
{
"section": "summary",
"content": "Plombières là một loại kem của Pháp có thành phần gồm quả hạnh nhân được bóc vỏ, quả kirsch và kẹo."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Nguồn gốc của kem plombières còn đang gây tranh cãi. Không rõ liệu tên của nó có liên quan đến xã Plombières-les-Bains hay không. Một từ nguyên dân gian cho rằng món ăn lần đầu tiên được phục vụ cho Napoleon III khi ký Hiệp ước Plombières vào năm 1858; nhưng Marie-Antoine Carême đã cung cấp công thức nấu món \"kem plombière\" trong cuốn sách năm 1815 nhan đề Pâtissier royal parisien. Công thức nấu ăn tương tự có thể được tìm thấy trong các sách dạy nấu ăn khác của Pháp từ thế kỷ 19.Theo Pierre Lacam vào năm 1893, \"kem plombière\" lấy tên từ một dụng cụ được sử dụng để làm ra ra món này. Một lý thuyết từ nguyên tương tự từng được Joseph Favre đề xuất trong cuốn sách Dictionnaire universel de cuisine của ông, trong đó nói rằng \"plombière là một từ đồng nghĩa với bombe, được sử dụng để nghiền các thành phần của món ăn\". Các học giả khác cho rằng món tráng miệng này lấy tên từ cái khuôn dùng để ép kem.Kem Plombières còn được đề cập trong cuốn tiểu thuyết Splendeurs et misères des courtisanes do Honoré de Balzac xuất bản vào năm 1844.Không nên nhầm lẫn Plombières với kem Malaga, một loại kem vani ăn kèm với nho khô ngâm trong rượu Malaga hoặc rượu rum.Ở Liên Xô, plombir (tiếng Nga: пломбир) đã trở thành một món ăn phổ biến mà ngày nay vẫn còn thấy ở các quốc gia hậu Xô Viết."
}
] |
Bramboráky | https://vi.wikipedia.org/wiki/Brambor%C3%A1ky | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh khoai tây chiên (trong tiếng Séc là Bramboráky) là một món đồ ăn nhẹ thường được làm từ nguyên liệu chính là khoai tây bào vụn kèm với bột mì, đôi khi có thêm cả trứng và nước sốt táo. Chúng thường được chiên trên chảo nông và nêm nếm với tỏi, hành và các gia vị khác. Bánh khoai tây chiên có thể ăn không, hoặc ăn với nhiều đồ ăn kèm khác nhau, từ mặn như kem chua, cho đến ngọt khi ăn cùng si-rô hoặc nước sốt táo. Bánh khoai tây chiên có thể được làm từ khoai tây nghiền để tạo ra hình những miếng khoai tròn. Một vài biến thể của loại bánh này còn được làm bằng khoai lang."
},
{
"section": "Bánh khoai tây chiên ở các nước",
"content": "Bánh khoai tây xuất hiện trong nhiều bữa ăn tại các nước châu Âu, bao gồm Đức và Áo (với các tên gọi Kartoffelpuffer, Reibekuchen, Reiberdatschi, Erdäpfelpuffer and Erdäpfellaibchen), Hà Lan (aardappelpannenkoek, reifkoeken, reifjes), Séc (bramborák hoặc cmunda), Hungary (tócsni, lapcsánka), Ba Lan (placki ziemniaczane),...\nĐây là món ăn truyền thống của Belarus và Slovakia. Ở Đức, bánh khoai tây có thể ăn mặn hoặc ăn ngọt với sốt táo, quả mọng, đường và quế. Loại bánh này cực kỳ phổ biến trên menu đồ ăn tại các hội chợ và lễ hội vào mùa lạnh, đặc biệt là trong lễ Giáng Sinh. Trong bữa ăn của người Thụy Điển, bánh khoai tây không có trứng và bột mì. Phiên bản bánh khoai tây này ở Mỹ cũng không có bột mì hay trứng. Loại bánh khoai tây này là món ăn ưa thích của nhiều người ở phía nam bang Indiana vào những dịp nghỉ lễ."
}
] |
Chè bánh lọt | https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_b%C3%A1nh_l%E1%BB%8Dt | [
{
"section": "summary",
"content": "Chè bánh lọt là một món chè ngọt ăn lạnh. Món chè này phổ biến khắp Đông Nam Á và có ý kiến cho rằng xuất xứ từ Indonesia."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Nguồn gốc của bánh lọt (cendol) không rõ ràng, và thức uống ngọt này được lan truyền rộng rãi trên khắp Đông Nam Á. Tuy nhiên, một gợi ý là cendol có nguồn gốc từ Java, Indonesia là dawet. Kỷ lục lâu đời nhất được đề cập về đồ uống ngọt dawet là bản thảo Kresnayana, có niên đại từ Vương quốc Kediri vào khoảng thế kỷ thứ 12 của Java. Nhà sử học cho rằng việc sử dụng sagoo hoặc bột gạo làm thành phần nước giải khát ngọt có thể xảy ra sớm trong xã hội nông nghiệp lúa gạo của Java cổ đại. Thật vậy, thạch cendol và các biến thể của nó là sản phẩm nông nghiệp nông thôn, vẫn được sản xuất theo truyền thống ở các làng Java. Ở Banjarnegara, Trung Java, dawet được phục vụ theo truyền thống mà không có đá. Ngày nay, tuy nhiên các viên đá hoặc đá bào bổ sung thường được thêm vào thức uống tráng miệng này. Điều này có thể gợi ý rằng ở Java nhiệt đới, dawet là một thức uống tráng miệng ngọt truyền thống có từ trước khi áp dụng công nghệ làm lạnh, vào đầu thế kỷ thứ 12. \nCendol thường được phục vụ với đá, và được phát triển khi nước đá có sẵn. Nó có thể có nguồn gốc từ các thành phố cảng của Malaysia như Malacca và Penang, nơi công nghệ tàu lạnh của Anh sẽ cung cấp đá cần thiết.\nTheo truyền thống của người Java, dawet hoặc cendol là một phần của lễ cưới truyền thống của người Java. Dodol dawet (tiếng Java cho cụm từ \"bán dawet\") được thực hiện trong lễ Midodareni, một ngày trước đám cưới. Sau khi tắm cô dâu siraman, cha mẹ sẽ bán dawet cho khách tham dự và người thân. Vị khách đã trả tiền cho dawet bằng cách sử dụng những đồng xu bằng đất nung sẽ được trao cho cô dâu như một biểu tượng cho thu nhập của gia đình. Ý nghĩa biểu tượng là hy vọng của cha mẹ rằng đám cưới ngày mai sẽ có rất nhiều khách tham dự, \"nhiều như các loại thạch cendol được bán.\" Ở Dutch East Indies Java, những người bán hàng rong trên đường phố sử dụng pikulan (giỏ mang theo thanh cân bằng) thường được tìm thấy ở các thành phố của người Java, như có thể thấy trong bức ảnh cũ có niên đại từ khoảng năm 1935.\nCendol đã được Cục Di sản quốc gia Malaysia tuyên bố là thực phẩm di sản của Malaysia."
},
{
"section": "Từ nguyên học",
"content": "Từ \"chendol\" được đề cập lần đầu tiên vào năm 1932 như là một trong những thực phẩm có sẵn ở Kuala Lumpur như được ghi lại trong Dự án Hợp nhất Malay thu thập các tác phẩm của Malay. Dawet được tuyên bố là nguồn gốc của cendol; tên tiếng Java của \"dawet\" đã được ghi lại trong bản thảo tiếng Java đầu thế kỷ 19 của Serat Centhini, được sáng tác giữa năm 1814, 18181818 ở Surakarta, Trung Java. Trong tiếng Java, dawet đề cập đến toàn bộ hỗn hợp thạch xanh cendol, thường được làm từ aren sagoo hoặc bột gạo, nước cốt dừa và gula jawa lỏng (xi-rô đường cọ), đôi khi có thể thêm mít thái lát.\nCó một niềm tin phổ biến rằng cái tên \"cendol\" có liên quan đến, hoặc có nguồn gốc từ từ jendol, liên quan đến thạch bột gạo giống như giun xanh sưng; trong tiếng Java, tiếng Sundan, tiếng Indonesia và tiếng Malay, jendol có nghĩa là \"vết sưng\", \"phình\", hoặc \"sưng\". Ở hầu hết các vùng của Indonesia, cendol đề cập đến thạch bột gạo xanh; trong khi pha chế của bột gạo xanh với nước cốt dừa, đá bào, đường cau và đôi khi mít thái hạt lựu được gọi là es cendol hoặc dawet (ở Trung và Đông Java).\nTừ điển Indonesia mô tả cendol là một món ăn nhẹ làm từ bột gạo và các thành phần khác được hình thành bởi các bộ lọc, sau đó trộn với đường cọ và nước cốt dừa (cho nước giải khát). Từ điển tiếng Mã Lai Kamus Dewan định nghĩa tương tự nó là một thức uống giống như cháo với những sợi dài làm từ bột gạo trong nước cốt dừa và xi-rô đường.\nỞ Việt Nam, loại bột gạo giống như giun này được gọi là bánh lọt hay \"bánh qua\". Bánh lọt là một thành phần phổ biến trong một thức uống tráng miệng của người Việt Nam gọi là chè, hay phổ biến hơn là ba màu. Ở Thái Lan, nó được gọi là lot chong (tiếng Thái:, phát âm là [lɔ̂ːt t͡ɕʰɔ̂ŋ]) có thể được dịch là \"đi qua một lỗ\", chỉ ra cách nó được tạo ra bằng cách ấn bột ấm qua rây vào một thùng chứa nước lạnh. Ở Miến Điện, nó được gọi là mont let saung hoặc မု န့ ် လက်. Ở Campuchia, nó được gọi là lot (ល ត / lɔːt /), bang-aem lot (បង្អែម ល ត / bɑŋʔaɛm lɔːt /), nom lot (នំលត / nɷm lɔːt /), và banh lot (បាញ់លត /baɲ lɔːt/). Người Thái đã mang món ăn này vào Việt Nam từ thế kỷ 18."
},
{
"section": "Thành phần",
"content": "Thành phần chủ yếu là bánh lọt, làm bằng bột gạo pha bột năng. Bánh lọt thường thêm phẩm màu xanh và hương vị của lá dứa. Chè khi ăn chan thêm nước cốt dừa và đá bào.\nMột số biến thể cho thêm đậu đỏ, cơm nếp, và bắp ngô.Ở Việt Nam, đậu xanh, đậu đỏ và bánh lọt là ba thành phần của chè ba màu trong khi ở Singapore chè bánh lọt cendol có khi thêm cả kem vani và sầu riêng."
},
{
"section": "Bày bán món cendol",
"content": "Cendol đã trở thành một phần tinh túy của ẩm thực ở Đông Nam Á và thường được bán bởi các nhà cung cấp tại các con đường, trung tâm bán hàng rong và các khu ẩm thực. Các nhà cung cấp Cendol gần như có mặt ở các thành phố của Indonesia, đặc biệt là Jakarta, Bandung và Yogyakarta. Ban đầu cendol hoặc dawet trong Java được phục vụ mà không có đá, nhưng sau khi giới thiệu công nghệ làm lạnh, cendol lạnh với đá bào (es serut) đã có sẵn và phổ biến rộng rãi.\nỞ Indonesia và Malaysia, cendol thường được các nhà cung cấp bán bên vỉa hè. Nó thậm chí là món tráng miệng ở Singapore, được tìm thấy trong các quầy hàng tráng miệng, trung tâm thực phẩm, quán cà phê và khu ẩm thực.\n\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Kaasstengels | https://vi.wikipedia.org/wiki/Kaasstengels | [
{
"section": "summary",
"content": "Kaasstengels, Kastengel hoặc kue keju là một loại bánh quy pho mát Hà Lan-Indonesia trong dạng que, thường được tìm thấy ở Hà Lan và Indonesia. Tên gọi mô tả nguyên liệu của nó; kaas là từ tiếng Hà Lan cho \"pho mát\", trong khi stengels nghĩa là \"que\". Không giống như bánh quy, kaasstengels có vị đậm đà và mặn thay vì ngọt. Ở Indonesia, do đã từng là thuộc địa của Hà Lan, kaasstengels, cùng với nastar , và kue putri salju là kue kering (kue khô hoặc bánh quy) phổ biến trong dịp lễ hội như Natal (Giáng Sinh) và Lebaran (Eid al Fitr)."
}
] |
Vằng | https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%B1ng | [
{
"section": "summary",
"content": "Vằng hay còn gọi chè vằng, chè cước man, cẩm văn, cẩm vân, dây vắng, lài ba gân (danh pháp hai phần: Jasminum subtriplinerve) là loài thực vật có hoa thuộc họ Ô liu được Blume mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1851. Vằng là một loại cây bụi nhỏ mọc hoang, được người dân Việt Nam tại nhiều vùng miền sử dụng dưới dạng sắc thuốc hay pha nước uống, đặc biệt tốt khi dành cho các sản phụ."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Cây chè vằng mọc hoang ở khắp nơi, là loại cây bụi nhỏ, đường kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng đốt vươn dài hàng chục mét, phân nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc đối hơi hình mác, phía cuống tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên, mép nguyên, càng lên ngọn, cành lá càng nhỏ. Hoa màu trắng mọc thành xim ở đầu cành, quả hình cầu.\nTheo nhân dân, có ba loại vằng, vằng lá nhỏ (vằng sẻ) dùng tốt hơn cả, vằng lá to (vằng trâu) cũng được dùng, còn vằng núi không dùng làm thuốc."
},
{
"section": "Phân biệt chè vằng và lá ngón",
"content": "Chè vằng dễ nhầm lẫn với lá ngón (Gelsemium elegans Benth.), một loại cây rất độc (thuốc độc bảng A), không chỉ vì cây chè vằng đôi khi còn được gọi là cây lá ngón, mà còn vì hình dạng bên ngoài, thân, cành chè vằng tương đối giống với thân cành lá ngón, nhất là khi đã chặt khỏi gốc và bỏ hết lá.\nCây chè vằng có thể phân biệt với cây lá ngón nhờ vào đặc điểm lá, hoa và quả. Lá chè vằng có 3 gân dọc trong đó 2 gân bên uốn cong theo mép lá, rõ rệt. Hoa chè vằng màu trắng với mười cánh hoa trong khi hoa lá ngón mọc thành chùm, phân nhánh nhiều lần (từ 2 đến 3 lần) màu vàng. Quả chè vằng hình cầu cỡ hạt ngô, chín màu đen, có một hạt rắn chắc trong khi quả cây lá ngón hình trụ (khoảng 0,5x1cm), khi chín tự mở, nhiều hạt (tới 40 hạt), nhỏ, hình thận, có diềm mỏng, phát tán theo gió."
},
{
"section": "Tác dụng",
"content": "Nghiên cứu dược lý chứng minh lá chè vằng chứa alcaloid, nhựa, flavonoid, có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, làm tăng nhanh tái tạo tổ chức, làm mau lành vết thương và không độc. Bộ phận dùng làm thuốc là cành, lá tươi hoặc cành, lá phơi sấy khô, thu hái quanh năm.\nTác dụng đặc biệt của chè vằng đối với phụ nữ sau sinh cũng được kiểm nghiệm. Là thuốc bổ đắng dùng rất tốt cho phụ nữ đẻ, chè vằng cũng có thể trị nhiễm khuẩn sau đẻ, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung, viêm tuyến sữa, bế kinh, khí hư, thấp khớp, nhức xương.\nKinh nghiệm dân gian Việt Nam thường dùng lá chè vằng đun lấy nước tắm rửa chữa ghẻ, ngứa hay lở chốc. Tại miền Nam Việt Nam, thân cây vằng được sử dụng đan rế hay đánh dây thừng vì cây rất dai. Lá được dùng dưới dạng thuốc sắc hay pha như pha trà để chữa sưng vú, mụn nhọt; còn dùng chữa rắn rết hay côn trùng cắn; rễ cây vằng mài với dấm thanh để làm hết mủ những ung nhọt đã nung mủ. Liều uống hàng ngày khoảng 20-30g lá khô sắc uống, nếu dùng ngoài không kể liều lượng. Ngàoi ra còn có cao chè vằng là tinh chất 100% từ cây chè vằng, qua một quá trình chiết suất và cô đặc kéo dài từ 4-5 ngày được đun nấu liên tục với lượng nhiệt vừa đủ.\nBệnh viện Thái Bình dùng lá chè vằng giã nát đắp vào nơi áp xe vú hoặc giã lá với cồn 50 độ rồi đắp vào nơi áp xe ngày 3 lần, đêm 2 lần. Thời gian điều trị thường là 1 ngày đến 1 tuần tùy theo bệnh nặng hay nhẹ và được bắt đầu chữa bằng lá chè vằng sớm hay muộn, trung bình 1,5 đến 2 ngày.\nNgoài tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chè vằng được sử dụng dưới dạng đồ uống có tác dụng giải nhiệt, giải khát bổ gan, lợi mật, kích thích tiêu hoá, tăng cường tuần hoàn máu, giảm béo, lợi sữa."
},
{
"section": "Thông tin thêm",
"content": "Trong số những suy đoán về tên Linh địa La Vang, một trong những luận cứ được các học giả đưa ra là nguyên ngày trước tại rừng La Vang có nhiều cây vằng. Cây thuốc quý này ban đầu tương truyền được Đức mẹ Maria, khi hiển linh tại La Vang, đã hướng dẫn người dân thu hái và sử dụng chữa bệnh dịch đang hoành hành trong dân chúng bấy giờ. Từ chữ Lá Vằng đọc trại đi thành La Vang."
}
] |
Xí quách | https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%AD_qu%C3%A1ch | [
{
"section": "summary",
"content": "Xí quách, hay xíu quách, một tên gọi nôm na để chỉ món xương hầm, là một món ăn bình dân và thông dụng ở Việt Nam có xuất xứ từ Quảng Đông, Trung Quốc được người gốc Hoa mang đến phổ biến ở miền Nam Việt Nam, là những đoạn xương heo, bò hoặc dê, gà, v.v. đã được nấu ra làm nước lèo để sử dụng vào mục đích khác, còn lại là những lớp thịt, lớp mỡ, lớp gân, lớp tuỷ xương, v.v. đã chín nhừ. Món ăn này thường được người miền Nam ăn kèm với hủ tiếu, mì, hoặc cơm, cũng là lựa chọn của những thực khách hay nhậu tại các hàng quán, đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh, như một món ăn chơi (ăn vặt)."
},
{
"section": "Từ nguyên học",
"content": "Xí quách là cách phát âm theo tiếng Quảng Đông của \"trư cốt\" 豬骨 (Việt bính: zyu1 gwat1, đọc như tchíu quách theo tiếng Việt giọng miền Nam), có nghĩa là \"xương heo\". Ban đầu xí quách đơn thuần dùng để chỉ xương heo, nhưng sau đó được mở rộng ra đến xương bò, xương gà, xương dê, v.v.."
},
{
"section": "Lẩu xí quách",
"content": "Xí quách thường dùng làm lẩu xí quách, một loại lẩu có hương vị mới lạ, ít xuất hiện trong thực đơn của các nhà hàng. Lẩu xí quách được chế biến từ nước xương hầm kết hợp với các nguyên liệu như táo đỏ, lê, nấm tuyết nhĩ, v.v., nên nước lẩu thơm mùi rau quả rất tinh khiết, vị thanh thanh, ăn kèm cùng với thịt gà hay tôm.\nCách chế biến:\nĐầu tiên xí quách chặt khúc, gừng đập giập, cho vào nồi với khoảng 4 lít nước, hầm mềm, sau đó cho bắp Mỹ chặt làm tư vào nấu thêm 10 phút, nêm nếm vừa ăn. Bí đỏ gọt vở, thái lát dày khoảng 1– 2 cm. Các phụ gia khác như Nấm bào ngư thì cắt gốc, rửa sạch. Cải cúc nhặt rửa sạch. Hành lá thái khúc.\nTiếp đến, múc xương xí quách, bắp Mỹ và nước hầm xương vào nồi lẩu. Khi dùng mở bếp, cho bí đỏ, nấm bào ngư, và sau cùng, cho cải cúc và hành lá vào.Món ăn này dùng với mì hoặc bún, chấm kèm nước tương và ớt xắt. Lưu ý: Để xương xí quách thơm ngon và nước trong, khi hầm nên cho vào ít nước mắm, cho xương vào đun sôi, hạ nhỏ lửa, hầm vừa mềm thỉnh thoảng vớt bọt."
},
{
"section": "Nghĩa rộng",
"content": "Thuật ngữ \"hết xí quách\" dùng để chỉ một trạng thái của cơ thể mệt mỏi rã rời là dấu hiệu báo cơ thể cần phải nghỉ ngơi hoặc ngủ để phục hồi sức khỏe."
}
] |
Bánh mì gừng Toruń | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_m%C3%AC_g%E1%BB%ABng_Toru%C5%84 | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh mì gừng Toruń (tiếng Ba Lan: pierniki toruńskie, tiếng Đức: Thorner Lebkuchen) là một loại bánh mì gừng truyền thống của Ba Lan, được sản xuất từ thời Trung cổ ở thành phố Toruń."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Những tục ngữ Ba Lan cổ cho rằng vùng Toruń có liên quan đến việc tạo ra một số mẫu bánh mì gừng và sau đó là sự phát triển của nghề thủ công bắt đầu từ thế kỷ 13.Một yếu tố đáng chú ý đằng sau sự phát triển của bánh mì gừng ở Toruń là vị trí tuyệt vời của nó. Sở hữu đất nền chứa dinh dưỡng cao, thuận tiện cho cây cối phát triển, khu vực này cung cấp giống lúa mì tốt để làm bột mì, trong khi các ngôi làng xung quanh cung cấp mật ong. Các loại gia vị cần thiết được mang đến từ các quốc gia xa xôi khác, chủ yếu là Ấn Độ, thông qua một tuyến đường trên Biển Đen và Lwów đến Đế quốc La Mã thần thánh, nơi các loại gia vị được vận chuyển bởi các công ty thương mại phía Bắc nước Đức. Một số loại khác lại thông qua đường biển đến cảng Danzig. \n\nLần đầu tiên bánh mì gừng Toruń được đề cập là từ năm 1380 và nói về một thợ làm bánh địa phương tên là Niclos Czana. Sản phẩm nhanh chóng nổi tiếng trên khắp Ba Lan và lan ra cả ngoài nước. Toruń và thành phố Nieders, nổi tiếng với những chiếc bánh đặc biệt, đã sẵn sàng bảo vệ những bí mật trong công thức nướng bánh của họ với nhau. Cuối cùng vào năm 1556, họ đã tạo ra một thỏa thuận mà mỗi thành phố có thể nướng các loại bánh đặc sản của nhau.Các nghệ nhân không phải là những người duy nhất tham gia vào việc sản xuất những món ăn ngon. Vào thế kỷ 16, Dòng Xitô ở ngoại ô Toruń trở nên giàu có chủ yếu nhờ sản xuất bánh và thậm chí họ còn bán sản phẩm của mình cho các nước khác. Trong thế kỷ 17, xưởng bánh nổi tiếng của gia đình Grauer đã xuất hiện. Chính quyền thành phố đã ủng hộ lợi ích của giao thương và ban hành một số điều luật giảm thuế cho việc nhập khẩu và xuất khẩu gia vị đối với các xưởng sản xuất của thợ làm bánh nhằm thúc đẩy việc giao thương buôn bán.\nVào thế kỷ 18 và 19, thành phố Torun đã phải chứng kiến sự sụp đổ của nghề làm bánh và các nghề thủ công khác. Năm 1825, chỉ còn lại ba thợ làm bánh. Với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, các công ty lớn đã tiếp quản các xưởng bánh từ các thợ thủ công địa phương và sản xuất hàng loạt loại bánh mì gừng tiếp theo.\nNhà máy làm bánh lớn nhất thuộc sở hữu của Gustav Weese, dựa trên truyền thống có từ năm 1763, khi Johann Weese bắt đầu nướng bánh mì gừng. Gustav Traugott Weese thừa hưởng một xưởng nhỏ sau khi cha Andreas qua đời vào năm 1824 và đổi nó thành một công ty lớn. Năm 1875, Công báo Toruń (Gazeta Toruńska) đã viết vào đêm giao thừa rằng do nhu cầu thị trường tăng lên, bánh mì gừng thậm chí còn được bán ở Châu Phi. Những nơi xuất khẩu bánh khác bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Honolulu. Năm 1913, Gustav Weese, hậu duệ của Gustav Traugott Weese, đã xây dựng một nhà máy sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, và thuê hơn 500 công nhân. Gustav Weese đã bán nó vào tháng 1 năm 1939 cho công ty Ba Lan \"Społem\" và rời khỏi nhà máy bánh mì gừng khác của mình ở Đức. Công ty ở Toruń vẫn tồn tại và là công ty bánh kẹo lâu đời nhất ở Ba Lan ngày nay. Nó cũng là một trong những công ty lâu đời nhất trên thế giới.Ngoài nhà máy của Weese còn có công ty Hermann Thomas được thành lập năm 1857, và đã thuê 200 công nhân trong năm 1907. Một công ty quan trọng khác cũng tham gia vào việc sản xuất bánh mì gừng được thành lập bởi Jan Ruchniewicz vào năm 1907. Doanh nghiệp phát triển khá thành công và có 50 công nhân. Nó được biết đến với việc trang trí bánh mì gừng đứng đầu Toruń."
},
{
"section": "Bánh mì gừng Toruń trong văn hóa Ba Lan",
"content": "Pierniki Toruńskie, được biết đến như một biểu tượng của nền ẩm thực quốc gia Ba Lan. Theo truyền thống, chúng được tặng như một món quà của thành phố Toruń cho các nhà lãnh đạo, nghệ sĩ và những người đặc biệt ở Ba Lan, những người nổi tiếng trong xã hội Ba Lan và các vị vua Ba Lan. Khuôn nướng bánh tồn tại với sự giống nhau giữa thời vua Sigismund III của Ba Lan, vua Władysław IV Vasa và Nữ hoàng Cecilia Renata cũng như con dấu hoàng gia với đại bàng Ba Lan và chóp mũ của một số tỉnh. Những người nổi tiếng đã nhận được món bánh mì gừng từ thành phố Torun bao gồm Marie Casimire Louise (công chúa Pháp và góa phụ của Vua John III Sobieski), Napoléon Bonaparte (trong chuyến thăm, cả thành phố được chiếu sáng và tiếng chuông vang khắp thành phố), Zygmunt Krasniński (một trong ba thi sĩ của Ba Lan), họa sĩ Jan Matejko, nữ diễn viên Helena Modjeska, Thống chế Józef Piłsudski, nghệ sĩ piano Artur Rubinstein, nhà thơ Czesław Miłosz, Lech Wałęsa và Giáo hoàng John Paul II.\nKể từ thời Trung cổ, pierniki đã được kết nối với Toruń trong các câu tục ngữ và truyền thuyết Ba Lan. Một truyền thuyết cho rằng bánh mì gừng là một món quà từ Nữ hoàng Ong cho người học việc Bogumił. Một bài thơ trào phúng từ thế kỷ 17 của nhà thơ Fryderyk Hoffman nói về bốn điều tốt nhất ở Ba Lan, đó chính là: \" Rượu vodka của Gdańsk, bánh mì gừng Toruń, phụ nữ của Kraków và giày Warsaw \".\nNhà thơ và tác giả truyện ngụ ngôn thế kỷ 18 Ignacy Krasnicki, một người rất thích bánh mì gừng, đã viết về chúng trong những bài thơ nổi tiếng của ông.\nNhà soạn nhạc Frédéric Chopin năm 15 tuổi đã đến thăm Szafarnia, một ngôi làng nhỏ gần sông Drwęca, ông dừng chân ở Toruń để gặp người cha đỡ đầu của mình, nhà bút pháp Fryderyk Florian Skarbek. Chopin đã lấy mẫu bánh kẹo nổi tiếng của thành phố và trở nên yêu thích đến nỗi ông đã viết một lá thư về nó cho bạn bè và đồng nghiệp của mình. Ông thậm chí đã gửi một số đến Warsaw. Để tôn vinh điều này, nhà sản xuất bánh mì gừng Toruń lớn nhất của Ba Lan, Công ty bánh kẹo Kopernik, đã tạo ra một loại bánh mì gừng hình trái tim đặc biệt có tên là Scherzo, mang hình dáng của Chopin trên vỏ bọc.\nToruń tổ chức một lễ kỷ niệm bánh mì gừng hàng năm, với tên gọi là więto Piernika (Lễ hội bánh mì gừng)."
},
{
"section": "Những nhà sản xuất hiện nay",
"content": "Có hai nhà máy chính sản xuất bánh mì gừng Toruń: nhà máy bánh kẹo \"Kopernik\" SA và Toruń Bakery. Nhà máy đầu tiên duy trì các quyền hợp pháp của mình đối với thương hiệu và là sự kế thừa cho một công ty được thành lập vào năm 1763 bởi Johann Weese. Nhà máy thứ hai được thành lập bởi các thợ làm bánh Toruń chuyên sản xuất bánh mì gừng. Mục đích của nó là truyền bá kiến thức về nghề thủ công và sản xuất bánh mì gừng hảo hạng cho các nhà hàng, các bữa tiệc và các cuộc họp quan trọng."
}
] |
Dalgona | https://vi.wikipedia.org/wiki/Dalgona | [
{
"section": "summary",
"content": "Dalgona (Tiếng Hàn: 달고나) hay ppopgi (Tiếng Hàn: 뽑기) là một loại kẹo Hàn Quốc được làm bằng đường nóng chảy và muối nở. Từng là một món ăn đường phố nổi tiếng trong thập niên 70 và 80, ngày nay dalgona vẫn được coi là một món ăn vặt truyền thống. Khi một ít muối nở được trộn vào đường chảy, chúng sẽ phân hủy nhiệt thành cacbon dioxit, làm cho đường chảy phồng lên và trở thành kẹo giòn và có vị nhạt khi để nguội và cứng lại. Thông thường, dung dịch đường được đổ lên một bề mặt phẳng sau đó ép phẳng xuống và tạo khuôn với nhiều hình mẫu khác nhau. Thực khách sẽ thử chọc xung quanh viền hình đã được ép khuôn mà không làm vỡ nó. Nếu có thể tách được hình ra mà không làm vỡ kẹo, người mua nhận được một cây Dalgona miễn phí khác.Các quán cà phê hiện đại ở Hàn Quốc thường có các đồ uống khác lạ như cà phê hay trà có đá được phủ lên kem được gọi là cà phê Dalgona cùng nhiều món bánh ngọt khác. Vài quán cà phê cũng có thêm các món huơng vị dalgona như bingsu và souffle.Dalgona là một thành phần nổi bật trong series phim Trò chơi con mực của Netfilx, dẫn đến sự nổi tiếng trở lại của món kẹo này ở Hàn Quốc và thế giới. Gian hàng cung cấp kẹo cho bộ phim đã tăng gấp đôi lượng hàng bán. Mọi người cũng đã đăng các thử thách làm món kẹo này tại nhà trên mạng xã hội."
},
{
"section": "Các tên khác",
"content": "Dalgona ban đầu là một thuật ngữ dùng để chỉ các món kẹo đắt tiền dùng glucose không có khuôn, trong khi ppopgi ban đầu là các loại kẹo làm từ đường và có thể ép khuôn thành ngôi sao và hình tròn. Vì kẹo dalgona rất ít khi làm bằng khuôn, từ dalgona bắt đầu đựoc dùng để chỉ ppopgi. Nó thường được gọi là 뽑기 (ppopgi) ở tỉnh Gyeonggi bao gồm Seoul và Incheon, nhưng nó tên khác nhau ở mỗi vùng.\n띠기 (ttigi): Tên này được sử dụng nhiều nhất ở Daejeon, và nó cũng được dùng ở đa số tỉnh Chungcheong ngoại trừ Cheongju và đa số tỉnh Jeolla ngoại trừ Gwangju. '띠기(ttigi)' thể hiện đặc điểm giọng địa phuơng của Chungcheong và Jeolla trong đó nguyên âm'ㅔ(e)' được chuyển thành 'ㅣ(i)', và khi chuyển nó thành tiếng Hàn tiêu chuẩn, nó trở thành '떼기(ttegi)'.\n국자 (gukja): Tên này thường được sử dụng ở Daegu và tỉnh Gyeongsang Bắc, và tên này được lấy cảm hứng từ từ '국자 (muôi)' vì nó được làm văn ăn trong cái muôi (vá). Thêm vào đó, nó cũng được gọi là '파짜꿍 (pajjakkung)', nhưng từ đó không phổ biến bằng '국자 (muôi).\n쪽자 (jjokja): Từ này thường được dùng ở tỉnh Gyeongsang Nam, và có thể nó bắt nguồn từ tiếng địa phương của cái muôi, nhưng điều đó chưa được kiểm chứng.\n오리떼기/오리띠기 (orittegi/orittigi): Từ này thường được dùng ở Masan và bắt nguồn từ tiếng địa phương của từ '오려서 떼기 (cắt và kéo ra)'.\n똥과자 (ttonggwaja): Ở Busan, cũng có thể gọi nó là '똥과자 (ttonggwaja)' thay vì '쪽자 (jjokja)'. Nghĩa của tên đó là '똥과자 (bánh quy phân)' vì nó trông giống phân.\n떼기 (ttegi): Ở Đảo Jeju, như Chungcheong và Jeolla, nó được gọi là '떼기 (ttegi)' bằng cách dùng tiếng Hàn tiêu chuẩn thay vì '띠기 (ttigi)', một phương ngữ. Ngoài ra, nó còn được gọi là '띠까 (tikka)' ở vài vùng của Seogwipo.Từ thập niên 70-80 đến đầu những năm 2000, khi sự nổi tiếng của '뽑기 (ppopgi)' đang rất cao, truyền thông không có ảnh hưởng lớn, nên tên thường khác biệt tùy vùng. Tuy nhiên, trong các thế hệ sau, sự phổ biến của điện thoại thông minh và sự ảnh hưởng của truyền thông tăng lên, và ảnh hưởng của vùng Seoul/Gyeonggi, nơi có nhiều phương tiện truyền thông từ trước, đã tăng lên. Từ đó, tên địa phương mất dần ảnh hưởng, và đa số học sinh cấp hai và cấp ba Hàn Quốc giờ gọi chúng là dalgona."
},
{
"section": "Thư viện ảnh",
"content": "\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Bò kho | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B2_kho | [
{
"section": "summary",
"content": "Bò kho là một món ăn chế biến từ thịt bò với phương pháp kho, có xuất xứ ở miền Nam Việt Nam. Món này được nhiều người ưa thích. Nguyên bản món Bò kho được người miền Nam Việt Nam dùng kèm với nhiều loại rau mùi, để tăng hương vị món ăn. Tuy có tên gọi là bò kho nhưng cách thức chế biến chủ đạo của món ăn lại là hầm, hình thức kho được dùng để tẩm ướp và làm săn chắc thịt bò trước khi hầm. Món này cũng nổi tiếng bên ngoài Việt Nam."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "1,2 kg thịt bò tùy theo sở thích có thể chọn bắp bò, gân hoặc nạm\n1 muỗng hành băm\n1 gói gia vị bò kho (25 g)\n1 muỗng tỏi băm\n2 củ cà rốt, 2 củ cải trắng\n6 cây sả"
},
{
"section": "Cách làm",
"content": "Cắt sả làm đôi giữ lại phần ngọn còn phần thân đập giập và băm nhuyễn. Cà rốt và củ cải rửa sạch gọt vỏ cắt miếng vừa ăn. Để khử mùi của thịt bò ta nên rửa kỹ với muối sau đó chần nhanh qua nước sôi sau đó thái thành miếng vừa miệng. Cho thịt bò vào thau ướp với gia vị bò kho, cho thêm 1 muỗng muối, 2 muỗng đường và nửa muỗng canh bột ngọt, cùng với hành và tỏi băm ướp trong vòng 30 phút. Phi thơm hành tỏi băm trước khi cho thịt vào đảo đều trên lửa lớn cho xăn miếng thịt. Tiếp đến cho toàn bộ phần thịt bò vào nồi áp suất hoặc nồi ủ, cho phần ngọn sả cà rốt cải trắng vào, đổ nước vừa đun lửa lớn cho đến khi sôi thì hạ lửa nhỏ. Đối với nồi áp suất thì chúng ta chỉ cần đun khoảng 20 phút là thịt đã mềm, còn dùng nồi ủ thì chỉ cần đun cho sôi rồi mang để vào trong nồi ủ chừng 4-8h là có thể dùng được. Múc bò kho ra tô dùng kèm với bánh mì hoặc với cơm nóng đều ngon."
