ppl_label
int64
4
4
text
stringlengths
2.54k
9.85k
__index_level_0__
int64
216
140k
4
ám có khả năng gây xúc động ngay cả với những người ít quan tâm đến thể loại này nhất. Không chỉ là hành trình đi tìm sự thật đằng sau những kỳ án, nó còn là hành trình tìm lại chính mình của cá nhân, là câu chuyện về tình yêu và gia đình, và trên hết thảy, là lời khẳng định khó khăn nhưng quả quyết về chiến thắng cuối cùng của niềm tin vào công lý và lương tâm con người. Bộ phim dựa trên tiểu thuyết này dự kiến sẽ công chiếu trong năm 2014. LIÊN XÔ UKRAINA LÀNG CHERVOY 25 THÁNG GIÊNG, 1933 VÌ MARIA ĐÃ QUYẾT ĐỊNH CHẾT nên con mèo của bà sẽ phải tự xoay xở lấy. Bà đã chăm sóc nó đến quá cái nghĩa lý của việc nuôi thú cưng. Đã từ lâu, chuột lớn chuột nhắt đều bị dân làng bẫy ăn thịt. Gia súc biến mất không lâu sau đó. Hết sạch, chỉ trừ một con, con mèo này, con vật bầu bạn mà bà giấu đi. Sao bà lại không thịt nó ư? Bà cần cái gì đó để sống vì nó; cái gì đó để bà che chở và thương yêu - cái gì đó để vì nó mà bà tồn tại. Bà đã thề tiếp tục nuôi nó cho đến ngày bà không còn tự nuôi thân được nữa. Ngày ấy là hôm nay đây. Bà đã xắt đôi ủng da của mình thành sợi mỏng rồi luộc với cây tầm ma và hạt củ cải đường. Bà cũng đã đào tìm giun đất, mút vỏ cây. Sáng nay trong con sốt mê sảng bà đã gặm chân ghế trong bếp, nhai mãi cho đến khi nướu găm đầy vụn gỗ. Thấy bà, con mèo bỏ trốn, nấp dưới gầm giường, không chịu ló mặt ra ngay cả khi bà quỳ xuống, gọi tên nó, cố dỗ nó ra. Đấy là lúc Maria quyết định chết, vì không có gì để ăn và không còn gì để thương yêu nữa. Maria chờ đến đêm xuống rồi mới mở cửa trước. Bà cho rằng nhờ bóng tối con mèo sẽ có cơ may vào tới rừng mà không bị ai thấy. Có ai trong làng mà trông thấy thì họ sẽđuổi bắt nó. Ngay cả khi chính bà đã gần kề cái chết thế này, cái ý nghĩ con mèo bị làm thịt vẫn khiến bà khổ sở. Bà tự an ủi với niềm tin rằng bất ngờ sẽ đứng về phía nó. Trong một ngôi làng mà người lớn phải nhai đất với hy vọng tìm thấy kiến hoặc trứng côn trùng, nơi trẻ con bới phân ngựa mong tìm được vỏ hạt chưa tiêu còn đàn bà thì đánh nhau giành sở hữu mấy mẩu xương thì Maria tin chắc không ai nghĩ rằng một con mèo lại còn sống. *** PAVEL KHÔNG TIN NỔI MẮT MÌNH. NÓ xấu xí, gầy còm, mắt xanh và bộ lông đốm đen. Rõ ràng đó là một con mèo. Đang nhặt củi thì nó thấy con mèo từ trong nhà Maria Antonovna phóng ra băng qua con đường tuyết phủ, hướng về phía rừng. Nó nín thở liếc nhìn xung quanh. Không còn ai khác phát hiện ra con mèo cả. Không có ai quanh đây; không có ánh đèn nào nơi những ô cửa sổ. Những làn khói, dấu hiệu duy nhất của sự sống, bốc lên từ chưa được phân nửa số ống khói. Như thể làng nó bị tuyết rơi dày dìm chết; mọi dấu hiệu của sự sống đều bị dập tắt. Phần lớn bề mặt tuyết vẫn còn nguyên: hầu như không có dấu chân và không có lấy một lối đi đào xuống. Ngày vắng vẻ như đêm. Không ai dậy làm lụng. Bạn bè nó không có đứa nào ra chơi, mà ở trong nhà, thu lu trên giường cùng gia đình, hàng mắt trũng sâu nhìn đăm đăm trần nhà. Người lớn bắt đầu trông như trẻ con, trẻ con trông như người lớn. Hầu hết mọi người đã thôi không rúc rỉa tìm cái ăn nữa. Trong tình cảnh này thì sự xuất hiện của một con mèo quả đúng là diệu kỳ - sự tái xuất hiện của một sinh vật từ lâu đã được xem là tuyệt chủng. Pavel nhắm mắt và cố nhớ lại lần sau cùng nó được ăn thịt. Khi mở mắt ra, nó đang chảy nước dãi. Nước dãi nhểu xuống bên mặt nó thành dòng. Nó đưa mu bàn tay chùi đi. Háo hức, nó thả đống củi đấy chạy về nhà. Nó phải báo cho mẹ Oksana tin quan trọng này. *** OKSANA NGỒI QUẤN MÌNH trong chăn len nhìn xuống sàn. Chị cứ ngồi im phắc, bảo tồn năng lượng trong khi nghĩ ra các cách cứu sống gia đình mình, những ý nghĩ xâm chiếm chị từng giờ thức và từng giấc mơ chập chờn. Chị là một trong số ít người không chịu đầu hàng. Chị sẽ không bao giờ đầu hàng. Không đầu hàng chừng nào chị vẫn còn mấy thằng con. Nhưng quyết tâm không thôi vẫn chưa đủ, chị phải thận trọng: một cố gắng sai lầm có thể nghĩa là kiệt sức, và kiệt sức luôn có nghĩa là chết. Vài tháng trước, Nikolai Ivanovich, hàng xóm và là một người bạn, đã tuyệt vọng lao vào cướp kho ngũ cốc của nhà nước. Anh ta đã không trở về. Sáng hôm sau chị vợ Nikolai và Oksana đi tìm. Họ thấy xác anh ta bên đường, nằm ngửa - thân hình da bọc xương với cái bụng căng tròn, bao tử anh ta đầy cứng hạt còn sống mà anh ta đã ních vào những phút sau cùng. Người vợ khóc lóc trong khi Oksana lấy chỗ hạt còn lại trong túi anh ta, chia đôi. Lúc trở về làng, vợ Nikolai báo tin cho dân làng biết. Thay vì được thương xót, chị ta lại bị ghen tị, điều duy nhất mọi người nghĩ đến là mấy vốc hạt chị ta có. Oksana nghĩ chị ta là một kẻ ngốc nghếch thật thà - chị ta đã gây nguy hiểm cho cả hai. Ý nghĩ của chị bị gián đoạn vì có tiếng ai đó đang chạy. Không ai lại chạy trừ phi có tin quan trọng. Chị đứng lên, sợ hãi. Pavel ào vào phòng và hổn hển thông báo: - Mẹ, con thấy một con mèo. Chị bước đến cầm chặt tay con trai. Chị cần kiểm cho chắc là nó không bị ảo giác: cái đói có thể chơi khăm. Nhưng mặt nó không có vẻ gì là mê sảng. Mắt nó sắc sảo, vẻ mặt nghiêm trọng. Nó mới mười tuổi mà đã như một người đàn ông. Hoàn cảnh buộc nó quên đi tuổi thơ. Bố nó gần như đã chết: nếu chưa chết thì đối với họ cũng như chết rồi. Ông bỏ lên thành phố Kiev những mong mang lương thực về. Ông không bao giờ trở lại và Pavel hiểu, không cần ai nói hay an ủi, rằng bố nó sẽ không bao giờ quay về. Giờ Oksana phụ thuộc vào con trai cũng như nó phụ thuộc vào chị. Họ là bầu bạn của nhau và Pavel đã thề thành tiếng là nó sẽ làm được điều mà bố nó đã không làm được: nó sẽ làm sao cho gia đình mình sống. Oksana đưa tay lên má con trai. - Con bắt nó được không? Nó mỉm cười, kiêu hãnh: - Nếu con có một mẩu xương. Ao nước đóng băng. Oksana thọc tay sâu qua lớp tuyết tìm một hòn đá. Sợ tiếng ồn thu hút sự chú ý, chị gói hòn đá trong khăn choàng để giảm bớt tiếng động khi chị đục một lỗ nhỏ trên băng. Chị bỏ hòn đá xuống. Lấy tinh thần trước làn nước lạnh cóng, đen ngòm, chị thò tay vào, thở dốc vì lạnh. Chỉ vài giây thôi là cánh tay chị sẽ tê cứng đi, nên chị nhanh tay hơn. Bàn tay chị chạm tới đáy mà không sờ thấy gì ngoài bùn. Nó đâu rồi nhỉ? Lo lắng, chị cúi xuống, thọc cả cánh tay, mò bên này bên kia, bàn tay mất hết cảm giác. Mấy ngón tay chị quẹt phải thủy tinh. Nhẹ nhõm, chị nắm lấy cái chai lôi lên. Da chị tím tái, như thể bị đấm. Điều đó chẳng làm chị bận tâm - chị đã tìm được cái muốn tìm, một cái chai khằn kín hắc ín. Chị lau sạch lớp bùn trên thành chai rồi nhìn vào bên trong. Trong chai là một mớ xương vụn. Về tới nhà, chị thấy Pavel đã nhóm lửa. Chị hơ nắp chai trên ngọn lửa, nhựa đường nhỏ xuống than hồng thành từng giọt tròn sánh đặc. Trong khi họ chờ, Pavel nhận thấy da chị tím nên xoa xoa cánh tay chị cho máu lưu thông trở lại, nó lúc nào cũng để tâm lo cho chị như thế. Khi nhựa đường chảy hết, chị dốc ngược cái chai mà lắc. Vài mẩu
216
4
xương thò ra bên miệng chai. Chị rút ra, đưa cho con trai. Pavel xem xét cẩn thận, chà chà lên bề mặt, ngửi từng mẩu một. Khi chọn xong, nó đã sẵn sàng đi. Chị ngăn nó lại. - Cho em con đi cùng. Pavel nghĩ đấy là một sai lầm. Em trai nó vụng về và chậm chạp. Và dù sao con mèo cũng thuộc về nó. Nó đã thấy con mèo, và sẽ bắt. Đấy là chiến công của nó. Aksana dúi thêm một mẩu xương vào tay nó: - Cho Andrei theo. *** ANDREI SẮP LÊN TÁM và nó yêu quý anh trai mình lắm. Nó hiếm khi ra khỏi nhà, hầu hết thời gian nó ngồi chơi bài trong phòng sau, nơi cả ba mẹ con ngủ. Những quân bài do bố nó làm từ những tờ giấy cắt thành ô vuông rồi dán vào nhau, một món quà chia tay trước khi bố nó lên Kiev. Andrei vẫn còn chờ bố quay về. Không ai bảo cho Andrei biết phải trông chờ khác đi. Mỗi khi nhớ bố, mà điều này thì thường xuyên, nó chia bài ra giữa sàn và chơi bài một mình. Nó đinh ninh rằng nếu nó chơi được hết ván bài thì bố nó sẽ quay về. Đố chẳng phải là lý do bố cho nó cỗ bài trước khi đi sao? Tất nhiên Andrei thích chai bài với anh trai hơn, nhưng Pavel đã không có thời gian mà chơi nữa rồi. Anh luôn bận giúp mẹ và chỉ chơi vào buổi tối ngay trước khi đi ngủ. Pavel vào phòng. Andrei mỉm cười, hy vọng anh nó sẵn sàng chơi một ván, nhưng anh nó cúi xuống xếp bài lại: - Cất bài đi. Mình ra ngoài. Laptys của em đâu? Hiểu câu hỏi là mệnhlệnh, Andrei bò xuống giường lôi đôi laptys của mình ra, hai mảnh được cắt từ lốp máy kéo và một mớ giẻ rách mà dùng dây buộc lại sẽ thành một đôi ủng tạm bợ. Pavel giúp nó buộc chặt dây giày, giải thích rằng đêm nay chúng sẽ có dịp ăn thịt miễn là Andrei làm y lời. - Bố sẽ về ư? - Bố không về đâu. - Bố mất tích rồi hả anh? - Ừ, bố mất tích rồi. - Ai đem thịt cho mình? - Mình sẽ tự đi bắt lấy. Andrei biết anh nó là một thợ săn sành sỏi. Anh bẫy được nhiều chuột hơn bất cứ thằng bé nào trong làng. Đây là lần đầu tiên Andrei được anh rủ đi cùng trong một việc quan trọng như vậy. Ra ngoài tuyết, Andrei hết sức để ý để không ngã. Nó thường vấp và trượt chân, vì nó chỉ thấy được thế giới bên ngoài lờ mờ. Chỉ những thứ nó cầm lên tận mặt thì nó mới thấy rõ. Khi ai đó nhận ra được một người ở đằng xa - trong khi Andrei chỉ thấy mỗi một vệt lờ mờ - nó sẽ cho đó là sự thông minh hoặc kinh nghiệm hoặc một năng lực nào đó mà nó chưa có được. Đêm nay, nó sẽ không ngã và biến mình thành thằng ngốc. Nó sẽ khiến anh trai thấy tự hào. Điều này quan trọng với nó hơn cái hy vọng được ăn thịt. Pavel dừng lại ở bìa rừng, cúi xuống xem xét dấu vết con mèo trên tuyết. Andrei cho rằng kỹ năng lần theo dấu vết của anh nó thật xuất sắc. Sợ sệt, nó khum xuống, theo dõi anh nó sờ một dấu chân mèo. Andrei chẳng biết gì về tìm vết hay săn bắn: - Con mèo đi qua đây hả anh? Pavel gật và nhìn vào rừng: - Dấu mờ quá. Bắt chước anh, Andrei đưa ngón tay sờ quanh dấu chân mèo, hỏi: - Thế là sao hả anh? - Con mèo không nặng lắm, nghĩa là sẽ có ít thịt cho ta. Nhưng nếu nó đói thì rất có thể nó sẽ đi tìm mồi. Andrei cố hiểu thông tin này nhưng đầu óc nó cứ vẩn vơ. - Anh ơi, nếu anh là quân bài thì anh sẽ là quân nào? Anh là quân át hay quân K, quân pích hay quân cơ? Pavel thở dài và Andrei, đau nhói vì sự phật ý của anh trai, cảm thấy nước mắt bắt đầu ứa ra: - Nếu anh trả lời thì em có hứa sẽ thôi không nói nữa không? - Em hứa. - Mình sẽ không bắt được con mèo này đâu nếu em cứ nói và làm con mèo sợ chạy mất. - Em sẽ giữ yên lặng. - Anh sẽ là quân J, một hiệp sĩ, người mang kiếm. Em đã hứa rồi - không nói gì đâu đấy. Andrei gật. Pavel đứng lên. Chúng đi vào rừng. Chúng đi một hồi lâu - tưởng như hàng nhiều giờ đã trôi qua mặc dù cảm nhận của Andrei về thời gian, cũng như thị giác của nó, không sắc bén lắm. Có ánh trăng và lớp tuyết phản chiếu, anh nó dường như dễ dàng lần theo dấu vết. Cả hai tiếp tục tiến sâu vào rừng, xa hơn mọi lần Andrei vẫn đi. Nó thường phải chạy để theo cho kịp. Chân nó nhức nhối, bụng nó đau tức. Nó lạnh và đói, và dù ở nhà không có cái ăn thì ít nhất nó cũng không cảm thấy đau. Sợi dây buộc mớ giẻ với dải lốp xe đã bung ra và nó có thể cảm thấy tuyết len xuống lòng bàn chân. Nó không dám bảo anh dừng để buộc lại. Nó hứa rồi - không nói gì hết. Chút nữa tuyết sẽ tan, mấy miếng giẻ sẽ sũng nước, và thế là hai bàn chân nó sẽ tê cóng. Để không nghĩ đến sự khó chịu nữa, nó bẻ một cành con trên cây nhỏ rồi gặm vỏ, nhai nát thành một thứ bột thô cố cảm giác xạo xạo nơi răng và lưỡi. Người ta bảo nó bột vỏ cây làm thỏa cảm giác đói. Nó tin họ; tin chuyện đó thật hữu ích. Đột nhiên Pavel ra hiệu cho nó đứng yên. Andrei dừng lại giữa chừng, răng nó nâu sì vỏ cây. Pavel khom người xuống. Andrei làm theo, nhìn quanh rừng tìm cái anh nó đã thấy, bất cần biết đó là gì. Nó nheo mắt, cố nhìn cho rõ mấy thân cây. Pavel nhìn chằm chằm con mèo và con mèo dường như cũng nhìn nó chằm chằm bằng cặp mắt nhỏ màu xanh. Nó đang nghĩ gì? Sao nó không bỏ chạy? Được giấu trong nhà bà Maria, có lẽ nó chưa biết sợ người. Pavel rút dao ra, cứa đầu ngón tay rồi bôi máu lên mẩu xương gà mẹ đưa. Nó làm tương tự với khúc mồi của Andrei - một đầu chuột nát - lấy máu mình vì nó không dám tin thằng em sẽ không thét lên làm con mèo hoảng sợ. Không nói một lời, hai anh em tách ra, tiến về hai hướng ngược nhau. Lúc ở nhà Pavel đã chỉ dẫn cặn kẽ cho Andrei nên không cần phải nói nữa. Khi chúng đã cách nhau một đoạn, ở hai phía của con mèo, chúng đặt mẩu xương trên tuyết. Pavel liếc qua thằng em, kiểm cho chắc là Andrei không làm hỏng việc. Làm y lời dặn, Andrei lôi sợi dây trong túi ra. Pavel đã thắt một đầu dây thành cái thòng lọng. Andrei chỉ phải làm mỗi một việc là quấn thòng lọng quanh cái sọ chuột. Nó làm vậy xong rồi bước lùi lại hết chiều dài sợi dây, nằm úp bụng xuống, làm tuyết bị nén lạo xạo. Nó nằm đợi. Chỉ giờ đây, nằm trên đất, nó mới nhận ra nó hầu như không thấy mồi của mình. Nó là một vệt mờ. Bỗng nhiên nó sợ, hy vọng con mèo sẽ đi về phía anh trai. Pavel sẽ không mắc sai lầm, anh nó sẽ bắt con mèo, rồi chúng sẽ về nhà ăn. Lo sợ và lạnh, tay nó bắt đầu run. Nó cố giữ cho hai bàn tay yên lại. Nó nhìn ra cái gì đó: một hình thù đen đen di chuyển về phía nó. Hơi thở của Andrei bắt đầu làm tan tuyết trước mặt; những giọt nước lạnh lăn tới rồi thấm vào quần áo nó. Nó muốn con mèo đi về phía đằng kia, về chỗ cái bẫy của anh nó, nhưng khi cái hình dáng lờ mờ tiến gần hơn thì không thể phủ nhận rằng con mèo đã chọn nó. Tất nhiên, nếu nó bắt được con mèo này thì Pavel sẽ yêu quý nó, sẽ chơi bài với nó, và không bao giờ nổi cáu nữa. Viễn cảnh ấy làm nó sung sướng, tâm trạng nó biến từ sợ hãi sang chờ đợi. Đúng, nó sẽ là người bắt được con mèo này. Nó sẽ thịt con mèo. Nỏ sẽ tự chứng tỏ mình. Anh nó đã dặn gì nhỉ? Anh đã dặn không được giật dây quá sớm.
217
4
của gã này, Pavel mới nhận ra người đàn ông này không muốn con mèo. Hắn muốn nó. Miệng Pavel há hốc đâu chừng cùng lúc cành cây bổ xuống, đầu cành cây nện vào đỉnh đầu nó. Nó không cảm thấy gì hết, nhưng nó biết mình không còn đứng nữa. Nó đang quỳ. Ngước nhìn lên, đầu ngoẹo một bên, máu trào xuống một bên mắt, nó nhìn người đàn ông giơ cành cây lên định giáng một đòn thứ hai. *** ANDREI NGỪNG NGÂM NGA. Có phải anh trai vừa gọi nó không? Nó không kiếm được nhiều củi lắm, chắc chắn là không đủ cho kế hoạch của chúng, nó không muốn bị mắng, nhất là sau khi nó đã làm được cừ như thế. Nó rút tay dưới tuyết lên và đứng dậy. Nó nhìn vào rừng, nheo mắt, dù cái cây gần nhất thì cũng chỉ thấy lòa lòa: - Pavel? Không có tiếng đáp. Nó lại gọi. Đây có phải trò chơi không? Không, Pavel không giỡn chơi, không vậy nữa. Andrei đi về hướng nó đã thấy anh lần cuối, nhưng nó không thấy gì hết. Thật ngớ ngẩn. Có gì đó không ổn. Nó lại gọi, lần này to hơn. Sao anh nó không trả lời? Andrei quẹt mũi vào ống tay áo và tự hỏi đây có phải là một thử thách không. Anh nó sẽ làm gì trong tình huống này? Anh nó sẽ lần theodấu vết trên tuyết. Andrei thả mớ củi và quỳ xuống, mò mẫm bò tìm trên đất. Nó tìm thấy dấu chân của nó và lần trở lại chỗ nó bỏ anh trai. Tự hào, nó chuyển sang dấu chân của anh. Nếu đứng lên, nó không thể thấy dấu chân, nên nó khom xuống, mũi chỉ cách mặt tuyết một cánh tay, nó cứ tiếp tục, như con chó đang đánh hơi. Nó tới được chỗ một cây đổ, những que củi rơi vãi xung quanh dấu chân khắp nơi - một số dấu rất sâu và lớn. Tuyết có màu đỏ. Andrei vốc một nắm, măn măn trong tay, bóp chặt và thấy tuyết hóa thành máu. - Pavel! Nó cứ gọi mãi cho đến khi cổ họng rát và giọng lạc đi. Thút thít, nó muốn nói với anh trai rằng anh ăn phần thịt mèo của nó cũng được. Nó chỉ muốn anh quay về. Nhưng chẳng ích gì. Anh nó đã bỏ nó mà đi rồi. Và nó chỉ còn một mình. *** OKSANA ĐÃ GIẤU một túi nhỏ bột cây ngô, cây rau muối, và vỏ khoai tây nghiền đằng sau mấy viên gạch lò sưởi. Trong các cuộc kiểm tra chị luôn để lửa cháy riu riu trong lò. Những người đi tịch thu được cử đến kiểm cho chắc là chị không tích trữ lúa mì không bao giờ nhìn qua bên kia ngọn lửa. Đêm nay, gia đình chị sẽ có một bữa tiệc. Chị làm tan vài nắm tuyết, đem đun sôi rồi đổ bột cây ngô vào cho đặc. Chị thêm vào phần xương còn lại trong chai. Khi đã chín, chị nghiền chỗ ấy thành bột. Tất nhiên chị chỉ đang làm trước. Phần việc của Pavel vẫn chưa xong. Nhưng chị cảm thấy chắc chắn là nó sẽ làm được. Nếu Chúa bắt chị chịu gian truân thì Người cũng đã cho chị một đứa con trai để đỡ đần. Ngay cả nếu nó không bắt được con mèo, chị tự hứa cũng sẽ không nổi giận. Khu rừng quá lớn, mà con mèo quá nhỏ, và dù gì tức giận chỉ làm hao sức thôi. Thậm chí, khi chị cố chuẩn bị trước tâm lý đón nỗi thất vọng thì chị cũng không cưỡng được cảm giác chếnh choáng trước viễn cảnh bữa thịt và xúp khoai tây. Andrei đứng nơi ngưỡng cửa, mặt mày trầy trụa, tuyết dính trên áo, mũi chảy nước mũi và máu. Đôi laptys của nó rách bươm và ngón chân lòi ra. Oksana chạy đến: - Anh con đâu? - Anh bỏ con rồi. Andrei òa ra khóc. Nó không biết anh trai ở đâu. Nó không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nó không giải thích đưọc. Nó biết mẹ sẽ ghét nó. Nó biết sẽ là lỗi của nó, cho dù nó đã làm đúng mọi chuyện, cho dù chính anh trai mới là người bỏ nó. Oksana nghẹt thở. Chị xô Andrei sang một bên và hấp tấp ra khỏi nhà, nhìn về phía rừng. Không thấy Pavel đâu. Có lẽ nó ngã và bị thương. Có lẽ nó cần được giúp. Chị chạy trở vào nhà, thiết tha tìm câu trả lời, chỉ thấy Andrei đứng bên nồi xúp và chiếc thìa trong miệng. Bị bắt quả tang, nó rụt rè nhìn mẹ, một dòng xúp khoai tây nơi miệng nó chảy giọt xuống. Quá tức giận - vì người chồng đã chết, đứa con trai mất tích - chị chạy lại, đánh nó ngã lăn ra đất, tọng chiếc thìa gỗ vào họng nó: - Khi tao rút chiếc thìa ra, mày phải kể cho tao nghe xem đã xảy ra chuyện gì. Nhưng khi chị rút chiếc thìa ra thì nó chỉ biết ho sặc sụa. Điên tiết, chị lại tọng chiếc thìa vào họng nó: - Cái thằng vô tích sự, vụng về, đần độn này. Con trai tao đâu? Nó đâu rồi? Chị lại rút chiếc thìa ra, nhưng nó vẫn khóc và nghẹn. Nó không nói được. Nó cứ khóc và sặc và thế là chị đánh nó, thụi vào lồng ngực nhỏ bé của nó. Chỉ khi nồi xúp sắp trào thì chị mới dừng lại. Chị đứng lên, bắc nồi xúp trên bếp xuống. Andrei thút thít giữa sàn nhà. Oksana nhìn nó, cơn giận nguôi dần. Nó còn bé quá. Nó rất yêu anh trai. Chị quỳ xuống, bế nó lên, rồi đặt nó trên ghế. Chị lấy chăn quấn quanh người nó và múc xúp vào bát cho nó, một suất thịnh soạn hơn mọi khi nó được ăn. Chị cố bón cho nó, nhưng nó không há miệng. Nó không tin chị. Chị đưa thìa cho nó. Nó nín khóc và bắt đầu ăn. Nó ăn xong bát xúp. Chị lại múc đầy. Chị bảo nó ăn chậm thôi. Nó không nghe, chén hết bát thứ hai. Rất khẽ chị hỏi đã có chuyện gì và lắng nghe nó giải thích vệt máu trên tuyết, những cành củi bỏ lại, không thấy anh đâu, và dấu chân in sâu. Chị nhắm mắt. - Anh con chết rồi. Anh con bị bắt ăn thịt rồi. Con hiểu không? Khi các con đang săn con mèo đó thì có người đang săn các con. Con hiểu không? Andrei vẫn im lặng, nhìn chằm chằm những giọt nước mắt của mẹ. Thực ra, nó không hiểu. Nó nhìn chị đứng lên ra khỏi nhà. Nghe thấy tiếng mẹ, nó chạy ra cửa. Oksana đang quỳ trên tuyết, ngước nhìn vầng trăng tròn. - Con cầu xin Chúa trả lại con trai cho con. Giờ thì chỉ có Chúa mới có thể mang nó về. Vài người hàng xóm xuất hiện trước cửa nhà họ. Họ nhìn Oksana. Họ nghe chị khóc. Nhưng nỗi đau kiểu này không có gì là lạ, nên người ta cũng chẳng đứng nhìn lâu. HAI MƯƠI NĂM SAU MÁTXCƠVA 11 THÁNG HAI, 1953 HÒN TUYẾT ĐẬP MẠNH vào sau đầu Jora. Cú va chạm bất ngờ khiến tuyết vỡ tung quanh tai nó. Đâu đó đằng sau, nó nghe thấy thằng em cười, cười rõ to - tự hào về bản thân, tự hào về cú ném, dù rằng đó là ăn may, chỉ xảy xa một lần. Jora phủi tuyết trên cổ áo khoác nhưng mấy mẩu vụn cũng đã trôi xuống lưng nó rồi. Tuyết tan ra, trượt trên da nó, để lại những vệt nước lạnh cóng. Nó kéo áo sơ mi bỏ ra ngoài quần, với tay hết mức để cào chỗ tuyết dính. Không thể tin được tính tự phụ của anh trai - cứ lo chiếc áo thay vì dè chừng đối thủ - Arkady cứ từ từ, vun mấy vốc tuyết lên nhau, nắm này chồng lên nắm kia. Quá lớn nên quả bóng tuyết trở nên vô dụng: khó ném, bay chậm, và né được dễ dàng. Lâu nay, đấy là sai lầm của nó, làm quả bóng tuyết quá to. Thay vì làm đối thủ đau hơn thì mấy hòn tuyết đó có thể vỡ ra giữa không và vụn ra, tan tành và còn không trúng anh nó nữa. Nó và Jora rất hay chơi ngoài tuyết. Đôi khi có cả tụi con nít khác
219
4
nữa, nhưng thường thì chỉ có hai anh em. Trò chơi thường bắt đầu ngẫu nhiên, rồi càng lúc càng gay cấn sau mỗi cú ném trúng. Arkady luôn thua, bị tốc độ và sức mạnh những cú ném của anh áp đảo. Trò chơi luôn kết thúc cùng một kiểu: thất vọng, đầu hàng, bực bội, hoặc tệ hơn, khóc lóc và giận dỗi bỏ đi. Nó không thích chuyện nó bao giờ cũng là người thua, và tệ hơn nữa, nó ghét chuyện nó quá cay cú về chuyện đó. Lý do duy nhất mà nó vẫn chơi là bởi vì nó chắc chắn hôm nay sẽ khác, hôm nay nó sẽ thắng. Và hôm nay là ngày đó đây. Cơ hội của nó đây rồi. Nó tiến đến gần hơn nhưng không quá gần: nó muốn cú ném này được tính. Bắn thẳng thì không tính. Jora thấy nắm tuyết bay đến: một cục tròn trắng bay vòng trên không, không lớn quá, không nhỏ quá, chỉ như hòn nó vẫn ném. Nó chẳng thể làm gì được nữa rồi. Tay nó còn ở sau lưng. Nó phải thừa nhận là em trai nó học nhanh. Hòn tuyết đập vào đầu mũi nó, bắn vào mắt nó, thốc lên mũi nó, miệng nó. Nó lùi lại, mặt nó đóng cả tuyết. Một cú ném hoàn hảo - thế là trận đấu kết thúc. Nó đã bị thằng em đánh bại- một thằng nhỏ còn chưa đầy năm tuổi. Thế nhưng chỉ giờ đây khi lần đầu tiên thua cuộc nó mới đánh giá cao tầm quan trọng của chiến thắng. Em nó lại cười - cố làm bộ làm tịch ra nữa, như thể một nắm tuyết trên mặt là thứ buồn cười nhất. À, ít nhất thì nó chưa bao giờ hả hê như Arkady bây giờ; nó chưa bao giờ cười ngặt nghẽo thế hay thỏa mãn chiến thắng như thế. Em nó là một đứa thua thảm hại và là một kẻ chiến thắng còn tệ hại hơn nữa. Thằng nhỏ cần phải được dạy cho một bài học, bị bẽ mặt. Nó đã thắng một trận, chỉ có vậy: một cú ăn may, một cuộc chơi bình thường, một trong cả trăm cuộc chơi: không - một trong cả ngàn. Và bây giờ, nó giả vờ là không hiểu sao chúng lại huề, hay tệ hơn nữa, em nó lại giỏi hơn nó ư? Jora cúi xuống, bới trong tuyết, xuống tận mặt đất đóng băng bên dưới, gom một nắm bùn đóng bánh lẫn cát và sỏi. Thấy anh mình đang chuẩn bị một hòn tuyết khác, Arkady quay đầu bỏ chạy. Đây sẽ là một cú phục thù: được vo cẩn thận và được ném hết sức bình sinh. Nó không định hứng một trong mấy cú ném kiểu đó đâu. Nếu bỏ chạy thì nó sẽ an toàn. Cú ném, dù được làm ngon lành thế nào, dù chính xác đến cỡ nào, cũng chỉ có thể bay trên không rồi bắt đầu méo mó đi, và rã ra. Mà dù cho có trúng đi nữa, sau một khoảng xa nhất định, nó cũng vô hại, gần như không đáng ném gì hết. Nếu nó chạy, nó sẽ kết thúc ở cửa trên. Nó không muốn chiến thắng của mình bị lật nhào, bị tì vết vì một loạt những cú ném tới tấp từ phía anh trai. Không, chạy và tuyên bố thắng cuộc. Kết thúc trò chơi ngay bây giờ. Nó sẽ tận hưởng được cảm giác này ít nhất cũng đến ngày mai khi nó có thể lại thua tiếp. Nhưng đấy là chuyện ngày mai. Hôm nay là chiến thắng. Nó nghe anh trai hét tên nó. Và nó ngoảnh lại, vẫn chạy, mỉm cười - chắc rằng mình đã ngoài tầm ném rồi. Cú va chạm như một quả đấm vào mặt nó. Đầu nó quay cuồng, chân nó hẫng khỏi mặt đất, và trong tích tắc nó đang bềnh bồng trên không. Khi bàn chân nó chạm đất trở lại thì hai giò nó khuỵu xuống, nó té, bất động - choáng váng quá còn không chìa tay ra được nữa - đổ sầm xuống tuyết. Trong một lúc, nó chỉ nằm đó, không thể hiểu chuyện gì đã xảy ra. Có cát, bùn, nước bọt và máu trong miệng nó. Nó thử chọc ngón tay đeo găng vào giữa hai môi. Răng nó có cảm giác lạo xạo như bị tọng cát vào miệng. Có một khe hở. Một cái răng đã gãy. Nó òa khóc, nhổ nước bọt xuống tuyết, đào bới trong đống lộn xộn; tìm chiếc răng rơi mất. Không hiểu sao đó là điều duy nhất nó có thể nghĩ đến lúc này, đó là điều duy nhất nó quan tâm. Nó phải tìm ra cái răng. Nó đâu rồi? Nhưng nó không thể tìm thấy, trên nền tuyết trắng như vậy. Mất rồi. Và đấy không phải cái đau, mà là nỗi tức giận, sự oán hận vì nỗi bất công này. Nó không thể thắng một trận sao? Nó đã giành được một cách ngay thẳng. Anh nó không cho nó điều đó được sao? Jora chạy lại em trai. Ngay khi nắm bùn, cát, tuyết và sỏi rời khỏi tay thì nó đã hối tiếc quyết định của mình. Nó đã hét gọi thằng em, muốn em nó cúi xuống, để tránh cú ném. Thay vì ngồi xuống, Arkady quay lại đón ngay cú ném. Thay vì giúp đứa em thì hành động đó dường như là một cái vung tay đặc biệt hiểm ác. Khi đến gần, nó thấy máu trên tuyết và cảm thấy buồn nôn. Nó đã gây ra chuyện này. Nó đã biến trò chơi của chúng, một trò chơi mà nó thích thú như thích thú bất cứ thứ gì, thành một chuyện khủng khiếp. Sao nó lại không thể để em nó thắng? Nó có thể thắng ngày mai, ngày kia rồi ngày kia nữa. Nó cảm thấy xấu hổ. Jora cúi xuống, đặt tay lên vai em. Arkady gạt đi, ngước nhìn lên với hai mắt đỏ ngầu đầy nước mắt và miệng đầy máu, trông như một con thú hoang. Nó không nói gì. Cả khuôn mặt nó đanh lại vì giận dữ. Nó đứng lên, hơi loạng choạng. - Arkady? Đáp lại, em trai nó chỉ há miệng và hét lên, tạo ra một âm thanh như con thú. Jora chỉ nhìn thấy được mỗi hàm răng be bét. Arkady quay người bỏ chạy. - Arkady, đợi đã! Nhưng Arkady không đợi - không dừng lại, không muốn nghe lời xin lỗi của anh trai. Nó cắm đầu cắm cổ chạy, lưỡi nó đưa lên tìm khe hở mới có chỗ răng cửa. Tìm thấy rồi, nó lần đầu lưỡi lên nướu, nó hy vọng sẽ không bao giờ gặp lại anh trai nữa. 14 THÁNG HAI LEO NGƯỚC NHÌN lô chung cư 18 - một khói bê tông xám, bè bè, ít tầng. Lúc đó xế chiều, trời đã tối. Cả ngày làm cho một việc dễ ghét và vụn vặt. Theo biên bản khám nghiệm của bên dân quân, người ta đã phát hiện một cậu bé bốn tuổi mười tháng chết trên đường ray. Cậu bé đang chơi trên đường ray, cách đây ba đêm, rồi bị một tàu chở khách đâm phải, người nó bị bánh tàu cắt nát. Lái tàu chuyến 9 giờ tối đi Khabarovsk đã thuật lại ở trạm dừng đầu tiên rằng anh ta đã thoáng thấy ai đó hoặc cái gì đó trên đường ray ngay sau khi rời nhà ga Yaroslavskiy Vokzal. Con tàu quả có đâm trúng cậu bé hay không thì còn chưa chắc chắn. Có lẽ lái tàu không muốn thừa nhận đã đâm phải đứa trẻ. Nhưng không cần thiết phải nhấn mạnh vấn đề này: đấy là một tai nạn thảm khốc không cần đặt vấn đề đổ lỗi cho ai. Sự việc lẽ ra đã khép lại. Thông thường, không có lý gì mà Leo Stepanovich Demidov - một nhân viên MGB, cơ quan An ninh Nhà nước - lại tham gia vào vụ việc như thế này. Ở đây thì có việc gì cho gã? Mất một đứa con là chuyện đau đớn cho gia đình và người thân. Nhưng, nói trắng ra, nó chẳng có nghĩa lý gì ở tầm mức quốc gia. Trẻ con sơ ý, trừ phi chúng không biết giữ mồm giữ miệng, không phải là vấn đề của An ninh Nhà nước. Tuy nhiên, tình huống cụ thể này lại trở nên phức tạp ngoài dự kiến. Nỗi đau của bậc cha mẹ đã mang một hình thức khác thường. Dường như họ không thể chấp nhận rằng con trai họ (Leo đã xem biên bản, ghi nhớ cái tên Arkady) phải chịu trách nhiệm cho chính cái chết của nó. Họ báo với mọi người rằng nó đã bị giết. Do ai - họ không biết. Vì lý do gì - họ không biết. Làm sao một chuyện như thế mà lại có thể xảy ra được - một lần
