title
stringlengths
1
250
url
stringlengths
37
44
text
stringlengths
1
4.81k
Intron
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13215
Bài báo đã được đăng trên tạp chí Nature. Các đoạn intron này cũng có thể chứa những "đoạn mã hóa tổ tiên" (old code) mã hóa cho các biểu hiện đã được bị bất hoạt của tế bào hay con người ví dụ như tế bào tiết chất nhầy (ung thư dạ dày),có "gai", bất tử, tăng sinh nhanh v.v. Các đoạn intron theo kiểu virus gắn vào chiế...
Tranh độc bản
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13221
Tranh độc bản là tác phẩm hội họa chỉ có một bản duy nhất, không có bản thứ hai. Trong hội họa, hầu hết các tác phẩm vẽ bằng sơn dầu, lụa, chì, màu nước... đều là độc bản, những tranh chép lại chỉ là phiên bản. Tuy vậy, trong thực tế, người ta ít dùng thuật ngữ độc bản để chỉ các tranh trên. Thuật ngữ này thường dùng đ...
Hoằng Nhẫn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13223
Hoằng Nhẫn (zh. "hóngrěn" 弘忍, ja. "gunin"), cũng được gọi là Hoằng Nhẫn Hoàng Mai , là Thiền sư Trung Quốc, vị Tổ thứ năm của Thiền tông. Sư kế thừa tổ nghiệp từ Tứ Tổ Đạo Tín, dưới sự giáo hóa của sư, Thiền Tông phát triển thịnh hành, có nhiều người đắc pháp nên người đời tôn xưng là Pháp Môn Đông Sơn, lấy tư tưởng củ...
Hoằng Nhẫn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13223
Niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai, sư nói với các môn đệ: "Việc ta nay đã xong, đến lúc phải đi thôi". Rồi vào thất, ngồi an nhiên thị tịch, thọ 74 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ núi tại Đông Sơn, Hoàng Mai. Vua Đường Đại Tông ban hiệu là Đại Mãn Thiền sư, tháp hiệu Pháp Vũ. Pháp ngữ. Có người hỏi rằng: “Người học tập Phật...
Thần Tú
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13224
Thần Tú (zh. "shénxiù" 神秀, ja. "jinshū"), ~ 605-706, cũng được gọi là Ngọc Tuyền Thần Tú, là một thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Theo truyền thuyết, sư thua cuộc trong việc chọn người nối pháp của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng được truyền y bát. Sư vẫn tự xem mình là người nối pháp ...
Đạo Tín
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13225
Đại sư Đạo Tín (zh. "dàoxìn" 道信, ja. "dōshin"), 580-651, là Thiền sư Trung Quốc, Tổ thứ tư của Thiền tông. Sư là đệ tử tâm truyền của Tam tổ Tăng Xán. Sư có hai đệ tử nối pháp là Đại sư Hoằng Nhẫn - người trở thành Ngũ Tổ Thiền Tông và Thiền sư Ngưu Đầu Pháp Dung - người sáng lập Ngưu Đầu Thiền nổi tiếng trong lịch sử ...
Đạo Tín
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13225
Thời nhà Tùy, niên hiệu Đại Nghiệp, năm thứ mười ba, Sư cùng các môn đệ đi đến Cát Châu, gặp lúc bọn giặc vây thành đến 70 ngày vẫn chưa giải vây được, muôn dân trong thành sợ hãi. Sư thương tình dạy họ niệm Ma-ha Bát-nhã. Bên ngoài, bọn giặc nhìn lên bờ thành thấy như có thần binh xuất hiện. Bọn giặc bảo nhau: "Bên tr...
Đạo Tín
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13225
Nói xong, sư ngồi yên thị tịch, thọ 72 tuổi, tháp lập ngay tại núi Phá Đầu. Vua Đường Đại Tông sắc hiệu là Đại Y Thiền sư, tháp hiệu Từ Vân.
Tăng Xán
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13226
Đại sư Tăng Xán (zh. "sēngcàn" 僧璨, ja. "sōsan"),(529-613), là Thiền sư Trung Quốc, Tổ thứ ba của Thiền tông, nối pháp Nhị tổ Huệ Khả và là thầy của Tứ tổ Đạo Tín. Sau khi được ấn khả, Sư lang thang đây đó, sống ẩn dật không ai biết. Ngoài Thiền sư Đạo Tín, Sư có truyền pháp cho một vị tăng người Ấn Độ là Tì-ni-đa-lưu-c...
Tăng Xán
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13226
Và tổ nói kệ truyền pháp:Phiên âm: Bản lai duyên hữu địa Nhân địa chủng hoa sinh Bản lai vô hữu chủng Hoa diệc bất tằng sinh Tạm dịch: "Xưa nay nhân có đất" "Từ đất giống hoa sinh" "Xưa nay không có giống" "Hoa cũng chẳng từng sinh."Tổ trao Y cà sa và Pháp xong, nói: "Ông nhận giáo pháp của ta rồi nên tìm vào núi sâu ẩ...
Huệ Khả
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13227
Đại sư Huệ Khả (zh. "huìkě" 慧可, ja. "eka"; 487-593) là Thiền sư Trung Quốc, vị Tổ thứ hai của Thiền tông Trung Quốc. Sư được tổ thứ 28 của Thiền Tông Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn và căn dặn gìn giữ, truyền bá mạng mạch Thiền Tông tại Trung Quốc. Dưới sư có 17 đệ tử đắc đạo, trong đó Đại sư Tăng Xán là được tâm t...
Huệ Khả
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13227
Ban đầu Bồ-đề-đạt-ma chẳng để ý đến sự hiện diện của Sư, để sư đứng trong tuyết băng nhiều ngày. Để chứng minh Bồ-đề tâm của mình, sư tự chặt cánh tay trái dâng Bồ-đề-đạt-ma và sau đó được nhận là môn đệ. Tắc thứ 41 trong "Vô môn quan" có ghi lại cuộc đàm thoại đầu tiên giữa Bồ-đề-đạt-ma và Huệ Khả. Một hôm, tổ Đạt Ma ...