}
] |
Gỏi mít | https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BB%8Fi_m%C3%ADt | [
{
"section": "summary",
"content": "Gỏi mít là một trong những món ăn nổi tiếng của miền Trung, được nhiều nhà hàng sang trọng đưa vào thực đơn và được rất nhiều thực khách yêu thích, thường được ăn kèm với bánh tráng mè. Trong các dịp cỗ bàn, món gỏi mít giòn ngon với vị chua ngọt hài hòa là một sự lựa chọn tuyệt vời để giảm bớt cái ngán của mâm cỗ nhiều chất đạm."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "200 gr tôm\n200 gr thịt ba rọi\n500 gr mít non, bào mỏng\nĐậu phộng và mè rang vàng\nRau răm, tỏi, ớt, chanh hoặc tắc\nĐường, nước mắm, bột ngọt"
},
{
"section": "Cách làm",
"content": "Nấu nước sôi bỏ muối, trụn sơ mít, vớt ra, vắt ráo\nTôm và thịt luộc chín\nTôm bóc vỏ-Thịt xắt sợi\nPha nước mắm chua ngọt trộn gỏi: Pha nước mắm trộn gỏi: 2 muỗng canh nước cốt chanh, 3 muỗng canh nước, 3 muỗng canh nước mắm, 3 muỗng canh đường, 1 muỗng café bột ngọt, 1 muỗng café muối, thêm ớt bằm nếu thích.\nTrộn đều mít, tôm, thịt với nước mắm chua ngọt. Sau đó, rau răm băm nhuyễn cho vào cùng đậu phộng và mè rang vàng.\nTrưng bày ra đĩa,trang trí đẹp mắt.\nGỏi mít thường được dùng chung với bánh đa.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Hủ tiếu gõ | https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%A7_ti%E1%BA%BFu_g%C3%B5 | [
{
"section": "summary",
"content": "Hủ tiếu gõ là một loại hình bán hủ tiếu phổ biến ở Việt Nam. Theo đó, người nấu có một xe đẩy (hoặc quầy) được đậu ở nơi cố định, thường là trên hè phố; và có thêm một hay một vài người sẽ đi bộ hoặc dùng các phương tiện di chuyển như xe đạp, xe máy... để len lỏi vào các ngỏ hẻm, từng căn hộ chung cư để tìm thực khách và nhận gọi món. Thường thì những người này có một bộ dụng cụ gồm hai thanh gỗ hoặc kim loại gõ vào nhau để phát ra âm thanh đặc trưng, dễ nhận biết thay cho tiếng rao.\nNhững người đi gõ thường là các trẻ em, con cái hoặc người thân trong gia đình của người nấu, họ kiêm luôn cả việc chạy bàn, bưng bê, nhận tiền. Mỗi xe hủ tiếu sẽ có từng tiếng gõ, nhịp điệu gõ đặc trưng. Thực khách khi có nhu cầu thì gọi người gõ vào, sau đó người này sẽ quay về vị trí đặt xe đẩy hủ tiếu để báo chế biến rồi lại đem đến tận nhà thực khách. Thực tế, đây chính là một loại hình đơn giản của kiểu kinh doanh giao hàng tận nơi.\nHủ tiếu gõ là món ăn bình dân đã tồn tại, gắn liền với người dân đô thị, dần trở thành một phần của ẩm thực của những thành phố và nó cũng là loại ẩm thực bình dân và đại trà nhất đại diện cho ẩm thực vỉa hè trong đêm, đặc biệt là tại Sài Gòn."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Quán hủ tiếu thường nằm ở một vỉa hè trống, mọi thứ cũng chỉ gói gọn trong một chiếc xe nhỏ, phía bên dưới chứa được thùng nước lèo, người chế biến tận dụng tối đa chiếc xe kéo chất những bàn ghế, tô, đũa, thau, xô, nước...và những gia vị dùng trong việc làm ra tô hủ tiếu. Thực tế, họ còn bán thêm các món khác như hoành thánh, mì gói, mì sợi....\n\nHủ tiếu gõ ít khi bán buổi sáng mà thường từ khoảng 14-15 giờ chiều cho đến tận khuya. Nghề bán hủ tiếu gõ tuy không quá nặng nhọc nhưng cũng không nhẹ nhàng, người bán phải đi chợ từ sớm, chuẩn bị mọi thứ cho việc bán buổi chiều, rồi thức đêm bởi đây là món ăn khuya. Để có một gánh hủ tiếu bán đêm thì ngay sáng sớm họ phải len lỏi qua các chợ đầu mối để mua nguyên vật liệu từ thịt, giá, hẹ, tương, ớt, chanh... tất bật từ sáng đến trưa để chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Bán hủ tiếu gõ không cần khéo tay, cũng không cần nhiều vốn.Đa số những người bán hủ tiếu gõ là người từ miền Trung, nhất là ở các tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.Hủ tiếu gõ thường có thành phần ít hơn một tô hủ tiếu trong quán, mỗi thứ một chút, một nắm hủ tiếu (sợi trắng mịn, nhỏ như sợi mì vằn thắn nhưng mềm hơn nhiều), ít giá trụng, vài lát thịt thăn thái mỏng, vài lát chả lợn thái mỏng, trứng cút, bò viên, rau, hẹ, hành khô và vài viên tóp mỡ béo, bùi, thơm bé bằng hạt đậu.Đa số những người ăn hủ tiếu là giải quyết cơn đói bụng tạm thời trong lúc gấp gáp hoặc những người đi chơi, đi làm về khuya tìm chút gì lót dạ cho dễ ngủ khi những hàng quán khác đã dọn hết. Ít ai lại chọn hủ tiếu gõ làm bữa ăn chính. Nó trở thành một thói quen ăn đêm của nhiều người vì vừa đơn giản, vừa vừa bình dân lại phù hợp với mọi túi tiền.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Naan | https://vi.wikipedia.org/wiki/Naan | [
{
"section": "summary",
"content": "Naan, nan (tiếng Hindi: नान, chuyển tự nān) hay khamiri là một loại bánh mì cắt lát chứa bột nở, nướng lò thịnh hành trong ẩm thực tại các quốc gia vùng Trung Đông, Trung Á và Nam Á."
},
{
"section": "Từ nguyên",
"content": "Từ \"naan\" xuất hiện sớm nhất trong tiếng Anh năm 1810, trong chuyến du lịch của William Tooke. Từ nān, trong tiếng Ba Tư, nghĩa là 'bánh mì' (tiếng Uzbek non/нон) đã được chứng thực trong tiếng Ba Tư trung cổ/Pahlavi như n'n 'bánh mì, thức ăn'. Hình thức chính nó có gốc trong ngữ chi Iran; hình thái cùng nguồn gốc bao gồm tiếng Parthia ngn, tiếng Baloch nagan, tiếng Sogdia nγn-, tiếng Pashto nəγan 'bánh mì'.Hình thái naan có phân bố rộng rãi, được vay mượn từ một loạt các ngôn ngữ nói tại Trung Á và Nam Á, nơi mà nó thường dùng để chỉ một loại bánh mỳ cắt lát. Chính tả naan lần đầu tiên được chứng nhận vào năm 1979, và từ đó đã trở thành chính tả tiếng Anh bình thường."
},
{
"section": "Mô tả",
"content": "Cách chế biến quen thuộc nhất và sẵn có của naan ở các nước phương Tây giống cách chế biến Nam Á. Tại Iran, từ ngữ căn bản khởi nguồn từ đây, nān (نان) không mang theo bất kỳ ý nghĩa đặc biệt, vì nó chỉ đơn thuần là từ ngữ chung cho bất kỳ loại bánh mì nào, cũng như ở các quốc gia Tây Á khác hoặc những nhóm dân tộc trong khu vực, chẳng hạn như giữa người Kurd, người Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan (cả Azerbaijan và Iran),... Naan tại nhiều nơi ở Nam Á thường dùng để chỉ một loại bánh mỳ cắt lát dày cụ thể (một loại bánh mỳ dẹt nổi tiếng khác là chapati). Nói chung, nó giống pita và, như bánh mỳ pita, thường cho bột nở vào với nấm men hoặc với bánh mì lên mem (bột naan lên men còn sót lại từ mẻ bánh trước đó); bột không lên men (tương tự như sử dụng cho roti) cũng được sử dụng. Naan được nấu chín bằng lò đất tandoor, từ đây cách nấu tandoori làm nên tên gọi của món. Phân biệt với roti, thường được nấu trên một vỉ sắt phẳng hoặc hơi lõm gọi là tava. Công thức nấu hiện đại đôi khi thay thế bột nổi cho nấm men. Sữa hoặc sữa chua cũng có thể được sử dụng để truyền đạt mùi vị riêng biệt cho naan. Sữa sẽ được dùng thay vì nước, khiến cho miếng bánh dễ ăn, hàm lượng bột mềm hơn. Ngoài ra, khi bánh mì lên men (trong đó có cả nấm men và lactobacilli) được sử dụng, sữa có thể trải qua quá trình lên men lactic vừa phải.\nThông thường, món ăn được phục vụ nóng và phết bơ loãng hoặc bơ. Nó có thể được dùng để ăn kèm món ăn khác, hoặc được nhồi bằng cách đổ đầy. Ví dụ, keema naan được nhồi với một hỗn hợp thịt băm nhỏ (thường là thịt cừu hoặc thịt dê); biến thể khác là peshawari naan (peshwari tại Anh). Peshawari naan và Kashmiri naan được đổ đầy với một hỗn hợp các loại quả hạch và nho khô; ở Pakistan, roghani naan được rắc hạt mè; Kulcha là một kiểu khác. Amritsari naan còn gọi là amritsari kulcha được nhồi với khoai tây nghiền, hành tây (tùy chọn) và nhiều loại gia vị. Gia vị có thể có trong bột naan bao gồm thì là và hạt mao lương. Món ăn balti tại Pakistan thường được ăn kèm với bánh naan, và được nấu bằng loại chảo karack lớn hoặc naan dọn bàn, dễ dàng chia sẻ giữa các nhóm lớn.Một công thức naan điển hình liên quan đến việc hòa trộn bột trắng với muối, một nền văn hóa nấm men, và đủ sữa chua để làm cho bột mịn, dẻo. Bột được nhào nặn vài phút, sau đó đặt sang một bên cho nở ra trong vài giờ. Sau khi nở ra, bột được vo thành những quả bóng (khoảng 100 grams hoặc 3,5 oz mỗi quả), được cán phẳng và nấu chín. Trong ẩm thực Pakistan, naan thường được tô điểm với tinh chất thơm, chẳng hạn như hoa hồng, khus (hương căn thảo), hoặc với bơ hoặc bơ loãng tan chảy vào bánh. Hạt mao lương thường được thêm vào bánh naan, cách nấu trong nhà hàng Ấn Độ trên khắp nước Anh.\nNho khô và gia vị có thể thêm vào bánh mì nhằm gia tăng hương vị. Naan cũng có thể bao phủ bằng, hoặc phục vụ như lớp bao bọc trên bề mặt món thịt, rau hay pho mát khác nhau. Phiên bản này đôi khi được chuẩn bị như thức ăn nhanh. Món bánh này cũng có thể nhúng vào súp như dal, và ăn kèm với sabzis (còn được gọi là shaakh).\nNaan bya tại Burma đôi khi phục vụ tại bữa ăn sáng với trà hoặc cà phê. Chiếc bánh tròn, mềm mại, và phồng rộp, thường phết bơ, hoặc với pè byouk (đậu luộc) bên trên, hoặc nhúng vào hseiksoup (súp thịt cừu).\nBánh pizza naan là một loại pizza mà naan được dùng như lớp vỏ thay vì bột bánh pizza truyền thống. Đầu bếp và công ty như Nigella Lawson, Whole Foods và Wegmans cung cấp công thức nấu cho người dân để làm naan bánh pizza của mình tại nhà."
},
{
"section": "Món bánh naan kẹp thịt",
"content": "Bánh naan kẹp thịt là một loại bánh hamburger ăn kèm bánh mỳ naan. Bánh naan burger có thành phần rất tương tự như bánh mì kẹp thịt bình thường, nhưng đôi khi được chế biến bằng thịt xông khói. Việc dùng bánh mỳ cắt lát tạo ra một trải nghiệm hương vị khác nhau từ bánh kẹp thịt làm từ bánh mỳ. Một số bánh naan kẹp là món chay, không chứa thịt."
}
] |
Bánh tôm Hồ Tây | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_t%C3%B4m_H%E1%BB%93_T%C3%A2y | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh tôm Hồ Tây là một trong các món ăn nổi tiếng của Hà Nội. Chúng được làm từ nguyên liệu là những con tôm càng sông hay tôm càng Hồ Tây đặc trưng."
},
{
"section": "Cách làm",
"content": "Tôm (nước ngọt) hồ Tây bọc bột mì cho vào chảo mỡ nóng già ngập bánh cho chín tới. Khi bánh phồng lên và ngả màu vàng có bốc mùi thơm ngậy. Gắp bánh gác lên hai que đũa xếp ngang chảo cho ráo mỡ.\nĂn bánh nóng cùng với nước chấm vị chua, ngọt và cay, thêm chút dưa góp (đu đủ và cà rốt thái nhỏ ngâm giấm).\nBánh tôm giòn, mềm và ngọt, ăn cùng xà lách hoặc rau thơm, có thể thêm bún rối và rất hợp với bia."
},
{
"section": "Sự phát triển",
"content": "Hà Nội những năm 1970-1980 đã có hàng bán bánh tôm của quốc doanh nằm trên đường Thanh Niên, phía bên hồ Trúc Bạch. Lúc đó nơi đây là địa điểm vui chơi giải trí, bánh tôm Hồ Tây đã đi vào ký ức nhiều thế hệ.\nSang cuối những năm 1980, đời sống được nâng lên đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình dịch vụ khác. Hàng bánh tôm Hồ Tây đã không còn chiếm vị trí độc tôn nữa trong lựa chọn của thực khách.\nHiện nay, rất nhiều quán quanh Hồ Tây cũng làm và bán bánh tôm"
}
] |
Cao quy linh | https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_quy_linh | [
{
"section": "summary",
"content": "Cao quy linh (tiếng Trung: 龜苓膏; phiên âm Hán-Việt: quy linh cao) hay còn là quy phục linh (龜伏苓), thạch rùa, thạch đồi mồi (dù không đúng về mặt bản chất) là một loại thuốc Đông y dạng thạch, cũng được phục vụ như món tráng miệng, là đặc sản của người Hoa vùng Ngô Châu (Quảng Tây), đồng thời cũng là món ẩm thực truyền thống của vùng Lưỡng Quảng. Theo truyền thống, cao quy linh được làm từ hai thành phần chủ yếu là thổ phục linh (Smilax glabra), bột của mai rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata) phơi khô nghiền ra, cam thảo cùng một số thành phần khác. Mặc dù rùa hộp ba vạch ngày nay được nuôi để bán ở Trung Quốc, giá của chúng cũng vô cùng đắt, và cũng do loài này đang bị đe dọa tuyệt chủng, nên thay vào đó họ thường sử dụng mai ba ba hoặc các loại rùa khác thay thế.\nThông thường hơn, các loại quy linh cao được buôn bán phổ thông như một món tráng miệng mà không chứa bột vỏ rùa, mặc dù tên sản phẩm và hình ảnh rùa nổi bật trên bao bì của hầu hết các nhãn hiệu. Tuy nhiên, họ cũng thêm vào cùng các loại thảo dược như một loại thuốc và quảng cáo tương tự như vị thuốc tốt cho da.Cao quy linh giống rau câu, có vị hơi đắng, màu đen, mềm và dai hơn rau câu. Cao quy linh được cho là có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị mụn, tốt cho da; khi ăn thường được dùng với mật ong hoặc sữa để bớt vị đắng."
}
] |
Hotteok | https://vi.wikipedia.org/wiki/Hotteok | [
{
"section": "summary",
"content": "Hotteok là một loại bánh rán Hàn Quốc rất đa dạng, và là thức ăn đường phố nổi tiếng của Triều Tiên. Nó thường được dùng trong suốt mùa đông."
},
{
"section": "Chuẩn bị",
"content": "Phần bột của hotteok được làm từ bột mì, nước, sữa, đường, và men. Bộ được ủ trong vài giờ. Phần bột được trộn với hỗn hợp gồm đường nâu, mật ong, đậu phộng giã nhuyễn, và quế. Phần bột được đặt trên một vỉ nướng bôi dầu, và được ép thành một vòng tròn lớn bởi dụng cụ đặc biệt với khung tròn bằng sắt và tay cầm bằng gỗ.Ở Hàn Quốc, hỗn hợp hotteok trộn sẵn được bán dưới dạng bao bì nhựa. Hỗn hợp còn đi kèm với nhân đường nâu và đậu phộng hoặc vừng."
},
{
"section": "Nguồn gốc",
"content": "Người ta tin rằng hotteok có nguồn gốc từ thương gia Trung Quốc nhập cư vào Hàn Quốc cuối thế kỉ 19. Không giống hầu hết bánh Trung Quốc thường trộn thêm nhân thịt, hotteok được trộn với nhân ngọt, cho phù hợp với khẩu vị người Hàn Quốc."
},
{
"section": "Đa dạng",
"content": "Các loại hotteok vẫn tiếp tục thay đổi mặc dù nhân truyền thống của nó là quế và đậu phộng. Rất nhiều biến thể được phát triển từ đầu thế kỉ 21, như hotteok trà xanhphoto, bokbunja hotteok hồng, hotteok bắp...\nSản phẩm \"hotteok\" thương mại được phát triển và bán ra bởi công ty \"Samyang\", \"Ottogi\" và \"CJ\". Sản phẩm được thiết kế có thể nấu tại nhà."
},
{
"section": "Dinh dưỡng",
"content": "Hotteok thường được dùng trong suốt mùa đông. Do hàm lượng đường cao, một cái hotteok có thể hơn 230 calo."
},
{
"section": "Liên kết",
"content": "Hai biến thể của hotteok\nCông thức Hotteok Lưu trữ 2015-05-02 tại Wayback Machine\nCông thức Hotteok\nCông thức Hotteok với video\nChủ đề về nguồn gốc của Hotteok và Hobbang (tiếng Hàn)"
}
] |
Chuối tách | https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu%E1%BB%91i_t%C3%A1ch | [
{
"section": "summary",
"content": "Chuối tách là một món tráng miệng làm từ kem của Mỹ bao gồm một quả chuối lột vỏ được cắt đôi theo chiều dọc và ăn kèm với kem và nước sốt giữa hai miếng chuối. Có nhiều biến thể, nhưng chuối tách kiểu cổ điển được làm với ba muỗng kem (mỗi muỗng có vani, sô cô la và dâu tây). Nước sốt gồm hỗn hợp sô cô la, dâu tây và dứa là truyền thống được nhỏ vào kem, phủ kem tươi và quả anh đào maraschino. Có thể thêm vào các loại hạt nghiền (thường là đậu phộng hoặc quả óc chó) tùy ý muốn người dùng.Phần chuối tách ban đầu được làm bằng ba muỗng kem có chứa hương vị khác nhau, phủ trái cây và phục vụ trên một quả chuối được tách theo chiều dọc ở giữa. Công thức ban đầu sử dụng dâu tây, quả mâm xôi và dứa nghiền với xi-rô marshmallow, các loại hạt cắt nhỏ và anh đào đen.Nước sốt marshmallow của Strickler không còn được sử dụng làm lớp phủ trên nữa. Lớp trên cùng theo kiểu truyền thống được sử dụng trong món chuối tách ngày nay bao gồm dứa, dâu tây và sốt sô cô la, kem tươi, các loại hạt và anh đào. Mặt khác, nước sốt caramel là một loại nước sốt phi truyền thống được sử dụng trong các biến thể sau này của món chuối tách kiểu cổ điển.Các biến thể của kiểu cổ điển có thể sử dụng loại chuối nướng, thử nghiệm với các hương vị khác nhau của kem như dừa hoặc cà phê, hoặc loại gia vị như caramel muối và bánh nướng bơ nóng."
}
] |
Nước xốt cà chua | https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_x%E1%BB%91t_c%C3%A0_chua | [
{
"section": "summary",
"content": "Nước xốt cà chua (ketchup) là loại nước sốt để bàn. Mặc dù công thức ban đầu sử dụng lòng trắng trứng, nấm, hàu, nho, sò, hoặc quả óc chó, gồm một số các thành phần khác, công thức hiện đại không thay đổi đề cập đến tomato ketchup tại Mỹ."
},
{
"section": "Thành phần",
"content": "Những thành phần cơ bản của ketchup là: cà chua, giấm, đường, muối, hạt tiêu, đinh hương, có thể cho thêm quế (với vị của Hoa Kỳ nhưng không phổ biến ở châu Âu); hành, cần tây (với vị của vùng Địa Trung Hải) và một số gia vị khác (chẳng hạn oregano, basil). Với những người sành ăn, ketchup phải được sản xuất từ một loại cà chua đặc biệt, loại Solanum pennellii ngày nay mang tên Lycopersicon pennellii, đó là một loại cà chua ngọt. Nhưng về cơ bản, đa phần người ta dùng cà chua Lycopersicum esculentum thêm đường để sản xuất ketchup.\nKhông phải luôn luôn ketchup được tạo ra từ cà chua. Ban đầu nó dùng để chỉ \"nước sốt\", điển hình làm từ nấm hay nước mắm cùng với thảo dược và nhiều gia vị khác. Một vài thành phần chính được bổ sung: cá trồng, dầu ăn, tôm hùm, đậu ngắn, dưa chuột, nam việt quất, chanh, nho..."
},
{
"section": "Phân loại",
"content": "Ở châu Âu và Mỹ có ba loại chính:"
},
{
"section": "Ngành công nghiệp",
"content": "Hai công ty có công đầu trong việc thịnh hành và kinh doanh ketchup ở Mỹ là H. J. Heinz Company (với hiệu là Heinz) và ConAgra Foods (với hiệu là Hunt's).\nNgoài ra cũng có rất nhiều nhãn hiệu khác, và tất nhiên ketchup thượng hạng vẫn là những sản phẩm thủ công, với những quả cà chua chín mọng vừa được thu hoạch, và người ta thêm nếm một ít đường, một it muối và những gia vị hợp lý (hành tây, tiêu, dấm), sau đó là xay nhuyễn và cô đặc cùng với lửa nhỏ."
}
] |
Red velvet (bánh ngọt) | https://vi.wikipedia.org/wiki/Red_velvet_(b%C3%A1nh_ng%E1%BB%8Dt) | [
{
"section": "summary",
"content": "Theo truyền thống, red velvet là loại bánh chocolate nhiều lớp có màu đỏ, nâu đỏ, đỏ thẫm hoặc đỏ tươi, chia lớp bởi lớp kem phủ bằng cream cheese hoặc ermine trắng. Công thức làm bánh truyền thống không có chất tạo màu; màu đỏ ban đầu có được từ loại ca cao không chế biến theo kiểu Hà Lan, giàu anthocyanin.Các nguyên liệu thường gặp bao gồm buttermilk, bơ, ca cao, giấm, và bột mì. Củ dền hoặc màu thực phẩm đỏ có thể được sử dụng để tạo màu."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Bánh velvet được cho là bắt nguồn từ thời Victoria. Trong thời đại đó, họ phục vụ bánh velvet như một món tráng miệng lạ mắt. Thuật ngữ \"velvet\" (\"nhung\") là một cách mô tả được sử dụng nhằm cho người tiêu dùng biết món tráng miệng là một loại bánh mềm và mịn. Trong thời gian đó, loại bánh devil's food được giới thiệu, đó là cách mà một số người tin rằng loại bánh red velvet xuất hiện. Sự khác biệt giữa hai loại bánh là bánh devil's food sử dụng chocolate, và red velvet sử dụng ca cao.Khi thực phẩm được chia khẩu phần trong Thế chiến II, các thợ làm bánh đã sử dụng nước ép củ dền đun sôi để tăng độ đậm màu sắc cho bánh của họ. Củ dền được tìm thấy trong một số công thức của red velvet. Củ dền đã và đang được sử dụng trong một số công thức để làm chất độn hoặc để giữ độ ẩm. Adams Extract, một công ty từ Texas, \nđược cho là đã mang red velvet đến các nhà bếp trên khắp nước Mỹ trong thời kỳ Đại suy thoái, bằng việc là một trong những người đầu tiên phân phối màu thực phẩm đỏ và chiết xuất hương vị khác với việc sử dụng áp phích tại quầy thanh toán và các thẻ công thức xé rời được.Bánh và công thức ban đầu của nó nổi tiếng ở Hoa Kỳ từ Khách sạn Waldorf-Astoria nổi tiếng của thành phố New York, nơi nó được mệnh danh là bánh Waldorf-Astoria. Tuy nhiên, nó được coi là một công thức tới từ miền Nam. Theo truyền thống, red velvet được phủ với kem bơ roux kiểu Pháp (còn gọi là kem phủ ermine), rất nhẹ và mịn, nhưng tốn nhiều thời gian để chuẩn bị. Kem phủ từ pho mát kem (cream cheese) cũng như từ kem bơ là những biến thể ngày càng phổ biến.Tại Canada, loại bánh này là một món tráng miệng nổi tiếng trong các nhà hàng và tiệm bánh của chuỗi cửa hàng bách hóa Eaton's vào những năm 1940 và 1950. Được quảng bá như một công thức độc quyền của Eaton, với những nhân viên biết công thức tuyên thệ giữ im lặng, nhiều người đã lầm tưởng rằng chiếc bánh là phát minh của bà chủ cửa hàng bách hóa, Lady Eaton.Trong những năm gần đây, các loại bánh red velvet cũng như các loại red velvet cupcake trở nên ngày càng phổ biến tại Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu khác. Việc tái phổ biến trở lại của loại bánh này được một số người cho là bắt nguồn từ bộ phim Steel Magnolias (1989), trong đó có một chiếc bánh cưới red velvet cho chú rể (groom's cake) với hình dáng một con trút. Magnolia Bakery ở Manhattan đã phục vụ món bánh này kể từ khi khai trương vào năm 1996, cũng như các nhà hàng nổi tiếng với phong cách ẩm thực miền Nam Hoa Kỳ như Amy Ruth's ở Harlem, khai trương năm 1998. Năm 2000, Cake Man Raven đã mở một trong những tiệm bánh đầu tiên dành cho loại bánh này ở Brooklyn."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "Nguyên liệu tạo nên red velvet thay đổi khác nhua tùy thuộc vào thời đại và vùng miền trên thế giới. Tài liệu tham khảo của James Beard, American Cookery (1972), mô tả ba loại bánh red velvet khác nhau theo lượng mỡ trừu (shortening), bơ, và dầu thực vật, tất cả đều dùng màu thực phẩm đỏ. Phản ứng của giấm có tính axit và buttermilk có xu hướng giúp anthocyanin đỏ trong ca cao tiết ra nhiều hơn và giữ cho bánh ẩm, nhẹ và mịn. Cách nhuộm màu tự nhiên này có thể là nguồn gốc của tên gọi \"red velvet\" (\"nhung đỏ\"), cũng giống như \"devil's food cake\" (\"thức ăn của quỷ\") và các tên gọi bánh chocolate tương tự. Ngày nay, chocolate thường trải qua quá trình chế biến kiểu Hà Lan, điều này ngăn trở sự thay đổi màu sắc của anthocyanin. Một quá trình tái cấu trúc đã diễn ra với red velvet ban đầu liên quan đến việc giảm thiểu hoặc loại bỏ giấm và chất tạo màu, và sử dụng ca cao không chế biến theo kiểu Hà Lan để cung cấp độ axit và màu sắc cần thiết."
},
{
"section": "Các biến thể",
"content": "Ngoài nhiều biến thể của red velvet, còn có nhiều sản phẩm có hương vị giống như red velvet, bao gồm bột protein, trà, các loại latte, Pop-Tarts, bánh quế và đồ uống có cồn. Mùi hương của bánh cũng được sử dụng cho nến và xịt thơm phòng. Đối với các hạn chế về chế độ ăn uống, chẳng hạn như những người bị dị ứng và nhạy cảm với các thành phần, cũng có các biến thể dành cho người ăn kiêng thuần chay, không gluten và không chứa sữa."
}
] |
Marshmallow | https://vi.wikipedia.org/wiki/Marshmallow | [
{
"section": "summary",
"content": "Marshmallow là một loại kẹo dạng dẻo như cao su với thành phần chính là đường, nước và gelatin, phẩm màu, một số còn có trứng (albumin) và các phụ gia khác. Marshmallow tự nhiên thường có màu trắng và chỉ bao gồm 2 thành phần chính là đường và gelatin.\nVị ngọt của marshmallow chủ yếu là do đường sucrose (còn gọi là đường mía). Khác với loại đường trắng tinh luyện dùng trong ăn uống hàng ngày, loại đường này không bị mất đi các khoáng chất như calci, magnesi, kali và sắt. Có thể ăn trực tiếp kẹo marshmallow hoặc kết hợp với đồ uống, hay dùng để trang trí bánh ngọt, nướng kèm với bánh quy xốp và socola. Khi cho vào bánh ngot, marshmallow tạo độ dai và mềm cho bánh."
}
] |
Aburaage | https://vi.wikipedia.org/wiki/Aburaage | [
{
"section": "summary",
"content": "Aburaage (油揚げ, abura-age hoặc aburage) là một loại thực phẩm của Nhật Bản có nguồn gốc từ đậu tương. Món ăn này được chế biến bằng cách cắt đậu phụ thành những miếng mỏng và chiên ngập dầu chúng hai lần, lần đầu ở nhiệt độ 110–120 °C, và lần tiếp theo ở 180–200 °C. Aburaage thường được sử dụng để gói inari-zushi (稲荷寿司, inari-zushi), và được thêm vào món súp miso. Nó cũng được thêm vào trong mì udon, được gọi là kitsune-udon vì những truyền thuyết rằng loài cáo (kitsune) rất thích loại đậu phụ chiên ngập dầu. Aburaage cũng có thể được nhồi, ví dụ với nattō, trước khi chiên lại lần nữa. Có một phiên bản dày hơn được gọi là atsu-age (厚揚げ, atsu-age) hoặc nama-age (生揚げ, nama-age).\nNgười Nhật Bản là những người đầu tiên phát triển loại thực phẩm dạng bọc lấy từ vỏ đậu phụ chiên. Tuy nhiên, rất ít thông tin được tìm thấy về lịch sử ban đầu của chúng. Cuốn Tofu Hyakuchin (Đậu phụ bách trân) năm 1782 (Abe 1972) đưa ra một công thức của đậu phụ chiên ngập dầu, nhưng không rõ loại đậu phụ này có căng phồng lên như loại bọc bằng đậu phụ không. Bọc đậu phụ xuất hiện sớm nhất vào năm 1853, khi món inari-zushi (bọc đậu phụ được nhồi bằng cơm nấu với giấm) bắt đầu xuất hiện (Ichiyama 1968). Do thuận tiện với việc lưu trữ thực phẩm trong khoảng thời gian dài, lại nhẹ nhàng, cùng với sự phức tạp trong chế biến, loại bọc đậu phụ này thích hợp với việc sản xuất trong các nhà máy và phân phối rộng rãi theo quy mô lớn. Tới năm 1974, các nhà máy lớn đã sử dụng tới hai tấn đậu tương mỗi ngày để tạo ra 116.600 chiếc bọc đậu phụ. Tới năm 1980, các nhà máy hiện đại quy mô lớn có năng suất lên tới 300.000 tới 450.000 bọc mỗi ngày bằng phương thức chế biến chiên ngập dầu qua băng tải. Tại thời điểm hiện tại, khoảng một phần ba sản lượng đậu tương dùng cho chế biến đậu phụ ở Nhật là dành cho đậu phụ chiên ngập dầu, và ước chừng 85% trong số chúng được chế biến thành bọc đậu phụ.\nTrong thần thoại Nhật Bản, aburaage là món ăn yêu thích của Kitsune và thần Inari."
}
] |
Tōfu Hyakuchin | https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C5%8Dfu_Hyakuchin | [
{
"section": "summary",
"content": "Tōfu Hyakuchin (豆腐百珍, Đậu phụ bách trân) là cuốn sách dạy nấu ăn của Nhật Bản được xuất bản vào năm 1782 dưới thời Edo. Tên tác giả được gọi là Seikyōdōjin Kahitsujun (醒狂道人 何必醇, Tỉnh Cuồng Đạo Nhân Hà Tất Thuần); người ta cho rằng tên thật của ông là Sodani Gakusen (曽谷学川, Tăng Cốc Học Xuyên) (1738–1797), thợ khắc con dấu quê quán ở Osaka. Tác phẩm liệt kê tới 100 công thức chế biến đậu phụ. Do sách này được phổ biến rộng rãi mà tác giả cho ra mắt hai tập kế tiếp có nhan đề Tōfu Hyakuchin Zokuhen (豆腐百珍続編, Đậu phụ bách trân tục biên) và Tōfu Hyakuchin Yōroku (豆腐百珍余録, Đậu phụ bách trân dư lục)."
}
] |
Rượu ngô Bản Phố | https://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_ng%C3%B4_B%E1%BA%A3n_Ph%E1%BB%91 | [
{
"section": "summary",
"content": "Rượu ngô Bản Phố hay còn gọi là rượu ngô Bắc Hà là một thứ rượu ngon đặc sản của người H'Mong và người Dao ở Bản Phố, cao nguyên Bắc Hà, Lào Cai. Cùng với rượu Táo Mèo và rượu San Lùng, rượu ngô Bản Phố là loại rượu nổi tiếng của Lào Cai.\nRượu ngô Bản Phố nấu từ nước lấy từ suối Hang Dế. Ngô dùng nấu rượu Bản Phố không phải trồng ở nương rẫy hoặc thung lũng, mà ở trên núi đá cao heo hút, đặc biệt là giống ngô vàng trồng ở xã Lùng Phình (Bắc Hà) cho ra nhiều rượu có hương thơm nồng rất ngon. Sau khi thu hoạch, ngô được giữ nguyên bắp, phơi khô và bảo quản để nấu rượu dần. Bí quyết tạo nên sự khác biệt của rượu ngô Bản Phố với các loại rượu khác là lên men bằng bột bông của cây \"pa\", còn gọi là cây Hồng Mi(?)"
}
] |
Kem xoài | https://vi.wikipedia.org/wiki/Kem_xo%C3%A0i | [
{
"section": "summary",
"content": "Kem xoài, còn gọi là sorbetes xoài, là một loại hương vị kem Philippines được chế biến bằng cách sử dụng xoài Philippines chín nghiền thành bột hoặc xay nhuyễn. Đây là một trong những hương vị phổ biến nhất của món kem sorbetes truyền thống, do có rất nhiều xoài ở quần đảo này.Hương vị này cũng đã được chuyển thể thành kem thương mại thông thường ở Philippines, bao gồm Magnolia (không liên kết với thương hiệu Magnolia của Mỹ) và Selecta, và đã lan rộng ra các quốc gia khác."
}
] |
Nước sốt thịt nướng | https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_s%E1%BB%91t_th%E1%BB%8Bt_n%C6%B0%E1%BB%9Bng | [
{
"section": "summary",
"content": "Nước sốt thịt nướng (viết tắt thành sốt BBQ) là loại nước sốt được dùng trong ướp, phết, phụ gia hoặc ăn kèm với thịt nướng. Đây là một loại gia vị phổ biến ở miền Nam Hoa Kỳ và sử dụng cho nhiều loại thực phẩm khác nhau.Các thành phần của nước sốt rất da dạng, nhưng hầu hết đều phải có giấm, tương cà chua hoặc sốt mayonnaise (hay một hỗn hợp tương tự khác) làm chất nền, cũng như nước khói, bột hành tây, gia vị mù tạc, tiêu đen và chất ngọt đường hoặc mật đường."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Một số quan điểm cho rằng nước sốt thịt nướng đã xuất hiện tại Mỹ từ thế kỷ 17. Nước sốt cũng được đề cập trong cả văn học Anh và Pháp khoảng hơn hai trăm năm sau đó. Sốt mù tạc Nam Carolina, một loại nước sốt thịt nướng, được cho là bắt nguồn từ những người định cư Đức vào thế kỷ 18.Nước sốt thịt nướng tự làm ban đầu có nguyên liệu chủ yếu là giấm, muối và tiêu đen. Đường, nước sốt cà chua và sốt Worcestershire bắt đầu được sử dụng vào những năm 1920, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng đường và nguyên liệu thêm vào đã gia tăng đáng kể.Nước sốt thịt nướng được bán ra thị trường lần đầu bởi Công ty Nước sốt thịt nướng Georgia tại Atlanta vào năm 1909. Heinz là doanh nghiệp lớn đầu tiên bán nước sốt thịt nướng đóng chai vào năm 1940. Ngay sau đó, General Foods đã cho ra mắt sản phẩm \"Open Pit\". Dù chỉ mới tham gia thị trường vào khoảng những năm 1960, Kraft Foods nhanh chóng trở thành công ty dẫn đầu nhờ sự quảng cáo rầm rộ. Kraft cũng bắt đầu sản xuất dầu ăn đa dụng đi kèm với các túi gia vị để làm nước sốt thịt nướng."
}
] |
Bít tết quay | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ADt_t%E1%BA%BFt_quay | [
{
"section": "summary",
"content": "Bít tết quay là một món ăn truyền thống của Anh, gồm thịt bò được đem đi quay. Về cơ bản nó là một món chính, nhưng những miếng thịt thừa cũng thường được sử dụng với bánh mì hoặc băm nhỏ. Ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Canada, Ireland, Nam Phi, New Zealand và Úc, bít tết quay là một trong những loại thịt truyền thống được phục vụ vào bữa trưa hoặc bữa tối Chủ nhật, mặc dù nó cũng thường được phục vụ như một loại thịt nguội trong các cửa hàng thức ăn ngon, thường có trong bánh sandwich. Một món ăn phụ truyền thống của bít tết quay là bánh pudding Yorkshire.\nBít tết quay là món ăn quốc gia đặc trưng của Anh và mang ý nghĩa văn hóa đối với người Anh, có trong bản ballad năm 1731 \"The Roast Beef of Old England\"."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Mặc dù vậy, bít tết quay thường không được tiêu thụ ở nước Anh thời trung cổ: \"không có bữa tiệc thời trung cổ nào có... bít tết quay, ngay cả ở Anh\"."
},
{
"section": "Nghệ thuật ẩm thực",
"content": "Sandwich bít tết weck là một món ăn truyền thống ở phía tây New York, có từ đầu những năm 1800. Bít tết quay thỉnh thoảng được ăn kèm với cải ngựa hoặc nước sốt cải ngựa. Ở Đan Mạch, nó chủ yếu được ăn chung bánh sandwich trần, được gọi là smørrebrød."
},
{
"section": "Sandwich bít tết quay",
"content": "Sandwich bít tết quay thường bao gồm bánh sandwich, bít tết quay nguội (hay thức ăn thừa từ bữa tối hoặc thịt nguội), rau diếp, cà chua và mù tạt, mặc dù việc món ăn sử dụng các nguyên liệu như pho mát, cải ngựa, ớt tươi/bột, và hành tím không phải là hiếm."