220
4
một mối liên hệ cá nhân - một nông dân của nông trang tập thể - mâu thuẫn với quan niệm rằng ông ta là gián điệp chuyên nghiệp. Tuy nhiên, Leo vẫn cảm thấy chắc chắn đây là đầu mối gã nên theo đuổi. Gã gạt bỏ những điều bất nhất sang một bên: việc của gã là bắt được người đàn ông này. Đây là đầu mối duy nhất gã có. Sự ngần ngừ đã khiến gã phải trả giá rồi. Gã vội vã đến chiếc xe tải đỗ bên ngoài và bắt đầu đọc lại hồ sơ vụ việc, tìm kiếm điều gì có thể liên hệ đến làng Kimov. Gã bị cắt ngang khi viên chỉ huy phó - Vasili Ilyich Nikitin - quay lại. Ba lăm tuổi, hơn Leo năm tuổi, Vasili có thời là một trong những nhân viên triển vọng nhất của MGB. Tàn nhẫn, ganh đua, hắn không trung thành với bất kỳ ai ngoài MGB. Leo ngầm coi lòng trung thành đó là yêu nước thì ít mà vì lợi ích cá nhân thì nhiều. Vừa lục soát xong phòng khám thú y, Vasili rõ ràng rất tự mãn. Hắn đưa cho Leo một bức thư vò nát mà hắn giải thích là đã tìm thấy sau bàn viết của kẻ phản bội. Tất cả thư từ khác đều bị đốt - giống như ở căn hộ - nhưng trong lúc vội, kẻ bị tình nghi đã bỏ sót bức thư này. Leo đọc nó. Bức thư của một người bạn nói với Anatoly rằng ông ta cứ tự nhiên đến ở với anh ta bất kỳ lúc nào. Địa chỉ bị mờ một phần, nhưng tên thành phố thì rõ ràng: Kiev. Leo gấp bức thư và đưa lại cho viên thuộc cấp: - Cái này là Brodsky viết. Không phải của người bạn. Ông ta muốn chúng ta tìm thấy nó. Ông ta không đến Kiev. Bức thư được viết tay vội vã. Chữ viết rời rạc, khó mà đánh lừa được. Nội dung thật nực cười và dường như chỉ nhằm thuyết phục người đọc rằng người viết là một người bạn mà Brodsky có thể nhờ cậy lúc ngặt nghèo. Địa chỉ được cố ý làm nhòe đi nhằm ngăn cản việc xác định ra nhanh chóng người gửi thực sự, và vì vậy là bằng chứng cho sự giả mạo của bức thư. Chỗ có bức thư - được thả sau bàn - dường như được sắp đặt. Vasili quả quyết về tính chân thực của bức thư: - Sẽ là tắc trách nếu không điều tra đầy đủ đầu mối Kiev. Mặc dù Leo không chút nghi ngờ bức thư là giả mạo, gã tự hỏi có khôn ngoan không nếu cử Vasili đi Kiev như là một biện pháp phòng ngừa, để khỏi có lời buộc tội có thể có là gã đã bỏ qua bằng chứng. Gã bác ngay ý tưởng này: gã tiến hành điều tra thế nào không quan trọng, nếu gã không tìm thấy kẻ bị tình nghi thì sự nghiệp của gã sẽ đi tong. Gã quay qua chú ý vào tập hồ sơ. Theo hồ sơ, Brodsky là bạn của một người tên Mikhail Sviatoslavich Zinoviev, người này đã được cho giải ngũ Hồng Quân sau khi bị phát cước kinh niên. Gần bị hoại tử, vài ngón chân của anh ta bị cắt cụt, anh ta được chăm sóc cho đến khi sức khỏe phục hồi và được giải ngũ. Brodsky đã thực hiện cuộc phẫu thuật. Leo rà ngón tay trên tài liệu, tìm kiếm địa chỉ hiện nay: Kimov Leo quay sang cấp dưới, bắt gặp vẻ mặt cáu kỉnh của Vasili: - Chúng ta sẽ đi. BA MƯƠI KI LÔ MÉT VỀ PHÍA BẮC MÁTXCƠVA 15 THÁNG HAI CON ĐƯỜNG RA KHỎI MÁTXCƠVA bị đóng băng và mặc dù lốp xe tải đã được gắn xích đi tuyết thì tốc độ của họ cũng hiếm khi vượt quá mười lăm ki lô mét mỗi giờ. Gió và tuyết thổi quanh họ dữ dội đến mức như thể nó có lợi ích riêng nếu họ không tới được đích của gã. Cần gạt trên kính chắn gió, lắp vào mái cabin trước, khó khăn lắm mới giữ được một mảng nhỏ cửa sổ được sạch. Với tầm nhìn xa chưa tới mười mét, chiếc xe tải cố tiến lên. Leo cố gắng thực hiện chuyến đi trong điều kiện như thế này thì chẳng khác gì một sự liều lĩnh. Leo ngồi khom lưng, bản đồ trải trong lòng, hai bên là Vasili và tài xế. Cả ba đều mặc như thể họ đang ở ngoài trời - áo khoác, găng tay, mũ. Cabin thép, mái thép và sàn thép chỉ được ủ ấm bởi hơi nóng còn sót lại từ cái động cơ ầm ầm. Nhưng ít ra thì cabin cũng che chở được trước thời tiết. Phía sau xe, chín mật vụ được vũ trang lỉnh kỉnh không được xa xỉ đến như vậy. Chiếc xe tải ZiS-151 được che mái bạt mà không khí lạnh và thậm chí cả tuyết vẫn luồn vào. Vì nhiệt độ có thể xuống đến âm ba mươi độ, mọi ngăn sau của chiếc ZiS-151 đều có một lò đốt bằng củi đóng vào sàn. Cái vật kỳ cục hình củ hành này chỉ có thể sưởi ấm cho những ai ngồi cách nó một sải tay, nên họ buộc phải túm tụm lại và thường xuyên đổi chỗ. Leo cũng đã nhiều lần ngồi ở đó: cứ sau mười phút hai người ngồi gần lò sưởi nhất sẽ miễn cưỡng rời xa chỗ ấm, tới chỗ lạnh nhất tít đầu kia ghế trong khi những người còn lại nhích lại gần. Lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình Leo có thể cảm thấy sự bất đồng trong đội của mình. Lý do không phải là sự khó chịu hay thiếu ngủ, lính của gã đã quen với điều kiện khắc nghiệt. Không, có gì đó khác. Có lẽ là việc đáng ra đã có thể né được nhiệm vụ này. Có lẽ họ không tinvào đầu mối Kimov. Nhưng gã đã yêu cầu lính của mình tin tưởng, và họ đã tin tưởng rồi. Đêm nay, gã cảm thấy sự thù nghịch, chống đối. Không tính tới Vasili thì gã không quen với chuyện này. Gã gạt ý nghĩ đó sang một bên. Ngay bây giờ, trong những mối bận tâm của gã, sự quý mến của mọi người nằm hạng bét. Nếu giả thiết của gã tỏ ra là đúng, nếu kẻ khả nghi đang ở Kimov, thì Leo nghĩ có khả năng ông ta sẽ trốn đi khi trời mờ sáng, cho dù là tự đi hoặc có sự trợ giúp của người bạn. Leo đang liều mà đánh cược là họ sẽ đến ngôi làng kịp thời. Gã quyết định không điều động dân quân địa phương đóng ở Zagorsk, thị trấn lớn gần nhất, vì theo gã bọn họ không chuyên nghiệp, kỷ luật kém, và không được đào tạo đầy đủ. Thậm chí các sư đoàn MGB tại địa phương cũng không đáng tin cậy trong một chiến dịch như thế. Đã biết trước mình là người bị truy nã, khó có khả năng Brodsky sẽ đầu hàng. Ông ta sẽ chiến đấu tới cùng. Cần phải bắt sống ông ta. Lời thú tội của ông ta có tầm quan trọng tối cao. Hơn nữa, việc ông ta trốn thoát làm bẽ mặt cá nhân Leo và gã quyết tâm sửa chữa, quyết tâm rằng gã sẽ là người thực hiện vụ bắt này. Đây không đơn thuần là vấn đề danh dự. Cũng không đơn thuần rằng sự nghiệp của gã phụ thuộc vào sự thành công này. Hậu quả còn sâu xa hơn thế. Thất bại trong một vụ án gián điệp gây nhiều chú ý thế này có thể dẫn đến những lời cáo buộc rằng Leo đã cố ý phá hoại cuộc điều tra. Thất bại trong việc bắt kẻ bị tình nghi sẽ khiến gã bị vướng víu sâu hơn. Nếu Brodsky không có ở Kimov, nếu Leo sai, thì Vasili sẽ là người đầu tiên đứng ra làm chứng tường tận việc cấp trên của hắn xem thường đầu mối khả quan Kiev. Đánh hơi thấy sự kém cỏi của gã, những người khác trong Ban chỉ huy, như những con thú bao vây con mồi bị thương, hầu như chắc chắn sẽ đứng ra tố cáo gã là chỉ huy kém cỏi, trong khi Vasill sẽ tự đứng ra ứng cử làm người kế nhiệm quá hợp lý của Leo. Leo liếc qua thuộc cấp của mình, một kẻ điển trai và không kém phần gớm ghiếc - như thể vẻ điển trai của hắn ta được trát đầy lên cái tâm thối nát, một gương mặt anh hùng với trái tim của kẻ tay sai. Chỉ có những vết nhỏ nhoi nhìn thấy được trên vẻ mặt cuốn hút của hắn ta, ở khóe miệng, một kiểu cười hơi nhếch mép, nếu ta biết cách diễn giải nó, gợi cho thấy những suy nghĩ đen tối nằm sau cái vẻ bề ngoài tốt đẹp của hắn. Có lẽ nhận thấy mình bị chú ý, Vasili quay sang và cười, một cái cười mím môi, mơ hồ. Điều gì đó làm hắn hài lòng
226
4
. Leo biết ngay chắc chắn có gì đó không ổn. Gã xem bản đồ. Với dân số chưa đến một nghìn người, làng Kimov chỉ là hạt bụi trên tấm bạt Liên Xô. Gã đã báo trước tài xế không được trông chờ vào biển chỉ đường. Thậm chí với tốc độ mười lăm ki lô mét mỗi giờ ngôi làng này cũng có thể xuất hiện và biến mất chỉ trong lúc sang số. Nhưng khi Leo lần ngón tay theo chỗ dấu chỉ đường, gã bắt đầu ngờ rằng họ đã chạy quá chỗ rẽ. Bọn họ vẫn còn đang đi về phía Bắc trong khi lẽ ra phải đi hướng Tây. Vì gần như không thể xác định phương hướng dựa trên khung cảnh xung quanh thế này, gã tính toán họ đang ở đâu tính theo ki lô mét. Họ đã quá xa về phía Bắc. Lái xe đã đi quá. - Quay lại! Leo nhận thấy cả tài xế lẫn Vasili dường như không ngạc nhiên trước yêu cầu đó. Tài xế lắp bắp: - Nhưng chúng ta không nhìn thấy lối ra. - Chúng ta chạy quá rồi. Dừng xe lại. Tài xế cho xe chậm lại, nhấp phanh để tránh bị trượt trên băng. Chiếc xe dần dần dừng lại, Leo nhảy ra và giữa trời bão tuyết bắt đầu hướng dẫn cho tài xế loay hoay quay xe ngoặt hình chữ u, chiếc ZiS-151 ngang gần bằng con đường. Xe mới quay đầu giữa chừng, tạo với đường thành một góc vuông thì tài xế dường như phớt lờ lệnh của Leo, lùi xe quá xa và quá nhanh. Leo chạy đến đấm thình thình vào cửa nhưng đã quá muộn. Một lốp sau đã lăn khỏi đường. Nó cứ quay tròn bất lực trong đống tuyết. Con tức giận của Leo bừng lên bởi lòng ngờ vực mỗi lúc một tăng đối với tên tài xế, anh ta dường như bộc lộ một mức độ kém cỏi không tin được. Vasili đã sắp đặt chuyến xe, và tài xế. Leo mở cửa cabin, quát lên: - Cút ra! Tài xế bước ra. Lúc này, các đặc vụ đằng sau xe cũng đã nhảy ra để xem xét tình hình. Họ nhìn Leo không hài lòng. Đấy là sự bực dọc do bị trì hoãn, về chính nhiệm vụ, hay là bực dọc vì sự lãnh đạo của gã? Gã không thể hiểu nổi. Gã ra lệnh cho một người giữ tay lái, trong khi cả đội, gồm cả Vasili, đẩy chiếc xe ra khỏi tuyết. Lốp xe xoay tròn, bắn bùn vào quân phục của họ. Cuối cùng, xích đi tuyết bám được mặt đường và chiếc xe tải tròng trành về phía trước. Leo cho tay tài xế thất sủng ra sau ngồi. Leo tự hỏi còn bao nhiêu người trong đội của gã đầu tư vào thất bại của gã thay vì thành công của gã. Cảm thấy đơn độc, bị cô lập trong đội của mình, gã cầm tay lái. Gã lái xe. Gã tìm đường. Gã sẽ đưa họ tới đó. Gã không thể tin ai được. Vasili vào xe ngồi bên cạnh gã, khôn ngoan yên lặng. Leo vào số xe. Lúc họ về đúng đường, đi theo phía Tây tiến đến làng Kimov, cơn bão đã qua. Mặt trời mùa đông yếu ớt bắt đầu mọc lên. Leo kiệt sức. Lái xe trong trời tuyết đã vắt hết sức lực của gã. Cánh tay và hai vai tê cứng, mí mắt trĩu xuống. Họ đang đi qua trung tâm nông thôn - những cánh đồng, những khu rừng. Quay sang phía thung lũng thoai thoải, gã nhìn thấy ngôi làng: một cụm nhà gỗ, một số nhà nằm bên đường, số khác nằm cách xa, tất cả đều có nền nhà hình vuông và mái cao hình tam giác, một khung cảnh vẫn không đổi suốt trăm năm qua. Đây là nước Nga xưa cũ: những cộng đồng xây dựng xung quanh những giếng nước múc bằng gàu và truyện cổ tích, nơi sức khỏe của gia súc được quyết định bởi đặc ân của Dvorovoi, thần vườn, nơi các bậc cha mẹ dặn dò con trẻ rằng nếu chúng không ngoan, các linh hồn sẽ bắt chúng và biến chúng thành vỏ cây. Các bậc cha mẹ cũng từng được kể câu chuyện đó khi họ còn nhỏ, và họ không bao giờ quên chúng, bỏ hàng tháng trời khâu quần áo chỉ để dâng tặng thần rừng, Rusalki, người được cho là có thể nhảy chuyền qua các ngọn cây và có thể, nếu muốn, cù một người cho đến chết. Leo lớn lên ở thành phố và những mê tín làng quê này chẳng có ý nghĩa gì với gã cả. Gã dừng xe ở ngôi nhà đầu tiên. Gã lấy trong túi áo khoác ra một lọ thủy tinh chứa những viên nhỏ, xù xì màu trắng đục - methamphetamine nguyên chất, một thứ ma túy được Đức Quốc xã ưa chuộng. Gã biết đến nó từ thời đang chiến đấu ở mặt trận phía Đông. Có những chiến dịch Leo không được nghỉ ngoi. Đây là một trong những chiến dịch đó. Giờ gã được bác sĩ của MGB kê đơn, gã liên tục sử dụng nó từ sau chiến tranh, mỗi khi nhiệm vụ đòi hỏi phải chạy cả đêm. Không thể đánh giá thấp tác dụng của nó. Nhưngcái giá của nó là sự suy sụp hoàn toàn chừng hai tư tiếng sau: sự kiệt sức hoàn toàn chỉ có thể hồi phục bằng cách dùng thêm thuốc hoặc ngủ mười hai tiếng. Tác dụng phụ đã bắt đầu bộc lộ. Gã sút cân; các đường nét trên mặt thắt lại. Trí nhớ kém dần, gã không thể nhớ được những chi tiết chính xác và những cái tên, nhũng vụ án và các vụ bắt người trước đây trở nên lộn xộn trong trí nhớ và giờ gã phải ghi lại cho nhớ. Không thể nói gã có bị hoang tưởng hơn do việc dùng thuốc hay không, bởi hoang tưởng là một tài sản thiết yếu, một phẩm chất tốt đẹp cần được trui rèn và vun trồng. Nếu nó được tán rộng thêm bằng methamphetamine, như thế chỉ càng tốt hơn thôi. Gã lắc một lượng nhỏ vào lòng bàn tay, rồi một ít nữa, cố nhớ dùng đúng liều. Quá nhiều còn hơn là quá ít. Thấy đã vừa, gã nuốt sạch cùng với thứ đựng trong chai bên hông. Vodka đốt cháy cổ họng, không át đi được vị hóa chất cay sẽ khiến gã muốn nôn ọe. Gã chờ cho cảm giác đó qua đi trong khi thăm dò xung quanh. Tuyết mới đổ xuống che lấp mọi thứ. Leo hài lòng. Bên ngoài làng Kimov có ít chỗ để ẩn náu. Có thể nhìn thấy một người từ khoảng cách hàng ki lô mét, dấu vết của họ trên tuyết dễ dàng lần theo. Gã không biết nhà nào là của Mikhail Zinoviev. Vì một xe nhà binh đỗ bên đường sẽ làm mất đi yếu tố bất ngờ, Leo nhảy ra, rút súng, và tiến đến ngôi nhà gần nhất. Mặc dù methamphetamine chưa phát huy tác dụng, gã đã cảm thấy tỉnh táo hơn, sắc sảo hơn khi bộ não sẵn sàng cho đợt hưng phấn tất yếu nhờ ma túy. Gã đến cổng, kiểm lại vũ khí. Trước khi gã kịp gõ cửa, một cụ bà da nâu xuất hiện. Bà mặc một chiếc váy có họa tiết xanh, ống tay màu trắng và quàng khăn trùm đầu thêu. Bà không bận tâm đến Leo, hay khẩu súng, quân phục, hay chiếc xe nhà binh của gã. Bà không sợ và không thèm che giấu những nếp nhăn khinh bỉ hằn trên trán. - Tôi tìm Mikhail Sviatoslavich Zinoviev. Đây là nhà anh ta phải không? Anh ta đâu rồi? Như thể Leo nói tiếng nước ngoài, bà cụ nghếch đầu và không trả lời. Đó là lần thứ hai trong hai ngày một bà già tỏ ra gan lì với gã, lộ rõ vẻ khinh thường với gã. Có gì đó ở những bà cụ này khiến họ không thể chạm tới được; quyền lực của gã chẳng có nghĩa gì với họ cả. Thật may, thế bí được gỡ khi người con trai của bà cụ, một người có thân hình lực lưỡng và ăn nói lắp bắp, vội vã đi ra: - Hãy thông cảm cho mẹ tôi. Bà ấy già rồi. Tôi có thể làm gì giúp anh? Một lần nữa người con trai xin lỗi thay cho người mẹ. - Mikhail Sviatoslavich. Anh ta đâu? Nhà anh ta ở đâu? Nhận ra Leo không định bắt họ, rằng anh ta và gia đình được an toàn thêm một ngày nữa, người con trai thấy vô cùng nhẹ nhõm. Anh ta vui vẻ chỉ về ngôi nhà của người bạn mình. Leo quay lại xe. Quân của gã đã tập hợp. Gã chia đội ra thành ba nhóm. Họ sẽ tiến đến ngôi nhà từ các phía khác nhau, một từ phía trước, một từ phía sau, và nhóm thứ ba sẽ tiến
227
4
uyết bên cạnh bố mẹ mình. Leo rút súng, nhằm vào cấp phó của gã: - Hạ súng xuống. Bổng nhiên mọi mệt mỏi tan biến, không phải vì một thứ ma túy nào. Sự giận dữ và adrenaline chạy dọc cơ thể gã. Tay gã giữ chắc. Gã nheo một mắt và nhắm cẩn thận. Ở khoảng cách này, gã sẽ không bắn trượt. Nếu giờ gã nổ súng, cô bé sẽ sống. Cả hai cô bé sẽ sống - không đứa nào bị giết. Không hề nghĩ tới, nhưng lời ấy đã vang lên trong đầu gã: Bị giết Gã lên cò súng. Vasili đã sai về đầu mối Kiev. Hắn bị bức thư của Brodsky đánh lừa. Hắn dám chắc với mấy gã kia là họ đang phí thời gian đến Kimov. Hắn đã bóng gió rằng thất bại đêm nay sẽ khiến hắn trở thành sếp mới. Những nhầm lẫn đáng xấu hổ này sẽ được đưa vào báo cáo về Leo. Ngay bây giờ Vasili có thể cảm thấy mấy sĩ quan kia đang nhìn hắn. Vị thế của hắn đã bị giáng một đòn bẽ mặt. Một phần trong hắn muốn xem liệu Leo có dám giết hắn không. Hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Nhưng hắn không khờ. Trong thâm tâm hắn biết rằng hắn là kẻ hèn còn Leo thì không. Vasili hạ súng. Giả vờ như hài lòng, hắn ra hiệu về hai đứa trẻ: - Các cô bé đã học được một bài học quý. Có lẽ lớn lên chúng sẽ trở thành những công dân tốt hơn cha mẹ chúng. Leo tiến tới chỗ viên thuộc cấp, qua hai xác chết, để lại dấu ủng trên tuyết dính máu. Gã vung khẩu súng thành một đường cong, đánh gờ súng vào bên đầu Vasili. Vasili ngã ngửa, ôm lấy thái dương. Có một vệt máu ở chỗ trán da bị xước. Nhưng hắn chưa kịp đứng thẳng dậy thì đã cảm thấy nòng súng Leo gí vào thái dương hắn. Ngoại trừ hai đứa bé, đang nhìn xuống đất, chờ chết, mọi người đều nhìn. Hết sức từ từ, Vasili nghiêng đầu nhìn lên, hàm hắn đánh lập cập. Hắn sợ chết, kẻ xem cái chết của người khác là bình thường. Ngón tay Leo chạm vào cò súng. Nhưng gã không thể làm thế. Không, dù đang lúc máu lạnh. Gã không thể là người hành quyết kẻ này. - Anh sẽ ở đây chờ dân quân đến. Anh sẽ phải giải thích chuyện gì xảy ra và giúp đỡ họ. Anh có thể tự về Mátxcơva lấy. Leo giúp hai bé gái đứng lên và đưa chúng vào nhà. Phải cần tới ba mật vụ mới đưa được Anatoly Brodsky lên thùng xe tải. Người ông rũ liệt tựa như sự sống đã bị hút đi. Ông đang lẩm nhẩm khó hiểu, hoảng loạn vì đau đớn và không nghe thấy gì khi những tay lính bảo ông im miệng. Họ không muốn nghe ông khóc. * * * TRONG NHÀ, hai bé gái không nói gì, vẫn chưa thể hiểu rằng những thi thể nằm ngoài tuyết kia là cha mẹ chúng. Bất cứ lúc nào chúng cũng hy vọng cha nấu bữa sáng cho chúng hoặc mẹ chúng đi làm đồng về. Không có gì là thực cả. Cha mẹ chúng là cả thế giới. Làm sao thế giới tồn tại mà không có họ được? Leo hỏi chúng còn người thân nào khác không. Không đứa nào trả lời. Gã bảo đứa lớn gói ghém đồ đạc - họ sẽ lên Mátxcơva. Chẳng đứa nào nhúc nhích. Gã vào phòng ngủ và bắt đầu gói đồ cho chúng, tìm kiếm đồ đạc, quần áo của chúng. Tay gã bắt đầu run rẩy. Gã dừng lại, ngồi trên giường, và nhìn xuống ủng. Gã chụm hai đế giày lại và nhìn chằm chằm nơi mấy vệt đầy tuyết lẫn máu nén cứng, mỏng tang đang rã trên sàn nhà. * * * VASILI BÊN LỀ ĐƯỜNG NHÌN THEO, hút điếu thuốc cuối cùng khi chiếc xe tải chạy đi. Hắn nhìn hai bé gái đang ngồi trong khoang lái, bên cạnh Leo, chỗ đáng ra là của hắn. Chiếc xe quành lại rồi mất dạng cuối đường. Hắn nhìn quanh. Có những khuôn mặt bên các cửa sổ của nông trại gần đó. Lúc này họ không quay đi. Hắn mừng là vẫn còn khẩu súng máy. Hắn đi vào nhà, nhìn hai thi thể đang năm trên tuyết.Hắn vào bếp, nấu nước và pha trà. Trà rất đặc nên hắn thêm đường cho ngọt. Gia đình này có một lọ đường nhỏ, có lẽ để dùng trong một tháng. Hắn đổ gần hết chỗ đường vào cốc, thành một thứ ngọt lợm. Hắn nhấp trà và đột nhiên thấy mệt mỏỉ. Hắn tháo ủng và cởi áo, đi vào phòng ngủ, kéo chăn, và nằm xuống. Hắn ước có thể lựa chọn giấc mơ. Hắn sẽ chọn giấc mơ trả thù. MÁTXCƠVA 16 THÁNG HAI DÙ ĐÂY LÀ nơi gã làm việc năm năm qua, nhưng Leo chưa bao giờ cảm thấy thoải mái ở Lubyanka, trụ sở của MGB. Những cuộc nói chuyện phiếm rất hiếm. Các phản ứng đều thận trọng. Tất cả chuyện này khó gây ngạc nhiên nếu xét đến bản chất công việc của họ, nhưng trong tâm trí gã thì chính tòa nhà có cái gì đó khiến mọi người thấy khó chịu, như thể nỗi sợ là một yếu tố được đưa vào thiết kế tòa nhà. Chẳng biết gì về ý đồ của kiến trúc sư, gã đành chấp nhận rằng giả thiết của mình là vớ vẩn. Tòa nhà được xây từ trước cách mạng, chỉ tồn tại như một văn phòng bảo hiểm trước khi được lực lượng an ninh mật Bolshevik tiếp quản. Nhưng gã vẫn thấy thật khó tin là người ta lại ngẫu nhiên chọn một tòa nhà có kích thước gây ái ngại như vậy: không cao không thấp, không rộng cũng không hẹp, nằm đâu đó lưng chừng một cách khó chịu giữa những thứ ấy. Mặt tiền tạo ấn tượng về sự canh gác: hàng hàng cửa sổ sít sịt nhau, chồng lên cao dần, tới một chiếc đồng hồ đặt trên chóp nhìn xuống toàn bộ thành phố như thể một con mắt tròn duy nhất. Một đường ranh giới vô hình tồn tại xung quanh tòa nhà. Người qua đường tránh xa cái vành đai tưởng tượng này như lo sợ họ sẽ bị hút vào. Vượt qua đường rãnh ấy có nghĩa ta là nhân viên hoặc người bị kết án. Khi ở bên trong những bức tường này, không có cơ may ta được xem là vô tội. Có lẽ Lubyanka không được xây dựng với chủ ý gây sợ hãi, tuy nhiên nỗi sợ vẫn chiếm cứ nó, nỗi sợ hãi đã biến tòa nhà trước đây vốn là văn phòng bảo hiểm thành của riêng nó, thành nơi trú ngụ của nó. Leo xuất trình chứng minh thư, một tấm thẻ không chỉ có nghĩa là gã có thể đi vào tòa nhà mà còn có thể đi ra khỏi đó. Tuy đã vào bên trong, Leo vẫn đang mặc đồ ngoài trời, gồm găng tay da và chiếc áo khoác len dài. Gã vẫn run cầm cập. Khi gã đứng yên, sàn nhà dường như tròng trành. Những cơn chóng mặt choán lấy gã, kéo chừng vài giây. Gã cảm thấy như mình sắp gục xuống. Đã hai ngày rồi gã không ăn gì, nhưng nghĩ đến thức ăn khiến gã buồn nôn. Cho dù vậy, gã vẫn ngoan cố không chịu nghĩ đến khả năng mình bị ốm: gã chắc chắn bị cảm lạnh một chút, có lẽ mệt mỏi, nhưng nó sẽ qua thôi. Trong cơn suy sụp sau khi dùng methamphetamine, gã chỉ cần ngủ. Không có cách nào để gã có thể nghỉ làm một ngày. Không phải hôm nay, khi vẫn còn đó cuộc chất vấn Anatoly Brodsky. Các cuộc thẩm vấn đúng ra không phải là phần trách nhiệm của gã. MGB có các chuyên gia không làm gì khác ngoài thẩm vấn kẻ bị tình nghi, đi từ phòng giam này sang phòng giam khác, lấy lời thú tội với một sự dửng dưng chuyên nghiệp và niềm tự hào cá nhân. Họ được khích lệ, giống hầu hết mọi nhân viên, bởi những điều đơn giản như khả năng được thưởng theo thành tích, được thưởng nếu như kẻ bị tình nghi ký ngay vào bản thú tội vô điều kiện mà không sửa đổi. Leo biết đôi chút về phương thức của họ. Gã không quen riêng ai trong số họ. Những chuyên gia thẩm vấn tạo thành một phe cánh riêng, làm việc như một đội, thường thẩm vấn chung kẻ bị tình nghi, phối hợp tài năng đặc biệt của họ để tấn công sự ngoan cố từ nhiều góc độ khác nhau. Tàn nhẫn, rành mạch, biết xoa dịu: tất cả những phẩm chất này được
231
4
bội, như ông ta đã thú nhận, đúng là kẻ phản bội thì sao? Nếu bằng cách nào đó ông ta đã làm việc cùng Raisa thì sao? Có lẽ ông ta đã khai thật. Tại sao Leo lại chắc chắn đến vậy rằng người đàn ông này vô tội? Tại sao gã lại chắc chắn đến vậy rằng vợ gã vô tội? Suy cho cùng, tại sao cô lại đi kết bạn với một giáo viên dạy văn có tư tưởng chống đối? Đồng xu kia đang làm gì trong căn hộ của họ? Không phải sáu cái tên khác trong lời thú tội đã bị bắt và tất cả đều được thẩm vấn thành công rồi sao? Danh sách đã được chứng minh và Raisa có trong danh sách. Đúng, cô là gián điệp và ở đây, trong túi gã, là đồng xu, bằng chứng để chứng minh điều đó. Gã có thể đặt đồng xu lên bàn và đề nghị bắt cả cô và Ivan Zhukov để xét hỏi. Gã đã bị lừa. Vasili nói đúng: cô là kẻ phản bội. Cô mang thai con người khác. Không phải gã luôn biết rằng cô không chung thủy với gã sao? Cô không yêu gã. Gã chắc như thế. Tại sao lại mạo hiểm mọi thứ vì cô - một phụ nữ lạnh lùng với gã, một phụ nữ may mắn lắm thì chỉ chịu đựng gã. Cô là mối đe dọa tới tất cả những gì gã đang phục vụ, tất cả những gì gã giành được cho cha mẹ mình và cho chính bản thân gã. Chuyện đã hết sức rõ ràng: nếu Leo nói rằng cô có tội thì chuyện này sẽ kết thúc tốt đẹp cho cả gã và cha mẹ gã. Điều đó là chắc chắn. Là điều an toàn duy nhất phải làm. Nếu đây là một phép thử phẩm chất của Leo, Raisa cũng sẽ được tha. Và cô sẽ không bao giờ cần phải biết. Nếu cô là gián điệp thì những người này đã có bằng chứng và chờ xem liệu Leo có làm việc với cô không. Nếu cô là gián điệp thì gã sẽ tố cáo cô, cô đáng chết. Điều duy nhất phải làm là tố cáo vợ mình. Thiếu tá Kuzmin bắt đầu thủ tục: - Leo Stepanovich, chúng tôi có lý do tin rằng vợ cậu đang làm việc cho cơ quan nước ngoài. Cá nhân cậu không bị nghi ngờ về bất cứ tội gì hết. Đây là lý do chúng tôi đề nghị cậu điều tra những cáo buộc. Hãy cho chúng tôi biết cậu tìm thấy gì. Leo đã có lời xác nhận mà gã chờ đợi. Đề nghị của thiếu tá Kuzmin rất rõ. Nếu gã tố cáo vợ mình, gã sẽ tiếp tục được họ tin tưởng. Vasili đã nói gì? Nếu anh thoát khỏi vụ tai tiếng này thì một ngày nào đấy anh sẽ điều hành MGB. Tôi chắc chắn điều đó. Sự thăng tiến chỉ còn cách một câu nói thôi. Căn phòng yên ắng. Thiếu tá Kuzmin rướn người lên: - Leo? Leo đứng dậy, chỉnh lại áo khoác đồng phục: - Vợ tôi vô tội. BA THÁNG SAU PHÍA TÂY DÃY NÚI URAL THỊ TRẤN VOUALSK 13 THÁNG BA DÂY CHUYỀN LẮP RÁP Ô TÔ chuyển sang ca tối. Ilinaya đã ngừng công việc và bắt đầu cọ rửa bàn tay, dùng miếng xà phòng đen hôi rình: loại xà phòng duy nhất sẵn có. Nước lạnh, xà phòng không sủi bọt - nó chỉ vữa ra thành những mẩu nhờn - nhưng điều duy nhất ả có thể nghĩ đến là mấy tiếng đồng hồ từ bây giờ đến ca làm việc tiếp theo. Ả định tối nay đi chơi. Trước hết, ả phải tẩy rửa dầu và kim loại bám dưới móng tay. Rồi ả sẽ về nhà, thay đồ, tô chút phấn màu lên má rồi tới Basarov, nhà hàng gần ga xe lửa. Nhà hàng Basarov là nơi quen thuộc với những người đến đây vì công việc, các viên chức dừng nghỉ chân trước khi họ tiếp tục chuyến đi trên tuyến đường sắt xuyên Siberia về phía Đông hoặc Tây. Nhà hàng phục vụ đồ ăn - xúp hạt kê, cháo lúa mạch, cá trích muối - mà Ilinaya nghĩ thật kinh khủng. Quan trọng hơn, có bán rượu. Vì bán rượu nơi công cộng mà không bán đồ ăn là phi pháp, đồ ăn chỉ là phương tiện để đạt được mục đích, một đĩa thức ăn là một loại giấy phép uống rượu. Thực ra quán này có phần như một ổ cho gái đứng đường hơn. Quy định không cá nhân nào được mua hơn một trăm gam vodka đã bị phớt lờ. Basarov, gã chủ đứng tên quán rượu, luôn say xỉn và thường thô bạo, và nếu Ilinaya muốn hành nghề tại quán của hắn ta, hắn muốn chia phần.Không cách nào ả có thể giả vờ là uống rượu ở đó để giải sầu, trong khi dò tìm khách hàng vãng lai. Không ai đến đấy uống rượu cho vui; quán toàn khách tạt qua, không có người địa phương. Nhưng đó là một lợi thế. Ả không thể kiếm ăn với dân địa phương được nữa. Gần đây ả bị ốm - đau, đỏ ửng, phát ban, đại khái thế. Vài khách quen bị các triệu chứng tương tự và nói xấu ả khắp thị trấn. Giờ ả chỉ còn kiếm ăn với những người không biết ả, những người không ở lại thị trấn lâu nên không thể phát hiện ra họ đi tiểu nước đục trước khi họ tới Vladivostok hay Mátxcơva, tùy là họ đi về hướng nào. Ả không vui thú gì việc truyền mấy con vi khuẩn cho dù họ chẳng phải hạng người tốt đẹp gì. Nhưng ở thị trấn này, đi bác sĩ khám một bệnh lây qua đường tình dục còn nguy hiểm hơn chính sự lây truyền. Với một phụ nữ không chồng, thế chẳng khác nào đi nộp một lời thú tội, ký dưới bằng một vết nhơ. Ả phải đến phòng khám chui để chữa trị. Việc đó cần phải có tiền, có thể rất nhiều tiền, mà ngay lúc này ả đang tiết kiệm cho một việc khác, một việc quan trọng hơn nhiều - thoát khỏi thị trấn này. Lúc ả đến, quán đông nghịt và các cửa sổ phủ đầy hơi nước. Không khí sặc mùi makhorka, loại thuốc lá rẻ tiền. Ả nghe tiếng cười say xỉn cách năm mươi bước chân, trước khi bước qua cửa. Ả đoán là lính. Ả đoán đúng. Thường có một kiểu tập trận diễn ra ở vùng núi, và những tay lính lúc rảnh việc thường đến đây. Basarov chủ yếu lo phục vụ dạng khách hàng này. Hắn bán rượu pha nước lã, nói rằng, khi có ai cự nự, mà bọn họ thì thường làm thế, đấy là một nỗ lực cao thượng nhằm hạn chế say xỉn. Thường có những vụ ẩu đả. Tuy nhiên, ả biết rằng bất chấp những kể lể của hắn nào là cuộc sống của hắn khó khăn ra sao và khách hàng tệ hại thế nào, hắn cũng kiếm được kha khá nhờ bán số rượu nguyên chất mà hắn đã lấy bớt đi. Hắn là kẻ đầu cơ. Hắn là tên cặn bã. Chỉ vài tháng trước, ả lên tầng trên để đưa phần tiền hằng tuần và, qua khe hở cửa phòng ngủ hắn, ả thấy hắn đếm những đồng rúp hết tờ này đến tờ khác, những đồng tiền hắn để trong chiếc hộp thiếc có dây buộc chặt. Ả đã theo dõi, không dám thở, khi hắn gói hộp thiếc vào tấm vải trước khi giấu trong ống khói. Từ lúc đó, ả đã mơ ăn trộm món tiền đó rồi chạy trốn. Tất nhiên, Basarov chắc chắn sẽ bẻ cổ ả nếu hắn bắt kịp ả, nhưng ả tính rằng hắn có phát hiện ra hộp thiếc trống không thì tim hắn đã nổ tung ra, ngay tại ống khói. Ả rất chắc quả tim hắn và cái hộp kia chỉ là một. Theo ả nghĩ, mấy tay lính còn uống chừng một giờ nữa. Lúc này bọn họ chỉ sờ soạng ả thôi, một ưu đãi bọn họ không phải mất tiền trừ phi người ta coi vodka miễn phí là tiền boa mà ả không cho là vậy. Ả dò quanh những khách hàng khác, tin rằng ả có thể kiếm thêm chút ít khi mấy tay lính kia phải quay về trại. Toán lính chiếm hết mấy bàn đầu, để các khách hàng còn lại những bàn sau. Những khách hàng này ngồi một mình - chỉ họ và đồ uống của họ và món thức ăn chưa động đến. Chắc chắn: họ đang kiếm tình. Chẳng có lý do nào khác để lảng vảng nơi đây. Ilinaya chỉnh lại vạt váy, bỏ ly rượu đấy, và đi qua giữa đám rất nhiều lính với những cái véo và bình phẩm cho đến khi tới một trong những bàn sau. Người đàn ông ngồi đó chừng bốn mươi, có lẽ trẻ hơn một chút. Thật khó đoán. Hắn không điển
