text
stringlengths 82
354k
|
|---|
Thẻ ATM là một loại thẻ theo chuẩn ISO 7810, bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, dùng để thực hiện các giao dịch tự động như kiểm tra tài khoản, rút tiền hoặc chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua thẻ điện thoại (ATM). Loại thẻ này cũng được chấp nhận như một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại các điểm thanh toán có chấp nhận thẻ.
Thẻ thường thiết kế với kích thước chữ nhật tiêu chuẩn để phù hợp với khe đọc thẻ, có kích thước thông thường là 10 cm x 6 cm. Trên bề mặt thẻ dập nổi tên chủ thẻ, số thẻ, băng giấy để chủ thẻ ký tên, và băng từ (thẻ từ) hoặc chip (thẻ chip) lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại ngân hàng
Tại Việt Nam thẻ ATM thường được hiểu là thẻ ghi nợ, hay còn gọi là thẻ ghi nợ nội địa, là loại thẻ có chức năng rút tiền dựa trên cơ sở ghi nợ vào tài khoản. Chủ tài khoản phải có sẵn tiền trong tài khoản từ trước và chỉ được rút trong giới hạn tiền có trong tài khoản của mình. Một số ngân hàng cho phép rút đến mức 0, tuy có một số ngân hàng khác yêu cầu bắt buộc phải để lại một số tiền tối thiểu trong tài khoản.
Tuy nhiên, trong thực tế thẻ ghi nợ vẫn có thể rút tiền ở mức âm, hay rút thấu chi, như một dịch vụ tín dụng giá trị gia tăng mà các ngân hàng triển khai cho các chủ tài khoản dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, có sự tin cậy nhất định, hoặc thực hiện phương thức trả lương qua tài khoản.
Thẻ ATM trong thực tế còn là tên gọi khái quát, chung nhất cho các loại thẻ sử dụng được trên máy giao dịch tự động (ATM), bao gồm trong nó cả các loại thẻ tín dụng (như thẻ Visa, MasterCard, thẻ American Express). Thẻ tín dụng dựa trên yếu tố hạn mức tín dụng, theo đó tùy loại thẻ và tùy khách hàng, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định. Hạn mức tín dụng là số tiền tối đa chủ thẻ được chi tiêu trong một khoảng thời gian nào đó (1 tháng, 45 ngày hay hơn). Khách hàng có thể rút số tiền được ngân hàng cấp đó trong thời hạn nhất định và buộc phải thanh toán khi đáo hạn. Nếu quá hạn mức tín dụng chưa thanh toán kịp ngân hàng sẽ tính lãi suất cao.
Điểm khác biệt của loại thẻ tín dụng này so với thẻ ghi nợ nói trên, ngoài yếu tố tín dụng như một đặc điểm ngày càng mờ nhòe (vì trong thực tế thẻ ghi nợ vẫn có thể chấp nhận tín dụng, và thẻ tín dụng vẫn có thể rút tiền dựa trên yếu tố ghi nợ vào tài khoản), là thẻ tín dụng thường có thể thực hiện tại các điểm chấp nhận giao dịch bằng thẻ trên toàn cầu, khác biệt với loại thẻ ghi nợ nội địa chỉ chấp nhận giao dịch trong nước (hoặc hạn chế ở vùng mậu biên các quốc gia lân cận).
Ngoài ra còn có một loại thẻ ATM song hành gọi là thẻ phụ, thẻ này đứng tên chủ tài khoản như thẻ chính nhưng chủ tài khoản sẽ yêu cầu chuyển một số khoản tiền nhất định cho thẻ này. Loại thẻ này được nhiều người chồng sử dụng để qua mặt vợ trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với gia đình như chỉ đưa thẻ chính cho vợ mà chỉ có các khoản tiền lương, còn một số khoản tiền thưởng, phụ cấp thì sử dụng thẻ phụ để rút và sử dụng.
Giao dịch trên máy ATM.
Thẻ ATM thực chất là một thẻ để khách hàng có thể giao dịch trên máy ATM với tư cách là thẻ ghi nợ hay thẻ tín dụng, là loại thẻ cho phép thực hiện nhiều loại giao dịch ngân hàng một cách tự động mà ngân hàng triển khai máy cho phép. Việc thực hiện các giao dịch ngân hàng được lập trình sẵn để khách hàng là chủ thẻ có thể dễ dàng thao tác mà không cần sự trợ giúp của nhân viên ngân hàng và vẫn đạt được kết quả mong đợi là giao dịch với ngân hàng thành công. Bên cạnh đó, với mỗi loại thẻ của các ngân hàng khác nhau, sẽ có những giao dịch giống và khác nhau được thực hiện trên máy. Giao dịch giống nhau là các giao dịch truyền thống, ví dụ như rút tiền, kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản.
Các giao dịch khác chỉ có ở những ATM của các ngân hàng khác nhau. Sự khác nhau này là những giao dịch thuộc giá trị gia tăng của thẻ do ngân hàng đó tạo ra, nhằm tạo thế khác biệt trong cạnh tranh và nâng cao năng lực của thẻ ATM cho khách hàng của ngân hàng mình.
Tại các máy giao dịch tự động, khi tín hiệu trên khe đọc thẻ nhấp nháy cho biết máy sẵn sàng. Khách hàng chỉ cần cho thẻ vào khe đọc thẻ theo đúng chiều mũi tên, và nhập mã số cá nhân (PIN), là đã có thể bắt đầu thực hiện các dịch vụ truyền thống cũng như các dịch vụ giá trị gia tăng (nếu có).
Thanh toán không dùng tiền mặt.
Hiện nay trên khắp thế giới thẻ ATM cũng không phải chỉ để giao dịch trên các máy ATM thuần tuý, nó còn được giao dịch tại rất nhiều các thiết bị POS mà ngân hàng phát hành triển khai tại các điểm chấp nhận thanh toán nó thông qua hợp đồng chấp nhận thẻ đó. Các điểm chấp nhận thanh toán này có thể là khách sạn, nhà hàng, siêu thị, cửa hàng xăng dầu, sân bay
Việc thực hiện các giao dịch này tại điểm chấp nhận thanh toán phải có 2 điều kiện: thứ nhất, điểm chấp nhận này đã có hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ này với ngân hàng phát hành hoặc đại lý thanh toán của ngân phát hành, và được ngân hàng trang bị loại máy thanh toán phù hợp. Thứ hai là khách hàng khi thực hiện giao dịch phải nhập mã số cá nhân của mình (PIN). Chính vì phải nhập mã số cá nhân nên việc được trang bị loại máy phù hợp giao dịch mới có thể thực hiện được, do có nhiều loại máy hiện không cho phép khách hàng nhập mã số cá nhân vào máy.
Tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ phù hợp với thẻ của khách hàng, khách đưa thẻ quẹt qua khe đọc thẻ, nhập mã số cá nhân và số tiền cần thanh toán, máy sẽ in ra hóa đơn và khách hàng ký vào, hoàn tất quy trình thanh toán.
|
Hộ chiếu là một giấy thông hành, thường do chính phủ của một quốc gia cấp cho công dân của quốc gia đó, xác nhận danh tính và quốc tịch của người giữ hộ chiếu chủ yếu cho mục đích đi lại quốc tế. Hộ chiếu tiêu chuẩn có thể chứa thông tin như tên, nơi ở và ngày sinh, ảnh, chữ ký và các thông tin nhận dạng có liên quan khác của người sở hữu hộ chiếu.
Nhiều quốc gia đã bắt đầu phát hành hoặc có kế hoạch phát hành hộ chiếu sinh trắc học có chứa vi mạch nhúng, khiến chúng có thể đọc được bằng máy và khó làm giả hơn. ính đến tháng 1 năm 2019[ [cập nhật]], đã có hơn 150 khu vực pháp lý cấp hộ chiếu điện tử. Hộ chiếu không đọc được bằng máy không sinh trắc học được cấp trước đây thường vẫn có giá trị cho đến ngày hết hạn của nó.
Người mang hộ chiếu thường được quyền nhập cảnh vào quốc gia đã cấp hộ chiếu, mặc dù một số người được cấp hộ chiếu có thể không phải là công dân đầy đủ quyền cư trú (ví dụ: công dân Mỹ hoặc công dân Anh). Bản thân hộ chiếu không tạo ra bất kỳ quyền lợi nào tại quốc gia được đến thăm hoặc bắt buộc quốc gia cấp hộ chiếu theo bất kỳ cách nào, chẳng hạn như hỗ trợ lãnh sự. Một số hộ chiếu chứng thực người mang hộ chiếu có tư cách là nhà ngoại giao hoặc quan chức khác, được hưởng các quyền và đặc quyền như miễn trừ bị bắt hoặc truy tố.
Nhiều quốc gia thường cho phép nhập cảnh đối với người mang hộ chiếu của các quốc gia khác, đôi khi yêu cầu phải có thị thực, nhưng đây không phải là quyền được cấp tự động. Nhiều điều kiện bổ sung khác, chẳng hạn như không có khả năng trở thành một khoản phí công cộng vì lý do tài chính hoặc các lý do khác, và người nắm giữ không bị kết án tội phạm, có thể được áp dụng. Khi một quốc gia không công nhận quốc gia khác hoặc đang tranh chấp với quốc gia đó, quốc gia đó có thể cấm sử dụng hộ chiếu của họ để đi du lịch đến quốc gia khác đó, hoặc có thể cấm nhập cảnh đối với những người có hộ chiếu của quốc gia khác đó và đôi khi đối với những người khác có ví dụ, đã đến thăm các quốc gia khác. Một số cá nhân phải chịu các lệnh trừng phạt từ chối nhập cảnh vào các quốc gia cụ thể.
Một số quốc gia và tổ chức quốc tế cấp giấy thông hành không phải là hộ chiếu tiêu chuẩn, nhưng cho phép chủ sở hữu đi du lịch quốc tế đến các quốc gia công nhận giấy tờ này. Ví dụ, những người không quốc tịch thường không được cấp hộ chiếu quốc gia, nhưng có thể có được giấy thông hành tị nạn hoặc "hộ chiếu Nansen" trước đó cho phép họ đi đến các quốc gia công nhận giấy tờ này và đôi khi quay trở lại nước cấp cho họ hộ chiếu trên.
Trong các trường hợp khác, có thể yêu cầu hộ chiếu để xác nhận thông tin nhận dạng như nhận phòng khách sạn hoặc khi đổi tiền sang nội tệ. Hộ chiếu và các giấy tờ thông hành khác có thời hạn sử dụng nhất định, nếu quá hạn sẽ không còn giá trị, nhưng hộ chiếu được khuyến nghị là có giá trị ít nhất 6 tháng vì nhiều hãng hàng không từ chối cho hành khách có hộ chiếu còn hạn sử dụng ngắn hơn 6 tháng lên máy bay, ngay cả khi quốc gia đến có thể không yêu cầu như vậy.
Một trong những tài liệu tham khảo sớm nhất được biết đến về thủ tục giấy tờ có vai trò tương tự như hộ chiếu được tìm thấy trong Kinh thánh tiếng Do Thái. , có niên đại khoảng năm 450 BC, nói rằng Nehemiah, một quan chức phục vụ Vua Artaxerxes I của Ba Tư, đã xin phép đi đến Judea; nhà vua cho phép và đưa cho anh ta một lá thư "gửi cho các thống đốc bên kia sông" yêu cầu cho anh ta lối đi an toàn khi đi qua vùng đất của nhà vua.
Arthashastra, thế kỷ thứ 3 TCN, đã đưa ra các thẻ thông hành được cấp với tỷ lệ một "masha" mỗi thẻ để ra vào đất nước này. Chương 34 của Cuốn sách thứ hai của Arthashastra liên quan đến nhiệm vụ của "Mudrādhyakṣa", nghĩa là Giám đốc đóng dấu) - người phải cấp giấy thông hành có đóng dấu trước khi một người có thể vào hoặc rời khỏi quốc gia này.
Hộ chiếu là một phần quan trọng của bộ máy hành chính Trung Quốc ngay từ thời Tây Hán (202 TCN-220 CN), nếu không muốn nói là vào thời nhà Tần. Giấy được yêu cầu ghi các chi tiết như tuổi, chiều cao và các đặc điểm cơ thể. Những hộ chiếu này ("zhuan") xác định khả năng di chuyển của một người qua các quận của đế quốc và thông qua các điểm kiểm soát. Ngay cả trẻ em cũng cần hộ chiếu, nhưng những trẻ từ một tuổi trở xuống được mẹ chăm sóc có thể không cần hộ chiếu.
Trong Caliphate Hồi giáo thời trung cổ, một dạng hộ chiếu là "bara'a", biên lai nộp thuế. Chỉ những người đã trả "thuế zakah" (đối với người Hồi giáo) hoặc "jizya" (đối với người dhimmis) mới được phép đi đến các vùng khác nhau của Caliphate; do đó, biên lai "bara'a" là một "hộ chiếu cơ bản."
Các nguồn từ nguyên cho thấy thuật ngữ "hộ chiếu" là từ một tài liệu thời Trung cổ được yêu cầu để đi qua cổng (hoặc "porte") của tường thành hoặc đi qua một lãnh thổ. Ở châu Âu thời Trung cổ, các giấy tờ như vậy được chính quyền địa phương cấp cho du khách nước ngoài (trái ngược với công dân địa phương, như thực tế hiện đại) và thường chứa danh sách các thị trấn và thành phố mà người giữ giấy tờ này được phép đi vào hoặc đi qua. Nhìn chung, không cần phải có giấy tờ để đi đến các cảng biển, nơi được coi là điểm giao dịch mở, nhưng các giấy tờ này là phải có để có thể đi vào nội địa từ các cảng biển.
Vua Henry V của Anh được cho là đã phát minh ra thứ mà một số người coi là hộ chiếu đầu tiên theo nghĩa hiện đại, như một phương tiện giúp thần dân của ông chứng minh họ là ai ở các vùng đất xa lạ. Tài liệu tham khảo sớm nhất về những tài liệu này được tìm thấy trong Đạo luật năm 1414 của Nghị viện. Năm 1540, việc cấp giấy thông hành ở Anh đã trở thành một vai trò của Hội đồng Cơ mật Anh, và khoảng thời gian này thuật ngữ "hộ chiếu" đã được sử dụng. Năm 1794, cấp hộ chiếu Anh trở thành công việc của Văn phòng Ngoại trưởng. Luật của Hoàng gia Augsburg năm 1548 yêu cầu công chúng phải giữ các giấy tờ của hoàng gia để đi lại, nếu không sẽ có thể bị lưu đày vĩnh viễn.
Sự mở rộng nhanh chóng của cơ sở hạ tầng đường sắt và sự giàu có ở châu Âu bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 đã dẫn đến sự gia tăng lớn về khối lượng du lịch quốc tế và hệ thống hộ chiếu duy nhất bị loãng trong khoảng 30 năm trước Thế chiến thứ nhất. Tốc độ của các chuyến tàu, cũng như số lượng hành khách vượt qua nhiều biên giới, khiến việc thực thi luật hộ chiếu trở nên khó khăn. Phản ứng chung là việc nới lỏng các yêu cầu về hộ chiếu. Trong phần cuối của thế kỷ 19 và cho đến Thế chiến thứ nhất, xét về tổng thể, hộ chiếu là không cần thiết để đi lại trong châu Âu, và việc đi qua biên giới là một thủ tục tương đối đơn giản. Do đó, tương đối ít người có hộ chiếu.
Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các chính phủ châu Âu đã đưa ra các yêu cầu về hộ chiếu biên giới vì lý do an ninh và để kiểm soát việc di cư của những người có kỹ năng hữu ích. Các biện pháp kiểm soát này vẫn được duy trì sau chiến tranh, trở thành một quy trình tiêu chuẩn, mặc dù gây tranh cãi. Khách du lịch người Anh của những năm 1920 phàn nàn, đặc biệt là về những bức ảnh đính kèm và mô tả vật lý, mà họ cho là đã dẫn đến một "sự mất nhân tính tồi tệ". Đạo luật Quốc tịch và Địa vị của Người nước ngoài của Anh được thông qua vào năm 1914, xác định rõ ràng các khái niệm về quyền công dân và tạo ra một mẫu sổ tay của hộ chiếu.
Năm 1920, Hội Quốc liên tổ chức hội nghị về hộ chiếu, Hội nghị Paris về hộ chiếu thủ tục hải quan và thông qua vé. Hướng dẫn về hộ chiếu và thiết kế tập sách chung là kết quả của hội nghị, được tiếp nối với các hội nghị vào năm 1926 và 1927.
Trong khi Liên Hợp Quốc tổ chức hội nghị du lịch vào năm 1963, không có hướng dẫn về hộ chiếu nào được áp dụng. Tiêu chuẩn hóa hộ chiếu ra đời vào năm 1980, dưới sự bảo trợ của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO). Các tiêu chuẩn của ICAO bao gồm những tiêu chuẩn dành cho hộ chiếu có thể đọc được bằng máy. Những hộ chiếu như vậy có một khu vực trong đó một số thông tin được viết dưới dạng văn bản khác được viết dưới dạng chuỗi ký tự chữ và số, được in theo cách thích hợp để nhận dạng ký tự quang học. Điều này cho phép các kiểm soát viên biên giới và các cơ quan thực thi pháp luật khác xử lý các hộ chiếu này nhanh hơn mà không cần phải nhập thông tin theo cách thủ công vào máy tính. ICAO xuất bản "Machine Readable Travel Documents" Doc 9303, là tiêu chuẩn kỹ thuật cho hộ chiếu có thể đọc được bằng máy. Một tiêu chuẩn gần đây hơn là dành cho hộ chiếu sinh trắc học. Chúng chứa sinh trắc học để xác thực danh tính của khách du lịch. Thông tin quan trọng của hộ chiếu được lưu trữ trên một chip máy tính RFID nhỏ, giống như thông tin được lưu trữ trên thẻ thông minh. Giống như một số thẻ thông minh, thiết kế sổ tay hộ chiếu yêu cầu một chip không tiếp xúc được nhúng có thể chứa dữ liệu chữ ký số để đảm bảo tính toàn vẹn của hộ chiếu và dữ liệu sinh trắc học.
Về mặt lịch sử, thẩm quyền hợp pháp để cấp hộ chiếu được thành lập dựa trên việc thực hiện theo quyết định của cơ quan hành pháp của mỗi quốc gia (hoặc đặc quyền của Nhà vua). Các nguyên lý pháp lý nhất định tuân theo, đó là: thứ nhất, hộ chiếu được cấp dưới danh nghĩa của tiểu bang; thứ hai, không người nào có quyền hợp pháp được cấp hộ chiếu; thứ ba, chính phủ của mỗi quốc gia, khi thực hiện quyền hành pháp của mình, có toàn quyền quyết định từ chối cấp hoặc thu hồi hộ chiếu; và thứ tư, rằng quyết định thứ hai không bị xem xét lại. Tuy nhiên, các học giả pháp lý bao gồm AJ Arkelian đã lập luận rằng những diễn biến trong cả luật hiến pháp của các nước dân chủ và luật quốc tế áp dụng cho tất cả các nước hiện làm cho những nguyên lý lịch sử đó trở nên lỗi thời và bất hợp pháp.
Trong một số trường hợp, một số quốc gia cho phép mọi người giữ nhiều hơn một giấy hộ chiếu. Điều này có thể áp dụng, ví dụ, đối với những người đi công tác nhiều và có thể cần phải có hộ chiếu để đi du lịch trong khi một hộ chiếu khác đang phải chờ thị thực xin vào một quốc gia khác. Ví dụ, Vương quốc Anh có thể cấp hộ chiếu thứ hai nếu người nộp đơn có thể cho thấy nhu cầu và tài liệu hỗ trợ, chẳng hạn như thư từ nhà tuyển dụng.
Điều kiện cấp quốc gia.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia cấp hộ chiếu cá nhân cho công dân nộp đơn, bao gồm cả trẻ em, chỉ một số ít vẫn cấp "hộ chiếu gia đình" (xem bên dưới phần "Phân loại") hoặc bao gồm cả trẻ em trên hộ chiếu của cha mẹ (hầu hết các quốc gia đã chuyển sang hộ chiếu cá nhân từ đầu đến giữa thế kỷ 20). Khi người mang hộ chiếu xin cấp hộ chiếu mới (thường là do hộ chiếu trước đó hết hạn, không đủ giá trị để nhập cảnh vào một số quốc gia hoặc thiếu trang trống), họ có thể được yêu cầu nộp lại hộ chiếu cũ vì đã hết giá trị. Trong một số trường hợp, hộ chiếu hết hạn không bắt buộc phải giao nộp hoặc đã hết giá trị (ví dụ: nếu hộ chiếu đó có thị thực chưa hết hạn).
Theo luật của hầu hết các quốc gia, hộ chiếu là tài sản của chính phủ và có thể bị giới hạn hoặc bị thu hồi bất cứ lúc nào, thường là trên những lý do cụ thể và có thể bị xét xử tư pháp. Ở nhiều nước, giao nộp hộ chiếu là một điều kiện để cho phép tại ngoại thay cho việc bị phạt tù để chờ xét xử hình sự do rủi ro khi bay.
Mỗi quốc gia đặt ra các điều kiện riêng cho việc cấp hộ chiếu. Ví dụ, Pakistan yêu cầu người nộp đơn phải được phỏng vấn trước khi cấp hộ chiếu Pakistan. Khi xin hộ chiếu hoặc thẻ căn cước quốc gia, tất cả người Pakistan được yêu cầu ký vào lời thề tuyên bố Mirza Ghulam Ahmad là một nhà tiên tri mạo danh và tất cả người Ahmadis không phải là người Hồi giáo.
Một số quốc gia hạn chế việc cấp hộ chiếu, nơi các chuyến đi quốc tế đến và đi được quản lý rất chặt chẽ, chẳng hạn như Triều Tiên, nơi hộ chiếu phổ thông là đặc quyền của một số rất ít người được chính phủ tin tưởng. Các quốc gia khác đưa ra yêu cầu đối với một số công dân để được cấp hộ chiếu, chẳng hạn như Phần Lan, nơi công dân nam từ 18–30 tuổi phải chứng minh rằng họ đã hoàn thành hoặc được miễn nghĩa vụ quân sự bắt buộc của họ để được cấp hộ chiếu không hạn chế; nếu không, hộ chiếu chỉ được cấp có giá trị đến hết năm thứ 28 của họ, để đảm bảo rằng họ trở lại thực hiện nghĩa vụ quân sự. Các quốc gia khác có nghĩa vụ quân sự bắt buộc, chẳng hạn như Hàn Quốc và Syria, cũng có các yêu cầu tương tự, ví dụ: Hộ chiếu Hàn Quốc và hộ chiếu Syria.
Tình trạng quốc gia.
Hộ chiếu có ghi quốc tịch của người sở hữu. Ở hầu hết các quốc gia, chỉ tồn tại một loại quốc tịch và chỉ một loại hộ chiếu phổ thông được cấp. Tuy nhiên, tồn tại một số loại ngoại lệ:
Nhiều loại quốc tịch trong một quốc gia.
Vương quốc Anh có một số loại quốc tịch Vương quốc Anh do lịch sử thuộc địa của nó. Do đó, Vương quốc Anh phát hành nhiều hộ chiếu có hình thức tương tự nhưng đại diện cho các quốc tịch khác nhau, do đó, khiến các chính phủ nước ngoài buộc những người có hộ chiếu Vương quốc Anh khác nhau phải tuân theo các yêu cầu nhập cảnh khác nhau.
Nhiều loại hộ chiếu, một quốc tịch.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ủy quyền cho các Đặc khu Hành chính Hồng Kông và Ma Cao cấp hộ chiếu cho thường trú nhân mang quốc tịch Trung Quốc theo thỏa thuận " một quốc gia, hai hệ thống ". Chính sách thị thực do chính quyền nước ngoài áp đặt đối với thường trú nhân Hồng Kông và Ma Cao mang hộ chiếu như vậy khác với những người mang hộ chiếu phổ thông của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hộ chiếu Đặc khu Hành chính Hồng Kông (hộ chiếu HKSAR) cho phép miễn thị thực đến nhiều quốc gia hơn hộ chiếu thông thường của CHNDTH.
Ba quốc gia cấu thành của Vương quốc Đan Mạch có một quốc tịch chung. Đan Mạch thích hợp là một thành viên của Liên minh Châu Âu, nhưng Greenland và Faroe Islands thì không. Công dân Đan Mạch cư trú tại Quần đảo Greenland hoặc Faroe có thể lựa chọn giữa việc mang hộ chiếu Đan Mạch thuộc EU và hộ chiếu Đan Mạch không thuộc Liên minh Châu Âu của người Greenland hoặc Faroe.
Hạng quốc tịch đặc biệt thông qua đầu tư.
Trong một số trường hợp hiếm hoi, quốc tịch có được thông qua đầu tư. Một số nhà đầu tư đã được mô tả trong hộ chiếu Tongan là 'người được bảo vệ tại Tongan', một tình trạng không nhất thiết phải mang theo quyền cư trú ở Tonga.
Hộ chiếu của thực thể không có lãnh thổ có chủ quyền.
Một số thực thể không có lãnh thổ có chủ quyền phát hành các tài liệu được mô tả như hộ chiếu, đáng chú ý nhất là Liên đoàn Iroquois, Chính phủ lâm thời của thổ dân ở Úc và Lệnh quân sự có chủ quyền của Malta. Những giấy tờ như vậy không nhất thiết phải được chấp nhận để nhập cảnh vào một quốc gia.
Hộ chiếu có thời hạn sử dụng, thường từ 5 đến 10 năm.
Nhiều quốc gia yêu cầu hộ chiếu phải có giá trị ít nhất sáu tháng sau ngày khởi hành dự kiến, cũng như có ít nhất hai đến bốn trang trống. Các khuyến nghị chung yêu cầu hộ chiếu phải còn hạn ít nhất sáu tháng kể từ ngày khởi hành vì nhiều hãng hàng không từ chối cho hành khách có hộ chiếu còn hạn sử dụng ngắn hơn lên máy bay, ngay cả khi quốc gia đến không có yêu cầu như vậy đối với du khách đến.
Các loại hộ chiếu trên toàn thế giới tồn tại một tiêu chuẩn thô sơ như nhau, mặc dù loại hộ chiếu, số trang và định nghĩa có thể khác nhau tùy theo quốc gia.
Hộ chiếu không phải cho công dân.
Những người không phải công dân ở Latvia và Estonia là những cá nhân, chủ yếu thuộc dân tộc Nga hoặc Ukraine, không phải là công dân của Latvia hoặc Estonia nhưng có gia đình đã cư trú trong khu vực này từ thời Liên Xô và do đó có quyền được cấp hộ chiếu không phải công dân của chính phủ Latvia cũng như các quyền cụ thể khác. Khoảng 2/3 trong số họ là người gốc Nga, tiếp theo là người Belarus, người Ukraine, người Ba Lan và người Litva.
Những người không phải là công dân ở hai quốc gia được cấp hộ chiếu không phải công dân đặc biệt trái ngược với hộ chiếu thông thường do chính quyền Estonia và Latvia cấp cho công dân.
Mặc dù tất cả công dân Hoa Kỳ đều có quốc tịch Hoa Kỳ, nhưng điều ngược lại là không đúng. Như đã nêu trong § 1408, một người có mối liên hệ duy nhất với Hoa Kỳ là thông qua việc sinh ra trong một sở hữu bên ngoài (được định nghĩa trong § 1101 với tên American Samoa và Swains Island, đảo này được quản lý như một phần của American Samoa), hoặc thông qua nguồn gốc từ một người được sinh ra, có quốc tịch Hoa Kỳ nhưng không phải là công dân Hoa Kỳ. Điều này trước đây là trường hợp của một số tài sản ở nước ngoài hiện tại hoặc trước đây của Hoa Kỳ, tức là Khu Kênh đào Panama và Lãnh thổ Ủy thác của Quần đảo Thái Bình Dương.
Hộ chiếu Hoa Kỳ cấp cho người có quốc tịch Hoa Kỳ mà không phải là công dân có mã chứng thực 9 ghi rõ: "THE BEARER IS A UNITED STATES NATIONAL AND NOT A UNITED STATES CITIZEN." trên trang chú thích.
Công dân Hoa Kỳ không phải là công dân có thể cư trú và làm việc tại Hoa Kỳ mà không bị hạn chế, và có thể nộp đơn xin nhập quốc tịch theo các quy tắc tương tự như người nước ngoài cư trú. Giống như những người nước ngoài cư trú, họ hiện không được bất kỳ bang nào của Hoa Kỳ cho phép bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang hoặc bang, mặc dù đối với người nước ngoài thường trú, không có hiến pháp nào cấm họ làm như vậy.
Do sự phức tạp của luật quốc tịch Anh, Vương quốc Anh có sáu biến thể của quốc tịch Anh. Tuy nhiên, trong số các biến thể này, chỉ có tư cách được gọi là công dân Anh mới được cấp quyền cư trú tại một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ cụ thể (Vương quốc Anh) trong khi những quốc gia khác thì không. Do đó, Vương quốc Anh cấp hộ chiếu Anh cho những người mang quốc tịch Anh nhưng không phải là công dân Anh, bao gồm công dân Lãnh thổ hải ngoại của Anh, công dân Anh ở nước ngoài, thần dân Anh, Công dân Anh (ở nước ngoài) và Người được bảo vệ của Anh.
Trẻ em sinh ra ở Andorra cho công dân nước ngoài chưa cư trú tại quốc gia này trong vòng tối thiểu 10 năm được cấp hộ chiếu tạm thời. Sau khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ phải xác nhận quốc tịch của mình với Chính phủ.
Du lịch trong lãnh thổ có chủ quyền yêu cầu hộ chiếu.
Đối với một số quốc gia, hộ chiếu là bắt buộc đối với một số loại hình du lịch giữa các lãnh thổ có chủ quyền của họ. Ba ví dụ về điều này là:
Hộ chiếu nội bộ.
Hộ chiếu nội bộ được một số quốc gia cấp như một loại giấy tờ tùy thân. Một ví dụ là hộ chiếu nội bộ của Nga hoặc một số quốc gia hậu Xô Viết khác có từ thời đế quốc. Một số quốc gia sử dụng hộ chiếu nội bộ để kiểm soát việc di cư trong một quốc gia. Ở một số quốc gia, "hộ chiếu quốc tế" hoặc "hộ chiếu đi nước ngoài" là hộ chiếu thứ hai, ngoài hộ chiếu nội địa, được yêu cầu đối với công dân để đi du lịch nước ngoài trong nước cư trú. Hộ chiếu riêng để đi du lịch nước ngoài đã tồn tại hoặc tồn tại ở các quốc gia sau:
Thiết kế và định dạng.
Tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế.
Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) ban hành các tiêu chuẩn hộ chiếu được coi là khuyến nghị cho các chính phủ quốc gia. Kích thước của sổ tay hộ chiếu thường tuân theo tiêu chuẩn ISO / IEC 7810 ID-3, quy định kích thước là 125 × 88 mm (4,921 × 3,465 in). Kích thước này là định dạng B7. Thẻ hộ chiếu được cấp theo tiêu chuẩn ID-1 (cỡ thẻ tín dụng).
Thiết kế thông thường.
Các tập sách thông hành từ hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hình quốc huy của quốc gia phát hành trên trang bìa. Liên hợp quốc lưu trữ kho quốc huy, nhưng việc trưng quốc huy không phải là yêu cầu được quốc tế công nhận đối với hộ chiếu.
Có một số nhóm quốc gia, theo thỏa thuận chung, đã áp dụng các thiết kế chung cho hộ chiếu của họ:
Hộ chiếu đôi khi có một thông điệp, thường là ở gần phía trước, yêu cầu người mang hộ chiếu được phép đi lại tự do, và yêu cầu thêm rằng, trong trường hợp cần thiết, người mang hộ chiếu được hỗ trợ. Thông điệp đôi khi được thực hiện dưới danh nghĩa của chính phủ hoặc nguyên thủ quốc gia và có thể được viết bằng nhiều ngôn ngữ, tùy thuộc vào chính sách ngôn ngữ của cơ quan ban hành.
Năm 1920, một hội nghị quốc tế về hộ chiếu và thông qua vé do Hội Quốc Liên tổ chức đã khuyến nghị rằng hộ chiếu được cấp bằng tiếng Pháp, về mặt lịch sử là ngôn ngữ ngoại giao và một ngôn ngữ khác. Hiện tại, ICAO khuyến nghị rằng hộ chiếu được cấp bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, hoặc bằng ngôn ngữ quốc gia của quốc gia cấp và bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Nhiều nước châu Âu sử dụng ngôn ngữ quốc gia của họ, cùng với tiếng Anh và tiếng Pháp.
Một số kết hợp ngôn ngữ bất thường là:
Để kiểm soát xuất nhập cảnh, giới chức nhiều nước sử dụng tem xuất nhập cảnh. Tùy thuộc vào quốc gia, một con tem có thể phục vụ các mục đích khác nhau. Ví dụ, ở Vương quốc Anh, con dấu nhập cảnh trong hộ chiếu bao gồm giấy phép chính thức để nhập cảnh được cấp cho một người bị kiểm soát nhập cảnh. Ở các quốc gia khác, một con tem kích hoạt hoặc xác nhận việc tiếp tục nghỉ phép được quy định trong giấy thông hành nhập cảnh của người mang hộ chiếu.
Theo hệ thống Schengen, hộ chiếu nước ngoài được đóng dấu ngày tháng mà không cho biết thời hạn lưu trú. Điều này có nghĩa là người đó được coi là có quyền ở lại trong ba tháng hoặc trong khoảng thời gian được hiển thị trên thị thực của mình nếu có quy định khác.
Thị thực thường có dạng một con tem có mực, mặc dù một số quốc gia sử dụng nhãn dán kết hợp các tính năng bảo mật để hạn chế việc giả mạo.
Các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu không được phép đóng dấu vào hộ chiếu của người không thuộc diện kiểm soát nhập cư. Việc đóng dấu bị cấm bởi vì nó là một sự áp đặt của một sự kiểm soát mà người đó không phải tuân theo.
Các quốc gia thường có các kiểu tem khác nhau cho các mục nhập và xuất cảnh, để giúp xác định chuyển động của mọi người dễ dàng hơn. Màu mực có thể được sử dụng để chỉ định phương thức vận chuyển (đường hàng không, đường bộ hoặc đường biển), chẳng hạn như ở Hồng Kông trước năm 1997; trong khi các kiểu biên giới cũng làm điều tương tự ở Ma Cao. Các biến thể khác bao gồm thay đổi kích thước của con tem để chỉ thời gian lưu trú, như ở Singapore.
Tem nhập cư là một lời nhắc nhở hữu ích về các chuyến đi. Một số du khách "sưu tập" tem nhập cư trong hộ chiếu và sẽ chọn nhập cảnh hoặc xuất cảnh vào các quốc gia bằng các phương tiện khác nhau (ví dụ: đường bộ, đường biển hoặc đường hàng không) để có các con dấu khác nhau trong hộ chiếu của họ. Một số quốc gia, chẳng hạn như Liechtenstein, không đóng dấu hộ chiếu có thể cung cấp con dấu hộ chiếu theo yêu cầu cho các mục đích "ghi nhớ" như vậy. Monaco (tại văn phòng du lịch) và Andorra (tại biên giới của nó) cũng làm điều này. Đây là những con tem chính thức do các văn phòng chính phủ phát hành. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp tư nhân có thể cho hộ chiếu đóng dấu giá tại các di tích lịch sử và những hộ chiếu này không có tư cách pháp nhân. Có thể những con tem tưởng niệm như vậy có thể ngăn cản người mang hộ chiếu đi du lịch đến một số quốc gia nhất định. Ví dụ, Phần Lan luôn từ chối cái mà họ gọi là 'hộ chiếu giả', nơi những người mang hộ chiếu đã bị từ chối cấp thị thực hoặc nhập cảnh do đóng dấu kỷ niệm và được yêu cầu lấy một hộ chiếu mới thay thế.
Hạn chế trong sử dụng.
Trong trường hợp một quốc gia không công nhận quốc gia khác, hoặc đang tranh chấp với quốc gia đó, người có hộ chiếu của bên tranh chấp có thể bị cấm nhập cảnh và đôi khi đối với những người mà đã đến thăm quốc gia kia; ví dụ được liệt kê dưới đây. Quốc gia cấp hộ chiếu cũng có thể hạn chế hiệu lực hoặc việc sử dụng hộ chiếu trong các trường hợp cụ thể, chẳng hạn như sử dụng để đi du lịch đến các quốc gia nhất định vì lý do chính trị, an ninh hoặc sức khỏe.
|
BitLord là trình khách BitTorrent viết bằng ngôn ngữ lập trình C++ chạy trên hệ điều hành Windows. Mặc dù BitLord là phần mềm có quảng cáo nhưng nó được đánh giá là không chứa phần mềm gián điệp. Gần đây mới xuất hiện phiên bản BitLord Pro thương mại, trong phiên bản này có dịch vụ Usenet của UseNeXT, một nhà cung cấp dịch vụ Usenet của Đức.
BitLord được viết dựa trên nhân rất lỗi thời của BitComet v0.56, vì vậy nó chứa rất nhiều lỗi, ngay cả những lỗi đã được sửa trong phiên bản mới nhất của BitComet cũng vẫn còn tồn tại trong BitLord. Thêm nữa việc đặt quảng cáo trên giao diện của chương trình BitLord, thay vì sử dụng chức năng danh sách các trang web cung cấp tệp torrent như trong BitComet thì BitLord sử dụng một ô văn bản để cung cấp từ cần tìm kiếm và kết quả tìm kiếm của nó chỉ lấy từ các trang web là chi nhánh của BitLord.
|
BitTornado là một trình khách BitTorrent. Nó là phiên bản kế thừa của trình khách thử nghiệm Shad0w, và được viết bởi người đã tạo ra Shad0w. Giao diện của BitTornado gần giống với giao diện của trình khách BitTorrent nguyên bản nhưng nó có thêm một số tính năng sau:
Các tính năng chế độ siêu gieo hạt (tiếng Anh: Super seeding và trao đổi máy đồng đẳng (tiếng Anh: peer exchange) đều được nhóm BitTornado phát triển đầu tiên trước trình khách BitTorrent nguyên bản.
BitTornado được viết bằng ngôn ngữ lập trình Python, vì vậy BitTornado không phụ thuộc vào hệ điều hành.
|
Hệ thập lục phân
Trong toán học và trong khoa học điện toán, hệ thập lục phân (hay hệ đếm cơ số 16, tiếng Anh: "hexadecimal"), hoặc chỉ đơn thuần gọi là thập lục, là một hệ đếm có 16 ký tự, từ 0 đến 9 và A đến F (chữ hoa và chữ thường như nhau). Hệ thống thập lục phân hiện dùng, được công ty IBM giới thiệu với thế giới điện toán vào năm 1963. Một phiên bản cũ của hệ thống này, dùng các con số từ 0 đến 9, và các con chữ A đến F, đã được sử dụng trong máy tính Bendix G-15, ra mắt năm 1956.
Ví dụ, số thập phân 79, với biểu thị nhị phân là 01001111, có thể được viết thành 4F trong hệ thập lục phân (4 = 0100, F = 1111).
Chú ý trong bảng sau: hex = thập lục phân
dec = thập phân
oct = bát phân
Chính IBM đã lựa chọn tiền tố "hexa", thay vì "sexa" của tiếng Latinh. Cái tên "hexadecimal" là một cái tên xa lạ, vì "hexa" nguyên có gốc từ "hexi" (έξι) trong tiếng Hy Lạp và có nghĩa là "sáu", còn "decimal" lại có gốc Latinh và có nghĩa là "mười". Có thể "hexa" cũng đã được lấy từ tiếng Latinh, song chữ "deka" của Hy Lạp lại gần với chữ "decem" của Latinh hơn, nên có một số ý kiến cho rằng cách đặt tên này có sự bất nhất nào đấy. Một từ cổ hơn nữa là "sexidecimal" nghe có vẻ Latinh nhưng không đúng (từ Latinh đúng là "sedecim", có nghĩa là 16). Từ này đã được đổi vì một số người cho rằng việc dùng từ này là quá mạo hiểm, vì từ này còn có một nghĩa khác là "gốc 60". Tuy vậy, chữ "sexagesimal" (gốc 60) vẫn còn giữ lại được nhóm tiền tố của nó. Trong tài liệu trước đây của máy tính Bendix, từ "sexadecimal" cũng có được dùng đến. Ông Steven Schwartzman có ghi lại: "Vì từ "hexadecimal" là một từ tương đối dài, nên nhiều khi nó được viết tắt là "hex"". Từ "hexadecimal" - thập lục phân - là một từ bất thường, vì nó là từ ghép bởi tiết tố của hai thứ tiếng Latinh và Hy Lạp. Từ nguyên gốc Latinh phải là "sexadecimal", song những kẻ tấn công máy tính ("computer "hackers), có thể bị gợi ý và dẫn dụ bằng từ này mà gọi tắt nó thành "sex". Giáo sư và nhà khoa học máy tính Donald Knuth có chỉ ra rằng theo đúng nghĩa của từ thì tên của nó phải là "senidenary", một từ gốc Latinh với nghĩa là "nhóm 16". Những từ "binary" (nhị phân), "ternary" (tam phân) và "quaternary" (tứ phân) đều được tổ hợp từ gốc Latinh cả, và theo đúng nghĩa thì từ "decimal" (thập phân) đáng ra phải là "denary" (hệ mười).
Mấy năm trước đây, một hệ thống các ký tự khác của hệ thập lục phân, rõ ràng, không nhập nhèm, đã được đề cử. "(Cf. Hexadecimal time)"
Biểu thị số thập lục phân.
Một vài con số thập lục phân hầu như hoàn toàn giống với những con số trong hệ thập phân (kể cả đối với con người và máy vi tính). Vì thế mà chúng thường được ký hiệu theo một quy tắc nhất định.
Dưới dạng in ấn, ký hiệu của hệ thường được chỉ định bởi một hậu tố, chẳng hạn 5A316, 5A3SIXTEEN, hoặc 5A3HEX.
Trong các ngôn ngữ lập trình cho máy vi tính - hầu như luôn luôn dùng văn bản đơn thuần ("plain text"), không hề có sự phân biệt về chữ viết trên, hoặc chữ viết dưới như trong in ấn - rất nhiều cách để đánh dấu số hệ thập lục phân đã xuất hiện. Những cách đánh dấu này còn được thấy trong chữ in, đặc biệt là những nội dung có liên quan đến một ngôn ngữ lập trình.
Một số ký dụng thường thấy trong ngôn ngữ:
Vì không có một quy định thống nhất nào nên tất cả những quy ước trên đều được dùng, đôi khi, ngay cả trong cùng một bài viết. Song vì quy ước của chúng khá rõ ràng và biệt lập nên ít khi có những trắc trở xảy ra.
Ký hiệu thường dùng (và thường gặp) nhất là tiền tố "0x" hoặc ký hiệu viết số 16 xuống dưới ("subscript-based"), đều chỉ số thập lục phân. Chẳng hạn cả hai số 0x2BAD và 2BAD16 đều cùng đại diện cho số thập phân 11181 (hoặc 1118110).
Trong những thời kỳ đầu của lịch sử máy tính, sự lựa chọn những con chữ từ "A" đến "F" để thay thế cho những con số tiếp theo, chưa được chấp nhận trên toàn thế giới. Trong những năm sau 1950, một số công trình cài đặt máy tính, ưa lựa chọn cách dùng các số từ 0 đến 5, cùng với một cơ cấu mã ("macron"), để biểu thị giá trị từ 10 đến 15. Những người dùng máy tính Bendix thì lại dùng chữ "U" đến chữ "Z".
Hệ thập lục phân được dùng phổ biến trong lập trình HTML và CSS (tạm dịch là Chương mục định hình tuần tự). Những lập trình này dùng bộ tam kết thập lục phân ("hex triplet") biểu thị màu sắc trong các trang web, bắt đầu bằng một dấu "#". Dấu này còn được dùng để biểu thị các số thập lục phân nửa. Khi biểu thị màu sắc với 24 bit, công thức #RRGGBB ("Đỏ, Vàng, Xanh") được dùng để thể hiện. Trong công thức này, "RR" (tiếng Anh là "Red Red") biểu thị phân hợp màu đỏ, "GG" ("Green Green") biểu thị phân hợp màu vàng (đáng ra phải gọi là màu xanh lá cây, song gọi là vàng để phân biệt với phân hợp tiếp theo, màu xanh lam), và "BB" ("Blue Blue") biểu thị phân hợp màu xanh (lam) của tổ hợp tam phần, đại diện cho sắc độ của một màu. Lấy ví dụ, một dáng màu đỏ với giá trị thập phân (238, 9, 63) được mã hóa sang hệ thập lục phân là #EE093F. Công thức này được sao chép từ tổ chức màu sắc trong hệ thống cửa sổ X ("X Window System").
Hệ thập lục phân còn được dùng trong kỹ thuật máy tính trên nhiều khía cạnh chung chung khác, và là một phương pháp thông thường nhất để biểu đạt giá trị của một byte, dùng dãy các ký tự ("string"), mà con người ai cũng có thể đọc được. Tất cả các giá trị của một byte (bao gồm 256 giá trị) đều có thể được biểu thị bằng hệ thập lục phân. Một số người cho rằng phương pháp dùng hệ ASCII 8-bit, để biểu thị giá trị, là một phương pháp khả thi, song phương pháp này không toàn diện, vì hệ ASCII còn bao gồm những ký tự không in được (còn gọi là các ký tự điều khiển ("control characters")), không thích hợp cho mục đích.
Trong các dòng liên kết nối URL, những chữ đặc biệt có thể được biểu thị bằng cách dùng mã thập lục phân, dẫn đầu bằng dấu phần trăm (%), chẳng hạn %20Ch%C3%ADnh.
Công thức quy định cách viết địa chỉ IPv6, đại diện mỗi nhóm số gồm 16 bit, bằng những số thập lục phân, hòng làm cho việc đọc, và sao chép các địa chỉ dài 128-bit được dễ dàng hơn.
Tương tự như các hệ đếm khác, hệ thập lục phân cũng có thể dùng để biểu thị phân số ("vulgar fraction"), song chu kỳ thập phân tái diễn ("recurring digits") thường xảy ra, do số 16 chỉ có một thừa số nguyên tố:
Do cơ số 16 là bình phương của 4 (4²), phân số thập lục phân có chu kỳ lặp lại cá biệt, xảy ra nhiều lần hơn, so với những số thập phân. Chu kỳ thập phân xảy ra khi mẫu số, với thừa số thấp nhất ("denominator in lowest terms"), có một thừa số nguyên tố không thấy ở trong hàng cơ số. Trong trường hợp số thập lục phân, tất cả những phân số có mẫu số không phải là tích của một số mũ 2, sẽ tạo nên một chu kỳ thập phân tái diễn.
Hệ thập lục phân đôi khi được dùng trong các trò đùa cợt của các lập trình viên, vì một số từ có thể được tạo dựng bằng các con số thập lục phân. Một số từ này trong tiếng Anh là "dead" (chết), "beef" (thịt bò), "babe" (người yêu bé bỏng) và, với những thế tự phù hợp, từ "c0ffee" (cà phê). Trang này là một ví dụ điển hình những trò đùa cợt này. Do khả năng dễ nhận biết của những từ sắp xếp kiểu này, kiểm duyệt cài đặt ("debugging setup") thường dùng chúng để ráp giá trị khởi đầu cho những tiểu tiết trong bộ nhớ, giúp các lập trình viên tìm ra những tiểu tiết chưa được ráp giá trị khởi đầu ("not initialised"). Một số người thêm chữ "H" vào đằng sau một con số để biểu thị con số ấy là một số thập lục phân. Quy luật này cũng đôi khi được dùng trong ngữ pháp của ngôn ngữ lập trình assembly cổ của Intel. Với đuôi "H", người ta có thể viết những từ và câu mới, chẳng hạn 1517ADEADB17CH.
Một ví dụ nữa là con số ma ("magic number") trong các tiệp của hệ thống phân bổ FAT Mach-O và các chương trình Java, con số đó là "codice_2" (cô bé quán cà phê).
Cái ngân phiếu của Knuth có giá trị là một đô la trong hệ thập lục phân (256 xu = 162), tức là $2.56.
Bảng liệt kê sau đây chính là một trò đùa với hệ thập lục phân:
Ba hàng đầu tiên là tích của số 12, trong khi hàng cuối cùng "0x12" trong thập lục phân lại là 18.
Giá trị 0xdeadbeef ("ox dead beef" - trâu chết [thành] thịt bò) đôi khi được gài vào bộ nhớ chưa được ráp giá trị khởi đầu ("uninitialized memory").
Triển khai sang hệ nhị phân.
Khi làm việc với máy vi tính, chúng ta thường phải xử lý dữ liệu nhị phân, song xử lý con số trong hệ thập lục phân lại dễ dàng hơn so với hệ nhị phân (toàn số chỉ có 0 và 1) rất nhiều. Trong khi chúng ta thông thuộc với hệ thập phân hơn các hệ cơ số khác, việc biến đổi số từ hệ nhị phân sang hệ thập lục phân lại dễ hơn là việc biến chúng sang hệ thập phân, vì mỗi một số thập lục phân tương đương với 4 bit nhị phân (410).
Hãy thử cân nhắc việc biến đổi số 11112 sang hệ thập phân. Vì mỗi vị trí của một con số trong hệ nhị phân (cơ số 2) chỉ cho phép giá trị 0 hay 1 mà thôi, việc định giá trị của con số tại vị trí ấy, tính từ bên phải, là một việc tương đối dễ dàng:
Đây là một con tính đơn giản, nhưng cũng đã đòi hỏi bốn tính cộng, trong khi với một chút luyện tập, 11112 có thể được chuyển thẳng sang F16 mà chỉ cần một phép tính (xem Biểu thị số thập lục phân). Khi số nhị phân là một số lớn, việc đổi chúng sang số thập phân là một việc dài dòng, tẻ nhạt. Khi đổi số nhị phân sang thập lục phân, chúng ta chỉ đơn giản chia nhóm các con số thành những nhóm 4, chuyển mỗi nhóm 4 này thành một số thập lục phân, giữ nguyên vị trí tương ứng của nhóm. Ví dụ sau đây chứng tỏ việc chuyển nhị phân sang thập phân dài dòng như thế nào:
So sánh ví dụ trên với việc chuyển cùng con số sang hệ thập lục phân:
Chúng ta cũng có thể đổi thẳng từ hệ thập lục phân quay trở lại nhị phân như ví dụ trên.
Dùng số bát phân cũng là một cách hữu dụng để xử lý dữ liệu trong máy vi tính (nhóm 3 bit thay vì nhóm 4); song, cái lợi lớn nhất của thập lục phân so với bát phân là, để biểu thị một byte (octet), chúng ta chỉ cần đúng hai con số thập lục phân là đủ. Điều này có nghĩa là nếu chúng ta có giá trị của một word (thường là 4 byte), việc nhận ra giá trị riêng của từng byte một là một việc khá dễ dàng; ngược lại, nếu chúng ta có giá trị của từng byte một, chúng ta cũng có thể dễ dàng ráp chúng lại thành một word.
Đổi gốc từ các hệ số khác.
Phép chia lấy số dư trong cơ số nguồn.
Phương pháp đổi một số sang hệ thập lục phân được thực hiện tương tự như phương pháp được áp dụng cho các hệ cơ số khác, bằng cách sử dụng phép chia lấy số nguyên và số dư trong hệ cơ số nguồn. Trên lý thuyết, phương pháp này có thể áp dụng được với bất cứ (một cặp) hệ cơ số nào. Song nói chung theo thói quen sử dụng của con người và trong kỹ thuật máy tính, phương pháp này được áp dụng với hệ thập phân và nhị phân. (Đối với hệ nhị phân, người ta còn có những phương pháp nhanh gọn hơn nữa.)
Chẳng hạn, nếu lấy d là số thập phân cần phải được đổi, thì dãy số :
1. Hi:= d mod 16
("mod" (modulus (tiếng Anh)): phép chia lấy dư, thực hiện phép chia số nguyên và lấy kết quả là số dư - chẳng hạn 17 mod 5 = 2 vì 17/5 = 3, dư 2.)
3. Nếu d == 0 thì kết quả là dãy số h); nếu không, quay trở lại bước 1.
Phần sau đây giới thiệu chu trình của thuật toán trên, lập trình bằng ngôn ngữ JavaScript, dùng để biến bất cứ một số thập phân nào sang hệ thập lục phân, kết quả trả về là một string (dãy các ký tự). Mục đích của ví dụ là minh họa chu trình của thuật toán (có thể dựa vào đấy để áp dụng cho các công dụng xử lý khác). Để áp dụng thuật toán này với dữ liệu cụ thể, có thể dùng các toán tử trong phép toán thao tác bit.
function toHex(d) { /* biến đổi sang hệ thập lục phân */
var r = d % 16;
function toChar(n) { /* biến đổi số nguyên sang ký tự có thể đọc và in được */
var alpha = "0123456789ABCDEF";
Cần lưu ý rằng cơ số "16" dùng ở trên có thể được thay thế bằng bất cứ cơ số nào (chẳng hạn hệ nhị phân (2), tam phân (3), bát phân (8) ). Sau đây là thủ tục được minh họa bằng ngôn ngữ C++ để in ra một số ở hệ bất kì tương ứng với một số thập phân nhận vào.
const alpha = "0123456789ABCDEF";
void printinbase(long d, short b) { // in ra số ở hệ cơ số b tương ứng với số thập phân d)
Phép cộng và tính nhân trong hệ thập lục phân.
Chúng ta có thể biến đổi bằng cách phân giải giá trị của vị trí của từng con số (hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm trong hệ thập phân chẳng hạn), rồi biến mỗi giá trị ấy sang giá trị tương ứng của hệ thập lục phân, sau đó làm phép cộng hay nhân trên con số ấy để được kết quả trong hệ thập lục phân. (khi làm tính nhân, nên có sẵn một bảng cửu chương trong hệ tương ứng (thập lục phân) để dễ đối chiếu - vì đa số chỉ biết bảng cửu chương trong hệ thập phân mà thôi). (Number system - Computer Methods in Chemical Engineering )
Ví dụ: 12310 + 45610
10010 + 2010 + 310
+ 40010 + 5010 + 610
6416 + 1416 + 316
+ 19016 + 3216 + 616
1F416 + 4616 + 916
+ 4616 + 7010
Phép đổi thông qua hệ nhị phân.
Vì máy vi tính nói chung dùng hệ nhị phân, nên phương pháp đổi của máy thường là thông qua hệ nhị phân trước đã, sau đó dùng sự thông nối trực tiếp giữa thập lục phân và nhị phân, mà đổi sang hệ thập lục phân.
Hệ thập lục phân trong con mắt của giới báo chí và phim ảnh.
Trong bộ phim hoạt họa nhiều tập "The Simpsons", tập có tựa đề Treehouse of Horror VI (Ngôi nhà kinh dị trên cây VI), nhân vật Homer lọt vào tầng không gian thứ 3, ("Homer³"), một dãy các số thập lục phân (46 72 69 6e 6b 20 52 75 6c 65 73 21) bồng bềnh trên không tại "vùng đất của không gian 3 chiều " (3-D land). Đối chiếu những giá trị thập lục phân này trong bản ASCII cho chúng ta các con chữ mà khi ghép lại, nó biến thành một dòng chữ tiếng Anh "Frink rules!" (ngoại trừ hai dấu ngoặc kép mà thôi) - nghĩa là "Frink trị vì!" hoặc "Frink là vua".
Trong chương trình TV ReBoot, có một nhân vật với cái tên Hexadecimal (hệ thập lục phân).
|
Đồng nhất thức ma trận Woodbury
Trong toán học (đặc biệt là đại số tuyến tính), Đồng nhất thức ma trận Woodbury (tiếng Anh: "Woodbury matrix identity") khẳng định rằng nghịch đảo của một ma trận bậc-k bất kì có thể giúp tính nghịch đảo của ma trận gốc (bậc cao hơn). Các tên gọi khác của nó là "bổ đề nghịch đảo ma trận" (tiếng Anh: "matrix inversion lemma"), "công thức Sherman-Morrison-Woodbury", hay chỉ "công thức Woodbury".
Công thức toán của nó
với "A", "U", "C" và "V" đại diện cho các ma trận có kích thước tương ứng. Cụ thể, "A" là "n"-x-"n", "U" là "n"-x-"k", "C" là "k"-x-"k" và "V" là "k"-x-"n".
Trường hợp đặc biệt, "C" là ma trận đơn vị 1-x-1, công thức rút gọn gọi là công thức Sherman-Morrison.
Đồng nhất thức này rất hữu ích cho một việc tính toán ma trận khi mà "A"−1 đã biết và ta muốn tính ("A" + "UCV")−1. Khi đã có nghịch đảo của ma trận "A", ta chỉ còn tính nghịch đảo của ma trận "C"−1+"VA"−1"U". Nếu ma trận "C" có số chiều nhỏ hơn nhiều so với "A", điều này đơn giản hơn nhiều so với tính toán trực tiếp nghịch đảo của "A"+"UCV".
Ứng dụng của nó là trong bộ lọc Kalman ("Kalman filter") và phương pháp ước lượng bình phương cực tiểu. Với bộ lọc Kalman, ma trận này có các chiều là của vector của quan sát, nghĩa là bằng 1 nếu chỉ có 1 quan sát ("observation") được xử lý tại một thời điểm. Điều này giúp tăng tốc cho việc tính toán thời gian thực của bộ lọc.
|
Phân phối chuẩn (Tiếng Anh: "normal distribution") còn gọi là phân phối Gauss hay (Hình chuông Gauss), là một phân phối xác suất cực kì quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Nó là họ phân phối có dạng tổng quát giống nhau, chỉ khác tham số "vị trí" (giá trị trung bình μ) và "tỉ lệ" (phương sai σ2).
Phân phối chuẩn tắc ("standard normal distribution") là phân phối chuẩn với giá trị trung bình (μ) bằng 0 và độ lệch chuẩn (σ) bằng 1.
Phân phối chuẩn còn được gọi là đường cong chuông ("bell curve") vì đồ thị của mật độ xác suất có dạng chuông.
Abraham de Moivre là người đầu tiên đưa ra phân phối chuẩn trong bài báo năm 1734 (được in lại trong ấn bản lần 2 "The Doctrine of Chances", 1738) khi muốn xấp xỉ một phân phối nhị thức với "n" lớn. Kết quả được mở rộng bởi Laplace trong cuốn sách "Analytical Theory of Probabilities" (1812), và bây giờ gọi là định lý Moivre-Laplace.
Laplace dùng phân phối chuẩn để phân tích sai số của các thử nghiệm. Phương pháp quan trọng bình phương tối thiểu được Legendre đưa ra năm 1805. Năm 1809, Gauss, người tuyên bố đã từng sử dụng phương pháp này từ năm 1794, đã chứng minh phương pháp này bằng cách giả thiết rằng các sai số có phân phối chuẩn.
Tên gọi "đường cong chuông" do Jouffret, người đầu tiên dùng thuật ngữ "bề mặt hình chuông" năm 1872 cho phân phối chuẩn hai chiều với các thành phần độc lập. Tên gọi "phân phối chuẩn" được tạo ra bởi Charles S. Peirce, Francis Galton và Wilhelm Lexis khoảng năm 1875.
Đặc tính của phân phối chuẩn.
Có nhiều cách để thể hiện các đặc tính của một phân phối xác suất. Cách dễ thấy nhất là thông qua hàm mật độ xác suất (vẽ ở hình đầu tiên), nó cho biết khả năng xảy ra của mỗi giá trị của biến ngẫu nhiên. Hàm phân phối tích lũy cũng cho cùng thông tin, nhưng hình ảnh của nó thì thông tin chứa đựng không được dễ nhận thấy cho lắm (hình đi sau). Cách tương đương khi chỉ định một phân phối chuẩn là thông qua: mômen, ước lượng, hàm đặc trưng, hàm khởi tạo mômen, và hàm khởi tạo ước lượng và định lý Maxwell. Một số rất hữu ích về mặt lý thuyết, nhưng không trực quan. Xem phân phối xác suất.
Mọi ước lượng của phân phối chuẩn đều bằng 0, ngoại trừ hai cái đầu tiên.
Hàm mật độ xác suất.
Hàm mật độ xác suất của phân phối chuẩn với trung bình formula_2 và phương sai formula_5 (hay, độ lệch chuẩn formula_12) là một ví dụ của một hàm Gauss,
Nếu một biến ngẫu nhiên formula_14 có phân phối này, ta ký hiệu là formula_14 ~ formula_16.
Nếu formula_17 và formula_18, phân phối được gọi là "phân phối chuẩn tắc" và hàm mật độ xác suất rút gọn thành
Hình ảnh bên phải cho thấy hàm mật độ xác suất cho phân phối chuẩn với các tham số khác nhau.
Một số tính chất với phân phối chuẩn:
Điểm uốn của đường cong xảy ra tại độ lệch chuẩn 1 tính từ trị trung bình.
Diện tích dưới đường cong phân phối chuẩn phải bằng 1. Tiếp theo là chứng minh:
Đặt formula_27, Thì ta có formula_28.
để áp dùng biến đổi Hệ tọa độ cực, đặt formula_29 lại. Ta có formula_30với Ma trận Jacobi.
Vậy formula_34, ta có formula_35
Hàm phân phối tích lũy.
Hàm phân phối tích lũy (cdf) chính là xác suất để một biến formula_14 có giá trị nhỏ hơn hay bằng formula_37, và nó được biểu diễn dưới dạng hàm mật độ sau:
Hàm cdf chuẩn tắc, qui ước viết là formula_39, chỉ là từ dạng cdf tổng quát và được tính với formula_40 và formula_41,
Hàm cdf chuẩn hóa có thể được biểu diễn dưới dạng một hàm đặc biệt gọi là hàm sai số, như sau
Hàm cdf nghịch đảo, hay hàm "quantile", có thể được biểu dưới dạng nghịch đảo của hàm sai số:
Hàm "quantile" này đôi khi còn gọi là hàm "probit". Hàm "probit" không có nguyên hàm sơ cấp. Không có ở đây không phải là không tìm thấy, mà nghĩa là người ta chứng minh rằng không tồn tại một nguyên hàm như vậy.
Đôi khi cần tính:formula_45 với số chữ số thập phân nhỏ bằng phương pháp:
Ví dụ: Tính formula_46 với 4 chữ số thập phân:
Ta có: formula_47. Nhớ tạm 0.5
Tiếp tục: formula_48. Nhớ tạm 0.52
Tiếp tục: formula_49. Nhớ tạm 0.524
Giá trị của hàm Φ("x") có thể xấp xỉ một cách chính xác bằng nhiều phương pháp khác nhau, như tích phân số, chuỗi Taylor, hay chuỗi tiệm cận.
Hàm khởi tạo Mômen.
Hàm khởi tạo mômen được định nghĩa là giá trị kỳ vọng của
Với phân phối chuẩn, hàm được viết thành
và có thể thấy bằng cách khai triển biểu thức trong ngoặc thành bình phương đúng.
Hàm đặc trưng được định nghĩa là giá trị kì vọng của
formula_53, với formula_54 là phần ảo đơn vị.
Với phân phối chuẩn, hàm đặc trưng được viết thành
Hàm đặc trưng được tính bằng cách thay thế formula_55 cho formula_56 trong hàm khởi tạo mômen.
Một số tính chất của phân phối chuẩn:
Chuẩn hóa biến ngẫu nhiên có phân phối chuẩn.
Một hệ quả của Tính chất 1 là ta có thể quy mọi biến ngẫu nhiên phân phối chuẩn về dạng phân phối chuẩn tắc.
Nếu formula_14 ~ formula_16, thì
là một biến có phân phối chuẩn tắc: formula_79 ~ formula_80.
Từ đó lại dẫn đến một hệ quả quan trọng là hàm phân phối tích lũy của một phân phối chuẩn nói chung sẽ là:
Ngược lại, nếu formula_79 ~ formula_80, thì
là một biến ngẫu nhiên có phân phối chuẩn với trị trung bình formula_2 và phương sai formula_5.
Giá trị của phân phối chuẩn hóa đã được lập thành bảng, và các phân phối chuẩn khác đều là các dạng biến đổi đơn giản từ phân phối chuẩn hóa.
Do đó, có thể tra bảng giá trị phân phối tích lũy của hàm phân phối chuẩn hóa để tính các giá trị phân phối tích lũy của phân phối chuẩn.
Một số mô-men bậc nhỏ của phân phối chuẩn:
Mọi ước lượng của phân phối chuẩn lớn hơn bậc hai đều bằng zero.
Khởi tạo biến ngẫu nhiên có phân phối chuẩn.
Khi mô phỏng bằng máy tính, người ta thường khởi tạo các giá trị số có phân phối chuẩn.
Có nhiều cách và cách đơn giản nhất là chuyển ngược bằng hàm phân phối tích lũy chuẩn tắc.
Có nhiều phương pháp hiệu quả được dùng đến, một trong chúng là biến đổi Box-Muller.
Biến đổi Box-Muller nhận hai giá trị có phân phối đều làm đầu vào và ánh xạ chúng thành giá trị có phân phối chuẩn.
Phương pháp này đòi hỏi phải khởi tạo giá trị từ phân phối đều, và có nhiều phương pháp như vậy. Xem thêm khởi tạo số ngẫu nhiên.
Biến đổi Box-Muller là dựa vào: phân phối chi-bình phương với hai bậc tự do (xem tính chất 4 ở trên) là một biến ngẫu nhiên lũy thừa có thể khởi tạo dễ dàng.
Định lý giới hạn trung tâm.
Phân phối chuẩn có một tính chất rất quan trọng là trong một số trường hợp nhất định, phân phối của tổng rất nhiều biến ngẫu nhiên độc lập sẽ có phân phối xấp xỉ chuẩn.
Đây là định lý giới hạn trung tâm.
Tầm quan trọng thực tiễn của định lý giới hạn trung tâm là phân phối chuẩn có thể được sử dụng như một xấp xỉ cho một số dạng phân phối khác.
Việc các phép xấp xỉ trên đây có đạt được đủ độ chính xác hay không còn tùy thuộc vào mục đích sử dụng chúng và tốc độ hội tụ về phân phối chuẩn. Thường trong những trường hợp nói trên, độ kém chính xác sẽ xảy ra ở đuôi của đường phân phối.
Khả năng phân chia vô hạn.
Phân phối chuẩn có khả năng phân chia vô hạn.
Phân phối chuẩn là phân phối xác suất ổn định.
Trong thực nghiệm, ta thường giả thiết rằng dữ liệu lấy từ tổng thể có dang phân phối xấp xỉ chuẩn. Nếu giả thiết này được kiểm chứng thì có khoảng 68% số giá trị nằm trong khoảng 1 độ lệch chuẩn so với trị trung bình, khoảng 95% số giá trị trong khoảng hai lần độ lệch chuẩn và khoảng 99.7% nằm trong khoảng 3 lần độ lệch chuẩn. Đó là "quy luật 68-95-99.7" hoặc quy tắc kinh nghiệm.
Kiểm định giả thiết về phân phối chuẩn.
Phép kiểm định cho ta biết một bộ số liệu cho trước có dạng phân phối tương tự phân phối chuẩn hay không. Giả thiết không là số liệu giống dạng phân phối chuẩn, do đó một giá trị P đủ nhỏ sẽ chứng tỏ dữ liệu không có phân phối chuẩn.
Ước lượng tham số.
Ước lượng hợp lý cực đại của các tham số.
độc lập thống kê và mỗi biến đều có phân phối chuẩn với kì vọng μ và phương sai σ2. Theo ngôn ngữ thống kê, các giá trị quan trắc của các biến ngẫu nhiên này tạo thành một "mẫu từ tổng thể có phân phối chuẩn". Ta cần ước lượng "trị trung bình của tổng thể μ và độ lệch chuẩn của tổng thể σ, dựa trên các giá trị quan sát được của mẫu. Hàm mật độ xác suất liên hiệp của các biến ngẫu nhiên này là:
Hàm hợp lý - một hàm của μ và σ là
Trong phương pháp hợp lý cực đại, các giá trị của μ và σ làm cho hàm hợp lý đạt cực đại sẽ cho ta các giá trị của ước lượng các thông số μ và σ của tổng thể.
Thông thường trong khi cực đại hóa một hàm 2 biến ta có thể xét các đạo hàm riêng. Nhưng ở đây ta sẽ khai thác một đặc điểm là giá trị của μ làm cực đại hóa hàm hợp ký với σ là cố định, không phụ thuộc vào σ. Do đó, ta có thể tìm giá trị của μ, sau đó thay thế nó vào trong phương trình hợp lý, để cuối cùng thu được giá trị của σ làm cực đại biểu thức tìm được.
Rõ ràng là hàm hợp ký là một hàm giảm của tổng
Do đó ta muốn giá trị của μ làm "cực tiểu hóa" tổng này. Đặt:
là "trị trung bình mẫu". Nhận thấy
Chỉ có số hạng cuối phụ thuộc vào μ và nó được cực tiểu hóa bằng
Đó là ước lượng hợp lý cực đại của μ. Khi ta thay thế giá trị này cho μ trong hàm hợp lý, ta nhận được:
Ta quy ước ký hiệu hàm "log hợp lý", nghĩa là, logarit của hàm hợp lý, bằng một chữ formula_137 thường, và ta có
Đạo hàm này dương, bằng 0, hoặc âm tùy thuộc vào σ2 nằm giữa 0 và
hoặc bằng đại lượng đó, hoặc lớn hơn đại lượng đó.
Kết quả là trị trung bình của bình phương các sai số là một ước lượng hợp lý cực đại của σ2, và căn bậc hai của nó là ước lượng hợp lý cực đại của σ. Ước lượng này là một ước lượng chệch, nhưng có một sai số căn quân phương nhỏ hơn so với ước lượng không chệch, vốn là "n"/("n" − 1) lần ước lượng trên.
Điều khái quát gây ngạc nhiên.
Đạo hàm của ước lượng hợp lý cực đại của ma trận hiệp phương sai của một phân phối đa biến chuẩn rất khó nhận ra. Nó liên quan đến định lý phổ và lý do có thể coi một đại lượng vô hướng như là vết của ma trận 1×1 hơn là chỉ một biến vô hướng. Xem thêm cách xác định các ma trận hiệp phương sai.
Ước lượng không chệch của các tham số.
Ước lượng hợp lý cực đại cho tổng thể đồng nghĩa với việc formula_2 của một mẫu là một ước lượng không chệch của trị trung bình, và phương sai cũng vậy. Tuy nhiên điều đó chỉ có được khi trị trung bình của tổng thể đã được biết trước. Thực tế ta chỉ có một mẫu lấy từ tổng thể, và không hề có thông tin gì về trị trung bình cũng như phương sai của tổng thể. Trường hợp này ước lượng không chệch của phương sai formula_5 là:
"Phương sai mẫu" này tuân theo phân phối Gamma nếu như tất cả các biến ngẫu nhiên X đều có dạng phân phối giống nhau và độc lập với nhau:
|
Theo định nghĩa phổ biến nhất, tội lỗi là sự vi phạm luật lệ tôn giáo hay đạo đức. Nói cách khác, bất kỳ ý tưởng, lời nói, hành động nào bất xứng, đáng hổ thẹn, gây tổn thương cho người khác, hoặc làm xa cách người này với người kia là tội lỗi.
Theo quan điểm Kitô giáo, tội lỗi là bất cứ điều gì không phù hợp với ý chỉ của Thiên Chúa; đặc biệt là sự cố ý xem thường những chuẩn mực được mặc khải bởi Thiên Chúa, và làm con người xa cách Thiên Chúa. Qua tội lỗi xảy ra sự phạm tội, và xứng hiệp với tội đã phạm là sự trừng phạt. Sự đền tội là một ý niệm về sự công bình và lòng thương xót, là sự trả giá thay cho tội lỗi của một người. Ý nghĩa của sự đền tội được thể hiện trong truyền thống dâng sinh tế trong Do Thái giáo. Sự đền tội thay cho loài người qua Đấng Messiah hay “Đấng Kitô” như Chúa đã hứa ban cho dân Do Thái được ứng nghiệm trong sự chết của Đức Giê-su Kitô, theo Đức Tin Kitô giáo. Ăn năn là hành động dứt khoát tránh xa tội lỗi và quay trở lại với Thiên Chúa.
Trong các ngôn ngữ châu Âu.
Từ tội lỗi trong tiếng Anh, "sin", đến từ tiếng Anh cổ "synn". Trong các ngôn ngữ thuộc nhóm German như tiếng Bắc Âu cổ là "synd", hoặc "Sunde" trong tiếng Đức, có nghĩa là "thật như vậy", ấy là "sự cáo buộc đã được chứng thực". Từ này trong tiếng Hi Lạp "hamartia", thường được dịch là tội lỗi trong Tân Ước, mang ý nghĩa "bất xứng" hoặc "không đạt yêu cầu".
Theo quan điểm Do Thái giáo ("Judaism"), tội lỗi là vi phạm điều răn của Thiên Chúa. Do Thái giáo dạy rằng tội lỗi là một hành động, không phải là một trạng thái. Nhân loại được tạo dựng vốn có khuynh hướng về tội lỗi ("vì tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ", Sáng thế ký 8. 21), nhưng cũng có khả năng khống chế khuynh hướng này ("tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải thắng hơn", Sáng thế ký 4.7), và có quyền tự do chọn lựa giữa điều tốt và cái xấu ("Hãy tránh điều dữ và làm điều lành, thì sẽ được ở đời đời" Thi thiên 37.27). Do Thái giáo sử dụng thuật ngữ "tội lỗi" bao hàm sự vi phạm luật pháp Do Thái, không đồng nghĩa với sự suy đồi đạo đức. Theo bách khoa toàn thư Do Thái, "Con người chịu trách nhiệm về tội lỗi bởi vì con người được ban cho ý chí tự do ("behirah"); nhưng bản chất con người là yếu đuối: "Vì tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ" (Sáng thế ký 8.21; Yoma 20a; Sanh. 105a). Vì vậy, Thiên Chúa, bởi lòng thương xót của Ngài, cho phép con người ăn năn và được tha thứ. Do Thái giáo cho rằng mọi người đều phạm tội vào những thời điểm khác nhau trong suốt cuộc đời, và tin rằng Thiên Chúa vừa công bình vừa thương xót.
Từ "aveira" trong tiếng Hebrew chỉ mọi loại tội lỗi. Lập nền trên Kinh Thánh Hebrew, Do Thái giáo miêu tả ba cấp độ của tội lỗi.
Do Thái giáo tin rằng không ai là trọn vẹn, mọi người đều phạm tội và phạm tội nhiều lần. Dù vậy, có một vài tội ("avon" hoặc "cheit") không bị đoán phạt đến nỗi hư mất; chỉ có một hoặc hai trọng tội là có thể dẫn con người đến sự đoán phạt trong hoả ngục theo khái niệm được miêu tả trong Kinh Thánh. Theo quan điểm của Rabbeinu Tam trong kinh Talmud Babylon ("tractate Rosh HaShanah" 17b), Thiên Chúa có mười ba thuộc tính của lòng thương xót:
Bởi vì người Do Thái được đòi hỏi phải trở nên giống Thiên Chúa, "imitatio Dei", các "rabbi" đem mười ba thuộc tính kể trên vào bộ luật Do Thái cùng các ứng dụng dành cho bộ luật.
Trong một tác phẩm tôn giáo kinh điển, Midrash, Avot de Rabbi Natan viết:
Một lần ở Jerusalem, khi Rabban Yochanan ben Zakkai đang rảo bước với Rabbi Yehoshua đến Đền thờ tại Jerusalem, khi ấy chỉ còn là một phế tích. "Khốn nạn cho chúng ta", Rabbi Yehosua than khóc, "vì ngôi nhà này, nơi đại lễ chuộc tội được hiến tế cho dân tộc Israel, nay chỉ là một nơi hoang tàn!". Nhưng Rabban Yochanan đáp lời, "Còn có một lễ chuộc tội khác cho chúng ta, cũng quan trọng không kém, ấy là thực hành "gemilut hasadim" (lòng nhân ái), như đã được chép trong Kinh Thánh, "‘Ta muốn lòng nhân từ, không muốn của tế lễ’"".
Kinh Talmud Babylon dạy rằng "Rabbi Yochanan và Rabbi Eleazar giải thích rằng khi đền thờ chưa bị phá huỷ, bàn thờ là nơi dâng tế lễ chuộc tội cho Israel, nhưng nay, có một bàn thờ chuộc tội khác, ấy là khi người nghèo được mời làm khách viếng nhà" ("Tractate Berachot", 55a).
Giáo nghi truyền thống của Những ngày Kính sợ - "Days of Awe" (những ngày lễ trọng: Rosh Hashanah và Yom Kippur) chép rằng cầu nguyện, ăn năn và làm từ thiện ("tzedakak") là cách bày tỏ sự ăn năn tội lỗi. Trong Do Thái giáo, tội lỗi phạm với người khác (không phải phạm với Thiên Chúa hoặc chỉ phạm tội trong lòng) trước tiên phải được sửa chữa bằng hết sức mình; nếu không chịu tận lực sống ngay thật và từ bỏ tội lỗi, thì không thể được xem là ăn năn thật.
Khái niệm về chuộc tội.
Khái niệm về sự chuộc tội được luận giải trong Kinh Thánh Hebrew, tức Cựu Ước của Cơ Đốc giáo. Nghi lễ chuộc tội được thực hiện trong Đền thờ tại Jerusalem, cử hành bởi các tư tế Do Thái ("Kohanim"). Thánh lễ bao gồm ngân tụng, cầu nguyện và dâng hiến sinh tế ("korbanot"). Lễ Yom Kippur, Đại lễ Chuộc tội, được miêu tả trong chương 15 của sách Lê vi ký. Sinh tế là một con dê đực gọi là "Azazel", bị đuổi vào hoang mạc là một phần trong nghi thức (Lê vi ký 16. 20-22)
Theo Kitô giáo phương Tây, tội lỗi nghĩa là phạm luật pháp (của Thiên Chúa) hoặc vi phạm giao ước, do đó sự cứu rỗi thường được nhìn nhận trong khía cạnh luật pháp, trong khi theo Kitô giáo phương Đông, tội lỗi được xem xét theo sự tác động của nó vào mối tương giao, giữa người với người, và giữa người với Thiên Chúa.
Theo Kinh Thánh, tội lỗi tức là không chịu bước đi theo sự dẫn dắt của Thiên Chúa. Khái niệm này đến từ câu chuyện của Adam và Eva trong Sáng thế ký. Adam và Eva bất tuân mệnh lệnh của Chúa bằng cách ăn trái cây biết điều thiện và điều ác. Như vậy, vào thời điểm Adam và Eva ăn trái cây giữa vườn – là trái mà Chúa cấm họ ăn – sự chết, như là hậu quả tất yếu của tội lỗi, bước vào; hành động của họ thể hiện lòng bất phục, vì họ nghĩ rằng sau khi ăn trái cấm họ sẽ trở nên giống như Thiên Chúa, và đó là tội lỗi. Do Adam là người trực tiếp nhận mệnh lệnh của Thiên Chúa, người ta tin rằng Adam là người chịu trách nhiệm chính cho việc thâm nhập của tội lỗi, nên sự kiện sa ngã của loài người vẫn thường được gọi là “Tội nguyên tổ”. Tội của Adam khiến ông và hậu duệ bị tước đoạt quyền tiếp cận cây sự sống, do đó tuổi đời của loài người bị giới hạn. "Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội." (Rôma 5:12). Theo thần học Kitô giáo, cái chết của Đức Giê-su trên cây thập tự có quyền hóa giải tội nguyên tổ, "Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống." (1Corinthians 15:22).
Nguyên ngữ Hi văn của từ "tội lỗi" trong Tân Ước là "hamartia", dịch sát nghĩa là "trượt mục tiêu". Theo quan điểm Kitô giáo, sự cứu rỗi được xem xét trong ý nghĩa của sự phục hòa với Thiên Chúa và sự thiết lập mối tương giao mật thiết với Chúa Giê-su Thư thứ nhất Thánh Gioan chương 3 câu 4 viết:"Phàm ai phạm tội thì cũng chống lại luật Thiên Chúa, vì tội lỗi chống lại luật Thiên Chúa.". Một câu Kinh Thánh khác, La Mã 6:23, giúp soi sáng ý nghĩa của giáo lý này, "lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết; còn ân huệ Thiên Chúa ban không, là sự sống đời đời trong Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta." Lập nền trên Kinh Thánh, cả Kitô giáo giáo phương Đông và phương Tây đều đồng ý rằng tội lỗi là rào cản ngăn con người thụ hưởng mối tương giao trọn vẹn với Thiên Chúa. Song Tin Mừng Gioan 3:16 khẳng định, "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời."
Thần học Công giáo phân biệt tội cá nhân với tội tổ tông (nguyên tội). Trong tội cá nhân có trọng tội và khinh tội.
Tội chết là trọng tội, khi người phạm tội ý thức về hành vi phạm tội và biết là nghiêm trọng, mà vẫn hành động với sự đồng thuận có ý thức. Tội đáng chết loại trừ tội nhân khỏi ân điển của Thiên Chúa; nó chính là hành động khước từ Thiên Chúa. Nếu không được phục hoà với Thiên Chúa, người phạm tội chết sẽ bị trừng phạt nơi Hoả ngục.
Khinh tội là tội không đến nỗi chết. Đây không phải là tội trọng, còn nếu là tội trọng, người phạm tội không nhận thức đó là tội trọng, hoặc hành động mà không có sự đồng thuận. Người phạm tội không bị chia lìa khỏi ân điển như trường hợp của người khước từ Thiên Chúa. Dù vậy, khinh tội làm tổn thương mối quan hệ giữa người phạm tội và Thiên Chúa, như thế người ấy cần được phục hoà với Thiên Chúa, hoặc qua thánh lễ hoà giải hoặc nhận Bí tích Thánh thể.
Cả trọng tội lẫn khinh tội đều dẫn đến sự trừng phạt trong hai phương diện: sự đoán phạt đời đời và sự đoán phạt trong đời này. Ngục luyện tội và phép giải tội là giải pháp cho sự đoán phạt trong đời này mà vẫn bảo đảm sự công chính của Thiên Chúa.
Chính Thống giáo Đông phương.
Theo Chính Thống giáo Đông phương, tội lỗi là hậu quả của sự sa ngã của loài người, mà cũng là hành động phạm tội của cá nhân. Trong nhiều phương diện, quan điểm về tội lỗi của Cơ Đốc giáo phương Đông tương tự với Do Thái giáo, mặc dù Chính Thống giáo không phân biệt rạch ròi các "cấp độ" của tội lỗi.
Thần học Kháng Cách dạy rằng, do nguyên tội (tội tổ tông), con người đánh mất mọi khả năng hoà giải với Thiên Chúa . Thật vậy, tội lỗi bẩm sinh này đã chia lìa loài người khỏi Thiên Chúa mà khiến con người tự tôn chính mình và tham dục của mình . Như thế, chỉ nhờ sự cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho tội nhân đang sống trong vô vọng, người ấy mới có thể phục hồi mối tương giao với Thiên Chúa qua sự chết chuộc tội của Chúa Giê-xu. Được cứu rỗi là chỉ bởi đức tin ("sola fide"); chỉ bởi ân điển ("sola gratia"); được khởi đầu và hoàn tất chỉ bởi Thiên Chúa qua Chúa Giê-xu .(Xem Năm Tín lý Duy nhất). Luận điểm này về nguyên tội (Romans 5. 12-19) nối kết chặt chẽ với thần học Calvin (sự sa ngã hoàn toàn) và Giáo hội Luther. Thần học Calvin công nhận sự tốt lành của con người qua đức tin vào ân điển chung của Thiên Chúa. Thần học Giám Lý chấp nhận ý niệm cho rằng con người, dù hoàn toàn tội lỗi và suy đồi, vẫn có thể làm việc lành qua ân điển tiên kiến của Thiên Chúa.
Quan điểm này khác với giáo huấn Công giáo cho rằng trong khi tội lỗi làm hoen ố sự tốt lành nguyên thủy của loài người trước khi sa ngã, lại không dập tắt hoàn toàn sự tốt lành, hoặc ít nhất là vẫn tồn tại sự tốt lành tiềm ẩn, khiến con người vẫn còn có khả năng tìm đến Thiên Chúa để chia sẻ sự cứu rỗi mà Chúa Giê-xu đã giành được cho họ.
Mặc dù vẫn còn tranh luận về nguồn gốc của tội lỗi, nhiều người trích dẫn chương 28 của sách Ezekiel trong Kinh Thánh, cho rằng tội lỗi đến từ Satan khi Satan tham muốn địa vị tể trị của Thiên Chúa.
Về sự chuộc tội hoặc cứu chuộc khỏi tội lỗi.
Theo Cơ Đốc giáo, sự chuộc tội là sự cứu rỗi thực hiện bởi Chúa Giê-xu Cơ Đốc qua sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Ngài. Đức tin Cơ Đốc khởi đầu với sự mặc định rằng Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá như một sinh tế để giải thoát tội nhân khỏi gánh nặng tội lỗi.
Khi con người bị chia lìa khỏi Thiên Chúa qua hành động bất tuân của Adam trong vườn Eden, một sự ngăn cách hiện hữu giữa con người và Thiên Chúa. Đã có ghi chép trong Cựu Ước về những nghi thức hiến tế nhằm chuộc tội cho loài người, là hình ảnh tiên báo về Chúa Giê-xu đến thế gian, theo ý muốn của Thiên Chúa, để loài người có thể phục hoà với Thiên Chúa. Cần có một đấng trung bảo đến để thực hiện sự hoà giải này, và để cất bỏ tội lỗi khỏi nhân gian. Khi con người hoàn toàn tuyệt vọng trong nỗ lực đạt đến sự toàn hảo, Thiên Chúa sai Con Ngài, Chúa Giê-xu Cơ Đốc, đến làm đấng trung bảo.
Có thể minh hoạ điều này bằng cách liên tưởng đến hình ảnh con sông chảy giữa hai dãy núi đá. Một bên là nhân loại, bên kia là Thiên Chúa. Con người không thể xây cầu vượt sông, vì con người là bất toàn, còn Thiên Chúa là trọn vẹn. Vì vậy, Thiên Chúa là đấng bắt cầu nối kết con người với Thiên Chúa, thể hiện tình yêu của Ngài dành cho nhân loại.
|
Máy lu hay còn gọi là xe lu, xe hủ lô, lu, xe ủi lô là một máy được sử dụng để đầm nén đất, cấp phối và vật liệu làm đường, trong công việc làm sân, đường, sân bay, đê điều. Nó phục vụ thi công các công trình xây dựng trong công nghiệp, giao thông, thủy lợi, nông nghiệp và các công trình phát triển cơ sở hạ tầng khác có nhu cầu đầm nén.
Các máy lu thường có một hoặc hai ống trụ và có khối lượng lớn, để các ống trụ nén với lực lớn, nhờ vào lực hấp dẫn của Trái Đất, lên bề mặt đất đá hay vật liệu; khiến các mảnh vật liệu được tách nhỏ, phân phối đều, nén chặt, phẳng mịn. Một số máy có ống trụ rung để tác động rải vật liệu hiệu quả.
"Lu" hay "hủ lô" đều có gốc từ tiếng Pháp là "rouleau-compresseur", do người Pháp lần đầu mang loại xe này vào Việt Nam. Tên gọi xe lu phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, còn xe hủ lô phổ biến trong miền Nam trong một giai đoạn.
Những xe lu đầu tiên được kéo bằng ngựa, và có thể chỉ là mượn dụng cụ nông trại (xem con lăn (dụng cụ nông nghiệp)).
Kể từ khi hiệu quả của một xe lu phụ thuộc vào một mức độ lớn về trọng lượng của no, những xe lu tự lái xe thay thế xe ngựa kéo từ giữa thế kỷ 19. Những chiếc xe đầu tiên đó là máy lu chạy bằng hơi nước. Xe lu một xi lanh được sử dụng để đầm nền và chạy với động cơ lớn và hộp số thấp để thúc đẩy tung lên và rung động từ trục khuỷu đến các cuộn trong nhiều cách giống như một xe lu rung. Loại xe lu với xi lanh đôi hoặc loại kết hợp trở nên phổ biến từ khoảng năm 1910 trở đi và được sử dụng chủ yếu để cán các bề mặt nóng đặt do động cơ chạy mượt mà, nhưng cả hai loại xi lanh có khả năng lăn bề mặt hoàn thiện. Xe lu chạy bằng hơi nước thường được dành cho một nhiệm vụ nhất định bởi hộp số vì những động cơ chậm hơn đã được sử dụng để đầm chặt cơ sở, trong khi các mô hình bánh răng cao hơn thường được gọi là "máy khoan mỏng". Một số công ty đường bộ ở Hoa Kỳ sử dụng xe lu chạy bằng hơi nước những năm 1950 và ở Anh, một số vẫn còn sử dụng thương mại cho đến đầu những năm 1970.
Khi công nghệ động cơ đốt trong được cải thiện trong thế kỷ 20, dầu lửa, xăng dầu (xăng dầu) và động cơ chạy bằng dầu diesel dần dần được thay thế cho các máy chạy bằng hơi nước. Những xe lu chạy bằng động cơ đốt trong đầu tiên rất giống với những xe lu hơi nước mà chúng thay thế. Chúng sử dụng các cơ chế cơ khí tương tự để truyền công suất từ động cơ sang bánh xe, điển hình là bánh răng lớn. Một số người dùng không thích chúng khi chúng mới ra đời, vì các động cơ của thời kỳ này rất khó khởi động, đặc biệt là những chiếc máy chạy bằng dầu hỏa.
Hầu như tất cả các xe lu trong sử dụng thương mại đều sử dụng điện diesel.
Ngoài ra, theo kích thước, còn có:
|
Máy xúc, còn gọi là máy đào, là một loại máy móc cơ giới sử dụng đa năng, chủ yếu dùng trong xây dựng, khai khoáng. Máy xúc là một loại máy đào một gầu, có thể coi là "xẻng máy", dùng một cơ cấu tay cần gắn liền với gầu đào, thực hiện thao tác đào, xúc, múc, đổ đất đá rời hay liền thổ và các loại khoáng sản, vật liệu xây dựng rời (có thể vận chuyển trong cự ly ngắn hoặc rất ngắn). Trong xây dựng, máy xúc là một loại máy xây dựng chính trong công tác đất, ngoài ra nó còn tham gia vào các công tác giải phóng mặt bằng, phá dỡ công trình, bốc xếp vận chuyển vật liệu.
Máy xúc là loại thiết bị nặng gồm có một tay cần, gầu đào và ca-bin gắn trên một mâm quay.
""Máy xúc là một máy đào cơ giới (power-driven). Các loại chính của máy xúc được sử dụng trong hoạt động vận chuyển đất bao gồm máy xúc thủy lực và các thành viên của gia đình xẻng máy vận hành bằng cáp (như: máy xúc gầu thuận, máy đào gầu dây (gầu quăng), máy cuốc, và máy đào gầu ngoạm). Máy ủi, máy xúc lật, và máy cạp cũng có thể phục vụ như là máy đào"."
Theo nguyên lý làm việc.
Có thể phân chia máy đào thành 2 nhóm chính:
*Máy xúc thủy lực, vận hành gầu đào bằng hệ cơ cấu xi lanh thủy lực.
*Máy xúc truyền động cáp, vận hành gầu đào bằng hệ cơ cấu tời cáp.
Máy xúc gầu nghịch.
Máy xúc (đào) gầu nghịch được dùng phổ biến trong xây dựng. Máy xúc gầu nghịch thường dùng để đào các hố móng sâu hơn vị trí nền đất tự nhiên, máy làm việc hiệu quả khi đứng một chỗ đào đất đổ đống trên bờ hay đổ lên phương tiện vận chuyển phổ thông là ô tô tải. Do khi bắt đầu đào máy xúc nghịch phải tiếp đất ở vị trí xa trọng tâm máy nhất, khác với máy xúc gầu thuận bắt đầu đào ở vị trí gần máy nhất, cho nên máy đào gầu nghịch thường có dung tích gầu không lớn, nhỏ hơn nhiều so với máy đào gầu thuận cùng công suất. Tuy nhiên, máy đào gầu nghịch không chỉ dùng để đào hố sâu hơn mặt bằng máy đứng mà chúng còn có thể đào đất ở độ cao lớn hơn cao trình máy đứng, tương tự như chức năng của máy đào gầu thuận (thường gặp khi đào đất tầng hầm trong Công nghệ thi công Top-down nhà nhiều tầng). Loại máy xúc nghịch phổ biến dùng trong xây dựng có dung tích gầu trong khoảng 0,15-0,5 m³. Các loại máy xúc gầu nghịch điều khiển bằng thủy lực được sử dụng rộng rãi hơn loại điều khiển bằng cáp và có thể có dung tích gầu đào tới 3,3 m³. Tuy khối tích gầu đào phân bố trong rải giá trị nhỏ, hơn nhiều máy xúc gầu thuận, nhưng máy xúc gầu nghịch lại có thể làm việc đa năng hơn máy đào gầu thuận. Do khi công tác đứng cao hơn vị trí công tác (trên bờ) nên không phải làm đường công vụ cho máy xuống vị trí công tác như máy đào gầu thuận. Đồng thời do có cấu tạo gầu đào thuận lợi cho việc tạo điểm tựa cho máy, (cần và gầu khoan như một chân càng vững chắc thứ 5, ngoài hệ 4 bánh lốp hay bánh xích), giúp cho máy có thể làm việc trên mọi địa hình. Khi gặp sự cố như mất thăng bằng, lật máy xuống hố đào hay sa lầy, thì có thể dùng cần gầu đào làm chân trụ chống đỡ để tự thân máy giải cứu cho máy. Máy xúc gầu nghịch loại bánh xích còn có thể hoạt động trên mọi địa hình cả ở trên nền đất yếu.
Thông số cơ bản.
Các thông số trên là đặc trưng cho khả năng làm việc cho phép của máy đào gầu nghịch. Khi làm việc, hình dạng hố đào cùng các thông số công trình đất yêu cầu tương ứng, còn phụ thuộc vào biện pháp thi công: nếu là đào mở tự nhiên (vát ta-luy) thì thành hố đào phía máy đứng phải để vát với góc độ dốc cho phép (α) tương ứng với từng loại đất và cấp đất (trong hình vẽ α = A).
Đào đất bằng máy đào gầu nghịch.
Máy xúc gầu nghịch có thể làm việc với 2 sơ đồ đào, gần giống như máy xúc gầu thuận, là:
Dung tích gầu đào của máy đào gầu nghịch thường nhỏ, bằng khoảng nửa so với máy đào gầu thuận cùng công suất động cơ. Đối với máy đào gầu thuận, thì xe ô tô tải hợp lý có dung tích thùng xe chứa được từ 3-5 gầu đào thuận. Sự phối hợp về mặt dung tích giữa máy đào gầu nghịch với xe ô tô tải hợp lý là xe tải nên chọn là loại có dung tích thùng xe chứa được khoảng từ 6-9 gầu đào của máy đào gầu nghịch.
Năng suất của máy đào gầu nghịch có thể được ước tính (với đơn vị tính là: "m³ đất xới rời tơi xốp/8 giờ") theo công thức:
Khi tính năng suất theo khối lượng đất liền thổ được đào đi (đơn vị tính là "m³ đất liền thổ/Ca công tác"), thì công thức tính năng suất phải được chuyển đổ với hệ số độ tơi ban đầu của đất đào, như sau:
NĐấtLiềnThổ = N / ρo
trong đó ρo là hệ số độ tơi ban đầu của đất xới rời tơi xốp vừa được máy đào lên.
Có thể quy đổi số chu kỳ đào-đổ trong mỗi giờ như sau: (SChuKỳ*KĐộSâu-GócQuay) = 3600/Tck
trong đó Tck là thời gian thực hiện một chu kỳ công tác trung bình thực tế của máy đào, (đơn vị tính là: "giây"), bao gồm các thời gian đào đất, quay máy từ nơi đào đến nơi đổ, đổ đất, quay máy từ nơi đổ về nơi đào, di chuyển máy đào sang vị trí đào mới.
Bảng 1. Hệ số đầy gầu của máy đào, KĐầyGầu.
Bảng 2. Số chu kỳ công tác (đào-đổ) tiêu chuẩn trong mỗi giờ công tác của máy đào gầu nghịch cơ cấu thủy lực, SChuKỳ.
Bảng 3. Hệ số ảnh hưởng, của độ sâu đào và góc quay máy từ nơi đào đến nơi đổ, tới năng suất của máy đào gầu nghịch, KĐộSâu-GócQuay.
Máy xúc gầu thuận.