}
] |
Tất niên | https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A5t_ni%C3%AAn | [
{
"section": "summary",
"content": "Tất niên hay cúng tất niên, lễ tất niên, tiệc tất niên là một nghi thức nhằm ghi nhận việc kết thúc một năm và chuẩn bị bước sang năm mới. Tất niên có thể là một bữa tiệc tất niên, liên hoan cuối năm để bước sang năm mới (Tết Tây) và là một phần trong nghi thức Tết diễn ra vào những ngày cuối năm âm lịch, từ ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu) được gọi là ngày tất niên. Đây là ngày các thành viên trong gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Ngoài ra, tùy vào phong tục tập quán ở mỗi vùng, việc cúng tất niên có thể được gia chủ mời thêm bạn bè và người thân đến dự.\nTất niên thường diễn ra vào buổi chiều và buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên sau đó dọn tiệc mời khách đến dự. Tất niên là lúc mọi người quây quần bên nhau và bên những món thức ăn và cùng chào đón đêm trừ tịch, giao thừa và năm mới là một phong tục tập quán lâu đời của người dân nhiều quốc gia. Riêng đối người Việt Nam, nó mang nét đẹp văn hóa lâu đời của người Việt Nam."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Ngày tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 Tháng giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, nó được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thường làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang không nơi nương tựa.\nMâm lễ cúng tất niên tùy theo điều kiện gia đình cũng như phong tục tập quán mỗi vùng có thể thịnh soạn hay thanh đạm, tuy nhiên một số thành phần bắt buộc phải có khi cúng theo phong tục của người Việt Nam gồm: hương hoa, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng, cỗ mặn được bầy biện đầy đặn, trang nghiêm.\nSắp dọn bàn thờ. Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, Mặt Trăng và hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng. Phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Có nhà cũng cắm \"cành vàng lá ngọc\" (một thứ hàng mã) với sự cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc và buôn bán lãi gấp nhiều lần năm trước. Ở giữa có trục \"vũ trụ\" là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu và vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen hai cái đĩa giữa đèn và hương để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó). Trước bát hương để một bát nước trong để coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.\nVì Tất niên luôn có ý nghĩa tích cực trong đời sống của người Việt Nam ta nên phần lớn các công ty, xí nghiệp, thương nghiệp, hội đoàn thường tổ chức tiệc tất niên vào buổi chiều hay buổi tối cuối năm để ăn mừng công việc, những dự án thành công, sự phát triển, tăng trưởng của công ty trong năm vừa qua, đồng thời, chào đón năm mới đang đến gần. Chính vì thế, đối với dân kinh doanh hay công sở, tiệc tất niên còn là cơ hội để bạn gặp gỡ, giao lưu với các đồng nghiệp, nhất là những đồng nghiệp ở phòng khác rất ít khi gặp mặt.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Công ty Liên Thành | https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ty_Li%C3%AAn_Th%C3%A0nh | [
{
"section": "summary",
"content": "Liên Thành Thương Quán, tên đăng ký tiếng Pháp: Société de Lien Thanh, hay được biết với tên thông dụng là Công ty Liên Thành, là một tổ chức kinh doanh do các sĩ phu yêu nước ở Bình Thuận sáng lập vào năm 1906 để hưởng ứng phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng tại Trung Kỳ. Tên Liên Thành được lựa chọn với ngụ ý bảo tồn truyền thống, có ý nghĩa là thành hoa sen, nguyên là tên cũ của tỉnh Bình Thuận, xuất phát từ một hồ sen nằm ở quận Hoà Đa.\nTrên phương diện lịch sử, Công ty Liên Thành đánh dấu sự hình thành của chủ nghĩa tư sản dân tộc ở Việt Nam, khởi nguồn từ tinh thần dân tộc rồi sau đó chuyển đổi sang tinh thần thực nghiệp Tây phương. Đây cũng là công ty Việt Nam có lịch sử tồn tại dài trên 100 năm và vẫn còn hoạt động cho đến tận ngày nay."
},
{
"section": "Lịch sử ra đời và phát triển",
"content": "Liên Thành Thương Quán ban đầu được Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (là hai con trai nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông), Ngô Văn Nhượng, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất lập nên, nguyên đặt trụ sở Tổng cuộc ở làng Thành Đức, nay là di tích số 306 Trần Hưng Đạo, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.\nTương ứng với cương lĩnh hành động 3 điểm \"Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh\" của phong trào Duy Tân hồi bấy giờ, Liên Thành Thương Quán là một trong 3 tổ chức có các chức năng văn hoá - chính trị - kinh tế gắn liền nhau:\n\nDục Thanh Học hiệu: được thành lập năm 1907, dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ.\nLiên Thành Thư xã: được thành lập năm 1905 để truyền bá các sách báo có nội dung yêu nước.\nLiên Thành Thương quán: được thành lập ngày 6 tháng 6 năm 1906 để làm kinh tế gây quỹ hoạt động, đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân dân.Vào lúc đó, do các ngành nghề chính trong nền công nghiệp và nền thương mại của Đông Dương đều do tư bản Pháp và Hoa kiều lũng đoạn, nên Liên Thành Thương Quán lựa chọn sản xuất và kinh doanh nước mắm - là ngành nghề kinh doanh nhỏ, chưa nằm trong tay tư bản nước ngoài. Ngoài nước mắm, Liên Thành Thương Quán còn kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn, buôn bán thuốc bắc, vải vóc ở thời gian trước năm 1922.\nTrong thời gian ban đầu mới thành lập, nhờ có sự ủng hộ của những người có cảm tình với phong trào Duy Tân, cũng như viên công sứ Pháp tại Bình Thuận là Claude Leon Lucien Garnier có tư tưởng Dân quyền, nên Liên Thành có điều kiện phát triển trong vài năm đầu tiên. Năm 1909, Liên Thành Thương Quán thuê ngôi nhà số 1/2/3 Quai Testard và mở phân cuộc kinh doanh ở Sài Gòn. Năm 1911, Nguyễn Trọng Lợi qua đời, Hồ Tá Bang thay thế ở chức vụ Tổng lý - tức Giám đốc. Ông đã khéo léo xoay xở để đưa công ty vượt qua quãng thời gian khó khăn, lúc phong trào Duy Tân bị đàn áp và Liên Thành bị liên tục gây khó dễ.\nNăm 1917, Nguyễn Quý Anh được bầu làm Tổng lý, còn Hồ Tá Bang đảm nhiệm Nghị trưởng (Chủ tịch Hội đồng Quản trị) và chính thức dời Tổng cuộc vào Chợ Lớn, lại mua thêm một lô đất ở Khánh Hội xây vựa chứa nước mắm. Lúc này, vốn của Công ty đã lên đến 93'200 đồng bạc Đông Dương. Đến năm 1919, Nguyễn Quý Anh giao lại trách nhiệm Tổng lý cho Trần Lệ Chất, và Trần Lệ Chất đã tiếp tục đưa Liên Thành sang một thời kỳ phát triển rực rỡ.\nNăm 1922, công ty xây dựng trụ sở ở Khánh Hội và dời Tổng cuộc từ Chợ Lớn về đây. Trong cùng năm, nước mắm Liên Thành tham gia đấu xảo ở Marseille, Pháp và tạo ra tiếng vang lớn. Từ sau đó, công ty Liên Thành dần mở rộng mạng lưới gồm các phân cuộc ở tỉnh lỵ Phan Thiết, Phú Hài (Phan Thiết), Mũi Né, Hưng Long (Phan Thiết), Phan Rí, Hội An, với địa bàn phân phối nước mắm ở nhiều tỉnh miền Trung và miền Nam, phủ qua cả Campuchia và cả ở châu Âu.\n\nNăm 1960, Liên Thành xây dựng một nhà máy sản xuất phân bón không mùi từ xác cá tại Phú Hài, Phan Thiết. Trong ngành sản xuất nước mắm, đây là một phát kiến quan trọng để tận thu phế phẩm. Sản phẩm phân bón Phú Hài nhanh chóng được các nhà vườn Đà Lạt chấp nhận tiêu thụ.\nSau khi Trần Lệ Chất mất năm 1969, ông Huỳnh Văn Dậu giữ trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị cho đến khi ông đồng ý hiến công ty cho Nhà nước vào năm 1979 với điều kiện là giữ lại tên Liên Thành cùng với bàn thờ 6 cụ tổ sáng lập. Công ty cũng thực hiện việc chi trả cổ tức và cổ phần cho các cổ đông cũ trước khi chuyển sang sở hữu nhà nước.Sau khi được quốc hữu hoá, các phân cuộc của Liên Thành ở các tỉnh được chuyển đổi thành các cơ sở nước mắm quốc doanh ở địa phương, nhà máy phân bón Phú Hài chuyển thành Xí Nghiệp Quốc doanh Phân bón Phú Hài, còn cơ sở chính của Liên Thành ở Sài Gòn được gộp chung với 9 doanh nghiệp sản xuất nước mắm tư nhân trên địa bàn thành Xí nghiệp Quốc doanh nước mắm Liên Thành, đến năm 1990 thì đổi thành Xí nghiệp Chế biến Thủy hải sản Liên Thành. Năm 2001, theo chủ trương của Nhà nước, Xí nghiệp Chế biến Thủy hải sản Liên Thành được cổ phần hoá và sau đó đổi tên thành Công ty Cổ phần Chế biến Thủy hải sản Liên Thành cho đến ngày nay."
},
{
"section": "Liên Thành Thương Quán - Dấu ấn lịch sử",
"content": "Liên Thành Thương Quán đã giúp đỡ Nguyễn Tất Thành - tức Chủ tịch Hồ Chí Minh - trong quá trình từ Phan Thiết vào Sài Gòn và lên tàu ra nước ngoài. Năm 1911, Nguyễn Tất Thành được ông Hồ Tá Bang, Trần Lệ Chất giúp đỡ từ Phan Thiết vào Sài Gòn với giấy thông hành tên Văn Ba, đồng thời bố trí cho Nguyễn Tất Thành ở lại ở trụ sở phân cuộc Chợ Lớn ở 1/2/3 Quai Testard. Ngôi nhà này nay là Di tích Lịch sử Nguyễn Tất Thành ở số 5 Châu Văn Liêm, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Liên Thành Thương Quán còn hỗ trợ tài chính cho Nguyễn Tất Thành trước khi lên tàu sang Pháp.\nTrong thời gian từ khi sáng lập đến năm 1975, Công ty Liên Thành được ghi nhận đã có nhiều đóng góp tài chính cho phong trào Duy Tân, phong trào Đông Du, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam."
}
] |
Bánh gối | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_g%E1%BB%91i | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh gối (hay ở Trung Bộ gọi là bánh quai vạc và Nam Bộ gọi là bánh xếp) là một loại bánh của Việt Nam. Tránh nhầm sang bánh há cảo rán của Trung Quốc (Hán Việt: oa thiếp) và bánh Du giác; khi ăn bánh vẫn còn giòn tan như cái giòn của vỏ bánh và giàu hương vị. Bánh gối được biết tới lần đầu tại Hải Phòng và Hà Nội trước năm 1955, nghĩa là bánh gối xuất hiện như một món ăn vặt cùng thời điểm với những bánh chín tầng mây, quẩy, há cảo,..."
},
{
"section": "Biến tấu",
"content": "Bánh gối cà ri (tiếng Mã Lai: Karipap, Epok-epok; tiếng Trung: 咖哩角,咖哩饺; bính âm: gālí jiǎo; tiếng Thái: กะหรี่ปั๊บ, RTGS: karipap) là một chiếc bánh nhỏ bao gồm cà ri với thịt gà và khoai tây trong vỏ bánh chiên giòn hoặc nướng. Cà ri khá dày để ngăn không cho nó chảy ra khỏi vỏ bánh.\nLà món ăn nhẹ phổ biến ở Malaysia và Singapore, bánh \ngối cà ri là một trong những loại với các loại nhân khác nhau, mặc dù bây giờ nó là loại phổ biến nhất. Các giống phổ biến khác bao gồm trứng, cá mòi, và hành hoặc có vị ngọt như khoai mỡ.\nBánh được thưởng thức trên khắp Brunei, Malaysia, Indonesia, Singapore, Myanmar và Thái Lan. Nó cũng có nhiều điểm tương đồng với empanada, một loại bánh ngọt phổ biến ở các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha."
},
{
"section": "Cách chế biến",
"content": "Nhân thường là miến, mộc nhĩ, trứng, tôm. Đôi khi gồm khoai tây lát, hành, đậu, đậu lăng, macaroni hoặc mì, hạt thông,... Nếu như bạn ngán vị mặn của nhân thịt thì thay bằng bánh nhân ngọt cũng là một sự lựa chọn không tồi. Bánh sẽ có nhân là đậu xanh ngào đường, dừa nạo hay lạc, cơm sầu riêng..."
},
{
"section": "Sự phổ biến trên thế giới",
"content": "Ngoài việc bánh gối có xuất xứ từ há cảo chiên của người Hoa, lại có ý kiến cho rằng bánh gối có nguồn gốc từ samosa của Ấn Độ hay từ món bánh gối empanada của ẩm thực Mỹ - Latinh.\nĐúng như tên gọi Empanadas có nghĩa là \"gói trong bánh mì\" thì bánh Empanadas có hai phần chính quan trọng là phần vỏ bánh và phần nhân bên trong. Phần vỏ bánh thì hầu như khá giống nhau ở nhiều nước và phần lớn được làm từ bột mì, đôi khi có nơi người ta sử dụng bột ngô, bột khoai tây,... Mặc dù chưa có khẳng định chắc chắn nào về nơi bắt nguồn của bánh Empanadas, nhưng theo nhiều tài liệu ghi nhận lại thì Empanadas xuất hiện sớm nhất ở Tây Ban Nha. Trong một quyển sách dạy nấu ăn ở Catalan, Tây Ban Nha xuất bản năm 1520 thì đã có ghi chép về cách chế biến món bánh Empanadas với hương vị hải sản. Và Empanadas trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là \"gói trong bánh mì\".\nEmpanadas thường có một hình dạng phổ biến là hình bán nguyệt. Người ta sẽ cán mỏng vỏ bánh cho có hình tròn, đặt nhân lên và gấp đôi bánh lại, đồng thời ép chặt mép bánh cho 2 lớp vỏ dính vào nhau là đã ra hình bán nguyệt đẹp mắt. Tuy nhiên cũng có nơi, người ta làm bánh Empanadas theo dạng hình tròn, thay vì gấp đôi vỏ bánh lại thì người ta sử dụng 2 lớp vỏ bánh chồng lên nhau. Chính vì dạng bánh hình bán nguyệt này mà người Quảng Đông ở Trung Quốc mới đưa vào Việt Nam món há cảo chiên mà người Việt chúng ta mới có món bánh gối bây giờ.\nEmpanadas có 2 loại nhân cơ bản là nhân ngọt và nhân mặn. Nhân ngọt thì thường bao gồm các nguyên liệu như bơ, trứng, socola, mật ong, các loại trái cây... Nhưng loại bánh Empanadas nhân mặn thường phổ biến hơn.\nBánh Empanadas nhân mặn rất đa dạng nguyên liệu như thịt heo, bò, gà, hải sản... hoặc thậm chí có nơi người ta còn sử dụng thịt dê, thịt Ilama (loại lạc đà không bướu) để làm phần nhân bánh. Ngoài nguyên liệu chính là thịt thì nhân bánh Empanadas còn được cho thêm các nguyên liệu như khoai tây, quả oliu thái nhỏ, phô mai, trứng, rau củ... nên khá đa dạng khẩu vị cho người ăn lựa chọn.\nSau khi gói bánh Empanadas xong thì người ta sẽ cho vào lò nướng hoặc nếu không có lò nướng sẽ mang bánh Empanadas đi rán chín cũng được. Tuy nhiên, nướng bằng lò thì bánh sẽ chín đều và ít ngấy dầu hơn.\nỞ hầu hết các nước phổ biến bánh Empanadas thì người ta thường sử dụng bánh này cho bữa ăn sáng, ăn xế. Đặc biệt vào dịp lễ hội thì các gia đình cũng thường làm bánh Empanadas để bữa ăn trở nên phong phú hơn.\nMột trong những lý do bánh Empanadas phổ biến ở nhiều nước phương Tây có lẽ do đây là loại bánh khá dễ làm. Đặc biệt phần nhân bánh thì tùy khẩu vị, tùy đặc sản từng vùng mà người làm bánh có thể \"thiên biến vạn hóa\" theo sở thích riêng. Do đó, bánh Empanadas đi qua mỗi nước sẽ có vài biến thể đặc trưng riêng biệt khiến cho món bánh \nnày trên thế giới càng có nhiều phiên bản đa dạng, ăn hoài không thấy ngán nên số lượng người yêu chuộng nó cũng ngày càng nhiều hơn."
}
] |
Vlaai | https://vi.wikipedia.org/wiki/Vlaai | [
{
"section": "summary",
"content": "Vlaai Limburg (tiếng Limburg: vlaai, vlaoj hoặc flaai. Số nhiều: vlaaien) là một loại bánh pastry bao gồm bột và nhân, theo truyền thống, nó gắn liền với các tỉnh Limburg được tìm thấy ở cả Hà Lan và Bỉ, cùng với Đức thông qua đường biên giới.\nVlaai thường được ăn vào những dịp đặc biệt và cho các sự kiện quan trọng trong đời, đặc biệt là ở tỉnh Limburg của Hà Lan, ví dụ như dịp sinh nhật và tang lễ. Khi ăn vào dịp đám tang, vlaai thường được làm bằng mận đen (được gọi là: \"Zwarte pruimenvlaai\")."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Có thể nói chắc chắn rằng có rất ít thông tin về lịch sử của vlaaien, ngoại trừ việc chúng không phải là một loại bánh ngọt thuần túy của người Limburg.\nMột truyền thuyết khẳng định rằng vlaiien có từ trước thế kỷ 12. Theo một đề cập trong biên niên sử của tu viện của Sint-Truiden (bản sao còn tồn tại đến năm 1503), Công tước Henry van Leuven bao vây thành phố (ngày nay nằm ở Bỉ), vào năm 1189. \"Những hoạn quan và những tên trộm trung thực và thận trọng của thị trấn\" đã đề nghị anh \"Placenta\" (như nó được diễn đạt bằng tiếng Latinh thời trung cổ) được nướng theo công thức cũ của địa phương. Nó được cho là điều này đã thuyết phục Henry từ bỏ cuộc bao vây. \"Placenta\" đồng nghĩa với từ tiếng Hà Lan Trung cổ \"vlade\" nhưng truyền thuyết không được xác minh theo cách khác, cũng như không thể chắc chắn chính xác những món nướng nào có thể đã được cung cấp.\n\"Bản thảo Gent KANTL\", một cuốn sách dạy nấu ăn của người Trung cổ Hà Lan từ thế kỷ 15, liệt kê một số loại nhân cho \"vlade\" giống như nhân trái cây hoặc sữa trứng, cũng như một công thức vỏ bánh nước nóng cho vlade. Chỉ riêng văn bản thì không rõ liệu các công thức nấu ăn vlade có được đặt trong một lớp vỏ hay không và một trong số chúng có đề cập cụ thể đến việc làm đầy một cái bát - vla trong tiếng Hà Lan hiện đại ám chỉ bánh flan hoặc bánh pudding. Tuy nhiên, nó cũng liệt kê các loại bánh nướng (tarten) với nhân táo hoặc anh đào được nướng đặc biệt trong bánh mì (broot), có nét giống vlaai hiện đại hơn.Cho đến giữa thế kỷ 20, vlaai được coi là một mặt hàng xa xỉ ở Limburg và chỉ được ăn trong các lễ kỷ niệm. Ở nông thôn, chúng hầu như luôn được người dân tự nướng, thường là theo cách truyền thống là trong những tiệm bánh. Vlaaien sẽ được phục vụ vào khoảng 4 giờ chiều trong giờ giải lao uống cà phê, thường là hai hoặc ba phần khác nhau cho mỗi người. Do sự thịnh vượng kinh tế ngày càng tăng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mọi người bắt đầu ăn chúng thường xuyên hơn.\nVlaaien bắt đầu được biết đến rộng rãi hơn bên ngoài Limburg vào cuối thế kỷ 19 chủ yếu là do du lịch ngày càng tăng ở phía Nam Limburg thuộc Hà Lan. Nhiều khách du lịch đã mang vlaai về nhà từ những người thợ làm bánh địa phương. Năm 1986, cửa hàng vlaaien đầu tiên được mở tại Amsterdam. Việc bán vlaaien của một số chuỗi siêu thị cũng giúp phổ biến loại bánh ngọt này. Maria Hubertina Hendrix, còn được gọi là 'Antje van de Stasie', cũng giúp chúng phổ biến ra bên ngoài Limburg. Vào đầu thế kỷ 20, cô đã bán 'Weerter vlaaitjes' của mình tại nhà ga xe lửa ở Weert, và điều này đã khiến món bánh ngọt trở nên nổi tiếng bởi du khách từ khắp Hà Lan. Sau một thời gian, Weerter vlaaien cũng được bán ở Nijmegen. Cô đã có một bức tượng ở Weert từ năm 1988."
},
{
"section": "Biến thể",
"content": "Các biến thể tồn tại trên khắp Hà Lan, Bỉ và các khu vực ở bang Nordrhein-Westfalen của Đức gần biên giới với Hà Lan. Một chiếc bánh vlaai thường có đường kính 26–31 centimet. Nó có sẵn trong nhiều loại nhân trái cây khác nhau, chẳng hạn như anh đào, mơ, dâu tây và mận. Các biến thể khác là một hỗn hợp bơ vụn và đường (\"greumellevlaai\" trong tiếng Limburg, hoặc \"kruimelvlaai\" trong tiếng Hà Lan) và cháo sữa trứng (\"rijstevlaai\")."
},
{
"section": "Chỉ dẫn địa lý",
"content": "Vào ngày 17 tháng 11 năm 2022, Hà Lan và Bỉ đã nộp đơn xin bảo hộ cho Vlaai Limburg như một đặc sản truyền thống và chỉ định địa phương của Liên Âu.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Cà phê sữa | https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A0_ph%C3%AA_s%E1%BB%AFa | [
{
"section": "summary",
"content": "Cà phê sữa là loại cà phê được pha chế đặc biệt và có hai thành phần chính: cà phê và sữa đặc."
},
{
"section": "Trên thế giới",
"content": "Có rất nhiều loại cà phê sữa được chế biến theo khẩu vị từng dân tộc và từng hãng chủ franchise cà phê. Phổ biến nhất có:\n\nLatte: là cà phê sữa kiểu Ý. Thành phần chủ yếu là cà phê pha với sữa nóng và một lớp crema mỏng.\nCappuccino là cà phê sữa kiểu Ý (Italia). Thành phần chủ yếu là cà phê pha với sữa nóng, tuy nhiên lớp crema sẽ dày hơn. Cappuccino phổ biến nhất là được uống cùng với một lớp bột cacao rắc trên cùng."
},
{
"section": "Việt Nam",
"content": "Cà phê sữa kiểu Việt Nam thường chỉ có hỗn hợp cà phê và sữa, không có các loại hương liệu khác, như bột ca cao và/hoặc bột quế như khi người ta pha Cappuccino.\n\nCà phê sữa kiểu miền Bắc: Thoạt tiên người ra rót sữa đặc có đường vào cốc, sau đó rót cà phê lên trên và bưng ra cho khách. Một trong những yêu cầu quan trọng là khách phải nhìn thấy sữa còn nguyên.\nCà phê sữa kiểu miền Nam: Sữa và cà phê được hòa lẫn, thành màu nâu non trước khi bưng ra cho khách.Cà phê sữa ở Việt Nam có hai dạng là cà phê sữa nóng và cà phê sữa đá, cà phê sữa nóng còn có tên gọi là nâu nóng, được dùng thịnh hành tại miền Bắc vào mùa đông do thời tiết lạnh"
}
] |
Hot dog | https://vi.wikipedia.org/wiki/Hot_dog | [
{
"section": "summary",
"content": "Hot dog là một loại đồ ăn nhanh của Mỹ. Là bánh mì (hot dog bun) kẹp xúc xích, thường có thêm mù tạt, nước sốt cà chua, hành, mayonnaise, gia vị có thể có hoặc không có dưa cải Đức (sauerkraut). Từ \"dog\" đã được sử dụng như từ đồng nghĩa với xúc xích từ năm 1884 và các cáo buộc cho rằng nhà sản xuất xúc xích sử dụng thịt chó đã có ít nhất từ năm 1845. Vào đầu thế kỷ 20, ở Đức, việc tiêu thụ thịt chó là bình thường. Những nghi ngờ xúc xích có chứa thịt chó \"đôi khi chính xác\".."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Người ta tin rằng những chiếc hot dog đầu tiên, còn được gọi là “xúc xích dachshund”, được một người nhập cư Đức bán tại một xe hàng thực phẩm ở New York vào những năm 1860. Vào khoảng năm 1870, một người nhập cư Đức khác tên Charles Feltman đã mở quầy hot dog đầu tiên trên đảo Coney, năm đó, ông đã bán được hơn 3.600 bánh mì xúc xích.Tại Chicago năm 1893, triển lãm ở Colombia đã thu hút rất nhiều du khách, những người đã tiêu thụ số lượng lớn xúc xích được bán. Mọi người đều thích món ăn dễ ăn, tiện lợi và rẻ tiền này. Vì xúc xích là một trong những nét văn hóa đặc trưng của người Đức, nên có khả năng họ đã giới thiệu tập quán ăn xúc xích dachshund, mà ngày nay chúng ta gọi là hot dog được kẹp trong một chiếc bánh mì.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Bánh mì cuộn | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_m%C3%AC_cu%E1%BB%99n | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh mì cuộn hay còn gọi là bánh Wrap là một món ăn làm từ bánh mì lát với độ dai mềm để cuộn tròn quanh nhân bánh và thông thường được nướng lên tạo nên lớp vỏ ngoài vàng ruộm, dai dai cùng vị thanh mát của lớp nhân ngập sốt. Vỏ bánh được làm từ bột ngô cán mỏng thành bạt. Nhân bánh rất đa dạng, bao gồm các loại rau củ sạch như xà lách, cà rốt, bắp cải kết hợp cùng với nhiều loại thịt khác nhau như thịt gà, thịt bò hay thịt heo, phần nhân bánh được ướp với các loại sốt.\nNgười dân ở Mexico, Địa Trung Hải và Nam Á đã biết ăn những loại bánh gói hay bánh cuộn từ trước và khoảng những năm 1900. Người Mexico gọi những thứ này là Burritos và chúng có nhiều loại thành phần khác nhau, chủ yếu là bột mì hoặc bột ngô, thường chứa đầy ắp thịt, đậu, gạo, pho mát và các thành phần khác. Món bánh mì cuộn kiểu cách phương Tây (\"bánh mì Tây\") ngày nay có lẽ đến từ California, như một sự tổng hợp của loại Burrito Mexico và Tex-Mex, và trở nên phổ biến vào những năm 1990. Nó có thể đã được phát minh và đặt tên tại một chuỗi cửa hàng phía nam California có tên là \"I Love Juicy\" vào đầu những năm 1980. Quán cà phê có tên Bobby Valentine ở Stamford, Connecticut đôi khi được cho là đã phát minh ra loại bánh này ở cùng thời điểm."
}
] |
Kem sô cô la | https://vi.wikipedia.org/wiki/Kem_s%C3%B4_c%C3%B4_la | [
{
"section": "summary",
"content": "Kem sô cô la là kem với hương vị sô cô la tự nhiên hoặc nhân tạo. Sô cô la là hương vị phổ biến thứ hai ở Mỹ, sau vani."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Các công thức chế biến sô cô la đông lạnh sớm nhất đã được xuất bản ở Naples, Ý vào năm 1693 trên tờ The Modern Steward của Antonio Latini. Sô cô la là một trong những hương vị kem đầu tiên, được tạo ra trước vani, vì các thức uống phổ biến như sô cô la nóng, cà phê và trà là những thực phẩm đầu tiên được biến thành món tráng miệng đông lạnh. Sô cô la nóng đã trở thành một thức uống phổ biến ở châu Âu thế kỷ 17, bên cạnh cà phê và trà, và cả ba loại đồ uống này đều được sử dụng để làm món tráng miệng đông lạnh và không đông. Latini đã sản xuất hai công thức cho kem dựa trên thức uống, cả hai đều chỉ chứa sô cô la và đường. Năm 1775, bác sĩ Ý Filippo Baldini đã viết một luận văn có tên De sorbetti, trong đó ông đã đề nghị kem sô cô la như một phương thuốc cho y tế, bao gồm bệnh gút và scorbut. Kem sô cô la trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Quảng cáo đầu tiên về kem ở Mỹ bắt đầu ở New York vào ngày 12 tháng 5 năm 1777 khi Philip Lenzi tuyên bố rằng kem chính thức có sẵn \"gần như mỗi ngày\". Cho đến năm 1800, kem là một món tráng miệng hiếm và kỳ lạ được hầu hết giới thượng lưu yêu thích. Khoảng 1800 ngôi nhà cách nhiệt được phát minh và sản xuất kem đã sớm trở thành một ngành công nghiệp ở Mỹ."
},
{
"section": "Sản xuất",
"content": "Kem sô cô la thường được làm bằng cách trộn bột ca cao cùng với trứng, kem, vani và đường được sử dụng để làm kem vani. Đôi khi rượu sô cô la được sử dụng cùng với bột ca cao, hoặc sử dụng riêng, để tạo ra hương vị sô cô la. Bột ca cao làm cho kem sô cô la có màu nâu, và việc thêm các chất tạo màu khác là không phổ biến.Codex Alimentarius, cung cấp một hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế cho thực phẩm, khẳng định rằng các hương vị trong kem sô cô la phải từ chất rắn cacao không béo, bao gồm ít nhất 2,0-2,5% trọng lượng hỗn hợp. Bộ luật Quy định Liên bang Hoa Kỳ \"cho phép giảm hàm lượng sữa béo và sữa đặc gấp 2,5 lần trọng lượng của ca cao đặc\", để tính đến việc sử dụng thêm chất làm ngọt.Hàm lượng chất béo tối thiểu của kem sô cô la ở cả Canada và Hoa Kỳ là 8%, không phân biệt lượng chất làm ngọt sô cô la trong công thức."
},
{
"section": "Phân phối",
"content": "Kem sô cô la được bán ở nhiều nơi, bao gồm nhà hàng, quán cà phê, điểm ăn tối, siêu thị, cửa hàng tạp hóa và cửa hàng tiện lợi,... Tiệm kem chuyên bán kem. Sô cô la là một trong năm hương vị kem phổ biến nhất ở Hoa Kỳ và chỉ đứng sau vani."
},
{
"section": "Hương vị khác",
"content": "Kem sô cô la được sử dụng trong việc tạo ra các hương vị khác, chẳng hạn như kem Rocky road. Các hương vị khác của kem có chứa sô cô la chip trộn với kem. Ví dụ, kem sô cô la (trơn) được làm bằng kem vani, sô cô la sô cô la chip (hoặc sô cô la chip nhân đôi) kem được làm bằng kem sô cô la, và kem sô cô la bạc hà được làm bằng kem bạc hà."
}
] |
Meze | https://vi.wikipedia.org/wiki/Meze | [
{
"section": "summary",
"content": "Meze (cũng được gọi là mezze)() chỉ các món ăn nhỏ phục vụ như là món khai vị trong các bộ phận của Trung Đông, các nước vùng Balkans, Hy Lạp, và Bắc Phi. Ở các khu vực Hồi giáo, meze thường được phục vụ như một phần của bữa ăn nhiều món, trong khi ở Hy Lạp và Balkan, chúng được sử dụng nhiều hơn như là đồ ăn nhẹ trong khi sử dụng đồ uống hoặc nói chuyện."
},
{
"section": "Nguồn gốc tên gọi",
"content": "Từ chỉ món ăn, Meze được tìm thấy trong từ điển về các món ăn của Đế quốc Ottoman và xuất phát từ tiếng Ba Tư مزه (mazze \"hương vị, món ăn nhẹ\" < mazīdan \"hương vị\")."
},
{
"section": "Món ăn thông thường",
"content": "Ở Thổ Nhĩ Kỳ, Meze thường bao gồm Beyaz peynir (hay pho mát trắng), kavun (dưa chín thái lát), acılı ezme (loại ớt thường ăn kèm với quả óc chó), haydari (sữa chua với thảo dược), salatası patlıcan (rau trộn để nguội có cà tím), beyin salatası (rau trộn kèm món óc), kalamar tava (mực chiên hay mực ống), midye Dolma và midye tava (hến nhồi hoặc xào), enginar (atisô), cacık (sữa chua với dưa chuột và tỏi), pilaki (thức ăn nấu chín trong một nước sốt đặc biệt), cá heo hoặc sarma (lá nho nhồi cơm hoặc với các loại rau nhồi khác, như ớt chuông), arnavut ciğeri (một món gan, ăn lạnh), salad bạch tuộc và çiğ köfte (thịt viên sống với bulgur).\nỞ Hy Lạp, Síp và Balkans, mezé, mezés hoặc mezédhes (số nhiều) là những món ăn nhỏ, nóng hoặc lạnh, cay hoặc mặn. Các món hải sản như bạch tuộc nướng có thể được bao gồm, cùng với salad, trứng luộc thái lát, bánh mì tỏi, ô liu kalamata, đậu fava, rau xào, melitzanosalata (salad cà tím), taramosalata, phô mai chiên hoặc nướng, gọi là saganaki, hoặc pho mát bò,cừu,hay dê. \n\nCác món meze phổ biến bao gồm:\n\nMutabbal / Babaghanoush - cà tím (cà tím) nghiền và trộn với gia vị.\nHummus - một loại nhúng hoặc lây lan làm từ đậu xanh nấu chín, nghiền\nHummus với thịt (hummus bil-lahm)\nFalafel - bánh viên chiên giòn làm từ đậu xanh, đậu răng ngựa hoặc cả hai.\nTashi - Được làm từ tahini, tỏi, muối và nước chanh với rau mùi tây xắt nhỏ.\nKibbeh trong các món ăn Trung Đông, được làm từ bulghur, thịt băm nhỏ và gia vị\nKibbe Nayye - burghul, xắt nhỏ thịt cừu, và gia vị\nXúc xích thịt cừu và thịt bò cay (naqaniq / maqaniq / laqaniq và sujuk)\nPhô mai Halloumi, thường được cắt lát và nướng hoặc chiên.\nSouvlaki - khối thịt có kích thước cắn (thịt cừu rất phổ biến), nướng trên xiên trên than củi.\nStifado - hầm thịt bò nấu chín chậm với nhiều hành, tỏi, cà chua, quế, hạt tiêu và giấm.\nAfelia - Thịt lợn thái hạt lựu ướp trong rượu với hạt rau mùi, sau đó hầm.\nLountza - Thịt lợn thăn xông khói, thường nướng.\nRau Dolma như ớt, cà tím hoặc bí nhồi với cơm, bạc hà xắt nhỏ, nước chanh, hạt tiêu, thịt băm.\nSarma (còn được gọi là Koubebkia, yaprak hoặc Mashi Warqenab) - Lá nho, nhồi cơm, bạc hà xắt nhỏ, nước chanh, hạt tiêu, thịt cừu băm nhỏ.\nSữa chua (Mast-o-Khiar ở Iran)\nTzatziki - Dip làm từ sữa chua thường, dưa chuột xắt nhỏ với tỏi băm nhỏ và lá bạc hà.\nTarama - một loại trứng cá nhúng dựa trên trứng cá chép, khoai tây nghiền và dầu ô liu. Trong giống Istanbul truyền thống của món ăn này, một phần đáng kể của trứng phải còn nguyên vẹn.\nLabneh - sữa chua có vị tương tự như kem hoặc kem chua nhưng có vị chua hơn.\nShanklish - pho mát sữa bò hoặc sữa cừu\nMuhammara - một hạt tiêu nóng nhúng với quả óc chó xay, vụn bánh mì, tỏi, muối, nước chanh và dầu ô liu\nPastrami - thịt bò khô, khô, khô\nTabbouleh - bulgur, rau mùi tây thái nhỏ, bạc hà, cà chua, hành lá, với nước chanh, dầu ô liu và gia vị\nFattoush - salad làm từ một số loại rau trong vườn và bánh mì pita nướng hoặc chiên.\nArugula (còn được gọi là tên lửa) salad\nSalad atisô\nQuả ô liu\nPhô mai Tulum\nBánh mỳ cắt lát\nWhitebait\nCalamari\nDag Meoushan - cá hồi hun khói với hương thảo, phổ biến ở Israel đặc biệt là trong khi ăn sángỞ Syria, Lebanon và Síp, meze thường là một bữa ăn theo đúng nghĩa của nó,và còn có cả chay, thịt hoặc cá meze. Các nhóm món ăn đến bàn khoảng 4 hoặc năm món (thường là từ năm đến mười nhóm). Có một mô hình cho các món ăn: điển hình là ô liu, tahini, salad và sữa chua sẽ được phục vụ sau các món ăn với rau và trứng, sau đó là các món thịt hoặc cá nhỏ bên cạnh các món ăn kèm đặc biệt, và cuối cùng là các món ăn quan trọng hơn như cá hay thịt vỉ nướng. Các cơ sở sẽ cung cấp các đặc sản riêng của họ, nhưng mô hình vẫn giữ nguyên. Đương nhiên các món ăn phục vụ sẽ phản ánh các mùa. Ví dụ, vào cuối mùa thu,các món thường có ốc. Vì rất nhiều thực phẩm được cung cấp, dự kiến mọi món ăn sẽ được hoàn thành, nhưng được phục vụ theo ý muốn. Ăn meze Cypriot là một sự kiện xã hội.\nỞ Balkan, meze rất giống với antipasti <a href=\"./%C4%90%E1%BB%8Ba%20Trung%20H%E1%BA%A3i\" rel=\"mw:WikiLink\" data-linkid=\"undefined\" data-cx=\"{"userAdded":true,"adapted":true}\">Địa Trung Hải</a> theo nghĩa là chữa các vết cắt lạnh, phô mai và salad là thành phần chủ yếu và nó thường không bao gồm các bữa ăn nấu chín. Ở Serbia, Croatia, Bosnia và Montenegro, nó bao gồm các loại phô mai cứng hoặc kem, kajmak (kem vón cục) hoặc kem smetana, salami, giăm bông và các dạng khác của \"suho / suvo meso\" (thịt lợn hoặc thịt bò), kulen (hương vị đu đủ,xúc xích), thịt xông khói, ajvar và bánh ngọt khác nhau; Ở Bosnia và Herzegovina, tùy thuộc vào hạn chế thực phẩm tôn giáo mà người ta tuân theo, meze loại trừ các sản phẩm thịt lợn và thay thế chúng bằng sudžuk (xúc xích khô, cay) và thịt bò được chữa khỏi giống như pastrami. Ở miền nam Croatia, Herzegovina và Montenegro các dạng thịt chữa bệnh địa trung hải hơn như pršut và panceta và các sản phẩm khu vực như ô liu là phổ biến. Các đĩa meze kiểu Albania thường bao gồm giăm bông prosciutto, salami và phô mai ướp muối, đi kèm với ớt chuông nướng (ớt tây) hoặc ô liu xanh ướp trong dầu ô liu với tỏi. Ở Bulgaria, các loại meze phổ biến là lukanka (một loại xúc xích cay), soujouk (một loại xúc xích khô và cay), sirene (một loại phô mai nước muối trắng), và salad Saladka làm từ cà chua, dưa chuột, hành tây, ớt nướng và sirene. Ở Romania, mezelic có nghĩa là món khai vị nhanh và bao gồm Zacuscă, pho mát và salamis, thường đi kèm với Țuică."
},
{
"section": "Đồ uống có cồn",
"content": "Meze thường đi kèm với đồ uống chưng cất rakı, arak (Syria), ouzo, Aragh Sagi, rakia, mastika hoặc tsipouro. Nó cũng có thể được tiêu thụ với bia, rượu vang và đồ uống có cồn khác. Síp Brandy (phục vụ gọn gàng) là một thức uống yêu thích để đi cùng với meze ở Síp, mặc dù lager hoặc rượu vang cũng được một số người ưa thích."