246
4
bớ. Khi trời đã sang buổi trưa ngày hôm sau, Leo dọn bữa sáng, tự hỏi sao lại lâu đến vậy. Khi cuối cùng thì cũng có tiếng gõ cửa đầu tiên, gã và Raisa đã đứng lên, thở gấp, nghĩ rằng đây là kết thúc, bọn lính đến đưa họ đi, chia rẽ họ và mang họ đến những cuộc thẩm vấn khác nhau. Thế mà, chỉ là việc vặt; đổi lính gác, một tên dùng nhà tắm của họ, hỏi về việc mua đồ ăn. Có lẽ họ không thể tìm thấy bằng chứng nào, có lẽ hai người sẽ được minh oan và vụ án chống lại họ sẽ sụp đổ. Leo chỉ đùa giỡn với ý nghĩ này trong thoáng chốc: những cáo buộc không bao giờ sụp đổ vì thiếu bằng chứng. Tuy nhiên, một ngày trở thành hai ngày, hai ngày trở thành bốn ngày. Vào ngày 6 tháng Ba, thay vì nghe tiếng gõ cửa báo tin số mệnh của họ, Leo và Raisa được phép dự lễ tang cấp nhà nước của Lãnh tụ. Theo quy định là vẫn đang bị quản thúc tại nhà, nhưng Leo và Raisa và hai lính canh đã hòa vào đám đông một cách đầy trách nhiệm, tất cả đều tiến về Quảng trường Đỏ. Nhiều người khóc, một số không kìm nén được - đàn ông đàn bà và trẻ em. Bầu không khí tràn ngập nỗi buồn. Các phố chính và tòa nhà Xô viết Tối cao chật ních người đến mức khó thở, tiến tới trước không kiểm soát được, giống như một hòn đá kẹt trong một trận sụt lở. Leo không lần nào để tuột tay Raisa, và mặc dù vai thiên hạ chen gã tứ phía gã cũng cố cho chắc là họ không bị xô nhau ra. Họ liền bị tách khỏi đám lính canh. Khi họ gần quảng trường, đám đông ép chặt hơn. Cảm thấy sự chen lấn, cơn cuồng loạn dâng cao, Leo đã quyết định xong. Tình cờ, họ bị đẩy ra rìa đám đông và thế là gã bước vào một cánh cửa, giúp Raisa thoát khỏi đám đông. Họ nấp đó, nhìn dòng người tiếp tục đi qua. Đó là quyết định đúng. Phía trước, mọi người chen lấn giẫm đạp lên nhau. Trong cơn hỗn loạn, họ có thể thử tẩu thoát. Họ đã cân nhắc điều đó, giằng co với nó, thì thầm với nhau điều đó ở ngưỡng cửa. Mấy tay lính gác theo họ đã mất dấu. Raisa muốn bỏ chạy. Nhưng bỏ chạy sẽ cho người ta mọi lý do cần thiết để tử hình họ. Và thực tế là, họ không có tiền, không bạn bè, và không chỗ ẩn nấp. Nếu họ quyết định bỏ chạy, cha mẹ Leo sẽ bị xử tử. Cho đến giờ họ vẫn may mắn. Leo đã đặt cược mạng sống của họ bằng việc ở lại đương đầu. * * * HÀNH KHÁCH CUỐI CÙNG ĐÃ LÊN TÀU. Trưởng ga, thấy những người mặc quân phục túm tụm trên sân ga gần đầu máy, nán lại chờ họ. Lái tàu thò đầu ra khỏi buồng lái, cố tìm hiểu xem có vấn đề gì. Những hành khách tò mò liếc trộm ra cửa sổ nhìn đôi vợ chồng trẻ đang gặp một rắc rối nào đó. Leo thấy là một nhân viên mặc quân phục đang bước về phía họ. Đó là Vasili. Leo đã nghĩ là hắn. Hắn ta khó mà bỏ lỡ cơ hội này để hả hê. Leo cảm thấy thoáng giận dữ nhưng gã buộc phải nén cảm xúc lại. Có lẽ vẫn còn một cái bẫy được giăng ra. Raisa chưa bao giờ gặp Vasili trước đó, nhưng cô đã nghe Leo tả về hắn: Một khuôn mặt người hùng có trái tim của kẻ tay sai. Thậm chí nhìn qua cô cũng có thể biết có gì đó rất lệch lạc ởhắn. Hắn cười như thể nụ cười đó được tạo ra không để biểu lộ gì hơn ác tâm. Khi hắn đến chỗ họ, cô nhận thấy hắn sung sướng trước sự bẽ mặt của Leo và hắn thất vọng vì nó không nhiều hơn. Vasili nhăn răng cười: - Tao khăng khăng là họ phải đợi, để tao có thể nói lời tạm biệt. Và giải thích cái gì đã được quyết định cho mày. Tao muốn đứng ra làm việc này, mày hiểu chứ? Hắn đang thích thú. Dù kẻ này đang làm Leo kinh tởm, nhưng thật ngu ngốc nếu liều lĩnh chọc giận hắn khi họ đã sống sót được đến giờ này. Bằng một giọng vừa đủ nghe gã lẩm bẩm: - Tôi rất cảm kích. - Mày bị thuyên chuyển. Không thể giữ mày lại MGB khi trên đầu mày vẫn treo quá nhiều câu hỏi chưa được trả lời. Mày sẽ gia nhập dân quân. Không phải là syshchik, không phải thanh tra, mà là cấp thấp nhất, một uchastkovyy. Mày sẽ là thằng đi rửa dọn phòng giam, một thằng ghi chép - một kẻ làm những gì được bảo. Mày phải quen với việc nhận lệnh nếu mày muốn sống. Leo hiểu sự thất vọng của Vasili. Hình phạt này - lưu đày đi làm việc cho lực lượng dân quân địa phương - quả là nhẹ nhàng. Căn cứ vào sự nghiêm trọng của các cáo buộc, họ có thể phải đối mặt với hai mươi lăm năm làm việc ở mỏ vàng Kolyma, nơi nhiệt độ là âm năm mươi độ, và bàn tay tù nhân bị biến dạng vì phát cước và chỉ còn mong sống được ba tháng. Họ không chỉ thoát được cùng mạng sống mà còn tự do. Leo không ảo tưởng rằng thiếu tá Kuzmin đã làm điều này vì tình cảm. Sự thật là ông ta cũng sẽ tự gây khó cho mình nếu truy tố người ông ta đỡ đầu. Sẽ tốt hơn, khôn ngoan hơn nếu chỉ cần cho gã đi xa dưới chiêu bài thuyên chuyển. Kuzmin không muốn các đánh giá của ông ta bị soi mói; dù gì, nếu Leo là gián điệp thì tại sao Kuzmin lại ưu ái gã bằng những lần thăng chức? Không, những câu hỏi đó thật rắc rối. Sẽ đơn giản hơn và an toàn hơn nếu quét lùa gã dưới một góc thảm nào đó. Hiểu rằng bất cứ biểu lộ nhẹ nhõm nào cũng sẽ làm Vasili bực mình, Leo cố hết sức tỏ vẻ chán nản: - Tôi sẽ làm nhiệm vụ ở nơi cần đến tôi. Vasili bước lên, dúi mấy tấm vé và giấy tờ vào tay Leo. Leo nhận lấy giấy tờ và tiến về phía tàu. Raisa bước lên toa. Khi cô đang bước thì Vasili nói với theo: - Thật khó khăn khi biết ra là chồng cô đã cho người theo dõi cô. Mà không chỉ một lần. Tôi chắc hắn đã kể cho cô nghe. Hắn ta theo dõi cô hai lần. Lần kia lại không phải việc công. Hắn không nghĩ cô là gián điệp. Hắn nghĩ cô là con điếm. Cô phải tha thứ cho hắn. Mọi người ai cũng có những nghi ngờ. Và cô lại quá xinh đẹp. Cá nhân tôi, tôi không nghĩ cô xứng đáng để mà phải từ bỏ tất cả. Tôi ngờ rằng khi chồng cô nhận ra cái hố xí chúng tôi chuyển hắn đến, hắn sẽ dần ghét bỏ cô. Còn nếu là tôi, thì tôi đã chọn căn hộ và để cô bị bắn như một kẻ phản bội. Tôi chỉ còn biết nghĩ rằng hẳn cô rất giỏi khi trên giường. Raisa thắc mắc về sự ám ảnh của kẻ này đối với chồng cô. Nhưng cô vẫn yên lặng: sự trả đũa có thể khiến họ phải trả giá cả tính mạng. Không bận tâm đến sợi dây bị tuột, cô xách va li lên và mở cửa toa tàu. Leo theo sau cô, thận trọng không quay lại. Có khả năng, nếu gã thấy Vasili nhếch mép, gã sẽ không thể kiểm soát bản thân được nữa. *** RAISA NHÌN RA cửa sổ khi con tàu rời nhà ga. Không còn chỗ ngồi và họ buộc phải đứng, ép sát nhau. Trong một lúc lâu, không ai nói gì, chỉ nhìn thành phố chạy qua. Cuối cùng Leo nói: - Anh xin lỗi. - Tôi chắc chắn là hắn ta nói dối. Hắn ta sẽ nói bất cứ điều gì để chọc tức anh. - Hắn nói sự thật. Anh đã cho người theo dõi em. Và chuyện đó không liên quan gì đến công việc hết. Anh đã tưởng... - Là tôi ngủ với người khác? - Có một thời gian em không nói chuyện với anh. Em không động vào anh. Em không ngủ với anh. Ta như những người lạ. Và anh không thể hiểu tại sao. - Ta không thể lấy một nhân viên MGB mà không nghĩ sẽ bị theo dõi. Nhưng cho tôi biết đi, Leo, làm sao tôi lại có thể không chung thủy?
250
4
ã cũng cảm thấy điều đó. Cô muốn tự gã phải hiểu, phải trải qua. Kiệt sức, mắt cô trĩu nặng vì buồn ngủ, cô ngước lên khi Leo đi vào quán. Cô đứng dậy, đến bên chồng mình, nhận thấy cặp mắt đỏ ngầu của gã. Trước đây cô chưa bao giờ thấy gã khóc. Gã quay đi và rót rượu từ cái chai gần nhất. Cô đặt tay lên vai gã. Chuyện xảy ra trong một tích tắc: Leo quay lại, bóp cổ cô và siết mạnh: - Cô đã gây ra thế này. Gân cổ cô thắt lại, mặt cô đỏ bừng - cô không thở được, cô đang bị nghẹt. Leo nhấc bổng cô lên: cô đang nhón trên đầu ngón chân. Tay cô quờ quạng nắm bàn tay gã. Nhưng gã không chịu buông và cô không gỡ được. Cô với tay xuống mặt bàn, ngón tay với tìm chiếc cốc, mắt cô nhòe đi. Cô chạm được chiếc cốc, làm đổ. Nó đã nằm trong tầm với: cô nắm lấy, xoay lại, phang vào bên mặt Leo. Chiếc cốc vỡ ra và cắt vào lòng bàn tay cô. Như thể bùa chú bị hóa giải, gã buông cô ra. Cô ngã ra sau,ho sặc, ôm lấy cổ. Họ nhìn nhau chằm chằm, như những người lạ, như thể toàn bộ quá khứ của họ đã bị xóa sạch trong tích tắc ấy. Mảnh thủy tinh cắm trong má Leo. Gã sờ vào mảnh vụn và rút ra, nhìn nó trong lòng bàn tay. Cô không quay lưng, men đến cầu thang, vội vã đi lên, bỏ gã lại. Leo không đuổi theo, gã nuốt hết ly rượu và lại rót ly khác rồi thêm một ly khác, và lúc nghe tiếng xe của Nesterov bên ngoài thì gã đã làm gần hết chai rượu. Gã chếnh choáng, chưa tắm rửa, chưa cạo râu, say nhòe, tàn ác và hung bạo một cách điên dại - chưa mất đến một ngày mà gã đã chìm xuống tầm mức của kẻ dân quân. Lúc trên xe, Nesterov không hỏi gì về vết xước trên mặt Leo. Anh ta nói nhát gừng về tình hình thị trấn. Leo không nghe, hầu như không ý thức gì về xung quanh, gã còn bận tâm với câu hỏi mình vừa làm gì. Gã đã cố bóp cổ vợ, hay đấy chỉ là ảo giác do bộ não thiếu ngủ gây ra? Gã sờ vết xước nơi má, thấy máu trên đầu ngón tay - là thật, gã đã làm vậy và gã có thể đã làm hơn thế. Thêm vài giây nữa, siết tay chặt thêm chút nữa, thì cô đã chết. Ngọn nguồn thúc đẩy là việc gã đã giao nộp tất cả: cha mẹ, sự nghiệp, tất cả vì một cái cớ giả dối, sự hứa hẹn về một gia đình, ý nghĩ rằng có mối liên hệ nào đó giữa họ. Cô đã lừa gã, dàn xếp mọi chuyện, làm lệch đi quyết định của gã. Cho đến khi cô đã an toàn và cha mẹ gã chịu khổ sở thì cô mới thừa nhận chuyện mang thai là dối trá. Rồi cô còn đi xa hơn nữa, ra mặt mô tả cô coi thường gã thế nào. Cô đã thao túng thói đa cảm của gã và phỉ nhổ vào mặt gã. Đổi lại cho sự hy sinh của mình, đổi lại việc bỏ qua bằng chứng tố cáo tội trạng của cô, gã chẳng nhận được gì. Nhưng Leo không tin dù chỉ một giây. Thời gian tự biện bạch đã hết. Điều gã đã làm là không thể tha thứ được. Cô đã đúng khi coi thường gã. Có bao nhiêu người anh, người chị, bao nhiêu người mẹ, người cha mà gã đã bắt? Gã thì có khác gì so với kẻ mà gã cho là đối nghịch về đạo đức với mình - Vasili Nikitin? Có phải sự khác biệt chỉ ở chỗ Vasili tàn nhẫn vô cảm, còn gã tàn nhẫn có lý tưởng? Một bên là tàn nhẫn trống rỗng, thờ ơ, còn bên kia tàn nhẫn một cách phép tắc, ngạo mạn tự cho mình là cần thiết, hợp lý. Nhưng nói một cách thực tế, nói một cách tiêu cực, giữa hai kẻ đó không mấy khác nhau. Leo thiếu trí tưởng tượng đến mức không nhận ra rằng gã dính líu vào chuyện gì ư? Hay tệ hơn nữa - gã đã lựa chọn không tưởng tượng? Gã đã đóng chặt những suy nghĩ đó, gạt bỏ chúng sang bên? Trong đống vụn nát những xác tín luân lý của gã còn lại một sự thật. Gã đã hy sinh đời mình cho Raisa để rồi lại cố giết cô. Điều này thật điên rồ. Nếu như vậy, gã không có gì hết, không có thậm chí người phụ nữ mà gã đã cưới. Gã muốn nói người phụ nữ mà gã yêu. Gã có yêu cô không? Gã đã cưới cô, không phải hai điều này giống nhau sao? Không, không hẳn - gã đã cưới cô bởi cô xinh đẹp, thông minh, và gã tự hào có cô bên mình, tự hào biến cô thành của gã. Đấy là một bước nữa tiến tới cuộc đời hoàn hảo - công việc, gia đình, và con cái. Trên nhiều khía cạnh, cô chỉ là một món tầm thường, một cái răng trong những bánh xe tham vọng của gã, một nền tảng gia đình cần thiết cho sự nghiệp thành công của gã, cho địa vị Công dân Kiểu mẫu của gã. Vasili chẳng đã đúng khi hắn nói có thể thay cô bằng người khác sao? Lúc trên tàu, gã đã đòi hỏi cô bày tỏ tình yêu đối với gã, xoa dịu gã, thưởng công cho gã bằng một câu chuyện lãng mạn tưởng tượng trong đó gã là người hùng. Thật lâm li. Gã buột ra tiếng thở dài, rồi day trán. Gã đã thua cơ - và đấy chính là ý nghĩa của chuyện này với Vasili, một trò chơi, và thẻ chơi được gán bằng nỗi đau. Thay vì Vasili hành hung vợ gã, khiến cô đau đớn, Leo đã làm phần việc đó cho hắn, làm tất cả mọi việc trong kế hoạch của kẻ kia. Họ đến nơi. Chiếc xe dừng lại. Nesterov đã ra khỏi xe và chờ gã. Không biết mình đã ngồi thế này lâu chưa, Leo mở cửa xe, bước ra và theo cấp trên vào trụ sở dân quân để bắt đầu buổi sáng làm việc. Được giới thiệu với các nhân viên, bắt tay, gật đầu, chào hỏi, đồng tình nhưng không thể nhớ điều gì; những cái tên, những chi tiết - chúng không hề đọng lại trong gã - và mãi cho đến khi ở một mình trong phòng thay đồ với bộ đồng phục treo trước mặt, gã mới bắt đầu tập trung vào thực tại. Gã cởi giày, từ từ tháo tất khỏi những ngón chân dính máu và xả chân dưới làn nước lạnh, nhìn nước ngả sang màu đỏ. Vì gã không có tất mới, và không thể đi hỏi xin đôi mới, gã đành phải dùng lại đôi cũ, nhăn mặt đau đớn khi kéo lớp vải trên những vết bỏng rộp. Gã cởi quần áo, để đồ dân sự thành đống ở chân tủ rồi mặc vào bộ đồng phục mới, quần vải thô có sọc đỏ và áo khoác dân quân nặng nề. Gã ngắm nhìn trong gương. Có vết đen dưới mắt, một vết cắt rỉ máu dọc xuống má trái. Gã liếc nhìn phù hiệu trên áo. Gã là một uchastkovyy, gã chẳng là gì hết. Những bức tường trong văn phòng Nesterov được trang hoàng những bằng khen có đóng khung. Đọc từ bên này sang bên kia, Leo phát hiện ra sếp mới của gã đã giành chiến thắng trong những cuộc thi vật và giải bắn súng nghiệp dư và nhận được nhiều danh hiệu Nhân viên của Tháng vào nhiều dịp ở cả đây và nơi ở cũ, Rostov. Thật là một sự trưng bày khoe khoang, và điều này có thể hiểu được khi tính đến vị trí anh ta nắm giữ tầm thường đến vậy. Nesterov dò xét nhân viên mới, không thể hiểu nổi gã. Tại sao người này, một cựu nhân viên MGB cấp cao, được tặng huân chương trong chiến tranh, lại trong tình trạng bệ rạc như vậy - móng tay cáu bẩn, mặt chảy máu, đầu tóc bẩn thỉu, người sặc mùi rượu, và rõ ràng thờ ơ trước sự giáng cấp này? Có lẽ gã đúng như người ta mô tả: hết sức bất tài không đáng được giao trách nhiệm. Vẻ ngoài của gã thật đúng mô tả rồi. Nhưng Nesterov không tin: có lẽ vẻ ngoài nhếch nhác này là một cái mẹo. Anh
256
4
EO? BÀI HÔM NAY LÀ VỀ BĂNG TỎA*. TA BẮT ĐẦU VỚI SỰ BĂNG PHONG*, SAU ĐÓ SANG BĂNG HỒ*. CÁI NHÌN LẠNH BĂNG BRRRR...! GIỚI THIỆU Những giờ địa lý. Buồn như chấu cắn nhỉ? Một số thầy dạy địa làm bạn cóng bằng những kiến thức buốt óc với đủ thứ từ ngữ quái đản... * Dịch nôm na thì băng tỏa là một thuật ngữ "tinh vi" để chỉ việc một nơi bị băng phủ như thế nào. Băng phong là nền đất bị đóng băng di chuyển và lún xuống khi băng tan ngấm xuống đất vào mùa xuân. Băng hồ là những khoảnh nước bị biển băng bao bọc. Cá là bạn sẽ chẳng muốn bị hỏi đâu! 6 BA-ÀI H-ỌC H-ÔM NA-AY LÀ VỀ... CƯ-Ứ TH-Ế LÀ H-ẾT NGA-ÀY! Thôi, tạnh đi! Chưa biết chừng còn tệ hơn nữa kia.Tệ hơn nhiều. Nếu bạn tưởng lớp học của bạn ẩm ướt và lạnh giá kinh hồn thì hãy cảm ơn số phận vì bạn không phải đến một trường lạnh co-óng ở Bắc hoặc Nam cực. Lúc đó thì bạn còn mải lo giữ ấm, chả có thời giờ đâu mà kêu ca. Tin xấu là miền cực giá lạnh là nơi lạnh nhất, băng giá nhất và khô nhất trên cả hành tinh lạnh giá của chúng ta. Nó còn thuộc vào hàng gió nhất nữa. Mà lại xa khủng khiếp. Thực ra đó chính là tận cùng của Trái đất và bạn chả còn đi được đâu xa hơn thế nữa. Càng may, chắc bạn nghĩ thế. Bé cái nhầm. Tin tốt là miền cực lạnh cóng ấy lại là những mẩu tuyệt vời nhất của địa lý xưa nay. Bạn sẽ sớm mắc chứng ám ảnh vùng cực thôi (nếu giá lạnh chưa cắn bạn trước). Thấy cứng hết cả chân rồi à? Đừng hoảng. Cái hay của Địa lý Kinh dị là bạn có thể thăm thú nhưng nơi xa tít xa mù mà chả phải ra khỏi nhà. Cuốn sách này là lý tưởng đối với các khách lữ hành salon. Y sì như bạn. Vậy thì hãy kiếm một cái ghế tựa thật ngon mà ngồi cho thoải mái vào. Thử tưởng tượng xem thầy địa lý của bạn tá hỏa cỡ nào trước những hiểu biết về vùng cực mới toe của bạn. Mà bạn thì ngay cả cây gắp đá cũng chả cần phải mang theo nữa. 7 CHẢ THẤY TĂM HƠI ĐÂU CẢ NHỈ? Nếu bạnđã ngứa ngáy muốn biết miền cực là thế nào (mà không cần phải đứng dậy), hãy thử một thí nghiệm đơn giản xem nhé. Chờ đến một ngày đông thật là lạnh. Ở châu Âu thì đó là ngày mà sáng ra thấy có xe ủi tuyết ngoài cửa ấy. Đó là ngày mà việc đến trường là HOÀN TOÀN KHÔNG ĐƯỢC BÀN ĐẾN! Bắt con nhỏ em bạn ra ngoài trời. (Vài phút thì gọi nó vào. KHÔNG ĐƯỢC QUÊN). Nhìn nhỏ em thật kỹ. Liệu nó có a. nổi da gà, b. đông cứng, hoặc c. trưng ra một cái mũi tím tái không? Nếu tất cả các câu trả lời là khẳng định thì bạn đã có ít nhiều khái niệm về vùng cực là thế nào rồi đấy. (Đừng lo, con em bạn không thể mách được. Răng nó gõ có ngừng được đâu). Và đó là cái mà cuốn sách này nói đến. Phải, lạnh hơn cả hầm lạnh lạnh nhất, và bị bao phủ một lớp băng dày tới vài ngàn mét, miền cực là nơi lạnh nhất hành tinh. Trong Miền Cực Lạnh Cóng bạn có thể... • học cách điều khiển xe chó kéo của người Inuit. • tìm những con voi ma-mút đông cứng bị vùi trong băng. 8 • nếm thử các thứ trong dạ dầy tuần lộc. • theo vết một núi băng to bằng cả nước Bỉ cùng với nhà băng học* sừng sỏ Gloria. MỪNG BẠN ĐẾN CHƠI * Nhà băng học là người chuyên nghiên cứu về băng (chứ không phải nhà băng). Thế là có người hiểu được thầy giáolải nhải cái gì rồi. Địa lý này chả giống gì ngày xưa. Và nó gay cấn khủng khiếp luôn. Nhưng coi chừng đấy - quấn cho thật ấm trước khi đọc cuốn sách này, kể cả có ngồi trong nhà. Bạn đang sắp dấn thân vào cuộc phiêu lưu băng giá, da gà tha hồ mà chạy khắp sống lưng. 9 CUỘC ĐUA ĐẾN CỰC 1 tháng Mười một năm 1911, McMurdo Sound, Nam cực Buổi sáng giá lạnh, một nhóm người chia tay với các bạn đồng hành. Ai nấy đều có vẻ trang trọng. Liệu họ có còn gặp lại bạn bè không? Không ai biết cả. Bởi lẽ họ sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu lớn nhất trong đời. Họ đang cố trở thành những người đầu tiên đến được cực Nam để lưu danh trong sử sách. Một chuyến đi khó khăn kinh khủng qua Nam cực mênh mông băng giá đang chờ họ. Một người đã được nếm mùi. Chín năm trước thuyền trưởng Robert Falcon Scott dẫn đầu một đoàn thám hiểm đã đến cách cực Nam chưa đầy một trăm cây số nhưng thời tiết giá buốt và gió dữ dội đã buộc họ phải quay lại. Lần này con người sắt đá đó quyết chí chỉ có thành công hoặc chết. Việc chuẩn bị cho chuyến đi chiếm gần trọn một năm. Rồi ngày 1 tháng Sáu năm 1910, chiếc Terra Nova, một chiếc tàu săn cá voi được sửa lại và gia cường để phá được băng, đã rời nước Anh. Sáu tháng sau, sau một chuyến hải hành bão táp, Terra Nova đãbỏ neo giữa đám băng trôi ở McMurdo Sound. Scott và người của ông dựng một ngôi nhà gỗ bên bờ mũi Evans trên đảo Ross để trú tạm qua những ngày đông tối tăm dài dằng dặc. (Ở bán cầu nam mùa ngược hẳn. Từ tháng Ba đến tháng Mười là mùa đông). CỨ LỐI NÀY MÀ ĐI NHÁ. LÀM NHƯ NGƯỜI TA KHÔNG BIẾT ĐÂU LÀ HƯỚNG NAM! 10 LẠI HƯƠU MŨI ĐỎ RUDOLF! LÀM CHO TÔI CÁI BỒN TRỒNG CÂY Ở CỬA SỔ ĐƯỢC KHÔNG? Đương đầu với cái lạnh kinh hoàng, họ lui cui chuyển đồ tiếp tế bố trí dọc đường và tiến hành các thí nghiệm. Tối tối họ nghe máy quay đĩa và xem phim đèn chiếu giết thời gian. Càng lâu càng tốt. Rồi cuối cùng thì chuỗi ngày chờ đợi cũng hết. Đã đến lúc tấn công địa cực. Khi nói lời tạm biệt, vẻ mặt buồn bã của thuyền trưởng trông lạnh lùng và bình tĩnh nhưng trong đầu thì những ý nghĩ cứ chạy nháo nhào cả lên. Ông yên lòng rời London vì biết rằng địch thủ lớn nhất của mình, nhà thám hiểm tài ba người Na Uy, Roald Amundsen đã lên đường đến Bắc cực ở đầu bên kia Trái đất. Amundsen hy vọng sẽ đến được cực Bắc trước tiên nên nhường cực Nam lại cho Scott. Đó là ông tưởng vậy. Vào ngày 6 tháng Tư năm 1909, người Mỹ Robert Peary tuyên bố đã đến được cực Bắc làm sụp đổ dự định của Amundsen. Không nói với ai một câu nào, Amundsen đầy tham vọng lập tức đổihướng nhằm phía Nam mà đi. Scott biết tin này qua bức điện Amundsen gửi đến như sau: 11 THÁI BÌNH DƯƠNG BIỂN ROSS TRẠI CỦA SCOTT TRẠI CỦA AMUNDSEN ĐẢO ROSS LỘ TRÌNH CỦA SCOTT BÃI BĂNG ROSS LỘ TRÌNH CỦA AMUNDSEN TRẠM TIẾP TẾ LỀU CỦA SCOTT ĐƯỢC TÌM THẤY TẠI ĐÂY CỰC NAM FRAM LÀ TÊN CON TÀU CỦA AMUNDSEN Nhưng lúc đó thì Amundsen đã trên đường đi rồi. Thế là cả hai đều không còn đường lùi. Cuộc đua đến cực Nam đã thực sự bắt đầu. Mười ngày sau khi Scott đến nơi thì Amundsen cùng bầu đoàn của mình cũng cập vịnh Cá Voi ở bãi băng Ross và dựng trại (tên là Framheim). Mọi thứ đều theo đúng kế hoạch. Trong lúc Scott và người của mình nói lời từ biệt thì Amundsen đã xuất phát. 12 MÌNH G
310
4