Huệ Khả
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13227
Do vì ta vốn rời Nam Ấn Độ để tới Đông Độ này, thấy Xích huyện, Thần châu có khí tượng Đại thừa nên vượt qua biển cả, sa mạc, đem Pháp cứu người. Buổi đầu gặp nhau chẳng hợp, nói năng ngập ngừng, như khờ, tự dại, nay đã truyền được cho ông, ý ta đã vẹn rồi vậy". Đến khi Tổ Đạt Ma về Tây, sư nối tiếp xiển dương Chính ph...
Nam Dương Huệ Trung
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13228
Nam Dương Huệ Trung (zh. "nányáng huìzhōng" 南陽慧忠, ja. "nanyo echū") 675?-775 (772), còn được gọi là Huệ Trung Quốc sư, Trung Quốc sư, là một thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc, đạt yếu chỉ của Lục tổ Huệ Năng. Sư là vị thiền sư đầu tiên được ban danh hiệu Quốc sư. Cơ duyên ngộ đạo. Sư họ Nhiễm, quê ở ...
Thanh Nguyên Hành Tư
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13229
Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư (zh. "qīngyuán xíngsī" 青原行思, ja. "seigen gyōshi"), 660-740, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Từ nhánh của sư xuất phát ra ba tông trong Ngũ gia thất tông là Tào Động Tông, Vân Môn Tông, Pháp Nhãn Tông. Sư có đệ tử đắc pháp duy nhất là Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên...
Thanh Nguyên Hành Tư
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13229
Sau khi truyền pháp cho Hi Thiên xong, ngày 13 tháng 12 năm Canh Thìn, đời nhà Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28, sư từ biệt chúng lên pháp đường ngồi kiết già mà tịch. Vua Đường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn. Pháp ngữ. Có tăng nhân đến hỏi: Thế nào là đại ý của Phật pháp ? Sư đáp: Gạo...
Thạch Đầu Hi Thiên
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13230
Thạch Đầu Hi Thiên (zh. "shítóu xīqiān" 石頭希遷, ja. "sekitō kisen"), 700-790, là Thiền sư Trung Quốc, sống vào thời nhà Đường. Pháp tử duy nhất của Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư. Môn đệ của sư có ba vị danh tiếng là Dược Sơn Duy Nghiễm, Đan Hà Thiên Nhiên và Thiên Hoàng Đạo Ngộ. Sư được tôn xưng là pháp chủ của một vùng ...
Thạch Đầu Hi Thiên
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13230
Tại phía Đông của Nam Tự có một phiến đá to, bằng phẳng như cái đài, sư bèn kết am nơi phiến đá đó mà ở. Người đời nhân đó phần đông gọi sư là Thạch Đầu Hòa thượng. Sư có trước tác bài tụng Tham Đồng Khế, chứa đựng lời lẽ chỉ ý sâu thẳm vi diệu, khá được nhiều người chú giải, truyền rộng trong đời. Về sau tác phẩm này ...
Thạch Đầu Hi Thiên
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13230
Các vị nếu hiểu được đạo lý trong đó, thì chẳng cần ở tại đây mà tham Thiền làm gì ! Lúc đó, có môn nhân Đạo Ngộ hỏi: Chỉ ý của Lục Tổ ở Tào Khê ai là người được? Sư nói: Kẻ hiểu Phật pháp được. Đạo Ngộ hỏi: Sư phụ có được không? Sư nói: Ta không hiểu Phật pháp. Có ông tăng hỏi: Tu hành như thế nào thì được giải thoát?...
Ba Lăng Hạo Giám
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13231
Ba Lăng Hạo Giám (zh. "bālíng hàojiàn" 巴陵顥鋻, ja. "haryō kōkan"), thế kỷ thứ 10, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Vân Môn Văn Yển. Sử sách không lưu lại nhiều tài liệu về Sư, chỉ biết là sư thường Hành cước, không lưu lại lâu dài nơi Vân Môn và cũng chưa được thầy ấn chứng nơi đây. Sau khi rời Vân Môn chu du,...
Dược Sơn Duy Nghiễm
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13232
Dược Sơn Duy Nghiễm (zh. "yàoshān wéiyǎn" 藥山惟儼, ja. "yakusan igen"), 745-828 hoặc 750-834, là Thiền sư Trung Quốc đời Đường, môn đệ xuất sắc của thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên. Nối pháp của sư có nhiều người, trong đó Đạo Ngô Viên Trí, Vân Nham Đàm Thạnh và Thuyền Tử Đức Thành (Hoa Đình Thuyền Tử) là ba người được sử sách...
Dược Sơn Duy Nghiễm
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13232
Sư nói: "Đối với con, ngay tư tưởng không đeo theo lời lẽ chữ nghĩa cũng không giao thiệp". Thạch Đầu nói: "Ông trong đó thành kim đâm cũng không thấu" (Nguyên văn ‘Châm trác bất tấn’). Sư nói: "Trong đó như trên đá trồng hoa" (Nguyên văn ‘Thạch thượng tài hoa’). Thạch Đầu rất đồng ý. Sau sư đến trụ trì ở núi Dược Sơn,...
Dược Sơn Duy Nghiễm
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13232
Tăng hỏi: Thế nào là Niết-bàn? Sư nói: Lúc ông chưa mở miệng gọi là gì? Sư hỏi tăng: Từ đâu tới? Tăng đáp: Từ Hồ Nam đến. Sư hỏi: Nước Hồ Động Đình đầy chưa? Tăng đáp: Chưa. Sư nói: Mưa biết bao lâu rồi mà sao nước hồ chưa đầy vậy cà? Tăng không lời đối đáp.
Đan Hà Thiên Nhiên
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13233
Thiền sư Đan Hà Thiên Nhiên (zh."dānxiá tiānrán" 丹霞天然, ja. "tanka tennen"), 739-824, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên và Mã Tổ Đạo Nhất , có đệ tử nối pháp là Thiền sư Thuý Vi Vô Học. Sư là nhân vật chính trong Công án 76 của tập "Bích nham lục". Cơ duyên. Như Thiền sư Viên Ngộ Phật Quả th...