},
{
"section": "Phục vụ truyền thống",
"content": "Ở Bulgaria, meze được phục vụ chủ yếu ở mức tiêu thụ rượu vang, rakia và mastika, nhưng cũng đi kèm với các đồ uống có cồn khác không phải là địa phương trong khu vực. Ngoài các thực phẩm địa phương truyền thống, meze có thể bao gồm các loại hạt, đồ ngọt hoặc đồ ăn nhẹ đóng gói sẵn. Thuật ngữ meze thường được áp dụng cho bất kỳ loại thực phẩm và đồ ăn nhẹ nào được tiêu thụ cùng với đồ uống có cồn. Ở Hy Lạp, meze được phục vụ trong các nhà hàng gọi là mezingopoleíon và tsipourádiko hoặc ouzerí, một loại quán cà phê phục vụ ouzo hoặc tsipouro. Một tavérna (quán rượu) hoặc estiatório (nhà hàng) cung cấp một mezé như một orektikó (món khai vị). Nhiều nhà hàng cung cấp poikilía nhà của họ (\"nhiều loại\") — một đĩa với một món mezédhes có thể được phục vụ ngay lập tức cho khách hàng tìm kiếm một bữa ăn nhanh hoặc nhẹ. Chủ nhà thường phục vụ mezédhes cho khách của họ tại các cuộc họp không chính thức hoặc ngẫu hứng, vì họ dễ dàng chuẩn bị. Krasnoyzédhes (nghĩa đen là \"rượu-meze\") là một loại rượu phù hợp với rượu vang; ouzomezédhes là meze đi với ouzo."
}
] |
Arroz con pollo | https://vi.wikipedia.org/wiki/Arroz_con_pollo | [
{
"section": "summary",
"content": "Arroz con pollo (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là cơm gà) là một món ăn truyền thống của Tây Ban Nha và Mỹ Latinh, có liên quan mật thiết đến món cơm thập cẩm. Ở Cộng hòa Dominica, loại đồ ăn này được gọi luân phiên là locrio de pollo, và ở Saint Martin, người dân hay gọi Arroz con pollo là lokri hoặc locreo.Có một số cuộc tranh luận về việc liệu món ăn có nguồn gốc từ Tây Ban Nha hay là Puerto Rico. Nhiều người Puerto Rico lưu ý rằng sẽ không thể làm arroz con pollo nếu thiếu đi bia và dầu annatto, đồng thời nghệ tây cũng không thể thay thế được. Bia và annatto hiếm khi sử dụng trong chế biến đồ ăn ở Tây Ban Nha và không bao giờ có trong món arroz con pollo ở quốc gia này. Người Puerto Rico thường dùng annatto trong quá trình chế biến thức ăn, đặc biệt là trong các món cơm như arroz con gandules (cơm với thịt lợn và đậu triều) và arroz con maiz (cơm với ngô và xúc xích). Bia thường được sử dụng trong nhiều món ăn của Puerto Rico như poo guisado (gà hầm om) hoặc asopao de poo (cơm gà hầm). Nhiều món cơm của Puerto Rico được nêm gia vị với sofrito, một loại sốt làm từ hạt tiêu cay thường cho vào trong arroz con pollo.\n\nNhà văn ẩm thực Elisabeth Lambert Ortiz, khi phân tích các khía cạnh của món ăn, cho rằng nguồn gốc của món arroz con pollo dưới dạng cơm thập cẩm của Tây Ban Nha đã phản ánh những ảnh hưởng quốc tế: gà được du nhập từ Ấn Độ và gạo từ châu Á; nghệ tây được giới thiệu bởi các thương nhân người Phoenicia; cà chua và ớt (còn gọi là sofrito) giống như những người bản địa của Châu Mỹ."
},
{
"section": "Biến tấu",
"content": "Ở Colombia, Costa Rica và Panama, món ăn này được làm từ thịt gà xé nhỏ trộn với cơm và rau cắt nhỏ. Nó được phục vụ với xà lách và một lát chuối chín.\nỞ Ecuador, người ta dùng achiote để tạo màu vàng tươi và thường cho thêm nho khô.\nỞ Tây Ban Nha, món paella hỗn hợp được làm từ gà và thỏ, hoặc thỏ rừng, cùng với các sản phẩm truyền thống từ khu vườn tại Địa Trung Hải.\nỞ Peru, gà được nấu theo kiểu săn bắn. Họ cho thêm rau mùi để có màu xanh đặc trưng. Cơm gà vàng cũng thường được làm bằng cách thêm một ít bột palillo thay cho hành ngò. Một loại khác là cơm với gà đỏ, thành phần chính trong nước sốt là panca ají.\nỞ Venezuela, nó được chế biến đơn giản bằng cách hầm gà với gạo. Cơm có thể có màu vàng hoặc không, thậm chí khi hầm cơm vẫn có màu vàng cam."
}
] |
Vatrushka | https://vi.wikipedia.org/wiki/Vatrushka | [
{
"section": "summary",
"content": "Vatrushka (Moldova, nga và tiếng việt: ватрушка) là một loại bánh ngọt (pirog) của Đông Âu. Nó có hình một chiếc nhẫn bằng bột với pho mát quark ở giữa, đôi khi nho khô hoặc một ít hoa quả được thêm vào. Kích thước phổ biến của nó có đường kính khoảng 5 inch, nhưng cũng có phiên bản to hơn. Vatrushka thường được nướng bằng bột nhào với men nướng. Loại mặn được làm với bột nhào không ngọt và nhân có thêm hành tây.Từ nguyên của từ này chưa được chắc chắn. Một giả thuyết phổ biến rộng rãi là tên của nó bắt nguồn từ từ vatra nghĩa là \"lửa\" trong tiếng Slav. Một giả thuyết khác có liên quan đến động từ teret (тереть, \"chà\" hoặc \"nạo\") hoặc thuật ngữ tvorog (творог, \"pho mát quark\")."
}
] |
Ajvar | https://vi.wikipedia.org/wiki/Ajvar | [
{
"section": "summary",
"content": "Ajvar ([ǎj.ʋaːr], tiếng Kirin Serbia: ajвар; tiếng Bulgaria: aйвар; tiếng Macedonia: aјвар) là một loại sốt rau quả, làm chủ yếu từ ớt chuông đỏ. Nó cũng có thể có tỏi, cà tím và ớt. Ajvar bắt nguồn trong ẩm thực Serbia và được biết đến từ lâu như là \"món salad Serbia\" hay \"trứng cá rau quả Serbia\". Nó würde một món ăn phổ biến khắp Nam Tư sau Thế chiến thứ hai và là hiện nay phổ biến ở khu vực Balkan.\nAjvar tự chế ở nhà được làm từ ớt rang, trong khi một số nhà sản xuất công nghiệp sử dụng ớt nấu chín, nào dẫn đến chất lượng thấp hơn. Tùy thuộc vào chất lượng capsaicin trong ớt chuông và số lượng ớt thêm vào, nó có thể trở nên ngọt ngào (truyền thống), cay (phổ thông nhất), hoặc rất cay. Ajvar có thể được sử dụng như quét lên bánh mì hoặc như một món ăn phụ.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Phô mai pizza | https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B4_mai_pizza | [
{
"section": "summary",
"content": "Phô mai pizza bao gồm một số loại và nhiều loại phô mai và các sản phẩm từ sữa được thiết kế và sản xuất để sử dụng riêng cho bánh pizza. Việc này bao gồm xử lý và biến đỏi các loại pho mát giống như mozzarella và các biến thể của mozzarella. Thuật ngữ này cũng có thể đề cập đến bất kỳ loại phô mai nào thích hợp để sử dụng trên bánh pizza. Các loại pho mát phổ biến nhất được sử dụng để chế biến bánh pizza là mozzarella (chiếm khoảng 30%), provolone, cheddar và Parmesan. Emmental, Romano và ricotta thường được sử dụng làm lớp phủ trên bề mặt bánh, và pho mát pizza chế biến được sản xuất riêng cho bánh pizza được sản xuất hàng loạt. Một số loại phô mai pizza sản xuất hàng loạt được bảo quản lạnh sau khi sản xuất và vận chuyển đông lạnh.\nPhô mai pizza đã qua chế biến được sản xuất để tạo ra chất lượng tối ưu về độ nâu, độ tan chảy, độ dẻo, hàm lượng chất béo và độ ẩm. Một số nghiên cứu và thử nghiệm đã phân tích tác động của dầu thực vật, quy trình sản xuất và nuôi cấy, whey protein biến tính và những thay đổi khác để tạo ra pho mát pizza lý tưởng và mang giá trị kinh tế cao. Năm 1997, người ta ước tính rằng sản lượng hàng năm của sản phẩm pho mát pizza là 2 tỷ pound ở Hoa Kỳ và 200 triệu pound ở Châu Âu, và vào năm 2000, nhu cầu về sản phẩm này ở Châu Âu đã tăng 8% mỗi năm. Xu hướng tăng đều đặn sản xuất và tiêu thụ pho mát mozzarella và pizza tiếp tục trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 ở Hoa Kỳ."
},
{
"section": "Sự đa dạng và chủng loại",
"content": "International Dictionary of Food and Cooking định nghĩa bánh pho mát pizza là \"một loại phô mai spun-curd mềm tương tự như Mozzarella làm từ sữa bò... được sử sử dụng đặc biệt cho pizza và chứa hơi ít nước hơn Mozzarella thông thường... \" Hầu hết các loại phô mai pizza có ít nhất 95 phần trăm là Mozzarella, với độ ẩm và hàm lượng chất béo khác nhau. Phô mai pizza đông lạnh có thể được nghiền, trong đó pho mát được chế biến thành các hạt nhỏ hoặc mảnh vụn. Mozzarella có phần trăm độ ẩm thấp có thể được chế biến để dành riêng cho bánh pizza. Phô mai có thể được chế biến thành khối, từ đó chúng có thể được bào, làm thành hạt hoặc cắt lát để sử dụng trên bánh pizza hoặc các loại thực phẩm khác. Phô mai pizza thường bao gồm sự pha trộn của hai hoặc nhiều loại phô mai, chẳng hạn như phô mai Mozzarella có độ ẩm thấp hoặc Provolone. Mozzarella có độ ẩm thấp lần đầu tiên được sản xuất tại các nhà máy sản xuất sữa ở miền Trung Tây Hoa Kỳ, và ban đầu được gọi là \"pho mát pizza\". So với Mozzarella tiêu chuẩn, Mozzarella có độ ẩm thấp có kết cấu rắn chắc hơn, dễ bào hơn, có màu nâu và tan chảy tốt hơn, và ít bị hỏng hơn.Trên toàn cầu, Mozzarella là loại phô mai pizza phổ biến nhất. Tuy nhiên, người ta ước tính rằng ở Hoa Kỳ chỉ có 30% tổng số phô mai pizza được sử dụng là phô mai Mozzarella thực sự. Provolone là loại được sử dụng phổ biến thứ hai ở quốc gia này. Cheddar có thể được trộn với Mozzarella để giữ độ dai vốn có của nó. Parmesan bào có thể được thêm vào mặt trên của bánh pizza, và thường không tan chảy tốt khi nấu chín. Nhiều loại pho mát pizza đã qua chế biến được sản xuất, bao gồm cả pho mát tương tự. Provel là một ví dụ. Các loại pho mát pizza khác bao gồm Emmental, Romano và Ricotta được dùng để phủ lên calzones.Một số loại pho mát có thể được trộn với nhau theo công thức của nó, và mỗi loại có sắc nâu và độ phồng riêng. Ví dụ, sự kết hợp của Mozzarella và Cheddar có thể phồng ít hơn khi nấu chín so với các sự kết hợp khác, bởi vì cheddar có độ đàn hồi kém hơn, trong khi Mozzarella và provolone có thể ít có màu nâu hơn so với các sự kết hợp khác."
},
{
"section": "Đọc thêm",
"content": "Law, Barry A (2010). Tamime, A.Y. (biên tập). Technology of Cheesemaking. Wiley-Blackwell. tr. 13–14, 21, 198, 348, 358–381, 383–385, 387, 508. ISBN 9781444323757. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012.\nSherkat, F.; Walker, M. “Functionality and consumer acceptance of pizza cheese analogue”. Vol 57, no 2. Dairy Industry Association of Australia. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012.\nGovindasamy-Lucey, S.; và đồng nghiệp (tháng 2 năm 2006). “Influence of Condensed Sweet Cream Buttermilk on the Manufacture, Yield, and Functionality of Pizza Cheese”. Journal of Dairy Science. 89 (2): 454–467. doi:10.3168/jds.s0022-0302(06)72109-9. PMID 16428615.\n“Chr Hansen and Novozymes develop enzyme for producing pizza cheese from whey”. Chemical Business Newsbase. ngày 9 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.\nKindstedt, P. S.; và đồng nghiệp (1997). “Chemically-acidified pizza cheese production and functionality”. Irish Republic, Dairy Products Research Centre [5th Cheese Symposium]; Irish Republic, Univ. of Cork. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012.\n“Better Pizza Cheese Processing”. Prepared Foods. ngày 1 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016 – qua Highbeam.\n“G.C. Hahn & Co.: Supplier Spotlight”. Dairy Foods. ngày 1 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012 – qua Highbeam.\nGunstone, F.D.; và đồng nghiệp (2006). Modifying lipids for use in food. Woodhead. tr. 476. ISBN 978-1855739710. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012."
}
] |
Bánh lọt | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_l%E1%BB%8Dt | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh lọt là món ăn vặt đặc trưng có xuất xứ từ Indonesia. Bánh lọt hiện nay là món ăn dân dã của người Nam bộ, món ăn này có mặt ở một vài tỉnh miền Tây Nam bộ như Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… Ở Sài Gòn, món được bán một tại vài nơi có người miền Tây Nam bộ sinh sống. Bánh lọt là món ăn chơi mang tính lành, dễ tiêu hóa. Sợi bánh ngắn, mềm dễ nuốt, người già cũng như trẻ em đều hợp."
},
{
"section": "Đặc trưng",
"content": "Nguyên liệu để có món bánh lọt ngon gồm sợi bánh lọt ngắn, mềm dễ nuốt, được làm thành sợi bằng bột gạo cùng bột năng. Mùi thơm của nước cốt dừa, đường thắng, màu xanh trắng mát dịu của lá dứa, vị man mát, mềm mềm, dẻo dai của bột gạo hòa lẫn bột năng… đã tạo nên một thứ bánh đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long.\nBánh lọt làm thành sợi bằng bột gạo cùng ít bột năng, dùng ăn kèm với món có nước dùng đậm đà. Sợi bánh lọt có hai màu truyền thống là màu trắng tự nhiên và màu xanh từ lá bồ ngót hay lá dứa. Hầu hết bánh lọt truyền thống chỉ ăn với nước cốt dừa, nước đường thắng, thường được rao bán hoặc ở vỉa hè như là một loại thức ăn đường phố."
},
{
"section": "Công thức chế biến",
"content": "Đầu tiên phải chọn gạo, với loại gạo cũ ngon dùng làm bánh lọt thì bánh sẽ không bị nhão. Gạo phải đem ngâm trước với một ít nước tro (hay vôi lắng lấy nước trong để bánh giòn, dai), sau đó xả nước lạnh vài lần cho gạo sạch, để ráo. Đem gạo xay thành bột rồi đăng bột cho ráo nước. Lấy bột gạo pha với một phần bột năng cùng với nước lạnh, không nên pha bột quá loãng, bánh sẽ bị nhão.\nCông đoạn chế biến bánh lọt xào cầu kỳ. Tôm nõn rửa sạch, để ráo, rồi đem ướp với một tí muối,đường,bột nêm. Đậu hà lan ngắt bỏ hai đầu, rửa sạch rồi thái chéo, chần qua nước sôi. Giá đỗ ngắt mũ giá rồi rửa sạch. Phi thơm hành tỏi, cho tôm vào xào. Khi tôm gần chín thì cho giá và đậu vào xào chung, xong trút phần nguyên liệu này vào. Sau đó cho tiếp chao đỏ vào phi thơm với tỏi và dầu ăn, cho phần bánh lọt vào xào lẫn với nước tương. Cuối cùng là công đoạn trộn lẫn tất cả các nguyên liệu và nêm gia vị cho hợp khẩu vị.\nTô bánh lọt có đáng nhớ hay không còn phụ thuộc vào nồi nước súp. Để nồi nước súp thơm ngon nê hầm xương với nước khoảng 45 phút. Khi nồi nước sôi, chỉ cho lửa cháy liu riu và luôn tay hớt bọt nổi lên cho nước súp trong. Nấu khoảng 20 phút, cho cà rốt đã cắt thành từng khối vào hầm nhừ và cho thêm nước một trái dừa tươi vào."
},
{
"section": "Các loại",
"content": "Bánh lọt được dùng để chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, đặc trưng khác nhau của vùng Nam Bộ như chè bánh lọt cốt dừa, chè bánh lọt đậu xanh, chè bánh lọt lá dứa hay bánh lọt xào… Bánh lọt xào là món ngon, tổng hợp từ nhiều nguyên liệu khác nhau: bánh lọt, tôm nõn, xá xíu, chao đỏ, đậu hà lan, giá đỗ và các loại gia vị: nước tương, bột nêm, muối, đường… ngoài ra, khi nhắc đến bánh lọt, nhiều người nghĩ ngay đến bánh lọt nước cốt dừa ngọt, béo nhưng với sự sáng tạo trong cách chế biến món ăn, người miền Tây Nam Bộ đã dùng bánh lọt nấu với nước súp, thịt bằm tạo nên món ăn mặn thú vị."
}
] |
Nếp cái hoa vàng Đại Thắng | https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%BFp_c%C3%A1i_hoa_v%C3%A0ng_%C4%90%E1%BA%A1i_Th%E1%BA%AFng | [
{
"section": "summary",
"content": "Nếp cái hoa vàng Đại Thắng là giống nếp cái hoa vàng tại Đại Thắng, một xã thuần nông nằm ở phía Tây Bắc huyện Tiên Lãng thuộc thành phố Hải Phòng. Nếp cái hoa vàng Đại Thắng là giống nếp cái đặc trưng, có nguồn gốc và được lưu truyền từ lâu đời tại địa phương này. Nếp Đại Thắng khác biệt với nếp cái hoa vàng trồng ở các địa phương khác, nhất là về năng suất và diện tích gieo trồng.\nĐến nay, sản phẩm gạo nếp cái hoa vàng Đại Thắng đã được Thành phố Hải Phòng công nhận đặc sản của địa phương. Sản phẩm Rượu nếp cái hoa vàng Đại Thắng đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm, là một trong 34 đặc sản Hải Phòng giới thiệu tại Chợ Tết Việt 2015 và 2016. Hiện nay, thành phố Hải Phòng, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, Ủy ban nhân dân xã Đại Thắng và nhân dân nơi đây đang nỗ lực xây dựng thương hiệu cấp quốc gia và quảng bá cho sản phẩm gạo nếp cái hoa vàng Đại Thắng."
},
{
"section": "Tổng quan",
"content": "Với lợi thế đồng ruộng bằng phẳng và rộng, được bồi đắt bởi phù sa của sông Văn Úc và sông Mía bao quanh nên vùng đất màu mỡ nơi đây có một điều kiện thổ nhưỡng riêng, rất phù hợp cho sản xuất giống nếp cái hoa vàng. Đây cũng là lý do mà sản phẩm nếp cái hoa vàng Đại Thắng có sự khác biệt với sản phẩm được sản xuất từ những nơi khác: hạt mẩy, tròn, có màu trắng đục, gạo dẻo hơn và thơm hơn khi nấu thành xôi. Trên đồng đất Đại Thắng cứ vào vụ mùa nhà ai cũng cấy nếp cái hoa vàng, bởi nó cho giá trị thu nhập cao hơn nhiều so với cấy các giống lúa khác từ 2-3 lần. Cũng chính vì lẽ đó mà từ nhiều năm nay, diện tích trồng giống lúa này luôn ổn định, khoảng 300 ha/năm, chiếm 90-100% diện tích lúa mùa toàn xã. Cho đến nay, không địa phương nào có được có đến 90% diện tích đất nông nghiệp cấy nếp cái hoa vàng như ở Đại Thắng.\nĐại Thắng là xã có diện tích gieo trồng nếp cái hoa vàng lớn nhất so với các địa phương khác. Ở nhiều nơi khác, do trồng tản mạn và không chú trọng thâm canh, có nơi lúa nếp cái hoa vàng đã dần bị thoái hóa, gạo ít dẻo và thơm ngon như trước. Ở Hải Dương, nơi đầu tiên phục tráng, bảo tồn giống lúa này nhưng đến nay mới chỉ có 18ha tại 3 xã An Phụ, Phạm Mệnh, Long Xuyên, huyện Kinh Môn. Ở Đông Triều, Quảng Ninh nơi có diện tích trồng nếp cái hoa vàng lớn, đã được Cục sở hữu trí tuệ đã ký quyết định số 68611/QĐ-SHTT cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 216248, tuy nhiên diện tích canh tác tản mạn ở 7 xã Yên Đức, Hồng Phong, Hoàng Quế, Nguyễn Huệ... với 600 ha Tại Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa, diện tích nếp cái hoa vàng là 77,6ha. Tại Thái Sơn, Bắc Giang là 30ha. Tại Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình, diện tích nếp cái hoa vàng mới chiếm gần 80% diện tích canh tác. Tại Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội là 50 ha."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Lúa nếp cái hoa vàng Đại Thắng có chiều cao khoảng 120–125 cm, cây cứng, gốc thân to, chống đổ tương đối tốt. Thời gian sinh trưởng dài tới 160 ngày, gieo mạ đầu tháng 6, khả năng đẻ nhánh trung bình yếu (tỷ lệ bông hữu hiệu 50-55%), trỗ bông xung quanh tiết hàn lộ mùng 8 tháng 10 (vì đặc điểm sinh trưởng là phản ứng với ánh sáng ngày ngắn), thu hoạch khoảng một tháng sau khi trổ.\nLúa có khả năng chịu phèn, chịu chua và trũng khá, chịu hạn cuối vụ tương đối tốt; kháng bệnh đạo ôn hay bệnh khô vằn tốt, kháng bệnh bạc lá ở mức trung bình và có thể bị nhiễm sâu đục thân nặng. Năng suất 49-55 tạ/ha, 126,77 hạt chắc/bông. Hạt thóc tròn, dẹt và nhỏ hơn nếp thường, có màu vàng nâu sẫm, tỷ lệ chiều rộng và chiều dài hạt khoảng 1,82 và khối lượng 1000 hạt trung bình 25,5 gram. Gạo hạt ngắn, có hình dáng hơi tròn, màu trắng đục và có mùi thơm nhẹ; sau khi nấu thành cơm(xôi) sẽ cho hạt căng, nở đều, màu trắng ngà, bóng, ráo nước, mềm, dẻo, khi ăn có vị đậm, ngậy thơm và lâu lại gạo; hàm lượng các chất dinh dưỡng như: protein, gluxit, vitamin B, tinh bột đều ở mức cao."
},
{
"section": "Sử dụng",
"content": "Nếp cái hoa vàng Đại Thắng thường được sử dụng nấu cơm nếp, nấu xôi, nấu rượu, gói bánh chưng... Bánh gói bằng nếp cái hoa vàng dẻo, thơm, có thể để được 15-20 ngày trong mùa lạnh mà không bị lại gạo và khác với bánh chưng gói bằng gạo nếp loại khác ở chỗ khi cắt xong bằng lạt bánh sẽ tự dính liền. Nếu không biết cách, cứ dùng sức mà xắn thì có thể bị gẫy đũa. Rượu nếp cái hoa vàng được nấu theo phương pháp cổ truyền, vị êm, hương thơm, không gây đau đầu."
}
] |
Quýt Hương Cần | https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%BDt_H%C6%B0%C6%A1ng_C%E1%BA%A7n | [
{
"section": "summary",
"content": "Quýt Hương Cần là một giống quýt ngọt trồng nhiều ở Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều loại đặc sản về hoa quả nổi tiếng như long nhãn (nhãn xưa chỉ dành cho nhà vua dùng), măng cụt, bưởi Thanh Trà... ngoài ra, bên dòng sông Bồ, còn có quýt Hương Cần."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Quýt Hương Cần tên khoa học là Citrus deliciosa Tenore, thuộc chi Citrus, họ Rutaceae, nằm trong danh mục nguồn \"Gien cây trồng quý cần bảo tồn của Việt Nam\" (Ban hành theo QĐ số 80/2005/QĐ-BNN, ngày 5/12/2005 của Bộ NN-PTNT Việt Nam).\nCây quýt ưa khí hậu nóng, ẩm, nhiều ánh sáng, nên ở Giang Nam (Trung Quốc) được trồng nhiều. Ở Việt Nam có rất nhiều nơi trồng quýt nhưng quýt Hương Cần nổi tiếng nhờ được trồng trên đất phù sa của sông Bồ, thuộc Giáp Kiền?, làng Hương Cần. Người ta thường dùng phương pháp chiết cành để nhân giống giúp cho cây trồng mới phát triển nhanh và không bị thoái hóa giống sau nhiều năm.\nQuýt Hương Cần có đặc điểm khác với các loại quýt khác là khi chín (tháng 10-11) quả có màu vàng cam ở mặt quả và màu xanh lá cây ở phần cuống. Vỏ xốp mỏng như giấy rất dễ bóc, khi bóc quýt có mùi thơm đặc trưng. Các múi quýt dễ tách ra từng múi. Cơm màu hồng nhạt, khi ăn vị ngọt và thanh. Vì thế, mới có câu thơ của Tùng Thiện Vương: \"... chỉ dành để cho người yêu bóc, mùi thơm ngát tận xương...\""
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Theo tác giả Trần Như Lãm trong Hương Cần - Làng quê xứ Huế (Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh - 2006) thì tương truyền tiếng ngon của quả quýt Hương Cần được ví như quýt vùng Giang Lăng (Giang Nam) của Trung Quốc. Nhà thơ Nguyễn Du đã có viết bài thơ \"Tống Nhân\" trong tập Nam Trung Tạp Ngâm, được Quách Tấn dịch, như sau:\n\nNhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm có viết bài thơ về quả quýt ở Hương Cần trong Thương Sơn thi tập (quyển 44, tờ 6a) như sau:"
},
{
"section": "Triển vọng",
"content": "Ngày nay, nhờ kinh tế thị trường, một số hộ nhà nông ở làng Hương Cần, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế đã chuyển đổi hàng chục ha đất ruộng hoặc đất màu ở bãi bồi ven sông Bồ, Giáp Kiền, Hương Cần để trồng quýt. Nhờ đó, cuộc sống đã khá hơn, bình quân thu nhập gấp nhiều lần hơn trồng lúa (2007)."
}
] |
Dango | https://vi.wikipedia.org/wiki/Dango | [
{
"section": "summary",
"content": "Dango (団子, Đoàn tử) là một loại bánh trôi của ẩm thực Nhật Bản được làm từ bột nếp (mochiko), tương tự như bánh dày Nhật Bản mochi (餅, bính). Bánh này thường được ăn với trà xanh. Dango được ăn quanh năm, tuy nhiên theo truyền thống mỗi giai đoạn nhất định trong năm sẽ ăn một loại dango khác nhau. Người ta thường ghim 3, 4 viên dango vào que tre."
},
{
"section": "Các loại dango",
"content": "Có nhiều loại dango khác nhau, thường được đặt tên theo mùa, hay lễ hội nào mà người ta ăn nó. [1] Lưu trữ 2011-11-20 tại Wayback Machine\n\nAnko (餡子, Hãm tử): Bánh đậu đỏ ngọt, chỉ thỉnh thoảng mới dùng các nguyên liệu khác.\nChadango: Bánh dango vị trà xanh.\nBocchan dango: Dango 3 màu. Một màu làm từ đậu đỏ, một làm từ trứng và màu thứ ba từ trà xanh.\nDenpun dango: Loại dango đến từ Hokkaidō làm từ bột khoai tây và nướng với đậu ngọt luộc.\nKuri dango: Dango được bọc ngoài bởi hạt dẻ nghiền nhuyễn.\nChichi dango: Loại bánh ngọt nhẹ làm món tráng miệng.\nHanami dango (花見 団子, Hoa kiến đoàn tử): Cũng có 3 màu, Hanami dango theo truyền thống thường được làm vào dịp lễ hội hoa anh đào. Cho nên, trong tên mới có chữ hoa kiến (Hanami) nghĩa \"ngắm hoa\".\nGoma: hạt mè. Loại bánh này vừa mặn vừa ngọt.\nKibi dango: Dango làm từ bột kê.\nKinako (黄粉, Hoàng phấn): Bột đậu nành nướng.\nKushi dango: Dango xiên que.\nMitarashi dango (御手洗団子, Ngự thủ tẩy đoàn tử): Được bao phủ bởi một loại siro làm từ nước tương, đường và tinh bột. Bánh này được đặt tên theo những bọt bong bóng của \"ngự thủ tẩy\" (Mitarashi), một loại \"nước thánh\" ở trước cổng Hạ Áp Thần xã (Shimogamo jinja), một ngôi đền thần đạo nổi tiếng ở cố đô Bình An kinh.\nNikudango (肉団子, Nhục đoàn tử): Một loại thịt viên.[2]\nTeppanyaki (鉄板焼き): Dango ghim vào que tre có vị cay của món nướng teppanyaki.\nSasa dango: Loại dango được làm và thưởng thức chủ yếu tại vùng Niigata. Sasa dango có hai loại: \"Onna Dango\" và \"Otoko Dango.\" Onna Dango (nghĩa đen là \"Dango Nữ\") có nhân là đậu đỏ, trong khi đó, otoko dango (nghĩa đen là \"Dango Nam\") có nhân là kinpira, một món ăn được nấu từ rễ củ của các loại rau với rong biển, đậu phụ và thịt. Loại này được gói trong lá sậy Nhật Bản sasa (笹) để bảo quản.\nTsukimi dango (月見団子, Nguyệt Kiến Đoàn Tử): loại dango thường ăn trong dịp Trung thu."
},
{
"section": "Biến nghĩa của từ \"dango\"",
"content": "Có một thành ngữ Nhật Bản phổ biến là \"Hana yori dango\" (花より団子), có nghĩa đen là \"dango tuyệt hơn hoa\", muốn nói rằng những thứ thực tế thì tốt hơn là những thứ chỉ có vẻ đẹp bên ngoài.\nDango được các vận động viên cờ vây dùng với nghĩa xúc phạm chỉ những nhóm quân cờ đi không hiệu quả, trông chẳng khác gì mấy cái bánh dango. Dango cũng là tên của trò chơi go variant Lưu trữ 2004-12-05 tại Wayback Machine ra đời năm 1991.\nKiểu tóc với những búi tóc hình dango ở về một phía của đầu thường được gọi là \"odango\"."
},
{
"section": "Phiên bản Việt Nam",
"content": "Bánh hòn là một đặc sản của Phan Thiết, được chế biến từ bột năng, dừa, lạc rang, muối và đường. Khi chế biến xong, nó được lăn qua lớp dừa bào sợi và xiên que giống như dango. Do nguyên liệu đơn giản và cách chế biến nhanh gọn nên nhiều người thường chọn bánh hòn là món ăn vặt quen thuộc cho cả nhà, nhất là những gia đình có trẻ nhỏ."
}
] |
Thịt bồ câu | https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8Bt_b%E1%BB%93_c%C3%A2u | [
{
"section": "summary",
"content": "Thịt bồ câu là loại thịt của chim bồ câu đặc biệt là loại bồ câu thịt. Nó được mô tả là có vị tương tự như mùi vị của thịt gà. Thịt bồ câu được sử dụng từ lâu ở vùng Bắc Âu, Trung Đông, Ai Cập cổ đại, La Mã và Châu Âu thời Trung Cổ. Tại một số nước Đông Á, theo dân gian thì bồ câu là món ăn được nhiều người biết đến vì chúng dễ tìm, dễ chế biến lại ngon và bổ dưỡng và được sử dụng như những vị thuốc. Bồ câu thịt được dùng phổ biến làm thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh ngoài ra dùng để nấu cháo, hầm, nướng...."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Về phân tích cấu trúc, thịt bồ câu chứa khoảng 22,14% protein thô (đạm) cao hơn 3% so với thịt gà, 4% so với thịt bò, 13.3% so với thịt dê, chất béo (mỡ) khoảng 1% trong đó hàm lượng chất mỡ chỉ có 0.73%. Trong thịt chim bồ câu còn có các loại Vitamin A, Vitamin B1, B2, E và nhiều nguyên tố vi lượng là loại nguyên liệu tạo máu và khoáng chất như calci, phosphor, sắt, muối khoáng và một bộ phận acid hữu cơ khác.Trứng chứa đạm 9,5%, chất béo 6,4%, cùng hợp chất đường, calci, sắt, phosphorus, tiết chim có nhiều đạm, sắt. Xương chim bồ câu mềm, giàu sinh tố Chondroizin. Trong gan tạng chim bồ câu có loại sinh tố mật tốt có thể giúp cơ thể hấp thụ cholesterol. Lượng cholesterol trong thịt chim bồ câu rất thấp có thể phòng ngừa bệnh xơ cứng động mạch.Theo Đông Y, thịt chim được gọi là cáp điểu nhục, tiết chim gọi là cáp điểu huyết, trứng gọi là cáp điểu noãn. Thịt bồ câu có vị thơm ngon và lành tính. Chúng có tính bình, vị mặn, đi vào gan thận, dinh dưỡng phong phú, thơm, vị ngọt. Trong các loại thịt bồ câu thì là loại giàu dinh dưỡng nhất là loại chim ra ràng tức chim sau nở khoảng 1 tháng tuổi."
},
{
"section": "Công dụng",
"content": "Theo dân gian một số nước thì thịt chim bồ câu có tác dụng kích thích ăn uống, tăng khả năng tuần hoàn máu, phòng chống lão hoá và tóc bạc sớm, thịt chim bồ câu còn dễ tiêu hoá hơn so các loại gia cầm khác nên có thể dùng làm thức ăn tẩm bổ cho người cao tuổi, trẻ em chức năng tiêu hoá kém. Theo Đông Y đây là loại thực phẩm tốt cho người già, trẻ em, người bệnh và sản phụ Ở Trung Quốc, người ta dùng chim bồ câu cùng với những dược liệu khác dưới dạng món ăn là một vị thuốc khá phổ biến để bổ tỳ, tăng cường, bồi bổ khí huyết, nhất là cho người mới ốm dậy.Thịt chim bồ câu còn có tác dụng bổ thận, bổ âm, khu phong giải độc, kiện tì vị (kích thích tiêu hóa), ích khí huyết. Dùng cho trường hợp gây yếu, hư nhược (thiểu dưỡng), lao phổi, tiêu khát, hay quên, mất ngủ, thần kinh suy nhược, dinh dưỡng không tốt, người cao tuổi suy nhược, phụ nữ huyết hư tắc kinh, bế kinh, thống kinh… Ngoài ra, thịt chim bồ câu còn có thể tăng cường khả năng sinh dục. Theo Lý Thời Trân thì thịt chim bồ câu rất nổi tiếng là có tính kích thích công năng tình dục mạnh mẽ người ta hay nấu món cháo bồ câu ra ràng để có tác dụng bổ dưỡng, tạo thêm sinh lực cho đàn ông"
},
{
"section": "Thông tin khác",
"content": "Việc ăn thịt bồ câu quá mức là một trong những nguyên nhân dẫn đến loài Bồ câu viễn khách tuyệt chủng, lý do chính yếu là việc khai thác thương mại thịt bồ câu. Ngay cả trước thời thực dân, người da đỏ cũng thỉnh thoảng sử dụng thịt bồ câu. Trong những năm đầu thế kỷ 19, thợ săn thương mại bắt đầu giăng lưới và bắn những con chim này để bán cho các chợ trong thành phố, cũng như sử dụng như mục tiêu di động để tập bắn hay thậm chí là sử dụng như phân bón nông nghiệp. Khi thịt bồ câu trở nên phổ biến, thợ săn thương mại bắt đầu săn bắn chúng trên quy mô khổng lồ. Nô lệ và người lao động trong thế kỷ 18 và 19 ở Mỹ thường không ăn loại thịt nào khác. Những năm 1850, người ta nhận thấy dường như số lượng loài chim này đã giảm, nhưng sự tàn sát vẫn diễn ra, và còn diễn ra mạnh hơn khi đường sắt và điện báo phát triển sau Nội chiến Hoa Kỳ.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Xôi gấc | https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%B4i_g%E1%BA%A5c | [
{
"section": "summary",
"content": "Xôi gấc là một loại xôi có màu đỏ đặc trưng của gấc. Món này được dùng nhiều và không thể thiếu trong các ngày lễ Tết cổ truyền và cưới hỏi ở Việt Nam vì nó được tin là đem đến may mắn."
},
{
"section": "Chế biến",
"content": "Đầu tiên bỏ quả gấc lấy ruột, cho rượu trắng vào đánh nhuyễn. Thổi gạo nếp cái đã trộn gấc trong chõ đặt trên nồi hơi hay xoong nước đun sôi, dùng giấy, vôi, đất sét trát kín khe hở ở miệng nồi, xoong nước để giữ hơi, cho hơi bốc qua lỗ hở ở đáy chõ. Đun đều lửa đến khi gấc đỏ thẫm là xôi đã chín."
