Dataset Viewer
Auto-converted to Parquet Duplicate
title
stringlengths
2
48
url
stringlengths
33
142
contents
list
Caramel
https://vi.wikipedia.org/wiki/Caramel
[ { "section": "summary", "content": "Caramel, còn gọi nước hàng, đường thắng hay kẹo đắng, là loại nước có màu nâu, thu được bằng cách đun nóng các loại đường. Nước caramel được dùng để tạo hương vị cho các loại bánh (bánh flan, bánh trứng), kẹo, kem lạnh hoặc dùng trong chế biến một số món ăn châu Á như thịt kho, cá kho...\nQuá trình caramel hóa xảy ra khi gia nhiệt chậm các loại đường ở nhiệt độ khoảng 170 °C (340 °F). Khi đường tan chảy, các phân tử bị phá vỡ và tái tạo thành các hợp chất có màu sắc và hương vị đặc trưng." }, { "section": "Hóa học", "content": "Caramel hóa là việc loại bỏ nước khỏi đường, dẫn đến đồng phân hóa và trùng hợp đường thành các hợp chất cao phân tử. Các hợp chất như difructoza-anhydrid có thể được tạo ra từ các monosacarit sau khi mất nước. Các phản ứng phân mảnh tạo nên các hợp chất phân tử lượng thấp dễ bay hơi và có thể tạo hương vị. Phản ứng trùng hợp tạo thành các hợp chất cao phân tử sẽ làm cho sản phẩm có màu nâu đậm." }, { "section": "Chất tạo màu caramel", "content": "Chất tạo màu caramel (150/E150) là chất lỏng, đậm đặc, màu nâu đậm, vị đắng thu được từ phản ứng caramel hóa đường và được đóng chai để dùng trong công nghiệp thực phẩm. Các loại đồ uống như nước cola sử dụng màu caramel." } ]
Bánh rế
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_r%E1%BA%BF
[ { "section": "summary", "content": "Bánh rế là loại bánh ngọt được làm bằng khoai lang và đường nấu chảy được tưới lên mặt bánh như cái rế. Tương tự như cách đặt tên của chả giò rế, bánh tráng rế...\nBánh là đặc sản của nhiều nơi như Sóc Trăng, Bình Định, Phan Rang, Phan Thiết..." }, { "section": "Màu sắc bánh", "content": "Bánh rế có 2 màu:\n\nBánh có có màu nâu đỏ, hơi giống màu cánh gián, hình dáng giống thứ đồ mà người ta dùng để đặt xoong, nồi nhưng nhỏ nhắn hơn rất nhiều, với vô số những sợi rất mảnh xoắn xuýt, đan bện vào nhau. Bánh rế xuất xứ từ vùng Phan Thiết, Phan Rang. Loại này người dân làm từ khoai lang Dương Ngọc có giá cao hơn bánh rế làm từ khoai lang và khoai mì.Bánh rế vàng: làm bằng khoai lang và khoai mì, màu vàng ươm như mật. Để làm bánh rế loại này, việc đầu tiên là lột củ mì (sắn), gọt vỏ củ khoai lang. Rồi sò (bào) thành sợi. Do quá mỏng và dài nên những sợi củ ấy quấn lấy nhau. Cái độc đáo của bánh nằm ở chỗ đó. Giá loại bánh này rẻ hơn bánh rế làm bằng khoai lang Dương Ngọc." }, { "section": "Cách thực hiện", "content": "Cách thực hiện khá đơn giản\n\nVề phần khuôn bánh:Khuôn để đổ bánh tựa như là cái vá (môi) múc canh. Dầu phải đổ cả chảo cho ngập bánh và phải để cho sôi mới bỏ sợi củ lang, củ mì vào khuôn. Bỏ thật nhanh tay và cũng phải rất nhanh tay để ép từng búi sợi xuống khuôn và dàn cho thật mỏng. Rưới đường đã sên sẵn, ngay khi vừa vớt ra.Những chiếc bánh được xếp chồng lên nhau, khi đã nguội, y hệt như đồ chơi con nít. Nhìn, rất thích mà ăn lại càng thích hơn. Bánh cho ta một hương vị rất là đặc biệt. Đó là sự hòa lẫn, quyện chặt của một hỗn hợp những hương vị: cái bùi bùi của tinh bột, cái beo béo của dầu, cái ngon ngọt của đường mật và không thể thiếu độ giòn tan.Bánh rế ngon là bánh rế giòn, không vỡ vụn và đặc biệt không ngọt quá.\n\nChiên bánhĐể làm bánh rế mì, từ củ mì tươi sau khi đã lột vỏ, người ta xắt dài nhỏ như cộng rạ cỡ 3–5 cm. Dùng một chảo con có lòng sâu và một lò than nhỏ, chế dầu dừa vào chảo một ít, khi dầu bắt đầu sôi người ta cho vào chảo dầu chừng một nắm củ mì đã được xắt nhỏ như đã nói, dùng một vá có cán dài, lòng vá sâu tròn, và một đôi đũa, lấy đũa vạch mì cộng cho đều trong lòng chảo, rồi dùng lưng vá để đè các cộng mì sát xuống lòng chảo. Dầu làm cho mì chín kết đính vào nhau, sau trở màu vàng là đã chín. Dùng đũa vớt ra ngoài, tiếp tục chế thêm ít dầu nữa rồi chiên cái khác.\n\nSên đườngNhờ chảo nhỏ có lòng sâu nên bánh cũng có hình thù như chảo và giống cái rế mà nông dân ta thường dùng lót các nồi niêu nên gọi là bánh rế. Chiên hết số sợi mì đã thành bánh rế xong, thì dùng một chảo khác có đường và ít nước được bắc lên lò lửa. Đường chảy ra, người ta từ từ lấy từng bánh một nhúng lưng bánh vào chảo đường rồi lấy ra làm cái khác, cho đến khi cả rổ bánh được ngào đường mới thôi. Nhờ có chiên dầu nên bánh rế vừa giòn, vừa béo, vừa thơm, vừa ngọt.\n\nThành phẩmNgười ta phơi khô cho ráo đường, cho vào bịch, mỗi bịch từ 5 đến sáu cái xếp đều đặn lên nhau." } ]
Phở
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%9F
[ { "section": "summary", "content": "Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam và được xem là một trong những món ăn tiêu biểu cho nền ẩm thực Việt Nam.\nThành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng cùng với thịt bò hoặc thịt gà cắt lát mỏng. Thịt bò thích hợp nhất để nấu phở là thịt, xương từ các giống bò ta (bò nội, bò vàng). Ngoài ra còn kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt, vân vân. Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của người dùng. Phở thông thường được dùng để làm món điểm tâm buổi sáng hoặc lót dạ buổi đêm; nhưng ở các thành phố lớn, món ăn này có thể được thưởng thức cả ngày. Tại các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số vùng miền khác, phở được bày kèm với đĩa rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở; tuy nhiên tại Hà Nội thông thường sẽ không có đĩa rau sống này. Phở thường là phở bò hay phở gà, nhưng đôi khi cũng có những biến thể khác, đặc biệt là phở sốt vang, phở khô, phở xào, phở chua, phở vịt ở Cao Bằng, và phở thịt quay ở các tỉnh miền núi phía Bắc.\nNước dùng cho nồi phở thường là nước dùng trong được ninh từ xương bò (hoặc xương lợn), kèm theo nhiều loại gia vị bao gồm quế, hồi, gừng nướng, thảo quả, sá sùng, đinh hương, hạt mùi, hành khô nướng. Thịt dùng cho món phở là thịt bò (với đủ loại thịt bắp, nạm, gầu được làm tái, hay chín hẳn) hoặc thịt gà (gà ta già luộc, xé thịt cho thịt ngọt đậm đà). \"Bánh phở\" theo truyền thống được làm từ bột gạo, tráng thành tấm mỏng rồi cắt thành sợi. Phở luôn được thưởng thức khi còn nóng hổi. Theo đó, để có một bát phở ngon và đậm vị, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng của người nấu, trong đó quan trọng nhất đó chính là nồi nước dùng." }, { "section": "Nguồn gốc", "content": "Một trong những tài liệu đầu tiên nhắc đến phở là cuốn từ điển Hán-Việt Nhật Dụng Thường Đàm (日用常談) của Phạm Đình Hổ biên soạn vào năm 1827. Trong mục thực phẩm, cụm từ chữ Hán 玉酥餅 \"ngọc tô bính\" được chú thích bằng chữ Nôm là 𩛄普𤙭 \"bánh phở bò\".Phở như ngày nay được cho là đã ra đời và định hình vào những năm đầu thế kỷ 20. Hà Nội hay Nam Định là địa phương thường được cho là xuất xứ của phở. Ở Nam Định, phở có nguồn gốc từ làng Vân Cù (xã Đồng Sơn, Nam Trực), nổi tiếng với dòng họ Cồ đã mang nghề nấu phở gia truyền đi khắp mọi nơi sinh cơ lập nghiệp. Món phở được tin là bắt đầu phổ biến trong bối cảnh hình thành Nhà máy dệt Nam Định. Phở cũng xuất hiện ở Hà Nội từ những năm đầu thế kỷ 20, đây cũng được biết đến là nơi đã làm cho món ăn này trở nên nổi tiếng. Tuy nhiên một số nhà văn, nhà thơ và nhà sử học đều nghiên cứu và thống nhất cho rằng phở xuất hiện đầu tiên tại Ô Quan Chưởng - Hà Nội bởi thời gian Pháp thuộc địa, Ô Quan Chưởng là nơi tập kết xương bò bỏ đi không dùng tới, người dân đã dùng để ninh và tạo nên món phở từ đó.\nCó người nói rằng phở bắt nguồn từ một món ăn Quảng Đông mang tên \"ngưu nhục phấn\" (tiếng Trung: 牛肉粉; bính âm: niúròu fěn; Việt bính: ngau4 juk6 fan2).Cũng có giả thuyết khác cho rằng, phở có nguồn gốc từ phương pháp chế biến món thịt bò hầm của Pháp pot-au-feu (đọc như \"pô tô phơ\") kết hợp với các loại gia vị và rau thơm trong ẩm thực Việt Nam.\nCũng có ý kiến cho rằng phở vốn bắt nguồn từ món \"xáo trâu\" (dùng sợi bún) của Việt Nam, sau được biến tấu thành món \"xáo bò\" dùng bánh cuốn.Tuổi khai sinh của phở không được sử liệu ghi nhận chính thức. Các cuốn tự điển Việt như Tự điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ \"phở\". Tự điển Huỳnh Tịnh Của (1895), Tự điển Genibrel (1898) cũng vậy\nP.Huard và M.Durand đã phân tích chữ phở tiếng Nôm gồm ba chữ Hán ghép lại: a/chữ mễ (lúa), b/chữ ngôn (lời nói), c/chữ phổ (phổ biến).\nTừ phở hiểu nôm là món ăn chế biến từ lúa gạo phổ biến trong đại chúng và phát âm là \"phổ\". Tiếng rao của các hàng quà rong vốn dĩ nghe rất du dương có vần, có điệu, đôi khi còn luyến láy như hát biến âm đủ thanh sắc rót vào tai người nghe\nNguyễn Công Hoan (1903-1977) ghi nhận: \"1913... trọ số 8 hàng Hài... thỉnh thoảng tối được ăn phở (gánh phở rong). Mỗi bát 2 xu, có bát 3 xu, 5 xu\"\nTiếng rao món phở âm Nôm: \"phố đây, phố ơ! Danh từ phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo: \"Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò\"Năm 1939, phở gà xuất hiện, bởi khi ấy một tuần có hai ngày: thứ hai và thứ sáu không có thịt bò bán. Chưa rõ vì sao có sự cố này, song có lẽ một nguyên nhân khó thể bỏ qua đó là việc giết mổ trâu bò luôn bị hạn chế suốt thời phong kiến, do trâu bò vẫn là sức kéo chính cho nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Bởi vậy, nhiều chủ quán phở bò đành phải đóng cửa vào hai ngày không có thịt bò trong tuần, tạo điều kiện cho phở gà phát triển. Từ sau năm 1939, hai món phở bò và phở gà đã chính thức ngự trị và song hành cùng nhau trong lòng ẩm thực Việt." }, { "section": "Giá trị dinh dưỡng", "content": "Phở là món ăn tổ hợp của các chất vị. Trong bát phở có chứa 18-20 loại thực phẩm gốc động vật và thực vật tự nhiên. Điều đặc biệt nhất ở phở là các nguyên liệu đó được sử dụng gần như ở trạng thái nguyên thủy và tự phối hợp với nhau hài hòa để tạo nên một hương vị đặc trưng rất lạ lẫm, ngon miệng, dễ tiêu hóa.\nNước dùng là phần quan trọng của phở. Calci từ xương, tủy; chất nhờn từ gân sụn tan ra là những hoạt chất cực tốt trị bệnh khớp ở tuổi già và giúp phát triển cơ thể ở tuổi trẻ. Trong nước dùng còn có hương vị được hòa tan từ các nguyên liệu khô như thảo quả, hạt mùi thơm, quế thanh, hồ tiêu, gừng, hành ta, nước mắm, muối ăn... là nguồn cung cấp khoáng chất (sắt, kẽm) và vitamin (Vitamin B2, Vitamin B3, vitamin B5) giúp nâng cao chất lượng máu và góp phần bảo vệ thành mạch máu. \nThịt bò có nhiều axit amonia, Creatinin, carnitine và khoáng chất kali hỗ trợ cơ bắp phát triển săn chắc. Nó chứa khoảng 50% lượng chất béo thuộc dạng chưa bão hòa, chất cytocilin và vitamin B12 cùng các loại rau, củ, quả tươi có tác dụng điều hòa Cholesterol trong máu và các tế bào của cơ thể con người. \nBánh phở tươi cung cấp rất nhiều dinh dưỡng cho mỗi thực khách (3 mg đạm, 0,5 mg B1, 1,2 mg B5/bát)." }, { "section": "Biến tấu", "content": "Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: Phở Bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam). Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt và nhiều rau. Bánh phở ở miền Nam nhỏ hơn ở miền Bắc.\nTrước đây, chỉ có phở bò chín với đầy đủ \"chín-bắp-nạm-gầu\", về sau, thực khách chấp nhận cả phở tái, phở gà. Đi xa hơn, có nhà hàng thử nghiệm với cả thịt vịt, ngan nhưng không mấy thành công. Ngoài ra còn một số món ẩm thực từ nguyên liệu bánh phở truyền thống như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán...\nNgoài những kiểu chế biến truyền thống là phở chan nước dùng, ngày nay người ta còn tạo ra nhiều loại phở khác như phở cuốn, phở áp chảo, phở xào, phở bò viên sa tế... và phở trong công nghiệp chế biển thực phẩm như phở ăn liền, phở chay, phở công nghiệp...Tại Hà Nội thì ăn phở với quẩy trong khi người Sài Gòn chỉ ăn quẩy với cháo. Người Gia Lai có món phở khô hay còn gọi là \"phở hai tô\" với sợi phở nhỏ và dai như sợi hủ tiếu Mỹ Tho và chén nước dùng để riêng.\nVà một số người kinh doanh ăn uống hiện nay lạm dụng tên gọi \"phở\" để gọi một số món ăn hoàn toàn không phải là phở do nguyên liệu và cách chế biến khác, gia vị khác và hình thức cũng khác.\nCá biệt có quán bán tô phở với thịt bò Kobe và giá đến 850 nghìn đồng ở Hà Nội , phở thố đá với thịt bò 7 loại, bò Kobe và nấm truffle đen giá 100 USD ở Thành phố Hồ Chí Minh hoặc tô phở AnQi tại nhà hàng Tiato ở California với thịt bò Kobe loại A 5 Wagyu đắt nhất, tôm hùm xanh cực hiếm, nấm truffle alba trắng loại tốt, nước dùng nấu bằng gan ngỗng béo và giá khởi điểm 5.000 đô la để từ thiện một bệnh viện trẻ em." }, { "section": "Phở tại hải ngoại", "content": "Những người Việt Nam vượt biên sau Chiến tranh Việt Nam và định cư ở các nước phương Tây đã làm cho phở được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới. Đã có nhiều nhà hàng phở ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc và Canada. Những người Việt Nam đi du học, xuất khẩu lao động ở các nước thuộc Khối xã hội chủ nghĩa, rồi định cư cũng mang phở đến khu vực Đông Âu như các nước Nga, Ba Lan và Cộng hòa Séc.\nPhở đã dần lan tỏa sang cộng đồng người Hoa Kỳ. Phần lớn quán phở Việt ở Mỹ dùng bánh phở khô chứ không dùng bánh phở tươi như ở Việt Nam vì lý do dễ bảo quản. Phở rất phổ biến ở California đặc biệt ở vùng Little Saigon, được nhiều người, nhiều giới biết đến. Tại đây có quán cũ đã mở hơn 40 năm, có quán mới vài ba năm. Quán có những tên bằng số như phở 54, phở 45, phở 86. Quán mang những cái tên lạ như phở Lú, phở Tàu Bay, hoặc những tên rất Việt Nam như phở Nguyễn Huệ, phở Quang Trung. Còn nhiều tiệm khác tuy không có chữ \"phở\" ở bảng hiệu nhưng không hề thiếu món ăn đặc thù Việt Nam này.Không chỉ có người Việt nấu phở mà cả người Hoa Kỳ cũng mở quán phở. Năm 1990, một đầu bếp người Hoa Kỳ có tên Didi Emmons đã tự mở quán phở đầu tiên ở thành phố Cambridge, Massachusetts, và rồi nhanh chóng lan tỏa ra nhiều bang nước Hoa Kỳ. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê không chính thức năm 2005 cho biết doanh thu các cửa hàng phở Việt Nam trên toàn Hoa Kỳ lên tới khoảng 500 triệu USD một năm.Tháng 5 năm 2009, ông Nguyễn Trọng Thìn - chủ quán phở thìn Lò Đúc (Hà Nội), nhận được thư mời của một giám đốc người Hàn Quốc cho biết muốn mở phở Việt tại Seoul. Sau khi tiếp nhận kỹ thuật nấu phở của ông Thìn, phía Hàn Quốc đã đề nghị ông hợp tác mở quán phở tại Seoul, nhưng vì việc kinh doanh ở nhà nên ông đã từ chối và tặng lại công thức nấu để họ tự hoạt động và họ đã mở hai tiệm Pho Tang (Phở Tặng - với hàm ý phở nấu từ công thức do người Việt Nam tặng). Năm 2019, Phở Thìn Lò Đúc đã xuất hiện ở nước ngoài tại Tokyo, Nhật Bản và Melbourne, Úc.\nPhở 24 là thương hiệu Việt Nam đầu tiên tiến hành nhượng quyền kinh doanh cửa hàng phở và đã xây dựng được hệ thống khoảng hơn 20 cửa hàng phở ở ngoài Việt Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (từ năm 2003 - 2011). Từ cửa hàng nhượng quyền đầu tiên ở Jakarta năm 2005, Phở 24 đã có mặt tại rất nhiều thành phố lớn trên thế giới như Seoul, Hồng Kông, London, Melbourne..." }, { "section": "Công nghệ chế biến phở", "content": "Năm 2006, PGS.TS Trần Doãn Sơn (Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã sáng chế thành công máy làm bánh phở tươi kiểu one touch - một nút nhấn xuất sang Hoa Kỳ, đầu này cho bột vào, đầu kia ra bánh phở tươi chỉ trong năm phút. Tháng 1 năm 2007, công ty Imperial (Hoa Kỳ) ký nhập khẩu bảy máy với giá 6.500 USD/máy.\nTừ năm 2012 trở lại đây, hệ thống nồi ninh nước phở đã được hiện đại hóa bằng công nghệ cao với sự hỗ trợ của ngành điện tử - tin học. Hệ thống nồi inox liên hoàn được áp dụng cho ra đời các kiểu nồi hầm ninh bán tự động hoặc hoàn toàn tự động. Loại cao cấp hoàn toàn tự động còn có chương trình mô phỏng chế độ ninh xương truyền thống tự điều tiết nhiệt lượng, thời gian ninh cho chất lượng nước dùng rất cao. Hệ thống còn có van xả giúp rửa, vệ sinh nồi sạch sẽ." } ]
Sorbetes
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sorbetes
[ { "section": "summary", "content": "Sorbetes là loại kem truyền thống có nguồn gốc từ Philippines và có đặc điểm độc đáo là sử dụng nước cốt dừa hoặc sữa carabao. Thường được gọi một cách dân dã là \"kem bẩn\", trông có hơi khác biệt so với loại kem tương tự là sorbet. Theo truyền thống Philippines thì loại kem này được những người bán hàng rong gọi là \"sorbeteros\" bày bán trong những chiếc xe đẩy bằng gỗ đầy màu sắc. Món này có nhiều hương vị khác nhau (thường được nhuộm bằng màu sáng) đựng trong vỏ ốc quế nhỏ hoặc dạng bánh kẹp và gần đây hơn là loại kem sandwich kẹp bằng loại bánh mì pandesal.\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Sa tế
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_t%E1%BA%BF
[ { "section": "summary", "content": "Sa tế là hỗn hợp phụ gia tẩm ướp thực phẩm với nguyên liệu chính là ớt (ớt bột hoặc ớt tươi) và dầu ăn ngoài ra có thể có thêm sả. Sa tế có nguồn gốc từ người Mã Lai gốc Ấn Độ với các loại gia vị đậm đà chính gốc Ấn Độ. Sa tế được sử dụng như một loại gia vị cho một số món ăn đặc biệt là giúp cho nước lẩu, nước lèo có mùi thơm hấp dẫn, màu đỏ bềnh bồng cũng như chất váng đóng trên mặt của nước lẩu, nước lèo được người tiêu dùng ưa chuộng." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Sa tế cũng là một loại nước sốt Trung Quốc, chủ yếu được sử dụng ở Phúc Kiến, Triều Châu, và các món ăn Đài Loan. Nguyên thủy được gọi là sốt Shacha (tiếng Trung: 沙茶; Bạch thoại tự: sa-te; Hán Việt: Sá trà; Sa tê là đọc theo âm Phúc Kiến và Bạch Thoại) được làm từ dầu đậu tương, tỏi, hẹ, ớt, cá, và tôm khô, có một hương vị thơm ngon và hơi cay.Sa tế còn là nguyên liệu phụ thêm cho các món sốt ớt sa tế, thịt nướng sa tế, dê nấu sa tế thơm lừng mùi cà ri, nghệ, hồi, quế, ngò, tiêu... Màu sắc hấp dẫn, phảng phất hương vị Đông phương huyền bí, lôi cuốn, các món ăn có sa tế nhanh chóng phổ biến sang Singapore, Indonesia, Hồng Kông, Sài Gòn và nhiều nơi khác." }, { "section": "Ở Việt Nam", "content": "Ở Việt Nam, người Hoa ở Chợ Lớn du nhập và đã địa phương hóa cho hợp khẩu vị bản xứ phụ gia sa tế, họ đã bớt đi liều lượng những thứ gia vị căn bản nhằm giảm mùi hôi nồng. Hãm vị cay, phối trộn thêm bột đậu phộng, nước chấm Tàu.., định hình loại sa tế Sài Gòn, thơm dịu, tươi sắc, vị cay - chua - béo - mặn - ngọt, nhẹ nhàng." }, { "section": "An toàn thực phẩm", "content": "Tuy sa tế là một món phụ gia thông dụng, tuy nhiên có những cảnh báo cho rằng sa tế sử dụng ớt bột sẽ có nguy cơ nhiễm chất gây ung thư RhodamineB và dầu ăn dùng để chiên ớt và các thành phần khác rất dễ bị oxy hóa… và đặc biệt, nếu không được bảo quản đúng sẽ gây ra các mầm bệnh tật. Đặc biệt là một số cơ sở sản xuất kém chất lượng, sản xuất các loại Sa tế kém chất lượng, gây ung thư.Ngoài ra, dầu ăn khi đã được chiên cùng với ớt bột, nước và các chất khác để lâu sẽ xảy ra hiện tượng oxy hóa. Khi dầu ăn bị oxy hóa sẽ không giữ được các đặc trưng ban đầu của gia vị sa tế nữa. Cụ thể như dầu ăn sẽ tạo ra các chất để tác dụng với ớt, nước... tạo ra mùi khó chịu, không còn thơm như ban đầu, các axit sẽ tạo ra các sản phẩm oxy hóa bậc cao như andehit, xêtôn, peroxide... Các chất này tạo ra các gốc tự do, khi ăn vào cơ thể sẽ tạo ra các mầm mống nguy cơ ung thư.\nChưa kể đến Tình trạng dùng sa tế trong thời gian dài, đã mở nắp nhưng không dùng hết trong một lần, lại bảo quản kém cũng khiến các thành phần bị biến đổi, khi lấy ra dùng có thể bị dây các loại thức ăn khác hay nước lạnh vào khiến sa tế dễ bị ôi thiu, lần ăn sau dễ mắc các bệnh tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm...Trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc cũng đưa tin về một loại gia vị lẩu có chứa chất gây ung thư hay còn gọi là sa tế Tứ Xuyên, loại gia vị nguy hiểm này đang được bày bán tràn lan, công khai tại các chợ ở Việt Nam, hầu hết các quán lẩu trên địa bàn Hà Nội đều mua loại gia vị này để chế biến thực phẩm.\n\n\n== Chú thích ==" } ]