Đan Hà Thiên Nhiên
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13233
Trong khoảng niên hiệu Đường Nguyên Hòa (806 - 821), sư đến Hương Sơn Long Môn ở Lạc Dương, cùng Hòa thượng Phục Ngưu kết thành bạn không bao giờ nghịch ý. Một hôm, sư đến chùa Huệ Lâm, gặp lúc trời lạnh, sư bèn lấy tượng Phật gỗ đốt để sưởi, viện chủ trông thấy quở: Viên chủ bảo: "Phật gỗ làm gì có xá lợi?" Năm thứ ba...
Thiên Hoàng Đạo Ngộ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13234
Thiền sư Thiên Hoàng Đạo Ngộ (zh. "tiānhuáng dàowù" 天皇道悟, ja. "tennō dōgo"), 738/748-807, là Thiền sư Trung Quốc sống vào đời Đường. Sư thuộc dòng pháp Thanh Nguyên Hành Tư, đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên. Đệ tử nối pháp của sư là Thiền sư Long Đàm Sùng Tín. Cơ duyên. Sư qưê ở Đông Dương, Vụ Châu, họ Trương. ...
Thiên Hoàng Đạo Ngộ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13234
Sư nhân câu hỏi này triệt ngộ, mọi thắc mắc nghi ngờ đều tan biến. Sư được Mã Tổ và Thạch Đầu là hai vị Thiền sư kiệt xuất rèn luyện, nên đối với tông chỉ của Thiền tông chổ ngộ rất sâu, nhưng sư thường ẩn giấu tung tích. Hoằng pháp. Sau đó, sư trụ tại núi Sài Tử, Đương Dương, Kinh Châu, tăng ni khắp nơi đua nhau đến t...
Thiên Hoàng Đạo Ngộ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13234
Sư quát: "Đi! Chẳng phải chỗ ông nương tựa."
Long Đàm Sùng Tín
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13235
Long Đàm Sùng Tín (zh. "lóngtán chóngxìn" 龍潭崇信, ja. "ryūta sōshin"), thế kỷ 8/9, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thiên Hoàng Đạo Ngộ. Môn đệ lừng danh của sư là Thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám. Cơ duyên. Sư con nhà bán bánh, quê ở Chữ Cung(Chiết Giang), không biết sư họ tên gì, từ nhỏ sư rất kỳ lạ. Trước kia, T...
Long Đàm Sùng Tín
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13235
Sư không đáp, hỏi: "Làm ni đã bao lâu?" Ni hỏi nữa: "Lại có khi làm tăng chăng?" Sư bảo: "Hiện nay ngươi là gì?" Ni đáp: "Hiện nay là ni ai chẳng biết!". Sư đáp: "Ai biết ngươi?" Không biết sư mất năm nào.
Đức Sơn Tuyên Giám
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13236
Đức Sơn Tuyên Giám (zh. "déshān xuānjiàn" 德山宣鑒, ja. "tokusan senkan"), 782-865, là Thiền sư Trung Quốc, một trong những Thiền sư lỗi lạc nhất đời Đường. Sư có 9 môn đệ được ấn khả, trong đó hai vị Nham Đầu Toàn Hoát và Tuyết Phong Nghĩa Tồn đứng hàng đầu. Sư nối pháp Long Đàm Sùng Tín thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư và...
Đức Sơn Tuyên Giám
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13236
Đến Quy Sơn Linh Hựu, sư vào pháp đường từ phía Tây đi qua phía Đông, lại từ Đông sang Tây, hỏi: Sư dạy chúng: Sư lâm bệnh, tăng hỏi: Nói xong sư ngồi yên lặng viên tịch, nhằm đời Đường, niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu, ngày mùng ba tháng 12 năm Ất Dậu. Vua sắc phong Kiến Tính Đại sư.
Nham Đầu Toàn Hoát
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13237
Nham Đầu Toàn Hoát (zh. "yántóu quánhuò" 巖頭全豁, ja. "gantō zenkatsu"), 828-887, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ xuất sắc của Đức Sơn Tuyên Giám. Thiền sư Thuỵ Nham Sư Ngạn là người nối pháp của Sư. Cơ duyên. Sư họ Kha, quê ở Tuyền Châu, xuất gia lúc còn nhỏ tuổi. Sau đó sư du lịch bốn phương, kết bạn cùng Tuyết Phong Ng...
Vô thức
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13238
Tâm trí vô thức (hoặc vô thức) bao gồm các quá trình trong tâm trí xảy ra tự động và không có sẵn để hướng nội và bao gồm các quá trình suy nghĩ, ký ức, sở thích và động lực. Mặc dù các quá trình này tồn tại tốt dưới bề mặt nhận thức có ý thức, chúng được lý thuyết hóa để tác động đến hành vi. Thuật ngữ này được nhà tr...
Tuyết Phong Nghĩa Tồn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13239
Tuyết Phong Nghĩa Tồn (zh. "xuéfēng yìcún" 雪峰義存, ja. "seppō gison"), 822-908, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Đức Sơn Tuyên Giám. Từ dòng thiền của sư xuất sinh ra hai tông lớn của Thiền tông, đó là Vân Môn tông và Pháp Nhãn tông. Sư ấn khả cho 56 môn đệ, trong đó các vị Vân Môn Văn Yển, Huyền Sa Sư Bị và Trường Khá...
Vân Nham Đàm Thịnh
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13240
Vân Nham Đàm Thịnh (zh. "yúnyán tánshèng" 雲巖曇晟, ja. "ungan donjō"), 781-841, là Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm. Thiền sư Động Sơn Lương Giới là môn đệ giỏi nhất của Sư, người khai sáng tông Tào Động. Cơ duyên. Sư họ Vương, người Chung Lăng, Kiến Xương. Từ thuở thiếu niên sư đã xuất gia ở...
Đạo Ngô Viên Trí
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13241
Đạo Ngô Viên Trí (zh. "dàowú yuánzhi" 道吾圓智, ja. "dōgo enchi"), 768/69-835, là một Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, bạn đồng học với Thuyền Tử Đức Thành và Vân Nham Đàm Thạnh. Môn đệ xuất sắc của sư là Thạch Sương Khánh Chư. Tắc 55. và 89 trong "Bích nham lục" nhắc đến Sư. Cơ duyên. Sư họ Tr...