},
{
"section": "Thành ngữ",
"content": "Ăn mày còn đòi xôi gấc: ý chỉ người đã nghèo hèn (đi ăn mày) còn có những đòi hỏi quá đáng (xôi gấc là món xôi không phổ biến thường nhật mà chủ yếu dùng trong đám giỗ, đám cưới hỏi, ngày tết).\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Bào ngư Bạch Long Vĩ | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0o_ng%C6%B0_B%E1%BA%A1ch_Long_V%C4%A9 | [
{
"section": "summary",
"content": "Bào ngư Bạch Long Vĩ (chủ yếu là loài Bào ngư chín lỗ-Haliotis diversicolor) là nguồn gen đặc hữu, quý hiếm, nằm trong sách đỏ Việt Nam, sinh sống ở khu vực biển thuộc đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng. Đây là sản vật đặc trưng, loài đặc sản mang lại hiệu quả kinh tế cao của huyện đảo này; là nguồn thực phẩm bổ dưỡng, vị thuốc quý, được đánh giá là có chất lượng nhất và là một trong mười đặc hải sản của Việt Nam sánh ngang với bào ngư nổi tiếng ở nhiều nước trên thế giới như: Niu Dilân, Mehicô, Úc… Nhãn hiệu Bào ngư Bạch Long Vĩ đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu"
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Bào ngư là loài nhuyễn thể, thân mềm chân bụng, thuộc chi Haliotis, có vỏ cứng như vỏ sò nhưng dẹt hơn, từ mép vỏ gần miệng xoắn gờ thường tạo thành các lỗ (khoảng từ 7 – 13 lỗ, cũng có tài liệu ghi là từ 7 - 9 lỗ) để hô hấp.\nBào ngư Bạch Long Vĩ chủ yếu gồm hai giống, bào ngư đá và bào ngư lỗ. Bào ngư đá chuyên sinh sống, bám vào các vỉa đá ngầm. Bào ngư lỗ chuyên sống trong các lỗ dưới đáy biển.\nBảo ngư Bạch Long Vĩ phổ biến nhất là giống bào ngư Chín Lỗ, hay còn gọi là ốc \"Cửu Khổng\". Đây là giống chỉ phân bố ở một số số vùng biển như Thanh Lân, Cô Tô, Hạ Mai, Thượng Mai, vịnh Hạ Long, mật độ cao nhất là ở vùng đảo Bạch Long Vĩ. Giống có đặc điểm: vỏ hình thuyền, dài 90 - 100mm, mỏng, nhẹ, chắc; mặt ngoài vỏ sần sùi có nhiều gờ phóng xạ hoặc đồng tâm cắt nhau; mép vỏ có một hàng 14 lỗ hoặc ít hơn, trong đó có 9 lỗ thông mặt trong và ngoài; mặt vỏ ngoài màu xanh sẫm hoặc nâu sẫm, mặt trong sáng bóng với lớp xà cừ láng bóng; chân rộng, bám chắc vào đá, các rạn đá; ưa những vùng nước biển chảy mạnh, dưới triều từ 1 - 15m nước, có độ mặn cao từ trên 20 - 32‰; bào ngư ăn tảo đa bào như: Sargassum, Gracilaria…"
},
{
"section": "Nguồn lợi giảm sút",
"content": "Là nguồn thực phẩm bổ dưỡng, một vị thuốc quý với nhiều công dụng, nguồn lợi Bào ngư Chín Lỗ ven đảo Bạch Long Vĩ giảm sút nhanh do cường độ khai thác cao. Theo Viện Nghiên cứu Hải sản, sản lượng khai thác Bào ngư ở Bạch Long Vĩ trước những năm 1987 đạt 37 tấn bào ngư khô/năm, đến năm 1992 còn 5 tấn khô/năm, những năm gần đây sản lượng khai thác chỉ đạt dưới 1 tấn khô/năm."
},
{
"section": "Tái tạo và bảo vệ nguồn lợi bào ngư",
"content": "Trước nguy cơ kiệt quệ nguồn lợi hải sản này, nhiều hoạt động tái tạo và bảo vệ được triển khai như: “mô hình quản lý 6m nước”, “thiết lập vành đai bảo vệ”, “quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng”, “đề xuất thiết lập khu bảo tồn biển”...Năm 2013, huyện đảo đã nuôi sinh sản thành công giống bào ngư Chín Lỗ, mẻ giống đầu tiên sản xuất được 125.611 con giống (từ 20 kg giống bố, mẹ) và trở thành nơi nhân giống nhân tạo đầu tiên ở Việt Nam. Bào ngư bố mẹ được khai thác tự nhiên ngay tại khu vực biển Bạch Long Vĩ, thuần hóa, cho đẻ và ương nuôi lên bào ngư giống. Nguồn nước và thức ăn (rong, tảo biển) cho ương nuôi đều khai thác tại chỗ. Con giống bào ngư nhân tạo được được nuôi cho tỷ lệ sống cao.\nHiện nay, việc bảo tồn và khai thác phát triển nguồn lợi bào ngư đang được quan tâm, tập trung vào các hoạt động: nuôi trồng theo phương thức nuôi thả tự nhiên, sản xuất giống nhân tạo, thả giống tái tạo nguồn lợi; ban hành những quy định về kích cỡ bào ngư được phép khai thác, cấm khai thác bào ngư vào mùa sinh sản; đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm bào ngư Bạch Long Vĩ."
}
] |
Mì Champon | https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%AC_Champon | [
{
"section": "summary",
"content": "Mì Champon (ちゃんぽん, Chanpon) là một món mì đặc trưng của vùng Nagasaki, Nhật Bản. Nó bao gồm rất nhiều phiên bản khác nhau ở Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc. Món mì được lấy cảm hứng từ ẩm thực Trung Hoa, được làm từ những nguyên liệu như thịt lợn rán, hải sản và các loại rau củ cùng với mỡ lợn; sau đó thêm nước dùng được nấu từ gà và xương lợn. Mì ramen chuyên dùng cho Champon được thêm vào và sau đó luộc. Tùy thuộc vào mùa màng và thời điểm, các nguyên liệu trong món mì Champon sẽ có sự khác nhau. Do đó, hương vị và phong cách món ăn có thể phụ thuộc vào địa điểm và thời gian trong năm.\nDù mì Champon của vùng Nagasaki là phiên bản nổi tiếng nhất, nhưng vẫn có những biến thể khác được tìm thấy ở Nhật. Ankake no Champon làm một là một phiên bản khác được nấu từ nước tương của vùng Tottori, quận Shimane, cũng như thành phố Amagasaki thuộc tỉnh Hyōgo. Ở Akita, một biến thể khác với nước dùng miso được phục vụ cùng nước súp gần như đầy bát.\nỞ Okinawa, Champon là một món cơm được ăn cùng với các loại rau củ, thịt thái mỏng (thịt lợn, thịt nguội hoặc thịt bò băm) và trứng bác ở trên cơm.\n\nMì Jjamppong của Hàn Quốc là một món mì tương tự với nước dùng hải sản cay."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Champon lần đầu tiên được phục vụ bởi một nhà hàng chuyên làm món Trung Quốc là Shikaro. Nhà hàng được thành lập tại Nagasaki vào năm 1899. Theo các nhà hàng, món này dựa trên một món ăn trong ẩm thực Phúc Kiến,湯肉絲麵 (phát âm là tó̤ng nṳ̀ sí mīng trong tiếng Min Bei), nghĩa đen là \"mì sợi nước nóng\". Nó là một món ăn phổ biến với sinh viên Trung Quốc tới Nhật Bản học tập vào thời kì đó. Một số người tin rằng Champon là từ kết hợp giữa tiếng chuông \"chan\" và tiếng trống \"pon\" trong từ điển của người Trung Hoa. Ngày nay, champon là một món ăn đặc sản phổ biến (hay meibutsu/名物/ahv. danh vật) của Nagasaki."
},
{
"section": "Từ nguyên",
"content": "Có một số giả thuyết về nguồn gốc của từ champon. Có giả thuyết cho rằng nó có nguồn gốc từ tiếng Hokkien chia̍h-pn̄g (食飯), mang ý nghĩa: \"ăn một bữa ăn'', và có thể phù hợp với nghĩa: ''một món mì thịnh soạn được làm từ các nguyên liệu hỗn hợp''. Giả thuyết khác thì cho rằng từ champon có nguồn gốc từ từ campur trong tiếng Malaysia hoặc Indonesia, có nghĩa là \"hỗn hợp\" (xem Nasi campur), điều này sẽ phù hợp hơn với nghĩa cũ của thuật ngữ ''trộn lẫn với nhau''\nÝ nghĩa ban đầu về thuật ngữ \"trộn lẫn với nhau\" xuất hiện trong các tài liệu văn bản giữa những năm 1700. Một số từ điển tiếng Nhật truy nguyên từ này sang thuật ngữ Trung Hoa攙和, được phát âm là chham-hô trong tiếng Min-Nan hiện đại và là chānhuò trong tiếng Quan thoại hiện đại.\nCách dùng để nói về thức ăn xuất hiện từ cuối những năm 1800 hoặc đầu những năm 1900. Nó có thể bắt nguồn từ nhà hàng Trung Quốc Shikairō ở Nagasaki."
}
] |
Mochi | https://vi.wikipedia.org/wiki/Mochi | [
{
"section": "summary",
"content": "Mochi (餅 (Bính)/ もち/ モチ, Mochi) là một loại bánh giầy nhân ngọt truyền thống của Nhật Bản làm từ bột gạo nếp hay gạo nếp giã nhuyễn không những được dùng để ăn trong cuộc sống hàng ngày mà còn là vật phẩm dâng lên thần linh và có ý nghĩa mang lại may mắn. Bánh Mochi là vật cúng không thể thiếu trong các gia đình Nhật Bản nhân dịp năm mới. Họ bày trí Mochi ở hốc tường Toko-noma trang trọng trong phòng khách hoặc trong nhà bếp. Những chiếc bánh này được gọi là Kagami-mochi, tức bánh Mochi dâng lên thần linh. Ngày Tết, Tết Trung Thu, người Nhật cúng bánh Mochi để cầu nguyện cho sự trường thọ. Vào những ngày truyền thống, người Nhật buộc bánh Mochi trên thanh tre dài rồi nướng trong đống lửa. Họ tin rằng khi ăn bánh Mochi nướng tại lễ Dondo-yaki sẽ mang lại sức khỏe cho suốt cả năm. Bánh Mochi cũng có mặt trong lễ dựng nhà mới Choto-shiki của người Nhật."
},
{
"section": "Điển tích Thỏ ngọc giã bánh giầy trên cung trăng",
"content": "Nếu như người Việt Nam tưởng tượng trên cung trăng có cây đa và chú Cuội, thì người Nhật tin rằng có một chú thỏ đang sinh sống trên vương quốc của thần Mặt trăng bất tử và đến đêm Otsukimi lại giã bột để làm bánh giầy mochi. Ngoài ra, liên tưởng về một chú thỏ đang ngồi ăn bánh dango cũng xuất hiện ở nhiều địa phương trên nước Nhật.\nMột trong những truyền thuyết về Thỏ ngọc được trẻ con Nhật Bản yêu thích có nguồn gốc từ thần thoại Ấn Độ, kể về 3 con vật là khỉ, cáo và thỏ được Thượng đế thử thách khi Thượng đế hóa thân thành một ông lão và đến xin chúng thức ăn.Trong khi khỉ nhanh nhảu trèo lên cây để hái thật nhiều trái ngon, còn cáo thì đi trộm đồ cúng từ các ngôi mộ để biếu tặng ông lão, chỉ có mỗi thỏ là không có gì cả. Vì vậy để có thức ăn biếu ông lão, thỏ đã lao mình vào đống lửa để hiến tặng chính bản thân mình. Cảm động trước tấm lòng của thỏ, Thượng đế đã hồi sinh cho thỏ rồi đưa nó lên cung trăng để tôn vinh trước tất cả mọi người."
},
{
"section": "Cách làm",
"content": "Người ta chọn loại gạo nếp ngon, đồ kỹ (có thể đồ hai lượt), rồi giã trong cối tới khi có được một khối bột nếp chín dẻo quánh. Thường chỉ những nam thanh niên mới làm điều này, vì nếu giã không nhuyễn khi ăn hạt gạo sẽ mất ngon, dễ bị hỏng bánh.\nĐối với loại mochi có nhân: Pha một giọt màu thực phẩm với 1 chén nước sao cho nước có màu sắc như ý (hoặc không cần màu thực phẩm). Trộn đều bột nếp, đường và nước màu, lưu ý bột nếp làm vỏ bánh sau khi hấp sẽ rất dẻo và dính nên cần cho từ từ từng chút nước vào cho đến khi hỗn hợp bột thành 1 khối dẻo hơi khô.\nLấy màng bọc thực phẩm bọc bột đã nhào. Sau đó cho vào lò vi sóng quay 3 phút chế độ high. Sau đó lấy bánh ra và trộn lại lần nữa bằng muỗng gỗ trong 20 giây, tiếp đến lấy màng bọc lại, cho vào lò vi sóng một lần nữa rồi quay trong 1 phút thì lấy ra, nhanh tay khuấy bột theo đường tròn khoảng 30 giây nữa để làm bột dai.\nNếu không có lò vi sóng thì có thể cho bột vào tô hoặc bọc màng bọc thực phẩm và hấp cách thủy cho đến khi bột chín, trong lại là được.\nRắc đều bột nếp rang chín lên thớt, rồi cho phần bột lên, dùng dao cắt hoặc nhúng tay ướt cho bột không dính tay rồi chia bột thành các phần nhỏ.Xoa một ít bột nếp rang lên tay cho đỡ dính. Bắt đầu vào công đoạn nặn bánh,lấy từng phần vỏ bánh, đập dẹt, cho nhân (đậu đỏ, trà xanh,kem viên nhỏ...) vào rồi đóng bánh lại.\nNgày nay, công nghệ chế biến bánh giầy mochi cũng được tân tiến hoá, không cần phải theo tập tục giã bánh giầy mochi thủ công để đỡ tốn sức, người Nhật còn xay gạo nếp thành bột hay phát minh ra máy làm mochi tự động, chỉ cần cho gạo nếp vào máy sẽ thao tác như một người thợ giã bánh. Mặt khác, bánh giã thủ công khi gạo nếp còn nóng ăn cũng rất ngon."
},
{
"section": "Sử dụng và bảo quản",
"content": "Bánh Mochi loại phổ biến nhất là loại mochi trắng không nhân, nhỏ bằng lòng bàn tay, nặn hình tròn dày chừng 1 đến 2 cm. Bánh sau khi nặn xong có thể ăn ngay hoặc cho vào ngăn mát tủ lạnh vài giờ cho mát.\nCó một số loại dùng để nướng như kirimochi (切り餅 - bánh dày khô dạng khối chữ nhật) và marumochi (丸餅 - bánh dày dạng tròn dẹt) thông thường ăn trực tiếp cùng xì dầu và nori sau khi nướng.Tết Dương lịch là ngày Tết quan trọng của người Nhật nên họ dùng loại bánh dày nướng này cho việc chế biến canh bánh dày zōni để hưởng thêm tuổi mới và cầu bình an. Không những vậy, có cả món bánh dày tẩm bột chiên, gọi là Mochi tempura (餅天ぷら)."
},
{
"section": "Tầm ảnh hưởng của Mochi tại Hàn Quốc",
"content": "Người Hàn Quốc có một loại bánh đặc biệt là songpyeon (tiếng Hàn: 송편), tức bánh giầy hình bán nguyệt (tương tự như Mochi của Nhật Bản). Songpyeon được dùng cho ngày Tết Chuseok (tết Trung thu hay lễ Tạ ơn). Một loại khác là gaepi-tteok (개피떡) hoặc Baram-tteok (바람떡) với nhân đậu trắng và quét dầu mè để chống dính. \nDaifuku của Nhật được Hàn Quốc làm lại với tên gọi là gyeongdan (경단) và chapssal-tteok (찹쌀떡)."
}
] |
Varenets | https://vi.wikipedia.org/wiki/Varenets | [
{
"section": "summary",
"content": "Varenets (tiếng Nga: варенец, nguyên văn 'the stewed one'), đôi khi được viết tắt là stewler hoặc simmeler, là một sản phẩm sữa lên men phổ biến ở Nga. Giống như ryazhenka, nó được làm bằng cách thêm kem chua (smetana) để hấp sữa."
},
{
"section": "Sản xuất",
"content": "Varenets là thức uống làm từ sữa lên men có vị caramel và màu kem mịn. Ngày xưa, sữa được nướng trong lò nướng của Nga và lên men với kem chua.Varenets trong nuôi cấy có bán trên thị trường là sữa đã được tiệt trùng và đồng nhất hóa (với 0,5% đến 8,9% chất béo), và sau đó cấy với vi khuẩn Streptococcus thermophilus để mô phỏng vi khuẩn xuất hiện tự nhiên trong sản phẩm phiên bản cũ."
}
] |
Kushikatsu | https://vi.wikipedia.org/wiki/Kushikatsu | [
{
"section": "summary",
"content": "Kushikatsu (串カツ, Kushikatsu), còn được gọi là kushiage (串揚げ, kushiage), là một món thịt được xiên que cùng các loại rau và được chiên ngập trong dầu của Nhật Bản. Trong tiếng Nhật, từ kushi (串, kushi) có nghĩa là \"xiên que\" , còn từ katsu có nghĩa là thịt mềm hay thịt cốt lết chiên ngập trong dầu."
},
{
"section": "Thành phần",
"content": "Kushikatsu có thể được làm từ thịt gà, thịt lợn, hải sản và các loại rau theo mùa. Chúng được xiên trên kushi được làm từ tre; sau đó nhúng vào trứng, bột mì, panko và chiên ngập trong dầu thực vật. Chúng có thể được dùng mà không có gia vị đi kèm hoặc có thể dùng với nước sốt tonkatsu."
},
{
"section": "Biến thể",
"content": "Kushiage được cho là bắt đầu xuất hiện khi chúng được phục vụ lần đầu tiên tại các quán ăn ở trung tâm thành phố Osaka, trong khu phố Shinsekai . Hầu hết các nhà hàng Kushikatsu đều chuyên về món ăn này. Chủ một quán ăn nhỏ Shinsekai từ năm 1929 được cho là người đầu bếp tiên phong trong việc làm ra Kushikatsu, về sau thực đơn của bà đã trở nên khá phổ biến trong giới công nhân. Bà đã chế biến món ăn này bằng cách xiên các loại thịt và chiên giòn chúng lên, đây có thể nói là loại thức ăn nhanh tiện dụng, không tốn kém và no lâu.Khi thực đơn đó lan rộng đến các khu vực khác của Osaka và các vùng lân cận, Kushikatsu đã được chế biến khác đi với tiêu chuẩn ban đầu của nó; nó được làm từ một loại thực phẩm không giống như ở Tokyo, chẳng hạn như việc cho thịt lợn và hành tây vào xiên xen kẽ. Nhiều loại thực phẩm hơn đã được sử dụng để chế biến món ăn này khi nó được phát triển và lan truyền rộng rãi, trái ngược với thực đơn ở Nagoya hoặc Tokyo, chẳng hạn như những lát gừng ngâm chua mỏng hoặc xúc xích.\nNói chung, tại Osaka, que xiên dùng làm Kushikatsu thường nhỏ hơn và khách hàng có xu hướng gọi số lượng kushi lớn hơn so với ở Tokyo hoặc Nagoya. Điều đó đã khuyến khích nhiều nhà hàng kushiage sử dụng một loại \"bột làm bánh\" trộn sẵn gồm bột trứng và bột mì (điều này khác so với ở Tokyo hoặc Nagoya, nơi bột được làm từ trứng tươi, nước và bột mì với lớp vụn bánh panko). Các nhà hàng kushiage cao cấp ở Osaka phục vụ món kushikatsu theo phong cách Tokyo-Nagoya. Khi đó, khoai mỡ nghiền được thêm vào để cho thức ăn có kết cấu mềm hơn. Các nhà hàng Kushikatsu trong thời gian gần đây thường phục vụ món ăn này theo phong cách fondue, trong đó khách hàng chiên những xiên thịt kushi ngay tại bàn ăn trong chảo sâu lòng cùng với dầu. Kushinobō là một nhà hàng kushiage cao cấp điển hình đặc trưng với phong cách Osaka được nhượng quyền trên khắp Nhật Bản và được đánh giá cao về phong cách phục vụ độc đáo — nhà hàng này sẽ tiếp tục phục vụ các biến thể của kushiage đến bàn của khách cho đến khi khách thông báo rằng họ đã no và không cần thêm nữa.\nLá bắp cải thái hạt lựu cũng là một món ăn phụ miễn phí được chuẩn bị sẵn trong một chiếc bát lớn trên bàn, được cho là có tác dụng ngăn ngừa cảm giác trào ngược trong dạ dày khi thưởng thức món Kushikatsu."
},
{
"section": "Thưởng thức",
"content": "Phong cách ăn uống độc đáo tại các nhà hàng và quán ăn có phục vụ kushikatsu là khi ăn, các thực khách sẽ nhúng xiên thịt vào nồi nước sốt loãng trước khi ăn. Tuy nhiên, do mọi người đều dùng chung hũ nước sốt nên việc gắp lại thức ăn sau khi ăn được coi là hành vi xấu và mất vệ sinh nên thay vào đó, một lát bắp cải sẽ được dùng để múc nước sốt từ nồi và rưới lên kushikatsu. Ở một số nhà hàng, họ đặt chổi hoặc thìa vào nồi chung dùng để nêm gia vị cho món ăn.\nMột số nhà hàng kushiyaki có thực đơn và hướng dẫn bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ khác để cảnh báo du khách không nhúng thức ăn vào nồi nước sốt chung sau khi ăn."
},
{
"section": "Trong văn hóa đại chúng",
"content": "Một bài hát nói về Kushikatsu trong truyện tranh có tựa đề \"Kushikatsu wa ippon\" đã trở nên phổ biến đối với thế hệ sinh năm 1990 khi họ thưởng thức bài hát này trong chương trình bài hát thiếu nhi trên sóng truyền hình.\n\n\"Kushikatsuwa ippon\" (Xiên đơn Kushikatsu), phát sóng trên kênh NHK \n\"Daruma no Ossan no Uta - sōsu no nidozuke wa kinshi ya de\" (Bài hát dành tặng cho Ngài Darma - đừng bao giờ nhúng kushikatsu của bạn hai lần vào nồi nước sốt)"
},
{
"section": "Đọc thêm",
"content": "O'Donoghue, J.J. (ngày 22 tháng 7 năm 2014). “Pancotei: 'Kushikatsu' morsels prepared with obsessive care”. The Japan Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015.\nKamon Tatsuo (tháng 1 năm 2015). Okano ueno kiraboshi [Shining Star over the Hill] (bằng tiếng Nhật). Gentosha. ISBN 978-4-3440-2832-6."
}
] |
Tôm tít | https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4m_t%C3%ADt | [
{
"section": "summary",
"content": "Tôm tít, tôm tích, tôm thuyền, bề bề hay tôm búa (do một số loài có càng tiến hóa thành dạng chùy), là tên được dùng để gọi nhóm giáp xác biển thuộc bộ Tôm chân miệng (Stomatopoda). Chúng không phải tôm cũng chẳng phải bọ ngựa nhưng chúng có tên trong tiếng Anh là Mantis shrimp hay tôm bọ ngựa vì chúng giống cả hai, với cặp càng giống của bọ ngựa. Tôm tít có mặt rộng rãi tại những vùng biển ôn đới và nhiệt đới trên toàn cầu. Bộ Tôm chân miệng bao gồm khoảng trên 400 loài và tất cả chúng đều nằm trong phân bộ Giáp đơn (Unipeltata). Bộ này có nhiều họ, trong đó họ Squillidae là họ có nhiều loài được dùng làm thực phẩm tại Việt Nam.\nNgười Assyria cổ gọi tôm tít là châu chấu biển. Tại Úc, chúng có tên là \"kẻ giết tôm\" (Prawn killers) và ngư dân Âu Mỹ đặt cho chúng cái tên \"kẻ xé ngón cái\" (Thumb splitters) do chúng có thể kẹp rách da ngón tay nếu không thận trọng khi gỡ chúng khỏi lưới, có trường hợp hiếm hoi, tôm tít có thể làm vỡ kính bể nuôi cá cảnh với một cú đánh bằng đôi càng.Tôm tít được nuôi làm vật cảnh trong bể cá cảnh nước mặn và việc nuôi cảnh này có thể đóng vai trò nhất định trong quá trình nghiên cứu đời sống còn nhiều bí ẩn của tôm tít. Tuy nhiên, nhiều người nuôi cảnh khác lại cho chúng là vật hại vì chúng có thể đục lỗ trong các bộ xương san hô chết và trốn trong đó; những mẩu san hô này thường được thu thập vì chúng rất hữu dụng trong các bể cá cảnh. Vì vậy, chuyện tôm tít còn sót trong mẩu san hô nhào ra tấn công các loài cá cảnh, tôm cảnh,... là chuyện thường xảy ra. Đồng thời chúng rất khó bắt khi đã nằm trong bể và có trường hợp tôm tít đã đập vỡ thành của các bể cá thủy tinh."
},
{
"section": "Mô tả",
"content": "Tôm tít có thể dài tới 30 xentimét (12 in) và một số trường hợp đặc biệt thì con số này là 38 cm (15 in). Giáp đầu của tôm tít chỉ bao phủ phần sau đầu và 4 đốt đầu tiên của ngực. Màu sắc thân thay đổi tùy loài từ nâu, xanh lục, đen nhạt đến hồng, vàng nhạt; một số loài sống trong vùng biển nhiệt đới còn có màu sắc rực rỡ để được nuôi trong các bể cá. Tôm tít có 8 đôi chân, trong đó 5 đôi đầu có càng, sau đó là những đôi chân bơi. Mắt tôm tít có những cấu trúc đặc biệt, được xem là phức tạp nhất trong giới động vật. Mắt và đôi ăng ten đầu tiên được gắn nơi những đoạn di động riêng biệt tại đầu tôm. Mắt tôm tít giúp chúng phân biệt được những vật thể chung quanh như những rạng san hô, những con mồi, kể cả mồi có thân trong suốt.\nĐa số các loài tôm tít sinh sống tại những vũng, hố cạn dọc các bờ biển thuộc vùng nhiệt đới và ôn đối (vùng Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương bao gồm khu vực giữa Phi châu qua đến Hawaii) tại những vùng triều giữa. Chúng sống vùi, ẩn nấp trong hang hay kẽ đá. Chúng chỉ chui ra khỏi nơi trú ẩn để tìm mồi và tùy loài có thể sinh hoạt ban ngày hoặc ban đêm. Tôm tít thuộc loại 'tôm dữ', ăn thịt sống, săn cá nhỏ, nhuyến thể và giáp xác nhỏ hơn. Chúng dùng đôi chân thứ nhì, to (thường gọi là càng) để bắt mồi. Mặc dù chúng là loài săn mồi phổ biến ở nhiều vùng nước nông nhiệt đới và cận nhiệt, giới khoa học chưa tìm hiểu được nhiều thông tin về tôm tít vì loài sinh vật này chủ yếu chỉ chui rúc trong các hang hốc chứ ít chịu ló mặt ra ngoài."
},
{
"section": "Hành vi",
"content": "Tôm tít có tuổi thọ rất cao và thể hiện nhiều hành vi phức tạp, tỉ như các cuộc tỉ thí để giành bạn tình hay phân định thứ cấp. Một số loài sử dụng các chất phát quang trên cơ thể để ra hiệu cho đồng loại hay với các loài khác, mở rộng thêm quy mô của các tín hiệu hành vi. Chúng có thể học tốt, nhớ lâu và có thể nhận mặt những cá thể xung quanh mà chúng thường tiếp xúc. Phương pháp nhận diện dựa trên các dấu hiệu hình ảnh cũng như bởi mùi. Nhiều loài đã phát triển các hành vi xã hội phức tạp nhằm bảo vệ lãnh thổ của chúng trước các kẻ thù.\nTrong suốt cuộc đời, tôm tít có thể có đến 20-30 mùa sinh sản. Tùy theo loài mà trứng có thể được chôn dưới đất hay được con cái mang dưới bụng cho đến khi trứng nở. Và cũng tùy theo loài mà con đực và con cái có thể chỉ gặp nhau để giao phối rồi hết, hoặc chúng có thể có quan hệ một vợ một chồng trong thời gian dài.Trong những loài tôm tít \"chung thủy\", thời gian \"kết hôn\" có thể lên tới 20 năm. Cặp vợ chồng sống chung trong một hang và có thể giúp đỡ nhau trong công việc. Cả vợ lẫn chồng đều tham gia vào việc chăm sóc trứng. Trong chi Pullosquilla và một số loài thuộc chi Nannosquilla, con cái sẽ đẻ hai ổ trứng, một ổ để cho chồng chăm và một ổ thì vợ lo. Trong một số loài khác, con cái lo việc chăm trứng còn con đực thì kiếm ăn cho cả gia đình. Sau khi trứng nở, giai đoạn ấu trùng dạng phiêu sinh vật của tôm con có thể kéo dài tới 3 tháng.\nMặc dù phần nhiều tôm tít thường có lối di chuyển giống như ở tôm thật sự và tôm hùm, loài tôm tít Nannosquilla decemspinosa được ghi nhận là có khả năng búng người theo một chuyển động vòng tròn thô sơ. Chúng sống ở các vùng nước nông và có nền đất cát. Vào lúc triều thấp, N. decemspinosa đối diện với nguy cơ bị mắc cạn do những chân sau ngắn của chúng không đủ khỏe để di chuyển cơ thể trong môi trường cạn không được nước nâng đỡ. Lúc này, tôm tít sẽ búng người về phía trước để lăn mình vào khu vực còn ngập nước. Theo các quan sát, N. decemspinosa thường lăn tròn liên tục nhiều lần suốt một quãng đường dài 2 mét (6,6 ft), tuy nhiên các cá thể thí nghiệm thường chỉ lăn ít hơn 1 m (3,3 ft)."
},
{
"section": "Trong ẩm thực",
"content": "Trong ẩm thực Nhật Bản, tôm tít được luộc và dùng trong các món sushi và đôi khi được ăn sống như sashimi. Chúng được người Nhật gọi là \"tôm dế\" (蝦蛄), cách gọi này có lẽ là do hình dạng của nó cũng có những điểm gần giống con dế trũi.\nTôm tít có mặt với số lượng phong phú ở vùng duyên hải Việt Nam. Trong ẩm thực Việt Nam, tôm tít có thể được hấp (cùng với sả, hấp cách thủy pha với bia), luộc, nướng hay phơi khô và thường được dùng với muối tiêu, nước mắm me hay thì là.\nTrong ẩm thực Trung Quốc, tôm tít được chế biến trong một món gọi là (攋尿蝦, tiếng Quan Thoại pinyin: lài niào xiāmã ngôn ngữ: zho được nâng cấp thành mã: zh , tiếng Quảng Đông: laaih liu hā) vì tôm tít thường hay bắn một tia nước ra ngoài khi bốc lên khỏi nước. Sau khi nấu, thịt tôm tít ăn có vị như tôm hùm hơn là tôm bình thường. Giống như tôm hùm, vỏ tôm tít rất cứng và cần dùng nhiều lực để bẻ gãy. Thông thường chúng được rán ngập trong chảo với tỏi và tiêu cay.\nTrong vùng Địa Trung Hải, loài tôm tít Squilla mantis là một món hải sản thông dụng, nhất là ở vùng duyên hải Adriatic (canocchia) và vịnh Cádiz (galera).\nỞ Philippines, người dân gọi tôm tít là tatampal, hipong-dapa, alupihang-dagat và chế biến nó như tôm bình thường.\nNhững quan ngại thông thường về việc tiêu thụ hải sản là vấn đề đối với tôm tít vì chúng có thể sinh sống trong các vùng nước ô nhiễm. Điều này đặc biệt đúng ở Hawaii, nhất là Đại Kênh đào Ala Wai ở Waikiki khi một số cá thể tôm tít có kích thước lớn bất thường."
}
] |
Bột gạo | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99t_g%E1%BA%A1o | [
{
"section": "summary",
"content": "Bột gạo là một loại bột được làm từ gạo bằng phương pháp ngâm và nghiền. Tinh bột gạo là thành phần chính của rất nhiều loại thực phẩm quen thuộc ở các nước Châu Á, nhiều loại bánh cổ truyền của các nước châu Á đều có thành phần chính là tinh bột gạo. Ở Việt Nam, tinh bột gạo được sử dụng rất phổ biến từ Nam cho đến miền Bắc trong các món như bánh cuốn, bánh canh, bánh căn, bánh bò, bánh đậu xanh, bún gạo, bánh bèo, bánh xèo, bánh đúc, bánh khoái, cao lầu mì, bánh hỏi, bánh đập."
},
{
"section": "Chế biến",
"content": "Tinh bột gạo được chế biến qua nhiều công đoạn như:\nNgâm: Làm hạt gạo mềm dễ xay mịn do nước sẽ ngấm vào hạt gạo (quá trình hydrat hóa) làm mềm hạt gạo, lớp màng của tế bào, giúp quá trình xay gạo và tinh bột được giải phóng được dễ dàng khi xay.\nXay: Quá trình xay sẽ phá vỡ cấu trúc hạt gạo và lớp màng bao tế bào, giúp giải phóng tinh bột chứa trong bột lạp của tế bào hạt gạo. Ngoài ra quá trình xay còn giúp đồng nhất khối hạt hình thành dạng bột cho bột gạo.\nKhuấy: Mục đích của quá trình khuấy sẽ giúp các phân tử tinh bột thoát ra hoàn toàn khỏi các túi bột lạp giúp tăng hiệu suất thu hồi tinh bột. Ngoài ra khi khuấy một số tạp chất nhẹ còn lẫn trong gạo sẽ nổi lên và được loại bỏ dễ dàng. Quá trình khuấy còn giúp lipid (chất béo trong gạo) thoát ra và nổi lên và sẽ được loại bỏ.\nLắng gạn: Để tách bột ra khỏi nước có thể dùng 2 cách lọc, lắng gạn hoặc ly tâm.\nChia bột ướt: Sau khi lắng gạn sẽ thu được bột sẽ có dạng bột nhão. Khối bột này sẽ được chia ra trên mâm tre được bọc vải. Khối lượng chia cần đồng đều trên các vĩ nhằm đảm bảo bột khô đều. Lớp vải sẽ giúp việc lấy bột lên dễ dàng khi bột khô.\nPhơi: Bột sau khi chia sẻ được phơi hoặc sấy khô đến dưới 15% ẩm. Thời gian phơi khoảng 4 - 6 giờ. Quá trình phơi sẽ hạ độ ẩm của bột gạo xuống dưới mức cần thiết mà vi sinh vật và nấm mốc có thể phát triển làm hư hỏng bột. Sau khi bột khô có thể đóng gói và bảo quản bột hoặc có thể nghiền mịn rồi bao gói.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Salad trứng | https://vi.wikipedia.org/wiki/Salad_tr%E1%BB%A9ng | [
{
"section": "summary",
"content": "Salad trứng là một phần của món truyền thống là salad trộn có chứa protein trộn với gia vị là các loại rau thơm, gia vị, và các thực phẩm khác, và bắt buộc phải có sốt mayonnaise. Các món tương tự bao gồm salad gà, salad cua, salad thịt heo, salad tôm hùm, và salad cá ngừ.Salad Trứng thường được dùng làm nhân bánh sandwich, thông thường được làm bởi trứng luộc sắt lát, mayonnaise, mù tạt, cần tây bằm và củ hành, muối, tiêu đen, và ớt bột. Nó cũng thường được dùng làm topping cho các món salad."
},
{
"section": "Các biến thể",
"content": "Salad Trứng có thể được thực hiện sáng tạo bằng cách thêm vào bất kì loại thức ăn lạnh nào. Thịt xông khói, ớt, bạch hoa, pho mát, dưa chuột, hành tây, rau diếp, dưa ướp da vị, và dưa muối là các nguyên liệu bổ sung tường dùng.Một món gia vị liên quan mật thiết đến món này là sốt mayonnaise, trong đó trứng luộc sắt lát được trộn chung với mayonnaise.Một biến thể phổ biến tại Nga và nước Xô viết là Salad Olivier."
}
] |
Mohinga | https://vi.wikipedia.org/wiki/Mohinga | [
{
"section": "summary",
"content": "Mohinga (tiếng Miến Điện: မုန့်ဟင်းခါး; MLCTS: mun.hang: hka:, IPA: [mo̰ʊɰ̃hɪ́ɰ̃ɡá]; còn phát âm là mont hin gar) là món bún nước lèo với cá tại Myanmar và là một phần thiết yếu trong ẩm thực Miến Điện. Ngoài ra, món ăn này còn được xem là quốc thực của Myanmar. Mohinga luôn có mặt tại hầu khắp vùng miền trên đất nước. Tại thành phố lớn, gánh hàng rong và hàng quán đường phố thường bán hàng tá tô bún mohinga cho dân địa phương và người qua đường. Thường được ăn vào bữa sáng, ngày nay món ăn này ngày càng được thưởng thức nhiều hơn trong ngày."
},
{
"section": "Lịch sử và nguồn gốc",
"content": "Nguồn gốc của mohinga rất khó xác định do không còn ghi chép nào sót lại. Công cụ chế biến món có niên đại từ thời thành bang Pyu dùng để lên men gạo đã được phát hiện, dẫn đến kết luận rằng truyền thống làm bún gạo – loại tinh bột cốt yếu dùng đế nấu mohinga - đã có từ lâu đời. Đề cập sớm nhất về mohinga có từ triều đại Konbaung, trong bài thơ alinga của nhà thơ U Ponnya. Nhà sử học Miến Điện Khin Maung Nyunt đã kết luận rằng trong thời kỳ tiền thuộc địa, mohinga có thể là một món ăn của dân thường, vì công thức chế biến \"mohinga\" không thể tìm ra trong các ghi chép và sách dạy nấu ăn.Vào nửa sau thời Bagyidaw, một nhà thơ tên là U Min nổi lên và gọi \"mohinga\" là \"mont di\" (မုန့်တီ) trong một cuộc thi thơ ca. Trong lúc từ ngữ mont ti hiện tại dùng để chỉ đến hàng loạt các món bún gạo khác ở Myanmar ngày nay, thì một bộ phận nhỏ tiếp tục sử dụng \"mont ti\" để chỉ đến món mohinga. Nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước cũng chỉ đơn giản gọi mohinga là \"mont\" (မုန့်) hay \"mont hin\" (မုန့်ဟင်း)."
},
{
"section": "Chế biến",
"content": "Thành phần chính của mohinga là bột đậu gà và/hoặc gạo rang giã nhỏ, tỏi, hẹ, hành, sả, thân chuối, gừng, nước mắm, cá xay và cá da trơn hay các loại cá khác, như cá trôi trắng nấu chín trong nước lèo đậm đà và giữ sôi trong vạc. Món ăn với bún gạo, dọn lên và trang trí với nước mắm, vắt chanh, hành phi, rau mùi, hành lá, ớt khô giã nhuyễn và phần phủ trên tùy chọn, chả chiên Miến Điện ngập dầu như đậu gà tách vỏ (ပဲကြော်, pè gyaw), đậu mười (ဗယာကြော်, baya gyaw) hay bầu bí (ဘူးသီးကြော်, bu thee gyaw) hay miếng quẩy rán lát mỏng (အီကြာကွေး), cũng như trứng luộc và bánh cá rán nga hpè (ငါးဖယ်ကြော်)."
