text
stringlengths
82
354k
eMule là một chương trình chia sẻ tệp đồng đẳng hoạt động trên mạng eDonkey và mạng Kad. eMule được phát triển trên nền Windows, và mã nguồn được lấy làm nền tảng cho các chương trình tương tự là xMule (chạy trên nền Linux) cùng với người anh em đa nền aMule. Các tính năng nổi bật của eMule bao gồm trao đổi tệp trực tiếp giữa các máy trạm, khả năng phục hồi nhanh các nội dung tải về bị hư hỏng, và hệ thống điểm để khuyến khích tải lên. Ngoài ra, eMule sử dụng giải thuật nén Zlib cho nội dung vận chuyển nhằm tiết kiệm băng thông. Một tính năng thú vị khác của eMule hay bất kì chương trình eDonkey client là cho phép sử dụng các địa chỉ dạng 'ed2k' để tải về tệp tương ứng (tương tự như khi tải một tệp sử dụng giao thức http). Các địa chỉ này giúp người dùng tránh nguy cơ tải về một tệp giả mạo nhờ vào việc kiểm tra giá trị băm ("hash") của tệp. Các địa chỉ này được gọi là "đáng tin cậy". eMule kiểm tra tệp tải về hoàn thành có đúng với bản gốc hay không bằng cách sử dụng giải thuật MD4. eMule được viết bằng ngôn ngữ Visual C++ trên nền .NET của Microsoft. Do eMule là một trong những chương trình mã nguồn mở rất phổ biến trên Internet nên nó có rất nhiều bản sửa đổi không chính thức. Dự án eMule được khởi đầu vào ngày 13 tháng 5 năm 2002 bởi lập trình viên Hendrik Breitkreuz (còn được biết đến là Merkur). Merkur cảm thấy không thỏa mãn khi sử dụng chương trình client gốc của eDonkey2000 nên đã quyết định viết một chương trình tốt hơn. Trong thời gian phát triển eMule, dự án nhận thêm sự tham gia của 7 lập trình viên khác. Mã nguồn đầu tiên phiên bản 0.02 được công bố trên SourceForge vào ngày 6 tháng 7 năm 2002. Sau đó ngày 4 tháng 8 năm 2002, bản cài đặt được đầu tiên của eMule phiên bản 0.05a được phát hành. 'Hệ thống tính điểm' lần đầu tiên xuất hiện ở phiên bản 0.19a vào ngày 14 tháng 9 năm 2002. Trang web chính thức của dự án eMule bắt đầu hoạt động vào ngày 8 tháng 12 năm 2003. Từ ngày xuất hiện trên SourceForge đến nay, eMule đã được tải về hơn 199 triệu lần (tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2006) và luôn dẫn đầu trong bảng xếp hạng phần mềm mã nguồn mở được tải về nhiều nhất trên Internet (đứng thứ 2 là Azureus, một chương trình BitTorrent client). Hiện nay dự án eMule vẫn được tiếp tục được hoàn thiện bởi 16 thành viên: 2 người phát triển, 2 quản lý dự án (bao gồm Merkur), 3 người kiểm tra và 9 người dò lỗi. Trang web chính thức do 7 người phát triển và 4 người quyền quản trị để duy trì trang web hoạt động tốt. Các sự kiện gần đây. Từ phiên bản 0.40a, eMule bắt đầu hỗ trợ mạng Kad. Mạng này sử dụng giao thức Kademlia, một giao thức chia sẻ phân tán và không cần máy chủ trung tâm như mạng eDonkey truyền thống. Một tính năng được thêm vào trong các phiên bản gần đây là hỗ trợ tìm kiếm Unicode (cho phép tìm kiếm các tệp có tên không phải là ký tự la tinh) và khả năng tìm kiếm trên các máy chủ những tệp hoàn chỉnh cho tệp tải về đang thiếu (tính năng này không hỗ trợ trên mạng Kad). Các phiên bản mới còn có thêm tính năng "Danh sách đen" liệt kê các địa chỉ IP kết nối không thành công. Một IP khi bị vào danh sách này sẽ được xem như là IP chết và bị cấm kết nối trong một khoảng thời gian ngắn, từ 15 – 45 phút. Tuy nhiên, tính năng này gây tranh cãi trong cộng đồng người dùng vì nhiều người cho rằng nó dẫn đến tình trạng thiếu nguồn tải về và do đó làm chậm tốc độ tải. Ví dụ, một nguồn có thể rơi vào tình trạng ngoại tuyến chỉ trong vài phút (do lỗi mạng hay khởi động lại hệ thống) nhưng vẫn bị cấm đến 45 phút. Một vài tính năng thêm vào khác bao gồm khả năng chạy eMule từ một tài khoản hạn chế quyền nhằm tăng độ an toàn cho hệ thống, khả năng xử lý lỗi thông minh (ví dụ trường hợp tải tệp có kích thước 9,28Mb, nếu có một đoạn của tệp bị lỗi trong quá trình truyền thì chương trình eMule không cần tải về lại toàn bộ tệp, mà nó chỉ cần tải về đoạn tệp bị lỗi sau đó nó tự lắp ghép để hoành chỉnh tệp như bản gốc) eMule hiện nay đã được xem như một sản phẩm khá ổn định do đó khoảng cách giữa 2 phiên bản được giãn rộng ra, thường vào khoảng 2 đến 3 tháng. Phiên bản mới nhất là v0.50a được phát hành vào ngày 7 tháng 4 năm 2010. eMule khuyến cáo nên thay đổi thiết lập mặc định giá trị cổng (ví dụ nên sử dụng cổng có giá trị là 20000 thay vì 4662), vì hiện nay rất nhiều ISP làm nghẹt cổng mặc định của giao thức P2P làm tốc độ tải tệp của chương trình rất thấp. Trang web chính thức và trang web giả mạo. Địa chỉ trang web chính thức của eMule tại :// Các trang web có tên miền tương tự thường đề nghị bạn trả một khoản phí để đăng nhập hoặc để tải về phiên bản mới nhất là trang web giả mạo, ví dụ trang: Khái niệm cơ bản. Tất cả các tệp đều có giá trị băm để kiểm tra xem tệp tải về có đúng như bản gốc không. Giá trị băm này phụ thuộc vào nội dung của tệp, nó không phải là tên tệp. Điều này cho phép mọi người đều có thể tìm kiếm tệp mình cần mà không cần biết tện tệp mình cần tìm có tên là gì. Tệp được chia thành các khối có kích thước 9,28 Mb (khối cuối cùng của tệp có thể nhỏ hơn 9,28 Mb). Giá trị băm của tệp được tính toán như sau: đầu tiên tính toán giá trị kiểm tra theo thuật giải MD4 của mỗi khối, sau đó kết nối giá trị kiểm tra MD4 của tất cả các khối thành một chuỗi, tính toán giá trị kiểm tra MD4 của chuỗi này sẽ ra giá trị băm của tệp. Định danh các máy đồng đẳng. Tương tự như giá trị băm của tệp, mỗi máy đồng đẳng trong mạng cũng có một định danh duy nhất. Giá trị định danh của các máy đồng đẳng được giữ bí mật tuyệt đối bằng giải thuật bắt tay khóa công khai / khóa riêng, tránh trường hợp các định danh của các máy đồng đẳng bị sử dụng sai mục đích. Sau khi xác định nguồn của tệp cần tải (có một hoặc nhiều máy đồng đẳng trong mạng đang chia sẻ tệp này), chương trình eMule sẽ liên hệ với các máy đồng đẳng này để yêu cầu cho nó tải tệp. Mỗi chương trình eMule đều duy trì một danh sách 'hàng đợi tải về', bao gồm tất cả các máy đồng đẳng khác đang có yêu cầu tệp. Khi một máy đồng đẳng trong danh sách hàng đợi tải về đến lượt, chương trình eMule ở hai máy liên hệ với nhau và bắt đầu trao đổi tệp. Chương trình eMule có tính thông minh để luôn luôn yêu cầu các khối của tệp hiếm nhất, ít máy đồng đẳng cung cấp nhất để tránh hiện tượng nút cổ chai. Nếu máy đồng đẳng đã có đủ hầu hết các khối hiếm thì nó vẫn yêu cầu các khối còn lại, chương trình eMule chỉ cho phép chia sẻ các khối của tệp đã hoàn chỉnh. Trước khi dữ liệu được gửi đi, eMule nén dữ liệu này lại bằng giải thuật zlib với tỉ lệ nén chặt nhất để giảm băng thông mạng. Sau khi đã nén xong eMule chọn gói dữ liệu theo thứ tự từ nhỏ đến lớn để bắt đầu truyền đi. Classic server dựa trên ed2k. Kết nối vào mạng. Mấu chốt của mạng Edonkey là máy chủ eD2k. Mỗi máy đồng đẳng đều phải kết nối vào máy chủ để vào mạng chia sẻ. Khi máy đồng đẳng đã kết nối vào máy chủ, máy chủ sẽ kiểm tra xem các máy đồng đẳng khác có kết nối tự do vào máy của bạn không. Nếu có, máy chủ sẽ đặt cho máy bạn một định danh có giá trị cao, bằng không giá trị định danh sẽ có giá trị thấp. Sau khi đã gán giá trị định danh cho máy bạn, eMule sẽ gửi tất cả các tệp bạn chia sẻ cho máy chủ. Máy chủ sẽ thêm tên tệp và giá trị băm của từng tệp vào cơ sở dữ liệu của nó. Khi đã kết nối vào mạng EDonkey, máy đồng đẳng có thể tìm kiếm từ khóa có trong tên tệp. Cuộc tìm kiếm có thể là cục bộ hoặc toàn cục. Nếu là tìm kiếm cục bộ (chỉ tìm tại máy chủ bạn kết nối tới) thì thời gian tìm kiếm sẽ nhanh hơn nhưng có ít kết quả. Nếu là tìm kiếm toàn cục (tìm kiếm tất cả các máy chủ có trong mạng) thì thời gian tìm kiếm sẽ lâu hơn nhưng có nhiều kết quả tìm kiếm hơn. Mỗi máy chủ khi nhận được yêu cầu tìm kiếm, nó sẽ tìm kiếm từ khóa trong cơ sở dữ liệu của nó và trả lại tên tệp (cùng giá trị băm) tương ứng với từ khóa. Chú ý: máy chủ giả mạo trong mạng sẽ không đưa ra kết quả cho bất kỳ yêu cầu tìm kiếm nào. Tìm kiếm nguồn gốc của tệp. Có thể tìm tệp tải về bằng chức năng tìm kiếm của eMule hoặc rất nhiều trang web cung cấp liên kết dạng eD2k. Khi bắt đầu có yêu cầu tải tệp xác định, đầu tiên eMule truy vấn máy chủ cục bộ và tất cả các máy chủ khác trong mạng để xác định nguồn gốc của tệp. Máy chủ sẽ tìm kiếm giá trị băm của tệp trong cơ sở dữ liệu của nó và trả về kết quả tìm được cho máy có yêu cầu. Kết quả sẽ là một máy đồng đẳng khác trong mạng đang có ít nhất một khối hoàn chỉnh (9,28Mb) của tệp, giá trị băm của tệp này tương ưng với giá trị băm có lưu trong cơ sở dữ liệu của máy chủ Mạng phân tán Kad. Kết nối vào mạng. Điều duy nhất cần để kết nối vào mạng là "cung mồi", lưu trữ thông tin về địa chỉ IP và cổng của chương trình một máy khách eMule đang kết nối trong mạng Kad. Thông thường, một máy muốn kết nối vào mạng Kad tìm cung mồi thông qua một máy chủ ed2k. Một khi đã được kết nối vào mạng Kad, máy khách sẽ yêu cầu các máy khác trong mạng kiểm tra khả năng kết nối của nó. Có 2 khả năng xảy ra. Thứ nhất, nếu máy khách có thể được kết nối tự do từ bất kì máy nào trong mạng, nó sẽ được cung cấp một ID và được gán trạng thái mở. Trong trường hợp ngược lại, máy khách sẽ được gán trạng thái bị chặn bởi tường lửa. Kể từ phiên bản 0.44a, mạng Kad hỗ trợ khả năng Buddy để giúp các máy khách bị tường lửa. Một "buddy" là một máy khách trong mạng có trạng thái mở (và do đó có thể kết nối tự do với bất kì máy nào). Máy buddy này đóng vai trò như một cầu nối chuyển tiếp giữa máy bị chặn bởi tường lửa và một máy khách khác trong mạng Kad. Tính năng này giúp cho 2 máy bị tường lửa có thể kết nối và chia sẻ với nhau. Tìm kiếm trên Kad. Trên mạng Kad tất cả các dạng tìm kiếm đều hoạt động theo một phương thức và được tổng quát hóa thành một hàm tìm kiếm "lookup(giá trị cần tìm kiếm)". Giá trị cần tìm kiếm là một giá trị băm, đại diện cho một máy khách, một tên tệp, một nguồn tải về... Do Kad là một mạng phân tán, tất cả hoạt động đều thực hiện thông qua các máy khách vì không tồn tại bất kì máy chủ nào. Về phương thức hoạt động, có thể xem như mỗi máy khách là một máy chủ con, chịu trách nhiệm cho một số nội dung và từ khóa nhất định. Khi nhận được một yêu cầu tìm kiếm từ một máy khách khác, nó kiểm tra xem từ khóa tìm kiếm có phải do mình quản lý hay không. Trong trường hợp từ khóa do máy khách quản lý, nó sẽ gởi về kết quả tìm kiếm dưới dạng địa chỉ nguồn tải về tương ứng với từ khóa. Nếu không phải, nó sẽ sử dụng một thuật toán để xác định một (hay một số) máy khách có khoảng cách đến từ khóa gần hơn khoảng cách từ bản thân nó đến từ khóa. Sau khi xác định nó sẽ chuyển yêu cầu đến máy khách đó. Thuật toán này khá phức tạp nhưng hiệu quả, bảo đảm sau "log(2^n)" bước chuyển ("n" là tổng số máy khách trong mạng Kad) sẽ tìm ra máy chịu trách nhiệm cho từ khóa. Độ phức tạp này chính là tính chất cốt yếu của tất cả các mạng DHT (Distributed Hashing Table), trong đó bao gồm Kad. Các luật cơ bản cho người dùng eMule. eMule và tất cả các chương trình chia sẻ tệp của mạng eDonkey đều hỗ trợ chia sẻ theo hai cách cơ bản sau: 1) Mọi người bắt buộc phải chia sẻ tệp: Tệp được chia sẻ có kích thước lớn hơn 9500 Kb sẽ chia thành các khối (trunk), vì vậy người nhận sẽ bắt đầu chia sẻ khối đã tải xong ngay cả khi cả tệp chưa tải xong. Người nhận bắt buộc phải chia sẻ theo cách này cho đến khi tệp được tải hoàn chỉnh. 2) Mọi người bắt buộc phải chia sẻ băng thông để tăng luồng dữ liệu của mạng: phiên bản chính thức của eMule bắt buộc người dùng thiết lập tốc độ tải về tối đa không được lớn hơn 4 lần tốc độ tải lên tối đa. Giới hạn này không áp đặt nếu tốc độ tải lên tối đa được đặt từ 10KB/s trở lên. Mặc dù có rất nhiều bản chỉnh sửa của eMule, nhưng thật khó để tìm ra một bản chỉnh sửa mà không tuân theo luật 2. Thêm nữa nếu người dùng cố gắng phá vỡ luật này bằng cách giới hạn tốc độ tải lên có thể sẽ làm chậm tốc độ tải về do có thứ hạng xấu đối với người cung cấp tệp (tính toán thông qua hệ thống điểm của eMule). Và rất nhiều máy đồng đẳng gian lận thường bị cấm không cho kết nối vào mạng bởi các công cụ bổ sung do các bản chính sửa thêm (tính năng cấm máy kết nối không hỗ trợ trong phiên bản eMule chính thức). eMule có tính năng giới hạn tốc độ tải về và tải lên để không vượt quá ngưỡng đặt bởi người dùng. Các phiên bản eMule cũ hơn bản 0.47a không thể chia sẻ tệp lớn hơn 4.189.500 Kb (441 khối). Đây là một giới hạn kế thừa từ giao thức ed2k. Từ phiên bản 0.47a giới hạn kích thước của tệp là 256 GB. Cả hai mạng eDonkey và Kad tuy có khác nhau về nguyên lý hoạt động nhưng đều nhằm vào một mục đích tìm kiếm tệp và nguồn cho tệp. Mục đích chính của mạng Kad là loại bỏ sự phụ thuộc của mạng vào máy chủ trung tâm và tăng khả năng mở rộng mạng (nhờ vào độ phức tạp logarithmic của thuật toán tìm kiếm). Ngược lại, trong eDonkey hay các mạng tương tự, tất cả tìm kiếm đều phải thông qua máy chủ trung tâm. Do đó khi mạng mở rộng, số lượng tìm kiếm đến máy chủ sẽ trở nên rất lớn và đến một lúc sẽ vượt quá giới hạn tính toán của máy chủ khiến cho hiệu suất mạng bị suy giảm nặng nề (hãy tưởng tượng một yêu cầu tìm kiếm cần vài phút để nhận được kết quả!). Hơn nữa, nếu máy chủ trung tâm có vấn đề thì cả mạng sẽ đổ vỡ. Vấn đề này thực sự nghiêm trọng kể từ vài năm trở lại đây, không phải từ giới hạn kĩ thuật mà là từ các rắc rối về pháp lý. Gần đây nhất là sự kiện máy chủ nổi tiếng Razorback bị đóng cửa do sức ép từ các nhà điều tra vi phạm bản quyền Mỹ. Do đó trong tương lai gần các hoạt động chia sẻ đồng đẳng sẽ có khuynh hương phân tán hóa, và các mạng như Kad sẽ trở nên phổ thông với mọi người dùng. Các bản sửa đổi của eMule. Như các chương trình mã nguồn mở phổ biến khác, eMule có rất nhiều biến thể, gọi là mods (các bản sửa đổi). Một vài bản còn làm phân nhánh mã của eMule, và phát triển độc lập với phiên bản chính thức, như eMule Plus. eMule Plus không có giao thức Kademlia. Các phiên bản không chính thức khác theo sau phát hành của eMule, và phân phối phiên bản chỉnh sửa của họ dựa trên những cải tiến của eMule trong phiên bản mới. Gần đây Neomule đang thử nghiệm tính năng mã hóa để chống ISP làm nghẹt đường truyền. Đó có thể là một tin tốt cho người dùng không muốn thay đổi nhà cung cấp dịch vụ Internet, nhưng có thể dẫn tới sự giới hạn băng thông nghiêm nghặt hơn của ISP. Liên kết đến các bản sửa đổi. Một vài liên kết đến bản sửa đổi eMule phổ biến: Hệ thống điểm thưởng. Hệ thống điểm thưởng dùng để thưởng cho người dùng cung cấp tệp trong mạng. Hệ thống hàng đợi trong eMule dựa trên thời gian người dùng phải chờ trong hàng đợi để tải tệp. Hệ thống điểm thưởng cung cấp một phương thức thay đổi thời gian chờ bằng cách so sánh thời gian tải lên và tải về giữa hai máy đồng đẳng khác nhau trong hàng đợi, máy nào tải lên cho nó nhanh hơn thì nó sắp xếp trước trong hàng đợi. Phương thức thay đổi thời gian chờ được tính bằng cách lượng dữ liệu vận chuyển giữa hai máy đồng đẳng. Giá trị này có thể xem ở cửa sổ chi tiết của các chương trình client. Tính toán điểm thưởng. Thứ tự của máy đồng đẳng trong hàng đợi của một máy đồng đẳng khác phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm thời gian nó đã chờ trên hàng đợi, quyền ưu tiên cho tải lên một tệp xác định và điểm của các người dùng khác đánh giá nó. Các nhân tố trên đều có một giá trị tương ứng, tổng của các nhân tố trên là điểm dùng để xếp thứ tự các máy đồng đẳng trong một hàng đợi của một máy xác định. Điểm thưởng được tính như sau: Màu sắc của thanh tiến trình. Mỗi tiến trình tải tệp về được biểu diễn bằng một thanh màu. Màu đỏ diễn tả phần của tệp chưa xác định được máy đồng đẳng nào sẽ cho tải về. Thanh màu đỏ tối diễn tả tiến trình tải tệp đang bị tạm dừng hoặc hãm tải về. Nếu bạn mở cửa sổ xem thông tin chi tiết về tệp đang tải, bạn sẽ nhìn thấy mỗi nguồn cung cấp của tài nguyên tương ứng với một thanh màu. Để xem thông tin này nhắp đúp vào tên tệp (hoặc nháy đơn, điều này tùy thuộc vào thiết lập trong Option - Display). Dưới đây là thanh màu diễn tả các ý nghĩa khác nhau: Số nguồn cung cấp. Bốn giá trị xx/yy+aa (zz) hiển thị sau thanh thanh tiến trình là số nguồn cung cấp tệp và có các ý nghĩa sau. Tính hiệu lực của tệp chia sẻ. Mỗi tệp chia sẻ được biểu diễn tương ứng bằng một thanh màu, các màu có ý nghĩa tương ứng với màu dùng trong thanh tải về. Phiên bản mới nhất có thể tải ở đây:
Sông Moskva (tiếng Nga: Москва-река) là một con sông ở Trung Nga, chảy trong tỉnh Moskva và một phần của tỉnh Smolensk tại Nga, đồng thời là sông nhánh phía tả ngạn của sông Oka. Sông Oka lại là sông nhánh của sông Volga. Chiều dài của con sông này là 503 km. Diện tích lưu vực của nó là 17.600 km². Nó bị đóng băng trong giai đoạn tháng 11-12 và nằm dưới băng cho đến tháng Ba-Tư. Các sông nhánh chính của nó là Ruza, Istra, Yauza, Pakhra và Severka. Sông này bắt nguồn từ vùng đầm lầy Starkovskoe trong khu vực bình nguyên Smolensk-Moskva. Trong tiếng Nga, người ta gọi đầu nguồn của nó là "Москворецкая лужа" (tức vũng nước Moskva). Ở phần thượng nguồn (16 km tính từ đầu nguồn) nó vượt qua tỉnh Smolensk, chảy qua hồ Mikhailovskoe (theo quan điểm của một số nhà khoa học thì bắt đầu từ đây người ta mới tính là sông Moskva). Nó đổ vào sông Oka cạnh thị trấn Kolomna. Độ chênh lệch về chiều cao tính từ đầu nguồn đến của sông là 155,5 m. Sông này được cung cấp nước từ các nguòn như: tuyết (61 %), nước ngầm (27 %) và mưa (12 %). Các trận lũ băng mùa xuân cung cấp 65% lưu lượng hàng năm. Lưu lượng trung bình nhiều năm tại thượng nguồn (làng Barsuki) là 5,8 m³/s, tại Zvenigorod là 38 m³/s, tại cửa sông là 150 m³/s. Do sự xả nước ấm trong phạm vi thành phố Moskva nên trạng thái đóng băng không ổn định. Các sông nhánh chính: tả ngạn — Ruza, Istra, Yauza; hữu ngạn - Pakhra, Severka. Lưu lượng dòng chảy của sông Moskva được các hồ chứa nước (Mozhaiskoe, Ruzskoe, Ozerninskoe, Istrinskoe) và các đập nước Petrovo-Dalnii và Rublyovo điều chỉnh. Sông Moskva cho phép tàu thuyền đi lại trên quãng đường khoảng 210 km tính từ cửa sông. Nước của sông này được dùng để cung cấp nước ngọt cho thành phố Moskva. Ngoài ra, theo kênh đào Moskva, từ hồ chứa nước Ivankovskoe trên sông Volga mỗi năm nước chảy vào sông này khoảng 1,8 km³. Hệ thống sông nhánh xả ra khoảng 22 m³/s nước. Dành cho mục đích vận tải thủy trong giới hạn thành phố Moskva người ta đã xây dựng các đập chắn nước Karamyshevskaya và Perervinskaya, ở phía dưới là các đập chắn nước có âu thuyền như Trudkommuny, Andreevskaya, Sophinskaya, Phaustovskaya và Severskaya. Chất lượng nước của con sông này rất thấp do nước thải từ Moskva. Thành phố Moskva ("Москвa"), thủ đô của Nga, nằm trên hai bờ sông này, ngoài ra nó cũng chảy qua Zvenigorod, Voskresensk, Kolomna, Zhukovsky, Bronnitsy và Mozhaisk. Nguồn gốc tên gọi. Thành phố Moskva được đặt theo tên của con sông này. Nguồn gốc của tên gọi là không rõ ràng, có một số giả thiết tồn tại . Một trong các giả thiết là tên gọi này có từ tiếng Phần Lan cổ, có nghĩa là "tối", "đục". Theo một giả thiết khác, tên gọi này có nguồn gốc từ tiếng Komi, với nghĩa là "sông của bò" hay từ tiếng Mordovia với nghĩa là "sông của gấu".
"Về một con sông ngắn tại Cộng hòa Séc, xem bài sông Desná." Sông Desna (tiếng Nga: Деснa) là một con sông tại Nga và Ukraina, sông nhánh phía tả ngạn của sông Dnepr, đồng thời cũng là sông nhánh dài nhất của sông Dnepr. Từ này có nghĩa là "tay phải" trong tiếng Slav cổ phía đông. Sông này dài khoảng 1.130-1.187 km. Nó chảy qua các tỉnh Smolensk, Bryansk (Nga) và Chernigov, Kiev (Ukraina). Chiều dài có thể cho phép giao thông thủy là 535 km (từ thị trấn Zhukovka). Ở đầu nguồn hai bờ sông thấp và là các đầm lầy, phía dưới Bryansk thì bờ phải cao hơn. Sau khi sông Seim đổ vào thì thung lũng triền sông được mở rộng, với nhiều sông nhánh và sự phân dòng. Thời kỳ đóng băng kéo dài từ tháng 12 năm trước đến đầu tháng 4 năm sau. Về mùa xuân có các trận lũ lớn do băng, tuyết tan. Lưu lượng nước trung bình tại cửa sông là 360 m³/s. Nó chảy vào sông Dnepr ở phần phía bắc của Kiev. Thời Trung cổ, sông Desna là một tuyến giao thông thủy quan trọng, nối liền khu vực Kiev với lưu vực sông Đông (theo sông Seim) và lưu vực sông Oka (theo sông Bolva). Sông Desna có 31 sông suối nhánh, bao gồm 18 bên hữu ngạn và 13 bên tả ngạn. Các sông đáng chú ý nhất bao gồm: "Desna" cũng là tên gọi phổ biến của R-9 Desna, một loại tên lửa xuyên lục địa do Liên Xô phát triển trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Arirang TV bắt đầu phát sóng vào ngày 3 tháng 2 năm 1997, thực hiện bởi tổ chức phi lợi nhuận phát thanh truyền hình quốc tế Hàn Quốc (Korea International Broadcasting Foundation). Ban đầu, kênh này chỉ có trên truyền hình cáp và vệ tinh tại Hàn Quốc và hướng đến người nước ngoài sinh sống hay tham quan Hàn Quốc. Đúng 18 giờ 00 ngày 03 tháng 02 năm 1997, nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ( 03.02.1930 - 03.02.1997 ), Chương trình truyền hình đầu tiên được phát sóng trên kênh 29 UHF ( Ultra High Frequency ). Biểu trưng (logo) của kênh là Arirang. Tuy nhiên, trong những ngày đầu phát sóng trang thiết bị cũng rất thiếu thốn, chỉ có 1 máy phát hình màu 5 kW, 2 đầu video VHS, 5 máy quay phim, 2 bàn dựng và 2 máy vi tính; lực lượng phóng viên và kỹ thuật viên chỉ khoảng 30 người, mỗi ngày thời lượng phát sóng chỉ 3,5 giờ (từ 18 giờ đến 21 giờ 30) với vỏn vẹn 4 thể loại chương trình và chỉ có trên truyền hình cáp và vệ tinh. Năm 1999, Arirang TV lập kênh truyền hình vệ tinh và phát sóng bằng tiếng Anh, Trung, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Ả Rập, Nga, Việt Nam và Indonesia. 2015, Arirang UN được thành lập và phát sóng bằng tiếng Anh. Từ năm 2018, các kênh Arirang được phát sóng ở 105 quốc gia.
Sông Amur hay Hắc Long Giang (tiếng Nga: Амур; tiếng Trung giản thể: 黑龙江, phồn thể: 黑龍江. bính âm: Hēilóng Jiāng), tức "Hắc Long Giang" hay là "sông Rồng đen"; tiếng Mông Cổ: Хара-Мурэн, "Khara-Muren" có nghĩa là "sông Đen"; tiếng Mãn: "Sahaliyan Ula" cũng có nghĩa là "sông Đen"), với tổng chiều dài lên đến 4.444 km, nó trở thành con sông lớn thứ 10 trên thế giới, tạo thành biên giới tự nhiên giữa miền Viễn Đông của Nga và vùng Mãn Châu (tỉnh Hắc Long Giang) của Trung Quốc. Trong lịch sử, người ta thường gọi một con sông chỉ đơn giản là "nước". Có những từ tương tự cho "nước" hoặc "sông" trong một số ngôn ngữ Á châu: ví dụ: 물 "mul" ("nước") trong tiếng Triều Tiên, "muren" hoặc "mörön" ("sông") trong tiếng Mông Cổ và 水 midu mizu ("nước") trong tiếng Nhật. Tên "Amur" có thể đã phát triển từ một từ gốc của nước, kết hợp với một công cụ sửa đổi kích thước cho "Nước lớn". Tên tiếng Trung Quốc của sông, Hắc Long Giang (黑龍江), có nghĩa là sông Rồng Đen, và tên tiếng Mông Cổ của nó, Khar mörön (Cyrillic: Хар мөөөө), có nghĩa là Sông Đen. Sông Amur được gọi là "Hara-Muren" trong tiếng Mông Cổ, "Silkar" ở Tungusian, "Sahaliyan Ula" ở Mãn Châu. Tên cổ của nó là Yushui, Wanshui và Heishui. Tên tiếng Nga Amur có nguồn gốc từ tên tiếng Mông Cổ Amar, có nghĩa là yên tĩnh hoặc yên bình. Trước khi người Nga đặt chân đến vùng này vào thế kỷ 19, sông Amur đã được người Mãn đặt tên là "sahaliyan ula", có nghĩa là Hắc giang (sông Đen), là nơi tổ tiên họ đã sinh sống trong một thời gian dài và nhà Thanh luôn coi con sông này như là một dòng sông linh thiêng. Trong nhiều tư liệu lịch sử đã có hai thực thể địa chính trị được biết đến như là Nội Mãn Châu và Ngoại Mãn Châu. Tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc nằm ở phía nam con sông này và được đặt tên theo tên gọi trong tiếng Trung của con sông, cũng như tỉnh Amur của Nga nằm ở phía bắc con sông. Sông Amur là một biểu tượng và là một yếu tố địa chính trị quan trọng trong quan hệ Nga-Trung. Sông Amur đã có tầm quan trọng đặc biệt trong thời kỳ sau sự chia rẽ về chính trị giữa Trung Quốc và Liên Xô trong thập niên 1960. Đối với nhiều cư dân định lượng hàng thế kỷ của Thung lũng Amur bao gồm các dân tộc Tungus (Evenk, Solon, Ducher, Nữ Chân, Nanai, Ulch), Mông Cổ (Daur), một số người Ainu và, gần nơi của họ, người Nivkh. Đối với nhiều nhóm trong số này, đánh bắt cá ở Amur và các nhánh sông của nó là nguồn sinh kế chính của họ. Cho đến thế kỷ 17, những người này không được người châu Âu biết đến và ngay cả người Hán ở Trung Quốc đại lục cũng ít biết đến, đôi khi họ gọi chung là những Dã Nhân Nữ Chân. Thuật ngữ tiếng Trung Yúpí Dázi 魚皮韃子 (Ngư Bì Đát Tử, "Tatars (Thát Đát) da cá") đã được áp dụng cho người Nanai và các nhóm liên quan, do quần áo truyền thống làm bằng da cá của họ. Người Mông Cổ, cai trị khu vực vào thời nhà Nguyên, đã thiết lập một sự hiện diện quân sự hạn chế trên vùng hạ lưu Amur trong thế kỷ 13 và 14; tàn tích của một ngôi đền thời Nguyên đã được khai quật gần làng Tyr. Vào giai đoạn cầm quyền của các Hoàng đế Minh Thành Tổ và Minh Tuyên Tông (đầu thế kỷ 15), triều đại nhà Minh đã đến Amur trong nỗ lực của họ để thiết lập quyền kiểm soát các vùng đất tiếp giáp với Trung Quốc ở phía đông bắc, sau này được gọi là Mãn Châu. Các cuộc thám hiểm do thái giám Yishiha đứng đầu đã đến Tyr nhiều lần trong khoảng thời gian từ 1411 đến đầu những năm 1430, xây dựng lại (hai lần) Đền Yongning và có được ít nhất là sự trung thành danh nghĩa của các bộ lạc hạ lưu Amur với chính quyền nhà Minh. Một số nguồn tin cũng cho biết sự hiện diện của Trung Quốc trong cùng thời kỳ ở giữa sông Amur - một pháo đài tồn tại ở Aigun trong khoảng 20 năm trong thời Thành Tổ ở ​​bờ trái (phía tây bắc) của Amur ở hạ lưu từ cửa sông Zeya. Aigun triều đại nhà Minh này nằm ở bờ đối diện với Aigun sau này được di dời sau thời nhà Thanh. Trong mọi trường hợp, sự hiện diện của nhà Minh trên Amur chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn; Ngay sau khi Minh Thành Tổ qua đời, biên giới của nhà Minh đã rút về miền nam Mãn Châu. Ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo của Trung Quốc như Tết Nguyên Đán, "Thần Trung Quốc", các họa tiết Trung Quốc như rồng, xoắn ốc, cuộn, và hàng hóa vật chất như nông nghiệp, chăn nuôi, sưởi ấm, nồi nấu sắt, lụa và bông lan truyền giữa người bản xứ Amur chẳng hạn như Udeghes, Ulchis và Nanai. Các cuộc thám hiểm Cossack của Nga do Vassili Poyarkov và Yerofey Khabarov dẫn đầu đã khám phá Amur và các nhánh của nó lần lượt vào năm 1643-44 và 1649-51. Người Cossack đã thành lập pháo đài Albazin ở thượng nguồn Amur, tại địa điểm của kinh đô cũ của Solon. Vào thời điểm đó, nhà Thanh của người Mãn đang bận rộn với việc chinh phục Trung Quốc; nhưng vài thập kỷ sau, trong thời Khang Hy (1661-1722), họ chuyển sự chú ý sang sân sau của người Mãn Châu ở phương bắc. Aigun được tái lập gần địa điểm được cho là của nhà Minh vào khoảng năm 1683-1684, và một cuộc thám hiểm quân sự đã đi ngược dòng để đánh bại người Nga, nơi mà Albazin đã tước quyền thống trị của nhà Thanh để triều cống chồn zibelin mà người Solon và Daur của khu vực này phải làm hàng năm. Albazin đã thất thủ trong một chiến dịch quân sự ngắn vào năm 1685. Điều ước Nerchinsk, được ký kết năm 1689, đánh dấu sự kết thúc của chiến sự: họ phải rời khỏi toàn bộ thung lũng Amur, và điểm hội tụ của sông Shilka và sông Argun ở hạ lưu rơi vào tay Trung Quốc. Fedor Soimonov được gửi đến để lập bản đồ khu vực Amur nhỏ được khám phá vào năm 1757. Ông đã lập bản đồ Shilka, một phần trong lãnh thổ Trung Quốc, nhưng đã bị buộc quay trở lại khi đến đoạn hợp lưu với Argun. Sự thịnh vượng của Nga đối với Kitô giáo Chính thống đối với các dân tộc bản địa dọc theo sông Amur được xem là mối đe dọa của nhà Thanh. Vùng Amur vẫn là một hậu phương tương đối của Đế quốc Thanh trong một thế kỷ rưỡi tiếp theo, với Aigun thực tế là thị trấn lớn duy nhất trên sông. Người Nga xuất hiện trở lại trên sông vào giữa thế kỷ 19, buộc nhà Thanh phải giao tất cả các vùng đất phía bắc của dòng sông cho Đế quốc Nga bằng Điều ước Ái Hồn (1858). Các vùng đất phía đông Ussuri và hạ lưu Amur cũng được Nga mua lại, theo Công ước Bắc Kinh (1860). Việc mua lại các vùng đất ở Amur và Ussuri được theo sau bởi sự di cư của những người định cư Nga đến khu vực và xây dựng các thành phố như Blagoveshchensk và sau đó là Khabarovsk. Vô số tàu hơi nước sông, được xây dựng ở Anh, đã phục vụ Amur vào cuối thế kỷ 19. Sa hoàng Nicolas II của Nga, sau đó là Tsarovitch, đã đến thăm Vladivostok và sau đó du ngoạn trên sông. Nạo vét khai thác được nhập khẩu từ Mỹ để làm việc sa khoáng vàng của dòng sông. Hàng rào và giao thông đường sông bị cản trở rất nhiều bởi Nội chiến Nga 1918-22. Hồng quân Liên Xô có đội tàu Amur Flotilla tuần tra trên sông trên những chiếc thuyền sông bị cô lập. Trong những năm 1930 và trong Chiến tranh, người Nhật đã có một đội tàu riêng trên sông. Năm 1945, Liên Xô một lần nữa đưa đội tàu của mình lên sông. Các pháo hạm Yangtse cũ của Đức là Vaterland và Otter, phục vụ Hải quân Quốc gia Trung Quốc, đã tuần tra Amur trong những năm 1920. Ngày nay, các ngành kinh tế quan trọng trong lưu vực sông Amur bao gồm luyện kim, khai thác quặng sắt, các kim loại màu, vàng, than, thủy điện, lúa mì, kê, đậu tương, nghề cá, gỗ và thương mại Nga-Trung. Mỏ dầu Đại Khánh, là mỏ dầu lớn thứ tư trên thế giới, nằm gần thành phố Đại Khánh trong tỉnh Hắc Long Giang, chỉ cách con sông này vài trăm kilômét. Chảy dọc theo miền đông bắc châu Á trên 4.444 km (2.761 dặm), từ các dãy núi ở đông bắc Mông Cổ tới biển Okhotsk (gần Nikolayevsk-na-Amure), nó tưới tiêu cho một khu vực đáng kể, bao gồm nhiều loại cảnh quan đa dạng như hoang mạc, thảo nguyên, lãnh nguyên và rừng taiga, cuối cùng chảy vào Thái Bình Dương thông qua eo biển Tatar. Phần chiều dài chính của sông Amur là 2.874 km. Con sông bắt đầu trên những ngọn đồi ở phía tây của Đông Bắc Trung Quốc ở độ cao 303 mét (994 ft) sau khi có sự hợp lưu của hai sông Shilka và Argun tại gần thôn Lĩnh Lạc Cổ (洛古河, miền tây huyện Mạc Hà (漠河) thuộc tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc) và Pokrovka (Nga) để trở thành sông Amur. Nó chảy về phía đông tạo thành biên giới giữa Trung Quốc và Nga, và từ từ tạo ra một vòng cung lớn về phía đông nam khoảng 400 km (250 dặm), nhận được nhiều nhánh sông và đi qua nhiều thị trấn nhỏ. Tại Hô Mã, nó được nhập vào bởi một nhánh chính, Hô Mã He. Sau đó, nó tiếp tục chảy về phía nam cho đến khi, giữa các thành phố Blagoveshchensk ở Nga và Hắc Hà ở Trung Quốc, nó mở rộng đáng kể khi nó được nối với một trong những nhánh sông quan trọng nhất của nó là sông Zeya. Sông Amur sau đó uốn thành hình vòng cung ở phía đông và quay về hướng đông nam một lần nữa tại ngã ba sông với sông Bureya, sau đó không nhận được một nhánh quan trọng nào trong gần 250 km (160 dặm) trước khi hợp lưu với nhánh sông lớn nhất của nó, Tùng Hoa, tại Đồng Giang. Tại nơi hợp lưu với Tùng Hoa, dòng sông rẽ theo hướng đông bắc, chảy về phía Khabarovsk, nơi nó nối với Ussuri và từ đó ngừng xác định biên giới Nga-Trung Quốc. Bây giờ, dòng sông lan rộng ra như một con sông phân dòng, chảy theo hướng bắc-đông bắc qua một thung lũng rộng ở phía đông nước Nga, đi qua Amursk và Komsomolsk-na-Amure. Thung lũng thu hẹp sau khoảng 200 km (120 dặm) và dòng sông lại chảy về phía bắc trên đồng bằng tại ngã ba sông với Amgun. Không lâu sau, Amur chảy mạnh về phía đông và vào một cửa sông tại Nikolayevsk-na-Amure, khoảng 20 km (12 mi) về phía hạ lưu, nó chảy vào Eo biển Tatar. Các sông nhánh chính là: Sông Amur là ranh giới tự nhiên của tỉnh Hắc Long Giang thuộc Trung Quốc ở phía nam với tỉnh Amur, tỉnh tự trị Do Thái ("Evreyskaya avtonomnaya oblast") và vùng Khabarovsk thuộc Nga ở phía bắc. Phần hạ lưu sông Amur chảy qua vùng Khabarovsk. Nó chảy qua các thành phố sau: Môi trường hoang dã. Người ta tin rằng có ít nhất 123 loài cá từ 23 họ sinh sống ở Amur. Phần lớn là thuộc phân họ Gobioninae thuộc bộ Cá chép, theo sau là số lượng họ Cá hồi. Một số loài là đặc hữu. Pseudaspius và Mesocottus là các chi đơn loài chỉ được tìm thấy ở Amur và một số sông ven biển gần đó. Bốn loài thuộc họ Cá tầm có thể được tìm thấy: Cá tầm Kaluga, cá tầm Amur, cá tầm Sakhalin và cá tầm nhỏ. Cá tầm Kaluga và Amur là loài đặc hữu. Cá tầm nhỏ được giới thiệu từ sông Obi vào những năm 1950. Lưu vực sông là nơi sinh sống của nhiều loại cá săn mồi lớn như cá lóc Trung Quốc, cá taimen, cá nheo sông Amur, cá chép cũng như các quần thể phân bố cực bắc của rùa mai mềm bắc Trung Quốc và sen hồng. Cầu và đường hầm. Cây cầu lâu dài đầu tiên bắc qua sông Amur, Cầu Khabarovsk với chiều dài tổng thể 2.590 mét (8.500 ft), được hoàn thành vào năm 1916, cho phép các đoàn tàu trên Đường sắt xuyên Sibir đi qua sông quanh năm mà không cần sử dụng phà hoặc đường ray trên đỉnh băng sông. Năm 1941, một đường hầm đường sắt cũng được bổ sung. Sau đó, một cây cầu đường bộ và đường sắt kết hợp qua Amur tại Komsomolsk-on-Amur (1975; 1400 m) và cầu đường bộ và đường sắt Khabarovsk (1999; 3890 m) đã được xây dựng. Cầu đường sắt Tongjiang-Nizhneleninskoye đã được đề xuất vào năm 2007 bởi Valery Solomonovich Gurevich, phó chủ tịch của Khu tự trị Do Thái ở Nga. Cây cầu đường sắt bắc qua Amur sẽ kết nối Đồng Giang với Nizhneleninskoye, một ngôi làng ở Khu tự trị Do Thái. Phần cầu của Trung Quốc đã hoàn thành vào tháng 7 năm 2016. Vào tháng 12 năm 2016, công việc bắt đầu ở phần cầu của Nga. Cây cầu dự kiến sẽ mở cửa vào năm 2020.
Kịch bản phim (hay còn gọi là kịch bản văn học) là khâu đầu tiên của việc sản xuất ra một bộ phim, có thể được phỏng theo (chuyển thể) một tác phẩm khác như tiểu thuyết, vở kịch hay truyện ngắn, hoặc có thể là một tác phẩm gốc. Nó bao gồm kịch bản phim điện ảnh và kịch bản phim truyền hình. Người viết kịch bản được gọi là nhà biên kịch. Theo từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, Nxb Khoa học xã hội định nghĩa: "“Kịch bản là vở kịch ở dạng văn bản”." Mỗi loại hình văn học nghệ thuật, điện ảnh hay truyền hình (có thể coi truyền hình cũng là một loại hình mang tính chất nghệ thuật, bởi truyền hình là sự kết hợp của điện ảnh và báo chí) đều có những đặc thù riêng, đặc trưng và tính chất riêng. Vì thế, khái niệm kịch bản đi vào từng loại hình được biến hoá sao cho phù hợp với những tính chất đặc trưng riêng của nó. Do đó, nó có nhiều hình thức biểu hiện đa dạng chứ không phải chỉ là vở kịch ở dạng vản bản, vấn đề này chúng tôi xin đề cập phân tích ở những phần sau.
BGP, viết tắt của từ tiếng Anh "Border Gateway Protocol", là giao thức tìm đường nòng cốt trên Internet. Nó hoạt động dựa trên việc cập nhật một bảng chứa các địa chỉ mạng ("prefix") cho biết mối liên kết giữa các hệ thống tự trị ("autonomous system", tập hợp các hệ thống mạng dưới cùng sự điều hành của một nhà quản trị mạng, thông thường là một nhà cung cấp dịch vụ Internet, "ISP"). BGP là một giao thức vector đường đi ("path vector"). Khác với các giao thức tìm đường khác như RIP (vector độ dài), OSPF (trạng thái liên kết), BGP chọn đường bằng một tập các chính sách và luật. Phiên bản BGP hiện nay là phiên bản 4, dựa trên RFC 4271. BGP hỗ trợ tìm đường liên vùng phi lớp (CIDR Classless Inter-Domain Routing) và dùng kỹ thuật kết hợp đường đi để giảm kích thước bảng tìm đường (ví dụ nếu một mạng chiếm 255 địa chỉ lớp C từ 203.162.0.0/24 - 203.162.254.0/24 thì chỉ dùng 1 địa chỉ 203.162.0.0/16 để định danh mạng) BGP được sử dụng thay thế cho EGP và xóa hẳn mạng xương sống NSFNET nhằm giúp cho Internet trở thành một hệ thống phân tán đúng nghĩa. Ngoài việc sử dụng BGP giữa các AS, BGP cũng có thể được sử dụng trong các mạng riêng quy mô lớn do OSPF không đáp ứng được. Một lý do khác là dùng BGP để hỗ trợ multihome. Đa số người sử dụng Internet thường không sử dụng BGP một cách trực tiếp. Chỉ có các nhà cung cấp dịch vụ Internet sử dụng BGP để trao đổi đường đi. BGP là một trong những giao thức quan trọng nhất đảm bảo tính kết nối của Internet. Hoạt động của BGP. Các thiết bị tìm đường (router) sử dụng BGP kết nối từng cặp (peering) với nhau bằng cách thiết lập phiên làm việc trên giao thức TCP qua cổng 179. Phiên kết nối này được duy trì bằng việc gửi các thông điệp keep-alive 19 byte mỗi 60 giây (mặc định). Có bốn loại thông điệp BGP là open (mở phiên kết nối), update (thông báo hoặc rút lại một đường đi), notification (thông báo lỗi), keep-alive (duy trì phiên kết nối) BGP có 4 thông điệp kết nối
Acid hydrochloric (), hay còn gọi là acid muriatic, là một acid vô cơ mạnh, tạo ra từ sự hòa tan của khí hydro chloride (công thức hóa học: HCl) trong nước. Ban đầu, acid này được sản xuất từ acid sulfuric và muối ăn vào thời Phục Hưng, thậm chí từ thời Trung Cổ, sau đó được các nhà hóa học Glauber, Priestley và Davy sử dụng trong các nghiên cứu khoa học của họ. Acid hydrochloric được tìm thấy trong dịch vị, và cũng là một trong những yếu tố gây bệnh loét dạ dày khi hệ thống tự bảo vệ của dạ dày hoạt động không hiệu quả. Acid hydrochloric đậm đặc nhất có nồng độ tối đa là 40%. Ở dạng đậm đặc, acid này có thể tạo thành các sương mù acid, chúng đều có khả năng ăn mòn các mô con người, gây tổn thương cơ quan hô hấp, mắt, da và ruột. Ở dạng loãng, acid hydrochloric cũng được sử dụng làm chất vệ sinh, lau chùi nhà cửa, sản xuất gelatin và các phụ gia thực phẩm, tẩy rửa, và xử lý da. Acid hydrochloric dạng hỗn hợp đẳng phí (gần 20,2%) có thể được dùng như một tiêu chuẩn cơ bản trong phân tích định lượng. Acid hydrochloric được sản xuất với quy mô lớn và cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVIII, chủ yếu được sử dụng trong ngành công nghiệp hóa chất để sản xuất nhựa PVC, và các sản phẩm trung gian như MDI/TDI để tạo ra polyurethane. Có khoảng 20 triệu tấn acid hydrochloric được sản xuất hàng năm. Acid hydrochloric được các nhà giả kim thuật châu Âu gọi là "dung dịch muối" ("spirits of salt") hay "acidum salis" (acid muối). Cả hai tên vẫn còn đang sử dụng, đặc biệt là trong các ngôn ngữ ngoài tiếng Anh như và . Khí HCl được gọi là "khí acid biển" ("marine acid air"). Tên cũ là "acid muriatic" ("muriatic acid") có cùng nguồn gốc ("muriatic" nghĩa là "liên quan đến nước muối hay muối"), và tên gọi này thỉnh thoảng vẫn còn được sử dụng. Không có nhiều tài liệu rõ ràng cho thấy acid hydrochloric được điều chế vào thời kỳ Trung cổ. Có vẻ như nguồn đầu tiên đề cập đến việc điều chế vào thế kỷ XV và XVI, nhưng vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Một số tác giả vẫn giữ quan điểm rằng acid này được Basil Valentine, thầy tu dòng Benedict Đức, phát hiện vào thế kỷ XV, bằng cách nung muối ăn (NaCl) và acid sulfuric (H2SO4) lục. Nước cường toan, một hỗn hợp giữa acid nitric và acid hydrochloric đã được mô tả bởi nhà giả kim thuật châu Âu thế kỷ XIII PseudoGeber (Paul of Taranto). Vào thế kỷ XVII, Johann Rudolf Glauber ở Karlstadt am Main, Đức, đã sử dụng muối ăn và acid sulfuric để điều chế natri sulfat Na2SO4 bằng phản ứng Mannheim giải phóng khí hydro chloride. Joseph Priestley ở Leeds, Anh đã tạo ra hydro chlorua tinh khiết năm 1772, vào năm 1818 Humphry Davy ở Penzance, Anh đã chứng minh rằng thành phần hóa học bao gồm hydro và chlor. Phản ứng Mannheim được mô tả như sau: 2 NaCl + H2SO4 → Na2SO4 + 2 HCl Trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp ở châu Âu, nhu cầu kiềm tăng, một phương pháp điều chế công nghiệp do Nicolas Leblanc (ở Issoundun, France) đề xuất đã cho phép sản xuất natri carbonat (Na2CO3 - tro soda) với số lượng lớn và giá rẻ. Theo công nghệ Leblanc, muối ăn được chuyển thành tro soda từ acid sulfuric và than, đồng thời giải phóng hydro chloride. Trước khi có đạo luật Alkali 1863 ở Anh và các chính sách tương tự ở các quốc gia khác, lượng HCl dư được thải vào không khí. Sau khi thông qua đạo luật, các nhà sản xuất tro soda dùng nước để hấp thụ khí này, đồng thời sản xuất acid hydrochloric theo quy mô công nghiệp. Trong thế kỷ XX, công nghệ Leblanc được thay thế hoàn toàn bởi công nghệ Solvay không tạo ra sản phẩm acid hydrochloric. Vì acid hydrochloric đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nên nhu cầu thương mại cần có các phương pháp khác để sản xuất nó, một số trong các phương pháp này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Sau năm 2000, acid hydrochloric hầu hết được sản xuất bằng cách hấp thụ khí hydro chloride từ việc sản xuất các hợp chất hữu cơ công nghiệp. Từ năm 1988, acid hydrochloric được liệt vào bảng II chất tiền chế, Công ước Liên Hợp Quốc về Chống vận chuyển trái phép ma túy và các chất hướng thần 1998 ("Table II precursor under the 1988 United Nations Convention Against Illicit Traffic in Narcotic Drugs and Psychotropic Substances") do nó được sử dụng trong việc điều chế heroin, cocain, và methamphetamine. Tính chất hóa học. Acid hydrochloric là acid một nấc, tức nó có thể phân ly cho ra một ion H+ và một ion Cl−. Khi hòa tan trong nước, H+ liên kết với phân tử nước tạo thành ion hydronium, H3O+: chemHCl + H2O - H3O^+ + Cl^-/chem Do phân ly hoàn toàn trong nước nên acid hydrochloric được xếp vào nhóm acid mạnh. Các acid monoproton có một hằng số điện ly, "K"a, cho thấy mức độ phân ly của nó trong nước. Đối với các acid mạnh tương tự như HCl, thì "K"a có giá trị lớn, và bên cạnh đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết để xác định giá trị "K"a đối với HCl. Giá trị "K"a thường được tính thông qua p"K"a, giá trị p"K"a của HCl, tùy theo nguồn, dao động trong khoảng -3 đến -7, thậm chí đến -9,3. Khi cho các muối chloride như NaCl vào dung dịch HCl thì chúng không ảnh hưởng đến giá trị pH, điều này cho thấy rằng ion Cl− là một gốc base liên hợp cực kỳ yếu và HCl bị phân ly hoàn toàn trong dung dịch. Đối với các dung dịch acid hydrochloric trung bình đến mạnh, người ta cho rằng số mol H+ bằng với số mol HCl, với độ tin cậy 4 chữ số thập phân. Trong số sáu acid vô cơ mạnh phổ biến, acid hydrochloric là một acid monoproton ít có khả năng tạo phản ứng giảm số oxy hóa. Nó là một trong những acid mạnh ít độc hại nhất khi tiếp xúc bằng tay; ngoài tính acid, nó còn bao gồm các ion chlor không phản ứng và không độc hại. Các dung dịch acid hydrochloric trung bình-mạnh thì khá ổn định khi lưu trữ. Acid hydrochloric thường được dùng phổ biến trong việc chuẩn độ dung dịch base. Các acid chuẩn độ mạnh cho các kết quả chính xác hơn do có điểm cuối rõ ràng. Acid hydrochloric dạng hỗn hợp đẳng phí (gần 20,2%) có thể được dùng như một tiêu chuẩn cơ bản trong phân tích định lượng, mặc dù nồng độ chính xác của nó phụ thuộc vào áp suất khí quyển khi điều chế nó. Acid hydrochloric thường được dùng trong việc chuẩn bị mẫu trong hóa phân tích. Acid hydrochloric đặc có thể hòa tan một số kim loại, tạo ra các khí hydro và chlor. Nó phản ứng với các hợp chất base như calci carbonat hoặc đồng(II) oxide, tạo thành các dung dịch hòa tan có thể dùng để phân tích. Như các loại acid khác, HCl có thể tác dụng với: Fe + 2HCl → FeCl2+ H2 ZnO + 2HCl → ZnCl2 + H2O NaOH + HCl → NaCl + H2O CaCO3 + 2HCl → CaCl2 + CO2 + H2O Ngoài ra, trong một số phản ứng HCl còn thể hiện tính khử bằng cách khử một số hợp chất như KMnO4 (đặc), MnO2, KClO3 giải phóng khí chlor. 2KMnO4(đặc) + 16HCl → 2KCl + 2MnCl2 + 5Cl2 + 8 H2O MnO2 + 4HCl → MnCl2 + Cl2 + 2H2O Tính chất vật lý. Ở điều kiện thông thường (nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn, chiếu sáng), dung dịch Acid hydrochloric thường được quan sát thấy là một chất lỏng không màu, trong suốt hoặc vàng nhạt (do lẫn hợp chất), có thể bốc khói, hơi nhớt, nặng hơn nước, khúc xạ ánh sáng nhiều hơn nước một chút: Các tính chất vật lý của acid hydrochloric như điểm sôi và điểm nóng chảy, mật độ, và pH phụ thuộc vào nồng độ mol của HCl trong dung dịch acid. Chúng thay đổi trong dung dịch với nồng độ phần trăm rất thấp từ 0% HCl đến hơn 40% HCl. Acid hydrochloric ở dạng hỗn hợp hai hợp phần gồm HCl và H2O có điểm sôi hỗn hợp đẳng phí khi nồng độ 20,2% HCl và nhiệt độ 108,6 °C (227 °F). Có bốn điểm eutecti kết tinh cố định đối với HCl, giữa các dạng tinh thể của HCl•H2O (68% HCl), HCl•2H2O (51% HCl), HCl•3H2O (41% HCl), HCl•6H2O (25% HCl), và đóng băng (0% HCl). Cũng có điểm eutectic rất ổn định ở nồng độ 24,8% giữa dạng băng và HCl•3H2O kết tinh. Điều chế và sản xuất. Acid hydrochloric được sản xuất với nồng độ lên đến 38% HCl (nồng độ phần trăm). Các mức nồng độ cao hơn khoảng 40% có thể được sản xuất về mặt hóa học nhưng sau đó tốc độ bay hơi cao dẫn đến mức việc cất giữ và sử dụng cần có những khuyến cáo đặc biệt, như trong môi trường áp suất và nhiệt độ thấp. Acid hydrochloric trong công nghiệp thường sử dụng loại 30% đến 34%, nhằm tối ưu hóa trong việc vận chuyển và giảm thất thoát khí HCl ở dạng bay hơi. Các dung dịch sử dụng cho mục đích gia đình ở Hoa Kỳ, hầu hết là làm vệ sinh, thì có nồng độ nằm trong khoảng 10% đến 12%, với những khuyến cáo pha loãng trước khi dùng. Ở Anh, chất này được bán ở dạng "Spirits of Salt" dùng cho làm vệ sinh trong nhà, với độ acid tương tự như cấp công nghiệp ở Mỹ. Hầu hết acid hydrochloric được sản xuất ở Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản ở dạng sản phẩm phụ theo phương pháp chlor hóa chất hữu cơ. Các nhà sản xuất chính trên thế giới gồm Dow Chemical, FMC, Georgia Gulf, , , và Tessenderlo. Trong đó, Dow Chemical sản xuất 2 triệu tấn hàng năm tính theo khí HCl; và các công ty còn lại sản xuất từ 0,5 đến 1,5 triệu tấn/mỗi năm. Tổng sản lượng trên thế giới, tính theo HCl, ước tính 20 triệu tấn/năm, với 3 triệu tấn/năm từ việc tổng hợp trực tiếp, và phần còn lại là sản phẩm phụ từ các quá trình tổng hợp hữu cơ và tương tự. Cho đến nay hầu hết acid hydrochloric được tiêu thụ chủ yếu bởi các nhà sản xuất sử dụng làm nguyên liệu, phụ liệu để sản xuất các chế phẩm khác. Thị trường thế giới tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn/năm. Acid hydrochloric được sản xuất/điều chế theo các quy trình sau: Tổng hợp từ các nguyên tố. Quá trình này tổng hợp trực tiếp từ khí chlor và hydro cho ra sản phẩm có độ tinh khiết cao. H2 + Cl2 → 2 HCl Phản ứng diễn ra trong buồng đốt được cung cấp khí chlor và Hydro ở nhiệt độ trên 2000 °C có mặt ngọn lửa. Để đảm bảo rằng phản ứng diễn ra hoàn toàn, người ta cung cấp lượng Hydro cao hơn chlor một chút (1-2%) để không còn chlor trong sản phẩm. Hỗn hợp của Hydro và chlor có khả năng gây nổ do đó cần những thiết bị đặc biệt có khả năng chịu nhiệt cao, và một điểm không thuận lợi là các chất phản ứng có chi phí cao. Phản ứng với chloride kim loại. Quá trình này được sử dụng chủ yếu trong thế kỷ XVIII hay còn gọi là quy trình Leblanc dùng trong sản xuất natri carbonat. Phản ứng diễn ra gồm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 ở nhiệt độ khoảng 150-250 °C, và giai đoạn 2 ở nhiệt độ khoảng 500 đến 600 °C: NaCl + H2SO4 đặc → NaHSO4 + HCl↑ NaCl + NaHSO4 → Na2SO4 + HCl↑ Phản ứng tổng có thể được viết như sau: 2 NaCl + H2SO4 → Na2SO4 + 2HCl↑ Chiều cân bằng phản ứng diễn ra theo hướng tạo khí HCl vì khí này được lấy ra liên tục. Phương pháp cho phép tạo ra các sản phẩm tinh khiết, thường được dùng trong phòng thí nghiệm. Phương pháp này không được dùng trong sản xuất thương mại vì acid sulfuric đắt hơn acid hydrochloric. Sản phẩm chlor hóa trong sản xuất chất hữu cơ. Các phản ứng chính: C2H4 + Cl2 → C2H4Cl2 C2H4Cl2 → C2H3Cl + HCl Cl2 + RH → RCl + HCl với R-là gốc hydrocarbon. RCl + HF → RF + HCl 2 CHF2Cl → CF2=CF2 + 2 HCl C4H6Cl2 + 5O2 → 4CO2 + 2H2O + 2HCl 2FeCl3 + 6H2O → Fe2O3 + 3H2O + 6HCl Hydrat hóa chloride kim loại nặng. Sau quá trình tạo khí HCl, dòng khí chứa HCl đưa qua tháp hấp thụ, ở đây HCl lỏng đậm đặc được tạo ra bằng cách hấp thụ hơi HCl vào trong dung dịch acid hydrochloric yếu và được tách ra. Trong khi đó, dòng khí cuối cùng được đưa tới thiết bị làm sạch để loại HCl tự do trước khi thải ra ngoài không khí. Acid hydrochloric là một acid mạnh được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Ứng dụng thường để xác định chất lượng sản phẩm theo yêu cầu. Một trong những ứng dụng quan trọng của acid hydrochloric là dùng để loại bỏ rỉ trên thép, đó là các oxide sắt, trước khi thép được đưa vào sử dụng với những mục đích khác như cán, mạ điện và những kỹ thuật khác. HCl dùng trong kỹ thuật có nồng độ 18% là phổ biến, được dùng làm chất tẩy rỉ của các loại thép carbon. Fe2O3 + 6 HCl → 2 FeCl3 + 3 H2O Acid đã qua sử dụng được tái dùng nhiều lần gọi là các dung dịch sắt(II) chloride, nhưng mức độ các kim loại nặng cao trong dung dịch tẩy này làm giảm hiệu quả của phản ứng. Công nghiệp tẩy thép đã phát triển các công nghệ "tái chế acid hydrochloric", như công nghệ lò phun hoặc công nghệ tái sinh HCl tầng sôi, quá trình này cho phép thu hồi HCl từ chất lỏng đã tẩy rửa. Công nghệ tái chế phổ biến hất là "pyrohydrolysis", thực hiện theo phản ứng sau: 4 FeCl2 + 4 H2O + O2 → 8 HCl+ 2 Fe2O3 Bằng cách hồi phục đặc tính của acid đã qua sử dụng, người ta thực hiện theo một chu trình acid khép kín. Sản phẩm phụ trong quá trình tái chế là sắt(III) oxide được thu hồi và sử dụng vào nhiều mục đích trong công nghiệp. Sản xuất các hợp chất hữu cơ. Một ứng dụng quan trọng khác của acid hydrochloric là dùng trong sản xuất các hợp chất hữu cơ như vinyl chloride và dichloroethan để sản xuất PVC. Quá trình này sử dụng các acid do doanh nghiệp sản xuất chứ không từ thị trường tự do. Các hợp chất hữu cơ khác được sản xuất từ HCl như bisphenol A sản xuất polycarbonat, than hoạt tính, và acid ascobic, cũng như trong một số sản phẩm của ngành dược. 2 CH2=CH2 + 4 HCl + O2 → 2 ClCH2CH2Cl + 2 H2O gỗ + HCl + nhiệt → than hoạt tính Sản xuất các hợp chất vô cơ. Nhiều sản phẩm có thể được sản xuất từ acid hydrochloric theo phản ứng acid-base tạo ra các hợp chất vô cơ. Chúng bao gồm các hóa chất xử lý nước như sắt(III) chloride và polyaluminium chloride (PAC). Fe2O3 + 6 HCl → 2 FeCl3 + 3 H2O (sắt (III) chloride từ magnetit) Cả sắt (III) chloride và PAC đều được sử dụng làm chất keo tụ và chất đông tụ để làm lắng các thành phần trong quá trình xử lý nước thải, sản xuất nước uống, và sản xuất giấy. Các hợp chất vô cơ khác được sản xuất dùng HCl như muối calci chloride, nickel(II) chloride dùng cho việc mạ điện và kẽm chloride cho công nghiệp mạ và sản xuất pin. CaCO3 + 2 HCl → CaCl2 + CO2 + H2O (calci chloride từ đá vôi) Zn(s) + 2 HCl → ZnCl2 + H2(g) Kiểm soát và trung hòa pH. Acid hydrochloric có thể được dùng để điều chỉnh tính base của dung dịch. OH− + HCl → H2O + Cl− Trong công nghiệp yêu cầu độ tinh khiết (thực phẩm, dược phẩm, nước uống), acid hydrochloric chất lượng cao được dùng để điều chỉnh pH của nước cần xử lý. Trong ngành công nghiệp không yêu cầu độ tinh khiết cao, acid hydrochloric chất lượng công nghiệp chỉ cần đủ để trung hòa nước thải và xử lý nước hồ bơi. Tái sinh bằng cách trao đổi ion. Acid HCl chất lượng cao được dùng để tái sinh các nhựa trao đổi ion. Trao đổi cation được sử dụng rộng rãi để loại các ion như Na+ và Ca2+ từ các dung dịch chứa nước, tạo ra nước khử khoáng. Acid này được dùng để rửa các cation từ các loại nhựa. Na+ bị thay thế bởi H+ Ca2+ bị thay thế bởi 2 H+ Trao đổi ion và nước khử khoáng được sử dụng trong tất cả các ngành công nghiệp hóa, sản xuất nước uống, và một số ngành công nghiệp thực phẩm. Acid HCl có nhiều ứng dụng ở quy mô nhỏ như: xử lý da, vệ sinh nhà cửa, và xây dựng nhà. Trong khai thác dầu, acid HCl có thể được dùng để bơm vào trong tầng đá của giếng dầu nhằm hòa tan một phần đá hay còn gọi là "rửa giếng", và tạo các lỗ rỗng lớn hơn. Acid hóa giếng khoan là một quá trình phổ biến được sử dụng trong công nghiệp khai thác dầu biển Bắc. Khi trộn dung dịch acid hydrochloric đậm đặc và dung dịch acid nitric đậm đặc theo tỉ lệ mol 1:3 thì nó có khả năng hòa tan vàng và bạch kim. (xem nước cường toan). Một số phản ứng hóa học liên quan đến acid HCl được ứng dung trong sản xuất thực phẩm, các thành phần thực phẩm và phụ gia thực phẩm. Các sản phẩm đặc trưng như aspartame, fructose, acid citric, lysine, thủy phân protein thực vật, và trong sản xuất gelatin. Acid HCl cấp thực phẩm (loại an toàn cho con người khi sử dụng) có thể được ứng dụng khi cần thiết trong sản phẩm cuối cùng. Acid gastric là một trong những chất chính tiết ra từ dạ dày. Nó chứa chủ yếu là acid hydrochloric và tạo môi trường acid trong dạ dày với pH từ 1 đến 2. Các ion chlor (Cl−) và hydro (H+) được tiết ra riêng biệt trong vùng đáy vị của dạ dày ("stomach fundus") bởi các tế bào vách của niêm mạc dạ dày vào hệ tiết dịch gọi là tiểu quản ("canaliculi") trước khi chúng đi vào lòng ống ("lumen") dạ dày. Acid gastric giữ vai trò là một chất kháng lại các vi sinh vật để ngăn ngừa nhiễm trùng và là yếu tố quan trọng để tiêu hóa thức ăn. pH dạ dày thấp làm biến tính các protein và do đó làm chúng bị dễ phân hủy bởi các enzym tiêu hóa như pepsin. pH thấp cũng kích hoạt các tiền enzym pepsinogen thành enzyme pepsin hoạt hóa bởi sự tự phân cắt ("self-cleavage"). Sau khi ra khỏi dạ dày, acid hydrochloric của dịch sữa bị natri bicarbonat vô hiệu hóa trong tá tràng. Dạ dày tự nó được bảo vệ khỏi acid mạnh bằng cách tiết ra một lớp chất nhầy mỏng để bảo vệ, và bằng cách tiết ra dịch tiết tố để tạo ra lớp đệm natri bicarbonat. Loét dạ dày có thể xảy ra khi các cơ chế này bị suy yếu. Các thuốc nhóm kháng histamin và ức chế bơm proton ("proton pump inhibitor") có thể ức chế việc tiết acid trong dạ dày, và các chất kháng acid được sử dụng để trung hòa acid có mặt trong dạ dày. Acid hydrochloric đậm đặc có thể bay hơi, tạo thành các sương mù acid. Cả dạng sương mù và dung dịch đều có khả năng gây ảnh hưởng ăn mòn các mô con người, có khả năng gây tổn thương cơ quan hô hấp, mắt, da và ruột. Khi trộn acid hydrochloric với các chất oxy hóa phổ biến khác như natri hypochlorit (NaOCl) hoặc kali permanganat (KMnO4) làm giải phóng khí độc chlor. NaOCl + 2 HCl → H2O + NaCl + Cl2 2 KMnO4 + 16 HCl → 2 MnCl2 + 8 H2O + 2 KCl + 5 Cl2 Đồ bảo hộ như găng tay cao su, kính bảo vệ mắt, và quần áo, giày chống chất hóa học được sử dụng để giảm thiểu những tác tại của việc tiếp xúc với loại acid này. Mức độ nguy hiểm của dung dịch acid hydrochloric phụ thuộc vào nồng độ của nó. Bảng bên dưới liệt kê theo cách phân loại của EU về nồng độ acid nà="67/548/eec"/ref Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ xếp acid hydrochloric vào nhóm chất độc. Số UN do Liên Hợp Quốc quy định cho acid hydrochloric là 1789. [[Thể loại:Hợp chất hydro]] [[Thể loại:Acid vô cơ|hydrochloric, acid]] [[Thể loại:Hợp chất hydro]] [[Thể loại:Hợp chất chlor]] [[Thể loại:Hợp chất halogen của phi kim]]
Thiên Nga (chòm sao) Chòm sao Thiên Nga 天鵝, (tiếng La Tinh: Cygnus) là một trong 48 chòm sao Ptolemy và cũng là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh con thiên nga. Chòm sao này có diện tích 804 độ vuông, nằm trên thiên cầu bắc, chiếm vị trí thứ 16 trong danh sách các chòm sao theo diện tích. Chòm Thiên Nga cùng với chòm sao Thiên Ưng và Thiên Cầm ở hai bên bờ Ngân Hà tạo thành thế chân vạc. Ba ngôi sao chính (sao alpha) của ba chòm sao này tạo thành mảng sao Tam giác mùa hè nổi tiếng. Bản thân chữ thập trong chòm sao này cũng là một mảng sao mang tên Bắc Thập tự. Chòm sao Thiên Nga nằm kề các chòm sao Tiên Vương, Thiên Long, Thiên Cầm, Hồ Ly, Phi Mã, Hiết Hổ. Người xưa hình dung chòm sao này như một con thiên nga đang trải cánh ngang qua dải Ngân Hà và bay về phía Nam. Các ngôi sao đáng quan tâm. Chòm sao Thiên Nga có nhiều ngôi sao sáng và một số thiên thể đáng quan tâm. Lịch sử và thần thoại. Thần thoại Hy Lạp. Chòm sao giống như một con chim với đôi cánh lớn và cái cổ dài, duyên dáng trong khi bay. Trong Thần thoại Hy Lạp chòm sao đại diện cho những con chim thiên nga khác nhau trong truyền thuyết. Zeus đã tự mình cải trang để quyến rũ Leda, người đã sinh ra Gemini, Helent của Troia và Clytemnestra. Orpheus đã biến thành thiên nga sau khi bị giết, kể rằng anh ấy đã được đặt trên trời, bên cạnh Lyre (Lyra) của anh ấy. Cuối cùng, kể rằng 1 ông vua có tên là Cycnus là người thân hoặc người yêu của Phaëthon. Con trai của Apollo, anh ấy đã lừa người cha của mình để ông ấy cho phép cậu cưỡi cỗ xe mặt trời, những đã bị mất kiểm soát và bị thần Zeus đánh hạ. Đau buồn sau cái chết của Phaethon, quyết tâm cho anh ấy một nơi chôn cất thích hợp, Cycnus đã lao xuống đáy sông Eridanus để tìm anh ta. Sau rất nhiều lần lao xuống dòng sông, anh ấy đã biến thành một con thiên nga Cygnus, và hiện trên bầu trời ngày nay. Thiên Nga cùng với những chòm sao khác trong biểu tượng Hoàng đạo của Nhân Mã (Đặc biệt là Lyra và Aquila cùng với chính Nhân Mã có thể là một phần quan trọng của nguồn gốc thần thoại của Stymphalian Birds, một trong mười hai kỳ công của Heracles). Thần thoại Trung Hoa. Trong thần thoại Trung Quốc, chòm sao Thiên Nga chính là chiếc cầu do những con quạ bay lên bầu trời (鵲橋, "Ô kiều") để đôi vợ chồng Ngưu Lang Chức Nữ có thể gặp nhau trong một đêm. Trong Ovid's Metamorphoses có ba người tên đều tên là Cygnus và tất cả bọn họ đều biến thành những con Thiên nga. Người đầu tiên có liên quan đến Phaethon đã được miêu tả ở trên, là con của Sthenelus và ông vua xứ Liguria. Thứ hai là một cậu bé tới từ Tempe, muốn Phyllius đưa cho mình ba con vật đã được thuần hoá như một món quà tặng. Sau khi bị Phyllius từ chối. Cygnus tự ném mình ra khói một vách đá trong sự tức giận. Thay vì cái chết, cậu bé lại được biến thành một con Thiên nga và bay đi. Người thứ ba tên là Cygnus là con trai của Neptune. Anh ấy là chiến binh trong Chiến tranh thành Troia, người không thể bị huỷ diệt dưới mọi vũ khí đau đớn nào, nhiều lần đã khiến kẻ thù của anh ấy, Achilles bị thất bại. Achilles cuối cùng đã giết anh ấy bằng cách đập nát mặt của anh ta cùng với cái khiên, những Neptune đã cứu anh ấy bằng cách biến anh ấy thành một con thiên nga.
Vạn diệp tập (tiếng Nhật: 万葉集 "Man'yōshū") - với nghĩa khái quát có thể được hiểu là "tập thơ lưu truyền vạn đời", "tuyển tập hàng vạn bài thơ", "tập thơ vạn trang", "tập thơ vạn lời", "tập thơ của mười ngàn chiếc lá" là tuyển tập thơ của Nhật Bản lớn nhất và cổ xưa nhất còn lại đến ngày nay. Tập thơ có lẽ được Otomo Yakamochi (mất năm 785) và một số người khác biên soạn vào cuối năm 759 đời Thiên hoàng Junnin thời kỳ Nara, theo lệnh của hoàng đế đương triều. "Vạn diệp tập" quy tụ những tác giả trên toàn cõi Nhật Bản suốt bốn thế kỷ: từ hoàng đế, công chúa, vương phi, tướng lĩnh, cho tới binh sĩ, nông dân, người đốn củi, kẻ ăn mà, còn lại là khuyết danh. Có thể thấy sự có mặt của chủ biên Otomo Yakamochi trong 16 tập với 415 thi phẩm. Đó là chưa kể ông còn đưa thêm vào thơ của cha ông là Tabito và của họ hàng nhà ông. Tuy nhiên, Yakamochi hoàn toàn xứng đáng, ông và cha của ông được đánh giá là hai trong năm nhà thơ lỗi lạc nhất của "Vạn diệp tập", gọi là "Vạn diệp ngũ đại gia" hay "Vạn diệp ngũ danh bút": bao gồm thi thánh Kakinomoto no Hitomaro (662?-710), nhà thơ của thiên nhiên Yamabe no Akahito (700-736), nhà thơ nhân thế Yamanoue no Okura (660-733), nhà thơ của nhãn quan trào lộng Ōtomo no Tabito (665-731) và thi nhân của cái tôi mang phong cách cá nhân rất hiện đại Ōtomo no Yakamochi (718?-785). Phân loại theo thể thơ. Toàn bộ Vạn diệp tập gồm 20 cuốn với 4496 bài thơ viết bằng chữ Nhật kana hay manyogana, hệ thống ghi âm tiếng Nhật bằng chữ Hán, sử dụng 3 thể thơ truyền thống của Nhật: Một số tài liệu làm tròn số Vạn diệp tập gồm 4500 bài thơ trong đó có 4200 bài tanka, 260 chōka và 60 sedoka. Trong khi hai thể chōka và sedoka đạt được vẻ đẹp tráng lệ trong thời Nara nhưng đã không còn được ưa chuộng về sau, và các nhà nghiên cứu hiện nay khi tìm hiểu những thể loại này thường chỉ còn dựa vào hợp tuyển Vạn diệp tập, thì thể tanka vẫn tiếp tục phát triển và được đánh giá là thể thơ quan trọng nhất của mười hai thế kỷ thơ ca Nhật Bản, xứng đáng với tên gọi về sau là waka (和歌, Hòa ca, thơ Nhật). Mặc dù waka nguyên là tên chung cho các loại thơ khác nhau của người Nhật phân biệt với thơ Trung Quốc, nhưng từ cuối thế kỷ 8 trở đi chữ waka được xem là đồng nghĩa với tanka. Phân loại theo đề tài. Là một bộ bách khoa thư về văn hóa, con người và đất nước Nhật Bản cổ xưa, "Vạn diệp tập" bao quát những đề tài hết sức rộng lớn tập trung trong ba mảng chính: Ngoài kiểu phân loại có lẽ dựa theo cách phân chia thơ ca Trung Hoa như trên, còn có thể xếp các bài trong "Vạn diệp tập" theo chủ đề: thơ thù tạc, thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ thường nhật, thơ nhật ký, thơ viễn du, , thơ thời sự, thơ châm biếm hay phản ánh chiến tranh, những đề tài phổ biến trong thơ ca Trung Hoa đương thời (thơ Đường), mặc dù ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất lớn trong đời sống Nhật Bản giai đoạn này, và các nhà thơ Nhật Bản cổ xưa rất am hiểu thơ Trung Hoa. Điều đó chứng tỏ nguồn cảm hứng thơ ca của các thi nhân Nhật Bản cổ đại hoàn toàn từ tiếng nói, tình cảm, tâm hồn và quê hương xứ sở Nhật Bản. Phân chia theo lịch đại. Cách phân chia này cho phép tách thơ của Vạn diệp tập thành 4 thời kỳ: Những đề tài chính. Khi xem xét hệ thống đề tài của Vạn diệp tập, có thể nhận thấy "đề tài tình yêu và quan hệ nam nữ" thấm đẫm trong rất nhiều bài thơ và luôn là tâm điểm của Vạn diệp tập, thậm chí nhiều cuốn toàn thơ tình (quyển 8, quyển 2). Tình yêu trong Vạn diệp tập phản ánh những xúc cảm chân thành rất con người, không hề có sự khác biệt trong cách biểu cảm giữa một hoàng đế, một cung phi hay một nông dân, một người phụ nữ thuộc tầng lớp hạ lưu. Cũng có thể nhận thấy đặc điểm lớn phân biệt bản chất thơ tình trong Vạn diệp tập với thơ ca của những thời đại về sau cũng như với thơ tình Trung Hoa đương thời: thơ tình trong Vạn diệp tập luôn sử dụng hình thức biểu hiện tình yêu của một cá thể (hầu hết là tác giả) với một cá thể khác. Yêu không chỉ là nhận thức của người nói hướng tới một đối tượng bên ngoài, mà còn là sự tác động lên đối tượng ấy bằng những hành động như nụ hôn, ôm ấp, ngủ cùng, hoặc nằm cùng Gần gũi với đề tài tình yêu, Vạn diệp tập còn bộc lộ đời sống tinh thần hết sức phong phú của con người qua những bài "vãn ca bi thương" viết khi đối diện với cái chết. Có năm loại vãn ca trong hợp tuyển: dạng vãn ca quan phương viết khi hoàng đế băng hà hay một thành viên trong hoàng tộc qua đời; những vãn ca do vợ hoặc chồng viết nhân cái chết của người kia; những bài văn tế của nhà thơ viết cho những người hoàn toàn xa lạ, chẳng hạn khi thấy một thi thể vô thừa nhận; những xúc cảm của con người tuôn ra đầu ngọn bút trong khoảng khắc ngắn ngủi trước khi chết (như khi sắp bị hành hình); và cuối cùng là những vãn ca viết để khóc thương cho những nhân vật truyền thuyết. Có một đặc điểm dễ nhận thấy ở đây, trừ trường hợp một số vãn ca viết cho một lễ tưởng niệm đặc biệt, phần lớn các vãn ca, do tính chất riêng tư của nó, có thể được xếp vào một thể loại thơ tình đã được chuyên biệt hóa, thực sự là tiếng lòng khóc than cho số kiếp người yêu. Bên cạnh đề tài về tình yêu và nỗi bi ca, những bài thơ trong Vạn diệp tập nuôi dưỡng một "tình yêu vĩnh cửu với thiên nhiên" tương đối khác biệt với tình yêu con người và những xúc cảm do mất mát người thân tạo ra. Có lẽ bởi tình yêu khó tìm, mất mát khó tránh, nhưng tình cảm với thiên nhiên lại thường trực và bao giờ cũng có thể viết nên một bài thơ tả cảnh tuyệt đẹp. Thiên nhiên trong các bài thơ của Vạn diệp tập là những thắng cảnh nổi tiếng trên đất nước Phù Tang với ngọn núi Fuji, hồ Omi, vùng Yoshino, biển Iwami, cánh đồng hoa Murasaki, những đám mây hoa anh đào, hoa mận trong tuyết trắng và lá thu phong đỏ thắm. Tuy nhiên, chiếm số lượng lớn lao trong hợp tuyển, thiên nhiên không thuộc về những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của các vùng miền, của bốn mùa, mà rất phổ biến trong các bài tình ca hay vãn ca. Có lẽ bởi vì tình yêu, hoa nở, chim, gió, ánh trắng có ý nghĩa với thi nhân và dường như hoa lá cỏ cây trong con mắt thi nhân cũng có đời sống của chúng. Một đặc điểm dễ nhận thấy là thiên nhiên được miêu tả không chỉ thuần Nhật, cách thức miêu tả thiên nhiên cũng hoàn toàn khác thơ cổ Trung Hoa vốn thiên về ước lệ và cá nhân nhà thơ hoàn toàn là khách quan so với ngoại cảnh. Những bài thơ trong Vạn diệp tập luôn cho thấy hình bóng con người như là một phần của thiên nhiên, thiên nhiên và con người luôn hòa trộn trong những xúc cảm thống nhất, cân bằng. Đối diện với thiên nhiên khiến tâm trạng nhà thơ luôn hướng về người yêu dấu. Đề tài về tình yêu và thiên nhiên ở trên không lấn át "những đề tài khác": tình cảm mẹ con, tình bạn, tâm trạng của người lính thú xa nhà, sự hoài vọng tuổi thanh xuân của những người đã ở tuổi mãn chiều xế bóng, nỗi đau khi đối diện với bệnh tật, cảm hứng trước bầu rượu của thi nhân và được tập hợp thành từng cụm đề tài của Vạn diệp tập như những bài ca phương Đông, những bài ca lính thú, những bài ca xưa, mười ba bài tụng ca về rượu, thơ xướng họa Với tất cả sự đồ sộ của khối lượng, sự bao quát lớn lao các tầng lớp sáng tác "từ quốc vương cho đến người đốn củi" và sự phong phú tuyệt vời về đề tài, công trình "Vạn diệp tập" không chỉ là kiệt tác của thời đại Nara mà còn xứng đáng là ngọn hải đăng của thơ ca Nhật Bản, không chỉ là tổng tập của thi ca Nhật Bản cổ đại mà còn xứng đáng là công trình độc nhất vô nhị không có bất cứ một công trình nào về sau được coi là tương đương với nó.
Phương pháp Dideoxy hay còn gọi là phương pháp gián đoạn chuỗi ("chain-determination method") là một phương pháp xác định trình tự DNA được Frederick Sanger phát triển vào năm 1977. Nguyên tắc cơ bản của phương pháp Dideoxy dựa vào hoạt động của "enzyme DNA polymerase" trong quá trình tổng hợp DNA. "Enzyme DNA polymerase" xúc tác gắn các "nucleotide" vào mạch đơn DNA đang tổng hợp ở vị trí 3'có chứa nhóm -OH tự do, khi gặp nucleotide không có nhóm 3'-OH thì phản ứng tổng hợp bị dừng lại. Đặc trưng của phương pháp là sử dụng "dideoxynucleotide" để làm ngừng phản ứng tổng hợp DNA một cách ngẫu nhiên. Trong phản ứng sử dụng đoạn DNA mồi là đoạn DNA mạch đơn có kích thước ("17-24 nucleotide, Primer"). Phương pháp đọc trình tự DNA dideoxy dựa trên nguyên lý PCR thông thường, nhưng chỉ dùng một mồi duy nhất và bổ sung thêm các loại "2’,3’-dideoxynucleotide" (ddATP, ddCTP, ddGTP và ddTTP). Sợi DNA cần đọc trình tự được xử lý dưới dạng sợi đơn. Khuôn DNA này được bổ sung một hỗn hợp bốn "deoxynucleotide" bình thường (dATP, dTTP, dCTP và dGTP) với hàm lượng dư. Hỗn hợp thứ hai gồm cả bốn ddNTP, mỗi loại với hàm lượng hạn chế và được đánh dấu với một đuôi phát huỳnh quang khác nhau. Và cuối cùng phải có "DNA polymerase I". Do cả bốn nucleotide bình thường đều có mặt, kéo dài chuỗi diễn ra bình thường cho tới khi "DNA polymerase" chèn ngẫu nhiên một ddNTP (màu khác) thay cho dNTP bình thường (dòng đứng). Nếu tỷ lệ giữa nucleotide bình thường và dideoxy rất cao thì một số sợi DNA sẽ thành công trong việc bổ sung hàng trăm nucleotide trước khi bị chèn dideoxy làm dừng quá trình. Sau khi phản ứng kết thúc, các phân đoạn được tách theo độ dài từ dài nhất đến ngắn nhất. Độ phân giải điện di rất tốt, đến mức phân tách được hai sợi hơn kém nhau chỉ một nucleotide. Mỗi ddNTP phát quang một màu khác nhau dưới tia laser và máy quét tự động cung cấp một bản in của trình tự . Quy trình "dideoxynucleotide" để đọc trình tự DNA. là một phân tử nhân tạo, chúng thiếu nhóm "hydroxyl" ở cả hai vị trí 2’ và 3’ cacbon của phân tử đường (hay thiếu oxy tại 2’ và 3’ cacbon trên vòng so với phân tử đường ribose). So với "deoxynucleotide" chỉ thiếu một oxy tại vị trí 2’ nên có nhóm "3’hydroxyl" trên phân tử đường. Thông thường trong quá trình sao chép DNA, một "nucleoside triphosphate" tự nhiên bắt cặp base với "nucleotide" của sợi khuôn, được liên kết bằng liên kết "phosphodieste" giữa nhóm "5’-α-phosphate" với nhóm "3’ hydroxyl" của "nucleotide" cuối cùng của chuỗi phát triển. Tuy nhiên , nếu một "dideoxynucleotide" được gắn vào đầu của chuỗi kéo dài, tổng hợp DNA sẽ dừng lại do một liên kết "phosphodiester" không được hình thành với "nucleotide" đến tiếp theo (do không có nhóm "3’hydroxyl" trên ddNTP). Việc kết thúc tổng hợp DNA là tính chất hoàn hảo của phương pháp đọc trình tự "dideoxynucleotide," mặc dù các điều kiện thí nghiệm khác cần phải được thỏa mãn trước khi một trình tự DNA có thể được xác định. Theo nguyên tắc, bước đầu tiên trong quy trình thí nghiệm chuẩn để đọc trình tự "DNA dideoxyribonucletide" yêu cầu bắt cặp một "oligonucleotide" tổng hợp (17-24 Nucle, mồi) với một phân đoạn đã được xác định của một sợi vector nhân dòng gần vị trí chèn của DNA nhân dòng. "Oligonucleotide" hoạt động như một trình tự mồi bằng cách cung cấp một nhóm "3’hydroxyl" cho sự khởi động tổng hợp DNA. Mẫu DNA và mồi được chia thành bốn ống phản ứng, mỗi ống chứa bốn dNTP và một trong bốn ddNTP được đánh dấu phóng xạ. Nồng độ của mỗi "dideoxyribonucletide" trong mỗi ống phản ứng được điều chỉnh thận trọng (bằng khoảng 1% của dNTP) để đảm bảo gắn vào hỗn hợp các chuỗi phát triển tại vị trí có thể và không chỉ ở nơi xảy ra đầu tiên của "nucleotide" bổ trợ của khuôn ("nucleotide" đầu sau mồi). Sự phát triển của chuối phát triển dừng lại khi có một ddNTP gắn vào, như vậy mỗi chuỗi phát triển sẽ chứa một "dideoxyribonucleotide" ở đầu 3’. Sau phản ứng mỗi ống phản ứng chứa một bộ duy nhất các đầu kéo dài "nucleotide" gắn vào mồi do mỗi ống phản ứng chứa một loại ddNTP và kết thúc chuỗi kéo dài khi ddNTP gắn vào sợi phát triển . Sau các chu kỳ nhân lên DNA khuôn mẫu từ mồi liên kết, các đoạn DNA tạo thành được biến tính nhiệt và phân tách theo kích thước bằng cách sử dụng điện di trên gel . Trong công bố ban đầu năm 1977, sự hình thành các vòng bắt cặp bazơ của ssDNA là nguyên nhân gây ra khó khăn nghiêm trọng trong việc phân giải các dải tại một số vị trí. Điều này thường được thực hiện bằng cách sử dụng "gel polyacrylamide" "-urea" biến tính với mỗi phản ứng trong số bốn phản ứng chạy ở một trong bốn làn đường riêng lẻ (làn A, T, G, C). Các dải DNA sau đó có thể được nhìn thấy bằng phương pháp ghi tự động hoặc ánh sáng UV, và trình tự DNA có thể được đọc trực tiếp từ phim X-quang hoặc hình ảnh gel .
Trong hóa học, ái lực electron là năng lượng được một nguyên tử, trung hòa điện tích và cô lập (ở thể khí), hấp thụ khi có một electron được thêm vào tạo thành khí ion có điện tích -1 điện tích nguyên tố. Nó có giá trị âm khi năng lượng được nhả ra. Đa số các nguyên tố hóa học có ái lực electron âm. Điều này nghĩa là chúng không cần nhận năng lượng để bắt electron; thay vào đó, chúng nhả ra năng lượng. Nguyên tử càng có nhiều khả năng bắt thêm các electron có ái lực electron càng âm. Chlor là nguyên tố hóa học có ái lực electron mạnh nhất; radon có ái lực electron yếu nhất. Mặc dù ái lực electron biến đổi khá hỗn loạn trong bảng tuần hoàn, một số quy luật vẫn có thể được phát hiện. Nói chung, phi kim có ái lực electron âm hơn kim loại. Tuy nhiên, các khí hiếm là ngoại lệ, chúng có ái lực electron dương. Bảng tuần hoàn theo mức độ ái lực electron, theo kJ/mol. Ái lực electron tuân theo quy tắc octet. Các nguyên tố nhóm 17 (fluor, chlor, brom, iod, và astatin) có xu hướng bắt electron và tạo ra anion có điện tích bằng -1 điện tích nguyên tố. Các khí hiếm trong nhóm 18 đã có đủ octet, và do đó việc thêm một electron đòi hỏi năng lượng lớn, tuy nhiên vẫn có thể thực hiện được. Các nguyên tố nhóm 2, bắt đầu từ beryli và nhóm 12 bắt đầu từ kẽm cũng có ái lực electron với giá trị dương vì chúng có vỏ s hay vỏ d đã điền đầy. Các nguyên tố trong nhóm 15 có ái lực electron thấp và nitơ thậm chí có ái lực electron với giá trị dương. Lý do là các vỏ electron được điền một nửa cũng khá bền. Ái lực electron có giá trị tăng lên trong cùng một hàng từ trái qua phải (do bán kính các nguyên tử giảm dần, làm gia tăng sức hút từ hạt nhân, và số electron trong vỏ ngoài tăng dần, khiến nguyên tử cân bằng bền hơn) trong bảng tuần hoàn và giảm đi khi đi từ trên xuống trong cùng một nhóm (do bán kính các nguyên tử và số electron ở vỏ ngoài tăng lên, các electron đẩy lẫn nhau, làm giảm mức độ cân bằng của nguyên tử). Ái lực electron phân tử. Ái lực electron không chỉ được định nghĩa cho các nguyên tố hóa học, mà còn áp dụng cho các phân tử. Ví dụ, ái lực electron của benzen là dương, còn của naphthalen là gần bằng 0 và của anthracen là dương. Thí nghiệm "in silico" cho thấy ái lực electron của hexacyanobenzen mạnh hơn fullerene.
Bùi Thanh Liêm (30 tháng 6 năm 1949 - 26 tháng 9 năm 1981) là một Thiếu tá phi công bay thử nghiệm của Không quân nhân dân Việt Nam. Ông là phi hành gia dự bị cho chuyến bay Soyuz 37 trong chương trình khoa học không gian "Interkosmos" của Liên Xô. Năm 1980, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Thân thế và sự nghiệp. Bùi Thanh Liêm sinh ngày 30 tháng 6 năm 1949 tại Hà Nội; cha ông là liệt sĩ Bùi Đình Lợi - Trưởng ban Quân báo thuộc Trung đoàn 148, mặt trận Tây Bắc. Cha ông qua đời vào năm 1950 khi Bùi Thanh Liêm mới tròn 6 tháng tuổi và chị gái ông chỉ mới lên hai. Năm 1966, Bùi Thanh Liêm tốt nghiệp Trung học phổ thông (cấp 3), ông tình nguyện gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông trúng tuyển phi công, được quân đội cử đi đào tạo tại Liên Xô trở thành phi công tiêm kích MIG-21. Về nước ông được biên chế thuộc Trung đoàn không quân Sao Đỏ 921, Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong chiến tranh Việt Nam ông đã bắn rơi 2 chiếc máy bay của không lực Hoa Kỳ, chiến công đầu của ông là bắn rơi một máy bay F-4E và ông đã được tặng thưởng 2 Huy hiệu Bác Hồ. Năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Phi đội trưởng. Từ năm 1974 đến năm 1978, ông được cử đi học tại Học viện Không quân mang tên Yuri Alekseyevich Gagarin (tại Monino, Liên Xô). Năm 1978, trở về nước ông được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng trung đoàn không quân Sao Đỏ 921, Quân chủng Phòng không - Không quân. Tháng 4 năm 1979, ông được tuyển chọn là một trong hai ứng viên Du hành vũ trụ Việt Nam theo chương trình khoa học không gian Interkosmos của Liên Xô. Được đào tạo tại Trung tâm huấn luyện phi hành gia mang tên Yuri A. Gagarin (TsPK im. Y.A.Gagarin. Sau khi hoàn thành xuất sắc khóa huấn luyện vũ trụ tổng hợp và chuẩn bị cho chuyến bay trên tàu vũ trụ "Liên hợp". Anh hùng phi công Phạm Tuân được chỉ định vào đội bay chính của tàu vũ trụ Soyuz-37, còn Bùi Thanh Liêm được chỉ định vào phi hành đoàn thứ hai (dự bị cho phi hành gia Phạm Tuân). Năm 1980, Sau khi hoàn thành chương trình Interkosmos ông trở lại vị trí công tác tại Đoàn không quân Sao Đỏ 921 và tiếp tục phục vụ cho đến khi hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ. Ngày 4 tháng 9 năm 1980, Bùi Thanh Liêm được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Lao động hạng Nhất. Ngày 26 tháng 9 năm 1981, ông đã hy sinh trong một tai nạn máy bay MiG-21 khi đang thực thi nhiệm vụ huấn luyện trên vịnh Bắc Bộ.
Quảng trường hay còn gọi là công trường (chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh) là không gian hoạt động công cộng của đô thị, được tạo nên bởi các sự kết hợp hoặc hạn định của kiến trúc thích hợp xung quanh, gắn kết với mạng lưới giao thông, kết nối những thành tố độc lập thành một tổng thể. Công năng cơ bản của quảng trường là nơi sinh hoạt chính trị, văn hóa như hội họp, mít tinh, là nơi tổ chức các lễ hội tôn giá, vui chơi, biểu diễn, giao tiếp, nghỉ ngơ Không gian quảng trường. Yếu tố cấu thành quảng trường là không gian. Không gian được cấu thành từ các thành phần: Phân loại quảng trường. Quảng trường thị chính. Quảng trường thị chính có công năng hội họp chính trị, văn hoá, đại lễ, diễu hành, duyệt binh và các sinh hoạt lễ hội dân gian truyền thống. Ví dụ: Quảng trường Ba Đình Việt Nam, Quảng trường Thiên An Môn, Trung Quố Quảng trường kỷ niệm. Quảng trường kỷ niệm dùng để kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó, hay nhân vật nào đó có công với đất nước, quê hương. Thông thường ở trung tâm hay ở một bên quảng trường đặt đài hay tháp hay một công trình kiến trúc mang tính kỷ niệm. Ví dụ: Quảng trường Petersburg kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga. Quảng trường giao thông. Quảng trường giao thông là một bộ phận của hệ thống giao thông đô thị. Nó có tác dụng phân luồng giao thông hợp lý, có thể là nơi đỗ xe công cộng, đảm bảo lưu thông thuận tiện, thoáng, thông suốt, an toàn. Ví dụ: Quảng trường Taksim, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Quảng trường thương nghiệp. Quảng trường thương nghiệp phục vụ cho yêu cầu giao dịch, buôn bán thương mại, là phương thức kết hợp không gian nội thất của khu trung tâm thương nghiệp với không gian bên ngoài và không gian bán lộ thiên. Quảng trường thương nghiệp thường kết hợp với việc bố trí đường đi bộ, tạo ra các tiện nghi để nghỉ ngơi, giao du, ăn uố Quảng trường tôn giáo. Quảng trường tôn giáo là không gian đặt trước giáo đường, đình chùa, từ đường để tổ chức những lễ hội tôn giáo. Ví dụ: Quảng trường trước Đại giáo đường ở Ý hay Đứ Quảng trường nghỉ ngơi, biểu diễn văn hoá Loại quảng trường này là không gian xanh trong đô thị để mọi người có thể nghỉ ngơi, biểu diễ, đài, ghế ngồi, bồn hoa, chậu cây cảnh, bể nước, đài phun nước, các tiểu phẩm đô thị... Ví dụ: Quảng trường Piazza Duomo ở Milano, Ý
Trần Tiêu (1900 - 1954) là một nhà văn Việt Nam. Ông là em ruột của Khái Hưng và là "cộng tác viên thân tín" của Tự Lực văn đoàn. Trần Tiêu sinh tại xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sau khi đậu bằng thành chung, ông mở trường dạy tư. Trần Tiêu không có ý định viết văn nhưng được sự khuyến khích của Khái Hưng nên cũng bước vào nghề văn khi đã 36 tuổi, và có một vài tiểu thuyết như "Con trâu, Chồng con". Sau cách mạng tháng Tám, Trần Tiêu viết tiểu thuyết "Làng Cầm đổi mới" phản ánh sự thay đổi của làng Cổ Am. Khác với Khái Hưng, Trần Tiêu đi theo cách mạng, làm Ủy viên Hội đồng nhân dân xã Cổ Am và tham gia kháng chiến chống Pháp một thời gian. Sau vì ốm nặng Trần Tiêu trở về Hải Phòng chữa bệnh rồi dạy học tư ở trường trung học Bạch Đằng. Ông mất ở Hà Nội năm 1954. Ông là cha của giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Trần Bảng và ông nội của diễn viên, đạo diễn Trần Lực. Trần Tiêu chuyên viết về đề tài nông thôn. Các tác phẩm chính: Năm 1938, nhà văn Trần Tiêu đã chính thức là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Danh sách thành vuên chính thức được Tú Mỡ công bố trên tạp chí Văn học số 5-6 năm 1938 và số 1 năm 1939 thì nhóm gồm có 8 thành viênbao gồm cả Trần Tiêu.
Hội họa dân gian Việt Nam Hội họa dân gian Việt Nam là thuật ngữ mô tả một loại hình mỹ thuật đã hiện diện từ rất lâu đời tại Việt Nam và thường được sáng tác bởi các họa sĩ khuyết danh. Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, đã từng có thời gian phát triển rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn được giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia đình làm tranh. Về cơ bản có hai loại tranh chính là tranh Tết và tranh thờ. Sở dĩ chúng xuất hiện rất sớm là bởi vì nó với hai loại chính là tranh tết và tranh thờ xuất hiện gần như cùng lúc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên. Vào thời nhà Lý (thế kỷ 12) đã bắt đầu xuất hiện những gia đình hay thậm chí là cả một làng chuyên làm khắc ván, làm tranh. Đến cuối đời nhà Trần nhiều nơi đã in được tiền giấy (là một cách thể hiện của tranh dân gian) và sang đời nhà Hồ tiền giấy đã được phát triển mạnh. Tời thời kỳ Lê sơ việc in khắc tranh đã được tiếp thu thêm kỹ thuật khắc ván in của Trung Quốc và sau khi vào Việt Nam đã được cải tiến thêm cho phù hợp. Cùng với đó là sự phân hoá của tranh dân gian xuất hiện ngày càng rõ nét. Đến đời nhà Mạc (thế kỷ 16) một thay đổi đặc biệt đã xảy ra, tranh dân gian không còn là sản phẩm riêng của những người nông dân nghèo khó nữa, mà đã được cả tầng lớp quý tộc ở kinh thành Thăng Long ưa thích, thường sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đán. Sang thế kỷ 18 - 19, tranh dân gian đã dần đi vào giai đoạn ổn định và phát triển mạnh mẽ. Nghề làm tranh đã lan truyền rộng rãi hầu khắp cả nước. Cùng với đó là sự phân hóa, những dòng tranh mới xuất hiện, được gọi tên theo địa danh nơi sản xuất, đã có những phong cách riêng của mình. Nét riêng của mỗi dòng tranh được thể hiện ngay từ quy trình làm tranh cũng như trong mỗi đường nét của tranh. Đó là sự khác biệt giữa kỹ thuật khắc ván in, kỹ thuật vẽ, nguyên liệu làm tranh, cách pha chế tạo màu sắc riê Tranh dân gian Việt Nam dù có nhiều dòng tranh khác nhau nhưng nhìn chung đều được dựng hình theo kiểu lấy các nét khoanh, lấy các mảng màu và bao lại toàn hình. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau. Cách tạo màu cũng vậy, tất cả đều nhằm làm cho bức tranh thật dễ nhìn. Cách vẽ, in ấn. Do đặc điểm của tranh dân gian là để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, phục vụ việc thờ cúng, trang hoàng cho ngày Tết cho nên cần phải có số lượng lớn mà giá cả không được đắt. Vì thế mà người làm tranh đã sử dụng phương pháp khắc ván rồi từ đó sao in ra nhiều bức tranh. Nhìn chung cách in tranh chủ yếu là sử dụng ván khắc. Các bản ván khắc chủ yếu làm từ gỗ. Đầu tiên nghệ nhân sẽ khắc lên bản gỗ đường nổi thể hiện những đường nét chính của tranh, sau này khi in tranh ra giấy, người làm tranh lại tiếp tục tô vẽ để hoàn thiện bức tranh đó, còn đối với một số tranh đơn giản thì người thợ không cần tô vẽ thêm nữa mà tranh được đưa ra khi in xong. Nghệ thuật in tranh qua các bản gỗ khắc nổi xuất hiện từ xa xưa, được lưu truyền từ đời nay qua đời khác. Ngoài các dòng tranh sử dụng phương pháp khắc thì còn có những bức tranh vẽ tay của các nghệ nhân. Phương pháp vẽ tranh trực tiếp này chủ yếu được dùng ở vùng các dân tộc thiểu số ở vùng núi miền Bắc như người: Tày, Nùng, D Nguyên liệu và cách tạo màu cho tranh có 3 loại. Tranh thường được in hoặc vẽ trực tiếp lên giấy. Loại giấy phổ biến thường được các dòng tranh dùng hơn cả là giấy dó. Từ loại giấy này có thể làm ra giấy điệp, loại giấy mà tranh Đông Hồ sử dụng in hình. Đặc điểm của loại giấy này là độ bền rất cao, mà lại xốp nhẹ, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc giòn gãy, ẩm nát. Với đặc tính chống ẩm rất cao, giấy dó giúp cho các bức tranh không bị ẩm mốc, trường tồn cùng thời gian. Mỗi dòng tranh thường có cách tạo màu, pha chế màu sắc riêng, nhưng nhìn chung thì màu sắc cho những bức tranh thường được tạo nên từ những nguyên liệu đơn giản, dân dã bằng rất nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ như trong tranh Đông Hồ, thường chỉ có 3 đến 4 màu mà thôi, màu sắc được tạo nên từ: Những màu sắc đó lại được pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh Đông Hồ một vẻ óng ả và trong trẻo. + màu sắc trong tranh Hàng Trống: thường chỉ có 3 đến 5 màu, màu sắc dùng phẩm màu để vẽ. Bố cục của tranh. Hầu hết tranh dân gian được vẽ theo quan niệm "sống" hơn "giống". Đường nét của mỗi bức tranh hết sức gạn lọc, thuần khiết, cốt sao rung cảm thẩm mỹ cho người xem hơn là vẽ đúng luật. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau. Đề tài và nội dung của tranh dân gian. Do ra đời để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, gắn bó chặt chẽ với đời sống thường nhật của người dân nơi thôn dã cho nên đề tài của tranh hết sức phong phú. Tranh phản ánh từ những gì gần gũi, thân thiết nhất với người dân cho đến những điều thiêng liêng cao quý trong các tranh thờ. Những truyện Nôm như "Truyện Kiều" và "Nhị Độ Mai" cũng được dùng làm đề tài tranh. "Truyện Kiều" thì có cảnh ba chị em đi tảo mộ gặp Kim trọng. "Nhị Đọ Mai" thì vẽ cảnh Hạnh Nguyên đi cống Hồ. Những đề tài dân dã như: cóc, chuột, đàn gà, hái dừa, đánh ghen, khiêng trống, đánh vậ: Phú Quý, Tố Nữ... Lịch sử Việt Nam cũng là một đề tài được tranh dân gian đề cập đến rất nhiều, như: bà Trưng Trắc cưỡi voi xung trận, Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trậ, bình dân học vụ, bắt sống giặc lái máy bay, Bác Hồ về thăm là Nội dung của tranh cũng hết sức phong phú, đa dạng. Mỗi bức tranh đều mang một ý nghĩa nhân sinh riêng, biểu hiện nhiều góc độ tâm trạng của con người, mang trong nó là cả những ước vọng của người dân, từ những ước mong giản dị cho tới những điều cao quý. Đó có thể là mong ước về một cuộc sống no ấm của nhà nông với sự thể hiện của tranh "Mẹ con đàn lợn", hay sự thể hiện ý chí kiên cường bất khuất của đấng nam nhi với "Tranh gà trống" sặc sỡ và oai vệ, và nó cũng thể hiện cho 5 đức tính quý của con người: văn (vẻ đẹp – mào gà), vũ (cứng rắn – cựa gà), nhân (lòng thương yêu đồng loại – khi kiếm được mồi luôn gọi đàn đến cùng ăn), dũng (sức mạnh – gặp kẻ thù thì kiên quyết chống lại), tín (hàng ngày báo giờ rất đúng). Tranh gà đẹp và ý nghĩa như thế, nên nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã viết trong bài thơ "Chợ têt": "Lũ trẻ còn mải ngắm bức tranh gà/ Quên cả chị bên đường đang đứng gọi". Còn tranh "Đám cưới chuột" lại là một minh chứng sống động và hóm hỉnh cho quan hệ mạnh hiếp yếu trong xã hội. Chuột làm đám cưới phải lo lễ vật cống cho mèo, cầu xin mèo để yên cho đám cưới được tiến hành. Dù được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tranh dân gian của các dòng tranh đều có điểm giống nhau là luôn đề cao cái đẹp, đề cao đạo lý làm người, giáo dục những phẩm chất tốt và cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Về nội dung, tranh dân gian Việt Nam có thể chia 4 nhóm: Những dòng tranh chính. Cùng với những đổi thay của đất nước, tranh dân gian cũng vậy, có nhiều dòng tranh xuất hiện. Có dòng tranh thì phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có những dòng tranh nhanh chóng biến mất. Ngày nay, dù thời gian đã làm mai một đi, các dòng tranh dân gian hiện không còn ở thời kỳ cực thịnh, nhưng những giá trị to lớn của mỗi dòng tranh vẫn còn đó, như là một chứng tích của xã hội Việt Nam một thời, nó sẽ vãn mãi là di sản của dân tộc Việt Nam. Có một số dòng tranh dân gian chính đã một thời cực thịnh và ngày nay còn lưu giữ được một phần, như: "Đọc bài: Tranh Đông Hồ" Dòng tranh dân gian Đông Hồ. Nhắc tới tranh dân gian Việt Nam không thể không nói tới dòng tranh khắc gỗ Đông Hồ. Dòng tranh này ra đời từ khoảng thế kỷ 17 và phát triển cho đến nửa đầu thế kỷ 20 sau đó suy tàn dần. Mang trong mình những nét tinh túy riêng với những giá trị văn hóa to lớn. Những khác biệt của dòng tranh này so với cách dòng tranh khác được thể hiện từ những khâu như vẽ mẫu, khác bản in, sản xuất và chế biến màu cho đến in vẽ tranh. Đây là dòng tranh khắc ván, sử dụng ván gỗ để in tranh, tranh có bao nhiêu màu thì có bấy lần in. Dòng tranh này có đề tài rất phong phú, nó phản ảnh hầu như tất cả những gì diễn ra trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày cũng như những mối quan hệ xã hội ở miền nông thôn Bắc Bộ. Từ những gì dân dã nhất như hái dừa, đánh ghen, gà trố: Phú Quý, Nhân Nghĩ Do đề tài gần gũi tranh Đông Hồ đã được người dân đón nhận và sớm đi vào đời sống văn hoá của họ. Mỗi khi Tết đến dường như hầu hết các gia đình ở nông thôn miền Bắc đều có treo một vài tờ tranh Đông Hồ. Cùng với thời gian, với sức mạnh mang trong mình, tranh Đông Hồ ngày càng lan tỏa ra các vùng xung quanh, để rồi nó đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sông văn hóa tinh thần của người dân. Dù đã có thời gian đi vào lãng quên, nhưng ngày nay dòng tranh này vẫn còn giữ được những giá trị to lớn của nó. Tranh Đông Hồ vẫn tồn tại như là một biểu tượng văn hoá của người dân Việt. Các tác phẩm: Gà mái, Bà Triệu, Thạch Sanh, Hứng dừa, Gà Đại Cát, Đám cưới chuột "Đọc bài: Tranh Hàng Trống" Dòng tranh Hàng Trống. Tranh Hàng Trống là một dòng tranh dân gian được làm chủ yếu ở các phố Hàng Trống, Hàng Nó Nhìn chung thì tranh Hàng Trống có phần nổi trội hơn về thể loại tranh thờ, do ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo, với hình tượng tương đối giản dị mà thể hiện khả công phu, không bao giờ thiếu sắc thái uy vệ về ý nghĩa. Tranh được tạo hình không giống tranh hiện đại mà cũng không giống tranh cổ điển. Với các gam màu chủ yếu là lam, hồng, đôi lúc có thêm lục, đỏ, da cam, và Khác với dòng tranh Đông Hồ, nó không được in tất cả bằng ván khắc mà chỉ in "một nửa", in những đường nét chính sau đó lại tô vẽ lại, cụ thể kỹ thuật tranh Hàng Trống kết hợp đường nét in đen từ bản khắc gỗ, với việc tô màu phẩm bằng tay, dùng bút mềm quệt phẩm nước, luôn luôn tạo được những chuyển sắc đậm nhạt tinh tế làm cho màu sắc rất uyển chuyển. Nhờ vậy, mà nó đáp ứng được đòi hỏi của khách mua tranh chốn kinh kỳ. Các tác phẩm: Ngũ Hổ, Bịt mắt bắt dê, chợ quê, Phật Bà Quan Âm "Đọc bài: Tranh Kim Hoàng" Tranh Kim Hoàng là sản phẩm tranh ra đời từ sự hợp nhất 2 làng Kim Bảng và Hoàng Bảng vào năm Chính Hòa thứ 22 (1701). Dân làng thường làm tranh từ Rằm tháng 11 âm lịch cho tới Tết Nguyên Đán. Điểm khác biệt của dòng tranh này là nó không sử dụng giấy in quyét điệp như tranh Đông Hồ mà cũng không sử dụng giấy xuyên như tranh Hàng Trống mà in trên giấy Đỏ, giấy Hồng Điều hay giấy Tàu vàng. "Đọc bài: Tranh làng Sình" Nghề làm tranh tại làng Sình (nằm ven bờ sông Hương, Huế) đã ra đời không biết từ bao giờ, và tranh của làng đa phần phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng. Tranh làng Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Với khoảng hơn 50 đề tài tranh phản ảnh tín ngưỡng cổ sơ, người dân thờ tranh cầu mong người yên, vật thị, ứng với nó là kiểu in vẽ cũng khác nhau. In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Màu tô của tranh làng Sình tuy không được tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Điểm nổi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo nhất của nó lại là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên.
La Liệt (tên tiếng Anh: Lo Lieh, Law Lit; tên khai sinh là Vương Lập Đạt, 29 tháng 6 năm 1938 - 2 tháng 11 năm 2002) là một diễn viên điện ảnh người Hoa. La Liệt Sinh ra ở Pematangsiantar vào ngày 29 tháng 6 năm 1939. Thời gian đầu, ông sống ở Indonesia nhưng sau đó cha mẹ gửi ông trở lại Trung Quốc và theo học trường diễn xuất ở Hồng Kông. Ông bắt đầu tập luyện võ thuật vào năm 1962 và gia nhập Hãng phim Shaw Brothers cùng năm. La Liệt và trở thành một trong những diễn viên nổi tiếng nhất trong các bộ phim võ thuật và Kung fu Hồng Kông vào cuối những năm 1960 và 1970. Ông mất tại Hồng Kông vì bệnh tim.
Súng Steyr AUG ("Armee Universal Gewehr" = súng quân dụng phổ thông) là một loại súng trường tấn công của Áo theo kiểu Bullpup với cỡ đạn 5,56x45mm NATO. Súng được công ty Steyr Mannlicher GmbH Co KG giới thiệu vào năm 1976.Quân đội Áo chính thức sử dụng súng AUG với tên gọi StG 77 vào năm 1977, thay thế súng trường tự động StG 58 sử dụng cỡ đạn 7.62mm (dưới giấy phép của FN FAL). Kể từ 1978, AUG trở thành súng tiêu chuẩn của quân đội Áo và các lực lượng cảnh sát khác. Ngoài ra, nhiều lực lượng vũ trang khác cũng sử dụng AUG như quân đội Argentina (từ năm 1985), Ireland, Luxembourg, Ả Rập Xê Út, Tunisia (từ năm 1978), New Zealand, Bolivia, Ecuador, Pakistan, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ (từ năm 1988).Súng thường sử dụng ống ngắm Swarovski 1.5x. Steyr AUG phiên bản tiêu chuẩn có độ dài 790 mm, nòng dài 508 mm với trọng lượng 3,6 kg. AUG có kết cấu chính bằng nhựa cao phân tử, chỉ được gia cố kim loại ở các vị trí cần thiết. AUG có thiết kế bullpup với vành bao quanh cò rất lớn, giúp xạ thủ có thể sử dụng dễ dàng kể cả khi đeo găng tay, ngoài ra vành bao này có chức năng tăng độ chắc chắn cho tay nắm chính. Một tay nắm phụ cũng được bố trí sẵn để thuận tiện cho xạ thủ trong việc cầm nắm. AUG có thiết kế theo kiểu mô-đun tích hợp, cụ thể gồm 6 khối chính: Nòng, kính ngắm tích hợp, buồng đạn, cò, báng và hộp tiếp đạn. Nòng của AUG có 4 rãnh xoắn theo tỉ lệ 1:9 giúp ổn định đường đạn với các cỡ nòng có thể thay thế dễ dàng: tiêu chuẩn (508 mm), tiểu liên (350 mm), carbine (407 mm) và súng máy hạng nhẹ (621 mm). Mặc định, AUG bản tiêu chuẩn sẽ được trang bị kính ngắm Swarovski có độ phóng đại 1,5x, đặt hơi lệch về phía phải bên cạnh thước ngắm cơ khí dự phòng mà không có hệ thống ray Picatinny (chỉ có ở các phiên bản cải tiến). Steyr AUG A1: phiên bản đầu tiên của dòng AUG, dùng ống ngắm swarovski 1,5x. Steyr AUG A2: cải tiến từ AUG A1, sử dụng được nhiều loại kính ngắm nhờ hệ thống ray picatiny. Steyr AUG A3: giới thiệu vào năm 2005, phiên bản hiện đại của AUG, có 4 thanh ray picatiny. Steyr AUG A3 SF: Steyr AUG A3 SF, còn được gọi là AUG A2 Commando hoặc StG 77 A2, tương tự như AUG A2 nhưng có vài điểm khác biệt với ống nhắm có độ phóng đại 1,5× hoặc 3×. Nó đã được thông qua bởi lực lượng đặc biệt Áo (Jagdkommando) vào cuối năm 2007. Steyr AUG PARA: biến thể sử dụng đạn 9x19mm Parabellum, tương thích với hộp tiếp đạn của MPi 69. Giới thiệu lần đầu vào năm 1988. AUG A3 Para XS: là phiên bản 9mm của AUG A3 và hoạt động tương tự như AUG PARA. Nó có nòng 325 mm (12.8 in) và được gắn thêm thanh ray picatiny. Steyr AUG HBAR: (Heavy Barreled Automatic Rifle) là một phiên bản dài hơn, nặng hơn để sử dụng như một khẩu súng máy hạng nhẹ hoặc vũ khí cấp tiểu đội. Steyr AUG LMG: (Light Machine Gun) là phiên bản súng máy hạng nhẹ của AUG, dựa trên khẩu Steyr AUG HBAR, được gắn thêm chân chống chữ V. Steyr AUG DMR: là biến thể súng trường thiện xạ của AUG, dựa trên khẩu HBAR nhưng nó có chân chống ở đằng trước nòng súng. Steyr AUG P: phiên bản bán tự động của AUG với nòng ngắn, thích hợp với một số đơn vị thực thi pháp luật. Steyr AUG M203: là một khẩu AUG được gắn thêm ống phóng lựu M203. Steyr AUG AG-C: là một khẩu AUG được gắn thêm ống phóng lựu AG-C.
Ngôi sao điện ảnh Ngôi sao điện ảnh (hay minh tinh màn bạc) là nhân vật nổi tiếng được biết đến với vai diễn chính trong một bộ phim. Trong những năm đầu của thời kỳ phim câm, tên của các diễn viên không được quảng cáo hay xuất hiện trong phim như hiện nay. Một số diễn viên phải giúp xây dựng thiết bị quay, dọn dẹp và làm những việc vặt khác xung quanh trường quay. Nhưng khi những người đi xem chiếu bóng quan tâm nhiều hơn đến những người biểu diễn thu hút sự chú ý của họ và muốn biết thêm thông tin về những diễn viên, những xưởng phim và chủ nhiệm phim phải nghĩ lại về cách xử sự của họ đối với diễn viên. Khi nhu cầu càng tăng lên, tên của những diễn viên chính bắt đầu được công khai và được cho vào phim, như tên của Florence Lawrence, được nhắc đến như "ngôi sao điện ảnh đầu tiên," trước đấy cô chỉ được biết đến như "Biograph Girl" vì cô làm cho Xưởng phim Biograph, và Mary Pickford, trước đấy được biết đến như "Little Mary." Những xưởng phim thuê những diễn viên dưới hợp đồng dài hạn. Họ khai thác hệ thống ngôi sao như phương tiện để quảng bá và bán phim của họ. "Phương tiện truyền bá ngôi sao" được quay thành phim để trưng bày những tài năng đặc biệt và sức lôi quốn của những ngôi sao điện ảnh được ưa thích nhất của xưởng phim. Theo truyền thống, những người đạt được danh hiệu "ngôi sao" trong ngành điện ảnh được đối xử đặc biệt, được hưởng đặc quyền và nhận mức lương cao. Một số người trở nên cực kỳ giàu có, như Marilyn Monroe, một trong những ngôi sao điện ảnh lớn nhất trong lịch sử. Hơn nữa, một vài ngôi sao thực sự rất có duyên và quan tâm đến người hâm mộ cũng như những người khác. Khác với những ngôi sao điện ảnh thành lập các công ty sản xuất phim để kiếm nhiều tiền hơn, và những người được nhận phần trăm lợi nhuận dành cho vai chính trong một bộ phim, như là Lana Turner trong phim "Imitation of Life" (1959), kiếm được hàng triệu đô-la, ngôi sao điện ảnh đầu tiên được trả 1.000.000 USD cho vai chính là Elizabeth Taylor trong phim "Cleopatra" (1963). Xuất hiện trong phim "Siêu nhân" (1978), ngôi sao Marlon Brando nhận được gần 4.000.000 USD cho 8 phút trên màn ảnh với vai cha của Siêu nhân, Jor-El. Nữ diễn viên ngôi sao được trả thù lao cao nhất Hollywood là Julia Roberts trong khi nam diễn viên được trả cao nhất là Arnold Schwarzenegger với thù lao 30 triệu đô-la.
Văn minh La Mã cổ đại Nền văn minh La Mã cổ đại đã có lịch sử lâu đời và để lại nhiều giá trị to lớn cho nhân loại ngày nay trong nhiều lĩnh vực. Cơ sở hình thành văn minh La Mã cổ đại. Bán đảo Ý dài và hẹp vươn ra Địa Trung Hải, với dãy Alpes về phía Bắc ngăn cách với châu Âu. Bán đảo Ý trong trên bản đồ như một chiếc ủng, bao bọc ba mặt là biển, phía Nam bán đảo là đảo Sicilia, phía Tây là đảo Corse và Sardegna. Bán đảo Ý có những điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển một nền văn minh: những đồng bằng phì nhiêu bên sông Po, Trung Ý và đảo Sicilia cùng với khí hậu ấm áp mưa nhiều; bán đảo Ý cũng là nơi có lượng khoáng sản phong phú như đồng, chì, sắt, ; giao thông biển rất thuận lợi cho việc buôn bán, giao lưu với các nền văn minh khác trong vùng. Nền văn minh La Mã là nơi khá sớm có con người cư trú, có thể khẳng định vào loại sớm nhất với lục địa châu Âu. Bán đảo Ý là nơi hội tụ của các nền văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải, Bắc Phi. Mặc dù sự cực thịnh của nền văn minh La Mã không được các nhà nghiên cứu đánh giá sớm hơn các nền văn minh lân cận, như nền văn minh Ai Cập cổ đại hay nền văn minh Tây Á nhưng lại phát triển rực rỡ và cực thịnh. Từ thời đồ đá cũ đã xuất hiện những cư dân sống ở bán đảo. Thời kỳ này, sự di cư của các cư dân từ các lục địa vào bán đảo Ý và bị cách biệt với phần còn lại của châu Âu bởi dãy núi Alpes nên việc giao lưu gần như bắt buộc với các nền văn minh khác quanh biển Địa Trung Hải. Cư dân của La Mã tương đối thuần nhất do phạm vi hẹp và tương tự một ốc đảo ở Nam châu Âu, được gọi chung là người Ý. Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia được gọi là "Italiot", trong đó bộ phận sống trên đồng bằng latium là người gốc Latinh (Latin), ngoài ra còn có một số nhỏ người gốc Gôloa và gốc Hy Lạp Quá trình phát triển của nền văn minh La Mã. Lịch sử của La Mã có thể được chia ra thành ba thời kỳ chính như sau: Ở thời kỳ này, xã hội La Mã còn manh mún, các chủ đất chưa thống nhất và phân chia tranh giành ảnh hưởng và cân bằng lẫn nhau. Kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, lãnh thổ La Mã chủ yếu tập trung tại miền Nam Ý ngày nay. Thời kỳ này hình thành một nhà nước cộng hòa tại Roma mà về sau ảnh hưởng rất lớn đến đường lối chính trị của nhiều quốc gia Tây Phương, và cho đến ngày nay vẫn còn giá trị. Đó là thời kỳ phát triển rực rỡ của La Mã bằng việc bành trướng lãnh thổ, Đế quốc La Mã có lãnh thổ hầu như toàn bộ khu vực Địa Trung Hải. Lần lượt các vùng lãnh thổ như, Hy Lạp (146 TCN), cùng với lãnh thổ Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Palestine và Ai Cập bị sáp nhập vào Đế quốc La Mã. Trong thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã phát triển cực thịnh, lãnh thổ rộng lớn, các đô thị của La Mã được xây dựng và để lại cho đến ngày nay, như Londinium, (London ngày nay), Lucdium, (Lyon ngày nay), Köln, Strasburg, Viê Nhưng từ thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã có nhiều tranh giành quyền lực và suy yếu. Đến thế kỷ thứ 4, nhiều cư dân bên ngoài xâm nhập và Đế quốc La Mã bị chia hai: Tây La Mã và Đông La Mã (gọi là Đế chế Byzantine). Tây La Mã bị sụp đổ vào năm 476; và Đế quốc Đông La Mã bị sụp đổ vào năm 1453. Các mốc lịch sử. Theo truyền thuyết, năm 753 TCN người dân ở đồng bằng Latium đã dựng nên một toà thành bên bờ sông Tevere. Họ đã lấy tên người cầm đầu là Romulus để đặt cho toà thành đó, vì vậy có tên là Roma. Giai đoạn 753 - 510 TCN, đứng đầu nhà nước là vua, dưới vua có Viện nguyên lão và Đại hội nhân dân. Vì vậy thời kì này còn được gọi là thời kì Vương chính. Thời kì Cộng hoà La Mã vào khoảng từ năm 510 đến năm 30 TCN (thế kỉ I TCN). Giai đoạn này quyền lực tối cao nằm trong tay Viện nguyên lão do dân bầu, đứng đầu Viện nguyên lão là hai quan chấp chính có quyền lực ngang nhau. Từ đó, việc chính quyền trở thành việc chung của dân (res publica). Đây cũng là giai đoạn La Mã sử dụng sức mạnh quân sự của mình để mở rộng lãnh thổ. Thế kỉ VIII TCN, La Mã chỉ là một thành bang nhỏ bé năm ở miền trung bán đảo Ý thì đến thế kỉ I TCN, La Mã đã trở thành một đế quốc rộng lớn bao trùm toàn bộ những vùng đất quanh bờ Địa Trung Hải. Thời kì Đế quốc La Mã từ năm 30 TCN đến năm 476 sau Công nguyên. Do hàng thế kỉ sử dụng chiến tranh để mở rộng bờ cõi nên vai trò các tướng lĩnh ở La Mã ngày càng tăng, xu hướng độc tài đã xuất hiện. Năm 47 TCN, một viên tướng đã lập nhiều chiến công của La Mã là Julius Caesar định nắm hết quyến lực vào tay mình nhưng không thành, ông bị ám sát bởi những người bảo vệ cho nền Cộng hoà. Năm 27 TCN, cháu của Julius Caesar là Octavius, bằng những biện pháp khôn khéo hơn đã lôi kéo dần những nhân vật của Viện nguyên lão, loại trừ những người không thể lôi kéo. Năm 27 TCN, Viện nguyên lão đã suy tôn Octavius là Augustus (Đấng tối cao). Vậy là từ năm 30 thuộc thế kỉ I TCN nền Cộng hoà La Mã đã bị xoá bỏ. Thế kỉ III sau Công nguyên, chính quyền La Mã bắt đầu bước vào giai đoạn suy yếu. Chiến tranh quanh Địa Trung Hải không còn cung cấp đủ số lượng nô lệ cho các đại điền trang và các khu mỏ để bù lại số lượng nô lệ đã chết. Số nô lệ còn lại do cuộc sống quá cực khổ nên cũng nổi loạn hay bỏ trốn rất nhiều. Nền kinh tế bị khủng hoảng, quân đội suy yếu. Nhân cơ hội đó, các bộ tộc Germanie từ bên ngoài tràn vào cướp phá. Năm 330, Hoàng đế La Mã Constantinus I đã dời đô từ Rôma sang Constantinopolis thuộc khu vực Byzantium. Năm 395, đế quốc La Mã bị chia ra làm hai, Đông La Mã và Tây La Mã. Nhà nước Tây La Mã định đô ở Ravenna, sau đó vào năm 476 thì bị người Germanie tiêu diệt. Còn nhà nước Đông La Mã lấy Constantinopolis làm kinh đô, thì đến năm 1453 bị đế quốc Ottoman thôn tính. Văn hoá La Mã. Ngôn ngữ chính thức của La Mã là tiếng Latin, thuộc nhóm gốc Ý của hệ Ấn-Âu. Với bảng mẫu tự chữ cái trên cơ sở của bảng chữ cái Hy Lạp. Tuy vậy, bảng chữ cái Latin lại có đời sống rộng rãi và trường tồn cùng với các bước phát triển văn học. Ngôn ngữ Latin được xem như là thứ ngôn ngữ của sự tao nhã, lãng mạn và được phát triển lên một tầm cao mới vào thế kỷ 1 TCN. Thực tế, ngôn ngữ của Đế quốc La Mã là thứ tiếng Latin dân dã ("vulgar Latin"), khác nhiều với ngôn ngữ Latin kinh điển ở ngữ pháp và từ vựng và cách phát âm. "Xem bài chính: Hội họa La Mã, Văn học La Mã, Điêu khắc La Mã và Âm nhạc La Mã" Hội họa, văn học và âm nhạc. Có rất nhiều thể loại hội họa của thời kỳ đầu La Mã chịu ảnh hưởng theo lối thời Etruscan, đặc biệt ở các truyền thống hội họa công cộng. Vào thế kỷ thứ 3 TCN, hội họa Hy Lạp ảnh hưởng lên La Mã do chiến tranh và chiến lợi phẩm mang lại. Rất nhiều gia đình ở La Mã đã treo các bước tranh phong cảnh của các họa sĩ Hy Lạp. Nghệ thuật điêu khắc của La Mã thể hiện những người trai trẻ với vẻ đẹp cân đối cổ điển, về sau mở ra trường phái pha trộn chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm. Văn học Latin chịu sự ảnh hưởng nặng nề của các tác giả Hy Lạp cổ đại. Một số tác phẩm thời kỳ Đế quốc La Mã thể hiện bằng các thiên anh hùng ca về chiến thắng vĩ đại của Đế chế. Dưới thời nền Cộng hòa mở rộng, bắt đầu xuất hiện các thể loại như, thi ca, kịch nói, sử học và bi kịch. Thể thao và các hoạt động. Ở các thành phố cổ của La Mã có một nơi gọi là "campus", là nơi để các binh sĩ tập luyện, thường gần khu vực có sông Tiber. Về sau, campus trở thành các trường đua của La Mã và khu vực hoạt động thể thao, nơi mà có Julius Caesar và Augustus thường hay lui tới. Bắt chước campus ở Roma, nhiều khu vực thuộc doanh trại quân đội cũng thực hiện xây dựng các khu vực như thế. Tại các campus, các chàng trai trẻ của cư dân lân cận bị thu hút đến rèn luyện và thi đấu, ở đó có các môn về nhảy, đấu vật, đấm box và đua ngựa. Môn đua ngựa, ném lao và bơi lội là những môn luôn được ưa thích hơn cả. Ở các miền quê, những trò câu cá và đi săn ngự trị. Phụ nữ không mấy khi tham gia vào các trò chơi của cánh đàn ông. Chơi bóng là trò chơi được ưa chuộng, và ở La Mã có rất nhiều người chơi bóng, bao gồm có bóng ném ("Expulsim Ludere"), khúc côn cầu trên cỏ và một vài trò chơi từ bóng đá. Một thú chơi được ưa thích là các cuộc tranh tài của các đấu sỹ. Các đấu sỹ chiến đấu với nhau một mất một còn với các loại vũ khí và trong các kịch bản cũng rất khác nhau. Một cuộc đấu nổi tiếng về sự can đảm và được nhiều người nhớ đến đó là dưới thời Hoàng đế Claudius. Các cuộc trình diễn mãnh thú cũng được ưa chuộng ở La Mã, các mãnh thú có nguồn gốc bên ngoài cũng được tham gia trình diễn hoặc tham gia trận đấu. Một người tù hay một đấu sỹ sẽ phải tự bảo vệ mạng sống của mình và được phóng thích nếu chiến thắng trong cuộc đấu với mãnh thú. Khoa học ứng dụng. Niềm kiêu hãnh về công nghệ của La Mã được thể hiện ở rất nhiều công trình khoa học ứng dụng mà về sau này các nhà khoa học còn kinh ngạc khi nghiên cứu. Nhiều công trình bị hư hại hoặc biến mất, nhưng ngày nay vẫn còn nhiều chứng cứ và vết tích chỉ cho ta thấy mức độ to lớn và giá trị khoa học của chúng. Tuy vậy, nhiều nhà khoa học nổi tiếng về các nền văn minh khác nhau cho rằng công nghệ của nền văn minh La Mã thiếu tính sáng tạo và tiên tiến. Một báo cáo khoa học mới đây là một khích lệ hiếm có; Xã hội Roma với đích đến là kết nối các chiến binh, những người mà phải cai trị đất nước có tư tưởng rộng lớn, và luật Roma soạn ra không chú trọng đến điều sở hữu trí tuệ hoặc khuyến khích phát minh. Khái niệm về khoa học và công nghệ thực tế không tồn tại khi đó, sự tiến bộ luôn luôn lấy nền tảng từ thủ công, với một nhóm thợ thủ công luôn hiềm khích và ganh tị với công nghệ mới giống như bí mật trong thương mại. Tuy nhiên, một vài công nghệ bảo vệ tính mạng (trong chiến đấu) lại được người La Mã chú trọng và phát triển khá tốt, góp phần bảo vệ sức mạnh cai trị của La Mã và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến châu Âu sau này. Kỹ nghệ La Mã được thực hiện trong một không gian rộng lớn của trên một tầm cao mới và có kế thừa, đã góp phần xây dựng hàng trăm con đường, cây cầu, hệ thống dẫn nước, các phòng tắm, rạp hát và các đấu trường. Rất nhiều các công trình, ví dụ như đấu trường Colosseum, Pont du Gard và Pantheon, vẫn còn đứng vững làm chứng tích cho công nghệ và văn hóa Roma. Kiến trúc xây dựng. La Mã có niềm tự hào về các công trình kiến trúc của họ, khi mà có sự kết hợp các kiến thức truyền thống của nền văn minh Hy Lạp kinh điển. Tuy nhiên, do sự bành trướng của cộng hòa La Mã, mà các công trình xây dựng của Roma gần như cùng kiểu của Hy Lạp đương thời. Mặc dù vậy, vẫn có sự khác nhau giữa hai trường phái La Mã và Hy Lạp về kiểu cách trong xây dựng, La Mã vay mượn cứng nhắc sự chính xác, đề án phác thảo, tính cân xứng từ Hy Lạp. Ngoài ra từ hai kiểu cột mới là kiến trúc hỗn hợp và kiểu Toscana, một nửa là kiểu mái vòm với phong cách từ Etruscan, Roma đã có khá nhiều cách tân vào cuối thời Cộng hòa La Mã. Điểm đặc biệt ở thời gian thế kỷ 1 TCN, La Mã đã bắt đầu biết dùng bê tông, thay thế cho đá cẩm thạch như nguồn vật liệu xây dựng chính và cho phép xây dựng nhiều công trình kiến trúc phức tạp hơn. Đồng thời ở thế kỷ 1 TCN, Vitruvius lần đầu tiên cho ghi chép các kiến thức kiến trúc xây dựng vào sử học. Về sau thế kỷ thứ 1 CN, La Mã cũng bắt đầu cho sản xuất thủy tinh ngay sau khi Syria phát hiện ra chúng. Đồ chạm khảm cũng theo đoàn quân viễn chinh ở Hy Lạp quay về La Mã. Rất nhiều vật dụng của La Mã được sản xuất từ bê tông. Một trong những giá trị kiến trúc của người La Mã cổ đại thể hiện qua các cầu vòm bằng đá. Nhờ những chiếc cầu này mà hệ thống giao thông nối liền các vùng của đế chế La Mã trở nên thuận lợi. Công trình kiến trúc La Mã nổi tiếng hay được nhắc đến là đấu trường Colosseum và Khải hoàn môn. Kiến trúc sư La Mã nổi tiếng thời đó là Vitruvius. Điêu khắc La Mã có cùng phong cách với điêu khắc Hy Lạp. Những bức tượng còn lại ở thành Roma và những phù điêu trên Khải hoàn môn là hiện vật tiêu biểu cho điêu khắc La Mã. Từ thế kỉ III TCN, người La Mã đã có viết sử nhưng họ viết bằng chữ Hy Lạp. Người đầu tiên viết sử La Mã bằng chữ Hy Lạp là Phabiut. Người viết sử La Mã bằng chữ Latinh (Latin) đầu tiên là Cato (234-149 TCN). Sau đó còn nhiều người khác như: Plutac (50 - 125 SCN),Tacitus (56 - 117 SCN). Nhà sử học nổi tiếng nhất của La Mã ở thế kỉ II TCN là Polybius (200 - 118 TCN), gốc là người Hy Lạp. Bộ sử thi của ông gồm 40 quyển thuật lại một cách khái quát lịch sử của Hy Lạp, La Mã và các nước Đông bộ Địa Trung Hải trong khoảng 100 năm (từ 264 đến 146 TCN). Polybius là nhà sử học đầu tiên chú ý đến phương pháp sử học, chú ý đến việc biên soạn lịch sử nhiều nước và nhất là nhận thức rõ tác dụng giáo dục của lịch sử với cuộc sống. Coi quan điểm sử học là triết học, lấy sự việc thật để dạy người đời. Các nhà triết học La Mã cũng đã kế thừa truyền thống của triết học Hy Lạp, kế thừa những tư tưởng duy vật của Đêmôcrit. Những nhà triết học tiêu biểu thời kì đó như: Lucretius, Ciceron. Bộ luật thành văn cổ nhất ở La Mã là bộ Luật 12 bảng. Nó được gọi như vậy vì được khắc vào 12 bảng đá vào năm 452 TCN. Luật La Mã là hệ thống luật cổ, được xây dựng năm (449 TCN), áp dụng cho thành Roma và sau đó là cả Đế quốc La Mã. Các nguồn của Luật La Mã thời Cổ đại được sưu tập trong Corpus Iuris Civilis được tái khám phá trong thời kỳ Trung cổ và mãi cho đến thế kỷ 19 vẫn được xem là nguồn luật pháp quan trọng trong phần lớn các quốc gia châu Âu. Vì thế mà người ta cũng có thể gọi các luật lệ có hiệu lực trên lục địa châu Âu trong thời kỳ Trung cổ và trong thời gian đầu của thời kỳ Hiện đại là Luật La Mã. Trong thời gian cuối của thời Cổ đại Hoàng đế Justinian I đã ra lệnh sưu tập lại các bản văn luật cũ. Tác phẩm luật mà sau này được biết đến dưới tên Corpus Iuris Civilis bao gồm các quyển sách dạy về luật (công bố năm 533), tập san các bài văn của các luật gia La Mã (tiếng La Tinh: digesta hay pandectae), các đạo luật do hoàng đế ban hành (Codex Iustinianus, công bố năm 534) và các đạo luật đã được sửa đổi bổ sung (novellae). Khoa học tự nhiên. Các nhà khoa học người La Mã cổ đại cũng có công sưu tập, tổng hợp những kiến thức khoa học khắp vùng Địa Trung Hải. Những nhà khoa học nổi tiếng thời đó như Plinius, Ptôlêmê, Hêrôn. Thần thoại cổ xưa của La Mã có đặc điểm rằng các thần không ngự trị ở đỉnh cao mà có yếu tố kết hợp giữa thần thánh và con người. Không giống như thần thoại Hy Lạp, người La Mã không vị cách hóa các thần, mà có thể hình dung như những siêu tục. Người La Mã luôn tin tưởng trong mỗi con người, địa thế, đồ vật đều có một thần bản mệnh của chính nó, kiểu như là linh hồn. Đến thời Cộng hòa La Mã, tôn giáo là sự tuân phục của hệ thống các thầy tu, thầy tế bề trên, mà họ là những người nắm giữ các vị trí ở Nghị viện La Mã. Các trường dòng ở Roma có một vị trí quan trọng, ở đó các Đại Giáo chủ nắm giữ quyền lực lớn nhất. Các giáo chủ nắm giữ việc thờ cúng các vị thần khác nhau, nhằm tạo niềm tin được che chở. Dưới thời Đế quốc La Mã, hoàng đế là người nắm giữ mệnh lệnh của các thần, và có quyền thờ cúng để tăng thêm sức mạnh, quyền uy. Kết hợp với tín ngưỡng của Hy Lạp cổ đại, các thần La Mã cũ được tăng thêm sức mạnh từ các thần Hy Lạp. Theo cách này, thần Jupiter là cách hiểu của sự chuyển tải từ vị thần Zeus, thần Mars (vị thần của chiến tranh) là thần Ares và Neptune (thần của biển) là thần Poseidon. Dưới sự cai trị của La Mã, rất nhiều dân tộc khác nhau cũng hình thành các tín ngưỡng và tôn giáo khác, như tín ngưỡng Ai Cập, tín ngưỡng Tây Á đa dạng. Đến thế kỷ thứ 2, đạo Cơ Đốc bắt đầu lan tỏa vào Đễ quốc La Mã, có sự hiềm khích và xung đột. Đạo Cơ Đốc bắt đầu được công nhận chính thức dưới triều vua Constantinus I, và tất cả các đạo khác chống đối đạo Cơ Đốc bị cấm ở Đế chế vào năm 391 bằng sắc lệnh của Hoàng đế Theodosius I. Nói đến tôn giáo ở đế quốc La Mã cổ đại phải nói đến đạo Kitô, mặc dù đạo Kitô không phải ra đời tại Roma. Du nhập từ đầu Công nguyên nhưng đến năm 337 đạo Kitô mới được phát triển mạnh mẽ. Theo truyền thống, người sáng lập ra Kitô giáo là Jesus Christus, Con Thiên Chúa, nhập thể trong lòng nữ đồng trinh Maria. Jesus ra đời vào đêm 24 rạng 25 tháng 12 năm 1 (Công nguyên) tại Bethlehem (thuộc Palestine ngày nay). Đến năm 30 tuổi, Jesus bắt đầu đi rao giảng Phúc Âm. Thánh Kinh của Kitô giáo có Cựu ước (tiếp nhận từ Do Thái giáo) và Tân ước. Giáo lý của đạo tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi (tam vị nhất thể). Đạo Kitô có quan niệm về cứu rỗi, thiên đường, địa ngục, thiên thầ, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những cộng đoàn vừa mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đến thế kỉ II, các cộng đoàn Kitô dần phát triển thành Giáo hội. Khi mới ra đời, đạo Kitô bị các hoàng đế La Mã và tầng lớp quan lại địa phương trấn áp rất tàn bạo. Vụ đàn áp đẫm máu nhất là vụ bách hại vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nero, cướp đi sinh mạng của rất nhiều Ki-tô hữu. Nhưng số người theo đạo Kitô không những không giảm mà ngày càng tăng lên. Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc "vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa trời" tức là tôn giáo không dính dáng đến chính trị. Thấy đàn áp mãi không có tác dụng, các hoàng đế La Mã nghĩ tới biện pháp chung sống. Năm 311, một hoàng đế La Mã đã ra lệnh ngưng đàn áp các tín đồ Kitô. Năm 313, đạo Kitô được hoàng đế La Mã công nhận là hợp pháp. Năm 337, một hoàng đế La Mã lúc đó là Constantinus Đại đế đã gia nhập đạo Kitô. Việc Hoàng đế theo đạo Kitô dẫn tới sự truyền giáo được mở rộng. Ngân quỹ quốc gia cũng được chi ra để đóng góp cho Nhà thờ. Đạo Kitô được truyền bá rộng khắp trong vùng đất quanh Địa Trung Hải. Sau này, khi đế quốc La Mã tan vỡ thì đạo Kitô đã hầu như ăn sâu và lan rộng khắp châu Âu. Lịch sử thế giới cổ đại, Nhà xuất bản giáo dục năm 2002
Đại hội Điện ảnh Việt Nam quốc tế Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế ("Vietnamese International Film Festival" hay ViFF) là một đại hội điện ảnh diễn ra hai năm một lần do hai tổ chức phi lợi nhuận Hội Văn học Nghệ thuật Việt Mỹ (VAALA) và Hội Văn hóa Ngôn ngữ Việt Nam (VNLC) tổ chức bắt đầu từ năm 2003. ViFF thường diễn ra tại Đại học California tại Irvine và nhiều địa điểm quanh vùng Little Saigon của Quận Cam, California, Mỹ. Vừa là một đại hội điện ảnh và vừa là một sinh hoạt cộng đồng người Việt tại Quận Cam, cho đến nay ViFF là đại hội điện ảnh duy nhất dành riêng cho các nhà làm phim gốc Việt trên toàn thế giới. Vì vậy, nhiều cuộn phim của nhiều nhà làm phim có gốc Việt, kể cả trong nước, đã tụ tập tại đây. Các phim của nhà đạo diễn Trần Anh Hùng, người đã được đề cử cho giải Oscar, đã được chiếu tại ViFF. Các lần première (công chiếu lần đầu tiên) đáng kể tại ViFF là lần première thế giới của phim "First Morning" ("Buổi sáng đầu năm") của Victor Vu, và lần première Bắc Mỹ của phim "Thung lũng hoang vắng" của Phạm Nhuệ Giang. Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế 2007. Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế lần ba được tổ chức từ ngày 12 đến 15 tháng 4 và từ ngày 19 đến 22 tháng 4 năm 2007 tại trường Đại học California tại Irvine. Đại hội lần này trình chiếu 51 phim, bao gồm 13 phim dài ("features") và 38 phim ngắn, trong đó phim "Dòng máu anh hùng" ("The Rebel") do Charlie Nguyễn đạo diễn và "Sống trong sợ hãi" ("Living in Fear") của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên được chiếu lần đầu tiên ("première"), và phim "Vượt sóng" ("Journey From The Fall") của đạo diễn Hàm Trần. Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế 2009. Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế lần 4 được tổ chức từ ngày 2 đến 5 tháng 4 và từ ngày 9 đến 12 tháng 4 năm 2009 tại khu vực trường Đại học California tại Irvin, trung tâm Film and Video Center của trường đại học UCI, rạp Edward University Cinema 6, trường đại học UCLA, và Viện Bảo Tàng Bowers, Santa Ana.. Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế 2011. Đại hội điện ảnh VIFF lần thứ 5, được tổ chức từ ngày 7 đến 17 tháng 4 năm 2011, với chủ đề "Bước tiến mới" ("Reel Momentum"), cũng là lớn nhất từ trước đến nay, với 67 phim được chiếu từ tổng số hơn 100 phim tham gia, trong đó có những phim như: Cánh đồng bất tận, Bẫy rồng, Antoine (phim tài liệu của nữ đạo diễn người Canada, Laura Bari), Saigon Electric ("Saigon Yo")... Những phim được giải thưởng :
Securities Analysis (tiếng Anh của "Phân tích chứng khoán") là một cuốn sách quan trọng về phân tích tài chính và phân tích cơ bản được viết bởi Benjamin Graham và David Dodd và được xuất bản năm 1934. Benjamin Graham và David Dodd đã thay đổi mãi mãi hệ thống thuyết và thực hành đầu tư vào năm 1934 khi xuất bản cuốn Phân tích chứng khoán. Trên toàn thế giới, Phân tích chứng khoán vẫn được đánh giá là một trong những bộ giáo khoa kinh điển về phân tích cổ phiếu và trái phiếu. Nó cũng được xem là cuốn kinh thánh cho đầu tư giá trị. Các lần in sau vẫn được sử dụng làm sách giáo khoa tại Đại học Columbia, ở đấy ông Graham dạy nhiều sinh viên như là Warren Buffett. "Các ý tưởng của Graham và Dodd đã vượt qua tất cả các điều kiện thị trường và 75 năm sàng lọc - khiến chúng trở nên xác đáng cho đầu tư hiện đại hơn bao giờ hết. Các bài tiểu luận của Klarman và những nhà đầu tư giá trị huyền thoại khác đã minh họa rõ ràng rằng dù bối cảnh thị trường có thể thay đổi rất nhiều so với những năm trước, nhưng các đăc điểm của nhà đầu tư không thay đổi, và phương pháp ứng dụng có kỷ luật các nguyên tắc của cuốn Phân tích chứng khoán tiếp tục mang lại một lợi thế quan trọng trong đầu tư" (Andre F.Perold) "Không cuốn sách nào mạng lại cho bạn những công cụ đầu tư thông minh hơn Phân tích chứng khoán. Cuốn sách xứng đáng là một phiên bản vô song từ tác phẩm kinh điển của Ben Graham cho thiên niên kỷ mới" (Mason Hawkins)
Saponin là một Glycosyd tự nhiên thường gặp trong nhiều loài thực vật. Tiền tố latinh "sapo" có nghĩa là xà phòng; và thực tế thường gặp từ "saponification" có nghĩa là sự xà phòng hóa trong cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Saponin có tính chất chung là khi hoà tan vào nước có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch tạo nhiều bọt, có tính chất phá huyết, độc đối với động vật máu lạnh nhất là đối với cá, tạo thành phức với cholesterol, có vị hắc và làm hắt hơi mạnh. Một vài động vật cũng có saponin như các loài hải sâm, cá sao. Các saponin đều là các chất quang hoạt. Thường các steroid saponin thì tả triền còn triterpenoid saponin thì hữu triền. Điểm nóng chảy của các sapogenin thường rất cao. Dưới tác dụng của enzym có trong thực vật hay vi khuẩn hoặc do axít loãng, saponin bị thủy phân thành các phần gồm genin gọi là sapogenin và phần đường gồm một hoặc nhiều phân tử đường. Các đường phổ biến là D-glucoza, D-galactoza, L-arabinoza, axít galactunoic, axít D(axít olenoic), dạng α-amirin (axít asiatic), dạng lupol (axit buletinie) hoặc tritecpen bốn vòng. Saponin có loại axít, trung tính hoặc kiềm. Trong đó, triterpenoit saponin thường là trung tính hoặc axít (phân tử có nhóm –COOH). Steroit saponin nhóm spirostan và furostan thuộc loại trung tính còn nhóm glicoancaloit thuộc loại kiềm.
Surimi (擂り身, nghĩa là "thịt xay" trong tiếng Nhật) là một loại thực phẩm truyền thống có nguồn gốc từ cá của các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc. Cá nguyên liệu được tiến hành rửa, phi lê, xay nhỏ, băm nhuyễn và phối trộn các nguyên liệu phụ, định hình, xử lý nhiệt sẽ cho sản phẩm được gọi là surimi. (Các sản phẩm truyền thống như giò cá, chả cá của Việt Nam cũng là thịt xay nhưng không nên gọi tùy tiện là surimi.) Surimi là thịt cá thờn bơn cao cấp được tách xương, rửa sạch, nghiền nhỏ, không có mùi vị và màu sắc đặc trưng, có độ kết dính vững chắc, là một chế phẩm bán thành phẩm, là một nền protein, được sử dụng rộng rãi làm làm nhiều sản phẩm gốc thủy sản khác. Tuỳ theo loại cá dùng làm surimi và dạng surimi mong muốn mà surimi có thành phần dinh dưỡng khác nhau. Theo "Bảng thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm (Food Nutrient Database 16-1)" của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), surimi từ cá chứa khoảng 76% nước, 15% protein, 6,85% carbonhydrat, 0,9% chất béo và 0,03% cholesterol. Surimi có hàm lượng protein cao, lipid thấp, không có cholesterol và glucid, cơ thể dễ hấp thụ. Protein của surimi có khả năng trộn lẫn với các loại protit khác, nâng cao chất lượng của các loại thịt khi trộn lẫn với thịt bò, thịt heo, hay thịt gà...Đặc biệt surimi có tính chất tạo thành khối dẻo, mùi vị và màu sắc trung hòa, nên từ chất nền surimi người ta có thể chế biến ra các sản phẩm mô phỏng có giá trị cao như: tôm, thịt, sò, điệp, cua, ghẹ, xúc xí Surimi được người dân một số vùng ở Đông Á chế biến từ hơn 900 năm trước đây. Tại Nhật Bản, surimi được sử dụng để chế biến món kamaboko và nhiều món ăn khác. Ngành công nghiệp chế biến surimi bắt đầu phát triển ở Nhật Bản trong những năm 1960. Cho đến nay, khoảng 2 triệu đến 3 triệu tấn cá trên toàn thế giới (chiếm 2% đến 3% sản lượng thủy sản cung cấp) được sử dụng làm nguyên liệu chế biến surimi. Hoa Kỳ và Nhật Bản là những nhà sản xuất surimi lớn nhất trong khi Thái Lan nhập khẩu khá nhiều. Sản lượng surimi của Trung Quốc cũng khá lớn còn Việt Nam, Chile, Pháp và Malaysia là các nhà sản xuất mới nổi. Trước tiên, thịt nạc từ cá hoặc động vật trên cạn được tách hoặc băm nhỏ, sau đó được rửa nhiều lần để loại bỏ mùi vị không mong muốn. Kết quả là thớ thịt được băm nhuyễn và được nghiền thành hỗn hợp nhuyễn. Tùy thuộc vào cấu trúc mong muốn và hương vị của sản phẩm surimi, hỗn hợp nhuyễn được trộn với phụ gia thực phẩm như bột, lòng trắng trứng, muối, dầu thực vật, sorbitol, đường, protein đậu tương, gia vị và các chất điều vị như transglutaminaza và mì chính (bột ngọt). Nếu surimi được đóng gói và trữ lạnh, cần bổ sung chất bảo quản trong quá trình làm nhuyễn hỗn hợp. Trong hầu hết các trường hợp, cần chế biến surimi ngay để dễ tạo hình cho sản phẩm.
Hóa dược theo định nghĩa của IUPAC là một ngành khoa học dựa trên nền tảng hóa học để nghiên cứu các vấn đề của các ngành khoa học sinh học, y học và dược học. Hóa dược bao gồm việc khám phá, phát minh, thiết kế, xác định và tổng hợp các chất có tác dụng hoạt tính sinh học, nghiên cứu sự chuyển hóa, giải thích cơ chế tác động của chúng ở mức độ phân tử, xây dựng các mối quan hệ giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng dược lý (gọi là SAR) và mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng dược lý (gọi là QSAR). Hóa dược là một ngành khoa học thể hiện cao sự kết hợp giữa hóa hữu cơ và sinh hóa, hóa tin học, dược lý, sinh học phân tử, toán thống kê và hóa lý. Một định nghĩa khác của Hóa dược là một ngành khoa học giao giữa hóa học và dược học nghiên cứu các vấn đề thiết kế và phát triển dược phẩm. Hóa dược bao gồm việc xác định, tổng hợp và phát triển các hóa chất mới phù hợp cho mục đích trị liệu. Hóa dược cũng bao gồm cả việc nghiên cứu các thuốc đã sẵn có, các hoạt tính sinh học mới và các mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc và tác dụng sinh học (QSAR). Quy trình phát hiện dược phẩm. Việc khám phá là việc xác định các hợp chất hoạt động mới, thường được gọi là "hit", mà thường được tìm thấy bằng cách kiểm tra nhiều hợp chất (hợp chất của thư viện) cho các mong muốn đặc tính sinh học. Trong khi một số phương pháp tiếp cận đối với việc xác định các số truy cập tồn tại, thành công nhất của các kỹ thuật dựa vào trực giác hóa học và sinh học phát triển thông qua năm đào tạo hóa học-sinh học nghiêm ngặt. Các nguồn khác của số truy cập có thể đến từ nguồn tự nhiên, như thực vật, động vật, hoặc nấm. Số lần có thể có nguồn gốc cũng từ các thư viện hóa học tổng hợp, chẳng hạn như những người tạo ra thông qua bộ sưu tập hóa học tổ hợp hoặc hợp chất hóa học lịch sử đó được kiểm tra vi-số lượng lớn so với chỉ tiêu sinh học trong câu hỏi.
"Xem các nghĩa khác tại SAR (định hướng)" SAR là từ viết tắt của Structure-Activity Relationship của tiếng Anh. SAR dùng để chỉ mối quan hệ giữa cấu trúc hóa học của các hoạt chất với hoạt tính sinh học hay hoạt tính dược lý của chúng. SAR thường được sử dụng trong hóa dược, đặc biệt là tổng hợp hóa dược. Ngoài SAR, hóa dược cũng thường sử dụng QSAR, là bước phát triển hơn của SAR.