Thuyền Tử Đức Thành
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13242
Thuyền Tử Đức Thành (zh. "chuánzǐ déchéng" 船字德誠, ja. "sensu tokujō"), tk. 8-9, là Thiền sư Trung Quốc, sư đạt yếu chỉ nơi Thiền sưDược Sơn Duy Nghiễm. Sư chỉ có một người đệ tử ngộ đạo là Thiền sư Giáp Sơn Thiện Hội. Đời sau còn nhớ đến sư qua phong cách thị tịch kỳ lạ. Cơ duyên & hành trạng. Sư là người nhanh nhẹn...
Giáp Sơn Thiện Hội
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13243
Giáp Sơn Thiện Hội (zh. "jiāshān shānhuì" 夾山善會, ja. "kassan zen`e" 805-881, là Thiền sư Trung Quốc. sư đắc pháp nơi Thuyền Tử Đức Thành (Hoa Đình Thuyền Tử). Sau sư đến Giáp Sơn trụ trì, môn đệ đến học tấp nập. Môn đệ đắc pháp nổi danh của sư là Lạc Phổ Nguyên An. Cơ duyên. Sư họ Liêu, quê ở Hiện Đình, Quảng Châu. Năm ...
Nam Tuyền Phổ Nguyện
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13244
Nam Tuyền Phổ Nguyện (zh. "nánquán pǔyuàn" 南泉普願, ja. "nansen fugan"), 738-835, là Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ lừng danh của Mã Tổ Đạo Nhất và là thầy của một học trò không kém uy dũng là Triệu Châu Tòng Thẩm. Ngoài Triệu Châu ra, sư còn 17 đệ tử nối pháp nhưng không ai vượt qua pháp lực của hai vị Triệu...
Đại Châu Huệ Hải
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13245
Đại Châu Huệ Hải (zh. 大珠慧海, ja. "daishū ekai"), thế kỷ 8/9, là một Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Mã Tổ Đạo Nhất. Sư có để lại hai bộ sách quý là "Đại Châu ngữ lục" và "Đốn ngộ nhập đạo yếu môn luận".
Đại Mai Pháp Thường
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13246
Đại Mai Pháp Thường (zh:大梅法常 ,dàméi fǎcháng; 752-839), là một Thiền sư Trung Quốc, pháp tử của Mã Tổ Đạo Nhất và thầy của Hàng Châu Thiên Long. Cơ duyên. Sư nguyên họ Trịnh, quê ở Tương Dương, xuất gia từ nhỏ, theo Thầy ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu. Ban sơ đến tham vấn Mã Tổ. Sư hỏi Tổ: "Thế nào là Phật?" Nhân đây sư đ...
Pháp Dung
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13247
Pháp Dung (zh. "fǎróng" 法融, ja. "hōyū"), 594-657, là Thiền sư Trung Quốc, người sáng lập thiền phái Ngưu Đầu. sư là môn đệ của Tứ tổ Đạo Tín. Cơ duyên. Thuở nhỏ sư theo học Nho giáo và năm 19 tuổi đã thông kinh sử. Vì không hài lòng với những gì đạt được, sư chuyển qua tham học Phật pháp và đến núi Ngưu Đầu ở trong han...
Pháp Nhãn tông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13248
Pháp Nhãn tông (zh. "fǎyǎn-zōng" 法眼宗, ja. "hōgen-shū") là một trường phái của Thiền tông Trung Quốc, được xếp vào Ngũ gia thất tông (五家七宗). Tông này bắt nguồn từ Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn và ban đầu cũng được gọi là Huyền Sa tông. Sau đó pháp tôn của thiền sư Huyền Sa Sư Bị là Thiền sư Phá...
Pháp Nhãn tông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13248
Thiền Lý. Dựa trên tư tưởng Kinh Hoa Nghiêm, Thiền Sư Pháp Nhãn đã đưa ra Lục Tướng(六相) tức 6 tướng có thể thấy nơi hữu tình chúng sinh gồm: Tổng (總), Biệt (別), Đồng (同), Dị (異), Thành (成), Hoại (壞). Bài tụng Lục Tướng của Thiền Sư Pháp Nhãn:Hoa Nghiêm nghĩa sáu tướng Trong đồng lại có dị Nếu là dị nơi đồng Chẳng phải ...
Radar
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13249
Radar (phiên âm tiếng Việt: "ra-đa") là thuật ngữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "radio detection and ranging" (dò tìm và định vị bằng sóng vô tuyến). Đây là một hệ thống dò tìm sử dụng sóng vô tuyến để xác định khoảng cách (phạm vi), góc phương vị hoặc vận tốc của 1 hoặc nhiều đối tượng, có thể được sử dụng để phát hiệ...
Radar
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13249
Ngay sau khi ra đời, radar đã phát huy tác dụng chiến lược của nó trong trận không chiến tại Anh diễn ra năm 1940. Mặc dù chỉ có cự ly hoạt động trong 10 dặm (16 km) nhưng hệ thống đã có độ phân giải đủ lớn để có thể phát hiện một máy bay ném bom hay tiêm kích đang đến gần. Quan trọng hơn, hệ thống đã được sử dụng để ...
Radar
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13249
Điều đó đặc biệt đúng với các vật liệu dẫn điện như kim loại hay sợi cacbon, làm cho radar đặc biệt thích hợp để định vị các máy bay hay tàu thuyền. Các vật liệu hấp thụ radar, gồm có các chất có điện trở và có từ tính, dùng trong các thiết bị quân sự để giảm sự phản xạ radar, giúp cho chúng khó bị phát hiện hơn trên m...
Radar
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13249
Cùng một lý do đó, để tránh việc bị phát hiện, người ta có thể làm cho các bề mặt có độ cong thích hợp để giảm các góc trong và tránh bề mặt và góc vuông góc với hướng định vị. Các thiết kế kiểu này thường dẫn đến hình dạng kỳ lạ của các máy bay tàng hình. Các thận trọng như thế không hoàn toàn loại bỏ sự phản xạ gây r...