},
{
"section": "Biến thể theo vùng miền",
"content": "Có nhiều dạng bún cá mohinga biến thể theo vùng miền khác nhau trên khắp Myanmar, tùy thuộc vào nguyên liệu sẵn có và sở thích nấu nướng. Ví dụ, mohinga tại bang Rakhine có nhiều cá xay hơn và ít nước lèo hơn. Phiên bản chuẩn tại vùng Hạ Miến, nơi có nhiều cá tươi hơn. Biến thể đa dạng mohinga phổ biến nhất đến từ đồng bằng sông Irrawaddy, thường được gọi là tawchet mohinga ( n.đ. 'phong cách nông thôn mohinga'). Một số quán mohinga nổi tiếng ở Yangon phục vụ món bún kiểu đồng bằng Irrawaddy, bao gồm Myaungmya Daw Cho và Bogalay Daw Nyo.\nĐồng bằng Irrawaddy\nBogale mohinga - nấu trong nước lèo cá và nhiều tiêu đen \nMyaungmya mohinga - nấu với ba loại cá, cụ thể là cá lóc sọc (ငါး ရံ့), cá da trơn (ငါးခူ) và cá chép Hamilton (ငါး ကြင်း ဖြူ) \nPyapon mohinga\nPathein mohinga\nYangon mohinga - nấu trong nước lèo hầm cá da trơn, đậu xanh và đậu phộng\nVùng Bago\nHinthada Mohinga - nấu với Hilsa (ngathalauk) thay cho cá da trơn\nMadauk mohinga - nấu với tôm ngâm và ăn kèm với cà chua sống\nNyaunglebin và Pyuntaza mohinga - nấu với cá ngâm chua, ăn kèm với dưa chua táo tàu\nTaungoo mohinga - được thưởng thức với nước lèo loãng hơn giống với món salad mì khô, với cà chua sống, đậu xanh băm nhỏ và một bên là củ kiệu trắng ngâm chua\nMiền nam và miền đông Myanmar\nDawei mohinga - tương tự như mohinga thông thường, với hạt tiêu đen thay cho ớt bột\nKayin mohinga - được thưởng thức trong một trong hai loại nước lèo (ngọt hoặc cay), dùng với cà chua sống, giá đỗ, đậu xanh và bạc hà thay cho rau mùi\nMawlamyine mohinga - nấu thành nước lèo loãng hơn với đậu Hà Lan luộc, đậu xanh, bạc hà, chả cá và đường thốt nốt\nMon mohinga - tương tự như mohinga thông thường, được nấu không có thân chuối và bột gạo \nThaton mohinga - ăn kèm với cá chép Hamilton, bạc hà, đậu xanh, giá đỗ, cà chua và chả bánh gạo vàng lên men (gọi là သထုံ ထမင်း ဝါ) \nThượng Myanmar\nAnya mohinga - mohinga nấu trong nước lèo thịt gà, cá và bột đậu gà thay cho bột gạo nướng, phổ biến ở các thị trấn Thượng Myanmar như Monywa, Wetlet, Shwebo, Kyaukpadaung và Myingyan \nMohinga nấu bằng nước lèo hầm cá da trơn và hành lá"
},
{
"section": "Phổ biến",
"content": "Mohinga là món ăn sáng quen thuộc của người Myanmar, song cũng được bán suốt cả ngày như một món ăn nhẹ phổ biến ở các gánh hàng rong tại nhiều thị trấn và thành phố. Người Myanmar nấu món này bằng bất cứ loại cá nào mà ngư dân đánh bắt được. Mohinga cũng được thưởng thức với tất cả các loại rau thơm ở nhiều kiểu cách ăn và cũng được bán dưới dạng gói khô như một loại bột làm sẵn dùng để nấu nước lèo. Gánh hàng rong là nguồn cung cấp món ăn phổ biến này tỏa đi khắp các khu phố, nơi họ có khách hàng thường xuyên. Họ mang vạc nấu súp trên bếp ở một bên là đòn gánh và bún gạo cùng các nguyên liệu khác cùng với bát và thìa ở gánh bên kia. Món thường chỉ có sẵn vào buổi sáng sớm và tại các pwè đường phố hoặc các buổi biểu diễn sân khấu ngoài trời và zat pwè hoặc nhà hát lưu động vào ban đêm. Người bán rong kéo xe bắt đầu xuất hiện vào những năm 1960 và một số người trong số này đã lập các quầy hàng trên vỉa hè để bán bún mohinga cả ngày."
}
] |
Affogato | https://vi.wikipedia.org/wiki/Affogato | [
{
"section": "summary",
"content": "Affogato (tiếng Ý, \"ngập nước\") là một loại đồ uống làm từ cà phê. Nó thường được pha chế bằng một muỗng vani gelato hay kem lạnh cho lên phía trên một tách espresso nóng. Một số cách pha chế khác bao gồm sử dụng một tách Amaretto hay rượu hương vị khác."
}
] |
Dưa cải muối | https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0a_c%E1%BA%A3i_mu%E1%BB%91i | [
{
"section": "summary",
"content": "Dưa cải muối hay còn gọi là dưa cải muối chua, dưa cải món là một món ăn dân dã, quen thuộc ở Việt Nam và Trung Quốc được chế biến theo cách thức làm dưa muối bằng nguyên liệu chính là rau cải (cải bẹ xanh hay cải bẹ trắng hay lá cải củ). Dưa cải chua là một món ăn quen thuộc của mỗi nhà trên đất nước này và được bài bán khá thông dụng trong các tiệm cơm bụi, quán ăn, nhà hàng. Ở Trung Quốc, món dưa cải muối này gọi là \"toan cải\" (tiếng Trung: 酸菜; bính âm: suān cài; Việt bính: syun1 coi3).\nMón ăn này vào ngày Tết dùng với món thịt heo kho hoặc thịt kho măng, cải chua có thể dùng kèm thịt luộc, thịt đông…. Trong trường hợp trời nắng nóng, ăn canh dưa nấu sườn, nấu thịt bò hay dùng dưa kho cá ngừ, cá đối hoặc om cùng cá chép đều dễ ăn. Món này có thể ăn kèm thịt chân giò luộc hay canh dưa bò… ngoài ra còn có thể chế biến thành món thịt kho dưa cải, cá hố kho dưa cải.\nĐây là món ăn kèm, giải ngán cho những món quá nhiều dầu mỡ. Dưa cải muối chua thường kích thích vị giác (do có vị chua), nên tạo sự ngon miệng và thèm ăn. Tuy nhiên, loại thực phẩm này được làm chủ yếu từ các loại rau củ quả đã qua quá trình lên men và mất đi lượng vitamin cần thiết."
},
{
"section": "Lịch sử xuất xứ",
"content": "Ở Trung Quốc, ghi chép sớm nhất về việc sản xuất dưa cải truyền thống của Trung Quốc là trong Kinh Thi, có niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 7 trước Công nguyên. Trong khoảng thời gian đó, rau lên men được dùng làm vật tế trong lễ cúng gia tiên. Trong bài thơ \"Tín Nam Sơn\" (tiếng Trung: 信南山; bính âm: Xìn nánshān), có miêu tả cách người Trung Quốc thời xưa chế biến dưa muối bằng cách ngâm những quả bầu:\n\n—Trích Kinh Thi\nVào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, những công nhân xây dựng Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc sống bằng cải bắp và gạo. Để bảo quản rau trong mùa đông, họ bắt đầu thêm rượu gạo vào cải, do đó cải lên men và làm cho thực phẩm có vị chua. Một cuốn sách nông nghiệp của triều đại Bắc Ngụy (386-534 sau Công Nguyên), trong cuốn \"Tề dân yêu thuật\" (齐民要术) minh họa quy trình chi tiết sản xuất 18 loại rau muối chua bằng cách sử dụng các loại rau khác nhau. Một số loại rau là loại bình thường trong khi những loại khác thêm muối như toan cải. Điều này cho thấy toan cải (tức dưa cải bẹ muối) được người Trung Quốc chấp nhận và ăn rộng rãi trong thời gian đó.\n Món dưa cải bẹ muối truyền sang Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "Để làm món này phải có hũ muối dưa bằng sành, sứ hay thủy tinh và các loại cải bẹ to hành lá, ớt, muối, đường… Loại cải để muối dưa là loại cải mà cả lá và cuống đều dày, cứng chắc, có thể cay, nồng rất mạnh, hơn cải bẹ xanh lá và cuống đều xốp, nhẹ.\nDưa cải làm dưa phải chọn từ cây cải (mustard) già, không bón phân và tưới ít nhất đã nửa tháng rồi. Có giống cải làm dưa rất cay nồng, như mùi vị cải cay horseradish. Ngày nay nhiều người thích giống cải bẹ to và không cay nồng."
},
{
"section": "Cách làm",
"content": "Nửa kilôgram dưa cải, 1 thìa muối đầy, hơn 3 phần tư lít nước ấm chừng 40 độ C, chừng 50cc sữa chua (yogurt) hay 100cc nước dưa chua làm giống, có thể thêm 5 cây hành lá. Cải và hành rửa sạch, cắt miếng không quá 2 centimet rưỡi mỗi chiều. Các số trên có thể coi bằng cách sau khi pha chế và cho cải vào hũ, nếm nước thấy hơi mặn hơn canh rau ta vẫn nấu ăn, và rau cải vừa ngập trong nước là đủ. Nếu không có Vi khuẩn Lactic trong sữa chua hay dưa chua (yogurt cultures) làm giống, thi cần thêm chút muối nữa. Nêu cải làm dưa còn non, tưới bón nhiều, cho nhạt muối, không có vi khuẩn Lactic làm giống, lại bị lạnh, thì cải rất dễ bị thối, gọi là dưa bị khú. Vì thế, phơi nhẹ nắng dưa trước khi muối cho bớt độ ẩm trong dưa cũng làm dưa đỡ bị khú.\nKhi làm dưa, cắt bỏ ngọn cải và lá cải non cũng làm dưa đỡ bị khú. Có thể để hũ muối dưa thủy tinh ra phơi nắng, làm nhiệt độ ở 40 độ C (hiệu ứng nhà kính - green house effect), hay ngâm hũ muối dưa trong nước ấm và thay nước ấm luôn sao cho dưa muối trong hũ ở 40 độ C chừng 10 giờ, rồi để trong nhà nhiệt độ 25 độ C hay 30 độ C thì sau 1 ngày màu lá xanh của cải đổi sang màu vàng nhạt, và nước dưa đã chua ăn ngon. Sau 2 ngày thì dưa càng chua, nhưng có người thích ăn chua như vậy. Sau 3 ngày thì dưa chua quá, hơi nhũn, mất chất đường, và chớm mốc trên mặt nước, ăn không tốt nữa. Nếu không có giống vi khuẩn, thì phải để lâu hơn mới chua được, và dưa ăn không ngon vì rau ngấm quá nhiều nước muối, và đường trong rau cải phai lạt mất. Làm không có giống vi khuẩn Lactic, và không ủ ấm 30 đến 40 độ C, thì có thể lâu đến 4 ngày hay lâu hơn mới chua ăn được.\nKhi ăn thì vớt dưa cải ra khỏi hũ, để róc nước dưa ra, có thể cho lên đĩa, bày bàn ăn luôn, thường chấm với nước mắm. Cũng có thể vắt thêm chanh, cho thêm đường, cho thêm ớt, thêm hành lá, chút nước mắm ngon, để ăn dần trong tủ lạnh thêm vài ngày nữa. Nước dưa chua cho vào nấu cá nấu thịt cũng là những món cổ truyền và vẫn phổ biến khắp nơi. Người Trung Quốc hay muối cải bẹ phải cho thêm hạt tiêu. Ở Côn Minh, món ăn truyền thống này được chế biến đơn giản thường được làm vào mùa đông hoặc mùa xuân, chỉ cần lấy cải bẹ đem phơi khô, rồi cắt nhỏ, sau đó thêm gia vị như muối, ớt,tiêu, gừng, thì là, hoa hồi giã và một ít rượu ngon đem ủ trong chum vại khoảng 1 đến 2 tháng là có thể dùng được, món dưa cải chua Côn Minh là món ăn truyền thống gia đình, có hương vị chua cay rất thích hợp chế biến cùng các món ăn như súp, salad, xào hay ăn lạnh."
},
{
"section": "Lưu ý",
"content": "Có một số lưu ý khi ăn món này để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng:\n\nTrước khi ăn nên rửa, vắt sạch dưa để loại bỏ vi khuẩn, giúp xả bớt vị mặn và vị chua gay gắt trong dưa.\nKhông ăn dưa cải muối quá nhiều, lượng dưa muối ăn vào mỗi lần chỉ nên khoảng 50g và không nên ăn thường xuyên vì trong dưa muối chua có chứa rất nhiều axit oxalic và calci sẽ gây sỏi thận. Mặt khác vì rất mặn nên ăn nhiều không tốt cho sức khỏe, dễ dẫn đến cao huyết áp.\nKhông ăn dưa muối chưa chín do nó thường chứa nhiều muối nitograt, dễ gây ngộ độc thực phẩm, làm tim mệt, thở dốc, tức ngực. Ngoài ra, hợp chất này khi tích tụ lâu trong cơ thể cũng dễ gây ung thư.\nKhông nêm bột ngọt vì trong môi trường kiềm, bột ngọt sẽ làm cho mùi vị món ăn giảm đi, còn trong môi trường axit hay nhiệt độ cao, bột ngọt dễ biến thành chất gây hại cho sức khỏe."
}
] |
Rượu đế Gò Đen | https://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_%C4%91%E1%BA%BF_G%C3%B2_%C4%90en | [
{
"section": "summary",
"content": "Rượu đế Gò Đen, thường được gọi tắt là Đế Gò Đen, là tên một loại rượu trắng (rượu đế), cùng với Rượu Xuân Thạnh (Trà Vinh) và Rượu Phú Lễ (Bến Tre) tạo nên Tam vị danh tửu miền Tây nổi tiếng của Việt Nam. Đây là một loại rượu được nấu từ gạo, hoặc nếp mỡ, nếp than, theo phương pháp cổ truyền, sản xuất ở địa danh Gò Đen, Bến Lức, Long An."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Đây là một loại rượu đế có nồng độ cồn rất cao, có thể lên đến 50 độ cồn, là một đặc sản của Long An nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Cũng như nhiều loại rượu địa phương nổi tiếng trên thế giới (như rượu Mao Đài của Trung Quốc) đế Gò Đen được nhấn mạnh về vấn đề thổ nhưỡng, nên để có một sản phẩm ngon, đế Gò Đen phải được nấu tại vùng Gò Đen.\nDù theo truyền thống thì đế Gò Đen được nấu từ gạo. Tuy nhiên, ngày nay những người sàn rượu Việt Nam và thế giới thường rất chuộng loại đế Gò Đen được nấu từ gạo nếp. Tuy nhiên, số lượng sản xuất loại đế nếp này ít hơn nhiều so với loại nấu từ gạo truyền thống. Loại rượu gạo này rất nhiều địa phương ở Việt Nam nấu, (chất lượng cũng khác nhau tùy vùng), Rượu Nếp, Rượu Nếp Than.\nĐặc sản Rượu Đế Gò Đen được nấu từ các lò rượu tại gia theo phương pháp truyền thống ở các vùng lân cận tại khu vực Gò đen, Long Hiệp, Mỹ Yên (huyện Bến Lức), Phước Vân, Long Cang, Long Định (huyện Cần Đước).\nCũng như nhiều thương hiệu địa phương nổi tiếng tại Việt Nam khác, đế Gò Đen cũng gặp nhiều vấn đề trong việc giữ gìn thương hiệu. Do nhu cầu quá cao của những người sành rượu đối với loại rượu đế nổi tiếng này, đã có nhiều trường hợp sản phẩm kém chất lượng cũng như bị làm giả, làm nhái, gây ảnh hưởng đến thương hiệu đế Gò Đen.\nNổi bật hiện nay là công ty cổ phần sản xuất kinh doanh rượu đế gò đen có trụ sở tại xã phước lợi, gò đen. Với khát vọng phục dựng lại làng nghề nấu rượu tại Gò Đen.\nRượu hoàn toàn được nấu thủ công theo phương pháp truyền thống, có được thời gian ủ nên rượu đầm, mùi nếp lức nguyên bản thơm tự nhiên lan tỏa từ lúc mở nắp chai, uống vào cay mà không sốc, không gắt cổ, hậu ngọt sâu. \nCác chứng nhận OCOP 4 sao, Tiêu chuẩn an toàn VSTP HACCP là minh chứng tuyệt đối về mức độ đảm bảo cho người tiêu dùng khi sử dụng.\nCó thể tham khảo thêm về địa chỉ rượu tin cậy tại website: degoden.vn."
}
] |
Bánh sừng bò | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_s%E1%BB%ABng_b%C3%B2 | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh sừng bò còn được gọi là bánh croa-xăng (từ tiếng Pháp croissant), có nguồn gốc từ Áo, là một dạng bánh ăn sáng làm từ pâte feuilletée (bột xốp), được sản xuất từ bột mì, men, bơ, sữa, và muối.\nBánh croissant đúng kiểu phải thật xốp, giòn và có thể xé ra từng lớp mỏng nhỏ. Bên trong ruột không được đặc, ngược lại phải khá ruỗng thoáng (đó là bằng chứng men làm bột phát triển tốt). Ở Việt Nam hầu hết các tiệm bán bánh sừng bò làm theo công thức của bánh mì sữa (hoặc được gọi là bánh mì tươi). Về công thức làm bánh croissant, có thể nói là bánh này đứng giữa bánh pâté chaud (xốp) và bánh mì (ruột bánh nổi bởi men)."
},
{
"section": "Nguồn gốc và tên gọi",
"content": "Bánh sừng bò rất nổi tiếng ở Pháp, nhưng nó không do người Pháp tạo ra mà nó được làm đầu tiên ở Áo. Hình dạng của nó được hình thành hoàn toàn ngẫu nhiên. Loại bánh ngọt thông dụng này xuất hiện đầu tiên vào năm 1683.\nTên bánh thuở ban đầu là Kipfel (trăng lưỡi liềm) biến thành Croissant (bánh sừng bò) vào năm 1770 khi nữ đại vương công 15 tuổi người Áo là Maria Antonia kết hôn với vị thái tử Pháp tức vua Louis XVI sau này. Những người thợ làm bánh ở Paris đã làm bánh Kipfel để tỏ lòng tôn kính công chúa, và người Pháp rất mê món bánh này. Việc người ta biết đến cái tên bánh sừng bò phổ biến hơn là do hình dạng của nó giống như cặp sừng bò."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Năm 1683 khi Đế quốc Áo và Đế quốc Ottoman đang giao chiến ác liệt thì đạo quân 100.000 quân của Thổ phá được phòng tuyến của Áo để bao vây kinh đô Viên. Trong thời gian vây hãm cả tháng trời, dân thành phố chỉ lo sợ ngày tận thế nếu thành Viên thất thủ.\nBên quân Thổ Nhĩ Kỳ thì quyết tâm sai đào hầm xuyên dưới lũy thành nhưng thợ làm bánh ca đêm người Áo may thay đã phát hiện được, và rung chuông báo động. Vì sớm phát giác mà thành Viên không thất thủ, chống chọi được cho đến khi viện quân đồng minh Ba Lan do vua Jan III Sobieski thân chinh đến cứu, giao chiến một trận quyết liệt với quân Thổ và giải vây cho thành phố.\nThợ lò bánh từ đấy kỷ niệm ngày giải vây Viên bằng loại bánh mới mang hình trăng lưỡi liềm của địch quân Thổ theo đạo Hồi. Bánh này có tên là Kipfel (tiếng Đức nghĩa là trăng lưỡi liềm) và được dùng vừa để ăn mừng ngày chiến thắng quân Thổ, vừa đi tri ân người thợ lò bánh đã cứu lấy thành phố Viên."
}
] |
Bánh cáy | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_c%C3%A1y | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh cáy là đặc sản của làng Nguyễn xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình.Bánh cáy có nhiều màu sắc. Người ta chọn loại nếp ngon (nếp cái hoa vàng). Người ta đem trộn gạo nếp đã ngâm cùng gấc để tạo màu đỏ và với quả dành dành để tạo màu vàng. Sau khi đồ xôi đem cả nồi giã thành bột dẻo như bột bánh dày, cho ra khay đợi đến khi bột khô thái thành con cáy trong bánh cáy. Cả nồi mạch nha được nhào trộn với những nguyên vật liệu trên cùng những hạt bỏng trắng tinh, đun vừa lửa đến độ dẻo cần thiết, bánh mềm, đem lèn chặt trong những chiếc khuôn bằng gỗ hình chữ nhật được lót thêm vừng, lạc, mứt bí. Khi bánh nguội, dóc khuôn lấy ra cắt thành những thanh nhỏ, đóng hộp. Trên ban thờ ngày xuân, những hộp bánh cáy được xếp bên những bánh chưng, bánh dày, mâm ngũ quả…"
}
] |
Taco | https://vi.wikipedia.org/wiki/Taco | [
{
"section": "summary",
"content": "Taco ( hoặc UK: ) là món ăn truyền thống của người México được làm từ bột ngô hoặc bột mì cho lớp vỏ giòn rụm bên ngoài, trong khi nhân bên trong với nhiều lựa chọn khác nhau. Với người Mexico, bánh Tacos được coi là món ăn truyền thống dân dã và nhanh chóng."
},
{
"section": "Giới thiệu",
"content": "Taco còn mang giá trị lịch sử. Món ăn này khiến người ta gợi nhớ về cuộc di cư của người châu Âu vào Mexico. Tacos đã được những người châu Âu đầu tiên trong những cuộc viễn chinh đã khám phá và du nhập khắp Nam Mỹ, châu Âu, Trung Đông và châu Á. Giống với sandwich, tacos được tạo nên bằng nhiều loại thức ăn được chuẩn bị theo những cách khác nhau và có thể ăn tacos như một món khai vị hoặc bữa ăn nhẹ.\nMột số tài liệu còn cho thấy, người dân Mexico sống ở các vùng hồ còn chế biến thêm taco nhân cá. Những quầy hàng rong bán taco có mặt trên hầu hết các ngõ ngách phố phường. Người Mexico thường dùng taco như một món ăn nhẹ sau bữa tối. Sau bữa chính, nhiều người lựa chọn taco như một cena (bữa tối nhẹ) được bán trong những quầy bán hàng di động cho đến nửa đêm tại các thành phố lớn. Vào cuối tuần các vũ trường và câu lạc bộ mở cửa đến tận gần sáng và taco là món ăn nhanh cho những người vui chơi thâu đêm.\nTừ những năm đầu của thế kỷ 20, đã có rất nhiều loại tacos được phổ biến tại Mỹ - Canada và xuất hiện trong những cuốn sách nấu ăn vào năm 1949. Ngoài ra tacos còn được bày bán trong những hệ thống bán đồ thức ăn nhanh như Taco Bell,Taco Del Mar, Mighty Taco… và các nhà hàng fastfood như Burger King và Jack in the Box của người Mexico tại đây. Thậm chí, ở đất nước này, người ta còn phát triển nhiều hệ thống nhà hàng chuyên về taco như Taco Del Mar, Taco Bell và Mighty Taco."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Trong một chiếc Tacos, bánh tráng sẽ được rán qua để mềm và gấp cùng với nhân. Nhân bánh được làm từ thịt bò, thịt heo, cá, thịt gà, nước sốt cà chua, nấm, ớt …tất cả sẽ được nướng (hoặc hấp) cùng. Người thưởng thức có thể thay đổi thành phần của nhân để phù hợp với khẩu vị và cách chế biến.\nMón ăn này đậm chất Mexico không chỉ ở vỏ bánh tráng bằng bột ngô mà còn vì vị ớt được ăn kèm với bánh và nước sốt. Màu sắc của nhân chính là từ những loại thức ăn trong đó, có thể thưởng thức một chiếc tacos thịt và nước sốt thơm ngon ngầy ngậy hoặc một chiếc tacos với thành phần chính là rau xanh kèm theo một chút thịt nướng"
},
{
"section": "Các loại",
"content": "Nhờ vào danh sách dài lựa chọn và phương pháp chế biến nhân bên trong, taco càng thuyết phục được nhiều người đam mê món ăn truyền thống này và trở nên phổ biến khắp Mexico. Nhìn chung, taco gồm hai loại, taco vỏ cứng và taco vỏ mềm. Theo truyền thống của người Mexico, taco vỏ mềm đại diện cho nguyên liệu bột ngô, thường theo phương pháp hấp hoặc nướng. Tuy nhiên, loại taco phổ biến nhất vẫn là vỏ ngô kẹp thịt xay nhỏ, hành, rau diếp, lê tàu và nước tương cà chua cay của Mexico. \n\nTaco nướng với lớp vỏ được nướng trên vỉ than hồng cho đến khi đạt độ giòn nhất định, ăn kèm với nước tương chorizo asado. Ở miền Bắc Mexico, người ta gọi taco nướng ăn kèm với pho mát Oaxaca và thịt là mulita.\nTaco đầu bò lại là một phiên bản taco độc đáo với nhân từ não, lưỡi, má, môi và mắt bò. Vỏ taco đầu bò được hấp để luôn giữ độ mềm, trong khi người ta bổ sung thêm hành, rau mùi cho lớp nhân bên trong.\nTaco de cazo lại được phục vụ trên một bát bằng kim loại, sánh lớp dầu ăn phía dưới nhằm ngụ í về cách chế biến vỏ chiên ngập dầu và giòn tan. Loại taco này chủ yếu sử dụng thịt heo, thay vì bò.\nTaco sudados tạo nên sự khác biệt với hỗn hợp nhân gồm bánh mỳ mềm, thịt cay. Vỏ bên ngoài bao bọc lấy toàn bộ nhân, giúp cho món taco này luôn nóng và tỏa hơi nước để làm mềm vỏ. Cũng theo cách chế biến tương tự, có taco tôm, taco cá và taco thịt cừu.Một số loại taco được ưa chuộng tại Mỹ như: Taco al Pastor (đây là loại taco phổ biến nhất tại Mexico) nguyên liệu chính của là thịt lợn được ướp gia vị đã được cắt xén nhỏ và được xiên qua và nướng trên lửa. Đây được coi là món ăn phỏng theo món thịt nướng từ những người nhập cư Li Băng, hay như món Breakfast Tacos luôn có sẵn trong các quán ăn nhà hàng dọc theo Southwest- đặc biệt là ở New Mexico và Texas- nhân của breakfast tacos là từ thịt được tẩm gia vị, trứng hay pho mát và những thành phần khác như củ hành…"
}
] |
Gelato | https://vi.wikipedia.org/wiki/Gelato | [
{
"section": "summary",
"content": "Gelato (nghĩa là \"ice cream\" trong tiếng Anh, số nhiều là \"gelati\") là một món tráng miệng đông lạnh phổ biến có nguồn gốc từ ẩm thực Ý, được làm với thành phần căn bản gồm sữa 3,25% và đường. Gelato thường chứa ít chất béo, ít không khí hơn 70% và có nhiều hương vị hơn các món tráng miệng đông lạnh khác. Điều này quyết định tỉ trọng và sự phong phú để phân biệt với các loại kem khác.Ở Mỹ, không có tiêu chuẩn nào cho định nghĩa về gelato vì có cho tất cả các loại kem, phải có ít nhất 10% chất béo bơ sữa.Gelato ở phiên bản thời cận đại được ghi nhận từ đầu bếp người Ý Francesco Procopio dei Coltelli, người vào cuối những năm 1600 đã khai trương và giới thiệu gelato tại quán cà phê \"Café Procope\" của mình tại Paris, thu hút sự chú ý đầu tiên ở Paris và sau đó là phần còn lại của Châu Âu. Nhờ có món gelato, Procopio không chỉ có được quyền công dân Pháp mà còn có được giấy phép hoàng gia độc quyền do hoàng đế Louis XIV, biến ông trở thành nhà sản xuất duy nhất cho món tráng miệng đông lạnh tại đây.Ngày nay, gelato được biết đến trên toàn thế giới và Ý là quốc gia duy nhất có thị phần của gelato thủ công so với gelato sản xuất hàng loạt là hơn 55% với hơn 5.000 cửa hàng kem hiện đại của Ý có số nhân công khoảng 15.000 người."
},
{
"section": "Sự tò mò",
"content": "Một truyền thuyết đô thị nổi tiếng được liên kết với một người tên Ruggeri nào đó từ Florence, một người bán thịt đam mê nấu ăn, nhờ một sự chuẩn bị trong đó bao gồm kem, zabaione (một món tráng miệng của Ý, hoặc đôi khi là đồ uống, được làm bằng lòng đỏ trứng, đường và rượu vang ngọt) và trái cây mà anh ta sớm trở nên nổi tiếng, nhiều đến nỗi đã kiếm được tiền ở Paris. Anh ta bị cáo buộc đã chuẩn bị kem nhân dịp đám cưới của nữ quý tộc người Ý Catherine de Médicis và hôn phu Enrico d'Orleans.\nKhông có tài liệu cụ thể nào chứng thực cho câu chuyện này, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, việc sản xuất kem với trứng và hương liệu bắt đầu ở Tuscany vào thế kỷ XVI và từ đây nó lan sang Pháp nhờ các đầu bếp của Caterina de 'Medici.. Để tôn vinh truyền thống sản xuất kem thủ công cổ xưa, \"kem Buontalenti\" nổi tiếng vẫn được tổ chức tại Florence thông qua sự kiện của Lễ hội Gelato."
}
] |
Kẹo nougat | https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BA%B9o_nougat | [
{
"section": "summary",
"content": "Kẹo nougat là một loại kẹo làm từ đường hoặc mật ong, thêm các loại hạt nướng chín (như hạnh đào, óc chó, hồ trăn, hạt phỉ hay mắc ca), lòng trắng trứng đánh đều, đôi khi có thêm hoa quả ướp đường thái nhỏ. Nó dẻo và thường được thêm vào làm thành phần phụ trong nhiều loại kẹo, sô-cô-la khác nhau."
}
] |
Bánh thiên thần | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_thi%C3%AAn_th%E1%BA%A7n | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh thiên thần là một loại bánh bông lan được làm từ lòng trắng trứng, bột mì và đường. Một số loại kem đánh bông, chẳng hạn như kem tartar cũng thường được thêm vào món ăn. Nó khác với các loại bánh ngọt khác ở chỗ không sử dụng bơ. Kết cấu tạo bọt của bánh đến từ lòng trắng trứng được đánh bông. Bánh thiên thần có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và bắt đầu trở nên phổ biến vào cuối thế kỷ 19, đạt đến đỉnh cao \"danh vọng\" vào đầu những năm 2000."
},
{
"section": "Miêu tả",
"content": "Lòng trắng trứng làm bánh thiên thần bắt buộc phải đánh bông cho đến khi đặc quánh lại. Kem tartar được thêm vào hỗn hợp để làm ổn định lòng trắng trứng. Các nguyên liệu còn lại được cho vào hỗn hợp lòng trắng trứng một cách nhẹ nhàng.\nĐể quy trình làm nở bột diễn ra suôn sẻ, sẽ rất hữu ích khi có bột mì được làm từ lúa mì mềm. Bột mì thường được sử dụng vì kết cấu nhẹ của nó. Lúa mì mềm và không có chất béo làm cho bánh thiên thần có kết cấu và hương vị rất nhẹ.\nNên cắt bánh thiên thần bằng dao có răng cưa, vì lưỡi dao thẳng thường làm nén bánh hơn là cắt nó thành từng miếng. Thay vào đó, nên sử dụng nĩa, dao răng cưa điện hoặc máy cắt mài đặc biệt.\nBánh thiên thần thường được nướng trong chảo dạng ống, một chiếc chảo cao, tròn, có ống hướng lên ở chính giữa nhằm để lại một cái lỗ ở giữa bánh. Cũng có thể sử dụng chảo bundt, nhưng các rãnh chảo có thể khiến việc lấy bánh ra trở nên khó khăn hơn. Phần ống ở giữa làm cho bột bánh nổi lên cao hơn bằng cách 'bám' vào tất cả các mặt của chảo. Không giống như các loại chảo dùng để chế biến các loại bánh khác, chảo nướng bánh thiên thần không được dính dầu mỡ. Điều này tạo điều kiện cho bánh trồi lên, giúp bánh nở ra. Sau khi nướng, úp chảo bánh xuống trong lúc làm nguội để tránh bánh tự xẹp. Bánh thiên thần đôi khi được phủ topping bằng kem phủ, nhưng thường có một số loại nước sốt, chẳng hạn như nước sốt trái cây ngọt, rưới lên trên nó. Một loại glaze đơn giản cũng được ưa chuộng. Gần đây, nhiều đầu bếp (đặc biệt là Alton Brown) đã phổ biến ý tưởng thêm các loại gia vị thơm như vỏ nhục đậu khấu và đinh hương vào bánh."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Bánh thiên thần là một loại bánh bông lan màu trắng được làm từ lòng trắng trứng được đánh bông đến khi quánh lại (lòng đỏ sẽ làm cho nó có màu vàng và cản trở sự đặc quánh của lòng trắng) và không có bơ. Công thức chế biến bánh bông lăn trắng đầu tiên trong sách dạy nấu ăn là trong cuốn sách The Kentucky Housewife of 1839 của Lettice Bryan năm 1839.\nHome Messenger Book of Tested Recipes, ấn bản 2d., 1878, của Isabella Stewart có chứa công thức đầu tiên cho món Bánh thiên thần. Công thức chi tiết của Stewart bao gồm 11 lòng trắng trứng, đường, bột mì, chiết xuất vani và kem tartar.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Tôm nõn | https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4m_n%C3%B5n | [
{
"section": "summary",
"content": "Tôm nõn được làm từ tôm sú tươi, bóc sạch vỏ, cắt bỏ đầu rồi phơi khô sạch nước dưới nắng mặt trời (ở một số địa phương phát triển còn dùng máy sấy tôm để đạt năng suất cao, tuy nhiên theo các ngư dân lành nghề thì tôm phơi dưới nắng biển mới có được mùi vị đậm đà thơm ngon nhất mà không mất đi nhiều chất dinh dưỡng vốn có của tôm tươi. Theo đông y, tôm nõn có tác dụng rất tốt cho sức khỏe sinh lý nam giới (bổ dương).\nTôm nõn là loại đặc sản rất được yêu thích ở các tỉnh ven biển Việt Nam như Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nha Trang. Tôm nõn thường được dùng để chế biến các món ăn ngon, đặc biệt là vào mùa hè vì tính chất thanh mát giải nhiệt, có thể liệt kê ra các món như: canh bầu nấu tôm nõn, cơm tôm nõn (tôm nõn băm nhỏ, xao lên như ruốc tôm, ăn kèm với cơm trắng), bún xào tôm nõn, tôm nõn chưng sốt cà...rất lạ miệng và đưa cơm, nhất là trẻ nhỏ.\nTheo kinh nghiệm của dân vùng biển, cách lựa tôm nõn ngon là phải lựa lứa tôm đều con, không cần quá to nhưng phải nguyên con, không chọn mua tôm vụn (phơi, sấy từ tôm chết), có màu đỏ phớt nhẹ (màu đỏ rực rất dễ là phẩm màu), khi ngâm vào nước nở đều và mềm chứ không cứng."
}
] |
Tôm hùm Mỹ | https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4m_h%C3%B9m_M%E1%BB%B9 | [
{
"section": "summary",
"content": "Tôm hùm Mỹ hay Tôm hùm châu Mỹ (danh pháp hai phần: Homarus americanus), là một loài tôm hùm được tìm thấy ở bờ biển Đại Tây Dương Bắc Mỹ, chủ yếu là từ Labrador đến New Jersey. Trong phạm vi Bắc Mỹ, nó còn được gọi là 'tôm hùm phía Bắc' hoặc 'tôm hùm Maine'. Nó có hai càng lớn với thân mình mạnh mẽ, một cặp râu dài và bốn cặp chân, có thể đạt chiều dài cơ thể 64 cm (25 in), và khối lượng trên 20 kilôgam (44 lb), làm cho nó là loài giáp xác nặng nhất trên thế giới. Loài gần gũi của nó gần nhất là tôm hùm châu Âu (Homarus gammarus), có thể được phân biệt bởi màu sắc của nó và thiếu gai trên mặt dưới của rostrum. Tôm hùm Mỹ thường xanh màu xanh lá cây sang màu nâu với các gai màu đỏ, nhưng một số biến thể màu sắc đã được quan sát thấy."
},
{
"section": "Phân bố",
"content": "Homarus americanus phân bố dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Bắc Mỹ, từ Labrador ở phía bắc tới Cape Hatteras, Bắc Carolina ở phía nam. Chúng sống trong vùng biển lạnh, nhiệt độ môi trường từ 2-20 độ C. Ở phía nam New Jersey thì loài này không phổ biển, và lượng tôm hùm đánh bắt đưa vào bờ ở Delaware, Maryland, Virginia và Bắc Carolina thường chỉ chiếm ít hơn 0,1% lượng tôm đánh bắt đưa vào bờ. Một cái càng hóa thạch được cho là của Homarus americanus đã được tìm thấy ở Nantucket, có niên đại từ thế Pleistocen."
},
{
"section": "Chu kì sống",
"content": "Chu trình giao phối chỉ diễn ra vào tháng 7, 8 hàng năm, không lâu sau khi tôm hùm cái thay vỏ. Ấu trùng được sinh nở tháng 5, 6 năm sau. Ấu trùng sinh ra dài khoảng 8,5mm, trong suốt. Ấu trùng liên tục thay vỏ để trường thành, tỉ lệ sống là 1/1000 đến giai đoạn trưởng thành. \nTôm hùm trưởng thành chìm xuống đáy đại dương để tiếp tục phát triển theo lối sống sinh vật đáy. Cường độ thay vỏ chậm dần, từ 10 lần/năm đến 1 lần/nhiều năm. Sau 1 năm, chiều dài đạt từ 25-28mm. Sau 6 năm trọng lượng đạt 450gr. Một cá thể có thể thay vỏ từ 25-27 lần trong đời."
},
{
"section": "Hiệu quả kinh tế",
"content": "Tôm hùm châu Mỹ là một món ăn được ưa chuộng. Ngành công nghiệp đánh bắt tôm hùm châu Mỹ ước tính khoảng 3 tỷ đô la Mỹ hàng năm với 360 triệu tấn. Chúng chủ yếu được đánh bắt theo mùa ở Mỹ và Canada. Trong đó, Canada nắm giữ 60% thị phần và Mỹ là 40%.\nTôm hùm châu Mỹ được xuất khẩu khắp thế giới dưới dạng đông lạnh/chế biến (75%) hoặc tươi sống (25%) và luôn giữ vai trò quan trọng trong nền công nghiệp du lịch của các nước nhập khẩu."