Trong bộ môn giải tích, một nguyên hàm của một hàm số thực cho trước "f" là một hàm "F" có đạo hàm bằng "f", nghĩa là, "F"′ = "f". Quá trình tìm nguyên hàm được gọi là tích phân bất định. Tìm một biểu thức cho nguyên hàm là công việc khó hơn so với việc tìm đạo hàm, và không phải luôn luôn thực hiện được. Tuy nhiên, bất kỳ hàm số liên tục trên đoạn hay khoảng từ giá trị a đến b, thì đều tồn tại nguyên hàm của hàm số đó trên đoạn/khoảng từ a đến b nêu trên. Nguyên hàm được liên hệ với tích phân thông qua định lý cơ bản của giải tích, cung cấp một phương tiện tiện lợi để tính toán tích phân của nhiều hàm số. Cho hàm số "f" xác định trên "K". Hàm số "F" được gọi là nguyên hàm của hàm số "f" trên "K" nếu "F"("x") khả vi trên "K" và "F"'("x") = "f"("x") với mọi "x" thuộc K. Thí dụ: (1) Hàm số "f" ("x") = cos "x" có nguyên hàm là "F" ("x") = sin "x" vì (sin "x")' = cos "x" (tức "F" '("x") = "f" ("x")). (2) Hàm số "f" ("x") = "ax" có nguyên hàm là "F"("x") = formula_1 vì formula_2 = "ax." Giả sử hàm số "F" là một nguyên hàm của hàm số "f" trên K. Khi đó: với mỗi hằng số "C", hàm số "y" = "F"("x") + C cũng là một nguyên hàm của "f" trên K và ngược lại với mỗi nguyên hàm "G" của "f" trên "K" thì tồn tại một hằng số "C" sao cho "G"("x") = "F"("x") + C với mọi "x" thuộc "K". Do đó ta thấy nếu "F" là một nguyên hàm của "f" trên "K" thì mọi nguyên hàm của "f" trên "K" đều có dạng "F"("x") + C với số thực "C". Vậy "F"("x") + "C" với số thực "C" là họ tất cả các nguyên hàm của "f" trên "K". Kí hiệu: formula_3 Người ta chứng minh được mọi hàm số liên tục trên "K" đều có nguyên hàm trên "K" Nếu "f" và "g" là hai hàm số liên tục trên "K" thì Các nguyên hàm có ý nghĩa quan trọng vì chúng được dùng để tính toán các tích phân, sử dụng định lý cơ bản của giải tích: nếu "F" là một nguyên hàm của "f", thì: Vì lý do này, tập hợp tất cả các nguyên hàm của một hàm "f" cho trước đôi khi được gọi là tích phân bất định của "f" và được ký hiệu bằng dấu tích phân, không có các cận: Nếu "F" là một nguyên hàm của "f", và hàm "f" xác định trên một khoảng nào đó, thì mọi nguyên hàm "G" khác của "f" khác với "F" bởi một hằng số: tồn tại một số "C" sao cho "G"("x") = "F"("x") + "C" với mọi "x". Nếu tập xác định của "F" gồm hai hay nhiều khoảng, thì có thể chọn những hằng số khác nhau trên mỗi khoảng. Ví dụ là nguyên hàm tổng quát nhất của formula_10 trên tập xác định formula_11 của nó. Mọi hàm liên tục "f" đều có nguyên hàm. Có nhiều hàm số có nguyên hàm nhưng không thể biểu diễn dưới dạng các hàm sơ cấp. Ví dụ:formula_12 Nguyên hàm của một số hàm số cơ bản.
Bộ Kinh Vân (Tiếng Trung Quốc: 步驚雲) là một nhân vật hư cấu trong bộ truyện tranh Phong Vân của hai tác giả Hồng Kông Mã Vinh Thành và Đan Thanh. Thuở nhỏ anh có tên là Hoắc Kinh Giác, sau khi gia nhập Thiên Hạ Hội, anh lấy lại tên là Bộ Kinh Vân. Bộ Kinh Vân được giang hồ biết đến với một tính cách khá kỳ lạ: với bản chất lạnh lùng, trầm tĩnh và ít biểu lộ tình cảm ra bên ngoài, anh ta thường bị cho là quá lạnh nhạt và nhẫn tâm. Tình cảm của anh ta dành cho thế giới gần như không có, có chăng chỉ là đối với rất ít người như: Nhiếp Phong (sư đệ tại Thiên Hạ Hội), Hoắc Bộ Thiên - cha nuôi, Khổng Từ (tình yêu đầu tiên), Sở Sở (con gái của Vu Nhạc, người đã tặng cánh tay kì lân cho Bộ Kinh Vân), người vợ Tử Ngưng­­ và sư phụ Vô Danh, con trai Bộ Thiên, con gái Tiểu Đình. Nhân vật Bộ Kinh Vân được diễn viên Hà Nhuận Đông thể hiện trong bộ phim Phong Vân: Hùng Bá Thiên Hạ. Tu luyện võ công. Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm. 9 tuổi, làm con nuôi trong nhà họ Hoắc, Kinh Vân được kế phụ Hoắc Bộ Thiên truyền cho bộ Hoắc gia kiếm pháp. Có thể nói, Kinh Vân có được lòng hiếu võ là từ Hoắc Bộ Thiên. Sau cái chết của cả gia đình dưới tay Thiên Hạ Hội, Bộ Kinh Vân gặp gỡ Vô Danh, và lén học được một chiêu mạnh nhất trong Mạc Danh Kiếm Pháp là Bi Thống Mạc Danh. Điều kỳ lạ là đệ tử Kiếm Thần của Vô Danh tư chất không tầm thường, lại luyện Mạc Danh Kiếm Pháp từ nhỏ mà chỉ còn mỗi chiêu đó không sao luyện thành, còn Kinh Vân học lén mà lại thành công. Vô Danh giải thích là do kiếm ý bi thống, đầy oán sầu hợp với trải nghiệm và tính cách của Kinh Vân. Sau khi bị Vô Danh từ chối nhận làm đồ đệ, anh tim đến với Thiên Hạ Hội, với mục đích trà trộn vào hòng trả mối thù giết hại gia đinh. Một điều bất ngờ đã xảy ra: Hùng Bá, bang chủ Thiên Hạ Hội đã đặc biệt quan tâm tới Bộ Kinh Vân và ngay lập tức chọn anh ta làm đệ tử - đường chủ thứ 2, sau Tần Sương và truyền dạy một trong ba tuyệt học của mình là Bài Vân Chưởng - chính là môn sở trường của anh. Nhờ cơ duyên, anh có được kiếm phổ Thánh Linh Nhị thập nhị thức (22 thức Thánh Linh kiếm pháp) của Kiếm Thánh. Nhiều chuyện phức tạp diễn ra sau đó, dẫn đến việc Hùng Bá bị 3 anh em Phong Vân Sương tiêu diệt. Tiếp theo đó là cuộc xâm lăng của người Đông Doanh (cách người Trung Quốc xưa gọi Nhật Bản). Vô Danh cuối cùng cũng nhận anh làm đồ đệ, còn giúp anh đã ngộ ra một bộ kiếm pháp mới, và được Vô Danh đặt tên là Tam Bá Kiếm. Ba chiêu kiếm tuy là kiếm nhưng lại có sự bá đạo của đao, đạt đến cảnh giới Hữu Hình Kiếm Khí. Sau này, dựa trên kiếm ý đó, anh ta cũng sáng tạo ra một bộ chưởng pháp khác, tên gọi là Tam Bá Chưởng. Từ lúc đó cho tới trận quyết đấu với Đoạn Lãng (trong trận quyết chiến với Ma kì lân Đoạn Lãng để đề thăng công lực Bộ Kinh Vân đã tìm đến Thần Y và phục Nghịch càn khôn; ngoài ra Bộ Kinh Vân còn có Tý kỳ lân cũng là một sản phẩm của Thần Y) - kết thúc phần 2 truyện, Bộ Kinh Vân không học thêm 1 võ công nào nữa; tuy nhiên công lực thì có đột phá rất lớn nhờ Phục Long Nguyên. Sau này, nhờ cơ duyên, trong thành cổ ở Đại Mạc, Bộ Kinh Vân học được Vô Cầu Dịch Quyết. Đây không hẳn là chiêu số của một loại võ công nào mà là một bộ tâm pháp và chiêu ý, với yếu chỉ là "Vạn vật vi nhất khí tự hóa". Tuyệt Thế Hảo Kiếm - một thanh kiếm đặc biệt, toàn một màu đen lạnh lẽo, là thanh kiếm mà rất nhiều đúc kiếm sư bỏ ra công sức mà không tạo thành được. Bọn họ chỉ có thể tạo ra được kiếm hình, chứ không thể tạo được kiếm hồn. Bái Kiếm Sơn Trang đúc cả ngàn thanh kiếm cũng chỉ cho ra được một thanh Tuyệt Thế Hảo Kiế Theo truyền thuyết thì thanh kiếm này dùng để giết Hỏa Kỳ Lân, một hung thú trong Tứ Linh. Truyền thuyết cũng nói rằng thanh kiếm này được đúc từ khối thiên thạch mang tên Hắc Hàn. Có cùng xuất xứ với thứ thép rèn nên Tuyết Ẩm, vốn là đá năm xưa Nữ Oa dùng để vá trời lưu lạc xuống trần gian. Nếu Bạch Lộ (đúc thành tuyết Ẩm) là vật chí hàn thứ nhất trong thiên địa, coi Hắc Hàn là vật thiên địa chí hàn thứ hai cũng không ngoa. Nhưng trong màu đen của thép ẩn chứa một trái tim, hoàn toàn khác với hàn khí của Bạch Lộ tán phát ra ngoài, hóa khí thành băng. Màu đen và hàn khí của kiếm hút lấy sức mạnh vạn vật biến thành của mình. Nhưng Tuyệt thế hảo kiếm cũng là một thanh kiếm mang nặng sát nghiệt, tuy có đủ năng lực cứu nhân gian, nhưng cũng ngạo khí bất khuất, dù làm ngọc nát cũng không làm ngói lành, chỉ xứng với kiếm thủ chân chính cũng hắc ám như nó. Kinh Vân và Tuyệt Thế Hảo Kiếm nhân kiếm hợp nhất, tâm kiếm tương thông giúp Vân sau này đạt tới cảnh giới thượng thừa trong kiếm đạo. Kiếm đã từng bị mẻ khi giao phong với Tuyết Ẩm đao, sau được Đế Thích Thiên rèn lại, trên thân kiếm có một vết nứt ở giữa sống kiếm. Vết nứt hình thành khi Ma Khôi đột phá Kiếm giới trốn vào nhân gian.
Dịch vụ web (tiếng Anh: web service) là sự kết hợp các máy tính cá nhân với các thiết bị khác, các cơ sở dữ liệu và các mạng máy tính để tạo thành một cơ cấu tính toán ảo mà người sử dụng có thể làm việc thông qua các trình duyệt mạng. Bản thân các dịch vụ này sẽ chạy trên các máy chủ trên nền Internet chứ không phải là các máy tính cá nhân, do vậy có thể chuyển các chức nǎng từ máy tính cá nhân lên Internet. Người sử dụng có thể làm việc với các dịch vụ thông qua bất kỳ loại máy nào có hỗ trợ web service và có truy cập Internet, kể cả các thiết bị cầm tay. Do đó các web service sẽ làm Internet biến đổi thành một nơi làm việc chứ không phải là một phương tiện để xem và tải nội dung. Điều này cũng sẽ đưa các dữ liệu và các ứng dụng từ máy tính cá nhân tới các máy phục vụ của một nhà cung cấp dịch vụ web. Các máy phục vụ này cũng cần trở thành nguồn cung cấp cho người sử dụng cả về độ an toàn, độ riêng tư và khả nǎng truy nhập. Các máy phục vụ ứng dụng sẽ là một phần quan trọng của các web service bởi vì thường thì các máy chủ này thực hiện các hoạt động ứng dụng phức tạp dựa trên sự chuyển giao giữa người sử dụng và các chương trình kinh doanh hay các cơ sở dữ liệu của một tổ chức nào đó. Một số nhà quan sát ngành công nghiệp này cho rằng web service không thực sự là một khái niệm mới và phản ánh một phần không nhỏ khái niệm mạng máy tính vốn đã trở nên quen thuộc trong nhiều nǎm qua. Web service chủ yếu dựa trên một lời gọi thủ tục từ xa không chặt chẽ mà có thể thay thế các lời gọi thủ tục từ xa chặt chẽ, đòi hỏi các kết nối API phù hợp đang phổ biến hiện nay. Dịch vụ web sử dụng XML chứ không phải C hay C++, để gọi các quy trình. Tuy nhiên các chuyên gia khác lại cho rằng web service là một dạng API dựa trên phần mềm trung gian, có sử dụng XML để tạo phần giao diện trên nền Java 2 (J2EE) hay các server ứng dụng .NET. Giống như các phần mềm trung gian, web service sẽ kết nối server ứng dụng với các chương trình Client.
Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) là một nhà báo, từng bị thực dân Pháp bắt tù 1930, cũng từng là thứ trưởng Bộ Thanh Niên, tham gia Mặt Trận Dân chủ Đông Dương (1937-1939), một trong những người sáng lập nên Hội truyền bá Quốc ngữ (1938-1945), từng tham gia phong trào Văn hóa Cứu Quốc (1943-1946), Ủy ban Giải phóng Dân tộc tại Tân Trào 1945. Ông là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân. Ông đã bị kết án 15 năm tù vì tội kích động bạo loạn trong vụ án Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Nguyễn Hữu Đang (bí danh Phạm Đình Thái) sinh ngày 15 tháng 8 năm 1913 trong một gia đình trí thức tại làng Trà Vi, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông thuộc về đời thứ 11 của dòng họ Nguyễn Phúc Trà Vi. Cụ tổ là Nguyễn Phúc Độ, con trai thứ 37 của Chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và bị Pháp bắt vào cuối năm 1930 và bị giam hai tháng rưỡi tại thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, Nguyễn Hữu Đang bị đưa ra tòa xét xử, nhưng được tha, vì dưới tuổi thành niên. Sau đó, ông lên Hà Nội theo học Trường Cao đẳng Sư phạm. Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939) trên lĩnh vực báo chí, viết và làm biên tập viên cho các báo Thời báo, Ngày mới và Tin tức. Ông hoạt động công khai ở Hà Nội, là đồng chí thân thiết của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Phan Thanh, Nguyễn Văn Tố. Trong thời kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật (1939-1945), ông hoạt động trong khối trí vận của đảng, chuyên lo việc vận động giới tư sản và trí thức, là một trong những người sáng lập ra Hội Truyền bá Quốc ngữ (do Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đằng sau hậu thuẫn) và làm Tổng Thư ký Hội. Năm 1943, ông tham gia Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc và gia nhập Tráng đoàn Lam Sơn của tổ chức Hướng đạo sinh Việt Nam. Mùa hè 1944, Nguyễn Hữu Đang tham gia tổ chức và chủ trì Hội nghị Giáo khoa thư Toàn quốc ở Hà Nội. Mùa thu 1944, ông bị bắt và bị giam giữ một tháng tại Nam Định. Tham gia Chính phủ cách mạng. Tháng 8 năm 1945, ông được Đại hội Quốc dân ở Tân Trào bầu vào Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương (Chính phủ Lâm thời khởi nghĩa) gồm 15 ủy viên. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang được phân công làm Trưởng ban Tổ chức Ngày tuyên bố Độc lập 2/9/1945. Ngày nay trên sách báo người ta hay nhắc đến câu nói của Hồ Chí Minh khi giao việc dựng Lễ đài Độc lập với thời gian hết sức gấp gáp, trang thiết bị thiếu thốn: "Có khó mới giao cho chú" (tức Nguyễn Hữu Đang). Từ 11/1945 đến tháng 12/1945, ông tham gia Chính phủ Lâm thời, lần lượt giữ chức Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban Vận động Hội nghị Văn hóa Toàn quốc, Trưởng ban Tuyên truyền Xung phong Trung ương, phụ trách báo Toàn dân Kháng chiến (báo của cơ quan trung ương Hội Liên Hiệp). Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ tháng 6/1949 đến tháng 10/1954, ông được cử làm Trưởng ban Thanh tra Bình dân học vụ. Hoạt động văn nghệ tuyên truyền. Từ tháng 11/1954 đến tháng 4/1958, ông làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông trải qua nhiều chức vụ khác nhau trong lĩnh vực tuyên truyền kháng chiến. Ông cũng là một trong những nhà văn đầu tiên phê phán sai lầm của Cải cách ruộng đất. Năm 1954-1958 ông làm biên tập cho báo Văn Nghệ. Vụ Nhân văn Giai phẩm. Cuối 1956, ông làm biên tập báo Nhân Văn và cộng tác với báo Giai Phẩm. Báo giới ngoài nước đều nhất loạt ghi nhận vai trò chủ yếu của Nguyễn Hữu Đang trong phong trào Nhân văn Giai phẩm (1956-1958). Trang web Diễn đàn gọi ông là lãnh đạo, Talawas cho là chủ chốt, trang web Nhịp Cầu Thế giới dùng từ thủ lĩnh. Tài liệu cùng thời chỉ trích Nhân văn Giai phẩm tại Hà Nội, cũng nói vậy. Báo Nhân dân, dưới ngòi bút Như Phong khẳng định Nguyễn Hữu Đang trực tiếp chỉ đạo từ đầu đến cuối công cuộc phá hoại bằng báo chí ấy (12-5-1958). Trong Nhân Văn số 1, Nguyễn Hữu Đang ký tên XYZ (một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh). Trong bài này, Nguyễn Hữu Đang cố ý dùng giọng văn của Hồ Chí Minh khi nói chuyện với cán bộ, nhằm tỏ ý giễu cợt chủ tịch Hồ Chí Minh. Báo Nhân văn số 6 có bài kích động người dân xuống đường biểu tình. Song Đảng viên, công nhân nhà in Xuân Thu (nơi in báo Nhân văn) đã phát hiện ra và thông báo với chính quyền để xử lý. Tháng 4 năm 1958, ông bị bắt. Cùng với nhiều văn nghệ sĩ, trí thức tham gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm, ông bị coi là "phản Đảng", "đầu cơ cách mạng". Tại phiên tòa xét xử kín ông cùng bà Lưu Thị Yên (bút hiệu Thụy An) ngày 21 tháng 1 năm 1960, ông bị kết án 15 năm tù vì tội "phá hoại chính trị", "làm gián điệp" và bị đưa lên giam giữ tại Hà Giang. Trong một cuộc phỏng vấn với nhà phê bình văn học Thụy Khuê: "Thực chất phong trào Nhân văn Giai phẩm, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống - không phải chống đảng cộng sản đâu, mà đấy là chống- cái chủ nghĩa Stalin và chống chủ nghĩa Mao Trạch Đông." Suốt thời gian trong tù ông bị cách biệt với thế giới bên ngoài và không hề tham gia một chút gì vào cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Sau khi ra tù vào năm 1973, ông bị quản thúc tại quê nhà Thái Bình gần 20 năm. Tuy bị quản thúc, nhưng sau ngày 30/4/1975, chính quyền cũng thả lỏng . Ông vẫn đi lại giữa các địa phương để thăm người thân và bạn bè, nhưng vẫn bị giám sát và theo dõi. Năm 1986, sau Đại hội Đảng VI, ông bắt đầu được phục hồi danh dự và được coi là "lão thành cách mạng". Từ năm 1990, ông được hưởng lương hưu trí. Từ năm 1993, ông về sống ở Hà Nội, được cấp một căn hộ tại khu nhà B tập thể Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ông không có vợ con. Ông qua đời ngày 8 tháng 2 năm 2007 tại Hà Nội. Trong tang lễ của ông, đại diện chính quyền đọc điếu văn còn nhắc tội trạng: "phạm sai lầm tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm". Ban Tang lễ của Bộ Giáo dục và đào tạo, Hội Khuyến học Việt Nam, tuần báo "Văn Nghệ" được thành lập. Thi hài ông được hỏa táng và đưa về quê an táng ngày 11 tháng 2 năm 2007.
Chính trị (Tiếng Anh: "politics") là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích. Từ khi xuất hiện, chính trị ảnh hưởng tới quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại. Trước khi chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học (political science) nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, có đối tượng, phương pháp, khái niệm, phạm trù..., đã có các quan niệm, quan điểm, thậm chí tư tưởng, học thuyết của các học giả khác nhau bàn về các khía cạnh của chính trị. Các quan niệm trước Chủ nghĩa Mác-Lênin. Các tư tưởng và học thuyết nêu trên ít nhiều đã đề cập được những vấn đề cơ bản của chính trị như vấn đề tổ chức Nhà nước, các hình thức Nhà nước và các chính thể, vấn đề quyền lực Nhà nước, thủ lĩnh chính trị...Tuy nhiên do những hạn chế về lập trường, quan điểm, điều kiện lịch sử- xã hội mà các học thuyết đó ít nhiều còn bộc lộ những quan điểm thô sơ, chất phác, thậm chí là sai lầm về chính trị. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nghiên cứu một cách nghiêm túc các quan điểm trước đi trước về chính trị, đồng thời vận dụng một cách khoa học các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã đề xuất những nhận định về chính trị như sauː Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đương lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích Các quan điểm hiện nay. Hiện nay, trên thế giới đã hình thành 4 cách hiểu khác nhau về chính trị: Nếu quan niệm rằng chính trị chỉ là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước thì, theo lý luận của chủ nghĩa Marx, trong xã hội cộng sản tương lai sẽ không có chính trị bởi vì lúc đó nhà nước đã tiêu vong. Nói cách khác, chính trị sẽ dần dần trở nên thừa thãi và mất hẳn trong xã hội lý tưởng của nhân loại – xã hội cộng sản. Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. Với cách hiểu như thế này thì dù trong xã hội cộng sản, chính trị vẫn còn tồn tại và vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với từng con người cũng như toàn xã hội. Trong bất kỳ xã hội nào thì cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và khoa học, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tính mạng của người khác hay của cộng đồng. Một ví dụ đơn giản, xã hội dù có phát triển đến đâu thì cũng cần có luật giao thông để con người có thể lưu thông một cách trật tự và hiệu quả. Hay, con người không thể sống trong một xã hội mà tình trạng an ninh không đảm bảo (cướp bóc, khủng bố chẳng hạn) do thiếu luật lệ. Mặc dù phần lớn xã hội hiện nay trên thế giới không tránh khỏi các hiện tượng cướp bóc và khủng bố nhưng phải thừa nhận rằng pháp luật đã góp phần ngăn chặn đáng kể những hành vi bất lương đó. Nguồn gốc và bản chất. Nguồn gốc kinh tế chính trị. Xét về sự xuất hiện của chính trị trong lịch sử nhân loại: Chính trị ra đời gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. Sự xuất hiện đó lại liên quan chặt chẽ đến vấn đề tư hữu tư liệu sản xuất -  tư hữu những của cải dư thừa của xã hội- cũng tức là liên quan đến hoạt động kinh tế. Để bảo vệ cho sự tư hữu về tư liệu sản xuất đó, những tầng lớp "trên" của xã hội đã tổ chức ra nhà nước nhằm mục đích cưỡng chế các giai tầng xã hội khác. Như vậy chính trị xuất hiện trong lịch sử xuất phát từ kinh tế. Xét trên góc độ lợi ích: Chủ nghĩa Marx-Lenin khẳng định chính trị chính là lợi ích, là quan hệ giữa các giai cấp trong việc phân chia lợi ích. Như vậy chính trị chính là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Xét trên quan điểm về các hình thái kinh tế, xã hội: Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, bao gồm hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế. Như vậy, chính Cơ sở hạ tầng kinh tế là yếu tố quyết định đến sự hình thành các quan điểm và các thiết chế chính trị Bản chất giai cấp của chính trị. Mối quan hệː Chính trị bao giờ cũng là sự bộc lộ mối quan hệ giữa các giai cấp: Trong một xã hội có giai cấp, chính trị với những thiết chế được đặt ra là để xác lập mối quan hệ giữa các giai cấp. Khái niệm quan hệ chính trị cho chúng ta thấy, đó là quan hệ giữa các giai cấp, trong việc giành, giữ và tổ chức quyền lực Nhà nước. Trong các quan hệ đó, các giai cấp xác định đâu là giai cấp thống trị, đâu là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, đâu là giai cấp, tầng lớp tham gia vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Đảng phái, Nhà nướcː Bản chất chính trị của giai cấp thể hiện ở sự tổ chức thành Đảng phái, thành Nhà nước để giai cấp thống trị đạt được mục đích trấn áp giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội vì lợi ích trước hết và trên hết của giai cấp mình. Thông qua hoạt động của các Đảng phái là đội tiên phong của chính mình, đồng thời thông qua hoạt động của Nhà nước, giai cấp thống trị gián tiếp can thiệp vào các hoạt động tổ chức sản xuất và đời sống xã hội. Quyền lực chính trịː Bản chất chính trị của giai cấp còn liên quan đến vấn đề quyền lực chính trị. Karl Marx khẳng định "Quyền lực chính trị thực chất là bạo lực có tổ chức của giai cấp này, trấn áp giai cấp khác". Mỗi một giai cấp sẽ có cách thức sử dụng quyền lực chính trị khác  nhau. Chế độ phong kiến sử dụng quyền lực tuyệt đối thuộc về một người, chế độ tư sản sử dụng   9 quyền lực trên cơ sở thuyết Tam quyền phân lập; chế độ xã hội chủ nghĩa quyền lực được xuất phát từ nhân dân và có sự phân công, phân nhiệm trong sử dụng Văn hóa tư tưởng chính trịː Bản chất giai cấp của chính trị thể hiện ở chế độ văn hóa chính trị, bao gồm hệ tư tưởng, nền tảng pháp lý và các giá trị, chuẩn mực được áp dụng cho toàn xã hội Lịch sử chính trị kéo dài trong suốt lịch sử loài người và không giới hạn trong các thể chế chính phủ hiện đại. Frans de Waal lập luận rằng những con tinh tinh đã tham gia chính trị thông qua việc "thao túng xã hội để bảo đảm và duy trì các vị trí có ảnh hưởng". Các hình thức ban đầu của con người về tổ chức xã hội - các nhóm người và bộ lạc còn thiếu các cấu trúc chính trị tập trung. Chúng được gọi là xã hội không nhà nước. Có một số lý thuyết và giả thuyết khác nhau liên quan đến sự hình thành nhà nước sớm tìm cách khái quát hóa để giải thích tại sao nhà nước phát triển ở một số nơi mà không phải là những nơi khác. Các học giả khác tin rằng việc khái quát hóa là không có giá trị và mỗi trường hợp hình thành nhà nước sớm nên được xử lý riêng biệt. Các lý thuyết tự nguyện cho rằng các nhóm người khác nhau đã cùng nhau hình thành các nhà nước do kết quả của một số lợi ích hợp lý được chia sẻ chung. Các lý thuyết chủ yếu tập trung vào sự phát triển của nông nghiệp, và áp lực dân số và tổ chức theo sau và dẫn đến sự hình thành nhà nước. Một trong những lý thuyết nổi bật nhất về sự hình thành nhà nước sơ khai và sơ cấp là giả thuyết thủy lợi, cho rằng nhà nước là kết quả của nhu cầu xây dựng và duy trì các dự án thủy lợi quy mô lớn. Các lý thuyết xung đột về sự hình thành nhà nước coi xung đột và sự thống trị của một số dân số đối với dân số khác là chìa khóa cho sự hình thành các quốc gia. Trái ngược với các lý thuyết tự nguyện, những lập luận này tin rằng mọi người không tự nguyện đồng ý tạo ra một nhà nước để tối đa hóa lợi ích, nhưng các nhà nước đó hình thành do một số hình thức áp bức của một nhóm người đối với các nhóm người khác. Một số lý thuyết lại cho rằng chiến tranh là rất quan trọng đối với sự hình thành nhà nước. Ý thức hệ chính trị. Ý thức hệ chính trị hay hệ tư tưởng chính trị là toàn bộ những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, của một giai cấp về: giành và giữ quyền lực nhà nước; xác định chế độ chính trị; hình thức tổ chức nhà nước; và quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác. Hệ tư tưởng chính trị có vai  trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở những điểm sauː Đó là kim chỉ nam soi đường cho quá trình đấu tranh của một giai cấp. Chỉ có hệ tư tưởng chính trị mới chứa đựng những mục tiêu và phương pháp để một giai cấp tiến lên giành chính quyền. Hệ tư tưởng chính trị xác định mối quan hệ giữa giai cấp này với giai cấp khác. Hệ tư tưởng chính trị mô tả chế độ chính trị, xác định hình thức và bản chất Nhà nước, các cơ chế phân chia quyền lực chính trị. Hệ tư tưởng chính trị xác định mục tiêu, nội dung và phương thức lãnh đạo, quản lý xã hội. Trong quan hệ với thể chế chính trị, hệ tư tưởng chính trị là mục đích, là nội dung của thể chế đó. Hệ tư tưởng chính trị nào thì xác định thể chế chính trị đó; trong quan hệ với hệ thống chính trị, hệ tư tưởng chính trị là  là “hạt nhân tinh thần”, là phần “linh hồn” của hệ thống đó. Khổng Tửː Triết gia Khổng Tử (551– 471 TCN) là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên có cách tiếp cận riêng đến Học thuyết chính trị. Căn bản trong học thuyết của ông là "quân tử (người cầm quyền) nên học tự kỷ luật, nên cai trị người dân của mình bằng chính gương của mình, và nên đối xử với họ bằng tình thương và sự quan tâm." Niềm tin chính trị của ông gắn chặt với luân thường đạo lý và đạo đức cá nhân. Ông cho rằng chỉ những người quân tử liêm khiết và tuân theo đạo của người quân tử thì mới được cầm quyền, và những tư cách của những nhân vật đó phải kiên định với địa vị trong xã hội. Ông ta cũng nói rằng "Triều đại tốt cốt ở vua làm tròn bổn phận của vua, bề tôi làm tròn bổn phận của bề tôi, cha làm tròn bổn phận của cha, và con làm tròn bổn phận của con." Platoː Triết gia Hy Lạp cổ đại Plato (428– 328 TCN) nói trong sách Nền Cộng hòa "(The Republic)" rằng tất cả những chế độ chính trị theo truyền thống như (dân chủ, quân chủ, chính thể đầu sỏ,chính thể hào hiệp - democracy, monarchy, oligarchy và timarchy) vốn đã đồi bại, tham nhũng và nhà nước nên được điều hành bởi tầng lớp những người cầm quyền cũng là triết gia được giáo dục tốt. Họ được đào tạo từ lúc chào đời và được chọn dựa trên năng lực: "những người có kỹ năng đặc biệt về quan sát tổng quan xã hội." Aristotleː Trong cuốn Chính trị của mình, triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384–322 TCN) quả quyết rằng về bản chất, con người là một động vật chính trị. Ông ta cho rằng luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau, và một đời sống thật sự đạo đức chỉ có thể có ở những người tham gia vào chính trị. Giống như Plato, Aristotle thấy rằng có nhiều hình thức nhà nước khác nhau, và ông cho rằng hình thức "đúng" của nhà nước có thể biến thành một hình thức nhà nước "lệch lạc", nơi mà thể chế bị mục nát. Theo ông, chế độ quân chủ, có một người cai trị, sẽ biến thành chuyên chế; chế độ quý tộc, với một nhóm nhỏ người cai trị, sẽ biến thành chính thể đầu sỏ; và xã hội có tổ chức "(polity)" do nhiều người dân cùng cai trị thì sẽ biến thành chế độ dân chủ. Theo nghĩa này, Aristotle không dùng từ "democracy" như nghĩa hiện nay là nó mang nghĩa rộng, nhưng có nghĩa đen là do "demos", hay thường dân cai trị. Một cái nhìn chính xác hơn về dân chủ mà Aristotle đề cập đến chỉ là chính quyền quần chúng "(ochlocracy)". Niccolò Machiavelliː Trong sách của mình, cuốn "The Prince" (Quân vương), nhà lý luận chính trị người Ý ở giai đoạn Phục Hưng ông Niccolò Machiavelli đề nghị một tầm nhìn thế giới về chính trị để miêu tả các phương pháp thực tế cho chế độ chuyên quyền để giành và giữ quyền lực chính trị. Ông thường được xem là người phản đối quan điểm đạo đức truyền thống đối với người cầm quyền: "đối với Machiavelli, không có nền tảng đạo đức mà ở đó phân xử sự khác nhau giữa việc sử dụng quyền lực hợp pháp hay bất hợp pháp." Thuật ngữ Machiavellian "(cũng có nghĩa là xảo quyệt)" ra đời, đề cập đến một người thiếu đạo đức dùng các cách mánh khóe để cố thủ quyền hành. Học thuyết của ông đã được các lãnh đạo học tập và thực hành kể cả những lãnh đạo chuyên chế toàn trị như Benito Mussolini và Adolf Hitler, những người đã biện hộ cho việc hành động tàn bạo của mình là cho mục đích an toàn quốc gia. Tuy nhiên, nhiều học giả đã nghi vấn quan điểm này của chủ thuyết Machiavelli, cho rằng "Machiavelli không sáng tạo ra chủ nghĩa Machiavelli", và chưa từng là một 'Machiavellian' quỷ quyệt như ông đã bị gán cho." Thay vào đó, Machiavelli xem trạng thái ổn định của quốc gia là mục tiêu quan trọng hàng đầu, và tranh luận rằng theo truyền thống phẩm chất tốt được xem là khát vọng mang tính đạo đức, như tính độ lượng, đã không được ưa thích đối với người lãnh đạo và có thể dẫn đến việc mất quyền lực chính trị.John Stuart Millː Vào thế kỷ XIX, John Stuart Mill là người đi tiên phong trong việc dùng khái niệm tự do trong chính trị. Ông ta đã thấy được rằng dân chủ sẽ là sự phát triển chính trị chủ chốt trong thời đại ông ta và, trong cuốn "Bàn về tự do" (On Liberty) của mình, ông đã cổ vũ cho việc bảo vệ tốt hơn các quyền cá nhân và chống lại ảnh hưởng của nhà nước và sự cầm quyền của đa số. Ông ta cho rằng tự do là quyền quan trọng nhất của loài người. Một nhà bình luận cho rằng cuốn "Bàn về tự do" như là một lời bảo vệ hùng hồn và mạnh mẽ nhất cho chủ nghĩa tự do chúng ta có." Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do ngôn luận, và tuyên bố rằng "chúng ta không thể chắc chắn rằng ý kiến mà chúng ta cố gắng ngắt lời là ý kiến sai trái, và nếu chúng ta chắc chắn như vậy thì việc ngắt lời vẫn là điều sai quấy."" Karl Marx là một trong số những nhà tư tưởng chính trị có ảnh hưởng trong lịch sử. Học thuyết của ông chỉ trích chủ nghĩa tư bản và ông biện luận rằng trong tương lai sẽ có "sự suy tàn không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản vì các nguyên nhân kinh tế, và được thay thế bởi chủ nghĩa xã hội." Ông ta định nghĩa lịch sử có liên quan đến đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản, hay giai cấp sở hữu tư liệu sản xuất, và giai cấp vô sản, hay giai cấp lao động. Cuộc đấu tranh được sự công nghiệp hóa tăng cường. Nhiều phong trào chính trị sau đó dựa trên tư tưởng của Marx, cho ra các phiên bản rất khác nhau của chủ nghĩa cộng sản; bao gồm Chủ nghĩa Marx-Lenin, Chủ nghĩa Mao, và Chủ nghĩa Marx tự do. Có thể nói rằng người đã người thể hiện học thuyết chủ nghĩa Marx có ảnh hưởng nhất là Lenin, người sáng lập ra Liên Xô. Ông đã sáng tạo học thuyết cách mạng dựa trên nền tảng tư tưởng Marx. Tuy nhiên, những nhà tư tưởng theo Chủ nghĩa Marx tự do đã thách thức sự diễn dịch chủ nghĩa Marx của Lenin; như trường hợp Cornelius Castoriadis, đã miêu tả nhà nước Liên Xô là một hình thức của "chủ nghĩa tư bản quan liêu" hơn là nhà nước cộng sản thực sự. Thể chế chính trị. Thể chế chính trị (Political Institute) là những quy định, quy chế, chuẩn mực, quy phạm, nguyên tắc, luật lệ khác là những dạng thức cấu trúc tổ chức, các bộ phận chức năng cấu thành của một chủ thể chính trị hay hệ thống chính trị. Thể chế chính trị là hình thức biểu hiện của hệ tư tưởng chính trị, là "con đẻ" của hệ tư tưởng chính trị. Hệ thống chính trị là một bộ phận cấu thành của thể chế chính trị. Thể chế chính trị tồn tại dưới hai dạng thức: Các quy định, quy chế, quy phạmː Những điều này tồn tại trong các tuyên ngôn về Cương Lĩnh chính trị, điều lệ của một Đảng cầm quyền, những chỉ thị, Nghị quyết của Đảng đó. Đồng thời cũng là các quy định Pháp luật mang tính thành văn hoặc bất thành văn của một quốc gia do giai cấp thống trị ban hành và cưỡng chế thực hiện trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia đó. Các quy phạm pháp luật này là tồn tại chủ yếu của thể chế chính trị dưới dạng này và chứa trong các Hiến pháp, pháp luậ Các hình thức cấu trúc tổ chức. Điều này hàm chỉ các tổ chức là thực thể cấu thành hệ thống chính trị có chức năng thực thi quyền lực chính trị Tổ chức chính trị. Tổ chức chính trị hay Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các thiết chế quyền lực chính trị, được xã hội thừa nhận bao gồm các tổ chức chính trị như Đảng phái, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội có mối quan hệ mang tính pháp quy với nhau cùng liên kết nhằm thực hiện mục tiêu chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Cấu thành hệ thống chính trị bao gồm các thực thể nhưː Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức đại diện cho các lực lượng khác nhau trong xã hội. Đảng phái chính trị. Đảng là một tổ chức xã hội tự nguyện, tập hợp những người có những đặc điểm chung nhất định, tuân thủ theo những quy tắc nhất định, cùng thực hiện những nhiệm vụ nhất định nhằm thỏa mãn mục tiêu nào đó. Khi một Đảng có mục tiêu chính trị, tập hợp những người có chung một đặc điểm là cùng một giai cấp, cùng có mong muốn đấu tranh giành quyền lực chính trị, thì Đảng đó là Đảng chính trị Đảng chính trị là bộ phận tích cực nhất và có tổ chức của một giai cấp, làm công cụ đấu tranh cho lợi ích của giai cấp mình. Các Đảng chính trị xuất hiện ngay từ những giai đoạn phát triển đầu tiên của xã hội có giai cấp, gắn liền với những sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp và của các tập đoàn hợp thành giai cấp. Nhưng lịch sử thực sự của các Đảng chính trị chỉ bắt đầu từ thời kì Đại cách mạng tư sản Pháp (cuối thế kỷ XVIII). Đảng chính trị là một tổ chức xã hội tự nguyện, liên minh của những người cùng tư tưởng, theo đuổi những mục đích chính trị nhất định; cố gắng giành ảnh hưởng lãnh đạo đối với đời sống chính trị và tổ chức xã hội, ra sức giành và giữ chính quyền để thực hiện đường lối của mình. Là một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng, Đảng chính trị hành động bằng thuyết phục, truyền bá các quan điểm tư tưởng, bằng cách tập hợp những người cùng chí hướng. Đảng chính trị có những phương tiện vật chất như các cơ quan báo chí, thông tin và xuất bản. Đảng thu hút vào hàng ngũ của mình bộ phận tích cực nhất của giai cấp, chứ không bao giờ toàn bộ giai cấp. Tùy theo giai cấp đóng vai trò như thế nào trong đời sống và trong sự phát triển xã hội (vai trò cách mạng tiến bộ, bảo thủ, phản động) mà đảng của nó thể hiện vai trò đại diện cho lợi ích của giai cấp. Nhà nước là một thiết chế quyền lực đặc biệt, là một công cụ do Đảng chính trị và giai cấp thống trị lập ra nhằm duy trì sự thống trị và đảm bảo quyền lợi của giai cấp đó, đồng thời trấn áp giai cấp, tầng lớp khác. Về hình thức, tuỳ vào từng quan hệ sản xuất xã hội khác nhau trong lịch sử mà tồn tại các kiểu và các hình thức Nhà nước khác nhau. Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, có bốn phương thức hình thành Nhà nước gồm: Phương thức Aten, Phương thức Roma cổ  đại, phương thức Giec  - manh và phương thức phương Đông cổ đạiỞ xã hội phong kiến, quyền lực tập trung mạnh mẽ vào một vị vua được gọi là "thiên tử". Do đó, vua là người đứng đầu nắm toàn bộ quyền hành điều khiển Nhà nước, tiếp đến là hệ thống quan lại, quý tộc từ trung ương đến địa phương. Sang chế độ tư bản chủ nghĩa thì Nhà nước được tổ chức theo học thuyết Tam quyền phân lập với nhiều hình thức khác nhau: Chính thể quân chủ lập hiến, chính thể cộng hoà tổng thống, chính thể cộng hoà đại nghị. Đặc điểm chung của Nhà nước tư sản là sự phân chia quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền này độc lập, đối trọng, kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau. Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng quyền lực Nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân, nhưng có sự phân chia với nhau trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng, là trụ cột của hệ thống chính trị. Thông qua các cơ chế quyền lực, Nhà nước  quản lý toàn bộ các mặt của đời sống xã hội: Quyền lập pháp giúp Nhà nước ban hành pháp luật, quyền hành pháp giúp Nhà nước tổ chức và thực thi pháp luật, quản lý nền sản xuất, quản lý đời sống xã hội, quyền tư pháp giúp Nhà nước kiểm sát và xét xử các hành vi vi phạm pháp luật, chống lại chế độ kinh tế, chính trị của quốc gia, dân tộc..Hoạt động của Nhà nước chính là trung tâm của sự vận hành hệ thống chính trị. Các tổ chức liên minh đại diện. Các tổ chức liên minh, liên kết, đại diện cho các lực lượng khác nhau trong xã hội. Đó là các tổ chức đoàn kết toàn dân tộc, các tổ chức đại diện cho quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Các tổ chức này góp phần tham gia vào hoạt động của hệ thống chính trị trong việc tạo ra khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ lợi ích cho các giai tầng xã hội trước giai cấp thống trị. Một mặt các tổ chức này đóng vai trò lớn trong hệ thống chính trị, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống này; mặt khác, trong nhiều trường hợp chính các tổ chức này lại là nguyên nhân phá vỡ hệ thống chính trị hiện thời. Đó là khi một giai cấp tiến bộ trong lịch sử ra đời, có tổ chức tiên phong, đại diện xong chưa nắm được quyền lực chính trị. Khi đó, thông qua con đường bạo lực cách mạng, nó sẽ lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị lỗi thời, lạc hậu, cũng tức là đạp đổ hệ thống chính trị hiện thời để xây dựng lên một hệ thống chính trị mới mang bản chất giai cấp của chính nó. Khoa học chính trị. Chính trị học là nghiên cứu quyền lực chính trị, phương thức giành quyền lực chính trị, các thiết chế và các hình thức tổ chức thực hiện quyền lực chính trị, các kiểu hệ thống chính trị đã có trong lịch sử và đang tồn tại trong thời đại ngày nay. Chính trị học cũng nghiên cứu quá trình hoạt động chính trị nhằm giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực chính trị. Chú ý nghiên cứu làm rõ các vấn đề: mục tiêu chính trị trước mắt và mục tiêu lâu dài mang tính hiện thực; những biện pháp, phương tiện, thủ thuật, hình thức tổ chức có hiệu quả để đạt các mục tiêu đề ra; sự lựa chọn và sắp xếp cán bộ. Chính trị học cũng nghiên cứu các mối quan hệ về lí luận chính trị của các chế độ xã hội. Triết học chính trị. Triết học chính trị nghiên cứu các vấn đề cơ bản về nhà nước, chính quyền, chính trị, tự do, công lý, tài sản, quyền, luật và việc thực thi luật pháp bởi các cơ quan thẩm quyền. Mục tiêu nghiên cứu của triết học chính trị nhằm lý giải về mối quan hệ cũng như sự tồn tại của các vấn đề trên một cách thấu đáo bởi các nhà triết học; cụ thể là trả lời các câu hỏi như những yếu tố kể trên là gì, tại sao lại phải có chúng, cái gì khiến cho chính quyền là hợp pháp, những quyền và tự do nào cần được bảo vệ và tại sao, luật pháp là gì và khi nào có thể hủy bỏ luật một cách hợp lẽ. Xã hội học chính trị. Xã hội học chính trị đương đại liên quan đến, nhưng không giới hạn, việc nghiên cứu về các mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và công dân. Nghiên cứu về sự hình thành chính trị xã hội của nhà nước hiện đại; sự bất bình đẳng xã hội giữa các nhóm (giai cấp, chủng tộc, giới tính) ảnh hưởng đến chính trị như thế nào; các quan điểm, tư tưởng, tính cách, phong trào xã hội và xu hướng bên ngoài của các tổ chức chính thức của quyền lực chính trị ảnh hưởng đến chính trị chính thức; nghiên cứu mối quan hệ quyền lực trong và giữa các nhóm xã hội (ví dụ như gia đình, nơi làm việc, quan liêu, truyền thô). Nói cách khác, xã hội học chính trị thường liên quan đến các xu thế xã hội, hệ thống chính trị ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động chính trị cũng như tìm hiểu xem các lực lượng xã hội khác nhau làm việc cùng nhau như thế nào để thay đổi các chính sách chính trị. Từ quan điểm này, chúng ta có thể xác định ba khung lý thuyết chính đó làː đa nguyên, lý thuyết ưu tú hoặc quản lý và phân tích lớp (mà trùng lặp với chủ nghĩa Mác phân tích) Kinh tế chính trị học. Kinh tế chính trị học là một môn khoa học xã hội nằm trong khoa học kinh tế, nghiên cứu về kinh tế để rút ra các kết luận về kinh tế và từ đó rút ra các kết luận về chính trị. Theo Enghen: “Kinh tế chính trị học theo nghĩa rộng nhất là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất và sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người…”  Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị học nghiên cứu một phương thức sản xuất cụ thể và tìm ra quy luật vận động của riêng nó. Kinh tế chính trị học là môn khoa học xã hội nghiên cứu những cơ sở kinh tế chung của đời sống xã hội tức là các quan hệ kinh tế trong những giai đoạn nhất định của xã hội loài người. Xã hội chính trị. Địa chính trị (tiếng Anh: "Geo-politics") là lĩnh vực nghiên cứu về tác động của các yếu tố địa lý tới hành vi của các quốc gia và quan hệ quốc tế. Cụ thể, địa chính trị xem xét việc các yếu tố như vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số, hay địa hình tác động như thế nào tới chính sách đối ngoại của một quốc gia và vị thế của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế. Tham nhũng chính trị. Tham nhũng chính trị là việc sử dụng quyền lực của các quan chức chính phủ vì lợi ích cá nhân bất hợp pháp. Hành vi bất hợp pháp của một chủ văn phòng chỉ là tham nhũng chính trị chỉ khi hành động đó liên quan trực tiếp đến các nghĩa vụ chính thức của họ, được thực hiện theo luật màu sắc hoặc liên quan đến việc buôn bán ảnh hưởng Các hình thức tham nhũng khác nhau, bao gồm hối lộ, tống tiền, chủ nghĩa địa phương, bảo trợ, ảnh hưởng đến việc bán rong và biển thủ. Tham nhũng có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hình sự như buôn lậu ma túy, rửa tiền và buôn bán người, mặc dù không hạn chế trong các hoạt động này. Sử dụng sai quyền lực của chính phủ cho các mục đích khác, như đàn áp các đối thủ chính trị và tàn bạo của cảnh sát nói chung. Các hoạt động tạo thành sự tham nhũng bất hợp pháp khác nhau tùy thuộc vào quốc gia hoặc thẩm quyền. Ví dụ, một số thực tiễn về chính sách tài chính hợp pháp tại một nơi có thể là bất hợp pháp ở một nơi khác. Trong một số trường hợp, các quan chức chính phủ có quyền hạn rộng hoặc không rõ ràng, làm cho việc phân biệt giữa các hành động pháp lý và bất hợp pháp rất khó khăn. Trên toàn cầu, hối lộ ước tính khoảng hơn 1 nghìn tỷ đô la Mỹ mỗi năm.  Một quốc gia tham nhũng chính trị tự do được biết đến như một nhà kleptocracy, nghĩa đen là "cai trị bởi kẻ trộm". Một số hình thức tham nhũng - hiện nay được gọi là "tham nhũng về thể chế"  - được phân biệt với hối lộ và các loại lợi ích cá nhân rõ rệt khác. Một vấn đề tương tự về tham nhũng phát sinh trong bất kỳ tổ chức nào phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính từ những người có quyền lợi có thể mâu thuẫn với mục đích chính của tổ chức. Chính trị toàn cầu. Chính trị toàn cầu đặt tên cho cả hai lĩnh vực nghiên cứu các mô hình chính trị và kinh tế của thế giới và lĩnh vực đang được nghiên cứu. Trọng tâm của lĩnh vực đó là các quá trình toàn cầu hoá chính trị khác nhau liên quan đến vấn đề quyền lực xã hội. Các ngành học nghiên cứu các mối quan hệ giữa các thành phố, quốc gia-quốc gia, vỏ-các quốc gia, các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủvà các tổ chức quốc tế.  khu vực hiện tại của cuộc thảo luận bao gồm quốc gia và dân tộc quy định mâu thuẫn, dân chủ và chính trị của quốc gia tự quyết, toàn cầu hóa và mối quan hệ của mình để nghiên cứu chế độ dân chủ, xung đột và hòa bình, chính trị so sánh, kinh tế chính trị, và kinh tế chính trị quốc tế về môi trường. Một lĩnh vực quan trọng của chính trị toàn cầu là cuộc tranh luận trong lĩnh vực chính trị toàn cầu về tính hợp pháp.  Có thể lập luận rằng, chính trị toàn cầu nên được phân biệt với lĩnh vực chính trị quốc tế, nhằm tìm hiểu mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia, và do đó có một phạm vi hẹp hơn. Tương tự, quan hệ quốc tế nhằm tìm hiểu mối quan hệ kinh tế và chính trị chung giữa các quốc gia, là một lĩnh vực hẹp hơn chính trị toàn cầu. Thủ lĩnh chính trị. Thủ lĩnh chính trị là một cá nhân kiệt xuất trong lĩnh vực chính trị, xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cách mạng của quần chúng ở những điều kiện lịch sử nhất định, có sự giác ngộ về lợi ích, mục tiêu và lý tưởng của giai cấp, có tri thức, có năng lực tổ chức và tập hợp quần chúng để giải quyết những nhiệm vụ chính trị do lịch sử đặt ra. Một số thủ lĩnh chính trị nổi tiếng nhưː Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Cuba Fidel Castro, Chủ tịch Mao Trạch Đông Quyền lực chính trị. Quyền lực là sức mạnh để thực hiện  hành vi tác động đến người khác thông qua sự thừa nhận của họ. Quyền lực là năng lực buộc người khác phải thực hiện ý chí của mình. Quyền lực là một quan hệ xã hội đặc biệt, xuất hiện khi có sự chỉ huy  -  phục tùng của một người hay một nhóm người đối với một người hay một nhóm người khác. Nếu chỉ có chủ thể quyền lực mà không có đối tượng chịu sự tác động của quyền lực thì quyền lực đó là rỗng không Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội để đạt mục đích thống trị xã hội, thoả mãn lợi ích giai cấp mình. Đặc điểm của quyền lực chính trị là quyền lực xã hội nhằm để giải quyết lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia, nhân loại; là khả năng áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị có lợi cho một giai cấp; là sức mạnh bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác. Đấu tranh chính trị. Đấu tranh chính trị là việc sử dụng các phương tiện chính trị buộc một đối thủ phải làm theo ý muốn, dựa trên ý định thù địch. Thuật ngữ chính trị mô tả tương tác được tính toán giữa chính phủ và đối tượng mục tiêu bao gồm cả số dân của chính phủ, quân đội hoặc tổng dân số của một quốc gia khác. Các chính phủ sử dụng nhiều kỹ thuật để ép buộc các hành động nhất định, qua đó đạt được lợi thế tương đối so với đối thủ. Các kỹ thuật bao gồm các hoạt động tuyên truyền và tâm lý, phục vụ mục tiêu quốc gia và quân sự tương ứng. Tuyên truyền có nhiều khía cạnh và một mục đích chính trị thù địch và cưỡng chế. Các hoạt động tâm lý là dành cho các mục tiêu chiến lược và chiến thuật quân sự và có thể được dành cho các nhóm quân đội và dân sự thù địch Mục tiêu cuối cùng của đấu tranh chính trị là thay đổi quan điểm và hành động của đối phương nhằm ủng hộ lợi ích của một quốc gia mà không sử dụng quyền lực quân sự. Kiểu thuyết phục hoặc ép buộc có tổ chức này cũng có mục đích thực tế để cứu mạng sống bằng cách tránh sử dụng bạo lực nhằm mục đích chính trị hơn nữa. Do đó, chiến tranh chính trị cũng liên quan đến "nghệ thuật làm bạn bè nồng nhiệt và làm phiền kẻ thù, giúp đỡ vì một người gây ra và từ bỏ kẻ thù" Phong trào chính trị. Phong trào chính trị là một nhóm xã hội hoạt động, hành động cùng nhau để đạt được mục tiêu chính trị, trên phạm vi địa phương, khu vực, quốc gia hoặc quốc tế. Các phong trào chính trị phát triển, điều phối,  ban hành,  sửa đổi, diễn giải và sản xuất các tài liệu nhằm mục đích giải quyết các mục tiêu nhất định nào đó. Một phong trào xã hội trong lĩnh vực chính trị có thể được tổ chức xung quanh một vấn đề hoặc tập hợp các vấn đề hoặc xung quanh một tập hợp các mối quan tâm chung của một nhóm xã hội. Trong một đảng chính trị, một tổ chức chính trị cố gắng gây ảnh hưởng hoặc kiểm soát chính sách của chính phủ, thường bằng cách chỉ định ứng cử viên của họ và ứng cử viên vào các vị trí chính trị và chính phủ. Ngoài ra, các bên tham gia vào các chiến dịch bầu cử và tiếp cận giáo dục, kháng nghị những hành động nhằm thuyết phục công dân hoặc các chính phủ phải có hành động về các vấn đề và mối quan tâm đó là trọng tâm của phong trào. Kinh tế chính trị. Kinh tế chính trị là các quá trình và hiện tượng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, bản chất, quy luật chi phối sự vận động của các quá trình, hiện tượng kinh tế khách quan vận dụng vào các hoạt động kinh tế để đạt hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở phân tích quá trình, hiện tượng,dự báo. Kinh tế chính trị không dựa vào đơn thuần tiến trình lịch sử, mô tả đơn thuần các sự kiện lịch sử mà căn cứ vào tiến trình lịch sử phát triển của các quan hệ sản xuất, dùng phương pháp tư duy và lý luận lôgic để vạch ra những quy luật kinh tế chi phối sự vận động của mỗi phương thức sản xuất. Kinh tế chính trị không chỉ dừng lại ở tiếp cận các sự kiện mà phải thâm nhập vào bản thân đời sống kinh tế xã hội, chỉ ra các phương pháp vận dụng lý thuyết kinh tế vào đời sống thực tế. Ngoài ra, Kinh tế chính trị là ngành nghiên cứu những quan hệ sản xuất của con người trong mối liên hệ qua lại với lực lượng sản xuất, với kiến trúc thượng tầng. Nó đi sâu vạch rõ bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế để rút ra quy luật chi phối sản xuất, phân phối, trao đối, tiêu dùng, tức là rút ra các quy luật kinh tế của sự vận động xã hội. Đối tượng của kinh tế chính trị là nghiên cứu một cách toàn diện, tổng hợp về các quan hệ sản xuất. Văn hóa chính trị. Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra hoặc tác động vào nhằm phục vụ mục đích cuộc sống con người. Văn hóa chính trị là một lĩnh vực, một biểu hiện đặc biệt của văn hóa của loài người trong xã hội có giai cấp, văn hóa chính trị được hiểu là trình  độ phát triển của con người thể hiện ở trình độ hiểu biết về chính trị, trình độ tổ chức hệ thống tổ chức quyền lực theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định nhằm  điều hòa các quan hệ lợi ích giữa các giai cấp và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ xã hội. Sẽ là rất khó nếu có thể liệt kê tất cả các các giá trị, chuẩn mực của văn hoá chính trị. Nhưng  trong tất cả các kiểu, các hình thức văn hoá chính trị, có thể xem xét các hệ giá trị cấu thành một nền văn hoá chính trị như sauː trình độ giác ngộ lý luận chính trị, lập trường, quan điểm của giai cấp. Hệ thống các giá, trị chuẩn mực phù hợp với lợi ích của giai cấp được cụ thể hoá dưới dạng các quy phạm pháp luật, có chức năng điều chỉnh hành vi của toàn xã hội. Tập hợp những giá trị được quy phạm hoá thành những chuẩn mực có chức năng điều chỉnh các chủ thể tham gia vào đời sống chính trị Nhân vật chính trị. Chính khách hay Nhà Chính trị hay Chính trị gia là một người hoạt động tích cực trong Đảng chính trị hoặc một người giữ hoặc tìm kiếm vị trí trong Chính phủ. Ở các quốc gia dân chủ, các chính trị gia tìm kiếm các vị trí tự chọn trong chính phủ thông qua bầu cử hoặc, đôi khi, bổ nhiệm tạm thời để thay thế các chính trị gia đã chết, từ chức hoặc đã bị bãi nhiệm.Tại các quốc gia phi dân chủ, họ sử dụng các phương tiện khác để đạt được quyền lực thông qua cuộc hẹn, hối lộ, cuộc cách mạng và mưu đồ. Một số chính trị gia cũng có kinh nghiệm trong nghệ thuật hoặc khoa học. Các nhà chính trị đề xuất, hỗ trợ và tạo ra các luật lệ hoặc chính sách chi phối đất đai. Nói chung, một "nhà chính trị" có thể là bất cứ ai đang tìm cách đạt được quyền lực chính trị ở bất kỳ cơ quan hành chính nào. Chính khách của bất cứ quốc gia nào cũng phải biết diễn thuyết nghĩa là hùng biện, có ngữ điệu, diễn giải có logic, nói đúng, rõ ràng bản chất sự việc, nguyên nhân các vấn đề và các giải pháp khắc phục. Chính khách là một nghề nên rất chuyên nghiệp do đó họ rất giữ danh giá, gắn bó với cộng đồng (đối tượng mà họ kiếm phiếu). Chính trị chính là sản phẩm của chính khách. Học giả chính trị là người chuyên nghiên cứu, tìm hiểu sâu, chi tiết về lĩnh vực chính trị. Đó là những người tự học, thường xuyên, không mệt mỏi và có phương pháp tiếp cận tốt đối với lĩnh vực chính trị. Các học giả chính trị thường có ảnh hưởng, đóng góp, cống hiến quan trọng trong lĩnh vực chính trị thường có các giải thưởng cao quý hoặc được vinh danh ở cấp độ quốc gia hoặc quốc tế. Các công trình nghiên cứu của họ có tầm ảnh hưởng quan trọng trong lĩnh vực giáo dục cao cấp, ảnh hưởng đến một số trường đại học. Ngoài ra các học giả chính trị cũng là một giáo sư đại học, nhà văn chính trị, nhà phê bình chính trị, phóng viên chính trị hoặc giữ các chức vụ quan trọng trong các trường đào tạo về chính trị.
Vanxơ hay van (; ; ) là loại nhạc nhảy xuất phát từ châu Âu với nhịp ba. Có những thể loại sau: Wien Waltz (Lướt nhanh), Boston Waltz (Vừa phải), Slow Waltz (Chậm) và cả Jazz Waltz. Ngoài ra Waltz còn có một số những loại điệu biến thể như Minuet và Scherzo. Tuy nhiên cũng có thể dùng điệu này trong việc lồng ghép hoặc những bài hát. Waltz bắt nguồn từ "walzen" trong tiếng Đức cổ, nghĩa là "uốn", "xoay" hoặc "lướt đi", là một điệu nhảy trong khiêu vũ cổ điển và folk dance (nhảy dân gian), theo nhịp 3/4. Waltz ra đời ở ngoại ô thành Viên (Áo) và ở những vùng núi cao của nước Áo. vào khoảng giữa những năm 1780, điệu waltz bắt đầu thịnh hành khi nó được biểu diễn trong các lễ hội khiêu vũ tại cung điện Hapsburg, rồi dần dần lan ra các quốc gia khác trong những năm sau đó. Mặc dù vào thời kỳ đầu, waltz bị phản đối khá kịch liệt nhưng về sau waltz, đặc biệt là tư thế của nó, đã trở thành hình mẫu cho các điệu khiêu vũ khác. Vào thế kỷ 19 và 20, nhiều biến thể mới của waltz ra đời và phát triển, bao gồm các điệu waltz theo nhịp 2/4, nhịp 6/8 và cả nhịp 5/4. Giữa thế kỷ 18, điệu allemande - điệu nhảy dân gian Đức, một hình thái của điệu waltz trở nên rất phổ biến ở Pháp. Lúc đầu, điệu nhảy này chỉ có tư thế tay của các vũ công bắt chéo mỗi khi di chuyển, giống tư thế của một số điệu nhảy dân gian khác, nhưng nó đã nhanh chóng cải biến thành một điệu nhảy độc lập với tư thế tay ôm ngang lưng và tay còn lại đưa lên không trung, như những gì chúng ta thấy ở điệu waltz ngày nay. Đến cuối thế kỷ 18, điệu nhảy dân dã cổ điển có nguồn gốc từ nước Áo này mới được tầng lớp quý tộc châu Âu chấp nhận, và dù tư thế thay đổi nhưng nó vẫn giữ nguyên nhịp điệu 3/4 của mình. Tuy nhiên, việc phản đối điệu waltz vào thời đó vẫn còn tiếp tục. Các vũ sư chuyên nghiệp nhận thấy sự đe doạ tiềm tàng của điệu nhảy này đối với nghề nghiệp của họ; vì các bước đi cơ bản của waltz rất dễ học trong một thời gian tương đối ngắn, trong khi, điệu minuet (mơ-nu-et) và các điệu nhảy quý tộc khác đòi hỏi phải luyện tập thường xuyên bởi chúng bao gồm việc học những kỹ thuật khá phức tạp lẫn việc thay đổi khoảng cách và cách di chuyển của người nhảy. Điệu waltz cũng bị phản đối xét trên phương diện đạo đức bởi những cá nhân cho rằng tư thế ôm ngang lưng tương đối sát người nhau của đôi bạn nhảy và cả bước xoay ngửa người trong waltz. Đặc biệt là những nhà lãnh đạo tôn giáo coi đó như một hành vi thô tục và tội lỗi. Một phiên toà xuyên lục địa đã diễn ra dai dẳng nhằm chống lại waltz. Cũng vì lý do đó mà waltz được chấp nhận khá muộn ở Anh, vùng đất của các giáo phái. Tháng 7 năm 1816, điệu waltz được đưa vào trình diễn trong một buổi khiêu vũ ở Luân Đôn bởi hoàng thân nhiếp chính. Ngay sau đó ít ngày một bài xã luận trên tờ "Thời Đại" ("The Times") đã nghiêm khắc phê bình: "Chúng tôi vô cùng xót xa khi biết rằng một điệu nhảy không đứng đắn của nước ngoài được gọi là Waltz đã được đưa ra giới thiệu (vì chúng tôi tin chắc đây là lần đầu) tại triều đình Anh vào thứ 6 vừa qua… thật là quá đủ khi phải chứng kiến một tư thế khêu gợi, hai tay của đôi bạn nhảy đan vào nhau và khoảng cách cơ thể lại quá gần khi họ nhảy, cũng quá đủ khi nhận ra rằng sự kín đáo trang nhã, vốn được coi như một nét đặc trưng của phụ nữ Anh kể từ trước đến nay, đã bị loại bỏ bởi điệu nhảy này. Chừng nào mà điệu nhảy tục tĩu này còn gắn liền với gái mại dâm và những người đàn bà lẳng lơ thì, chúng tôi nghĩ rằng, nó không đáng được để ý tới. Nhưng giờ đây khi nó đã len lỏi vào giới quý tộc, chúng tôi nhận thấy phải có nghĩa vụ cảnh báo các bậc phụ huynh đừng để con gái của các vị đến gần sự lây lan chết người này. Thậm chí đến cuối năm 1866, trong 1 bài xã luận trên một tạp chí tiếng Anh, Belgravia đã viết: ""Sau nhiều ngày đi công tác xa về và rồi ta bắt gặp chị em mình, vợ mình, với một thái độ thiếu cảnh giác nhất, để cho một kẻ lạ mặt nắm tay, ôm chặt ngang người, bước lòng vòng trong căn hộ nhỏ, và lý do duy nhất cho tất cả chuyện này gắn tên "âm nhạc", thì ta có thể ít nhiều nhận ra sự nguy hiểm của điệu nhảy ma quái này."" Rất nhiều lời phản đối đến từ phía những người lớn tuổi, nhưng ít ai biết nữ hoàng Victoria của Anh là một chuyên gia rất điêu luyện và dành nhiều tình cảm cho điệu waltz! Nhưng lịch sử tự thân nó cứ lặp đi lặp lại và sự phản đối chỉ càng làm cho waltz ngày càng lan rộng. Sau Cách mạng Pháp, giai cấp tư sản nhanh chóng nồng nhiệt đón nhận waltz. Riêng Pari đã có tới gần 700 vũ trường khiêu vũ cổ điển! Một du khách người Đức khi đến Pari vào năm 1804 đã nói: "Tình yêu đối với điệu waltz cũng như sự du nhập của điệu nhảy có nguồn gốc Đức này khá mới mẻ và đã trở thành một trong nhưng mốt mới dân dã kể từ sau chiến tranh, giống như thuốc lá vậy". Điệu waltz lần đầu tiên được giới thiệu ở Mỹ là vào năm 1834 ở Boston. Lorenzo Papanti, một vũ sư người Boston, đã trình diễn tại dinh thự Beacon Hill của phu nhân Otis. Nhiều người trong giới thượng lưu đã rất kinh ngạc trước những gì mà họ gọi là "một cuộc trình diễn thô tục". Đến giữa thế kỷ 19, waltz mới có một vị trí vững chắc trong xã hội Mỹ. Âm nhạc đóng một vai trò rất quan trọng trong khiêu vũ, và mọi điệu vũ đều phụ thuộc vào sự tương thích của nhạc nền. Điệu waltz đã trở nên nổi tiếng khoảng năm 1839 nhờ 2 nhà soạn nhạc thiên tài người Áo – Franz Lanner và Johann Straus. Đây là hai nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của thếy kỷ 19, họ đã đặt nền tảng cho điệu waltz Viên, một phiên bản tốc độ nhanh của waltz. Trong khoảng thế kỷ 19, hai phiên bản khác của điệu waltz cũng bắt đầu phát triển. Một điệu có tên là điệu nhảy Boston, với nhịp điệu chậm hơn và các bước di chuyển dài hơn. Mặc dù điệu nhảy này không còn tồn tại sau chiến tranh thế giới I, nó vẫn giữ phong cách nhảy của người Anh, hay còn gọi phong cách toàn cầu phát triển đến tận ngày nay. Biến tướng thứ hai của waltz là một điệu nhảy với phong cách một bước dài bằng 3 phách. Điệu nhảy này vẫn còn cho tới ngày nay. Điệu Waltz thường thấy trong những bản nhạc nhẹ, dân ca và nhạc cổ điển từ châu Âu. Tại Việt Nam, nó thường được viết trong những bản nhạc trước năm 1975. Một số bản nhạc viết ở điệu Waltz:
Trong mật mã học, Advanced Encryption Standard (tiếng Anh, viết tắt: AES, nghĩa là Tiêu chuẩn mã hóa tiên tiến) là một thuật toán mã hóa khối được chính phủ Hoa Kỳ áp dụng làm tiêu chuẩn mã hóa. Giống như tiêu chuẩn tiền nhiệm DES, AES được kỳ vọng áp dụng trên phạm vi thế giới và đã được nghiên cứu rất kỹ lưỡng. AES được chấp thuận làm tiêu chuẩn liên bang bởi Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Hoa Kỳ (NIST) sau một quá trình tiêu chuẩn hóa kéo dài 5 năm (Xem thêm: quá trình thiết kế AES). Thuật toán được thiết kế bởi hai nhà mật mã học người Bỉ: Joan Daemen và Vincent Rijmen. Thuật toán được đặt tên là "Rijndael" khi tham gia cuộc thi thiết kế AES. Rijndael được phát âm là "Rhine dahl" theo phiên âm quốc tế (IPA: [ɹaindal]). Quá trình phát triển. Thuật toán được dựa trên bản thiết kế Square có trước đó của Daemen và Rijmen; còn Square lại được thiết kế dựa trên Shark. Khác với DES sử dụng mạng Feistel, Rijndael sử dụng mạng thay thế-hoán vị. AES có thể dễ dàng thực hiện với tốc độ cao bằng phần mềm hoặc phần cứng và không đòi hỏi nhiều bộ nhớ. Do AES là một tiêu chuẩn mã hóa mới, nó đang được triển khai sử dụng đại trà. Mô tả thuật toán. Mặc dù 2 tên "AES" và "Rijndael" vẫn thường được gọi thay thế cho nhau nhưng trên thực tế thì 2 thuật toán không hoàn toàn giống nhau. AES chỉ làm việc với các khối dữ liệu (đầu vào và đầu ra) 128 bít và khóa có độ dài 128, 192 hoặc 256 bít trong khi Rijndael có thể làm việc với dữ liệu và khóa có độ dài bất kỳ là bội số của 32 bít nằm trong khoảng từ 128 tới 256 bít. Các khóa con sử dụng trong các chu trình được tạo ra bởi quá trình tạo khóa con Rijndael. Mỗi khóa con cũng là một cột gồm 4 byte. Hầu hết các phép toán trong thuật toán AES đều thực hiện trong một trường hữu hạn của các byte. Mỗi khối dữ liệu 128 bit đầu vào được chia thành 16 byte (mỗi byte 8 bit),có thể xếp thành 4 cột, mỗi cột 4 phần tử hay là một ma trận 4x4 của các byte,nó được gọi là ma trận trạng thái, hay vắn tắt là trạng thái (tiếng Anh: "state", trạng thái trong Rijndael có thể có thêm cột). Trong quá trình thực hiện thuật toán các toán tử tác động để biến đổi ma trận trạng thái này. Mô tả mức cao của thuật toán. Mở rộng khóa (KeyExpansion). Là quá trình tạo các vòng khóa từ khóa chính, mỗi khóa con chứa 4 byte. Quá trình mã hóa. Bao gồm các bước: Tại chu trình cuối thì bước MixColumns không thực hiện. Các byte được thế thông qua bảng tra S-box. Đây chính là quá trình phi tuyến của thuật toán. Hộp S-box này được tạo ra từ một phép biến đổi khả nghịch trong trường hữu hạn GF ("28") có tính chất phi tuyến. Để chống lại các tấn công dựa trên các đặc tính đại số, hộp S-box này được tạo nên bằng cách kết hợp phép nghịch đảo với một phép biến đổi affine khả nghịch. Hộp S-box này cũng được chọn để tránh các điểm bất động (fixed point). Xem thêm: Rijndael S-box. Các hàng được dịch vòng một số bước nhất định. Đối với AES, hàng đầu được giữ nguyên. Mỗi byte của hàng thứ 2 được dịch vòng trái một vị trí. Tương tự, các hàng thứ 3 và 4 được dịch vòng 2 và 3 vị trí. Do vậy, mỗi cột khối đầu ra của bước này sẽ bao gồm các byte ở đủ 4 cột khối đầu vào. Đối với Rijndael với độ dài khối khác nhau thì số vị trí dịch chuyển cũng khác nhau. Bốn byte trong từng cột được kết hợp lại theo một phép biến đổi tuyến tính khả nghịch. Mỗi khối 4 byte đầu vào sẽ cho một khối 4 byte ở đầu ra với tính chất là mỗi byte ở đầu vào đều ảnh hưởng tới cả bốn byte đầu ra. Cùng với bước ShiftRows, MixColumns đã tạo ra tính chất khuếch tán cho thuật toán. Mỗi cột được xem như một đa thức trong trường hữu hạn và được nhân với đa thức formula_1 (modulo formula_2). Vì thế, bước này có thể được xem là phép nhân ma trận trong trường hữu hạn. Tại bước này, khóa con được kết hợp với các khối. Khóa con trong mỗi chu trình được tạo ra từ khóa chính với quá trình tạo khóa con Rijndael; mỗi khóa con có độ dài giống như các khối. Quá trình kết hợp được thực hiện bằng cách XOR từng bít của khóa con với khối dữ liệu. Xem thêm: Rijndael mix columns. Đối với các hệ thống 32 bít hoặc lớn hơn, ta có thể tăng tốc độ thực hiện thuật toán bằng cách sáp nhập các bước SubBytes, ShiftRows, MixColumns và chuyển chúng thành dạng bảng. Có cả thảy bốn bảng với 256 mục, mỗi mục là 1 từ 32 bít, bốn bảng này chiếm 4096 byte trong bộ nhớ. Khi đó, mỗi chu trình sẽ được bao gồm 16 lần tra bảng và 12 lần thực hiện phép XOR 32 bít cùng với 4 phép XOR trong bước AddRoundKey. Trong trường hợp kích thước các bảng vẫn lớn so với thiết bị thực hiện thì chỉ dùng một bảng và tra bảng kết hợp với hoán vị vòng quanh. Vào thời điểm năm 2006, dạng tấn công lên AES duy nhất thành công là tấn công kênh bên (side channel attack]). Vào tháng 6 năm 2003, chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố AES có thể được sử dụng cho thông tin mật. "Thiết kế và độ dài khóa của thuật toán AES (128, 192 và 256 bít) là đủ an toàn để bảo vệ các thông tin được xếp vào loại TỐI MẬT (secret). Các thông tin TUYỆT MẬT (top secret) sẽ phải dùng khóa 192 hoặc 256 bít. Các phiên bản thực hiện AES nhằm mục đích bảo vệ hệ thống an ninh hay thông tin quốc gia phải được NSA kiểm tra và chứng nhận trước khi sử dụng." - Điều này đánh dấu lần đầu tiên công chúng có quyền tiếp xúc với thuật toán mật mã mà NSA phê chuẩn cho thông tin TUYỆT MẬT. Nhiều phần mềm thương mại hiện nay sử dụng mặc định khóa có độ dài 128 bít. Phương pháp thường dùng nhất để tấn công các dạng mã hóa khối là thử các kiểu tấn công lên phiên bản có số chu trình thu gọn. Đối với khóa 128 bít, 192 bít và 256 bít, AES có tương ứng 10, 12 và 14 chu trình. Tại thời điểm năm 2006, những tấn công thành công được biết đến là 7 chu trình đối với khóa 128 bít, 8 chu trình với khóa 192 bít và 9 chu trình với khóa 256 bít. Một số nhà khoa học trong lĩnh vực mật mã lo ngại về an ninh của AES. Họ cho rằng ranh giới giữa số chu trình của thuật toán và số chu trình bị phá vỡ quá nhỏ. Nếu các kỹ thuật tấn công được cải thiện thì AES có thể bị phá vỡ. Ở đây, "phá vỡ" có nghĩa chỉ bất cứ phương pháp tấn công nào nhanh hơn tấn công kiểu duyệt toàn bộ. Vì thế một tấn công cần thực hiện 2120 cũng được coi là thành công mặc dù tấn công này chưa thể thực hiện trong thực tế. Tại thời điểm hiện nay, nguy cơ này không thực sự nguy hiểm và có thể bỏ qua. Tấn công kiểu duyệt toàn bộ quy mô nhất đã từng thực hiện là do (Theo định luật Moore thì nó tương đương với việc tấn công vào hệ thống 66 bit hiện nay). Một vấn đề khác nữa là cấu trúc toán học của AES. Không giống với các thuật toán mã hóa khác, AES có mô tả toán học khá đơn giản . Tuy điều này chưa dẫn đến mối nguy hiểm nào nhưng một số nhà nghiên cứu sợ rằng sẽ có người lợi dụng được cấu trúc này trong tương lai. Vào năm 2002, Nicolas Courtois và Josef Pieprzyk phát hiện một tấn công trên lý thuyết gọi là tấn công XSL và chỉ ra điểm yếu tiềm tàng của AES. Tuy nhiên, một vài chuyên gia về mật mã học khác cũng chỉ ra một số vấn đề trong cơ sở toán học của tấn công này và cho rằng các tác giả đã có sai lầm trong tính toán. Việc tấn công dạng này có thực sự trở thành hiện thực hay không vẫn còn để ngỏ và cho tới nay thì tấn công XSL vẫn chỉ là suy đoán. Tấn công kênh bên (Side channel attacks). Tấn công kênh bên không tấn công trực tiếp vào thuật toán mã hóa mà thay vào đó, tấn công lên các hệ thống thực hiện thuật toán có sơ hở làm lộ dữ liệu. Tháng 4 năm 2005, Daniel J. Bernstein công bố một tấn công lên hệ thống mã hóa AES trong OpenSL gọi là . Một máy chủ được thiết kế để đưa ra tối đa thông tin về thời gian có thể thu được và cuộc tấn công cần tới 200 triệu bản rõ lựa chọn. Một số người cho rằng tấn công không thể thực hiện được trên Internet với khoảng cách vài điểm mạng . Tháng 10 năm 2005, Adi Shamir và 2 nhà nghiên cứu khác có một bài nghiên cứu minh họa một vài dạng khác. Trong đó, một tấn công có thể lấy được khóa AES với 800 lần ghi trong 65 mili giây. Tấn công này yêu cầu kẻ tấn công có khả năng chạy chương trình trên chính hệ thống thực hiện mã hóa.
Chân Tử Đan (tiếng Trung: 甄子丹, tiếng Anh: "Donnie Yen Ji-dan", sinh ngày 27 tháng 7 năm 1963) là nam diễn viên, nhà chỉ đạo võ thuật kiêm nhà sản xuất điện ảnh người Trung Quốc. Ông nổi tiếng trên màn ảnh truyền hình và màn ảnh rộng qua những vai diễn có sử dụng võ thuật, và là một trong những ngôi sao võ thuật hàng đầu châu Á lẫn cả Hollywood. Về diễn xuất, ông từng hai lần nhận được đề cử giải Kim Tượng. Ông được coi là người trẻ nhất trong số những nhà chỉ đạo võ thuật xuất sắc nhất thế giới, từng nhiều lần được trao giải thưởng về chỉ đạo võ thuật tại các liên hoan phim Hồng Kông và châu Á. Chân Tử Đan sinh ra ở Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc, là con của nữ danh sư Thái cực quyền Mạch Bảo Thiền (麥寶嬋) và ông Chân Vân Long (甄雲龍), một nhà biên tập báo. Năm hơn 1 tuổi, ông theo ba tới Hồng Kông, trong khi mẹ ở lại Quảng Đông vì lý do thủ tục. Đến năm 9 tuổi mẹ ông mới sang được Hồng Kông, gia đình lại chuyển sang Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, nơi mẹ ông sẽ mở viện nghiên cứu võ thuật Trung Hoa. Bấy giờ ông rất tích cực học võ và đàn dương cầm cổ điển. Người em gái của ông, cô Chân Tử Tinh (甄子菁) cũng có học võ, sau này cũng trở thành diễn viên, sau khi tham gia bộ phim "Adventures of Johnny Tao: Rock Around the Dragon". Từ nhỏ ông rất thích học và nghiên cứu võ thuật, từng là đệ tử của nhiều phái võ khác nhau như Thái Cực Đạo, Wushu. Thần tượng của ông lúc này là Lý Tiểu Long, ông hâm mộ đến mức bắt chước cột một dải lụa ở ống chân để giắt cây côn nhị khúc. Sự say mê võ thuật khiến ông lơ là, chán nản việc học. Ông bỏ học, gia nhập băng đảng và thường tham gia những cuộc đánh lộn, có khi băng đảng của ông đã gây ra án mạng. Điều đó khiến cha mẹ ông lo sợ, họ đưa ông trở về Quảng Đông. Trở về quê nhà, ông đi theo con đường của một võ sĩ Wushu. Ông đến Bắc Kinh để luyện tập trong đội tuyển Wushu Trung Quốc. Thời gian đầu ông đến Quảng Châu tập luyện với võ sư Lý. Ông Lý là người đã làm cho Chân Tử Đan bỏ đi phong cách Híp-pi lập dị kiểu Mĩ. Thời gian này ông còn học võ với sư phụ Ngô Bân, người từng dạy võ cho Lý Liên Kiệt. Năm 1983, khi sắp trở về Mĩ, Chân Tử Đan làm một chuyến du lịch ở Hồng Kông. Lúc này đạo diễn Viên Hoà Bình đang quay phim "Tiếu Thái Cực", ông đã tìm rất lâu nhưng không ra một nam diễn viên phù hợp cho vai chính. Chị của Viên Hòa Bình, người từng theo học võ của mẹ Chân Tử Đan, đã giới thiệu "con trai của Mạch sư phụ" cho họ Viên, và Viên Hoà Bình đã mời ông thử đóng bộ phim "Thiên sư chàng tà" của ông Viên, trong vai trò một người đóng thế. Bộ phim đầu tiên mà Chân Tử Đan thủ vai chính là "Tiếu Thái Cực", sản xuất năm 1984 khi ông 21 tuổi. Phim này nói về môn võ Thái cực quyền. "Tiếu Thái Cực" chưa phải là một thành công lớn tuy nhiên đã giới thiệu được tên tuổi của Chân đến với khán giả năm 1985 ông tham gia khóa diễn xuất của TVB với tư cách học viên dự thính. Trong những ngày đầu đóng phim, Chân Tử Đan đã nhờ đến thẩm mỹ viện để chỉnh sửa lại cặp mắt một mí và hàm răng không mấy ngăn nắp của mình. Sự sửa đổi dung mạo này được thể hiện rõ trong giai đoạn tiếp theo, từ sau phim "Lồng Hổ 1". Tuy vậy, từ đó đến năm 1989, ông chỉ được giao những vai phụ. Năm 1989, bộ phim "Tiêu diệt nhân chứng" đưa tên tuổi Chân Tử Đan vào hàng ngũ những diễn viên võ thuật ăn khách. Hai năm sau, ông hợp tác với Quan Chi Lâm và Ngô Đại Duy trong bộ phim về đề tài rửa tiền: "Lồng Hổ 2". Tiếp theo đó là các phim "Con gái quỷ Satan", "Nộ hỏa uy long", tuy nhiên không được nhiều người chú ý. Năm 1992, Chân Tử Đan mang đến một cái nhìn khác cho khán giả nhờ 2 vai phản diện trong "Hoàng Phi Hồng 2: Nam nhi đương tự cường" và "Tân Long Môn khách sạn". Nổi bật nhất là vai trong phim "Hoàng Phi Hồng 2", đây là lần đầu Chân Tử Đan được hợp tác với các diễn viên gạo cội như Trương Thiết Lâm, Khương Đại Vệ, và diễn viên nổi tiếng thời đó là Lý Liên Kiệt. Trận đấu giữa Nạp Lan Nguyên Thuật (Chân Tử Đan đóng) với Hoàng Phi Hồng (Lý Liên Kiệt đóng), phối hợp vận dụng nhiều loại vũ khí như đao, cô, được liệt vào hàng kinh điển trong lịch sử phim võ thuật. Về sau, Chân Tử Đan còn hợp tác với Lý Liên Kiệt ở phim "Anh Hùng" (2002), và cuộc giao đấu giữa Trường Không (Chân Tử Đan đóng) với Vô Danh (Lý Liên Kiệt đóng) đã được bầu chọn là một trong những màn đấu võ hay nhất trên màn ảnh từ trước tới nay. Với phim "Hoàng Phi Hồng: Nam nhi đương tự cường", Chân Tử Đan được đề cử giải nam diễn viên phụ xuất sắc nhất ở liên hoan phim Hồng Kông. Phim "Tân Long Môn khách sạn" quy tụ khá nhiều ngôi sao ăn khách thời đó: Trương Mạn Ngọc, Lương Gia Huy, Lâm Thanh Hà. Chân Tử Đan đóng vai thái giám, vai phản diện chính với màn quyết đấu ác liệt cuối phim. Phim gặt hái được nhiều thành công lớn. Diễn viên ăn khách. Năm 1993 đánh dấu mốc trong sự nghiệp của Chân Tử Đan, khi vai chính trong bộ phim "Thiếu niên Hoàng Phi Hồng" của Từ Khắc được hoan nghênh nhiệt liệt. Trong phim này, Chân đóng vai chính Hoàng Kì Anh, cha của Hoàng Phi Hồng. Vai chính còn lại do Vu Vinh Quang thể hiện. Trận đấu kết thúc phim diễn ra trên biển lửa giữa Hoàng Kì Anh, Con Khỉ Sắt (Vu Vinh Quang đóng) và Ác tăng đã để lại nhiều ấn tượng và trở thành đề tài cho nhiều phim nhái sau này. Thiếu niên Hoàng Phi Hồng là một thành công lớn nối tiếp loạt phim về nhân vật truyền kỳ Hoàng Phi Hồng, nhưng riêng với Chân Tử Đan, bộ phim đã đưa ông lên hàng những ngôi sao võ thuật trong điện ảnh Hồng Kông. Đến năm 2002, "Thiếu niên Hoàng Phi Hồng" được trình chiếu tại phương Tây và được hoan nghênh nhiệt liệt, góp phần đưa tên tuổi ông ra ngoài châu Á. Trong năm này ngoài vai Hoàng Kì Anh, ông còn có một vai phản diện trong "Hồ Điệp kiếm" và vai Tô Khất Nhi múa túy quyền trong "Tô Khất Nhi". Năm 1994, đạo diễn nổi tiếng Hollywood Steven Seagal mời Chân Tử Đan vào vai Lý Tiểu Long trong bộ phim "Lý Tiểu Long truyền kỳ", tuy nhiên ông đã từ chối. Trong năm này ông tham gia 3 phim, trong đó có vai chính phim truyền hình "Hồng Hi Quan", 2 phim điện ảnh còn lại là "Mã Hí cuồng phong" và "Vịnh Xuân quyền". Trong "Vịnh Xuân quyền", ông đóng vai người tình của Nghiêm Vịnh Xuân do Dương Tử Quỳnh đóng. Năm 1995, phim "Tinh Võ Môn" của ATV ra đời, đã gây nên một cơn sốt mới ở các nước nói tiếng Hoa và Đông Nam Á. Phim dài 18 tập, lấy bối cảnh thời Dân quốc, kể về những giai đoạn quan trọng trong đời nhân vật huyền thoại Trần Chân. Nhân vật Trần Chân từng được thể hiện qua Lý Tiểu Long, Thành Long và Lý Liên Kiệt, nay được thể hiện qua Chân Tử Đan và đã tạo nên được nhiều ấn tượng mới. Tại Việt Nam, người ta biết đến ông nhiều bởi vai này và nhiều người gọi anh là Trần Chân. Mặc dù bộ phim thành công, nhưng nhìn về lối trình diễn võ thuật lúc bấy giờ, ông cho thấy sự chịu ảnh hưởng nhiều bởi vai Trần Chân của Lý Tiểu Long, từ cách diễn tả trên nét mặt đến những pha múa võ có lẫn tiếng hét đặc trưng của họ Lý. Năm 1997, ông thành lập hãng phim Bullet, đồng thời thử sức trong vai trò đạo diễn với phim "Chiến lang truyền thuyết" ("Legend of the wolf"). Trong phim này ông đóng vai chính Văn Hiến, ngoài ra còn có nữ diễn viên đang lên lúc đó là Lý Nhược Đồng. Bộ phim không đặc sắc về nội dung, tuy nhiên lại thành công lớn về mặt doanh thu, với rất nhiều những màn đánh lộn được diễn tả chân thực. Hãng phim tồn tại 2 năm, với các phim "Nhật Bản bản" (1999) và "Nụ hôn sát nhân" (1998). Phim "Nụ hôn sát nhân" có sự tham gia của người đẹp Ngô Thần Quân, do Chân Tử Đan đạo diễn và thủ vai chính, được trao giải "Phim xuất sắc nhất năm 1998" bởi hội phê bình điện ảnh Hồng Kông và tại Liên hoan phim Udine của Ý. Năm 2002, ông tham gia siêu phẩm "Anh hùng" của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Bộ phim đã đưa tên tuổi của ông ra thế giới. Đạo diễn họ Trương vốn khắt khe, đã tỏ ra rất khâm phục khả năng biểu diễn võ thuật của Chân Tử Đan trong phim này. Vai của Chân Tử Đan chỉ xuất hiện trong một cảnh quay, đạo diễn họ Trương sử dụng như một phương pháp tô điểm. Ông đánh từ đầu tới cuối trong sự xuất hiện của mình, và cảnh quay phải mất tới 20 ngày. Thời gian này Chân Tử Đan còn nổi lên với vai trò người chỉ đạo, dàn dựng các pha đấu võ thuật. Các phim nổi tiếng nhất được ông chỉ đạo võ thuật là: "Code name 2:Puma", "Thiên cơ biến I" và "II", "Nụ hôn sát nhân"... Trong công việc, Chân nổi tiếng là người nghiêm túc và khá kén chọn, ông không phải là người sẵn sàng nắm bắt tất cả các cơ hội tiến thân tại Holywood. Từng từ chối đóng vai Lý Tiểu Long trong "Truyện Lý Tiểu Long" và sau đó là năm 2003, khi ông khước từ lời mời xuất hiện bên cạnh Angelina Jolie trong Tomb Raider II vì "tôi thích những gì mới mẻ và sáng tạo, còn vai diễn đó lại chẳng khác gì những vai trước đây của tôi". Chân được đạo diễn Guillermo del Toro ở Hollywood mời đóng phim lần thứ ba: "Blade I", và lần này ông đã nhận lời. Vai diễn người tuyết tuy chỉ là vai nhỏ, với màn võ thuật tô điểm, nhưng cũng đủ ấn tượng để ông được mời tiếp vào phim "Highlander: End game" của Douglas Aarniokoski (2000); tuy nhiên phim này không thành công. Vai diễn tiếp theo của Chân Tử Đan tại Hollywood là vai phản diện trong "Hiệp sĩ Thượng Hải" của Thành Long, vai này ban đầu được giao cho Robin Shou, bạn diễn của Chân trong phim "Lồng Hổ 2", nhưng Shou mắc việc không nhận được và vai đã được giao cho Chân Tử Đan. Một lúc làm nhiều vai trò, nhưng mỗi năm ông vẫn đều đặn đóng xong một bộ phim, các phim "Thiên cơ biến 2" và "Love on the Rocks" cũng tạo nên một số ấn tượng nhất định. Năm 2005, Chân Tử Đan vào vai Sở Chiêu Nam trong "Thất kiếm" của Từ Khắc, tuy nhiên bộ phim đã không có được thành công như mong đợi. Thành công nối tiếp. Sau thất bại của "Thất kiếm", Chân Tử Đan đã gặp gỡ đạo diễn trẻ mới nổi Diệp Vĩ Tín. Sự gặp gỡ này đã đánh dấu mốc mới trong sự nghiệp của Chân Tử Đan. Tính cho tới nay, họ đã hợp tác với nhau 4 phim, tất cả đều nổi tiếng, đó là bộ ba "Sát Phá Lang", "Long Hổ Môn", "Đạo hỏa tuyến" và "Diệp Vấn". Trong "Sát Phá Lang", Chân Tử Đan vào vai cảnh sát Mã Quân, lạnh lùng, có vẻ cô độc nhưng là một người có tình cảm. Vai diễn mang lại cho Chân nhiều chỗ diễn nội tâm. Trong phim, ấn tượng nhất có đoạn giao đấu đầy máu me, kịch tính giữa Chân Tử Đan - Ngô Kinh và trận đánh trong phòng khách giữa Chân Tử Đan - Hồng Kim Bảo. Sau thành công của "Sát Phá Lang", bộ đôi này tiếp tục hợp tác làm bộ "Long Hổ Môn" rồi "Đạo Hỏa Tuyến". Những phim này đều nhận được nhiều đề cử và giải thưởng. 2008 là một năm thành công của Chân Tử Đan, khi ông liên tiếp xuất hiện trong các bộ phim "bom tấn": "Giang sơn mỹ nhân", "Họa bì", và "Diệp Vấn". "Giang sơn mĩ nhân", tuy nhiên không thành công như hứa hẹn. Còn "Họa Bì", một phim kinh dị cổ trang đã lập kỉ lục về doanh thu phòng vé, phim cũng nhận được nhiều giải thưởng cũng như đề cử. Tuy vậy, thành công và tạo nên nhiều ảnh hưởng hơn cả là "Diệp Vấn". Phim "Diệp Vấn" kể về một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của danh sư Diệp Vấn, trong phim này Chân Tử Đan đã trình diễn một phong cách khác trước, đó là không sử dụng những cú đá song phi nổi tiếng của mình mà phần lớn các pha võ thuật đều dùng tay - một nét độc đáo của Vịnh Xuân quyền. Để diễn được các pha võ này, ông đã luyện Vịnh Xuân 8 tháng, cũng như giảm 5 ký để phù hợp với vai Diệp Vấn. Về diễn xuất, vai diễn có chút hài hước và nhiều trường đoạn nội tâm hơn các phim trước đây ông tham gia. Ông Diệp Chuẩn, con trai của Diệp Vấn sau khi xem phim này đã khen ngợi Chân và cho rằng ông là người thích hợp nhất để đóng vai này. Với vai Diệp Vấn, lần đầu tiên Chân Tử Đan được đề cử giải "Nam diễn viên chính xuất sắc nhất" tại liên hoan phim HKFA 2009, ngoài ra phim Diệp Vấn còn nhận được 11 đề cử khác, trong đó có giải "phim xuất sắc", "diễn viên phụ xuất sắc nhất" và "đạo diễn xuất sắc nhất". Về doanh thu, phim đạt 100 triệu Nhân dân tệ và 25 triệu Đô la Hồng Kông sau 1 tuần khởi chiếu, trở thành phim võ thuật đoạt doanh thu cao nhất từ trước tới giờ. Trong thời gian quay bộ phim này, Chân Tử Đan từng bị đưa ra so sánh với ảnh đế Lương Triều Vĩ khi Lương cũng quay một phim mang tên "Nhất đại tôn sư Diệp Vấn" với Vương Gia Vệ, tuy nhiên sau khi phim công chiếu, Chân Tử Đan đã nhận được nhiều khen ngợi, trong đó có lời khen của Lương Triều Vĩ. Sau thành công của "Diệp Vấn", bộ đôi Diệp-Chân sẽ thực hiện tiếp phim "Diệp Vấn 2". Trong một bài phỏng vấn gần đây,[] Chân Tử Đan nói rằng ông đang cầm trong tay 5 kịch bản, và có thể sẽ phải quay liền 5 phim trong năm 2009. Năm 2009, Chân Tử Đan tham gia bộ phim "Thập nguyệt vi thành" với vai chính là một tay đệ tử của "bác thằng bần", cùng một vai nhỏ trong bộ phim Kiến quốc đại nghiệp. Sau đó, ông tham gia đóng vai chính trong bộ phim cổ trang "Cẩm y vệ" của đạo diễn Lý Nhân Cảng. Năm 2010, Chân Tử Đan cho ra mắt 1 bộ phim mới "Huyền thoại Trần Chân" của đạo diễn Lưu Vĩ Cường, trong phim có sự góp mặt của nữ diễn viên Thư Kỳ. Sau đó, ông đang tiếp tục tham gia hai dự án phim khác là "Quan Vân Trường". Năm 2018, Chân Tử Đan cho giới thiệu bộ phim Thân phận đặc biệt (Special ID) cùng với nhân vật Cảnh Điềm, Trâu Triệu Long và đóng vai Trần Tự Long, một cảnh sát có tính gan gốc, cau có nhưng lại hòa đồng với người mẹ và bạn bè của ông ấy. Ông được giao nhiệm vụ điều tra băng đảng ma túy và phải tiêu diệt thế giới ngầm xã hội đen vô cùng khắc nghiệt và tàn nhẫn nhất của Trung Quốc để ngăn chặn một âm mưu độc ác của tên trùm tội phạm xã hội đen Trường Mao Hùng. Cách duy nhất để ông báo cáo về trụ sở là cố tình bị bắt giam. Sau nhiều lần như vậy, tên trùm Trương Mao Hùng bắt đầu nghi ngờ thân phận của ông. Hắn tìm mọi cách loại bỏ mọi sự xâm nhập vào băng đảng xã hội đen của Trần Tử Long. Khi đến Trung Quốc đại lục, Trần Tử Long đối mặt với cánh tay phải Trương Mao Hùng là Sunny, được giao nhiệm vụ xử tử những cảnh sát nằm vùng. Đột phá tại Hollywood. Sau khi diễn những bộ phim thực cổ, ông được đóng vai là một cảnh sát trưởng, bảo vệ những người khỏi những tên xấu xa như "Điểm nổ", "Công bằng cho xã hội"... Từ những bộ phim này, ông đã trở nên nổi tiếng nhất với những kỹ năng võ thuật kiểu mới theo một cách mạnh mẽ, biết hi sinh vì mọi thứ, không bao giờ bỏ cuộ Năm 2017 đánh dấu lần đầu tiên Chân Tử Đan và Lưu Đức Hoa cùng nhau diễn xuất trong bộ phim Trùm Hương Cảng. Bộ phim Trùm Hương Cảng lấy cảm hứng từ hai nhân vật có thật trong lịch sử Hong Kong: trùm xã hội đen Ngô Tích Hào - biệt danh Hào "thọt", và cảnh sát trưởng Lữ Lạc. Nếu như Hào "thọt" từng được Lữ Lương Vĩ thể hiện trong Bả Hào (1991), thì chính Lưu Đức Hoa từng vào vai Lôi Lạc mưu trí nhưng không kém phần gian xảo qua hai tập phim Thám trưởng 500 triệu Lôi Lạc (1991).. Điều ấn tượng của Trùm Hương Cảng là có sự tham gia của hai ngôi sao lớn của điện ảnh Hong Kong. Là nhân vật chính được ưu tiên cả về đất diễn lẫn lối khai thác, ông trùm Hào "thọt" là linh hồn của tác phẩm dưới sự thể hiện thuyết phục từ Chân Tử Đan. Có thể nói đây là bộ phim Chân Tử Đan khẳng định thêm tài năng diễn xuất của mình. Công việc ngoài diễn xuất. Chỉ đạo võ thuật. Ngoài diễn xuất, Chân Tử Đan còn làm đạo diễn hành động và nhà chỉ đạo võ thuật. Đây là nghề tay trái của Chân nhưng lại mang lại cho ông bộ sưu tập giải thưởng đáng nể: 7 giải thưởng và 2 đề cử, trong đó có 3 Kim Tượng và 2 Kim Mã. Ông làm công việc chỉ đạo võ thuật từ những năm đầu của sự nghiệp, với phim ăn khách "Lồng Hổ 1". Những phim nổi tiếng nhất do anh chỉ đạo các pha hành động và đấu võ là: "Lồng Hổ 2", "Vịnh Xuân quyền", "Chiến Lang truyền thuyết", "Code name 2:Puma", "Thiên cơ biến I" và "II", "Nụ hôn sát nhân", "Blade II", "Sát phá lang", "Long Hổ Môn"... Năm 2008, khi làm phim "Diệp Vấn", do đã đảm nhận nhiều công việc (tập võ, diễn xuất), vai trò đạo diễn võ thuật của Chân đã được giao lại cho Hồng Kim Bảo. Trở thành đạo diễn từ năm 34 tuổi với phim "Chiến lang truyền thuyết" ("Legend of the wolf"), cho đến nay, Chân Tử Đan đã đạo diễn 6 phim, trong đó cũng có những phim thành công. Phim "Nụ hôn sát nhân" năm 1997 đã được trao giải "một trong những phim hay nhất năm 1998" bởi hội phê bình điện ảnh Hồng Kông và tại Liên hoan phim Udine của Ý. Các phim "Thiên cơ biến, Chiến lang truyền thuyết, Tân Đường Sơn đại huynh" đều được xếp vào loại ăn khách. Ông là ứng cử viên duy nhất (trong số 6 ứng cử viên) của Hồng Kông đạt được giải thưởng "Đạo diễn trẻ xuất sắc nhất" tại Liên hoan phim Yubari, Nhật Bản. Chân Tử Đan từng đóng vai trò nhà sản xuất và đồng sản xuất cho 5 phim: "Họa bì, Đảo hỏa tuyến, Long Hổ Môn, Nụ hôn sát nhân, Chiến lang truyền thuyết". Năm 1997 ông từng mở hãng phim tên là Bullet nhưng nay đã giải tán. Làm mẫu cho nhân vật trong game. Năm 2004, Chân Tử Đan lần đầu tham gia trong ngành công nghiệp Game, với game nổi tiếng "Onimusha III" của hãng Capcom. Ông giữ vai trò quan trọng trong game hành động nổi tiếng này, khi đảm nhận công việc chỉ đạo võ thuật và biểu diễn mẫu cho nhân vật. Năm 2006, Game "Long Hổ Môn" ra đời dựa theo bộ phim ông thủ vai chính. Chân cũng làm mẫu cho chuyển động của nhân vật chính trong Game này. Phong cách võ thuật. Chân Tử Đan thường được coi là diễn viên có phong cách biểu diễn võ thuật đặc biệt. Jung Sang Kyo, một ký giả của tờ tạp chí võ thuật Mookas có lời nhận xét: "Lý Tiểu Long thuộc nhóm diễn viên chuyên dùng các thế võ hiện đại, Lý Liên Kiệt thuộc nhóm chuyên dùng võ thuật truyền thống Trung Hoa. Còn Chân Tử Đan thì thuộc nhóm của riêng anh." Với phong cách đánh võ độc đáo và đẹp mắt, Chân Tử Đan thường được mời vào các phim ở tư cách khách mời nhằm câu khách, như trong "Thánh bài II", anh đóng vai cảnh sát và chỉ xuất hiện ở đoạn loạn đả cuối phim, ngoài ra có thể kể đến những màn trình diễn võ thuật ngắn ngủi trong "Hiệp sĩ Thượng Hải, Anh hùng, Love on the Rocks, Thiên cơ biến II", gần đây (2009) thì có "All's Well, Ends Well 2009". Phong cách võ thuật trên màn ảnh của Chân Tử Đan được đánh giá mạnh mẽ, có tính thực chiến cao. Năm 2017, giới võ thuật Trung Quốc ồn ào bởi võ sĩ MMA nghiệp dư Từ Hiểu Đông đã đánh bại nhanh chóng võ sư danh tiếng Ngụy Lôi thuộc dòng võ thuật truyền thống Trung Quốc. Từ Hiểu Đông cho rằng võ truyền thống Trung Quốc không có tính thực chiến cao. Khi được hỏi về đối thủ trong các ngôi sao võ thuật màn ảnh thì Từ Hiểu Đông cho rằng chỉ có Chân Tử Đan là đối thủ xứng tầm. Chân Tử Đan từng đính hôn với nữ diễn viên Vạn Ỷ Văn từng đóng cặp với anh trong "Tinh Võ Môn" (1995). Năm 2003, anh kết hôn với người mẫu Uông Thi Thi, hoa hậu Hoa kiều Toronto năm 2000, kém anh 19 tuổi. Hôn lễ tổ chức tại Toronto, Canada. Đến nay họ đã có với nhau hai con, một gái tên là Jasmin và trai tên James. Chân Tử Đan có con riêng tên là Man Cheuk Yen. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Paititi là "thành phố mất tích" của người Inca, nơi trốn ẩn huyền bí của họ tại miền Đông của Peru. Sau khi Francisco Pizarro xâm chiếm vương quốc Inca vào năm 1533, những người Inca cuối cùng lùi về ngôi thành trì trên núi Vilcabamba. Từ đấy họ đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích kéo dài gần 40 năm chống lại những người Tây Ban Nha chiếm đóng. Mãi đến năm 1572, những người Tây Ban Nha xâm chiếm Nam Mỹ ("conquistador") mới có thể chiếm được thành Vilcabamba và giết chết vị vua Inca cuối cùng là Túpac Amaru. Thế nhưng tại thời điểm này thành gần như đã bị bỏ trống, người dân đã mang theo toàn bộ châu báu của các vị vua Inca chạy trốn về phía đông vào trong rừng rậm. Mãi đến năm 2001 câu chuyện này mới có thể được xác nhận sau khi nhà khảo cổ học người Ý Mario Polia tìm thấy tờ tường trình của nhà truyền đạo Andrea Lopez trong các văn thư lưu trữ của dòng tu Jesus (tiếng Anh: "Society of Jesus") tại Roma. Trong văn kiện ra đời vào khoảng năm 1600 này, Lopez đã mô tả một thành phố lớn nhiều vàng, bạc và đá quý, được người thổ dân gọi là "Paititi". Lopez đã báo tin này cho Giáo hoàng tại Roma. Nhiều giả thuyết cho rằng vị trí chính xác của Paititi đã được tòa thánh Vatican giữ bí mật từ đấy. Trong các phương tiện truyền thông, Paitit thường được xem là Eldorado. Thế nhưng huyền thoại về Eldorado có nguồn gốc từ cao nguyên Columbia chứ không phải tại Peru. Các chuyến khảo sát. Từ 1990 nhiều nhà nghiên cứu và khảo cổ học đã có nhiều nỗ lực lớn tìm kiếm dấu vết của truyền thuyết về Paitit. Các chuyến đi khảo sát dẫn đến khu vực Madre de Dios gần như vẫn hoàn toàn chưa được khai phá nằm về phía đông của Cuzco hay trong vùng về phía đông của hồ Titicaca tại Bolivia. Kết quả của các đi chuyến khảo sát mang lại nhiều hứa hẹn. Đường mòn Inca, hình khắc trên đá cũng như nhiều dấu tích và đã được tìm thấy. Người ta đã có kế hoạch tiến hành thêm ít nhất một chuyến khảo sát nữa trong năm 2006.
Nhà Tống là hoàng triều cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến năm 1279. Triều đại này được sáng lập bởi Tống Thái Tổ sau khi ông soán ngôi Hoàng đế Hậu Chu rồi kết thúc thời kỳ Ngũ đại Thập quốc. Trong suốt thời gian tồn tại, nhà Tống thường xuyên xung đột với các quốc gia phương bắc là Liêu, Tây Hạ và Kim. Cuối cùng, nhà Tống bị chinh phục bởi nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo. Chính quyền nhà Tống là chính quyền đầu tiên trong lịch sử phát hành tiền giấy trên phạm vi toàn quốc và cũng là chính quyền Trung Quốc đầu tiên thành lập lực lượng hải quân thường trực. Vào thời nhà Tống, con người lần đầu sử dụng thuốc súng và nhận thức được hướng bắc trắc địa thông qua la bàn. Nhà Tống được phân chia thành hai thời kỳ rõ rệt: Bắc Tống và Nam Tống. Trong thời kỳ Bắc Tống (960–1127), hoàng triều có kinh đô đặt tại thành phố phía bắc Biện Kinh (nay là Khai Phong), kiểm soát phần lớn khu vực mà ngày nay người ta gọi là Hoa Đông. Thời kỳ Nam Tống (1127–1279) mở ra sau khi nhà Tống để mất quyền kiểm soát nửa phía bắc lãnh thổ vào tay nhà Kim của người Nữ Chân trong Chiến tranh Kim–Tống. Giữa giai đoạn giao tranh với nhà Kim, triều đình nhà Tống phải rút lui về phía nam sông Dương Tử và thành lập kinh đô mới tại Lâm An (nay là Hàng Châu). Mặc dù để mất vùng đất được xem là "nơi phát tích của nền văn minh Trung Hoa" nằm dọc theo sông Hoàng Hà, kinh tế Nam Tống vẫn phát triển mạnh mẽ do đế quốc này đông dân và sở hữu rất nhiều đất nông nghiệp. Nam Tống củng cố đáng kể sức mạnh hải quân nhằm bảo vệ vùng biển cũng như biên giới đất liền và thực hiện các sứ mệnh hàng hải ở nước ngoài. Để đẩy lùi nhà Kim và sau đó là người Mông Cổ, nhà Tống tiến hành phát triển nhiều công nghệ quân sự mới mang tính cách mạng bằng cách áp dụng thuốc súng. Năm 1234, người Mông Cổ chinh phục hoàn toàn nhà Kim, làm chủ miền bắc Trung Quốc và duy trì mối quan hệ không mấy hòa hảo với Nam Tống. Năm 1259, Mông Kha, đại hãn thứ tư của Đế chế Mông Cổ, qua đời khi đang bao vây pháo đài Điếu Ngư ở Trùng Khánh. Em trai Mông Kha là Hốt Tất Liệt trở thành đại hãn mới, dù không được nhóm lãnh đạo Mông Cổ ở phía tây công nhận hoàn toàn. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tự xưng là Hoàng đế Trung Hoa và thành lập nhà Nguyên. Năm 1279, sau hai thập kỷ giao tranh không liền mạch, quân đội của Hốt Tất Liệt cuối cùng cũng chinh phục được nhà Tống khi quân Nam Tống thua trận Nhai Môn. Cuộc xâm lược của người Mông Cổ rốt cuộc đã tái thống nhất toàn cõi Trung Quốc dưới quyền cai trị của nhà Nguyên. Từ đầu thế kỷ thứ 9 đến cuối thế kỷ 11, dân số Trung Quốc đã tăng gần gấp đôi. Điều này là kết quả của việc mở rộng hoạt động trồng lúa ở miền trung và miền nam Đế quốc Tống, áp dụng canh tác giống lúa chín sớm có nguồn gốc từ Nam Á và Đông Nam Á, sản xuất dư thừa lương thực. Điều tra dân số ghi nhận Bắc Tống có khoảng 20 triệu hộ gia đình, gấp đôi nhà Hán và nhà Đường. Người ta ước tính rằng dân số Bắc Tống là 90 triệu người và dân số nhà Minh là 200 triệu người. Sự gia tăng dân số đáng kể này đã thúc đẩy một cuộc cách mạng kinh tế ở Trung Quốc thời tiền hiện đại. Quy mô dân số mở rộng, các thành phố xuất hiện ngày một nhiều và sự ra đời của nền kinh tế quốc dân đã dẫn đến việc chính quyền trung ương dần không còn tham gia trực tiếp vào các vấn đề kinh tế. Tầng lớp thân sĩ đảm nhận vai trò quan trọng hơn trong hoạt động quản trị cơ sở và xử lý công việc địa phương. Thời nhà Tống, đời sống xã hội vô cùng sôi động. Dân thành thị tụ tập để chiêm ngưỡng và mua bán các tác phẩm nghệ thuật có giá trị, quần chúng từ mọi tầng lớp hòa lẫn với nhau ở các lễ hội hay câu lạc bộ tư nhân và các thành phố thì có nhiều khu vui chơi giải trí náo nhiệt. Sự khuếch trương nhanh chóng của nghề in khắc gỗ và sự ra đời của kỹ thuật in chữ rời vào thế kỷ 11 đã giúp văn học, tri thức được phổ biến rộng rãi. Suốt triều đại, công nghệ, khoa học, triết học, toán học và kỹ thuật đều có những bước phát triển mạnh mẽ. Các triết gia như Trình Di và Chu Hi đã thổi nguồn sinh khí mới cho Nho giáo bằng những bài luận mới mẻ, thấm nhuần quan niệm Phật giáo và nhấn mạnh một kiểu tổ chức văn bản cổ điển mới truyền tải những đường lối cốt lõi của học thuyết Tân Nho giáo. Mặc dù đã có từ thời nhà Tùy, hệ thống khoa cử nổi bật hơn nhiều vào thời nhà Tống. Quan chức có được quyền lực thông qua khoa cử, đóng vai trò chính trong quá trình sĩ đại phu thay thế tiết độ sứ trở thành tầng lớp tinh hoa trong xã hội. Sau khi soán ngôi Hoàng đế Hậu Chu, Tống Thái Tổ (trị. 960 – 976) dành 16 năm để chinh phục nhiều tiểu quốc còn lại trên khắp Trung Quốc, thống nhất được phần lớn vùng lãnh thổ từng thuộc về hai đế chế Hán và Đường, kết thúc thời kỳ phân liệt Ngũ đại Thập quốc. Tại Khai Phong, Tống Thái Tổ xây dựng một chính quyền trung ương tập quyền cao độ bao trùm cả đế quốc. Định đô ở Khai Phong được xem như dấu mốc khởi đầu thời kỳ Bắc Tống. Tống Thái Tổ đảm bảo tính ổn định hành chính bằng cách thúc đẩy hệ thống khoa cử, trong đó thiết lập phương thức lựa chọn quan chức nhà nước theo năng lực và thành tích (thay vì theo địa vị quý tộc hay địa vị quân sự), đồng thời xúc tiến các dự án đảm bảo thông tin liên lạc hiệu quả trên khắp đất nước. Trong một dự án như vậy, các họa sĩ vẽ bản đồ chi tiết ở từng địa phương rồi tập hợp chúng lại với nhau thành một tập bản đồ lớn. Tống Thái Tổ cũng thúc đẩy những đổi mới khoa học và công nghệ mang tính đột phá, hỗ trợ cho nhiều công trình như tháp đồng hồ thiên văn do kỹ sư Trương Tư Huấn thiết kế và xây dựng. Triều đình nhà Tống duy trì quan hệ ngoại giao với Chola ở Ấn Độ, Fatima ở Ai Cập, Srivijaya, Hãn quốc Khách Lạt ở Trung Á, Vương quốc Cao Ly ở Triều Tiên và một số quốc gia khác cùng là đối tác thương mại với Nhật Bản. "Tống sử" thậm chí còn đề cập tới sự xuất hiện vào năm 1081 của một đại sứ quán Đông La Mã thừa mệnh Hoàng đế Michael VII Doukas. Tuy nhiên, chính những quốc gia láng giềng thân cận mới tác động mạnh mẽ đến chính sách đối nội và đối ngoại của nhà Tống. Ngay từ những năm đầu thành lập dưới thời Tống Thái Tổ, nhà Tống đã phải tiến hành xen kẽ các biện pháp chiến tranh và ngoại giao với nhà Liêu của người Khiết Đan ở phía đông bắc và Tây Hạ của người Đảng Hạng ở phía tây bắc. Nhà Tống sử dụng sức mạnh quân sự với mong muốn dẹp yên nhà Liêu và chiếm lại Yên Vân thập lục châu, một vùng đất đai do người Khiết Đan kiểm soát, mà theo truyền thống được coi như một phần của Trung Quốc bản thổ (hầu hết các phần lãnh thổ Bắc Kinh và Thiên Tân ngày nay). Quân Liêu đẩy lùi quân Tống, tổ chức nhiều chiến dịch thường niên uy hiếp Bắc Tống mãi cho tới năm 1005, khi Hiệp ước Thiền Uyên chấm dứt tình trạng giao tranh biên giới dai dẳng. Người Hán buộc phải triều cống cho người Khiết Đan, mặc dù điều này thực tế ít gây thiệt hại cho kinh tế Bắc Tống vì chính nhà Liêu lại phụ thuộc vào việc nhập khẩu một lượng lớn hàng hóa từ Bắc Tống. Đáng chú ý hơn, nhà Tống đã phải công nhận nhà Liêu bình đẳng với mình về mặt ngoại giao. Nhà Tống kiến tạo một cánh rừng phòng thủ rộng lớn dọc theo biên giới Tống–Liêu để ngăn chặn các đợt tấn công tiềm tàng của kỵ binh Khiết Đan. Đầu thế kỷ 11, nhà Tống giành được một số chiến thắng quân sự trước Tây Hạ, đỉnh cao là chiến dịch do nhà bác học, tướng lĩnh kiêm chính khách Thẩm Quát (1031–1095) chỉ huy. Tuy nhiên, chiến dịch trên không đem lại thành công chung cuộc khi viên sĩ quan đối địch với Thẩm Quát không tuân theo mệnh lệnh trực tiếp, khiến nhà Tống để mất phần lãnh thổ vừa giành được từ Tây Hạ. Nhà Tống chiến tranh với Đại Việt hai lần, lần đầu vào năm 981 và lần thứ hai kéo dài từ năm 1075 đến năm 1077, liên quan tới vấn đề tranh chấp biên giới và việc nhà Tống cắt đứt quan hệ thương mại với Đại Việt. Sau khi quân Đại Việt đột kích Quảng Tây, gây thiệt hại nặng nề, chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ (1022–1088) dẫn quân tới tận Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Tổn thất to lớn mà cả hai bên phải gánh chịu đã buộc tướng Đại Việt là Lý Thường Kiệt (1019–1105) phải chọn giải pháp hòa bình, cho phép hai quốc gia cùng từ bỏ nỗ lực tham chiến. Năm 1082, Bắc Tống và Đại Việt tiến hành trao trả lãnh thổ chiếm đóng và tù binh chiến tranh. Suốt thế kỷ 11, nhiều cuộc đấu chính trị đã diễn ra giữa các đại thần trong triều đình nhà Tống, xoay quanh cách tiếp cận, quan điểm và chính sách khác nhau về việc xử lý một xã hội phức tạp và một nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của đế quốc. Phó tể tướng theo chủ nghĩa lý tưởng hóa Phạm Trọng Yêm (989–1052) là người đầu tiên đón nhận làn sóng phản ứng chính trị dữ dội khi ông cố gắng tiến hành cải cách "Khánh Lịch tân chính", bao gồm các biện pháp cải thiện hệ thống tuyển dụng quan chức, tăng lương cho các chức quan nhỏ và thiết lập các chương trình tài trợ để có thêm nhiều người được giáo dục tốt, đủ điều kiện phục vụ nhà nước. Sau khi Phạm Trọng Yêm bị buộc phải từ chức, Vương An Thạch (1021–1086) nhậm chức tể tướng. Với sự hậu thuẫn của Tống Thần Tông (1067–1085), Vương An Thạch chỉ trích gay gắt hệ thống giáo dục và bộ máy quan liêu. Tìm cách giải quyết những gì mà bản thân coi là hủ bại và cẩu thả, Vương An Thạch thực hiện hàng loạt cải cách gọi là "Tân pháp", liên quan tới việc đổi mới thuế giá trị đất, thành lập một số công ty độc quyền chính quyền, hỗ trợ dân quân địa phương và đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn cho kỳ khoa cử để có thể tuyển dụng được những quan chức có trình độ quản trị nhà nước. Tân pháp đã tạo ra các phe phái đối lập trong triều đình. Phái "Biến pháp" của Vương An Thạch bị phản đối bởi phái "Cựu đảng" do sử gia kiêm tể tướng Tư Mã Quang (1019–1086) cầm đầu. Khi người của phe này thay thế phe kia nắm giữ đa số vị trí quan trọng trong triều đình, họ sẽ giáng chức và điều chuyển các quan chức đối thủ tới vùng biên cương xa xôi. Một trong những nạn nhân quyền đấu nổi tiếng nhất là nhà thơ, chính khách Tô Đông Pha (1037–1101), người bị bỏ tù rồi mất chức vì dám chỉ trích cải cách của Vương An Thạch. Đời Tống Huy Tông, nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn chống lại triều đình, điển hình là cuộc khởi nghĩa Lương Sơn Bạc do Tống Giang (tức Tống Công Minh) lãnh đạo ở Sơn Đông và cuộc khởi nghĩa của Phương Lạp ở Giang Nam. Trong khi triều đình vẫn đang liên tục chia rẽ chính trị và loay hoay với các vấn đề nội bộ, nhà Tống bắt đầu chú ý tới những sự kiện đáng báo động đang diễn ra ở nhà Liêu. Người Nữ Chân, một bộ tộc thần phục nhà Liêu, đã nổi dậy và tuyên bố khai sinh nhà Kim (1115–1234). Hoạn quan Đồng Quán (1054–1126) khuyên Tống Huy Tông (1100–1125) nên bắt tay với người Nữ Chân. Liên minh Tống–Kim được thiết lập thông qua Hải thượng chi minh, tiến hành một chiến dịch quân sự chung chinh phục hoàn toàn nhà Liêu vào năm 1125. Trong quá trình đó, quân Tống viễn chinh đã phá bỏ cánh rừng phòng thủ dọc biên giới Tống–Liêu. Tuy nhiên, màn trình diễn tệ hại và nội lực yếu kém của quân đội nhà Tống không thoát khỏi tầm quan sát của người Nữ Chân, họ lập tức phá vỡ liên minh, phát động Chiến tranh Kim–Tống, cao điểm trong hai năm 1125 và 1127. Không phải đối mặt với cánh rừng phòng thủ, quân Kim hành quân nhanh chóng qua đồng bằng Hoa Bắc tiến đến Khai Phong. Trong Sự kiện Tĩnh Khang ở lần xâm lược thứ hai, người Nữ Chân không chỉ chiếm được kinh đô, mà còn bắt sống cả Thượng hoàng Huy Tông và Hoàng đế Khâm Tông cùng hầu hết thành viên triều đình Bắc Tống. Các lực lượng tàn dư của nhà Tống tập hợp lại dưới quyền Tống Cao Tông (1127–1162), rút về phía nam sông Dương Tử để thành lập một kinh đô mới tại Lâm An. Cuộc chinh phạt Hoa Bắc của người Nữ Chân và chuyến dời đô từ Khai Phong tới Lâm An của triều đình nhà Tống chính là ranh giới phân chia hai thời kỳ Bắc Tống và Nam Tống. Sụp đổ trước cuộc xâm lược của nhà Kim, nhà Tống mất quyền kiểm soát miền bắc Trung Quốc. Giờ đây, khi đã làm chủ được cái gọi là "Trung Quốc bản thổ", nhà Kim tự coi mình là những người cai trị Trung Quốc chính danh. Họ chọn "thổ" làm nguyên tố đại diện hoàng triều và màu vàng làm màu hoàng gia. Theo thứ tự trong thuyết Ngũ hành, "thổ" theo sau "hỏa", nguyên tố đại diện cho hoàng triều Tống. Động thái mang tính ý thức hệ trên cho thấy nhà Kim coi như thiên mệnh của nhà Tống đã chấm dứt và họ sẽ thay thế nhà Tống trở thành những người cai trị Trung Quốc bản thổ hợp pháp. Mặc dù đã suy yếu và bị đẩy về phía nam sông Hoài, Nam Tống vẫn tìm ra những phương án mới để củng cố nền kinh tế vững mạnh và tự vệ trước nhà Kim. Quân đội Nam Tống được chỉ huy bởi những tướng lĩnh có năng lực như Nhạc Phi và Hàn Thế Trung. Chính quyền tài trợ cho các dự án đóng tàu và cải thiện bến cảng quy mô, đồng thời tiến hành xây dựng nhiều mốc hiệu và kho tàng cảng biển để hỗ trợ thương mại hàng hải với nước ngoài. Những cảng biển quốc tế lớn như Tuyền Châu, Quảng Châu và Hạ Môn, là điểm tựa của ngành thương mại Trung Quốc. Để bảo vệ và hỗ trợ cho vô số tàu thuyền qua lại vì lợi ích hàng hải ở Biển Hoa Đông, Hoàng Hải, Đông Nam Á, Ấn Độ Dương và Biển Đỏ, cần phải có hải quân thường trực. Do đó, năm 1132, triều đình Nam Tống đã thành lập lực lượng hải quân thường trực đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, có trụ sở chính đặt tại Định Hải. Với hải quân chuyên nghiệp, năm 1161, Nam Tống sẵn sàng đối đầu với nhà Kim trên sông Dương Tử. Trong trận Đường Đảo và Thái Thạch, hải quân Nam Tống đã sử dụng tàu chiến mái guồng trang bị máy trebuchet phóng bom thuốc súng. Mặc dù có tới 7 vạn binh sĩ, hơn 600 tàu chiến, nhưng hải quân Kim do Hoàn Nhan Lượng (Hải Lăng vương) chỉ huy vẫn nhận thất bại trong cả hai trận chiến với hải quân Nam Tống chỉ có vỏn vẹn 3 nghìn binh sĩ và 120 tàu chiến, khi phải hứng chịu những đợt tấn công chớp nhoáng bằng bom thuốc súng từ các tàu chiến mái guồng. Nam Tống tiếp tục phát triển sức mạnh hải quân. Một thế kỷ sau khi thành lập, quân chủng hải quân của đế quốc này đã có tới 52 nghìn lính thủy đánh bộ. Chính quyền Nam Tống tịch thu đất đai của thân sĩ để tăng huê lợi, phục vụ cho các dự án quốc gia kể trên, một hành động gây ra sự bất bình và làm mất đi lòng trung thành trong nội bộ tầng lớp lãnh đạo, nhưng không ngăn cản được tâm thế sẵn sàng phòng thủ của nhà Tống. Vấn đề tài chính công trở nên tồi tệ hơn bởi thực tế là nhiều gia đình chủ đất giàu có – một số có quan chức làm việc cho triều đình – đã sử dụng mối quan hệ xã hội với những người đang tại chức để được miễn thuế. Mặc dù Nam Tống có thể kiềm chế được nhà Kim, nhưng họ lại sắp sửa phải đối mặt với một thế lực mới thống trị vùng thảo nguyên, sa mạc và đồng bằng phía bắc nhà Kim. Người Mông Cổ, do Thành Cát Tư Hãn (trị. 1206 – 1227) lãnh đạo, ban đầu mới chỉ xâm lược nhà Kim vào hai năm 1205 và 1209 thông qua nhiều cuộc đột kích lớn khắp biên giới, nhưng tới năm 1211, họ quyết định tập hợp một lực lượng khổng lồ để tổng lực chinh phạt nhà Kim. Nhà Kim thất trận, buộc phải phục tùng và cống nạp cho Mông Cổ như một nước chư hầu; khi người Nữ Chân đột ngột dời đô từ Bắc Kinh đến Khai Phong, người Mông Cổ liền cho rằng đây là một động thái nổi loạn. Dưới sự chỉ huy của Oa Khoát Đài (trị. 1229 – 1241), người Mông Cổ chinh phục cả nhà Kim lẫn Tây Hạ trong hai năm 1233, 1234. Mông Cổ từng liên minh với Nam Tống, nhưng liên minh này nhanh chóng đổ vỡ khi Nam Tống chiếm lại ba cố đô là Khai Phong, Lạc Dương và Trường An ngay khi nhà Kim diệt vong. Sau cuộc xâm lược Đại Việt lần đầu vào năm 1258, tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai tấn công Quảng Tây từ Thăng Long, như một phần chiến lược phối hợp tác chiến vào năm 1259 của người Mông Cổ với các đạo quân chia làm hai nhóm, một nhóm giáp công Tứ Xuyên dưới sự lãnh đạo của Đại hãn Mông Kha, nhóm còn lại tấn công Sơn Đông và Hà Nam. Ngày 11 tháng 8 năm 1259, Mông Kha qua đời giữa cuộc vây hãm pháo đài Điếu Ngư ở Trùng Khánh. Cái chết của Mông Kha và cuộc khủng hoảng kế vị ngay sau đó đã buộc Húc Liệt Ngột kéo phần lớn lực lượng Mông Cổ ra khỏi Trung Đông, nơi họ sẵn sàng chiến đấu với các chiến binh Mamluk (những người đã chặn đứng nhóm quân Mông Cổ còn lại tại Ain Jalut). Dù liên minh với Hốt Tất Liệt, nhưng người của Húc Liệt Ngột cũng chẳng thể giúp gì nhiều trong cuộc chinh phạt Nam Tống do vướng vào cuộc nội chiến với Hãn quốc Kim Trướng. Hốt Tất Liệt tiếp tục nỗ lực tấn công Nam Tống, giành được một chỗ đứng tạm thời ở bờ nam sông Dương Tử. Mùa đông năm 1259, Ngột Lương Hợp Thai lên phía bắc để hội quân với Hốt Tất Liệt lúc này đang bao vây Ngạc Châu, Hồ Bắc. Dù đã sẵn sàng để giành lấy Ngạc Châu, nhưng vì cuộc nội chiến đang chờ xử lý với người em trai A Lý Bất Ca, Hốt Tất Liệt đành phải trở lại phía bắc với phần lớn lực lượng của mình. Khi Hốt Tất Liệt vắng mặt, quân Nam Tống thừa lệnh Thừa tướng Giả Tự Đạo, lập tức tổ chức phản kích và đã thành công trong việc đẩy quân Mông Cổ quay trở lại bờ bắc sông Dương Tử. Tiếp tục có những giao tranh nhỏ dọc biên giới Tống–Mông cho đến năm 1265, khi Hốt Tất Liệt thắng một trận quan trọng ở Tứ Xuyên. Từ năm 1268 đến 1273, Hốt Tất Liệt triển khai hải quân phong tỏa sông Dương Tử và bao vây Tương Dương, chướng ngại vật cuối cùng trên con đường xâm lược lưu vực sông Dương Tử trù phú. Năm 1271, Hốt Tất Liệt chính thức tuyên bố thành lập nhà Nguyên. Năm 1275, 13 vạn quân Nam Tống dưới quyền Giả Tư Đạo bị "tổng tư lệnh" mới bổ nhiệm của Hốt Tất Liệt là tướng Bá Nhan đánh bại. Năm 1276, quân Nguyên kiểm soát hầu hết lãnh thổ Nam Tống, bao gồm cả kinh đô Lâm An. Năm 1279, trong trận Nhai Môn, Trương Hoằng Phạm chỉ huy quân Nguyên dập tắt nỗ lực kháng chiến cuối cùng của Nam Tống trên đồng bằng Châu Giang. Hoàng đế Nam Tống cuối cùng, Tống Thiếu Đế, khi đó mới 13 tuổi, đã tự sát cùng Thừa tướng Lục Tú Phu và 1.300 thành viên hoàng tộc. Bá Nhan theo lệnh Hốt Tất Liệt, không làm hại những thành viên hoàng tộc Nam Tống còn lại; Tống Cung Đế bị phế xuống làm "Doanh quốc công" nhưng rồi cũng bị đày tới Tây Tạng, nơi ông chọn con đường xuất gia. Tống Cung Đế buộc phải tự sát theo lệnh chắt nội của Hốt Tất Liệt, Cách Kiên Hãn, người sợ rằng cựu hoàng Nam Tống sẽ lãnh đạo một cuộc đảo chính. Nhiều hoàng thân Nam Tống vẫn tiếp tục sinh sống và làm việc dưới thời nhà Nguyên, chẳng hạn như Triệu Mạnh Phủ và Triệu Ung. Văn hóa và xã hội. Trung Quốc thời nhà Tống là kỷ nguyên của một bộ máy hành chính tinh vi và một tổ chức xã hội phức tạp. Nhà Tống sở hữu nhiều thành phố thuộc vào dạng lớn nhất thế giới đương thời (Khai Phong và Hàng Châu có dân số hơn một triệu người). Trong mỗi thành phố, người dân có cơ hội tham gia các hoạt động giải trí và câu lạc bộ xã hội, đồng thời được cung cấp dịch vụ giáo dục và tôn giáo thông qua nhiều trường học, đền thờ. Chính quyền nhà Tống thực hiện nhiều chương trình phúc lợi xã hội, thành lập nhà hưu trí, phòng khám công cộng và xây dựng nghĩa trang cho người nghèo. Nhà Tống hỗ trợ một dịch vụ bưu chính diện rộng mô phỏng theo hệ thống bưu chính thời nhà Hán (202 TCN–220), giúp thông tin liên lạc được cung cấp nhanh chóng trên khắp đế quốc. Chính quyền trung ương tuyển dụng hàng nghìn nhân viên bưu điện ở nhiều cấp bậc khác nhau để triển khai dịch vụ tại các bưu cục nhỏ và trạm bưu điện lớn. Ở vùng nông thôn, nông dân sở hữu mảnh đất của riêng mình, làm tá điền trả tiền thuê đất hoặc làm nông nô trong các điền trang lớn. Mặc dù phụ nữ có địa vị xã hội thấp hơn nam giới (theo luân lý Nho giáo), họ vẫn được hưởng nhiều đặc quyền về mặt xã hội và luật pháp, được nắm quyền đáng kể trong gia đình hay các doanh nghiệp riêng. Khi xã hội ngày càng thịnh vượng, cha mẹ chu cấp của hồi môn ngày một nhiều cho con gái xuất giá, phụ nữ đương nhiên cũng có thêm nhiều quyền sở hữu tài sản hợp pháp mới. Trong một số trường hợp nhất định, một cô con gái chưa cưới chồng, không có anh em trai hoặc một bà mẹ còn sống không có con trai, có thể được hưởng phân nửa gia tài chưa chia của cha mình. Có rất nhiều phụ nữ tần tảo và có học thức tốt. Đối với họ, việc dạy dỗ con trai lúc còn niên thiếu là một thói quen phổ biến. Mẹ của nhà khoa học, tướng lĩnh, nhà ngoại giao kiêm chính khách Thẩm Quát đã dạy ông những điều cơ bản nhất về chiến lược quân sự. Cũng không thiếu những nhà văn, nhà thơ là nữ giới, chẳng hạn như Lý Thanh Chiếu (1084–1151), người nổi danh ngay trong chính thời đại của mình. Tôn giáo ở Trung Quốc trong thời kỳ này có ảnh hưởng to lớn đến đời sống, tín ngưỡng và sinh hoạt thường nhật của con người, thể loại văn học lấy chủ đề tâm linh cũng đã trở nên phổ biến. Các vị thần chính trong Đạo giáo, Phật giáo, vong linh tổ tiên, cùng nhiều vị thần khác trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc được thờ cúng với lễ vật hiến tế. Thẩm Đan Sâm khẳng định rằng có nhiều nhà sư Phật giáo từ Ấn Độ đến Trung Quốc vào thời nhà Tống hơn so với thời nhà Đường (618–907). Việc người ngoại quốc đến Trung Quốc để buôn bán hoặc sinh sống lâu dài đã giúp nhiều tôn giáo nước ngoài du nhập vào nước này. Các tôn giáo thiểu số ở Trung Quốc bao gồm Hồi giáo Trung Đông, Do Thái giáo Khai Phong và Mani giáo Ba Tư. Dân chúng hào hứng với đời sống gia đình và xã hội sôi động, tận hưởng các lễ hội cộng đồng như Tết Nguyên tiêu hay Tiết Thanh minh. Thành phố có nhiều khu vui chơi giải trí với một loạt trò tiêu khiển không ngớt, có người múa rối, diễn viên nhào lộn, diễn viên kịch, ảo thuật gia nuốt kiếm, người kể chuyện, ca sĩ, nhạc sĩ, gái mại dâm và đủ địa điểm để thư giãn, chẳng hạn như trà thất, nhà hàng hay những buổi tiệc tùng có tổ chức. Đông đảo người dân tham gia các câu lạc bộ xã hội; có câu lạc bộ trà, câu lạc bộ ẩm thực lạ, câu lạc bộ sưu tầm đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật, câu lạc bộ yêu ngựa, câu lạc bộ thơ ca và câu lạc bộ âm nhạc. Giống như sự phong phú trong ẩm thực và phương thức nấu ăn theo vùng miền, phong cách trình diễn nghệ thuật thời nhà Tống cũng rất đa dạng tại mỗi khu vực khác nhau. Mặc dù diễn viên kinh kịch trình diễn bằng văn ngôn vốn không phải là thứ ngôn ngữ bình dân, nhưng loại hình kịch sân khấu này vẫn rất phổ biến trong cả giới tinh hoa lẫn quần chúng nói chung. Bốn rạp kinh kịch bề thế nhất ở Khai Phong có thể chứa vài nghìn khán giả mỗi rạp. Ngoài ra còn có những trò triêu khiển trong nhà đáng chú ý như cờ vây hay cờ tướng, thu hút được nhiều người tham gia. Khoa cử và tầng lớp thân sĩ. Vào thời nhà Tống, hệ thống công vụ tuyển dụng quan chức được chú trọng nhiều hơn; nó dựa trên bằng cấp mà các thí sinh giành được thông qua một nhóm kỳ thi giàu tính cạnh tranh gọi là khoa cử, như một nỗ lực nhằm chọn ra những cá nhân có năng lực quản trị xuất sắc nhất. Lấy tài năng đã qua chứng minh làm tiêu chí tuyển dụng quan chức nam giới là một ý tưởng có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc. Hệ thống công vụ từng được thể chế hóa trên quy mô nhỏ vào thời Tùy–Đường, nhưng mãi tới thời nhà Tống mới gần như trở thành phương tiện duy nhất để tuyển dụng quan chức cho chính quyền. Sự khuếch trương của ngành công nghiệp in ấn giúp giáo lý Nho giáo được phổ biến rộng rãi, gia tăng số lượng thí sinh đủ điều kiện giáo dục để tham gia các kỳ thi. Điều này có thể thấy rõ thông qua số lượng thí sinh tham gia kỳ "giải thí" tăng từ 3 vạn người mỗi năm vào đầu thế kỷ 11, lên thành 40 vạn người vào cuối thế kỷ 13. Hệ thống công vụ và khoa cử thúc đẩy chế độ nhân tài, mức độ linh hoạt xã hội và cả sự bình đẳng trong cạnh tranh cho những người muốn giành được một vị trí chính thức trong chính quyền. Sử dụng thống kê mà triều đình nhà Tống thu thập, Edward A. Kracke, Yoshiyuki Sudo và Hà Bỉnh Lệ ủng hộ giả thuyết cho rằng không có gì đảm bảo một người sẽ có cùng mức độ quyền lực với cha, ông nội hoặc ông cố của mình, nếu những người đàn ông thế hệ trước này từng là quan chức nhà nước. Robert Hartwell và Robert P. Hymes đã chỉ trích mô hình giả thuyết trên, cho là nó quá chú trọng đến vai trò của gia đình hạt nhân, chỉ xem xét tới ba đời tổ tiên đằng nội của thí sinh mà bỏ qua thực tế nhân khẩu học thời nhà Tống rằng có một tỷ lệ đáng kể nam giới trong mỗi thế hệ không có con trai nối dõi, cũng như bỏ qua luôn vai trò của đại gia đình. Nhiều người cảm thấy như mình bị tước đoạt quyền lợi bởi họ cho là hệ thống quan liêu ủng hộ tầng lớp chủ đất, những người có khả năng chi trả cho dịch vụ giáo dục vượt trội. Một trong những nhà phê bình văn học nổi tiếng nhất bàn về vấn đề này là nhà thơ Tô Đông Pha. Tuy nhiên, Tô Đông Pha cũng chỉ là sản phẩm của thời đại mà ông đang sống, vì với sự chuyển giao từ thời nhà Đường sang thời nhà Tống, danh tính, thói quen hay thái độ của một sĩ đại phu đã trở nên ít quý tộc hơn và cũng quan liêu hơn. Vào đầu triều đại, chức vụ cao trong chính quyền do hai nhóm tinh hoa nắm giữ một cách không cân xứng: một nhóm công thần có ràng buộc với hoàng đế khai quốc và một nhóm thế gia, sử dụng địa vị thị tộc truyền đời, các mối quan hệ gia đình và liên minh hôn nhân để đảm bảo được bổ nhiệm. Cuối thế kỷ 11, nhóm công thần mất chỗ đứng. Trong khi đó, đảng phái chính trị và chủ nghĩa bè phái trong triều đình đã làm suy yếu chiến lược liên minh hôn nhân của nhóm thế gia, để rồi nhóm này không còn phân biệt được trong xã hội và bị thay thế bởi vô số gia tộc thân sĩ. Do tốc độ gia tăng dân số chóng mặt và bộ máy hành chính thì chấp nhận số lượng quan chức hạn chế (khoảng 2 vạn người trong thời nhà Tống), tầng lớp thân sĩ đông đảo hơn sẽ đảm nhận công việc cơ sở ở cấp địa phương. Không bao gồm sĩ đại phu tại chức, thân sĩ là các thí sinh đỗ đạt nhưng chưa được bổ nhiệm, gia sư địa phương và quan chức về hưu. Chính những người đàn ông có học thức này đã giám sát công việc địa phương và tài trợ cơ sở vật chất cần thiết cho cộng đồng; bất kỳ huyện lệnh nào được bổ nhiệm đều phải dựa vào sự hợp tác của một số ít hoặc nhiều thân sĩ trong khu vực. Ví dụ, chính quyền nhà Tống – trừ giai đoạn cải cách giáo dục thời Tống Huy Tông – chi rất ít tiền ngân khố để duy trì các trường học cấp châu và huyện; thay vào đó, phần lớn quỹ trường học được lấy từ nguồn tài chính tư nhân. Vai trò hạn chế của quan chức chính quyền thời nhà Tống là một điểm khác biệt so với thời nhà Đường (618–907), khi chính quyền quản lý chặt chẽ thị trường và công việc địa phương. Giờ đây, chính quyền đã dần không còn điều tiết hoạt động thương mại và giao cho thân sĩ tự thực hiện các nhiệm vụ thiết yếu trong cộng đồng mà họ đang cư trú. Tầng lớp thân sĩ tự làm mình khác biệt trong xã hội thông qua hoạt động theo đuổi tri thức, sưu tầm cổ vật, trong khi nhà của những chủ đất tiếng tăm lại thu hút được nhiều thị thần, bao gồm các nghệ nhân, nghệ sĩ, gia sư và người làm trò mua vui. Bất chấp sự coi thường dành cho nghề buôn bán, thương mại và thương nhân, đến từ giới sĩ đại phu ưu tú có trình độ văn hóa cao, chủ nghĩa giao thương vẫn giữ một vai trò nổi bật trong văn hóa, xã hội thời nhà Tống. Một sĩ đại phu sẽ bị đồng nghiệp khinh bỉ nếu tìm cách kiếm thêm thu nhập ngoài khoản lương nhà nước. Tuy nhiên, điều này không ngăn được nhiều sĩ đại phu quản lý các mối quan hệ kinh doanh thông qua chi nhánh trung gian. Luật, tư pháp và khoa học pháp y. Hệ thống tư pháp nhà Tống giữ lại hầu hết pháp điển của nhà Đường, cơ sở cho nhiều bộ luật truyền thống ở Trung Quốc mãi cho tới thời hiện đại. Huyện úy duy trì luật pháp và trật tự trong khu vực pháp lý đô thị, đôi khi mạo hiểm đến cả vùng nông thôn. Huyện lệnh, người giám sát các phiên tòa, không chỉ nắm vững luật thành văn mà còn phải đề cao đạo đức trong xã hội. Các huyện lệnh như Bao Thanh Thiên (999–1062) nổi tiếng là hiện thân của sự ngay thẳng, luôn duy trì công lý và không bao giờ làm trái quy tắc của bản thân. Trong mỗi phiên tòa, họ sẽ chỉ rõ người hoặc bên có tội và đưa ra hình phạt thích đáng, thường là dưới hình thức đòn roi. Một cá nhân hoặc một bên bị đưa ra xét xử vì tội hình sự hoặc dân sự không được coi là hoàn toàn vô tội cho đến khi chứng minh được điều ngược lại, ngay cả người buộc tội cũng bị huyện lệnh xem xét với mức độ nghi ngờ cao. Do chi phí kiện cáo tốn kém và việc người bị buộc tội hình sự sẽ phải ngồi tù ngay lập tức, dân chúng thích giải quyết tranh chấp, cãi vả một cách riêng tư mà không cần sự can thiệp của chính quyền. Trong cuốn "Mộng Khê bút đàm", Thẩm Quát từng lập luận chống lại nhiều niềm tin truyền thống của người Trung Quốc về ngành giải phẫu học; điều này có lẽ đã thúc đẩy mối quan tâm dành cho công tác khám nghiệm tử thi ở Trung Quốc trong thế kỷ 12. Bác sĩ kiêm thẩm phán Tống Từ (1186–1249) đã viết một công trình khoa học pháp y tiên phong bàn về việc khám nghiệm tử thi để xác định nguyên nhân cái chết (do bóp cổ, đầu độc, đuối nước, hay đánh đập, v.v). Qua đó, chứng minh nạn nhân bị giết, tự tử hay gặp tai nạn. Tống Từ nhấn mạnh tầm quan trọng về tiêu chuẩn hành vi của mỗi nhân viên điều tra và việc thư ký phải ghi lại kết quả chính xác trong quá trình khám nghiệm tử thi. Quân đội và phương pháp tác chiến. Quân đội nhà Tống chủ yếu được tổ chức để đảm bảo rằng nó không thể đe dọa tới quyền kiểm soát đế quốc. Điều này đôi khi làm giảm đi hiệu quả chiến đấu. Xu mật viện, cơ quan chính quyền trung ương chịu trách nhiệm về lực lượng quân đội, hoạt động dưới quyền xu mật sứ, người không có khả năng kiểm soát hoàn toàn cấm quân. Cấm quân được phân chia cho ba nguyên soái thống lĩnh, mỗi người chịu trách nhiệm độc lập trước hoàng đế. Và cũng vì hoàng đế hiếm khi đích thân dẫn binh, quân Tống thiếu sự thống nhất trong chỉ huy. Nhiều tướng lĩnh thành đạt bị coi là mối đe dọa đối với hoàng quyền và thường bị miễn nhiệm hoặc thậm chí là xử tử (nổi tiếng nhất là Lý Cương, Nhạc Phi và Hàn Thế Trung). Mặc dù quân nhân bị sĩ đại phu coi thường trong một trật tự xã hội có thứ bậc, một người vẫn có thể giành được địa vị và phẩm giá bằng cách trở thành những sĩ quan cấp cao với thành tích chiến trường hiển hách. Vào thời cực thịnh, quân Tống có một triệu binh sĩ được chia thành các trung đội 50 người, các đại đội gồm hai trung đội và các tiểu đoàn 500 người. Lính dùng nỏ được tách ra khỏi bộ binh thông thường, tổ chức thành đơn vị riêng, được đánh giá là lực lượng tinh nhuệ trong chiến đấu, cung cấp giải pháp hiệu quả chống lại kỵ binh. Chính quyền mong muốn được tài trợ cho những thiết kế nỏ tân tiến có khả năng gia tăng tầm bắn. Trong khi đó, những tay nỏ cự phách rất có giá trị khi được sử dụng trong vai trò lính bắn tỉa tầm xa. Kỵ binh Tống sử dụng một loạt loại vũ khí khác nhau bao gồm phủ thương, kiếm, cung, giáo và hỏa thương. Chiến lược quân sự và huấn luyện quân sự được xem xét như những ngành khoa học có thể nghiên cứu, hoàn thiện. Binh sĩ được kiểm tra kỹ năng sử dụng thành thạo vũ khí và năng lực vận động thể chất. Quân đội được huấn luyện sao cho biết cách tiến lên khi cờ hiệu được vẫy, dừng lại khi có tiếng chuông và tiếng trống. Hải quân Tống đóng vai trò quan trọng trong quá trình củng cố đế quốc vào thế kỷ thứ 10; trong cuộc chiến với Nam Đường, họ đã tập trung bảo vệ nhiều cây cầu phao lớn bắc qua sông Dương Tử để bảo đảm hoạt động hành quân và tiếp vận. Hải quân Tống sở hữu những tàu chiến cỡ lớn có thể chứa được 1 nghìn binh sĩ trên boong. Tàu chiến mái guồng di chuyển nhanh được xem như phương tiện cơ giới thiết yếu trong bất kỳ trận hải chiến thành công nào. Trong trận chiến ngày 23 tháng 1 năm 971, làn mưa tên từ các tay nỏ bên phía quân Tống đã tiêu diệt quân đoàn voi chiến của Nam Hán. Trận thua này không chỉ đánh dấu sự khuất phục của Nam Hán trước nhà Tống, mà còn là lần cuối cùng đơn vị voi chiến được sử dụng như một sư đoàn chính quy trong quân đội Trung Quốc. Có tổng cộng 347 luận thuyết quân sự được viết vào thời nhà Tống, thống kê trong "Tống sử". Tuy nhiên, chỉ một số ít còn tồn tại tới ngày nay, chẳng hạn như "Vũ kinh tổng yếu" ra đời năm 1044. Đây là cuốn sách liệt kê công thức thuốc súng đầu tiên được biết đến, đưa ra nhiều công thức thích hợp áp dụng cho một số loại bom thuốc súng khác nhau. Ngoài ra, "Vũ kinh tổng yếu" cũng cung cấp mô tả, thông tin chi tiết và hướng dẫn bảo trì, sửa chữa các bộ phận, thiết bị thành phần của súng phun lửa bơm pít tông đôi. Nghệ thuật, văn học và triết học. Nghệ thuật thị giác được nâng tầm nhờ những tiến bộ mới trong các lĩnh vực như vẽ tranh phong cảnh, tranh chân dung. Thân sĩ dành thời gian rảnh rỗi để vẽ tranh, làm thơ hoặc viết thư pháp. Nhà thơ kiêm chính khách Tô Đông Pha cùng cộng sự Mễ Phất (1051–1107) rất thích sưu tầm đồ cổ, thường mượn hoặc mua các tác phẩm nghệ thuật về để nghiên cứu và sao chép. Thơ ca và văn học hưởng lợi nhờ sự phổ biển, phát triển của thể thơ "từ". Một số lượng lớn bách khoa toàn thư đã được biên soạn, bao gồm các tác phẩm sử học và hàng chục chuyên luận về chủ đề kỹ thuật. Bộ thông sử đồ sộ "Tư trị thông giám" bao gồm 1 nghìn tập, chứa 9,4 triệu Hán tự. Thể loại văn học du ký phổ biến với các tác phẩm của Tô Đông Pha và nhà địa lý học Phạm Thành Đại (1126–1193). Trong "Thạch chung sơn ký", Tô Đông Pha sử dụng lối bài luận thuyết phục để lập luận cho một quan điểm triết học. Mặc dù đã có dạng sơ khai từ thế kỷ thứ nhất, tới thời nhà Tống, một loại địa chí hoàn thiện gọi là "phương chí" mới ra đời, thay thế cho "đồ kinh" truyền thống. Hoàng cung có rất nhiều họa sĩ, nhà thư pháp, nhà thơ và người kể chuyện. Tống Huy Tông tích cực bảo trợ nghệ thuật và là một nghệ sĩ có tiếng, danh mục bộ sưu tập của ông được liệt kê có hơn 6 nghìn bức tranh. Trương Trạch Đoan (1085–1145) là ví dụ điển hình cho một họa sĩ cung đình được trọng vọng, tác giả của bức tranh toàn cảnh quy mô "Thanh minh thượng hà đồ". Tống Cao Tông khởi xướng một dự án nghệ thuật lớn trong thời trị vì của ông, mang tên "Hồ già thập bát phách", lấy cảm hứng từ cuộc đời Thái Văn Cơ (sinh. 177). "Hồ gia thập bát phách" là cử chỉ ngoại giao mà Tống Cao Tông dành cho nhà Kim trong thời gian ông thương lượng để người Nữ Chân chịu thả mẹ mình. Về triết học, Phật giáo Trung Quốc đã suy giảm ảnh hưởng nhưng vẫn giữ được vị thế trong lĩnh vực nghệ thuật và trong hoạt động từ thiện ở các tu viện. Phật giáo tác động sâu sắc đến phong trào Tân Nho giáo mới chớm nở, do Trình Di (1033–1107) và Chu Hi lãnh đạo. Phật giáo Đại thừa ảnh hướng đến Phạm Trọng Yêm và Vương An Thạch thông qua quan niệm về chủ nghĩa phổ quát đạo đức. Trong khi đó, siêu hình học Phật giáo chi phối học thuyết tiền Tân Nho giáo của Trình Di. Chính các tác phẩm triết học của Trình Di đã tác động tới Chu Hi. Mặc dù các công trình của Chu Hi không được đồng nghiệp đương thời chấp nhận, việc ông bình luận và nhấn mạnh bốn tác phẩm Nho học kinh điển trong bộ Tứ thư như tài liệu Nho giáo nhập môn đã hình thành nên cơ sở của học thuyết Tân Nho giáo. Đến năm 1241, dưới sự bảo trợ của Tống Lý Tông, bộ Tứ thư và lời bình kèm theo của Chu Hi trở thành học liệu tiêu chuẩn dành cho những thí sinh muốn đỗ đạt khoa cử. Hai quốc gia Đông Á là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng áp dụng giáo trình của Chu Hi, lần lượt gọi nó với cái tên "Shushigaku" (朱子學) và "Jujahak" (주자학). Ảnh hưởng liên tục của Phật giáo có thể thấy trong nhiều tác phẩm hội họa như "La hán tẩy sam" của Lâm Đình Khuê. Tuy nhiên, Phật giáo bị một số người chỉ trích hoặc thậm chí là khinh bỉ. Chính khách kiêm sử gia Âu Dương Tu (1007–1072) gọi tôn giáo này là một "lời nguyền" chỉ có thể được phá giải bằng cách nhổ bỏ khỏi văn hóa Trung Hoa và thay thế bằng diễn ngôn Nho giáo. Phật giáo sẽ không thể nào thực sự phục hưng nếu nhà Nguyên không cai trị Trung Quốc kéo theo sự bảo trợ mà Hốt Tất Liệt dành cho Phật giáo Tây Tạng và nhà sư Bát Tư Ba trong vai trò lạt-ma lãnh đạo. Cảnh giáo, một tông phái Cơ Đốc giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời nhà Đường, cũng sẽ được hồi sinh dưới sự cai trị của người Mông Cổ. Ẩm thực và phục trang. Luật cấm xa hoa quy định những loại thực phẩm được ăn, loại trang phục được mặc của mỗi người dân, tùy theo địa vị và tầng lớp xã hội. Quần áo được làm bằng vải gai dầu hoặc bông, giới hạn hai màu tiêu chuẩn là đen và trắng. Nông dân, binh sĩ, nghệ nhân và thương gia mặc quần dài. Thương gia giàu sang thì có quyền mặc nhiều loại quần áo trang trí công phu và áo cánh dài qua thắt lưng. Trang phục quy chuẩn của sĩ đại phu được xác định một cách chặt chẽ theo hệ thống thứ hạng xã hội. Tuy nhiên, theo thời gian, những quy tắc về trang phục dựa trên phẩm bậc của quan chức dần không còn được chấp hành nghiêm túc. Quan chức biểu lộ địa vị thông qua những chiếc áo bào truyền thống dài chấm đất, có màu sắc đa dạng; thể hiện phẩm bậc thông qua các loại mũ mão hoặc đai lưng cụ thể. Phụ nữ mặc áo dài, áo cánh dài đến đầu gối, váy, áo khoác dài tay, ngắn tay, nếu khá giả thì còn có thể đeo thêm khăn quàng cổ tím quanh vai. Sự khác biệt chính trong trang phục của phụ nữ so với nam giới là chúng được buộc thít ở bên trái, thay vì bên phải. Món ăn chính trong khẩu phần ăn của những người thuộc tầng lớp thấp vẫn là cơm trắng, thịt lợn và cá muối. Năm 1011, thời Tống Chân Tông, Vương quốc Chăm Pa gửi 3 vạn giạ lúa giống làm cống vật cho nhà Tống. Lúa Chăm Pa chịu hạn tốt, phát triển đủ nhanh để nông dân có thể thu hoạch hai thay vì chỉ một vụ mùa mỗi năm. Thực đơn nhà hàng và tửu quán thời nhà Tống đều được ghi chép lại. Những thực đơn này liệt kê yêu cầu dành cho các buổi lễ ăn hỏi, yến tiệc, lễ hội. Chúng bật mí một chế độ ăn uống đa dạng, xa hoa dành cho những người thuộc tầng lớp thượng lưu. Thời điểm này, sản phẩm từ sữa rất hiếm xuất hiện trong ẩm thực đương thời. Thịt bò cũng ít khi được tiêu thụ vì bò đực là loài động vật có giá trị sức kéo và thịt chó thì không có trong chế độ ăn uống của người giàu. Mặc dù dân nghèo có thể chọn ăn thịt chó khi cần thiết, nhưng đó cũng không phải là món ăn trong chế độ ăn uống thông thường của họ. Người dân thường tiêu thụ quả chà là, táo tàu, lê, mơ, mận hậu, nước lê, nước vải ép, đồ uống mật ong trộn gừng; dùng nhiều loại gia vị như ớt Tứ Xuyên, gừng, xì dầu, dầu thực vật, dầu mè, muối và giấm. Nhà Tống có một trong những nền kinh tế thịnh vượng và phát triển nhất thế giới trung cổ. Người Trung Quốc đầu tư tiền vào các công ty cổ phần cùng rất nhiều tàu buồm, khi mà lợi nhuận tiền tệ được đảm bảo từ hoạt động thương mại trong và ngoài nước sôi động dọc theo kênh Đại Vận Hà và sông Dương Tử. Doanh nghiệp tư nhân và những gia đình thương nhân có tiếng được phép chiếm lĩnh các ngành công nghiệp chưa bị nhà nước độc quyền. Cả công nghiệp tư nhân và công nghiệp do chính quyền kiểm soát đều đủ sức theo kịp tốc độ gia tăng dân số. Nghệ nhân, thương nhân thành lập nhiều phường hội, buộc chính quyền phải tìm cách đối phó mỗi khi tiến hành đánh thuế, trưng dụng hàng hóa, đặt giá cả tiêu chuẩn và mức lương tối thiểu cho người lao động. Ngành công nghiệp sắt có sự tham gia của các nhà khởi nghiệp tư nhân với lò luyện của riêng họ và các cơ sở nấu luyện sắt do chính quyền giám sát. Nền kinh tế nhà Tống đủ ổn định để sản xuất hơn một trăm triệu kilôgam sản phẩm bằng sắt mỗi năm. Nạn phá rừng quy mô lớn ở Trung Quốc sẽ còn tiếp tục xảy ra nếu không có sự đổi mới từ thế kỷ 11, khi người ta sử dụng than đá thay cho than củi trong các lò cao nấu gang. Sắt được dùng chủ yếu để chế tạo vũ khí và áo giáp cho quân đội, một phần dùng để đúc nhiều sản phẩm thiết yếu, đáp ứng nhu cầu nội địa ngày càng gia tăng. Giao thương sản phẩm bằng sắt phát triển nhờ hệ thống kênh đào mới xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi để dòng sản phẩm từ các trung tâm sản xuất có thể tiếp cận thị trường lớn ở kinh đô. Năm 1085, số lượng tiền xu mà nhà Tống đúc thường niên đã chạm mức sáu tỷ đồng. Chính quyền nhà Tống là chính quyền đầu tiên trên thế giới phát hành tiền giấy. Để phục vụ hoạt động in tiền, triều đình thành lập một số công xưởng do nhà nước điều hành ở Huệ Châu, Thành Đô, Hàng Châu và An Kỳ. Có rất đông lao động làm việc trong các công xưởng này. Năm 1175, người ta ghi nhận hơn một nghìn nhân công làm việc trong công xưởng Hàng Châu mỗi ngày. Sức mạnh kinh tế của nhà Tống ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế của các quốc gia khác. Trong ghi chép của mình vào năm 1154, nhà địa lý học người Ma rốc al-Idrisi từng mô tả về năng lực xuất chúng của những đoàn tàu buôn Trung Quốc ở Ấn Độ Dương trong các chuyến hải trình thường niên, mang sắt thép, đao kiếm, nhung lụa và nhiều loại hàng dệt may khác tới Aden, sông Ấn và sông Euphartes. Ở chiều ngược lại, người nước ngoài cũng có những tác động nhất định tới nền kinh tế Trung Quốc. Nhiều người Hồi giáo Tây Á và Trung Á sang Trung Quốc buôn bán, trở thành lực lượng ưu việt trong ngành xuất nhập khẩu, thậm chí còn được bổ nhiệm làm cán bộ giám sát các vấn đề kinh tế. Giao thương đường biển với Đông Nam Á, thế giới Ấn Độ giáo, thế giới Hồi giáo và Đông Phi đã mang lại cho các thương gia khoản tài sản kếch xù và thúc đẩy ngành đóng tàu ở Phúc Kiến phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, việc tham gia vào các dự án dài hạn ở hải ngoại tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để giảm thiểu nguy cơ mất tiền oan khi đầu tư vào thương mại hàng hải với nước ngoài, Ebrey, Walthall và Plais thuật lại: Các nhà đầu tư [thời nhà Tống] thường chia khoản đầu tư của họ cho nhiều con tàu và mỗi con tàu lại có nhiều nhà đầu tư đứng sau. Một nhà quan sát từng cho rằng chính sự háo hức hùn vốn vào thương mại nước ngoài đã tạo nên dòng thất thoát tiền đồng. Ông viết, 'Dân ven biển biết rất rõ thương nhân ngoại quốc vì là đồng hương hoặc người , mua rồi đem về hàng hóa nước ngoài. Đầu tư từ mười đến một trăm quan tiền, người dân thường xuyên thu về lợi nhuận vài trăm phần trăm.' Khoa học và kỹ thuật. Đo khoảng cách và định hướng cơ học. Ngay từ thời nhà Hán, khi nhà nước cần đo chính xác quãng đường đi lại trên khắp đế quốc, người Trung Quốc đã biết dùng dụng cụ đo đường cơ học. Hành trình kế Trung Quốc là một cỗ xe có bộ bánh răng được dẫn động nhờ chuyển động xoay của bánh xe; từng đơn vị "lý" sẽ được đánh dấu bằng tiếng trống hoặc tiếng chuông. Các thông số kỹ thuật của hành trình kế thế kỷ 11 được viết bởi Lư Đạo Long, nhân vật có khá nhiều trích dẫn trong "Tống sử". Thời nhà Tống, hành trình kế cũng được kết hợp với một thiết bị cơ khí phức tạp khác gọi là cỗ xe chỉ nam. Cỗ xe chỉ nam, ban đầu được chế tạo bởi Mã Quân vào thế kỷ thứ 3, đặc trưng bởi một bánh răng vi sai cho phép hình nộm gắn trên xe luôn chỉ về hướng nam, bất kể nó chuyển động như thế nào. Bánh răng vi sai hiện nay đã được ứng dụng trong ô tô hiện đại, giúp áp một lượng mô-men xoắn bằng nhau cho bốn bánh xe ngay cả khi chúng đang quay với tốc độ khác nhau. Nhà bác học, phát minh và thiên văn học. Các cá nhân như Thẩm Quát (1031–1095) và Tô Tụng (1020–1101) là hiện thân của những nhà bác học có tiến bộ ở tất cả mọi lĩnh vực mà họ nghiên cứu, bao gồm thực vật học, động vật học, địa chất học, khoáng vật học, cơ học, từ học, khí tượng học, kỹ thuật đo thời gian, thiên văn học, dược phẩm, khảo cổ học, toán học, bản đồ học, quang học, phê bình nghệ thuật, thủy lực học, Thẩm Quát là người đầu tiên phát hiện ra độ lệch địa từ của hướng bắc trắc địa khi thử nghiệm với la bàn. Ông đưa ra giả thuyết rằng khí hậu đang biến đổi theo thời gian. Thẩm Quát xây dựng một lý thuyết về sự hình thành đất liền, liên quan đến các khái niệm được chấp nhận trong ngành địa mạo học hiện đại. Ông là người thứ hai thí nghiệm quang học với phòng tối, chỉ vài thập kỷ sau khi người đầu tiên là Ibn al-Haytham thực hiện. Thẩm Quát cải tiến thiết kế của một số dụng cụ thiên văn như ống ngắm, thứ cho phép ông cố định vị trí sao Bắc cực (vốn đã dịch chuyển sau nhiều thế kỷ). Nhà bác học này cũng nổi tiếng ở lĩnh vực đồng hồ thủy lực, phát minh ra một loại đồng hồ nước bể tràn có chức năng nội suy bậc cao – hiệu quả hơn so với nội suy tuyến tính – trong việc hiệu chuẩn thước đo thời gian. Tô Tụng nổi tiếng nhất với chuyên luận về phép đo thời gian viết vào năm 1092, trong đó mô tả và minh họa chi tiết tháp đồng hồ thiên văn cao 12 m chạy nhờ thủy lực của ông, được xây dựng ở Khai Phong. Tháp đồng hồ có một hỗn thiên nghi và một thiên cầu lớn đều được điểu khiển bởi một cơ cấu bộ thoát sơ khai hoạt động không liên tục (tương tự như bộ thoát verge trong máy đồng hồ trung cổ ở phương tây, có nguồn gốc từ máy đồng hồ thời cổ đại Hy–La). Nó còn được trang bị một bánh răng xoay với 133 hình nộm được hẹn giờ để quay qua các cánh cửa chớp đã đóng, đồng thời rung chuông, đánh trống và trình bảng thông báo. Trong cuốn sách của mình, Tô Tụng xuất bản một tập bản đồ thiên thể gồm năm biểu đồ chiêm tinh. Những biểu đồ này có phép chiếu hình trụ tương tự như phép chiếu Mecrator – phát kiến được Gerardus Mercator giới thiệu trong tấm bản đồ năm 1569 của ông. Người Trung Quốc thời nhà Tống cũng dành thời gian để quan sát siêu tân tinh. Bình đồ địa cầu "Tô Châu thạch khắc thiên văn đồ" vốn được chuẩn bị vào năm 1193, để chỉ dẫn thái tử về những phát hiện thiên văn học. Vài thập kỷ sau, nó mới được khắc lên đá. Toán học và bản đồ học. Toán học Trung Quốc có rất nhiều bước tiến đáng chú ý trong thời nhà Tống. Tam giác Pascal có hình minh họa sớm nhất ở Trung Quốc trong một cuốn sách xuất bản năm 1261 của nhà toán học Dương Huy, mặc dù từng được mô tả trước đó bởi Giả Hiến, vào khoảng năm 1100. Dương Huy đưa ra những quy tắc để xây dựng các sắp xếp tổ hợp trong ma phương, cung cấp bằng chứng lý thuyết cho mệnh đề thứ bốn mươi ba của Euclid về hình bình hành và là người đầu tiên sử dụng hệ số âm của 'x' trong phương trình bậc hai. Tần Cửu Thiều cùng thời với Dương Huy, là người đầu tiên đưa ký hiệu số 0 vào toán học Trung Quốc; trước đó, với bộ que tính, người ta dùng khoảng trống để biểu đạt giá trị 0. Ông cũng được biết đến với việc nghiên cứu định lý số dư Trung Quốc, công thức Heron và dữ liệu thiên văn dùng để xác định ngày đông chí. Tác phẩm lớn nhất của Tần Cửu Thiều, "Số thư cửu chương", phát hành vào năm 1247. Hình học là nhân tố không thể thiếu trong ngành trắc địa và bản đồ học. Bản đồ Trung Quốc lâu đời nhất còn tồn tại có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, nhưng mãi tới thời của Bùi Tú (224–271), độ cao địa hình, lưới tọa độ hình chữ nhật và tỷ lệ khoảng cách chia độ tiêu chuẩn mới được đưa vào bản đồ địa lý. Tiếp nối những công trình sẵn có, Thẩm Quát đã chế tạo nên một mô hình địa hình. Ông sử dụng tỷ lệ thống nhất 1:900.000 khi vẽ bản đồ. Một tấm bản đồ hình vuông có cạnh khoảng 0,9 m – được khắc trên đá vào năm 1137 – tuân theo tỷ lệ lưới tọa độ thống nhất là cứ 100 "lý" cho mỗi ô vuông, phác thảo chính xác đường nét sông ngòi, bờ biển ở Trung Quốc, kéo dài tới tận Ấn Độ. Bản đồ địa hình cổ nhất được biết đến trên thế giới ở dạng bản in, đến từ bộ bách khoa toàn thư do Dương Giai biên tập vào năm 1155, hiển thị miền tây Trung Quốc mà không có lưới tọa độ – yếu tố đặc trưng ở những tấm bản đồ Trung Quốc khác được vẽ chuyên nghiệp hơn. Mặc dù địa chí đã có từ năm 52 thời nhà Hán và địa chí kèm theo bản đồ minh họa (gọi là "đồ kinh") đã xuất hiện từ thời nhà Tùy, nhưng địa chí minh họa phổ biến hơn nhiều vào thời nhà Tống, khi người ta dùng nó chủ yếu để phục vụ mục đính chính trị, hành chính và quân sự. Kỹ thuật in chữ rời. Kỹ thuật in chữ rời do Tất Thăng (990–1051) phát minh, lần đầu được mô tả bởi nhà khoa học kiêm chính khách Thẩm Quát trong cuốn "Mộng khê bút đàm" năm 1088 của ông. Bộ phôi chữ bằng đất sét nung đời đầu của Tất Thăng được truyền lại cho một người cháu của Thẩm Quát và được bảo quản rất cẩn thận. Sự xuất hiện của chữ rời đã khuyến khích việc sử dụng rộng rãi các phương pháp in âm bản để in hàng nghìn tài liệu và một khối lượng lớn văn học viết, được tiêu thụ mạnh mẽ bởi cộng đồng người đọc sách đang phát triển. Tiến bộ trong ngành in ảnh hưởng sâu sắc tới nền giáo dục và cả tầng lớp sĩ đại phu, vì số lượng sách ngày càng nhiều còn sách in hàng loạt thì rẻ hơn so với sách chép tay tốn công. Do đó, sự phát triển của ngành in và văn hóa in ấn là chất xúc tác trực tiếp thúc đẩy tính linh hoạt xã hội và mở rộng quy mô của tầng lớp học giả tinh hoa – đáng kể nhất là trong khoảng thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Chữ rời do Tất Thăng phát minh cuối cùng đã phải nhường chỗ cho mộc bản, vì những hạn chế của hệ thống Hán tự đồ sộ. Tuy nhiên, kỹ thuật in chữ rời vẫn tiếp tục được sử dụng và cải tiến trong những giai đoạn tiếp theo. Sĩ đại phu nhà Nguyên Vương Trinh đã cải thiện quy trình sắp chữ được nhanh hơn, khi thay phôi chữ đất sét của Tất Thăng bằng phôi chữ gỗ và thử nghiệm cả phôi chữ đúc bằng thiếc. Năm 1490, Hóa Toại (1439–1513) sinh sống vào thời nhà Minh, cho ra đời bộ phôi chữ bằng kim loại đầu tiên (làm từ đồng). Năm 1638, tờ "Kinh báo" áp dụng kỹ thuật in chữ rời thay thế cho in mộc bản. Tới thời nhà Thanh, các dự án in ấn lớn bắt đầu sử dụng kỹ thuật in chữ rời. Năm 1725, để in 66 bản sao của cuốn bách khoa toàn thư "Cổ kim đồ thư tập thành" gồm 5.020 tập, người ta phải chế tác tới 250.000 phôi chữ rời bằng đồng. Đến thế kỷ 19, máy in ép kiểu châu Âu thay thế kỹ thuật in chữ rời cũ của Trung Quốc, trong khi kỹ thuật in mộc bản truyền thống ở Đông Á hiện tại chỉ còn được dùng thưa thớt, chủ yếu mang tính mỹ học. Kỹ thuật thủy lực và hàng hải. Điểm đổi mới đáng chú ý nhất trong lĩnh vực hàng hải Trung Quốc thời nhà Tống có lẽ là sự ra đời của la bàn đi biển từ tính, cho phép định hướng chính xác trong môi trường biển khơi, bất kể thời tiết. Kim chỉ nam được mô tả lần đầu trong "Mộng khê bút đàm" của Thẩm Quát. Chu Úc là người đầu tiên đề cập tới việc thủy thủ sử dụng hữu hiệu kim chỉ nam, trong cuốn "Bình châu khả đàm" phát hành năm 1119 của mình. Ngoài ra, cũng có nhiều tiến bộ đáng kể khác trong kỹ thuật thủy lực và công nghệ hàng hải vào thời nhà Tống. Phát minh âu tàu vào thế kỷ thứ 10 giúp duy trì mực nước khác nhau ở mỗi đoạn kênh riêng biệt, hỗ trợ đáng kể cho an toàn giao thông kênh đào, nhất là với những sà lan cỡ lớn. Sáng kiến vách ngăn kín nước cho phép tàu có thể nổi ngay cả trong trường hợp thân tàu bị thủng. Vào thế kỷ 11, người Trung Quốc đã dùng xưởng cạn để sửa chữa tàu thuyền. Họ nẹp thanh ngang vào sườn tàu để tăng sức chống chịu nhờ một cấu trúc dạng khung xương. Bánh lái gắn ở đuôi tàu xuất hiện tại Trung Quốc từ thế kỷ thứ 1 với bằng chứng là một mô hình tàu trong lăng mộ thời nhà Hán. Vào thời nhà Tống, người Trung Quốc đã nghĩ ra cách nâng và hạ cơ học bánh lái để tàu có thể di chuyển ở những vùng nước có độ sâu khác nhau. Họ sử dụng mỏ neo có phần răng được sắp xếp theo hình tròn, thay vì theo một hướng. David Graff và Robin Higham khẳng định rằng sự sắp xếp này "khiến mỏ neo đáng tin cậy hơn" khi neo đậu tàu. Kỹ thuật kết cấu và kiến trúc. Kiến trúc thời nhà Tống đạt đến tầm cao mới về độ tinh xảo. Dụ Hạo và Thẩm Quát đã viết những cuốn sách phác thảo về lĩnh vực bố cục kiến trúc, tay nghề thủ công, kỹ thuật kết cấu lần lượt vào thế kỷ thứ 10 và 11. Thẩm Quát từng lưu trữ những đoạn hội thoại bằng văn bản của Dụ Hạo mô tả về các vấn đề kỹ thuật như việc lắp đặt các thanh giằng xiên để làm thành hệ giằng chống gió trên tháp chùa. Ông cũng bảo tồn các kích thước và đơn vị đo lường cụ thể mà Dụ Hạo thiết lập cho nhiều loại công trình khác nhau. Kiến trúc sư Lý Giới (1065–1110), người xuất bản cuốn "Dinh tạo pháp thức" vào năm 1103, đã mở rộng đáng kể các tác phẩm của Dụ Hạo và biên soạn một bộ quy tắc xây dựng chuẩn mực được áp dụng bởi các cơ quan chính quyền và thợ thủ công trên khắp đế quốc. Ông đề cập tới các phương pháp xây dựng, thiết kế và ứng dụng tiêu chuẩn dành cho hào và công sự, công trình đá, công trình gỗ, công trình tre, công trình gạch, kỹ thuật cưa, khoan và tiện, kỹ thuật chạm khắc gỗ, kỹ thuật lát và tráng men gạch, kỹ thuật xây tường, sơn và trang hoàng; cung cấp tỷ lệ công thức vữa phù hợp. Trong "Dinh tạo pháp thức", Lý Giới đưa ra nhiều hình minh họa chi tiết, sống động về thành phần kiến trúc và mặt cắt của các tòa nhà. Những hình minh họa này tiết lộ nhiều ứng dụng khác nhau của đấu củng, dầm mút thừa, kết cấu mộng âm dương ở dầm nối và dầm ngang; trình bày sơ đồ nhiều kiểu xây dựng hội trường khác nhau theo kích thước phân loại. Ông cũng phác thảo các đơn vị và phép đo kích thước tiêu chuẩn của tất cả thành phần công trình được mô tả và minh họa trong tác phẩm của mình. Chính quyền hỗ trợ cho nhiều dự án xây dựng quy mô lớn, chẳng hạn như những tháp chùa cao chót vót hay cầu đường bộ khổng lồ (cầu cạn hoặc cầu vòm nhiều nhịp, làm bằng gỗ hoặc đá). Vào thời nhà Tống, người ta dựng nhiều tháp chùa cao hơn mười tầng. Hai trong số những tháp chùa nổi tiếng nhất là Thiết tháp xây năm 1049 thời Bắc Tống và Lục Hòa tháp xây năm 1165 thời Nam Tống. Liệu Địch tháp xây năm 1055 ở Hà Bắc là tháp chùa cao nhất với tổng chiều cao 84 m. Rất nhiều cây cầu đủ rộng để hai làn phương tiện có thể lưu thông đồng thời, một số cây cầu dài tới 1.220 m. Chính quyền cũng tự giám sát xây dựng các công trình nhà nước như văn phòng hành chính, cung điện, công sự thành phố, đền thờ tổ tiên và đền thờ Phật giáo. Kiến trúc sư, thợ thủ công, thợ mộc và kỹ sư kết cấu không có được địa vị như sĩ đại phu Nho giáo. Ở Trung Quốc, kiến thức kiến trúc được truyền miệng từ người này qua người khác – trong vài trường hợp là từ cha sang con trai – suốt hàng nghìn năm. Những ngôi trường đào tạo kiến trúc và kỹ thuật kết cấu được biết đến là đã tồn tại vào thời nhà Tống; từng có một trường kỹ thuật danh tiếng ở tỉnh Phúc Kiến, do kỹ sư cầu đường Thái Tương (1012–1067) làm hiệu trưởng. Bên cạnh các di tích và tài liệu hướng dẫn xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật miêu tả công trình hay cảnh quan thành phố cũng hỗ trợ giới học giả hiện đại trong nỗ lực tái tạo và nhận diện sắc thái kiến trúc thời nhà Tống. Những nghệ sĩ như Lý Thành, Phạm Khoan, Quách Hy, Trương Trạch Đoan, Tống Huy Tông đã vẽ mô phỏng cận cảnh các công trình đơn lẻ cũng như toàn cảnh các thành phố lớn với những cầu vòm, điện, đình, tháp chùa và tường thành Trung Quốc đặc trưng. Nhà khoa học kiêm chính khách Thẩm Quát nổi tiếng với những lời chỉ trích dành cho thể loại nghệ thuật liên quan tới kiến trúc, cho rằng điều quan trọng hơn cả với một nghệ sĩ là chụp được cái nhìn phong cảnh tổng thể, chứ không phải tập trung vào góc cạnh nhà cửa. Thẩm Quát phê bình tranh của Lý Thành vì không tuân thủ nguyên tắc "nhìn điểm nhỏ từ góc nhìn lớn" khi khắc họa các tòa nhà. Ngoài thú sưu tầm đồ cổ của tầng lớp thân sĩ, sĩ đại phu thời nhà Tống đặc biệt quan tâm tới việc thu thập cổ vật từ các địa điểm khảo cổ. Mục đích của họ là hồi sinh các bảo vật cổ trong nghi lễ nhà nước. Sĩ đại phu nhà Tống tuyên bố rằng họ đã tìm được những món bảo vật đồng điếu, có niên đại từ thời nhà Thương (1600–1046 TCN), mang ký tự chữ viết của triều đại này. Một số cố gắng tái tạo bảo vật đồng chỉ bằng trí tưởng tượng, mà không cần quan sát hiện vật hữu hình; cách làm việc này bị Thẩm Quát chỉ trích trong tác phẩm năm 1088 của ông. Thực tế, Thẩm Quát đã chỉ ra nhiều vấn đề trong ngành khảo cổ học đương thời. Ông phản đối ý kiến của đồng nghiệp khi họ cho rằng các bảo vật là sản phẩm được tạo ra bởi những "nhà hiền triết" trong truyền thuyết hoặc tầng lớp quý tộc cổ đại; đưa ra kết luận đúng đắn rằng đồ thủ công mỹ nghệ cổ đại thực chất là tác phẩm của nghệ nhân và thường dân thời trước. Thẩm Quát cũng không hài lòng với việc đồng nghiệp chỉ theo đuổi khảo cổ học nhằm nâng cấp nghi lễ nhà nước, vì ông không những có cách tiếp cận khảo cổ học liên ngành, mà còn nhấn mạnh việc nghiên cứu chức năng và điều tra quy trình sản xuất ban đầu của cổ vật. Thẩm Quát kết hợp văn bản cổ với mô hình hỗn thiên nghi hiện có, để tạo ra một phiên bản hỗn thiên nghi theo tiêu chuẩn cũ. Ông mô tả một số loại vũ khí cổ đại, chẳng hạn như nỏ có ống ngắm chia tỷ lệ. Trong quá trình thử nghiệm tiết nhịp âm nhạc cổ đại, Thẩm Quát đề xuất nên treo "biên chung" bằng một loại cán rỗng ruột. Bất chấp sự quan tâm quá mức của thân sĩ đối với khảo cổ học hầu như chỉ đơn thuần là để phục sinh nghi lễ nhà nước, một số đồng nghiệp của Thẩm Quát có cách làm việc tương tự ông. Âu Dương Tu (1007–1072) cùng thời với Thẩm Quát, đã biên soạn một danh sách phân tích các bản chà nổi trên đá và đồng, có thể xem là ý tưởng tiên phong trong ngành kim thạch học và khảo cổ học. Trong thế kỷ 11, các sĩ đại phu nhà Tống đã khám phá ra khu miếu Vũ Lương (78–151). Họ chà nổi phù điêu và họa tiết chạm khắc trên các bức tường lăng mộ, để tiện đem đi nơi khác phân tích. Nhận xét về mức độ tin cậy của những dấu tích lịch sử ra đời nhiều năm sau sự kiện, Triệu Minh Thành khẳng định ".. chữ khắc trên đá và đồng được tạo ra cùng thời điểm với sự kiện mà chúng mô tả nên hoàn toàn đáng tin cậy và người ta có thể nhận ra ở chúng nhiều điểm khác biệt." Sử gia R.C. Rudolph nói rằng việc Triệu Minh Thành (1081–1129) và nhiều học giả nhà Tống nhấn mạnh công tác tham khảo nguồn tài liệu đương thời để xác định niên đại chính xác, tương tự như mối quan tâm của sử gia người Đức Leopold von Ranke (1795–1886). Hồng Mại (1123–1202) chỉ trích gay gắt "bác cổ đồ" – thứ mà ông gọi là danh mục khảo cổ "lố bịch" của triều đình – được biên soạn giữa những năm Chính Hòa và Tuyên Hòa (1111–1125) thời Tống Huy Tông. Hồng Mại thu lượm bảo vật cổ thời nhà Hán rồi đem so sánh với các mô tả được cung cấp trong "bác cổ đồ" và phát hiện ra nhiều điểm sai lệch tới mức ông phải "ôm bụng mà cười." Theo Hồng Mại, Thừa tướng Sái Kinh (1047–1126) là người phải chịu trách nhiệm cho những sai sót trầm trọng trên khi cấm các học giả đọc và tham khảo sử liệu cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Lý Tiểu Long (tiếng Trung: 李小龍, tiếng Anh: "Bruce Lee," 27 tháng 11 năm 1940 – 20 tháng 7 năm 1973), tên khai sinh là Lý Chấn Phiên, là một cố võ sư, diễn viên kiêm nhà làm phim người Mỹ gốc Hoa. Ông là người sáng lập Tiệt quyền đạo, một triết lý võ thuật kết hợp rút ra từ các môn chiến đấu khác nhau thường được cho là đã mở đường cho võ tổng hợp hiện đại (MMA). Lý Tiểu Long được các nhà phê bình, giới truyền thông và các võ sĩ khác coi là võ sĩ có ảnh hưởng nhất mọi thời đại và là biểu tượng văn hóa đại chúng của thế kỷ 20, người đã thu hẹp khoảng cách giữa Đông và Tây. Ông được ghi nhận là người quảng bá phim điện ảnh hành động Hồng Kông thuộc Anh và giúp thay đổi cách thể hiện người Châu Á trong phim Mỹ. Sinh ra ở San Francisco và lớn lên ở Hồng Kông thuộc Anh, ông được cha giới thiệu với ngành công nghiệp điện ảnh Hồng Kông khi còn là một diễn viên nhí. Tuy nhiên, đây không phải là những bộ phim võ thuật. Kinh nghiệm võ thuật ban đầu của ông bao gồm Vịnh Xuân Quyền (do Diệp Vấn huấn luyện), Thái cực quyền, Quyền anh (chiến thắng một giải đấu quyền anh dành cho lứa tuổi học sinh ở Hồng Kông) và dường như thường xuyên đánh nhau trên đường phố (đánh nhau trong khu phố và trên sân thượng). Năm 1959, ông có quốc tịch Mỹ do được sinh ra, có thể chuyển đến Seattle. Năm 1961, ông đăng ký vào Đại học Washington . Chính trong thời gian ở Mỹ này, ông bắt đầu tính đến việc kiếm tiền bằng cách dạy võ thuật, mặc dù ông khao khát có được sự nghiệp diễn xuất. Ông mở trường võ thuật đầu tiên của mình, hoạt động bên ngoài nhà ở Seattle. Sau đó, sau khi mở thêm trường thứ hai ở Oakland, California, ông đã từng thu hút sự chú ý đáng kể tại Giải vô địch Karate Quốc tế Long Beach năm 1964 ở California bằng cách biểu diễn và diễn thuyết. Sau đó, ông chuyển đến Los Angeles để giảng dạy, nơi các học sinh của ông theo học bao gồm Chuck Norris, Sharon Tate và Kareem Abdul-Jabbar. Vào những năm 1970, các bộ phim do Hollywood và Hồng Kông sản xuất của ông đã nâng các bộ phim võ thuật Hồng Kông lên một tầm cao mới về mức độ phổ biến và được hoan nghênh, làm dấy lên làn sóng quan tâm của phương Tây đối với võ thuật Trung Quốc. Các tác phẩm của ông đã ảnh hưởng và thay đổi đáng kể các bộ phim võ thuật nói riêng và võ thuật trên toàn thế giới nói chung. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông được biết đến nhờ các vai diễn trong năm phim điện ảnh võ thuật của Hồng Kông vào đầu những năm 1970 bao gồm "Đường Sơn đại huynh (1971)", "Tinh Võ Môn (1972)"; "Mãnh Long quá giang (1972)", "Long tranh hổ đấu (1973)" (phim hợp tác giữa công ty Warner Brothers của Hollywood và công ty Hiệp Hòa của Lý Tiểu Long) và "Trò chơi tử thần". Trong đó phim "Mãnh Long quá giang (1972)" do Lý Tiểu Long tự viết kịch bản và làm đạo diễn, hai phim "Long tranh hổ đấu (1973)" và "Trò chơi tử thần" do Robert Clouse làm đạo diễn. Lý Tiểu Long đã trở thành một nhân vật mang tính biểu tượng được biết đến trên toàn thế giới, đặc biệt là với người Trung Quốc, dựa trên vai diễn của ông về chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc trong các bộ phim của mình, và trong số những người Mỹ gốc Á vì đã bất chấp định kiến ​​của người châu Á. Từ những môn võ Vịnh Xuân quyền, Thái cực quyền, quyền anh và võ thuật đường phố, ông đã kết hợp chúng với những ảnh hưởng khác từ nhiều nguồn khác nhau thành tinh thần của triết lý võ thuật cá nhân của mình để sáng lập nên Tiệt quyền đạo. Ông qua đời vào ngày 20 tháng 7 năm 1973 tại Hồng Kông thuộc Anh, hưởng thọ 32 tuổi. Kể từ khi qua đời, ông tiếp tục là người có ảnh hưởng nổi bật đối với các môn võ thuật hiện đại, bao gồm judo, karate, võ tổng hợp và quyền anh, cũng như văn hóa đại chúng hiện đại bao gồm phim, truyền hình, truyện tranh, hoạt hình và trò chơi điện tử. Ông từng được tạp chí "Time" bầu chọn là một trong . Lý Tiểu Long có 2 chị gái Lý Thu Nguyên và Lý Thu Phượng, anh trai Lý Trung Sâm và em trai Lý Chấn Huy (李振輝). Cha là ông Lý Hải Tuyền (李海泉), nghệ sĩ viết kịch của Hồng Kông thuộc Anh, thuộc một trong tứ đại danh hài kịch nói Quảng Đông. Mẹ là bà Hà Ái Du (何愛瑜), con lai người Đức – Trung Quốc được Hà Cam Đường (何甘棠), nhà tư sản của tập đoàn Jardine Matheson, nhà hoạt động xã hội nhận nuôi. Ông Hà Cam Đường là em cùng mẹ khác cha với nhà tư sản Hà Đông (何東), người nhà thuộc gia tộc Hà Hồng Sân. Con trai ruột của Lý Tiểu Long sau này là Lý Quốc Hào cũng là một diễn viên điện ảnh võ thuật như ông. Năm 1939, cha của Lý Tiểu Long là ông Lý Hải Tuyền dẫn theo vợ Hà Ái Du và 3 người con (Lý Thu Nguyên, Lý Thu Phượng và Lý Trung Sâm) từ Hồng Kông thuộc Anh sang khu phố người Hoa (Chinatown) thuộc San Francisco, Mỹ để theo đoàn biểu diễn kịch nói tiếng Quảng Đông ở Mỹ. Lý Tiểu Long sinh năm 1940 tại thành phố San Francisco (Mỹ) nên ông có quốc tịch Mỹ, quê gốc ở Thuận Đức, Phật Sơn, Quảng Đông. Cha ông ban đầu đặt tên ông là Lý Chấn Phiên, mong muốn ông một ngày nào đó có thể nổi tiếng tại thành phố San Francisco. Lý Tiểu Long sinh ra vào buổi sáng sớm và theo âm lịch Trung Quốc là năm Canh Thìn, cha mẹ ông đặt nhũ danh là "Tế Phượng", còn nghệ danh "Lý Tiểu Long" (Bruce Lee) bắt đầu từ phim "Tế Lộ Tường"/The Kid (1950). Còn tên tiếng Anh "Bruce" của Lý Tiểu Long được đặt theo gợi ý của Mary Glover, người y sĩ đã đỡ đẻ tại bệnh viện Đông Hoa, San Francisco. Năm 1941, khi 1 tuổi, Lý Tiểu Long cùng gia đình trở về Hồng Kông thuộc Anh và sống ở căn hộ số 218 đường Nathan. Lý Tiểu Long và em trai ban đầu được nhận vào trường tiểu học St. Mary's Canossian College. Năm 1949, theo yêu cầu của nhà thờ Công giáo, tất cả các nam sinh phải chuyển sang trường Đức Tin (Tak Sun School) sau đó sang trường trung học Công giáo La Salle College. Mặc dù thời niên niếu của Lý Tiểu Long sống trong gia đình khá giả nhưng khu dân cư ngày một đông người, dẫn tạo ra cuộc xung đột băng đảng giành địa bàn, trở nên đông đúc, nguy hiểm hơn. Sự nghiệp diễn xuất. Quá trình vào làng điện ảnh của ông cũng có màu sắc truyền kỳ. Khi Lý Tiểu Long sinh ra tại Mỹ, một phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông có tên là "Golden Gate Girl" (金門女, "Kim Môn Nữ") đang quay tại San Francisco (Mỹ) cần một em bé người Hoa, bố mẹ liền bế Lý Tiểu Long đi đóng phim. Cuối cùng Lý Tiểu Long vừa sinh ra đã trở thành một trong những người Hoa có mặt sớm nhất trong phim của Hồng Kông quay tại Mỹ. Phim "Golden Gate Girl" này được công chiếu vào ngày 27 tháng 5 năm 1941 ở Hồng Kông. Năm 1946, khi 6 tuổi, ông tham gia phim điện ảnh đen trắng mang tên "The Birth of Mankind 1946" của Hồng Kông thuộc Anh. Lúc nhỏ Lý Tiểu Long có vóc người gầy yếu, cha ông muốn con trai có thân hình khỏe mạnh nên đã dạy Thái cực quyền cho ông từ năm lên 7 (năm 1947). Năm 1948, ông tham gia vào phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "Wealth is Like a Dream 1948". Cùng năm 1949, khi 9 tuổi, ông tham gia vào hai phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "Sai See in the Dream 1949" và "The Story of Fan Lei-fa 1949" (phim còn có tựa khác là "The Story Of Fan Lihua 1949"). Năm 1950, ông lần đầu xuất hiện với nghệ danh Lý Long trong phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "Tế Lộ Tường 1950" (細路祥, The Kid 1950). Vì một phần trong tiêu đề phụ của phim "Tế Lộ Tường" và sau đó xuất hiện trên các tờ báo có ghi tên "Lý Long" (李龍). Phim "Tế Lộ Tường 1950" này được công chiếu tại Hồng Kông thuộc Anh vào ngày 30 tháng 5 năm 1950. Sau đó ông tiếp tục tham gia trong hai phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "Blooms and Butterflies 1950" và "Bird On The Wing (1950)". Lý Tiểu Long bị đuổi học năm lớp 4 do đánh nhau và vắng mặt nhiều lần nên chuyển sang trường St. Francis Xavier's College. Theo tiểu sử chuyên sâu của Matthew Polly, "", biệt danh của Lý Tiểu Long ở trường là của Gorilla ("Con Khỉ Đột"). Ông có được biệt danh có phần "xấu hổ" này bởi vì, như Hawkins Cheung, bạn học của ông tại trường St. Francis Xavier, nhớ lại, "trông cậu ta vạm vỡ và thường di chuyển với hai cánh tay 'bè' ra ở hai bên". Hầu hết các học sinh đều sợ Lý Tiểu Long, nhưng vì Hawkins Cheung là một trong những người bạn thân nhất của ông, Hawkins Cheung đã gọi Lý Tiểu Long bằng một cái tên mà chỉ có mình anh gọi: Chicken Legs ("Chân Gà"), vì thân hình vạm vỡ của Lý Tiểu Long nhưng đôi chân có phần gầy gò. Hawkins Cheung nói rằng Lý Tiểu Long thường nổi giận với anh khi bị gọi bằng cái tên này và sẽ rượt theo anh chạy khắp sân trường. Năm 1951, khi 11 tuổi, ông tham gia phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "Infancy 1951". Năm 1953, khi 13 tuổi, ông tham gia vào hai phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "A Myriad Homes 1953" (phim còn có tựa khác là "A Home of a Million Gold 1953") và "Blame it on Father 1953". Ông tham gia thêm 3 phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông cùng năm 1953 là "The Guiding Light 1953" (phim còn có tựa khác là "A Son Is Born 1953"), "A Mother's Tears 1953" (phim còn có tựa khác là "A Mother Remembers 1953"), "In the Face of Demolition 1953". Trong đó, phim "In the Face of Demolition 1953" là phim đầu tiên Lý Tiểu Long được đóng vai nam chính tên là Hoa Tể, dù khi đó ông mới 13 tuổi. Phim được công chiếu tại Hồng Kông thuộc Anh vào ngày 27 tháng 11 năm 1953. Từ các vai nhí này, tài năng diễn xuất của ông dần bộc lộ. Ông diễn rất tự nhiên, diễn như không diễn. Mặc dù xuất thân từ một gia đình trung lưu, Lý Tiểu Long lại là một người mê trà, và đặc biệt thích đánh nhau trên đường phố, trong khu phố và trên sân thượng. ""Khi còn là một đứa trẻ ở Hồng Kông, tôi là một kẻ bắt nạt và luôn đi gây ra những trận đánh nhau", Lý Tiểu Long từng nói với tạp chí Đai đen Black Belt Magazine. "Chúng tôi sử dụng dây xích và những cây bút có những con dao nhỏ giấu bên trong. Rồi một ngày nọ, tôi bắt đầu tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không có nhóm của mình bên cạnh mỗi khi tôi đánh nhau". Tiết lộ này chính là bước ngoặt giúp thay đổi cuộc đời huyền thoại họ Lý khi ông bắt đầu nghĩ về việc học võ thuật vào năm 13 tuổi (năm 1953). "Tôi chỉ bắt đầu học kung fu khi tôi cảm thấy bất an"" ông nói. Ông quyết tâm học võ và ông theo học Vịnh Xuân quyền cùng danh sư Diệp Vấn. Diệp Vấn về sau là trưởng môn hệ phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông. Thực tế người trực tiếp đào tạo Vịnh Xuân Quyền cho Lý Tiểu Long là Wong Shun-leung (đệ tử giỏi nhất của Diệp Vấn). Năm 1954, khi 14 tuổi, Lý Tiểu Long theo học vũ đạo cha-cha-cha. Sau đó ông còn tham gia trong 5 phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "An Orphan's Tragedy 1955" (phim này cha của ông là Lý Hải Tuyền đóng chung với ông, công chiếu tại Hồng Kông thuộc Anh vào ngày 11 tháng 2 năm 1955), "Love 1955", "Love Part 2 1955", "We Owe It to Our Children 1955" và "The Faithful Wife 1955". Sau đó, Lý Tiểu Long tham gia vào phim điện ảnh có màu của Hồng Kông là "Orphan's Song 1955". Phim "Orphan's Song 1955" này là phim điện ảnh có màu đầu tiên mà Lý Tiểu Long từng tham gia. Năm 1956, khi 16 tuổi, Lý Tiểu Long tham gia phim điện ảnh đen trắng của Hồng Kông là "The Wise Guys Who Fool Around 1956" (phim còn có tựa khác là "Sweet Time Together 1956"). Sau đó Lý Tiểu Long lại tham gia phim điện ảnh có màu của Hồng Kông là "Too Late For Divorce 1956". Năm 1957, khi 17 tuổi, Lý Tiểu Long tham gia vào phim điện ảnh có màu của Hồng Kông là "The Thunderstorm 1957". Trong phim này, Lý Tiểu Long vào vai nam chính có tên là Chow Chung. Phim này được công chiếu tại Hồng Kông thuộc Anh vào ngày 14 tháng 3 năm 1957. Sau đó Lý Tiểu Long tham gia vào phim điện ảnh trắng đen của Hồng Kông là "Darling Girl 1957". Với vũ đạo cha-cha-cha, ông giành chức vô địch trong Giải vô địch cha-cha-cha thuộc địa vương thất ("Crown Colony Cha-Cha Championship") tại Hồng Kông thuộc Anh dành cho lứa tuổi học sinh vào năm 1958 (khi đó ông 18 tuổi). Cũng trong năm này Lý Tiểu Long có một vai nam chính tên là Sam trong phim điện ảnh có màu của Hồng Kông là "The Orphan" (phim được công chiếu ở Hồng Kông thuộc Anh vào ngày 3 tháng 3 năm 1960, khi đó Lý Tiểu Long đã sang Mỹ). Bộ phim này đã thể hiện đúng hiện trạng Hồng Kông thời đó khi Hội Tam Hoàng đang hoành hành. Cùng năm 1958 đó, ông tham gia Giải vô địch quyền Anh liên trường Hồng Kông ("Hong Kong Inter-School Boxing Championship"). Ông đã đánh bại nhà vô địch 3 năm liền là David Kefield để đoạt chức vô địch trong năm đó. Thành danh trong võ nghiệp. Những lớp võ đầu tiên khi sang Mỹ. Năm 1959, do có xích mích với Hội Tam Hoàng mà Lý Tiểu Long bị cảnh sát của Hồng Kông thuộc Anh điều tra. Vì lo lắng cho con nên bố mẹ ông đã quyết định đưa ông sang Mỹ, quay lại với San Francisco. Với 15 đô la Mỹ của bố và 100 đô la Mỹ của mẹ, Lý Tiểu Long đã đến Mỹ và sống với một người bạn cũ của bố là võ sư Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee). Ông làm việc kiếm tiền trong cộng đồng người Hoa và về sau chuyển tới Seattle, Washington để làm việc cho Thiệu Hán Sinh (sinh năm 1900), một người bạn khác của cha ông. Lý Tiểu Long đã theo học với Thiệu Hán Sinh một số bài võ như "Tinh võ hội tiết quyền", "Thất tinh Đường lang băng bộ quyền" của Đường Lang Quyền, Hồng Gia Quyền và Nam Quyền. Lý Tiểu Long sống trong một căn phòng trên gác của 1 nhà hàng (do Ruby Chow làm chủ) tại Seattle với vai trò bồi bàn. Cuối cùng Lý Tiểu Long gia nhập trường Trung học Công nghệ Edison tại Seattle. Tại đây, Lý Tiểu Long gặp và kết bạn với võ sư Jesse Glover, người Mỹ đang theo học chuyên ngành tâm lý học và là nhà vô địch judo. Lý Tiểu Long tập judo với Jesse Glover. Lý Tiểu Long đã thu hút võ sư James DeMile người Mỹ vào nhóm học trò đầu tiên của mình từ màn thể hiện kung fu của ông trước công chúng khi ông đang học tại trường Trung học Công nghệ Edison ở Seattle. Trong lúc tìm kiếm một tình nguyện viên trong khán giả, Lý Tiểu Long (khi đó 19 tuổi) đã phát hiện ra James DeMile (20-21 tuổi), cựu vô địch quyền anh hạng nặng của Lực lượng Không quân Mỹ. Lý Tiểu Long chú ý đến dáng người thể thao của James DeMile và gọi anh ấy lên sân khấu. James DeMile nghĩ rằng anh sẽ dễ dàng ngăn cản Lý Tiểu Long vì đối thủ của anh ta chỉ cao 5'7" và nặng không quá 140 pound, nhưng Lý Tiểu Long đã sớm đánh bại anh ta. Quá ấn tượng, James DeMile quay sang Lý Tiểu Long sau buổi biểu diễn để hỏi liệu anh ta có thể theo học võ của ông hay không. Những buổi biểu diễn võ thuật công khai này đã thu hút một lượng nhỏ người theo dõi. Jesse Glover từng được tiếp cận với kung fu cổ điển từ võ sư Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee) nên bắt đầu mở một lớp học kung fu của riêng mình và Leroy Garcia và James DeMile đã đến và hỗ trợ anh ấy, đây là lớp học liên quan đến nghệ thuật Trấn Phan độc lập đầu tiên. Lý Tiểu Long biết được và không cho Jesse Glover dạy võ. Jesse Glover sau đó có xin phép Lý Tiểu Long nhưng Lý Tiểu Long vẫn không cho dạy (Theo bài phỏng vấn của Jesse Glover trên tạp chí Kung Fu năm 1994). Lý Tiểu Long quyết định chia sẻ kiến thức võ thuật của mình. Khởi đầu là những buổi đấu khẩu không chính thức giữa những người bạn sau này trở thành một công việc kinh doanh ba trường dạy võ, củng cố cách tiếp cận tiên phong của Lý Tiểu Long đối với nghệ thuật chiến đấu tay đôi. Lý Tiểu Long khi đó đã phát triển phương pháp của riêng mình mà ông gọi là kung fu phi cổ điển nên ông đề nghị Jesse Glover học võ từ ông. Và Jesse Glover trở thành học trò đầu tiên của Lý Tiểu Long (sau này Jesse Glover xuất bản hai sách có tựa là ""Kung Fu phi cổ điển của Lý Tiểu Long"/"Bruce Lee's Non-Classical Gung Fu" và "Kung Fu phi cổ điển"/"Non-Classical Gung Fu"). Leroy Garcia và James DeMile lần lượt trở thành học trò thứ 2 và 3 của Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long đã đo tốc độ đấm và đóng của ông bằng đồng hồ bấm giờ điện tại nhà của Jesse Glover. Trong cuốn sách "Bruce Lee - Between Wing Chun and Jeet Kun Do"", Jesse Glover nói rằng, Lý Tiểu Long có thể tung một cú đấm trong khoảng 5 phần trăm trên một giây (0,05 giây) từ khoảng cách 3 feet và có thể áp sát từ khoảng cách 5 feet trong khoảng 8 phần trăm giây trên một giây (0,08 giây). Trong khi thời gian riêng của Jesse Glover từ 3 feet là từ 11 đến 18 phần trăm giây (0,11 và 0,18 giây). Đóng cửa từ khoảng cách 5 feet, họ ở độ dưới 20 (0,21–0,23). Cả nhóm học trò của Lý Tiểu Long đã luyện tập bên ngoài nhà hàng của Ruby Chow, nơi Lý Tiểu Long làm phục vụ bàn. Sau một ca dài nhận đơn đặt hàng và phục vụ khách hàng, James DeMile đã giới thiệu Lý Tiểu Long với một trong ba người đàn ông mà sau này ông sẽ công nhận là người hướng dẫn, võ sư karate Taky Kimura (Mộc Thôn, người Nhật, 38 tuổi). Lý Tiểu Long đã có 1 cuộc tỷ võ với võ sư Taky Kimura và đánh hạ Taky Kimura. Taky Kimura sau đó trở thành bạn tốt của Lý Tiểu Long, truyền dạy các chiêu thức của Karate cho Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long dạy lại Kung fu cho Taky Kimura. Taky Kimura trở thành một phần của những học trò đầu tiên của Lý Tiểu Long ở Mỹ, trong đó có Jesse Glover, James DeMile, Ed Hart, Skipp Ellsworth và LeRoy Garcia. Trong cuốn sách "Disciples of the Dragon", James DeMile đã nói rằng tất cả học trò của Lý Tiểu Long khi đó đều làm hình nộm để Lý Tiểu Long luyện tập. Một trong những lý do khiến Lý Tiểu Long sửa đổi các kỹ thuật của Vịnh Xuân Quyền và tạo ra Tiệt Quyền Đạo là vì người phương Tây to lớn và khỏe hơn Lý Tiểu Long và một khi họ học được những điều cơ bản của Vịnh Xuân Quyền, họ có thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với ông. Sau đó Jesse Golver giúp Lý Tiểu Long nhận thêm nhiều học trò hơn. Lý Tiểu Long bắt đầu dạy võ trong sân sau và ở công viên của thành phố để kiếm thêm tiền. Học trò của Lý Tiểu Long có rất nhiều người không phải là người Hoa, điều này cho thấy ông đã phá bỏ nguyên tắc "không dạy võ Trung Quốc cho người nước ngoài" suốt hàng ngàn năm qua. Taky Kimura trở thành học trò, trợ lý của Lý Tiểu Long và vào thời điểm đó, là "bạn thân" của ông. Họ cùng nhau, họ luyện tập, đấu kiếm, huấn luyện và sau đó thành lập võ quán đầu tiên của Lý Tiểu Long (gọi là ""Chấn Phiên Võ Quán", trong đó "Chấn Phiên"" là tên thật của Lý Tiểu Long) vào năm 1960. Họ thuê một căn phòng nhỏ ở tầng hầm có lối vào nửa cửa từ Phố 8 ở Khu Phố Tàu (Chinatown) của Seattle, nơi Taky Kimura trở thành Trợ lý Huấn luyện viên đầu tiên của Lý Tiểu Long. Tháng 3 năm 1961, 21 tuổi, Lý Tiểu Long vào học khoa Triết học của Đại học Washington. Cũng vào khoảng thời gian này ông đã mở lớp dạy Kung fu cho sinh viên của trường. Một trong những người bạn gái thuở đầu của Lý Tiểu Long là một sinh viên người Mỹ gốc Nhật Bản tên là Amy Sanbo. Lúc đầu, cô từ chối những lời tỏ tình lãng mạn của ông, nhưng Lý Tiểu Long vẫn kiên trì theo đuổi đến cùng. Bước ngoặt thật sự đến khi cô khi vô tình giẫm lên một chiếc đinh trong lớp học múa ba lê và sau đó phải di chuyển bằng nạng. Khi Lý Tiểu Long nhận thấy Amy Sanbo đang chật vật để leo lên một cầu thang có bậc thềm cao, ông nhấc cô lên và bế cô lên lầu. Hai người đã có một mối quan hệ gắn bó trong hai năm sau khoảnh khắc đó. Sau đó Lý Tiểu Long đã có lần đấu võ với 1 võ sư Judo là Wally Jay. Cuộc tỉ võ bất phân thắng bại và Lý Tiểu Long đã kết bạn với Wally Jay. Wally Jay đã truyền dạy các chiêu thức của Judo và Jujitsu cho Lý Tiểu Long và các cộng sự của ông. Lý Tiểu Long dạy lại kung fu cho Wally Jay. Võ sư Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee) ở Oakland, Mỹ đã giúp Lý Tiểu Long xuất bản cuốn sách đầu tiên của ông vào đầu năm 1963. Sách có tựa đề là ""Kung Fu Trung Quốc: Nghệ thuật tự vệ triết học" ("Chinese Kung-Fu: The Philosophical Art of Self Defense"). Đây là cuốn sách do Lý Tiểu Long viết thể hiện quan điểm và triết lý võ thuật của ông. Nó mô tả phong cách kung fu ban đầu của ông chủ yếu dựa trên Vịnh Xuân Quyền. Trong cuốn sách "Tưởng nhớ sư phụ: Lý Tiểu Long, Nghiêm Kính Hải và sự sáng tạo Tiệt Quyền Đạo" ("Remembering the Master: Bruce Lee, James Yimm Lee and the Creation of Jeet Kune Do") của Sid Campbell và Greglon Yimm Lee (con trai của Nghiêm Kính Hải), số lượng xuất bản ban đầu của sách "Kung Fu Trung Quốc: Nghệ thuật tự vệ triết học"" là 1500 bản. Cuốn sách được bán thông qua công ty Oriental Book Sales của Nghiêm Kính Hải với giá 5 đô la Mỹ. Ngoài cuốn sách, một biểu đồ hướng dẫn Kung Fu Trung Quốc đi kèm có sẵn với giá 1 đô la Mỹ. Mùa hè năm 1963, Lý Tiểu Long cầu hôn với cô bạn gái Amy Sanbo sau 2 năm hẹn hò nhưng Lý Tiểu Long lại bị cô từ chối. Sau đó hai người chia tay nhau. Kế đó Lý Tiểu Long đại diện cho trường Đại học Washington đi thuyết giảng trong 1 buổi tọa đàm về Triết học và biểu diễn kung fu tại Trường trung học Garfield. Tại đây ông gặp Linda C. Emery (nhỏ hơn ông 5 tuổi, người mà sau này trở thành vợ của ông). Lý Tiểu Long đã biểu diễn thốn quyền, một kĩ thuật đặc thù của nguyên lý "đoản kiều phát lực" trong võ phái Vịnh Xuân Quyền. Linda C. Emery bị cuốn hút trước sự thuyết giảng và phong cách ra đòn kung fu của Lý Tiểu Long. Cuối cùng, cô ấy đã trở thành học trò kung fu của Lý Tiểu Long khi cô học dự bị y khoa tại Đại học Washington (học cùng trường với Lý Tiểu Long). Lý Tiểu Long trở lại Hồng Kông thuộc Anh với bạn là Doug Palmer. Đây là lần đầu Lý Tiểu Long về thăm gia đình kể từ khi sang Mỹ. Trong lần trở lại Hồng Kông thuộc Anh này, Lý Tiểu Long có quay lại với Diệp Vấn xin theo học nốt phần cuối bài Mộc nhân thung mà Lý Tiểu Long chưa học hết, nhưng bị Diệp Vấn từ chối. Sau đó ông phải quay lại Seattle, Mỹ để tiếp tục việc học tập của mình, đồng thời bắt đầu nghiên cứu tìm cách dung hợp kỹ thuật của các võ phái để phát triển một đường hướng riêng. Ngày 25 tháng 10 năm 1963 (23 tuổi), Lý Tiểu Long có buổi hẹn hò đầu tiên với Linda C. Emery. Họ đã có buổi ăn tối tại tầng trên cùng của nhà hàng Space Needle. Thời gian này Lý Tiểu Long dời ""Chấn Phiên Võ Quán" của ông từ tầng hầm ở Phố 8, Khu Phố Tàu (Chinatown) của Seattle tới đường 4750 University, Seattle gần khu sân bãi của trường đại học và tại đây, ông dạy một vài đệ tử trong số đó có cả người Mỹ. Nhờ Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee) giới thiệu, Lý Tiểu Long làm quen và kết bạn với Ed Parker. Ông được Ed Parker truyền dạy thêm những chiêu thức karate thượng thừa cho ông. Năm 1964, Lý Tiểu Long bàn với Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee) kế hoạch mở "Chấn Phiên Võ Quán" thứ hai tại Oakland, California. Kế hoạch được thực hiện, Lý Tiểu Long nghỉ học ở Đại học Washington (dù ông chỉ còn 1 năm học nữa là tốt nghiệp), rời Seattle để bắt đầu võ quán thứ hai ở Oakland. Người bạn tốt của Lý Tiểu Long là Taky Kimura đảm đương vai trò người đứng đầu. Còn Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee) cũng sẽ giảng dạy kung fu trong võ quán này trong những lúc Lý Tiểu Long vắng mặt. "Chấn Phiên Võ Quán"" ở Seattle thì Lý Tiểu Long giao lại cho võ sư Jesse Golver trông coi. Ngày 2 tháng 8 năm 1964, võ sư Ed Parker, được biết đến như cha đẻ của karate Mĩ ("Kempo"), mời Lý Tiểu Long đi tham gia Giải vô địch karate quốc tế Long Beach, California ("Long Beach International Karate Championships"), nơi Lý Tiểu Long được ra mắt với cộng đồng võ thuật quốc tế. Lý Tiểu Long xuất hiện tại buổi khai mạc của giải đấu và biểu diễn đòn "Nhất Thốn quyền" (còn được gọi là "Nhật Tự Xung Quyền") với Robert Baker (võ sư đến từ Stockton, California) và hít đất với 2 ngón tay. Theo "Sách Kỷ lục Guinness Thế giới", Lý Tiểu Long nắm giữ bảy danh hiệu liên tục từ buổi biểu diễn năm 1964 này. Ông có thể thực hiện 400 lần hít đất trên một tay, 200 lần hít đất trên hai ngón tay và 100 lần hít đất trên một ngón tay cái. Lý Tiểu Long cũng có thể đấm 9 lần trong một giây trong khi kỹ thuật "cú đấm một inch" của ông có thể buộc một đối thủ nặng 75 kg (Robert Baker) văng ra xa 6 mét, chỉ có một số ít. Ed Paker đã trao giải vô địch Karate cho Lý Tiểu Long vì buổi trình diễn cống hiến cho khán giả tại giải đấu này. ""Tôi đã nói với Bruce (Lý Tiểu Long) rằng đừng biểu diễn kiểu này nữa", Robert Baker nhớ lại và nói thêm: "Khi ông ấy (Lý Tiểu Long) đấm tôi lần trước, tôi phải nghỉ làm ở nhà vì cơn đau ở ngực không thể chịu nổi". Trong cuộc phỏng vấn sau đó, khi được phóng viên hỏi rằng ông đã dùng loại võ gì để đánh văng Robert Baker, Lý Tiểu Long đáp rằng chính là võ kung fu. Từ đó trong từ điển tiếng Anh đã xuất hiện hai chữ "Kung fu". Danh tiếng của Lý Tiểu Long càng ngày nổi ở Mỹ. Robert Baker sau đó xin làm học trò của Lý Tiểu Long. Đoạn phim chất lượng cao, duy nhất hiện có về buổi biểu diễn Vịnh Xuân Quyền năm 1964 của Lý Tiểu Long được quay bằng máy ảnh 16 mm. Chủ sở hữu duy nhất của video dài 8.5 phút này là công ty Rising Sun Productions có trụ sở tại California. Chủ sở hữu của công ty này và được báo cáo là người phát hiện ra video này là Don Warrener. Các thế hệ chất lượng kém hơn của đoạn phim này có thể được xem trên Internet. Lý Tiểu Long đã gặp võ sư Jhoon Rhee người Hàn Quốc tại giải vô địch karate quốc tế này. Jhoon Rhee đạt kết quả tốt trong giải đấu. Jhoon Rhee kết bạn với Lý Tiểu Long - một mối quan hệ mà cả hai đều có lợi khi là võ sĩ. Lý Tiểu Long đã dạy cho Jhoon Rhee một cú đấm cực nhanh gần như không thể đỡ được. Jhoon Rhee đặt tên cho nó là "Accupunch"". Tại giải giải vô địch karate quốc tế này còn có sự hiện diện Jay Sebring và William Dozier, một nhà sản xuất, người đang tìm kiếm một diễn viên cho một bộ phim truyền hình mà ông ta đang làm. Jay Sebring đưa bộ phim "Những màn biểu diễn của Lý Tiểu Long" ("Demonstrations of Bruce Lee") cho William Dozier, người rất ấn tượng với khả năng siêu phàm của Lý Tiểu Long. Ngày 4 tháng 8 năm 1964, khi 24 tuổi, Lý Tiểu Long trở lại Seattle để cầu hôn Linda C. Emery (khi đó cô đã mang thai Lý Quốc Hào được 4 tháng). Ngày 17 tháng 8 cùng năm 1964 thì ông cưới Linda C. Emery. Taky Kimura làm phù rể cho lễ cưới của Lý Tiểu Long. Theo quy định của Mỹ và phương Tây, sau khi lấy chồng, Linda C. Emery phải lấy họ Lee (Lý) của Lý Tiểu Long gắn vào tên mình. Từ đó cô ấy được gọi là Linda Lee. Khi đó Linda Lee còn thiếu vài tín chỉ nữa là tốt nghiệp Đại học Washington, nhưng cô đã cùng Lý Tiểu Long dừng việc học ở Đại học Washington. Ngay sau đó đôi vợ chồng trẻ chuyển đến Oakland. Jay Sebring mời Lý Tiểu Long đến Los Angeles diễn thử trong bộ phim truyền hình có tên là "Những màn biểu diễn của Lý Tiểu Long". Lý Tiểu Long lập tức bay tới Los Angeles, California để diễn thử. Tiếc này bộ phim này không bao giờ được hoàn thành và không thể công chiếu vì mâu thuẫn giữa Lý Tiểu Long và William Dozier. Võ sư Wally Jay trao giải triển lãm kỷ niệm cho Lý Tiểu Long trong buổi biểu diễn kung fu của ông tại câu lạc bộ Island Judo Jujitsu (của Wally Jay) ở Alameda, California. Nghiên cứu và sáng tạo ra Tiệt quyền đạo, tiền thân của MMA ngày nay. Giao đấu với Hoàng Trạch Dân năm 1964 và những tranh cãi. Lý Tiểu Long từng đưa ra lời thách đấu công khai trong một buổi biểu diễn tại một nhà hát ở khu phố Tàu (Chinatown), nơi ông tuyên bố có thể đánh bại bất kỳ võ sĩ nào ở San Francisco. Tháng 11 năm 1964, chỉ vài tháng sau khi cưới Linda Lee, Lý Tiểu Long nhận được lời thách đấu của Hoàng Trạch Dân ("Wong Jack-man"), một thầy dạy Kungfu tại khu phố Tàu (Chinatown), Oakland của Mỹ. Theo kể lại của Linda Lee, Hoàng Trạch Dân lên án việc Lý Tiểu Long đã phá bỏ nguyên tắc "không dạy võ Trung Quốc cho người nước ngoài", chỉ trích Lý Tiểu Long nhận đệ tử toàn là người nước ngoài, làm mất lòng nhiều võ sư Trung Quốc ở San Francisco. Hoàng Trạch Dân phản đối quan điểm cho rằng Lý Tiểu Long đang đấu tranh để giành quyền dạy võ cho người da trắng vì hầu hết học sinh của ông là người Trung Quốc. Hoàng Trạch Dân nói rằng anh ta đã yêu cầu một trận đấu công khai với Lý Tiểu Long vì lời thách đấu công khai của Lý Tiểu Long tại San Francisco. Hoàng Trạch Dân nói rằng sau khi một người quen chung gửi một bức thư từ Lý Tiểu Long mời anh ta chiến đấu, anh ta đã đến "Chấn Phiên Võ Quán" tại Oakland của Lý Tiểu Long để thách đấu với ông. Lý Tiểu Long và Hoàng Trạch Dân có thỏa thuận với nhau rằng nếu Lý Tiểu Long thua, ông sẽ phải đóng cửa võ quán của mình hoặc ngưng dạy những người da trắng, còn nếu Hoàng Trạch Dân thua, ông ta sẽ phải ngừng dạy võ. Hoàng Trạch Dân không tin là Lý Tiểu Long sẽ dám nhận lời thách đấu, và cố trì hoãn trận đấu. Lý Tiểu Long đã nhận lời và yêu cầu họ không phải đợi. Theo tác giả Norman Borine, Hoàng Trạch Dân muốn biết các quy tắc của trận đấu và vạch ra những hạn chế đối với các kỹ thuật như đánh vào mặt, đá vào háng và đâm vào mắt. Lý Tiểu Long không trả lời nên Hoàng Trạch Dân phải đồng ý rằng sẽ có một cuộc quyết đấu mà không có giới hạn nào kỹ thuật nào. Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee), Linda Lee, William Chen (một võ sư Thái Cực Quyền) và David Chin là những nhân chứng của trận đấu giữa Lý Tiểu Long và Hoàng Trạch Dân được tổ chức riêng tại Chinatown, Oakland vào tháng 12 năm 1964, khi đó Lý Tiểu Long 24 tuổi và Hoàng Trach Dân 23 tuổi. Theo Linda Lee, trận đấu chỉ kéo dài ba phút với phần thắng quyết định cho Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long đã từng đưa ra một mô tả, mà không nêu tên rõ ràng của Hoàng Trạch Dân, trong một cuộc phỏng vấn với "Tạp chí Đai đen" ("Black Belt Magazine") của Mỹ rằng: "Tôi đã đánh nhau ở San Francisco với một con mèo Kung-Fu (Hoàng Trạch Dân), và sau một cuộc chạm trán ngắn ngủi, tên khốn đó bắt đầu bỏ chạy. Tôi đuổi theo tên đó và, như một kẻ ngốc, liên tục đấm tên đó vào sau đầu và lưng nó. Chẳng mấy chốc, nắm đấm của tôi bắt đầu sưng lên vì đánh vào cái đầu cứng của tên đó. Ngay lúc đó tôi nhận ra Vịnh Xuân Quyền không quá thực dụng và bắt đầu thay đổi cách chiến đấu của mình."" Linda Lee kể lại cảnh đó trong cuốn sách """ ("Bruce Lee: The Man Only I Knew") (1975) như sau: "Hai người bước ra, cúi chào trang trọng và sau đó bắt đầu chiến đấu. Hoàng Trạch Dân áp dụng thế đánh cổ điển trong khi Lý Tiểu Long, lúc đó vẫn đang sử dụng phong cách Vịnh Xuân Quyền của mình, đã tung ra một loạt cú đấm thẳng. Trong vòng một phút, người của Hoàng Trạch Dân đã cố gắng để dừng cuộc chiến khi Lý Tiểu Long bắt đầu nhiệt tình hơn với việc chiến đấu. Nghiêm Kính Hải cảnh báo họ nên để cuộc chiến tiếp tục. Một phút sau, khi Lý Tiểu Long tiếp tục cuộc tấn công một cách nghiêm túc, Hoàng Trạch Dân bắt đầu lùi lại nhanh nhất có thể. Ngay lập tức, trong khoảnh khắc, mẩu tin lưu niệm có nguy cơ biến thành một trò hề khi Hoàng Trạch Dân thực sự quay đầu và bỏ chạy. Nhưng Lý Tiểu Long đã vồ lấy anh ta như một con báo đang lao tới và đẩy anh ta xuống sàn, nơi Lý Tiểu Long bắt đầu đấm anh ta vào trạng thái mất tinh thần. ""Đủ chưa?" Lý Tiểu Long hét lên, "Đủ rồi!"", Hoàng Trạch Dân cầu xin. Lý Tiểu Long yêu cầu trả lời lần thứ hai cho câu hỏi của ông để đảm bảo rằng ông hiểu rằng đây là kết thúc của cuộc chiến." Điều này trái ngược với lời kể của Hoàng Trạch Dân và William Chen về trận đấu khi họ nói rằng trận đấu kéo dài bất thường 20–25 phút. Hoàng Trạch Dân không hài lòng với lời kể của Lý Tiểu Long về trận đấu trên "Tạp chí Đai đen" ("Black Belt Magazine") của Mỹ và đã xuất bản phiên bản của riêng anh ấy trên "Tuần báo Thái Bình Dương của Trung Quốc" ("Chinese Pacific Weekly"), một tờ báo tiếng Trung ở San Francisco. Bài báo, được đăng trên trang nhất, bao gồm một mô tả chi tiết về cuộc chiến của Hoàng Trạch Dân, kết thúc bằng lời mời ra mắt công chúng màn tái đấu nếu Lý Tiểu Long nhận thấy thông tin của anh không chính xác hoặc không trung thực. Lý Tiểu Long không đưa ra phản hồi công khai nào về bài báo và chuyển khỏi khu vực ngay sau đó. Trong "Bruce Lee: A Life"" của Matthew Polly, người chia sẻ một vài hiểu biết sâu sắc từ quá trình phỏng vấn và nghiên cứu sâu rộng của mình, anh ấy nói rằng theo David Chin, người thay mặt Hoàng Trạch Dân dàn xếp trận đấu, Lý Tiểu Long đã áp đảo Hoàng Trạch Dân với loạt tấn công mở đầu của ông khi Hoàng Trạch Dân đang đến gần để chào theo thông lệ, khiến Hoàng Trạch Dân quay lưng lại và bỏ chạy. Lý Tiểu Long đuổi theo anh ta quanh phòng cho đến khi Hoàng Trạch Dân vấp ngã. Lý Tiểu Long nhảy lên người Hoàng Trạch Dân và tung những cú đấm trời giáng, buộc David Chin phải can thiệp và giải cứu Hoàng Trạch Dân. Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee), bạn cũ của cha của Lý Tiểu Long, cũng ra ngăn Lý Tiểu Long lại, phòng ngừa án mạng xảy ra. Hoàng Trạch Dân sau đó bày tỏ sự hối hận vì đã chiến đấu với Lý Tiểu Long. Anh ta cho rằng đó là sự kiêu ngạo của cả Lý Tiểu Long và bản thân anh ta. Nghiên cứu và sáng tạo ra Tiệt quyền đạo. Sau khi dùng Vịnh Xuấn Quyền trong cuộc đấu với Hoàng Trạch Dân không mấy hiệu quả, Lý Tiểu Long bắt đầu suy nghĩ về bản thân. Ông muốn sáng tạo ra một nghệ thuật tư tưởng võ học mới. Đó chính là cơ sở sau này cho môn võ Tiệt quyền đạo ("Jeet Kune Do"), "Nghệ thuật chiến đấu bằng cách chặn đứng đòn tấn công của đối phương" đã được ra đời. Ông đã từng vật lộn với việc đặt tên cho nghệ thuật của mình khi ông liên tục tránh xa bất kỳ kiểu kết tinh nào và do đó hạn chế bản chất của nó, tuy nhiên, nhu cầu đơn giản để đề cập đến nó theo một cách cụ thể nào đó đã chiến thắng và cái tên Tiệt quyền đạo ra đời. Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道 (Tiệt quyền đạo). "Tiệt" có nghĩa là "cắt đứt" hay "một đoạn". Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tiệt quyền đạo (nghĩa là "con đường của cách đánh chặn nắm đấm") là một môn võ bao gồm đòn thế của nhiều môn phái như quyền Anh của Anh, Muay Thái của Thái Lan, Judo của Nhật Bản, Jujitsu của Nhật Bản, Aikido của Nhật Bản, Karate của Nhật Bản, Escrima của Philippines, Savate của Pháp, Taekwondo của Hàn Quốc, Hapkido của Hàn Quốc, Catch Wrestling của Anh, võ Trung Hoa - Hồng Gia Quyền, Vịnh Xuân Quyền, Thái Cực Quyền, Đường Lang Quyền, Nam Quyề(như bài "Mộc nhân thung" cải cách) được Lý Tiểu Long gọi chung là Kungfu. Quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của Tiệt quyền đạo được lấy từ môn Đấu kiếm của phương Tây. Tiệt quyền đạo còn là sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật khiêu vũ cha-cha-cha của châu Mỹ và tinh hoa võ học của châu Á. Ông là người đã sáng tạo ra một hình thái cơ thể hoàn toàn mới, một kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và võ thuật, tiền thân của Võ tổng hợp (MMA) ngày nay. Lý Tiểu Long tin rằng, ""võ sĩ giỏi nhất không phải là võ sĩ quyền anh, karate hay judo. Võ sĩ giỏi nhất là người có thể thích nghi với mọi môn phái, tự áp dụng môn phái riêng của bản thân và không tuân theo bất cứ hệ thống môn phái nào". Năm 2004, Chủ tịch UFC Dana White gọi Lý Tiểu Long là "cha đẻ của võ thuật tổng hợp (MMA)". Dana White nói rằng: "Hãy nhìn vào cách ông ấy tập luyện, cách ông ấy ra đòn, những gì ông ấy viết. Với Lý Tiểu Long, môn phái hoàn hảo là chẳng có môn phái nào cả. Bạn học được từ mỗi thứ một chút. Kết hợp những điểm mạnh của nhiều môn phái khác nhau và rồi có thể đánh bại tất cả đối thủ."" Ngày 1 tháng 2 năm 1965, Lý Quốc Hào (Brandon Lee) con trai duy nhất của ông và Linda Lee chào đời tại Oakland, California. Cái tên ""Quốc Hào" được Lý Tiểu Long đặt cho con trai ông để biểu thị rằng con trai của ông sẽ là niềm tự hào của đất nước. Sau đó khoảng 1 tuần, ngày 8 tháng 2 năm 1965, cha Lý Tiểu Long qua đời tại Hồng Kông thuộc Anh và Lý Tiểu Long đã trở về Hồng Kông dự đám tang cha (nhưng không kịp). Theo phong tục cổ, người con coi là bất hiếu nếu vắng mặt khi cha mất, vì vậy Lý Tiểu Long đã quỳ gối suốt từ cửa tới bình đựng tro hỏa táng của cha mà khóc. Tháng 5 năm 1965 Lý Tiểu Long sử dụng số tiền còn lại từ bộ phim đang quay dang dở là "Những màn biểu diễn của Lý Tiểu Long" ("Demonstrations of Bruce Lee") để bay trở lại Mỹ đưa Linda Lee và Lý Quốc Hào quay lại Hồng Kông thuộc Anh để giải quyết gia sản của người cha để lại (sau này người em ruột của Lý Tiểu Long là Lý Chấn Huy thông qua phim "Bruce Lee, My Brother 2010"" để kể lại rằng gia đình của Lý Tiểu Long từng chia làm hai phe tranh chấp tài sản với nhau). Trong khi ở Hồng Kông, Lý Tiểu Long đưa Lý Quốc Hào đến gặp danh sư Diệp Vấn. Đến tháng 9 năm 1965 ông cùng vợ và con quay trở lại Seattle, Mỹ. Sau đó Lý Tiểu Long đã có một buổi phỏng vấn trên truyền hình Mỹ vào tháng 10 năm 1965. Tại buổn phỏng vấn này, ông từng nói rằng: "Hãy sống như là Nước. Bởi vì khi cho Nước vào cốc, Nước sẽ là cốc. Khi cho Nước vào chai, Nước sẽ thành chai. Khi cho Nước vào lọ, Nước sẽ thành lọ. Nước có thể chảy từng giọt. Nước có thể chảy thành dòng. Nước có thể Phá hủy" Sau đó ông tuyên bố rằng kung fu của ông là võ của Trung Quốc, là loại võ tổ tiên của Karate và Jujitsu. Ngoài việc chỉ ra giới hạn của Karate và Jujitsu, Lý Tiểu Long còn biểu diễn vài đường quyền của ông tại buổi phỏng vấn trên truyền hình Mỹ vào tháng 10 năm 1965 này. Việc này khiến cho nhiều võ sư ở khắp nơi đều muốn tìm Lý Tiểu Long để tỷ võ. Chế độ luyện tập. Lý Tiểu Long nổi tiếng với thể chất mạnh mẽ được tạo phát triển nhờ chế độ luyện tập chuyên nghiệp của ông. Sau trận đấu với Hoàng Trạch Dân vào năm 1965, Lý Tiểu Long đã thay đổi cách tiếp cận đối với việc luyện võ. Lý Tiểu Long cảm thấy rằng rất nhiều võ sư đã không dành đủ thời gian cho thể chất – bao gồm các yếu tố: sức mạnh cơ bắp, khả năng chịu đựng của cơ bắp, hệ thống tim mạch và tính linh hoạt. Ông đã theo phương pháp thể hình truyền thống để xây dựng những cơ bắp đồ sộ và toàn diện. Chương trình tập luyện "Weight training" mà Lý Tiểu Long sử dụng trong thời gian lưu trú tại Hồng Kông thuộc Anh năm 1965 nhấn mạnh vào cánh tay. Tại thời điểm đó, Lý Tiểu Long tập biceps curl (bó cơ tay trước) có trọng lượng 70 đến 80 lb tương đương 32 đến 36 kg mỗi tay 3 hiệp 8 lần, cùng với các bài tập khác, chẳng hạn như squat (gánh tạ), push-up (chống đẩy), reverse curl (chống đẩy đảo ngược), concentration curl (nông độ cơ bắp), French presse (tập tạ kiếu Pháp), wrist curls (sức mạnh cổ tay) và reverse wrist curl (trồng cây chuối), Lý Tiểu Long thực hiện từ 6 đến 12 lần mỗi hiệp. lý Tiểu Long luôn luôn thử nghiệm với các bài tập hàng ngày để tối đa hóa thể chất của mình và đẩy cơ thể vượt qua giới hạn của nó. Ông sử dụng nhiều bài tập khác nhau, bao gồm cả nhảy dây. Lý Tiểu Long tin rằng các cơ bụng là một trong những nhóm cơ quan trọng nhất đối với một võ sư, bởi hầu như tất cả các chuyển động đều đòi hỏi một mức độ nào đó nhóm cơ này. Mito Uyehara nhớ lại rằng: ""Bruce Lee luôn luôn cảm thấy rằng nếu phần bụng của bạn không được phát triển, thì việc đánh đấm không phải là chuyện của bạn". Theo Linda Lee (vợ của Lý Tiểu Long), ngay cả khi không tập luyện, Lý Tiểu Long thường xuyên sẽ thực hiện các bài tập gập bụng liên tục và các bài tập bụng khác suốt cả ngày khi ở nhà, chẳng hạn như trong quá trình xem truyền hình. Bà cho biết Lý Tiểu Long: "Bruce (Tiểu Long) phát cuồng về những bài tập cơ bụng. Ông ấy luôn luôn thực hiện đứng lên, ngồi xuống, dậm chân tại chỗ, nâng cơ bụng và gia tăng thể lực."" Lý Tiểu Long tập từ 7 giờ sáng đến 9 giờ sáng, bao gồm các bài tập bụng, rèn luyện tính linh hoạt và chạy. Từ 11 đến 12 giờ ông thường tập cử tạ và đạp xe. Một bài tập điển hình của ông là chạy 2 – 6 dặm (3.6 – 9.6 km) từ 15 – 45 phút, khi chạy ông thay đổi tốc độ trong 3 – 5 phút. sẽ đạp xe tương đương với 10 dặm (khoảng 16 km) trong 45 phút bằng xe đạp của phòng tập. Ông thỉnh thoảng thực hiện với nhảy dây 800 lần sau khi đi đạp xe. Sau đó lại thực hiện bài tập để tôi luyện nắm đấm của mình, bao gồm đấm mạnh vào xô đá thô và sỏi 500 lần vào những ngày tập luyện. Sự nghiệp điện ảnh. Diễn viên trong phim truyền hình "The Green Hornet" (Thanh Phong Hiệp) (1966 - 1967). Năm 1966, Lý Tiểu Long cùng gia đình dời đến Los Angeles sống trong một căn hộ tại Wilshire, Westwood. Đây là nơi ông làm việc cho phim truyền hình Mỹ gọi là "The Green Hornet" trong vai Kato. Bộ phim "The Green Hornet" bắt đầu được quay và Lý Tiểu Long được trả $400 cho mỗi phần. Nội dung bộ phim kể về hai nhân vật đeo mặt nạ đen gọi là The Green Hornet hành hiệp trượng nghĩa, chuyên đi bắt tội phạm trước khi cảnh sát Mỹ ra tay, giúp các cảnh sát Mỹ phá nhiều vụ án khó. Đoàn phim Hollywood từng cười nhạo Lý Tiểu Long khi đó. Không phải diễn xuất của Lý Tiểu Long tệ – chỉ là do ông di chuyển quá nhanh so với tốc độ lia máy của đoàn phim Hollywood, Mỹ. Sau khi ông thực hiện một cảnh quay, không ai có thể nhìn thấy những động tác mà Lý Tiểu Long thực hiện, dẫn đến tiếng cười chế giễu từ các diễn viên Mỹ và đoàn làm phim Mỹ, Lý Tiểu Long sau đó đã bước vào phòng thay đồ với một tâm trạng rất tồi tệ. Sau đó, ông đã tự sửa đổi bằng cách thực hiện chậm lại. Nhờ đưa Tiệt quyền đạo lên phim, Lý Tiểu Long bắt đầu để lại dấu ấn trong bộ phim truyền hình Mỹ 26 tập "The Green Hornet" (tên tiếng Hoa là Thanh Phong Hiệp) này và được trả một khoản thù lao 1800$ sau khi bộ phim phát sóng. Bộ phim được phát sóng từ ngày 9 tháng 9 năm 1966 đến ngày 17 tháng 3 năm 1967. Thời gian này trong năm 1966, Lý Tiểu Long bắt đầu viết sách ""Phương pháp chiến đấu của Lý Tiểu Long" ("Bruce Lee's Fighting Method"). Đây là một cuốn sách gồm nhiều tập về khả năng võ thuật của Lý Tiểu Long trong việc luyện Tiệt quyền đạo. Văn bản mô tả các kỹ thuật chiến đấu, triết lý và phương pháp huấn luyện kung fu của Lý Tiểu Long. Mitoshi Uyehara, người sáng lập và chủ sở hữu "Tạp chí Đai đen" ("Black Belt Magazine"), dần dần trở thành bạn của Lý Tiểu Long, do Lý Tiểu Long đã đóng góp nhiều bài báo cho ấn phẩm trong suốt những năm 1960. Mitoshi Uyehara, một võ sư theo đúng nghĩa của mình, là nhân vật chủ chốt trong việc sắp xếp tài liệu của Lý Tiểu Long để xuất bản. Tuy nhiên, Lý Tiểu Long quyết định không xuất bản tác phẩm này vì ông sợ rằng những người hướng dẫn sẽ sử dụng kiến thức chiến đấu trong văn bản này để quảng cáo cho họ (sau khi Lý Tiểu Long qua đời, người vợ của ông là Linda Lee đã nhờ Mitoshi Uyehara giúp đỡ trong việc xuất bản sách "Phương pháp chiến đấu của Lý Tiểu Long" này vào năm 1978). Làm khách mời trong hai bộ phim truyền hình "Batman (1966 - 1968)" và "Ironside (1967 - 1975)". Từ ngày 9 tháng 9 cùng năm, bộ phim "The Green Hornet" trở nên rất ăn khách và Lý Tiểu Long được chương trình truyền hình "Where the Action Is" của Mỹ mời làm khách mời tham dự cùng năm 1966 để quảng bá cho vai Kato trong bộ phim "The Green Hornet". Tuy nhiên bộ phim vấp phải vấn đề hình ảnh vì hai nhân vật The Green Hornet đeo mặt nạ đen và hành hiệp trượng nghĩa giống với hai nhân vật Batman và Robin trong phim truyền hình Mỹ "Batman (1966 - 1968)" phát sóng cùng lúc tại Mỹ. Thực tế hai nhân vật The Green Hornet khiến khán giả Mỹ yêu thích hơn cả Batman và Robin. Sau đó phim truyền hình Mỹ "Batman (1966 - 1968)" mời Lý Tiểu Long và Van Williams (vai The Green Hornet) cùng tham gia vào ba tập phim đặc biệt của mình là các tập 41 "The Spell of Tut" (phát sóng ngày 28 tháng 9 năm 1966), tập 51 "A Piece of the Action" (phát sóng ngày 1 tháng 3 năm 1967) và tập 52 "Batman's Satisfaction"" (phát sóng ngày 2 tháng 3 năm 1967) để kéo lại doanh thu phòng vé cho "Batman (1966 - 1968)". Đầu năm 1967 võ sư Jhoon Rhee người Hàn Quốc (học trò của Lý Tiểu Long) đã mời Lý Tiểu Long đến Washington, D.C. tham dự Giải vô địch Karate toàn quốc ("National Karate Championship"). Tại giải này, Lý Tiểu Long đã gặp võ sư Joe Lewis tại khách sạn Mayflower, cả hai đều là khách mời của giải này. Joe Lewis đang cố giành phần thắng trong giải đấu còn Lý Tiểu Long khi đó đang có sự xuất hiện đặc biệt với vai Kato. Lý Tiểu Long từng gặp Chuck Norris tại New York, nay gặp lại Chuck Norris tại giải đấu này. Chuck Norris đấu với Joe Lewis và giành phần thắng. Tuy nhiên Victor Moore đã đánh bại Chuck Norris để trở thành nhà vô đich của giải đấu. Sau khi trận chung kết kết thúc, Lý Tiểu Long được mời lên biểu diễn Tiệt quyền đạo của ông cho mọi người xem. Lý Tiểu Long đã dùng Tiệt quyền đạo với Victor Moore và nhanh chóng hạ gục Victor Moore. Victor Moore phải lắc đầu bái phục Lý Tiểu Long. Đây cũng là lý do truyền thông Mỹ phong tặng Lý Tiểu Long là một trong những người tạo nên cách mạng trong thế giới võ thuật. "Giải thưởng đánh giá cao" ("Appreciation Award") đã được trao cho Lý Tiểu Long tại giải Karate này. Tháng 2 cùng năm 1967 Lý Tiểu Long mở "Chấn Phiên Võ Quán" thứ ba của ông tại đường 628 College, khu phố Tàu (Chinatown) của thành phố Los Angeles, Mỹ. Nơi đây từng được lên phim truyền hình "The Green Hornet"/Thanh Phong Hiệp (1966 - 1967) của Lý Tiểu Long. Võ sư Dan Inosanto người Philippines (người từng dạy cho Lý Tiểu Long cách dùng côn nhị khúc) trợ giúp Lý Tiểu Long như một phụ tá hướng dẫn. Lý Tiểu Long thực sự yêu thích xe hơi, khi còn đang dạy võ ở Mỹ, ông đã mua một chiếc Chevrolet Nova (chiếc xe có nhãn dán ở cửa sổ phía sau với dòng chữ Chiếc xe này được bảo vệ bởi "Green Hornet"). Một người bạn thỉnh thoảng cho Lý Tiểu Long lái chiếc siêu xe Shelby Cobra, nhưng thứ ông thực sự muốn là chiếc xe thể thao mà người bạn thân nhất của ông ta là Steve McQueen sở hữu: một chiếc Porsche Targa. Khi mẹ của Lý Tiểu Long gửi cho ông số tiền kiếm được từ một căn hộ mà bà đã bán ở Hồng Kông, ông đã đi thẳng đến cửa hàng để mua chiếc Porsche Targa. Lúc này Lý Tiểu Long đã kết bạn với võ sư Muhammad Ali. Nhờ đi xem những trận đấu boxing của Muhammad Ali và được Muhammad Ali truyền dạy thêm chiêu thức boxing, Lý Tiểu Long càng ngày càng hoàn thiện Tiệt quyền đạo của ông hơn. Đến ngày 17 tháng 3 năm 1967, tập 26 của phim "The Green Hornet" (Thanh Phong Hiệp) được trình chiếu. Bộ phim sau đó được nói rằng phải bỏ dở vì Lý Tiểu Long, nhân vật phụ, trở nên nổi tiếng còn hơn cả nam chính Van Williams của phim. Tuy nhiên có một số ý kiến cho rằng vì Hollywood muốn phim truyền hình "Batman (1966 - 1968)" "được sống" nên mới không cho quay tiếp phần 2 của "The Green Hornet". Võ sư Ed Parker một lần nữa tổ chức "Giải vô địch karate quốc tế Long Beach" ("Long Beach International Karate Championships") tại Long Beach, California trong năm 1967. Lý Tiểu Long được Ed Parker mời đến tham dự giải đấu. Ông gặp lại võ sư Chuck Norris và Joe Lewis tại giải đấu lần này. Đoạn phim năm 1967 đã được giữ nguyên ở chất lượng cao hơn đoạn phim năm 1964 trước đó. Kỳ này Joe Lewis và Chuck Norris lần lượt ra thử đòn của Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long đã thể hiện tốc độ thần tốc của mình, tung ra những đòn chớp mắt trước khi đối thủ kịp cản phá. Lý Tiểu Long sau đó thực hiện Vịnh Xuân Quyền khi bị bịt mắt, thăm dò điểm yếu của đối thủ trong khi ghi điểm bằng những cú đấm và hạ gục các đối thủ. Sau đó, Lý Tiểu Long thực hiện cú đấm một inch vào một số tình nguyện viên (trong đó có Joe Lewis và Chuck Norris). Đáng chú ý nhất là sau đó Lý Tiểu Long đã tham gia vào một trận đấu toàn diện với đối tác đấu kiếm Nghiêm Kính Hải (James Yimm Lee), cả hai đều đội mũ trùm đầu bằng da. Có thể thấy Lý Tiểu Long đang thực hiện khái niệm Tiệt quyền đạo của mình về chuyển động tiết kiệm, sử dụng động tác chân từng được võ sư Muhammad Ali truyền dạy để tránh xa phạm vi trong khi phản công bằng những cú đấm sau lưng và những cú đấm thẳng. Lý Tiểu Long cũng ngăn chặn các cuộc tấn công của Nghiêm Kính Hải bằng những cú đá bên hông và nhanh chóng thực hiện một số pha quét và đá đầu. Đối thủ không bao giờ có thể kết nối với một cú đánh sạch, nhưng một khi đã có thể áp sát bằng một cú đá xoáy. Đoạn phim đánh nhau đã được tạp chí Black Belt đánh giá vào năm 1995, kết luận rằng: "hành động trong buổi biểu diễn này diễn ra nhanh và dữ dội như bất cứ thứ gì trong phim của Lý Tiểu Long". Ngoài ra, từ năm 1967, Lý Tiểu Long còn dạy võ với mức lương tới 250$ mỗi giờ cho những người nổi tiếng như Steve McQueen, James Coburn, James Garner, Lee Marvin, Roman Polanski và Kareem Abdul-Jabbar. Chuck Norris và Sharon Tate thì đến võ quán của Lý Tiểu Long tại Oakland, California để học Tiệt quyền đạo của ông. Sau đó Lý Tiểu Long còn được mời đóng vai khách mời trong tập 7 "Tagged for Murder" của phim truyền hình Mỹ "Ironside (1967 - 1975)". Tập phim này phát sóng vào ngày 26 tháng 10 năm 1967. Đầu năm 1968, Lý Tiểu Long được mời làm "Giám khảo khách mời" ("Guest Judge") tại Giải vô địch Karate toàn quốc ("National Karate Championship") tại Washington, D.C.. Cuối giải đấu, Lý Tiểu Long được nhận "Giải giám khảo khách mời" ("Guest Judge Award") nhờ những phán quyết công tâm của ông suốt giải đấu Bắt đầu đạo diễn kịch bản và chỉ đạo võ thuật. Đạo diễn kịch bản cho phim "The Wrecking Crew (1968)". Trong năm 1968, Lý Tiểu Long bắt đầu làm đạo diễn kịch bản cho phim Mỹ "The Wrecking Crew (1968)". Ông còn tham gia chỉ đạo võ thuật trong phim. Lý Tiểu Long nhận xét rằng ông ""đã cố gắng dạy Dean Martin (người đóng vai nam chính trong phim) cách đá nhưng anh ấy quá lười biếng và quá vụng về" và họ chủ yếu phải dựa vào Mike Stone đóng thế. Lý Tiểu Long còn nói rằng nữ diễn viên Sharon Tate và nữ diễn viên Nancy Kwan (nữ diễn viên người Trung Quốc-Mỹ) giỏi hơn, "họ làm những công việc phụ khá tốt mà tôi chỉ cần dạy họ ở mức tối thiểu"". Lý Tiểu Long chia sẻ thêm rằng nữ diễn viên Nancy Kwan đã tiếp cận ông, muốn ông trở thành giáo viên dạy riêng dài hạn của cô ấy nhưng Lý Tiểu Long đã nói với cô ấy rằng cô ấy sẽ không đủ khả năng chi trả cho ông. Phim "The Wrecking Crew (1968)" mang lại doanh số phòng vé khá cao cho Hollywood từ khi công chiếu vào ngày 25 tháng 12 năm 1968 vì những màn võ thuật trong phim rất chân thật. Tại Mỹ và Canada, phim có doanh thu 2,4 triệu đô la. Làm khách mời trong hai phim truyền hình "Blondie (1968 - 1969)" và "Here Come the Brides (1968 - 1970)". Đầu năm 1969, Lý Tiểu Long được mời làm Khách mời đặc biệt ("Special Guest") tại Giải vô địch Karate toàn quốc ("National Karate Championship") tại Washington, D.C.. Cuối giải đấu, Lý Tiểu Long lên võ đài biểu diễn Tiệt quyền đạo với võ sư Chuck Norris. Buổi biểu diễn rất đặc sắc khi Lý Tiểu Long phá được mọi chiêu thức karate của Chuck Norris. Lý Tiểu Long được nhận "Giải khách mời đặc biệt" ("Special Guest Award") trong giải đấu này. Sau đó, Lý Tiểu Long được mời vào vai thầy dạy võ Karate (vai khách mời) trong tập 13 "Pick on a Bully Your Own Size" của phim truyền hình Mỹ "Blondie (1968 - 1969)". Tập phim này phát sóng vào ngày 9 tháng 1 năm 1969. Lý Tiểu Long lại vào vai khách mời trong tập 25 "Marriage Chinese Style" của phim truyền hình Mỹ "Here Come the Brides (1968 - 1970)". Tập phim này phát sóng vào ngày 9 tháng 4 năm 1969. Ngày 19 tháng 4 năm 1969 con gái Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) của Lý Tiểu Long và Linda Lee cất tiếng khóc chào đời. Đạo diễn kịch bản và diễn xuất trong phim "Marlowe (1969)". Lý Tiểu Long tập tiếp tục làm đạo diễn kịch bản cho phim Mỹ "Marlowe (1969)". Trong phim này, Lý Tiểu Long vừa làm đạo diễn kịch bản, vừa đóng vai phụ trong phim. Vai của Lý Tiểu Long trong phim là Winslow Wong - một nhân vật phản diện, dùng tiền ép nam chính Philip Marlowe (do James Garner thủ vai) làm chuyện xấu cho mình. Sau đó Philip Marlowe dùng mưu khiến nhân vật của Lý Tiểu Long bị rơi từ sân thượng tòa nhà xuống đất tử vong. Phim đạt doanh số phòng vé cao từ khi công chiếu vào ngày 19 tháng 9 năm 1969 vì sự nổi bật từ vai phụ của Lý Tiểu Long, đặc biệt là sức mạnh của Tiệt quyền đạo được Lý Tiểu Long thể hiện. Ở châu Âu, phim đã bán được 375.668 vé ở Tây Ban Nha và 120.408 vé ở Pháp, trong tổng số 496.076 vé được bán ở Tây Ban Nha và Pháp. Đạo diễn kịch bản cho phim "A Walk in the Spring Rain (1970)". Mùa xuân năm 1970, Lý Tiểu Long được mời về Hồng Kông thuộc Anh tham gia chương trình truyền hình "Enjoy Yourself Tonight" (歡樂今宵). Lý Tiểu Long và con trai Lý Quốc Hào 5 tuổi bay về Hồng Kông trong sự chào đón của khán giả hâm mộ bộ phim "The Green Hornet" (Thanh Phong Hiệp). Lý Tiểu Long đã biểu diễn Tiệt quyền đạo trên sóng truyền hình Hồng Kông, dùng Thốn quyền đấm vỡ miếng gỗ trên sóng truyền hình Hồng Kông, khiến cho việc Lý Tiểu Long tự lập môn hộ riêng mình truyền đến võ quán Vịnh Xuân Quyền của Diệp Vấn. Diệp Vấn rất tức giận và kể từ đó cho đến khi qua đời, Diệp Vấn không bao giờ gặp mặt Lý Tiểu Long nữa. Sau khi xong chương trình, Lý Tiểu Long thăm gia đình rồi đưa Lý Quốc Hào bay về Mỹ. Lý Tiểu Long lại được mời làm Khách mời danh dự ("Guest of Honor") tại Giải vô địch Karate toàn quốc ("National Karate Championship") tại Washington, D.C.. Cuối giải đấu, Lý Tiểu Long lên võ đài biểu diễn Tiệt quyền đạo với Chuck Norris. Kỳ này Chuck Norris cũng dùng Tiệt quyền đạo đã được dạy từ Lý Tiểu Long để đối phó lại Tiệt quyền đạo của Lý Tiểu Long. Tuy nhiên do Lý Tiểu Long ra đòn nhanh hơn nên mọi chiêu thức của Chuck Norris đều bị ông hóa giải. Lý Tiểu Long được nhận "Giải khách mời danh dự" ("Honorable Guest Award") của giải đấu. Sau đó cùng năm 1970, Lý Tiểu Long được một người bạn thân là nhà sản xuất Stirling Silliphant mời làm đạo diễn kịch bản cho phim Mỹ "A Walk in the Spring Rain (1970)". Ông cũng tham gia chỉ đạo võ thuật trong phim và ông cũng đưa Tiệt quyền đạo vào phim điện ảnh của Mỹ. Đặc biệt là cảnh đánh nhau giữa nhân vật chính Will Cade (do Anthony Quinn thủ vai) và con trai ông ấy trong phim, Lý Tiểu Long đích thân hướng dẫn cho họ từng động tác tấn công, phòng thủ theo phong cách Tiệt quyền đạo (ra đòn nhanh, dứt khoát, mạnh với chiêu thức đơn giản nhất). Phim "A Walk in the Spring Rain (1970)" này tiếp tục mang lại doanh số phòng vé khá cao cho Hollywood từ khi công chiếu vào ngày 17 tháng 6 năm 1970 vì những màn võ thuật trong phim rất chân thật. Lên kịch bản cho phim truyền hình "Kung Fu" và tranh cãi. Trong hồi ký của mình, vợ của Lý Tiểu Long, Linda Lee khẳng định rằng Lý Tiểu Long đã từng tạo ra ý tưởng, lên kịch bản cho phim truyền hình "Kung Fu", sau đó kịch bản này đã bị Warner Bros đánh cắp (Theo "", trang 130–131). Theo nhà viết tiểu sử Matthew Polly, Lý Tiểu Long không phải là người lên kịch bản cho phim truyền hình "Kung Fu". Ed Spielman đã tạo ra nhân vật Kwai Chang Caine, và bộ phim mà Ed Spielman viết cùng Howard Friedlander vào năm 1969 là nguồn gốc của phi công và loạt phim tiếp theo. Lần đầu tiên Ed Spielman viết một kịch bản về một samurai đi đến Trung Quốc và học kung fu. Khoảng năm 1967, Ed Spielman đã đưa nó cho cộng sự Howard Friedlander, người đề nghị biến Trung Quốc thành phương Tây; Ed Spielman sau đó quyết định biến nhân vật chính thành một nhà sư Thiếu Lâm nửa Mỹ nửa Trung Quốc. Năm 1969, Peter Lampack của William Morris đã đưa kịch bản này cho Fred Weintraub, vào thời điểm đó là giám đốc điều hành của Warner Brothers. Fred Weintraub nhận được kịch bản hoàn chỉnh vào ngày 30 tháng 4 năm 1970. Sau đó thông qua người bạn là Sy Weintraub), Fred Weintraub đã gặp Lý Tiểu Long và coi ông ấy là người lý tưởng cho vai diễn này nên đã cố gắng cùng ông ấy phát triển kịch bản với tư cách là diễn viên chính, nhưng đã bị Lý Tiểu Long từ chối. Howard Friedlander đổ lỗi cho sự xuất hiện của Richard D. Zanuck và David Brown với tư cách là giám đốc điều hành cấp cao của Warners Brothers khiến dự án phim bị hủy bỏ, bởi vì "sự đồng thuận chung là công chúng sẽ không sẵn sàng chấp nhận một anh hùng Trung Quốc" Chấn thương năm 1970 và viết sách "Đạo của Tiệt quyền đạo". Trong năm 1970, khi 30 tuổi, Lý Tiểu Long bị chấn thương nặng ở dây thần kinh dưới cùng ở lưng dưới trong khi tập luyện cử tạ. Bác sĩ nói rằng ông không thể tiếp tục luyện võ được nữa. Ông được các bác sĩ chỉ định đeo nẹp lưng trong 6 tháng để hồi phục chấn thương. Đây là khoảng thời gian rất mệt mỏi và chán nản đối với Lý Tiểu Long, người luôn hoạt động thể chất rất tích cực. Tiền trở nên eo hẹp khi các vai diễn ở Hollywood tỏ ra khó kiếm, và vợ của ông là Linda Lee phải làm việc buổi tối tại một dịch vụ trả lời điện thoại để giúp gia đình ông thanh toán các hóa đơn. Bác sĩ có nói với Linda Lee rằng cơ thể của Lý Tiểu Long không có chất béo, chỉ có cơ bắp, nhìn bề ngoài thì cơ thể của ông có năng lượng, nhưng thực chất sức khỏe bên trong không ổn, do cơ thể ông rất cần chất béo để giống với người khỏe mạnh bình thường. Trong suốt những tháng ngày phục hồi sức khỏe, Lý Tiểu Long bắt đầu viết về phương pháp luyện tập của mình chứng nghiệm từ chính bản thân cho môn võ Tiệt quyền đạo. Tiền đề cho sách ""Đạo của Tiệt quyền đạo" ("Tao of Jeet Kune Do"). Nhiều câu nói của Lý Tiểu Long trong sách này bắt nguồn từ những nghiên cứu của chính ông về các trường phái triết học và võ thuật khác nhau, và đôi khi là cách diễn giải những cách diễn đạt trước đó của những người khác mà ông đã viết ra để hướng dẫn riêng mình thành lời của chính mình. Chỉ đạo võ thuật và diễn xuất trong phim truyền hình "Longstreet (1971 - 1972)". Lý Tiểu Long phục hồi sức khỏe vào khoảng tháng 12 năm 1970 thì tiếp tục bắt tay vào công việc. Từ tháng 12 năm 1970 đến đầu năm 1971, Lý Tiểu Long vào vai phụ Li Tsung trong phim truyền hình Mỹ "Longstreet (1971 - 1972)". Nhân vật Li Stung này là một nhà buôn đồ cổ và chuyên gia Tiệt quyền đạo, người trở thành huấn luyện viên võ thuật của nhân vật chính Mike Longstreet (do James Franciscus thủ vai). Trong bộ phim, nữ chính Nikki Bell (do Marlyn Mason thủ vai) luôn gọi nhân vật Li Stung của Lý Tiểu Long một cách miệt thị là "Monkey"" ("Con Khỉ"), do dáng dấp nhỏ bé của Lý Tiểu Long so với dàn diễn viên Mỹ trong bộ phim. Lý Tiểu Long đã đưa những quan điểm triết học vào bộ phim này. Lý Tiểu Long chỉ xuất hiện trong 4 tập của bộ phim này, bao gồm tập 1 "The Way of the Intercepting Fist" (phát sóng vào ngày 16 tháng 9 năm 1971), tập 6 "Spell Legacy Like Death" (phát sóng vào ngày 21 tháng 10 năm 1971), tập 9 "Wednesday's Child" (phát sóng vào ngày 11 tháng 11 năm 1971) và tập 10 "I See, Said the Blind Man" (phát sóng vào ngày 18 tháng 11 năm 1971). Ngoài ra, Lý Tiểu Long còn kiêm thêm vai trò chỉ đạo võ thuật trong phim truyền hình Mỹ dài 23 tập này. Bộ phim truyền hình này có doanh thu phòng vé khá cao nhờ những màn đấu võ của Lý Tiểu Long trong phim. Lý Tiểu Long từng tiết lộ trên truyền hình Mỹ rằng vai Li Tsung này là vai diễn mà ông thích nhất vào lúc đó, bởi tính cách nhân vật này giống y đúc tính cách của ông ở ngoài đời. Cũng trong năm 1971, Lý Tiểu Long có ý định hoàn thành chuyên luận "Đạo của Tiệt quyền đạo" ("Tao of Jeet Kune Do") mà ông đã bắt đầu trong thời gian ông dưỡng bệnh vào năm 1970. Tuy nhiên, sự nghiệp điện ảnh và công việc đã ngăn cản ông làm điều đó. Ông cũng do dự về việc xuất bản cuốn sách của mình vì ông cảm thấy rằng tác phẩm này có thể bị sử dụng sai mục đích. Mục đích của Lý Tiểu Long khi viết cuốn sách là ghi lại cách suy nghĩ của một người về võ thuật. Đó là một cuốn sách chỉ dẫn, không phải là một bộ dạy học hay sách "Cách để" (""How to") để học võ thuật (sau này vợ ông là Linda Lee cho phát hành sách "Đạo của Tiệt quyền đạo" trong tuyển tập sách "Những ký ức về Lý Tiểu Long" vào năm 1975 sau khi ông đã qua đời). Dở dang khi lên kịch bản cho phim "The Silent Flute" (Tiếng sáo vô thanh). Lý Tiểu Long vẫn muốn phát triển các dự án phim và truyền hình ở Hollywood, nhưng Warner Brosthers miễn cưỡng chấp nhận dự án kịch bản truyền hình mà ông đã phát triển (cốt truyện tương tự, nhưng không giống với "Kung Fu"). Kịch bản phim này được gọi là kịch bản phim "The Silent Flute" (Tiếng sáo vô thanh). Ấn Độ được chọn là nơi để quay phim vì Warner Brothers không thể hồi hương tiền mà các bộ phim của họ đã tạo ra ở Ấn Độ do các quy định về ngoại hối. Kịch bản phim này được bật đèn xanh với điều kiện bộ phim phải được quay ở Ấn Độ để sử dụng số tiền chưa sử dụng trong tài khoản của Warner Brothers ở Ấn Độ. Lý Tiểu Long hình dung bộ phim của mình là một lời giới thiệu thú vị về triết học phương Đông, cũng như võ thuật. Như ông đã viết trong lời tựa cho kịch bản: "Câu chuyện minh họa một sự khác biệt lớn giữa tư duy phương Đông và phương Tây. Người phương Tây bình thường này sẽ bị thu hút bởi khả năng bắt ruồi bằng đũa của một người nào đó, và có lẽ sẽ nói rằng điều đó không liên quan gì đến việc anh ta chiến đấu giỏi như thế nào. Nhưng người phương Đông sẽ nhận ra rằng một người đàn ông đã đạt được sự tinh thông hoàn toàn về một nghệ thuật như vậy sẽ bộc lộ sự hiện diện của tâm trí anh ta trong mọi hành độ"" Tháng 2 năm 1971, Lý Tiểu Long cùng James Coburn, Stirling Silliphant (hai học trò của Lý Tiểu Long) bay sang Ấn Độ để khảo sát những cảnh quay cho phim "The Silent Flute" (Tiếng sáo vô thanh). Họ mất một tháng trời tìm kiếm song miễn cưỡng để từ bỏ do James Coburn bỏ dở kế hoạch. Sau khi Lý Tiểu Long từ bỏ kịch bản phim này, kịch bản gốc đã được viết lại, thay thế một số cảnh bạo lực bằng các chủ đề hài hước. Kịch bản phim "The Silent Flute" (Tiếng sáo vô thanh) này sau đó được đổi tên thành "Circle of Iron", được quay và được công chiếu vào ngày 1 tháng 5 năm 1978 tại Canada. Trước những sự kiện gần đây, James Coburn đã đề nghị với Lý Tiểu Long rằng ông nên thử vận may của mình trong ngành công nghiệp điện ảnh Hồng Kông đang ngày càng phát triển. Chuyến du ngoạn này đã giúp cho Lý Tiểu Long có ý tưởng cho bộ phim "Trò Chơi Tử Thần" về sau. Trong năm 1971 khi 31 tuổi Lý Tiểu Long kết thúc chuyến du ngoạn ngắn ngủi quay trở lại Hồng Kông để thu xếp cho mẹ là Hà Ái Du tới Mỹ để cùng chung sống với vợ chồng ông. Việc quay phim "Đường Sơn đại huynh (1971)" ở Thái Lan và Hồng Kông. Trong thời điểm này ông đang là một siêu sao của phim "The Green Hornet" đã trở thành phim truyền hình ăn khách nhất ở Hồng Kông thuộc Anh. Được khuyến khích bởi sự quan tâm đến Hồng Kông, Lý Tiểu Long đã nhờ người bạn thời thơ ấu Unicorn Chan gửi sơ yếu lý lịch của ông cho công ty Shaw Brothers, công ty sản xuất phim lớn nhất Hồng Kông thuộc Anh. Họ đề nghị cho Lý Tiểu Long một hợp đồng dài hạn nhưng chỉ 2.000 đô la Mỹ cho mỗi bộ phim, Lý Tiểu Long đã từ chối. Một lời đề nghị khác bất ngờ xuất hiện từ Châu Văn Hoài (Raymond Chow), một nhà sản xuất phim đã rời công ty Shaw Brothers vào năm 1970 để thành lập một công ty mới tên là Gia Hòa Châu Văn Hoài, nhận thức được lời đề nghị bị từ chối từ Shaw Brothers, đã bị ấn tượng bởi các cuộc phỏng vấn của Lý Tiểu Long trên truyền hình và đài phát thanh Hồng Kông, cũng như sự tự tin của ông trong một cuộc điện thoại đường dài. Trong cuộc điện thoại đó, Lý Tiểu Long đã xác định bộ phim hành động hay nhất đang chiếu ở Hồng Kông thuộc Anh và đảm bảo với Châu Văn Hoài rằng ông có thể làm tốt hơn nữa. Sau đó Lý Tiểu Long quay lại Mỹ. Vào tháng 6 năm 1971, Châu Văn Hoài đã cử một trong những nhà sản xuất của mình, Liu Liang-Hua (vợ của đạo diễn Lo Wei) đến Los Angeles để gặp và thương lượng với Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long sau đó đã ký hợp đồng quay hai phim cho công ty Gia Hòa với giá 15.000 đô la Mỹ (10.000 đô la cho "Đường Sơn đại huynh 1971" và 5.000 đô la khi hoàn thành bộ phim thứ hai có tựa đề dự kiến là "King of Chinese Boxers"). Điều này giúp gia đình của Lý Tiểu Long bớt lo lắng về tài chính và cho phép vợ ông là Linda Lee nghỉ việc làm thêm. Lý Tiểu Long đã dừng việc dạy võ cho những người nổi tiếng như Steve McQueen, James Coburn, James Garner, Lee Marvin, Roman Polanski và Kareem Abdul-Jabbar trong năm 1971. Sau đó ông để vợ con ở Mỹ rồi bay sang Hồng Kông thuộc Anh để làm việc cho hãng phim Gia Hòa của Châu Văn Hoài. Lý Tiểu Long được hãng phim Gia Hòa cấp một căn hộ với đồ đạc có sẵn ở đường số 2 Man Wan - Cửu Long, Hồng Kông thuộc Anh. Với kinh nghiệm diễn xuất 25 phim điện ảnh Hồng Kông lúc nhỏ, diễn xuất 6 bộ phim truyền hình Mỹ lúc trưởng thành, diễn xuất 1 phim điện ảnh Mỹ lúc nổi tiếng, làm đạo diễn kịch bản cho 3 phim điện ảnh Mỹ và 1 phim truyền hình Mỹ, làm chỉ đạo võ thuật cho 2 phim điện ảnh Mỹ và 1 bộ phim truyền hình Mỹ, Lý Tiểu Long đã đủ sức thuyết phục được đoàn phim của Châu Văn Hoài cho ông làm chỉ đạo võ thuật, đạo diễn kịch bản trong phim "Đường Sơn đại huynh (1971)". Châu Văn Hoài yêu cầu Lý Tiểu Long bay đến Thái Lan bằng máy bay do công ty sắp xếp nhưng ông từ chối, ông ở lại Hồng Kông 5 ngày để gặp mặt các thành viên trong đoàn phim rồi mới bay cùng chuyến với đoàn phim cùng sang Thái Lan. Nguyên Hoa, trợ lý của Lý Tiểu Long suốt 3 năm liền (người sau này cũng trở thành một diễn viên nổi tiếng từng tham gia trong các phim "Tinh Võ Môn", "Long tranh hổ đấu" và "Tuyệt đỉnh Kungfu" đóng cùng Châu Tinh Trì) đã đi cùng Lý Tiểu Long. Sau đó Nguyên Hoa kết hôn và vợ mới của Nguyên Hoa cũng đi cùng. Lâm Chánh Anh (19 tuổi) lúc này cũng bắt đầu làm việc cho Lý Tiểu Long và cùng chỉ đạo võ thuật cho những bộ phim của Lý Tiểu Long như "Đường Sơn đại huynh", "Tinh Võ Môn", "Long Tranh Hổ Đấu", "Mãnh Long quá giang", "Trò Chơi Tử Thần". Nữ diễn viên Y Y cũng đi theo Lý Tiểu Long quay phim "Đường Sơn đại huynh" này. Ngày 22 tháng 7 năm 1971, đoàn phim bắt đầu bấm máy "Đường Sơn đại huynh" tại một vùng thị trấn nhỏ Pak Chong hẻo lánh của Thái Lan, điều kiện sinh hoạt khó khăn. Khi Lý Tiểu Long đến Pak Chong, các công ty điện ảnh đối thủ đã cố gắng hết sức để lôi kéo ông ra khỏi công ty Gia Hòa, bao gồm cả công ty Shaw Brothers, với một lời đề nghị mới và cải tiến hơn. Một nhà sản xuất phim từ Đài Loan bảo Lý Tiểu Long xé hợp đồng và hứa sẽ lo liệu mọi vụ kiện. Tuy nhiên Lý Tiểu Long là một người giữ lời hứa, không có ý định xem xét các lời đề nghị đó, mặc dù điều đó đã gây thêm căng thẳng cho phim trường. Nhân vật của Lý Tiểu Long trong phim là một nhân vật có thật Trịnh Triều An, là người nhà Thanh, Trung Quốc sang Thái Lan, giúp đỡ người nhà Thanh ở đất Thái chống lại bọn cường quyền xấu xa. Phim đang được quay suôn sẻ bởi đạo diễn Wu Chia Hsiang trong vài ngày đầu thì đạo diễn Lo Wei (chồng của nhà sản xuất Liu Liang-hua) được công ty Gia Hòa thay vào. Lý Tiểu Long từng viết thư gửi cho vợ ông với nội dung miêu tả Lo Wei là "người tình nổi tiếng" và là "một người tầm thường khác với khí chất vượt trội gần như không thể chịu nổi". Đạo diễn Lo Wei từng không hài lòng với kịch bản gốc và viết lại nó mà Lý Tiểu Long không hề hay biết. Khi đó nhóm diễn viên Hồng Kông theo đoàn phim là Lâm Chánh Anh (19 tuổi, vai Ah Yen trong phim "Đường Sơn đại huynh"), Trần Hội Nghị (vai Ah Pei trong phim "Đường Sơn đại huynh") và Peter Chan Lung (vai tên tay sai và người gác cổng của Hsiao Mi trong phim "Đường Sơn đại huynh") không có ấn tượng gì với Lý Tiểu Long và cho rằng võ công của Lý Tiểu Long chỉ là hư danh. Nhóm này cử ra thanh niên Lâm Chánh Anh đến thách đấu với Lý Tiểu Long trong một khách sạn tại Thái Lan. Lúc đó Lâm Chánh Anh cũng không tin rằng Lý Tiểu Long mạnh như lời đồn. Lâm Chánh Anh đặt một chiếc gối trước ngực, Lý Tiểu Long đá cả Lâm Chánh Anh và chiếc gối bay vào trong phòng. Đến lúc này, Lâm Chánh Anh, Trần Hội Nghị và Peter Chan Lung mới thay đổi suy nghĩ ban đầu về Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long rất ấn tượng với cá tính của Lâm Chánh Anh và ngay sau đó viết thư mời Lâm Chánh Anh trở thành phụ tá riêng cho mình. Một đêm nọ, việc quay cảnh đánh nhau lớn trong ngôi nhà băng phải dừng lại trong một giờ vì Lý Tiểu Long làm mất kính áp tròng, và hàng chục người đang bó tay tìm kiếm nó giữa hàng ngàn mảnh băng vụn. Cuối cùng thì Lý Tiểu Long cũng tự mình tìm thấy nó, khiến đạo diễn Lo Wei tự hỏi liệu có phải ông đã để nó trong túi từ lâu và cố tình gây rối hay không. Lúc đó Lâm Chánh Anh còn trẻ nên rất nóng tính và thường xuyên đánh nhau. Trong quá trình quay phim "Đường Sơn đại huynh" ở Thái Lan, Lâm Chánh Anh bị cảnh sát Thái Lan bắt giữ do đánh nhau với người Thái Lan bản địa, và Lý Tiểu Long đã phải bảo lãnh Lâm Chánh Anh ra khỏi nhà tù của Thái Lan. Mặc dù không được đi học nhiều, nhưng Lâm Chánh Anh có những cuộc bàn luận sôi nổi với Lý Tiểu Long về võ thuật và Lý Tiểu Long rất thích điều này.. Thời gian này trên phim trường, Lý Tiểu Long đã có sự tương tác võ thuật rộng rãi với một số diễn viên đóng thế người Thái Lan (một trong số họ là cựu vô địch hạng bantamweight Muay Thái), và trao đổi thông tin cũng như kỹ năng với họ giữa các lần tỷ võ. Lý Tiểu Long được cho là không mấy ấn tượng và gọi những cú đá Muay Thái của họ là "telegraphed". Thực tế Lý Tiểu Long thích những cú đá Taekwondo hơn và luôn đưa những cú đá của Taekwondo lên phim. Sau vài ngày quay phim đầu tiên đầy biến cố và đôi khi hỗn loạn ở Pak Chong, đến đầu tháng 8 năm 1971, quá trình quay phim đã tăng tốc và tiến triển tốt. Lý Tiểu Long và Lo Wei đã hợp tác, nhưng họ vẫn xung đột trong một số cảnh phim Lý Tiểu Long cũng do dự khi đồng ý với ý tưởng quay những cảnh mạo hiểm của Lo Wei. Phim còn có 1 cảnh nóng giữa Trịnh Triều An (do Lý Tiểu Long thủ vai) với 1 cô kỹ nữ tên là Wu Man (do nữ diễn viên Thái Lan là Marilyn Bautista thủ vai). Marilyn Bautista thậm chí còn khỏa thân lộ ngực ở trong phim. Lúc đầu Lý Tiểu Long ái ngại nhưng cuối cùng ông đã đồng ý quay cảnh đó vì đạo diễn Lo Wei khẳng định rằng điều đó sẽ bổ sung vào hình ảnh mới của nhân vật của ông như một chiến binh có mục đích trả thù. Sau đó Lý Tiểu Long lại có thêm 1 cảnh nóng nữa với một cô gái mại dâm người Thái Lan nhưng cảnh này đã bị cắt bỏ khi phát sóng ở Châu Á, Châu Phi. Đây là phim đầu tiên Lý Tiểu Long có những cảnh hôn môi và những cảnh nóng với một nữ diễn viên người Thái Lan và một cô gái mại dâm người Thái Lan. Cuối tháng 8 năm 1971 nữ diễn viên Miêu Khả Tú (nữ diễn viên Hồng Kông) mới sang Thái Lan nên cô chỉ quay một vài cảnh ngắn cho phim "Đường Sơn đại huynh" với vai khách mời là một cô gái xinh đẹp bán hàng giải khát ven đường. Khi ở Thái Lan, Lý Tiểu Long thường xuyên viết thư cho vợ ông ở Mỹ là Linda Lee, nói với cô rằng ông nhớ cô và các con, và mong được gặp họ ở Hồng Kông sau khi phim hoàn thành. Để đổi lấy tiền vé máy bay (từ nhà của họ ở Los Angeles đến Hồng Kông), công ty Gia Hòa muốn Lý Tiểu Long làm một bộ phim ngắn (short film) cho họ có tên là "Lý Tiểu Long và Tiệt Quyền Đạo", dài khoảng 15 phút và do nữ diễn viên Miêu Khả Tú thuyết minh. Theo báo chí Hồng Kông đưa tin, công ty Gia Hòa ban đầu đã lên kế hoạch cho bộ phim ngắn này cùng với việc phát hành một bộ phim sắp tới khác của họ có tên "The Hurricane" (hay còn gọi là "Cơn lốc vàng"), với sự tham gia của Miêu Khả Tú và do Lo Wei viết kịch bản và đạo diễn. Điều này sẽ quảng bá Miêu Khả Tú và giới thiệu các thế võ Tiệt quyền đạo của Lý Tiểu Long với công chúng Hồng Kông trước khi công chiếu "Đường Sơn đại huynh". Nhưng bộ phim ngắn đã không thể được thực hiện, có lẽ vì không có đủ thời gian. Đoàn làm phim quay trở lại Hồng Kông vào ngày 3 tháng 9 năm 1971 để quay thêm vài cảnh trong phim. Ngày 6 tháng 9 năm 1971, ông bay đến Mỹ để gặp gia đình và quay các tập tiếp theo của phim truyền hình "Longstreet (1971 - 1972)" (bộ phim mà ông còn làm chỉ đạo võ thuật xuyên suốt 23 tập phim). Lại gặp vấn đề với phim truyền hình "Kung Fu" và việc lên kịch bản cho phim truyền hình "Ah Sahm". Trong khi Lý Tiểu Long ở Thái Lan quay "Đường Sơn đại huynh", Fred Weintraub đã mang kịch bản phim "Kung Fu" (phim được Linda Lee cho rằng là do Lý Tiểu Long lên ý tưởng ban đầu) đến cho Tom Kuhn, người đứng đầu bộ phận truyền hình của Warner Brosthers. Warner Brosthers và ABC đã công bố hợp đồng phim truyền hình của họ cho "Kung Fu" vào ngày 22 tháng 7 năm 1971 và bắt đầu tiền sản xuất (bao gồm cả việc tuyển diễn viên). Lý Tiểu Long, trở về từ Thái Lan, đã thử vai nam chính Kwai Chang Caine, nhưng hãng phim miễn cưỡng thuê một diễn viên Trung Quốc vì lo ngại về giọng nói, tính cách dữ dội của ông, được coi là không phù hợp để thể hiện một nhân vật trầm tính, trầm lặng, và cũng bởi vì Lý Tiểu Long "quá chân thực." Kịch bản phim truyền hình "[[Kung Fu (phim truyền hình 1972)|Kung Fu]]" này sau đó được quay và phát sóng tại [[Mỹ]] từ ngày [[14 tháng 10]] năm [[1972]] đến ngày [[26 tháng 4]] năm [[1975]] với 3 mùa. Đầu tháng 10 năm [[1971]], một tháng trước khi công ty Warner Brothers chính thức chỉ định [[David Carradine]] cho vai Kwai Chang Caine, [[Ted Ashley]], giám đốc điều hành của Warner Brothers, người đã nhìn thấy tiềm năng của Lý Tiểu Long và không muốn để mất ông vào tay Paramount, đã đề nghị cho Lý Tiểu Long một hợp đồng phát triển độc quyền để tạo ra chương trình truyền hình của riêng ông, bao gồm khoản ứng trước "25.000 đô la (vào thời điểm đó) - đủ tiền để trả phần lớn khoản thế chấp của ông". Lý Tiểu Long đã trình bày một kịch bản phim truyền hình có tên là "[[Ah Sahm]]". Nội dung phim kể về một võ sĩ ở [[Old West]] của [[Mỹ]]. Tuy nhiên, Lý Tiểu Long đã gặp khó khăn khi giới thiệu kịch bản phim truyền hình này cho công ty Warner Brosthers và công ty Paramount. Lý Tiểu Long đã không ký thỏa thuận với [[Ted Ashley]] vì muốn xem "[[Đường Sơn đại huynh]]" công chiếu tại rạp ở [[Hồng Kông thuộc Anh]] như thế nào. Kịch bản phim truyền hình [[Mỹ]] "[[Ah Sahm]]" này sau đó được đổi tên thành "[[Warrior (phim truyền hình)|Warrior]]" và được quay vào năm [[2017]] (theo yêu cầu của [[Lý Hương Ngưng]] - con gái của Lý Tiểu Long), được phát sóng tại [[Mỹ]] từ ngày [[5 tháng 4]] năm [[2019]] cho đến nay với ba mùa. Thời kỳ rực rỡ. Doanh thu phòng vé khổng lồ của "Đường Sơn đại huynh (1971)". Ngày [[23 tháng 10]] năm [[1971]], phim "[[Đường Sơn đại huynh]]" được công chiếu tại Queen's Theatre thuộc quận Trung tâm của [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Lý Tiểu Long cùng vợ là [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] khi đó đã đưa [[Lý Quốc Hào]], [[Lý Hương Ngưng]] bay từ [[Mỹ]] sang [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] để cùng xem phim với khán giả tại rạp chiếu phim. Phim đã gây được tiếng vang lớn trong ngành phim võ thuật, thu về hơn 3.5 triệu đô la Mỹ chỉ trong khoảng 3 tuần, trong khi Lý Tiểu Long chỉ nhận được 15.000 đô la Mỹ. Phim võ thuật đầu tiên do Lý Tiểu Long đóng chính này đã đánh bại kỷ lục phòng vé được nắm giữ bởi bộ phim nhạc kịch "[[The Sound of Music]]", với sự tham gia của [[Julie Andrew]], được phát hành năm [[1965]]. "[[Đường Sơn đại huynh]]" là một cơn sốt phòng vé bất ngờ tại thời điểm đó. Nó vẫn là bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hồng Kông vào thời điểm đó. Tại [[Mỹ]], phim được công chiếu dưới tên tiếng Anh là "The Big Boss". Phim tiếp tục thu về gần 50 triệu đô la Mỹ sau khi công chiếu trên toàn thế giới vào thời điểm đó, so với ngân sách eo hẹp ban đầu của đoàn phim là 100.000 đô la Mỹ, gấp khoảng 500 lần khoản đầu tư ban đầu của đoàn phim. Khi phim "[[Đường Sơn đại huynh]]" này thành công rực rỡ, Lý Tiểu Long đã từ bỏ kế hoạch trở thành ngôi sao phim truyền hình và thay vào đó ông tập trung vào phim điện ảnh với màn ảnh rộng. Thời gian này, Lý Tiểu Long cho con trai là [[Lý Quốc Hào]] đi học tại trường St. Francis Xavier ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]], ngôi trường ngày xưa ông từng theo học. Cũng trong năm [[1971]] Lý Tiểu Long được mời phỏng vấn trong chương trình truyền hình [[Canada]] ""[[The Pierre Berton Show]]" hướng dẫn bởi [[Pierre Berton]], lúc đó [[Pierre Berton]] đang làm phim tại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Chương trình này được phát sóng vào ngày [[8 tháng 12]] năm [[1971]] và chỉ làm phim về sự thực và ít đề cao các kĩ xảo điện ảnh trong phim võ thuật. Trong cuộc phỏng vấn tại chương trình đó, Lý Tiểu Long nói rằng ông đã phát triển ý tưởng cho một bộ phim truyền hình [[Mỹ]] có tên là "The Warrior", do chính anh ấy đóng vai chính, kể về một võ sĩ ở Miền Tây Cổ của [[Mỹ]] (cùng ý tưởng với phim "Kung Fu", được phát sóng vào năm sau), nhưng rằng ông gặp khó khăn khi giới thiệu nó cho hai công ty [[Warner Brothers]] và [[Paramount]]. Sau đó trong cuộc phỏng vấn, [[Pierre Berton]] đã hỏi Lý Tiểu Long về "những vấn đề mà bạn phải đối mặt với tư cách là một anh hùng [[Trung Quốc]] trong một bộ phim truyền hình dài tập của [[Mỹ]]". Lý Tiểu Long đã trả lời: "Chà, câu hỏi như vậy đã được đặt ra, trên thực tế, nó đang được thảo luận. Đó là lý do tại sao phim truyền hình "The Warrior" có lẽ sẽ không được chiếu." Lý Tiểu Long nói thêm: "Họ nghĩ rằng đó là một rủi ro trong kinh doanh. Tôi không trách họ. Nếu tình hình đảo ngược, và một ngôi sao [[Mỹ]] đến [[Hồng Kông]], và tôi là người có tiền, tôi sẽ có mối quan tâm của riêng tôi về việc liệu sự chấp nhận có ở đó hay không?". Tuy nhiên, Lý Tiểu Long chắc chắn đã được cân nhắc cho vai chính trong phim truyền hình "The Warrior". Bản thân [[David Carradine]] trong một cuộc phỏng vấn vào năm [[1989]] và trong cuốn sách "[[Spirit of Shaolin]]" của ông ta, nói rằng Lý Tiểu Long đề cập tên phim truyền hình trên chương trình là "The Warrior" nhưng thực chất là đề cập lại phim truyền hình "Kung Fu" mà Lý Tiểu Long đã từng bị từ chối. [[David Carradine]] khẳng định chắc chắn rằng Lý Tiểu Long đã bị bỏ qua cho vai diễn trong phim truyền hình "Kung Fu" này. Người ta cáo buộc rằng một giám đốc điều hành giấu tên của ABC đã nói rằng: "Bạn không thể biến một diễn viên Trung Quốc cao 5 foot 6 (tầm 1 mét 67 cm) thành ngôi sao của [[Mỹ]]". Việc quay phim "Tĩnh Võ Môn" ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Sau khi tham dự chương trình truyền hình [[Canada]] "[[The Pierre Berton Show]]"", trong tháng 12 năm [[1971]], Lý Tiểu Long bắt tay vào quay phim [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] tiếp theo của công ty Gia Hòa có tên là "Tĩnh Võ Môn". Ông tiếp tục vào vai nam chính kiêm đạo diễn kịch bản, chỉ đạo võ thuật cho phim. Lần đầu tiên kỹ thuật đánh bằng [[côn nhị khúc]] của ông được ông đưa lên phim. Nội dung phim kể về [[Trần Chân (võ sĩ)|Trần Chân]] (Chen Zhen), do Lý Tiểu Long thủ vai, là đệ tử của [[Hoắc Nguyên Giáp]] (một nhân vật nổi tiếng của Trung Hoa, người sáng lập ra [[Tinh Võ Thể Dục Hội|Tinh Võ Môn]]). Đạo diễn [[Lo Wei]] không chỉ tiếp tục làm đạo diễn cho phim này mà còn đóng vai phụ là Thanh tra Lo của đồn cảnh sát thân Nhật. Nữ diễn viên [[Miêu Khả Tú]] đóng vai nữ chính [[Nguyên Lệ Nhi]], hôn thê của [[Trần Chân (võ sĩ)|Trần Chân]]. [[Lâm Chánh Anh]] vào vai 1 võ sinh [[karate]] bị Lý Tiểu Long đánh trầy mặt trong phim. [[Robert Baker]] là học trò và là bạn của Lý Tiểu Long và được Lý Tiểu Long tiến cử cho vai Petrov người [[Nga]] trong phim này. Giọng của [[Robert Baker]] cũng được Lý Tiểu Long lồng tiếng trong phiên bản [[tiếng Quảng Đông]] và [[tiếng Quan Thoại]], có thêm âm vang. [[Nguyên Hoa]] tiếp tục cùng Lý Tiểu Long chỉ đạo võ thuật trong phim. Phim được dàn dựng hoàn toàn trong trường quay. Ngoài việc chỉ đạo võ thuật, [[Nguyên Hoa]] còn đóng vai 1 võ sư karate [[Nhật Bản]] kiếm chuyện với Trần Chân (do Lý Tiểu Long thủ vai) ở công viên và bị Trần Chân đánh gục. Trong phim còn có thanh niên [[Thành Long]] 17 tuổi (với nghệ danh là Trần Nguyên Long) tham gia, vừa đóng vai phụ là một võ sinh của Tinh Võ Môn, vừa là diễn viên đóng thế cho vai Hiroshi Suzuki (vai Hiroshi Suzuki này do diễn viên [[Riki Hashimoto]] người [[Nhật Bản]] đóng chính). Đặc biệt là trong cảnh chiến đấu cuối cùng khi Lý Tiểu Long đá [[Thành Long]] bay lên không trung. Đây là phim thứ hai mà nhân vật của Lý Tiểu Long bị chết (sau phim điện ảnh [[Mỹ]] "[[Marlowe]] 1969"), cũng như lần thứ ba anh hôn một cô gái (do nữ diễn viên [[Miêu Khả Tú]] thủ vai) trên phim ảnh (sau hai cảnh hôn của Lý Tiểu Long với nữ diễn viên [[Marilyn Bautista]] và 1 cô gái điếm người [[Thái Lan]] trong phim "[[Đường Sơn đại huynh]] 1971"). Đạo diễn phim kỳ cựu [[Lo Wei]], từng làm đạo diễn cho phim "[[Đường Sơn đại huynh]]", đã phạm sai lầm không thể tha thứ khi ông ta nói với một tờ báo rằng chính ông ta đã dạy Lý Tiểu Long cách thực hiện các pha hành động trước ống kính. Tệ hơn nữa, [[Lo Wei]] còn còn tự gọi mình là "The Dragon's Mentor". Theo [[Thành Long]] kể lại, khi biết được chuyện này, Lý Tiểu Long giận dữ chạy tới nơi [[Lo Wei]] đang quay phim "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]]" và dùng lời lẽ cãi nhau với ông ta. Cảm xúc của Lý Tiểu Long càng leo thang và ông dọa đánh [[Lo Wei]]. Đạo diễn [[Lo Wei]] sau đó trốn sau lưng vợ ông ta là [[Liu Liang-Hua]]. Lý Tiểu Long chỉ bình tĩnh lại khi [[Liu Liang-Hua]] can thiệp và trấn an ông. Phim được quay xong vào tháng 1 năm [[1972]]. [[Tập tin:19700914丁佩.jpg|thumb|Hình ảnh nữ diễn viên [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) của [[Đài Loan]] những năm [[1970]]. Đinh Phối là người ở cạnh Lý Tiểu Long trước khi Lý Tiểu Long qua đời vào năm [[1973]].]] Trong khoảng tháng 1 năm [[1972]] này, nữ diễn viên [[Đài Loan]] là [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei, khi đó cô ấy mới 24 tuổi) từ [[Thụy Sĩ]] sang [[Hồng Kông thuộc Anh]]. [[Đinh Phối]] gặp Lý Tiểu Long lần đầu tiên tại Hyatt Regency Hong Kong khi ông đang ở cùng vợ [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] và [[Châu Văn Hoài]] (chủ của công ty Gia Hòa). [[Đinh Phối]] và Lý Tiểu Long nhanh chóng trở thành bạn bè (theo dư luận thì sau đó Đinh Phối và Lý Tiểu Long bắt đầu hẹn hò với nhau). Khi đó ở [[Philippines]] công chiếu phim [[Philippines]] có tựa là "[[The Pig Boss]] (1972)", nghe giống với phim "The Big Boss" ("[[Đường Sơn đại huynh]]") của Lý Tiểu Long. Thậm chí diễn viên [[Ramon Zamora]] người [[Philipines]] trong phim đó cũng bắt chước theo phong cách của Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long tuyên bố đây là dòng phim ăn theo tên tuổi của mình, là một thể loại phim phụ và một xu hướng liên quan đến ông. Ông đặt tên cho dòng phim này là những phim "Bruceploitation" (mang hàm ý tiêu cực, ghép từ hai chữ ""Bruce" + "ploitation", trong đó "Bruce" là Lý Tiểu Long, còn "ploitation" là "sự bóc lột"). Doanh thu phòng vé của "Tinh Võ Môn (1972)" vượt mặt phim "Đường Sơn đại huynh (1971)". Ngày [[22 tháng 3]] năm [[1972]] phim "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]]" (tên tiếng Anh ban đầu là "Fist of Fury") được công chiếu tại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Tại [[Mỹ]], phim "[[Tinh Võ Môn]]" được công chiếu với tên tiếng Anh thứ hai là "The Chinese Connection".. Tựa đề "The Chinese Connection" đó là một phương tiện để khai thác sự nổi tiếng của một phim [[Mỹ]] khác có tên là "[[The French Connection]]" (do [[Gene Hackman]] đóng vai chính), được công chiếu tại [[Mỹ]] vào năm [[1971]]. Sau đó các rạp phim của [[Mỹ]] lấy tên tiếng Anh ban đầu của phim "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]]" là "Fist of Fury" gán vào tựa của phim "[[Đường Sơn đại huynh]] 1971", khiến cho ngày nay cái tên "Fist of Fury" dễ gây nhầm lẫn giữa hai phim của Lý Tiểu Long. Vào năm [[1980]] hãng [[Columbia Pictures]] của [[Mỹ]] đã phát hành lại "The Chinese Connection" ("[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]] 1972"), cùng với "The Big Boss" ("[[Đường Sơn đại huynh]] 1971"), dưới dạng một bộ phim kép được hãng phim chấp thuận với khẩu hiệu: "Còn gì tuyệt vời hơn một phim của Lý Tiểu Long? Hai phim của Lý Tiểu Long!"". Phim "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]]" này đạt doanh thu còn hơn cả phim "[[Đường Sơn đại huynh]] (1971)", với khoảng 100 triệu đô la Mỹ (vào thời điểm đó) thu về sau khi phim được phát sóng trên khắp thế giới, so với tiền đầu tư ban đầu chỉ có 100.000 đô la Mỹ. Phim đã thu về gấp 1000 lần ngân sách cho công ty Gia Hòa. Đây là phim [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] có doanh thu cao nhất mọi thời đại cho đến thời điểm đó. Phim cũng góp phần đưa tên tuổi của Lý Tiểu Long ra ngoài biên giới, đưa tên tuổi của Lý Tiểu Long liệt vào hàng siêu sao [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Lý Tiểu Long thu về được một khoản lợi nhuận đủ để trang trải một vài thứ. Lý Tiểu Long được bình chọn là một trong Top 10 ngôi sao điện ảnh hàng đầu của tờ "Daily News Trung Quốc ở nước ngoài" ("Overseas Chinese Daily News"). Ngoài ra, ông còn được "[[Tạp chí Đai đen]]" ("Black Belt Magazine") giới thiệu vào "Đại sảnh Danh vọng Đai đen" ("The Black Belt Hall of Fame"). Mặc dù Lý Tiểu Long không tốt nghiệp [[Đại học Washington]] nhưng ông đã được trao bằng "Tiến sĩ Danh dự" ("Honorary Doctorate Degree") trong năm [[1972]] này. Sau đó Lý Tiểu Long còn xuất hiện trên kênh [[TVB]] của [[Hồng Kông thuộc Anh]] trong một cuộc vận động ủng hộ những người gặp thiên tai ở [[Hồng Kông thuộc Anh]]. Chương trình quyên góp do Lý Tiểu Long kêu gọi này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của khán giả. Thành lập và điều hành Công ty điện ảnh Hiệp Hòa. Do mâu thuẫn giữa Lý Tiểu Long và đạo diễn [[Lo Wei]] khi quay phim "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]] (1972)" nên sau đó Lý Tiểu Long đã từ chối quay phim "Tiếu diện hổ", vì phim này do [[Lo Wei]] tiếp tục làm đạo diễn. Lý Tiểu Long đã tự viết ra một kịch bản phim có tựa đề là "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]]". Để giải quyết vấn đề giữa Lý Tiểu Long và đạo diễn [[Lo Wei]], [[Châu Văn Hoài]] liền nảy ra một ý tưởng rằng công ty Gia Hòa sẽ thành lập ra một công ty con (một [[hãng phim]] riêng) và cho Lý Tiểu Long toàn quyền ra quyết định trong công ty đó, còn đạo diễn [[Lo Wei]] vẫn sẽ quay phim "Tiếu diện hổ" của ông ấy tại [[Đài Loan]], "nước sông không phạm nước giếng" nữa. Tháng 4 năm [[1972]], Lý Tiểu Long và [[Châu Văn Hoài]] (chủ của công ty Gia Hòa) cùng nhau thành lập Công ty điện ảnh Hiệp Hòa (tên tiếng Anh là [[Concord Production Inc.]], tên tiếng Trung là 協和電影公司). Đây là một công ty sản xuất phim điện ảnh được thành lập tại [[Hồng Kông thuộc Anh]]. Lý Tiểu Long chịu trách nhiệm về các quyết định sáng tạo của công ty và [[Châu Văn Hoài]] chịu trách nhiệm quản lý công ty. Công ty Gia Hòa của [[Châu Văn Hoài]] chịu trách nhiệm phân phối phim. Lee Estate của Lý Tiểu Long sở hữu 51% cổ phần của công ty Hiệp Hòa, 49% cổ phần còn lại thuộc về [[Châu Văn Hoài]]. Như vậy, Lý Tiểu Long gần như là đã làm giám đốc của 1 công ty điện ảnh của riêng ông. Đây là lần đầu tiên một diễn viên Hồng Kông thành lập 1 hãng phim riêng. [[Lâm Chánh Anh]], [[Nguyên Hoa]] và nữ diễn viên [[Miêu Khả Tú]] đều rời đạo diễn [[Lo Wei]] để sang công ty Hiệp Hòa phụ tá cho Lý Tiểu Long. Với việc ông đang làm chủ của 3 "Chấn Phiên Võ Quán" tại [[Seattle]], [[Oakland]] và [[Los Angeles]], [[Mỹ]], cộng thêm hiện giờ ông là Giám đốc của công ty điện ảnh Hiệp Hòa, thu nhập của ông mỗi tháng rất cao. Thực tế, Lý Tiểu Long là một người rất biết làm ăn kinh doanh. Sau khi thành lập công ty Hiệp Hòa, Lý Tiểu Long lập tức bắt tay vào quay ngay phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]]" tại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]], phim đầu tiên của công ty Hiệp Hòa. Với phim này, Lý Tiểu Long vừa là người viết kịch bản phim, nhà sản xuất phim, đạo diễn phim, chỉ đạo võ thuật trong phim, tạo nhịp điệu trong nhạc nền soundtrack của phim và là nam chính trong phim. Lý Tiểu Long là diễn viên Hồng Kông đầu tiên "tự mình" thực hiện hết những công việc trên trong 1 [[phim điện ảnh]]. Theo những hình ảnh hậu trường được công ty Gia Hòa công bố, khi đoàn phim quay các cảnh ở [[Hồng Kông thuộc Anh]], nữ diễn viên [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) của [[Đài Loan]] từng đến phim trường thăm Lý Tiểu Long và chụp hình cùng Lý Tiểu Long, [[Miêu Khả Tú]], [[Chuck Norris]]. Vợ của Lý Tiểu Long là [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] cũng từng đưa [[Lý Quốc Hào]] và [[Lý Hương Ngưng]] đến phim trường thăm Lý Tiểu Long, nhưng cô lại không gặp được [[Đinh Phối]]. Sau khi quay những cảnh trong nhà ở [[Hồng Kông thuộc Anh]], tháng 5 năm [[1972]] Lý Tiểu Long đưa đoàn làm phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]]" (trong đó có [[Unicorn Chan]], [[Miêu Khả Tú]], [[Lâm Chánh Anh]], [[Nguyên Hoa]]...) sang [[Roma]] ([[Ý]]) để quay những ngoại cảnh trong phim. Đây là phim [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] đầu tiên có quay ngoại cảnh ở [[Châu Âu]]. Lý Tiểu Long vào vai nam chính Đường Long sang [[Roma]], [[Ý]] dạy võ [[Tiệt quyền đạo]] và giúp đỡ cho nhà hàng người Hoa tại đó tránh bọn mafia và côn đồ địa phương. [[Miêu Khả Tú]] vào vai nữ chính Trần Thanh Hoa, chủ của nhà hàng người Hoa tại [[Roma]], [[Ý]]. Đây là phim đầu tiên Lý Tiểu Long sử dụng cùng lúc 2 cặp [[côn nhị khúc]]. Thành phần du đãng trong phim này đều là người nước ngoài được Lý Tiểu Long mời tham gia phim: diễn viên [[Jon T. Benn]] của [[Mỹ]] vào vai ông chủ của du đãng trong phim, diễn viên [[Robert Wall]] của [[Mỹ]] (học trò của Lý Tiểu Long) vào vai Bob/Tom/Fred trong phim, võ sư [[hapkido]] [[Hwang In-shik]] của [[Hàn Quốc]] vào vai 1 võ sinh karate người [[Nhật Bản]], nhà phê bình [[John Derbyshire]] người [[Mỹ]] gốc [[Anh]] vào vai 1 tên côn đồn mafia. Phim này có nhiều cảnh hài hước hơn hai phim "[[Đường Sơn đại huynh]] (1971)" và "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]] (1972)". Trong phim cũng có 1 cảnh nóng hài hước khi nữ diễn viên [[Malisa Longo]] người [[Ý]] vào vai 1 cô gái điếm dẫn Đường Long (do Lý Tiểu Long thủ vai) vào phòng. Sau đó nữ diễn viên cởi hết quần áo ra cho Đường Long xem, nhưng Đường Long nhanh chóng bỏ chạy ra khỏi phòng. Cảnh thoát y trước ống kính này của nữ diễn viên [[Malisa Longo]] đã khiến cho tên tuổi của cô nổi tiếng khắp thế giới vào thời đó. Nhà sản xuất [[Andre E. Morgan]] người [[Mỹ]] cũng được Lý Tiểu Long mời vào vai 1 khách hàng trong nhà hàng của Trần Thanh Hoa (do [[Miêu Khả Tú]] thủ vai) tại [[Ý]]. Võ sư karate [[Chuck Norris]] cũng được Lý Tiểu Long mời sang [[Roma]] cùng tham gia vào phim. Cảnh đấu giữa Đường Long (do Lý Tiểu Long thủ vai) với Colt (do [[Chuck Norris]] thủ vai) tại [[Đấu trường La Mã]] là cảnh giao đấu cuối cùng của Lý Tiểu Long trong phim. Lý Tiểu Long đã quay phim "trong thời gian dài, tạo khung hình để bạn có thể nhìn thấy toàn bộ cơ thể của họ. Ông đã sử dụng ánh sáng ấn tượng, khiến cả hai người trông lớn hơn ngoài đời thực." Đặc biệt là ông quay kỹ hai con mèo của nước [[Ý]] tại [[Đấu trường La Mã]]. Theo lời [[Unicorn Chan]] kể lại, khi quay phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]]" này, Lý Tiểu Long từng bị cơn đau đầu hành hạ khiến đoàn phim phải nghỉ quay vài ngày, sau khi ông hồi phục thì lập tức cho quay phim tiếp. Tháng 6 năm [[1972]], Lý Tiểu Long quay xong phim thì đưa đoàn phim quay về [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Việc quay phim "Trò Chơi Tử Thần" ở [[Hàn Quốc]]. [[Tập tin:Bruce Lee, The Game Of D|thumb|"Ghi chú kịch bản của Bruce Lee"]] Tháng 7 năm [[1972]], Lý Tiểu Long bắt tay vào viết kịch bản phim tiếp theo cho công ty Hiệp Hòa của ông. Lý Tiểu Long đặt tên cho kịch bản phim này là "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" ("Tử vong đích du hý", 死亡的遊戲). [[Châu Văn Hoài]] từng nghe tên này xong thì khuyên Lý Tiểu Long hãy lấy tên khác cho phim vì cái tên này mang lại điềm xấu. Tuy nhiên Lý Tiểu Long vẫn để nguyên tên phim. Ý tưởng của kịch bản phim này xuất phát từ chuyến du ngoạn [[Ấn Độ]] tìm cảnh để quay phim "The Silent Flute" (Tiếng sáo vô thanh) vào năm ngoái. Lý Tiểu Long tiếp tục vừa là người viết kịch bản phim, nhà sản xuất phim, đạo diễn phim, chỉ đạo võ thuật trong phim và là nam chính trong phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" này. Tháng 8 năm [[1972]], công ty Hiệp Hòa của Lý Tiểu Long đưa đoàn phim sang [[Hàn Quốc]]. Sau đó Lý Tiểu Long cho tiến hành quay phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" tại [[Hàn Quốc]]. Bối cảnh của chùa trong phim này là ở chùa [[Beopjusa]] trong Vườn quốc gia Songnisan ở [[Hàn Quốc]]. [[Robert Baker]], học trò của Lý Tiểu Long, được cân nhắc cho 1 vai diễn trong phim nhưng sau đó vai được trao cho võ sĩ [[Robert Wall]] người [[Mỹ]]. [[Hồng Kim Bảo]] (20 tuổi) đã được Lý Tiểu Long chọn vào vai Chiến binh thứ ba, nhưng vào thời điểm Lý Tiểu Long sẵn sàng đóng phim cùng cậu ấy, [[Hồng Kim Bảo]] đã chuyển sang một phim khác, và [[Chieh Yuan]] đã tham gia thay vai của cậu ấy. [[Thành Long]] (18 tuổi) vào vai một fan hâm mộ xin chữ ký của nam chính Hải Thiên (do Lý Tiểu Long thủ vai) trong phim. Nội dung phim kể về nam chính [[Hải Thiên]] (do Lý Tiểu Long thủ vai), để cứu em gái và em trai của mình, Hải Thiên đã tham gia một nhóm võ sĩ được thuê để lấy kho báu quốc gia [[Trung Quốc]]. Kho báu này đã bị đánh cắp và được giấu trên tầng cao nhất của một ngôi chùa năm tầng ở [[Hàn Quốc]] tên là Palsang-jon - ngôi chùa bằng gỗ duy nhất ở [[Hàn Quốc]], với mỗi tầng được bảo vệ bởi các võ sĩ, những người phải bị đánh bại nếu nhóm của Hải Thiên muốn leo lên tầng cao nhất. Nhóm của Hải Thiên cùng các nhân vật do [[James Tien]] và [[Chieh Yuan]] thủ vai xông vào chùa. Tại chân chùa, họ đấu với 10 người, đều là đai đen Karate (trong đó có [[Lâm Chánh Anh]], [[Nguyên Hoa]] và [[Unicorn Chan]]). Khi ở trong chùa, họ gặp phải một đối thủ khác nhau ở mỗi tầng, mỗi tầng lại khó khăn hơn tầng trước. Trong phim Lý Tiểu Long có biểu diễn khả năng sử dụng [[côn nhị khúc]] và võ [[Tiệt quyền đạo]]. Mặc dù ngôi chùa được cho là có năm tầng, nhưng các cảnh hoàn chỉnh chỉ được quay ở ba tầng: "Đền Hổ", nơi Lý Tiểu Long đối mặt với [[Dan Inosanto]] (học trò của Lý Tiểu Long); "Đền rồng", nơi Lý Tiểu Long chiến đấu với cao thủ [[hapkido]] là [[Ji Han-jae]]; và tầng cuối cùng, được gọi là "Ngôi đền vô danh", nơi ông chiến đấu với [[Kareem Abdul-Jabbar]] (học trò của Lý Tiểu Long). Cao thủ [[hapkido]] khác là [[Hwang In-shik]], một bậc thầy về phong cách thiên về đá, dự kiến đóng vai người bảo vệ tầng một, trong khi học trò lâu năm và là bạn tốt của Lý Tiểu Long là [[Taky Kimura]] được yêu cầu đóng vai người bảo vệ tầng hai. Do thành công của những bộ phim trước đó của Lý Tiểu Long, công ty [[Warner Brothers]] của [[Hollywood]], [[Mỹ]] bắt đầu muốn đưa Lý Tiểu Long quay về với [[Hollywood]]. Họ mời các nhà sản xuất [[Fred Weintraub]] và [[Paul Heller]] để quay phim cùng với Lý Tiểu Long. Khi Lý Tiểu Long đang quay phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" thì nhận được lời đề nghị đóng vai chính trong phim "[[Long Tranh Hổ Đấu|Máu và Sắt]]" ("Blood and Steel"), phim [[kung fu]] đầu tiên do hãng phim [[Hollywood]] ([[Warner Brothers]]) sản xuất và với kinh phí chưa từng có cho thể loại này (850.000 đô la Mỹ). Việc này khiến cho Lý Tiểu Long bị dao động, muốn dừng quay phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]". Tháng 10 năm [[1972]] Lý Tiểu Long cho dừng việc quay phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" lại. Khi đó đoàn phim đã quay được đoạn phim dài hơn 100 phút cho phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" (từ đó cho đến khi Lý Tiểu Long qua đời, Lý Tiểu Long không thể quay thêm một phút giây nào cho phim này nữa, đoạn phim này cũng bị thất lạc tại công ty Gia Hòa). Ông đưa đoàn phim bay từ [[Hàn Quốc]] về [[Hồng Kông thuộc Anh]]. Thời gian này Lý Tiểu Long đã truyền dạy võ công cho con trai [[Lý Quốc Hào]] 7 tuổi của ông. Ông còn "mớm" cả nghề điện ảnh cho [[Lý Quốc Hào]]. Sau này [[Lý Quốc Hào]] từng nói rằng: "Trong ký ức đầu tiên của mình, tôi luôn muốn trở thành một tài tử điện ảnh, và tôi đã đeo đuổi ý định này từ rất nhỏ. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có một con đường khác". Ngày [[30 tháng 10]] năm [[1972]], tại [[Giải thưởng Kim Mã|Lễ trao Giải thưởng Kim Mã lần thứ 10]] ở [[Đài Loan]], Lý Tiểu Long (khi đó ông đã cùng [[Đinh Phối]] và [[Miêu Khả Tú]] bay đến [[Đài Loan]] để tham dự buổi lễ) nhận giải thưởng "Giải kỹ thuật đặc biệt" ("Special Technical Award") trong phim "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]] (1972)". Ngoài ra "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]] (1972)" của ông cũng được đề cử cho giải "Phim truyện hay nhất" ("Best Feature Film"). Làm đạo diễn kịch bản kiêm chỉ đạo võ thuật cho phim "Fist of Unicorn (1973)". Sau khi về lại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]], tháng 11 năm [[1972]], Lý Tiểu Long được bạn thân là [[Unicorn Chan]] mời làm đạo diễn kịch bản, chỉ đạo võ thuật trong phim [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] có tên là "[[Fist of Unicorn]]" (phim còn có tựa khác là "Bruce Lee and I"). Trong phim này, [[Unicorn Chan]] đóng vai chính Ah-Lung. Các cảnh hành động và chiến đấu trong phim đều do Lý Tiểu Long làm đạo diễn và biên đạo. Theo hình ảnh hậu trường được công ty Gia Hòa công bố, nữ diễn viên [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) của [[Đài Loan]] xuất hiện tại phim trường "[[Fist of Unicorn]]" để thăm Lý Tiểu Long và chụp hình lưu niệm cùng Lý Tiểu Long. Ngày [[2 tháng 12]] năm [[1972]], sư phụ của Lý Tiểu Long là [[Diệp Vấn]] mất tại nhà số 149, phố Tung Choi Vượng Giác, Cửu Long, [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] vì căn bệnh ung thư thanh quản. [[Diệp Vấn]] đã qua đời dưới sự tiếc thương của rất nhiều người. Lý Tiểu Long đến viếng tang thì bị anh em trong Vịnh Xuân Quyền khiển trách việc ông khiến Diệp Vấn sư phụ đau lòng về cuối đời. Ngày linh cữu của [[Diệp Vấn]] được đưa đi, Lý Tiểu Long luôn bồn chồn lo lắng và không thể quay thành công cảnh phim nào của phim "[[Fist of Unicorn]]" trong ngày hôm đó. Trong tháng 12 năm [[1972]], [[Hội đồng Võ thuật Thế giới]] đã bình chọn Lý Tiểu Long là "Vua Kungfu", khi đó Lý Tiểu Long đã 32 tuổi. Doanh thu phòng vé của phim "Mãnh Long quá giang (1972)" vượt trội hơn "Tinh Võ Môn (1972)". [[Tập tin: Bruce Lee S|thumb|Hình ảnh của Lý Tiểu Long trong phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]] (1972)"]] Ngày [[30 tháng 12]] năm [[1972]], phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]]" (tên tiếng Anh ban đầu là "The Way of The Dragon") được công chiếu tại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Tại Mỹ, phim được công chiếu dưới tên tiếng Anh thứ hai là "The Return of The Dragon". Ban đầu phim chỉ dành cho thị trường [[Châu Á]], nhưng cuối cùng lại ""chịu trách nhiệm duy trì đà phát triển của phim võ thuật ở Mỹ". Theo [[Gene Freese]], cảnh chiến đấu cuối cùng giữa Lý Tiểu Long và [[Chuck Norris]] được nhiều người coi là "trận chiến vĩ đại nhất trong phim từng được quay"". Cảnh chiến đấu này đã được liệt kê là một trong những cảnh chiến đấu hay nhất mọi thời đại trong một số ấn phẩm. Ngoài ra, trong cảnh này, Lý Tiểu Long đã trình diễn và phổ biến một kỹ thuật mà sau này được gọi là "the oblique kick" (tạm dịch là ""đạp gối""). Kỹ thuật này thường được sử dụng bởi một số võ sĩ [[võ tổng hợp|võ tổng hợp (MMA)]] hiện đại, đáng chú ý nhất là nhà vô địch UFC hạng cân pound-for-pound [[Jon Jones]], người đã tuyên bố rằng Lý Tiểu Long là nguồn cảm hứng luyện võ của anh. Phim này có doanh thu phòng vé vượt trội hơn nhiều so với hai phim trước là "[[Đường Sơn đại huynh]] (1971)" và "[[Tinh Võ Môn (phim 1972)|Tinh Võ Môn]] (1972)". Phim đã thu về khoảng 130 triệu đô la Mỹ (vào thời điểm đó) sau khi công chiếu trên toàn thế giới, so với 130.000 đô la Mỹ (vào thời điểm đó) tiền đầu tư ban đầu thì công ty Hiệp Hòa và công ty Gia Hòa đã thu về số tiền gấp 1000 lần ngân sách. "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]] 1972" trở thành phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại của [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] vào thời điểm đó. Phim đã nâng tầm Lý Tiểu Long và võ sư [[Chuck Norris]] lên thành một trong những ngôi sao hành động sáng giá. Tại [[Giải Kim Mã|Giải Kim Mã lần thứ 11]] diễn ra vào ngày [[30 tháng 10]] năm [[1973]] (3 tháng sau khi Lý Tiểu Long qua đời) tại [[Đài Loan]], phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]] (1972)" được đánh giá là Á quân của giải thưởng "Phim truyện xuất sắc nhất" và được công nhận cho giải thưởng "Biên tập phim xuất sắc nhất" (nếu Lý Tiểu Long khi đó mà còn sống, chắc chắn ông sẽ được lên sân khấu nhận giải này tại [[Đài Loan]]). Sau đó, phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]] (1972)" này được xếp hạng 95 trong danh sách "100 phim hay nhất của điện ảnh thế giới" năm [[2010]] của [[tạp chí Empire]]. Hoàn thành việc làm đạo diễn kịch bản kiêm chỉ đạo võ thuật cho phim "Fist of Unicorn (1973)". Ngày [[30 tháng 12]] năm [[1972]] (cùng ngày công chiếu phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]] (1972)" ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]), võ sư [[Nghiêm Kính Hải]] (James Yimm Lee, bạn của cha của Lý Tiểu Long, học trò của Lý Tiểu Long) qua đời ở tuổi 52 do ung thư phổi bởi khói hàn. Nghe tin này, Lý Tiểu Long đang vui chuyện doanh thu phòng vé phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]] (1972)" cao ngất ngưỡng thì trở nên đau buồn. Ngày [[31 tháng 12]] năm [[1972]], phim [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] do Lý Tiểu Long làm đạo diễn kịch bản kiêm chỉ đạo võ thuật là "[[Fist of Unicorn]]" được quay xong. Phim "[[Fist of Unicorn]]" này được công chiếu vào ngày [[1 tháng 3]] năm [[1973]] tại [[Hồng Kông thuộc Anh]]. Lý Tiểu Long trở thành khách mời ngoài ý muốn trong phim. Lý do là vì Lý Tiểu Long chỉ xuất hiện chớp nhoáng qua cảnh quay hậu trường trong phim, cho thấy ông đang tập luyện [[Tiệt quyền đạo]] cùng các [[diễn viên]] và các [[diễn viên đóng thế]] trong phim. Phim đã thu về được 722,848.9 đô la Hồng Kông và bán được 398,022 vé khi công chiếu tại [[Pháp]] nhờ những pha võ thuật chân thật trong phim. Trên một số bìa DVD của phim "[[Fist of Unicorn]] (1973)" có hình của Lý Tiểu Long, mặc dù ông không đóng vai chính trong phim này. Việc quay phim "Long Tranh Hổ Đấu" ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Sau khi lo xong phim "[[Fist of Unicorn]]", tháng 1 năm [[1973]], Lý Tiểu Long bắt đầu xem xét kịch bản phim "[[Máu và Sắt]]" ("Blood and Steel") của công ty [[Warner Brothers]] bên [[Hollywood]], [[Mỹ]]. Câu chuyện có các nhân vật chính anh hùng gốc [[Châu Á]], người da trắng và người da đen vì các nhà sản xuất muốn một bộ phim thu hút được nhiều khán giả quốc tế nhất có thể. Lý Tiểu Long sau đó chỉnh sửa lại nội dung của kịch bản và đổi tên kịch bản phim từ "[[Máu và Sắt]]" thành "[[Long Tranh Hổ Đấu]]". Nội dung được Lý Tiểu Long sửa lại là nhân vật "ông Lý" (do Lý Tiểu Long thủ vai), một đệ tử [[Thiếu Lâm tự]] dùng võ [[Tiệt quyền đạo]], vâng lời sư phụ đi trừng phạt kẻ phản bội sư môn (tên họ Hàn, do diễn viên [[Thạch Kiên]] thủ vai). Biết được chị gái của mình bị đệ tử của tay họ Hàn hại chết, với sự giúp sức của một tổ chức an ninh, ông Lý quyết định tham gia giải thi đấu võ nhằm đột nhập vào sào huyệt của bọn chúng là một hòn đảo. Đầu tháng 2 năm [[1973]], Lý Tiểu Long đại diện cho công ty Gia Hòa và công ty Hiệp Hòa bay sang [[Hollywood]], [[Mỹ]] để ký hợp đồng hợp tác cùng sản xuất phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]]". Lý Tiểu Long còn mở một studio phim tại [[Los Angeles]], [[Mỹ]] để tiện cho sau này ông có thể quay thêm phim ở [[Hollywood]] (tuy nhiên ông không ngờ rằng ông không có cơ hội để sử dụng studio phim ở [[Los Angeles]] này). Sau đó, [[Hà Ái Du]] (Grace Lee), mẹ của Lý Tiểu Long, gặp ông tại [[Los Angeles]], [[Mỹ]]. Lý Tiểu Long thổ lộ với bà rằng ông không muốn sống thêm nữa và bà không phải lo về tài chính, tuy nhiên bà nghĩ con trai bà nói vớ vẩn (theo lời [[Hà Ái Du]] kể lại trên các phương tiện truyền thông sau khi Lý Tiểu Long qua đời). Ngày [[20 tháng 2]] năm [[1973]], Lý Tiểu Long từ [[Mỹ]] bay về [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] để tham dự ngày lễ thể thao tại trường St. Francis Xavier (ngôi trường ngày xưa ông từng học và con trai ông là [[Lý Quốc Hào]] đang theo học). Sau đó Lý Tiểu Long cùng đạo diễn [[Robert Clouse]] của [[Hollywood]] tiến hành casting từng vai diễn trong phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]]". [[Rod Taylor]] là lựa chọn đầu tiên cho vai võ sĩ kém may mắn Roper trong phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]]". Tuy nhiên, [[Rod Taylor]] đã bị loại sau khi Lý Tiểu Long cho rằng anh ấy quá cao so với vai diễn. [[John Saxon]], người có đai đen Judo và Shotokan Karate (anh ta từng theo học đại sư [[Hidetaka Nishiyama]] trong ba năm), trở thành lựa chọn ưu tiên. Trong quá trình đàm phán hợp đồng, người đại diện của [[John Saxon]] nói với các nhà sản xuất phim rằng nếu họ muốn có anh ấy, họ sẽ phải thay đổi cốt truyện để nhân vật Williams bị giết thay vì Roper. Lý Tiểu Long và [[Robert Clouse]] đồng ý, kịch bản phim sau đó đã được thay đổi. [[Chuck Norris]] ban đầu được Lý Tiểu Long cân nhắc cho vai O'Hara trong phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]]" nhưng ông ta đã từ chối. [[Chuck Norris]] nói rằng một trận thua trong [[phim điện ảnh]] trước Lý Tiểu Long (trong phim "[[Mãnh long quá giang|Mãnh Long quá giang]]") là đủ đối với ông ấy. Sau đó Lý Tiểu Long chọn học trò của mình là diễn viên [[Robert Wall]] người [[Mỹ]] vào vai O'Hara. Khi đó Robert Wall lấy nghệ danh là Bob Wall. Cuối tháng 2 năm [[1973]], Lý Tiểu Long có cơ hội chứng tỏ bản thân hơn khi phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]]" (tên tiếng Anh là "Enter The Dragon") được khởi quay. Đây chính là bộ phim đầu tiên do công ty [[Warner Brothers]] (của [[Hollywood]]) ở [[Mỹ]] và công ty Hiệp Hòa (của Lý Tiểu Long) ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] hợp tác sản xuất. Với phim này, Lý Tiểu Long tiếp tục vừa là người viết kịch bản, nhà sản xuất, biên kịch, đạo diễn, đạo diễn kịch bản, chỉ đạo võ thuật và đóng vai chính ông Lý trong phim. [[Lâm Chánh Anh]] theo phụ tá Lý Tiểu Long trong việc chỉ đạo võ thuật và đóng vai võ sư vô danh trong phim. Phim được quay tại địa điểm ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Các cảnh chiến đấu trong phim đều do Lý Tiểu Long dàn dựng. Cảnh phim mà Lý Tiểu Long nói rằng phong cách của ông là "Chiến đấu mà không cần chiến đấu" dựa trên một giai thoại nổi tiếng liên quan đến thế kỷ 16 của [[Nhật Bản]] là [[samurai]] [[Tsukahara Bokuden]]. Thanh niên [[Thành Long]] (19 tuổi, với nghệ danh là Trần Nguyên Long) có những vai lính canh khác nhau trong phim, từng xuất hiện ôm khóa ông Lý (do Lý Tiểu Long thủ vai) từ phía sau nhưng nhanh chóng bị ông Lý đánh văng. [[Nguyên Hoa]] vừa đóng vai võ sĩ vô danh trong phim, vừa là diễn viên đóng thế kép chính của Lý Tiểu Long trong phim, chịu trách nhiệm thực hiện các pha nguy hiểm thể dục dụng cụ như nhào lộn và nhảy ngược trong trận đánh mở màn. Thanh niên [[Hồng Kim Bảo]] (21 tuổi) cũng có một vai trong cảnh đánh nhau mở màn với ông Lý (do Lý Tiểu Long) ở đầu phim, nhanh chóng bị ông Lý đánh hạ. [[Wong Shun-leung]] (người trực tiếp truyền thụ [[Vịnh Xuân Quyền]] cho Lý Tiểu Long ngày xưa) cũng được Lý Tiểu Long mời đến phim trường chỉ đạo võ thuật. Một tin đồn xung quanh việc quay phim này cho rằng nam diễn viên [[Bob Wall]] (Robert Wall, vai O'Hara trong phim) không thích Lý Tiểu Long và các cảnh đánh nhau của họ trong phim là đánh nhau thật, không phải là dàn dựng. Tuy nhiên, [[Bob Wall]] đã phủ nhận điều này. Ông ta nói rằng mình và Lý Tiểu Long là bạn tốt dù có đánh nhau thật ở trong phim. Lý Tiểu Long, sau khi bị chọc ghẹo hoặc bị thách thức, đã đánh nhau vài trận thực sự với các nhân vật phụ trong phim và một số kẻ đột nhập vào phim trường trong quá trình quay phim. Các cảnh trên đảo của ông Hàn được quay tại một dinh thự có tên là [[Palm Villa]] gần thị trấn ven biển [[Stanley]]. Biệt thự hiện đã bị phá bỏ và khu vực xung quanh vịnh [[Tai Tam Bay]] được tái phát triển mạnh mẽ, nơi các võ sĩ được quay phim khi lên bờ. Trong lúc quay bộ phim này, Lý Tiểu Long từng bị một võ sư vô danh đột nhiên xuất hiện đấm vào mặt ông, khiến ông bị ngã xuống và bị bất tỉnh (từ đó dân gian đồn rằng đó là công phu "Điểm huyệt hẹn ngày chết"). Sau khi "làm xong việc", tên võ sư vô danh đó nhanh chóng biến mất. Lý Tiểu Long đã tỉnh lại khi đã được đưa vào bệnh viện và hôm sau ông lại tiếp tục cho quay phim. Một hôm khi đang quay phim, Lý Tiểu Long đột nhiên bị ngất tại phim trường. Đoàn phim một lần nữa đưa Lý Tiểu Long đi bệnh viện. Sau khi khỏe lại, Lý Tiểu Long nhanh chóng xuất viện, quay lại phim trường để tiếp tục quay phim. Phim "Long Tranh Hổ Đấu" hoàn thành vào tháng 4 năm [[1973]], khi Lý Tiểu Long 32 tuổi. Sau khi đóng xong phim này, Lý Tiểu Long bị sụt gần 15 kg. Trong phim này, Lý Tiểu Long có bày tỏ một số quan điểm về võ thuật của mình, đúng như mong ước của ông là dùng điện ảnh để truyền bá võ thuật. Tiếp tục quay tiếp phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Trong tháng 4 năm [[1973]], Lý Tiểu Long tiếp tục quay tiếp phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" nhưng lần này là quay ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]], vì đợt trước đoàn phim của ông đã quay hết ngoại cảnh ở [[Hàn Quốc]]. Khi đó [[Miêu Khả Tú]] từng được coi là "Hồng nhan tri kỷ" của Lý Tiểu Long sau khi đóng chung trong ba phim "Đường Sơn đại huynh (1971)", "Tinh Võ Môn (1972)" và "Mãnh Long quá giang (1972)". Lý Tiểu Long luôn muốn giao vai nữ chính trong phim của mình cho cô. Một lần Lý Tiểu Long đã mời [[Miêu Khả Tú]] đến phim trường "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" rồi bày tỏ ý định đưa cô vào vai nữ chính, vai em gái của nam chính Hải Thiên (do Lý Tiểu Long thủ vai), trong phim. Tuy nhiên cô đã từ chối, vì lúc đó dư luận đang đồn đãi nhiều về quan hệ giữa hai người. Cô vui vẻ chụp hình lưu niệm với Lý Tiểu Long rồi ra về. Lý Tiểu Long sau đó đã sửa lại kịch bản phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]", biến nữ chính trong phim từ em gái thành vợ của nhân vật Hải Thiên. Và Lý Tiểu Long đã chọn nữ diễn viên [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) của [[Đài Loan]] vào vai nữ chính, vợ của Hải Thiên, trong phim này. Do lo cho sức khỏe của Lý Tiểu Long trên phim trường nên vợ ông là [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] thường đưa [[Lý Quốc Hào]] và [[Lý Hương Ngưng]] đến phim trường thăm ông. Những ngày trước khi chết. Lúc này Lý Tiểu Long đã cùng vợ con ở lại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] để sinh sống. Khi đó ông luôn có một sự cảnh giác đối với mọi người xung quanh và [[Hội Tam Hoàng]] ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]], đặc biệt là ông luôn mang theo súng cá nhân bên mình khi đi ra đường ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Khi đó Lý Tiểu Long đã đắc tội với rất nhiều võ sư khi nêu ra khuyết điểm trong loại võ của họ rồi tự ông lập ra [[Tiệt quyền đạo]]. Điều này khiến cho Lý Tiểu Long đi đến đâu trên khắp thế giới đều có võ sư xuất hiện đòi thách đấu với Lý Tiểu Long. Trong đó có những người đấu võ công bằng với Lý Tiểu Long, cũng có những người muốn mượn cớ đấu võ với Lý Tiểu Long rồi ra tay nhẫn tâm nhằm khiến cho Lý Tiểu Long bị tàn phế hoặc bị mất mạng. Lý Tiểu Long còn đắc tội với nhiều hãng phim vì những phim do ông tham gia đạt doanh thu phòng vé cao hơn họ. Ngoài ra, ông còn đắc tội với [[Hội Tam Hoàng]] ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] nữa, đặc biệt là khi xưa [[Hội Tam Hoàng]] từng ép Lý Tiểu Long phải trốn sang [[Mỹ]] năm 19 tuổi. Ngày [[10 tháng 5]] năm [[1973]], Lý Tiểu Long lại bị đau đầu và ông dùng thuốc giảm đau là Equagesic. Sau khi uống xong thì ông bị [[động kinh]]. Vợ ông là [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] nhanh chóng gọi cho bác sĩ chuyên về thần kinh là [[Peter Wu]] đến cứu ông. [[Peter Wu]] đã giúp Lý Tiểu Long vượt qua cơn [[động kinh]]. Sau đó Peter Wu còn tiến hành phẫu thuật cho Lý Tiểu Long, lấy phần thuốc Equagesic trong [[dạ dày|bao tử]] của ông ra ngoài. Theo lời của [[Peter Wu]], trong [[dạ dày|bao tử]] của Lý Tiểu Long khi đó có chứa nhiều chất [[cần sa (chất kích thích)|cần sa]] và ông ta đã lấy hết nó ra ngoài. Không rõ là Lý Tiểu Long đã dùng hoặc đã nghiện [[cần sa (chất kích thích)|cần sa]] từ lúc nào. Có một giả thuyết cho rằng có thể trong một lần Lý Tiểu Long bị đau đầu, ông đã dùng thử [[cần sa (chất kích thích)|cần sa]], kết quả là cơn đau đầu của ông đã giảm lại nên ông đã dùng [[cần sa (chất kích thích)|cần sa]] đến khi nghiện, khiến cho [[dạ dày|bao tử]] của ông đã chứa đầy [[cần sa (chất kích thích)|cần sa]]. Sau việc này, Lý Tiểu Long đã nghe lời khuyên của bác sĩ [[Peter Wu]]. Đó là "tránh dùng thuốc Equagesic". Cảm thấy sức khỏe của Lý Tiểu Long không ổn, [[Châu Văn Hoài]] cho đoàn phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" tạm dừng quay, đợi Lý Tiểu Long khỏe hẳn mới quay tiếp. Lý Tiểu Long không đồng ý, cứ muốn quay tiếp phim. Vai nữ chính trong phim này do [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) đảm nhiệm nhưng không rõ lý do vì sao cô ấy vẫn chưa xuất hiện tại phim trường để quay. Với lý do nữ chính chưa đến phim trường để quay, Lý Tiểu Long đã nghe lời của [[Châu Văn Hoài]] cho dừng quay phim trong vòng vài tháng, rồi sang [[Mỹ]] để giải quyết việc kinh doanh 3 "Chấn Phiên Võ Quán" của ông tại đó. Khi đó Lý Tiểu Long đã gọi điện mời sư huynh [[Wong Shun-leung]] của Vịnh Xuân quán tham gia vào phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" của mình. [[Wong Shun-leung]] không hứa sẽ tham gia phim nhưng hứa sẽ casting phim vào tháng 6 năm [[1973]]. Cuối tháng 5 năm [[1973]], Lý Tiểu Long bay về [[Hồng Kông thuộc Anh]] nhưng buổi casting của [[Wong Shun-leung]] đã không diễn ra. Giữa tháng 7 năm [[1973]] võ sư [[Lý Huỳnh]] ở [[Việt Nam Cộng Hòa|Việt Nam]] công khai thách đấu với Lý Tiểu Long trên truyền hình, sự kiện này được báo chí [[Việt Nam Cộng Hòa|Việt Nam]] và [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] đưa tin, tuy nhiên Lý Tiểu Long đã không còn cơ hội để nhận lời thách đấu này nữa. Ngày [[16 tháng 7]] năm [[1973]] mưa to do cơn [[xoáy thuận nhiệt đới|bão]] lớn tại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Lý Tiểu Long tiêu phí 2000 [[ký hiệu đô la|$]] để điện thoại cho [[Unicorn Chan]], người đang quay phim ở [[Manila]] của [[Philippines]], trong phòng của ông tại [[khách sạn]]. Lý Tiểu Long nói với [[Unicorn Chan]] rằng ông thực sự thấy lo lắng về những cơn đau đầu mà mình đang phải chịu đựng. Ngày [[18 tháng 7]] năm [[1973]] mái nhà của Lý Tiểu Long tại đường Cumberland ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] bị thổi tung vì mưa to gió lớn. Tới sáng ngày [[20 tháng 7]] năm [[1973]], Lý Tiểu Long viết một bức thư cho vị [[luật sư]] [[Adrian Marshall]]. Nội dung thư cho biết ông muốn thảo luận với [[Adrian Marshall]] trên chuyến đi trở về [[Los Angeles]], [[Mỹ]]. Lý Tiểu Long đã có tấm vé sẵn sàng trở về [[Mỹ]] cho buổi trình diễn [[Tiệt quyền đạo]] trước công chúng, và ông dự định sẽ xuất hiện trên chương trình truyền hình của [[Johnny Carson]]. Diễn biến cái chết. [[Châu Văn Hoài]] đến nhà Lý Tiểu Long và hai người cùng bàn bạc về kế hoạch quay tiếp phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]". [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] hôn tạm biệt Lý Tiểu Long và nói rằng cô phải ra ngoài làm mấy việc lặt vặt (đi chợ) và sẽ gặp ông vào buổi tối. [[Châu Văn Hoài]] và Lý Tiểu Long tới thăm nữ diễn viên [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) tại căn hộ của cô số 67 đường [[Beacon Hill Road]], [[Kowloon Tong]], [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] để bàn về vai nữ chính (vợ của Hải Thiên) của cô trong phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]". Họ dự định sẽ có bữa ăn tối để gặp diễn viên [[George Lazenby]] người [[Úc]] và mời ông ta vào vai sư phụ của Hải Thiên trong phim. Khi đang xem lại kịch bản phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" vào lúc 17:00, Lý Tiểu Long kêu bị đau đầu, hỏi mượn tạm [[thuốc giảm đau]] của [[Đinh Phối]]. Do không biết việc Lý Tiểu Long phải tránh dùng thuốc Equagesic, [[Đinh Phối]] đã đưa cho Lý Tiểu Long 1 viên [[Equagesic]], một loại thuốc mạnh dựa trên aspirin mà cô ấy thường tự sử dụng. Có thể do quá đau đầu nên Lý Tiểu Long đã quên việc bác sĩ [[Peter Wu]] từng khuyên ông tránh dùng thuốc Equagesic. Chẳng cần hỏi viên thuốc mà [[Đinh Phối]] đang đưa cho mình là thuốc gì, Lý Tiểu Long đã lập tức uống ngay viên Equagesic đó. Và rồi Lý Tiểu Long đã nằm lại trên giường của [[Đinh Phối]] để ngủ tạm, chờ đến bữa tối. [[Châu Văn Hoài]] ra về và nói sẽ gặp lại họ sau. [[Châu Văn Hoài]] và [[George Lazenby]] gặp nhau tại nhà ăn và ngồi chờ Lý Tiểu Long và [[Đinh Phối]] tới, nhưng cả hai đều không xuất hiện. Lúc 21:00, [[Châu Văn Hoài]] nhận được cú điện thoại của Đinh Phối. Cô nói rằng cô đã cố đánh thức Lý Tiểu Long nhưng ông không thức dậy được nữa. [[Châu Văn Hoài]] lập tức đến căn hộ của [[Đinh Phối]] và cố gắng gọi cho bác sĩ riêng của Lý Tiểu Long ít nhất 20 lần. Sau đó, điện thoại không kết nối được, [[Châu Văn Hoài]] đã gọi cho bác sĩ riêng của [[Đinh Phối]], người đến sau 20 phút. Ông ta không phát hiện ra nhịp tim hay hơi thở của Lý Tiểu Long nữa. Ông ấy đã cố gắng hô hấp nhân tạo (CPR) cho Lý Tiểu Long trước khi gọi xe cấp cứu đưa Lý Tiểu Long đến bệnh viện Queen Elizabeth. Lý Tiểu Long đã không được đưa đến bệnh viện cho đến lúc đồng hồ quá 23:00, 6 giờ đồng hồ sau khi Lý Tiểu Long uống một viên thuốc giảm đau do [[Đinh Phối]] đưa cho và nằm xuống chợp mắt. Lý Tiểu Long đã không thể tỉnh lại được nữa và ông đã vĩnh viễn ra đi. Bệnh viện thông báo rằng Lý Tiểu Long đã chết khi đang trên đường đến bệnh viện. Bác sĩ đã rất ngạc nhiên khi biết Lý Tiểu Long bị [[hôn mê]] lâu như vậy vào buổi tối hôm đó nhưng thật không may Đinh Phối đã không gọi ông ta tới giúp sớm hơn cô ấy có thể. Hiện trường Lý Tiểu Long chết là trên giường của [[Đinh Phối]] nên vợ của Lý Tiểu Long là [[Linda Lee Cadwell|Linda Lee]] cũng bị sốc. Bởi vậy truyền thông khắp nơi trên thế giới cũng rộ tin đồn Lý Tiểu Long đã ngoại tình với [[Đinh Phối]]. Trong vòng 4 giờ đồng hồ từ 17:00 đến 21:00, có thể Lý Tiểu Long có [[quan hệ tình dục]] với [[Đinh Phối]] rồi bị [[thượng mã phong]] mà chết, sau đó Đinh Phối gọi mãi không thấy ông tỉnh dậy. Năm [[1975]], hai năm sau cái chết của ông, [[Đinh Phối]] cho ra mắt phim "[[Lý Tiểu Long và tôi]] (1975)" kể về chuyện tình giữa cô và Lý Tiểu Long ngày xưa, trong phim có rất nhiều cảnh nóng giữa Đinh Phối và [[Lý Tu Hiền]] - người đóng vai Lý Tiểu Long trong phim. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng Lý Tiểu Long đã tự sát vì ông từng tiết lộ với mẹ của ông rằng ông không muốn sống nữa. Lại có quan điểm cho rằng Lý Tiểu Long bị [[Hội Tam Hoàng]] ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] thanh toán, bởi vì Lý Tiểu Long từng vì [[Hội Tam Hoàng]] mà phải chạy sang [[Mỹ]] lúc 19 tuổi, cuối đời thì ông luôn mang súng bên người khi ra ngoài đường ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]]. Có ý kiến cho rằng Lý Tiểu Long từng bị trúng công phu ""Điểm huyệt hẹn ngày chết" của một võ sư vô danh khi ông đang quay phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]] (1973)" (3 tháng trước khi ông chết) nên mới đột ngột tử vong như vậy. Nguyên nhân cái chết của Lý Tiểu Long được truyền thông khắp thế giới đồn đoán, bàn tán rất nhiều. Danh tiếng của Lý Tiểu Long càng ngày càng nổi hơn, đi khắp nơi trên toàn thế giới sau khi ông chết. Dựa trên những thông tin được cung cấp từ Cựu thám tử cảnh sát Hồng Kông là [[Philip Chan]], chính quyền [[Hồng Kông thuộc Anh]] đưa ra kết luận cuối cùng rằng Lý Tiểu Long chết tại [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]] vì chứng [[phù não]] (não bị sưng to) do phản ứng dị ứng và lao lực quá độ. Nhân viên điều tra mô tả sự ra đi của Lý Tiểu Long là "cái chết do tai nạn rủi ro"". Bộ phim "[[Tử vong du hý|Trò Chơi Tử Thần]]" ("Game Of the Death") đã phải trì hoãn lại tận 4 năm sau vì nam [[diễn viên chính]] đã mất. Mất đi người bạn, đồng thời bị đổ lỗi và cũng nhận được những lời đe dọa sẽ đến lấy mạng từ những người hâm mộ của Lý Tiểu Long vì cái chết của ông, [[Đinh Phối]] (Betty Ting Pei) bị mắc chứng [[tâm thần phân liệt]] trong một thời gian. Ngày [[25 tháng 7]] năm [[1973]], [[tang lễ]] của Lý Tiểu Long được tổ chức tại [[Hồng Kông thuộc Anh]] và đã có hơn 25.000 người hâm mộ, bạn bè tới dự. [[Taky Kimura]] là một trong sáu người khiêng quan tài tại đám tang của Lý Tiểu Long, năm người còn lại là: [[Dan Inosanto]], [[Steve McQueen]], [[James Coburn]], [[Peter Chin]] và [[Lý Chấn Huy]] (Robert Lee, em trai của Lý Tiểu Long). Tranh cãi về cái chết. [[Donald Teare]], một nhà pháp y được giới thiệu bởi [[Scotland Yard]] mà đã giám sát hơn 1,000 [[khám nghiệm tử thi]], đã được ủy nhiệm xem xét trường hợp của Lý Tiểu Long. Ông ta kết luận là ""[[death by misadventure]]" (tạm dịch là "cái chết do tai nạn rủi ro") gây ra bởi sưng não bất thình lình do phản ứng bởi sự pha trộn những chất khác cùng với thuốc Equagesic. Bác sĩ [[Donald Langford]], một nhà truyền đạo [[Báp-tít|Baptist]] và bác sĩ của Lý Tiểu Long ở [[Hồng Kông thuộc Anh|Hồng Kông]], nói rằng: "Không ai chết chỉ vì một viên thuốc Equagesic. Không có thuốc đau nhức nào đã giết Lý Tiểu Long." Ông ta nói thêm: "Người ta không dám nói thẳng là Lý Tiểu Long chết vì đã ăn chất cần sa, tìm thấy được trong bao tử anh ta, mà anh đã sử dụng thường xuyên trong một thời gian vì có stress với danh vọng của mình. Lúc ban đầu của cuộc điều tra, bác sĩ [[Peter Wu]] và một số bác sĩ khác được bảo là không nên đặt quan trọng vai trò của [[Cần sa (chất kích thích)|cần sa]] trong cái chết của anh ta." Ý kiến ban đầu của bác sĩ [[Peter Wu]], bác sĩ chuyên về thần kinh, mà đã chữa cho Lý Tiểu Long khi ông bị [[động kinh]] vào ngày [[10 tháng 5]] năm [[1973]], cho là nguyên nhân của cái chết có thể là do phản ứng đối với [[cần sa]] hay Equagesic. Ông ta cho biết: "Chúng tôi đã lấy ra nhiều chất cần sa trong bao tử của anh ta trong tháng 5"". Ở [[Nepal]] có nhiều vấn để về hệ thần kinh liên quan đến cần sa, đặc biệt làm cho não sưng lên (cerebral edema).". Tuy nhiên, [[Peter Wu]] chính thức đã từ bỏ ý kiến này, chính thức cho biết: Cuốn sách "The Death of Bruce Lee: A Clinical Investigation" (Cái chết của Lý Tiểu Long: một điều tra y khoa) cho thấy là cơ thể Lý Tiểu Long đã không chịu được loại thuốc Equagesic khi anh ta bị động kinh vào ngày [[10 tháng 5]] năm [[1973]]. Lý Tiểu Long đã tránh dùng loại thuốc đó cho tới buổi tối định mệnh vào ngày [[20 tháng 7]] năm [[1973]], khi anh ta dùng Equagesic sau đó bị chết vì sưng não. [[Tập tin:Brandon bruce lee |nhỏ|phải|195x195px|Ngôi mộ của Lý Tiểu Long và con trai – [[Lý Quốc Hào]]]] Ngày [[30 tháng 7]] năm [[1973]], sau một tang lễ nhỏ thứ hai của Lý Tiểu Long ở [[Seattle|Seattle, Washington]], tại Butterworth trên đại lộ East Pine, Lý Tiểu Long được chôn cất ở [[Nghĩa trang Lake View]] của [[Mỹ]]. Ông được chôn cất cùng với bộ quần áo ưa thích mà ông từng mặc trong phim "[[Long Tranh Hổ Đấu]]". Trên mộ của ông ghi tên ông là "Bruce Lee" và "Lý Chấn Phiên" (tên khai sinh của ông). Tiễn đưa ông bao gồm [[Steve McQueen]], [[James Coburn]], [[Dan Inosanto]], [[Taky Kimura]], [[Peter Chin]], [[Chuck Norris]] và người em trai của ông, [[Lý Chấn Huy]] (Robert Lee). "Xem thêm:[[Lý Quốc Hào]]". Lý Tiểu Long có một con trai là [[Lý Quốc Hào]] (Brandon Lee) cũng tham gia đóng phim. Trong một lần khi diễn xuất trong phim tâm lý "The Crow" ("Con Quạ") có cảnh quay bắn súng, một viên đạn trong khẩu [[Magnum 44]] đã trúng vào người anh (đáng lẽ ra khẩu súng này không có đạn) và khiến anh qua đời vào năm [[1993]], khi anh được 28 tuổi. Ngôi mộ của anh được chôn bên cạnh mộ của cha anh là Lý Tiểu Long tại [[Mỹ]]. [[Tập tin:Bruce Lee Walk of |thumb|Ngôi sao của Lý Tiểu Long (Bruce Lee) tại [[Đại lộ Danh vọng Hollywood]]]] [[Tập tin:Avenue of Stars Bruce L|trái|thumb|upright=1.13|Ngôi sao của Lý Tiểu Long (Bruce Lee) tại [[Đại lộ Ngôi sao]] ([[Tinh quang đại đạo]], 星光大道) của [[Hồng Kông]]]] Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Thể loại:Người Mỹ gốc Hoa]] [[Thể loại:Võ sư Trung Quốc]] [[Thể loại:Võ sĩ Trung Quốc]] [[Thể loại:Nam diễn viên điện ảnh Hồng Kông]] [[Thể loại:Nhà triết học Trung Quốc]] [[Thể loại:Biên kịch phim Hồng Kông]] [[Thể loại:Nam diễn viên điện ảnh Mỹ]] [[Thể loại:Nam diễn viên Mỹ thế kỷ 20]] [[Thể loại:Nam diễn viên truyền hình Mỹ]] [[Thể loại:Nhà sản xuất phim Hồng Kông]] [[Thể loại:Đạo diễn phim Hồng Kông]] [[Thể loại:Người Mỹ gốc Đức]] [[Thể loại:Nam diễn viên San Francisco]] [[Thể loại:Lý Tiểu Long| ]] [[Thể loại:Người Mỹ gốc Anh]] [[Thể loại:Nhà sản xuất phim Mỹ]] [[Thể loại:Nam biên kịch Mỹ]] [[Thể loại:Nhà văn Mỹ thế kỷ 20]] [[Thể loại:Người họ Lý]] [[Thể loại:Nam nhà văn Mỹ thế kỷ 20]] [[Thể loại:Nam diễn viên Hồng Kông thế kỉ 20]] [[Thể loại:Nhà văn Mỹ gốc Hoa]] [[Thể loại:Nam diễn viên California]]
Trường Đại học Cần Thơ Trường Đại học Cần Thơ ( – CTU) là một trường đại học đa ngành lớn có vị thế trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam, được Chính phủ xếp vào nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia của cả nước. Trường là một trong ba trường đại học tại Việt Nam đạt chuẩn đào tạo quốc tế của Hệ thống đại học ASEAN. Ngoài đào tạo, trường đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học và chính sách quản lý của Việt Nam. Tiền thân của Trường Đại học Cần Thơ là Viện Đại học Cần Thơ được thành lập từ năm 1966. Theo quá trình phát triển đến nay, tính đến năm 2022 trường đã có 115 chương trình đào tạo bậc đại học chính quy trải dài từ hệ đại trà đến hệ chất lượng cao và 48 chương trình đào tạo bậc thạc sĩ và 20 chương trình tiến sĩ. Số lượng người hiện theo học ở các bậc là 50.903 người tại các cơ sở đào tạo (bao gồm cơ sở Hòa An và Sóc Trăng). Hiện nay Trường Đại học Cần Thơ đang có đề xuất và xin hỗ trợ về thủ tục từ Bộ Giáo dục và Đào tạo để nâng cấp lên thành đại học vùng thứ tư của Việt Nam. Đơn vị trực thuộc. Trường có 4 trường đào tạo, 12 khoa, 3 viện nghiên cứu và 1 trường phổ thông (trường Trung học phổ thông Thực hành sư phạm). Ngoài ra còn một số trung tâm và phòng ban chức năng khác phục vụ việc quản lý và đào tạo. Tại khu II Đại học Cần Thơ, Xuân Khánh, Ninh Kiều, Cần Thơ "(cơ sở đào tạo chính)": Các đơn vị khác. Tại khu I Đại học Cần Thơ, Hưng Lợi, Ninh Kiều, Cần Thơ Tại khu III Đại học Cần Thơ, An Phú, Ninh Kiều, Cần Thơ Tại khu Hòa An Đại học Cần Thơ, Hòa An, Phụng Hiệp, Hậu Giang Quy mô đào tạo - Đội ngũ giảng viên - Chất lượng đào tạo. Đội ngũ giảng viên. Tính đến ngày 15 tháng 10 năm 2021, trường có 1.800 viên chức và người lao động với 100% cán bộ giảng dạy trình độ từ đại học trở lên. Đến ngày 20 tháng 4 năm 2023, trường có 691 Thạc sĩ, 589 Tiến sĩ, 163 Phó giáo sư và 18 Giáo sư. Chất lượng và xếp hạng. Thông qua khảo sát năm 2019, có 96,3% sinh viên tốt nghiệp có việc làm ("khảo sát năm 2019") . Theo bảng xếp hạng uniRank năm 2018, Đại học Cần Thơ đứng đầu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đứng thứ 3 tại miền Nam và đứng thứ 5 tại Việt Nam. Theo bảng xếp hạng Webometrics năm 2019, Đại học Cần Thơ đứng đầu tại miền Nam và đứng thứ 3 tại Việt Nam. Còn theo bảng xếp hạng Quacquarelli Symonds (QS) Đại học Cần Thơ nằm trong nhóm 300 trường đại học/ nhóm trường đại học tốt nhất châu Á.. Trường Đại học Cần Thơ hiện đang dẫn đầu cả nước về đào tạo nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Kiểm định chất lượng. Vào ngày 15/7/2013, trường đã đạt được chứng nhận kiểm định AUN-QA của tổ chức ASEAN University Network, chứng nhận bằng cấp của trường có giá trị sử dụng tại các nước Đông Nam Á. Đến năm 2020, trường có 5 chương trình đạt chuẩn AUN-QA, đồng thời trường tiến hành chuẩn bị hồ sơ với 8 chương trình khác, dự kiến kiểm định và công nhận trong năm 2021. Nghiên cứu khoa học - Hợp tác quốc tế. Trường Đại học Cần Thơ đã chủ trì nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường, mở rộng hợp đồng NCKH và chuyển giao tiến độ khoa học và kỹ thuật phục vụ kinh tế xã hội vùng ĐBSCL và trong cả nước, các chương trình nghiên cứu quốc gia có liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước được thực hiện trên nhiều địa bàn ở ĐBSCL và trong cả nước đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao. Nghiên cứu khoa học. Trường Đại học Cần Thơ thực hiện nhiều đề tài/nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hằng năm: Tạp chí khoa học. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, mã số ISSN: 1859-2333, được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 101/GP-BTTTT, ngày 10 tháng 4 năm 2015, cho phép Tạp chí xuất bản 9 kỳ một năm, trong đó có 3 kỳ xuất bản bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Công bố khoa học. Năm 2020, trường có 1.665 công trình nghiên cứu hoặc bài báo khoa học được xuất bản với 721 công bố trên các tạp chí quốc tế (bao gồm ISI: 260, Scopus: hơn 500), 465 công bố trên các tạp chí trong nước, hơn 150 công bố trên các kỷ yếu hội thảo trong nước và quốc tế (83 công bố trong nước và 80 công bố quốc tế). Thông qua tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, trường đã công bố hơn 300 công trình (bao gồm 288 công trình trên ấn phẩm tiếng Việt và 28 công trình trên ấn phẩm tiếng Anh). Hợp tác quốc tế. Năm 2020, trường Đại học Cần Thơ thực hiện 14 dự án hợp tác quốc tế với nguồn kinh phí đạt xấp xỉ 9,7 tỷ đồng. Khuôn viên đào tạo, cơ sở vật chất, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Tính đến năm 2020, cơ sở vật chất của trường bao gồm 378 giảng đường, hội trường, phòng học có diện tích 58.881m², thư viện (tính cả Trung tâm học liệu) có diện tích 11.795m²., 15 phòng học ngoại ngữ, đa phương tiện, biên dịch với diện tích 830m², 134 phòng thí nghiệm, thực hành thí nghiệm với diện tích 42.715m², 10.945m² diện tích các phòng làm việc của giáo sư, phó giáo sư và giảng viên cơ hữu. Trường có hơn 60.000m² không gian thể dục thể thao với nhà thể dục thể thao (4.965m²), sân vận động và sân thể dục thể thao (55.879m²). Sinh viên được sinh hoạt nội trú trong các khu ký túc xá của trường với 1.330 phòng có diện tích hơn 73.000m² cùng hệ thống nhà ăn rải rác khắp khuôn viên trường có tổng diện tích hơn 2.000m². Khuôn viên trường được phân tán tại nhiều địa điểm với cơ sở chính đặt tại khu II đường 3 tháng 2 quận Ninh Kiều (TP. Cần Thơ). Các cơ sở khác phục vụ cho một hoặc một số chức năng đào tạo, nghiên cứu, kinh doanh hoặc chuyển giao công nghệ. Định hướng phát triển. Trong giai đoạn 2020 - 2025, trường Đại học Cần Thơ sẽ tự chủ về tài chính, chuyển trường Đại học Cần Thơ thành Đại học Cần Thơ và thành lập 04 trường và 02 phân hiệu đại học thuộc Đại học Cần Thơ gồm: *"Xem thêm Viện Đại học Cần Thơ" Từ 1966 đến 1975. Viện Đại học Cần Thơ được thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1966. Được thiết kế bởi kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc, cựu trưởng khoa kiến trúc, Trường đại học Kiến Trúc. Đây là viện đại học thứ năm của Việt Nam Cộng hòa (bốn viện đại học kia là Viện đại học Sài Gòn, Viện đại học Huế, Viện đại học Đà Lạt, và Viện đại học Vạn Hạnh). Viện Đại học Cần Thơ có bốn phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa và Khoa học Xã hội, Văn khoa, và Sư phạm. Sau đó viện đại học này mở thêm phân khoa Canh nông. Ngoài ra, Phân khoa Sư phạm có Trường Trung học Kiểu mẫu. Năm đầu tiên đó có 985 sinh viên ghi danh học với viện trưởng là Giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Viện đại học có ba khuôn viên: trụ sở chính ở Công trường Hòa Bình trong thành phố, một số phân khoa đặt ở Cái Răng và khuôn viên thứ ba ở Cái Khế. Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) cơ sở ở Công trường Hòa Bình gồm thư viện, giảng đường và phòng thí nghiệm khoa học trong thị xã bị quân Mặt trận Giải phóng tiến chiếm. Trong cuộc phản công hai bên đánh nhau gây thiệt hại nặng nề nhưng sau đó được tái thiết. Từ 1975 đến nay. Sau năm 1975, Viện Đại học Cần Thơ được đổi thành Trường đại học Cần Thơ. Khoa Sư phạm được tách thành Khoa Sư phạm Tự nhiên và Khoa Sư phạm Xã hội đào tạo giáo viên phổ thông trung học gồm Toán học, Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, Văn học, Lịch sử, Địa lý, và Ngoại ngữ. Sau đó mở rộng thành 5 Khoa: Toán - Lý (1980), Hóa - Sinh (1980), Sử - Địa (1982), Ngữ văn (1983) và Ngoại ngữ (1983). Trường Cao đẳng Nông nghiệp được đổi tên thành Khoa Nông nghiệp, đào tạo 2 ngành Trồng trọt và Chăn nuôi. Đến năm 1979, Khoa Nông nghiệp được mở rộng thành 7 Khoa: Trồng trọt (1977), Chăn nuôi - Thú y (1978), Thủy nông và Cải tạo đất (1978), Cơ khí Nông nghiệp (1978), Chế biến và Bảo quản Nông sản (1978), Kinh tế Nông nghiệp (1979), và Thủy sản (1979). Năm 1978, Khoa đại học Tại chức được thành lập, có nhiệm vụ quản lý và thiết kế chương trình bồi dưỡng và đào tạo giáo viên phổ thông trung học và kỹ sư thực hành chỉ đạo sản xuất cho các tỉnh ĐBSCL. Thời gian đào tạo là 5 năm. Từ năm 1981 do yêu cầu của các địa phương, công tác đào tạo tại chức cần được mở rộng hơn và trường đã liên kết với các tỉnh mở các trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng đại học Tại chức mà tên gọi hiện nay là Trung tâm Giáo dục Thường xuyên: Tiền Giang - Long An - Bến Tre, Vĩnh Long - Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang và Minh Hải. Năm 1987, để phục vụ phát triển kinh tế thị trường phù hợp với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, Khoa Kinh tế Nông nghiệp đã liên kết với trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh mở thêm 4 ngành đào tạo Cử nhân Kinh tế: Kinh tế Tài chính - Tín dụng, Kinh tế Kế toán Tổng hợp, Kinh tế Ngoại thương và Quản trị Kinh doanh. Tương tự, năm 1988, Khoa Thủy nông đã mở thêm hai ngành đào tạo mới là Thủy công và Công thôn đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà cửa và cầu đường nông thôn ở ĐBSCL. Ngoài việc thành lập và phát triển các khoa, Đại học Cần Thơ còn tổ chức các Trung tâm nghiên cứu khoa học nhằm kết hợp có hiệu quả 3 nhiệm vụ Đào tạo - nghiên cứu khoa học - Lao động sản xuất. Từ năm 1985 đến năm 1992 có 7 Trung tâm được thành lập: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học (1985), Năng lượng mới (1987), Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác ĐBSCL (1988), Điện tử - Tin học (1990), Nghiên cứu và Phát triển Tôm-Artemia (1991), Ngoại ngữ (1991), Thông tin Khoa học Công nghệ (1992). Tháng 4 năm 2003, Khoa Y- Nha - Dược được tách ra để thành lập Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trực thuộc Bộ Y tế. Tháng 10 năm 2022, trường thành lập Trường Kinh tế, Trường Nông nghiệp, Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Khoa Giáo dục thể chất trên cơ sở các khoa và bộ môn cùng tên (riêng trường Bách khoa từ khoa Công nghệ), thành lập Trường Bách khoa trên cơ sở khoa Công nghệ, thành lập Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm trên cơ sở sáp nhập Viện nghiên cứu và phát triển Công nghệ Sinh học và Bộ môn Công nghệ thực phẩm của khoa Nông nghiệp. Trường Thủy sản là trường tiếp theo được thành lập trên cơ sở nâng cấp khoa Thủy sản vào tháng 12 cùng năm. Hiện nay trường Đại học Cần Thơ có 6 trường (1 trường đào tạo chương trình phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12, 6 trường đào tạo chương trình đại học và sau đại học), 12 khoa và 3 viện.