Radar
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13249
Để lượng hóa độ nhiễu, người ta đưa ra chỉ số nhiễu, là tỷ số giữa cường độ sóng nhiễu thu được trên đầu nhận so với một đầu nhận lý tưởng. Chỉ số này cần được giảm thiểu.
Hoa nghiêm kinh
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13251
Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (zh. 大方廣佛華嚴經, sa. "Mahāvaipulya Buddhāvataṃsaka Sūtra", ja. "Daihō Kōbutsu Kegonkyō"), thường được gọi tắt là kinh Hoa Nghiêm (sa. "Avataṃsakasūtra") là một kinh điển Đại thừa. Kinh Hoa Nghiêm được đánh giá là kinh điển đồ sồ nhất và dài nhất trong số các kinh của Phật giáo, theo n...
Hoa nghiêm kinh
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13251
Bộ kinh này được dịch ra Hán văn dưới ba dạng, bộ 40 quyển của Bát-nhã (sa. "prajñā"), bộ 60 quyển của Phật-đà-bạt-đà-la (cũng gọi là Giác Hiền, sa. "buddhabhadra"), và bộ 80 quyển của Thật-xoa-nan-đà (sa. "śikṣānanda"). Phẩm "Hoa Nghiêm" – chữ Phạn là "gaṇḍavyūha" – tương đương với bộ 40 quyển của Pháp sư Bát-nhã nên ...
Động Sơn Lương Giới
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13256
Động Sơn Lương Giới (zh. "dòngshān liángjiè" 洞山良价, ja. "tōzan ryōkai"), 807-869, là Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Vân Nham Đàm Thạnh. Cùng với môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch, sư sáng lập tông Tào Động, một dòng Thiền được lưu truyền đến ngày nay. Sư quyền khai Ngũ vị để giáo hoá học đồ, đời sau gọi là Động Sơn ...
Động Sơn Lương Giới
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13256
Có vị đại thí chủ là Lôi Phong quy y theo sư và phát tâm cúng dàng xây cất ngôi Động Sơn Quảng Phúc Tự, tức là Động Sơn Phổ Lợi Thiền viện, làm cơ sở cho sư xiển dương tông phong của mình và rất được thịnh hành, về sau nơi đây trở thành tổ đình chính của Tông Tào Động. Dưới sư có nhiều môn đệ xuất sắc làm trụ cột cho P...
Động Sơn ngũ vị
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13257
Động Sơn ngũ vị (zh. 洞山五位, ja. "tōzan (ryōkai) go-i"), còn được gọi là Ngũ vị quân thần, là năm địa vị của giác ngộ, được Thiền sư Động Sơn Lương Giới và môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch đề xướng. Biểu thị Chính (正) ở đây có nghĩa là Thể, tính Không (空), Lý (理). Thiên (偏) chỉ cho Dụng (用), Sắc (色), Sự (事). Ngũ vị được nêu rõ...
Động Sơn ngũ vị
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13257
Đây là Phật quả tối thượng. Bài tụng: Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư giải: Tương truyền rằng, Động Sơn được thầy là Vân Nham Đàm Thạnh chân truyền thuyết Ngũ vị và truyền lại cho Tào Sơn, người đã phát triển và hoàn chỉnh công thức này. Ngũ vị được xem là công thức biện chứng tuyệt hảo nhất của Thiền tông Trung Quốc. Thiền...
Ngụy Văn Thà
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13274
Ngụy Văn Thà (1943-1974) là một sĩ quan Chỉ huy của Hải quân Việt Nam Cộng hòa thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Hải quân Thiếu tá. Chức vụ cuối cùng của ông là Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10. Ông đã tử trận trong hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974, được truy thăng cấp bậc Hải quân Trung tá. Tiể...
Ngụy Văn Thà
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13274
Bấy giờ, tàu HQ-10 đang có một máy chính và radar hải hành đang ở trạng thái hư hỏng không sử dụng được. Vào lúc 10 giờ 22 phút sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974, trận giao chiến giữa lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc đã nổ ra. Mỗi bên đều có 4 tàu, tuy nhiên tàu của Quân lực VNCH to hơn và trang ...
Ngụy Văn Thà
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13274
Cũng theo Trung tá Thự thì: Tới 11 giờ 49 phút, khi các chiến hạm khác của Việt Nam Cộng hòa đã rút khỏi vùng giao chiến, hai chiến hạm Trung Quốc là 281 và 282 tiến vào vùng Hoàng Sa và tập trung hỏa lực bắn vào HQ-10. Hộ tống hạm Nhật Tảo chìm cùng thuyền trưởng và một số thủy thủ ở vị trí cách 2,5 hải lý về hướng na...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Sơn mài là một phát minh quan trọng trong công nghệ hóa học và nghệ thuật thủ công ở Trung Quốc cổ đại. Nó có nguồn gốc từ thời đại đồ đá mới, thường được sơn màu đỏ son và trang trí bằng màu đen, hoặc sơn màu đen và trang trí bằng màu đỏ son, tạo thành một thế giới đầy màu sắc lộng lẫy trên bề mặt đồ dùng với hoa văn ...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Về các sản phẩm hoàn thiện hiện đại, các sản phẩm hoàn thiện dựa trên sơn cánh kiến hòa tan trong rượu thường được gọi là sơn cánh kiến hoặc nhựa cánh kiến để phân biệt với sơn mài tổng hợp, thường được gọi đơn giản là sơn mài, bao gồm các polyme tổng hợp (chẳng hạn như nitrocellulose , cellulose axetat butyrate ("CAB"...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Thời kỳ này, đồ sơn mài thường được sơn đỏ son và trang trí đen, hoặc sơn đen trang trí đỏ son, tạo thành một thế giới sặc sỡ lộng lẫy trên bề mặt đồ dùng với những hoa văn đẹp mắt. Hơn 220 món đồ sơn mài đã được khai quật từ ngôi mộ của Tăng Hầu Ất ở Hồ Bắc. Đây là những đồ sơn mài sớm nhất và lộng lẫy nhất trong các ...