ẦN ĐẾN NƠI CHƯA NHỈ? Tháng Mười hai năm 1911/tháng Giêng năm 1912 Lúc Scott rời mũi Evans thì Amundsen đã đi trước ông tới 12 ngày. Và cách biệt càng gia tăng. Đến ngày 17 tháng Mười một thì Amundsen già dơ và người của ông đã đến điểm nửa đường là chân dãy núi Transantarctic (liên nam cực). Lúc này lại có một trở ngại khác chắn đường họ - một sông băng dốc đứng gọi là sông băng Axel Heiberg. Con sông lỗ chỗ những khe nứt to tướng với các khối băng khổng lồ nằm rải rác. Để vượt qua sườn dốc hung hiểm phải mất đứt bốn ngày gãy lưng. Nhưng rốt cuộc họ đã lên đến đỉnh. Đến đó thì ngăn cách họ vớiđịa cực chỉ là một khoảng mênh mông toàn băng trắng toát (gọi là cao nguyên cực) trải dài hút tầm mắt. Thế rồi tai họa ập đến. Thời tiết đột nhiên thay đổi. Suốt hai tuần liền bão tuyết mịt mù và gió dữ quét ngang cao nguyên. Những người Na Uy gan góc chỉ còn có nước dựng cái lều mỏng manh của họ sau lưng một tảng băng và cầu nguyện. May sao mà trời cao nghe thấy lời họ. Gió đột ngột tắt và trời quang hẳn. Với nắng chói và trời xanh, đoạn đường còn lại đúng là một cuộc dạo chơi. Ngày 14 tháng Mười hai, Amundsen và những người đồng hành kiên cường của ông cuối cùng đã đặt chân đến cực Nam. Không 13 nói một lời, họ lặng lẽ bắt tay nhau. Chả còn gì để mà nói cả. Họ đã làm được - và thế là đủ. Nhưng họ cũng không dám dừng lại quá lâu. Họ quá biết rằng thời tiết có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Amundsen bỏ ra ba ngày để xác định vị trí của họ thật cẩn thận bằng kính lục phân (một dụng cụ hàng hải ngày trước dùng để đo góc giữa mặt trời và đường chân trời) để chứng minh cho mọi người rằng ông đã thực sự làm được. Trước khi rời đi họ dựng lều và cắm một lá cờ Na Uy trên đỉnh. Amundsen còn để lại lời nhắn cho Scott, nhờ ông này chuyển tin thắng trận của ông đến vua Na Uy. Lời nhắn viết rằng: Sáu tuần sau những ngườiNa Uy đã về tới Framheim an toàn và mạnh khỏe. Họ đã hoàn thành hành trình kỳ công 2.500km của mình trong 98 ngày. Trong lúc đó thì Scott đang lâm vào cảnh tuyệt vọng. Khi Amundsen tự hào chụp hình tại cực Nam thì Scott và người của ông đang vật lộn trên một con sông băng phản phúc khác là sông băng Thuyền trưởng Scott thân mến, Vì chắc ông sẽ là người đầu tiên sau chúng tôi đến được đây nên tôi tha thiết nhờ ông chuyển thư này lên đức vua Haakon VII. Nếu ông có thể dùng được thứ gì còn lại trong lều thì xin chớ do dự. Trân trọng. Mong ông trở về an toàn. Kính thư, Roald Amundsen 14 Beardmore, cách đó gần 640km. Cuối cùng, vào đúng năm mới, 1912, họ cũng tới được cao nguyên cực. Bấy giờ cái đích đã ngay trước mắt nên ai nấy đều phấn chấn. Họ nào có biết Amundsen đã lên đường trở về. Trong đợt tấn công cuối cùng này Scott đã chọn bốn bạn đồng hành tin cậy - Edgar Evans, Lawrence Oates, Henry Bowers và bác sĩ Edward Wilson. Những người còn lại trong nhóm hỗ trợ ông đã cho quay lại. Đó là một nỗ lực siêu nhiên. Với nhiệt độ xuống dưới -400C, mỗi bước đi là một cực hình. Nhưng điều tệ nhất đã phải đến. Vào ngày 16 tháng Giêng, mọi người trông thấy một lá cờ đen ở đằng xa. Như vậy có nghĩa là đã có dấu hiệu dựng trại ở đấy rồi. Amundsen đã đánh bại họ. Những longại tệ hại nhất của họ đã trở thành hiện thực. Trong nhật ký của mình, Scott đã ghi lại những giấc mơ tan vỡ của họ: "Điều tệ hại nhất hoặc gần như thế đã xảy ra... Những người Na Uy đã qua mặt chúng tôi để trở thành người đầu tiên đặt chân đến địa cực. Đó là một thất vọng khủng khiếp... Ngày mai chúng tôi sẽ lên đường đến địa cực rồi quay về nhanh hết sức có thể." Thất vọng chán chường, hai hôm sau Scott đã đến cực Nam. "Lạy Chúa chí thánh!" ông viết trong nhật ký. "Chốn này thật khủng khiếp." Đường về Kiệt sức, đói lả, bị cước vì giá lạnh và xuống tinh thần, Scott và những người đồng hành bắt đầu cuộc hành trình ác mộng trở về. Tuyết bay lấp mất dấu nên họ thường xuyên lạc đường. Từng người một lần lượt xuống sức. Vào ngày 17 tháng Hai, Edgar Evans chết sau khi ngã xuống một khe băng. Một tháng sau Lawrence Oates quả cảm đã ra khỏi lều bước vào bão tuyết."Tôi ra ngoài một chút," ông nói. "Có lẽ cũng lâu lâu đấy." Đó là lần cuối họ thấy Oates còn sống. Chân ông bị cước nặng và ông đã chọn chết một mình để khỏi làm chậm bước mọi người. 15 Thứ năm, ngày 29 tháng Ba năm 1912 Từ ngày 21 đến giờ gió giật liên tục. Chúng tôi chỉ còn đủ chất đốt để nấu hai tách trà và một mẩu thức ăn chỉ đủ cho hai ngày. Ngày nào chúng tôi cũng chuẩn bị lênđường đến trạm nhưng bên ngoài lều vẫn rú rít không dứt. Lúc này tôi không nghĩ chúng tôi có chút hy vọng khá hơn nào. Chúng tôi sẽ chống chọi đến cùng, có điều sức đã yếu đi, tất nhiên rồi, và kết thúc cũng không còn xa nữa. Tiếc thay, chắc tôi không thể viết thêm được. Vào ngày 19 tháng Ba, khi khẩu phần thức ăn và chất đốt đã xuống đến mức nguy hiểm thì oái oăm thay họ lại bị mắc kẹt trong lều vì một cơn bão tuyết mịt mù. Gió giật ào ào và tuyết xoáy tít không làm sao bước nổi. Trạm tiếp tế chỉ cách đó 18km, có đủ thức ăn và chất đốt để cứu sống họ. Thế mà không thể tới được mới tức chứ. Ngày qua ngày họ chờ thời tiết khá lên, tuy nhiên trong lòng họ đã biết rằng số họ đã tận. Họ yếu đi từng ngày. Với một chút sức tàn, Scott viết thư về nhà và vẫn tiếp tục ghi nhật ký. Lần cuối cùng là vào thứ năm, ngày 29 tháng Ba năm 1912. Ông viết: 16 XIN CHÀO! GÌ THẾ... Đến tháng Mười một, một đoàn tìm kiếm đã thấy cái lều phủ tuyết, bên trong có ba xác chết. Cuốn nhật ký và những bức thư của Scott nằm bên cạnh ông. Một ụ tuyết với cây thập giá làm bằng ván trượt tuyết bên trên được đắp lên ngay chỗ đó. Năm nguyên nhân giúp Amundsen đến được cực Nam trước 1 Amundsen xuất phát trước. Ông dựng trại ngay mép bãi băng Ross -một việc khá liều lĩnh. Nếu băng vỡ thì trại của ông sẽ trôi ra biển. Nhưng việc này cũng đáng liều. Như vậy Amundsen đã gần địa cực hơn Scott khoảng 100km. Đến khi Scott lên đường thì Amundsen đã ở xa phía trước rồi. 17 2 Amundsen để chó kéo Bắc cực làm hết những việc nặng. Bầy chó nhanh nhẹn, được huấn luyện tốt và rất bền sức. Sáu con chó thượng hạng có thể kéo một chiếc xe trượt nửa tấn chạy tới 100km mỗi ngày. Thoạt đầu người ta còn ngồi xe trượt, sau đó thì được kéo theo sau trên ván trượt. Scott không có kinh nghiệm lắm trong việc dùng chó. Ông còn nghĩ phải để người của mình tự kéo xe trượt mới đáng mặt đàn ông, kể cả việc đó có nặng gãy lưng cũng thế. Một người thuật lại rằng ruột gan ông ta như thể lộn tùng phèo cả lên. Đối với những con ngựa lùn mà Scott cất công đưa từ mãi Siberia sang thì đi lại quả là vất vả. Những con vật tội nghiệp bị ngập đến gối trong tuyết, còn mồ hôi ra đến đâu đóng băng đến đấy trong bộ lông của mình. Để chúng đỡ khổ, cuối cùng người ta đành phải bắn hết. Còn về ba chiếc xe trượt gắn máy thì hai chiếc hỏng, một thì bị ném qua mạn tàu vì nó chả chở gì. 3 Người của Amundsen ăn thịt tươi. Ông hiểu rằng nếu không được cung cấp thịt tươi thì người của ông sẽ chết vì bệnh scurvy (sco-bút - là một chứngbệnh chết người do thiếu vitamin C quan trọng sống còn). Thành ra khi dự trữ đã hết thì ông đè lũ chó ra mà mổ. Tại địa điểm mang tên "Hàng
311
4
thịt" trên cao nguyên cực, ông bắn một nửa số chó (cả thảy hơn 30 con). Một số được đem làm món thức ăn cho chó, còn người thì ăn chả chó. Scott kỹ tính 18 ÍT RA PHẢI NHỔ HẾT RĂNG ĐÃ CHỨ! thì cho rằng ăn thịt chó thì man rợ quá. Khẩu phần bất di bất dịch của ông là ruốc (còn gọi là chà bông - một hỗn hợp khủng khiếp gồm thịt bò khô và mỡ lợn) và cháo yến mạch lẫn mấy miếng chả chim cánh cụt hoặc hải cẩu. Khổ cái, kéo xe trượt tốn nhiều năng lượng mà ăn lại không đủ. Trong khi nhóm của Amundsen được ăn tốt ngay từ đầu thì người của Scott thiếu vitamin và dần dần thiếu ăn đến chết. 4 Amundsen đã nghiên cứu rất kỹ người Inuit. Ông đã học được những bài học quan trọng từ thổ dân Bắc cực về cách sống sót qua cái lạnh giá chết người. Quần áo của ông may bằng da chó sói theo đúng kiểu của người Inuit. Thứ này mặc ấm mà khô ráo, ngay cả khi nhiệt độ xuống dưới -400C. Scott thì trái lại chỉ chuộng quần áo làm bằng vải bông và len. Tệ một cái là nó không đủ ấm và không thoát mồ hôi. Thành ra mọi người bị lạnh cóng và ướt đầm. 5 Amundsen không quan tâm đến khoa học. Ông chỉcó duy nhất một mục tiêu là đến được cực Nam. Vì vậy ông chọn toàn những người thông thạo miền cực cho một chuyến đi khắc nghiệt. Họ có những chuyên gia điều khiển chó và người đánh xe chó kéo, cả một nhà vô địch trượt tuyết siêu khỏe. Bản thân Amundsen mới đầu còn học làm bác sĩ, nhưng sau bỏ phắt để chuyên về thám hiểm. (Ngay từ lúc còn bé ở Na Uy ông đã mơ đến được cực Nam. Ông thậm chí còn mở cửa sổ mà ngủ vào mùa đông để rèn luyện mình cho chuyến đi). Còn Scott thì chỉ sống chết với khoa học. Ông cho chất lên xe trượt những mẫu đá nặng ịch kéo 19 muốn chết luôn. (Thực ra những mẫu đá này là bằng chứng quan trọng cho thấy Nam cực vốn ấm hơn bây giờ. Buồn thay, phát hiện chấn động đó đến quá muộn đối với Scott xui xẻo). 6 Amundsen rất may mắn. Trên đường về Scott phải đối mặt với thời tiết lạnh khác thường. Đáng lẽ chỉ vào khoảng -300C như thường ngày thì Scott phải đương đầu với nhiệt độ dưới -400C. Lúc đó thì Amundsen đã bình yên về đến căn cứ rồi. Vậy thì đó là một thực tế. Các cực là chốn hiểm nghèo. Như thuyền trưởng Scott quả cảm đã thấy nó hung hiểm với mình thế nào, bạn cần phải rất rắn mặt mới sống sót qua cái giá lạnh kinh hồn đó. Liệu bạn có chịu đựng nổi tất cả những cái đó mà sống sót trở về không? Trước hếtbạn cần phải biết rõ hơn về các cực cái đã. Rõ hơn thật nhiều... 20 CÁC ĐỊA CỰC LẠNH GIÁ Hãy tưởng tượng hết dặm này sang dặm khác toàn những băng với tuyết đến hút tầm mắt. Thêm vào đó là những trận gió giật và nhiệt độ lạnh cóng cả người. Tưởng như bị nhét vào một cái tủ lạnh to nhất, lạnh nhất và giá nhất trên đời - nhưng lại không có kem hay thạch gì. Chào mừng đến với miền cực lạnh giá. Vị trí của cực Chả phải cực kỳ, cực đẹp đâu mà mơ. Không, thực ra đây là hai cực của Trái đất, là hai đầu của trục quay Trái đất (là đường tưởng tượng chạy xuyên qua giữa ruột Trái đất ấy mà). Như vậy có nghĩa là ở cực Bắc thì đi kiểu gì cũng là về hướng nam, còn ở cực Nam thì lên hướng bắc. Rắc rối quá à? Yên tâm đi. Đã có Gloria với sơ đồ cực số 1 đây. Để làm mọi chuyện thêm rối tung lên, các nhà địa lý kinh dị còn gọi cái vùng bao quanh cực Bắc là Bắc cực và quanh cực Nam là Nam cực. Hai cái mảng này chiếm cả thảy 8% bề mặt Trái đất. CỰC BẮC CỰC NAM TRỤC XÍCH ĐẠO 21 TA LÀ NGHỊCH GẤU ĐÂY! CÓ MÀ LÀ NGHỊCH DẠI! BẮC CỰC NAM CỰC CỰC BẮC CỰC NAM Thực ra thì mấy ông Hy Lạp ở đâu cũng thấy mặt này chưa hề bén mảng đến gần Nam cực, vậy thì làm sao họ biết nó ở đó? Sựthật kinh hoàng là họ không biết. Mọi cái chỉ là đoán mò, mà ai Bây giờ đến sơ đồ cực số 2. Nhưng cũng chả trách được các nhà địa lý kinh dị. Trong tất cả các thứ tiếng Tây thì Bắc cực đều là Arctic, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp vì chính người Hy Lạp cổ đại là người đầu tiên đặt tên cho vùng này mà. Cá là bạn không biết rằng trong tiếng Hy Lạp thì "Arctic" có nghĩa là gấu. Có điều đấy không phải là thứ gấu trắng hung dữ ở Bắc cực đâu. Nó cũng không săn hải cẩu trên băng nữa. Không, đó là cái hình chòm sao nằm ở cực bắc trên bầu trời cơ. Còn Nam cực thì là Antarctic, chỉ đơn giản là đối nghịch với gấu. 22 chứ người Hy Lạp thì giỏi cái khoản này đáo để. Họ cho rằng phải có một cái ụ đất ở bên dưới của thế giới đặng cân bằng với ụ đất phía trên. Nếu không thì Trái đất đâm ra trên nặng dưới nhẹ, thể nào cũng lộn tùng phèo. Cũng lạ là họ có lý - nhưng không phải về chuyện Trái đất lộn tùng phèo. Quả thực là có Antarctic thật. Hai cực riêng rẽ Bạn có thể nghĩ là hai cực lạnh giá trông giống nhau. Ý tôi là cả hai đều lạnh căm căm và toàn băng là băng, đúng không? Nhưng thực ra bên dưới lớp băng thì hai cực là hai thế giới khác nhau. Vậy thì làm sao bạn biết cực nào là cực nào? Lấy các cựcra đố nhau chơi nhé? Bạn không biết mình đang ở phía nào của Trái đất chứ gì? Thế thì sao không thử tí trắc nghiệm buốt răng để nói rằng hai cực lạnh giá khác nhau. Việc của bạn là trả lời CỰC NAM, CỰC BẮC hoặc CẢ HAI cho mỗi câu hỏi. Sẵn sàng chưa? 1 Đó là một lục địa phủ băng. 2 Đó là một mảnh đại dương bị đóng băng. 3 Ở đây có gấu trắng nhưng không có chim cánh cụt. 4 Vào mùa hè mặt trời chiếu sáng cả đêm. 5 Tháng Sáu là giữa mùa đông. 6 Người ta sống ở đó quanh năm. Trả lời: 1 CỰC NAM. Bên dưới lớp băng đó là một lục địa rộng lớn. Nam cực rộng 14 triệu km2 - gần gấp đôi châu Âu. Nhưng 99% của nó bị bao phủ một một mảng băng khổng lồ, có nơi DÀY GẦN 5KM. Như vậy là quá nửa đoạn đường lên đỉnh Everest rồi. Khối băng nặng quá thể đáng đó đè dí nền đất bên dưới xuống. Mà không chỉ có thế. Bị vùi dưới khối băng kinh hoàng kia là những dãy núi lớn và những ngọn núi lửa dữ dằn. May mà phần lớn chúng đã ngưng hoạt động - nhưng có một ngọn 23 NAM CỰC NAM BĂNG DƯƠNG TÂY NAM CỰC ĐÔNG NAM CỰC BÃI BĂNG RONNE ĐỈNH EREBUS 3.794M BIỂN WEDDELL DÃY VINSON: ĐỈNH CAO NHẤT NAM CỰC 4.897M BÃI BĂNG ROSS BIỂN ROSS CAO NGUYÊN CỰC BÁN ĐẢO NAM CỰC DÃY LIÊN NAM CỰC dở chứng là núi Erebus, ngọn này thì có thểthổi bay cái chóp của nó bất cứ lúc nào. Nam cực bị bao bọc hoàn toàn bởi Nam Băng dương. Vào mùa đông khoảng một phần ba đại dương này bị đóng băng làm tăng diện tích của Nam cực lên. Cảnh báo: Chớ có ngã khỏi tàu khi bạn đi thám hiểm chuyến tới. Vùng biển bão táp này lạnh đến nỗi não của bạn đông cứng lại chỉ trong vài phút. Brrrừ! BÃI BĂNG ROSS 24 CANADA BẮC CỰC CỰC BẮC GREENLAND CHÂU ÂU N G A 2 CỰC BẮC. Chả có tí đất nào ở cực Bắc cả,
312
4
chỉ là đại dương bị đóng băng mà thôi. Bắc Băng dương là đại dương nhỏ nhất hành tinh (khoảng 14.000.000km2), và lạnh nhất (chú ý bộ óc!).Trong hầu hết thời gian của nó bị bao phủ bởi băng trôi có thể dày tới 3m. Bắc Băng dương bị đất liền bao bọc gần kín. Đó là phần lãnh thổ phía bắc của Canada, Alaska, Scadinavia và Nga cùng với Greenland băng phủ. Tất cả chỗ này tạo thành một vùng mà các nhà địa lý gọi là Bắc cực. Vậy là đất ở Nam cực bị biển bao bọc, còn biển ở Bắc cực thì bị đất bao quanh. Hiểu cả chưa nào? 25 MẶT TRỜI TIA NẮNG CỰC BẮC ĐÊM NGÀY TRÁI ĐẤT CỰC NAM TRÁI ĐẤT QUAY CÓ CHẮC LÀ TÔI LẠC KHÔNG ĐẤY? TIN TÔI ĐI! 4 CẢ HAI. Nếu bạn không ngủ được... (thì sẽ chả có cửa nào cho bạn ở đấy đâu). Hàng nhiều tuần lễ liền không thấy mặt trời mọc và rồi sau đóthì tối thui suốt ngày. Ở cực Nam vào mùa đông trời tối liên tục sáu tháng liền. Sao lại có chuyện kỳ cục như vậy? Số là khi Trái đất quay quanh mặt trời (theo quĩ đạo tròn) thì nó còn tự quay quanh trục của mình nữa, cứ 24 giờ quay được một vòng. Mà trục của Trái đất lại còn bị nghiêng một góc. Thành ra trên Trái đất có những chỗ nghiêng về phía mặt trời còn có những chỗ khác thì ngoảnh ra, vì vậy mà có những chỗ sáng lâu hơn. Chính vì vậy mà độ dài của ngày và đêm thay đổi liên tục suốt năm. 3 CỰC BẮC. Ở cực Bắc không có chim cánh cụt. Bạn có thể va phải một con gấu trắng, chứ nếu thấy chim cánh cụt nhởn nhơ đi qua thì bạn lộn tiệm mất rồi! 26 CHÀO BÁC! 5 CỰC NAM. Trong khi bạn nằm ườn trên bãi biển nghỉ hè thì ở cực Nam là mùa đông. Và khi ở phía bắc là mùa đông thì phía Nam lại là mùa hè. Đó là vì vào tháng Sáu, bán cầu bắc nghiêng về phía mặt trời và thế là được mùa hè. Nhưng bán cầu nam lại ngoảnh ra, thế thì làm gì mà chả mùa đông. Rồi đến tháng Mười hai thì đảo ngược lại. 6 CẢ HAI. Dân bản địa đã sinh sống ở Bắc cực từ lâu. Họ là những bậc thầy trong việc sống sót.(Bạn sẽ được gặp vài người trong chương Dân Cư Bắc cực Lạnh Giá). Nhưng ở cực Nam thì khác. Chỉ có vàinhà khoa học rắn mặt kinh khủng sống ở đó trọn năm. Như thế cũng quá ghê răng rồi. Mà họ còn phải sống rất xa nhà. Láng giềng gần nhất của họ là ở Nam Mỹ, cách đó khoảng 3.000km. Nhưng không lo, bạn đã có hàng triệu con chim cánh cụt ở bên. Điểm của bạn nói lên điều gì? Bạn làm ăn ra sao rồi? Cứ mỗi câu đúng thì tự thưởng cho mình 100 điểm. 500-600 điểm. Chức mừng! Bạn "cực" đấy. Nhưng chớ vội chủ quan nhé. Tiếp theo đây bạn còn phải có một chuyến dã ngoại cực lạnh với thầy giáo nữa. Nghĩ mà rùng mình. 27 MỸ BẮC CỰC CHÀO! CHÂU ÂU CHÂU PHI ĐẠI TÂY DƯƠNG NAM CỰC NAM MỸ 300-400 điểm. Không tệ. Bạn có vẻ cũng thoải mái với môn này. Nhưng cẩn thận kẻo băng trơn trượt ngã đấy. 200 điểm và ít hơn. Chết thật. Bạn đang lò dò trên băng mỏng đấy. Điểm số kiểu này thì bạn chả có cửa làm thiên tài địa lý đâu. Nhưng nếu bạn không thể phân biệt được cực nào là cực nào thì dưới đây xin hiến cho bạn một sơ đồ đơn giản để giúp bạn. Bạn sẽ phải xoay ngược sách lại để tìm cực Nam, nếu không thì trồng cây chuối... 28 Bắt đầu từ hôm nay trời sẽ lạnh tê tái với nhiệt độ xuống rất thấp. Dự báo có gió giật mạnh vào buổi chiều lên đến mức bão tuyết. Và đi đứng phải cẩn thận vì sẽ tối thui cả ngày. Ngày mai có vẻ cũng không khácgì, ngày tiếp theo và tiếp theo nữa cũng vậy. Mùa hè có hơi ấm hơn một chút (nếu bạn chịu trận được tới lúc đó, và ít nhất bạn cũng còn thấy đường mà đi). Thông báo thời tiết vùng cực Bạn đang lăm le tự làm một chuyến thám hiểm vùng cực à? Tốt nhất hãy coi lại dự báo thời tiết vùng cực lạnh giá của Gloria rồi hẵng liều nhắm mắt đưa chân... Cảnh báo thời tiết vùng cực Nếu bạn tưởng mùa đông ở chỗ bạn là lạnh giá thì hãy nghĩ lại. Vùng cực lạnh giá thì phải nói là c-c-cực lạnh luôn. Dù là bạn chọn mùa nào trong năm thì vẫn cứ phải quấn cho thật ấm. NẾU BẠN MUỐN CÒN SỐNG. Dự báo cho tương lai sắp tới: Lạnh tê răng Đây là thông tin chính thức. Các cực là nơi lạnh nhất hành tinh. Ở Nam cực, nhiệt độ trung bình là -490C, tức là khoảng gấp năm 29 DÀI NGẮN NGẮN NGẮN DÀI TIA NẮNG MẶT TRỜI NGẮN NGẮN MẶT TRỜI Tệ hơn nữa, phần lớn nắng chiếu vào các cực lại còn phản xạ vì màu băng tuyết trắng toát nữa. Các nhà địa lý kinh dị gọi đó là hiệu ứng albedo. Giải thích nôm na ra thì những màu tối hút nhiệt vào còn màu trắng thì hắt nhiệt đi. Và chính vì vậy mà mặc áo trắng trong những ngày nắng nóng thì mát hơn là mặc màu tối. Cứ thử đi khắc biết. lần bên trong tủ lạnh nhà bạn. Nhưng như vậy vẫn là nóng chảy mỡ so vớimột nơi tên là Vostok có nhiệt độ xuống đến -890C. Đến đây thì dư sức ướp lạnh bạn chết ngắc luôn. Ở Bắc cực lạnh giá thì ấm hơn, vào giữa mùa hè còn nóng đến 00C (tuy mùa đông là -300C). Nhưng tại sao các cực lại lạnh ghê răng thế? Xin lỗi, chỗ này là một bài khoa học kinh dị mất rồi... Đó là vì bề mặt Trái đất nó cong cong nên ánh nắng mặt trời chiếu vào cực dưới một góc lớn. Chúng rải ra một vùng rộng lớn nên đâm ra yếu hơn. Ánh sáng mặt trời còn phải đi qua một đoạn đường xa hơn qua khí quyển để đến các cực nên bị hấp thụ mất thêm một chút nhiệt lượng nữa hoặc bị bầu khí quyển phân tán ra trước khi xuống được mặt đất. 30 Ớ! Hoang dã và cả gió Cẩn thận với gió máy ở vùng cực lạnh giá đấy. Món chả hải cẩu có thể làm ruột gan bạn lộn tùng phèo lên đấy. (Đùa thôi, cái đó chả liên quan gì tới gió máy cả). Gió ở đây là thứ gió thổi theo các sườn dốc băng giá với vận tốc lên tới 200km/giờ, nhanh cứ như tàu cao tốc vậy. Nhanh đến mức thổi bạn ngã lăn chiêng kia. Hoặc bão tuyết mù mịt dập bạn te tua. Bão tuyết là cơn bão cuốn theo tuyết. Bạn mà gặp phải nó là gay go to. Nó sẽ thốc tuyết vào mồm bạn nghẹt thở và bưng mắt bạn chả còn thấy gì. Và đó là một trong những lý dochính khiến các nhà thám hiểm cực lạc lối, thường là đưa đến kết thúc bi thảm. Tệ hơn nữa, gió còn làm cho chân bạn tê cóng hơn thực tế. Bạn cũng biết đấy, gió mà càng mạnh thì càng thấy lạnh. Nếu sức gió là 50km/giờ và nhiệt độ là -350C thì mức cóng cứ như là -800C vậy. Nếu bạn không quấn cho kỹ thì chỉ trong vài giây sẽ bị đông cứng như đá ngay. Nghe căng thật... Khô như ngói Nói đúng ra, các nhà địa lý coi vùng cực là hoang mạc. Không, các bác ấy chả điên tí nào đâu. Loại hoang mạc này không có cát bỏng, cọ và lạc đà như bạn vẫn tưởng đâu. Nhưng vẫn cứ là hoang mạc như thường. Các nhà địa lý định nghĩa hoang mạc là nơi có lượng 31 CÓ VẺ NHƯ TRỜI TRỞ LẠNH RỒI. ĐÂY LÀ HOANG MẠC, CHẢ CÓ GÌ mưa hoặc tuyết dưới 250mm một năm. Nam cực thì chỉ
313
4
được một phần năm con số đó. Tuy được bao phủ trong nước đá nhưng một phần của Nam cực còn khô hạn hơn cả sa mạc Sahara khô rang nữa là khác. Tại một vài nơi như các thung lũng khô cằn gần McMurdo Sound, cả hai triệu năm nay chả có lấy một giọt mưa. Thực tế rúng động Cực Nam lạnh giá một thời từng là miền nhiệt đới ấm áp. Không tin thì thôi. Các nhà khoa học đã tìm thấy hóa thạch những động thực vật giống nhau trong các tảng đá ở Australia, Nam Mỹ và Nam cực. Chúng chứngtỏ rằng 200 triệu năm trước những lục địa này dính liền với nhau. Thật ngạc nhiên, Nam cực từng được bao phủ bởi những khu rừng xanh um rậm rịt với những con khủng long lang thang kiếm ăn. Sau đó, khoảng 180 triệu năm trước, ba lục địa này tách rời ra và bị biển ngăn cách. Nam Mỹ và Australia vẫn cứ nóng rãy, nhưng Nghịch Gấu nhà ta thì trôi dạt mãi xuống cực Nam và trở nên lạnh lùng băng giá. 32 *Aurora borelis tạm dịch là "ánh sáng phương Bắc". Aurora là tên La Mã của nữ thần Bình minh, còn borelis có nghĩa là phương Bắc. Ở cực Nam thì bạn có Nam cực quang hoặc là Aurora australis. MA! Cực quang dễ sợ Nếu bạn chịu khó ra ngoài đi dạo trong những đêm đông dài dằng dặc ở Bắc cực, bạn sẽ đột nhiên nhìn thấy ánh sáng chập chờn trên bầu trời - ĐỪNG SỢ. Không phải tàu ngoài hành tinh ghé lại bắt cô giáo bạn đâu (đừng tưởng bở). Không, thứ ánh sáng kỳ ảo miền cực ấy gọi là bắc cực quang (aurora borealis*). Nó được sinh ra bởi những dòng điện tích từ mặt trời va vào lớp khí trong bầu khí quyển của Trái đất. À mà bạn biết chuyện đó rồi thì phải, đúng không? Nhưng mà ngày xưa dân chúng chả biết cái gì đã gây ra thứ hào quang dễ sợ đó. Thế là họ mới bịa ra những câu chuyện để lý giải hiện tượng này. 33 XEM KÌA! Á-Á! MÀY NHÌN AI, HẢ? TAO NGHĨ LÀMÀY MẶC NHIỀU GIÁP NÊN NẶNG QUÁ ĐẤY 3 Những dân tộc khác thì thấy thứ ánh sáng đó quả là đáng sợ. Họ tưởng (nhầm) rằng nó gieo rắc chết chóc bệnh tật và chiến tranh. Tốt nhất là không dây với nó kẻo nó lại cáu. Nghĩa là chớ có vẫy nó, huýt sáo với nó hay nhìn nó chằm chằm (nhìn đểu). Không thì nó thò xuống tóm cổ bạn. Cá là bạn sợ bằng chết. 1 Người Inuit ở Canada nghĩ rằng bầu trời là cái mái che lên Trái đất. Các lỗ dột trên mái để cho ánh sáng lọt và linh hồn người chết thoát ra. Họ tin rằng cực quang là ánh đuốc đưa đường cho linh hồn về trời. 2 Người Viking tin rằng Bắc cực quang là hơi thở của những chiến binh trên trời. Khi chết đi, lên trời họ đánh nhau tối ngày. 34 LẠI MA-MÚT NỮA À? Một phát hiện ma-mút Cảnh báo: dù say sưa nhìn cực quang nhảy nhót, bạn vẫn phải nhớ để ý dưới chân. Bạn có thể vấp phải một thứ khổng lồ - voi ma-mút - thế mới kinh chứ. Có thể bạn không biết chứ đã có hàng trăm con voi ma-mút lông lá (giống một con voi nhưng rất rậm lông) thời tiền sử đã được tìm thấy bị đóng băng cứng ngắc trong nền đất Siberia cứng quèo. (Trời lạnh thấu xương lòng đất không lúc nào rã đông được nên mới gọi là đóng băng vĩnh cửu). Chúng bị vùi ở đây cả ngàn năm rồi, từ Kỷ Băng Hà cuối cùng kia. Cónhững con còn tươi nguyên, đến nỗi ta có thể thấy cả bộ lông hung đỏ bờm xờm của nó, thậm chí còn nấu lên mà chén được kia. Trong một bữa tiệc ở Nga vào thế kỷ XIX, chả ma-mút là món chính của ngày hôm đó. Có thèm một chút đồ cổ không? Ở đây chỉ có một vấn đề nho nhỏ - trước khi thò đũa vào món ăn quái chiêu đó, bạn cần phải rã đông nó đã. Làm thế này nhá. Thử tài xẻ thịt ma-mút Bạn cần có: • Một con ma-mút đông lạnh kỹ, khoảng 20.000 năm tuổi • Một số dụng cụ - xẻng, cuốc chim, khoan và búa khoan • Một trực thăng • Thật nhiều máy sấy tóc • Một bếp lò to và tủ lạnh cực to • Mặt nạ phòng độc 35 MA-MÚT! CHẮC PHẢI LẤY BỚT SALAD RA Bạn phải làm: 1 Trước hết phải tìm cho được con ma-mút của mình cái đã. Nhưng nhớ mặc ấm đấy nhé - xứ tuyết Siberia là nơi dễ tìm thấy chúng nhất. 2 Đào con ma-mút lên. Việc này nói thì dễ hơn làm. Đất đóng băng cứng chẳng khác gì bê tông, nhưng ta đã có búa khoan rồi. 3 Lôi con ma-mút lên khỏi lòng đất. Đoạn này cần đến trực thăng. Kiểm tra xem dây nhợ buộc chắc chưa - tảng băng cổ quái này nặng đến 20 tấn đấy. 4 Chọn một nơi lạnh lẽo u tịch mà cất con ma-mút, chẳng hạn một tủ lạnh thật to hoặc một động băng. Như vậy nó mới không bị tan chảy,ôi hết cả thịt là mất ngon đấy. 5 Rã đông con ma-mút bằng máy sấy tóc. Nhưng xin lưu ý là việc này tẻ ngăn ngắt mà lại lâu, phải vài tháng hoặc vài năm. (Nhưng đâu có sao, hãy nghĩ đến những tiết địa lý dở hơi mà bạn không phải học. Và bạn còn cần cả mặt nạ phòng độc khi rã đông con ma-mút nữa. Mùi của nó ghê lắm). 36 BÂY GIỜ TÔI HẾT THẤY ĐÓI RỒI. 6 Để bữa tiệc thịt quay thêm phần độc đáo, hãy nấu con ma- mút của bạn trong cái bếp lò thật to (nấu liên tục trong một tuần). Sau đó dọn ra với chút rau và nước sốt, nhớ bày cả cặp ngà cho đẹp. Dễ ợt! Trước khi bạn bỏ của chạy lấy người khỏi món ma-mút thì vẫn còn câu hỏi ngắn nữa. Cái gì lạnh, trắng và trơn tuột? Không, không phải một món ăn ở trường đâu. Chịu chưa nào? Được rồi, không có nó thì các nhà băng học như Gloria đành phải kiếm nghề khác mà làm. Cái gì nào? Băng, dĩ nhiên rồi. 37 BĂNG ĐÁ TUYẾT CHÓP CUA NÚI BĂNG Có người bảo băng đá là thứ chán phèo. Ý là ngoài trò đông lạnh ma-mút và làm lạnh đồ uống thì cái thứ nước đông cứng ấy có tích sự quái gì? Nó đại để cũng có ích như một tách sôcôla là cùng chứ gì. Mà lại không ngon bằng nữa chứ. Nhưng mà về băng thì lắm chuyện lắm chứ không phải chơi đâu nhé. Không tin cứ đọc mà xem.Liệu bạn có thể trở thành nhà băng học? Một số nhà địa lý kinh dị như kiểu Gloria dành trọn cuộc đời để nghiên cứu băng đá. Vậy là sao, ngồi đó mà ngắm con ma-mút rã đông à? Bạn có thể trở thành một nhà băng học tanh tưởi không ư? Nếu bạn nghĩ nước đá thì cục nào chả giống cục nào thì tốt nhất hãy xem mục hướng dẫn Băng gì? Của Gloria để biết cách phân biệt các loại băng khác nhau. Băng gì? Băng tấm Mô tả: Một tấm băng thật to bao phủ hết Nam cực và Greenland. Do đâu mà có: Nó hình thành từ những bông tuyết rơi xuống đất rồi bị nhiều bông tuyết khác rơi đè lên. Dần dần không khí bị đẩy ra khỏi tuyết và thế là thành băng. Nhưng quá trình này diễn ra trong hàng nghìn năm cơ. 38 NÚI SÔNG BĂNG BIỂN Bạn còn dư chút thời gian đấy chứ? Thế thì thử làm một tấm băng chơi nhé? Tất cả những gì bạn cần làm là tạo ra vài cục nước đá - khoảng chừng 1.000 TRIỆU TRIỆU TRIỆU cục là đủ. Chỗ đó là bằng tấm băng phủ lên Nam cực khủng khiếp rồi đấy. À mà bạn phải chế một cái tủ lạnh lớn gấp đôi Australia để đựng miếng băng đó nữa chứ. Sông băng Mô tả: Một dòng sông khổng lồ toàn băng. Do đâu mà có: Do băng ở giữa tấm trôi xuống mà thành. Nhìn vào cứ ngỡ tấm băng cứng ngắc. Nhưng thực ra bọn băng này cũng chạy nhảy tưng tưng
314
4