Máy xúc gầu thuận ít dùng trong xây dựng nhà cửa dân dụng (loại công trình thường có hố móng thấp hơn nền đất tự nhiên), nhưng lại dùng chủ yếu trong xây dựng công trình hạ tầng lớn (như công trình thủy điệ) và trong khai thác mỏ đặc biệt là các mỏ lộ thiên. Do máy đào gầu thuận có cơ cấu tay gầu đào chỉ thích hợp cho việc đào đất đá ở độ cao lớn hơn độ cao máy đứng. Việc cho máy đào gầu thuận đào thấp hơn độ cao máy là rất kém hiệu quả (năng suất rất thấp). Khi đào các hố móng thấp hơn máy đào, thì máy đào gầu thuận phải tự đào đường xuống cho bản thân máy và cho ô tô tải chở đất, lúc đó máy đào gầu thuận làm việc không hiệu quả nhưng bắt buộc phải thực hiện. Hoặc để hiệu quả, phải tạo đường dốc công vụ ban đầu để cho máy đào và ô tô xuống được hố đào bằng một phương tiện đào khác như máy ủ, trong trường hợp máy đào gầu thuận đào các hố đào sâu, phải đảm bảo mặt bằng tại vị trí máy công tác luôn được khô ráo (bằng các biện pháp tiêu thoát nước mặt trong hố đào). Nếu thoát nước không tốt, mưa ngập máy, máy đào gầu thuận không làm việc được.
Máy đào gầu thuận làm việc hiệu quả khi đào đất đá ở vùng đồi núi, địa hình không bằng phẳng, thuận lợi cho việc bố trí máy đào đứng thấp hơn khối đất cần đào. Máy đào gầu thuận thích hợp cho việc đào đất đổ lên phương tiện vận chuyển đi xa như ô tô tải. Do trong mỗi thao tác đào, máy đào gầu thuận bắt đầu đào từ vị trí cánh tay đòn gần máy nhất, nên lực đào khỏe. Do vậy gầu đào của máy đào gầu thuận thường lớn hơn nhiều máy đào gầu nghịch, đồng thời năng suất cũng cao hơn rất nhiều.
Đào đất bằng máy đào gầu thuận.
Máy đào gầu thuận có thể công tác theo hai loại sơ đồ sau:
*Sơ đồ đào dọc đổ sau là sơ đồ đào dọc mà xe ô tô tải phải đứng phía sau máy đào, máy đào tiến vào vách đất, ("khi vách đất cao hơn nền máy đứng"), đào đất đổ ra phía sau lên ô tô. Sơ đồ này được áp dụng tạo "đột phá khẩu" đầu tiên khi bắt đầu đào dọc. Máy đào mới chỉ mở được một cửa mở hẹp chỉ đủ để nó tiến vào, với hai bên là vách đất cao, mà máy đào chưa thể tạo được chỗ để đưa ô tô vào trong hành lang khoang đào. Sơ đồ đào dọc đổ sau còn được áp dụng cho đào toàn bộ khoang đào khi bề ngang khoang đào yêu cầu, Bkđyc, là nhỏ (thường khoảng ≤ 1,5Rmax), không bố trí được vị trí ô tô đứng ngang hai bên sườn máy đào, mà phải bố trí ở phía sau (bán kính đổ đất của máy đào gầu thuận thường nên chọn khoảng 0,6-0,7Rmax). Sơ đồ đào dọc đổ sau cho năng suất máy thấp, vì góc quay máy lớn (có thể gần tới 180o), thời gian mỗi chu kỳ công tác bị kéo dài.
*Sơ đồ đào dọc đổ bên là một sơ đồ đào dọc mà xe ô tô đỗ bên sườn máy đào và di chuyển song song với hướng di chuyển của máy đào nhưng thường ngược chiều (để gầu đào không phải quay quét qua nóc ca-bin của ô tô khi đổ đất mà đổ đất vào thùng ben xe tải). Đường cho xe tải đi có thể cùng cao độ với cao độ máy đào đứng, cũng có thể cao hơn cao độ máy đứng một chút với một khoảng cách H (trong hình vẽ phía dưới) H ≤ Đđổ - (Hxe +0,8) (m). Sơ đồ đào dọc đổ bên năng suất hơn sơ đồ đào dọc đổ sau do góc quay máy nhỏ (thường ≤ 90o), nhỏ hơn so với đổ sau (có thể tới gần 180o). Khi bề ngang khoang đào dọc khoảng 1,5-2,0Rmax thì nên bố trí theo sơ đồ đào dọc đổ bên. Vị trí đỗ ô tô ở một hay cả hai bên phải cách máy đào một khoảng cách đảm bảo an toàn khi máy quay, tránh va đuôi máy đào vào ô tô tải. Bán kính đổ đất R1 thường khoảng 0,6-0,7Rmax. Khi bề rộng khoang đào yêu câu trong khoảng 2,0-3,0Rmax, thì vẫn dùng sơ đồ đào dọc đổ bên nhưng cho máy di chuyển theo đường zich-zắc (chữ chi).
Sự phối hợp về mặt dung tích giữa máy đào gầu thuận với xe ô tô tải hợp lý là xe tải là loại có dung tích thùng xe chứa được từ 3-5 gầu đào của máy đào gầu thuận. Nếu xe chỉ chứa được 1-2 gầu là xe bé so với gầu, đất đổ từ gầu dễ bị rơi vãi ra ngoài. Còn nếu xe được chọn là loại chứa được từ 6-8 gầu trở lên thì lại quá lớn, xe phải chờ đợi lâu mới đầy thùng làm giảm năng suất vận chuyển.
Năng suất của máy đào gầu thuận có thể được ước tính (với đơn vị tính là: "m³ đất xới rời tơi xốp/8 giờ") theo công thức:
Khi tính năng suất theo khối lượng đất liền thổ được đào đi (đơn vị tính là "m³ đất liền thổ/Ca công tác"), thì công thức tính năng suất phải được chuyển đổ với hệ số độ tơi ban đầu của đất đào, như sau:
NĐấtLiềnThổ = N / ρo
trong đó ρo là hệ số độ tơi ban đầu của đất xới rời tơi xốp vừa được máy đào lên.
Có thể quy đổi số chu kỳ đào-đổ trong mỗi giờ như sau: (SChuKỳ*KGócQuay) = 3600/Tck
trong đó Tck là thời gian thực hiện một chu kỳ công tác trung bình thực tế của máy đào, (đơn vị tính là: "giây"), bao gồm các thời gian đào đất, quay máy từ nơi đào đến nơi đổ, đổ đất, quay máy từ nơi đổ về nơi đào, di chuyển máy đào sang vị trí đào mới.
Bảng 4. Số chu kỳ công tác (đào-đổ) tiêu chuẩn trong mỗi giờ công tác của máy đào gầu thuận cơ cấu thủy lực, SChuKỳ.
Bảng 5. Hệ số ảnh hưởng, của góc quay máy từ nơi đào đến nơi đổ, tới năng suất của máy đào gầu thuận, KGócQuay.
|
Đảo Réunion (tiếng Pháp: "Réunion" hay chính thức là "La Réunion"; trước đây là "Île Bourbon") là một hòn đảo nhỏ nằm trong Ấn Độ Dương, cách Madagascar 700 km về phía đông và cách Mauritius 200 km về phía tây nam. Réunion có chiều dài là 63 km, rộng 45 km và diện tích khoảng 2.517 km², hiện thuộc quyền sở hữu của Pháp và là một vùng hải ngoại của Pháp. Đơn vị tiền tệ sử dụng ở đây là Euro. Những người dân sống ở đây tự gọi mình là "Réunionnais" hay "Créoles".
Với dân số 720.934 người (7/2000), Réunion có một nền kinh tế tập trung vào xuất khẩu đường, du lịch và săn cá mập. Réunion có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu dài bắt đầu từ năm 1513 khi được người Bồ Đào Nha phát hiện và đặt tên là "Santa Apollonia". Cái tên Réunion chỉ được biết đến từ năm 1793. Trong suốt lịch sử của nó, hòn đảo đã từng được đổi tên nhiều lần.
Réunion là nơi hai vua của Việt Nam là Thành Thái và Duy Tân bị đưa đi đày vào tháng 11 năm 1916.
Ngày 29/7/2015, một số mảnh vỡ đã được tìm thấy tại bờ biển đảo Réunion mà nhiều người nghi ngờ là xuất phát từ chuyến bay 370 của Malaysia Airlines.
Réunion có năm ghế ở Hạ viện Pháp và ba ghế ở Thượng viện Pháp.
Cơ cấu hành chính.
Về mặt hành chính, Réunion được chia thành bốn quận, hai mươi tư tổng và hai mươi tư xã.. Réunion được coi như một tỉnh "hải ngoại" của nước Pháp.
Réunion dài 63 km, rộng 45 km với diện tích 2512 km². Réunion có diện tích tương đương với đảo Hawaii và cả hai đều nằm trên những điểm nóng của vỏ Trái Đất.
Piton de la Fournaise, một núi lửa hình khiên ở cực đông của đảo, nhô cao hơn mực nước biển 2.631 mét và thỉnh thoảng được ví như chị em với các núi lửa trên đảo Hawaii bởi những nét tương đồng về khí hậu và bản chất kiến tạo. Núi này đã phun trào hơn 100 lần kể từ 1640 và đang được giám sát liên tục. Lần phun trào gần đây nhất là vào ngày 4 tháng 4 2007. Ước tính khoảng 3 triệu m³ nham thạch đã được phun ra mỗi ngày. Piton de la Fournaise được tạo ra bởi kiểu núi lửa phun trào kết hợp với phun nước nóng hotspot volcano. Nó cũng là tác nhân kiến tạo Piton des Neiges và các đảo Mauritius, Rodrigues.
Núi lửa Piton des Neiges với độ cao 3.070m, là điểm cao nhất của Réunion, nằm về phía tây bắc của Piton de la Fournaise. Phía tây nam là cáccaldera và canyon. Mặc dù tên gọi của ngọn núi trong tiếng Pháp có nghĩa "ngọn núi tuyết" nhưng tuyết không xuất hiện trên đỉnh của ngọn núi này.
Các sườn của cả hai núi lửa này có thảm thực vật dày đặc. Đất nông nghiệp và các thành phố như Saint-Denis tập trung tại các dải đất ven biển bao quanh.
Réunion còn có 3 hõm chảo: Cirque de Salazie, Cirque de Cilaos, Cirque de Mafate. Cái cuối cùng có thể tiếp cận bằng trực thăng hay đi bộ.
Mía đường là cây trồng chính và nguồn xuất khẩu truyền thống của đảo. Du lịch là nguồn thu nhập quan trọng. Năm 2007, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Réunion là 18,8 tỷ đô la Mỹ. Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 là 23,501 đô la Mỹ (tính theo giá thị trường), cao nhất châu Phi.
Réunion có thành phần dân cư giống như đảo Mauritius, gồm người gốc Ấn, người gốc Phi, người Malagasy, người Hoa và người Pháp, nhưng với tỷ lệ khác nhau. Creole (tên gọi chung cho tất cả nhóm người sinh ra trên đảo) là nhóm đa số. Người da trắng chiếm 1/4 dân số, người Ấn chiếm 21%, và hậu duệ của người Hoa chiếm phần còn lại. Ngoài ra cũng có một ít con cháu người Việt sinh sống trên đảo.
Réunion có những nét tương đồng về văn hóa, thành phần dân tộc, ngôn ngữ, và phong tục với Mauritius và Seychelles.
86% dân số Réunion theo Công giáo, phần còn lại theo Hindu, Hồi và Phật giáo.
Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức mặc dù tiếng Creole mang đặc trưng của vùng Réunion cũng được sử dụng phổ biến. Tiếng Hán được sử dụng trong cộng đồng Hoa Kiều nhưng thế hệ trẻ của cộng đồng này đang dần chuyển sang nói tiếng Pháp. Một bộ phận khá lớn dân số nói tiếng Tamil. Tiếng Ả rập được giảng dạy trong các đền thờ Hồi Giáo và được sử dụng trong cộng đồng Ả rập.
Văn hóa và ẩm thực Réunion là sự pha trộn văn hóa Âu, Phi, Ấn, Trung.
Hệ động thực vật.
Réunion là nơi cư ngụ của nhiều loài chim. Động vật bản địa lớn nhất là loài tắc kè hoa "Furcifer pardalis". Đa phần dải duyên hải phía tây được viền quanh bởi các rạn san hô với sự hiện diện của các loài nhím biển, cá chình conga. Rùa biển cũng thường xuyên xuất hiện.
Giao thông vận tải.
Sân bay Roland Garros, thực hiện các chuyến bay nối đảo với Madagascar, Mauritius và châu Âu. Sân bay Pierrefonds là sân bay nhỏ hơn với các chuyến bay tới Mauritius và Madagascar.
|
Đại Cổ sinh (tên tiếng Anh: "Paleozoic") là một đơn vị phân chia chính trong niên đại địa chất, một trong bốn đại chính. Sự phân chia thời gian ra thành các đại, đơn vị lớn nhất trong niên biểu địa chất vào thời kỳ ban đầu có xuất xứ từ Giovanni Arduino vào thế kỷ 18, mặc dù tên gọi chính thức của ông cho đại mà ngày nay gọi là đại Cổ sinh đã là "Primario" (xem Đại địa chất để biết thêm chi tiết). Từ paleozoic có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "palaio" (παλαιός - cổ, cũ) và "zoion" (ζωή - động vật) và dịch qua tiếng Hoa 古 "gǔ" = cổ + 生 "shēng" = sinh, có nghĩa là "sự sống cổ".
Các kỷ trong đại Cổ sinh.
Đại Cổ sinh bao gồm 6 kỷ địa chất; theo thứ tự từ cổ nhất đến trẻ nhất là: kỷ Cambri, kỷ Ordovic, kỷ Silur, kỷ Devon, kỷ Than Đá (bao gồm thế Mississippi và thế Pennsylvania tại Bắc Mỹ) và kỷ Permi. Nó trải rộng từ khoảng 542 triệu năm trước (MA) tới khoảng 251 MA (theo Ủy ban quốc tế về địa tầng học (ICS), 2004). Nó diễn ra sau thời kỳ Tiền Cambri và tiếp theo nó là đại Trung sinh.
Đại Cổ sinh bao gồm khoảng thời gian từ lúc bắt đầu xuất hiện các hóa thạch vỏ cứng và phổ biến đầu tiên tới thời gian khi các lục địa bắt đầu được chiếm lĩnh bởi các loài bò sát lớn, tương đối phức tạp và các loài thực vật tương đối hiện đại. Ranh giới dưới (cổ nhất) được quy định một cách kinh điển là khi có sự xuất hiện đầu tiên của các sinh vật gọi là trùng ba lá (lớp Trilobita) và Archaeocyatha. Ranh giới trên (trẻ nhất) được quy định là khi diễn ra sự kiện tuyệt chủng lớn khoảng 300 triệu năm sau, được biết đến như là sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias. Ngày nay ranh giới dưới được thiết lập là khi có sự xuất hiện lần đầu tiên của dấu vết hóa thạch đặc biệt, gọi là "Treptichnus pedum".
Vào đầu thời đại này thì sự sống hạn chế bao gồm vi khuẩn, tảo, hải miên (bọt biển) và các dạng khác nhau của dạng sống có phần bí ẩn, gọi chung là hệ động vật Ediacara. Một lượng lớn động, thực vật đa bào đã xuất hiện gần như đồng thời vào đầu đại—một hiện tượng được biết đến như là bùng nổ kỷ Cambri. Có một số chứng cứ cho thấy sự sống đơn giản có thể đã xâm chiếm mặt đất vào đầu đại Cổ sinh, nhưng các loài động, thực vật đáng kể đã không chiếm mặt đất cho đến tận kỷ Silur và đã không phát triển tốt cho đến tận kỷ Devon. Mặc dù các động vật có xương sống nguyên thủy cũng đã được biết đến ở giai đoạn gần đầu đại này, nhưng các dạng động vật vẫn chủ yếu là động vật không xương sống cho đến tận giữa đại Cổ sinh. Quần thể cá đã bùng nổ trong kỷ Devon. Vào giai đoạn cuối đại Cổ sinh, một loạt các cánh rừng lớn của các loài thực vật nguyên thủy đã phát triển mạnh trên đất liền, tạo thành một tầng than lớn ở châu Âu và miền đông Bắc Mỹ ngày nay. Vào cuối đại này thì những loài bò sát lớn và phức tạp đầu tiên cũng như các loài thực vật hiện đại đầu tiên (thông, tùng, bách) đã phát triển.
Về mặt địa chất, đại Cổ sinh bắt đầu khi có sự chia tách của siêu lục địa gọi là Rodinia vào cuối của thời kỳ băng hà toàn cầu. (Xem sự đóng băng Varanger và Quả cầu tuyết Trái Đất). Trong cả giai đoạn đầu của đại Cổ sinh, các khối đất đá của Trái Đất bị chia nhỏ thành một lượng đáng kể các lục địa tương đối nhỏ. Vào cuối đại này, các lục địa lại tập hợp lại cùng nhau thành một siêu lục địa mới gọi là Pangea, nó bao gồm phần lớn diện tích đất đai của Trái Đất.
|
Hạ tầng khóa công khai
Trong mật mã học, hạ tầng khóa công khai (, viết tắt "PKI") là một cơ chế để cho một bên thứ 3 (thường là nhà cung cấp chứng thực số) cung cấp và xác thực định danh các bên tham gia vào quá trình trao đổi thông tin. Cơ chế này cũng cho phép gán cho mỗi người sử dụng trong hệ thống một cặp khóa công khai/khóa bí mật. Các quá trình này thường được thực hiện bởi một phần mềm đặt tại trung tâm và các phần mềm phối hợp khác tại các địa điểm của người dùng. Khóa công khai thường được phân phối trong chứng thực khóa công khai.
Khái niệm hạ tầng khóa công khai (PKI) thường được dùng để chỉ toàn bộ hệ thống bao gồm nhà cung cấp chứng thực số (CA) cùng các cơ chế liên quan đồng thời với toàn bộ việc sử dụng các thuật toán mật mã hóa khóa công khai trong trao đổi thông tin. Tuy nhiên phần sau được bao gồm không hoàn toàn chính xác bởi vì các cơ chế trong PKI không nhất thiết sử dụng các thuật toán mã hóa khóa công khai.
Mục tiêu và các chức năng.
PKI cho phép những người tham gia xác thực lẫn nhau và sử dụng thông tin từ các chứng thực khóa công khai để mật mã hóa và giải mã thông tin trong quá trình trao đổi. Thông thường, PKI bao gồm phần mềm máy khách (client), phần mềm máy chủ (server), phần cứng (như thẻ thông minh) và các quy trình hoạt động liên quan. Người sử dụng cũng có thể ký các văn bản điện tử với khóa bí mật của mình và mọi người đều có thể kiểm tra với khóa công khai của người đó. PKI cho phép các giao dịch điện tử được diễn ra đảm bảo tính bí mật, toàn vẹn và xác thực lẫn nhau mà không cần phải trao đổi các thông tin mật từ trước.
Mô hình tiêu biểu.
Hầu hết các hệ thống PKI quy mô doanh nghiệp đều dựa trên các chuỗi chứng thực để xác thực các thực thể. Chứng thực của người dùng sẽ được một nhà cung cấp chứng thực số cấp, đến lượt nhà cung cấp này lại có chứng thực được một nhà cung cấp khác ở cấp cao hơn tạo , các tiêu chuẩn là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động của các PKI. Hầu hết các tiêu chuẩn về PKI hiện tại được soạn thảo bởi nhóm làm việc PKIX của IETF.
Các hệ thống PKI doanh nghiệp thường được tổ chức theo mô hình danh bạ trong đó khóa công khai của mỗi người dùng được lưu trữ (bên trong các chứng thực số) kèm với các thông tin cá nhân (số điện thoại, email, địa chỉ, nơi làm việ). Hiện nay, công nghệ danh bạ tiên tiến nhất là LDAP và định dạng chứng thực phổ biến nhất (X.509) cũng được phát triển từ mô hình tiền nhiệm của LDAP (X.500).
Các lựa chọn khác.
Mạng lưới tín nhiệm.
Một phương thức khác để nhận thực khóa công khai là mô hình mạng lưới tín nhiệm (web of trust). Trong mô hình này, mỗi người sử dụng tự ký chứng thực cho mình và các bên thứ 3 (không tham gia trực tiếp vào phiên giao dịch) kiểm chứng các chữ ký đó. Các ví dụ về mô hình này là GPG (The GNU Privacy Guard) và PGP (Pretty Good Privacy). Do PGP và các biến thể của nó được sử dụng rộng rãi trong email nên mô hình mạng lưới tín nhiệm thực hiện bởi PGP đang là phương thức thực hiện PKI 2 chiều phổ biến nhất (thời điểm năm 2004).
Hạ tầng khóa công cộng đơn giản.
Hạ tầng khóa công cộng đơn giản (SPKI) là một phương thức thực hiện PKI mới được phát triển để khắc phục sự phức tạp của giao thứcX.509 và sự tự phát của mô hình tín nhiệm PGP. SPKI gắn trực tiếp mỗi thực thể (người sử dụng/hệ thống) với một khóa sử dụng mô hình tín nhiệm nội bộ (local trust model). Mô hình này về cơ bản giống mô hình mạng lưới tín nhiệm của PGP có bổ sung thêm phần cấp phép.
Nhà cung cấp chứng thực số tự động (Robot CA).
Các rô bốt CA là các chương trình máy tính tự động có khả năng kiểm tra và xác nhận một số khía cạnh của khóa công cộng. Các rô bốt này có thể làm giảm đáng kể những tấn công vào hệ thống, đặc biệt là các tấn công nhằm vào việc làm chệch hướng các luồng thông tin trên mạng. Các khía cạnh của khóa công cộng thường được kiểm tra là (a) khóa được công bố dưới nhận thức của người sở hữu địa chỉ email gắn với khóa (b) người sở hữu địa chỉ email đang có khóa bí mật (c) tình trạng sử dụng khóa.
Việc Diffie, Hellman, Rivest, Shamir, và Adleman công bố công trình nghiên cứu về trao đổi khóa an toàn và thuật toán mật mã hóa khóa công khai vào năm 1976 đã làm thay đổi hoàn toàn cách thức trao đổi thông tin mật. Cùng với sự phát triển của các hệ thống truyền thông điện tử tốc độ cao (Internet và các hệ thống trước nó), nhu cầu về trao đổi thông tin bí mật trở nên cấp thiết. Thêm vào đó một yêu cầu nữa phát sinh là việc xác định định dạng của những người tham gia vào quá trình thông tin. Vì vậy ý tưởng về việc gắn định dạng người dùng với chứng thực được bảo vệ bằng các kỹ thuật mật mã đã được phát triển một cách mạnh mẽ.
Nhiều giao thức sử dụng các kỹ thuật mật mã mới đã được phát triển và phân tích. Cùng với sự ra đời và phổ biến của World Wide Web, những nhu cầu về thông tin an toàn và nhận thực người sử dụng càng trở nên cấp thiết. Chỉ tính riêng các nhu cầu ứng dụng cho thương mại (như giao dịch điện tử hay truy cập những cơ sở dữ liệu bằng trình duyệt web) cũng đã đủ hấp dẫn các nhà phát triển lĩnh vực này. Taher ElGamal và các cộng sự tại Netscape đã phát triển giao thức SSL (https trong địa chỉ web) trong đó bao gồm thiết lập khóa, nhận thực máy chủ... Sau đó, các thiết chế PKI được tạo ra để phục vụ nhu cầu truyền thông an toàn.
Các nhà doanh nghiệp kỳ vọng vào một thị trường hứa hẹn mới đã thành lập những công ty hoặc dự án mới về PKI và bắt đầu vận động các chính phủ để hình thành nên khung pháp lý về lĩnh vực này. Một dự án của American Bar Association đã xuất bản một nghiên cứu tổng quát về những vấn đề pháp lý có thể nảy sinh khi vận hành PKI (xem thêm: các hướng dẫn chữ ký số ABA). Không lâu sau đó, một vài tiểu bang của Hoa Kỳ mà đi đầu là Utah (năm 1995) đã thông qua những dự luật và quy định đầu tiên. Các nhóm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì đặt ra các vấn đề về bảo vệ quyền riêng tư và các trách nhiệm pháp lý.
Tuy nhiên, các luật và quy định đã được thông qua lại không thống nhất trên thế giới. Thêm vào đó là những khó khăn về kỹ thuật và vận hành khiến cho việc thực hiện PKI khó khăn hơn rất nhiều so với kỳ vọng ban đầu.
Tại thời điểm đầu thế kỷ 21, người ta nhận ra rằng các kỹ thuật mật mã cũng như các quy trình/giao thức rất khó được thực hiện chính xác và các tiêu chuẩn hiện tại chưa đáp ứng được các yêu cầu đề ra.
Thị trường PKI thực sự đã tồn tại và phát triển nhưng không phải với quy mô đã được kỳ vọng từ những năm giữa của thập kỷ 1990. PKI chưa giải quyết được một số vấn đề mà nó được kỳ vọng. Những PKI thành công nhất tới nay là các phiên bản do các chính phủ thực hiện.
Một số ứng dụng.
Mục tiêu chính của PKI là cung cấp khóa công khai và xác định mối liên hệ giữa khóa và định dạng người dùng. Nhờ vậy người dùng có thể sử dụng trong một số ứng dụng như:
Một số hệ thống PKI.
Dưới đây là danh sách một số hệ thống PKI, trong đó một số nhà cung cấp chứng thực số hàng đầu (ví dụ VeriSign) không được liệt kê vì các phần mềm của họ không được công bố công khai.
Cung cấp chứng thực số tự động.
|
Tranh Kim Hoàng là tên thường gọi của một dòng tranh dân gian phát triển khá mạnh từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 của làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội.
Tương truyền, dòng họ làm tranh đầu tiên là dòng họ Nguyễn Sĩ người Thanh Hoá theo mẹ ra Thăng Long rồi lập nghiệp ở làng Kim Hoàng. Thế kỷ 19, tranh Kim Hoàng phát triển mạnh, nhưng rồi bắt đầu bị thất truyền từ trận lụt năm 1915, khi làng mạc từ Phùng đến Cầu Giấy bị ngập trắng, nhiều ván in tranh của làng bị cuốn trôi. Đến năm 1945 thì tranh hoàn toàn không còn được sản xuất nữa. Ngày nay, chỉ còn một vài ván in của dòng tranh này được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Tranh Kim Hoàng cũng giống như tranh Đông Hồ, có những chủ đề quen thuộc với đời sống người dân nông thôn như tranh gà, tranh lợn, tranh ông Công ông Táo, tranh cuộc sống đồng quê… Tranh Kim Hoàng cũng có những thể loại như tranh Tết, tranh thờ… đáp ứng được những nhu cầu đa dạng, từ trang hoàng nhà cửa nhân dịp Tết đến Xuân về, cầu cho phúc lộc đầy nhà, cho đến xua đuổi tà ma, giữ nhà yên ấm.
Về giấy làm tranh.
Tranh Kim Hoàng chuyên dùng giấy hồng điều hay giấy vàng tàu để làm tranh, dùng bức nền tươi thắm như vậy, cho nên tranh Kim Hoàng còn được gọi bằng một cái tên khác là “tranh đỏ”, rất phù hợp với không khí tươi vui của ngày Tết. Chỉ riêng việc chọn giấy chuẩn bị giấy thôi cũng đã tốn rất nhiều thời gian và công sức của nhóm phục dựng tranh. Giấy đỏ làm tranh của tranh Kim Hoàng cũng độc đáo và thành một đặc điểm riêng biệt của tranh Kim Hoàng chẳng khác gì giấy điệp là đặc điểm riêng của tranh Đông Hồ.
Về nét khắc ván in.
Ván in của tranh Kim Hoàng được khắc hình với những nét tinh tế thanh nhã hơn so với ván in tranh Đông Hồ, khi in làm nổi bật lên những đường nét mực trên tấm giấy hồng điều. Đường nét của tranh Kim Hoàng mang tính hình tượng hóa, cách điệu nhiều hơn hẳn so với tranh Đông Hồ, mặc dù sử dụng cùng một chủ đề. Như trong bức tranh “Thần kê” (gà thần), con gà của tranh Kim Hoàng không phải là một chú gà dung dị bình thường, mà được khoác lên mình tấm áo của một “thần gà”, đuôi dài, rực rỡ với hình dáng của đuôi chim phượng hoàng. Hay như trong bức tranh về lợn, lợn của tranh Đông Hồ no đủ tròn đầy, nhưng con lợn của tranh Kim Hoàng được hình tượng hóa, chiếc mũi giống như một đám mây trong bức tranh cổ.
Về kỹ thuật in.
Nếu như tranh Đông Hồ được tạo thành hoàn toàn từ việc in ván đen và in ván các màu, tranh Hàng Trống chỉ in các nét mặc đen rồi tô màu, thì tranh Kim Hoàng lại được in làm hai lần. Đầu tiên nghệ nhân đặt tấm giấy lên trên bề mặt ván in (kỹ thuật in ngửa giống như tranh Hàng Trống chứ không phải in sấp giống như tranh Đông Hồ), ấn nhẹ xuống, lần này được gọi là “in nhá” để trên tấm giấy xuất hiện những nét mực mờ, sau đó nghệ nhân dùng bút màu tô lên theo cảm hứng riêng của mình, cuối cùng mới đặt tấm tranh xuống, in thêm một lần nữa (gọi là “in đồ”), dùng xơ mướp khô xoa nhẹ để làm nổi bật rõ các đường nét.
Màu sắc của tranh Kim Hoàng thường dùng mực tàu và các loại màu sắc có nguồn gốc tự nhiên, được trộn với chất kết dính là keo da trâu, khác với tranh Đông Hồ là dùng hồ nếp. Màu trắng tạo ra từ thạch cao, phấn nghiền nhuyễn trộn với nước, màu xanh chàm từ mực tàu hoà với nước chàm, màu đỏ lấy từ son, màu đen từ tro rơm rạ, màu xanh từ gỉ đồng, màu vàng từ nước ép của cây dành dành. Màu sắc của tranh Kim Hoàng tươi tắn, rực rỡ và ấn tượng với những màu như đỏ hiên, đỏ điều, đỏ sen, vàng yến, qua thời gian vẫn giữ gìn được lâu bền sắc thắm buổi ban đầu, đặc biệt phù hợp với dòng tranh Tết.
Về kỹ thuật tô màu.
Tranh Kim Hoàng không giống như tranh Hàng Trống (dùng màu và nước hòa quyện với nhau để tạo nên những khoảng đậm nhạt khác nhau) mà dùng màu thật đậm đặc, khỏe khoắn, nét đưa bút cũng mạnh mẽ và phóng khoáng, một phần là bởi người làm tranh cần phải chọn lối vẽ nhanh, bút pháp linh hoạt kiểu quen tay, để có thể hoàn thành được những bức tranh cho kịp thời gian, nhưng cũng không thể phủ nhận một lý do khác chính là thẩm mỹ của làng quê, coi trọng sự chắc khỏe, đơn giản, khúc chiết.
Ngoài giấy hồng điều làm nền và màu sắc cháy bừng mạnh mẽ, tranh Kim Hoàng còn có một đặc điểm độc đáo khác nữa, đó chính là thơ đề trên góc bức tranh và bùa trấn tà ma.
|
Đại địa chất là một phần chia nhỏ của niên đại địa chất dùng để chia các liên đại (hoặc nguyên đại) thành các thang thời gian nhỏ hơn. Ví dụ liên đại Hiển Sinh ("Phanerozoic") được chia thành ba khoảng thời gian nhỏ hơn là đại Cổ Sinh ("Paleozoic"), đại Trung Sinh ("Mesozoic") và đại Tân Sinh ("Cenozoic") đại diện cho ba giai đoạn chính trong hồ sơ hóa thạch vĩ mô. Các đại này được tách rời bởi các ranh giới tuyệt chủng thảm khốc, chẳng hạn ranh giới P-T nằm giữa đại Cổ Sinh và đại Trung Sinh hay ranh giới K-T nằm giữa đại Trung Sinh và đại Tân Sinh. Có những chứng cứ cho thấy các va chạm mạnh của các thiên thạch lớn đóng vai trò lớn trong việc phân ranh giới giữa các đại.
Các liên đại như liên đại Hỏa Thành ("Hadean"), liên đại Thái Cổ ("Archean") và liên đại Nguyên Sinh ("Proterozoic") trước đây được gộp chung và gọi là đại Tiền Cambri. Nó bao gồm khoảng 4 tỷ năm trong lịch sử Trái Đất trước khi có sự xuất hiện của động vật có vỏ cứng. Tuy nhiên, gần đây thì các liên đại này đã được chia thành các đại của chính chúng.
|
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tại Việt Nam, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), thường được ngôn ngữ bình dân gọi là sổ đỏ, sổ hồng hoặc giấy đỏ. Khái niệm về GCNQSDĐ có sự thay đổi theo thời gian cụ thể năm 2003 theo Luật đất đai năm 2003 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất". Đến năm 2013, Khái niệm này có bổ sung thêm theo Khoản 16, Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định “ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đai là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
Điều kiện cấp GCNQSDĐ.
2. Luật đất đai năm 2013" quy định các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất"':
Theo điều 99 Luật đất đai năm 2013. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
"a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật đất đai 2013;
b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;
k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất".
"3. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu" được quy định tại Thông tư 24/2014/TT-BTNMT.
Các trường hợp không được cấp GCNQSDĐ.
Theo Điều 19, Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.
1. Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai năm 2013.
2. Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
3. Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
4. Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.
5. Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
6. Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
7. Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doan
Ngoài ra còn có một số trường hợp cá biệt, tham khảo thêm tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
Gợi ý: Các bước chuyển nhượng quyền sử dụng đất
|
Núi Nứa là một cụm núi nằm tại xã đảo Long Sơn, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đỉnh cao nhất trong cụm núi này là đỉnh Bà Trao cao 138 m.
Trên núi có một ngôi nhà gỗ rất lớn, rộng và lâu năm. Sự tích kể rằng ngày xưa người địa phương đi thuyền lớn từ miền Tây trở về Bắc, gặp bão lớn tấp vào vùng đất này. Họ hạ cây, dựng nhà và làm nên căn nhà gỗ lớn này. Ngày nay, đàn ông ở núi Long Sơn có tục mặc đồ Bà ba đen, tóc búi củ hành để tưởng nhớ ông bà và thờ hiếu trung làm đầu. Mỗi ngày, ngôi nhà gỗ này được lau chùi cẩn thận và cúng cơm 72 bàn thờ. Gian nhà lớn được dùng để tiếp tất cả khách thập phương.
Hiện nay, người dân xã Long Sơn sống bằng nghề nuôi hào, tôm và các loại hải sản.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Kỷ Neogen () hay kỷ Tân Cận là một kỷ địa chất của đại Tân Sinh bắt đầu từ khoảng 23,03 ± 0,05 triệu năm trước (Ma). Kỷ Neogen diễn ra sau khi kỷ Paleogen kết thúc kéo dài 20,4 triệu năm đến trước khi bắt đầu kỷ Đệ Tứ (từ 2,58 triệu năm trước). Theo Ủy ban quốc tế về địa tầng học (ICS) thì kỷ Neogen được chia thành 2 thế là Miocen, Pliocen.
Thuật ngữ "hệ thống Neogen" (chính thức) và "hệ thống Thượng đệ Tam" (không chính thức) miêu tả các loại đá trầm tích trong kỷ Neogen.
Vào đầu Neogen, Trái Đất trông giống như hiện tại, nhưng có nhiều sự biến đổi lớn như các dãy núi nâng lên, mực nước biển hạ thấp, khí hậu lạnh và khô nên sinh vật phải trải qua sự thích nghi. Các lục địa tiếp tục va nhau, Hymalaya tiếp tục nâng cao, vùng đất của Ý va vào châu Âu tạo Anpơ..., hình thành các mũ băng dày ở Bắc Cực, mực nước biển hạ thấp mạnh làm lộ ra các vùng đất hay còn gọi là các "cầu đất" nối liền giữa châu Phi và Á-Âu; giữa Á-Âu và Bắc Mỹ, và Nam Mỹ chuyển động về phía bắc hợp nhất với Bắc Mỹ tạo thành eo đất Panama.
Khi các vùng đất này nối với nhau tạo điều kiện thuận lợi để các loài được tiến hóa khi di chuyển sang các vùng đất mới. Trong các đại dương, những loài tảo nâu lớn hay tảo bẹ, bám vào đá và san hô ở những vùng nước nông lạnh tạo ra môi trường sống mới cho rái cá và Dugong. Trong khi đó trên cạn, khỉ châu Á và Phi bắt đầu phân nhánh tiến hóa vài triệu năm sau đó, tông người chia thành các nhánh có tổ tiên gần nhất với nó là chimpanzees. Thích nghi với đứng trên 2 chân, các loài hominin thời kỳ đầu không còn sống trên cây và đắt đầu dùng tay cầm nắm thức ăn và công cụ. Các loài mới này sẵn sàng để thay đổi hành tinh không như bất kỳ loài nào khác trong các thế kỷ sau đó.
Theo truyền thống thì kỷ Neogen kết thúc vào cuối thế Pliocen (khoảng 1,8 Ma), ngay trước khi bắt đầu của kỷ đệ Tứ theo định nghĩa cũ trong nhiều niên biểu địa chất. Tuy nhiên, hiện nay đang có xu hướng trong số các nhà địa chất (cụ thể là các nhà địa chất hải dương kỷ Neogen) về việc gộp cả kỷ đang diễn tiến (kỷ đệ Tứ cũ) vào trong kỷ Neogen, trong khi những người khác (cụ thể là các nhà địa chất đất liền kỷ đệ Tứ) lại cho rằng kỷ đệ Tứ cần phải là một kỷ tách biệt với các hồ sơ hóa thạch khác biệt rõ ràng. Các thuật ngữ dễ gây lẫn lộn và sự bất đồng giữa các nhà địa chất về việc rạch ròi ranh giới theo thứ bậc như thế nào là do sự chia tương đối nhỏ các đơn vị thời gian khi thời gian đạt tới cận kề ngày nay và do sự bảo tồn địa chất đã làm cho các mẫu địa chất trầm tích trẻ nhất được bảo tồn trên một khu vực rộng lớn hơn nhiều và phản ánh nhiều về môi trường hơn so với các mẫu địa chất cổ hơn một chút. Bằng cách phân chia đại Tân Sinh ra thành hai (có thể là ba) kỷ địa chất (kỷ Paleogen, kỷ Neogen, kỷ đệ Tứ) thay vì 7 thế, thì các kỷ là có thể mang tính so sánh được tương đối gần gũi với khoảng thời gian của các kỷ trong đại Trung Sinh và đại Cổ Sinh.
ICS đã đề nghị rằng kỷ đệ Tứ cũ nên được coi là một phân đại và chứa một phần của kỷ Neogen, với sự bắt đầu của nó vào khoảng 2,588 Ma, trùng với khi bắt đầu tầng Gelasia. Tuy nhiên, Hiệp hội quốc tế về nghiên cứu kỷ đệ Tứ (INQUA) lại đưa ra đề nghị ngược lại cho rằng kỷ Neogen và thế Pliocen kết thúc tại thời điểm khoảng 2,588 Ma, tầng Gelasia cần được chuyển sang thế Pleistocen và kỷ đệ Tứ cần được công nhận là kỷ thứ ba của đại Tân Sinh bằng việc viện dẫn các thay đổi cơ bản trong khí hậu, đại dương và vùng sinh vật của Trái Đất đã diễn ra vào thời điểm 2,588 Ma và sự tương ứng của nó với ranh giới địa từ học Gauss-Matuyama.
Kỷ Neogen (theo ICS) bao gồm khoảng 23 triệu năm. Trong kỷ Neogen thì động vật có vú và chim đã tiến hóa đáng kể. Phần lớn các dạng sự sống khác ít thay đổi. Một số chuyển động lục địa cũng dỉễn ra, sự kiện đáng kể nhất là sự nối liền của Bắc Mỹ và Nam Mỹ vào cuối thế Pliocen. Khí hậu lạnh đi một chút trong toàn kỷ Neogen và lên tới cực điểm trong các sự đóng băng lục địa trong phân đại đệ Tứ (hay kỷ đệ Tứ trong một số niên biểu) đang diễn ra cũng như bình minh của kỷ nguyên con người (chi "Homo").
Than được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới trong các trầm tích giai đoạn Paleogen-Neogen các loại than gồm bitum, bán bitum và than nâu, đặc trưng bởi các vỉa than mỏng, có sự thay đổi nhỏ về cấu tạo chủ yếu được sử dụng để phát (nhiệt) điện. Giai đoạn Paleogen-Neogen là một trong 3 thời kỳ tạo than chính trên Trái Đất, thời kỳ đầu tiên trong Paleozoi (từ cuối kỷ Carbon đến đầu kỷ Permi); thời kỳ thứ 2 trong Jura-Creta.
|
Tiếng Bắc Âu cổ
Tiếng Bắc Âu cổ ("norrønt") là một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ German đã từng được sử dụng bởi dân cư vùng Scandinavia và các nơi định cư hải ngoại của họ trong Thời đại Viking, cho đến khoảng năm 1300. Nó đã được phát triển từ ngôn ngữ Bắc Âu nguyên thủy cổ hơn, vào thế kỷ 8.
Do phần lớn các văn bản còn lại từ Iceland thời Trung Cổ, phiên bản được coi là chuẩn của tiếng Bắc Âu cổ là tiếng Tây Bắc Âu cổ, nghĩa là tiếng Iceland cổ và tiếng Na Uy cổ. Đôi khi, tiếng Bắc Âu cổ còn được định nghĩa là tiếng Iceland cổ và tiếng Na Uy cổ.
Tuy nhiên, còn có tiếng Đông Bắc Âu cổ cũng có rất nhiều đặc điểm tương tự, ngôn ngữ này đã được dùng ở Đan Mạch và Thụy Điển và các nơi định cư khác của người Đan Mạch và Thụy Điển. Hơn nữa, không có sự phân chia địa lý rõ ràng giữa hai nhánh ngôn ngữ. Các dấu vết của tiếng Đông Bắc Âu cổ cũng được tìm thấy tại miền Đông Na Uy, và dấu vết của tiếng Tây Bắc Âu cổ được tìm thấy ở miền Tây Thụy Điển.
|
BitTorrent client là một phần mềm dùng để tải lên và tải về tệp theo giao thức BitTorrent.
Chương trình của giao thức BitTorrent đầu tiên được phát triển bởi Bram Cohen. Tên của chương trình cũng giống tên giao thức BitTorrent, điều này làm xảy ra một số tình trạng lẫn lộn giữa chương trình và giao thức BitTorrent. Vì vậy chương trình BitTorrent còn được người dùng đặt cho một tên hiệu khác là "Mainline" để tránh lẫn lộn. Có rất nhiều chương trình hoạt động theo giao thức BitTorrent đã ra đời dựa trên chương trình BitTorrent đầu tiên.
Chương trình BitTorrent có khả năng giúp người dùng tìm kiếm tệp được chứa trong tệp codice_1 và tải tệp đó về. Phiên bản hiện tại cho phép tải về song song nhiều tệp cùng lúc. Một tính năng rất hiệu quả của chương trình BitTorrent để phân phối tệp là nó làm cầu nối trung gian giữa chính nó, máy theo dõi và các chương trình BitTorrent khác. Chương trình BitTorrent còn cho phép người dùng tạo tệp torrent và chia sẻ tệp vừa tạo.
|
Ma trận của biến đổi tuyến tính
Trong đại số tuyến tính, một phép biến đổi tuyến tính có thể được biểu diễn bằng ma trận. Nếu "T" là một biến đổi tuyến tính ánh xạ từ R"n" vào R"m" và "x" là một vector cột với "n" thành phần, thì
với A là ma trận "m"×"n", gọi là ma trận của biến đổi "T".
Tìm ma trận của một phép biến đổi.
Nếu có một phép biến đổi tuyến tính formula_2 đã biết dạng của hàm, ta có thể dễ dàng xác định ma trận biến đổi A bằng cách biến đổi từng vector của cơ sở chuẩn của không gian formula_3n theo "T" và sau đó chèn kết quả vào trong các cột của ma trận A. Nói cách khác,
Ví dụ, hàm formula_5 là một biến đổi tuyến tính. Áp dụng cách trên (giả sử "n" = 2 trong trường hợp này) cho ta
Các ví dụ trong đồ họa 2D.
Hầu hết các phép biển đổi hình học mà giữ cho điểm gốc cố định là tuyến tính, bao gồm phép xoay ("rotation"), phép tỉ lệ ("scaling"), phép trượt ("shearing"), phép phản chiếu ("reflection"), và phép chiếu trực giao ("orthogonal projection"); nếu một biến đổi aphin không phải là một phép biến đổi thuần túy thì nó sẽ giữ một điểm nào đó cố định, và điểm đó sẽ được chọn làm gốc để phép biến đổi là tuyến tính. Trong 2 chiều, phép biến đổi tuyến tính có thể được biểu diễn dùng một ma trận biến đổi 2×2.
Khi xoay tọa độ một góc formula_7 thuận chiều kim đồng hồ quanh điểm gốc, dạng hàm của nó là.
Viết dưới dạng ma trận:
Với tỉ lệ (nghĩa là giãn ra hay co lại), ta có formula_11 và formula_12. Dạng ma trận là:
Phép trượt (visually similar to slanting), có hai khả năng.
Để phản chiếu một vectơ qua một đường thẳng đi qua gốc tọa độ, giả sử ("ux", "uy") là vectơ đơn vị theo hướng của đường thảng đó. Sau đó sử dụng ma trận biến đổi sau đây:
Một phép phản chiếu qua một đường thẳng không đi qua gốc tọa độ không phải là một biến đổi tuyến tính; đó là một biến đổi affine.
Phép chiếu vuông góc.
Để chiếu vuông góc một vectơ vào một đường thẳng đi qua gốc tọa độ, giả sử ("ux", "uy") là một vectơ đơn vị theo hướng đường thẳng đó. Sau đó sử dụng ma trận biến đổi sau đây:
Cũng như là phép phản chiếu, một phép chiếu vuông góc vào một đường thẳng không đi qua gốc tọa độ chỉ là
một biến đổi affine, không phải là biến đổi tuyến tính.
Phép chiếu song song cũng là biến đổi tuyến tính và có thể được biểu diễn đơn giản bằng một ma trận. Tuy vậy, phép chiếu theo tia nhìn ("perspective projection") muốn biểu diễn bằng ma trận phải sử dụng trục tọa độ thuần nhất ("homogeneous coordinates").
Đảo ngược và kết hợp các phép biến đổi.
Một trong các động cơ chính trong việc sử dụng ma trận để biểu diễn biến đổi tuyến tính là
sau đó các biến đổi có thể được kết hợp hay đảo ngược một cách dễ dàng.
Kết hợp đạt được bởi phép nhân ma trận. Nếu A và B là hai ma trận của hai
phép biến đổi tuyến tính, thì kết quả của việc áp dụng A và sau đó áp dụng B lên một vectơ "x" được
Nói một cách khác, ma trận của phép biến đổi bao gồm biến đổi A theo sau bởi B chỉ đơn giản là tích của hai ma trận riêng biệt. Để ý rằng phép nhân được thực hiện theo thứ tự ngược với thứ tự viết trong một câu: ma trận "A theo sau bởi B" là BA, chứ không phải AB.
Một hệ quả của khả năng có thể kết hợp các phép biến đổi bằng cách nhân ma trận biểu diễn chúng với nhau là các biến đổi có thể được đảo ngược bằng cách nghịch đảo ma trận của chúng. Do đó, A−1 biểu diễn phép biến đổi làm "đảo ngược" A.
Các ma trận biến đổi không phải luôn luôn khả nghịch, nhưng thường là có một lời giải thích bằng trực giác. Trong mục trước, hầu hết các phép biến đổi đều khả nghịch. Phép biến đổi tỉ lệ là khả nghịch miễn là formula_23 hoặc formula_24 khác không (điều này có thể hiểu được dễ dàng khi chúng ta phá hủy thông tin bằng cách bỏ đi một chiều nếu như một trong hai hệ số bằng 0). Cũng vậy, phép chiếu vuông góc không bao giờ khả nghịch.
Các loại biến đổi khác.
Phép biến đổi affine.
Để biểu diễn một biến đổi affine bởi ma trận, chúng ta phải sử dụng tọa độ đồng nhất. Điều này có nghĩa là biểu diễn một vectơ 2 chiều ("x", "y") như là một vectơ 3-chiều ("x", "y", 1), và tương tự như vậy cho các chiều cao hơn. Sử dụng hệ thống này, phép xê dịch ("translation") có thể được diễn tả bởi phép nhân ma trận. Dạng hàm số formula_25; formula_26 trở thành:
Tất cả các phép biến đổi tuyến tính thông thường có thể được chuyển đổi thành phép biến đổi affine bằng cách mở rộng ma trận biểu diễn thêm 1 hàng và 1 cột, làm đầy khoảng thêm vào bằng 0 ngoại trừ góc dưới bên phải, phải được đặt bằng 1. Ví dụ, ma trận của phép xoay bên trên sẽ trở thành:
Sử dụng hệ thống này, phép xê dịch có thể trộn lẫn với các loại biến đổi khác, sử dụng phép nhân ma trận như là trước đây. (Điều này xảy ra là do mặt phẳng thực đã được ánh xạ vào mặt phẳng "w" = một trong không gian chiếu ("projective space"), và do vậy xê dịch trong không gian thực có thể được biểu diễn bởi một phép trượt trong không gia chiếu "projective space".)
Khi sử dụng các biến đổi affine, phần đồng nhất của vectơ tọa độ (thường gọi là "w") sẽ không bao giờ thay đổi. Người ta thường giả sử một cách an toàn là nó bằng 1. Tuy vậy, điều này là không đúng khi sử dụng phép chiếu theo tia nhìn ("perspective projection").
Phép chiếu theo tia nhìn.
Một loại biến đổi khác, khá quan trọng trong đồ họa máy tính trong 3 chiều, là phép chiếu theo tia nhìn. Trong khi những phép chiếu song song được sử dụng để chiếu các điểm vào một mặt phẳng chứa ảnh dọc theo các đường song song, phép chiếu theo tia nhìn chiếu các điểm vào mặt phẳng chứa ánh theo các đường thẳng phát ra từ một điểm, gọi là trung tâm của phép chiếu.
Điều này nghĩa là một vật sẽ có hình chiếu nhỏ hơn khi nó nằm xa trung tâm của phép chiếu và có ảnh lớn hơn khi nó gần trung tâm của phép chiếu hơn.
Phép chiếu theo tia nhìn sử dụng gốc tọa độ như là trung tâm của phép chiếu, và "z" = 1 như là mặt phẳng chứa ảnh. Dạng hàm số của phép biến đổi này là formula_29; formula_30. Chúng ta có thể biểu diễn trong tọa độ đồng nhất bởi:
Sau khi tiến hành phép nhân ma trận, phần tử đồng nhất "wc" sẽ, nhìn chung, là không bằng 1. Do vậy, để đưa về lại mặt phẳng thực chúng ta phải làm một phép chia đồng nhất, nghĩa là chia mỗi thành phần bởi "wc":
Các phép chiếu theo tia nhìn phức tạp hơn có thể được tạo thành bằng cách bao gồm phép này với phép xoay, tỉ lệ, xê dịch, và trượt để di chuyển mặt phẳng chứa ảnh và trung tâm của phép chiếu đến bất cứ nơi nào mà chúng cần thiết.
|
NTFS (Viết tắt của từ New Technology File System). Tiếng Việt: "Hệ thống tập tin công nghệ mới". NTFS là hệ thống tập tin tiêu chuẩn của Windows NT, bao gồm cả các phiên bản sau này của Windows như Windows NT 4.0, Windows 2000, Windows XP, Windows Server 2003, Windows Vista, Windows Server 2008, Windows 7, Windows Server 2012, Windows 8 và Windows 8.1, Windows 10 và Windows Server 2016.
NTFS thay thế hệ thống tập tin FAT vốn là hệ thống tập tin ưa thích cho các hệ điều hành Windows của Microsoft. NTFS có nhiều cải tiến hơn FAT và HPFS (High Performance File System - Hệ thống tập tin hiệu năng cao) như hỗ trợ cải tiến cho các siêu dữ liệu và sử dụng các cấu trúc dữ liệu tiên tiến để cải thiện hiệu suất, độ tin cậy, và sử dụng không gian ổ đĩa, cộng thêm phần mở rộng như các danh sách kiểm soát truy cập bảo mật (access control list-ACL) và bản ghi hệ thống tập tin.
Tất cả các phiên bản Windows bắt đầu từ phiên bản Windows Vista trở đi đều bắt buộc phải cài đặt Windows trên phân vùng NTFS và không thể cài đặt được trên phân vùng FAT.
Vào giữa thập niên 1980, Microsoft và IBM thành lập một dự án hợp tác để ra hệ điều hành đồ họa thế hệ tiếp theo. Kết quả của dự án là OS/2, nhưng cuối cùng Microsoft và IBM bất đồng về nhiều vấn đề quan trọng và sau đó đã chia rẽ. OS/2 tiếp tục là một dự án của IBM. Còn Microsoft bắt đầu phát triển hệ điều hành Windows NT. Hệ thống tập tin HPFS của OS/2 có một số tính năng mới quan trọng. Khi Microsoft tạo ra hệ điều hành mới, họ đã vay mượn nhiều khái niệm cho NTFS. Có lẽ do có chung nhiều khái niệm nên HPFS và NTFS có cùng mã phân loại nhận dạng phân vùng ổ đĩa (07). Có cùng một số nhận dạng là không bình thường khi có tới hàng chục mã có sẵn, và các hệ thống tập tin ổ đĩa lớn khác có mã của riêng chúng. FAT có hơn 9 mã (mỗi mã cho FAT12, FAT16, FAT32, vân vân). Các thuật toán trong đó xác định hệ thống tập tin trong một kiểu phân vùng 07 phải thực hiện kiểm tra bổ sung. Đây cũng rõ ràng rằng NTFS cũng dùng chung thiết kế kiến trúc cho Files-11 được sử dụng bởi VMS. Điều này hầu như không đáng ngạc nhiên khi Dave Cutler là người đứng đầu của cả VMS và Windows NT.
NTFS có 5 phiên bản được phát hành:
V1.0 và V1.1 (và các phiên bản mới hơn) không tương thích: vì các đĩa được ghi bằng NT 3.5x không thể đọc được bằng NT 3.1 cho đến khi một bản cập nhật trên đĩa CD có NT 3.5x được áp dụng cho NT 3.1, bản cập nhật cũng thêm vài hỗ trợ tên tập tin dài FAT. V1.2 hỗ trợ các tập tin nén, các dòng dữ liệu được đặt tên, bảo mật dựa trên ACL, vân vân. V3.0 thêm vào cấp hạn ngạch cho đĩa, mã hóa, tập tin rải, các điểm phân tích kiểm tra, bản ghi số thứ tự cập nhật (USN - update sequence number), các tập tin và thư mục $Extend, và tổ chức lại ký hiệu bảo mật để nhiều tập tin sử dụng cùng thiết lập bảo mật có thể chia sẻ cùng một ký hiệu. V3.1 mở rộng danh sách Bảng tập tin gốc (MFT - Master File Table) với số ghi MFT dư (có ích cho việc khôi mục các tập tin MFT bị hư hỏng).
Windows Vista đưa vào sử dụng NTFS giao tác, các liên kết biểu tượng NTFS, phân vùng thu hẹp và chức năng tự sửa chữa, mặc dù những tính năng này dùng nhiều hơn để bổ sung chức năng của hệ điều hành hơn là cho bản thân hệ thống tập tin.
NTFS v3.0 bao gồm vài đặc tính mới so với FAT, đó là: hỗ trợ tập tin rải, cấp hạn ngạch sử dụng ổ đĩa, các điểm phân tích kiểm tra, theo dõi liên kết phân phối, và mã hóa các mức tập tin, cũng còn gọi là Hệ thống tệp mã hóa (EFS).
Bản ghi số thứ tự cập nhật (USN).
Đây là một đặc tính quản lý hệ thống ghi các thay đổi của tất cả các tập tin, dòng dữ liệu và thư mục trong đĩa, cũng như các đặc tính khác của tập tin, thư mục và các thiết lập bảo mật.
Đây là một chức năng quan trọng của NTFS (một tính năng mà FAT/FAT32 không có) để bảo đảm rằng các cấu trúc dữ liệu phức tạp bên trong của nó (đặc biệt là các bitmap cấp cho đĩa, hay di chuyển dữ liệu được thực hiện bởi các API phân mảnh, các sửa đổi những bản ghi MFT như di chuyển một vài biến số các đặc tính chiều dài được lưu trữ trong các bản ghi MFT và danh sách đặc tính, hay cập nhật các ký hiệu bảo mật chung, hoặc để khởi động sector và mirror cục bộ nơi thực hiện USN cuối cùng trên đĩa được lưu trữ) và các chỉ số (cho các thư mục và ký hiệu bảo mật) sẽ còn phù hợp trong mọi trường hợp hệ thống bị hư hỏng, và cho phép dễ dàng hủy các thay đổi không ràng buộc với các cấu trúc dữ liệu quan trọng đó khi ổ đĩa sẽ bị cài đặc lại.
Trong các phiên bản mới của Window, bản ghi số thứ tự cập nhật đã mở rộng để truy theo trạng thái của các hoạt động giao tác khác trên các phần khác của hệ thống tập tin NTFS, chẳng hạn như các bản sao bóng VSS của các tập tin hệ thống với các ngữ nghĩa copy-on-write (Copy-on-Write (COW) cho phép tiến trình cha và con dùng chung trang trong bộ nhớ khi mới khởi tạo tiến trình con), hoặc thực hiện các Giao tác NTFS và các hệ thống tập tin phân phối.
Các liên kết cứng và viết tắt tên tập tin.
Ban đầu gồm hỗ trợ hệ thống con POSIX trong Windows NT, các liên kết cứng tương tự như các nút thư mục, nhưng được sử dụng cho các tập tin thay vì các thư mục. Các liên kết cứng chỉ có thể được áp dụng cho các tập tin trên cùng một ổ đĩa từ một bản ghi tên tập tin phụ được thêm vào bản ghi MFT của tập tin. Viết ngắn tên tập tin cũng được thực hiện như các bản ghi tên tập tin phụ, nó không có các danh sách thư mục riêng biệt.
Các dòng dữ liệu luân phiên (ADS).
Các dòng dữ liệu luân phiên cho phép nhiều hơn một dòng dữ liệu được liên kết với một tên tập tin, sử dụng định dạng tên tập tin là "filename:streamname" (ví dụ ":extrastream). Các dòng luân phiên không được liệt kê trong Windows Explorer, và kích thước của chúng không bao gồm cả kích thước của tập tin. Chỉ có dòng chính của một tập tin được duy trì khi nó được sao chép vào một mạng chia sẻ hoặc ổ đĩa USB định dạng FAT, gắn với một e-mail, hay tải lên một website. Do đó, sử dụng các dòng luân phiên cho dữ liệu quan trọng có thể gây ra các vấn đề. Các dòng NTFS được giới thiệu trong Windows NT 3.1, để kích hoạt Các dịch vụ cho Macintosh (SFM) nhằm lưu trữ các nhánh tài nguyên Macintosh. Mặc dù các phiên bản hiện hành của Windows Server không còn gồm SFM, nhưng các sản phẩm Apple Filing Protocol (AFP) của bên thứ ba (như Group Logic's ExtremeZ-IP) vẫn sử dụng tính năng này của hệ thống tập tin.
Malware được sử dụng cho các dòng dữ liệu luân phiên nhằm ẩn mã của nó; một số công cụ quét malware và các công cụ đặc biệt khác hiện nay dùng để kiểm tra các dòng luân phiên trong dữ liệu. Microsoft cung cấp một công cụ gọi là Streams cho phép người dùng xem được các dòng trên một ổ được chọn.
ADS rất nhỏ cũng được thêm vào trong chương trình Internet Explorer (và cả các trình duyệt khác hiện nay) để đánh dấu các tập tin đã được tải về từ các trang bên ngoài: chúng có thể không an toàn để chạy cục bộ và tiện ích cục bộ sẽ yêu cầu xác nhận từ người dùng trước khi mở chúng. Khi người dùng không muốn xác nhận yêu cầu này, ADS chỉ đơn giản giảm xuống từ danh mục MFT cho các tập tin được download.
Một số trình ứng dụng media cũng đã cố gắng sử dụng ADS để lưu trữ siêu dữ liệu cho các tập tin media, để tổ chức sắp xếp, mà không sửa đổi nội dung dữ liệu có ích của bản thân các tập tin media (sử dụng các thẻ nhúng khi chúng được hỗ trợ bởi các đinh dạng tập tin media như MPEG và OGG); siêu dữ liệu này có thể được hiển thị trong Windows Explorer như các cột thông tin thêm, với sự giúp đỡ của một thanh ghi đã ghi một Windows Shell mở rộng mà có thể phân tích chúng, nhưng hầu hết các trình ứng dụng media thích sử dụng cơ sở dữ liệu của bản thân thay vì ADS để lưu trữ các thông tin (đặc biệt vì ADS được hiện thị các tập tin này cho tất cả người dùng, thay vì được quản lý với các thiết lập bảo mật riêng biệt cho mỗi người dùng và có các giá trị được xác định theo sở thích người dùng).
Các tập tin thưa.
Các tập tin thưa là các tập tin chứa các tập hợp dữ liệu thưa thớt, dữ liệu chủ yếu được làm đầy bằng các số 0. Các ứng dụng cơ sở dữ liệu, đôi khi sử dụng các tập tin thưa. Vì điều này, Microsoft đã triển khai thực hiện hỗ trợ cho việc lưu trữ hiệu quả của các tập tin thưa bằng cách cho phép một ứng dụng chỉ rõ các vùng dữ liệu rỗng (vùng toàn số 0). Một ứng dụng đọc một tập tin thưa theo kiểu bình thướng với hệ thống tập tin tính toán những gì dữ liệu cần phải trả lại dựa trên khoảng trống tập tin. Cũng như với các tập tin nén, kích thước thực tế của các tập tin thưa không được đưa vào bản kê khai khi xác định các giới hạn hạn ngạch.
NTFS nén các tập tin bắng cách sử dụng một biến thể của thuật toán LZ77. Mặc dù truy cập đọc-ghi vào các tập tin nén được rõ ràng, Microsoft khuyến cáo tránh nén trên các hệ thống server và/hoặc mạng chia sẻ giữ hồ sơ chuyển vùng vì nó nạp một lượng đáng kể thông tin cần xử lý vào bộ xử lý.
Sao chép bóng ổ đĩa.
Dịch vụ sao chép bóng ổ đĩa (Volume Shadow Copy Service - VSS) giữ lại các phiên bản cũ của các tập tin và thư mục trong các ổ đĩa NTFS bằng cách sao chép dữ liệu ghi đè mới, cũ (copy-on-write). Dữ liệu tập tin cũ che dữ liệu mới khi người dùng yêu cầu hoàn nguyên một phiên bản trước đó. Điều này cho phép các chương trình sao lưu dữ liệu lưu trữ các tập tin hiện thời đang được sử dụng bởi hệ thống tập tin. Trên các hệ thống xử lý nhiều, Microsoft khuyến cáo thiếp lập một ổ sao lưu bóng trên một ổ đĩa riêng. Để đảm bảo phục hồi trong trường hợp hệ thống hư hỏng, VSS cũng sử dụng bản ghi USN để đánh dấu các giao tác cục bộ và đảm bảo các thay đổi hệ thống tập tin sẽ được phục hồi hiệu quả sau khi hệ thống khởi động lại khi ổ đĩa NTFS sẽ được cài đặt lại, hoặc giảm xuống an toàn đến một phiên bản cũ nếu phiên bản mới không được ghi đầy đủ trước khi xác nhận thực sự trước lúc đóng tập tin sửa đổi. Tuy nhiên, các bóng VSS này không được phối hợp tổng thể trên nhiều tập tin hay ổ đĩa, trừ khi sử dụng một người phối hợp giao tác. Họ chỉ có thể được sử dụng để đảm bảo răng các phiên bản cũ sẽ vẫn có thể truy cập trong các hoạt động sao lưu, để nhận được hình ảnh hệ thống phù hợp.
Như với Windows Vista, các ứng dụng có thể sử dụng Giao tác NTFS để thay đổi nhóm các tập tin với nhau trong một giao tác. Giao tác sẽ đảm bảo tất cả thay đổi được diễn ra, hoặc không một ứng dụng nào trong tất cả được chạy, và nó sẽ đảm bảo các ứng dụng bên ngoài giao tác sẽ không nhìn thấy nhưng thay đổi cho đến khi chúng được thỏa hiệp thực hiện chính xác tức thì.
Nó sử dụng các kỹ thuật tương tự như được sử dụng cho sao chép bóng ổ đĩa (ví dụ như copy-on-write) để đảm bảo dữ liệu ghi đè một cách an toàn, và các bản ghi UFS đánh dấu các giao tác vẫn chưa được thỏa hiệp, hay những giao tác đã được xác nhận nhưn chưa được áp dụng hoàn toàn (trong trường hợp hệ thống hư hỏng trong một thỏa hiệp bởi một trong những bên tham gia).
Tuy nhiên, trong một hệ thống tập tin cho phép giao tác, điều này có thể được sử dụng tạm thời cho tất cả tập tin khác cần thiết cho bất kỳ loại phân vùng, miễn là giao tác không phải thỏa hiệp, so với các tập tin hệ thống chỉ được đánh dấu cố định và được sửa đổi hoàn toàn trong các giao tác cục bộ ngầm riêng.
Kỹ thuật copy-on-write tuy nhiên được sửa đổi để cho phép hủy giao tác đang có hiệu lực và tránh việc tạo ra các phân đoạn trong hệ thống tập tin được sử dụng bởi nhiều người tham gia: các dữ liệu cũ có thể không được ghi đè ngay lập tức nhưng vẫn được giữ lại (đặc biệt khi nó hiện bị khóa bởi người khác cho phù hợp lần đọc trong các giao tác của nó); trong trường hợp đó, chỉ có những dữ liệu mới là không bị giữ lại trong một bóng tạm thời (chứ không phỉa là dữ liệu cũ copy-on-write), mà cuối cùng được áp dụng bằng cách sử dụng copy-on-write VSS bình thường khi giao tác sẽ được thỏa hiệp bởi việc ghi vào. Ngoài ra, các bóng tạm thời cho các dữ liệu mới, chỉ nhìn thấy bởi các quá trình tham gia có dữ liệu chưa được thỏa hiệp của riêng chúng, không nhất thiết phải ngay lập tức ghi vào đũa, nhưng chỉ có thể được duy trì trong bộ nhớ hoặc đổi chỗ các thỏa hiệp sau. Giao tác NTFS không hạn chế các giao tác để chỉ ổ đĩa NTFS cục bộ, nhưng cũng bao gồm các dữ liệu khác hoặc các hoạt động ở các điểm khác như lưu trữ dữ liệu trong các ổ đĩa riêng biệt, thanh ghi cục bộ, hay các cơ sở dữ liệu SQL, hoặc các trạng thái hiện tại của các dịch vụ hệ thống hay các dịch vụ từ xa.
Các giao tác là mạng rộng được điều phối với tất cả người tham gia bằng cách sử dụng một dịch vụ cụ thể, Distributed Transactions Coordinator (DTC) đảm bảo rằng tất cả người tham gia sẽ nhận được cùng trạng thái thỏa hiệp, và để vận chuyển các thay đổi đã được xác nhận bởi bất kỳ người tham gia nào (người khác có thể làm mất hiệu lực các vùng nhớ đệm cục bộ cho dữ liệu cũ hay hủy giao tác các thay đổi chưa được thỏa hiệp). Giao tác NTFS cho phép tạo ra mạng rộng phù hợp các hệ thống tập tin được phân phối, bao gồm với cả tập tin cục bộ hay trong các bộ nhớ đệm ngoại tuyến.
Hệ thống tệp mã hóa (EFS - Encrypting File System).
EFS cung cấp khả năng mã hóa mạnh và rõ ràng đối với người dùng cho bất kỳ tập tin hay thư mục nào trên một ổ đĩa NTFS. EFS làm việc chung với dịch vụ EFS, CryptoAPI của Microsoft và Thư viện thực thi hệ thống tập tin EFS (FSRTL). EFS hoạt động bằng cách mã hóa một tập tin với một khóa đối xứng khối (còn được gọi là Khóa mã hóa tập tin hay FEK), khóa này được sử dụng vì nó cần một khoảng thời gian nhỏ tương đối để mã hóa và giải mã số lượng lớn của dữ liệu, hơn là nếu một mã khóa không đối xứng được sử dụng. Khóa đối xứng được sử dụng để mã hóa tập tin sau đó sẽ được mã hóa với một khóa dùng chung, tiếp theo kết hợp với người dùng đã mã hóa tập tin, và dữ liệu được mã hóa này được lưu trữ trong một dòng dữ liệu luân phiên của tập tin được mã hóa. Để giải mã tập tin, hệ thống tập tin sử dụng khóa riêng của người sử dụng để giải mã khóa đối xứng mà được lưu trữ trong phần mào đầu của tập tin. Sau đó sử dụng khóa đối xứng để giải mã tập tin. Vì điều này được thực hiện ở mức độ hệ thống tập tin, nó được minh bạch đối với người sử dụng. Ngoài ra, trong trường hợp một người dùng bị mất quyền truy cập vào chính khóa của mình, các khóa giải mã thêm vào nhằm hỗ trợ cũng được tạo ra trong hệ thống EFS, để một tác nhân khôi phục vẫn có thể truy cập các tập tin nếu cần. Việc nén và mã hóa do NTFS cung cấp loại trừ lẫn nhau - NTFS có thể được sử dụng cho một và công cụ của bên thứ ba dành cho hãng khác.
Sự hỗ trợ của EFS không có sẵn trong các phiên bản Basic, Home và MediaCenter của Windows, và nó phải được kích hoạt sau khi cài đặt các phiên bản Professional, Ultimate và Server của Windows hay bằng cách sử dụng các công cụ đặc biệt.
Cấp hạn ngạch cho ổ đĩa được giới thiệu trong NTFS v3. Chúng cho phép người quản trị máy tính chạy một phiên bản của Windows có hỗ trợ NTFS để thiết lập một ngưỡng của không gian ổ đĩa mà những người dùng có thể sử dụng. Nó cũng cho phép những người quản trị duy trì kiểm tra không gian ổ đĩa mà mỗi người dùng đã sử dụng. Một người quản trị có thể chỉ định một mức nhất định của không gian ổ đĩa mà một người dùng có thể sử dụng trước khi họ nhận được một cảnh báo, và sau đó từ chối truy cập đối với người dùng một khi họ đạt tới giới hạn sử dụng không gian ổ đĩa. Cấp hạn ngạch ổ đĩa không dùng cho trương mục tập tin nén minh bạch của NTFS, điều này sẽ được kích hoạt. Các ứng dụng truy vấn dung lượng không gian ổ đĩa trống cũng sẽ thấy dung lượng không gian ổ đĩa còn trông mà người dùng được cấp.
Sự hỗ trợ của cấp hạn ngạch ổ đĩa không có sẵn trong các phiên bản Basic, Home và MediaCenter của Windows, và phải được kích hoạt sau khi cài đặt các phiên bản Professional, Ultimate và Server của Windows hay bằng cách sử dụng các công cụ đặc biệt.
Các điểm phân tích.
Tính năng này được giới thiệu trong NTFS v3. Tính năng này được sử dụng kết hợp một thẻ phân tích trong các thuộc tính không gian người dùng của một tập tin hay thư mục. Khi trình quản lý đối tượng phân tích một quá trình tra cứu tên hệ thống tập tin và gặp một thuộc tính phân tích, nó phân tích lại tên tra cứu, truyền dữ liệu phân tích do người dùng điều khiển đến tất cả các trình lọc hệ thống tập tin đã được nạp vào Windows. Mỗi trình điều khiển lọc kiểm tra tương quan của dữ liệu phân tích với điểm phân tích đó, và nếu có, trình điều khiển lọc sẽ xác định so khớp sau đó nó chặn hướng gọi hệ thống tập tin và thực hiện chức năng đặc biệt của nó. Điểm phân tích được sử dụng để thực hiện Các điểm cài ổ đĩa, Liên kết thư mục, Quản lý lưu trữ phân bậc, Lưu trữ cấu trúc tự nhiên, Lưu trữ trường hợp riêng và Các liên kết biểu tượng.
Các chi tiết về các đặc tính bổ sung không được đưa ra, điều này khiến nó khó khăn hơn cho các hãng bên thứ ba cung cấp các công cụ để xử lý NTFS.
Khả năng đọc và ghi NTFS được cung cấp bởi trình điều khiển NTFS-3G. Nó có trong hầu hết các bản Linux. Cái khác đã lỗi thời và các giải pháp chỉ đọc phần lớn đang tồn tại gồm:
Lưu ý rằng cả ba trình điều khiển không gian người dùng, cụ thể là NTFSMount, NTFS-3G và Captive NTFS được xây dựng trên Filesystem in Userspace (FUSE - Hệ thống tập tin trong không gian người dùng), một module hạt nhân Linux thao tác với cầu nối không gian người dùng và mã hạt nhân để lưu và lấy dữ liệu. Hầu hết các trình điều khiển được liệt kê ở trên (ngoại trừ Paragon NTFS cho Linux) là mã nguồn mở (GPL). Do sự phức tạp của các cấu trúc NTFS bên trong, cả trình điều khiển hạt nhân 2.6.14 và FUSE được cài sẵn không cho phép thay đổi ổ đĩa bị coi là không an toàn nhằm tránh lãng phí.
Mac OS X v10.3 và các phiên bản sau này gồm hỗ trợ chỉ đọc cho các phân vùng định dạng NTFS. NTFS-3G có giấy phép GPL cũng làm việc trên Mac OS X thông qua FUSE và cho phép đọc và ghi vào các phân vùng NTFS. Một giải pháp độc quyền cho Mac OS X với truy cập đọc/ghi là "Paragon NTFS cho Mac OS X". Hỗ trợ ghi NTFS được phát hiện trong Mac OS X 10.6, nhưng chưa được kích hoạt như phiên bản 10.6.1, dù việc bẻ khóa để kích hoạt chức năng này đã được thực hiện.
Trong khi các phiên bản NTFS khác nhau dành cho hầu hết các phần đều hoàn toàn tương thích ngược và tương thích xuôi, cần cân nhắc kỹ thuật cho việc cài các ổ đĩa NTFS mới trong các phiên bản cũ của Microsoft Windows. Điều này ảnh hưởng tới khả năng khởi động kép, và ổ cứng di động gắn ngoài.
Ví dụ, cố gắng sử dụng một phân vùng NTFS với "Các phiên bản trước" (còn gọi là Volume Shadow Copy) trên một hệ điều hành mà không hỗ trợ nó, sẽ khiến các nội dung của những phiên bản trước đó bị mất.
Những hệ điều hành khác.
eComStation, KolibriOS, và FreeBSD đưa ra khả năng hỗ trợ chỉ đọc NTFS (đây là trình điều khiển NTFS beta cho phép ghi/xóa cho eComStation, nhưng nó không hoàn toàn an toàn). Một công cụ miễn phí của bên thứ ba cho BeOS, mà dựa trên NTFS-3G cho phép đọc và ghi hoàn toàn NTFS. NTFS-3G cũng làm việc trên Mac OS X, FreeBSD, NetBSD, Solaris và Haiku, cộng với Linux dùng FUSE. Một trình điều khiển đọ"NTFS4DOS" cũng được phát hành.
Tương thích với FAT.
Microsoft hiện đang cung cấp một công cụ () để chuyển đổi HPFS (chỉ có trên Windows NT 3), FAT16 và FAT32 (trên Windows 2000 và phiên bản Windows cao hơn) thành NTFS. Các công cụ của nhà phát triển thứ ba có mọi khả năng để thay đổi kích thước phân vùng NTFS an toàn. Microsoft thêm vào khả năng thu hẹp hoặc mở rộng một phân vùng với Windows Vista, nhưng khả năng này bị giới hạn bởi nó sẽ không di chuyển các mảnh tập tin trang nhớ hoặc tập tin đã được đánh dấu là cố định, do đó hạn chế khả năng thu hẹp một phân vùng. Khởi động lại mà không có tập tin trang nhớ hay sử dụng một công cụ của nhà phát triển thứ ba để chống phân mảnh, nó có thể làm giảm bớt trạng thái nếu tập tin trang nhớ này là tập tin cố định.
Vì lý do lịch sử, các phiên bản của Windows mà không hỗ trợ NTFS đều giữ thời gian bên trong như múi giờ địa phương, và do đó mọi hệ thống tập tin khác ngoài NTFS được hỗ trở bởi các phiên bản hiện nay của Windows cũng làm vậy. Tuy nhiên, Windows NT và các hệ điều hành Windows sau này đều giữ nhãn giờ như UTC và làm cho các chuyển đổi thích hợp cho các mục đích hiển thị. Do đó, các nhãn giờ NTFS là UTC. Điều này có nghĩa là khi các tập tin được sao chép hoặc di chuyển giữa các phân vùng NTFS và không phải NTFS, hệ điều hành cần chuyển đổi các nhãn giờ cho phù hợp. Nhưng nếu một số tập tin được di chuyển khi tiết kiệm ánh sáng ngày (DST) có hiệu lực, và các tập tin khác được di chuyển khi giờ chuẩn có hiệu lực, có thể có một số điều không rõ ràng trong việc chuyển đổi. Kết quả là, đặc biệt là ngay sau khi một trong các ngày mà múi giờ địa phương thay đổi, người dùng có thể quan sát một số tập tin có nhãn giờ lệch một giờ. Do sự khác biệt trong việc thực hiện DST giữa bán cầu bắc và nam, điều này có thể gây lỗi nhãn giờ lên tới 4 giờ trong 12 tháng.
NTFS có các hạn chế sau:
Hệ thống file NTFS có khả năng hoạt động cao và có chức năng tự sửa chữa. Nhờ có tính năng lưu giữ lại các thông tin xử lý, NTFS có khả năng phục hồi file cao hơn trong những trường hợp ổ đĩa có sự cố. Nó hỗ trợ chế độ bảo mật ở mức độ file, nén và kiểm định. Nó cũng hỗ trợ các ổ đĩa lớn và các giải pháp lưu trữ mạnh mẽ như RAID.
NTFS sử dụng bảng quản lý tập tin MFT (Master File Table) thay cho bảng FAT (File Allocation Table) quen thuộc nhằm tăng cường khả năng lưu trữ, tính bảo mật cho tập tin và thư mục, khả năng mã hóa dữ liệu đến từng tập tin. Ngoài ra, NTFS có khả năng chịu lỗi cao, cho phép người dùng đóng một ứng dụng "chết" (not responding) mà không làm ảnh hưởng đến những ứng dụng khác. Tuy nhiên, NTFS lại không thích hợp với những ổ đĩa có dung lượng thấp (dưới 400 MB) và không sử dụng được trên đĩa mềm.
NTFS hiện có các phiên bản: v1.0, v1.1, v1.2 ở các phiên bản Windows NT 3.51 và 4, v3.0 ở phiên bản Windows 2000, v3.1 ở các phiên bản Windows XP và Windows Server 2003. Riêng Windows XP và Windows Server 2003 còn hỗ trợ các phiên bản v4.0, v5.0, v5.1.
NTFS có một số tính năng cao cấp như bảo mật các file/directory, cấp hạn ngạch cho đĩa, nén file, mã hoá file, … Một trong những tính năng quan trọng của NTFS là khả năng phục hồi lỗi. Nếu hệ thống bị dừng một cách đột ngột, thì metadata của ổ đĩa FAT sẽ rơi vào tình trạng xung khắc dẫn đến làm sai lệch một lượng lớn dữ liệu tập tin và thư mục. Nhưng trên NTFS thì điều này không thể xảy ra, tức là cấu trúc của file/ Directory không bị thay đổi.
Tên file trong NTFS có độ dài không quá 255 ký tự, đường dẫn đầy đủ đến file dài không quá 32.567 ký tự. Tên file sử dụng mã UniCode. Tên file trong NTFS có sự phân biệt giữa chữ hoa và chữ thường
|
BitSpirit là trình khách BitTorrent và là phần mềm miễn phí chạy trên hệ điều hành Windows do công ty ByteLinker sản xuất. BitSpirit được viết bằng ngôn ngữ lập trình C++. Giao diện của nó đã được dịch ra một số ngôn ngữ. BitSpirit là trình khách BitTorrent duy nhất kết nối với mạng đồng đẳng thông qua HTTP proxy như Squid Cache Proxy Server.
|
Văn hóa Sa Huỳnh
Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa khảo cổ được xác định ở vào khoảng năm 1000 TCN đến cuối thế kỷ thứ 2. Nền văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam, cùng với Văn hóa Đông Sơn và Văn hóa Đồng Nai tạo thành "tam giác" văn hóa của Việt Nam thời kỳ đồ sắt
Lịch sử khám phá.
Sa Huỳnh được nhà khảo cổ người Pháp M. Vinet phát hiện lần đầu tiên vào năm 1909 khi ông tìm thấy bên đầm An Khê (một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi) một số lượng lớn quan tài bằng chum (khoảng 200 chiếc). Người ta gọi Di tích khảo cổ đó là Kho Chum Sa Huỳnh (Dépot à Jarres Sa Huỳnh). Các cuộc khai quật vào nhiều năm khác nhau tại di tích gò Ma Vương hay còn gọi là Long Thạnh Đức Phổ nơi được xem là có niên đại sớm nhất của nền văn hóa Sa Huỳnh, đã đem lại những đánh giá xác đáng và quan trọng về nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển văn hóa Sa Huỳnh. Nền văn hóa Sa Huỳnh đã được các nhà khảo cổ trên thế giới nghiên cứu từ đó đến nay và ngày càng sáng tỏ nhiều điều về đời sống của các tộc người thời tiền sơ sử ở miền Trung Việt Nam.
Xuất hiện cách nay khoảng 3.000 năm và kết thúc vào thế kỷ thứ 1, văn hóa Sa Huỳnh có lẽ đã tồn tại hơn 5.000 năm kéo dài từ hậu kỳ thời đại đồ đá mới đến đầu thời đại đồ sắt trên địa bàn các tỉnh từ Quảng Bình đến các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Với một sức sáng tạo mạnh mẽ và phong phú, Văn hóa Sa Huỳnh càng ngày càng thấy có sự ảnh hưởng và giao lưu với nhiều vùng Đông Nam Á cũng như Trung Hoa cổ xưa và Ấn Độ cổ xưa khi gần đây, Viện Khảo cổ học Quốc gia Đức hợp tác với các nhà khảo cổ học thuộc khoa Lịch sử của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành khảo cứu trong các năm 2004-2005 tại một số vùng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Bước đầu đã xác định được diện mạo một nền văn hóa đặc sắc ở miền Trung, Việt Nam.
Dân cư cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã định cư chủ yếu dọc hai bên vùng đất thấp thuộc các con sông dọc bờ biển miền Trung Việt Nam, trải dài từ Quảng Bình cho đến Phú Yên. Họ thuộc một nguồn gốc văn minh lúa nước Đông Nam Á. Những dụng cụ bằng sắt như cuốc, dao, kiếm, lao, đục, xà , cùng với kỹ thuật dùng bàn xoay đã làm lạc hướng các nhà khảo cổ về nguồn gốc của Vương quốc Chăm Pa, những đồ gốm dùng để đựng các vật dụng và sản phẩm nông nghiệp, đánh cá và cả mai táng người chết.
Phần đất miền Trung bao gồm xứ Quảng là nơi tụ hội và giao tiếp văn hóa Tây Đông, giữa miền núi với miền biển và đồng bằng xứ Quảng đã từng là nơi hội tụ văn hóa, kết tinh văn minh, dựng lên nền văn minh lúa nước và dâu tằm nổi tiếng. Lúa hai mùa, tằm tám lứa, tơ mỗi năm được sử sách chép đến sớm nhất là đồng bằng xứ Quảng, trung tâm của nền văn hoá Sa Huỳnh. Sách sử có nói đến người Chăm trồng hai vụ lúa và để thích ứng với thời tiết, người Chăm đã tìm ra giống lúa chịu hạn gieo trồng vào đầu mùa khô, để đầu mùa mưa thì lúa chín. Sử sách gọi là mùa Chiêm. Cũng do hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt khô hạn nên cư dân cổ Sa Huỳnh và Chămpa đã đào cả một hệ thống giếng lấy nước tưới cho cây trồng nên giới nghiên cứu ghi nhận một nền văn hóa gọi là "văn hóa Giếng Chăm cổ"
Đánh cá và đi biển.
Trước năm 1975, các nhà khảo cổ trên thế giới mới chỉ biết đến Văn hóa Sa Huỳnh qua hoạt động của cư dân đi biển. Họ chỉ lên đất liền đặt mai táng người chết trong những mộ chum. Những mộ chum được tìm thấy ở Palavan (Philippines), Bondontaphet (Thái Lan), Sa Huỳnh (Việt Nam). Sau năm 1975 các nhà khảo cổ Việt Nam đã bỏ nhiều công sức tim hiểu, nghiên cứu nền văn hóa này và bước đầu đã có những đóng góp quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về nền văn hóa Sa Huỳnh. Đặc biệt trong những năm gần đây, tại Hội An, các nhà nghiên cứu khảo cổ đã phát hiện nhiều di chỉ cư trú của người Sa Huỳnh với nhiều hiện vật phong phú và đa dạng.
Các phát hiện cho thấy người Sa Huỳnh cổ là những cư dân nông nghiệp, và đi biển chỉ là một trong những sinh hoạt của họ. Các đồng tiền Ngũ Thủ và Vương Mãng (đầu thế kỷ thứ 1 TCN), các gương đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán có trong các mộ chum chứng tỏ họ đã có một nền sản xuất hàng hóa cùng với sự giao thương khá phát triển. Người Chăm đã biết khai thác trầm hương, quế, ngà voi, sừng tê, dầu rái, ngọc, vàng trên núi, hồ tiêu trên đồi, biết làm ruộng hai mùa ở đồng bằng hẹp Minh Kinh và Ô Chân. Họ đã trồng cau, dừa và trồng dâu nuôi tằm "một năm tám lứa" từ trước sau kỷ nguyên Dương lịch. Họ biết làm thuyền to gọi là nốôc (bàu) và thuyền nhỏ (tròong ghe). Hai cảng Cửa Việt, Cửa Tùng đã từng là hải cảng quốc tế từ lâu trước khi Lâm Ấp thành lập nhưng phồn thịnh nhất là thời quốc vương Chămpa cùng thời với triều Đường (Trung Quốc). Người Chăm biết đánh cá biển và buôn bán đường biển trên vùng Đông Nam Á, từ ven biển Trung Quốc xuống tới Ấn Độ Dương.
Đồ trang sức và kỹ thuật làm thủy tinh.
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy, ở những khu mộ táng của Văn hóa Sa Huỳnh, các bộ hạt chuỗi giá trị ở Lai Nghi. Trong khi rây bằng sàng phát hiện được hơn 8.600 hạt cườm bằng thủy tinh màu xanh, vàng hoặc nâu có đường kính 1-3 mm. Ngoài bộ hạt chuỗi gồm khoảng 1.500 hạt bằng đá mã não, achat, crystal, amethyst, nephrite và bằng vàng - còn có 4 khuyên tai bằng vàng. Người văn hóa Sa Huỳnh ở Lai Nghi nhiều nhất thích sử dụng loại đá ngọc mã não làm đồ trang sức. Hơn 15 hình dạng hạt chuỗi khác nhau được chế tác - có lẽ bằng đá mã não đến từ khu vực Myanmar hoặc Ấn Độ. Trong tổng số 1.136 hạt chuỗi bằng đá mã não tìm thấy ở Lai Nghi có 3 chiếc rất đặc biệt: chiếc thứ nhất có hình con chim nước, chiếc thứ hai có hình con hổ hoặc sư tử và chiếc thứ ba là hạt chuỗi khắc. Cả ba hạt chuỗi này được phát hiện trong 3 mộ chum khác nhau cùng với nhiều đồ tùy táng quý khác có niên đại vào thế kỷ 1-2 TCN. Những di vật hiếm thấy khác ở miền Trung Việt Nam được kể đến là hai cái gương bằng đồng của thời kỳ Tây Hán.
Thủy tinh nhân tạo là một thành tựu rực rỡ của văn hóa Sa Huỳnh. Các cư dân dùng cát trắng để nấu thủy tinh làm bát lọ và đặc biệt những chuỗi hạt trang sức bằng thủy tinh (mà sử sách Trung Quốc gọi là "lưu ly" gốc từ chữ Phạn là "verulia") từ đầu Công nguyên. Đây là một trong những nơi làm ra thủy tinh nhân tạo sớm trên thế giới. Chúng không những đa dạng về kiểu dáng mà còn phong phú về màu sắc như xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ, xám, tím, đỏ và nâu. Sử Trung Hoa đã từng ghi chép về một chén thủy tinh xuất phát từ vùng đất này mà họ gọi là chén lưu ly với một sự trân trọng và khâm phục.
Nổi bật trong những vật trang sức của người Sa Huỳnh là khuyên tai ba mấu dành cho phụ nữ và khuyên tai hai đầu thú của nam giới. Nếu khuyên tai ba mấu dịu dàng, tinh tế và khá duyên dáng thì khuyên tai hai đầu thú lại thể hiện chất dũng mãnh, kiêu hãnh và cường tráng của nam giới. Những vật trang sức chế tác từ đá, mã não và thủy tinh có thể nói là những tinh hoa đặc sắc nhất mà nền văn minh này sáng tạo ra và được phổ biến khắp vùng Đông Nam Á. Người ta đã tìm thấy khuyên tai ba mấu và khuyên tai hai đầu thú ở Thái Lan, Malaysia, Philippines và Đài Loan.
Người Sa Huỳnh cổ rất khéo tay và có mỹ cảm tuyệt vời. Các đồ gốm gia dụng đều được tạo dáng thanh nhã, cân đối, hoa văn phong phú, sinh động thể hiện một tâm hồn tinh tế và giàu xúc cảm.
Trong gốm Sa Huỳnh, các đồ đựng như bát, bình có chân đế, có thân gãy ở vai hay đáy, chiếm tỷ lệ lớn. Mẫu gốm thường gặp là vàng đỏ, nhiều khi có vệt đen bóng, có hoa văn chữ S có đệm tam giác, những đường chấm hay đường in dấu răng vỏ sò. Trong các di chỉ mộ táng, phổ biến là mộ chum, trong chum chứa nhiều đồ trang sức bằng đồng, đá quý, thủy tinh, đặc biệt là loại khuyên tai ba mấu nhọn và khuyên tai hai đầu thú. Các đặc trưng đó của Văn hóa Sa Huỳnh cũng đã tìm được ở các di chỉ trong lưu vực sông Đồng Nai. Có nơi còn có những đặc trưng xưa hơn, mà khảo cổ học gọi là văn hóa thời tiền Sa Huỳnh.
Xã hội Sa Huỳnh.
Đã xác nhận được rằng cách đây gần 3000 năm, trên lưu vực sông Đồng Nai mà lãnh thổ Lâm Đồng là thượng nguồn, có những bộ lạc sinh sống với một nền văn hóa đồng - sắt đã phát triển và có đặc trưng riêng. Có thể nói, các bộ lạc này là tiền thân của các dân tộc bản địa. Sách "Lịch sử Việt Nam" (Phan Huy Lê chủ biên) cho biết, bấy giờ trên địa bàn của văn hóa Sa Huỳnh có hai bộ lạc sinh sống: Bộ lạc Cau (chữ Phạn là Kramuka vam'sa) cư trú vùng Phú Yên, Khánh Hòa - Ninh Thuận - Bình Thuận trở vào và bộ lạc Dừa (chữ Phạn là Narikela vam'sa) ở vùng Bình Định, Quảng Nam ngày nay.
Bộ lạc Dừa từ thế kỷ đầu trước Công nguyên bị nhà Hán đô hộ (cùng thời kỳ với nước Âu Lạc) và đặt tên là huyện Tượng Lâm. Năm 190 - 193, nhân dân Tượng Lâm nổi dậy đánh đuổi người Hán, lập nên nước Lâm Ấp (theo tên gọi của thư tịch cổ Trung Hoa). Bộ lạc Cau, khoảng đầu công nguyên, đã hình thành một tiểu vương quốc riêng có tên là Panduranga (tên Phạn) hay Pan-Rãn (tiếng Chăm cổ), về sau gọi là Chăm Pa, có địa bàn từ Nha Trang - Phan Rang, Phan Thiết ngày nay. Sự ra đời nói trên của dân tộc Chăm, và nhà nước của họ, cho thấy ở Nam Trung bộ Việt Nam thời ấy đã có hai cộng đồng lớn: cộng đồng người Chăm với ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Malay-Polynesia cư trú vùng ven biển và cộng đồng với ngữ hệ Môn - Khơme (Mạ, Cơ Ho, M'Nông), cư trú vùng núi và Tây Nguyên.
Tập tục tín ngưỡng.
Tập tục độc đáo của cư dân Sa Huỳnh chính là tập tục chôn người quá cố trong các chum lớn, có những chiếc chum cao đến 1,2 m. Chum được làm từ vật liệu đất đen hay đất có màu đỏ và được nung khá tốt. Người chết được táng trong chum với tư thế ngồi bó gối - như một hiện tượng được sống tiếp với thế giới cõi âm. Đồ tùy táng theo người chết tùy thuộc vào sự giàu có hay nghèo khó của người chết mà có nhiều hay ít hiện vật được chôn theo. Người Sa Huỳnh cổ rất "sành điệu" và khá duyên dáng trong các đồ trang sức làm bằng đá quý và đá bán quý cũng như pha lê nhiều màu sắc.
Người Sa Huỳnh cổ theo tín ngưỡng thờ mẫu (mẹ, bà) và còn tồn tại cho đến ngày nay ở các dân tộc Chăm, các cư dân bản địa Tây Nguyên. Tuy theo đạo Hồi nhưng đã biến cải thành đạo Bani mang bản sắc văn hóa truyền thống Chămpa thờ thần linh và ông bà tiên tổ. Đồng bào Chăm ăn Tết đầu năm vào ngày 19 tháng 4 Dương lịch. Hai lễ hội lớn hàng năm là Lễ hội Katê (tháng 7 lịch Chăm Pa) để nhớ ơn trời đất, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu và tưởng nhớ các vị vua tài đức của họ; và Lễ hội Chabur (tháng 9 âm lịch) để dâng cúng các nữ Thần như nữ thần Pô Inư Nagar, còn gọi là Thiên Y A Na, là bà chúa xứ của đồng bào Chăm. Đặc biệt là sự đối lập giữa Nam thần qua lễ hội Katê và Nữ thần với lễ hội Chabur cùng những ý niệm trời đất, cha mẹ, đực cái… thể hiện triết thuyết âm dương dịch biến luận của người Việt cổ còn lưu giữ mãi tới ngày nay. Đồng bào Chăm còn lưu lại một nền văn hóa cổ với những vần thơ dân gian, những bia ký sử thi văn học, những giai thoại truyền kỳ lịch sử cùng với nghệ thuật điêu khắc, tạc tượng tinh vi, sống động của truyền thống của người Môn-Việt thời cổ đại.
Tiến sĩ Mỹ Dung nhận xét như sau về những đồ trang sức độc đáo này:
"Theo như biểu tượng của thế giới, con chim nước tượng trưng cho mặt trời. Chẳng hạn hiện vật hình con chim ở khu vực mộ chum hậu kỳ thời đại đồ đồng vùng sông Danube ở châu Âu. Hạt chuỗi mã não duy nhất ở Đông Nam Á tìm thấy ở Thái Lan có hình con sư tử. Từ trước đến nay, trong các mộ táng khai quật được, chúng tôi chỉ phát hiện những hạt mã não hình chuỗi bình thường. Mã não mang hình dạng con vật thì chưa bao giờ tìm thấy".
"Từ xưa đến nay người ta vẫn cho rằng nghề thủy tinh rất phát triển trong thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng phát triển ở mức độ cao như vậy thì thật đáng kinh ngạc".
Di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, Di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam công nhận là di tích quốc gia đặc biệt.
|
Blizzard Downloader hoặc Background Downloader là trình khách BitTorrent được gài sẵn trong trò chơi MMORPG "World of Warcraft" của hãng Blizzard Entertainment. Blizzard Downloader được dùng để tải các bản vá có kích thước lớn của trò chơi, các bản cập nhật có kích thước nhỏ sẽ được tải về trực tiếp máy chủ của Blizzard. Các phiên bản đầu tiên của Blizzard Downloader dựa trên mã nguồn của chương trình BitTorrent nguyên bản, còn hiện nay không thể xác định mô hình mã nguồn của nó như thế nào. Khi một bản vá có kích thước lớn của trò chơi World of Warcraft được phát hành, Blizzard Downloader sẽ tải nó về trong thư mục "WoW" (thư mục mặc định của trò chơi) thông qua cổng số 6881. Sau khi tải xong BNUpdate sẽ áp đặt các cập nhật mới cho trò chơi. Blizzard cung cấp trình khách khác nhau cho mỗi bản vá được phát hành, chứ không sử dụng tệp torrent. Khi "World of Warcraft" được khởi động, Blizzard Downloader sẽ chạy dưới dạng nền với tên là "Background Downloader", và nếu máy đã có bản vá mới nhất nó sẽ trở thành máy gieo hạt và tải lên cho các máy đồng đẳng có yêu cầu bản vá này.
Với hệ điều hành Mac OS.
The Blizzard Downloader là một trình khách BitTorrent có chứa tệp codice_1. Tệp torrent này có thể mở ra bằng trình khách BitTorrent khác, cho phép người dùng có quyền quyết định trong việc chia sẻ bản vá của trò chơi. Dưới đây là đường dẫn của tệp torrent:
"Chú ý: trong giao diện đồ họa không thể định vị tệp torrent, nên vào cửa sổ lệnh để vào thư mục trên.