Ra () hay Re ( hoặc ; : ) là Thần mặt trời theo văn hóa Ai Cập cổ đại. Vào Vương triều thứ Năm ông trở thành vị thần tối cao trong tôn giáo Ai Cập cổ, và được miêu tả là ánh nắng mặt trời vào buổi trưa. Ý nghĩa của tên "Ra" chưa hoàn toàn chắc chắn, nhưng nhiều người nghĩ nếu nó không mang nghĩa là mặt trời thì nó có thể mang một số nghĩa liên quan tới 'sức mạnh sáng tạo' hay là 'người sáng tạo'. Đối với người Ai Cập, mặt trời đại diện cho ánh sáng, ấm áp, và tăng trưởng. Điều này làm cho các vị thần mặt trời rất quan trọng vì mặt trời được xem là người cai trị của tất cả những gì ông đã tạo ra. Người ta thường biểu thị bằng đĩa mặt trời, một vị thần với hình hài đầy đủ hay con mắt của Thần Ra. Ra được hình dung là đang du hành trên một trong hai con thuyền mặt trời được gọi là Mandjet - Con thuyền của hàng triệu năm hoặc thuyền của buổi sáng, và Mesektet - thuyền của buổi tối. Hai con thuyền này đưa ông đi trên chuyến hành trình của mình xuyên qua bầu trời và xuống tận thế giới âm ty. Khi Ra du hành trên con thuyền mặt trời của mình, ông đi cùng với các vị thần khác nhau bao gồm Thần Sia (Thần của nhận thức) và Hu (Thần thi hành các mệnh lệnh) cũng như Heka (Thần của sức mạnh ma thuật). Thỉnh thoảng ông được sự giúp đỡ của gia đình 9 vị thần Ennead trên hành trình của mình, bao gồm Set người đã vượt qua con rắn hỗn mang độc ác Apep, và Mehen người bảo vệ chống lại những con quái vật của thế giới âm ty. Apep, một con rắn khổng lồ đã cố gắng ngăn chặn cuộc hành trình của con thuyền mặt trời mỗi đêm bằng cách làm chi phối hay ngăn cản cuộc hành trình nhờ bài hát của nó với ánh mắt thôi miên. Vào buổi tối, người Ai Cập tin rằng Thần Ra dưới hình hài của Atum hoặc dưới hình dạng của một con cừu đực (Khnum). Mesektet hay Con thuyền của Ban đêm sẽ chở ông xuyên qua thế giới Âm ty và quay trở lại phía đông để chuẩn bị cho sự tái sinh của mình. Những huyền thoại về Thần Ra đại diện cho mặt trời mọc là sự tái sinh của mặt trời bởi Nữ thần Bầu trời Nut, do đó việc gán các khái niệm về sự tái sinh và đổi mới của Thần Ra cũng như làm tăng vai trò của mình như là một thần sáng tạo là điều dễ hiểu. Ra được thể hiện dưới nhiều hình dạng. Hình dạng phổ biến nhất là một người với đầu chim ưng và có đội vương miện với một đĩa mặt trời trên đĩnh đầu, ngoài ra còn ở dạng một người với đầu của bọ hung (Thần Ra trong hình dạng của Khepri), hay là người với đầu của Cừu đực (hình dạng của Khnum). Thần Ra còn thường được miêu tả dưới hình dạng đầy đủ của một con cừu đực, bọ hung, phượng hoàng, diệc, rắn, bò đực, mèo, hoặc sư tử cũng như nhiều loài sinh vật khác.. Ngoài ra, vầng hào quang trên đĩa mặt trời của thần Ra mạnh tới mức không người phàm tục hay vị thần nào có thể nhìn được. Trong văn hóa đại chúng. Trong nhiều tác phẩm giả tưởng dành cho thiếu niên của Rick Riordan, "The Serpent's Shadow" (2012), "The Throne of Fire" (2011). Mối liên hệ với các vị thần khác. Cũng như nhiều vị thần Ai Cập được tôn thờ, bản sắc của Thần Ra thường được kết hợp với các thần khác, tạo thành một sự hòa trộn giữa các vị thần. Atum-Ra (Ra-Atum) là một vị thần được tổng hợp và hình thành từ hai vị thần hoàn toàn riêng biệt, tuy nhiên Ra chia sẻ nhiều điểm tương đồng với Atum hơn so với Amun. Atum được liên kết chặt chẽ hơn với ánh nắng mặt trời, và cũng là thần sáng tạo của Ennead. Cả Ra và Atum được coi là cha đẻ của các vị thần và các vị vua, và được tôn thờ rộng rãi. Trong thần thoại cổ xưa, Atum là cha đẻ của Tefnut và Shu, và ông được sinh ra từ đại dương Nun. Trong thần thoại Ai Cập về sau này, Ra-Horakhty là biểu hiện của một hoặc nhiều vị thần tổng hợp. Nó được hiểu là "Ra dưới hình hài Horus ở đường chân trời". Người ta gợi ý rằng Ra-Horakhty đơn giản là cuộc hành trình của mặt trời từ đường chân trời từ Đông sang Tây như Ra, hoặc có nghĩa để biểu thị Ra là thần biểu tượng của hy vọng và sự tái sinh. (Xem phần trước: Ra và mặt trời). Khepri được biểu thị dưới dạng một con bọ cánh cứng (bọ hung) lăn quả cầu mặt trời lên vào buổi sáng, và đôi khi được coi là biểu hiện của thần Ra vào buổi sáng. Tương tự như vậy, thần Khnum đầu cừu đực cũng được coi là biểu hiện của thần Ra vào buổi tối. Ý tưởng về việc các vị thần khác nhau (hoặc khía cạnh khác nhau của Ra) ngự trị trong nhiều thời điểm khác nhau trong ngày là khá phổ biến. Khepri và Khnum đại diện cho bình minh và hoàng hôn, Ra thường là đại diện của buổi trưa khi mặt trời lên tới đỉnh điểm. Đôi khi hiện thân dưới dạng Horus được sử dụng thay vì Thần Ra.
Nguyễn Kim (chữ Hán: 阮淦, 1468–1545), là một nhà chính trị và quân sự giai đoạn Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông được xem là người lãnh đạo trên thực tế của chính quyền và quân đội Lê trung hưng, đã tích cực đối kháng nhà Mạc sau khi nhà Lê sơ sụp đổ. Ông đã đem các con em chạy sang Ai Lao, chiêu tập binh mã, tôn lập vua Lê Trang Tông, đặt nền móng gây dựng lại nhà Lê và mở đầu thời kỳ Nam–Bắc triều (1533–1592). Ông là nội tổ phụ của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn sau này, đồng thời cũng là ngoại tổ phụ của các chúa Trịnh. Các vua Hậu Lê từ Lê Thần Tông (cháu ruột Trịnh Tùng) cũng là hậu duệ trực tiếp bên họ ngoại của ông. Miếu hiệu của ông là Triệu Tổ, thụy là Tĩnh Hoàng đế dù ông không phải là vua hoặc chúa nào ở nhà Nguyễn. Theo "Đại Nam thực lục" (bộ sử của nhà Nguyễn soạn), tổ tiên họ Nguyễn trước là một họ có danh gia vọng tộc ở xứ Thanh Hóa Cha của Nguyễn Kim là Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu, ông nội của Nguyễn Kim là Phó Quốc công Nguyễn Như Trác. Nguyễn Kim là con trưởng, làm quan triều Lê, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, tước An Thanh hầu. Theo sách Đại Việt thông sử, dưới triều Mạc Đăng Dung: "Hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thanh hầu Nguyễn Kim là anh của Nguyễn Hoằng Dụ." Theo nhóm tác giả Đinh Công Vỹ, Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, trong cuốn sách "Nhìn lại lịch sử", nhóm tác giả này nghiên cứu phả hệ họ Nguyễn- Gia Miêu cho rằng Nguyễn Kim và Nguyễn Hoằng Dụ chỉ là anh em họ. Người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu, anh Nguyễn Văn Lang và bác Nguyễn Hoằng Dụ. Sách Nguyễn Phước Tộc Thế Phả do Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc Huế ấn hành năm 1995, trong phần Thủy Tổ phả ghi Thân phụ ngài Nguyễn Kim là Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu, ông nội ngài là Phó Quốc công Nguyễn Như Trác. Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc Hải Ngoại ở Hoa Kỳ ghi nhận Thân phụ ngài Nguyễn Kim là ngài Nguyễn Hoằng Dụ, tức ngài Nguyễn Văn Lưu, ông nội ngài là ngài Nguyễn Văn Lang. Một số Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc Hải Ngoại khác lại chỉ ghi là Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu và vài nơi còn ghi chú rõ không phải là ngài Nguyễn Hoằng Dụ. Khởi binh chống nhà Mạc. Năm Canh Dần (1530), Mạc Đăng Dung chiếm ngôi vua được 3 năm, sợ nhân tâm không ổn định, bèn truyền ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh. Tháng Giêng năm 1530, Mạc Đăng Doanh lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đại Chính, tôn Mạc Đăng Dung làm Thái thượng hoàng. Lê Ý, con trai An Thái công chúa khởi binh chống lại, xưng niên hiệu Quang Thiệu, hiệu triệu tướng sĩ các xứ Thanh Hóa, Nghệ An hợp binh đánh nhà Mạc. Lê Ý bị Mạc Quốc Trinh bắt vào tháng 11. Thời ấy cha con Mạc Đăng Doanh do thoán nghịch, nên hào kiệt không phục, thổ tù các nơi khởi binh. Nguyễn Kim đóng ở nước Ai Lao, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang chiếm cứ xứ Thái Nguyên, Vũ Văn Uyên chiếm cứ xứ Tuyên Quang; các tướng đều danh nghĩa phục quốc. Các xứ Thanh, Nghệ, Tuyên, Hưng đều không theo họ Mạc. Khởi binh chống nhà Mạc. Năm 1529, Nguyễn Kim ở Thanh Hoa lúc ấy giữ chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thanh hầu, đem con em chạy sang nước Ai Lao. Chúa nước Sạ Đầu cho rằng Đại Việt và nước họ có quan hệ môi răng, mới đem nhân dân và đất đai Sầm Châu cấp cho Nguyễn Kim. Từ đó Nguyễn Kim nuôi dưỡng sĩ tốt, chiêu nạp kẻ chạy trốn, làm phản, ngấm tìm con cháu họ Lê lập nên để mưu khôi phục. Tháng 12 năm 1530, Nguyễn Kim lánh nạn ở châu Sầm Thượng, Sầm Hạ nước Ai Lao thu dụng được vài nghìn người, 30 con voi và 300 con ngựa. Theo lời thỉnh cầu của các tướng, bèn dẫn quân về Thanh Hoa. Nguyễn Kim đóng quân ở Lôi Dương, bị phục binh của Ngọc Trục hầu, tướng của Mạc Đăng Doanh đánh bại. Mùa xuân năm Tân Mão (1531), Mạc Đăng Doanh sai tướng Tây Quốc công Nguyễn Kính đánh Nguyễn Kim ở xứ Thanh Hoa. Nguyễn Kim đón đánh, phá tan quân của Nguyễn Kính, sai quân đóng giữ các huyện. Nguyễn Kính lại đánh vào Đông Sơn, Nguyễn Kim phá được, giết và bắt sống vài trăm người, rồi dẫn quân ra Gia Viễn, Điềm Độ chiêu dụ và chiếm đất. Tháng 9 năm 1531, trời đổ mưa nhiều, nước sông dâng tràn, nhà Mạc dùng chiến thuyền tiến đánh, quân Nguyễn Kim tán loạn, không thể cố thủ. Nguyễn Kim dẫn quân trở về Ai Lao. Xứ Thanh Hoa bị đói to. Lập vua Lê Trang Tông. Năm 1533, cựu thần nhà Lê gồm An Thanh hầu Nguyễn Kim, Hòa Trung hầu Lại Thế Vinh, Lỵ quốc công Trịnh Duy Thuận, Phúc Hưng hầu Trịnh Duy Duyệt và Tả Đô đốc Trịnh Duy Liệu dựng người con rốt của vua Lê Chiêu Tông tên Duy Ninh làm vua Trang Tông; lên ngôi vua tại Ai Lao, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa. Vua Lê Trang Tông tấn phong cho tứ vị công thần khai quốc. Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc công; Trịnh Kiểm là Dực Quận công, Trịnh Công Năng là Tuyên Quận công; Lại Thế Vinh là Hòa Quận công lại ban cho mỗi vị một quả ấn và một thanh gươm để làm tướng soái tự mang quan bản bộ đi tiêu diệt quân Mạc và phủ dụ dân chúng ở các địa phương hướng về nhà Lê trung hưng. Sau khi phong Nguyễn Kim làm Thái sư Hưng Quốc công Chưởng nội ngoại sự, lấy Trung nhân Đinh Công làm Thiếu úy Hùng Quốc Công, còn lại, người nào cũng được phong thưởng, vua Trang Tông sai Trịnh Duy Liệu vượt biển sang nhà Minh, tâu cáo tội trạng của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh đánh dẹp. Vua Minh nhận tờ tấu, giao xuống đình nghị, định cất quân sang hỏi tội Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung nghe tin liền viết thư cho vua nhà Minh, triều Minh cho Mạc Đăng Dung là dối trá nhưng đạo quân của tướng Minh là Cừu Loan, tuy kéo đến sát biên giới, vẫn do dự không tiến. Tiến quân về nước. Mùa xuân năm Kỷ Hợi 1539, vua Lê Trang Tông phong Đại tướng quân Dực Nghĩa hầu Trịnh Kiểm, tước Dực Quận công. Trịnh Kiểm vốn theo Thái sư Nguyễn Kim đi đánh dẹp, lập nhiều chiến công. Nguyễn Kim thấy có tài, bèn gả con gái cho. Lại phong tước cho các tướng khác, sai họ đem quân chia đường tiến binh, thanh thế lẫy lừng. Đánh vào vùng Lôi Dương, đánh bại quân nhà Mạc. Năm 1542, vua Lê Trang Tông lấy Thuỵ quận công Hà Thọ Tường làm Ngự doanh đề thống ngự giá để mưu việc tiến đánh, sai Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim thống đốc tướng sĩ các dinh đi trước, tiến đánh các nơi ở Thanh Hoa, Nghệ An. Tướng lĩnh cũ và hào kiệt hai trấn này phần nhiều theo về, thế quân càng thêm mạnh. Năm 1543, Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh đều đã chết, Mạc Phúc Hải lên ngôi vua. Vua Lê Trang Tông thân chinh đánh Mạc Phúc Hải, lấy được Tây Đô, phá quân của Hoằng vương Mạc Chính Trung, Tổng trấn Thanh Hoa là Đại tướng quân Trung Hậu hầu dẫn quân đầu hàng. Bấy giờ, Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim còn ở Ai Lao chưa theo đi. Vua Lê Trang Tông sai Tuyên quận công Trịnh Công Năng mang chiếu thư về gọi. Nguyễn Kim bèn chỉnh đốn bộ ngũ lên đường ngay, bái yết vua ở hành tại sông Nghĩa Lộ. Lê Trang Tông gia thăng Kim làm thái tể, sai làm đô tướng, tiết chế tướng sĩ các dinh, chia đường cùng tiến, bình định vùng tây nam. Nguyễn Kim bị Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất đầu độc vào năm Ất Tỵ (1545). Trung Hậu hầu vốn là hàng tướng nhà Mạc, xuất thân hoạn quan, làm quan đến chức Chưởng bộ, nghe tin vua Lê Trang Tông nổi quân, liền dùng kế trá hàng, muốn hại vua Lê Trang Tông. Việc không thành, Trung Hậu hầu mời Thái tể Nguyễn Kim đến dinh, bỏ ngầm thuốc độc trong quả dưa dâng lên trước mâm cỗ. Nguyễn Kim tin thật, ăn dưa, bị trúng độc, đến khi về thấy trong người khó chịu rồi mất. Hôm đó là ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (1545), niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14. Trung Hậu hầu liền trốn đi, sau lại về với Mạc Phúc Hải. Vua Lê Trang Tông vô cùng thương tiếc, truy tặng là Chiêu Huân Tĩnh công, đặt tên thụy là Trung Hiến, sai quan đem về quê ở Tống Sơn mai táng. Lê Quý Đôn nhận định trong sách Đại Việt thông sử: Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế có 3 vị phu nhân • Chánh thất phu nhân Nguyễn Thị Mai (阮氏梅) (không rõ năm sinh, năm mất) về sau được truy tôn là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng hậu bà vốn có xuất thân cao quý, con ông Nguyễn Minh Biện (người quê ở Phạm Xá, Hải Dương) làm quan nhà Lê chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thư Vệ Sự. Bà sinh ra Nguyễn Hoàng và mất vào ngày 23 tháng Giêng âm lịch (không rõ năm) táng chung vào lăng Trường Nguyên ở núi Thiên Tôn, tỉnh Thanh Hó Năm Giáp Tý (1748) đời chúa Nguyễn Phúc Khoát truy tôn bà : Từ Tín Chiêu Đức Ý Phi đến năm Bính Dần (1806) Hoàng đế Gia Long chính thức truy tôn thụy hiệu đầy đủ là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Tức Tĩnh Hoàng hậu (慈信昭懿弘仁淑德靖皇后), bà phối thờ với Triệu Tổ ở Triệu Miếu trong Hoàng thành. • Thứ phu nhân Đỗ Thị Tín (杜氏信) không rõ tiểu sử, Sinh ra Nguyễn Thị Ngọc Bảo. • Thứ phu nhân (Khuyết danh) không rõ tiểu sử, sinh ra Nguyễn Uông. • Nguyễn Uông (mất 1545), được vua Lê Trang Tông phong làm Lãng Quận công sau khi Nguyễn Kim bị hạ độc chết (nhưng Nguyễn Uông về sau bị em rể Trịnh Kiểm giết trừ hậu hoạ). • Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) mẹ là chánh thất Nguyễn Thị Mai Triệu Tổ Tĩnh Hoàng hậu ông được vua Lê Trang Tông phong làm Hạ Khê hầu, sai đem quân đi đánh giặc. Về sau Nguyễn Hoàng trở thành người mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Nguyễn ở miền nam Việt Nam. • Nguyễn Thị Ngọc Bảo (mất 1586) mẹ là Thứ phu nhân Đỗ Thị Tín, về sau lấy Trịnh Kiểm sinh ra Trịnh Tùng rồi chết cháy trong cơn hoả hoạn ở phủ đệ của Trịnh Tùng tại An Trường được phong thụy là Từ Nghi Vương Thái Phi (慈儀王太妃). • Nguyễn Thị, về sau lấy vua Lê Trung Tông. Thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng, tôn thụy hiệu là Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương. Đến đời Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát thì cải thụy thành Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu Ý Đức phi. Đời vua Gia Long năm thứ 5 lại truy tôn là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh Hoàng đế, miếu hiệu là Triệu Tổ, lăng gọi là Trường Nguyên, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng hậu. Lăng Triệu Tường, tên lăng chính thức là Trường Nguyên. Lăng tọa lạc tại vùng núi Triệu Tường nên thường gọi là lăng Triệu Tường, nơi hợp táng Nguyễn Kim và vợ. Từ sau ngày nhà Nguyễn cáo chung (1945) rồi chiến tranh liên miên, khu vực lăng Trường Nguyên không được chăm sóc, dân Mường được dồn về đây lập nghiệp, thiếu ý thức tôn trọng di tích nên các kiến trúc xưa bị vi phạm hầu như không còn gì. Vào hai năm 2006–2007, dòng họ Nguyễn Phúc ở Huế đã đích thân về đây trùng tu khôi phục lại nơi thờ vọng, bia và nhà bia ở chân núi Triệu Tường. Khu vực lăng Triệu Tường mở ra một địa điểm du lịch sinh thái tâm linh. Không gian bên trong thành Triệu Tường chia làm 3 khu vực: Khu vực chính ở giữa xây Miếu Triệu Tường thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng. Khu vực phía đông dựng miếu thờ Trừng Quốc công (Nguyễn Văn Lưu – thân phụ của Nguyễn Kim), khu vực phía tây dành làm nơi trú ngụ của các quan và gia đình hộ lăng và trại lính canh lăng.
Hội đồng Tương trợ Kinh tế Hội đồng Tương trợ Kinh tế (tiếng Nga: Совет экономической взаимопомощи "Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošči", SEV (СЭВ, SEW); tiếng Anh: Council of Mutual Economic Assistance, COMECON hoặc CMEA), còn gọi là tổ chức hợp tác kinh tế của các quốc gia thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn 1949–1991. Các quốc gia thành viên. Dưới đây là danh sách các quốc gia thành viên, và năm quốc gia đó gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế: Ngoài ra còn một số quan sát viên. SEV còn ký hiệp định với một số nước như: Comecon được thành lập vào năm 1949 bởi Liên Xô, Bulgaria, Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan và Romania. Các yếu tố chính trong sự hình thành của Comecon dường như là mong muốn hợp tác và củng cố mối quan hệ xã hội chủ nghĩa quốc tế của Joseph Stalin ở cấp độ kinh tế với các quốc gia kém hơn ở Trung Âu và hiện đang ngày càng bị cắt đứt khỏi thị trường truyền thống của họ và nhà cung cấp ở phần còn lại của châu Âu. Tiệp Khắc, Hungary và Ba Lan vẫn quan tâm đến viện trợ Marshall bất chấp các yêu cầu đối với 1 nền kinh tế thị trường và tiền tệ chuyển đổi. Những yêu cầu này, chắc chắn sẽ dẫn đến mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ hơn đối với các thị trường châu Âu tự do hơn Liên Xô, hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Stalin, vào tháng 7/1947, đã ra lệnh cho các chính phủ cộng sản Đông Âu này rút khỏi Hội nghị Paris về phục hồi châu Âu Chương trình. Điều này đã được mô tả là "khoảnh khắc của sự thật" trong khi vực châu Âu sau Thế chiến II. Theo quan điểm của Liên Xô, "khối Anh-Mỹ" và "các nhà độc quyền Mỹ... có lợi ích không có gì giống với người dân châu Âu" đã từ chối sự hợp tác Đông-Tây trong khuôn khổ được Liên Hợp Quốc đồng ý, đó là, thông qua Ủy ban Kinh tế Châu Âu. Tuy nhiên, như mọi khi, động cơ chính xác của Stalin là "không thể hiểu được". Họ có thể đã "tiêu cực hơn tích cực", với Stalin "lo lắng hơn để giữ các quyền lực khác ra khỏi các quốc gia đệm lân cận so với việc tích hợp chúng." Hơn nữa, quan niệm đối xử không phân biệt đối xử của các đối tác thương mại của GATT không tương thích với các quan niệm về tình đoàn kết xã hội chủ nghĩa. Trong mọi trường hợp, các đề xuất cho 1 liên minh hải quan và hội nhập kinh tế của Trung và Đông Âu ít nhất là từ các cuộc cách mạng năm 1848 (mặc dù nhiều đề xuất trước đó đã có ý định ngăn chặn "mối đe dọa" của Nga và/hoặc cộng sản) và giao dịch giữa các bang vốn có trong các nền kinh tế kế hoạch tập trung đòi hỏi một số kiểu phối hợp: nếu không, 1 người bán độc quyền sẽ phải đối mặt với 1 người mua độc quyền, không có cơ cấu để định giá. Comecon được thành lập tại 1 hội nghị kinh tế ở Matxcơva ngày 5/1/1949, tại đó 6 nước thành viên sáng lập được đại diện; nền tảng của nó đã được công bố vào ngày 25/1; Albania đã tham gia 1 tháng sau đó và Đông Đức vào năm 1950. Nghiên cứu gần đây của nhà nghiên cứu Rumani Elena Dragomir cho thấy Rumani đóng 1 vai trò khá quan trọng trong việc tạo ra Comecon vào năm 1949. Dragomir lập luận rằng Rumani quan tâm đến việc tạo ra 1 hệ thống hợp tác của Khăn để cải thiện quan hệ thương mại với các nền dân chủ khác. đặc biệt với những người có khả năng xuất khẩu thiết bị công nghiệp và máy móc sang Romania. Theo Dragomir, vào tháng 12/1948, nhà lãnh đạo Rumani Gheorghe Gheorghiu-Dej đã gửi thư cho Stalin, đề xuất thành lập Comecon. Lúc đầu, kế hoạch dường như được di chuyển nhanh chóng. Sau khi gạt bỏ cách tiếp cận dựa trên công nghệ, giá cả của Nikolai Voznesensky hướng đi có vẻ là hướng tới sự phối hợp các kế hoạch kinh tế quốc gia, nhưng không có thẩm quyền cưỡng chế từ chính Comecon. Tất cả các quyết định sẽ yêu cầu phê chuẩn nhất trí, và thậm chí sau đó các chính phủ sẽ chuyển riêng chúng thành chính sách. Vào mùa hè năm 1950, có lẽ không hài lòng với những tác động có lợi cho chủ quyền cá nhân và tập thể hiệu quả của các quốc gia nhỏ hơn, Stalin " dường như đã khiến nhân viên của Comecon bất ngờ, " khiến hoạt động bị đình trệ gần như hoàn toàn, vì Liên Xô đã chuyển hướng trong nước sang tự trị và quốc tế theo hướng" 1 hệ thống đại sứ quán trong các vấn đề của các nước khác "chứ không phải bởi "phương tiện hiến pháp". Phạm vi của Comecon đã chính thức bị giới hạn vào tháng 11/1950 thành "những câu hỏi thực tế về tạo thuận lợi cho thương mại." 1 di sản quan trọng của giai đoạn hoạt động ngắn ngủi này là nguyên tắc Sofia, được thông qua tại phiên họp của hội đồng Comecon tháng 8/1949 tại Bulgaria. Điều này hoàn toàn làm suy yếu quyền sở hữu trí tuệ, làm cho các công nghệ của mỗi quốc gia có sẵn cho 1 khoản phí danh nghĩa mà ít hơn nhiều so với chi phí tài liệu. Điều này, một cách tự nhiên, mang lại lợi ích cho các nước Comecon ít công nghiệp hóa, và đặc biệt là Liên Xô tụt hậu về công nghệ, với chi phí của Đông Đức và Tiệp Khắc, và ở mức độ thấp hơn là Hungary và Ba Lan. (Nguyên tắc này sẽ suy yếu sau năm 1968, vì rõ ràng là nó không khuyến khích nghiên cứu mới và khi Liên Xô bắt đầu có nhiều công nghệ thị trường hơn.) Sau cái chết của Stalin năm 1953, Comecon lại bắt đầu tìm thấy chỗ đứng của mình. Đầu những năm 1950, tất cả các quốc gia Comecon đã áp dụng các chính sách tương đối tự trị; bây giờ họ lại bắt đầu thảo luận về việc phát triển các chuyên ngành bổ sung, và vào năm 1956, 10 ủy ban thường trực đã phát sinh, nhằm tạo điều kiện cho sự phối hợp trong những vấn đề này. Liên Xô bắt đầu đánh đổi hàng hóa sản xuất của Comecon. Đã có nhiều cuộc thảo luận về việc điều phối kế hoạch 5 năm. Tuy nhiên, 1 lần nữa, rắc rối nảy sinh. Các cuộc biểu tình của Ba Lan và cuộc nổi dậy của Hungary đã dẫn đến những thay đổi lớn về kinh tế và xã hội, bao gồm việc từ bỏ năm 1957 trong kế hoạch 5 năm của Liên Xô 1956, khi chính phủ Comecon đấu tranh để thiết lập lại tính hợp pháp và hỗ trợ phổ biến của họ. Vài năm tiếp theo chứng kiến ​​1 loạt các bước nhỏ hướng tới hội nhập kinh tế và thương mại gia tăng, bao gồm cả việc giới thiệu "đồng rúp chuyển đổi", sửa đổi các nỗ lực chuyên môn hóa quốc gia, và 1 điều lệ năm 1959 được mô phỏng theo Hiệp ước Rome năm 1957. Tuy nhiên, 1 lần nữa, những nỗ lực trong kế hoạch trung tâm xuyên quốc gia đã thất bại. Vào tháng 12/1961, 1 phiên họp của hội đồng đã phê chuẩn các Nguyên tắc cơ bản của Phòng Lao động Xã hội Chủ nghĩa Quốc tế, trong đó nói về sự phối hợp chặt chẽ hơn của các kế hoạch và "tập trung sản xuất các sản phẩm tương tự ở một hoặc một số nước xã hội chủ nghĩa". Vào tháng 11/1962, Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev đã tiếp nối điều này với lời kêu gọi "một cơ quan lập kế hoạch chung." Điều này đã bị Tiệp Khắc, Hungary và Ba Lan phản đối, nhưng mạnh mẽ nhất là Rumani ngày càng mang tính dân tộc. rằng họ nên chuyên về nông nghiệp. Trung và Đông Âu, chỉ có Bulgaria vui vẻ đảm nhận vai trò được giao (cũng là nông nghiệp, nhưng trong trường hợp của Bulgaria, đây là hướng đi được chọn của đất nước ngay cả khi là 1 quốc gia độc lập trong những năm 1930). Về cơ bản, vào thời điểm Liên Xô đang kêu gọi hội nhập kinh tế chặt chẽ, họ không còn quyền áp đặt nó nữa. Mặc dù có sự hội nhập chậm chạp trong gia tăng, dầu mỏ, điện và các lĩnh vực khoa học / kỹ thuật khác và năm 1963 thành lập Ngân hàng Hợp tác Kinh tế Quốc tế, các nước Comecon đều tăng giao dịch với phương Tây tương đối nhiều hơn so với nhau. Từ khi thành lập đến năm 1967, Comecon chỉ hoạt động trên cơ sở các thỏa thuận nhất trí. Ngày càng rõ ràng rằng kết quả thường là thất bại. Năm 1967, Comecon đã thông qua "nguyên tắc của bên quan tâm", theo đó bất kỳ quốc gia nào cũng có thể từ chối bất kỳ dự án nào họ chọn, vẫn cho phép các quốc gia thành viên khác sử dụng các cơ chế của Comecon để điều phối các hoạt động của họ. Về nguyên tắc, 1 quốc gia vẫn có thể phủ quyết, nhưng hy vọng là họ thường chọn chỉ bước sang 1 bên thay vì phủ quyết hoặc là người tham gia bất đắc dĩ. Điều này nhằm mục đích, ít nhất là 1 phần, trong việc cho phép Romania lập biểu đồ kinh tế của riêng mình mà không để Comecon hoàn toàn hoặc đưa nó vào tình trạng bế tắc. Cũng cho đến cuối những năm 1960, thuật ngữ chính thức cho các hoạt động của Comecon là hợp tác. Thuật ngữ hội nhập luôn luôn bị tránh vì ý nghĩa của sự thông đồng tư bản độc quyền. Tuy nhiên, sau phiên họp của hội đồng "đặc biệt" tháng 4/1969 và sự phát triển và thông qua (1971) của Chương trình toàn diện để mở rộng và cải thiện hợp tác và phát triển hơn nữa về hội nhập kinh tế xã hội chủ nghĩa của các nước thành viên Comecon, các hoạt động của Comecon đã chính thức gọi là hội nhập (cân bằng "sự khác biệt về sự khan hiếm tương đối của hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia thông qua việc loại bỏ một cách có chủ ý các rào cản đối với thương mại và các hình thức tương tác khác"). Mặc dù sự cân bằng như vậy không phải là điểm then chốt trong việc hình thành và thực thi các chính sách kinh tế của Comecon, hội nhập kinh tế được cải thiện luôn là mục tiêu của Comecon. Mặc dù hội nhập như vậy vẫn là một mục tiêu, và trong khi Bulgaria ngày càng hội nhập chặt chẽ hơn với Liên Xô, thì tiến bộ theo hướng này lại liên tục bị thất vọng bởi kế hoạch trung tâm quốc gia phổ biến ở tất cả các nước Comecon, bởi sự đa dạng ngày càng tăng của các thành viên (vào thời điểm này bao gồm Mông Cổ và sẽ sớm bao gồm Cuba) và bởi "sự bất cân xứng áp đảo" và dẫn đến sự mất lòng tin giữa nhiều quốc gia thành viên nhỏ và "siêu nhân" Liên Xô, vào năm 1983, "chiếm 88% lãnh thổ của Comecon và 60% dân số của nó. "Trong giai đoạn này, đã có một số nỗ lực để rời khỏi kế hoạch trung tâm, bằng cách thành lập các hiệp hội công nghiệp trung gian và kết hợp ở nhiều quốc gia khác nhau (thường được trao quyền để đàm phán các thỏa thuận quốc tế của riêng họ). Tuy nhiên, các nhóm này thường tỏ ra "khó sử dụng, bảo thủ, không thích rủi ro và quan liêu", tái tạo các vấn đề mà họ đã dự định giải quyết. 1 thành công kinh tế của những năm 1970 là sự phát triển của các mỏ dầu của Liên Xô. Trong khi không nghi ngờ gì ", Trung và Đông Âu phẫn nộ khi phải trả một số chi phí để phát triển nền kinh tế của người chồng và kẻ áp bức đáng ghét của họ," họ được hưởng lợi từ giá thấp cho nhiên liệu và các sản phẩm khoáng sản khác. Do đó, các nền kinh tế Comecon thường cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ vào giữa những năm 1970. Họ hầu như không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Một lợi ích kinh tế ngắn hạn khác trong giai đoạn này là mang lại cơ hội đầu tư và chuyển giao công nghệ từ phương Tây. Điều này cũng dẫn đến việc nhập khẩu các thái độ văn hóa phương Tây, đặc biệt là ở Trung Âu. Tuy nhiên, nhiều cam kết dựa trên công nghệ phương Tây đã không thành công (ví dụ, nhà máy máy kéo Ursus của Ba Lan đã không làm tốt với công nghệ được cấp phép từ Massey Ferguson); đầu tư khác bị lãng phí vào những thứ xa xỉ cho giới thượng lưu, và hầu hết các quốc gia Comecon đã mắc nợ phương Tây khi dòng vốn chết dần khi mờ dần vào cuối những năm 1970, và từ năm 1979 đến 1983, tất cả Comecon đều trải qua thời kỳ suy thoái (với các trường hợp ngoại lệ có thể có của Đông Đức và Bulgaria) họ không bao giờ phục hồi trong thời kỳ Cộng sản. Romania và Ba Lan đã trải qua sự suy giảm lớn trong mức sống. Sau khi thành lập hội đồng không ngừng đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế bằng cách phối hợp giữa các nước theo Xã hội chủ nghĩa. Trong các kế hoạch kinh tế dài hạn, như phân công sản xuất theo hướng chuyên ngành trong phạm vi các nước Xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh mua bán và trao đổi hàng hóa, phát triển công nghiệp nông nghiệp giao thông vận tải và hợp tác khoa học kỹ thuật. Tuy thế trong hoạt động của mình,Hội đồng Tương trợ Kinh tế cũng bộc lộ nhiều thiếu sót, sai lầm như khép kín cửa và không hòa nhập vào được nền kinh tế thế giới đang ngày càng quốc tế hoá cao độ, nặng về hàng hoá trao đổi mang tính bao cấp, nền kinh tế chỉ Trước sự sụp đổ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và trước biến đổi về tình hình thế giới, sự tồn tại của Hội đồng Tương trợ Kinh tế không còn thích hợp nữa. Do đó hội nghị đại biểu các nước thành viên vào ngày 28 tháng 6 năm 1991 quyết định chấm dứt mọi hoạt động.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Không xâm phạm tính đóng gói, lấy được và đưa ra những trạng thái trong của một đối tượng để nó có thể được khôi phục lại trạng thái đó sau này. 2. Động cơ thúc đẩy: Đôi khi việc ghi lại trạng thái trong của một đối tượng là rất cần thiết. Việc này được yêu cầu khi thực thi việc kiểm tra và cơ chế Undo (cơ chế cho phép người dùng rút lại những thao tác không chắc chắn hoặc khôi phục lại do có lỗi). Bạn phải lưu thông tin về trạng thái ở một nơi nào đó để bạn có thể khôi phục lại đối tượng về trạng thái trước của nó. Nhưng các đối tượng thường đóng gói một vài hoặc tất cả trạng thái của chúng để làm cho các đối tượng khác không thể truy cập hoặc để cho những trạng thái của nó không thể bị lưu trữ bên ngoài. Việc phơi bày những trạng thái này sẽ vi phạm tính đóng gói, điều này có thể làm tổn hại đến tính tin cậy và tính mở rộng của ứng dụng. Chúng ta hãy xem xét ví dụ về trình soạn thảo đồ hoạ có hỗ trợ kết nối giữa các đối tượng. Một người dùng có thể kết nối hai hình chữ nhật bằng một đường thẳng và những hình chữ nhật này sẽ vẫn liên kết với nhau khi người dùng di chuyển một trong số chúng. Trình soạn thảo đảm bảo rằng đường thẳng trải ra để duy trì sự kết nối. Một cách nổi tiếng để duy trì kết nối mối quan hệ giữa các đối tượng là dùng hệ thống giải quyết ràng buộc. Chúng ta có thể đóng gói chứng năng này trong đối tượng ConstraintSolver. ConstraintSolver ghi lại những kết nối khi chúng được tạo ra và tạo ra những phương trình toán học để miêu tả những kết nối này. Nó sẽ giải những phương trình này bất cứ khi nào người dùng tạo ra kết nối hoặc chỉnh sửa sơ đồ. ConstraintSolver sử dụng kết quả mà nó tính toán được để sắp xếp lại các hình để duy trì kết nối. Việc hỗ trợ undo trong ứng dụng này không phải là dễ. Một cách rõ ràng để undo lại một thao tác dịch chuyển là lưu trữ khoảng cách đã dịch chuyển và dịch chuyển đối tượng quay trở về khoảng cách đó. Tuy nhiên điều này không đảm bảo rằng tất cả các đối tượng sẽ xuất hiện ở đúng vị trí của nó trước đó. Giả sử rằng có một vài chỗ trùng trong kết nối. Trong trường hợp này, đơn giản là di chuyển hình chữ nhật trở về vị trí ban đầu của nó không đạt được hiệu quả mong muốn. Nhìn chung, giao diện dùng chung của ConstraintSolver có thể là không đủ để cho phép hiệu quả đảo ngược một cách chính xác của nó lên đối tượng khác. Cợ chế undo phải làm việc thân thiện hơn với ConstraintSolver để thiết lập lại trạng thái trước đó, nhưng chúng ta cũng nên tránh để lộ ra trạng thái trong của ConstraintSolver cho cơ chế undo. Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này với mẫu Memento. Một Memento là một đối tượng lưu trữ ảnh của trạng thái trong của đối tượng khác - là Originator của Memento. Cơ chế undo sẽ yêu cầu một Memento từ Originator khi nó cần kiểm tra trạng thái của Originator. Originator khởi tạo Memento với thông tin mô tả trạng thái hiện tại của nó. Chỉ có Originator mới có thể lưu trữ và lấy thông tin từ Memento- Memento là " đục" đối với các đối tượng khác. Trong ví dụ về trình soạn thảo đồ hoạ mà chúng ta vừa thảo luận thì ConstraintSolver hành động như một Originator. Sau đây là chuỗi những sự kiện mô tả quá trình undo: Trình soạn thảo yêu cầu một Memento từ một ConstraintSolver như là một hiệu ứng phụ của thao tác dịch chuyển. ConstraintSolver tạo và dịch chuyển một Memento, trong trường hợp này là một thể hiện của lớp SolverState. Memento SolverState chứa cấu trúc dữ liệu mô tả trạng thái hiện thời của biến và phương trình bên trong của ConstraintSolver. Sau đó khi người dùng undo thao tác dịch chuyển thì trình soạn thảo sẽ gửi lại SolverState cho ConstraintSolver. Dựa vào những thông tin trong SolverState, ConstraintSolver sẽ thay đổi cấu trúc bên trong của nó để trở lại chính xác trạng thái trước của các biến và phương trình của nó. Sự sắp xếp này cho phép ConstraintSolver giao phó cho những đối tượng khác những thông tin mà nó cần để chuyển về trạng thái trước mà không phải để lộ cấu trúc và sự trình diễn bên trong. 3. Tính ứng dụng: Sử dụng mẫu Memento khi: 1. Ảnh của một trạng thái đối tượng phải được lưu trữ để nó có thể được khôi phục sau này. 2. Một giao diện trực tiếp để đạt được trạng thái sẽ để lộ chi tiết của sự thực thi và phá vỡ tính đóng gói của đối tượng. 5. Mô tả các lớp: Lưu trữ trạng thái trong của đối tượng Originator. Memento có thể lưu trữ nhiều hay ít trạng thái bên trong của đối tượng tuỳ theo nhu cầu của Originator. Bảo vệ chống lại những truy cập từ những đối tượng không phải là Originator. Memento có hai giao diện: Caretaker nhìn thấy giao diện hẹp của Memento- nó chỉ có thể truyền Memento cho đối tượng khác. Ngược lại, Originator nhìn thấy giao diện rộng nên nó có thể truy cập đến tất cả những dữ liệu cần thiết để khôi phục lại trạng thái trước của nó. Một cách lý tưởng, chỉ có Originator tạo ra Memento là được phép truy cập đến trạng thái trong của Memento. Tạo một Memento chứa ảnh về trạng thái trong của nó. Sử dụng Memento để lưu trữ trạng thái trong của nó. Có trách nhiệm cho việc bảo vệ Memento. Không bao giờ được thao tác hoặc kiểm tra nội dung của Memento. 6. Biểu đồ cộng tác: Một Caretaker yêu cầu một Memento từ một Originator, giữ nó trong một khoảng thời gian và truyền nó trả về cho một Originator như là biểu đồ cộng tác sau minh hoạ: Đôi khi Caretaker không trả lại Mementor cho Originator, bởi vì Originator không bao giờ cần quay trở về trạng thái trước. Mẫu Memento có một vài kết quả sau: 1. Bảo vệ tính đóng gói. Memento tránh để lộ thông tin mà chỉ có Originator mới được quản lý nhưng thông tin đó chắc chắn phải được lưu trữ dù là ở bên ngoài Originator. Mẫu này ngăn cản những đối tượng khác tác động đến những trạng thái trong của Originator, do đó bảo vệ duy trì tính đóng gói. 2. Nó làm đơn giản hoá Originator. Trong những thiết kế duy trì tính đóng gói khác, Originator giữ những phiên bản về trạng thái trong mà clients yêu cầu. Điều này sẽ làm cho việc quản lý lưu trữ trở thành một gánh nặng với Originator. Việc clients quản lý trạng thái mà họ yêu cầu sẽ giúp đơn giản hoá Originator và buộc clients phải thông báo với Originator khi chúng được làm. 3. Sử dụng Memento có thể phải chịu giá đắt. Memento có thể phải gánh chịu đáng kể nếu như Originator phải sao chép một số lượng lớn thông tin để lưu trữ trong Memento hoặc nếu clients tạo và trả về thưòng là vừa đủ Memento cho Originator. Nếu không thì tính đóng gói và khôi phục trạng thái của Originator là không đáng giá, mẫu có thể không thích hợp. Hãy xem xét thảo luận về tính gia tăng trong phần thực thi. 4. Định nghĩa giao diện hẹp và rộng. Với một vài ngôn ngữ có thể là khó đảm bảo rằng chỉ có Originator có thể truy cập trạng thái Mementor. 5. Che giấu Memento. Một Caretaker có trách nhiệm xoá mememto mà nó giữ. Tuy nhiên, Caretaker không biết gì về trạng thái trong của Memento. Đây là hai vấn đề phải xem xét khi thực thi mẫu Memento: 1. Ngôn ngữ hỗ trợ. Memento có hai giao diện: Một giao diên rộng cho Originator và một giao diện hẹp cho những đối tượng khác. Ngôn ngữ thực thi lý tưởng sẽ hỗ trợ hai mức bảo vệ tĩnh. C++ cho phép bạn làm việc này bằng cách làm cho Originator là lớp bạn của Memento và giao diện rộng của Memento là private. Chỉ có giao diện hẹp mới được khai báo là public. State* _state; // internal data structures // narrow public interface // private members accessible only to Originator 2. Lưu trữ sự thay đổi thêm vào. Khi Memento được tạo ra và truyền trở về cho Originator của nó trong một chuỗi có thế đoán trước, thì Memento chỉ có thể lưu trữ sự thay đổi thêm vào của trạng thái trong Originator. Những lệnh có thể làm lại trong danh sách các lệnh đã được thực hiện có thể sử dụng Memento để đảm bảo rằng các lệnh đó sẽ được khôi phục về trạng thái chính xác của nó khi nó được undo. Danh sách các lệnh đã được thực hiện định nghĩa một trật tự xác định các lệnh có thể được undo hoặc redo. Điều này có nghĩa Mementor chỉ có thể lưu trữ sự thêm vào mà một lệnh gây ra chứ không phải tất cả trạng thái của mọi đối tượng mà chúng ảnh hưởng. Trong ví dụ motivation đã được đưa ra lúc trước, ConstraintSolver chỉ lưu trữ những cấu trúc bên trong- cái mà thay đổi để giữ đường thẳng kết nối những hình chữ nhật, chứ không phải lưu trữ vị trí của những đối tượng này. Đoạn code C++ được mang lại dưới đây để minh hoạ cho ví dụ về ConstraintSolver mà chúng ta đã thảo luận lúc trước. Chúng ta sử dụng đối tượng MoveCommand để dịch chuyển đối tượng đồ hoạ từ vị trí này sang vị trí khác hoặc undo thao tác đó. Trình soạn thảo đồ hoạ gọi đến thao tác Execute để dịch chuyển một đối tượng đồ hoạ và Unexecute để undo sự dịch chuyển đó. Đối tượng Movecommand lưu trữ đích của nó, khoảng cách dịch chuyển và một thể hiện của ConstraintSolver Memento- là một Memento chứa trạng thái của ConstraintSolver. MoveCommand(Graphic* target, const Point delta); Những ràng buộc kết nối được thiết lập bởi lớp ConstraintSolver. Phương thức chính là Solve, là phương thức giải quyết các ràng buộc được đăng ký trong phương thức AddConstraint. Để hỗ trợ undo, trạng thái của ConstraintSolver có thể xuất hiện bên ngoài với phương thức createMemento trong thể hiện ConstraintSolverMemento. ConstraintSolver có thể được trả về trạng thái trước bằng cách gọi setMemento. Constraintsolver là một là một Singleton. Graphic* startConnection, Graphic* endConnection Graphic* startConnection, Graphic* endConnection // nontrivial state and operations for enforcing // private constraint solver state Với những giao diện này, chúng ta có thể thực thi những phương thức thành viên của lớp MoveCommand là Execute và Unexecuted sau: void MoveCommand::Execute () { ConstraintSolver* solver = ConstraintSolver::Instance(); _state = solver-CreateMemento(); // create a Memento void MoveCommand::Unexecute () { ConstraintSolver* solver = ConstraintSolver::Instance(); solver-SetMemento(_state); // restore solver state Execute yêu cầu một Memento constrainstsolverMemento trước khi nó dịch chuyển các hình đồ hoạ. Unexecute dịch chuyển các hình đồ hoạ trở lại, thiết lập trạng thái của ConstraintSolver về trạng thái trước đó và cuối cùng thì nói cho ConstraintSolver biết để giải quyết các ràng buộc. 10. Các mẫu liên quan: 1. Command: Mẫu này có thể sử dụng Memento để duy trì các trạng thái của các thao tác có thể undo. 2. Iterator: Mementos có thể được sử dụng cho quá trình lặp như đã mô tả lúc trước.
Động cơ tuốc bin khí Động cơ tua bin khí (tiếng Anh - Gas turbine engine) là loại động cơ nhiệt dạng rotor, trong đó chất giãn nở sinh công là không khí. Động cơ này gồm ba bộ phận chính, đó là máy nén khí (tiếng Anh: compressor); buồng đốt (loại hở); và turbine. Turbine quay máy nén thông qua trục động cơ. So với một loại động cơ nhiệt khác rất thông dụng là động cơ piston (điển hình là động cơ diesel hay động cơ xăng) thì động cơ tuốc bin khí có nhiều nhược điểm hơn như: chi phí chế tạo đắt do những đòi hỏi về vật liệu cũng như công nghệ chế tạo rất khắt khe và cần độ chính xác cao (chỉ có các nước phát triển có công nghệ tiên tiến như Mỹ, Nga, Đức, Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc mới chế tạo được loại động cơ này), có hiệu suất nhiệt động lực học thấp hơn (chỉ bằng khoảng 2/3 so với động cơ diesel) dẫn đến tính kinh tế kém hơn do tiêu tốn lượng nhiên liệu lớn, hiệu suất giảm sút nhanh khi chạy ở tốc độ thấp và tiêu hao một lượng nhiên liệu rất lơn. Nhưng ưu điểm nổi bật của động cơ tua bin khí là "cho công suất cực mạnh với một khối lượng và kích thước nhỏ gọn": chỉ số công suất riêng (mã lực/kg) của loại động cơ này lớn gấp hàng chục lần so với động cơ piston, qua đó cho phép máy bay trang bị động cơ loại này bay nhanh hơn nhiều so với động cơ piston. Do vậy, loại động cơ này nhanh chóng có vị trí quan trọng trong ngành hàng không kể từ nửa sau của thế kỷ XX cho đến nay. Ngoài ra thì nó cũng được sử dụng cho mục đích sản xuất điện năng (các nhà máy điện khí sử dụng động cơ tua bin khí với nhiên liệu là khí hoá lỏng để quay máy phát điện và tạo ra điện năng). Nguyên tắc hoạt động. Máy nén khí quay làm không khí từ cửa hút của máy nén được nén lại để tăng áp suất, trong quá trình đó không chỉ áp suất mà nhiệt độ cũng tăng (ngoài ý muốn). Đây là quá trình tăng nội năng của không khí trong máy nén. Sau đó không khí chảy qua buồng đốt. Tại đây, nhiên liệu được đưa vào để trộn và đốt một phần không khí, quá trình cháy là quá trình gia nhiệt đẳng áp trong đó không khí bị gia nhiệt tăng nhiệt độ và thể tích mà không tăng áp suất. Thể tích không khí được tăng lên rất nhiều và có nhiệt độ cao được thổi về phía tuốc bin với vận tốc rất cao. Tua bin là khối sinh công. Tại đây, không khí tiến hành giãn nở để sinh công: nội năng được biến đổi thành cơ năng; áp suất, nhiệt độ và vận tốc không khí giảm xuống, biến thành động năng (dưới dạng mô men xoắn) tại cánh tua bin, tạo ra chuyển động quay cho trục động cơ và quay máy nén cùng với quạt (với các động cơ turbofan, turbopropeller và turboshaft) để cho động cơ tiếp tục làm việc. Phần năng lượng còn lại của dòng khí nóng chuyển động với vận tốc cao tiếp tục sinh công có ích tuỳ thuộc theo thiết kế đầu ra của từng dạng động cơ: có thể phụt thẳng ra phía sau, thông qua phễu phụt, tạo ra phản lực (nếu là động cơ phản lực); hoặc quay tua bin tự do (tiếng Anh: 'Power Turbine', viết tắt 'PT') để sinh công năng hữu dụng đối với các loại động cơ tuốc bin khí khác ngoài động cơ phản lực. Các đặc điểm của động cơ tuốc bin khí: Máy nén khí là một trong các bộ phận chính của động cơ tua bin khí có chức năng làm tăng nội năng (áp suất) không khí tạo áp suất cho đỉnh trên (đỉnh 3 hình đồ thị P-v của chu trình Brayton) cho quá trình giãn nở sinh công (giai đoạn 3-4 trong đồ thị P-v Brayton) áp suất sau máy nén càng cao thì hiệu suất nhiệt động lực học càng lớn, do đó máy nén khí quyết định hiệu suất của động cơ. Tại các động cơ tuốc bin khí hiện đại đòi hỏi tỷ số nén (Áp suất sau máy nén/áp suất trước máy nén) phải đạt từ 10-20. Tất cả các loại máy nén khí trong động cơ tuốc bin khí đều sử dụng rãnh có thiết diện nở ra (diffuser) để biến động năng (vận tốc) của dòng không khí thành nội năng (áp suất). Máy nén khí của các động cơ tua bin khí gồm các loại sau: Buồng đốt là bộ phận sinh nhiệt chính của các động cơ tua bin khí. Ống lửa của chúng là loại ống lửa hở. Chúng thường có khoảng từ 7 đến 20 ống, được bố trí thành vòng tròn xung quanh trục động cơ, phía sau khối máy nén và phía trước khối tua bin. Mỗi ống lửa có một vòi phun nhiên liệu được đặt ở mặt phía trước. Các ống lửa thường có dạng hình côn, chúng được đặt so le gối đầu và được hàn với nhau. Tại các đường hàn đó có rất nhiều các lỗ nhỏ (đường kính lỗ 0,5-1mm): không khí của dòng thứ cấp chảy từ bên ngoài chảy qua các lỗ này sẽ tạo thành các lớp khí làm mát sát mặt ống lửa bên trong để bảo vệ ống lửa. Ngoài ra trên các đốt của ống lửa còn có các lỗ to để dòng không khí thứ cấp từ bên ngoài đi vào để làm chất giãn nở sinh công và để làm nguội dòng lửa nóng trước khi đi vào tuốc bin. Không khí từ máy nén gặp các ống lửa sẽ bị chia thành hai dòng khí "dòng khí sơ cấp" ndash để đốt cháy nhiên liệu, dòng khí này chiếm khoảng 30% khối lượng khí và 70% còn lại là "dòng khí thứ cấp" để làm mát, bảo vệ ống lửa không bị quá nhiệt và làm chất giãn nở sinh công. "Dòng khí sơ cấp" đi thẳng vào ống lửa qua các khe xoáy tại mặt trước ống lửa sẽ tạo thành dòng xoáy trộn với sương nhiên liệu được phun ra từ vòi phun nhiên liệu và được đốt mồi bằng bugi (nến điện) lúc khởi động. Sau đó, quá trình cháy là liên tục và không cần đến nến điện nữa. "Dòng khí thứ cấp" chảy bao bọc bên ngoài ống lửa, một phần dòng khí này đi vào các lỗ nhỏ trên mối hàn tiếp giáp các đốt ống để đi vào bên trong ống lửa, tạo thành lớp khí làm mát trên mặt trong để bảo vệ ống lửa không bị hỏng do quá nhiệt. Phần còn lại đi vào các lỗ lớn trên các đốt ống để hòa vào dòng lửa phụt phần khí này để làm chất giãn nở sinh công và để giảm bớt nhiệt độ của dòng lửa phụt trước khi đi vào tuốc bin. Tại trung tâm, dòng lửa phụt có nhiệt độ lên tới khoảng 1500-1600 °C nhưng đến khi đi vào tuốc bin thì nhiệt độ chỉ còn lại khoảng từ 800-1000 °C Mặt sau của ống lửa để hở hướng thẳng vuông góc vào đĩa cánh tuốc bin. Cơ cấu buồng đốt hở cho phép quá trình cháy, gia nhiệt trong buồng đốt là quá trình đẳng áp: không khí tăng nhiệt độ lên rất cao, sinh thể tích rất lớn, sinh vận tốc phụt rất cao nhưng áp suất tại điểm vào và ra khỏi buồng đốt là như nhau (điểm 2 và điểm 3 trên đồ thị P-v của chu trình Brayton). Điều này cho phép luồng khí nóng trong buồng đốt chỉ phụt mạnh về khối tuốc bin mà không bị thổi ngược về khối máy nén. Tuabin chính là khối sinh công của động cơ tuabin khí. Nó biến đổi nội năng của của dòng khí nóng có áp suất và vận tốc cao thành động năng (dưới dạng mô men xoắn). Dòng khí nóng giãn nở và sinh công tại cánh tuabin (các tài liệu kỹ thuật của phương Tây gọi là "cánh tua bin", còn các tài liệu kỹ thuật của Nga lại gọi là "lá tua bin"). Sở dĩ tua bin có thể làm được điều này bởi thiết diện rãnh khí giữa các cánh tuốc bin là dạng thiết diện hội tụ (converge), trong khi thiết diện rãnh khí giữa các cánh máy nén (với máy nén dọc trục) hay trên bề mặt máy nén (máy nén ly tâm) là dạng thiết diện nở ra (diffuser). Dạng thiết diện này làm cho vận tốc tương đối trong các rãnh khí giữa các cánh tua bin tăng lên và làm giảm áp suất cũng như nhiệt độ của dòng khí. Tua bin yêu cầu việc làm mát cần phải diễn ra liên tục (cả ở cánh và đĩa tuabin) trong suốt cả quá trình hoạt động chúng bởi vì chúng là bộ phận chịu nhiệt lớn nhất của cả động cơ. Nếu việc làm mát không diễn ra liên tục thì rất dễ dẫn đến việc chúng bị hỏng, hoặc thậm chí bị phá hủy hoàn toàn, dẫn đến tai nạn, do bị quá nhiệt. Chính vì lý do này mà các tua bin (chủ yếu là cánh tua bin) được chế tạo rỗng để cho phép dòng chất làm mát (có thể là chất lỏng hoặc chất khí, tuỳ thuộc vào khu vực hoạt động của động cơ) đi vào và làm mát chúng từ bên trong. Ngoài ra, tua bin cũng phải chịu ứng suất, áp suất rất lớn và quay với tốc độ rất cao trong môi trường có tính ăn mòn bởi nhiệt độ rất khủng khiếp. Tua bin được nối với máy nén khí và các phụ tải khác thông qua trục động cơ. Trong các động cơ máy bay, thường chỉ có các tuốc bin nối với máy nén khí mà không có tuốc bin tự do (không nối với máy nén), còn tại các động cơ với những công năng khác thường bố trí tuốc bin tự do để nâng cao hiệu suất động cơ nâng cao tính năng vận hành của động cơ. Hệ thống thấp áp – cao áp. Về mặt hiệu suất, sẽ là tốt nhất nếu như với mỗi tầng máy nén khác nhau thì sẽ tương ứng với một tầng tuốc bin quay theo các vận tốc quay khác nhau (tầng máy nén phía ngoài quay chậm hơn, tầng máy nén phía trong quay nhanh hơn) nhưng như vậy sẽ rất phức tạp về mặt thiết kế cũng như chế tạo. Do đó, để đảm bảo hợp lý về chế tạo và hiệu suất, người ta đã chia khối máy nén thành hai khối nhỏ: máy nén thấp áp (các tầng phía trước) và máy nén cao áp (các tầng phía sau). Khối tuốc bin cũng được chia tương tự thành hai khối nhỏ: tuốc bin cao áp (các tầng phía trước) và tuốc bin thấp áp (các tầng phía sau). Tuốc bin thấp áp lai máy nén thấp áp, tuốc bin cao áp lai máy nén cao áp. Như vậy, hai khối máy nén - tuốc bin này quay theo các vận tốc góc khác nhau. Chúng là hai hệ trục đồng trục: trục cao áp bên ngoài và trục thấp áp bên trong. Động cơ tuốc bin khí là động cơ có số lượng nhiều nhất và là động cơ chính của ngành hàng không (chúng được trang bị với số lượng áp đảo động cơ piston), ngoài ra nó còn được lắp cho các mục đích khác như cho các trạm phát điện tuốc bin khí hay cho các tàu chiến tốc độ cao, tàu hoả, thậm chí một số loại xe tăng (như xe tăng M1 Abrams của Mỹ). Động cơ hàng không. Động cơ tuốc bin khí cho ngành hàng không vì tính năng khối lượng – kích thước có tầm quan trọng rất lớn nên đa số là loại động cơ có máy nén dọc trục và có hai khối cao áp, thấp áp. Đối với động cơ phản lực thì động cơ có thêm các bộ phận cực kỳ quan trọng là phễu phụt (propelling nozzle) và buồng đốt tăng lực. Động cơ tuốc bin cánh quạt. Đây là loại động cơ tuốc bin khí kết hợp với cánh quạt quay ngoài tạo lực đẩy cho máy bay (tiếng Anh - Turbopropeller engine, viết tắt TurboProp; tiếng Nga - Турбовинтовый двигатель, viết tắt ТВД). Động cơ loại này có hiệu suất cao nhất nên tính kinh tế cũng là cao nhất trong các loại động cơ tuốc bin của hàng không, nhưng vì đặc điểm sử dụng cánh quạt quay ngoài nên loại động cơ này cho vận tốc thấp nhất. Do đó, loại động cơ này thường được trang bị trên các máy bay cỡ lớn cần các động cơ có công suất lớn cũng như tính kinh tế và độ ổn định cao, nhưng không cần vận tốc lớn của quân đội, điển hình như loại máy bay vận tải Lockheed C-130 Hercules (và biến thể gunship Lockheed AC-130 của nó) của Mỹ hoặc máy bay ném bom hạng nặng Tupolev Tu-95 của Liên Xô/Nga Cánh quạt được nối vào trục động cơ qua hộp số giảm tốc. Đặc điểm của loại động cơ này là tuốc bin của động cơ vừa lai máy nén vừa lai tải chính là cánh quạt nên phải thiết kế tuốc bin sao cho sử dụng được hết năng lượng của dòng khí nóng sau buồng đốt. Với loại động cơ này, dòng khí sau khi ra khỏi tuốc bin có vận tốc còn rất thấp, nhiệt độ, áp suất gần cân bằng với môi trường. Vì cánh quạt được nối với trục động cơ nên khi thay đổi tốc độ sẽ ảnh hưởng nhiều đến chế độ làm việc của toàn bộ động cơ nên tính linh hoạt của loại động cơ này không được tốt (hiệu suất giảm rất nhanh khi giảm công suất, tốc độ). Loại này cũng được trang bị cho trực thăng, mô men quay từ trục động cơ được truyền qua hộp số và chuyển hướng để quay cánh quạt nâng nằm ngang trên nóc chiếc trực thăng (tiếng Anh: "Turboshaft"). Điểm khác biệt giữa động cơ turboshaft và turbopropeller đó chính là động cơ turboshaft sử dụng kết hợp cả 2 loại máy nén là dọc trục và hướng tâm, trong khi động cơ turbopropeller chỉ sử dụng một trong hai loại máy nén trên (thường là máy nén dọc trục bởi kích thước nhỏ gọn và hiệu suất rất cao mà nó đem lại). Động cơ tuốc bin phản lực. Động cơ tuốc bin phản lực (tiếng Anh - Turbojet engine, viết tắt TurboJet; tiếng Nga - Турбореактивный двигатель, viết tắt - ТРД), là động cơ tuốc bin khí dùng động năng của dòng khí nóng phụt thẳng về phía sau tạo phản lực đẩy máy bay về phía trước. Đây là loại động cơ trang bị chủ yếu cho các máy bay tiêm kích thuộc thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai. Loại động cơ này cho vận tốc cao nhất trong số các loại động cơ tuốc bin của hàng không, điều này đặc biệt quan trọng với các máy bay tiêm kích, nhưng tính kinh tế của chúng lại thấp nhất bởi chúng tiêu tốn lượng nhiên liệu lớn nhất. Tuốc bin của loại động cơ này chỉ khai thác một phần năng lượng dòng khí nóng sau buồng đốt chỉ đủ để quay máy nén khí, phần năng lượng còn lại dùng để phụt thẳng vào môi trường tạo phản lực qua phễu phụt (chính vì vậy hiệu suất của loại động cơ này thấp). Các loại động cơ phản lực phải có thêm một thiết bị là "phễu phụt" (propelling nozzle) lắp phía sau tuốc bin để tăng tốc độ dòng khí phụt ra ngoài nhằm tạo ra phản lực đẩy lớn nhất. Nếu là động cơ cho máy bay dưới tốc độ âm thanh thì phễu phụt có hình hội tụ (converge) còn đối với máy bay siêu âm thì áp dụng phễu phụt siêu âm (hội tụ – nở rộng hay còn gọi là phễu phụt De Laval theo tên nhà kỹ thuật người Hà Lan). Động cơ tuốc bin phản lực có buồng đốt tăng lực. Là một loại của động cơ tuốc bin phản lực dùng cho các máy bay chiến đấu cao tốc, nhất là các máy bay tiêm kích, chúng vốn rất cần sự phát triển tốc độ chiến đấu nhất thời thật cao. Về cấu tạo động cơ này rất giống các động cơ tuốc bin phản lực thông thường nhưng có thêm buồng đốt thứ cấp phía sau tuốc bin và phía trước phễu phụt. Buồng đốt này được gọi là buồng đốt tăng lực, hay còn có tên khác là "buồng đốt sau" (afterburner). Các máy bay trang bị động cơ này chỉ có máy bay tiêm kích. Chúng chỉ sử dụng buồng đốt tăng lực để tăng tốc độ trong thời gian ngắn (tính theo giây) như khi bổ nhào để tấn công mục tiêu mặt đất, tránh tên lửa hay máy bay địch hoặc khi cất cánh. Động cơ tuốc bin hai viền khí. Có tài liệu tiếng Anh gọi loại này là turbofan. Đây là loại động cơ mà các cánh quạt tầng ngoài cùng của máy nén áp thấp có cấu tạo và kích thước đặc biệt để lùa và chia không khí ra thành hai dòng: một dòng chảy vào bên trong động cơ và dòng còn lại chảy vòng qua bên ngoài và song song với dòng không khí bên trong động cơ, tạo thành lực đẩy trực tiếp. Hai dòng khí này hòa vào nhau tại phễu phụt, chính vì vậy mà loại động cơ này được được gọi là động cơ hai viền khí (tiếng Anh: "two-contour turbojet", tiếng Nga: "двухконтурный турбо-двигатель"). Đây là phương án trung gian giữa động cơ tuốc bin cánh quạt và động cơ tuốc bin phản lực. Đối với loại động cơ này có một chỉ số rất quan trọng đó là hệ số hai viền khí (tiếng Anh: "Bypass ratio") "m" là tỷ lệ thể tích của khối khí chạy bên ngoài so với khối khí chạy bên trong động cơ, (đối với động tuốc bin phản lực thuần túy "m" = 0) chỉ số càng lớn thì động cơ có hiệu suất càng tốt và càng giống động cơ tuốc bin cánh quạt và vận tốc càng thấp, hệ số này lớn hơn 2 thì không thể phát triển được vận tốc siêu âm. Còn các động cơ siêu âm có hệ số "m" thấp hơn hoặc bằng 2. Động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt. Có tài liệu tiếng Anh gọi loại động cơ này là động cơ "turbofan" nhưng có tài liệu lại gọi "turbofan" là động cơ hai viền khí nói chung. Trong trường hợp chung nhất, "Động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt" trong tiếng Anh - Turbopropeller jet, viết tắt PropJet hay TurboFan; tiếng Nga - Турбовентиляторный реактивный двигатель, viết tắt - ТВРД. Động cơ phản lực cánh quạt là một phiên bản nhánh của động cơ hai viền khí trong đó cánh quạt ngoài nằm hẳn ra ngoài được bao bằng vỏ capote ngoài, vỏ này ngắn nên hai dòng khí bên ngoài và bên trong động cơ không hòa vào nhau. Nhìn bên ngoài rất dễ nhận ra loại động cơ này vì vỏ capote ngoài này ngắn tạo thành 2 lớp vỏ giật cấp. Đây là động cơ có hệ số "m" cao thường từ 6-10 và nghiêng về tính chất động cơ cánh quạt. Loại động cơ này được trang bị rộng rãi trên hầu hết các máy bay hiện nay, từ các máy bay chở khách và vận tải dân dụng (Các máy bay hành khách dân dụng nổi tiếng của Boeing và Airbus đều trang bị loại động cơ này) cho đến các mẫu máy bay ném bom hạng nặng nhiều động cơ (như Boeing B-52 Stratofortress, Rockwell B1 Lancer và Nothrop Grumman B-2 Spirit của quân đội Mỹ hay Tupolev Tu-160 của Nga) và các dòng máy bay tiêm kích từ thế hệ thứ ba cho đến nay. Không chỉ các mẫu máy bay ném bom hạng nặng và máy bay tiêm kích mà các máy bay trinh sát (như Lockheed U-2) và máy bay vận tải Boeing C-17 Globemaster III) cũng sử dụng loại động cơ này. Lý do khiến cho các động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt được trang bị rộng rãi như vậy bởi vì chúng không chỉ có hiệu suất cao và công suất lớn, gần như không thua kém gì các động cơ tuốc bin phản lực thuần, mà các động cơ này còn có tính kinh tế tốt, chúng tiêu hao ít nhiên liệu hơn, cũng như việc bảo dưỡng chúng cũng không khác biệt quá nhiều so với các động cơ phản lực thuần. Động cơ cố định. Ngoài ngành Hàng không, động cơ tuốc bin khí còn được trang bị cho một số mục đích khác. Ví dụ: cho hệ động lực của tàu biển cao tốc hoặc cho một số trạm phát điện giờ cao điểm. Vì động cơ tuốc bin khí có hiệu suất thấp hơn động cơ diesel nhưng có công suất rất cao nên người ta chỉ dùng loại động cơ này cho các hoạt động không kéo dài lâu: các trạm phát điện tuốc bin khí chỉ phát điện vào giờ cao điểm sử dụng điện (từ 18h đến 22h), khi yêu cầu lượng điện của các giờ này cao hơn mức trung bình vài lần nhưng thời gian không lâu. Các tàu cao tốc trang bị động cơ tuốc bin khí cũng chỉ dùng động cơ này hết công suất khi cần triển khai tốc độ tối đa trong thời gian ngắn. Vì được bố trí tại những vị trí không đòi hỏi cao về yêu cầu kích thước và khối lượng nên để tăng hiệu suất của cụm động cơ tuốc bin khí người ta còn kết hợp với các chu trình phụ như "tái tạo" ("regeneration"), làm lạnh khí nén (intercooling), tận dụng nhiệt khí thải. Các cụm động cơ này thường được trang bị máy nén khí ly tâm bởi hiệu suất cao nhưng cấu tạo lại đơn giản nên việc sửa chữa cũng tốn ít thời gian và chi phí hơn nhiều so với máy nén dọc trục. Và một đặc điểm rất nổi bật của động cơ tuốc bin khí ngoài ngành hàng không là nó có "tuốc bin tự do" (không nối với máy nén) để lai phụ tải chính. Đối với loại động cơ này các tuốc bin cao áp, thấp áp không sử dụng hết tiềm năng năng lượng của dòng khí nóng sau buồng đốt nó chỉ lấy đủ nhu cầu quay hai máy nén cao áp và thấp áp, còn phần năng lượng còn lại sẽ tiếp tục được giãn nở sinh công trong các tầng tuốc bin tự do để sinh công có ích cho phụ tải chính.
Nhóm Ngân hàng Thế giới Nhóm Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh: "World Bank Group", viết tắt WBG) là một tổ chức tài chính đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này. Nhóm Ngân hàng Thế giới bao gồm năm tổ chức tài chính thành viên, đó là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, Hội Phát triển Quốc tế, Công ty Tài chính Quốc tế, Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư, và Cơ quan Đảm bảo Đa phương. Thuật ngữ "Ngân hàng Thế giới" (WB) thường đề cập đến IBRD và IDA. Chức năng, nhiệm vụ. Chức năng của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện. IBRD và IDA đi vay (phát hành trái phiếu) và cho các nước thành viên vay lại (hiện WB có 188 nước thành viên). Không phải nước thành viên nào cũng được vay WB. Cá nhân và công ty không được WB cho vay. Chính phủ của những nước đang phát triển nhưng có thu nhập quốc dân trên đầu người trên 1305 USD/năm được vay của IBRD. Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao hơn lãi suất mà WB đã đi vay một chút. Chính phủ của các nước nghèo, có thu nhập quốc dân trên đầu người dưới 1305 USD/năm (trong thực tế là dưới 805USD/năm) được vay của IDA. Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có thời hạn lên tới 35-40 năm. Trong hai thập kỳ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng giá trị các khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải. Trong hai thập niên 1960 và 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng vẫn quan trọng nhất, song hoạt động của IBRD và IDA đã rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Các hoạt động của IBRD và IDA đều trực tiếp liên quan đến giúp đỡ người nghèo và mang hình thức hỗ trợ tài chính lẫn kỹ thuật. Từ thập niên 1980, ngoài đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người, IBRD và IDA bắt đầu cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở các nước đang phát triển. Phản ứng nhạy bén và chú trọng xóa nghèo là các mục tiêu hiện này của IBRD và IDA. IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị trường nhưng là vay dài hạn hoặc cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như một sự bảo đảm đối với các nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án. MIGA cung cấp những bảo đảm trước các rủi ro chính trị (rủi ro phi thương mại) để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển. Tổ chức bộ máy. WB có hơn 40 văn phòng đặt tại các nước. WB có quan hệ chặt chẽ với IMF. Các Tổng giám đốc. Như một thông lệ, các tổng giám đốc của WB đều do đương kim tổng thống Hoa Kỳ chỉ định, và sau đó thường được Đại hội đồng bầu chọn và không có sự phản đối. Điều này ngược với các giám đốc của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) luôn là người châu Âu. Các Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (tên gọi đầy đủ của chức vụ này là "Phó tổng giám đốc phụ trách phát triển và kinh tế học, nhà kinh tế trưởng") là cấp bậc quản lý cao nhất về chuyên môn trong Ngân hàng Thế giới. Người mang chức vụ này là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất tới kinh tế thế giới, và thường là những học giả kinh tế xuất chúng mới được mời giữ chức vụ này. Chức vụ này bắt đầu có từ năm 1982.
Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức () là đội tuyển bóng đá nam quốc gia đại diện Đức trong các giải đấu môn thể thao bóng đá nam quốc tế kể từ năm 1908. Hiệp hội bóng đá Đức ("Deutscher Fußball-Bund", thành lập năm 1900) là cấp quản lý của đội tuyển. Kể từ khi DFB được tái lập năm 1949, đội tuyển đại diện cho Cộng hòa Liên bang Đức. Sau thời kỳ Đồng Minh chiếm đóng Đức, đã từng có hai đội tuyển quốc gia khác của Đức được FIFA công nhận: Đội tuyển Saarland đại diện cho Saarland (1950–1956) và Đội tuyển Đông Đức đại diện cho Cộng hòa Dân chủ Đức (1952–1990). Thành tích của cả hai đều được ghép vào lịch sử đội tuyển quốc gia Đức hiện tại. Tên gọi chính thức và mã hiệu "Germany FR (FRG)" được viết gọn thành "Germany (GER)" sau khi 2 miền nước Đức tái thống nhất năm 1990. Đức là một trong những đội tuyển thành công nhất trên đấu trường quốc tế với khối thành tích: 4 lần vô địch World Cup (1954, 1974, 1990 và 2014), 1 lần vô địch Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 và 3 lần vô địch Euro (1972, 1980 và 1996). Họ cũng từng 3 lần giành vị trí á quân ở Euro và 4 lần á quân ở World Cup cũng như 4 lần ở vị trí thứ ba. Còn ở đấu trường Olympic, đội tuyển Đông Đức cũ từng giành huy chương vàng vào năm 1976 trong khi đội tuyển Tây Đức (tiền thân của đội tuyển Đức ngày nay) giành một huy chương bạc và ba huy chương đồng. Sau khi bế mạc World Cup 2014, đội tuyển Đức giành hệ số Elo cao nhất trong lịch sử của tất cả các đội tuyển quốc gia, với kỷ lục 2200 điểm. Sau khi giành Cúp Liên đoàn các châu lục 2017, đội trở thành một trong bốn - cùng với Brazil, Argentina và Pháp - giành được 3 danh hiệu bóng đá nam quan trọng nhất mà FIFA công nhận: World Cup, Confederations Cup và Olympic. Các đội này cũng đều đã giành chức vô địch lục địa (Euro (Châu Âu)/Copa América (Nam Mỹ)) tương ứng với họ. Đội tuyển Đức cũng là đội tuyển thuộc Liên đoàn bóng đá châu Âu đầu tiên và duy nhất từ trước đến nay giành chức vô địch World Cup trên đất Nam Mỹ. Đức cũng là đội tuyển châu Âu duy nhất đã tham dự mọi kỳ World Cup từ trước tới nay khi họ chủ động tham gia và được cho phép với chỉ một lần bị FIFA cấm tham dự năm 1950 do ảnh hưởng chính trị từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai rồi liên tục dự World Cup tới nay. Đảm nhận công tác dẫn dắt và huấn luyện đội tuyển từ ngày 1 tháng 8 năm 2021 là Hans-Dieter Flick. Những năm đầu (1899–1942). Giữa các năm 1899 và 1901, trước khi hình thành đội tuyển quốc gia, họ đã có 5 trận đấu quốc tế không chính thức giữa các đội bóng khác nhau của Đức và Anh, mà kết quả là đa phần đội Đức bị đánh bại với tỉ số đậm. 8 năm sau khi thành lập Hiệp hội bóng đá Đức (DFB), trận đấu chính thức đầu tiên của đội tuyển quốc gia Đức diễn ra ngày 5 tháng 4 năm 1908 gặp Thụy Sĩ tại Basel, với kết quả Thụy Sĩ thắng 5–3. Có một điều trùng hợp là, trận bóng của đội Đức đầu tiên sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1920, trận đấu đầu tiên sau chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1950 khi Đức vẫn còn bị cấm tham dự các trận bóng quốc tế, và trận bóng đầu tiên năm 1990 với các cầu thủ Đông Đức, tất cả đều là các trận đá với Thụy Sĩ. Chức vô địch thế giới lần đầu tiên của Đức cũng là trên đất Thụy Sĩ. Trong thời gian đầu các cầu thủ đều do DFB lựa chọn, và không có một huấn luyện viên chính thức nào. Huấn luyện viên đầu tiên của đội tuyển Đức là Otto Nerz, một giáo viên thể thao đến từ Mannheim, người lãnh đạo đội bóng từ 1926 tới 1936. Hiệp hội bóng đá Đức đã không thể đến được Uruguay để tham dự World Cup đầu tiên vào năm 1930 vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái, nhưng đội tuyển đã giành được vị trí thứ ba tại World Cup 1934 trong lần đầu tiên họ tham dự. Sau khi có màn trình diễn nghèo nàn tại thế vận hội Mùa hè 1936 ở Berlin, Sepp Herberger được cử làm huấn luyện viên. Năm 1937 ông cùng với đội bóng nhanh chóng được đặt biệt danh là "Breslau Elf" (mười một cầu thủ Breslau) khi họ có trận thắng 8–0 trước Đan Mạch tại thành phố mà thời đó thuộc Đức là Breslau, Hạt Silesia (nay là Wrocław, Ba Lan). Sau khi Áo trở thành một phần của Đức trong lần "Anschluss" (sáp nhập) tháng 3 năm 1938, lúc đó đội tuyển Áo – một trong những đội bóng mạnh của châu Âu vào thời điểm đó vì cách thức hoạt động chuyên nghiệp – đã bị giải thể mặc dù đã vượt qua vòng loại của World Cup 1938. Do yêu cầu của các chính trị gia Đức Quốc xã, năm hay sáu cầu thủ người Áo, đến từ các câu lạc bộ Rapid Wien, Austria Wien, First Wien FC, đã được gọi vào đội tuyển Đức với mục đích thống nhất quốc gia trên mọi phương diện bởi các lý do chính trị. Trong giải vô địch thế giới 1938 khởi tranh từ 4 tháng 6, tuyển Đức thống nhất này chỉ có một trận hòa 1–1 với Thụy Sĩ, và thua 2–4 trước chủ nhà với nhiều khán giả tại Paris. Kết quả bị loại ngay ở vòng đầu tiên là một trong những kết quả tồi tệ nhất của đội tuyển Đức trong lịch sử tham dự World Cup (ngoại trừ các năm 1930 và 1950 khi họ không được phép tham gia). Trong Thế chiến lần hai, đội bóng đã có 30 trận thi đấu quốc tế từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 11 năm 1942, khi đội tuyển bị ngừng hoạt động do đa số các cầu thủ bị buộc gia nhập quân đội. Nhiều cầu thủ quốc gia đã được quy tụ về với huấn luyện viên Herberger biệt danh "Rote Jäger" với nhiệm vụ là các nhân viên không quân nhằm bảo vệ các cầu thủ tránh khỏi lửa đạn chiến tranh. Thời kỳ chia cắt (1945–1990). Sau chiến tranh thế giới lần hai, Đức bị cấm tham dự các sự kiện thể thao quốc tế đến năm 1950 và DFB không là thành viên đầy đủ của FIFA, và không một trong 2 đội bóng Đức nào —Tây Đức và Đông Đức—được tham dự World Cup 1950 khi 2 chính quyền của đất nước bị FIFA cấm vì trừng phạt chiến tranh. Đức còn có đội tuyển Saarland khi xứ này bị tách khỏi Đức dưới sự bảo hộ của Pháp (1946-1956) trước khi gia nhập Tây Đức. Nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức hay còn gọi là Tây Đức, tiếp tục duy trì sự hoạt động của DFB (Liên đoàn bóng đá của nước Tây Đức). Khi FIFA và UEFA công nhận, DFB đã bắt đầu và tiếp tục những thành tích của đội tuyển có từ trước thời gian chiến tranh. Đội tuyển Thụy Sĩ một lần nữa là đội đầu tiên gặp Đức vào năm 1950. Và Tây Đức đã vượt qua vòng loại và được tham dự World Cup 1954. Năm 1949, những người cộng sản đã thành lập Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức). Năm 1952, Hiệp hội bóng đá Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutscher Fußball-Verband der DDR-DFV) và đội bóng quốc gia đầu tiên được thành lập. Họ là đội duy nhất đánh bại đội vô địch Tây Đức tại FIFA World Cup 1974 trong trận bóng duy nhất giữa 2 đội cùng 1 nước/1 dân tộc và trong lịch sử Đức thời Chiến tranh Lạnh. Đông Đức đã giành huy chương vàng môn bóng đá nam ở thế vận hội Mùa hè 1976. Khi tái thống nhất nước Đức bởi 2 nhà nước tại 2 miền 3/10/1990, DFB sáp nhập Liên đoàn bóng đá Đông Đức, 1990 là năm cuối mà Đức chơi bóng với tư cách quốc gia dân tộc/thực thể không thống nhất và bị chia cắt. Vô địch World Cup 1954. Đội tuyển Tây Đức với người đội trưởng Fritz Walter, gặp các đội Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư và Áo. Khi gặp Hungary ở vòng bảng, Đức bị thua 3–8. Tây Đức gặp lại tuyển Hungary với "đầu tàu" là huyền thoại Ferenc Puskás trong trận chung kết với sức mạnh của đội Hungary lúc đó đã không bị đánh bại trong 32 trận liên tiếp. Với diễn biến kịch tính, đội Tây Đức đã giành chiến thắng 3–2 khi Helmut Rahn ghi bàn thắng quan trọng ở phút 84. Chiến thắng này còn được gọi là "Sự kỳ diệu ở Bern" ("Das Wunder von Bern"). Những kỷ niệm chiến bại: bàn thắng trên sân Wembley và trận bóng thế kỷ. Sau khi xếp thứ tư ở World Cup 1958 và chỉ vào tới vòng tứ kết tại World Cup 1962, hiệp hội DFB đã có sự thay đổi. Họ đưa ra và khuyến khích cách làm bóng đá chuyên nghiệp, những câu lạc bộ chơi tốt nhất được quy tụ trong giải đấu mới là Bundesliga. Năm 1964, Helmut Schön trở thành huấn luyện viên trưởng thay cho Herberger khi ông đã tại vị trong 28 năm. Ở World Cup 1966, Tây Đức vào trận chung kết gặp chủ nhà Anh sau khi đánh bại Liên Xô ở bán kết. Trong thời gian đá bù giờ, bàn thắng đầu tiên của Geoff Hurst trở thành một trong những bàn thắng gây tranh cãi nhất trong lịch sử World Cup: trọng tài biên đã căng cờ báo hiệu bóng đã lăn qua vạch vôi khung thành và bàn thắng được tính, sau khi bóng nẩy từ xà ngang. Nhưng các thước phim ghi lại cho thấy dường như bóng chưa lăn qua vạch khung thành. Hurst sau đó ghi thêm một bàn thắng nữa giúp đội tuyển Anh giành chiến thắng chung cuộc 4–2. Đội tuyển Tây Đức gặp lại tuyển Anh ở tứ kết tại World Cup 1970 và đã trả được món nợ khi chiến thắng 3–2, trước khi họ bị thua 4–3 trong thời gian hiệp phụ của trận bán kết gặp Italia. Trận này có tới 5 bàn thắng trong hiệp phụ và là một trong những trận bóng kịch tính nhất trong lịch sử giải vô địch bóng đá thế giới, và thường được gọi là "Trận bóng thế kỷ" đối với cả Đức và Ý. Tây Đức cuối cùng giành được vị trí thứ ba của giải sau khi chiến thắng Uruguay 1–0. Gerd Müller với 10 bàn thắng trở thành vua phá lưới của giải. Vô địch World Cup 1974 trên sân nhà. Năm 1971, Franz Beckenbauer trở thành đội trưởng của đội tuyển quốc gia. Ông đã dẫn dắt đội tuyển đoạt chức vô địch châu Âu Euro 1972, khi đánh bại Liên Xô 3–0 trong trận chung kết. Là chủ nhà của World Cup 1974, họ đã giành chức vô địch lần thứ hai khi thắng Hà Lan 2–1 trong trận chung kết ở thành phố Munich. Có hai trận đấu đáng nhớ của tuyển Tây Đức tại giải năm 1974. Ở vòng đấu bảng thứ nhất họ gặp tuyển Đông Đức và để thua 0-1. Tây Đức vào trận chung kết gặp đội Hà Lan có lối chơi "Bóng đá tổng lực" khi đó của đội trưởng Johan Cruijff. Hà Lan dẫn trước từ một quả phạt đền. Tuy nhiên, Tây Đức đã dồn lên tấn công và nhận được một quả phạt đền với bàn thắng của Paul Breitner trước khi Gerd Müller ghi bàn ấn định chiến thắng. Cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980. Tây Đức đã không bảo vệ được các chức vô địch của họ ở hai sự kiện thể thao lớn tiếp theo. Họ thua đội tuyển Tiệp Khắc trong trận chung kết Euro 1976 ở loạt sút luân lưu với kết quả chung cuộc 5–3. Tại World Cup 1978, Đức bị loại ở vòng đấu loại trực tiếp sau khi thua đội tuyển Áo 2–3. Sau đó Helmut Schön nghỉ hưu và người trợ lý của ông, Jupp Derwall, lên thay thế. Giải đấu đầu tiên của Tây Đức dưới quyền chỉ đạo của Derwall đã thành công, khi họ đoạt chức vô địch châu Âu lần thứ hai tại Euro 1980 khi đánh bại Bỉ 2–1 ở trận chung kết. Tây Đức vào tới trận chung kết của World Cup 1982 với nhiều trận đấu khá vất vả trước đó. Họ để thua 1–2 trước Algeria trong trận đầu ra quân, nhưng đã vào được vòng đấu loại trực tiếp bằng chiến thắng gây tranh cãi 1–0 trước tuyển Áo. Ở bán kết họ gặp Pháp, với kết quả hòa 3–3 trong 120 phút thi đấu và chiến thắng 5–4 ở loạt đá luân lưu. Tại trận chung kết, Tây Đức thua 1–3 trước đội Ý. Trong giai đoạn này, cầu thủ Gerd Müller ghi được tổng cộng 14 bàn thắng ở hai kỳ World Cup (1970 và 1974). Ông có 10 bàn thắng ở giải năm 1970 và là vua phá lưới của giải. (Kỷ lục tổng số 14 bàn thắng của Müller tại World Cup bị Ronaldo phá vỡ vào năm 2006 và sau đó đến lượt Miroslav Klose phá vỡ vào năm 2014 với 16 bàn thắng). Sau khi Tây Đức bị loại ở vòng bảng của Euro 1984, Franz Beckenbauer trở lại làm huấn luyện viên đội tuyển quốc gia thay thế cho Derwall. Tại World Cup 1986, Tây Đức đứng ở vị trí á quân trong lần thứ hai liên tiếp sau khi đánh bại Pháp 2–0 ở bán kết, nhưng thua Argentina của Diego Maradona ở trận chung kết với tỷ số 2–3. Tại Euro 1988, Tây Đức đứng đầu bảng đấu khi đánh bại Tây Ban Nha (lần cuối cùng Đức đánh bại những người Tây Ban Nha ở cấp độ đội tuyển quốc gia trong một giải đấu bóng đá chính thức cho đến nay) và Đan Mạch cũng như hòa Ý nhưng trên sân nhà thì niềm hi vọng của đội Tây Đức khi vô địch đã một lần nữa bị tan vỡ khi họ để thua Hà Lan 1-2 ở bán kết. Ở giải vô địch bóng đá thế giới 1990, Tây Đức lần thứ ba vô địch World Cup, và cũng lập lên kỷ lục với ba lần liên tiếp họ vào chung kết. Với Lothar Matthäus là đội trưởng, họ đánh bại Nam Tư (4–1), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (5–1), Hà Lan (2–1), Tiệp Khắc (1–0), và Anh (1–1, 4–3 sút luân lưu) trên con đường vào trận chung kết gặp Argentina. Tây Đức thắng 1–0, với bàn thắng duy nhất ở phút 85 lập bởi Andreas Brehme nhờ quả phạt đền. Beckenbauer, người giành chức vô địch World Cup 1974 với tư cách là đội trưởng, do đó trở thành cầu thủ thứ 2 vô địch World Cup với vai trò là đội trưởng và huấn luyện viên. ! colspan="3" style="background: gold; width=60em;" |Danh hiệu
Nhà Nguyên (tiếng Trung: 元朝, bính âm: "Yuán Cháo") hay Đại Nguyên (Tiếng Trung: 大元, bính âm: "Dà Yuán") là nhà nước kế tục của Đế quốc Mông Cổ và đánh dấu lần đầu tiên Trung Hoa chịu sự cai trị của một triều đại do người dân tộc thiểu số lập ra. Triều Nguyên do Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt lập nên vào năm 1271, định đô tại Đại Đô sau khi Đế quốc Mông Cổ bị phân nhánh thành 4 quốc gia và Hốt Tất Liệt lên ngôi hoàng đế, đến năm 1279 thì công diệt Nam Tống, thống nhất Trung Quốc, kết thúc cục diện phân chia hơn 400 năm từ thời Đường mạt. Trong thời kỳ từ Nguyên Thế Tổ đến Nguyên Vũ Tông, quốc lực triều Nguyên đạt đến đỉnh cao, về quân sự thì bình định Tây Bắc, song thất bại khi tiến hành các chiến dịch chinh phạt Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á, nhất là thất bại trong ba lần đưa quân xâm chiếm Đại Việt. Đến giữa triều đại, hoàng vị triều Nguyên nhiều lần thay đổi, tình hình chính trị không đi vào quỹ đạo. Năm 1351 thời Nguyên Huệ Tông thì khởi nghĩa Khăn Đỏ bùng nổ. Năm 1368, Chu Nguyên Chương sau khi lập nên triều Minh Trung Hoa đã phái đại tướng Từ Đạt dẫn quân bắc phạt, công hãm Đại Đô, nhà Nguyên nói riêng và Đế quốc Mông Cổ nói chung đã sụp đổ. Tàn dư còn lại của triều đình nhà Nguyên đào thoát đến Mạc Bắc, sử gia sau đó gọi là Bắc Nguyên. Năm 1388, Bắc Nguyên Hậu Chủ bỏ quốc hiệu Đại Nguyên, Bắc Nguyên sụp đổ. Triều Nguyên kế thừa lãnh thổ của Đế quốc Mông Cổ, trải qua nhiều lần mở rộng, đến năm 1310 tức thời Nguyên Vũ Tông thì đạt tới mức độ cực thịnh, phía tây đến Thổ Lỗ Phiên, phía tây nam gồm Tây Tạng, Vân Nam và bắc Miến Điện, phía bắc đến Nam Bộ Đô Bá và hồ Baikal, phía đông sông Obi, phía đông đến biển Nhật Bản - diện tích này lớn hơn cả thời Hán, Đường giai đoạn hoàng kim.. Triều Nguyên là nước tông chủ của bốn hãn quốc lớn là Kim Trướng, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài và Y Nhi, ngoài ra, các nước phiên thuộc của triều Nguyên bao gồm có vương quốc Cao Ly (lãnh thổ bảo hộ) cùng một số quốc gia Đông Nam Á. Trên phương diện kinh tế, nhà Nguyên lúc này vẫn lấy nông nghiệp làm chủ đạo, tuy nhiên năng lực sản xuất về tổng thể ở mức thấp so với triều Tống. Song có phát triển lớn về kỹ thuật sản xuất, diện tích đất khai khẩn, sản lượng lương thực, xây dựng thủy lợi và diện tích trồng bông. Do người Mông Cổ là dân tộc du mục, thời kỳ còn ở thảo nguyên họ lấy chăn nuôi làm sinh kế chủ đạo, kinh tế đơn nhất, không có chế độ thổ địa. Khi đánh chiếm Hoa Bắc, người Mông Cổ tiến hành tàn sát và cướp bóc gây thiệt hại nghiêm trọng. Sau khi diệt Kim, do Da Luật Sở Tài khuyến gián, Oa Khoát Đài đồng ý cho khôi phục nông nghiệp, khuyến khích người Hán khai khẩn. Sau khi Hốt Tất Liệt đăng cơ, triều Nguyên thực thi khuyến khích sản xuất, an phủ dân lưu tán. Đến thời Nguyên, diện tích trồng bông không ngừng mở rộng, sản phẩm bông vải tại Giang Nam khá hưng thịnh. Sản xuất mang tính thương phẩm phát triển, khiến đương thời kinh tế nông thôn về cơ bản tự cung tự cấp tiến vào quan hệ kinh tế tiền tệ thương phẩm trên một số phương diện. Do Nguyên Đế tập trung khống chế một lượng lớn thợ thủ công nghiệp, kinh doanh sản xuất hàng công nghệ thường dùng, sản xuất thủ công nghiệp quan doanh đặc biệt phát triển, còn thủ công nghiệp dân gian có hạn chế. Không giống như các vương triều chinh phục khác, triều Nguyên không đề cao văn hóa bản thân mà tích cực tiếp thu văn hóa Trung Hoa, đồng thời kết hợp văn hóa Tây Á, song cũng đề xướng người Mông Cổ ở vị trí tối cao. Triều Nguyên hết sức tôn sùng Phật giáo Tạng, về chính trị sử dụng một lượng lớn người Sắc Mục (tức người Trung-Tây Á và Âu), địa vị của học giả Nho giáo bị hạ thấp, và trong thời gian đầu triều Nguyên từng một thời gian dài không tổ chức khoa cử. Do văn hóa sĩ đại phu suy thoái, trật tự xã hội truyền thống từ thời Tống sụp đổ, kinh tế phát triển nhanh chóng. Hiện tượng này trên phương diện chính trị thể hiện qua trọng dụng tư lại, trên phương diện nghệ thuật và văn học biểu hiện qua hí kịch và nghệ năng phát triển việc lấy thứ dân làm đối tượng, trong đó có Nguyên khúc là hưng thịnh nhất. Năm 1271, Hốt Tất Liệt đặt quốc hiệu Đại Nguyên (), thiết lập nhà Nguyên. "Dà Yuán" () là từ mệnh đề "" ()(nghĩa là Vĩ đại thay dương khí mùa Xuân khai sáng) trong "Thập Dực" của "Dịch Kinh" và liên quan đến quẻ Càn (). Bản sao trong tiếng Mông Cổ là "Dai Ön Ulus", cũng được kết xuất là "Ikh Yuan Üls" hoặc "Yekhe Yuan Ulus". Trong tiếng Mông Cổ, "Dai Ön" (tiếng Mông Cổ trung đại dịch ra tiếng Hán là "Dà Yuán") thường được sử dụng kết hợp với "Yeke Mongghul Ulus" ("Mông Cổ quốc"), dẫn đến templatestyles src="Template:MongolUnicode/" /ᠳᠠᠢᠦᠨᠶᠡᠬᠡᠮᠣᠩᠭᠣᠯᠦᠯᠦᠰ (). Hơn nữa, nhà Nguyên đôi khi còn được gọi là "Đế quốc Đại Hãn" hay "Khả hãn quốc Đại Hãn", đặc biệt xuất hiện trên một số bản đồ nhà Nguyên, kể từ khi các hoàng đế nhà Nguyên giữ danh hiệu danh là Đại Hãn. Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ này cũng có thể đề cập đến khả hãn trong Đế quốc Mông Cổ do các Đại Hãn trực tiếp cai trị trước khi thực sự thành lập nhà Nguyên bởi Hốt Tất Liệt vào năm 1271. Lịch sử triều Nguyên thông thường có thể phân thành hai giai đoạn, năm 1206 Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ, lập quốc tại Mạc Bắc, định quốc hiệu là Đại Mông Cổ Quốc, đến năm 1271 Hốt Tất Liệt kiến đô tại Hán địa, tức khu vực cư dân Hán, cải quốc hiệu thành Đại Nguyên, tổng cộng 65 năm, gọi là thời kỳ Đại Mông Cổ Quốc, hay Đế quốc Mông Cổ. Giai đoạn thứ hai kéo dài cho đến năm 1368 khi Nguyên Huệ Tông đào thoát từ Trung Quốc về chính quê hương Mông Cổ bây giờ của họ, kéo dài tổng cộng 97 năm, là giai đoạn tồn tại thực sự của triều Nguyên. Sau khi Nguyên Huệ Tông đào thoát về Mông Cổ, vẫn duy trì quốc hiệu Đại Nguyên, đến năm 1402 thì Quỷ Lực Xích sát hại Thuận Thiên Đế Khôn Thiếp Mộc Nhi, cải quốc hiệu thành Thát Đát, tổng cộng kéo dài 34 năm, gọi là thời kỳ Bắc Nguyên. Do Đế quốc Mông Cổ, triều Nguyên và Bắc Nguyên có quan hệ thừa kế liên tục, do vậy bài viết giới thiệu cả ba thời kỳ. Thống nhất Mông Cổ. Thời Liêu, các bộ lạc trên thảo nguyên Mông Cổ do triều đình Liêu cai quản. Sau khi Kim diệt Liêu, thừa dịp quân Kim nam hạ tiến công Tống mà không chú ý tới phía bắc, Hợp Bất Lặc Hãn kiến lập Mông Ngột Quốc, tức giai đoạn đầu của quốc gia Mông Cổ, sau đó người Mông Cổ thường xâm nhập biên cảnh của Kim. Sau khi Hợp Bất Lặc mất, Yêm Ba Hài Hãn trở thành đại hãn, song sau đó bị người Tháp Tháp Nhi bán cho triều đình Kim, rồi bị Kim Hi Tông hành quyết, sự kiện này khởi nguồn cho mối thù của người Mông Cổ với Kim. Sau khi Kim Chương Tông mất, đầu thế kỷ 13, triều Kim dưới quyền Hoàn Nhan Vĩnh Tế dần suy lạc, Thiết Mộc Chân thuộc Khất Nhan bộ của Mông Cổ bắt đầu thống nhất thảo nguyên Mông Cổ. Trước sau dưới viện trợ quân sự của thủ lĩnh Khắc Liệt bộ là Vương Hãn và thủ lĩnh Trát Đáp Lan bộ là Trát Mộc Hợp, Thiết Mộc Chân đánh bại người Miệt Nhi Khất, lực lượng dần lớn mạnh. Năm 1189, sau tranh đoạt kịch liệt, Thiết Mộc Chân được quý tộc Khất Nhan bộ tôn làm đại hãn của bộ lạc. Tuy nhiên, việc bộ tộc của Thiết Mộc Chân dần lớn mạnh làm tổn hại đến địa vị của Trát Mộc Hợp trên thảo nguyên, do vậy Trát Mộc Hợp liên hiệp với các bộ tộc như Thái Xích Ô, hợp binh tiến công Thiết Mộc Chân. Trát Mộc Hợp tạm thời chiến thắng, song vì bạo ngược nên các thủ lĩnh bộ lạc dưới quyền bất mãn, bộ chúng hướng tâm sang Thiết Mộc Chân, lực lượng của Thiết Mộc Chân từng bước lớn mạnh. Năm Thừa An thứ 1 (1196), bộ tộc Tháp Tháp Nhi phản Kim, Hoàng đế Kim Chương Tông phái Thừa tướng Hoàn Nhan Tương đem quân chinh thảo. Thiết Mộc Chân liên hiệp với Khắc Liệt Bộ, lấy danh nghĩa báo thù, đánh tan Tháp Tháp Nhi bộ. Sau chiến tranh, triều đình Kim phong cho Thiết Mộc Chân chức Củ quân thống lĩnh, do vậy ông có thể sử dụng danh nghĩa quan viên của Kim để hiệu lệnh bộ chúng Mông Cổ. Năm Khánh Nguyên thứ 6 (1200), Thiết Mộc Chân và Vương Hãn hội quân, đại thắng trước liên quân Miệt Nhi Khất-Thái Xích Ô. Năm Gia Thái thứ 1 (1201), Thiết Mộc Chân đánh bại liên quân 11 bộ tộc dưới quyền Trát Mộc Hợp. Năm Gia Thái thứ 2 (1202), liên quân Thiết Mộc Chân và Vương Hãn đánh bại liên quân của Trát Mộc Hợp cùng người Nãi Man, Thái Xích Ô, Tháp Tháp Nhi, Miệt Nhi Khất..Cuối cùng, Thiết Mộc Chân bình định cao nguyên Mông Cổ, thống nhất các bộ tộc Mông Cổ, vào mùa xuân năm 1206, các quý tộc Mông Cổ tại đầu nguồn sông Oát Nan (nay là sông Onon) lần đầu triệu tập Đại hội Khuruldai, Thiết Mộc Chân nhận xưng hiệu Thành Cát Tư Hãn, kiến quốc Đại Mông Cổ Quốc, sau này được tôn xưng là Nguyên Thái Tổ.. Phạt Kim và khoách trương. Kim và người Mông Cổ có thù truyền thế, Thành Cát Tư Hãn có ý phạt Kim báo thù, tuy nhiên Tây Hạ và Kim liên minh, nhằm tránh bị Tây Hạ khiên chế nên Mông Cổ ba lần suất quân (1205, 1207, 1209-1210) tiến công, buộc Tây Hạ Tương Tông xưng thần. Năm 1210, Thành Cát Tư Hãn và Kim đoạn giao, sang năm sau Chiến tranh Mông-Kim bùng phát. Trong Chiến dịch Dã Hồ Lĩnh và trận Cối Hà Bảo, quân Mông Cổ đại phá 45 vạn quân Kim, sau đó đánh vào khu vực Hoa Bắc và tiến hành đồ sát hàng loạt thành trì. Năm 1214, quân Mông Cổ bao vây thủ đô Trung Đô (nay là Bắc Kinh) của Kim, Kim Tuyên Tông buộc phải xưng thần. Năm 1215, quân Mông Cổ nam hạ công chiếm Trung Đô, đồng thời có được danh tướng Da Luật Sở Tài, nhân vật này có công lớn trong việc trợ giúp người Mông Cổ củng cố Hoa Bắc. Năm 1217, Thành Cát Tư Hãn do Tây chinh Khwarezm nên mệnh cho Mộc Hoa Lê thống lĩnh Hán địa, phong người này làm "Thái sư quốc vương", mệnh cho Mộc Hoa Lê tiếp tục tiến công Kim. Nhằm củng cố Hán địa, Mộc Hoa Lê thu hàng thế lực tự vệ địa phương như của Sử Thiên Trạch, Trương Nhu, Nghiêm Thực và Trương Hoành, sử gọi là "Hán tộc tứ đại thế hầu", về sau họ cũng phò tá Hốt Tất Liệt kiến lập triều Nguyên. Mộc Hoa Lê thông qua chiến tranh khiến cho cương vực Kim chỉ còn lại Hà Nam và Quan Trung, đồng thời năm 1231 ông phái binh tiến công Cao Ly, khiến triều đình Cao Ly đào thoát đến đảo Giang Hoa。 Ở phía tây, để lập tuyến đường thông sang phương tây, ngay từ năm 1209-1210 Mông Cổ đã buộc người Úy Ngột Nhi tại đông bộ Tân Cương và người Cáp Lạt Lỗ tại thung lũng sông Y Lê quy thuận. Trong khi Kim thiên đô và tiến đến diệt vong, Khwarezm dưới quyền Muhammad II quật khởi tại Trung Á, đại thần địa phương của nước này tại Otrar là Inalchuq hai lần đồ sát thương đội Mông Cổ đồng thời làm nhục sứ thần Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn bèn quyết tâm phát động Tây chinh lần thứ nhất. Năm 1218, tướng Mông Cổ là Triết Biệt giết Hoàng đế Tây Liêu Khuất Xuất Luật, công chiếm khu vực Tarim. Tháng 6 năm sau Thành Cát Tư Hãn đích thân đem quân chủ lực Mông Cổ gồm 10 vạn người Tây chinh Khwarezm. Muhammad II không kháng cự lại nổi quân Mông Cổ, lo sợ nên đào thoát, quân Mông Cổ đồ sát các thành trấn, và đến năm 1221 thì Khwarezm diệt vong. Thành Cát Tư Hãn mệnh Tốc Bất Đài và Triết Biệt truy sát Muhammad II, Muhammad II cuối cùng mất tại biển Caspia. Con trai của Muhammad II là Jalal ad-Din anh dũng kháng địch trong trận Parwan, song cuối cùng phải đào thoát đến Ấn Độ, năm 1224 phục quốc tại Tabriz. Năm 1230, Jalal ad-Din bị tướng quân Mông Cổ Xước Nhi Mã Hãn công diệt. Tốc Bất Đài và Triết Biệt cuối cùng vào năm 1222 cùng Tát Mã Nhĩ Hãn xuất phát đi qua bắc bộ cao nguyên Iran, tiến công các quốc gia Nam Kavkaz rồi vượt dãy Kavkaz đến Khâm Sát (Kipchak, miền nam Nga), trong khoảng thời gian đó công chiếm không ít quốc gia. Trong trận sông Kalka năm 1223 tại lãnh thổ nay thuộc Ukraina, quân Mông Cổ đánh tan liên quân các quốc gia Rus Kiev và Khâm Sát, đồng thời tiến quân theo hướng tây đến sông Dnister thuộc miền tây Ukraina ngày nay, sau chuyển sang vây đánh Kiev, rồi trở về phía đông. Tháng 9 năm 1223, quân Mông đang tiến công Volga Bulgaria tại trung thượng du sông Volga thì vượt sông về Trung Á. Thành Cát Tư Hãn đem lãnh thổ mới mở rộng phân phong cấp cho trưởng tử Truật Xích, thứ tử Sát Hợp Đài và tam tử Oa Khoát Đài, tứ tử Đà Lôi lĩnh Mông Cổ bản thổ, Oa Khoát Đài trở thành người kế thừa đại hãn. Năm 1225, sau khi Mông Cổ hồi quân, do Tây Hạ không phối hợp Tây chinh, Thành Cát Tư Hãn suất quân nhằm tiêu diệt Tây Hạ. Năm 1227, Thành Cát Tư Hãn bệnh mất, Đà Lôi giám quốc.。 Hãn hệ chuyển di. Đà Lôi giám quốc hai năm, trong Đại hội Khuruldai năm 1229, Oa Khoát Đài được tôn làm Đại hãn của Mông Cổ, sau này được tôn xưng là Nguyên Thái Tông. Năm 1231, Oa Khoát Đài Hãn suất quân nam chinh triều Kim, đồng thời mệnh Đà Lôi từ Hán Trung mượn đường Nam Tống theo Hán Thủy tiến công Biện Kinh, năm sau Đà Lôi trong trận Tam Phong Sơn tại Hà Nam đã đánh tan quân Kim. Năm 1234, liên quân Mông-Tống liên hiệp công phá Thái châu, Kim Ai Tông tự sát, triều Kim diệt vong. Mặc dù Nam Tống phát động Đoan Bình nhập Lạc nhằm thu phục đất Hà Nam, song cuối cùng toàn bộ khu vực Hoa Bắc bị Mông Cổ chiếm lĩnh. Năm 1235, Oa Khoát Đài Hãn định đô tại Cáp Lạp Hòa Lâm (Karakorum, nay thuộc Mông Cổ), sau đó suất quân báo thù Nam Tống, cướp bóc khu vực Lưỡng Hoài rồi về bắc. Nhằm đề phòng Hán nhân thế hầu tại Hoa Bắc làm phản, Mông Cổ phái Tham mã xích quân tiến trú Hán địa; tiến hành hai lần điều tra nhân khẩu, đem một nửa số người Hán phân phong cho công thần Mông Cổ. Do nhu cầu về nhân tài trị lý quốc gia, Oa Khoát Đài Hãn tiếp thu kiến nghị của Da Luật Sở Tài, vào năm 1238 mệnh Truật Hốt Đức và Lưu Trung tổ chức khoa cử, sử xưng Mậu Tuất tuyển thí. Kỳ khảo thí này chọn được các danh sĩ như Dương Hoán.. Tại phía tây, năm 1235 Oa Khoát Đài Hãn mệnh con cả của Truật Xích là Bạt Đô, cùng Quý Do và Mông Kha, Tốc Bất Đài phát động Tây chinh lần thứ hai, sử xưng Bạt Đô tây chinh, tổng chỉ huy là Bạt Đô và Tốc Bất Đài. Từ năm 1236 đến 1242, quân Mông Cổ công chiếm thảo nguyên Khâm Sát, các công quốc Rus Kiev, và các quốc gia Trung Đông Âu nay thuộc Hungary, Romania, Ba Lan, Litva, Séc, Slovakia, Nam Tư cũ, Bulgaria, và La Mã Thần thánh. Tháng 11 năm 1241, Oa Khoát Đài Hãn mất, Hoàng hậu Thoát Liệt Ca Na giám quốc. Tháng 3 năm 1246, trong Đại hội Khuruldai, con của Oa Khoát Đài là Quý Do trở thành đại hãn của Mông Cổ, sau này được tôn xưng là Nguyên Định Tông. Năm 1247, các bộ tộc Thổ Phồn quy phụ Mông Cổ, sử xưng Lương châu hội minh. Tháng 8 năm 1248, Quý Do mất, Hoàng hậu Hải Mê Thất lập người trong tộc là Thất Liệt Môn giám quốc. Tuy nhiên, trong đại hội vào tháng 7 năm 1251, do Bạt Đô và Ngột Lương Hợp Thai ra sức ủng hộ dòng Đà Lôi, khiến Thất Liệt Môn thuộc dòng Oa Khoát Đài để mất hãn vị. Mông Kha kế thừa hãn vị, sau được tôn xưng là Nguyên Hiến Tông。 Mông Kha sau khi tức vị vào năm 1252 thì tiến hành trung ương tập quyền hóa, tại Hán địa, Trung Á và Iran cho đặt trung thư tỉnh, phân khiển chư vương thuộc dòng Đà Lôi quản lý các khu vực, cho em là Hốt Tất Liệt tổng lĩnh Hán địa. Trong thời gian Hốt Tất Liệt thống trị Hán địa, ông sử dụng một lượng lớn quan lại và nho sĩ là người Hán, củng cố khu vực Hoa Bắc, đồng thời cùng Ngột Lương Hợp Thai đi vòng diệt Đại Lý vào năm 1253. Năm 1258, chính quyền họ Thôi tại Cao Ly kết thúc, Cao Ly trở thành nước phiên thuộc của Mông Cổ. Cùng năm đó, Mông Kha Hãn tuyên bố phân binh thành ba lộ nam chinh Nam Tống, Mông Kha Hãn suất quân tiến công Hợp Châu thuộc Tứ Xuyên (nay là Trùng Khánh), Hốt Tất Liệt tiến công Ngạc Châu thuộc Hồ Bắc (nay là Vũ Xương), Ngột Lương Hợp Thai từ Yến Dương thuộc Vân Nam (nay thuộc bắc bộ Lệ Giang, Vân Nam) qua An Nam nhằm tiến công Quảng Nam Tây lộ rồi tiến tiếp đến Kinh Hồ Nam lộ, tam quân có ý đồ hội hợp tại Hoa Trung rồi xuôi Trường Giang vây đánh Lâm An. Năm sau, Mông Kha Hãn chiến tử tại thành Điếu Ngư thuộc Hợp Châu, nhóm Hốt Tất Liệt đình chỉ nam chinh, về bắc đoạt vị. Ở phía tây, Mông Kha Hãn phái em là Húc Liệt Ngột tây chinh Tây Á, sử xưng Mông Cổ tây chinh lần ba, năm 1256 Húc Liệt Ngột công diệt tổ chức ám sát Hồi giáo Hashshashin. Năm 1258, quân Tây chinh công chiếm Baghdad- lãnh địa cuối của vương triều Abbas Lưỡng Hà. Năm sau, quân Mông Cổ giành thắng lợi trước Vương triều Ayyub, năm 1260 chiếm lĩnh Damas và Aleppo. Tuy nhiên, Húc Liệt Ngột biết tin Mông Kha từ trần khi nam chinh Nam Tống thì lập tức suất đại quân về thủ đô tranh vị. Quân Mông Cổ lưu lại Tây Á chiến bại trong trận Ain Jalut tại Israel ngày nay trước vương triều Mamluk Ai Cập, Tây chinh lần ba kết thúc.。 Đại tai càn nguyên. Mông Kha Hãn từ trần, Hốt Tất Liệt lập tức hòa đàm với Nam Tống, về Hoa Bắc tranh đoạt hãn vị với em là A Lý Bất Ca tại Mông Cổ. Ngày 5 tháng 5 năm 1260, dưới sự ủng hộ của một bộ phận tông vương và đại thần Mông-Hán, Hốt Tất Liệt tự lập làm hoàng đế của Mông Cổ tại Khai Bình (sau gọi là Thượng Đô, nay thuộc huyện Đa Luân, Nội Mông), đặt niên hiệu là Trung Thống. Sau khi Hốt Tất Liệt đăng cơ không lâu, A Lý Bất Ca tại thủ đô Cáp Lạp Hòa Lâm triệu tập đại hội Khuruldai, được A Tốc Thai cùng các tông vương và đại thần khác lập làm đại hãn của Mông Cổ, đồng thời được ủng hộ từ các hãn quốc Kim Trướng, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài. Chiến tranh tranh đoạt hãn vị cuối cùng kết thúc vào ngày 21 tháng 8 năm 1264 khi A Lý Bất Ca đầu hàng, vị thế của Hốt Tất Liệt được đảm bảo。 Nhằm trở thành một hoàng đế của Trung Quốc, Hốt Tất Liệt cho thi hành Hán pháp, nội dung chủ yếu có cải nguyên kiến hiệu, năm 1267 Hốt Tất Liệt hãn thiên đô tới Trung Đô (nay là Bắc Kinh), kinh đô cũ của triều Kim, đồng thời mệnh Lưu Bỉnh Trung xây dựng thành Trung Đô. Năm 1272, Hốt Tất Liệt Hãn đổi Trung Đô thành Đại Đô (tiếng Đột Quyết là Khanbaliq, ý là đế đô), chuyển Thượng Đô thành bồi đô. Ngày 18 tháng 12 năm 1271, Hốt Tất Liệt hãn công bố "Kiến quốc hiệu chiếu", chọn ý "đại tai càn nguyên" trong "Dịch Kinh", đổi quốc hiệu từ Đại Mông Cổ Quốc thành Đại Nguyên, kiến quốc triều Nguyên, tức Nguyên Thế Tổ. Năm 1260, triều Nguyên đặt trung thư tỉnh, đến năm 1263 thiết lập Xu mật viện, năm 1268 thiết lập Ngự sử đài. Triều Nguyên còn cho đặt "đại ty nông ty" đồng thời đề xướng nông nghiệp, thi hành chính sách Hán pháp như tôn Khổng sùng Nho đồng thời hết sức phát triển Nho học. Tuy nhiên, nhằm bảo lưu chế độ nguyên bản của Mông Cổ, cuối cùng triều Nguyên hình thành chế độ chính trị lưỡng nguyên Mông-Hán. Nguyên Thế Tổ thông qua chiến tranh mà đạt được hãn vị của Mông Cổ, cuối cùng lại thành hoàng đế Trung Quốc, do ông chiếm hãn vị một cách bất hợp pháp và tôn sùng Hán pháp, khiến tông thất Mông Cổ không thừa nhận hãn vị của Hốt Tất Liệt. Trong số bốn hãn quốc lớn thì có ba hãn quốc không phụng mệnh lệnh của Hốt Tất Liệt, Đế quốc Mông Cổ hoàn toàn giải thể. Ban đầu, Nguyên Thế Tổ còn phải tập trung vào chiến tranh với A Lý Bất Ca và chỉnh đốn quốc nội, do vậy không rảnh để đối phó với Nam Tống, ông phái Hác Kinh đi đề xuất nội dung nghị hòa mang tính áp bức. Đương thời, Tống Cung Đế còn nhỏ tuổi, Tạ thái hậu buông rèm chấp chính, song đại quyền trong tay Giả Tự Đạo. Giả Tự Đạo khi xưa từng nói dối mình đánh lui quân Mông Cổ, nay lo bị lộ nên giam cầm Hác Kinh. Năm 1262, Nam Tống mốc nối với thế hầu Lý Thản, bùng phát nổi loạn Lý Thản. Sau khi bình định bạo loạn, Nguyên Thế Tổ kiên quyết phế bỏ Hán nhân thế hầu, cho người Mông Cổ trực tiếp quản lý sự vụ địa phương, đồng thời chuẩn bị chinh phạt Nam Tống. Năm 1268, Nguyên Thế Tổ phát động chiến tranh diệt Tống, trước tiên phái Lưu Chỉnh và A Truật suất quân tiến công Tương Dương, sử gọi là trận Tương Phàn. Năm 1274, quân Nguyên công hạ Tương Dương, tướng Lã Văn Hoán của Tống đầu hàng, sau đó Sử Thiên Trạch và Bá Nhan suất quân theo Hán Thủy nam hạ Trường Giang, mục tiêu là Kiến Khang. Năm 1275, hàng tướng Lã Văn Hoán suất liên quân thủy quân-lục quân Nguyên đánh tan thủy quân Nam Tống tại Vu Hồ, sử gọi là trận Đinh Gia Châu. Năm sau, quân Nguyên công hãm Lâm An, Tạ thái hậu và Tống Cung Đế đầu hàng quân Nguyên. Quân Nguyên dần công hạ các địa phương tại Hoa Nam, năm 1278 thì triều đình Nam Tống thoái đến Nhai Sơn thuộc Quảng Đông. Tháng 3 năm sau, Trương Hoằng Phạm công diệt hải quân Nam Tống trong Hải chiến Nhai Sơn, Lục Tú Phu ôm tiểu hoàng đế Triệu Bính nhảy xuống biển tự vẫn, Nam Tống mất. Triều Nguyên thống nhất khu vực Trung Quốc, kết thúc cục diện phân liệt kéo dài hơn 500 năm từ sau loạn An Sử thời Đường. Triều Nguyên từng yêu cầu một số quốc gia hoặc khu vực xung quanh (gồm Nhật Bản, Đại Việt, Chiêm Thành, Miến Điện, Java) phải thần phục, gia nhập quan hệ triều cống của triều Nguyên, song bị cự tuyệt, Nguyên Thế Tổ do vậy xuất binh tiến công các quốc gia này, trong đó xâm nhập Nhật Bản là trứ danh nhất, quân Nguyên do Phạm Văn Hổ chỉ huy không thích hợp và gặp phải bão nên thất bại. Do triều đình Nguyên cần ban thưởng lượng lớn tiền của cho tông thất quý tộc, công thêm chi tiêu nhiều, tài chính dần căng thẳng, triều thần vì vấn đề tài chính mà phát sinh tranh chấp, phân liệt thành phái Nho thần chủ yếu gồm người Hán và người Mông Cổ Hán hóa như Hứa Hành, và phái lý tài chủ yếu gồm người Sắc Mục và người Hán như A Hợp Mã, Lô Thế Vinh và Tang Ca. Phái Nho thần nhận định triều đình Nguyên cần phải tiết giảm kinh phí, giảm miến thuế thu. Phái lý tài thì nhận định Nam nhân (người Hán tại lãnh thổ Nam Tống cũ) còn tàng trữ lượng lớn tài vật, cần phải tịch thu để giải quyết vấn đề tài chính. Do Nguyên Thế Tổ tín nhiệm A Hợp Mã nên thiết lập thượng thư tỉnh để giải quyết vấn đề tài chính. Tuy nhiên, phái Nho thần lấy Thái tử Chân Kim vốn bị Hán hóa sâu sắc làm trung tâm, cùng đối kháng với A Hợp Mã, cuối cùng A Hợp Mã bị thích sát, song Thái tử Chân Kim lại bệnh mất. Nguyên Thế Tổ không tín nhiệm phái Nho thần, vẫn nhiệm dụng quan viên phái lý tài để giải quyết vấn đề tài chính, khiến tình hình tài chính xấu đi. Bình định Tây Bắc. Nguyên Thế Tổ từ trần vào năm 1294, mặc dù Thái tử Chân Kim mất sớm song con thứ ba của Chân Kim là Thiết Mục Nhĩ được phong làm "hoàng thái tử bảo" đồng thời được trấn thủ Hòa Lâm (tức Karakorum). Sau đó, trong Đại hội Khuruldai, Thiết Mục Nhĩ được sự ủng hộ của nhóm trọng thần Bá Nhan và Ngọc Tích Thiếp Mộc Nhi, chiến thắng trước anh cả là Cam Ma Lạt và anh hai là Đáp Lạt Ma Bát Lạt mà kế vị, tức Nguyên Thành Tông. Nguyên Thành Tông chủ yếu là tuân thủ thận trọng pháp luật và quy tắc thời kỳ Nguyên Thế Tổ, tin dùng cháu là Hải Sơn (con của anh hai) trấn thủ Hòa Lâm để bình định loạn Hải Đô tại Tây Bắc, đồng thời hạ lệnh đình chỉ chinh phạt Nhật Bản và Đại Việt. Trên phương diện nội chính, Nguyên Thành Tông tập trung chỉnh đốn chính trị quốc nội, giảm miễn thuế một phần cho Giang Nam. Tuy nhiên, do Nguyên Thành Tông ban thưởng quá độ, tài sản trong quốc khố thiếu thốn. Tháng một năm 1307, Nguyên Thành Tông từ trần, do Thái tử Đức Thọ mất sớm nên Tả thừa tướng A Hốt Thai ủng hộ Hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn và An Tây vương A Nan Đáp (tôn sùng Hồi giáo) giám quốc, đồng thời có ý để cho A Nan Đáp xưng đế. Em của Hải Sơn là Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt và Hữu thừa tướng Cáp Lạt Cáp Tôn phát động Đại Đô chính biến. Họ xử trảm A Hốt Thai, khống chế cục thế Đại Đô, ủng hộ Hải Sơn xưng đế, tức Nguyên Vũ Tông. Hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn và A Nan Đáp bị Nguyên Vũ Tông xử trảm, bộ hạ người Hồi của A Nan Đáp lui đến khu vực Thổ Lỗ Phồn tại Tây Vực. Nguyên Vũ Tông sách phong cho Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt (sau là Nguyên Nhân Tông) là hoàng thái đệ, giao ước với nhau rằng dòng của Vũ Tông và dòng của Nhân Tông thay nhau xưng đế, tức Vũ-Nhân chi ước. Thời kỳ Nguyên Vũ Tông, triều Nguyên gia phong Khổng Tử là "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương", đồng thời cấp cho gia tộc và đệ tử của Khổng Tử một số xưng hiệu. Nhằm giải quyết nguy cơ tài chính có từ thì kỳ Nguyên Thành Tông, Nguyên Vũ Tông cho lập 'Thường bình thương' để kiềm chế vật giá, hạ lệnh in rất nhiều tiền, song khiến tiền giấy mất giá trị nghiêm trọng. Ngoài ra, ông đưa Trung thư tỉnh vốn có quyền tuyên sắc và dụng nhân giao cho Thượng thư tỉnh. Năm 1311, Nguyên Vũ Tông do chìm đắm trong trụy lạc, uống rượu quá độ mà từ trần, Hoàng thái đệ Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt kế vị, tức Nguyên Nhân Tông. Tại phía tây bắc, ngay từ thời kỳ Nguyên Thế Tổ, do vị thế đại hãn của Thế Tổ không được bốn hãn quốc lớn thừa nhận nên Hải Đô của Hãn quốc Sát Hợp Đài có ý chiếm đoạt hãn vị của Mông Cổ. Hải Đô quản lý khu vực Hiệp Mật Lập (nay ở phía đông nam của Ngạch Mẫn, Tân Cương) đồng thời hữu hảo với Hãn quốc Kim Trướng. Nhằm tránh việc bị Hải Đô đánh sau lưng khi nam chinh Nam Tống, Nguyên Thế Tổ giúp đỡ Bát Lạt đoạt được hãn vị của Sát Hợp Đài nhằm áp chế Hải Đô. Tuy nhiên vào năm 1268, Hải Đô cùng Bát Lạt và Kim Trướng hãn Mang Ca Thiếp Mộc Nhi lấy lý do Nguyên Thế Tổ Hán hóa quá độ, trái ngược với phép tắc của tổ tông, cùng tổ chức đại hội Khuruldai kết minh phản Nguyên bên sông Talas. Họ tôn Hải Sơn làm minh chủ, cùng phân chia Trung Á hành tỉnh, liên hiệp đối kháng triều Nguyên và Hãn quốc Y Nhi, sử gọi là loạn Hải Đô. Nguyên Thế Tổ phái Bá Nhan đem quân về phía bắc bình loạn, Hải Đô và Sát Hợp Đãi hãn Đốc Oa sử dụng phương thức du kích chiến. Năm 1287, liên quân Hải Đô thông đồng với chư vương trấn thủ Liêu Đông Nãi Nhan và Cáp Đan tập kích Hòa Lâm, Nguyên Thế Tổ đích thân suất đại quân đánh bại họ, phái Ba Nhan, Ngọc Tích Thiếp Mộc Nhi và Lý Đình bình định Nãi Nhan tại Đông Bắc, chủ trì quân sự tại Tây Bắc. Năm 1289, Hải Đô lại tiến công Hòa Lâm, cuối cùng thế lực của Hải Đô bị đẩy đến phía tây dãy núi Altai. Cáp Đan tiến hành du kích chiến tại khu vực Liêu Đông-Cao Ly, đến năm 1292 thì bại vong。 Sau khi Nguyên Thành Tông tức vị, lệnh cho Hải Sơn tổng lĩnh chư quân tại Mạc Bắc. Năm 1301, liên quân Hải Đô bị Hải Sơn và Tấn vương Cam Ma Lạt đánh tan. Hải Đô từ trần sau chiến dịch, con là Sát Bát Nhi kế vị, Hãn quốc Oa Khoát Đài bị Đốc Oa khống chế. Năm 1303, do Đốc Oa chiến bại trước Kim Trướng hãn Thoát Thoát Mông Kha nên ông ta cùng với Sát Bát Nhi cùng phái sứ giả thỉnh hòa với triều đình Nguyên, Thoát Thoát Mông Cổ cũng chuyển sang thỉnh hòa với Nguyên, cùng với Y Nhi hãn vốn ủng hộ Nguyên, đến đây bốn hãn quốc lớn đều thừa nhận địa vị tông của triều Nguyên. Không lâu sau, Hãn quốc Oa Khoát Đài bị Hãn quốc Sát Hợp Đài và Nguyên Vũ Tông trước sau công diệt mà mất, Sát Bát Nhi đầu hàng triều Nguyên。 Vận động Hán hóa và chính biến. Nguyên Nhân Tông hết sức nỗ lực nhằm cải biến cục diện tài chính khô kiệt, chính chế hỗn loạn từ thời Nguyên Vũ Tông, ông thi hành chính sách "dĩ Nho trị quốc", đồng thời giảm bớt người thừa trong bộ máy, tăng cường trung ương tập quyền để chỉnh đốn triều chính. Ông từng lệnh Vương Ước đem "Đại học diễn nghĩa" dịch ra văn tự Mông Cổ, cho rằng đó là sách để trị thiên hạ. Ông cũng cho dịch các thư tịch như "Trinh Quán chính yếu" và "Tư trị thông giám" sang văn tự Mông Cổ, lệnh người Mông Cổ và người Sắc Mục đọc và học tập. Năm 1312, Nguyên Nhân Tông cho Nho sư của mình là Vương Ước được đặc bái làm Tập hiền đại học sĩ, đồng thời cho chấp thuận kiến nghị "hưng khoa cử" của Vương Ước, đến đây khôi phục chế độ khoa cử. Khoa cử lần này lấy Trình-Chu lý học làm nội dung khảo thí, sử xưng Diên Hựu phục khoa, cuối cùng chọn được 56 người như Hộ Đô Đáp Nhi, Trương Khởi Nham làm tiến sĩ. Ông cũng dựa nhiều vào văn thần người Hán, xử tử đám Thừa tướng Thác Khắc Thác, bài trừ những người có tư tưởng khác biệt trong triều. Trên phương diện tài chính, Nguyên Nhân Tông thủ tiêu phương sách kinh tế thời Nguyên Vũ Tông, vào năm 1314 cho thanh tra điền sản địa phương tại các nơi Giang Chiết, Giang Tây, Hà Nam, sử xưng Diên Hựu kinh lý. Nguyên Nhân Tông dùng Sàng Ngột Nhi thống quân, đánh bại Sát Hợp Đài hãn Dã Tiên Bất Hoa nhằm bình định khu vực Tây Bắc. Tuy nhiên, Nguyên Nhân Tông không ngăn cản được Thái hậu Đáp Kỉ can dự triều chính, cũng không chế tài được trọng thần Thiết Mộc Điệt Nhi vốn được Thái hậu trọng dụng tham tiền làm trái. Trên phương diện vấn đề kế thừa, Nguyên Nhân Tông để Vương Ước phụ trợ Hoàng thái tử Thạc Đức Bát Lạt, đồng thời nghe theo kiến nghị của Thiết Mộc Điệt Nhi mà phế trừ Vũ-Nhân chi ước. Ông cho con trưởng của Nguyên Vũ Tông là Hòa Thế Lạt đi đầy bằng cách để trấn thủ Vân Nam, cho con thứ của Nguyên Vũ Tông là Đồ Thiếp Mục Nhĩ bị đày ra đảo Hải Nam. Mùa đông cùng năm, cựu thần của Nguyên Vũ Tông do thấy phẫn nộ nên ủng hộ Hòa Thế Lạt làm phản, cuối cùng thất bại nên chạy đến Mạc Bắc, nương nhờ Hãn quốc Sát Hợp Đài. Năm 1320, Nguyên Nhân Tông từ trần, Hoàng thái tử Thạc Đức Bát Lạt tức vị, tức Nguyên Anh Tông. Nguyên Anh Tông kế tục thi hành chính sách 'dĩ Nho trị quốc", tăng cường trung ương tập quyền và thể chế quan liêu như trong thời Nguyên Nhân Tông. Đồng thời vào năm 1323 hạ lệnh biên thành và ban bố pháp điển chính thức của triều Nguyên là "Đại Nguyên thông chế", tổng cộng có 2539 điều. Ông còn hạ lệnh loại bỏ thế lực của Thiết Mộc Điệt Nhi trong triều đình. Tuy nhiên, phái bảo thủ gồm người Mông Cổ và Sắc Mục hỗ trợ Thiết Mộc Điệt Nhi chán ghét tân chính của Nguyên Anh Tông, có ý phát động chính biến. Năm 1323, nghĩa tử của Thiết Mộc Điệt Nhi là Thiết Thất nhân thời cơ Nguyên Anh Tông đến Thượng Đô tránh nóng, tại Nam Pha ở phía nam Thượng Đô thích sát Nguyên Anh Tông và Tể tướng Bái Trụ, sử xưng Nam Pha chi biến, dòng hậu duệ của Nguyên Nhân Tông từ đó không có khả năng đoạt lại hoàng vị. Dã Tôn Thiết Mộc Nhi là con trưởng của Cam Ma Lạt, là người trấn thủ Hòa Lâm, ông suất binh nam hạ, giết bạn thần thích sát Nguyên Anh Tông đồng thời xưng đế, tức là Thái Định Đế. Thái Định Đế triệu hồi Đồ Thiếp Mục Nhĩ từ Hải Nam về phong làm Hoài vương. Tháng bảy năm 1328, Thái Định Đế từ trần tại Thượng Đô, Thừa tướng Đảo Lạt Sa lập con của Thái Định Đế là A Tốc Cát Bát còn nhỏ tuổi làm hoàng đế, tức là Thiên Thuận Đế. Tuy nhiên, Yến Thiếp Mộc Nhi và Bá Nhan ủng hộ lập Chu vương Hòa Thế Lạt đang tại Mạc Bắc, Đồ Thiếp Mộc Nhĩ tại Giang Lăng, cùng năm Đồ Thiếp Mộc Nhĩ đến Đại Đô kế vị, tức là Nguyên Văn Tông. Yến Thiếp Mộc Nhi suất quân công nhập Thượng Đô, Thiên Thuận Đế không rõ kết cục. Năm sau, Hòa Thế Lạt xưng đế tại Hòa Lâm, tức Nguyên Minh Tông. Nguyên Văn Tông từ bỏ đế vị, phái Yến Thiếp Mộc Nhi nghênh Nguyên Minh Tông kế vị, đồng thời được lập làm hoàng thái tử. Tuy nhiên, Yến Thiếp Mộc Nhi hạ độc giết Nguyên Minh Tông, phục vị cho Nguyên Văn Tông, sử xưng Thiên Lịch chi biến. Thời kỳ Nguyên Văn Tông đại hưng văn trị, năm 1329 thiết lập Khuê Chương các, quản lý giảng giải sách kinh sử, khảo sát việc trị loạn trong lịch sử. Theo lệnh thì toàn bộ con cháu của huân quý đại thần đều phải đến Khuê Chương các học tập. Tại Khuê Chương các thiết lập Nghệ Văn giám, chuyên môn phụ trách dịch điển tịch Nho gia sang văn tự Mông Cổ, còn có chức năng giáo khám. Cùng năm, Nguyên Văn Tông hạ lệnh biên soạn "Nguyên kinh thế đại điển", hai năm thì biên thành, đây là một công trình đồ sộ ghi chép về chế độ phép tắc của triều Nguyên. Tuy nhiên, Thừa tướng Yến Thiếp Mộc Nhi cậy công khinh thường triều đình, khiến triều chính thêm hủ bại. Năm 1332, Nguyên Văn Tông từ trần, nhằm tẩy sạch tội độc sát Nguyên Minh Tông, di chiếu lập con thứ của Minh Tông là Ý Lân Chân Ban còn nhỏ tuổi làm hoàng đế, tức Nguyên Ninh Tông. Tuy nhiên, Nguyên Ninh Tông tại vị không được hai tháng thì mất, không lâu sau thì Yến Thiếp Mộc Nhi cũng mất. Con trưởng của Nguyên Minh Tông là Thỏa Hoan Thiếp Mục Nhĩ được hoàng hậu của Văn Tông là Bốc Đáp Thất Lý triệu hồi từ Tĩnh Giang (nay là Quế Lâm, Quảng Tây) và lập làm hoàng đế, tức là Nguyên Huệ Tông, còn gọi là Nguyên Thuận Đế. Huệ Tông mất nước. Đầu thời kỳ tại vị của Nguyên Huệ Tông, năm 1335 con của Yến Thiếp Mộc Nhi là Đường Kỳ Thế âm mưu lật đổ Huệ Tông để lập nghĩa tử của Văn Tông là Đáp Lạt Hải. Thừa tướng Bá Nhan đập tan phản loạn, song nhân vật này thuộc phái bảo thủ và khống chế triều chính, quyền lực rất lớn. Ông cấm chỉ người Hán tham chính đồng thời thủ tiêu khoa cử, do vậy phát sinh xung đột với Nguyên Huệ Tông. Năm 1340, Nguyên Huệ Tông dưới sự bang trợ của cháu Bá Nhan là Thoát Thoát cuối cùng phế truất Bá Nhan. Nguyên Huệ Tông cùng Thoát Thoát điều hành chính sự vào thời kỳ đầu, triều đình Nguyên thi hành một loạt biện pháp cải cách như ban hành pháp quy "Chí chính điều cách", khiến chính trị cách tân, mâu thuẫn xã hội hòa hoãn, sử xưng Chí Chính tân chính. Năm 1243, Nguyên Huệ Tông hạ lệnh biên soạn "Liêu sử", "Kim sử", "Tống sử", do Hữu thừa tướng Thoát Thoát chủ trì, hai năm thì biên thành. Tuy nhiên, giai đoạn sau Nguyên Huệ Tông lười nhác chính sự, dẫn đến việc vào năm 1350 phát sinh thiên tai nhân họa rồi dẫn đến dân biến. Hậu kỳ của triều Nguyên, đặc biệt là từ năm 1340 đến 1350, trong nước thường phát sinh hạn hán, ôn dịch và thủy tai, khu vực Hoàng Hà chịu nạn lụt hết sức nghiêm trọng. Trong khi đó, triều đình Nguyên không ngừng thu các loại thuế, khiến sinh hoạt của bách tính càng thêm gian khổ, do vậy Bạch Liên giáo dần thịnh hành, trở thành thế lực đối kháng với triều Nguyên. Ngay từ năm 1325 đã phát sinh sự kiện Triệu Sử Tư, Quách Bồ Rá lãnh đạo khởi sự vũ trang tại Hà Nam. Năm 1338, tại Viên Châu thuộc Giang Tây (nay là Nghi Xuân, Giang Tây), nhóm giáo đồ Bạch Liên giáo dưới quyền Bành hòa thượng, Chu Tử Vượng khởi nghĩa thất bại, Bành hòa thượng chạy đến Hoài Tây. Năm 1350, triều đình Nguyên hạ lệnh cải cách tiền tệ, cho đúc "Chí Chính thông bảo", đồng thời phát hành lượng lớn "Trung Thống nguyên bảo giao sao" mới, khiến vật giá gia tăng nhanh chóng. Năm sau, Nguyên Huệ Tông phái Giả Lỗ trị thủy Hoàng Hà, muốn phục hồi dòng chảy cũ, huy động sử dụng tới 15 vạn dân phu, 2 vạn binh sĩ. Tuy nhiên, quan lại thừa cơ thủ lợi, gây bất mãn trong dân chúng. Các thủ lĩnh Bạch Liên giáo là Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông quyết định vào tháng 5 sẽ lãnh đạo giáo chúng khởi sự, song âm mưu bị lộ nên Hàn Sơn Đồng bị giết. Lưu Phúc Thông lập con của Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi làm thủ lĩnh tối cao, nói rằng Hàn Sơn Đồng là cháu đời thứ tám của Tống Huy Tông, đề ra kỳ hiệu "phục Tống", lấy khăn đỏ làm dấu hiệu. Sau đó, Quách Tử Hưng tại Hào Châu thuộc An Huy khởi sự, nhóm Chi Ma Lý chiếm lĩnh Từ Châu, đây là Hồng Cân quân hệ phía đông. Tại Hồng Cân quân hệ phía tây, Bành Oánh Ngọc, Trâu Phổ Thắng và Từ Thọ Huy tại Kỳ Châu thuộc Hồ Bắc khởi sự, đặt quốc hiệu là "Thiên Hoàn". Thế lực của Hồng Cân quân có ở khắp nơi tại Giang Bắc, Giang Nam, Lưỡng Hồ và Tứ Xuyên, ngoài Hồng Cân quân còn có lực lượng như của Trương Sĩ Thành khởi sự, dân biến báo trước sự diệt vong của triều Nguyên. Triều đình Nguyên phái binh trấn áp Hồng Cân quân tại các nơi, Thừa tướng Thoát Thoát tự suất quân nam hạ công hãm quân Chi Ma Lý tại Từ Châu, trong một thời gian áp chế được quân dân biến. Tuy nhiên, vào năm 1354 Thoát Thoát khi tấn công quân Trương Sĩ Thành tại Cao Bưu thì bị đại thần triều đình hạch hỏi nên không giành được chiến thắng chung cuộc. Lực lượng của Từ Thọ Huy cuối cùng phân liệt thành lực lượng dưới quyền Trần Hữu Lượng tại Lưỡng Hồ và lực lượng dưới quyền Minh Ngọc Trân tại Tứ Xuyên. Bộ hạ Chu Nguyên Chương của Quách Tử Hưng tại Lưỡng Hoài vào năm 1356 lấy Nam Kinh làm căn cứ địa bắt đầu mở rộng địa bàn, đến năm 1363 tiến hành tác chiến với Trần Hữu Lượng đang chiếm cứ Lưỡng Hồ, cuối cùng trong trận hồ Bà Dương thì thu được thắng lợi. Năm 1365, sau khi chiếm lĩnh Lưỡng Hồ, Chu Nguyên Chương vào mùa đông đông tiến nhằm tiến công Trương Sĩ Thành đang chiếm cứ duyên hải Giang Tô. Năm 1367, sau khi bình định Trương Sĩ Thành, Chu Nguyên Trương tiếp tục nam hạ áp chế Phương Quốc Trân tại Chiết Giang, đến đây Giang Nam không còn thế lực nào phản kháng Chu Nguyên Chương. Ngoài ra, Phúc Kiến từ năm 1357 đến năm 1368 phát sinh biến loạn của quân Sắc Mục, sử xưng loạn Ispah. Đồng thời kỳ, quân Nguyên dưới quyền Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi và Lý Tư Tề phản kích Hồng Cân quân tại phương bắc. Năm 1363 Hồng Cân quân tại phương bắc cuối cùng trong chiến dịch An Phong chiến bại trước Trương Sĩ Thành lúc này đã hàng Nguyên, Lưu Phúc Thông chiến tử còn Hàn Lâm Nhi đi về phía nam nương nhờ Chu Nguyên Chương song sau đó bị giết. Chu Nguyên Chương sau khi thống nhất Giang Nam đến năm 1367 hạ lệnh Bắc phạt, ông phái Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân suất quân Minh phân biệt tiến công Sơn Đông và Hà Nam, đồng thời phong tỏa Đồng Quan nhằm để phòng quân Nguyên tại Quan Trung tiếp viện cho Trung Nguyên. Năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng là hoàng đế, lập ra nhà Minh. Tháng tám năm 1368, quân Minh công hãm Đại Đô của Nguyên, Nguyên Huệ Tông đào thoát về bắc, sách sử coi đây là năm triều Nguyên kết thúc. Tuy nhiên, triều đình Nguyên vẫn tại Thượng Đô, sách sử gọi triều đình Nguyên từ đó về sau là Bắc Nguyên. Triều đình Minh nhận định Nguyên Huệ Tông thuận thiên minh mệnh, do vậy đặt thụy hiệu là Nguyên Thuận Đế Thời kỳ Bắc Nguyên. Năm 1368, triều đình Nguyên đào thoát về thảo nguyên Mông Cổ, Nguyên Huệ Tông thoái đến Thượng Đô, năm sau lại đến Ứng Xương. Ông duy trì sử dụng quốc hiệu "Đại Nguyên", sử xưng Bắc Nguyên. Đương thời, ngoại trừ Nguyên Huệ Tông chiếm cứ Mạc Nam và Mạc Bắc, tại Quan Trung có tướng Nguyên Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi trú thủ tại Định Tây thuộc Cam Túc, triều đình Nguyên còn thống trị khu vực Đông Bắc và Vân Nam. Nhằm chiếm lĩnh phương bắc, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương chọn cách phân binh làm hai lộ, đó là Bắc phạt lần một. Nguyên Huệ Tông sau khi chiến bại vào năm 1370 từ trần tại Ứng Xương, con là Nguyên Chiêu Tông sau khi tức vị thì đào thoát về phía bắc đến Hòa Lâm thuộc Mạc Bắc. Tướng Minh là Phùng Thắng đoạt lấy khu vực Cam Túc. Mặt trận khác, tướng Nguyên Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi tại Mạc Bắc nhiều lần giao chiến với các tướng Minh như Từ Đạt. Minh Thái Tổ từng nhiều lần viết thư chiêu hàng song Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi bác bỏ, được Chu Nguyên Chương gọi là "đương thế kỳ nam tử". Tháng tư năm 1378, Nguyên Chiêu Tông từ trần, em là Nguyên Thiên Nguyên Đế kế vị tiếp tục đối kháng với triều Minh, nhiều lần xâm phạm lãnh thổ của Minh. Tại khu vực Đông Bắc và Vân Nam, năm 1371 Liêu Dương hành tỉnh bình chương Lưu Ích hàng Minh, triều Minh chiếm Liêu Ninh. Tuy nhiên lãnh thổ còn lại của khu vực Đông Bắc vẫn do Thái úy Nạp Cáp Xuất của Nguyên khống chế, Nạp Cáp Xuất đóng 20 vạn quân tại Kim Sơn (nay là khu vực phía nam sông Bắc Liêu thuộc Xương Đồ, Liêu Ninh), đối kháng với quân Minh trong cả thập niên, nhiều lần cự tuyệt sự chiêu dụ của triều Minh. Năm 1387, Phùng Thắng, Phó Hữu Đức, Lam Ngọc phát động Bắc phạt lần thứ năm, mục tiêu là công chiếm Kim Sơn của Nạp Cáp Xuất. Trải qua nhiều lần giao chiến, đến tháng 10 năm 1387 thì Nạp Cáp Xuất đầu hàng Lam Ngọc, triều Minh chiếm lĩnh khu vực Đông Bắc. Tướng Nguyên trấn thủ Vân Nam là Lương vương Bả Táp Lạt Ngõa Nhĩ Mật, sau khi triều đình Nguyên triệt thoái về thảo nguyên vẫn tiếp tục trung thành. Năm 1371, Minh Thái Tổ phái Thang Hòa lĩnh binh bình định Minh Ngọc Trân đang chiếm cứ Tứ Xuyên, đồng thời khuyến hàng Lương vương nhưng không thành. Tháng 12 năm 1381, quân Minh công nhập Vân Nam, đến năm 1382 thì Lương vương đào thoát khỏi Côn Minh rồi tự sát, sau đó quân Minh công chiếm Đại Lý, bình định khu vực Vân Nam. Nhằm triệt để loại trừ thế lực Bắc Nguyên, Minh Thái Tổ vào tháng 5 năm 1388 lệnh cho Lam Ngọc suất lĩnh 15 vạn quân tiến hành Bắc phạt lần thứ sáu. Quân Minh vượt qua sa mạc Gobi đến Bộ Ngư Nhân Hải (tức hồ Buir) đánh tan quân Bắc Nguyên, bắt hơn tám vạn người, Nguyên Thiên Nguyên Đế và con trưởng của ông là Thiên Bảo Nô đào tẩu, song ấu tử Địa Bảo Nô bị quân Minh bắt giữ, đến đây quốc thế Bắc Nguyên đại suy. Năm 1388, Nguyên Thiên Nguyên Đế bị hậu duệ của A Lý Bất Ca là Dã Tốc Điệt Nhĩ sát hại, Bắc Nguyên không còn tiếp tục sử dụng niên hiệu cùng quốc hiệu Đại Nguyên (có thuyết nói rằng là vào năm 1402 khi Quỷ Lực Xích giết Nguyên Đế Khôn Thiếp Mộc Nhi sau đó cải quốc hiệu sang Thát Đát), Bắc Nguyên mất. Tiền thân của triều Nguyên là đế quốc Mông Cổ, năm 1206 Thành Cát Tư Hãn khi lập quốc đã chiếm hữu khu vực Mạc Nam-Mạc Bắc và Lâm Mộc Trung (nay là khu vực hồ Baikal). Nhờ công lao của Thành Cát Tư Hãn cùng các hãn khác của Mông Cổ, Đế quốc đông đến biển Nhật Bản và Cao Ly, bắc đến hồ Baikal, phía nam đối đầu với Nam Tống, phía tây đến Đông Âu, biển Đen và khu vực Lưỡng Hà. Thành Cát Tư Hãn phân cương thổ cho chư vương, Đông đạo chư vương là các em trai của Thành Cát Tư Hãn, đại đa số được phân phong tại khu vực đông bộ và đông bắc Tắc Bắc (phía bắc Vạn Lý Trường Thành), tính phụ thuộc rất cao. Tây đạo chư vương là các con trai của Thành Cát Tư Hãn, tính độc lập rất cao, trong đó phân phong cho con cả là Truật Xích tại khu vực thảo nguyên Khâm Sát ở phía bắc biển Aral và biển Caspi, sau này Bạt Đô thành lập Hãn quốc Kim Trướng tại đó; phong cho con thứ là Sát Hợp Đài tại lãnh thổ cũ của Tây Liêu ở phía bắc sông Syr Darya, sử xưng Hãn quốc Sát Hợp Đài; con thứ ba là Oa Khoát Đài được phân phong tại lãnh thổ cũ của Nãi Man, sau này Hải Đô lập nên Hãn quốc Oa Khoát Đài; lãnh thổ ban đầu của Mông Cổ thì do ấu tử Đà Lôi quản lý, sau này do Đại hãn trực tiếp quản lý. Lúc này, khu vực Hoa Bắc hay Hán địa, khu vực Transoxiana, khu vực Iran và Thổ Phồn do Đại hãn Mông Cổ trực tiếp quản lý. Năm 1252, sau khi Mông Kha thuộc dòng Đà Lôi tức vị, lệnh cho em là Húc Liệt Ngột tây chinh Tây Á, cuối cùng lập nên Hãn quốc Y Nhi, cùng các Tây đạo chư vương gọi chung là Tứ đại hãn quốc. Mông Kha lệnh cho Hốt Tất Liệt an trị Hán địa, cuối cùng nam diệt Đại Lý. Tuy nhiên, Mông Kha trong lúc tiến công Nam Tống thì từ trần, sau đó Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca tranh vị khiến Tứ đại hãn quốc nối tiếp nhau không chịu sự quản chế của Đại hãn, Đế quốc đến đây phân liệt。 Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt thấy Tứ đại hãn quốc không phục tùng mình, do vậy đem khu vực Iran cắt nhượng cho Húc Liệt Ngột (về sau lập Hãn quốc Y Nhi), đem Transoxiana cắt nhượng cho Hãn quốc Sát Hợp Đài để đổi lấy sự ủng hộ của họ. Năm 1279, Nguyên Thế Tổ nam diệt Nam Tống, thống nhất khu vực Trung Quốc, cương vực đương thời là: bắc đến nam bộ Siberia vượt quá hồ Baikal, nam đến biển Đông, tây nam bao gồm Tây Tạng và Vân Nam ngày nay, tây bắc đến đông bộ Tân Cương ngày nay, đông bắc đến Ngoại Hưng An Lĩnh, biển Okhotsk, biển Nhật Bản, bao gồm đảo Sakhalin, tổng diện tích vượt quá 13 triệu km². Từ sau khi tiêu diệt Nam Tống, Nguyên nhiều lần xung đột với các quốc gia Nhật Bản, Miến Điện, Java, tuy nhiên cương thổ về đại thể là ổn định. Năm 1309 trong thời kỳ Nguyên Vũ Tông, Nguyên và Hãn quốc Sát Hợp Đài trước sau công diệt Hãn quốc Oa Khoát Đài, Nguyên đoạt lất lãnh thổ phía đông của Hãn quốc Oa Khoát Đài, lãnh thổ đạt đến 14 triệu km². Các quốc gia phiên thuộc của Nguyên như Cao Ly, Miến Điện, Đại Việt, Chiêm Thành, Java và Hãn quốc Kim Trướng, Hãn quốc Sát Hợp Đài, Hãn quốc Y Nhi. Ở phía bắc có các bộ tộc Mạc Bắc, phía nam có các quốc gia Nam Dương, tây có Tứ đại hãn quốc. Trong đó có hai quốc gia phiên thuộc trực thuộc, đó là Cao Ly và Pagan Miến Điện, phân biệt lập ra Chinh Đông hành tỉnh và Miến Trung hành tỉnh.。 Tại phía tây bắc, năm 1268 Hải Đô của Hãn quốc Oa Khoát Đài có ý đồ đoạt hãn vị nên liên hiệp với Hãn quốc Kim Trướng và Hãn quốc Sát Hợp Đài phản Nguyên, sử xưng Hải Đô chi loạn. Đến năm 1304 trong thời kỳ Nguyên Thành Tông, triều đình Nguyên và ba hãn quốc này đạt thành hòa nghị, họ cùng Hãn quốc Y Nhi thừa nhận địa vị tông chủ của Nguyên, trở thành quốc gia phiên thuộc của Nguyên, song cơ cấu hành chính do Nguyên thiết lập (như hành trung thư tỉnh và tuyên chính viện) không bao gồm các lãnh thổ này. Nguyên Thành Tông ban cho quân chủ của Hãn quốc Y Nhi các ấn tỉ khắc bằng Hán văn như "Chân mệnh hoàng đế hòa thuận vạn di chi bảo", về thực chất là đã thừa nhận tính độc lập của Y Nhi. Đến năm 1309 thuộc thời kỳ Nguyên Vũ Tông, Nguyên và Hãn quốc Sát Hợp Đài trước sau công diệt Hãn quốc Oa Khoát Đài, trong thời gian Nguyên Văn Tông tại vị cho biên soạn "Kinh thế đại điển", liệt Hãn quốc Kim Trướng, Hãn quốc Sát Hợp Đài, Hãn quốc Y Nhi là quốc gia phiên thuộc của Nguyên. Phân cấp hành chính. Phân cấp hành chính của triều Nguyên về đại thể là kế thừa chế độ triều Kim và triều Tống, tuy nhiên có hai khác biệt: thời Nguyên diện tích mà các lộ quản lý giảm thiểu, một lộ chỉ có hai châu; triều Nguyên trên cấp lộ thiết lập đơn vị hành tỉnh, cuối cùng hành tỉnh thay thế lộ trở thành khu hành chính cấp một, hình thành chế độ tỉnh, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc toàn quốc thực thi chế độ hành tỉnh. Phân chia hành chính triều Nguyên từ cao xuống thấp phân thành hành tỉnh, lộ, phủ, châu và huyện, ngoài ra còn có lãnh thổ do Tuyên chính viện quản lý tương đương với hành tỉnh, "phúc lý" do Trung thư tỉnh trực tiếp quản lý cùng thổ ti ngang cấp châu. Phúc lý là lộ phủ do Trung thư tỉnh trực tiếp quản lý, Tuyên chính viện chủ quản khu vực Thổ Phồn. Thủ trưởng hành chính chủ yếu là người Mông Cổ, người Hán là phó. Mỗi tỉnh đặt một thừa tướng, bên dưới có bình chương, tả hữu thừa tướng tức quan viên 'tham tri chính sự', danh xưng nói chung tương đồng với Trung thư tỉnh. Thời Nguyên, các khu vực hành chính dưới cấp hành tỉnh đều đặt Đạt lỗ hoa xích làm thủ trưởng địa phương, đồng thời cho người Hán hoặc người thuộc dân tộc bản địa làm phó, để tạo thuận lợi cho người Mông Cổ khống chế địa phương. Mỗi lộ có Đạt lỗ hoa xích làm chủ, tổng quản là một người cấp phó. Tại phủ châu huyện đều cho Đạt lỗ hoa xích làm chủ, doãn làm phó. Châu, huyện đều đều được phân thành ba hạng là thượng, trung, hạ; tại các trung hạ châu đổi châu doãn thành tri châu. Thổ ty phân thành Tuyên úy sứ, Tuyên phủ sứ và An phủ sứ, tại Hồ Quảng hành tỉnh cho đặt 15 an phủ ty; tại Hồ Quảng và Tứ Xuyên phân đến bốn 'quân'. An phủ ty và quân đặt tại biên cảnh, khoảng tương đương với hạ châu tại nội địa, cũng đặt Đạt lỗ hoa xích làm chủ, người phó là nhân sĩ địa phương. Cấp cơ bản dưới cấp huyện theo phường lý chế trong thành và thôn xã chế tại nông thôn. Phương lý chế trong thành phân thành các đơn vị gọi là ngung (như Đông Tây ngung, Tây Nam ngung), dưới ngung đặt phường, đặt chức phường quan, phường ti. Dưới phường đặt lý hoặc xã, đặt chức lý chính, xã trưởng; có nơi đặt hạng chứ không đặt lý, đặt chức hạng trưởng. Thôn xã chế dưới cấp huyện đặt các hương, đặt chức hương trưởng, có nơi đặt lý chính. Dưới cấp hương đặt đô, đặt chức chủ thủ. Dưới đô đặt thôn xã, xã đặt chức xã trưởng。 Hành trung thư tỉnh có tên đầy đủ là "Mỗ mỗ đẳng xứ hành trung thư tỉnh", gọi tắt là "Mỗ mỗ hành trung thư tỉnh" hoặc "Mỗ mỗ hành tỉnh", bắt nguồn từ Hành thượng thư tỉnh của triều Kim. Bắt nguồn từ việc văn hóa tại các lãnh thổ mới chinh phục được có khác biệt lớn, do vậy chính phủ trung ương đặt đơn vị ngoại phái để quản lý. Do nhu cầu chiến tranh, hành tỉnh ngoài việc phụ trách hành chính còn phụ trách quân sự, cuối cùng hình thành khu hành chính cấp một. Ngay từ thời kỳ Mông Cổ đã thiết lập ba đoạn sự quan hoặc hành thượng thư tỉnh là Yên Kinh (Hoa Bắc Hán địa), Biệt Thất Bát Lý (Tây Liêu và Tân Cương ngày nay), A Mẫu Hà (khu vực Transoxiana). Những năm đầu triều Nguyên, phạm vi quản lý của hành tỉnh rất lớn, thay đổi tương đối thường xuyên, chủ yếu do quan viên cấp tể chấp thuộc Trung thư tỉnh tạm đến một khu vực phụ trách hành chính hoặc chinh phạt. Năm 1260, Nguyên Thế Tổ cho đặt 10 lộ tuyên phủ ty trong toàn quốc, năm thứ hai thì bãi bỏ. Năm sau, đổi sang đặt 10 lộ tuyên úy ty, dần thành định chế, đồng thời cho đặt Thiểm Tây Tứ Xuyên hành tỉnh. Sau đó đến khi diệt Tống mới bãi bỏ, phần nhiều chọn chế độ song hành tuyên úy ti và hành tỉnh. Hành tỉnh đại đa số đặt tại cương vực Tây Hạ, Đại Lý và lãnh thổ mới chiếm từ Nam Tống, gọi là "Trung thư tỉnh thần xuất hành tỉnh sự", sau khi diệt Nam Tống đem toàn quốc phân thành phúc lý trực thuộc Trung thư tỉnh, lãnh thổ do Tuyên chính viện quản lý và hơn mười hành trung thư tỉnh, đồng thời đặt hành tỉnh chuyên quản chinh thảo ngoại quốc. Năm 1321 trong thời kỳ Nguyên Anh Tông tổng cộng đặt 11 hành tỉnh (bao gồm Chinh Đông hành tỉnh đặt tại quốc gia phiên thuộc là Cao Ly). Đến những năm cuối triều Nguyên, số hành tỉnh tăng đến 15. Ngoài ra, các lãnh thổ Cáp Mật Lực (nay là địa khu Cáp Mật), Bắc Đình đô nguyên soái phủ (Biệt Thất Bát Lý) và Hỏa Châu nằm về phía tây của Cam Túc hành tỉnh không thuộc quyền quản lý của hành tỉnh nào.. Ngoài ra, quân khởi nghĩa thời Nguyên mạt cũng đặt hành tỉnh để thuận tiện trong việc thống trị, như Giang Nam hành tỉnh, Biện Lương hành tỉnh, Lũng Thục hành tỉnh, Giang Tây hành tỉnh của Thiên Hoàn; Giang Nam hành tỉnh, Ích Đô hành tỉnh của Hàn Tống; cùng với Giang Tây hành tỉnh, Hồ Quảng hành tỉnh, Giang Hoài hành tỉnh, Giang Chiết hành tỉnh do Chu Nguyên Chương đặt. Chế độ chính trị. Việc kế thừa hoàng vị của triều Nguyên và đế quốc Mông Cổ khác biệt với các vương triều trước của Trung Quốc, chọn thực thi chế độ tiến cử qua đại hội Khuruldai, do vương thất quý tộc cùng bầu ra lãnh tụ. Các hoàng đế của triều Nguyên cũng kiêm nhiệm chức vụ khả hãn của đế quốc Mông Cổ, do hãn vị của Nguyên Thế Tố không được thừa nhận qua đại hội Khuruldai, khiến bốn hãn quốc lớn không phục, đến thời Nguyên Thành Tông mới khôi phục quan hệ tông chủ. Sau khi Nguyên Thế Tổ kiến lập triều Nguyên, có ý lập Chân Kim làm thái tử, định lập cấu trúc cha truyền con nối, tuy nhiên do Chân Kim mất sớm nên vấn đề kế thừa lại nổi lên. Triều Nguyên sau đó thường vì hoàng thái tử mất sớm hoặc huynh đệ tranh vị mà hỗn loạn bất an, trung kỳ còn có hiệp định Vũ-Nhân chi ước mà theo đó hệ của Vũ Tông và hệ của Nhân Tông sẽ luân phiên kế thừa hoàng vị, tuy nhiên do Nguyên Nhân Tông phế trừ hiệp định nên tình hình lại hỗn loạn. Vấn đề kế thừa của triều Nguyên đến thời Nguyên Huệ Tông mới ổn định, song đã tiếp vào mạt kỳ của triều đại. Chế độ chính trị của triều Nguyên và của triều Kim đều thừa tập chế độ của triều Tống, chọn thi hành chế độ văn võ phân quyền, lấy Trung thư tỉnh tổng quản chính vụ, Xu mật viện quản lý binh quyền. Tuy nhiên, Trung thư tỉnh của triều Nguyên đã trở thành cơ quan hành chính tối ao trung ương, Nguyên không đặt Môn hạ tỉnh, Thượng thư tỉnh khi đặt khi không, chỉ có thời Thế Tổ và Vũ Tông là đặt, do vậy quyền lực của Môn hạ tỉnh và Thượng thư tỉnh đều giao cho Trung thư tỉnh. Trung thư lỉnh quản lý Lục bộ, chủ trì chính vụ toàn quốc, hình thành tiên phong cho chế độ nội các Minh-Thanh. Cơ cấu tổ chức này kế thừa thể chế Nam Tống, cách xưng hô với tể tướng cò Trung thư lệnh, Ty thống soái bá quan và tổng lý chính vụ. thường để hoàng thái tử kiêm nhiệm. Bên dưới phân thành tả-hữu thừa tướng, nếu thiếu Trung thư lệnh thì tổng lĩnh sự vụ Trung thư tỉnh. Bình chương chính sự cũng đứng thứ hai, phàm là trọng sự của quân đội và quốc gia thì không thể không tham gia quyết định. Phó tướng có tả hữu thừa, tham chính. Lục bộ tổng cộng có Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ và Công bộ, trong có Thượng thư, Thị lang. Thượng thư tỉnh chủ yếu phụ trách sự vụ tài chính, song lúc đặt lúc phế. Xu mật viện quản lý quân sự, ngự sử đài phụ trách đốc sát, đại thể tương đồng với chế độ triều Tống, tuy nhiên tại địa phương đặt Hành trung thư tỉnh, Hành xu mật viện và Hành ngự sử đài. Ngoài ra, còn có Tập hiền viện quản lý giáo dục, Tuyên huy viện quản lý ngự thiện, Thông chính viện quản lý dịch trạm, ngoài ra còn có Thái thường lễ nghi viện, Thái sử viện, Thái y viện và Tương tác viện, bỏ cửu tự chư giám của các triều đại trước. Cuối cùng, thành lập mới có Tuyên chính viện (ban đầu là Tổng chế viện), phụ trách Phật giáo và sự vụ quân chính của khu vực Thổ Phồn, là cơ quan không có trước đây. Xúc tiến Hán pháp và bài xích Hán pháp. Triều Nguyên giữa việc xúc tiến chế độ phép tắc của người Hán và duy trì luật cũ của Mông Cổ thường phát sinh xung đột, và phân liệt thành phái thủ cựu và phái sùng Hán. Ngay từ sau khi Thành Cát Tư Hãn công chiếm Hán địa, người Mông Cổ dựa vào Da Luật Sở Tài và Mộc Hoa Lê xúc tiến Hán pháp để duy trì chế độ phép tắc của người Hán. Đương thời, cận thần Biệt Điệt kiến nghị trục xuất người Hán đồng thời biến Trung Nguyên thành đại mục trường để thu lấy của cải, song bị Da Luật Sở Tài phản đối, ông nhận định có thể dùng phương thức trưng thu thuế để có được của cải, do đó bảo lưu chế độ phép tắc của Hán địa. Ông tích cực cải biến tác phong tàn sát toàn thành nếu kháng cự khi bị công chiếm của quân Mông Cổ, nỗ lực đề xướng Nho học, chỉnh đốn lại trị, là người sáng lập xúc tiến Hán pháp thời Nguyên. Nhằm thuận lợi trong quản lý Hán địa, Mộc Hoa Lê hợp tác với tứ đại thế hầu Hán tộc, dần củng cố quản lý với các nơi như Hà Bắc, Sơn Tây. Sau này, Hốt Tất Liệt khi quản lý Hán địa tích cực xúc tiến Hán pháp, sử dụng lượng lớn phụ tá và Nho sĩ người Hán lập ra chế độ phép tắc, như Lưu Bỉnh Trung, Hứa Hành hay Diêu Xu, đồng thời đề xuất chủ trương "hành Hán pháp", tích cực thúc đẩy trào lưu học tập Hán văn. Hốt Tất Liệt rất quen thuộc điển tịch và chế độ lễ nghi Hán văn, đồng thời có thể dùng Hán văn sáng tác thi ca, cũng như làm hình thức quy định pháp luật, Thái tử cần phải học tập Hán văn. Tiếp thu đề nghị xưng hiệu "Nho giáo đại tông sư" của nho sĩ Nguyên Hảo Vấn và Trương Đức Huy. Hốt Tất Liệt tại Đại Đô kiến nguyên xưng đế, lập ra triều Nguyên theo khuôn mẫu Trung Quốc, lập một số thể chế chính trị theo mô hình trung ương tập quyền truyền thống Trung Quốc, như Tam tỉnh lục bộ hay Ty nông ty, sử dụng cơ cấu thống trị của Trung Nguyên để thống trị nhân dân, sử dụng Lưu Bỉnh Trung và những người khác quy hoạch kiến lập thủ đô Đại Dô. Tuy nhiên, sau phản loạn Lý Thản thì Nguyên Thế Tổ dần không sử dụng người Hán. Do bốn hãn quốc lớn và phải thủ cựu vương thất Mông Cổ đều bất mãn trước việc Nguyên Thế Tổ thi hành Hán pháp nên làm phản hoặc xa cách. Nguyên Thế Tổ trong những năm cuối dần lãnh đạm với Nho thần, sử dụng phái lý tài gồm người Sắc Mục và người Hán như A Hợp Mã, Lô Thế Vinh và Tang Ca, Hán pháp cuối cùng chưa thành một bộ thể chế hoàn chỉnh. Sau này, Nguyên Nhân Tông, Nguyên Anh Tông, Nguyên Văn Tông và Nguyên Huệ Tông càng có thể thuần thục vận dụng Hán văn tiến hành sáng tác. Một số quý tộc Mông Cổ nhập cư Trung Nguyên ái mộ văn hóa Hán, còn thỉnh Nho sinh đến nhà giáo dục cho con. Trên phương diện học tập còn phiên dịch nhièu điển tịch Hán văn, như "Thông giám tiết yếu", "Luận ngữ", "Mạnh tử", "Đại học", "Trung dung", "Chu lễ", "Xuân thu", "Hiếu kinh". Tuy nhiên, phái sùng Hán và phái thủ cựu thường phát sinh xung đột và chính biến, như Nam Pha chi biến. Chế độ tuyển tài. Trên phương diện tuyển dụng nhân tài, triều Nguyên thời gian đầu cực kỳ ít cử hành khoa cử, do đó quan viên cao cấp được tuyển dụng theo quan hệ xa gần với triều đình Nguyên mà quyết định, chủ yếu theo phương thức thế tập, ân ấm, tuyển cử. Ngoài ra, còn có phương thức tư lại thăng tiến thành quan liêu, khác biệt lớn với chế độ triều Tống. Triều Tống có giới hạn rõ giữa quan và lại, tư lại đại đa số cuối cùng vẫn là tư lại, tuy nhiên triều Nguyên do thiếu khoa cử chọn người tài, nên sử dụng phương thức tuyển cử hoặc khảo thí tư lại để thăng làm quan, điều này phá bỏ vách ngăn quan lại, khiến quan lại trở thành quan hệ trên dưới. Trên phương diện khoa cử tuyển tài, Oa Khoát Đài nghe theo kiến nghị của Da Luật Sở Tài, triệu tập danh Nho giảng kinh tại Đông cung, đưa con em đại thần đến nghe giảng. Ngoài ra còn đặt "Biên tu sở" tại Yên Kinh, "Kinh tịch sở" tại Bình Dương, xúc tiến học tập văn hóa cổ đại Hán tộc. Năm 1234 đặt "Kinh thư quốc tử học", cho Phùng Chí Thường làm tổng giáo tập, lệnh 18 người là con em thị thần nhập học, học tập văn hóa Hán. Năm 1238, Thuật Hốt Đức và Lưu Trung cử hành Mậu Tuất tuyển thí, lần khoa cử đầu tiên này chọn được 4.030 người, đồng thời lập nho hộ nhằm bảo hộ sĩ đại phu. Tuy nhiên, cuối cùng triều đình phế trừ khoa cử, chuyển về chế độ tuyển cử, về sau hai lần tổ chức vào năm 1252 và 1276, tổng cộng tuyển 1890 Nho hộ. Sau khi Nguyên Thế Tổ tức vị, chính thức thiết lập Quốc tử học, cho Hứa Hành làm Tập hiền đại học sĩ kiêm Quốc tử tế tửu, chọn con em Mông Cổ vào học, học văn sử kinh điển Nho gia, bồi dưỡng nhân tài thống trị. Năm 1289, Nguyên Thế Tổ hạ chiếu phân đẳng cấp hộ tịch nhân khẩu Giang Nam, năm sau chính thức thi hành chế độ tuyển cử, đẳng cấp lần này trở thành căn cứ hộ kế về sau. Đến năm 1313, Nguyên Nhân Tông vốn đề xướng Hán hóa đã hạ chiếu khôi phục khoa cử, tháng 8 năm 1314 cử hành hương thí tại 17 khảo trường trên toàn quốc, tháng hai và tháng 3 năm 1315 lần lượt cử hành hội thí và điện thí tại Đại Đô, do cử hành vào thời gian niên hiệu Diên Hựu, nên sử xưng "Diên Hựu phục khoa". Lần khoa cử này lấy Trình-Chu lý học làm nội dung khảo thí. Triều Nguyên trước sau tổng cộng cử hành 16 lần khoa cử, tuyển chọn khoảng hơn 1.100 tiến sĩ người Mông Cổ, Sắc Mục, Hán nhân, Nam nhân. Tuy nhiên, nhằm bảo vệ người Mông Cổ và người Sắc Mộc, khảo thí rất khó với người Hán, và nhóm này chỉ có thể giành được một nửa hạn ngạch, điều này khiến con em Mông Cổ và Sắc Mục mất tính tích cực học tập văn hóa Hán tộc và tinh thần tiến thủ. Khi triều Nguyên diệt vong, trong số xả thân tuẫn quốc có rất nhiều người xuất thân từ khoa cử, có thể thấy phục hồi khoa cử đối với sĩ đại phu Hán tộc Hoài-Nhu có hiệu quả nhất định. Quan hệ đối ngoại. Triều Nguyên thường xuyên trao đổi ngoại giao với các nước, các sứ tiết, nhà truyền giáo, thương lữ các nơi phái đến liên tục, trong đó có anh em thương nhân Venezia Niccolò và Maffeo Polo và con của Niccolò là Marco Polo nhận được tín nhiệm của hoàng đế triều Nguyên. Triều đình Nguyên từng yêu cầu một số quốc gia hoặc khu vực xung quanh (bao gồm Nhật Bản, Đại Việt, Chiêm Thành, Miến Điện, Java) thần phục, tiếp nhận quan hệ triều chống với triều Nguyên, tuy nhiên bị cự tuyệt, do đó triều Nguyên phái khiển quân đội tiến công các quốc gia hoặc khu vực này, trong đó nổi danh nhất là Chiến tranh Nguyên-Nhật, cũng là bi thảm nhất Vương triều Cao Ly có lãnh thổ là bán đảo Triều Tiên, sau này gia tộc Thôi (Choe) thống trị chính quyền, quốc vương biến thành bù nhìn. Cao Ly trước sau thần phục triều Liêu và triều Kim, Mông Cổ sau khi trỗi dậy cùng Cao Ly phạt Kim, đồng thời hẹn ước là nước huynh đệ. Năm 1225, Mông Cổ yêu cầu Cao Ly triều cống cho mình, khi sứ tiết Mông Cổ đến biên giới Uiju (Nghĩa Châu) thì bị Cao Ly làm hại, đương thời Mông Cổ bận Tây chinh nên không tiến hành chinh thảo. Năm 1231, Oa Khoát Đài Hãn phái Tát Lễ Tháp suất binh xâm nhập Cao Ly, lãnh tụ chính quyền Thôi thị là Thôi Vũ (Choe Woo) kháng cự thất bại, thủ đô Cao Ly là Tùng Đô (Songdo, nay là Kaesong) bị đánh chiếm, sử xưng Chiến tranh Cao Ly-Mông Cổ. Quân Mông Cổ đặt nhiều vị Đạt lỗ hoa xích để giám sát chính sự của Cao Ly. Năm sau, Thôi Vũ giết Đạt lỗ hoa xích, ủng hộ Cao Ly Cao Tông từ Tùng Đô dời đến đảo Giang Hoa (Ganghwa), tiến hành trường kỳ kháng Mông, ngoài ra còn có lực lượng Tam Biệt Sao (Sambyeolcho) kháng cự quân Mông đến năm 1273. Tuy nhiên, triều đình Cao Ly phân liệt thành phái văn có ý phản chiến, và chính quyền Thôi thị có ý kháng Mông. Thời Quý Do, Mông Kha, Mông Cổ lại bốn lần thảo phạt lãnh địa Cao Ly, năm 1258 chính quyền Thôi thị bị lật đổ, sau đó Cao Ly Cao Tông khiển vương tử đến xưng thần, chính thức trở thành nước phiên thuộc của Mông Cổ. Năm 1283, nhằm phục vụ thảo phạt Nhật Bản, Nguyên Thế Thổ cho đặt Chinh Đông hành tỉnh tại Cao Ly, quốc vương của Cao Ly là tả thừa tướng của hành tỉnh, nội chính chịu sự khống chế của người Mông Cổ. Quân chủ của Cao Ly từ thời Trung Liệt Vương kết hôn với công chúa Mông Cổ, người kế thừa quân chủ Cao Ly theo ước định cần phải trú tại Đại Đô của Nguyên để trưởng thành theo phương thức của người Mông Cổ, sau đó mới có thể về Cao Ly. Sau khi Cao Ly trở thành nước phiên thuộc của triều Nguyên, Nguyên Thế Tổ sáu lần khiển sứ giả yêu cầu Nhật Bản (thời Mạc phủ Kamakura) triều cống, song đều thất bại, đo đó bắt đầu Chiến tranh Nguyên-Nhật. Năm 1274, quân Nguyên phát động chiến tranh xâm nhập Nhật Bản lần thứ nhất, sử thư Nhật Bản xưng là chiến dịch Bunei (文永の役), triều đình Nguyên phái hơn 32 nghìn người Đông chinh Nhật Bản, cuối cùng do gặp phải bão nên thương vong thảm trọng. Năm 1281, Hốt Tất Liệt lại phát động chiến tranh xâm nhập Nhật Bản lần thứ nhì, sử thư Nhật Bản xưng là chiến dịch Koan (弘安の役), do Phạm Văn Hổ, Lý Đình suất hơn 10 vạn quân Giang Nam, nhưng do quân Nhật tích cực kháng cự, và quân Nguyên lại gặp phải bão, nên cuối cùng lại chịu thảm bại. Nhận định phổ biến là bão và quân Nguyên không giỏi thủy chiến là các nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thất bại. Sau này, Nguyên Thế Tổ lại chuẩn bị đông chinh lần thứ ba, song do đại thần khuyến gián, lại thêm việc xuất binh tiến công An Nam nên bãi bỏ. Sau đó, Nguyên Thế Tổ nhiều lần khiển sứ song đều bị Nhật Bản cự tuyệt, quan hệ thông sứ mãi không thể kiến lập, song giao lưu kinh tế và văn hóa vẫn rất phồn thịnh, người Nhật Bản sang Nguyên hầu hết là thương nhân và thiền tăng. Triều đình Nguyên hạ lệnh cho quan ty duyên hải khai thông mậu dịch hải ngoại với Nhật Bản, cảng chủ yếu là Khánh Nguyên (nay là Ninh Ba). Lãnh thổ Đại Việt (An Nam) nằm tại miền bắc Việt Nam ngày nay, từ thời Ngũ Đại-Bắc Tống đã độc lập với Trung Hoa. Mông Kha Hãn vào năm 1257 phái Ngột Lương Hợp Thai tiến công Đại Việt (thời Trần), Chiến tranh Mông-Việt bùng phát. Sau khi kết thúc giao tranh, quân Mông Cổ thua lui về Vân Nam, nhưng Trần Thái Tông xưng thần trên danh nghĩa với Mông Cổ, được Mông Kha Hãn phong làm An Nam quốc vương. Tuy nhiên, Mông Cổ vẫn chưa bỏ mộng chinh phạt Đại Việt, họ tiếp tục đưa ra nhiều yêu sách đòi Trần Thái Tông và con là Trần Thánh Tông phải kê khai dân số, gửi quân chi viện, chịu sự giám sát của quan darugachi, đích thân sang chầ, năm 1282 Quốc vương Chiêm Thành là Indravarman IV khiển sứ triều cống triều Nguyên, Nguyên Thế Tổ nhân đó đặt Kinh Hồ Chiêm Thành hành trung thư tỉnh, cho A Lý Hải Nha làm bình chương chính sự. Do Chiêm Thành câu lưu sứ giả của Nguyên, Nguyên Thế Tổ dựa vào đó phát binh phân thủy bộ tiến công. Ông bổ nhiệm Toa Đô suất thủy quân từ Quảng Châu vượt biển công kích Chiêm Thành. Năm sau, thủy quân Mông Cổ đánh hạ thành mà Indravarman IV cứ thủ, Indravarman IV cầu hòa, song sau khi Mông Cổ thoái quân lại giết sứ giả. Năm 1284, Nguyên Thế Tổ phái Trấn Nam vương Thoát Hoan, A Lý Hải Nha và Toa Đô suất quân mượn đường Đại Việt tiến công Chiêm Thành, song Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông phản kháng nên hai bên bùng phát chiến tranh. Quân Nguyên xâm nhập Đại Việt với quy mô lớn, đánh chiếm được kinh đô Thăng Long. Tuy nhiên, hai vua Trần và các tướng tôn thất tài ba như Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo suất lĩnh quân Việt tích cực kháng cự, lại thêm quân Nguyên mắc phải ôn dịch. Cuối cùng, quân Nguyên triệt thoái vào năm 1285, trên đường bị quân Việt tập kích, tổn thất quá bán. Năm 1288, triều đình Nguyên lại tiến hành nam chinh song vẫn thất bại, sau đó Trần Nhân Tông thỉnh hòa. Cuộc chiến tranh kéo dài này đến thời Nguyên Thành Tông mới ngưng, An Nam và Chiêm Thành về sau duy trì triều cống triều đình Nguyên. Đương thời, có nhiều quốc đảo tại Đông Nam Á triều cống cho triều đình Nguyên, hữu danh có Mã Lan Đan (nay là Malacca), Tô Mộc Đô Lạp (nay là Sumatra). Năm 1292, Nguyên Thế Tổ mệnh Diệc Hắc Mê Thất, Sử Bật và Cao Hưng đem thủy quân Phúc Kiến nam chinh Vương quốc Majapahit trên đảo Java, đồng thời làm khuất phục nước lân cận của Majapahit là Cát Lang, song trúng kế bị đột kích, chiến bại trở về, song sau đó Majapahit vẫn phái sứ giả đến triều cống. Ngoài ra, Nguyên Thế Tổ còn phái sứ giả chiêu hàng Lưu Cầu Quốc (nay là Đài Loan hoặc Ryukyu), song sứ giả chỉ đến Bành Hồ rồi về. Đại Lý kế thừa Nam Chiếu từ thời Đường, do Đoàn Tư Bình kiến quốc vào năm 937, chiếm hữu khu vực Vân Nam ngày nay. Năm 1252, Mông Kha Hãn mệnh Hốt Tất Liệt và Ngột Lương Hợp Thai từ Tứ Xuyên đi đường vòng về phía nam diệt Đại Lý, Quốc vương Đoàn Hưng Trí của Đại Lý bị giáng làm Đại Lý thế tập tổng quản. Thổ Phồn từ thời vãn Đường đã tiến vào suy thoái, song Phật giáo Tạng truyền tại đây lại ngày càng hưng thịnh, thế lực của lạt ma vượt quá địa vị của tán phổ (quân chủ). Năm 1247, con thứ của Oa Khoát Đài Hãn là Khoát Đoan triệu thỉnh lạt ma Ban Trí Đạt (Pandit) đến Lương Châu, sử xưng Lương Châu hội minh, từ sau đó lạt ma Thổ Phồn và đại hãn Mông Cổ hình thành quan hệ bố thí. Khi Hốt Tất Liệt nam chinh Đại Lý, phân binh thảo phạt Thổ Phồn, Lạt ma Ban Trí Đạt và tán phổ đầu hàng, Thổ Phồn mất. Nguyên Thế Tổ phong người kế nhiệm Ban Trí Đạt là Bát Tư Ba (Phagpa) là "đế sư", kiêm nhiệm tổng chế viện (sau đổi thành tuyên chính viện) viện sứ, nắm quyền lực thống trị khu vực Ô Tự Tạng (U-Tsang), khiến người thống trị Tây Tạng chuyển từ tán phổ sang lạt ma. Vào sơ kỳ của triều Nguyên, Miến Điện nằm dưới quyền cai trị của vương triều Pagan. Nguyên Thế Tổ phái sứ giả chiêu hàng song Pagan không chấp thuận, phái quân xâm nhập Vân Nam, Chiến tranh Nguyên-Miến bùng phát, sau đó quân Nguyên cũng nhiều lần tiến công Miến Điện. Năm 1283, Nguyên Thế Tổ phái quân xâm nhập Miến Điện, hai năm sau quốc vương của Miến Điện thỉnh hòa. Năm 1287, Miến Điện lâm vào nội loạn, quân Nguyên thừa cơ tiến công Miến Điện, thành Pagan bị phá, Miến Điện trở thành phiên thuộc của triều Nguyên, Narathihapate mất vương vị, triều đình Nguyên lập Miến Trung hành tỉnh, sau đó bổ nhiệm quốc vương Pagan làm tả thừa tướng của hành tỉnh, trở thành bù nhìn của triều Nguyên. Năm 1368, người Shan lập Vương quốc Ava tại miền đông của Miến Điện. Người Môn kiến đô tại Martaban, năm 1369 thiên đô đến Pegu, kiến lập vương triều Pegu, hai vương quốc nam bắc giao chiến. Thủ lĩnh của người Shan cầm giữ Miến Điện vương, khiến Nguyên Thành Tông phái quân Nguyên thảo phạt, cuối cùng Ava phái sứ triều cống. Vương quốc Lan Na nằm tại phía đông của Ava, từng liên hiệp với Ava kháng cự quân Nguyên, triều Nguyên nhiều lần thảo phạt song chưa thành, đến thời Nguyên Thái Định Đế mới nội phụ. Đương thời, tại khu vực Thái Lan ngày nay còn có Vương quốc Sukhothai, Vương quốc Ayutthaya cùng các tiểu quốc khác. Đến cuối thời Nguyên Thế Tổ, Ayutthaya bắt đầu tiến cống triều đình Nguyên, đến cuối thời Nguyên thì vương quốc này thôn tính các tiểu quốc khác, thống nhất thành Xiêm La. Thời kỳ Đế quốc Mông Cổ tiến hành ba lần tây chinh cũng là lúc Giáo hoàng La Mã đề xướng Thập tự quân đông chinh Tây Á nhằm thu phục Jerusalem. Do Giáo hoàng La Mã rất cần viện trợ từ bên ngoài để chống lại tín đồ Hồi giáo, và các quốc gia Cơ Đốc giáo tại châu Âu vừa trải qua Tây chinh lần thứ hai của Mông Cổ, lại thêm giao thông giữa phương đông và phương tây lúc này rất tiện lợi, nên nhiều lần phái sứ giả về phía đông để hiểu rõ về cường quốc phương đông này. Năm 1245, Giáo hoàng La Mã từng phái Giovanni da Pian del Carpine qua Hãn quốc Kim Trướng đến Hòa Lâm yết kiến Quý Do Hãn, về nước ghi chép thành "Ystoria Mongalorum". Năm 1253, Quốc vương Louis IX của Pháp phái Guillaume xứ Rubrouck lấy danh nghĩa truyền giáo đến Hòa Lâm yết kiến Mông Kha Hãn, về nước ghi chép thành sách ký sự. Năm 1316, một người Ý là Odorico xứ Pordenone theo đường biển đến Đại Đô, tham gia khánh điển cung đình của Nguyên Thái Định Đế, về nước ghi chép thành sách ký sự, phạm vi xa đến Tây Tạng, miêu tả khá tỉ mỉ Đại Đô và cung đình. Trứ danh nhất là nhà thám hiểm người Ý Marco Polo, ông cùng cha và chú đến Nguyên vào năm 1275 yết kiến Nguyên Thế Tố, đến năm 1291 mới rời đi. Ông đảm nhiệm chức vụ quan viên trong triều đình Nguyên, từng đến các địa phương của Nguyên, "Marco Polo du ký" của ông phản ánh nhiều góc độ của triều Nguyên, hấp dẫn người châu Âu đến Trung Quốc. Ngoài ra, triều Nguyên và các quốc gia khu vực chau Phi cũng có qua lại, Uông Đại Uyên vào năm 1330 và 1337 hai lần vượt biển qua nhiều địa phương tại Nam Dương và Tây Dương, cuối cùng ghi chép thành "Đảo di chí lược", có ảnh hưởng đến Trịnh Hòa hạ Tây Dương vào sơ kỳ thời Minh. Quân đội truyền Nguyên chiếu theo quan hệ mà phân thành bốn đẳng cấp Mông Cổ quân, Tham mã xích quân, Hán quân và Tân phụ quân. Mông Cổ quân và Tham mã xích quan chủ yếu là kỵ binh. Hán quân và Tân phụ quân đại đa số là bộ quân, và cũng có một bộ phận là kỵ binh. Thủy quân sắp xếp thành Thủy quân vạn hộ phủ, hay thủy quân thiên hộ sở. Pháo quân do pháo thủ và thợ chế pháo tạo thành, sắp xếp thành Pháo thủ vạn hộ phủ, pháo thủ thiên hộ sở, đặt pháo thủ tổng quản.。 Mông Cổ quân là cốt cán trong quân đội triều Nguyên, chủ yếu là người Mông Cổ hợp thành. Mông Cổ quân được sáng lập ngay từ thời Thành Cát Tư Hãn thống nhất Mông Cổ, thời bình chăn nuôi trên thảo nguyên, thời chiến tạm thời tập hợp. Sử dụng vạn hộ chế (Tumen) binh dân hợp nhất, theo cơ số 10 sắp xếp thành thập hộ, bách hộ, thiên hộ. Người trong độ tuổi từ 15 tuổi đến 70 tuổi đều phục vụ binh dịch, trước độ tuổi đó đã hợp thành "tiệm đinh quân". Thời kỳ triều Nguyên, trong quân hộ tại Hán địa và Giang Nam ban hành chế độ đinh nam ứng dịch. Tham mã xích quân còn có tên là Thiêm quân, cùng với phát triển của chiến tranh, người thống trị cần một bộ phận quân đội Mông Cổ trấn thủ trường kỳ tại khu vực chinh phục được, do vậy trưng dụng bộ phận sĩ binh từ trong các bộ tộc Mông Cổ, hợp thành Tham mã xích quân chuyên sử dụng vào việc đồn trú phòng thủ. Từ khi kiến lập vào năm 1217 khi Mộc Hoa Lê thảo phạt Kim, do năm bộ tộc Là Hoằng Cát Lạt, Ngột Lỗ Ngột, Mang Ngột, Trát Lạc Diệc Nhi và Diệc Khất Liệt Tư tổ thành, sau khi tây chinh Khwarezm các dân tộc Hồi, Duy Ngô Nhĩ và Đột Quyết trở thành một bộ phận của Tham mã xích quân. Tham mã xích quân giỏi về hỏa pháo và Hồi Hồi pháo (máy bắn đá) phương tây, có sức công thành mạnh. "Xuống ngựa liền tụ tập chăn thả, lên ngựa liền chuẩn bị chiến tranh".」。 Sau khi chiếm lĩnh Hán địa, Mông Cổ lấy dân làm binh, tức Hán binh, chủ yếu hợp thành từ hàng quân Nữ Chân và Khiết Đan của Kim, binh sĩ Nam Tống đầu hàng Mông Cổ thời kỳ đầu, thế lực vũ trang người Hán địa phương và bách tính Hán địa được trưng dụng. Oa Khoát Đài Hãn vào năm 1229 thu nạp và cải biên hàng quân Nữ Chân và Khiết Đan của Kim, trưng dụng sĩ binh quy mô lớn trong dân hộ tại Hán địa, bổ sung số lượng binh sĩ cho Hán quân, đem tổ chức và danh xưng chức vụ trong Mông Cổ quân áp dụng cho hệ thống Hán quân. Các vạn hộ của Hán quân có quân số không giống nhau, "lớn có 5, 6 vạn, nhỏ không dưới 2, 3 vạn". Hán quân có phân biệt "cựu quân" và "tân quân"; cựu quân chủ yếu là hàng quân và thế lực vũ trang địa phương, tân quân chỉ tân binh là bách tính bị trưng dụng tại Hán địa. Sau khi Nguyên Thế Tổ tức vị, trọng tâm thống trị của Nguyên từ thảo nguyện Mạc Bắc chuyển đến Hán địa Trung Nguyên. Nguyên Thế Tổ tiến hành cải cách đối với thể chế quân đội; dần hình thành hai hệ thống lớn là túc vệ quân tại trung ương và trấn thú quân tại địa phương, xác định quan hệ tổ chức và lệ thuộc của quân Nguyên. Trong chiến tranh đối ngoại của Nguyên, Hán quân phát huy vai trò trọng yếu. Tân phụ quân chủ yếu là hàng quân được thu nạp và cải biên trong thời gian chinh phục Nam Tống, còn được gọi là Tân phụ Hán quân, Nam quân. Danh hiệu trong Tân phụ quân phức tạp, triều đình Nguyên dựa vào đặc điểm khác biệt mà đặt danh xưng, như khoán quân, thủ hiệu quân hay diêm quân. Ước tính đương thời Tân phụ quân có trên dưới hai mươi vạn binh sĩ, Hoàng đế đem Tân phụ quân phân đến thị vệ quân và trấn thú quân; hoặc lập mới quân phủ gồm người Mông Cổ, Hán nhân, Nam nhân, quản lĩnh quân nhân của Tân phụ quân. Mỗi khi chiến sự phát sinh, trước tiên điều tân phụ quân trong các quân xuất chinh, thời gian còn lại họ làm đồn điền và công dịch. Do tiêu hao trong chiến tranh kéo dài và yếu tố tự nhiên, số lượng binh sĩ Tân phụ quân ngày càng giảm thiếu, cuối cùng sa sút. Phòng vệ của triều Nguyên phân thành hai hệ thống lớn là Túc vệ và trấn thú. Túc vệ quân do khiếp tiết và thị vệ thân quân cấu thành, trong đó khiếp tiết quân duy trì chế độ 'tứ khiếp tiết phiên trục túc vệ' từ thời Thành Cát Tư Hãn, số lượng thường trên vạn người, công thần triều Nguyên là Bác Nhĩ Hốt, Bác Nhĩ Thuật, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn hoặc hậu nhân của họ kiêm nhiệm khiếp tiết trưởng. Trong chiến tranh, khiếp thiết là lực lượng cơ sở của toàn quân, được gọi là "dã khách hoát lặc" (đại trung quân); thị vệ thân quân dùng vào việc bảo vệ Đại Đô, 'vệ' đặt đô chỉ huy sứ hoặc soái sứ, lệ thuộc Xu mật viện. Trấn thú quân gồm Mông Cổ quân và Tham mã xích quân trấn thủ khu vực trọng yếu gần kinh kỳ, Mông Cổ quân và Tham mã xích quân tại Hoa Bắc, Thiểm Tây, Tứ Xuyên do đô vạn hộ phủ (đô nguyên soái phủ) tại địa phương thống lĩnh, lệ thuộc Xu mật viện. Tại phương nam, Mông Cổ quân, Hán quân, Tân phụ quân cùng trú thủ, trọng điểm phòng ngự là khu vực Giang-Hoài, lệ thuộc các hành tỉnh. Các lực lượng trấn thú khi khẩn cấp thì do Xu mật viện thống lĩnh, thời bình thì hành tỉnh quản lý sự vụ thường ngày, song quân vụ trọng yếu như điều khiển canh phòng do Xu mật viện quyết định. Thủy quân triều Nguyên khởi đầu khi chuẩn bị chiến tranh diệt Tống, cụ thể vào năm 1270 Mông Cổ mệnh Lưu Chỉnh gây dựng thủy quân quy mô lớn. Trong trận Tương Phàn, thủy quân và lục quân Nguyên hiệp đồng bao vây Tương Dương. Sau khi Nguyên chiếm thành, hàng tướng Lã Văn Hoán lãnh đạo thủy quân cùng lục quân theo bờ sông hiệp đồng trong trận Đinh Gia Châu, đánh tan thủy quân tinh nhuệ của Nam Tống. Sau đó, Trương Hoằng Phạm đem thủy quân Nguyên vượt biển về phía nam truy kích hải quân Nam Tống, cuối cùng tiêu diệt trong Hải chiến Nhai Sơn. Do vậy, thủy quân Nguyên trong chiến tranh diệt Tống có chức năng trọng yếu. Triều Nguyên dung hợp kỹ thuật hàng hải của Nam Tống và Ả Rập, khiến kỹ thuật hải quân thêm thành thục. Tuy nhiên trong đối ngoại, Chiến tranh Nguyên-Nhật và Chiến tranh Nguyên-Java kết thúc với thất bại của Nguyên, chỉ thắng lợi trong chiến tranh với Chiêm Thành. Nhân khẩu thời Nguyên có điểm đặc trưng, ngay từ thời đế quốc Mông Cổ, dân phương bắc đã không ngừng chạy xuống nam, hiện tượng này đến thời Nguyên Huệ Tông vẫn tiếp tục xảy ra, triều đình Nguyên luôn cấm đoán song không thể chấm dứt được. Trong thời gian đế quốc Mông Cổ chinh phục Tây Hạ, Kim và Nam Tống, quân Mông Cổ thường hay tiến hành đồ sát và cướp bóc trên quy mô lớn Sau đó, do dịch bệnh và mất mùa đói kém nên một lượng lớn nhân khẩu khu vực Đông Á cũng biến mất, trong đó khu vực Hoa Bắc nguyên thuộc Kim và khu vực Xuyên-Thiểm tứ lộ nguyên thuộc Nam Tống hết sức nghiêm trọng. Đây được xem là tai họa thảm khốc nhất trong lịch sử Trung Quốc, cũng là nguyên nhân chính dẫn đến phong trào di dân "Hồ Quảng điền Tứ Xuyên". Sau khi Kim diệt vong năm 1234, khu vực Hoa Bắc ước tính có 1,1 triệu hộ với 6 triệu người, chỉ bằng 13% so với mức 53,53 triệu người vào năm 1208. Trong thời gian chiến tranh Tống-Mông, số người thiệt mạng trong biên cảnh Nam Tống là khoảng 15 triệu người, chủ yếu tập trung tại khu vực Xuyên Thiểm tứ lộ. Sau khi quân Nguyên hoàn toàn tiêu diệt thế lực kháng Nguyên tại Tứ Xuyên vào năm 1279, theo điều tra thì khu vực chỉ còn hơn 9 vạn hộ và hơn 50 vạn người, chỉ bằng 4% so với mức năm 1231 tức trước khi quân Mông Cổ xâm lược Xuyên-Thiểm tứ lộ. Thời Đại Mông Cổ Quốc có 2 lần tiến hành thống kê hộ khẩu, lần thứ nhất là vào năm 1235 khi Oa Khoát Đài Hãn thi hành "Ất Mùi tịch hộ", có tư liệu về nhân khẩu của khu vực Hoa Bắc; lần sau là vào năm 1252 khi Mông Kha Hãn hoàn thành "Nhâm Tý tịch hộ", cho thấy nhân khẩu Hoa Bắc có sự gia tăng ở mức thấp. Năm 1271, Hốt Tất Liệt Hãn cải quốc hiệu thành "Đại Nguyên", kiến lập triều Nguyên. Tuy nhiên, trong thời gian từ thời Nguyên Thành Tông đến những năm đầu Chí Chính thời Nguyên Huệ Tông, chính cục triều Nguyên khổng ổn định, mỗi năm đều phải ứng phó với rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân, tuy nhiên về mặt xã hội thì cơ bản có tình trạng ổn định, kinh tế nhìn chung cũng thể hiện tăng trưởng, khiến nhân khẩu gia tăng, theo ước tính vào năm Chí Chính thứ 10 (1351) thì ở mức cao nhất. Những năm Chí Chính (1341-1370) thời Nguyên Huệ Tông, toàn quốc nhiều lần xảy ra mất mùa đối kém và dịch bệnh trên quy mô lớn, cuối cùng bùng phát thành khởi nghĩa Hồng Cân quân, sau cuộc khởi nghĩa này thì nhân khẩu suy giảm rất lớn. Sau khi Minh Thái Tổ kiến quốc có luận: "trong cuộc cách mạng đời trước, tùy tiện tiến hành giết chóc, làm trái ý trời mà hại dân, Trẫm thực không thể nhịn". Thống kê nhân khẩu vào thời Nguyên không hoàn toàn chuẩn xác, bỏ mất những hộ chạy trốn, đi nương nhờ ở nơi khác. Triều đình không thống kê hộ khẩu của Lĩnh Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh (vùng Nội Mông-Mông Cổ-nam Siberi), Vân Nam đẳng xứ hành trung thư tỉnh, các cư dân ở những khu vực thổ ty Tây Nam và Tuyên Chính viện (Tây Tạng); nhân khẩu thuộc sở hữu riêng của chư vương, quý tộc, quân tướng Mông Cổ; ngoài "chức sắc hộ kế" ở các châu huyện. Các học giả hiện đại chỉ có thể căn cứ theo số liệu nguyên thủy trong sách sử lưu giữ được để suy đoán, do vậy số liệu có thể sai khác lớn. Hiện tượng nhân khẩu chạy trốn hết sức nghiêm trọng, như vào năm 1241, trong số 1.004.656 hộ có nguyên tịch ở các lộ do Hốt Đô Hổ cai quản, thì có đến 280.746 hộ bỏ trốn, chiếm 28%. Ngoài ra, mối quan hệ dân tộc ngày càng mật thiết, hiện tượng vãng lai và tạp cư tương đối phổ biến. Từ thời kỳ chiến tranh Mông-Kim, một lượng lớn người Hán không ngừng bị buộc phải dời đến thảo nguyên Mông Cổ hay khu vực nam bắc Thiên Sơn, Liêu Dương đẳng xứ hành trung thư tỉnh và Vân Nam đẳng xứ hành trung thư tỉnh; Các quan viên, quân hộ hay thương nhân người Mông Cổ và Sắc Mục di cư với số lượng lớn đến nội địa Trung Nguyên; khu vực Vân Nam có khoảng trên dưới 10 vạn người Mông Cổ cư trú; các thành thị chính trị như Thượng Đô và Đại Đô, các thành thị thương nghiệp như Hàng Châu, Tuyền Châu, Trấn Giang đều có nhiều người Mông Cổ, người Duy Ngô Nhĩ, người Hồi giáo, người Đảng Hạng, người Nữ Chân hay người Khiết Đan cư trú, giữa các dân tộc có sự giao lưu kinh tế và văn hóa, bang trợ lẫn nhau. Do tỷ lệ người Mông Cổ và người Hán hết sức chênh lệch, văn hóa và chế độ của người Hán cũng ưu việt hơn so với người Mông Cổ, triều đình Nguyên do vậy bảo hộ địa vị của người Mông Cổ, chủ trương Mông Cổ chí thượng chủ nghĩa, thi hành chính sách phân chia chế độ với bốn tầng lớp dân cư: Mông Cổ nhân, Sắc Mục nhân (người Tây Vực và Tây Hạ), Hán nhân (người Hán nguyên thuộc Kim), Nam nhân (người Hán nguyên thuộc Nam Tống). Triều đình Nguyên trao cho Mông Cổ nhân và Sắc Mục nhân quyền lợi rất lớn, bắt Hán nhân và Nam nhân phải chịu thuế và lao dịch nặng, áp bức dân tộc và áp bức giai cấp rất trầm trọng. Ở thời Nhà Nguyên, một nền văn hóa đa dạng đã phát triển. Những thành tựu văn hóa chính là sự phát triển của kịch và tiểu thuyết cùng sự gia tăng sử dụng tiếng địa phương. Vì sự cai trị trên toàn vùng Trung Á đã được thống nhất, thương mại giữa Đông và Tây gia tăng mạnh mẽ. Các mối liên hệ rộng lớn của Mông Cổ với Tây Á và châu Âu khiến việc trao đổi văn hóa diễn ra ở mức độ rất cao. Các nhạc cụ phương Tây xuất hiện và làm phong phú thêm cho các môn nghệ thuật biểu diễn Trung Quốc. Từ giai đoạn này số người theo Hồi giáo ở tây bắc và tây nam Trung Quốc ngày càng gia tăng. Cảnh giáo và Công giáo La Mã, hai nhánh của Kitô giáo, cũng trải qua một giai đoạn thanh bình. Phật giáo Tây Tạng phát triển, dù Đạo giáo trong nước bị người Mông Cổ ngược đãi. Các hoạt động triều đình và các kỳ thi dựa trên các tác phẩm kinh điển Khổng giáo, vốn đã bị bãi bỏ ở miền bắc Trung Quốc trong giai đoạn chia rẽ, được người Mông Cổ tái lập với hy vọng giữ được trật tự xã hội như ở thời Hán. Lĩnh vực du ký, bản đồ, và địa lý, cũng như giáo dục khoa học có bước phát triển so với trước đó. Một số phát minh quan trọng của Trung Quốc như thuốc súng, kỹ thuật in, sản xuất đồ sứ, bài lá và sách thuốc lan truyền sang châu Âu, trong khi kỹ thuật chế tạo đồ thủy tinh mỏng và cloisonné cũng trở nên phổ biến ở Trung Quốc. Những bản du ký đầu tiên của người phương Tây cũng bắt đầu xuất hiện ở thời kỳ này. Nhà du lịch nổi tiếng nhất là Marco Polo người thành Venezia (Ý), ông đã tới "Cambaluc," thủ đô của Khan vĩ đại (Bắc Kinh hiện nay), và cuộc sống ở đó theo miêu tả của ông khiến châu Âu kinh ngạc. Cuốn sách về các cuộc du lịch của ông, "Il milione" (hay Những cuộc phiêu lưu của Marco Polo), xuất hiện vào khoảng năm 1299. Những tác phẩm của John of Plano Carpini và William of Rubruck cũng cung cấp một số chi tiết đầu tiên về người Mông Cổ sang phương Tây. Người Mông Cổ tiến hành nhiều dự án công cộng lớn. Đường sá và giao thông thủy được tổ chức lại và cải tiến thêm. Để ngăn nguy cơ phát sinh nạn đói, các kho lương thực được xây dựng trên khắp đế chế. Thành phố Bắc Kinh được xây dựng lại với các cung điện mới gồm cả các hồ, đồi núi và công viên nhân tạo. Ở thời Nhà Nguyên, Bắc Kinh trở thành điểm kết thúc của Đại Vận Hà, khi ấy đã được cải tạo toàn bộ. Những cải tiến cho mục đích thương mại đó thúc đẩy thương mại trong lục địa cũng như thương mại trên biển ra toàn Châu Á tạo điều kiện thuận lợi cho những tiếp xúc trực tiếp đầu tiên giữa Trung Quốc và châu Âu. Những nhà du lịch Trung Quốc tới phương Tây có thể giúp đỡ các kỹ thuật mới như cơ khí thủy lợi. Những tiếp xúc với phương Tây cũng khiến các loại lương thực chính khác du nhập vào Trung Quốc, như kê cùng các sản phẩm lương thực từ bên ngoài khác và cách chế biến chúng. Thế phả nhà Nguyên. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, Liêu, Tống, Hạ, Kim
Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ là chức danh không chính thức dành cho bà chủ Nhà Trắng, và thường vị trí này thuộc về phu nhân Tổng thống Hoa Kỳ. Đệ Nhất Phu nhân hiện nay là Jill Biden, cựu Đệ Nhị Phu nhân (2009-2017), khi ông Joe Biden trở thành Tổng thống Hoa Kỳ vào cùng ngày. Cũng có những phụ nữ, không phải phu nhân tổng thống, phục vụ trong cương vị Đệ Nhất Phu nhân, do tổng thống còn độc thân hoặc góa vợ, hoặc khi phu nhân tổng thống không thể hoặc không muốn thực thi nhiệm vụ của Đệ Nhất Phu nhân. Khi ấy, vị trí này được dành cho một phụ nữ là người thân hoặc bạn của tổng thống. Mặc dù thuật ngữ Đệ Nhất Phu nhân đã được dùng từ trước, việc sử dụng danh hiệu này cho người phối ngẫu của người đứng đầu ngành hành pháp là một phát kiến của người Mỹ. Trong thời kỳ lập quốc, không có sự đồng thuận cho danh hiệu dành cho vợ của tổng thống. Nhiều Đệ Nhất Phu nhân trong giai đoạn này thường cho biết họ thích được gọi theo những cách khác nhau ví dụ như "Phu nhân", "Hoàng hậu", "Bà Tổng thống". Martha Washington thường được nhắc đến như là "Quý bà Washington". Theo truyền thuyết, Dolley Madison là người đầu tiên được gọi là Đệ Nhất Phu nhân, vào năm 1849, trong bài điếu văn của Tổng thống Zachary Taylor đọc trong tang lễ của bà. Song không có văn kiện nào về bài điếu văn này còn được lưu giữ đến ngày hôm nay. Khoảng giữa năm 1849 và 1877, danh hiệu này được dùng trong các nhóm xã hội tại Washington, D. C., chứng từ lâu đời nhất được lưu giữ là dòng nhật ký ghi ngày 3 tháng 11 năm 1863 của William Howard Russell, khi ông nhắc đến những mẫu chuyện về "vị Đệ Nhất Phu nhân của đất nước". Danh hiệu Đệ Nhất Phu nhân lần đầu được thừa nhận trên cả nước là vào năm 1877, khi một nhà báo, Mary Clemmer Ames, nhắc đến Lucy Webb Hayes như là "Đệ Nhất Phu nhân của đất nước" lúc đang tường thuật lễ nhậm chức của Rutherford B. Hayes. Hayes rất được yêu thích, do đó những bài tường thuật thường xuyên về các hoạt động của bà giúp quảng bá danh hiệu này rộng khắp Washington. Năm 1911, một vở hài kịch nổi tiếng của nhà soạn kịch Charles Nirdlinger có tên "Đệ Nhất Phu nhân của Đất nước" giúp gắn kết danh hiệu này với công luận, và vào năm 1934, xuất hiện trong từ điển. Trong chính quyền, Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ đôi khi được gọi tắt là "FLOTUS" (chữ đầu của cụm từ tiếng Anh "First Lady of the United States"), tương tự với cách gọi tắt dành cho Tổng thống Hoa Kỳ là POTUS. Đệ Nhất Phu nhân không phải là một chức danh dân cử, cũng không có nhiệm vụ chính thức và không có lương bổng. Tuy vậy, Đệ Nhất Phu nhân thường tham dự nhiều nghi lễ chính thức cũng như tham gia quốc sự cùng với tổng thống hoặc thay mặt tổng thống. Thường khi, các Đệ Nhất Phu nhân dành nhiều thì giờ cho các hoạt động nhân đạo và từ thiện. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, nhiều Đệ Nhất Phu nhân thủ giữ vai trò tích cực trong các cuộc vận động cho tổng thống. Hillary Clinton còn tiến xa hơn khi đảm trách một nhiệm vụ chính thức trong chính phủ Clinton, xúc tiến những cải cách cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Danh hiệu này cũng được dùng cho vợ của một nhân vật lãnh đạo trong chính quyền hoặc cho một phụ nữ được xem là biểu tượng cho một phong trào hoạt động tích cực, thí dụ như Maria Shriver được gọi là "Đệ Nhất Phu nhân California", hoặc Mary J Blige là "First Lady of Soul". Phu nhân Phó Tổng thống Hoa Kỳ được gọi là Đệ Nhị Phu nhân Hoa Kỳ, mặc dù danh hiệu này không được sử dụng phổ biến bằng Đệ Nhất Phu nhân. Ở tiểu bang Michigan, chồng của bà Thống đốc Jennifer Granholm thường được gọi là Đệ Nhất Phu quân ("First Gentleman"). Các Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ. Những phụ nữ trong danh sách này được công nhận bởi Thư viện Đệ Nhất Phu nhân Quốc gia là "Đệ Nhất Phu nhân": Đệ Nhất Phu nhân "nhiệm quyền". Những phụ nữ trong danh sách này không phải là người phối ngẫu của tổng thống, nhưng hành động trong cương vị Đệ Nhất Phu nhân khi vị trí này bị khuyết hoặc khi Đệ Nhất Phu nhân không thể hoặc không muốn thực thi nhiệm vụ: Các cựu Đệ Nhất Phu nhân còn sống. Tính đến ngày 1 tháng 12 năm 2023 có 4 cựu Đệ Nhất Phu nhân còn sống. Trong đó, cựu Đệ Nhất Phu nhân cao tuổi nhất là Laura Bush và trẻ tuổi nhất là Melania Trump và cựu Đệ Nhất Phu nhân qua đời gần đây nhất là Rosalynn Carter vào ngày 19 tháng 11 năm 2023, ở tuổi 96, được xếp theo thứ tự nhiệm kỳ:
Metro AG là tập đoàn của các công ty bán sỉ và bán lẻ Đức. Tập đoàn có trụ sở chính ở Düsseldorf, Đức. Tổng số nhân viên là 300.000 người trong số đó có 110.000 người ở Đức (tháng 12 năm 2011 ). Theo thông tin trên trang Metro Việt Nam , Metro, hoạt động tại 33 nước, lớn đứng thứ ba ở Âu Châu và thứ tư trên thế giới. Otto Beisheim – tỷ phú, doanh nhân Đức (sinh 1924), sáng lập tập đoàn năm 1964. Nếu tổng cộng toàn bộ doanh số của các bộ phận, METRO là hãng bán lẻ thứ hai ở Châu Âu, sau Carrefour của Pháp. Nếu phần bán hàng tại kho (hoạt động mang lại doanh số lớn nhất) không được coi là bán lẻ thì hãng còn đứng sau Tesco và một vài hãng bán lẻ khác ở Châu Âu. Hiện diện ở các châu lục. Tính tới đầu năm 2007, METRO có cửa hàng ở: Tình hình tài chính. Năm 2003, METRO đạt tổng doanh thu gần 54 tỷ Euro. Lợi nhuận trước thuế 817 triệu Euro, lợi nhuận sau thuế 496 triệu Euro. Những năm đầu thế kỷ, METRO có mức tăng trưởng thấp hơn các hãng bán buôn, bán lẻ toàn cầu khác, chủ yếu là do tình hình kinh tế Đức không mấy sáng sủa. Năm 2016 Metro Việt Nam đã được bán lại cho đối tác kinh doanh Thái Lan Hệ thống siêu thi tại Việt Nam. Dưới đây là danh sách hệ thống siêu thị Metro cũ tại Việt Nam. Năm 2016, hệ thống này được bán lại cho Thai Charoen Corporation (TCC) Group và đổi tên thành MM Mega Market
Phạm Lãi (chữ Hán: 范蠡) (525 TCN - 455 TCN), biểu tự Thiếu Bá (少伯), còn gọi là Phạm Bá (范伯), Si Di Tử Bì (鸱夷子皮) hay Đào Chu Công (陶朱公), là một danh thần của nước Việt (khác với nước Việt Nam) thời Xuân Thu Chiến Quốc, nổi tiếng thông tuệ, học thức và vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô, quốc gia trước đó nhờ vào Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ đã đánh bại nước Sở . Ông nổi tiếng như một thần đồng, từ kinh sử, văn học, đến kinh tế lẫn chính trị đều hơn người, các tác phẩm của ông như Binh pháp (兵法) và Dưỡng ngư kinh (养鱼经) đã thất lạc, chỉ còn sót lại dẫn cú trong Văn tuyển (文选). Ngoài ra ông còn tập Đào Chu công sinh ý kinh (陶朱公生意经) nói về thương mại cũng rất nổi tiếng. Mưu thần phục quốc. Phạm Lãi, người nước Việt thời Việt vương Câu Tiễn. Ông xuất thân bần hàn nhưng tài học hơn người, từ kinh tế, chính trị, văn học và thiên văn không gì không tinh thông. Khi Việt vương Câu Tiễn muốn đem quân sang đánh nước Ngô, Phạm Lãi can nhưng Câu Tiễn không nghe. Kết quả là bị Ngô Phù Sai đánh cho đại bại ở Cối Kê, bị bắt làm tù binh. Sau đó, Việt vương được tha cho về nước. Về tới nước, Câu Tiễn bên trong nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống. Việt vương giao Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích trữ quân lương. Cùng lúc, Phạm Lãi và bạn thân là đại thần Văn Chủng dùng mỹ nhân kế tuyển lựa người đẹp trong nước là Thi Di Quang (tức Tây Thi - một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Hoa) và Trịnh Đán (sau được gọi là Đông Thi) dâng cho vua nước Ngô là Ngô Phù Sai làm cho Ngô vương hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại trung thần Ngũ Tử Tư (một trong những trụ cột chính của đất nước). Cuối cùng Câu Tiễn đánh úp nước Ngô, tiêu diệt được Ngô Phù Sai rửa được cái nhục ở Cối Kê (năm 473 TCN). Rút lui đúng lúc. Khi đại sự thành công, Phạm Lãi cho rằng vua Việt có tướng cổ cao, môi dài mỏ quạ, là người nhẫn tâm mà ghét kẻ có công, cùng ở lúc hoạn nạn thì được chứ lúc an lạc thì không được, nên không ở lại làm quan mà bí mật trốn đi ở ẩn. Theo Sử ký - nguồn tài liệu đáng tin cậy hơn cả - Phạm Lãi đến nước Tề, cha con cùng tự cày cấy làm ăn.Được mấy năm thì giàu có nổi danh thiên hạ.Vua Nước Tề biết Phạm lãi là người hiền sai sứ mang ấn tướng quốc đến mời ông vào triều làm tướng quốc.Nhưng làm được ba năm thì ông ngậm ngùi than :"Ở nhà thì có hàng ngàn lạng vàng,làm quan thì đến công, khanh ,tướng quốc,kẻ áo vải được thế là tột bậc rồi,giữ mãi cái tiếng tăm lừng lẫy này là không tốt!".Bèn trả ấn tướng quốc,đem tất cả tài sản chia cho bạn bè,hàng xóm láng giềng và người nghèo.Chỉ giữ lại và mang những của thật quý lẻn đi.Phạm lãi dừng chân ở đất Đào,cho nơi đó là ở giữa thiên hạ,tiện đường đổi chác,buôn bán để làm giàu.Phạm lãi đổi tên gọi mình là Đào Chu Công và cũng chỉ sau mấy năm lại trở thành người giàu có nổi danh thiên hạ.Sau đó lại chia phần lớn tài sản cho bạn bè và xóm làng .Và lại kinh doanh lại từ đầu.Cuối đời để lại tài sản cho con trai và qua đời ở Đất Đào .Vì Phạm Lãi giàu mà có đức nên người đời sau tôn thờ là ông Thần Tài. Có thuyết nói rằng ông rủ người đẹp Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, sống cuộc đời phóng khoáng tự do, khi ca hát, khi câu cá, lúc đọc sách, mặc cho thời gian trôi qua. Nhưng có thuyết khác bác bỏ ý trên, Đông Chu liệt quốc cho rằng khi diệt được Ngô, Câu Tiễn định mang Tây Thi về Việt nhưng vợ Câu Tiễn ghen và sợ chồng mình mê đắm Tây Thi mà mất nước như Phù Sai nên bí mật sai người bắt nàng, buộc đá vào cổ và đẩy xuống sông cho chết. Vì thế Phạm Lãi chỉ đi một mình. Trong suốt quãng đời ẩn danh, mưu sinh bằng nghề buôn, ông đã đúc kết cho mình và cho thiên hạ được 18 nguyên tắc kinh doanh hết sức quý giá truyền lại cho đến nay. Sách cổ Trung Hoa sau này ghi lại với tựa là Đào Chu công sinh ý kinh (陶朱公生意经), còn gọi là Đào Chu Công kinh thương thập bát tắc (陶朱公经商十八则), Đào Chu công thương huấn (陶朱公商训) hay Đào Chu công thương kinh (陶朱公商经). Mười tám quy tắc kinh doanh được phân chia thành ba mục cụ thể rõ ràng. VỀ PHƯƠNG THỨC KINH DOANH: Lời khuyên Văn Chủng. Theo Sử ký, khi bỏ sang Tề, trong thư Phạm Lãi gửi cho Văn Chủng có đoạn viết: "Phi điểu tận, lương cung tàng. Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh. Việt vương vi nhân trường cảnh điểu uế, khả dữ cộng hoạn nạn, bất khả dữ cộng lạc. Tử hà bất khứ?" "Chim bay mất hết, cung tốt được cất đi. Thỏ khôn chết, chó săn bị nấu. Việt vương là người cổ dài, miệng diều hâu, chỉ có chung hoạn nạn mà không thể chung phú quý. Thầy sao còn chưa lui về?" Văn Chủng nhận được thư, cáo bệnh không vào triều. Có người sàm tấu Văn Chủng muốn phản loạn. Câu Tiễn ép Văn Chủng tự sát bằng cách ban cho ông thanh kiếm và viết "Tử giáo quả nhân phạt Ngô thất thuật, quả nhân dụng kì tam nhi bại Ngô, kì tứ tại tử, tử vi ngã tòng tiên vương thí chi." (Dịch nghĩa: Thầy dạy quả nhân 7 thuật phạt Ngô, quả nhân dùng 3 đánh bại Ngô, còn 4 ở lại với thầy, thầy vì ta theo tiên vương mà thử.). Văn Chủng bèn tự sát. Theo một tài liệu khác Văn Chủng bị chém chết dù Văn Chủng không có tội gì. Cũng từ đó mà có thành ngữ "Thỏ tử cẩu phanh", dùng để ám chỉ thói đời đen bạc, lấy oán trả ân, các vị vua hung bạo bất nhân, khi đã lập quốc thành công rồi thì trở mặt giết hại các công thần. Cứu nước không cứu nổi con. Theo Sử ký, con thứ Phạm Lãi phạm tội giết người, bị giam ở nước Sở. Phạm Lãi quen tướng quốc Sở là Trang Sinh, sai con mang 1.000 dật (24.000 lượng) vàng đi "đút lót" cho Trang Sinh xin tha con mình. Ông muốn sai đứa con út đi, nhưng người con cả nhất định đòi đi, nếu không sẽ tự sát; vợ ông cũng muốn để người con cả đã chín chắn vì sợ cậu con út còn ít tuổi. Cuối cùng ông đành nghe theo. Người con cả đến nước Sở gặp Trang Sinh, đưa vàng và ngỏ lời nhờ tha cho em mình. Trang Sinh nhận lời, bảo con Phạm Lãi cứ về, rồi em sẽ được thả mà không được hỏi lý do tại sao. Trang Sinh vốn là người ngay thẳng, định bụng sau khi xong việc sẽ hoàn lại vàng cho Đào Chu công. Sau đó Trang Sinh vào tâu vua Sở Huệ Vương, mượn điềm thiên văn tai ương để xui vua Sở phóng thích tù nhân, làm điều phúc đức tránh tai hoạ. Vua Sở nghe theo, bèn ra lệnh sẽ thả hết phạm nhân. Con cả Phạm Lãi chưa về ngay, lại lấy tiền riêng của mình mang theo là 100 dật, nhờ cậy một vị quan khác nước Sở nghe ngóng tình hình. Nghe tin vị đó báo lại là vua Sở sẽ đại xá, anh ta nghĩ rằng đáng lý mình không phải phí vàng đem đút lót mà em mình vẫn được thả, nên quay lại nhà Trang Sinh. Trang Sinh biết ý anh ta muốn đòi vàng, bèn trả lại; nhưng trong bụng thấy xấu hổ vì bị trẻ con nghĩ rằng mình là kẻ tham lam, bèn vào tâu vua Sở rằng: "Tôi nghe thiên hạ dị nghị rằng đại vương nhận tiền đút lót của Phạm Lãi nên mới đại xá thiên hạ, làm giảm ân đức của người. Vậy xin chém riêng con Phạm Lãi để thiên hạ thấy sự nghiêm minh, nhân đức của đại vương!" Vua Sở nghe theo, bèn sai mang con thứ Phạm Lãi trong ngục ra chém, còn những phạm nhân khác đều tha. Người con cả mang xác em về. Bà vợ khóc than, Phạm Lãi nói: "Sở dĩ tôi muốn sai thằng út đi, vì khi nó sinh ra, nhà ta đã khá giả; vì thế nó sẽ không tiếc của mang hối lộ người ta. Còn thằng cả sinh ra khi nhà ta còn nghèo khó, nó sẽ tiếc của. Bởi thế lúc nó đi, tôi biết là nó sẽ phải mang xác em nó về". Phạm Lãi hiểu nhân tình thế thái, không những hiểu từng đứa con, còn hiểu cả Trang Sinh nữa; tuy ông có thể cứu nước Việt nhưng lại không cứu nổi con mình. Tư Mã Thiên nhận định: "Phạm Lãi ba lần đổi chỗ ở mà thành danh trong thiên hạ. Không phải ông ta chỉ bỏ đi một cách dễ dàng và thế là hết. Ông ta ở đâu, là nổi danh ở đấy". Phạm Lãi là tướng tài duy nhất sống sót, bởi ông đã sớm nhận ra con người của Câu Tiễn. Ông được người đời sau khen là: f g h i j k Sử ký: quyển 41, Thế gia - Việt vương Câu TIễn thế gia
Đảng Dân chủ Việt Nam Đảng Dân chủ Việt Nam là "chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam", hoạt động từ năm 1944, tên ban đầu là Việt Nam Dân chủ Đảng hay Việt Nam Tân dân chủ Đảng. Tiền thân là Tổng hội sinh viên Đại học Tổng hợp Hà nội năm 1940, sau các nhóm sinh viên yêu nước hợp nhất thành lập đảng. Đảng tham gia Việt Minh, Dương Đức Hiền tham gia Tổng bộ Việt Minh, sau đó lại tách , và tham gia Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Trong Quốc hội khóa I năm 1946 đảng giành 46 ghế, do Đỗ Đức Dục và Tôn Quang Phiệt lãnh đạo. Đảng có 2 ghế trong Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận) và 4 ghế trong chính phủ lâm thời, đến tháng 3 năm 1946 (Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận, Vũ Trọng Khánh, Vũ Đình Hòe). Ở Nam bộ ban đầu các đảng viên hoạt động như là nhóm Tân Dân chủ (Huỳnh Văn Tiểng lãnh đạo, năm 1945). Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12 năm 1946, đảng lại gia nhập Việt Minh. Từ năm 1954 đến 1975 đảng hoạt động tại miền Bắc Việt Nam (Đảng bộ tại miền Nam về hình thức tách ra năm 1961 vẫn lấy ngày thành lập năm 1944, thành lập Đảng Dân chủ tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tới 1975), và từ 1975 đến 1988 trên toàn Việt Nam. Kể từ Quốc hội khóa II, ứng cử viên tranh cử trong khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhóm Dương Đức Hiền. Trong bối cảnh và điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam những năm 1939–1945, các tầng lớp trí thức, sinh viên, viên chức và một số người thuộc các tầng lớp trung lưu khác ở thành thị đã có những chuyển biến về tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và khả năng tham gia đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Thời kỳ này trong giới trí thức đã hình thành nhiều nhóm và tổ chức khác nhau, nổi lên trong đó là "nhóm của ông Dương Đức Hiền được hình thành từ đầu năm 1941 gồm những trí thức đã tốt nghiệp các trường Đại học Luật, Y, Dược, Khoa học, Nông Lâm và những sinh viên người Bắc, Trung, Nam bộ hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Đông Dương". Họ là những người muốn tìm con đường đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc. Hoạt động của nhóm trí thức Dương Đức Hiền trong buổi đầu là những hình thức hợp pháp, mang đặc trưng của giới thanh niên, học sinh, sinh viên, mang tính chất tự phát, chưa có nội dung cách mạng sâu sắc, nhưng đã góp phần khơi gợi lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức chống xâm lược, chống chế độ cường quyền bất công, yêu thương đồng bào trong giới trí thức, sinh viên, học sinh, viên chức, tư sản dân tộc và đã gây được tiếng vang trong một số thành phố. Chính quyền thực dân Pháp lo sợ, tìm cách đối phó bằng nhiều thủ đoạn: mua chuộc, lôi kéo, doạ dẫm, kiểm duyệt gắt gao nội dung các vở kịch, các bài diễn thuyết, cho tay chân đi kích động chia rẽ, khủng bố... Sở Liêm phóng Hà Nội đã gọi ông Dương Đức Hiền đến để đe doạ, Đại Việt Nguyễn Tường Tam, Quốc Dân đảng Vũ Hồng Khanh cũng gặp gỡ ông để thuyết phục ông tham gia đảng của họ. Lúc này Đảng Cộng sản Đông Dương thực hiện chủ trương: tranh thủ, vận động trí thức, tư sản dân tộc và các tầng lớp trung gian ở thành thị (nhất là ở các thành phố lớn) ủng hộ mặt trận Việt Minh. Đảng đã chú ý đến hoạt động của nhóm trí thức Dương Đức Hiền và cử cán bộ đến gặp gỡ, đưa chương trình hoạt động, điều lệ tổ chức của Mặt trận Việt Minh cho nhóm nghiên cứu. Nhiều cuộc gặp gỡ bí mật đã diễn ra để trao đổi, giúp nhóm nhận rõ tình hình thế giới và tình hình trong nước, nhận rõ âm mưu của thực dân Pháp, phát xít Nhật và tình thế thất bại cuối cùng của phe phát xít và việc cần phải đoàn kết với những người cộng sản, với công nông, dùng bạo lực đánh đuổi phát xít Nhật và  thực dân Pháp, giải phóng cho dân tộc. Tháng 2 năm 1944, nhóm trí thức Dương Đức Hiền đã có sự phân công: Anh em quê ở Bắc bộ thì hoạt động ở ngoài Bắc, còn anh em quê ở Nam bộ thì về Nam vận động trí thức, sinh viên, học sinh, viên chức trong đó để có sự phối hợp hoạt động của hai miền. Đoàn về Nam có Đặng Ngọc Tốt, Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Việt Nam, Lê Văn Nhàn, Vương Văn Lễ, Tạ Bá Tò, từ Hà Nội đến Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ với lý do công khai "do chiến tranh, việc học hành có nhiều trắc trở, anh em phải nghỉ học về quê hương và phương tiện giao thông lúc này khó khăn nên phải đi bằng xe đạp". Đoàn đi đến thị xã Ninh Bình thì bị mật thám Pháp bắt giữ và đưa trở lại Hà Nội, giam tại nhà pha Hoả Lò. Nhưng sau những trận tra hỏi, không lấy được chứng cứ gì để trị tội, họ phải thả ra, anh em lại tiếp tục lên đường về Nam. Các anh em còn lại ở ngoài Bắc hoạt động rất tích cực và ngày càng tập hợp được nhiều người có cùng chí hướng. Ngày 30 tháng 6 năm 1944, ông Dương Đức Hiền đã bí mật triệu tập một cuộc họp gồm 8 người: luật sư Dương Đức Hiền, bác sĩ Nha khoa Nguyễn Dương Hồng, nhà thơ, kỹ sư canh nông Cù Huy Cận, bác sĩ Huỳnh Bá N(để tránh các trận oanh tạc của máy bay quân đồng minh đánh phá các cơ sở quân sự của Nhật ở Hà Nội) tại làng Thanh Xuân, cách thị xã Hà Đông 2 km, nằm ngay ven đường Hà Đông đi Hà Nội. Cuộc họp bí mật này đã quyết định thành lập một tổ chức cách mạng, đặt tên là Việt Nam Dân chủ Đảng (sau đổi tên là Đảng Dân chủ Việt Nam) và thông qua Cương lĩnh, Chương trình hành động, Điều lệ đầu tiên của Đảng. Đặt cơ sở trên tư tưởng liên minh với các lực lượng cách mạng để tranh đấu cho độc lập dân tộc và xây dựng chế độ dân chủ mới, tuy còn sơ lược nhưng Cương lĩnh, Chương trình hành động đầu tiên của Đảng đã xác định rõ mục tiêu đấu tranh cơ bản là: "Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc"," phù hợp nguyện vọng của mọi tầng lớp yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ. Đảng xây dựng tổ chức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc do mặt trận Việt Minh lãnh đạo (tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung (các cơ quan chỉ huy cấp nào đều do đại biểu cấp ấy bầu ra; tất cả các chủ trương hoặc công việc đều quyết định theo sự thoả thuận của đa số), do đó tổ chức hoạt động của Đảng đã nhanh chóng gây được ảnh hưởng, nhất là các tầng lớp trung gian ở thành phố và thị xã. Sau hội nghị thành lập ở Thanh Xuân, những người sáng lập Đảng Dân chủ Việt Nam đã bí mật tổ chức một số Hội nghị để bàn về phương hướng hoạt động cụ thể. Đầu tháng 7 năm 1944, lấy danh nghĩa một chính đảng cách mạng, Đảng Dân chủ Việt Nam đã tự nguyện gia nhập Mặt trận Việt Minh. Từ đó, Đảng luôn luôn đoàn kết chặt chẽ với các tổ chức cách mạng trong Mặt trận, góp phần vận động đấu tranh cách mạng chống Nhật, chống Pháp, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước. Giai đoạn trước 1945. Trong thời kỳ chuẩn bị và tiến hành Cách mạng tháng 8 năm 1945, yêu cầu vận động, tranh thủ, đoàn kết các tầng lớp trung gian ở thành thị ủng hộ và tham gia cách mạng là yêu cầu quan trọng, cấp thiết trước mắt. Để góp phần tích cực thực hiện yêu cầu đó, Đảng Dân chủ Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động trên cả nước, nhất là ở các thành phố, thị xã và ở các cơ quan chính quyền. Tháng 11 năm 1944, Trung ương Đảng Dân chủ trương ra tờ báo Độc lập, cơ quan tuyên truyền vận động cách mạng của Đảng. Dương Đức Hiền và Nguyễn Đình Thi chịu trách nhiệm bài vở, Văn Cao phụ trách in ấn. Những bài luận văn như ""Gấp tiến tới Tổng khởi nghĩa", bài "Mệnh lệnh khởi nghĩa của Việt Minh", "Nghị quyết của Đảng Dân chủ Việt Nam hưởng ứng tổng khởi nghĩa"... cùng các bài nhạc "Tiến quân ca" (Văn Cao), "Du kích ca" (Đỗ Nhuận), "Thanh niên cứu quốc ca"" (Nguyễn Đình Thi)... đã gây thêm chất men hào hùng cho không khí tiền khởi nghĩa, thúc giục, động viên các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, công chức, học sinh, sinh viên hăng hái tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945) lãnh đạo của Đảng Dân chủ đã bí mật triệu tập một cuộc hội nghị nghiên cứu bản Chỉ thị "Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Đảng Cộng sản Đông Dương để nắm rõ tình hình và phương hướng hành động. Với chiến lược đề ra là: "tích cực lột mặt nạ và đập tan các hạng Việt gian đầu hàng Nhật, đặc biệt là các nhóm Đại Việt", các Đảng viên đã đi xuống các địa bàn, chỉ đạo các cơ sở Đảng, tích cực tuyên truyền, vận động những người trí thức, sinh viên, viên chức và cả những người thuộc tầng lớp trung gian khác tham gia đấu tranh vạch trần bản chất cướp bóc của Nhật và thuyết Đại Đông Á bịp bợm của họ, kiên quyết chống chính phủ Đế quốc Việt Nam và các đảng phái thân Nhật"," góp phần phá tan ảnh hưởng của lực lượng thân Nhật trong các tầng lớp nhân dân. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào khai mạc. Đoàn đại biểu Đảng Dân chủ Việt Nam tham gia Quốc dân Đại hội Tân Trào có luật gia Dương Đức Hiền, bác sĩ nha khoa Nguyễn Dương Hồng, nhà thơ – kỹ sư canh nông Cù Huy Cận, nữ sinh Thanh Thủ Được tin Tổng hội viên chức Hà Nội tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát lớn vào chiều ngày 17 tháng 8 để ủng hộ Chính phủ Đế quốc Việt Nam đang hoang mang, rệu rã, Uỷ ban Khởi nghĩa quyết định biến cuộc mít tinh ấy thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng. Chiều hôm đó, cùng với đông đảo hội viên các đoàn thể cứu quốc ở nội và ngoại thành, các đội tuyên truyền xung phong, các đảng viên Đảng Dân chủ và các đội tuyên truyền xung phong Dân chủ Đả, các đội viên tuyên truyền xung phong Việt Minh xông lên giành lấy diễn đàn, thông báo tin quân Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện, kêu gọi đồng bào ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Đảng viên Đảng Dân chủ đã phân phát lời hiệu triệu ký tên là: ""Ban xung phong của Dân chủ Đảng trong Việt Minh". Bản hiệu triệu viết: Ở Bắc bộ, Đảng Dân chủ Việt Nam đã tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các thị xã quan trọng như Hà Đông, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Phú Thọ và một số huyện lỵ. Ở Nam bộ, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, những người trong Tân dân chủ Đoàn đã tích cực tuyên truyền cương lĩnh, chương trình hành động của Việt Minh, in và rải truyền đơn lời kêu gọi của kỳ bộ Việt Minh Nam bộ, phổ biến tin tức về thắng lợi của Hồng quân Liên Xô và Đồng Minh trong chiến tranh thế giới thứ Hai, về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân trong cả nước. Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống các đảng phái thân Nhật như đảng “Việt Nam Quốc gia độc lập”, đảng “Đại Việt”, loại bỏ ảnh hưởng của các đảng phái đó trong các tầng lớp trí thức, sinh viên, học sinh, viên chức và tư sản dân tộc ở miền Nam, hướng họ đi theo Việt Minh. Các thành viên Tân dân chủ Đoàn còn được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ: Đưa người vào phong trào Thanh niên Tiền phong hoạt động công khai, nhằm phân hóa, lôi kéo đông đảo thanh niên trong phong trào này ủng hộ Việt Minh, cô lập những phần tử thân Nhật. Họ đã dần dần nắm được cán bộ chủ chốt và tổ chức cơ sở của Thanh niên Tiền phong ở Sài Gòn cũng như ở nhiều tỉnh Nam bộ. Đến những ngày gần Tổng khởi nghĩa, Mặt trận Việt Minh Nam bộ đã hoàn toàn nắm được phong trào Thanh niên Tiền phong với những khẩu hiệu "Việt Nam độc lập", "Chính phủ Cộng hoà Dân chủ", "Chính quyền về tay Việt Minh" và biến phong trào này trở thành lực lượng tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ. Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, họ đã phối hợp với các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh ở Sài Gòn, Chợ Lớn và một số thị xã, thị trấn quan trọng ở Nam Bộ, vận động các tầng lớp nhân dân xuống đường biểu tình giành lấy chính quyền về tay Việt Minh. Sau khi Cách mạng tháng Tám giành được thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị cải tổ Uỷ ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đại biểu của Đảng Dân chủ Việt Nam tham gia Chính phủ lâm thời gồm có: Dương Đức Hiền – Bộ trưởng Bộ Thanh Niên, Vũ Đình Hoè – Bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục, Cù Huy Cận – Bộ trưởng không giữ bộ nào. Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng Dân chủ Việt Nam cùng với Đảng Cộng sản và các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh tham gia vào việc xây dựng chính quyền mới, đấu tranh với các đảng phái như Đại Việt, Việt Quốc, Việt Cách, chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hơn 40 đại biểu của Đảng Dân chủ đã được nhân dân tín nhiệm bầu vào Quốc hội. Ở Hà Nội, trong số 6 người đã trúng cử đại biểu Quốc hội thì có tới 4 người là đại biểu của Đảng Dân chủ, gồm: Nguyễn Văn Luyện, Vũ Đình Hoè, Hoàng Văn Đức, Nguyễn Thị Thục Viên. Ngày 15 tháng 8 năm 1946, Đại hội lần thứ Nhất Đảng Dân chủ Việt Nam khai mạc tại Nhà hát lớn Hà Nội và họp trong 6 ngày từ 15 đến 20 tháng 8 năm 1946 tại số nhà 101 đại lộ Gambetta, nay là phố Trần Hưng Đạo. Tham dự Đại hội gồm 235 đại biểu. Đại hội đã nhận định tình hình thế giới và trong nước, qua đó, Đại hội xác định nhiệm vụ hiện tại của cách mạng Việt Nam. Các đại biểu đã tham gia góp ý cho Đảng cương mới do Đỗ Đức Dục soạn thảo và làm rõ khái niệm "Dân chủ mới" mà Đảng "cương quyết mang ra thực hiện trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam":" Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm 21 người (19 chính thức, 2 dự khuyết) và nhất trí cử giáo sư Ca Văn Thỉnh làm Tổng Thư ký. Khi chiến tranh lan rộng ra khắp cả nước, cơ sở của Đảng Dân chủ Việt Nam ở nhiều tỉnh, thành phố, thị xã thuộc Bắc bộ, Trung Bộ và Nam Bộ lọt vào vùng địch tạm chiếm nên hoạt động rất khó khăn. Từ đầu năm 1947 đến cuối 1952, Đảng đã chuyển hướng tổ chức hoạt động về các thị trấn và một số huyện, xã trong vùng kháng chiến thuộc một số tỉnh ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ và đối tượng tổ chức, vận động của Đảng thời kỳ này nhằm vào tầng lớp tư sản dân tộc, tiểu tư sản, công thương, trí thức tản cư theo kháng chiến ở các thị trấn và một số thuộc tầng lớp hữu sản, thân hào, thân sĩ ở nông thôn, lập thành các chi bộ thị trấn và chi bộ xã. Ở một số thành phố lớn bị địch tạm chiếm như Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ... Đảng bộ Nam bộ đã chủ trương đưa một số cán bộ luồn vào hoạt động bí mật, dùng mọi hình thức tuyên truyền thích hợp, vận động những trí thức, sinh viên, viên chức, tư sản công thương yêu nước tham gia những cuộc đấu tranh hợp pháp chống Pháp và vận động họ ủng hộ kháng chiến. Để tiếp tục vận động, tuyên truyền đắc lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dầu trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, báo "Độc Lập" – cơ quan tuyên truyền của Đảng đã không ngừng củng cố toà soạn cũng như cơ sở vật chất, kỹ thuật cho ấn loát… Ở Nam Bộ thời kỳ này, ngoài tờ "Độc Lập", Kỳ ủy Dân chủ còn cho xuất bản tập san "Nhất trí" hoạt động từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 12 năm 1949, góp phần động viên nhân dân miền Nam chiến đấu. Để phát huy khả năng của trí thức, viên chức có chuyên môn khoa học, kỹ thuật, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế kháng chiến, tháng 3 năm 1949, Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Hội nghị những đảng viên có chuyên môn khoa học kỹ thuật trong Đảng và xác định rõ quan điểm: Khoa học kỹ thuật phục vụ dân sinh, phục vụ kháng chiến, chống tư tưởng ""chuyên môn tách rời chính trị". Hội nghị đã có tác dụng động viên các nhà khoa học, kỹ thuật, những người trí thức nói chung ở vùng kháng chiến mang hết tài năng, trí tuệ phục vụ kháng chiến. Các nhà lãnh đạo chủ chốt. Các nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng Dân chủ và các chức vụ từng giữ qua: Ngày 13 tháng 10 năm 1988, Hội đồng Nhà nước đã tặng Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho Đảng Dân chủ Việt Nam để ghi nhận những công hiến của Đảng Dân chủ Việt Nam trong sự nghiệp Cách mạng chung của dân tộc trong 2 cuộc kháng chiến, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sau khi được tặng Huân chương Sao Vàng, Đảng Dân chủ Việt Nam tuyên bố giải thể trong năm 1988. Tuyên bố khôi phục Đảng Dân chủ. Ngày 1 tháng 6 năm 2006, ông Hoàng Minh Chính cựu Tổng Thư ký Đảng Dân chủ dưới thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra tuyên bố phục hồi hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam. Đảng này lấy lại tên cũ là "Đảng Dân chủ Việt Nam", để nhấn mạnh đảng được phục hoạt và phát triển ở thế kỷ 21, các nhà lãnh đạo đảng thường sử dụng tên gọi tắt khác là Đảng Dân chủ thế kỷ 21, tên này được sử dụng rộng rãi thay vì dùng tên chính thức.. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Văn Tiểng, cố Uỷ viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988, thì: "Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng". Và "Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng 'khôi phục' thì về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988.""
Phố Hiến (chữ Nôm: 庯憲) là một địa danh lịch sử ở thành phố Hưng Yên. Vào các thế kỷ 17-18, nơi đây là một thương cảng cổ nổi tiếng của Việt Nam. Lúc ấy, phố Hiến là một đô thị trải dài theo bờ tả ngạn sông Hồng. Ngoài kinh đô Thăng Long - Kẻ Chợ là thủ đô phồn vinh nhất nước, Phố Hiến đã là một đô thị nổi bật đứng ở vị trí thứ hai. Dân gian có câu: ""Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Văn bia chùa Thiên ứng, dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625, đời vua Lê Thần Tông) đã ghi: "Phố Hiến nổi tiếng trong bốn phương là một tiểu Tràng An"" - tức một Kinh đô thu nhỏ . Phố Hiến trong lịch sử. Lịch sử - địa lý. Ngay từ thế kỷ 10, vùng Đằng Châu ở phía bắc thành phố Hưng Yên ngày nay vốn là một lãnh địa của sứ quân Phạm Bạch Hổ, ông đã gây dựng nơi đây thành thủ phủ một vùng đất rộng lớn và là một trung tâm quân sự thời 12 sứ quân. Đến thời Tiền Lê, vùng đất này tiếp tục là thực ấp của Lý Công Uẩn. Thế kỷ 13, dưới thời nhà Trần, khi nhà Nguyên diệt Tống, một số kiều dân Trung Quốc tị nạn đã kéo sang Việt Nam, lập nên làng Hoa Dương. Cùng lúc đó, một số người Việt từ nhiều địa phương khác nhau cũng dần dần đến sinh sống tại địa điểm tụ cư này để buôn bán và làm ăn. Theo sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục", thì tên Phố Hiến có xuất xứ từ chữ Hiến của Hiến Doanh hay Hiến Nam, vốn là cơ quan hành chính của trấn Sơn Nam xưa. Sách ấy chép:"". Các tác giả của sách "Đại Nam nhất thống chí" cũng đã thừa nhận ý kiến này. Và có nhiều khả năng là tên gọi Phố Hiến lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ 15 trong công cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 17, Phố Hiến mới trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế có nhiều mối giao lưu quốc tế. Lúc này, ở Phố Hiến có lị sở của trấn thủ xứ Sơn Nam, ty Hiến sát xứ Sơn Nam, các trạm tuần ty kiểm soát thuyền bè trong ngoài nước, một đoạn sông tấp nập các thuyền bè đi lại và đỗ bến, những chợ phố đông đúc, các thợ thủ công và thương nhân người Việt, người Hoa, Nhật Bản và phương Tây. Phố Hiến xưa nằm sát bên bờ tả ngạn sông Hồng, nhưng do phù sa bồi đắp nên ngày nay đã ở cách dòng sông khoảng chừng 2 km. Theo đường sông, Phố Hiến cách Hà Nội 55 km. Trước đây từ Thăng Long xuôi thuyền xuống Phố Hiến mất khoảng 2 ngày, ngược dòng lên Kinh đô mất 3 ngày. Vị trí của Phố Hiến có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tuyến giao thông đường thủy thuộc hệ thống sông Hồng-sông Thái Bình nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ. Các nhà địa chất chia châu thổ Bắc Bộ thành 3 vùng tương ứng với ba thời kỳ thành tạo lớn: Thượng châu thổ với đỉnh của các triền sông là Việt Trì; Trung châu thổ với đỉnh là Cổ Loa; và Hạ châu thổ với đỉnh là Phố Hiến, từ đó các nhánh sông trải ra vùng đồng bằng như những chiếc nan quạt. Bằng đường thủy, từ Phố Hiến có thể liên lạc tới hầu hết các địa phương thuộc các trấn Sơn Nam, Hải Dương, An Quảng. Phố Hiến là nơi trung chuyển, cửa ngõ án ngữ hoặc thông thương của mọi tuyến giao thương đường sông từ vùng biển Bắc Bộ đi sâu vào đất liền tới Kinh thành Thăng Long, qua các tuyến sông Đáy, sông Hồng, sông Thái Bình. Cùng với các tuyến giao thương đường sông, các tuyến giao thương ven biển đã nối liền Phố Hiến với các thị trường xa hơn. Từ thời nhà Trần, các thương nhân người Hoa ở Xích Đằng đã có những mối liên hệ với các cảng Hội Triều (Thanh Hoá), Càn Hải và Hội Thống (Nghệ An). Thế kỷ 17-18, các quan hệ thương mại giữa Phố Hiến và vùng Sơn Nam với các phố cảng Đàng Trong thông qua các khách buôn nước ngoài càng được tăng cường, như các bến đò Phục Lễ, Phù Thạch, Thanh Hà (Thuận Hoá), Hội An. Qua hai hệ thống sông Đàng Ngoài và sông Đáy, Phố Hiến còn bắt nhịp với các tuyến giao thương quốc tế ở biển Đông, như Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, cũng như với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Phá Đô thị - dân cư. Ngoài vị trí trung tâm trấn Sơn Nam, Phố Hiến chủ yếu mang diện mạo của một đô thị kinh tế. Kết cấu của nó bao gồm một bến cảng sông; một tập hợp chợ; khu phường phố; và hai thương điếm phương Tây (Hà Lan và Anh). Mạch máu giao thương của Phố Hiến là sông Xích Đằng - đoạn sông Nhị Hà chảy sát Phố Hiến. Đây là nơi trung chuyển và là điểm tụ hội của những đoạn đường sông từ biển Đông vào tới kinh thành Thăng Long như tuyến Đàng Ngoài, nhiều tuyến sông khác. Bến cảng Phố Hiến là nơi các tàu thuyền ngoại quốc lưu đỗ để làm thủ tục kiểm soát và xin giấy phép đi tiếp tới Kinh đô. Cùng với bến cảng sông là một các khu chợ khá sầm uất như chợ Vạn ở bến Xích Đằng, chợ Hiến bên cạnh lị sở Sơn Nam, chợ Bảo Châ, trao đổi hàng hoá. Khu phường phố là khu định cư của người Việt và các kiều dân ngoại quốc (chủ yếu là người Hoa) sản xuất và buôn bán với tính chất cố định ở Phố Hiến. Dựa theo các văn bia ở chùa Hiến (1709) và chùa Chuông (1711), Phố Hiến thời đó có khoảng 20 phường Qua các bi ký, có thể đọc được 13 phố và 32 tên cửa hiệu buôn bán như các Tân Thị, Tân Khai, Tiên Miếu, Hậu Trường… Trong thế kỷ 17, có hai thương điếm phương Tây đã được dựng lên ở Phố Hiến: thương điếm Hà Lan (1637-1700) và thương điếm Anh (1672-1683). Đây là văn phòng đại diện kiêm nhà kho của các Công ty Đông Ấn của Hà Lan và Anh. Đây là một quần thể kiến trúc được xây bằng gạch, nằm ở phía dưới Phố Hiến, quãng gần thôn Nễ Châu và Vạn Mới. Từ thế kỷ 18, quần thể kiến trúc này đã bị huỷ hoại trở thành đồng ruộng. Đến cuối thế kỷ 19 được tác giả người Pháp G. Dumoutier miêu tả lại Phố Hiến mang những nhu cầu tâm linh văn hoá của nhiều cộng đồng người khác nhau, thể hiện qua những công trình kiến trúc. Nổi bật là các phong cách kiến trúc Việt Nam và phong cách kiến trúc Trung Hoa (với sắc thái vùng Phúc Kiến, phía Nam Trung Quốc), thấp thoáng có phong cách kiến trúc châu Âu (nhà thờ Gô-tích Phố Hiến). Nhiều khi, các phong cách kiến trúc đó pha trộn lẫn nhau. Nhà thờ Kitô giáo ở Phố Hiến là một nhà thờ cổ, xây dựng từ thế kỷ 17 theo kiểu Gô-tích. Cũng như ở các đô thị Việt Nam khác, bên cạnh những kiến trúc bằng gạch ngói, đại bộ phận nhà ở của dân đều bằng gỗ tre nứa, lại ở sát nhau. Nhiều vụ hoả hoạn đã xảy ra. Trong lịch sử, Phố Hiến là một đô thị đa quốc tịch, trong đó nhiều nhất là người Việt và người Hoa. Những kiều dân ngoại quốc khác ở đây là Nhật, Xiêm La, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… Phần lớn người Việt cự ngụ ở Phố Hiến là từ các địa phương khác đổ về sinh sống làm ăn, đó là một cộng đồng cư dân tứ xứ. Bên cạnh cộng đồng người Việt, đông đảo người Hoa đã đến cư trú tại Phố Hiến. Địa điểm tụ cư đầu tiên của người Hoa ở Phố Hiến là Hoa Dương, sau gộp thêm các xã Hoa Điền (Lương Điền), Hoa Cái (Phương Cái) hợp thành Tam Hoa. Các cửa hiệu của Hoa Kiều được tập trung ở Phố Khách, phố Bắc Hoà, Nam Hoà; nhiều nhà xây gạch ngói. Họ xây dựng nhiều đình, đền, chùa, miếu, quảng hội thờ các vị nhân thần người Trung Quốc như Quan Vân Trường, Dương Qúy Phi, Lâm Tức Mặc. Khi việc buôn bán giữa phương Tây và Phố Hiến sa sút thì các Hoa thương vẫn trụ lại, gần như nắm giữ độc quyền các hoạt động ngoại thương. Lúc này cũng có hiện tượng một số Hoa thương ở Phố Hiến di cư ngược trở lại Thăng Long - Hà Nội, như trường hợp các gia đình họ Phan ở phố Hàng Ngang. Hiện nay, vẫn có tới 14 họ thuộc các Hoa Kiều sinh sống ở Phố Hiến - Hưng Yên như các họ Ôn, Tiết, Hoàng, Lý, Trần, Bạch, Quách, Mã, Thái, Hà, Hứa, Từ, Lâm, Khu. Người Nhật cũng đã đến Phố Hiến từ rất sớm vào khoảng đầu thế kỷ XVII. Họ thường mang bạc, đồng đến mua đổi lấy các loại tơ hoặc vải lụa. Một số khác là các giáo sĩ và giáo dân Nhật Bản, có tên đạo theo chữ La Tinh, đã đi theo và phục vụ các giáo sĩ phương Tây tới Đàng Ngoài giảng đạo. Vì đã sinh sống lâu năm ở Việt Nam, những người Nhật này thường làm một số nghề như hoa tiêu dẫn tàu vào cửa sông, phiên dịch, môi giới… Tại Phố Hiến trước đây có một khu đất được gọi là Nghĩa trang Nhật Bản. ở Phố Hiến ngoài người Trung Quốc và Nhật Bản còn có các thương nhân châu á khác đến buôn bán như Xiêm La, Mã Lai, Lữ Tống (Philíppin)... Phương Tây, ngoài người Hà Lan và người Anh đã từng lập thương điếm ở Phố Hiến, còn một số người Bồ Đào Nha và Pháp. Người Bồ Đào Nha là người phương Tây Phố Hiến sớm nhất. Đó là những thương nhân độc lập, không lập công ty, không đặt thương điếm. Không ít những người Pháp cũng sống ở Phố Hiến vào những năm 80 của thế kỷ XVII. Thương điếm của Công ty Ấn Độ Pháp thành lập ở Phố Hiến năm 1680. Phát triển và suy thoái. Phố Hiến từ nơi tụ cư, một thị trấn phát triển thành một đô thị lớn vào thế kỷ XVII đã luôn mang tính nổi trội đậm sắc thái kinh tế. Lúc đầu là các hoạt động buôn bán qua mạng lưới chợ. Sau đó, thương nghiệp ngày càng phát triển và trở thành hoạt động kinh tế mũi nhọn chủ yếu, đặc biệt là ngoại thương do lợi thế là một bến sông, đầu mối của các tuyến giao thông vùng. Điểm tụ cư ban đầu của số người Hoa tị nạn (làng Hoa Dương) cũng là một hạt nhân kinh tế sẽ phát triển mạnh mẽ trong những thời kỳ sau. Bước chuyển về chất trong đời sống kinh tế của Phố Hiến là khi có sự tác động của một nhân tố chính trị vào nền tảng kinh tế đó và hệ quả là sự chuyển dịch trọng tâm từ những yếu tố nội sinh sang những yếu tố ngoại sinh. Các lái buôn Hà Lan là những người phương Tây đặt thương điếm sớm nhất ở Phố Hiến. Những thập kỷ đầu, công việc buôn bán của thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến diễn ra khá suôn sẻ và được nhà nước Lê - Trịnh chiếu cố ưu tiên so với những người ngoại quốc khác. Sau khi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn chấm dứt, chúa Trịnh dần tỏ thái độ lạnh nhạt với Hà Lan, lại thêm sự cạnh tranh của các lái buôn phương Tây khác, đặc biệt là người Anh. Người Anh đến Phố Hiến muộn hơn người Hà Lan. Trong những năm đầu, thương điếm Anh ở Phố Hiến làm ăn tương đối phát đạt, cạnh tranh với các đối thủ của mình như các thương nhân Hà Lan, Trung Quốc, một phần nhờ tài tháo vát, ứng xử khôn khéo của W. Gyfford. Thời kỳ phồn thịnh nhất của Phố Hiến là vào khoảng giữa thế kỷ XVII (1630-1680). Sau đó là quá trình suy thoái, diễn ra trong gần 2 thế kỷ để cuối cùng trở thành tỉnh lị Hưng Yên. Biểu hiện rõ nhất của sự suy thoái của Phố Hiến là sự sa sút trong các hoạt động buôn bán với nước ngoài. Mặt khác, lúc này tình hình chính trị khu vực và hệ thống kinh tế thương mại biển Đông cũng đã có những chuyển biến. Trung Quốc bãi bỏ lệnh hải cấm, mở ra một thị trường đông đúc hấp dẫn. Nhật Bản cũng chuyển sang chiến lược xuất khẩu bạc, vàng, tơ lụa. Các tuyến buôn bán đường biển trực tiếp trở nên thông thoáng hơn, không cần qua khâu trung gian, như trường hợp Đàng Ngoài. Trong hoàn cảnh đó, ngoại thương Việt Nam và ở Phố Hiến nói riêng đã giảm thiểu đáng kể. Các thương điếm phương Tây ở Phố Hiến và Kẻ Chợ lần lượt đóng cửa, các tàu buôn phương Tây hầu như rất ít còn lại vùng Đàng Ngoài. Phố Hiến vắng hẳn các khách buôn nước ngoài, trừ người Trung Quốc là còn ở lại buôn bán. Thế kỷ XIX, khi kinh đô chuyển vào Huế, một làn sóng của thương nhân Trung Hoa ồ ạt nhập cư vào Hà Nội, một số gia đình Hoa Kiều trước kia từ Kẻ Chợ di cư đến Phố Hiến nay quay ngược trở về Hà Nội, phần nào cũng làm cho Phố Hiến trở nên vắng đi. Cũng trong quá trình suy thoái về kinh tế, Phố Hiến đã mất dần đi vai trò quan trọng về chính trị. Bến cảng Phố Hiến do sự bồi lở của sông Hồng ngày càng trở nên bất tiện, làm Phố Hiến ngày càng cách xa dòng sông. Vì vậy, năm 1726, chính quyền Lê - Trịnh đã chuyển dời trấn lị Sơn Nam sang bên hữu ngạn sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên. Năm 1741, trấn Sơn Nam được tách thành Sơn Nam thượng và hạ, trọng tâm chính trị đã chuyển xuống mạn dưới, ở Vị Hoàng (Nam Định). Cũng trong thế kỷ XVIII, nhiều biến động xã hội - chính trị đã diễn ra tại địa bàn Phố Hiến. Năm 1730, đê Mạn Trù vỡ, dân của nhiều vùng ở Sơn Nam trở nên nghèo đói, phải tha phương cầu thực. Tiếp đến là những cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất và Nguyễn Hữu Cầu đã tàn phá vùng này, càng làm cho tiềm lực kinh tế của Phố Hiến kiệt quệ. Rồi sau đó là cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Trịnh. Sang đến thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, vai trò một đô thị kinh tế, một thương cảng quốc tế của Phố Hiến ngày nào giờ đây không còn nữa. Năm 1804, dưới thời Gia Long, trấn lị Sơn Nam thượng từ Phố Hiến đã được di chuyển về Châu Cầu (Phủ Lý). Năm 1831, với cuộc cải cách của vua Minh mạng, tỉnh Hưng Yên được thành lập, thành tỉnh được xây dựng trên địa bàn Phố Hiến cũ, mang nhiều chức năng quân sự, nhưng đã mất đi hoàn toàn vai trò kinh tế của một trạm hải quan, lúc này đã được chuyển qua bến Ninh Hải (Hải Phòng). Quần thể di tích Phố Hiến. Trải qua những biến cố lịch sử và sự thay đổi của tự nhiên, Phố Hiến vẫn còn được bảo tồn với 16 di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia, các di tích như: đền Mây ở Xích Đằng (thờ tướng quân Phạm Phòng Át), đền Ngọc Thanh ở Nễ Châu (thờ vợ thứ của vua Lê Đại Hành), đền Trần (thờ Trần Hưng Đạo), đền Ủng (thờ Phạm Ngũ Lão), Văn Miếu Xích Đằng, Kim Chung Tự, Thiên Ứng Tự, Thiên Hậu cung, đền Mẫu, Đông Đô Quảng Hội…... Các chùa lớn ở Phố Hiến có chùa Chuông, chùa Hiến (Thiên Ứng tự), chùa Nễ Châu. Ngoài ra còn có nhiều đình, văn miếu. Người Hoa sinh sống ở Phố Hiến đã để lại nhiều công trình kiến trúc tôn giáo như đền Mẫu (thờ Dương Quý Phi), đền Thiên Hậu (thờ Lâm Tức Mặc), Võ Miếu (thờ ba anh em Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi)… Nhiều lễ hội gắn liền với các di tích được duy trì hàng năm, tái hiện hình ảnh mấy trăm năm trước của Phố Hiến thu hút hàng vạn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu… Quần thể di tích Phố Hiến nằm trên địa phận của Phố Hiến xưa, nay thuộc phần đất từ thôn Đằng Châu (phường Lam Sơn) tới thôn Nễ Châu (phường Hồng Châu) trên một diện tích khoảng chừng 5 km2 ở thành phố Hưng Yên đã được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt. Đông Đô Quảng Hội. Đông Đô Quảng Hội nằm trên đường Phố Hiến, phường Hồng Châu. Xưa kia, nơi đây thuộc trung tâm Phố Hiến hạ, thôn Mậu Dương, tổng An Tảo, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Đây là nơi hội họp của các thương nhân nước ngoài, chủ yếu là người Hoa, đồng thời đó cũng là nơi thờ tam thánh: Thần Thái Y (thần làm nghề thuốc); Thần Hoa Quang (dạy dân làm các nghề thủ công); Thần Nông (dạy dân làm ruộng, trồng trọt, chăn nuôi). Đền Mây là một di tích quốc gia được công nhận từ năm 1992. Đền nằm bên sông Hồng, cạnh bến đò Mây xưa thuộc xã Đằng Châu, nay là phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, nơi đã được dân gian ca ngợi "Trăm cảnh nghìn cảnh không bằng Bến Lảnh, Đò Mây". Đền Mây cũng như chùa Chuông ở phố Hiến là hai di tích nổi tiếng vì còn lưu giữ được phong cách kiến trúc thuần Việt. Đền Mây là nơi thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ thời 12 sứ quân (tức Phạm Phòng Át), một vị tướng để lại nhiều dấu ấn qua các thời kì: nhà Ngô, loạn 12 sứ quân và nhà Đinh. Đền Kim Đằng nằm ở trung tâm thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đền được xây dựng trên mảnh đất mà tướng quân Đinh Điền chọn làm đại bản doanh khi về đây tuyển binh để giúp Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân. Hiện nay, Đền Kim Đằng còn giữ được nhiều nét kiến trúc thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Đền có kiến trúc kiểu chữ đinh, bao gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung. Tòa tiền tế được làm kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái. Nối tiếp với tiền tế là 3 gian hậu cung lợp ngói mũi. Gian trung tâm đặt tượng tướng quân Đinh Điền và phu nhân Phan Thị Môi Nương, được tạo tác trong tư thế ngồi tọa thiề, câu đối ca ngợi công đức của thần. Hàng năm, lễ hội Đền Kim Đằng được tổ chức từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 11 âm lịch để tưởng nhớ tới ngày mất của tướng quân Đinh Điền và phu nhân. Tướng quân Đinh Điền cùng Nguyễn Bặc Lưu Cơ, Trịnh Tú và Đinh Bộ Lĩnh kết nghĩa anh em. Khi đất nước xảy ra loạn 12 sứ quân, mấy anh em bằng hữu đã theo sứ quân Trần Lãm chiếm giữ vùng Bố Hải (Thái Bình). Khi đã trở thành Vạn Thắng Vương, Đinh Bộ Lĩnh giao cho Đinh Điền chỉ huy 10 đạo quân đi thu phục các sứ quân khác. Khi đến trang Đằng Man, thấy địa thế đẹp, ông liền cho dựng đại bản doanh và chọn 3 người họ Phan, họ Phạm và họ Nguyễn ở trang Đằng Man làm gia tướng và chọn người con gái họ Phan tên là Môi Nương làm vợ. Khi Lê Hoàn lên ngôi vua thay cho Đinh Toàn, Đinh Điền và Nguyễn Bặc cùng Phạm Hạp dấy binh nhưng không thành, Đinh Điền lui quân về trại Đằng Man.Khi Đinh Điền và phu nhân mất, nhân dân trại Đằng Man đã lập đền thờ trên nền doanh trại, 3 gia tướng của Đinh Diền cũng được phối thờ tại đây. Chùa Chuông có tên chữ là Kim Chung Tự nằm tại thôn Nhân Dục, phường Hiến Nam, được mệnh danh là "Phố Hiến đẹp nhất danh lam". Chùa Nễ Châu được khởi dựng vào thời Tiền Lê từ thế kỷ thứ 10. Tương truyền, khi Lê Hoàn đóng quân để chống giặc ngoại xâm nhà Tống ở Nễ Châu, đã cho người xây dựng một ngôi chùa. Khi chùa được xây xong, Lê Hoàn nói: làng nào đủ tiền trả công thợ thì chùa sẽ thuộc về làng đó. Nhờ vào sự giúp đỡ của gia đình bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh (người làng Nễ Châu), dân làng Nễ Châu đã đủ tiền trả công thợ nên chùa thuộc về làng từ đó. Thấy bà Ngọc Thanh xinh đẹp, Lê Hoàn đã lấy bà làm vợ. Trong thời gian này, bà đã có nhiều công sức giúp nghĩa quân của Lê Hoàn đánh bại quân xâm lược nhà Tống. Khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, bà đã không theo nhà vua về kinh đô Hoa Lư mà xin ở lại quê hương để chăm sóc cha mẹ già yếu, Sau khi bà mất, nhà vua đã cho lập đền thờ ở đối diện chùa Nễ Châu và sắc phong làm “Ngọc Thanh Hoàng hậu”.
Tranh Hàng Trống một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của Hà Nội xưa. Hàng Trống xưa kia thuộc đất cũ của thôn Tự Tháp, tổng Tiền Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phố Hàng Trống nằm kề các phố Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạ: tranh thờ, trống, quạt, lọng, cờ... Dòng tranh này hiện nay gần như đã bị mai một hết, chỉ còn lưu giữ trong các viện bảo tàng. Chính vì vậy, những nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống giảm hẳn. Hiện, chỉ còn duy nhất nghệ nhân [Lê Đình Nghiên] còn gắn bó với nghệ thuật tranh Hàng Trống và những nét tinh hoa của dòng tranh đó Dòng tranh này cũng như các dòng tranh phổ biến khác đều có hai dòng tranh chính là tranh thờ và tranh Tết. Nhưng chủ yếu là tranh thờ dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng phục vụ đền phủ của Đạo giáo nhất là tranh thờ của Đạo Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy, Nam Định), như tranh Tứ Phủ cộng đồng, Bà chúa thượng ngàn, Mẫu Thoải, Ngũ Hổ, Ông Hoàng cưỡi cá, cưỡi ngựa, cưỡi rắn, Ông Hoàng Mười, Bà Chúa Ba, Đức Thánh Trầ, Tứ quý... Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ dòng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khoảng thế kỷ 16 và thịnh nhất vào khoảng cuối thế 19, đầu thế kỷ 20 và sau đó dần suy tàn. Và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các luồng tư tưởng, văn hoá, tôn giáo, của vùng miền, các dân. Là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo; giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày. Dòng tranh Hàng Trống thực sự phát triển cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng tới thế kỷ 20 dòng tranh này bắt đầu suy tàn, nhất là kể từ sau kết thúc kháng chiến chống Mỹ hầu như các nhà làm tranh đều giải nghệ. Nhiều nhà làm tranh còn đốt bỏ hết những dụng cụ làm tranh như ván, bản khắc, một phần do thú chơi tranh của người Hà Nội đã đổi khác, một phần do việc làm tranh không có thu nhập cao nên nhiều người đã chuyển nghề. Cách in ấn và vẽ. Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật "vờn" màu. Tranh chỉ có một bản đen đầu tiên, sau khi in thì tranh được tô màu lại bằng tay. Từ các bản khắc gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mực Tàu mài nguyên chất. Sau đó là công đoạn bồi giấy. Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ màu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh. Tranh được in trên giấy dó bồi dày hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dày, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với kiểu kiến trúc nhà cao, cửa rộng nơi thành thị. Ván khắc được làm bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác. Màu sắc và cách tạo màu. Tranh dùng các gam màu chủ yếu là lam, hồng đôi khi có thêm lục, đỏ, da cam, và Tranh Hàng Trống được tô màu bằng bút lông và phẩm nhuộm nên màu sắc đậm đà hơn tranh Đông Hồ. Đề tài nội dung và thể thức tranh. Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu là tranh thờ như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông Hoàng Bảy, Phật Bà Quan Â(4 bức) hoặc Nhị bình (2 bức). Tứ bình thì có thể là tranh Tố nữ, Tứ dân (ngư, tiều, canh, mục) hoặc Tứ quý (Bốn mùa). Tứ bình còn có thể trình bày theo thể liên hoàn rút từ các truyện tích như "Nhị độ mai", "Thạch Sanh", "Truyện Kiều". Nhị bình thì vẽ những đề tài như "Lý ngư vọng nguyệt" (Cá chép trông trăng) hoặc "Chim công múa" có tính cách cầu phúc, thái bình. Những bức về đề tài dân dã như cảnh "Chợ quê" hay "Canh nông chi đồ" cũng thuộc loại tranh Hàng Trống.
Chi Dứa (danh pháp khoa học: Ananas) thuộc về họ Dứa ("Bromeliaceae"). Được biết đến nhiều nhất là loài "Ananas comosus", là loại dứa cho quả ăn được. Chi này có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ và được đưa tới các đảo khu vực Caribe nhờ những thổ dân Anh điêng Carib. Năm 1493, Christopher Columbus lần đầu tiên đã nhìn thấy các loại cây của chi này tại Guadeloupe. Nó được đưa sang châu Âu và từ đây nó được người Anh và Tây Ban Nha phát tán tới các đảo trên Thái Bình Dương. Các cánh đồng trồng dứa thương phẩm được thành lập tại Hawaii, Philippines, Đông Nam Á, Florida và Cuba. Dứa đã trở thành một trong những loại cây ăn trái phổ biến nhất trên thế giới. Các lá dai mọc thành cụm hình hoa thị. Các lá dài và có hình dạng giống mũi mác và có mép lá với răng cưa hay gai. Hoa mọc từ phần trung tâm của cụm lá hình hoa thị, mỗi hoa có các đài hoa riêng của nó. Chúng mọc thành cụm hình đầu rắn chắc trên thân cây ngắn và mập. Các đài hoa trở thành mập và chứa nhiều nước và phát triển thành một dạng phức hợp được biết đến như là quả dứa (quả giả), mọc ở phía trên cụm lá hình hoa thị. Từ "Ananas" có nguồn gốc từ tiếng Guarani để chỉ cây dứa.
Chi Dứa gai (danh pháp khoa học: Bromelia) là một chi thực vật có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới châu Mỹ, với đặc trưng là các hoa với đài hoa bị nứt sâu, thuộc họ Dứa (Bromeliaceae). Trong tiếng Việt, nó có thể gọi là dứa gai hay dứa dại, tuy nhiên tên gọi dứa dại khá mơ hồ, xem phần lưu ý. Tên gọi này được đặt theo tên của nhà thực vật học người Thụy Điển là Olaf Bromelius (mất năm 1705). Nó bao gồm các loài sau: Các sợi dứa gai khá dai thu được từ "B. serra" và "B. hieronymi", cả hai đều được gọi là "chaguar", là một trong những yếu tố cơ bản trong nền kinh tế của bộ lạc Wichí tại khu vực bán khô cằn Gran Chaco của Argentina. Trong tiếng Việt, từ dứa dại còn được dùng để chỉ một bộ, họ và chi có danh pháp khoa học tương ứng là Pandanales, Pandanaceae và Pandanus không có quan hệ họ hàng gì với chi này và nó được dùng để chỉ các đơn vị phân loại của nhóm thực vật này.
SA8000 là một hệ thống các tiêu chuẩn trách nhiệm giải trình xã hội để hoàn thiện các điều kiện làm việc cho người lao động tại các doanh nghiệp, trang trại hay văn phòng, do "Social Accountability International" (SAI) phát triển và giám sát. Hướng dẫn cụ thể để thực hiện hay kiểm tra các tiêu chuẩn xã hội theo SA8000 có sẵn tại trang chủ của tổ chức này (SA8000). SAI cũng đưa ra chương trình tập huấn SA8000 và các tiêu chuẩn làm việc cho các nhà quản lý, công nhân và các nhà kiểm tra tiêu chuẩn xã hội. Tổ chức này cũng hoạt động trong vai trò của nhà môi giới trung gian để cấp phép và giám sát các tổ chức kiểm tra chính sách xã hội nhằm cấp chứng chỉ cho những người (doanh nghiệp) sử dụng lao động đạt tiêu chuẩn SA8000 cũng như hướng dẫn để các doanh nghiệp đó phát triển phù hợp với các tiêu chuẩn tương tác đã đưa ra. SA8000 dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc và một loạt các công ước khác của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). SA8000 bao gồm các lĩnh vực sau của trách nhiệm giải trình: Chi phí giám định để có thể cấp chứng chỉ cho một doanh nghiệp, trang tại hay văn phòng nào đó dao động theo quy mô và lực lượng lao động được sử dụng. Nó có thể lên tới 10.000-12.000 USD cho các xí nghiệp lớn (thời giá 2005). Năm 2005, Clean Clothes Campaign thông báo đã phát hiện các chứng cứ cho thấy có sự vi phạm lặp lại các tiêu chuẩn SA8000 tại một số xí nghiệp đã có chứng chỉ SA8000 do tổ chức kiểm tra các tiêu chuẩn xã hội trung gian cấp.
Chu trình Brayton là một chu trình nhiệt động lực học, đặt tên theo George Brayton (1830-1892), một kỹ sư người Mỹ, người đã phát triển nó. Năm 1872, Brayton đăng ký bằng sáng chế cho động cơ đốt trong mang tên "Ready Motor" ("Mô tơ Sẵn sàng"). Không giống với chu trình bốn thì của động cơ Otto hay động cơ Diesel, động cơ của Brayton dùng một xylanh nén khí riêng và một xylanh giãn nở riêng. Ngày nay, chu trình Brayton là nguyên lý hoạt động của động cơ tuốc bin khí. Giống như với các động cơ đốt trong khác, chu trình Brayton là hệ mở, dù cho, trong nghiên cứu nhiệt động lực học, đôi khi có thể đặt giả thuyết rằng khí thải ra được dùng lại để ở đầu vào, để hệ tương đương với hệ kín. Chu trình Brayton còn được biết đến với tên gọi chu trình Joule. Động cơ với chu trình Brayton có ba thành phần: Trong động cơ Brayton của thế kỷ 19, không khí được hút vào máy nén khí chạy bằng piston và xylanh, và quá trình nén có thể coi một cách lý tưởng là đẳng entropy. Khí nén được đưa sang buồng trộn để hòa với nhiên liệu, tạo áp suất không đổi (quá trình đẳng áp). Hỗn hợp khí nhiên liệu nóng và cao áp được đánh lửa trong buồng giãn nở và năng lượng trong phản ứng hóa học giữa không khí và nhiên liệu được giải phóng, làm hỗn hợp giãn nở, đẩy piston của buồng giãn nở; theo quá trình đẳng entropy. Một phần công năng sản sinh bởi buồng giãn nỏ được cung cấp cho máy nén khí, thông qua các tay quay . Ngày nay chu trình Brayton được nhắc đến trong động cơ tuốc bin khí. Động cơ này cũng có ba phần: Không khí được hút vào buồng nén, được làm tăng áp suất theo quá trình gần với đẳng entropy. Khí đã nén chạy sang buống đốt, nơi nhiên liệu được phun vào và đánh lửa, làm tăng nhiệt độ khí trong một quá trình đẳng áp, do buồng đốt mở thông cho dòng chảy vào và ra. Khí ở áp suất và nhiệt độ cao được giãn nở tại buồng giãn nở đẩy các cánh quạt của tuốc bin; theo quá trình giãn nở đẳng entropy. Một phần công năng cung cấp cho tuốc bin được dùng vào việc nén khí ở buồng nén khí. Trên thực tế, quá trình nén khí và giãn nở không thực sự đẳng entropy; và công năng bị hao hụt trong các quá trình này làm giảm hiệu suất nhiệt động lực học của động cơ. Công có ích do động cơ sinh ra được thể hiện bằng diện tích hình khép kín 1 – 2 – 3 – 4. Diện tích này càng lớn thì công có ích và hiệu suất càng lớn, để tăng diện tích này thì phải tăng áp suất sau máy nén của điểm 2;3 (áp suất của điểm 4;1 là áp suất môi trường không thể giảm xuống được) nên hiệu suất động cơ được quyết định bằng tỷ số nén. Việc tăng tỷ số nén giúp cải thiện hiệu suất và công suất của hệ thống Brayton. Các cải tiến sau có thể thực hiện để làm tăng hiệu suất của động cơ kiểu Brayton: Ngoài ra, nhiệt lượng của khí thải cũng có thể dùng dùng cho mục đích khác, như hâm nóng nước trong các hệ thống vũ trụ. Chu trình Brayton cũng có thể được kết hợp với chu trình Rankine, tạo ra chu trình kết hợp có hiệu suất tổng cộng cao hơn.