}
] |
Nước mắm Cát Hải | https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_m%E1%BA%AFm_C%C3%A1t_H%E1%BA%A3i | [
{
"section": "summary",
"content": "Nước mắm Cát Hải là tên gọi chung để chỉ các loại nước mắm được sản xuất tập trung tại huyện đảo Cát Hải của thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Nếu như nước mắm Phú Quốc được coi là một mặt hàng chủ lực của đảo Phú Quốc (Kiên Giang) thì nước mắm Cát Hải cũng là một sản phẩm vào loại nổi tiếng nhất của đảo Cát Hải (Hải Phòng). Trước năm 1959 và cho cả đến nay, nhiều người miền Bắc Việt Nam vẫn biết đến nước mắm Cát Hải nhiều hơn dưới tên gọi là nước mắm Vạn Vân qua câu ca dao nổi tiếng về những đặc sản ẩm thực của miền Bắc: \"Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét\". Trong lịch sử thương mại thời hiện đại của Việt Nam, có thể xem nước mắm Vạn Vân (sau năm 1959 đổi tên thành nước mắm Cát Hải) là một trong những thương hiệu nổi tiếng đầu tiên do những doanh nhân người Việt sáng lập ra cùng với các thương hiệu khác như hãng sơn của Nguyễn Sơn Hà và hãng tàu thủy của Bạch Thái Bưởi."
},
{
"section": "Quá trình phát triển",
"content": "Nhiều tài liệu cho rằng nghề làm nước mắm ở đảo Cát Hải đã có lịch sử vài thế kỷ do những di dân từ Thái Bình ra lập nghiệp trên đảo mang theo từ quê hương rồi truyền lại cho con cháu qua nhiều đời. Tuy nhiên tên gọi nước mắm Vạn Vân rồi nước mắm Cát Hải chỉ mới có từ thế kỷ 20. Cuốn Staliques Commerciales của Vidy xuất bản năm 1936 cho biết: \"Xí nghiệp Vạn Vân thành lập năm 1916 ở giữa hai làng Can Lộc và Văn Chấn là nơi làm muối. Xưởng có 10.000 chum loại 400kg đựng chượp...\". Đoàn Đức Ban được coi là người sáng lập ra doanh nghiệp cũng như thương hiệu nước mắm Vạn Vân. Ông cũng là cha đẻ của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Dù có thể tên gọi nước mắm vạn Vân (vạn Vân thay vì Vạn Vân) đã được biết đến từ trước đó bởi loại nước mắm sản xuất ở làng Vân (vạn có nghĩa là làng chài Vân) thuộc xứ Kinh Bắc (Bắc Ninh) nhưng là một người có tài kinh doanh, Đoàn Đức Ban đã sử dụng tên gọi dân gian vốn được nhiều người biết tiếng làm tên gọi cho chính doanh nghiệp của mình. Các sản phẩm nước mắm của doanh nghiệp Vạn Vân đều được ông đăng ký bảo hộ với Nha kinh tế Hải Phòng khi đó cũng như luôn đi trước các đối thủ cạnh tranh ở khâu tiếp thị và quảng bá sản phẩm nên được nhiều người tiêu dùng xứ Bắc đón nhận. Tại các tỉnh thành như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh... sản phẩm nước mắm của hãng Vạn Vân luôn chiếm ưu thế hơn hẳn những cơ sở sản xuất nước mắm khác và thậm chí đã đi vào câu ca dao: \"Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét\".\nNgày 23/10/1959, hãng nước mắm Vạn Vân và Trạm hải sản Cát Hải sáp nhập thành Xí nghiệp Nước mắm Cát Hải. Từ đó, nước mắm Vạn Vân được gọi là nước mắm Cát Hải. Ít lâu sau, Xí nghiệp Nước mắm Cát Hải trở thành doanh nghiệp quốc doanh 100% vốn ngân sách Nhà nước. Ngay cả trong thời kỳ ác liệt nhất của hai cuộc chiến tranh thống nhất đất nước thì ngành sản xuất nước mắm trên đảo Cát Hải cũng không bị đình trệ. Trong giai đoạn không quân Mỹ bắn phá miền Bắc, nhiều công nhân của Xí nghiệp Nước mắm Cát Hải cũng đồng thời là những người lính tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương biển đảo. Kể từ năm 1959, hãng nước mắm Vạn Vân đã trải qua vài lần đổi tên thành các doanh nghiệp khác nhau như Xí nghiệp nước mắm Cát Hải, Công ty chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải, rồi Công ty Cổ Phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải như hiện nay. Từ một doanh nghiệp nước mắm hoàn toàn vốn tư nhân trước năm 1959 đã sáp nhập và trở thành một doanh nghiệp toàn bộ vốn quốc doanh sau năm 1959 rồi cuối cùng là công ty cổ phần từ thời kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Tuy nhiên kể từ khi tên gọi nước mắm Vạn Vân được đổi tên thành nước mắm Cát Hải thì vẫn giữ nguyên cho đến nay. Hiện nay, chủ sở hữu được pháp luật Việt Nam bảo hộ của thương hiệu nước mắm Cát Hải là Công ty Cổ Phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải (Hải Phòng)."
},
{
"section": "Sản xuất",
"content": "Vùng biển Hải Phòng nằm trong khu vực vịnh Bắc Bộ) với các ngư trường lớn như Cát Hải, Bạch Long Vĩ có nguồn cá tự nhiên tương đối dồi dào và phong phú nên rất thích hợp cho việc làm nước mắm. Nước mắm Cát Hải được chế biến theo phương thức cổ truyền qua kỹ thuật chọn cá nguyên liệu (tốt nhất là cá nục, còn gọi là cá quẩn, tiếp đến cá nhâm, cá ruội, rồi cá mực nang, mực ống…), thao tác đánh quậy, lên muối và phương pháp gia nhiệt bằng ánh nắng mặt trời, kích thích bằng sự lên men trong chượp, sự tinh tế, nhạy cảm trong kiểm soát quá trình giải Prôtêin thành amino acid để có hương thơm tự nhiên. Vì thế, nước mắm Cát Hải càng để lâu càng ngon. Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải hiện có trên 30 sản phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng cao mang thương hiệu \"Cát Hải\" với các nhãn hiệu: ông sao, cao đạm, cá mực, cá quẩn và các loại nước mắm đặc biệt trên bao bì ghi rõ dòng chữ \"bổ sung vi chất sắt\" gồm loại 1B, hạng 1, thượng hạng…"
},
{
"section": "Sử dụng",
"content": "Nước mắm Cát Hải chất lượng tốt có mùi thơm nhẹ đặc trưng của sản phẩm và cũng thường có vị mặn hơn một số dòng nước mắm khác tại Việt Nam. Nước mắm Cát Hải rất thích hợp khi chế biến nhiều món ăn mang hương vị đặc trưng của ẩm thực miền Bắc và đặc biệt là ẩm thực Hải Phòng. Tuỳ theo khẩu vị của mỗi người, từng gia đình, mỗi vùng miền mà nước mắm Cát Hải có thể để ăn nguyên chất hoặc thêm gia vị như chanh, quất tươi, đường trắng, nước sôi để nguội hay thêm ớt, hạt tiêu, tỏi, tương ớt... nhưng quan trọng là không làm mất hương vị tự nhiên của nước mắm. Một số sản phẩm nước mắm Cát Hải với nhãn hiệu ông sao, cá mực, cá quẩn, cao đạm… thích hợp với nhu cầu của người cao tuổi, hiện đã có mặt trên thị trường các nước Đông Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Lào, Philippine…"
},
{
"section": "Chứng nhận",
"content": "Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2000)\nCúp vàng thương hiệu nổi tiếng trong nước và quốc tế (2003)\nHuy chương vàng Hội chợ quốc gia vì chất lượng cuộc sống (2003-2004)\nHuân chương Độc Lập hạng Ba (2004) do Nhà nước Việt Nam trao tặng\nThương hiệu nổi tiếng (2005-2006)\n4 năm liền (2005-2008) được bình chọn là một trong 10 doanh nghiệp tiêu biểu nhất của thành phố Hải Phòng\n9 năm liền (2000-2008) được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao\nNhãn hiệu \"Nước mắm Cát Hải\" đã chính thức được đăng ký bảo hộ dưới số giấy chứng nhận là 165802 kể từ ngày 20/9/2011"
}
] |
Castella | https://vi.wikipedia.org/wiki/Castella | [
{
"section": "summary",
"content": "Castella (カステラ, kasutera) là một loại wagashi (đồ ngọt truyền thống Nhật Bản) ban đầu được phổ biến tại Nhật Bản trong thời kỳ \"Mậu dịch Nanban\" (thời kỳ Nhật Bản nhận được nhiều thứ du nhập từ ngoại quốc trong thời kỳ Azuchi–Momoyama). Để làm ra món bánh này, bột sẽ được đổ vào một cái khuôn hình chữ nhật lớn, sau đó nướng trong lò và cắt bánh thành những hình chữ nhật dài. Kể từ khi món bánh này được yêu cầu cho thêm mizuame - một loại siro đường - Castella mới có kết cấu ẩm ướt hơn.\nHiện nay, Castella là đặc sản của Nagasaki, nơi bánh được các thương nhân Bồ Đào Nha mang đến Nhật Bản vào thế kỷ 16. Tên có nguồn gốc từ một từ trong tiếng Bồ Đào Nha \"Bolo de Castela\" , có nghĩa là \"bánh từ Castile \". Bánh Castella thường được bán trong những chiếc hộp dài, phần nhân bánh bên trong dài khoảng 27 cm (11 in). Món bánh này có quan hệ gần gũi với pão-de-ló, một loại bánh của Bồ Đào Nha.\nCó những loại bánh bông lan tương tự có cách thức đặt tên giống nhau, như trong tiếng Pháp: được gọi là Pain d'Espagne, tiếng Ý: Pan di Spagna , tiếng Bồ Đào Nha: Pão d'Espanha , tiếng Romania: Pandișpan , trong tiếng Bulgaria: пандишпан , tiếng Hy Lạp: Παντεσπάνι , tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Pandispanya ( vì Castile vốn là vương quốc cũ của Tây Ban Nha, bao gồm các tỉnh phía bắc trung tâm của nó, do đó, Pain d'Espagne và các biến thể khác gần như đồng nghĩa với \"bánh mì từ Castile\"). Ngoài ra, còn có một loại bánh khác tương tự được gọi là taisan (có nghĩa là đá mài ở Kapampangan), là món tráng miệng truyền thống ở tỉnh Pampanga, Philippines ."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Vào thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha đã đến Nhật Bản và bắt đầu công việc giao thương và truyền giáo. Nagasaki khi đó là cảng duy nhất của Nhật Bản được phép mở cửa cho người nước ngoài. Người Bồ Đào Nha đã giới thiệu nhiều thứ khác lạ lúc bấy giờ như súng, thuốc lá và bí ngô . Bánh có thể để được lâu nên rất tiện dụng cho những thủy thủ lênh đênh trên biển cả tháng trời. Vào thời kỳ Edo, một phần do giá đường đắt đỏ, castella là một món tráng miệng đắt tiền mặc dù nguyên liệu được bán bởi người Bồ Đào Nha. Mỗi khi phái viên của Thiên hoàng được mời tới tiếp kiến, Mạc phủ Tokugawa sẽ tặng Castella như một món quà. Cùng với sự phát triển của thời đại, hương vị Castella đã thay đổi để phù hợp với khẩu vị của người Nhật hơn."
},
{
"section": "Các biến thể",
"content": "Hiện nay có nhiều loại bánh được làm từ các nguyên liệu như bột trà xanh, đường nâu và mật ong . Chúng có thể được đúc theo nhiều hình dạng khác nhau; tại các lễ hội phổ biến của Nhật Bản, ta có thể dễ dàng tìm thấy castella baby, một biến thể có kích thước vừa miệng hơn.\nSiberia, tức bánh Castella nhân youkan (thạch đậu ngọt) là món ngọt rất phổ biến vào thời Minh Trị ; món bánh đã được hồi sinh kể từ khi nó xuất hiện trong bộ phim hoạt hình năm 2013 The Wind Rises của Hayao Miyazaki .Hỗn hợp nguyên liệu cho Castella còn được dùng làm món bánh kếp được kẹp cùng với bột đậu adzuki ngọt trong món bánh ngọt được gọi là dorayaki."
},
{
"section": "Những nhà sản xuất chính",
"content": "Thành lập năm 1624 : Castella Honke Fukusaya ( Thành phố Nagasaki, Tỉnh Nagasaki )\nThành lập năm 1681 : Shooken (Thành phố Nagasaki, tỉnh Nagasaki)\nĐược thành lập vào năm 1900 (năm Minh Trị thứ 33) : Bunmeido (Thành phố Nagasaki, tỉnh Nagasaki) Được biết đến với cụm từ \"castella thứ nhất, số điện thoại thứ hai\" và tại vùng Kanto, nơi này nổi tiếng với quảng cáo về những con rối gấu nhảy những điệu nhảy can-can."
},
{
"section": "Castella Đài Loan",
"content": "Castella lần đầu tiên được giới thiệu đến Đài Loan trong thời kỳ Đài Loan thuộc Nhật. Năm 1968, Ye Yongqing, chủ sở hữu của một tiệm bánh mì Nhật Bản ở Đài Bắc tên là Nanbanto, đã hợp tác với công ty Nhật Bản Nagasaki Honpu để thành lập cơ sở kinh doanh Castella.Castella kiểu Đài Loan thường giống soufflé hơn so với Castella kiểu Nhật Bản vì có phần giữa giống như sữa trứng. Bánh castella có hình chiếc gối đơn giản là đặc sản của vùng Đạm Thủy. Castella được làm theo phong cách Đài Loan đã được du nhập vào Nhật Bản."
}
] |
Bún chả | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%BAn_ch%E1%BA%A3 | [
{
"section": "summary",
"content": "Bún chả là một món ăn của Việt Nam, bao gồm bún, chả thịt lợn nướng trên than hoa và bát nước mắm chua cay mặn ngọt. Món ăn xuất xứ từ miền Bắc Việt Nam, là thứ quà có sức sống lâu bền nhất của Hà Nội, nên có thể coi đây là một trong những đặc sản đặc trưng của ẩm thực Hà thành. Bún chả có nét tương tự món bún thịt nướng ở miền Trung và miền Nam, nhưng nước mắm pha có vị thanh nhẹ hơn."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "Chả: thịt lợn nạc vai làm chả băm, thịt ba chỉ làm chả miếng. Ngày nay có thể thay bằng thịt bò hay thay bằng dẻ sườn, thịt gà cũng rất tuyệt.\nBún: bún lá hoặc bún rối\nNước mắm: pha loãng cùng với các gia vị khác như đường, mì chính, nước cốt chanh, dấm thanh, tỏi băm, ớt băm, tinh dầu cà cuống\nDưa góp chua ngọt: đu đủ xanh (hoặc cà rốt, su hào, hành tây).\nĐĩa rau sống: xà lách, húng, ngổ, kinh giới\nGia vị ăn kèm khác bày đĩa: tỏi băm, ớt băm, dấm thanh, hạt tiêu xay, chanh quả cắt miếng."
},
{
"section": "Chế biến và thưởng thức",
"content": "Bún chả thường có cùng một lúc hai loại chả: Chả viên và chả miếng, tuy tùy theo sở thích ăn uống mà có khi thực khách chỉ chọn một trong hai. Chả viên được làm từ thịt nạc vai lợn băm thật nhuyễn nặn viên, ướp trộn với muối, tiêu, nước mắm trên 35 độ đạm, đường, hành khô băm thật nhuyễn, dầu thực vật hoặc mỡ nước. Tùy vào độ tươi của thịt, sau khi trộn gia vị nếu thấy thịt có vẻ hơi khô thì cho thêm một chút dầu sao cho miếng thịt dễ dàng kết dính khi vo nắn thành miếng cỡ 2 ngón tay rồi nhấn cho hơi dẹp lại. Nếu thích cầu kỳ hơn thì gói ngang mỗi miếng chả là một lần lá chuối rồi mới nướng, miếng chả sẽ không bị sạm và thơm hơn.\nDùng thịt nạc vai để làm món chả là một lựa chọn tinh tế đã có truyền thống vì nạc vai chắc thịt nhưng không có sớ nhiều như thịt đùi, không mềm như thịt mông... điều này làm cho miếng thịt khi băm nhuyễn rồi nắn lại, miếng chả chắc hơn là dùng những phần thịt khác.\nCòn chả miếng thường dùng thịt nách hoặc thịt ba chỉ (ba rọi) thái mỏng tẩm ướp gia vị tương tự chả viên và nướng vàng trên than củi. Tuỳ theo khẩu vị của mỗi người, có thể gọi toàn chả miếng hoặc chả viên để ăn cùng bún. Thịt miếng thường được lọc bỏ bì (da) để khi nướng không bị cứng và khét. Nếu dùng thịt nạc quá (thịt mông, thịt thăn) khi nướng sẽ không ngon vì chả bị khô và cứng\nThịt sau khi ướp được xếp vào xiên hoặc vỉ, nướng trên than củi. Khi thịt chín thơm và ngậy mùi, cho vào bát nước mắm pha có đầy đủ vị chua cay mặn ngọt, cùng với hoặc đu đủ xanh (hoặc su hào, cà rốt) trộn giấm. Bát nước mắm có thể vừa ăn vừa húp được, ăn cùng với bún và rau sống (gồm rau xà lách, rau mùi, húng Láng, ngổ, kinh giới, tía tô, giá đỗ).\nNgày nay, bún trong bún chả là bún rối. Nhưng bún con (từng vắt bún nhỏ cuộn chặt, vừa một lần gắp) mới là nguyên liệu truyền thống. Những hàng bún chả bán rong với nước mắm thoảng chút hương cà cuống và những lá bún là một phần của Hà Nội xưa, được nhiều nhà văn như Vũ Bằng, Thạch Lam ca ngợi.\nCách làm bún chả tuy đơn giản, nhưng để làm được bát bún chả ngon còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và bí quyết gia truyền, đặc biệt quan trọng là cách pha nước chấm khi phải cân bằng giữa các hương vị chua, thanh, ngọt và mặn."
},
{
"section": "Đặc sản Hà Nội",
"content": "Bún chả thường được ăn vào buổi trưa. Việc lựa chọn thời gian thưởng thức bún chả dường như là một nghệ thuật về thời gian: ăn bún chả vào giờ nào là thích hợp. Đây là một nét rất riêng của văn hóa ẩm thực đất kinh kỳ. Tuy nhiên hiện nay cũng có một số cửa hàng bán bún chả cả sáng trưa chiều tối.\nTại thủ đô Hà Nội, có rất nhiều cửa hàng bán món bún chả, trong đó, có một số cửa hàng đã khá nổi tiếng, quen thuộc với thực khách như bún chả Đắc Kim ở Hàng Mành, bún chả Bình Chung ở Bạch Mai, bún chả Sinh Từ, bún chả Duy Diễm ở Ngọc Khánh, bún chả Hương Liên ở Ngô Thì Nhậm, bún chả Ngọc Xuân ở Thụy Khuê, v.v.\nCó nhiều biến tấu cho bún chả tại Hà Nội và một số cửa hàng đã ít nhiều tạo nên phong cách khi thay đổi phương thức chế biến, thời gian thưởng thức như bún chả bọc lá chuối, bún chả kẹp que tre hay bún chả chan nước xương hầm."
},
{
"section": "Bún chả trong văn học",
"content": "Trong cuốn Hà Nội băm sáu phố phường, Thạch Lam đã viết về sự hấp dẫn của món bún chả như sau: \n\n\"...Có một ông đồ cuồng chữ ở nhà quê, một hôm khăn gói lên Hà Nội đã ứng khẩu đọc hai câu thơ khi ngửi thấy mùi khói chả:\nNgàn năm bửu vật đất Thăng Long.\nBún chả là đây có phải không?...\"Vũ Ngọc Phan, trong Những năm tháng ấy, cũng viết: \n\nBún chả bán rong cũng ngon tuyệt. Ba xu hoặc năm xu một mẹt. Cái mẹt đường kính chỉ 25cm (...) trên lót mấy chiếc lá dong, người ta đặt lên mấy lá bún nhỏ sợi, trắng muốt, mấy lá rau sống, diếp tây và thơm mùi, một cái chén xinh xẻo, nhỉnh hơn cái chén đong rượu nếp một tí, trong có nước mắm chanh đường ớt, pha rất khéo, và chả miếng hoặc chả băm tùy theo sở thích người ăn. Hàng bún chả đỗ đâu là thơm nức ở đó, cô hàng bún chả quạt chả trên than hồng đựng trong cái hộp sắt tây, chả cháy xèo xèo, khói bay nghi ngút. Có ba xu hoặc năm xu là đã được ăn bún chả thơm ngon, nhà làm thì tốn hơn và kềnh càng lắm."
}
] |
Nước gạo rang | https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_g%E1%BA%A1o_rang | [
{
"section": "summary",
"content": "== Tham khảo ==\n\nNước gạo rang là một loại đồ uống truyền thống của Việt Nam, được làm từ nước chắt từ gạo lức rang đến độ gần cháy đen sau đó nấu với nước cho nhừ. Nước gạo rang được dân gian cho rằng có tính chất làm bổ gan, chữa bệnh đường ruột, thường dùng cho trẻ uống để bù nước khi bị đi tiêu chảy. Nước gạo rang có mùi thơm dễ chịu và gần đây được bán ở một số nơi như một thức uống giải khát.\nỞ Hàn Quốc có Hyeonmi cha cũng là thứ đồ uống tương tự."
}
] |
Rượu nếp cái | https://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_n%E1%BA%BFp_c%C3%A1i | [
{
"section": "summary",
"content": "Rượu nếp cái, có nơi còn gọi là cơm rượu, là một loại đồ uống/đồ ăn có cồn không qua chưng cất, được chế biến từ gạo nếp theo cách dùng gạo nếp đồ chín thành xôi, để nguội và ủ với men rượu cho lên men thành rượu."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "Gạo nếp: có thể dùng nếp cẩm, nếp cái hoa vàng, tốt nhất là sử dụng gạo nếp lứt có hạt màu nâu vàng, chưa xát hết cám gạo.\nMen rượu: được làm từ nhiều loại thảo dược có đặc tính cay, nóng, nắm thành từng bánh nhỏ và ủ cho đến khi nở phồng, chuyển hóa thành một dạng nấm. Tùy nghệ nhân làm với những bí quyết riêng mà men rượu được làm từ các loại nguyên liệu khác nhau (thường có riềng, rễ cam thảo, lá ổi xanh, thuốc Bắc v.v. giã nhỏ trộn với bột gạo và vỏ trấu). Rượu nếp cái sử dụng men ngọt, loại men khác với men đắng dùng cho rượu chưng cất. Tỷ lệ men và gạo thường có sự thay đổi tùy theo trọng lượng của mỗi quả men (quả men lớn có thể chỉ cần 2-2,5 quả/kg gạo, men nhỏ thì 6-8 quả/kg gạo, trung bình là 50g men/1 kg gạo); đặc tính men (tùy người làm men mà chất lượng men có khác nhau); thời tiết (trời lạnh dùng nhiều men hơn); loại gạo (gạo trắng dùng ít men hơn gạo lứt); xôi mềm hay cứng; ý đồ ủ rượu (ủ rượu để ăn rượu nếp cái dùng ít men hơn ủ để lấy rượu nếp cái đem ngâm). Men là thành phần quan trọng tác động đến hương vị và chất lượng của rượu.\nMột số loại lá có men khác như lá nhãn, lá chuối, lá ổi dùng để lót dưới đáy dụng cụ đựng nguyên liệu và phủ lên bề mặt nguyên liệu (có thể không cần)."
},
{
"section": "Quy trình thực hiện",
"content": "Gạo được ngâm một thời gian sau đó để cho ráo, đãi sạch và đem đồ thành xôi chín. Dỡ ra đảo nhanh tay cho tơi nguội hoặc trụng qua nước lạnh cho các xôi gạo được tơi, sau đó lại bỏ vào chõ đồ một lượt nữa cho chín kỹ và mềm để nguyên liệu không bị \"lại gạo\" (khô) và được chín dẻo. Xôi chín được đổ ra rá và làm tơi.\nMen tán thành bột mịn, rây bỏ trấu, rắc đều vào xôi, lưu ý nếu trời lạnh thì để xôi hơi ấm còn trời nóng thì xôi cần để nguội, tránh làm cho men bị chết. Có thể nắm xôi thành từng viên nhỏ và rắc men lên.\nRải lá lót xuống đáy dụng cụ đựng, cho xôi nếp đã trộn men vào, phủ lá lên trên. Ủ thật kín và để nơi nóng ấm khoảng chừng 25-35 độ C. Chỉ sau một hai ngày nguyên liệu đã có mùi thơm của rượu và có độ ướt do nước rượu ngọt chảy xuống dưới đáy dụng cụ chứa đựng. Nếu chưa thấy mùi thơm, cần gia thêm men.\nĐể càng lâu càng có nhiều nước rượu và lượng đường chuyển hóa thành lượng cồn trong nước cũng nhiều lên hơn khiến cơm rượu trở nên cay hơn. Tuy nhiên cũng không nên để quá lâu vì rượu sẽ dần bị chua, tùy theo thời tiết thường từ 3 đến 5 ngày sau đã có thể đem dùng.\nCó nơi làm rượu nếp cái để ngâm chiết rượu, có thể rải men ba lần và ủ trong vòng 10 ngày. Sau đó trút thêm rượu trắng vào và vắt kiệt lấy nước bỏ xác."
},
{
"section": "Một số dạng rượu nếp cái",
"content": "Nhiều kiểu rượu nếp cái bổ dưỡng được các dân tộc trên đất nước Việt Nam làm, với nguyên liệu chính là rượu nếp đã ủ ở trên:\n\nRượu nếp cái: ăn nguyên cả nước và cái. Thường được làm và sử dụng trong ngày \"giết sâu bọ\" (ngày 5 tháng 5 âm lịch), rất thịnh hành đối với người Việt.\nRượu nếp cái bổ dưỡng: dùng rượu nếp cái phối trộn với lòng đỏ trứng gà, chuối tiêu chín xắt nhỏ.\nRượu nếp đục (còn gọi là nếp sữa) hoặc rượu nếp than (nếp cẩm): lấy nguyên liệu là rượu nếp cái cho thêm rượu trắng (rượu gạo đã chưng cất), vắt lọc bằng vải bỏ xác để lấy một hỗn hợp nước rượu trắng đục hoặc nâu tùy theo nguyên liệu là loại gạo nếp cái hoa vàng hay gạo nếp cẩm. Các quán ăn bình dân khắp ba miền, đặc biệt là các quán thịt chó, thường phục vụ món rượu nếp đục hoặc rượu nếp cẩm kiểu này cho thực khách.\nRượu nếp quất: rượu nếp cái cho vào bình với một ít quả quất chín và trút rượu trắng vào tiếp tục ngâm. Tinh dầu từ vỏ quả quất và hương vị của các múi quất tạo cho rượu vị thơm ngon khá đặc biệt.\nCác dạng rượu cần ở Tây Bắc Việt Nam và Tây Nguyên cũng sử dụng men ủ với nếp đồ thành xôi trong bình, chèn đậy để ủ thật kỹ. Khi dùng thì trút nước lạnh vào bình cho rượu hòa lẫn nước, uống bằng các cần làm bằng ống tre, trúc nhỏ đục thông các mắt."
},
{
"section": "Rượu nếp cái tại Việt Nam",
"content": "Rượu nếp cái, đặc biệt là cơm rượu nếp cẩm, là món ăn, đồ uống bổ dưỡng với nhiều protein, lipid, các nguyên tố vi lượng và vitamin (nhất là vitamin B1), nên được ưa chuộng tại nhiều nơi.\nTrong phong tục của người Việt, ngày lễ tết 5 tháng 5 âm lịch còn gọi là ngày \"giết sâu bọ\", người dân thường làm rượu nếp cái để ăn."
}
] |
Pakora | https://vi.wikipedia.org/wiki/Pakora | [
{
"section": "summary",
"content": "Pakora (phát âm [pəkoʊɽaː]), còn gọi là pakoda, pakodi hoặc ponako, là một món ăn chiên (món rán). Có nguồn gốc từ Ấn Độ, nó tìm được trên khắp Nam Á."
},
{
"section": "Chuẩn bị",
"content": "Pakora được nấu bằng cách dùng một hoặc hai thành phần, chẳng hạn như hành tím, cà tím, khoai tây, rau bina, chuối, pho mát đông, súp lơ, cà chua, hoặc ớt. Chúng cũng đôi khi được nấu với bánh mì, kiều mạch, lạc, cá, hoặc thịt gà. Chúng được nhúng phủ bột đậu vàng và sau đó chiên ngập dầu. Biến thể phổ biến nhất gồm pyaaz pakora, được làm từ hành tây, và aloo pakora, được làm từ khoai tây. Các biến thể khác bao gồm paalak pakora, được làm từ rau bina, và paneer pakora, làm từ pho mát đông (pho mát gạn kem mềm)). Khi hành tây được chuẩn bị cùng, gọi là bajji hành tây. Một biến thể của pakora làm từ bột mì, muối, và những mảnh khoai tây hoặc hành tây nhỏ (tùy chọn), được gọi là noon bariya (nūn = muối) (tiếng Hindi: नूनबरिया), thường tìm được tại miền đông Uttar Pradesh, Ấn Độ."
},
{
"section": "Phục vụ",
"content": "Pakora thường được phục vụ như đồ ăn nhẹ hoặc món khai vị. Tại Vương quốc Anh, pakora được phổ biến như là một món nhẹ thức ăn nhanh, có sẵn tại nhà hàng Ấn Độ và Pakistan. Chúng cũng thường được phục vụ với món trà chai cho khách đến tham dự lễ cưới Ấn Độ, và thường được bổ sung với me chutney, nước xốt nâu, hay nước xốt cà chua.\nGoli Baje là một loại pakoda, một phần trong ẩm thực Udupi.\nPakora đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ, như cảnh quay đầu tiên của diễn viên Raj Kapoor trong điện ảnh với Nargis đóng cửa nhà mẹ cô, với một vết bẩn bột pakora trên trán cô, dẫn đến kết quả đóng góp tiếp tục của cặp đôi để có những bộ phim hay và phổ biến nhất trên thế giới."
}
] |
Món khai vị | https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B3n_khai_v%E1%BB%8B | [
{
"section": "summary",
"content": "Món khai vị (tiếng Pháp phân biệt hors d'œuvre và entrée, tiếng Anh: appetizer hoặc starter) là một món ăn nhỏ dùng trước bữa ăn. Một số món khai vị là lạnh, một số món khác lại nóng. Các món ăn khai vị có thể được phục vụ tại bàn ăn tối như một phần của bữa ăn, hoặc chúng có thể được phục vụ trước khi ngồi. Trước đây, các món khai vị cũng được phục vụ giữa các món ăn chính.Thông thường là món ăn nhỏ hơn món ăn chính, món khai vị thường được thiết kế để được ăn bằng tay (với sử dụng dao kéo ở mức tối thiểu)."
},
{
"section": "Thư viện ảnh",
"content": "Món khai vị"
},
{
"section": "Sách tham khảo",
"content": "Cracknell, H.L.; Kaufmann, R.J. (1999). “Chapter 6: Hors-d'oeuvre”. Practical Professional Cookery. Cengage Learning. tr. 87–108. ISBN 978-1-86152-873-5. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2015.\nDavidson, Alan (ngày 21 tháng 9 năm 2006). The Oxford Companion to Food. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-280681-9.\nDunham, J. R. (tháng 4 năm 2004). Two Women in Africa: The Ultimate Adventure. iUniverse. ISBN 978-0-595-31232-0.\nFoskett, David; Paskins, Patricia; Rippington, Neil; Thorpe, Steve (ngày 29 tháng 8 năm 2014). Practical Cookery for the Level 3 NVQ and VRQ Diploma, 6th edition. Hodder Education. ISBN 978-1-4718-0671-1.\nLouis, Regis St; D'Arcy, Jayne; Gilbert, Sarah; Harding, Paul; Le Nevez, Catherine; Maxwell, Virginia; Pozzan, Olivia; Watson, Penny (ngày 1 tháng 5 năm 2012). Lonely Planet East Coast Australia 4. Lonely Planet. ISBN 978-1-74220-660-8.\nRomero, Pedro (2007). Night+Day Mexico City. ASDavis Media Group. ISBN 978-0-9776245-6-0.\nRombauer, Irma S.; Becker, Marion Rombauer; Becker, Ethan; Guarnaschelli, Maria (ngày 5 tháng 11 năm 1997). JOC All New Rev. – 1997. Simon and Schuster. ISBN 978-0-684-81870-2.\nSmith, Dennis Edwin (2003). From Symposium to Eucharist: The Banquet in the Early Christian World. Fortress Press. ISBN 978-1-4514-0653-5.\nWillan, Anne (ngày 23 tháng 3 năm 2012). The Country Cooking of France. Chronicle Books. ISBN 978-1-4521-0767-7.\nWright, Clifford A. (ngày 1 tháng 1 năm 2003). Little Foods of the Mediterranean: 500 Fabulous Recipes for Antipasti, Tapas, Hors D'Oeuvre, Meze, and More. Harvard Common Press. ISBN 978-1-55832-227-1.\nWyk, Magdaleen Van; Barton, Pat (2007). Traditional South African Cooking. Struik. ISBN 978-1-77007-407-1."
},
{
"section": "Đọc thêm",
"content": "“Bon Appetit's Guide to Modern Hors d'Oeuvres”. Bon Appétit. ngày 4 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015."
}
] |
Dosa | https://vi.wikipedia.org/wiki/Dosa | [
{
"section": "summary",
"content": "Dosa là một loại bánh crêpe hay bánh xèo lên men làm từ bột gạo và đậu mười. Nó là một món ăn chủ yếu tại các tiểu bang miền Nam Ấn Độ Karnataka, Tamil Nadu, Andhra Pradesh và Kerala. Món này cũng rất phổ biến ở một số nước như Malaysia, Singapore, Sri Lanka. Món này được sử dụng chủ yếu cho bữa sáng và được bày bán trong hầu hết các cửa hàng ăn đường phố.\nDosa không có nhân. Dosa được ăn kèm với một số loại nước chấm, nhưng chủ yếu là cà ri cay.\nBột gạo và đậu mười được trộn đều với nước, theo tỷ lệ 2:1 hoặc 3:1, cho đến khi hỗn hợp trở nên đặc sệt và được để qua đêm nhằm đảm bảo quá trình lên men, dậy mùi thơm cho bánh. Hạt cỏ cà ri Fenugreek cũng có thể được cho vào trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Bombe glacée | https://vi.wikipedia.org/wiki/Bombe_glac%C3%A9e | [
{
"section": "summary",
"content": "Bombe glacée, hay đơn giản là bombe trong tiếng Anh, là món tráng miệng bằng kem được đông lạnh trong khuôn hình cầu để tạo hình sao cho giống với quả đạn pháo, do đó mà món này còn có tên là \"kem bom\". Escoffier đã đưa ra hơn 60 công thức chế tạo bombe trong quyển sách của ông nhan đề Le Guide culinaire. Món tráng miệng này từng xuất hiện trong thực đơn của các nhà hàng từ năm 1882.Nói cách khác, thuật ngữ này đã được sử dụng để chỉ bất kỳ loại bánh kem nào được tạo hình thông qua quá trình đúc, không nhất thiết phải là hình bán cầu. Người ta còn dùng thuật ngữ này để gói gọn số món ăn được làm từ những món tráng miệng đông lạnh khác, chẳng hạn như sherbet, sorbet hoặc mousse.Bombe là một phần của thực đơn dành riêng cho đám cưới của Nữ vương Elizabeth và Vương tế Philip. Món này được phục vụ trong bữa tối cấp nhà nước của Nhà Trắng do Đệ nhất Phu nhân Jacqueline Kennedy Onassis và Tổng thống Kennedy tổ chức dành cho Tổng thống Sudan Ibrahim Abboud, kể cả bữa tiệc do Nữ hoàng Elizabeth tổ chức dành cho Đệ nhất Phu nhân Laura và Tổng thống Bush.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Chanh muối | https://vi.wikipedia.org/wiki/Chanh_mu%E1%BB%91i | [
{
"section": "summary",
"content": "Chanh muối là một loại nguyên liệu làm nước giải khát trong ẩm thực Việt Nam. Chanh muối được pha với đường, nước uống với đá hoặc uống nóng. Sau khi chanh được muối đạt yêu cầu,chanh được vớt ra và cắt thành lát mỏng.Người ta tin rằng chanh muối có thể trị ho,thanh nhiệt, giải độc, cung cấp năng lượng, bù muối khoáng nhất là vào mùa hè."