.Nó từ giữa trôi ra rìa để từ từ trườn xuống biển. Sông băng vô địch là sông băng Lambert ở Nam cực, dài 515km và rộng tới 40km. May mà con sông băng khổng lồ này bò chậm như rùa, mỗi ngày chỉ được có 2,5cm thôi. 39 BIỂN BĂNG BIỂN HỘP BĂNG CƠM HỘP XE KEM ĐẤT BIỂN NÚI BĂNG BÃI BĂNG Băng biển Mô tả: Một lớp băng mỏng trên mặt biển. Do đâu mà có: Do nước biển đóng băng mà thành. Bắc Băng dương và một vài biển ở Nam Băng dương đông cứng lại vào mùa đông. Thực ra băng biển vào mùa đông làm tăng diện tích Nam cực lên gần gấp đôi. Nó chỉ dày vài mét và đến mùa hè thì tan gần hết. Những hộp băng gồm những mảnh vỡ băng biển trôi theo gió và dòng chảy đại dương. Đoạn băng biển dính với bờ gọi là băng nhanh. Tất cả đều là tai họa khủng khiếp cho tàu bè. Bãi băng Mô tả: Một mảng băng lớn dính vào đất liền nhưng vẫn nổi trên mặt biển. Do đâu mà có: Là những tấm băng hoặc sông băng trôi ra biển mà thành. Bãi băng đứng cố định vào tấm băng, còn núi băng là những đầu mẩu bị vỡ ra mà trôi đi. Bãi băng có thể rất lớn. Bãi băng Ross ở Nam cực diện tích cũng xấp xỉ nước Pháp đấy. 40 BĂNG TẢNG TUYỆT CÚ MÈO Một hỗn hợp lầy nhầy những tinh thể băng bằng đầu kim nổi trong nước. Hút qua kẽ răng rất sướng. BĂNG BÁNH TRÁNGTUYỆT HẢO Tròn dẹt như cái bánh tráng nhưng giòn hơn hẳn. Những cái bánh tráng này trôi trên biển. Hãy vớt một cái làm linh vật biển để lạnh run suốt mùa đông. Dành riêng cho khách miệng rộng. BĂNG MỠ NGON LÀNH Một đám sền sệt toàn băng biển khiến mặt nước óng ánh như váng mỡ. Dành cho khách trơn tuột. KEM Bác Gino Bạn sẽ đi cùng trời cuối đất vì nó! Nhưng bốn anh bạn lạnh lùng này mới chỉ là chóp của núi băng. Bạn phải đến tiệm kem vùng cực của ông bác cô Gloria là bác Gino để biết những vị còn lại. Đi nào, bạn cũng xứng đáng được chiêu đãi. Hãy lựa chọn lấy một trong sáu vị lạnh tê thời thượng. Bảo đảm không tan không lấy tiền. 40 41 SUNCUP ĐẶC BIỆT Một bức tượng băng đá khổng lồ được gió và sóng tạc từ tuyết. Trông giống như những cây nấm to tướng. Món chay đặc sản. NỘM SASTRUCI Băng bị gió bào thành chỗ lồi chỗ lõm. Hơi giống kỹ thuật bắt bông kem. Bạn chỉ còn há hốc mồm! ĐẠI TIỆC NÚI BĂNG Món đặc biệt của hôm nay, một kẹo mút bằng băng bạn chưa bao giờ được thấy. Chỉ cần một que là đủ cho bạn ngậm miệng nhiều năm. Lưu ý: Đọc kỹ về những thực tế được ghi nhận trước khi thè lưỡi liếm! 41 42 LỪNG LỮNG TRÔI TRONG SƯƠNG MÙ, CỨ NHƯ HẠM ĐỘI CẢ THẾ GIỚI TỤ TẬP MỘT CHỖ KHÔNG BẰNG. Tám thực tế tê răng về núi băng 1 Núi băng làkhối băng to vật vã bị lở ra từ các sông băng và bãi băng. Không phải chỉ có vài núi băng mà mỗi năm có đến hàng nghìn núi băng như vậy trôi lềnh bềnh. Cũng lạ, các nhà địa lý kinh dị gọi cái việc lở ra đó là "sinh bê". Hẳn bạn đang bụng bảo dạ rằng một núi băng mới lở có thể gọi là bê đấy nhỉ? Không phải đâu. Các nhà địa lý gọi núi băng con chỉ là núi băng con. Thành ra nếu đang ngồi tàu Titanic mà nghe tiếng bê kêu thì cứ bình chân như vại cho tôi. Nhưng nó đớp thì toi đấy. 2 Các núi băng con chỉ lớn cỡ cây đại dương cầm. Hơn tí nữa thì gọi là mảng băng, to bằng cỡ ngôi nhà, nhưng như vậy vẫn chưa là gì. Có những núi băng còn to khủng khiếp kia. Ở Nam cực chúng lớn như những hòn đảo băng thực thụ, có thể đo được đến 150km bề dài và cao tới 150m. Chính đó là cái mà nhà thám hiểm Bắc cực dữ dằn là đô đốc Richard E. Byrd tả lại khi lần đầu trông thấy các núi băng: 43 NÚI BĂNG MẶT BÀN BỀ MẶT BẰNG CHẰN CHẶN NHƯ CÁI BÀN (TO VẬT VÃ) NÚI BĂNG DỊ HÌNH NÚI BĂNG VÒM NÚI BĂNG BẮP CẢI BỀ MẶT LỞM CHỞM NHƯ TƯỜNG PHÁO ĐÀI HOẶC NHỌN HOẮT LÊN NHƯ KIM TỰ THÁP KHUM KHUM NHƯ NẮM XÔI CÓ HÌNH THÙ NHƯ BẮP CẢI 3 Núi băng có đủ kiểu hình thù và kích thước. Dưới đây là hướngdẫn về một vài kiểu chính. Bạn có thể chỉ ra cái nào cổ quái nhất không? 4 Núi băng lớn nhất từng được phát hiện là ở ngoài khơi Nam cực do thủy thủ đoàn của chiến hạm Sông Băng nhìn thấy. Năm 1956 họ đã một phen sợ gần chết khi một núi băng quái vật TO CỠ NƯỚC BỈ trôi ngang qua. Tưởng tượng xem, cái kẹo mút mà to thế có phải là sướng không! Cũng may là họ còn sống để kể lại ta nghe. 5 Hành khách và thủy thủ đoàn trên con tàu Titanic, con tàu được coi là không thể chìm và hoa hòe hoa sói nhất, còn nhiều chuyện hơn nữa để mà kể. Tháng Tư năm 1912, Titanic thực hiện chuyến hành trình đầu tiên từ Southampton đến New York với hơn 2.000 hành khách băng qua Đại Tây dương. Đêm về 44 NÓNG THẾ NÀY CHẮC TAN MẤT THÔI! TÔI ĐANG Ở NGAY SAU BÁC ĐÂY! khuya và biển lạnh giá. Đến lúc những người quan sát trông thấy núi băng lù lù trước mặt thì đã quá muộn. Ngọn núi băng chết người đục một lỗ lớn bên sườn con tàu và nước tràn vào. Vài giờ sau Titanic đã chìm, mang theo 1.490 sinh mạng. 6 Khổ cái phát hiện núi băng khó kinh khủng vì đến bảy phần mười nó nằm dưới mặt nước. Ta chỉ có thể thấy được cái chóp của nó. Thành ra nó dễ dàng chẻ tàu của bạn làm đôi trước khi bạn biết có chuyện. Ngày nay các máy bay của Tuần Băng Quốc Tế ràquét các biển băng Bắc cực và cảnh báo tàu bè về mối đe dọa của núi băng. Các nhà khoa học còn dùng cả radar và vệ tinh để dò tìm núi băng. Một số núi băng còn được gắn cả máy phát sóng radio để báo cho các nhà khoa học biết chúng đang trôi nổi ở đâu. 7 Kiểm soát núi băng nói thì dễ. Nhưng núi băng nó có chịu ở đó dầm dề cho đâu mà kiểm. Những núi băng lớn có thể trôi giạt xa hàng ngàn km theo gió và các dòng chảy đại dương. Và chúng luôn vuột khỏi tay các nhà khoa học. Núi băng từ Bắc cực mà dạt xuống tới Bermuda ấm áp. Phần lớn các núi băng cứ lang thang như thế khoảng hai năm mới chịu vỡ ra rồi tan. Nhưng cũng có cái cứ trơ trơ lạnh giá mãi 20 năm trời... 8 Núi băng cũng có thể có ích cho con người ghê lắm. Nếu bạn làm tan chảy một núi băng cỡ trung bình thì bạn sẽ có đủ nước 45 THƯA THẦY, BĂNG CÓ THỂ CHO BIẾT THỜI GIAN KHÔNG Ạ? KIM BĂNG? Thầy sẽ ngẩn người ra, chả còn nhớ mới hỏi gì bạn đâu. Nhưng bạn hỏi cái quái gì thế? dùng cho một thành phố lớn trong nhiều tuần lễ. Đó là tin vui cho những nơi khô hạn như Australia và Trung Đông vốn rất ít mưa. Nhưng có một rắc rối con con. Làm sao mà lôi cả cái núi băng khuỳnh khoàng như vậy về được bây giờ? Các nhà khoa học nghĩc
315
4
ách đóng một tàu kéo khổng lồ để kéo nó từ Nam cực về. Việc này mất khoảng một năm. Không biết các nhà khoa học có nghiêm chỉnh không nhỉ? Liệu cái ý tưởng không giống ai đó có khả thi không? Muốn làm được chắc tốn bộn, nhưng cứ chờ đấy. Hiện tại thì dự án này đang "đóng băng". Thực tế rúng động Ở Nhật và Canada vùng gần Bắc cực, các công ty đang bán những viên băng lấy từ sông băng để cho vào đồ uống. Khi băng đá tan ra thì những bong bóng khí bốc lên, mang theo không khí bị giam hãm trong băng từ hàng ngàn năm trước. Đã chưa! Ghẹo thầy tí chơi Lần tới nếu bị thầy hỏi khó, bạn cứ hỏi lại một câu. Hãy cười thật tươi như thể trong miệng bạn đang có một cục băng lấy từ sông băng về rồi giơ tay mà rằng: 46 CHA! BA CÂY SỐ! CỨU, VUỐT BẤU! Ấy, không có gì đâu. Vuốt bấu chỉ là một chỏm đất hoặc cù lao nhô lên khỏi tấm băng. Thực ra đó là cách người Inuit gọi những rẻo đất đứng chơ vơ biệt lập. Trả lời: Lạ là băng cũng có thể cho biết thời gian đấy! Để tìm hiểu sâu hơn về băng, các nhà băng học đã khoan những lỗ sâu lấy lên các thanh băng dài như những chiếc đũa bằng băng mà họ gọi là lõi băng. Bằng cách đếm các lớp trong băng, họ có thể cho biết độ tuổi của nó. Mới đây các nhà khoa học đã khoan mộtlõi băng dài tới 3km ở Nam cực. Họ bảo rằng lớp băng cổ ở dưới đáy có độ tuổi chừng 250.000 năm. Choáng! 47 Cần những người đàn ông cho một chuyến đi gian khổ, lương thấp, lạnh giá. Nhiều tháng liền sống trong bóng tối hoàn toàn. Nguy hiểm thường xuyên, ngày an toàn trở về không nói chắc được. Vinh quang và nổi tiếng nếu thành công. Thế thì bạn có đâm đơn vào đấy không? Xin kiếu hả? Thế mà hên cho Ernest, người ta đổ đến ùn ùn. Và trong số 5.000 người tình nguyện ông chọn ra những tay quái kiệt nhất. Ngày 1 tháng Tám năm 1914 ông cùng đội tàu gồm 28 người của mình đã rời nước Anh trên con tàu hùng dũng mang tên Endurance của mình. Đối với nhà thám hiểm người Anh gan góc là Sir Ernest Shackleton (1874-1922) thì vuốt bấu chả là cái đinh gì. Nếu được nhìn thấy lại băng đá hẳn ông đã đã chả nói năng kiểu đó. Lúc này chắc răng bạn đã hết va lập cập rồi, ta sẽ xem qua một câu chuyện lạ thường mà có thật... Kẹt băng giữa Nam cực, 1914-1917 Lúc nhỏ Sir Ernest Shackleton thường mơ được nhìn ngắm thế giới. Có thể nói mạo hiểm đã có sẵn trong máu của ông. Mới 16 tuổi ông đã bỏ học mà nhào ra biển. Sau đó ông vào học trường hàng hải và trở thành một thủy thủ thành thạo. Đã hai lần ông suýt chạm đến cực Nam (một lần đi cùng thuyền trưởng Scott) nhưng bị thời tiếtkhắc nghiệt đánh bật trở lại. Bây giờ ông muốn là người đầu tiên băng qua lục địa Nam cực băng giá. Nhưng trước hết ông cần một đội tàu cái đã. Chuyện kể rằng ông cho đăng một mẩu rao vặt trên báo: 48 Phía trước họ là chuyến đi liều lĩnh băng qua hầu hết những nơi hung hiểm nhất Trái đất. Một chuyến đi mà chưa ai từng thử. Bến cuối cùng trước khi đến Nam cực là hòn đảo nhỏ South Georgia. Vào tháng Mười hai, Endurance tiến vào vùng nước lổn nhổn băng phản phúc của biển Weddell. Vật lộn để vượt qua những khối băng lạnh giá chả phải vui vẻ gì. Trong mấy tuần liền họ cố tìm một luồng không vướng để đi qua những tảng băng trôi không lúc nào ngừng. Nhưng mọi cố gắng đều thành công cốc. Rồi đến ngày 19 tháng Giêng năm 1915 thì tai họa giáng xuống. Tàu Endurance dính cứng vào một khối băng đúng một ngày trước khi họ đến bến đậu ở vịnh Vahsel. Chẳng mấy chốc nó đã bị đóng băng cứng, "như hạt hạnh nhân dính vào miếng kẹo bơ", một người trong bọn kể lại. Khi khối băng lôi Endurance đi xa bờ hơn nữa thì Shackleton biết là giấc mơ của ông đã không thành. Mùa hè đã sắp hết - không còn đủ thời gian để băng qua lục địa nữa, kể cả nếu họ có đến được đó. Họ đành phải qua đông trên băng rồi. Mới đầu thì con tàu còn đủ chắc chắn để mà ở. Nhưng được bao lâu? Khôngai biết cả. Một trong hai điều có thế xảy ra. Hoặc mùa xuân đến băng sẽ tan và con tàu được giải thoát hoặc những tảng băng chuyển động và bóp vỡ con tàu như vỏ trứng mỏng. (Tảng băng trôi là một phần của băng biển mà). Đến tháng Mười thì những dấu hiệu trở nên đáng ngại. Băng trôi bóp mạn tàu rầm rầm như sấm. Endurance bắt đầu vỡ ra từng mảnh ngay trước những 49 cặp mắt sửng sốt của mọi người. Những thanh gỗ của nó kêu ken két và vỡ vụn dưới sức ép rồi liên tiếp thủng hết chỗ này đến chỗ khác. Lúc nó bắt đầu nghiêng đi thì Shackleton đành ra lệnh rời tàu. Mọi người cố gắng cứu được cái gì hay cái ấy, trong đó có ba chiếc xuồng cứu sinh, và thế là họ dựng lều ngay trên băng. Hy vọng duy nhất của họ là băng sẽ đưa mình đến chỗ nào gần bờ, nếu không thì tương lai xem ra mờ hẳn rồi. Không có liên lạc vô tuyến nên không ai biết họ đang ở chỗ mô. Vài tuần sau, vào 21 tháng Mười một, Shackleton và người của ông buồn bã nhìn Endurance chìm xuống băng. Ác mộng trên biển Họ trôi dạt trên băng trong nhiều tháng. Nhưng đến tháng Tư thì thấy rõ là băng bắt đầu nứt ngay dưới chân họ. Bất kỳ kúc nào nó cũng có thể vỡ - như vậy là trại của họ không còn an toàn nữa rồi. Shackleton ra lệnh chuẩn bị xuồng cứu sinh - họ phải cố màvào được bờ, dù chuyến đi có hiểm nghèo đến mấy. Mà nó hiểm nguy thật. Họ phải đương đầu với những núi băng và những trận gió giật đùng đùng tưởng xé toang xuồng của họ đến nơi. Mọi người thay phiên nhau chèo. Đến cuối phiên, tay họ đóng băng cứng phải giật mãi mới rời được mái chèo. Đêm đêm họ cắm trại ngay trên băng trôi cho tới khi nó trở nên quá nguy hiểm. Một đêm băng chợt vỡ toác ra và một người bị rớt xuống biển lạnh giá trong túi ngủ của 50 mình. May mà ông này được Shackleton cứu thoát, nhưng họ đã được một bài học. Rốt cuộc họ ngủ luôn trên xuồng. Sau sáu ngày trời vất vả, cuối cùng họ cũng đến được một đảo đá tên là đảo Voi ở bán đảo Bắc Nam cực và tấp vào bờ đá phủ đầy băng tuyết. Đó là lần đầu tiên họ được đặt chân xuống đất trong 497 ngày liền. Nhưng họ cũng không mừng được lâu. Nếu cứ nằm ở hòn đảo heo hút này thì sẽ không có hy vọng gì được cứu. Chưa từng có ai đến gần hòn đảo khủng khiếp đó cả. Đã thế một mùa đông tồi tệ nữa lại sắp tới... Shackleton biết chỉ còn một lựa chọn cho họ mà thôi. Ông cần phải đi tìm người giúp. Lấy theo năm người, Shackleton lên đường trên một trong những chiếc xuồng cứu sinh. Đó là một việc làm cực kỳ mạo hiểm. Ông quyết định nhắm hướng South Georgia và trạm cá voi của nó, cáchđó khoảng 1.200km, qua những vùng biển bão táp nhất thế giới. Nhiều ngày liền họ phải chống chọi để giữ cho chiếc xuồng khỏi chìm trước những ngọn sóng khổng lồ và những cơn gió dữ tợn. Trời lạnh đến nỗi bọt nước bắn lên đóng thành một lớp băng dày trên xuồng. Bất chấp gió dập sóng dồi liên tục, họ phải liều mạng cạy băng ra, nếu không thì xuồng chỉ có chìm. Chống chọi lại với thời tiết chỉ duy nhất có một tấm bạt căng trên mũi xuồng. Nhưng ở bên trong thì quả là địa ngục. Chỉ vừa đủ chỗ cho ba người chui vào cùng một lúc. Mà nó còn ẩm ướt, tù túng và cực kỳ lạnh giá. Cứ như bị chôn sống vậy. 51 Bị cước, kiệt sức và ướt sũng, mà nước uống chỉ còn đủ cho hai ngày, mọi thứ tưởng không thể kéo lâu hơn được
316
4
nữa. Thế rồi, sau 17 ngày cực nhọc trên biển, bỗng có một cọng rong biển trôi qua - một dấu hiệu cho thấy đất liền đã rất gần! Nhưng chưa xong. Khi South Georgia đã thấy trước mặt rồi thì đột nhiên thời tiết trở xấu. Gió bão đẩy họ vào những vách đá dựng đứng đe dọa đập nát chiếc xuồng. Bằng một cố gắng ngoài sức tưởng tượng, họ đã đưa được xuồng vào một vịnh nhỏ. Chặng cuối Nhưng vẫn còn một trở ngại nho nhỏ - trạm cá voi nằm ở bên kia đảo. Chèo xuồng vòng qua thì quá liều. Chỉ còn một cách: phải có ai đó đi bộ sang vậy.Đó là một thử thách khủng khiếp đối với những người đã kiệt quệ chỉ còn một chút tàn lực cuối cùng. Theo đường chim bay thì trạm cá voi chỉ nằm cách đó 35km. Nhưng với họ thì xa chẳng khác gì lên trời. Trước đây chưa ai từng thử băng ngang qua đảo - hơn nữa lại không có một cái bản đồ nào xài được. Ngăn cách họ với trạm này là những ngọn núi lạnh giá với những sông băng vắt qua và những vết nứt sâu thăm thẳm chết người. Nhưng đó là sự mạo hiểm mà họ buộc phải chấp nhận. Ngày 19 52 tháng Năm, Shackleton lên đường cùng với hai người, một sợi dây, một búa đục băng và thực phẩm dự trữ ba ngày lèn trong những chiếc tất. Để tăng thêm độ bám, họ nhổ đinh của chiếc xuồng đóng thêm vào đế giày. Rồi suốt 36 giờ ròng rã đứt hơi, ba người bươn bả bò lên, ít khi dám dừng lại thở. Chỉ sẩy chân một cái là họ sẽ rơi xuống biển băng chết chắc. Cuối cùng, vào chiều ngày 20 tháng Năm, họ đã lần vào tới trạm cá voi. Bất chấp tất cả những không thể, họ đã làm được. Dơ dáy và hoang dại, Shackleton đến trước mặt người phụ trách trạm. "Tên tôi là Shackleton," ông nói. Thật may là họ đến vừa kịp lúc. Ngay đêm đó bão tuyết nổi lên và hẳn họ sẽ chết cóng nếu nó bắt gặp họ giữa đường. Cũng năm đó Skackleton đã đưa tàu ra đảo Voi cứu những người củamình còn kẹt lại. Lạ thay, tuy gian khổ là thế mà không một ai mất mạng. Thử thầy tí chơi Ernest Shackleton thừa sức trở thành một nhà giáo ưu tú. Ông sáng suốt, can đảm, lạc quan và là một thủ lĩnh bẩm sinh. Rõ là một người hùng! Bạn nghĩ sao, nghe có giống thầy giáo nào bạn biết không? Ông còn là một trong những nhà thám hiểm nổi tiếng nhất xưa nay. Nổi tiếng thế thì chắc thầy địa lý nhà bạn hẳn phải biết hết về ông đấy nhỉ. Không chừng thầy còn là chuyên gia trong lĩnh vực này nữa kia. Thử trắc nghiệm thầy một tí là biết ngay thôi. 1 Con tàu của Shackleton có tên là Endurance. Tại sao vậy? a. Đó là một truyền ngôn cổ của gia đình. b. Lấy từ vỏ bịch bột ngũ cốc. 53 CHẲNG NHẼ HỌ KHÔNG BIẾT BỤNG NO THÌ KHÔNG BƠI ĐƯỢC HAY SAO? A HA! MÌNH PHẢI ĐẶT TÊN CHO CON TÀU LÀ "GIÒN TAN" c. Đó là tên một trận hải chiến lẫy lừng. 2 Trên đường đi Nam cực, con mèo tên là Bà Chippy của tàu bị rớt xuống biển. Shackleton đã làm gì? a. Bỏ mặc nó chết cóng. b. Quay tàu lại tìm. c. Ném cho nó vài con chuột trên tàu. 3 Nickname của Shackleton là gì? a. Giày Xếp. b. Quần Đùi Cục Cằn. c. Ông Trùm. 4 Bố mẹ của Shackleton muốn ông làm nghề gì? a. Bác sĩ. b. Nhà thám hiểm. c. Bác sĩ thú y. 54 HỪM, MIỀN CỰC LẠC? MIỀN CỰC KỲ? MIỀN CỰC KHỔ?TIÊU CỰC? Trả lời: 1 a. Tuyên ngôn cổ bằng tiếng Latin của gia đình Shackleton là "Fortitudine vincimus". Câu này có nghĩa là "Chịu đựng để chinh phục" (endurance là nghiến răng chịu đựng mà). 2 b. Ngoài Bà Chippy, Shackleton còn mang theo 69 con chó. Đáng buồn là cả Bà Chippy lẫn đàn chó sau này phải hạ thủ hết để tiết kiệm thực phẩm dự trữ. 3 c. Shackleton là một thủ lĩnh bẩm sinh. Ông còn rất thông minh. Ông không bao giờ buộc người của mình làm những gì mà chính ông sẽ không chịu làm. Thành ra người ta theo ông đến cùng trời cuối đất. 4 a. Cha của Shackleton là bác sĩ nên chắc chắn muốn ông nối nghiệp nhà. 5 b. và c. Cuốn Trái tim của Nam cực thuật lại mưu đồ chinh phục cực Nam đầu tiên của Shackleton. Ông buộc phải quay lại khi chỉ còn cách đích có 160km. Phía nam là câu chuyện về chuyến đi bi tráng năm 1914-1917 của ông. Cả hai cuốn này đều là bestseller. Có một điều chắc chắn. Chọi nhau với băng giá dữ dằn là một việc làm mạo hiểm. Nếu tàu của bạn không bị bóp nát bét thì bạn vẫn có thể chết vì thức uống đông lạnh. Hãy tự coi mình là may mắn đi. Bạn lúc nào cũng có thể lủi nhanh vào nhà kiếm thứ gì nong nóng mà uống trong khi sưởi ấm đôi chân lạnh cóng. Mọi thứ khó nhằn mà bạn tính đương đầu sẽ bị bỏ lại ngoài trời giá rét. 5 Trong các sáchsau thì cuốn nào do Shackleton viết? a. Miền cực lạnh giá. b. Phía nam. c. Trái tim của Nam cực. 55 CUỘC SỐNG NƠI BĂNG GIÁ Nhiều người cứ tưởng mình cứng cựa lắm. Chắc bạn cũng từng gặp mấy vị hảo hán như vậy rồi. Giữa mùa đông, trong khi bạn quấn đầy người như xác ướp Ai Cập thì họ ăn mặc phong phanh và luôn mồm kêu nực. Nhưng liệu họ có cứng cựa thật không? Sẽ ra sao nếu nhiệt độ là â-â-âm 200C? Và sẽ ra sao nếu nó đi kèm với bóng đêm tịt mít, cả gió thổi tê xương nữa? Thực ra đó là điều kiện tiêu chuẩn của miền cực đấy. Chắc chả có gì sống ở cái rốn băng giá của Trái đất ấy mà không chết cóng đâu nhỉ? Cũng lạ là hàng trăm loài động thực vật lại chọn miền cực lạnh ngăn ngắt làm chốn nương thân mới kinh chứ. Làm thế nào mà chúng tồn tại được ở cái nơi nghiệt ngã ấy? CẢNH BÁO SỨC KHỎE KINH DỊ Một vài loài thú kiểng ở đây dữ ra phết đấy, nhất là lúc chúng đói. Vì vậy nếu bạn tính dạy chúng xách dép hay lấy điều khiển từ xa giúp thì CHỚ DẠI! Với lại con gấu trắng kiểng của bạn sẽ cần một nơi xinh xắn thật lạnh để ở, tốt nhất là bên ngoài nhà. Nếu bạn giữ nó trong nhà thì phải tắt hết hệ thống sưởi đi. Nếu ấm quá là nó chết đấy. Tiệm thú kiểng miền cực Có phải bạn là một nhà địalý cô đơn? Có phải bạn đang tìm kiếm một người bạn nhỏ để chúi vào với nhau trong những đêm miền cực lạnh buốt? Hãy đến cửa hàng Thú Nuôi Miền Cực. Xin bảo đảm là không có những con thỏ lông lá xác xơ hay cá vàng ngu ngốc đâu... 56 Cá băng có chất chống đông trong máu giống như thứ người ta đổ vào xăng xe trong mùa đông ấy. Cái đó giúp con cá cổ quái không bị đông cứng mà chết. Độc chiêu đấy chứ, hả? Mà lỡ có quên cho ăn cũng không phải lo. Nó vẫn đói luôn ấy mà. Trong đại dương băng giá đôi khi cũng khó kiếm được cái ăn. Thành ra cũng chẳng có gì lạ là loài cá câm lặng này sẽ đớp bất cứ thứ gì, kể cả chỉ có một nửa cơ hội. CÁ BĂNG MÊ HOẶC MÔ TẢ: MỘT LOÀI CÁ TRONG SUỐT CÓ RĂNG CỰC TO, MÕM LỚN, MẮT TO THÔ LỐ, TRÔNG NHƯ CON MA CÁ. KÍCH THƯỚC: NUÔI CÁ NÀY BẠN CẦN CÁI BỂ THẬT LỚN VÌ
317
4
cẩu trồi lên thở thì nó bợp cho một phát vào đầu. Ngon! Cái mũi thính của gấu có thể đánh hơi thấy hải cẩu xa cả cây số, kể cả vùi mình trong băng. Huấn luyện gấu cực ở nhà. Nếu bạn có gan. Chúng có những thói quen kinh dị lắm, thật đấy. Khi không có nhiều đồ ăn bên mình thì chúng sẽ vào phố lục lọi thùng rác nhà người ta. Ở Churchill, Canada, lũ gấu cực trộm vặt làm phiền bà con không ít, thành ra người ta phải vây bắt chúng mà nhốt vào tù dành cho gấu cực! Mấy tên thường xuyên tái phạm thì họ phải bắn thuốc mê rồi đem trực thăng chở đi. Chúng được đưa đến một nơi an toàn thật xa thành phố. 63 Sự thật kinh hoàng Ở Nam cực chả có con gấu cực nào. Thực ra ở đó chả có con thú trên bờnào lớn cả. Ở đó quá lạnh với chúng. Con vật sống quanh năm ở đó lớn nhất là một loài ruồi nhuế nhỏ xíu. Loài côn trùng bé tẹo này chỉ dài có 12mm - tức là bằng này: Nếu bạn còn thắc mắc thì sở dĩ nó không có cánh vì chả để làm gì khi trời cứ gió như điên. Ngay cả những con ve bé tí (là một họ hàng gần của loài nhện) cũng sống trong lỗ mũi con hải cẩu... Giá chúng được huấn luyện để ngoáy mũi thì hay biết mấy. • Đừng có thấy bề ngoài chúng xinh xẻo mà tưởng bở. Mấy con gấu con mà chẳng dễ thương sao? Nhất là trên thiệp Giáng sinh. Nhưng bề ngoài dễ lừa người lắm. Bây giờ thì trông chúng mắt huyền mũm mĩm, nhưng cũng giống như chó con mèo con, chúng sẽ lớn nhanh lắm. Và chỉ vừa chập chững biết đi là nó đã bắt đầu tập săn mồi rồi. Cho nên nếu bạn định vuốt ve một con gấu cực con thì chuẩn bị tinh thần bị đợp vài miếng. Úi! 64 MỎ NHỎ ĐỂ TRÁNH MẤT NHIỆT BỘ LÔNG DÀY CHỐNG GIÓ VÀ CHỐNG THẤM NƯỚC LỚP MỠ DÀY BỌC ẤP TRỨNG CÁNH DÙNG NHƯ MÁI CHÈO ĐỂ BƠI (TUY KHÔNG BAY ĐƯỢC NHƯNG CHÚNG BƠI THÌ KHỎI CHÊ) CHÂN NHỎ ĐỂ TRÁNH MẤT NHIỆT. T-t-t-óm lấy một con chim cánh cụt Nếu bạn không đủ chỗ nuôi gấu cực, còn ve chỉ tổ làm bực mình thì sao không t-t-t-óm lấy một con chim cánh cụt thế vào. Bây giờ bạn đang nghĩcánh cụt là loài chim ngộ nghĩnh và trông như đang đóng bộ cánh bồi bàn trong những nhà hàng sang trọng. Và dĩ nhiên là bạn đúng. Nhưng khi nó dám sống ở một nơi lạnh kinh người như vậy thì lũ chim cánh cụt to gan đó hẳn không phải tầm thường. Lấy chim cánh cụt Hoàng đế làm ví dụ. Cơn lạnh đột ngột chả là gì với chim cánh cụt Hoàng đế. Chúng rắn mặt hơn nhiều. Thực ra chúng thấy trời lạnh là khỏe người nên chúng trụ lại Nam cực vào đúng mùa đông, khi mà khí hậu trở nên tệ hại nhất. Con cháu chúng cũng được sinh ra ở đó. Hãy tưởng tượng mình là một chim cách cụt Hoàng đế con. Liệu bạn có sống sót không? 65 XIN CHÀO! CÓ AI NGOÀI ĐÓ KHÔNG? NÓNG QUÁ XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO LẠNH THẾ! Liệu bạn có thể là một con chim cánh cụt 1 Nếu bạn bắt đầu cuộc đời bằng một quả trứng to cỡ 12cm, chiều dài mà mẹ bạn đặt ngay trên đôi chân của mình. Rồi bà ấy chuồn. Bà ấy ra biển bắt cá trong khi bố bạn ở nhà trông nom quả trứng. 2 Bố bạn giữ bạn trên đôi chân của mình và ủ lên trên một tấm mền da lót lông. Tấm mền đó gọi là bọc ấp trứng, nó giữ cho trứng ấm áp dễ chịu. Nếu nó bị rơi ra mặt băng thì quả trứng sẽ hỏng ngay. 3 Còn bố bạn thì đã 60 ngày đêm không ănmà cứ đứng ngay giữa trời. Ngay cả dù nhiệt độ có xuống -400C và bị bão tuyết vùi dập. Ông ấy dũng cảm nhỉ? Nhưng không chỉ có bố bạn. Ông cùng hàng nghìn ông bố khác xúm xít cả vào một chỗ để giữ ấm. 4 Bạn nở ra giữa mùa đông. Brrr! Bố bạn ẵm bạn trên chân mình cho đến khi bạn được 8 tuần tuổi. Lúc đó chân bạn đã phủ một bộ lông dày để giữ ấm cho mình được rồi. 66 ĐI ĂN! BRRRR! MÓN RAU TRỘN NHÃO NHOẸT Ở TRƯỜNG MỘT CON SÂU VẶN VẸO CHÉN RAU. BẠN KHÔNG ĐỂ Ý... BIẾT RA THÌ ĐÃ MUỘN. BẠN ĐÃ XƠI CON SÂU. ÚI! 5 Ông bố quý hóa của bạn đã không ăn uống gì mấy tháng rồi nên gầy nhẳng, chỉ còn da bọc xương. May mà mẹ bạn vừa về tới. Đúng lúc quá đi mất. Ông bố đói lả của bạn dông thẳng ra biển để kiếm gì đó ăn cho lại sức, còn mẹ bạn thì ợ ra vài con cá cho bạn chén. Sướng. 6 Đến giữa mùa hè bạn đã đủ lớn để tự săn sóc mình. Bạn rời nhà ra biển kiếm ít cá. Nhưng nhớ coi chừng những con hải cẩu đốm rình rập ở mép băng. Món khoái khẩu của chúng là, biết gì không? Đúng lắm, chim cánh cụt non. Cuộc sống miền biển cực Bạn phải thật cứng cựa mới sống nổi trên bờ ở miền cực, nhưng dưới lòng biển miền cực thì khác. Tuy nước lạnh cắt da nhưng sự sống vẫn cứ sôi sùngsục. Đó là bởi ở đó có nhiều thức ăn cho những sinh vật miền cực háu đói. Loài vật dưới biển được xâu vào với nhau thành chuỗi thức ăn. Đó là cách các nhà khoa học kinh dị mô tả mối liên hệ giữa những loài vật và các thứ chúng xơi. Hầu hết các chuỗi thức ăn đều bắt đầu từ thực vật. Một chuỗi thức ăn điển hình có dạng đại để như dưới đây: 67 Nhật ký bí mật của Văn Tép Một chuỗi thức ăn ở Nam Băng dương đại để là thế này: TẢO NHỮNG SINH VẬT ĐƠN BÀO NHỎ XÍU CON TÉP CÁ VOI XANH NHỮNG CON TÔM NHỎ SỐNG NHỜ TẢO ĐỘNG VẬT LỚN NHẤT XƯA NAY (CHẤP CẢ KHỦNG LONG CỦA CÁC BẠN NỮA ĐẤY) KHOÁI ĂN TÉP. Nhật ký bí mật của một con tép Tép là những sinh vật giống như tôm nhỏ màu hồng dài nhiều lắm là 5cm. Một con mồi nhỏ xíu. Vì vậy bạn có thể nghĩ phải có nhiều tép khủng khiếp lắm mới đủ cho một con cá voi xanh. Thì đúng là thế. Cá voi xanh mà ăn uống thì phải nói là hoành tráng lắm. Chúng có thể xơi chừng BỐN TẤN tép... MỖI NGÀY. Thử nghĩ ăn chừng ấy đồ ăn ở trường xem! Mà không chỉ có chúng. Những con chim biển tham lam, rồi chim cánh cụt, hải cẩu và cá cũng chén tép thật lực. Vậy thì bạn cũng thấy tép có vai trò quan trọng sống còn thế nào trong chuỗi thức ăn vùng cực. Nhưng bản thân anh tép nhàta thì sao? Ý tôi là bị thiên hạ đổ xô vào chén suốt ngày suốt đêm thì nào có vui vẻ gì. Vậy nếu anh bạn tép mà lén ghi nhật ký thì sao nhỉ? (OK, chỗ này bạn phải chịu khó vận dụng trí tưởng tượng một chút nhé...) 68 TÔI ĐANG CHÉN! ĐỒ DU CÔN! Nam Băng dương, giữa mùa hè 1 giờ chiều. Vào giờ ăn trưa mình bơi lòng vòng với cả đàn lo việc của riêng mình. Cảm thấy đói bèn dừng lại lót dạ tí tảo băng ngon lành. 1.10 chiều. Hả? Vừa mới định đớp một miếng thì một con cá voi xanh tò tò bơi qua. Nó
319
4