Với hệ điều hành Windows.
Có thể giải nén tệp codice_1 từ tệp bản vá có đuôi codice_3:
Cẩn thận sẽ có hai tệp torrent được nhúng trong trình tải về, một tệp torrent dành cho hệ điều hành Mac OS.
|
Blog Torrent là một trình khách BitTorrent phục vụ chủ yếu các trang web cá nhân (blogger) và những người có ít am hiểu về kỹ thuật.
Không giống như hầu hết các trình khách BitTorrent khác, Blog Torrent không yêu cầu điều khiển máy chủ tên miền hoặc mở một cổng riêng cho chương trình, nó hoạt động trên máy chủ web ngẫu nhiên, nó cho phép blogger chia sẻ tệp họ có mà không cần lo lắng tìm một máy theo dõi ổn định.
Blog Torrent là một trình khách tải tệp theo giao thức BitTorrent rất đơn giản. Nó cho phép người dùng hệ điều hành Windows tải tệp torrent mà không cần cài thêm bất cứ phần mềm BitTorrent đặc biệt nào.
Blog Torrent không được phổ biến trong cộng đồng người dùng chia sẻ tệp vì nó tăng băng thông máy chủ và dịch vụ máy chủ phim miễn phí, ví dụ Google Video. Nhưng nếu là phim rất lớn thì nó thực sự là một lựa chọn tốt vì tính đơn giản và hiệu quả.
So sánh các phần mềm BitTorrent
|
Cầm đồ (hoặc cầm cố) là một giải pháp tài chính có hợp đồng và có kỳ hạn, qua việc thế chấp tài sản phi tiền mặt (vàng, trang sức quý và các vật dụng gia đình có giá trị khác) để nhận tiền mặt. Quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó vẫn thuộc người đi cầm đồ. Đến kỳ hạn, người đi cầm đồ phải trả cho chủ nợ đủ vốn và lãi thì được thu hồi đồ vật của mình. Cầm đồ là hình thức đơn giản của việc vay thế chấp. Ngoài ra, cầm đồ còn là một giải pháp chứng minh tài chính thay cho tiền mặt. Sau thời hạn ấn định sẵn mà khách hàng không đến chuộc đồ thì đồ cầm cố thuộc về chủ tiệm.
|
Tiếng Ba Tư hay tiếng Persia, còn được biết đến như tiếng Farsi ( "#đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
" ]#đổi ), là một ngôn ngữ Iran thuộc ngữ tộc Ấn-Iran của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Nó chủ yếu được nói ở Iran, Afghanistan (dưới tên gọi tiếng Dari từ năm 1958), và Tajikistan (tên gọi tiếng Tajik vào thời Xô Viết ), và một vài vùng khác về mặt lịch sử được xem là thuộc đế quốc Ba Tư. Tiếng Ba Tư, nói chung, được viết bằng chữ Ba Tư, một biến thể của chữ Ả Rập.
Tiếng Ba Tư hiện đại là sự tiếp nối của tiếng Ba Tư trung đại, ngôn ngữ tôn giáo và văn học chính thức của Đế chế Sassanid, mà chính nó lại là hậu thân của tiếng Ba Tư cổ, ngôn ngữ của Đế chế Achaemenes. Ngữ pháp của nó tương đồng với nhiều ngôn ngữ của châu Âu đương thời.
Có chừng 110 triệu người nói tiếng Ba Tư trên toàn cầu và ngôn ngữ này có vị thế chính thức tại Iran, Afghanistan, và Tajikistan. Trong nhiều thế kỷ, tiếng Ba Tư cũng là ngôn ngữ văn hóa tại nhiều vùng ở Tây Á, Trung Á, và Nam Á.
Tiếng Ba Tư đã ảnh hưởng (chủ yếu về từ vựng) một cách đáng kể lên nhiều ngôn ngữ xung quanh, nhất là các ngôn ngữ Turk miền Trung Á, Kavkaz, và Tiểu Á, những ngôn ngữ Iran lân cận, cũng như tiếng Armenia, tiếng Gruzia, vài ngôn ngữ Ấn-Iran khác, đặc biệt là tiếng Urdu (một dạng tiếng Hindustan). Nó cũng ảnh hưởng phần nào lên tiếng Ả Rập, nổi bật nhất là ở tiếng Ả Rập Bahran. Ngược lại, tiếng Ba Tư cũng mượn rất nhiều từ trong tiếng Ả Rập sau cuộc xâm lược Ba Tư của người Ả Rập.
|
Grigori Yefimovich Rasputin( : Григо́рий Ефимович Распу́тин) là một nhân vật có thật trong lịch sử Nga. Ông đã tự phong cho mình là tu sĩ với thần lực của thượng đế, được Nga hoàng Nikolai II và hoàng hậu Alexandra tôn sùng vì họ cho rằng Rasputin đã chữa được căn bệnh hiểm nghèo của con trai duy nhất của họ là hoàng tử Aleksei Nikolaevich, Thái tử của Nga (vị hoàng tử này bị bệnh máu khó đông do di truyền từ nữ hoàng Victoria của Anh).
Rasputin được người xưa cho là tu sĩ, người của thượng đế, thần y,… Có rất nhiều thông tin về Rasputin nhưng khó có thể xác định tính xác thực vì phần lớn là huyền thoại hay lời đồn đại của người dân.
Grigori Yefimovich Rasputin sinh ra trong giai cấp bần nông trong một làng thuộc Pokrovskoye, dọc sông Tura Siberia. Ông sinh vào thập niên giữa 1863 và 1873. Gần đây, người ta cho rằng ông sinh ngày 10 tháng 1 năm 1869 theo hệ thống lịch cũ (tương đương ngày 22 tháng 1 1869)
Khi còn nhỏ, Rasputin đã được người trong vùng biết đến vì những sự kiện huyền hoặc. Chị ông là Maria có bệnh động kinh, về sau đã bị chết đuối. Ông và người anh là Dmitri sau đó cũng suýt bị chết đuối. Tuy hai anh em được cứu sống, Dmitri lại bị sưng phổi chết. Hai cái chết này gây ảnh hưởng tinh thần sâu đậm cho Rasputin. Khi ngựa của cha mình bị ai đó lấy cắp, Rasputin tìm ra kẻ gian nhờ linh cảm đặc biệt.
Khoảng 18 tuổi, Rasputin bị bắt vào tu viện sám hối, có thể là hình phạt cho tội ăn cắp vặt. Tại đây, ông bắt đầu học hỏi về tôn giáo và khi ra viện ông kể rằng bản thân đã chứng kiến Đức Mẹ hiện ra. Sau đó Rasputin trở thành tu sĩ huyền bí đi lang thang khắp nơi. Trong thời gian này, có người cho rằng ông theo một nhánh Thiên chúa giáo bị cấm. Đạo này cho phép tín đồ thực hiện những buổi lễ giao hợp tình dục, tạo suy nhược cơ thể để gây khoái cảm tột đỉnh. (Sau này, khi thủ tướng Nga là Alexander Guchkov tình nghi Rasputin theo tà đạo này, nộp đơn xin Nga hoàng đuổi Rasputin khỏi cung đình, Nga hoàng đã không nghe theo, lại còn cách chức Guchkov.)
Không lâu sau khi rời khỏi tu viện, Rasputin lãnh giáo từ một tu sĩ tên Makariy. Ông này gây ấn tượng lớn cho Rasputin. Năm 1889 Rasputin đó lấy một cô gái tên Praskovia Fyodorovna Dubrovina làm vợ, sinh ba người con tên Dmitri, Varvara, và Maria (Dmitri và Maria là tên của anh chị ông). Rasputin còn ngoại tình và có con với một người đàn bà khác. Năm 1901 Rasputin rời quê đi "hành hương", sang đến Hy Lạp và Jerusalem. Đến năm 1903 ông về Saint Petersburg. Tại đây ông dần dần tạo uy tín về sức mạnh thần y của mình. Lời đồn về khả năng chữa bệnh thần thánh và óc tiên tri của Rasputin không bao lâu lan đến tai của gia đình Nga hoàng.
Chữa trị cho Aleksei.
Hoàng tử Alexei bị bệnh loãng máu kinh niên do di truyền từ bà cố bên ngoại là nữ hoàng Victoria của Anh. Các thái y của Nga hoàng bó tay - chẩn định rằng Alexei sẽ phải chết sớm vì bệnh máu khó đông. Hoàng hậu Nga lo sợ nhờ bạn mình là Anna Vyrubova tìm mời vị thần y Rasputin đến chữa. Rasputin được nhiều lời đồn cho rằng ông có khả năng chữa bệnh bằng lời cầu nguyện. Mỗi khi Alexei bị chảy máu, ông lại vào cung cầu nguyện để trấn an hoàng gia và Alexei có vẻ hồi phục. Từ đó càng ngày hoàng gia Nga càng tin dùng Rasputin.
Có nhiều lý do hoàng tử Alexei bớt bệnh mỗi khi Rasputin cầu nguyện. Có thể ông dùng kỹ thuật thôi miên, hoặc chỉ nhờ ông có khả năng trấn an giúp Alexei bớt lo sợ và từ đó tự cơ thể hoàng tử có khả năng tạo miễn dịch chống lại căn bệnh. Nhiều giả thuyết khác cho rằng ông dùng đỉa hút máu từ vết thương làm máu dễ đông lại. Theo Diarmuid Jeffreys thì Rasputin thành công là nhờ ông ngăn cản không cho Alexei uống các loại thuốc của các thái y Nga, trong đó có thể có aspirin là một loại thuốc chống đau mới phổ biến, rất thịnh hành lúc đó, nhưng có tác dụng phụ là làm loãng máu.
Gia đình Nga hoàng gọi Rasputin là "thánh sống", "người của hoàng gia", "tiên tri" của thượng đế,… Rasputin dần dần tạo uy tín và ảnh hưởng lớn đến hoàng hậu Alexandra. Bà cho rằng thượng đế liên lạc với bà qua Rasputin.
Ảnh hưởng chính trường Nga.
Rasputin vào hoàng cung không bao lâu đã gây tranh luận nhốn nháo khắp lĩnh vực. Các thế lực chính trị, tôn giáo thay nhau bênh vực hay chỉ trích ông về những vụ việc:
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất Rasputin bị cho là thiếu lòng yêu nước, cấu kết với hoàng hậu Nga (bà này vốn gốc người Đức) làm điệp viên cho Đức.
Khi Rasputin xin ra chiến tuyến ban phước lành cho binh lính Nga, tổng tư lệnh quân Nga là Bá tước Nikolai hăm là sẽ treo cổ ông ta nếu Rasputin lộ diện nơi biên thùy. Sau đó Rasputin nói ông được thượng đế cho biết rằng chỉ khi nào chính Nga hoàng ra cầm quân thì quân Nga mới chiến thắng. Nga hoàng lúc bấy giờ tuy bối rối nhưng phải nghe lời đích thân ra chiến trận; đưa đến hậu quả thảm hại cho chính mình và nước Nga sau này.
Trong khi Nga hoàng vắng mặt, Rasputin tung hoành trong cung cấm, trở thành nhân vật thân cận của hoàng hậu. Ông dùng thế lực tạo vây cánh tham nhũng lũng đoạn chính quyền thay đổi, tuyển dụng hay sa thải nhân sự trong chính quyền Nga. Chiến tranh kéo dài trong khi chính phủ suy đồi, kinh tế Nga từ đó còn lụn bại thê thảm hơn.
Vladimir Purishkevich là một chính trị gia khôn ngoan trong quốc hội Nga. Ngày 19 tháng 11 năm 1916 ông tuyên bố trước quốc hội:
"Các bộ trưởng của Nga hoàng đã trở thành những con rối, những con rối có dây giật nằm chắc trong tay Rasputin và Alexandra Fyodorovna - con quỷ tinh khôn Nga và bà hoàng hậu Nga … bà vẫn là người Đức trên ngai vàng của Nga, xa lạ với tổ quốc và dân tộc Nga."
Felix Yusupov nghe được lời tuyên cáo này bèn liên lạc với Purishkevich để âm mưu sát hại Rasputin.
Giai thoại về những cuộc mai phục sát hại Rasputin còn quái gở hơn những câu chuyện về cuộc đời lập dị của ông ta. Theo nghiên cứu "Người giết Rasputin" của Greg King thì Rasputin bị tấn công nhiều lần. Một trong những lần đáng kể là ngày 29 tháng 6 năm 1914, khi Rasputin về quê thăm vợ con tại Pokrovskoye. Khi ông vừa từ nhà thờ bước ra, một phụ nữ mại dâm tên Khionia Guseva dùng dao đâm vào bụng Rasputin. Bà này là tín đồ của tu sĩ Iliodor, khi trước là bạn của Rasputin. Iliodor rất chán ghét những gì mà Rasputin đã gây nên và khuyên những người phụ nữ từng bị ông ta hãm hại lập ra một hiệp hội để đoàn kết và tương trợ lẫn nhau.
Guseva cho rằng bà đã thành công, nhưng Rasputin được kịp đưa vào bệnh viện và cứu sống sau một cuộc giải phẫu trầm trọng. Theo hồi ký của con gái ông là Maria Rasputin, thì tuy ông sống sót, nhưng Rasputin trở nên trầm buồn và yếu đi nhiều. Rasputin phải dùng thuốc giảm đau và quen dùng á phiện từ đó.
Ngày 16 tháng 12 năm 1916 Rasputin bị Felix Yusupov và Dmitri Pavlovich dụ vào hầm của cung điện Moika của Yusupov. Họ phục rượu và mời ông dùng bánh ngọt có tẩm thuộc độc cyanide. Rasputin ăn hết nhưng không hề hấn gì cả mặc dù Vasily Maklakov cho rằng số lượng chất độc có thể giết đến 5 người. Yusupov bèn lén lên lầu bàn thảo với đồng lõa, rồi xuống rút súng bắn vào lưng Rasputin. Rasputin ngã xuống, cả bọn âm mưu bỏ chạy ra ngoài. Khi Yusupov trở lại xem xét tử thi thì thình lình Rasputin bật dậy ôm chầm lấy thì thào bên tai ông: "Quân khốn nạn!" và toan bóp cổ Yusupov. Lúc đó những kẻ đồng lõa trở lại, bắn tiếp 3 phát vào người Rasputin. Rasputin ngã xuống lần nữa nhưng vẫn chưa chết. Bọn người kia phải dùng gậy đánh thêm nhiều lần nữa rồi quấn vải bọc Rasputin lại và quăng xuống sông Neva lạnh đang đóng băng. Rasputin chết đuối, cũng như hai anh chị của ông đã chết khi xưa.
Ba ngày sau, thi thể Rasputin được vớt lên. Khảo nghiệm chính thức cho thấy ông ta bị chết đuối chứ không phải chết vì bị thương. Hai cánh tay ông ta trong tư thế đưa lên như thể Rasputin trước khi chết vẫn còn sức cố gắng cào cấu phía dưới tảng băng.
Hoàng hậu Nga cho đem thi thể Rasputin chôn trong nghĩa địa hoàng gia nhưng sau Cách mạng Tháng Hai, Rasputin bị công nhân trong cuộc nổi dậy quật mồ và đem đốt tại khu rừng gần bên. Khi lửa đốt các cơ xương, thi thể Rasputin co quắp, giật nảy lên. Những người đứng xem không hiểu hiện tượng này; lại phao thêm tin đồn là Rasputin đã thành quỷ dữ muốn sống lại. Cũng có nguồn tin cho rằng, một người đàn ông Nga tên Jerome Ivanov mang phần còn lại đi giấu ở đâu đó thuộc Siberia
Tang chứng cụ thể hiện nay.
Gần đây những nghiên cứu chung quanh vụ giết chết Rasputin cho thấy Felix Yusupov đã báo cáo không trung thực. Có nhiều khác biệt giữa những bản khai hay hồi ký của ông về vụ ám sát Rasputin.
|
FAT là viết tắt của "File Allocation Table" tạm dịch là "Bảng cấp phát tập tin". FAT được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1977 với phiên bản FAT12. Sau đó là các phiên bản FAT16 và
Bảng FAT gồm nhiều phần tử. Chiều dài mỗi phần tử được tính bằng số bit, biểu thị số đếm của bảng FAT.
FAT12 được dùng cho ổ đĩa mềm, ổ đĩa có dung lượng từ 32MB trở xuống. FAT12 sử dụng 12 bit để đếm nên chỉ có khả năng quản lý các ổ đĩa có dung lượng thấp hơn 32Mb với số lượng liên cung thấp.
Với hệ điều hành MS-DOS, hệ thống tập tin FAT (FAT16 – để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm. Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ đến 65.536 liên cung (cluster) trên một phân vùng, gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).
Được giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16. Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều liên cung trên một phân vùng hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2GB lên 2000GB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32 là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (Fault Tolerance) không cao.
|
Henri Huet (1927 – 10 tháng 2 năm 1971) là một nhiếp ảnh viên người Pháp nổi tiếng về các báo cáo trong Chiến tranh Việt Nam cho Associated Press (AP).
Henri Huet sinh ra vào tháng 4 năm 1927 tại Đà Lạt, cha là người Pháp và mẹ là người Việt. Gia đình Huet về Pháp khi Henri lên 5 tuổi, sau đó Henri được đi học tại Saint-Malo, vùng Bretagne. Sau khi rời trường, Henri tiếp tục theo học tại trường nghệ thuật ở Rennes và bắt đầu sự nghiệp như một họa sĩ. Sau khi tham gia quân đội Pháp và được đào tạo ngành nhiếp ảnh, ông trở lại Việt Nam vào năm 1949 như một nhiếp ảnh viên chiến trường cho quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương. Sau khi giải ngũ, khi cuộc chiến chấm dứt vào năm 1954, Huet ở lại Việt Nam như một nhiếp ảnh viên dân sự làm việc cho chính phủ Pháp và chính phủ Hoa Kỳ. Ông trở thành nhiếp ảnh viên cho United Press International (UPI), và sau đó chuyển sang làm việc cho AP vào năm 1965, đặc biệt báo cáo về Chiến tranh Việt Nam. Năm 1967, vì bị thương nặng, ông đã được AP chuyển về văn phòng tại Tokyo, nhưng ngay sau đó ông lại đòi được chuyển trở lại chiến trường Việt Nam.
Sự nghiệp nhiếp ảnh.
Các hình ảnh của Huet có ảnh hưởng mạnh đến dư luận tại Hoa Kỳ. Một trong những ảnh đáng nhớ nhất của ông có Binh nhất Thomas Cole, một người cứu thương trẻ của Sư đoàn Kỵ binh I của quân đội Hoa Kỳ, đang săn sóc các binh sĩ bạn mặc dù anh ta cũng đã bị thương. Một loạt 12 bức ảnh của ông được đăng trên tạp chí "LIFE" vào ngày 11 tháng 2 năm 1966, với bức ảnh ám ảnh của Thomas Cole được dùng làm bìa của số này. Năm 1967 Overseas Press Club (Câu lạc bộ Báo chí Nước ngoài) đã trao tặng Huet Huy chương vàng Robert Capa vì có "báo cáo hay nhất từ nước ngoài, đòi hỏi sự can đảm và táo bạo hiếm có".
Khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiến vào Lào năm 1971, Huet đi cùng với vị tướng chỉ huy, Tướng Hoàng Xuân Lãm, cùng với ba nhiếp ảnh viên khác, trên một chiếc trực thăng trinh sát chiến trường. Chiếc trực thăng bị bắn rơi trên đường mòn Hồ Chí Minh và tất cả mọi người trong chuyến bay được xem như mất. Các nhiếp ảnh viên bạn của Huet trên cùng chuyến bay là Larry Burrows (báo cáo cho tạp chí "LIFE"), Kent Potter (báo cáo cho UPI) và Shimamoto Keizaburo, một nhiếp ảnh viên tự do làm việc cho tuần báo "Newsweek". Vào năm 1998, một toán tìm kiếm dẫn đầu bởi Hoa Kỳ đã đào một địa điểm được cho là chiếc trực thăng đã rơi. Tại đó họ đã tìm thấy vài mảnh máy bay nhỏ, hai mũ sắt quân đội vài mảnh phim 35 mm. Không có phần thi hài nào được tìm thấy.
Trong số các đồng nghiệp báo cáo về chiến tranh, Huet được kính trọng vì sự tận tâm, can đảm và khéo léo trong nghề của ông; ông cũng được mọi người yêu thích vì tính khôi hài và lòng tốt. Dirck Halstead, người lãnh đạo United Press International vào năm 1965, đã phê bình rằng Huet "lúc nào cũng có một nụ cười trên mặt của ông ta".
|
Mật mã hóa khóa công khai
Mật mã hóa khóa công khai là một dạng mật mã hóa cho phép người sử dụng trao đổi các thông tin mật mà không cần phải trao đổi các khóa chung bí mật trước đó. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng một cặp khóa có quan hệ toán học với nhau là khóa công khai và khóa cá nhân (hay khóa bí mật).
Thuật ngữ mật mã hóa khóa bất đối xứng thường được dùng đồng nghĩa với mật mã hóa khóa công khai mặc dù hai khái niệm không hoàn toàn tương đương. Có những thuật toán mật mã khóa bất đối xứng không có tính chất khóa công khai và bí mật như đề cập ở trên mà cả hai khóa (cho mã hóa và giải mã) đều cần phải giữ bí mật.
Trong mật mã hóa khóa công khai, khóa cá nhân phải được giữ bí mật trong khi khóa công khai được phổ biến công khai. Trong 2 khóa, một dùng để mã hóa và khóa còn lại dùng để giải mã. Điều quan trọng đối với hệ thống là không thể tìm ra khóa bí mật nếu chỉ biết khóa công khai.
Hệ thống mật mã hóa khóa công khai có thể sử dụng với các mục đích:
Thông thường, các kỹ thuật mật mã hóa khóa công khai đòi hỏi khối lượng tính toán nhiều hơn các kỹ thuật mã hóa khóa đối xứng nhưng những lợi điểm mà chúng mang lại khiến cho chúng được áp dụng trong nhiều ứng dụng.
Trong hầu hết lịch sử mật mã học, khóa dùng trong các quá trình mã hóa và giải mã phải được giữ bí mật và cần được trao đổi bằng một phương pháp an toàn khác (không dùng mật mã) như gặp nhau trực tiếp hay thông qua một người đưa thư tin cậy. Vì vậy quá trình phân phối khóa trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khi số lượng người sử dụng rất lớn. Mật mã hóa khóa công khai đã giải quyết được vấn đề này vì nó cho phép người dùng gửi thông tin mật trên đường truyền không an toàn mà không cần thỏa thuận khóa từ trước.
Năm 1874, William Stanley Jevons xuất bản một cuốn sách mô tả mối quan hệ giữa các hàm một chiều với mật mã học đồng thời đi sâu vào bài toán phân tích ra thừa số nguyên tố (sử dụng trong thuật toán RSA). Tháng 7 năm 1996, một nhà nghiên cứu đã bình luận về cuốn sách trên như sau:
Trong cuốn "The Principles of Science: A Treatise on Logic and Scientific Method" được xuất bản năm 1890, William S. Jevons đã phát hiện nhiều phép toán rất dễ thực hiện theo một chiều nhưng rất khó theo chiều ngược lại. Một ví dụ đã chứng tỏ mã hóa rất dễ dàng trong khi giải mã thì không. Vẫn trong phần nói trên ở chương 7 (Giới thiệu về phép tính ngược) tác giả đề cập đến nguyên lý: ta có thể dễ dàng nhân các số tự nhiên nhưng phân tích kết quả ra thừa số nguyên tố thì không hề đơn giản. Đây chính là nguyên tắc cơ bản của thuật toán mật mã hóa khóa công khai RSA mặc dù tác giả không phải là người phát minh ra mật mã hóa khóa công khai.
Thuật toán mật mã hóa khóa công khai được thiết kế đầu tiên bởi James H. Ellis, Clifford Cocks, và Malcolm Williamson tại GCHQ (Anh) vào đầu thập kỷ 1970. Thuật toán sau này được phát triển và biết đến dưới tên Diffie-Hellman, và là một trường hợp đặc biệt của RSA. Tuy nhiên những thông tin này chỉ được tiết lộ vào năm 1997.
Năm 1976, Whitfield Diffie và Martin Hellman công bố một hệ thống mật mã hóa khóa bất đối xứng trong đó nêu ra phương pháp trao đổi khóa công khai. Công trình này chịu sự ảnh hưởng từ xuất bản trước đó của Ralph Merkle về phân phối khóa công khai. Trao đổi khóa Diffie-Hellman là phương pháp có thể áp dụng trên thực tế đầu tiên để phân phối khóa bí mật thông qua một kênh thông tin không an toàn. Kỹ thuật thỏa thuận khóa của Merkle có tên là hệ thống câu đố Merkle.
Thuật toán đầu tiên cũng được Rivest, Shamir và Adleman tìm ra vào năm 1977 tại MIT. Công trình này được công bố vào năm 1978 và thuật toán được đặt tên là RSA. RSA sử dụng phép toán tính hàm mũ môđun (môđun được tính bằng tích số của 2 số nguyên tố lớn) để mã hóa và giải mã cũng như tạo chữ ký số. An toàn của thuật toán được đảm bảo với điều kiện là không tồn tại kỹ thuật hiệu quả để phân tích một số rất lớn thành thừa số nguyên tố.
Kể từ thập kỷ 1970, đã có rất nhiều thuật toán mã hóa, tạo chữ ký số, thỏa thuận khóa.. được phát triển. Các thuật toán như ElGamal (mật mã) do Netscape phát triển hay DSA do NSA và NIST cũng dựa trên các bài toán lôgarit rời rạc tương tự như RSA. Vào giữa thập kỷ 1980, Neal Koblitz bắt đầu cho một dòng thuật toán mới: mật mã đường cong elliptic và cũng tạo ra nhiều thuật toán tương tự. Mặc dù cơ sở toán học của dòng thuật toán này phức tạp hơn nhưng lại giúp làm giảm khối lượng tính toán đặc biệt khi khóa có độ dài lớn.
Về khía cạnh an toàn, các thuật toán mật mã hóa khóa bất đối xứng cũng không khác nhiều với các thuật toán mã hóa khóa đối xứng. Có những thuật toán được dùng rộng rãi, có thuật toán chủ yếu trên lý thuyết; có thuật toán vẫn được xem là an toàn, có thuật toán đã bị phá vỡ... Cũng cần lưu ý là những thuật toán được dùng rộng rãi không phải lúc nào cũng đảm bảo an toàn. Một số thuật toán có những chứng minh về độ an toàn với những tiêu chuẩn khác nhau. Nhiều chứng minh gắn việc phá vỡ thuật toán với những bài toán nổi tiếng vẫn được cho là không có lời giải trong thời gian đa thức (Xem thêm: Lý thuyết độ phức tạp tính toán). Nhìn chung, chưa có thuật toán nào được chứng minh là an toàn tuyệt đối (như hệ thống mật mã sử dụng một lần). Vì vậy, cũng giống như tất cả các thuật toán mật mã nói chung, các thuật toán mã hóa khóa công khai cần phải được sử dụng một cách thận trọng.
Ứng dụng rõ ràng nhất của mật mã hóa khóa công khai là bảo mật: một văn bản được mã hóa bằng khóa công khai của một người sử dụng thì chỉ có thể giải mã với khóa bí mật của người đó.
Các thuật toán tạo chữ ký số khóa công khai có thể dùng để nhận thực. Một người sử dụng có thể mã hóa văn bản với khóa bí mật của mình. Nếu một người khác có thể giải mã với khóa công khai của người gửi thì có thể tin rằng văn bản thực sự xuất phát từ người gắn với khóa công khai đó.
Các đặc điểm trên còn có ích cho nhiều ứng dụng khác như: tiền điện tử, thỏa thuận khó
Những vấn đề đặt ra trong thực tế.
Sự tương tự với bưu chính.
Để thấy rõ hơn ưu điểm của hệ thống mật mã hóa khóa bất đối xứng ta có thể dùng sự tương tự với hệ thống bưu chính trong ví dụ sau: 2 người (Alice và Bob) trao đổi thông tin mật thông qua hệ thống bưu chính. Alice cần gửi một bức thư có nội dung cần giữ bí mật tới cho Bob và sau đó nhận lại thư trả lời (cũng cần giữ bí mật) từ Bob.
Trong hệ thống mật mã hóa khóa đối xứng, Alice sẽ cho bức thư vào hộp và khóa lại rồi gửi hộp theo đường bưu chính bình thường tới cho Bob. Khi Bob nhận được hộp, anh ta dùng một khóa giống hệt như khóa Alice đã dùng để mở hộp, đọc thông tin và gửi thư trả lời theo cách tương tự. Vấn đề đặt ra là Alice và Bob phải có 2 khóa giống hệt nhau bằng một cách an toàn nào đó từ trước (chẳng hạn như gặp mặt trực tiếp).
Trong hệ thống mật mã hóa khóa bất đối xứng, Bob và Alice có hai khóa khác nhau. Đầu tiên, Alice yêu cầu Bob gửi cho mình khóa (công khai) theo đường bưu chính bình thường và giữ lại khóa bí mật. Khi cần gửi thư, Alice sử dụng khóa nhận được từ Bob để khóa hộp. Khi nhận được hộp đã khóa bằng khóa công khai của mình, Bob có thể mở khóa và đọc thông tin. Để trả lời Alice, Bob cũng thực hiện theo quá trình tương tự với khóa của Alice.
Điều quan trọng nhất ở đây là Bob và Alice không cần phải gửi đi khóa bí mật của mình. Điều này làm giảm nguy cơ một kẻ thứ 3 (chẳng hạn như một nhân viên bưu chính biến chất) làm giả khóa trong quá trình vận chuyển và đọc những thông tin trao đổi giữa 2 người trong tương lai. Thêm vào đó, trong trường hợp Bob do sơ suất làm lộ khóa của mình thì các thông tin do Alice gửi cho người khác vẫn giữ bí mật (vì sử dụng các cặp khóa khác).
Thuật toán: liên kết giữa 2 khóa trong cặp.
Không phải tất cả các thuật toán mật mã hóa khóa bất đối xứng đều hoạt động giống nhau nhưng phần lớn đều gồm 2 khóa có quan hệ toán học với nhau: một cho mã hóa và một để giải mã. Để thuật toán đảm bảo an toàn thì không thể tìm được khóa giải mã nếu chỉ biết khóa đã dùng mã hóa. Điều này còn được gọi là mã hóa công khai vì khóa dùng để mã hóa có thể công bố công khai mà không ảnh hưởng đến bí mật của văn bản mã hóa. Trong ví dụ ở trên, khóa công khai có thể là những hướng dẫn đủ để tạo ra khóa với tính chất là một khi đã khóa thì không thể mở được nếu chỉ biết những hướng dẫn đã cho. Các thông tin để mở khóa thì chỉ có người sở hữu mới biết.
Tồn tại khả năng một người nào đó có thể tìm ra được khóa bí mật. Không giống với hệ thống mật mã sử dụng một lần (one-time pad) hoặc tương đương, chưa có thuật toán mã hóa khóa bất đối xứng nào được chứng minh là an toàn trước các tấn công dựa trên bản chất toán học của thuật toán. Khả năng một mối quan hệ nào đó giữa 2 khóa hay điểm yếu của thuật toán dẫn tới cho phép giải mã không cần tới khóa hay chỉ cần khóa mã hóa vẫn chưa được loại trừ. An toàn của các thuật toán này đều dựa trên các ước lượng về khối lượng tính toán để giải các bài toán gắn với chúng. Các ước lượng này lại luôn thay đổi tùy thuộc khả năng của máy tính và các phát hiện toán học mới.
Mặc dù vậy, độ an toàn của các thuật toán mật mã hóa khóa công khai cũng tương đối đảm bảo. Nếu thời gian để phá một mã (bằng phương pháp duyệt toàn bộ) được ước lượng là 1000 năm thì thuật toán này hoàn toàn có thể dùng để mã hóa các thông tin về thẻ tín dụng - Rõ ràng là thời gian phá mã lớn hơn nhiều lần thời gian tồn tại của thẻ (vài năm).
Nhiều điểm yếu của một số thuật toán mật mã hóa khóa bất đối xứng đã được tìm ra trong quá khứ. Thuật toán "đóng gói ba lô" là một ví dụ. Nó chỉ được xem là không an toàn khi một dạng tấn công không lường trước bị phát hiện. Gần đây, một số dạng tấn công đã đơn giản hóa việc tìm khóa giải mã dựa trên việc đo đạc chính xác thời gian mà một hệ thống phần cứng thực hiện mã hóa. Vì vậy, việc sử dụng mã hóa khóa bất đối xứng không thể đảm bảo an toàn tuyệt đối. Đây là một lĩnh vực đang được tích cực nghiên cứu để tìm ra những dạng tấn công mới.
Một điểm yếu tiềm tàng trong việc sử dụng khóa bất đối xứng là khả năng bị tấn công dạng kẻ tấn công đứng giữa (man in the middle attack): kẻ tấn công lợi dụng việc phân phối khóa công khai để thay đổi khóa công khai. Sau khi đã giả mạo được khóa công khai, kẻ tấn công đứng ở giữa 2 bên để nhận các gói tin, giải mã rồi lại mã hóa với khóa đúng và gửi đến nơi nhận để tránh bị phát hiện. Dạng tấn công kiểu này có thể phòng ngừa bằng các phương pháp trao đổi khóa an toàn nhằm đảm bảo nhận thực người gửi và toàn vẹn thông tin. Một điều cần lưu ý là khi các chính phủ quan tâm đến dạng tấn công này: họ có thể thuyết phục (hay bắt buộc) nhà cung cấp chứng thực số xác nhận một khóa giả mạo và có thể đọc các thông tin mã hóa.
Khối lượng tính toán.
Để đạt được độ an toàn tương đương, thuật toán mật mã hóa khóa bất đối xứng đòi hỏi khối lượng tính toán nhiều hơn đáng kể so với thuật toán mật mã hóa khóa đối xứng. Vì thế trong thực tế hai dạng thuật toán này thường được dùng bổ sung cho nhau để đạt hiệu quả cao. Trong mô hình này, một bên tham gia trao đổi thông tin tạo ra một khóa đối xứng dùng cho phiên giao dịch. Khóa này sẽ được trao đổi an toàn thông qua hệ thống mã hóa khóa bất đối xứng. Sau đó 2 bên trao đổi thông tin bí mật bằng hệ thống mã hóa đối xứng trong suốt phiên giao dịch.
Mối quan hệ giữa khóa công khai với thực thể sở hữu khóa.
Để có thể đạt được những ưu điểm của hệ thống thì mối quan hệ giữa khóa công khai và thực thể sở hữu khóa phải được đảm bảo chính xác. Vì thế các giao thức thiết lập và kiểm tra mối quan hệ này là đặc biệt quan trọng. Việc gắn một khóa công khai với một định danh người sử dụng thường được thực hiện bởi các giao thức thực hiện hạ tầng khóa công khai (PKI). Các giao thức này cho phép kiểm tra mối quan hệ giữa khóa và người được cho là sở hữu khóa thông qua một bên thứ ba được tin tưởng. Mô hình tổ chức của hệ thống kiểm tra có thể theo phân lớp (các nhà cung cấp chứng thực số - X.509) hoặc theo thống kê (mạng lưới tín nhiệm - PGP, GPG) hoặc theo mô hình tín nhiệm nội bộ (SPKI). Không phụ thuộc vào bản chất của thuật toán hay giao thức, việc đánh giá mối quan hệ giữa khóa và người sở hữu khóa vẫn phải dựa trên những đánh giá chủ quan của bên thứ ba bởi vì khóa là một thực thể toán học còn người sở hữu và mối quan hệ thì không. Hạ tầng khóa công khai chính là các thiết chế để đưa ra những chính sách cho việc đánh giá này.
Các vấn đề liên quan tới thời gian thực.
Một khóa công khai nào đó có thể liên quan tới một số lượng lớn và khó xác định người sử dụng. Vì thế sẽ tốn rất nhiều thời gian khi muốn thu hồi hoặc thay thế một khóa vì lý do an ninh. Do vậy, các hệ thống hoạt động trong thời gian thực khi áp dụng mã hóa khóa công khai cần phải hết sức thận trọng. Có ít nhất 4 vấn đề cần quan tâm được đề cập sau đây.
Thẩm quyền thu hồi khóa.
Việc thu hồi khóa có tính phá hoại hoặc sai sót sẽ có khả năng gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ thống. Trường hợp này hoàn toàn có thể xảy ra nếu việc thu hồi khóa có thể được thực hiện bởi chỉ một thực thể. Chúng ta có thể làm giảm nguy cơ này bằng cách thực hiện chính sách thu hồi khóa với sự tham gia của hai thực thể trở lên. Chẳng hạn, một khóa chỉ bị thu hồi khi có sự chấp thuận của cả Alice và Bob. Tuy nhiên, xét về phương diện an ninh thì chính sách này tạo nên điểm yếu cho hệ thống. Kẻ tấn công chỉ cần thực hiện tấn công từ chối dịch vụ (DoS) vào Bob hoặc Alice là có thể làm hệ thống ngừng hoạt động.
Do thực thể có thẩm quyền thu hồi khóa rất quan trọng đối với hệ thống nên các cơ chế thực hiện cần đảm bảo càng nhiều bên tham gia càng tốt để chống lại phá hoại đồng thời lại phải đảm bảo càng ít càng tốt để có thể thực hiện việc thu hồi nhanh chóng.
Phân phối khóa mới.
Sau khi một khóa bị thu hồi thì một khóa mới cần được phân phối theo một trình tự định trước.
Giả sử khóa của Carol đã bị thu hồi. Trước khi có khóa mới Carol không thể tham gia trao đổi thông tin mật. Không ai có thể gửi thông tin cho Carol mà không vi phạm an ninh hệ thống và các thông tin từ Carol sẽ bị loại bỏ. Điều này cũng có nghĩa phần của hệ thống do Carol kiểm soát ngừng hoạt động. Trong trường hợp này yêu cầu về an ninh được đặt lên trên yêu cầu về tính sẵn sàng của hệ thống.
Trong hệ thống, người có thẩm quyền tạo khóa mới có thể trùng với người có thẩm quyền thu hồi khóa nhưng không bắt buộc như vậy. Nếu xét về phương diện an ninh thì đây không phải là ý tưởng tốt. Vấn đề nảy sinh là chúng ta cần giảm khoảng thời gian giữa thời điểm thu hồi khóa và thời điểm tạo khóa mới tới mức tối thiểu. Để làm tốt việc này lại đòi hỏi một nơi/một thực thể có đủ 2 thẩm quyền nêu trên. Vấn đề là chúng ta phải cân bằng giữa yêu cầu về an ninh và yêu cầu về tính sẵn sàng của hệ thống.
Thông báo thông tin về thu hồi khóa.
Thông báo về một khóa nào đó bị thu hồi cần đến được tất cả những người đang sử dụng nó trong thời gian ngắn nhất có thể.
Đối với hệ thống phân phối người ta có 2 cách đưa các thông tin thu hồi khóa đến người dùng: thông tin được "đẩy" (push) từ điểm trung tâm tới người dùng hoặc người dùng "lấy" (pull) thông tin từ trung tâm.
Đẩy thông tin từ trung tâm là cách đơn giản nhất để gửi thông tin tới toàn thể người sử dụng. Tuy nhiên không thể đảm bảo là thông tin thực sự tới được đích và đối với một hệ thống lớn thì khả năng gửi thành công tới tất cả người dùng là thấp. Thêm vào đó, thời gian hoàn thành truyền tin sẽ là khá lớn và trong suốt quá trình này thì hệ thống có thể bị lợi dụng. Vì vậy, phương pháp này không đảm bảo an toàn cũng như không tin cậy.
Phương pháp thứ hai người sử dụng lấy thông tin về khóa từ trung tâm trước mỗi lần sử dụng. Điểm yếu của phương pháp này là người sử dụng sẽ bị chặn nếu không kết nối được với trung tâm. Ở đây chúng ta lại thấy một lần nữa mối liên hệ trái chiều giữa an ninh và tính sẵn sàng: càng nhiều server (tăng độ tin cậy) thì thời gian cửa sổ càng lớn (độ an toàn giảm).
Ngoài ra còn một phương án nữa là cung cấp các chứng thực có thời hạn. Việc xác định thời gian sống của mỗi chứng thực sẽ là sự cân bằng giữa yêu cầu an toàn và tính sẵn sàng của hệ thống và người dùng.
Các biện pháp tiến hành khi lộ khóa.
Hầu hết các trường hợp thu hồi khóa xảy ra khi có sự kiện nào đó chứng tỏ khóa bí mật đã bị lộ. Ta gọi thời điểm xảy ra sự kiện đó là T.
Điều này dẫn tới 2 hệ quả: Các văn bản mã hóa với khóa công khai sau thời điểm T không còn được xem là bí mật; và các chữ ký số thực hiện với khóa bí mật sau thời điểm T không còn được xem là thật nếu không có những tìm hiểu kỹ lưỡng các sự kiện để tìm ra nơi thực hiện chữ ký.
Nếu nguyên nhân của việc lộ bí mật là lỗi hệ thống thì cần tiến hành ngay lập tức chiến lược phục hồi. Chiến lược này sẽ xác định người có quyền thu hồi khóa, cách thức truyền thông tin tới người dùng, cách thức xử lý các văn bản mã hóa với khóa bị lộ sau thời điểm T. Quy trình phục hồi có thể rất phức tạp và trong lúc tiến hành thì hệ thống rất dễ bị tấn công từ chối dịch vụ (DoS).
Một số ví dụ.
Một số thuật toán mã hóa khóa công khai được đánh giá cao:
Một số thuật toán không được đánh giá cao:
Một số ví dụ về giao thức sử dụng mã hóa khóa công khai:
|
Vũ Trọng Tấn (sinh ngày 19 tháng 1 năm 1976) là một ca sĩ người Việt Nam. Anh có sở trường là các nhạc phẩm truyền thống và cách mạng, có chất giọng Tenor (nam cao), học vị thạc sĩ.
Trọng Tấn tốt nghiệp nhạc viện Hà Nội và trở nên nổi tiếng khi đoạt giải nhất Giọng hát hay Hà Nội năm 1997 và giải nhất Liên hoan tiếng hát truyền hình toàn quốc năm 1999. Anh còn đạt Giải nhì cuộc thi hát thính phòng và nhạc kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000.
Trọng Tấn sinh ngày 19 tháng 1 năm 1976 tại Thanh Hoá trong một gia đình có bốn anh chị em. Anh bắt đầu tham gia hoạt động văn nghệ từ khi còn là học trò trường Đào Duy Từ (Thanh Hoá). Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Trọng Tấn dự định thi vào 3 trường Đại học Kiến Trúc, ĐH Tài chính và Nhạc viện Hà Nội. Nhưng sau đó anh quyết định thi vào một trường duy nhất - Nhạc viện Hà Nội, và trở thành sinh viên của trường.
Lần đầu tiên từ Thanh Hóa ra Hà Nội là để nộp đơn thi vào Nhạc viện, dù học khối A, và chưa có kiến thức gì về nhạc lý. Vào ký túc xá, gặp bạn, Trọng Tấn được giới thiệu gặp cô giáo Minh Huệ khi đó là giảng viên của trường, nhưng vì xin học muộn quá (chỉ còn 12 ngày nữa là thi) nên cô không nhận nhưng khi tình cờ nghe được giọng hát của anh lúc anh đang tập luyện ở phòng bên, cô đã bảo hát lại và nhận dạy cho anh sau khi kiểm tra anh bằng một bài luyện thanh. Trọng Tấn là một trong 3 người thi đỗ khóa ấy.
Sau khi tốt nghiệp Học viện, Trọng Tấn làm giảng viên tại khoa Thanh nhạc của trường và tiếp tục theo nghiệp ca sĩ.
Tháng 9 năm 2013, anh quyết định nghỉ dạy để chuyên tâm vào công việc ca hát.
Ca sĩ Trọng Tấn thường chọn những ca khúc nhạc đỏ của những nhạc sĩ như Huy Du, Hoàng Việt, Phan Huỳnh Điểu , những bản tình ca lãng mạn về tình yêu mà một số nhạc sĩ đã 'rút ruột nhả tơ cho đời', cũng được anh lặng lẽ đón nhận và chuyển tải nó một cách cảm động đến với công chúng yêu nhạc.
Trọng Tấn đã phát hành một số album như "Một Chặng Đường", "Rặng Trâm Bầu" và album mới nhất "Tình Yêu Trên Dòng Sông Quan Họ" (năm 2008).
Năm 1998, anh bắt đầu kết hợp, hát cùng với Đăng Dương, Việt Hoàn và sau đó, bộ ba Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn trở nên nổi tiếng trong làng nhạc cách mạng Việt Nam.
Đêm 18 tháng 7 năm 2012, trong Chương trình nghệ thuật Chào mừng đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào diễn ra trong hai ngày 17 và 18 tháng 7 tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), Trọng Tấn (cùng ca sĩ Anh Thơ) đã tự ý bỏ về nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã gửi công điện yêu cầu đình chỉ biểu diễn các chương trình nghệ thuật trong nước và nước ngoài với hai người. Tiếp đó, Hội đồng kỷ luật của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam họp vào ngày 30 tháng 7 và ông Lê Văn Toàn - Giám đốc Học viện phê chuẩn kết quả bằng hai quyết định kỷ luật vào ngày hôm sau, ngày 1 tháng 8 năm 2012.
Trọng Tấn lập gia đình với Đặng Thị Thanh Hoa (kém Trọng Tấn 2 tuổi). Hai người yêu nhau từ khi còn học cấp ba tại Thanh Hóa, sau đó cùng lên Hà Nội lập nghiệp rồi cưới nhau.
Hiện nay anh và vợ có con trai tên là Vũ Tấn Đạt và con gái tên Vũ Hoa Thảo Nguyên. Cả hai con của anh hiện đang học ở Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Trọng Tấn đã từng chia sẻ, anh rất vui khi thấy các con của anh quyết định theo nghiệp hát của anh.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Ánh Tuyết, (sinh ngày 1 tháng 3 năm 1961 ở Hội An), là một ca sĩ Việt Nam, giọng soprano. Bà thành danh với các ca khúc của Văn Cao và tiền chiến.
Xuất thân và con đường đến với âm nhạc.
Ánh Tuyết tên thật là Trần Thị Tiếc, nhưng lúc làm giấy tờ bị ghi sai thành Trần Thị Tiết. Sinh ra trong gia đình hoạt động nghệ thuật (bố dạy nhạc, các anh là nhạc công), Ánh Tuyết có môi trường tiếp xúc nhạc từ nhỏ. Ánh Tuyết bắt đầu hát từ năm lên 3 tuổi, với "Tình hoài hương", "Tình cố đô".
Ánh Tuyết bắt đầu ca hát chuyên nghiệp từ năm 1969.
1978, Ánh Tuyết đầu quân về đoàn ca múa nhạc Đà Nẵng.
1980, học Nhạc viện Huế. Sau khi ra trường, Ánh Tuyết về đoàn Hải Đăng của Khánh Hoà.
Tháng 7/1993, chị được mời hát trong chương trình riêng của Văn Cao, có sự dự thính của ông. Báo chí sau đó đồng loạt viết về Ánh Tuyết như một hiện tượng trong làng âm nhạc Việt Nam, đặc biệt với những ca khúc của Văn Cao.
Tâm sự về nhạc Văn Cao.
Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Văn Cao, Ánh Tuyết phát biểu:
"Tôi làm đêm nhạc Văn Cao như là một cái nghĩa, cái gì đó vô hình và nặng lòng đối với tôi. Nhạc Văn Cao đã cho tôi nhiều thứ. Và nếu tôi không làm chương trình thì các ca sĩ trẻ và khán giả có thể sẽ lãng quên dòng nhạc trong sáng này"
Sau khi được Văn Cao khen: "Đầu đời, nhạc Văn Cao có Kim Tiê"tiêu" quá sớm. Không ngờ cuối đời nhạc Văn Cao lại có Ánh Tuyết", Ánh Tuyết khiêm tốn trả lời: "Nhưng thưa chú, Ánh Tuyết thì cũng chỉ mới ánh thôi, tuyết rồi thì cũng sẽ tan".
Khó khăn với kiểm duyệt.
Năm 2004, ca sĩ Ánh Tuyết dự định cho giải thể ban nhạc ATB vì có quá ít nhạc tiền chiến được các cơ quan quản lý nhà nước cho phép lưu hành tại Việt Nam lúc đó, không đủ để trình diễn lâu dài. Theo phỏng vấn trên báo Thanh Niên, Ánh Tuyết cho biết "đã có những vị quản lý "bảo thủ", nguyên tắc một cách cứng nhắc. Khán giả yêu cầu Ánh Tuyết hát bài này, bài nọ nhưng tôi không dám hát bởi các nhà quản lý cứ ôm cứng ngắc Danh mục 200 bài hát được phép lưu hành (nếu có bổ sung thì rất chậm)."
|
Phà hay bắc (phương ngữ Nam bộ, gốc tiếng Pháp: "bac") là một chiếc tàu thủy (hoạt động trên sông hoặc ven biển) chuyên chở hành khách cùng phương tiện trên những tuyến đường và lịch trình cố định. Có phà chỉ chuyên chở người, nhưng cũng có loại phà được thiết kế để chở tàu lửa hay xe hơi. Phà là một trong những phương tiện vận tải hữu ích nối liền nhiều điểm với nhau ở những thành phố vùng sông nước và trong nhiều trường hợp sử dụng phà sẽ rẻ hơn nhiều so với việc xây dựng cầu hay đường hầm.
Thường có hai loại chính:
|
Ngọc Sơn (ca sĩ)
Ngọc Sơn (sinh ngày 26 tháng 11 năm 1968) là một ca sĩ và nhạc sĩ người Việt Nam. Ngọc Sơn là người gốc Quảng Nam, sinh ở Hải Phòng, lớn lên và thành danh ở Bạc Liêu và Sài Gòn. Ông được biết đến với biệt danh là "Ông hoàng nhạc sến" hay "Michael Ngọc Sơn". Ông nổi tiếng với những ca khúc do chính mình sáng tác như "Vầng trăng cô đơn, Tình cha, Tình mẹ, lòng mẹ 2,tình phụ tử, tình mẫu tử, lời tỏ tình dễ thương"...
Ngọc Sơn, tên khai là Phạm Ngọc Sơn, sinh năm 1968 tại quê mẹ ở Đồ Sơn, Hải Phòng, nhưng quê cha ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Chính vì điều này nên ban đầu khi mới nổi tiếng, nhiều người nhầm lẫn Ngọc Sơn là người gốc Hải Phòng, tuy nhiên anh là người gốc Quảng Nam. Cha là Phạm Ngọc Thanh, hiệu trưởng trường Sinh viên miền Nam thời kỳ kháng chiến, đồng thời là trưởng đoàn văn công Quân khu 5. Ngọc Sơn sống trong gia đình có 4 anh chị em: chị Thu Hiền, Ngọc Sơn, Ngọc Hải và Ngọc Hà (sinh năm 1974).
Năm 1975, Ngọc Sơn theo bà vào Đà Nẵng. Năm 1977, anh vào Bạc Liêu sinh sống. Mãi đến năm 1987, Ngọc Sơn lên Thành phố Hồ Chí Minh và học trường Nghệ thuật Sân khấu 2. 2 năm sau, anh chuyển sang học thanh nhạc dân tộc và bước chân vào con đường sân khấu âm nhạc chuyên nghiệp. Anh lập tức trở thành hiện tượng thu hút khán giả bằng những sáng tác đầu tay như "Lòng mẹ", "Giận hờn", "Nhớ về em"... Đỉnh điểm là tại Liên hoan ca múa nhạc nhẹ toàn quốc 1989 tại Nha Trang, với nhiều ca sĩ nổi tiếng cùng tham gia, Ngọc Sơn đã trở thành hiện tượng lớn nhất của kỳ Liên hoan này. Anh tham gia với tư cách đại diện cho Đoàn Ca múa Minh Hải. Với bài hát "Thuyền và biển", anh gây sửng sốt cho giám khảo, khán giả và đồng nghiệp. Ngoài danh hiệu Ngôi sao Nhạc nhẹ, Ngọc Sơn là ca sĩ duy nhất được trao thêm giải thưởng "Ca sĩ được khán giả yêu thích nhất". Từ đây, anh được các hãng băng nhạc săn đón, các bài hát được sáng tác từ lúc mới đi hát những năm 87 - 88 được anh giới thiệu và nhanh chóng trở thành những bài hit.
Năm 1990, từ chương trình Gala 90, với bài hát "Lòng mẹ" do chính anh sáng tác, Ngọc Sơn trở thành cái tên số 1 với khán giả miền Bắc. Năm 1991, tại Cuộc thi đơn ca nhạc nhẹ chuyên nghiệp toàn quốc, Ngọc Sơn giành giải Nhì. Hàng loạt giải thưởng danh giá cùng những thành công liên tiếp trên sân khấu biểu diễn và băng đĩa giúp Ngọc Sơn trụ vững chắc ở vị trí ca sĩ ăn khách nhất Việt Nam những năm đó. Cho đến nay, các hãng đĩa vẫn nhắc đến tên Ngọc Sơn như một trong những ca sĩ có lượng băng đĩa bán ra nhiều nhất ở Việt Nam vào những năm thập niên 1990.
Ngày 6 tháng 9 năm 2014, Ngọc Sơn tổ chức buổi trình diễn "Dấu Ấn 13", được đông đảo người hâm mộ ủng hộ và được tường thuật trực tiếp trên sóng kênh VTV9 Đài Truyền hình Việt Nam.
Ngày 12 tháng 9 năm 2018, Ngọc Sơn thưởng nóng 250 triệu đồng cho U23 Việt Nam.
Ngọc Sơn thường xuyên có những hoạt động từ thiện ý nghĩa như phát tiền, phát gạo và quà tới người nghèo trong mỗi dịp sinh nhật. Anh đã thực hiện công việc này đều đặn trong khoảng 15 năm qua. Thành thông lệ, khoảng 26/11 hàng năm, người dân lại kéo tới rất đông để nhận quà từ thiện. Anh cũng chia sẻ nguyện vọng bán căn biệt thự trăm tỷ để quyên góp vào quỹ từ thiện và chỉ giữ lại một khoản nhỏ cho bản thân.
Năm 1992, Ngọc Sơn bị bắt và kết án 8 tháng tù vì tội "được trả tiền nhiều để hát những ca khúc chưa được cấp phép".
Năm 2000, Ngọc Sơn đã đúc tượng của chính mình đặt trước sân nhà. Nam ca sĩ cho biết pho tượng có giá 1.000 cây vàng và chưa ai trên thế giới từng có. Năm 2006, chính quyền buộc Ngọc Sơn phải gỡ bức tượng này xuống vì có tin đồn rằng bức tượng chảy nước mắt. Tin này là một kiểu ăn theo các tin tương tự trước đó như "tượng Đức mẹ chảy nước mắt"...
Năm 2006, anh cho in nhiều tờ poster tuyên truyền "8 điều chân tình của Ngọc Sơn" với kiểu ngữ pháp tương tự như "14 điều răn của Phật", trong đó có những câu: "Đạo đức nhất của con người là tôn trọng chữ hiếu", "Khó khăn nhất của con người là chiến thắng chính mình"... Tuy nhiên 20.000 tấm poster được in ra và phát miễn phí để tuyên truyền lại trở thành trung tâm của nhiều sự châm biếm khi anh để hình mình mặc áo thun ba lỗ ở kế bên những dòng chữ đó. Còn khi được hỏi: "anh có làm theo những lời chân tình đó không?" thì Ngọc Sơn trả lời: "Tôi nói người ta làm thôi, tôi đâu có làm!".
Ngày 19 tháng 3 năm 2007, Ngọc Sơn đã ký vào đơn hiến xác cho y học.
Năm 2008, một đoạn clip được tung lên mạng được cho là của Ngọc Sơn và Duy Mạnh. Trong clip Ngọc Sơn đã có những hình ảnh không đẹp về việc chat qua Paltalk.
Năm 2013, Ngọc Sơn tuyên bố đã mua bảo hiểm trinh tiết đời trai 1 triệu USD. Là nam nghệ sĩ dính nhiều tai tiếng liên quan đến giới tính nhưng Ngọc Sơn khẳng định mình là người rất nghiêm túc trong chuyện tình yêu và hôn nhân. Ngọc Sơn chia sẻ, việc anh bỏ số tiền lớn để mua bảo hiểm trinh tiết thể hiện quan điểm chỉ 'trao' cho người xứng đáng nhất và duy nhất.
Em trai Ngọc Sơn là Ngọc Hải vốn từng là ca sĩ ăn khách ở Việt Nam qua chuỗi băng ca nhạc VHS "Mưa bụi" vào thập niên 1990, nhất là khi song ca với nữ ca sĩ Thạch Thảo. Về sau Ngọc Hải bỏ ca hát và chuyển nghề sang làm kinh doanh và có được nhiều thành công.
|
Windows 98 (tên mã Memphis) hay Windows 98 FE (Windows 98 First Edition). Windows 98 bản gốc sở dĩ được đặt tên như vậy để nhằm phân biệt với Windows 98 Second Edition phát hành vào năm 1999. Windows 98 là một hệ điều hành giao diện đồ họa được Microsoft giới thiệu vào ngày 25 tháng 6 năm 1998.
Hệ điều hành này là một phiên bản nâng cấp của Windows 95. Cũng như Windows 95, hệ điều hành này là một hệ thống pha trộn 16-bit/32-bit. Hệ điều hành này hỗ trợ tốt hơn các thiết bị phần cứng AGP, USB... Giống với phiên bản Windows 95 trước đó, Internet Explorer tiếp tục được tích hợp vào trong giao diện Windows Explorer (đây là thành phần được gọi là Active Desktop).
Windows 98 Second Edition.
Một số thành phần của phiên bản gốc Windows 98 và Windows 98 Second Edition có thể được cập nhật lên các phiên bản mới hơn. Bao gồm các:
Trình diễn báo chí.
Việc phát hành Windows 98 được bắt đầu bằng một cuộc biểu tình báo chí đáng chú ý tại COMDEX vào tháng 4 năm 1998. Giám đốc điều hành Microsoft Bill Gates đã nêu bật tính dễ sử dụng của hệ điều hành và hỗ trợ nâng cao cho Plug and Play (PnP). Tuy nhiên, khi trợ lý thuyết trình Chris Capossela cắm nóng máy quét USB vào, hệ điều hành đã bị treo, hiển thị Màn hình xanh chết chóc (BSOD). Bill Gates nhận xét sau những tràng pháo tay chế nhạo và cổ vũ từ khán giả, "Đó phải là lý do tại sao chúng tôi chưa vận chuyển Windows 98." Đoạn video về sự kiện này đã trở thành một hiện tượng Internet phổ biến.
Vòng đời sản phẩm.
Microsoft đã lên kế hoạch ngừng hỗ trợ cho Windows 98 vào ngày 16 tháng 1 năm 2004. Tuy nhiên, do sự phổ biến liên tục của hệ điều hành (27% lượt xem trang của Google là trên các hệ thống Windows 98 trong tháng 10 năm 2003), Microsoft đã quyết định để duy trì hỗ trợ cho đến ngày 11 tháng 7 năm 2006. Hỗ trợ cho Windows Me cũng kết thúc vào ngày này. Dưới sự hỗ trợ phần mềm tối thiểu hóa, thị phần Windows 98 (SE) được công bố bởi lượt truy cập đã giảm dần xuống còn 2,7%. Windows 98 không còn có sẵn dưới bất kỳ hình thức nào do các điều khoản của các khu định cư liên quan đến Java mà Microsoft thực hiện với Sun microsystems. Năm 2011, Microsoft đã gỡ bỏ các trang web cập nhật cho Windows 98 và Windows 98 SE.
Windows 98 không được thiết kế để xử lý hơn 1.0 GB RAM mà không thay đổi. Cách khắc phục và bản vá của bên thứ ba có sẵn để khắc phục thiếu sót này. Cả Windows 98 và Windows 98 Second Edition đều gặp sự cố khi chạy trên ổ cứng lớn hơn 32 GB và một số cài đặt BIOS Phoenix nhất định. Một bản cập nhật phần mềm đã sửa lỗi thiếu sót này. Ngoài ra, cho đến Windows XP với Gói dịch vụ 1, Windows không thể xử lý các ổ đĩa cứng có kích thước trên 137 GB với trình điều khiển mặc định, do thiếu hỗ trợ Địa chỉ khối logic 48 bit. Mặc dù Microsoft chưa bao giờ chính thức khắc phục sự cố này, các bản vá không chính thức có sẵn để khắc phục thiếu sót này trong Windows 9x, mặc dù tác giả tuyên bố rằng hỏng dữ liệu là có thể và không đảm bảo rằng nó sẽ hoạt động như mong đợi.
|
Kỷ Cambri ( hay ) là một đơn vị phân chia chính trong niên đại địa chất, bắt đầu vào khoảng 541,0 ± 1,0 triệu năm (Ma) trước vào cuối thời kỳ liên đại Nguyên Sinh và kết thúc vào khoảng 485,4 ± 1,9 Ma (Ma: "Megaannum", triệu năm trước) với sự khởi đầu của kỷ Ordovic (theo ICS, 2018). Nó là kỷ đầu tiên của đại Cổ sinh thuộc liên đại Hiển Sinh. Kỷ Cambri là kỷ sớm nhất mà trong các lớp đá của thời kỳ đó người ta tìm thấy một lượng lớn các sinh vật đa bào đã hóa thạch một cách rõ ràng, chúng phức tạp hơn so với hải miên (bọt biển, ngành Porifera) hay sứa (phân ngành Medusozoa). Trong thời gian này, khoảng 50 nhóm sinh vật chính tách biệt hay "ngành" đã xuất hiện một cách đột ngột, trong phần lớn các trường hợp là không có tổ tiên một cách rõ ràng (đối với kiến thức khoa học hiện nay). Sự bùng nổ các ngành này được nói đến như là "sự bùng nổ kỷ Cambri".
Kỷ Cambri diễn ra sau đại Tân Nguyên Sinh và trước kỷ Ordovic. Kỷ Cambri trước đây được chia thành 3 thế - là Cambri sớm (Cambri hạ, Caerfai hay Waucoban), Cambri giữa (Cambri trung St. Davids hay Albertian) và Cambri muộn/thượng (Merioneth hay Croixan) hay như hiện nay trong địa tầng học là 4 thống - là thống Terreneuve (tương đương với Cambri sớm), thống 2 và thống 3 chưa đặt tên (tương đương Cambri giữa) và thống Phù Dung (tương đương Cambri muộn).
Mỗi thống hiện tại được chia ra thành 2-3 tầng, làm cho kỷ Cambri có 10 tầng. Tuy nhiên, vào thời điểm tháng 8 năm 2008 chỉ có 3 tầng là tầng Fortune (năm 1992), tầng Bài Bích (2003) và tầng Drum (2006) là được ICS công nhận. Các tầng khác hiện vẫn chưa được đặt tên. Tầng Cổ Trượng là tên gọi dự kiến được thông qua năm 2009. Bên cạnh đó, các tầng 5 và 9 dự kiến sẽ có tên gọi trong năm 2008; các tầng 3, 4, 10 dự kiến sẽ có tên gọi trong năm 2009 còn tầng 2 thì hiện tại vẫn chưa quyết định sự kiện chỉ dẫn là gì. (Nguồn: ICS).
Ngoài ra, kỷ Cambri cũng được phân chia thành một số tầng mang tính khu vực như bảng sau, trong đó hệ thống Nga-Kazakhstan được sử dụng nhiều nhất trong các văn bản quốc tế:
Niên đại của kỷ Cambri.
Khoảng thời gian của kỷ Cambri về mặt kinh điển được cho là từ khoảng 500 Ma tới khoảng 570 Ma. Ranh giới dưới (sớm) của kỷ Cambri theo truyền thống được thiết lập khi có sự xuất hiện sớm nhất của các loại động vật chân đốt (ngành "Arthropoda") nguyên thủy được biết đến như là bọ ba thùy (lớp "Trilobita") và các dạng động vật nguyên thủy tựa như san hô sừng, được biết đến như là "Archaeocyatha". Sự kết thúc của kỷ này cuối cùng được thiết lập theo sự thay đổi tương đối rõ ràng trong hệ động vật mà hiện nay đã xác định như là sự kiện tuyệt chủng. Các khám phá hóa thạch và xác định niên đại bằng phóng xạ trong khoảng 25 năm cuối thế kỷ 20 đã đưa các số liệu thời đại này vào trong câu hỏi. Sự chênh lệch về thời gian lên tới 20 triệu năm là phổ biến giữa các học giả. Khoảng thời gian "khoảng" 545 đến 490 Ma đã được tiểu ủy ban quốc tế về địa tầng học toàn cầu đưa ra gần đây vào năm 2002.
Dữ liệu xác định niên đại bằng phóng xạ từ New Brunswick đã đặt sự kết thúc của kỷ này vào khoảng 511 Ma. Kết quả này bỏ lại khoảng 21 triệu năm cho hai giai đoạn khác của kỷ Cambri.
Dữ liệu niên đại chính xác hơn 542 ± 0,3 Ma cho sự kiện tuyệt chủng vào đầu kỷ Cambri đã được đưa ra gần đây. Cơ sở hợp lý cho niên đại chính xác này là một điều thú vị do nó là một hình mẫu của nguyên lý suy diễn cổ sinh vật học. Ở ranh giới của kỷ Cambri, một cách chính xác là đã có sự suy giảm rõ nét trong mức độ phổ biến của đồng vị C13, một 'đường đảo ngược' mà các nhà cổ sinh vật học gọi là "sự lệch hướng". Một điều cũng khá phổ biến là nó lại là chỉ số tốt nhất về vị trí của ranh giới tiền Cambri-Cambri trong các lớp địa tầng với niên đại xấp xỉ như vậy. Một trong những khu vực mà sự lệch hướng của cacbon-13 đã được biết rất rõ này diễn ra tại Oman. Amthor (2003) miêu tả các chứng cứ từ Oman đã chỉ ra sự lệch hướng của đồng vị cacbon có liên quan đến sự tuyệt chủng hàng loạt: Sự biến mất các hóa thạch rõ ràng từ thời tiền Cambri trùng khớp một cách chính xác với các bất thường của cacbon-13. Một điều may mắn là tại các lớp đá Oman, cũng như từ các lớp tro núi lửa mà từ đó dựa trên đồng vị của ziricon người ta đã đưa ra niên đại khá chính xác là 542 ± 0,3 Ma (tính toán trên tỷ lệ phân rã urani thành chì). Niên đại mới và chính xác này phù hợp với niên đại ít chính xác hơn đối với các dị thường của cacbon-13, thu được từ các lớp đá tại Siberia và Namibia. Các dữ liệu này có lẽ sẽ được chấp nhận như là niên đại chính xác cuối cùng cho giai đoạn bắt đầu của thời Hiển sinh ("Phanerozoic"), và vì thế là sự bắt đầu của đại Cổ sinh và kỷ Cambri.
Cổ địa lý học kỷ Cambri.
Các lục địa trong kỷ Cambri được cho là kết quả từ sự vỡ ra của siêu lục địa trong đại Tân Nguyên Sinh là Pannotia. Nước trong thời kỳ thuộc kỷ Cambri dường như là trải rộng và nông. Gondwana vẫn là siêu lục địa lớn nhất sau khi Pannotia vỡ ra. Người ta cũng cho rằng khí hậu thời kỳ này là nóng hơn một cách đáng kể so với thời gian trước đó, thời gian mà Trái Đất hứng chịu các thời kỳ băng hà mạnh đã được coi như là sự đóng băng Varanger (kỷ Thành băng). Bên cạnh đó đã không có sự đóng băng tại hai địa cực. Tỷ lệ trôi dạt lục địa trong kỷ Cambri có thể là cao bất thường. Laurentia, Baltica và Siberia vẫn là các lục địa độc lập kể từ khi Pannotia vỡ ra. Gondwana bắt đầu trôi dạt về phía cực Nam. Panthalassa che phủ phần lớn Nam bán cầu, các đại dương nhỏ có đại dương Proto-Tethys, đại dương Iapetus và đại dương Khanty, tất cả chúng đều mở rộng trong thời gian này.
Động vật kỷ Cambri.
Bên cạnh một số dạng sự sống bí ẩn mà có thể coi là động vật hoặc không là động vật, tất cả các ngành động vật hiện đại trong bất kỳ mẫu hóa thạch nào có thể đề cập tới, ngoại trừ ngành Bryozoa, dường như đều có các đại diện trong kỷ Cambri. Tất cả chúng, ngoại trừ hải miên ("Porifera"), dường như có sự khởi đầu chỉ ngay sau hoặc ngay trước khi bắt đầu kỷ này. Tuy nhiên, một vài ngành hiện đại, chủ yếu là các ngành với thân nhỏ hoặc mềm, không có mẫu hóa thạch trong kỷ Cambri. Nhiều ngành động vật đã tuyệt chủng, kỳ cục và có quan hệ không rõ ràng với các động vật khác, cũng xuất hiện trong kỷ Cambri. Sự xuất hiện dường như là "bất ngờ" của hệ động vật đa dạng trong một khoảng thời gian không quá vài chục triệu năm này được coi là "Sự bùng nổ kỷ Cambri".
Qua nghiên cứu các hóa thạch đã được tìm thấy, các nhà khoa học đã dựng lại khung cảnh sống và nguồn thực phẩm của cá động vật kỉ Cambri, phân chúng thành 4 nhóm:
Có thể nói trong kỷ Cambri các loài Chân khớp phát triển hết sức đa dạng, theo ước tính có thể lên đến 20 nhóm, không như ngày nay chỉ còn 4 nhóm là Côn trùng, Giáp xác, Nhện và nhóm Nhiều chân (Đa túc). Phổ biến nhất là Tôm ba lá (còn gọi là Trùng tam điệp hay Bọ ba thùy), vì thế các nhà khoa học còn gọi kỷ Cambri là "thời đại Bọ ba thùy" và hóa thạch bộ ba thùy là hóa thạch chỉ thị cho kỷ Cambri. Bộ ba thùy có nhiều hình thức sống khác nhau. Có loại sống gần mặt biển, có loại sống ở tầng nước giữa, cóa loại sống ở tầng đáy. Các nhà khoa học đã tìm thấy hơn 10.000 loài bọ ba thùy khác nhau, có kích thước trung bình từ 3 – 42 cm, cá biệt có con dài đến 75 cm. Cấu tạo cơ thể chúng gồm đầu và thân, chia ra thành nhiều đốt, xếp chồng như mái ngói giúp cho bọ ba thùy có thể cuộn tròn một cách dễ dàng. Ở một vài loài, các đốt cuối liền với nhau tạo thành cái đuôi. Và giống như các loài Chân khớp khác, bộ ba thùy mỗi lần lớn lên thì chúng phải lột xác và phải một thời gian sau thì vỏ mới cứng lại. Loài "Deiphon" có nhiều chân bơi lội một cách nhẹ nhàng trên đáy đại đương, loài "Encrinurus" thì có mắt lồi sống ở tầng đáy, loài "Calymene" khi gặp nguy hiểm thì cuộn tròn mình lại, còn loài "Trimerus" thì có đời sống chuyên vùi mình xuống bù
Khu vực được nghiên cứu kỹ nhất mà tại đó các phần mềm của các sinh vật hóa thạch nằm trong đá phiến sét Burgess ở British Columbia, Canada. Chúng đại diện cho các địa tầng thời Cambri giữa và cung cấp nhiều thông tin cho con người về sự đa dạng động vật thời kỳ đó. Các hệ động vật tương tự lần lượt sau đó cũng được tìm thấy tại nhiều khu vực khác - quan trọng nhất là trong các lớp đá phiến sét giai đoạn Cambri sớm tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (xem đá phiến sét Trừng Giang). Các hệ động vật thời kỳ tiền Cambri thuộc kỷ Ediacara cũng đã được nhận dạng trong 50 năm qua, nhưng quan hệ của chúng với các dạng sự sống động vật kỷ Cambri là hoàn toàn mờ mịt.
Cambri là tên gọi lấy theo Cambria, tên gọi cũ của Wales, khu vực mà các loại đá thuộc kỷ này đã được nghiên cứu lần đầu tiên.
|
Windows NT 5.0 (tên cũ) là một dòng hệ điều hành của Microsoft dùng cho máy tính cá nhân, máy tính văn phòng, máy tính xách tay và máy chủ, Ra mắt ngày 17/2/2000, Windows 2000 là sản phẩm kế tiếp Windows NT 4.0. Theo sau là Windows XP cho máy tính để bàn vào tháng 10/2001 và Windows Server 2003 cho máy chủ vào tháng 4/2003. Windows Me được phát hành 7 tháng sau Windows 2000 và 1 năm trước Windows XP, nhưng không phải là sản phẩm kế tiếp Windows 2000. Windows Me dành cho gia đình, trong khi Windows 2000 được thiết kế dành cho công việc.
Windows 2000 được xây dựng dựa trên hệ điều hành Windows NT. Ban đầu nó được gọi là Windows NT 5 nhưng Microsoft đổi tên thành Windows 2000 vào ngày 27/10/1998. Nó cũng là phiên bản Windows đầu tiên không có tên mã. Phiên bản thử nghiệm đầu tiên được ra mắt ngày 27/9/1997. Nhiều phiên bản thử nghiệm nữa cũng được ra mắt cho đến bản Beta 3 ngày 29/4/1999. Microsoft ra mắt ba phiên bản nữa từ tháng 7 đến tháng 9/1999. Microsoft phát hành Windows 2000 cho các đối tác ngày 12/12/1999. Phiên bản đầy đủ được phát hành vào 17/2/2000 và được xem là phiên bản Windows chạy ổn định nhất. Vào ngày 29/2/2000, Microsoft phát hành Windows 2000 Datacenter. Microsoft phát hành Service Pack 1 (SP1) vào ngày 15/8/2000, Service Pack 2 (SP2) vào ngày 16/5/2001, Service Pack 3 (SP3) vào ngày 29/8/2002 và Service Pack 4 (SP4) vào 26/6/2003. Microsoft nói rằng họ sẽ phát hành Service Pack 5, nhưng thay vào đó, họ đã phát hành một bản cập nhật cho Service Pack 4.
Microsoft đã thay thế Windows 2000 Server bằng Windows Server 2003, và Windows 2000 Professional bằng Windows XP Professional. Windows Neptune được phát triển từ 1999. Nó đáng lẽ ra là phiên bản gia đình của Windows 2000. Tuy nhiên, chỉ một bản trước thử nghiệm (alpha) được tạo ra. Thay vào đó, Microsoft phát hành Windows Me và dự án Windows Neptune được nhập vào dự án Windows XP. Chức năng duy nhất của Neptune được tích hợp trong Windows 2000 là khả năng nâng cấp Windows 95, Windows 98, và hỗ trợ hệ thống quản lý tập tin FAT32.
Nhiều lỗ hổng bảo mật đã được phát hiện ra trong Windows 2000. Code Red và Code Red II là 2 sâu máy tính nổi tiếng nhất thông qua lỗi dịch vụ định vị tập tin của IIS trong Windows 2000 để tạo ra một lỗi bảo mật. Vào tháng 8/2003, hai sâu máy tính là Sobig và Blaster tấn công hàng triệu máy tính dùng Microsoft Windows và gây rất nhiều phiền toái cho những người quản trị mạng dùng Windows 2000. Điều này khiến cho nhiều đối tác của Microsoft và các chính phủ nghiên cứu cẩn thận về các lỗi bảo mật của Microsoft.
Windows 2000 được phát triển dựa trên toàn bộ mã nguồn của Windows NT 4.0 và bộ giao diện của Windows 98. Đi kèm với NTFS 3.0 và các thay đổi lớn. Bản build đầu tiên của Windows 2000 là Build 1515, với số mã là NT 5.00.1515, tiếp nối bản Build 1381 của Windows NT 4.0.
|
Burst! là một trình khách BitTorrent.
Burst! sử dụng chương trình BitTorrent làm công cụ xử lý hậu trường (tiếng Anh: back-end), và thay giao diện của chương trình BitTorrent bằng giao diện mới tương thích với giao diện của các ứng dụng trên hệ điều hành Windows.
Khi tải cùng lúc nhiều tệp Burst! có ưu điểm so với các trình khách BitTorrent là nó sử dụng ít tài nguyên hệ thống và có nhiều tính năng hơn chương trình BitTorrent, như tính năng quản lý tệp torrent và khả năng hoạt động ở chế độ siêu gieo hạt.
Burst! được viết bằng ngôn ngữ lập trình Delphi và ngôn ngữ lập trình Python sử dụng bộ công cụ Kylix. Chương trình BitTorrent nguyên bản sử dụng wxPython để lập trình giao diện người dùng, nhưng Brust! thì khác, nó sử dụng các công cụ của Delphi để lập trình giao diện người dùng, vì vậy Brust! tiêu tốn ít bộ nhớ trong hơn chương trình BitTorrent.
|
Chu trình Carnot là một chu trình nhiệt động lực học được nghiên cứu bởi Nicolas Léonard Sadi Carnot trong thập niên 1820 và Benoit Paul Émile Clapeyron vào khoảng thập niên 1830 và 1840. Các nghiên cứu này có động cơ là tìm kiếm một chu trình nhiệt động lực học có hiệu suất cao nhất, và chu trình Carnot đã được chứng minh là chu trình dành cho các động cơ nhiệt hay máy lạnh có hiệu năng tốt nhất. Đây cũng là nội dung của định lý Carnot.
Chu trình Carnot cũng là một chu trình thuận nghịch. Người ta cũng đã chứng minh rằng mọi chu trình nhiệt động lực học thuận nghịch đều là chu trình kết hợp của các chu trình Carnot nhỏ hơn.
Động cơ Carnot là các động cơ nhiệt hoạt động theo chu trình Carnot. Một chu trình của động cơ Carnot trải qua các bước:
Sau khi kết thúc một chu trình, động cơ Carnot thực hiện nhiều công vào môi trường hơn là nhận công của môi trường; và thu nhận nhiều nhiệt lượng từ nguồn nhiệt độ cao hơn là nhả ra cho nguồn nhiệt độ thấp. Theo định luật bảo toàn năng lượng, tổng công cơ học động cơ sinh ra cho môi trường đúng bằng chênh lệch nhiệt lượng thu nhận và nhả ra với môi trường.
Máy lạnh Carnot là một máy lạnh hoạt động với chu trình Carnot ngược. Nghĩa là chất khí trong máy lạnh trải qua các giai đoạn từ A đến D, C, B rồi về A trong biểu đồ trên.
Sau khi kết thúc một chu trình, máy lạnh Carnot thu nhận nhiều công của môi trường hơn là thực hiện vào môi trường; và nhả ra nhiều nhiệt lượng cho nguồn nhiệt độ cao hơn là nhận vào từ nguồn nhiệt độ thấp. Theo định luật bảo toàn năng lượng, tổng công cơ học mà môi trường thực hiện vào máy lạnh đúng bằng chênh lệch nhiệt lượng nhả ra và nhận vào với môi trường.
Theo lý thuyết tổng quát về chu trình nhiệt động lực học, công thực hiện lên môi trường bởi một chu trình Carnot (hay nhận được từ môi trường bởi một chu trình Carnot ngược), "W", là diện tích nằm trong biểu đồ nhiệt độ - entropy.
Nhiệt năng trao đổi với nguồn nóng là diện tích nằm dưới được đẳng nhiệt ở nhiệt độ cao:
Nhiệt năng trao đổi với nguồn lạnh là diện tích nằm dưới được đẳng nhiệt ở nhiệt độ thấp:
Hiệu suất động cơ Carnot.
Hiệu suất "η" của động cơ nhiệt có thể được định nghĩa là tỷ số giữa công thực hiện bởi động cơ trên nhiệt tiêu tốn ở nguồn nóng:
Để có được nhiều công sinh ra cho cùng một nhiệt lượng tiêu thụ ở nguồn nóng, cần giảm tỷ số "T""C" trên "T""H", tức là làm gia tăng chênh lệch nhiệt độ giữa nguồn nóng và nguồn lạnh.
Hiệu suất máy lạnh Carnot.
Hiệu suất "η" của máy lạnh có thể được định nghĩa là tỷ số giữa nhiệt lấy ra ở nguồn lạnh trên công cần thực hiện lên máy lạnh:
Để có được nhiều nhiệt lượng lấy ra từ nguồn lạnh cho cùng một công thực hiện lên máy, cần giảm tỷ số "T""H" trên "T""C", tức là làm giảm chênh lệch nhiệt độ giữa nguồn nóng và nguồn lạnh.
Định lý Carnot phát biểu rằng:
"Không một động cơ nhiệt nào hoạt động giữa hai nguồn nhiệt lại có hiệu suất cao hơn động cơ Carnot hoạt động với cùng hai nguồn nhiệt đó."
Người ta cũng chứng minh rằng:
"Tất cả các chu trình thuận nghịch hoạt động giữa cùng hai nguồn nhiệt có hiệu suất bằng nhau."
"Tất cả các chu trình không thuận nghịch có hiệu suất nhỏ hơn các chu trình thuận nghịch hoạt động giữa cùng hai nguồn nhiệt."
Định lý Carnot cũng có thể coi là một hệ quả của định luật hai nhiệt động lực học. Mặc dù trên thực tế không thể chế tạo được các động cơ thực sự thuận nghịch, do các quá trình không thuận nghịch như ma sát, định lý Carnot vẫn giúp định hướng việc chế tạo động cơ có hiệu suất cao sao cho càng gần thuận nghịch càng tốt.
|
eDonkey2000 là một chương trình chia sẻ tệp trên mạng đồng đẳng, được phát triển bởi MetaMachine, sử dụng giao thức chuyển vận tệp đa nguồn (tiếng Anh: Multisource File Transfer Protocol). Chương trình eDonkey hỗ trợ cả hai mạng eDonkey và mạng Overnet.
Người dùng eDonkey2000 chủ yếu chia sẻ những tệp rất lớn, hàng trăm mêgabyte, như đĩa CD, phim, trò chơi, và phần mềm. Không như các phần mềm chia sẻ tệp đồng đẳng khác, tệp chia sẻ trong mạng eDonkey được cung cấp dưới dạng một liên kết ed2k, chương trình eDonkey2000 sẽ tự khởi động và tải tệp khi liên kết ed2k được kích hoạt. Một số trang web chuyên cung liên kết ed2k, các trang web này cũng có thể cung cấp một danh sách các máy chủ để người dùng cập nhật liên kết ed2k.
MetaMachines cũng tạo ra một giao thức chia sẻ tệp khác gọi là Overnet có khả năng hoạt động liên kết với mạng eDonkey, nhưng không sử dụng máy chủ. Hầu hết các trình khách eDonkey hiện nay đều sử dụng mạng Overnet. Năm 2004, MetaMachines tuyên bố ngừng phát triển Overnet để tập trung vào mạng eDonkey2000, nhưng các trình khách eDonkey2000 mới vẫn bao gồm giao thức Overnet.
Phiên bản chính thức mới nhất của chương trình eDonkey2000 bao gồm một công cụ bổ sung cho phép tải tệp bằng tệp codice_1. Một khi tệp torrent được mở bằng eDonkey2000, chương trình sẽ bắt đầu tìm kiếm các tệp có chứa trong tệp torrent trên mạng eDonkey/Overnet nếu tìm được nó sẽ tải tệp về đồng thời. Việc sử dụng tệp torrent như một nguồn cung cấp tệp phụ trợ ngoài mạng eDonkey làm tăng tính hiệu quả và tốc độ tải tệp của chương trình eDonkey2000. Bởi sự hiệu quả của việc kết hợp mạng Overnet, mạng eDonkey và hệ thống phân phối tệp theo giao thức BitTorrent đã làm nảy sinh một xu hướng muốn kết hợp tất cả các nguồn cung cấp tệp từ các mạng khác nhau trong giới lập trình viên mạng đồng đẳng. Điều này có lợi cho người dùng vì nó tăng khả năng tải được tệp mình cần và giảm thiểu các điểm yếu của từng mạng.
Tháng 9 năm 2005, dựa trên phán quyết của Tòa án tối cao của Mỹ vào tháng 6 RIAA đã gửi thư cho trụ sở chính của Metamachine yêu cầu dừng ngay lại việc làm vi phạm bản quyền của công ty. Ngày 22 tháng 9 năm 2005 rất nhiều các trang web tin tức đã đưa tin: trụ sở chính của tổng công ty Metamachine đã bị đóng c
Tuy nhiên ngày 28 tháng 9 năm 2005, trụ sở của eDonkey chính thức đóng cửa (BetaNews Article). Tổng giám đốc của công ty MetaMachine giải thích về việc này đại ý là: công ty sẽ chuyển người dùng eDonkey sang môi trường bán lẻ nội dung trực tuyến thay vì hoạt động trên môi trường mạng đồng đẳng đóng.
|
"Permi cũng là tên gọi khác cho phân nhóm ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Permi"
Kỷ Permi (Nhị Điệp) là một kỷ địa chất kéo dài từ khoảng 298,9 ± 0,15 triệu năm trước (Ma) tới 252,17 ± 0,06 Ma. Nó là kỷ cuối cùng của đại Cổ Sinh. Cũng giống như các kỷ địa chất khác, các địa tầng xác định kỷ Permi được xác định rất rõ ràng, nhưng niên đại chính xác của sự bắt đầu của kỷ là không chắc chắn với sai số vài triệu năm. Kỷ Permi diễn ra sau kỷ Than Đá (thế Pennsylvania tại Bắc Mỹ) và ngay sau nó là kỷ Trias thuộc đại Trung Sinh. Sự kết thúc của kỷ này được đánh dấu bằng sự kiện tuyệt chủng lớn, gọi là sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias, đã được xác định niên đại chính xác hơn. Kỷ Permi được Roderick Murchison-một nhà địa chất học người Anh đặt tên trong thập niên 1840, theo khu vực được khai quật rộng khắp xung quanh thành phố Permi ở Nga. Các lớp khai quật tại Permi bao gồm một lượng lớn đá trầm tích lục địa màu đỏ và các lớp khai quật thuộc phần nước đại dương. Trong kỷ này xuất hiện phổ biến các loài bò sát tương tự như động vật có vú.
Ba đơn vị phân chia nhỏ của kỷ Permi được đưa ra dưới đây từ già (cổ) nhất tới trẻ nhất, và bao gồm các tầng động vật cũng từ cổ nhất tới trẻ nhất. Các tên gọi thời kỳ/giai đoạn tương đương được đặt trong đóng mở ngoặc.
Mực nước biển trong kỷ Permi nói chung tương đối thấp, và các môi trường ven bờ biển đã bị thu hẹp bởi sự tập hợp của gần như tất cả các khối đất lớn lại với nhau thành một siêu lục địa là Pangea. Một siêu lục địa, thậm chí là rất lớn, luôn có ít đường bờ biển hơn so với từ 6 đến 8 lục địa nhỏ hơn có cùng tổng diện tích. Nó có thể là một trong những nguyên nhân gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt các loài động vật biển vào cuối kỷ này bởi sự suy giảm nghiêm trọng các khu vực nông cạn ven biển mà nhiều dạng sự sống trong đại dương luôn ưa thích.
Cổ địa lý học.
Trong kỷ Permi, tất cả các khối đất lớn của Trái Đất, ngoại trừ phần thuộc Đông Á ngày nay, đã kết hợp lại với nhau thành một siêu lục địa, gọi là Pangea. Pangea bao trùm khu vực xích đạo và mở rộng về phía hai cực, với hiệu ứng tương ứng đối với các dòng hải lưu trong một đại dương lớn, gọi là "Panthalassa", ("đại dương toàn thế giới").
Một siêu lục địa lớn như vậy tạo ra các điều kiện khí hậu với các dao động lớn về nóng và lạnh ("khí hậu lục địa") và gió mùa với mô hình mưa có tính chất theo mùa rõ rệt. Các sa mạc dường như đã trải rộng khắp Pangea. Các điều kiện khô như thế thích hợp cho thực vật hạt trần với các hạt nằm trong các lớp bảo vệ hơn là cho các loại thực vật như dương xỉ trong việc phân tán bào tử. Các loài cây thân gỗ hiện đại đầu tiên như thông (ngành Pinophyta), bạch quả (ngành Ginkgophyta) và tuế (ngành Cycadophyta) đã xuất hiện trong kỷ Permi.
Ba khu vực chung là đặc biệt đáng lưu ý đối với các trầm tích kỷ Permi bao gồm: dãy núi Ural (trong đó có cả Permi), Trung Quốc và miền tây nam Bắc Mỹ, trong đó thung lũng Permi tại bang Texas, Hoa Kỳ được đặt tên như vậy do nó có một trong những lớp trầm tích dày nhất trong các loại đá thuộc kỷ Permi trên thế giới.
Các trầm tích đại dương thuộc kỷ Permi rất giàu các hóa thạch của động vật thân mềm (ngành "Mollusca"), động vật da gai (ngành "Echinodermata") và động vật tay cuộn (ngành "Brachiopoda"). Các vỏ hóa thạch của hai chủng loại động vật không xương sống được sử dụng rộng rãi để xác định các địa tầng kỷ Permi và so sánh chúng giữa các khu vực là: các sinh vật thuộc bộ "Fusulinida", một loại sinh vật đơn bào có vỏ tương tự như amip thuộc ngành "Foraminifera", và các con cúc (phân lớp "Ammonoidea"), một dạng động vật chân đầu có vỏ- các họ hàng xa của ốc anh vũ (phân bộ "Nautilina") ngày nay.
Kết thúc của kỷ Permi, bọ ba thùy và 90% các nhóm động vật biển khác đã bị tuyệt chủng.
Động vật trên cạn.
Sự sống trên đất liền trong kỷ Permi bao gồm các loại thực vật đa dạng, động vật chân đốt (ngành "Arthropoda") và nhiều dạng khác nhau của động vật bốn chân (siêu lớp "Tetrapoda") kỷ Pecmi.
Kỷ Permi bắt đầu với hệ thực vật thuộc kỷ Than đá vẫn còn phồn thịnh. Vào khoảng giữa kỷ Permi đã có sự chuyển tiếp lớn trong hệ thực vật. Các dạng thạch tùng ưa thích đầm lầy của kỷ Than đá, chẳng hạn "Lepidodendron" và "Sigillaria", đã được thay thế bởi những loại tùng bách có ưu thế hơn, là các loại cây thích nghi tốt hơn với các thay đổi khí hậu. Trong kỷ Permi đã phát sinh nhiều nhóm cây tùng bách, bao gồm các tổ tiên của các họ tùng bách ngày nay. Bạch quả và tuế cũng xuất hiện trong thời kỳ này. Các cánh rừng rậm rạp đã xuất hiện tại nhiều nơi, với sự đa dạng các nhóm thực vật.
Một lượng các nhóm côn trùng quan trọng mới cũng xuất hiện trong thời kỳ này, bao gồm các loài thuộc các bộ như bộ Cánh cứng ("Coleoptera") và bộ Hai cánh ("Diptera").
Động vật bốn chân kỷ Permi bao gồm các loại động vật lưỡng cư (lớp "Amphibia") như bộ "Temnospondyli", phân lớp "Lepospondyli" và "Batrachosauria" và bò sát như lớp "Sauropsida" và "Synapsida" (các bộ "Pelycosauria" và "Therapsida"). Thời kỳ này cũng là giai đoạn phát triển của các loại động vật sống hoàn toàn trên cạn và sự xuất hiện của động vật ăn cỏ và ăn thịt lớn đầu tiên.
Hệ động vật trên cạn giai đoạn Permi sớm đã chủ yếu là Pelycosauria và Amphibia, giai đoạn Permi giữa là Therapsida nguyên thủy như phân bộ "Dinocephalia", và giai đoạn Permi muộn là các loại Therapsida nhiều ưu thế hơn như phân bộ "Gorgonopsia" và cận bộ "Dicynodontia". Vào cuối kỷ Permi thì các loại bò sát thuộc nhóm "Archosauriformes" đầu tiên đã xuất hiện (họ "Proterosuchidae", bộ "Thecodontia"); trong kỷ tiếp theo (kỷ Trias) thì chúng đã tiến hóa thành các dạng nhiều ưu thế hơn, cuối cùng thành khủng long ("Dinosaur"). Cũng xuất hiện vào cuối kỷ Permi là các loài thuộc phân bộ "Cynodontia" đầu tiên, và chúng có lẽ đã tiến hóa thành động vật có vú trong kỷ Trias.
Xuất hiện ở đại lục Pennsylvania vào kỷ Permi, thành công nhất cho tới nay chính là những họ hàng của gián nguyên thủy. Có 6 chân di chuyển nhanh, 4 chiếc cánh gấp, mắt khá tốt, phát triển mạnh bộ râu (khứu giác), một hệ thống tiêu hóa ăn tạp, một cơ quan cho việc lưu trữ tinh trùng, một bộ xương ngoài bằng kitin có thể hỗ trợ và bảo vệ, cũng như một dạnh miệng hiệu quả, cho nó một lợi thế vượt trội hơn các động vật ăn cỏ khác. Khoảng 90% các loài côn trùng vào đầu kỷ Permi là các loài côn trùng giống gián ("Blattopterans").
Hình thức nguyên thủy của chuồn chuồn (Odonata) là những kẻ săn mồi thống trị trên không và chuyên ăn thịt côn trùng trên mặt đất. Odonata xuất hiện trong kỷ Permi và tất cả đều có vòng đời lưỡng cư (ấu trùng sống dưới nước, con trưởng thành sống trên cạn), cũng như tất cả các loài chuồn chuồn hiện đại. Dạng hóa thạch lâu đời nhất của họ này xuất hiện từ kỷ Devon. Hóa thạch cho thấy họ chuồn chuồn có thể đã sở hữu các đặc tính giống như ngày nay thậm chí là từ kỷ Cacbon muộn. Một số loài trong họ rất lớn so với ngày nay, có sải cánh lên tới 71 cm, có thể bắt các loài động vật có xương sống nhỏ. Một số nhóm côn trùng khác cũng xuất hiện trong kỷ Permi, bao gồm Coleoptera (ong) và Hemiptera (côn trùng thực sự).
Sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias.
Kỷ Permi kết thúc với sự kiện tuyệt chủng rộng lớn nhất được ghi lại trong cổ sinh vật học: Sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias. 90% đến 95% các loài sinh vật biển đã tuyệt chủng, cũng như khoảng 70% loài sinh vật trên cạn. Ở mức độ riêng rẽ, có lẽ tới 99,5% số lượng các loại sinh vật khác nhau đã biến mất do hậu quả của sự kiện này.
Ở đây cũng có các chứng cứ đáng kể cho thấy sự ngập lụt rộng khắp gây ra bởi đá bazan nóng chảy từ sự phun trào macma đã gây ra sức ép môi trường và dẫn tới sự tuyệt chủng hàng loạt. Sự suy giảm môi trường sống ven biển và độ khô cằn tăng lên cũng góp phần vào sự kiện này.
Một giả thuyết khác cho rằng đó là do sự phun trào khí sulfide hiđrô từ lòng biển cả. Các phần của đại dương bị mất oxy hòa tan trong nước theo chu kỳ đã cho phép các chủng loại vi khuẩn sống không cần oxy có thể phát triển mạnh mẽ và tạo ra một lượng lớn khí sulfide hiđrô. Nếu một lượng lớn khí này được tích lũy trong khu vực thiếu oxy thì nó có thể thoát ra ngoài khí quyển.
Các loại khí có tính oxy hóa trong khí quyển có thể triệt tiêu loại khí độc này nhưng sulfide hiđrô có lẽ đã tiêu thụ hết tất cả khí trong khí quyển có thể chuyển hóa nó. Nồng độ sulfide hiđrô đã tăng lên một cách đáng kể trong vài trăm năm.
Mô hình hóa sự kiện như thế đã chỉ ra rằng khí này có thể tiêu hủy ozon trong các tầng trên của khí quyển, làm cho bức xạ tia cực tím lại tiếp tục giết chết nốt các loài đã sống sót sau sự phun trào khí độc này (Kump và những người khác, 2005). Tất nhiên, còn tồn tại những loài có thể chuyển hóa sulfide hiđrô.
Thậm chí người ta còn đưa ra một giả thuyết mang tính suy đoán nhiều hơn là các bức xạ mãnh liệt từ các siêu tân tinh cận kề là nguyên nhân gây ra sự tuyệt chủng này.
Trùng ba lá đã phát triển thịnh vượng kể từ kỷ Cambri, cuối cùng đã bị tuyệt chủng trước khi kỷ Permi kết thúc.