Chi Niễng
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi_Ni%E1%BB%85ng
[ { "section": "summary", "content": "Zizania là một chi thực vật có hoa trong họ Hòa thảo (Poaceae)." }, { "section": "Loài", "content": "Chi Zizania gồm các loài:\n\nZizania aquatica\nZizania aquatica var. angustifolia\nZizania aquatica var. brevis\nZizania aquatica var. interior\nZizania aquatica var. subbrevis\nZizania aquatica subsp. angustifolia\nZizania aquatica subsp. brevis\nZizania aristata\nZizania bonariensis\nZizania caduciflora\nZizania ciliata\nZizania clavulosa\nZizania dahurica\nZizania effusa\nZizania fluitans\nZizania interior\nZizania latifolia: Niễng\nZizania lenticularis\nZizania liliacea\nZizania mezii\nZizania microstachya\nZizania mutica\nZizania natans\nZizania nutans\nZizania palustris\nZizania palustris subsp. interior\nZizania palustris f. purpurea\nZizania retzii\nZizania subtilis\nZizania terrestris\nZizania texana" } ]
Hạt dưa
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1t_d%C6%B0a
[ { "section": "summary", "content": "Hạt dưa là một món ăn nhâm nhi trong ngày Tết của người Việt Nam, đây là món chủ nhà đãi khách trong dịp Tết. Nguyên liệu chính của món hạt dưa đơn giản là chỉ từ những hạt của các loại dưa nhưng chủ yếu là dưa gang. Hạt dưa gang được tách ra và nướng lên làm phần bên trong hạt chín. Khi thưởng thức, người ta sẽ dùng răng (thường là răng cửa) cắn mạnh vào đầu hạt dưa và tách làm đôi hạt dưa để ăn phần lõi màu vàng bên trong gọi là chíp hạt dưa hay cúp hạt dưa. Thực khách vừa nhâm nhi hạt dưa vừa uống trà, trò chuyện giúp không khí Tết thêm sinh động.\nNhân hạt dưa có vị béo, thơm khá đặc trưng. Ngoài hạt dưa hấu là chủ yếu còn có hạt bí, hạt hướng dương. Hạt dưa thường được tẩm màu đỏ hay màu đen bên ngoài, màu đỏ của hạt dưa tượng trưng cho sự may mắn. Màu hồng đỏ của hạt dưa nhuộm bằng phẩm màu thực phẩm thường đem lại sắc hồng tươi thắm cho đôi môi. Đây cũng là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam. Không chỉ lễ Tết, ngày nào trong năm cũng có hạt dưa đỏ để ăn. Vào quán trà chén ven đường phố cũng có món hạt dưa, vào các nhà hàng cũng có món hạt dưa. Sinh nhật, cưới hỏi, người ta vẫn cúp hạt dưa." }, { "section": "Một số công dụng", "content": "Hạt dưa là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và rất hữu ích với người bị viêm gan, rối loạn lipid máu... Ăn hạt dưa thường xuyên giúp tăng cường trí nhớ và chức năng não-thần kinh, phục hồi nhanh sức hoạt động của tế bào não. Hạt dưa chứa nhiều chất dinh dưỡng như protid, glucid, lipid, vitamin B1, B2, E, PP, calci, sắt, kẽm, phosphor, selen... Trong đó, protid của hạt dưa là chất đạm không thể thiếu cho thần kinh, cơ bắp, huyết dịch, nội tạng, xương khớp. Chất glucid trong hạt dưa là thành phần chính cấu tạo tế bào và thần kinh.Theo Đông y, hạt dưa có vị ngọt, tính mát khi chưa rang chín, sau khi rang có tính bình, tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp, tăng cường sinh lực. Nếu dùng chữa bệnh thì dùng hạt dưa luộc tốt hơn hạt dưa rang. Y học cổ truyền cho rằng hạt dưa làm mát phổi, tan đàm, điều hòa hệ tiêu hóa. Người bị ho do phổi nóng, đàm nhiều, ăn uống kém nên dùng. Có nghiên cứu ghi nhận hạt dưa có tác dụng giúp ổn định men gan và lượng lipid huyết thanh rất có ích cho người bị viêm gan và những người bị rối loạn lipid máu (mỡ trong máu cao), giúp phòng ngừa xơ vữa động mạch. \nCũng có các nghiên cứu cho thấy, hạt dưa giúp tăng cường trí nhớ, nâng cao chức năng não-thần kinh, nhanh chóng phục hồi sức hoạt động của tế bào não. Chất béo trong hạt dưa, phần nhiều là acid béo không bão hòa, sẽ giúp ích trong việc phòng ngừa xơ cứng động mạch, bệnh mạch vành, chứng cao mỡ máu..." }, { "section": "Nguy cơ", "content": "Tuy hạt dưa là món ăn ngon và vui trong ngày Tết tuy nhiên trước đây khá lâu cũng có nhiều cảnh báo về những nguy cơ khi ăn hạt dưa như một số nơi phát hiện hạt dưa có chất gây ung thư bởi tính chất độc hại của phẩm màu công nghiệp được dùng để nhuộm hạt dưa. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, màu công nghiệp Rhodamin B là chất độc có thể gây ngộ độc hoặc gây ung thư nếu dùng lâu dài nên bị cấm sử dụng trong thực phẩm. Rhodamin B là một hợp chất hóa học thường được sử dụng như thuốc nhuộm đánh dấu vết để xác định hướng và lưu tốc của dòng chảy. Thuốc nhuộm rhodamin phát huỳnh quang, do đó có thể phát hiện dễ dàng bằng huỳnh quang kế. Do giá thành thấp, giúp màu sắc tươi tắn, sặc sỡ, bền màu nên trước đây các cơ sở sản xuất hạt dưa thường chọn phẩm màu này để nhuộm màu mà không biết rằng nó là một chất độc hại. Tuy nhiên ngày nay khi các thông tin về chất này được phổ biến rộng rãi thì không ai sử dụng nó trong chế biến hạt dưa nữa. Bên cạnh việc quản lý xuất xứ hàng hóa và các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm được các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ thì nhận thức của người tiêu dùng cũng đã được nâng cao nên nếu hạt dưa nhuộm phẩm màu thì không thể tiêu thụ được do đó các cơ sở sản xuất ngày nay không ai dùng phẩm màu để nhuộm hạt dưa mà tất cả đều để nguyên màu tự nhiên của hạt dưa khi chế biến. Bên cạnh đó các biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm cũng được các cơ sở sản xuất thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo tiêu chuẩn GMP nên các sản phẩm hạt dưa ngày nay đang lưu thông trên thị trường có nhãn mác và số hiệu đăng ký, mã vạch, tên cơ sở sản xuất, địa chỉ sản xuất rõ ràng đều là những sản phẩm đảm bảo độ an toàn cao cho người sử dụng.\n\n\n== Chú thích ==" } ]
Bánh phồng
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_ph%E1%BB%93ng
[ { "section": "summary", "content": "Trong Ẩm thực Việt Nam, bánh phồng là các loại bánh được làm từ bột ngũ cốc kết hợp gia vị, phụ gia, sau đó được chiên phồng trong mỡ nước hay dầu ăn.\nBánh phổ biến tại nhiều vùng trong cả nước, nổi tiếng tại Bến Tre và các tỉnh miền Tây Nam Bộ Việt Nam." }, { "section": "Phân loại", "content": "Bánh phồng có nhiều loại, trong đó phổ biến là bánh phồng mì, bánh phồng nếp, bánh phồng tôm, bánh phồng vẽ. Nguyên liệu làm bánh phồng mì gồm: mì (sắn), nước cốt dừa, đường cát. Nguyên liệu của bánh phồng nếp là gạo nếp, nước cốt dừa và đường. Còn bánh phồng tôm được làm từ bột và tôm. Bánh phồng vẽ dùng xôi trắng cán nát và trộn với một số hương liệu như nước gừng, nước gỗ vang, lá dứa, bột quả dành dành v.v." }, { "section": "Sử dụng", "content": "Các loại bánh phồng thường được chiên phồng to lên, giòn và xốp trong chảo mỡ, dầu ăn, và được sử dụng như một món ăn khai vị hay món nhắm rượu." } ]
Kẹo hồ lô
https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BA%B9o_h%E1%BB%93_l%C3%B4
[ { "section": "summary", "content": "Kẹo hồ lô (giản thể: 糖葫芦, phồn thể: 糖葫蘆, Hán Việt: Đường Hồ lô, pinyin: tánghúlu hay 冰糖葫芦 - Băng Đường Hồ lô, bính âm: bīngtánghúlu,), là một loại kẹo trái cây được phủ một lớp đường gắn trên xiên tre dài khoảng 20 cm. Đây là một món ăn Trung Quốc truyền thống có nguồn gốc từ miền Bắc Trung Quốc, nhưng hiện nay nó có mặt ở hầu hết các thành phố ở Trung Quốc như Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải.\nTheo truyền thống, trái cây được sử dụng là trái táo gai, nhưng trong thời gian gần đây các người làm kẹo cũng đã sử dụng nhiều loại trái cây khác nhau như cà chua anh đào, cam quýt, dâu tây, việt quất, dứa, kiwi, chuối hoặc nho. Kẹo hồ lô thường có lớp đường phủ bên ngoài dạng xi rô, nhưng cũng có các loại kẹo hồ lô với lớp vỏ sôcôla, hoặc mè rắc.Với người dân Trung Quốc nói chung và người dân Bắc Kinh nói riêng, tuổi thơ của họ gắn liền với vị ngọt của những xiên kẹo hồ lô. Tiếng rao với tiếng xe đạp lóc cóc trên những ngõ nhỏ thâm trầm của Bắc Kinh trong màn sương sớm vẫn còn quẩn quanh vương vất, những xiên kẹo đỏ rung rinh theo sau nhịp guồng xe đã trở thành vẻ đẹp không thể lẫn vào đâu của thành phố này." }, { "section": "Nguồn gốc", "content": "Kẹo hồ lô ra đời từ thời đại nhà Tống (960 – 1279). Lúc bấy giờ một trong những phi tần được hoàng đế Tống Quang Tông (1147 – 1200) sủng ái mắc phải căn bệnh trầm trọng. Các thái y hoàn toàn bất lực. Sau đó một thần y trong dân gian diện kiến xin nhà vua cho phép mình chữa trị.Phương thuốc chữa trị ông đưa ra rất đơn giản nhưng kì lạ và độc đáo, ông bọc những quả táo gai trong nước đường đun nóng, ông cho Vương phi ăn từ 5 đến 10 viên trước mỗi bữa ăn và ông nói bệnh tình của Vương phi sẽ hồi phục sau 2 tuần. Phương thuốc này đã phát huy tác dụng trước sự kinh ngạc của nhà vua, quan lại và các thái y trong triều.Phương thuốc chữa bệnh này nhanh chóng được lan truyền trong dân gian khắp đất nước với cái tên kẹo hồ lô. Nó trở thành một món ăn tốt cho sức khoẻ. Ban đầu, kẹo hồ lô chỉ xiên 2 quả táo gai, một trái nhỏ ở trên và một trái to ở dưới giống những trái bầu hồ lô.Mặc dù ngày nay hầu hết những viên kẹo có từ tám đến mười viên một xiên, nhưng người Trung Quốc vẫn giữ cái tên kẹo hồ lô truyền thống của mình." }, { "section": "Kẹo hồ lô trong nghệ thuật", "content": "Kẹo hồ lô cũng xuất hiện nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật của người Trung Quốc. Có một nhạc sĩ đã sáng tác bài hát về những viên kẹo hồ lô ngọt ngào. Có hẳn một bộ phim truyền hình dài tập mang tên Kẹo hồ lô do nữ diễn viên nổi tiếng Từ Cầm Ca Oa đóng vai chính. Sự xuất hiện của kẹo hồ lô trong nhiều bộ phim cổ trang Trung Quốc càng tăng thêm vị thế đặc biệt của nó trong truyền thống của người Trung Hoa. Những du khách nước ngoài đến với Trung Quốc cũng muốn nếm thử món kẹo đẹp đẽ này với một cảm giác thích thú đặc biệt.\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Fromage blanc
https://vi.wikipedia.org/wiki/Fromage_blanc
[ { "section": "summary", "content": "Fromage blanc (UK: ; phát âm tiếng Pháp: [fʁɔmaʒ blɑ̃]; hay còn được biết đến với cái tên maquée) là một loại pho mát tươi có nguồn gốc xuất xứ từ phía Bắc nước Pháp và phía Nam nước Bỉ. Cái tên này có nghĩa là \"pho mát trắng\" trong tiếng Pháp. Fromage frais (\"pho mát tươi\") khác so với fromage blanc \ntrong đó, theo pháp luật của Pháp, fromage frais phải chứa vi khuẩn sống khi bán, trong khi với fromage blanc, quá trình lên men đã bị ngưng lại.Fromage blanc là một loại phô mai mềm được làm từ sữa nguyên chất hoặc tách béo và kem. Đây là một chất bán lỏng, dạng kem, sệt. Fromage blanc nguyên chất hầu như không chứa chất béo, nhưng kem thường được thêm vào để tăng thêm hương vị, điều này cũng làm tăng thêm hàm lượng chất béo, lên tới 8% tổng trọng lượng.Fromage blanc có thể được phục vụ như món tráng miệng tương tự như sữa chua, thường được thêm trái cây, phết lên bánh mì, làm mứt hoặc dùng trong các món mặn. Ở nhiều nước phương Tây, fromage blanc được bán trong siêu thị cùng với sữa chua." } ]
Bánh tro
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_tro
[ { "section": "summary", "content": "Bánh tro, bánh gio, bánh ú tro hay bánh nẳng là một loại bánh được làm với thành phần chính là gạo nếp ngâm qua nước tro (từ tro than lá cây, nhất là lá tre) và gói lá đem luộc chín trong nồi. Phổ biến trong văn hóa ẩm thực Việt Nam tới mức có bài báo cho rằng bánh độc đáo và \"thuần Việt\", nhưng cũng thường thấy nó tương đồng với bánh gio Nhật Bản với tên gọi akumaki và bánh kiềm tống xuất xứ Trung Quốc. Loại bánh này trước kia thường xuất hiện trong lễ cúng gia tiên của người Việt vào ngày Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch bên cạnh các loại trái cây khác và thịt, xôi, chè. Hiện nay, bánh tro được làm và bán quanh năm trên khắp các vùng miền trong cả nước.\nTên gọi bánh tro (hay gio), bánh nẳng xuất phát từ phụ liệu cốt yếu nhất làm nên đặc trưng của bánh là nước tro (còn gọi là nước nẳng) pha chế từ tro than thu được sau khi đốt cháy một số loại thảo mộc, dược liệu. Bánh ú tro là tên gọi còn gợi tả cả hình dạng của bánh, do bánh thường được gói theo hình ú, vồm cao như bàn tay khi nắm lại." }, { "section": "Nguồn gốc", "content": "Bánh ú tro có xuất xứ từ Quảng Đông, Trung Quốc (tiếng Trung: 碱水粽; Việt bính: gaan2 seoi2 zung3-2; Hán Việt: kiềm thủy tống) và có từ thời nhà Minh (cần phân biệt với bánh ú nhân mặn gồm thịt lợn, hạt hồ đào, hồ đào, thịt tôm, trứng muối,... vì đây là bánh ú ngọt). Danh y nhà Minh là Lý Thời Trân, trong Bản thảo cương mục từng khẳng định sự tồn tại của bánh ú, với những miêu tả như sau: \"Người xưa dùng 1 cọng cỏ lá tre (loại giống lau sậy) bao bọc gạo nấu thành bánh có góc nhọn, do bánh dùng lá tre gói thành hình có góc nhọn, dân gian gọi là thành tống. Người cận đại yêu chuộng dùng nếp hơn. Thời nay có tục vào mùng Năm tháng Năm, dùng bánh này làm lễ vật ngày Tết, hoặc dùng làm món tế Khuất Nguyên, bánh được làm xong thì đem thả xuống sông, nhân đó làm thành món ăn cho giao long\".\nCũng từ loại bánh này mà người Hoa ở Yokohama, Nhật Bản có món bánh gio gọi là akumaki. Bánh này được sản xuất tại tỉnh Kagoshima, tỉnh Miyazaki và tỉnh Kumamoto trong Lễ hội bé trai vào ngày 5 tháng 5.\nNgười ta nói rằng akumaki bắt đầu như một điều khoản dài hạn cho các samurai trong Trận Sekigahara (1600) hoặc các cuộc xâm lược của Nhật Bản tại Triều Tiên (1592-1598). Ngoài ra, Saigō Takamori (1821-1877) đã đưa akumaki trở thành một món hàng không thể phục hồi trên chiến trường trong cuộc nổi loạn Satsuma (1877). Akumaki trở nên phổ biến ở phía bắc của tỉnh Miyazaki và tỉnh Kumamoto do cuộc nổi loạn đó.\nMặc dù có mặt ở nhiều nước, nhưng nó vẫn giữ được chất lượng. Nó có thể được giữ trong khoảng một tuần ở nhiệt độ bình thường, trong khoảng hai tuần trong tủ lạnh và nó cũng có thể được đông lạnh. Từ quan điểm chuyển giao và vệ sinh, akumaki đóng gói chân không có thể được tìm thấy ở nhiều nơi như một món quà lưu niệm. Nó không được bán thương mại nói chung vì nó thường là một loại bánh kẹo tự làm. Do đó, rất khó để có được trừ khi có cơ hội đặc biệt. Gần đây, kể từ khi khai trương tuyến tàu Kyushu Shinkansen, akumaki đã thu hút sự chú ý đáng kể vì là một món ăn chậm. Akumaki được bán trong các khách sạn của Kagoshima, các trạm bên đường (michi no eki), qua internet và trong các siêu thị trên khắp quận Kagoshima." }, { "section": "Nguyên liệu", "content": "Bánh tro làm từ hai nguyên liệu chính gạo nếp và nước tro (hoặc nước tro Tàu). Bánh tro được biết theo cổ truyền thường là không có nhân. Thành phẩm chỉ là một khối bột trong, rất lạt, tùy thích dùng chấm với mật ong, mật đường hay đường cát. Phần nhân sau này là do tùy vùng miền và tùy người làm bánh, nhưng thường được làm với hai loại: hoặc đậu xanh đãi vỏ nấu chín tán mịn với đường, hoặc dừa già nạo nhuyễn thành cơm dừa nhồi với nước đường. Bánh thường được gói với lá tre bương hay còn gọi là tre lồ ô, loại tre có lóng dài, ống lớn và lá to bản chừng 5–6 cm và dài chừng 30 cm. Ngoài ra tùy địa phương, các loại lá như lá đót hoặc lá dong, lá chuối cũng được sử dụng. Lạt buộc bánh được làm từ bẹ thân cây chuối phơi khô tước sợi hoặc ống giang chẻ sợi.\nGạo nếp được chọn làm bánh tro thường là gạo nếp ngon để thành phẩm được mềm mượt mịn màng, không sượng cứng, trong đó nếp nhung hay nếp cái hoa vàng đều hạt là những lựa chọn tốt nhất.\nNước tro, nước nẳng là thành phần cốt yếu tạo nên hương vị và màu sắc của bánh tro khác biệt với những loại bánh khác. Nước tro thường được làm bằng cách đánh nước vôi với tro, một sản phẩm thu được sau khi đốt cháy hoàn toàn một số loại thảo dược, dược liệu. Tùy vùng miền và thậm chí tùy gia truyền của người làm bánh mà các loại cây, quả được đốt cháy làm thành tro sẽ có những dị biệt. Người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ thường làm nước nẳng bằng cây mận, cây đu đủ rừng, lá trầu không, vỏ chuối tiêu hoặc lá mua, lá vội. Người Kinh thường chưng nấu nước nẳng bằng vỏ quả sở, cây rừng, măng khô và vôị. Bánh nẳng nổi tiếng đã đi vào ngạn ngữ \"bánh nẳng chợ Tràng, gạo rang Tiên Lữ\" ở Lập Thạch Vĩnh Phúc lại được làm với nước nẳng vốn là tro của các cành xoan tươi, cành bưởi tươi (cả lá), trã vừng, lá dáng, lá si, tầm gửi cây dọc. Ở Đắc Sở huyện Hoài Đức, Hà Nội người dân thường dùng cây dền gai, rơm nếp, vỏ bưởi; ở Phú Yên là cây tầm gửi (trên loại cây lành như dâu, bưởi), cây mè (vừng) còn ở Yên Lãng là rơm nếp, bẹ cau nếp, quả vừng và măng tre. Các nguyên liệu phơi khô rồi đốt thành tro, rây cho mịn đem hòa với nước vôi theo một tỷ lệ nhất định, gạn lấy nước thật trong. Để xem nước có đạt yêu cầu hay không các nhà làm bánh thường dùng lá trầu không nhúng vào khoảng 15-20 giây, vớt ra và bỏ vào miệng nhai mà thấy nước bọt đỏ như nước quết trầu là được.\nNgoài một số loại cây cỏ được dùng đốt thành tro nói trên, cũng có những phụ phẩm khác được bổ sung vào nồi luộc bánh nhằm làm thay đổi màu sắc của bánh như măng tre cho màu đỏ, măng vòi cho màu hổ phách (vàng nâu), lá sậy cho màu vàng nhạt.\nTrong cuốn Nữ công thắng lãm của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có nêu công thức làm nước tro với cành lá cây rạ khoảng 5 phần, cây vừng khô 4 phần, lá tầm gửi 2 phần, vỏ quả xoan đâu (cây xoan trắng) 2 phần, vỏ quả bưởi một phần, lá thơm 2 phần. Các thứ ấy đốt ra lấy tro đem rây mịn. Đong một bát cho vào một bát nước ngâm. Cứ một cóng nước lại cho một bát vôi ngâm khoảng 15 ngày.Hiện nay một số nơi do không có điều kiện đốt tro đã sử dụng nước tro Tàu (lye water), một loại hóa chất với tên gọi hóa học là natri hydroxide (NaOH) hay hydroxide kali (KOH), nhằm thay thế nước tro truyền thống. Tuy nhiên lạm dụng hóa chất này có thể gây ngộ độc." }, { "section": "Thưởng thức", "content": "Bánh tro nấu đạt yêu cầu thì khi mở ra, nếp không còn ở dạng hột mà cả cái bánh trở thành một khối bột trong, mịn chắc như một khối thạch, không nồng vôi tro. Bánh mềm mại vị nhạt tính mát, thiên về âm, có màu từ nhạt đến nâu sẫm phụ thuộc loại nước tro sử dụng. Bánh là món ăn mát lành, chống ngấy rất tốt. Khi thưởng thức bánh thường được chấm với đường cát trắng, đường thẻ, mật ong nhưng phổ biến nhất và ngon nhất là chấm với mật mía cô đặc thoảng hương vị của gừng băm vụn.\nỞ Nhật, akumaki không có mùi vị. Bánh thường được ăn với siro đường nâu và bột đậu nành rang (kinako), với một chút muối hoặc chấm mật ong. Nếu nó được ăn mà không có gì, nó có vị đắng ở cuống họng (bánh gio Bắc Kạn cũng tương tự). Tuy nhiên, nếu được ăn với siro mật đường và kinako, nó sẽ mang một hương vị hơi khác thường ngọt sắc.\nRiêng với bánh ú ngọt Quảng Đông, nó sẽ ăn giống kiểu Việt hoặc sẽ có nhân đậu đỏ nhuyễn ngào đường bên trong." }, { "section": "Đặc sản địa phương", "content": "Tại Việt Nam, miền Bắc nổi tiếng có bánh tro làng Đắc Sở huyện Hoài Đức, Hà Nội; bánh gio Tây Đình, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc; bánh nẳng Chợ Tràng, Lập Thạch, Vĩnh Phúc; bánh tro Quảng Yên, Quảng Ninh; bánh nẳng Làng Dòng, Xuân Lũng, Phú Thọ, bánh nẳng của cộng đồng người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ. Miền Trung có bánh tro Yên Lãng, Thọ Xuân, Thanh Hóa, bánh tro Quảng Nam, bánh tro Phú Yên, Bình Định. Bánh gio đã có ở Bắc Kạn hàng trăm năm và là một món ăn, một đặc sản không thể thiếu của người dân Bắc Kạn. Làm bánh gio cầu kỳ đòi hỏi người làm phải khéo tay, tinh mắt. Bánh gio được gói bằng gạo nếp rẫy vừa dẻo vừa thơm. Lá để gói bánh phải là lá chít bánh tẻ, chỉ có lá chít mới làm cho bánh có màu vàng sáng và dễ bóc, khi ăn có mùi thơm rất đặc trưng. Thứ nước mật để chấm bánh được làm bằng đường mía được trồng trên đất cát, mật sánh, thơm và có màu vàng sậm. Bánh gio ngon là phải mịn, dẻo, dai và có vị đậm đặc trưng, mát, lành và để được rất lâu." }, { "section": "Tác dụng với sức khỏe", "content": "Theo Đông y, bánh tro vị nhạt, tính mát ăn dễ tiêu, thích hợp nhất đối với trường hợp già yếu, trẻ em, có chứng bệnh nóng sốt âm ỉ (âm hư), những trường hợp dương thịnh gây âm hư như vào mùa hè mà cực điểm là đầu tháng năm Đoan ngọ (đoan dương - chính dương) thường gây ôn dịch thương âm. Vào dịp Tết Đoan Ngọ nó sẽ phát huy cao độ những tính năng trên do mấy ngày này người ta còn gặp nguy hại do ăn uống no say nhiều thứ béo, nhiệt, khó tiêu (rượu nếp, xoài, mít...). Bánh tro hợp với Tết Đoan Ngọ là vậy. Bánh không những trung hòa bớt độc hại trong ăn uống để bảo vệ sức khỏe trong ngày Tết Đoan Ngọ mà còn cả thời gian sau đó, giúp thanh nhiệt lợi tiểu, thải độc cho cơ thể, để phòng và góp phần chữa một số bệnh cần lợi tiểu như tăng huyết áp, thống phong (gút), sỏi thận v.v." } ]