há cái mõm rộng hoác. Sao nó không ăn con gì vừa tầm một tí? Mà ở đâu ra cái kiểu ăn bất lịch sự thế chứ. Chúng vừa bơi vừa ngoạc mồm ra (không sợ người ta cười cho à?) 1.20 chiều. Bị hốt vào cái họng to uîch, đúng là đồ du côn. May mắn chuồn ra ngoài cùng với mấy đồng đội, nhưng những kẻ xui xẻo thì bị tách ra khỏi nước. Bữa ăn của cá voi. Chạy đàng nào cho khỏi. Phải, làm tép thật chả vui vẻ gì đâu, xin cam đoan với mọi người thế. Phải có cả mắt đằng sau ót nữa. Cùng ngày... 3.00 chiều. Aaaaá! Mình lại ra đó. Nó sắp tóm được mình rồi. Và cái mồm to bự lại hớp nước. Mẹ ơi! Vài phút sau... Ghi chú: Đáng buồn thay, đó là những dòng cuối cùng trong nhật ký của Văn Tép. Lần này thì may mắnđã ngoảnh mặt đi. Cá voi xanh liệu có động lòng? Nó cứ chén thôi! Chả phải nó thì còn khối cá khác dưới biển. 69 Tép bơi thành từng đàn lớn, phải cả mười triệu tấn mỗi đàn. Những đàn này lớn đến nỗi radar tàu còn phát hiện được, thậm chí cả vệ tinh ngoài không gian cũng thấy. Các nhà khoa học cho rằng có khoảng 600 triệu triệu tép ở Nam Băng dương (tức là gấp cả một trăm lần người trên Trái đất). Thành ra làm gì mà cá voi chả vơ được một bữa. Cảnh báo sức khỏe kinh dị Thích chén một đĩa xúc xích và khoai tây chiên chứ? Xúc xích tép mà khoai tây chiên cũng tép luôn ấy mà. Rồi bánh kẹp tép và phô mai kem? Không tin thì thôi chứ các món tép là người ta khoái khủng khiếp luôn đấy. Phiền một cái là bạn phải chộp thật nhanh - tép nó nhảy như... tép nhảy ấy. Phù! Thực vật miền cực gan góc Hầu hết cây cỏ đều ưa tiết trời nắng ấm với chút mưa rào nhẹ. Đó là điều kiện lý tưởng để cây phát triển. Điều kiện mà bạn chả bao giờ có ở miền cực. Có thể bạn nghĩ rằng với điều kiện lạnh, khô và gió như thế thì thực vật miền cực chỉ có héo rũ mà chết. Nhưng lạ thay một số loài cây vẫn xoay xở mà sống ở đó được đấy. Thật xấu cả hổ cho tất cả thực vật ở đây nếu có cây nào tính chuyện dời đi nơi khác vì:70 CẬU CÓ HÒN ĐÁ ĐẸP GHÊ! TỚ THÍCH LẮM! A, KEM MÂM XÔI! 1 Đừng áy náy về đất. Một số loài tảo (những thực vật đơn bào nhỏ xíu) Nam cực có một ít lông để bơi trên tuyết. Bằng cách đó chúng mới đến được chỗ có nắng cần thiết để tạo ra thức ăn. Và để tránh cho cơ thể bị đóng băng, chúng tạo ra một loại chất chống đông. Ở một số nơi tảo còn biến hình thành kem mâm xôi gợn sóng. Việc chuyển màu đỏ của cây gần giống như bôi kem chống nắng vậy, nó giúp cho cây tránh bị cháy nắng dưới ánh mặt trời chói chang miền cực. Giỏi đấy chứ, nhỉ? 2 Ăn uống chớ quá kén chọn. Địa y là loài cây lý tưởng của miền cực vì chúng thậm chí xơi cả đá hộc trần xì. Địa y tạo ra acid làm rã vụn đá ra. Sau đó chúng cắm những "cái rễ" nhỏ xíu vào để hút hết những gì có trong đá. Chúng dùng những thứ đó tạo ra thức ăn. Các loài địa y khác thì sống trên phân hải cẩu hoặc chim cánh cụt vương vãi trên vách đá. Dễ thương ghê! 3 Học cách sống ở bất cứ đâu. Một vài loài tảo Nam cực sống ngay trong tảng đá. Những thực vật cầu kỳ này chuộng loại đá màu tối hấp thụ nhiều nhiệt của mặt trời. Nó lại còn không bị gió quất nữa chứ. Tảo chui vào đá theo những khe nứt bé xíu. Nó duy trì sự sống nhờ ánh sáng rọi quanhững hạt trong suốt trong đá. 71 Nhưng mấy con chim cánh cụt ngốc nghếch, cá voi dềnh dàng và cây cối tí hin không phải là những thứ khác thường duy nhất của sự sống hoang dã mà bạn tìm thấy ở miền cực. Một số người cũng thấy điều kiện vùng cực là khỏe người đấy. Họ điên hẳn rồi hay chẳng qua họ quấn quá ấm? Sao không nhòm thử vào chương sau để gặp vài người như vậy? BẮT CHƯỚC TÔI HẢ? 4 Mọc càng chậm càng tốt. Đó là cách địa y sống sót qua cái lạnh khủng khiếp. Ở miền cực băng giá cả năm may ra mới có một ngày nắng đủ ấm để mà lớn. Thành thử một mảng địa y to bằng cái lá bắp cải cũng phải có hàng trăm năm tuổi. Ngay cả mấy lá rau già nhất trong bữa ăn ở trường cũng chưa già bằng thế! 5 Nở hoa mùa đông - quên đi. Lúc đó vừa lạnh vừa tối thui. Nhưng khi mùa xuân đến thì hoa miền cực nở rộ. Chúng phải làm mọi chuyện thật nhanh để kịp rải hạt ra trước khi cơn lạnh năm sau ập đến. 6 Cúi thấp xuống. Cây cối miền cực không cao và cành lá lòa xòa như những cây bạn thường thấy đâu. Thực ra nó thấp đến nỗi bạn bước qua ngọn của nó được. Những loại cây như liễu Bắc cực mọc rất thấp và khẳng khiu để tránh gió. Giống như cây địa y già lão, chúng cũng mọc rất chậm. Một cây liễu to bằng cây bút chìcũng phải vài trăm tuổi. (À mà Nam cực thì chả có cây thân gỗ nào đâu). 72 Nhưng không có ai thường trú ở Nam cực cả - nó quá cóng. Nhưng chút xíu nữa bạn có thể đụng một vài nhà khoa học Nam cực điên rồ. A TAXI DÂN CƯ MIỀN CỰC LẠNH GIÁ Cuộc sống ở miền cực với gấu trắng có thể là sướng. Nhưng mà con người thì sao? Cũng lạ là có những người rắn mặt lại chọn sống gần Bắc cực, bất chấp điều kiện khắc nghiệt kinh người ở đó. Vậy thì làm thế nào những cư dân miền cực chịu đựng nỗi kiểu sống băng giá ấy? Còn ai đáng để hỏi hơn dân Inuit bản địa ở Bắc cực. Họ sống trên băng suốt cả cuộc đời. Cư dân miền cực Người Inuit chủ yếu sống ở Alaska, bắc Canada và Greenland băng giá. Trong tiếng Inuit, tên gọi "inuit" nghĩa là "người". Từ bao đời nay người Inuit đã lang thang khắp Bắc cực đánh cá và săn thú kiếm ăn. Cuộc sống của họ xoay vòng theo sự thay đổi mùa. Mùa hè họ săn hải cẩu, cá voi và con moóc ở gần bờ và dự trữ thức ăn cho mùa đông. Mùa đông họ chuyển lên bờ săn tuần lộc (hươu sừng tấm). Người Inuit trông vào đất và biển để có mọi thứ họ cần và hết sức trân trọng xứ sở băng giá của mình, cố gắng không làm tổn thương nó. Vậy thì người Inuit làm điều đó như thế nào? Bạn đã sẵn sàng tìm hiểu xemhọ sống sót thế nào chưa? Nếu bạn có dự định đến thăm người Inuit thì phải cẩn thận. Có thể bạn nghĩ rằng mình có 73 THƯA CÔ, EM CHƯA LÀM Ạ. QARASAASIAQ CỦA EM TỐI HÙ À. Liệu bạn có cần đi bác sĩ không nhỉ? Trả lời: Không cần đâu, chả có chuyện gì với bạn cả. Qarasaasiaq trong ngôn ngữ Inuit là máy tính. Nó là tập hợp của bốn từ "óc nhân tạo nhỏ". Nếu người Inuit không có một từ nào thì họ chỉ việc tạo ra nó. Bạn có uống trà với đường không? Nếu cần đường thì hãy xin họ cái thứ "trông giống cát" là xong. Giỏi đấy chứ nhỉ? quá nhiều bài về nhà mà quá ít tiền tiêu vặt là căng lắm. Ít ra thì bạn không phải lo bị đông cứng mỗi lần lò dò ra ngoài. Cuộc sống ở Bắc cực thì cực ơi là cực. Người Inuit biết rõ băng giá như trong lòng bàn tay và họ là những tay cự phách đã sống sót ở miền cực. Tuy vậy chỉ sơ sẩy một bước là họ - và cả bạn nữa - đứt bóng như chơi. Nếu bạn muốn học cách sống của người bản địa thì sao lại không ngó qua cuốn Hướng dẫn thiết yếu để sống sót ở miền cực của người Inuit xem sao. Nó chứa đầy những bí quyết và mẹo vặt giữ gìn sự
320
4
sống. Thử hỏi cô Gloria mà xem - cô ấy chả bao giờ ra khỏi nhà mà không cầm nó theo. Ghẹo thầy một chút Nếu chẳng may cô giáocủa bạn lúc nào cũng tỏ vẻ ta đây biết nhiều ngoại ngữ thì làm sao? Chán chứ gì? Thử mấy câu gãy lưỡi để trả đòn nhé. Khi cô giáo hỏi đến bài làm về nhà thì bạn hãy nhoẻn miệng cười mà rằng: 74 Bài học vỡ lòng về sống sót ở miền cực lạnh giá của người Inuit Bài 1. Mặc gì Nếu bạn lên đường đến miền cực lạnh giá thì bạn cần mặc cho đúng điệu. Nhưng quên những kiểu cọ vớ vẩn đi. Phải giữ được ấm cái đã. Và tôi e là mặc thêm áo len vào cũng không ăn thua gì đâu. (Kể cả cái áo bà ngoại bạn đan tặng nhân Giáng sinh). Bạn cần mặc thành nhiều lớp quần áo mà vừa giữ được hơi ấm ở lớp sát da vừa thoát được mồ hôi (Nếu không thì mồ hôi thoát ra làm da bạn cóng đấy). Muốn thực sự ấm áp và thoải mái thì hãy xem dân bản địa ăn mặc thế nào. Kiểu cọ gì cũng phải theo họ hết. Dưới đây là là thứ xịn nhất. Đây là trang phục truyền thống của người Inuit mà họ đã mặc hàng trăm năm nay. Ngày nay nhiều người Inuit đã mặc theo lối hiện đại mua ở một công ty tên là Vịnh Hudson, không thì mua qua mạng cũng được. NGON THẬT! Sự thật rúng động Áo có mũ trùm thực ra không phải là thứ tầm thường như bạn tưởng đâu. Trong tiếng Inuit từ annuraaq là để chỉ một loại áo khoác xịn lắm đấy - mà đương nhiên cũngrất ấm nữa. 75 ÁO KHOÁC DA TUẦN LỘC: Mặc lớp lông ra ngoài. Da thú là ấm cực kỳ và chống gió cũng tốt. Mặc thêm một chiếc áo chẽn da hải cẩu hoặc lông chim mỏng hơn ở bên dưới mà lớp lông lồng vào phía trong. MỘT MIẾNG LÔNG CÁO HOẶC CHÓ SÓI VIỀN QUANH MŨ TRÙM: Tránh cho hơi thở không làm cóng da bạn. QUẦN DA GẤU BẮC CỰC: Mặc lớp lông ra ngoài. Nhét ống quần vào trong giày để tránh gió lùa. Mặc thêm một chiếc quần da hải cẩu hoặc cáo mỏng hơn bên dưới và mặt lông quay vào trong. GIÀY: (Da hải cẩu) mang với một đôi tất (vớ) bằng da cừu hoặc hải cẩu, mặt lông quay vào trong. Nếu quá lạnh thì có thể mang một lúc mấy đôi giày lồng vào nhau. BAO TAY DA HẢI CẨU: Bạn có thể rút cả bàn tay vào trong tay áo để ngón tay khỏi bị cước. 76 Giày ra giày Nếu bạn cần một đôi giày tập bạn chỉ việc chạy ra cửa hàng giày. Dễ như bỡn. Nhưng ở Bắc cực băng giá thì chả có sẵn tiệm giày thế đâu. Thế là những người Inuit khéo tay kinh khủng bèn tự làm lấy hết thảy trang phục của mình theo truyền thống lâu đời. Lá gan bạn lớn cỡ nào? Bạn phải có đủ gan cho một chút tiếp theo ở đấy. Bạn sắp sửa được biết người Inuit làm giày da hải cẩu cho mình thế nào. Ghi chú: Trước đây, hàng triệu hải cẩu đã bị bọn săn hải cẩuqui mô lớn giết để làm áo lông. Nhưng giờ đây việc này đã được kiểm soát nghiêm ngặt. Riêng người Inuit thì được phép săn hải cẩu vì họ cần thịt và lông hải cẩu để sống chứ không săn hải cẩu cho vui hay vì bộ lông đắt tiền. 1 Trước tiên người Inuit phải bắt được hải cẩu cái đã. Việc này không phải dễ xơi đâu. Phần lớn thời gian, hải cẩu ở dưới nước, ngay dưới lớp băng. Nhưng được cái người Inuit thì rành vụ này. Họ biết chính xác đâu là cái lỗ bí mật mà hải cẩu ngoi lên thở. Bằng cách nào? Thì họ tìm vết răng gặm vào băng hoặc ngửi ra mùi rất nặng của hải cẩu. 2 Họ chờ bên lỗ thở, tay lăm lăm cây lao. (Ngày nay người Inuit hầu hết dùng súng trường. Dở một cái là nếu bắn hụt thì tiếng nổ lớn sẽ xua hải cẩu chạy hết). Họ cần phải kiên nhẫn. Rất kiên nhẫn. Có khi phải chờ hàng giờ hải cẩu mới ngoi lên thở. 77 3 Khi hải cẩu trúng lao thì người Inuit lôi nó lên và lột da và xẻ thịt. Người Inuit thích thịt hải cẩu, bất kể đã nấu hay chưa. Lòng hải cẩu sấy khô là là món đặc sản khoái khẩu của họ. Thực ra miếng thịt hải cẩu duy nhất bạn không thể chén là cái túi mật mỡ màng. Còn lại thì đem đông lạnh dự trữ cho mùa đông. 4 Da hải cẩu lột ra sẽ được lóc mỡ bằng dao. (Người ta không quăng chỗmỡ này đi đâu - nó được dùng làm dầu thắp hoặc đốt bếp). Người làm giày Inuit cố không khía vào da, sau đó họ ngâm vào nước tiểu, phải rồi, nước tiểu, qua đêm để nó sạch sẽ và bền hơn. Bước tiếp theo là giũ và căng ra phơi cho khô. 5 Chỉ đến bây giờ họ mới có thể bắt tay làm đôi giày của mình. Họ đo chân (cả bàn chân và ống chân) bằng một mẩu dây. Sau đó cắt từ da hải cẩu ra hai cái đế và hai mũi giày. Da hải cẩu cứng hơi khó khâu nên họ phải cắn một lúc cho mềm ra. Rồi họ khâu giày vào. Trước đây người Inuit dùng kim bằng xương hải cẩu và chỉ bằng gân hải cẩu để khâu giầy da hải cẩu. (Ngày nay họ dùng tơ và chỉ nha khoa thay thế!) 6 Họ gập cổ giày lại và khâu đường luồn dây. Đến đây thì đôi giày đã sẵn sàng. 78 TÔI DÀNH LOẠI NÀY CHO THẦN SEDNA. Hồn hải cẩu Một điều mà người Inuit không bao giờ quên là cám ơn thần biển Sedna đã cho họ săn được hải cẩu. Họ tin rằng thú cũng có linh hồn chả khác gì người. Nếu bạn không tỏ lòng kính trọng hải cẩu thì Sedna sẽ nổi giận ngay. Như vậy chả có gì hay ho cả. Truyền thuyết nói rằng khi Sedna nổi giận thì tóc bà xỉn màu bẩn lắm và hải cẩu chui hết vào đấy, chả còn con nào ở ngoài mà săn cả. Nếu điều đó xảy ra thìmột người Inuit sẽ phải lên đồng và vào hang ổ của thần Sedna cáu kỉnh để chải đầu cho bà để kéo hải cẩu ra. Đầu mà bẩn thì lắm chuyện thế đấy. Bài 2: Ăn gì OK, vậy là bạn đã có trang phục miền cực rồi, bây giờ ăn thế nào đây? Bắc cực lạnh ghê răng, làm gì có cây trái nào mọc nổi, thành ra người Inuit chủ yếu chỉ ăn thịt, mỡ và cá. Thế mà bạn bảo bữa ăn ở trường chán phèo! Thực ra bữa ăn kỳ cục của họ bổ dưỡng kinh khủng, cung cấp đầy đủ những vitamin thiết yếu (khác hẳn bữa ăn ở trường). Sau một ngày đi săn, người Inuit về mở tiệc để chia các thứ họ kiếm được. Và biết gì không? Phải rồi, bạn cũng được mời đấy. Thực đơn bữa tiệc Inuit Khai vị • Một lô món chấm thượng hạng Ăn cùng với những lát thịt hải cẩu hoặc tuần lộc khô đông lạnh. 79 MÓN NÀY ĐƯỢC CÁI HAY LÀ CÓ CẢ TĂM! DỄ THƯƠNG! Món chấm 1. Những mẩu thịt nạc mềm của hải cẩu hoặc tuần lộc trộn với tiết và mỡ nước. Gia thêm lòng gà gô xám. Món chấm 2. Những thỏi mỡ phần của hải cẩu hoặc cá voi ướp lạnh cho khô quánh lại. Món chấm 3. Phèo tuần lộc (còn nguyên thức ăn tiêu hóa dở). Còn sót tí cỏ rả nào thì nhặt ra. Món chính • Kiviak: Là một loại xúc xích cuộn khoanh ngon lành. Đây là món đặc sản ở Greenland, phàm là đám cưới thìkhông thể thiếu. Dưới đây là cách làm nếu bạn thấy thèm: Nguyên liệu: • Khoảng 300 con chim anca nhỏ (một loài chim nhỏ ở vùng biển Bắc cực) • Một tấm da hải cẩu còn dính mỡ.
321
4
Cách làm: 1 Nhồi chim vào tấm da hải cẩu rồi khâu lại. 2 Chôn nó trong đống đá và cứ để kệ nó thối. 3 Chờ trong sáu tháng, sau đó đào lên. 4 Nếu có mùi thum thủm như phô mai thối là ăn được! Ghi chú: Món này ăn bốc, nếu có lông, xương hay mỏ chim dắt vào răng thì móc ra. 80 Cảnh báo sức khỏe kinh dị Nếu bạn thích gan và hành thì cần lưu ý đó không phải là gan gấu trắng Bắc cực. Nó chứa quá nhiều vitamin A, có thể gây chết người. Những món phụ • Da kỳ lân (một loài cá voi) thái sợi Món nhấm nháp ngon, có vị hạnh nhân • Óc hải cẩu nghiền Ăn nóng. • Địa y dầm Mổ dạ dày tuần lộc lấy ra ăn. Tráng miệng • Món tuần lộc lạ miệng Quên ngay những kem với trái cây các thứ đi. Món này cay cay hăng hăng làm từ máu tươi còn nóng trong dạ dày tuần lộc mới mổ. Không lạ miệng không lấy tiền! Bài 3: Tìm chỗ trú Ngày nay nhiều người Inuit sống trong những ngôi nhà gỗ nhỏ giữa các thị trấn. Theo truyền thống thì họ sống trong những chiếc lều da hải cẩu vào mùa hè, còn mùa đông thì trong những ngôi nhà bằng đất và đá xây ngầm.Nhưng nếu bạn đang đi săn mà bất chợt bão tuyết nổi lên thì sao? Bạn cần một chỗ trú ấm áp, kín gió cho một vài đêm, nhưng chả có gì ngoài tuyết trong vòng mấy dặm quanh đấy cả. Đừng hoảng, đâu có đó. Dưới đây là cách làm một cái lều tuyết thông dụng bậc nhất của người Inuit. 81 THẾ NÀY MÀ LÀ TỔ À? CỨ THẾ NÀY CÒN LÂU MỚI TÌM ĐƯỢC GIUN. CỨ THẾ NÀY ĐẾN TẾT CŨNG CHẢ BAY LÊN ĐƯỢC 3. Xếp mấy cục tuyết thành vòng tròn, sau đó chất những cục khác lên theo đường xoáy trôn ốc cho thành hình một cái nhà. 2. Cắt lấy chừng 30 cục tuyết bằng cỡ cái va li. Nguyên liệu: • một con dao (làm bằng xương hoặc ngà của con moóc) hoặc cưa • một chỗ tuyết chắc Cách làm: 1. Nằm xuống tuyết, tay chân dang hết ra. Vẽ một vòng tròn quanh bạn bằng cách quơ chân tay lên xuống (giống như tập động tác nhảy ấy). 82 LỀU TUYẾT THÂN THƯƠNG Nói thêm: Tuyết là một vật liệu tuyệt vời để xây dựng vì nó giữ được nhiệt. Bên trong lều tuyết bạn sẽ cảm thấy ấm áp và thoải mái, dù bên ngoài có lạnh giá thế nào. Với lại một người Inuit từng trải chỉ mất chưa đến một giờ để đắp một lều tuyết xịn. Còn bạn nghĩ mình sẽ mất bao lâu? 4 Chặn cục cuối cùng lên nóc nhưng phải chừa lỗ để thông khí. 5 Trám những kẽ hở bằng tuyết. 6 Moi một cửa chui ra chuivào ở bên cạnh, thấp hơn mặt sàn (cho khỏi lọt khí lạnh) Người Inuit đã sinh sống ở Bắc cực từ hàng ngàn năm nay với những kỹ năng sống sót tuyệt vời của mình. Nhưng ngày nay cách sống của họ đã thay đổi. Nhiều người Inuit buộc phải bỏ lối sống du mục của mình để vào các khu định cư với những ngôi nhà tiện nghi. Có vài thứ cũng giúp cuộc sống của người Inuit trở nên dễ dàng hơn như siêu thị, súng trường và xe máy trượt tuyết. Nhưng cũng có những người lo ngại rằng lối sống truyền thống sẽ bị mai một. Và đó sẽ là một thảm họa khủng khiếp. Nhưng không phải tất cả đều ảm đạm tối tăm như thế: đã có những người Inuit đứng lên phản kháng. Năm 1999, một vùng lãnh thổ mới đã được thiết lập ở miền Bắc Canada tên là Nunavut, nghĩa là "Đất Ta" do người Inuit tự mình cai quản lấy mình. 83 KHI NÀO THÌ TA ĐẾN ĐƯỢC SÔNG BĂNG? Khoa học cực Nam Trong khi đó thì ở Nam cực mọi chuyện lại khác. Bạn biết đấy, ở đây quá lạnh nên không thể ăn đời ở kiếp mãi được. Nhưng đi nghỉ thì vô tư (hơi bị tốn nên bạn phải bắt đầu dành dụm đi là vừa, xem trang 113 để xem làm sao đến đó được), hoặc không thì bạn đến đó với tư cách là một nhà khoa học mà làm việc. Cũng lạ là có đến hàng ngàn nhà khoa học cùng đội ngũ hỗ trợ cố đấm ănxôi nằm lại Nam cực, bất chấp lạnh và gió. Vậy chứ vì sao họ lại lỳ thế? Chả là vì Nam cực là nơi tuyệt vời đến khó tin cho khoa học. Trước hết, đó là phòng thí nghiệm lớn nhất trên thế gian. Và không còn nơi nào khác giống như vậy. Nhưng đây không phải là thứ khoa học mà bạn học ở trường đâu - bạn thừa biết nó chán đến không mở được mắt thế nào rồi đấy. Không, loại khoa học ở đây là thứ chưa từng có trước đây. Nó hồi hộp kinh khủng luôn. Quên ngay những thí nghiệm tẻ ngắt và những ống nghiệm nhạt phèo đi. Khoa học ở đây là về những sông băng kỳ thú, những hóa thạch đóng băng lâu đời, những sự sống khác lạ và nhiều thứ nữa. Sướng chưa? Liệu bạn có thể trở thành nhà khoa học miền cực băng giá? Bạn có những phẩm chất cần thiết để làm việc ở vùng cực không? Thử trắc nghiệm nhanh xem thế nào nhé. 1 Bạn có sức khỏe và sức chịu đựng kinh hồn? Có/Không 2 Bạn có thích cắm trại? Có/Không 3 Bạn có lúc nào cũng thấy đói? Có/Không 4 Bạn đeo kính bảo hộ vào nhìn có rõ không? Có/Không 5 Bạn có dễ dàng lên đường không? Có/Không 6 Bạn có giỏi ngoại ngữ không? Có/Không 7 Bạn có ghét tắm không? Có/Không 84 TÔI CÓ RÂU MÀ CON CÚN CỦA TÔI CŨNG THẾ NGỨA CHẾT ĐI ĐƯỢC 8 Bạn có gọn gàng ngăn nắp không? Có/Không 9 Bạn có râu không? Có/Không Kết quảthế nào? 7-9 có: Chúc mừng! Bạn có vẻ ngon cơm đấy. Bạn sẽ là một chú học xuất sắc (ý là bác học ấy mà, hơ hơ) 4-6 có: Không tệ lắm. Nhưng có lẽ bạn nên làm gì đó không qu-úa la-ạnh. 3 có trở xuống: Trời đất! Khoa học miền cực không dành cho bạn rồi. Thử làm gì đó ít mạo hiểm một chút. Gì đó giống như bài địa về nhà của bạn ấy mà! OK, tất cả các bạn học có vẻ khá đấy và chắc các bạn nghĩ rằng mình ngon lành cho công việc rồi. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu thôi. Hãy xem lại xem bạn đưa mình vào đâu nhé... 1 Sức khỏe và sức chịu dựng hả? Bạn cần phải thế - có rất nhiều việc năng nhọc liên quan đến khoa học miền cực. Bạn sẽ được kiểm tra sức khỏe đến nơi đến chốn trước khi được phép lên đường. Là nhà thể thao thì tốt lắm. Leo núi đá đặc biệt có ích trong việc cứu người ở các khe băng. Coi chừng đừng rớt xuống nhé. 2 Khoái cắm trại à? Tốt nhất bạn hãy quen dần với việc này đi. Ở Nam cực, các nhà khoa học sống chủ yếu ở những trạm nghiên cứu. Một số trạm giống như một thị trấn nhỏ với những khu ở, các phòng thí nghiệm, nhà bếp, bệnh xá, thư viện, phòng tập thể dục và trạm phát điện riêng nữa. Có một trạm còn có cả chỗ chơi bowling mới 85 CHẾ NƯỚC VÀO ĐÊM QUA CÓ BÃO TUYẾT ĐẤYAI NÓI THẾ NHỈ? ghê chứ. Nhưng các nhà khoa học còn phải có những chuyến đi dã ngoại lạnh giá kéo dài hàng tháng trời nên cắm trại là việc không thể thiếu rồi. Tốt nhất nên mang theo một cái lều kim tự tháp vì hình dáng của nó chịu được gió mạnh. Nhưng chớ quên đánh dấu vị trí cắm trại của mình bằng một lá cờ. Cái đó là đề phòng có bão tuyết vùi lều trại của bạn xuống tuyết. 3 Lúc nào cũng đói à? Ở Nam cực bạn đốt nhiều năng lượng để giữ ấm. Đó là chưa kể những công việc nặng nhọc mà bạn phải làm. Vậy nên bạn phải ăn cho nhiều vào. Trong
322
4
nghĩ rằng họ bị bọn cướp biển bắt cóc hoặc chết hết vì dịch bệnh. Thế nhưng các chuyên gia thì cho rằng có một đợt lạnh dữ dội ập xuống và dân Viking chết cóng hết. Khổ cái quần áo của họ không đủ ấm và họ không biết làm thế nào để săn bắn kiếm ăn. Vậy nên khi giá lạnh giết chết mùa màng thì người Viking xui xẻo đành chết đói. Giá như họ hỏi dân bản địa vài mẹo sống sót thì đâu đến nỗi. Vào cõi u minh Trong khi đó, ở đầu bên kia Trái đất, Nam cực vẫn là nơi huyền bí, cho dù người Hy Lạp cổ đã đoán là có nó ở đấy. Trên những tấm bản đồ cổ xưa nó được gán cho cáitên Terra Australis Incognita, nghĩa là "miền đất chưa biết phía Nam". Có điều chưa ai đặt chân đến đó cả. Sau đó, vào năm 1772, nhà thám hiểm người Anh chỗ nào cũng đến được là thuyền trưởng James Cook (1728-1779) lên tàu đi tìm lục địa huyền thoại đó. James chưa tận mắt trông thấy nó nhưng 98 Thực ra người đầu tiên đặt chân lên Nam cực có lẽ là người Mỹ John Davis. Ông đã đổ bộ lên đó săn hải cẩu vào tháng Hai 1821. Rõ ràng ông này vào được sử sách chẳng qua là nhờ mấy con hải cẩu. Phần lớn hơn của lục địa này phải nằm trong cực đới, nơi mà biển bị băng bao phủ nên không thể tiếp cận bờ đất được. Sương mù dày đặc, bão tuyết, cái lạnh ghê gớm... càng có vẻ dữ dội hơn bởi cái vẻ đáng sợ không thể diễn tả được của một xứ sở bị tạo hóa đày ải dìm xuống bên dưới băng tuyết vĩnh cửu. ông đã băng qua cực đới lần đầu và đã đi quanh Nam cực trước khi bị băng khối buộc phải quay lại. Thất vọng cay đắng, Cook đã âu sầu viết trong nhật ký: Ông còn rầu rĩ chua thêm một câu rằng ông thấy Nam cực chả có ích gì cho ai cả. 99 THƯA CÔ, AI ĐẾN ĐƯỢC CỰC BẮC TRƯỚC NHẤT Ạ? Ơ... Ơ... VÀ ĐÂY LÀ TIẾT MỤC ĐẦU TIÊN. Thực tế rúng động: Khi thuyền trưởng Cook qua đời, bạn bè ông dựng một màn kịch câm ở London để tưởng nhớ cuộc đờingang dọc hải hồ của ông. Nhưng không phải thứ kịch câm lần tường nhàm chán đâu. Để tôn vinh những cuộc phiêu lưu Nam cực của Cook, một núi băng mini được làm riêng đã gây chấn động buổi diễn. Ghẹo thầy tí chơi Ai cũng biết Amundsen đã đến cực Nam trước tiên, nhưng còn cực Bắc thì sao? Thử kiểm tra hiểu biết về miền cực của thầy bằng một câu hỏi có vẻ vô hại này. Bạn giơ tay lên mà nói: Trả lời: Xin lỗi nhé, đây là câu hỏi mẹo. Bạn biết không, câu trả lời tùy thuộc vào bạn tin câu chuyện của ai. Trong khi cô giáo đang lục lọi trí nhớ thì ta lôi bản sao của tờ Tin nhanh Địa cầu cũ để bổ sung cho mình những chi tiết có thực... 100 - - ĐỊA CỰC CỦA PEARY 1909 Tin nhanh Địa cầu 8 tháng Chín NEW YORK, HOA KỲ CÁC NHÀ THÁM HIỂM MIỀN CỰC HÀNG ĐẦU ĐÁ NHAU Hôm nay đã có một cuộc tranh cãi dữ dội nổ ra vì không phải một mà những hai nhà thám hiểm lừng danh đều tranh nhau vinh dự là người đầu tiên đến được cực Bắc. Hôm qua chúng tôi nhận được tin chấn động rằng trung tá Robert Peary của Hải quân Hoa Kỳ đã đương đầu với giá buốt và bão tuyết để chinh phục cực Bắc. Ông đã đến được địa cực ngày 6 tháng Tư. Đối với Peary, 53 tuổi, đó là một giấc mơ đã thành hiện thực và cũng dễ hiểu vì sao người chiến binh miền cựckỳ cựu quả cảm này phấn khích đến thế. "Công trình của cả đời tôi đã hoàn tất," Ông bày tỏ với phóng viên bản báo. "Tôi đã gạt được cực Bắc ra khỏi dự định của mình sau 23 năm trời cố gắng, làm việc cật lực, thất vọng, khổ ải, thiếu thốn, ít nhiều đau khổ và một chút mạo hiểm. Tôi đã đoạt được giải thưởng địa lý lớn lao cuối cùng, cực Bắc, để tôn vinh nước Mỹ... Tôi toại nguyện." Với hai lần thất bại, lần thứ ba thì vận may đã mỉm cười với Peary can trường. Ông cho rằng thành công này là nhờ nhiều tháng bỏ ra để nghiên cứu những kỹ năng sống sót thiết yếu của người Inuit. Ngay tại địa cực, Peary và những người đồng hành đã trương một lá cờ Mỹ và chụp hình. 101 CHỈ NHỮNG GÌ TIẾN SĨ YÊU CẦU KHOẢNH KHẮC TỰ HÀO Lá cờ này do vợ ông là Josephine may. "Gió quất vào mặt chúng tôi tê dại như muốn vỡ toác ra," trung tá Peary tâm sự với chúng tôi. "Không khí lạnh buốt như thép lạnh." Quả là khẩu khí anh hùng. Nhưng đúng không nhỉ? Tin vừa mới đến thì câu chuyện lại có một bước ngoặt khác thường. Khi tin tức về Peary về đến quê nhà thì đối thủ đáng gờm của ông là tiến sĩ Frederick Cook đang ăn mừng mình đã khám phá cực Bắc tại một bữa tiệc ở Copenhagen. Là bạn đồng hành một thời của Peary, tiến sĩ Cook mới trở về sau một cuộc thám hiểm Bắccực kéo dài hai năm. Thật khó tin, ông tuyên bố rằng mình đã đến được cực Bắc vào ngày 21 tháng Tư 1908, trước Peary cả một năm. Khi được nghe kể lại về thành tựu của Peary, tiến sĩ Cook độ lượng trả lời. "Nếu ông ta bảo rằng đã đi xa nhất lên phía bắc thì chắc là đúng thế," Cook nói. "Vinh quang từ nó có đủ cho cả hai chúng tôi." Vấn đề ở đây là trong hai nhà thám hiểm gan dạ đó thì ai là người nói thật. Chúng ta nên tin ai đây? Peary kiêu hãnh hay Cook lì lợm sẽ được lưu danh sử sách? Câu chuyện xem ra còn kéo dài dài. Tin nhanh Địa cầu sẽ thông tin cho quý vị tất cả những diễn biến mới nhất của nó. 102 Trên quan điểm cực Khi nghe được tuyên bố của Cook thì Peary nổi giận đùng đùng. Vì sao thì hẳn bạn cũng biết. Ông gọi Cook là kẻ dối trá và thề sẽ tìm ra sự thật. Không may cho Peary, công chúng lại đứng về phía Cook. Những đám đông cuồng nhiệt hoan nghênh ông trở về với những băng rôn "CHÚNG TÔI TIN ÔNG!" Nhật ký và sổ tay của cả hai người được giao cho hiệp hội học giả địa lý kiểm tra và cuối cùng đã công nhận Peary mặc dù chả có chứng cứ thực sự gì cả. Có điều họ bảo rằng ngày tháng của Cook không chuẩn. Rồi một rẻo đất nhỏ mà ông bảo đã trông thấy cũng không có thực. Tệ hơn cả, ôngCook láu cá vốn đã mang tiếng là tay bốc phét. Vài năm trước ông ta tuyên bố đã trèo lên đỉnh McKinley ở Alaska (là đỉnh cao nhất Bắc Mỹ) đầu tiên. Trên thực tế, những tấm hình của ông sau đó té ra là giả. Cook bị khai trừ khỏi câu lạc bộ các nhà thám hiểm của New York và phần đời còn lại ông sống trong chê cười. Vậy là Peary nói thật? Khó mà nói lắm. Có người cho rằng ông ngụy tạo tất cả. Họ bảo nói cho cùng thì ông chả có cách nào đến cực rồi về nhanh như ông nói cả. Chứ bạn có tin không? Ch-ch-chọn lấy cho mình một nhà thám hiểm miền cực Thử tưởng tượng nhé. Bạn đang bị mắc kẹt ở miền cực lạnh giá và bạn được phép chọn một người đồng hành. Nhưng bạn chọn ai bây giờ? Người đó phải dũng cảm, lì đòn và quả quyết, mà phải lạnh như kem lúc khẩn cấp. Trong các nhà thám hiểm miền cực tiên phong dưới đây ai cũng chứng tỏ là tay can trường rồi. Việc của bạn là chọn lấy một người mà bạn cho là xịn nhất. Gloria sẽ giới thiệu cho chúng ta năm ứng viên sáng giá... 103 DÂN MIỀN CỰC Ứng viên 1 TÊN: Willem Barents (1550?-1597) QUỐC TỊCH: Hà Lan CÔNG TRẠNG: Barents quả cảm đã thực hiện ba chuyến đi thăm dò tìm một tuyến hải hành mới sang châu Á qua phía bắc Siberia. Khi tàu của ông bị mắc lại trong băng, ông trở thành người
325
4