Năm 2006, một nhóm các nhà khoa học Hoa Kỳ từ Đại học Tiểu bang Ohio thông báo rằng có chứng cứ cho thấy tồn tại một hố do thiên thạch (hố vùng đất Wilkes) gây ra với đường kính khoảng 500 km tại châu Nam Cực. Hố này nằm ở độ sâu 1,6 km phía dưới lớp băng của khu vực vùng Wilkes ở miền đông châu Nam Cực. Các nhà khoa học đã suy đoán là va chạm mạnh này có thể đã gây ra sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias, mặc dù niên đại của nó là dao động trong khoảng 100-500 triệu năm trước. Họ cũng suy doán là nó cũng góp phần bằng một cách thức nào đó đối với sự chia tách của Australia ra khỏi khối đất Nam Cực, mà khi đó cả hai đều là các phần của siêu lục địa Gondwana.
|
Cần cẩu hay cần trục là một loại máy móc thiết bị dùng để nâng hạ. Đặc điểm chung của cần cẩu là hệ máy móc kết hợp sử dụng dây cáp cùng hệ pa lăng để treo móc vật cẩu, và thường dùng cơ cấu tay cần hay dầm cầu hoặc khung cổng để cẩu các vật nặng thi công,lắp ráp các công trình xây dựng, hay cẩu bốc xếp hàng hoá.Cần cẩu dùng tay cần dạng dầm conson để treo móc cáp cẩu vật và bắt buộc phải có đối trọng để thắng lại momen gây lật do vật cẩu gây ra, thì được gọi là cần trục hay cần cẩu kiểu cần. Cần cẩu dùng kết cấu dầm đơn giản chạy trên cao để treo móc cáp cẩu vật được gọi là cầu trục hay cầu chạy. Cần cẩu dùng kết cấu khung dạng cổng để treo móc cáp cẩu vật gọi là cổng trục. Cần Cẩu có thể không dùng tới tay cần, dầm cầu hay cổng vẫn gọi chung là cẩu, bao gồm trực thăng cẩ
Các thông số cơ bản.
1- Khẩu độ: là khoảng cách tâm hai ray hay khoảng cách tâm hai bánh xe.
Chiều cao tối đa.
Là chiều cao mà cần trục với tới được
Sức trục là năng lực nâng tải của cần trục.
chiều cao nâng là độ cao cần trục có thể nâng vật cẩu lên.
Khoảng cách hiệu dụng xa nhất mà cần trục có thể nâng tải trọng.
Cần trục tự hành.
Cần trục tự hành ("Mobile crane" hay đôi khi là "Self mobile crane") là nhóm các cần trục tự di chuyển ngang trên mặt đất bằng nguồn năng lượng đặt kèm ngay trên cần trục. Cần trục tự hành thường có kiểu tay cần nghiêng, thay đổi tầm với bằng góc nghiêng tay cần hoặc lắp thêm tay cần phụ. Dùng trọng lượng phần xe tự hành để làm đối trọng, như cũng có khi kết hợp thêm đối trọng phụ thêm đặt trên máy.
Cần trục tháp ("Tower crane") là loại cần trục có tay cần gắn trên trụ tháp cao hoặc cấu trúc có chức năng như một tháp cao, để phục vụ cho các công việc nâng hạ ở độ cao lớn hay siêu lớn (vận chuyển theo phương đứng), đặc biệt là xây dựng các nhà nhiều tầng, nhà cao tầng và nhà siêu cao tầng.
Cần trục tháp chân tháp di động.
Cần trục tháp chân tháp di động không thích hợp cho xây dựng nhà cao tầng và đặc biệt là nhà chọc trời (siêu cao tầng), vì việc di động cả tháp cùng chân đế sẽ làm cho phải hy sinh bớt chiều cao nâng của cần trục, để đảm bảo cho cần trục làm việc ổn định. Đồng thời, do di động trụ tháp không thể neo cố định nên để đảm bảo ổn định đối trọng của cần trục loại này phải đặt thấp, việc bố trí cần trục phải xét đến bán kính đối trọng để đảm bảo an toàn khi vận hành. Cần tháp chân tháp di động đặc biệt thích hợp cho việc thi công xây dựng các nhà nhiều tầng độ cao không quá lớn nhưng chạy dài nhiều đơn nguyên (dạng công trình này khá phổ biến ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu trong thế kỷ 20). Tuy vậy nó cũng vẫn thích hợp cho xây dựng nhà và công trình một tầng các loại.
Cần trục tháp chân tháp cố định.
Cần trục tháp chân tháp cố định đặc biệt thích hợp cho xây dựng nhà cao tầng hay siêu cao tầng mặt bằng tập trung (nhà tháp). Việc ổn định trụ tháp nhờ trụ tháp được neo cố định vào công trình dần theo độ cao công trình. và để ổn định cho tay cần khi nâng tải thì bên trên trụ tháp ngược phía với tay cần là tay cần treo đối trọng, tạo ra momen giữ thắng được momen tải khi cần trục hoạt động. Cần trục loại này không thích hợp lắm cho nhà một tầng hay nhà nhiều tầng chạy dài nhiều đơn nguyên. Tuy nhiên khi thi công nhà nhiều tầng chạy dài nhiều đơn nguyên vẫn có thể dùng loại cần trục này như số lượng vài cần trục cùng loại kết hợp làm việc. Mỗi đơn nguyên bố trí 1-2 cần trục tháp cố định này.
*Xe cần trục tháp tự dựng, có đế tháp cố định (tháp quay, đối trọng thấp)
*Cần trục tháp có đế tháp cố định nối tháp từng phần (đối trọng cao, cần nằm ngang, thay đổi tầm với bằng xe con) (họ GME ("Grues à Montage par Éléments"))
*Cần trục tháp cánh buồm (tháp cố định, đối trọng cao, thay tầm với bằng góc nghiêng tay cần, "Luffing crane")
*Cần trục tháp cánh buồm chiều cao treo móc không đổi ("Level luffing crane")
|
Fedora, trước đây gọi là Fedora Core, là một Bản phân phối Linux dựa trên RPM Package Manager, được phát triển dựa trên cộng đồng theo Fedora Project và được bảo trợ bởi Red Hat, một công ty con của IBM, với sự hỗ trợ thêm từ các công ty khác. Fedora chứa phần mềm được phân phối theo nhiều giấy phép tự do và nguồn mở khác nhau và hướng tới mục tiêu là công nghệ miễn phí hàng đầu. Fedora là upstream của bản phân phối thương mại Red Hat Enterprise Linux, và sau đó là CentOS.
Kể từ bản phát hành Fedora 30,năm phiên bản khác nhau hiện có sẵn: "Workstation", tập trung vào máy tính cá nhân, "Server" cho servers, "CoreOS", tập trung vào điện toán đám mây, "Silverblue", tập trung vào máy tính để bàn bất biến chuyên dụng cho quy trình làm việc dựa trên container và "IoT", tập trung vào trên các thiết bị IoT.
Tên của Fedora bắt nguồn từ Fedora Linux, một dự án tình nguyện cung cấp phần mềm bổ sung cho bản phân phối Red Hat Linux, và từ chiếc mũ fedora đặc trưng được sử dụng trong logo "Shadowman" của Red Hat. Warren Togami bắt đầu Fedora Linux vào năm 2002 với tư cách là một đồ án đại học tại Đại học Hawaii, nhằm cung cấp một kho lưu trữ duy nhất cho các gói phần mềm của bên thứ ba đã được kiểm tra tốt để những phần mềm không phải của Red Hat sẽ được dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm, phát triển và sử dụng. Sự khác biệt chính giữa Fedora Linux và Red Hat Linux là việc phát triển kho lưu trữ của Fedora sẽ hợp tác với cộng đồng tình nguyện viên toàn cầu. Fedora Linux cuối cùng đã được đưa vào Fedora Project, mang theo cách tiếp cận hợp tác này.
Fedora Linux ra mắt vào năm 2003, khi Red Hat Linux ngừng phát triển. Red Hat Enterprise Linux là bản phân phối Linux được hỗ trợ chính thức duy nhất của Red Hat, trong khi Fedora là bản phân phối cộng đồng. RedHat Enterprise Linux phân nhánh các bản phát hành của mình từ các phiên bản của Fedora.
Trước Fedora 7, Fedora được gọi là Fedora Core theo tên của một trong hai kho phần mềm chính - "Core" và "Extras". Fedora Core chứa tất cả các gói cơ sở được yêu cầu bởi hệ điều hành, cũng như các gói khác được phân phối cùng với đĩa CD/DVD cài đặt và chỉ được duy trì bởi các nhà phát triển Red Hat. Fedora Extras, kho lưu trữ thứ cấp đã được đưa vào kể từ Fedora Core 3, được cộng đồng duy trì và không được phân phối cùng với CD/DVD cài đặt. Khi phát hành Fedora 7, sự khác biệt giữa Fedora Core và Fedora Extras đã bị loại bỏ.
Kể từ khi phát hành Fedora 21, như một nỗ lực để mô-đun hóa bản phân phối Fedora và giúp phát triển nhanh hơn, ba phiên bản khác nhau có sẵn: "Workstation", tập trung vào máy tính cá nhân, "Server" và "Atomic" cho servers, "Atomic" là phiên bản dành cho điện toán đám mây.
Fedora là nhãn hiệu của Red Hat, Inc. Đơn đăng ký trạng thái nhãn hiệu của Red Hat cho tên "Fedora" đã bị tranh chấp bởi Đại học Cornell và Thư viện trường Đại học Virginia, người tạo ra phần mềm quản lý kho kỹ thuật số Fedora Commons không liên quan. Vấn đề đã được giải quyết và các bên đã giải quyết trên một thỏa thuận cùng tồn tại tuyên bố rằng dự án Cornell-UVA có thể sử dụng tên khi được liên kết rõ ràng với phần mềm nguồn mở cho hệ thống kho lưu trữ đối tượng kỹ thuật số và Red Hat có thể sử dụng tên khi nó rõ ràng liên kết với hệ điều hành máy tính mã nguồn mở.
Tháng 4 năm 2020, trưởng dự án Matthew Miller đã thông báo rằng Fedora Workstation sẽ được phân phối trên một số máy tính xách tay ThinkPad mới, nhờ vào mối quan hệ đối tác mới với Lenovo.
Fedora nổi tiếng là tập trung vào đổi mới, tích hợp công nghệ mới từ rất sớm và hợp tác chặt chẽ với các cộng đồng upstream Linux. Thực hiện các thay đổi ngược dòng thay vì dành riêng cho Fedora đảm bảo rằng các thay đổi có sẵn cho tất cả các bản phân phối Linux.
Môi trường desktop mặc định trên Fedora là GNOME và giao diện người dùng mặc định là GNOME Shell. Các môi trường desktop khác, bao gồm KDE Plasma, Xfce, LXDE, MATE, Deepin và Cinnamon, có sẵn và có thể cài đặt.
Hầu hết các phiên bản Fedora đều sử dụng hệ thống quản lý gói RPM, sử dụng DNF làm công cụ để quản lý các gói RPM. DNF sử dụng libsolv, một trình phân giải phụ thuộc bên ngoài. Flatpak cũng được bao gồm theo mặc định và hỗ trợ cho các snaps của Ubuntu có thể được thêm vào.
Fedora sử dụng Delta RPM khi cập nhật các gói đã cài đặt để cung cấp các bản cập nhật delta. RPM Delta chứa sự khác biệt giữa phiên bản cũ và mới của một gói. Điều này có nghĩa là chỉ những thay đổi giữa gói đã cài đặt và gói mới mới được tải xuống, giảm lưu lượng mạng và tiêu thụ băng thông.
Các phiên bản Fedora CoreOS và Silverblue sử dụng rpm-ostree, một hệ thống gói/hình ảnh giao dịch kết hợp để quản lý máy chủ. DNF truyền thống (hoặc các hệ thống khác) nên được sử dụng trong các containers.
Fedora dùng Security-Enhanced Linux theo mặc định, triển khai nhiều chính sách bảo mật, bao gồm điều khiển truy cập bắt buộc, mà Fedora đã áp dụng từ rất sớm. Fedoracung cấp một hardening wrapper, và hardening cho tất cả các gói của nó bằng cách sử dụng các tính năng của trình biên dịch như "file thực thi độc lập vị trí" (PIE).
Fedora được cài đặt sẵn nhiều phần mềm như LibreOffice và Firefox. Phần mềm bổ sung có sẵn từ kho phần mềm và có thể được cài đặt bằng trình quản lý gói DNF hoặc GNOME Software.
Ngoài ra, các kho lưu trữ bổ sung có thể được thêm vào hệ thống để phần mềm không có sẵn trong Fedora có thể được cài đặt dễ dàng. Phần mềm không có sẵn qua kho lưu trữ chính thức của Fedora, vì nó không đáp ứng định nghĩa của Fedora về phần mềm tự do hoặc vì việc phân phối nó có thể vi phạm luật pháp Mỹ, có thể được cài đặt bằng cách sử dụng kho của bên thứ ba. Các kho lưu trữ của bên thứ ba phổ biến bao gồm các kho lưu trữ RPM Fusion miễn phí và không miễn phí. Fedora cũng cung cấp cho người dùng một hệ thống xây dựng dễ sử dụng để tạo kho lưu trữ của riêng họ được gọi là Copr.
Kể từ khi phát hành Fedora 25, hệ điều hành mặc định là giao thức máy chủ hiển thị Wayland, giao thức này đã thay thế X Window System.
Bắt đầu từ Fedora version 30, có 5 phiên bản khác nhau:
Một thiết bị Live USB có được tạo bằng Fedora Media Writer hoặc lệnh dd. Nó cho phép người dùng dùng thử Fedora mà không làm thay đổi ổ cứng.
Giống như "Debian blends", Fedora Project cũng phân phối các biến thể tùy chỉnh của Fedora được gọi là Fedora Labs. Chúng được xây dựng với các bộ gói phần mềm cụ thể, nhắm mục tiêu các sở thích cụ thể như chơi game, bảo mật, thiết kế, robot, và máy tính khoa học (bao gồm SciPy, Octave, Kile, Xfig và Inkscape).
Fedora AOS (Appliance Operating System)là một phiên bản chuyên biệt của Fedora với việc giảm dung lượng bộ nhớ để sử dụng trong các thiết bị phần mềm. Các thiết bị được cài đặt sẵn, cấu hình trước, hình ảnh hệ thống. Spin này nhằm mục đích giúp mọi người (nhà phát triển, nhà cung cấp phần mềm độc lập (ISV), nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) ) dễ dàng tạo và triển khai các thiết bị ảo hơn.
Dự án Fedora chính thức phân phối các biến thể khác nhau được gọi là "Fedora Spins" là Fedora với các môi trường máy tính để bàn khác nhau (GNOME là DE mặc định). Các Spins chính thức hiện tại,kể từ Fedora 32, là KDE, XFCE, LXQT, Mate-Compiz, Cinnamon, LXDE, và SOAS.
Ngoài Spins, là các biến thể chính thức của hệ thống Fedora, dự án cho phép các biến thể không chính thức sử dụng thuật ngữ "Fedora Remix" mà không cần xin phép thêm, mặc dù cần phải có logo khác.
x86-64 và ARM-hfp là các kiến trúc chính được Fedora hỗ trợ. Pidora và FedBerry là các bản phân phối Fedora chuyên biệt cho Raspberry Pi, hỗ trợ Raspberry Pi cũng như các thiết bị ARM và SBC khác. Kể từ phiên bản 26, Fedora cũng hỗ trợ ARM AArch64, IBM Power64, IBM Power64le, IBM Z ("s390x"), MIPS-64el, MIPS-el, RISC-V làm kiến trúc phụ.
Fedora 28 là phiên bản cuối cùng hỗ trợ ppc64 và người dùng nên chuyển sang biến thể ppc64le endian nhỏ.
Giải pháp thay thế.
Dự án Fedora cũng phân phối một số phiên bản khác với ít trường hợp sử dụng hơn đã đề cập ở trên, như trình cài đặt mạng và bộ cài đặt tối thiểu.Chúng dành cho các trường hợp đặc biệt hoặc người dùng chuyên nghiệp muốn có cài đặt tùy chỉnh hoặc định cấu hình Fedora từ đầu.
Ngoài ra, tất cả các giấy phép được chấp nhận cho Fedora (bao gồm bản quyền, nhãn hiệu và bằng sáng chế) phải được áp dụng không chỉ cho Red Hat hoặc Fedora, mà còn cho tất cả downstream. Điều này có nghĩa là mọi giấy phép "chỉ dành cho Fedora" hoặc giấy phép có các điều khoản cụ thể mà Red Hat hoặc Fedora đáp ứng nhưng những phân nhánh khác sẽ không được chấp nhận (và do đó, gần như chắc chắn là không miễn phí).
Phát triển và cộng đồng.
Việc phát triển hệ điều hành và các chương trình hỗ trợ do Fedora Project lãnh đạo, bao gồm một cộng đồng các nhà phát triển và tình nguyện viên, và bao gồm cả nhân viên của Red Hat. Hội đồng là cơ quan lãnh đạo và quản trị cộng đồng cấp cao nhất. Các cơ quan khác bao gồm Fedora Engineering Steering Committee, chịu trách nhiệm về các quyết định kỹ thuật đằng sau sự phát triển của Fedora, và Fedora Mindshare Committee điều phối các hoạt động tiếp cận và phi kỹ thuật, bao gồm đại diện của Fedora Worldwide ví dụ như: Ambassadors Program, nhóm CommOps và Marketing, Thiết kế và Websites Team.
Fedora có vòng đời tương đối ngắn: phiên bản X chỉ được hỗ trợ cho đến 1 tháng sau khi phiên bản X+2 được phát hành và khoảng 6 tháng giữa hầu hết các phiên bản, có nghĩa là một phiên bản Fedora thường được hỗ trợ trong ít nhất 13 tháng, có thể lâu hơn. Người dùng Fedora có thể nâng cấp từ phiên bản này sang phiên bản khác mà không cần cài đặt lại.
Bản phát hành hiện tại là Fedora 34, được phát hành vào ngày 24 tháng 4 năm 2021.
templatestyles src="Legend/" / Phiên bản cũ, đã ngừng hỗ trợtemplatestyles src="Legend/" / Phiên bản cũ, vẫn còn hỗ trợtemplatestyles src="Legend/" / Phiên bản hiện tạitemplatestyles src="Legend/" / Phiên bản tương lai
Rawhide là cây phát triển cho Fedora. Đây là bản sao của bản phân phối Fedora hoàn chỉnh, nơi phần mềm mới được thêm vào và thử nghiệm, trước khi đưa vào bản phát hành ổn định sau này.Do đó, Rawhide thường có nhiều tính năng phong phú hơn so với bản phát hành ổn định hiện tại. Trong nhiều trường hợp, phần mềm được tạo từ các bản chụp mã nguồn CVS, Subversion hoặc Git thường được các lập trình viên tích cực phát triển. Mặc dù Rawhide được nhắm mục tiêu vào người dùng nâng cao, người thử nghiệm và người bảo trì gói, nhưng nó có khả năng trở thành một hệ điều hành chính. Người dùng quan tâm đến nhánh Rawhide thường cập nhật hàng ngày và giúp khắc phục sự cố. Người dùng Rawhide không phải nâng cấp giữa các phiên bản khác nhau vì nó tuân theo mô hình rolling release.
Fedora Core và Red Hat Enterprise Linux.
Fedore Core là kết quả của một chiến lược kinh doanh mới của công ty Red Hat vào năm 2003. Red Hat đã tách dòng Red Hat Linux trước đó thành 2 dòng mới. Fedora Core là dòng sản phẩm được cung cấp miễn phí và Red Hat Enterprise Linux là dòng sản phẩm thương mại.
|
Nguyễn Đức Bình (giáo sư)
Giáo sư triết học, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Bình (9 tháng 9 năm 1927 – 31 tháng 1 năm 2019) là một trong những nhà lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, VIII, nguyên Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Ông sinh ngày 9 tháng 9 năm 1927 tại làng Đức Hồng, xã Trung Lương, huyện Đức Thọ (nay là phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh), tỉnh Hà Tĩnh.
Từ năm 1945 đến năm 1949, ông công tác tại tỉnh Hà Tĩnh.
Từ 1950 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chuyên viên nghiên cứu Ban Tuyên huấn Liên khu ủy IV; Trưởng ban Tuyên huấn tiền phương thuộc Hội đồng Cung cấp Mặt trận Liên khu IV trong chiến dịch Trung – Lào.
Từ năm 1959 đến năm 1975: Giảng viên, Phó Trưởng Khoa Triết học Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1982, ông được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V. Giữ chức Hiệu trưởng Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc (Tức Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay) cho đến năm 2001.
Năm 1984, ông được Nhà nước Việt Nam công nhận chức danh Giáo sư Triết học.
Năm 1986, ông được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI.
Năm 1991, là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII.
Tháng 6 năm 1996 ông được tái trúng cử vào Bộ Chính trị khóa VIII, giữ chức Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương kiêm Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Ông đã nghỉ hưu từ tháng 1 tháng 2008.
Nguyễn Đức Bình qua đời vào lúc 0 giờ 44 phút ngày 31 tháng 1 năm 2019, hưởng thọ 92 tuổi do tuổi cao sức yếu lâm bệnh nặng.
Quan điểm chính trị.
Quan điểm chính trị của ông gắn bó với chủ nghĩa Marx – Lenin truyền thống. Trước Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam X (khai mạc ngày 18 tháng 4 năm 2006) ông có viết một số bài đăng báo góp ý dự thảo văn kiện Đại hội Đảng. Ông suy tư: ""Điều tôi băn khoăn, trăn trở ở chỗ: tư duy lý luận của chúng ta về chủ nghĩa xã hội lâu nay đã thật sự độc lập tự chủ hay chưa, đã thật sự sáng tạo trên mảnh đất Việt Nam hay chưa? Trung Quốc nói "chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc". Vậy Việt Nam đã thật sự có một lý luận và đường lối của mình tiến lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ hay chưa?" . Khi nói đến vấn đề đảng viên được làm kinh tế, ông phê phán: "Dự thảo mới vẫn tránh nói kinh tế tư bản tư nhân mà đưa lẫn vào trong một biến báo mới:" "Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô". "Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là có thể làm giàu hết cỡ, làm tư bản tư nhân hết cỡ, có thể bóc lột hết cỡ mà (với những điều kiện nhất định?) có thể được làm đảng viên, như vậy có trái sờ sờ với "lẽ tự nhiên" như Bác Hồ nói không?". "Nhưng tại sao một chính sách mới của Đảng quan trọng như thế mà lại không nói thẳng thắn, đàng hoàng, minh bạch, thậm chí không gọi sự vật đúng tên của nó? Chỉ riêng điều đó đã là một điểm yếu căn bản của "quan điểm mới"".
Ông không đồng ý với báo cáo của đại hội vì đảng viên, "không thể vừa là chiến sĩ cộng sản lấy việc xóa bỏ chế độ bóc lột làm lý tưởng đời mình, lại vừa làm ông chủ tư bản lấy bóc lột lợi nhuận làm lẽ sống". Ông nói "Ông chủ tư bản làm sao có thể dễ dàng trở thành người cộng sản?... Thật không có gì sai bằng lập luận thế này: Ta đang ở thời kỳ quá độ, vậy trong thành phần xã hội của đảng viên cũng có sự quá độ. Nói thế khác gì quan điểm cho rằng kinh tế nhiều thành phần thì chính trị tất yếu phải đa đảng và tư tưởng trong Đảng tất yếu cũng phải đa nguyên".
Ông khẳng định: "Trước sau tôi vẫn không đồng ý quan điểm trong Đảng có thể có tư bản tư nhân", vì theo Hồ Chí Minh và cũng là chủ nghĩa Marx – Lenin: "Không bóc lột người. Đảng chống chế độ "người bóc lột người". Lẽ tự nhiên, ai bóc lột người thì không thể làm đảng viên"" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr.237)".
Ông nói: ""thật vô cùng nghịch lý khi nghĩ rằng kết nạp cả tư sản để mở rộng cơ sở xã hội, cơ sở quần chúng cho cách mạng xã hội chủ nghĩa! Quần chúng công nông, các lực lượng vũ trang con em công nông sẽ hỏi chúng ta ngay: vậy các anh là Đảng của ai?"
Đóng góp ý kiến với lãnh đạo Đảng.
Ông đề xuất với lãnh đạo Đảng:
"Tôi đề nghị trung ương cho ra một tờ nội san, lưu hành có hạn chế trong Đảng". "Việc ra nội san tranh Luận đã đến lúc chín muồi vì những quan điểm khác nhau trong Đảng nay đã bộc lộ công khai hay nửa công khai bằng phát ngôn và phát tán tài liệu rất có hại vì nó làm phân tâm, phân tán tư tưởng nghiêm trọng trong Đảng và trong xã hội". Ông viết: "Sự thiếu nhất trí trong Đảng ta hiện nay chủ yếu là trên mặt nhận thức. Là vấn đề nhận thức, phải giải quyết bằng nhận thức, bằng trao đổi, thảo luận, tranh luận thẳng thắn trên tinh thần đồng chí. Muốn vậy, phải đặt thẳng những vấn đề có ý kiến khác nhau lên bàn, trước hết là mấy vấn đề then chốt sau đây":
Ông băn khoăn: "Rất tiếc mấy tháng vừa rồi tại đại hội Đảng các cấp từ cơ sở đến tỉnh, thành phố, đến đại hội Đảng các cơ quan trung ương, các vấn đề rất ít được đặt ra để thảo luận, tranh luận. Tôi cho đó là một hạn chế lớn không đáng có"".
|
Cosmid là những vecto nhân tạo được ghép nối từ một plasmid với các trình tự cos của phage λ. Gen cos giúp cho DNA của phage λ từ dạng thẳng nối đầu lại thành vòng tròn. Cosmid có khả năng chứa đoạn gen lạ dài đến 45 kb hiện được dùng để lập thư viện gen ở ruồi giấm, chuột, ngườ
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
openSUSE (phát âm ) là một hệ điều hành mã nguồn mở xây dựng dựa trên nhân Linux. là một bản phân phối Linux được tài trợ bởi SUSE Linux GmbH và các công ty khác. Ban đầu được phát triển trên nền tảng của hệ điều hành Slackware, nhưng dần dần đã được thay đổi đáng kể. Nó được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Trọng tâm của sự phát triển của nó là tạo ra các công cụ nguồn mở có thể sử dụng được cho các nhà phát triển phần mềm và quản trị viên hệ thống, đồng thời cung cấp một môi trường máy chủ thân thiện với máy tính và giàu tính năng.
Bản phát hành ban đầu của dự án cộng đồng là phiên bản beta của SUSE Linux 10.0. Bản phát hành ổn định hiện tại là openSUSE Leap 15.0. Dự án cộng đồng cung cấp một phiên bản phát hành cuộn có tên openSUSE Tumbleweed, được cập nhật liên tục với các gói ổn định, đã dược kiểm thử. Nó dựa trên cơ sở mã phát triển vòng được gọi là "Factory". Các công cụ và ứng dụng khác liên quan đến dự án openSUSE là YaST, Open Build Service, openQA, Snapper, Machinery, Portus và Kiwi.
Novell đã tạo openSUSE sau khi mua SuSE Linux AG với với giá 210 triệu USD vào ngày 4/11/2003. The Attachmate Group đã mua Novell và tách Novell và SUSE thành hai công ty con độc lập. Sau đó The Attachmate Group sáp nhập với Micro Focus vào tháng 11 năm 2014, SUSE trở thành bộ phận kinh doanh riêng. Ngày 4 tháng 7 năm 2018, EQT Partners purchased SUSE với giá 2,5 tỷ USD.
Cộng đồng openSUSE Project, được tài trợ bởi SUSE, phát triển và duy trì các thành phần bản phân phối SUSE Linux. openSUSE là sự kế thừa cho SUSE Linux Professional.
Ngoài các bản phân phối và công cụ, openSUSE Project cung cấp một cổng thông tin web cho sự tham gia của cộng đồng. Cộng đồng phát triển openSUSE hợp tác với các nhà tài trợ của công ty thông qua Open Build Service, openQA, viết tài liệu, thiết kế tác phẩm nghệ thuật, thúc đẩy các cuộc thảo luận trên các mailing lists mở và trong các kênh Internet Relay Chat, và cải thiện trang web openSUSE thông qua giao diện wiki. openSUSE cung cấp một hệ thống ổn định với phiên bản openSUSE Leap. Người dùng thích phần mềm tự do cập nhật hơn có thể sử dụng bản phân phối Tumbleweed. Người dùng cũng có thể sử dụng Open Build Service. Hơn nữa, tính linh hoạt của openSUSE giúp dễ dàng đổi mục đích cho các mục tiêu cụ thể như chạy máy chủ web hoặc thư.
Giống như hầu hết các bản phân phối Linux, openSUSE bao gồm cả giao diện người dùng đồ họa(GUI) mặc định và tùy chọn giao diện dòng lệnh. Người dùng openSUSE có thể chọn một số GUI cho môi trường máy tính để bàn như GNOME, KDE, Cinnamon, MATE, LXQt, Xfce. openSUSEhỗ trợ hàng ngàn gói phần mềm trong toàn bộ phạm vi phát triển phần mềm tự do nguồn mở.
Hệ điều hành này tương thích với nhiều loại phần cứng trên nhiều tập lệnh bao gồm cả máy tính đơn bảng dựa trên ARM. Các ví dụ bao gồm Raspberry Pi 3 và Pine64 dựa trên nền tảng ARMv8 còn được gọi là aarch64, Banana Pi và BeagleBoard trên tập lệnh ARMv7 và phên bản đầu tiên của Raspberry Pi trên ARMv6 ISA.
Trước đây, công ty SUSE Linux đã tập trung phát hành bộ hộp SUSE Linux Personal và SUSE Linux Professional bao gồm các tài liệu in rộng rãi có sẵn để bán trong các cửa hàng bán lẻ. Khả năng bán sản phẩm nguồn mở của công ty chủ yếu là do quy trình phát triển nguồn đóng được sử dụng. Mặc dù SUSE Linux luôn là sản phẩm phần mềm tự do được cấp phép với Giấy phép Công cộng GNU (GNU GPL), nhưng chỉ có thể lấy mã nguồn của bản phát hành vào 2 tháng sau khi nó chính thức bán ra. Chiến lược của SUSE Linux là tạo ra một bản phân phối Linux vượt trội về mặt kỹ thuật với số lượng lớn các kỹ sư được tuyển dụng, khiến người dùng sẵn sàng trả tiền cho việc phân phối của họ trong các cửa hàng bán lẻ.
Kể từ khi Novell mua lại vào năm 2003 và với sự ra đời của openSUSE, điều này đã bị đảo ngược: bắt đầu với phiên bản 9.2, ảnh ISO của một DVD không được hỗ trợ của SUSE Professional đã được cung cấp để tải xuống, cũng như một Live DVD tự khởi động. Máy chủ FTP tiếp tục hoạt động và có lợi thế là cài đặt "streamlined", cho phép người dùng chỉ tải xuống các gói mà người dùng cảm thấy cần. File ISO có các ưu điểm như gói cài đặt dễ dàng, khả năng hoạt động ngay cả khi card mạng của người dùng không hoạt động và cần ít kinh nghiệm hơn (ví dụ, người dùng Linux thiếu kinh nghiệm có thể không biết có nên cài đặt hay không một gói nhất định và ISO cung cấp một số bộ gói được chọn trước).
Bản phát hành ổn định ban đầu từ openSUSE Project, SUSE Linux 10.0, đã có sẵn để tải xuống ngay trước khi phát hành bán lẻ SUSE Linux 10.0.Ngoài ra, Novell đã ngừng phiên bản Personal, đổi tên phiên bản Professional thành "SUSE Linux", và sửa lại "SUSE Linux" thành giống như phiên bản Personal cũ. Kể từ phiên bản 10.2, bản phân phối SUSE Linux đã chính thức được đổi tên thành openSUSE.
Trong những năm qua, SuSE Linux đã chuyển từ trạng thái phân phối với các ấn phẩm bị hạn chế, bị trì hoãn (2 tháng chờ đợi cho những người không mua bộ cài, không có ISO, nhưng cài đặt có sẵn qua FTP) và một mô hình phát triển khép kín thành một mô hình phân phối tự do với có sẵn ngay lập tức và miễn phí cho tất cả và phát triển mở và minh bạch.
Ngày 27/4/2011, Attachmate đã hoàn tất việc mua lại Novell. Attachmate đã chia Novell thành hai đơn vị kinh doanh riêng biệt là, Novell và SUSE. Attachmate không có thay đổi nào về mối quan hệ giữa SUSE (trước đây là Novell) và openSUSE Project. Sau khi sáp nhập của Attachmate Group với Micro Focus năm, SUSE đã tái khẳng định cam kết của họ đối với openSUSE.
EQT Partners đã thông báo ý định mua SUSE vào ngày 2/7/2018. Không có thay đổi dự kiến trong mối quan hệ giữa SUSE và openSUSE. Việc mua lại đang chờ xử lý này sẽ là lần mua thứ ba của SUSE Linux kể từ khi thành lập Dự án openSUSE.
OpenSUSE có sẵn đầy đủ và miễn phí để tải xuống ngay lập tức và cũng được bán trong hộp bán lẻ cho công chúng. Nó có một số phiên bản cho kiến trúc x86 và x86-64 (như với phiên bản 13.1):
Jesse Smith từ DistroWatch Weekly đã xem xét openSUSE 15, tán thành "công việc đã hoàn thành trong cài đặt hệ thống", đơn giản hóa cho người dùng mới, nhưng chỉ trích việc thiếu hỗ trợ phương tiện và các vấn đề về hiệu suất, như khởi động chậm hoặc tắt máy chậm.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Red Hat Enterprise Linux
Red Hat Enterprise Linux (RHEL) là một bản phân phối Linux được phát triển bởi Red Hat và mục tiêu hướng tới thị trường thương mại. Red Hat Enterprise Linux được phát hành cho các phiên bản máy chủ x86, x86-64, Itanium, PowerPC và IBM System z, và các phiên bản máy tính để bàn cho x86 và x86-64. Tất cả các hỗ trợ chính thức, đào tạo và các trung tâm Chương trình chứng nhận Red Hat của Reahat đều trên nền tảng Red Hat Enterprise Linux. Red Hat Enterprise Linux thường được viết tắt là RHEL, tuy nhiên điều này không phải là chính thức.
Phiên bản đầu tiên của Red Hat Enterprise Linux phân phối ra thị trường được mang tên "Red Hat Linux Advanced Server". Năm 2003 Red Hat đổi thương hiệu Red Hat Linux Advanced Server thành "Red Hat Enterprise Linux AS", và bổ sung thêm hai biến thể, Red Hat Enterprise Linux ES và Red Hat Enterprise Linux WS.
Trong khi Red Hat sử dụng các quy định nghiêm ngặt về thương hiệu để hạn chế các bản rebuild của các phiên bản được hỗ trợ chính thức của Red Hat Enterprise Linux, Red Hat cung cấp mã nguồn của các bản phát hành phần mềm miễn phí, cho cả phần mềm có giấy phép phát hành miễn phí và phần mềm mã nguồn mở. và kết quả là, nhiều nhà phân phối đã tạo ra thương hiệu và/hoặc cộng đồng hỗ trợ tái xây dựng Red Hat Enterprise Linux có hiệu lực pháp lý có thể được thực hiện có sẵn, mà không có sự hỗ trợ chính thức của Red Hat.
Cũng có những phiên bản "đào tạo" của các phiên bản máy tính để bàn và máy chủ. Chúng được cung cấp cho các trường học và sinh viên, ít tốn kém, và được cung cấp cùng các hỗ trợ công nghệ từ Red Hat như một tùy chọn mở rộng. Hỗ trợ web dựa trên số lượng khách hàng địa chỉ liên lạc có thể được mua riêng.
Người ta thường cho xây dựng thương hiệu ES và AS tương ứng với "Entry-level Server" và "Advanced Server". Lý do cho điều này là rằng các sản phẩm ES là sản phẩm cơ bản cho các máy chủ của doanh nghiệp, trong khi AS là sản phẩm tiên tiến hơn. Tuy nhiên, không có nơi nào trên trang web hoặc các tài liệu của Red Hat có nói về AS, ES và WS.
Trong Red Hat Enterprise Linux 5 có thêm phiên bản mới bên cạnh các phiên bản cũ Red Hat Enterprise Linux AS/ES/WS/Desktop:
Red Hat cũng công bố phiên bản Red Hat Global Desktop Linux "cho thị trường mới nổi".
RHEL 4, 3,và bản phát hành trước đó có bốn biến thể:
Quan hệ phân phối miễn phí và cộng đồng.
Ban đầu, Red Hat bán các hỗ trợ cho các phiên bản của Red Hat Linux (Red Hat Linux 6.2E là một phiên bản của Red Hat Linux 6.2 với các mức hỗ trợ khác nhau.)
Bắt đầu từ RHEL 2.1 AS vào 2002, Red Hat đã bán phiên bản đầu tiên của RHE. Nó được dựa trên Red Hat Linux, nhưng sử dụng một chu kỳ phát hành thận trọng hơn nhiều. Các phiên bản sau này bao gồm công nghệ từ Red Hat tài trợ cộng đồng phân phối dự án Fedora. Red Hat Enterprise Linux phát hành theo lịch không giống của Fedora (khoảng 6 tháng cho mỗi phiên bản) nhưng là thận trọng hơn (2 năm hoặc nhiều hơn).
Fedora phục vụ như upstream cho phiên bản tương lai của RHEL. Cây RHEL được chia nhánh khỏi repository của Fedora, và phát hành sau khi tương đối ổn định và nỗ lực đảm bảo chất lượng. Ví dụ, RHEL 6 đã bị chia nhánh từ Fedora vào cuối năm 2009 (Khoảng thời gian phát hành Fedora 12) và phát hành nhiều hoặc ít hơn với Fedora 14. Bởi thời gian RHEL 6 phát hành, nhiều tính năng của Fedora 13 and 14 đã có backported cho chúng. Dự án Fedora liệt kê các dòng sau cho bản phát hành Red Hat Enterprise trở lên:
Ngoài ra, dự án Fedora bao gồm các gói mở rộng cho Enterprise Linux (EPEL) một cộng đồng cung cấp thiết lập các gói cho RHEL đi vượt ra ngoài những cái Red Hat lựa chọn để đưa vào phân phối được hỗ trợ của nó.
"Fedora và Red Hat Enterprise Linux là mã nguồn mở. Fedora là một dự án cộng đồng và phân phối miễn phí là upstream cho Red Hat Enterprise Linux. Fedora là một hệ thống chung mục đích cung cấp cho Red Hat và phần còn lại của cộng đồng của nó đóng góp cơ hội để nhanh chóng đổi mới với công nghệ. Red Hat Enterprise Linux là một hệ điều hành doanh nghiệp thương mại đã thiết lập riêng giai đoạn thử nghiệm của mình bao gồm các bản phát hành alpha và phiên bản beta riêng biệt và khác biệt với hoạt động phát triển Fedora."
Ban đầu, các sản phẩm cho doanh nghiệp của Red Hat, thường được biết đến với tên gọi "Red Hat Linux", được cung cấp miễn phí cho tất cả nhửng ai muốn tải nó về, trong khi Red Hat lấy tiền từ những hỗ trợ. Red Hat sau đó đã tách dòng sản phẩm của mình thành "Red Hat Enterprise Linux" với thiết kế ổn định và hỗ trợ lâu dài dành cho người dùng doanh nghiệp và 'Fedora' như là một bản phân phối cộng đồng và dự án được tài trợ bởi Red Hat. Sử dụng thương hiệu nhằm ngăn chặn các bản sao chép nguyên văn của Red Hat Enterprise Linux.
Từ khi Red Hat Enterprise Linux dự hoàn toàn vào phần mềm tự do/mã nguồn mở, Red Hat đã công bố mã nguồn hoàn thiện của bản phân phối dành cho doanh nghiệp của mình đến tất cả những ai muốn có nó thông qua trang FTP của họ. Theo đó, một số nhóm đã lấy mã nguồn và biên dịch thành phiên bản riêng của Red Hat Enterprise Linux, thường thay đổi duy nhất là loại bỏ các tài liệu tham khảo có liên quan đến thương hiệu của Red Hat và trỏ hệ thống cập nhật đến các máy chủ không Red Hat. Các nhóm đã thực hiện việc này bao gồm CentOS (bản phân phối Linux phổ biến thứ 8 vào tháng 11/2011), Oracle Linux, Scientific Linux, White Box Enterprise Linux, StartCom Enterprise Linux, Pie Box Enterprise Linux, X/OS, Lineox, và XBAS của Bull cho các máy tính hiệu năng cao. Tất cả cung cấp một cơ chế miễn phí cho áp dụng bản cập nhật mà không phải trả một khoản phí dịch vụ cho nhà phân phối.
Các bản rebuild của Red Hat Enterprise Linux là miễn phí nhưng không nhận được bất kỳ dịch vụ hỗ trợ thương mại hoặc tư vấn nào từ Red Hat và không có bất kỳ xác nhận nào về phần mềm, phần cứng và an ninh. Ngoài ra, rebuild không nhận được quyền truy cập vào các dịch vụ của Red Hat như Red Hat Network.
Bất thường, Red Hat đã xáo trộn các thay đổi của họ tới Linux kernel của phiên bản 6,0 không cung cấp công khai các bản vá của họ trong các mã nguồn tarball, và chỉ cung cấp các sản phẩm hoàn thiện ở dạng form. Có ý kiến suy đoán cho rằng động thái này đã được thực hiện để gây ảnh hưởng đến các bản rebuild và các dịch vụ hỗ trợ làm thay đổi hoạt động phân phối của đối thủ Oracle. Tuy nhiên, thực tế việc này vẫn tuân theo GNU GPL từ khi mã nguồn được định nghĩa là "[các] hình thức ưa thích của tác phẩm khi sửa đổi nó", và bản phân phối còn phù hợp với định nghĩa này. Brian Stevens, CTO của Red Hat sau đó đã xác nhận sự thay đổi, ông nói rằng một số thông tin nhất định (ví dụ như thông tin về các bản vá lỗi) chỉ được cung cấp cho những khách hàng trả tiền để làm cho các sản phẩm của Red Hat cạnh tranh hơn so với số lượng ngày càng tăng của các công ty cung cấp các hỗ trợ cho các sản phẩm dựa trên RHEL. Những nhà phát triển CentOS đã không phản đối sự thay đổi kể từ khi họ không thực hiện bất kỳ thay đổi cho nhân vượt quá những gì được cung cấp bởi Red Hat.
Sản phẩm thương mại bằng cách sử dụng nó.
Một số nhà cung cấp thương mại sử dụng Red Hat Enterprise Linux như là một cơ sở cho hệ thống hoạt động trong các sản phẩm của họ. Hai trong số những nổi tiếng nhất là bàn điều khiển hệ thống điều hành Console trong VMware ESX Server và Oracle Linux respin.
Lịch sử phiên bản.
Vòng đời phát triển.
Red Hat Enterprise Linux 5 và 6 chia sẻ vòng đời nhiều chu kỳ hỗ trợ 13 năm, trong khi đó phiên bản 3 và 4 chia sẻ vòng đời 10 năm. Trong năm và một năm rưỡi đầu tiên của chu kỳ cuộc sống ("sản xuất 1 "), có hỗ trợ đầy đủ, phần mềm và driver được cập nhật. Trong giai đoạn sau này, sự hỗ trợ và Cập Nhật bị dần giảm, với chỉ những cập nhật quan trọng và bảo mật liên quan đến sửa lỗi được cung cấp cho khách hàng trả tiền cho hỗ trợ trong ba năm qua ("vòng đời mở rộng").
templatestyles src="Legend/" / Phiên bản trước ngoài chu kỳ phát triển
templatestyles src="Legend/" / Phiên bản trước với các hỗ trợ khác nhau
templatestyles src="Legend/" / Phiên bản hiện tại
templatestyles src="Legend/" / Phiên bản tương lai
Ghi chú: Một phiên bản ngoài của chu kỳ sống bình thường của nó bình thường sẽ không được hỗ trợ, nhưng vẫn có thể nhận được những sự hỗ trợ thông qua Red Hat khi phát hành vẫn trong Vòng đời mở rộng của nó thông qua một thuê bao tiện ích, Extended Life Cycle Support.
|
Xandros là một công ty sản xuất các Bản phân phối Linux và là nhà sản xuất của Xandros Desktop, một Bản phân phối Linux mang tính thương mại và có giao diện gần giống với Windows XP.
Công ty được thành lập vào năm 2001, có trụ sở tại thành phố New York và Ottawa, Ontario. Các bản phân phối của họ dựa trên Corel Linux (một bản phân phối dùng nền tảng Debian) được cung cấp bởi Tập đoàn Corel sau khi Corel quyết định ngừng kinh doanh các bản phân phối Linux.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Angela Dorothea Merkel (]#đổi ; nhũ danh: Kasner; sinh ngày 17 tháng 7 năm 1954) là một nhà chính trị Đức, là Thủ tướng Đức từ năm 2005 đến năm 2021. Bà là Thủ tướng tại vị lâu thứ 2 sau Helmut Kohl tính từ thời chia cắt Đông-Tây và bà cũng là Thủ tướng tại nhiệm lâu nhất sau khi nước Đức được tái thống nhất. Trong cương vị chủ tịch Đảng Liên minh Dân chủ Kitô giáo ("Christlich Demokratische Union Deutschlands" - CDU), Merkel thành lập chính phủ liên hiệp với Đảng anh em, Liên minh Xã hội Kitô giáo Bayern ("Christlich-Soziale Union in Bayern" - CSU) và Đảng Dân chủ Xã hội Đức ("Sozialdemokratische Partei Deutschlands" - SPD), sau những cuộc đàm phán kéo dài hai tháng nối tiếp cuộc bầu cử liên bang năm 2005.
Merkel, trúng cử vào Quốc hội Đức từ bang Mecklenburg-Vorpommern, là chủ tịch Đảng CDU từ năm 2000, chủ tịch nhóm Đảng CDU-CSU tại quốc hội từ năm 2002 đến năm 2005. Bà là phụ nữ đầu tiên đảm nhận chức vụ Thủ tướng Đức, cũng là công dân đầu tiên của Cộng hoà Dân chủ Đức vươn đến vị trí lãnh đạo nước Đức thống nhất, và là phụ nữ đầu tiên lãnh đạo nước Đức kể từ khi xứ sở này trở thành một quốc gia hiện đại năm 1871. Tính đến năm 2006, bà còn là thủ tướng trẻ tuổi nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Theo bình chọn của tạp chí Forbes năm 2006, Angela Merkel thế chỗ của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice để đứng đầu danh sách 100 phụ nữ nhiều quyền lực nhất thế giới, và liên tục giữ vị trí này trong mười ba năm kế tiếp sau đó. Năm 2014, Merkel là nguyên thủ quốc gia tại nhiệm lâu nhất Liên minh Châu Âu. Năm 2015, bà được tạp chí Time bầu chọn là nhân vật của năm do vai trò lãnh đạo của bà trong cuộc khủng hoảng nợ công, khủng hoảng người nhập cư châu Âu cũng như cuộc khủng hoảng tại Ukraine. Tháng 10 năm 2018, bà thông báo sẽ thôi giữ chức chủ tịch Đảng CDU và sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ năm trong cuộc bầu cử liên bang năm 2021.
Angela Dorothea Kasner sinh tại Hamburg, Tây Đức, là con gái của ông Horst Kasner, một mục sư Giáo hội Luther và vợ ông là bà Herlind (nhũ danh Jentzsch), là giáo viên. Năm 1954, Horst Kasner đến quản nhiệm một nhà thờ ở Quitzow, gần Perleberg, và gia đình dời đến ở Templin. Angela Dorothea Kasner lớn lên ở vùng quê chỉ 80 km phía bắc Berlin, thuộc lãnh thổ của Cộng hoà Dân chủ Đức.
Giống hầu hết học sinh khác, Angela Dorothea Kasner là đoàn viên Đoàn Thanh niên Tự do Đức. Về sau bà trở thành uỷ viên quận đoàn và bí thư chuyên trách dân vận và tuyên truyền tại Viện Hàn lâm Khoa học (viện nghiên cứu khoa học quan trọng nhất của Cộng hoà Dân chủ Đức, thành lập năm 1946, tiếp nối truyền thống 250 năm của Viện Hàn lâm Khoa học Phổ).
Bà Angela Dorothea Kasner trong một cuộc nói chuyện trên truyền hình ngày 19 tháng 5 năm 2009 kể rằng mật vụ Stasi của chính quyền Cộng sản Đông Đức từng muốn tuyển mộ bà khi bà xin việc trong Đại học Bách khoa Ilmenau nhưng bị Merkel từ chối hồi thập niên 70. Sau đó bà không được nhận vào làm việc ở trường đại học.
Angela Dorothea Kasner theo học vật lý tại Đại học Leipzig từ năm 1973 đến năm 1978.
Năm 1977, Angela Dorothea Kasner kết hôn với Ulrich Merkel một nhà vật lý, và lấy họ Merkel của ông này làm họ của mình. Tên mới của bà là Angela Dorothea Merkel.
Bà Merkel làm việc và nghiên cứu tại Viện Hóa Lý Trung ương thuộc Viện Hàn lâm Khoa học từ năm 1978 đến năm 1990. Sau khi tốt nghiệp với học vị tiến sĩ vật lý, Merkel làm việc trong lĩnh vực hoá lượng tử ("quantum chemistry").
Thủ tướng Merkel từng muốn vượt biên sang phương Tây và có cơ hội khi thăm thân ở Hamburg (Tây Đức) năm 1986 nhưng cuối cùng vì cha mẹ ở Đông Đức và các mối ràng buộc gia đình, bạn bè, bà đã quyết định trở về. Merkel cũng nói rằng bà đã mở một lon bia uống mừng khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989.
Năm 1989, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, Merkel tham gia phong trào dân chủ, gia nhập Đảng "Demokratischer Aufbruch" mới thành lập. Sau cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên ở Đông Đức, bà trở thành phụ tá phát ngôn của chính quyền lâm thời tiền thống nhất dưới quyền lãnh đạo của Lothar de Maizeiere. Trong cuộc tổng tuyển cử tổ chức vào tháng 12 năm 1990, sau khi đất nước thống nhất, Merkel đắc cử vào "Bundestag" (Quốc hội), từ một hạt bầu cử bao gồm hai quận Nordvorpommern và Rugen cùng thành phố Stralsund. Đảng của bà sáp nhập với Đảng CDU của Tây Đức và Merkel trở nên Bộ trưởng Phụ nữ và Thanh niên trong nội các của thủ tướng Helmut Kohl. Năm 1994, Merkel được bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng Môi trường và An toàn Lò Phản ứng Hạt nhân, vị trí này giúp bà trở nên một nhân vật được nhiều người biết đến và cung cấp một diễn đàn giúp bà xây dựng sự nghiệp chính trị. Là một trong những chính khách được Kohl ưu ái và là bộ trưởng nội các trẻ tuổi nhất, Kohl thường gọi Merkel là "das Madchen" ("cô gái").
Với khả năng nói tiếng Anh gần như hoàn hảo, khi nhận xét về xuất thân của mình là một "Ossi" (biệt danh chỉ các công dân Đông Đức), bà nói: "Bất cứ ai thực sự có một điều gì đó để bộc lộ thì không cần đến trang điểm". Không chỉ thông thạo Anh ngữ, Angela còn nói tiếng Nga lưu loát.
Năm 1977, bà kết hôn với Ulrich Merkel một nhà vật lý, và lấy họ Merkel của ông này làm họ của mình. Hai người li dị năm 1982. Từ năm 1998, bà kết hôn với một giáo sư hoá học ở Berlin tên Joachim Sauer. Bà không có con.
Lãnh tụ phe Đối lập.
Khi chính phủ Kohl thất bại trong cuộc tổng tuyển cử năm 1998, Merkel được bổ nhiệm làm Tổng Thư ký Đảng CDU. Trong cương vị này, chỉ trong năm 1999 Merkel điều hành dẫn đến một chuỗi thắng lợi cho Đảng của bà tại sáu trong bảy cuộc bầu cử cấp bang, phá vỡ thế đa số của liên minh SPD-Đảng Xanh tại "Bundesrat" (Hội đồng Liên bang), thiết chế lập pháp đại diện cho các bang. Sau vụ bê bối tài chính bên trong Đảng liên quan đến nhiều nhân vật lãnh đạo Đảng CDU (kể cả Kohl và chủ tịch Đảng Wolfgang Schauble, người được chọn để kế nhiệm Kohl), Merkel chỉ trích người đỡ đầu trước đây của bà và xúc tiến một khởi đầu mới cho Đảng mà không có Kohl. Ngày 10 tháng 4 năm 2000, bà được bầu chọn để thay thế vị trí của Shaube, trở nên người phụ nữ đầu tiên giữ ghế chủ tịch Đảng, gây kinh ngạc cho nhiều nhà quan sát khi cá tính của bà đối nghịch với Đảng đã chọn bà vào vị trí lãnh đạo; Merkel là một phụ nữ và là tín hữu Kháng Cách, xuất thân từ miền đông nước Đức đa số chấp nhận đức tin Kháng Cách, trong khi CDU vẫn có tập quán lãnh đạo bởi nam giới, bảo thủ và chịu ảnh hưởng sâu đậm truyền thống Công giáo, với hậu thuẫn vững chắc ở miền tây và nam nước Đức. Tháng 10 năm 2001, mặc dù những cam kết làm trong sạch Đảng, Merkel từ chối đào sâu vào vụ tai tiếng về tài chính.
Sau khi trở nên lãnh tụ Đảng, Merkel nhận được sự ủng hộ đáng kể từ người dân Đức để trở nên nhân vật thách thức Thủ tướng Gerhard Schroder trong cuộc bầu cử năm 2002. Tuy vậy, bà không được ưa thích ngay bên trong Đảng, đặc biệt trong Đảng anh em, Liên minh Cơ Đốc Xã hội Bavaria – CSU, sau đó bị loại bởi lãnh đạo CSU, Edmund Stoiber, người trở nên đối thủ của Schroder nhưng lại không biết tận dụng vị trí dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận để thua cuộc trong gang tấc. Sau thất bại của Stoiber trong năm 2002, bên cạnh vai trò chủ tịch Đảng, Merkel nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo phe bảo thủ đối lập ở hạ viện tại Quốc hội Đức, "Bundestag". Đối thủ của bà, Friedrich Merz, giữ vị trí này ở quốc hội trước cuộc bầu cử năm 2002, rút lui để nhường đường cho Merkel.
Diễn đàn chính trị.
Merkel ủng hộ nghị trình cải cách liên quan đến hệ thống xã hội và kinh tế nước Đức, bà được xem là thiên về thị trường tự do; bà vận động sửa đổi luật lao động, dỡ bỏ những rào cản trong quy trình sa thải nhân viên và gia tăng số giờ làm việc trong tuần, bà cho rằng luật lệ hiện hành làm suy giảm tính cạnh tranh bởi vì các công ty không thể kiểm soát giá thuê mướn nhân công khi công việc kinh doanh đình trệ.
Merkel cho rằng chương trình cắt giảm năng lượng hạt nhân của nước Đức nên theo một lộ trình chậm hơn so với kế hoạch của chính phủ Schroder.
Merkel ủng hộ mối quan hệ mật thiết giữa Đức và Hoa Kỳ. Mùa xuân năm 2003, ngược lại lập trường chống đối quyết liệt của công luận, Merkel tỏ ý đồng tình với cuộc xâm lăng Iraq của Hoa Kỳ, miêu tả nó là "không thể tránh khỏi" và kết án Gerhard Schroder là có khuynh hướng chống Mỹ. Động thái này khiến bà bị những người chỉ trích gọi là kẻ xu nịnh nước Mỹ. Bà phê phán lập trường của chính phủ ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu, thay vào đó bà ủng hộ quy chế "đối tác đặc quyền" cho quốc gia này. Do đó, bà được xem là có quan điểm phù hợp với tuyệt đại đa số người dân Đức, xuất phát từ nỗi lo làn sóng nhập cư có thể trở nên gánh nặng quá sức cho nước Đức, cùng với sự hiện diện của quá nhiều ảnh hưởng Hồi giáo bên trong Liên minh châu Âu.
Trả lời tờ Süddeutsche Zeitung khi được hỏi bà có từng cân nhắc xây dựng quan hệ tin cậy với ông Putin khi nhậm chức vào năm 2005 hay không, bà Merkel cho biết: "Đối với tôi, ngay cả khi ông ấy phát biểu tại Quốc hội năm 2001, tôi luôn thấy rõ rằng giữa chúng tôi có những khác biệt đáng kể. Đối với Tổng thống Nga, sự sụp đổ của Liên Xô là một sự kiện bi thảm, ngược lại, chúng tôi cảm thấy niềm vui khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, niềm vui của sự thống nhất nước Đức và châu Âu".
Là một nữ chính khách đến từ một Đảng trung hữu, và là một khoa học gia, Merkel thường được so sánh bởi các nhà báo Đức cũng như Anh, với cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Nhiều người thích gọi bà với biệt danh "Iron Lady" hay "Iron Girl"; song ngoại trừ biệt danh, các nhà bình luận chính trị nhận thấy ít có sự tương đồng giữa các nghị trình chính sự của hai nữ chính khách này.
Ứng cử Thủ tướng.
Ngày 30 tháng 5 năm 2005, Merkel giành được sự đề cử của liên minh CDU/CSU để trở nên đối thủ của Thủ tướng Gerhard Schroder của Đảng SPD trong cuộc tổng tuyển cử năm 2005. Đảng của bà bắt đầu chiến dịch vận động tranh cử, dẫn trước với tỷ lệ 21% theo các cuộc thăm dò dư luận, mặc dù uy tín cá nhân của Merkel thấp hơn của thủ tướng đương nhiệm. Đã vậy, Merkel làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn khi hai lần lẫn lộn giữa lợi tức gộp và lợi tức ròng ("gross income" và "net income") khi bà đem khả năng cạnh tranh của nền kinh tế làm trọng điểm cho lập trường của CDU trong một cuộc tranh luận trên truyền hình. Tuy vậy, bà giành lại lợi thế khi tuyên bố sẽ bổ nhiệm Paul Kirchhof, cựu thẩm phán tại Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức và là một chuyên gia về chính sách tài chính, vào chức vụ bộ trưởng tài chính.
Kết quả cuộc bầu cử toàn quốc ngày 18 tháng 9 năm 2005 là bất phân thắng bại cho liên minh CDU/CSU của Merkel và Đảng SPD của Schroder, với CDU/CSU dành 35,2% phiếu bầu (CDU 27,8% và CSU 7,4%) trong khi SPD chiếm 34,2%. Cả liên minh SPD-Đảng Xanh và liên minh CDU/CSU với Đảng Dân chủ Tự do đều không có đủ số ghế cần thiết để chiếm thế đa số tại "Bundestag", nên Schroder và Merkel đều không thể tuyên bố chiến thắng. Một đại liên minh giữa CDU/CSU và SPD gặp trở ngại là cả hai đều muốn nắm giữ cho mình chức thủ tướng. Tuy nhiên, sau ba tuần lễ thương thảo, hai Đảng đi đến thoả thuận theo đó Merkel sẽ là thủ tướng trong khi SPD nắm giữ 8 trong số 16 vị trí trong nội các. Thoả hiệp này được chuẩn thuận bởi hai Đảng vào ngày 14 tháng 11. Merkel được bầu vào chức vụ thủ tướng bởi đa số phiếu của đại biểu (397-217) trong kỳ họp của "Bundestag" ngày 22 tháng 11, song có đến 51 thành viên của liên minh cầm quyền bỏ phiếu trắng hoặc phiếu chống.
Những bản tường trình chỉ ra rằng chính phủ liên hiệp sẽ theo đuổi chính sách hỗn hợp, có một số khía cạnh mâu thuẫn với lập trường chính trị của Merkel trong cương vị lãnh đạo phe đối lập và ứng cử viên thủ tướng, với chủ trương cắt giảm chi tiêu công trong khi tăng thuế giá trị gia tăng (VAT), tiền bảo hiểm xã hội và nâng mức trần của thuế lợi tức. Luật bảo vệ nhân dụng không còn có giá trị cho nhân viên trong hai năm đầu làm việc, lương hưu sẽ bị đóng băng và các khoản trợ cấp dành cho người mua nhà lần đầu sẽ bị cắt giảm. Về đối ngoại, nước Đức sẽ duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Pháp và các quốc gia Đông Âu, nhất là Nga, sẽ tiếp tục ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, không chắc là Đức sẽ vận động dỡ bỏ lệnh cấm vận của EU bán vũ khí cho Trung Quốc khi nhiều lần Merkel đã bày tỏ sự chống đối về điều này.
Merkel cho biết mục tiêu chính của chính phủ là giảm tỷ lệ thất nghiệp, và chính phủ nên được đánh giá qua sự thành bại trong nỗ lực này.
Chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Merkel sau khi tuyên thệ nhậm chức là chuyến viếng thăm Paris để hội kiến với Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Trong bài diễn văn của mình, Chirac nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mối quan hệ đối tác Pháp-Đức đối với Âu châu. Sau đó, Merkel đến Bỉ để gặp gỡ các nhà lãnh đạo EU và Tổng thư ký NATO, Jaap de Hoop Scheffer, rồi đến Luân Đôn hội kiến với Thủ tướng Anh Tony Blair. Ngày 28 tháng 11 bà tiếp kiến quốc khách đầu tiên, Tổng thống Pohamba của Namibia, một cựu thuộc địa của Đức ở Phi châu. Ngày 30 tháng 11 năm 2005, trong bài diễn văn chính phủ đầu tiên, Merkel công bố mục tiêu cải thiện nền kinh tế Đức và hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp. Ngày 13 tháng 1 năm 2006, bà đến Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm đầu tiên trong cương vị thủ tướng.
Đầu năm 2006, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Angela Merkel, sau 100 ngày cầm quyền, giành được sự ủng hộ cao nhất trong vòng các thủ tướng lãnh đạo nước Đức kể từ năm 1949. Nhiều nhà phê bình kinh tế thường nhắc đến thuật ngữ "nhân tố Merkel" như là nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng trong mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng và mức chi tiêu trong thị trường.
Sau hai năm liên tiếp (2006 và 2007) giữ vị trí quán quân trong danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới, tháng 8 năm 2008, Angela Merkel lại tiếp tục là nhân vật số một theo bình chọn của Tạp chí Forbes kèm theo nhận xét,
"Với GDP 3, 3 ngàn tỷ USD, Đức là nền kinh tế lớn nhất châu Âu. Nỗ lực cải tổ của Merkel đã giúp phục hồi kinh tế và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp (dù niềm tin của người tiêu dùng ở mức thấp nhất trong vòng 5 năm). Bà nâng cao tuổi về hưu, bổ nhiệm thêm phụ nữ vào các vị trí quan trọng trong chính quyền, tăng phụ cấp cho người chịu sinh thêm con. Có quan điểm cứng rắn trong các cuộc tranh luận, bà tiếp kiến Dalai Lama, trừng trị Mugabe, và muốn đồng euro thủ giữ vai trò quan trọng hơn trong thị trường tài chính trong lúc đồng đô-la đang suy yếu. Bà cũng cố biến nước Đức thành một quốc gia thân thiện hơn với môi trường bằng các biện pháp cắt giảm khí đốt nhà kính. Người dân Âu châu đã bỏ phiếu chọn bà là chính trị gia có nhiều ảnh hưởng nhất." – Tatiana Serafin.
Ngày 28 tháng 9 năm 2009, Merkel hứa sẽ sớm thành lập tân chính phủ có khuynh hướng trung-hữu chỉ trong vài tuần tới, nói rằng việc cắt giảm thuế có thể xảy ra năm 2011 và bác bỏ đòi hỏi phải giảm chi vì cho rằng sẽ gây nguy hại cho việc phục hồi kinh tế. Cử tri Ðức ngày 27 tháng 9 đã chấm dứt liên minh tả khuynh-hữu khuynh nhiều bế tắc của Merkel và cho bà thế đa số thoải mái trong phía trung-hữu-nhờ vào chiến thắng của đồng minh mới là Đảng Dân chủ Tự do với khuynh hướng thân giới doanh nghiệp. "Ðức sẽ phải sớm có một chính phủ mới," Merkel nói, nói rằng quốc gia này chỉ mới thoát ra cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Sau đó bà có cuộc họp với lãnh đạo Đảng Dân chủ Tự do là Guido Westernwelle. Nước Ðức kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ ngày 9 tháng 11/2009, và Merkel muốn chào đón các nhà lãnh đạo thế giới ngày 9 tháng 11 với thành phần chính phủ mới.
Kết quả cuộc bầu cử ngày 27/9, 2009 đưa quốc gia với nền kinh tế lớn nhất châu Âu về hướng thiên hữu, nhưng với người lãnh đạo là bà Merkel có tính thận trọng và luôn tìm sự thỏa thuận với mọi phe nhóm. Hiện không có chỉ dấu nào cho thấy sẽ có sự thay đổi lớn lao trong chính sách. Một trong những điểm căn bản trong lập trường tranh cử của Merkel là lời hứa hẹn đưa ra việc giảm thuế cho giới trung lưu. Ðảng Dân chủ Tự do muốn có sự thay đổi sâu rộng trong hệ thống thuế khóa, cắt thuế lợi tức cho cả thành phần giàu và nghèo. Merkel nói việc cắt giảm thuế có thể được thi hành vào năm 2011 hay 2012, nhưng không cho biết chi tiết rõ ràng vào lúc này.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Nam Định (thành phố)
Nam Định là thành phố tỉnh lỵ thuộc tỉnh Nam Định, Việt Nam.
Đây là một trong những thành phố được Pháp lập ra đầu tiên ở Liên bang Đông Dương. Nằm ở phía nam và là thành phố trung tâm tiểu vùng nam đồng bằng sông Hồng, Nam Định đã sớm trở thành một trung tâm văn hoá, chính trị và tôn giáo ngay từ những thời kỳ đầu thế kỷ XIII trong lịch sử Việt Nam. Năm 1262, nhà Trần cho xây dựng phủ Thiên Trường, đặt dấu mốc đầu tiên cho một đô thị Nam Định sau này. Trong suốt thời kỳ lịch sử từ Thiên Trường cho đến Nam Định ngày nay, trải qua các triều đại Trần, Hồ, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn vùng đất này đã nhiều lần đổi tên như Thiên Trường, Vị Hoàng, Sơn Nam, Thành Nam rồi Nam Định. Danh xưng Nam Định chính thức có từ năm 1822, gọi là Trấn Nam Định, sau đến 1831 gọi là tỉnh Nam Định dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1921, người Pháp đã phá Thành Nam quy hoạch lại và thành lập thành phố Nam Định. Lúc đó là thành phố cấp 3.
Trải qua hai cuộc kháng chiến, vai trò của thành phố Nam Định lại có thêm những lần thay đổi và ngày nay trở thành thành phố thuộc tỉnh Nam Định, đã được thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là đô thị loại I vào năm 2011. Thành phố Nam Định cũng đã được thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Nam Định thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và xã hội của tỉnh Nam Định và của tiểu vùng Nam đồng bằng sông Hồng; đây cũng là một thành phố của vùng duyên hải Bắc Bộ.
Nam Định là thành phố lâu đời có lịch sử lâu đời. Ngay từ thời Nhà Trần đã xây dựng Nam Định thành phủ Thiên Trường dọc bờ hữu sông Hồng, có 7 phường phố. Năm 1262, Trần Thánh Tông đổi hương Tức Mặc (quê gốc của nhà Trần) thành phủ Thiên Trường, sau đó phủ được nâng thành lộ. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nhà Lê gọi là thừa tuyên Thiên Trường. Năm 1469 dưới thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam. Năm 1741, Thiên Trường là một phủ lộ thuộc Sơn Nam Hạ, bao gồm 4 huyện Nam Chân (Nam Trực), Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên. Năm 1831, là một phủ thuộc tỉnh Nam Định. Ngày nay là các huyện Giao Thủy, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ Lộc đều thuộc tỉnh Nam Định.
Dưới thời Nguyễn, Nam Định là một thành phố lớn cùng với Hà Nội và Huế. Thời đó Nam Định còn có trường thi Hương, thi Hội, có cả Văn Miếu như Hà Nội. Nam Định được công nhận là thành phố dưới thời Pháp thuộc ngày 17 tháng 10 năm 1921, hiện đã tròn 100 năm, sớm hơn cả Vinh, Mỹ Tho, Quy Nhơn, Cần Thơ, hay thậm chí là Huế (1929). Về quy mô dân số nội thành so với các thành phố ở miền Bắc chỉ đứng sau Hà Nội và Hải Phòng (đã có hơn 400.000 dân, mật độ dân số đạt 17.221 người/km² vào năm 2011). Từng có liên hiệp nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương nên Nam Định còn được gọi là "Thành phố Dệt". Đây là thành phố có nhiều tên gọi chính và văn học: Thiên Trường, Vị Hoàng, Sơn Nam Hạ, Thành Nam, Non Côi sông Vị, thành phố Hoa Gạo, thành phố Dệt, thành phố lụa và thép (theo cách gọi của các nhà văn Ba Lan thời kỳ chiến tranh Việt Nam), thành phố bên sông Đào, Nam Đị
Nam Định là một trong số ít thành phố ở miền Bắc còn giữ lại được ít nhiều nét kiến trúc thời Pháp thuộc, có quán hoa, nhà Kèn, nhà thờ Lớn, các khu phố cổ từ thế kỷ XVIII-XIX, trong khi các tỉnh lỵ khác hầu hết được xây dựng và quy hoạch mới lại sau chiến tranh. Thành phố cũng từng có một cộng đồng Hoa kiều khá đông đảo vào giữa thế kỷ XIX chủ yếu đến từ tỉnh Phúc Kiến, đến nay con cháu họ vẫn sinh sống ở khu vực phố cổ: Hoàng Văn Thụ (Phố Khách), Lê Hồng Phong (Cửa Đông), Hai Bà Trưng (Hàng Màn, Hàng Rượu), Hàng Sắt, Bến Ngự, Bắc Ninh, Hàng Cau, Hàng Đồng, Hàng Đườ
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945, Nam Định là thành phố đặt dưới quyền cấp kỳ (Bắc Bộ). Từ năm 1945 đến năm 1956, Nam Định là thành phố trực thuộc Trung ương. Ngày 3 tháng 9 năm 1957, sáp nhập thành phố Nam Định vào tỉnh Nam Định, là tỉnh lỵ tỉnh Nam Định.
Ngày 8 tháng 8 năm 1964, sáp nhập 5 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng và Mỹ Xá về huyện Mỹ Lộc quản lý.
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, sau khi 2 tỉnh: Hà Nam và Nam Định được sáp nhập thành tỉnh Nam Hà thì thành phố Nam Định trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Nam Hà.
Ngày 13 tháng 6 năm 1967, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 76-CP.Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định.
Năm 1975, hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh, thành phố Nam Định là tỉnh lỵ tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 10 phường: Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Tế Xương, Trường Thi, Vị Xuyên và 15 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Hòa, Mỹ Hưng, Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thắng, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Trung, Mỹ Xá. Ngày 27 tháng 4 năm 1977, sáp nhập 9 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Phúc, Mỹ Hưng, Mỹ Trung vào huyện Bình Lục. Ngày 12 tháng 1 năm 1984, sáp nhập 2 xã Mỹ Trung và Mỹ Phúc thuộc huyện Bình Lục vào thành phố Nam Định.
Ngày 23 tháng 4 năm 1985, chia phường Trường Thi thành 2 phường: Trường Thi và Văn Miếu; chia phường Năng Tĩnh thành 2 phường: Năng Tĩnh và Ngô Quyền; chia phường Cửa Bắc thành 2 phường: Cửa Bắc và Bà Triệu; chia phường Vị Xuyên thành 2 phường: Vị Xuyên và Vị Hoàng; chia phường Trần Tế Xương thành 2 phường: Trần Tế Xương và Hạ Long. Những năm 1991-1996, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành 2 tỉnh Nam Hà và Ninh Bình, thành phố Nam Định trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Nam Hà.
Từ ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Nam Hà tách thành 2 tỉnh Nam Định và Hà Nam, thành phố Nam Định tiếp tục là tỉnh lỵ tỉnh Nam Định (chuyển 7 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hưng, Mỹ Hòa, Mỹ Thắng thuộc huyện Bình Lục của tỉnh Hà Nam về thành phố Nam Định quản lý). Ngày 2 tháng 1 năm 1997, sáp nhập 2 xã Nam Phong và Nam Vân của huyện Nam Ninh (nay là 2 huyện Nam Trực và Trực Ninh) vào thành phố Nam Định. Ngày 26 tháng 2 năm 1997, tách 11 xã: Mỹ Trung, Mỹ Hưng, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Thịnh, Mỹ Tiến, Mỹ Thuận, Mỹ Thành, Mỹ Tân, Lộc Hòa để tái lập huyện Mỹ Lộc. Ngày 6 tháng 9 năm 1997, chuyển xã Lộc Hòa của huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. Ngày 29 tháng 9 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại II.
Ngày 9 tháng 1 năm 2004, thành lập phường Lộc Vượng trên cơ sở 420,07 ha diện tích tự nhiên và 7.962 nhân khẩu của xã Lộc Vượng; thành lập phường Lộc Hạ trên cơ sở 349,50 ha diện tích tự nhiên và 6.931 nhân khẩu của xã Lộc Hạ; thành lập phường Thống Nhất trên cơ sở 36,53 ha diện tích tự nhiên và 1.200 nhân khẩu còn lại của xã Lộc Vượng; 0,60 ha diện tích tự nhiên và 221 nhân khẩu còn lại của xã Lộc Hạ; 13,70 ha diện tích tự nhiên và 1.464 nhân khẩu của phường Quang Trung; 18 ha diện tích tự nhiên và 4.193 nhân khẩu của phường Vị Hoàng; thành lập phường Cửa Nam trên cơ sở 127,60 ha diện tích tự nhiên và 4.828 nhân khẩu của xã Nam Phong; 50 ha diện tích tự nhiên và 1.300 nhân khẩu của xã Nam Vân; thành lập phường Trần Quang Khải trên cơ sở 90,60 ha diện tích tự nhiên và 8.489 nhân khẩu của phường Năng Tĩnh. Thành phố Nam Định có 20 phường và 5 xã.
Ngày 28 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại I thuộc tỉnh Nam Định.
Ngày 1 tháng 9 năm 2019, chuyển 2 xã Lộc Hòa và Mỹ Xá thành 2 phường có tên tương ứng.
Thành phố Nam Định có 22 phường và 3 xã như hiện nay.
Thành phố Nam Định nằm ở phía bắc tỉnh Nam Định, có vị trí địa lý:
Thành phố Nam Định cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km về phía đông nam, cách thành phố Thái Bình 16 km về phía tây, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 90 km về phía tây nam, cách thành phố Ninh Bình 28 km về phía đông bắc.
Thành phố Nam Định tương đối bằng phẳng, trên địa bàn thành phố không có ngọn núi nào. Thành phố có hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Nam Định. Trong đó sông Nam Định (sông Đào) nối từ sông Hồng chảy qua giữa lòng thành phố đến sông Đáy làm cho thành phố là một trong những nút giao thông quan trọng về đường thủy cũng như có vị trí quan trọng trong việc phát triển thành phố trong tương lai. Như vậy thực ra Nam Định cũng là một thành phố ở ngã ba sông.
Thành phố Nam Định mang tính chất khí hậu cận nhiệt đới ấm ẩm điển hình, theo phân loại khí hậu Koppen, có tháng lạnh dưới 18 độ. vào tháng 1 năm 1955 nhiệt độ thành phố xuống mức 3,0 độ C. Nhiệt độ cao kỷ lục của thành phố đạt được vào tháng 6/2016 với mức nhiệt trong lều khí tượng đạt 40,2 độ C. Nằm ở phía tây bắc của tỉnh Nam Định, lại nằm ở vị trí xa biển, so với các huyện Hải Hậu, Xuân trường, Nghĩa Hưng, nhiệt độ trong mùa đông của thành phố thấp hơn đôi chút vì chịu ảnh hưởng mạnh mẽ hơn của áp cao lạnh siberia, 16.4 độ vào tháng 1 ở thành phố so với 17.3 độ tại trạm Nghĩa Hưng, mùa hè nóng hơn so với các huyện ven biển..Thời tiết của thành phố Nam Định là sự giao thoa giữa Hải Phòng với Hà Nội. mùa lạnh thời tiết thường ấm hơn Hải Phòng và lạnh hơn Hà Nội, mùa hè nóng hơn Hải Phòng và mát hơn Hà Nội.
Dân số tính đến ngày 1/4/2019 là 236.294 người. 10% dân số theo đạo Thiên Chúa.
Thành phố Nam Định có 25 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 22 phường: Bà Triệu, Cửa Bắc, Cửa Nam, Hạ Long, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Xá, Năng Tĩnh, Ngô Quyền, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Thống Nhất, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Tế Xương, Trường Thi, Văn Miếu, Vị Hoàng, Vị Xuyên và 3 xã: Lộc An, Nam Phong, Nam Vân.
Từ năm 2008 đến nay, tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, đạt bình quân 14,32%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng (98,69%), tỷ trọng nông nghiệp (1,31%), tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của thành phố chiếm 95% xuất khẩu của tỉnh, tăng bình quân 19%/năm. Năm 2013, tổng thu ngân sách đạt hơn 1.313 tỷ đồng (tăng gấp hai lần so với năm 2011). Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người gần 69 triệu đồng/người.
Chợ Thành Nam (xưa).
Vốn là một đô thị đã có từ lâu đời, thành phố Nam Định được biết đến như một đầu mối giao thương hàng hoá ở Bắc bộ. Trong quá trình lịch sử phát triển trên địa bàn thành phố Nam Định đã hình thành một hệ thống chợ đầy đủ và quy mô phục vụ cho phát triển thương mại ở nơi đây. Tiêu biểu nhất phải kể đến là chợ Rồng và chợ Mỹ Tho nằm ở trung tâm thành phố, cũng là hai chợ cấp 1 của tỉnh Nam Định.
Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có các chợ đầu mối như: Chợ Nguyễn Trãi, chợ đêm Phạm Ngũ Lão, chợ Lý Thường Kiệt; và các chợ truyền thống cấp 2: chợ Hoàng Ngân, chợ Cửa Trường, chợ Phù Long, chợ Đồng Tháp, chợ Năng Tĩnh, chợ Diên Hồng, chợ Văn Miếu, chợ Mỹ Trọng, chợ Kênh, chợ Năm Tầng, chợ Hạ Long, chợ Cầu Ốc, chợ Đò Quan, chợ Nam Vân, chợ Lộc A
Trung tâm thương mại.
Ngoài hệ thống chợ đã có từ lâu đời, trong phát triển theo hướng hiện đại, thành phố Nam Định đã quy hoạch và xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại đồng bộ đáp ứng nhu cầu mua sắm hiện đại của người dân.
Tiêu biểu như trung tâm thương mại Big C Nam Định, trung tâm thương mại Nam Định Tower, rạp phim Lotte Cinema Nam Định, siêu thị CoopMart, Micom Nam Định, các chuỗi siêu thị khác như Thế giới di động, siêu thị điện máy Media mart, Pico, Trần Anh, Điện máy
Giao thông qua thành phố Nam Định dày đặc và thuận tiện: quốc lộ 10 từ Hải Phòng, Thái Bình đi Ninh Bình chạy qua và Quốc lộ 21B nối Nam Định với Quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 38B từ Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam xuống Nam Định, Ninh Bình. Quốc lộ 37 nối Hưng Yên với Nam Định, Thái Bình. Quốc lộ 21A đi Sơn Tây và các huyện Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường và bãi biển Quất Lâm, Đại lộ Thiên Trường đi Hà Nội. Tỉnh lộ 490 (đường 55) đi Nghĩa Hưng và bãi biển Thịnh Long. Từ ngoài có 13 tuyến đường xuyên tâm đi đến thành phố. Thành phố Nam Định còn có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua. Ga Nam Định là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt Bắc Nam, thuận tiện cho hành khách vùng nam đồng bằng đi đến các thành phố lớn trong cả nước như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Nam Định nằm bên hữu ngạn sông Hồng, thuận tiện cho giao thông đường thủy và thuộc tỉnh có 72 km bờ biển
Kiến trúc và quy hoạch đô thị.
Các phố lớn của Nam Định là Đại lộ Thiên Trường, Đông A, Trần Hưng Đạo, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Trần Phú, Trường Chinh, Giải Phóng, Lê Hồng Phong, Điện Biên, Hàng Tiện, Nguyễn Du, Hùng Vương, Nguyễn Công Trứ, Phù Nghĩ, bên bờ hồ Vị Xuyên của Thành phố. Cột cờ Thành Nam là một trong 3 cột cờ ở Việt Nam, mặt chính quay ra phố Tô Hiệu, mặt sau là đường Cột Cờ, được xây dựng từ thời Nguyễn vào năm 1833, đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia năm 1962.
Gắn liền với lịch sử phát triển của Nam Định, cầu Đò Quan là một trong những điểm giao thông quan trọng nối hai bờ sông Đào. Bến Đò Quan đã từng là hải cảng lớn của xứ bắc (trước khi người Pháp xây dựng cảng Hải Phòng). Tàu của hãng Bạch Thái Bưởi chạy nhiều từ Nam Định đi khắp miền Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, V, về phía thượng lưu có cầu Tân Phong, phía hạ lưu có cầu Nam Định, hai cây cầu to lớn khép kín một vòng tròn đường vành đai S2 (bao gồm một phần QL10, một phần QL21B và đường Lê Đức Thọ). Nối liền với Thái Bình bằng cầu Tân Đệ qua sông Hồng.
Thành phố Nam Định có sự giao thoa giữa kiến trúc cổ điển Việt Nam, kiến trúc nhà liền kề mặt phố của đô thị cổ, kiến trúc Trung Hoa, kiến trúc phương Tây và kiến trúc hiện đại. Có thể chia thành phố Nam Định ngày nay thành ba khu vực: khu phố cổ, khu phố Pháp và các khu mới quy hoạch (Hòa Vượng, Hòa Xá, Cửa Nam, Thống Nhất, Mỹ Trung, khu TĐC Trầm Cá, khu TĐC Đồng Quýt, khu TĐC Phúc Trọng - Bãi Viê).
Thành phố đã từng có 40 phố cổ mang tên "Hàng" như Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Cau, Hàng Rượu, Hàng Thao, Hàng Mâm, Hàng Bá
Thành phố Nam Định chủ yếu nằm ở phía bắc sông Đào (còn gọi là sông Nam Định). Nam Định là thành phố cổ thứ hai chỉ sau Hà Nội, có lịch sử xây dựng trước cả Phố Hiến và Hội An, nay đã hơn 750 tuổi. Nếu như Hà Nội xưa có 36 phố phường thì TP Nam Định cũng có 40 phố cổ. Những con phố nhỏ nằm ven bờ sông Đào mang dáng vẻ riêng gắn liền với hơn 750 năm phát triển của Thành Nam. Những phố cổ của Nam Định cũng như Hà Nội là các phố nghề như: Hàng Vàng, Hàng Bát, Hàng Kẹo, Hàng Mâm, Hàng Tiện, Hàng Nâu, Hàng Thao, Hàng Ghế, Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Vải Màn, Hàng Rượu, Hàng Sũ , một số phố không còn giữ lại được tên cổ như ở Hà Nội, và cũng không còn buôn bán những mặt hàng truyền thống tuy nhiên nó vẫn còn phần nào giữ được dáng vẻ cổ kính của nó. Hiện tại ở TP Nam Định còn một số phố mang tên gọi cổ là Hàng Tiện, Hàng Cấp, Hàng Cau, Hàng Thao, Hàng Đồng, Hàng Sắt, Bến Thóc, Bến Ngự, Cửa Trường, Tràng T, Hoàng Văn Thụ, Bắc N
Từ sau khi thành lập chính phủ Đông Dương năm 1890, người Pháp ở Nam Định đã tách lãnh thổ hành chính thành phố Nam Định ra khỏi huyện Mỹ Lộc, tổ chức thành 12 phố rồi đặt lại tên cho các đường phố.
Năm 1921, Pháp lập ra Thành phố Nam Định, quy hoạch thành 10 khu phố với 40 phố. Khi ấy, Pháp đã lập thêm phố mới sau khi bạt thành lấp hào như: Avenue Clémenceau (nay là Trần Phú), Boulevard Galliéni (nay là Hoàng Hoa Thám), Rue Francis Garnier (nay là Máy Tơ), Avenue Brière L isle (nay là Trần Quốc Toản), Boulevard Paul Bert (nay là Trần Hưng Đạo).
Kiến trúc hiện đại.
Ngày nay chính quyền và nhân dân Nam Định đang xây dựng nhiều dự án đó là: khu đô thị mới Hoà Vượng, khu đô thị mới Thống Nhất, khu đô thị mới Mỹ Trung, khu đô thị mới Dệt may Nam Định, khách sạn 4 sao Nam Cường Nam Định, tổ hợp trung tâm thương thương mại chung cư cao cấp Nam Định T, Cung đường S2 nối tiếp 1/4 vòng tròn cùng cầu Tân Phong để hoàn thành đường vành đai hình tròn ôm gọn 50 km² nội đô thành phố hiện nay và các khu đô thị mớ
Giai đoạn 2017-2020: Xây dựng đường trục đô thị phía Nam sông Đào. Đoạn từ tỉnh lộ 490C đến cầu Tân Phong, hoàn thành khu đô thị dệt may, xây dựng khu hành chính trung tâm thành phố...
Quần thể di tích lịch sử - văn hóa Trần, Bảo tàng tỉnh Nam Định, cột cờ thành Nam Định, nhà số 7 phố Bến Ngự, khu chỉ huy sở nhà máy Dệt, bảo tàng Dệt - May Việt Nam, cửa hàng ăn uống dưới hầm, cửa hàng cắt tóc dưới hầm, tượng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đặt trước Nhà hát 3/2, công viên Vị Xuyên, công viên văn hóa Tức Mặ
TP. Nam Định có những nét riêng như những con phố nhỏ vào mùa hoa gạo, món ăn đặc sản địa phương hay tiếng còi tầm của nhà máy dệt. Cùng với các con phố cổ, hoa gạo được coi là loài cây đặc trưng của đất và người Nam Định. Khi nhắc đến thành phố Nam Định là nhắc tới những địa điểm văn hoá nổi bật như Hồ Vị Xuyên, ngã tư Cửa Đông, Văn Miếu, đền Trần, phố hoa Nguyễn Du, cửa hàng hoa Cửa Đô
Thành phố Nam Định là trung tâm thể thao lớn vùng Nam Đồng bằng sông Hồng với cơ sở hạ tầng phục vụ cho thể thao khá quy mô và đồng bộ chỉ sau Hà Nội (ở miền Bắc), đã từng được chọn là một trong những điểm thi đấu của SeaGames 22 với số môn thi đấu nhiều thứ 3 (sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh). Từ năm 1941 đội Cotonkin của Nam Định đã vô địch Đông Dương trong giải đầu tiên. Câu lạc bộ bóng đá Nam Định đã nhiều lần thi đấu thành công ở giải Vô địch quốc gia Việt Nam (V.league 1) một lần vô địch năm 1985. Sân vận động Thiên Trường từng được giới thể thao đánh giá cao về quy mô và vẻ đẹp thẩm mỹ chỉ đứng sau SVĐ quốc gia Mỹ Đình. Ngoài ra còn có nhà thi đấu Trần Quốc Toản, bể bơi Trần Khánh Dư, trường đào tạo VĐV, Cung thể thao cấp vùng với nhà thi đấu đa năng 4000 chỗ ngồi và bể bơi có mái che với 1000 chỗ ngồi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nam Định cũng là nơi đăng cai chính, tổ chức nhiều môn thể thao nhất tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII - 2014.
Ẩm thực Nam Định được biết đến với món phở Nam Định nổi tiếng. Ngoài ra còn có các món đặc sản, ẩm thực được sản xuất từ Thành Nam như: bánh gai bà Thi, chuối Ngự, kẹo Sìu Châu, bánh mì Ba Lan, bánh đậu xanh Hanh Tụ, nem nắm, bánh nhãn, bánh cuốn làng Kênh, xôi cá rô, xôi xíu, bánh xíu páo, bánh gối, sủi cảo, bánh xu kem.
Thành phố kết nghĩa.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Tại thành phố Nam Định có đường Mỹ Tho ở khu đô thị mới Thống Nhất, chợ Mỹ Tho và ở thành phố Mỹ Tho cũng có một ngôi trường mang tên trường THCS Nam Định.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Để thể hiện tình hữu nghị giữa hai thành phố, hai đất nước Ý - Việt, Nam Định đã đặt tên cho một công viên khang trang hiện đại tại cửa ngõ thành phố là "Công viên Prato". Ở thành phố Prato cũng có con đường mang tên Nam Định với 4 làn xe dài 1,8 km.
|
Máy xúc lật, là máy xây dựng thuộc loại thiết bị cơ giới, có công dụng chính để bốc xúc đất, đá và vật liệu rời, vận chuyển chúng trong gầu xúc của máy, để đổ lên thiết bị vận chuyển khác (ô tô tải) hay kho chứa với độ cao đổ nhất định cao hơn nền đất. Máy xúc lật hoàn toàn có thể dùng để đào đất đá từ mềm đến cứng vừa (đất cấp I, II), dạng rời hay liền thổ nhưng vị trí đào nằm ngang hoặc cao hơn vị trí máy đứng (cao hơn nền đất máy đứng). Máy xúc lật được sử dụng nhiều trong xây dựng, khai thác mỏ, vận tải (bốc xúc hàng hóa ở kho bãi).
Máy xúc lật có cấu tạo gồm: một máy kéo (máy cơ sở) được trang bị thêm hệ gầu xúc lật (bộ công tác) thường đặt ở phía trước máy kéo.
|
Abu Musab al-Zarqawi (tiếng Ả Rập: أبومصعب الزرقاوي; 1966–2006) là ông trùm khủng bố người Jordan, cựu Thủ lĩnh mạng lưới khủng bố al-Qaeda tại Iraq.
Abu Musab al-Zarqawi, tên thật là Ahmad Fadeel al-Nazal al-Khalayleh (أحمد فضيل النزال الخلايله, "’Aḥmad Faḍīl an-Nazāl al-Ḫalāyla"), sinh năm 1966 trong một gia đình nghèo Jordan gốc Palestine ở làng Zarqa, cách thủ đô Amman chừng 27 km. Trong thập niên 1980, Zarqawi rời Jordan gia nhập lực lượng những chiến binh Hồi giáo mujahedin tại Afghanistan chống lại quân đội Liên Xô cũ.
Năm 1992, Abu Musab al-Zarqawi về nước và lập gia đình, nhưng không kiếm được việc làm. Từ năm 1992 đến 1997, giới chức an ninh Jordan đã từng nhiều lần tống giam Abu Musab al-Zarqawi vì tội liên quan đến âm mưu lật đổ chế độ. Năm 1999 khi kế hoạch tổ chức khủng bố ở Jordan bị bại lộ Abu Musab al-Zarqawi chạy trốn sang Afghanistan và được Osama bin Laden trọng dụng. Sau khi Taliban bị lật đổ, Abu Musab al-Zarqawi chạy tới vùng Tây Bắc Iraq.
Từ năm 2003, Abu Musab al-Zarqawi là người chỉ huy của các vụ đánh bom, bắt cóc người ngoại quốc và chặt đầu con tin, đưa cảnh hành hình lên Internet. Cơ quan an ninh Mỹ treo giá cái đầu của Abu Musab al-Zarqawi là 25 triệu USD, bằng giá với Osama Bin Laden.
Ngày 24 tháng 6 năm 2004 tổ chức của Abu Musab al-Zarqawi gây hàng loạt các cuộc tấn công ở 6 thành phố của Iraq làm hơn 100 người chết và khoảng 320 người bị thương. Tháng 10 năm 2004 Abu Musab al-Zarqawi cam kết liên minh với Osama Bin Laden và thủ lĩnh mạng lưới al-Qaeda cũng tuyên bố Abu Musab al-Zarqawi là đại diện của mình ở Iraq, mặc dù trước đây Abu Musab al-Zarqawi được coi là một đối thủ của Bin Laden.
Tháng 2 năm 2005, Abu Musab al-Zarqawi trốn thoát một cuộc tập kích vây bắt của quân đội Mỹ tại thành phố Hit và Haditha gần sông Euphrates. Ngày 20 tháng 3 năm 2005, Toà án quân sự Jordan kết án vắng mặt 15 năm tù giam đối với Abu Musab al-Zarqawi vì tội âm mưu tấn công Đại sứ quán Jordan tại Baghdad. Ngày 24 tháng 5 năm 2005, thuộc hạ của Abu Musab al-Zarqawi đã công bố trên Internet rằng thủ lĩnh của họ đã bị thương và yêu cầu các tín đồ Hồi giáo cầu nguyện cho Abu Musab al-Zarqawi.
Ngày 10 tháng 11 năm 2005 mạng lưới khủng bố al-Qaeda ở Iraq của Abu Musab al-Zarqawi tiến hành loạt đánh bom nhằm vào ba khách sạn ở thủ đô Amman của Jordan làm 59 người chết và hơn 300 người bị thương. Ngày 17 tháng 11 năm 2005, trong một cuốn băng ghi âm đăng tải trên Internet, Abu Musab al-Zarqawi cảnh báo sẽ thực hiện các cuộc tấn công nhằm vào các địa điểm du lịch Jordan, dọa lấy đầu Quốc vương Jordan Abdullah II và bào chữa cho các vụ đánh bom vào ba khách sạn ở Amman.
Tháng 10 năm 2005 Abu Musab al-Zarqawi bị toà án quân sự Jordan tuyên án tử hình vắng mặt vì tội đã giết một người Mỹ tên là Laurence Foley. Ngày 18 tháng 12 năm 2005 Abu Musab al-Zarqawi lại bị toà án quân sự Jordan tuyên án tử hình vắng lần thứ hai về tội tổ chức các vụ tấn công khủng bố nhằm vào dân thường tại khu vực biên giới giữa nước này và Iraq.
Ngày 7 tháng 6 năm 2006 Abu Musab al-Zarqawi cùng 7 trợ lý thân tín đã thiệt mạng trong một vụ oanh kích của quân đội Mỹ tại Baquba, cách Baghdad khoảng 50 km. Việc khám nhiệm tử thi sau này cho thấy Abu Musab al-Zarqawi chết 52 phút sau khi ngôi nhà bị đánh bom sập. Abu Musab al-Zarqawi chết vì sức ép của vụ nổ. Đây là một tin mừng đối với chính phủ Mỹ và Iraq. Sau khi Abu Musab al-Zarqawi chết vị trí lãnh đạo mạng lưới al-Qaeda ở Iraq có thể do Abu al-Masri một người Ai Cập hoặc A.AL-Baghdadi một người Iraq lãnh đạo.
Chính phủ Iraq coi cái chết của Abu Musab al-Zarqawi là một thắng lợi trong nỗ lực tái lập ổn định và an ninh. Nhưng cái chết của Abu Musab al-Zarqawi cũng còn là cơ hội để các lực lượng chống đối hợp tác hiệu quả hơn và tranh thủ được sự ủng hộ của người dân Iraq hơn.
|
Trạm trộn bê tông nhựa
Trạm trộn bê tông nhựa là một loại thiết bị dùng để sản xuất bê tông nhựa thông qua quá trình trộn và gia nhiệt các loại đá khoáng sản, cốt liệu (bột đá/đá dăm), chất kết dính (thường là bitum, trong vài trường hợp là hắc ín) và có thể có các chất phụ gia khác. Toàn bộ trình tự quá trình phức tạp này được thực hiện thông qua một trung tâm điều khiển, với công suất khoảng 80 đến 320 tấn mỗi giờ.
Quy trình sản xuất.
Về cơ bản có hai quy trình sản xuất:
Trạm trộn bê tông nhựa thường gồm nhiều mô-đun với các tính năng cơ bản khác biệt:
|
MLDonkey là một trình khách của mạng đồng đẳng có mã nguồn mở, cho phép tải tệp từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau. MLDonkey còn được gọi dưới một tên khác là mạng đồng đẳng Overlay vì nó hoạt động trên mạng Overlay. Lúc mới ra đời MLDonkey chỉ chạy trên hệ điều hành Linux hỗ trợ giao thức eDonkey, giờ đây nó có thể chạy trên rất nhiều hệ điều hành khác nhau bao gồm: Unix-like, Mac OS X, Windows, MorphOS và hỗ trợ rất nhiều giao thức chia sẻ tệp đồng đẳng.
MLDonkey được bắt đầu phát triển vào cuối năm 2001. Người đầu tiên xây dựng dự án là Fabrice Le Fessant làm việc tại INRIA.
MLDonkey hỗ trợ các giao thức chia sẻ tệp ngang hàng sau đây, có giao thức chỉ hỗ trợ một phần, có giao thức hỗ trợ hoàn toàn:
MLDonkey được viết bằng ngôn ngữ lập trình Ocaml và bản quyền được phát hành theo giấy phép GPL, chương trình được chia thành hai phần tách biệt, phần giao diện người dùng (tăng tính linh động của giao diện, người dùng có thể lựa chọn giao diện kiểu trình duyệt, telnet hoặc giao diện của hãng thứ ba) và phần mã thực hiện công việc giao tiếp với các trình khách trong mạng đồng đẳng khác.
|
MooPolice là một trình khách BitTorrent nhỏ gọn và trong sạch (không chứa phần mềm quảng cáo và phần mềm gián điệp). MooPolice được viết dựa trên thư viện libtorrent của Linux/Unix. MooPolice hỗ trợ ánh xạ cổng UPnP (tiếng Anh: Universal Plug and Play), tải về nhiều tệp torrent cùng một thời điểm, DHT, trao đổi máy đồng đẳng (tiếng Anh: Peer exchange (PEX)), ngoài ra MooPolice có một giao diện người dùng trực quan và thân thiện với người dùng.