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Các bức tượng Phật sơn mài và gai khô trong hang Mạc Cao rất tốn kém và tốn thời gian, nhưng chúng rất quý vì số lượng ít. Hiện tại, bức tượng Phật bằng vải gai và sơn mài khô Đôn Hoàng hoàn chỉnh nhất đã được lưu truyền tại Bảo tàng Anh ở Hoa Kỳ. Trong số những di tích Phật giáo được khai quật ở Khotan , có những bức ...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Đồng thời, phong tục sống và đặc điểm văn hóa của các dân tộc thiểu số như Mông Cổ, Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ và Mãn Châu đã gây ảnh hưởng nhất định đến văn hóa truyền thống của dân tộc Hán và làm phong phú thêm truyền thống văn hóa của dân tộc Trung Hoa . Ngoại thương của các triều đại nhà Minh và nhà Thanh tương đối phát...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Hầu hết các sản phẩm được nhập khẩu từ Nhật Bản và Trung Quốc qua Ấn Độ đã được điều chỉnh cho phù hợp với phong tục và thị hiếu của phương Tây. Tác phẩm sơn mài Nhật Bản là một trong những mặt hàng phổ biến nhất được xuất khẩu sang Châu Âu bởi các thương nhân Bồ Đào Nha từ thế kỷ XVI. Hai thế kỷ sau, Hoàng hậu Marie-A...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Một số tác phẩm nghệ thuật sơn mài trang trí đẹp hơn được tạo ra nhờ quá trình maki-e (蒔 絵). Kỹ thuật hàng nghìn năm tuổi này bao gồm rắc sơn mài với các hạt vàng và bạc mịn, khảm xà cừ (raden) hoặc thiếc và phun các mảnh vàng, bạc hoặc đồng lên lớp sơn mài vẫn còn ướt. Các chi tiết được đặt đúng vị trí với các lớp sơn...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Nguyên liệu. Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai, v.v. vẽ trên nền vóc màu đen. Đầu thập niên 1930, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi phát hiện thêm các ...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy (hoặc vải màn) sau đó còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho các nẹp gỗ ngang ở sau tấm vóc (ván gỗ) để chống vết rạn xé dọc tấm vải. Sau đó để gỗ khô kiệt mới hom sơn kín cả mặt trước, mặt sau. Công đoạn này nhằm bảo vệ tấm vóc không thể thấm nước, không bị mối mọt, không phụ ...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Làng nghề sơn mài Hạ Thái, Làng nghề sơn mài Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) thường lấy quỳ vàng, quỳ bạc của làng Kiêu Kị (Gia Lâm), lấy giấy dó của làng Đông Cao, lấy vải màn của làng Đình Cả, lấy vóc hoặc sản phẩm chạm khắc của làng Phù Khê, lấy nguồn sơn thô của Phú Thọ, Yên Bái và lấy nguồn dầu trẩu, dầu trám của Lạ...
Sơn mài
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13283
Các họa sĩ nổi tiếng với tranh sơn mài. Trước thập niên 1930, người ta chỉ dùng sơn ta trong trang trí đồ thờ cúng, làm hàng mỹ nghệ. Vào thời gian này, một số họa sĩ Việt Nam đầu tiên đang học như Trần Đình Thọ, Nguyễn Gia Trí, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn và nghệ nhân Đinh Văn Thành, hai anh em Doãn Chí Công ...
Tranh lụa
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13293
Tranh lụa là một trong những loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc. Các loại màu (hạt màu trộn với keo thực vật hoặc keo động vật) được vẽ trên vật liệu đỡ là tấm vải lụa. Tranh lụa cổ. Tranh lụa có nguồn gốc lâu đời từ Trung Quốc và du nhập vào Nhật Bản, ở thời Minh Trị còn đư...
Tranh lụa
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13293
Họ mở rộng hơn đề tài, kỹ thuật và đã có những thành công mới. Nguyễn Thụ là một họa sĩ chuyên nhất về tranh lụa, có một phong cách riêng biệt. Bố cục tranh của ông đơn giản, nhịp nhàng, màu sắc mát mẻ êm dịu; bút pháp phóng khoáng, nhẹ nhàng; không gian mờ ảo thơ mộng với những nhân vật bình dị, thân quen... Một số nữ...
Tranh lụa
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13293
Khi vẽ lụa, người ta thường vẽ từ nhạt đến đậm, màu nhạt chồng lên nhau nhiều lần sẽ thành đậm nhưng vẫn nhìn thấy thớ lụa tạo nên vẻ đẹp của chất lụa. Vẽ chồng lên nhau bằng các màu khác nhau cũng là một cách pha màu. Thỉnh thoảng, khi màu đã khô, phải rửa nhẹ cho sạch những chất bẩn nổi lên mặt lụa và để cho màu ngấm...
Sóng vô tuyến
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13299
Sóng vô tuyến (tiếng Anh: "radio wave", gọi tắt là "radio") là một kiểu bức xạ điện từ với bước sóng trong phổ điện từ dài hơn vi ba. Sóng vô tuyến có tần số từ 3 kHz tới 300 GHz, tương ứng bước sóng từ 10.000 km tới 1 mm. Giống như các sóng điện từ khác, chúng truyền với vận tốc ánh sáng. Sóng vô tuyến xuất hiện tự nh...
Sóng vô tuyến
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13299
Khoảng cách sóng vô tuyến đi được trong 1 giây ở chân không là 299.792.458 mét, đây là bước sóng của tín hiệu vô tuyến 1 Hertz. Một tín hiệu vô tuyến 1 Megahertz có bước sóng là 299 mét. Liên lạc vô tuyến. Để thu được tín hiệu vô tuyến, ví dụ như từ các đài vô tuyến AM/FM, cần một anten vô tuyến. Tuy nhiên, anten sẽ nh...
Nhuộm Gram
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13317
Nhuộm Gram là một phương pháp thực nghiệm nhằm phân biệt các loài vi khuẩn thành 2 nhóm ("Gram dương" và "Gram âm") dựa trên các đặc tính hoá lý của thành tế bào. Phương pháp này được đặt tên theo người phát minh ra nó, nhà khoa học người Đan Mạch Hans Christian Gram (1853-1938). Ông phát triển kỹ thuật này vào năm 188...