châu Âu đầu tiêntrải qua mùa đông giữa Bắc cực lạnh giá. Brrr! KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN: Dựng nhà bên cạnh nơi tàu bị kẹt. Chọn Willem chọi thời tiết, xin bỏ phiếu cho ứng viên số 1. Mỗi ứng viên của chúng ta đã từng thi thố kỹ năng sống sót ở miền cực lạnh giá rồi. Nhưng bây giờ đến lượt bạn chọn ra một người trong đó làm bạn đồng hành của mình. Bảo đảm là bạn được trang bị đầy đủ cho chuyến đi để đời bằng cách nghe thật kỹ những câu chuyện của họ trước khi lựa chọn... 104 Ứng viên 2 TÊN: Sir John Franklin (1786-1847) QUỐC TỊCH: Anh CÔNG TRẠNG: Là một con sói biển có sạn trong đầu, Sir John đã chu du khắp thế giới. Ông đã nhiều năm sục sạo trên Bắc Băng dương để tìm một tuyến đường biển mới đến châu Á qua phía bắc Canada. Thôi được, dù ông không tìm ra nhưng vẫn kiếm được một bức tượng đặt tại tu viện Westminster ở London. Thế đấy. KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN: Một nhà hàng hải và một thủy thủ tài ba. Chọn bọ nước Sir John, xin bỏ phiếu cho ứng viên số 2 Ứng viên 3 TÊN: Salomon Andrée (1854-1897) QUỐC TỊCH: Thụy Điển CÔNG TRẠNG: Rắp ranh trở thành người đầu tiên bay qua cực Bắc bằng khí cầu. Khí cầu này mang tên Eagle (đại bàng). Salomon nổi tiếng đến mức được nặn tượng sáp đặt tại salon của Tussaud phu nhân ở London. Hết ý! KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN: Chỉ khoái bay. Chọn Salomon tung tẩy, xin bỏ phiếucho ứng viên số 3 105 Vậy thì bạn chọn ai trong mấy người giỏi giang này? Bạn phải tìm cho được nếu muốn sống sót qua chuyến đi. Dưới đây là kết quả theo thứ tự ngược lại... Ứng viên 4 TÊN: Knud Rasmussen (1879-1933) QUỐC TỊCH: Inuit/Đan Mạch CÔNG TRẠNG: Knut khôn ngoan là người đầu tiên nghiên cứu làm sao người Inuit có thể sinh sống và tồn tại được ở Bắc cực băng giá. Họ đã dạy cho ông đủ thứ và ông đã trở thành chuyên gia hàng đầu về miền cực. KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN: Săn bắt, đánh cá, lái xe chó kéo. Chọn Knud biết tuốt, xin bỏ phiếu cho ứng viên số 4. Ứng viên 5 TÊN: Sir Douglas Mawson (1882-1958) QUỐC TỊCH: Australia CÔNG TRẠNG: Là một nhà khoa học tài năng, Sir Douglas đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Nam cực của Australia vào năm 1911. Ông đã thám hiểm một dải bờ chưa ai biết và tìm thấy tảng thiên thạch Nam cực đầu tiên. KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN: Lì đòn và quả quyết. Chọn Sir Douglas liều mạng, xin bỏ phiếu cho ứng viên số 5. 106 5 Nếu chọn ứng viên 2 thì bạn toi. Toi đầu nước. Sir John có thể tài ba trong nghề đi biển nhưng trên đất liền thì là chuyện khác. Năm 1845, Sir John lên đường đi Bắc cực với 128 người. Và bặt tăm từ đấy. Vợ ông lo lắng treo giải 20.000 bảng (hồi đó là cả một gia tài đấy) và cử đi mấy đoàn tìm kiếm. Chả thấy chồng bà ở đâu cả.Cuối cùng, mãi đến năm 1859, những người tìm kiếm đã nhặt được một mẩu tin nhắn giấu dưới một đống đá. Nó nói rằng Sir John đã chết năm 1847 lúc đang tìm người đến cứu. 4 Nếu chọn ứng viên 3 thì bạn sống sót, nhưng chỉ được ba tháng thôi. Năm 1897, Salomon cùng hai người đồng hành lên đường bay đến cực Bắc từ Spitsbergen, Na Uy. Nhưng chỉ ba ngày sau, khí cầu bị băng đóng nặng trì xuống không cất lên nổi. Ba người sống sót nhờ ăn thịt gấu Bắc cực. Nhưng thương thay, cả ba đã bị chết cóng. Mãi tận năm 1930, xác của họ mới được tìm thấy và câu chuyện bi thảm của họ mới được chắp nối lại từ những dòng nhật ký và những tấm hình. (Đến thế rồi mà vẫn chưa xong, cái tượng sáp của Salomon còn bị chuột gặm mất nữa chứ). 107 3 Nếu chọn ứng viên 1 thì bạn ổn, nhưng bạn sẽ khó khăn nếu muốn về. Đã bảo Willem tài ba lạnh như kem cơ mà, và cũng thực tế kinh khủng luôn. Khi tàu của ông bị kẹt trong băng, ông có hoảng không? Hoảng khối ra đấy! Ông bèn lấy gỗ trên tàu làm luôn một căn nhà nhỏ ấm cúng trên mặt băng. Nó thậm chí còn có cả chậu tắm làm bằng thùng rượu cũ. Và thay vì ôm chai nước nóng mà ngủ thì họ bọc những hòn đá nóng đem vào giường. Nhưng than ôi, bản thân Willem lại không trở về được. Sang mùa hè ông định giong buồmvề nhà thì lăn ra chết vì bệnh scurvy. (Mặc dù người của ông hầu hết sống sót). 2 Nếu bản chọn ứng viên 4 thì bạn sẽ được an toàn, song có thể bạn sẽ chết vì ngộ độc thực phẩm. Knud giỏi giang lớn lên ở Greenland. Ngay từ bé ông đã học săn bắt, đánh cá và lái xe chó kéo như một người Inuit. Ông còn nói được mấy thứ tiếng Inuit nữa. Công nhận là ghê răng! Sau này Knud sang Đan Mạch để học làm ca sĩ opera. Nhưng chẳng bao lâu sau ông đã quay về Greenland mở nhà băng. Ông dùng số tiền kiếm được từ nhà băng để tài trợ cho nhiều cuộc thám hiểm hơn. (Knud cuối cùng chết vì ngộ độc món chim hải âu auk muối chua). 108 1 Còn người thắng cuộc là... ứng viên số 5. Bạn chắc cú là sống sót với Douglas không biết sợ. Thực ra ông ấy chắc sẽ thọ hơn bạn. Sir Douglas Mawson quả cảm đã cho thấy làm thế nào để thoát qua tất cả những bất thường. Trong một chuyến hành trình bằng xe trượt, đột nhiên một bạn đồng hành của ông đã bị rơi xuống khe nứt mất hút, kéo theo cả chó, cả xe, cả lều và toàn bộ số thực phẩm của họ. Rồi một bạn đồng hành khác chết vì ngộ độc thực phẩm (lúc đó họ đang phải ăn số chó còn lại). Bản thân đang sống dở chết dở, Sir Douglas đã một mình chống chọi. Ông xoay xở thế nào mà cuối cùng ông cũng vềđược đến trại... vừa kịp để trông thấy tàu của mình rời bến đi mất! Ông buộc phải qua một mùa đông nữa ở Nam cực. Xin chúc mừng, Sir Douglas! Xin ngài cứ tởm thế cho. CHÀO MẸ! Xin chúc mừng những ai chọn đúng người xứng đáng thắng cuộc. Giải thưởng đặc biệt dành cho các bạn là một chuyến hành trình thót tim bằng xe chó kéo lên cực Bắc. Vâng, các bạn sẽ sớm được băng băng hết tốc độ trên mặt băng... do một tốp chó pooch kéo! Chớ lo, chúng rất giỏi nhận ra những khe nứt (thông thường). Chỉ còn phải làm một việc trước khi lên đường. Chúng tôi sẽ để cho các bạn tự làm lấy xe chó. 109 SAO THẾ, ĐAU HỌNG À? KHÔNG, ĂN MỠ HẢI CẨU LỢM GIỌNG QUÁ Bạn làm: 1 Tập trung lũ chó của bạn lại. Chó husky là loại chó cực kỳ lì đòn, hết sức thích hợp cho những chuyến đi miền cực. (Chúng cũng là loài thú cưng tuyệt vời - nếu bạn chịu nhường ghế sofa của mình cho chúng). Chúng có bộ lông dày để giữ ấm và chúng cực khỏe (một tốp mười con có thể kéo bạn trên một chiếc xe trượt chất đầy đồ đạc chạy 50km một ngày như bỡn). Và bạn có thể nuôi chó husky bằng mỡ hải cẩu nếu bạn quên mang theo đồ mở hộp. (Vả lại chúng khoanh tròn trên tuyết mà ngủ thành ra khỏi phải chuồng cũi gì cho mệt). Lái xe chó kéo Bạn cần: • một xe trượt bằng gỗ • khoảng nămmười con chó husky (giống chó của cư dân Bắc cực) 110 HIKE! GEE! HAW! THẲNG LỐI! CHẬM LẠI! WHOA! ON-BY! MÌNH GHÉT THẰNG CHA MỚI TẬP LÁI NÀY QUÁ 2 Thắng chó vào xe theo hình rẻ quạt
326
4
. Mỗi con phải có một bộ cương bọc lót riêng vòng qua ngực (không vòng qua cổ như vòng cổ chó ở nhà đâu). Buộc chúng vào xe bằng dây nilon, gọi là dây kéo. Để con chó khỏe nhất, khôn nhất dẫn đầu. Các dây kéo tõe ra như hình rẻ quạt. Làm vậy để lỡ con dẫn đầu có rớt xuống khe băng thì những con khác không bị rớt theo (hy vọng thế). 3 Đứng lên phía đuôi xe. Hét to "Hike! Hike!"- đó là lệnh cho chó chạy. (Những lệnh khác là: Gee - quẹo phải; Haw - quẹo trái; Thẳng lối - chạy thẳng; Chậm lại - chạy chậm lại; Whoa - dừng; và On-by - hạ con thỏ kia). Đến đây thì bạn thành tài xế thực thụ rồi. (Ghi chú quan trọng: Muốn thắng (hãm) xe thì đứng lên cái then sắt nằm giữa bầy chó kéo mà ghìm xuống tuyết). 4 Nếu chó mệt (chó mà cũng mệt à?), bạn phải thò chân xuống mà đạp phụ nó, tức là thò một chân xuống vừa nhún vừa đẩy như 111 THẾ NÀY THÌ GỌI LÀ ĐỤC BĂNG! RẮC! TOÁC! kiểu đi xe scooter ấy mà. Bạn có ngã cũng đừng vội lo - tài xế cũng phải mất vài năm để có được kinh nghiệm chứ. Nhưng một khi đã bám được vào đấy rồi thì đi đã kinhkhủng luôn. Hike! Hike! Ghi chú: Bạn không thể đến Nam cực mà lái xe đâu nhé. Kể từ năm 1994 là ở đây cấm tiệt chó. Các nhà khoa học cho rằng chúng mang bệnh lao chó (chết như chơi) và có thể truyền sang hải cẩu. Thám hiểm thời hiện đại Nếu những câu chuyện phiêu lưu nãy giờ có làm chân tay bạn ngứa ngáy thì tại sao bạn không tự đi mà thám hiểm miền cực băng giá chứ? Mỗi năm có hàng trăm người đến miền cực. Nhưng nếu bạn không thạo lắm về xe chó thì còn khối cách để bạn đến được đó. Bạn có thể bám càng máy bay (nhiều máy bay chuyên bay đến cực có càng trượt thay cho bánh xe để có thể tiếp đất an toàn hơn) hoặc làm một chuyến lòng vòng trên một chiếc tàu phá băng (một loại tàu được gia cố vỏ thép thật chắc để táng cho vỡ băng ra). Thậm chí bạn có thể đi bằng cả tàu ngầm. Năm 1958, chiếc tàu ngầm Nautilus của Mỹ đã đến được cực Bắc bằng cách luồn dưới băng. Không như các nhà thám hiểm trong quá khứ, dân thám hiểm hiện đại có rất nhiều trang thiết bị hiện đại trợ giúp. Họ dùng radio 112 ĐÂY LÀ BÊN TRÁI và email để giữ liên lạc, còn vệ tinh thì giúp họ định hướng. Ngay cả như thế việc thám hiểm miền cực vẫn là trò mạo hiểm kinh khủng. Với cái kiểu cứ tối mãi hay sáng mãi là dễ lạc như chơi. Lạc mất tiêu. Chỉ quayqua quay lại là tảng băng lại thấy giống hệt những tảng băng khác nên chả biết lấy gì làm dấu hiệu nhận dạng đường đi được. Nếu chuyện như vậy xảy ra thì dòm trộm một chút trong sách của người Inuit bản địa. Họ dùng mặt trời hoặc những hình thù do gió tạo ra trên tuyết để giúp mình tìm đường. Nhưng dù bạn có làm gì thì cũng xin đừng lấy một núi băng làm dấu chỉ đường. Nó sẽ trôi tuốt ra biển mất đấy... 113 LÔNG HẢI CẨU XỊN ĐẤY, TUYỆT CÚ MÈO CHƯA? THẤY THƯƠNG. MIỀN CỰC TRONG HIỂM HỌA Nhưng mà không kể đi thám hiểm, còn thì bạn cần miền cực băng giá làm gì chứ? Ý tôi là miền cực chẳng qua chỉ là những đống băng già vô dụng nằm xa tít xa mù, không phải sao? Sai bét. Ẩn bên dưới lớp băng và mặt biển phủ băng có những tài nguyên thực sự có ích của miền cực. Khốn nỗi loài người khó ưa chỉ nhăm nhăm hốt hết về khiến cho miền cực mỏng manh lâm vào tình thế hiểm nghèo. Vậy cớ làm sao mà miền cực đang lâm nguy? Có năm vật quý của miền cực mà loài người hung ác có thể phá hỏng. Vật quý thứ 1: Lông hải cẩu đài các Ta đang làm gì: Vào thế kỷ XVIII và XIX tại Nam cực có hàng triệu con hải cẩu đã bị giết để lấy lông. Nó được dùng để làm mũ, áo, dép lê và đồ lông cho các bà các cô điệu đàng ở châuÂu, châu Mỹ và Trung Quốc. Hải tượng còn bị đập lia chia để lấy mỡ (đem nấu lấy một thứ dầu cao cấp) còn con moóc thì bị giết để lấy ngà. Có gì là sai? Có quá nhiều hải cẩu bị tàn sát đến mức một số loài đã tuyệt chủng. Khá tệ đấy nhỉ? Tin tốt là việc săn bắn đại trà một số loài hải cẩu giờ đây đã bị cấm tiệt, chỉ để cư dân bản địa bắt vài con về ăn thôi. Nhờ việc săn bắt bị cấm nên số lượng hải cẩu lại phục hồi nhanh chóng và hải cẩu giờ đây đã được bảo vệ. 114 CẤM ĐÁNH BẮT KHU BẢO TỒN CÁ VOI NA-NA! NA- NA! Vật quý thứ 2: Cá voi dềnh dàng Ta đang làm gì: Không chỉ hải cẩu bị săn mà thôi. Hàng triệu cá voi cũng bị giết hại để lấy thịt, mỡ và phiến sừng. Nó vốn được dùng làm lược, cần câu, ô dù và áo nịt cho các bà ưa làm đỏm. Mới chỉ 100 năm trước thôi một phiến sừng của cá voi lớn có thể bán được tới 2.500 bảng. Săn cá voi là nghề béo bở đấy. Có gì là sai? Có một dạo cá voi bị săn đến gần tuyệt chủng. Và bây giờ chúng vẫn khá hiếm. Ngày nay đã có những qui định chặt chẽ để bảo vệ cá voi khỏi bị làm hại. Mỗi năm chỉ được phép đánh bắt vài trăm cá voi để ăn và nghiên cứu khoa học. Còn săn bắt với mục đích thương mại thì cấmtiệt. Năm 1994 Nam cực và Nam Băng dương được chính thức tuyên bố là khu bảo tồn cá voi. Và những con cá voi to lừng lững lại lừng lững trở lại. CÁ VOI ƠI! AI KIU TUI ĐÓ? 115 MÀY LẠI LÁNG CHÁNG CẠNH MẤY CÁI TÀU CÁ ĐẤY À? AI? TAO Á? Vật quý thứ 3: Cá nước sâu Ta đang làm gì: Các đội tàu cá đã đánh bắt hàng triệu tấn cá, tép và mực mỗi năm trên các biển miền cực. Các tàu cá hiện đại là... hiện đại dữ lắm. Chúng có máy tính, radar và vệ tinh để phát hiện hải sản, và những tấm lưới khổng lồ để bắt. Nhiều tàu thì cứ như cả một nhà máy cá hộp nổi ấy. Chúng có thể đánh bắt, rửa ráy, đông lạnh và đóng gói ngay trên tàu luôn. Tiện nhỉ? Có gì là sai? Dân đánh cá nhiều người vi phạm những qui định về số lượng đánh bắt. Đó quả là xui xẻo cho cá răng Patagonia. Thịt nó ngon quá thành ra rất có giá. Khốn nỗi cá răng phải mất cả 30 năm mới đến độ trưởng thành (dài cỡ 2m). Mà cá bị bắt (bất hợp pháp) quá nhiều nên không kịp lớn. Tệ hơn nữa, hàng ngàn chim biển còn lòng vòng bên trên nơi đánh bắt để hôi cá nữa chứ. Vật quý thứ 4: Rốn dầu Ta đang làm gì: Rất nhiều dầu bên dưới lớp băng và đài nguyên Bắc cực. Con người đổ đốn đào rõ sâu mà moi lên. Những nguồn dự trữ dầu quan trọng đãđược tìm thấy ở Siberia và Alaska lạnh giá. Nó được bơm lên khỏi mặt đất và chạy theo đường ống dài hàng nghìn km đến nhà máy lọc dầu. 116 PHÒNG THAY ĐỒ TÔI CHẮC PHẢI THAY NƯỚC Có gì là sai? Ờ thì đường sá và đường ống để vận chuyển dầu nhằng nhịt làm hỏng môi trường tự nhiên của miền cực. Lấy tình cảnh khu di dời dộng vật hoang dã miền cực quốc gia ở Alaska làm ví dụ. Đó là công viên quốc gia lớn nhất của Mỹ, nhưng có thể nay mai nó chỉ còn là hoài niệm. Đó là nếu như chính phủ Mỹ triển khai dự án khoan dầu. Lúc đó dĩ nhiên sẽ có nguy cơ tràn dầu. Năm 1989 chiếc tàu dầu Exxon Valdes bị mắc cạn ngoài
327
4
Phúc Khê, huyện Thanh Lan (Thái Bình) thăm người bạn thân là Quách Đình Bảo. Sức học của hai người cũng ngang ngữa nhau, chẳng hạn, khoa thi Hương năm 1462, ông Vinh đậu giải nguyên, còn ông Bảo chỉ đậu thứ hai. Đến kỳ thi Hội, ông Bảo đậu Hội nguyên, còn ông Vinh chỉ đậu thứ hai trong số 44 người. Từ chỗ mến tài nhau mà cả hai thân thiết, thường gặp gỡ trao đổi nhau về kinh sách. Khi Lương Thế Vinh đến đầu làng, dưới bóng đa râm mát, ngồi nên chõng tre uống bát nước chè, ông nghe người trong làng kháo với nhau: - Này các bác ạ! Làng ta thật đại phước. Năm nay, sẽ có người đỗ trạng đấy! Bà chủ quán nhổ toẹt bả trầu xuống đất rồi hỏi lại: - Sao bác lại biết thế? Bác nông dân cười khà: - Cứ trông cậu Bảo thì rõ! Đã ba tháng nay cậu Bảo đóng cửa học tập ôn thi, chứ không tiếp ai cả! Cậu ta chong đèn học thâu đêm đến quên ăn quên ngủ… Nghe vậy, uống xong ngụm nước chè, Lương Thế Vinh đứng dậy cười nói: - Ối dào! Còn những ba tháng nữa mới đến ngày thi mà cậu ta học như thế thì ai theo cho kịp? Tôi định sang tìm gặp bạn để trò chuyện, nhưng bạn bận học như thế thì còn đâu thời gian để tán gẫu. Xin nhờ bác nói giúp là tôi có sang chơi. 18 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Nói xong, ông đi thẳng. Chủ quán hỏi tên nhưng ông không đáp. Mấy ngày sau, ông Bảo vừa cầm sách học vừa đi lửng thửng ra quán nước, nghe bà chủ quán thuật lại, giật mình thầm nhĩ: - Người này chỉ có thể là Lương Thế Vinh, nhân đây ta sang thăm bạn để xem bạn đã ôn tập đến đâu rồi! Vài ngày sau ông Bảo sang thăm bạn. Không ngờ khi đến nơi thì ông Vinh đi vắng. Hỏi đi đâu thì người nhà mới chỉ tay ra ngoài cánh đồng lộng gió. Ra đến nơi, ông Bảo ngạc nhiên khi thấy bạn mình đang reo hò thả diều cùng trẻ con chăn trâu liền kinh ngạc kêu lên: - Thi cử đến nơi rồi mà bạn ta vẫn còn vui chơi thoải mái như thế được sao? Chao ôi! Tài học như vậy thì ta theo sao kịp? Nói xong, Bảo lủi thủi đi về và càng quyết tâm ra sức học tập. Nhưng đến kỳ thi Đình năm 1463, không như mọi năm, năm nay đích thân vua Lê Thánh Tông ra đề bài văn sách, ngài hỏi về "Đạo trị nước của các bậc đế vương". Với đề thi này, đòi hỏi các thí sinh không chỉ thuộc làu kinh sử mà phải có sự suy nghĩ sáng tạo riêng. Nhờ không theo lối học vẹt, làm theo "bài văn mẫu" (!) mà bài làm của Lương Thế Vinh hơn hẳn các thí sinh khác. Ông đã xứng đáng được chấm nhất, đoạt học vị Trạng nguyên; còn Quách Đình Bảo chỉ đậu Thám hoa – kém ông hai bậc. Như thế đủ thấy rằng, ngay từ thuở trẻ Lương Thế Vinh đã có một lối học phải đào sâu suy nghĩ ngoài những điều mà trong sách đã viết – tư duy này phù hợp với một người say mê về toán học. Thời còn nhỏ, có lần lấy bưởi làm trò chơi đánh phết, chẳng may trái bưởi rơi xuống hố sâu. Cả đám trẻ chăn trâu tìm đủ mọi cách mà không lấy trái bưởi lên được, Lương Thế Vinh đã lấy nón chạy đến vũng nước, múc nước đổ xuống hố. Vừalàm cậu vừa ứng khẩu đọc: - Bưởi ơi! Nghe tao gọi Đừng làm cao Đừng trốn tránh Lên với tao Vui tiếp nào! 19 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Chẳng mấy chốc quả bưởi trồi lên và nằm gọn trong tay Lương Thế Vinh. Có lần cậu cùng bọn trẻ chăn trâu ngồi hóng mát dưới bóng cây cổ thụ. Bọn trẻ đố nhau làm cách nào để biết cây cao bao nhiêu – với điều kiện là không được leo lên cây, dùng dây thòng xuống đất mà đo. Không ai có thể tính được, đều lắc đầu chịu thua. Lương Thế Vinh nhặt cây tre dài 1 mét, rồi dựng đứng lên để đo bóng cây tre, đo được nó dài 0 mét 50. Sau đó cậu tiếp tục đi đo chiều dài của bóng cây đang đổ dài trên mặt đất. Lẩm nhẩm tính toán một lát, cậu nói: - Bóng cây đổ dài xuống đất đo được 3 mét. Vậy chiều cao của cây là 6 mét. Cách tính độc đáo của Lương Thế Vinh rất chính xác – mà sau này chúng ta biết ông áp dụng cách tính của các tam giác đồng dạng. Sau khi đỗ Trạng Nguyên, ông ra làm quan, lúc đầu được giao nhiệm vụ soạn thảo giấy tờ giao thiệp với nhà Minh. Thời Hồng Đức (1470-1479), ông giữ chức quan giáo dục, làm Hàn lâm viện thị giảng, Nhập thị kinh diên, làm Tư vấn ở Sùng Văn quán, giữ chức Sái phu (sửa chữa và bình phẩm thơ văn) trong Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông. Như vậy đủ biết, ông hay chữ và uyên bác biết chừng nào. Nhưng Lương Thế Vinh còn là một nhà toán học đầy tài năng, đã thấy được ý nghĩa quan trọng của toán học. Ông từng nói: "Thần cơ diệu toán vạn niên sư" (nghĩa là: Ai tính toán giỏi là người thầy muôn đời). Với suy nghĩ đó, ông đã dành nhiều tâm huyết để biên soạn sách Đại thành toán pháp – tổng kết những kiến thức toán của thời đó và cả những phát minh của ông. Mở đầu sách, ông có đề bài thơ khuyên mọi người: -Trước thời phải biết cách thương lường, Tính toán bình phân ở cửu chương. Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển, Học lấy tinh tường giúp Thánh vương. Lần đầu tiên ở nước ta vào thế kỷ XV, có cuốn sách dạy các kiến thức về số học như các phép cửu chương (nhân) các phép bình phương (khai căn), đồng phân (chia đều), phương pháp đo lường 20 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM bóng (phương pháp tam giác đồng dạng), hệ thống đo lường (cách cân, đong, đo, đếm…); cách đo điền, đo diện tích các hình vuông, chữ nhật, tam giác, hình tròn… Về tập Đại thành toán pháp, năm 1721, Phạm Hữu Chung cũng có viết một tập sách toán Cửu chương lập thành tính pháp, khắc in dưới đời vua Lê Dụ Tông - nhưng căn bản vẫn dựa trên tập sách của Lương Thế Vinh. Rồi tiến sĩ Phan Huy Ôn (1755-1786) cũng tiếp thu từ hai quyển sách toán trên để viết quyển Chỉ minh lập thành toán pháp. Như thế, rõ ràng tập sách của Lương Thế Vinh rất quan trọng và có ảnh hưởng đến đời sau. Chính vì thế, trong sách toán của Phạm Hữu Chung đã tôn vinh Lương Thế Vinh với những dòng nhận định chính xác: Việt Nam sinh thánh trị trường Nam Sơn, Thiên Bản, Cao Hương sinh hiền Đĩnh sinh Lương thị trạng nguyên Quán thông lục nghệ, Nam thiên văn tài Soạn chương cửu thuật tính lai Nhân thu tiết yếu bình, sai giản, trường, Cửu, bát, thất, lục, cửu chương Tứ, tam, nhị, nhất hợp phương tính bài Trứ minh cứ tiện kê khai Xử kỳ toán sĩ, thuật lai sở cầu… Trong sách toán của Lương Thế Vinh, chẳng hạn, cách tính diện tích hình thang, ông viết: - Tam giác bị cụt đầu Diện tích tính làm sao? Cạnh trên, cạnh dưới cộng vào Đem nhân với nửa bề cao khắc thành Ở mỗi phần, mỗi phương pháp, ông đều có bài thơ Nôm cho người đọc dễ nhớ – như khi cộng hai phân số cùng mẫu số, ông viết: Cộng hai phân số cùng số dưới (mẫu số) Cứ cộng phần trên (tử số) lại với nhau 21 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Bộ sách của Lương Thế Vinh lừng lẫy cả nước ngoài. Khi sứ thần nhà Minh sang nước ta, nghe tiếng ông không những giỏi văn chương mà còn có trí thức uyên bác về khoa học, bèn hỏi: - Có phải ông là người làm sách Đại thành toán pháp? Ông khiêm tốn trả lời: - Vâng, đúng vậy. Để thử tài ông, sứ thần nhà Minh vung tay chỉ về phía trước, nơi ấy có con voi đang đứng: - Vậy quan Tr
425
4
ạng nước Nam thử cân con voi kia nặng bao nhiêu? Không một chút nao núng, ông đáp: - Được! Dứt lời, ông lấy chiếc cân, nói quản tượng dắt voi đi về phía bờ sông. Sứ thần nhà Minh thấy ông cầm cái cân nhỏ bé như thế bèn phì cười: - A! Xem ra cái cânđó chỉ cân được cái đuôi con voi mà thôi! Bỏ mặc ngoài tai những lời chế giễu, ông sai lính dắt voi xuống một chiếc thuyền đang neo gần bờ. Voi nặng, thuyền đằm xuống nước. Ông liền đánh dấu mép nước ngay mạn thuyền. Mọi người chẳng hiểu ra làm sao cả. Ông ôn tồn nói: - Thôi, mau dẫn voi lên bờ rồi đổ đá hộc vào thuyền cho ta! Những người lính khiêng đá bỏ vào thuyền, khi thuyền đằm ngang mực đã đánh dấu, ông cho dừng lại. Lương Thế Vinh chỉ vào đống đá đang chất trong thuyền, nói với sứ thần nhà Minh: - Cứ lấy đá trong thuyền đem cân thì sẽ biết voi nặng bao nhiêu! Ai nấy đều khâm phục cách tính của ông. Dù vậy, sứ thần nhà Minh lại cắc cớ xé một tờ giấy trong một quyển sách đưa cho ông: - Thế quan Trạng có đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không? Cầm lấy tờ giấy mỏng, gió thổi phất phơ, Lương Thế Vinh nghĩ thầm: "Giấy thì mỏng mà ly chia ở thước lại quá thô. Làm sao mà đo?". Thấy ông đứng trầm ngâm suy nghĩ, quan Tàu đắc chí cười lớn: 22 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM - Ha ha! Nhà toán học thiên tài Tổ Xung Chi của nước tôi dù có sống dậy cũng không đo được đâu quan Trạng ạ! Ông điềm đạm nói: - Ngài cho tôi mượn quyển sách! Quan Tàu tiếp tục chế giễu: - Chà! Quan Trạng ngờ rằng kết quả đã ghi sẵn trong sách à? Không đâu! Lương Thế Vinh chỉ mỉm cười, chứ không trả lời. Cầm sách trên tay, ông lấy thước đo cuốn sách rồi nhẩm tính ngay kết quả. Quan Tàu hết sức sững sờ: - Quan Trạng đoán mò cũng giỏi đấy nhỉ? Lương Thế Vinh nghiêm mặt: - Ngài lầm rồi. Việc này rất dễ, ta chỉ cần đo bề dầy của cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là tìm ra đáp số. Có gì là khó đâu! Quan Tàu ngửa mặt lên trời than thở: - Danh đồn không sai, nước Nam quả lắm người tài. Ngoài việc viết sách toán, Lương Thế Vinh còn biên soạn cả sách về nghệ thuật như Hí phường phả lục, về Phật học như Thiền môn khoa giáo. Ra giúp nước một thời gian dài, ông không ham công danh phú quý, đến lúc già thì xin treo ấn từ quan để về quê nhà vui thú điền viên. Có giai thoại kể rằng, lần nọ Lương Thế Vinh phù giá vua Lê Thánh Tông du thuyền trên sông. Biết ông là người giỏi bơi lội nên nhà vua giả đò say rượu và đẩy ông rơi tỏm xuống sông để mua vua. Không ngờ một lát sau cũng không thấy ông trồi lên, nhà vua đâm ra hốt hoảng. Không lẽ vì trò đùa của mình mà giết hại một người tài đức? Ngài lập tức sai lính nhảy xuống sông, rồi bủa cả lưới để tìm ông Trạng. Không ngờ, khi bị nhà vua đẩy ngã xuống sông, Lương Thế Vinh vội bơi một mạch rất xa rồi ẩn náu trong lùm cây. Đợi đến lúc vua tôi đều thất vọng lo lắng, ông mới trồi đầu lên và leo lên thuyền. Vua Lê Thánh Tông mừng rỡ hỏi thế nãy giờ thần ở đâu thì ông tâu: 23 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM - Thần xuống nước thì gặp cụ Khuất Nguyên, cụ hỏi thần xuống đây làm gì thì thần đáp là chán đời muốn chết. Cụ liền mắng: "Tao gặp vua nhu nhược, vô đạo thì mới nhảy xuống sông tự vẫn, chứ mày gặp minh quân sao lại làm cái trò này?". Thần nghe vậy nên mới quay về đây ạ! Nghe lời "nịnh khéo" như thế vua Lê Thánh Tông bật lên tiếng cười khoái trá. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau tiếng cười ấy là ngài đang suy nghĩ về điều mà ông Trạng giỏi toán đang khuyên mình: phải giữ trọn đạo làm vua, xứng đáng là bậc minh quân trị nước! Trong sử sách nước nhà thật hiếm có ông trạng nào khôn khéo như vậy. Lúc vui thú điền viên, không còn vướng bận việc triều đình, ông đã dành nhiều thời gian để chế ra bàn tính đầu tiên của Việt Nam. Ông nặn những hòn bi bằng đất có khoan lỗ ở giữa, phơi khô, xâu vào một cái dũi. Rồi ông làm hai xâu, việc tính toán thuận lợi hơn. Tiếp đó, ông làm nhiều xâu, buộc cạnh nhau thành một bàn tính. Bàn tính của ông đã thay thế cách tính quen thuộc mà dân gian lúc đó thường dùng là "bấm đốt ngón tay" hoặc dùng một sợi dây có những nút thắt làm công cụ tính toán. Đại loại như khi đi vay một đấu thóc, người ta thắt thêm một nút, khi trả được thì cởi nút ấy ra v.v… Sau này, khi bàn tính Trung Quốc nhập vào nước ta thì nó không khác gì bàn tính của Lương Thế Vinh. Trở về quê nhà, Lương Thế Vinh sống chan hòa với mọi người. Tương truyền có lần đang ngồi nghỉ chân ở quán nước đầu làng, đoàn khiêngvõng quan huyện đi ngang qua đó, bọn lính lệ thấy ông - tưởng là một nông dân quê mùa - nên đã bắt ông ra khiêng. Lương Thế Vinh không nói gì, dù tuổi cao sức yếu nhưng ông vẫn tuân lệnh. Khi khiêng võng đến vũng bùn, ông vờ trượt chân hất quan huyện ngã chỏng gọng. Quan huyện tức giận, quát: - Lính đâu! Thằng già này láo! Quất một trăm hèo cho ta! Những tên lính lệ vừa vung roi lên thì ông nói: - Khoan đã, anh vào làng gọi hộ thằng học trò tôi là Thám hoa Trần Bích Hoành ra khiêng võng hầu quan huyện! 24 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Nghe nói thế, quan huyện mặt tái mét, hoảng hốt sụp lạy dưới chân ông: - Hạ quan có mắt như mù! Xin quan Trạng tha lỗi cho! - Quan huyện cai trị làng này, tôi là dân. Quan bắt dân đi khiêng võng thì có gì mà phải tạ lỗi? Quan huyện vẫn quỳ giữa bùn, Lương Thế Vinh bèn nói: - Thôi, ông đứng dậy đi. Từ rày về sau đừng hạch sách dân nữa nhé! Quan huyện mừng rỡ, lạy tạ rối rít, xin được khiêng võng đưa ông về nhà nhưng ông gạt đi. Lương Thế Vinh mất năm 1510 trong sự thương tiếc của muôn dân. Hiện nay, lăng mộ và đền thờ của ông tại xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản (Nam Hà) được công nhận là di tích lịch sử văn hóa của nước nhà. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập còn lưu lại bài thơ điếu ông: - Chiếu thư thượng đế xuống đêm qua, Gióng khánh tiền đài kíp tới nhà. Cẩm tú mấy hàng về động ngọc, Thánh hiền ba chén ướp hồn hoa. Khí thiêng đã lại thu sơn nhạc, Danh lạ còn truyền để quốc gia. Khuất ngón tay thần tài cái thế, Lấy ai làm trạng nước non ta? Bây giờ, xin trở lại với bài toán đố của Trạng Lương Thế Vinh, có đáp số bao nhiêu? Thử giải theo cách giải hiện đại: Gọi số gà trống là x, vậy số gà mái là 3x, và số gà con là 5 nhân 3x bằng 15x. Theo đầu bài ta có: x cộng 3x cộng 15x bằng 171 19x bằng 171 Vậy x bằng 9 tức ta có 9 gà trống Số gà mái 3 nhân 9 bằng 27 25 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Vạy số gà con là 15 x 9 bằng 135 Các bạn thấy đấy, bài toán đố này có khác gì những bài toán mà các bạn vẫn làm ở trường học hiện đại không? Vậy mà Lương Thế Vinh đã nghĩ
426
4