Lê Văn Duyệt (1763 hoặc 1764 – 28 tháng 8 năm 1832) còn gọi là Tả Quân Duyệt, là một nhà chính trị, nhà quân sự lớn trong lịch sử Việt Nam. Ông là một trong các chỉ huy chính của quân đội chúa Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Khi chiến tranh kết thúc và nhà Nguyễn được thành lập, ông trở thành một đại thần, phục vụ hai triều vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) và Minh Mạng. Ông nội ông là người gốc Quảng Ngãi, vào Tiền Giang lập nghiệp nên ông sinh ra tại Tiền Giang. Lê Văn Duyệt gia nhập quân đội Gia Định, cùng chúa Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn từ năm 1781. Ông cầm quân thắng nhiều trận lớn, nên nhanh chóng thăng tiến trong hàng ngũ của quân Gia Định tới chức chỉ huy Tả Quân vào thời điểm cuộc chiến kết thúc. Sau khi nhà Nguyễn thành lập, ông trở thành một vị quan, tướng quân giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình, nhiều lần công cán ở cả phía Bắc thành và hai lần được cử làm Tổng trấn Gia Định Thành. Việc cai trị của ông đã góp công lớn giúp ổn định và phát triển khu vực Nam kỳ, khiến cho vùng này từ một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thành một khu vực bình yên và giàu có. Thêm vào đó, Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của Minh Mạng đồng thời bảo vệ các tín đồ Công giáo khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của nhà vua. Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Vì việc này, người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại triều đình. Sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt, Lê Văn Duyệt tiếp tục bị truy tội đến mãi đời Thiệu Trị thì vụ án mới được xét lại, và ông mới được phục hồi danh dự. Lê Văn Duyệt, còn gọi là Tả Quân Duyệt, sinh năm 1763 hoặc 1764 tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường, về sau gọi là xã Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Chương Nghĩa (Mộ Đức), tỉnh Quảng Ngãi vào đây sinh sống. Sau khi Lê Văn Hiếu qua đời vì dịch bệnh thiên thời, cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ngụ tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, về sau gọi là xã Long Hưng thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Lê Văn Toại có tất cả bốn người con trai Lê Văn Duyệt là con trưởng, có 5 người em. Sử cũ mô tả ông là người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người, ông sinh ra là người liên giới tính và không phải chịu hoạn khi làm quan từng được coi là một trong "ngũ hổ tướng" ở Gia Định. Theo Chúa Nguyễn, chống Tây Sơn. Năm 1781, một lần chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến Trà Lọt, có ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại. Cảm ơn cứu mạng, Lê Văn Duyệt được Chúa Nguyễn tuyển dụng làm thái giám, lãnh nhiệm vụ bảo vệ cung quyến. Lúc bấy giờ, ông vừa tròn 17 tuổi. Theo sách "Quốc triều sử toát yếu" thì trong trận đánh tại Đồng Văn, ông bị quân Tây Sơn bắt, nhưng sau đó trốn về được. Tháng 11 (âm lịch) năm 1784, ông gặp lại Nguyễn Phúc Ánh, rồi gắn bó chặt chẽ với vị chúa này, trong đó có hai lần ông hộ giá sang Xiêm (Thái Lan). Năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Ánh về lại Gia Định, Lê Văn Duyệt xin cho chiêu mộ binh lính và thuộc theo Tả quân. Tháng 11 (âm lịch) năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong cấp từ thuộc nội cai đội lên làm thuộc nội vệ úy, vì "tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh". Kể từ đó, Chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt. Năm Đinh Tỵ (1797) Lê Văn Duyệt đổi làm Vệ úy vệ Điều vũ, rồi dời làm Thần sách quân Tả đồn chánh thống trấn thủ thành Diên Khánh. Năm Kỷ Mùi (1799), theo Nguyễn Ánh đi đánh Quy Nhơn, quân đến đồn Đạm Thủy (Nước Ngọt) đốt kho lương kẻ địch, chém được tướng Tây Sơn là Đoàn Lượng Giảng và đem đầu ấy đến nộp Ánh ở Cù Mông, tiếng quân cả vang. Tháng 11 (âm lịch) năm 1800, ông được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành đi giải vây thành Quy Nhơn. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Cũng sách trên chép: "...Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén và nói rằng: "Uống rượu để thêm sức mạnh". Ông Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt không coi (đó là) trận dữ, cần chi phải uống rượu". Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt." Tháng Giêng (âm lịch) năm 1801, chúa Nguyễn sai các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đi trước, Võ Di Nguy và Lê Văn Duyệt theo sau, đánh chiếm cửa biển Thị Nại (trận Thị Nại năm 1801)). Khi lâm trận, tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết, ông Duyệt càng gắng sức đánh. Nguyễn Ánh thấy tướng sĩ chết nhiều quá, sai tạm lui quân nhưng Lê Văn Duyệt không chịu, liều chết đánh phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận ấy được khen là "võ công đệ nhất" của nhà Nguyễn và là "võ công lớn nhất" của Lê Văn Duyệt . Lê Văn Duyệt đã thắng thủy quân Tây Sơn, lại tiến quân lên bộ đánh ở 2 cầu Đông Giang, Tân Hội, liền đánh vỡ được, bắt sống được Đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Bá Phong. Tháng 4 (âm lịch) cùng năm, ông theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân. Trước đó, Nguyễn Anh do dự giữa việc cứu quân ở thành Bình Định hay đánh ra Phú Xuân, Lê Văn Duyệt bàn kế đánh Phú Xuân trước. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, ông và Lê Chất phá được đồn quân Tây Sơn ở Quy sơn (tức núi Linh Thái), bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801), ông cùng chúa Nguyễn tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến Vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Sau đó, chúa Nguyễn sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất dẫn quân đi thuyền theo) đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phước (hay Phúc) đem quân thủy, chia đường vào cứu thành Bình Định. Đến Quảng Ngãi, Tống Viết Phước đánh nhau với quân Tây Sơn và bị giết. Duyệt và Chất nối tiếp đốc quân đánh thắng Tây Sơn và bắt được tướng Nguyễn Văn Khôi, Hồ Văn Tự. Xét công, chúa Nguyễn phong cấp Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Duyệt làm Đô thống chế quận công chưởng Tả dinh quân Thần sách. Đô thống chế Tả đồn quân Ngự lâm là Lê Chất làm Đô thống chế Tả đồn. Lê Văn Duyệt sau đó không kịp cứu quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tùng Châu. Vì lương hết, hai ông đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 (âm lịch) năm 1801. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng tái chiếm thành Bình Định. Lê Văn Duyệt bày kế không tấn công mà cho binh mai phục các nơi hiểm yếu đợi quân Tây Sơn vào Nam tiếp viện sẽ phục kích. Từ sau khi Tống Viết Phước bị Tây Sơn giết, Lê Văn Duyệt càng đánh càng quyết liệt, khi hành quân ai hơi lui là đem chém ngay, không rộng tha ai. Mỗi khi thắng trận giết hết giặc, nói rằng để làm lễ tế Tống Viết Phước. Nguyễn Ánh lo Duyệt giết hại quá, dụ răn Duyệt. Ngày mùng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (tức 31 tháng 5 năm 1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm "Khâm sai Chưởng Tả Quân dinh Bình Tây tướng quân, tước quận công" để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Theo phối hợp còn có binh thuyền do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Đến tháng 6 (âm lịch), thì quân bộ sang Linh giang (tức sông Gianh ở Quảng Bình) rồi hiệp với quân thủy đánh lấy Nghệ An, Thanh Hóa, và Thăng Long. Đến lúc ấy, nhà Tây Sơn kể như bị diệt. Làm đại thần nhà Nguyễn. Dưới triều Gia Long. Năm Gia Long thứ 2 (1803), Lê Văn Duyệt tâu rằng khi xưa Nguyễn Ánh đã hứa với tướng sĩ hễ lấy lại được kinh thành (Huế) thì sẽ cho binh sĩ về nghỉ ngơi, mà nay Ánh đã lấy được kinh thành lẫn Bắc Hà, nếu không thi hành thì sẽ làm mất chữ tín và loạn nhân tâm người Nam Hà. Gia Long không chấp nhận. Tháng 3 (âm lịch) năm 1803, Lê Văn Duyệt phá tan cuộc nổi dậy của người dân thiểu số ở Đá Vách (Quảng Nghĩa, nay là Quảng Ngãi), được vua khen thưởng. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, cha ông – Lê Văn Toại được vua cho mời ra Huế ban khăn áo. Khi Gia Long ra Bắc, Lê Văn Duyệt được giao chức Cẩm y vệ cai đội để giữ kinh. Ông nội Duyệt là Lê Văn Hiếu được tặng chức Cẩm y vệ cai cơ, cha là Lê Văn Toại chức Chưởng cơ. Năm 1808, lại sai Lê Văn Duyệt mang quân đến Đá Vách. Thấy Phó quản cơ Lê Quốc Huy, vì nhiễu hại quá, nên dân mới nổi dậy. Lê Văn Duyệt bèn xin lệnh chém chết viên quan này, từ đó Quảng Nghĩa lại được yên. Năm 1809, Tham luận Nguyễn Văn Tài vì bị Lê Văn Duyệt quở trách nên tố cáo ông tội mưu phản. Sau khi xét hỏi, Nguyễn Văn Tài bị tội vu cáo và bị xử tử. Nguyên do cũng vì tính tình Lê Văn Duyệt nghiêm khắc, tướng sĩ dưới quyền không ai dám nhìn mặt, quan chức đồng liêu cũng sợ sệt. Chỉ có Lê Chất là tướng thân cận, thường hay bàn bạc việc triều chính. Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, vua cho triệu tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay (kiêm lĩnh cả 2 trấn Bình Thuận, Hà Tiên) và cho Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm hiệp (tổng) trấn. Tháng 2 (âm lịch) năm 1813, nhận lệnh vua, Lê Văn Duyệt và hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Tại đây, ông thấy quân Xiêm cứ dòm ngó Chân Lạp, bèn xin Gia Long cho đắp thành Nam Vang cho vua nước này ở (trước đó ở thành La Bích), đắp thành Lô Yêm để trữ lương, đồng thời lưu binh ở lại bảo hộ (Nguyễn Văn Thoại được cử ở lại). Tất cả đều được vua nghe theo . Trở về Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt thi hành nhiều chính sách cai trị và trấn áp tội phạm. Năm 1815, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi thái tử. Khi ấy, Nguyễn Huỳnh Đức thay ông làm tổng trấn và Trịnh Hoài Đức làm hiệp trấn. Tháng 4 (âm lịch) năm 1816, vua ra lệnh thâu ấn của Nguyễn Văn Thành, giam Nguyễn Văn Tuyên (con ông Thành) vào ngục, vì ông Tuyên có làm một bài thơ bị Lê Văn Duyệt (vốn có hiềm khích với ông Thành từ trước) mật tâu, cho là có ý mưu phản. Duyệt sau đó vì các mối hiềm khích mà thúc ép xét xử cha con Thành. Tham tri bộ Lại Trần Văn Tuần bảo rằng: "Trung quân (Nguyễn Văn Thành) với Tả quân (Lê Văn Duyệt) là người đồng công cộng thể, Trung quân ngày nay như thế thì ông ngày sau thế nào?" Duyệt nghe lời nói ấy cũng hơi buồn, thôi không tức giận Thành nữa. Sang tháng 5 (âm lịch) năm đó, dân thiểu số ở Đá Vách lại nổi dậy, Trấn thủ Phan Tấn Hoàng đánh bị thua. Gia Long lại sai Lê Văn Duyệt đem quân tới đàn áp. Lê Văn Duyệt nhân đó xin đắp lũy dài, đem lính 6 cơ đóng thú gọi là đạo quân Bình Man (lũy này ngoài lũy trồng tre, dưới đào hào tiếp giáp phủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam, Nam đến Đông Xanh, giáp phủ Hoài Nhơn tỉnh Bình Định, địa giới dài 37.497 trượng). Năm 1817, xét công thần Vọng Các, ấm thụ cho con thừa tự Lê văn Duyệt là Lê Văn Yên làm Kiêu kỵ đô úy. Tháng Giêng (âm lịch) năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình). Vì các nơi ấy thường mất mùa, sinh ra nhiều trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được. Đến nơi, ông dâng sớ về triều "nói việc khổ của dân, xin tha thuế cho dân, lại phải lựa quan trấn để an tập dân", được vua y cho . Ở Thanh Hóa, ông nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Ông Khôi nguyên là người ở Cao Bằng, vì khởi binh chống Nguyễn, bị quan quân đuổi đánh, phải chạy vào Thanh Hóa, gặp ông Duyệt đang làm Kinh lược ở đấy, bèn xin ra đầu thú . Những người phản loạn ra hàng được Lê Văn Duyệt cho xin thu nạp (người quê ở Thanh Hóa hơn 420 người đặt làm cơ Thanh Thuận, người quê Nghệ An hơn 480 người đặt làm cơ An Thuận). Tháng 9 (âm lịch), vua triệu Lê Văn Duyệt về triều. Sang tháng 12 (âm lịch), Gia Long cho đòi ông và Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng vào cung lãnh di chiếu, tôn Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi (tức vua Minh Mạng) đồng thời cho ông Duyệt cai quản quân 5 dinh Thần sách. Cũng trong năm này, theo "Vũ Man tạp lục" của tướng Nguyễn Tấn và "Viêm Giao trưng cổ ký" của Cao Xuân Dục, thuận theo lời tâu của Lê Văn Duyệt, Vua cho xây Trường lũy (Tĩnh Man trường lũy), dài xấp xỉ 200 km, bắt đầu từ huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (Bình Định), để phòng ngự các cuộc nổi dậy của người thiểu số ở đây . Dưới triều Minh Mạng. Năm 1820, Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt vào Nam làm tổng trấn Gia Định thành lần thứ hai, thay cho Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất hồi tháng 9 (âm lịch) năm 1819. Tất cả các việc thăng giáng quan lại, dấy lợi trừ hại, việc thành, mưu kế ngoài biên, đều được tiện nghi làm việc. Những người Thanh Nghệ, Bắc Thành ra hàng Duyệt trước kia (cơ Thanh Thuận và An Thuận) được cho theo vào Gia Định Thành để ông sai khiến. Thuộc hạ thân tín của Lê Văn Duyệt là Trần Nhật Vĩnh, đang làm Tham hiệp Thanh Hoa cũng được cho vào Gia Định giữ Thiêm sự Hình bộ. Minh Mạng mới lên ngôi, gọi là quốc hiếu, cấm việc tang lễ. Khi ấy cha Lê Văn Duyệt qua đời, triều đình đặc cách cho Duyệt chế áo sổ gấu để tang cha, làm lễ xong thì mặc lại áo quốc hiếu. Vua tặng cha Duyệt hàm Thống chế. Lúc bấy giờ, ở nước Chân Lạp có thầy tu tên Kế (sư Kế) vận động dân nổi dậy, cướp phá nhiều nơi thuộc trấn Phiên An. Quan trấn là Đào Văn Lý cản ngăn không được. Khi ông Duyệt đến, bèn cử phó tổng trấn Huỳnh Công Lý đem quân đi đánh, đuổi quân sư Kế chạy về Chân Lạp. Tháng 9 (âm lịch) năm ấy, sư Kế xua quân vây hãm thành Nam Vang, làm vua nước ấy phải đưa thư sang cáo cấp. Xem thư, Lê Văn Duyệt liền sai thống chế Nguyễn Văn Trí đem quân sang cứu viện, đến tháng 10 (âm lịch) thì giết được sư Kế và đánh tan quân nổi dậy. Cũng vào tháng 9 (âm lịch) năm đó, phó tổng trấn Huỳnh Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc ấy tâu lên. Sau khi tra án, Huỳnh Công Lý bị khép vào tội chết (1821) . Khâm sai chưởng dinh lĩnh Trung quân phó tướng thự lý ấn vụ là Trương Tấn Bửu lĩnh chức Phó tổng trấn thành Gia Định. Năm thứ 3 (1822), đặc cách tặng mẹ Duyệt là Nguyễn Thị làm phu nhân, ban cho sắc cáo trục. Tháng 10 (âm lịch) năm 1822, vua sai Lê Văn Duyệt điều động quân và dân (được hơn 39.000 người) để tiếp tục đào kênh Vĩnh Tế (đến tháng 5 âm lịch năm 1824 thì xong). Năm 1822, sứ giả nước Anh là John Crawfurd ghé Gia Định để xin Tổng trấn cho ra Huế gặp vua Minh Mạng. Nhà vua sau đó từ chối. Crawfurd cũng nhận ra sự đố kỵ của các quan triều đình đối với Lê Văn Duyệt. Họ đặc biệt muốn biết liệu Lê Văn Duyệt có tự ý mở quốc thư ra xem trước khi giao cho triều đình hay không. Năm 1823, sứ giả Miến Điện là Gibson được vua Ava phái đến Việt Nam để thiết lập ngoại giao nhằm cô lập Xiêm. Sứ đoàn được Lê Văn Duyệt tiếp đón tại Gia Định. Triều đình sau đó từ chối và cho người đưa sứ đoàn Miến Điện về nước. Trong dịp này, Gibson đặc biệt chú ý tới hình thức hành hình tội phạm bằng cách cho voi giày, được quan Tổng trấn sử dụng thường xuyên. Gibson đánh giá quan Tổng trấn là người cực kỳ hà khắc và chuyên quyền. Tháng 8 (âm lịch) năm 1823, ông về kinh [Huế] chầu, Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn, nhưng Tấn Bửu ốm nên Tiền quân Trần Văn Năng làm Phó tổng trấn thay. Cùng thời gian, thị vệ Trần Văn Tình từ Gia Định về kinh ngầm báo cáo tội trạng của Trần Nhật Vĩnh, thuộc hạ thân cận của Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt sau khi biết tin, vào chầu, đòi chém Trần Văn Tình nếu không sẽ trả ấn và từ chức Tổng trấn. Năm 1824 (Tết Nguyên Đán Giáp Thân), vua cho Lê Văn Yên (Kiêu kỵ đô úy, con nối dõi Duyệt) làm Phò mã đô úy, lấy Trưởng công chúa thứ 10 là Ngọc Ngôn. Sau đó, Lê Văn Duyệt về ở luôn Gia Định cho đến cuối đời. Năm 1824, Chân Lạp xin dâng đất 3 phủ là Lợi-kha-vát, Chân Xâm, Mật Luật cho Nguyễn Văn Thoại. Lê Văn Duyệt đề nghị chỉ nhận Chân Xâm, Mật Luật. Tháng 11 (âm lịch), Thị đốc học sĩ Trần Văn Tuân bị án giảo giam hậu, vì lời tâu của ông. Trước đây, ông Tuân đi công cán ở Chân Lạp, được người Chân Lạp tin yêu; đến khi về lại Gia Định, người Chân Lạp vẫn thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm. Sau, nhân bắt được lá thư của vua Chân Lạp gửi cho ông Tuân, Lê Văn Duyệt bèn đem việc ấy chiểu theo luật "Giao thông ngoại cảnh" (tức luật ngoại giao với nước ngoài) mà tâu lên. Năm 1824, xảy ra vụ án Mỹ Đường - Tống Thị Quyên do Duyệt mật tâu. Vua sai bắt Tống Thị đóng cũi giải đến cho Duyệt đem dìm chết đi. Khi Lê Chất (Tổng trấn Bắc Thành) và Lê Văn Duyệt (Tổng trấn Gia Định Thành) cùng vào Huế chầu, cả hai bàn nhau rằng họ là kẻ võ biền ít học, nay thời bình nên xin từ chức. Minh Mạng không cho. Năm thứ 6 (1825), Minh Mạng cho vợ Duyệt là Đỗ Thị Phẩn 1000 quan tiền. (Đỗ Thị là cung nữ, lúc đầu trung hưng vua ban cho Duyệt). Năm 1827, Xiêm đánh Vạn Tượng, Chao Anouvong thua chạy sang Nghệ An xin nhà Nguyễn giúp. Lê Văn Duyệt đề nghị thâu nhận và trợ giúp binh lực cho Vạn Tượng, sẵn sàng đối đầu Xiêm. Minh Mạng bác bỏ. Từ đó, tấu chương về chuyện biên giới Nghệ An chỉ trích lục những chuyện quan yếu cho Duyệt. Cùng năm 1827, Lê Văn Duyệt vào kinh chầu, Minh Mạng phong cho cha Duyệt là Lê Văn Toại hàm Đô thống chế nhất phẩm, mẹ là Nguyễn Thị nhất phẩm phu nhân. Duyệt thường lập 1 đội thuộc binh cho vợ là Đỗ Thị Phẩn, đặt 3 Cai đội làm sách phòng biên quê quán. Bộ Binh nói là vi phạm luật lệ, Minh Mạng cười nói rằng trẫm với Lê Văn Duyệt há có lệ nào đâu, cho làm như thế. Triều đình cũng nhận định Lê Văn Duyệt có uy danh rất lớn ở phương Nam, sứ Xiêm rất sợ và hay hỏi thăm "Lê công mạnh khỏe không?" khi sang nước ta. Năm 1828, thuộc hạ cũ của Lê Văn Duyệt là Trần Nhật Vĩnh bị bắt giam. Theo triều đình, Trần Nhật Vĩnh là người nhanh nhẹn được Duyệt tin dùng. Nhật Vĩnh là người rất hiểm giảo, lại tham bẩn cậy thế kinh doanh việc riêng, thậm chí cướp vợ người, dỡ nhà người, chiếm tài sản của người, ai cũng sợ ngược độc không dám phát giác. Triều đình sai người bí mật điều tra và bắt tội Vĩnh rồi báo cho Duyệt. Trần Nhật Vĩnh sau đó bị xử chém. Năm 1832, Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất chết, triều đình bãi bỏ trấn Bắc Thành. Lê Văn Duyệt xin cho bãi bỏ trấn Gia Định. Minh Mạng chưa cho. Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832), Chưởng Tả Quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, Triều đình truy tặng ông chức "Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả Quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo Quận Công", thụy là "Oai Nghị". Vụ án Lê Văn Duyệt. Sau khi Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng cho bãi chức tổng trấn Gia Định thành, và đổi 5 trấn ra thành 6 tỉnh, là: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên . Lại đặt các chức tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, lãnh binh như các tỉnh ở ngoài Bắc. Đến khi Bạch Xuân Nguyên đến làm bố chính tại Phiên An (tức tỉnh Gia Định), nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cứ, đồng thời trị tội các tôi tớ của ông Duyệt. Vì việc này, con nuôi ông Duyệt là Lê Văn Khôi bèn khởi binh chống lại (xem cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi). Nhận được tin cáo cấp, Minh Mạng liền sai quân đi đánh dẹp, đồng thời ban trách Lê Văn Duyệt đã "che chở quân phỉ đảng, để gây nên bọn loạn" . Tuy nhiên, một số tài liệu cho rằng Minh Mạng vốn có thù hằn lâu ngày với Lê Văn Duyệt, có thể vì: Theo tác giả Huỳnh Minh, dù không ưa nhưng Minh Mạng chưa thể làm gì Lê Văn Duyệt, vì công lao và uy quyền của ông quá lớn . Cho nên sau khi triều đình dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1835), nhân Phan Bá Đạt ở Đô sát Viện dâng sớ kể tội Tả Quân, Minh Mạng liền dụ cho đình thần nghị xử. Nội các là Hà Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh dâng sớ tội trạng của Lê Văn Duyệt. Đến khi nghị án xong, có bảy tội nên trảm (chém), hai tội nên giảo (thắt cổ), một tội phải sung quân (tự tiện bắt biền binh đóng thuyền). Bảy điều đáng làm tội xử trảm (chém): Hai điều đáng xử tội giảo (thắt cổ): Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa trẻ dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành. Lạng Bình hộ phủ Trần Huy Phác xin những thê thiếp con cháu Duyệt đều xử trảm quyết. Quảng Yên hộ phủ Lê Dục Đức tâu xin những đứa phạm 16 tuổi trở lên, đều xin đem giết đi. Bình Phú Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn, Ninh Thái Tổng đốc Hoàng Văn Trạm cũng xin y đình nghị, lại nói rằng hoặc nên lấy công bù tội, châm chước quyết định thế nào ra tự ơn trời. Sau đó, Minh Mạng ra dụ có đoạn rằng: "Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công. Vậy cho Tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" (Chỗ này là nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu hình phạt)"… Sau đó, lệnh được thực hiện theo như lời dụ. Ngoài ra, mộ cha mẹ ông ở Long Hưng (nay thuộc Châu Thành, Tiền Giang) cũng bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia. Được phục hồi danh dự. Năm Tân Sửu (1841) Vua Thiệu Trị lên ngôi, ban lệnh tha tội các thân thuộc của Lê Chất và Lê Văn Duyệt . Tháng 2 (âm lịch) năm đầu Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin lục dụng những con cháu của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Lời tâu làm Vua cảm động, bèn cho con cháu ông Thành làm Chánh đội, cho cháu Văn Duyệt là Điển làm chư quân Cai đội. Tự Đức năm thứ 2 (1849), đình thần xin rửa tội cho Lê Văn Duyệt. Cấp trả khu vực mộ của Lê Văn Duyệt cho người cháu (gọi Văn Duyệt bằng ông chú bác) là Lê Văn Niên trông coi. Mộ cha mẹ Lê Văn Duyệt ở thôn Long Thịnh cũng đều cho tu sửa. Tuy nhiên, mãi đến năm tháng 4 (âm lịch) năm 1868, nhà vua mới chính thức ban lệnh truy phục chức hàm cho Nguyễn Văn Thành (là "Chưởng trung quân Đại tướng quân Quận công") và Lê Văn Duyệt (là "Chưởng Tả Quân Đại tướng quân"), đồng thời cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế . Nhận xét khái quát. Không chỉ có tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn là một nhà chính trị. Làm tổng trấn Gia Định Thành hai lần (lần 1: 1812-1816, lần 2: 1820 -1832), ông đã thực hiện chính sách trị an tốt, và có công lớn trong việc giữ gìn an ninh cho xứ sở. Ông cho đắp đường, đào kênh, củng cố thành lũy, lập hai cơ quan từ thiện là "Anh hài" và Giáo dưỡng ...Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn. Bấy giờ, nhiều người kính phục, gọi ông là "Ông Lớn Thượng", hay " Đức Thượng Công"... Một vài nước lân cận cũng tỏ ra kiêng nể ông . Thông tin liên quan. Đến năm 17 tuổi thì ông mới hoạn để chính thức làm thái giám. Thuở trẻ, ông thích đá gà, nuôi gà chọi. Ngoài ra, ông cũng là người sành thưởng thức hát bội và thường tự tay cầm chầu. Có thể tư chất yếu đuối có phần hơi nữ tính khiến ông bị Minh Mạng đặt chữ chửi bới trên mộ rằng "lại cái" (quyền yêm). Sau này, do ông lập được nhiều công lao, khi lên ngôi, Gia Long đã gả một người cung nhân tên là Đỗ Thị Phẫn (hay Phận) về làm vợ ông, dù ông là thái giám. Con trai cả của Lê Văn Phong (em trai Lê Văn Duyệt) là Lê Văn Yên (hoặc Yến) được cho làm con thừa tự Lê Văn Duyệt. Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) Yến lấy Công chúa Ngọc Ngôn, năm 1835 vụ án Lê Văn Duyệt phát ra, Yến bị xử tử. Với vụ án oan Tống Thị Quyên. Sách "Đại Nam chính biên liệt truyện" (Sơ tập, Quyển 2) chép: "Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị (Quyên). Tống thị vì thế thị dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất"... Lúc bấy giờ có tin đồn người mật tâu là Lê Văn Duyệt. Tuy nhiên, có người lại cho rằng đây là mưu sâu của nhà vua nhằm làm mất uy tín ông, đồng thời ly gián ông với phe ủng hộ "dòng trưởng" nối ngôi (tức ủng hộ Hoàng tôn Đán, tên thật là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con Hoàng tử Cảnh). Ngôi mộ của tả quân. Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong sách "Gia Định xưa" cho biết: "Theo lời các cố lão, ngôi mộ tại Gia Định Bình Hòa xã là ngôi mộ chôn bằng hình sáp, còn hài cốt thật thì về an táng tại làng Long Hưng, thuộc tỉnh Định Tường. ("Tiền Giang ngày nay")" Tuy nhiên, tháng 4 năm 2006, sau một cuộc khảo sát ông Lý Việt Dũng đã đưa ra kết quả ngược lại. Ngày 4 tháng 2 năm 2008, tượng Tả Quân Lê Văn Duyệt đã được đặt trang trọng tại điện thờ tại Lăng Ông (số 1 đường Vũ Tùng, có cổng Tây tại số 126 đường Lê Văn Duyệt, phường 1, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh). Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65 m, nặng 3 tấn do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện. Đây là ý tưởng của tạp chí "Xưa nay" và "Hội Khoa học lịch sử Việt Nam" trong chương trình "Đúc tượng đồng cho lăng Ông". Giao thiệp với ngoại quốc. Năm 1822, đại sứ nước Anh John Crawfurd trên hành trình đi sứ Xiêm và Cochin China [Việt Nam] đã ghé Sài Gòn và có cuộc gặp với quan Tổng trấn thành Gia Định.Crawfurd được biết rằng vua nước Cochin China hiện đang ở Huế, còn Chao-Kun [Tả Quân?], vị Thống đốc Lower Cochin China [Nam Kỳ], thì đang ở Saigun. Crawfurd nóng lòng được gặp vị quan ở Saigun đó, bởi ngoại trừ Kachao [Kẻ Chợ] ở Tonquin [Đông Kinh], thì [Sài Gòn] là nơi giàu có nhất vương quốc này. Ngày 2 tháng 9 năm 1822, đoàn hơn 30 người của Crawfurd được dẫn đi gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt, Crawfurd và một số người được chở bằng năm con voi. Nơi tiếp khách trong thành Phiên An quá đơn sơ nếu so với chỗ của người Hoa. Người Việt Nam có tục tiếp khách trên mấy cái bàn thấp (bộ ván ngựa), trải chiếu hoa lên trên, quan lớn thì ngồi hàng đầu, quan nhỏ ngồi lần lượt phía sau. Ở giữa sảnh đường là một bộ bàn hơi cao hơn mấy cái khác, dành cho quan Tổng trấn. Đoàn của Crawfurd được mời ngồi ghế, bên phải quan Tổng trấn. Ngồi bên trái quan Tổng trấn là vị Phó tổng trấn [Trương Tấn Bửu], vị quan già khoảng 70 tuổi trông đáng kính và đẹp lão. Quan Tổng trấn nghe đồn là một thái giám, nhưng không công khai, ông ta không có râu; tuy nhiên, người Việt dù có thích để râu thì không quá rậm rạp. Tiếng nói của quan Tổng trấn nhỏ nhẹ và khá giống giọng nữ nhưng không dễ nhận ra. Lúc này, vị Tổng trấn đã 58 tuổi, vẻ mặt sôi nổi và thông minh, ông ta hơi thấp bé và gầy, nhưng hoạt bát và không thấy cơ thể bị khuyết tật gì. Có điều, ông ta đã rụng khá nhiều răng. Ông ấy cũng ăn mặc giản dị với bộ đồ lụa và chiếc khăn quấn đầu màu đen. Crawfurd tặng quà cho Tổng trấn, ông ấy từ chối, rất khác biệt với các vị quan tham lam ở Xiêm. Một lần nữa, vị Tổng trấn lại đòi hỏi phải có thư của vua Anh gửi cho vua Việt, bởi vì chỉ có vua mới gửi thư cho vua. Nếu chỉ có thư của Toàn quyền Ấn Độ [một vị quan] thì ông ấy chỉ giúp chuyển nó cho vị quan Tượng binh [Mandarin of Elephants], người kiêm nhiệm Ngoại giao ở Huế. Vị quan Tượng binh này có thể là Chưởng Tượng quân kiêm quản lý Thương bạc sự vụ Nguyễn Đức Xuyên. Quan Tổng trấn thậm chí còn không mở thư của Toàn quyền Hastings ra xem mà chỉ nhờ sơ qua phong bì rồi trả lại Crawfurd. Ngoài ra, vị Tổng trấn còn mời đoàn Crawfurd xem một buổi biểu diễn đấu nhau giữa voi và cọp. Crawfurd được tặng trâu, heo, gà vịt, heo quay.. đổi lại, Crawfurd bí mật tặng quan Tổng trấn thuốc súng. Người Cochin China rất mê đá gà (chọi gà). Ông Tổng trấn, chơi đá gà hai lần một tháng và mời nhiều quan chức tham dự. Tại Huế, ngày 12 tháng 10 năm 1822, không có cuộc gặp mặt nhà vua nào được tổ chức cho đoàn của Crawfurd. Ông được cho phép quay lại Đà Nẵng bằng đường bộ để tham quan. Trước khi rời Huế, Crawfurd đến phủ của vị quan Tượng binh (kiêm Ngoại giao) để thương thảo lần cuối. Quan Tượng binh đã chất vấn Crawfurd một số điều về cuộc ghé thăm Sài Gòn như: "Crawfurd tự nguyện dâng thư của Toàn quyền Anh cho Tổng trấn [Lê Văn Duyệt] hay là ông ta [Lê Văn Duyệt] ép?" Và rằng: "Không ai được phép xem thư của nhà vua trước khi nó được trình lên ngài ấy cả". Crawfurd nhận ra sự ghen ghét của triều đình đối với quan Tổng trấn thành Gia Định. Theo tìm hiểu của Crawfurd, Lê Văn Duyệt không chỉ là nhân vật đứng đầu cả nước về đẳng cấp và quyền lực, mà còn ở sự cứng rắn, tài năng và liêm chính của ông ta. Việc Lê Văn Duyệt phải rời kinh đô để đi trấn thủ Gia Định là một mất mát lớn, khiến những quan chức tham lam không còn bị ai kiềm chế. Minh Mạng cố nhiên đố kị với uy danh của quan Tổng trấn. Việc giao thiệp với Miến Điện (hoặc Diến Điện, vương quốc Ava) là một trong những bằng cớ đầu tiên mà nhà Nguyễn dùng để kết tội chém và thắt cổ Lê Văn Duyệt. Đại Nam Thực lục và Liệt truyện chép:"Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa đông, quốc vương nước Diến Điện sai sứ đến thông hiếu." "Khi trước Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Độ đi thuyền buôn sang các nước bên ngoài nước Hồng Mao tìm mua đồ binh dụng, bị gió bạt đến trấn Đào Quai nước Diến Điện. Vua Miến Điện sai bồi thần là Hợp Thời Thông Thụ Nhĩ Miêu Ty Chỉ-Tu-Giá Tha đem quốc thư và phẩm vật đến dâng, xin nước ta tuyệt giao với nước Xiêm. Sứ giả đến Gia Định, Duyệt cho dịch thư ấy ra tâu lên, việc giao cho đình thần bàn, khước lời xin ấy trả cả lễ cống." "Sai Quản cơ Nguyễn Văn Uẩn và Chánh tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng đem binh thuyền và mang lương tiền 6 tháng, đưa sứ giả đến địa đầu Diến Điện thì về. Lại sai bộ Lễ đem việc ấy báo cho nước Xiêm. Người Xiêm gửi thư đến tạ."Trong quyển sách của mình, John Crawfurd cũng ghi lại tường trình của sứ giả Miến Điện khi đến Việt Nam. Sứ giả Miến Điện là Gibson, có cha là người Anh, đã tường thuật khá chi tiết về hành trình và các sự kiện ở Gia Định Thành lúc ấy. Đối với Lê Văn Duyệt, Gibson được trực tiếp gặp mặt và trao đổi nhiều lần."...Ngày 12 tháng 6 năm 1823, viên thư ký của quan Tổng trấn (Lê Văn Khôi hoặc Trần Nhật Vĩnh) đến chỗ sứ đoàn để hỏi tình hình dịch thuật quốc thư và trao thư mời dự tiệc ở dinh thự Tổng trấn. Sứ đoàn được gặp Lê Văn Duyệt, lúc ấy khoảng 50-60 tuổi, vóc người nhỏ nhưng linh hoạt, dáng dấp của người cựu binh. Quan Tổng trấn vốn người gốc Mitho, theo phò tá cố vương Gialong. Ông từng lưu vong ở Xiêm với Gialong. Sau nhiều công trạng, ông leo lên các cấp bậc cao hơn. Ông được kính nể bởi người dân Việt Nam và kinh sợ bởi người Kambojans và S" "Ngày 10 tháng 8, sứ đoàn thấy rằng cứ mỗi tuần lại có 3 hoặc 4 phạm nhân bị hành quyết. Quan Tổng trấn rất nghiêm khắc trong việc thực thi công lý, không cho phép ai thoát tội. Ngài cho rằng những kẻ tội nhân đó không có ích gì cho xã hội mà chỉ là gánh nặng. Vị quan đưa sứ đoàn từ Cần Giờ lên Sài Gòn, vừa bị kết tội nhận hối lộ và tham nhũng. Ông ta bị tịch thu tài sản và hai vợ chồng bị đóng gông cổ. Ông quan này ăn chặn tiền lương của công nhân đào kênh Hà Tiên, và tống tiền nông dân làng bên cạnh. Tổng số tiền đó chưa tới 1.000 quan tiền. Khi đi qua chợ vào buổi chiều để xem voi biểu diễn, sứ đoàn thấy chỗ hành hình 3 phạm nhân hồi sáng, vẫn còn mấy cái gông nằm đó..." ", ông muốn nó được thực hiện và nhà vua Minh Mạng hiếm khi nào hành động trái với lời khuyên của ô" "Quan Tổng trấn dường như có đầy đủ thông tin về kết quả cuộc chiến của hoàng đế Napoleon Bonaparte, nhất là trận Waterloo và cái chết của ông ấy ở St. Helena. Quan Tổng trấn thương xót cho Napoleon và nói cho các viên quan Việt Nam rằng, sai lầm duy nhất của Napoleon là ông ấy có tham vọng quá to lớn. Và sau khi làm cho thế giới hỗn loạn bằng những cuộc chiến, Napoleon chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho nước Pháp. Quan Tổng trấn ca ngợi người Anh, nhưng lại cho rằng họ cũng quá đỗi tham vọ" "Trong thời gian này, sứ đoàn gặp phải hai vụ việc tàn khốc cho thấy sự nghiêm khắc và chuyên quyền cực lớn của quan Tổng trấn. Một viên quan thuộc đoàn tùy tùng về kinh với quan Tổng trấn đến xin ông cho mình được đi sau vài ngày do vợ bệnh, quan Tổng trấn tức giận với lời cầu xin, lập tức sai lính kéo viên quan ra cổng chém đầu ngay tức khắc. Cùng lúc ấy, một viên quan khác, người gốc Tonquin, làm giám sát việc đào kênh Athien, đến chào hỏi quan Tổng trấn. Quan Tổng trấn trước đó đã nghe một số điều không tốt về hành vi của viên quan này, trong khi viên quan chưa kịp lạy xong 4 lạy theo lễ, quan Tổng trấn ra lệnh kéo viên quan ra chợ hành hì" "Quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt và hai vị quan người Pháp Vanier và Cheneaux thì lại ủng hộ liên minh với Miến Điệ, không một ai có đủ thông minh trừ ngài Tổng trấn Lê Văn Duyệt, người thường hay cười trước sự ngu xuẩn của các vị quan khác. Thậm chí Lê Văn Duyệt còn gợi ý nhẹ nhàng nhà vua Minh Mạng về ý định hoang đường của nhà vua, bởi thực tế thì Minh Mạng cũng chỉ là một chư hầu của hoàng đế Trung Hoa mà thô" "Hiện nay, đạo Công giáo vẫn được công khai tôn thờ ở phần miền nam của đất nước, nơi người theo đạo được bảo vệ và khích lệ bởi Tổng trấn T" Từ thời Pháp thuộc, ở thị xã Vĩnh Yên thuộc tỉnh Vĩnh Yên cũ (ngày nay là thành phố Vĩnh Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) có một tuyến phố mang tên là phố Lê Văn Duyệt. Sau khi tiếp quản Vĩnh Yên vào năm 1954, chính quyền mới đã cho đổi tên phố này thành tên mới là phố Tân Lập, nay gọi là phố Lê Xoay. Từ năm 1929, tại Sài Gòn, chính quyền thuộc địa cũng cho đặt tên đường Lê Văn Duyệt cho một con đường nhỏ ở phía sau chợ Tân Định. Đến năm 1955 thì đổi tên thành đường Mã Lộ cho đến nay. Ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975 (khi đó là thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định) có tới hai con đường mang tên Lê Văn Duyệt. Ngày 14 tháng 8 năm 1975, đường Lê Văn Duyệt của đô thành Sài Gòn cũ đổi thành đường Cách Mạng Tháng Tám; còn đường Lê Văn Duyệt của tỉnh Gia Định cũ (nay thuộc địa bàn quận Bình Thạnh) cũng bị đổi tên và nhập chung với đường Đinh Tiên Hoàng (đoạn từ cầu Bông đến Lăng Ông Bà Chiểu), tuy nhiên đã được đổi lại thành Lê Văn Duyệt vào ngày 11 tháng 7 năm 2020. Ngoài ra trước năm 1976, Quận 3 còn có một phường mang tên Lê Văn Duyệt, ngày nay là địa bàn các phường 10 và 11. Tên đường Lê Văn Duyệt vốn có từ trước năm 1975 nhưng vẫn được giữ nguyên, không bị thay đổi thành tên khác cho đến ngày nay tại một số thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam và miền Trung như Bạc Liêu, Mỹ Tho, Trà Ôn (thuộc Vĩnh Long), Lái Thiêu (thuộc Bình Dương), Phước Long (thuộc Bình Phước). Hiện nay, tại Bạc Liêu có một con đường mang tên ông tại phường 3, thành phố Bạc Liêu. Tại thị xã La Gi, Phan Thiết, từ năm 2009 có đường Lê Văn Duyệt, từ đường Tôn Đức Thắng đến đường Kinh tế mới Tân An, dài 2200m x rộng 8m. Ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai, đường số 11 Khu công nghiệp Biên Hòa I nối từ Cù lao Phố đến Ngã ba Vũng Tàu được đổi thành đường Lê Văn Duyệt năm 2012. Thành phố Bà Rịa có một tuyến đường mang tên Lê Văn Duyệt ở phía bắc phường Long Toàn, song đang còn bị chia cắt thành nhiều đoạn rời nhau. Đà Nẵng cũng có con đường tên Lê Văn Duyệt chạy dọc sông Hàn thuộc quận Sơn Trà.
Vuze (trước đây có tên Azureus) là một trình khách BitTorrent tự do dùng để trao đổi tập tin thông qua giao thức BitTorrent. Vuze được viết bằng Java, và sử dụng Bộ máy Azureus. Ngoài tính năng bittorrent, Vuze còn cho phép người dùng xem, đăng tải và chia sẻ DVD và nội dung video HD do người dùng tự tạo. Nội dung được biểu diễn qua các kênh và thể loại trong đó có show truyền hình, video âm nhạc, điện ảnh, video game, , nếu người dùng muốn đăng tải nội dung tự tạo, họ có thể bán nó. Vuze ra mắt đầu tiên với tên Azureus vào tháng 6 năm 2003 tại SourceF, chủ yếu là để thử nghiệm Bộ công cụ Widget Chuẩn (Standard Widget Toolkit) của Eclipse. Hiện nay nó là một trình khách BitTorrent khá phổ biến. Bộ máy Azureus được phát hành theo Giấy phép Công cộng GNU, và là phần mềm tự do. Tuy nhiên, nhiều phần trong nền tảng Vuze mới được thêm vào có thêm những điều khoản cấp phép hạn chế hơn, và không còn có thể cài đặt bộ máy Azureus bằng trình cài đặt mới nhất mà không phải chấp nhận giấy phép Vuze từ đầu. Azureus cho phép người sử dụng đặt tốc độ tải về và tải lên khác nhau cho từng tệp được chỉ định. Azureus cho phép người dùng mở một vài tệp đã hoàn thành mặc dù tệp tổng thể chưa tải về xong. Và hơn thế Azureus có khả năng tự đảm nhiệm vai trò là máy theo dõi, cho mọi người tự chia sẻ tệp mà không cần thông qua trang web để lưu trữ tệp torrent. Azureus hỗ trợ giao thức mã hóa gói tin gửi đi, một phương pháp chống làm nghẹt băng thông (một phương pháp luôn cố gắng tự chặn các gói tin gửi đi bởi chương trình BitTorrent). Các chức năng của Azureus có thể mở rộng nhờ vào rất nhiều công cụ bổ sung, ví dụ công cụ bổ sung rất phổ biến của Azureus là Xác định quốc gia và một bổ sung cho phép Azureus tương thích với mạng lưới Nodezill, một kho lưu trữ ẩn danh chia sẻ và phát hành rất nhiều tệp torrent. Phiên bản Azureus 2.3.0.0 giới thiệu thêm chức năng mới là Cơ sở dữ liệu phân phối (Distributed Database) (một dạng khác của DHT, cụ thể là Kademlia), một chức năng mở rộng của giao thức BitTorrent, chức năng này giúp Azureus hoạt động độc lập với máy theo dõi, ngăn ngừa khả năng máy theo dõi bị sập hoặc xử lý chậm danh sách các máy đồng đẳng khác trong quần thể. Mặt trái của chức năng này là tính bí mật của máy theo dõi, và các máy trong quần thể không muốn các máy ngoài quần thể thay đổi tệp torrent, vì vậy Azureus hiểu rằng không chia sẻ với các máy đồng đẳng ngoài quần thể thông tin. Một số người chỉ trích rằng chức năng DHT đơn giản chỉ là phát triển lại chức năng cũ của giao thức P2P. Giao diện chính của Vuze. Từ phiên bản 3.0, Vuze bắt đầu bằng giao diện Vuze chính, được thiết kế để quảng bá cho nội dung Vezu. Tại đây, người dùng có thể duyệt tập tin trên Mạng Vuze, chia sẻ torrent với bạn bè, và tán gẫu. Mọi thứ trong giao diện cổ điển vẫn tồn tại, nhưng bị ẩn đi. Giao diện cổ điển. Người dùng nâng cấp từ các phiên bản trước sẽ vẫn giữ được giao diện cổ điển theo mặc định. Với người nào cài đặt lần đầu hoặc cài đặt lại, có thể bỏ qua lớp Vuze bằng một vài thao tác. Sự khác biệt đáng chú ý nhất giữa giao diện cổ điển và giao diện chính là phần đầu và phần cuối của trang. Ngoài ra, không có tính năng Mạng Vuze. Khi tệp đang trong quá trình tải về, người sử dụng có thể xem rất nhiều thống kê khác nhau bao gồm: Giao diện nâng cao. Giao diện "nâng cao" là sự pha trộn giữa giao diện cổ điển và chính. Khác biệt lớn nhất là phần đầu và cuối trang, lớp Mạng Vuze được giữ lại. Vuze được phát hành đầu tiên vào tháng 6 năm 2003 tại SourceF(Dendrobates azureus) được đồng sáng tạo Tyler Pitchford chọn làm biểu trưng và tên chương trình. Vào năm 2006 "Vuze" (còn có tên Zudeo) được phát hành với nỗ lực thay đổi chương trình thành một chương trình "xã hội" do một nhóm các lập trình viên gốc thành lập nên Azureus Inc., một thời gian ngắn sau đó đổi tên thành Vuze, Inc. Một phiên bản Azureus không có Vuze được phát hành cùng với Vuze trong giai đoạn beta. Những bản phát hành sử dụng phiên bản đánh số 3.0, trong khi phiên bản không có Vuze tiếp tục với con số phát hành 2.5. Phản ứng đầu tiên với sự thay đổi này là sự bối rối vì cách đặt số phiên bản này. Vuze sau đó nhập chung vào Azureus. Không lâu sau, phiên bản chỉnh sửa "Không Vuze" được phát hành trên The Pirate Bay, và đến ngày 15 tháng 9, có mặt với phiên bản lên tới 3.1.1.0. Vào ngày 16 tháng 6 năm 2008 những lập trình viên Azureus/Vuze quyết định dừng phát hành các phiên bản với tên Azureus, và kết thúc việc đổi tên trong phiên bản 3.1. Tuy nhiên bộ máy trình khác vẫn giữ nguyên tên Azureus. Thay đổi giấy phép. Cho đến phiên bản 2.5.0.4, Azureus được phát hành với giấy phép Công cộng Chung GNU (GPL); bắt đầu từ phiên bản 3, giấy phép hiển thị khi cài đặt đã thay đổi. Tuy nó vẫn nói rằng "Ứng dụng Azureus" được phát hành theo GPL, để hoàn thành cài đặt, nó yêu cầu người dùng phải đồng ý với các điều khoản của "Nền tảng Vezu", trong đó có thêm những hạn chế về việc sử dụng, dịch ngược, và cấp phép về sau. Cũng giống như nhiều giấy phép tương tự, giấy phép Azureus có những lời cấm những người "dưới 18 tuổi" sử dụng phần mềm. Do được viết trên ngôn ngữ lập trình Java nên Azureus phải chạy trên máy ảo Java. Điều này dẫn đến Azureus chiếm rất nhiều tài nguyên CPU và bộ nhớ, tuy nhiên nguyên nhân một phần cũng do Azureus có rất nhiều tính năng bổ sung. Với Azureus phiên bản 2.4.0.0 người sử dụng chỉ cần có GCJ (phiên bản 4.1.0 hoặc mới hơn) để chạy chương trình. Với sự hỗ trợ của GCJ Azureus có thể hoạt động ở trạng thái mã giả mà không cần biên dịch chương trình ra mã máy tương ứng, làm tăng khả năng hoạt động độc lập của Azureus, giờ đây Azureus hoạt động không phụ thuộc vào máy ảo Java.
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Cộng hòa miền Nam Việt Nam là tên gọi một chính thể ở miền Nam Việt Nam tồn tại song song với chính thể Việt Nam Cộng hòa bắt đầu từ ngày 8 tháng 6 năm 1969, quản lý các vùng lãnh thổ bên ngoài khả năng kiểm soát bởi Việt Nam Cộng hòa. Chính thể này thành lập bởi Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam tổ chức trong ba ngày 6 đến 8 tháng 6 trong đó thông qua bản Nghị quyết cơ bản thành lập chế độ Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, xác nhận rõ đây không phải một nước mà là một chính thể. Đến khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp quản toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Theo tài liệu của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì chính phủ của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được 75 quốc gia công nhận vào cuối tháng 5 năm 1975. Tháng 7 năm 1975, cả hai nước Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Tháng 8, Mỹ bỏ phiếu chống việc gia nhập này. Việc phủ quyết được đánh giá là đã chấm dứt lộ trình dài 12-14 năm thống nhất hai nước, thúc ép cả hai nước mau chóng tiến hành thống nhất. Tháng 2 năm 1976, chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam, sau khi sắp xếp lại có 21 tỉnh thành.
Cách mạng công nghiệp Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Cuộc cách mạng công nghiệp hay còn gọi là Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất; là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa và kỹ thuật, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn. Tên gọi "Cách mạng công nghiệp" thường dùng để chỉ giai đoạn thứ nhất của nó diễn ra ở cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Giai đoạn hai hay còn gọi là Cách mạng công nghiệp lần thứ hai tiếp tục ngay sau đó từ nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Ảnh hưởng của nó diễn ra ở Tây Âu và Bắc Mỹ trong suốt thế kỷ 19 và sau đó là toàn thế giới. Ý kiến về thời gian diễn ra Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất không thống nhất, nhưng nói chung là ở nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp dệt. Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và năng lượng cho công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và than đá sử dụng với khối lượng lớn. Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho sự ra đời của kênh đào giao thông và đường sắt. Bên cạnh đó, đường giao thông được nâng cấp lớn cho hoạt động giao thương nhộn nhịp. Động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến. Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu vào khoảng thập kỷ 1860, khi các tiến bộ kinh tế và kỹ thuật có được nhờ phát triển điện tín, điện thoại, đường sắt và việc áp dụng dây chuyền sản xuất hàng loạt. Đến cuối thế kỷ 19, động lực của Cách mạng công nghiệp lần 2 chủ yếu là động cơ đốt trong và máy móc sử dụng điện. Năm 1914, năm bắt đầu Thế chiến thứ nhất, giai đoạn thứ hai này kết thúc. Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bắt đầu khoảng 1960, khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và công nghệ kĩ thuật số trên nền tảng là sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nổ ra là bước đánh dấu giai đoạn thứ ba kết thúc. Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư bắt đầu vào đầu thế kỷ 21, tiếp sau những thành tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, Internet of Things, S.M.A.C, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mớ Tác động của cách mạng công nghiệp là vô cùng sâu rộng. Không chỉ làm thay đổi đời sống con người, các cuộc cách mạng công nghiệp còn dẫn tới sự thay đổi toàn diện hình thái kinh tế – xã hội. Sau cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, giai cấp tư sản đã tích lũy đủ tài sản và quyền lực, dẫn tới việc chủ nghĩa tư bản đã thắng thế chế độ phong kiến. Sau cách mạng công nghiệp lần thứ hai, các nhà máy lớn sản xuất theo dây chuyền đã thay thế các xưởng sản xuất nhỏ, dẫn tới việc chủ nghĩa tư bản độc quyền đã thay thế chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, đồng thời giai cấp công nhân và một số phong trào chính trị đi theo chủ nghĩa xã hội đã hình thành. Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư hứa hẹn sẽ làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội của nhân loại thêm một lần nữa. Điều kiện ra đời. Sau thời kỳ Thập tự chinh, những chiến binh trở về mang theo những vật phẩm quý giá và mới lạ với xã hội châu Âu thời bấy giờ như nước hoa, các loại gia vị mới, các sản phẩm bằng thé, kinh tế hàng hóa ở Tây Âu đã khá phát triển, nhu cầu về thị trường tăng cao. Giai cấp tư sản Tây Âu muốn mở rộng thị trường sang phương Đông, mơ ước tới những nguồn vàng bạc từ phương Đông. Tại Tây Âu, tầng lớp quý tộc cũng tăng lên, do đó nhu cầu về các mặt hàng đặc sản, cao cấp có nguồn gốc từ phương Đông như tiêu, quế, trầm hương, lụa tơ tằm (dâu tằm tơ), ngà Trong khi đó, Con đường tơ lụa mà người phương Tây đã biết từ thời cổ đại lúc đó lại đang bị Đế quốc Ottoman theo đạo Hồi chiếm giữ khiến cho hoạt động giao thương của phương Tây không thể qua đây được, vì vậy chỉ có cách tìm một con đường đi mới trên biển. Lúc đó người Tây Âu đã có nhiều người tin vào giả thuyết Trái Đất hình cầu. Họ cũng đã đóng được những con tàu buồm đáy nhọn, thành cao, có khả năng vượt đại dương, mỗi tàu lại đều có la bàn và thước phương vị, điều đó đã tăng thêm sự quyết tâm cho những thủy thủ dũng cảm. Những phong trào tri thức tại Châu Âu. Những phong trào tri thức tại Châu Âu đã tạo ra nền tảng kiến thức cho các cuộc cách mạng công nghiệp ở châu lục này. Những cuộc phát kiến địa lý lớn thế kỉ 15–16. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai nước đi đầu trong phong trào phát kiến địa lý. Năm 1415 một trường hàng hải do Hoàng tử Henrique sáng lập và bảo trợ. Từ đó, hàng năm người Bồ Đào Nha tổ chức những cuộc thám hiểm men theo bờ biển phía tây châu Phi. Năm 1486, đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha do Bartolomeu Dias chỉ huy đã tới được cực nam châu Phi, họ đặt tên mũi đất này là mũi Hảo Vọng. Năm 1497, Vasco da Gama đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha tới được Ấn Độ. Ông được phong làm Phó vương Ấn Độ Người Tây Ban Nha lại đi tìm Ấn Độ theo hướng Mặt Trời lặn. Năm 1492, một đoàn thám hiểm do Cristoforo Colombo chỉ huy đã tới được quần đảo miền trung châu Mĩ, nhưng ông lại tưởng là đã tới được Ấn Độ. Ông gọi những người thổ dân ở đây là "Indians". Sau này, một nhà hàng hải người Ý là Amerigo Vespucci mới phát hiện ra Ấn Độ của Colombo không phải là Ấn Độ mà là một vùng đất hoàn toàn mới đối với người châu Âu. Amerigo đã viết một cuốn sách để chứng minh điều đó. Vùng đất mới đó sau này mang tên America. Năm 1519–1522, Ferdinand Magellan đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu tiên đi vòng quanh thế giới. Một hạm đội gồm 5 tàu với 265 người đã vượt Đại Tây Dương tới bờ biển phía đông của Nam Mỹ. Họ đã đi theo một eo biển hẹp gần cực nam châu Mỹ và sang được một đại dương mênh mông ở phía bên kia. Suốt quá trình vượt đại dương mênh mông đó, đoàn tàu buồm của Magellan hầu như không gặp một cơn bão đáng kể nào. Ông đặt tên cho đại dương mới đó là Thái Bình Dương. Magellan đã thiệt mạng ở Philippines do trúng tên độc của thổ dân. Đoàn thám hiểm của ông cũng chỉ có 18 người sống sót trở về được tới quê hương. 247 người thiệt mạng trên tất cả các vùng biển và các hòn đảo trên thế giới vì những nguyên nhân khác nhau. Những thành công lớn nhất mà chuyến đi đạt được là lần đầu tiên con người đã đi vòng quanh thế giới. Tác dụng của những cuộc phát kiến địa lý. Các nhà thám hiểm bằng những chuyến đi thực tế đầy dũng cảm của mình đã chứng minh cho giả thuyết Trái Đất hình cầu. Họ còn cung cấp cho các nhà khoa học rất nhiều hiểu biết mới về địa lý, thiên văn, hàng hải, sinh vật họ Sau những cuộc phát kiến này, một sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa trên thế giới diễn ra do các cá nhân có nguồn gốc văn hóa khác nhau như các giáo sĩ, nhà buôn, những người khai phá vùng đất mới, những quân nhâ Một làn sóng di cư lớn trên thế giới trong thế kỉ 16–18 với những dòng người châu Âu di chuyển sang châu Mĩ, châu Úc. Nhiều nô lệ da đen cũng bị cưỡng bức rời khỏi quê hương xứ sở sang châu Mĩ. Hoạt động buôn bán trên thế giới trở nên sôi nổi, nhiều công ty buôn bán tầm cỡ quốc tế được thành lập. Những cuộc phát kiến địa lý này cũng gây ra không ít hậu quả tiêu cực như nạn cướp bóc thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen và sau này là chế độ thực dân. Thắng lợi của phong trào cách mạng tư sản (thế kỷ 16–18). Sự phát triển của thị trường trên quy mô toàn thế giới đã tác động tới sự phát triển của nhiều quốc gia, trước hết là các nước bên bờ Đại Tây Dương, sự thay đổi về mặt chế độ xã hội sẽ diễn ra là điều tất yếu. Giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh về mặt kinh tế nhưng họ chưa có địa vị chính trị tương xứng, chế độ chính trị đương thời ngày càng cản trở cách làm ăn của họ. Thế kỉ 16-18 đã diễn ra nhiều cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Bước chuyển đó đã được thực hiện qua hàng loạt những cuộc cách mạng tư sản như: Cách mạng tư sản Hà Lan (1566-1572), Cách mạng tư sản Anh (1640-1689), Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ (1775–1783), Cách mạng tư sản Pháp (1789–1799)... Các cuộc biến động xã hội đó tuy cách xa nhau về không gian, thời gian cũng cách xa nhau hàng thế kỉ nhưng đều có những nét giống nhau là nhằm lật đổ chế độ lạc hậu đương thời, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản phát triển. Với sự thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời của các quốc gia tư bản, công nghiệp thương nghiệp đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Lịch sử nhân loại đang bước sang một giai đoạn văn minh mới. Khởi đầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Cuộc cách mạng công nghiệp được khởi đầu tại Anh với các nhà phát minh tiên phong đều là những người Anh. Điều kiện ra đời Cách mạng công nghiệp ở Anh. Phong trào Khai sáng tại Châu Âu đã sản sinh ra hàng loạt các nhà bác học nổi tiếng như Isaac Newton với những phát kiến vĩ đại trong toán học, vật lý học, hóa học, tự nhiên học tạo ra nền tảng tri thức cho các tiến bộ trong kỹ nghệ sản xuất. Về tự nhiên, Anh có nhiều mỏ than, sắt và các mỏ này lại nằm gần nhau, điều đó rất thuận lợi về mặt kinh tế khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp. Các dòng sông ở Anh tuy không dài nhưng sức chảy khá mạnh, đủ để chạy các máy vận hành bằng sức nước. Hải cảng Anh thuận lợi để đưa hàng hóa đi khắp thế giới. Về nguyên liệu, Anh có thuận lợi là nguồn lông cừu trong nước và bông nhập từ Mỹ, đó là những nguyên liệu cần thiết cho ngành dệt. Về mặt xã hội, giai cấp quý tộc Anh sớm tham gia vào việc kinh doanh và họ trở thành tầng lớp quý tộc mới, có quyền lợi gắn liền với tư sản, có cách nhìn của tư sản. Nhu cầu về lông cừu đã dẫn tới phong trào đuổi những người nông dân ra khỏi ruộng đất để các nhà quý tộc biến đất đai đó thành đồng cỏ nuôi cừu. Lực lượng nông dân bị dồn đuổi ra khỏi ruộng đất đã cung cấp một lượng lớn lao động cho các công trường thủ công ở các thành thị. Về mặt kinh tế, Anh quốc có thể bóc lột tài nguyên từ các thuộc địa rộng lớn để làm nguồn vốn cho công nghiệp hóa, tiêu biểu là Ấn Độ. Nhà kinh tế học nổi tiếng Utsa Patnaik dựa trên dữ liệu chi tiết về thuế và mậu dịch thương mại trong gần hai thế kỷ, đã tính toán rằng thực dân Anh đã bòn rút khoảng 45.000 tỷ USD (theo thời giá năm 2017) của Ấn Độ trong giai đoạn 1765 đến 1938, lớn gấp 17 lần GDP của nước Anh năm 2017. Thuộc địa Ấn Độ đã phải cung phụng để nước Anh phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh phụ thuộc lớn vào tài chính từ những phi vụ chiếm đoạt có hệ thống ở Ấn Độ.. Thành tựu của Cách mạng công nghiệp. Năm 1733, John Kay đã phát minh ra "thoi bay" (flying shuttle). Phát minh này đã làm người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng gấp đôi. Năm 1764, James Hargreaves đã chế được chiếc xe kéo sợi kéo được 16–18 cọc sợi một lúc, giúp tăng năng suất gấp 8 lần. Ông lấy tên con gái mình là Jenny để đặt cho máy đó. Năm 1769, Richard Arkwright đã cải tiến việc kéo sợi không phải bằng tay mà bằng sức vật, sau này còn được kéo bằng sức nước. Năm 1779, Samuel Crompton đã cải tiến máy với kỹ thuật cao hơn, kéo được sợi nhỏ lại chắc, vải dệt ra vừa đẹp vừa bền Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải của linh mục Edmund Cartwright. phát minh này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần. Phát minh trong ngành dệt cũng tác động sang các ngành khác. Lúc bấy giờ, các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy, điều đó bất tiện rất nhiều mặt. Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của trường Đại học Glasgow (Scotland) đã phát minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này, nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Không những thế phát minh này còn có thể coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hóa. Ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn. Năm 1784, Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt "puddling". Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của máy móc. Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép. Phát minh này đã đáp ứng được về yêu cầu cao về số lượng và chất lượng thép hồi đó. Cách mạng cũng diễn ra trong ngành giao thông vận tải. Năm 1814, Stephenson phát minh ra chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước. Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mỹ. Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm. Những hệ quả của Cách mạng công nghiệp. Nhiều khu công nghiệp xuất hiện, dân tập trung ra các thành thị ngày một nhiều dẫn tới quá trình đô thị hóa thời cận đại. Nhiều đô thị với dân số trên 1 triệu người dần hình thành. Làm chuyển biến nền sản xuất nhỏ thủ công sang sản xuất lớn bằng máy móc, nâng cao năng suất lao động, làm ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội. Giai cấp vô sản cũng ngày càng phát triển về số lượng. Với điều kiện sống cực khổ lúc đó, mỗi ngày lại phải làm việc từ 14 đến 16 giờ, họ bị bóc lột nặng nề được trả đồng lương chết đói, điều kiện ăn ở tồi tàn nên những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã sớm nổ ra. Năm 1811–1812, ở Anh đã nổ ra phong trào đập phá máy móc. Đó là một biểu hiện đấu tranh bộc phát. Bãi công là một hình thức đấu tranh phổ biến của giai cấp vô sản. Nhiều cuộc bãi công cũng đã nổ ra. Ở Anh, 1836–1848 còn nổ ra phong trào Hiến chương. Quyết liệt hơn, ở Pháp, Đức còn nổ ra những cuộc khởi nghĩa. Năm 1831–1834 tại Lyon (Pháp) và Silesia (Đức) đã nổ ra những cuộc khởi nghĩa. Những cuộc đấu tranh này chứng tỏ giai cấp vô sản đang trở thành lực lượng chính trị độc lập, đòi hỏi thay đổi sự thống trị của giai cấp tư sản. Tại các thuộc địa, người dân bản xứ cũng bị giới chủ tư bản tại các nước chính quốc (Anh, Pháp) bóc lột nặng nề. Trong toàn bộ lịch sử 200 năm cai trị của Anh tại Ấn Độ, hầu như không có sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người. Trong nửa cuối thế kỷ 19, thu nhập bình quân của dân Ấn Độ đã giảm một nửa. Tuổi thọ trung bình của người Ấn giảm 20% từ năm 1870 đến 1920. Hàng chục triệu người đã chết đói do chính sách mà thực dân Anh gây ra. Ngoài ra cách mạng công nghiệp còn gây ra một số hệ quả tiêu cực như: Bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường, giai cấp tư sản bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản nên đã gây ra mâu thuẫn giữa hai giai cấp này - Sản xuất công nghiệp :. + Là làm mọi sản phẩm, mọi mặt hàng đều được sản xuất bằng máy móc. Có nhân công để điều hành máy móc, mang lại nhiều năng xuất hơn sản xuất thủ công. - Sản xuất thủ công :. + Là mọi sản phẩm, mọi mặt hàng đều được sản xuất bằng tay. Dùng tay và các công cụ giản đơn, thô sơ để lao động, sản xuất. Có các thợ thủ công làm việc theo lối thủ công, ít năng suất hơn sản xuất công nghiệp. Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra từ những năm 60 của thế kỷ XVIII đến và kết thúc vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở châu Âu và Bắc Mỹ. Đó là thời kỳ mà hầu hết nông nghiệp, xã hội nông thôn đã trở thành công nghiệp và đô thị. Ngành công nghiệp sắt và dệt, cùng với sự phát triển của động cơ hơi nước, đóng vai trò trung tâm trong Cách mạng Công nghiệp. Cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra từ năm 1870 đến năm 1914, ngay trước Thế chiến I. Đó là giai đoạn tăng trưởng của các ngành công nghiệp đã có từ trước và mở rộng các ngành mới, như thép, dầu, điện, và sử dụng điện để sản xuất hàng loạt. Các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu trong giai đoạn này bao gồm điện thoại, bóng đèn, đĩa hát và động cơ đốt Cách mạng công nghiệp lần thứ 3. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, tạm được xem là cuộc cách mạng kỹ thuật số, đề cập đến sự tiến bộ của công nghệ từ các thiết bị cơ điện tử tương tự sang công nghệ số ngày nay. Kỷ nguyên bắt đầu vào những năm 1980 và vẫn đang diễn ra. Những tiến bộ trong Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bao gồm máy tính cá nhân, internet và công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).Tiến bộ trong Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bao gồm các máy tính cá nhân, internet, công nghệ thông tin và mạng xã hội. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được xây dựng dựa trên những Kỹ thuật số, cuộc cách Mạng, đại diện cho những cách mới công nghệ trở nên nhúng trong xã hội và ngay cả cơ thể con người. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đánh dấu bởi công nghệ mới đột phá trong một số trường, bao gồm cả robotics, trí thông minh nhân tạo, công nghệ nano, công nghệ sinh học, Internet Vạn Vật, in 3D và xe tự lái. Trong cuốn sách của mình mang tên "Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư" của Giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã mô tả cuộc cách mạng lần thứ tư này khác biệt cơ bản với ba lần trước, đặc trưng chủ yếu là những tiến bộ trong công nghệ. Các công nghệ này có tiềm năng tiếp tục kết nối hàng tỷ người trên web, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh và tổ chức, giúp tái tạo môi trường tự nhiên bằng cách quản lý tài sản tốt hơn. "Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư" là chủ đề của Hội nghị thường niên Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016 tại Davos-Klosters, Thụy Sĩ. Phát minh khoa học kỹ thuật. Vào thế kỷ 17 và 18, khoa học đã đạt được những thành tựu lớn đặc biệt trong các ngành thiên văn, vật lý, hóa học, y học. Người phát triển và ủng hộ tính đúng đắn của học thuyết Copernicus là nhà bác học Đức, Johannes Kepler. Kepler đã đưa ra 3 định luật về sự chuyển động của các thiên thể. Định luật thứ nhất, ông khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, không những thế ông còn xác định được quỹ đạo chuyển động của nó không phải là đường tròn mà là hình elíp. Định luật thứ hai, Kepler chứng minh vận tốc chuyển động của hành tinh tăng lên khi đang tới gần Mặt Trời và giảm dần khi nó chuyển động xa Mặt Trời. Định luật thứ ba, ông đã xác lập được công thức toán học giữa thời gian cần để hành tinh chuyển động hết một vòng quanh Mặt Trời và khoảng cách giữa nó với Mặt Trời. Galileo Galilei, một nhà thiên văn học người Ý đã chế tạo ra kính thiên văn để quan sát bầu trời. Galilei cũng là người ủng hộ nhiệt tình học thuyết Copernicus. Ông còn là người trực tiếp làm thực nghiệm về sự rơi tự do trên tháp nghiêng Piza. Có thể nói Galilei là người tiến hành hàng loạt thí nghiệm một cách có hệ thống. Vì vậy, sau này người ta coi Galilei là cha đẻ của phương pháp thực nghiệm khoa học. Một nhà vật lý người Anh, William Gilbert trong một quyển sách xuất bản năm 1600 đã giải thích Trái Đất như một cục nam châm khổng lồ tạo ra một từ trường (nhưng không mạnh), điều đó làm kim la bàn chỉ xoay về hướng Bắc. Ông còn nghiên cứu về hiện tượng tĩnh điện. Ông thấy rằng không chỉ có hổ phách khi bị chà xát mới hút các vật nhẹ mà có những thứ khác như thủy "hiện tượng hổ phách" - "electric" (từ "electron" theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là "hổ phách"). Isaac Newton là một nhà bác học người Anh, ông được coi là nhà vật lý vĩ đại nhất của thế kỉ 18. Đóng góp vĩ đại nhất của Newton nằm trong 3 định luật mang tên ông mà nổi bật là định luật Vạn vật hấp dẫn. Có thể coi Newton là hòn đá tảng của nền vật lý cổ điển. Tác phẩm vĩ đại của Newton là "Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên". Về hóa học, Joseph Priestley là một luật sư người Anh đã khám phá ra oxy. Y học cũng có nhiều tiến bộ. Andreas Vesalius, một nhà khoa học người Bỉ đã cho in cuốn sách về cấu trúc cơ thể người. Để viết được cuốn sách này, ông đã phải nghiên cứu rất nhiều tử thi. Ông phê phán những người chỉ biết vùi đầu vào những cuốn sách của các nhà y học thời cổ đại. William Harvey, một nhà sinh lý người Anh đã nghiên cứu rất nhiều về hệ tuần hoàn của chim, cá, ếch. Ông đã mô tả về hệ tuần hoàn máu trong cơ thể người qua quyển sách Tiến hành giải phẫu đối với sự chuyển động của tim và máu trong cơ thể loài vật. Vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng tri thức trong thế kỷ 18 đã tạo điều kiện cho những tiến bộ ở những thế kỷ sau đó. John Dalton, một giáo viên người Anh cho rằng mọi vật chất đều cấu tạo bởi các nguyên tử. Nguyên tử của các chất khác nhau thì có khối lượng khác nhau. Các nguyên tử hợp thành từng đơn vị (bây giờ ta gọi là phân tử). Ông còn miêu tả chúng bằng những công thức hóa học. Một phát minh vĩ đại về mặt hóa học là Bảng hệ thống tuần hoàn năm 1869 của Dmitri Mendeleev, một nhà hóa học Nga. Ông đã sắp xếp các chất hóa học thành từng nhóm theo khối lượng riêng, tính chất riêng của chúng. Ông còn dự đoán một số chất mà loài người sẽ phát hiện ra để lấp vào chỗ trống trong bảng tuần hoàn của ông với một sự chính xác đáng kinh ngạc. Năm 1800, Alessandro Volta (Ý) đã chế tạo ra pin do tác động của hoạt động hóa học. Năm 1831, Michael Faraday đã chứng minh dòng điện sẽ xuất hiện khi ta di chuyển ống dây qua một từ trường. Phát minh của Faraday đã tạo cơ sở cho việc chế tạo ra máy phát điện sau này. Năm 1860 James Clerk Maxwell, một nhà khoa học người Scotland, đã đưa ra lý thuyết giải thích ánh sáng bản chất cũng là một dạng của sóng điện từ mà trong khoảng mắt người nhìn thấy được. Tới năm 1885, Heinrich Hertz đã chứng minh được tốc độ khác nhau của các loại sóng điện từ khác nhau. Sau này người ta lấy tên Hertz để đặt cho đơn vị đo chu kỳ. Năm 1895, một nhà khoa học người Đức khác là Wilhelm Röntgen đã tạo ra một loại tia có thể đâm xuyên qua các vật thể rắn, ánh sáng không thể xuyên qua được. Ông gọi đó là tia X. Năm 1898, hai nhà bác học Pierre Curie và Marie Curie đã tinh chế được chất radium và phát hiện ra tính phóng xạ của nó. Về mặt thông tin, phát minh quan trọng phải kể tới là năm 1876 Alexander Graham Bell đã phát minh ra máy điện thoại đầu tiên. 1879 Thomas A. Edison đã có những cải tiến vượt bậc cho các bằng sáng chế trước đó về bóng đèn dây tóc, nhờ đó mà lần đầu tiên, con người đã có thể dùng điện để thắp sáng các bóng đèn. Cũng vào thời điểm này, Nikola Tesla đã có rất nhiều phát minh mang tính cách mạng trong lĩnh vực điện từ trường, chế tạo các máy phát điện xoay chiều, các loại động cơ điện nhiều pha, đồng thời đặt nền móng cho việc truyền tải và phân phối điện xoay chiều sau này. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu về radio và tia X. Về mặt kĩ thuật, đầu thế kỉ 19 khí đốt và gas đã được người Anh và Pháp đưa vào phục vụ cuộc sống. 1897 một kĩ sư người Đức là Rudolf Diesel đã chế ra một loại động cơ đốt trong không cần bugi, sử dụng dầu cặn nhẹ. Động cơ Diesel chính là mang tên ông. Về y học, phát minh quan trọng của thế kỉ 19 phải kể tới Louis Pasteur, ông đã đế ra cách ngừa bệnh mới là sử dụng vaccine. Về sinh học, phát minh quan trọng của thế kỉ 19 phải kể tới Charles Darwin. Năm 1859 Darwin đã cho ra đời tác phẩm "Nguồn gốc các loài" qua con đường chọn lọc tự nhiên. Trong tác phẩm đó ông trình bày 3 ý tưởng chủ yếu: đấu tranh sinh tồn, chọn lọc tự nhiên, sự tồn tại của giống thích ứng với môi trường tốt nhất đã trở thành cơ sở của học thuyết tiến hóa cổ điển. Về di truyền học, Gregor Mendel (Áo) đã đưa ra học thuyết chứng minh sự di truyền những phẩm chất của thế hệ trước cho thế hệ sau qua những phân tử cực nhỏ, mà sau này được gọi là gene. Về tâm lý học, cuối thế kỷ 19 có hai phát minh quan trọng là của Ivan Pavlov và Sigmund Freud. Pavlov đã phát hiện ra phản xạ có điều kiện. Thử nghiệm của Pavlov đã giải thích nhiều hành vi của con người không giải thích được bằng lý trí, thực tế chỉ là sự phản ứng máy móc trước các kích thích đã trở thành tập tính. Còn học thuyết của Freud thì giải thích nhiều hành động của con người xuất phát từ những nhu cầu, ước muốn tiềm ẩn. Freud đã tạo ra ngành phân tâm học. Phát minh học thuyết chính trị. Vào thế kỷ 19 ra đời học thuyết về quyền tự do cá nhân và quốc gia dân tộc. Những cuộc cách mạng tư sản đã tạo điều kiện giải phóng con người khỏi những sự kiềm chế độc đoán của chế độ phong kiến. Con người ngày càng có ý thức về quyền tự do của các cá nhân và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Trong điều kiện như vậy, những học thuyết về quyền tự do cá nhân và quyền của các dân tộc đã được hình thành. Về quyền tự do cá nhân phải kể tới những tư tưởng của John Stuart Mill qua tác phẩm Luận về tự do. Mill đã nêu lên nguyên tắc là cá nhân có thể làm bất cứ điều gì miễn là không hại tới người khác, không ảnh hưởng tới quyền tự do của người khác. Trong thực tế cuộc sống, việc thực hiện nguyên tắc này còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí và sự nghiêm minh của pháp luật. Alexis de Tocqueville thì viết tác phẩm "Nền dân chủ Hoa Kỳ". Qua tác phẩm này, ông cho rằng trào lưu dân chủ đang lên là không thể nào ngăn cản được. Ông ca ngợi tinh thần dân chủ, sự thành công và sức mạnh vật chất của nước Mỹ, nhưng ông cũng đồng thời phê phán tính cách thiếu tế nhị, ngạo mạn, thực dụng của nền văn hóa Mỹ theo cách nhìn của người Pháp. Về quyền của các dân tộc thì lại có hai xu hướng trái ngược nhau. Xu hướng thứ nhất cho rằng mỗi dân tộc đều có quyền chọn cách sống riêng cho dân tộc mình, không dân tộc nào khác có quyền xâm phạm. Nhà ái quốc người Ý Giuseppe Mazzini đã để cả cuộc đời mình kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm này. Các cuộc đấu tranh của những nhà yêu nước ở vùng Balkan chống lại sự thống trị của ngoại bang cũng là một cách bảo vệ quan điểm đó. Xu hướng thứ hai thì ngược lại, một số nhà lý luận của các dân tộc lớn thì cho là dân tộc mình siêu đẳng hơn, có sứ mệnh phải giúp các dân tộc khác khai hóa văn minh, chỉ bảo cho các dân tộc kém hơn cách sống hợp lý. Họ còn lợi dụng học thuyết của Darwin về cạnh tranh sinh tồn để áp dụng vào xã hội. Lý luận này được giới thực dân rất ủng hộ vì nó chứng minh cho sự "cần thiết" của các cuộc chiến tranh xâm lược các vùng đất chưa phát triển. Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện từ thế kỉ 16 với tác phẩm về Utopia của Sir Thomas More, tư tưởng này phản ánh ước mơ một xã hội công xã nông thôn thanh bình dựa trên nền sản xuất nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp. Các nhà tư tưởng chủ nghĩa xã hội của thế kỉ 19 đã thấy sự tất yếu của một xã hội công nghiệp. Từ đó họ nảy sinh tư tưởng xây dựng một hạn chế bóc lột, hạn chế sự cách biệt giàu nghèo, khắc phục những mặt tiêu cực của xã hội tư bản. Tiêu biểu cho các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng của thế kỉ 19 là Saint Simon, Charles Fourier và Robert Owen. Saint Simon nhận thấy mâu thuẫn giữa các nhà một bên là các nhà tư sản giàu có và một bên là những người làm thuê rất nghèo khổ. Ông chủ trương xây dựng một xã hội mới do "những nhà công nghiệp sáng suốt" điều hành, trong đó mọi người đều lao động theo kế hoạch và được hưởng thụ bình đẳng. Để xây dựng một xã hội như vậy, ông chủ trương thuyết phục các nhà tư bản chứ không theo con đường bạo lực cách mạng. Charles Fourier cũng phê phán sự bất công của xã hội tư bản, ông vạch rõ "sự nghèo khổ sinh ra từ bản thân sự thừa thãi". Ông vạch ra dự án xây dựng các công xã Falange trong đó mọi người đều lao động, coi lao động là nguồn vui. Trong các công xã có sự kết hợp giữa công nghiệp với nông nghiệp. Sự hưởng thụ sản phẩm được chia theo tỉ lệ: 5/12 cho lao động, 4/12 cho tài năng, 3/12 cho những người góp vốn xây dựng Falange. Ông kêu gọi những người giàu có góp vốn xây dựng Falange, nhưng lời kêu gọi của ông chẳng được ai đáp lại. Robert Owen vốn xuất thân từ một người làm thuê, biết làm ăn và trở thành ông chủ. Ông đã bỏ vốn của mình ra làm gương, xây dựng một cơ sở làm ăn. Trong cơ sở của Owen tài sản được coi là của chung, mọi người đều cùng làm việc mỗi ngày là 10 giờ, có nhà trẻ cho công nhân nữ gửi con nhỏ, lợi nhuận làm ra được thì chia công bằ Học thuyết của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng đầy tính nhân đạo nhưng đều thất bại khi đem ra thi hành. Nói như chúng ta ngày nay là thiếu tính khả thi. Tuy vậy, những tư tưởng của họ đã ảnh hưởng quan trọng tới sự ra đời học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học sau này do Karl Marx xây dựng. Kark Marx và Friedrich Engels đã xây dựng về học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học qua tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" xuất bản tháng 2 năm 1848. Trong "Tuyên ngôn" Marx và Engels đã chứng minh lịch sử loài người là lịch sử của sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội nối tiếp thay thế nhau, xã hội sau sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn xã hội trước. Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển trong xã hội có giai cấp. Đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản sẽ dẫn tới sự xuất hiện một xã hội mới công bằng hơn, tiến bộ hơn. Giai cấp công nhân, tổ chức ra chính đảng của mình lãnh đạo một cuộc cách mạng vô sản, tiến lên xây dựng chính quyền của mình và thiết lập mối quan hệ giữa công nhân các nước theo tinh thần quốc tế vô sản. Đầu thế kỉ 20, Vladimir Ilyich Lenin đã phát triển thêm lý luận của Marx và Engels và vận dụng lý luận đó vào hoàn cảnh nước Nga, chỉ đạo phong trào đấu tranh ở Nga đi tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Thành tựu văn học nghệ thuật. Lịch sử thời cận đại đã được văn học châu Âu phản ánh một cách sinh động, đặc biệt là văn học Pháp. Sau thất bại của Napoléon Bonaparte và sự phục hồi tạm thời của các thế lực bảo hoàng, ở Pháp đã xuất hiện một dòng văn học lãng mạn thể hiện sự nuối tiếc một thời vàng son đã qua của giới quý tộc. Đại biểu cho trào lưu này là François-René de Chateaubriand. Victor Hugo là một nhà văn tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn tiến bộ. Ông thể hiện sự thông cảm với những người nghèo khổ qua các tác phẩm "Những người khốn khổ", "Nhà thờ Đức bà Paris". Qua các tác phẩm, Hugo thể hiện lòng khát khao muốn vươn tới một xã hội tốt đẹp, công bằng và chan chứa tình nhân đạo. Xã hội tư bản khắc nghiệt, tàn bạo cũng đã được phản ánh qua dòng văn học hiện thực mà tiêu biểu là Honoré de Balzac. Những tác phẩm tiêu biểu của ông như "Eugénie Grandet", "Miếng da lừa,"... và nhiều tác phẩm khác. Những tác phẩm đó của Balzac đã được tập hợp trong bộ "Tấn trò đời". Những tác phẩm như "Đỏ và đen" của Stendhal, "Viên mỡ bò" của Guy de Maupassant cũng phản ánh xã hội tư bản đầy bất công, tàn bạo. Văn học Nga của thế kỉ 19 cũng có những đóng góp quan trọng với các tác phẩm như "Chiến tranh và hoà bình" của Lev Nikolayevich Tolstoy. Những nhà văn tên tuổi khác của nền văn học Nga thế kỉ 19 phải kể tới là Ivan Sergeyevich Turgenev, Nikolai Vasilevich Gogol, Fyodor Mikhailovich Dostoevsky, B Âm nhạc thời cận đại thế kỷ 18 với sự đóng góp của những nhạc sĩ lớn như Johann Sebastian Bach, Wolfgang Amadeus Mozart, thì đến thế kỷ 19 có sự đóng góp vĩ đại của Ludwig van Beethoven, Frédéric C Hội họa theo xu hướng lãng mạn thường đi tìm những phương trời xa lạ. Danh họa Eugène Delacroix) thường vẽ những kị sĩ Ả Rập, những cuộc đi săn. Đến cuối thế kỉ 19, danh họa người Tây Ban Nha Francisco Goya đã vẽ những cảnh tàn khốc trong cuộc chiến tranh chống Napoléon. Điêu khắc thế kỷ 19 không để lại nhiều tác phẩm như thời Phục Hưng. Nhà điêu khắc Frédéric Bartholdi đã hoàn thành bức tượng Nữ thần Tự do để Chính phủ Pháp gửi tặng nước Mỹ. Một phiên bản nhỏ, cao gấp 1,5 lần người thật của bức tượng này cũng được đặt tại Hà Nội ở một công viên Vườn hoa Bà Đầm, tiếc rằng phiên bản này ngày nay không còn nữa. Chúng ta chỉ còn thấy dấu vết qua đồng 50 xu tiền Đông Dương xưa kia. Khải Hoàn Môn ở Paris và nhiều dinh thự ở Paris cũng còn giữ lại được một số tác phẩm điêu khắc giá trị của thế kỷ 19. Kiến trúc Âu – Mỹ của thế kỷ 19 rất đa dạng, thể hiện một sự giao lưu văn hóa rộng mở. Nét mới về kiến trúc giai đoạn này là quan điểm hiện thực xâm nhập vào kiến trúc qua các vật liệu mới như thép, bê tông, kính dày. Một nhà kiến trúc Louis Sulivan đã đưa vào các công trình kiến trúc tư tưởng công năng. Theo ông, các công trình kiến trúc phải được thiết kế phù hợp với chức năng của chúng. Chẳng hạn một ngân hàng hiện đại không thể giống một đền đài tôn giáo, một thương xá không thể giống một lâu đài trung cổ. Đặc biệt là kiến trúc hành chính thời kì này thể hiện một phong cách rõ rệt mà tiêu biểu là tòa nhà Quốc hội Mỹ (1793-1851) và tòa nhà Quốc hội Anh (1840-1865). Thế kỷ 19 đã đánh dấu bước ngoặt căn bản chuyển từ lao động bằng tay sang lao động bằng máy. Loài người đã chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp. Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra cách nhìn mới, kéo theo những biến đổi lớn về chính trị, văn hóa, xã hội. Loài người bước vào một giai đoạn mới của văn minh nhân loại. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Marcel Reich-Ranicki sinh ngày 2 tháng 6 năm 1920 – 18 tháng 9 năm 2013 là một nhà báo và nhà phê bình văn học người Đức. Ông sinh tại Włocławek Marceli Reich, con của David và Helene Reich, Reich-Ranicki sống từ năm 1929 tại Berlin và tốt nghiệp trường trung học phổ thông tại Berlin-Wilmersdorf năm 1937. Đơn xin học tại trường Đại Học Humboldt ("Humboldt-Universität zu Berlin") đã bị từ chối vì ông là người gốc Do Thái. Sau khi bị bắt về tại tập trung ở Ba Lan vào năm 1938, vào mùa thu năm 1942 ông đã có thể cùng với vợ là Teofila trốn thoát ra khỏi trại tập trung Warsaw, nơi ông làm biên dịch cho hội đồng người Do Thái do phát xít dựng lên và đã viết cho tờ báo "Gazeta Żydowska" của trại tập trung dưới bút danh là Wiktor Hart. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai ông là sĩ quan của tình báo Ba Lan, chỉ huy các điệp vụ chống lại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Năm 1948 với lý lịch của một người lãnh sự là "Marceli Ranicki", ông được gửi đến đại sứ quán Ba Lan tại London làm công sứ. Cuối năm 1949 ông được gọi trở về Ba Lan và đầu năm 1950 bị sa thải ra ngoài ngành tình báo. Đầu tiên ông làm báo nhưng sau đó bị cấm xuất bản tại Ba Lan. Trong một chuyến đi nghiên cứu vào năm 1958 ông đi từ Ba Lan sang Đức và ở lại cùng với gia đình tại thành phố Frankfurt am Main. Thành viên của Nhóm 47, Siegfried Lenz và Wolfgang Koeppen đã giúp ông ổn định cuộc sống tại Đức. Từ 1960 đến 1973 ông là nhà phê bình văn học của tờ tuần báo Die Zeit tại thành phố Hamburg, từ 1973 đến 1988 là trưởng ban biên tập văn học của tờ báo Frankfurter Allgemeine Zeitung. Ở đấy ông đã có công lớn trong việc biên tập Hợp tuyển Frankfurt ("Frankfurter Anthologie") do chính ông thành lập, cho đến nay đã có trên 1.500 bài thơ của các tác giả tiếng Đức cùng với diễn giải đã được sưu tập trong đó. Từ ngày 25 tháng 3 năm 1988 đến 14 tháng 12 năm 2001 ông là người dẫn chương trình "Das literarische Quartett" (Bộ Tứ Văn học) trên đài truyền hình ZDF và nhờ vào đó mà được các tầng lớp quần chúng rộng rãi biết đến. Trong giới chuyên môn ông đã được gọi là "Giáo hoàng văn học" từ rất lâu trước chương trình truyền hình này. Từ 1968 cho đến 1969 ông giảng dạy tại nhiều trường đại học Mỹ, từ 1971 đến 1975 ông là giáo sư thỉnh giảng tại Stockholm và Oppsala. Từ 1974 ông là giáo sư cộng tác của Trường Đại học Eberhard Karl ("Eberhard-Karls-Universität") tại Tübingen. Năm 1990 Reich-Ranicki là giáo sư của trường Đại học Heinrich Heine tại Düsseldorf và năm 1991 là giáo sư của trường Đại học Karlsruhe. Trước khi mất, Reich-Ranicki sống với vợ tại Frankfurt am Main. Con trai của ông Andrzej là giáo sư tại Edinburgh. Ông mất ngày 18 tháng 9 năm 2013 tại Frankfurt am Main
Chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm, còn gọi là thuyết duy tâm hay duy tâm luận (), là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tinh thần và thuộc về ý thức. Đây là một cách tiếp cận tới hiểu biết về sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường được đặt đối lập với "chủ nghĩa duy vật", cả hai đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên. "Chủ nghĩa duy tâm" có hai khuynh hướng: Cách tiếp cận tới chủ nghĩa duy tâm của các triết gia phương Tây khác với cách tiếp cận của các nhà tư tưởng phương Đông. Đối với nhiều triết gia phương Tây, "ý niệm" có quan hệ với tri thức trực tiếp của các hình ảnh hoặc quan niệm trí óc chủ quan. Khi đó nó thường được đặt cạnh "chủ nghĩa hiện thực" mà chân lý được xem là tồn tại tuyệt đối trước tri thức của con người và độc lập với tri thức của con người. Các nhà duy tâm nhận thức luận có thể khẳng định rằng những thứ duy nhất mà có thể được "biết chắc" một cách trực tiếp là các ý niệm. Trong tư tưởng phương Đông, như được phản ánh trong chủ nghĩa duy tâm Ấn Độ giáo, khái niệm "chủ nghĩa duy tâm" sử dụng ý nghĩa ý thức, về cốt yếu là ý thức sống động của một "Thượng đế" có mặt ở mọi nơi, làm nền tảng cho mọi hiện tượng. Một kiểu chủ nghĩa duy tâm châu Á là chủ nghĩa duy tâm Phật giáo. "Chủ nghĩa duy tâm" là tên của một loạt các quan điểm triết học với các hàm ý và khuynh hướng khác nhau. Các quan điểm này được nhiều nhà triết học thuộc nhiều nền văn minh khác nhau phát triển tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử. Chủ nghĩa duy tâm phương Đông. Một số truyền thống Ấn Độ giáo và tông phái Phật giáo có thể được coi là theo chủ nghĩa duy tâm. Một số tông phái Phật giáo được gọi là các phái duy thức vì họ chú trọng vào ý thức mà không có một Thượng đế hay linh hồn. Chủ nghĩa duy tâm phương Tây. Trong tác phẩm chính "Chân lý", Antiphon viết: "Thời gian là một ý nghĩ hay một độ đo, không phải một chất". Câu này diễn tả thời gian như là một đối tượng tinh thần, nội tại và thuộc về quan niệm, chứ không phải một đối tượng có thực bên ngoài. Điều này nguợc với tinh thần của Thuyết tương đối mà Einstein đã tìm ra, phủ định sự đánh đồng tính chất(độ dài-ngắn) của thời gian ở các hệ quy chiếu khác nhau, khẳng định thời gian cũng là 1 "chất". Plato đề xuất một thuyết duy tâm như là một lời giải cho bài toán về các phạm trù. Một phạm trù là mọi thứ cùng có một tính chất cụ thể nào đó. Ví dụ, bức tường, mặt trăng và một tờ giấy trắng đều có màu trắng; "trắng" là phạm trù mà tất cả những thứ gì màu trắng cùng chia sẻ. Plato lập luận rằng chính các phạm trù, các Hình thức hay các ý niệm Plato là có thật, chứ không phải từng vật cụ thể. Do quan niệm này khẳng định rằng các thực thể tinh thần đó là "có thực", nên nó được gọi là "chủ nghĩa hiện thực Plato (điều này rất dễ gây nhầm lẫn); theo nghĩa này, "chủ nghĩa hiện thực" đối lập với "thuyết duy danh" ("nominalism") - quan niệm rằng các trừu tượng hóa trong trí óc chỉ là những các tên không có sự tồn tại độc lập. Tuy nhiên, nó là một hình thức của chủ nghĩa duy tâm vì nó đặt vị thế của ý niệm về các phạm trù lên cao hơn so với những sự vật vật lý. Schopenhauer đã viết về triết gia Tân Plato này như sau: "Nhờ Plotinus, "chủ nghĩa duy tâm" mà đến thời điểm đó đã có mặt từ rất lâu ở phương Đông đã lần đầu tiên xuất hiện trong triết học phương Tây, vì tư tưởng đó cho rằng linh hồn đã tạo nên thế giới bằng cách bước từ vĩnh cửu vào trong thời gian, với lời giải thích: 'Vì không có nơi nào dành cho vũ trụ này ngoài linh hồn hay tâm thức' ("neque est alter hujus universi locus quam anima"), và tư tưởng duy tâm về thời gian được diễn tả trong câu sau: 'Ta không nên chấp nhận thời gian bên ngoài linh hồn hay tâm thức' ("oportet autem nequaquam extra animam tempus accipere")." Trong khi tìm hiểu xem ta có thể biết những gì một cách chắc chắn, Giám mục Berkeley đã quyết định rằng tri thức của ta phải được dựa trên các nhận thức của ta. Điều đó dẫn ông tới kết luận rằng đằng sau nhận thức của ta thật sự không có đối tượng thực "khả tri" nào, rằng cái "có thực" là chính nhận thức. Tư tưởng đó được đặc tả trong khẩu hiệu của Berkeley: "Esse est aut percipi aut percipere" hay "Tồn tại nghĩa là nhận thức hay được nhận thức", có nghĩa là một thứ gì đó chỉ tồn tại, theo cách cụ thể mà nó được xem là tồn tại, khi nó đang được nhận thức (nhìn thấy, sờ thấ) bởi một chủ thể. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan hay chủ nghĩa duy tâm giáo điều này đã dẫn đến việc ông đặt toàn bộ sức nặng của sự minh giải lên các tri giác của ta. Điều này để lại cho Berkeley một vấn đề, tương tự như với các hình thức khác của chủ nghĩa duy tâm, đó là giải thích tại sao mỗi người trong chúng ta đều có vẻ có các tri giác ít nhiều giống nhau về một đối tượng. Ông đã giải quyết vấn đề này bằng cách đưa Chúa trời vào can thiệp với vai trò nguyên nhân trực tiếp của mọi tri giác của ta. Arthur Collier đã công bố những khẳng định giống như của Berkeley tuy rằng không có bằng chứng là hai người cùng thời này đã có ảnh hưởng lẫn nhau. Collier cho là hình ảnh tiêu biểu của một ngoại thể là thực tế độc nhất mà ta có thể biết được. Vật chất, vì chỉ là nguyên nhân cho tấm hình đại diện đó, là không thể tưởng tượng được và do đó không là gì đối với chúng ta. Một thế giới bên ngoài không có liên hệ gì với một người quan sát, trong vai trò chủ đề tuyệt đối, không tồn tại trong các nhận thức của con người. Vì chỉ là một biểu lộ của tâm trí, vũ trụ không thể nào tồn tại dưới dạng chúng ta đang thấy nếu không có tâm trí để lãnh hội nó. Collier bị ảnh hưởng từ sách "An Essay Towards the Theory of the Ideal or Intelligible World" (xuất bản năm 1701) của John Norris. Những ý tưởng duy tâm của Collier thường bị bác bỏ bởi những người không có khả năng phân biệt giữa một ý tưởng, hay hình ảnh, và vật thể mà ý tưởng đó miêu tả. Jonathan Edwards, một nhà thần học người Mỹ, đã bắt đầu học tại Đại học Yale vào năm 1716 khi ông mới 13 tuổi. Sau khi đọc học thuyết về các ý niệm của John Locke, ông đã bắt đầu ghi chép một cuốn sổ với nhan đề "Tâm thức." Trong đó, vào tuổi 14, ông viết rằng những thứ duy nhất có thực là tâm thức. Ông cho rằng vật chất tồn tại chỉ với vai trò một ý niệm trong một tâm thức. Do lối tư duy thần học, ông khẳng định rằng không gian là Chúa trời, do không gian vô tận. Sau khi trưởng thành, ông đã không tiếp tục hoàn thiện những ghi chép duy tâm sơ khai này. Immanuel Kant cho rằng khi ta nhận thức thế giới, tâm thức ta định hình thế giới theo không gian và thời gian. Kant chú trọng vào quan niệm rút từ chủ nghĩa kinh nghiệm Anh (và các triết gia của trường phái đó như Locke, Berkeley và Hume) cho rằng tất cả những gì ta có thể biết là các ấn tượng trí óc, hoặc các "hiện tượng", mà thế giới bên ngoài (có thể tồn tại hoặc không tồn tại) tạo ra một cách độc lập trong tâm thức ta; tâm thức ta không bao giờ có thể nhận thức thế giới bên ngoài một cách trực tiếp. Kant bổ sung rằng tâm thức không phải là một tấm bảng trống trơn (ngược lại với John Lock) mà nó được trang bị các phạm trù để sắp xếp tổ chức các ấn tượng giác quan. Kiểu chủ nghĩa duy tâm này của Kant mở ra một thế giới của các trừu tượng hóa (nghĩa là, các phạm trù phổ quát mà tâm thức sử dụng để hiểu về các hiện tượng) để cho lý tính khám phá, nhưng trái ngược với chủ nghĩa duy tâm Plato ở chỗ nó khẳng định sự không chắc chắn về một thế giới không thể biết được ở bên ngoài tâm thức của chính ta. Ta không thể tiếp cận vật tự thân (tiếng Đức: "Ding an Sich") nằm ngoài thế giới tâm thức của ta. (Chủ nghĩa duy tâm của Kant được gọi là "chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm".) Johann Fichte phủ nhận vật tự thân của Kant, ông cho rằng ý thức tự xây dựng cơ sở cho mình, rằng cái tôi tinh thần của bản thân không dựa vào thế giới bên ngoài, và rằng giả thiết về một vật bên ngoài thuộc bất cứ kiểu nào cũng giống như thừa nhận về một vật chất có thực. Ông là người đầu tiên thử xây dựng một lý thuyết về tri thức mà không dựa trên bất cứ một phỏng đoán nào, trong đó không có cái gì bên ngoài tư duy được giả thiết là tồn tại bên ngoài phân tích khởi đầu về khái niệm. Nhờ đó nhận thức có thể đặt nền móng chỉ trên chính nó, và không giả định bất cứ điều gì mà không suy dẫn từ đó trước nhất. (Quan điểm này khá tương tự với chủ nghĩa duy tâm thực tế ("actual idealism") của Giovanni Gentile, chỉ khác ở chỗ lý thuyết của Gentile tiến xa hơn, đến chỗ thậm chí phủ nhận cả cơ sở cho một bản ngã hay cái tôi được tạo ra từ tư duy.) Hegel, một nhà triết học khác mà hệ thống của ông cũng được gọi là "chủ nghĩa duy tâm", lập luận trong tác phẩm "Khoa học Logic" ("Wissenschaft der Logik" 1812-1814) rằng các phẩm chất hữu hạn không "có thực" một cách đầy đủ, vì chúng phụ thuộc vào sự quyết định của các phẩm chất hữu hạn khác. Mặt khác, "sự vô hạn" định tính lại có thể tự quyết hơn, và do đó sẽ xứng đáng hơn để được gọi là "có thực" một cách đầy đủ. Tương tự, những sự vật tự nhiên hữu hạn kém "thực" hơn - vì chúng kém tự quyết định hơn - so với những thứ thuộc về tinh thần như những người có đạo đức trách nhiệm, những cộng đồng luân lý, và Thượng đế. Do đó, học thuyết nào khẳng định các phẩm chất hữu hạn hay các đối tượng tự nhiên là hoàn toàn có thực, chẳng hạn chủ nghĩa duy vật, học thuyết đó đã nhầm lẫn. Hegel gọi triết học của ông là "chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối", để đối lập với "chủ nghĩa duy tâm chủ quan" của Berkeley và "chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm" của Kant và Fichte. Khác với chủ nghĩa duy tâm của Hegel, các học thuyết này không dựa trên phê phán về sự hữu hạn. Các nhà "duy tâm chủ nghĩa" mà triết học của họ gần với triết học của Hegel nhất là Plato và Plotinus. Không có ai trong ba nhà tư tưởng này liên hệ chủ nghĩa duy tâm của họ với luận đề nhận thức luận rằng những gì ta biết là các "ý niệm" trong tâm thức của ta. Trong quyển I của tác phẩm "Parerga and Paralipomena", Schopenhauer đã viết bài "Phác họa về một lịch sử của học thuyết về quan niệm và cái có thực". Ông định nghĩa quan niệm ("ideal") là các hình ảnh trí óc cấu thành nên tri thức chủ quan. Đối với ông, quan niệm là cái có thể đóng góp cho tâm thức của ta. Những hình ảnh trong đầu ta là những gì tạo nên quan niệm. Schopenhauer nhấn mạnh rằng ta bị giới hạn trong ý thức của chính ta. Ta chỉ nhận biết về thế giới qua hình thức một đại diện hay một hình ảnh trí óc của các đối tượng. Ta chỉ biết trực tiếp các đại diện chứ không nhận biết trực tiếp đối tượng. Mọi đối tượng bên ngoài tâm thức đều được nhận thức một cách gián tiếp qua sự điều hành của tâm thức chính ta. Phê phán chủ nghĩa duy tâm. Trong ấn bản thứ hai (1787) của tác phẩm "Phê phán lý tính thuần túy" ("Kritik der reinen Vernunft"), Kant đã viết một mục có tiêu đề "Phản luận về chủ nghĩa duy tâm" để phân biệt giữa chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm của ông với chủ nghĩa duy tâm giáo điều của Berkeley. Bên cạnh phản luận này, trong cả hai ấn bản 1780 và 1787, mục "Sự ngộ biện về lý tính thuần túy" ("Von den Paralogismen der reinen Vernunft") có hàm ý phê phán chủ nghĩa duy tâm còn nhiều vấn đề của René Descartes, chẳng hạn "tôi tồn tại". Ông nói rằng chỉ từ "sự bột phát của ý nghĩ", không thể suy diễn rằng cái 'tôi' là một đối tượng; ông không bao giờ nói thẳng rằng "Descartes đã sai" như Russell hay Nietszche tiếp sau ông. Đúng 100 năm sau, Nietzsche đã làm điều này trong tác phẩm "Phía sau thiện và ác" ("Jenseits von Gut und Böse"). Søren Kierkegaard đã tấn công triết học duy tâm của Hegel trong nhiều tác phẩm của mình, nhưng cô đọng và súc tích nhất là trong cuốn "Afsluttende uvidenskabelig Efterskrift" (1846). Trong đó, Kierkegaard, trong vai triết gia Johannes Climacus, lập luận rằng một hệ thống logic là có thể nhưng một hệ thống hiện sinh là không thể. Hegel lập luận rằng một khi người ta đã đạt đến hiểu biết tột cùng về cấu trúc lôgic của thế giới, người ta cũng đạt được một hiểu biết về cấu trúc lôgic của tâm thức Thượng đế. Climacus cho rằng chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của Hegel đã sai lầm khi xóa nhòa sự tách biệt giữa sự hiện hữu và tư duy. Climacus còn lập luận rằng bản chất không bất tử của ta đặt giới hạn cho hiểu biết của ta về thực tại. Ông nói "Những cái gọi là hệ thống thường có đặc điểm là chúng thủ tiêu sự tách biệt giữa thiện và ác và tiêu diệt tự do, và chúng thường bị đặt vấn đề về đặc điểm đó. Có lẽ người ta có thể biểu đạt một cách dứt khoát không kém, khi người ta nói rằng mọi hệ thống như vậy đều làm tiêu tan khái niệm tồn tạ, tất cả các nhà triết học lý thuyết đều lẫn lộn giữa bản thân và cả loài người; do đó ông ta trở nên một cái gì đó vô cùng vĩ đại, nhưng đồng thời lại chẳng là cái gì cả." Friedrich Nietzsche là người đầu tiên phê phán thẳng thắn chủ nghĩa duy tâm, các phê phán của ông đã được phổ biến bởi David Stove (xem mục sau). Ông đã dọn đường cho phương pháp kinh nghiệm tổng quát của Stove khi lập luận rằng luận cứ của Kant cho chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm của ông đã lấy cơ sở là một phép lặp thừa ("tautology") hay nói cách khác, xem như vấn đề đưa ra đã được quyết định là đúng mà không phải thảo luận thêm. Do đó nó là một lập luận không có giá trị. Trong tác phẩm "Phía sau thiện và ác" ("Jenseits von Gut und Böse"), Phần 1 Về định kiến của các triết gia Mục 11, ông đã châm chọc Kant vì đã tự ngưỡng mộ bản thân do ông đã đảm nhận và (ông cho rằng) đã giải quyết thành công "vấn đề khó khăn nhất của siêu hình học." Trích dẫn lời Nietzsche: ""Nhưng chúng ta hãy suy nghĩ; đã đến lúc làm điều đó rồi. 'Làm sao mà các phán đoán tổng hợp tiên nghiệm lại là khả thi?' Kant đã tự hỏi, và câu trả lời thực sự của ông là gì? 'Nhờ vào một năng lực' - nhưng không may không chỉ bằng 5 chữ... Tuần trăng mật của triết học Đức đã đến. Tất cả các nhà thần học trẻ tuổi của trường dòng Tübingen chui vào các bụi rậm để tìm các 'năng lực.'...'Nhờ vào một năng lực' - ông đã nói, hoặc ít nhất đã có ý như vậy. Nhưng câu trả lời đó là thế nào? Một lời giải thích? Hay đơn giản chỉ là một sự lặp lại của câu hỏi? Thuốc phiện gây ngủ bằng cách nào? 'Nhờ vào một năng lực,' đó là năng lực gây ngủ , ngài bác sĩ trong hài kịch Moliére trả lời." Cũng trong cuốn sách đó, bên cạnh chủ nghĩa duy tâm của Kant, Nietzsche còn tấn công chủ nghĩa duy tâm của Schopenhauer và Descartes bằng một luận cứ tương tự như phê phán của Kant đối với Descartes. Trích lời Nietzsche: "Vẫn có những người tự ngắm mình, họ tin rằng có những "điều đáng tin cậy trực tiếp" ("immediate certainties"); chẳng hạn, "tôi tư duy," hay như cách diễn đạt của Schopenhauer, "tôi muốn"; mặc dù tri thức ở đây nắm bắt đối tượng của nó một cách thuần túy và trần trụi như "vật tự thân", mà không có bất cứ sự ngụy tạo nào về phía chủ thể hoặc khách thể. Nhưng "sự đáng tin cậy trực tiếp" đó, cũng như "tri thức tuyệt đối" và "vật tự thân", bao hàm một "contradictio in adjecto", (sự mâu thuẫn giữa danh từ và tính từ). Tôi phải nhắc đi nhắc lại cả trăm lần; chúng ta thật sự phải tự giải phóng mình khỏi sự mê hoặc của từ ngữ!"" Phê phán đầu tiên trong khuôn khổ triết học phân tích đối với chủ nghĩa duy tâm là của Moore, một trong những người sáng lập triết học phân tích. Bài phát biểu "Phản bác chủ nghĩa duy tâm" ("The Refutation of Idealism") vào năm 1903 là một trong những thể hiện đầu tiên của quá trình Moore sử dụng phân tích như là một phương pháp triết học đúng đắn. Moore xem xét cách ngôn của triết học Berkeley "esse est percipi": "là có nghĩa là được nhận thức (bởi ai đó)". Ông xem xét kỹ càng từng từ một trong 3 từ của câu cách ngôn, và thấy rằng nó phải có nghĩa rằng khách thể và chủ thể "nhất thiết" có quan hệ với nhau. Do đó, ông lập luận rằng, đối với các nhà duy tâm, "màu vàng" và "cảm giác về màu vàng" nhất thiết đồng nhất - một vật màu vàng nhất thiết phải được nhận thức (bởi vật khác) là có màu vàng. Nhưng, trong một động thái tương tự với luận cứ câu hỏi mở, cũng có vẻ rõ ràng rằng có một sự khác biệt giữa "màu vàng" và "cảm giác về màu vàng". Đối với Moore, nhà duy tâm đã sai lầm vì "cái "esse" được cho là được "percipi", chỉ vì cái được trải nghiệm được cho là đồng nhất với trải nghiệm về nó". Tuy phản bác về chủ nghĩa duy tâm này là tuyên bố mạnh mẽ đầu tiên của triết học phân tích để phê phán các tiền bối duy tâm, luận cứ này đã cho thấy rằng phương pháp kinh nghiệm tổng quát (theo thuật ngữ của thời kỳ sau Stove, xem phần sau) là không đúng đắn về lôgic. Các luận cứ được phát triển bởi Nietzsche (trước Moore), Russell (ngay sau Moore) và Stove (80 năm sau) đã đóng đinh lên cỗ quan tài dành cho luận cứ "chủ đạo" hỗ trợ chủ nghĩa duy tâm. Mặc dù Bertrand Russell đã có một tác phẩm rất nổi tiếng, "Các vấn đề của triết học" ("The Problems of Philosophy") (ngay vào năm 1943 đã được in lần thứ 17), viết cho độc giả đại chúng thay vì độc giả hàn lâm, rất ít người nhắc đến các phê bình của ông ngay cả khi ông đã hoàn toàn thấy trước phương pháp kinh nghiệm tổng quát của David Stove cả về hình thức lẫn nội dung (xem mục sau về phương pháp của David Stove). Chương 4 (Chủ nghĩa duy tâm) làm nổi bật tiền đề lặp thừa của Berkeley dành cho việc đề xuất chủ nghĩa duy tâm. "Nếu ta nói rằng những sự vật được biết phải ở trong tâm thức, thì hoặc ta đang giới hạn năng lực nhận thức của tâm thức một cách quá mức, hoặc ta đang phát biểu một câu tự lặp thừa không hơn không kém. Chỉ là một sự lặp thừa nếu ta có ý rằng 'trong tâm thức' đồng nghĩa với 'được nắm bắt bởi tâm thức'. Nhưng nếu ta muốn nói điều đó, thì ta sẽ phải thừa nhận rằng, theo nghĩa đó, những gì có trong tâm thức lại có thể không thuộc về tinh thần. Do đó, khi ta nhận ra được bản chất của tri thức, ta sẽ thấy luận cứ của Berkeley sai cả về chất cũng như hình thức, và cơ sở của ông cho quan niệm rằng 'ý niệm' - nghĩa là các đối tượng được nhận thức - phải thuộc về tinh thần là không đúng đắn. Do vậy, ta có thể loại bỏ cơ sở của ông cho việc ủng hộ chủ nghĩa duy tâm" Nhà triết học người Úc David Stove đã lập luận một cách gay gắt rằng chủ nghĩa duy tâm đã dựa trên cái mà ông gọi là "luận cứ tồi nhất thế giới". Phê phán của ông về chủ nghĩa duy tâm có lẽ là phê phán có tính tàn phá mạnh nhất đối với chủ nghĩa duy tâm chủ quan trong triết học. Nhìn từ góc độ lôgic, phê phán của ông không khác với phê phán của Russell hay Nietzsche, nhưng Stove đã được trích dẫn rộng rãi nhất và đã nêu bật được một cách rõ ràng nhất các sai lầm của những người đề xướng chủ nghĩa duy tâm. Ông đặt tên cho hình thức lập luận mà Berkeley đã nghĩ ra là Phương pháp kinh nghiệm tổng quát. Berkeley cho rằng "(tâm thức) bị lừa rằng nó có thể và nó đang nhận thức về các vật thể hiện hữu độc lập với tâm thức, mặc dù cùng lúc đó chúng lại được nắm bắt bởi tâm thức hoặc tồn tại trong chính tâm thức" ("(the mind) is deluded to think it can and does conceive of bodies existing unthought of, or without the mind, though at the same time they are apprehended by, or exist in, itself"). Stove lập luận rằng tuyên bố này được phát triển từ một phép lặp thừa rằng không thể nghĩ đến một thứ gì trong khi không phải nó đang được nghĩ đến, tới kết luận rằng không gì có thể tồn tại mà không được nghĩ đến. Dưới đây là phiên bản của Stove về phương pháp kinh nghiệm tổng quát (PPKNTQ) của Berkeley (1991:139): 1) Ta không thể có cây-ngoài-tâm-thức trong tâm thức, mà không có nó trong tâm thức. 2) Do đó, ta không thể có cây-ngoài-tâm-thức trong tâm thức. 1) Do là một phát biểu lặp thừa ("tautology - self-referential statement"), nên tiền đề của lập luận này là hiển nhiên đúng. 2) Kết luận không hiển nhiên đúng. Logic từ 1) đến 2) là sai, do các tiền đề lặp thừa chỉ có thể dẫn đến các kết luận lặp thừa. Xem thêm cuốn sách năm 1991 của Stove "Sự sùng bái Plato và những sự ngây ngô triết học khác" ("The Plato Cult Other Philosophical Follies") chương 6 "Chủ nghĩa duy tâm: Câu chuyện kinh dị thời Victoria", về nhiều dẫn chứng và trích dẫn PPKNTQ từ trong lịch sử triết học và PPKNTQ được tái xây dựng theo hình thức tam đoạn luận. Các độc giả quen thuộc với các phê phán chủ nghĩa duy tâm của Nietzsche, Russell và Stove sẽ dễ thấy rằng PPKNTQ của Stove chỉ là sự đóng gói lại các quan điểm chính xác của Russell và mượn thêm thuật bút chiến chống chủ nghĩa duy tâm của Nietzsche. Trong cuốn "Xây dựng thực tại xã hội" ("The Construction of Social Reality") John Searle đã chỉ trích một số phiên bản của chủ nghĩa duy tâm. Searle tóm tắt hai luận cứ sau của chủ nghĩa duy tâm. Luận cứ thứ nhất dựa trên nhận thức của chúng ta về thực tại: "1. Tất cả những gì ta có thể tiếp cận bằng nhận thức là nội dung của các trải nghiệm của chính ta" "2. Cơ sở siêu hình học duy nhất mà ta có cho các khẳng định về thế giới bên ngoài là các trải nghiệm tri giác của ta" "3. thực tại duy nhất mà ta có thể nói đến một cách có nghĩa là thực tại của các trải nghiệm tri giác ("Xây dựng thực tại xã hội" tr. 172)" Trong khi đồng ý với (2), Searle lập luận rằng (1) sai và, chỉ ra rằng (3) không suy diễn được từ (1) và (2). Luận cứ thứ hai của chủ nghĩa duy tâm như sau: "Tiền đề: Mọi trạng thái nhận thức ("cognitive state") bất kỳ đều xảy ra như là một phần của một tập hợp các trạng thái nhận thức và bên trong một hệ thống nhận thức" "Kết luận 1: Không thể ra ngoài tất cả các trạng thái và các hệ thống nhận thức để điều tra mối quan hệ giữa chúng và thực tại mà chúng được sử dụng để nhận thức" "Kết luận 2: Không có một nhận thức nào về một thực tại tồn tại độc lập với nhận thức ("Xây dựng thực tại xã hội" tr. 174)" Searle tiếp tục chỉ ra rằng kết luận 2 cũng không suy diễn từ những gì đi trước nó. Chủ nghĩa duy tâm trong tư duy tôn giáo. Không phải là tất cả các tôn giáo và niềm tin vào siêu nhiên đều hoàn toàn có hình thức phản chủ nghĩa duy vật một cách rõ ràng. Ví dụ, các đức tin Ấn Độ giáo về Brahman, Thiền của Phật giáo trung dung giữa tâm và vật, còn giáo lý Kitô giáo dòng chính khẳng định tầm quan trọng của tính vật chất của thể xác con người Chúa Kitô và sự cần thiết của việc tự kiềm chế khi giao tiếp với thế giới vật chất. Thần học của Khoa học Kitô ("Christian Science") duy tâm một cách tường minh: nó nói rằng tất cả mọi thứ đều tồn tại đều là Chúa trời và các ý niệm của Chúa; rằng thế giới như nó hiện ra đối với các giác quan là một sự bóp méo của thực tại tâm tinh đằng sau. Một số phong trào và sách tôn giáo hiện đại, chẳng hạn các tổ chức thuộc Phong trào tư tưởng mới ("New Thought Movement"), Giáo hội Thống nhất ("Unity Church") và cuốn sách "Một khóa học về phép màu" ("A Course in Miracles"), có thể được coi là có khuynh hướng duy tâm. Trong "Một khóa học về phép màu" cơ thể và các giác quan được cho là không làm gì cả. Mọi tri giác của ta, trong đó có cơ thể và các cơ quan cảm giác, được hiện hình bên trong tâm thức, còn tâm thức thì có vẻ như là đang hoạt động. Một phép so sánh là màn hình chiếu phim. Trong đó, các nhân vật có vẻ như đang cảm nhận và tương tác với nhau, trong khi đây đơn giản chỉ là một sự phóng chiếu ("projection"). Phương Tây tràn ngập trong thuyết nhất nguyên vật lý ("physicalistic monism"). Có một niềm tin phổ biến rằng mọi thứ sẽ có thể được khoa học giải thích theo vật chất/năng lượng. Do người ta liên tục được nghe điều đó, nó có thể làm cho quan niệm về thuyết nhất nguyên tinh thần ("mentalistic monism") trở nên khó nắm bắt. Có một cách để bắt đầu tìm hiểu quan niệm này là qua phép tương tự, chẳng hạn như phép tương tự về màn hình chiếu phim nói trên. Tiếp theo, nếu xét thực tại mô phỏng "Star Trek's holodeck", nó đưa ta một bước xa hơn đến với những đối tượng có vẻ là vật chất nhưng thực chất lại không phải. Tiếp nữa, xét bộ phim "Ma trận". Trong bộ phim đó, ngay cả cơ thể và các đặc tính của con người cũng được phóng chiếu. Ta thay thế cái máy trong phim bằng một tâm thức vĩ đại và mạnh mẽ. Phép tương tự cuối cùng là những giấc mơ của ta đêm qua. Có vẻ như ta ở trong một thế giới đầy các đối tượng khác và nhiều người khác, tuy nhiên chẳng có gì trong đó là vật chất. Sự phóng chiếu tạo nên tri giác. Tuy đây không phải là một luận cứ triết học chặt chẽ, nó cho phép ta bắt đầu suy nghĩ theo các hướng này.
Mãnh long quá giang Mãnh long quá giang (tiếng Trung: 猛龍過江; tiếng Anh: The way of the dragon, Fury of the dragon, Meng Long quojiang) là một phim võ thuật do Lý Tiểu Long đạo diễn, do hãng Concort phát hành năm 1972, với các diễn viên: Lý Tiểu Long, Miêu Khả Tú, Chuck Norris, Robert W Phim dài 100 phút, nói về chuyến đi sang Ý dạy võ của võ sư trẻ Đường Long (Lý Tiểu Long). Những cảnh đầu phim khá hài hước: Đường Long vào một tiệm ăn và không biết phải gọi món gì, anh chỉ đại và lần lượt được đưa ra những món súp khó ăn nhất. Từ đầu đến cuối phim, vai Đường Long của Lý Tiểu Long khá ngớ ngẩn trong giao tiếp. Do sự ngớ ngẩn đó, Đường Long rất được Trần Thanh Hoa (Miêu Khả Tú đóng) yêu mến. Cô giới thiệu anh đến một võ đường. Sự khinh khỉnh pha lẫn ngơ ngác của anh- lại được cô gái đẹp quấn quýt bên mình khiến Đường Long bị ghen ghét. Bọn họ diễu võ dương oai trước mặt anh, những đòn Karatedo hỗn tạp và thiếu thuần túy tung ra. Đường Long chỉ khẩy cười và bay lên đá vào tấm đỡ: ba võ sinh không giữ nổi phải ngã ra đằng sau. Từ đó họ kính phục Đường Long và nhờ anh dạy võ Trung Hoa cho họ. Võ Đường này còn mở một nhà hàng, vì chuyện chỗ ở nên mỗi ngày đều bị bọn côn đồ đến ức hiếp, tiểu tướng của bọn đó là một tên người Trung Quốc. Đường Long rất ghét tên này và nhận sẽ đứng ra bảo vệ võ quán cũng như nhà hàng. Nhiều cuộc quấy rối của bọn côn đồ diễn ra, Đường Long và các môn sinh hết sức chống đỡ, khiến bọn chúng sợ hãi. Lúc này anh chế ra phi tiêu bằng tre để đánh với súng đạn của bọn chúng, cảnh này cho thấy sự tôn vinh vẻ đẹp võ thuật phi súng đạn của con rồng họ Lý. Bên cạnh đó còn thấy vẻ đẹp Á Đông thể hiện qua 2 cặp Côn nhị khúc. Âm mưu không thành, bọn xã hội đen phải thuê một số võ sư ở nước ngoài về thách đấu với Lung trong đó cao thủ nhất là Colt (Chuck Norris). Đường Long nhận lời thách đấ Một trận đấu kinh điển ở đấu trường Colosseum nổ ra, với sự chứng kiến của "2 chú mèo." Bên lề bộ phim. Mãnh Long Quá Giang là phim điện ảnh thứ ba của Lý Tiểu Long được đưa vào lịch sử của điện ảnh Hồng Kông vì những sự kiện sau đây: Ngoài ra, các nhân vật nhập cư từ nước ngoài như Chuck Norris và Robert Wall đều là môn đệ và là bạn của Lý Tiểu Long do chính Lý Tiểu Long mời đến.
Quách Tử Nghi (chữ Hán: 郭子儀; 5 tháng 9, 697 – 9 tháng 7, 781), là một danh tướng nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc. Ông phục vụ dưới 4 đời Hoàng đế nhà Đường là Đường Huyền Tông, Đường Túc Tông, Đường Đại Tông và Đường Đức Tông, có công rất lớn trong việc dẹp loạn An Sử. Do thanh thế lớn, ông được phong tước Phần Dương quận vương (汾陽郡王), và người đời gọi ông là Quách Lệnh Công (郭令公). Quách Tử Nghi quê ở Hoa Châu, huyện Trịnh (nay là huyện Hoa, tỉnh Thiểm Tây). Tổ 6 đời là Quách Trí (郭智), người Tấn Dương, Thái Nguyên (nay là Thái Nguyên, Sơn Tây), làm Thái thú quận Trung Sơn, rồi Thứ sử Dĩnh Châu thời Bắc Ngụy. Tổ 5 đời Quách Tiến (郭进), làm chức Tư mã Đồng Châu thời Tây Ngụy, em trai của Thái phó Quách Huy thời nhà Tùy. Cha ông là Quách Kính Chi (郭敬之), từng giữ chức Thứ sử 5 châu dưới thời Đường, tặng "Kì Quốc công" (祁国公). Mẹ ông là Hướng thị (向氏), phong "Ngụy Quốc phu nhân" (魏国夫人). Quách Tử Nghi được mô tả là người cao hơn 6 thước, dáng vẻ anh dũng. Quách Tử Nghi theo đuổi nghiệp võ, thi đỗ đầu trong một kỳ thi, được bổ nhiệm làm "Trưởng sử tả vệ". Trong vài chục năm cho đến trước năm 755, Quách Tử Nghi không có đóng góp nào đặc biệt trên quan trường. Dẹp loạn An Sử. Giao tranh ở Hà Bắc. Tháng 11 năm 755, lúc đó Tử Nghi đã 59 tuổi, Tiết độ sứ Phạm Dương là An Lộc Sơn khởi binh chống lại nhà Đường, tự xưng là Yên đế. Quân Yên khí thế mạnh mẽ, sang năm 756 nhanh chóng đánh chiếm nhiều vùng đất thuộc Hà Bắc và Hà Nam. Trước tình thế nguy cấp, Đường Huyền Tông bổ nhiệm Quách Tử Nghi làm Tiết độ sứ Sóc Phương, mang quân về phía đông dẹp loạn. Tháng 4 năm 756, Quách Tử Nghi giành lại được 2 quận Vân Trung và Mã Ấp. Sau đó ông tiến quân đến Tỉnh Hình, phối hợp với Tiết độ sứ Hà Đông là Lý Quang Bật. Hai tướng cùng nhau đánh chiếm được 2 huyện Cửu Môn và Cảo Thành do tướng Yên là Sử Tư Minh cố thủ trên 40 ngày. Quân Đường chiếm được 9 huyện của quận Thường Sơn, đường rút lui của quân Yên bị uy hiếp. Sử Tư Minh tuy thua nhưng có quân đông, khí thế còn mạnh. Khi Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật lui lại Thường Sơn để phòng thủ bèn mang quân đuổi theo. Quách Tử Nghi bèn sai 500 quân giương oai tiến lên phía bắc để đánh lừa Tư Minh. Tư Minh không biết là nghi binh, mang quân cấp tốc đuổi theo trong 3 ngày 3 đêm. Khi quân Yên đuổi tới huyện Hành Đường thì người ngựa đã rất mệt mỏi, lúc đó mới phát hiện ra phía trước chỉ có 500 quân Đường, bèn quay trở lại sông Sa Hà nghỉ ngơi. Quách Tử Nghi thừa lúc quân Yên mệt mỏi bèn mang quân đánh úp, giành thắng lợi lớn. An Lộc Sơn nghe tin Tư Minh thua trận bèn sai Thái Hy Đức mang 2 vạn bộ binh và kỵ binh tới chi viện, lại sai Ngưu Đình Giới mang 1 vạn quân tới hỗ trợ Tư Minh. Tư Minh có 5 vạn quân trong tay. Quách Tử Nghi không vội giao chiến, vẫn dùng chiến thuật trì hoãn khiến quân địch nản lòng. Ông mang quân lên phía bắc, dụ Tư Minh đuổi theo. Tư Minh được tăng viện, yên tâm mang quân đuổi. Tử Nghi đến đóng quân ở Hằng Dương, củng cố lại thành trì. Sử Tư Minh mang quân tới đánh thành không được. Hễ Tư Minh có ý định lui thì Quách Tử Nghi mang quân ra truy kích. Tư Minh quay trở lại đánh thì quân Đường lại rút vào thành cố thủ. Sử Tư Minh tiến lui đều không được, rất mệt mỏi. Lúc đó Quách Tử Nghi báo cho Lý Quang Bật tới trợ chiến, quân Đường có tổng cộng 10 vạn người, tổ chức tấn công quy mô vào quân Yên ở Gia Sơn, kết quả diệt hơn 4 vạn quân Yên, bắt sống 1000 người. Sử Tư Minh thua to, bị ngã ngựa, may mắn trốn thoát, chạy về cố thủ ở Bác Lăng. Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật mang quân vây hãm Bác Lăng. Trận Gia Sơn đẩy quân Yên vào thế nguy khốn. An Lộc Sơn từ Lạc Dương mang quân đánh Tràng An bị Kha Thư Hàn án ngữ ở Đồng Quan không tiến lên được, phía sau thì Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật vây bọc. Nhiều tướng Yên đầu hàng nhà Đường, các trinh thám đi đưa thư cũng đều bị quân Đường bắt được. An Lộc Sơn chán nản định bàn cách bỏ Lạc Dương rút về căn cứ Phạm Dương và Bình Lư. Rút về Linh Vũ. Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật kiến nghị Đường Huyền Tông cố thủ giữ chân An Lộc Sơn ở Đồng Quan, còn hai cánh quân Lý, Quách tấn công căn cứ Phạm Dương của Lộc Sơn. Nhưng Đường Huyền Tông không nghe theo, nóng lòng muốn thắng lợi, bèn ép Kha Thư Hàn xuất kích từ Đồng Quan ra đánh quân Yên. Thư Hàn không thể chống lệnh đành mang quân ra đánh, bị thảm bại. Quân Yên thắng lớn thừa cơ tiến vào Trường An. Đường Huyền Tông phải bỏ chạy vào đất Thục. Tình hình nhà Đường rất nghiêm trọng, cả hai kinh Lạc Dương và Trường An đều thất thủ, uy thế quân Yên lên cao, Đường Huyền Tông bị mất uy tín với tướng sĩ vì sủng ái Dương Quý phi và anh Dương Phi là Dương Quốc Trung. Tháng 7 năm 756, Thái tử Lý Hanh bèn lên ngôi ở Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông. Lực lượng của Đường Túc Tông mới tập hợp khá nhỏ yếu, Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đang chiếm ưu thế ở Hà Bắc, được lệnh về Linh Vũ hộ giá. Qua một năm tập hợp và củng cố, quân Đường ở phương Bắc mạnh lên nhiều. Trong khi đó nội bộ quân Yên lại chia rẽ. An Lộc Sơn bị con là An Khánh Tự giết chết để cướp ngôi, mãnh tướng Sử Tư Minh mang gần 10 vạn quân ly khai không nghe lệnh Khánh Tự. Nhân thời cơ đó, Đường Túc Tông hạ lệnh phản công để thu hồi hai kinh (Lạc Dương, Trường An). Thu hồi hai kinh. Tháng 4 năm 757, Túc Tông phong con là Lý Bảo làm Nguyên soái, Quách Tử Nghi làm Phó nguyên soái, lãnh trách nhiệm thu hồi hai kinh. Lý Bảo là hoàng tử nắm quyền tối cao nhưng không có thực tài, chiến sự trông hết vào Quách Tử Nghi. Tháng 5 năm 757, Quách Tử Nghi tiến từ Phượng Tường về phía đông chuẩn bị đánh Trường An. Đến Thanh Cừ thì quân Đường gặp quân Yên do Lý Quy Nhân, An Thủ Trung chỉ huy. Hai bên giữ nhau 7 ngày không giao chiến. Hai tướng Yên dùng mưu giả thua tháo lui. Quách Tử Nghi mắc mưu đuổi theo, hai tướng Yên dàn 9.000 quân thành hình con rắn dài đón đánh. Tử Nghi đánh vào giữa, hai đầu "trường xà" kéo lại vây bọc, đánh quân Đường thua to. Tử Nghi phải lui quân về giữ Vũ Công. Đường Túc Tông điều thêm quân tiếp viện cho Lý Bảo và Tử Nghi. Ông đề nghị mượn thêm quân nước Hồi Hột láng giềng để chống những đạo quân thiện chiến của Yên, được 4.000 người dưới quyền tướng Bộc Cố Hoài Ân. Sang tháng 9 năm đó, Tử Nghi có 15 vạn quân, lại tấn công Tràng An lần thứ 2. Ngày 27 tháng 9, Tử Nghi kéo đến phía tây Trường An. An Thủ Trung và Lý Quy Nhân mang 10 vạn quân ra địch. Quách Tử Nghi sai Lý Tự Nghiệp cầm tiền quân, tự mình đi trung quân, sai Vương Âu Lễ làm hậu quân. Lý Tự Nghiệp và Lý Quy Nhân giao tranh giằng co mấy trận không phân thắng bại. An Thủ Trung điều một cánh quân sang phía đông đánh vây bọc quân Đường. Quách Tử Nghi phát hiện, bèn sai Bộc Cố Hoài Ân (người Thiết Lặc, Hồi Hột) dẫn 4000 quân Hồi Hột ra giao chiến, giết hơn nửa quân Yên. Cánh quân Yên đi tập kích bị đánh bại. Quách Tử Nghi lại sai Hoài Ân vòng ra phía sau đánh úp quân Yên, đồng thời thúc tiền quân và trung quân cùng lúc tấn công ồ ạt. Sau hơn nửa ngày giao chiến, quân Đường giết 6 vạn quân Yên. Quân Yên thua chạy vào thành Trường An. Lý Bảo chủ trương cho binh sĩ nghỉ ngơi nên dừng lại không truy kích. An Thủ Trung, Trương Thông Nho và Lý Quy Nhân hoảng sợ, nhân lúc đêm tối bỏ thành rút chạy. Ba ngày sau, Lý Bảo và Quách Tử Nghi mới mang quân đuổi theo quân Yên. Nhưng quân Đường triển khai chậm nên quân Yên có thời gian chỉnh đốn lại. Vua Yên An Khánh Tự sai Nghiêm Trang mang quân từ Lạc Dương sang phía tây tiếp viện cho Trường An, gặp tàn quân Yên thua chạy về, tập hợp lại được 15 vạn người. Ngày 15 tháng 10, Quách Tử Nghi đụng độ quân Yên ở Tân Điếm. Quân Yên dựa vào núi bày trận, Tử Nghi cho đại quân tấn công chính diện, còn Bộc Cố Hoài Ân mang quân Hồi Hột đánh úp phía sau. Thấy cánh quân chính diện yếu thế, Hoài Ân dẫn quân thần tốc tới Nam Sơn, đánh mạnh vào sườn quân Yên. Quân Yên vốn sợ quân Hồi Hột, nên thấy quân Hồi Hột đến đều bỏ chạy. Quách Tử Nghi thừa cơ thúc 2 cánh quân chính diện tấn công ồ ạt. Quân Yên thua to, Nghiêm Trang và các tướng dẫn tàn quân chạy về phía đông. Quách Tử Nghi dẫn quân truy sát. An Khánh Tự được tin cánh quân chủ lực đi cứu Trường An bị đánh bại rất sợ hãi, dẫn 300 kỵ binh và 1000 bộ binh bỏ Lạc Dương chạy về Nghiệp Thành. Ngày 18 tháng 10, quân Đường thừa thắng tiến vào Lạc Dương. Đường Túc Tông nghe tin Quách Tử Nghi giành lại hai kinh, phong ông làm Đại quốc công (代国公). Thượng hoàng Đường Huyền Tông nghe tin cũng có lời khen ngợi. Bại binh Nghiệp Thành. Tháng 9 năm 758, Quách Tử Nghi cùng Lý Quang Bật và 7 Tiết độ sứ nhà Đường được lệnh đi đánh An Khánh Tự ở Nghiệp Thành. Quân Đường có tổng cộng 60 vạn người. Đường Túc Tông lại cho rằng vì Tử Nghi và Quang Bật có công trận ngang nhau, không thể đặt ai trên ai, nên sai hoạn quan Ngư Triều Ân làm tổng chỉ huy. Quách Tử Nghi mang quân từ Hạnh Viên vượt sông, bao vây tấn công Vệ Châu. An Khánh Tự dẫn 7 vạn quân chia làm 3 ngả, tăng viện cho Vệ Châu. Tử Nghi bố trí 3000 tay cung nấp sau lũy đất rồi dẫn quân ra khiêu chiến. An Khánh Tự thúc quân ra đánh. Tử Nghi giả thua chạy, quân Yên đuổi theo. Bất thần các tay nỏ vùng dậy bắn, giết hơn nửa quân Yên. Tử Nghi cũng quay trở lại đánh giết. An Khánh Tự thua lớn, bỏ chạy về Nghiệp Thành rồi sai người cầu cứu Sử Tư Minh. Tư Minh vốn đã hàng nhà Đường, nhưng bất mãn vì phát hiện Đường Túc Tông có ý trừ khử mình, bèn mang 10 vạn quân trở lại chống nhà Đường, từ Phạm Dương đi cứu An Khánh Tự. Tháng 2 năm 759, Tiết độ sứ 9 phương của nhà Đường dẫn quân đông đảo tới bao vây Nghiệp Thành. Sử Tư Minh thấy thế quân Đường mạnh mẽ bèn dẫn quân đến Phẫu Dương đóng lại không tiến. Quân Đường dẫn nước sông Chương vào thành. Trong thành nước ngập rất nguy cấp, nhưng An Khánh Tự vẫn cố phòng thủ chờ viện binh của Sử Tư Minh. Hoạn quan Ngư Triều Ân không hiểu việc quân sự nên dùng dằng không ra lệnh đánh thành. Sử Tư Minh thấy quân Đường vây lâu ngày không hạ được thành, bèn tiến quân. Tư Minh tiến lên hạ trại cách quân Đường 50 dặm, chia một cánh quân đi cướp lương quân Đường, các cánh quân nhỏ khác đến tập kích ban đêm khiến quân Đường bị tổn thất khá nặng. Quân Đường bị thiếu lương đều dao động. Sau đó Tư Minh dẫn 5 vạn quân đánh thẳng vào đại trại quân Đường. Quân Đường thua lớn, Quách Tử Nghi cùng các Tiết độ sứ chạy tản mỗi người một nơi. Tử Nghi rút về Hà Dương để giữ Lạc Dương. Ngư Triều Ân vốn ganh ghét với công trạng của Tử Nghi, dâng sớ kể tội ông làm quân Đường bại trận ở Nghiệp Thành. Đường Túc Tông bèn triệu ông về triều, sai Lý Quang Bật chỉ huy quân đội. Nhiều tướng sĩ biết tin ông bị cách chức đều đứng ở ven đường khóc đưa tiễn. Đường Đế dùng Lý Quang Bật thay Quách Tử Nghi cầm quân ở Hà Dương. Năm 761, Lý Quang Bật bị thua trận ở Hà Dương, vì vậy triều đình lại dựa vào Quách Tử Nghi. Đầu năm Bảo Ứng (762), hai đạo Thái Nguyên và Giáng Châu làm phản, triều đình khủng cụ, phong Quách Tử Nghi làm Phần Dương quận vương (汾陽郡王), xuất binh dẹp hai trấn. Không lâu sau, Đường Túc Tông băng hà, Đường Đại Tông lên ngôi (tháng 5 năm 762), nghe lời gièm pha của Trình Nguyên Chấn thì lại nghi ngờ ông, tước binh quyền và giam lỏng ông tại nhà. Lực lượng quân Yên tàn hại lẫn nhau, bị suy yếu và cuối cùng bị đánh bại năm 763. Năm 763, 20 vạn quân Thổ Phiên tấn công vào kinh thành Trường An. Đường Đại Tông chạy về phía đông đến Thiểm Châu, lại trọng dụng Quách Tử Nghi, phong ông làm Phó nguyên soái Quan Nội, chỉ huy hơn 4000 quân tản mát các nơi mới tập hợp về. Tử Nghi dùng kế nghi binh, phô trương thanh thế, khiến quân Thổ Phiên cuối cùng phải rút lui. Quách Tử Nghi thu phục kinh thành Trường An lần thứ 2. Từ đó ông mới được sự tín nhiệm của Đường Đại Tông. Đại Tông xấu hổ thổ lộ sai lầm đã không sớm trọng dụng ông. Năm 764, bộ tướng cũ của Tử Nghi là Bộc Cố Hoài Ân dẫn quân lên phía bắc chiếm cứ Hà Đông chống lại triều đình. Tháng 7 năm đó Quách Tử Nghi được phong làm Tiết độ sứ Sóc Phương đi đánh Hoài Ân. Các thủ hạ của Hoài Ân đều là quân cũ dưới quyền Tử Nghi, nghe tin ông đến bèn bỏ Hoài Ân theo hàng ông. Hoài Ân cô thế, dẫn 300 quân chạy đến Linh Vũ, lôi kéo các bộ lạc Hồi Hột, Thổ Phiên chống nhà Đường. Tổng số quân hai bộ lạc có 10 vạn người, vòng qua Mân Châu tiến sát đến Phụng Thiên. Trước thế mạnh của quân địch, vua Đại Tông lại sai Tử Nghi đi đánh. Quân Hồi Hột và Thổ Phiên nghe uy danh Tử Nghi đều sợ, tự rút lui về. Tháng 9 năm 765, Bộc Cố Hoài Ân lại dẫn quân các bộ tộc Hồi Hột, Thổ Phiên, Đảng Hạng, nói dối họ là Quách Tử Nghi đã qua đời nên cùng nhau vào đánh nhà Đường. Các bộ tộc theo Hoài Ân tập hợp được 30 vạn quân tấn công. Kinh thành Trường An lại bị uy hiếp. Quách Tử Nghi đề nghị Đường Đại Tông điều quân các trấn về giữ, tự mình mang quân ra Kim Dương bảo vệ kinh thành. Vừa đến Kim Dương, Tử Nghi bị 10 vạn quân Thổ Phiên và Hồi Hột đến bao vây. Ông vẫn bình tĩnh điều quân phòng thủ không vội giao tranh, chỉ sai người đi thăm dò tình hình địch. Không lâu sau Tử Nghi phát hiện ra giữa hai bộ tộc Hồi Hột và Thổ Phiên có rạn nứt, vì Bộc Cố Hoài Ân đột nhiên qua đời nên Thổ Phiên muốn đặt quân Hồi Hột dưới quyền thống lĩnh của mình. Chỉ huy quân Hồi Hột là Dược Cát La em Khả Hãn Hoài Nhân, sợ bị quân Thổ Phiên thôn tính nên dẫn quân từ phía bắc đến phía tây thành. Tử Nghi nhân đó sai Lý Quang Toán sang bên quân Hồi Hột thuyết phục, nhắc lại việc hợp tác đánh An Khánh Tự và đề nghị cùng đánh Thổ Phiên. Dược Cát La ngạc nhiên vì Tử Nghi còn sống, đề nghị được gặp ông. Quang Toán về báo lại, Tử Nghi bèn thân hành đi gặp Cát La, dù nhiều người, trong đó có con trai ông là Quách Hy can ngăn là mạo hiểm. Trước sự ngăn cản gay gắt của Quách Hy, Tử Nghi sai người trói Hy lại rồi chỉ mang theo vài tùy tùng sang trại Dược Cát La. Khi ông đến gần doanh trại quân Hồi Hột, Dược Cát La vẫn nghi hoặc, sợ ông có viện binh nên sai quân giương cung cầm giáo. Tử Nghi bèn tự mình bỏ áo giáp, cởi mũ sắt và buông giáo xuống ngựa đi vào. Dược Cát La nhận ra đúng là Tử Nghi, cùng các tù trưởng ra đón, tỏ thái độ rất kính phục. Nghe theo lời dụ của Tử Nghi, Hồi Hột đồng tình trở giáo đánh lại Thổ Phiên. Thổ Phiên nghe tin Hồi Hột ngả theo nhà Đường, bèn nhân lúc đêm tối dẫn quân chạy về phía tây. Quách Tử Nghi bèn sai Bạch Vân Quang mang quân cùng Dược Cát La truy kích. Tự ông lĩnh đại quân tiến sau. Liên quân Đường - Hồi Hột đuổi quân Thổ Phiên đến Xích Sơn Tây Nguyên, Linh Đài, đánh bại quân địch, chém 5 vạn quân, bắt hơn 1 vạn tù binh và hàng vạn súc vật, cứu hơn 4000 thợ thủ công và phụ nữ bị quân Thổ Phiên bắt đi. Các cánh quân bộ tộc khác nghe tin Thổ Phiên bị đánh bại bèn rút lui. Sang năm 767, Thổ Phiên vẫn quấy nhiễu biên giới nhà Đường. Quách Tử Nghi giữ chức Phó nguyên soái, đóng quân ở Hà Trung và Mân Châu, lãnh trách nhiệm phòng thủ khiến quân địch không vào được. Năm 767, Ngư Triều Ân đố kỵ Quách Tử Nghi, khi ông cầm quân ở ngoài đã sai kẻ vô lại đi phá mộ cha Tử Nghi. Vua Đại Tông lo lắng Tử Nghi sẽ bất mãn làm phản, nhưng Tử Nghi về triều tâu về trấn an vua Đại Tông, Đại Tông mới yên tâm. Năm 779, Đường Đại Tông chết. Thái tử Lý Quát lên ngôi Hoàng đế, tức Đường Đức Tông. Đức Tông thấy ông tuổi đã cao bèn triệu ông về triều, phong làm Thành Sơn lăng sứ, tước hiệu là Thượng phụ (尚父), chức Thái úy, Trung thư lệnh. Năm đó ông đã 83 tuổi. Năm 781, tức năm Kiến Trung thứ 3 thời Đường Đức Tông, Thượng phụ Quách Tử Nghi qua đời, thọ 85 tuổi. Ông kết thúc sự nghiệp trọn vẹn, mang tước Phần Dương quận vương (汾陽郡王), cả nhà vinh hiển được phong tước vị sang trọng. Gia đình có ngũ đại đồng đường, con trai có nhiều người làm Phò mã, con gái nhiều người lấy hoàng tử, rất quý hiển đương thời. Trong đó Ý An hoàng hậu là cháu gái của ông, con gái của Phò mã Quách Ái, người đã cưới Thăng Bình công chúa - con gái Đường Đại Tông. Ông được người đời sau tôn làm Ông Đa Phúc trong ba ông Phúc Lộc Thọ. Quách Tử Nghi nhiều năm chinh chiến, lập được nhiều công lao với nhà Đường nhưng trước sau nhất mực trung thành với triều đình, không tỏ ra kiêu ngạo cậy công. Sau loạn An Sử, nhiều Tiết độ sứ ly khai nhà Đường, nhưng ông được cầm cánh quân lớn vẫn không hai lòng; bị thưởng phạt bất công nhưng không tỏ ý bất mãn. Ông quản lý quân đội rộng lượng, khiến tướng sĩ hết lòng vì mình. Quách Tử Nghi trở thành công thần có được kết cục trọn vẹn ít có trong lịch sử Trung Quốc. Sử sách nhận định về ông như sau: "Công trùm trời đất mà chủ không nghi, địa vị vượt muôn người mà không ai đố kỵ"
Lý Liên Kiệt (sinh ngày 26 tháng 4 năm 1963) là một nam diễn viên võ thuật nổi tiếng người Trung Quốc, ngoài ra ông còn là nhà sản xuất, nhà hoạt động từ thiện. Cho đến nay ông được mọi người biết đến qua hai vai diễn chính cùng tên trong hai bộ phim "Hoàng Phi Hồng" và "Hoắc Nguyên Giáp", các vai diễn trong phim "Anh hùng", "Long môn phi giáp", "Đầu danh trạng", "Truyền thuyết Bạch Xà" và gần đây là "Hoa Mộc Lan". Vào năm 2017, Lý Liên Kiệt đã giới thiệu tới công chúng môn võ Công Thủ Đạo với tư cách là người sáng lập dựa trên nền tảng của Thái cực quyền. Lý Liên Kiệt tập wushu từ 8 tuổi với võ sư Ngô Bân, cùng một sư phụ với Chân Tử Đan, ông đã sớm bộc lộ năng khiếu và tư chất để trở thành một cao thủ. Thuở nhỏ, giống như đàn anh Lý Tiểu Long, Lý Liên Kiệt không có một thể trạng tốt cho việc học võ. Ông yếu đuối, lại sống trong một gia đình có quá nhiều áp lực, nên nhiều lần đã định bỏ cuộc. Nhưng được sư phụ động viên, ông đã vượt qua được. Năm 1974, Lý Liên Kiệt mới 11 tuổi, đã trở thành nhà vô địch giải Wushu trẻ toàn Trung Quốc. Mọi người gọi ông là "thần đồng võ thuật". Lúc này Lý Liên Kiệt đã nhận được nhiều lời mời đóng phim và quảng cáo, nhưng nghĩ mình chưa đạt tới trình độ siêu đẳng, ông trở về với sư phụ Hồ Bình. Tên tuổi của ông được nhiều người trên thế giới biết đến sau khi biểu diễn cho Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon xem tại Nhà Trắng năm 1974. Nhiều năm sau, Lý Liên Kiệt liên tục giật giải quán quân trong các kỳ thi võ thuật, với màn múa thương và kiếm rất đẹp mắt (1975, 1977, 1978). Đến năm 1979, ông đoạt giải thành tựu Vàng của Tổng hội võ thuật Trung Quốc khi mới 16 tuổi. 3 năm sau, Lý Liên Kiệt tham gia bộ phim điện ảnh đầu tiên: Thiếu Lâm tự, bộ phim làm ngất ngây khán giả hâm mộ phim võ thuật, đưa tên tuổi của ông vào hàng ngôi sao mới của điện ảnh Trung Quốc, bắt đầu có ảnh hưởng đến khán giả ở Đông Nam Á, Nhật và Mỹ. Ông tiếp tục đóng các phim về Thiếu Lâm và gây được tiếng vang rất lớn. Lý Liên Kiệt được yêu thích không phải nhờ khả năng diễn xuất mà là các thế võ đẹp, lạ, mạnh mẽ đúng chất Thiếu Lâm của ông. Năm 1982 đánh dấu bước ngoặt đối với chàng trai họ Lý, vai diễn trong loạt ba bộ phim Thiếu Lâm Tự đã gây được tiếng vang lớn và tạo bước đệm đầu tiên trên con đường khẳng định tên tuổi trong lĩnh vực điện ảnh của Lý Liên Kiệt. Năm 1991, với bộ phim "Hoàng Phi Hồng" kinh điển, Lý Liên Kiệt đã đưa tên tuổi của mình đến được Hollywood, khán giả Đông Nam Á thì đâu đâu cũng nhắc đến Hoàng Phi Hồng, Dì mười ba, Quỷ Cước Thất là các nhân vật trong phim này. Phần thành công của phim cũng nhờ sự đạo diễn tài tình của Từ Khắc và Viên Hòa Bình. Tiếp đến là hàng loạt các phim kinh điển: "Phương Thế Ngọc", "Hoàng Phi Hồng" 2 , trước hết là một hình tượng anh hùng trong lòng người châu Á, sau đó là thế giới. Nhưng Lý Liên Kiệt không ham danh vọng, ông đã dừng đóng phim một thời gian, có người thắc mắc thì ông nói: "Tôi từ nhỏ đã khổ cực, mục đích sống của tôi chỉ là thoát khỏi khổ cực, chứ danh tiếng thì không đem lại hương vị gì". Một thời gian sau người ta nghe Lý có chuyện cãi vã về vấn đề tiền bạc với một đạo diễn, và dính líu tới Hội Tam Hoàng Thượng Hải. Hiểu rằng ông đang khó khăn, nhiều đạo diễn có ý mời,Lý Liên Kiệt đã chọn đạo diễn Vương Tinh. Các phim ông đóng lúc này khá "khác" với hình tượng, những vai xã hội đen rùng rợn và hài hước nhiều hơn, ít khi đánh đấm, lại đi bên cạnh là một mỹ nhân hết sức gợi cảm như kiểu Mỹ: "Cận vệ Trung Nam Hải" với Chung Lệ Đề và "Thử Đảm Uy Long" với Khâu Thục T Cho đến khi Viên Hòa Bình, nhà chỉ đạo võ thuật nổi tiếng nhất bấy giờ mời ông đóng bộ "Tinh Võ anh hùng" - một phim về Trần Chân, mà nhiều diễn viên võ thuật đã rất thành công như Lý Tiểu Long với "Tinh Võ Môn" (1972), Chân Tử Đan với loạt phim truyền hình "Tinh Võ Môn" (1995). Và Lý Liên Kiệt đã làm dậy lại được hình tượng này - cũng như hình tượng anh hùng võ thuật cổ truyền của mình. Tên tuổi của ông lại được tung hô, Lý Liên Kiệt hoạt động rầm rộ hơn trước. Ông hợp tác với nhiều diễn viên nổi tiếng, như Trương Học Hữu, Khâu Thục Trinh, Châu Tinh Trì, Trương Mạn Ngọ, đạo diễn Trương Nghệ Mưu lần đầu tiên làm phim võ hiệp: "Anh Hùng", Lý Liên Kiệt đóng vai chính. Đây là lần thứ hai Lý Liên Kiệt với lối võ đẹp mắt đối đầu với Chân Tử Đan - lối võ mạnh mẽ. Cả hai lại bất phân thắng bại: vai Vô Danh của Lý Liên Kiệt chiến thắng, nhưng sự thật là vai Trường Không của Chân Tử Đan giả thua. Người hâm mộ vẫn luôn chờ đợi lần hợp tác thứ ba của hai võ sư nổi danh này. Cuộc đối đầu của họ trong "Hoàng Phi Hồng 2" và cuộc đối đầu trong tư tưởng, âm nhạc tại Ngự Viên trong phim "Anh Hùng" đã đem lại sự mầu nhiệm, hai nhà đạo diễn tài ba Từ Khắc và Trương Nghệ Mưu không ngớt lời khen 2 pha võ này. Trong phim "Anh Hùng", bên cạnh Chân Tử Đan, còn có Lương Triều Vĩ, Trương Mạn Ngọc, Chương Tử Di, Trần Đạo Minh là những diễn viên "chuyên trị" diễn xuất nội tâm. Nên nhiều người đánh giá diễn xuất của Lý là lép vế, tuy nhiên thành công về nghệ thuật của phim là một điều không ai mơ hồ chối cãi được. "Anh Hùng" có thể là bộ phim đẹp nhất đời của Lý Liên Kiệt. Ông đến Hollywood sau Lý Tiểu Long, Thành Long, cùng một lúc với Dương Tử Quỳnh, trước Chân Tử Đan, một điều không nhiều người mong muốn - là bị đồng hóa theo phim Mỹ - đã trở thành sự thật. Nhưng dù sao khi xem lại "Hoàng Phi Hồng", "Phương Thế Ngọc", "Tiếu ngạo giang hồ" hay "Tinh Võ anh hùng" người ta đã có thể quên đi "Cradle 2 The Grave", "The One", "Danny the dog"... mà không trách sự Tây hóa trong phim Lý Liên Kiệt. Năm 2006, phim võ thuật "Hoắc Nguyên Giáp" được công chiếu trên toàn thế giới, được xem như bộ phim võ thuật cuối cùng của Lý Liên Kiệt. Trong "Hoắc Nguyên Giáp", Lý Liên Kiệt thủ vai chính Hoắc Nguyên Giáp, một nhân vật có thật trong lịch sử đã lập ra Tinh Võ Môn, từng đánh bại những võ sĩ ngoại quốc và Nhật Bản trên võ đài, lấy lại uy danh cho người Trung Quốc trong một thời kì xã hội phong kiến đang lụi tàn dần. Trước kia, trong phim "Tinh Võ anh hùng", Lý Liên Kiệt đã từng thủ vai Trần Chân - một trong những đệ tử nổi tiếng nhất của Hoắc Nguyên Giáp. Hoắc Nguyên Giáp được công chiếu vào 26 tháng 1 năm 2006 tại Hồng Kông, tiếp theo đó vào 22 tháng 12 năm 2006 tiến ra các rạp của Hoa Kỳ và ngay lập tức leo lên đứng vị trí số 2 top phim ăn khách nhất trong tuần công chiếu đầu tiên. "I stepped into the martial arts movie market when I was only 16. I think I have proved my ability in this field and it won't make sense for me to continue for another five or 10 years. Huo Yuanjia is a conclusion to my life as a martial arts star." Tạm dịch: Tôi bước vào thị trường phim võ thuật này từ khi mới 16 tuổi. Cho tới giờ tôi nghĩ mình đã chứng tỏ đủ khả năng trên lĩnh vực này và chẳng còn chút gì hứng khởi cho tôi tiếp tục chặng đường này trong năm hay mười năm sắp tới nữa. Hoắc Nguyên Giáp là cái kết của cuộc đời tôi với tư cách là một ngôi sao võ thuật. Bộ phim Hollywood năm 2007 của Lý Liên Kiệt, "Cuộc chiến khốc liệt" (tựa đề tiếng Anh: "War"), được công chiếu vào tháng 8 năm đó chính là sự tái ngộ của ông với nam diễn viên Jason Statham, trước kia từng đóng cặp với ông trong "The One". Đáng tiếc "War" chỉ thu được 23 triệu đô trên màn ảnh, trở thành một trong những phim có doanh thu thấp nhất của Lý tại thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên phim lại tạo ra một cú hit trong lĩnh vực video, thu được gần 52 triệu đô la tổng tiền thuê, tức là gấp đôi so với khi công chiếu trên màn ảnh. Ngoại trừ "Romeo phải chết" và "Anh Hùng", những bộ phim của Lý Liên Kiệt thường chỉ đạt những thành công khiêm tốn tại Hoa Kỳ như "Nụ hôn của rồng", "The One", "Unleashed", "Cradle 2 the Grave", và cả phim "Hoắc Nguyên Giáp". Cuối năm 2007, Lý Liên Kiệt trở lại Trung Quốc tham gia một bộ phim chiến tranh do Hồng Kông - Trung Quốc hợp tác sản xuất "Đầu danh Trạng" cùng Lưu Đức Hoa và Kim Thành Vũ. Bộ phim đã thành công vang dội về mặt doanh thu và đưa ông lên bục nhận giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất của lễ trao giải phim Hồng Kông (Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông). Lý Liên Kiệt và đàn anh của mình - diễn viên hài võ thuật Thành Long lần đầu cùng góp mặt trên màn ảnh qua bộ phim "Vua Kung Fu"; phim được khởi quay từ tháng 7 năm 2007 và lần đầu công chiếu vào 18 tháng 4 năm 2008 đã gặt hái thành công lớn về doanh thu. Phim dựa trên truyền thuyết về Tề Thiên đại thánh Tôn Ngộ Không từ một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc - Tây du ký. Ngoài ra Lý Liên Kiệt còn tham gia đóng vai phản diện Tần Thủy Hoàng trong bộ phim hành động giả tưởng "" cùng nam diễn viên Brendan Fraser và Dương Tử Quỳnh, cùng một vai nhỏ trong bộ phim "Kiến quốc đại nghiệp". Năm 2010, lần đầu tiên Lý Liên Kiệt thử sức với thể loại tâm lý với bộ phim "Hải dương thiên đường". Bộ phim được xây dựng dựa trên một câu chuyện có thật, kể về một người đàn ông sắp chết (Lý Liên Kiệt đóng) đã kiên cường giúp cậu con trai mắc chứng tự kỷ chiến đấu chống lại bệnh tật. Đây là bộ phim đầu tiên không thuộc thể loại hành động trong suốt 25 năm sự nghiệp điện ảnh của ông, Lý Liên Kiệt cho biết ông đã hoàn toàn bị kịch bản phim thu hút bởi tính nhân văn và những bài học sâu sắc mà bộ phim chuyển tải. Lý Liên Kiệt ra mắt hai bộ phim võ thuật trong năm 2011 là "Truyền thuyết Bạch Xà" cùng với "Tân Long Môn khách sạn" do Từ Khắc làm đạo diễn, làm lại từ bộ phim cùng tên do chính ông đóng vai trò sản xuất năm 1992. Lý Liên Kiệt trở lại diễn xuất ở Hollywood trong bộ phim "The Expendables" (tựa đề tiếng Việt: Biệt đội đánh thuê), một bộ phim hành động quy tụ một dàn diễn viên nổi tiếng, gồm những siêu sao hành động như Sylvester Stallone, Jason Statham, Dolph Lundgren, Steve Austin, Terry Crews, Mickey R"Kẻ hủy diệt" Arnold Schwarzenegger cũng góp một vai nhỏ trong phim. Sau đó Lý tiếp tục tham gia vào phần 2 và 3 của phim vào năm 2012 và 2014. Hai năm trở lại đây, sự nghiệp diễn xuất của Lý Liên Kiệt gặp trục trặc vì phải đối mặt với căn bệnh cường tuyến giáp. Sức khoẻ nam diễn viên đã giảm sút nghiêm trọng, Lý Liên Kiệt có thể không thể nhận vai diễn vì bệnh tật bắt buộc ông không được vận động mạnh. "Tôi không phải Hoắc Nguyên Giáp, không phải Hoàng Phi Hồng, càng không phải anh hùng, tôi cũng như các bạn, chỉ là một người bình thường, cũng phải đối mặt với nỗi lo rằng một ngày nào đó không thể tiếp tục công việc được nữa" - nam diễn viên chia sẻ trong một buổi gặp gỡ báo chí gần đây. Lý Liên Kiệt ban đầu đã được xác định để cùng xuất hiện với Vin Diesel trong bộ phim . Tuy nhiên đến phút chót ông lại phải rời dự án do gặp vấn đề về sức khỏe và vai diễn sau đó đã được thay thế bởi Chân Tử Đan. Vai diễn mới nhất của Lý Liên Kiệt là vai Khương Tử Nha trong phim "Phong Thần Bảng" ra mắt vào tháng 7 năm 2016. Một năm sau, ông ấy quay về Mỹ để đóng vai một bộ phim hành động mới cùng với một số diễn viên. "Xoay quanh bộ phim này có một số điều chỉnh cụ thể từ các pha hành động theo dạng tự do của các nhân vật phụ theo khuynh hướng trực diện" (Bộ phim "Cha tôi là anh hùng"). Dựa theo các loại mô phỏng bằng vật dụng tự chế, ông được xem là nhân vật chính hay nhất trong bộ phim. Năm 2018 Lý Liên Kiệt đã trở lại màn ảnh với vai diễn mới trong dự án phim “Hoa Mộc Lan” (Mulan) do Disney đầu tư chính sản xuất. Đây là lần tái ngộ tiếp theo trên màn ảnh giữa Lý Liên Kiệt và Chân Tử Đan. Sáng lập Công Thủ Đạo. Tối ngày 15 tháng 11 năm 2017, buổi giới thiệu Công thủ đạo tổ chức tại Bắc Kinh với sự có mặt của Jack Ma, Lý Liên Kiệt, Ngô Kinh, Văn Chương, Phó chủ tịch Liên hiệp võ thuật quốc tế Ngô Đình Quý, Phó chủ tịch võ thuật Trung Quốc Ngô Bân. Lý Liên Kiệt và Jack Ma mang đến buổi quảng bá và giới thệu Công thủ đạo tốn kém với hiệu ứng kỹ xảo cầu kỳ. Phim với sự tham gia hợp tác của 11 ngôi sao võ thuật hàng đầu hiện thu hút hơn 150 triệu lượt người xem trên Youku.m này so với những người khác. “Công thủ đạo không chỉ là một bộ phim, đây còn là trận đấu lớn. Câu chuyện lấy cảm hứng từ võ thuật truyền thống, tạo ra thế võ mới” - Lý Liên Kiệt chia sẻ. Theo Nhân dân Nhật báo, với tuyên bố từ Lý Liên Kiệt, ngày 15 tháng 11 đã chính thức khép lại câu chuyện về vở kịch mang tên “siêu phẩm màn ảnh Công thủ đạo”, đánh dấu sự ra đời của môn võ Công thủ đạo. Lý Liên Kiệt hiện đang theo đuổi tư tưởng Phật giáo Tây Tạng của thiền sư Lho Kunsang dòng Drikung Kagyu tại tu viện thuộc Ca-nhĩ-cư phái. Năm 1987, Lý Liên Kiệt lấy Hoàng Thu Yến (Huang Qiuyan-黄秋燕), đồng diễn viên phim "Thiếu Lâm Tự 2: Thiếu Lâm tiểu tử", thành viên đội tuyển Wushu Bắc Kinh và có với bà hai con gái; họ chia tay năm 1990. Năm 1999, Lý Liên Kiệt tái hôn với Lợi Trí (""), nữ diễn viên Hồng Kông gốc Thượng Hải. Họ có với nhau hai con gái: Jane (sinh năm 2000) và Jada (sinh năm 2002). Năm 2004, khi cơn sóng thần Á châu nổi lên càn quét thì Lý Liên Kiệt đang ở Maldives và chỉ bị thương nhẹ bởi một mảnh gỗ thuyền trong khi đang bảo vệ con gái 4 tuổi Jane, mặc dù có những lời đồn rằng ông đã bị thiệt mạng. Khi đó, hai bố con đang bơi trong một bể bơi gần bờ biển thì cơn sóng ập tới. Năm 2009, Lý Liên Kiệt - lúc đó đã chính thức nhập quốc tịch Hoa Kỳ sau một thời gian dài hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thứ bảy tại đây; quyết định nhập tịch Singapore. Ngày 28 tháng 7 năm 2009, chủ tịch Quỹ tài trợ Hiệp hội Chữ thập đỏ Trung Quốc "" (một quỹ từ thiện của Lý) tuyên bố rằng Lý chính thức là công dân Singapore; mục đích của Lý vì sự nghiệp giáo dục của hai cô con gái. Lý là người gia nhập quốc tịch Singapore tiếp theo tấm gương của nữ minh tinh Hoa ngữ Củng Lợi.