Nhuộm Gram
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13317
Nhiễm vi khuẩn Gram dương thường ít nguy hiểm hơn vì cơ thể người không có peptidoglycan, và có khả năng sản xuất lysozyme tấn công lớp peptidoglycan nằm ở bên ngoài của vi khuẩn. Quy trình. Kết quả. Quan sát lam kính dưới kính hiển vi Vi khuẩn không phân biệt được với phương pháp này được gọi là "Gram biến đổi". kính...
Thành tựu pháp
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13318
Thành tựu pháp (zh. 成就法, sa. "sādhana" hoặc "tantra") là từ dịch nghĩa từ thuật ngữ Phạn "sādhana", "tantra". Đôi lúc hai từ này cũng được dịch là Nghi quỹ (zh. 儀軌), với nghĩa chung là luật tắc, luật lệ, quỹ phạm, tín ngưỡng truyền thống. Nhưng trong Kim cương thừa thì từ "sādhana" được dịch là Thành tựu pháp để chỉ nh...
Mỹ học
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13324
Mỹ học là bộ môn khoa học có tính lý thuyết về sự nhận thức và thưởng thức cái đẹp trong thiên nhiên, trong nghệ thuật và trong xã hội. Thuật ngữ này là một phát kiến của triết gia người Đức Alexander Baumgarten, dùng để đặt tên cho tác phẩm "Aestheticä" (Mỹ học) của ông (1750–1758). Ông dùng từ "mỹ học" cho lý thuyết ...
Căn-đôn Châu-ba
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13330
Căn-đôn Châu-ba (bo. "dge `dun grub pa" དགེ་འདུན་གྲུབ་པ་, sa. "saṅghasiddhi") (sinh năm 1391 – mất ngày 15 tháng 01 năm 1475), là giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1438–1475, là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Tông-khách-ba. Sư được phong danh hiệu Gyalwang (bo. "rgyal dbang" རྒྱལ་དབང་) – "Người chiến thắng" – và sắc t...
Căn-đôn Châu-ba
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13330
"mūlamadhyamaka-śāstra-kārikā") của Long Thụ, "Nhập trung luận" (sa. "madhyamakāvatāta") của Nguyệt Xứng (sa. "candrakīrti"). Ngoài ra, Sư cũng thông hiểu Nhân minh học (sa. "hetuvidyā"), tự tay dịch và chú "Lượng thích luận" (sa. "pramāṇavarttika-kārikā") của Pháp Xứng (sa. "dharmakīrti"). Sư sống rất đơn giản, rất kh...
Ngawang Lobsang Gyatso
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13331
La-bốc-tạng Gia-mục-thố (zh. 羅卜藏嘉穆錯, bo. "blo bzang rgya mtsho" བློ་བཟང་རྒྱ་མཚོ་, sa. "sumatisāgara"), 1617-1682, là giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1622-1682, giữ quyền cai trị Tây Tạng từ 1642-1682. Sư là Đạt-lại Lạt-ma thứ năm và có lẽ là vị nổi danh nhất: Sư vẫn còn được dân Tây Tạng tôn trọng gọi là "Đại sư thứ năm". Sư ...
Đạo quả luận
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13333
Đạo quả luận (zh. 道果論, bo. "lam `bras" ལམ་འབྲས་, sa. "mārga-phala"), tức là luận về "Đạo và quả", là tên dùng cho một loạt tác phẩm của Kim cương thừa trong dòng Tát-ca (bo. "sa skya pa" ས་སྐྱ་པ་) tại Tây Tạng. Khuynh hướng của Kim cương thừa là "Đường đi chính là mục đích" được nêu ra rất rõ trong các tác phẩm này. Gố...
Lũng-cần Nhiêu-ráng-ba
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13335
Longchenpa (zh. 隴勤饒絳巴, bo. "klong chen pa" ཀློང་ཆེན་པ་), 1308-1364, là một đại sư Tây Tạng phái Nyingma (bo. "nyingmapa" རྙིང་མ་བ་), được tặng danh hiệu "Nhất thiết trí giả." Sư đóng một vai trò quan trọng trong giáo pháp Đại cứu cánh (bo. "rdzogs chen" རྫོགས་ཆེན་) vì đã phối hợp được nhánh của Đức Liên Hoa Sinh (sa. "...
Kinh lượng bộ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13337
Kinh lượng bộ (zh. 經量部, sa. "Sautrāntika"), hay Tăng-già-lan-đề-ca (僧伽蘭提迦, sa. "Saṃkrāntika"), Tu-đa-la luận bộ (修多羅論部), Thuyết độ bộ (說度部), Thuyết chuyển bộ (說轉部), Thuyết kinh bộ (說經部), Kinh bộ (經部)..., là một nhánh bộ phái Phật giáo xuất phát từ Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. "Sarvāstivādin") khoảng 150 năm trước Công...
Phổ Hiền
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13339
Phổ Hiền Bồ tát (dịch âm là "Tam mạn đà bạt đà la", hoặc "Tam mạn đà bạt đà", zh. "pǔxián" 普賢, sa. "samantabhadra", ja. "fugen", bo. "kun tu bzang po" ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་). "Phổ" là "biến khắp", Hiền là "Đẳng giác Bồ tát", "Phổ Hiền" là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của c...
Phổ Hiền
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13339
"saṃbhogakāya") và đóng một vai trò trung tâm. Thân trạng. Samntabhadra biểu thị từ tâm và Phật pháp. Ngài thường sánh đôi với Văn Thù Sư lợi và cả hai được coi là những cao đồ của Thích Ca Mâu Ni, có lẽ từng là đệ tử thực sự của vị Phật lịch sử. Ngài là vị đầu tiên trong Ngũ Thiền Bồ Tát, tương ứng với Ngũ Thiền Phật ...