},
{
"section": "Chế biến",
"content": "Chanh được cắt bỏ núm, cho vào trong chảo hoặc chậu nhỏ trộn với muối hạt. Chanh được loại bỏ tinh dầu tránh gây vị đắng bằng cách chà xát các hạt muối cọ vào lớp vỏ cho đến khi vỏ chanh xước đều, tinh dầu từ vỏ tướt ra khá nhiều thì rửa qua nước 1 lần cho sạch muối. \nĐun sôi 1 nồi nước. Trong lúc chờ nước sôi bạn lấy 2 thìa phèn chua ra pha với 3 lít nước lạnh. Khi nước sôi bạn đổ chanh vào trong 1 phút rồi vớt ra cho vào nước phèn chua đã pha. Ngâm khoảng 2 tiếng nhằm làm trắng lớp vỏ chanh cũng như làm sạch lớp tinh dầu ở lớp vỏ chanh 1 lần nữa. \nSau khi ngâm phèn chua khoảng 2 tiếng. Trong lúc ngâm, bạn pha khoảng 1.5 lít nước đun sôi để nguội với muối. Nếu có nước cất thì càng tốt. Muối pha ở bước này phải là muối khô. Pha thật đặc. Mẹo để kiểm tra xem nước muối đã đủ đặc chưa bằng cách cho 1 hạt cơm nguội vào. Nếu hạt cơm nổi nên là nước muối đã đạt yêu cầu."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "2 kg chanh ta (chọn trái mỏng vỏ, đều nhau không quá to hoặc quá nhỏ, để héo 3 ngày)\n1,3 kg muối hột (sẽ cho vị tự nhiên hơn khi dùng muối iod)\n200g đường cát\n1 thìa giấm\nHũ thủy tinh rửa sạch, tráng nước muối, hong khô.\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Sốt Worcestershire | https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%91t_Worcestershire | [
{
"section": "summary",
"content": "Sốt Worcestershire ( WUUS-tər-shər) là một loại gia vị lên men dạng lỏng có nguồn gốc từ thành phố Worcester ở Worcestershire, Anh trong nửa đầu của thế kỷ 19. Những người sáng tạo là nhà hóa học John Wheeley Lea và William Henry Perrins, người thành lập công ty Lea & Perrins. Nước sốt Worcestershire đã được coi là một tên gọi chung cho nước sốt kể từ năm 1876, khi Tòa án Công lý Tối cao của Anh ra phán quyết rằng Lea & Perrins không sở hữu nhãn hiệu của \"Worcestershire\".Sốt Worcestershire thường được sử dụng để tăng hương vị trong các công thức nấu ăn cũng như các loại đồ uống, bao gồm món bánh mì phô mai xứ Wales, salad Caesar, hàu Kirkpatrick và trứng nhồi. Nó là hương vị phụ và tạo ra vị umami (món mặn sau bữa ăn), hiện nay nó cũng được thêm vào các món ăn chưa từng dùng loại sốt này trước đây như thịt bò và món hầm chili con carne. Nó cũng được sử dụng trực tiếp như một loại sốt trên bít tết, bánh mì kẹp thịt và các món ăn khác và tạo hương vị cho các loại cocktail như Bloody Mary và Caesar."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Một loại nước mắm lên men được gọi là garum là nguyên liệu chủ yếu trong ẩm thực Hy Lạp - La Mã và của nền kinh tế Địa Trung Hải của Đế chế La Mã, như nhà bách khoa thế kỷ thứ nhất Pliny the Elder viết trong cuốn Historia Naturalis của ông và cuốn sách về ẩm thực La Mã thế kỷ thứ tư / thứ năm mà Apicius có dùng garum trong công thức nấu ăn của nó. Việc sử dụng nước sốt cá cơm lên men tương tự ở châu Âu có thể bắt nguồn từ thế kỷ 17.Thương hiệu Lea & Perrins được thương mại hóa vào năm 1837 và là loại nước sốt đầu tiên mang tên Worcestershire. Nguồn gốc của công thức Lea & Perrins không rõ ràng. Ban đầu bao bì ghi rằng nước sốt \"đến từ công thức của một nhà quý tộc trong quận\". Công ty cũng đã tuyên bố rằng: \" Lord Marcus Sandys, cựu Thống đốc của Bengal đã thấy nó khi ở Ấn Độ cùng với Công ty Đông Ấn vào những năm 1830 và ủy quyền cho các tiệm thuốc lá địa phương bắt chước lại nó (sự hợp tác của John Wheely Lea và William Perrins of 63 Phố Broad, Worcester).\nTheo truyền thống của công ty, khi công thức được pha chế lần đầu ở đó, sản phẩm tạo ra có vị nồng đến mức nó được coi là không thể ăn được và các thùng sốt đã bị bỏ lại dưới tầng hầm. Vài năm sau, để dọn sạch kho chứa hàng các nhà hóa học quyết định thử lại, và phát hiện ra rằng nước sốt lên men từ lâu vị đã trở nên dịu lại và rất ngon. Năm 1838, những chai \"sốt Lea & Perrins Worcestershire\" đầu tiên được ra mắt công chúng."
},
{
"section": "Thành phần",
"content": "Các thành phần ban đầu trong một chai nước sốt Worcestershire được bán là:\n\nGiấm mạch nha lúa mạch\nGiấm thần\nMật đường\nĐường\nMuối\nCá cơm\nChiết xuất me\nHành tây (ban đầu là hẹ tây)\nTỏi\nGia vị\nHương liệuVì nhiều loại nước sốt Worcestershire có cá cơm, nên những người bị dị ứng với cá, và những người khác tránh ăn cá, chẳng hạn như những người ăn chay, sẽ không ăn. Codex Alimentarius khuyến cáo rằng thực phẩm chế biến sẵn có nước sốt Worcestershire với cá cơm phải có nhãn cảnh báo về hàm lượng cá mặc dù điều này không bắt buộc ở hầu hết các khu vực pháp lý. Bộ Nông nghiệp Mỹ đã yêu cầu thu hồi một số sản phẩm có nước sốt Worcestershire không được khai báo. Một số thương hiệu bán các loại sốt Worcestershire không chứa cá cơm, thường được dán nhãn là chay hoặc thuần chay. Nói chung, Người Do Thái chính thống không ăn cá và thịt trong cùng một món ăn, vì vậy họ không sử dụng nước sốt Worcestershire truyền thống để nêm thịt. Tuy nhiên, một số nhãn hiệu nhất định được chứng nhận là có chứa ít hơn 1/60 sản phẩm cá và có thể được sử dụng với thịt."
}
] |
Bún nem | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%BAn_nem | [
{
"section": "summary",
"content": "Bún nem (theo cách gọi miền Bắc) hay bún chả giò (miền Nam) là một món ăn đặc sản của người Hà Nội gồm bún (bún rối hoặc bún lá) và nem rán (chả giò). Thưởng thức món ăn này không thể thiếu nước chấm gồm nước mắm, dấm, ớt, tỏi, đường và hạt tiêu. Cùng với món bún chả, bún nem rát được ưa dùng tại Hà Nội, nhất là các dịp lễ Tết và liên hoan sau các bữa cỗ nhiều thịt và đầy ắp món béo."
},
{
"section": "Nguyên liệu và chế biến",
"content": "Nem rán gồm vỏ nem và nhân nem. Vỏ nem hay bánh đa nem là loại bánh tráng bằng bột gạo xay với nước, tráng mỏng, phơi khô. Khi dùng để gói nem thì bánh tráng này được nhúng ướt để tránh gãy vỡ. Nhân nem thường bao gồm thịt lợn hoặc thịt bò băm nhỏ, miến (bún tàu) ngâm mềm cắt ngắn, mộc nhĩ, nấm hương, hành, trứng, hạt tiêu và gia vị... Có thể có thêm susu hay cà rốt bào sợi, hành tây thái hạt lựu... tùy sở thích từng người. Nhân được cuốn trong bánh tráng cuốn nem thành hình trụ dài tầm 1 gang tay hoặc ngắn hơn.\nNem cuốn xong được rán trong chảo ngập dầu đến khi vàng đều, sau đó được để bớt nóng rồi cắt thành miếng vừa ăn cỡ 2 đốt ngón tay, bày cùng ra thơm (kinh giới, rau húng, xà lách, ra mùi...) ăn với bún và nước chấm."
}
] |
Khoai tây chiên | https://vi.wikipedia.org/wiki/Khoai_t%C3%A2y_chi%C3%AAn | [
{
"section": "summary",
"content": "Khoai tây chiên kiểu Pháp (French fries hay fries trong tiếng Anh Mỹ, chips trong tiếng Anh-Anh, phương ngữ Hiberno-English, finger chips của tiếng Anh-Ấn), hay French-fried potatoes là khoai tây chiên giòn cắt thành sợi hoặc hình que.\nKhoai tây chiên được phục vụ nóng, mềm hoặc giòn được dùng kèm trong bữa trưa hay bữa tối hoặc riêng lẻ như một món ăn nhẹ và thường có mặt trên thực đơn của thực khách trong cửa hàng đồ ăn nhanh, quán rượu và quán bar.\nMón này thường được ướp muối và tùy thuộc vào quốc gia, có thể được phục vụ với nước xốt cà chua, giấm, mayonnaise, tương cà chua hoặc các đặc sản địa phương khác.\nKhoai tây chiên có gồm nhiều loại ăn kèm hơn như trong một số món như poutine hoặc \"chili cheese fries\". Loại thái lát có thể được làm từ khoai lang thay vì khoai tây. Một biến thể nướng, khoai tây nướng lò, sử dụng ít dầu hoặc không dầu."
},
{
"section": "Cách làm",
"content": "Khoai tây được gọt vỏ, thái thành lát mỏng dày tùy ý, sau đó ngâm trong nước lạnh đã pha muối khoảng 15 đến 20 phút (ngâm với nước đá lạnh thì càng tốt) để làm sạch mủ có trong khoai tây. Sau đó chúng được vớt để ráo và cho khoai vào nồi luộc và cho thêm một chút muối và đường như vậy sẽ giúp bạn dễ chiên và khoai sẽ giòn hơn. Khi khoai tây đã chín tới ngâm trong nước lạnh khoảng 5 phút, sau đó để ráo nước. Bột chiên giòn pha với nước lạnh, cho một ít bột nêm, bột hồi hoặc quế (nếu có). Quậy đều hỗn hợp trên cho tan, yêu cầu bột hơi sánh (không đặc quá cũng không lỏng quá). Chất lượng của khoai tây chiên phụ thuộc rất nhiều vào việc pha bột.\nCho chảo lên bếp, để chảo nóng rồi cho dầu vào chảo, để dầu chín thì cho khoai tây vào chiên lần thứ nhất. Để lửa nhỏ, không được để cháy. Khoai vừa chín tới, vớt ra ngay, để ráo dầu, nhúng vào bột đã quậy sẵn. Đối với lần chiên thứ 2, để khoai tây chiên giòn lâu, sau khi chiên lần 1, vớt khoai ra, nhỏ vài giọt nước cốt chanh vào dầu trước khi chiên lần 2. Cho khoai tây đã nhúng vào bột chiên lần 2 cho đến lúc thấy bề mặt khoai có màu vàng ươm. Lửa để nhỏ để khoai được chín từ bên trong. Ăn kèm tương ớt hoặc mayonnaise, bơ… tuỳ thích.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Giò lụa | https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%B2_l%E1%BB%A5a | [
{
"section": "summary",
"content": "Giò lụa, giò chả hay chả lụa (Từ phổ thông) là tên gọi của món ăn được làm từ hai nguyên liệu cơ bản là thịt nạc thăn lợn giã nhuyễn kết hợp với nước mắm ngon, gói trong lá chuối và luộc chín. Thịnh hành trong ẩm thực Việt Nam từ Bắc xuống Nam như một món ăn vừa phổ thông vừa sang trọng, giò lụa giòn và thơm đậm mùi thịt tươi luộc cộng với mùi đặc trưng của lá chuối tươi được luộc chín."
},
{
"section": "Nguyên liệu",
"content": "Nguyên liệu làm món giò lụa rất đơn giản nhưng để có được miếng giò ngon đòi hỏi sự lựa chọn cầu kỳ, tinh tế và quy trình thực hiện hết sức bài bản: \n\nThịt lợn: lựa chọn thịt còn tươi vừa mổ lấy ra từ con lợn mới làm lông sạch, tốt nhất là thịt lợn ỉ mỗi con nặng khoảng 40–50 kg. Thịt để vào tay còn có cảm giác ấm, và thái trên thớt miếng thịt còn như nhảy trên mặt thớt, thịt dai không nhão.\nNước mắm: chọn loại nước mắm thật ngon với độ đạm cao, thơm và sánh (như nước mắm cá thu).\nLá chuối: chọn lá tươi bánh tẻ, tốt nhất là lá chuối tây. Giò lụa có hương vị đặc biệt chính là nhờ sự kết hợp của vị thơm lá chuối luộc chín kết hợp với vị thịt tươi luộc chín. Do đó, trong sự cách tân món giò truyền thống, một số người thử nghiệm cho giò sống vào ống sắt để luộc đã không mấy thành công, và Nguyễn Tuân, trong khi dẫn lời một nghệ nhân làm giò tại Hà Nội, cụ Líu, đã gọi đó là món \"giò gỉ sắt\".\nGia vị khác: một số địa phương và một số nghệ nhân còn gia thêm chút bột ngọt, đường, hạt tiêu xay nhuyễn tuy không phải là những gia vị bắt buộc theo cách thức truyền thống."
},
{
"section": "Thực hiện",
"content": "Thịt lợn nạc trước kia thường được đem giã thủ công để thành giò sống. Thịt chọn loại nạc mông hay thịt thăn vừa mổ từ lợn ra, còn nóng hổi, không rửa nước, lọc nhanh để bỏ hết mỡ, gân, xơ, thái miếng vuông cho vào cối đá mỗi mẻ khoảng 400-500g và dùng chày gỗ (trước kia thường làm bằng gỗ mít) để giã. Người giã giò là người có sức khỏe, hay tay cầm hai chày giã liên tục, thật đều tay và bền sức, nghe đều đều như tiếng bật bông nệm. Kỹ thuật giã giò cũng mang tính chất quyết định chất lượng giò, nói như lời cụ Líu trong thiên tùy bút Giò lụa của Nguyễn Tuân đã dẫn, nghe tiếng giã giò có thể đoán được mẻ giò lụa là được hoặc là bỏ... giã giò mà nhịp chày không đặm đều sẽ không khác gì người đổ bê tông móng cầu chậm chạp lóng ngóng làm ôi xi măng....\nHiện nay, trong nỗ lực cơ khí hóa thay thế sức lao động thủ công của con người, đã có máy thực hiện giã giò, và nghề giã giò cũng như kỹ thuật giã giò cha truyền con nối đã dần dần mất đi tại các cơ sở sản xuất, làng nghề. Nhưng dù bằng máy móc gì chăng nữa, giò sống để làm món giò lụa không thể thực hiện bằng các máy xay, băm thịt, bởi sẽ khiến món giò trở nên bã và xơ, không mịn đều, mất ngon. Khi giã thịt gần hoàn tất, người giã giò cho vài thìa nước mắm ngon (thường là nước mắm cá thu) và tiếp tục thúc thật nhuyễn cho đến khi nhấc chày lên giò sống không bết dính vào đầu chày.\nGiò sống đã hoàn tất được gói trong lá chuối. Vòng ngoài giò là lá chuối già, áo lót trong cùng là lá chuối non vàng nhạt màu lụa. Giò được bó bằng lạt giang thật chặt với lớp lá chuối thật kín (nhiều người còn bọc thêm nilon hoặc giấy bản bên ngoài lá chuối để tránh tình trạng nước trong nồi thấm vào giò), lăn nhẹ cho cây giò tròn trịa.\nCây giò được luộc chín trong nước. Quy trình luộc giò cũng rất quan trọng, nước trong nồi phải thật sôi mới thả giò vào theo chiều đứng, ngập trong nước. Giò phải được luộc vừa đủ chín, không quá lửa cũng không non quá. Thường với gói giò 1 kg thì luộc khoảng 1 tiếng đồng hồ là hoàn tất. Tương tự như vậy, với cây giò nửa kg thì giảm thời gian luộc giò xuống còn một nửa. Người dân tại làng Ước Lễ có kinh nghiệm khi cho giò vào luộc cũng là lúc thắp một nén hương có độ dài bằng chu vi khoanh giò, đợi nén hương cháy hết là vớt giò ra. Giò ném xuống mặt thớt nảy lên như quả bóng có nghĩa là giò chín."
},
{
"section": "Trình bày, thưởng thức và bảo quản",
"content": "Giò lụa ngon khi khoanh giò có màu trắng ngà hơi ngả sang màu hồng nhạt, bề mặt có một vài lỗ rỗ, mùi thơm, vị ăn ngọt, giòn, mịn màng, không khô rắn, không mềm nát và không bị bã.\nGiò lụa thường được thái thành khoanh ngang và xắt làm 4-6-8 miếng bằng nhau theo đường kính và trình bày trên đĩa thành hình hoa thị hay hình sao; hoặc thái khoanh ngang mỏng và xắt đôi thành hình bán nguyệt và bày dạng xòe quạt. Giò được ăn đơn giản bằng cách chấm nước mắm ngon rắc hạt tiêu rang giã nhuyễn, có thể thêm chút tinh dầu cà cuống. Ngoài cách ăn thông thường như một món ăn trên mâm cỗ ngày lễ tết hay món ăn mặn thường nhật, giò lụa cũng thường sử dụng ăn kèm với bánh giầy (gọi là bánh giầy giò), xôi (xôi giò), bánh cuốn, bánh giò, hoặc món cơm gạo tám thơm (cơm tám giò chả).\nGiò lụa đạt chất lượng có thể để khá lâu không thiu, nếu để nguyên cây giò có thể bảo quản trong nhiệt độ bình thường khoảng 1 tuần lễ."
},
{
"section": "Đặc sản địa phương",
"content": "Tại miền Bắc Việt Nam có nhiều cơ sở sản xuất giò lụa ngon nhất là ở các làng nghề làm giò nhưng nổi tiếng là làng nghề giò chả Ước Lễ (huyện Thanh Oai, Hà Tây cũ)."
},
{
"section": "Vấn đề phụ gia",
"content": "Khâu lựa chọn nguyên liệu và quy trình thực hiện cầu kỳ để có miếng giò lụa dai, giòn và mịn đã trở nên khá khó khăn khi thịt lợn tăng trọng rất bở, có nhiều nước trở nên phổ biến và khi kỹ thuật giã giò công phu đã không được ưa chuộng tại những cơ sở sản xuất giò chả thiếu lương tâm. Tại nhiều nơi, giò lụa đã được thực hiện với thịt không còn tươi rói nhưng lại được kết hợp với lượng hàn the rất lớn cho miếng giò giòn dai và mịn. Với một hướng đi mới trong việc tìm tòi phụ gia thay thế để sản xuất giò lụa, bún, đề tài Nghiên cứu sử dụng carageenan (một chất chiết xuất từ rong biển tương tự argar) thay thế borat (hàn the) trong sản xuất giò lụa của Nguyễn Thành Thoại đã khiến mọi người hết sức bất ngờ. Giò lụa có sử dụng carageenan cho màu đẹp, mùi vị thơm ngon, dai, giòn và có độ bền đông kết cao nhưng lại không gây độc hại như dùng hàn the, là chất đã bị Bộ Y tế nghiêm cấm sử dụng."
},
{
"section": "Đánh giá",
"content": "Nguyễn Tuân trong thiên tùy bút Giò lụa viết tặng nhà văn Thạch Lam vào dịp hè năm 1973, đánh giá: Không sợ là huênh hoang thiếu khiêm tốn, ta có thể nói rằng biết chế lợn ra thành cân giò lụa, đó là đỉnh cao của một dạng văn hóa dân tộc toàn cầu ăn thịt lợn và chế biến món ăn từ hiếu lợn, hình như giò lụa là một tiết mục độc đáo chỉ ta mới có, chỉ người Việt Nam ta mới nghĩ ra và làm ra thôi (tôi thành thật rất mong một bạn bác học nào dẫn chứng và chỉ cho tôi thấy thêm là ngoài cõi Việt Nam, giò còn thấy ở vùng nào xứ nào nữa kia). Tại sao lại chỉ có cái anh Việt Nam nghĩ ra món giò. Ta có dịp chiêu đãi bạn bè họ nội ngoại quốc tế ai cũng thấy là có mê cái món giò lụa Việt Nam tinh tế nhường ấy thì cũng không có gì là lạ cả."
}
] |
Anpan | https://vi.wikipedia.org/wiki/Anpan | [
{
"section": "summary",
"content": "Anpan (あんパン, Anpan) hay 餡(あん)パン) là một loại bánh cuộn ngọt của Nhật Bản với phần nhân chủ yếu là tương đậu đỏ. Anpan còn có thể làm với các loại nhân khác như đậu trắng (shiro-an), đậu xanh (uguisu-an), vừng (goma-an), và hạt dẻ (kuri-an)."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Anpan được phát minh lần đầu tiên vào năm 1875, trong thời kỳ Minh Trị bởi một người tên là Yasubei Kimura, một võ sĩ bị mất việc khi Quân đội Hoàng gia bắt đầu phát triển và tầng lớp võ sĩ đạo đang trên bờ suy thoái. Thời đại Minh Trị là thời kỳ Nhật Bản ngày càng hiện đại hóa, do đó ngày càng nhiều samurai bị mất việc và họ phải chuyển sang làm một công việc khác hoàn toàn mới lạ so với họ; nghề thợ làm bánh cũng là một trong những công việc như thế.\nChuyện kể rằng, vào một ngày nọ, khi đang lang thang quanh khu vực có nhiều cựu võ sĩ làm việc, Kimura Yasubei trông thấy một chàng trai trẻ đang làm bánh mì, và ông đã nảy sinh ra ý tưởng mới – thành lập một tiệm bánh mì tên là Bun'eidō (文英堂). Năm 1874, ông chuyển đến Ginza và đổi tên tiệm bánh thành Kimuraya (木村屋), nay là Kimuraya Sohonten ( ja:木村屋總本店). Tuy nhiên, vào thời điểm đó, công thức làm bánh mì duy nhất được biết đến ở Nhật Bản là làm một loại bánh mì có vị mặn và chua, không phù hợp với khẩu vị của người Nhật lúc bấy giờ. Nắm bắt được điều này, Yasubei đã nảy sinh ý tưởng làm một loại bánh mì phù hợp với khẩu vị của người Nhật hơn. Cuối cùng, ông đã tìm ra cách làm bánh mì theo phong cách manjū của Nhật Bản - tức là nhào bột bằng men lỏng sakadane truyền thống. Sau đó, ông cho wagashi nhân đậu vào trong khuôn bánh mì và bán chúng như đồ ăn vặt, về sau loại bánh độc đáo này được gọi là Anpan. Anpan rất nổi tiếng không chỉ vì hương vị của nó mà còn là vì sự tò mò người Nhật đối với bất cứ thứ gì mới lạ vào thời điểm đó.\nSau đó, Yamaoka Tesshū, một thị thần của Thiên hoàng Minh Trị và là một người yêu thích món bánh Anpan đã yêu cầu Mạc phủ Tokugawa - chính quyền cai trị Nhật Bản trước thời Minh Trị, phải biếu tặng Anpan mỗi khi đến diện kiến Thiên hoàng. Mạc phủ Tokugawa đã yêu cầu Yasubei làm một ít đem dâng cho Triều đình. Yasubei đã nỗ lực chăm chỉ để làm ra Anpan, ông quan tâm đến hình thức của món ăn này nên đã trang trí chúng bằng một bông hoa anh đào ngâm muối ở giữa mỗi chiếc bánh. Món bánh Anpan này đã được dâng lên Thiên hoàng Minh Trị vào ngày 4 tháng 4 năm 1875. Về sau Thiên hoàng đã yêu cầu Yasubei dâng Anpan cho ông mỗi ngày, sau khi có tin đồn rằng Thiên hoàng đã ăn Anpan, sự nổi tiếng của các món bánh mì, đặc biệt là Anpan đã bắt đầu lan rộng khắp đất nước."
},
{
"section": "Ảnh hưởng đến văn hóa đại chúng",
"content": "Anpan thường được sử dụng như tiếng lóng dùng chỉ một loại chất để pha loãng sơn.Hình ảnh Anpan cũng được nhắc đến trong bộ truyện tranh và phim hoạt hình Anpanman, kể về một siêu anh hùng có đầu được làm bằng Anpan.\nTrong bộ anime nhượng quyền Clannad, nhân vật chính Nagisa Furukawa thường tự gọi mình với biệt danh \"Anpan\".\nTrong anime Gintama, nhân vật Sagaru Yamazaki được xem là ăn Anpan như một nghi thức gợi nhớ đến các bộ phim truyền hình trinh thám nổi tiếng của Nhật Bản khi hoạt động bí mật, và cuối cùng phát điên vì nó (tập 205).\nTrong sê-ri tokusatsu Denshi Sentai Denjiman, nhân vật Daigoro Oume/DenjiBlue (do Kenji Ohba thủ vai) rất yêu thích Anpan. Rất lâu sau khi bộ truyện kết thúc, anh ấy xuất hiện trong các bộ phim Gokaiger vs. Goseiger và Gokaiger vs. Gavan với vai trò là một người bán Anpan.\nNhân vật Kogepan của San-X được khắc họa là một chiếc bánh anpan bị bỏng, với vẻ chán nản và như bị say sữa.Nhân vật Akatsuki trong Log Horizon cũng rất thích ăn Anpan, nhưng cảm thấy ngon nhất là khi ăn kèm với trà xanh.\nTrong anime Deadman Wonderland, phần thưởng khi tham gia \"Cuộc đua chó\" do Tamaki tổ chức là được ăn Anpan."
}
] |
Bánh cuốn | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_cu%E1%BB%91n | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh cuốn, còn gọi là bánh mướt hay bánh ướt (khi không có nhân), là một món ăn làm từ bột gạo hấp tráng mỏng, cuộn tròn, bên trong độn nhân rau hoặc thịt."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Trong An Nam chí lược, sử gia Lê Tắc chú rằng \"vào Tết Hàn thực, đem bánh cuốn tặng nhau\". Điểm nữa là trong thi phẩm Tặng bánh xuân cho ngài thiên sứ Trương Hiển Khanh (饋張顯卿春餅), năm 1291, vua Trần Nhân Tông cho hay: \"Hôm nay đúng ngày mồng 3 tháng 3, trên chiếc mâm chạm hình mây đỏ bày bánh xuân thái, là phong tục cũ của An Nam xưa nay\" (柘枝舞罷試春衫, 況值今朝三月三。 紅玉堆盤春菜餅, 從來風俗舊安南). Còn Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa dẫn rằng, bánh xuân thái cũng chính là tên gọi khác của bánh cuốn, sách này đồng thời nói: \"Quyển bính nhiều nhân càng ngon; Hiệu là bánh cuốn lăn tròn khéo thay\". Như vậy, vào thời Trần, thậm chí có thể truy lên thời Lý, nhằm tết Hàn thực, người Việt ăn bánh cuốn và có tục đem bánh cuốn tặng nhau, chứ chưa có tục ăn bánh trôi như thời Lê Nguyễn về sau. Bánh cuốn còn được gọi là bánh xuân (春餅) hoặc bánh xuân thái (春菜餅), trong có nhân (có thể gồm cả rau lẫn thịt), được cuốn tròn lại, hình dạng khá gần với bánh cuốn ngày nay."
},
{
"section": "Đặc điểm",
"content": "Gạo thường dùng loại gạo cũ (do sử dụng gạo mới, gạo ngon sẽ có nhiều nhựa nên bánh sẽ dính, khó chế biến), xay mịn, hòa với nước. Đặt nồi hấp, căng vải mỏng trên miệng nồi. Mỗi lần cho một muôi bột nhỏ, xoa đều lên bề mặt miếng vải để lá bánh cuốn được mỏng, có thể thoa thêm chút mỡ để dễ lấy ra. Sau khi bánh chín, dùng đũa to hoặc thanh tre gạt ra đĩa, lúc này có thể cuộn thêm nhân gồm một ít thịt vai nửa nạc nửa mỡ, tôm, băm cùng mộc nhĩ, nấm hương đã xào chín với các gia vị như mắm, hạt tiêu... Rắc thêm hành khô phi thơm và dùng với nước chấm đủ các vị chua, cay, mặn, ngọt."
}
] |
Mì kéo | https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%AC_k%C3%A9o | [
{
"section": "summary",
"content": "Mì kéo hay mì kéo sợi (tiếng Trung Quốc: 拉麵/ bính âm: Lamian) là một loại mì sợi Trung Quốc. Mì kéo được tạo ra bằng cách xoắn, kéo dài và gấp bột thành sợi, sử dụng trọng lượng của bột, theo truyền thống thì chúng được làm bằng tay và sử dụng ở dạng mì tươi. Chiều dài và độ dày của các sợi mì phụ thuộc vào số lần bột được gấp lại. Phương pháp làm mì độc đáo này có nguồn gốc từ Trung Quốc. Những thư tịch cổ từ năm 1504, có mô tả sớm nhất về phương pháp tạo ra mì kéo sợi này."
},
{
"section": "Tổng quan",
"content": "Quá trình làm bằng tay bao gồm lấy và nhào một cục bột và liên tục kéo dài nó để tạo ra nhiều sợi mì mỏng và dài. Có một số kiểu xoắn bột nhưng tất cả đều sử dụng cùng một khái niệm: một miếng bột được nhồi đi nhồi lại và tự gấp lại để sắp xếp bột và làm nóng bột để kéo dài. Sau đó, nó được lăn ra đến độ dày hoàn toàn khả thi và cắt thành các phần. Phần cuối của bột bắt đầu không bao giờ được sử dụng vì kết cấu glutens không được xếp thẳng hàng như phần giữa.\nBột này sau đó được kéo đến khoảng một sải tay. Người kéo sau đó tạo một vòng lặp với bột, nối hai đầu thành một khối bột và chèn các ngón tay của mình vào vòng lặp để giữ cho sợi không bị dính vào chính nó. Làm điều này, lực kéo đã tăng gấp đôi chiều dài của bột trong khi phân đoạn độ dày của nó. Quá trình này được lặp lại nhiều lần cho đến khi đạt được độ dày và số lượng mong muốn. Một số người kéo nhúng các sợi vào bột giữa các giai đoạn kéo dài để giữ chúng tách biệt. Khi bột được sử dụng, thường có một cú tát mì cuối cùng vào bảng chuẩn bị để loại bỏ bột thừa, cũng đôi khi được rấy lên bụi bột để chống dính."
}
] |
Panulirus longipes | https://vi.wikipedia.org/wiki/Panulirus_longipes | [
{
"section": "summary",
"content": "Panulirus longipes, tôm rồng chân dài, là một loài tôm rồng sinh sống ở các đá ngầm san hô và đá nông ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đánh giá tình trạng bảo tồn loài này là \"ít quan tâm\"."
},
{
"section": "Miêu tả",
"content": "Panulirus longipes phát triển đến chiều dài tối đa khoảng 30 cm, nhưng một kích thước thông thường là 20–25 cm với chiều dài mai của lên đến 10 cm. Màu vỏ nói chung là màu nâu sẫm hoặc nâu tối hoặc nâu hơi xanh biển và có nhiều đốm trắng tròn trên bụng và điểm khá ít trên các bộ phận khác của cơ thể. Các chân có sọc dọc nhạt màu và đôi khi một đốm trắng duy nhất gần mũi chân."
},
{
"section": "Phân bố và môi trường sống",
"content": "Panulirus longipes là loài bản địa khu vực nhiệt đới Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Phạm vi phân bố kéo dài từ Madagascar và bờ biển phía đông châu Phi tới Malaysia, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Papua New Guinea và phía bắc Australia. Loài tôm này được tìm thấy trên các rạn đá và san hô, thường ở độ sâu ít hơn khoảng 18 m (59 ft), nhưng đặc biệt là sâu 122 m (400 ft). \nCó hai phân loài; P. l. longipes được biết đến từ Đông Phi đến Thái Lan, Đài Loan, Philippines và Indonesia, trong khi P. l. bispinosus được biết đến từ Nhật Bản, Liên bang Micronesia, Papua New Guinea, Vanuatu, Fiji, Tonga, quần đảo Cook, New Caledonia và bờ biển phía đông của Australia.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Bánh canh | https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_canh | [
{
"section": "summary",
"content": "Bánh canh là một món ăn Việt Nam. Bánh canh có nguồn gốc từ Đông Nam Bộ, sau đó phổ biến khắp Việt Nam. Bánh canh bao gồm nước dùng được nấu từ tôm, cá và giò heo thêm gia vị tùy theo từng loại bánh canh. Sợi bánh canh có thể được làm từ bột gạo, bột mì, bột năng hoặc bột sắn hoặc bột gạo pha bột sắn. Bánh được làm từ bột được cán thành tấm và cắt ra thành sợi to và ngắn. Bánh được bỏ vào nồi nước dùng đã hầm vừa đủ độ và đợi cho chín tới. Gia vị cho bánh canh thay đổi tùy theo món bánh canh và tùy theo khẩu vị mỗi vùng. Bánh canh có nhiều cách chế biến với cá đã róc xương, cua/ghẹ, bột lọc, chả cá, tôm/thịt nhưng phổ biến nhất là bánh canh giò heo."
},
{
"section": "Bánh canh tại địa phương",
"content": "Món bánh canh là món ăn quen thuộc ở nhiều địa phương trong cả nước nhưng mỗi nơi lại mang một mùi vị đặc trưng riêng."
}
] |
Xương sông | https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C6%B0%C6%A1ng_s%C3%B4ng | [
{
"section": "summary",
"content": "Xương sông (còn gọi là xang sông, hoạt lộc thảo, rau húng ăn gỏi; danh pháp khoa học: Blumea lanceolaria) là loài cây dùng làm gia vị và thuốc trong họ Cúc (Asteraceae)."
},
{
"section": "Miêu tả",
"content": "Cây thảo, cao hơn 0,6–2 m, sống 2 năm. Thân thẳng đứng, có rãnh dọc, gần nhẵn. Lá trứng thuôn dài, mép có răng cưa, những lá phía trên nhỏ hơn. Cụm hoa hình đầu, mọc 2 - bốn cái ở nách các lá bắc. Cụm hoa hình đầu màu vàng nhạt, thành chùy dài ở ngọn, mào lông màu trắng. Tràng hoa cái rất mảnh, 3 răng; tràng hoa lưỡng tính 5 răng, nhị 5. Bao phấn có tai. Bầu có lông. Quả bế hình trụ, 5 cạnh."
},
{
"section": "Phân bổ",
"content": "Xương sông mọc dại hoặc được trồng nhiều nơi ở các vùng Nam Á và Đông Nam Á, Hoa Nam, Đài Loan... Cây thường mọc tự nhiên trong vườn hoặc trong rừng ở cao độ thấp do gió thổi các quả bế có lông đi khắp nơi."
},
{
"section": "Sử dụng",
"content": "Lá có mùi hơi hăng của dầu, khá đặc trưng không giống các loại rau thơm khác, nên được dùng chủ yếu làm gia vị, nấu canh. Lá non hoặc lá bánh tẻ dùng để làm gia vị trộn trong chả và cuốn chả nướng, ăn với gỏi cá. Có thể dùng để nấu, nêm nếm trong một số món thịt, cá. Thân và lá làm thuốc trị ho, giải nhiệt, kích thích tiết mồ hôi. Lưu ý, khi bắt đầu mùa heo may ở miền Bắc và bắt đầu mùa khô ở miền Nam xương sông chậm phát triển lá giòn hơn, khi nấu canh nước tạo thành bị đen ít cảm quan."
}
] |
Queso | https://vi.wikipedia.org/wiki/Queso | [
{
"section": "summary",
"content": "Chile con queso (Từ tiếng Tây Ban Nha cho \"ớt với pho mát\"), đôi khi được gọi đơn giản là queso, là một món khai vị hoặc món ăn thêm từ phô-mai chảy và ớt. Món này thường phục vụ trong các nhà hàng Tex-Mex (Texas-Mexico) như là một loại nước chấm cho bim bim tortilla."
},
{
"section": "Khái quát",
"content": "Chile con queso là một phần của ẩm thực Tex-Mex và ẩm thực Tây Nam Hoa Kỳ, có nguồn gốc ở bang Chihuahua phía bắc Mexico, là một phiên bản của món Queso chihuahua và Queso flameado. Chile con queso chủ yếu được tìm thấy trên thực đơn các nhà hàng ở Tex-Mex và các bang khác của Hoa Kỳ."
}
] |
Sanuki udon | https://vi.wikipedia.org/wiki/Sanuki_udon | [
{
"section": "summary",
"content": "Sanuki udon (讃岐うどん) là một loại mì udon phổ biến nhất trong khu vực Shikoku, nhưng hiện nay dễ dàng tìm thấy trên khắp các khu vực lân cận và phần lớn vùng Kansai của Nhật Bản. Loại mỳ này có đặc trưng bởi sợi mỳ hình vuông và cạnh dẹt. Hiện có nhiều cửa hàng chuyên phục vụ mỳ Sanuki udon, và thường viết tên mỳ \"Sanuki\" bằng chữ hiragana (さぬき) xuất trên tên của các cửa hàng hoặc trên các bảng hiệu.\nMón mỳ này thường được phục vụ dạng mỳ nước, và ban đầu được phổ biến rộng rãi ở tỉnh Kagawa của Nhật Bản. Nước dùng được làm từ một loại dashi khác nhau về độ đậm và hương vị trên khắp Nhật Bản.\nSanuki udon được đặt tên theo tên trước đây của tỉnh Kagawa, tỉnh Sanuki.\n\n\n== Chú thích =="
}
] |
Phá lấu | https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1_l%E1%BA%A5u | [
{
"section": "summary",
"content": "Phá lấu (tiếng Trung: 拍滷; Bạch thoại tự: phah-ló̍) là một món ăn khá quen thuộc xuất xứ Trung Quốc ở các tỉnh thành miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn. Phá lấu được làm từ lưỡi, tai, ruột cho đến bao tử của heo, bò hay vịt. Phá lấu thường được ăn kèm với bánh mì, cơm, cháo..."
},
{
"section": "Nguồn gốc xuất xứ",
"content": "Về món phá lấu, nhiều tài liệu cho rằng món này được hình thành từ những lần cúng kiếng, giỗ chạp của người Tiều bên Trung Hoa. Con heo cúng ăn không hết, để giữ được lâu ngày thì phải đem tẩm ướp sau bỏ vào nồi ăn dần. Nồi nước phá lấu gồm các gia vị như ngũ vị hương, quế chi, bát giác, đại hồi, tiểu hồi cùng một số vị thuốc bắc, còn phần thịt của heo bất cứ bộ phận nào cũng đều nấu phá lấu được, từ lưỡi, tai heo, ruột heo cho đến bao tử...\nPhá lấu của cộng đồng người Tiều du nhập vào Sài Gòn từ rất lâu, chủ yếu ăn theo cách truyền thống từ bao đời nay là với cháo hoặc cơm!\n\n\n== Tham khảo =="
}
] |
Agedashi dōfu | https://vi.wikipedia.org/wiki/Agedashi_d%C5%8Dfu | [
{
"section": "summary",
"content": "Agedashi dōfu (揚げ出し豆腐?, \"đậu phụ chiên ngập dầu\") là một món đậu phụ nóng của Nhật Bản. Trong đó, một miếng đậu phụ mềm, không quá cứng (kinugoshi) được cắt làm hai khối trước khi phủ lên một lớp bột khoai tây hoặc bột ngô, sau đó chiên ngập trong dầu cho đến khi món ăn chuyển sang màu vàng nâu. Món ăn này được phục vụ cùng nước dùng nóng (tentsuyu) được làm từ dashi, mirin và shō-yu (nước sốt kiểu Nhật), cùng với negi (một loại hành lá) băm mịn, daikon nạo hoặc katsuobushi rắc lên trên."
},
{
"section": "Lịch sử",
"content": "Agedashi dōfu là một món ăn lâu đời và phổ biến. Nó đã được đề cập trong một cuốn sách nấu ăn về các món đậu phụ của Nhật Bản với tiêu đề Tofu Hyakuchin (có nghĩa là \"Ngàn món đậu phụ\"), được xuất bản vào năm 1782, bên cạnh những món đậu phụ khác như món đậu phụ lạnh (hiyayakko) và món đậu phụ ninh (yudofu)."
},
{
"section": "Các món khác từ Agedashi",
"content": "Trong khi agedashi dōfu là món ăn agedashi nổi tiếng nhất, một số món ăn khác có thể được chế biến theo kỹ thuật tương tự, chẳng hạn như món agedashinasu (揚げ出し茄子, agedashinasu) , sử dụng cà tím làm nguyên liệu chính."
}
] |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.