MooPolice là một lựa chọn tốt nhất cho yêu cầu tiêu tốn ít tài nguyên CPU và bộ nhớ.
|
Tāj Mahal (tiếng Urdu: تاج محل, tiếng Hindu: ताज महल) là một lăng mộ nằm tại Agra, Ấn Độ. Hoàng đế Mogul Shāh Jahān (gốc Ba Tư, lên ngôi năm 1627); trong tiếng Ba Tư "Shah Jahan" (شاه جها) có nghĩa là "chúa tể thế giới" đã ra lệnh xây nó cho người vợ của mình là Mumtaz Mahal, khi bà qua đời. Công việc xây dựng bắt đầu năm 1631 và hoàn thành năm 1653. Một số tranh cãi xung quanh câu hỏi ai là người thiết kế Taj Mahal; rõ ràng một đội các nhà thiết kế và thợ thủ công đã chịu trách nhiệm thiết kế công trình và Ustad Ahmad Lahauri được coi là kiến trúc sư chính.
Taj Mahal nói chung được coi là hình mẫu tuyệt vời nhất của Kiến trúc Mogul, một phong cách tổng hợp các yếu tố của các phong cách Kiến trúc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, và Hồi giáo. Tuy phần mái vòm bằng đá cẩm thạch trắng của lăng là phần nổi bật nhất, thực tế Taj Mahal là một tổng hợp các phong cách kiến trúc. Nó được liệt vào danh sách các Địa điểm Di sản Thế giới của UNESCO năm 1983 và được miêu tả là một "kiệt tác được cả thế giới chiêm ngưỡng trong số các di sản thế giới". Việc xây dựng Taj Mahal đã được giao phó cho một hội đồng quản trị của kiến trúc sư dưới sự giám sát của triều đình, bao gồm Abd ul-Karim Khan Ma'mur, Makramat Khan, và Ustad Ahmad Lahauri. Lahauri thường được coi là người thiết kế chính.
Nguồn gốc và cảm hứng.
Shah Jahan, vị hoàng đế của Đế quốc Mogul trong giai đoạn cực thịnh của nó, nắm trong tay nhiều nguồn tài nguyên to lớn. Năm 1631 người vợ thứ ba của ông đã qua đời khi sinh đứa con gái thứ hai, và cũng là đứa con chung thứ mười bốn của họ. Shah Jahan được cho là không thể khuây khoả trước mất mát đó. Những cuốn biên niên sử triều đình thời kỳ đó chứa nhiều câu chuyện liên quan tới nỗi buồn đau của Shah Jahan trước cái chết của Mumtaz; chúng chính là cơ sở của những câu "chuyện tình" thường được cho là cảm hứng tạo nên Taj Mahal. Ví dụ, 'Abd al-Hamid Lahawri, đã ghi chép rằng, trước khi bà chết vị hoàng đế có "hai mươi sợi râu bạc," nhưng sau đó không còn sợi nào không bạc cả.
Việc xây dựng đền Taj Mahal đã bắt đầu tại Agra ngay sau cái chết của Mumtaz năm 1632. Lăng chính được hoàn thành năm 1648, và các công trình xung quanh cùng vườn cây hoàn thành năm năm sau đó. Tới thăm Agra năm 1663, nhà du lịch người Pháp François Bernier đã viết:
"Tôi sẽ kết thúc bức thư này với những dòng miêu tả về hai lăng mộ tuyệt vời và chúng chính là sự vượt trội đáng kể nhất của "Agra" trước "Delhi". Một lăng được "Jehan-guyre" [sic] xây lên để vinh danh người cha "Ekbar"; và "Chah-Jehan" đã xây lăng kia để tưởng nhớ vợ mình "Tage Mehale", một phụ nữ đẹp và nổi tiếng khác thường, người được chồng yêu thương rất mực tới mức có ghi chép rằng trong suốt cuộc đời và khi bà chết đức vua đã luôn ở bên và hầu như đã muốn theo bà vào trong mộ."
Lăng Taj Mahal sở hữu và là nơi phát triển nhiều truyền thống kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc Hindu, Ba Tư và kiến trúc Mogul trước đó. Một số cảm hứng đặc trưng lấy từ một số công trình Timur và Mogul đã thành công trước đó. Chúng gồm Gur-e Amir (mộ của Timur, người khởi lập triều Timur, tại Samarkand), Mộ của Humayun, Mộ Itmad-Ud-Daulah (thỉnh thoảng được gọi là "Baby Taj"), và chính Jama Masjid của Shah Jahan tại Delhi. Dưới sự bảo trợ của ông, công trình Mogul đã đạt tới đỉnh cao hoàn thiện mới. Trong khi các công trình Mogul chủ yếu được xây bằng đá sa thạch đỏ, Shah Jahan đã ủng hộ việc sử dụng đá cẩm thạch trắng được khảm các loại đá bán quý khác.
Các thợ thủ công Hindu, đặc biệt là các nhà điêu khắc và thợ đá, đã mở rộng phạm vi buôn bán ra toàn châu Á vào thời điểm đó, và tài nghệ của họ được những người chịu trách nhiệm xây lăng mộ lưu tâm tìm kiếm. Tuy kiến trúc cắt đá là đặc điểm chủ yếu của những công trình xây dựng ở thời kỳ đó nhưng nó lại ít ảnh hưởng tới Taj Mahal (chạm khắc chỉ là một hình thức của yếu tố trang trí), các công trình Ấn Độ khác như cung điện Man Singh tại Gwalior là một nguồn cảm hứng cho hầu hết kiến trúc cung Mogul và cũng là nguồn cảm hứng của đài kỷ niệm "chhatris" bên trong Taj Mahal.
Phức hợp này được đặt trong và ngoài một "charbagh" lớn (một Vườn Mogul tiêu chuẩn thường được chia thành bốn phần).
Với kích thước 320 m × 300 m, vườn có những đường đi đắp cao chia mỗi phần của nó thành 16 bồn hoa hay luống hoa thấp. Một bể nước bằng đá marble cao ở trung tâm vườn, khoảng giữa mộ và cổng chính, và một bể phản chiếu gióng theo trục bắc nam phản chiếu hình ảnh Taj Mahal. Mọi nơi trong vườn đều được bố trí những đường đi với các hàng cây và vòi phun nước.
Vườn charbagh được vị hoàng đế Mogul đầu tiên là Babur đưa vào Ấn Độ, đây là kiểu thiết kế lấy cảm hứng từ các vườn cây Ba Tư. Charbagh có nghĩa phản chiếu các khu vườn thiên đàng (từ từ "paridaeza" trong tiếng Ba Tư—một khu vườn có tường bao). Trong các văn bản thần bí Hồi giáo thời kỳ Mogul, thiên đàng được miêu tả là một khu vườn lý tưởng, phong phú. Nước đóng một vai trò quan trọng trong những phần miêu tả đó: Ở Thiên đường, những cuốn sách đó viết, bốn con sông bắt nguồn từ một dòng suối ở trung tâm hay một quả núi, và chúng chia khu vườn thành bốn phần bắc, tây, nam và đông.
Đa số các charbagh của Mogul đều có hình tam giác, với một ngôi mộ hay ngôi đình lớn ở trung tâm vườn. Vườn Taj Mahal lại đặt yếu tố chính, ngôi mộ, ở phía cuối chứ không phải ở giữa vườn. Nhưng sự tồn tại của một "Mahtab Bagh" hay "Vườn Ánh trăng" mới được khám phá ở phía bên kia Yamuna cho ta một cách giải thích khác—rằng chính Yamuna được tích hợp vào thiết kế vườn, và mang ý nghĩa là một trong những dòng sông của Thiên đường.
Cách bố trí của khu vườn, và các đặc điểm kiến trúc của nó như các vòi phun nước, gạch, và các lối đi lát đá marble, những luống hoa theo các hình khác nhau cùng những đặc điểm khác, tương tự với Shalimar, và cho thấy vườn có thể cũng đã được kiến trúc sư Ali Mardan thiết kế. Early accounts of the garden describe its profusion of vegetation, including abundant roses, daffodils, and fruit trees.
Những lời miêu tả đầu tiên về khu vườn nói tới sự phong phú của các loài thực vật, gồm hoa hồng, thủy tiên hoa vàng, và các loại cây ăn quả. Khi Đế quốc Mogul suy tàn, khu vườn cũng tàn tạ theo. Khi người Anh nắm quyền kiểm soát Taj Mahal, họ đã thay đổi cảnh quan để khiến nó giống với những vườn cỏ tại Luân Đôn.
Các công trình phía ngoài.
Phức hợp Taj Mahal được bao quanh bởi một bức tường đá sa thạch đỏ có bố trí lỗ châu mai ở ba cạnh. Mặt quay ra con sông không có tường bao. Bên ngoài bức tường là nhiều công trình phụ trợ khác, gồm cả lăng mộ của những người vợ khác của Shah Jahan, và một ngôi mộ lớn cho người hầu thân cận của Mumtaz. Các công trình đó, chủ yếu được xây dựng bằng đá sa thạch đỏ, nói chung nhỏ hơn các ngôi mộ Mogul cùng thời kỳ.
Phía bên trong (vườn), bức tường được xây mặt trước bằng những mái vòm với cột chống, một đặc điểm điển hình cả các đền thờ Hindu sau này đã được tích hợp vào các thánh đường Mogul. Bức tường được đặt rải rác một số ngôi nhà nhỏ ("chattris") mái vòm, và các công trình nhỏ có thể từng được dùng làm nơi quan sát hay đài chiêm ngưỡng (như cái gọi là "Ngôi nhà Âm nhạc", hiện được dùng như bảo tàng).
Cổng chính ("darwaza") là một cấu trúc kỷ niệm được xây chủ yếu bằng đá marble. Phong cách làm ta liên tưởng tới phong cách kiến trúc Mogul của các vị hoàng đế Mogul trước đó. Cổng mái vòm của nó phản ánh hình ảnh cổng mái vòm của ngôi mộ, và trên các vòm cung "pishtaq" của nó được trang trí bằng những nét chữ viết. Cổng được trang trí với các motif hoa lá theo kiểu phù điêu đắp nổi thấp và pietra dura (khảm). Những vòm trần và những bức tường được trang trí các hình học phức tạp, như những hình được tìm thấy tại các công trình xây bằng đá sa thạch khác trong phức hợp.
Ở góc xa nhất của phức hợp, hai công trình xây bằng đá sa thạc đỏ lớn mở ra hai phía lăng mộ. Tường phía sau chúng song song với các bức tường bao phía tây và phía đông.
Hai công trình này là hình ảnh phản chiếu của nhau. Công trình phía tây là một thánh đường; phía đối diện của nó là "jawab" hay "sự đối diện", mục đích chính của nó là để tạo sự cân bằng kiến trúc (và có thể nó từng được sử dụng như một nhà khách ở thời Mogul). Sự khác biệt giữa chúng là "jawab" không có "mihrab", một hốc tường bên trong hướng về phía Mecca, và sàn của "jawab" có kiểu thiết kế hình học, trong khi sàn thánh đường Hồi giáo được khảm 596 tấm thảm của người cầu nguyện bằng đá marble đen.
Thiết kế căn bản của thánh đường tương tự với những thánh đường khác được Shah Jahan xây dựng, đặc biệt là thánh đường Jama Masjid tại Delhi: một sảnh dài nổi lên với ba lớp mái vòm. Các thánh đường Mogul giai đoạn này chia sảnh điện thành ba khu vực: một điện chính với các điện nhỏ hơn ở hai bên. Tại Taj Mahal, mỗi điện dẫn tới một sảnh mái vòm lớn.
Điểm nhấn của Taj Mahal là lăng mộ đá cẩm thạch trắng. Giống như hầu hết lăng mộ Mogul khác, các yếu tố căn bản đều có nguồn gốc Ba Tư: một tòa nhà đối xứng với iwan, một ô cửa hình vòm, trên đỉnh là một vòm lớn.
Lăng mộ đứng trên một bệ hình vuông. Cấu trúc nền lớn và có nhiều phòng. Phòng chính là nơi đặt bia kỷ niệm Shah Jahan và Mumtaz (mộ ở dưới một cấp).
Nền chủ yếu là hình khối với các cạnh xoi, khoảng 55 mét mỗi cạnh (xem sơ đồ nền, bên phải). Ở các cạnh dài, một "pishtaq", hay lối đi có mái vòm lớn, bao quanh iwan, với một ban công hình vòm tương tự bên trên. Các vòm chính kéo dài trên mái tòa nhà bằng cách sử dụng mặt ngoài nối tiếp.
Mỗi bên vòm chính, các lối đi có mái vòm phụ được sắp xếp bên trên và bên dưới. Motif sắp xếp pistaq được lặp lại tại khu góc xoi.
Thiết kế hoàn toàn đồng nhất và như nhau ở mọi phía tòa nhà. Bốn tháp, ở mỗi góc chân cột, đối diện với các góc xoi, tạo thành khung bao mộ.
Vòm đá marble trên mộ là điểm đáng chú ý nhất. Nó cao bằng với nền tòa nhà khoảng 35m. Chiều cao của nó nổi bật nhờ được đặt trên một cấu trúc hình trụ cao khoảng 7 mét.
Vì hình dạng của nó, vòm thường được gọi là vòm củ hành (cũng được gọi là "amrud" hay vòm ổi). Đỉnh vòm được trang trí một bông hoa sen, với vai trò nhấn mạnh chiều cao. Đỉnh cao nhất là một hình chạm đầu mái mạ vàng, theo phong cách pha trộn Ba Tư truyền thống và các yếu tố Hindu.
Hình dạng vòm được nhấn mạnh bởi bốn "chattris" (buồng) nhỏ hơn đặt ở bốn góc. Chattri vòm tuân theo hình dạng củ hành của vòm chính. Đáy hình cột của chúng mở qua mái mộ, và dẫn ánh sáng vào bên trong. chattris cũng có đỉnh là các hình chạm đầu mái mạ vàng.
Các đường xoắn ốc trang trí ("guldastas") kéo dài từ cách cách đáy tường, và là điểm nhấn quang học cho chiều cao vòm.
Motif hoa sen được lặp lại trên cả chattris và guldastas.
Hình chạm đầu vòm.
Đỉnh của mái vòm chính có một chóp nhọn (hay hình chạm) dát vàng. Cho tới những năm đầu 1800 đỉnh chóp được làm bằng vàng, ngày nay nó được làm từ đồng. Hình chóp chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy có sự hòa nhập giữa truyền thống Ba Tư và những yếu tố trang trí Hindu. Trên cùng của hình chóp là một Mặt Trăng theo motif Hồi giáo truyền thống, có hai đầu nhọn hướng lên trời. Do vị trí của nó ở trên đầu mái, hai đầu nhọn của Mặt Trăng và đỉnh chóp tạo thành một hình đinh ba—gợi lại một biểu tượng truyền thống Hindu là Shiva. Những đỉnh tháp đều có dạng củ hành tương tự nhau. Đỉnh tháp trung tâm giống hệt như một chén đựng nước thánh của người Hindu ('kalash" hay "kumbh").
Tại mỗi góc của mặt nền lăng mộ là các ngọn tháp theo kiểu giáo đường Hồi giáo: bốn ngọn tháp lớn cao hơn 40m. Một lần nữa các ngọn tháp đã thể hiện xu hướng chủ đạo cơ bản của Taj Mahal là sự đối xứng và thiết kế lặp lại.
Các ngọn tháp được thiết kế với công năng tương tự như các ngọn tháp truyền thống ở giáo đường Hồi giáo, đó là nơi các muezzin (thầy tu) kêu gọi những tín đồ sùng đạo cầu nguyện. Mỗi ngọn tháp được chia làm ba phần bằng nhau rõ rệt bởi hai ban công, dùng để rung chuông cho tháp. Trên đỉnh mỗi ngọn tháp là ban công cao nhất với một chhatri trên cùng, phản chiếu lại những thiết kế trên hầm mộ.
Chhatri của các ngọn tháp đều có những chi tiết hoàn thiện giống nhau: thiết kế hình hoa sen, trên cùng là hình chạm đầu mái. Mỗi ngọn tháp đều được xây hơi nghiêng ra phía ngoài của mặt nền, để cho khi tháp có bị sụp đổ (một sự cố thường xảy ra đối với những công trình cao tầng vào thời đó)thì các mảnh vụn cũng sẽ có xu hướng rơi ra xa hầm mộ.
Trang trí bên ngoài.
Các trang trí bên ngoài đền Taj Mahal được đánh giá là những trang trí đẹp nhất thời vương triều Mogul. Một chi tiết trang trí nổi bật chính là các dòng chữ pishtaq nổi tiếng. Các chữ pistaq phía dưới được viết nhỏ hơn phía trên để khi từ dưới nhìn lên, ta có cảm tưởng là các chữ này to bằng nhau. Chúng được viết bằng sơn, hoặc bằng vữa, hoặc bằng đá khảm hoặc đơn giản hơn là chạm khắc thẳng vào vách tường.
Các đoạn văn trên tường đền Taj Mahal được viết theo kiểu Thuluth, một kiểu chữ rất đẹp và bóng bẩy do Amanat Khan tạo ra. Chúng được khảm bởi các loại đá quý như đá hoa và cẩm thạch, đặc biệt các đoạn chữ viết trên bệ đá cẩm thạch của đài tưởng niệm trong đền lại càng chi tiết và thanh nhã hơn. Một số đoạn văn bản trong kinh Koran cũng được trang trí trên tường đền, tương truyền rằng đích thân Amanat Khan đã chọn những đoạn này.
Khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: "O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you." (tạm dịch là: "Này linh hồn, bạn đang yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài sẽ bình yên với bạn.")
Trang trí bên trong.
Nội thất bên trong lăng Taj Mahal đã vượt ra khỏi những yếu tố trang trí truyền thống. Có thể nhận xét không hề cường điệu, lăng mộ đúng là một món "trang sức". Những chi tiết trang trí ở đây không phải là tranh khảm mà là chạm khắc. Vật liệu trang trí trên bề mặt không phải là cẩm thạch hay ngọc bích mà là đá quý hay đá bán quý. Mỗi chi tiết trang trí ngoại thất của hầm mộ đều được đánh giá lại với nghệ thuật kim hoàn.
Taj Mahal được xây trên một thửa đất ở phía nam của thành phố cổ Agra. Shah Jahan presented Maharajah Jai Singh với một cung điện lớn ở trung tâm Agra để trao đổi lấy đất xây dựng. Khu vực có diện tích gần 3 acre (khoảng 12.000 m2) được đào lên, lấp đầy bụi để giảm thấm, và ở độ cao so với bờ sông. Ở khu vực mộ, các giếng được đào lên và lấp đầu cuội sỏi để tạo móng cho mộ. Thay vì dùng tre chống đỡ, những người thợ đã xây dựng một giàn giáo bằng gạch lớn phản chiếu ngôi mộ. Giàn giáo rất to lớn theo ước tính mất khoảng vài năm để những người thợ tháo dỡ nó.
Theo truyền thuyết, Shah Jahan ra lệnh rằng bất cứ ai cũng có thể giữ những viên gạch lấy từ giàn giáo, và do đó nó đã bị những người nông dân tháo dỡ chỉ trong một đêm. 15 km (9,3 mi) đường dốc bằng đất đầm nện được xây dựng để vận chuyển đá cẩm thạch và các vật liệu khác đến để xây dựng công trình và các đội gồm 20 hoặc 30 con bà được dùng để kéo các khối đá trên các toa xe có cấu tạo đặc biệt. Một hệ thống ròng rọc phức tạp được sử dụng để nâng các khối đá lên đến vị trí thiết kế. Nước được lấy từ sông bằng một loạt các "purs", theo cơ chế dùng sức kéo của súc vật, đổ vào một hồ chứa nước lớn và đưa lên các bồn phân phối lớn. Nó được đưa qua 3 bồn chứa nhỏ hơn, từ đó cấp đến các phức hợp.
Các trụ và ngôi mộ mất khoảng 12 năm để hoàn thành. Phần còn lại của khu phức hợp mất thêm 10 năm và đã được hoàn thành theo thứ tự tháp, nhà thờ Hồi giáo và Jawab, và cổng. Vì phức hợp được xây dựng trong nhiều giai đoạn, nên có sự khác biệt về ngày hoàn thành do những quan điểm khác nhau về sự "hoàn thành". Ví dụ, riêng lăng mộ, về cơ bản hoàn thành năm 1643, nhưng công việc vẫn còn tiếp tục để hoàn thành những phần còn lại của khu phức hợp. Dự toán chi phí xây dựng có sự khác biệt do những khó khăn trong dự toán chi phí theo thời gian. Tổng chi phí đã được ước tính là khoảng 32 triệu Rupees tại thời điểm đó.
Vật liệu xây dựng Taj Mahal được lấy từ nhiều nơi trên khắp Ấn Độ và châu Á và có hơn 1000 con voi được sử dụng để vận chuyển vật liệu xây dựng. Đá cẩm thạch trắng mờ được mua từ Makrana, Rajasthan, jasper từ Punjab, jade và pha lê từ Trung Quốc. Turquoise từ Tây Tạng và Lapis lazuli từ Afghanistan, trong khi sapphire từ Sri Lanka và carnelian từ Ả Rập. Tổng cộng có 28 loại đá quý và bán quý được khảm vào đá cẩm thạch trắng.
Việc xây dựng Taj Mahal đã được giao phó cho một hội đồng quản trị của kiến trúc sư dưới sự giám sát của triều đình, bao gồm Abd ul-Karim Khan Ma'mur, Makramat Khan, và Ustad Ahmad Lahauri. Lahauri is generally considered to be the principal designer.
20.000 lao động được sử dụng từ khắp miền bắc Ấn Độ. Các nhà điêu khắc từ Bukhara, nhà thư pháp từ Syria và Ba Tư, người xếp lớp đá từ miền nam Ấn Độ, người cắt đá từ Baluchistan, một chuyên gia trong việc xây dựng tháp pháo, một người chỉ chuyên khắc hoa trên đá cẩm thạch, trong tổng số 37 người tạo ra tuyệt tác này. Một số thợ xây tham gia xây dựng Taj Mahal là:
|
Máy kéo là một loại máy móc sử dụng khung gầm bánh xích hoặc bánh lốp dùng động cơ điện hoặc động cơ diesel thành nguồn động lực để sử dụng sức kéo trong nông nghiệp,xây dự, dùng để cày, và gọi chung là "máy cày".
Dụng cụ đầu tiên có sức mạnh dùng để trồng trọt ra đời vào khoảng đầu những năm 1800 gọi là Động cơ di động – có cỗ máy hoạt động bằng cơ khí chạy bằng các bánh xe có thể điều khiển dễ dàng bởi con người. Vào khoảng 1850, Động cơ máy kéo đầu tiên được phát triển, và lập tức được áp dụng vào nông nghiệp. Máy kéo đầu tiên bằng cơ khí gọi là máy cày. Máy cày được sử dụng như để cày đất thành những dãy dài, điều này chỉ làm được khi điều kiện đất cho phép như ở Hoa Kỳ, máy kéo cơ khí được sử dụng để cày, nhưng ở Anh và một số nước khác, máy cày được sử dụng cho kéo dây cáp. Những máy cày hoạt động bởi cơ khí vẫn còn được sử dụng cho tới thế kỷ 20, cho tới khi máy cày hiện đại hơn được phát triển.
Vào năm 1892, John Froelich ở Nông thôn Clayton, Iowa đã thành công chế tạo máy cày hoạt động bởi xăng. Chỉ có hai bộ máy được bán vào năm 1911, Khi công ty Twin City Traction Engine phát triển kiểu dáng, và đã thành công.
Tại Anh, động cơ máy kéo an toàn đầu tiên được ghi nhận được và được cấp bằng sáng chế bởi Herbert Akroyd Stuart, trong năm 1897. Dù gì, chương trình quảng cáo đầu tiên về máy kéo ba bánh đã thành công thiết kế bởi Dan Albone của năm 1902. Trong 1908, công ty Saunderson Tractor and Implement Co. của Bedford giới thiệu máy kéo kiểu bốn bánh, và đã trở thành máy kéo cho xí nghiệp lớn nhất ở ngoài Hoa Kỳ lúc đó.
Trong khi sự khởi đầu không được nhiều người biết đến, những cỗ máy hoạt động bởi xăng bắt đầu được phát triển vào những năm 1910s khi đó chúng đã được thiết kế nhỏ gọn hơn và có thêm nhiều khả năng. Henry Ford giới thiệu loại Máy kéo Fordson, sau đó đã được sản xuất hàng loạt trong những năm 1917. Chúng được chế tạo ở Hoa Kỳ, Đảo Ireland, Anh và Liên Xô và trong năm 1923, Máy kéo Fordson đã có mặt trong 77% của các chợ trong Hoa Kỳ. Máy kéo Fordson phân phối với cấu trúc, sử dụng sức mạnh của khối máy móc để giữ các bộ phận với nhau. Vào những năm 1920s, máy kéo hoạt động bởi xăng dựa trên nguyên tắc động cơ đốt trong trở thành phổ biến nhất.
|
Scud là lớp các tên lửa đạn đạo chiến thuật được Liên Xô triển khai trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và xuất khẩu rộng rãi tới nhiều nước khác trên thế giới. Thuật ngữ này xuất phát từ tên hiệu NATO SS-1 Scud vốn được các cơ quan tình báo phương Tây gán cho loại tên lửa này. Những tên tiếng Nga của nó là R-11 (phiên bản đầu tiên) và R-17 Elbrus (những phiên bản phát triển sau này). Cái tên Scud đã được các phương tiện truyền thông và nhiều thực thể khác dùng để chỉ không chỉ những tên lửa này mà cả nhiều loại tên lửa khác được phát triển tại các quốc gia khác dựa trên thiết kế của người Liên Xô. Thỉnh thoảng trên các phương tiện truyền thông đại chúng Hoa Kỳ, Scud được dùng để gọi tên lửa đạn đạo của bất kỳ một quốc gia nào không phải phương Tây.
Phát triển thời Liên Xô.
Thuật ngữ Scud được sử dụng lần đầu tiên trong tên hiệu NATO SS-1b Scud-A, để chỉ loại tên lửa đạn đạo R-11. Tên lửa R-1 trước đó được NATO đặt tên hiệu SS-1 Scunner, nhưng là một bản thiết kế khác hẳn, hầu như sao chép trực tiếp từ loại V-2 của Đức Quốc xã. R-11 cũng sử dụng kỹ thuật học được từ V-2, nhưng có một thiết kế mới, nhỏ hơn và có hình dáng khác biệt so với V-2 và R-1. R-11 được Makeyev OKB thiết kế và bắt đầu đưa vào sử dụng năm 1957. Cải tiến mang tính cách mạng nhất của R-11 là ở động cơ, do A.M. Isaev thiết kế. Đơn giản hơn rất nhiều so với thiết kế nhiều buồng của V-2, và sử dụng một van đổi hướng chống dao động để ngăn chặn tiếng nổ của động cơ, nó là nguyên mẫu đầu tiên của những động cơ lớn hơn được sử dụng trong các tên lửa vũ trụ Nga sau này. Như mọi loại tên lửa đạn đạo thời kỳ đó, Scud-A sử dụng đầu dẫn quán tính với độ chính xác khá thấp, độ lệch mục tiêu theo ước tính của NATO lên tới 3.000 mét, do vậy nó ít có khả năng tiêu diệt mục tiêu nếu không sử dụng đầu đạn hạt nhân.
Các biến thể cải tiến là R-17 Elbrus / SS-1c Scud-B năm 1961 và SS-1d Scud-C năm 1965, cả hai đều có thể mang hoặc đầu nổ quy ước có sức nổ cao, hoặc một đầu đạn hạt nhân có sức công phá từ 5 tới 80 kiloton, hay một đầu đạn hóa học (VX nén). Các cải tiến làm tăng tầm bắn lên 300 km với Scud-B và 575 – 600 km với Scud-C. Đầu dẫn quán tính cải tiến giúp nâng cao đáng kể độ chính xác của Scud-B/C so với phiên bản Scud-A trước đó, độ lệch mục tiêu đã giảm xuống chỉ còn vài trăm mét. Với độ chính xác này, Scud-B/C đã có thể tiêu diệt mục tiêu chỉ với đầu đạn thông thường.
Biến thể SS-1e Scud-D được phát triển cuối thập niên 1980 có thể mang nhiều loại đầu đạn: loại quy ước có sức nổ mạnh, một loại đầu đạn nhiệt áp, hoặc đầu đạn mẹ chứa 40 đầu đạn con để sát thương diện rộng, hay 100 × 5 kg quả bom chống bộ binh nhỏ. Đầu dẫn cải tiến kết hợp quán tính với camera quang học, giúp nâng cao đáng kể độ chính xác của Scud-D, độ lệch mục tiêu đã giảm xuống chỉ còn khoảng 50 mét.
Tất cả các mẫu đều dài 11,25 mét (ngoại trừ Scud-A ngắn hơn 1 mét) và có đường kính 0,88 mét. Chúng được đẩy bằng một động cơ duy nhất sử dụng nhiên liệu kerosene và axit nitric với Scud-A, hay UDMH và RFNA (tiếng Nga: СГ-02 Тонка 250 (SG-02 Tonka 250)) với các mẫu khác.
Tên lửa Scud (và cả các biến thể của nó) là một trong số ít các tên lửa đạn đạo đã được sử dụng trong chiến tranh thực tế, chỉ đứng thứ hai sau loại V-2 của Đức Quốc xã về số lượng sử dụng (SS-21 là loại tên lửa đạn đạo duy nhất khác được sử dụng "trong chiến tranh"). Libya đã trả đũa các cuộc không kích của Hoa Kỳ (Chiến dịch El Dorado Canyon) năm 1986 bằng cách bắn nhiều tên lửa Scud vào một trạm đồn trú bảo vệ bờ biển Hoa Kỳ tại hòn đảo Lampedusa thuộc nước Ý. Các tên lửa Scud cũng đã được sử dụng trong nhiều cuộc xung đột gồm với bên sử dụng gồm cả Liên Xô và các lực lượng cộng sản Afghanistan tại nước này, Iran và Iraq chống lại nhau trong cái gọi là "Cuộc chiến tranh của các thành phố" trong thời Chiến tranh Iran-Iraq. Tên lửa Scud cũng được Quân đội Iraq sử dụng trong Chiến tranh Vùng Vịnh chống lại các mục tiêu của Israel và liên quân tại Ả Rập Xê Út.
Hơn mười tên lửa Scud đã được Quân đội Liên Xô bắn từ Afghanistan vào các mục tiêu tại Pakistan năm 1988. Một số lượng nhỏ tên lửa Scud cũng được sử dụng bởi các lực lượng Nga tại Chechnya năm 1996, các lực lượng trong cuộc nội chiến năm 1994 và 2016 tại Yemen và những năm sau đó.
Các nước sở hữu hoặc từng sở hữu tên lửa Scud-B gồm: Afghanistan, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Georgia, Kazakhstan, Iran, Iraq, Libya, Ba Lan, Slovakia, Turkmenistan, Ukraina, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Việt Nam, Yemen và Nam Tư. Cộng hòa Dân chủ Congo và Ai Cập đã đặt mua thêm các tên lửa Scud-C để bổ sung vào số Scud-B họ đã có. Syria đã muốn đặt hàng biến thể Scud-D, và tên lửa Al Hussein của Iraq cũng có tầm bắn tương tự Scud-D. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng có các tên lửa Scud sau các cuộc thử nghiệm tên lửa năm 2006.
Tất cả các phiên bản tên lửa "Scud" đều có nguồn gốc từ loại tên lửa V-2 của Đức Quốc xã (giống như đa số các loại tên lửa và rocket thời kỳ đầu của Mỹ). Những phiên bản Scud ban đầu có độ lệch mục tiêu cao vì kết cấu của chúng thiếu một hệ thống dẫn đường điện tử chính xác (công nghệ này đến thập niên 1980 mới ra đời). Về mặt này, Scud có thể được coi là một loại bom khu vực. Những cải tiến của Iraq đã giúp tăng tầm bắn, nhưng ảnh hưởng xấu tới độ chính xác. Phải tới phiên bản Scud-D ra đời năm 1989 thì độ chính xác của Scud mới đạt mức cao.
Tương tự như với một số loại tên lửa khác, lợi thế quân sự của loại vũ khí này là sự dễ dàng trong vận chuyển, chỉ cần một xe tải mang bệ phóng (TEL). Tính cơ động cho phép lựa chọn vị trí phóng ở bất kỳ khu vực nào và làm tăng khả năng sống sót của hệ thống vũ khí (tới mức trong số gần 100 bệ phóng tên lửa Scud của Iraq được các phi công và các lực lượng đặc biệt của Liên quân Anh - Mỹ - Israel - Ả Rập Xê Út tuyên bố đã phá hủy trong Chiến tranh Vùng Vịnh, không một vụ nào được xác nhận chính thức sau đó).
Cái tên "Scud" cũng được sử dụng để chỉ loại tên lửa đã được sửa đổi của Iraq. Được cải tiến để có tầm bắn xa hơn, nó đã trở thành loại vũ khí nổi bật trong "Cuộc chiến của các thành phố" khi Iraq bắn 190 tên lửa Scud vào các thành phố của Iran gồm cả thủ đô Tehran.
Các tên lửa đó cũng đã được sử dụng trong Chiến tranh Vùng Vịnh, khi một số tên lửa được bắn vào Israel (40) và Ả Rập Xê Út (46). Hệ thống tên lửa phòng không MIM-104 Patriot của Hoa Kỳ được tuyên bố là đã thành công trong việc bắn hạ nhiều tên lửa Scud, nhưng nhiều lời chỉ trích ("xem" Ted Postol) cho rằng mức độ chính xác của các tên lửa Patriot đã được phóng đại quá nhiều và trên thực tế tới 95% không trúng mục tiêu. Một vấn đề là các tên lửa Scud tự hủy khi chúng tới gần mục tiêu có nghĩa là rất khó để biến nó thành mục tiêu và để phân biệt mảnh nào của nó là đầu đạn và mảnh nào là mảnh vỡ đơn thuần. Các tên lửa là một trong những loại vũ khí tấn công đáng lo ngại nhất của Iraq, đặc biệt đối với Israel. Đã có lo ngại đặc biệt về việc chúng có thể được trang bị với các đầu đạn hóa học hay sinh học.
Cuối cuộc chiến các tên lửa Scud được cho là đã gây ra cái chết trực tiếp của một người Israel, một lính Ả Rập Xê Út và 28 binh sĩ Mỹ (tên lửa đã bắn trúng một doanh trại của Quân đội Mỹ tại Dhahran, Ả Rập Xê Út). Việc săn lùng các tên lửa Scud chiếm một phần ba lực lượng không quân của Liên quân. Vì chúng dễ dàng cơ động trên những chiếc xe chuyên chở TEL nên việc truy tìm gặp nhiều khó khăn; các lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ và Anh thường có trách nhiệm truy tìm và tiêu diệt chúng ngay phía trong giới tuyến quân địch. Việc loại trừ mối đe dọa từ phía các tên lửa Scud có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nước trên bởi Israel đã đe dọa sẽ tham chiến chống Iraq nếu các cuộc tấn công tiếp tục diễn ra, điều này sẽ gây chia rẽ các nước Ả Rập chống Israel trong liên quân và ảnh hưởng tới những nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ và Anh Quốc.
Người Iraq đã phát triển bốn phiên bản: Scud, Scud tầm xa hay Scud LR, Al Hussein, và Al Abbas. Do hạn chế về khả năng công nghệ, những tên lửa tự cải tiến này của Iraq thường bị nổ tung khi bay hoặc chỉ mang được các đầu đạn nhỏ có sức công phá thấp.
Các chương trình tên lửa của Bắc Triều Tiên, Iran, và Pakistan đã sử dụng công nghệ của Scud để phát triển các tên lửa có tầm bắn được cho là lên tới 1.300 đến 1.500 km.
Tra scud trong từ điển mở Wiktionary.
|
Mô hình OSI ("Open Systems Interconnection Reference Model", viết ngắn là "OSI Model" hoặc "OSI Reference Model") - tạm dịch là Mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở - là một thiết kế dựa vào nguyên lý tầng cấp, lý giải một cách trừu tượng kỹ thuật kết nối truyền thông giữa các máy tính và thiết kế giao thức mạng giữa chúng. Mô hình này được phát triển thành một phần trong kế hoạch Kết nối các hệ thống mở ("Open Systems Interconnection") do ISO và IUT-T khởi xướng. Nó còn được gọi là Mô hình bảy tầng của OSI.
Mô hình OSI sắp xếp một giao thức với chức năng của nó vào một hoặc một nhóm các lớp tương ứng. Mỗi một tầng cấp có một đặc tính là nó "chỉ sử dụng chức năng của tầng dưới nó", đồng thời chỉ cho phép tầng trên sử dụng các chức năng của mình. Một hệ thống cài đặt các giao thức bao gồm một chuỗi các tầng nói trên được gọi là "chồng giao thức" ("protocol stack"). Chồng giao thức có thể được cài đặt trên phần cứng, hoặc phần mềm, hoặc là tổ hợp của cả hai. Thông thường thì chỉ có những tầng thấp hơn là được cài đặt trong phần cứng, còn những tầng khác được cài đặt trong phần mềm.
Mô hình OSI này chỉ được ngành công nghiệp mạng và công nghệ thông tin tôn trọng một cách tương đối. Tính năng chính của nó là quy định về giao diện giữa các tầng cấp, tức quy định đặc tả về phương pháp các tầng liên lạc với nhau. Điều này có nghĩa là cho dù các tầng cấp được soạn thảo và thiết kế bởi các nhà sản xuất, hoặc công ty, khác nhau nhưng khi được lắp ráp lại, chúng sẽ làm việc một cách dung hòa (với giả thiết là các đặc tả được thấu đáo một cách đúng đắn). Trong cộng đồng TCP/IP, các đặc tả này thường được biết đến với cái tên RFC ("Requests for Comments", dịch sát là "Đề nghị duyệt thảo và bình luận"). Trong cộng đồng OSI, chúng là các tiêu chuẩn ISO ("ISO standards").
Thường thì những phần thực thi của giao thức sẽ được sắp xếp theo tầng cấp, tương tự như đặc tả của giao thức đề ra, song bên cạnh đó, có những trường hợp ngoại lệ, còn được gọi là "đường cắt ngắn" ("fast path"). Trong kiến tạo "đường cắt ngắn", các giao dịch thông dụng nhất, mà hệ thống cho phép, được cài đặt như một thành phần đơn, trong đó tính năng của nhiều tầng được gộp lại làm một.
Việc phân chia hợp lý các chức năng của giao thức khiến việc suy xét về chức năng và hoạt động của các chồng giao thức dễ dàng hơn, từ đó tạo điều kiện cho việc thiết kế các chồng giao thức tỉ mỉ, chi tiết, song có độ tin cậy cao. Mỗi tầng cấp thi hành và cung cấp các dịch vụ cho tầng ngay trên nó, đồng thời đòi hỏi dịch vụ của tầng ngay dưới nó. Như đã nói ở trên, một thực thi bao gồm nhiều tầng cấp trong mô hình OSI, thường được gọi là một "chồng giao thức" (ví dụ như TCP/IP).
Mô hình tham chiếu OSI là một cấu trúc phả hệ có 7 tầng, nó xác định các yêu cầu cho sự giao tiếp giữa hai máy tính. Mô hình này đã được định nghĩa bởi Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ("International Organization for Standardization") trong tiêu chuẩn số 7498-1 ("ISO standard 7498-1"). Mục đích của mô hình là cho phép sự tương giao ("interoperability") giữa các hệ máy ("platform") đa dạng được cung cấp bởi các nhà sản xuất khác nhau. Mô hình cho phép tất cả các thành phần của mạng hoạt động hòa đồng, bất kể thành phần ấy do ai tạo dựng. Vào những năm cuối thập niên 1980, ISO đã tiến cử việc thực thi mô hình OSI như một tiêu chuẩn mạng.
Tại thời điểm đó, TCP/IP đã được sử dụng phổ biến trong nhiều năm. TCP/IP là nền tảng của ARPANET, và các mạng khác - là những cái được tiến hóa và trở thành Internet. (Xin xem thêm RFC 871 để biết được sự khác biệt chủ yếu giữa TCP/IP và ARPANET.)
Hiện nay chỉ có một phần của mô hình OSI được sử dụng. Nhiều người tin rằng đại bộ phận các đặc tả của OSI quá phức tạp và việc cài đặt đầy đủ các chức năng của nó sẽ đòi hỏi một lượng thời gian quá dài, cho dù có nhiều người nhiệt tình ủng hộ mô hình OSI đi chăng nữa.
Mặt khác, có nhiều người lại cho rằng, ưu điểm đáng kể nhất trong toàn bộ cố gắng của công trình mạng truyền thông của OSI là nó đã thất bại trước khi gây ra quá nhiều tổn thất.
Tường trình các tầng cấp của mẫu hình OSI.
Tầng 1: Tầng vật lý ("Physical Layer)".
Tầng vật lý định nghĩa tất cả các đặc tả về điện và vật lý cho các thiết bị. Trong đó bao gồm bố trí của các chân cắm ("pin"), các hiệu điện thế, và các đặc tả về cáp nối ("cable"). Các thiết bị tầng vật lý bao gồm Hub, bộ lặp ("repeater"), thiết bị chuyển đổi tín hiệu (converter), thiết bị tiếp hợp mạng ("network adapter") và thiết bị tiếp hợp kênh máy chủ ("Host Bus Adapter") - (HBA dùng trong mạng lưu trữ "Storage Area Network"). Chức năng và dịch vụ căn bản được thực hiện bởi tầng vật lý bao gồm:
Cáp ("bus") SCSI song song hoạt động ở tầng cấp này. Nhiều tiêu chuẩn khác nhau của Ethernet dành cho tầng vật lý cũng nằm trong tầng này; Ethernet nhập tầng vật lý với tầng liên kết dữ liệu vào làm một. Điều tương tự cũng xảy ra đối với các mạng cục bộ như Token ring, FDDI và IEEE 802.11.
Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu ("Data-Link Layer)".
Tầng liên kết dữ liệu cung cấp các phương tiện có tính chức năng và quy trình để truyền dữ liệu giữa các thực thể mạng (truy cập đường truyền, đưa dữ liệu vào mạng), phát hiện và có thể sửa chữa các lỗi trong tầng vật lý nếu có. Cách đánh địa chỉ mang tính vật lý, nghĩa là địa chỉ (địa chỉ MAC) được mã hóa cứng vào trong các thẻ mạng ("network card") khi chúng được sản xuất. Hệ thống xác định địa chỉ này không có đẳng cấp ("flat scheme"). "Chú ý:" Ví dụ điển hình nhất là Ethernet. Những ví dụ khác về các giao thức liên kết dữ liệu ("data link protocol") là các giao thức HDLC; ADCCP dành cho các mạng điểm-tới-điểm hoặc mạng chuyển mạch gói ("packet-switched networks") và giao thức Aloha cho các mạng cục bộ. Trong các mạng cục bộ theo tiêu chuẩn IEEE 802, và một số mạng theo tiêu chuẩn khác, chẳng hạn FDDI, tầng liên kết dữ liệu có thể được chia ra thành 2 tầng con: tầng MAC ("Media Access Control" - Điều khiển Truy nhập Đường truyền) và tầng LLC ("Logical Link Control" - Điều khiển Liên kết Logic) theo tiêu chuẩn IEEE 802.2.
Tầng liên kết dữ liệu chính là nơi các thiết bị chuyển mạch (switches) hoạt động. Kết nối chỉ được cung cấp giữa các nút mạng được nối với nhau trong nội bộ mạng.
Tầng 3: Tầng mạng ("Network Layer").
Tầng mạng cung cấp các chức năng và quy trình cho việc truyền các chuỗi dữ liệu có độ dài đa dạng, từ một nguồn tới một đích, thông qua một hoặc nhiều mạng, trong khi vẫn duy trì chất lượng dịch vụ ("quality of service") mà tầng giao vận yêu cầu. Tầng mạng thực hiện chức năng định tuyến. Các thiết bị định tuyến ("router") hoạt động tại tầng này - gửi dữ liệu ra khắp mạng mở rộng, làm cho liên mạng trở nên khả thi (còn có thiết bị chuyển mạch ("switch") tầng 3, còn gọi là chuyển mạch IP). Đây là một hệ thống định vị địa chỉ lôgic ("logical addressing scheme") – các giá trị được chọn bởi kỹ sư mạng. Hệ thống này có cấu trúc phả hệ. Ví dụ điển hình của giao thức tầng 3 là giao thức IP.
Tầng 4: Tầng giao vận ("Transport Layer").
Tầng giao vận cung cấp dịch vụ chuyên dụng chuyển dữ liệu giữa các người dùng tại đầu cuối, nhờ đó các tầng trên không phải quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ truyền dữ liệu đáng tin cậy và hiệu quả. Tầng giao vận kiểm soát độ tin cậy của một kết nối được cho trước. Một số giao thức có định hướng trạng thái và kết nối ("state and connection orientated"). Có nghĩa là tầng giao vận có thể theo dõi các gói tin và truyền lại các gói bị thất bại. Một ví dụ điển hình của giao thức tầng 4 là TCP. Tầng này là nơi các thông điệp được chuyển sang thành các gói tin TCP hoặc UDP. Ở tầng 4 địa chỉ được đánh là address ports, thông qua address ports để phân biệt được ứng dụng trao đổi.
Tầng 5: Tầng phiên ("Session layer").
Tầng phiên kiểm soát các (phiên) hội thoại giữa các máy tính. Tầng này thiết lập, quản lý và kết thúc các kết nối giữa trình ứng dụng địa phương và trình ứng dụng ở xa. Tầng này còn hỗ trợ hoạt động song công ("duplex") hoặc bán song công ("half-duplex") hoặc đơn công ("Simplex") và thiết lập các quy trình đánh dấu điểm hoàn thành ("checkpointing") - giúp việc phục hồi truyền thông nhanh hơn khi có lỗi xảy ra, vì điểm đã hoàn thành đã được đánh dấu - trì hoãn ("adjournment"), kết thúc ("termination") và khởi động lại ("restart"). Mô hình OSI uỷ nhiệm cho tầng này trách nhiệm "ngắt mạch nhẹ nhàng" ("graceful close") các phiên giao dịch (một tính chất của giao thức kiểm soát giao vận TCP) và trách nhiệm kiểm tra và phục hồi phiên, đây là phần thường không được dùng đến trong bộ giao thức TCP/IP.
Tầng 6: Tầng trình diễn ("Presentation layer").
Tầng trình diễn hoạt động như tầng dữ liệu trên mạng. Tầng này trên máy tính truyền dữ liệu làm nhiệm vụ dịch dữ liệu được gửi từ tầng ứng dụng sang địng dạng chung. Và tại máy tính nhận, lại chuyển từ định dạng chung sang định dạng của tầng ứng dụng. Tầng thể hiện thực hiện các chức năng sau:
- Dịch các mã ký tự từ ASCII sang EBCDIC.
- Chuyển đổi dữ liệu, ví dụ từ số interger sang số dấu phảy động.
- Nén dữ liệu để giảm lượng dữ liệu truyền trên mạng.
- Mã hoá và giải mã dữ liệu để đảm bảo sự bảo mật trên mạng.
Tầng 7: Tầng ứng dụng ("Application layer").
Tầng ứng dụng là tầng gần với người sử dụng nhất. Nó cung cấp phương tiện cho người dùng truy nhập các thông tin và dữ liệu trên mạng thông qua chương trình ứng dụng. Tầng này là giao diện chính để người dùng tương tác với chương trình ứng dụng, và qua đó với mạng. Một số ví dụ về các ứng dụng trong tầng này bao gồm HTTP, Telnet, FTP (giao thức truyền tập tin) và các giao thức truyền thư điện tử như SMTP, IMAP, X.400 Mail.
Ngoài các tiêu chuẩn đối với từng giao thức về truyền tải dữ liệu, còn có các tiêu chuẩn giao diện cho các tầng cấp khác nhau hội thoại với tầng cấp ở trên hoặc ở dưới nó (thường phụ thuộc vào hệ điều hành cụ thể đang được sử dụng). Ví dụ, Winsock của Microsoft Windows, Berkeley sockets của Unix và Giao diện tầng chuyển tải ("Transport Layer Interface") của System V là những giao diện giữa các trình ứng dụng (tầng 5 trở lên) và tầng giao vận (tầng 4). NDIS ("Network Driver Interface Specification" - Đặc tả Giao diện Điều vận Mạng) và ODI ("Open Data-Link Interface" - Giao diện Liên kết Dữ liệu Mở) là các giao diện giữa phương tiện truyền ("media") (tầng 2) và giao thức mạng (tầng 3).
Mô hình bảy tầng cấp trên thường được mở rộng thêm dưới một hình thức hài hước, ám chỉ đến những nhan đề thông thường, không có tính kỹ thuật. Một trong những trò đùa là mô hình 10 tầng cấp, trong đó tầng 8 là tầng "người dùng", tầng 9 là "tài chính" và tầng 10 là "chính trị".
Kỹ thuật viên mạng truyền thông thường ám chỉ đến những nhan đề của tầng thứ 8, ý nói tầng người dùng là tầng có nhan đề, chứ không phải là mạng.
Mô hình OSI còn được gọi một cách diễu cợt là "mô hình Taco Bell" (cửa hàng bán thức ăn México), vì cửa hàng ăn này đã từng nổi tiếng với những cái bánh gói 7 lớp burrito.
Dick Lewis dùng một câu chuyện diễn tả điệp viên [[James Bond] (007) phân phát một thông điệp mật] để minh họa mô hình bảy tầng.
Những câu dễ nhớ ("Mnemonics").
Tên của bảy tầng trong giao thức mô hình của OSI ("Physical", "Data link", "Network", "Transport", "Session", "Presentation" và "Application") có thể được ghi nhớ nhanh chóng bằng các cách viết tắt sau:
[[Thể loại:Mô hình OSI| ]]
[[Thể loại:Kiến trúc mạng]]
[[Thể loại:Khuyến nghị ITU-T]]
[[Thể loại:Giao thức OSI]]
[[Thể loại:Tiêu chuẩn ISO]]
|
Gentoo Linux là một bản phân phối Linux được đặt tên theo loài chim cánh cụt Gentoo. Nó hỗ trợ nhiều kiến trúc máy tính , dễ bảo dưỡng, linh hoạt và có khả năng tối ưu cho một cấu hình máy tính cụ thể .Sáng lập bởi Daniel Robbins
Gentoo Linux là một hệ điều hành được xây dựng ở lớp trên của Linux Kernel và dựa trên Hệ thống Quản lý Gói Khả Chuyển(Portable Package Management System). Trong đó, không giống như những bản phân phối thông thường, người dùng sẽ phải tự biên dịch mã nguồn theo cách của họ, với cấu hình của riêng họ. Nói chung thì trong Gentoo không có một phần mềm, ứng dụng nào được biên dịch sẵn ra file Binary nhưng để cho tiện đối với một số người mới tiếp cận thì các ứng dụng phổ biến với mã nguồn đồ sộ như Firefox hay LibreOffice sẽ được biên dịch sẵn. Hệ thống quản lý gói của Gentoo được xây dựng như một module một plug-in rất mềm dẻo dễ bảo trì và độ tương thích phần cứng là gần như không giới hạn. Người dùng Gentoo Linux thuộc nhóm Power user do đó Gentoo không thích hợp cho người dùng mới.
|
Tranh làng Sình là một dòng tranh dân gian Việt Nam thuộc thôn Lại Ân, xã Phú Mậu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cách trung tâm thành phố khoảng 10 km về phía Đông). Đây là dòng tranh mộc bản được sử dụng phổ biến ở cố đô Huế với mục đích cúng lễ. Tranh làng Sình khác với tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội) bởi chức năng duy nhất là phục vụ thờ cúng, cúng xong là đốt. Vì vậy, đến nay chỉ còn những bản khắc gỗ là hiện vật quý giá còn lưu giữ được ở nhà ông Kỳ Hữu Phước - một nghệ nhân làm tranh lâu năm ở làng Sình.
Làng Sình là một làng nằm ven sông Hương được thành lập vào khoảng thế kỷ 15, đối diện bên kia sông là Thanh Hà, một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Đàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh, một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Đây còn là một trung tâm văn hóa của vùng cố đô, có chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa.
Nghề làm tranh ra đời tại làng cho tới hiện nay (2019) là khoảng 400 năm trước, tranh làm ra chủ yếu là để phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng. Ngày nay, tranh làng Sình đang mất dần đi yếu tố truyền thống xưa. Các bản khắc cũ còn lại với số lượng rất ít, các bản khắc mới đã xa rời với yếu tố gốc và người làm nghề cũng đã dùng chất liệu sơn công nghiệp thay cho các chất liệu màu truyền thống.
Cách in ấn và vẽ tranh.
Tranh Sình có nhiều loại kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17). Tranh khổ lớn khi in thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh khổ nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen phải chờ cho khô rồi mới đem tô màu.
Bản khắc của tranh được làm từ gỗ mít.
Nguyên liệu và cách tạo màu.
Giấy in tranh là giấy mộc quét điệp, màu sắc trước đây được tạo từ các sản phẩm tự nhiên như từ:thực vật, kim loại hay từ sò điệ
Bút vẽ làm từ cây dứa mọc hoang ngoài đồng.
Các màu thường được sử dụng trong tranh như màu đỏ (từ nước lá bàng); màu đen (từ tro rơm, tro lá cây); màu tím (của hạt cây mồng tơi); màu vàng (lá đung giã với búp hoa hòe)… Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi.
Sau này do nhiều nguyên nhân nên màu sắc được tạo nên từ phẩm hóa học.
Đề tài và nội dung tranh.
Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng, có khoảng 50 đề tài tranh. Các đề tài tranh chủ yếu phản ánh tín ngưỡng cổ xưa. Ngoài các đề tài về tín ngưỡng, phục vụ thờ cúng còn có tranh Tố Nữ , tranh tả cảnh sinh hoạt xã hộ
Tranh phục vụ tín ngưỡng có thể chia làm ba loại:
Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp (có lẽ là tranh vẽ Táo quân).
Tất cả các loại tranh này sẽ được đốt sau khi cúng xong.
|
Southern blot đã được dịch là phương pháp thấm Southern, do Edwin Southern phát minh năm 1975, là một trong những kỹ thuật lai axit nuclêic giữa DNA với DNA, nhằm chuyển DNA từ gel lên màng lai. Phương pháp này được E. Southern dùng để lai và chuyển các đoạn DNA phân tách bằng điện phân sang màng lọc và phát hiện các mảnh tiếp theo bằng phương pháp thăm dò. Do đó, phương pháp được đặt tên theo nhà phát minh Edwin Southern, nhà sinh học người Anh. Các phương pháp blotting khác (tức là western blot, northern blot, eastern blot, southwestern blot) sử dụng các nguyên lý tương tự, nhưng sử dụng RNA hoặc protein, sau này được đặt tên theo tên của Edwin Southern. Vì được đặt theo tên riêng, nên chữ Southern được viết hoa (southern nghĩa là phía Nam trong tiếng anh). Tên của các phương pháp blotting khác được đặt cùng trường nghĩa (northern, eastern, southwestern lần lượt nghĩa là miền Bắc, Đông và Tây Nam)
|
Đặc xá, hay đặc xá tha tù, là việc giảm hay miễn thời gian đáng ra phải thi hành án phạt tù cho một đối tượng nào đó là bị cáo hay là phạm nhân.
Đặc xá tại Việt Nam.
Đặc xá là một chế định pháp lý ghi trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội.
Đó là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy, quy chế của phạm nhân và cũng là kết quả của quá trình cải tạo giáo dục phạm nhân, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, gia đình, các cơ quan có liên quan và xã hội.
Theo quy định tại Điều 103 của Hiến pháp Việt Nam năm 1992 Chủ tịch nước là người được trao quyền quyết định đặc xá. Và để giúp việc cho Chủ tịch nước trong vấn đề này có Hội đồng Tư vấn Đặc xá Trung ương. Hội đồng này do Phó thủ tướng thường trực làm Chủ tịch và các thành viên là lãnh đạo của Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Văn phòng Trung ương đảng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt N
Để được đặc xá, những người thuộc diện đối tượng, phổ biến là các phạm nhân phải có những điều kiện nhất định mới được hưởng chính sách này. Như điều kiện về thời gian tối thiểu đã thi hành hình phạt tù giam, quá trình lao động cải tạo trong trại giam như thế nào, đặc điểm nhân thâ
Khi đã có đủ những điều kiện thỏa mãn theo quy định, hồ sơ của họ sẽ được một hội đồng xét duyệt. Việc xét duyệt sẽ tiến hành công khai để đi đến quyết định cuối cùng rằng người đó có đáng được hưởng đặc xá hay không.
Đợt ngày 30 tháng 4 là 7.751 phạm nhân.
Đặc xá đợt ngày 2 tháng 9 là 10.428 phạm nhân.
Đợt nhân dịp Tết Ất Dậu là 8.428 phạm nhân.
|
Tàu hỏa (hoặc xe lửa, tàu lửa) (Hán-Việt: 火車[hoả xa], nay ít dùng) là một hình thức vận tải đường sắt bao gồm một loạt các phương tiện được kết nối với nhau thường chạy dọc theo đường ray (hoặc đường sắt) để vận chuyển hành khách hoặc hàng hóa. Một con tàu có thể lắp một hay nhiều hơn số đầu tàu và các toa, trong đó có thể là toa hành khách và toa hàng. Nhiều con tàu lắp đặt 2 đầu máy ở 2 đầu tàu, gọi là hai đầu kéo. Một con tàu cũng có thể chạy ngược (tức đuôi tàu chạy trước, đầu máy chạy sau).
Lực cho đoàn tàu được cung cấp bởi một đầu máy riêng biệt hoặc các động cơ riêng lẻ trong một tổ máy nhiều bánh tự hành. Thuật ngữ "động cơ" thường được sử dụng thay thế cho đầu máy. Mặc dù trước đây động cơ đẩy hơi nước chiếm ưu thế, nhưng các loại đầu máy phổ biến nhất là động cơ diesel và điện, loại đầu máy này được cung cấp bằng dây trên không hoặc đường ray bổ sung. Xe lửa cũng có thể được kéo bằng ngựa, được kéo bằng động cơ hoặc cáp dẫn động bằng nước hoặc tời dây, chạy xuống dốc bằng trọng lực, hoặc chạy bằng khí nén, tuabin khí hoặc pin điện.
Đường chạy của tàu thường bao gồm hai đường ray chạy với khoảng cách cố định, có thể được bổ sung bằng các đường ray bổ sung như đường ray dẫn điện ("đường ray thứ ba") và đường ray giá đỡ. Đôi khi cũng sử dụng các đường ray đơn và đường dẫn maglev.
Tàu khách bao gồm các phương tiện chuyên chở hành khách và thường có thể rất dài và nhanh. Hệ thống đường sắt cao tốc bắt đầu mở rộng nhanh chóng vào cuối thế kỷ 20 và đây vẫn là một chủ đề chính của sự phát triển hơn nữa. Thuật ngữ " đường sắt hạng nhẹ " đôi khi được dùng để chỉ hệ thống tàu điện hiện đại, nhưng nó cũng có thể có nghĩa là một dạng trung gian giữa xe điện và xe lửa, tương tự như hệ thống vận chuyển nhanh bằng đường sắt hạng nặng.
Tàu chở hàng (hàng hóa) sử dụng toa hàng (hoặc toa xe / xe tải) để vận chuyển hàng hóa hoặc vật liệu (hàng hóa). Có thể vận chuyển hành khách và hàng hóa trên cùng một chuyến tàu bằng cách sử dụng một toa "hỗn hợp".
Các toa tàu và máy móc được sử dụng để bảo dưỡng và sửa chữa đường ray, được gọi là thiết bị " bảo dưỡng đường "; những thứ này có thể được lắp ráp để bảo trì đường tàu. Tương tự, các đoàn tàu chuyên dụng có thể được sử dụng để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các ga dọc theo tuyến xe lửa, chẳng hạn như thu gom rác thải hoặc doanh thu.
Tên gọi "tàu hỏa" trong tiếng Việt ban đầu để chỉ loại tàu chạy bằng động cơ hơi nước, nhưng tên gọi này có thể được áp dụng cho cả các loại tàu chạy trên đường ray sử dụng động cơ điện hay diesel hay các công nghệ khác.tàu hỏa có thể chạy nhanh tới 150km/h - 450km/h
Có nhiều loại tàu khác nhau được thiết kế cho các mục đích cụ thể. Một đoàn tàu có thể bao gồm một tổ hợp của một hoặc nhiều đầu máy và các toa xe lửa kèm theo, hoặc một nhiều toa tự hành, hoặc đôi khi một toa được hỗ trợ đơn lẻ hoặc khớp nối được gọi là toa xe lửa. Các loại tàu đặc biệt chạy trên "đường sắt" được xây dựng theo mục đích tương ứng là một ray, đường sắt cao tốc, maglev, đường sắt khí quyển, đường sắt chạy bằng cao su, đường sắt leo núi và đường sắt răng cưa.
Một đoàn tàu chở khách bao gồm một hoặc nhiều đầu máy và (thường) một số toa. Ngoài ra, một đoàn tàu có thể hoàn toàn bao gồm các toa chở hành khách, một số hoặc tất cả các toa được chạy bằng điện; điều này được gọi là "nhiều đơn vị". Ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Viễn Đông và Châu Âu, đường sắt cao tốc được sử dụng rộng rãi cho việc đi lại của hành khách. Các chuyến tàu chở hàng bao gồm ô tô, toa xe hoặc xe tải chứ không phải toa, mặc dù một số chuyến tàu bưu kiện và thư tín (đặc biệt là các Văn phòng Bưu điện Du lịch) có vẻ bề ngoài giống tàu chở khách hơn. Xe lửa cũng có thể có "nhiều loại hỗn hợp", có cả chỗ ở cho hành khách và xe chở hàng. Các đoàn tàu hỗn hợp này rất có thể được sử dụng cho các dịch vụ chạy không thường xuyên, nơi việc cung cấp các đoàn tàu chở khách và hàng hóa riêng biệt sẽ không hiệu quả về chi phí, nhưng nhu cầu khác nhau của hành khách và hàng hóa có nghĩa là điều này được tránh nếu có thể. Các đoàn tàu đặc biệt cũng được sử dụng để bảo trì đường ray; ở một số nơi, điều này được gọi là "duy trì đường tàu".
Ở Vương quốc Anh, một đoàn tàu sử dụng hai đầu máy được gọi là đoàn tàu "hai đầu". Ở Canada và Hoa Kỳ, việc một đoàn tàu hàng dài do ba đầu máy trở lên đứng đầu là điều khá phổ biến. Một đoàn tàu có gắn đầu máy ở cả hai đầu được mô tả là "đầu và đuôi", phương pháp này thường được sử dụng khi không có sẵn phương tiện đảo chiều. Trường hợp đầu máy thứ hai được gắn tạm thời để hỗ trợ tàu hỏa khi đi lên các bờ dốc hoặc dốc (hoặc để cung cấp lực hãm cho đầu máy xuống dốc). Nhiều đoàn tàu có tải ở Mỹ được lắp ráp bằng cách sử dụng một hoặc nhiều đầu máy ở giữa hoặc ở phía sau đoàn tàu, sau đó chúng được vận hành từ xa từ cabin dẫn đầu. Cách thức này này được gọi là "DP" hoặc "Distributed Power (Công suất phân tán)".
Đầu máy hơi nước.
Là loại đầu máy dùng động cơ, dùng than đốt cháy củi,tạo nhiệt đun nước làm tăng áp suất nước, xả van cho hơi nước đẩy piston và quay trục khuỷu.
Đầu máy diesel cổ điển.
Dùng động cơ diesel, buồng bơm tăng áp diesel phun dầu áp lực cao vào buồng đốt, dầu tự cháy đẩy piston quay trục khuỷu và truyền lực đến bánh qua hộp số. Ngoài ra do momen lực của động cơ lúc khởi động yếu và khi nổ máy vào điểm chết có thể gây gãy trục khuỷu hoặc máy khó hoạt động nên trước khi khởi động máy, có một kích thủy lực đẩy đầu máy di chuyển cho đến khi vượt điểm chết.
Đầu máy diesel truyền động điện.
Dùng động cơ diesel truyền momen quay đến một máy phát điện, sau đó máy phát điện truyền dòng điện vào nhiều động cơ điện, động cơ điện truyền lực trực tiếp vào hộp số đến bánh tàu. Động cơ điện có momen khởi động lớn nên thích hợp cho việc khởi động kéo nhiều toa nặng trong thời gian ngắn.
Dùng dây điện trên cao, dưới đường ray hoặc cả hai để cấp điện cho động cơ điện hoạt động. Đầu máy điện có thể có một đầu máy chuyên dụng, hoặc như các tàu cao tốc như "JR 700" dùng nhiều động cơ điện dọc theo từng toa tàu.
Xem bài chi tiết: Tàu đệm từ
Một toa tàu (bogie) là một toa xe có bánh hoặc xe đẩy. Theo thuật ngữ cơ học, bogie là một khung hoặc khung mang bánh xe, được gắn vào một chiếc xe. Nó có thể được cố định tại chỗ, như trên một xe tải chở hàng, gắn trên một khớp xoay, như trên một toa xe lửa hoặc đầu máy, hoặc bung ra như trong hệ thống treo của một chiếc xe bánh xích. Thông thường, mỗi toa xe, toa xe hoặc đầu máy có hai bogies, ở mỗi đầu một toa tàu. Một cấu hình thay thế, thường được sử dụng trong các phương tiện có khớp nối, đặt các bogies (thường là bogies Jacobs) dưới kết nối giữa các toa xe hoặc toa xe. Hầu hết các xe đều có hai trục, vì đây là thiết kế đơn giản nhất, nhưng một số xe được thiết kế cho tải cực nặng đã được chế tạo với tối đa năm trục cho mỗi trục. Toa hạng nặng có thể có nhiều hơn hai bogie bằng cách sử dụng các thanh đỡ nhịp để cân bằng tải trọng và kết nối các toa với nhau. Thông thường, sàn xe lửa ở mức cao hơn so với các bãi lầy, nhưng sàn của toa xe có thể thấp hơn giữa các toa, chẳng hạn như đối với tàu hai tầng để tăng không gian bên trong trong khi vẫn bị hạn chế về chiều cao, hoặc để tạo ra các toa tầng thấp dễ dàng tiếp cận, và ra vào.
Những chuyến tàu đầu tiên được kéo bằng dây thừng, chạy bằng trọng lực hoặc kéo bằng ngựa, nhưng từ đầu thế kỷ 19 hầu như tất cả các chuyến tàu đều chạy bằng đầu máy hơi nước. Từ những năm 1910 trở đi, đầu máy hơi nước bắt đầu được thay thế bằng đầu máy diesel và điện; mặc dù các dạng động cơ mới này phức tạp và đắt tiền hơn nhiều so với năng lượng hơi nước, nhưng chúng ít tốn công hơn và sạch hơn. Đồng thời, các phương tiện tự hành nhiều đơn vị (cả diesel và điện) đã được sử dụng rộng rãi hơn nhiều trong dịch vụ hành khách. Vào những năm 1970, hầu hết các quốc gia đã hoàn thành việc động cơ hóa đầu máy xe lửa sử dụng hàng ngày. Đầu máy hơi nước vẫn được sử dụng trong các tuyến đường sắt di sản hoạt động ở nhiều quốc gia với mục đích giải trí và đam mê.
Lực kéo bằng điện khiến chi phí vận hành trung bình trên mỗi dặm tàu thấp hơn nhưng với chi phí ban đầu cao hơn, điều này chỉ có thể hợp lý trên các tuyến giao thông cao. Mặc dù chi phí cho mỗi dặm xây dựng cao hơn nhiều, nhưng sức kéo bằng điện vẫn khả thi hơn trong quá trình vận hành vì chi phí nhập khẩu động cơ diesel cao hơn đáng kể. Tàu điện nhận dòng điện qua đường dây trên không hoặc qua hệ thống điện đường sắt thứ ba.
Một công nghệ đang phát triển là pin nhiên liệu, kết hợp lợi thế của việc không cần hệ thống điện tại chỗ, với ưu điểm là nó vận hành không phát ra khí thải. Tuy nhiên, một trở ngại là chi phí ban đầu đáng kể liên quan đến xe chạy pin nhiên liệu.
Một toa tàu chở khách bao gồm các phương tiện chở khách và thường có thể rất dài và nhanh. Nó có thể là một đầu máy hoặc toa xe lửa tự cung cấp năng lượng, hoặc kết hợp của một hoặc nhiều đầu máy và một hoặc nhiều rơ moóc không được cung cấp năng lượng được gọi là toa xe, toa xe hoặc toa xe. Tàu khách đi giữa các ga đi, nơi hành khách có thể lên và xuống. Trong hầu hết các trường hợp, tàu khách hoạt động theo lịch trình cố định và có quyền sử dụng đường ray cao hơn tàu hàng.
Không giống như tàu hàng, tàu khách phải cung cấp nguồn điện đầu cuối cho mỗi toa để phục vụ các mục đích như chiếu sáng và sưởi ấm, (được sửa đổi cho mục đích trên), hoặc từ một máy phát diesel riêng biệt trong đầu máy. Một toa máy phát điện riêng có thể được sử dụng để phục vụ hành khách trên các tuyến đường xa nơi không phải lúc nào cũng có sẵn đầu máy được trang bị thiết bị trích năng lượng.
Việc giám sát đoàn tàu chở khách là trách nhiệm của người chỉ huy, người này đôi khi được hỗ trợ bởi các thuyền viên khác như nhân viên phục vụ hoặc nhân viên khuân vác. Trong thời kỳ đỉnh cao của việc đi lại bằng đường sắt chở khách ở Bắc Mỹ, các chuyến tàu đường dài mang theo hai dây dẫn: người dẫn tàu chính được đi cùng với một người dẫn tàu Pullman, phụ trách các nhân viên phụ trách toa nằm.
Nhiều dịch vụ tàu khách uy tín đã được ban tặng một cái tên đặc biệt, một số đã trở nên nổi tiếng trong văn học và tiểu thuyết. Trong những năm qua, người đi tàu thường được gọi xe lửa chở khách là "véc ni", ám chỉ đến một thời đã qua của tàu thân gỗ với lớp trang trí bên ngoài rực rỡ và lạ mắt. “Chắn véc-ni” có nghĩa là tàu hàng chạy chậm cản trở tàu khách nhanh, gây chậm chuyến.
Một số tàu chở khách, cả đường dài và đường ngắn, có thể sử dụng toa hai tầng để chở nhiều khách hơn trên mỗi chuyến tàu. Thiết kế toa xe và sự an toàn chung của tàu khách đã phát triển vượt bậc theo thời gian, khiến việc đi lại bằng đường sắt trở nên an toàn đáng kể.
Các chuyến tàu đường dài di chuyển giữa nhiều thành phố hoặc vùng của một quốc gia, và đôi khi băng qua một số quốc gia. Họ thường có xe ăn uống hoặc xe nhà hàng để hành khách có thể dùng bữa trong suốt hành trình. Tàu đi qua đêm cũng có thể có toa ngủ. Hiện nay phần lớn du lịch trên những khoảng cách hơn được thực hiện bằng đường hàng không ở nhiều quốc gia nhưng ở những quốc gia khác, di chuyển đường dài bằng đường sắt là cách phổ biến hoặc rẻ nhất để đi đường dài.
Đường sắt cao tốc.
Một loại tàu đường dài đáng chú ý và đang phát triển là đường sắt tốc độ cao, thường chạy ở tốc độ trên và thường hoạt động trên đường đua chuyên dụng đã được khảo sát và chuẩn bị để đáp ứng tốc độ cao. Ví dụ thành công đầu tiên của hệ thống đường sắt chở khách tốc độ cao là Shinkansen của Nhật Bản, thường được gọi là "tàu cao tốc", bắt đầu hoạt động vào tháng 10 năm 1964.
Tàu có bánh nhanh nhất chạy trên đường ray là TGV của Pháp (Train à Grande Vitesse, nghĩa đen là "tàu cao tốc"), trong điều kiện thử nghiệm năm 2007, đạt tốc độ , gấp đôi tốc độ cất cánh của máy bay Boeing 727. TGV chạy với tốc độ tối đa là , ICE của Đức (Inter-City Express) và AVE của Tây Ban Nha (Alta Velocidad Española) cũng vậy. Tốc độ cao nhất hiện đạt được trong hoạt động theo lịch trình là trên đường sắt liên tỉnh Bắc Kinh - Thiên Tân và hệ thống đường sắt cao tốc Vũ Hán - Quảng Châu ở Trung Quốc.
Trong hầu hết các trường hợp, di chuyển bằng đường sắt tốc độ cao cạnh tranh về thời gian và chi phí với đường hàng không khi khoảng cách không vượt quá , do việc check-in và các thủ tục boarding tại sân bay có thể tốn thêm ít nhất hai giờ vào thời gian quá cảnh tổng thể. Ngoài ra, chi phí vận hành đường sắt trên những khoảng cách này có thể thấp hơn khi lượng nhiên liệu máy bay tiêu thụ của máy bay trong quá trình cất cánh và đạt độ cao cần thiết được tính đến. Di chuyển bằng đường hàng không trở nên cạnh tranh hơn về chi phí khi quãng đường di chuyển tăng lên vì nhiên liệu chiếm ít hơn trong tổng chi phí hoạt động của máy bay.
Một số hệ thống đường sắt tốc độ cao sử dụng công nghệ nghiêng để cải thiện độ ổn định trên các đoạn đường cong. Ví dụ về tàu nghiêng là Tàu chở khách nâng cao (APT), Pendolino, N700 Series Shinkansen, "Acela" của Amtrak và Talgo Tây Ban Nha. Nghiêng là một dạng động lực của siêu cao, cho phép cả giao thông tốc độ thấp và tốc độ cao sử dụng cùng một đoạn đường (mặc dù không đồng thời), cũng như tạo ra một chuyến đi thoải mái hơn cho hành khách.
Tàu hỏa liên thành phố.
"Liên thành phố" là một thuật ngữ chung cho bất kỳ dịch vụ đường sắt nào sử dụng các chuyến tàu với các điểm dừng hạn chế để cung cấp các chuyến đi đường dài nhanh chóng. Các dịch vụ liên thành phố có thể được chia thành ba nhóm chính:
Sự phân biệt giữa ba loại hình dịch vụ đường sắt liên thành phố có thể không rõ ràng; các chuyến tàu có thể chạy dưới dạng dịch vụ InterCity giữa các thành phố lớn, sau đó chuyển sang dịch vụ tàu tốc hành (hoặc thậm chí trong khu vực) để tiếp cận cộng đồng ở những điểm xa nhất của hành trình. Thực hành này cho phép các cộng đồng cận biên được phục vụ theo cách hiệu quả nhất về chi phí, với chi phí là thời gian hành trình dài hơn cho những người muốn đi đến ga cuối.
Các chuyến tàu khu vực thường kết nối giữa các thị trấn và thành phố, phục vụ các cộng đồng nhỏ hơn ở thành thị (và một số vùng nông thôn) trên đường đi. Các dịch vụ này được cung cấp để đáp ứng nhu cầu giao thông địa phương ở các khu vực ít người dân đi lại.
Đường sắt tốc độ cao.
Đường sắt tốc độ cao là một loại tàu đặc biệt. Các chuyến tàu cho dịch vụ đường sắt tốc độ cao hơn có thể hoạt động với tốc độ tối đa cao hơn các chuyến tàu liên thành phố thông thường nhưng tốc độ không cao bằng các chuyến tàu trong dịch vụ đường sắt cao tốc. Các dịch vụ này được cung cấp sau khi cải tiến cơ sở hạ tầng đường sắt thông thường để hỗ trợ các đoàn tàu có thể vận hành an toàn ở tốc độ cao hơn.
Tàu khoảng cách ngắn.
Đối với các khoảng cách ngắn hơn, nhiều thành phố có mạng lưới các chuyến tàu đi lại (còn được gọi là tàu ngoại ô) phục vụ nội thành và các vùng ngoại ô. Tàu hỏa là một phương tiện giao thông rất hiệu quả để đáp ứng nhu cầu giao thông lớn trong đô thị. So với vận tải đường bộ, nó chở được nhiều người với diện tích đất nhỏ hơn nhiều, không khí ít ô nhiễm. Đường sắt đi lại cũng di chuyển trong phạm vi dài hơn so với hệ thống vận chuyển nhanh với tần suất tương đối ít hơn và có thể chia sẻ đường ray với các đoàn tàu khác.
Một số toa xe có thể được thiết kế để có chỗ đứng hơn chỗ ngồi, hoặc tạo điều kiện cho việc mang theo xe đẩy, xe đạp hoặc xe lăn. Một số quốc gia có tàu khách hai tầng để sử dụng trong các khu phố. Tàu cao tốc và tàu hỏa hai tầng đang trở nên phổ biến hơn ở lục địa Châu Âu.
Đôi khi sự tắc nghẽn nghiêm trọng của các chuyến tàu đi lại có thể trở thành một vấn đề. Ví dụ, ước tính có khoảng 3,5 triệu hành khách đi trên tuyến Yamanote ở Tokyo, Nhật Bản, với 29 nhà ga. Để so sánh, tàu điện ngầm thành phố New York chở 5,7 triệu hành khách mỗi ngày với 472 ga. Những chiếc xe đặc biệt có ghế băng có thể gập lại để chỉ cung cấp chỗ đứng trong giờ cao điểm buổi sáng trên tuyến này. Trước đây, đoàn tàu này gồm 2 toa, mỗi bên sáu cửa để rút ngắn thời gian lên xuống ga cho hành khách.
Tàu khách thường có tay nắm phanh khẩn cấp (hoặc "dây liên lạc") để công chúng có thể vận hành, nếu trường hợp khẩn cấp xảy ra (như nếu ai đó bị kẹt trên cửa toa tàu). Điều này làm cho đoàn tàu bị kéo dây khẩn cấp và trong một số trường hợp, tất cả các đoàn tàu trong khu vực phải dừng lại. Vì dây hãm khẩn cấp có thể khiến tất cả các đoàn tàu trong khu vực phải dừng lại gây ra sự chậm trễ, nên ai lạm dụng dây hãm khẩn cấp sẽ bị phạt rất nặng.
Các nhà điều hành xe lửa đi lại và ngoại ô khác nhau (ví dụ: Sydney Trains, NJ Transit, Paris RER) sử dụng tàu hai tầng. Tàu hai tầng tăng sức chứa ngay cả khi chạy ít hơn.
Tàu trong thành phố.
Rapid transit (chuyển tuyến nhanh).
Các thành phố lớn thường có hệ thống vận chuyển nhanh chóng, còn được gọi là "tàu điện ngầm", "metro", "underground" hoặc "tube". Các đoàn tàu này chạy bằng điện, thường chạy bằng đường ray thứ ba và các tuyến đường sắt của chúng tách biệt với các phương tiện giao thông khác, thường không có giao cắt đồng mức. Thông thường chúng chạy trong các đường hầm ở trung tâm thành phố và đôi khi trên các cấu trúc trên cao ở các khu vực bên ngoài của thành phố. Chúng có thể tăng tốc và giảm tốc nhanh hơn các đoàn tàu đường dài, nặng hơn.
Thuật ngữ chung "chuyển tuyến nhanh" được sử dụng cho các phương tiện giao thông công cộng như tàu hỏa, tàu điện ngầm và đường sắt hạng nhẹ. Tuy nhiên, các dịch vụ trên Tàu điện ngầm Thành phố New York được gọi là "xe lửa", trong khi các dịch vụ trên Tàu điện ngầm London thường được gọi là "tàu điện ngầm" hoặc "tube".
Ở Anh, sự phân biệt giữa đường tàu điện và đường sắt là chính xác và được quy định trong luật. Ở Canada và Hoa Kỳ, những tuyến đường sắt như vậy được gọi là xe đẩy hoặc xe điện. Sự khác biệt cơ bản giữa hệ thống đường sắt và hệ thống xe đẩy là hệ thống sau chủ yếu chạy trên các đường phố công cộng, trong khi xe lửa có quyền ưu tiên ngăn cách với các đường phố công cộng. Thường thì hệ thống đường sắt xuyên đô thị và đường sắt hiện đại kiểu Mỹ bị nhầm lẫn với hệ thống xe đẩy, vì hệ thống này cũng có thể chạy trên đường phố cho các đoạn đường ngắn hoặc dài trung bình. Trong một số ngôn ngữ, từ "xe điện" cũng dùng để chỉ các mạng lưới kiểu đường sắt nhẹ và liên đô thị, cụ thể là tiếng Hà Lan.
Chiều dài của xe điện hoặc xe đẩy có thể được xác định theo quy định của quốc gia. Đức có cái gọi là tiêu chuẩn Bo-Strab, giới hạn chiều dài của xe điện ở mức 75 mét, trong khi ở Mỹ, chiều dài xe thường bị giới hạn bởi chính quyền địa phương, thường chỉ cho phép một loại phương tiện duy nhất hoạt động trong hệ thống giao thông công cộng.
Đường sắt nhẹ (light rail).
Thuật ngữ "đường sắt hạng nhẹ" đôi khi được sử dụng cho một hệ thống xe điện hiện đại, mặc dù các tuyến đường sắt hạng nhẹ thường có quyền ưu tiên chủ yếu dành riêng, giống với đường sắt hạng nặng và ít giống đường tàu điện hơn. Nó cũng có thể có nghĩa là một dạng trung gian giữa xe điện và xe lửa, tương tự như tàu điện ngầm, ngoại trừ việc nó có thể có các đường cắt ngang mà sau đó thường được bảo vệ bằng các cổng băng qua đường. Theo thuật ngữ của Hoa Kỳ, các hệ thống này thường được gọi là "liên đô thị" vì chúng kết nối các khu đô thị lớn hơn trong vùng lân cận của một thành phố lớn với trung tâm của thành phố. Các hệ thống đường sắt hạng nhẹ hiện đại thường sử dụng quyền ưu tiên dành cho đường sắt hạng nặng bị bỏ hoang (ví dụ như các tuyến đường sắt cũ) để hồi sinh các khu vực bị tước đoạt và các khu vực tái phát triển trong và xung quanh các tụ điểm dân cư lớn.
Monorail (tàu 1 ray).
Monorail được phát triển để đáp ứng nhu cầu giao thông trung bình trong quá trình vận chuyển đô thị và bao gồm một đoàn tàu chạy trên một đường ray, thường là trên cao. Monorails đại diện cho một phần tương đối nhỏ của lĩnh vực đường sắt tổng thể. Hầu hết tất cả các tàu một ray đều sử dụng động cơ cảm ứng tuyến tính.
Maglev (tàu đệm từ).
Để đạt được hoạt động nhanh hơn nhiều trên , công nghệ maglev sáng tạo đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Công nghệ sử dụng nam châm để đẩy tàu lên phía trên đường ray, giảm ma sát và cho phép đạt tốc độ cao hơn. Một nguyên mẫu ban đầu đã được trình diễn vào năm 1913. Chuyến tàu maglev thương mại đầu tiên là một tàu đưa đón sân bay được giới thiệu vào năm 1984 tại Sân bay Birmingham ở Anh.
Tàu Maglev Thượng Hải, khai trương năm 2003, là dịch vụ tàu thương mại nhanh nhất trong số các loại tàu, hoạt động với tốc độ lên đến . Maglev vẫn chưa được sử dụng cho các tuyến vận tải công cộng liên thành phố.
Đoạn đường ray xe lửa.
Đoạn đường ray xe lửa là quãng đường gồm các tuyến đường ray xe lửa để nối liền các địa phương. Một đoạn đường ray có thể có nhiều tuyến khác nhau.
Đoạn đường sắt dài nhất thế giới mà được dùng thường xuyên là Đường sắt xuyên Sibir dài 9288 km.
Cuối năm 2014, đoạn đường xe lửa chở hàng hoá dài 13.000 km nối giữa Tây Ban Nha và Trung Quốc là đoạn đường sắt dài nhất thế giới, bắt đầu từ Nghĩa Ô cho tới Madrid. Vào mùa Noel, nó sẽ chạy thử lần đầu tiên chở hàng hóa như rượu nho, thịt nguội và dầu ô liu từ Tây Ban Nha sang Trung Quốc, xuyên qua 6 nước, Pháp, Đức, Ba Lan, Belarus, Nga, và Kazakhstan.
Hiện thời quãng đường này mất 3 tuần (21 ngày) và hàng hóa phải được dỡ hàng 3 lần vì khổ đường khác nhau, tuy nhiên vẫn nhanh hơn 10 ngày so với đường thủy.
Tàu lửa ở Việt Nam.
Năm 1881, người Pháp khởi công xây dựng đường sắt ở Việt Nam. Hiện tại có 3 khổ đường: loại 1 m, 1,435 m và đường lồng cả loại 1 m và 1,435 m. Tổng chiều dài đường sắt là 3.142,69 km, trong đó gồm 2632 km đường sắt chính, 402,69 km đường ga và 107,95 km đường nhánh. Trên đường sắt có 1777 cái cầu với chiều dài tổng cộng là 44073 m, trong đó 576 cầu có trạng thái kỹ thuật tốt với chiều dài 16.223 m còn lại 1.201 cầu trạng thái kỹ thuật xấu với chiều dài 27.850 m. Cấp tải trọng của cầu không đồng nhất từ T11 đến T22. Đường sắt Việt Nam đi xuyên qua các hầm chủ yếu ở hai tuyến: phía Nam trên tuyến đường Thống Nhất có 27 hầm với chiều dài tổng cộng là 8335 m; phía Bắc tuyến Hà Nội – Lạng Sơn có 8 hầm với tổng chiều dài là 3133,4 m.
Phân bố tập trung ở phía bắc dài 1.120 km (từ Tây sang Đông) và chạy dọc đất nước theo hướng Bắc – Nam (dài cả tuyến nhánh khoảng 2.010 km từ Hà Nội đến Sài Gòn).
Cả nước có 63 tỉnh thành thì tàu hỏa đi qua 35 tỉnh và thành phố, hầu hết đi qua các vùng đông dân và khu đô thị lớn.
Đường sắt đi qua các vùng dân cư, khu kinh tế và các trung tâm văn hoá: chiếm 57% dân cư, 47% về tổng diện tích đất đai và 60% về GDP.
Việt Nam có 15 tuyến chính:
|
Động vật có dây sống
Động vật có dây sống hay ngành Dây sống (danh pháp khoa học: Chordata) là một nhóm động vật bao gồm động vật có xương sống ("Vertebrata"), cùng một vài nhóm động vật không xương sống có quan hệ họ hàng gần. Chúng được kết hợp lại do ở một số giai đoạn trong cuộc đời thì chúng đều có dây sống- dây thần kinh ở lưng và rỗng, các khe hở thuộc hầu, trụ trong và đuôi có bắp thịt mở rộng về phía sau hậu môn. Tuy nhiên, một số nhà khoa học cho rằng những loài động vật có dây sống thực thụ cần phải có khoang túi thuộc hầu hơn là các khe hở.
Ngành Chordata được chia thành các phân ngành là: Urochordata (động vật có đuôi sống, Cephalochordata (động vật đầu sống, như lưỡng tiêm) và Vertebrata (động vật có xương sống). Ấu trùng của Urochordata có dây sống và dây thần kinh nhưng mất đi khi chúng trưởng thành. Cephalochordata có dây sống và dây thần kinh nhưng không có xương sống. Ở tất cả các dạng Vertebrata, ngoại trừ cá mút đá myxin, dây thần kinh ở lưng là rỗng được vây quanh bởi xương sống bằng chất sụn hoặc chất xương và dây sống nói chung bị giảm đi.
Ngành dây sống và hai ngành có quan hệ khác là Hemichordata và Echinodermata, tạo thành một siêu ngành gọi là Deuterostomia.
Người ta cũng đưa ra lý thuyết là ngành này có nguồn gốc là kết quả của sự thay đổi trong phát sinh loài, trong đó các dạng trưởng thành của loài vẫn giữ được các đặc điểm trước đó chỉ có ở dạng con non, diễn ra trong dạng tổ tiên nguyên thủy của chúng.
Các nhóm động vật có dây sống hiện còn tồn tại và các họ hàng của chúng được chỉ ra trong cây phát sinh loài dưới đây. Nó không hoàn toàn tương thích với các nhóm theo phân loại học truyền thống, vì phân loại động vật có dây sống luôn thay đổi, quan hệ giữa chúng chưa được hiểu rõ.
Phần lớn các động vật phức tạp hơn sứa và các động vật cnidaria khác được chia thành 2 nhóm, Protostomia và Deuterostomia, và Động vật có dây sống thuộc nhóm Deuterostomia. Có thể Kimberella có tuổi 555 triệu năm là thành viên thuộc nhánh Protostomia. Nếu vậy, các nhánh Protostomia và Deuterostomia phải tách ra vào thời điểm trước "Kimberella" ít nhất 558 triệu năm, và do đó trước khi bắt đầu kỷ Cambri. "Ernietta" hóa thạch Ediacara có tuổi 549 - 543 triệu năm có thể là đại diện của Deuterostomia.
Các hóa thạch của một nhóm chính Deuterostomia, Echinodermata (các thành viên hiện đại của nhóm này gồm sao biển, hải sâm huệ biển) thì khá phổ biến vào đầu kỷ Cambri (542 triệu năm). Hóa thạch Rhabdotubus johanssoni thuộc Giữa Kỷ Cambri đã được phân tích thuộc nhóm Pterobranch Hemichordata. Các ý kiến khác nhau về liệu hóa thạch "Yunnanozoon" thuộc hệ động vật Chengjiang có từ Cambri sớm là Hemichordata hay Chordata. Một hóa thạch khác là "Haikouella lanceolata" cũng từ Chengjiang được phân tích là một loài thuộc ngành Chordata và có thể là Craniata, vì nó thể hiện các dấu hiệu của tim, động mạch, mang sơi, đuôi, dây thần kinh quấn nhau với não ở phần tận cùng phía trước, và mắt— mặc dù nó cũng có xúc tu quanh miệng của nó. "Haikouichthys" và "Myllokunmingia" cũng từ Hệ tầng Chengjiang được xem là cá. "Pikaia" được phát hiện sớm hơn nhiều nhưng từ Đá phiến sét Burgess ở Giữa Kỷ Cambri cũng được xem là động vật có dây sống nguyên thủy. Mặc khác các hóa thạch của động vật có dây sống ban đầu là rất hiếm vì các động vật có dây sống không xương sống không có xương hoặc răng, và chỉ có một loài được thông báo là còn tồn tại trong kỷ Cambri.
Lưu ý: Biểu đồ này chỉ ra quan hệ tiến hóa có thể là đúng nhất, bao gồm cả các đơn vị phân loại đã tuyệt chủng với ký hiệu †.
|
Siri (phát âm là ) là một trợ lý cá nhân thông minh, là một phần của hệ điều hành iOS, iPadOS, watchOS, macOS, và tvOS của Apple Inc. Trợ lý dùng giọng nói và giao diện người dùng có ngôn ngữ tự nhiên để trả lời các câu hỏi, đưa ra các khuyến nghị và thực hiện hành động bằng cách chuyển các yêu cầu cho một bộ các dịch vụ Internet. Phần mềm này sẽ thích nghi với cách sử dụng ngôn ngữ, cách tìm kiếm và sở thích cá nhân của người dùng khi sử dụng. Kết quả trả lại được cá nhân hóa.
Siri là một sản phẩm phụ từ một dự án ban đầu được phát triển bởi Trung tâm Trí tuệ nhân tạo Quốc tế SRI. Công cụ nhận dạng giọng nói của nó được cung cấp bởi Nuance Communicationsvà Siri sử dụng công nghệ học máy tiên tiến để hoạt động. Những người lồng tiếng ban đầu ở Mỹ, Anh và Úc ghi lại giọng nói của họ vào khoảng năm 2005, không rõ về việc sử dụng của bản ghi trên Siri. Trợ lý thoại đã được phát hành dưới dạng một ứng dụng cho iOS vào tháng 2 năm 2010 và đã được Apple mua lại hai tháng sau đó. Sau đó, Siri đã được tích hợp vào iPhone 4S vào tháng 10 năm 2011. Lúc đó, ứng dụng riêng biệt cũng đã được xóa khỏi Cửa hàng ứng dụng iOS. Siri đã trở thành một phần không thể tách rời của các sản phẩm của Apple, đã được chuyển sang các thiết bị phần cứng khác trong những năm qua, bao gồm iPhone thế hệ mới, cũng như iPad, iPod Touch, Mac và Apple TV.
Siri hỗ trợ nhiều lệnh của người dùng, bao gồm thực hiện các tác vụ gọi điện, kiểm tra thông tin cơ bản, lập lịch trình các sự kiện, nhắc nhở, xử lý cài đặt thiết bị, tìm kiếm trên Internet, điều hướng, tìm thông tin về giải trí và có thể tương tác với các ứng dụng tích hợp trong iOS. Với việc phát hành iOS 10 vào năm 2016, Apple cho phép bên thứ ba truy cập vào Siri, bao gồm các ứng dụng nhắn tin của bên thứ ba, cũng như thanh toán, chia sẻ đi xe và các ứng dụng gọi qua Internet. Với việc phát hành của iOS 11, Apple đã cập nhật giọng nói của Siri cho rõ ràng và chân thật hơn; hỗ trợ các câu hỏi nối tiếp, biên dịch và thêm các hành động bổ sung của bên thứ ba.
Bản phát hành gốc của Siri trên iPhone 4S vào năm 2011 đã nhận được nhiều đánh giá trái chiều. Nó được khen ngợi về nhận dạng giọng nói và ngữ cảnh về thông tin người dùng, bao gồm các lịch hẹn, nhưng bị phê bình vì phải dùng lệnh cứng nhắc và thiếu linh hoạt. Nó cũng bị chỉ trích vì thiếu thông tin về địa điểm kế bên và không hiểu được một số phương ngữ tiếng Anh. Trong năm 2016 và 2017, một số báo cáo của các phương tiện truyền thông đã chỉ ra rằng Siri đang thiếu sự đổi mới, đặc biệt đối với các trợ lý mới từ các công ty công nghệ khác. Những nguồn trên chỉ ra giới hạn của Siri, nhận dạng tiếng nói tệ và việc tích hợp dịch vụ kém phát triển gây khó khăn cho Apple trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và các dịch vụ dựa trên đám mây; người ta cho rằng lí do Apple chưa thể làm người dùng hài lòng là vì sự phát triển quá chậm chạp bởi họ ưu tiên bảo vệ quyền riêng tư người dùng, cũng như những cuộc tranh giành quyền lực trong công ty.
Siri là một phụ phẩm từ Trung tâm Trí tuệ nhân tạo Quốc tế SRI, và là một nhánh của dự án CALO do DARPA tài trợ. Nó được đồng sáng lập bởi Dag Kittlaus của SRI, Harry Saddler, Adam Cheyer và Tom Gruber.
Công cụ nhận dạng giọng nói của Siri được cung cấp bởi Nuance Communications, một công ty công nghệ thoại. Điều này đã không được chính thức công nhận bởi Apple hay Nuance trong nhiều năm, cho đến khi Giám đốc điều hành Nuance Paul Ricci xác nhận thông tin này tại hội nghị công nghệ năm 2011. [3] Hệ thống nhận dạng giọng nói sử dụng các kỹ thuật học máy tinh vi, bao gồm các mạng thần kinh xoắn và bộ nhớ dài hạn.
Ý tưởng đầu tiên của Apple về trợ lý cá nhân kỹ thuật số ban đầu là một video khái niệm vào năm 1987, được gọi là "Người điều hướng" "Knowledge Navigator".
Tiếng nói ban đầu của người Mỹ về Siri được Susan Bennett cung cấp vào tháng 7 năm 2005, không biết rằng nó sẽ được sử dụng cho trợ lý giọng nói. Một báo cáo từ The Verge vào tháng 9 năm 2013 về diễn viên lồng tiếng, công việc của họ và sự phát triển của máy móc, đã gợi ý rằng Allison Dufty là tiếng nói phía sau Siri, mặc dù điều này đã không được chứng minh khi Dufty viết trên trang web của cô rằng cô "Hoàn toàn, tích cực KHÔNG tiếng nói của Siri". Trích dẫn áp lực gia tăng, Bennett đã tiết lộ vai trò của mình là Siri vào tháng 10, và tuyên bố của cô đã được chứng minh bởi Ed Primeau, một chuyên gia pháp y về âm thanh của Mỹ. Apple đã không bao giờ xác nhận thông tin.
Giọng nói của người đàn ông gốc Anh được cung cấp bởi Jon Briggs, cựu phóng viên công nghệ. Sau khi phát hiện ra rằng ông là tiếng nói của Siri bằng cách xem truyền hình, ông lần đầu tiên nói về vai trò của mình vào tháng 11 năm 2011, đồng thời thừa nhận công việc bằng giọng nói của ông đã được thực hiện "năm hay sáu năm trước" mà không hề biết đến hình thức sử dụng cuối cùng của bản ghi âm.
Tiếng nói ban đầu của người Úc được cung cấp bởi Karen Jacobsen, một nghệ sỹ nói tiếng Anh nổi tiếng tại Úc cho công việc của cô là "cô gái GPS".