Thái uý (chữ Hán: 太尉, hay "thái úy") là một chức quan võ cao cấp trong quân đội một số triều đại phong kiến của Trung Quốc và Việt Nam. Chức vị này vốn có nguồn gốc từ thời nhà Tần, đứng sau chức Đại lương tạo. Thời Tần và tiền Hán, chức "Thái úy" là một trong tam công và đứng đầu các võ quan, bên cạnh "Thừa tướng" và "Ngự sử đại phu" (御史大夫). Theo Sử ký và Hán thư, khác với chức Thừa tướng, Thái úy không phải là chức quan lúc nào cũng được đặt ra. Tuy nhiên từ thời Hán Vũ Đế do chiến tranh liên miên với quân Hung nô, Thái úy trở thành một chức quan thường xuyên, và được đổi thành Đại tư mã. Chức này gia tặng thêm "Đại tướng quân" hoặc "Phiêu Kị tướng quân". Sang thời Đông Hán, chức này lại tiếp tục cải lại, trở thành một chức riêng biệt và cụ thể, cùng với Tư không và Tư đồ gọi là "Tam công". Chức này đến trước thời nhà Minh thì bị bãi bỏ. Thời Tây Hán, hai cha con Chu Bột (có công trấn áp loạn Lã hậu) và Chu Á Phu (có công trấn áp loạn 7 nước Ngô Sở) đều làm đến Thái úy. Thời Tam quốc, Tư Mã Ý Tào Ngụy giữ chức thái úy khi đem quân chinh phạt Công Tôn Uyên ở Liêu Đông. Ở Việt Nam, chức quan này được lần đầu tiên đặt ra từ thời Tiền Lê, Lê Hoàn phong cho Phạm Cự Lạng chức vị "Thái úy" vì có công lao to lớn trong việc giúp Hoàng đế lên ngôi. Thời nhà Lý, triều đình đặt thêm "Phụ quốc Thái úy", tương đương Tể tướng để giúp đỡ các Hoàng đế, đặc biệt là Lý Thường Kiệt khi giúp đỡ Lý Nhân Tông, Đỗ Anh Vũ khi giúp đỡ Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành khi giúp đỡ Lý Cao Tông. Sang thời nhà Trần, Thái úy là chức gia thêm cho các thân vương trong tôn thất. Thời Hậu Lê, đời Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471), phẩm trật của Thái úy là Chánh nhất phẩm, có Nguyễn Xí, Trịnh Khả là những Thái úy tiếng tăm nhất. Từ năm 1578, đời Lê Thế Tông, Thái úy chỉ là chức gia thêm cho võ tướng và thân thần. Sang thời nhà Nguyễn, chức vị này bị bãi bỏ hoàn toàn.
Mạc Hiển Tích (chữ Hán: 莫顯績 1060—1189) là người đỗ đầu tại khoa thi năm Quảng Hựu thứ 2 (Bính Dần, 1086) thời vua Lý Nhân Tông. Quê ông ở làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Sau khi thi đỗ ông được bổ làm Hàn lâm học sĩ rồi thăng lên đến Thượng thư. Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi là cháu 5 đời của ông. Đại Việt sử lược chép rằng: "Năm Kỷ Dậu [năm 1189 - ND] là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ , Đô quan lang trung là Lê Năng Trường xét xử về cái vụ tranh tụng quan Thiếu sư là Mạc Hiển Tích. Bọn Lê Năng Trường sợ Mạc Hiển Tích nên không dám tìm tòi tra xét. Người trong nước cười giễu rằng: Ngô phụ quốc là Lan, Lê đô quan là Kích. Xét xử một vụ kiện tụng Mạc Hiển Tích mà chỉ bàn loanh quanh rồi thôi. Lúc bấy giờ vua thì còn nhỏ tuổi, Mạc Hiển Tích lại tư thông với bà Thái hậu. Cho nên đương thời bấy giờ người ta sợ Hiển Tích là như vậy. Lan, Kích là tên hai người cuồ" Điều này xem ra đáng ngờ do ông đỗ thủ khoa năm 1086 theo như Đại Việt Sử ký Toàn thư đã chép. Nếu ông đỗ khi khoảng 20 tuổi thì từ 1086 tới 1189 đã trên 103 năm, nghĩa là ông phải cỡ 120 tuổi, khó có thể còn cường tráng để "tư thông với Thái hậu".
Cooper's Hill Cheese-Rolling and Wake Lễ hội lăn phomat (Cheese rolling festival) là một trong những lễ hội “điên khùng” nhất thế giới và khiến bất kì ai tham dự cũng không thể quên. Lễ hội có từ thế kỉ 15 và diễn ra thường niên ở đồi Cooper (Anh) vào dịp Bank Holiday mùa xuân (thứ hai cuối cùng của tháng 5). Hình thức lễ hội là biến tấu từ nghi thức thả cho các vật lăn xuống từ đỉnh đồi như bụi cây đang cháy, bánh kẹo để chào đón năm mới và cầu cho mùa màng tốt tươi từ xa xưa. Cách thức chơi rất đơn giản. Một tảng phô mai Gloucester (một loại phô mai cứng có hình dạng như bánh xe, nặng khoảng 3–4 kg) được bọc trong vỏ gỗ, trang trí bằng ruy băng tròn khổng lồ được thả lăn xuống chân đồi dốc, người chơi đuổi theo được miếng phô mai sẽ là người thắng cuộc. Tưởng chừng như dễ ăn, nhưng bạn có biết vận tốc của miếng phô mai có thể đạt đến 112 km/h không? Vì thế để giành chiến thắng, bạn sẽ phải chạy thục mạng cùng với nhiều người khác từ trên một ngọn đồi rất dốc để nhặt được nó. Theo quy định của sự kiện này, có khoảng 20 người tham gia. Để đảm bảo an toàn cho người chơi, nhiều năm nay BTC đã thay thế miếng phô mai bằng miếng bọt biển để làm giảm tốc độ lăn. Dù bị trượt ngã, lăn dài trên các vũng bùn đất khi mãi chạy theo những miếng phô mai này, nhưng những người tham gia vẫn rất hào hứng. Giải thưởng cho người thắng cuộc là miếng phô mai nặng 3–4 kg. Lễ hội nổi tiếng với những âm thanh náo động, những tiếng hút sáo và cả những tai nạn nhỏ do chạy quá nhanh từ đỉnh đồi dốc 200 mét. Nhiều lần, cảnh sát khu vực đã cảnh cáo ban tổ chức lễ hội vì sự ồn ào do những người tham gia gây ra nhưng bất thành, lễ hội vẫn được tổ chức đều đặn hàng năm. Bên cạnh sự nguy hiểm đến từ vụ va chạm, những người tham gia cũng khó tránh khỏi các tai nạn chí mạng khác khi lăn từ trên dốc xuống như gãy xương, trật đốt sống cổ, … Cảnh sát ở Anh đã từng muốn cấm việc tổ chức sự kiện này song những người tham gia đã từ chối và tiếp tục tổ chức nó vào ngày 28 tháng 5 thường niên. Mặc dù do phải lăn lộn theo, nhiều người bị thương nhưng hầu hết mọi người đều cảm thấy vui vẻ.
Hollywood là một khu của thành phố Los Angeles, California, Hoa Kỳ, nằm về phía tây bắc của thành phố này. Được biết đến như một trung tâm lịch sử điện ảnh, Hollywood đại diện cho ngành giải trí và điện ảnh của Hoa Kỳ. Ngày nay, những ngành phục vụ cho công nghiệp điện ảnh của nước này cũng được mở rộng ra những vùng lân cận như Burbank và Westside, nhưng những ngành quan trọng như biên tập, kỹ xảo, hậu sản xuất và ánh sáng trong phim ảnh vẫn được duy trì tại Hollywood. Trong thập niên 1880, Henderson Wilcox, một người Mỹ ở Kansas bị liệt hai chân do một cơn sốt thương hàn, đã cùng với vợ mình là bà Daeida quyết định chuyển nhà từ Topeka đến Los Angeles. Vào năm 1886, Wilcox mua 0,6 km² đất ở vùng nông thôn phía tây thành phố trên dãy núi Passe de Cahuenga. Chính Daeida Wilcox là người đã chọn tên cho vùng đất mà họ sở hữu, Hollywood. Cái tên mà bà tham khảo từ một vùng đất của những người di dân Đức mà bà từng có dịp đến thăm ở Ohio trong chuyến đi xuyên miền Đông. Cách phát âm của cái tên làm bà hài lòng và bà còn gọi đó là "the ranch". Một thời gian sau, Harvey Wilcox bắt tay vào vẽ bản đồ của thành phố và nhận được sự phê chuẩn của chính quyền vào ngày 1 tháng 2 năm 1887. Đây cũng là lần đầu tiên cái tên Hollywood xuất hiện một cách chính thức. Cùng với vợ mình cũng là người cố vấn, Harvey Wilcox đã vẽ nên Prospect Avenue (ngày nay là Hollywood Boulevard) như con đường chính của thành phố. Và cũng bắt đầu tiến hành bán đất theo lô. Cũng trong thời gian này Daeida đã cho lấp các vực nước sâu trong thành phố để xây dựng hai nhà thờ, một trường học và một thư viện. Những người nhà Wilcox cũng đã mang đến một số cây nhựa ruồi Anh ("English holly") để trồng nhằm tạo sự hợp lý cho tên của thành phố nhưng do khác biệt khí hậu mà giống cây này đã không thể nào sống được và dự án này đành bở dở. Vào năm 1900, Hollywood đã có thêm một bưu điện, tờ báo của riêng mình, một khách sạn và hai chợ nhằm phục vụ cho một cộng đồng gần 500 người. Los Angeles, trong thời gian này có dân số khoảng 100.000 người nằm cách Hollywood 11 km về phía Đông. Và hai thành phố này bị chia cắt bởi những cultures d'agrumes. Chỉ có một đường tàu điện duy nhất đi từ Prospect Avenue đến Los Angeles nhưng sự phục vụ lại không ổn định và kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ. Chính tình hình này dẫn đến nhiều sự chuyển đổi theo hướng tốt đẹp hơn về sau. Năm 1902, chứng kiến sự ra đời của khách sạn nổi tiếng Hollywood Hotel ở cạnh phía Tây Highland Avenue và đối diện Prospect Avenue. Con đường này vào lúc này rất dơ bẩn và không có cả gạch lát nhưng về sau đã cải thiện để xe cộ có thể di chuyển được. Vào những năm tiếp theo dân số thành phố ngày càng đông hơn. Vào năm 1904, cùng với sự xuất hiện của đường tàu điện mới đã cải thiện đáng kể thời gian di chuyển từ Los Angeles đến Hollywood. Và cũng chính trong lúc này cái tên "the Hollywood Boulevard" đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành phổ biến để chỉ Prospect Avenue và đoạn nối liền ở Los Angeles. Và vào năm 1910, các uỷ viên của hội đồng thành phố đã bỏ phiếu cho việc sáp nhập Hollywood vào Los Angeles với mục đích chính là có thể tận dụng sự tiếp tế nước sạch cho thành phố. Chính việc này dẫn đến việc hình thành hệ thống dẫn nước Los Angeles. Và một trong những nguyên nhân khác của việc bỏ phiếu là để tiến tới tiếp xúc với hệ thống cống ngầm của Los Angeles. Chính việc sáp nhập này đã làm Prospect Avenue được đổi tên thành Hollywood Boulevard và hàng loạt nhà cũng phải thay đổi số theo.
Sơn Dương là một huyện miền núi thuộc tỉnh Tuyên Quang, Việt Nam. Huyện Sơn Dương nằm ở phía nam của tỉnh Tuyên Quang, huyện lỵ của huyện là thị trấn Sơn Dương, nằm cách thành phố Tuyên Quang khoảng 30 km về phía nam, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 103 km về phía bắc, có vị trí địa lý: Huyện Sơn Dương diện tích 790,62 km², dân số là 182.030 người. Điểm cao nhất của huyện Sơn Dương là núi Lịch với độ cao gần 1km. Huyện Sơn Dương có 31 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Sơn Dương (huyện lỵ) và 30 xã: Bình Yên, Cấp Tiến, Chi Thiết, Đại Phú, Đông Lợi, Đồng Quý, Đông Thọ, Hào Phú, Hồng Lạc, Hợp Hòa, Hợp Thành, Kháng Nhật, Lương Thiện, Minh Thanh, Ninh Lai, Phú Lương, Phúc Ứng, Quyết Thắng, Sơn Nam, Tam Đa, Tân Thanh, Tân Trào, Thiện Kế, Thương Ấm, Trung Yên, Trường Sinh, Tú Thịnh, Văn Phú, Vân Sơn, Vĩnh Lợi. Trải qua các thời kỳ lịch sử, huyện Sơn Dương có nhiều thay đổi về địa giới, hành chính. Khi nhà nước Văn Lang ra đời, Sơn Dương thuộc bộ Văn Lang. Dưới chế độ Bắc thuộc, Sơn Dương trực thuộc các phủ, quận do thống trị phương Bắc lập ra. Huyện Sơn Dương ngày nay được sáp nhập từ hai huyện: Để Giang và Đăng Đạo. Cả hai huyện từ thời Lý - Trần - Lê Sơ đến trước năm 1833, thuộc phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây. Huyện Sơn Dương, đời Trần gọi là huyện Đáy Giang thuộc lộ Quốc Oai. Thời thuộc Minh gọi là huyện Để Giang (để là đáy, giang là sông). Đến thời Lê, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) sáp nhập vào phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây. Đến thời Lê Trung Hưng đổi tên thành huyện Sơn Dương, bao gồm có 9 tổng: Ất Sơn, Yên Lịch, Lương Viên, Đồng Chương, Linh Xuyên, Mẫn Hóa, Hội Kế, Hữu Vu, Gia Mông (Từ xã Tuân Lộ ngày nay đến hết các xã hạ huyện Sơn Dương). Huyện Đăng Đạo thời thuộc Minh là huyện Đương Đạo, phủ Tuyên Hóa. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) nhập vào phủ Đoan Hùng. Năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) đổi tên thành huyện Đăng Đạo, phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây. Gồm 7 tổng: Kim Quan Thượng, Khang Lực, Tứ Lân, Phượng Liễn, Hồng La, Bắc Hoàng, Đồng Liêu (từ xã Phúc Ứng ngày nay đến các xã thượng huyện Sơn Dương và một số xã của huyện Yên Sơn). Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) sáp nhập huyện Đăng Đạo vào huyện Sơn Dương. Ngày 18 tháng 4 năm 1888, Thống sứ Bắc Kỳ tách huyện Sơn Dương ra khỏi tỉnh Sơn Tây nhập vào tỉnh Tuyên Quang, (tỉnh Tuyên Quang được thành lập năm 1831). Năm 1891, tỉnh Tuyên Quang bị xóa bỏ, các đơn vị hành chính của tỉnh Tuyên Quang được chia vào đạo quan binh 2 và đạo quan binh 3. Năm 1900, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, Sơn Dương dưới quyền quản lý nhà nước trực tiếp của tỉnh Tuyên Quang. Ngày 10 tháng 3 năm 1945, cuộc khởi nghĩa ở đình Thanh La (xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương ngày nay), tiến đánh giải phóng đồn Đăng châu, thành lập Châu Tự Do, bao gồm các xã vùng thượng huyện Sơn Dương; các xã vùng hạ huyện Sơn Dương gọi là châu Kháng Địch. Năm 1946, châu Tự Do và châu Kháng Địch sáp nhập lại thành huyện Sơn Dương. Năm 1976, Tuyên Quang và Hà Giang được sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên. Sơn Dương trở thành một trong những huyện trọng điểm kinh tế của Hà Tuyên. Năm 1991, Hà Tuyên được chia thành hai tỉnh: Tuyên Quang và Hà Giang, Sơn Dương là đơn vị hành chính thuộc Tuyên Quang, bao gồm thị trấn nông trường Tân Trào và 33 xã: Bình Yên, Cấp Tiến, Chi Thiết, Đại Phú, Đông Lợi, Đồng Quý, Đông Thọ, Hào Phú, Hồng Lạc, Hợp Hòa, Hợp Thành, Kháng Nhật, Kỳ Lâm, Lâm Xuyên, Lương Thiện, Minh Thanh, Ninh Lai, Phú Lương, Phúc Ứng, Quyết Thắng, Sơn Nam, Tam Đa, Tân Trào, Thanh Phát, Thiện Kế, Thương Ấm, Trung Yên, Trường Sinh, Tú Thịnh, Tuân Lộ, Văn Phú, Vân Sơn, Vĩnh Lợi. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, thành lập thị trấn Sơn Dương, thị trấn huyện lỵ huyện Sơn Dương trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Kỳ Lâm. Ngày 15 tháng 7 năm 1999, giải thể thị trấn nông trường Tân Trào. Dân cư thuộc thị trấn nông trường hiện đang sinh sống trên địa bàn các xã Minh Thanh, Tú Thịnh, Phúc Ứng, Bình Yên, Thượng Ấm, Tân Trào và thị trấn Sơn Dương được giao về các xã và thị trấn nói trên quản lý. Ngày 1 tháng 1 năm 2020, sáp nhập 2 xã: Tuân Lộ và Thanh Phát thành xã Tân Thanh, sáp nhập 2 xã: Sầm Dương và Lâm Xuyên thành xã Trường Sinh. Huyện Sơn Dương có 1 thị trấn và 30 xã như hiện nay. Chủ yếu thu nhập của người dân quanh đây là trồng cây công nghiệp ngắn ngày (trồng mía phục vụ nhà máy đường sơn dương) và một phần trồng cây công nghiệp (trồng rừng). Huyện có di tích lịch sử là chiến khu Tân Trào. Tân Trào cũng là tên của một nông trường chè và một nhà máy chế biến chè của huyện. Đình Tân Trào: Một ngôi đền nhỏ thờ thần sông, núi của làng Tân Lập. Đình được dựng vào năm Quý Hợi (1923) theo kiểu nhà sàn cột gỗ, ba gian, hai chái, mái nhà lợp lá cọ, sàn lát ván.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Xe đạp là một loại phương tiện đơn hoặc đôi chạy bằng sức người hoặc gắn thêm động cơ trợ lực,điều khiển bằng bàn đạp,có hai bánh xe được gắn vào khung,một bánh trước dùng để điều hướng và một bánh sau để dẫn động. Xe đạp xuất hiện lần đầu vào thế kỷ XIX ở Châu Âu. Trong thời gian ngắn chỉ hơn 200 năm mà sang đầu thế kỷ 21 thị trường thế giới đã dung nạp và sử dụng hơn 1 tỷ chiếc xe đạp. Con số này vượt xa số lượng xe ô tô, cả về tổng số và số lượng kiểu xe. Xe đạp là phương tiện giao thông chính ở nhiều nơi trên thế giới. Đồng thời xe đạp cũng là một môn thể thao và giải trí như môn đua xe đạp; đối với trẻ con xe đạp là một món đồ chơi trong khi người lớn dùng xe đạp như dụng cụ rèn luyện thân thể. Giới hữu chức cũng dùng xe đạp trong quân đội và cảnh sát. Vì tiện lợi nên xe đạp có mặt trong ngành dịch vụ chuyển phát nhanh. Hình dạng và cấu hình cơ bản của một chiếc "xe đạp an toàn" điển hình đã thay đổi rất ít kể từ lần đầu được phát triển vào khoảng năm 1885. Tuy nhiên, nhiều chi tiết đã được cải thiện, đặc biệt là từ sự ra đời của vật liệu hiện đại và thiết kế dựa trên hỗ trợ của máy tính. Chính những điều này đã cho phép phổ biến các thiết kế chuyên dụng của nhiều loại xe đạp. Phát minh ra xe đạp đã có một tác động to lớn đối với xã hội, cả về văn hóa và tiến bộ các phương pháp công nghiệp hiện đại. Một số bộ phận cấu tạo cũng đóng vai trò quan trọng cho phát triển của ô tô ban đầu được phát minh để sử dụng cho xe đạp, bao gồm vòng bi, lốp khí nén, bánh xích điều khiển bằng xích và nan hoa của bánh xe. Từ "xe đạp" lần đầu xuất hiện trong văn bản tiếng Anh vào năm 1868, được sử dụng trong báo "The Daily News" để miêu tả "Bysicles và trysicles" trên "Champs Elysées và Bois de Boulogne". Nó đã xuất hiện lần đầu vào năm 1847 trong một ấn phẩm tiếng Pháp để mô tả một phương tiện hai bánh không rõ danh tính, có thể là một chiếc xe ngựa. Thiết kế của chiếc xe đạp đã tiến xa hơn so với xe đạp đầu tiên, dù hai thuật ngữ này đã được sử dụng một cách trùng hợp trong một khoảng thời gian. Còn có những từ khác để chỉ "xe đạp" như "bike", "xe đạp đạp bằng chân", "xe đạp chân", hoặc "cycle". Trong Unicode, mã ký tự cho "xe đạp" là 0x1F6B2. Ký tự số thập lục phân codice_1 trong HTML tạo ra biểu tượng 🚲. Mặc dù "bike" và "cycle" thường được sử dụng hoán đổi để chỉ hai loại xe hai bánh, những thuật ngữ này vẫn có sự biến đổi theo vùng miền trên toàn thế giới. Ví dụ, ở Ấn Độ, "xe đạp" chỉ đề cập đến phương tiện hai bánh sử dụng sức đạp chân, trong khi thuật ngữ "bike" được sử dụng để mô tả một phương tiện hai bánh sử dụng động cơ đốt trong hoặc động cơ điện làm nguồn động cơ thay vì xe máy. Trước đây người ta cho rằng xe đạp được sáng chế bởi bá tước Sivrac vào năm 1790, với cái tên Célérifère(célérité có nghĩa là nhanh). Nó là một cái máy bằng gỗ, không có bánh xe để lái; việc chuyển hướng đòi hỏi phải lắc mạnh phần trước của xe. Ngày nay các sử gia về kỹ thuật cho rằng không có chiếc xe nào tên làCélérifère cũng như bá tước Sivrac, đó chỉ là những hình ảnh sai vì xe đạp không tay lái rất khó điều khiển. Célérifère đồ chơi thì có thể có, nhưng không thể chạy nó trong thực tiễn. Năm 1817, nam tước người Đức là Baron Karl von Drais đã phát minh ra chiếc xe mang tên ông gọi là Draisienne ("xe của Drais") được xem là tổ tiên của xe đạp. Drais đã giới thiệu mô hình xe này cho công chúng tại Mannheim vào mùa hè 1817 và tại Paris năm 1818. Người lái ngồi dạng chân trên một khung gỗ được hỗ trợ bởi hai bánh xe và đẩy chiếc xe bằng hai chân của mình trong khi chỉnh hướng bằng bánh xe phía trước. Sáng kiến lắp thêm bàn đạp cho bánh trước được cho là thuộc về hai anh em Ernest Michaux và Pierre Michaux, thợ đóng xe ở Paris. Vào năm 1865, khi phải sửa chữa một cái Draisienne, họ đã lắp cho nó một chỗ để chân, mô phỏng tay quay trong máy quay tay của họ. Tuy nhiên, trước đó, vào năm 1849, có thể một thợ cơ khí Đức là Heinrich Fischer đã sáng chế ra pê đan trước hai anh em Michaux. Pêđan ở bánh trước khiến cho bánh trước có kích thước lớn (lớn hơn bánh sau) để tăng quãng đường đi trong mỗi vòng đạp. Cải tiến này đã mang lại tên gọi mới cho thiết bị, "bicycle" ("xe đạp"). Một số phát minh sau này đã sử dụng ổ đĩa phía sau bánh xe, nổi tiếng nhất là xe đạp sử dụng các thanh điều khiển của Thomas McCall, người Scotland năm 1869. Cũng trong năm đó, xe đạp có bánh xe với nan hoa của Eugène Meyer, người Paris, đã được cấp bằng sáng chế. "Vélocipède"(tiếng Pháp), chiếc xe đạp làm bằng sắt và gỗ, phát triển thành xe "penny-farthing" (trong lịch sử cơ khí được coi là "chiếc xe đạp bình thường"). Nó bao gồm một khung thép hình ống trên đó có gắn bánh xe có nan hoa với lốp cao su rắn. Những chiếc xe đạp này rất khó đi do chỗ ngồi cao và phân bố trọng lượng không tốt. Năm 1868 Rowley Turner, một đại lý bán hàng của Công ty máy khâu Coventry (mà nhanh chóng trở thành Công ty Coventry Machinist), mang một chiếc xe đạp của Michaux tới Coventry, Anh. Chú của ông, Josiah Turner, và đối tác kinh doanh James Starley, sử dụng chiếc xe đạp này để sản xuất xe đạp nhãn hiệu 'Coventry Model', và công ty trở thành nhà máy sản xuất xe đạp đầu tiên của Anh. "Xe đạp" vốn được làm bằng gỗ. Từ năm 1869 các xe đạp này đã được làm bằng thép. Năm 1879, một người Anh là Lawson đã sáng chế xích để truyền động cho bánh sau. Sáng chế này kèm theo các cải tiến ở khung, đùi, đĩa, pêđan, hệ tay lái và phuộc. Năm 1885, J.K. Sartley cho bánh trước có cùng đường kính với bánh sau và làm cái khung bằng ống thép. Năm 1887, John Boyd Dunlop, một nhà sáng chế Scotland, tiếp tục cải tiến bánh xe với việc dùng ống hơi bằng cao su, do bánh xe lúc trước còn rất xóc. Năm 1890, Roberton ở Anh và Édouard Michelin ở Pháp làm cho bánh có thể tháo lắp được. Năm 1920, do xe quá nặng nên người ta đã đổi thành ruột rỗng cho xe nhẹ hơn, chất liệu của xe thì được đổi thành hợp kim. Năm 1973 xe địa hình được chế tạo ở California. Trước khi ô tô trở nên phổ biến, xe đạp và xe ngựa là hai phương tiện chính để di chuyển cá nhân. Việc xây dựng đường bằng vào cuối thế kỷ 19 được thúc đẩy bởi sự quảng cáo rộng rãi, sản xuất và sử dụng phổ biến của hai loại phương tiện này. Vào đầu thế kỷ 21, đã có hơn 1 tỷ chiếc xe đạp được sản xuất trên toàn thế giới. Xe đạp là phương tiện phổ biến nhất trên thế giới và mẫu xe đạp phổ biến nhất, dù hoạt động bằng sức người hoặc động cơ phương tiện giao thông, là chiếc Flying Pigeon Trung Quốc, với số lượng vượt quá 500 triệu chiếc. Phương tiện thứ hai về số lượng nhiều nhất là chiếc xe máy Honda Super Cub, có hơn 100 triệu chiếc được sản xuất, trong khi ô tô được sản xuất nhiều nhất, chiếc Toyota Corolla, đã đạt hơn 44 triệu đơn vị và còn tiếp tục tăng. Có thể nói từ khi ra đời tới nay, chiếc xe đạp đã được con người cải tiến rất nhiều về cấu tạo cũng như những tính năng của nó. Từ những chiếc xe đạp đầu tiên chỉ phục vụ mục đích đi lại là chính, thì ngày nay chiếc xe đạp không những phục vụ đi lại, mà nó còn là một phương tiện thi đấu thể thao, giải trí... So với thiết kế sơ khai cách đây hơn 200 năm, thì chiếc xe đạp ngày nay đã có sự thay đổi rõ rệt về cấu tạo. Chiếc xe đạp đầu tiên của loài người có cấu tạo khá đơn giản, chỉ gồm có hai chiếc bánh xe và khung xe; toàn bộ đều được làm bằng gỗ. Ngày nay, xe đạp tuy rằng có rất nhiều kiểu dáng khác nhau, được sử dụng với những mục đích khác nhau nhưng chúng vẫn có một số điểm chung về cấu tạo và nguyên lý truyền động. Phân chia theo công dụng thì xe đạp bao gồm những bộ phận chính sau: a. Hệ thống truyền lực gồm: Bàn đạp (pê-đan) (1), đùi, trục giữa (2), đĩa (3), xích (4), líp (5). Líp xe đạp nhận truyền động từ xích và chuyển đến bánh sau của xe, làm bánh xe quay và chỉ quay theo chiều thuận. Nhờ có líp, người đi xe không cần đạp bàn đạp liên tục mà bánh xe vẫn chuyển động về phía trước theo quán tính. Líp gồm hai bộ phận chính là: vành và cốt: Vành líp (1) có răng ở phía ngoài và trong. Răng ngoài để ăn khớp với xích, răng trong có dạng răng cưa nghiêng về một phía ăn khớp với cá líp (2) là một lưỡi thép nhỏ. Cốt líp (3) có hai rãnh để đặt hai cá líp, trong mỗi rãnh có một lò xo nhỏ hoặc một cái lẫy làm bằng sợi thép nhỏ có tính đàn hồi (gọi là râu tôm) luôn tì vào cá. Cốt líp lắp chặt với moay-ơ bánh sau bằng ren. Bình thường, đầu nhọn của cá líp quay theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ) nhờ bộ phận truyền động xích. Trong khi đó, lò xo đẩy cá líp lên làm răng trong vành líp mắc vào cá líp kéo cốt líp quay theo cùng chiều với vành của líp, làm bánh xe quay theo. Khi đang đi xe, nếu ta không đạp bàn đạp, vành líp không quay, theo quán tính bánh xe vẫn lăn về phía trước, cốt líp cùng cá líp quay theo chiều kim đồng hồ, khi quay cá líp trượt trên răng trong của vành líp, ép lò xo xuống, đồng thời phát ra tiếng kêu "tạch tạch". Khi xe đang đứng yên, nếu ta quay đùi đĩa theo chiều ngược chiều kim đồng hồ làm răng trong trượt lên cá líp nên cốt líp không quay được, do đó bánh xe không quay. Bởi vậy líp được gọi là khớp quay một chiều. b. Hệ thống chuyển động: Bánh xe (trước và sau) (6). Bánh xe gồm: trục, moay-ơ, nam hoa, vành, săm, lốp. - Trục được làm bằng thép, bánh xe quay trên trục thông qua ổ bi. - Moay- ơ thường làm bằng thép, được liên kết với vành bánh xe bằng nan hoa. - Nan hoa làm bằng thép. - Vành bánh xe làm bằng hợp kim nhôm hoặc thép, có đường kính thông thường là 650mm. - Săm, lốp được chế tạo từ cao su tổng hợp giúp tăng độ êm cho xe trong quá trình chuyển động. Hệ thống truyền lực và chuyển động có tác dụng truyền lực và truyền động. Khi chúng ta đạp bàn đạp, lực truyền qua đùi xe làm trục giữa quay, đĩa quay kéo xích chuyển động, xích kéo líp cùng bánh sau quay (bánh chủ động), khi bánh xe quay và lăn trên mặt đường làm cho xe chuyển động về phía trước. Nguyên tắc truyền động như sau: Lực từ chân người đạp - bàn đạp - đùi xe - trục giữa - đĩa - xích - líp - bánh xe sau - xe chuyển động. Chuyển động được truyền từ trục tới xích, líp nhờ sự ăn khớp giữa các mắt xích và răng trên đĩa, líp nên được gọi là truyền động xích. Vận tốc của xe đạp ngoài sự phụ thuộc vào tốc độ đạp của người đi xe còn phụ thuộc vào tỉ số truyền của bộ truyền động xích.. Tỷ số truyền này được tính theo công thức sau: D1: đường kính của đĩa (mm) Z1: số răng của đĩa n1: tốc độ quay của đĩa (vòng/phút) D2: đường kính của líp (mm) Z2: số răng của líp n2: tốc độ quay của líp (vòng/phút) Tốc độ quay của đĩa n1 phụ thuộc vào tốc độ đạp chân nhanh hay chậm của người đi xe. Tốc độ của xe phụ thuộc vào tốc độ quay của bánh xe sau (tốc độ quay của líp) n2. Như vậy, với một tốc độ quay n1 của đĩa, chúng ta có thể có nhiều tốc độ quay n2 của bánh xe khác nhau nhờ việc thay đổi đường kính D1 (thay đổi số răng Z1) hoặc D2 (thay đổi số răng Z2). Tỉ số truyền i1 nghĩa là: khi tốc độ quay của đĩa là n1 thì bánh xe quay nhanh hơn i lần (n2=i.n1). Tuy nhiên, nếu thiết kế tỉ số truyền càng lớn thì lực đạp lên bàn đạp càng lớn. Do vậy, tỉ số truyền không được quá lớn. Căn cứ vào tốc độ tối đa có thể đạt được của xe đạp mà người ta thiết kế tỉ số truyền sao cho phù hợp với mục đích sử dụng, ta có thể thấy rất rõ điều này trong các loại xe đạp địa hình. c. Hệ thống lái gồm: Tay lái (ghi đông) (7), cổ phuốc (8). Hệ thống lái giúp chúng ta có thể điều khiển xe một cách nhẹ nhàng và dễ dàng nhất có thể khi muốn chuyển hướng. Bánh xe trước làm nhiệm vụ dẫn hướng, hướng chuyển động của xe phụ thuộc vào hướng chuyển động của bánh xe trước, do người điều khiển bẻ tay lái (ghi - đông) sang phải hoặc sang trái. Nguyên tắc truyền động như sau: Tay người đi xe - tay lái của xe (ghi- đông) - cổ phuốc - càng trước - bánh xe trước - hướng chuyển động của xe. d. Hệ thống phanh gồm: tay phanh (9), dây phanh (10), cụm má phanh (11). Đây là một phát minh lớn giúp người điều khiển xe đạp làm chủ vận tốc khi di chuyển trên đường để có được sự an toàn tối thiểu khi điều khiển xe. e. Khung chịu lực (12): Trước kia khung xe được cấu tạo bằng vật liệu gỗ, nhưng ngày nay khung xe đã được thay thế bởi vật liệu thép. Vì ưu điểm của vật liệu thép là có độ cứng, độ bền và tuổi tho cao hơn so với khung gỗ. Khung xe chính là xương sống của xe đạp, liên kết toàn bộ các bộ phận khác lại với nhau thành một khối thống nhất. f. Yên xe (13): giúp cho người điều khiển xe đạp có được vị trí thoải mái và hợp lý nhất. Ngoài ra xe đạp còn có các bộ phận khác như: chắn bùn, chắn xích, chuông, đè Ổ bi dùng để giảm ma sát giữa các chi tiết có chuyển động quay tròn tương đối với nhau như: moay-ơ với trục bánh trước, trục bánh Cấu tạo của ổ bi gồm: nồi, bi, côn. Côn được lắp vào trục (hoặc được chế tạo liền trục như ở trục giữa). Nồi lắp và moay-ơ. Khi làm việc, bi lăn giữa nồi và côn. Ổ bi được lắp giữa trục bánh xe và moay-ơ. Nếu không có ổ bi, khi quay moay-ơ sẽ cọ xát lên trục gây ma sát lớn, nhiệt độ tại mối ghép tăng làm cho chi tiết bị mài mòn nhanh Xe đạp còn được coi là một môn thể thao với các thể loại khác nhau: Trong nhà, đường trường, địa hình, trial, , Asian Indoor Games, SEA Games, O Khía cạnh xã hội và lịch sử. Trong đời sống hằng ngày. Vào đầu thế kỷ 20, xe đạp đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm tình trạng đông đúc tại các khu chung cư trong trung tâm thành phố. Điều này cho phép người lao động dễ dàng di chuyển từ những căn nhà lớn ở ngoại ô vào trung tâm, giảm bớt sự phụ thuộc vào việc sử dụng ngựa. Ngoài ra, xe đạp cũng mang đến sự linh hoạt cho mọi người trong việc tham quan và du lịch trong nước, nhờ khả năng tiết kiệm năng lượng gấp ba lần so với việc đi bộ và tốc độ di chuyển nhanh hơn gấp ba đến bốn lần. Trong các thành phố đông đúc trên toàn cầu, quy hoạch đô thị thường áp dụng hạ tầng đường dành riêng cho xe đạp như đường dành cho xe đạp để giảm tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm không khí. Nhiều thành phố trên khắp thế giới đã triển khai các chương trình được gọi là các hệ thống chia sẻ xe đạp hoặc các chương trình xe đạp cộng đồng. Chương trình đầu tiên trong số này là Kế hoạch Xe Đạp Trắng tại Amsterdam vào năm 1965. Sau đó là xe đạp màu vàng tại La Rochelle và xe đạp màu xanh tại Cambridge. Những sáng kiến này bổ sung hệ thống vận tải công cộng và cung cấp lựa chọn thay thế cho giao thông có động cơ để giúp giảm tắc nghẽn và ô nhiễm. Ở châu Âu, đặc biệt ở Hà Lan và một số khu vực của Đức và Đan Mạch, việc đi xe đạp đến nơi là điều phổ biến. Ở Copenhagen, một tổ chức của người đi xe đạp điều hành Đại sứ quán Xe đạp để thúc đẩy việc đi xe đạp cho cả việc đi làm và tham quan. Vương quốc Anh có chương trình miễn thuế (IR 176) cho phép nhân viên mua xe đạp mới không bị thuế để sử dụng cho việc đi làm. Ở Hà Lan, tất cả các ga tàu hỏa đều cung cấp bãi đậu xe đạp miễn phí hoặc nơi đậu xe an toàn với một khoản phí nhỏ, và các ga lớn còn có cửa hàng sửa chữa xe đạp. Đạp xe rất phổ biến đến mức nơi đỗ xe có thể bị quá tải, trong khi ở một số nơi như Delft, tình trạng đậu xe thường bị quá tải. Ở Trondheim, Na Uy, họ đã phát triển hệ thống Thang máy xe đạp Trampe để khuyến khích người đi xe đạp bằng cách hỗ trợ trên những dốc đường dốc. Xe buýt ở nhiều thành phố còn có máy giữ xe đạp được gắn ở phía trước. Còn ở một số thị trấn ở các quốc gia khác, văn hóa đạp xe đã trở thành một phần không thể thiếu của bức tranh vùng đất suốt nhiều thế hệ, thậm chí không cần sự hỗ trợ chính thống. Điều này đúng cho trường hợp của Ílhavo, Bồ Đào Nha. Ở những thành phố không tích hợp xe đạp vào hệ thống giao thông công cộng, người đi làm thường sử dụng xe đạp như một phần quan trọng của chế độ di chuyển kết hợp, trong đó xe đạp được sử dụng để di chuyển tới và từ các trạm tàu hoặc các hình thức giao thông nhanh khác. Một số sinh viên, sau khi lái xe từ nhà đến bãi đỗ xe trường, tiếp tục bằng xe đạp để đến lớp học. Sử dụng xe đạp gập càng trở nên phổ biến trong những tình huống như này, bởi chúng tiện lợi hơn khi cần mang theo. Ví dụ, Los Angeles đã quyết định loại bỏ một số chỗ ngồi trên một số tàu để tạo thêm không gian cho xe đạp và xe lăn. Cũng có một số công ty tại Hoa Kỳ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, đang phát triển cả thiết kế xe đạp độc đáo và tạo điều kiện thân thiện với xe đạp tại nơi làm việc. Ví dụ, Foursquare, với CEO Dennis Crowley, đã "đạp xe đến các cuộc họ" trên một chiếc xe đạp hai bánh và đã chọn vị trí mới cho trụ sở tại New York dựa trên tiện ích đối với người đi xe đạp. Chỗ đỗ xe đạp tại văn phòng cũng đã được tích hợp vào kế hoạch trụ sở. Mitchell Moss, người điều hành của Trung tâm Chính sách và Quản lý Giao thông Rudin tại Đại học New York, đã nói vào năm 2012: "Đi xe đạp đã trở thành lựa chọn hàng đầu đối với công nhân công nghệ cao được giáo dục". Xe đạp đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển ở nhiều quốc gia đang phát triển. Cho đến gần đây, ở các nước châu Á, xe đạp đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hàng ngày. Chúng được sử dụng rộng rãi nhất để di chuyển đến nơi làm việc, trường học, mua sắm và trong cuộc sống hàng ngày. Tại châu Âu, xe đạp cũng được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, chúng còn giúp người dùng duy trì sức khỏe thông qua việc vận động. Xóa đói giảm nghèo. "Xóa đói giảm nghèo thông qua xe đạp" là ý tưởng rằng việc cung cấp xe đạp và hạ tầng vận chuyển phù hợp có thể giảm đáng kể nghèo đói. Điều này đã được thực hiện qua nhiều dự án thử nghiệm ở Nam Á và châu Phi. Nghiên cứu thực hiện tại châu Phi (Uganda và Tanzania) và Sri Lanka trên hàng trăm hộ gia đình đã chỉ ra rằng một chiếc xe đạp có thể tăng thu nhập của một gia đình nghèo lên đến 35%. Giải phóng phụ nữ. Xe đạp an toàn đã mở ra cho phụ nữ khả năng tự do vận chuyển chưa từng có, góp phần vào sự giải phóng của họ tại các quốc gia phương Tây. Khi xe đạp trở nên an toàn và giá cả hợp lý hơn, nhiều phụ nữ đã có cơ hội tiếp cận tự do cá nhân mà xe đạp tượng trưng, và từ đó, xe đạp đã trở thành biểu tượng của Phụ nữ mới cuối thế kỷ 19, đặc biệt là tại Anh và Hoa Kỳ. Sự bùng nổ của xe đạp trong thập kỷ 1890 cũng thúc đẩy phong trào vận động cho việc mặc gọi là trang phục hợp lý, giúp giải phóng phụ nữ khỏi những chiếc corset và váy dài đến mắt cá cùng các trang phục hạn chế khác, thay thế bằng chiếc bloomers khiến đó làm cho người ta phải kinh ngạc vào thời điểm đó. Xe đạp đã được các nhà nữ quyền và những người ủng hộ quyền bình đẳng giới thế kỷ 19 nhận biết như một "máy tự do" dành cho phụ nữ. Susan B. Anthony, một nhà nữ quyền Mỹ, đã nói trong cuộc phỏng vấn trên báo "New York World" vào ngày 2 tháng 2 năm 1896: "Tôi nghĩ rằng nó đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ điều gì khác để giải phóng phụ nữ trên toàn thế giới. Tôi vui mừng mỗi khi thấy một phụ nữ điều khiển xe đạp. Điều này mang lại cho họ cảm giác tự tin và độc lập ngay từ khi họ ngồi lên yên xe; và họ tự do đi xa, hình ảnh của sự độc lập phụ nữ." Năm 1895, Frances Willard, người đứng đầu của Hội Nữ Hồi giáo Kiểm rượu, đã viết cuốn sách "A Wheel Within a Wheel: How I Learned to Ride the Bicycle, with Some Reflections by the Way", một hồi ký 75 trang với hình minh họa khen ngợi "Gladys," chiếc xe đạp của cô, vì tác động "làm phấn khích" đối với sức khỏe và tinh thần lạc quan của cô. Willard đã sử dụng ẩn dụ về xe đạp để khuyến khích những người nữ quyền khác hành động. Năm 1985, Georgena Terry thành lập công ty sản xuất xe đạp dành riêng cho phụ nữ đầu tiên. Thiết kế của cô tập trung vào hình dạng của khung và kích thước bánh xe được lựa chọn để phù hợp tốt hơn với người phụ nữ, bằng cách làm ngắn ống trên và tạo khoảng cách thích hợp hơn. Ý nghĩa kinh tế. Ngành sản xuất xe đạp đã chứng tỏ là một nền tảng đào tạo cho các ngành công nghiệp khác và đã dẫn đến sự phát triển của các kỹ thuật làm việc với kim loại tiên tiến, không chỉ cho việc chế tạo khung xe mà còn cho việc sản xuất các thành phần đặc biệt như vòng bi, ốc vít và bánh răng. Những kỹ thuật này sau này đã cho phép các thợ làm kim loại và thợ cơ khí có kỹ năng phát triển các thành phần được sử dụng trong các loại phương tiện như ô tô và máy bay vào giai đoạn đầu của chúng. Anh em Wright, một cặp doanh nhân, điều hành Wright Cycle Company thiết kế, sản xuất và bán xe đạp của họ trong thời kỳ đại bùng nổ xe đạp vào những năm 1890. Họ cũng đã giúp giảng dạy các mô hình công nghiệp sau này được áp dụng, bao gồm cơ khí hóa và sản xuất hàng loạt (sau này được sao chép và áp dụng bởi Ford và Tập đoàn General Motors), tích hợp dọc (sau này cũng được sao chép và áp dụng bởi Ford), quảng cáo mạnh mẽ (lên đến 10% tổng số quảng cáo trong các tạp chí ở Hoa Kỳ vào năm 1898 là của nhà sản xuất xe đạp), đẩy mạnh việc cải thiện đường xá (có lợi ích phụ là làm quảng cáo và cải thiện doanh số bán hàng thông qua việc cung cấp nhiều nơi để đi xe), tất cả đều được thực hiện lần đầu bởi Pope. Ngoài ra, các nhà sản xuất xe đạp đã áp dụng mô hình thay đổi hàng năm (sau này bị chê trách là kế hoạch lạm dụng, và thường được ghi cho General Motors), mô hình này đã rất thành công. Những chiếc xe đạp đầu tiên là một ví dụ về việc tiêu tiền để thể hiện đẳng cấp và phong cách, và chúng đã được những tầng lớp thượng lưu ưa chuộng. Ngoài ra, bằng cách trở thành một nền tảng cho các phụ kiện, mà cuối cùng có thể đắt hơn cả chiếc xe đạp, chúng đã mở đường cho sự ra đời của sản phẩm như búp bê Barbie. Xe đạp đã thúc đẩy sự xuất hiện hoặc cải thiện nhiều loại hình kinh doanh mới, bao gồm người đưa thư bằng xe đạp, thợ may di động, trường đua ngựa, và các trường đua xe đạp. Những đường đua của xe đạp sau này đã được sử dụng cho các cuộc đua xe máy và ô tô sớm. Ngoài ra, đã xuất hiện nhiều phát minh mới, như bộ nâng spoke của bánh xe đạp, đèn chiếu sáng đặc biệt, tất cả đều đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của xe đạp và thậm chí là sản phẩm khác ngoài lĩnh vực này, như trường hợp của Charles Bennett với "dây đeo nịt chống động", sau này được gọi là "jock strap". Hơn nữa, xe đạp đã tiên đoán sự thay đổi trong cách di chuyển của con người, từ việc sử dụng phương tiện công cộng sang việc sở hữu xe cá nhân, một xu hướng mà sau này đã bùng nổ với sự xuất hiện của ô tô. Công ty của J. K. Starley đã đổi tên thành Rover Cycle Company Ltd. vào cuối những năm 1890, và sau đó khi họ bắt đầu sản xuất ô tô, họ lại tiếp tục thay đổi tên thành Rover Company. Trong khi đó, Morris Motors Limited (tại Oxford) và Škoda cũng bắt đầu kinh doanh từ việc sản xuất xe đạp, cùng với những bước đầu của anh em Wright trong lĩnh vực này. Đồng thời, Alistair Craig, người sau này thành lập công ty sản xuất động cơ Ailsa Craig Engines, cũng bắt đầu sự nghiệp từ việc sản xuất xe đạp tại Glasgow vào tháng 3 năm 1885. Nói chung, các nhà sản xuất xe đạp ở Hoa Kỳ và châu Âu thường trước đây lắp ráp xe đạp từ các khung và bộ phận của riêng họ hoặc từ các công ty khác sản xuất. Tuy nhiên, các công ty lớn như Raleigh trước đây thường tự sản xuất gần như tất cả các bộ phận của xe đạp (bao gồm cả giữa khung, trục bánh xe, và nhiều bộ phận khác). Trong những năm gần đây, cách sản xuất của các nhà sản xuất xe đạp này đã thay đổi mạnh, và hiện tại, gần như không còn hãng sản xuất nào tự sản xuất riêng các khung xe đạp của họ nữa. Nhiều công ty mới hoặc quy mô nhỏ chủ yếu tập trung vào thiết kế và tiếp thị sản phẩm của họ, còn việc sản xuất thường được giao cho các công ty châu Á. Chẳng hạn, hiện nay khoảng 60% số lượng xe đạp trên toàn cầu được sản xuất tại Trung Quốc. Tuy có sự dịch chuyển trong quy trình sản xuất, khi các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ trở nên giàu có hơn, việc sử dụng xe đạp trong nước họ đã giảm đi do khả năng mua ô tô và xe máy ngày càng dễ dàng hơn. Một trong những nguyên nhân chính khiến xe đạp Trung Quốc thâm nhập thị trường nước ngoài mạnh mẽ là chi phí lao động thấp ở Trung Quốc. Đồng thời, theo sự gia tăng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Âu, ở Ý vào năm 2011, số lượng xe đạp bán ra (1.75 triệu chiếc) đã vượt qua số lượng ô tô mới được bán ra. Tác động môi trường. Việc sử dụng xe đạp không chỉ có ý nghĩa kinh tế sâu sắc bằng cách giải phóng người sử dụng khỏi việc tiêu thụ nhiên liệu động cơ (Ballantine, 1972), mà còn mang lại một loạt các lợi ích khác. Xe đạp không chỉ là một phương tiện giao thông chi phí thấp, nhanh chóng, và thân thiện với môi trường, mà còn mở rộng môi trường vật chất hữu ích cho con người theo lời tuyên bố của Ivan Illich. Trong khi các lựa chọn thay thế như ô tô và đường cao tốc có thể gây suy thoái và hạn chế môi trường cũng như khả năng di chuyển của con người, xe đạp là sự lựa chọn thông minh và bền vững. Hiện nay, trên toàn cầu có khoảng hai tỷ chiếc xe đạp đang được sử dụng bởi mọi lứa tuổi và tầng lớp xã hội, từ trẻ em, sinh viên, chuyên gia, người lao động cho đến công chức và người cao tuổi. Tất cả họ đều trải nghiệm sự tự do và cơ hội tập thể dục tự nhiên mà việc sử dụng xe đạp mang lại. Điều này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe cá nhân mà còn đóng góp vào việc giảm lượng khí thải carbon vào môi trường. Thị trường xe đạp toàn cầu trị giá 61 tỷ USD vào năm 2011. #đổi , 130 triệu chiếc xe đạp đã được bán ra mỗi năm trên toàn cầu và 66% trong số đó được sản xuất tại Trung Quốc. Xe đạp thường là mục tiêu của những vụ trộm phổ biến do giá trị của chúng và dễ dàng bán lại. Số lượng xe đạp bị mất mát hàng năm rất khó để xác định chính xác, vì nhiều tội phạm không bao giờ được báo cáo. Theo một khảo sát của Tạp chí Giao thông Bền vững Quốc tế Montreal, khoảng 50% những người tham gia khảo sát, người đi xe đạp tích cực, đã từng trải qua việc mất xe đạp do trộm cắp. Đáng chú ý, hầu hết các xe đạp đều có số seri, thông tin này có thể được sử dụng để xác minh danh tính trong trường hợp xe bị mất cắp.
Hệ nhị phân (hay hệ đếm cơ số hai hoặc mã nhị phân) là một hệ đếm dùng hai ký tự để biểu đạt một giá trị số, bằng tổng số các lũy thừa của 2. Hai ký tự đó thường là 0 và 1; chúng thường được dùng để biểu đạt hai giá trị hiệu điện thế tương ứng (có hiệu điện thế, hoặc hiệu điện thế cao là 1 và không có, hoặc thấp là 0). Do có ưu điểm tính toán đơn giản, dễ dàng thực hiện về mặt vật lý, chẳng hạn như trên các mạch điện tử, hệ nhị phân trở thành một phần kiến tạo căn bản trong các máy tính đương thời. Hệ nhị phân được nhà toán học cổ người Ấn Độ Pingala phác thảo từ thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên. Một bộ trọn 8 hình bát quái với 64 hình sao sáu cạnh, tương đồng với 3 bit và 6 bit trong hệ số nhị phân, đã được ghi lại trong điển tịch cổ Kinh Dịch. Nhiều tổ hợp nhị phân tương tự cũng được tìm thấy trong hệ thống bói toán truyền thống của châu Phi, ví dụ như Ifá, và trong môn bói đất của phương Tây. Tổ hợp thứ tự của những hình sao sáu cạnh trong Kinh Dịch, đại diện cho một dãy số nguyên thập phân từ 0 đến 63, cùng với một công thức để sinh tạo dãy số ấy, đã được học giả và nhà triết học người Trung Hoa tên là Thiệu Ung (邵雍), thế kỷ 11, thiết lập. Dầu vậy, không có ghi chép nào để lại, thể hiện bằng chứng là Thiệu Ung thông hiểu cách tính toán, dùng hệ nhị phân. Trong thế kỷ 17, nhà triết học người Đức tên là Gottfried Leibniz đã ghi chép lại một cách trọn vẹn hệ thống nhị phân trong bài viết "Giải thích về thuật toán trong hệ nhị phân" ("Explication de l'Arithmétique Binaire"). Hệ thống số mà Leibniz dùng chỉ bao gồm số 0 và số 1, tương đồng với hệ số nhị phân đương đại. Năm 1854, nhà toán học người Anh, George Boole đã cho xuất bản một bài viết chi tiết về một hệ thống lôgic mà sau này được biết là đại số Boole, đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử toán học. Hệ thống lôgic của ông đã trở thành nền tảng trong việc kiến tạo hệ nhị phân, đặc biệt trong việc thực thi hệ thống này trên bảng điện tử. Vào năm 1937, nhà toán học và kỹ sư điện tử người Mỹ, Claude Elwood Shannon, viết một luận án cử nhân tại MIT, trình bày phương thức kiến tạo hệ thống đại số Boole và số học nhị phân dùng các rơ-le và công tắc lần đầu tiên trong lịch sử. Bài viết với đầu đề "Bản phân tích tượng hình của mạch điện dùng rơ-le và công tắc" ("A Symbolic Analysis of Relay and Switching Circuits"). Bản luận án của ông đã được chứng minh là có tính khả thi trong việc thiết kế mạch điện kỹ thuật số. Tháng 11 năm 1937, ông George Stibitz, lúc đó đang làm việc tại Bell Labs, hoàn thành việc thiết kế một máy tính dùng các rơ-le và đặt tên cho nó là "Mô hình K" ("Model K") - chữ K ở đây là chữ cái đầu tiên của từ "kitchen" trong tiếng Anh, nghĩa là "nhà bếp", nơi ông lắp ráp máy tính của mình. Máy tính của ông có thể tính toán dùng phép tính cộng của hệ nhị phân. Cơ quan Bell Labs vì thế đã ra lệnh và cho phép một chương trình nghiên cứu tổng thể được thi hành vào cuối năm 1938 dưới sự chỉ đạo của ông Stibitz. Máy tính số phức hợp ("Complex Number Computer") của họ, được hoàn thành vào ngày 8 tháng 1 năm 1940, có thể giải trình số phức hợp. Trong một cuộc luận chứng tại hội nghị của Hội Toán học Mỹ ("American Mathematical Society"), được tổ chức tại Dartmouth College vào ngày 11 tháng 9 năm 1940, ông Stibitz đã có thể truyền lệnh cho Máy tính số phức hợp từ xa, thông qua đường dây điện thoại, bằng một máy điện báo đánh chữ ("teletype"). Đây là máy tính đầu tiên được sử dụng với phương pháp điều khiển từ xa dùng đường dây điện thoại. Một số thành viên tham gia hội nghị và được chứng kiến cuộc thuyết trình bao gồm John von Neumann, John Mauchly và Norbert Wiener, đã viết lại sự kiện này trong hồi ký của mình. Bất cứ số nào cũng có thể biểu đạt được trong hệ nhị phân bằng một dãy đơn vị bit ("binary digit", số ký nhị phân), do đó có thể được diễn giải bằng bất cứ một cơ cấu có khả năng thể hiện hai thể trạng biệt lập. Bản liệt kê những dãy ký tự sau đây cho phép sự giải nghĩa tương đồng với những giá trị số trong hệ nhị phân: 1 0 1 0 0 1 1 0 1 0 x o x o o x x o x o y n y n n y y n y n Giá trị số biểu đạt trong mỗi trường hợp trên phụ thuộc vào giá trị mà nó được gán ghép để đại diện. Trong máy tính, những giá trị số được biểu hiện bằng hai hiệu điện thế khác nhau; trong đĩa từ tính ("magnetic disk") thì chiều phân của các lưỡng cực từ có thể được dùng để biểu hiện hai giá trị này. Một giá trị biểu đạt trạng thái "dương", "có" hoặc "chạy" không có nghĩa là giá trị tương tự với số một trong hệ số, song nó còn tuỳ thuộc vào kiến trúc của hệ thống đang được dùng. Song hành với chữ số Ả Rập thường dùng, số nhị phân thường được biểu đạt bằng hai ký tự 0 và 1. Khi được viết, các số nhị phân thường được ký hiệu hóa gốc của hệ số. Những phương thức ký hiệu thường được dùng có thể liệt kê ở dưới đây: bin 100101 (dùng ký hiệu dẫn đầu để đặc tả phân dạng hệ số nhị phân - "bin" cũng được lấy từ "binary") Khi nói, mỗi ký tự số của các giá trị số nhị phân thường được phát âm riêng biệt, để phân biệt chúng với số thập phân. Chẳng hạn, giá trị "100" nhị phân được phát âm là "một không không", thay vì "một trăm", để biểu đạt cụ thể tính nhị phân của giá trị đang nói đến, đồng thời đảm bảo sự chính xác trong việc truyền tin qua lại. Vì giá trị "100" tương đương với giá trị "4" trong hệ thập phân, nên nếu được truyền đạt là "một trăm" thì nó sẽ gây sự hỗn loạn trong tư duy. Biểu đạt giá trị dùng hệ nhị phân. Cách đếm trong hệ nhị phân tương tự như cách đếm trong các hệ thống số khác. Bắt đầu bằng số ở hàng đơn vị với một ký tự, việc đếm số được khai triển dùng các ký tự cho phép để ám chỉ giá trị, theo chiều tăng lên. Hệ thập phân được đếm từ ký tự 0 đến ký tự 9, trong khi hệ nhị phân chỉ được dùng ký tự 0 và 1 mà thôi. Khi những ký tự cho một hàng đã dùng hết (như hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm trong hệ thập phân), thì con số tại hàng tiếp theo (về bên trái) được nâng giá trị lên một vị trí, và con số ở hàng hiện tại được hoàn trả lại vị trí đầu tiên dùng ký tự 0. Trong hệ thập phân, chu trình đếm tương tự như sau: 000, 001, , 008, 009, (số cuối cùng ở bên phải quay trở lại vị trí ban đầu trong khi số tiếp theo ở bên trái được nâng cấp lên một giá trị) 090, 091, , 098, 099, (hai số bên phải chuyển về vị trí ban đầu trong khi số tiếp theo ở bên trái được nâng cấp lên một giá trị) Sau khi một con số đạt đến ký tự 9, thì con số ấy được hoàn trả lại vị trí ban đầu là số 0, đồng thời gây cho con số tiếp theo ở bên trái được nâng cấp lên một vị trí mới. Trong hệ nhị phân, quy luật đếm số tương đồng như trên cũng được áp dụng, chỉ khác một điều là số ký tự được dùng chỉ có 2 mà thôi, tức là ký tự 0 và 1 được dùng mà thôi. Vì vậy, khi một con số đã chuyển lên đến ký tự một trong hệ nhị phân, sự nâng cấp của giá trị bắt nó hoàn trả lại vị trí ban đầu, tức là số 0, và nâng cấp con số tiếp theo về bên trái lên một giá trị: 000, 001, (số cuối bên phải được hoàn trả lại vị trí ban đầu, trong khi số ở hàng bên cạnh về phía tay trái được nâng cấp lên một giá trị) 010, 011, (hai số cuối bên phải được hoàn trả lại vị trí ban đầu, trong khi số ở hàng bên cạnh về phía tay trái được nâng cấp lên một giá trị) Nhị phân đơn giản hóa. Để đơn giản hoá hệ nhị phân, chúng ta có thể nghĩ như sau: Chúng ta dùng hệ thập phân. Điều này có nghĩa là các giá trị của mỗi hàng số (hàng đơn vị, hàng chục ) chỉ được biểu đạt bởi một trong 10 ký tự mà thôi: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, hoặc 9. Chúng ta ai cũng thông thuộc với những ký tự này và cách dùng của chúng trong hệ thập phân. Khi chúng ta đếm các giá trị, chúng ta bắt đầu bằng ký tự 0, luân chuyển nó đến ký tự 9. Chúng ta gọi nó là "một hàng". Với những con số ở trên trong một hàng, chúng ta có thể liên tưởng đến vấn đáp về tính nhân. Số 5 có thể hiểu là 5 × 100 (100=1) tương đương với 5 x 1, vì bất cứ một số nào có mũ 0 cũng đều bằng 1 (tất nhiên là loại trừ số 0 ra). Khi khai triển sang bên trái một vị trí, chúng ta nâng số mũ của 10 lên một giá trị, vì vậy để biểu đạt 50, chúng ta dùng phương pháp tương tự và số này có thể được viết như 5 x 101, hoặc đơn giản hơn 5 x 10. Khi chúng ta đã dùng hết các ký tự trong hệ thập phân, chúng ta chuyển vị trí sang bên trái và bắt đầu với số 1, đại diện cho hàng chục. Tiếp đó chúng ta hoàn trả hàng "đơn vị" về ký tự đầu tiên, số không. Hệ nhị phân có gốc 2, cũng hoạt động trên cùng một nguyên lý như hệ thập phân, song chỉ dùng 2 ký tự để đại diện cho hai giá trị: 0 và 1. Chúng ta bắt đầu bằng hàng "đơn vị", đặt số 0 trước tiên, rồi nâng cấp lên số 1. Khi đã lên đến số 1, chúng ta không còn ký tự nào nữa để tiếp tục biểu đạt những giá trị cao hơn, do vậy chúng ta phải đặt số 1 ở "hàng hai" (tương tự như hàng chục trong hệ thập phân), vì chúng ta không có ký tự "2" trong hệ nhị phân để biểu đạt giá trị này như chúng ta có thể làm được trong hệ thập phân. Trong hệ nhị phân, giá trị 10 có thể biểu đạt bằng hình thức tương tự như (1 x 21) + (0 x 20). Giá trị này bằng 2 trong hệ thập phân. Nhị phân sang thập phân tương đồng: Để quan sát công thức biến chuyển cụ thể từ hệ này sang hệ kia, xin xem thêm phần Phương pháp chuyển hệ dưới đây. Ngược lại, chúng ta có thể suy nghĩ theo một cách khác. Khi chúng ta đã dùng hết các ký tự trong hệ thống số, chẳng hạn dãy số "11111", chúng ta cộng thêm "1" vào phía bên trái và hoàn trả tất cả các con số ở vị trí bên phải về số "0", tạo thành 100000. Phương thức này cũng có thể dùng được cho các ký tự ở giữa dãy số. Chẳng hạn với dãy số 100111. Nếu chúng ta cộng thêm 1 vào số này, chúng ta phải chuyển vị trí về bên trái một vị trí bên cạnh các con số 1 trùng lặp (vị trí thứ tư), nâng cấp vị trí này từ số 0 lên số 1, rồi hoàn trả tất cả các con số 1 bên tay phải về vị trí số không, tạo thành 101000. Các phép tính dùng hệ nhị phân. Phép tính dùng trong hệ nhị phân cũng tương tự như các phép tính được áp dụng trong các hệ khác. Tính cộng, tính trừ, tính nhân và tính chia cũng có thể được áp dụng với các giá trị số nhị phân. Phép tính đơn giản nhất trong hệ nhị phân là tính cộng. Cộng hai đơn vị trong hệ nhị phân được làm như sau: 0 + 0 = 0 0 + 1 = 1 1 + 0 = 1 1 + 1 = 0 (nhớ 1 lên hàng thứ 2) Cộng hai số "1" với nhau tạo nên giá trị "10", tương đương với giá trị 2 trong hệ thập phân. Điều này xảy ra tương tự trong hệ thập phân khi hai số đơn vị được cộng vào với nhau. Nếu kết quả bằng hoặc cao hơn giá trị gốc (10), giá trị của con số ở hàng tiếp theo được nâng lên: 5 + 5 = 10 7 + 9 = 16 Hiện tượng này được gọi là "nhớ" hoặc "mang sang", trong hầu hết các hệ thống số dùng để tính, đếm. Khi tổng số vượt lên trên gốc của hệ số, phương thức làm là "nhớ" một sang vị trí bên trái, thêm một hàng. Phương thức "nhớ" cũng hoạt động tương tự trong hệ nhị phân: Trong ví dụ trên, hai số được cộng với nhau: 011012 (13 thập phân) và 101112 (23 thập phân). Hàng trên cùng biểu đạt những số nhớ, hoặc mang sang. Bắt đầu bằng cột cuối cùng bên phải, 1 + 1 = 102. 1 được mang sang bên trái, và 0 được viết vào hàng tổng phía dưới, cột cuối cùng bên phải. Hàng thứ hai từ cột cuối cùng bên phải được cộng tiếp theo: 1 + 0 + 1 = 102; Số 1 lại được nhớ lại và mang sang, và số 0 được viết xuống dưới cùng. Cột thứ ba: 1 + 1 + 1 = 112. Lần này 1 được nhớ và mang sang hàng bên cạnh, và 1 được viết xuống hàng dưới cùng. Tiếp tục khai triển theo quy luật trên cho chúng ta đáp án cuối cùng là 1001002. Trong Đánh thức tài năng quyển 5, tập 22 đã ghi các kiến thức này. Phép tính trừ theo quy chế tương tự: 0 − 0 = 0 0 − 1 = 1 (mượn 1 ở bit tiếp theo) 1 − 0 = 1 1 − 1 = 0 Một đơn vị nhị phân được trừ với một đơn vị nhị phân khác như sau: * * * * (hình sao đánh dấu các cột phải mượn) 1 1 0 1 1 1 0 − 1 0 1 1 1 =1 0 1 0 1 1 1 1 1 1 1 (bit mượn) 1 1 0 1 1 1 0 - 1 0 1 1 1 =1 0 1 0 1 1 1 Trừ hai số dương cũng tương tự như "cộng" một số âm với giá trị tương đồng của một số tuyệt đối; máy tính thường dùng ký hiệu Bù 2 để diễn đạt số có giá trị âm. Ký hiệu này loại trừ được nhu cầu bức thiết phải có một phương pháp làm phép trừ biệt lập. Xin xem thêm chi tiết trong chương mục Bù 2. Phép tính nhân trong hệ nhị phân cũng tương tự như phương pháp làm trong hệ thập phân. Hai số A và B được nhân với nhau bởi những tích số cục bộ: với mỗi con số ở B, tích của nó với số một con số trong A được tính và viết xuống một hàng mới, mỗi hàng mới phải chuyển dịch vị trí sang bên trái, hầu cho con số cuối cùng ở bên phải đứng cùng cột với vị trí của con số ở trong B đang dùng. Tổng của các tích cục bộ này cho ta kết quả tích số cuối cùng. Vì chỉ có hai con số trong hệ nhị phân, nên chỉ có 2 kết quả khả quan trong tích cục bộ: Ví dụ, hai số nhị phân 1011 và 1010 được nhân với nhau như sau: 1 0 1 1 (A) × 1 0 1 0 (B) 0 0 0 0 ← tương đương với 0 trong B + 1 0 1 1 ← tương đương với một trong A + 0 0 0 0 + 1 0 1 1 = 1 1 0 1 1 1 0 Xem thêm Phương pháp làm tính nhân của Booth. Tính chia nhị phân cũng tương tự như phép chia trong hệ thập phân. 1 1 0 1 1 |1 0 1 Ở đây ta có số bị chia là 110112, hoặc 27 trong số thập phân, số chia là 1012, hoặc 5 trong số thập phân. Cách làm tương tự với cách làm trong số thập phân. Ở đây ta lấy 3 số đầu của số bị chia 1102 để chia với số chia, tức là 1012, được 1, viết lên trên hàng kẻ. Kết quả này được nhân với số chia, và tích số được trừ với 3 số đầu của số bị chia. Số tiếp theo là một con số 1 được hạ xuống để tạo nên một dãy số có ba con số, tương tự với số lượng các con số của số chia: 1 1 0 1 1 | 1 0 1 Quy luật trên được lặp lại với những hàng số mới, tiếp tục cho đến khi tất cả các con số trong số bị chia đã được dùng hết: 1 1 0 1 1 | 1 0 1 0 0 1 1 − 0 0 0 − 1 0 1 Phân số của 110112 chia cho 1012 là 1012, như liệt kê phía trên đường kẻ, trong khi số dư còn lại được viết ở hàng cuối là 102. Trong hệ thập phân, 27 chia cho 5 được 5, dư 2. Phép toán thao tác bit trong hệ nhị phân. Mặc dù không liên quan trực tiếp đến sự nhận dạng của các ký tự trong hệ nhị phân, song các dãy số nhị phân có thể được thao tác dùng những toán tử trong logic Boole. Khi một dãy số trong hệ nhị phân được thao tác dùng các toán tử này, chúng ta gọi nó là Phép toán thao tác bit. Những thao tác dùng các toán tử AND (tương tự với tác động của chữ "và" trong lôgic, cả hai đơn vị so sánh phải là 1 thì mới cho kết quả 1), OR (tương tự với tác động của chữ "hoặc" trong lôgic, một trong hai đơn vị so sánh là 1 thì cho kết quả là 1), và XOR (nếu 2 bit được so sánh mà khác nhau thì kết quả bằng 1, giống nhau thì bằng 0) có thể được thi hành với từng cặp bit tương đồng trong một cặp số của hai số nhị phân. Thao tác của toán tử lôgic NOT (phép đổi ngược, 0 thành 1 và ngược lại) có thể được thi hành trên từng bit một trong một con số nhị phân. Đôi khi, những phép thao tác này được dùng làm những phương pháp cắt ngắn (làm nhanh) trong các thao tác số học, đồng thời chúng cũng cung cấp những lợi ích khác trong việc xử lý máy tính. Lấy ví dụ, loại bỏ bit cuối cùng (bên phải) trong một số nhị phân (còn được gọi là phép toán chuyển vị nhị phân - "binary shifting") tương đương với phép chia 2 trong hệ thập phân, vì khi làm như vậy, giá trị của số giảm xuống một nửa. Xin xem thêm Phép toán thao tác bit. Phương pháp chuyển hệ từ nhị phân sang các hệ khác và ngược lại. Phương pháp này có thể áp dụng để chuyển số từ bất cứ gốc nào, song bên cạnh đó còn có những phương thức tốt hơn cho những số là tích số của một mũ, với số nguyên 2, chẳng hạn như hệ bát phân (23), và hệ thập lục phân (24) liệt kê dưới đây. Trong các hệ thống số với giá trị của con số được định vị bởi vị trí của nó trong một dãy các ký hiệu con số, những con số ở vị trí thấp hơn, hoặc vị trí ít quan trọng hơn (ít quan trọng hơn là vì khi tính toán các số lớn và sai số xảy ra, mất những số này sẽ không quan trọng và không gây ảnh hưởng lớn đến kết quả tính toán, chẳng hạn số thập phân 10034 có thể được tính tròn số lại thành 10000 trong một thống kê dân số mà không gây ảnh hưởng lớn đến kết quả thống kê), thường có số mũ nhỏ hơn theo hệ số gốc (20 23). Số mũ đầu tiên, là một số kém hơn số lượng các chữ số, của một con số nào đó, bởi 1 giá trị. Một con số có 5 chữ số sẽ có số mũ đầu tiên bằng 4. Trong hệ thập phân, gốc của hệ là 10, vậy số cuối cùng ở bên trái của một số có 5 chữ số có số mũ là 4, được thể hiện là ở vị trí 104 (chục nghìn). Xem xét ví dụ sau: 97352 tương đương với: Phép nhân với gốc của hệ số trở thành một phép tính đơn giản. Vị trí của các chữ số được dịch sang bên trái một vị trí, và số 0 được thêm vào ở phía bên phải của dãy các con số. Ví dụ 9735 nhân 10 bằng 97350. Một cách định giá trị của một dãy các con số, khi một con số được cộng vào sau con số cuối cùng, bằng cách nhân tất cả các chữ số trước con số cuối cùng ấy với gốc của hệ, trừ số cuối cùng ra, rồi cộng với con số ấy sau cùng. 97352 = 9735 x 10 + 2. Một ví dụ trong hệ nhị phân là 11011001112 = 1101100112 x 2 + 1. Đây chính là mấu chốt của phép biến đổi hệ số. Trong mỗi bước làm, chúng ta viết xuống con số sẽ phải đổi hệ theo công thức 2 × k + 0 hoặc 2 × k + 1 với một số nguyên k nào đó, và nó sẽ trở thành một số mới mà chúng ta muốn đổi. 1 × 26 + 1 × 25 + 1 × 24 + 0 × 23 + 1 × 22 + 1 × 21 + 0 × 20 Do vậy phương pháp biến đổi một số nguyên, ở hệ thập phân sang hệ nhị phân tương đương, có thể được tiến hành bằng cách chia số này cho 2, và những số dư được viết xuống vào hàng (đơn vị) của nó. Kết quả lại tiếp tục được chia 2, và số dư lại được viết xuống vào hàng (chục) của nó. Phương thức này được tiếp tục nhắc lại cho đến khi thương số của phép chia là 0. Ví dụ, 118, trong hệ thập phân là: Lược trình các con số dư theo thứ tự từ dưới lên trên, cho chúng ta một số nhị phân 11101102. Để biến đổi một số nhị phân sang hệ thập phân, chúng làm ngược lại. Bắt đầu từ bên trái, nhân đôi kết quả, rồi cộng con số bên cạnh cho đến khi không còn con số nào nữa. Lấy ví dụ để đổi 1100101011012 sang hệ thập phân: Kết quả là 3245. Phần phân số trong một số tự nhiên được biến đổi với cùng một phương pháp, dựa vào phép toán chuyển vị nhị phân để tăng gấp đôi hoặc giảm xuống một nửa giá trị của con số. Với phân số nhị phân có giá trị "0,110101101012", giá trị của con số đầu tiên của phần thập phân là formula_6, của con số thứ hai là formula_7, vân vân. Vậy nếu chúng ta có giá trị 1 ngay sau dấu phẩy thì giá trị của số thập phân ít nhất phải là formula_6, và tương tự ngược lại. Nếu chúng ta gấp đôi giá trị của con số đó lên thì giá trị của số phải ít nhất là 1. Điều này khiến chúng ta liên tưởng đến một thuật toán: liên tục nhân đôi con số chúng ta cần biến đổi, ghi lại kết quả nếu kết quả ít nhất là 1, nhưng vứt đi phần số nguyên. Ví dụ: formula_9, trong nhị phân là: Vì vậy phần phân số nhắc đi nhắc lại 0,, hoặc lấy ví dụ số 0,110, trong hệ nhị phân là: Đây cũng là một phân số vô hạn tuần hoàn 0,, nó lại trở thành một phân số tuần hoàn. Chính vì lý do này mà nhiều người thấy ngạc nhiên khi họ kiểm nghiệm thấy phép cộng 0,1 +... + 0,1 (gồm 10 số hạng) khác với giá trị một trong khi giải toán dùng phép toán phân số ("floating point arithmetic"). Thực tế cho thấy, phân số nhị phân chỉ không tuần hoàn khi dạng thập phân của nó là thương của phép chia giữa một số nguyên và lũy thừa cơ số formula_10 chứ không phải giữa một số nguyên và bội của formula_11 Phương pháp biến đổi sau cùng là cách đổi phân số nhị phân sang thập phân. Khó khăn duy nhất là trường hợp của những phân số tuần hoàn, ngoài ra, phương pháp này có thể được thực hiện bằng cách dịch vị trí của dấu thập phân, làm tròn thành số nguyên, biến đổi như cách ở trên, sau đó chia với số mũ của 2 tương ứng trong hệ thập phân. Lấy ví dụ: Một cách khác để biến đổi hệ nhị phân sang thập phân nhanh hơn, đối với những người đã quen thuộc với hệ thập lục phân, là làm bằng cách gián tiếp, đầu tiên đổi (formula_12 trong hệ nhị phân) sang (formula_12 trong hệ thập lục phân), rồi đổi (formula_12 trong hệ thập lục phân) sang (formula_12 hệ thập phân). Hệ cơ số 32. Số nhị phân có thể đổi sang hệ cơ số 32. Do 32 = 25. Phải cần 5 ký tự số để biểu đạt dễ dàng. Hệ thập lục phân (cơ số 16 hay hệ hexa). Số nhị phân có thể đổi được sang hệ thập lục phân đôi chút dễ dàng hơn. Sự dễ dàng này là do gốc của hệ thập lục phân (16) là số mũ của gốc hệ nhị phân (2). Cụ thể hơn 16 = 24. Vậy chúng ta phải cần 4 ký tự số trong hệ nhị phân để có thể biểu đạt được một ký tự số trong hệ thập lục phân. Bảng liệt kê sau đây chỉ ra cho chúng ta từng ký tự số của hệ thập lục phân, cùng với giá trị tương ứng của nó trong hệ thập phân, và một dãy bốn ký tự số tương đương trong hệ nhị phân. Để biến đổi từ hệ thập lục phân sang số nhị phân tương đương, chúng ta chỉ đơn giản thay thế những dãy ký tự số tương đương trong hệ nhị phân: 3A16 = 0011 10102 E716 = 1110 01112 Để biến đổi một số nhị phân sang hệ thập lục phân tương đương, chúng ta phải phân nhóm các ký tự thành nhóm của bốn ký tự số (nhóm bốn con số). Nếu số lượng của các con số không phải là bội số của 4 (4, 8, ), thì chúng ta chỉ cần thêm các số 0 vào phía bên trái của con số, còn gọi là phép độn thêm số ("padding"). Chẳng hạn: Để biến đổi một số thập lục phân sang số thập phân tương đương, chúng ta nhân mỗi giá trị thập phân của từng con số trong số thập lục phân với số mũ của 16, rồi tìm tổng của các giá trị: C0E716 = (12 × 163) + (0 × 162) + (14 × 161) + (7 × 160) = (12 × 4096) + (0 × 256) + (14 × 16) + (7 × 1) = 49.38310 Hệ bát phân (cơ số 8). Số nhị phân cũng có thể được biến đổi sang hệ bát phân một cách dễ dàng, vì bát phân dùng gốc 8, và cũng là số mũ của 2 (chẳng hạn 23, vậy số bát phân cần 3 ký tự số nhị phân để biểu đạt trọn vẹn một số bát phân). Sự tương ứng giữa các số bát phân và các số nhị phân cũng giống như sự tương đương với tám con số đầu tiên của hệ thập lục phân, như đã liệt kê trên bảng trước đây. Số nhị phân 000 tương đương với số bát phân 0, số nhị phân 111 tương đương với số bát phân 7, và tương tự. Phương pháp đổi bát phân sang nhị phân cũng tương tự như cách làm đối với hệ thập lục phân: 658 = 110 1012 178 = 001 1112 và từ nhị phân sang bát phân: từ bát phân sang thập phân: 658 = (6 × 81) + (5 × 80) = (6 × 8) + (5 × 1) = 5310 1278 = (1 × 82) + (2 × 81) + (7 × 80) = (1 × 64) + (2 × 8) + (7 × 1) = 8710 Biểu thị số thực. Những số không phải là số nguyên có thể được biểu thị bằng số mũ âm, và dùng dấu tách biệt phân số (dấu "phẩy") làm cho chúng biệt lập khỏi các con số khác. Lấy ví dụ, số nhị phân 11,012 có nghĩa là: Tổng số là 3,25 trong hệ thập phân. Tất cả các nhị thức số hữu tỷ formula_16 đều có một số nhị phân hữu hạn— Biểu thức nhị phân có một dãy số giới hạn sau điểm chia phân số ("radix point"). Các số hữu tỷ khác cũng có biểu thị nhị phân ("binary representation"), song thay vì là một dãy số hữu hạn, một loạt dãy các con số hữu hạn được lặp đi lặp lại, theo một tiến trình vô hạn. Chẳng hạn: formula_17 = formula_18 = formula_19 = formula_20 = 0.10110100 10110100 Hiện tượng biểu thị nhị phân cho một phân thức có thể là một dãy số hữu hạn ("terminating") hoặc là một dãy số vô hạn cũng được thấy trong các hệ số dựa trên cơ số khác ("radix-based numeral systems"). Xem thêm phần giải thích như trong bản phân tích về hệ thập phân. Một biểu hiện tương tự các cách biểu thị phân số hữu hạn, dựa vào thực tế 0,("geometric series") 2−1 + 2−2 + 2−3 +... tức là 1. Số nhị phân vừa không phải là số hữu hạn, cũng không phải là số vô hạn thì được gọi là số vô tỷ ("irrational number"). Chẳng hạn:
Trần Xuân Bách (23 tháng 5 năm 1924 – 1 tháng 1 năm 2006) là chính khách, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, là người có chủ trương đa đảng ở Việt Nam. Ông tên thật là Vũ Thiện Tuấn quê tại xã Nam Ninh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Nay là xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông đã từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Giám đốc Công an Khu III, Chánh Văn phòng Liên khu ủy III, Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh: Nam Định, Sơn Tây, Nam Hà, Trưởng ban Tôn giáo vận Trung ương, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị. Trần Xuân Bách đã tham gia Bộ chỉ huy tối cao chiến dịch giải phóng Campuchia năm 1979 với tư cách là Phó Chính ủy, (Chính ủy là ông Lê Đức Thọ) sau đó ông làm trưởng Ban B68 của Đảng Cộng sản Việt Nam (chỉ đạo bộ máy hành chính của Campuchia). Ông là Bí thư Trung ương Đảng từ khóa V (1982), Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng và được giao nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận, phụ trách về tư tưởng - văn hoá và khoa giáo của Đảng kiêm Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, dưới thời ông Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa II, III, IV, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa III, IV. Bê bối và kỷ luật. Ông đã có nhiều bài viết và phát biểu theo hướng đổi mới mạnh mẽ theo xu hướng "đa nguyên", "đa đảng" khi trào lưu cải tổ do Gorbachov đưa ra đang lan tràn trong nhiều nước cộng sản. Do đó, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 3 năm 1990), Trần Xuân Bách đã bị phê phán gay gắt và bị kỷ luật, phải ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương nhưng không bị khai trừ khỏi Đảng. Sau một thời gian ông được Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch mời về làm tại ban nghiên cứu ở Bộ Ngoại giao cho đến tháng 8 năm 1990 thì nghỉ hưu. Giáo sư Carl Thayer cho biết, ""ông Bách không được đi nước ngoài, không được gặp hay tiến xúc với người nước ngoài, tất cả những gì về ông thì bỗng dưng trở nên kín kẽ. Và ông trở thành nhân vật vô danh tiểu tốt kể từ năm 1990 cho đến ngày ông qua đời." Ông từng phát biểu: "Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng… Dân chủ là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát - do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ là khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc và đưa đất nước đi lên kịp thời đạ"". Do lâm bệnh nặng, ông đã mất hồi 15 giờ 34 phút, ngày 1 tháng 1 năm 2006. Ông được mai táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, nơi chôn cất các nhân vật lãnh đạo cao cấp. Ông đã được tặng thưởng các Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất, Huân chương Angkor của Nhà nước Campuchia. Theo cuốn Bên thắng cuộc thì lúc sinh thời ông đã hai lần lập gia đình. Năm 1956 ông ly dị và sống độc thân 20 năm. Cho đến năm 1976 thì ông kết hôn với người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Đức Thịnh. Ông và bà có với nhau 2 người con gái sinh năm 1977 và 1982. Sau khi ông Bách bị kỷ luật, cách chức ủy viên Bộ chính trị, ủy viên Trung ương Đảng thì bà Thịnh bị cơ quan "cho ra đứng vỉa hè, giữ xe máy cho khách đến liên hệ với cơ quan".
Hệ thống thông tin di động toàn cầu Hệ thống thông tin di động toàn cầu (tiếng Anh: "Global System for Mobile Communications"; tiếng Pháp: "Groupe Spécial Mobile"; viết tắt: GSM) là một công nghệ dùng cho mạng thông tin di động. Dịch vụ GSM được sử dụng bởi hơn 2 tỷ người trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các mạng thông tin di động GSM cho phép có thể chuyển vùng (roaming) với nhau do đó những máy điện thoại di động GSM của các mạng GSM khác nhau ở có thể sử dụng được nhiều nơi trên thế giới. GSM là chuẩn phổ biến nhất cho điện thoại di động (ĐTDĐ) trên thế giới. Khả năng phú sóng rộng khắp nơi của chuẩn GSM làm cho nó trở nên phổ biến trên thế giới, cho phép người sử dụng có thể sử dụng ĐTDĐ của họ ở nhiều vùng trên thế giới. GSM khác với các chuẩn tiền thân của nó về cả tín hiệu và tốc độ, chất lượng cuộc gọi. Nó được xem như là một hệ thống Mạng thông tin di động thế hệ thứ hai ("second generation", 2G). GSM là một chuẩn mở, hiện tại nó được phát triển bởi 3rd Generation Partnership Project (3GPP). Đứng về phía quan điểm khách hàng, lợi thế chính của GSM là chất lượng cuộc gọi tốt hơn, giá thành thấp và dịch vụ tin nhắn. Thuận lợi đối với nhà điều hành mạng là khả năng triển khai thiết bị từ nhiều người cung ứng. GSM cho phép nhà điều hành mạng có thể sẵn sàng dịch vụ ở khắp nơi, vì thế người sử dụng có thể sử dụng điện thoại của họ ở khắp nơi trên thế giới. Giao diện vô tuyến. GSM là mạng điện thoại di động thiết kế gồm nhiều tế bào (cell) do đó các máy điện thoại di động kết nối với mạng bằng cách tìm kiếm các cell gần nó nhất. Các mạng di động GSM hoạt động trên 4 tần số. Hầu hết thì hoạt động ở tần số 900 MHz và 1800 MHz. Vài nước ở Châu Mỹ thì sử dụng tần số 850 MHz và 1900 MHz do tần số 900 MHz và 1800 MHz ở nơi này đã bị sử dụng trước. Và cực kỳ hiếm có mạng nào sử dụng tần số 400 MHz hay 450 MHz chỉ có ở Scandinavia sử dụng do các băng tần khác đã bị cấp phát cho việc khác. Các mạng sử dụng tần số 900 MHz thì đường lên (từ thuê bao di động đến trạm truyền dẫn uplink) sử dụng tần số trong dải 890–915 MHz và đường xuống downlink sử dụng tần số trong dải 935–960 MHz. Và chia các băng tần này thành 124 kênh với độ rộng băng thông 25 MHz, mỗi kênh cách nhau một khoảng 200 kHz. Khoảng cách song công (đường lên xuống cho 1 thuê bao) là 45 MHz. Ở một số nước, băng tần chuẩn GSM900 được mở rộng thành E-GSM, nhằm đạt được dải tần rộng hơn. E-GSM dùng 880–915 MHz cho đường lên và 925–960 MHz cho đường xuống. Như vậy, đã thêm được 50 kênh (đánh số 975 đến 1023 và 0) so với băng GSM-900 ban đầu. E-GSM cũng sử dụng công nghệ phân chia theo thời gian TDM ("time division multiplexing"), cho phép truyền 8 kênh thoại toàn tốc hay 16 kênh thoại bán tốc trên 1 kênh vô tuyến. Có 8 khe thời gian gộp lại gọi là một khung TDMA. Các kênh bán tốc sử dụng các khung luân phiên trong cùng khe thời gian. Tốc độ truyền dữ liệu cho cả tám kênh là 270.833 kbit/s và chu kỳ của một khung là 4.615 m. Công suất phát của máy điện thoại được giới hạn tối đa là 2 watt đối với băng GSM 850/900 MHz và tối đa là 1 watt đối với băng GSM 1800/1900 MHz. Mã hóa âm thanh GSM sử dụng khá nhiều kiểu mã hóa thoại để nén tần số audio 3,1 kHz vào trong khoảng 6.5 and 13 kbit/s. Ban đầu, có 2 kiểu mã hoá là bán tốc (haft rate -5.6 kbps)và toàn tốc (Full Rate -13 kbit/s)). Để nén họ sử dụng hệ thống có tên là "mã hóa dự đoán tuyến tính" (linear predictive coding - LPC). GSM được cải tiến hơn vào năm 1997 với mã hóa EFR (mã hóa toàn tốc cải tiến -Enhanced Full Rate), kênh toàn tốc nén còn 12.2 kbit/s. Sau đó, với sự phát triển của UMTS, EFR được tham số lại bởi kiểu mã hóa biến tốc, được gọi là AMR-Narrowband. Có tất cả bốn kích thước cell site trong mạng GSM đó là macro, micro, pico và umbrella. Vùng phủ sóng của mỗi cell phụ thuộc nhiều vào môi trường. Macro cell được lắp trên cột cao hoặc trên các toà nhà cao tầng, micro cell lại được lắp ở các khu thành thị, khu dân cư, pico cell thì tầm phủ sóng chỉ khoảng vài chục mét trở lại nó thường được lắp để tiếp sóng trong nhà. Umbrella lắp bổ sung vào các vùng bị che khuất hay các vùng trống giữa các cell. Bán kính phủ sóng của một cell tuỳ thuộc vào độ cao của anten, độ lợi anten thường thì nó có thể từ vài trăm mét tới vài chục km. Trong thực tế thì khả năng phủ sóng xa nhất của một trạm GSM là 35 km (22 dặm). Một số khu vực trong nhà mà các anten ngoài trời không thề phủ sóng tới như nhà ga, sân bay, siêu thị... thì người ta sẽ dùng các trạm pico để chuyển tiếp sóng từ các anten ngoài trời vào. Vào đầu thập niên 1980 tại châu Âu người ta phát triển một mạng điện thoại di động chỉ sử dụng trong một vài khu vực. Sau đó vào năm 1982 nó được chuẩn hoá bởi CEPT (European Conference of Postal and Telecommunications Administrations) và tạo ra Groupe Spécial Mobile (GSM) với mục đích sử dụng chung cho toàn châu Âu. Mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiên bởi Radiolinja ở Phần Lan. Vào năm 1989 công việc quản lý tiêu chuẩn vá phát triển mạng GSM được chuyển cho viện viễn thông châu Âu ("European Telecommunications Standards Institute" - ETSI), và các tiêu chuẩn, đặc tính phase 1 của công nghệ GSM được công bố vào năm 1990. Vào cuối năm 1993 đã có hơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia. Cấu trúc mạng GSM. Một mạng GSM để cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hàng cho nên nó khá phức tạp vì vậy sau đây sẽ chia ra thành các phần như sau: chia theo phân hệ: Chức năng của BSC: Chức năng của BTS: BSS nối với NSS thông qua luồng PCM cơ sở 2 Mbps Một bộ phận quan trọng của mạng GSM là modul nhận dạng thuê bao, còn được gọi là thẻ SIM. SIM là 1 thẻ nhỏ, được gắn vào máy di động, để lưu thông tin thuê bao và danh bạ điện thoại. Các thông tin trên thẻ SIM vẫn được lưu giữ khi đổi máy điện thoại. Người dùng cũng có thể thay đổi nhà cung cấp khác, nếu đổi thẻ SIM. Một số rất ít nhà cung cấp dịch vụ mạng ngăn cản điều này bởi việc chỉ cho phép 1 máy dùng 1 SIM hay dùng SIM khác, nhưng do họ sản xuất, được gọi là tình trạng Khóa SIM. Ở Australia, Bắc Mỹ và châu Âu, một số nhà khai thác mạng viễn thông tiến hành khóa máy di động họ bán. Lý do là giá của các máy này được những nhà cung cấp đó tài trợ, và họ không muốn người dùng mua máy đó để xài cho hãng khác. Người dùng cũng có thể liên hệ với nhà sản xuất để đăng ký gỡ bỏ khóa máy. Số được khóa theo máy di động là số Nhận dạng máy di động quốc tế IMEI (International Mobile Equipment Identity), chứ không phải số thuê bao. Một vài nước như Bangladesh, Belgium, Costa Rica, India, Indonesia, Malaysia, và Pakistan tất cả các máy di động đều được bỏ khóa (Tất nhiên, cả Việt Nam nữa).
Nông Thị Trưng (6 tháng 12 năm 1920 – 26 tháng 1 năm 2003) là một nữ cán bộ cách mạng lão thành, đã tham gia Việt Minh trong phong trào chống Pháp ở Việt Nam từ đầu thập niên 1940. Bà từng giữ chức Chánh án Toà án nhân dân Tỉnh Cao Bằng. Bà có tên thật là Nông Thị Bảy, có tài liệu ghi Nông Thị Ngát, quê ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Theo hồi ký của thiếu tướng Lê Quảng Ba, Nông Thị Trưng là đội viên du kích trẻ tuổi nhất trong đội du kích đầu tiên của tỉnh Cao Bằng, do Lê Thiết Hùng chỉ huy. Trong vòng tám tháng vào năm 1941-1942, bà đã làm giao liên cho "Già Thu", bí danh của Hồ Chí Minh lúc đó. Tên Trưng của bà do "Già Thu" đặt, có ý muốn bà noi gương Trưng Trắc, Trưng Nhị. Cùng với các đảng viên và nhân dân Hà Quảng có điều kiện ở gần Hồ Chí Minh, bà đã được ông trực tiếp dạy văn hóa. Bà được Hồ Chí Minh kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 25 tháng 12 năm 1941. Bà là một trong những phụ nữ đầu tiên của Cao Bằng sớm tham gia cách mạng, và trở thành một trong những cán bộ, đảng viên cốt cán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hoạt động cách mạng. Tờ báo Xuân "Phụ Nữ" năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề "Cô Học Trò Nhỏ của Bác Hồ" được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính Nông Thị Trưng có đoạn: ""Tháng 7 năm 1941, được tin (chính quyền) châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu uỷ đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác." "Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp "ông Ké". Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay "Cháu chào cụ ạ". Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện"." Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: ""Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng"." Nông Thị Trưng đã học tập lý luận cách mạng cùng "Già Thu" trong khoảng 8 tháng. ""Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như "Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồ". Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này"". Đoạn hồi ký trên còn được đăng tại Tạp chí Công nghiệp. Khi biết Nông Thị Trưng là người ham học, hàng ngày lấy than và que để viết chữ và vẽ hình, Hồ Chí Minh đã gửi cho bà một số vở, bút viết, với bài thơ mà sau này được đưa vào sách giáo khoa Việt Nam: "Vở này ta tặng cháu yêu ta "Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là "Mong cháu ra công mà học tập "Mai sau cháu giúp nước non nhà Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nguyên thì bài thơ được viết năm 1944 và có tên "Tặng cháu Nông Thị Trưng". Hồ Chí Minh cũng tặng Nông Thị Trưng quyển Binh pháp Tôn Tử để bà hiểu biết thêm về quân sự, nhằm cùng đội du kích sáng tạo cách tổ chức, hoạt động và cách đánh Pháp. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, chồng bà đưa cho bà xem bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình. Khi đó bà mới biết người dạy học cho mình chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ năm 1964 đến năm 1980 (trước khi nghỉ hưu), bà được phân công làm Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Ngày Hồ Chí Minh qua đời, bà tham gia đoàn cán bộ và nhân dân Cao Bằng về Hà Nội dự tang lễ. Với tư cách là cán bộ hoạt động thân cận với Hồ Chủ tịch ngay từ những ngày buổi đầu cách mạng, bà vinh dự được túc trực bên linh cữu hai lần, vào sáng và chiều ngày 8 tháng 9 - 1969. Tạp chí Asia Times đã dẫn lại tin đồn cho rằng Nông Thị Trưng là mẹ đẻ của Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001. Tuy nhiên, Nông Đức Mạnh đã khẳng định đây là tin đồn vô căn cứ, và rằng cha mẹ ông là ông Nông Văn Lại và bà Hoàng Thị Nhị, quê ông ai cũng biết hàng năm tháng ba âm lịch (tết thanh minh) ông luôn về quê để tảo mộ cha mẹ (hai người đều mất sớm), và ông còn có em trai, em gái ở quê. Chồng bà Nông Thị Trưng là ông Hoàng Văn Thạch, họ yêu nhau lúc bà 19 tuổi rồi xây dựng gia đình với nhau. Ông Thạch sớm tham gia cách mạng và lấy tên là Hoàng Hồng Tiến, ông từng bị quân Pháp bắt giam ở nhà tù Hoả Lò, rồi đày đi nhà tù Sơn La từ năm 1941 đến năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giải thoát khỏi nhà tù, năm 1946 là Bí thư Tỉnh uỷ Lạng Sơn. Đầu năm 2003, bà qua đời. Báo Nhân dân có đăng tin buồn, lấy từ Thông tấn xã Việt Nam. Thông báo này cũng từng công bố trên website của báo, ở địa chỉ số 5 phố Lý Thường Kiệt, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Dược điển Việt Nam Dược điển Việt Nam là dược điển do Hội đồng dược điển Việt Nam biên soạn. Đây là tập hợp tất cả các tiêu chuẩn cho dược phẩm của Việt Nam (và có mặt trên thị trường Việt Nam) và tiêu chuẩn áp dụng sẽ căn cứ vào ấn bản mới nhất. Không giống như các quốc gia khác là có các ấn bản theo chu kỳ, Dược điển Việt Nam đến nay có năm bản ấn hành Dược điển Việt Nam cập nhật đổi mới theo chu kì mỗi 5 năm 1 lần, tùy theo hoàn cảnh hiện thời. Các tài liệu tham khảo để xây dựng Dược điển Việt Nam từ nhiều dược điển trên thế giới gồm: Dược điển Hoa Kỳ (USP), Dược điển Anh (BP) Dược điển tham chiếu. Trong một số trường hợp, nếu một thuốc cần kiểm định nhưng không có trong Dược điển Việt Nam thì có thể dùng các Dược điển tham chiếu mà không cần phải thẩm định lại. Các Dược điển tham chiếu gồm 5 dược điển sau:
Karaoke (, Karaoke) là một hình thức giải trí bằng cách đệm nhạc theo lời bài hát trên màn hình. Từ karaoke có gốc từ 空 "kara" ("không," cũng như trong môn võ karate - từ kara có nghĩa là không) và "oke" オーケストラ ("ōkesutora" có nghĩa là "dàn nhạc", có gốc từ tiếng Anh "orchestra") trong tiếng Nhật. Thông thường một bài hát được ghi âm bao gồm người hát và nhạc đệm. Thay vì bài hát có cả nhạc đệm và xướng âm, các video karaoke có nhạc của bài hát. Phần xướng âm sẽ được người tham gia hát trực tiếp (và không phải là chuyên nghiệp), người sẽ cầm microphone hát theo những dòng chữ lời bài hát hiện trên màn hình trên nền nhạc giai điệu của bài hát. Karaoke lần đầu tiên được biết đến tại một quầy bar ở thành phố Kobe của Nhật Bản. Tại Nhật Bản thời đó, hình thức giải trí âm nhạc đã khá phổ biến trong những buổi tiệc. Theo như một câu chuyện được kể lại rằng, tại một quán bar, trong một buổi biểu diễn, khi cây ghi ta không đến chơi được vì bị ốm, người chủ cửa hàng đã chuẩn bị những bǎng nhạc thu thanh sẵn và ca sĩ lại hát theo bǎng. Hình thức này đã được nhiều khách hưởng ứng và thậm chí họ cũng muốn thử hát. Nhận thấy đó là một thị trường đầy tiềm năng, chủ cửa hàng đã cho sản xuất những máy karaoke được đặt tại các cửa hàng, các khách sạn, và được ghi sẵn nhiều bài hát. Karaoke sẽ tiếp tục có những bước tiến xa hơn trong cả hai phát triển công nghệ và phổ biến. Ngày nay karaoke đã phổ biến hầu như khắp thế giới. Năm 2004, Inoue được trao giải Ig Nobel về hòa bình do phát minh của mình. Xu hướng mới đến từ Tây Nhật Bản. Có một câu nói ở Nhật Bản rằng "xu hướng mới đến từ phương Tây của Nhật Bản". Siêu thị và phòng tắm hơi đầu tiên của Nhật Bản đã được thành lập tại khu vực Kansai, và Kansai đã liên tục tạo ra các doanh nghiệp độc đáo và các sản phẩm như một mì ăn liền hoặc cửa bán vé tự động. Đặc biệt trong số các thành phố trong khu vực Kansai, Kobe có bầu không khí đô thị đầu tiên. Có một câu nói rằng "thời trang đến từ Kobe". Người ta nói rằng thời trang của phụ nữ trẻ được công nhận đầu tiên tại Kobe và trở nên phổ biến ở Tokyo sau đó. Kể từ cảng Kobe được mở cửa cho thương mại quốc tế trong năm 1868, vào đêm trước của Minh Trị Duy tân, Kobe đã dẫn đường hướng đến giao lưu quốc tế, và thu hút nhiều người nước ngoài đến đây sinh sống và làm việc. Khu dân cư kiểu phương Tây, trong đó người nước ngoài sử dụng để sống là nằm ở Kitano-cho, nơi một lễ hội nhạc jazz được tổ chức hàng năm, cho thấy Kobe là một thánh địa cho người hâm mộ nhạc jazz. Ngoài ra, nhiều người nước ngoài tham gia "Liên hoan Kobe", được biết đến với cuộc diễu hành của mình sinh động với nhịp điệu samba và khiêu vũ. như vậy khuynh hướng âm nhạc có thể nằm đằng sau sự ra đời của karaoke. Công nghệ đổi mới sáng tạo và dàn karaoke. Mặc dù karaoke là lần đầu tiên một giải trí chủ yếu cho những người kinh doanh, nó đã phát triển được một giải trí trên toàn quốc, nhờ sự phát triển công nghệ và kinh doanh mới được gọi là "dàn karaoke". Ban đầu trong hình thức của băng đệm một bài hát nổi tiếng, karaoke tiến hóa để các đĩa nhỏ gọn, có thể xác định vị trí bắt đầu của một bài hát ngay lập tức. Sự phát triển này cũng có thể tăng cường cảnh video để tạo ra một bầu không khí thích hợp cho mỗi bài hát được thực hiện, hiển thị trên một màn hình TV cùng với các từ. Sử dụng đổi mới công nghệ như đĩa video, đĩa laser, và CD-G, karaoke đã phát triển được một ngành công nghiệp giải trí lớn. Bộ gia đình sử dụng karaoke cũng đã trở nên phổ biến, làm cho vui chơi giải trí trước đây là hạn chế đến tối các điểm có thể có trong nhà. Tuy nhiên, có một trở ngại cho mục tiêu này của doanh nghiệp: vì hầu hết các ngôi nhà Nhật Bản đứng gần nhau và vẫn đang được xây dựng bằng gỗ, cách âm kém, nó sẽ rất khó chịu của những người hàng xóm hát vào micro vào ban đêm. Nắm bắt khi cơ hội được tạo ra bởi vấn đề này, các nhà doanh nghiệp tạo ra các dàn karaoke, một cơ sở bên đường có chứa đóng cửa phòng cách nhiệt cho ca hát. Chúng được quảng cáo như là một nơi mà bạn có thể hát với nội dung trái tim của bạn. Dàn karaoke đầu tiên xuất hiện vào năm 1984 tại một cánh đồng lúa ở vùng nông thôn của tỉnh Okayama, phía Tây của khu vực Kansai (nay là Kinki). Nó được xây dựng từ một chiếc xe vận tải hàng hóa chuyển đổi. Kể từ đó, các dàn karaoke được xây dựng trên cơ sở trống khắp Nhật Bản, và trong các khu vực đô thị, phòng karaoke, trong đó bao gồm các khoang được thực hiện bởi phòng phân vùng và cách âm trong một tòa nhà, đã được giới thiệu và thiết lập một. Như các cơ sở này đã được thành lập chủ yếu để cung cấp chỗ để vui chơi ca hát, họ đã trở thành phổ biến rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực dân số - lao động nữ văn phòng, bà nội trợ, sinh viên đại học, và thậm chí cả học sinh trung học. Từ dàn karaoke được cơ sở đóng cửa, họ đã trở thành một đối tượng của công chúng quan tâm như nơi trú ẩn tiềm năng cho những hành động xấu trong giới trẻ. Mặt khác, tuy nhiên, vì không phải một vài gia đình thích hát với nhau trong dàn karaoke. Dàn karaoke cũng đóng một vai trò như là một nơi để giao tiếp trong gia đình qua việc ca hát. Điều này là rất quan trọng tại một thời điểm khi khoảng cách thế hệ và sự tan vỡ gia đình là một mối quan tâm trên toàn quốc. Làm thế nào, sự bùng nổ karaoke đã lan rộng ra nước ngoài, được hưởng không chỉ ở Hàn Quốc và Trung Quốc mà còn ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ và châu Âu. Kể từ khi hát karaoke sẽ hiển thị những từ và những cảnh của một bài hát trên một màn hình, nó cũng đã được thu hút sự chú ý của các nước đang cố gắng để cải thiện tỷ lệ biết chữ của họ, như là một công cụ giáo dục tốt. Với công nghệ ngày càng phát triển, để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của mọi người thì micro karaoke không dây ra đời. Micro không dây là loại micro karaoke không có dây cáp kết nối trực tiếp từ micro đến âm ly, mixer, thiết bị thu âm thanh. Loại mic này còn có tên gọi là micro vô tuyến. Với các tần số hoạt động UHF hoặc VHF, loại mic này hoạt động hoàn toàn dựa trên bộ phận truyền tải vô tuyến. Bộ phận này chạy bằng năng lượng pin và được gắn bên trong thân mic. Do đó, thiết bị này rất linh hoạt di chuyển trong một phạm vi nhất định mà vẫn có thể truyền tải âm thanh tốt.
Đại Từ là một huyện nằm ở phía tây nam tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Vị trí địa lý. Huyện Đại Từ nằm ở phía tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 25 km, có vị trí địa lý: Dân số toàn huyện khoảng 160.598 người (năm 2012). Mật độ dân số đạt 282 người/km². Các dân tộc chủ yếu tại địa bàn huyện là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu phân bố khá đồng đều trên toàn huyện. Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số của huyện giảm 2.900 người do có nhiều người di chuyển đi nơi khác. Đại Từ có lượng mưa lớn (trung bình 1.700-1.800 mm/năm) độ ẩm trung bình 70%-80%, nhiệt độ trong năm từ 22 °C-27 °C, cao nhất trong tháng 6 năm 2013 (32 °C), lạnh nhất trong tháng 1 năm 2014 (6 °C). Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.890 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 26,87%; đất lâm nghiệp chiếm 45,13%; còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 28%. Trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa sử dụng chiếm 17,35%, chủ yếu là đất đồi núi và sông suối. Trên địa bàn huyện đất được hình thành bởi 8 nhóm, trong đó có 4 nhóm đất chính là: - Đất xám mùn trên núi có: 16.400 ha chiếm tỷ lệ 28,37% - Đất Feralit phát triển trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14% - Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ: 1.3036 ha chiếm 22,55% - Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ: 13.247 ha chiếm 22,94% Diện tích rừng toàn huyện là 24.469 ha. Trong đó rừng trồng trên 9.000 ha, rừng tự nhiên 15.000 ha. Hiện nay nhiều diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác, mặt khác diện tích đất có khả năng lâm nghiệp còn khá lớn, cần phủ xanh để nâng cao độ che phủ và cũng là tiềm năng để phát triển cây lâm nghiệp có giá trị cao. Đại Từ có khá nhiều tài nguyên khoáng sản: Huyện Đại Từ có 29 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn: Hùng Sơn (huyện lỵ), Quân Chu và 27 xã: An Khánh, Bản Ngoại, Bình Thuận, Cát Nê, Cù Vân, Đức Lương, Hà Thượng, Hoàng Nông, Khôi Kỳ, Ký Phú, La Bằng, Lục Ba, Minh Tiến, Mỹ Yên, Na Mao, Phú Cường, Phú Lạc, Phú Thịnh, Phú Xuyên, Phúc Lương, Phục Linh, Tân Linh, Tân Thái, Tiên Hội, Vạn Thọ, Văn Yên, Yên Lãng. Huyện Đại Từ được đặt từ thời nhà Trần. Sách "Thiên hạ lợi bệnh toàn thư" chép: "Năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419)… dồn huyện TNông vào huyện An Định; huyện Phú Lương, huyện Đại Từ vào huyện Tuyên Hóa". Đầu nhà Lê, huyện Đại Từ thuộc phủ Thái Nguyên; năm 1466 thuộc thừa tuyên Thái Nguyên; năm 1469 thuộc thừa tuyên Ninh Sóc; năm 1490 thừa tuyên Ninh Sóc đổi lại là xứ Thái Nguyên, Đại Từ thuộc xứ Thái Nguyên, toàn huyện có 22 xã, trang. Từ thời Tây Sơn đến đầu thời Nguyễn, hai huyện Đại Từ và Văn Lãng thuộc phủ Phú Bình (trấn Thái Nguyên, sau là tỉnh Thái Nguyên). Năm 1835, nhà Nguyễn cắt châu Định (Định Hóa) và 3 huyện Đại Từ, Văn Lãng, Phú Lương khỏi phủ Phú Bình để lập phủ Tòng Hóa. Thời vua Đồng Khánh (1886 - 1889), huyện Đại Từ có 7 tổng, gồm 28 xã, trang, phường; huyện Văn Lãng có 7 tổng, gồm 12 xã, trang. Năm Khải Định thứ 6 (1922), huyện Văn Lãng gộp vào huyện Đại Từ thành huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38 xã. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bỏ cấp tổng, các xã, làng, xóm ở Đại Từ có nhiều biến động do việc phân chia địa giới hành chính và đặt tên mới cho phù hợp. Huyện Đại Từ khi đó gồm có thị trấn Đại Từ và 29 xã: An Khánh, Bản Ngoại, Bình Thuận, Cát Nê, Cù Vân, Đức Lương, Hà Thượng, Hoàng Nông, Hùng Sơn, Khôi Kỳ, Ký Phú, La Bằng, Lục Ba, Minh Tiến, Mỹ Yên, Na Mao, Phú Cường, Phú Lạc, Phú Thịnh, Phú Xuyên, Phục Linh, Phúc Lương, Phúc Thọ, Quân Chu, Tân Thái, Tiên Hội, Vạn Thọ, Văn Yên, Yên Lãng. Năm 1965, Quốc hội ban hành quyết định sáp nhập 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, huyện Đại Từ thuộc tỉnh Bắc Thái. Ngày 27 tháng 10 năm 1967, thành lập thị trấn nông trường Quân Chu. Ngày 1 tháng 10 năm 1983, xã Phúc Thọ (xã có nhiều diện tích đất đai bị chìm trong lòng Hồ Núi Cốc) sáp nhập với các xóm Tân Thắng, Đồng Đẳng của xã Phúc Thuận (huyện Phổ Yên), xóm Yên Ninh của xã Phúc Trìu (huyện Đồng Hỷ) thành xã Phúc Tân thuộc huyện Đồng Hỷ. Đồng thời, xóm Quyết Tiến của xã Tân Thái sáp nhập vào xã Bình Thuận. Huyện Đại Từ còn lại thị trấn Đại Từ, thị trấn nông trường Quân Chu và 28 xã: An Khánh, Bản Ngoại, Bình Thuận, Cát Nê, Cù Vân, Đức Lương, Hà Thượng, Hoàng Nông, Hùng Sơn, Khôi Kỳ, Ký Phú, La Bằng, Lục Ba, Minh Tiến, Mỹ Yên, Na Mao, Phú Cường, Phú Lạc, Phú Thịnh, Phú Xuyên, Phục Linh, Phúc Lương, Quân Chu, Tân Thái, Tiên Hội, Vạn Thọ, Văn Yên, Yên Lãng. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Thái Nguyên được tái lập từ tỉnh Bắc Thái, huyện Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên. Ngày 10 tháng 4 năm 1999, xã Phục Linh được chia thành 2 xã: Phục Linh và Tân Linh. Ngày 13 tháng 1 năm 2011, thị trấn Quân Chu được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và dân số của hai xã Quân Chu và Cát Nê sau khi giải thể thị trấn nông trường Quân Chu. Ngày 13 tháng 12 năm 2013, sáp nhập xã Hùng Sơn vào thị trấn Đại Từ để thành lập thị trấn Hùng Sơn. Ngày 14 tháng 5 năm 2019, Bộ Xây dựng ký Quyết định số 371/QĐ-BXD, công nhận thị trấn Hùng Sơn là đô thị loại IV thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 10 tháng 4 năm 2023, sáp nhập xã Quân Chu vào thị trấn Quân Chu. Huyện Đại Từ có 2 thị trấn và 27 xã như hiện nay. Đại Từ là nơi ra đời của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên. Trên địa bàn huyện có 162 địa điểm di tích lịch sử văn hoá đã kiểm kê và 4 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Các di tích lịch sử văn hóa quan trọng: Cây trồng lương thực (lúa, ngô) và đặc biệt cây chè là thế mạnh của huyện. Các cây công nghiệp ngắn ngày chính gồm lạc, đậu tươ Cây chè là cây kinh tế mũi nhọn, là cây tạo ra sản phẩm hàng hoá vừa xuất khẩu, vừa tiêu thụ nội địa. Diện tích toàn huyện có 5.124 ha, trong đó chè kinh doanh có 4.470 ha, hàng năm cho sản lượng búp tươi đạt trên 30 ngàn tấn. Cây chè của Đại Từ nói riêng và Thái Nguyên nói chung hiện nay không ngừng cải thiện chất lượng. Giống chè trung du cũ cho năng xuất thấp và chất lượng kém cạnh tranh đang dần được thay thế bằng những giống chè mới LDP1, 777, Bát Tiên v.v là những chè đã được nghiên cứu và chọn lọc từ viện nghiên cứu cây chè Việt Nam, Viện khoa học nông nghiệp. Các giống chè này năng xuất lớn và chất lượng tốt đang góp phần cải nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào cho các máy chè đồng thời tạo thu nhập tốt hơn cho người dân trồng chè. Giống cây chè nói riêng và nhiều giống cây khác có giá trị cao phục vụ cho nông nghiệp, trồng rừng, cây sinh thái cảnh "Deutscher Entwicklungs Dients" (DED) được các chuyên viên của tổ chức này đánh giá cao. Ngành sản xuất cây chè và giống cây trồng hiện đang có thể là điểm sáng của nông nghiệp Đại Từ đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân trong những năm gần đây. Chủ yếu là khai thác, sơ chế khoáng sản và chế biến nông sản. Huyện có 2 mỏ than là mỏ Làng Cẩm, xã Phục Linh và mỏ Núi Hồng, xã Yên Lãng. Dự án mỏ đa kim Núi Pháo do công ty trách nhiệm hữu hạn khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo làm chủ đầu từ bắt đầu được triển khai từ năm 2010. Điểm du lịch quan trọng nhất của Đại Từ là khu du lịch Hồ Núi Cốc với diện tích 25 km², dung tích 175 triệu m³. Đây là khu du lịch thu hút nhiều khách trong và ngoài tỉnh đến nghỉ và tham quan, đồng thời cũng là nơi cung cấp nước phục vụ sản xuất và nước sinh hoạt cho các huyện phía nam của tỉnh Thái Nguyên. Khu du lịch hồ Núi Cốc có nhiều hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí, tham quan và nghỉ dưỡng như: du thuyền trên mặt hồ thăm các đảo, thăm huyền thoại cung (nghe kể truyền thuyết câu chuyện tình thủy chung chàng Cốc - nàng Công), thăm công viên cổ tích, vườn thú, Vui chơi tắm mát ở công viên nước. Tại đây có hệ thống khách sạn, nhà hàng ăn uống phong phú từ bình dân đến cao cấp. Ngoài ra còn có một số điểm di tích lịch sử khác như: Núi Văn - Núi Võ ở Văn Yên và Ký Phú; Di tích 27/7 (xã Hùng Sơn), Khu đài tưởng niệm Thanh niên xung phong (xã Yên Lãng); Khu di tích chiến khu Nguyễn Huệ (xã Yên Lãng); Nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên (xã La Bằng) và các khu du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Tam Đảo trải dài trên 11 xã. Đại Từ còn là nơi nối liền khu di tích lịch sử ATK (huyện Định Hoá) với Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang).
Tam công (chữ Hán: 三公) dùng để chỉ ba chức quan cao cấp nhất trong triều đình phong kiến tại các nước Á Đông như Trung Quốc và Việt Nam. Chức vị chi tiết từng bộ ba này thay đổi theo từng thời đại mà không cố định. Trong Thiên văn, Tam công là tên sao. Tấn thư, Thiên Văn Chí chép rằng: "Ba sao Tiêu Nam trong chòm sao Bắc Đẩu, sao Khôi đệ nhất, phía Tây ba sao nữa, đều gọi là Tam công. Trên trời, các sao này chủ về dụng đức cải hóa thế gian, hòa hợp chính sự, dung hòa Âm-Dương. Lại nói: Đông Bắc 3 sao gọi là Tam công, chủ những đại thần ngồi ở Triều đình". Tam công có xuất xứ từ nhà Chu, gồm ba chức quan là Thái sư, Thái phó (太傅) và Thái bảo (太保). Thời Tây Hán, thiết trí Thừa tướng, Thái úy và Ngự sử đại phu (御史大夫); sau lại sửa thành Đại tư đồ (大司徒), Đại tư mã (大司马) và Đại tư không (大司空). Đến thời Đông Hán, các chức danh này được đổi tên thành [Thái úy; 太尉]; [Tư đồ; 司徒] cùng [Tư không; 司空], được gọi là "Tam tư", vị trí dưới Thái phó, khi ấy xưng gọi Thượng công (上公). Thời Bắc Nguỵ thiết lập Thái sư, Thái phó và Thái bảo, gọi là Tam sư Thượng công (三師上公). Thời nhà Tùy và nhà Đường, các chức Tam công thuộc hàng vinh hàm. Sang thời nhà Tống, Tống Huy Tông đem đổi Tam công là Thái sư, Thái phó cùng Thái bảo (nguyên là Tam sư). Thời nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh, Tam công đã được mặc định thành Thái sư, Thái phó cùng Thái bảo, tiếp tục là một loại vinh hàm tối cao trong hệ thống. Lương bổng của Tam công thời Hán là một vạn thạch. Có lẽ là thạch lúa mì, vì thời đó gạo chưa phổ biến ở vùng phía Bắc sông Dương Tử, trung tâm của nhà Hán. Về sau, với sự hình thành của Lục bộ thì Tam công dần trở thành các chức danh danh dự, mang màu sắc là các cố vấn cao cấp của triều đình. Vì tính chất này, quá nửa các triều đại đều chỉ tặng Tam công sau khi vị lão thần qua đời mà thôi.
Bao Chửng (chữ Hán: 包拯; 5 tháng 3 năm 999 - 3 tháng 7 năm 1062), biểu tự Hy Nhân (希仁), thường được gọi là Bao Thanh Thiên (包青天) hay Bao Công (包公), người Lư Châu, Hợp Phì (giờ là huyện Phì Đông, thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy). Ông làm quan nhà Bắc Tống, quan tới tòng nhị phẩm Xu Mật Viện phó sứ, Triều tán Đại phu, Cấp sự trung, Thượng Khinh xa Đô úy, tước Đông Hải quận Khai quốc Hầu, thực ấp 1800 hộ, thực hưởng 400 hộ, nhận tử sắc kim ngư đại ngự ban. Khi mất được truy thăng hàm Lễ bộ Thượng thư, thụy Hiếu Túc (孝肅). Ông nổi tiếng vì sự chính trực, liêm khiết và tài xử án công chính được dân gian lưu truyền qua nhiều giai thoại. Bao Chửng nổi tiếng là một vị quan "thanh liêm, chấp pháp nghiêm minh, không khiếp sợ quyền uy hay vị nể tư tình" dưới thời hoàng đế Tống Nhân Tông. Theo truyền thuyết, Bao Công là Văn Xương Đế Quân lịch kiếp, Văn Xương Đế Quân còn là Văn Khúc Tinh Quân - một trong 7 vị Bắc Đẩu tinh quân, giáng trần, tên gọi là Văn Khúc Tinh Quân (文曲星君). Vì vậy, ngoài việc xử án ban ngày ở dương gian, ban đêm, ông còn phải xử án ở âm phủ. Trong văn hóa dân gian, vầng trăng trên trán ông tựa như ánh trăng soi sáng công lý ngay cả ở những nơi tăm tối nhất. Do ảnh hưởng từ hình tượng dân gian, ông còn được gọi là Bao Đãi Chế (包待制) do ông từng làm chức Đãi chế của Thiên Chương các (天章閣), sau lại nhậm chức Học sĩ ở Long Đồ các (龙图阁) mà được gọi thành Bao Long Đồ (包龙图). Đặc biệt nhất, Bao Chửng được lưu truyền trong dân gian với hình tượng mặt đen mà còn gọi là Bao Hắc Tử (包黑子) hay Bao Hắc Than (包黑炭). Bao Chửng người Hợp Phì, Lư Châu (nay là thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc). Cha ông là Bao Nghi, từng giữ chức đại phu trong triều. Sau khi qua đời, Bao Nghi được phong Hình bộ Thị lang. Lúc còn bé, Bao Chửng đã nổi tiếng là đứa con hiếu thảo, đôn hậu, sống mực thước. Năm 1027, ông thi đậu tiến sĩ, được cử đến nhậm chức Tri huyện Kiến Xương (nay thuộc tỉnh Giang Tây), nhưng vì song thân già yếu, ông không thể làm quan xa nên xin khoan nhận việc, để ở nhà chăm sóc cho cha mẹ. Sau khi cha mẹ qua đời, Bao Chửng đi nhậm chức Tri huyện Thiên Trường (nay thuộc tỉnh An Huy), sau đó là Tri châu Đoan Châu (nay thuộc Thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông). Nghe tiếng Bao Công tận tụy và thanh liêm, nhà vua cho triệu ông về kinh giao cho chức Trung thừa, rồi lần lượt thăng các chức Giám sát ngự sử, Trực học sĩ Long đồ các, Tam tư Hộ bộ Phó sử, đến Thiên Chương các Đãi chế (nên người đời sau còn gọi ông là "Bao Đãi chế"). Năm 1050, vì đàn hặc quốc trượng Trương Nghiêu Tá làm phật lòng hoàng đế Nhân Tông, ông bị thuyên chuyển đến Hà Bắc làm Nhậm đốc chuyển vận sứ. Bốn năm sau, ông mới được triệu về kinh nhậm chức Phủ doãn phủ Khai Phong. Đây là chức vị rất quan trọng, tương đương thị trưởng Bắc Kinh ngày nay, lo việc trị an kinh thành. Lúc ở phủ Khai Phong, Bao Công thường ngồi hướng Nam để tỏ lòng tôn kính hoàng đế, nhưng khi thăng đường ông lại ngồi theo hướng Bắc, do vậy trong các phim về Bao Công có câu "Bao Công đồ đảo tọa Nam nha Khai Phong phủ". Bao Công làm quan phủ doãn phủ Khai Phong chỉ trong vòng 1 năm. Thời gian còn lại, ông được thăng chức Thừa tướng, Ngự sử đài. Chức vụ cao nhất mà Bao Công đảm nhận ở cuối đời là Khu mật Phó sứ, tương đương với chức Phó Tể tướng. Thống kê ghi lại, những người bị Bao Chửng trừng trị không dưới 30 người là đối tượng quyền quý, hoàng thân quốc thích trong xã hội đương thời. Thậm chí ngay cả quốc trượng Trương Nghiêu Tá – cha đẻ của Trương quý phi được vua Nhân Tông sủng ái cũng bị Bao Chửng đàn hặc mà mất chức. Nhà văn đời Tống Âu Dương Tu đã dành cho Bao Chửng những lời bình luận: "Thuở nhỏ hiếu thuận, tiếng thơm khắp xóm làng, cuối đời chính trực, lưu danh khắp triều đình". Trong 27 năm làm quan, vị trí công việc rất đa dạng: làm Tri huyện Thiên Trường; Tri phủ Đoan Châu, Doanh Châu, Dương Châu, Lư Châu, Triệu Châu; Tri phủ Giang Ninh rồi Phủ doãn phủ Khai Phong, nắm giữ toàn bộ việc hình pháp, trị an trong kinh thành. Bao Công nhận mệnh đi sứ Khiết Đan, rồi về kinh làm Lễ bộ Thị lang, Tam ti Hộ bộ… Trước sau gánh vác công việc ở các bộ Công, Hình, Binh, Lễ. Chức vụ lớn nhất của Bao Công trước khi qua đời là Khu mật Phó sứ, tương đương phó tể tướng. Sau ông được phong hàm Thiên Chương các đãi chế, Long Đồ các trực học sĩ, Khu mật trực học sĩ. Năm 1062, ông lâm bệnh mất ở nơi làm việc, hưởng thọ 63 tuổi, điều đáng nói ở đây, là thời gian từ lúc lâm bệnh cho đến khi mất chỉ có 13 ngày, nên người ta nghi ngờ rằng ông mất một phần do thuốc của hoàng đế ban cho, do lúc sinh thời Bao Chửng từng xử những vụ án vạch mặt bọn thái y, nên bị bọn chúng căm ghét (từ lúc uống thuốc đến khi phát bệnh mất chỉ là 9 ngày). Sau này, các nhà khoa học thuộc Phòng Nghiên cứu năng lượng vật lý cao Học viện Khoa học Trung Quốc đã phối hợp với Viện Bảo tàng tỉnh An Huy tiến hành xét nghiệm những mảnh xương của Bao Công. Kết quả cho thấy: Hàm lượng các nguyên tố thủy ngân, sắt và calci trong xương Bao Công cao hơn nhiều so với xương của người hiện đại, trong khi đó hàm lượng chì và arsen (thạch tín) lại thấp hơn người thường. Ngày xưa, độc dược được sử dụng chủ yếu là tì sương (thạch tín) và chu sa (thủy ngân), chúng có độc tính cực mạnh. Kết quả này sơ bộ loại trừ khả năng Bao Công bị trúng độc cấp tính do uống phải thuốc có chứa thạch tín. Hoàng đế Tống Nhân Tông đích thân làm chủ lễ truy điệu, phong cho Bao Công là Lễ bộ Thượng thư, ban cho thụy hiệu "Hiếu Túc", có nghĩa là hiếu đạo và thiết diện vô tư và còn phái một đoàn ngự lâm quân hộ tống linh cữu ông về mai táng ở quê nhà ông. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, phong trào "Phá tứ cựu, lập Tứ tân" lan rộng khắp Trung Quốc. Bao Công bị xem là đáng trừng trị hơn tham quan vì đã ủng hộ, duy trì chế độ phong kiến, bị xếp vào loại "ngưu quỷ xà thần" phải quét sạch. Từ đường trở thành nhà nấu ăn của hợp tác xã, từ trong ra ngoài bị đập phá. Bia đá, hoành phi, liễn đối, tượng Vương Triều, Mã Hán đều nát vụn. Bức tượng Bao Công được làm từ gỗ đàn hương, lớn như người thật, bị các Hồng vệ binh dùng dao chém nát. Bộ gia phả "Bao thị tông phả" và bức họa truyền thần Bao Công lúc sinh tiền được truyền từ đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Dân quốc đã bị treo lên cây đốt cháy thành tro. Sau năm 1949, đền thờ Bao Công do nhà nước quản lý, thuộc Công viên Bao Hà. Bức họa Bao Công từng được đưa vào Tử Cấm Thành triển lãm, nhờ đó còn giữ được tấm ảnh chụp lại. Về sau, Bao Tiên Hải trao bức họa và gia phả cho con gái là Bao Huấn Chi cất giữ, cuối cùng bị Hồng vệ binh lục soát tìm thấy, đem ra đốt sạch. Năm 1973, khu mộ ông được di dời để xưởng luyện thép Hợp Phì số 2 xây lò nung vôi. Đến cuối tháng 8 năm 1973, việc khai quật khu mộ phần của Bao Công đã hoàn thành. Mười một bộ di cốt cùng 55 nhân dân tệ tiền phí an táng được trao cho đại diện hậu duệ Bao Công. Qua bàn bạc, các thành viên trong gia tộc quyết định thuê xe di quan từ Hợp Phì về gò Long Sơn, thôn Đại Bao, xã Văn Tập, huyện Phì Đông, tỉnh An Huy (nơi an táng tổ phụ, thân phụ Bao Công) nhưng không được chấp thuận nên họ phải chôn trộm. Ngày 6 tháng 10 năm 1985, tại Công viên Bao Hà, quần thể mộ phần Bao Công và từ đường Bao Công được phục chế lại hoành tráng. Ngày 4 tháng 4 năm 1986, tổ chức nghi thức "thiên an" tại Hợp Phì, 11 chiếc vò đựng di cốt được hạ xuống huyệt mộ đã làm sẵn mới phát hiện hoàn toàn rỗng không. Bao Tiên Chính - người đã an táng 11 vò di cốt đã qua đời mấy năm rồi, còn con cháu họ Bao đều lắc đầu nói không biết. Rất may còn 35 mảnh xương của Bao Công được gửi đi giám định tại Khoa Nghiên cứu Cổ nhân loại học và động vật có xương sống của Học viện Khoa học trung ương Trung Quốc ở Bắc Kinh, 20 trong số 35 mảnh xương được đưa vào quan tài bằng gỗ nam mộc đặt trong mộ huyệt của Bao Công, 15 mảnh xương còn lại được trưng bày trong Nhà Bảo tàng tỉnh An Huy. Hiện nay đền thờ của ông có hai câu liễn: "Lý Oan Ngục, Quan Tiết Bất Thông, Tự Thị Diệm La Khí Tượng. Chẩn Tai Lê, Từ Thiện Vô Lương, Y Nhiên Bồ Tát Tâm Trường". Đại ý nói về phẩm chất cao quý của ông. Bài thơ duy nhất còn lại. GS. Nguyễn Khắc Phi viết: Là một người có học vị cao và sống ở một thời đại văn thơ nở rộ, chắc Bao Công cũng sáng tác không ít, song đáng tiếc là cho đến nay chỉ còn lại một bài ông làm lúc mới bước vào đường hoạn lộ, đó là: Phim về Bao Công. Một trong những loạt phim nổi tiếng về Bao Công là "Bao Thanh Thiên", được quay tại Đài Loan với sự tham gia của Kim Siêu Quần (vai Bao Công) và Hà Gia Kính (vai Triển Chiêu). Bộ phim sớm trở nên nổi tiếng ở Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam. Trong phim, Bao Công xử các vụ án trong cương vị Phủ Doãn phủ Khai Phong (kinh đô nhà Tống). Trong thực tế lịch sử, ông làm ở chức vụ này khoảng 1 năm. Bao Công trong phim được mô tả là do sao Văn Khúc giáng sinh để đem lại công lý cho dương gian. Ban ngày ông xử án ở trần thế cho con người, ban đêm khi đi ngủ, thần thức của ông tiếp tục xuống âm phủ xử án cho các oan hồn. Giữa trán ông có vết sẹo hình trăng lưỡi liềm, tượng trung cho sự công chính, khi nguy cấp thì vết sẹo này có thể tỏa sáng để xua đuổi được tà ma yêu khí. Thực tế, Bao Công thật không có khuôn mặt đen và cũng không có vết sẹo hình Mặt Trăng như trong phim, thậm chí ông lại trắng trẻo và có phần thư sinh. Điều này là do ảnh hưởng của Kinh kịch, hát bội, Trong nghệ thuật Kinh Kịch, các diễn viên thường phải hóa trang mặt nạ trước khi biểu diễn. Mặt trắng là đại diện cho kẻ tiểu nhân; mặt đỏ là đại diện cho nghĩa khí, trung nghĩa; mặt đen đại diện cho nghiêm túc, công chính liêm minh, quân tử. Do đó, mặt Bao Công trong kịch và phim được tô đen để khắc họa bản tính liêm chính của ông. Từ tiểu thuyết, sân khấu đến phim ảnh đều gắn liền hình tượng Bao Công phá các đại án với thời gian làm Phủ doãn phủ Khai Phong. Kỳ thực Bao Công chỉ giữ chức này trong khoảng thời gian hơn một năm và trong chính sử không hề chép chuyện phá án nào của Bao Công trong giai đoạn này. Công lao lớn nhất của Bao Công khi giữ chức Phủ doãn Khai Phong (tương tự Thị trưởng Bắc Kinh ngày nay) là cải cách hành pháp và quy hoạch lại kinh thành để khỏi nạn ngập nước. Chức vụ cao nhất của Bao Công là hàm nhị phẩm, không có sử sách nào ghi rằng công đường của ông có ba khẩu Long-hổ-cẩu đầu đao để xử trảm tội phạm, cũng không có ghi chép nào cho thấy ông được vua ban Thượng phương bảo kiếm để có quyền "tiền trảm hậu tấu" như trong phim, truyện hay trên sân khấu mô tả. Về phá án, trong chính sử chỉ chép hai vụ: Ngoài 2 chuyện được chép trong chính sử ra, những vụ xử án nổi tiếng khác của Bao Công như "Chém Bao Miễn", "Xử án Trần Thế Mỹ", "Trảm Bàng Dục"... thì đều là tuồng tích. Như tra hết gia phả cũng như khu mộ gia tộc họ Bao không thấy có ai tên Bao Miễn. Bao Công lại là con một, không có anh em nên không thể có cháu ruột. Trần Thế Mỹ là nhân vật có thật nhưng lại ở vào đời Thanh, cách Bao Công đến hơn 600 năm. Bàng Thái sư (Bàng Tịch) trong phim được lấy hình tượng từ gian thần Trương Nghiêu Tá, nhưng trong lịch sử thì Bàng Tịch không phải là gian thần. Ông có con là Bàng Nguyên Anh, cháu là Bàng Cung Tôn đều làm quan, không có ai là Bàng Dục phạm tội bị Bao Công chém cả Hậu duệ chính thức của Bao Công khoảng 10.000 người ở các tỉnh An Huy, Triết Giang, Giang Tây, Vân Nam, tập trung nhiều nhất ở 2 thôn Đại Bao và Tiểu Bao thuộc xã Giải Tập, huyện Phì Đông, tỉnh An Huy. Hậu duệ của ông có nhiều người nổi tiếng:
Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (hoặc lễ Hiện xuống, lễ Giáng xuống, lễ Hạ trần) là một ngày lễ của Kitô giáo được cử hành vào ngày thứ năm mươi bắt đầu từ ngày lễ Phục sinh. Tên gọi ngày lễ này trong tiếng Hy Lạp nghĩa là ngày thứ năm mươi cho nên đây cũng được gọi là Lễ Ngũ Tuần (tuần ở đây được hiểu là khoảng thời gian mười ngày). Ngày thứ 40 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh có ngày lễ Chúa Giêsu lên trời (tức Lễ Thăng Thiên, rơi vào ngày Thứ năm) nhưng thường được dời vào ngày Chúa nhật kế tiếp. Ngày thứ 50 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh là ngày Lễ Ngũ Tuần kỉ niệm Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ theo Tân Ước, ngày này cũng được coi là ngày khai sinh ra Giáo hội. Ngày lễ này còn được gọi là ngày Hội mùa, vì ngày này đánh dấu một mùa thu hoạch sắp tới. Tại nhà thờ, ngày lễ này họ dâng lên bàn thờ Chúa những ổ bánh mì từ những hạt lúa mì đầu tiên. Đối với đạo Do Thái, Lễ Ngũ Tuần là ngày kỷ niệm dân Do Thái nhận Kinh Torah từ Môi-se ở Sinai. Nhưng quan trọng hơn, người ta kỷ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp Chúa Thánh Linh hiện xuống, ngày này được tin là mang đến những tín hiệu tốt lành và niềm tin vào sự sống. Tên gọi ngày lễ này trong một số nước châu Âu còn có nghĩa là phép thần trị bệnh - vào dịp lễ người ta mong ước và chúc cho nhau mọi bệnh tật sẽ qua khỏi. Theo luật thì những người Công giáo không được làm việc ăn công, lương vào ngày này. Tại một số quốc gia châu Âu (Đức, Áo, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Luxembourg, Hungary, Đan Mạch và ở nhiều vùng của Thụy Sĩ), ngày này và thứ hai kế tiếp là ngày nghỉ lễ có trả lương. 20 tháng 5 (Kitô giáo Tây phương) 27 tháng 5 (Kitô giáo Đông phương) 9 tháng 6 (Kitô giáo Tây phương) 16 tháng 6 (Kitô giáo Đông phương) 31 tháng 5 (Kitô giáo Tây phương) 7 tháng 6 (Kitô giáo Đông phương)
Subversion là một phần mềm mã nguồn mở dùng để quản lý và kiểm tra các phiên bản mã nguồn khác nhau trong quá trình phát triển phần mềm. Subversion cũng còn được gọi là svn. Svn là lệnh dùng để thực hiện các chức năng Subversion trong môi trường thi hành lệnh trên các máy vi tính. Subversion được thiết kế với mục đích thay thế phần mềm quản lý phiên bản "Concurrent Versioning System" (CVS) đã cũ và có nhiều nhược điểm. Một số các lập trình viên chính cho dự án CVS hiện đang tham gia phát triển Subversion. Subversion rất phổ biến trong giới mã nguồn mở và được dùng để quản lý mã nguồn cho nhiều ứng dụng Phần mềm miễn phí như: Apache Software Foundation, KDE, GNOME, Free Pascal, FreeBSD, GCC, Python, Django, Ruby, và Mono. SourceF, nơi chứa miễn phí chuyên nghiệp dành cho các ứng dụng tự do, đều có hỗ trợ Subversion cho các ứng dụng được lưu trữ trong máy chủ. Ngoài ra Google Code và BountySource chỉ sử dụng Subversion để quản lý các phiên bản mã nguồn. Subversion được phát hành với giấy phép Apache License. Do đó Subversion là một phần mềm nguồn mở và miễn phí. Dưới đây là một số các chương trình khách hay giao diện người dùng có khả năng truy cập các máy chủ chạy Subversion. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đà Lôi (#đổi , Chuyển tự Latinh: "", chữ Mông Cổ: ; chữ Hán: 拖雷; khoảng 1193 – 1232) là con trai út của Thành Cát Tư Hãn với Quang Hiếu hoàng hậu Bột Nhi Thiếp. Ông không ở ngôi Đại Hãn nhưng là cha của vua Hãn quốc Y Nhi là Húc Liệt Ngột và 2 Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ là Mông Kha và Hốt Tất Liệt. Năm Chí Nguyên thứ 3 (1266), Hốt Tất Liệt truy thụy hiệu cho cha mình là Cảnh Tương hoàng đế, miếu hiệu Duệ Tông. Đà Lôi vẫn còn rất nhỏ tuổi để phò tá Thành Cát Tư Hãn trong thời kỳ phụ hãn của ông thống nhất Mông Cổ. Đà Lôi thậm chí suýt bị sát hại bởi kẻ thù Thát Đát (Tatar) lúc ông mới 5 tuổi, nhưng may mắn được cứu sống bởi người chị gái Altani cùng 2 cận vệ của Thành Cát Tư Hãn. Năm 1203, ông đính ước với cháu gái của một người bạn thân thiết với tổ phụ Dã Tốc Cai, tên là Toa Lỗ Hoà Thiếp Ni, lúc này ông mới 10 tuổi. Từ năm 1213, Đà Lôi phò tá Thành Cát Tư Hãn trong chiến dịch nam hạ chống lại nhà Kim. Đến năm 1221,ông lập được thêm nhiều chiến công trong cuộc tây chinh thôn tính đế chế Hoa Thích Tử Mô (Khwarezm). Đặc biệt, chính ông đã chỉ huy chiếm giữ và thảm sát tại 2 thành phố lớn ở Trung Á là Nishapur và Merv, khi họ nổi dậy chống lại người Mông Cổ. Khi Thành Cát Tư Hãn phải quyết định người kế vị ngôi Đại Hãn, ông đã cân nhắc việc lựa chọn giữa Đà Lôi và Oa Khoát Đài. Mặc dù Đà Lôi là một chỉ huy quân sự xuất sắc trên chiến trường, cũng là người giống với phụ hãn nhất, nhưng cuối cùng Thành Cát Tư Hãn đã chọn Oa Khoát Đài do năng lực chính trị của Oa Khoát Đài vượt trội hơn Đà Lôi. Sau khi Thành Cát Tư Hãn băng hà năm 1227, Đà Lôi làm giám quốc trong 2 năm, xưng hiệu "Dã khả na nhan" (chữ Mông Cổ:ᠶᠡᠬᠡ ᠨᠣᠶᠠᠨ; chuyển tự La Mã: "Yeqe noyan"; chuyển tự Cyrill: "Их ноён"). Đến năm 1229, ông cùng các anh em triệu tập các quý tộc Mông Cổ tại hội nghị Khố Lý Đài (phiên âm Hán: 蒙古语, Kurultai) để bàn việc tuyển chọn người kế vị. Hầu hết quý tộc Mông Cổ tôn Đà Lôi làm Đại Hãn mới, vì theo tục lệ Mông Cổ, con út được kế thừa sản nghiệp của cha còn con lớn ra ngoài lập nghiệp. Ulus (đất đai di sản thừa kế) của ông vào thời điểm năm 1227, là các vùng đất tại thảo nguyên Mông Cổ. Một lý do khác là vì lúc bấy giờ Đà Lôi đang nắm phần lớn binh lực của đế quốc. Vào thời điểm Thành Cát Tư Hãn băng hà, tổng quân doanh Mông Cổ có 13 vạn quân, thì có đến 10 vạn quân tinh nhuệ nằm dưới sự cai quản của Đà Lôi. Dù vậy, Đà Lôi đã từ chối và cùng với người anh trai thứ hai là Sát Hợp Đài (Chagadai) kiên quyết tuân theo ý nguyện của phụ hãn, tôn Oa Khoát Đài lên ngôi Đại Hãn. Năm 1231, Oa Khoát Đài tiếp tục khởi binh phạt nhà Kim để hoàn tất tâm nguyện còn dang dở của Thành Cát Tư Hãn. Trong chiến dịch này, Đà Lôi được giao một cánh quân, đi vòng qua Thiểm Tây để tập kích hậu phương quân Kim tại Biện Kinh. Tuy nhiên, chiến dịch chưa được hoàn thành thì khỏang một năm sau, tháng 9 (âm lịch) năm 1232, Đà Lôi ốm nặng và qua đời ở thảo nguyên Mông Cổ. Cuộc đời của Đà Lôi quá ngắn ngủi, dù ông có giữ vị trí quan trọng trong việc tôn Oa Khoát Đài lên ngôi Đại Hãn, nhưng vẫn không để lại dấu ấn đặc biệt. Có lẽ điều quan trọng nhất là vai trò của gia đình ông trong sự hình thành và phát triển của đế quốc Mông Cổ. Các con của ông là Mông Ca, Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca đều trở thành Đại Hãn, đưa ông trở thành tổ tiên của các Đại Hãn cuối cùng cai trị đế quốc Mông Cổ (Mông Kha và Hốt Tất Liệt), và sau này là nhà Nguyên tại Trung Quốc (do Hốt Tất Liệt sáng lập), cũng như của hãn quốc Y Nhi (Ilkhanate,do Húc Liệt Ngột lập ra). Sự bất hòa của gia tộc Đà Lôi với hậu duệ của Oa Khoát Đài và Truật Xích gây ra nội chiến ngầm trong từ sau khi Oa Khoát Đài băng hà đến tận khi con trai của ông là Quý Do trị vì, từ đó khiến đế quốc Mông Cổ bị phân ly thành các Hãn quốc nhỏ hơn. Mâu thuẫn thậm chí cũng xảy ra giữa các con của Đà Lôi, chẳng hạn như nội chiến gia tộc Đà Lôi giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca trong 4 năm (1260 - 1264) đã làm chia rẽ lực lượng của đế quốc, khiến cho các Hãn quốc chống đối lẫn nhau trong thời kỳ đầu thập niên 1260. Đà Lôi được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện "Anh hùng xạ điêu" của Kim Dung. Trong truyện này, Đà Lôi kết nghĩa an đáp (kết nghĩa huynh đệ) với nhân vật chính Quách Tĩnh. Ông cũng là người đầu tiên đem quân tấn công thành Tương Dương nhưng do Thành Cát Tư Hãn đột nhiên ốm nặng nên đành rút quân về. Gần 20 năm sau, ông ốm nặng và qua đời, trao quyền lại cho con trai ông. Con trai của Đà Lôi liên tiếp tấn công Tương Dương nhưng đều thất bại dưới sự phòng thủ của Quách Tĩnh. Khi Quách Tĩnh đã già, cháu nội Đà Lôi đã đánh bại Tương Dương thành. ! colspan="3" style="background: #0FF;" | Tước hiệu
ABC (Yet Another BitTorrent Client) ABC là một trình khách BitTorrent và là phần mềm tự do, mã nguồn của ABC là mã mở dựa trên mã nguồn của phần mềm BitTornado. ABC hỗ trợ hệ thống hàng đợi có thứ tự ưu tiên, toàn cục và cục bộ cho mỗi tệp codice_1 đang tải về, 3 lựa chọn tải lên cho tệp đã tải về hoàn thành, và một hệ thống tên là Quản lý tỷ lệ tải lên URM (tiếng Anh: "Upload Rate Manager") để bắt buộc đưa tệp torrent ra khỏi hàng đợi nếu chưa tải lên đủ dung lượng yêu cầu. ABC cũng có tính năng web mở rộng trong chương trình cho phép các chương trình ứng dụng khác có thể điều khiển từ xa để xem, chỉnh sửa tệp torrent và các thông số của chương trình. ABC được viết bằng ngôn ngữ lập trình Python sử dụng wxPython. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Voi là động vật có vú thuộc họ Elephantidae và là động vật trên cạn lớn nhất hiện nay. Ba loài hiện được công nhận: Voi đồng cỏ châu Phi, voi rừng châu Phi và voi châu Á. Elephantidae là nhánh duy nhất còn sót lại của bộ Proboscidea; thành viên tuyệt chủng bao gồm voi răng mấu. Elephantidae cũng bao gồm một số nhóm hiện đã tuyệt chủng, bao gồm cả voi ma mút và voi ngà thẳng. Voi châu Phi có tai lớn và lưng lõm còn voi châu Á có tai nhỏ và lưng lồi hoặc ngang. Đặc điểm nổi bật của tất cả các loài voi bao gồm cái vòi dài, cặp ngà lớn, vạt tai lớn, bốn chân to và làn da dày nhưng nhạy cảm. Vòi voi được sử dụng để thở, đưa thức ăn nước uống vào miệng và cầm nắm đồ vật. Đôi ngà, tiến hóa từ răng cửa, được voi dùng để tự vệ, di chuyển chướng ngại vật và đào hố. Đôi tai lớn giúp voi duy trì thân nhiệt ổn định và giao tiếp. Chân chúng to như cây cột để đỡ tải trọng lớn. Voi phân bố rải rác khắp châu Phi cận Sahara, Nam Á, Đông Nam Á và thích ứng với nhiều môi trường sống khác nhau như thảo nguyên, rừng, sa mạc và đầm lầy. Chúng là động vật ăn cỏ, tụ tập gần nguồn nước. Voi được coi là loài chủ chốt do chúng có tác động đáng kể lên môi trường cảnh quan xung quanh chúng. Những động vật khác thường giữ khoảng cách với voi; ngoại lệ là những kẻ săn mồi như sư tử, hổ, linh cẩu và chó hoang, thường chỉ rình những con voi non. Voi thường tổ chức thành các xã hội phân hạch-hợp hạch, trong đó nhiều nhóm gia đình liên kết với nhau để giao tiếp. Con cái thường sống trong các nhóm gia đình, bao gồm một con cái với các con non của nó hoặc một số con cái có quan hệ họ hàng. Các nhóm này không có con đực, chúng được dẫn dắt bởi con cái già nhất theo hình thức mẫu hệ. Những con đực bị đuổi khỏi nhóm gia đình khi đến kì động dục và phải sống đơn lẻ hoặc kết bè với những con đực khác. Voi đực trưởng thành chủ yếu tương tác với các nhóm gia đình khi tìm kiếm bạn đời. Voi đực sẽ trải qua giai đoạn gia tăng testosterone và cực kỳ hung bạo được gọi là kì musth, thể hiện các hành vi tỏ sự thống trị và sự thành đạt về mặt sinh sản. Con non là trung tâm của sự chú ý trong các nhóm gia đình và phải phụ thuộc vào mẹ của chúng trong 3 năm. Voi có tuổi thọ trung bình là 70 tuổi trong tự nhiên. Chúng giao tiếp bằng xúc giác, thị giác, khứu giác và thính giác; voi sử dụng sóng hạ âm và giao tiếp địa chấn để viễn thông. Trí thông minh của voi được so sánh với các loài linh trưởng và bộ cá Voi. Chúng dường như có sự tự nhận thức và thể hiện sự đồng cảm với những thành viên đang hấp hối hoặc đã chết. Voi châu Phi thuộc diện sắp nguy cấp và voi châu Á thuộc diện bị đe dọa theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Những mối đe dọa lớn nhất đối với các quần thể voi hiện nay là nạn săn trộm buôn bán ngà voi, môi trường sống triệt thoái và xung đột với dân địa phương. Voi được sử dụng làm súc vật thồ ở châu Á. Trong quá khứ, chúng cũng được sử dụng trong chiến tranh; ngày nay, chúng thường được trưng bày trong các sở thú hoặc được huấn luyện để giải trí trong các rạp xiếc. Voi là một biểu tượng rất nổi tiếng và đặc trưng trong nghệ thuật, văn hóa dân gian, tôn giáo và văn học của loài người. "Voi" trong tiếng Việt bắt nguồn từ 㺔 (voi) trong giai đoạn tiếng Việt trung đại, xa hơn nữa thì nó bắt nguồn từ "*-vɔːj" (ký âm theo IPA) của tiếng Việt-Chứt nguyên thủy. "Vòi" cũng là một từ phái sinh từ gốc này. "Elephant" trong tiếng Anh gốc từ "elephas" trong tiếng Latinh (cách sở hữu là "elephantis"), dạng Latinh hóa của tiếng Hy Lạp ἐλέφας ("elephas") (cách sở hữu là ἐλέφαντος ("elephantos")), có lẽ không thuần gốc Ấn-Âu mà vay mượn từ tiếng Phoenicia. Trong tiếng Hy Lạp Mycenaea, voi đọc là "e-re-pa" (cách sở hữu là "e-re-pa-to") theo bảng chữ cái Linear B. Nhà thơ Homeros sử dụng từ này với nghĩa là ngà voi, giống trong tiếng Hy Lạp Mycenaea, nhưng kể từ thời sử gia Herodotus, nó cũng được dùng để chỉ cả con vật. "Elephant" trong tiếng Anh trung đại là "olyfaunt" (khoảng năm 1300), mượn từ tiếng Pháp thượng cổ "oliphant" (thế kỷ 12). Hệ thống phân loại. Voi thuộc họ Elephantidae, họ duy nhất còn lại trong bộ Proboscidea thuộc liên bộ Afrotheria. Nhánh họ hàng gần nhất của chúng là bộ Bò biển (cá cúi và lợn biển) và bộ Đa man, cùng chung nhánh Paenungulata trong liên bộ Afrotheria. Voi và bộ Bò biển được nhóm lại thành nhánh Tethytheria. Ba loài voi hiện được công nhận; voi đồng cỏ châu Phi ("Loxodonta africana"), voi rừng ("Loxodonta cyclotis") của châu Phi cận Sahara và voi châu Á ("Elephas maximus") của Nam-Đông Nam Á. Voi châu Phi có đôi tai lớn, lưng lõm, da nhăn, bụng dốc và sở hữu hai phần mở rộng giống như ngón tay ở đầu vòi. Voi châu Á có đôi tai nhỏ, lưng lồi hoặc ngang, da mịn hơn, bụng ngang thỉnh thoảng bị phệ xuống ở giữa và một phần mở rộng ở đầu vòi. Các đường gờ tại răng hàm hẹp hơn ở voi châu Á trong khi voi châu Phi có hình kim cương. Voi châu Á cũng có những bướu lồi trên lưng và một số vết phi sắc tố hóa trên da. Trong số các loài voi châu Phi, voi rừng có đôi tai nhỏ, tròn hơn và ngà mỏng, thẳng hơn so với voi đồng cỏ; chúng chỉ phân bố trong phạm vi các khu vực có rừng ở phía tây và Trung Phi. Theo truyền thống, các loài voi châu Phi chỉ được coi là cùng một loài "Loxodonta africana", nhưng các nghiên cứu phân tử thiên về xu hướng tách hai loài ra. Năm 2017, phân tích trình tự ADN chứng tỏ "L. cyclotis" có quan hệ gần gũi hơn với loài "Palaeoloxodon antiquus" đã tuyệt chủng so với "L. africana". Phát hiện này có thể sẽ làm sụp đổ toàn bộ chi "Loxodonta". Sự tiến hóa và các họ hàng đã tuyệt chủng. Hơn 180 thành viên đã tuyệt chủng và ba phát xạ tiến hóa lớn của bộ Proboscidea đã được các nhà khoa học xác định. Các proboscid sớm nhất, ví dụ chi "Eritherium" và "Phosphatherium" thế Paleocene muộn, đánh dấu sự kiện phát xạ đầu tiên. Thế Eocene xuất hiện các chi "Numidotherium", "Moeritherium" và "Barytherium" từ Châu Phi. Những con vật này tương đối nhỏ và sống dưới nước. Các chi như "Phiomia" và "Palaeomastodon" phát sinh sau này, sinh sống ở các khu rừng gỗ và rừng mở. Sự đa dạng của các proboscidean bị sụt giảm trong thế Oligocene. Một loài đáng chú ý của giai đoạn này là "Eritreum melakeghebrekristosi" từ vùng Sừng châu Phi, có lẽ là tổ tiên của nhiều loài sau này. Đợt đa dạng hóa thứ hai diễn ra vào đầu thế Miocene, với sự xuất hiện của các deinothere và mammutid. Phát xạ tiến hóa thứ hai trong thế Miocene phái sinh các gomphothere, tổ tiên của chúng có lẽ là chi "Eritreum" và có nguồn gốc từ Châu Phi, bành trướng sang mọi châu lục trừ châu Úc và Nam Cực. Các thành viên của nhóm này bao gồm "Gomphotherium" và "Platybelodon". Phát xạ tiến hóa thứ ba bắt đầu vào cuối thế Miocen và dẫn đến sự xuất hiện của những elephantid, dần dần thay thế các gomphothere. Loài "Primelephas gomphotheroides" của Châu Phi phái sinh các chi "Loxodonta", "Mammuthus" và "Elephas". Chi "Loxodonta" bắt đầu phân nhánh quanh ranh giới thế Miocene và Pliocene, còn hai chi "Mammuthus" và "Elephas" rẽ nhánh muộn hơn trong thế Pliocene sớm. "Loxodonta" ở lại Châu Phi còn "Mammuthus" và "Elephas" di cư sang đại lục Á-Âu, tới được tận Bắc Mỹ. Đồng thời, các stegodontid (một nhóm proboscidean khác có nguồn gốc từ gomphothere) lan rộng khắp châu Á, tới được Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á và Nhật Bản. Các Mammutid tiếp tục tiến hóa thành các loài mới, chẳng hạn như voi răng mấu của Mỹ. Khi thế Canh Tân bắt đầu, elephantid có tỷ lệ phân loài rất cao. Thời gian này xuất hiện loài "Palaeoloxodon namadicus", động vật có vú trên cạn lớn nhất mọi thời đại. "Loxodonta atlantica" đã trở thành loài phổ biến nhất ở miền bắc và miền nam châu Phi nhưng bị thay thế bởi loài "Elephas iolensis" sau này. Chỉ khi "Elephas" tuyệt chủng địa phương ở Châu Phi, "Loxodonta" mới trở nên thống trị một lần nữa, lần này dưới dạng các loài voi hiện còn sống. Voi đa dạng thành các loài mới ở châu Á, chẳng hạn như "E. hysudricus" và "E. platycephus"; là tổ tiên của voi châu Á hiện đại. "Mammuthus" tiến hóa thành một số loài, bao gồm voi ma mút lông xoắn nổi tiếng. Sự giao phối liên loài dường như khá phổ biến giữa các loài voi, trong một số trường hợp dẫn đến các loài có ba thành phần di truyền tổ tiên, chẳng hạn như "Palaeoloxodon antiquus". Vào cuối thế Canh Tân, hầu hết các loài proboscidean đã tuyệt chủng trong cuộc băng hà Đệ tứ giết chết 50% các chi có trọng lượng trên 5 kg (11 lb) toàn cầu. Probscidean tiến hóa với xu hướng tăng kích thước, dẫn đến việc loài trong nhóm này cao tới 5 m. Cũng như các loài động vật lớn ăn cỏ khác, bao gồm khủng long chân thằn lằn đã tuyệt chủng, kích thước lớn của voi cho phép chúng sống sót trên thảm thực vật với giá trị dinh dưỡng thấp. Chi vận động của chúng dài ra, bàn chân thì dẹt lại nhưng rộng hơn. Chúng ban đầu đi băng cả bàn chân nhưng rồi tiến hóa thành đi bằng đầu ngón với các miếng đệm chân và xương vừng hỗ trợ. Các proboscid nguyên thủy phát triển hàm dưới dài hơn và mái sọ nhỏ hơn trong khi các loài tiến tiến hơn phát triển hàm dưới ngắn hơn, làm dịch chuyển trọng tâm của đầu. Hộp sọ ngày càng lớn trong khi cổ rút ngắn để nâng đỡ hộp sọ. Sự gia tăng kích thước dẫn đến sự phát triển và kéo dài của cái vòi di động cung cấp tầm với, đóng vai trò la tay của voi. Số lượng răng hàm, răng cửa và răng nanh giảm xuống. Răng má (răng hàm và răng tiền hàm) trở nên to hơn và chuyên biệt hơn, đặc biệt là sau khi voi bắt đầu chuyển từ ăn thực vật C3 sang C4, khiến chiều cao răng chúng gia tăng gấp ba lần cũng như sự nhân lên đáng kể của phiến mỏng sau khoảng năm triệu năm trước. Trong một triệu năm gần đây, chúng mới quay trở lại chế độ ăn chủ yếu cây C3 và cây bụi. Đôi răng cửa thứ hai phía trên mọc thành ngà, có hình dạng khác nhau từ thẳng, cong (lên hoặc xuống), xoắn ốc, tùy thuộc vào từng loài. Một số proboscidean còn mọc ngà từ răng cửa dưới. Voi vẫn lưu giữ một số đặc điểm từ tổ tiên của chúng, như cấu tạo giải phẫu tai giữa chẳng hạn. Giải phẫu và hình thái học. Voi là động vật sống trên cạn lớn nhất. Voi đồng cỏ châu Phi là loài lớn nhất trong số các loài voi; cá thể đực có thể cao từ 304–336 cm tới vai, với khối lượng cơ thể từ 5,2–6,9 tấn; cá thể cái có thể cao từ 247–273 cm tới vai, với khối lượng cơ thể từ 2,6–3,5 tấn. Voi châu Á đực có chiều cao ngang vai trong khoảng 261–289 cm và nặng khoảng 3,5–4,6 tấn, voi châu Á cái có chiều cao ngang vai trong khoảng 228–252 cm và nặng khoảng 2,3–3,1 tấn. Voi rừng châu Phi là loài nhỏ nhất, cá thể đực của chúng chỉ cao khoảng 209–231 cm ngang vai và nặng 1,7–2,3 tấn. Voi rừng châu Phi đực thường cao hơn 23% so với con cái, còn chiều cao voi đực châu Á chỉ nhỉnh hơn con cái khoảng 15%. Bộ xương voi được cấu thành từ 326–351 chiếc xương riêng lẻ. Voi châu Phi có 21 cặp xương sườn, còn voi châu Á chỉ có 19 hoặc 20 cặp. Hộp sọ của voi có đủ sức đàn hồi để chịu được ứng suất của cặp ngà và hứng chịu các va chạm trực diện. Lưng của hộp sọ rất phẳng và trải rộng ra, tạo ra mái vòm bảo vệ não theo mọi hướng. Hộp sọ voi có các xoang tổ ong chứa khí, giảm trọng lượng hộp sọ nhưng vẫn duy trì được sức mạnh tổng thể. Hộp sọ voi rất lớn, cung cấp diện tích để các cơ bắp bám vào và hỗ trợ đầu. Hàm dưới của voi rắn rỏi và rất nặng. Do kích thước của đầu, cổ của voi tương đối ngắn để hỗ trợ trọng lượng tốt hơn. Voi không có tuyến tiết lệ, phải dựa vào tuyến Harder để giữ mắt ẩm. Một lớp màng thuẫn rất bền bảo vệ nhãn cầu voi. Nhãn trường của voi không được tốt do vị trí của đôi mắt. Voi là loài lưỡng sắc chúng có thể nhìn rõ trong ánh sáng mờ nhưng không nhìn rõ trong ánh sáng chói. Tai voi có phần cuống dày nhưng rìa mỏng. Bên dưới vành tai, hay tai ngoài, chứa nhiều mao mạch. Máu ấm chảy vào các mao mạch, giúp giải phóng lượng nhiệt dư thừa của cơ thể ra môi trường. Quá trình này diễn ra khi vành tai đứng yên và voi vỗ tai để tăng cường hiệu ứng trên. Diện tích tai càng lớn thì nhiệt càng có thể được đào thải hiệu quả hơn. Trong số tất cả các loài voi, voi rừng châu Phi sống ở vùng có khí hậu nóng nhất và có vành tai lớn nhất. Voi có khả năng nghe âm thanh tần số thấp và nhạy nhất đối với tần số 1 kHz (gần với giọng Soprano C). Vòi voi là sự kết hợp của mũi và môi trên, tuy khi voi còn là bào thai thì phần môi trên và vòi tách rời nhau. Vòi dài ra khi voi lớn lên và trở thành phần chi quan trọng và linh hoạt nhất của chúng. Vòi được cấu tạo từ 150.000 cơ riêng biệt, không có xương và ít chất béo. Các cơ ghép nối này bao gồm hai loại chính: bề mặt và bên trong. Các cơ bề mặt được chia thành cơ phía trên, cơ phía dưới và cơ phía bên; Các cơ bên trong được chia thành cơ phương ngang và cơ tỏa. Các cơ vòi bám vào lỗ mở xương trong hộp sọ. Vách ngăn mũi cấu tạo từ các đơn vị cơ cực nhỏ phân bố theo chiều ngang giữa hai lỗ mũi. Sụn ​​phân chia các lỗ mũi ở phần cuống. Vòi được gọi là một cơ bắp hydrostat (giống như lưỡi), cử động thông qua sự phối hợp các chuyển động co cơ. Một dây thần kinh rất độc đáo, hình thành từ các dây thần kinh ở hàm trên và mặt, chạy dọc ở hai bên vòi. Vòi voi có nhiều chức năng, bao gồm thở, ngửi, sờ, nắm và kêu. Khứu giác của voi có lẽ nhạy gấp 4 lần so với khứu giác của chó săn. Khả năng tạo ra các chuyển động xoắn và cuộn của vòi cho phép voi thu lượm thức ăn, đánh nhau với những con voi khác, và có khả năng nâng vật trên 350 kg. Vòi còn được sử dụng để làm các hành động mang tính tỉ mỉ như: lau mắt và kiểm tra lỗ thông, và có khả năng bóp nứt vỏ đậu phộng mà không làm vỡ hạt. Một con voi có thể với lên độ cao 7 m và đào bùn hoặc cát để tìm nước bằng vòi của nó. Nhiều cá thể voi thể hiện sự thuận "vòi" bên trái hoặc bên phải khi cầm một đồ vật. Voi có khả năng làm giãn lỗ mũi thêm 30%, tăng thể tích mũi lên 64% và có thể hít vào với tốc độ hơn 150 m/s, tức là khoảng 30 lần tốc độ hắt hơi của con người. Voi có thể hút thức ăn và nước uống hoặc phun nước lên cơ thể của chúng. Một con voi châu Á trưởng thành có thể chứa 8,5 lít nước trong vòi của nó. Chúng cũng có khi phun bụi hoặc cỏ lên người mình. Khi ở dưới nước, voi sử dụng vòi ngoi trên mặt nước để thở. Voi châu Phi có hai phần mở rộng giống như ngón tay ở đầu vòi, cho phép chúng cầm và đưa thức ăn lên miệng. Voi châu Á chỉ có một phần mở rộng và thường quấn vòi quanh món đồ ăn rồi cho vào miệng. Cơ vòi ở voi châu Á phối hợp tốt hơn và có thể thực hiện nhiều chuyển động phức tạp hơn. Mất vòi sẽ gây bất lợi cho sự sống còn của một con voi, mặc dù trong một số trường hợp hiếm hoi, các cá thể vẫn có thể sống sót với những chiếc vòi bị đứt. Người ta đã từng quan sát thấy một con voi quỳ hai chân trước, nâng hai chân sau và gặm cỏ bằng mồm. Hội chứng vòi mềm là bệnh tê liệt vòi ở voi đồng cỏ châu Phi do suy thoái các dây thần kinh ngoại biên và cơ bắp của vòi. Voi thường có 26 chiếc răng: răng cửa hay còn gọi là ngà, 12 răng sữa tiền hàm và 12 răng hàm. Không giống như hầu hết các loài động vật có vú, mọc răng sữa và thay thế chúng bằng một bộ răng trưởng thành vĩnh viễn duy nhất, voi là động vật đa bộ răng và luôn thay răng trong suốt quãng đời của chúng. Răng nhai được thay 6 lần trong một đời voi điển hình. Răng không được thay thế bằng những chiếc mới mọc ra khỏi hàm theo chiều dọc như ở hầu hết các loài động vật có vú. Thay vào đó, răng mới mọc ở phía sau miệng và di chuyển về phía trước mà đẩy răng cũ ra ngoài. Chiếc răng nhai đầu tiên của mỗi bên hàm rụng đi khi voi được 2 đến 3 tuổi. Bộ răng nhai thứ hai rụng khi 4 đến 6 tuổi. Bộ thứ ba rơi vào khoảng 9–15 tuổi và bộ thứ bốn rơi vào khoảng 18–28 tuổi. Bộ răng thứ năm rụng vào đầu năm 40 tuổi. Bộ thứ sáu (thường là cuối cùng) gắn với voi suốt phần đời còn lại. Răng voi có các gờ răng hình vòng cung, chúng dày hơn và có hình thoi ở voi châu Phi. Hằng ngày, voi dành khoảng 16 tiếng đồng hồ để tìm kiếm thức ăn và chỉ ngủ khoảng từ 3 đến 5 tiếng. Voi trưởng thành ngủ đứng. Voi con đôi khi ngủ nằm. Voi tuy to lớn, nhưng điều đó không ngăn cản chúng trở thành những tay bơi giỏi. Chúng rất thích bơi và thậm chí có thể bơi ở biển. Thời gian ưa thích trong ngày của chúng là khi tắm bùn. Bùn bảo vệ voi khỏi bị ánh nắng thiêu đốt và giữ cho voi được mát mẻ, tránh được những con bọ khó chịu. Kích thước của một con voi có ý nghĩa là khi nó phát triển hoàn toàn thì ngoài con người ra, nó an toàn trước tất cả các loài thú ăn thịt. Và để nuôi sống cơ thể vĩ đại của mình, nó phải cần rất nhiều thức ăn. Mỗi con voi trưởng thành ăn khoảng 150 kg (300 lb) cỏ, cành nhỏ, lá cây, trái câ, đây là vị trí mà các răng có lực mạnh nhất, nhưng nó cũng bị mòn đi. Khi đó răng mới sẽ được mọc lên ở phía dưới rồi đẩy răng cũ ra ngoài. Do đó, voi mọc răng trong suốt cuộc đời, tổng cộng có 6 bộ răng nghiền, nhưng khi bộ răng cuối cùng bị mòn thì khi đó voi đã sống đến 55 tuổi. Nó trở nên yếu đi vì thiếu thức ăn và sẽ chết vì đói nhiều hơn là về bệnh tật. Voi dùng vòi để quặp thức ăn và đưa vào miệng. Thức ăn chủ yếu của chúng là cỏ và các loại cây khác trên mặt đất. Voi dùng vòi để kéo lá cây, thân cây và cành cây từ trên cao xuống. Khi thức ăn khan hiếm, voi dùng ngà để húc đổ cây. Khi khát, voi tập trung bên bờ sông hoặc các vũng nước, thậm chí dùng vòi để đào sâu xuống để hút nước. Voi uống nước bằng cách hút nước vào vòi rồi phun vào trong miệng. Mỗi ngày voi tiêu thụ 160-300 lít nước. Voi cũng phun nước lên lưng để làm mát da. Mỗi ngày voi con trưởng thành thải ra một lượng chất thải nặng hơn trọng lượng của một cậu bé. Phân voi chứa những hạt cây mà voi đã nuốt sẽ mọc lên thành cây mới thay thế cho những cây mà chúng đã ăn hoặc húc đổ. Hiện nay ở một số nước đang nuôi voi, nghiên cứu và đi vào thử nghiệm chế biến phân voi thành giấy (vì phân voi khá sạch, không nặng mùi do chúng chỉ ăn thực vật và uống nước). Thực ra, voi không bảo vệ lãnh thổ riêng của nó, thay vào đó, nó thích hòa nhập vào đàn sống bên cạnh, trong đó con voi đầu đàn là con voi cái già nhất sẽ giữ vai trò làm chủ. Nó dẫn cả đàn tìm đến những nơi có nước và thức ăn. Theo sau con voi này là những chú voi con và những con voi cái trưởng thành. Voi sống chung một đàn qua nhiều năm. Các thành viên trong đàn luôn sống cạnh nhau, chăm sóc cho nhau, thậm chí sẵn sàng cho bất kỳ chú voi con nào bú nếu cần thiết. Đôi khi đàn bị tách ra, một số con voi trẻ hơn rời đàn cùng những con voi khác. Nhưng đàn nhỏ này vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình gốc của chúng và có thể quay lại trong một thời gian rất ngắn. Voi đực non (khoảng 12 tuổi) sống đơn độc hoặc sống cùng các voi đực khác. Số thành viên trong đàn chúng lập ra rất hay thay đổi. Khi các gia đình voi tập hợp lại sẽ trở thành bầy voi gồm hàng trăm thành viên. Voi giao tiếp bằng xúc giác, khứu giác, hoặc dùng vòi, tai ra hiệu. Tiếng ré của voi vang rất xa, voi ré lên để gọi nhau tập hợp thành bầy. Tập tính sinh sản của voi cũng rất đặc biệt. Voi không có mùa giao phối riêng, nhưng nếu một con cái giao phối thì chúng sẵn sàng gia nhập đàn mặc dù chúng có thể có mặt không thường xuyên cho lắm. Chu kỳ mang thai của voi là 22 tháng, dài nhất trong số các động vật sống trên mặt đất. Voi con mới sinh cân nặng khoảng 120 kg (265 pao). Vừa mới sinh voi con trông rất lem luốc nên chúng được voi mẹ lau sạch trước khi chúng đứng lên được. Chúng thường sinh vào mùa xuân. Sau khi voi con ra đời, chúng được những voi khác ở bên để bảo vệ cho tới khi nó đủ cứng cáp để có thể đi được. Cũng như các loài thú có tuổi thọ dài khác, voi dành rất nhiều năm để chăm sóc con. Voi trưởng thành quá to lớn nên không có mấy kẻ thù, nhưng voi con có nguy cơ bị tấn công. Voi con bú sữa mẹ trong vòng năm năm và voi đực rời đàn khi đủ mười ba tuổi. Voi lớn lên rất chậm và chúng có thể sống được 60 năm hoặc thậm chí 80 năm. Voi đã thuần hóa là con vật nuôi có ích và rất thân thiện với con người. Từ hàng nghìn năm nay, những chú voi đã được thuần dưỡng để làm những công việc như kéo gỗ, kéo cày, kéo cây và để biểu diễn trong các lễ hội. Voi là động vật thông minh nên có thể học và ghi nhớ rất nhanh các kỹ năng đơn giản. Người dân vùng Đông Á thường dùng voi để kéo các cây gỗ lớn mà xe ủi hoặc xe kéo không làm được. Người châu Á cũng dùng voi để làm loài vật chiến đấu như voi chiến hay voi trận như Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, C, kỉ vật về ông còn được lưu giữ. Trong văn hóa Việt Nam, voi được nhiều lần nhắc đến qua những câu chuyện, câu thành ngữ, tục ngữ. Ví dụ:
Hệ thập phân (hệ đếm cơ số 10) là hệ đếm dùng số 10 làm cơ số. Đây là hệ đếm được sử dụng rộng rãi nhất trong các nền văn minh thời hiện đại. Ký tự hệ thập phân. Hệ thống ký tự các con số dùng để biểu đạt các giá trị trong một hệ đếm. Trong hệ thập phân, 10 ký tự (còn gọi là con số) khác nhau được dùng để biểu đạt 10 giá trị riêng biệt (0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9), tức là 10 con số. Những con số này còn được dùng cùng với dấu thập phân - ví dụ dấu "phẩy" - để định vị phần thập phân sau hàng đơn vị. Con số còn có thể được dẫn đầu bằng các ký hiệu "+" hay "-" để biểu đạt số dương và số âm nữa. Hệ thập phân là một hệ đếm dùng vị trí định lượng ("positional numeral system"), bao gồm hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm (mũ 10) với con số ở vị trí đó, và mỗi vị trí có giá trị gấp mười lần vị trí ở bên tay phải của nó. Số mười là một số đếm, biểu tượng của 10 ngón của hai bàn tay (hoặc bàn chân). Từ "con số" trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới có cùng nghĩa ám chỉ đến cấu trúc sinh vật học của ngón tay, hoặc ngón chân. Trong tiếng Việt chữ "phần mười" ám chỉ đến số lượng nhỏ bằng 1/10 của một số lượng nào đó, và "mười lần" ám chỉ đến một số lượng được nhân gấp 10 lần số lượng đang có. Những ký tự đại biểu cho các con số, hiện đang được dùng phổ biến trên toàn thế giới ngày nay, được các nước châu Âu gọi là bảng chữ số Ả Rập, và các nước ở vùng Ả Rập gọi là bảng chữ số Ấn Độ. Hai nhóm từ này đều ám chỉ đến một nền văn hóa, nơi họ tiếp cận và học hỏi được hệ thống số, lần đầu tiên. Tuy vậy, hình dáng của các ký tự của cùng một hệ số, ở những nơi khác nhau, lại không giống nhau hoàn toàn. Chẳng hạn, trong hệ đếm dùng ở các vùng Tây Ả Rập (nơi hệ thống ký tự châu Âu được lấy ra) khác hẳn với những ký tự được dùng trong các nền văn minh Ả Rập khác. Những hệ thống ký tự khác. Có nhiều nền văn hóa dùng, hoặc đã từng dùng, những hệ đếm khác với hệ thập phân. Chẳng hạn, người thổ dân ở các vùng cao nguyên của México Tzotzil dùng hệ nhị thập phân (20) ("vigesimal") - do dùng cả 10 ngón tay và 10 ngón chân trong khi đếm - và một số dân Nigeria dùng hệ thập nhị phân (12) ("duodecimal"). Người dân ở thành phố Babylon dùng hệ lục thập phân (60), và thổ dân châu Mỹ, người Yuki, dùng hệ bát phân. Hệ thống phần cứng và phần mềm của máy tính cũng dùng một hệ thống riêng, để biểu đạt các giá trị của hệ thập phân, song song với việc dùng hệ thống này lưu trữ các con số, và dùng chúng trong các thao tác số học. Thường thì những thao tác số học này được áp dụng vào các nguồn dữ liệu đã được mã hóa dùng hệ nhị phân biểu đạt số thập phân ("binary-coded decimal"), song cũng có các hệ mã thập phân hóa khác hiện đang được dùng (xem IEEE 754r), đặc biệt trong việc kiến tạo và thi hành cơ sở dữ liệu. Thao tác số học trong hệ thập phân trên được dùng trên các máy tính để đảm bảo sự chuẩn xác của các con tính với phân số thập phân, bởi việc dùng phân số nhị phân không đảm bảo được kết quả tính toán như mong đợi. Sự chuẩn xác trong các phép tính này rất quan trọng với các tính toán trong tài chính và trong các ngành khác. Phân số thập phân. Phân số thập phân là một phân số có mẫu số với số mũ của 10. Phân số thập phân thường được biểu thị là một số không có mẫu số, dùng dấu thập phân cho vào tử số (với số không dẫn đầu nếu cần), và con số ngay sau dấu phân số có giá trị tương đương với một phân số mẫu số là 10, chẳng hạn. Phần nguyên và phần phân số của các số được tách biệt bởi dấu thập phân. Trong tiếng Anh, thay vì dấu phẩy người ta dùng dấu chấm (.) để làm dấu tách ly phần phân số ra khỏi số nguyên, trong khi tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác dùng dấu phẩy. Thường những số có giá trị nhỏ hơn 1 được biểu đạt bằng một phân số thập phân với số 0 dẫn đầu, chẳng hạn 0,25 (thay vì formula_1). Những số 0 nối theo sau trở thành không cần thiết, dầu vậy trong khoa học, kỹ thuật và kế toán, những số 0 nối theo sau có thể cần phải để lại để biểu đạt mức độ chính xác yêu cầu, đảm bảo sự an tâm về tính chính xác của con số. Tuy 0,080 và 0,08 là tương đương về giá trị, trong kỹ thuật 0,080 ám chỉ đến một đo lường với sai số formula_2 = ±0,0005, trong khi 0,08 ám chỉ đến một đơn vị đo lường với sai số formula_3 = ±0,005 thôi. (Xin xem thêm về số đáng kể). Các số có nhiều con số, đứng trước hoặc sau dấu thập phân, có thể được nhóm lại thành các nhóm có ba con số, bắt đầu từ dấu thập phân, chạy theo hướng về cả hai chiều, trái và phải. Sự phân nhóm thường được thi hành bởi một dấu phẩy hoặc dấu chấm, hoặc một khoảng trống. Việc dùng khoảng trống đã được cân nhắc và đề nghị trong tài liệu SI/ISO 31-0. Việc dùng dấu chấm thay thế cho dấu phẩy, để phân chia phần thập phân, cũng có thể được cân nhắc. Để biết thêm chi tiết, xin xem thêm bài viết về dấu thập phân. Những phương thức biểu đạt tương tự như "12,345", "12.345", "12,345.678", và "12.345,678" gây sự khó hiểu nếu không có một hệ thống phân định về ký hiệu nhất định. Các số hữu tỷ khác. Bất cứ một số hữu tỷ nào không thể biểu đạt bằng một phân số thập phân, đều có một số thập phân đặc thù ở phần đuôi được nhắc đi nhắc lại, tạo nên một dãy số thập phân tái diễn. Số mười là tổng số của hai số nguyên tố, thứ 2 và thứ 4, (3 + 7=10), và là số lớn hơn bình phương của số nguyên tố thứ 2 (32=9), và là số nhỏ hơn số nguyên tố thứ 5 (số 11). Điều này chỉ ra rằng có nhiều phân số thập phân đơn thuần, như sau: 1/3 = (với số 3 tái diễn) 1/6 = (với số 6 tái diễn) 1/9 = (với số 1 tái diễn) 1/11 = (với số 09 tái diễn) 1/12 = (với số 3 tái diễn) 1/81 = (với dãy số 012345679 tái diễn) Khi mẫu số là các thừa số nguyên tố, nó còn cho phép những dãy số tái diễn lâu hơn, chẳng hạn trường hợp 7, 13. Một số hữu tỷ nào đó, tạo nên một dãy số thập phân tái diễn hữu hạn, hoặc vô hạn, đều là hậu quả của một phép tính chia dài, mà trong đó số dư còn lại chỉ là (q-1) những số khác 0, khi số chia là q, hầu cho mô hình tái diễn chỉ nhắc lại q-1 lần. Chẳng hạn phép chia dài formula_4 sau đây: 3,0 0 0 0 0 0 0 0 |7 - 2 8 |0,4 2 8 5 7 1 - 1 4 | - 5 6 | - 3 5 | - 4 9 | - 2 8 | Một quan điểm đối lập với quan sát trên là mỗi số thập phân tái diễn ("recurring decimal") cho ta một phân số hữu tỷ formula_5. Đây chính là hậu quả của việc dãy số thập phân tái diễn là một cấp số nhân ("geometric series") hữu hạn, và tổng của chúng là một số hữu tỷ. Chẳng hạn: Mỗi số thực ("real number") có một biểu thị thập phân tương ứng (có thể là vô hạn). Có thể được biểu thị theo công thức sau đây: Tổng này tăng trưởng trong khi "i" được giảm xuống, và có thể nó là những dãy số của các con số lớn hơn không "ai", lặp lại theo tiến trình vô hạn. Số hữu tỷ ("rational number") (ví dụ: formula_5) với mẫu số là các thừa số nguyên tố ("prime factor"), ngoài số 2 và 5 (khi đã được giảm xuống dạng đơn giản nhất), có một chuỗi dãy số thập phân lặp lại đặc thù. Xem xét các số hữu tỷ có mẫu số là các thừa số nguyên tố, như 2 và 5 - có thể biểu thị bằng formula_9. Những số này cho chúng ta một dãy số thập phân hữu hạn. Chẳng hạn: Có những số thực không có một biểu đạt bằng một dãy số thập phân đặc thù, vì chúng còn có thể được biểu đạt bằng một biểu thức khác, gồm có những con số 9 tái diễn, chẳng hạn formula_15 hoặc formula_16 vân vân. Những số này gọi là số vô tỷ ("irrational number"). Chúng có thể có một biểu thị thập phân đặc thù hữu hạn, nhưng cũng đồng thời mang đặc tính là những số có phần biểu thị thập phân vừa hữu hạn, vừa vô hạn. Nói chung, phần biểu thị thập phân trở nên đặc thù, nếu chúng ta không kể đến những phần biểu thị kết thúc bằng những con số 9 tái diễn. Đương nhiên, cùng một hệ tam phân pháp ("trichotomy") được áp dụng cho các gốc hệ đếm khác của các hệ đếm dùng vị trí định lượng ("positional numeral system"): Một sao bản của hiện trạng này cũng được thấy áp dụng trong các hệ đếm vô tỷ, chẳng hạn như thể dạng golden mean base (???) Cách diễn đạt trong ngôn ngữ. Một số ngôn ngữ diễn đạt thẳng số thập phân theo kiểu, ví dụ số 11 được gọi là "mười-một" (10+1) và 23 được nói là "hai-mươi-ba" (2x10+3); cách diễn đạt này có trong các tiếng Trung Quốc - ngoại trừ tiếng Ngô (吳語) - và cũng có trong tiếng Việt, với một vài biến âm ("euphony") ("mười" thành "mươi", "năm" thành "lăm", "một" thành "mốt"...) hay nuốt âm ("elision") ("hai mươi mốt" thành "hăm mốt"). Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan đã nhập nội hệ thập phân từ tiếng Trung Quốc. Nhiều ngôn ngữ khác, có hệ thập phân cài đặt sẵn, có những chữ dành riêng cho "chục" và "thập niên". Trong các ngôn ngữ của người dân bản xứ châu Mỹ, như tiếng Quechua và tiếng Aymara, các từ đếm của hệ thập phân hầu như được dùng trực tiếp, chẳng hạn 11 được bày tỏ là "mười với một", hoặc 23 được nói là "hai mười với ba". Nhiều nhà tâm lý học cho rằng những sự bất thống nhất (bất thường) về số học trong một ngôn ngữ nào đó, sẽ gây sự yếm thế trong khả năng tính toán của trẻ con, làm giảm khả năng tính toán của chúng.