Cơm gà
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1m_g%C3%A0
[ { "section": "summary", "content": "Cơm gà là món ăn được chế biến và trình bày với hình thức cơm và thịt gà. Cơm có thể dùng là cơm trắng hoặc cơm chiên, cơm rang và thịt gà được trình bày thông thường là đùi gà hay cánh gà. Món cơm gà tương đối dễ làm và phổ biến. Nhưng tùy theo từng quốc gia và tập tục địa phương mà có những phương cách thực hiện khác nhau." } ]
Plombières (tráng miệng)
https://vi.wikipedia.org/wiki/Plombi%C3%A8res_(tr%C3%A1ng_mi%E1%BB%87ng)
[ { "section": "summary", "content": "Plombières là một loại kem của Pháp có thành phần gồm quả hạnh nhân được bóc vỏ, quả kirsch và kẹo." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Nguồn gốc của kem plombières còn đang gây tranh cãi. Không rõ liệu tên của nó có liên quan đến xã Plombières-les-Bains hay không. Một từ nguyên dân gian cho rằng món ăn lần đầu tiên được phục vụ cho Napoleon III khi ký Hiệp ước Plombières vào năm 1858; nhưng Marie-Antoine Carême đã cung cấp công thức nấu món \"kem plombière\" trong cuốn sách năm 1815 nhan đề Pâtissier royal parisien. Công thức nấu ăn tương tự có thể được tìm thấy trong các sách dạy nấu ăn khác của Pháp từ thế kỷ 19.Theo Pierre Lacam vào năm 1893, \"kem plombière\" lấy tên từ một dụng cụ được sử dụng để làm ra ra món này. Một lý thuyết từ nguyên tương tự từng được Joseph Favre đề xuất trong cuốn sách Dictionnaire universel de cuisine của ông, trong đó nói rằng \"plombière là một từ đồng nghĩa với bombe, được sử dụng để nghiền các thành phần của món ăn\". Các học giả khác cho rằng món tráng miệng này lấy tên từ cái khuôn dùng để ép kem.Kem Plombières còn được đề cập trong cuốn tiểu thuyết Splendeurs et misères des courtisanes do Honoré de Balzac xuất bản vào năm 1844.Không nên nhầm lẫn Plombières với kem Malaga, một loại kem vani ăn kèm với nho khô ngâm trong rượu Malaga hoặc rượu rum.Ở Liên Xô, plombir (tiếng Nga: пломбир) đã trở thành một món ăn phổ biến mà ngày nay vẫn còn thấy ở các quốc gia hậu Xô Viết." } ]
Bramboráky
https://vi.wikipedia.org/wiki/Brambor%C3%A1ky
[ { "section": "summary", "content": "Bánh khoai tây chiên (trong tiếng Séc là Bramboráky) là một món đồ ăn nhẹ thường được làm từ nguyên liệu chính là khoai tây bào vụn kèm với bột mì, đôi khi có thêm cả trứng và nước sốt táo. Chúng thường được chiên trên chảo nông và nêm nếm với tỏi, hành và các gia vị khác. Bánh khoai tây chiên có thể ăn không, hoặc ăn với nhiều đồ ăn kèm khác nhau, từ mặn như kem chua, cho đến ngọt khi ăn cùng si-rô hoặc nước sốt táo. Bánh khoai tây chiên có thể được làm từ khoai tây nghiền để tạo ra hình những miếng khoai tròn. Một vài biến thể của loại bánh này còn được làm bằng khoai lang." }, { "section": "Bánh khoai tây chiên ở các nước", "content": "Bánh khoai tây xuất hiện trong nhiều bữa ăn tại các nước châu Âu, bao gồm Đức và Áo (với các tên gọi Kartoffelpuffer, Reibekuchen, Reiberdatschi, Erdäpfelpuffer and Erdäpfellaibchen), Hà Lan (aardappelpannenkoek, reifkoeken, reifjes), Séc (bramborák hoặc cmunda), Hungary (tócsni, lapcsánka), Ba Lan (placki ziemniaczane),...\nĐây là món ăn truyền thống của Belarus và Slovakia. Ở Đức, bánh khoai tây có thể ăn mặn hoặc ăn ngọt với sốt táo, quả mọng, đường và quế. Loại bánh này cực kỳ phổ biến trên menu đồ ăn tại các hội chợ và lễ hội vào mùa lạnh, đặc biệt là trong lễ Giáng Sinh. Trong bữa ăn của người Thụy Điển, bánh khoai tây không có trứng và bột mì. Phiên bản bánh khoai tây này ở Mỹ cũng không có bột mì hay trứng. Loại bánh khoai tây này là món ăn ưa thích của nhiều người ở phía nam bang Indiana vào những dịp nghỉ lễ." } ]
Chè bánh lọt
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_b%C3%A1nh_l%E1%BB%8Dt
[ { "section": "summary", "content": "Chè bánh lọt là một món chè ngọt ăn lạnh. Món chè này phổ biến khắp Đông Nam Á và có ý kiến cho rằng xuất xứ từ Indonesia." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Nguồn gốc của bánh lọt (cendol) không rõ ràng, và thức uống ngọt này được lan truyền rộng rãi trên khắp Đông Nam Á. Tuy nhiên, một gợi ý là cendol có nguồn gốc từ Java, Indonesia là dawet. Kỷ lục lâu đời nhất được đề cập về đồ uống ngọt dawet là bản thảo Kresnayana, có niên đại từ Vương quốc Kediri vào khoảng thế kỷ thứ 12 của Java. Nhà sử học cho rằng việc sử dụng sagoo hoặc bột gạo làm thành phần nước giải khát ngọt có thể xảy ra sớm trong xã hội nông nghiệp lúa gạo của Java cổ đại. Thật vậy, thạch cendol và các biến thể của nó là sản phẩm nông nghiệp nông thôn, vẫn được sản xuất theo truyền thống ở các làng Java. Ở Banjarnegara, Trung Java, dawet được phục vụ theo truyền thống mà không có đá. Ngày nay, tuy nhiên các viên đá hoặc đá bào bổ sung thường được thêm vào thức uống tráng miệng này. Điều này có thể gợi ý rằng ở Java nhiệt đới, dawet là một thức uống tráng miệng ngọt truyền thống có từ trước khi áp dụng công nghệ làm lạnh, vào đầu thế kỷ thứ 12. \nCendol thường được phục vụ với đá, và được phát triển khi nước đá có sẵn. Nó có thể có nguồn gốc từ các thành phố cảng của Malaysia như Malacca và Penang, nơi công nghệ tàu lạnh của Anh sẽ cung cấp đá cần thiết.\nTheo truyền thống của người Java, dawet hoặc cendol là một phần của lễ cưới truyền thống của người Java. Dodol dawet (tiếng Java cho cụm từ \"bán dawet\") được thực hiện trong lễ Midodareni, một ngày trước đám cưới. Sau khi tắm cô dâu siraman, cha mẹ sẽ bán dawet cho khách tham dự và người thân. Vị khách đã trả tiền cho dawet bằng cách sử dụng những đồng xu bằng đất nung sẽ được trao cho cô dâu như một biểu tượng cho thu nhập của gia đình. Ý nghĩa biểu tượng là hy vọng của cha mẹ rằng đám cưới ngày mai sẽ có rất nhiều khách tham dự, \"nhiều như các loại thạch cendol được bán.\" Ở Dutch East Indies Java, những người bán hàng rong trên đường phố sử dụng pikulan (giỏ mang theo thanh cân bằng) thường được tìm thấy ở các thành phố của người Java, như có thể thấy trong bức ảnh cũ có niên đại từ khoảng năm 1935.\nCendol đã được Cục Di sản quốc gia Malaysia tuyên bố là thực phẩm di sản của Malaysia." }, { "section": "Từ nguyên học", "content": "Từ \"chendol\" được đề cập lần đầu tiên vào năm 1932 như là một trong những thực phẩm có sẵn ở Kuala Lumpur như được ghi lại trong Dự án Hợp nhất Malay thu thập các tác phẩm của Malay. Dawet được tuyên bố là nguồn gốc của cendol; tên tiếng Java của \"dawet\" đã được ghi lại trong bản thảo tiếng Java đầu thế kỷ 19 của Serat Centhini, được sáng tác giữa năm 1814, 18181818 ở Surakarta, Trung Java. Trong tiếng Java, dawet đề cập đến toàn bộ hỗn hợp thạch xanh cendol, thường được làm từ aren sagoo hoặc bột gạo, nước cốt dừa và gula jawa lỏng (xi-rô đường cọ), đôi khi có thể thêm mít thái lát.\nCó một niềm tin phổ biến rằng cái tên \"cendol\" có liên quan đến, hoặc có nguồn gốc từ từ jendol, liên quan đến thạch bột gạo giống như giun xanh sưng; trong tiếng Java, tiếng Sundan, tiếng Indonesia và tiếng Malay, jendol có nghĩa là \"vết sưng\", \"phình\", hoặc \"sưng\". Ở hầu hết các vùng của Indonesia, cendol đề cập đến thạch bột gạo xanh; trong khi pha chế của bột gạo xanh với nước cốt dừa, đá bào, đường cau và đôi khi mít thái hạt lựu được gọi là es cendol hoặc dawet (ở Trung và Đông Java).\nTừ điển Indonesia mô tả cendol là một món ăn nhẹ làm từ bột gạo và các thành phần khác được hình thành bởi các bộ lọc, sau đó trộn với đường cọ và nước cốt dừa (cho nước giải khát). Từ điển tiếng Mã Lai Kamus Dewan định nghĩa tương tự nó là một thức uống giống như cháo với những sợi dài làm từ bột gạo trong nước cốt dừa và xi-rô đường.\nỞ Việt Nam, loại bột gạo giống như giun này được gọi là bánh lọt hay \"bánh qua\". Bánh lọt là một thành phần phổ biến trong một thức uống tráng miệng của người Việt Nam gọi là chè, hay phổ biến hơn là ba màu. Ở Thái Lan, nó được gọi là lot chong (tiếng Thái:, phát âm là [lɔ̂ːt t͡ɕʰɔ̂ŋ]) có thể được dịch là \"đi qua một lỗ\", chỉ ra cách nó được tạo ra bằng cách ấn bột ấm qua rây vào một thùng chứa nước lạnh. Ở Miến Điện, nó được gọi là mont let saung hoặc မု န့ ် လက်. Ở Campuchia, nó được gọi là lot (ល ត / lɔːt /), bang-aem lot (បង្អែម ល ត / bɑŋʔaɛm lɔːt /), nom lot (នំលត / nɷm lɔːt /), và banh lot (បាញ់លត /baɲ lɔːt/). Người Thái đã mang món ăn này vào Việt Nam từ thế kỷ 18." }, { "section": "Thành phần", "content": "Thành phần chủ yếu là bánh lọt, làm bằng bột gạo pha bột năng. Bánh lọt thường thêm phẩm màu xanh và hương vị của lá dứa. Chè khi ăn chan thêm nước cốt dừa và đá bào.\nMột số biến thể cho thêm đậu đỏ, cơm nếp, và bắp ngô.Ở Việt Nam, đậu xanh, đậu đỏ và bánh lọt là ba thành phần của chè ba màu trong khi ở Singapore chè bánh lọt cendol có khi thêm cả kem vani và sầu riêng." }, { "section": "Bày bán món cendol", "content": "Cendol đã trở thành một phần tinh túy của ẩm thực ở Đông Nam Á và thường được bán bởi các nhà cung cấp tại các con đường, trung tâm bán hàng rong và các khu ẩm thực. Các nhà cung cấp Cendol gần như có mặt ở các thành phố của Indonesia, đặc biệt là Jakarta, Bandung và Yogyakarta. Ban đầu cendol hoặc dawet trong Java được phục vụ mà không có đá, nhưng sau khi giới thiệu công nghệ làm lạnh, cendol lạnh với đá bào (es serut) đã có sẵn và phổ biến rộng rãi.\nỞ Indonesia và Malaysia, cendol thường được các nhà cung cấp bán bên vỉa hè. Nó thậm chí là món tráng miệng ở Singapore, được tìm thấy trong các quầy hàng tráng miệng, trung tâm thực phẩm, quán cà phê và khu ẩm thực.\n\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\n\n== Chú thích ==" } ]
Kaasstengels
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kaasstengels
[ { "section": "summary", "content": "Kaasstengels, Kastengel hoặc kue keju là một loại bánh quy pho mát Hà Lan-Indonesia trong dạng que, thường được tìm thấy ở Hà Lan và Indonesia. Tên gọi mô tả nguyên liệu của nó; kaas là từ tiếng Hà Lan cho \"pho mát\", trong khi stengels nghĩa là \"que\". Không giống như bánh quy, kaasstengels có vị đậm đà và mặn thay vì ngọt. Ở Indonesia, do đã từng là thuộc địa của Hà Lan, kaasstengels, cùng với nastar , và kue putri salju là kue kering (kue khô hoặc bánh quy) phổ biến trong dịp lễ hội như Natal (Giáng Sinh) và Lebaran (Eid al Fitr)." } ]
Vằng
https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%B1ng
[ { "section": "summary", "content": "Vằng hay còn gọi chè vằng, chè cước man, cẩm văn, cẩm vân, dây vắng, lài ba gân (danh pháp hai phần: Jasminum subtriplinerve) là loài thực vật có hoa thuộc họ Ô liu được Blume mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1851. Vằng là một loại cây bụi nhỏ mọc hoang, được người dân Việt Nam tại nhiều vùng miền sử dụng dưới dạng sắc thuốc hay pha nước uống, đặc biệt tốt khi dành cho các sản phụ." }, { "section": "Đặc điểm", "content": "Cây chè vằng mọc hoang ở khắp nơi, là loại cây bụi nhỏ, đường kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng đốt vươn dài hàng chục mét, phân nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc đối hơi hình mác, phía cuống tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên, mép nguyên, càng lên ngọn, cành lá càng nhỏ. Hoa màu trắng mọc thành xim ở đầu cành, quả hình cầu.\nTheo nhân dân, có ba loại vằng, vằng lá nhỏ (vằng sẻ) dùng tốt hơn cả, vằng lá to (vằng trâu) cũng được dùng, còn vằng núi không dùng làm thuốc." }, { "section": "Phân biệt chè vằng và lá ngón", "content": "Chè vằng dễ nhầm lẫn với lá ngón (Gelsemium elegans Benth.), một loại cây rất độc (thuốc độc bảng A), không chỉ vì cây chè vằng đôi khi còn được gọi là cây lá ngón, mà còn vì hình dạng bên ngoài, thân, cành chè vằng tương đối giống với thân cành lá ngón, nhất là khi đã chặt khỏi gốc và bỏ hết lá.\nCây chè vằng có thể phân biệt với cây lá ngón nhờ vào đặc điểm lá, hoa và quả. Lá chè vằng có 3 gân dọc trong đó 2 gân bên uốn cong theo mép lá, rõ rệt. Hoa chè vằng màu trắng với mười cánh hoa trong khi hoa lá ngón mọc thành chùm, phân nhánh nhiều lần (từ 2 đến 3 lần) màu vàng. Quả chè vằng hình cầu cỡ hạt ngô, chín màu đen, có một hạt rắn chắc trong khi quả cây lá ngón hình trụ (khoảng 0,5x1cm), khi chín tự mở, nhiều hạt (tới 40 hạt), nhỏ, hình thận, có diềm mỏng, phát tán theo gió." }, { "section": "Tác dụng", "content": "Nghiên cứu dược lý chứng minh lá chè vằng chứa alcaloid, nhựa, flavonoid, có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, làm tăng nhanh tái tạo tổ chức, làm mau lành vết thương và không độc. Bộ phận dùng làm thuốc là cành, lá tươi hoặc cành, lá phơi sấy khô, thu hái quanh năm.\nTác dụng đặc biệt của chè vằng đối với phụ nữ sau sinh cũng được kiểm nghiệm. Là thuốc bổ đắng dùng rất tốt cho phụ nữ đẻ, chè vằng cũng có thể trị nhiễm khuẩn sau đẻ, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung, viêm tuyến sữa, bế kinh, khí hư, thấp khớp, nhức xương.\nKinh nghiệm dân gian Việt Nam thường dùng lá chè vằng đun lấy nước tắm rửa chữa ghẻ, ngứa hay lở chốc. Tại miền Nam Việt Nam, thân cây vằng được sử dụng đan rế hay đánh dây thừng vì cây rất dai. Lá được dùng dưới dạng thuốc sắc hay pha như pha trà để chữa sưng vú, mụn nhọt; còn dùng chữa rắn rết hay côn trùng cắn; rễ cây vằng mài với dấm thanh để làm hết mủ những ung nhọt đã nung mủ. Liều uống hàng ngày khoảng 20-30g lá khô sắc uống, nếu dùng ngoài không kể liều lượng. Ngàoi ra còn có cao chè vằng là tinh chất 100% từ cây chè vằng, qua một quá trình chiết suất và cô đặc kéo dài từ 4-5 ngày được đun nấu liên tục với lượng nhiệt vừa đủ.\nBệnh viện Thái Bình dùng lá chè vằng giã nát đắp vào nơi áp xe vú hoặc giã lá với cồn 50 độ rồi đắp vào nơi áp xe ngày 3 lần, đêm 2 lần. Thời gian điều trị thường là 1 ngày đến 1 tuần tùy theo bệnh nặng hay nhẹ và được bắt đầu chữa bằng lá chè vằng sớm hay muộn, trung bình 1,5 đến 2 ngày.\nNgoài tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chè vằng được sử dụng dưới dạng đồ uống có tác dụng giải nhiệt, giải khát bổ gan, lợi mật, kích thích tiêu hoá, tăng cường tuần hoàn máu, giảm béo, lợi sữa." }, { "section": "Thông tin thêm", "content": "Trong số những suy đoán về tên Linh địa La Vang, một trong những luận cứ được các học giả đưa ra là nguyên ngày trước tại rừng La Vang có nhiều cây vằng. Cây thuốc quý này ban đầu tương truyền được Đức mẹ Maria, khi hiển linh tại La Vang, đã hướng dẫn người dân thu hái và sử dụng chữa bệnh dịch đang hoành hành trong dân chúng bấy giờ. Từ chữ Lá Vằng đọc trại đi thành La Vang." } ]
Xí quách
https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%AD_qu%C3%A1ch
[ { "section": "summary", "content": "Xí quách, hay xíu quách, một tên gọi nôm na để chỉ món xương hầm, là một món ăn bình dân và thông dụng ở Việt Nam có xuất xứ từ Quảng Đông, Trung Quốc được người gốc Hoa mang đến phổ biến ở miền Nam Việt Nam, là những đoạn xương heo, bò hoặc dê, gà, v.v. đã được nấu ra làm nước lèo để sử dụng vào mục đích khác, còn lại là những lớp thịt, lớp mỡ, lớp gân, lớp tuỷ xương, v.v. đã chín nhừ. Món ăn này thường được người miền Nam ăn kèm với hủ tiếu, mì, hoặc cơm, cũng là lựa chọn của những thực khách hay nhậu tại các hàng quán, đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh, như một món ăn chơi (ăn vặt)." }, { "section": "Từ nguyên học", "content": "Xí quách là cách phát âm theo tiếng Quảng Đông của \"trư cốt\" 豬骨 (Việt bính: zyu1 gwat1, đọc như tchíu quách theo tiếng Việt giọng miền Nam), có nghĩa là \"xương heo\". Ban đầu xí quách đơn thuần dùng để chỉ xương heo, nhưng sau đó được mở rộng ra đến xương bò, xương gà, xương dê, v.v.." }, { "section": "Lẩu xí quách", "content": "Xí quách thường dùng làm lẩu xí quách, một loại lẩu có hương vị mới lạ, ít xuất hiện trong thực đơn của các nhà hàng. Lẩu xí quách được chế biến từ nước xương hầm kết hợp với các nguyên liệu như táo đỏ, lê, nấm tuyết nhĩ, v.v., nên nước lẩu thơm mùi rau quả rất tinh khiết, vị thanh thanh, ăn kèm cùng với thịt gà hay tôm.\nCách chế biến:\nĐầu tiên xí quách chặt khúc, gừng đập giập, cho vào nồi với khoảng 4 lít nước, hầm mềm, sau đó cho bắp Mỹ chặt làm tư vào nấu thêm 10 phút, nêm nếm vừa ăn. Bí đỏ gọt vở, thái lát dày khoảng 1– 2 cm. Các phụ gia khác như Nấm bào ngư thì cắt gốc, rửa sạch. Cải cúc nhặt rửa sạch. Hành lá thái khúc.\nTiếp đến, múc xương xí quách, bắp Mỹ và nước hầm xương vào nồi lẩu. Khi dùng mở bếp, cho bí đỏ, nấm bào ngư, và sau cùng, cho cải cúc và hành lá vào.Món ăn này dùng với mì hoặc bún, chấm kèm nước tương và ớt xắt. Lưu ý: Để xương xí quách thơm ngon và nước trong, khi hầm nên cho vào ít nước mắm, cho xương vào đun sôi, hạ nhỏ lửa, hầm vừa mềm thỉnh thoảng vớt bọt." }, { "section": "Nghĩa rộng", "content": "Thuật ngữ \"hết xí quách\" dùng để chỉ một trạng thái của cơ thể mệt mỏi rã rời là dấu hiệu báo cơ thể cần phải nghỉ ngơi hoặc ngủ để phục hồi sức khỏe." } ]
Bánh mì gừng Toruń
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_m%C3%AC_g%E1%BB%ABng_Toru%C5%84