Trong một cuộc phỏng vấn giữa ba diễn viên lồng tiếng và "The Guardian", Briggs nói rằng "Hệ thống ban đầu đã được ghi lại cho một công ty Mỹ tên là Scansoft, sau đó được Nuance mua, Apple chỉ đơn giản cho phép nó".
|
Đường sông Việt Nam
Đường sông Việt Nam hay đường thủy nội địa Việt Nam là hệ thống các tuyến giao thông trên sông ở Việt Nam, được quản lý bởi Cục Đường thủy nội địa Việt Nam. Đường sông Việt Nam được phân ra thành đường sông do Trung ương quản lý và đường sông do địa phương quản lý với 6 cấp kỹ thuật từ cấp V đến cấp I và cấp đặc biệt.
Các tuyến đường thủy chính.
Việt Nam hiện có 45 tuyến giao thông đường thủy chính, trong đó Khu vực phía Bắc có 17 tuyến, Khu vực miền Trung phía có 10 tuyến, Khu vực phía Nam có 18 tuyến, cụ thể như sau:
Khu vực phía Bắc.
Khu vực phía Bắc gồm 17 tuyến:
+ Sông Đào Hạ Lý (Hải Phòng) dài 3 km: Đoạn từ ngã ba Xi Măng (sông Cấm) đến ngã ba sông Rế, các cầu khi xây dựng mới tĩnh không tối thiểu đạt 4,75 m; đoạn từ ngã ba sông Rế đến ngã ba Niệm các cầu khi xây dựng mới tĩnh không tối thiểu đạt 7 m;
+ Sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Kênh Khê, sông Luộc: Các cầu khi xây dựng mới tĩnh không tối thiểu đạt 7 m;
+ Đoạn sông Đào Nam Định từ ngã ba sông Đáy đến cảng Nam Định phục vụ tàu pha sông biển đến 1.000 T giữ nguyên quy hoạch cấp II; đoạn hạ lưu từ ngã ba sông Đáy đến cầu Đò Quan không cầu xây mới đạt 9 m, đoạn thượng lưu từ ngã ba sông Hồng đến cầu Đò Quan tĩnh không cầu xây mới đạt 7 m;
+ Tuyến sông Đáy đoạn từ ngã ba sông Đào Nam định đến Ninh Bình, phục vụ tàu pha sông biển đến 3.000 T (giảm tải) cập cảng Ninh Phúc, quy hoạch cấp đặc biệt.
+ Đoạn Hà Nội - cảng Việt Trì dài 74 km trên sông Hồng: Quy hoạch cấp II;
+ Đoạn từ Việt Trì - cảng Yên Bái dài 125 km: Quy hoạch cấp III;
+ Đoạn từ cảng Yên Bái - ngã ba Nậm Thi (Lào Cai) dài 166 km: Quy hoạch cấp IV; nghiên cứu xây dựng đập dâng nước, âu tầu kết hợp thủy điện để nâng lên cấp III.
+ Đoạn từ Việt Trì - Tuyên Quang (ngã 3 Lô Gâm) dài 115 km: Quy hoạch cấp III;
+ Đoạn Tuyên Quang từ ngã 3 Lô Gâm đến hạ lưu đập thủy điện Tuyên Quang dài 71 km: Đoạn từ Tuyên Quang đến Chiêm Hóa quy hoạch cấp IV, đoạn từ Chiêm Hóa đến đập thủy điện Tuyên Quang (Na Hang) điều chỉnh đạt cấp V.
+ Đoạn sông Đáy từ cửa Đáy đến Ninh Bình dài 72 km, phục vụ tàu pha sông biển đến 3.000 T (giảm tải) cập cảng Ninh Phúc, quy hoạch cấp đặc biệt;
+ Đoạn sông Lèn từ bến Đò Lèn ra cửa Lạch Sung: Điều chỉnh đạt cấp I;
+ Đoạn sông Vạc, sông Lèn (từ bến đò Lèn đến ngã ba Bông), sông Mã (từ ngã ba Bông đến cảng Lệ Môn): Quy hoạch cấp III;
+ Các đoạn tuyến còn lại (kênh Yên Mô, kênh Nga Sơn) quy hoạch cấp IV, các cầu xây mới tĩnh không thông thuyền tối thiểu đạt 5,0 m.
Khu vực miền Trung.
Khu vực miền Trung gồm 10 tuyến:
+ Đoạn từ cửa Hội - Bến Thủy dài 19 km: Quy hoạch cấp I;
+ Đoạn từ Bến Thủy - Đô Lương dài 89 km: Quy hoạch cấp III, các cầu xây mới tĩnh không tối thiểu đạt 5 m;
+ Đoạn từ cửa Sót đến cảng Hộ Độ dài 14 km: Giữ nguyên quy hoạch cấp III;
+ Đoạn cảng Hộ Độ - cầu Nghèn dài 20,5 km: Quy hoạch từ cấp III xuống cấp IV.
+ Đoạn từ cửa Gianh đến cảng Gianh dài 2,5 km. Quy hoạch cấp I;
+ Đoạn từ cảng Gianh đến Lèn Bảng dài 29,5 km. Quy hoạch cấp III.
+ Đoạn từ Lèn Bảng đến Đồng Lào dài 33,5 km: Quy hoạch cấp III.
+ Đoạn từ cửa Việt đến Đông Hà trên sông Hiếu: Quy hoạch cấp III;
+ Đoạn từ ngã ba Gia Độ đến đập Tràn trên sông Thạch Hãn: Điều chỉnh xuống cấp IV.
+ Đoạn Hội An - Cửa Đại trên sông Thu Bồn dài 6,5 km: Quy hoạch cấp III.
+ Đoạn Cửa Đại - cảng Bãi Làng (Cù Lao Chàm), tuyến ra đảo dài khoảng 17 km: Quy hoạch cấp I.
+ Đoạn từ cảng sông Hàn đến ngã ba Vĩnh Điện dài 29 km và đoạn từ ngã ba Vĩnh Điện đến cảng Hội An dài 14,5 km: cấp IV;
+ Đoạn từ cảng Hội An đến cảng Kỳ Hà: cấp IV, các cầu được xây mới tĩnh không tối thiểu đạt 5 m.
Khu vực phía Nam.
Khu vực phía Nam gồm 18 tuyến:
+ Đoạn từ cửa Định An đến ngã ba sông Vàm Nao dài khoảng 164 km: quy hoạch cấp đặc biệt, đồng thời đáp ứng cho tàu biển trọng tải đến 10.000T; đoạn từ ngã ba sông Vàm Nao đến thượng lưu cảng Bình Long (An Giang) quy hoạch cấp đặc biệt cho tàu đến 3.000 T;
+ Đoạn từ thượng lưu cảng Bình Long (An Giang) đến biên giới Campuchia dài khoảng 47 km: Quy hoạch cấp I.
+ Đoạn Vũng Tàu - Thị Vải dài 28,5 km: Quy hoạch cấp đặc biệt;
+ Đoạn Thị Vải - Sài Gòn dài 65 km: Quy hoạch cấp II;
+ Đoạn Sài Gòn - Mỹ Tho dài 38,5 km: Quy hoạch cấp II;
+ Đoạn Mỹ Tho - Cần Thơ (qua sông Măng Thít) dài 110,5 km: Giữ nguyên quy hoạch cấp II. Riêng đoạn sông Cổ Chiên quy hoạch cấp đặc biệt.
+ Đoạn từ cửa Cổ Chiên đến ngã ba kênh Trà Vinh dài 46 km: cấp đặc biệt;
+ Đoạn từ ngã ba kênh Trà Vinh đến ngã ba Cổ Chiên dài 63 km: cấp đặc biệt.
Danh sách các tuyến đường sông quốc gia.
Danh mục đường thủy nội địa quốc gia đã được Ban hành kèm theo Thông tư 15/2016/TT-BGTVT ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải:
Cảng sông Việt Nam.
Cảng sông Việt Nam được quản lý bởi Cục Đường thủy nội địa Việt Nam thuộc Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam trong khi các cảng biển Việt Nam được quản lý bởi Cục Hàng Hải Việt Nam. Cảng sông Việt Nam được phân loại theo quy mô (cảng đầu mối, cảng địa phương, cảng chuyên dùng) hoặc chức năng (cảng hàng hóa là cảng tổng hợp và cảng hành khách là cảng du lịch)
Lịch sử ngành đường sông Việt Nam.
Ngày 11-8-1956, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị định số 70/NĐ thành lập Cục Vận tải Đường thủy do ông Lý Văn Sâm làm Cục trưởng, trụ sở đóng tại số nhà 54 phố Hàng Chuối - Hà Nội.
Ngày 5-5-1965 Bộ GTVT ra Quyết định số 1046/QĐ giải thể Cục Vận tải Đường thủy để thành lập Cục Vận tải Đường biển và Cục Vận tải Đường sông.
Từ tháng 4-1966, máy bay Mỹ tăng cường đánh phá các trọng điểm GTVT ở Việt Nam trong đó có Long Đại, sông Gianh, Hoàng Mai, Bến Thủy, Hàm Rồng, kênh đào Nhà Lê (Kênh Gâm, Kênh Than), các đoạn sông thuộc Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩ
Bộ GTVT có chủ trương đào và khai thác kênh Nhà Lê với chiều dài 500 km từ Ninh Bình xuyên qua Thanh Hóa, Nghệ An vào tậm Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh). Các đội khảo sát được huy động khẩn trương đo đạc. Các công trường nạo vét thủ công phân chia theo địa giới tỉnh được đồng loạt mở ra ở 4 tỉnh (Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh). Bộ GTVT thành lập Ban Chỉ đạo nạo vét toàn tuyến kênh, gọi tắt là Ban KT65 do ông Quang Tuần làm Trưởng ban.
Đến hết năm 1965, toàn tuyến kênh Nhà Lê đã nạo vét được 365.000m3. Những đoạn cạn nhất đã được đào sâu 0.5-0.6m. Khi thủy triều lên độ sâu đạt 1-1.2m. Các loại thuyền có trọng tải 10 tấn đã có thể đi lại thông suốt từ Thanh Hóa đến Vinh theo hai con nước triều trong tháng. Năm 1966, Bộ GTVT đã điều động 3 đại đội thanh niên xung phong tổng số gần 1.000 đội viên nam nữ chốt tại các khúc kênh quan trọng như kênh Son, kênh Ma Đa, kênh Cấm, kênh Sắt. Do nhu cầu vận chuyển hàng từ ngoài Bắc vào Nghệ An, Hà Tĩnh rất cấp bách, Cục Đường sông đã cho huy động các thuyền có trọng tải từ 15 tấn trở xuống đi làm nghĩa vụ vận tải trên tuyến kênh Nhà Lê từ Thanh Hóa vào Vinh. Ban khai thác kênh Nhà Lê năm 1966 gọi tắt là "Ban KT66" được Bộ GTVT thành lập, chịu trách nhiệm chủ huy các lực lượng vừa nạo vét kênh, vừa vận tải, vừa trực tiếp bắn máy bay địch, vừa rà phá bom từ trường.
Sau khi giải thể Ban KT66 ngày 28/3/1969, Cục Đường sông đã thành lập Công ty vận tải 208. Quý IV năm 1969, Bộ GTVT quyết định thành lập 2 nhà máy CK69 và CK71 nhằm tăng năng lực sửa chữa phương tiện cho Cục Đường sông. Ty Quản lý đường sông (QLĐS) được thành lập theo Quyết định số 641/QĐ-TC ngày 28/3/1969, là một tổ chức quản lý giúp việc cho Cục về chuyên môn kỹ thuật, về đào tạo, về nhân sự, chính trị tư tưởng, về tài chính đối với các Đoạn QLĐS của toàn miền Bắc. Trụ sở Ty đặt tại ngoại thành Hà Nội (Liên Mạc, Cổ Nhuế, Tương Mai). Do yêu cầu thời chiến, Cục đã thành lập thêm Đoạn QLĐS số 10 (Nghệ An), sau đó thành lập thêm các Đoạn QLĐS Hải Phòng, Hải Hưng và Hà Nội. Đến năm 1973 thành lập thêm Đoạn QLĐS Quảng Bình. Riêng kênh đào Nhà Lê có các trạm: KT601, KT603, KT605, KT607 và KT609. Các trạm này quản lý 346 km từ ngã ba Chính Đại vào đến Bến Thủy.
Ngày 11-8-1976 là mốc ra đời Phân Cục Đường sông miền Nam trực thuộc Cục Vận tải Đường sông, chính thức thống nhất Ngành Đường sông Việt Nam. Tính đến đầu năm 1978, các địa phương có đường sông, kênh đã làm xong việc điều tra cơ bản, xác định số lượng phương tiện vận tải thủy của tư nhân với 636 tàu, thuyền tổng trọng tải 43.282 tấn phương tiện; thành lập được 12 hợp tác xã vận tải đường sông. Đến hết năm 1980, Ngành Đường sông vẫn là ngành thực hiện khối lượng vận tải lớn trong toàn ngành GTVT (chiếm 38% về tấn và 40% về TKm). Hình thức đại lý liên hiệp vận chuyển ở một số mặt hàng trên một số tuyến đã đem lại kết quả bước đầu.
Sau Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới; đường lối đổi mới cơ bản là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCCN. Ngày 30/01/1993, thành lập Cục Đường sông Việt Nam (ĐSVN) trực thuộc Bộ GTVT trên cơ sở sáp nhập Tổng Công ty vận tải đường sông I và Khu Quản lý đường sông. Cục ĐSVN là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về giao thông vận tải đường sông trong phạm vi cả nước bao gồm sông hồ, kênh rạch, đường ven vịnh, đường từ bờ ra đảo và giữa các đảo.
|
Good Old-Fashioned Lover Boy
Good Old-Fashioned Lover Boy là đĩa đơn thứ 4 thuộc loại "Các đĩa đơn EP đầu tiên của Queen") và là bài hát thứ 8 trong al bum làm năm 1976 "A Day at the Races" của ban nhạc rock Anh Queen, được Freddie Mercury sáng tác. Bài hát là một trong số những bài hát Anh quốc Music Hall được viết bởi Freddie và Brian May có trong những album khác của Queen trong thập kỷ 70.
Bài hát được mở đầu với tiếng đàn piano và giọng hát của Mercury, và tiếp theo đó là tiếng bass và trống đệm thêm vào cho đoạn đầu. Đoạn nhạc thứ hai lại được viết theo hợp âm khác. Ở đoạn này, tiếng trống, bass và guitar rời rạc và sau đó là điệp khúc được hát bởi Freddie Mercury và Mick Stone. Tiếp theo đoạn ghi ta sô lô của Brian May là đoạn nhạc khác và hợp âm kết thúc bài hát.
|
I Want It All
I Want It All là bài hát của ban nhạc rock Queen. Đây là bài hát thứ 4 trong album "The Miracle" và được viết bởi tay chơi ghi-ta Brian May.
Bản thân bài hát có chủ đề về nhạc hard rock và lời bài hát liên quan tới các cuộc biến động trong xã hội. Chính do điều này nên bài hát trở thành một bài hát chống lại chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và đã được sử dụng như một quyền của những người đồng tính luyến ái và là một bài hát của nhóm thanh niên người Mỹ gốc Phi.
Bài hát đã đứng thứ 3 ở Anh và thứ 50 trong bảng bình chọn của tạp chí "Billboard", Mỹ và đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng Hot Mainstream Rock Tracks của Mỹ.
|
"Xin xem các mục từ khác có cùng tên ở Delilah (định hướng)."
Delilah là một bài hát của ban nhạc rock Queen trong album "Innuendo" làm năm 1991. Mặc dù quyền tác giả là Queen nhưng bài hát thực sự là do Freddie Mercury sáng tác. Mercury là một người rất yêu mèo và một trong những con mèo của anh tên là Delilah, một con mèo tam thể cái. Đây là bài hát thứ 9 trong album, nằm giữa hai bài "These Are the Days of Our Lives" và "The Hitman".
Âm thanh "meo" trong bài hát được tay chơi ghi ta Brian May tạo ra bằng cách sử dụng một hộp âm thanh.
|
We Will Rock You
"We Will Rock You" là tên một bài hát do Brian May sáng tác và được ban nhạc Queen thu âm và trình diễn. Một phiên bản của bài đã được dùng làm bài hát đầu tiên trong album "News of The World" làm năm 1977. Trong phiên bản này có nhịp dậm chân và vỗ tay theo điệp khúc mang sắc thái của bài hát. Khi được biểu diễn trực tiếp, bài hát này thường được trình diễn sau bài "We Are the Champions", một bài nổi tiếng khác của album. Bài hát cũng được sử dụng rộng rãi trong các sự kiện thể thao. Ban nhạc cũng đã từng biểu diễn bài hát theo một kiểu khác (kiểu "phiên bản nhanh") có tiết tấu nhanh và tràn ngập tiếng ghi ta, bass và trống. Ban nhạc cũng thường công diễn phiên bản này vào các năm của thập kỷ 1970, có thể thấy được qua album kép "Live Killers".
Hiệu quả có được tiếng chân dậm nhịp đã có được khi ban nhạc ở trong một ngôi nhà thờ cổ, dẫm chân trên sàn gỗ để tạo ra âm thanh.
Bài hát được trình diễn bởi ban nhạc Queen và ca sĩ Axl Rose vào buổi hoà nhạc tưởng nhớ Freddie Mercury năm 1992.
Vào năm 2000, các thành viên còn lại của Queen (trừ John Deacon) đã thu âm một phiên bản theo loại nhạc rap với ban nhạc 5ive. Bài hát đã đứng thứ 1 ở Anh. Một bản cover khác của bài hát có trong video game Dance Dance Revolution Extreme và được hát bởi by Houseboyz.
Queen nói về kỷ lục.
"Đó là một sự hưởng ứng trong trường hợp khá đặc biệt trong sự nghiệp của chúng tôi khi khán giả đã trở nên phần quan trọng hơn chúng tôi trong những lần biểu diễn. Họ đã hát theo tất cả các bài hát. Ở một nơi như Birmingham, thì là quá ầm ĩ đến mức chúng tôi phải dừng biểu diễn lại và để cho họ hát cùng mình. Cho nên cả Freddie và tôi đã nghĩ rằng đó hẳn là cuộc thử nghiệm thú vị để sáng tác bài hát với sự tham gia của khán giả. Cảm giác của tôi lúc đó là mọi người có thể dậm nhịp và vỗ tay, hát theo một motif đơn giản. Chúng tôi thu âm ở Wessex, trong một ngôi nhà thờ cổ có âm thanh tự nhiên cho bài hát. Ở đó không hề có sự tham gia của tiếng trống. Chỉ là chúng tôi, dẫm chân trên sàn nhà bằng gỗ rất nhiều lần, với những máy móc thô sơ và vỗ tay. Một ít lời hát, một ít ghi ta và đó chính là bài hát."
"Tại buổi hoà nhạc, tôi đã phát hiện ra, mọi người có xu hướng vỗ tay ba lần hơn là chân hai nhịp và một nhịp vỗ tay. Một việc thật ngạc nhiên là khi đi xem trận đá bóng hay các sự kiện thể thao nói chung và nghe mọi người làm như vậy. Một điều phấn khởi là nó đã trở thành một phần của tập quán, thói "
|
Động vật có xương sống
Động vật có xương sống (danh pháp khoa học: Vertebrata) là một phân ngành của động vật có dây sống, đặc biệt là những loài với xương sống hoặc cột sống. Khoảng 57.739 loài động vật có xương sống đã được miêu tả. Động vật có xương sống đã bắt đầu tiến hóa vào khoảng 530 triệu năm trước trong thời kỳ của sự bùng nổ kỷ Cambri, một giai đoạn trong kỷ Cambri (động vật có xương sống đầu tiên được biết đến là Myllokunmingia). Các xương của cột sống được gọi là xương sống. "Vertebrata" là phân ngành lớn nhất của động vật có dây sống và bao gồm phần lớn các loài động vật mà nói chung là rất quen thuộc đối với con người (ngoài côn trùng). Cá (bao gồm cả cá mút đá, nhưng thông thường không bao gồm cá mút đá myxin, mặc dù điều này hiện nay đang gây tranh cãi), động vật lưỡng cư, bò sát, chim và động vật có vú (bao gồm cả người) đều là động vật có xương sống. Các đặc trưng bổ sung của phân ngành này là hệ cơ, phần lớn bao gồm các khối thịt tạo thành cặp, cũng như hệ thần kinh trung ương một phần nằm bên trong cột sống. Các đặc trưng xác định khác một động vật thuộc loại có xương sống là xương sống hay tủy sống và bộ khung xương bên trong.
Bộ khung xương bên trong để xác định động vật có xương sống bao gồm các chất sụn hay xương, hoặc đôi khi là cả hai. Bộ khung xương ngoài trong dạng lớp áo giáp xương đã là chất xương đầu tiên mà động vật có xương sống đã tiến hóa. Có khả năng chức năng cơ bản của nó là kho dự trữ phốtphat, được tiết ra dưới dạng phosphat calci và lưu trữ xung quanh cơ thể, đồng thời cũng góp phần bảo vệ cơ thể luôn. Bộ khung xương tạo ra sự hỗ trợ cho các cơ quan khác trong quá trình tăng trưởng. Vì lý do này mà động vật có xương sống có thể đạt được kích thước lớn hơn động vật không xương sống, và trên thực tế về trung bình thì chúng cũng lớn hơn. Bộ xương của phần lớn động vật có xương sống, ngoại trừ phần lớn các dạng nguyên thủy, bao gồm một hộp sọ, cột sống và hai cặp chi. Ở một số dạng động vật có xương sống thì một hoặc cả hai cặp chi này có thể không có, chẳng hạn ở rắn hay cá voi. Đối với chúng, các cặp chi này đã biến mất trong quá trình tiến hóa.
Hộp sọ được coi là tạo thuận lợi cho sự phát triển của khả năng nhận thức do nó bảo vệ cho các cơ quan quan trọng như não bộ, mắt và tai. Sự bảo vệ này cũng được cho là có ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của tính phản xạ cao đối với môi trường thường tìm thấy ở động vật có xương sống.
Cả cột sống và các chi về tổng thể đều hỗ trợ cho cơ thể của động vật có xương sống. Sự hỗ trợ này tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển động. Chuyển động của chúng thường là do các cơ gắn liền với xương hay sụn. Hình dạng cơ thể của động vật có xương sống được tạo ra bởi các cơ. Lớp da che phủ phần nội tạng của cơ thể động vật có xương sống. Da đôi khi còn có tác dụng như là cấu trúc để duy trì các lớp bảo vệ, chẳng hạn vảy sừng hay lông mao. Lông vũ cũng được gắn liền với da.
Phần thân của động vật có xương sống là một khoang rỗng chứa các nội tạng. Tim và các cơ quan hô hấp được bảo vệ bên trong thân. Tim thường nằm phía dưới mang hay giữa các lá phổi.
Hệ thần kinh trung ương của động vật có xương sống bao gồm não bộ và tủy sống. Cả hai đều có đặc trưng là rỗng. Ở động vật có xương sống bậc thấp thì não bộ chủ yếu kiểm soát chức năng của các thụ quan. Ở động vật có xương sống bậc cao thì tỷ lệ giữa não bộ và kích thước cơ thể là lớn hơn. Não bộ lớn hơn như vậy làm cho khả năng trao đổi thông tin giữa các bộ phận của não bộ là cao hơn. Các dây thần kinh từ tủy sống, nằm phía dưới não bộ, mở rộng ra đến lớp da, các nội tạng và các cơ. Một số dây thần kinh nối trực tiếp với não bộ, kết nối não với tai và phổi.
Động vật có xương sống có thể tìm thấy ngược trở lại tới Myllokunmingia trong thời kỳ của sự bùng nổ kỷ Cambri (530 triệu năm trước). Cá không quai hàm và có mai (lớp Ostracodermi của kỷ Silur (444-409 triệu năm trước) và các loài động vật răng nón (lớp Conodonta)- một nhóm động vật có xương sống tương tự như lươn với đặc trưng là nhiều cặp răng bằng xương.
Phân loại truyền thống chia động vật có xương sống thành 7 lớp, dựa trên các diễn giải truyền thống của các đặc điểm giải phẫu và sinh lý học tổng thể. Phân loại này là một trong các phân loại thường gặp nhất trong các sách giáo khoa, các miêu tả vắn tắt và các sách phổ biến kiến thức khoa học.
Trong khi phân loại truyền thống này về mặt sắp xếp trật tự tạo ra các nhóm cận ngành, nghĩa là các nhóm đó không chứa tất cả các hậu duệ từ một tổ tiên chung của lớp. Chẳng hạn, trong số các hậu duệ của bò sát đầu tiên có cả chim và thú, nhưng chúng lại tách ra thành các lớp khác, và như thế làm cho lớp bò sát trở thành cận ngành.
Một số các nhà khoa học sử dụng phân loại cho động vật có xương sống theo kiểu phát sinh chủng loài, tổ chức các nhóm động vật trong phạm vi động vật có xương sống theo lịch sử phát sinh và tiến hóa của chúng, đôi khi bỏ qua các diễn giải thông thường về giải phẫu và sinh lý học của chúng. Phân loại dưới đây lấy theo Janvier (1981, 1997), Shu và những người khác (2003), và Benton (2004).
Phần lớn các lớp liệt kê ở đây là các đơn vị phân loại không "hoàn chỉnh": Từ Agnatha đã sinh ra động vật có quai hàm; từ cá xương sinh ra động vật đất liền (Tetrapoda); từ "động vật lưỡng cư" truyền thống đã sinh ra bò sát (theo truyền thống gộp cả "bò sát" giống như thú), và tới lượt mình, từ động vật bò sát đã sinh ra chim và thú.
Quan hệ phát sinh chủng loài.
Trong phân loại học phát sinh chủng loài, các quan hệ giữa các động vật thông thường không chia thành các cấp bậc, mà được minh họa như là "cây phát sinh chủng loài" xếp lồng, được gọi là biểu đồ nhánh tiến hóa. Các nhóm phát sinh chủng loài được định nghĩa dựa trên các mối quan hệ của chúng với nhau chứ không phải là theo các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn như sự tồn tại của một cột sống. Kiểu cây phát sinh xếp lồng này thường được kết hợp với phân loại học truyền thống (như ở trên), trong thực tế gọi là phân loại học tiến hóa.
Biểu đồ nhánh tiến hóa dưới đây dựa theo Philippe Janvier và ctv, sử dụng trong "Tree of Life Web Project"
Quá trình di chuyển từ nước lên cạn:
Cá hoàn toàn sống ở nước - Cá vây chân cổ - Lưỡng cư cổ - Bò sát cổ - Chim cổ - Thú cổ - Người tối cổ - Người hiện nay.
|
Trong Thần thoai Hy Lạp, Gaia (tiếng Hy Lạp: Γαῖα; phát âm là /'geɪ.ə/ hay /'gaɪ.ə/; nghĩa là "mặt đất"), hay Gaea (Γῆ), là một trong các vị thần ban sơ, được người Hy Lạp tôn thờ là "đất mẹ", tượng trưng cho mặt đất. Gaia là vị thần thuở ban sơ và được coi như tổ tiên của vạn vật. Bà được tôn kính như nữ thần vĩ đại hay như Mẫu thần. Thần bầu trời Uranus, chồng bà, cũng do bà sinh ra. Hai người sinh ra dòng dõi các vị thần Titan (hậu duệ là các vị thần Olympus) và các Cyclops, Hecatonchire.
Trong thần thoại La Mã, bà được gọi là Terra.
Thuở ban sơ, trong thế giới thần thoại Hy Lạp ban đầu chưa có gì cả ngoại trừ Hỗn mang Chaos. Thế rồi từ Chaos sản sinh ra Gaia, nữ thần Đất Mẹ với bộ ngực nở nang. Chaos còn sản sinh tiếp những vị thần khác: Tartarus (địa ngục vô tận), Erebus (vực thẳm và bóng tối khôn cùng), Nyx (đêm tối vô biên) và Eros (ái tình và dục vọng, nhưng đa phần đều cho rằng Eros là con của nữ thần Aphrodite và Ares).
Trong tập "Theogony" (Thần phả) của mình, nhà thơ Hy Lạp Hesiod đã kể lại rằng chính nữ thần Gaia có bộ ngực to lớn là nguồn gốc vô tận của tất cả các vị thần và loài người trên Trái Đất. Không thể tách ra hoàn toàn từ những nguyên tố của chính mình, từ Gaia đã sinh ra Uranus (bầu trời đầy sao), Pontus (biển cả) và Ourea (núi đồi hoang sơ). Sau đó, theo như Hesiod, Gaia cùng với đứa con đầu lòng của mình là Uranus sinh ra:
Vì ghê tởm và xấu hổ về hình thù quái dị của những Cyclops và Hecatonchire, Uranus bắt giam chúng vào địa ngục Tartarus vô tận. Sự hiện diện của những đứa con ở Tartarus, một phần ruột của mình, gây ra những cơn đau cùng cực và từ đó cũng hình thành trong Gaia những ý định chấm dứt cái ác của Uranus. Gaia tạo nên nham thạch, nham thạch định hình nên một cái liềm. Bà yêu cầu sự giúp đỡ từ những đứa con Titan của minh về việc sát hại người cha ác độc bằng lưỡi liềm bén nhọn. Nhưng chỉ có Cronus, đứa con út, là nhận lời. Đợi cho đến khi Uranus bị Gaia dụ xuống ăn nằm với mình để tránh xa bầu trời, nguồn sức mạnh của ông, Cronus dùng lưới liềm thiến đi bộ phận sinh dục của cha mình. Uranus bỏ chạy. Thần sống như đã chết, sức mạnh của thần chỉ còn trong kí ức. Từ những giọt máu và tinh dịch của Uranus rơi xuống đất sinh ra các nữ thần phục thù Erinyes, những gã khổng lồ Gigantes với nửa thân dưới là rắn (tiếng Anh gọi là Giants, bọn khổng lồ), khiên giáp sáng ngời và các vị tiên nữ của cây Tần bì Meliae. Từ tinh hoàn của Uranus rơi xuống biển, nữ thần ái tình và sắc đẹp Aphrodite được sinh ra từ những bọt biển ("Aphrodite" mang nghĩa là "sinh ra từ bọt biển").
Cronus lên ngôi, thả tất cả những đứa con Cyclop và Hecatonchire của Gaia. Dưới sự kính trọng của mọi người, Cronos trở thành vị vua của các thần linh và bắt đầu một Thời đại hoàng kim. Về sau, Cronus được lời tiên tri sẽ bị chính con sát hại và chiếm ngôi. Lo sợ lịch sử lặp lại, Cronus đã nuốt chửng những đứa con của mình với Rhea khi chúng vừa mới sinh ra: Hestia, Demeter, Hera, Hades, Poseidon. Nhưng nhờ sự giúp đỡ của Gaia, Zeus đã may mắn được mẹ mang đi thoát được. Khi đã đủ khôn lớn, Zeus quay lại giết cha và giải phóng các anh chị của mình.
Sau Uranus, Gaia kết hôn với Pontus và sinh ra những vị thần biển: Nereus, Thaumas, Phorcys, Ceto và Euribya. Với Tartarus, Gaia sinh ra Echidna và Typhon (đứa con cuối cùng của Gaia).
Zeus đã giấu Elara, một trong những người tình của mình, xuống đất để Hera không biết. Vì vậy đứa con của Elara và Zeus, tên khổng lồ Tityas, đôi lúc cũng được gọi là con của cả Gaia và Elara.
Gaia còn làm cho Aristaeus bất tử.
Gaia được cho là nguồn gốc của những lời tiên tri ở đền thờ Oracle ở Delphi (Joseph Fontenrose 1959 và một số người khác). Bà truyền quyền năng của mình, tùy theo những dị bản, cho Apollo, Poseidon và Themis. Tuy nhiên, Apollo là người nổi tiếng nhất về những lời tiên tri ở Delphi, vì đã giết một đứa con của Gaia, Python. Vì điều này, Hera trừng phạt Apollo bằng cách bắt làm người chăn cừu cho vua Admetus trong 9 năm.
Lời thề dưới danh nghĩa của nữ thần Gaia trong xã hội Hy Lạp cổ đại được công nhận như một lời thề có giá trị nhất.
Trong nghệ thuật cổ điển, hình tượng Gaia thường được mô tả theo hai hướng: một là hình ảnh người phụ nữ có nửa thân người trên gắn liền và nhô lên khỏi mặt đất; hai là hình ảnh bà nâng đứa bé Erichthonius (một vị vua tương lai của thành Athena).
Nghĩa của tên gọi Gaia.
Gaia được ghép từ hai từ "Ge" và "Aia". Trong các ngôn ngữ châu Âu, "Ge" thường gắn liền với đất (ví dụ: "Geology" là địa chất học, Geography là địa lý...). "Aia" là một từ cổ nghĩa là "bà". Vì vậy, Gaia có lẽ có nghĩa là "bà của Trái Đất".
Thần thoại Hy Lạp, Nguyễn Văn Khỏa
|
Giáp Hải (1517 - 1586), sau đổi Giáp Trừng, là một nhà chính trị thời nhà Mạc Việt Nam. Ông nổi bật với việc giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình dưới thời Mạc Mậu Hợp, uy tín cá nhân đối với nhà vua và dân chúng.
Giáp Hải tên hiệu là Tiết Trai, người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhỡn, tỉnh Bắc Giang. Nguyên quê cha ông ở làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Lúc bé mồ côi cha và nghèo, ở làng mẹ là làng Công Luận, huyện Tế Giang. Một hôm Giáp Hải chơi ở bến sông, có người lái buôn quê làng Dĩnh Kế bỏ xuống thuyền đem về nuôi làm con, đón thầy dạy học cho, việc học chóng tấn tới.
Năm 1538, đời vua Mạc Đăng Doanh, Giáp Hải 21 tuổi, ông đỗ thứ nhất Tiến sĩ nhất giáp khoa Mậu Tuất, sau đổi tên là Trừng. Theo Phan Huy Chú nhận xét, do nhờ văn chương thi đỗ mà làm quan, bây giờ ai cũng tôn trọng. Bấy giờ ông thường ra ải Nam Quan bàn việc, ứng đáp tinh nhanh, người Minh gọi là Giáp Tuyên Phủ mà không gọi tên.
Năm 1562, đời Mạc Mậu Hợp, ông làm Thượng thư bộ lại, kiêm Đô ngự sử, tước Luân quận công. Nhân thấy sao Chổi mọc luôn, Giáp Hải dâng sớ cho nhà vua, khuyên răn vua nhưng vua không nghe theo.
Năm sau Giáp Hải được lệnh giữ việc 6 bộ, kiêm chức Đại học sĩ Đông các, coi việc tòa Kinh diên, gia phong tước Sách quận công.
Năm 1566, nhà Mạc sai Giáp Hải lúc ấy đang giữ chức Lại bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ- Kế Khê bá và Đông các hiệu thư Phạm Duy Quyết lên đầu địa giới Lạng Sơn đón tiếp sứ thần Lê Quang Bí về nước. Quang Bí phụng mệnh đi sứ năm Gia Tĩnh thứ 27, bị nhà Minh giữ lại 18 năm, đến nay trở về.
Bấy giờ chính sách nhà Mạc ngày một kém, điềm tai biến luôn xuất hiện. Giáp Hải ngại mình quá được đầy đủ, mấy lần xin từ chức nhưng không được. Gặp bão lớn, ông lại dâng sớ khuyên răn vua, Mậu Hợp yên ủi, vời ông vào Kinh làm việc tại tiều, thăng Thái bảo dự việc triều chính. Giáp Hải mấy lần xin về hưu, Mậu Hợp quyến luyến không nghe. Lại mấy lần Giáp Hải dâng sớ, lời lẽ khẩn thiết, bất đắc dĩ Mậu Hợp phải cho, năm ấy ông 68 tuổi.
Mạc Mậu Hợp ban cho ông lá cờ thêu và câu đối:
"Trạng đầu, tể tướng đẩu nam tuấn,"
"Quốc lão, đế sư thiên hạ tôn"
Nghĩa là: đỗ trạng nguyên, làm tể tướng, danh cao như ngôi sao Đẩu của trời Nam; đã quốc lão, lại thầy của vua, được cả nước tôn trọng."
Ông mất năm 69 tuổi. (1586). Sau 1 năm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời
Theo sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, phần Văn tịch chí, liệt kê sách Loại hiến chương của nước Việt, viết rằng Giáp Hải viết sách Ứng đáp bang giao, gồm 10 quyển.
Ngày 16 tháng 8 năm 1998, một phát hiện quan trọng có liên quan đến Giáp Hải đã được phát lộ, trong khi tiến hành làm đường giao thông nông thôn nhân dân Thôn Cốc ( Trưởng Thôn Hà Văn Duy) xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang đã phát hiện ra tấm bia đá hộp hay còn được gọi là sách đá: Tiên Khảo Thái Bảo Giáp phu quân mộ chí, khắc năm Cảnh Lịch thứ 3 (năm 1549), căn cứ vào nội dung văn tự Hán – Nôm khắc trên tấm bia này cho biết rõ về nguồn gốc quê hương dòng họ Giáp ở Dĩnh Kế. Từ đó mới có cơ sở đính chính lại những điều mà các tác giả và sử viết trước đây còn tồn nghi.
Theo nội dung tấm bia trên được biết cụ nội của Giáp Hải là Giáp Thuận Trung, gặp loạn nhà Minh, nhà ở phía Nam thành Xương Giang, vì không theo sự sai khiến của phu dịch của nhà Minh, lãnh cư ở xã Như Thiết Thượng, huyện Yên Dũng, rồi làm mục trưởng hương ấy, khi chết an táng tại đó. Ông nội của Giáp Hải là Giáp Bảo Phúc trở lại quê cũ lập nghiệp lấy bà họ Ngô năm nhâm dần niên hiệu Hồng Đức thứ 13 (1482) sinh ra Giáp Hà là phụ thân của Giáp Hải. Ngoài 3 người con trai (Giáp Hảng, Giáp Trưng, Giáp Thanh), Giáp Hà còn sinh được một trưởng nữ gả cho Quốc tử giám xá sinh Trần Địch Triết. Như vậy, Giáp Hải không phải là con nuôi mà là con đẻ đích thực của dòng họ Giáp cha là cụ Giáp Hà, huý Đức Hưng, hiệu Khánh Sơn sinh ở Dĩnh Kế.
Khi soạn sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Bậc phò tá tài đức, Phan Huy Chú viết về 4 người thời Lý, 10 người thời Trần, 18 người thời Lê và một người duy nhất thời Mạc là Giáp Hải. Phan Huy Chú cho rằng:"thời Mạc có Trạng nguyên Giáp Hải công danh rõ rệt."
Vua nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp ban cho ông lá cờ thêu và câu đối:
"Trạng đầu, tể tướng đẩu nam tuấn,"
"Quốc lão, đế sư thiên hạ tôn"
Nghĩa là:đỗ trạng nguyên, làm tể tướng, danh cao như ngôi sao Đẩu của trời Nam; đã quốc lão, lại đế sư, được cả nước tôn trọng."
"Từ bút văn tôn danh lưỡng quốc"
"Hoa triền thọ diẹu huyễn tam thai"
Nghĩa là:văn chương tài giỏi vang hai nước; tuổi như sao thọ sáng chiếu trong hàng tam công.
Trạng nguyên Giáp Hải đã được dân gian mang danh quê hương là Trạng Kế. Nơi ông vẫn ngồi học thủa nhỏ cùng với hòn đá, giếng nước đều gắn với ông bằng những tên gọi thân thuộc. Hòn đá ông Trạng, núi ông Trạng, giếng ông Trạng…Và khi ông qua đời, nhân dân đã an táng, xây lăng quan Trạng, lập đền thời quan Trạng. Nhân dân và Nho sĩ hai huyện Phượng Nhãn – Bảo Lộc của phủ Lạng Giang xưa lập văn chỉ, khắc bia các bậc tiên hiền, của quê hương trong đó có Trạng nguyên Giáp Hải và con ông là tiến sĩ Giáp Lễ. Đặc biệt nhân dân Dĩnh Kế đã lập đền thờ quan Trạng, tổ chức tế lễ rước sách uy nghiêm trong ngày hội làng và rằm tháng 3 âm lịch hàng năm.
Sau khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê, nhà Minh sai Mao Bá Ôn đem quân sang "hỏi tội". Mao Bá Ôn dừng quân nơi cửa ải, đưa ra bài thơ này gửi quan quân nhà Mạc với ý ví người An Nam như những thân bèo không đoàn kết. Bài thơ này đã được trạng nguyên Giáp Hải của Đại Việt hoạ lại với lời lẽ cứng rắn.
Bài thơ chữ Hán của Mao Bá Ôn
Bản phiên âm Hán-Việt:
Tuỳ điền trục thủy mạo ương châm,
Đáo xứ khan lai thực bất thâm.
Không hữu căn miêu không hữu diệp,
Cảm sinh chi tiết cảm sinh tâm?
Đồ tri tụ xứ ninh tri tán,
Đãn thức phù thì ná thức trầm?
Đại để trung thiên phong ác khí,
Tảo quy hồ hải tiện nan tầm.
Dọc theo ruộng nước bám như châm,
Rễ bám vào đâu cũng chẳng thêm.
Vờ có căn nguyên, vờ có lẽ,
Dám chi sạch tiết, dám chi tâm?
Tụ rồi đã chắc chi khi tán,
Nổi đó nào hay đến lúc chìm?
Gặp trận trời cho cơn gió lốc,
Quét tan hồ bể khó mà tìm.
Thơ vịnh bèo (Người dịch: Hoà thượng Trí Thủ)
Cao sâu theo nước mọc im lìm
Nông nỗi xưa nay vốn khó dìm
Ngọn gốc đã trơ không lá lảu
Cỗi cành sao lại cả gan tim?
Coi thường tản mát khi thường tụ
Biết lúc lênh đênh chả biết chìm
Ví gặp tung trời cơn bão táp
Cuốn theo về biển khó đâu tìm!
Khi nhận được bài thơ thì Trạng Giáp Hải đã có bài hoạ như sau:
Cẩm lân mật mật bất dung châm
Đái diệp liên căn khởi kế thâm
Thường dữ bạch vân tranh thủy diện
Khảng giao hồng nhật truỵ ba tâm
Thiên trùng lãng đả thành nan phá
Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm
Đa thiểu ngư long tàng nghiểu lý
Thái Công vô kế hạ câu tầm
Sin sít hoa thêu cản mũi khâu
Mấy tầng gốc rễ vẫn chen nhau
Ganh cùng mây bạc trên làn sóng
Đâu để vầng hồng lọt đáy sâu
Nước vỗ, vỗ sao cho phá được
Gió to, to mấy có chìm đâu
Biết bao rồng cá nằm trong đó
Cụ Lã đừng hòng thả lưỡi câu!
Năm 1998, một nhóm công nhân đã phát hiện một hòm đá hình chữ nhật tại xã Dĩnh Trì. Hòm đá gồm hai phiến đá nhẵn chồng khít lên nhau. Phần áp mặt vào nhau của hai phiến đá có văn bản viết bằng chữ Nho. Sau khi dịch nghĩa, người ta biết đây là di văn của Giáp Hải, được ông soạn kỹ càng rồi yểm xuống mộ Khánh Sơn tiên sinh (cha đẻ Giáp Hải) vào năm Tân Dậu, 1549. Một điều thú vị là phần nắp đậy có những dòng chữ viết thêm cho biết ngôi mộ đã được chuyển từ núi Ngò về xã Dĩnh Trì hiện nay như thế nào. Như vậy, việc tranh cãi ông là người Bắc Giang hay Hà Nội (ngày nay) có lẽ sẽ đi đến hồi kết.
|
Chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật, còn gọi là thuyết duy vật hay duy vật luận (), là một trường phái triết học, một thế giới quan, một hình thức của chủ nghĩa triết học nhất nguyên cho rằng vật chất là chất cơ bản trong tự nhiên, và tất cả mọi thứ, bao gồm cả trạng thái tinh thần và ý thức, là kết quả của sự tương tác vật chất. Theo chủ nghĩa duy vật triết học, tâm trí và ý thức là sản phẩm phụ của các quá trình vật chất (như sinh hóa của não người và hệ thần kinh), mà không có chúng thì tâm trí và ý thức không tồn tại. Khái niệm này tương phản trực tiếp với chủ nghĩa duy tâm, trong đó tâm trí và ý thức là những thực tại bậc nhất mà vấn đề là chủ thể và tương tác vật chất là thứ yếu.
Chủ nghĩa duy vật có liên quan chặt chẽ với chủ nghĩa duy vật lý, với quan điểm rằng tất cả những gì tồn tại cuối cùng là vật chất. Chủ nghĩa vật lý triết học đã phát triển từ chủ nghĩa duy vật với các lý thuyết về khoa học vật lý để kết hợp các quan niệm phức tạp hơn về vật chất so với vật chất thông thường (ví dụ như không thời gian, năng lượng và lực lượng vật chất và vật chất tối). Do đó, thuật ngữ "vật lý" được ưa thích hơn chủ nghĩa "duy vật" bởi một số người, trong khi những người khác sử dụng các thuật ngữ này như thể chúng đồng nghĩa.
Các triết lý mâu thuẫn với chủ nghĩa duy vật hoặc chủ nghĩa duy vật lý bao gồm chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa đa nguyên, thuyết nhị nguyên thân-tâm, chủ nghĩa toàn tâm và các hình thức khác của nhất nguyên luận.
Chủ nghĩa duy vật thuộc lớp của bản thể học mang tính nhất nguyên. Như vậy, nó khác với các lý thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên thân-tâm hoặc đa nguyên. Bên cạnh chủ nghĩa duy vật có thuyết nhị nguyên thân-tâm, chủ nghĩa hiện tượng, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa sống còn và chủ nghĩa hai mặt. Đối với các giải thích số ít về hiện thực hiện tượng, chủ nghĩa duy vật sẽ trái ngược với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa trung lập và chủ nghĩa tâm linh.
Mặc dù có số lượng lớn các trường phái triết học và các sắc thái tinh tế giữa chúng, tất cả các triết học được cho là thuộc một trong hai loại chính, được định nghĩa trái ngược với nhau: chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. [a] Mệnh đề cơ bản của hai loại này liên quan đến bản chất của thực tế. Sự khác biệt chính giữa chúng là cách chúng trả lời hai câu hỏi cơ bản: "thực tế bao gồm những gì?" và "nó bắt nguồn như thế nào?" Đối với những người duy tâm, tinh thần hoặc tâm trí hoặc các đối tượng của tâm trí (ý tưởng) là chính và là vấn đề thứ yếu. Đối với những người theo chủ nghĩa duy vật, vật chất là chủ yếu, và tâm trí hay tinh thần hay ý tưởng là thứ yếu, sản phẩm của vật chất tác động lên vật chất.
Quan điểm duy vật có lẽ được hiểu rõ nhất khi phản đối các học thuyết về chất phi vật chất được áp dụng cho tâm trí trong lịch sử của René Descartes; tuy nhiên, bản thân chủ nghĩa duy vật không nói gì về chất liệu nên được đặc trưng như thế nào. Trong thực tế, nó thường bị đồng hóa với một loạt các thuyết duy vật lý hoặc thuyết khác.
Chủ nghĩa duy vật thường gắn liền với chủ nghĩa giản lược, theo đó các đối tượng hoặc hiện tượng được phân chia ở một cấp độ mô tả, nếu chúng là chính hãng, phải được giải thích về các đối tượng hoặc hiện tượng ở một mức độ mô tả khác thông thường, ở mức độ giảm hơn. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật không giản lược từ chối một cách rõ ràng khái niệm này, lấy hiến pháp vật chất của tất cả các chi tiết để phù hợp với sự tồn tại của các vật thể, tính chất hoặc hiện tượng thực sự không thể giải thích được trong các thuật ngữ được sử dụng cho các thành phần vật chất cơ bản. Jerry Fodor lập luận quan điểm này, theo đó các định luật và giải thích theo kinh nghiệm trong "các ngành khoa học đặc biệt" như tâm lý học hoặc địa chất là vô hình từ quan điểm của vật lý cơ bản.
Các nhà duy vật triết học hiện đại mở rộng định nghĩa về các thực thể khoa học khác có thể quan sát được như năng lượng, lực lượng và độ cong của không gian; tuy nhiên, các nhà triết học như Mary Midgley cho rằng khái niệm "vật chất" khó nắm bắt và được định nghĩa không chính xác.
Trong thế kỷ XIX, Karl Marx và Friedrich Engels đã mở rộng khái niệm chủ nghĩa duy vật để xây dựng một "quan niệm duy vật về lịch sử" tập trung vào thế giới thực nghiệm của con người (thực hành, bao gồm cả lao động) và các thể chế được tạo ra, tái tạo hoặc phá hủy bởi hoạt động đó (xem quan niệm duy vật về lịch sử). Họ cũng phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, thông qua việc lấy phép biện chứng Hegel, tước bỏ các khía cạnh duy tâm của phép biện chứng này và hợp nhất chúng với chủ nghĩa duy vật .
Chủ nghĩa duy vật đã phát triển, có thể độc lập với nhau, ở một số khu vực địa lý Á-Âu trong thời gian Karl Jaspers gọi là Thời đại Trục (800-200 TCN).
Trong triết học Ấn Độ cổ đại, chủ nghĩa duy vật đã phát triển khoảng năm 600 TCN với các tác phẩm của Ajita Kesakambali, Payasi, Kanada và những người đề xướng trường phái triết học Cārvāka. Kanada trở thành một trong những người đề xướng sớm nguyên tử. Trường phái Nyaya - Vaisesika (600-100 TCN) đã phát triển một trong những hình thức thuyết nguyên tử sớm nhất (mặc dù bằng chứng của họ về Thiên Chúa và cho rằng ý thức của họ không phải là vật chất ngăn cản việc dán nhãn cho họ là những người duy vật).
Các triết gia theo thuyết nguyên tử Hy Lạp cổ đại như Leucippus, Democritus và Epicurus đã định hình các nhà duy vật sau này. Bài thơ Latin "De Rerum Natura" của Lucretius (99 - 55 TCN) phản ánh triết lý cơ học của Democritus và Epicurus. Theo quan điểm này, tất cả những gì tồn tại là vật chất và khoảng trống, và tất cả các hiện tượng là kết quả của các chuyển động và tập hợp khác nhau của các hạt vật chất cơ bản gọi là "nguyên tử" (nghĩa đen: "indivisibles"). "De Rerum Natura" cung cấp các giải thích cơ học cho các hiện tượng như xói mòn, bay hơi, gió và âm thanh. Những nguyên tắc nổi tiếng như "không gì có thể chạm vào cơ thể ngoài cơ thể" lần đầu tiên xuất hiện trong các tác phẩm của Lucretius.
Vương Sung (27 - ~ 100 sau Công nguyên) là một nhà tư tưởng Trung Quốc sau công nguyên đầu tiên được cho là một nhà duy vật.
Triết gia theo chủ nghĩa duy vật Ấn Độ Jayaraashi Bhatta (thế kỷ thứ 6) trong tác phẩm "Tattvopaplavasimha" ("Sự đảo lộn của tất cả các nguyên tắc") đã bác bỏ nhận thức luận của Nyaya Sutra. Triết lý Cārvāka duy vật khoái lạc dường như đã chết một thời gian sau 1400; Khi Madhavacharya biên soạn "Sarva-darśana-samgraha" (một bản tóm tắt của tất cả các triết lý) vào thế kỷ 14, ông không có văn bản nào của Cārvāka / Lokāyata để trích dẫn hoặc tham khảo.
Vào đầu thế kỷ 12 al-Andalus, nhà triết học Ả Rập, Ibn Tufail ( Abubacer), đã viết các bài thảo luận về chủ nghĩa duy vật trong tiểu thuyết triết học của mình, "Hayy ibn Yaqdhan" ("Philosophus Autodidactus"), trong khi mơ hồ báo trước ý tưởng của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Triết học hiện đại.
Thomas Hobbes (1588-1679) và Pierre Gassendi (1592-1665) đại diện cho truyền thống duy vật đối lập với những nỗ lực của René Descartes (1596-1650) để cung cấp cho khoa học tự nhiên nền tảng nhị nguyên. Ở đó, theo sau nhà duy vật và vô thần "abbé" Jean Meslier (1664-1729) và các tác phẩm của các nhà duy vật người Pháp: Julien Offray de La Mettrie, Nam tước Đức-Pháp (1723-1789), Denis Diderot (1713-1784) và các nhà tư tưởng Khai sáng Pháp khác. Ở Anh, John "Walking" Stewart (1747-1822) khăng khăng coi vật chất là một khía cạnh đạo đức, có tác động lớn đến thơ ca triết học của William Wordsworth (1770-1850).
Trong triết học hiện đại muộn, nhà nhân chủng học vô thần người Đức Ludwig Feuerbach sẽ báo hiệu một bước ngoặt mới của chủ nghĩa duy vật thông qua cuốn sách "Tinh hoa của Kitô giáo" (1841), trong đó trình bày một ghi chép nhân văn về tôn giáo như là hình ảnh hướng ngoại của con người. Chủ nghĩa duy vật nhân học của Feuerbach (một phiên bản của chủ nghĩa duy vật coi nhân học duy vật là khoa học phổ quát) sau này sẽ ảnh hưởng lớn đến Karl Marx, người cuối thế kỷ 19 đã xây dựng khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở cho Marx và Friedrich Engels đưa ra chủ nghĩa xã hội khoa học:
Engels sau đó đã phát triển một triết lý tự nhiên "biện chứng duy vật" ("Phép biện chứng tự nhiên", 1883). Thế giới quan của Engels đã được Georgi Plekhanov, cha đẻ của chủ nghĩa Mác Nga trao tặng danh hiệu " chủ nghĩa duy vật biện chứng ". Trong triết học Nga đầu thế kỷ 20, Vladimir Lenin đã phát triển thêm chủ nghĩa duy vật biện chứng trong cuốn sách "Chủ nghĩa duy vật" "và phê bình Empirio" (1909), kết nối các quan niệm chính trị do các đối thủ của ông đưa ra với các triết lý chống chủ nghĩa duy vật của họ.
Một trường phái tư tưởng duy vật theo chủ nghĩa tự nhiên hơn phát triển vào giữa thế kỷ 19 (cũng ở Đức) là chủ nghĩa duy vật Đức: các thành viên bao gồm Ludwig Büchner, Jacob Moleschott và Carl Vogt.
Triết học đương đại.
Triết học phân tích.
Các nhà triết học phân tích đương đại (ví dụ Daniel Dennett, Willard Van Orman Quine, Donald Davidson và Jerry Fodor) hoạt động trong khuôn khổ vật chất khoa học hoặc vật chất rộng rãi, tạo ra các tài khoản đối thủ về cách tốt nhất để điều chỉnh tâm trí, bao gồm chủ nghĩa chức năng, chủ nghĩa dị thường, lý thuyết nhận dạng,
Chủ nghĩa duy vật khoa học thường đồng nghĩa với, và thường được mô tả như là một chủ nghĩa duy vật giản lược. Vào đầu thế kỷ hai mươi mốt, Paul và Patricia Churchland đã ủng hộ một lập trường hoàn toàn tương phản (ít nhất, liên quan đến các giả thuyết nhất định); chủ nghĩa duy vật loại trừ cho rằng một số hiện tượng tinh thần đơn giản là không tồn tại, và việc nói về những hiện tượng tinh thần đó phản ánh một " tâm lý dân gian " hoàn toàn giả tạo và ảo giác nội tâm. Một nhà duy vật loại trừ có thể tin rằng một khái niệm như "niềm tin" đơn giản là không có cơ sở trên thực tế (ví dụ như cách khoa học dân gian nói về các căn bệnh do quỷ gây ra). Với chủ nghĩa duy vật có tính khử ở một đầu của một sự liên tục (lý thuyết của chúng ta sẽ "giảm" thành sự thật) và chủ nghĩa duy vật loại bỏ ở bên kia (một số lý thuyết nhất định sẽ cần phải được "loại bỏ" dưới ánh sáng của sự kiện mới), chủ nghĩa duy vật xét lại ở đâu đó ở giữa.
Triết học lục địa.
Nhà triết học lục địa đương đại Gilles Deleuze đã cố gắng làm lại và củng cố các ý tưởng duy vật cổ điển. Các nhà lý luận đương đại như Manuel DeLanda, làm việc với chủ nghĩa duy vật được hồi sinh này, đã được xếp vào loại "chủ nghĩa duy vật mới" trong thuyết phục. Chủ nghĩa duy vật mới giờ đây đã trở thành lĩnh vực tri thức chuyên ngành của riêng mình, với các khóa học được cung cấp về chủ đề tại các trường đại học lớn, cũng như nhiều hội nghị, bộ sưu tập được chỉnh sửa và chuyên khảo dành cho nó. Cuốn sách "Vibrant Matter" (2010) của Jane Bennett đặc biệt là công cụ đưa các lý thuyết về bản thể luận chủ nghĩa và chủ nghĩa sống còn trở thành một lý thuyết phê phán bị chi phối bởi các lý thuyết của chủ nghĩa hậu cấu trúc luận về ngôn ngữ và diễn ngôn. Các học giả như Mel Y. Chen và Zakiyyah Iman Jackson, tuy nhiên, đã phê phán cơ quan này của văn học duy vật mới vì sự lơ là trong việc xem xét tính vật chất của chủng tộc và giới tính nói riêng. Học giả Métis Zoe Todd và Mohawk (Bear Clan, Six Nations) và học giả Anishinaabe Vanessa Watts, truy vấn định hướng thuộc địa của chủng tộc cho một chủ nghĩa duy vật "mới". Watts nói riêng mô tả các xu hướng coi vấn đề như một môn học về chăm sóc nữ quyền hay triết học như một xu hướng đó là quá đầu tư vào Reanimation của một mải tập trung vào truyền thống của cuộc điều tra tại các chi phí của một nền đạo đức bản địa của trách nhiệm. Trong khi, các học giả khác, chẳng hạn như Helene Vosters, lặp lại mối quan tâm của họ và đã đặt câu hỏi liệu có bất kỳ điều gì đặc biệt "mới" về cái gọi là "chủ nghĩa duy vật mới" này không, vì các bản thể học hoạt hình bản địa và các nhà hoạt họa khác đã chứng thực cái gọi là "rung cảm" của vật chất "trong nhiều thế kỷ. Các học giả khác như Thomas Nail đã phê phán các phiên bản "chủ nghĩa quan trọng" của chủ nghĩa duy vật mới vì đã phi chính trị hóa "bản thể học phẳng" và về bản chất là lịch sử.
Quentin Meillassoux đề xuất chủ nghĩa duy vật suy đoán, một sự trở lại thời hậu Kant cho David Hume cũng dựa trên các ý tưởng duy vật.
Xác định vật chất.
Bản chất và định nghĩa của vật chất giống như các khái niệm quan trọng khác trong khoa học và triết học, đã có nhiều cuộc tranh luận. Có một loại vật chất duy nhất (hyle) mà mọi thứ được tạo ra, hoặc nhiều loại? Là vật chất liên tục có khả năng thể hiện nhiều dạng (hylomorphism) hay một số thành phần rời rạc, không thay đổi (nguyên tử)? Liệu nó có thuộc tính nội tại (lý thuyết chất) hay nó thiếu các thuộc tính này (nguyên liệu prima)?
Một thách thức đối với khái niệm truyền thống về vật chất là "công cụ" hữu hình xuất hiện cùng với sự phát triển của vật lý học trong thế kỷ 19. Thuyết tương đối cho thấy vật chất và năng lượng (bao gồm cả năng lượng phân bố không gian của các trường) có thể thay thế cho nhau. Điều này cho phép quan điểm bản thể học rằng năng lượng là nguyên liệu prima và vật chất là một trong những dạng của nó. Mặt khác, Mô hình chuẩn của vật lý hạt sử dụng lý thuyết trường lượng tử để mô tả tất cả các tương tác. Theo quan điểm này, có thể nói rằng các lĩnh vực là nguyên liệu prima và năng lượng là một tài sản của lĩnh vực này.
Theo mô hình vũ trụ thống trị, mô hình Lambda-CDM, dưới 5% mật độ năng lượng của vũ trụ được tạo thành từ "vật chất" được mô tả bởi Mô hình chuẩn, và phần lớn vũ trụ bao gồm vật chất tối và năng lượng tối, với rất ít sự đồng ý giữa các nhà khoa học về những thứ này được làm từ gì.
Với sự ra đời của vật lý lượng tử, một số nhà khoa học tin rằng khái niệm vật chất chỉ đơn thuần thay đổi, trong khi những người khác tin rằng vị trí thông thường không còn được duy trì. Chẳng hạn, Werner Heisenberg nói, ""Bản thể luận của chủ nghĩa duy vật dựa trên ảo tưởng rằng loại tồn tại," thực tế "trực tiếp của thế giới xung quanh chúng ta, có thể được ngoại suy trong phạm vi nguyên tử. Tuy nhiên, phép ngoại suy này là không thể... các nguyên tử không phải là vật."" Ông cho rằng "nguyên tử và những hạt cơ bản tự chúng không có thật; chúng hình thành một thế giới của tiềm năng và khả năng hơn là một đối tượng hoặc sự kiện"." Max Planck còn đi xa hơn khi ông cho rằng ""Không có vật chất nào hết. Tất cả mọi vật chất phát sinh và tồn tại chỉ vì một lực khiến hạt cơ bản của một nguyên tử rung động và giữ cho hệ thống hạt cơ bản của nguyên tử gắn kết với nhau. Chúng tôi phải giả định rằng đằng sau cái lực này tồn tại một Tâm trí có ý thức và thông minh. Tâm trí này là ma trận của mọi vật chất."". Tương tự như vậy, một số triết gia cảm thấy rằng những sự phân đôi này đòi hỏi phải chuyển từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa vật lý. Những người khác sử dụng thuật ngữ "chủ nghĩa duy vật" và "chủ nghĩa duy vật lý" thay thế cho nhau. Ngày nay có những học giả tin rằng thực tại của chúng ta chỉ là một mô phỏng trên máy tính của nền văn minh tiên tiến nào đó.
Khái niệm về vật chất đã thay đổi để đáp ứng với những khám phá khoa học mới. Do đó, chủ nghĩa duy vật không có nội dung xác định độc lập với lý thuyết cụ thể về vật chất mà nó dựa vào. Theo Noam Chomsky, bất kỳ thuộc tính nào cũng có thể được coi là vật chất, nếu người ta định nghĩa vật chất sao cho nó có thuộc tính đó. Chính vì thế Lenin định nghĩa ""Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"".
Một số nhà phê bình phản đối chủ nghĩa duy vật như là một phần của cách tiếp cận quá hoài nghi, hẹp hòi hoặc theo chủ nghĩa giản lược để lý thuyết hóa, thay vì tuyên bố bản thể học rằng vật chất là chất duy nhất. Nhà vật lý hạt nhân và nhà thần học Anh giáo John Polkinghorne phản đối cái mà ông gọi là chủ nghĩa "duy vật" hứa hẹn. Tuyên bố rằng khoa học duy vật cuối cùng "sẽ" thành công trong việc giải thích các hiện tượng mà đến nay vẫn chưa thể giải thích. Polkinghorne thích " chủ nghĩa hai mặt " hơn chủ nghĩa duy vật.
Một số nhà duy vật khoa học đã bị chỉ trích vì không cung cấp định nghĩa rõ ràng cho những gì cấu thành nên vấn đề, để lại thuật ngữ "chủ nghĩa duy vật" mà không có bất kỳ ý nghĩa nhất định. Noam Chomsky tuyên bố rằng vì khái niệm vật chất có thể bị ảnh hưởng bởi những khám phá khoa học mới, như đã xảy ra trong quá khứ, các nhà duy vật khoa học đang giáo điều khi cho rằng điều ngược lại.
Từ các nhà khoa học.
Rudolf Peierls, một nhà vật lý đóng vai trò chính trong Dự án Manhattan, đã bác bỏ chủ nghĩa duy vật, nói: "Tiền đề mà bạn có thể mô tả về mặt vật lý toàn bộ chức năng của con người [...] bao gồm cả kiến thức và ý thức, là không thể đo lường được. Vẫn còn thiếu một cái gì đó ".
Erwin Schrödinger nói: "Ý thức không thể được tính theo nghĩa vật lý. Đối với ý thức là hoàn toàn cơ bản. Nó không thể được tính theo bất cứ điều gì khác ".
Werner Heisenberg, người đã đưa ra nguyên lý bất định, đã viết, "Bản thể luận của chủ nghĩa duy vật dựa trên ảo tưởng rằng loại tồn tại," thực tế "trực tiếp của thế giới xung quanh chúng ta, có thể được ngoại suy trong phạm vi nguyên tử. Phép ngoại suy này, tuy nhiên, là không thể... Nguyên tử không phải là vật ".
Cơ học lượng tử.
Một số nhà vật lý thế kỷ 20 (như Eugene Wigner và Henry Stapp) và các nhà vật lý và nhà văn khoa học thời hiện đại (như Stephen Barr, Paul Davies và John Gribbin) đã cho rằng chủ nghĩa duy vật là thiếu sót do một số phát hiện khoa học gần đây trong vật lý, như cơ học lượng tử và lý thuyết hỗn loạn. Năm 1991, Gribbin và Davies đã phát hành cuốn sách "The Matter Myth", chương đầu tiên, "Cái chết của chủ nghĩa duy vật", bao gồm đoạn văn sau:
Vật lý kỹ thuật số.
Sự phản đối của Davies và Gribbin được chia sẻ bởi những người đề xuất vật lý kỹ thuật số, những người xem thông tin hơn là vấn đề cơ bản. Nhà vật lý nổi tiếng và người đề xướng vật lý kỹ thuật số John Archibald Wheeler đã viết, "tất cả vật chất và mọi vật lý đều có nguồn gốc lý thuyết thông tin và đây là một vũ trụ có sự tham gia ". Sự phản đối của họ cũng được chia sẻ bởi một số người sáng lập lý thuyết lượng tử, như Max Planck, đã viết:
James Jeans đồng tình với Planck khi nói: "Vũ trụ bắt đầu giống như một ý nghĩ tuyệt vời hơn là một cỗ máy tuyệt vời. Tâm trí dường như không còn là kẻ xâm nhập tình cờ vào cõi vật chất ".
Từ các tôn giáo.
Theo Constantin Gutberlet viết trong "Từ điển bách khoa Công giáo" (1911), chủ nghĩa duy vật, được định nghĩa là "một hệ thống triết học coi vật chất là thực tại duy nhất trên thế giới [...] phủ nhận sự tồn tại của Thiên Chúa và linh hồn". Theo quan điểm này, chủ nghĩa duy vật có thể được coi là không tương thích với các tôn giáo thế giới quy định sự tồn tại cho các đối tượng phi vật chất. Chủ nghĩa duy vật có thể bị nhầm lẫn với chủ nghĩa vô thần. Tuy nhiên, Friedrich Lange đã viết vào năm 1892, "Diderot không phải lúc nào cũng trong Encyclopædia bày tỏ ý kiến cá nhân của riêng mình, nhưng đúng là khi bắt đầu, ông chưa hiểu rõ về Chủ nghĩa vô thần và Chủ nghĩa duy vật".
Hầu hết Ấn Độ giáo và chủ nghĩa siêu việt coi tất cả vật chất là một ảo ảnh gọi là Maya, khiến con người không biết đến sự thật. Những trải nghiệm siêu việt như nhận thức của Brahman được coi là tiêu diệt ảo ảnh.
Joseph Smith, người sáng lập phong trào Latter Day Saint, đã dạy: "Không có thứ gọi là vật chất phi vật chất. Tất cả tinh thần là vật chất, nhưng nó tốt hơn hoặc tinh khiết hơn, và chỉ có thể được nhận ra bằng đôi mắt tinh khiết hơn; Chúng ta không thể nhìn thấy nó; nhưng khi cơ thể chúng ta được thanh lọc, chúng ta sẽ thấy rằng đó là tất cả vấn đề. " Yếu tố tinh thần này được cho là luôn tồn tại và được đồng tồn tại với Thiên Chúa.
Mary Baker Eddy, người sáng lập phong trào Khoa học Kitô giáo, đã phủ nhận sự tồn tại của vật chất trên cơ sở sự đồng nhất của Tâm trí (mà cô coi là từ đồng nghĩa với Thiên Chúa).
Từ các nhà triết học.
Trong "Phê bình Lý trí thuần túy", Immanuel Kant đã lập luận chống lại chủ nghĩa duy vật trong việc bảo vệ chủ nghĩa duy tâm siêu việt của mình (cũng như đưa ra các lập luận chống lại chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết nhị nguyên thân-tâm). Tuy nhiên, Kant với sự bác bỏ chủ nghĩa duy tâm của mình, lập luận rằng sự thay đổi và thời gian đòi hỏi một chất nền bền bỉ. Các nhà tư tưởng hậu hiện đại / hậu cấu trúc luận cũng bày tỏ sự hoài nghi về bất kỳ sơ đồ siêu hình bao gồm tất cả. Triết gia Mary Midgley cho rằng chủ nghĩa duy vật là một ý tưởng tự phản biện, ít nhất là dưới hình thức duy vật loại bỏ của nó.
Chủ nghĩa duy tâm.
Các lập luận ủng hộ chủ nghĩa duy tâm, chẳng hạn như của Hegel và Berkeley, thường ở dạng lập luận chống lại chủ nghĩa duy vật; thật vậy, chủ nghĩa duy tâm của Berkeley được gọi là chủ nghĩa "phi vật chất". Bây giờ, vật chất có thể được lập luận là dư thừa, như trong lý thuyết bó, và các thuộc tính độc lập với tâm trí, đến lượt nó, có thể được giảm xuống thành nhận thức chủ quan. Berkeley trình bày một ví dụ về cái sau bằng cách chỉ ra rằng không thể thu thập bằng chứng trực tiếp về vật chất, vì không có kinh nghiệm trực tiếp về vật chất; tất cả những gì có kinh nghiệm là nhận thức, cho dù là nội bộ hay bên ngoài. Như vậy, sự tồn tại của vật chất chỉ có thể được giả định từ sự ổn định (nhận thức) rõ ràng của nhận thức; Nó tìm thấy hoàn toàn không có bằng chứng trong kinh nghiệm trực tiếp.
Nếu vật chất và năng lượng được xem là cần thiết để giải thích thế giới vật chất, nhưng không có khả năng giải thích tâm trí, kết quả là thuyết nhị nguyên thân-tâm ra đời. Nguyên lý đột sinh, holism và triết lý quá trình tìm cách cải thiện những thiếu sót nhận thức của chủ nghĩa duy vật truyền thống (đặc biệt là thuyết cơ học) mà không từ bỏ hoàn toàn chủ nghĩa duy vật.
|
Diễm xưa là một bài hát nổi tiếng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết năm 1960, được phát hành trong băng nhạc Sơn Ca 7, lấy từ ý "Diễm của những ngày xưa". "Diễm xưa" cũng được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề 美しい昔 ("Utsukushii mukashi") và được Khánh Ly trình bày ở hội chợ Osaka năm 1970. "Diễm xưa" còn được đưa vào chương trình giáo dục về môn văn hóa Việt tại một trường đại học ở Nhật Bản. Đại học Kansai Gakuin cũng có một cuốn sách viết về bài "Diễm xưa" có kèm theo DVD để tiện cho việc nghiên cứu của sinh viên. Bài hát còn được đài truyền hình NHK chọn làm bản nhạc chính cho một bộ phim về cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông Nhật lấy người vợ Việt Nam.
"Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế."
"Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mị"
"Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường."
"Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ."
"Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực."
"Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thiêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa."
"Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh."
"Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ."
"Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi."
"Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là "Diễm của những ngày xưa"."
"Khoảng năm 1962, gia đình Trịnh Công Sơn gặp khó khăn kinh tế, gian phố lớn ở đường Phan Bội Châu (Ngã Giữa) phải sang cho người khác và qua thuê một căn hộ ở tầng một dãy lầu mới xây ở đầu cầu Phủ Cam (Nhà số 11/3 Nguyễn Trường Tộ, hiện nay là nhà của anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lâm Thị Mỹ Dạ)."
"Hằng ngày Trịnh Công Sơn đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phủ Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường Đồng Khánh. Trong đám xuân xanh ấy có cô Ngô Thị Bích Diễm - con gái thầy Ngô Đốc Kh.- người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. Bích Diễm giống bố, người dong dõng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng. Con người của Diễm rất hợp với cái tên Diễm và cũng thích hợp với tâm hồn bén nhạy của Trịnh Công Sơn."
"Anh yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng. Anh trông thấy con đường trước nhà "dài hun hút cho mắt thêm sâu". Nhưng anh cũng biết gặp Diễm để nói lên nỗi đau ấy không phải là chuyện dễ."
"Thầy Ngô Đốc Khánh - thân sinh của Diễm, là một ông giáo rất nghiêm. Ông không thể chấp nhận một anh chàng chưa có bằng Đại học, tóc dài, cằm lún phún râu chuyện trò với các cô con gái đài các của ông. May sao lúc ấy họa sĩ Đinh Cường thuê nhà ở gần nhà Diễm để làm xưởng vẽ. Hai bạn canh chừng những khi thầy giáo có giờ dạy, mà Diễm đang ngồi ở nhà học bài thì hai bạn liền "liều" mình qua thăm. Những lần liều đầy mình ấy, có khi Diễm tiếp, có khi Diễm để cho người nhà tiếp và cũng có khi đang có bố ở nhà, Diễm tránh để cho khách ngồi chơi xơi nước rồi tự ý ra về. Khác với Ph.Th. (em ruột của ca sĩ Hà Thanh), Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho tác giả Ướt mi biết điều đó."
"Trịnh Công Sơn trút hết nỗi lòng yêu Diễm vào bài Diễm xưa như sau nầy Sơn đã kể lại nhiều lần. Có một điều lúc ấy Sơn không để ý: Những lúc Trịnh Công Sơn đến nhà Diễm, thì Ngô Vũ Dao Ánh - em gái của Diễm còn là một cô bé, nhỏ hơn Diễm đến bốn năm tuổi, chạy loăng quăng theo chị. Không ngờ chỉ mấy năm sau Dao Á trở thành một thiếu nữ xinh đẹp với khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương khác thường. Với cái cầu đã bắc từ hồi yêu Bích Diễm, nay Bích Diễm đã vào học Đại học ở Sài Gòn, tâm hồn của Sơn qua cây cầu cũ, nói như Đinh Cường "Sơn lại da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của Dao Ánh để rồi thất vọng, để rồ"."
"Khác với những lần yêu trước, thất vọng về Dao Ánh, Trịnh Công Sơn không bắt nhạc của anh phải mang cái gánh thất tình của anh. Không ngờ hai mươi năm sau, trải qua bao nhiêu dâu bể, từ bên Mỹ, Dao Ánh trở về Việt Nam tìm Trịnh Công Sơn. Không rõ Dao Ánh nói gì với Sơn, và còn gì nữa không, mà anh đã rất hài lòng với thực tại "Hai mươi năm xin trả nợ dài, Trả nợ một đời em đã phụ tôi" (Xin trả nợ người). Trong hai mươi năm ấy, Dao Ánh đã có gia đình, đã hiểu rõ cuộc đời, nên "hết phụ" tình Trịnh Công Sơn. Như Đinh Cường đã viết: "Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao Ánh về thăm, suốt tuần sáng nào cô cũng đến ngồi trên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà." Trịnh Công Sơn yêu Dao Ánh phải trải qua hai mươi năm mới "nhận" được lời đáp. Tuy đã quá muộn, nhưng trên cõi đời nầy có mấy ai được yêu và được nhận có một khoảng cách dài lâu đến thế đâu!"
..."ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng của trường Đồng Khánh, vẫn thường đi ngang, băng qua cầu, rẽ tay mặt về nhà. Hình ảnh người con gái thùy mị mang nét kín cổng cao tường rất cổ điển đó đã làm cho anh không ngày nào không nhìn xuống đường chờ đợi:
"Lụa áo em qua phủ mặt đường
"Gót nhỏ xanh xao tựa khói sương
Hoàn cảnh sáng tác.
"Diễm mang đến cho anh một mối tình nhẹ nhàng và lãng mạn như hai chữ Diễm xưa. Có hôm thức dậy muộn, nhìn thấy bên cửa sổ có cài một nhành dạ lý hương, anh biết người đẹp đã đi qua nhà mình. Và mỗi lần thức dậy anh đều mong nhìn thấy cành hoa cài trên cửa: "Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhỡ mai trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau".
"Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu "hương hoa" kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ."
Diễn giải trong bài.
Theo ca sĩ Thái Hòa, tháp cổ ở đây không phải là chùa Thiên Mụ hay tháp Chàm mà là cổ ba ngấn trắng ngần của các thiếu nữ Huế được khoe ra khi mặc áo dài bà Nhu.
|
! colspan="3" style="background: #00ff00;" |Vị trí
! colspan="3" style="background: #FFF179;" |Giải thưởng
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Khủng long là một nhóm bò sát thuộc nhánh Dinosauria, xuất hiện lần đầu vào kỷ Tam Điệp khoảng 243 - 233,23 triệu năm trước đây, mặc dù nguồn gốc chính xác và các mốc thời gian trong quá trình tiến hóa của chúng hiện vẫn đang tiếp tục được đào sâu nghiên cứu. Kể từ sau sự kiện tuyệt chủng Tam Điệp – Jura (201,3 triệu năm trước), khủng long đã trở thành nhóm động vật có xương sống chiếm ưu thế nhất xuyên suốt qua kỷ Jura cho đến cuối kỷ Phấn Trắng, khi sự kiện tuyệt chủng Phấn Trắng-Cổ Cận (66 triệu năm trước) làm tuyệt chủng hầu hết các nhóm khủng long và 3/4 các loài động vật, thực vật trên Trái Đất (trong đó đa số các loài bò sát khổng lồ bao gồm khủng long bị thiệt hại nặng nề nhất, các loài cá và lưỡng cư ít bị thiệt hại), sự kiện tuyệt chủng này đánh dấu sự kết thúc Đại Trung Sinh và bắt đầu Đại Tân Sinh. Các ghi nhận hóa thạch cho thấy chim đã tiến hóa từ khủng long có lông vũ, tiến hóa từ một nhóm lớn hơn là khủng long chân thú vào thế Jura muộn, và vài loài chim đã sống sót sau sự kiện tuyệt chủng 66 triệu năm trước rồi tiếp tục phát triển đa dạng như hiện nay. Do đó, chim là hậu duệ duy nhất còn sót lại ngày nay của khủng long, và khủng long vẫn chưa tuyệt chủng hoàn toàn như vẫn thường được nói mà một nhánh con cháu của chúng vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay. Khủng long vì thế có thể được chia thành hai loại là khủng long phi điểu (tức là tất cả các loại khủng long khác chim) và chim.
Khủng long là một nhóm đa dạng từ phân loại sinh học, hình thái đến sinh thái. Chim, với hơn 10,000 loài còn sinh tồn, là nhóm động vật có xương sống đa dạng nhất ngoài bộ Cá vược. Theo các bằng chứng hóa thạch, các nhà cổ sinh đã nhận ra 500 chi và hơn 1000 loài khủng long phi điểu. Khủng long có mặt ở khắp các châu lục, qua những loài hiện còn (chim) cũng như những hóa thạch còn sót lại. Suốt nửa đầu của thế kỷ XX, trước khi chim được xem là khủng long, hầu hết cộng đồng khoa học tin rằng khủng long là động vật chậm chạp và biến nhiệt. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu những năm 1970 đã chỉ ra rằng khủng long là động vật hoạt động tích cực với khả năng trao đổi chất cao và thích nghi tốt cho quan hệ xã hội. Một số ăn thực vật, số khác ăn thịt. Có bằng chứng cho thấy tất cả khủng long đều đẻ trứng, và xây tổ là một đặc điểm phụ của tất cả khủng long, cả chim lẫn phi điểu.
Tổ tiên khủng long đi bằng hai chân. Tuy thế rất nhiều chi khủng long đi bằng bốn chân, và một số chi có thể thay đổi giữa 2 dạng. Cấu trúc sừng và mào là phổ biến ở tất cả các nhóm khủng long, và vài nhóm thậm chí còn phát triển các biến đổi bộ xương như giáp mô hoặc gai. Trong khi khủng long hiện đại (chim) khá nhỏ để thuận tiện cho việc bay lượn (tất nhiên vẫn có một vài loài chim không thể bay), nhiều loài khủng long có cơ thể rất lớn. Chi khủng long chân thằn lằn lớn nhất có thể đạt tới chiều dài và chiều cao. Dù vậy, ý nghĩ rằng khủng long đa số đều to lớn là sai lầm, vì hóa thạch lớn có khuynh hướng được giữ lâu hơn. Nhiều chi khủng long khá là nhỏ, vi dụ "Xixianykus" chỉ dài khoảng .
Kể từ khi hóa thạch khủng long lần đầu tiên được ghi nhận trong những năm đầu thế kỷ XIX, khủng long đã trở thành một phần của văn hóa đại chúng và bộ xương hoặc mô hình hóa thạch của chúng là các điểm thu hút khách tham quan ở các viện bảo tàng. Kích thước khổng lồ của một số nhóm khủng long, cũng như bản chất có vẻ huyền bí và quái vật, đã đảm bảo cho sự xuất hiện của chúng trong những quyển sách và bộ phim bán chạy nhất như "Jurassic Park". Sự nhiệt tình của công chúng đã dẫn đến các tài trợ đáng kể cho nghiên cứu khủng long, và những khám phá mới thường xuyên được cập nhật bởi các phương tiện truyền thông.
"Khủng long" (được người Việt dịch ra từ tiếng Trung 恐龍) là từ Hán-Việt có nghĩa là "rồng lớn". Đơn vị phân loại Dinosauria được nhà cổ sinh học Sir Richard Owen định nghĩa chính thức năm 1842 là "một tộc riêng hoặc phân bộ của bò sát Sauria", một nhóm các động vật được chấp nhận ở Anh và trên thế giới lúc bấy giờ. Tên có nguồn gốc #đổi . Mặc dù cái tên này thường được giải thích là có liên quan đến răng, móng vuốt hoặc những đặc điểm đáng sợ khác của khủng long, theo Owen nó đơn thuần chỉ để gợi lên kích thước và vẻ oai vệ của chúng.
Nhiều loại bò sát tiền sử khác như dực long, thương long, thằn lằn cá, thằn lằn đầu rắn và "Dimetrodon" cũng được công chúng thường coi là khủng long, nhưng thực ra là không phải. Dực long, là thành viên của nhánh Ornithodira, là họ hàng xa của khủng long. Các nhóm khác kể trên, cũng như khủng long và dực long, là thành viên của nhóm bò sát Sauropsida (nhánh 2 cung bên, gồm các loài bò sát và chim hiện nay), còn "Dimetrodon" thuộc nhóm Synapsida (nhánh một cung bên, tiến hóa thành thú có vú hiện nay).
Theo phương pháp phát sinh loài, khủng long thường được định nghĩa là nhóm động vật bao hàm tổ tiên chung gần đây nhất (MRCA) của "Triceratops" và chim, cũng như tất cả các hậu duệ của chúng. Có ý kiến cho rằng Dinosauria nên được định nghĩa trong tương quan với MRCA của "Megalosaurus" và "Iguanodon", bởi lẽ đây là hai trong số ba chi phân loài được Richard Owen trích dẫn khi ông công nhận nhánh Dinosauria. Cả hai cách định nghĩa đều dẫn đến cùng một công thức phân loại: "Dinosauria = Ornithischia + Saurischia"; trong đó bao gồm các dòng dõi khủng long thấp hơn như: Ankylosauria (khủng long bọc giáp, ăn cỏ, đi đứng bằng bốn chân), Stegosauria (khủng long phiến sừng, ăn cỏ, đi đứng bằng bốn chân), Ceratopsia (khủng long có diềm cổ, ăn cỏ, đi đứng bằng hai hoặc bốn chân), Pachycephalosauria (khủng long sọ cứng, ăn cỏ, đi đứng bằng hai chân), Ornithopoda (khủng long ăn cỏ, đi đứng bằng hai hoặc bốn chân, bao gồm khủng long "mỏ vịt"), Theropoda (hầu hết là khủng long ăn thịt, và chim), và Sauropodomorpha (khủng long ăn cỏ, đi đứng bằng bốn chân, cổ và đuôi dài).
Chim hiện được công nhận là dòng dõi duy nhất còn tồn tại của khủng long. Theo phân loại truyền thống, chim được coi là một lớp động vật khác biệt đã tiến hóa từ khủng long, vốn lại một liên bộ riêng biệt. Tuy nhiên, phần lớn giới cổ sinh vật học đương đại bác bỏ cách phân loại truyền thống, mà thay vào đó phân loại theo lối phát sinh chủng loài; cách tiếp cận này đòi hỏi rằng, để một nhóm được coi là hợp lệ, tất cả hậu duệ của các loài thành viên cũng phải được quy vào nhóm. Vậy nên, chim được coi là khủng long và khủng long, do đó, chưa tuyệt chủng. Chim được xếp vào phân nhóm Maniraptora, thuộc nhánh Coelurosauria, phân bộ Therapoda, bộ Saurischia.
Nghiên cứu năm 2017 của Matthew Baron, David B. Norman và Paul M. Barrett đã đề xuất một thay đổi căn bản đối với hệ thống phân loài khủng long. Phân tích phát sinh chủng loại của Baron "et al." đã phục hồi giả thuyết cho rằng Ornithischia gần gũi hơn với Therapoda khi so với Sauropodomorpha, trái ngược với kiểu gộp Therapoda và Sauropodomorpha cổ điển. Tuy nhiên, điều này sẽ khiến nhóm Sauropoda và hậu duệ của chúng không còn được tính là khủng long, vậy nên nhóm tác giả đã phải định nghĩa lại Dinosauria là tổ tiên chung cuối cùng của "Triceratops horridus", "Passer localus" và "Diplodocus carnegii", cũng như tất cả các hậu duệ của chúng. Họ đồng thời hồi sinh thuật ngữ Ornithoscelida để chỉ gộp Ornithischia và Theropoda.
Sử dụng một trong những định nghĩa trên, khủng long có thể được mô tả chung là những động vật thuộc nhóm Archosauria có chân sau duỗi thẳng bên dưới cơ thể khi đứng. Các nhóm bò sát tiền sử thường bị ngộ nhận là khủng long, mặc dù không chính xác, bao gồm: thằn lằn cá, thằn lằn sông, thằn lằn cổ rắn, dực long và pelycosauria (đặc biệt là chi "Dimetrodon"). Dực long là họ hàng xa của khủng long vì chúng cùng thuộc nhánh Ornithodira. Các nhóm còn lại, giống khủng long và dực long, đều thuộc nhánh Sauropsida (gồm bò sát và chim), ngoại trừ "Dimetrodon" thuộc nhánh Synapsida. Tất cả các nhóm kể trên có dáng đứng chi sau khác hoàn toàn khi so với khủng long thật sự.
Khủng long là động vật có xương sống phổ biến nhất trên Trái Đất vào Đại Trung Sinh, đặc biệt là trong kỷ Jura và kỷ Phấn Trắng. Các loài động vật khác bị hạn chế về kích thước và hốc sinh thái trong thời kỳ này; như động vật có vú chẳng hạn, hiếm khi đạt được kích thước của một con mèo nhà, hầu hết đều nhỏ nhắn và săn những con mồi tí hon. Khủng long là một nhóm động vật rất đa dạng và phong phú; tính đến năm 2018, hơn 900 chi khủng long phi điểu đã được xác định và tổng số chi được lưu lại trong bản ghi khảo cổ được ước tính vào khoảng 1850, gần 75% trong đó chưa được khám phá, và 1124 loài tính đến năm 2016. Một nghiên cứu năm 1995 suy đoán rằng, từng tồn tại 3.400 chi khủng long khác nhau trên thế giới, tính cả các loài không được lưu giữ trong bản ghi khảo cổ.
Năm 2016, số lượng loài khủng long tồn tại trong Đại Trung Sinh được ước tính rơi vào khoảng 1.543–2.468. Năm 2021, số lượng loài chim hiện đại được ước tính vào khoảng 10.806. Mặc dù tổ tiên chúng đi đứng bằng hai chân, một số loài khủng long đã phát triển dáng đi đứng bằng bốn chân; một số khác, như "Anchisaurus" và "Iguanodon" chẳng hạn, còn có thể chuyển dáng đi từ hai chân sang bốn chân. Các đặc điểm kiểu hình như sừng và mào xuất hiện rất phổ biến ở khủng long, một số thậm chí sở hữu giáp xương. Dù nổi tiếng về kích thước cơ thể khổng lồ, nhiều loài khủng long Đại Trung Sinh trên thực tế chỉ to bằng con người hoặc có khi còn bé hơn. Khủng long sinh sôi nảy nở ở nhiều nơi và bằng chứng hóa thạch cho thấy phạm vi sinh sống của chúng đã lan tỏa khắp thế giới kể từ thế Jura sớm. Cũng có bằng chứng cho thấy nhiều loài khủng long phi điểu, như "Microraptor" chẳng hạn, có khả năng bay hoặc ít nhất là liệng, và một số khác, như họ Spinosauridae chẳng hạn, có tập tính bán thủy sinh.
Đặc điểm giải phẫu.
Mặc dù các khám phá gần đây đã khiến việc trình bày một bản danh sách các đặc điểm riêng biệt được thống nhất phổ quát của khủng long trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, song hầu như tất cả các loài khủng long được phát hiện tới nay đều chia sẻ một số điểm đột biến nhất định khi so với tổ tiên chung của chúng. Một số nhóm khủng long về sau còn phát triển nhiều đặc điểm tách biệt, song vẫn bắt nguồn từ những đặc điểm tổ tiên mà được coi là điển hình của Dinosauria. Thuật ngữ để chỉ các đặc điểm như vậy là kiểu hình dẫn xuất chia sẻ ("synapomorphy").
Năm 2011, nhà cổ sinh vật học Sterling Nesbitt liệt kê mười hai đặc tính dẫn xuất chia sẻ chung sau đây của nhánh Archosauria:
Nesbitt đồng thời bác bỏ một số kiểu hình dẫn xuất chung được đề xuất trước đó, những đặc điểm vốn có mặt ở cả họ Silesauridae, được ông phục hồi như một nhóm chị em của Dinosauria. Những đặc điểm này bao gồm một mẩu chuyển trước lớn, khối xương bàn chân II và IV có chiều dài không đều nhau, tiếp xúc giữa đốt háng và xương mu bị tiêu giảm, đỉnh cạnh sống hiện diện trên xương chày và mỏm từ dưới lên của xương sên,
Ngoài ra, một loạt các đặc điểm trên bộ xương khác được chia sẻ bởi các loài khủng long. Tuy nhiên, vì chúng là điểm chung của nhiều nhóm thằn lằn chúa khác hoặc không xuất hiện trong các loài khủng long thời kỳ đầu, những đặc điểm này không được coi là dẫn xuất chung. Ví dụ, ở động vật Hai cung bên, tổ tiên khủng long có hai cặp cửa sổ thái dương (các lỗ ở hộp sọ phía sau ổ mắt) và là thành viên của nhóm Hai cung bên Thằn lằn chúa, có thêm các lỗ mở ở mõm và hàm dưới. Ngoài ra, một số đặc điểm từng được cho là dẫn xuất chung hiện được biết là đã xuất hiện trước cả khủng long, hoặc vắng mặt ở những con khủng long sớm nhất và tiến hóa độc lập bởi các nhóm khủng long khác nhau. Chúng bao gồm một xương bả vai kéo dài, một xương cùng bao gồm ba hoặc nhiều đốt sống hợp nhất (ba được tìm thấy trong một số thằn lằn chúa khác, nhưng chỉ có hai được tìm thấy ở "Herrerasaurus"); và một ổ cối mở, hoặc ổ cắm hông, có một lỗ ở giữa ở bề mặt bên trong của nó (đóng vào ở "Saturnalia"). Một khó khăn khác trong việc xác định các đặc điểm chung của khủng long là khủng long sơ khai và các loài săn mồi khác từ thế Đệ Tam muộn thường được biết đến rất ít và giống nhau theo nhiều cách; những con vật này đôi khi bị xác định sai trong nhiều tài liệu.
Khủng long đứng với chân sau dựng đứng theo cách tương tự như hầu hết các động vật có vú hiện đại, khác biệt với hầu hết các loài bò sát khác có tư thế chân nằm ngang. Tư thế này xuất hiện là do sự phát triển của một ngách ở mặt bên trong khung chậu (thường là một ổ mở) và một đầu khác biệt hướng vào bên trong nằm trên xương đùi. Tư thế duỗi thẳng cho phép những con khủng long nguyên thủy dễ hô hấp hơn trong khi đang di chuyển, tăng sức chịu đựng và mức độ hoạt động vượt qua những loài bò sát xoải chân. Tay chân duỗi thẳng có lẽ đã hỗ trợ sự tiến hóa của kích thước cơ thể lớn bằng cách giảm lực uốn cong lên các chi. Một số thằn lằn chúa không phải khủng long, bao gồm rauisuchian, cũng có chân tay duỗi thẳng nhưng đạt được điều này nhờ cấu hình "trụ cột" của khớp hông, trong đó thay vì xương đùi chèn vào ổ cắm trên hông, xương chậu được xoay lại để tạo thành một kệ nhô ra.
Lịch trình tiến hóa.
Nguồn gốc và sự tiến hóa sớm.
Khủng long phân nhánh từ tổ tiên của chúng, một loài bò sát thuộc nhóm Archosauria, vào khoảng 230 triệu năm trước, trong khoảng Thế Tam Điệp giữa đến muộn, gần 20 triệu năm sau sự kiện tuyệt chủng Permi–Trias quét sạch khoảng 96% dạng sống dưới nước và 70% dạng sống có xương trên cạn. Độ tuổi của các thành hệ chứa hóa thạch của chi "Eoraptor" rơi vào khoảng 231.4 triệu năm. Các nhà cổ sinh vật học cho rằng "Eoraptor" sở hữu nhiều đặc điểm của tổ tiên chung của tất cả các loài khủng long; nếu đây là sự thật thì nó chỉ ra rằng những con khủng long đầu tiên đều là những săn mồi cỡ nhỏ đi bằng hai chân. Việc phát hiện ra các ornithodiran nguyên thủy giống khủng long như "Marasuchus" và "Lagerpeton" thuộc tầng đá có tuổi Tam Điệp trung ở Argentina chứng minh cho quan điểm này; phân tích những hóa thạch được phục dựng lại cho thấy rằng những động vật này là các loài săn mồi cỡ nhỏ đi bằng hai chân. Tuy vậy, khủng long có thể đã xuất hiện sớm hơn nữa, vào khoảng 243 triệu năm trước, dựa trên các mảnh hóa thạch còn sót lại của chi "Nyasasaurus", tuy vậy những mảnh xương này đã bị biến dạng quá nhiều, khiến cho việc xác định nó có quan hệ thế nào với khủng long thành ra không chắc chắn.
Khi khủng long lần đầu tiên xuất hiện, chúng chưa phải là loài động vật có xương sống chiếm ưu thế. Các lục địa bấy giờ bị chiếm lĩnh bởi nhiều loài archosauria và thuộc Bộ Cung thú khác như aetosauria, cynodontia, ornithosuchidae, rauisuchia, và rhynchosauria. Hầu hết các nhóm này đã tuyệt chủng trong kỷ Tam Điệp thuộc một trong 2 làn sóng tuyệt chủng. Làn sóng đầu tiên, vào khoảng ranh giới giữa các tầng động vật Carnian và Norian (khoảng 215 triệu năm trước), nhánh gốc của archosauromorpha bao gồm các protorosaur bị tuyệt chủng. Tiếp theo đó là giai đoạn tuyệt chủng Trias-Jura (khoảng 200 triệu năm trước), hầu hết các nhóm thằn lằn chúa thời kỳ đầu như aetosauria, ornithosuchidae, phytosauria, và rauisuchia bị tuyệt chủng. Sự mất mát này để lại một hệ động vật trên cạn gồm crocodylomorpha (nhánh chứa cá sấu sau này), khủng long, thú, pterosauria, và rùa. Dòng dõi mới của khủng long ban đầu đa dạng hóa qua các tầng động vật Carnian và Norian trong kỷ Trias bằng cách chiếm các hốc sinh thái của các nhóm đã tuyệt chủng. ...
Tiến hóa và cổ địa sinh học.