Phổ Hiền
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13339
Trong những ảnh tượng của tông Nyingma Tây Tạng, Phổ Hiền trong tư thế Yab-Yum ở trung tâm của mạn đà la Shi-tro, mạn đà la của Thái Hòa. Tuy nhiên có khi vị Bồ Tát này cũng được biểu thị trong hình tướng phẫn nộ được gọi là Chemchok Heruka. Trong hình tướng này, ngài là vị thần có cánh với thân hình màu nâu đỏ sẫm có ...
Văn-thù-sư-lợi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13340
Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. "mañjuśrī") là tên dịch theo âm, thường được gọi tắt là Văn-thù, dịch nghĩa là Diệu Đức (zh. 妙德), Diệu Cát Tường (zh. 妙吉祥), cũng có lúc được gọi là Diệu Âm (zh. 妙音), dịch từ tên tiếng Phạn là "Mañjughoṣa", là một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ, một trong những vị Bồ Tát quan trọng của P...
Nguyệt Xứng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13342
Nguyệt Xứng (zh. 月稱, sa. "candrakīrti", bo. "zla ba grags pa" ཟླ་བ་གྲགས་པ་), tk. 6/7, được xem là Luận sư quan trọng nhất trong tông Trung quán sau Long Thụ. Sư quê ở Nam Ấn, xuất gia từ lúc nhỏ tuổi. Nhân lúc đọc tác phẩm của Long Thụ, Sư bỗng hiểu ý. Sau, Sư trở thành viện trưởng của Na-lan-đà và viết nhiều bài luận ...
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13344
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (zh. "yǎngshān huìjì" 仰山慧寂, ja. "kyōzan ejaku"), 807-883, là Thiền sư Trung Quốc, môn đệ lừng danh của Quy Sơn Linh Hựu và là người cùng thầy khai sáng tông Quy Ngưỡng. Trí huệ và kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của sư nổi danh trong thiền giới thời đó nên sư cũng có biệt danh là "Tiểu Thích-ca." Môn ...
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13344
Vị tăng lại lên núi ra mắt Quy Sơn. Quy Sơn hỏi lại như trước, vị tăng trả lời như sư đã dạy và bị Quy Sơn quở: "Kẻ nói suông vô ích, đây là lời của thiện tri thức đứng đầu 500 người!" Sư và thầy đồng tình đồng ý như hai cha con nên người đời cũng nói rằng "Hai cha con hát bằng một miệng." Sư học hỏi nơi Quy Sơn 15 năm...
Đạo sư
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13346
Đạo sư (zh. 導師, sa. "guru", bo. "bla ma"), cũng có khi được dịch theo âm Hán Việt là Cổ-Lỗ (zh. 古魯), nghĩa là Sư phụ, vị thầy dạy đạo. Theo một ý nghĩa riêng biệt – như trong trường hợp của các vị Đại thành tựu – thì người ta nên dịch chữ "guru" là Chân sư (zh. 真師), nếu hiểu chữ "Chân sư" ở đây đồng nghĩa với một vị th...
Chân ngôn tông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13348
Chân ngôn tông (kanji: 真言宗, rōmaji: "shingon-shū"), là dạng Mật tông tại Nhật Bản, do Đại sư Không Hải (ja. "kūkai", 774-835) sáng lập. Sư tu học Mật tông tại Trung Quốc và chuyên học về Chân ngôn (chân ngôn, chân âm, thần chú). Đặc biệt tông này rất quan tâm đến "ba bí mật" (Thân, khẩu, ý), đó là ba phương tiện để mỗi...
Chân như
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13350
Chân Như (zh. 真如, sa., pi. "tathatā", "bhūtatathatā") là một khái niệm quan trọng của Đại thừa Phật giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. Chân như chỉ thể tính ổn định, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân thuộc tâm. Tri kiến được ...
Đại tín căn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13351
Đại tín căn (zh. 大信根, ja. "dai-shinkon") là một niềm tin căn bản lớn, một trong ba điều kiện cần thiết để giác ngộ theo Thiền tông Nhật Bản. Hai điều kiện khác là Đại phấn chí (ja. "dai-funshi") và Đại nghi đoàn (ja. "dai-gidan"). Trong tác phẩm "Nhập thiền môn tu tập", Thiền sư Bạch Vân An Cốc (ja. "hakuun yasutani") ...
Đại nghi đoàn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13352
Đại nghi đoàn (zh. 大疑團, ja. "dai-gidan") nghĩa là "Một khối nghi lớn", là một trong ba điều kiện cần thiết để Giác ngộ theo Thiền tông. Hai điều kiện khác là Đại phấn chí (ja. "dai-funshi") và Đại tín căn (ja. "dai-shinkon"). Đại nghi đoàn ở đây không phải là cái nghi ngờ dao động, hồ nghi, nghi ngờ nơi Phật pháp mà là...
Đại phấn chí
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13353
Đại phấn chí (zh. 大憤志, ja. "dai-funshi", chữ 憤 đọc âm "phấn", không đọc "phẫn"), là sự bực tức lớn, lòng muốn hiểu mà chưa hiểu được. Đại phấn chí là một trong ba điều kiện cần thiết để Giác ngộ theo Thiền tông Nhật Bản. Hai diều kiện khác là Đại nghi đoàn (ja. "dai-gidan") và Đại tín căn (ja. "dai-shinkon"). Đại phấn ...
Kim loại chuyển tiếp
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13397
Kim loại chuyển tiếp là 68 nguyên tố hóa học có số nguyên tử từ 21 đến 30, 39 đến 48, 57 đến 80 và 89 đến 112. Nguyên nhân của tên này là do vị trí của chúng trong bảng tuần hoàn vì tại đó bắt đầu sự chuyển tiếp do có thêm điện tử trong quỹ đạo nguyên tử của lớp d. Nếu định nghĩa một cách chặt chẽ hơn thì kim loại chuy...
Kim loại chuyển tiếp
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=13397
Nếu so sánh với các nguyên tố của phân nhóm chính nhóm II như calci thì ion của các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều trạng thái oxy hóa khác nhau. Thông thường thì calci không mất nhiều hơn là 2 điện tử trong khi các kim loại chuyển tiếp có thể cho đến 9 điện tử. Nếu xem xét entanpi ion hóa của hai nhóm thì sẽ nhận...