[ { "section": "summary", "content": "Bánh mì gừng Toruń (tiếng Ba Lan: pierniki toruńskie, tiếng Đức: Thorner Lebkuchen) là một loại bánh mì gừng truyền thống của Ba Lan, được sản xuất từ thời Trung cổ ở thành phố Toruń." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Những tục ngữ Ba Lan cổ cho rằng vùng Toruń có liên quan đến việc tạo ra một số mẫu bánh mì gừng và sau đó là sự phát triển của nghề thủ công bắt đầu từ thế kỷ 13.Một yếu tố đáng chú ý đằng sau sự phát triển của bánh mì gừng ở Toruń là vị trí tuyệt vời của nó. Sở hữu đất nền chứa dinh dưỡng cao, thuận tiện cho cây cối phát triển, khu vực này cung cấp giống lúa mì tốt để làm bột mì, trong khi các ngôi làng xung quanh cung cấp mật ong. Các loại gia vị cần thiết được mang đến từ các quốc gia xa xôi khác, chủ yếu là Ấn Độ, thông qua một tuyến đường trên Biển Đen và Lwów đến Đế quốc La Mã thần thánh, nơi các loại gia vị được vận chuyển bởi các công ty thương mại phía Bắc nước Đức. Một số loại khác lại thông qua đường biển đến cảng Danzig. \n\nLần đầu tiên bánh mì gừng Toruń được đề cập là từ năm 1380 và nói về một thợ làm bánh địa phương tên là Niclos Czana. Sản phẩm nhanh chóng nổi tiếng trên khắp Ba Lan và lan ra cả ngoài nước. Toruń và thành phố Nieders, nổi tiếng với những chiếc bánh đặc biệt, đã sẵn sàng bảo vệ những bí mật trong công thức nướng bánh của họ với nhau. Cuối cùng vào năm 1556, họ đã tạo ra một thỏa thuận mà mỗi thành phố có thể nướng các loại bánh đặc sản của nhau.Các nghệ nhân không phải là những người duy nhất tham gia vào việc sản xuất những món ăn ngon. Vào thế kỷ 16, Dòng Xitô ở ngoại ô Toruń trở nên giàu có chủ yếu nhờ sản xuất bánh và thậm chí họ còn bán sản phẩm của mình cho các nước khác. Trong thế kỷ 17, xưởng bánh nổi tiếng của gia đình Grauer đã xuất hiện. Chính quyền thành phố đã ủng hộ lợi ích của giao thương và ban hành một số điều luật giảm thuế cho việc nhập khẩu và xuất khẩu gia vị đối với các xưởng sản xuất của thợ làm bánh nhằm thúc đẩy việc giao thương buôn bán.\nVào thế kỷ 18 và 19, thành phố Torun đã phải chứng kiến sự sụp đổ của nghề làm bánh và các nghề thủ công khác. Năm 1825, chỉ còn lại ba thợ làm bánh. Với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, các công ty lớn đã tiếp quản các xưởng bánh từ các thợ thủ công địa phương và sản xuất hàng loạt loại bánh mì gừng tiếp theo.\nNhà máy làm bánh lớn nhất thuộc sở hữu của Gustav Weese, dựa trên truyền thống có từ năm 1763, khi Johann Weese bắt đầu nướng bánh mì gừng. Gustav Traugott Weese thừa hưởng một xưởng nhỏ sau khi cha Andreas qua đời vào năm 1824 và đổi nó thành một công ty lớn. Năm 1875, Công báo Toruń (Gazeta Toruńska) đã viết vào đêm giao thừa rằng do nhu cầu thị trường tăng lên, bánh mì gừng thậm chí còn được bán ở Châu Phi. Những nơi xuất khẩu bánh khác bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Honolulu. Năm 1913, Gustav Weese, hậu duệ của Gustav Traugott Weese, đã xây dựng một nhà máy sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, và thuê hơn 500 công nhân. Gustav Weese đã bán nó vào tháng 1 năm 1939 cho công ty Ba Lan \"Społem\" và rời khỏi nhà máy bánh mì gừng khác của mình ở Đức. Công ty ở Toruń vẫn tồn tại và là công ty bánh kẹo lâu đời nhất ở Ba Lan ngày nay. Nó cũng là một trong những công ty lâu đời nhất trên thế giới.Ngoài nhà máy của Weese còn có công ty Hermann Thomas được thành lập năm 1857, và đã thuê 200 công nhân trong năm 1907. Một công ty quan trọng khác cũng tham gia vào việc sản xuất bánh mì gừng được thành lập bởi Jan Ruchniewicz vào năm 1907. Doanh nghiệp phát triển khá thành công và có 50 công nhân. Nó được biết đến với việc trang trí bánh mì gừng đứng đầu Toruń." }, { "section": "Bánh mì gừng Toruń trong văn hóa Ba Lan", "content": "Pierniki Toruńskie, được biết đến như một biểu tượng của nền ẩm thực quốc gia Ba Lan. Theo truyền thống, chúng được tặng như một món quà của thành phố Toruń cho các nhà lãnh đạo, nghệ sĩ và những người đặc biệt ở Ba Lan, những người nổi tiếng trong xã hội Ba Lan và các vị vua Ba Lan. Khuôn nướng bánh tồn tại với sự giống nhau giữa thời vua Sigismund III của Ba Lan, vua Władysław IV Vasa và Nữ hoàng Cecilia Renata cũng như con dấu hoàng gia với đại bàng Ba Lan và chóp mũ của một số tỉnh. Những người nổi tiếng đã nhận được món bánh mì gừng từ thành phố Torun bao gồm Marie Casimire Louise (công chúa Pháp và góa phụ của Vua John III Sobieski), Napoléon Bonaparte (trong chuyến thăm, cả thành phố được chiếu sáng và tiếng chuông vang khắp thành phố), Zygmunt Krasniński (một trong ba thi sĩ của Ba Lan), họa sĩ Jan Matejko, nữ diễn viên Helena Modjeska, Thống chế Józef Piłsudski, nghệ sĩ piano Artur Rubinstein, nhà thơ Czesław Miłosz, Lech Wałęsa và Giáo hoàng John Paul II.\nKể từ thời Trung cổ, pierniki đã được kết nối với Toruń trong các câu tục ngữ và truyền thuyết Ba Lan. Một truyền thuyết cho rằng bánh mì gừng là một món quà từ Nữ hoàng Ong cho người học việc Bogumił. Một bài thơ trào phúng từ thế kỷ 17 của nhà thơ Fryderyk Hoffman nói về bốn điều tốt nhất ở Ba Lan, đó chính là: \" Rượu vodka của Gdańsk, bánh mì gừng Toruń, phụ nữ của Kraków và giày Warsaw \".\nNhà thơ và tác giả truyện ngụ ngôn thế kỷ 18 Ignacy Krasnicki, một người rất thích bánh mì gừng, đã viết về chúng trong những bài thơ nổi tiếng của ông.\nNhà soạn nhạc Frédéric Chopin năm 15 tuổi đã đến thăm Szafarnia, một ngôi làng nhỏ gần sông Drwęca, ông dừng chân ở Toruń để gặp người cha đỡ đầu của mình, nhà bút pháp Fryderyk Florian Skarbek. Chopin đã lấy mẫu bánh kẹo nổi tiếng của thành phố và trở nên yêu thích đến nỗi ông đã viết một lá thư về nó cho bạn bè và đồng nghiệp của mình. Ông thậm chí đã gửi một số đến Warsaw. Để tôn vinh điều này, nhà sản xuất bánh mì gừng Toruń lớn nhất của Ba Lan, Công ty bánh kẹo Kopernik, đã tạo ra một loại bánh mì gừng hình trái tim đặc biệt có tên là Scherzo, mang hình dáng của Chopin trên vỏ bọc.\nToruń tổ chức một lễ kỷ niệm bánh mì gừng hàng năm, với tên gọi là więto Piernika (Lễ hội bánh mì gừng)." }, { "section": "Những nhà sản xuất hiện nay", "content": "Có hai nhà máy chính sản xuất bánh mì gừng Toruń: nhà máy bánh kẹo \"Kopernik\" SA và Toruń Bakery. Nhà máy đầu tiên duy trì các quyền hợp pháp của mình đối với thương hiệu và là sự kế thừa cho một công ty được thành lập vào năm 1763 bởi Johann Weese. Nhà máy thứ hai được thành lập bởi các thợ làm bánh Toruń chuyên sản xuất bánh mì gừng. Mục đích của nó là truyền bá kiến thức về nghề thủ công và sản xuất bánh mì gừng hảo hạng cho các nhà hàng, các bữa tiệc và các cuộc họp quan trọng." } ]
Dalgona
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dalgona
[ { "section": "summary", "content": "Dalgona (Tiếng Hàn: 달고나) hay ppopgi (Tiếng Hàn: 뽑기) là một loại kẹo Hàn Quốc được làm bằng đường nóng chảy và muối nở. Từng là một món ăn đường phố nổi tiếng trong thập niên 70 và 80, ngày nay dalgona vẫn được coi là một món ăn vặt truyền thống. Khi một ít muối nở được trộn vào đường chảy, chúng sẽ phân hủy nhiệt thành cacbon dioxit, làm cho đường chảy phồng lên và trở thành kẹo giòn và có vị nhạt khi để nguội và cứng lại. Thông thường, dung dịch đường được đổ lên một bề mặt phẳng sau đó ép phẳng xuống và tạo khuôn với nhiều hình mẫu khác nhau. Thực khách sẽ thử chọc xung quanh viền hình đã được ép khuôn mà không làm vỡ nó. Nếu có thể tách được hình ra mà không làm vỡ kẹo, người mua nhận được một cây Dalgona miễn phí khác.Các quán cà phê hiện đại ở Hàn Quốc thường có các đồ uống khác lạ như cà phê hay trà có đá được phủ lên kem được gọi là cà phê Dalgona cùng nhiều món bánh ngọt khác. Vài quán cà phê cũng có thêm các món huơng vị dalgona như bingsu và souffle.Dalgona là một thành phần nổi bật trong series phim Trò chơi con mực của Netfilx, dẫn đến sự nổi tiếng trở lại của món kẹo này ở Hàn Quốc và thế giới. Gian hàng cung cấp kẹo cho bộ phim đã tăng gấp đôi lượng hàng bán. Mọi người cũng đã đăng các thử thách làm món kẹo này tại nhà trên mạng xã hội." }, { "section": "Các tên khác", "content": "Dalgona ban đầu là một thuật ngữ dùng để chỉ các món kẹo đắt tiền dùng glucose không có khuôn, trong khi ppopgi ban đầu là các loại kẹo làm từ đường và có thể ép khuôn thành ngôi sao và hình tròn. Vì kẹo dalgona rất ít khi làm bằng khuôn, từ dalgona bắt đầu đựoc dùng để chỉ ppopgi. Nó thường được gọi là 뽑기 (ppopgi) ở tỉnh Gyeonggi bao gồm Seoul và Incheon, nhưng nó tên khác nhau ở mỗi vùng.\n띠기 (ttigi): Tên này được sử dụng nhiều nhất ở Daejeon, và nó cũng được dùng ở đa số tỉnh Chungcheong ngoại trừ Cheongju và đa số tỉnh Jeolla ngoại trừ Gwangju. '띠기(ttigi)' thể hiện đặc điểm giọng địa phuơng của Chungcheong và Jeolla trong đó nguyên âm'ㅔ(e)' được chuyển thành 'ㅣ(i)', và khi chuyển nó thành tiếng Hàn tiêu chuẩn, nó trở thành '떼기(ttegi)'.\n국자 (gukja): Tên này thường được sử dụng ở Daegu và tỉnh Gyeongsang Bắc, và tên này được lấy cảm hứng từ từ '국자 (muôi)' vì nó được làm văn ăn trong cái muôi (vá). Thêm vào đó, nó cũng được gọi là '파짜꿍 (pajjakkung)', nhưng từ đó không phổ biến bằng '국자 (muôi).\n쪽자 (jjokja): Từ này thường được dùng ở tỉnh Gyeongsang Nam, và có thể nó bắt nguồn từ tiếng địa phương của cái muôi, nhưng điều đó chưa được kiểm chứng.\n오리떼기/오리띠기 (orittegi/orittigi): Từ này thường được dùng ở Masan và bắt nguồn từ tiếng địa phương của từ '오려서 떼기 (cắt và kéo ra)'.\n똥과자 (ttonggwaja): Ở Busan, cũng có thể gọi nó là '똥과자 (ttonggwaja)' thay vì '쪽자 (jjokja)'. Nghĩa của tên đó là '똥과자 (bánh quy phân)' vì nó trông giống phân.\n떼기 (ttegi): Ở Đảo Jeju, như Chungcheong và Jeolla, nó được gọi là '떼기 (ttegi)' bằng cách dùng tiếng Hàn tiêu chuẩn thay vì '띠기 (ttigi)', một phương ngữ. Ngoài ra, nó còn được gọi là '띠까 (tikka)' ở vài vùng của Seogwipo.Từ thập niên 70-80 đến đầu những năm 2000, khi sự nổi tiếng của '뽑기 (ppopgi)' đang rất cao, truyền thông không có ảnh hưởng lớn, nên tên thường khác biệt tùy vùng. Tuy nhiên, trong các thế hệ sau, sự phổ biến của điện thoại thông minh và sự ảnh hưởng của truyền thông tăng lên, và ảnh hưởng của vùng Seoul/Gyeonggi, nơi có nhiều phương tiện truyền thông từ trước, đã tăng lên. Từ đó, tên địa phương mất dần ảnh hưởng, và đa số học sinh cấp hai và cấp ba Hàn Quốc giờ gọi chúng là dalgona." }, { "section": "Thư viện ảnh", "content": "\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\t\t\n\t\t\t\n\t\t\t\n\t\t\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Bò kho
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B2_kho
[ { "section": "summary", "content": "Bò kho là một món ăn chế biến từ thịt bò với phương pháp kho, có xuất xứ ở miền Nam Việt Nam. Món này được nhiều người ưa thích. Nguyên bản món Bò kho được người miền Nam Việt Nam dùng kèm với nhiều loại rau mùi, để tăng hương vị món ăn. Tuy có tên gọi là bò kho nhưng cách thức chế biến chủ đạo của món ăn lại là hầm, hình thức kho được dùng để tẩm ướp và làm săn chắc thịt bò trước khi hầm. Món này cũng nổi tiếng bên ngoài Việt Nam." }, { "section": "Nguyên liệu", "content": "1,2 kg thịt bò tùy theo sở thích có thể chọn bắp bò, gân hoặc nạm\n1 muỗng hành băm\n1 gói gia vị bò kho (25 g)\n1 muỗng tỏi băm\n2 củ cà rốt, 2 củ cải trắng\n6 cây sả" }, { "section": "Cách làm", "content": "Cắt sả làm đôi giữ lại phần ngọn còn phần thân đập giập và băm nhuyễn. Cà rốt và củ cải rửa sạch gọt vỏ cắt miếng vừa ăn. Để khử mùi của thịt bò ta nên rửa kỹ với muối sau đó chần nhanh qua nước sôi sau đó thái thành miếng vừa miệng. Cho thịt bò vào thau ướp với gia vị bò kho, cho thêm 1 muỗng muối, 2 muỗng đường và nửa muỗng canh bột ngọt, cùng với hành và tỏi băm ướp trong vòng 30 phút. Phi thơm hành tỏi băm trước khi cho thịt vào đảo đều trên lửa lớn cho xăn miếng thịt. Tiếp đến cho toàn bộ phần thịt bò vào nồi áp suất hoặc nồi ủ, cho phần ngọn sả cà rốt cải trắng vào, đổ nước vừa đun lửa lớn cho đến khi sôi thì hạ lửa nhỏ. Đối với nồi áp suất thì chúng ta chỉ cần đun khoảng 20 phút là thịt đã mềm, còn dùng nồi ủ thì chỉ cần đun cho sôi rồi mang để vào trong nồi ủ chừng 4-8h là có thể dùng được. Múc bò kho ra tô dùng kèm với bánh mì hoặc với cơm nóng đều ngon." } ]
Gỏi mít
https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BB%8Fi_m%C3%ADt
[ { "section": "summary", "content": "Gỏi mít là một trong những món ăn nổi tiếng của miền Trung, được nhiều nhà hàng sang trọng đưa vào thực đơn và được rất nhiều thực khách yêu thích, thường được ăn kèm với bánh tráng mè. Trong các dịp cỗ bàn, món gỏi mít giòn ngon với vị chua ngọt hài hòa là một sự lựa chọn tuyệt vời để giảm bớt cái ngán của mâm cỗ nhiều chất đạm." }, { "section": "Nguyên liệu", "content": "200 gr tôm\n200 gr thịt ba rọi\n500 gr mít non, bào mỏng\nĐậu phộng và mè rang vàng\nRau răm, tỏi, ớt, chanh hoặc tắc\nĐường, nước mắm, bột ngọt" }, { "section": "Cách làm", "content": "Nấu nước sôi bỏ muối, trụn sơ mít, vớt ra, vắt ráo\nTôm và thịt luộc chín\nTôm bóc vỏ-Thịt xắt sợi\nPha nước mắm chua ngọt trộn gỏi: Pha nước mắm trộn gỏi: 2 muỗng canh nước cốt chanh, 3 muỗng canh nước, 3 muỗng canh nước mắm, 3 muỗng canh đường, 1 muỗng café bột ngọt, 1 muỗng café muối, thêm ớt bằm nếu thích.\nTrộn đều mít, tôm, thịt với nước mắm chua ngọt. Sau đó, rau răm băm nhuyễn cho vào cùng đậu phộng và mè rang vàng.\nTrưng bày ra đĩa,trang trí đẹp mắt.\nGỏi mít thường được dùng chung với bánh đa.\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Hủ tiếu gõ
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%A7_ti%E1%BA%BFu_g%C3%B5
[ { "section": "summary", "content": "Hủ tiếu gõ là một loại hình bán hủ tiếu phổ biến ở Việt Nam. Theo đó, người nấu có một xe đẩy (hoặc quầy) được đậu ở nơi cố định, thường là trên hè phố; và có thêm một hay một vài người sẽ đi bộ hoặc dùng các phương tiện di chuyển như xe đạp, xe máy... để len lỏi vào các ngỏ hẻm, từng căn hộ chung cư để tìm thực khách và nhận gọi món. Thường thì những người này có một bộ dụng cụ gồm hai thanh gỗ hoặc kim loại gõ vào nhau để phát ra âm thanh đặc trưng, dễ nhận biết thay cho tiếng rao.\nNhững người đi gõ thường là các trẻ em, con cái hoặc người thân trong gia đình của người nấu, họ kiêm luôn cả việc chạy bàn, bưng bê, nhận tiền. Mỗi xe hủ tiếu sẽ có từng tiếng gõ, nhịp điệu gõ đặc trưng. Thực khách khi có nhu cầu thì gọi người gõ vào, sau đó người này sẽ quay về vị trí đặt xe đẩy hủ tiếu để báo chế biến rồi lại đem đến tận nhà thực khách. Thực tế, đây chính là một loại hình đơn giản của kiểu kinh doanh giao hàng tận nơi.\nHủ tiếu gõ là món ăn bình dân đã tồn tại, gắn liền với người dân đô thị, dần trở thành một phần của ẩm thực của những thành phố và nó cũng là loại ẩm thực bình dân và đại trà nhất đại diện cho ẩm thực vỉa hè trong đêm, đặc biệt là tại Sài Gòn." }, { "section": "Đặc điểm", "content": "Quán hủ tiếu thường nằm ở một vỉa hè trống, mọi thứ cũng chỉ gói gọn trong một chiếc xe nhỏ, phía bên dưới chứa được thùng nước lèo, người chế biến tận dụng tối đa chiếc xe kéo chất những bàn ghế, tô, đũa, thau, xô, nước...và những gia vị dùng trong việc làm ra tô hủ tiếu. Thực tế, họ còn bán thêm các món khác như hoành thánh, mì gói, mì sợi....\n\nHủ tiếu gõ ít khi bán buổi sáng mà thường từ khoảng 14-15 giờ chiều cho đến tận khuya. Nghề bán hủ tiếu gõ tuy không quá nặng nhọc nhưng cũng không nhẹ nhàng, người bán phải đi chợ từ sớm, chuẩn bị mọi thứ cho việc bán buổi chiều, rồi thức đêm bởi đây là món ăn khuya. Để có một gánh hủ tiếu bán đêm thì ngay sáng sớm họ phải len lỏi qua các chợ đầu mối để mua nguyên vật liệu từ thịt, giá, hẹ, tương, ớt, chanh... tất bật từ sáng đến trưa để chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Bán hủ tiếu gõ không cần khéo tay, cũng không cần nhiều vốn.Đa số những người bán hủ tiếu gõ là người từ miền Trung, nhất là ở các tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.Hủ tiếu gõ thường có thành phần ít hơn một tô hủ tiếu trong quán, mỗi thứ một chút, một nắm hủ tiếu (sợi trắng mịn, nhỏ như sợi mì vằn thắn nhưng mềm hơn nhiều), ít giá trụng, vài lát thịt thăn thái mỏng, vài lát chả lợn thái mỏng, trứng cút, bò viên, rau, hẹ, hành khô và vài viên tóp mỡ béo, bùi, thơm bé bằng hạt đậu.Đa số những người ăn hủ tiếu là giải quyết cơn đói bụng tạm thời trong lúc gấp gáp hoặc những người đi chơi, đi làm về khuya tìm chút gì lót dạ cho dễ ngủ khi những hàng quán khác đã dọn hết. Ít ai lại chọn hủ tiếu gõ làm bữa ăn chính. Nó trở thành một thói quen ăn đêm của nhiều người vì vừa đơn giản, vừa vừa bình dân lại phù hợp với mọi túi tiền.\n\n\n== Chú thích ==" } ]
Naan
https://vi.wikipedia.org/wiki/Naan
[ { "section": "summary", "content": "Naan, nan (tiếng Hindi: नान, chuyển tự nān) hay khamiri là một loại bánh mì cắt lát chứa bột nở, nướng lò thịnh hành trong ẩm thực tại các quốc gia vùng Trung Đông, Trung Á và Nam Á." }, { "section": "Từ nguyên", "content": "Từ \"naan\" xuất hiện sớm nhất trong tiếng Anh năm 1810, trong chuyến du lịch của William Tooke. Từ nān, trong tiếng Ba Tư, nghĩa là 'bánh mì' (tiếng Uzbek non/нон) đã được chứng thực trong tiếng Ba Tư trung cổ/Pahlavi như n'n 'bánh mì, thức ăn'. Hình thức chính nó có gốc trong ngữ chi Iran; hình thái cùng nguồn gốc bao gồm tiếng Parthia ngn, tiếng Baloch nagan, tiếng Sogdia nγn-, tiếng Pashto nəγan 'bánh mì'.Hình thái naan có phân bố rộng rãi, được vay mượn từ một loạt các ngôn ngữ nói tại Trung Á và Nam Á, nơi mà nó thường dùng để chỉ một loại bánh mỳ cắt lát. Chính tả naan lần đầu tiên được chứng nhận vào năm 1979, và từ đó đã trở thành chính tả tiếng Anh bình thường." }, { "section": "Mô tả", "content": "Cách chế biến quen thuộc nhất và sẵn có của naan ở các nước phương Tây giống cách chế biến Nam Á. Tại Iran, từ ngữ căn bản khởi nguồn từ đây, nān (نان) không mang theo bất kỳ ý nghĩa đặc biệt, vì nó chỉ đơn thuần là từ ngữ chung cho bất kỳ loại bánh mì nào, cũng như ở các quốc gia Tây Á khác hoặc những nhóm dân tộc trong khu vực, chẳng hạn như giữa người Kurd, người Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan (cả Azerbaijan và Iran),... Naan tại nhiều nơi ở Nam Á thường dùng để chỉ một loại bánh mỳ cắt lát dày cụ thể (một loại bánh mỳ dẹt nổi tiếng khác là chapati). Nói chung, nó giống pita và, như bánh mỳ pita, thường cho bột nở vào với nấm men hoặc với bánh mì lên mem (bột naan lên men còn sót lại từ mẻ bánh trước đó); bột không lên men (tương tự như sử dụng cho roti) cũng được sử dụng. Naan được nấu chín bằng lò đất tandoor, từ đây cách nấu tandoori làm nên tên gọi của món. Phân biệt với roti, thường được nấu trên một vỉ sắt phẳng hoặc hơi lõm gọi là tava. Công thức nấu hiện đại đôi khi thay thế bột nổi cho nấm men. Sữa hoặc sữa chua cũng có thể được sử dụng để truyền đạt mùi vị riêng biệt cho naan. Sữa sẽ được dùng thay vì nước, khiến cho miếng bánh dễ ăn, hàm lượng bột mềm hơn. Ngoài ra, khi bánh mì lên men (trong đó có cả nấm men và lactobacilli) được sử dụng, sữa có thể trải qua quá trình lên men lactic vừa phải.\nThông thường, món ăn được phục vụ nóng và phết bơ loãng hoặc bơ. Nó có thể được dùng để ăn kèm món ăn khác, hoặc được nhồi bằng cách đổ đầy. Ví dụ, keema naan được nhồi với một hỗn hợp thịt băm nhỏ (thường là thịt cừu hoặc thịt dê); biến thể khác là peshawari naan (peshwari tại Anh). Peshawari naan và Kashmiri naan được đổ đầy với một hỗn hợp các loại quả hạch và nho khô; ở Pakistan, roghani naan được rắc hạt mè; Kulcha là một kiểu khác. Amritsari naan còn gọi là amritsari kulcha được nhồi với khoai tây nghiền, hành tây (tùy chọn) và nhiều loại gia vị. Gia vị có thể có trong bột naan bao gồm thì là và hạt mao lương. Món ăn balti tại Pakistan thường được ăn kèm với bánh naan, và được nấu bằng loại chảo karack lớn hoặc naan dọn bàn, dễ dàng chia sẻ giữa các nhóm lớn.Một công thức naan điển hình liên quan đến việc hòa trộn bột trắng với muối, một nền văn hóa nấm men, và đủ sữa chua để làm cho bột mịn, dẻo. Bột được nhào nặn vài phút, sau đó đặt sang một bên cho nở ra trong vài giờ. Sau khi nở ra, bột được vo thành những quả bóng (khoảng 100 grams hoặc 3,5 oz mỗi quả), được cán phẳng và nấu chín. Trong ẩm thực Pakistan, naan thường được tô điểm với tinh chất thơm, chẳng hạn như hoa hồng, khus (hương căn thảo), hoặc với bơ hoặc bơ loãng tan chảy vào bánh. Hạt mao lương thường được thêm vào bánh naan, cách nấu trong nhà hàng Ấn Độ trên khắp nước Anh.\nNho khô và gia vị có thể thêm vào bánh mì nhằm gia tăng hương vị. Naan cũng có thể bao phủ bằng, hoặc phục vụ như lớp bao bọc trên bề mặt món thịt, rau hay pho mát khác nhau. Phiên bản này đôi khi được chuẩn bị như thức ăn nhanh. Món bánh này cũng có thể nhúng vào súp như dal, và ăn kèm với sabzis (còn được gọi là shaakh).\nNaan bya tại Burma đôi khi phục vụ tại bữa ăn sáng với trà hoặc cà phê. Chiếc bánh tròn, mềm mại, và phồng rộp, thường phết bơ, hoặc với pè byouk (đậu luộc) bên trên, hoặc nhúng vào hseiksoup (súp thịt cừu).\nBánh pizza naan là một loại pizza mà naan được dùng như lớp vỏ thay vì bột bánh pizza truyền thống. Đầu bếp và công ty như Nigella Lawson, Whole Foods và Wegmans cung cấp công thức nấu cho người dân để làm naan bánh pizza của mình tại nhà." }, { "section": "Món bánh naan kẹp thịt", "content": "Bánh naan kẹp thịt là một loại bánh hamburger ăn kèm bánh mỳ naan. Bánh naan burger có thành phần rất tương tự như bánh mì kẹp thịt bình thường, nhưng đôi khi được chế biến bằng thịt xông khói. Việc dùng bánh mỳ cắt lát tạo ra một trải nghiệm hương vị khác nhau từ bánh kẹp thịt làm từ bánh mỳ. Một số bánh naan kẹp là món chay, không chứa thịt." } ]