Bộ Da dày (Pachydermata) là một bộ động vật có vú được Georges Cuvier đề ra, đã từng được nhiều nhà phân loại học công nhận. Bộ Pachydermata hiện nay không còn được sử dụng nữa nhưng nó là quan trọng để biết lịch sử phân loại học động vật. Mặc dù nó thường được miêu tả như là sự gộp nhóm nhân tạo của các động vật có vú không có quan hệ họ hàng gì, nhưng nó đã được các nhà động vật học như Charles Darwin công nhận như là một nhóm phân loại trong động vật móng guốc đối với phần còn lại của siêu bộ Ungulata và các đặc trưng giải phẫu học cũng hỗ trợ cho sự tương đối giống nhau của các động vật trong bộ "Pachydermata" khi so sánh với các động vật móng guốc khác. Bộ Pachydermata của Cuvier bao gồm các loài động vật có vú mà hiện nay được đặt trong các bộ Perissodactyla, Hyracoidea, Proboscidea cũng như phân bộ Suina trong bộ Artiodactyla. Vì thế bộ "Pachydermata" ngày nay (nếu còn dùng) phải chứa cả ngựa và các họ hàng của nó như heo vòi, tê giác, voi, hà mã, lợn cỏ pêcari và lợn.
Lucene là phần mềm mã nguồn mở, dùng để phân tích, đánh chỉ mục và tìm kiếm thông tin với hiệu suất cao bằng Java. Lucene được phát triển đầu tiên bởi Doug Cutting được giới thiệu đầu tiên vào tháng 8 năm 2000. Tháng 9 năm 2001 Lucene gia nhập vào tổ chức Apache và hiện tại được Apache phát triển và quản lý. Cần lưu ý rằng Lucene không phải là một ứng dụng mà chỉ là một công cụ đặc tả API cần thiết cho việc một search engine. Được xây dựng và thiết kế theo hướng hướng đối tượng nên các API cũng được cung cấp theo dạng hướng đối tượng. Mặc dù thiết kế và xây dựng ban đầu từ java nhưng hiện nay cũng đã có một số phiên bản cho các ngôn ngữ khác: .NET, C++, Perl, …. Những sản phẩm sử dụng Lucene. Chi tiết danh sách các sản phẩm phần mềm sử dụng Lucene xin tham khảo PoweredBy page of Lucene's wiki. Các phiên bản ngôn ngữ khác của Lucene. Ngôn ngữ phát triển chính của Lucene là Java, tuy nhiên Lucene đã được chuyển sang nhiều ngôn ngữ lập trình khác như:.NET, C++, Perl, … Sau đâu là các ngôn ngữ đã được chuyển:
Máy ủi là khung gầm bánh xích được lắp thêm thiết bị là lưỡi ủi.Đây là loại máy thi công theo một chuỗi,san gạt đất bằng bàn gạt ủi (ủi đất) san đất trên mặt bằng có sẵn. Máy được sử dụng để san ủi đất, đá, hoặc một số vật liệu rời khác, phục vụ thi công công trình xây dựng trong công nghiệp, giao thông, thủy lợi, nông nghiệp và các công trình phát triển cơ sở hạ tầng khác. Máy ủi gồm những bộ phận chính sau đây: khung, động cơ, hệ thống truyền lực, hệ thống thủy lực, hệ thống điện, hệ thống điều khiển, buồng lái, hệ thống di chuyển (xích), thiết bị công tác, vỏ (cabo). Thi công đất bằng máy ủi. Máy là loại máy thi công công tác san đất. Nó có thể đào đất và đắp đất với độ sâu đào và chiều cao đắp khoảng 1 ÷ 1,5 m, nhưng không quá 2 m. Đồng thời nó có thể vận chuyển đất đi với khoảng cách tối đa khoảng 100 ÷ 180 m, thuộc vào loại máy san có cự ly vận chuyển trung bình. Cự ly vận chuyển đất thích hợp và hiệu quả nhất là khoảng 25 ÷ 100 m. Máy ủi thích hợp công tác với các loại đất cấp I, II, III. Còn nếu phải công tác đất cấp IV thì cần phải làm tơi trước bằng các loại máy đào khác, trong trường hợp này chủ yếu máy ủi làm nhiệm vụ vận chuyển và đắp đất. Khi vận chuyển đất máy ủi có thể leo dốc với độ dốc nhỏ khoảng 10-20 % (máy ủi không nên leo dốc có độ dốc quá 30 %). Sơ đồ vận hành. Máy ủi có thể vận hành khi thi công công tác đất theo một trong hai sơ đồ: Trong cả hai sơ đồ vận hành, máy ủi đều phải đi qua lại mỗi đường ranh giới đào đắp O-O hai lần trong một chu kỳ công tác. Ranh giới để áp dụng từng loại sơ đồ vận hành trên là khoảng cách vận chuyển giới hạn lgh, được tinh như sau: lgh = 2 vTvL(tQ-tS)/(vT-vL). tQ là thời gian quay đầu xe (tiến quay), tS là thời gian cài số lùi, tức là sang số chuyển từ tiến sang lùi (tiến lùi), vT là vận tốc máy ủi chạy với số tiến, vL là vận tốc máy ủi chạy với số lùi. Nếu cự ly vận chuyển đất mà công trình san đất yêu cầu là lvc lgh, thì áp dụng sơ đồ tiến quay, và ngược lại áp dụng sơ đồ tiến lùi. Năng suất của máy ủi. Năng suất thực dụng của máy ủi Ptd, là năng lực công tác của máy trong vòng một ca làm việc, được tính bằng tích số giữa số chu kỳ công tác của máy ủi trong một ca với khối lượng đất mà máy ủi công tác được trong một chu kỳ vận hành (đây chính là khối lượng đất tính toán trước bàn gạt của máy ủi trong một chu kỳ vận hành). Năng suất thực dụng được tính theo công thức: Ptd = q(3600Zksktki/Tck). (m³/ca) Chu kỳ hoạt động của máy ủi Tck = (lđ/vđ)+(lvc/vvc)+((lđ+lvc)/v0)+ t0. (sec) tức là (giây) Z là số giờ làm việc của máy ủi trong một ca làm việc. (giờ) ks là hệ số súc đất, kể đến sự rơi vãi trong khi vận hành, máy càng chạy xa rơi càng nhiều. kt là hệ số sử dụng thời gian. ki hệ số kể đến ảnh hưởng của độ dốc mặt đất khi máy ủi vận hành. lđ, lvc là các quãng đường mà máy ủi thực hiện đào đất và vận chuyển đất trong chu kỳ làm việc. (m) vđ, vvc là tốc độ máy ủi chạy khi đào và khi vận chuyển. (m/s) v0 là tốc độ máy chạy về (không tải). (m/s) t0 là tổng thời gian máy ủi nâng hạ bàn gạt, quay và cài số. (sec) q là lượng đất tính toán trước bàn gạt máy ủi. (m³) Lượng đất công tác nằm trước bàn gạt khi máy ủi làm việc thường bị rơi vãi dẫn đến năng suất thực tế của máy ủi thường bị giảm. Lượng đất lúc máy ủi bắt đầu ủi được tính theo công thức: h là chiều cao bàn gạt. (m) B là bề rộng bàn gạt. (m) Nếu cự ly vận chuyển nhỏ dưới 10 m thì có thể coi là đất không bị rơi vãi trên quãng đường vận chuyển (q=q0). Nếu cự ly vận chuyển lớn hơn 10 m thì q=q0-0,02B(lvc-10,0). Để nâng cao năng suất, cách tốt nhất là dùng các biện pháp để giảm sự rơi vãi khi ủi đất. Có thể có những cách sau để làm việc đó nhằm giữ năng suất: Độ dốc cũng ảnh hưởng đến năng suất, nên khi máy ủi di chuyển trên địa hình dốc thì phải khống chế điều kiện làm việc của máy ủi sao cho:
Đại Tân sinh (Cenozoic ; #đổi ), đọc là "sen-o-dô-íc" có nghĩa là "sự sống mới" (từ tiếng Hy Lạp: καινός ""kainós" nghĩa là "mới" và ζωή "zōḗ"" nghĩa là "sự sống"); một số sách tiếng Việt gọi đại này là Đại Kainozoi), là đại hiện tại và gần đây nhất trong số ba đại địa chất của Liên đại Hiển sinh. Nó bắt đầu 66 triệu năm trước ngay sau kỷ Phấn trắng và kéo dài đến tận ngày nay. Đại Tân sinh còn được gọi là "Thời đại của thú có vú", bởi vì tiếp nối sự kiện tuyệt chủng kỷ Phấn trắng – Paleogen, hầu hết các nhóm động vật đã bị tuyệt chủng khiến cho thú có vú có thể đa dạng hóa và những loài thú lớn đã chiếm lĩnh đại này. Các mảng kiến tạo tiếp tục di chuyển và hình thành nên hình dạng các lục địa như ngày nay. Vào đại Tân sinh sớm, hệ động thực vật còn khá nhỏ, và bao gồm các loài thú có vú, chim, thằn lằn và lưỡng cư nhỏ. Từ góc nhìn địa chất học, không mất nhiều thời gian để thú có vú và các loài chim bắt đầu đa dạng hóa ngay sau sự vắng mặt của các loài thằn lằn khổng lồ ở đại Trung sinh. Một nhóm chim gọi là "chim khủng bố" trở nên lớn hơn một người trưởng thành và trở thành động vật săn mồi hàng đầu của đaị này. Các loài thú có vú chiếm hầu hết các hốc sinh thái (cả dưới nước và trên mặt đất), và một số có thể đạt kích thước to lớn, lớn hơn hầu hết các loài động vật ngày nay. Khí hậu Trái Đất trong thời kì này bắt đầu mát hơn và khô hơn, tập trung vào sự băng hà của Thế Canh Tân và một phần bị cản trở bởi Sự kiện nhiệt cực đại thế Cổ Tân - Thủy Tân. Đại Tân sinh được chia thành ba giai đoạn hay các kỷ địa chất: kỷ Cổ Cận, kỷ Tân Cận và kỷ Đệ tứ; và bảy thế: thế Cổ Tân, thế Thủy Tân, thế Tiệm Tân, thế Trung Tân, thế Thượng Tân, thế Canh Tân và thế Toàn Tân. Kỷ Đệ tứ đã được chính thức công nhận bởi Ủy ban Quốc tế về Địa chất vào tháng 6 năm 2009,[9] và cách phân loại cũ, Phân đại Đệ Tam, đã chính thức bị bác bỏ vào năm 2004 do sự cần thiết phải phân chia đại Tân sinh thành các giai đoạn giống như các đại Trung sinh và đại Cổ sinh trước đó.[10] Việc sử dụng phổ biến các thế địa chất của đại Tân sinh giúp các nhà cổ sinh vật học sắp xếp và gộp lại chi tiết nhiều sự kiện quan trọng xảy ra trong khoảng thời gian tương đối ngắn này. Kiến thức về đại này chi tiết hơn bất kỳ các đại nào khác vì các tầng đá còn tương đối trẻ, được bảo quản tốt. Kỷ Cổ Cận trải dài từ sự tuyệt chủng của các loài khủng long không giống chim, 66 triệu năm trước, đến bình minh của kỷ Tân Cận, 23,03 triệu năm trước. Nó gồm ba thế chính: thế Cổ Tân, thế Thủy Tân và thế Tiệm Tân. Thế Cổ Tân kéo dài từ 66 triệu đến 56 triệu năm trước. Các động vật có vú nhau thai hiện đại có nguồn gốc trong khoảng thời gian này. Cổ Tân là điểm chuyển tiếp giữa sự tàn phá tuyệt diệt của sự kiện tuyệt chủng K-T, đến môi trường rừng giàu có của thế Thủy Tân sớm. Cổ Tân sớm thấy sự phục hồi của Trái Đất. Các lục địa bắt đầu có hình dạng hiện đại, nhưng tất cả các lục địa và tiểu lục địa Ấn Độ đều tách rời nhau. Lục địa Á-Âu-Phi bị tách ra bởi Đại dương Tethys, và châu Mỹ vẫn bị tách ra bởi eo biển Panama, vì eo đất ở đây chưa được hình thành. Thế này đặc trưng có một xu hướng ấm lên chung toàn cầu, với rừng rậm cuối cùng cũng lan tới cả các địa cực. Các đại dương bị chi phối bởi cá mập sau khi các loài bò sát lớn từng chiếm ưu thế đã tuyệt chủng. Động vật có vú cổ xưa lấp đầy thế giới như các loài creodonta (động vật ăn thịt đã tuyệt chủng, không liên quan đến Bộ Ăn thịt hiện đại). Thế Thủy Tân dao động từ 56 triệu năm đến 33,9 triệu năm trước. Trong Thủy Tân sớm, các loài sống trong rừng rậm không thể phát triển thành các dạng lớn hơn, như trong thế Cổ Tân. Không có loài nào vượt quá trọng lượng 10 kg. Trong số đó có các loài linh trưởng đầu tiên, cá voi và ngựa cùng với nhiều dạng động vật có vú khác. Ở đỉnh của chuỗi thức ăn là những con chim khổng lồ, chẳng hạn như "Paracrax". Nhiệt độ toàn cầu là 30 độ C với gradient nhiệt độ ít thay đổi từ cực đến cực. Trong Thủy Tân giữa, dòng biển Quanh cực-Nam Cực giữa Úc và Nam Cực được hình thành. Các hải lưu bị gián đoạn bởi dòng chảy này trên phạm vi toàn cầu và kết quả là gây ra một hiệu ứng làm mát toàn cầu, thu hẹp các khu rừng. Điều này cho phép động vật có vú phát triển với tỷ lệ voi mút, chẳng hạn như cá voi, vào thời điểm đó, đã thích ứng gần như hoàn toàn dưới nước. Những động vật có vú như "Andrewsarchus" ở trên đỉnh của chuỗi thức ăn. Thủy Tân muộn chứng kiến ​​sự tái sinh của các mùa, làm cho việc mở rộng các khu vực giống như sa mạc, cùng với sự phát triển của cỏ. Sự kết thúc của thế Thủy Tân được đánh dấu bởi Sự kiện tuyệt chủng Eocen–Oligocen, hay được gọi là Sự đại phá vỡ. Thế Tiệm Tân trải dài từ 33,9 triệu đến 23,03 triệu năm trước. Tiệm Tân đặc trưng cho sự mở rộng của các loài cỏ đã dẫn đến nhiều loài mới phát triển, bao gồm những con voi đầu tiên, mèo, chó, động vật có túi và nhiều loài khác vẫn còn phổ biến cho đến hiện nay. Nhiều loài thực vật khác cũng phát triển trong giai đoạn này. Thời kỳ làm mát có mưa theo mùa vẫn tiếp tục. Động vật có vú vẫn tiếp tục phát triển lớn hơn. Kỷ Tân Cận kéo dài từ 23,03 triệu đến 2,58 triệu năm trước. Nó có 2 thế: Trung Tân và Thượng Tân. Thế Trung Tân trải dài từ 23,03 đến 5,333 triệu năm trước và là khoảng thời gian mà cỏ trải rộng hơn, chiếm phần lớn thế giới, với các cánh rừng rút gọn. Rừng tảo bẹ phát triển, khuyến khích sự tiến hóa của các loài mới, như rái cá biển. Trong thời gian này, perissodactyla phát triển mạnh và phát triển thành nhiều giống khác nhau. Vượn phát triển thành 30 loài. Đại dương Tethys cuối cùng đóng lại và tạo ra Bán đảo Ả Rập, chỉ để lại những tàn dư như Biển Đen, Đỏ, Địa Trung Hải và Biển Caspi. Điều này gia tăng sự khô hạn. Nhiều loài thực vật mới phát triển: 95% thực vật có hạt hiện đại phát triển ở giữa Trung Tân. Thế Thượng Tân kéo dài từ 5.333 đến 2.58 triệu năm trước. Thượng Tân có những thay đổi về mặt khí hậu rõ rệt, cuối cùng dẫn đến các loài và thực vật hiện đại. Biển Địa Trung Hải đã cạn kiệt trong vài triệu năm (vì kỷ băng hà giảm mực nước biển, ngắt kết nối với Đại Tây Dương của Địa Trung Hải, và tốc độ bay hơi vượt quá dòng chảy cung cấp từ các con sông). "Australopithecus" phát triển ở châu Phi, bắt đầu sự hình thành của nhánh người. Eo đất Panama hình thành, và các loài động vật di cư giữa Bắc và Nam Mỹ, tàn phá hệ sinh thái địa phương. Thay đổi khí hậu mang lại: các trảng cỏ vẫn tiếp tục lan rộng trên toàn thế giới; Gió mùa Ấn Độ; sa mạc ở Trung Á; và sự hình thành của sa mạc Sahara. Bản đồ thế giới đã không thay đổi nhiều kể từ đó, khá ít so với những thay đổi do các băng hà của kỷ Đệ tứ mang lại, chẳng hạn như Ngũ Đại Hồ, Vịnh Hudson và biển Baltic. Kỷ Đệ Tứ kéo dài từ 2,58 triệu năm trước đến nay, và là thời kỳ địa chất ngắn nhất trong Liên đại Hiển sinh. Nó có động vật hiện đại, và những thay đổi đáng kể trong khí hậu. Nó được chia thành hai thế: Canh Tân và Toàn Tân. Thế Canh Tân kéo dài từ 2,58 triệu đến 11,700 năm trước. Khoảng thời gian này được đánh dấu bởi kỷ băng hà là kết quả của xu hướng làm mát bắt đầu ở giữa thế Thủy Tân. Có ít nhất bốn thời kỳ băng hà riêng biệt được đánh dấu bằng sự thăng tiến của các dải băng về phía nam vĩ độ 40 độ N ở các khu vực miền núi. Trong khi đó, châu Phi trải qua một xu hướng khô hạn dẫn đến các sa mạc như Sahara, Namib và Kalahari. Nhiều loài động vật đã tiến hóa bao gồm voi ma mút, những con lười đất khổng lồ, sói dire, hổ răng kiếm và loài "Homo sapiens". 100.000 năm trước đánh dấu sự kết thúc của một trong những trận hạn hán tồi tệ nhất ở châu Phi, và dẫn đến sự khai phá của người nguyên thủy. Khi thế Canh Tân đang dần kết thúc, một sự kiện tuyệt chủng lớn đã xóa sổ phần lớn các động vật lớn của thế giới, bao gồm một số loài hominid, như người Neanderthal. Tất cả các châu lục đều bị ảnh hưởng, nhưng châu Phi ở mức độ thấp hơn. Nó vẫn giữ lại nhiều loài động vật lớn, chẳng hạn như hà mã. Thế Toàn Tân bắt đầu vào khoảng 11.700 năm trước và kéo dài cho đến ngày nay. Tất cả lịch sử được ghi lại và "lịch sử của thế giới" nằm trong ranh giới của kỷ nguyên Toàn Tân. Hoạt động của con người bị cho là nguyên nhân gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt bắt đầu vào khoảng 10.000 năm trước, mặc dù các loài bị tuyệt chủng chỉ được ghi chép bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp. Điều này đôi khi được gọi là "Sự tuyệt chủng thứ sáu". Các nguồn tham khảo thường trích dẫn rằng hơn 322 loài ghi nhận đã bị tuyệt chủng do hoạt động của con người kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, nhưng tỷ lệ này có thể cao tới 500 loài có xương sống nói riêng đã tuyệt chủng, phần lớn xảy ra sau năm 1900. Sự sống của động vật. Sớm trong đại Kainozoi, sau sự kiện K-Pg, hành tinh bị chi phối bởi các động vật tương đối nhỏ, bao gồm động vật có vú nhỏ, chim, bò sát và động vật lưỡng cư. Từ quan điểm địa chất, không mất nhiều thời gian cho động vật có vú và chim đa dạng hóa rất lớn trong sự vắng mặt của những con khủng long đã thống trị trong đại Trung sinh. Một số loài chim không bay lớn hơn cả con người. Những loài này đôi khi được gọi là "chim khủng bố" và là những kẻ săn mồi đáng gờm. Động vật có vú đã chiếm hầu hết mọi hốc sinh thái (cả biển và trên cạn), và một số loài cũng phát triển rất lớn, đạt được kích cỡ không thể thấy ở hầu hết các động vật có vú trên cạn ngày nay. Động vật đầu tiên điển hình là "Entelodon" ("lợn địa ngục"), "Paraceratherium" (tê giác không sừng) và "Basilosaurus" (cá voi sơ khai). Sự tuyệt chủng của nhiều nhóm diapsid lớn, chẳng hạn như khủng long không bay, Plesiosauria và Pterosauria cho phép động vật có vú và các loài chim đa dạng hóa và trở thành động vật chiếm ưu thế trên thế giới. Về mặt địa chất học, Đại Tân sinh là thời gian các lục địa đang di chuyển đến các vị trí như hiện tại. Australia-New Guinea đang tách ra từ Pangea vào đầu Creta, trôi về phía bắc, và cuối cùng va vào Đông Nam Á; Nam Cực di chuyển đến vị trí hiện tại về phía cực nam; Đại Tây Dương mở rộng, và sau đó Nam Mỹ gắn vào Bắc Mỹ qua eo đất Panama. Tiểu lục địa Ấn Độ va vào châu Á 45 hình thành Himalaya; Arabia va vào Á-Âu, đóng lại đại dương Tethys và tạo ra dãy Zagros vào khoảng triệu năm về trước.
Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến. Thực chất, Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định. Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật sản phẩm phải được đánh giá cao và chất lượng. Các thông tin về dự án. 1. Tính mục tiêu: 2. Có các hạn định rõ ràng 3. Sự giới hạn Các dự án thường thấy. Dự án khu đô thị mới Dự án đầu tư xây dựng
Mạng ngang hàng (tiếng Anh: "peer-to-peer network"), còn gọi là mạng đồng đẳng, là một mạng máy tính trong đó hoạt động của mạng chủ yếu dựa vào khả năng tính toán và băng thông của các máy tham gia chứ không tập trung vào một số nhỏ các máy chủ trung tâm như các mạng thông thường. Mạng đồng đẳng thường được sử dụng để kết nối các máy thông qua một lượng kết nối dạng ad hoc. Mạng đồng đẳng có nhiều ứng dụng. Ứng dụng thường xuyên gặp nhất là chia sẻ tệp tin, tất cả các dạng như âm thanh, hình ảnh, dữ liệ Một mạng đồng đẳng đúng nghĩa không có khái niệm máy chủ và máy khách, nói cách khác, tất cả các máy tham gia đều bình đẳng và được gọi là peer, là một nút mạng đóng vai trò đồng thời là máy khách và máy chủ đối với các máy khác trong mạng. Một số mạng hay kênh như Napster, IRC (thuộc thế hệ thứ nhất) sử dụng mô hình máy chủ-máy khách cho một số tác vụ và mô hình đồng đẳng cho những tác vụ khác. Ngược lại, các mạng như Gnutella hay Freenet (thế hệ thứ 2) sử dụng mô hình đồng đẳng cho tất cả các tác vụ, nên các mạng này thường được xem như là mạng đồng đẳng đúng nghĩa (thực ra Gnutella vẫn sử dụng một số máy chủ để giúp các máy trong mạng tìm kiếm địa chỉ IP của nhau). Cấu trúc mạng đồng đẳng là biểu hiện của một trong những khái niệm quan trọng nhất của Internet, mô tả trong "RFC 1, Host Software" xuất bản ngày 7 tháng 4 năm 1969. Gần hơn, khái niệm này đã được sự công nhận rộng rãi trong các cấu trúc chia sẻ nội dung mà không có máy chủ trung tâm. Khái niệm đồng đẳng ngày nay được tiến hóa vào nhiều mục đích sử dụng khác nhau, không chỉ để trao đổi tệp mà còn khái quát hóa thành trao đổi thông tin giữa người với người, đặc biệt trong những tình huống hợp tác giữa một nhóm người trong cộng đồng. Phân loại mạng đồng đẳng. Ta có thể phân loại các mạng đồng đẳng hiện nay theo tiêu chí về mức độ tập trung của chúng như sau: Mạng đồng đẳng thuần túy: Mạng đồng đẳng lai: Các mạng đồng đẳng "thuần túy" có thể kể là Gnutella và Freenet. Ưu thế của mạng đồng đẳng. Một mục đích quan trọng của mạng đồng đẳng là trong mạng tất cả các máy tham gia đều đóng góp tài nguyên, bao gồm băng thông, lưu trữ, và khả năng tính toán. Do đó khi càng có nhiều máy tham gia mạng thì khả năng tổng thể của hệ thống mạng càng lớn. Ngược lại, trong cấu trúc máy chủ-máy khách, nếu số lượng máy chủ là cố định, thì khi số lượng máy khách tăng lên khả năng chuyển dữ liệu cho mỗi máy khách sẽ giảm xuống. Tính chất phân tán của mạng đồng đẳng cũng giúp cho mạng hoạt động tốt khi một số máy gặp sự cố. Đối với cấu trúc tập trung, chỉ cần máy chủ gặp sự cố thì cả hệ thống sẽ ngưng trệ. Đối với mạng Napster, thuật ngữ đồng đẳng nói lên tính chất quan trọng của giao thức giao tiếp đồng đẳng, còn thực ra thành công của Napster phải nhờ vào sự liên kết chặt chẽ giữa các máy tham gia với máy chủ trung tâm lưu trữ danh sách nội dung tệp trên các máy tham gia. Nhờ vậy việc tìm kiếm trở nên nhanh và hiệu quả hơn, tuy nhiên, đây cũng chính là điểm yếu dẫn đến các rắc rối pháp lý mà kết cục là sự sụp đổ của Napster. Mạng đồng đẳng có cấu trúc và không cấu trúc. Mạng phủ đồng đẳng bao gồm tất cả các nút mạng đại diện cho các máy tham gia và các liên kết giữa các nút mạng này. Một liên kết tồn tại giữa hai nút mạng khi một nút mạng biết vị trí của nút mạng kia. Dựa vào cấu trúc liên kết giữa các nút mạng trong mạng phủ ta có thể phân loại mạng đồng đẳng thành hai loại: có cấu trúc hay không cấu trúc. Một mạng đồng đẳng không cấu trúc khi các liên kết giữa các nút mạng trong mạng phủ được thiết lập ngẫu nhiên (tức là không theo quy luật nào). Những mạng như thế này dễ dàng được xây dựng vì một máy mới khi muốn tham gia mạng có thể lấy các liên kết có sẵn của một máy khác đang ở trong mạng và sau đó dần dần tự bản thân nó sẽ thêm vào các liên kết mới của riêng mình. Khi một máy muốn tìm một dữ liệu trong mạng đồng đẳng không cấu trúc, yêu cầu tìm kiếm sẽ được truyền trên cả mạng để tìm ra càng nhiều máy chia sẻ càng tốt. Hệ thống này thể hiện rõ nhược điểm: không có gì đảm bảo tìm kiếm sẽ thành công. Đối với tìm kiếm các dữ liệu phổ biến được chia sẻ trên nhiều máy, tỉ lệ thành công là khá cao, ngược lại, nếu dữ liệu chỉ được chia sẻ trên một vài máy thì xác suất tìm thấy là khá nhỏ. Tính chất này là hiển nhiên vì trong mạng đồng đẳng không cấu trúc, không có bất kì mối tương quan nào giữa một máy và dữ liệu nó quản lý trong mạng, do đó yêu cầu tìm kiếm được chuyển một cách ngẫu nhiên đến một số máy trong mạng. Số lượng máy trong mạng càng lớn thì khả năng tìm thấy thông tin càng nhỏ. Một nhược điểm khác của hệ thống này là do không có định hướng, một yêu cầu tìm kiếm thường được chuyển cho một số lượng lớn máy trong mạng làm tiêu tốn một lượng lớn băng thông của mạng, dẫn đến hiệu quả tìm kiếm chung của mạng thấp. Hầu hết các mạng đồng đẳng phổ biến là không cấu trúc như Napster, Gnutella, Fasttrack, eDonkey2000 và Bitcoin. Mạng đồng đẳng có cấu trúc khắc phục nhược điểm của mạng không cấu trúc bằng cách sử dụng hệ thống DHT (Bảng Băm Phân Tán, tiếng Anh: Distributed Hash Table). Hệ thống này định nghĩa liên kết giữa các nút mạng trong mạng phủ theo một thuật toán cụ thể, đồng thời xác định chặt chẽ mỗi nút mạng sẽ chịu trách nhiệm đối với một phần dữ liệu chia sẻ trong mạng. Với cấu trúc này, khi một máy cần tìm một dữ liệu, nó chỉ cần áp dụng một giao thức chung để xác định nút mạng nào chịu trách nhiệm cho dữ liệu đó và sau đó liên lạc trực tiếp đến nút mạng đó để lấy kết quả. Một số mạng đồng đẳng có cấu trúc nổi tiếng bao gồm Chord, CAN, Kademlia, Pastry và Tapestry. Tranh cãi pháp lý. Theo luật của Mỹ và hầu hết các nước phương Tây phát triển, một công nghệ không được xem là bất hợp pháp nếu nó có thể được sử dụng cho các hành vi "không phạm luật" một cách đáng kể. Đối với mạng đồng đẳng, quyết định này có thể áp dụng bởi mạng có thể sử dụng để trao đổi các nội dung hợp pháp, như phần mềm miễn phí, phiên bản thử nghiệm và nội dung không đăng ký bản quyền. Nhưng trên thực tế, rất nhiều mạng đồng đẳng, nếu không muốn nói là hầu hết, đều được lợi dụng để sao chép trao đổi trái phép các nội dung có bản quyền như âm nhạc hay phim ảnh. Điều này dẫn đến việc các công ty truyền thông và cả những người từng ủng hộ mạng đồng đẳng mất lòng tin về việc sử dụng mạng cho mục đích hợp pháp và cho rằng mạng đồng đẳng đang gây ra một hiểm họa cho cả hệ thống phân phối nội dung. Đã có nhiều nghiên cứu để định lượng thiệt hại tài chính gây nên bởi mạng đồng đẳng, nhưng hầu hết đều có vẻ không chắc chắn vì trên tính toán lý thuyết, mạng đồng đẳng gây những thiệt hại lớn, trong khi trên thực tế cho thấy nguồn thu của các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng từ khi xuất hiện mạng đồng đẳng không bị thay đổi đáng kể. Cho dù có thật sự bị thiệt hại hay không, tại Mỹ, cả hai Hiệp Hội Ghi Âm Mỹ (RIAA) và Hiệp Hội Điện ảnh Mỹ đã và đang bỏ ra rất nhiều công sức và tiền bạc để chống lại việc sử dụng mạng đồng đẳng, bằng cách kiện các chủ sở hữu mạng đồng đẳng ra tòa, đồng thời vận động các nhà làm luật thông qua những luật cho phép xử lý dễ dàng việc chia sẻ trao đổi thông tin trái phép trên các mạng này. Không chỉ giới hạn ở Mỹ, các tổ chức này còn dựa vào ưu thế chính trị để gây sức ép lên các nhà hành pháp tại các nước khác, điển hình gần đây là vụ thu giữ hệ thống mạng của trang web , một trong những địa chỉ yêu thích của những người dùng BitTorrent, hay việc gây sức ép lên Duma nhằm chấm dứt hoạt động kinh doanh của nhà phân phối âm nhạc trực tuyến Khi đe dọa trở nên gia tăng trên mạng đồng đẳng, các nhà phát triển mạng nhanh chóng tìm cách thích ứng để làm cho mạng trở nên khó bị quấy nhiễu về cả hai mặt kĩ thuật và luật pháp. Điều này khiến cho tất cả trách nhiệm đổ dồn lên người sử dụng mạng, vì theo nguyên tắc rõ ràng công nghệ mạng đồng đẳng là hợp pháp nhưng không có nghĩa là cho phép việc lợi dụng mạng để trao đổi nội dung trái phép. Một khuynh hướng của các nhà phát triển mạng đồng đẳng là xây dựng các mạng nặc danh cho phép chia sẻ thông tin hợp pháp lẫn bất hợp pháp.
William James Durant ( (5 tháng 11 năm 1885 – 7 tháng 11 năm 1981) là một nhà sử học, triết gia và tác giả người Hoa Kỳ. Ông đấu tranh cho việc trả lương công bằng, quyền bầu cử của phụ nữ và các điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động Mỹ. Durant không chỉ sáng tác về nhiều chủ đề mà còn tiến hành thực hiện các ý tưởng của mình. Nhiều người cho rằng Durant đã cố gắng đưa triết học đến gần hơn với công chúng. Ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm, tiêu biểu là "The Story of Philosophy" (Câu chuyện của triết học), "The Mansions of Philosophy" (Những điền trang của triết học), và cùng với sự trợ giúp của vợ ông Ariel Durant, bộ "The Story of Civilization" (Câu chuyện của nền văn minh). Tập 10 trong bộ "The Story of Civilization" mang tên Rousseau an Revolution đã đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm phi hư cấu nói chung năm 1968. Ông cũng tham gia viết nhiều bài báo nhiều thể loại. Cuộc đời và sự nghiệp. Durant sinh tại North Adams, Massachusetts, cha mẹ ông là người Canada gốc Pháp đã di cư từ Québec đến Mỹ. Năm 1900, Will học trường dòng Tên trung học Saint Peter và sau đó là Trường cao đẳng Saint Peter tại thành phố Jersey, New Jersey. Năm 1905, ông trở thành một người tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội. Ông tốt nghiệp năm 1907 và làm việc như một nhà báo cho tờ "New York Evening Journal" của Arthur Brisbane với thù lao mười đô la một tuần. Khi làm việc cho tờ "Evening Journal", ông đã viết nhiều bài báo về tội phạm tình dục. Tiếp theo, vào năm 1907, ông bắt đầu dạy tiếng Latinh, tiếng Pháp, tiếng Anh và hình học tại Đại học Seton Hall, ở South Orange, New Jersey. Durant còn kiêm làm thủ thư tại thư viện của trường. Vào năm 1911, ông rời khỏi Trường dòng và trở thành một giáo viên và người đại diện học sinh tại trường Ferrer Modern, một trường thử nghiệm phương pháp giáo dục tự do. Alden Freeman, một mạnh thường quân cho trường Ferrer Modern, đã tài trợ cho ông một chuyến đi thực tế vòng quanh châu Âu. Cũng tại trường Ferrer Modern, ông đã yêu và cưới một nữ sinh trẻ hơn ông mười ba tuổi tên là Ida Kaufmann, ông đặt tên cho bà là "Ariel". Vợ chồng Durant có một con gái, Ethel. Ariel sau này có đóng góp quan trọng trong tất cả các tập của bộ "The Story of Civilization" nhưng tên bà chỉ được in trên trang bìa tập bảy, "The Age of Reason Begins" (Thời đại của những lý lẽ bắt đầu). Vào năm 1913, ông rời bỏ công việc giáo viên. Để kiếm sống, ông bắt đầu thuyết giảng trong một nhà thờ Presbyterian để kiếm mỗi buổi năm đến mười đô la; tài liệu cho những bài giảng đó trở thành những cơ sở ban đầu cho cuốn "The Story of Civilization". Alden Freeman còn trả học phí để ông tốt nghiệp cao học tại Đại học Columbia. Vào năm 1917, khi chuẩn bị luận án tiến sĩ triết học, Will Durant đã viết cuốn sách đầu tiên của ông, "Philosophy and the Social Problem" (Triết học và Vấn đề xã hội). Ông tranh luận với ý kiến rằng triết học đã không phát triển bởi vì nó né tránh các vấn đề thực tại của xã hội. Ông nhận bằng tiến sĩ năm 1917 và làm trợ giáo tại Đại học Columbia. Một cuốn khác của ông "The Story of Philosophy" sau đấy trở thành best-seller, đem lại cho vợ chồng Durant sự độc lập về tài chính, cho phép họ du lịch thế giới nhiều lần và bỏ ra bốn thập niên để viết bộ "The Story of Civilization". Ông bèn nghỉ dạy hẳn và bắt đầu soạn mười một tập của bộ "The Story of Civilization". Trong những năm đầu thập niên 1940, Will Durant còn phác thảo một bản tuyên ngôn dân quyền "Declaration of Interdependence" (Tuyên ngôn của sự phụ thuộc lẫn nhau), đi trước những gần mười năm vụ án Brown (xem Brown v. Ban giáo dục), kích thích Phong trào dân quyền. Bản tuyên ngôn này được trích dẫn trong Biên bản Nghị viện Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 10 năm 1945. Sau khi ông chết, hai cuốn sách nữa của Durant được xuất bản trong những năm gần đây là "Những bộ óc và ý tưởng vĩ đại nhất mọi thời đại" (2002) và "Những anh hùng của lịch sử: Lịch sử tóm tắt văn minh từ thời cổ đại đến cận hiện đại" (2001). Bộ "Lịch sử văn minh thế giới". Vợ chồng Durant đã dành rất nhiều tâm sức để biên soạn bộ "Lịch sử văn minh thế giới (The Story of Civilization)", tạo nên một thể loại mới mà họ gọi là "lịch sử tích hợp", một thể loại đối nghịch với sự "chuyên môn hoá" lịch sử. Đây chính là một sự bác bỏ trước thời đại đối với những thứ mà có người sau này gọi là "sự thờ cúng các nhà chuyên môn". Mục đích của họ là viết nên một bộ "biên niên sử" về một nền văn minh, trong trường hợp này là phương Tây, không chỉ bao gồm các cuộc chiến tranh, chính trị, tiểu sử của những vĩ nhân, những tội đồ mà còn cả văn hoá, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, và cả sự trỗi dậy của thông tin đại chúng. Một phần to lớn của bộ "Câu chuyện của nền văn minh" còn được dành để xem xét điều kiện sống của người dân thường suốt hai nghìn năm trăm năm, một điều mà sách vở phương Tây ít khi đề cập đến. Họ cũng không ngần ngại đưa ra một khung đạo đức riêng cho việc xem xét những vấn đề của họ, nhấn mạnh sự lặp lại của "sự thống trị của kẻ mạnh đối với kẻ yếu, của kẻ khôn ngoan đối với kẻ bình thường." "Câu chuyện của nền Văn minh" là một trong những bộ ghi chép về lịch sử học thành công nhất từ trước đến nay. Có người còn cho rằng "nhờ loạt sách này mà "Simon và Schuter" đã trở thành một nhà xuất bản danh tiếng". Bằng chứng cho điều này rất dễ nhận thấy; hiếm khi nào mà ở thư viện Quốc hội Mỹ không có ít nhất (hoặc nhiều hơn) một bộ "Câu chuyện của nền văn minh". Cuốn "Rousseau và Cách mạng (Rousseau and Revolution)", (1967), tập mười của bộ "Câu chuyện của nền văn minh" của họ đã được trao giải Pulitzer về văn chương; sau đó còn được Tổng thống Gerald Ford trao giải cao nhất của Chính phủ Mỹ dành cho cá nhân, Huy chương tự do của tổng thống năm 1977. Tiếp theo cuốn "Rousseau và Cách mạng" là một tập nhỏ những tiểu luận được gọi là "Các bài học lịch sử (The Lessons of History)", vừa tóm tắt, vừa phân tích cho cả trọn bộ. Mặc dù có ý định viết đến tận thế kỷ 20, họ đã phải dừng lại ở tập thứ mười này vì không đủ thời gian. Tuy nhiên sau đó họ đã xuất bản thêm một tập cuối nữa, tập thứ 11, "Thời của Napoleon" vào năm 1975. Ngoài ra họ còn để lại nhiều ghi chép cho tập thứ 12 "Thời của Darwin" và dàn ý cho tập 13 "Thời của Einstein", mà nếu được xuất bản sẽ kéo dài cả bộ sách đến tận năm 1945. Ông bà Durant còn có một chuyện tình cũng đáng chú ý như cuộc đời học giả của họ; chi tiết về chuyện tình này được họ tả chi tiết trong cuốn "Tự truyện đôi" của hai người. Họ mất năm 1981, cách nhau hai tuần (bà vào 25 tháng 10 và ông ngày 7 tháng 11). Mặc dù con gái họ, Ethel, và các cháu ngoại đã cố gắng giữ kín cái chết của bà để ông khỏi đau đớn, nhưng cuối cùng thì ông cũng biết qua tin tức báo chí. Trong vòng chỉ một tuần sau đó, ông đã theo người vợ yêu dấu của mình vào cõi chết ở tuổi 96. Ông được chôn cất bên cạnh bà tại Nghĩa trang Memorial Park, Westwood, Los Angeles. Những tác phẩm tiêu biểu. Xem danh sách tác phẩm đầy đủ của Will Durant tại .
Đại Trung sinh (Mesozoic ) là một trong ba đại địa chất thuộc thời Phanerozoic (thời Hiển sinh). Sự phân chia thời gian ra thành các đại bắt đầu từ thời kỳ của Giovanni Arduino trong thế kỷ 18, mặc dù tên gọi ban đầu của ông cho đại (mà hiện nay gọi là đại Trung sinh) là "Secondario" (đệ Nhị) (điều này làm cho đại gần đây nhất là đại đệ Tam). Nằm giữa đại Cổ sinh ("Paleozoic") và đại Tân sinh ("Cenozoic"), đại Mesozoic có nghĩa là "các động vật giai đoạn giữa" trong tiếng Hy Lạp: "μεσο meso" là giữa và " ζῷον zoion" là động vật, dịch qua tiếng Hoa 中 "zhōng" = trung và 生 "shēng" = sinh. Nó thường cũng được gọi là "thời đại của sự sống Trung cổ" hay "Thời đại của Khủng long", theo tên gọi chung của các loài động vật phổ biến nhất trong đại này. Đại Trung sinh là thời kỳ của các hoạt động kiến tạo, khí hậu và tiến hóa. Các lục địa dần dần chuyển từ trạng thái liên hệ, gắn kết với nhau thành các trạng thái như ngày nay; sự chuyển dịch này tạo ra tiền đề cho sự hình thành loài và các phát triển tiến hóa quan trọng khác. Khí hậu khi đó là rất nóng trong toàn bộ khoảng thời gian của đại này và nó cũng đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa và đa dạng hóa của các loài động vật mới. Vào thời gian cuối của đại này, các nền tảng của sự sống hiện đại đã chiếm vị trí. Niên biểu địa chất. Tiếp theo sau đại Cổ sinh, đại Trung sinh kéo dài khoảng 186 triệu năm (Ma): từ khoảng 251 triệu năm trước tới khi đại Tân sinh bắt đầu cách đây 65 triệu năm. Khoảng thời gian này được chia tách ra thành ba kỷ địa chất. Theo trật tự từ cổ nhất tới trẻ nhất là: Ranh giới dưới (kỷ Trias) được tính theo sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias, trong thời gian đó khoảng 90% các loài động vật biển và khoảng 70% các loài động vật có xương sống trên đất liền bị tuyệt chủng. Nó còn được biết đến như là thời đại của "Sự chết chóc lớn" do nó được coi là sự tuyệt chủng hàng loạt lớn nhất trong lịch sử Trái Đất. Ranh giới trên (kỷ Creta) được tính theo sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại đệ Tam, nó có thể là do thiên thạch đã tạo ra hố lõm Chicxulub trên bán đảo Yucatán, México. Khoảng 50% các chi đã tuyệt chủng, bao gồm tất cả các loài khủng long không biết bay. Kỉ Tam Điệp dao động từ 252 triệu đến 201 triệu năm trước, trước thời kỳ kỷ Jura. Giai đoạn này kẹp giữa sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias và sự kiện tuyệt chủng Kỷ Trias–Jura, hai trong số "năm đại tuyệt chủng", và nó được chia thành ba thế địa chất chính: Sớm, Trung, và Muộn. Thế Tam Điệp Sớm, khoảng từ 252 đến 247 triệu năm trước, bị chi phối bởi sa mạc trong nội địa của siêu lục địa Pangea. Trái Đất vừa chứng kiến ​​một biến cố sinh học lớn, trong đó 95% tất cả dạng sống bị tuyệt chủng, và cuộc sống của động vật có xương sống phổ biến nhất trên mặt đất là lystrosaurus, labyrinthodonts, và euparkeria cùng với nhiều sinh vật khác sống sót sau sự kiện tuyệt chủng kỉ Permian. Nhóm Temnospondyls phát triển trong thời gian này và là kẻ săn mồi thống trị trong phần lớn kỉ Tam Điệp. Thế Tam Điệp Trung, bắt đầu từ 247 đến 237 triệu năm trước, cho thấy sự khởi đầu của sự tan rã lục địa Pangea và sự mở rộng của Biển Tethys. Hệ sinh thái đã phục hồi sau sự tuyệt chủng kỉ Permian. Tảo, bọt biển, san hô và động vật giáp xác đều đã phục hồi, và loài bò sát thủy sinh mới phát triển, chẳng hạn như ichthyosaurs và nothosaurs. Trên đất liền, rừng thông phát triển mạnh, cũng như các nhóm côn trùng như muỗi và ruồi giấm. Loài bò sát trở nên ngày càng lớn hơn, và những con cá sấu đầu tiên tiến hóa, cạnh tranh trực tiếp với những loài lưỡng cư lớn trước đây để cai trị thế giới nước ngọt. Tiếp nối sự nở rộ của Tam Điệp Trung, thế Tam Điệp Muộn, từ 237 đến 201 triệu năm trước, đặc trưng với các đợt sóng nhiệt thường xuyên và lượng mưa vừa phải (10-20 inch mỗi năm). Sự nóng lên bấy giờ đã dẫn đến sự tiến hóa bùng nổ của bò sát trên đất liền khai sinh những con khủng long thực sự đầu tiên phát triển, cũng như các loài thằn lằn bay. Trong thời kỳ này, một số cynodonts tiên tiến đã phát triển thành các Mammaliaformes đầu tiên. Tuy nhiên, sự thay đổi khí hậu đã dẫn đến một sự hủy diệt lớn được gọi là sự kiện tuyệt chủng kỉ Triassic-kỉ Jurassic, trong đó nhiều loài thằn lằn chúa (trừ loài thằn lằn bay, khủng long và cá sấu), hầu hết động vật Một cung bên, và hầu hết các động vật lưỡng cư lớn bị tuyệt chủng, cũng như 34% sinh vật biển, trong sự kiện tuyệt chủng hàng loạt của Trái Đất. Nguyên nhân vẫn gây tranh cãi, các vụ phun trào lũ ba-dan tại Vùng magma miền Trung Đại Tây Dương được trích dẫn là một nguyên nhân khả thi. Kỉ Jura dao động từ 200 triệu năm đến 145 triệu năm trước và có 3 thế địa chất chính: Sớm, Trung và Muộn. Thế Jura Sớm kéo dài từ 200 đến 175 triệu năm trước. Khí hậu nhiệt đới, ẩm ướt hơn nhiều so với Tam Điệp. Dưới đại dương, thằn lằn cổ rắn, ichthyosaurs và ammonit rất dồi dào. Trên đất liền, loài khủng long và các thằn lằn chúa khác thống trị hoàn toàn, với các khủng long chân thú như "Dilophosaurus" ở phía trên cùng của chuỗi thức ăn. Những con cá sấu thật sự đầu tiên tiến hóa, đẩy các loài lưỡng cư lớn đến bở vực tuyệt chủng. Nhìn chung, thằn làn chúa trỗi dậy để thống trị thế giới. Trong khi đó, loài động vật có vú đầu tiên thực sự phát triển, tuy vẫn còn tương đối nhỏ nhưng lan rộng; Ví dụ, "Castorocauda" đã thích ứng với việc bơi lội, đào hố và bắt cá. "Fruitafossor", từ cuối kỷ Jura khoảng 150 triệu năm trước, có kích thước bằng một con Sóc chuột, và răng của nó, trước và sau cho thấy nó đào tổ của các loài côn trùng xã hội (có lẽ là mối, vì kiến ​​chưa xuất hiện). Các multituberculates đầu tiên như "Rugosodon" phát triển, trong khi volaticotherians cất cánh lên bầu trời. Thế Jura Trung kéo dài từ 175 đến 163 triệu năm trước. Trong thời đại này, loài khủng long phát triển to lớn như các đàn khủng long chân thằn lằn khổng lồ, "Brachiosaurus" và "Diplodocus", lấp đầy những đồng cỏ dương xỉ, bị truy đuổi bởi nhiều kẻ săn mồi mới như "Allosaurus". Rừng cây lá kim chiếm một phần lớn diện tích rừng. Trong đại dương, plesiosaurs khá phổ biến, và ichthyosaurs phát triển mạnh. Kỷ nguyên này là đỉnh cao của loài bò sát. Thế Jura Muộn kéo dài từ 163 đến 145 triệu năm trước. Trong thời gian này, những avialans đầu tiên, giống như Archaeopteryx, phát triển từ những con khủng long đuôi rỗng nhỏ. Sự gia tăng mực nước biển đã mở ra biển Đại Tây Dương, phát triển liên tục lớn hơn cho đến tận ngày nay. Các vùng đất lục địa bị chia rẽ tạo cơ hội cho sự đa dạng hóa của các loài khủng long mới. Kỉ Phấn Trắng là khoảng thời gian dài nhất của Đại Trung Sinh, nhưng chỉ có hai thế địa chất: Sớm và Muộn. Thế Phấn Trắng Sớm có niên đại từ 145 đến 100 triệu năm trước. Thời kì này chứng kiến sự mở rộng của các đường biển, và kết quả là, sự suy giảm và tuyệt chủng của hàng loạt loài khủng long chân thằn lằn (trừ ở Nam Mỹ). Một số loài khủng long trên đảo, như "Eustreptospondylus", đã tiến hóa để đối phó với các vùng nước ven biển và các hòn đảo nhỏ của châu Âu cổ đại. Những con khủng long khác vươn lên để lấp đầy các khoảng trống mà sự tuyệt chủng kỷ Jura-Phấn Trắng bỏ lại phía sau, chẳng hạn như "Carcharodontosaurus" và "Spinosaurus". Trong số các thành công này là loài "Iguanodon", lan rộng đến mọi châu lục. Mùa lại có hiệu lực và hai địa cực trở nên lạnh hơn theo mùa, nhưng một số loài khủng long vẫn sinh sống trong các khu rừng ở vùng cực quanh năm, như "Leaellynasaura" và "Muttaburrasaurus". Các địa cực trở nên quá lạnh đối với cá sấu, và trở thành những thành trì cuối cùng cho các động vật lưỡng cư lớn như loài "Koolasuchus". Thằn lằn bay phát triển lớn hơn điển hình là "Tapejara" và "Ornithocheirus". Các động vật có vú tiếp tục mở rộng phạm vi của chúng: các loài eutriconodonts tạo ra các động vật ăn thịt khá lớn, như các loài "Repenomamus" và "Gobiconodon", nhánh Theria bắt đầu mở rộng thành metatherians và eutherians, và các loài multimuberculates cimolodont tiếp tục trở nên phổ biến trong hồ sơ hóa thạch. Thế Phấn Trắng Muộn trải dài từ 100 đến 66 triệu năm trước. Khoảng thời gian đặc trưng với một xu hướng làm mát sẽ tiếp tục trong đại Tân Sinh. Cuối cùng, vùng nhiệt đới bị giới hạn ở đường xích đạo và các khu vực nằm ngoài xích đạo phải đối mặt với những thay đổi cực đoan của thời tiết theo mùa. Khủng long vẫn phát triển mạnh, các chi mới như "Tyrannosaurus", "Ankylosaurus", "Triceratops" và khủng long mỏ vịt thống trị mạng lưới thức ăn. Dưới các đại dương, thương long ngự trị, lấp đầy vai trò của ichthyosaurs, mà sau khi giảm sô lượng, đã biến mất hoàn toàn trong sự kiện biên giới Cenomanian-Turonian. Mặc dù pliosaurs tuyệt chủng trong cùng một sự kiện, plesiosaurs cổ dài như "Elasmosaurus" tiếp tục phát triển mạnh. Thực vật có hoa, có thể đã xuất hiện lần đầu tiên vào kỉ Tam Điệp, đã thực sự chiếm lĩnh thảm thực vật. Thằn lằn bay trong kỉ Phấn Trắng muộn giảm thiểu vì lý do chưa rõ ràng, mặc dù điều này có thể là do xu hướng của hồ sơ hóa thạch, vì sự đa dạng của chúng dường như cao hơn nhiều so với suy nghĩ trước đây. Chim trở nên ngày càng phổ biến và đa dạng hóa thành nhiều dạng enantiornithe và ornithurine khác nhau. Mặc dù kích thước hầu hết khá nhỏ, hesperornithes thủy sinh trở nên lớn hơn và mất khả năng bay, thích nghi với cuộc sống ở các vùng biển rộng mở. Các metatherians và eutherian nguyên thủy cũng trở nên phổ biến và thậm chí còn rẽ nhánh thành các chi lớn như "Didelphodon" và "Schowalteria". Các loài động vật có vú chiếm ưu thế vẫn là multituberculates, cimolodonts ở phía bắc và gondwanatheres ở phía nam. Vào cuối kỉ Phấn trắng, trap Deccan và các vụ phun trào núi lửa khác đã đầu độc khí quyển. Trong khi quá trình này tiếp diễn, người ta cho rằng một thiên thạch lớn đã lao vào Trái Đất 66 triệu năm trước, tạo ra hố thiên thạch Chicxulub trong một sự kiện được gọi là sự kiện tuyệt chủng K-Pg (trước đây là K-T), đợt tuyệt chủng hàng loạt thứ năm và gần đây nhất, trong đó 75% dạng sống đã tuyệt diệt, bao gồm tất cả các loài khủng long không phải là chim.. Mọi con vật nặng trên 10 kg tuyệt chủng hoàn toàn. Thời đại của khủng long khép lại. Nói chung, đại Trung sinh là một trong những thời kỳ tăng cường các hoạt động kiến tạo. Nó bắt đầu khi tất cả các lục địa trên thế giới tập hợp lại với nhau thành một siêu lục địa gọi là Pangea. Pangea dần dần tách ra thành lục địa phía bắc là Laurasia và lục địa phía nam là Gondwana. Vào cuối đại này, các lục địa này đã tách tiếp thành hình dạng gần giống như ngày nay. Laurasia trở thành Bắc Mỹ và đại lục Á-Âu, trong khi Gondwana tách ra thành Nam Mỹ, châu Phi, Australia, châu Nam Cực và tiểu lục địa Ấn Độ, tiểu lục địa này sau đó va chạm với châu Á để hình thành nên dãy núi Himalaya. Kỷ Trias nói chung là khô, một xu hướng đã bắt đầu vào cuối kỷ Thạch Thán, và có tính chất theo mùa rất cao, đặc biệt là phần sâu bên trong của Pangea. Mực nước biển thấp cũng làm gia tăng thêm sự chênh lệch nhiệt độ. Nước có vai trò như chất ổn định nhiệt độ do nhiệt dung riêng lớn của nó, và các vùng đất gần các khu vực nhiều nước, đặc biệt là các đại dương, ít bị thay đổi nhiệt độ hơn. Do nhiều vùng đất của Pangea nằm khá xa đại dương nên nhiệt độ thay đổi rất nhiều và có lẽ phần bên trong của Pangea đã bao gồm nhiều khu vực sa mạc mở rộng. Các chứng cứ đa dạng về các tầng đá trầm tích màu đỏ và các mỏ muối đã ủng hộ cho giả thuyết này. Mực nước biển bắt đầu tăng lên trong kỷ Jura, có lẽ là do sự nâng lên của đáy biển. Sự hình thành lớp vỏ mới gần bề mặt đã chiếm chỗ của nước đại dương và làm cho mực nước biển dâng lên, cao hơn khoảng 200 m so với ngày nay và làm ngập lụt các khu vực ven biển. Ngoài ra, Pangea bắt đầu nứt ra thành các lục địa nhỏ hơn, làm cho nhiều vùng đất tiếp xúc với đại dương nhờ sự hình thành của biển Tethys. Nhiệt độ vẫn tiếp tục tăng và bắt đầu ổn định. Độ ẩm cũng tăng với sự tiếp giáp gần hơn của nước và các sa mạc co dần lại. Khí hậu trong kỷ Creta không được biết một cách rõ ràng và gây tranh cãi nhiều trong giới học giả ngày nay. Một phần là do nồng độ dioxide cacbon cao hơn trong khí quyển, nên sự khác nhiệt độ từ Bắc tới Nam trở nên gần như là phẳng: nhiệt độ đã gần như là bằng nhau trên cả hành tinh. Nhiệt độ trung bình cũng cao hơn ngày nay, vào khoảng 10 °C. Trên thực tế, vào giữa kỷ Creta, các vùng nước gần xích đạo có lẽ là quá nóng ấm, tới 20 °C tại các đại dương sâu thẳm, và như thế là quá nóng đối với sự sống trong đại dương, và các khu vực đất liền cận kề xích đạo có thể đã là các sa mạc, mặc dù chúng rất gần với nguồn nước biển. Sự luân chuyển oxy tới các đại dương sâu có thể đã bị phá vỡ. Vì lý do này, một lượng lớn các chất hữu cơ đã tích tụ lại do chúng không bị phân hủy và cuối cùng đã trở thành các trầm tích như đá phiến dầu. Tuy nhiên, không phải mọi dữ liệu đều khẳng định các giả thuyết này. Mặc dù tổng thể là ấm áp, nhưng các dao động về nhiệt độ có lẽ là đủ lớn để có thể cho phép tồn tại các chỏm băng vùng cực và các sông băng, nhưng điều này cũng không có chứng cứ rõ nét. Các mô hình định lượng cũng không thể tái tạo lại sự bằng phẳng của gradient nhiệt độ trong kỷ Creta. Sự tuyệt chủng gần như toàn bộ các loài động vật vào cuối kỷ Permi đã cho phép nhiều dạng mới của sự sống ra đời và thích ứng được. Cụ thể, sự tuyệt chủng của các loài động vật lớn ăn cỏ và ăn thịt thuộc phân bộ "Dinocephalia" đã làm cho các hốc sinh thái này bị trống. Một số hốc đã được các động vật trong phân bộ "Cynodontia" và cận bộ "Dicynodontia" sống sót chiếm chỗ, nhóm cuối này sau đó cũng bị tuyệt chủng. Tuy nhiên, sự sống động vật trong đại Trung sinh chủ yếu là các loại bò sát lớn thuộc nhóm "Archosauria" đã xuất hiện vài triệu năm sau sự tuyệt chủng kỷ Permi như khủng long (siêu bộ "Dinosauria"), bò sát bay (bộ "Pterosauria") và các loài bò sát sống dưới nước như thằn lằn cá (phân bộ "Ichthyosauria"), thằn lằn rùa cổ rắn (phân bộ "Plesiosauroidea") và thằn lằn sông (họ "Mosasauridae"). Các thay đổi khí hậu vào cuối kỷ Jura và Creta đã làm gia tăng thêm sự thích ứng của các loài mới. Kỷ Jura là đỉnh cao của sự đa dạng các loài trong nhóm "Archosauria". Những con chim và động vật có nhau thai (cận lớp "Eutheria") đầu tiên cũng đã xuất hiện. Thực vật hạt kín đã phát sinh vào đầu kỷ Creta, ban đầu ở vùng nhiệt đới, nhưng sự ổn định về nhiệt độ đã cho phép chúng loang rộng về hai cực trong cả kỷ này. Vào cuối kỷ Creta, thực vật hạt kín đã là ngành thực vật thống trị tại nhiều khu vực, mặc dù một số chứng cứ cho thấy sinh khối vẫn còn thống trị bởi tuế (ngành "Cycadophyta") và dương xỉ cho đến tận sau khi diễn ra sự tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại đệ Tam. Một số người cho rằng côn trùng đã đa dạng hóa cùng với thực vật hạt kín do các kết quả giải phẫu học về côn trùng, đặc biệt là phần miệng của chúng, dường như cho thấy nó rất phù hợp với thực vật có hoa. Tuy nhiên, tất cả các phần chính của miệng côn trùng đã có trước khi thực vật hạt kín ra đời, và sự đa dạng của côn trùng thực tế là chậm lại khi thực vật hạt kín xuất hiện, vì thế kết cấu miệng của chúng ban đầu có lẽ là để thích nghi với các mục đích khác. Khi nhiệt độ tại các đại dương tăng lên thì các loài động vật lớn đã phát triển mạnh thời kỳ đầu đại Trung sinh dần dần biến mất trong khi các loài động vật nhỏ hơn, bao gồm thằn lằn, rắn, và có lẽ cả tổ tiên của động vật có vú tới tận linh trưởng cũng đã bắt đầu tiến hóa. Sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại đệ Tam đã làm gia tăng xu hướng này. Các loài Archosauria lớn bị tuyệt chủng, trong khi chim và động vật có vú lại phát triển mạnh, giống như chúng đang có ngày nay.
Anatomic P2P là một mạng đồng đẳng phân tán dựa trên giao thức BitTorrent. Tất cả các phần mềm có dạng Anatomic P2P đều được phát hành theo giấy phép GNU. Anatomic P2P chứa rất nhiều tập lệnh và chương trình ứng dựng, bao gồm tập lệnh máy theo dõi "(tiếng Anh: tracker (or node) script)", tập lệnh máy siêu theo dõi "(tiếng Anh: supertracker (or supernode) script)", ứng dụng quản lý và máy khách. Tất cả các tập lệnh đều được viết bằng ngôn ngữ lập trình PHP nhưng có thể hoạt động dựa trên các ngôn ngữ lập trình khác. Tất cả các ứng dụng đều được viết bằng ngôn ngữ lập trình Python. Để phân phối tệp trên mạng thông thường người ta tạo ra một tệp torrent. Tệp torrent phải được gieo trên mạng đồng đẳng, nghĩa là nó sẽ thông báo đến siêu nút và nút (bằng HTTP) rằng tệp này sẽ được chia sẻ trên mạng. Để phân phối tệp torrent người dùng có thể thực hiện rất đơn giản bằng công cụ hướng dẫn từng bước. Mạng đồng đẳng Anatomic P2P là một mạng có tính tương thích ngược, cho phép các chương trình BitTorrent khác sử dụng Anatomic P2P để gieo tệp torrent. Chương trình của Anatomic P2P được viết bằng ngôn ngữ lập trình Python và PyGTK khiến cho chương trình có thể chạy trên nhiều hệ điều hành khác nhau Windows, Linux hoặc Mac OS X (cả phiên bản máy chủ). Mã nguồn của Anatomic P2P được phát triển dựa trên BitTornado, Anatomic P2P cũng có phiên bản chạy dưới dạng dòng lệnh. Anatomic sử dụng một chuỗi các nút chia sẻ dữ liệu và siêu nút (như máy siêu theo dõi) để chia sẻ tệp. Một nút trên mạng Anatomic P2P là một phiên bản chỉnh sửa của máy theo dõi trong giao thức BitTorrent, nút này được viết bằng ngôn ngữ lập trình PHP. Siêu nút chứa một chỉ mục các tệp torrent đang được chia sẻ trong mạng. Một nút đang ở trong trạng thái chia sẻ tệp được gọi là máy đồng đẳng chia sẻ (tiếng Anh: peer-sharing). Do không có điểm tập trung nên mạng Anatomic P2P là phân tán.
Hãn ("khan", "han", đôi khi "xan") trong tiếng Mông Cổ và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là một tước hiệu có nhiều nghĩa, ban đầu có nghĩa là "thủ lĩnh" một bộ tộc. Một hãn kiểm soát một lãnh thổ gọi là hãn quốc. Đôi khi cũng có thể dịch là hoàng đế. Ngày nay các hãn chủ yếu còn ở Nam và Trung Á. Ở một vài thời điểm, Hãn được phân biệt rõ ràng với Khắc Hãn ("Khagan"), nghĩa là hãn của các hãn. Tước hiệu hãn là một trong nhiều tước hiệu được các sultan của đế chế Ottoman, cũng như thủ lĩnh của hãn quốc Kim Trướng và các nhà nước về sau sử dụng. Tước hiệu này cũng được các triều đại người Thổ Seljuk ở vùng Cận Đông sử dụng để chỉ thủ lĩnh của nhiều bộ tộc, bộ lạc hay nhà nước, ở cấp thấp hơn so với "Atabeg". Các thủ lĩnh người Nữ Chân và Mãn Châu cũng dùng tước hiệu này; chẳng hạn như, Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhachi) tự xưng là "Genggiyen Han" ("Phúc Dục Liệt Quốc Anh Minh Hãn" 覆育列國英明汗). Các thủ lĩnh người Göktürk (Đột Quyết), Avar và Khazar cũng dùng tước hiệu Đại hãn. Vua nước Tân La (Silla), một nước cổ tại bán đảo Triều Tiên, được gọi là Marib-Khan, như vua Naemul được gọi là Naemul Marib-Khan. "Hãn vương" là tước hiệu nhà Kim phong cho thủ lĩnh của các bộ lạc Mông Cổ, khi nhà Kim còn rất mạnh và các bộ lạc Mông Cổ còn tranh giành nội bộ, không thống nhất được với nhau. Cụ thể khi đó người mang tước hiệu Hãn vương là Tô Ha Rin của bộ lạc Khắc Liệt. Có lẽ những hãn vương nổi tiếng nhất trong lịch sử loài người là Thành Cát Tư Hãn người Mông Cổ và cháu của ông là Hốt Tất Liệt Hãn. Thành Cát Tư Hãn sáng lập ra đế chế Mông Cổ còn Hốt Tất Liệt Hãn lập ra nhà Nguyên của Trung Quốc. Hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn khi lên ngôi thường được gọi là Đại Hãn.
Lục địa Úc còn gọi là Úc-New Guinea, Australinea, Sahul hay Meganesia là một lục địa bao phủ Australia (Úc) lục địa, Tasmania, New Guinea, cùng các đảo ở giữa chúng. Lục địa này có eo biển Torres nằm giữa Úc và Tân Guinea, và eo biển Bass giữa đại lục Úc và Tasmania. Tuy nhiên dưới góc độ sinh học và địa chất học thì chúng là một tổng thể duy nhất. Úc là nước duy nhất nằm trọn lục địa này và có diện tích nhỏ nhất trong sáu lục địa. Dân số tính đến năm 2007 là hơn 29 triệu dân. Lục địa Úc rộng khoảng 8,56 triệu km². Lục địa Úc có khí hậu khô hạn, phần lớn diện tích là hoang mạc và xa van. Giới sinh vật có nhiều loài độc đáo. Bạch đàn và cây keo mọc ở nhiều nơi. Động vật có nhiều loaì thú có túi như kangaroo, gấu koala, gấu túi ở Ú Phần lớn các đảo có khí hậu nóng ẩm, có rừng rậm hoặc rừng dừa bao phủ. lục địa Úc có số dân ít nhất trong các lục địa có dân cư sinh sống. Trên lục địa Australia và quần đảo New Zealand, dân cư chủ yếu là người da trắng (con cháu người Anh di cư sang từ những thế kỉ trước), còn trên các đảo khác thì dân cư chủ yếu là người bản địa có da màu sẫm, mắt đen và tóc xoăn. Australia là nước có nền kinh tế phát triển, nổi tiếng trên thế giới về xuất khẩu lông cừu, len, thịt bò, sữ, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy, chế biến thực phẩm phát triển mạnh.
Máy rút tiền tự động Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (còn được gọi là ATM, viết tắt của "Automated Teller Machine" hoặc "Automatic Teller Machine" trong tiếng Anh) là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ. ATM được gọi bằng nhiều tên khác nhau, bao gồm cả máy tự động rút tiền (ATM) tại Hoa Kỳ (đôi khi được gọi thừa chữ như "máy ATM"). Ở Canada, thuật ngữ "máy ngân hàng tự động" (ABM) cũng được sử dụng, mặc dù ATM cũng được sử dụng rất phổ biến ở Canada, với nhiều tổ chức Canada sử dụng ATM thay vì ABM. Trong tiếng Anh Anh, các thuật ngữ "cashpoint", "máy rút tiền" và "hole in the wall" được sử dụng rộng rãi nhất. Các cách khác bao gồm "bany time money", "cashline", "tyme machine", "cash dispenser", "cash corner", "bankomat." Nhiều máy ATM có bảng hiệu phía trên cho biết tên ngân hàng hoặc tổ chức sở hữu máy ATM và có thể bao gồm các mạng mà máy ATM có thể kết nối. Các máy ATM không được điều hành bởi một tổ chức tài chính được gọi là máy ATM "nhãn trắng". Bằng cách sử dụng máy ATM, khách hàng có thể truy cập tài khoản tiền gửi ngân hàng hoặc tài khoản tín dụng của mình để thực hiện nhiều giao dịch tài chính khác nhau, đặc biệt là rút tiền mặt và kiểm tra số dư, cũng như chuyển tín dụng đến và từ điện thoại di động. Máy ATM cũng có thể được sử dụng để rút tiền mặt ở nước ngoài. Nếu đơn vị tiền tệ được rút từ máy ATM khác với loại tiền được sử dụng trong tài khoản ngân hàng, tiền sẽ được chuyển đổi theo tỷ giá hối đoái của tổ chức tài chính. Khách hàng thường được nhận dạng bằng cách cắm thẻ ATM nhựa (hoặc một số thẻ thanh toán được chấp nhận khác) vào máy ATM, với xác thực là khách hàng nhập mã số nhận dạng cá nhân (PIN), mã này phải khớp với mã PIN được lưu trong chip trên thẻ (nếu thẻ được trang bị như vậy), hoặc trong cơ sở dữ liệu của tổ chức tài chính phát hành. Theo Hiệp hội Công nghiệp ATM (ATMIA), ính đến năm 2015[ [cập nhật]], đã có gần 3,5 triệu máy ATM được lắp đặt trên toàn thế giới. Tuy nhiên, việc sử dụng máy ATM đang giảm dần với sự gia tăng của các hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt. Ý tưởng phân phối tiền mặt ngoài giờ được phát triển từ nhu cầu của các nhân viên ngân hàng ở Nhật Bản, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Một thiết bị của Nhật Bản được gọi là "Máy cho vay dùng máy tính" đã cung cấp tiền mặt dưới dạng khoản vay 3 tháng ở mức 5% / năm sau khi cắm thẻ tín dụng. Thiết bị hoạt động vào năm 1966. Tuy nhiên, có ít thông tin về thiết bị này. Adrian Ashfield đã phát minh ra ý tưởng cơ bản về một thẻ kết hợp giữa chìa khóa và danh tính của người dùng vào tháng 2 năm 1962. Điều này đã được cấp Bằng sáng chế 959.713 của Vương quốc Anh cho "Bộ điều khiển truy cập" vào tháng 6 năm 1964 và được giao cho WS Atkins Partners, người đã thuê Ashfield. Anh đã được trả mười shilling cho việc này, số tiền tiêu chuẩn cho tất cả các bằng sáng chế. Ban đầu nó được dự định để phân phối xăng nhưng bằng sáng chế đã đề cập đến tất cả các mục đích sử dụng. Trong hồ sơ bằng sáng chế của Hoa Kỳ, Luther George Simjian đã được ghi nhận là người đã phát triển một "thiết bị nghệ thuật tiền nhiệm". Cụ thể là bằng sáng chế thứ 132 của ông (US3079603), được nộp lần đầu tiên vào ngày 30 tháng 6 năm 1960 (và được cấp ngày 26 tháng 2 năm 1963). Việc tung ra chiếc máy này, có tên là Bankograph, đã bị trì hoãn vài năm, một phần do công ty Reflectone Electronics Inc. của Simjian được Universal Match Corporation mua lại. Một Bankograph thử nghiệm đã được lắp đặt tại Thành phố New York vào năm 1961 bởi Ngân hàng Thành phố New York, nhưng bị gỡ bỏ sau sáu tháng do không được khách hàng chấp nhận. Bankograph là một máy gửi tiền tự động bằng phong bì (chấp nhận tiền xu, tiền mặt và séc) và không có tính năng phân phối tiền mặt. Một máy rút tiền mặt được Ngân hàng Barclays đưa vào sử dụng tại chi nhánh Enfield Town ở Bắc London, Vương quốc Anh vào ngày 27 tháng 6 năm 1967. Cỗ máy này được diễn viên hài người Anh Reg Varney khai trương rút thử. Ví dụ về phát minh này được ghi nhận cho nhóm kỹ sư do John Shepherd-Barron của công ty in De La Rue dẫn đầu, người đã được trao tặng OBE trong Giải thưởng Năm mới 2005. Các giao dịch được bắt đầu bằng cách chèn séc giấy do giao dịch viên hoặc thủ quỹ phát hành, được đánh dấu bằng carbon-14 để đảm bảo khả năng đọc và bảo mật của máy, trong mô hình sau này được khớp với mã số nhận dạng cá nhân (PIN) gồm sáu chữ số. Shepherd-Barron nói: "Tôi thấy phải có cách nào đó để tôi có thể rút được tiền của riêng mình, ở bất kỳ đâu trên thế giới hoặc ở Vương quốc Anh. Tôi nảy ra ý tưởng về máy rút thanh sô cô la, nhưng thay thế sô cô la bằng tiền mặt." Máy Barclays – De La Rue (được gọi là Hệ thống rút tiền tự động De La Rue hay DACS) đánh bại các ngân hàng tiết kiệm của Thụy Điển và một công ty có tên là Metior's machine (một thiết bị gọi là Bankomat) chỉ trong chín ngày và Ngân hàng Westminster - Smith Industries - Hệ thống Chubb (gọi là Chubb MD2) trong 1 tháng. Phiên bản trực tuyến của máy Thụy Điển được liệt kê là đã hoạt động vào ngày 6 tháng 5 năm 1968, đồng thời tuyên bố là máy ATM trực tuyến đầu tiên trên thế giới, trước những tuyên bố tương tự của IBM và Lloyds Bank vào năm 1971, và Oki vào năm 1970. Sự hợp tác của một công ty khởi nghiệp nhỏ tên là Speytec và Ngân hàng Midland đã phát triển chiếc máy thứ tư được bán ra thị trường sau năm 1969 tại Châu Âu và Hoa Kỳ bởi Burroughs Corporation. Bằng sáng chế cho thiết bị này (GB1329964) được nộp vào tháng 9 năm 1969 (và được cấp năm 1973) bởi John David Edwards, Leonard Perkins, John Henry Donald, Peter Lee Chappell, Sean Benjamin Newcombe và Malcom David Roe. Cả DACS và MD2 đều chỉ chấp nhận mã thông báo hoặc chứng từ sử dụng một lần được máy giữ lại, trong khi các máy Speytec hoạt động với thẻ có dải từ ở phía sau. Các máy này đã sử dụng các nguyên tắc bao gồm Carbon-14 và từ tính lực kháng từ thấp để làm cho việc gian lận trở nên khó khăn hơn. Ý tưởng về mã PIN được lưu trên thẻ được phát triển bởi một nhóm kỹ sư làm việc tại Smiths Group trên Chubb MD2 vào năm 1965 và đã được cấp cho James Goodfellow (bằng sáng chế GB1197183 được nộp vào ngày 2 tháng 5 năm 1966 với Anthony Davies). Bản chất của hệ thống này là nó cho phép xác minh khách hàng bằng tài khoản ghi nợ mà không cần sự can thiệp của con người. Bằng sáng chế này cũng là ví dụ sớm nhất về "hệ thống phân phối tiền tệ" hoàn chỉnh trong hồ sơ bằng sáng chế. Bằng sáng chế này được nộp vào ngày 5 tháng 3 năm 1968 tại Hoa Kỳ (US 3543904) và được cấp vào ngày 1 tháng 12 năm 1970. Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn ngành. Không chỉ những công ty trong tương lai tham gia vào thị trường máy rút tiền như NCR Corporation và IBM đã cấp phép cho hệ thống mã PIN của Goodfellow, mà một số bằng sáng chế sau này gọi bằng sáng chế này là "Prior Art Device". Thiết bị do người Anh thiết kế (tức là Chubb, De La Rue) và tiếng Thụy Điển (tức là Asea Meteor) nhanh chóng lan rộng ra. Ví dụ, với mối liên hệ với Barclays, Ngân hàng Scotland đã triển khai DACS vào năm 1968 với thương hiệu 'Scotcash'. Khách hàng được cấp mã số cá nhân để kích hoạt máy, tương tự như mã PIN hiện đại. Chúng cũng chứa các phiếu mua hàng trị giá 10 bảng Anh. Chúng được đưa vào máy và số tiền tương ứng được ghi nợ từ tài khoản của khách hàng. Một máy ATM do Chubb sản xuất đã xuất hiện ở Sydney vào năm 1969. Đây là máy ATM đầu tiên được lắp đặt ở Úc. Máy chỉ rút 25 đô la mỗi lần và bản thân thẻ ngân hàng sẽ được gửi đến người dùng sau khi ngân hàng xử lý lệnh rút tiền. Bankomat của Asea Metior là máy ATM đầu tiên được Banesto lắp đặt ở Tây Ban Nha vào ngày 9 tháng 1 năm 1969, ở trung tâm thành phố Madrid. Thiết bị này đưa ra các tờ 1.000 peseta (1 đến tối đa 5 tờ). Mỗi người dùng phải giới thiệu một khóa cá nhân bảo mật bằng cách sử dụng kết hợp mười nút số. Vào tháng 3 cùng năm, một quảng cáo hướng dẫn sử dụng Bancomat đã được đăng trên cùng tờ báo. Docutel ở Hoa Kỳ. Sau khi tận mắt chứng kiến những kinh nghiệm ở châu Âu, năm 1968, máy ATM được Donald Wetzel, người từng là trưởng bộ phận của một công ty có tên là Docutel, người tiên phong ở Mỹ và là người phát minh ra thẻ ATM dải từ tính đầu tiên. Docutel là công ty con của Công ty Recognition Equipment Inc của Dallas, Texas, đang sản xuất thiết bị quét quang học và đã hướng dẫn Docutel khám phá việc xử lý hành lý tự động và máy bơm xăng tự động. Vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, Ngân hàng Chemical đã lắp đặt máy ATM đầu tiên ở Mỹ tại chi nhánh của nó ở Trung tâm Rockville, New York. Các máy ATM đầu tiên được thiết kế để phân phối một lượng tiền mặt cố định khi người dùng đưa thẻ được mã hóa đặc biệt vào. Một quảng cáo của Ngân hàng Hóa chất khoe rằng "Vào ngày 2 tháng 9, ngân hàng của chúng tôi sẽ mở cửa lúc 9:00 và không bao giờ đóng cửa nữa." Máy ATM của Chemical, ban đầu được gọi là Docuteller, được thiết kế bởi Donald Wetzel và công ty Docutel của ông. Các giám đốc điều hành hóa chất ban đầu do dự về việc chuyển đổi ngân hàng điện tử do chi phí cao của các máy ban đầu. Ngoài ra, các giám đốc điều hành lo ngại rằng khách hàng sẽ chống lại việc máy móc xử lý tiền của họ. Năm 1995, Bảo tàng Lịch sử Hoa Kỳ Quốc gia Smithsonian đã công nhận Docutel và Wetzel là những người phát minh ra máy ATM nối mạng. Đến năm 1974, Docutel đã chiếm được 70% thị trường Hoa Kỳ; nhưng do hậu quả của cuộc suy thoái đầu năm 1970 trên toàn thế giới và sự phụ thuộc vào một dòng sản phẩm duy nhất, Docutel mất đi sự độc lập và buộc phải hợp nhất với công ty con Olivetti của Mỹ. Wetzel được Văn phòng Sáng chế Hoa Kỳ công nhận là người đã phát minh ra máy ATM dưới dạng Bằng sáng chế Hoa Kỳ # 3,761,682; đơn đã được nộp vào tháng 10 năm 1971 và bằng sáng chế được cấp vào năm 1973. Tuy nhiên, hồ sơ bằng sáng chế của Hoa Kỳ trích dẫn ít nhất ba đơn đăng ký trước đó từ Docutel, tất cả đều liên quan đến sự phát triển của máy ATM và Wetzel không đưa ra con số nào, đó là Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 3.662.343, Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 3651976 và Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 3.686.569 . Các bằng sáng chế này đều được ghi nhận cho Kenneth S. Goldstein, MR Karecki, TR Barnes, GR Chastian và John D. White. Những tiến bộ tiếp theo. Tháng 4 năm 1971, Busicom bắt đầu sản xuất máy ATM dựa trên bộ vi xử lý thương mại đầu tiên, Intel 4004. Busicom đã sản xuất các máy rút tiền tự động dựa trên vi xử lý này cho một số người mua, với NCR Corporation là khách hàng chính. Mohamed Atalla đã phát minh ra mô-đun bảo mật phần cứng (HSM) đầu tiên, được mệnh danh là "Atalla Box", một hệ thống bảo mật mã hóa mã PIN và tin nhắn ATM, đồng thời bảo vệ các thiết bị ngoại tuyến bằng khóa tạo mã PIN không thể đoán được. Vào tháng 3 năm 1972, Atalla đã nộp Bằng sáng chế Hoa Kỳ số cho hệ thống xác minh mã PIN của mình, bao gồm một đầu đọc thẻ được mã hóa và mô tả một hệ thống sử dụng các kỹ thuật mã hóa để đảm bảo an ninh liên kết điện thoại trong khi nhập thông tin ID cá nhân được truyền đến một vị trí từ xa để xác minh. Atalla thành lập tập đoàn Atalla (nay là Utimaco Atalla) vào năm 1972, và tung ra sản phẩm thương mại "Atalla Box" vào năm 1973. Sản phẩm đã được phát hành với tên Identikey. Đó là một đầu đọc thẻ và hệ thống nhận dạng khách hàng, cung cấp một thiết bị đầu cuối có khả năng thẻ nhựa và mã PIN. Hệ thống mã định danh bao gồm một bảng điều khiển đầu đọc thẻ, hai miếng mã PIN của khách hàng, bộ điều khiển thông minh và gói giao diện điện tử tích hợp sẵn. Thiết bị bao gồm hai bàn phím, một dành cho khách hàng và một dành cho nhân viên giao dịch. Nó cho phép khách hàng nhập một mã bí mật, được thiết bị chuyển đổi, sử dụng bộ vi xử lý, thành một mã khác cho nhân viên giao dịch. Trong khi giao dịch, đầu đọc thẻ sẽ đọc được số tài khoản của khách hàng. Quá trình này đã thay thế việc nhập thủ công và tránh các lỗi hành trình phím có thể xảy ra. Nó cho phép người dùng thay thế các phương pháp xác minh khách hàng truyền thống như xác minh chữ ký và câu hỏi kiểm tra bằng hệ thống mã PIN an toàn. Sự thành công của "Atalla Box" đã dẫn đến việc áp dụng rộng rãi các mô-đun bảo mật phần cứng trong các máy ATM. Quy trình xác minh mã PIN của nó tương tự như IBM 3624 sau này. Các sản phẩm HSM của Atalla đảm bảo bảo vệ 250 triệu giao dịch thẻ mỗi ngày tính đến năm 2013, và đảm bảo phần lớn giao dịch ATM trên thế giới tính đến năm 2014. IBM 2984 là một máy ATM hiện đại và được đưa vào sử dụng tại Ngân hàng Lloyds, High Street, Brentwood, Essex, Vương quốc Anh vào tháng 12 năm 1972. IBM 2984 được thiết kế theo yêu cầu của Ngân hàng Lloyds. Điểm phát hành tiền mặt 2984 là một máy ATM thực sự, có chức năng tương tự như các máy ATM ngày nay và được Ngân hàng Lloyds đặt tên là: Cashpoint. Cashpoint vẫn là nhãn hiệu đã đăng ký của Lloyds Banking Group tại Vương quốc Anh nhưng thường được sử dụng làm nhãn hiệu chung để chỉ các máy ATM của tất cả các ngân hàng ở Vương quốc Anh. Tất cả đều trực tuyến và được phát hành một số tiền thay đổi được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản. Một số lượng nhỏ 2984 đã được cung cấp cho một ngân hàng Hoa Kỳ. Một số mẫu máy ATM nổi tiếng trong lịch sử bao gồm Atalla Box, IBM 3614, IBM 3624 và 473x series, Diebold 10xx và TABS 9000 series, NCR 1780 và dòng NCR 770 trước đó. Hệ thống chuyển mạch đầu tiên cho phép các máy rút tiền tự động dùng chung giữa các ngân hàng đi vào hoạt động sản xuất vào ngày 3 tháng 2 năm 1979, tại Denver, Colorado, trong nỗ lực của Ngân hàng Quốc gia Colorado của Denver và Kranzley và Công ty Cherry Hill, New Jersey. Năm 2012, một máy ATM mới tại Ngân hàng Hoàng gia Scotland cho phép khách hàng rút tiền mặt lên tới 130 bảng Anh mà không cần thẻ bằng cách nhập mã gồm sáu chữ số được yêu cầu thông qua điện thoại thông minh của họ. ATM có thể được đặt tại bất kỳ địa điểm nào nhưng thường được đặt gần hoặc bên trong ngân hàng, trung tâm mua sắm, sân bay, ga đường sắt, ga tàu điện ngầm, cửa hàng tạp hóa, trạm xăng, nhà hàng và các địa điểm khác. ATM cũng được tìm thấy trên các tàu du lịch và trên một số tàu của Hải quân Hoa Kỳ, nơi các thủy thủ có thể rút tiền lương của họ. ATM có thể ở trong nhà hoặc ngoài trời. ATM trong nhà thường là những máy đa chức năng tiên tiến hơn, bổ sung cho khả năng của chi nhánh ngân hàng và do đó đắt hơn. Các máy ngoài trời được triển khai bởi các tổ chức tài chính và các tổ chức bán hàng độc lập (ISO), nơi có nhu cầu đơn giản về tiền mặt, vì vậy chúng thường là các thiết bị chức năng đơn rẻ hơn. Tại Hoa Kỳ, Canada và một số quốc gia vùng Vịnh, các ngân hàng có thể có các làn đường lái xe qua de có thể sử dụng máy ATM trên ô tô. Trong thời gian gần đây, các quốc gia như Ấn Độ và một số quốc gia ở Châu Phi đang lắp đặt máy ATM ở khu vực nông thôn, chạy bằng năng lượng mặt trời. ATM cao nhất thế giới được đặt tại Đèo Khunjerab ở Pakistan. Được Ngân hàng Quốc gia Pakistan lắp đặt ở độ cao 4.693 mét (15.397 ft), nó được thiết kế để hoạt động ở nhiệt độ thấp tới -40 độ C. Mạng lưới tài chính. Hầu hết các máy ATM được kết nối với mạng liên ngân hàng cho phép mọi người rút và gửi tiền từ các máy không thuộc ngân hàng nơi họ có tài khoản hoặc tại các quốc gia nơi tài khoản của họ được giữ (cho phép rút tiền mặt bằng nội tệ). Một số ví dụ về mạng liên ngân hàng bao gồm NYCE, PULSE, PLUS, Cirrus, AFFN, Interac, Interswitch, STAR, LINK, MegaLink và BancNet. ATM dựa trên sự ủy quyền của một giao dịch tài chính của tổ chức phát hành thẻ hoặc tổ chức ủy quyền khác trên mạng truyền thông. Điều này thường được thực hiện thông qua hệ thống nhắn tin ISO 8583. Nhiều ngân hàng tính phí sử dụng ATM. Trong một số trường hợp, các khoản phí này chỉ được tính cho người dùng không phải là khách hàng của ngân hàng vận hành ATM; trong các trường hợp khác, chúng áp dụng cho tất cả người dùng. Để cho phép một loạt các thiết bị khác nhau gắn vào mạng của họ, một số mạng liên ngân hàng đã thông qua các quy tắc mở rộng định nghĩa của ATM thành thiết bị đầu cuối có kho tiền trong dấu chân của nó hoặc sử dụng kho tiền hoặc ngăn kéo tiền của người bán hàng, cho phép sử dụng một máy rút tiền mini. ATM thường kết nối trực tiếp với máy chủ hoặc Bộ điều khiển ATM của họ trên ADSL hoặc modem quay số qua đường dây điện thoại hoặc trực tiếp trên đường dây thuê. Các đường dây cho thuê được ưu tiên hơn các đường dây dịch vụ điện thoại cũ (POTS) vì chúng cần ít thời gian hơn để thiết lập kết nối. Các máy ít bị buôn bán thường sẽ dựa vào modem quay số trên đường dây POTS thay vì sử dụng đường dây thuê, vì đường dây thuê có thể tương đối đắt hơn khi vận hành so với đường dây POTS. Vấn đề nan giải đó có thể được giải quyết khi các kết nối Internet VPN tốc độ cao trở nên phổ biến hơn. Các giao thức giao tiếp cấp thấp hơn phổ biến được ATM sử dụng để liên lạc lại với ngân hàng bao gồm SNA qua SDLC, TC500 qua Async, X.25 và TCP/IP qua Ethernet. Ngoài các phương thức được sử dụng để bảo mật và bảo mật giao dịch, tất cả lưu lượng liên lạc giữa ATM và Bộ xử lý giao dịch cũng có thể được mã hóa bằng các phương thức như SSL. Sử dụng trên toàn cầu. Không có con số quốc tế hoặc chính phủ nào tổng hợp hoàn chỉnh về tổng số ATM được sử dụng trên toàn thế giới. Ước tính do ATMIA phát triển đặt số lượng máy ATM hiện đang sử dụng ở mức 3 triệu đơn vị, tương đương khoảng 1 ATM trên 3.000 người trên thế giới. Để đơn giản hóa việc phân tích sử dụng ATM trên toàn thế giới, các tổ chức tài chính thường chia thế giới thành bảy khu vực, do tỷ lệ thâm nhập, thống kê sử dụng và các tính năng được triển khai. Bốn khu vực (Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu và Nhật Bản) có số lượng ATM cao trên một triệu người. Mặc dù số lượng máy ATM lớn, nhưng có nhu cầu thêm về máy móc ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng như ở Châu Mỹ Latinh. Macau có thể có mật độ ATM cao nhất với 254 ATM trên 100.000 người lớn. ATM vẫn chưa đạt số lượng cao ở Cận Đông và Châu Phi. Cấu tạo của máy ATM sẽ bao gồm các bộ phận: Do nhu cầu tính toán cao hơn và giá cả của các kiến trúc giống như máy tính cá nhân đang giảm, các máy ATM đã rời xa các kiến trúc phần cứng tùy chỉnh bằng cách sử dụng vi điều khiển hoặc mạch tích hợp dành riêng cho ứng dụng và đã áp dụng kiến trúc phần cứng của máy tính cá nhân, chẳng hạn như kết nối USB cho thiết bị ngoại vi, liên lạc qua Ethernet và IP, và sử dụng hệ điều hành máy tính cá nhân. Các chủ doanh nghiệp thường thuê máy ATM từ các nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, dựa trên tính kinh tế của quy mô, giá của thiết bị đã giảm đến mức nhiều chủ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thanh toán cho các máy ATM bằng thẻ tín dụng. Các nguyên tắc mới về giọng nói và chuyển văn bản thành giọng nói của ADA được áp dụng vào năm 2010, nhưng bắt buộc vào tháng 3 năm 2012 đã buộc nhiều chủ máy ATM phải nâng cấp các máy không tuân thủ hoặc loại bỏ chúng nếu chúng không thể nâng cấp và mua thiết bị tuân thủ mới. Điều này đã tạo ra một con đường cho tin tặc và kẻ trộm lấy phần cứng ATM tại các bãi phế liệu từ các máy ngừng hoạt động được xử lý không đúng cách. Kho tiền của máy ATM nằm trong khuôn viên của chính thiết bị và là nơi lưu giữ các vật có giá trị. Máy rút tiền Scrip không kết hợp với một kho tiền. Các cơ chế được tìm thấy bên trong kho tiền có thể bao gồm: Các kho đựng tiền của ATM được các nhà sản xuất cung cấp theo nhiều cấp độ. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại kho tiền bao gồm chi phí, trọng lượng, các yêu cầu quy định, loại ATM, các biện pháp tránh rủi ro của người vận hành và yêu cầu về khối lượng nội bộ. Cấu hình kho tiền tiêu chuẩn công nghiệp bao gồm Phòng thí nghiệm Underwriters UL-291 "Giờ làm việc" và Két sắt cấp 1, các dẫn xuất RAL TL-30, và CEN EN 1143-1 - CEN III và CEN IV. Các nhà sản xuất máy ATM khuyến nghị nên gắn một kho tiền vào sàn để chống trộm, mặc dù đã có hồ sơ về một vụ trộm được thực hiện bằng cách đào hầm vào sàn ATM. Với việc chuyển đổi sang phần cứng máy tính cá nhân, các hệ điều hành và môi trường lập trình thương mại tiêu chuẩn "có sẵn" có thể được sử dụng bên trong máy ATM. Các nền tảng điển hình trước đây được sử dụng trong phát triển ATM bao gồm RMX hoặc OS/2. Ngày nay, phần lớn các máy ATM trên toàn thế giới sử dụng hệ điều hành Microsoft Windows, chủ yếu là Windows XP Professional hoặc Windows XP Embedded. Đầu năm 2014, 95% máy ATM đang chạy Windows XP. Một số lượng nhỏ các bản triển khai có thể vẫn đang chạy các phiên bản Windows OS cũ hơn, chẳng hạn như Windows NT, Windows CE hoặc Windows 2000, mặc dù Microsoft vẫn chỉ hỗ trợ Windows 8 và Windows 10. Có quan điểm bảo mật trong ngành máy tính cho rằng hệ điều hành máy tính để bàn công cộng có nhiều rủi ro hơn khi là hệ điều hành cho máy rút tiền so với các loại hệ điều hành khác như hệ điều hành thời gian thực (RTOS) (an toàn). RISKS Digest đã có nhiều bài viết về các lỗ hổng của hệ điều hành ATM. Linux cũng đang tìm kiếm một số sự tiếp nhận trên thị trường ATM. Một ví dụ về điều này là Banrisul, ngân hàng lớn nhất ở miền nam Brazil, đã thay thế hệ điều hành MS-DOS trong các máy ATM của mình bằng Linux. Banco do Brasil cũng đang chuyển các máy ATM sang Linux. Vortex Engineering có trụ sở tại Ấn Độ đang sản xuất các máy ATM chỉ hoạt động với Linux. Các giao thức giao dịch lớp ứng dụng phổ biến, chẳng hạn như Diebold 91x (911 hoặc 912) và NCR NDC hoặc NDC + cung cấp mô phỏng của các thế hệ phần cứng cũ hơn trên các nền tảng mới hơn với các phần mở rộng gia tăng được thực hiện theo thời gian để giải quyết các khả năng mới, mặc dù các công ty như NCR liên tục cải thiện việc phát hành các giao thức này phiên bản mới hơn (ví dụ: NCR của AANDC , trong đó xy là các phép lật đổ). Hầu hết các nhà sản xuất ATM lớn đều cung cấp các gói phần mềm thực hiện các giao thức này. Các giao thức mới hơn như IFX vẫn chưa được các bộ xử lý giao dịch chấp nhận rộng rãi. Với việc chuyển sang nền tảng phần mềm được tiêu chuẩn hóa hơn, các tổ chức tài chính ngày càng quan tâm đến khả năng chọn và lựa chọn các chương trình ứng dụng điều khiển thiết bị của họ. WOSA / XFS, hiện được gọi là CEN XFS (hoặc đơn giản là XFS), cung cấp một API chung để truy cập và thao tác các thiết bị khác nhau của máy ATM. J / XFS là một triển khai Java của API CEN XFS.Mặc dù lợi ích được nhận thức của XFS tương tự như câu thần chú " viết một lần, chạy mọi nơi " của Java, thường các nhà cung cấp phần cứng ATM khác nhau có cách hiểu khác nhau về tiêu chuẩn XFS. Kết quả của những khác biệt này trong cách diễn giải có nghĩa là các ứng dụng ATM thường sử dụng một phần mềm trung gian để phân biệt sự khác biệt giữa các nền tảng khác nhau. Với sự ra đời của hệ điều hành Windows và XFS trên máy ATM, các ứng dụng phần mềm có khả năng trở nên thông minh hơn. Điều này đã tạo ra một loạt ứng dụng ATM mới thường được gọi là ứng dụng có thể lập trình. Những loại ứng dụng này cho phép một loạt các ứng dụng hoàn toàn mới trong đó thiết bị đầu cuối ATM có thể làm được nhiều việc hơn là chỉ giao tiếp với bộ chuyển mạch ATM. Nó hiện được trao quyền để kết nối với các máy chủ nội dung khác và hệ thống ngân hàng video. Với việc chuyển các máy ATM sang các môi trường máy tính tiêu chuẩn công nghiệp, mối quan tâm đã tăng lên về tính toàn vẹn của ngăn xếp phần mềm của máy ATM. Tác động đến lao động. Số lượng giao dịch viên ngân hàng ở Hoa Kỳ tăng từ khoảng 300.000 vào năm 1970 lên khoảng 600.000 vào năm 2010. Theo trực giác, một yếu tố góp phần có thể là sự ra đời của các máy rút tiền tự động. Máy ATM cho phép một chi nhánh hoạt động với ít giao dịch viên hơn, khiến các ngân hàng mở thêm chi nhánh sẽ rẻ hơn. Điều này có thể dẫn đến việc nhiều giao dịch viên được thuê để xử lý các nhiệm vụ không tự động, nhưng tự động hóa hơn nữa và ngân hàng trực tuyến có thể đảo ngược sự gia tăng này. Bảo mật, vì nó liên quan đến máy ATM, có nhiều khía cạnh. Máy ATM cũng cung cấp một minh chứng thực tế về một số hệ thống và khái niệm bảo mật hoạt động cùng nhau và cách giải quyết các mối quan tâm bảo mật khác nhau. Bảo mật ATM ban đầu tập trung vào việc làm cho các thiết bị đầu cuối không thể bị tấn công vật lý; chúng đơn giản là một loại két với cơ chế phân phối. Một số cuộc tấn công đã xảy ra, với những tên trộm cố gắng đánh cắp toàn bộ máy bằng cách tấn công bằng cách húc vào máy. Kể từ cuối những năm 1990, các nhóm tội phạm hoạt động ở Nhật Bản đã cải tiến việc đột kích bằng cách ăn cắp và sử dụng một chiếc xe tải chở đầy máy móc xây dựng hạng nặng để phá hủy hoặc nhổ toàn bộ máy ATM và bất kỳ nhà bao nào để lấy cắp tiền mặt một cách hiệu quả. Một phương pháp tấn công khác, "plofkraak", là bịt kín tất cả các lỗ của máy ATM bằng silicone và lấp đầy hầm chứa bằng khí dễ cháy hoặc đặt chất nổ bên trong, gắn hoặc gần máy. Khí hoặc chất nổ này được bắt lửa và kho tiền bị bật mở ra hoặc bị bóp méo bởi lực của vụ nổ và bọn tội phạm có thể đột nhập. Kiểu trộm cắp này đã xảy ra ở Hà Lan, Bỉ, Pháp, Đan Mạch, Đức, Úc, và Vương quốc Anh. Các kiểu tấn công này có thể được ngăn chặn bằng một số thiết bị phòng chống nổ khí còn được gọi là hệ thống ngăn chặn khí. Các hệ thống này sử dụng cảm biến phát hiện khí nổ để phát hiện khí nổ và vô hiệu hóa nó bằng cách giải phóng một hóa chất ức chế nổ đặc biệt làm thay đổi thành phần của khí nổ và làm cho nó mất tác dụng. Một số cuộc tấn công ở Anh (ít nhất một trong số đó đã thành công) liên quan đến việc đào một đường hầm được che giấu dưới máy ATM và xuyên qua phần đế được gia cố để lấy tiền. Bảo mật vật lý ATM hiện đại, cũng như bảo mật xử lý tiền hiện đại khác, tập trung vào việc từ chối việc sử dụng tiền bên trong máy cho kẻ trộm, bằng cách sử dụng các loại Hệ thống vô hiệu tiền giấy thông minh khác nhau. Một phương pháp phổ biến đơn giản là cướp tiền của nhân viên đang đổ vào máy. Để tránh điều này, lịch trình lấp đầy chúng được giữ bí mật, thay đổi và ngẫu nhiên. Tiền thường được giữ trong các cuộn băng, và sẽ nhuộm màu tiền nếu bị mở không đúng cách. Bảo mật và toàn vẹn giao dịch. Sự an toàn của các giao dịch ATM dựa chủ yếu vào sự toàn vẹn của bộ xử lý cryptoprocessor: các máy ATM thường sử dụng các thành phần hàng hóa nói chung mà đôi khi không được coi là "hệ thống đáng tin cậy". Mã hóa thông tin cá nhân, được yêu cầu bởi luật pháp ở nhiều khu vực tài phán, được sử dụng để ngăn chặn gian lận. Dữ liệu nhạy cảm trong các giao dịch ATM thường được mã hóa bằng DES, nhưng các bộ xử lý giao dịch hiện nay thường yêu cầu sử dụng Triple DES. Kỹ thuật Nạp khóa từ xa có thể được sử dụng để đảm bảo bí mật của quá trình khởi tạo khóa mã hóa trong máy ATM. Mã xác thực tin nhắn (MAC) hoặc MAC một phần cũng có thể được sử dụng để đảm bảo tin nhắn không bị giả mạo trong khi chuyển giữa ATM và mạng tài chính. Tính toàn vẹn danh tính khách hàng. Cũng đã có một số sự cố gian lận bằng cách tấn công Man-in-the-middle, trong đó bọn tội phạm đã gắn bàn phím giả hoặc đầu đọc thẻ vào các máy hiện có. Sau đó, chúng được sử dụng để ghi lại mã PIN và thông tin thẻ ngân hàng của khách hàng nhằm truy cập trái phép vào tài khoản của họ. Nhiều nhà sản xuất ATM đã đưa ra các biện pháp đối phó để bảo vệ thiết bị mà họ sản xuất khỏi những mối đe dọa này. Các phương pháp thay thế để xác minh danh tính chủ thẻ đã được thử nghiệm và triển khai ở một số quốc gia, chẳng hạn như các mẫu tĩnh mạch ngón tay và lòng bàn tay, mống mắt và công nghệ nhận dạng khuôn mặt. Thiết bị sản xuất hàng loạt rẻ hơn đã được phát triển và đang được lắp đặt trong các máy trên toàn cầu để phát hiện sự hiện diện của các vật thể lạ trên mặt trước của máy ATM, các thử nghiệm hiện tại đã cho thấy khả năng phát hiện thành công 99% đối với tất cả các loại thiết bị đọc gian lận. Tính toàn vẹn hoạt động của thiết bị. Phần mở ra ở phía khách hàng của máy ATM thường được che bằng cửa chớp cơ học để ngăn chặn việc giả mạo các cơ cấu khi chúng không được sử dụng. Các cảm biến cảnh báo được đặt bên trong máy ATM và các khu vực phục vụ của chúng để cảnh báo cho người điều hành khi cửa bị mở bởi nhân viên không được phép. Để bảo vệ khỏi tin tặc, các máy ATM được tích hợp tường lửa. Khi tường lửa đã phát hiện ra những nỗ lực độc hại để xâm nhập vào máy từ xa, tường lửa sẽ khóa máy. Các quy tắc thường do chính phủ hoặc cơ quan điều hành ATM đặt ra để chỉ định điều gì sẽ xảy ra khi hệ thống toàn vẹn bị lỗi. Tùy thuộc vào khu vực pháp lý, một ngân hàng có thể có hoặc có thể không chịu trách nhiệm pháp lý khi một nỗ lực được thực hiện để phân phối tiền của khách hàng từ máy ATM và tiền được đưa ra ngoài kho tiền của máy ATM, hoặc bị lộ ra ngoài theo cách không an toàn, hoặc chúng bị không thể xác định trạng thái của tiền sau khi giao dịch thất bại. Khách hàng thường nhận xét rằng rất khó để thu hồi số tiền bị mất theo cách này, nhưng điều này thường phức tạp bởi các chính sách liên quan đến các hoạt động đáng ngờ đặc trưng của yếu tố tội phạm. Bảo mật khách hàng. Ở một số quốc gia, nhiều camera an ninh và nhân viên bảo vệ là đặc điểm chung cho các máy ATM. Tại Hoa Kỳ, Văn phòng Kiểm soát viên Tiểu bang New York đã khuyến cáo Bộ Ngân hàng Tiểu bang New York có những cuộc kiểm tra an toàn kỹ lưỡng hơn đối với các máy ATM tại các khu vực tội phạm cao. Các chuyên gia tư vấn của các nhà khai thác ATM khẳng định, vấn đề bảo mật khách hàng cần được ngành ngân hàng chú trọng hơn; Có ý kiến cho rằng các nỗ lực hiện đang tập trung nhiều hơn vào biện pháp ngăn chặn của pháp luật ngăn chặn hơn là vấn đề buộc phải rút tiền đang diễn ra. Ít nhất là từ ngày 30 tháng 7 năm 1986, các chuyên gia tư vấn của ngành đã đưa ra lời khuyên về việc áp dụng hệ thống mã PIN khẩn cấp cho các máy ATM, nơi người dùng có thể gửi cảnh báo im lặng để đối phó với mối đe dọa. Các nỗ lực lập pháp để yêu cầu hệ thống mã PIN khẩn cấp đã xuất hiện ở Illinois, Kansas và Georgia, nhưng chưa thành công. Vào tháng 1 năm 2009, Dự luật 1355 của Thượng viện được đề xuất tại Thượng viện Illinois xem xét lại vấn đề của hệ thống mã PIN khẩn cấp đảo ngược. Dự luật một lần nữa được cảnh sát ủng hộ và bị các lobby ngân hàng từ chối. Năm 1998, ba thị trấn bên ngoài Cleveland, Ohio, để đối phó với làn sóng tội phạm ATM, đã thông qua luật yêu cầu lắp đặt tổng đài số điện thoại khẩn cấp tại tất cả các máy ATM ngoài trời trong phạm vi quyền hạn của họ. Sau một vụ giết người ở Sharon Hill, Pennsylvania, hội đồng thành phố cũng đã thông qua dự luật bảo mật ATM. Tại Trung Quốc và các nơi khác, nhiều nỗ lực thúc đẩy an ninh đã được thực hiện. Các máy ATM tại chỗ thường được đặt bên trong sảnh của ngân hàng, có thể truy cập 24 giờ một ngày. Các hành lang này có phạm vi phủ sóng camera an ninh rộng rãi, điện thoại tư vấn miễn phí với nhân viên ngân hàng và nhân viên bảo vệ trong khuôn viên. Hành lang ngân hàng không có bảo vệ 24/24 cũng có thể có cửa an toàn chỉ có thể mở từ bên ngoài bằng cách quẹt thẻ ngân hàng vào máy quét gắn trên tường, cho phép ngân hàng xác định thẻ nào vào tòa nhà. Hầu hết các máy ATM cũng sẽ hiển thị cảnh báo an toàn trên màn hình và cũng có thể được trang bị gương cầu lồi phía trên màn hình cho phép người dùng quan sát những gì đang xảy ra phía sau. Tính đến năm 2013, tuyên bố duy nhất có sẵn về mức độ của các vụ giết người có kết nối ATM là chúng dao động từ 500 đến 1.000 vụ mỗi năm ở Mỹ, chỉ bao gồm các trường hợp nạn nhân có thẻ ATM và thẻ đã được kẻ giết người sử dụng sau khi thời gian chết đã biết. Thuật ngữ jackpotting được sử dụng để mô tả một phương pháp mà bọn tội phạm sử dụng để ăn cắp tiền từ máy ATM. Những tên trộm xâm nhập vật lý thông qua một lỗ nhỏ được khoan trên máy. Họ ngắt kết nối ổ cứng hiện có và kết nối ổ đĩa ngoài bằng thiết bị nội soi công nghiệp. Sau đó, họ nhấn nút bên trong khởi động lại thiết bị để bây giờ nó nằm dưới sự kiểm soát của ổ đĩa ngoài. Sau đó, họ có thể yêu cầu máy ATM rút tất cả tiền mặt của nó. Trong những năm gần đây, nhiều máy ATM cũng mã hóa đĩa cứng. Điều này có nghĩa là thực sự tạo ra phần mềm cho việc jackpotting khó hơn và cung cấp bảo mật hơn cho máy ATM. Các máy ATM ban đầu được phát triển như một máy rút tiền, và đã phát triển để cung cấp nhiều chức năng khác liên quan đến ngân hàng: Ở một số quốc gia, đặc biệt là những quốc gia được hưởng lợi từ mạng lưới liên ngân hàng được tích hợp đầy đủ (ví dụ: Multibanco ở Bồ Đào Nha), máy ATM bao gồm nhiều chức năng không liên quan trực tiếp đến việc quản lý tài khoản ngân hàng của chính họ, chẳng hạn như: Ngày càng có nhiều ngân hàng tìm cách sử dụng máy ATM như một thiết bị bán hàng để cung cấp các khoản vay đã được phê duyệt trước và quảng cáo nhắm mục tiêu bằng cách sử dụng các sản phẩm như ITM (Máy giao dịch thông minh) của Aptra Relate từ NCR. Máy ATM cũng có thể hoạt động như một kênh quảng cáo cho các công ty khác. Tuy nhiên, một số công nghệ ATM khác nhau vẫn chưa được chấp nhận trên toàn thế giới, chẳng hạn như: Máy rút tiền dùng video truyền hình hiện được gọi là máy giao dịch viên tương tác. Benton Smith, trên Idaho Business Review viết "Phần mềm cho phép các máy rút tiền tương tác hoạt động được tạo ra bởi một công ty có trụ sở tại Thành phố Salt Lake có tên là uGenius, một nhà sản xuất phần mềm ngân hàng video. NCR, nhà sản xuất máy ATM hàng đầu, đã mua lại uGenius vào năm 2013 và kết hợp phần cứng ATM của riêng mình với phần mềm video của uGenius." Trước khi một máy ATM được đặt ở nơi công cộng, nó thường đã trải qua quá trình thử nghiệm rộng rãi với cả tiền mặt thử nghiệm và hệ thống máy tính phụ trợ cho phép nó thực hiện các giao dịch. Khách hàng ngân hàng cũng mong đợi độ tin cậy cao trong các máy ATM của họ, cung cấp các biện pháp khuyến khích cho các nhà cung cấp máy ATM để giảm thiểu sự cố máy và mạng. Hậu quả tài chính của việc vận hành máy không chính xác cũng mang lại mức độ khuyến khích cao để giảm thiểu sự cố. Máy ATM và các mạng tài chính điện tử hỗ trợ nói chung rất đáng tin cậy, với các tiêu chuẩn ngành thường tạo ra 98,25% tính khả dụng của khách hàng đối với máy ATM và lên đến 99,999% tính khả dụng cho các hệ thống máy chủ quản lý mạng lưới máy ATM. Nếu mạng lưới ATM ngừng hoạt động, khách hàng có thể bị bỏ lại mà không có khả năng thực hiện giao dịch cho đến đầu giờ mở cửa tiếp theo của ngân hàng của họ. Điều này cho thấy, không phải tất cả các lỗi đều gây thiệt hại cho khách hàng; đã có trường hợp máy đưa ra tiền mà không cần ghi nợ tài khoản, hoặc đưa ra thuyết minh giá trị cao hơn như là kết quả của sai mệnh giá của tờ tiền giấy được nạp trong cassette tiền. Kết quả của việc nhận quá nhiều tiền có thể bị ảnh hưởng bởi thỏa thuận chủ thẻ giữa khách hàng và ngân hàng. Các lỗi có thể xảy ra có thể do nguyên nhân cơ học (chẳng hạn như cơ chế vận chuyển thẻ; bàn phím; hỏng đĩa cứng; cơ chế gửi phong bì); phần mềm (chẳng hạn như hệ điều hành; trình điều khiển thiết bị; ứng dụng); thông tin liên lạc; hoặc hoàn toàn do lỗi của người điều hành. Để tăng độ tin cậy, một số máy ATM in từng giao dịch ra một cuốn nhật ký giấy cuộn được lưu trữ bên trong máy ATM, cho phép người dùng và các tổ chức tài chính liên quan giải quyết mọi việc dựa trên hồ sơ trong sổ nhật ký trong trường hợp có tranh chấp. Trong một số trường hợp, các giao dịch được đăng lên nhật ký điện tử để loại bỏ chi phí cung cấp giấy nhật ký cho máy ATM và thuận tiện hơn cho việc tra cứu dữ liệu. Kiểm tra tiền không đúng cách có thể gây ra khả năng khách hàng nhận được tiền giả từ máy ATM. Mặc dù nhân viên ngân hàng thường được đào tạo tốt hơn trong việc phát hiện và loại bỏ tiền giả, các nguồn cung cấp tiền ATM do các ngân hàng sử dụng không đảm bảo cho tiền giấy phù hợp, vì Văn phòng Cảnh sát Hình sự Liên bang Đức đã xác nhận rằng thường xuyên có sự cố tiền giấy giả đã được phân phối qua máy ATM. Một số máy ATM có thể được tồn kho và thuộc sở hữu hoàn toàn của các công ty bên ngoài, điều này có thể làm phức tạp thêm vấn đề này. Công nghệ xác thực hóa đơn có thể được sử dụng bởi các nhà cung cấp ATM để giúp đảm bảo tính xác thực của tiền mặt trước khi nó được lưu trữ trong máy; những ATM có khả năng tái chế tiền mặt bao gồm khả năng này. Ở Ấn Độ, bất cứ khi nào giao dịch không thành công với máy ATM do vấn đề mạng hoặc kỹ thuật và nếu số tiền không được phân phối mặc dù tài khoản được ghi nợ thì các ngân hàng phải trả lại số tiền đã ghi nợ cho khách hàng trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại. Các ngân hàng cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phí chậm trả trong trường hợp chậm hoàn trả tiền sau 7 ngày. Như với bất kỳ thiết bị nào có chứa các đối tượng có giá trị, máy ATM và các hệ thống mà chúng phụ thuộc vào để hoạt động là mục tiêu của gian lận. Gian lận đối với máy ATM và nỗ lực của người sử dụng chúng có nhiều hình thức. Trường hợp đầu tiên được biết đến về một máy ATM giả được lắp đặt tại một trung tâm mua sắm ở Manchester, Connecticut vào năm 1993. Bằng cách sửa đổi hoạt động bên trong của một máy ATM Fujitsu kiểu 7020, một băng nhóm tội phạm có tên Bucklands Boys đã lấy cắp thông tin từ thẻ của khách hàng đưa vào máy. WAVY-TV đã báo cáo một sự cố ở Virginia Beach vào tháng 9 năm 2006, nơi một hacker, người có thể đã lấy được mật khẩu quản trị viên mặc định của nhà máy cho máy ATM nhãn trắng của một trạm đổ xăng, khiến ATM này cho rằng kho tiền mặt của nó gồm các tờ 5 đô la Mỹ thay vì 20 đô la, tạo điều kiện cho chính hacker này — và nhiều khách hàng tiếp theo — rút tiền với số tiền gấp bốn lần số tiền rút từ tài khoản của họ. Kiểu lừa đảo này đã được giới thiệu trên bộ phim truyền hình "The Real Hustle". Hành vi của ATM có thể thay đổi trong thời gian được gọi là "chờ", khi mạng lưới phân phối tiền mặt của ngân hàng không thể truy cập cơ sở dữ liệu chứa thông tin tài khoản (có thể để bảo trì cơ sở dữ liệu). Để cho phép khách hàng tiếp cận với tiền mặt, khách hàng có thể được phép rút tiền mặt đến một số tiền nhất định có thể thấp hơn hạn mức rút tiền thông thường hàng ngày của họ, nhưng vẫn có thể vượt quá số tiền hiện có trong tài khoản của họ, điều này có thể dẫn đến gian lận nếu khách hàng cố tình rút nhiều tiền hơn số tiền họ có trong tài khoản của họ. Trong nỗ lực ngăn chặn bọn tội phạm nhìn trộm mã số nhận dạng cá nhân (PIN) của khách hàng, một số ngân hàng đã vẽ các khu vực riêng tư trên sàn máy. Đối với một hình thức gian lận công nghệ thấp, cách dễ nhất là chỉ cần lấy cắp thẻ của khách hàng cùng với mã PIN của nó. Một biến thể sau này của cách tiếp cận này là bẫy thẻ bên trong đầu đọc thẻ của máy ATM bằng một thiết bị thường được gọi là vòng lặp Lebanon. Khi khách hàng bực bội vì không nhận lại được thẻ và bỏ đi khỏi máy, tội phạm có thể rút thẻ và rút tiền mặt từ tài khoản của khách hàng, sử dụng thẻ và mã PIN của nó. Loại gian lận này đã lan rộng trên toàn cầu. Mặc dù phần nào bị thay thế về khối lượng bởi các sự cố đọc lướt, sự xuất hiện trở lại của bẫy thẻ này đã được chú ý ở các khu vực như châu Âu, nơi thẻ chip EMV và thẻ PIN đã tăng lên. Một hình thức lừa đảo đơn giản khác liên quan đến việc cố gắng yêu cầu ngân hàng của khách hàng phát hành thẻ mới và mã PIN của thẻ đó và lấy cắp chúng từ thư của họ. Ngược lại, một phương pháp hoạt động công nghệ cao mới hơn, đôi khi được gọi là lướt thẻ hoặc sao chép thẻ, liên quan đến việc lắp đặt một đầu đọc thẻ từ trên khe cắm thẻ của ATM thực và sử dụng camera giám sát không dây hoặc camera kỹ thuật số đã được sửa đổi hoặc giả. Bàn phím PIN để quan sát mã PIN của người dùng. Dữ liệu thẻ sau đó được nhân bản thành một thẻ trùng lặp và tội phạm cố gắng rút tiền mặt tiêu chuẩn. Sự sẵn có của máy ảnh không dây hàng hóa giá rẻ, bàn phím, đầu đọc thẻ và máy ghi thẻ đã khiến nó trở thành một hình thức gian lận tương đối đơn giản, với rủi ro tương đối thấp đối với những kẻ lừa đảo. Trong nỗ lực ngăn chặn những hành vi này, ngành ngân hàng đã phát triển các biện pháp đối phó với việc sao chép thẻ, đặc biệt là bằng cách sử dụng thẻ thông minh không thể dễ dàng sao chép hoặc giả mạo bởi các thiết bị chưa được xác thực và bằng cách cố gắng làm cho việc gắn thiết bị bên ngoài máy ATM của họ trở nên khó khăn hơn. Các hệ thống bảo mật thẻ chip cũ hơn bao gồm French Carte Bleue, Visa Cash, Mondex, Blue from American Express và EMV '96 hoặc EMV 3.11. Hình thức bảo mật thẻ thông minh được phát triển tích cực nhất trong ngành hiện nay được gọi là EMV 2000 hoặc EMV EMV được sử dụng rộng rãi ở Vương quốc Anh (Chip và PIN) và các khu vực khác của Châu Âu, nhưng khi nó không khả dụng ở một khu vực cụ thể, các máy ATM phải quay trở lại sử dụng dải từ tính dễ sao chép để thực hiện các giao dịch. Hành vi dự phòng này có thể được khai thác. Tuy nhiên, tùy chọn dự phòng đã bị loại bỏ trên máy ATM của một số ngân hàng ở Anh, có nghĩa là nếu con chip không đọc được thì giao dịch sẽ bị từ chối. Việc sao chép và đọc trộm thẻ có thể được phát hiện bằng cách sử dụng đầu đọc thẻ từ và phần sụn có thể đọc chữ ký được nhúng trong tất cả các sọc từ tính trong quá trình sản xuất thẻ. Chữ ký này, được gọi là "MagnePrint" hoặc "BluPrint", có thể được sử dụng cùng với các chương trình xác thực hai yếu tố phổ biến được sử dụng trong các ứng dụng thẻ ATM, thẻ ghi nợ / điểm bán lẻ và thẻ trả trước. Khái niệm và các phương pháp khác nhau sao chép nội dung của dải từ tính của thẻ ATM vào một thẻ trùng lặp để truy cập thông tin tài chính của người khác đã được biết đến nhiều trong cộng đồng hacker vào cuối thập kỷ 1990. Năm 1996, Andrew Stone, một nhà tư vấn bảo mật máy tính từ Hampshire, Vương quốc Anh, bị kết tội ăn cắp hơn 1 triệu bảng Anh bằng cách hướng máy quay video độ nét cao vào máy ATM từ một khoảng cách đáng kể và ghi lại số thẻ, ngày hết hạn, , anh ta có thể tạo ra các thẻ sao chép không chỉ cho phép anh ta rút toàn bộ hạn mức hàng ngày cho mỗi tài khoản mà còn cho phép anh ta vượt qua giới hạn rút tiền bằng cách sử dụng nhiều thẻ sao chép. Tại tòa án, người ta cho thấy rằng Stone có thể rút tối đa 10.000 bảng Anh mỗi giờ bằng cách sử dụng phương pháp này. Stone bị kết án năm năm sáu tháng tù. Thiết bị liên quan. Máy ATM biết nói là một loại máy ATM cung cấp hướng dẫn bằng âm thanh để những người không thể đọc được màn hình có thể sử dụng máy một cách độc lập, do đó loại bỏ hiệu quả nhu cầu hỗ trợ từ một nguồn độc hại tiềm ẩn bên ngoài. Tất cả thông tin âm thanh được cung cấp riêng tư thông qua giắc cắm tai nghe tiêu chuẩn trên mặt máy. Ngoài ra, một số ngân hàng như Nordea và Swedbank sử dụng loa ngoài tích hợp có thể được kích hoạt bằng cách nhấn nút đàm thoại trên bàn phím. Thông tin được chuyển đến khách hàng thông qua các tệp âm thanh được ghi sẵn hoặc thông qua tổng hợp giọng nói chuyển văn bản thành giọng nói. Một ki-ốt tương tác của bưu điện có thể chia sẻ nhiều thành phần của máy ATM (bao gồm cả kho tiền), nhưng nó chỉ phân phối các mặt hàng liên quan đến bưu phí. Máy rút tiền dạng kịch bản có thể có nhiều thành phần chung với máy ATM, nhưng nó thiếu khả năng phân phối tiền mặt vật lý và do đó không yêu cầu kho tiền. Thay vào đó, khách hàng yêu cầu một giao dịch rút tiền từ máy trong đó in biên lai hoặc scrip. Sau đó, khách hàng mang biên lai này đến một nhân viên bán hàng gần đó, người này sau đó sẽ đổi nó lấy tiền mặt từ kho đựng tiền. Đơn vị hỗ trợ giao dịch viên (TAU) khác biệt ở chỗ nó được thiết kế để chỉ được vận hành bởi nhân viên được đào tạo chứ không phải bởi công chúng, tích hợp trực tiếp vào mạng liên ngân hàng và thường được điều khiển bởi một máy tính không được tích hợp trực tiếp vào tổng thể xây dựng của đơn vị này. Web ATM là một giao diện trực tuyến cho ngân hàng thẻ ATM sử dụng đầu đọc thẻ thông minh. Tất cả các chức năng ATM thông thường đều khả dụng, ngoại trừ rút tiền mặt. Hầu hết các ngân hàng ở Đài Loan đều cung cấp các dịch vụ trực tuyến này. Bên cạnh những tiện ích to lớn của máy ATM, trên thực tế, việc sử dụng máy ATM cũng gây ra những nguy cơ nhất định về sức khỏe, Theo một số nghiên cứu thì máy ATM chứa một lượng vi khuẩn có thể gây bệnh cho con người tương đương với các nhà vệ sinh công cộng vì, các máy ATM trên có khoảng hàng trăm người sử dụng mỗi ngày, theo nghiên cứu phát hiện máy ATM đều chứa vi khuẩn pseudomonad, khuẩn hình que là những vi khuẩn gây ra chứng nôn mửa và bệnh tiêu chảy. Bên cạnh đó cũng có những trường hợp máy ATM bị rò rỉ điện, gây ra tai nạn chết người. Cũng có nhiều ý kiến than phiền (thậm chí là kiện tụng) vì tiền trong tài khoản bị mất, nhầm lẫn, thiếu sót, trục trặ
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Khí tài là từ gọi chung cho những dụng cụ, thiết bị, máy móc dùng trong quân sự để chỉ huy người lính, điều khiển phương tiện chiến đấu, nhưng không có tác dụng trực tiếp tiêu diệt đối phương. Khí tài được sử dụng độc lập hoặc ghép với phương tiện khác thành tổ hợp hệ thống khí tài. Ví dụ: Khí tài quang học
BitComet là một trình khách BitTorrent được viết bằng ngôn ngữ lập trình C++, chỉ chạy trên hệ điều hành Windows. BitComet là phần mềm chia sẻ tệp đồng đẳng miễn phí, tương thích hoàn toàn với giao thức BitTorrent, một giao thức chia sẻ tệp đồng đẳng phổ biến nhất hiện nay được thiết kế để phân phối các tệp có kích thước rất lớn với tốc độ tải về cao. BitComet hỗ trợ tải về đồng thời, tải về theo thứ tự hàng đợi, lựa chọn một tệp xác định trong tệp torrent để tải về, phục hồi lỗi nhanh, DHT, giao thức mã hóa gói tin, trò chuyện cùng máy đồng đẳng khác, bộ nhớ đệm, giới hạn tốc độ tải, ánh xạ cổng, tráo đổi máy đồng đẳng (tiếng Anh: peer exchange - PEX), UDP, truy cập Internet gián tiếp (tiếng Anh: proxy), lọc IP, BitComet cung cấp cửa sổ trình duyệt Internet Explorer nhúng trong chương trình giúp cho việc tìm kiếm tệp torrent dễ dàng và thuận tiện hơn. Chương trình còn có một danh sách các trang web cung cấp tệp torrent, người dùng có thể chỉnh sửa danh sách này, loại bỏ các trang web không thích và thêm các trang web còn thiếu. Lời chỉ trích BitComet DHT. Trong các phiên bản từ 0.59 đến 0.60 BitComet nhận được nhiều lời chỉ trích công khai do tính năng DHT chưa hoàn thiện của nó. DHT là một giao thức cho phép các máy đồng đẳng kết nối trực tiếp với nhau mà không cần thông qua máy theo dõi. Tính năng DHT trong BitComet không tôn trọng sự riêng tư của tệp torrent, nó cho phép người sử dụng DHT không có quyền vào các trang web bí mật có thể tải các tệp torrent của trang web bí mật này nếu một trong các trường hợp sau xảy ra: Điều này cho phép người dùng chưa đăng ký có thể không cần thỏa mãn giới hạn "tỉ lệ chia sẻ" mà vẫn có thể tải tệp, "tỉ lệ chia sẻ" là một thông số rất phổ biến trên máy theo dõi, chỉ khi người dùng thỏa mãn giới hạn của tỉ lệ chia sẻ mới được phép tải tệp. Rất nhiều các máy theo dõi bí mật (ví dụ BitSpirit) hiện tại đã cấm tất cả các phiên bản có tính năng DHT vì điểm yếu của tính năng DHT là đối xử không công bằng với các máy đồng đẳng trên máy theo dõi bí mật. Mặc dù điểm yếu DHT của BitComet đã được sửa trong phiên bản 0.61, nhưng tính năng DHT vẫn còn rất nhiều điểm yếu. Vì vậy các phiên bản BitComet hiện nay đều bị cấm trên các máy theo dõi bí mật. Hai lỗi lớn nhất của tính năng DHT đều đã được sửa trong phiên bản 0.64. Hai lỗi này bao gồm: sửa đổi tệ Khe tải lên của BitComet được biết là không hoạt động. BitComet cũng bị chỉ trích là không đối xử đẹp với máy đồng đẳng khác trong việc tải lên, báo cáo định kỳ với máy theo dõi, bỏ qua các yêu cầu gói tin, và rất nhiều các kỹ thuật đối xử không đẹp khác.