Sự tiến hóa của khủng long hậu Tam Điệp đi kèm theo những thay đổi của thảm thực vật và vị trí của các lục địa. Vào kỷ Tam Điệp muộn và kỷ Jura sớm, các khối đất liền ghép với nhau tạo thành một lục địa Pangea duy nhất, và hệ động vật của thế giới chủ yếu bao gồm các loài ăn thịt coelophysoidea và các loài ăn cỏ sauropodomorph sớm. Thực vật hạt trần (đặc biệt là cây lá kim), một nguồn thức ăn tiềm năng, phát triển trong thế Tam Điệp muộn. Các sauropodomorph nguyên thủy không có cơ chế tinh vi để nghiền thức ăn trong miệng, và do đó phải sử dụng phương pháp khác để băm nhỏ thức ăn trong hệ tiêu hóa. Sự đồng nhất tổng quát của các loài khủng long vẫn tiếp tục trong kỷ Jura giữa và muộn, các địa phương hầu hết đều có động vật ăn thịt lớn bao gồm Ceratosauria, đại long và Carnosauria và các loài khủng long hông chim, khủng long phiến sừng và khủng long chân thằn lằn lớn ăn thực vật. Ví dụ bao gồm thành hệ Morrison tại Bắc Mỹ và các thềm Tendaguru tại Tanzania. Khủng long ở Trung Quốc có một số khác biệt, với các loài khủng long chân thú sinraptorid chuyên biệt và các loài khủng long cổ dài khác thường như "Mamenchisaurus". Khủng long bọc giáp và khủng long chân chim cũng trở nên phổ biến hơn, trong khi các chuẩn bản long (tổ tiên khủng long chân thằn lằn) tuyệt chủng. Cây lá kim và pteridophyte là những loài thực vật phổ biến nhất. Khủng long chân thằn lằn, giống như chuẩn bản long trước đây, không nghiền lá cây cỏ bằng miệng. Các loài khủng long hông chim bấy giờ đã phát triển các cách thức khác nhau để xử lý thức ăn trong miệng, bao gồm các cơ quan giống như má để giữ thức ăn trong mồm và các chuyển động hàm thích hợp để nghiền thức ăn. Một sự kiện tiến hóa đáng chú ý khác trong kỷ Jura là sự xuất hiện của những loài chim thực sự, có nguồn gốc từ nhánh khủng long đuôi rỗng maniraptora.
Vào kỷ Phấn trắng sớm, Pangea bắt đầu phân tách ra. Khủng long theo đó mà trở nên đa dạng hơn bao giờ hết. Phần đầu của thời đại này đã chứng kiến sự mở rộng của các loài khủng long vận giáp, iguanodontia và brachiosaurid tại châu Âu, Bắc Mỹ và phía bắc châu Phi. Những nhóm này sau đó bị thay thế ở châu Phi bằng các khủng long chân thú khác như các đại long xương gai và dị long răng cá mập lớn, và các khủng long chân thằn lằn như họ Rebbachisauridae và nhóm Titanosauria, cũng được tìm thấy ở Nam Mỹ. Ở châu Á, khủng long đuôi rỗng maniraptor, các khủng long chạy nhanh, các điểu long răng khía và các oviraptorosauria trở nên phổ biến, và các khủng long vận giáp và khủng long mặt sừng sớm như "Psittacosaurus" trở thành các động vật ăn cỏ chủ chốt. Trong khi đó, Úc là nơi cư trú của một số loài khủng long vận giáp nguyên thủy, họ Hypsilophodont và các iguanodontia. Các khủng long phiến sừng dường như đã tuyệt chủng vào một thời điểm nào đó trong kỷ Phấn trắng sớm hoặc Phấn trắng muộn sớm. Một thay đổi lớn trong kỷ Phấn trắng sớm, sẽ được khuếch đại vào cuối kỷ Phấn trắng, là sự tiến hóa của thực vật có hoa. Đồng thời, một số nhóm khủng long ăn cỏ đã phát triển những cách thức tinh vi hơn để tiêu hóa thức ăn. Những khủng long đầu giáp đã phát triển một phương pháp cắt lát với những chiếc răng xếp chồng lên nhau trong một khối răng, và những loài iguanodontia phát triển một phương pháp mài bằng khối răng, được nâng cấp ở các khủng long mỏ vịt. Một số loài khủng long chân thằn lằn cũng tiến hóa khối răng, được minh họa tốt nhất ở loài "Nigersaurus".
Có ba hệ động vật khủng long chính vào cuối kỷ Phấn trắng. Ở các lục địa phía bắc của Bắc Mỹ và Châu Á, các khủng long chân thú chủ chốt là các bạo long chuẩn và nhiều loại maniraptora nhỏ khác nhau, với các loài động vật ăn cỏ chủ yếu là khủng long hông chim gồm mỏ vịt, mặt sừng, vận giáp và đầu dày. Ở các lục địa phía nam từng tạo nên lục địa Gondwana đang bị chia tách, các abelisaurid là loài khủng long chân thú phổ biến và các titanosauria là động vật ăn cỏ phổ biến. Cuối cùng, ở châu Âu, khủng long chạy nhanh, rhabdodontid, giáp long xương kết, và loài titanosauria là phổ biến. Thực vật có hoa phát xạ tiến hóa cao, với những đám cỏ đầu tiên xuất hiện vào cuối kỷ Phấn trắng. Các loài hadrosaurid ăn nghiền và ceratopsia ăn cắt thực vật trở nên vô cùng đa dạng trên khắp Bắc Mỹ và Châu Á. Khủng long chân thú cũng phát xạ tiến hóa thành các loài ăn cỏ hoặc ăn tạp, với các loài therizinosauria và ornithomimosauria trở nên phổ biến hơn.
Sự kiện tuyệt chủng kỷ Phấn Trắng - Cổ Cận, xảy ra vào khoảng 66 triệu năm trước, giết chết tất cả các nhóm khủng long ngoại trừ các loài chim neornithine. Một số nhóm Hai cung thú khác, chẳng hạn như cá sấu, sebecosuchia, rùa, thằn lằn, rắn, sphenodontia, và choristodera, cũng sống sót sau sự kiện này.
Các dòng dõi còn sót lại của các loài chim neornithine, bao gồm tổ tiên của các loài ratite (các loài chim lớn không bay), điểu cầm hiện đại, và một loạt các loài chim nước, đa dạng hóa nhanh chóng vào đầu kỷ Cổ Cận, chiếm các hốc sinh thái bị bỏ trống bởi sự tuyệt chủng của loài khủng long đại Trung Sinh ví dụ như các enantiornithine sống trên cây, hesperornithes thủy sinh, và thậm chí thay thế cả các loài khủng long chân thú trên cạn lớn (dưới dạng "Gastornis", eogruiid, Bathornithid, ratite, geranoidid, mihirung và "chim khủng bố"). Người ta thường viện dẫn rằng các động vật có vú cạnh tranh với các neornithine để thống trị các hốc sinh thái trên cạn nhưng nhiều nhóm trong số này cùng tồn tại ôn hòa với các động vật có vú phong phú trong hầu hết đại Tân Sinh. Những con chim khủng bố và Bathornithid chiếm các hốc ăn thịt cùng với các động vật có vú ăn thịt, và rattie vẫn khá thành công trong vai trò là động vật ăn cỏ cỡ trung bình; eogruiid tương tự kéo dài từ thế Thủy Tân đến thế Thượng Tân, chỉ bị tuyệt chủng rất gần đây sau hơn 20 triệu năm cùng tồn tại với nhiều nhóm động vật có vú.
Khủng long là archosauria (thằn lằn chúa), nhóm bao gồm cá sấu hiện đại. Trong nhóm archosauria, khủng long được phân biệt chủ yếu bởi dáng đi của chúng. Chân khủng long ở ngay dưới cơ thể chúng, trong khi chân thằn lằn và cá sấu chỉa ra sang hai bên.
Nói chung, khủng long là một nhánh được chia thành hai phần Saurischia và Ornithischia. Saurischia gồm các loài khủng long có chung tổ tiên gần với chim hơn Ornithischia, trong khi Ornithischia có chung tổ tiên với "Triceratops" hơn Saurischia. Về mặt giải phẫu, hai nhóm này có thể được phân biệt rõ rệt nhất bởi cấu trúc xương chậu của chúng. Saurischia thời kỳ đầu - "hông thằn lằn", từ tiếng Hy Lạp "sauros" (σαῦρος) có nghĩa là "thằn lằn" và "ischion" (ἰσχίον) có nghĩa là "khớp hông" - giữ lại cấu trúc hông tổ tiên của chúng, với xương mu hướng về phía trước. Hình thức cơ bản này đã được sửa đổi bằng cách xoay các xương mu về phía sau ở các mức độ khác nhau trong một số nhóm ("Herrerasaurus", Therizinosauroid, và chim). Saurischia bao gồm các loài khủng long chân thú (đi bằng hai chân và với nhiều chế độ ăn khác nhau) và khủng long dạng chân thằn lằn (động vật ăn cỏ cổ dài bao gồm các nhóm bốn chân tiên tiến).
Ngược lại, Ornithischia - "hông chim", từ tiếng Hy Lạp "ornitheios" (ὀρνίθειος) nghĩa là "thuộc về chim" và "ischion" (ἰσχίον) có nghĩa là "khớp hông" - có một cấu trúc khung chậu trông giống ở chim: xương mu định hướng chĩa ra sau. Không giống như các loài chim, Ornithischia cũng thường có một mỏm xương hướng về phía trước. Ornithischia bao gồm nhiều loài chủ yếu là động vật ăn cỏ. (chú thích: thuật ngữ "hông thằn lằn" và "hông chim" là những cách hiểu sai - loài chim tiến hóa từ khủng long với "hông thằn lằn".)
Phân loại rút gọn dưới đây của các nhóm khủng long dựa trên quan hệ tiến hóa, sắp xếp dựa trên danh sách khủng long Đại Trung Sinh của Holtz (2008).
† biểu thị cho nhóm không còn thành viên sinh tồn.
*†Herrerasauria (khủng long ăn thịt đi hai chân sớm)
*Theropoda (tất cả đi hai chân; hầu hết ăn thịt)
*†Coelophysoidea (nhỏ, khủng long chân thú sớm, gồm "Coelophysis" và họ hàng)
*†Dilophosauridae (có mào, khủng long chân thú ăn thịt sớm)
*†Ceratosauria (có sừng, thú ăn thịt hàng đầu của các lục địa phía Nam trong kỷ Phấn Trắng)
*Tetanurae ("đuôi cứng"; bao gồm hầu hết khủng long chân thú)
*†Megalosauroidea (nhóm khủng long khổng lồ ăn thịt sớm)
*†Carnosauria ("Allosaurus" và họ hàng)
*Coelurosauria (nhóm khủng long có lông vũ, kích thước đa dạng và chiếm nhiều hốc sinh thái)
*†Compsognathidae (coelurosauria sớm phổ biến với chi trước ngắn đi)
*†Tyrannosauridae ("Tyrannosaurus" và họ hàng, chi trước ngắn)
*†Ornithomimosauria ("giống như đà điểu"; hầu hết không có răng, có thể ăn thịt hoặc cỏ)
*†Alvarezsauroidea (ăn côn trùng, chi trước có vuốt lớn)
*Maniraptora ("bắt bằng tay"; có tay với ngón tay gầy và dài)
*†Therizinosauria (ăn cỏ, sở hữu các móng vuốt lớn và cái đầu nhỏ)
*†Oviraptorosauria (hầu hết không có răng, lối sống và thức ăn chưa rõ ràng)
*†Deinonychosauria (cỡ nhỏ đến trung bình, giống chim, ăn thịt và có vuốt to ở chân)
*Avialae (chim hiện đại và họ hàng đã tuyệt chủng)
*†Scansoriopterygidae (avialan sơ khai cỡ nhỏ, có ba móng vuốt ở chi trước)
*†Omnivoropterygidae (avialan sơ khai cỡ lớn, đuôi nhỏ)
*†Confuciusornithidae (avialan cỡ nhỏ không có răng)
*†Enantiornithes (avialan sơ khai sống trên cây, biết bay)
*Euornithes (chim biết bay tân tiến)
*†Yanornithiformes (chim kỷ Phấn Trắng ở Trung Quốc có răng)
*Aves (chim hiện đại)
*†Sauropodomorpha (ăn thực vật với đầu nhỏ, cổ và đuôi dài)
*†Guaibasauridae (nhỏ, sơ khai, ăn tạp)
*†Plateosauridae (sơ khai, đi bằng hai chân)
*†Riojasauridae (sơ khai, nhỏ)
*†Massospondylidae (sơ khai, nhỏ)
*†Sauropoda (khủng long bốn chân kích cỡ khổng lồ và rất nặng)
*†Vulcanodontidae (khủng long chân thằn lằn sơ khai với bôn chân hình cột)
*†Eusauropoda ("khủng long chân thằn lằn thật sự")
*†Cetiosauridae ("thằn lằn cá voi")
*†Turiasauria (nhóm chân thằn lằn từ Châu Âu vào kỷ Tam Điệp và Phấn Trắng)
*†Neosauropoda ("khủng long chân thằn lằn mới")
*†Diplodocoidea (đuôi và cổ cực dài, răng rất hẹp và giống bút chì)
*†Macronaria (hộp sọ vuông vắn, răng hình cái thìa hoặc bút chì)
*†Brachiosauridae (cổ dài, chi trước cao hơn)
*†Titanosauria (đa dạng; nặng cân, hông rộng; phổ biến ở các lục địa phía Nam vào kỷ Phấn Trắng)
*†Ornithischia ("hông chim"; ăn thực vật)
*†Heterodontosauridae (chân chim nguyên thủy nhỏ ăn tạp có răng giống răng nanh)
*†Thyreophora (bốn chân, mang giáp tự vệ)
*†Ankylosauria (có giáp, vài loài có đuôi trùy)
*†Stegosauria (có gai hoặc tấm sừng trên lưng)
*†Neornithischia ("hông chim mới")
*†Ornithopoda (bốn hoặc hai chân, ăn thực vật; phát triển cách nghiền thức ăn sử dụng sự dẻo dai của hộp sọ và nhiều răng)
*†Marginocephalia (phân biệt nhờ đặc điểm của đầu)
*†Pachycephalosauria (hai chân, đầu dày hoặc có bướu trên đầu)
*†Ceratopsia (bốn chân, đầu có diềm; nhiều loài có sừng)
Nhóm Sauropoda có các loài khủng long lớn và nặng nhất. Trong hầu hết thời kỳ khủng long, sauropoda nhỏ nhất vẫn lớn hơn hầu hết những loài động vật khác trong môi trường của nó, và sauropoda lớn nhất theo thứ lượng nặng hơn bất cứ động vật nào từng bước đi trên mặt đất. Các loài động vật có vú không lồ tiền sử như "Paraceratherium" vẫn được xem là lùn với saropoda, chỉ có cá voi mới bằng hoặc vượt hơn saropoda. Có nhiều lợi thế sauropoda nhận được từ kích thước lớn, bao gồm được bảo vệ khỏi khủng long ăn thịt, giảm sử dụng nặng lượng, và sống lâu, nhưng có thể lợi thế quan trọng nhất là chế độ ăn uống. Động vật lớn có hiệu quả tiêu hóa cao hơn động vật nhỏ, vì thức ăn có nhiều thời gian nằm trong hệ tiêu hóa của nó hơn. Điều này cũng cho phép chúng sống sót với thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp.
Lớn nhất và nhỏ nhất.
Các nhà khoa học có thể sẽ không bao giờ tìm thấy khủng long to và nhỏ nhất. Bởi vì chỉ có một số nhỏ khủng long để lại hóa thạch sau khi chết, và hầu hết số hóa thạch này vẫn chưa được tìm thấy mà vẫn còn bị chôn vùi trong lòng đất. Rất ít mẫu vật được thu hồi là những bộ xương hoàn chỉnh, và dấu vết về da và mô mềm rất hiếm. Phục dựng một bộ xương hoàn chỉnh theo so sánh kích thước và hình thái xương của các loài tương tự nhau là một phương pháp phổ biến nhưng không đủ chính xác, và việc phục nguyên các bắp thịt, cơ quan chỉ là sự phỏng đoán dựa theo một số nguyên tắc sinh học
Loài khủng long cao nhất và nặng nhất được biết đến từ một bộ xương bảo quản tốt là "Giraffatitan brancai" (trước được xem là một loài "Brachiosaurus"). Hóa thạch của nó được phát hiện ở Tanzania giữa năm 1907 và 1912. Xương của nhiều cá thể tương tự về kích thước đã được ráp vào nhau thành một bộ xương hoàn chỉnh nay được trưng bày tại bảo tàng für Naturkunde Berlin; bộ xương này cao và dài , và có thể thuộc về một động vật nặng khoảng đến kg ( đến lb). Con khủng long có hóa thạch hoàn chỉnh dài nhất (27 mét, 89 ft) là "Diplodocus", phát hiện ở Wyoming ở Mỹ và được trưng bày tại bảo tàng lịch sử tự nhiên Carnegie của Pittsburgh năm 1907.
Có nhiều loài khủng long lớn hơn, nhưng hiểu biết về chúng hoàn toàn nhờ các mẫu hóa thạch rời rạc. Hầu hết được thu thập từ 1970 hay sau đó, bao gồm cả "Argentinosaurus", có thể nặng từ tới kg (90 tới 110 tấn ngắn); vài cá thể "Diplodocus hallorum" (trước đây "Seismosaurus") dài tới và "Supersaurus" dài ; và cao nhất là "Sauroposeidon" cao , chạm vào cửa sổ toà nhà sáu tầng. Loài nặng nhất và dài nhất trong số chúng có thể là "Amphicoelias fragillimus", được biết duy nhất từ một đốt sống nay đã thất lạc năm 1878. Suy ra từ hình minh họa đốt sống này, con vật này có thể dài và nặng hơn kg ( lb). Khủng long ăn thịt lớn nhất là "Spinosaurus", chiều dài đạt đến 16-18 mét (52 to 60 ft), và nặng 8150 kg ( lb). Vài loài ăn thịt lớn khác là "Giganotosaurus", "Carcharodontosaurus" và "Tyrannosaurus".
Trong các loài khủng long phi chim (Avialae), loài nhỏ nhất chỉ có kích thước bằng bồ câu. Không ngạc nhiên, chúng là những theropoda họ hàng gần nhất với chim. Ví dụ, "Anchiornis huxleyi", có bộ xương hoàn chỉnh dài 35 cm(1.1 ft). "A. huxleyi" là loài khủng long phi chim nhỏ nhất được mô tả từ cá thể trưởng thành, với cân nặng 110 gram. Khủng long ăn cỏ nhỏ nhất là "Microceratus" và "Wannanosaurus", dài khoảng .
Nhiều loài chim hiện đại có tính xã hội cao, và thường sống thành bầy. Có đồng thuận chung rằng nhiều hành vi thông thường ở chim, cũng như ở cá sấu (họ hàng còn sinh tồn gần nhất của chim), cũng xuất hiện ở khủng long. Giải thích hành vi ở các loài hóa thạch chủ yếu dựa trên tư thế bộ xương và môi trường sống, máy tính mô hình hóa của cơ sinh học khủng long, và so sánh với động vật hiện đại có chung hốc sinh thái.
Bằng chứng đầu tiên cho thấy sống theo bầy là một hành vi thông thường ở khủng long là vào năm 1878 khi phát hiện 31 "Iguanodon bernissartensis" được cho là chết cùng nhau tại Bernissart, Bỉ, sau khi tất cả rơi vào một hố sụt sâu đầy nước và chết đuối. Các vùng hóa thạch như thế sau đó được phát hiện thêm. Dấu chân của hàng trăm hay hàng ngàn cá thể khủng long ăn cỏ được cho là khủng long mỏ vịt (hadrosauridae) cho thấy chúng có thể di chuyển theo đàn lớn, giống Bò rừng bizon Bắc Mỹ hay Linh dương nhảy. Dấu chân sauropoda cho thấy chúng di chuyển thành đàn nhiều loài khác nhau, ít nhất là tại Oxfordshire, Anh, mặc dù không có bằng chứng chính xác về cấu trúc đàn. Có nhiều loại khủng long lớn chậm, bao gồm nhiều theropoda, sauropoda, ankylosauria, ornithopoda, và ceratopsia, tạo thành một đàn các cá thể non. Ví dụ như ở vùng Nội Mông có hơn 20 bộ hóa thạch "Sinornithomimus", từ một tới bảy tuổi. Sự tập hợp này được giải thích là một nhóm xã hội bị kẹt trong bùn. Điều này cũng khiến therapoda trở thành loài săn cùng nhau để giết các con mồi lớn. Tuy nhiên, cách sống này không phổ biến với chim hiện đại, cá sấu, bò sát khác.
Mào và diềm cổ ở vài nhóm khủng long, như marginocephalia, theropoda và lambeosaurinae, có thể quá mỏng manh để tự vệ, và vì vậy chúng được dùng để biểu thị sự hung hăng hay tình dục, mặc dù sự giao phối và lãnh thổ của khủng long được biết đến rất ít.
Một hóa thạch quan trong được phát hiện tại Sa mạc Gobi năm 1971. Một con "Velociraptor" tấn công "Protoceratops", có bằng chứng cho thấy mỗi con thực sự tấn công con còn lại. Vài loài khủng long ăn thịt đồng loại được thừa nhận, bởi các dấu răng "Majungasaurus" trên xương của Majungasaurus khác tại Madagascar năm 2003.
So sánh ổ mắt khủng long với chim và bò sát được dùng để phỏng đoán các hành vi hàng ngày của khủng long. Mặc dù có gợi ý rằng khủng long hoạt động suốt ban ngày, các loài khủng long ăn thịt nhỏ như dromaeosauridae, "Juravenator", và "Megapnosaurus" được cho là sống về đêm. Các loài ăn cỏ và ăn tạp vừa hay lớn như ceratopsia, Sauropodomorpha, Hadrosauridae, Ornithomimosauria hoạt động suốt một ngày, với các khoảng nghỉ ngắn, mặc dù Ornithomimosauria "Agilisaurus" sống ban ngày.
Vài ornithischia, như "Oryctodromeus" có một phần cuộc sống đào bới trong hang. Nhiều loài chim sống trên cây, điều này cũng đúng với chim Đại Trung Sinh, đặc biệt enantiornithes. Vài loài khủng long giống chim cũng sống tốt trên cây (gồm cả "Microraptor") hầu hết khủng long phi chim sống trên mặt đất.
Khủng long đẻ trứng có màng ối với vỏ cứng được cấu tạo chủ yếu bởi calci cacbonat. Hầu hết xây tổ rất phức tạp, có thể dạng cúp, vòm, đĩa, ụ, và cả đào hang. Vài loài chim hiện đại không xây tổ; chim uria thông thường đẻ trứng trên vách đá, và chim cánh cụt hoàng đế đực kẹp trứng giữa hai chân. Chim tiền sử và nhiều loài khủng long phi chim đẻ trứng vào tổ chung, và thường thì con đực ấm trứng. Chim hiện đại chỉ có một vòi trứng và chỉ đẻ một trứng/lần, chim nguyên thủy và khủng long có hai vòi trứng, giống cá sấu. Vì chi khủng long, như "Troodon" đẻ hai trứng mỗi một hay hai ngày, và làm trứng nở đồng thời bằng cách không ấp trứng tới khi tất cả trứng được đẻ.
Việc khám phá rằng chim là một loại khủng long cho thấy khủng long vẫn chưa tuyệt chủng như thường được nói. Tuy nhiên, tất cả khủng long phi chim và nhiều nhóm chim đã tuyệt chủng cách đây khoảng 66 triệu năm. Nhiều nhóm động vật khác cũng tuyệt chủng vào thời gian này, gồm cúc đá (thân mềm giống ốc anh vũ), mosasauridae, plesiosauria, pterosauria, và nhiều nhóm động vật có vú. Côn trùng hầu như không chịu sự ảnh hưởng nào, chúng trở thành thức ăn cho các loài còn sống sót. Sự kiện tuyệt chủng này được gọi là sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen. Bản chất của sự kiện gây tuyệt chủng hàng loạt này đã được nghiên cứu từ những năm 1970; tới nay, nhiều giả thuyết được các nhà cổ sinh vật học hỗ trợ. Mặc dù hầu hết hưởng ứng rằng sự kiện va chạm tiểu hành tinh (hay thiên thạch) là nguyên nhân chính, vài nhà khoa học chỉ ra các nguyên nhân khác, hay ủng hộ ý kiến rằng có nhiều yếu tố góp phần vào sự biến mất đột ngột của khủng long.
Vào Đại Trung Sinh, không có mũ băng địa cực, và mực nước biển được cho là cao hơn ngày nay từ 100 tới 250 mét (300 tới 800 ft). Nhiệt độ hành tinh cũng đồng bộ hơn, nhiệt độ tại xích đạo chỉ cách tại địa cực . Trung bình, nhiệt độ không khí cao hơn; tại địa cực, nhiệt độ cao hơn ngày hôm nay .
Cấu tạo khí quyển Đại Trung Sinh là vấn đề tranh luận. Vài lý thuyết cho rằng nồng độ oxy cao hơn ngày nay, số khác cho rằng sự thích nghi sinh học ở chim và khủng long cho thấy hệ thống hô hấp phát triển xa hơn cần thiết nếu nồng độ oxy đạt mức cao. Vào cuối kỷ Phấn Trắng, môi trường là thay đổi đáng kể. Hoạt động núi lửa giảm, dẫn đến xu hướng cacbon dioxide giảm (do núi lửa phun nhiều chất này). Nồng độ oxy trong khí quyển cũng bắt đầu dao động và cuối cùng giảm xuống. Một số nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng biến đổi khí hậu, kết hợp với nồng độ oxy thấp, có thể trực tiếp dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài.
Sự va chạm của tiểu hành tinh.
Lý thuyết va chạm tiểu hành tinh, nhận được sự chú ý rộng vào năm 1980 bởi Walter Alvarez cùng với cha là Luis Walter Alvarez và đồng nghiệp, cho rằng một tiểu hành tinh đã va vào Trái Đất vào khoảng 66 triệu năm về trước. Alvarez phát hiện các lớp trầm tích phân bố trên khắp thế giới có chứa hàm lượng iridi cao gấp nhiều lần, là bằng chứng cho vụ va chạm. Tiểu hành tinh (hay thiên thạch) được cho là rộng 5 tới 15 km (3 tới 9 mi) đã đâm vào bán đảo Yucatan ở México, tạo nên hố Chicxulub và gây nên sự kiện tuyệt chủng. Các nhà khoa học không chắc rằng khủng long đang phát triển hay suy tàn trước vụ va chạm.
Phun trào núi lửa tại trap Deccan.
Trước năm 2000, các luận cứ cho rằng các dòng lũ bazan tại trap Deccan đã gây ra sự tuyệt chủng thường gắn liền với quan điểm cho rằng quá trình khủng long tuyệt chủng diễn ra từ từ, do các dòng lũ bazan được cho là bắt đầu diễn ra trong khoảng 68 Ma và kéo dài hơn 2 triệu năm. Bằng chứng gần đây nhất cho thấy các bẫy này đã phun trào hơn 800.000 năm kéo qua ranh giới K-T, và do đó có thể nó đóng vai trò trong sự tuyệt chủng và sự hồi phục sinh học chậm sau đó.
Các trap Deccan có thể là nguyên nhân gây tuyệt chủng theo một số cơ chế như sự giải phóng bụi và các sol khí sulfuric vào không khí làm ngăn chặn ánh sáng Mặt Trời và giảm quá trình quang hợp của thực vật. Ngoài ra, hoạt động núi lửa trap Deccan có thể sinh ra một lượng cacbon dioxide lớn gây ra hiệu ứng nhà kính khi bụi và sol khí chiếm toàn bộ khí quyển.
Trong những năm khi mà giả thuyết trap Deccan còn gắn với sự tuyệt chủng từ từ, Luis Walter Alvarez (1911 - 1988) đã cho rằng các nhà cổ sinh vật học bị lầm lạc do thiếu hụt dữ liệu. Trong khi khẳng định của ông ban đầu không được ủng hộ, nhưng các nghiên cứu thực địa sau đó về các lớp đáy hóa thạch lại nghiêng về phía tuyên bố của ông. Cuối cùng thì hầu hết các nhà cổ sinh vật học bắt đầu chấp nhận ý tưởng rằng sự tuyệt chủng hàng loạt vào cuối kỷ Creta chủ yếu hay một phần là do sự va chạm của tiểu hành tinh vào Trái Đất. Tuy nhiên, ngay cả Walter Alvarez cũng đã thừa nhận rằng có các thay đổi lớn khác trên Trái Đất đã xảy ra ngay trước sự va chạm, như mực nước biển tụt xuống và các hoạt động phun trào núi lửa diễn ra mạnh mẽ đã tạo ra các trap Deccan ở Ấn Độ, và các thay đổi này có thể đã góp phần tạo ra sự tuyệt chủng.
Khủng long sống sót qua vụ tuyệt chủng.
Hóa thạch khủng long phi chim đôi khi được tìm thấy qua ranh giới Creta–Paleogen. Năm 2001, nhà cổ sinh vật học Zielinski và Budahn thông báo đã phát hiện một hóa thạch xương chân hadrosauridae ở lưu vực San Juan, New Mexico, và mô tả nó như một bằng chứng của khủng long thế Paleocen. Hóa thạch được cho là vào đầu kỷ Đệ Tam, khoảng 64.5 triệu năm trước. Nếu nó không bị hoạt động thời tiết làm thay đổi địa tầng, nó được xem là bằng chứng rằng một vài quần thể khủng long đã sống sót đến kỷ Đệ Tam. Chứng cứ khác bao gồm hóa thạch được tìm thấy trong thành hệ Hell Creek khoảng ( năm sau ranh giới Creta–Paleogen). Các báo cáo tương tự cũng đến từ các phần khác của thế giới, gồm cả Trung Quốc.
|
Cuộc đua thuyền Oxford-Cambridge
Cuộc đua thuyền Oxford - Cambridge là một trong những cuộc đua thuyền lớn nhất thế giới, đó là cuộc thi giữa 2 đại học: Cambridge và Oxford.
Thời gian và địa điểm đua.
Cuộc đua được tổ chức vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4, đường đua là một khúc sông Thames dài 4,25 dặm giữa Putley và Mortlake. Cuộc đua được tổ chức dao động từ giữa trưa cho đến tầm 3 giờ chiều. Nó thu hút rất đông khán giả theo dõi, người xem tụ tập kín hai bên bờ sông, trên các con thuyền và số khác thì xem tại nhà qua ti vi.
Lần đầu tiên cuộc đua được tổ chức ở Henley vào năm 1829, nhưng sau đó vào năm 1845 đã được chuyển tới đường đua hiện nay. Chỉ tính đến năm 1966, thì đội trường Cambridge đã giành chiến thắng tổng cộng 61 lần, còn Oxford là 50 lần thắng trong đó có một lần thắng liên tiếp vào năm 1877.
Do thời tiết mỗi năm mỗi khác, có năm thời tiết xấu, nước sông có thể bị động mạnh ở một số điểm trên đường đua, dẫn đến chìm thuyền. Thuyền của đội Cambridge bị đắm vào năm 1859, còn của Oxford năm 1925 và 1951, cả hai đội đều bị đắm năm 1929.
Trong năm 2006, Oxford đã ghi vào kỷ lục với đội đua nặng ký nhất trong lịch sử của cuộc đua thuyền.
Cuộc đua truyền thống này bắt đầu bởi Charles Merivale, một sinh viên trường Cambridge, và bạn học của anh ta là Charles Wordsworth, học tại Oxford. Cambridge thách thức Oxford đua thi, và cuộc đua lại tiếp tục năm sau đó.
Trong cuộc đua năm 1948, đội Cambridge đã lập kỷ lục mới với thành tích 17 phút 50 giây.
|
Mùa len trâu là bộ phim đầu tay của đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh được khởi quay tháng 9 năm 2003.
Bộ phim có kinh phí khoảng hơn 1 triệu USD, với sự tham gia của ba hãng: Hãng phim Giải Phóng Việt Nam, 3B Productions Pháp và Novak Prod Bỉ. Bộ phim được trình chiếu ở Pháp với tên Gardien de buffles và ở Mỹ với tên Buffalo boy.
Chuyện phim dựa trên tác phẩm "Mùa len trâu" trong tập truyện "Hương rừng Cà Mau" của nhà văn Sơn Nam, kể về cuộc sống của những người nông dân miền Nam đầu thế kỷ 20. Mỗi khi mùa mưa về, nước tràn ngập mọi nơi, có những người làm nghề "len trâu", đưa trâu đi tìm cỏ để sống qua mùa lũ.
Phim mở ra với cảnh một đứa trẻ trong lúc làm ruộng vớ phải một cọng dây cột vào một vật nặng.
Khi đến mùa nước lũ, nước tràn ngập cả vùng khiến cỏ chết hết và trâu cũng không thể ngủ dưới nước nên Kìm buộc phải đi len trâu (dẫn trâu lên vùng cao kiếm cỏ) cùng với đám chuyên len trâu của ông Lập, một ông chủ khó tính và du côn.
Vượt qua bao nhiêu hiểm trở và vất vả khi phải dẫn trâu đi dưới nước cả ngày, phải đánh nhau với đám côn đồ vì địa bàn, bị đám khác đi trước giành cỏ nên phải đi nơi khá, tuy nhiên một trong hai con trâu đã chết, chỉ còn lại lớp da và cặp sừng để làm kỷ niệm. Tính tình Kìm cũng trở nên du côn hơn, chửi thề nhiều hơn khiến cha anh khá buồn. Kìm rất thương con trâu còn lại nên cả ngày quấn quít bên nó, tuy nhiên vì hoàn cảnh gia đình quá túng quẫn không có tiền trả nợ, cha mẹ của Kìm phải bán trâu đi khiến anh đau lòng mà bỏ nhà ra đi.
Anh cùng Đẹt, người bạn chung đám len trâu của Lập, hợp tác đi len trâu cho những người khác. Đẹt tiết lộ cho Kìm biết rằng mình có người thương đã có con cùng, nhưng anh bỏ đi khi con chưa sinh. Vợ của Đẹt, tên Bân, và con khi biết Đẹt đang ở gần đó thì tìm đến, cùng Quang (một bạn cũ trong đám len trâu của Lập, cũng quen với Kìm) đi len trâu với Đẹt và Kìm. Kìm thấy Bân nên sinh tình cảm, nhưng Bân không đồng ý. Trong lúc len trâu, Kìm nghe tin mẹ đã bỏ cha mình, còn cha mình ở U Minh bệnh nặng nên tức tốc quay về. Kìm sống cùng cha những ngày cuối cùng trên con thuyền nhỏ bé, khi cha chết đi, anh được cha tiết lộ mình là kết quả từ một lần cha anh hiếp dâm em gái ông Lập. Anh nhờ vợ chồng bà Hai, những người lạ mới quen, giúp anh chôn xác cha mình cùng với chiếc cối đáng giá cả gia tài của gia đình bà Hai để xác không bị nước cuốn đi.
Sau khi chôn xác, anh trở lại với gia đình Đẹt và Quang. Sau một lần gặp mặt ông Lập cũng như bị vợ Đạt từ chối tình cảm, Kìm không muốn len trâu nữa nên quay về nhà bà Hai và phát hiện bà đã mất, anh sống cùng ông Hai đến khi ông mất. Một thời gian sau, hai vợ con của Đạt đến tìm Kìm và báo rằng Đẹt và Quang sau khi gặp ông Lập thì mất tích hơn 10 tháng bặt vô âm tính. Bân gửi con cho Kìm, bảo Kìm làm cha nó và một thân một mình chèo thuyền đi.
Kết phim quay lại cảnh đầu phim: vật nặng mà đứa trẻ kéo lên được là cái cối xay cột xác cha Kìm.
Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh vốn là một tiến sĩ vật lý và đây là bộ phim đầu tay của ông:
""...Tôi thường tìm cách trốn thoát cái chết chóc, đau khổ của chiến tranh bên ngoài bằng cách ráng đi vô coi phim. Vì ba tôi là quản lý rạp phim nên những người gác cửa rạp họ biết và để tôi vào xem không có gì khó khăn lắm. Xem phim, ngoài việc là phương tiện để tôi trốn thoát cái đau khổ của cuộc chiến tranh bên ngoài kia, nó còn là cửa sổ để tôi nhìn ra thế giới bên ngoài. Tôi xem phim Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Phá, chín tuổi thì ấn tượng đó rất là sâu đậm. Nhưng không chỉ ở Việt Nam mà cả ở Âu châu, ngay cả ở Mỹ cũng vậy, sống bằng nghề làm phim không là chuyện vô cùng khó khăn nên tôi đành tạm gác cái đam mê của mình lại."
"Tôi chợt nghĩ, một là mình làm phim bây giờ, hai là mình chắc phải lãng quên giấc mơ này. Và tôi phải quyết định, không hẳn là bỏ hẳn ngành vật lý của mình, nhưng tôi phải giảm bớt vai trò của công việc vật lý để bắt đầu đi học làm phim và làm các phim ngắn. Rồi tôi bắt đầu viết kịch bản phim Mùa len trâu. Kịch bản viết rất là nhanh, tôi nhớ rằng tôi viết trong vòng khoảng 30 ngày. Tôi rất vui là kể từ khi viết kịch bản, bắt tay vào làm phim thì hầu như không có nhiều thay đổi."
Nhà văn Sơn Nam:
""Len" trong tiếng Khmer có nghĩa là đi tự do, "len trâu" có nghĩa là cho trâu đi tự do. Ở đây nước lụt, nước lụt từ 1m đến 4m. Người ta ở nơi lụt, người ta không có chỗ ở là phải, và trâu cũng không có chỗ ở. Cho nên nó phải đi đến những vùng đất cao để có cỏ cho nó ăn. Ở nhà tối nó ngủ không được, ngủ với nước sao mà ngủ được, và trưa thì làm sao cho nó ăn, cỏ đâu ra mà cho nó ăn. Người nuôi trâu, chủ nhà có trâu, phải đưa trâu đến vùng đất cao. Làm sao người làm ruộng nuôi trâu? Muốn nuôi trâu thì phải lùa trâu đi. Ngày thường trời nắng, nuôi trâu trong chuồng. Đến ngày trời mưa thì phải lùa trâu đi. Vì vậy cho nên phải đem trâu đi chỗ khác. Đưa trâu đến vùng bảy Núi. Nhưng nó xa nhà mình đến 30 – 40 km, xa quá sao mà đưa đi. Vì vậy, mình phải đưa nó đi lòng vòng, ăn hết cỏ chỗ này, nước lên, thì đưa trâu sang chỗ khác. Có khi đến ba bốn tháng mới đưa trâu về. Trâu dẫn đi phải có người giữ. Trâu không dẫn đi thì phải mướn người ta giữ. Người nghèo mướn ai bây giờ? Vậy thì để con cái đi giữ nó. Ngày trước trẻ con đi theo con trâu, áo quần không có, mùng mền không có, gạo cơm thiếu, đó là cả một chuyện khó khăn. Vì vậy đối với chúng tôi dân miệt dưới, tôi là dân miệt dưới, đó là một bài học cho thanh niên trở thành người lớn. Nhưng mà trẻ con ở đó không có được đi học. Học với ai. Thằng dốt học với thằng dốt, thằng du côn học với thằng du côn. Tôi rất hãnh diện, vì tác phẩm tôi viết đã gần 50 năm rồi, nhiều anh em tính làm phim, nhưng nghĩ làm hông nổi. Thời buổi này đâu còn trâu, máy cày hết rồi, thành ra tôi để đó coi, chờ xem. May mà có anh Nguyễn Võ Nghiêm Minh, ổng làm sao mà ổng có tiền ổng mướn trâu, thiên hạ sợ quá. Chứ làm sao thằng cha này có tiền mướn ba bốn trăm con trâu để đóng phim, dân làm phim Sài Gòn ngán Nguyễn Võ Nghiêm Minh, tưởng cha này là tỷ phú Việt kiều Mỹ hay gì đó."
"Tôi hãnh diện, được thấy cái phim này, đối với đồng bào ở đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã trả được một món nợ tinh thần. Tôi là một đứa con có hiếu với dân ở dưới. Tôi hy vọng các anh có phương tiện, phải làm sao chiếu ở dưới cho nhiều, và băng video in ra bán rẻ cho dân ở dưới coi. Họ sẽ rất hài lòng, họ thấy việc hợp tác giữa Việt, Pháp và Bỉ có kết quả rất lớn.""
"Mùa len trâu" đã tham dự gần mười liên hoan phim khu vực và quốc tế và đã giành được những giải thưởng đáng kể:
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Yamamoto Kansuke (山本 勘助, "Yamamoto Kansuke", "Sơn Bản Khám Trợ") (1501-1561) tên thật là Yamamoto Haruyuki (山本 晴幸, "Sơn Bản Tình Hạnh") (theo như sử sách ông bị 1 chân khập khiễng) xuất thân từ lãnh địa Mikawa và lúc đầu phục vụ cho gia tộc Imagawa, nhưng ở đây ông không được xem trọng và bị đối xử một cách lạnh lẽo. Sau đó ông được một tướng của Takeda là Itagaki Nobutaka chú ý và đã mời ông gặp mặt Võ Điền Tín Huyền (Takeda Shingen) lãnh chúa xứ Kai. Haruyuki nhanh chóng chinh phục Shingen và được ban cho thu nhập 1000 "thạch" (1 "thạch" là số lượng lương thực 1 người thanh niên ăn trong 1 năm). Ông thường xuyên được Shingen mời góp ý kiến. Yamamoto nhanh chóng chứng tỏ bản thân với vị chủ mới trong các cuộc chinh phục, phục vụ một cách đắc lực cho Shingen trong các cuộc chiến ở Shinano. Sử sách ghi nhận Yamamoto là người thiết kế các xe công thành để hạ các đồn lũy và pháo đài ở Shinano. Nhờ vào đó ông được Shigen thưởng cho tên Kansuke và tăng thu nhập 4000 koku. Haruyuku còn đóng vai trò quan trọng trong trận chiến đánh bại gia tộc Murakami tại Toishi năm 1551, ông còn tham gia 4 trong 5 trận chiến trứ danh Kawanakajima với Uesugi Kenshin.
Vào năm 1561, trong trận Kawanakajima lần thứ 4, Shingen và Kenshin đã có một cuộc kịch chiến sau vài lần tránh đụng độ một cách trực diện. Kenshin đóng quân ở đồi Saijoyama trong khi quân Shingen cắm trại gần phía đông thành Kaizu. Yamamoto đã góp ý kiến Shingen chia 20.000 quân thành 2 cánh, 1 cánh sẽ đột kích vào sáng sớm vào đồi Saiyojama trong khi phần còn lại sẽ di chuyển đến Hachimanbara phục kích đường rút lui của quân Kenshin. Shingen đã đồng ý kế hoạch này và sai Kosaka Masanobu cùng với Baba Nobufusa dẫn phần lớn quân tiến về đồi Saijo trong khi đích thân Shingen dẫn số quân còn lại vượt sông Chikuma tiến về phía bình nguyên. Thật không may cho Shingen, bằng cách nào đó Kenshin đã nhận ra kế hoạch này và ngay trong đêm đã dẫn toàn bộ 11.000 quân rời khỏi đồi Saijo và vượt sông. Vào lúc bình minh, Kenshin mở một cuộc tổng đột kích vào nhóm quân ít ỏi của Shingen trong khi Kosaka và Baba đang ngỡ ngàng trước đồi Saijo không một bóng người. Người em tài năng của Shingen là Takeda Nobushige và người chú là Morozumi Masakiyo đã hi sinh ngay trong trận chiến.Takeda Yoshinobu người thừa kế của Shingen cũng bị thương nặng. Tin rằng vì kế hoạch của mình thất bại đã gây ra sự sụp đổ của chủ nhân hay chi ít cũng làm Takeda thiệt hại nặng nề, Yamamoto đã cầm lấy giáo và xông trận một cách dũng cảm. Dù đã 60 tuổi với 1 chân khập khiễng và chỉ một con mắt còn tốt nhưng ông đã chiến đấu dũng cảm và bị nhiều vết thương. Cuối cùng ông đã mổ bụng tự sát như 1 samurai chân chính.
Quân Shingen nhờ sự tiếp viện kịp thời của Baba và Kosaka đã không bị tiêu diệt hoàn toàn. Dù vậy Shingen vẫn hết sức đau lòng khi mất đi vị tham mưu trưởng Yamamoto Kansuke và đã cho mai tán ông tại ngay bãi chiến trường.
Yamato Kansuke còn là tác giả của quyển binh thư Heiho Okugi Sho.
|
Thành phố Hanse Hamburg (đọc như "Hăm-buốc") tên đầy đủ là Thành phố Tự do và Hanse Hamburg () là một tiểu bang và là thành phố lớn thứ hai của Đức, có cảng Hamburg lớn thứ 2 trong Liên minh châu Âu.
Hamburg là thành phố thương mại quốc tế và cũng là trung tâm thương mại, văn hoá của phía bắc nước Đức, trung tâm của vùng đô thị Hamburg, một trong số tổng cộng là 11 vùng đô thị tại Đức.
Nhắc đến thể thao Hamburg, có lẽ nổi tiếng nhất là câu lạc bộ bóng đá Hamburger SV. Hamburger SV đã vô địch châu Âu 1 lần, vô địch bóng đá Đức 6 lần cùng nhiều danh hiệu khác. Sân vận động của câu lạc bộ mang tên công ty truyền thông AOL (trước năm 2001 là sân vận động Volkspark). Đây cũng là nơi tổ chức 3 trận đấu thuộc giải vô địch bóng đá thế giới 1974 và 5 trận đấu thuộc giải vô địch bóng đá thế giới 2006.
Trung tâm mua sắm.
Khu phố sầm uất nhất thành phố Mönckebergstraße, đây được mệnh danh là thiên đường shopping của các tín đồ thời trang. Nơi đây cũng rất gần tòa thị chính của thành phố và bên trái chính là dòng kênh Alsterfleet thơ mộng. Ngoài ra cũng có thể kê đến tên một số trung tâm mua sắm ở Hamburg như Levantehaus, Europa-Passage, Mellin-Passage, Bleichenhof-Passage, Galleria, Hanse-V
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Thuật toán Dijkstra, mang tên của nhà khoa học máy tính người Hà Lan Edsger Dijkstra vào năm 1956 và ấn bản năm 1959, là một thuật toán giải quyết bài toán đường đi ngắn nhất từ một đỉnh đến các đỉnh còn lại của đồ thị có hướng không có cạnh mang trọng số không âm. Thuật toán thường được sử dụng trong định tuyến với một chương trình con trong các thuật toán đồ thị hay trong công nghệ Hệ thống định vị toàn cầu (GPS).
Đâu là con đường ngắn nhất để đi từ Rotterdam đến Groningen, hay nói chung: từ thành phố này đến thành phố nhất định. Đây là thuật toán tìm đường đi ngắn nhất, mà tôi đã thiết kế trong khoảng hai mươi phút. Vào một buổi sáng đi mua sắm ở Amsterdam cùng vị hôn thê trẻ tuổi với sự mệt mỏi, chúng tôi ngồi trên sân thượng để uống một tách cà phê và tôi chỉ nghĩ liệu tôi có thể làm điều này không, và sau đó tôi đã thiết kế thuật toán tìm đường đi ngắn nhất. Như tôi đã nói, đó là một phát minh trong hai mươi phút. Trên thực tế, nó đã được xuất bản vào năm 1959, ba năm sau đó. Các ấn phẩm vẫn có thể đọc được, quả thật như vậy, và khá đẹp. Một trong những lý do khiến nó rất hay là tôi đã thiết kế nó mà không cần bút chì và giấy. Sau này tôi đã học được rằng một trong những lợi thế của việc thiết kế mà không cần bút chì và giấy là bạn gần như buộc phải tránh đi mọi sự phức tạp có thể tránh được. Cuối cùng, thuật toán đó đã trở thành một trong những nền tảng giúp tôi nổi tiếng, với sự kinh ngạc lớn của tôi.
—Edsger Dijkstra trong một cuộc phỏng vấn với Philip L. Frana, Communications of the ACM, 2001.Dijkstra đã nghĩ về bài toán đường đi ngắn nhất khi làm việc tại Trung tâm Toán học ở Amsterdam năm 1956 với tư cách là một lập trình viên để chứng minh khả năng của một máy tính mới có tên ARMAC. Mục tiêu của ông là chọn cả một bài toán và giải pháp (sẽ được tạo bởi máy tính) mà những người không thuần tính toán vẫn có thể hiểu được. Ông đã thiết kế thuật toán đường đi ngắn nhất và sau đó triển khai nó cho ARMAC bằng bản đồ giao thông được đơn giản hóa một chút của 64 thành phố ở Hà Lan. Một năm sau, ông gặp một vấn đề khác từ các kỹ sư phần cứng làm việc trên máy tính tiếp theo của học viện: giảm thiểu lượng dây cần thiết để kết nối các chân trên bảng điều khiển phía sau của máy. Như một giải pháp, ông đã phát hiện lại thuật toán Prim (được biết đến trước đó với Jarník, và cũng được Prim khám phá lại). Dijkstra đã xuất bản thuật toán vào năm 1959, 2 năm sau Prim và 29 năm sau Jarník.
Cho một đồ thị có hướng "G=(V,E)", một hàm trọng số "w": "E" → [0, ∞) và một đỉnh nguồn s.
Cần tính toán được đường đi ngắn nhất từ đỉnh nguồn s đến mỗi đỉnh của đồ thị.
Ví dụ: Chúng ta dùng các đỉnh của đồ thị để mô hình các thành phố và các cạnh để mô hình các đường nối giữa chúng. Khi đó trọng số các cạnh có thể xem như độ dài của các con đường (và do đó là không âm).
Chúng ta cần vận chuyển từ thành phố s đến thành phố t.
Thuật toán Dijkstra sẽ giúp chỉ ra đường đi ngắn nhất chúng ta có thể đi.
Trọng số không âm của các cạnh của đồ thị mang tính tổng quát hơn khoảng cách hình học giữa hai đỉnh đầu mút của chúng. Ví dụ, với 3 đỉnh A, B, C đường đi A-B-C có thể ngắn hơn so với đường đi trực tiếp A-C.
Giới thiệu thuật toán.
Xét đồ thị G =(X,E) với các cạnh có trọng số không âm.
- Dữ liệu nhập cho thuật toán là ma trận trọng số L (với qui ước L(h,k) = +∞ nếu không có cạnh nối từ đỉnh h đến đỉnh k)và hai đỉnh x,y cho trước.
- Dữ liệu xuất là đường đi ngắn nhất từ x đến y.
Ý tưởng của thuật toán được chứng minh như sau.
Chúng ta sẽ chỉ ra, khi một đỉnh v được bổ sung vào tập S, thì "d[v]" là giá trị của đường đi ngắn nhất từ nguồn s đến v.
Theo định nghĩa nhãn d, "d[v]" là giá trị của đường đi ngắn nhất trong các đường đi từ nguồn s, qua các đỉnh trong S, rồi theo một cạnh nối trực tiếp u-v đến v.
Giả sử tồn tại một đường đi từ s đến v có giá trị bé hơn "d[v]". Như vậy trong đường đi, tồn tại đỉnh giữa s và v không thuộc S. Chọn w là đỉnh đầu tiên như vậy,
Với giải thuật đã mô tả ta dễ dàng thực hiện trực tiếp trên các đồ thị kích thước nhỏ,để có thể mã hóa và cài đặt hiệu quả cần đưa thêm các cấu trúc dữ liệu để sử dụng trong giải thuật.
Thuật toán Dijkstra bình thường sẽ có độ phức tạp là formula_6. Tuy nhiên ta có thể sử dụng kết hợp với cấu trúc heap, khi đó độ phức tạp sẽ là formula_7, nếu dùng Fibonacci Heap thì độ phức tạp giảm xuống còn formula_8. Trong đó m là số cạnh, n là số đỉnh của đồ thị đang xét.
|
Màng trinh là một màng mỏng nằm trong âm đạo, cách cửa âm đạo khoảng 2 cm. Màng trinh là màng che cửa âm đạo. Nhiều loài động vật cũng có màng trinh, bao gồm (nhưng không giới hạn) lạc đà không bướu, chuột lang, vượn, lợn biển, chuột chũi, cá voi có răng, tinh tinh, voi, chuột, vượn cáo và hải cẩu. Ở trẻ em, mặc dù màng trinh thường có hình khuyên, nó cũng có thể có hình dạng khác.
Ảnh hưởng của việc sinh hoạt tình dục và sinh đẻ có nhiều dạng khác nhau. Nếu màng trinh đủ tính đàn hồi, nó có thể khôi phục về gần với hình dáng ban đầu. Trong những trường hợp khác, một phần của màng trinh còn có thể sót lại, hoặc nó cũng có thể biến mất hoàn toàn. Một số thông tin cho rằng một số phụ nữ khi sinh ra đã không có màng trinh. Tuy nhiên, tờ báo New York Times đã đưa tin về khảo sát của bác sĩ chuyên khoa nhi với 1.100 bé gái sơ sinh cho thấy tất cả các bé gái khi sinh ra đều có màng trinh.
Có nhiều quảng cáo về việc vá lại màng trinh, nhưng những quảng cáo đó chỉ là sự khoa trương, thực ra màng trinh đã rách thì không thể vá lại. Vá màng trinh là rất khó, có thể nói là không tưởng, bởi màng trinh được kết dính với ống âm đạo luôn di động, mạch máu trong môi trường dễ nhiễm trùng. "Vá màng trinh" thực chất là dùng niêm mạc âm đạo, nhíu lại bằng vài mũi khâu, thực chất là làm chít hẹp một phần ống âm đạo, khi có va chạm, vết khâu sẽ rách ra, nhưng thủ thuật này không thể qua mắt các bác sĩ phụ khoa hoặc người có kinh nghiệm.
Kích thước và hình dạng cửa mình mỗi người đều khác nhau. Rất hiếm hoi, có phụ nữ được sinh ra mà không có màng trinh, trong khi một số khác (cũng rất hiếm) lại có màng trinh đóng (kín, không có lỗ). Những người này cần phải được bác sĩ phụ khoa tiến hành hymenotomy nhằm giúp kinh nguyệt có thể thoát ra ngoài. Không chỉ vậy, một số phụ nữ lại có màng trinh dày bất thường, họ cũng cần được tiến hành mở màng trinh nhằm tránh đau đớn khi giao hợp. Vào tuổi dậy thì của phụ nữ, cấu trúc chung của màng trinh có thể so sánh như của một scrunchie tóc, một thứ khá đàn hồi và có thể giãn rộng dễ dàng. Một số dạng màng trinh thường gặp là:
Cần lưu ý có một số phụ nữ có màng trinh thuộc loại co giãn được, sẽ không bị rách dù đã quan hệ tình dục.
Có một số thông tin cho rằng một số phụ nữ khi sinh ra đã không có màng trinh, nhưng đều này hiện nay đã bị bác bỏ. Báo New York Times đưa tin, một khảo sát cho thấy hầu như tất cả bé gái sinh ra đều có màng trinh (khảo sát trên 1.100 bé gái cho thấy tất cả đều có màng trinh)
Trong thời kì đầu của bào thai, hoàn toàn không có cửa vào âm đạo. Lớp mô mỏng che phủ âm đạo thời kì này thường sẽ phân chia không hoàn toàn trước khi sinh, hình thành nên màng trinh. Màng trinh thật ra là một phần dư sót lại trong thời kì thai nhi phát triển. Ở một số phụ nữ, màng trinh dày và che kín âm đạo gây trở ngại khi giao hợp và có triệu chứng không có kinh, hoặc nó đàn hồi đến mức tiếp tục tồn tại cho đến lần sinh con đầu tiên.
Có nhiều quan điểm cho rằng phụ nữ sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên sẽ bị rách màng trinh. Tuy nhiên, vấn đề liệu thực sự phụ nữ chỉ rách màng trinh sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên hay không vẫn chưa được chứng minh. Ở lứa tuổi dậy thì của những nữ thiếu niên, màng trinh có độ co giãn tốt và có thể mở rộng ra để đưa băng vệ sinh dạng ống (tampon) cho vừa vặn. Theo một khảo sát, chỉ có 43% phụ nữ bị chảy máu khi quan hệ tình dục lần đầu, do màng trinh đã giãn nở đủ rộng để dương vật có thể đưa vào mà không bị rách màng trinh. Ngoài ra, một nghiên cứu vào tháng 3 năm 2004 tại Hoa Kỳ cho thấy 52% phụ nữ sau lần quan hệ tình dục đầu tiên vẫn có màng trinh nguyên vẹn.
Sau kì sinh nở đầu tiên, màng trinh thường sẽ bị rách hoàn toàn.
Tóm lại, chỉ có sự thâm nhập âm đạo do quan hệ tình dục, hiếp dâm hoặc phẫu thuật mới làm rách màng trinh. Các nguyên nhân khác (như thủ dâm, ngã xe đạp, ngã ngự) sẽ không gây rách màng trinh. Một số nguồn thông tin báo chí, diễn đàn hoặc ý kiến cho rằng thủ dâm, ngã xe đạp, ngã ngự, nhưng thực ra điều này là sai về kiến thức y khoa. Các chấn thương này thường gây chấn thương lên xương mu âm đạo, xương cụt, hay tới những cạnh mép của cửa âm đạo, nhưng không tạo nên chấn thương sâu nên không thể gây ra hiện tượng rách màng trinh
"Màng trinh" và "Trinh tiết".
Có nhiều quan niệm hợp nhất giữa 2 khái niệm "màng trinh" "(hymen)" và "trinh tiết, sự trong trắng" "(Virgin)". Thực chất, đây là hai khái niệm riêng. Màng trinh là khái niệm sinh học chỉ một bộ phận của phụ nữ, còn trinh tiết là một khái niệm xã hội, chỉ người chưa từng quan hệ tình dục (hoặc cũng có thể chỉ người đã quan hệ nhưng là do bị cưỡng hiếp), hoặc những phụ nữ một lòng chung thủy suốt đời với chồng.
Có sự lẫn lộn này là do màng trinh thường sẽ bị rách và gây chảy máu ở lần giao hợp đầu tiên. Các nguyên nhân khác như chơi thể thao, chạy nhảy, đi xe đạp, dùng băng vệ , nhưng thực ra sau những chấn thương như vậy, màng trinh sẽ liền lại như cũ.
|
Con quỷ Maxwell là một thí nghiệm tưởng tượng của nhà vật lý người Scotland, James Clerk Maxwell, thực hiện vào năm 1867, để tìm hiểu về định luật hai của nhiệt động lực học. Theo định luật này, khi hai vật thể có cùng nhiệt độ được cho tiếp xúc với nhau, và được cô lập khỏi môi trường, chúng không thể biến đổi trạng thái để một vật có nhiệt độ cao hơn vật kia. Lý do là với các hệ cô lập thì entropy không bao giờ giảm, trong khi trạng thái hai vật thể có nhiệt độ bằng nhau đã có entropy cực đại. Thí nghiệm tưởng tượng của Maxwell muốn tạo ra một màng ngăn cách hai vật thể, gọi là con quỷ Maxwell, thúc đẩy trao đổi nhiệt một chiều khiến một vật có nhiệt độ cao hơn vật kia.
Mô tả thí nghiệm.
Maxwell mô tả thí nghiệm của ông:
"... nếu chúng ta tưởng tượng một nhân vật có thể theo dõi đường đi của từng phân tử, trong chiếc hộp có số lượng hữu hạn các phân tử, nhân vật này có thể làm được những thứ mà chúng ta không ngờ. Chúng ta đã biết trong hộp khí có cùng nhiệt độ, các phân tử chuyển động với vận tốc khác nhau, dù cho vận tốc trung bình của số lượng lớn phân tử được chọn ngẫu nhiên là đồng đều. Tường tượng rằng hộp này được chia làm hai ngăn, A và B, có một vách ngăn đục lỗ, được quản lý bởi nhân vật đặc biệt, nhìn rõ từng chuyện động của từng phân tử, và mở hay đóng lỗ, sao cho chỉ có phân tử chuyện động nhanh được đi từ A sang B, và phân tử chuyển động chậm từ B sang A. Nhân vật này, không cần thực hiện công cơ học vào hệ, đã làm nhiệt độ của B tăng và A giảm, mâu thuẫn với định luật hai nhiệt động lực học."
Nhân vật canh giữ lỗ trên vách ngăn giữa A và B sau này được gọi là con quỷ Maxwell.
Thí nghiệm của Maxwell đã đặt ra câu hỏi cho các nhà vật lý.
"Liệu con quỷ Maxwell có vi phạm định luật hai nhiệt động lực học?"
Nhiều nhà vật lý đã thực hiện tính toán và nhận thấy định luật hai nhiệt động lực học không bị vi phạm, nếu tính cả trạng thái của con quỷ Maxwell vào hệ. Con quỷ sẽ cần phải thực hiện công để phân tách các phân tử, nhiều hơn là công mà nó có thể thu lại từ chênh lệch nhiệt độ hai bên hộp.
Ví dụ như năm 1929, Leó Szilárd và Léon Brillouin chỉ ra rằng con quỷ Maxwell cần phải đo được tốc độ của các phân tử, và động tác thu thập thông tin này cần tiêu tốn năng lượng. Ví dụ như nếu con quỷ kiểm tra vận tốc của các phân tử bằng cách gửi các photon tới các phân tử và nhận về photon phản xạ, nó cần có năng lượng để phát ra các photon. Việc tiêu tốn năng lượng của con quỷ làm tăng entropy của chính nó, ví dụ như entropy của hệ photon do quỷ phóng ra trong lúc đo đạc, và sự tăng này lớn hơn sự giảm entropy trong hộp khí, khiến entropy tổng cộng của cả hệ có tương tác lẫn nhau là tăng.
Năm 1960, Rolf Landauer nhận ra rằng một số phép đo không làm tăng entropy nhiệt động lực học nếu nó là quá trình nhiệt động lực học thuận nghịch. Do mối liên hệ giữa entropy nhiệt động lực học và entropy thông tin, điều này đồng nghĩa với việc các kết quả thông tin trong đo đạc sẽ không bị xoá. Nghĩa là con quỷ Maxwell cần lưu giữ thông tin đo đạc lại.
Tuy vậy, năm 1982, Charles H. Bennett, chỉ ra rằng, dù con quỷ Maxwell có chuẩn bị trước, nó sẽ dần tiêu thụ hết bộ nhớ của nó và để tiếp tục việc đo đạc, nó sẽ phải xoá bớt dần thông tin cũ trong bộ nhớ để ghi thông tin mới. Việc xoá thông tin là quá trình nhiệt động lực học không thuận nghịch và làm tăng entropy .
Các phiên bản của con quỷ Maxwell trong thực tế đã xuất hiện trong tự nhiên cũng như đã được chế tạo, và chúng đều tiêu tốn năng lượng khiến entropy tổng cộng luôn tăng.
Trong tự nhiên, các kênh ion hay các màng tế bào hoạt động có tính lọc lựa một chiều rất giống quỷ Maxwell. Bộ não và hệ thần kinh của động vật hoạt động với các van một chiều này.
Trong vật lý hạt, các bẫy đơn nguyên tử cũng là các con quỷ Maxwell, điều khiển trạng thái lượng tử của từng hạt. Công nghệ nano cũng được phát triển để tạo ra các màng hay van một chiều ở cỡ phân tử, phỏng theo hoạt động sinh hoá của tế bào sống.
Trên tầm vĩ mô hơn, các hệ thống ống cuộn Ranque-Hilsch cũng giúp tách khí nóng khỏi khí lạnh. Nó tách các phân tử dựa trên định luật bảo toàn động lượng, các phân tử chuyển động nhanh bị văng ra thành ngoài ống, còn các phân tử chuyển động chậm nằm ở gần tâm xoáy cuộn hơn. Các phần khí có nhiệt độ khác nhau được cho thoát ra các đầu khác nhau. Dù dụng cụ này cho phép tạo ra chênh lệch nhiệt độ, cần có năng lượng để làm các dòng khí chuyển động.
|
Mafia (còn có tên Cosa Nostra) là một tổ chức tội phạm bí mật của người Sicilia được hình thành vào giữa thế kỉ 19 tại vùng đảo Sicilia thuộc Ý. Một trong những bộ phận hậu duệ của nó xuất hiện ở vùng ven biển miền đông Hoa Kỳ và Úc, được du nhập cùng với làn sóng di cư của người Sicilia và các cư dân khác thuộc miền nam của Ý. Ở Bắc Mỹ, Mafia dùng để chỉ các tổ chức tội phạm của Ý nói chung, chứ không hẳn là chỉ giới tội phạm của riêng cộng đồng Sicilia. Theo nhà sử học Paolo Pezzino "Mafia là một tổ chức tội phạm không những chỉ hoạt động trong một số lĩnh vực bất hợp pháp; mà còn là một tổ chức đa chức năng như là một thế lực của một vùng, một khu vực nhất đị".
Cosa Nostra là một liên minh không chặt chẽ của hàng trăm nhóm Mafia, còn được gọi là gia đình. Mỗi tổ chức này có quyền kiểm soát một vùng lãnh thổ riêng, thường là một thị trấn, một làng hay một vùng của một thành phố lớn và thường không có nhiều các hoạt động xâm lấn hay bạo lực giữa các địa bàn hoạt động của nhau. Qua thời gian cơ cấu tổ chức của các gia đình hình thành nên dạng liên minh vừa giữ quyền lực trung tâm vừa có các tổ chức bộ phận và Cosa Nostra được hình thành từ cuối những năm 1950.
Một số nhà quan sát cho rằng, Mafia chỉ là những dấu hiệu đặc trưng có nguồn gốc văn hoá như là "lối sống". Khi giải thích về Mafia, nhà dân tộc học người Sicilia Giuseppe Pitrè cho rằng: ""Mafia theo quan niệm thông thường nói rộng ra, đây là một lực lượng đứng ra phán xử những mâu thuẫn, xung đột, quyền lợi hay những quan điểm khác nhau".
Nhiều người Sicilia không nhất trí về quan niệm mang tính tội phạm của các nhân vật trên, nhưng đều nhất trí rằng đây là một tổ chức hình thành để bảo vệ những người nghèo hèn trong xã hội. Cuối những năm 1950, trên bia mộ của một thủ lĩnh huyền thoại Mafia là Villalba Calogero Vizzini có ghi hàng chữ: "Ông là một Mafia; tuy phạm tội nhưng ông cũng rất tôn trọng pháp luật, bảo vệ lẽ phải và là một nhân cách vĩ đại. Đó là con người đáng kính"". Ở đây Mafia có nghĩa là niềm kiêu hãnh, niềm vinh dự hay thậm chí là trách nhiệm xã hội như: quan điểm, chứ không phải một tổ chức. Tương tự như vậy, vào năm 1925, chủ tịch hạ viện Ý, ngài Vittorio Emanuele Orlando xuất hiện trước quốc hội và ông rất hãnh diện với tên gọi mafioso (thành viên của Mafia), vì từ này có hàm ý là danh giá, quý phái và hào phóng.
Có một số giả thuyết về nguồn gốc của từ này. Theo tiếng Sicilia, tính từ mafiusu có lẽ vay mượn từ gốc Arập là mahyas có nghĩa là " ba hoa, hiếu chiến" hay marfud có nghĩa là "đồ bỏ đi". Đại khái được dịch theo nghĩa chung là " thái độ nghênh ngang" hay cả nghĩa " tính gan dạ, anh hùng". Khi liên hệ với một người, theo ý kiến của nhà nghiên cứu Diego Gambetta, mafiusu vào thế kỉ 19 ở Sicilia được hiểu theo các nghĩa là: sự ức hiếp, tính kiêu ngạo, can đảm, mạnh dạn, kiêu hãnh.
Theo nhà dân tộc học người Sicilia Giuseppe Pitrè, mối liên hệ của từ này với những băng đảng tội phạm bí mật mới hình thành ở Sicilia và Ý mới chỉ sau này. Vì thế nguồn gốc từ Mafia mang tính chất hoang đường, lỏng lẻo và rất khó giải thích cặn kẽ. Thuật ngữ "Mafia" sau này được dùng trong cộng đồng Ý như đã nêu trên quả là một hiện tượng kỳ lạ. Từ "Mafia" xuất hiện lần đầu tiên trên công luận vào năm 1865 trong bản báo cáo của quận trưởng thị trấn Palermo ngài Filippo Antonio Gualterio. Leopoldo Franchetti, một quan chức chính phủ Ý tới Sicilia và đã viết một báo cáo cặn kẽ nhất về Mafia vào năm 1876. Ông coi Mafia là "tổ chức bạo lực" và mô tả cấu trúc của Mafia như sau: "Mafia chắc chắn là một hệ thống bạo lực chỉ có điều gọi nó như thế nào và xem nó có ảnh hưởng tới tính chất xã hội cũng như vai trò của nó đối với Sicilia như thế nào thôi. Chúng còn có một số tên gọi biến tướng ở những vùng khác nhau nữa". Ông cho rằng, Mafia ăn sâu bén rễ vào đời sống xã hội của Sicilia và nếu không dập tắt được nó, thì những kiến trúc xã hội của vùng đảo phía nam này sẽ bị nó lấn át.
Tên đích thực: Cosa Nostra.
Theo một số thành viên của Mafia thì tên đích thực của Mafia là Cosa Nostra (của chúng ta). Theo tên Mafia đào tẩu Tommaso Buscetta thì từ "Mafia" là sự hư cấu mang tính văn chương. Những tên Mafia đào tẩu khác như Antonio Calderone và Salvatore Contorno cũng nói tương tự. Theo họ, tên thật sự của tổ chức này là "Cosa Nostra". Đối với một người, niềm vinh hạnh đứng trong tổ chức này thì không cần đặt tên cho nó. Các thành viên của Mafia giới thiệu với nhau hay các thành viên khác thuộc về "Cosa Nostra" (việc của chúng ta) hay la stessa cosa (việc giống nhau). Có nghĩa là "anh ta cũng giống như thế, đều là thành viên của Mafia, như anh thôi". Chỉ có những người ngoài thế giới Mafia mới cần tên để gọi chúng, sau đó viết hoa thành "Cosa Nostra".
Cosa Nostra được dùng lần đầu tiên vào năm 1960 ở Mỹ, do một tên là thành viên của Mafia nhưng sau đó ra toà làm nhân chứng. Cũng trong thời gian đó, nó trở thành tên riêng được FBI sử dụng và được các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến rộng rãi. Sau đó thuật ngữ này được sử dụng khắp nơi thay thế cho tên gọi Mafia trước đây. Thậm chí FBI còn đề xướng một cách gọi là "La Cosa Nostra", trong tiếng Ý từ "la" được dùng như một mạo từ đứng trước danh từ Mafia, tương tự như "a, the" trong tiếng Anh.
Trong lịch sử, Mafia mang nhiều tên khác nhau, như: xã hội danh giá. Các thành viên của Mafia cũng tự gọi họ là những con người danh giá.
Nghi thức của Cosa Nostra Sicilia.
Một nghi thức hướng tới hình thành của hầu hết mọi gia đình Mafia là khi thành viên tập hợp thành một hội và sau đó trở thành một đội quân. Theo sự mô tả của Tommaso Buscetta, người bị thẩm phán Giovanni Falcone chất vấn, thì một thành viên mới gia nhập phải có ít nhất "ba người bảo lãnh" (có uy tín) của gia đình Mafia và người già nhất cảnh báo với anh ta là vào "nhà này" tức là phải bảo vệ những người yếu chống lại những kẻ mạnh; sau đó anh ta được chọc kim vào đầu ngón tay cho máu nhỏ xuống một bức hình, thường là tượng thánh để làm lễ tuyên thệ. Bức hình này được đặt trong lòng bàn tay của người mới gia nhập và châm vào lửa; khi hình cháy hết anh ta bắt đầu lời thề sẽ trung thành với luật lệ của Cosa Nostra, với lời trang trọng "máu thịt tôi sẽ chảy như bức hình này nếu tôi không giữ trọn lời thề của mình". Joseph Valachi là người đầu tiên nói lên điều đó trước toà. Ở Sicilia cũng có một điều luật im lặng gọi là omertà, cấm tất cả mọi người đàn ông bình thường, phụ nữ, trẻ em hợp tác với bất cứ một cảnh sát hay quan chức chính quyền nào, bằng không sẽ chết.
Lịch sử Cosa Nostra Sicilia.
Đã từ lâu, người ta đưa ra giả thuyết rằng Mafia ra đời vào thời trung cổ. Pentito Tommaso Buscetta quá cố(pentito- người cộng tác với pháp luật) cũng nghĩ như thế, nhưng các học giả đôi khi lại nghĩ khác. Có lẽ nguồn gốc của Mafia hình thành nên như một tổ chức xã hội bí mật nhằm bảo vệ người dân Sicilia chống lại mối đe doạ của quân xâm lược Catalan vào thế kỉ thứ 15. Tuy nhiên, có rất ít những chứng cứ ủng hộ những giả thuyết đó. Một khả năng khác có nguồn gốc từ "Robin Hood" gắn với xã hội ngoài pháp luật Sicilia, tồn tại lâu dài và được người dân nơi đây chấp nhận. Cách lý giải nữa về nguồn gốc này cho thấy rằng, Mafia là những kẻ phiến loạn chính đáng để bảo vệ người dân chống lại sự áp bức của quân xâm lược La Mã hay đội quân miền bắc nước Ý.
Sau cuộc cách mạng năm 1848 và năm 1860, Sicilia thất thủ và rơi vào hỗn loạn. Lúc đầu mafiosi(các hội hay thành viên mafia) biệt lập với nhau tạo thành những băng đảng ngoài pháp luật, chuẩn bị vũ khí để nổi dậy. Arthur John Dickie cho rằng, đây chỉ là cách biện hộ để đánh lừa và bắn giết cảnh sát mà thôi. Tuy nhiên khi chính phủ mới được hình thành ở Rome, thì rõ ràng là Mafia không có khả năng làm những việc ấy, chúng bắt đầu thay đổi phương pháp và chiến thuật trong suốt nửa cuối thế kỉ 19. Các khu rừng, các vùng đất của các quý tộc bắt đầu sinh lợi nhưng cũng rất nguy hiểm. Lúc đầu Palermo là địa bàn chính của những hoạt động này, nhưng sau đó Mafia Sicilia nhanh chóng ảnh hưởng sang miền tây của hòn đảo này. Để củng cố giao kèo giữa các băng đảng với nhau, nhằm tăng lợi nhuận và đảm bảo môi trường lao động an toàn, có thể Mafia đã được hình thành vào khoảng thời gian giữa thế kỉ 19.
Mafia sau khi thống nhất nước Ý.
Năm 1860, nước Ý thống nhất các vùng lãnh thổ lần đầu tiên bao gồm cả Sicilia và Papal, Giáo hoàng phẫn nộ với chính phủ nước này. Từ năm 1870, Giáo hoàng cho rằng lãnh thổ bị bao vây bởi nước Ý và thúc giục nhà thờ không hợp tác với nước này. Nhìn chung nước Ý không khuyến khích bạo lực. Sicilia có tổ chức nhà thờ rất mạnh, nhưng lại đa dạng về sắc tộc chứ không mạnh về mặt tri thức và xã hội và lại có truyền thống đứng ngoài sự kiểm soát của chính quyền trung ương. Sự va chạm giữa chính quyền và nhà thờ tạo cho các băng đảng ở Sicilia đại diện cho những người dân nơi đây hợp tác với chính quyền trung tâm (chuẩn bị cho việc hình thành nước Ý thống nhất) chống lại các hoạt động của nhà thờ. Trải qua hai thập kỉ kể từ khi hình thành quốc gia thống nhất vào năm 1860, hoạt động của Mafia mới được công chúng chú ý tới, nhưng nó được quan niệm như một hệ thống giá trị và quan điểm hơn là một tổ chức.
Sự đề cập tới Mafia một cách chính thức bằng tư liệu bắt đầu từ những năm 1800, khi Galati đề cập tới vấn đề bạo lực của Mafia địa phương nhằm trục xuất Galati khỏi vùng rừng mà hắn chiếm cứ. Nhằm bảo vệ các đàn gia súc khỏi bị trộm cắp, mua chuộc các quan chức chính quyền là những nguồn thu nhập chính và bảo đảm cho hoạt động của Mafia giai đoạn đầu. Cosa Nostra
cũng du nhập những nghi thức hoạt động từ Tam Điểm hội, như trong buổi lễ kết nạp thành viên mới nổi tiếng.
Giai đoạn Phát- xít.
Trong suốt giai đoạn chủ nghĩa Phát- xít nắm quyền ở Ý, Cesare Mori là quận trưởng thành phố Palermo, ông đã dùng quyền lực của mình để chống Mafia. Ông đã buộc nhiều tên Mafia phải chạy ra nước ngoài hay ra toà. Nhiều tay Mafia chạy sang Mỹ, trong số đó có Joseph Bonanno với biệt danh là Joe Bananas, sau này thống lĩnh toàn bộ hệ thống Mafia ở Mỹ. Tuy nhiên khi bị Mori truy quét thì nhiều tên Mafia lại tìm cách chui vào hàng ngũ Phát- xít, chúng lại tiếp tục bị phá vỡ và chính quyền Phát- xít tuyên bố rằng Mafia đã bị xóa sổ. Mặc dù Mafia đã bị suy yếu, nhưng nó không bị đánh đổ hoàn toàn như báo cáo. Mặc dù tấn công vào các đạo hữu của chúng, nhưng giới Mafia ở New York vẫn hết sức khâm phục Mussolini, đặc biệt là Vito Genovese (mặc dù hắn đến Mỹ từ Naples, chứ không phải Sicilia).
Sự hồi sinh thời hậu chiến.
Khi Phát-xít sụp đổ, Mafia không phát triển mạnh lên cho tới khi nước này đầu hàng đồng minh và bị Mỹ chiếm đóng. Quân đội Mỹ đã sử dụng Mafia Ý để liên lạc trong giai đoạn của cuộc chiến ở Ý và Sicilia năm 1943. Lucky Luciano và những tay Mafia khác bị giam cầm ở Mỹ đã được trưng dụng để cung cấp thông tin cho quân đội Mỹ và dùng uy tín của Luciano để chiến dịch quân sự được tiến hành thuận lợi hơn. Hơn nữa, Luciano còn có nhiệm vụ bảo vệ các cảng biển của Mỹ khỏi bị quân Phít- xít phá hoại.
Có một số ý kiến cho rằng, cục chiến lược Mỹ đã cảnh báo với CIA rằng nên cẩn nhắc kỹ khi cho phép Mafia hoạt động trở lại trong vai trũ chống chính quyền ở Sicilia. Ở Mỹ, Mafia được quân đội huấn luyện cho tới năm 1943, đây trở thành bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử Mafia và đã tạo nên hình thức hoạt động mới cho giai đoạn 60 năm sau. Hơn nữa nhà sử học Palermo Francesco Renda đã tranh luận rằng, không có sự liên minh như thế. Mafia đã lợi dụng tình trạng hỗn loạn của thời kì hậu Phát-xít để giành lại vị thế xã hội ở Sicilia. OSS (tiền thân của CIA) đã đưa ra một "báo cáo về tình hình Mafia" vào năm 1944, do W. E. Scotten đảm nhận, ông nhận định Mafia đã hồi sinh và cảnh báo về những hiểm hoạ của nó đối với trật tự xã hội và phát triển kinh tế. Ông còn viện dẫn thêm rằng, những lợi nhuận (nhìn từ góc độ của Mỹ) đã tạo ra lực lượng Mafia Sicilia chống lại ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản.
Chuyên gia nghiên cứu về buôn bán ma tuý, tiến sĩ Alfred W. McCoy cho rằng, Luciano đã được đánh đổi án ngồi tù để tại ngoại do những đóng góp của ông ta. Sau chiến tranh Luciano được phóng thích khỏi nhà tù và bị đày về Ý, tại đây hắn có điều kiện hoạt động phạm tội mà không bị cản trở. Hắn trở lại Sicilia năm 1946 để tiếp tục hoạt động, được McCoy đề cập tới trong cuốn "hoạt động buôn bán heroin ở Đông Nam Á" vào năm 1972. Luciano đó liên minh với Mafia đảo Coóc, phát triển mạng lưới buôn bán heroin toàn cầu; lúc đầu là nguồn cung cấp từ Thổ Nhĩ Kỳ nhập vào Mác-xây, trong cái gọi là "điểm trung chuyển Pháp". Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu loại trừ cây thuốc phiện, hắn lại liên hệ với giới Mafia đảo Coóc để lấy hàng từ miền nam Việt Nam. Trong khi liên kết với các thủ lĩnh ở Mỹ trong đó có Santo Trafficante Jr, Luciano và những người kế vị của hắn đã lợi dụng tình trạng hỗn loạn do cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam để phát triển nguồn cung ứng heroin tại "vùng tam giác vàng", nơi đây đã nhanh chóng trở thành địa điểm cung cấp heroin lớn nhất cho Mỹ, Úc và nhiều quốc gia khác.
Phiên toà Maxi và cuộc chiến chống lại chính quyền.
Cuộc chiến Mafia lần thứ hai diễn ra vào đầu những năm 1980, đây là cuộc xung đột lớn nhất trong nội bộ Mafia dẫn tới việc ám sát một số nhà chính trị, cảnh sát trưởng và các vị chánh án.
Salvatore Riina và đồng bọn Corleonesi rốt cuộc đã chiến thắng. Các thế hệ Mafia mới hướng tới lao động chân tay hơn là mánh khoé gian lận theo kiểu truyền thống. Để đáp lại xu thế phát triển này, người Ý đưa ra tên gọi là Cosa Nuova (cái mới) để đối lại Cosa Nostra và thể hiện sự cách tân.
Một trong những tay Mafia cộm cán đầu tiên(bị bắt và cộng tác với toà án) là Tommaso Buscetta bị mất hết đồng minh trong cuộc chiến và đã tiết lộ với chánh án Giovanni Falcone từ năm 1983. Điều này dẫn đến phiên toà Maxi (1986-1987) kết quả là hàng trăm tên Mafia đã bị lộ diện. Khi toà án tối cao Ý kết tội những tên này vào tháng 1 năm 1992 thì Riina tiến hành trả thù. Nhà chính trị Salvatore Lima đã bị giết vào tháng 3 năm 1992, ông đã nghi ngờ có sự liên kết giữa chính quyền với Mafia từ lâu(sau đó được Buscetta làm nhân chứng) và Mafia đã trút cơn tức gận lên ông. Falcone và người bạn chống Mafia của ông Paolo Borsellino cũng bị giết một vài tháng sau đó. Những điều đó dẫn đến sự phẫn nộ của công luận và đòi chính phủ phải trừng trị thích đáng, kết quả là Riina đó bị bắt vào tháng 1 năm 1993. Rất nhiều tên Mafia dần dần lộ diện. Rất nhiều tiền được trả cho các hoạt động liên quan tới giết người, ví dụ như vợ, anh chị em và cô dì, chú bác của kẻ đào tẩu Francesco Marino Mannoia đã bị giết.
Corleonesi đã trả thù bằng hàng loạt các vụ khủng bố đánh bom vào một số điểm du lịch trên lãnh thổ Ý. Các điểm Via dei Georgofili ở Florence, Via Palestro ở Milano, Piazza San Giovanni ở Laterano và Via San Teodoro ở Rome bị đánh bom làm cho 10 người bị thiệt mạng, 93 người bị thương và nhiều công trình bị phá huỷ, trong đó có khu triển lãm nghệ thuật Uffizi. Bernardo Provenzano lên thay Corleonesi, hắn tạm dừng chiến dịch khủng bố và thay vào đó là chiến dịch im lặng được gọi là pax mafiosi. Chiến dịch đó làm cho Mafia hồi phục dần dần như trước đây. Hắn đã bị bắt vào năm 2006 sau 43 năm hoạt động.
Mafia hiện đại ở Ý.
Sự chia rẽ của Mafia ở Sicilia trong giai đoạn hiện nay là vì các ông chủ đang bị kết án và ở trong tù, trong đó có Riina và Bernardo Provenzano, nhưng cũng có kẻ chưa bị kết tội. Những ông chủ ở trong tù lâu năm rất khó chỉ đạo những hoạt động ở bên ngoài. Antonino Giuffrè, bạn thân của Provenzano đã nhanh chóng thay thế hắn ngay sau khi tên này vào tù năm 2002. Năm 1993, Cosa Nostra đã tiếp xúc trực tiếp với đại diện của thủ tướng Silvio Berlusconi.
Ông đã gợi ý bãi bỏ một số điều chống Mafia trong đạo luật 41 bis và đã trao quyền bầu cử riêng đối với Sicilia.
Giuffrè cho rằng tuyên bố không được khẳng định. Quốc hội Ý được sự ủng hộ của đảng Dân chủ-Tự do thiên chúa giáo của Silvio Berlusconi đã phải phê chuẩn lại đạo luật 41 bis đã bị hết hạn vào năm 2002, nhưng vẫn còn hiệu lực 4 năm nữa để áp dụng cho các tội phạm khác như khủng bố. Tuy nhiên theo bài báo của L'Espresso đăng trên một tờ báo hàng đầu của Ý, thì có khoảng 1/5 trong số 119 tên Mafia bị ngồi tù vì đạo luật 41 bis được phóng thích. Tổ chức ân xá quốc tế đã khẩn trương xem xét lại đạo luật 41 bis có đề cập tới "tội ác vô nhân tính hay đối xử đê hèn" đối với tù nhân.
Hơn nữa, Salvatore Riina như đã đề cập ở trên, nhà chính trị Giulio Andreotti, chánh án toà án tối cao Corrado Carnevale bị nghi ngờ có dính líu với Mafia trong một giai đoạn dài.
Cuối những năm 1990, Cosa Nostra bị suy yếu, lợi tức chính là do buôn bán ma tuý từ Calabria tới Ndrangheta. Năm 2006 chúng kiểm soát theo ước tính tới khoảng 80% lượng cocaine bán vào châu Âu. Mafia còn tống tiền các công ty lớn, nhỏ khác nữa. Ước tính có tới khoảng 7% thu nhập của Ý do các tổ chức tội phạm mang lại. Mafia đã trở thành một hoạt động kinh doanh lớn nhất ở Ý, đem lại lợi tức hơn 120 tỷ đô la Mỹ hàng năm.
Năm 2007, cảnh sát Sicilia đã tìm thấy 10 điều răn tại nơi ở của Salvatore Lo Piccolo (một trong những tay trùm Mafia). Cũng tương tự như 10 điều răn trong Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, nhằm khuyên răn những chiến hữu của chúng trở thành những thành viên trung thành. Mười điều răn đó như sau:
1. Không ai được phép giới thiệu trực tiếp mình với một thành viên khác của chúng ta. Phải có một người thứ ba làm trung gian.
2. Không bao giờ được nhòm ngó tới vợ của bạn bè.
3. Không được để bị nhìn thấy cùng cảnh sát.
4. Không được đến quán rượu hay hộp đêm.
5. Luôn sẵn sàng với Cosa Nostra, đó là một nghĩa vụ. Thậm chí vợ sắp đẻ.
6. Phải tuyệt đối tôn trọng các cuộc hẹn.
7. Phải tôn trọng với các bà vợ.
8. Khi được hỏi về bất kỳ thông tin nào, phải nói sự thật.
9. Không được chiếm đoạt tiền của người khác hay của gia đình khác.
10. Những người không được trở thành thành viên của Cosa Nostra: Nếu có họ hàng gần trong ngành cảnh sát, trong gia đình có người dối trá, cư xử tồi và không có phẩm hạnh.
Theo lời luật của Antonino Calderone về Mười điều răn vào năm 1987: Luật lệ là không được động đến vợ của những người danh giá, không được ăn cắp của những người đàn ông danh giá và nói chung của bất cứ ai; không được dính tới mại dâm; không được giết những người đàn ông danh giá, trừ khi thật cần thiết; tránh cung cấp thông tin cho cảnh sát; không được tranh chấp với những người đàn ông danh giá để duy trì hòa khí; giữ kín về nội bộ Cosa Nostra với người bên ngoài; tránh giới thiệu bản thân với những đàn ông danh giá.
Cấu trúc của Cosa Nostra Sicilia.
Cosa Nostra được các thành viên của Mafia coi là một "tổ chức danh giá", chuỗi các mệnh lệnh được tổ chức theo dạng hình kim tự tháp, giống như mô hình của liên minh hiện đại.
Cấu trúc truyền thống.
1.Capo di Tutti Capi: là "ông chủ của mọi ông chủ"
2. Capo di Capi Re: "Hoàng đế của các ông chủ", danh hiệu thể hiện sự kính trọng đối với những Mafia cao tuổi đã nghỉ hưu.
3. Capo Crimine: "ông chủ phạm tội", còn gọi là Don - Đứng đầu gia đình Mafia phạm tội ác. Sếp của gia đình Mafia.
4. Capo Bastone: "sếp của câu lạc bộ", còn gọi là "Underboss" nhận mệnh lệnh cấp hai từ Capo Crimine. Còn được gọi là sếp phó.
5. Consigliere: cố vấn
6. Caporegime: "đội trưởng", người nắm giữ một đội quân khoảng 10 người thi hành nhiệm vụ.
7. Sgarrista hay Soldato: "người lính", là thành viên của Mafia có nghĩa vụ phục vụ như một người lính.
8. Picciotto:"người đàn ông bé nhỏ": một số lượng nhỏ những người ép buộc làm việc cho Mafia.
9. Giovane D'Onore: một hội gồm các thành viên, thường không phải gốc Ý và Sicilia
Cấu trúc của Mafia Ý.
2. Consigliere: cố vấn
3. Sotto Capo: sếp phó
4. Capodecina: ban lãnh đạo
5. Uomini D'onore: thành viên danh dự
Mafia Mỹ (hay còn được gọi là Cosa Nostra Mỹ), có nguồn gốc từ Mafia Sicilia nổi lên ở vùng ven biển miền đông nước Mỹ trong giai đoạn thế kỉ 19 theo làn sóng nhập cư của người Sicilia (hay còn được gọi là diaspora Ý). Mafia Mỹ gốc Ý thống trị các tổ chức tội phạm ở nước này. Nó duy trì các hoạt động phạm tội ở hầu hết các thành phố lớn như Chicago và New York; các thành phố ở vùng đông bắc và nhiều vùng khác, trong đó có: Philadelphia, Las Vegas, New Orleans và nhiều thành phố khác. Mafia nổi danh và đã đi vào nền văn hoá Mỹ; được dựng thành phim, truyền hình, quảng cáo thương mại và trò chơi game.
Mafia Mỹ gốc Ý, đặc biệt là 5 gia đình Mafia ở New York có nguồn gốc từ Mafia Sicilia và tồn tại biệt lập nhiều năm ở Mỹ. Ngày nay Mafia Mỹ liên kết với một số tổ chức tội phạm có nguồn gốc từ Ý, như Camorra có tổ chức đầu não ở Ý. Bị hiểu lầm là " Mafia gốc", nhưng cũng là một tổ chức tội phạm láng giềng lâu đời nhất không phải chỉ có hoạt động ở Mỹ. Năm 1986, theo báo cáo của chính phủ, ước tính có khoảng 1700 tổ chức Cosa Nostra với hàng ngàn thành viên của chúng. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, Mafia Mỹ gốc Ý là tổ chức tội phạm lớn nhất nước Mỹ và nó tiếp tục thống lĩnh nghiệp đoàn tội phạm Mỹ, cho dù tiếp tục xuất hiện nhiều băng nhóm đường phố khắc.
Cosa Nostra Mỹ hoạt động mạnh nhất ở vùng New York, Philadelphia, New England, Detroit và Chicago; tổng cộng có tới 26 gia đình Cosa Nostra trên toàn nước Mỹ.
Xuất xứ: "bàn tay đen".
Các nhóm Mafia xuất hiện và hoạt động đầu tiên là xung quanh khu vực thành phố New York, ban đầu từ các khu vực nghèo khó của người Do Thái láng giềng, dần dần biến thành những tổ chức tội phạm quốc tế. Mafia Mỹ gốc Ý bắt đầu từ La Mano Nera, "bàn tay đen", tức là tống tiền những người Ý(và các cộng đồng nhập cư khác) xung quanh thành phố New York. Các băng "bàn tay đen" có thể đe doạ họ bằng thư, nếu những đòi hỏi không được đáp ứng. Thư đe doạ này đôi khi được điểm chỉ bằng dấu tay dính mực đen ở cuối thư. Đặc biệt là khi những băng tội phạm Sicilia nhập cư vào Mỹ, chúng hoạt động phạm pháp dưới dạng cho vay nặng lãi, mại dâm, ma tuý, buôn rượu lậu, cướp giật, bắt cóc, giết người. Nhiều người Ý di cư nghèo phải bám vào Mafia để mong có được vị thế và thoát khỏi nghèo đói.
Giuseppe Esposito là tên Mafia Sicilia đầu tiên nhập cư vào Mỹ. Hắn cùng với 6 người bạn của hắn chuồn sang Mỹ sau khi đã giết 11 chủ đất giàu có, một số vị quan chức tỉnh Sicilia. Hắn đã bị bắt ở New Orleans năm 1881 và bị dẫn độ về Ý.
New Orleans cũng là nơi ẩn náu đầu tiên của Mafia ở Mỹ, tại đó chúng thu hút sự chú ý cả ở trong nước và quốc tế. Ngày 15 tháng 10 năm 1890, viên sĩ quan cảnh sát của New Orleans tên là David Hennessey đã bị bắn chết theo lệnh ám sát. Hàng trăm tên Mafia Sicilia bị bắt và 19 tên trong số đó đã bị kết án về tội giết người. Nhưng sau đó được tha bổng, theo tin đồn là hối lộ và đe doạ những người làm chứng. Quá bất bình, những người dân của New Orleans đã xông vào giết chết 11 tên trong số 19 tên này. Hai tên bị treo cổ, 9 tên bị bắn và 8 tên trốn thoát.
Giai đoạn từ những năm 1910 đến những năm 1920 có 5 cụm băng đảng Mafia Sicilia hình thành ở thành phố New York.
Sự nổi lên trong giai đoạn ban hành đạo luật cấm rượu.
Charles "Lucky" Luciano là một trong những ông chủ nổi tiếng nhất của thế giới ngầm ở Mỹ.
Sự hoạt động của Mafia bị giới hạn từ năm 1920, bị phá sản bởi đạo luật cấm sản xuất và buôn bán rượu. Hoạt động của băng đảng Al Capone những năm 1920 chỉ giới hạn trong phạm vi Chicago.
Cuối những năm 1920, có hai đảng phái tội phạm nổi lên, nguyên nhân căn bản là do cuộc chiến tranh Castellamarese nhằm giành quyền kiểm soát các tổ chức tội phạm giữa các băng đảng ở thành phố New York. Sau khi Joseph Masseria, một trong những thủ lĩnh của Mafia bị tiêu diệt, chiến tranh chấm dứt, hai băng đảng nhập lại thành một tổ chức thống nhất. Salvatore Maranzano, là thủ lĩnh đầu tiên của Mafia Mỹ; do tự ý giết người nên 6 tháng sau Charles "Lucky" Luciano trở thành thủ lĩnh mới. Maranzano ban hành ra một đạo luật chỉ đạo cho tổ chức này; hình thành nên cơ cấu các gia đình và giải quyết xung đột. Luciano thiết lập nên hội đồng để điều hành các hoạt động của tổ chức. Hội đồng bao gồm ông chủ của 6 hay 7 gia đình Mafia.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Năm 1951, Estes Kefauver thượng nghị sĩ của bang Tennessee đưa ra một nhận định rằng: "các tổ chức tội phạm nguy hiểm còn được gọi là Mafia có liên hệ với Liên Xô đang hoạt động ráo riết ở Mỹ".
Năm 1957, cảnh sát New York đã không ngăn cản được cuộc họp của Mafia Mỹ ở thị trấn nhỏ Apalachin thuộc New York. Cuộc họp này được gọi là hội nghị Apalachin. Rất nhiều tên tham dự bị bắt và sự kiện này đó buộc các tổ chức tội phạm phải thay đổi luật lệ hoạt động.
Năm 1963, Joseph Valachi là người của Cosa Nostra Mỹ đầu tiên cung cấp những thông tin bên trong của tổ chức này. Được FBI trưng dụng, Valachi đó cung cấp tên tuổi, cấu trúc, quyền lực, luật lệ, lời thề và thành viên của tổ chức này. Tất cả mọi điều đó còn được giữ kín cho đến mãi sau này.
Ngày nay, Cosa Nostra dính líu đến hầu hết các lĩnh vực hoạt động bất hợp pháp ở Mỹ. Nó bao gồm các lĩnh vực như giết người, tống tiền, buôn ma tuý, tham nhũng, đánh bạc, thâm nhập vào các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp, nhập cư lao động bất hợp pháp, cho vay nặng lãi, mại dâm, khiêu dâm, gian lận thuế và đặc biệt hiện nay là lĩnh vực cổ phiếu.
Thâm nhập vào các hiệp hội lao động.
Vào giữa thế kỉ 20, Mafia nổi danh bởi sự thâm nhập vào nhiều nghiệp đoàn lao động ở Mỹ. Đặc biệt là khi vị chủ tịch nghiệp đoàn lái xe tải Jimmy Hoffa bị mất tích và được cho là đó bị ám sát. Những năm 1980, chính phủ liên bang Mỹ kiên quyết loại bỏ ảnh hưởng của Mafia ra khỏi liên đoàn lao động.
Mafia đá phát triển thành 26 tổ chức (gia đình) ở tất cả các thành phố trên toàn bộ lãnh thổ Mỹ, với trung tâm là New York. Sau nhiều cuộc chiến, 5 gia đình đã thiết lập được sự kiểm soát ở New York, đó là: gia đình Bonanno, gia đình Colombo, gia đình Gambino, gia đình Genovese và gia đình Lucchese. Các gia đình nay đã tổ chức một hội nghị ngầm với những băng đảng trứ danh khác như Joe Porrello ở Cleveland và Al Capone.