Bánh tôm Hồ Tây
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_t%C3%B4m_H%E1%BB%93_T%C3%A2y
[ { "section": "summary", "content": "Bánh tôm Hồ Tây là một trong các món ăn nổi tiếng của Hà Nội. Chúng được làm từ nguyên liệu là những con tôm càng sông hay tôm càng Hồ Tây đặc trưng." }, { "section": "Cách làm", "content": "Tôm (nước ngọt) hồ Tây bọc bột mì cho vào chảo mỡ nóng già ngập bánh cho chín tới. Khi bánh phồng lên và ngả màu vàng có bốc mùi thơm ngậy. Gắp bánh gác lên hai que đũa xếp ngang chảo cho ráo mỡ.\nĂn bánh nóng cùng với nước chấm vị chua, ngọt và cay, thêm chút dưa góp (đu đủ và cà rốt thái nhỏ ngâm giấm).\nBánh tôm giòn, mềm và ngọt, ăn cùng xà lách hoặc rau thơm, có thể thêm bún rối và rất hợp với bia." }, { "section": "Sự phát triển", "content": "Hà Nội những năm 1970-1980 đã có hàng bán bánh tôm của quốc doanh nằm trên đường Thanh Niên, phía bên hồ Trúc Bạch. Lúc đó nơi đây là địa điểm vui chơi giải trí, bánh tôm Hồ Tây đã đi vào ký ức nhiều thế hệ.\nSang cuối những năm 1980, đời sống được nâng lên đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình dịch vụ khác. Hàng bánh tôm Hồ Tây đã không còn chiếm vị trí độc tôn nữa trong lựa chọn của thực khách.\nHiện nay, rất nhiều quán quanh Hồ Tây cũng làm và bán bánh tôm" } ]
Cao quy linh
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_quy_linh
[ { "section": "summary", "content": "Cao quy linh (tiếng Trung: 龜苓膏; phiên âm Hán-Việt: quy linh cao) hay còn là quy phục linh (龜伏苓), thạch rùa, thạch đồi mồi (dù không đúng về mặt bản chất) là một loại thuốc Đông y dạng thạch, cũng được phục vụ như món tráng miệng, là đặc sản của người Hoa vùng Ngô Châu (Quảng Tây), đồng thời cũng là món ẩm thực truyền thống của vùng Lưỡng Quảng. Theo truyền thống, cao quy linh được làm từ hai thành phần chủ yếu là thổ phục linh (Smilax glabra), bột của mai rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata) phơi khô nghiền ra, cam thảo cùng một số thành phần khác. Mặc dù rùa hộp ba vạch ngày nay được nuôi để bán ở Trung Quốc, giá của chúng cũng vô cùng đắt, và cũng do loài này đang bị đe dọa tuyệt chủng, nên thay vào đó họ thường sử dụng mai ba ba hoặc các loại rùa khác thay thế.\nThông thường hơn, các loại quy linh cao được buôn bán phổ thông như một món tráng miệng mà không chứa bột vỏ rùa, mặc dù tên sản phẩm và hình ảnh rùa nổi bật trên bao bì của hầu hết các nhãn hiệu. Tuy nhiên, họ cũng thêm vào cùng các loại thảo dược như một loại thuốc và quảng cáo tương tự như vị thuốc tốt cho da.Cao quy linh giống rau câu, có vị hơi đắng, màu đen, mềm và dai hơn rau câu. Cao quy linh được cho là có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị mụn, tốt cho da; khi ăn thường được dùng với mật ong hoặc sữa để bớt vị đắng." } ]
Hotteok
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hotteok
[ { "section": "summary", "content": "Hotteok là một loại bánh rán Hàn Quốc rất đa dạng, và là thức ăn đường phố nổi tiếng của Triều Tiên. Nó thường được dùng trong suốt mùa đông." }, { "section": "Chuẩn bị", "content": "Phần bột của hotteok được làm từ bột mì, nước, sữa, đường, và men. Bộ được ủ trong vài giờ. Phần bột được trộn với hỗn hợp gồm đường nâu, mật ong, đậu phộng giã nhuyễn, và quế. Phần bột được đặt trên một vỉ nướng bôi dầu, và được ép thành một vòng tròn lớn bởi dụng cụ đặc biệt với khung tròn bằng sắt và tay cầm bằng gỗ.Ở Hàn Quốc, hỗn hợp hotteok trộn sẵn được bán dưới dạng bao bì nhựa. Hỗn hợp còn đi kèm với nhân đường nâu và đậu phộng hoặc vừng." }, { "section": "Nguồn gốc", "content": "Người ta tin rằng hotteok có nguồn gốc từ thương gia Trung Quốc nhập cư vào Hàn Quốc cuối thế kỉ 19. Không giống hầu hết bánh Trung Quốc thường trộn thêm nhân thịt, hotteok được trộn với nhân ngọt, cho phù hợp với khẩu vị người Hàn Quốc." }, { "section": "Đa dạng", "content": "Các loại hotteok vẫn tiếp tục thay đổi mặc dù nhân truyền thống của nó là quế và đậu phộng. Rất nhiều biến thể được phát triển từ đầu thế kỉ 21, như hotteok trà xanhphoto, bokbunja hotteok hồng, hotteok bắp...\nSản phẩm \"hotteok\" thương mại được phát triển và bán ra bởi công ty \"Samyang\", \"Ottogi\" và \"CJ\". Sản phẩm được thiết kế có thể nấu tại nhà." }, { "section": "Dinh dưỡng", "content": "Hotteok thường được dùng trong suốt mùa đông. Do hàm lượng đường cao, một cái hotteok có thể hơn 230 calo." }, { "section": "Liên kết", "content": "Hai biến thể của hotteok\nCông thức Hotteok Lưu trữ 2015-05-02 tại Wayback Machine\nCông thức Hotteok\nCông thức Hotteok với video\nChủ đề về nguồn gốc của Hotteok và Hobbang (tiếng Hàn)" } ]
Chuối tách
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu%E1%BB%91i_t%C3%A1ch
[ { "section": "summary", "content": "Chuối tách là một món tráng miệng làm từ kem của Mỹ bao gồm một quả chuối lột vỏ được cắt đôi theo chiều dọc và ăn kèm với kem và nước sốt giữa hai miếng chuối. Có nhiều biến thể, nhưng chuối tách kiểu cổ điển được làm với ba muỗng kem (mỗi muỗng có vani, sô cô la và dâu tây). Nước sốt gồm hỗn hợp sô cô la, dâu tây và dứa là truyền thống được nhỏ vào kem, phủ kem tươi và quả anh đào maraschino. Có thể thêm vào các loại hạt nghiền (thường là đậu phộng hoặc quả óc chó) tùy ý muốn người dùng.Phần chuối tách ban đầu được làm bằng ba muỗng kem có chứa hương vị khác nhau, phủ trái cây và phục vụ trên một quả chuối được tách theo chiều dọc ở giữa. Công thức ban đầu sử dụng dâu tây, quả mâm xôi và dứa nghiền với xi-rô marshmallow, các loại hạt cắt nhỏ và anh đào đen.Nước sốt marshmallow của Strickler không còn được sử dụng làm lớp phủ trên nữa. Lớp trên cùng theo kiểu truyền thống được sử dụng trong món chuối tách ngày nay bao gồm dứa, dâu tây và sốt sô cô la, kem tươi, các loại hạt và anh đào. Mặt khác, nước sốt caramel là một loại nước sốt phi truyền thống được sử dụng trong các biến thể sau này của món chuối tách kiểu cổ điển.Các biến thể của kiểu cổ điển có thể sử dụng loại chuối nướng, thử nghiệm với các hương vị khác nhau của kem như dừa hoặc cà phê, hoặc loại gia vị như caramel muối và bánh nướng bơ nóng." } ]
Nước xốt cà chua
https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_x%E1%BB%91t_c%C3%A0_chua
[ { "section": "summary", "content": "Nước xốt cà chua (ketchup) là loại nước sốt để bàn. Mặc dù công thức ban đầu sử dụng lòng trắng trứng, nấm, hàu, nho, sò, hoặc quả óc chó, gồm một số các thành phần khác, công thức hiện đại không thay đổi đề cập đến tomato ketchup tại Mỹ." }, { "section": "Thành phần", "content": "Những thành phần cơ bản của ketchup là: cà chua, giấm, đường, muối, hạt tiêu, đinh hương, có thể cho thêm quế (với vị của Hoa Kỳ nhưng không phổ biến ở châu Âu); hành, cần tây (với vị của vùng Địa Trung Hải) và một số gia vị khác (chẳng hạn oregano, basil). Với những người sành ăn, ketchup phải được sản xuất từ một loại cà chua đặc biệt, loại Solanum pennellii ngày nay mang tên Lycopersicon pennellii, đó là một loại cà chua ngọt. Nhưng về cơ bản, đa phần người ta dùng cà chua Lycopersicum esculentum thêm đường để sản xuất ketchup.\nKhông phải luôn luôn ketchup được tạo ra từ cà chua. Ban đầu nó dùng để chỉ \"nước sốt\", điển hình làm từ nấm hay nước mắm cùng với thảo dược và nhiều gia vị khác. Một vài thành phần chính được bổ sung: cá trồng, dầu ăn, tôm hùm, đậu ngắn, dưa chuột, nam việt quất, chanh, nho..." }, { "section": "Phân loại", "content": "Ở châu Âu và Mỹ có ba loại chính:" }, { "section": "Ngành công nghiệp", "content": "Hai công ty có công đầu trong việc thịnh hành và kinh doanh ketchup ở Mỹ là H. J. Heinz Company (với hiệu là Heinz) và ConAgra Foods (với hiệu là Hunt's).\nNgoài ra cũng có rất nhiều nhãn hiệu khác, và tất nhiên ketchup thượng hạng vẫn là những sản phẩm thủ công, với những quả cà chua chín mọng vừa được thu hoạch, và người ta thêm nếm một ít đường, một it muối và những gia vị hợp lý (hành tây, tiêu, dấm), sau đó là xay nhuyễn và cô đặc cùng với lửa nhỏ." } ]
Red velvet (bánh ngọt)
https://vi.wikipedia.org/wiki/Red_velvet_(b%C3%A1nh_ng%E1%BB%8Dt)
[ { "section": "summary", "content": "Theo truyền thống, red velvet là loại bánh chocolate nhiều lớp có màu đỏ, nâu đỏ, đỏ thẫm hoặc đỏ tươi, chia lớp bởi lớp kem phủ bằng cream cheese hoặc ermine trắng. Công thức làm bánh truyền thống không có chất tạo màu; màu đỏ ban đầu có được từ loại ca cao không chế biến theo kiểu Hà Lan, giàu anthocyanin.Các nguyên liệu thường gặp bao gồm buttermilk, bơ, ca cao, giấm, và bột mì. Củ dền hoặc màu thực phẩm đỏ có thể được sử dụng để tạo màu." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Bánh velvet được cho là bắt nguồn từ thời Victoria. Trong thời đại đó, họ phục vụ bánh velvet như một món tráng miệng lạ mắt. Thuật ngữ \"velvet\" (\"nhung\") là một cách mô tả được sử dụng nhằm cho người tiêu dùng biết món tráng miệng là một loại bánh mềm và mịn. Trong thời gian đó, loại bánh devil's food được giới thiệu, đó là cách mà một số người tin rằng loại bánh red velvet xuất hiện. Sự khác biệt giữa hai loại bánh là bánh devil's food sử dụng chocolate, và red velvet sử dụng ca cao.Khi thực phẩm được chia khẩu phần trong Thế chiến II, các thợ làm bánh đã sử dụng nước ép củ dền đun sôi để tăng độ đậm màu sắc cho bánh của họ. Củ dền được tìm thấy trong một số công thức của red velvet. Củ dền đã và đang được sử dụng trong một số công thức để làm chất độn hoặc để giữ độ ẩm. Adams Extract, một công ty từ Texas, \nđược cho là đã mang red velvet đến các nhà bếp trên khắp nước Mỹ trong thời kỳ Đại suy thoái, bằng việc là một trong những người đầu tiên phân phối màu thực phẩm đỏ và chiết xuất hương vị khác với việc sử dụng áp phích tại quầy thanh toán và các thẻ công thức xé rời được.Bánh và công thức ban đầu của nó nổi tiếng ở Hoa Kỳ từ Khách sạn Waldorf-Astoria nổi tiếng của thành phố New York, nơi nó được mệnh danh là bánh Waldorf-Astoria. Tuy nhiên, nó được coi là một công thức tới từ miền Nam. Theo truyền thống, red velvet được phủ với kem bơ roux kiểu Pháp (còn gọi là kem phủ ermine), rất nhẹ và mịn, nhưng tốn nhiều thời gian để chuẩn bị. Kem phủ từ pho mát kem (cream cheese) cũng như từ kem bơ là những biến thể ngày càng phổ biến.Tại Canada, loại bánh này là một món tráng miệng nổi tiếng trong các nhà hàng và tiệm bánh của chuỗi cửa hàng bách hóa Eaton's vào những năm 1940 và 1950. Được quảng bá như một công thức độc quyền của Eaton, với những nhân viên biết công thức tuyên thệ giữ im lặng, nhiều người đã lầm tưởng rằng chiếc bánh là phát minh của bà chủ cửa hàng bách hóa, Lady Eaton.Trong những năm gần đây, các loại bánh red velvet cũng như các loại red velvet cupcake trở nên ngày càng phổ biến tại Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu khác. Việc tái phổ biến trở lại của loại bánh này được một số người cho là bắt nguồn từ bộ phim Steel Magnolias (1989), trong đó có một chiếc bánh cưới red velvet cho chú rể (groom's cake) với hình dáng một con trút. Magnolia Bakery ở Manhattan đã phục vụ món bánh này kể từ khi khai trương vào năm 1996, cũng như các nhà hàng nổi tiếng với phong cách ẩm thực miền Nam Hoa Kỳ như Amy Ruth's ở Harlem, khai trương năm 1998. Năm 2000, Cake Man Raven đã mở một trong những tiệm bánh đầu tiên dành cho loại bánh này ở Brooklyn." }, { "section": "Nguyên liệu", "content": "Nguyên liệu tạo nên red velvet thay đổi khác nhua tùy thuộc vào thời đại và vùng miền trên thế giới. Tài liệu tham khảo của James Beard, American Cookery (1972), mô tả ba loại bánh red velvet khác nhau theo lượng mỡ trừu (shortening), bơ, và dầu thực vật, tất cả đều dùng màu thực phẩm đỏ. Phản ứng của giấm có tính axit và buttermilk có xu hướng giúp anthocyanin đỏ trong ca cao tiết ra nhiều hơn và giữ cho bánh ẩm, nhẹ và mịn. Cách nhuộm màu tự nhiên này có thể là nguồn gốc của tên gọi \"red velvet\" (\"nhung đỏ\"), cũng giống như \"devil's food cake\" (\"thức ăn của quỷ\") và các tên gọi bánh chocolate tương tự. Ngày nay, chocolate thường trải qua quá trình chế biến kiểu Hà Lan, điều này ngăn trở sự thay đổi màu sắc của anthocyanin. Một quá trình tái cấu trúc đã diễn ra với red velvet ban đầu liên quan đến việc giảm thiểu hoặc loại bỏ giấm và chất tạo màu, và sử dụng ca cao không chế biến theo kiểu Hà Lan để cung cấp độ axit và màu sắc cần thiết." }, { "section": "Các biến thể", "content": "Ngoài nhiều biến thể của red velvet, còn có nhiều sản phẩm có hương vị giống như red velvet, bao gồm bột protein, trà, các loại latte, Pop-Tarts, bánh quế và đồ uống có cồn. Mùi hương của bánh cũng được sử dụng cho nến và xịt thơm phòng. Đối với các hạn chế về chế độ ăn uống, chẳng hạn như những người bị dị ứng và nhạy cảm với các thành phần, cũng có các biến thể dành cho người ăn kiêng thuần chay, không gluten và không chứa sữa." } ]
Marshmallow
https://vi.wikipedia.org/wiki/Marshmallow
[ { "section": "summary", "content": "Marshmallow là một loại kẹo dạng dẻo như cao su với thành phần chính là đường, nước và gelatin, phẩm màu, một số còn có trứng (albumin) và các phụ gia khác. Marshmallow tự nhiên thường có màu trắng và chỉ bao gồm 2 thành phần chính là đường và gelatin.\nVị ngọt của marshmallow chủ yếu là do đường sucrose (còn gọi là đường mía). Khác với loại đường trắng tinh luyện dùng trong ăn uống hàng ngày, loại đường này không bị mất đi các khoáng chất như calci, magnesi, kali và sắt. Có thể ăn trực tiếp kẹo marshmallow hoặc kết hợp với đồ uống, hay dùng để trang trí bánh ngọt, nướng kèm với bánh quy xốp và socola. Khi cho vào bánh ngot, marshmallow tạo độ dai và mềm cho bánh." } ]
Aburaage
https://vi.wikipedia.org/wiki/Aburaage
[ { "section": "summary", "content": "Aburaage (油揚げ, abura-age hoặc aburage) là một loại thực phẩm của Nhật Bản có nguồn gốc từ đậu tương. Món ăn này được chế biến bằng cách cắt đậu phụ thành những miếng mỏng và chiên ngập dầu chúng hai lần, lần đầu ở nhiệt độ 110–120 °C, và lần tiếp theo ở 180–200 °C. Aburaage thường được sử dụng để gói inari-zushi (稲荷寿司, inari-zushi), và được thêm vào món súp miso. Nó cũng được thêm vào trong mì udon, được gọi là kitsune-udon vì những truyền thuyết rằng loài cáo (kitsune) rất thích loại đậu phụ chiên ngập dầu. Aburaage cũng có thể được nhồi, ví dụ với nattō, trước khi chiên lại lần nữa. Có một phiên bản dày hơn được gọi là atsu-age (厚揚げ, atsu-age) hoặc nama-age (生揚げ, nama-age).\nNgười Nhật Bản là những người đầu tiên phát triển loại thực phẩm dạng bọc lấy từ vỏ đậu phụ chiên. Tuy nhiên, rất ít thông tin được tìm thấy về lịch sử ban đầu của chúng. Cuốn Tofu Hyakuchin (Đậu phụ bách trân) năm 1782 (Abe 1972) đưa ra một công thức của đậu phụ chiên ngập dầu, nhưng không rõ loại đậu phụ này có căng phồng lên như loại bọc bằng đậu phụ không. Bọc đậu phụ xuất hiện sớm nhất vào năm 1853, khi món inari-zushi (bọc đậu phụ được nhồi bằng cơm nấu với giấm) bắt đầu xuất hiện (Ichiyama 1968). Do thuận tiện với việc lưu trữ thực phẩm trong khoảng thời gian dài, lại nhẹ nhàng, cùng với sự phức tạp trong chế biến, loại bọc đậu phụ này thích hợp với việc sản xuất trong các nhà máy và phân phối rộng rãi theo quy mô lớn. Tới năm 1974, các nhà máy lớn đã sử dụng tới hai tấn đậu tương mỗi ngày để tạo ra 116.600 chiếc bọc đậu phụ. Tới năm 1980, các nhà máy hiện đại quy mô lớn có năng suất lên tới 300.000 tới 450.000 bọc mỗi ngày bằng phương thức chế biến chiên ngập dầu qua băng tải. Tại thời điểm hiện tại, khoảng một phần ba sản lượng đậu tương dùng cho chế biến đậu phụ ở Nhật là dành cho đậu phụ chiên ngập dầu, và ước chừng 85% trong số chúng được chế biến thành bọc đậu phụ.\nTrong thần thoại Nhật Bản, aburaage là món ăn yêu thích của Kitsune và thần Inari." } ]
Tōfu Hyakuchin
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C5%8Dfu_Hyakuchin
[ { "section": "summary", "content": "Tōfu Hyakuchin (豆腐百珍, Đậu phụ bách trân) là cuốn sách dạy nấu ăn của Nhật Bản được xuất bản vào năm 1782 dưới thời Edo. Tên tác giả được gọi là Seikyōdōjin Kahitsujun (醒狂道人 何必醇, Tỉnh Cuồng Đạo Nhân Hà Tất Thuần); người ta cho rằng tên thật của ông là Sodani Gakusen (曽谷学川, Tăng Cốc Học Xuyên) (1738–1797), thợ khắc con dấu quê quán ở Osaka. Tác phẩm liệt kê tới 100 công thức chế biến đậu phụ. Do sách này được phổ biến rộng rãi mà tác giả cho ra mắt hai tập kế tiếp có nhan đề Tōfu Hyakuchin Zokuhen (豆腐百珍続編, Đậu phụ bách trân tục biên) và Tōfu Hyakuchin Yōroku (豆腐百珍余録, Đậu phụ bách trân dư lục)." } ]
Rượu ngô Bản Phố
https://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_ng%C3%B4_B%E1%BA%A3n_Ph%E1%BB%91
[ { "section": "summary", "content": "Rượu ngô Bản Phố hay còn gọi là rượu ngô Bắc Hà là một thứ rượu ngon đặc sản của người H'Mong và người Dao ở Bản Phố, cao nguyên Bắc Hà, Lào Cai. Cùng với rượu Táo Mèo và rượu San Lùng, rượu ngô Bản Phố là loại rượu nổi tiếng của Lào Cai.\nRượu ngô Bản Phố nấu từ nước lấy từ suối Hang Dế. Ngô dùng nấu rượu Bản Phố không phải trồng ở nương rẫy hoặc thung lũng, mà ở trên núi đá cao heo hút, đặc biệt là giống ngô vàng trồng ở xã Lùng Phình (Bắc Hà) cho ra nhiều rượu có hương thơm nồng rất ngon. Sau khi thu hoạch, ngô được giữ nguyên bắp, phơi khô và bảo quản để nấu rượu dần. Bí quyết tạo nên sự khác biệt của rượu ngô Bản Phố với các loại rượu khác là lên men bằng bột bông của cây \"pa\", còn gọi là cây Hồng Mi(?)" } ]
Kem xoài
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kem_xo%C3%A0i
[ { "section": "summary", "content": "Kem xoài, còn gọi là sorbetes xoài, là một loại hương vị kem Philippines được chế biến bằng cách sử dụng xoài Philippines chín nghiền thành bột hoặc xay nhuyễn. Đây là một trong những hương vị phổ biến nhất của món kem sorbetes truyền thống, do có rất nhiều xoài ở quần đảo này.Hương vị này cũng đã được chuyển thể thành kem thương mại thông thường ở Philippines, bao gồm Magnolia (không liên kết với thương hiệu Magnolia của Mỹ) và Selecta, và đã lan rộng ra các quốc gia khác." } ]
Nước sốt thịt nướng
https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_s%E1%BB%91t_th%E1%BB%8Bt_n%C6%B0%E1%BB%9Bng
[ { "section": "summary", "content": "Nước sốt thịt nướng (viết tắt thành sốt BBQ) là loại nước sốt được dùng trong ướp, phết, phụ gia hoặc ăn kèm với thịt nướng. Đây là một loại gia vị phổ biến ở miền Nam Hoa Kỳ và sử dụng cho nhiều loại thực phẩm khác nhau.Các thành phần của nước sốt rất da dạng, nhưng hầu hết đều phải có giấm, tương cà chua hoặc sốt mayonnaise (hay một hỗn hợp tương tự khác) làm chất nền, cũng như nước khói, bột hành tây, gia vị mù tạc, tiêu đen và chất ngọt đường hoặc mật đường." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Một số quan điểm cho rằng nước sốt thịt nướng đã xuất hiện tại Mỹ từ thế kỷ 17. Nước sốt cũng được đề cập trong cả văn học Anh và Pháp khoảng hơn hai trăm năm sau đó. Sốt mù tạc Nam Carolina, một loại nước sốt thịt nướng, được cho là bắt nguồn từ những người định cư Đức vào thế kỷ 18.Nước sốt thịt nướng tự làm ban đầu có nguyên liệu chủ yếu là giấm, muối và tiêu đen. Đường, nước sốt cà chua và sốt Worcestershire bắt đầu được sử dụng vào những năm 1920, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng đường và nguyên liệu thêm vào đã gia tăng đáng kể.Nước sốt thịt nướng được bán ra thị trường lần đầu bởi Công ty Nước sốt thịt nướng Georgia tại Atlanta vào năm 1909. Heinz là doanh nghiệp lớn đầu tiên bán nước sốt thịt nướng đóng chai vào năm 1940. Ngay sau đó, General Foods đã cho ra mắt sản phẩm \"Open Pit\". Dù chỉ mới tham gia thị trường vào khoảng những năm 1960, Kraft Foods nhanh chóng trở thành công ty dẫn đầu nhờ sự quảng cáo rầm rộ. Kraft cũng bắt đầu sản xuất dầu ăn đa dụng đi kèm với các túi gia vị để làm nước sốt thịt nướng." } ]
Bít tết quay
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ADt_t%E1%BA%BFt_quay
[ { "section": "summary", "content": "Bít tết quay là một món ăn truyền thống của Anh, gồm thịt bò được đem đi quay. Về cơ bản nó là một món chính, nhưng những miếng thịt thừa cũng thường được sử dụng với bánh mì hoặc băm nhỏ. Ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Canada, Ireland, Nam Phi, New Zealand và Úc, bít tết quay là một trong những loại thịt truyền thống được phục vụ vào bữa trưa hoặc bữa tối Chủ nhật, mặc dù nó cũng thường được phục vụ như một loại thịt nguội trong các cửa hàng thức ăn ngon, thường có trong bánh sandwich. Một món ăn phụ truyền thống của bít tết quay là bánh pudding Yorkshire.\nBít tết quay là món ăn quốc gia đặc trưng của Anh và mang ý nghĩa văn hóa đối với người Anh, có trong bản ballad năm 1731 \"The Roast Beef of Old England\"." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Mặc dù vậy, bít tết quay thường không được tiêu thụ ở nước Anh thời trung cổ: \"không có bữa tiệc thời trung cổ nào có... bít tết quay, ngay cả ở Anh\"." }, { "section": "Nghệ thuật ẩm thực", "content": "Sandwich bít tết weck là một món ăn truyền thống ở phía tây New York, có từ đầu những năm 1800. Bít tết quay thỉnh thoảng được ăn kèm với cải ngựa hoặc nước sốt cải ngựa. Ở Đan Mạch, nó chủ yếu được ăn chung bánh sandwich trần, được gọi là smørrebrød." }, { "section": "Sandwich bít tết quay", "content": "Sandwich bít tết quay thường bao gồm bánh sandwich, bít tết quay nguội (hay thức ăn thừa từ bữa tối hoặc thịt nguội), rau diếp, cà chua và mù tạt, mặc dù việc món ăn sử dụng các nguyên liệu như pho mát, cải ngựa, ớt tươi/bột, và hành tím không phải là hiếm." } ]
Tất niên
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A5t_ni%C3%AAn
[ { "section": "summary", "content": "Tất niên hay cúng tất niên, lễ tất niên, tiệc tất niên là một nghi thức nhằm ghi nhận việc kết thúc một năm và chuẩn bị bước sang năm mới. Tất niên có thể là một bữa tiệc tất niên, liên hoan cuối năm để bước sang năm mới (Tết Tây) và là một phần trong nghi thức Tết diễn ra vào những ngày cuối năm âm lịch, từ ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu) được gọi là ngày tất niên. Đây là ngày các thành viên trong gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Ngoài ra, tùy vào phong tục tập quán ở mỗi vùng, việc cúng tất niên có thể được gia chủ mời thêm bạn bè và người thân đến dự.\nTất niên thường diễn ra vào buổi chiều và buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên sau đó dọn tiệc mời khách đến dự. Tất niên là lúc mọi người quây quần bên nhau và bên những món thức ăn và cùng chào đón đêm trừ tịch, giao thừa và năm mới là một phong tục tập quán lâu đời của người dân nhiều quốc gia. Riêng đối người Việt Nam, nó mang nét đẹp văn hóa lâu đời của người Việt Nam." }, { "section": "Đặc điểm", "content": "Ngày tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 Tháng giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, nó được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thường làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang không nơi nương tựa.\nMâm lễ cúng tất niên tùy theo điều kiện gia đình cũng như phong tục tập quán mỗi vùng có thể thịnh soạn hay thanh đạm, tuy nhiên một số thành phần bắt buộc phải có khi cúng theo phong tục của người Việt Nam gồm: hương hoa, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng, cỗ mặn được bầy biện đầy đặn, trang nghiêm.\nSắp dọn bàn thờ. Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, Mặt Trăng và hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng. Phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Có nhà cũng cắm \"cành vàng lá ngọc\" (một thứ hàng mã) với sự cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc và buôn bán lãi gấp nhiều lần năm trước. Ở giữa có trục \"vũ trụ\" là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu và vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen hai cái đĩa giữa đèn và hương để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó). Trước bát hương để một bát nước trong để coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.\nVì Tất niên luôn có ý nghĩa tích cực trong đời sống của người Việt Nam ta nên phần lớn các công ty, xí nghiệp, thương nghiệp, hội đoàn thường tổ chức tiệc tất niên vào buổi chiều hay buổi tối cuối năm để ăn mừng công việc, những dự án thành công, sự phát triển, tăng trưởng của công ty trong năm vừa qua, đồng thời, chào đón năm mới đang đến gần. Chính vì thế, đối với dân kinh doanh hay công sở, tiệc tất niên còn là cơ hội để bạn gặp gỡ, giao lưu với các đồng nghiệp, nhất là những đồng nghiệp ở phòng khác rất ít khi gặp mặt.\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Công ty Liên Thành
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ty_Li%C3%AAn_Th%C3%A0nh
[ { "section": "summary", "content": "Liên Thành Thương Quán, tên đăng ký tiếng Pháp: Société de Lien Thanh, hay được biết với tên thông dụng là Công ty Liên Thành, là một tổ chức kinh doanh do các sĩ phu yêu nước ở Bình Thuận sáng lập vào năm 1906 để hưởng ứng phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng tại Trung Kỳ. Tên Liên Thành được lựa chọn với ngụ ý bảo tồn truyền thống, có ý nghĩa là thành hoa sen, nguyên là tên cũ của tỉnh Bình Thuận, xuất phát từ một hồ sen nằm ở quận Hoà Đa.\nTrên phương diện lịch sử, Công ty Liên Thành đánh dấu sự hình thành của chủ nghĩa tư sản dân tộc ở Việt Nam, khởi nguồn từ tinh thần dân tộc rồi sau đó chuyển đổi sang tinh thần thực nghiệp Tây phương. Đây cũng là công ty Việt Nam có lịch sử tồn tại dài trên 100 năm và vẫn còn hoạt động cho đến tận ngày nay." }, { "section": "Lịch sử ra đời và phát triển", "content": "Liên Thành Thương Quán ban đầu được Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (là hai con trai nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông), Ngô Văn Nhượng, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất lập nên, nguyên đặt trụ sở Tổng cuộc ở làng Thành Đức, nay là di tích số 306 Trần Hưng Đạo, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.\nTương ứng với cương lĩnh hành động 3 điểm \"Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh\" của phong trào Duy Tân hồi bấy giờ, Liên Thành Thương Quán là một trong 3 tổ chức có các chức năng văn hoá - chính trị - kinh tế gắn liền nhau:\n\nDục Thanh Học hiệu: được thành lập năm 1907, dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ.\nLiên Thành Thư xã: được thành lập năm 1905 để truyền bá các sách báo có nội dung yêu nước.\nLiên Thành Thương quán: được thành lập ngày 6 tháng 6 năm 1906 để làm kinh tế gây quỹ hoạt động, đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân dân.Vào lúc đó, do các ngành nghề chính trong nền công nghiệp và nền thương mại của Đông Dương đều do tư bản Pháp và Hoa kiều lũng đoạn, nên Liên Thành Thương Quán lựa chọn sản xuất và kinh doanh nước mắm - là ngành nghề kinh doanh nhỏ, chưa nằm trong tay tư bản nước ngoài. Ngoài nước mắm, Liên Thành Thương Quán còn kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn, buôn bán thuốc bắc, vải vóc ở thời gian trước năm 1922.\nTrong thời gian ban đầu mới thành lập, nhờ có sự ủng hộ của những người có cảm tình với phong trào Duy Tân, cũng như viên công sứ Pháp tại Bình Thuận là Claude Leon Lucien Garnier có tư tưởng Dân quyền, nên Liên Thành có điều kiện phát triển trong vài năm đầu tiên. Năm 1909, Liên Thành Thương Quán thuê ngôi nhà số 1/2/3 Quai Testard và mở phân cuộc kinh doanh ở Sài Gòn. Năm 1911, Nguyễn Trọng Lợi qua đời, Hồ Tá Bang thay thế ở chức vụ Tổng lý - tức Giám đốc. Ông đã khéo léo xoay xở để đưa công ty vượt qua quãng thời gian khó khăn, lúc phong trào Duy Tân bị đàn áp và Liên Thành bị liên tục gây khó dễ.\nNăm 1917, Nguyễn Quý Anh được bầu làm Tổng lý, còn Hồ Tá Bang đảm nhiệm Nghị trưởng (Chủ tịch Hội đồng Quản trị) và chính thức dời Tổng cuộc vào Chợ Lớn, lại mua thêm một lô đất ở Khánh Hội xây vựa chứa nước mắm. Lúc này, vốn của Công ty đã lên đến 93'200 đồng bạc Đông Dương. Đến năm 1919, Nguyễn Quý Anh giao lại trách nhiệm Tổng lý cho Trần Lệ Chất, và Trần Lệ Chất đã tiếp tục đưa Liên Thành sang một thời kỳ phát triển rực rỡ.\nNăm 1922, công ty xây dựng trụ sở ở Khánh Hội và dời Tổng cuộc từ Chợ Lớn về đây. Trong cùng năm, nước mắm Liên Thành tham gia đấu xảo ở Marseille, Pháp và tạo ra tiếng vang lớn. Từ sau đó, công ty Liên Thành dần mở rộng mạng lưới gồm các phân cuộc ở tỉnh lỵ Phan Thiết, Phú Hài (Phan Thiết), Mũi Né, Hưng Long (Phan Thiết), Phan Rí, Hội An, với địa bàn phân phối nước mắm ở nhiều tỉnh miền Trung và miền Nam, phủ qua cả Campuchia và cả ở châu Âu.\n\nNăm 1960, Liên Thành xây dựng một nhà máy sản xuất phân bón không mùi từ xác cá tại Phú Hài, Phan Thiết. Trong ngành sản xuất nước mắm, đây là một phát kiến quan trọng để tận thu phế phẩm. Sản phẩm phân bón Phú Hài nhanh chóng được các nhà vườn Đà Lạt chấp nhận tiêu thụ.\nSau khi Trần Lệ Chất mất năm 1969, ông Huỳnh Văn Dậu giữ trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị cho đến khi ông đồng ý hiến công ty cho Nhà nước vào năm 1979 với điều kiện là giữ lại tên Liên Thành cùng với bàn thờ 6 cụ tổ sáng lập. Công ty cũng thực hiện việc chi trả cổ tức và cổ phần cho các cổ đông cũ trước khi chuyển sang sở hữu nhà nước.Sau khi được quốc hữu hoá, các phân cuộc của Liên Thành ở các tỉnh được chuyển đổi thành các cơ sở nước mắm quốc doanh ở địa phương, nhà máy phân bón Phú Hài chuyển thành Xí Nghiệp Quốc doanh Phân bón Phú Hài, còn cơ sở chính của Liên Thành ở Sài Gòn được gộp chung với 9 doanh nghiệp sản xuất nước mắm tư nhân trên địa bàn thành Xí nghiệp Quốc doanh nước mắm Liên Thành, đến năm 1990 thì đổi thành Xí nghiệp Chế biến Thủy hải sản Liên Thành. Năm 2001, theo chủ trương của Nhà nước, Xí nghiệp Chế biến Thủy hải sản Liên Thành được cổ phần hoá và sau đó đổi tên thành Công ty Cổ phần Chế biến Thủy hải sản Liên Thành cho đến ngày nay." }, { "section": "Liên Thành Thương Quán - Dấu ấn lịch sử", "content": "Liên Thành Thương Quán đã giúp đỡ Nguyễn Tất Thành - tức Chủ tịch Hồ Chí Minh - trong quá trình từ Phan Thiết vào Sài Gòn và lên tàu ra nước ngoài. Năm 1911, Nguyễn Tất Thành được ông Hồ Tá Bang, Trần Lệ Chất giúp đỡ từ Phan Thiết vào Sài Gòn với giấy thông hành tên Văn Ba, đồng thời bố trí cho Nguyễn Tất Thành ở lại ở trụ sở phân cuộc Chợ Lớn ở 1/2/3 Quai Testard. Ngôi nhà này nay là Di tích Lịch sử Nguyễn Tất Thành ở số 5 Châu Văn Liêm, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Liên Thành Thương Quán còn hỗ trợ tài chính cho Nguyễn Tất Thành trước khi lên tàu sang Pháp.\nTrong thời gian từ khi sáng lập đến năm 1975, Công ty Liên Thành được ghi nhận đã có nhiều đóng góp tài chính cho phong trào Duy Tân, phong trào Đông Du, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam." } ]
Bánh gối
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_g%E1%BB%91i
[ { "section": "summary", "content": "Bánh gối (hay ở Trung Bộ gọi là bánh quai vạc và Nam Bộ gọi là bánh xếp) là một loại bánh của Việt Nam. Tránh nhầm sang bánh há cảo rán của Trung Quốc (Hán Việt: oa thiếp) và bánh Du giác; khi ăn bánh vẫn còn giòn tan như cái giòn của vỏ bánh và giàu hương vị. Bánh gối được biết tới lần đầu tại Hải Phòng và Hà Nội trước năm 1955, nghĩa là bánh gối xuất hiện như một món ăn vặt cùng thời điểm với những bánh chín tầng mây, quẩy, há cảo,..." }, { "section": "Biến tấu", "content": "Bánh gối cà ri (tiếng Mã Lai: Karipap, Epok-epok; tiếng Trung: 咖哩角,咖哩饺; bính âm: gālí jiǎo; tiếng Thái: กะหรี่ปั๊บ, RTGS: karipap) là một chiếc bánh nhỏ bao gồm cà ri với thịt gà và khoai tây trong vỏ bánh chiên giòn hoặc nướng. Cà ri khá dày để ngăn không cho nó chảy ra khỏi vỏ bánh.\nLà món ăn nhẹ phổ biến ở Malaysia và Singapore, bánh \ngối cà ri là một trong những loại với các loại nhân khác nhau, mặc dù bây giờ nó là loại phổ biến nhất. Các giống phổ biến khác bao gồm trứng, cá mòi, và hành hoặc có vị ngọt như khoai mỡ.\nBánh được thưởng thức trên khắp Brunei, Malaysia, Indonesia, Singapore, Myanmar và Thái Lan. Nó cũng có nhiều điểm tương đồng với empanada, một loại bánh ngọt phổ biến ở các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha." }, { "section": "Cách chế biến", "content": "Nhân thường là miến, mộc nhĩ, trứng, tôm. Đôi khi gồm khoai tây lát, hành, đậu, đậu lăng, macaroni hoặc mì, hạt thông,... Nếu như bạn ngán vị mặn của nhân thịt thì thay bằng bánh nhân ngọt cũng là một sự lựa chọn không tồi. Bánh sẽ có nhân là đậu xanh ngào đường, dừa nạo hay lạc, cơm sầu riêng..." }, { "section": "Sự phổ biến trên thế giới", "content": "Ngoài việc bánh gối có xuất xứ từ há cảo chiên của người Hoa, lại có ý kiến cho rằng bánh gối có nguồn gốc từ samosa của Ấn Độ hay từ món bánh gối empanada của ẩm thực Mỹ - Latinh.\nĐúng như tên gọi Empanadas có nghĩa là \"gói trong bánh mì\" thì bánh Empanadas có hai phần chính quan trọng là phần vỏ bánh và phần nhân bên trong. Phần vỏ bánh thì hầu như khá giống nhau ở nhiều nước và phần lớn được làm từ bột mì, đôi khi có nơi người ta sử dụng bột ngô, bột khoai tây,... Mặc dù chưa có khẳng định chắc chắn nào về nơi bắt nguồn của bánh Empanadas, nhưng theo nhiều tài liệu ghi nhận lại thì Empanadas xuất hiện sớm nhất ở Tây Ban Nha. Trong một quyển sách dạy nấu ăn ở Catalan, Tây Ban Nha xuất bản năm 1520 thì đã có ghi chép về cách chế biến món bánh Empanadas với hương vị hải sản. Và Empanadas trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là \"gói trong bánh mì\".\nEmpanadas thường có một hình dạng phổ biến là hình bán nguyệt. Người ta sẽ cán mỏng vỏ bánh cho có hình tròn, đặt nhân lên và gấp đôi bánh lại, đồng thời ép chặt mép bánh cho 2 lớp vỏ dính vào nhau là đã ra hình bán nguyệt đẹp mắt. Tuy nhiên cũng có nơi, người ta làm bánh Empanadas theo dạng hình tròn, thay vì gấp đôi vỏ bánh lại thì người ta sử dụng 2 lớp vỏ bánh chồng lên nhau. Chính vì dạng bánh hình bán nguyệt này mà người Quảng Đông ở Trung Quốc mới đưa vào Việt Nam món há cảo chiên mà người Việt chúng ta mới có món bánh gối bây giờ.\nEmpanadas có 2 loại nhân cơ bản là nhân ngọt và nhân mặn. Nhân ngọt thì thường bao gồm các nguyên liệu như bơ, trứng, socola, mật ong, các loại trái cây... Nhưng loại bánh Empanadas nhân mặn thường phổ biến hơn.\nBánh Empanadas nhân mặn rất đa dạng nguyên liệu như thịt heo, bò, gà, hải sản... hoặc thậm chí có nơi người ta còn sử dụng thịt dê, thịt Ilama (loại lạc đà không bướu) để làm phần nhân bánh. Ngoài nguyên liệu chính là thịt thì nhân bánh Empanadas còn được cho thêm các nguyên liệu như khoai tây, quả oliu thái nhỏ, phô mai, trứng, rau củ... nên khá đa dạng khẩu vị cho người ăn lựa chọn.\nSau khi gói bánh Empanadas xong thì người ta sẽ cho vào lò nướng hoặc nếu không có lò nướng sẽ mang bánh Empanadas đi rán chín cũng được. Tuy nhiên, nướng bằng lò thì bánh sẽ chín đều và ít ngấy dầu hơn.\nỞ hầu hết các nước phổ biến bánh Empanadas thì người ta thường sử dụng bánh này cho bữa ăn sáng, ăn xế. Đặc biệt vào dịp lễ hội thì các gia đình cũng thường làm bánh Empanadas để bữa ăn trở nên phong phú hơn.\nMột trong những lý do bánh Empanadas phổ biến ở nhiều nước phương Tây có lẽ do đây là loại bánh khá dễ làm. Đặc biệt phần nhân bánh thì tùy khẩu vị, tùy đặc sản từng vùng mà người làm bánh có thể \"thiên biến vạn hóa\" theo sở thích riêng. Do đó, bánh Empanadas đi qua mỗi nước sẽ có vài biến thể đặc trưng riêng biệt khiến cho món bánh \nnày trên thế giới càng có nhiều phiên bản đa dạng, ăn hoài không thấy ngán nên số lượng người yêu chuộng nó cũng ngày càng nhiều hơn." } ]
Vlaai
https://vi.wikipedia.org/wiki/Vlaai