1. Sếp trưởng: Là ông chủ của các gia đình, thường nắm vai trò như một người điều hành chung cho toàn bộ một tổ chức Mafia, còn được gọi là Don hay "bố già". Những ông sếp này nắm giữ toàn bộ các hoạt động của mọi thành viên trong gia đình. Tuỳ theo từng gia đình, sếp có thể được bầu chọn trong hội nghị gia đình. Trong quá khứ, sếp phải được bầu qua hội nghị gia đình; nhưng từ những năm 1950 những cuộc tụ họp thường thu hút sự chú ý.
2. Sếp phó: Sếp phó thường được sếp trưởng chỉ định trực tiếp, là người có vai trò thứ hai trong một gia đình Mafia. Là người dưới quyền và thay thế sếp trưởng trong trường hợp sếp trưởng chết đột ngột. Sếp phó nắm toàn bộ việc điều hành các đội trưởng, nhưng đều dưới quyền sếp trưởng.
3. Cố vấn: Có vai trò tư vấn cho gia đình và được coi là cánh tay phải của sếp trưởng. Cánh này thường có vẻ ít găng-tơ và sếp có thể tin tưởng. Họ thường là trung gian cho những cuộc đụng độ, đại điện và ấn định cho những cuộc gặp gỡ giữa các gia đình. Họ còn đảm bảo cho các hoạt động của các gia đình tránh những rắc rối với luật pháp, như đánh bạc hay cho vay nặng lãi. Những người này đa số là luật sư hay môi giới chứng khoán có uy tín và có mối quan hệ gần với sếp. Cố vấn không có lực lượng trong tay, nhưng lại có quyền lực lớn trong gia đình, thương thuyết các vụ "mua" hay hối lộ cảnh sát hay quan toà.
4. Đội trưởng: Có nhiệm vụ điều hành một đội, mỗi đội thường từ 4 đến 6 nhóm trong gia đình, cũng có thể hơn. Mỗi nhóm khoảng 10 người. Đội trưởng điều hành trực tiếp công việc của đội mình, nhưng cũng có giới hạn và theo đường lối của sếp trưởng. Thưởng phạt cũng do sếp trưởng nắm quyền. Đội trưởng có thể do sếp phó đề nghị, nhưng thường được sếp trưởng chỉ định trực tiếp.
5. Lính trơn: Họ là những thành viên cấu thành nên gia đình Mafia và phải có nguồn gốc Ý (gồm cả Sicilia). Lính trơn bắt đầu hoạt động trong gia đình khi đã trải qua thử thách. Khi có sự mở rộng đội, thì đội trưởng có thể đề nghị tăng cường lính mới, nhưng quyết định là sếp trưởng. Lính mới dưới quyền chỉ đạo của đội trưởng và phải phục tùng mệnh lệnh của đội trưởng. Lính làm việc độc lập để tạo kinh phí cho gia đình Mafia. Lính là tầng lớp hèn kém nhất trong gia đình. Họ còn được gọi là " thợ", thường hay bị thí mạng trong những trường hợp các phi vụ bại lộ, phải thi hành những vụ giết người từ những sếp đứng trên họ. Những người lính được tín nhiệm không được tấn công một người mà người đó không chống lại mình. Bắt đầu khởi nghiệp là lính, nhưng không phải là lính cho đến khi kết thúc sự nghiệp.
6. Cộng tác viên: Cộng tác viên nhưng không phải gồm những thành viên tập hợp thành một đám đông, tương tự như những đám trẻ hư hỏng đường phố. Những người này thường làm môi giới ma tuý và thường tiếp xúc trực tiếp với những thành viên thực sự của gia đình. Họ là những thành viên của gia đình và thường làm những công việc như chủ nhà hàng. Cộng tác viên có thể là đại biểu của liên đoàn lao động hay thương gia. Họ cũng phải là những người Ý hay Sicilia. Đôi khi cộng tác viên cũng là những người có quyền lực với đối với gia đình riêng của họ, ví dụ Joe Watts rất thân cận với John Gotti(một trong những sếp của 5 gia đình quyền thế ở New York).
Cấu trúc và hệ thống tổ chức của Mafia Mỹ được Salvatore Maranzano tạo ra (từng là ông chủ của mọi ông chủ của mạng lưới Mafia Mỹ, nhưng bị giết chết sau khi nắm chức này 6 tháng, Lucky Luciano lên thay và cũng là người có lẽ đó giết Salvatore Maranzano). Trong những năm gần đây, xuất hiện thêm hai vị trí trong hệ thống gia đình Mafia, đó là: sứ giả và sếp đường phố. Những vị trí này do Vincent Gigante đưa ra. Mỗi đội do một đội trưởng lãnh đạo và báo cáo với sếp trưởng. Khi sếp trưởng quyết định, anh ta không chỉ đạo trực tiếp xuống người lính mà phải theo một chuỗi mệnh lệnh. Trong trường hợp như thế, nếu có bị lộ thì chỉ có người bên dưới mới bị bắt. Cấu trúc này được Mario Puzo mô tả trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Bố già" phần II, trong mối liên hệ được gọi là " những cái đệm". Nó cung cấp cho hội đồng tình báo Mỹ một hình thức "cực kì hợp lý" để tham khảo.
Ban đầu nghi thức được du nhập từ nhiều nguồn; như tình hữu ái của Thiên Chúa giáo, Tam Điểm hội giữa thế kỉ 19 ở Sicilia và cho đến nay cũng có ít biến đổi. Theo báo cáo của cảnh sát trưởng của Palermo năm 1875, trong buổi làm lễ gia nhập của một môn đồ mới thì phải có mặt của một nhóm sếp trưởng và các sếp phó. Một trong những vị này sẽ chọc vào ngón tay của người lính mới và nói với anh ta là phải bôi máu vào một bức hình thánh, thường là tượng thánh. Lời tuyên thệ phải được đọc sau khi bức tượng có máu cháy hết, đó là việc làm tượng trưng cho bản án dành cho những kẻ phản bội. Điều này được kẻ đào tẩu Tommaso Buscetta khẳng định lần đầu tiên. Việc xử lý một người lính nào đó phải do hội đồng lãnh đạo gia đình Mafia phê chuẩn, việc trả thù anh ta có thể kích thích chiến tranh. Trong trường hợp nếu có chiến tranh giữa các băng đảng thì căn hộ phải bỏ trống và có những người lính nằm trên đệm dưới sàn nhà, phải canh gác luân phiên và nhìn qua cửa sổ để sẵn sàng chiến đấu.
Các gia đình Mafia theo thành phố ở Mỹ.
Lưu ý: Mafia gồm các thành viên, các cộng tác viên và gia đình ở các thành phố khác nhau. Nên các tổ chức này không chỉ giới hạn ở các thành phố này. Nhiều gia đình ở thành phố này, nhưng có ảnh hưởng tới thành phố khác.
Những tên Mafia nổi tiếng ở Mỹ.
Luật bắt buộc ở Mỹ.
Mối liên hệ giữa chính quyền Mỹ với Mafia.
Không mấy khi chính phủ Mỹ hiệp lực với giới tội phạm để ám sát các nhà lãnh đạo nước ngoài. Tháng 8 năm 1960, Colonel Sheffield Edwards đề xuất phương án ám sát lãnh tụ Cuba Fidel Castro bằng cách dùng Mafia để ám sát. Từ tháng 8 năm 1960 đến tháng 4 năm 1961, Mafia đã lên kế hoạch dùng chất độc hay bắn để hạ sát Fidel (được đề cập trong cuốn báo cáo về nỗ lực ám sát Fidel Castro", trang 3 và 14 của CIA). Vụ việc có sự tham gia của các nhân vật của Mafia như Sam Giancana, Carlos Marcello, Santo Trafficante, Jr. và John Roselli.
Luật bắt buộc và Mafia.
Trong một số gia đình Mafia, giết những người của chính quyền là điều bị cấm, vì có thể sẽ bị cảnh sát trả thù. Trong một số trường hợp, giết người thì bị hình phạt là cái chết. Tên Mafia Dutch Schultz người Do Thái được báo cáo là đã bị bắn chết bởi một Mafia Ý, vì hắn có kế hoạch ám sát ủy viên công tố Thomas Dewey của thành phố New York. Mafia có điều luật bắt buộc từ rất lâu. Viên cảnh sát thành phố New Orleans Joe Petrosino bị Mafia Sicilia bắn chết, sau người này được đúc tượng và bức tượng đó được đặt ở nơi đông người qua lại ở thành phố này.
Chương trình hành động RICO năm 1960 đã quy định hoạt động chống tội phạm và đưa ra kế hoạch bảo vệ nhân chứng. Đạo luật này mới bắt đầu thực hiện vào giai đoạn cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Chương trình này đã làm cho 2 bố già của thành phố New York là Anthony Corallo và Carmine Persico phải ra hầu toà vào năm 1985. Chương trình này vẫn còn hiệu lực cho tới cuối thế kỉ 20. Lực lượng phòng chống tội phạm Liên bang được thành lập tạo điều kiện cho việc loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Lực lượng phòng chống tội phạm Liên bang được thiết lập vào năm 1960 do nỗ lực của Robert Kennedy (em út của tổng thống Mỹ). Lực lượng này đặt dưới quyền lãnh đạo của ban thanh tra thuộc bộ lao động Mỹ. Nó đã bị giải tán ở cấp Liên bang, nhưng vẫn tồn tại ở các địa phương. Tổ chức này đã phá được một số băng đảng tội phạm lớn. Tuy nhiên Mafia vẫn còn hoạt động mạnh ở Mỹ, dù chương trình hành động RICO có những thành công nhất định. Theo Selwyn Raab, tác giả của cuốn: Năm gia đình: sự ra đời, suy yếu và hồi sinh của các đế chế Mafia hùng mạnh ở Mỹ, thì sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 FBI lại chú ý đặc biệt tới các tên khủng bố, điều này góp phần làm hồi sinh các hoạt động của Mafia ở Mỹ.
|
Nút là một thiết bị điểm được ghép nối lại, cùng với nhiều thiết bị khác, tạo nên một mạng lưới truyền thông. Mỗi một nút phải có một địa chỉ MAC (MAC address) riêng, hoặc một địa chỉ khống chế liên kết dữ liệu (Data Link Control address) nếu thiết bị ấy đạt tiêu chuẩn tối thiểu của mô hình OSI tầng 2. Các nút có thể là các máy tính, các máy Thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (personal digital assistants), các điện thoại di động (cell phones), hoặc những thiết bị mạng truyền thông khác, như các bộ định tuyến (routers), các thiết bị chuyển mạch (switches), và các máy chủ truy cập (hubs). Những nút chịu trách nhiệm định tuyến truyền tải dữ liệu cho các thiết bị mạng truyền thông khác, cùng với cho chính bản thân mình, thì gọi là những nút siêu (supernodes).
|
Charles "Lucky" Luciano (24 tháng 11 năm 1897 – 26 tháng 1 năm 1962) là một ông trùm mafia người Mỹ gốc Ý. Ông ta còn là "bố già", kẻ cầm đầu nghiệp đoàn tội phạm quốc gia và là kẻ cầm đầu đường dây buôn ma túy xuyên quốc gia trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai.
Hoạt động tội phạm.
Lên 10 tuổi, Luciano theo gia đình di cư sang Mỹ. Gia đình ông sống tại một khu phố người Ý ở thành phố New York. Ở tuổi đó cậu đã bắt đầu kiếm tiền bằng việc bắt những đứa trẻ khác trả tiền cho cậu vì đã "bảo vệ chúng".
Trong một cuộc tranh chấp ở tuổi này, Luciano đã gặp Meyer Lansky người cùng độ tuổi sau này đã trở thành cộng sự đắc lực của ông. Ngoài ra Fran Costello và Bugsy Siegel cũng là các nhân tố đầu tiên giúp Luciano tạo lập một vương quốc tội phạm có tổ chức về sau.
Hai người nhanh chóng lôi kéo thêm nhiều đứa trẻ gốc Ý cùng tuổi khác lập nên một băng nhóm nhỏ, để cạnh tranh việc trộm cắp vặt, đánh nhau với các băng nhóm khác.
Năm 1916, Luciano gia nhập "Five Points Gang", băng nhóm mà cảnh sát nghi ngờ là có dính líu tới những vụ sát nhân. Bằng khả năng tổ chức tài tình và khoa học, Luciano đã luôn cố gắng kế hoạch hóa mọi phi vụ phạm pháp. Do đó tổ chức ngày càng bành trướng và mở rộng. Với cộng sự đắc lực Costello lo phần mua chuộc quan chức và cảnh sát, Meyer Lansky - bộ óc tính toán thiên tài, Siegel lạnh lùng trong các cuộc chiến ẩu đả, Luciano đã tạo ra một bộ máy tội phạm sơ khai những năm thế kỷ 20. Cùng với Luật cấm rượu của Hoa Kỳ, tổ chức này giàu lên nhờ buôn bán rượu lậu.
Hợp tác với Chính quyền liên bang Hoa Kỳ.
Chiến dịch Thế giới ngầm.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Hoa Kỳ quan ngại về một số lượng lớn công dân Hoa Kỳ có gốc gác từ Nhật Bản, Italy và Đức. Họ lo sợ rằng những người Hoa Kỳ gốc nước khác này có thể đồng cảm với cuộc chiến của Phe Trục và có thể gây ra mối đe dọa an ninh quốc gia.
Năm 1942, những mối nghi ngại này bắt đầu tập trung vào các hải cảng ở miền Đông sau khi tàu chiến chở binh sĩ Hoa Kỳ SS Normandie (sau này được đổi tên là USS Lafayette) bị cháy và lật khi đang đậu ở cảng của thành phố Manhattan, một hành động mà nhiều người cho rằng là hậu quả của sự trả thù
Hải quân Hoa Kỳ chịu trách nhiệm cuộc điều tra, đã tìm đến Lucky Luciano. Vào thời điểm đó, Luciano đang chịu án tù từ 30-50 năm. Hải quân Hoa Kỳ đưa ra một thỏa thuận giảm án tù để đổi lại sự hỗ trợ và cung cấp thông tin cho chiến dịch điều tra. Luciano đã chấp thuận. Đến nay, tính hiệu quả của chiến dịch mang tên "Chiến dịch Thế giới ngầm" do Hải quân Hoa Kỳ kết hợp với trùm mafia Luciano vẫn là một đề tài gây tranh cãi. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sau năm 1942, không có thêm bất kỳ một tàu nào của Hải quân Hoa Kỳ bị phá hủy và không có bất kỳ cuộc đình công nào của giới công nhân khuân vác trên cảng ở New York.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra dữ dội, quân Đồng minh bắt đầu vạch kế hoạch xâm chiếm Italy. Hoa Kỳ đóng vai trò dẫn đầu chiến dịch này và nhanh chóng quyết định rằng đảo Sicilia cần phải bị chiếm đóng trước tiên. Để chuẩn bị cho chiến dịch này, Chính phủ Hoa Kỳ đã tìm đến "các cộng sự cũ": Luciano và Mafia.
Việc sử dụng Luciano có lý vì nhiều lý do. Mafia luôn là cái gai trong mắt Nhà độc tài Italy Benito Mussolini và đã tiến hành chiến dịch trấn áp dã man. Điều quan trọng hơn là Luciano và các cộng sự của hắn có nhiều mối liên hệ tại đảo Sicilia vốn có thể cung cấp cho Hoa Kỳ những thông tin quan trọng và hỗ trợ hậu cần cần thiết cho cuộc xâm chiếm.
Theo báo cáo của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, việc sử dụng các mối liên hệ ở Sicilia là nhiệm vụ trước tiên cho cuộc xâm chiếm. Báo cáo này có đoạn khuyến nghị: "Thiết lập mối liên lạc với thủ lĩnh các nhóm hạt nhân ly khai, các nhóm cực đoan hoạt động mật, và những người lao động bất mãn, mafia và cung cấp cho họ mọi hỗ trợ có thể".
Chính phủ Hoa Kỳ đã yêu cầu các cộng sự mafia cung cấp các bản vẽ và hình ảnh về đường bờ biển và các bến cảng của đảo Sicilia. Những thông tin này được sử dụng để lập kế hoạch đổ bộ của quân Đồng minh vào đêm 9 tháng 7 năm 1943. Một số "cộng sự" ở đảo Sicilia còn chiến đấu cùng với các lực lượng của Hoa Kỳ chống lại Phát xít Ý và Đức quốc Xã. Theo phần lớn ghi chép, Luciano đóng vai trò trong việc thúc đẩy chiến dịch này và thậm chí còn đề nghị đích thân đến Sicilia để hỗ trợ. Sau 38 ngày, Đồng Minh thành công khi đẩy lùi quân Phát xít Ý ra khỏi Sicilia và cuộc chiến chiếm đảo Sicilia đã kết thúc.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, Luciano vốn vẫn chịu án tù, đã kiến nghị tiểu bang New York khoan hồng cho ông. Luciano cho rằng sự hợp tác của ông ta trong Chiến dịch Thế giới ngầm và Chiến dịch Husky đảm bảo ông ta được thả tự do ngay lập tức. Tháng 1 năm 1946, Thống đốc bang New York khi đó là Thomas Dewey đã cho phép Luciano được hưởng khoan hồng. Tuy nhiên, quyết định này kèm theo việc Luciano không thể ở lại Hoa Kỳ và phải bị trục xuất về quê hương Italy. Dù không muốn, song Luciano đã chấp nhận trở về Italy vào ngày 9 tháng 2 năm 1946. Mặc dù vậy, Lucky Luciano vẫn là một nhân vật khét tiếng trong tổ chức tội phạm mafia ở cả Italy và Hoa Kỳ cho đến khi qua đời năm 1962.
|
Entropy thông tin là một khái niệm mở rộng của entropy trong nhiệt động lực học và cơ học thống kê sang cho lý thuyết thông tin.
Entropy thông tin mô tả mức độ hỗn loạn trong một tín hiệu lấy từ một sự kiện ngẫu nhiên. Nói cách khác, entropy cũng chỉ ra có bao nhiêu thông tin trong tín hiệu, với thông tin là các phần không hỗn loạn ngẫu nhiên của tín hiệu.
Ví dụ, nhìn vào một dòng chữ tiếng Việt, được mã hóa bởi các chữ cái, khoảng cách, và dấu câu, tổng quát là các ký tự. Dòng chữ có ý nghĩa sẽ không hiện ra một cách hoàn toàn hỗn loạn ngẫu nhiên; ví dụ như tần số xuất hiện của chữ cái x sẽ không giống với tần số xuất hiện của chữ cái phổ biến hơn là t. Đồng thời, nếu dòng chữ vẫn đang được viết hay đang được truyền tải, khó có thể đoán trước được ký tự tiếp theo sẽ là gì, do đó nó có mức độ ngẫu nhiên nhất định. Entropy thông tin là một thang đo mức độ ngẫu nhiên này.
Khái niệm này lần đầu giới thiệu bởi Claude E. Shannon trong bài báo "A Mathematical Theory of Communication ", năm 1948. Trước đó von Neumann đã dùng đến công thức có entropy vào năm 1927.
Claude E. Shannon đã xây dựng định nghĩa về entropy để thoả mãn các giả định sau:
Shannon cũng chỉ ra rằng bất cứ định nghĩa nào của entropy, cho một tín hiệu có thể nhận các giá trị rời rạc, thoả mãn các giả định của ông thì đều có dạng:
Ngẫu nhiên rời rạc.
Nếu một sự kiện ngẫu nhiên rời rạc "x", có thể nhận các giá trị là 1.."n", thì entropy của nó là:
với "p"("i") là xác suất xảy ra của giá trị "i". Như vậy, entropy của "x" cũng là giá trị kì vọng của các độ ngạc nhiên của các giá trị mà "x" có thể nhận.
Entropy thông tin trong trường hợp phần tử tín hiệu ngẫu nhiên rời rạc còn được gọi là entropy Shannon.
Ngẫu nhiên liên tục.
Nếu "x" là số thực ngẫu nhiên liên tục, thì định nghĩa entropy có thể được biểu diễn là:
với "f" là hàm mật độ xác suất. Định nghĩa này thường được gọi là entropy Boltzmann hay entropy liên tục, hay entropy vi phân.
Có thể chứng minh rằng entropy Boltzmann không phải là giới hạn của entropy Shannon khi "n" → ∞ và do đó không phải là độ đo mức độ hỗn loạn của thông tin.
Một dòng chữ luôn chỉ có các ký tự "a" sẽ có entropy bằng 0, vì ký tự tiếp theo sẽ luôn là "a". Một dòng chữ chỉ có hai ký tự 0 và 1 ngẫu nhiên hoàn toàn sẽ có entropy là 1 bit cho mỗi ký tự.
Một dòng chữ tiếng Anh thông thường có entropy khoảng 1,1 đến 1,6 bit cho mỗi ký tự. Thuật toán nén PPM có thể tạo ra tỷ lệ nén 1,5 bit cho mỗi ký tự. Trên thực tế, tỷ lệ nén của các thuật toán nén thông dụng có thể được dùng làm ước lượng cho entropy của dữ liệu.
Entropy của dòng văn bản thuần thường được định nghĩa dựa trên mô hình Markov. Nếu các ký tự tiếp theo hoàn toàn độc lập với các ký tự trước đó, entropy nhị phân sẽ là:
với "p""i" là xác suất của "i".
Liên hệ với cơ học thống kê.
Định nghĩa entropy của Shannon có liên hệ chặt chẽ với định nghĩa entropy trong cơ học thống kê. Chính các công trình của Ludwig Boltzmann hay Willard Gibbs trong cơ học thống kê đã kích thích việc sử dụng từ "entropy" trong lý thuyết thông tin. Theo Edwin Thompson Jaynes (1957), thực tế cơ học thống kê và nhiệt động lực học có thể coi là ứng dụng của lý thuyết thông tin: entropy trong nhiệt động lực học có thể cọi là độ đo của thông tin vi mô (mô tả các trạng thái vi mô của từng phần tử trong hệ vật lý) mà chưa được mô tả hết bởi các thông số vĩ mô của hệ nhiệt động lực học.
Ví dụ về tương quan giữa entropy nhiệt động lực học và entropy thông tin còn được thể hiện ở con quỷ Maxwell. Quỷ Maxwell có thể tạo ra được khi nó làm giảm entropy nhiệt động lực học nhưng làm tăng entropy thông tin và cả hệ vẫn tuân thủ định luật hai nhiệt động lực học với tổng entropy không đổi và quá trình hoạt động của quỷ là thuận nghịch.
|
Danh sách cầu thủ tham dự giải vô địch bóng đá thế giới 2006
Mỗi đội tuyển tham gia vòng chung kết World Cup 2006 có quyền đăng ký 23 cầu thủ, trong đó có tối thiểu 3 thủ môn. Hạn cuối cùng để nộp danh sách là ngày 15 tháng 5 năm 2006. Trong trường hợp chấn thương vào phút chót, các đội tuyển có thể thay đổi danh sách chậm nhất là vào 24 giờ trước trận đấu khai mạc giải. Trong danh sách dưới đây, những cầu thủ có ký hiệu (C) là người mang băng đội trưởng của đội. Thông tin về câu lạc bộ và số lần khoác áo của mỗi cầu thủ tính tại thời điểm đăng ký.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huấn luyện viên trưởng: #đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Trong lịch sử tồn tại của chính quyền Quốc gia Việt Nam (1950-1955) và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975). Trong quân đội trực thuộc của các chính quyền này (bao gồm các quân nhân đã phục vụ trong Quân đội Pháp, Quân đội Liên hiệp Pháp, kế tiếp là Quân đội Quốc gia, lực lượng vũ trang của các Giáo phái như: Giáo phái Cao Đài, Giáo phái Hòa Hảo và sau cùng là Quân đội Việt Nam Cộng hòa), có 173 vị được phong cấp tướng, trong đó có 74 vị đã từng tu nghiệp lớp Chỉ huy và Tham mưu tại trường Đại học Quân đội Hoa Kỳ "(Xem danh sách)" và 7 vị tướng Hải quân từng tu nghiệp lớp Chỉ huy và Tham mưu tại trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ. "(Xem danh sách)"
Trong số này, gần 1/3 tướng lãnh được phong trong giai đoạn 1963-1965.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có 38 tướng lãnh bị tập trung cải tạo, thời gian ngắn nhất là 2 năm và dài nhất là 17 năm. Trong đó: 7 Trung tướng, 11 Thiếu tướng và 20 Chuẩn tướng. "(Xem danh sách)"
|
Trong thần thoại Hy Lạp, Tartarus (tiếng Hy Lạp: Τάρταρος) là vực thẳm bên dưới Trời ("Uranus"), Đất ("Gaia") và Đại dương ("Pontus"). Nơi này được miêu tả là một chốn sâu thẳm, tối tăm, hoặc như là một vực sâu không đáy. Hades có thể được hiểu như Âm phủ, nơi mà linh hồn người chết sẽ quay về sau khi từ giã cuộc sống, và Tartarus, một phần của Hades, có thể được hiểu như Địa ngục, nơi những linh hồn tội lỗi sẽ chịu đày đọa và trừng phạt. Trong tập "Gorgias", Platon viết rằng những linh hồn sẽ chịu phán xét sau khi chết, và những kẻ bị buộc tội sẽ bị đày xuống Tartarus.
Tương tự như những thực thể nguyên thủy trong thần thoại Hy Lạp như Uranus (Trời), Gaia (Đất), Pontus (Đại dương) hay Hades (Âm phủ), Tartarus cũng được nhắc đến như một thế lực sơ khai, một vị thần.
Tartarus trong thần thoại Hy Lạp.
Trong thần thoại Hy Lạp, Tartarus (hay Tartaros) vừa là tên một vị thần vừa là một từ chỉ địa danh ở Âm phủ, thậm chí nơi này còn sâu hơn Hades. Theo một số trường phái huyền bí thì Tartaros còn là một thực thể vô cùng, sơ khai nhất, và từ đó sinh ra ánh sáng và vũ trụ.
Trong tác phẩm "Theogony" của Hesiod, Tartarus là vị thần thứ ba được sinh ra bởi Chaos. Nhà thơ Hesiod miêu tả vị trí của Tartarus thông qua một phép so sánh. Ông cho rằng một cái đe bằng đồng nếu rơi từ trời xuống đất phải mất 9 ngày. Cái đe còn phải đi thêm 9 ngày nữa để từ mặt đất xuống đến vùng Tartarus. Trong sử thi "Iliad" của Homer, thần Zeus khẳng định rằng khoảng cách giữa Hades đến Tartarus cũng như khoảng cách giữa trời và đất. Là một nơi khuất bóng Mặt Trời, sâu thẳm trong lòng đất, Tartarus bị bao quanh bởi một bức tường đống với ba lớp màn đêm bao phủ bên ngoài. Tartarus cùng với Chaos, Gaia và Uranus là những vị thần đầu tiên của vũ trụ.
Theo thần thoại Hy Lạp, mặc dù Hades là nơi của linh hồn người chết, thì Tartarus chứa đựng không ít những linh hồn. Khi Cronus, người lãnh đạo các Titan nắm quyền cai trị, ông giam tất cả những người khổng lồ một mắt Cyclops vào Tartarus. Một số truyền thuyết còn kể rằng ông cũng tống giam cả ba gã khổng lồ trăm tay trăm mắt xuống Tartarus. Zeus đã giải phóng tất cả những sinh vật này nhằm tăng thêm lực lượng trong trận chiến chống các Titan. Cuối cùng, sau khi chiến thắng các Titan, Zeus đã bắt nhốt hầu hết các Titan trong Tartarus. Tất cả đều bị canh giữ bởi ba gã Hecatonchire. Sau khi chiến thắng con quái vật Typhon, con của Tartarus và Gaia, Zeus cũng đã ném con quái vật đó xuống Tartarus.
Ban đầu, Tartarus chỉ dùng để giam giữ những kẻ được cho là hiểm họa đối với sự thống trị của các vị thần trên đỉnh Olympus. Trong các truyền thuyết về sau, Tartarus được biết đến như địa ngục để trừng phạt những kẻ tội lỗi, nơi mà họ phải gành chịu những hình phạt thích ứng với tội của mình. Ví dụ như Sisyphus, người đã báo cho cha của Asopus nơi mà Zeus đã bắt cóc con gái ông, Aegina. Zeus cho đó là một hành động chống đối lại quyền lực của thần linh nên đã ra lệnh đày Sisyphus xuống Tartarus. Ngày qua ngày, Sisyphus phải lăn một tảng đá nặng lên một triền dốc dài. Mỗi khi tảng đá được lăn đến đỉnh, nó lại lăn xuống, và Sisyphus lại phải bắt đầu lại từ đầu. Với hình phạt trên, Zeus muốn trừng phạt sự kiêu hãnh của Sisyphus, ám chỉ rằng trí óc, tài năng của người phàm không bao giờ có thể so sánh được với quyền lực của thần linh.
Ngoài ra còn có Ixion, người đầu tiên làm đổ máu một người thân trong gia đình khi lừa cha vợ của mình xuống một hố than nóng đỏ để không phải trả tiền cưới, phải chịu một hình phạt là sống trong một vòng lửa. Tantalus, sau khi được mời dự tiệc cùng các vị thần, quyết định bày một bàn tiệc, vờ như để trả ơn thần linh, vừa là để thử thách các vị thần. Ông ta giết con trai mình là Pelops và đem làm thức ăn dâng cho thần linh. Tantalus phải trả giá cho tội lỗi của mình giữa dòng sông lạnh cóng của Tartarus, thân mình bị buộc vào một tảng đá, và trái cây chín mọc đầy bên trên. Chịu một lời nguyền của sự đói khát bất tận, Tantalus luôn tìm cách với tới nước uống và trái cây, nhưng lần nào cũng vậy, mọi thứ đều bị đẩy ra khỏi tầm với của ông ta, lúc khát nước Tantalus cúi đầu xuống dòng sông, thì sông biến thành bùn đất. Còn khi đói, ông ta vươn lên cành cây để hái quả, nhưng những cành trĩu nặng quả ấy cứ cao mãi, vượt khỏi tầm tay của ông.
Theo Platon, Rhadamanthus, Aeacus và Minos là những người nhận trách nhiệm phán xét ở nơi đây. Rhadamanthus xét xử những linh hồn đến từ Châu Á; Aeacus xét xử những linh hồn đến từ Châu Âu và Minos là người bỏ lá phiếu quyết định và cũng đồng thời là người phán xét những người Hy Lạp.
Tartarus trong thần thoại La Mã.
Trong thần thoại La Mã, Tartarus là nơi mà mọi kẻ tội lỗi bị gửi đến sau cái chết. Virgil miêu tả trong tác phẩm "Aeneid" rằng Tartarus là một nơi rộng lớn, bao quanh là con sông lửa Phlegethon và ba lớp tường dày để đề phòng những kẻ có tội trốn thoát. Nó được canh gác bởi một con hydra với 50 hàm sắc ngồi bên cạnh một cái cổng lớn được gia cố bằng các cột adamatine, một thứ vật liệu gần với kim cương, cứng đến nỗi hầu như không gì cắt nổi. Bên trong là một tòa lâu đài có tường dày và đỉnh bằng sắt. Tisiphone, một trong ba nữ thần Erinyes tượng trưng cho sự phục thù, đứng gác trên đỉnh của tòa lâu đài này suốt ngày đêm không ngủ với một sợi roi trong tay. Có một cái vực sâu vào lòng đất với độ sâu gấp đôi từ mặt đất lên tới đỉnh Olympus. Ở đáy của vực là nơi giam giữ các Titan, hai người con sinh đôi của Aloeus và nhiều người mang tội nặng khác. Những hình phạt trong đây hầu hết đều giống hình phạt trong thần thoại Hy Lạp.
Tartarus trong kinh Tân Ước.
Trong Thư thứ nhì của Phê-rô trong Tân Ước có đoạn nói về Tartarus như nơi xử phạt dành cho các thiên thần có tội (2 Peter 2:4).
|
Máy chủ ứng dụng
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Phần mềm máy chủ ứng dụng (tiếng Anh: "Application Server") là một phần mềm (software engine) trong cung cấp ứng dụng phần mềm cho các máy trạm hoặc thiết bị, thông thường là qua mạng Internet sử dụng giao thức HTML. Máy chủ ứng dụng khác biệt với máy chủ Web thông qua việc sử dụng rất nhiều nội dung động do máy chủ tạo ra và tích hợp chặt chẽ tới máy chủ Cơ sở dữ liệu.
Phần mềm máy chủ ứng dụng đảm nhiệm phần lớn, nếu không nói là tất cả, các xử lý logic và truy cập CSDL của ứng dụng (hay còn gọi là tập trung hóa). Lợi ích chính của phần mềm máy chủ ứng dụng là sự dễ dàng trong phát triển ứng dụng do ứng dụng không cần được lập trình mà thay vào đó, chúng được nối rạp lại từ các cấu phần do máy chủ ứng dụng cung cấp. Ví dụ, Wiki là một phần mềm máy chủ ứng dụng cho phép người dùng tạo ra các nội dung động từ việc nối ráp các bài báo. Hơn nữa, Wikipedia là một bộ Wiki đã được ráp nối cung cấp một thư viện bách khóa được lưu trữ trên một hệ thống file và những thay đổi đối với bách khóa toàn thư được lưu trữ trong CSDL.
Phần mềm máy chủ ứng dụng chạy trên nhiều nền khác nhau và thuật ngữ này được áp dụng không chính thức cho hai loại ứng dụng phần mềm khác nhau. Thuật ngữ này được dùng để chỉ các phần mềm máy chủ của các ứng dụng trên nền Web, ví dụ như các nền tích hợp sử dụng trong thương mại điện tử, hệ thống quản lý nội dung, các bộ tạo web-site. Đồng thời, thuật ngữ này cũng được áp dụng như là đồng nghĩa với nền tảng ứng dụng Web (web application framework).
Các đặc điểm chung.
Các sản phẩm phần mềm máy chủ ứng dụng thường sử dụng các phần mềm trung gian (middleware) để hỗ trợ ứng dụng giao tiếp lẫn nhau giữa các ứng dụng phụ thuộc như máy chủ Web, hệ thống CSDL và các phần mềm vẽ biểu đồ. Một số phần mềm máy chủ ứng dụng cung cấp API (giao diện lập trình ứng dụng) cho phép chúng độc lập với hệ điều hành. Cổng điện tử (portal) là một cơ chế phần mềm máy chủ ứng dụng phổ biến cung cấp một điểm truy cập tới nhiều ứng dụng khác nhau.
Các ứng dụng, trong lịch sử, được lưu trữ trên các máy tính lớn (mainframe) và được chuyển tới các trạm truy cập (terminal). Chỉ có các tổ chức lớn, như chính phủ, ngân hàng và các tập đoàn lớn mới có thể có các trang thiết bị và nhân lực để hỗ trợ máy chủ lớn. Thập kỷ 60 chứng kiến sự xuất hiện của các máy tính mini. Máy tính mini nhỏ, yếu và rẻ hơn nhiều so với máy chủ lớn. Tuy vậy, các trạm truy cập vẫn được sử dụng để giao tiếp với ứng dụng.
Tiếp theo sự xuất hiện của máy tính cá nhân vào thập kỷ 80, và cụ thể hơn là giao diện đồ họa vào thập kỷ 90, mô hình tính toán máy chủ-máy trạm được phát triển. Trong kiến trúc máy chủ-máy trạm, ứng dụng được lưu trữ trên máy chủ và máy trạm đóng vai trò giao diện người dùng. Trong kiến trúc này, giao diện người dùng là một phần mèm máy tính chạy độc lập với máy chủ CSDL. Mặc dù điều này giải phóng máy chủ CSDL khỏi việc phải đồng thời xử lý dữ liệu vào giao diện người dùng, người quản trị lại phải cập nhật phần mềm máy trạm trên mỗi máy cá nhân khi cần thực hiện bất kỳ thay đổi nào.
Tiếp theo sự xuất hiện của Internet vào giữa thập kỷ 90, mô hình phần mềm máy chủ ứng dụng được phát triển. Máy chủ ứng dụng là sự qua trở lại của thời đại tính toán trên máy chủ lớn theo nghĩa cả phần mềm và giao diện được lưu trữ trên máy chủ. Sự khác nhau là máy trạm là một máy cá nhân sử dụng trình duyệt web. Máy chủ gửi các chỉ thị liên quan tới giao diện kèm với dữ liệu tới máy trạm. Phần mềm máy chủ ứng dụng lưu trữ các chỉ thị về giao diện người dùng trong các module giao diện và được gắn cho các dạng thức dữ liệu khác nhau. Khi một cấu phần của CSDL có một dạng thức dữ liệu cụ thể được yêu cầu, phần mềm máy chủ ứng dụng gửi các chỉ thị của module cùng với dữ liệu được yêu cầu tới máy trạm.
Phần mềm máy chủ ứng dụng Java.
JOnAS application server là phần mềm máy chủ ứng dụng mã nguồn mở đầu tiên đạt được chứng chỉ chính thức về tuân thủ các chuẩn Java Enterprise. BEA cung cấp phần mềm máy chủ ứng dụng được Java EE xác nhận đầu tiên và tiếp theo là triển kai tham chiếu GlassFish của Sun Microsystems.
Module Web modules là servlets và JavaServer Pages, và logic kinh doanh được xây dựng trong Enterprise JavaBeans (EJB-3 và các phiên bản tiếp theo). Dự án Hibernate cho phép triển khai EJB-3 cho JBoss Application server. Tomcat của Apache và JOnAS của ObjectWeb là các nền mà các module này có thể được chạy.
Java Server Page (JSP) là một servlet từ Java chạy các Web container—thuật ngữ của java tương đương với CGI scripts. JSP là một cách để tạo trang HTML thông qua việc chèn các tham chiếu tới logic của máy chủ trong cùng trang web. Các nhà lập trình HTML và Java có thể làm việc đồng thời và tham chiếu mã lệnh của nhau từ mã lệnh của mình. JavaBeans là các cấu phần lớp độc lập của kiến trúc Java do Sun Microsystems xây dựng.
Các phần mềm máy chủ ứng dụng nêu trên chủ yếu phục vụ các ứng dụng Web. Một số phần mềm máy chủ ứng dụng khác phục vụ các mạng khác. Ví dụ Máy chủ SIP (Session Initiated Protocol) phục vụ các mạng thoại (telephone)
Cũng có các nhà cung cấp khác cung cấp máy chủ ứng dụng mã nguồn mở. Ví dụ bao gồm Appaserver, Base4 và Zope.
Các giải pháp không dựa trên nền Java thường không có các tiêu chuẩn về tương thích. Vì vậy, tương thích giữa các sản phẩm không dựa trên Java kém hơn so với các sản phẩm dựa trên Java EE. Để giải quyết nhược điểm này các tiêu chuẩn về tích hợp ứng dụng doanh nghiệp và kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) được xây dựng để kết nối các sản phẩm khác nhau. Các tiêu chuẩn này bao gồm Giao diện lập trình ứng dụng doanh nghiệp (BAPI), Tương thích dịch vụ Web (Web Service Interoperability) và Kiến trúc kết nối Java EE (Java EE Connector Architecture).
Ưu điểm của phần mềm máy chủ ứng dụng.
Toàn vẹn dữ liệu và mã nguồn.
Thông qua tập trung các xử lý logic vào một hoặc một số nhỏ máy chủ phần cứng, cập nhật và nâng cấp đối với ứng dụng cho tất cả mọi người dùng có thể được đảm bảo. Không hề có rủi ro về các phiên bản cũ của ứng dụng truy cập và thay đổi thông tin thông tin theo cách cũ và không tương thích.
Tập trung cấu hình.
Thay đổi đối với cấu hình ứng dụng, ví dụ thay đổi máy chủ CSDL hay cấu hình hệ thống, có thể được thực hiện tập trung
Một điểm quản lý tập trung đối với truy cập tới dự liệu và ứng dụng được coi là lợi ích về an ninh, chuyển trách nhiệm về xác thực khỏi lớp máy trạm có nhiều rủi ro mà không lộ lớp CSDL.
Thông qua giới hạn lưu lượng mạng chỉ để thực hiện các lưu lương hiển thị, người ta cho răng mô hình máy chủ - máy trạm cải thiện hiệu suất trong các ứng dụng lớn trong môi trường sử dụng nhiều.
Tổng chi phí sở hữu (TCO).
Tóm lại, các lợi ích nêu trên được cho là thể hiện tiết kiệm về chi phí cho công ty khi phát triển các ứng dụng doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, thách thức về kỹ thuật liên quan tới phát triển phần mềm tuân thủ theo các chuẩn đồng thời đảm bảo yêu cầu về phân phối phần mềm giảm phần nào những lợi ích này
|
Tiền dưỡng liêm là khoản tiền do nhà nước thời Nguyễn cấp thêm ngoài lương bổng để nuôi lòng liêm khiết của quan lại. Tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà mỗi triều đại có mức độ tiền dưỡng liêm khác nhau.
Lương các quan chức ngày xưa thường không nhiều. Như trường hợp ông Lương Đắc Bằng làm đến thượng thư mà con là Lương Hữu Khánh còn phải đi cày thuê như tá điền để có đủ ăn.
Khái niệm "tiền dưỡng liêm" chính thức được đặt ra dưới thời nhà Lý và sau này nhấn mạnh trong thời Lê sơ. Vua Lý Thánh Tông, với chính sách ưu dụng đại thần, cho là: ""Ân riêng mưa móc đượm nhuần / Đã tiền lại lúa ân cần dưỡng liêm". Năm 1473, vua Lê Thánh Tông định chế độ bổng lộc cho quan lại trong kinh, ngoài trấn, và đãi ngộ người hiền tài hợp lý: "Đặt quan để làm việc, tất phải có lương bổng để nuôi, rồi sau mới bắt phải thanh liêm được. Bởi vì người làm quan có đầy đủ thì mới bắt đầu làm điều thiện. Mặt khác, triều đình có gia ơn cho người làm quan thì họ mới gia ơn cho dân. Do đó, để cho người làm quan giữ được đức thanh liêm thì lương bổng phải hậu và phải bảo đảm nuôi sống được họ" và "Những nơi ít việc và nơi rất ít việc, những chức thong thả và những chức rất thong thả, tiền bổng có khác nhau"". Cũng trong thời Hồng Đức, theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, vua cấp thêm cho các quan "Liêm lộc điền" (ruộng dưỡng liêm cho các quan), tức là cấp ruộng đất để tự làm cho đủ ăn, khỏi lấy tiền của dân, cũng như Luật Hồng Đức quy định hình phạt rất nghiêm khắc với hành vi tham nhũng, hối lộ. Năm 1498, vua Lê Hiến Tông đã ban lệnh "cấp tiền quý bổng liêm khiết" cho quan lại liêm chính như tiền thưởng thêm.
Đối tượng được hưởng.
Vào thời Nguyễn, lệ cấp tiền dưỡng liêm chỉ được đặt ra trong những năm cuối triều Gia Long và lúc đầu chỉ để dành cho quan lại đứng đầu cấp phủ, huyện như tri phủ, tri huyện. Vua Gia Long cho rằng "Phủ, huyện ở gần nhân dân, chức nhỏ nhưng việc nhiều, ngoài bổng chính ra, cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm để tỏ đặc cách". Còn vua Minh Mạng thì nói rằng "tiền dưỡng liêm là để khuyến khích tiết tháo trong sạch"
Sau này, các chức như thự Tri phủ, thự Tri huyện, Tri châu, Đồng tri phủ cũng được cấp loại tiền này. Đặc biệt, vào đầu triều vua Tự Đức còn cấp tiền cho các phái viên thu thuế quan và từ khi có lệ cấp tiền bổng lộc cho quan lại tại kinh thành thì một số chức quan cấp tỉnh cũng được hưởng như Quản đạo, Án sát, Bố chánh, Tuần vũ, Tổng đốc.
Mặc dù cùng là đối tượng được hưởng chế độ tiền dưỡng liêm nhưng tất cả đều là quan lại cấp địa phương. Quan chức thuộc bộ máy trung ương ở kinh thành đều không nằm trong chế độ ưu đãi này.
Chế độ tiền dưỡng liêm.
Năm 1815 khoản dưỡng liêm của Tri phủ gồm 25 quan tiền, 25 phương gạo. Tri huyện thì 20 quan tiền, 20 phương gạo. Việc cấp tiền dưỡng liêm cho phủ, huyện cũng chia thành 4 kỳ trong năm để cấp phát cùng chế độ lương bổng.
Từ năm 1831, vua Minh Mạng chia các phủ, huyện, châu cả nước làm 4 hạng là tối yếu khuyết (tối quan trọng), yếu khuyết (quan trọng), trung khuyết (bình thường), giản khuyết (ít việc). Tùy theo 4 hạng trên mà mức độ tiền dưỡng liêm khác nhau. Đầu năm 1840, lệ tiền, gạo dưỡng liêm có thay đổi, khoản dưỡng liêm chỉ cấp bằng tiền, số gạo kèm theo cũng được đổi ra thành tiền. Quy chế nhận tiền dưỡng liêm ngày càng chặt chẽ: ban đầu được cấp phát theo hàng quý, quan mới đến trấn nhậm dù vào tháng giữa quý vẫn được cấp cả quý, quan thuyên chuyển đi nơi khác dù vào tháng đầu quý cũng không được trả lại tiền đã nhận ở quý đó. Về sau thì quan đến trấn nhậm vào tháng đầu quý thì cấp cả quý, đến tháng giữa thì cấp nửa quý, tháng cuối thì miễn cấp. Quan thuyên chuyển vào tháng đầu quý thì phải trả lại cả quý, vào tháng giữa quý thì trả lại một nửa, vào tháng cuối quý thì không cần phải trả lại.
Giá trị thực tế của khoản tiền dưỡng liêm dưới triều Gia Long, Minh Mạng rất lớn, tương đương với số lương bổng họ được nhận thực hàng tháng. Điều này có ý nghĩa rất lớn về vật chất vì quan lại có thể dựa vào tiền dưỡng liêm để đủ tiền sinh sống và bảo vệ tính thanh liêm cần thiết cho mình. Tiền dưỡng liêm thật sự là một biện pháp tương đối hữu hiệu trong việc ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng trong hàng ngũ quan lại triều Nguyễn.
|
Kết nối các hệ thống mở
"Xem thêm các nghĩa khác tại OSI"
Kết nối các hệ thống mở ("tiếng Anh": Open Systems Interconnection, viết tắt là OSI) là một nỗ lực tiêu chuẩn hóa mạng máy tính do Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO), cùng với Bộ phận Tiêu chuẩn Hoá Viễn thông của ITU (ITU-T) tiến hành từ năm 1982.
Trước khi OSI ra đời, việc thiết kế mạng lưới truyền thông là hoàn toàn do những nhà kinh doanh tự phát triển và ở dưới sự khống chế của bản quyền về kỹ thuật, chẳng hạn như những tiêu chuẩn về giao thức truyền thông trong "Kiến trúc hệ thống mạng truyền thông" (System network architecture) của IBM, appletalk của Apple, netware của Novell Inc. và DECnet của Digital Equipment Corporation. OSI là một cố gắng của các tổ chức trong công nghiệp hòng giải quyết mâu thuẫn giữa các nhà kinh doanh, để tất cả có thể cùng đồng tình với một tiêu chuẩn về kỹ thuật mạng truyền thông, đồng thời tạo điều kiện cho các sản phẩm của những nhà kinh doanh khả năng liên tác (phối hợp và làm việc) với nhau (interoperability). Tại thời điểm đó, các mạng truyền thông lớn hỗ trợ nhiều bộ giao thức truyền thông (network protocol suites) khác nhau là một hiện tượng bình thường, đồng thời vấn đề nhiều thiết bị mạng không giao lưu được với nhau, vì thiếu một giao thức chung, cũng không hiếm.
Mô hình tham chiếu OSI (thuộc về thời kỳ trước khi giao thức OSI ra đời, vào năm 1977) là một tiến bộ quan trọng trong việc giảng dạy về lý thuyết mạng lưới truyền thông. Nó khuyến khích ý tưởng về một mô hình chung của giao thức tầng cấp, định nghĩa sự liên tác giữa các thiết bị và phần mềm dành cho việc kết nối mạng lưới truyền thông.
Song có ý kiến cho rằng chồng giao thức (protocol stack) của OSI đề ra quá phức tạp và bất khả thực thi. Với chủ trương sử dụng kỹ thuật "nâng cấp đồng bộ" (forklift upgrade) trong công nghệ mạng lưới truyền thông, mô hình này đòi hỏi một cách cụ thể việc huỷ bỏ toàn bộ những giao thức hiện đang sử dụng, thay thế chúng với mô hình mới, áp đặt việc thay đổi trên toàn bộ các tầng cấp của chồng giao thức. Sự đòi hỏi này gây khó khăn rất lớn cho việc thực hiện và nó bị nhiều nhà kinh doanh và người sử dụng phản kháng, là những người đã đầu tư khá nhiều trong kỹ thuật mạng lưới truyền thông. Thêm vào đó, các giao thức của OSI lại do nhiều hội đồng đóng góp, thành ra trong đó có rất nhiều yêu cầu về chức năng đối lập với nhau, tạo nên một số lượng lớn những đặc trưng phụ, không cần thiết. Vì số lượng các đặc trưng phụ quá cao, nhiều sự thực thi của các nhà kinh doanh trở nên vô dụng vì chúng không thể liên tác với nhau, biến toàn bộ năng lực cống hiến vào việc gây dựng mô hình trở nên vô dụng. Ngay cả việc chính phủ Mỹ đòi hỏi sự đồng bộ hóa tất cả các đơn đặt hàng theo tiêu chuẩn của OSI cũng không cứu vãn nổi tình thế.
Phương cách của OSI cuối cùng bị bộ giao thức TCP/IP của Internet che khuất. Tính thực dụng của TCP/IP trong liên kết mạng lưới truyền thông, cùng với hai công trình thực thi của những giao thức đã được đơn giản hóa, biến TCP/IP thành tiêu chuẩn khả thi. Chẳng hạn, dự kiến về thư điện tử (e-mail) trong tiêu chuẩn X.400 của OSI dày bằng mấy quyển sách, trong khi dự kiến về thư điện tử của Internet trong giao thức thư điện tử SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) chỉ chiếm mấy chục trang trong RFC 2821. Dầu sao, chúng ta cũng nên để ý rằng, sau một khoảng thời gian, rất nhiều các bản dự thảo RFC, mở rộng dự kiến của giao thức SMTP trước đây, đã được thêm vào, làm cho số lượng tài liệu hoàn chỉnh của nó cũng dày lên, chiếm một độ dày bằng mấy quyển sách, tương tự.
Rất nhiều các giao thức và bản thiết kế kỹ thuật trong giao thức tầng cấp của OSI đã bị hủy bỏ, và được thay thế bằng những cái mới, trong đó có thiết bị token-bus, truyền tải gói dữ liệu CLNP, truyền tải hồ sơ FTAM, và giao thức thư điện tử X.400. Một số trong đó còn sót lại, và thường ở dưới thể dạng hết sức đơn giản. Cấu trúc thư mục (directory structure) X.500 vẫn còn được dùng khá nhiều, đại đa phần vì giao thức nguyên bản cồng kềnh của nó đã bị lột bỏ rất nhiều và hầu như được thay thế bằng LDAP (Lightweight Directory Access Protocol). Giao thức IS-IS vẫn còn tiếp tục được nhiều công ty viễn thông dùng là một giao thức định tuyến truyền tải, và nó đã được ứng dụng vào giao thức Internet. Nhiều hệ thống SONET cũ vẫn còn dùng giao thức TARP (TID Address Resolution Protocol - sử dụng CLNP và IS-IS) để phiên dịch địa chỉ (Target Identifier) của một nút SONET nào đó. Người ta vẫn thường thấy các giao thức và thiết kế kỹ thuật của tầng cấp ISO được dùng trong các hệ thống cũ, trừ phi những hệ thống này được nâng cấp, thay thế, hoặc hủy bỏ.
Sự xụp đổ của dự án OSI năm 1996 gây những tổn thất trầm trọng đến danh tiếng và tính hợp pháp của các tổ chức tham gia, đặc biệt là ISO. Điều đáng tiếc nhất là việc những cơ quan ủng hộ OSI quá trì trệ trong việc nhận biết và thích ứng với tính ưu việt của bộ giao thức TCP/IP.
|
Leipzig (]#đổi ), là thành phố trực thuộc bang và cũng là thành phố đông dân cư nhất của bang Sachsen, Cộng hòa Liên bang Đức. Nguồn gốc của cái tên này là từ "Lipsk" trong tiếng Slav. Vị trí của thành phố là nơi gặp nhau của những con sông Pleiße, Elster Trắng và Parthe.
Dân số thành phố vượt ngưỡng 100.000 vào năm 1870 và trở thành thành phố lớn từ đấy. Từ năm 1190 thành phố là một địa điểm tổ chức hội chợ quan trọng trong Trung Âu. Bên cạnh và trước Frankfurt am Main một thời gian dài thành phố là trung tâm lịch sử của ngành in sách và buôn bán sách. Ngoài ra Leipzig còn có một trong các trường đại học lâu đời nhất: Đại học Leipzig ("Universität Leipzig"). Thành phố là một phần của vùng đô thị Tam giác Sachsen, một trọng điểm giao thông quan trọng và là một trong những khu vực kinh tế phát triển nhất ở miền đông nước Đức.
Leipzig có nguồn gốc từ ngôn ngữ Slav "Lipsk", có nghĩa là "khu định cư nơi có cây Đoạn mọc".
Leipzig lần đầu tiên xuất hiện trong các văn kiện vào năm 1015 trong biên niên sử của Bishop Thietmar thuộc Merseburg và thành phố đã được hưởng các đặc ân về thương mại vào năm 1165 của Bá tước Otto. Leipzig về cơ bản được định hình trong lịch sử Sachsen và của Đức và luôn được biết đến là một địa điểm thương mại. Hội chợ Buôn bán Leipzig, bắt đầu vào thời Trung Cổ, đã trở thành một sự kiện quốc tế quan trọng và là hội chợ thương mại lâu đời nhất còn tồn tại trên thế giới.
Đã có các ghi chép về các hoạt động đánh cá nhằm mua bán trên sông Pleisse tại Leipzig từ năm 1305, khi Bá tước Dietrich Trẻ đã chấp nhận quyền đánh cá của nhà thờ và Tu viện Thánh Thomas.
Có một số tu viện bên trong và xung quanh thị trấn, bao gồm một tu viện Benedectine mà sau đó được đặt tên Barfussgässchen (Lối đi Chân trần), tu viện của thấy tu người Ireland gần nơi mà nay là Ranstädter Steinweg (Via Regia Cổ).
Việc thành lập Đại học Leipzig vào năm 1409 đã khởi đầu cho việc thành phố phát triển thành một trung tâm của ngành luật và xuất bản tại Đức, và tiếp theo là địa điểm đặt Reichsgericht (Tòa Dân sự Tối cao), và Thư viện Quốc gia Đức (thành lập năm 1912). Triết gia-nhà toán học Gottfried Wilhelm Leibniz được sinh ra tại Leipzig năm 1646, và đã học tập tại Đại học Leipzig từ năm 1661 đến 1666.
Ngày 24 tháng 12 năm 1701, một hệ thống chiếu sáng đường phố bằng nhiên liệu dầu đã được giới thiệu. Thành phố đã phải thuê đội bảo vệ đèn với kế hoạch làm việc rõ ràng để bảo đảm 700 chiếc đèn được thắp đúng thời điểm.
Khu vực Leipzig từng là nơi diễn ra Trận Leipzig năm 1813 giữa Đế chế thứ nhất Pháp và một liên minh bao gồm Phổ, Nga, Áo và Thụy Điển. Đây là trận chiến lớn nhất tại châu Âu trước khi diễn ra Chiến tranh thế giới thứ nhất và đã chấm dứt sự hiện diện của Napoléon tại Đức và cuối cùng đã dẫn tới cuộc lưu vong đầu tiên của ông tại Elba. Năm 1913, Đài kỉ niệm Trận chiến giữa các Quốc gia nhân dịp kỉ niệm 100 năm sự kiện này đã được hoàn thành.
Với việc có một ga cuối của tuyến tàu hỏa đường dài đầu tiên của Đức tới Dresden (kinh đô của Sachsen) vào năm 1839, Leipzig trở thành một trung tâm của giao thông đường sắt khu vực Trung Âu, với Ga Trung tâm Leipzig là Ga đầu tuyến lớn nhất về diện tích tại châu Âu. Ga tàu hỏa có hai lối vào đại sảnh lớn, theo truyền thống thì lối phía đông dành cho tuyển đế hầu Sachsen và lối phía tây dành cho Hoàng đế Đức.
Leipzig trở thành một trung tâm của phong trào tự do Đức và Sachsen. Đảng Lao động Đức đầu tiên, Hội Liên hiệp Toàn thể Công nhân Đức ("Allgemeiner Deutscher Arbeiterverein", ADAV) được thành lập tại Leipzig vào ngày 23 tháng 5 năm 1863 bởi Ferdinand Lassalle; khoảng 600 công nhân từ khắp nước Đức đã di chuyển tới thành phố để tham gia sự kiện thành lập hội bằng tuyến đường sắt mới. Leipzig đã mở rộng nhanh chóng hướng tới con số một triệu cư dân. Các khu vực Gründerzeit khổng lồ được xây dựng, và phần lớn trong số chúng vẫn tồn tại bất chấp hai cuộc thế chiến và các hoạt động phá hủy sau đó.
Với việc mở cửa xưởng sản xuất thứ 5 vào năm 1907, Leipziger Baumwollspinnerei đã trở thành công ty bông sợi lớn nhất tại lục địa châu Âu, với 240.000 nhân công. Sản lượng hàng ngày là hơn 5 triệu kilôgram sợi.
Thị trưởng thành phố từ năm 1930 đến 1937 là Carl Friedrich Goerdeler, ông là một người đối lập nổi tiếng của chế độ Đức Quốc xã. Ông từ chức vào năm 1937 và sau đó, người phó Đức Quốc xã của ông đã ra lệnh phá hủy bức tượng Felix Mendelssohn vốn là biểu trưng của thành phố. Vào Kristallnacht (Đêm Kính vỡ) năm 1938, một trong số những tòa nhà có ý nghĩa nhất về mặt kiến trúc của thành phố, giáo đường Do Thái theo kiến trúc Phục hưng từ năm 1855 đã bị phá hủy. Hàng nghìn lao động đã dừng chân tại Leipzig trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thành phố cũng bị thiệt hại nặng nề do các vụ ném bom của phe Đồng Minh trong Thế chiến II. Không giống như những thành phố láng giềng Dresden là thành phố phải chịu các vụ ném bom theo đợt với sức công phá lớn. Leipzig chỉ mất đi một số công trình ngoại vi chứ không mất đi khu vực trung tâm với một mức độ tàn phá lớn, tuy nhiện hậu quả cũng thể hiện tại nhiều nơi.
Lực lượng bộ binh của quân Đồng Minh tiến đến Leipzig vào cuối tháng 4 năm 1945. Sư đoàn Bộ binh số 2 và Sư đoàn Bộ binh số 69 của Hoa Kỳ đã chiến đấu bên trong thành phố vào ngày 18 tháng 4 và hoàn tất việc chiếm giữ sau các trận chiến dữ dội tại đây, cuộc chiến diễn ra trên từng đường phố, từng căn nhà, vào ngày 19 tháng 4 năm 1945. Sau đó Hoa Kỳ trao lại quyền quản lý thành phố cho Hồng quân Liên Xô. Leipzig về sau là một trong các thành phố chính của Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức).
Vào giữa thế kỷ 20, hội chợ thương mại của thành phố được thừa nhận và hồi phục lại tầm quan trọng như là một địa điểm gặp gỡ giữa các thành viên của khối kinh tế Comecon, là tổ chức mà Đông Đức là một thành viên. Vào thời điểm này, hội chợ thương mại được tổ chức ở một địa điểm phía nam thành phố, gần Đài kỉ niệm Trận chiến giữa các Quốc gia.
Vào tháng 10 năm 1989, sau các buổi cầu nguyện cho hòa bình tại Nhà thờ Thánh Nicôla, được thành lập từ năm 1983 như là một phần của phong trào hòa bình, Cuộc tuần hành Thứ hai đã bắt đầu và trở thành cuộc biểu tình chống chế độ cộng sản Đông Đức nổi bật nhất.
Leipzig nằm tại nơi hợp dòng của các dòng sông Weisse Elster, Pleisse và Parthe thuộc phần cực nam của đồng bằng Bắc Đức, một phần của đồng bằng Bắc Âu tại nước Đức. Địa điểm này có nét đặc trưng với những vùng đầm lầy như Rừng ven sông Leipzig, ngoài ra cũng có một số khu vực đá vôi ở phía bắc của thành phố. Phong cảnh chủ yếu là bằng phẳng song cũng có một số dấu tích của băng tích và những ngọn đồi nhỏ.
Mặc dù có một số công viên rừng bên trong thành phố, song các khu vực xung quanh Leipzig tương đối hiếm rừng. Trong thế kỷ 20, đã có một vài mỏ khai thác lộ thiên tại khu vực thành phố, nhiều mỏ nay được chuyển đổi thành các hồ nước.
Leipzig nằm tại nơi giao cắt của nhiều tuyến đường lịch sử được biết tới như Via Regia (xa lộ Vua), con đường đi ngang ba các vùng đất của người German theo chiều đông tây, và Via Imperii (xa lộ Hoàng Đế), một tuyến đường theo chiều bắc - nam.
Leipzig tường là một thành phố có tường thành bao bọc dưới thới Trung Cổ và hiện nay có một tuyến đường vành đai xung quanh trung tâm thành phố tương ứng với bức tường thành cổ.
Leipzig từ năm 1992 được chia thành 10 quận hành chính, và 63 khu phố. Một số trong đó là các ngôi làng ngoại ô xa xôi nhưng thuộc địa giới của Leipzig.
Leipzig có khí hậu lục địa với nhiệt độ mùa hè có thể lên tới 30 °C (vào 10 ngày trong năm 2010) và thường xuyên xuống tới mức dưới 0 °C (62 ngày trong năm 2010). Cũng như phần lớn nước Đức, tuyết thường rơi đều đặn vào một số ngày trong tuần, hay theo tháng vào mùa đông.
Ngày nóng nhất tại Leipzig từng được ghi nhận trong lịch sử là vào 9 tháng 8 năm 1992 với nhiệt độ lên đến 38,8 °C, còn nhiệt độ lạnh nhất xuất hiện vào ngày 14 tháng 1 năm 1987 với chỉ −24,1 °C.
Dân số Leipzig xấp xỉ nửa triệu người với tỷ lệ thất nghiệp là khoảng 17%. Trước khi nước Đức tái thống nhất, dân số thành phố là 700.000 người. Nhiều cư dân của thành phố trong lứa tuổi lao động đã di cư về các khu vực ở phía tây để tìm kiếm công việc, ngoài ra tỷ lệ sinh thấp cũng đóng góp vào việc dân số suy giảm. Tuy nhiên số trẻ em sinh ra tại thành phố năm 2000 là 5.414 trẻ, con số cao nhất kể từ khi tái thống nhất. Trong khi đó có 5788 người qua đời tại Leipzig năm 2010, song dân số thành phố vẫn tăng 4000 do nhập cư. Độ tuổi trung bình của cư dân thành phố là 44.
Tỷ lệ dân nhập cư hay không có nguồn gốc dân tộc Đức tại Leipzig là khá thấp nếu đem so sánh với các thành phố khác tại Đức; số cư dân nước ngoài trên thực tế đã giảm từ 28.177 năm 2008 xuống 24.881 vào năm 2010. Năm 2011, chỉ có khoảng 10% dân số thành phố thuộc các thế hệ nhập cư thứ nhất và thứ hai so với con số trung bình toàn quốc là 20%.
Số người dân tộc thiểu số (thế hệ thứ nhất và thứ hai) tại Leipzig theo nguồn gốc quốc gia vào ngày 31 tháng 12 năm 2010
Leipzig có nhiều toà nhà đại diện cho lối kiến trúc Gründerzeit và cũng của lối kiến trúc Plattenbau từ thời kỳ Đông Đức trước đây. Tòa nhà của Đại học Giáo hội đã bị chế độ cộng sản phá hủy vào năm 1968 hiện đang được tái xây dựng với vai trò là một tòa nhà thế tục. Thành phố có một số công viên và khu rừng cùng một sở thú bao gồm căn chuồng lớn nhất trên thế giới dành cho loài động vật linh trưởng.
Trong số các trụ sở cơ quan tại Leipzig, đáng chú ý có nhà hát opera và Vườn động vật Leipzig, địa điểm sau là nơi sinh sống thuận lợi lớn nhất thế giới đối với các loài động vật linh trưởng. Trung tâm của Hội chợ thương mại Leipzig ở phía bắc thành phố là tòa nhà kính nổi trên mặt nước lớn nhất thế giới. Leipzig cũng được biết đến với các ngõ nhỏ qua các ngôi nhà hay tòa nhà lớn.
Johann Sebastian Bach từng làm việc tại Leipzig từ năm 1723 đến năm 1750, ông chỉ đạo đội hợp xướng nhà thờ Thánh Thomas, tại nhà thờ Thánh Thomas, nhà thờ Thánh Nicolas và Paulinerkirche, trường đại học ki-tô giáo của Leipzig (bị phá hủy vào năm 1968). Nhà soạn nhạc Richard Wagner đã sinh ra tại Leipzig vào năm 1813, ở Brühl. Robert Schumann cũng từng hoạt động âm nhạc tại Leipzig, được Felix Mendelssohn mời sau đó khi thành lập nhạc viện đầu tiên của Đức tại thành phố vào năm 1843. Gustav Mahler là nhạc trưởng thứ hai (làm việc dưới sự chỉ đạo của Artur Nikisch) tại Nhà hát Leipzig từ tháng 6 năm 1886 cho đến tháng 5 năm 1888, và đã đạt được sự công nhận lớn đầu tiên của ông khi hoàn thành và công bố vở nhạc kịch Die Drei Pintos của Carl Maria von Weber, và Mahler cũng đã hoàn thành Bản giao hưởng số 1 của mình khi sinh sống tại thành phố.
Nhạc viện ngày nay đã trở thành là Đại học Âm nhạc và Sân khấu Leipzig Trường đào tạo một loạt lãnh vực, bao gồm cả nghệ thuật và đào tạo sư phạm, với tất cả các ngành nhạc cụ giao hưởng, âm thanh, giảng giải, huấn luyện, nhạc thính phòng dương cầm, chỉ huy dàn nhạc, soạn nhạc, chỉ huy hợp xướng. Các thể loại âm nhạc bao gồm jazz, nhạc thịnh hành, ca kịch hay nhạc nhà thờ. Ở các ban kịch nghệ còn dạy về diễn xuất và kịch nghệ.
Bach-Archiv về tư liệu và nghiên cứu về cuộc sống và công việc của Bach và gia đình ông đã được Werner Neumann phát hiện tại Leipzig vào năm 1950. Bach-Archiv tổ chức cuộc thi Johann Sebastian Bach Quốc tế uy tín, bắt đầu vào năm 1950 như là một phần của lkex hội âm nhạc đánh dẫu hai tăm năm ngày mất của Bach. Cộc thi hiện được tổ chức hai năm một lần với ba thể loại thay đổi. Bach-Archiv cũng tổ chức biểu diễn, đặc biệt là lễ hội Bachfest Leipzig quốc tế và quản lý bảo tàng Bach.
Truyền thống âm nhạc của thành phố đã được thể hiện với danh tiếng toàn cầu của Dàn nhạc Gewandhaus Leipzig và Đội hợp xướng Thánh Thomas. Với trên 60 năm, Leipzig đã tổ chức chương trình "hòa nhạc trường học" lâu đời nhất cho trẻ em tại Đức. Với trên 140 buổi biểu diễn mỗi năm ở các khu vực như Gewandhaus và trên 40.000 trẻ em quan tâm cũng những người trẻ tuổi học và sáng tác âm nhạc.
Đối với âm nhạc đương đại, Leipzig được biết đến với nhạc cảnh âm nhạc độc lập của mình và các sự kiện tiểu văn hóa. Leipzig đã có trên 20 năm là chủ nhà của lễ hội ân nhạc Gothic lớn nhất thế giới, Wave-Gotik-Treffen (WGT) được tổ chức hành năm với hàng nghìn người hâm mộ đến từ khắp châu Âu tụ họp vào đầu mùa hè. Leipzig Pop Up là hội chợ âm nhạc hàng năm với nhạc cảnh độc lập cũng như một lễ hội âm nhạc diễn ra tại Lễ Ngũ Tuần vào cuối tuần. Một số địa điểm biểu diễn nhạc sống diễn ra hàng ngày. là một trong những câu lạc bộ sinh viên lâu đời nhất tại châu Âu với nhiều thể loại khác nhau. Với trên 15 năm, "Tonelli's" là buổi biểu diễn miễn phí hàng ngày trong tuần, mặc dù vé vào cửa có thể áp dụng vào thứ Bảy.
Bill và Tom Kaulitz, thành viên của nhóm Tokio Hotel, sinh ra tại Leipzig vào năm 1989, và Till Lindemann của Rammstein cũng đã sinh ra tại thành phố vào năm 1963. Nhóm nhạc black metal Na Uy Mayhem đã đánh dấu buổi biểu diễn trực tiếp thứ 1993 của họ tại câu lạc bộ Eiskeller vào ngày 26 tháng 11 năm 1990.
Tòa nhà phức hợp Grassi Museum gồm có ba bộ sưu tập chính của Leipzig tại: Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Nghệ thuật ứng dụng, và Bảo tàng Dụng cụ âm nhạc (bảo tàng cuối cùng thuộc Đại học Leipzig). Đại học Leipzig cũng quản lý Bảo tàng Cổ vật.
Có trên 300 câu lạc bộ thể thao trong thành phố với 78 môn khác nhau. Trên 400 cơ sở thể thao hiện diện để phục vụ các cư dân và thành viên của các câu lạc bộ.
Hiệp hội bóng đá Đức (DFB) đã được thành lập tại Leipzig vào năm 1900. Thành phố là nơi bốc thăm của Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, và đã tổ chức bốn trận đấu trong vòng bảng cùng một trận trong vòng 1/16 tại sân vận động trung tâm. Leipzig cũng đã đăng cai Cúp thế giới môn đấu kiếm vào năm 2005 và một số cuộc thi đấu thế thao quốc tế khác vào mỗi năm.
Kể từ khi bắt đầu thế kỷ 20, khúc côn cầu trên băng đã có được tỉnh phổ biến và một số câu lạc bộ địa phương đã lập các phòng ban chuyên dụng để phục vụ môn thể thao này. Ngày nay Sư tử Xanh Leipzig là cây lạc bộ khúc côn cầu trên băng nổi tiếng nhất của thành phố.
VfB Leipzig, nay là 1. FC Lokomotive Leipzig, đã chiến thắng giải vô địch bóng đá quốc gia lần đầu tiên vào năm 1903.
Từ năm 1950 đến 1990 Leipzig là chủ nhà của Deutsche Hochschule für Körperkultur (DHfK) (Trường trung học giáo dục thế chất Đức), đại học thể thao quốc gia của Cộng hòa Dân chủ Đức.
Handball-Club Leipzig là một trong những câu lạc bộ bóng ném nữ thành công nhất tại Đức, đã giành được 20 chức vô dịch trong nước kể từ năm 1956 và 3 danh hiệu vô địch nữ Liên đoàn bóng ném châu Âu.
Leipzig đã từng xin đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2012. Việc ứng cử đã không thành công khi Ủy ban Olympic quốc tế đưa số ứng cử viên xuống còn 5, cuộc canh trạnh cuối cùng đã đem chiến thắng về tay Luân Đôn vào ngày 6 tháng 7 năm 2005.
Hồ Markkleeberg (Markkleeberger See) là một hồ mới ở trước mặt Markkleeberg, một khu ngoại ô ở phía nam của Leipzig. Một mỏ than lộ thiên trước đây, nó được làm cho ngập nước vào năm 1999 và được phát triển vào năm 2006 để trở thành một địa điểm du lịch. Tại mặt đông nam là trường thi đấu vượt chướng ngại vật trên dòng nước nhân tạo chỉ dùng lực bơm duy nhất tại Đức, công viên xuồng Markkleeberg (Kanupark Markkleeberg), một địa điểm với đối thủ Eiskanal tại Augsburg với việc tập dượt và thi đấu ua thuyền canoe/kayak quốc tế.
Vào tháng 6 năm 2009 Red Bull đã tiến vào thị trường bóng đá địa phương sau khi bị từ chối quyền mua FC Sachsen Leipzig vào năm 2006. Câu lạc bộ RB Leipzig mới được thành lập hiện đang cố gắng thăng hạng và đưa Bundesliga quay trở lại tầm khu vực.
Hai đội có cơ sở tại Leipzig là các thành viên của Unihockey-Bundesliga, giải khúc côn cầu trong nhà ngoại hạng Đức. MFBC Löwen Leipzig đã đứng thứ nhì vào năm 2009, SC DHFK Leipzig vào năm 2008.
Đại học Leipzig được hình thành từ năm 1409, là một trong những đại học lâu đời nhất tại châu Âu. Người từng đạt giải Nobel, Werner Heisenberg từng làm việc tại đây với vai trò là một giáo sư vật lý (từ 1927 đến 1942), cũng như những người từng đạt giải Nobel khác là Gustav Ludwig Hertz (vật lý), Wilhelm Ostwald (hóa học) và Theodor Mommsen (văn học). Nhưng người là cựu cán bộ giảng dạy của trường gồm có nhá khoáng vật học Georg Agricola, nhà văn Gotthold Ephraim Lessing, triết gia Ernst Bloch, ngời sáng lập tâm lý vật lý học Gustav Theodor Fechner, và nhà tâm lý học Wilhelm Wundt. Trong số các cựu sinh viên nổi danh của trường có nhà văn Johann Wolfgang Goethe và Erich Kästner, nhà toán học và triết gia Gottfried Leibniz và triết gia Friedrich Nietzsche, nhà hoạt động chính trị Karl Liebknecht, và nhà soạn nhạc Richard Wagner. Thủ tướng Đức từ năm 2006, Angela Merkel, từng học ngành vật lý tại Đại học Leipzig. Đại học có khoảng 30.000 sinh viên.
Học viện Văn học Đức là một bộ phận của Đại học Leipzig, được thành lập từ năm 1955 dưới tên gọi "Johannes R. Becher-Institut". Rất nhiều nhà văn có tiếng đã tốt nghiệp tại học viện này, trong đó có Heinz Czechowski, Kurt Drawert, Adolf Endler, Ralph Giordano, Kerstin Hensel, Sarah và Rainer Kirsch, Angela Krauß, Erich Loest, Fred Wander. Sau khi đóng cửa vào năm 1990, học viện đã được tái lập năm 1995 với đội ngũ giảng viên mới.
Nghệ thuật thị giác và Nhà hát.
"Viện Nghệ thuật thị giác" (Hochschule für Grafik und Buchkunst) được thành lập vào năm 1764. Năm 2006, viện có 530 sinh viên ghi danh trong các ngành học về hội họa và đồ họa, thiết kế sách/thiết kế đồ họa, nhiếp ảnh và nghệ thuật truyền thông.
Đại học Âm nhạc và Sân khấu có hàng loạt lĩnh vực khác nhau, từ đào tạo bằng nhạc cụ, âm thanh, giải thích, huấn luyện, nhạc thính phòng piano, chỉ đạo dàn nhạc, chỉ đạo dàn hợp xướng và sáng tác nhạc để phục vụ diễn xuất và kịch nghệ.
Đại học Khoa học Ứng dụng.
Đại học Khoa học Ứng dụng Leipzig (HTWK) có xấp xỉ 6200 sinh viên năm 2007 và là cơ sở giáo dục bậc cao lớn thứ hai tại Leipzig. Trường được thành lập vào năm 1992 trên cơ sở hợp nhất một vài trường cũ. Với vai trò là một trường đại học khoa học ứng dụng (tiếng Đức: "Fachhochschule") trường cí vị thế is thấp hơn một trường đại học, với phần thực hành được chú trọng hơn. HTWK có nhiều lớp kĩ sư, cũng như khoa học máy tính, toán học, quản trị kinh doanh, quản lý thư viện, nghiên cứu bảo tàng và công tác xã hội. Các cơ sở vật chất của trường chủ yếu nằm tại phía nam thành phố.
Trong số các viện nghiên cứu nằm tại Leipzig, có ba viện thuộc về Học hội Max Planck là viện Toán học trong Khoa học Tự nhiên Max Planck (Max-Planck-Institut für Mathematik in den Naturwissenschaften), viện Nhận thức con người và Khoa học Não Max Planck (Max-Planck-Institut für Kognitions- und Neurowissenschaften) cùng viện Nhân loại Tiến hóa Max Planck (Max-Planck-Institut für evolutionäre Anthropologie). Có hai viện thuộc Học hội Fraunhofer. Các viện khác là Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Helmholtz, một bộ phận của Tổ chức Trung tâm Nghiên cứu Đức Helmholtz, và Viện Nghiên cứu Tầng đối lưu Leibniz.
Trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai, Leipzig không chỉ là một trung tâm thương mại quan trọng với Hội chợ Thương mại Leipzig mà còn là một trung tâm công nghiệp quan trọng không kém. Các ngành công nghiệp truyền thống là xuất bản và in ấn, đúc, kỹ thuật, ngành công nghiệp lông thú, công nghiệp dệt (Leipziger Baumwollspinnerei, Sächsische Wollgarnfabrik) và có các hãng chế tạo dương cầm (Blüthner, Ludwig Hupfeld AG, Wilhelm Schimmel, Feurich).
Trong thời kì Đông Đức, Leipzig vẫn là một địa điểm thương mại quan trọng. Các quận của Leipzig vào năm 1972 đã đóng góp 9,3% sản xuất công nghiệp của Đông Đức. Ngoài các ngành công nghiệp nói trên, ngành công nghiệp của thành phố còn bao gồm khai thác than, phát điện, công nghiệp hóa chất được phát triển mạnh ở phía nam của Leipzig. Với việc tái thông nhất nước Đức, Leipzig đã trở thành nơi có kinh tế kết hợp với các ngành như thiết bị xây dựng, thiết bị làm đất, nhà máy đúc, vật đúc, máy dò tìm, công nghệ thông tin và truyền thông, dịch vụ tòa nhà, thiết bị khai mỏ lộ thiên, cần cẩu và băng tải và nhà máy hóa chất. Các loại đất màu mỡ ở những vùng đất thấp ở khu vực Leipzig dùng cho nông nghiệp.
Các công ty có văn phòng hay trụ sở tại Leipzig vào những vùng lân cận là:
Có thể tìm thấy nhiều quầy bán rượu, nhà hàng và cửa hiệu ở trung tâm thành phố được cả người Đức lẫn du khách nước ngoài lui tới. Ga Trung tâm Leipzig Central nằm tại một trong các trung tâm mua sắm lớn nhất tại thành phố.
Các lĩnh vực phi sản xuất lớn nhất trong thành phố bao gồm các trường trung học và đại học trong và xung quanh vùng Leipzig/Halle. Đại học Leipzig thu hút hàng triệu euro tiền đầu tư hàng năm và đang tiến hành xây những công trình khổng lồ để chào mừng 600 năm thành lập.
DHL đang trong quá trình chuyển các hoạt động hàng không của mình từ Sân bay Brussels tới Sân bay Leipzig/Halle. A
Thành phố cũng có trụ sở của European Energy Exchange là công ty năng lượng lớn nhất khu vực Trung Âu.
Kirow Ardelt AG, công ty đứng đầu thế giới về cần trục, đặt trụ sở tại Leipzig.
Future Electronics – công ty hành đầu thế giới về phân phối linh kiện điện tử đã chuyển Trung tâm Phân phối EMEA về Leipzig.
Leipzig nằm tại nơi giao nhau của hai tuyến đường thời trung cổ là Via Regia và Via Imperii và do vậy đã trở thành một trung tâm giao thông quan trọng. tuyến đường sắt nối giữa hai nơi đầu tiên tại Đức là tuyến từ Leipzig tới Dresden từ năm 1839. Đặc biệt là từ sau khi thay đổi chế độ, các nguồn vốn đầu tư cho việc hiện đại hóa và mở rộng mạng lưới xa lộ, đường sắt và đường hành không đã khiến cho Leipzig ngày nay đã có một hệ thống cơ sở hạ tầng ưu việt.
Leipzig có thể tiếp cận bằng một số tuyến xa lộ: ở phía bắc có đường cao tốc liên bang A 14, phía tây là A 9 và phía nam là đường A 38. Ba tuyến đường cao tốc này tạo thành một phần hình tam giác của tuyến xa lộ vành đai quanh cả Halle và Leipzig. Phía nam tới Chemnitz cũng có một phần tuyến A 72 đang được dự tính xây dựng. Các dự án mở rộng và xây mới cũng bao gồm các tuyến đường xa lộ liên bang. Vì vậy, một tuyến lộ mới có tên B 87 từ Leipzig tới Torgau (để thay thế A16) đã được lên kế hoạch. Tuy nhiên tại đây, lộ trình chính xác vẫn chưa được biết. Ngoài ra còn có tuyến B 181 tới Merseburg.
Các tuyến đường liên bang đi qua thành phố là Bundesstraßen B 2, B 6, B 87, B 181, B 184 và B 186.
Tuyến đường vành đai, vốn tương ứng với tường thành cổ trước đây, bao quanh trung tâm thành phố Leipzig, hiện bị hanh chế giao thông tại nhiều phần.
Giống như hầu hết các thành phố lớn khác tại Đức, Leipzig có một sơ đồ giao thông được thiết kế để mục vụ cho xe đạp thân thiện. Hiện có một mạng lưới giao thông dành cho xe đạp rộng lớn. Tại hầu hết các tuyến đường một chiều ở trung tâm thành phố, những người đi xe đạp được cho pháp đi theo cả hai chiều. Một vài đường dành cho xe đạp đã được xây dựng hay tuyên bố xây dựng từ năm 1990.
Nhà ga Trung tâm Leipzig mở cửa từ năm 1915, nằm tịa nơi giao nhau của các tuyến đường sắt quan trọng theo hướng bắc-nam và tây-đông. Tàu Intercity-Express chạy giữa Berlin và München dừng tại Leipzig và cách xấp xỉ 1 giờ từ Ga Trung tâm Berlin và 6 giờ từ Ga Trung tâm München.
Leipzig cũng có một mạng lưới giao thông công cộng bản địa trải rộng. Mạng lưới xe điện và xe buýt của thành phố hoạt động dưới sự điều hành của Leipziger Verkehrsbetriebe. Hệ thống xe điện của Leipzig, với chiều dài 209 km (khoảng 140 mi) là một trong các hệ thống cùng loại dài nhất tạic ác thành phố nước Đức.
Một tuyến đường sắt ngầm được gọi là "city tunnel" đang được xây dựng và tuyến này sẽ nối các ga tàu hỏa tới trung tâm thành phố với chi phí vượt quá 500 triệu euro.
Sân bay Leipzig/Halle là sân bay chính trong khu vực phụ cận của thành phố. Sân bay Leipzig/Halle có một số chuyến bay thuê bao theo mùa cũng như các chuyến bay định kì. Sân bay quân sự cũ nằm gần Altenburg, Thuringia được gọi là Sân bay Leipzig-Altenburg cách trung tâm thành phố Leipzig khoảng nửa giờ đi xe Leipzig cho đến trước năm 2010 từng được hãng Ryanair khai thác.
Trong nửa đầu thế kỷ 20 việc xây dựng kênh đào Elster-Saale nối giữa sông Elster Trắng và Saale đã được khởi công tại Leipzig để kết nối hệ thống các đường thủy. Việc bùng nổ Thế chiến thứ 2 đã làm cho hầu hết công việc phải dừng lại, dẫu cho một số công việc vẫn có thể tiếp tục do việc sử dụng lao động cưỡng bức. Cảng Lindenauer hầu như đã hoàn thành song chưa kết nối tương ứng được với kênh đào Elster-Saale và kênh đào Karl-Heine. Các dòng sông Leipzig (Elster Trắng, Neue Luppe Pleiße và Parthe) chảy trong khu vực đô thị có lòng sông chủ yếu là nhân tạo và được một số kênh bổ sung lượng nước. Các tuyến đường thủy này chỉ thích hợp cho các thuyền du lịch nhỏ đi lại.
Thông qua việc cải tạo và tái phục hồi các dòng nước và luồng lạch hiện có ở phía nam thành phố và các mỏ lộ thiên ngập nước, hệ thống giao thông đường thủy của thành phố đã được mở rộng. Thành phổ đã ủy nhiệm một kế hoạch để nối kênh đào Karl Heine và cảng Lindenauer đã bỏ hoang vào năm 2008. Còn nhiều việc phải làm để hoàn thành kênh Elster-Saale. Việc này nếu hoàn thành sẽ cho phép các tàu thể thao có thể đi từ Leipzig tới tận Elbe.
Quan hệ quốc tế.
Leipzig kết nghĩa với:
|
Nguyễn Văn Hiếu (trung tướng)
Nguyễn Văn Hiếu (1929-1975) nguyên là Thiếu tướng Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tử nạn được truy thăng Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra tại Nam Cao nguyên Trung phần vào đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Ông đã từng chỉ huy các Sư đoàn Bộ binh và được cử giữ chức Phụ tá Đặc biệt trong Ủy ban chống tham nhũng thuộc Phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương, một vị trí phù hợp với con người và tính cách của ông. Bản thân ông đã được một số tài liệu đánh giá là liêm khiết, không tham nhũng.
Do chống tham nhũng, ông được cho là đã làm mất lòng nhiều tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa, vốn có nhiều tai tiếng vì tham nhũng. Nhiều người cũng cho rằng đây là lý do dẫn đến việc ông bị đồng ngũ ám sát trong văn phòng tại bản doanh Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi đang giữ chức Tư lệnh phó đặc trách Hành quân của Quân đoàn.
Tiểu sử Binh nghiệp.
Ông sinh ngày 23 tháng 06 năm 1929 tại Thiên Tân, Trung Quốc nhưng quê nội ở Bắc Ninh và quê ngoại ở Hà Đông. Ở Thượng Hải, ông học tại trường "Collège Français de Shanghai". Năm 1948, ông đậu bằng "Baccalauréat en mathématiques" (Tú tài toàn phần ban Toán). Năm 1949, trong khi đang học năm thứ 1 ban Kỹ thuật tại Đại học Aurore (thuộc Dòng Tên của Pháp) thì Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp quản Thượng Hải, ông theo gia đình trở về Sài Gòn, sau đó (đầu năm 1950) gia đình ông chuyển ra Hà Nội.
Quân đội Quốc gia Việt nam.
Cuối tháng 10 năm 1950, thi hành lệnh động viên của Quốc trưởng Bảo Đại, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 49/300.479. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp Á khoa với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Tuy nhiên sau đó ông bị bệnh lao phổi phải nằm nhà thương Lanessan Hà Nội một thời gian. Đến đầu năm 1953 ông xuất viện và được chuyển đến phục vụ tại Phòng 3 Bộ Tổng tham mưu dưới quyền Đại tá Trưởng phòng Trần Văn Đôn, đồng thời ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đến tháng 6 năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Sau khi Quân đội Quốc gia được cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa vào cuối năm 1955, ông vẫn tiếp tục phục vụ thêm một thời gian nữa ở Bộ Tổng tham mưu. Trung tuần tháng 8 năm 1957, ông được thăng cấp Thiếu tá, và chuyển đi làm Phó phòng 3 của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, do Trung tướng Trần Văn Đôn làm Tư lệnh Quân đoàn. Ngày 1 tháng 8 năm 1962, ông được giữ chức Trưởng phòng 3 Quân đoàn I, do Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh Quân đoàn.
Đầu năm 1963, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth thuộc Kansas, Hoa Kỳ, đến ngày 10 tháng 5 tốt nghiệp về nước. Ngày 1 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức Tham mưu trưởng Sư đoàn I Bộ binh, do Đại tá Đỗ Cao Trí làm Tư lệnh.. Ngày 11 tháng 11 năm 1963 (sau vụ đảo chính 1/11/1963), bàn giao chức Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 lại cho Trung tá Tôn Thất Khiên, sau đó ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng Quân đoàn I thay thế Đại tá Trần Thanh Phong đi nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 1.
Ngày 1 tháng 1 năm 1964, ông được chuyển về Quân đoàn II nhận chức Tham mưu trưởng Quân đoàn do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Tư lệnh. Ngày 7 tháng 9 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Linh Quang Viên về Trung ương làm Giám đốc Nha An ninh Quân đội. Ngày 24 tháng 10 cùng năm, bàn giao Sư đoàn 22 lại cho Đại tá Nguyễn Xuân Thịnh, ông chuyển về Quân đoàn II tái nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn.
Tháng 5 năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Đến ngày 23 tháng 6 năm 1966, tái nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Thanh Sằng đi làm Tư lệnh phó Quân đoàn II. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày 11 tháng 8 năm 1969, bàn giao Sư đoàn 22 lại cho Chuẩn tướng Lê Ngọc Triển nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung. Ngay sau đó, thuyên chuyển về Quân khu 3, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Phạm Quốc Thuần đi làm Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Trung tuần tháng 6 năm 1971, bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Lê Văn Hưng (nguyên Tư lệnh phó), ông được cử đi làm Tư lệnh phó Quân đoàn I do Trung tướng Hoàng Xuân Lãm làm Tư lệnh Quân đoàn.
Thượng tuần tháng 2 năm 1972, ông được Phó Tổng thống Trần Văn Hương cử giữ chức vụ Thứ trưởng Đặc trách bài trừ tham nhũng. Đây là giai đoạn mà nạn tham nhũng hoành hành trong giới lãnh đạo Quân đội Việt Nam Cộng hòa với những tai tiếng về buôn lậu, ăn cắp quân nhu và tiền viện trợ quân sự. Trên cương vị này, ông đã tiến hành hàng loạt các cuộc điều tra về tham nhũng, mà đặc biệt là cuộc điều tra về vụ tham nhũng trong Quỹ Tiết kiệm Quân đội. Đây là vụ án tham nhũng lớn nhất được ông tiến hành, thực hiện trong 5 tháng và được ông công bố đầy đủ chi tiết và bằng chứng buộc tội trên màn truyền hình toàn quốc ngày 14 tháng 7 năm 1972., buộc hàng loạt sĩ quan, trong đó có 2 tướng lĩnh là Tổng trưởng Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ, và Trung tướng Lê Văn Kim với 7 Đại tá bị cách chức. Quỹ Tiết kiệm Quân đội bị buộc phải giải tán. Tuy nhiên, chính do những cuộc điều tra tham nhũng của ông đã gây đụng chạm đến quyền lợi của giới lãnh đạo quân sự biến chất, thậm chí ở cấp cao nhất. Sau vụ án Quỹ Tiết kiệm Quân đội, Tổng thống Thiệu đã thu hẹp quyền hạn điều tra tham nhũng của tướng Hiếu ở cấp Quận trưởng, và cần có sự chấp thuận tiên quyết trước khi khởi công điều tra ở cấp Tỉnh trưởng. Điều này khiến ông nản lòng và ông đã xin trở về phục vụ trong quân đội và tuyên bố: "chúng ta phải sửa những sai lầm của chúng ta hoặc Cộng sản sẽ sửa chữa nhưng sai lầm đó cho chúng ta".
Vào tháng 5 năm 1972, Tướng Hiếu đã nói với các viên chức Sứ Quán là chiến dịch chống tham nhũng sẽ không đi tới đâu vì các Bộ trưởng trong Nội các và Thủ tướng không cộng tác với ông.
Ngày 29 tháng 10 năm 1973, thuyên chuyển về Quân đoàn III, ông được cử làm Tư lệnh phó Quân đoàn đặc trách Hành quân. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, kiêm Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn III để nhận bàn giao từ Thiếu tướng Phạm Văn Phú (nguyên Tư lệnh Quân đoàn II) phần lãnh thổ 2 tỉnh cuối cùng còn lại của Quân khu 2 là Bình Thuận và Ninh Thuận được sát nhập vào Quân đoàn III, Quân khu 3. 2 ngày sau, ngày 4 tháng 4 bàn giao chức Tư lệnh Tiền phương cho Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, vẫn giữ chức Tư lệnh phó Đặc trách Hành quân.
Vào ngày 8 tháng 4 năm 1975, ông bị ám sát bởi cận vệ của Tướng Toàn, Đại úy Đỗ Đức, trong văn phòng riêng tại bản doanh Bộ tư lệnh Quân đoàn III bởi một một viên đạn bắn vào cằm xuyên lên não. Theo tư liệu của C.I.A công bố. Ông mất khi mới có 46 tuổi.
"Ngay sau đó, Bộ Tổng tham mưu cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đương nhiệm Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức thay thế vào chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn, trách nhiệm bảo vệ phòng tuyến Phan Rang.
Sáng ngày 10 tháng 4 năm 1975, Phó Tổng thống Trần Văn Hương thay mặt Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến tư thất trong cư xá sĩ quan Chí Hòa để viếng linh cữu và truy thăng cho ông cấp bậc Trung tướng đồng thời truy tặng Bảo quốc Huân chương Đệ tam đẳng kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.
Tang lễ của ông được tổ chức trọng thể theo lễ nghi Quân cách. An táng tại Nghĩa trang Quốc gia Biên Hòa (Nghĩa trang Quân đội) cạnh mộ phần cố Đại tướng Đỗ Cao Trí.
Báo cáo đánh giá tháng 5 năm 1958 của các cố vấn Mỹ tại Quân khu I:
Đại tá John Hayes, Cố vấn trưởng Mỹ tại Sư đoàn 5 Bộ binh đánh giá ngày 7 tháng 2 năm 1970:
Tờ trình tháng 11 năm 1974 của Sứ Quán Mỹ:
Thái độ đối với giới chức Mỹ.
Cách chung tuy tướng Hiếu tỏ vẻ "thân thiện và dễ cộng tá, ông giữ một khoảng cách và kín đáo.".
Đối với các cố vấn quân sự Mỹ "ông chứng tỏ sẵn sàng tiếp nhận những ý kiến thiết thực. Không thể nhấn mạnh cho đủ ông là một vị tướng dũng mãnh, và ông chỉ đem ra ứng dụng những ý kiến khả dĩ đem tới cải tiến hiệu năng tác chiến cho Sư đoàn". Ông chống đối chính sách Việt Nam hoá chiến tranh của chính phủ Hoa Kỳ và áp lực của giới Cố vấn Mỹ tại Quân đoàn III muốn các đơn vị của Sư đoàn 5 phải hành quân diệt địch khi chưa được huấn luyện chiến đấu hoàn hảo. Ông dám trình bày "quan điểm đối nghịch, phát biểu tự do và công khai" khiến một vài sĩ quan Cố vấn Mỹ lấy làm phật ý và khó chịu, nỗ lực gây áp lực đòi cách chức Tư lệnh Sư đoàn 5. Họ thành công với sự toa rập của tướng Nguyễn Văn Minh, người kế vị tướng Đỗ Cao Trí trong chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III. "Việc cách chức tướng Hiếu, theo như một viên chức Sứ Quán tường trình ngày 17 tháng 6 năm 1971, là một tin động trời, trước hết vì tướng Hiếu nổi danh là một nhân vật liêm chính và vì lòng thương lính mãnh liệt của ông."
Một điểm nổi bật trong cá tính của tướng Hiếu là trực tính. Ông không ngại tỏ thái độ phản đối chống lại giới chức nắm quyền lạm quyền hay sai quấy, thậm chí có những lần ông đã chống lệnh của thượng cấp.
Những nghi vấn về cái chết.
Chiều ngày 8 tháng 4 năm 1975 có tin loan báo ra từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa là ông đã chết ngay tại trong văn phòng làm việc. Giới quân sự nghi ngay tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III, vì ông Toàn mang tiếng tham nhũng thuộc loại hạng gộc, trong khi đó ông Hiếu rất thanh liêm và hơn nữa, đã từng giữ chức Đặc trách chống tham nhũng thuộc phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương.
Ngày hôm sau, sau khi tham dự buổi họp báo của phát ngôn viên quân sự, thông tấn xã UPI loan tin như sau:
"Ông bà có sáu người con gồm: 3 trai (Dũng, Cảm, Hoàng) và 3 gái (Anh Thư, Thu Hà, Thu Hằng)"
Tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, bà quả phụ tướng Hiếu cùng 6 người con được di tản bằng trực thăng ra Hạm đội 7 Hoa Kỳ đậu ở ngoài khơi Vũng Tàu, sau đó sang định cư tại Philadelphia, Pennsylvania, Hoa Kỳ.
|
Tầng ứng dụng (tiếng Anh: Application layer) là tầng thứ bảy trong bảy tầng cấp của mô hình OSI. Tầng này giao tiếp trực tiếp với các tiến trình của ứng dụng và thi hành những dịch vụ thông thường của các tiến trình đó; tầng này còn gửi các yêu cầu dịch vụ tới tầng trình diễn (Presentation layer).
Những dịch vụ thông thường của tầng ứng dụng cung cấp sự chuyển đổi về ngữ nghĩa giữa các tiến trình ứng dụng có liên quan. "Chú ý:" những ví dụ về các dịch vụ của trình ứng dụng thường được quan tâm bao gồm tệp ảo ("virtual file"), thiết bị cuối ảo ("virtual terminal"), và các giao thức dành cho việc thao tác và thuyên chuyển các tác vụ ("manipulation and transfer of batch processing jobs").
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.