[ { "section": "summary", "content": "Vlaai Limburg (tiếng Limburg: vlaai, vlaoj hoặc flaai. Số nhiều: vlaaien) là một loại bánh pastry bao gồm bột và nhân, theo truyền thống, nó gắn liền với các tỉnh Limburg được tìm thấy ở cả Hà Lan và Bỉ, cùng với Đức thông qua đường biên giới.\nVlaai thường được ăn vào những dịp đặc biệt và cho các sự kiện quan trọng trong đời, đặc biệt là ở tỉnh Limburg của Hà Lan, ví dụ như dịp sinh nhật và tang lễ. Khi ăn vào dịp đám tang, vlaai thường được làm bằng mận đen (được gọi là: \"Zwarte pruimenvlaai\")." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Có thể nói chắc chắn rằng có rất ít thông tin về lịch sử của vlaaien, ngoại trừ việc chúng không phải là một loại bánh ngọt thuần túy của người Limburg.\nMột truyền thuyết khẳng định rằng vlaiien có từ trước thế kỷ 12. Theo một đề cập trong biên niên sử của tu viện của Sint-Truiden (bản sao còn tồn tại đến năm 1503), Công tước Henry van Leuven bao vây thành phố (ngày nay nằm ở Bỉ), vào năm 1189. \"Những hoạn quan và những tên trộm trung thực và thận trọng của thị trấn\" đã đề nghị anh \"Placenta\" (như nó được diễn đạt bằng tiếng Latinh thời trung cổ) được nướng theo công thức cũ của địa phương. Nó được cho là điều này đã thuyết phục Henry từ bỏ cuộc bao vây. \"Placenta\" đồng nghĩa với từ tiếng Hà Lan Trung cổ \"vlade\" nhưng truyền thuyết không được xác minh theo cách khác, cũng như không thể chắc chắn chính xác những món nướng nào có thể đã được cung cấp.\n\"Bản thảo Gent KANTL\", một cuốn sách dạy nấu ăn của người Trung cổ Hà Lan từ thế kỷ 15, liệt kê một số loại nhân cho \"vlade\" giống như nhân trái cây hoặc sữa trứng, cũng như một công thức vỏ bánh nước nóng cho vlade. Chỉ riêng văn bản thì không rõ liệu các công thức nấu ăn vlade có được đặt trong một lớp vỏ hay không và một trong số chúng có đề cập cụ thể đến việc làm đầy một cái bát - vla trong tiếng Hà Lan hiện đại ám chỉ bánh flan hoặc bánh pudding. Tuy nhiên, nó cũng liệt kê các loại bánh nướng (tarten) với nhân táo hoặc anh đào được nướng đặc biệt trong bánh mì (broot), có nét giống vlaai hiện đại hơn.Cho đến giữa thế kỷ 20, vlaai được coi là một mặt hàng xa xỉ ở Limburg và chỉ được ăn trong các lễ kỷ niệm. Ở nông thôn, chúng hầu như luôn được người dân tự nướng, thường là theo cách truyền thống là trong những tiệm bánh. Vlaaien sẽ được phục vụ vào khoảng 4 giờ chiều trong giờ giải lao uống cà phê, thường là hai hoặc ba phần khác nhau cho mỗi người. Do sự thịnh vượng kinh tế ngày càng tăng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mọi người bắt đầu ăn chúng thường xuyên hơn.\nVlaaien bắt đầu được biết đến rộng rãi hơn bên ngoài Limburg vào cuối thế kỷ 19 chủ yếu là do du lịch ngày càng tăng ở phía Nam Limburg thuộc Hà Lan. Nhiều khách du lịch đã mang vlaai về nhà từ những người thợ làm bánh địa phương. Năm 1986, cửa hàng vlaaien đầu tiên được mở tại Amsterdam. Việc bán vlaaien của một số chuỗi siêu thị cũng giúp phổ biến loại bánh ngọt này. Maria Hubertina Hendrix, còn được gọi là 'Antje van de Stasie', cũng giúp chúng phổ biến ra bên ngoài Limburg. Vào đầu thế kỷ 20, cô đã bán 'Weerter vlaaitjes' của mình tại nhà ga xe lửa ở Weert, và điều này đã khiến món bánh ngọt trở nên nổi tiếng bởi du khách từ khắp Hà Lan. Sau một thời gian, Weerter vlaaien cũng được bán ở Nijmegen. Cô đã có một bức tượng ở Weert từ năm 1988." }, { "section": "Biến thể", "content": "Các biến thể tồn tại trên khắp Hà Lan, Bỉ và các khu vực ở bang Nordrhein-Westfalen của Đức gần biên giới với Hà Lan. Một chiếc bánh vlaai thường có đường kính 26–31 centimet. Nó có sẵn trong nhiều loại nhân trái cây khác nhau, chẳng hạn như anh đào, mơ, dâu tây và mận. Các biến thể khác là một hỗn hợp bơ vụn và đường (\"greumellevlaai\" trong tiếng Limburg, hoặc \"kruimelvlaai\" trong tiếng Hà Lan) và cháo sữa trứng (\"rijstevlaai\")." }, { "section": "Chỉ dẫn địa lý", "content": "Vào ngày 17 tháng 11 năm 2022, Hà Lan và Bỉ đã nộp đơn xin bảo hộ cho Vlaai Limburg như một đặc sản truyền thống và chỉ định địa phương của Liên Âu.\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Cà phê sữa
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A0_ph%C3%AA_s%E1%BB%AFa
[ { "section": "summary", "content": "Cà phê sữa là loại cà phê được pha chế đặc biệt và có hai thành phần chính: cà phê và sữa đặc." }, { "section": "Trên thế giới", "content": "Có rất nhiều loại cà phê sữa được chế biến theo khẩu vị từng dân tộc và từng hãng chủ franchise cà phê. Phổ biến nhất có:\n\nLatte: là cà phê sữa kiểu Ý. Thành phần chủ yếu là cà phê pha với sữa nóng và một lớp crema mỏng.\nCappuccino là cà phê sữa kiểu Ý (Italia). Thành phần chủ yếu là cà phê pha với sữa nóng, tuy nhiên lớp crema sẽ dày hơn. Cappuccino phổ biến nhất là được uống cùng với một lớp bột cacao rắc trên cùng." }, { "section": "Việt Nam", "content": "Cà phê sữa kiểu Việt Nam thường chỉ có hỗn hợp cà phê và sữa, không có các loại hương liệu khác, như bột ca cao và/hoặc bột quế như khi người ta pha Cappuccino.\n\nCà phê sữa kiểu miền Bắc: Thoạt tiên người ra rót sữa đặc có đường vào cốc, sau đó rót cà phê lên trên và bưng ra cho khách. Một trong những yêu cầu quan trọng là khách phải nhìn thấy sữa còn nguyên.\nCà phê sữa kiểu miền Nam: Sữa và cà phê được hòa lẫn, thành màu nâu non trước khi bưng ra cho khách.Cà phê sữa ở Việt Nam có hai dạng là cà phê sữa nóng và cà phê sữa đá, cà phê sữa nóng còn có tên gọi là nâu nóng, được dùng thịnh hành tại miền Bắc vào mùa đông do thời tiết lạnh" } ]
Hot dog
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hot_dog
[ { "section": "summary", "content": "Hot dog là một loại đồ ăn nhanh của Mỹ. Là bánh mì (hot dog bun) kẹp xúc xích, thường có thêm mù tạt, nước sốt cà chua, hành, mayonnaise, gia vị có thể có hoặc không có dưa cải Đức (sauerkraut). Từ \"dog\" đã được sử dụng như từ đồng nghĩa với xúc xích từ năm 1884 và các cáo buộc cho rằng nhà sản xuất xúc xích sử dụng thịt chó đã có ít nhất từ năm 1845. Vào đầu thế kỷ 20, ở Đức, việc tiêu thụ thịt chó là bình thường. Những nghi ngờ xúc xích có chứa thịt chó \"đôi khi chính xác\".." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Người ta tin rằng những chiếc hot dog đầu tiên, còn được gọi là “xúc xích dachshund”, được một người nhập cư Đức bán tại một xe hàng thực phẩm ở New York vào những năm 1860. Vào khoảng năm 1870, một người nhập cư Đức khác tên Charles Feltman đã mở quầy hot dog đầu tiên trên đảo Coney, năm đó, ông đã bán được hơn 3.600 bánh mì xúc xích.Tại Chicago năm 1893, triển lãm ở Colombia đã thu hút rất nhiều du khách, những người đã tiêu thụ số lượng lớn xúc xích được bán. Mọi người đều thích món ăn dễ ăn, tiện lợi và rẻ tiền này. Vì xúc xích là một trong những nét văn hóa đặc trưng của người Đức, nên có khả năng họ đã giới thiệu tập quán ăn xúc xích dachshund, mà ngày nay chúng ta gọi là hot dog được kẹp trong một chiếc bánh mì.\n\n\n== Tham khảo ==" } ]
Bánh mì cuộn
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_m%C3%AC_cu%E1%BB%99n
[ { "section": "summary", "content": "Bánh mì cuộn hay còn gọi là bánh Wrap là một món ăn làm từ bánh mì lát với độ dai mềm để cuộn tròn quanh nhân bánh và thông thường được nướng lên tạo nên lớp vỏ ngoài vàng ruộm, dai dai cùng vị thanh mát của lớp nhân ngập sốt. Vỏ bánh được làm từ bột ngô cán mỏng thành bạt. Nhân bánh rất đa dạng, bao gồm các loại rau củ sạch như xà lách, cà rốt, bắp cải kết hợp cùng với nhiều loại thịt khác nhau như thịt gà, thịt bò hay thịt heo, phần nhân bánh được ướp với các loại sốt.\nNgười dân ở Mexico, Địa Trung Hải và Nam Á đã biết ăn những loại bánh gói hay bánh cuộn từ trước và khoảng những năm 1900. Người Mexico gọi những thứ này là Burritos và chúng có nhiều loại thành phần khác nhau, chủ yếu là bột mì hoặc bột ngô, thường chứa đầy ắp thịt, đậu, gạo, pho mát và các thành phần khác. Món bánh mì cuộn kiểu cách phương Tây (\"bánh mì Tây\") ngày nay có lẽ đến từ California, như một sự tổng hợp của loại Burrito Mexico và Tex-Mex, và trở nên phổ biến vào những năm 1990. Nó có thể đã được phát minh và đặt tên tại một chuỗi cửa hàng phía nam California có tên là \"I Love Juicy\" vào đầu những năm 1980. Quán cà phê có tên Bobby Valentine ở Stamford, Connecticut đôi khi được cho là đã phát minh ra loại bánh này ở cùng thời điểm." } ]
Kem sô cô la
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kem_s%C3%B4_c%C3%B4_la
[ { "section": "summary", "content": "Kem sô cô la là kem với hương vị sô cô la tự nhiên hoặc nhân tạo. Sô cô la là hương vị phổ biến thứ hai ở Mỹ, sau vani." }, { "section": "Lịch sử", "content": "Các công thức chế biến sô cô la đông lạnh sớm nhất đã được xuất bản ở Naples, Ý vào năm 1693 trên tờ The Modern Steward của Antonio Latini. Sô cô la là một trong những hương vị kem đầu tiên, được tạo ra trước vani, vì các thức uống phổ biến như sô cô la nóng, cà phê và trà là những thực phẩm đầu tiên được biến thành món tráng miệng đông lạnh. Sô cô la nóng đã trở thành một thức uống phổ biến ở châu Âu thế kỷ 17, bên cạnh cà phê và trà, và cả ba loại đồ uống này đều được sử dụng để làm món tráng miệng đông lạnh và không đông. Latini đã sản xuất hai công thức cho kem dựa trên thức uống, cả hai đều chỉ chứa sô cô la và đường. Năm 1775, bác sĩ Ý Filippo Baldini đã viết một luận văn có tên De sorbetti, trong đó ông đã đề nghị kem sô cô la như một phương thuốc cho y tế, bao gồm bệnh gút và scorbut. Kem sô cô la trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Quảng cáo đầu tiên về kem ở Mỹ bắt đầu ở New York vào ngày 12 tháng 5 năm 1777 khi Philip Lenzi tuyên bố rằng kem chính thức có sẵn \"gần như mỗi ngày\". Cho đến năm 1800, kem là một món tráng miệng hiếm và kỳ lạ được hầu hết giới thượng lưu yêu thích. Khoảng 1800 ngôi nhà cách nhiệt được phát minh và sản xuất kem đã sớm trở thành một ngành công nghiệp ở Mỹ." }, { "section": "Sản xuất", "content": "Kem sô cô la thường được làm bằng cách trộn bột ca cao cùng với trứng, kem, vani và đường được sử dụng để làm kem vani. Đôi khi rượu sô cô la được sử dụng cùng với bột ca cao, hoặc sử dụng riêng, để tạo ra hương vị sô cô la. Bột ca cao làm cho kem sô cô la có màu nâu, và việc thêm các chất tạo màu khác là không phổ biến.Codex Alimentarius, cung cấp một hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế cho thực phẩm, khẳng định rằng các hương vị trong kem sô cô la phải từ chất rắn cacao không béo, bao gồm ít nhất 2,0-2,5% trọng lượng hỗn hợp. Bộ luật Quy định Liên bang Hoa Kỳ \"cho phép giảm hàm lượng sữa béo và sữa đặc gấp 2,5 lần trọng lượng của ca cao đặc\", để tính đến việc sử dụng thêm chất làm ngọt.Hàm lượng chất béo tối thiểu của kem sô cô la ở cả Canada và Hoa Kỳ là 8%, không phân biệt lượng chất làm ngọt sô cô la trong công thức." }, { "section": "Phân phối", "content": "Kem sô cô la được bán ở nhiều nơi, bao gồm nhà hàng, quán cà phê, điểm ăn tối, siêu thị, cửa hàng tạp hóa và cửa hàng tiện lợi,... Tiệm kem chuyên bán kem. Sô cô la là một trong năm hương vị kem phổ biến nhất ở Hoa Kỳ và chỉ đứng sau vani." }, { "section": "Hương vị khác", "content": "Kem sô cô la được sử dụng trong việc tạo ra các hương vị khác, chẳng hạn như kem Rocky road. Các hương vị khác của kem có chứa sô cô la chip trộn với kem. Ví dụ, kem sô cô la (trơn) được làm bằng kem vani, sô cô la sô cô la chip (hoặc sô cô la chip nhân đôi) kem được làm bằng kem sô cô la, và kem sô cô la bạc hà được làm bằng kem bạc hà." } ]
Meze
https://vi.wikipedia.org/wiki/Meze
[ { "section": "summary", "content": "Meze (cũng được gọi là mezze)() chỉ các món ăn nhỏ phục vụ như là món khai vị trong các bộ phận của Trung Đông, các nước vùng Balkans, Hy Lạp, và Bắc Phi. Ở các khu vực Hồi giáo, meze thường được phục vụ như một phần của bữa ăn nhiều món, trong khi ở Hy Lạp và Balkan, chúng được sử dụng nhiều hơn như là đồ ăn nhẹ trong khi sử dụng đồ uống hoặc nói chuyện." }, { "section": "Nguồn gốc tên gọi", "content": "Từ chỉ món ăn, Meze được tìm thấy trong từ điển về các món ăn của Đế quốc Ottoman và xuất phát từ tiếng Ba Tư مزه (mazze \"hương vị, món ăn nhẹ\" < mazīdan \"hương vị\")." }, { "section": "Món ăn thông thường", "content": "Ở Thổ Nhĩ Kỳ, Meze thường bao gồm Beyaz peynir (hay pho mát trắng), kavun (dưa chín thái lát), acılı ezme (loại ớt thường ăn kèm với quả óc chó), haydari (sữa chua với thảo dược), salatası patlıcan (rau trộn để nguội có cà tím), beyin salatası (rau trộn kèm món óc), kalamar tava (mực chiên hay mực ống), midye Dolma và midye tava (hến nhồi hoặc xào), enginar (atisô), cacık (sữa chua với dưa chuột và tỏi), pilaki (thức ăn nấu chín trong một nước sốt đặc biệt), cá heo hoặc sarma (lá nho nhồi cơm hoặc với các loại rau nhồi khác, như ớt chuông), arnavut ciğeri (một món gan, ăn lạnh), salad bạch tuộc và çiğ köfte (thịt viên sống với bulgur).\nỞ Hy Lạp, Síp và Balkans, mezé, mezés hoặc mezédhes (số nhiều) là những món ăn nhỏ, nóng hoặc lạnh, cay hoặc mặn. Các món hải sản như bạch tuộc nướng có thể được bao gồm, cùng với salad, trứng luộc thái lát, bánh mì tỏi, ô liu kalamata, đậu fava, rau xào, melitzanosalata (salad cà tím), taramosalata, phô mai chiên hoặc nướng, gọi là saganaki, hoặc pho mát bò,cừu,hay dê. \n\nCác món meze phổ biến bao gồm:\n\nMutabbal / Babaghanoush - cà tím (cà tím) nghiền và trộn với gia vị.\nHummus - một loại nhúng hoặc lây lan làm từ đậu xanh nấu chín, nghiền\nHummus với thịt (hummus bil-lahm)\nFalafel - bánh viên chiên giòn làm từ đậu xanh, đậu răng ngựa hoặc cả hai.\nTashi - Được làm từ tahini, tỏi, muối và nước chanh với rau mùi tây xắt nhỏ.\nKibbeh trong các món ăn Trung Đông, được làm từ bulghur, thịt băm nhỏ và gia vị\nKibbe Nayye - burghul, xắt nhỏ thịt cừu, và gia vị\nXúc xích thịt cừu và thịt bò cay (naqaniq / maqaniq / laqaniq và sujuk)\nPhô mai Halloumi, thường được cắt lát và nướng hoặc chiên.\nSouvlaki - khối thịt có kích thước cắn (thịt cừu rất phổ biến), nướng trên xiên trên than củi.\nStifado - hầm thịt bò nấu chín chậm với nhiều hành, tỏi, cà chua, quế, hạt tiêu và giấm.\nAfelia - Thịt lợn thái hạt lựu ướp trong rượu với hạt rau mùi, sau đó hầm.\nLountza - Thịt lợn thăn xông khói, thường nướng.\nRau Dolma như ớt, cà tím hoặc bí nhồi với cơm, bạc hà xắt nhỏ, nước chanh, hạt tiêu, thịt băm.\nSarma (còn được gọi là Koubebkia, yaprak hoặc Mashi Warqenab) - Lá nho, nhồi cơm, bạc hà xắt nhỏ, nước chanh, hạt tiêu, thịt cừu băm nhỏ.\nSữa chua (Mast-o-Khiar ở Iran)\nTzatziki - Dip làm từ sữa chua thường, dưa chuột xắt nhỏ với tỏi băm nhỏ và lá bạc hà.\nTarama - một loại trứng cá nhúng dựa trên trứng cá chép, khoai tây nghiền và dầu ô liu. Trong giống Istanbul truyền thống của món ăn này, một phần đáng kể của trứng phải còn nguyên vẹn.\nLabneh - sữa chua có vị tương tự như kem hoặc kem chua nhưng có vị chua hơn.\nShanklish - pho mát sữa bò hoặc sữa cừu\nMuhammara - một hạt tiêu nóng nhúng với quả óc chó xay, vụn bánh mì, tỏi, muối, nước chanh và dầu ô liu\nPastrami - thịt bò khô, khô, khô\nTabbouleh - bulgur, rau mùi tây thái nhỏ, bạc hà, cà chua, hành lá, với nước chanh, dầu ô liu và gia vị\nFattoush - salad làm từ một số loại rau trong vườn và bánh mì pita nướng hoặc chiên.\nArugula (còn được gọi là tên lửa) salad\nSalad atisô\nQuả ô liu\nPhô mai Tulum\nBánh mỳ cắt lát\nWhitebait\nCalamari\nDag Meoushan - cá hồi hun khói với hương thảo, phổ biến ở Israel đặc biệt là trong khi ăn sángỞ Syria, Lebanon và Síp, meze thường là một bữa ăn theo đúng nghĩa của nó,và còn có cả chay, thịt hoặc cá meze. Các nhóm món ăn đến bàn khoảng 4 hoặc năm món (thường là từ năm đến mười nhóm). Có một mô hình cho các món ăn: điển hình là ô liu, tahini, salad và sữa chua sẽ được phục vụ sau các món ăn với rau và trứng, sau đó là các món thịt hoặc cá nhỏ bên cạnh các món ăn kèm đặc biệt, và cuối cùng là các món ăn quan trọng hơn như cá hay thịt vỉ nướng. Các cơ sở sẽ cung cấp các đặc sản riêng của họ, nhưng mô hình vẫn giữ nguyên. Đương nhiên các món ăn phục vụ sẽ phản ánh các mùa. Ví dụ, vào cuối mùa thu,các món thường có ốc. Vì rất nhiều thực phẩm được cung cấp, dự kiến mọi món ăn sẽ được hoàn thành, nhưng được phục vụ theo ý muốn. Ăn meze Cypriot là một sự kiện xã hội.\nỞ Balkan, meze rất giống với antipasti <a href=\"./%C4%90%E1%BB%8Ba%20Trung%20H%E1%BA%A3i\" rel=\"mw:WikiLink\" data-linkid=\"undefined\" data-cx=\"{&quot;userAdded&quot;:true,&quot;adapted&quot;:true}\">Địa Trung Hải</a> theo nghĩa là chữa các vết cắt lạnh, phô mai và salad là thành phần chủ yếu và nó thường không bao gồm các bữa ăn nấu chín. Ở Serbia, Croatia, Bosnia và Montenegro, nó bao gồm các loại phô mai cứng hoặc kem, kajmak (kem vón cục) hoặc kem smetana, salami, giăm bông và các dạng khác của \"suho / suvo meso\" (thịt lợn hoặc thịt bò), kulen (hương vị đu đủ,xúc xích), thịt xông khói, ajvar và bánh ngọt khác nhau; Ở Bosnia và Herzegovina, tùy thuộc vào hạn chế thực phẩm tôn giáo mà người ta tuân theo, meze loại trừ các sản phẩm thịt lợn và thay thế chúng bằng sudžuk (xúc xích khô, cay) và thịt bò được chữa khỏi giống như pastrami. Ở miền nam Croatia, Herzegovina và Montenegro các dạng thịt chữa bệnh địa trung hải hơn như pršut và panceta và các sản phẩm khu vực như ô liu là phổ biến. Các đĩa meze kiểu Albania thường bao gồm giăm bông prosciutto, salami và phô mai ướp muối, đi kèm với ớt chuông nướng (ớt tây) hoặc ô liu xanh ướp trong dầu ô liu với tỏi. Ở Bulgaria, các loại meze phổ biến là lukanka (một loại xúc xích cay), soujouk (một loại xúc xích khô và cay), sirene (một loại phô mai nước muối trắng), và salad Saladka làm từ cà chua, dưa chuột, hành tây, ớt nướng và sirene. Ở Romania, mezelic có nghĩa là món khai vị nhanh và bao gồm Zacuscă, pho mát và salamis, thường đi kèm với Țuică." }, { "section": "Đồ uống có cồn", "content": "Meze thường đi kèm với đồ uống chưng cất rakı, arak (Syria), ouzo, Aragh Sagi, rakia, mastika hoặc tsipouro. Nó cũng có thể được tiêu thụ với bia, rượu vang và đồ uống có cồn khác. Síp Brandy (phục vụ gọn gàng) là một thức uống yêu thích để đi cùng với meze ở Síp, mặc dù lager hoặc rượu vang cũng được một số người ưa thích." }, { "section": "Phục vụ truyền thống", "content": "Ở Bulgaria, meze được phục vụ chủ yếu ở mức tiêu thụ rượu vang, rakia và mastika, nhưng cũng đi kèm với các đồ uống có cồn khác không phải là địa phương trong khu vực. Ngoài các thực phẩm địa phương truyền thống, meze có thể bao gồm các loại hạt, đồ ngọt hoặc đồ ăn nhẹ đóng gói sẵn. Thuật ngữ meze thường được áp dụng cho bất kỳ loại thực phẩm và đồ ăn nhẹ nào được tiêu thụ cùng với đồ uống có cồn. Ở Hy Lạp, meze được phục vụ trong các nhà hàng gọi là mezingopoleíon và tsipourádiko hoặc ouzerí, một loại quán cà phê phục vụ ouzo hoặc tsipouro. Một tavérna (quán rượu) hoặc estiatório (nhà hàng) cung cấp một mezé như một orektikó (món khai vị). Nhiều nhà hàng cung cấp poikilía nhà của họ (\"nhiều loại\") — một đĩa với một món mezédhes có thể được phục vụ ngay lập tức cho khách hàng tìm kiếm một bữa ăn nhanh hoặc nhẹ. Chủ nhà thường phục vụ mezédhes cho khách của họ tại các cuộc họp không chính thức hoặc ngẫu hứng, vì họ dễ dàng chuẩn bị. Krasnoyzédhes (nghĩa đen là \"rượu-meze\") là một loại rượu phù hợp với rượu vang; ouzomezédhes là meze đi với ouzo." } ]
Arroz con pollo
https://vi.wikipedia.org/wiki/Arroz_con_pollo
[ { "section": "summary", "content": "Arroz con pollo (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là cơm gà) là một món ăn truyền thống của Tây Ban Nha và Mỹ Latinh, có liên quan mật thiết đến món cơm thập cẩm. Ở Cộng hòa Dominica, loại đồ ăn này được gọi luân phiên là locrio de pollo, và ở Saint Martin, người dân hay gọi Arroz con pollo là lokri hoặc locreo.Có một số cuộc tranh luận về việc liệu món ăn có nguồn gốc từ Tây Ban Nha hay là Puerto Rico. Nhiều người Puerto Rico lưu ý rằng sẽ không thể làm arroz con pollo nếu thiếu đi bia và dầu annatto, đồng thời nghệ tây cũng không thể thay thế được. Bia và annatto hiếm khi sử dụng trong chế biến đồ ăn ở Tây Ban Nha và không bao giờ có trong món arroz con pollo ở quốc gia này. Người Puerto Rico thường dùng annatto trong quá trình chế biến thức ăn, đặc biệt là trong các món cơm như arroz con gandules (cơm với thịt lợn và đậu triều) và arroz con maiz (cơm với ngô và xúc xích). Bia thường được sử dụng trong nhiều món ăn của Puerto Rico như poo guisado (gà hầm om) hoặc asopao de poo (cơm gà hầm). Nhiều món cơm của Puerto Rico được nêm gia vị với sofrito, một loại sốt làm từ hạt tiêu cay thường cho vào trong arroz con pollo.\n\nNhà văn ẩm thực Elisabeth Lambert Ortiz, khi phân tích các khía cạnh của món ăn, cho rằng nguồn gốc của món arroz con pollo dưới dạng cơm thập cẩm của Tây Ban Nha đã phản ánh những ảnh hưởng quốc tế: gà được du nhập từ Ấn Độ và gạo từ châu Á; nghệ tây được giới thiệu bởi các thương nhân người Phoenicia; cà chua và ớt (còn gọi là sofrito) giống như những người bản địa của Châu Mỹ." }, { "section": "Biến tấu", "content": "Ở Colombia, Costa Rica và Panama, món ăn này được làm từ thịt gà xé nhỏ trộn với cơm và rau cắt nhỏ. Nó được phục vụ với xà lách và một lát chuối chín.\nỞ Ecuador, người ta dùng achiote để tạo màu vàng tươi và thường cho thêm nho khô.\nỞ Tây Ban Nha, món paella hỗn hợp được làm từ gà và thỏ, hoặc thỏ rừng, cùng với các sản phẩm truyền thống từ khu vườn tại Địa Trung Hải.\nỞ Peru, gà được nấu theo kiểu săn bắn. Họ cho thêm rau mùi để có màu xanh đặc trưng. Cơm gà vàng cũng thường được làm bằng cách thêm một ít bột palillo thay cho hành ngò. Một loại khác là cơm với gà đỏ, thành phần chính trong nước sốt là panca ají.\nỞ Venezuela, nó được chế biến đơn giản bằng cách hầm gà với gạo. Cơm có thể có màu vàng hoặc không, thậm chí khi hầm cơm vẫn có màu vàng cam." } ]
Vatrushka
https://vi.wikipedia.org/wiki/Vatrushka
[ { "section": "summary", "content": "Vatrushka (Moldova, nga và tiếng việt: ватрушка) là một loại bánh ngọt (pirog) của Đông Âu. Nó có hình một chiếc nhẫn bằng bột với pho mát quark ở giữa, đôi khi nho khô hoặc một ít hoa quả được thêm vào. Kích thước phổ biến của nó có đường kính khoảng 5 inch, nhưng cũng có phiên bản to hơn. Vatrushka thường được nướng bằng bột nhào với men nướng. Loại mặn được làm với bột nhào không ngọt và nhân có thêm hành tây.Từ nguyên của từ này chưa được chắc chắn. Một giả thuyết phổ biến rộng rãi là tên của nó bắt nguồn từ từ vatra nghĩa là \"lửa\" trong tiếng Slav. Một giả thuyết khác có liên quan đến động từ teret (тереть, \"chà\" hoặc \"nạo\") hoặc thuật ngữ tvorog (творог, \"pho mát quark\")." } ]
Ajvar
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ajvar
[ { "section": "summary", "content": "Ajvar ([ǎj.ʋaːr], tiếng Kirin Serbia: ajвар; tiếng Bulgaria: aйвар; tiếng Macedonia: aјвар) là một loại sốt rau quả, làm chủ yếu từ ớt chuông đỏ. Nó cũng có thể có tỏi, cà tím và ớt. Ajvar bắt nguồn trong ẩm thực Serbia và được biết đến từ lâu như là \"món salad Serbia\" hay \"trứng cá rau quả Serbia\". Nó würde một món ăn phổ biến khắp Nam Tư sau Thế chiến thứ hai và là hiện nay phổ biến ở khu vực Balkan.\nAjvar tự chế ở nhà được làm từ ớt rang, trong khi một số nhà sản xuất công nghiệp sử dụng ớt nấu chín, nào dẫn đến chất lượng thấp hơn. Tùy thuộc vào chất lượng capsaicin trong ớt chuông và số lượng ớt thêm vào, nó có thể trở nên ngọt ngào (truyền thống), cay (phổ thông nhất), hoặc rất cay. Ajvar có thể được sử dụng như quét lên bánh mì hoặc như một món ăn phụ.\n\n\n== Chú thích ==" } ]
Phô mai pizza
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B4_mai_pizza
[ { "section": "summary", "content": "Phô mai pizza bao gồm một số loại và nhiều loại phô mai và các sản phẩm từ sữa được thiết kế và sản xuất để sử dụng riêng cho bánh pizza. Việc này bao gồm xử lý và biến đỏi các loại pho mát giống như mozzarella và các biến thể của mozzarella. Thuật ngữ này cũng có thể đề cập đến bất kỳ loại phô mai nào thích hợp để sử dụng trên bánh pizza. Các loại pho mát phổ biến nhất được sử dụng để chế biến bánh pizza là mozzarella (chiếm khoảng 30%), provolone, cheddar và Parmesan. Emmental, Romano và ricotta thường được sử dụng làm lớp phủ trên bề mặt bánh, và pho mát pizza chế biến được sản xuất riêng cho bánh pizza được sản xuất hàng loạt. Một số loại phô mai pizza sản xuất hàng loạt được bảo quản lạnh sau khi sản xuất và vận chuyển đông lạnh.\nPhô mai pizza đã qua chế biến được sản xuất để tạo ra chất lượng tối ưu về độ nâu, độ tan chảy, độ dẻo, hàm lượng chất béo và độ ẩm. Một số nghiên cứu và thử nghiệm đã phân tích tác động của dầu thực vật, quy trình sản xuất và nuôi cấy, whey protein biến tính và những thay đổi khác để tạo ra pho mát pizza lý tưởng và mang giá trị kinh tế cao. Năm 1997, người ta ước tính rằng sản lượng hàng năm của sản phẩm pho mát pizza là 2 tỷ pound ở Hoa Kỳ và 200 triệu pound ở Châu Âu, và vào năm 2000, nhu cầu về sản phẩm này ở Châu Âu đã tăng 8% mỗi năm. Xu hướng tăng đều đặn sản xuất và tiêu thụ pho mát mozzarella và pizza tiếp tục trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 ở Hoa Kỳ." }, { "section": "Sự đa dạng và chủng loại", "content": "International Dictionary of Food and Cooking định nghĩa bánh pho mát pizza là \"một loại phô mai spun-curd mềm tương tự như Mozzarella làm từ sữa bò... được sử sử dụng đặc biệt cho pizza và chứa hơi ít nước hơn Mozzarella thông thường... \" Hầu hết các loại phô mai pizza có ít nhất 95 phần trăm là Mozzarella, với độ ẩm và hàm lượng chất béo khác nhau. Phô mai pizza đông lạnh có thể được nghiền, trong đó pho mát được chế biến thành các hạt nhỏ hoặc mảnh vụn. Mozzarella có phần trăm độ ẩm thấp có thể được chế biến để dành riêng cho bánh pizza. Phô mai có thể được chế biến thành khối, từ đó chúng có thể được bào, làm thành hạt hoặc cắt lát để sử dụng trên bánh pizza hoặc các loại thực phẩm khác. Phô mai pizza thường bao gồm sự pha trộn của hai hoặc nhiều loại phô mai, chẳng hạn như phô mai Mozzarella có độ ẩm thấp hoặc Provolone. Mozzarella có độ ẩm thấp lần đầu tiên được sản xuất tại các nhà máy sản xuất sữa ở miền Trung Tây Hoa Kỳ, và ban đầu được gọi là \"pho mát pizza\". So với Mozzarella tiêu chuẩn, Mozzarella có độ ẩm thấp có kết cấu rắn chắc hơn, dễ bào hơn, có màu nâu và tan chảy tốt hơn, và ít bị hỏng hơn.Trên toàn cầu, Mozzarella là loại phô mai pizza phổ biến nhất. Tuy nhiên, người ta ước tính rằng ở Hoa Kỳ chỉ có 30% tổng số phô mai pizza được sử dụng là phô mai Mozzarella thực sự. Provolone là loại được sử dụng phổ biến thứ hai ở quốc gia này. Cheddar có thể được trộn với Mozzarella để giữ độ dai vốn có của nó. Parmesan bào có thể được thêm vào mặt trên của bánh pizza, và thường không tan chảy tốt khi nấu chín. Nhiều loại pho mát pizza đã qua chế biến được sản xuất, bao gồm cả pho mát tương tự. Provel là một ví dụ. Các loại pho mát pizza khác bao gồm Emmental, Romano và Ricotta được dùng để phủ lên calzones.Một số loại pho mát có thể được trộn với nhau theo công thức của nó, và mỗi loại có sắc nâu và độ phồng riêng. Ví dụ, sự kết hợp của Mozzarella và Cheddar có thể phồng ít hơn khi nấu chín so với các sự kết hợp khác, bởi vì cheddar có độ đàn hồi kém hơn, trong khi Mozzarella và provolone có thể ít có màu nâu hơn so với các sự kết hợp khác." }, { "section": "Đọc thêm", "content": "Law, Barry A (2010). Tamime, A.Y. (biên tập). Technology of Cheesemaking. Wiley-Blackwell. tr. 13–14, 21, 198, 348, 358–381, 383–385, 387, 508. ISBN 9781444323757. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012.\nSherkat, F.; Walker, M. “Functionality and consumer acceptance of pizza cheese analogue”. Vol 57, no 2. Dairy Industry Association of Australia. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012.\nGovindasamy-Lucey, S.; và đồng nghiệp (tháng 2 năm 2006). “Influence of Condensed Sweet Cream Buttermilk on the Manufacture, Yield, and Functionality of Pizza Cheese”. Journal of Dairy Science. 89 (2): 454–467. doi:10.3168/jds.s0022-0302(06)72109-9. PMID 16428615.\n“Chr Hansen and Novozymes develop enzyme for producing pizza cheese from whey”. Chemical Business Newsbase. ngày 9 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.\nKindstedt, P. S.; và đồng nghiệp (1997). “Chemically-acidified pizza cheese production and functionality”. Irish Republic, Dairy Products Research Centre [5th Cheese Symposium]; Irish Republic, Univ. of Cork. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012.\n“Better Pizza Cheese Processing”. Prepared Foods. ngày 1 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016 – qua Highbeam.\n“G.C. Hahn & Co.: Supplier Spotlight”. Dairy Foods. ngày 1 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012 – qua Highbeam.\nGunstone, F.D.; và đồng nghiệp (2006). Modifying lipids for use in food. Woodhead. tr. 476. ISBN 978-1855739710. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012." } ]
Bánh lọt
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_l%E1%BB%8Dt
[ { "section": "summary", "content": "Bánh lọt là món ăn vặt đặc trưng có xuất xứ từ Indonesia. Bánh lọt hiện nay là món ăn dân dã của người Nam bộ, món ăn này có mặt ở một vài tỉnh miền Tây Nam bộ như Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… Ở Sài Gòn, món được bán một tại vài nơi có người miền Tây Nam bộ sinh sống. Bánh lọt là món ăn chơi mang tính lành, dễ tiêu hóa. Sợi bánh ngắn, mềm dễ nuốt, người già cũng như trẻ em đều hợp." }, { "section": "Đặc trưng", "content": "Nguyên liệu để có món bánh lọt ngon gồm sợi bánh lọt ngắn, mềm dễ nuốt, được làm thành sợi bằng bột gạo cùng bột năng. Mùi thơm của nước cốt dừa, đường thắng, màu xanh trắng mát dịu của lá dứa, vị man mát, mềm mềm, dẻo dai của bột gạo hòa lẫn bột năng… đã tạo nên một thứ bánh đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long.\nBánh lọt làm thành sợi bằng bột gạo cùng ít bột năng, dùng ăn kèm với món có nước dùng đậm đà. Sợi bánh lọt có hai màu truyền thống là màu trắng tự nhiên và màu xanh từ lá bồ ngót hay lá dứa. Hầu hết bánh lọt truyền thống chỉ ăn với nước cốt dừa, nước đường thắng, thường được rao bán hoặc ở vỉa hè như là một loại thức ăn đường phố." }, { "section": "Công thức chế biến", "content": "Đầu tiên phải chọn gạo, với loại gạo cũ ngon dùng làm bánh lọt thì bánh sẽ không bị nhão. Gạo phải đem ngâm trước với một ít nước tro (hay vôi lắng lấy nước trong để bánh giòn, dai), sau đó xả nước lạnh vài lần cho gạo sạch, để ráo. Đem gạo xay thành bột rồi đăng bột cho ráo nước. Lấy bột gạo pha với một phần bột năng cùng với nước lạnh, không nên pha bột quá loãng, bánh sẽ bị nhão.\nCông đoạn chế biến bánh lọt xào cầu kỳ. Tôm nõn rửa sạch, để ráo, rồi đem ướp với một tí muối,đường,bột nêm. Đậu hà lan ngắt bỏ hai đầu, rửa sạch rồi thái chéo, chần qua nước sôi. Giá đỗ ngắt mũ giá rồi rửa sạch. Phi thơm hành tỏi, cho tôm vào xào. Khi tôm gần chín thì cho giá và đậu vào xào chung, xong trút phần nguyên liệu này vào. Sau đó cho tiếp chao đỏ vào phi thơm với tỏi và dầu ăn, cho phần bánh lọt vào xào lẫn với nước tương. Cuối cùng là công đoạn trộn lẫn tất cả các nguyên liệu và nêm gia vị cho hợp khẩu vị.\nTô bánh lọt có đáng nhớ hay không còn phụ thuộc vào nồi nước súp. Để nồi nước súp thơm ngon nê hầm xương với nước khoảng 45 phút. Khi nồi nước sôi, chỉ cho lửa cháy liu riu và luôn tay hớt bọt nổi lên cho nước súp trong. Nấu khoảng 20 phút, cho cà rốt đã cắt thành từng khối vào hầm nhừ và cho thêm nước một trái dừa tươi vào." }, { "section": "Các loại", "content": "Bánh lọt được dùng để chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, đặc trưng khác nhau của vùng Nam Bộ như chè bánh lọt cốt dừa, chè bánh lọt đậu xanh, chè bánh lọt lá dứa hay bánh lọt xào… Bánh lọt xào là món ngon, tổng hợp từ nhiều nguyên liệu khác nhau: bánh lọt, tôm nõn, xá xíu, chao đỏ, đậu hà lan, giá đỗ và các loại gia vị: nước tương, bột nêm, muối, đường… ngoài ra, khi nhắc đến bánh lọt, nhiều người nghĩ ngay đến bánh lọt nước cốt dừa ngọt, béo nhưng với sự sáng tạo trong cách chế biến món ăn, người miền Tây Nam Bộ đã dùng bánh lọt nấu với nước súp, thịt bằm tạo nên món ăn mặn thú vị." } ]
Nếp cái hoa vàng Đại Thắng
https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%BFp_c%C3%A1i_hoa_v%C3%A0ng_%C4%90%E1%BA%A1i_Th%E1%BA%AFng
[ { "section": "summary", "content": "Nếp cái hoa vàng Đại Thắng là giống nếp cái hoa vàng tại Đại Thắng, một xã thuần nông nằm ở phía Tây Bắc huyện Tiên Lãng thuộc thành phố Hải Phòng. Nếp cái hoa vàng Đại Thắng là giống nếp cái đặc trưng, có nguồn gốc và được lưu truyền từ lâu đời tại địa phương này. Nếp Đại Thắng khác biệt với nếp cái hoa vàng trồng ở các địa phương khác, nhất là về năng suất và diện tích gieo trồng.\nĐến nay, sản phẩm gạo nếp cái hoa vàng Đại Thắng đã được Thành phố Hải Phòng công nhận đặc sản của địa phương. Sản phẩm Rượu nếp cái hoa vàng Đại Thắng đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm, là một trong 34 đặc sản Hải Phòng giới thiệu tại Chợ Tết Việt 2015 và 2016. Hiện nay, thành phố Hải Phòng, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, Ủy ban nhân dân xã Đại Thắng và nhân dân nơi đây đang nỗ lực xây dựng thương hiệu cấp quốc gia và quảng bá cho sản phẩm gạo nếp cái hoa vàng Đại Thắng." }, { "section": "Tổng quan", "content": "Với lợi thế đồng ruộng bằng phẳng và rộng, được bồi đắt bởi phù sa của sông Văn Úc và sông Mía bao quanh nên vùng đất màu mỡ nơi đây có một điều kiện thổ nhưỡng riêng, rất phù hợp cho sản xuất giống nếp cái hoa vàng. Đây cũng là lý do mà sản phẩm nếp cái hoa vàng Đại Thắng có sự khác biệt với sản phẩm được sản xuất từ những nơi khác: hạt mẩy, tròn, có màu trắng đục, gạo dẻo hơn và thơm hơn khi nấu thành xôi. Trên đồng đất Đại Thắng cứ vào vụ mùa nhà ai cũng cấy nếp cái hoa vàng, bởi nó cho giá trị thu nhập cao hơn nhiều so với cấy các giống lúa khác từ 2-3 lần. Cũng chính vì lẽ đó mà từ nhiều năm nay, diện tích trồng giống lúa này luôn ổn định, khoảng 300 ha/năm, chiếm 90-100% diện tích lúa mùa toàn xã. Cho đến nay, không địa phương nào có được có đến 90% diện tích đất nông nghiệp cấy nếp cái hoa vàng như ở Đại Thắng.\nĐại Thắng là xã có diện tích gieo trồng nếp cái hoa vàng lớn nhất so với các địa phương khác. Ở nhiều nơi khác, do trồng tản mạn và không chú trọng thâm canh, có nơi lúa nếp cái hoa vàng đã dần bị thoái hóa, gạo ít dẻo và thơm ngon như trước. Ở Hải Dương, nơi đầu tiên phục tráng, bảo tồn giống lúa này nhưng đến nay mới chỉ có 18ha tại 3 xã An Phụ, Phạm Mệnh, Long Xuyên, huyện Kinh Môn. Ở Đông Triều, Quảng Ninh nơi có diện tích trồng nếp cái hoa vàng lớn, đã được Cục sở hữu trí tuệ đã ký quyết định số 68611/QĐ-SHTT cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 216248, tuy nhiên diện tích canh tác tản mạn ở 7 xã Yên Đức, Hồng Phong, Hoàng Quế, Nguyễn Huệ... với 600 ha Tại Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa, diện tích nếp cái hoa vàng là 77,6ha. Tại Thái Sơn, Bắc Giang là 30ha. Tại Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình, diện tích nếp cái hoa vàng mới chiếm gần 80% diện tích canh tác. Tại Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội là 50 ha." }, { "section": "Đặc điểm", "content": "Lúa nếp cái hoa vàng Đại Thắng có chiều cao khoảng 120–125 cm, cây cứng, gốc thân to, chống đổ tương đối tốt. Thời gian sinh trưởng dài tới 160 ngày, gieo mạ đầu tháng 6, khả năng đẻ nhánh trung bình yếu (tỷ lệ bông hữu hiệu 50-55%), trỗ bông xung quanh tiết hàn lộ mùng 8 tháng 10 (vì đặc điểm sinh trưởng là phản ứng với ánh sáng ngày ngắn), thu hoạch khoảng một tháng sau khi trổ.\nLúa có khả năng chịu phèn, chịu chua và trũng khá, chịu hạn cuối vụ tương đối tốt; kháng bệnh đạo ôn hay bệnh khô vằn tốt, kháng bệnh bạc lá ở mức trung bình và có thể bị nhiễm sâu đục thân nặng. Năng suất 49-55 tạ/ha, 126,77 hạt chắc/bông. Hạt thóc tròn, dẹt và nhỏ hơn nếp thường, có màu vàng nâu sẫm, tỷ lệ chiều rộng và chiều dài hạt khoảng 1,82 và khối lượng 1000 hạt trung bình 25,5 gram. Gạo hạt ngắn, có hình dáng hơi tròn, màu trắng đục và có mùi thơm nhẹ; sau khi nấu thành cơm(xôi) sẽ cho hạt căng, nở đều, màu trắng ngà, bóng, ráo nước, mềm, dẻo, khi ăn có vị đậm, ngậy thơm và lâu lại gạo; hàm lượng các chất dinh dưỡng như: protein, gluxit, vitamin B, tinh bột đều ở mức cao." }, { "section": "Sử dụng", "content": "Nếp cái hoa vàng Đại Thắng thường được sử dụng nấu cơm nếp, nấu xôi, nấu rượu, gói bánh chưng... Bánh gói bằng nếp cái hoa vàng dẻo, thơm, có thể để được 15-20 ngày trong mùa lạnh mà không bị lại gạo và khác với bánh chưng gói bằng gạo nếp loại khác ở chỗ khi cắt xong bằng lạt bánh sẽ tự dính liền. Nếu không biết cách, cứ dùng sức mà xắn thì có thể bị gẫy đũa. Rượu nếp cái hoa vàng được nấu theo phương pháp cổ truyền, vị êm, hương thơm, không gây đau đầu." } ]
Quýt Hương Cần
https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%BDt_H%C6%B0%C6%A1ng_C%E1%BA%A7n
[ { "section": "summary", "content": "Quýt Hương Cần là một giống quýt ngọt trồng nhiều ở Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều loại đặc sản về hoa quả nổi tiếng như long nhãn (nhãn xưa chỉ dành cho nhà vua dùng), măng cụt, bưởi Thanh Trà... ngoài ra, bên dòng sông Bồ, còn có quýt Hương Cần." }, { "section": "Đặc điểm", "content": "Quýt Hương Cần tên khoa học là Citrus deliciosa Tenore, thuộc chi Citrus, họ Rutaceae, nằm trong danh mục nguồn \"Gien cây trồng quý cần bảo tồn của Việt Nam\" (Ban hành theo QĐ số 80/2005/QĐ-BNN, ngày 5/12/2005 của Bộ NN-PTNT Việt Nam).\nCây quýt ưa khí hậu nóng, ẩm, nhiều ánh sáng, nên ở Giang Nam (Trung Quốc) được trồng nhiều. Ở Việt Nam có rất nhiều nơi trồng quýt nhưng quýt Hương Cần nổi tiếng nhờ được trồng trên đất phù sa của sông Bồ, thuộc Giáp Kiền?, làng Hương Cần. Người ta thường dùng phương pháp chiết cành để nhân giống giúp cho cây trồng mới phát triển nhanh và không bị thoái hóa giống sau nhiều năm.\nQuýt Hương Cần có đặc điểm khác với các loại quýt khác là khi chín (tháng 10-11) quả có màu vàng cam ở mặt quả và màu xanh lá cây ở phần cuống. Vỏ xốp mỏng như giấy rất dễ bóc, khi bóc quýt có mùi thơm đặc trưng. Các múi quýt dễ tách ra từng múi. Cơm màu hồng nhạt, khi ăn vị ngọt và thanh. Vì thế, mới có câu thơ của Tùng Thiện Vương: \"... chỉ dành để cho người yêu bóc, mùi thơm ngát tận xương...\"" }, { "section": "Lịch sử", "content": "Theo tác giả Trần Như Lãm trong Hương Cần - Làng quê xứ Huế (Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh - 2006) thì tương truyền tiếng ngon của quả quýt Hương Cần được ví như quýt vùng Giang Lăng (Giang Nam) của Trung Quốc. Nhà thơ Nguyễn Du đã có viết bài thơ \"Tống Nhân\" trong tập Nam Trung Tạp Ngâm, được Quách Tấn dịch, như sau:\n\nNhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm có viết bài thơ về quả quýt ở Hương Cần trong Thương Sơn thi tập (quyển 44, tờ 6a) như sau:" }, { "section": "Triển vọng", "content": "Ngày nay, nhờ kinh tế thị trường, một số hộ nhà nông ở làng Hương Cần, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế đã chuyển đổi hàng chục ha đất ruộng hoặc đất màu ở bãi bồi ven sông Bồ, Giáp Kiền, Hương Cần để trồng quýt. Nhờ đó, cuộc sống đã khá hơn, bình quân thu nhập gấp nhiều lần hơn trồng lúa (2007)." } ]
End of preview. Expand in Data Studio

No dataset card yet

Downloads last month
3