Đa Sĩ, xã Kiến Hưng (Hà Đông) còn lưu lại câu đối ca ngợi: Thần Tung nhạc giáng sinh, giúp nước ân cân lưu phương châu ngọc; Phật Vương xuất thế, cứu người công đức khắp cõi bao la. (Lê Trần Đức dịch) Ngoài ra còn có những tấm hoành phi ghi những chữ vàng chói lọi công đức: Hợp đức của âm dương; Thầy thuốc giỏi giúp nước; Thêm thọ cho dân. Trở lại với câu chuyện khuyên các môn sinh không đam mê tửu sắc, trong tác phẩm Hoạt nhân toát yếu, ông có ghi lại bài thơ (dịch): Trời sinh cái tính lôi thôi Gái thơm cùng rượu sóng đôi hại mình Bệnh tật phát bất thình lình Thuốc như vàng ngọc cứu mình được đâu! Lời răn dạy này không phải đã lỗi thời… 31 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Mười năm mài một lưỡi gươm Mũi nhọn sắc bén ánh hào quang Sát khí xông lên sao Ngưu, sao Đẩu Uy nghiêm động đến tuyết sương Vào Tần đã là một việc không nên Về Hán vẫn còn phân vân Luống phiêu bạt nơi giang hồ Chí mạnh hóa ra là một người rất ngông cuồng Đó là bài thơ mà một chàng trai đang ngâm dưới ánh trăng sáng tại làng Đặng Xá (Hải Dương). Vừa dứt tiếng ngâm thơ hào sảng tưởng như kinh động cả đất trời, chàng thanh niên vạm vỡ lại múa những đường gươm tuyệt đẹp. Tiếng gươm rít trong gió. Ánh trăng trải đầy trên sân cỏ. Đâu đó có tiếng gà gáy vang lên đột ngột. Chàng thanh niên dừng lại đường gươm. Ngước mặt nhìn bóng trăng, chàng ném gươm xuống đất và lững thững bước vào lều cỏ… Thời thế loạn lạc, liệu có thể tiến thân bằng con đường binh thư? Thánh y Hải Thượng Lãn ông (1720-1791) HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG Thánh y của Việt Nam 32 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Lê Duy Mật ở Thanh Hóa, Nghệ An cùng những người tâm phúc mưu đốt kinh thành để diệt họ Trịnh, nhưng việc bại lộ phải bỏ chạy. Hoàng Công Chất ở trấn Sơn Nam lấy cớ phù Lê diệt Trịnh để dấy binh, người người vác gậy đi đánh phá khắp nơi... Đã thế, thuế má ngày càng nhiều, sưu dịch này một nặng. Đâu đâu cũng có tiếng than khóc… Trong kinh, chúa Trịnh Giang lại hoang dâm vô độ, đến nỗi y mắc chứng bệnh lạ lùng là sợ tiếng sấm sét, do đó, phải chui xuống nhà hầm dưới đất để trú thân, việc nước giao cho bọn hoạn thần! Còn tiến thân bằng khoa cử thì chàng đã ngao ngán. Trước cổng trường thi, các sĩ phu trói gà không chặt đã chen lấn đến nỗi đạp nhau chết! Tương lai mờ mịt. Chàng lại thở dài… Chàng thanh niên này tên là Lê Hữu Trác, còn có tên là Lê Hữu Huân, quê ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên), nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Bầu Thượng (xã Tinh Diễm, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh). Chàng trải qua những năm tháng tuổi thơ sung túc, no ấm. Ông nội là Tiến sĩ Lê Hữu Danh, làm đến chức Hiến sứ, tước Bá. Bác làTiến sĩ Lê Hữu Hỷ, làm Giám sát ngự sử, cũng tước Bá. Chú là Tiến sĩ Lê Hữu Kiều, làm Thượng thư bộ Lễ, tước Quận công. Cha là Lê Hữu Mưu, đậu đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang bộ Công dưới triều Lê Dụ Tông, gia phong tước Bá và truy tặng Thượng thư. Còn mẹ là bà Bùi Thị Thưởng – con gái của Tướng công Bùi Diệm Đăng. Anh ruột của chàng là Lê Hữu Kiển và em là Lê Hữu Dung cũng đều đậu Tiến sĩ và làm quan lớn trong triều. Xuất thân từ hoàn cảnh danh gia vọng tộc, là con thứ bảy nên người đương thời thường gọi Lê Hữu Trác là cậu Chiêu Bảy. Về năm sinh của Lê Hữu Trác, các tài liệu ghi không thống nhất: theo Gia phả ghi ngày 12/11 năm Giáp Thân (27/12/1724), nhưng có tài liệu ghi năm 1721, mới đây nhất có tài liệu xác định là năm 1720. Thuở nhỏ, chàng đượccha cho đi học ở kinh thành Thăng Long và nổi tiếng là người học giỏi, thông minh hiểu rộng và ứng khẩu thành thơ. Năm chàng 20 xuân thì cha qua đời, vì vậy chàng phải tạm xếp bút nghiên về quê chịu tang cha và nuôi mẹ. Thời 33 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM gian này tình hình trong nước cực kỳ rối ren: Lê - Trịnh đảo điên, Nguyễn - Trịnh phân tranh. Đâu đâu cũng có tiếng gươm khua. Tiếng than khóc của dân đen vọng đến trời xanh… Lê Hữu Trác hết sức phân vân về con đường lập thân. Về sau, chàng tìm gặp được người thầy họ Võ tại Đặng Xá, huyện Hoài An đậu Hương tiến nhưng không ra làm quan, giỏi về thiên số và binh pháp. Năm đó thầy đã 80 xuân, đem hết sở học truyền cho Lê Hữu Trác. Học xong nghiệp võ, chàng hào hứng tòng quân, quyết chí dẫu thân phơi ngoài sa trường, da ngựa bọc thây cũng cam lòng. Được giao cầm quân, chàng đánh đâu thắng đó. Nhưng dần dần được tận mắt thấy sự thối nát của triều đình, thấy được sự phi lý của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn đang phân tranh đất nước, thấy được cảnh đau thương mà nhân dân phải gánh chịu nên từ đó, chàng càng oán ghét cuộc chiến tranh phi nghĩa này. Đêm nay, trở về nhà của người thầy họ Võ, ngẫm nghĩ lại những tháng ngày xông pha trận mạc, Lê Hữu Trác cảm thấy tiếc. Chao ôi! Năm tháng thanh xuân của chàng đã đi qua trong cảnh gió tanh mưa máu! Trăng vẫn sáng vằng vặc trên đầu. Chàng trằn trọc mãi. Tiếng gà gáy vang. Mặt trời nhô lên sau ngọn tre. Lúc chàng vào nhà thắp nén nhang lên bàn thờ thầy thì nghe tin dữ. Một tiểu đồng hớt hải báo tin là ở quê nhà, người anh thứ năm của chàng vừa từ trần ở Hương Sơn. Chàng tức tốc về quê chịu tang. Về nhà được ít lâu, thu xếp xong mọi việc thì chàng bị bệnh nặng vì lo lắng nhiều. Thuốc thang mãi không khỏi, nghe tiếng thầy Trần Độc ở Thành Sơn (Nghệ An) là người giỏi thuốc, thi đậu Hương tiến nhưng thi mãi không đậu đại khoa nên lui về ở ẩn, chàng liền tìm đến dưỡng bệnh. Suốt một năm trời ở đây, Lê Hữu Trác đã mượn thầy nhiều sách thuốc để nghiên cứu, càng đọc chàng càng "ngộ" ra rằng chỉ có nghề làm thuốc thì mới thật sự đem lại lợi ích cho mình và cho người. Đặc biệt, chàng được đọc bộ sách Phùng thị cẩm nang bí lục của danh y Phùng Triệu Trương. Do đó khi luận bàn nghề thuốc với thầy, Lê Hữu Trác tỏ ra rất am hiểu lý luận âm dương, về phương dược, về thực tiễn lâm sàng… Trần Độc lấy làm 34 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM kinh ngạc và truyền hết nghề làm thuốc cho chàng. Từ đây, Lê Hữu Trác quyết chí đeo đuổi nghề cứu nhân độ thế mà sau này chàng tự hào: "Làm thuốc giỏi chẳng hơn là tu tiên,tu Phật hay sao?''. Sau khi lành bệnh, trở về quê nhà, lấy cớ phải phụng dưỡng mẹ già, chàng xin ra khỏi quân đội. Năm 1756, lúc bấy giờ đã ngoài ba mươi xuân, Lê Hữu Trác lên kinh đô tìm thầy để tiếp tục học thêm nghề thuốc nhưng không gặp được thầy giỏi. Không nản chí, ông mua thêm sách chuyên môn rồi trở về Hương Sơn dồn hết tâm lực để nghiên cứu với tâm niệm: "Mình đã tr
428
4
ót làm một ông thầy thuốc thì phải làm cho hết cái sức của mình, dựng lên một lá cờ trong y giới". Để xa lánh với danh lợi tầm thường, ông mai danh ẩn tích, lấy hiệu là Hải Thượng Lãn Ông với ngụ ý tự nhận là "ông già lười trên biển" - ghi lại nguyên quán xã Liêu Thượng, tỉnh Hải Dương vậy. Bên cạnh đó, ông cũng bắt đầu chữa bệnh cho nhân dân trong vùng. Sau hơn mười năm thực hành và thu thập kinh nghiệm, ông đã bắt tay vào viết bộ sách nổi tiếng Y Tôn Tâm Lĩnh gồm 66 quyển. Công trình đồ sộ này, ông đã lao tâm khổ tứ trong vòng ba mươi năm. "Đây là một công trình kế thừa có phê phán và sáng tạo trước tác y học của nhiều thế hệ, một công trình được xem là bộ "bách khoa toàn thư" y học của thế kỷ XVIII và cũng là bộ sách y học xuất sắc nhất trong suốt thời kỳ phong kiến"(1). Trong đó có ba điều cốt yếu: giải thích rõ chân lý y học Việt Nam khác với Trung Quốc; nghiên cứu cây thuốc và phương pháp chữa bệnh bằng thuốc Nam; chép lại những bệnh nan y mà ông đã chữa được, gọi là dương án và những 1. Từ điển văn học - tập I, NXB KHXH 1983 - trang 382. 35 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM bệnh không chữa được, gọi là âm án để đời sau rút kinh nghiệm. Bộ sách quý này được khắc in 115 năm sau khi hoànthành (1885- 1770) và nay đã được dịch ra chữ Quốc ngữ, dày đến 3.000 trang in! Năm 1962, thực hiện việc trao đổi văn hoá quốc tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, Thư viện Quốc gia nước ta có tặng Bắc Kinh đồ thư quán bộ sách này và họ đã viết lời giới thiệu trân trọng: "Sách Lãn Ông Tâm Lĩnh vừa phong phú, vừa phát huy thêm được học thuyết của họ Phùng, vì thế có thể gọi ông là người đã tập hợp được kết quả tốt của mọi nhà làm thuốc, phát huy được nhiều điều mà người trước ông chưa phát hiện, có thể gọi ông là bậc "Thánh thuốc" của Việt Nam. Nếu ta ví Nguyễn Du là J.W.Goethe của Việt Nam, thì ta cũng có thể gọi Lê Hữu Trác là Lý Thời Trân của Việt Nam''(2). Sự so sánh này rất chính xác, bởi lẽ Lý Thời Trân (1518-1593) cũng là danh y dưới triều nhà Minh, từng chữa bệnh cho con trai Sở vương Chu An Nghiệm, được tiến cử vào Thái y viện ở Bắc Kinh và là tác giả của bộ y dược Bản thảo cương mục gồm hơn 190 vạn chữ – một cống hiến vĩ đại của ông cho Trung y học. Đương thời, khi Lê Hữu Trác còn sống sách chưa khắc in thì thiên hạ đã chép lại, truyền tay nhau để đọc và lập bàn thờ thờ sống để bày tỏ lòng biết ơn ông. Ngày nay đọc lại bộ sách quý này – chỉ riêng phần tiểu dẫn của tác giả thì chúng ta có thể thấy được phần nào công việc nặng nhọc của bậc Thánh y nước ta. "Tôi bỏ nghề Nho, học nghề thuốc, hơn hai mươi năm nằm gai nếm mật, cố để biết được y lý, còn việc đời hay dở, tôi coi như đám mây trên đỉnh núi. Tôi làm nhà ở nơi vắng người, đóng cửa đọc sách, tìm hết sách của mọi nhà, ngày đêm nghiên cứu, một khi được câu cách ngôn của bậc tiên hiền thì ghi lại để suy nghĩ. Những câu nào lý lẽ ở ngoài câu nói mà tôi suy ra được thì lại tìm cho rộng ra, như vòng tròn không có đầu mối để biết được đến cùng"; hoặc "Tôi tự nghĩ làm thuốc cũng như người cầm binh, thầy thuốc cũng như vị tướng, làm tướng mà không biết binh pháp sao thắng được bên địch, làm thuốc mà không biết tinh dược làm sao cứu được người đời. Nhà cầm binh chia quân đội ra tiền, hậu, tả, hữu, trung còn nhà làm thuốc thì chia 2. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - NXB Văn Hoá 1984 - trang 427. 36 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM tinh dược ra kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ. Nhà cầm binh chú trọng về trận đồ, về tình hình bên địch, còn nhà làm thuốc phải rõ về âm, dương, hàn, nhiệt của từng vị thuốc để chữa cho những chứng biểu lý, hư, thực của bệnh nhân". Có thể nói Lê Hữu Trác đã tiếp thu thành quả của người xưa một cách sáng tạo, chứ không nô lệ vào những điều mà tiền nhân đã nghiên cứu. Bất cứ vấn đề gì thì ông cũng tìm cách áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh, với điều kiện tự nhiên. Ông đã nghiên cứu mở rộng thêm, áp dụng nhiều kinh nghiệm mà mình thu thập được, rồi tìm tòi bổ sung những điều mà người xưa còn thiếu sót và hệ thống lại một cách rành mạch. Bậc túc nho Trần Văn Giáp khi nghiên cứu tác phẩm vĩ đại này có những nhận xét lý thú: "Trong phần Dược phẩm, trước hết ông nêu rõ các tên khác nhau của một vị thuốc, công dụng chính để chữa bệnh gì, nếu kết hợp với các vị thuốc khác thì chữa bệnh như thế nào, cấm kî thế nào, cách bào chế thế nào. Việc này so với sách Cẩm nang của họ Phùng thì thật rõ hơn nhiều. Đây là không dám nói "thanh xuất ư lam" nhưng chính là có sáng tạo tính. Có nhiều điều tự ông phát minh ra, như bàn về ở nước ta thì tuyệt không thể dùng bài Ma hoàng quế chi, là những vị thuốc cực nóng, chỉ thích hợp cho người phương Bắc. Cách chữa bệnh dùng thuốc của ông thực là phù hợp với hoàn cảnh và khí hậu phương Nam v.v… Đặc điểm trong công trình nghiên cứu của ông là ông đã sưu tầm được một số cây thuốc sản xuất ở Việt Nam, mỗi vị đều ghi rõ tính chất của nó, dùng chữa bệnh gì, tục gọi là gì đều có chú thích rõ ràng…"(3). Dù đương thời nổi tiếng là bậc danh y, nhưng với tinh thần của một nhà nghiên cứu nghiêm túc, Lê Hữu Trác vẫn là người rất khiêm tốn. Trong tập Âm án và dương án, khi gặp những căn bệnh khó chữa hoặc không chữa được thì ông vẫn ghi lại "để bậc quân tử đời sau thấy ưu điểm của tôi dù không đáng bắt chước, mà chỗ khuyết điểm cũng để lại làm gương, để mọi người đừng quá yêu tôi mà bảo rằng chữa được bệnh chứkhông chữa được mệnh". Xin trích một "dương án" để chúng ta cùng thấy được cách chữa trị của ông: "Một người đánh cá tên là Trạm có thai bảy tháng, phải chứng 3. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập I, trang 428. 37 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM cảm mạo rét nóng như người sốt rét, nhức đầu đau mình, độ hai tuần thì động thai, ngồi đứng không được. Thầy thuốc cho là thai trệ, dùng thuốc đem thai lên thì dềnh lên ngực lại đau thêm. Lại một vị giáng xuống thì thai chạy xuống dưới rốn mà đau bội, tiểu tiện bế vít không đi được, vì thầy thuốc ấy nói đã hạ thì lên cho thăng, thăng vừa không khỏi thì thăng cho nhiều, thăng nhiều cũng không được thì dùng thuốc an thai. Nhưng qua mấy thang thuốc thì đau và động thai hơn trước nhiều. Do đó, người nhà mới tìm tôi điều trị và kể lại như vậy. Tôi buồn cười mà rằng: - Đứa trẻ trong bụng thật như trâu như ngựa, muốn dắt lên dắt xuống thế nào cũng được, sao các thầy không rõ nghĩa ở Nội kinh có nói: "Nếu vì bệnh mà thai động thì chữa bệnh, nếu vì thai mà bệnh thì an thai, nay nhân cảm mạo mà động thai thì phải chữa về bệnh mà thai tự nhiên yên". Nói xong, tôi đến xem thì người đàn bà đã sinh sáu bảy lần, thiên quý thuỷ đã kém. Vả lại hình thể đen gầy, mặt sạm như tro than, có thể là thuỷ suy hoả thăng, huyết kém âm hư, nay chân thuỷ đã suy thì thai không được yên. Xong, tôi dùng bài "lục vị thang" thêm Sài hổ, Bạch thược để dẹp tạng can; thêm Trí mẫu và Hoàng bá đều sao để dẹp chân hoả. Chỉ uống một thang mà chứng hàn nhiệt ngưng ngay mà thai thì được yên. Tôi biết rằng vì các thầy đã trục và hạ, nên tôi lại cho uống bài "bổ trung" bội Thăng ma để đem lên, thời thai về chỗ cũ mà tiểu tiện thông lợi. Xong lại cho uống bài: "lục vị" bỏ Sài, Thược, Tri, Bá, thêm Mạch đông, Ngũ vị, Đỗ trọng, Tục đoạn và uống xen với thuốc điều tì dưỡng vị
429
4
, mà để ý nhiều về Sâm, Truật chỉ trong một tuần mà bệnh nhân lại khoẻ như trước". Còn đây là một "âm án": "Tên Tiểu là người đi buôn, sau khi ốm mới dậy nhân thương thực cảm phong mà vừa thổ vừa tả, bốn tay chân giá lạnh và đoản khí, đi thuyền về nam đã một ngày một đêm, người nhà đến nói với tôi để xin thuốc, tôi đến xem mạch thì sáu bộ "trầm và vi" tựa như không, tinh thần lại hỗn loạn, tôi biết là chứng nguy không muốn cho thuốc, nhưng vợ y cùng mẹ vợ kêu nài, vả lại vợ y đã có thai ba tháng, hàng ngày sinh nhai chỉ nhờ người chồng. Tôi thương tình cảnh đó mới cho uống bài "Sâm truật phụ", hết ba thang thì chứng thổ tả ngưng và 38 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM đã thấy có mạch, bốn chân tay đã hơi ấm và đã biết người ngoài. Tôi cho uống bài "Cứu dương thang" mà mỗi lần uống lại cho ăn một bát cháo đặc, được một ngày một đêm thời khí của dạ dày đã trở lại mà ăn uống đã tiến, nhưng lại thấy sốt nóng tự bàn chân bốc lên như lửa đốt, lại khát quá độ. Đó là vì thổ nhiều thì hại chân dương, tả nhiều thì hại chân âm, dù có uống Sâm Phụ hồi dương, nhưng dương không có âm để liễm lại, hoả không có thuỷ để chế đi, cho nên phù việt trở nên mà nóng tự huyệt "dũng tuyền" bốc lên, là âm hoả xông lên trên. Tôi nghĩ như vậy rồi cho uống một thang: hai lạng Thục địa, 3 chỉ Đan sâm, 2 chỉ Mạch môn, 1 chỉ Ngũ vị,1 chỉ Phụ tử, 1 chỉ Ngưu tất, thêm bấc thắp đèn ngày xưa sắc đặc cho uống nhiều, mới có một thang mà khát khỏi ngay, nhưng vẫn nóng như trước lại thêm sợ rét run người lên không chịu nổi. Tôi nghĩ rằng Nội kinh có nói: "Dương hư thời sợ rét, âm hư thời phát sốt" thì chứng này là chứng dương kém ở ngoài, âm kiệt ở trong. Tôi mới cho uống bài "bát vị thang" bỏ Trạch tả thêm Mạch môn, Ngũ vị, Ngưu tất, Cao ban long uống một chén to thì nóng đỡ một nửa, đến thang thứ hai thì người mát, xem mạch thì "hồng và sắc" mà không có thứ tự, thầy thuốc một lần thở ra hút vào mà mạch của bệnh nhân bảy lần phồng lên xẹp xuống, lại lúc thấy lúc không mà không có thần không có lực. Tôi thấy nóng lui mà mạch vẫn không điều hoà, là âm dương ly tuyệt, tôi bảo vợ và mẹ y rằng không thể chữa nổi. Nhưng họ thấy bệnh đã đỡ quá nửa, ngờ là tôi không thấy tiền thuốc đầy đủ nên bỏ dở không chữa, rồi đem quần áo, đồ đạc ở trong thuyền đến nhà tôimà nói rằng: "Nhà đói khổ chỉ có những thứ này để bù vào tiềân thuốc". Tôi vừa thẹn vừa giận nói cho họ biết là nói thật chứ không phải vì buộc lợi. Vợ y thưa rằng: "Sống chết chỉ lạy nhờ tôn ông đâu dám tìm thầy thuốc khác". Tôi trả những đồ vật họ đem đến, rồi đem bài "bát vị" đã cắt cho trước kia, cho uống xen với bài "quy tì". Uống được mấy hôm thì tinh thần bệnh nhân mạnh nên ăn uống thêm bội. Nhưng tôi ngờ là giả tượng, vì những chứng hư yếu lắm mà dùng thuốc để bổ tiếp thì mạnh dần mới là tốt. Chứ trường hợp này như ngọn đèn sắp tắt mà cháy mạnh, quả nhiên, mấy hôm sau bệnh nhân khí tuyệt. Thở ra hít vào không nổi. Gia đình bệnh nhân đến nói, tôi cho uống Sâm, Phụ thì thở ngược lên thật mạnh rồi chết. 39 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Về chứng này, tôi chữa hằng tuần khó nhọc, không đáng kể số tiền thuốc mà nhà bệnh không trả được, chỉ hiềm rằng: không biết vì bệnh nặng mà thuốc còn ít hay là vì tôi chưa nghĩ hết mọi lẽ? Vậy xin ghi lại đây để hỏi các bậc cao minh". Những câu chuyện mà ông ghi lại như thế đã phản ánh sinh động đời sống của nhân dân ta trong thế kỷ XVIII. Và bây giờ đọc lại, chúng ta thấy phương pháp chữa bệnh của ông không khác gì phương pháp thám chẩn lâm sàng (examen clinice) của các bác sĩ thời nay. Nếu Thiền sư Tuệ Tĩnh – ông Tổ của thuốc Nam – là người đầu tiên xây dựng truyền thống y dược học dân tộc với phương châm "Nam dược trị Nam nhân" thì danh y Lê Hữu Trác cũng tiếp tục nghiên cứu và phát hiện thêm nhiều vị thuốc mà trước đây người xưa chưa đề cập đến. Chẳng hạn, ở phần Lĩnh nam bản thảo, ông đã thừa kế 497 vị thuốc Nam của Tuệ Tĩnh và chép thêm hơn 300 vị thuốc được bổ sung thêm công dụng hay mới phát hiện thêm v.v… Cùng với danh y Tuệ Tĩnh, một lần nữa ông khẳng định ở nước ta có nguồn dược liệu phong phú để chữa bệnh: Thuốc thang sẵn có khắp nơi Trong vườn, ngoài ruộng, trên đồi, dưới sông Hàng ngàn thảo mộc, thú trùng Thiếu gì thuốc bổ, thuốc công quanh mình Đặc biệt trong phần Vệ sinh yếu quyết, ngoài phần hướng dẫn cho nhân dân "biết phép dưỡng sinh, thuận theo quy luật âm dương, điều hoà âm dương thích nghi với thời tiết bốn mùa, biết phép tu thân dưỡng tính, ăn uống có tiết độ, sinh hoạt có chừng mực, không lạm dụng bừa bãi nhọc mệt, cho nên hình thể và tinh thần đều khoẻ mạnh mà hưởng hết tuổi trời khoảng trăm năm mới mất" thì ông đã đưa ra một tổ chức vệ sinh toàn diện từ trong gia đình ra đến xã hội phù hợp với phong tục tập quán của nước ta – những điều này đến thế kỷ XXI vẫn còn giá trị thực tiễn. Thử tưởng tượng hơn 200 năm trước đây, ông đã nhìn thấy: 40 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Một điều trọng yếu không quên Vấn đề nước uống phải nên thế nào? Chớ dùng nước ruộng, nước ao Nước hồ, nước vũng nước nào cũng dơ Chi bằng nước giếng, nước mưa Nước sông, nước suối cũng chưa an toàn Cần nên ngâm thuốc sát trùng "Chanh châu, Quán chúng, Hùng hoàng, Nghê răm" "Phèn chua" lọc nước thêm trong Ao tù, nước rửa cũng không nên dùng Nước ăn chứa đựng trong thùng Cũng nên đậy kín đề phòng bụi rơi Nước mưa nên hứng giữa trời Mái nhà thường có sâu trôi lẫn vào Bể xây thành đáy mọc rêu Nên dùng vôi bột cọ theo cho liền Cá vàng nuôi cảnh cũng nên Phòng khi có độc cá liền chết ngay Cá ăn bọ gậy hằng ngày Vừa là trừ muỗi lợi thay mọi bề Ngoài việc soạn sách, chữa bệnh cứu người, Lê Hữu Trác còn mở trường dạy nghề thuốc cho học trò. Tiếng tăm của ông ngày càng vang dội. Năm 1781, nghe danh của ông, chúa Trịnh triệu ông ra kinh đô Thăng Long để chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán. Mọi người lấy làm mừng cho ông vì "tiếng tăm động đến cửu trùng, tiền đồ hẳn rất có triển vọng", nhưng ông thấy "lạnh tóc gáy" không lấy đó làm vui và bảo với học trò: - Cây kia có hoa nên bị người ta hái; người ta có cái hư danh nên lụy về chữ danh. Ví bằng trốn cái danh đi có thú hơn không? Đêm ấy, ông trằn trọc mãi rồi nhủ lòng: - Mình thuở trẻ mài gươm, đọc sách. Mười lăm năm phiêu bạt 41 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM giang hồ, không có cái gì là sở đắc. Mình đã xem công danh là vật bỏ, về núi Hương Sơn dựng lều, nuôi mẹ, đọc sách, mong tiêu dao trong cái vườn đạo lý của Hoàng Đế, Kỳ Bá(4) lấy việc giữ thânmình, cứu giúp người cho là đắc sách lắm. Nay không ngờ lại bị cái hư danh làm lụy đến nông nỗi này. Nhưng rồi, ông cũng phải chấp hành lệnh lên kinh. Chuyến đi này cho thấy Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y mà ông còn là một nhà văn xuất sắc bậc nhất vào thời Lê mạt. Ông đã hoàn thành tập bút ký Thượng kinh ký sự (Kể chuyện lên kinh) mang nặng dấu ấn của "cái tôi" mà văn học trước đây thường ít đề cập đến, qua đó nó đã vẽ
430
4
lại những sự thật của lịch sử thời Lê - Trịnh. Chẳng hạn, khi vào khám bệnh trong phủ chúa, ông miêu tả chính xác và sinh động: "Ở trong tối om, không thấy cửa ngõ gì cả. Đi qua độ 5, 6 lần trướng gấm như vậy, đến một cái phòng rộng, ở giữa phòng có một cái sạp thếp vàng. Một người ngồi trên sạp độ 5, 6 tuổi, mặc áo lụa đỏ. Có mấy người đứng hầu hai bên. Giữa phòng là một cây nến to cắm trên một cái giá bằng đồng. Bên sập đặt một cái ghế sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm. Một cái màn là che ngang sân. Ở trong có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt. Xem chừng Thánh thượng thường ngồi trên ghế rồng này". Bắt mạch khám bệnh cho Trịnh Cán thì ông thấy "tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò", còn Trịnh Sâm thì "mình gầy, da khô, nước tiểu vàng, đại tiện không tiêu, bụng đầy, thỉnh thoảng ợ hơi. Lại có cơn sốt, miệng khát lưỡi nẻ, ho thất thanh". Sống trong nhung lụa, vật chất thừa mứa, nhưng cha con chúa Trịnh lại mang những căn bệnh ngặt nghèo nầy. Một trong những nguyên nhân ban đầu mà ông nhận định vì "ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên phủ tạng yếu đi". Trước đây, trong sách của mình, ông đã căn dặn: Còn như phú quý nhàn cư Ngày đêm yến tiệc ăn no lại nằm 4. Hoàng Đế và Kỳ Bá theo truyền thuyết là hai vị tổ sư của y học đã làm ra bộ Nội kinh. 42 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Rượu say rồi lại nhập phòng Khỏi sao tích trệ phạm phòng chết non Những căn bệnh này các thầy thuốc ở kinh đô phải bó tay. Sau khi khám bệnh, bốc thuốc xong, mặc dù được chúa Trịnh kính nể, trọng dụng nhưng ông chỉ canh cánh một nỗi lòng nhớ quê nhà và xin được trở về cố hương. Mãi một năm sau ông mới toại nguyện "xin xỏ năm lần bảy lượt mới được buông tha". Những ngày này ông sống thong dong, tiếp tục dạy học trò và làm thuốc cứu người. Trong tập Thượng kinh ký sự, ông sung sướng phóng bút: "May sao, lời thề núi cũ không quên, tuy thân mắc vào vòng danh lợi, nhưng vẫn không bị danh lợi mê hoặc. Ra đi thung dung, trở về ngất ngưởng. Lại về núi cũ, lại nằm yên trên đá, lại ngủ dưới hoa. Đang khi mơ màng, lại nghe đến việc xảy ra, giật mình bừng tỉnh. Tôi nghĩ bụng: mình không đến nỗi bị thiên hạ chê cười, chỉ nhờ "không tham" đó thôi". Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác mất năm 1791. Cũng như Thiền sư Tuệ Tĩnh, ông được nhân dân ta tôn vinh là "Đại y tôn Việt Nam". Đúc kết tâm nguyện của mình về y đức, ông đã để lại "Cách ngôn dạy người làm thuốc" - nổi tiếng không kém gì Lời thề của danh y Hippocrate(5). Thiết nghĩ, những lời vàng ngọc của Hải Thượng Lãn Ông cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị: 1. Học thuốc phải thấu hiểu cả nho lý, rỗi nên xem những sách thuốc của các bậc lương y thời trước, để gặp bệnh biết thông biến, mới khỏi sai lầm. 5. Hippocrate: danh y nổi tiếng thế giới, người Hy Lạp, sinh và mất tại đảo Cos khoảng năm 460-375 trước công nguyên. Lời thề của bậc danh y này như sau: "Tôi xin thề trước thần Apollon- thần chữa bệnh, trước Esculape - thần y học, trước thần Hygie và Pannacée, trước sự chứng giám của tất cả nam nữ thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm tròn lời thề và những điều cam kết sau đây: • Tôi sẽ xem những thầy học của tôi ngang hàng với các bậc sinh thành ra tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi và khi cần tôi sẽ phụng dưỡng. Tôi sẽ coi con thầy như anh em ruột thịt của tôi và nếu họ muốn học nghề y, tôi sẽ dạy cho họ mà không giấu nghề, không đòi hỏi gì cả. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả các vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của thầy dạy tôi và chotất cả các môn đệ cùng gắn bó bởi một lời cam 43 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM kết và lời thề đúng với y luật mà không truyền cho một ai khác. • Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tùy theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công. • Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất cứ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng không gợi ý cho họ. Cũng như vậy, tôi sẽ không trao cho bất cứ phụ nữ nào những thuốc gây sẩy thai. • Tôi sẽ suốt đời hành nghề trong sự vô tư và chân chất. • Tôi sẽ không thực hiện những phẩu thuật mở bàng quang mà dành công việc đó cho những người chuyên môn. • Dù bất cứ thế nào tôi cũng vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, đồi bại, nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ. • Những điều mắt tấy tai nghe trong lúc hoặc ngoài lúc hành nghề, tôi sẽ giữ kín không tiết lộ với bất cứ ai. • Nếu tôi làm trọn lời thề này, tôi sẽ được nguời đời quý mến. Nếu tôi phản bội lời thề thì sẽ gánh chịu mọi tai họa. (tiếp theo) 2. Nếu nhà bệnh có mời, nên tuỳ bệnh nặng nhẹ mà đi xem, chớ thấy người phú quý mà đi trước, nhà bần tiện mà đi sau. 3. Xem mạch cho đàn bà, con gái, nhất là gái goá và các ni cô, phải bảo một người đứng bên cạnh để tránh sự hiềm nghi. 4. Đã là nhà làm thuốc phải để ý giúp người, mà không nên vắng nhà luôn, nhất là đi hành lạc. 5. Gặp chừng bệnh ngặt, muốn hết sức cứu vãn, nhưng nói cho người nhà có bệnh biết trước là bệnh khó chữa, rồi hãy cắt thuốc. 6. Thuốc phải chọn vị tốt và bào chế đúng phép, chứ không được cẩu thả. 7. Gặp người đồng nghiệp, người học hơn mình thời thờ làm thầy, người cao hơn mình thì kính cẩn, người kém mình nên khuyên bảo thêm, dù gặp người kiêu ngạo cũng nên khiêm nhường. 8. Chữa bệnh cho người nghèo và quan quả cô độc, ta càng thêm lưu ý, nhất là người con hiếu, vợ hiền hay nghèo mà bị bệnh, thời ngoài sự cho thuốc, ta có thể trợ cấp thêm, nếu không đủ ăn, như thế mới là nhân thuật. 44 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM 9. Khi bệnh nhân khỏi, chớ cầu trả lễ nhiều, nên để họ tuỳ ý vì làm thuốc là thuật thanh cao, thời phải có tiết thanh cao. 10. Tôi xét, làm thuốc là nhân thuật giữ tính mạng cho người, vậy không nên mưu lợi. Ngạn ngữ có câu: "Ba đời làm thuốc hay tất đời sau có người làm nên khanh tướng". Tôi thường thấy các thầy thuốc tầm thường, hoặc nhân cha mẹ người bệnh ốm ngặt, hoặc nhân lúc nguy cấp về đêm tối, mà bệnh dễ chữa bảo là khó, bệnh khó bảo là không chửa được, thế là lập tâm bất lương, hơn nữa đối với người cao cấp thì ân cần để tính lợi, đối với người nghèo túng thời lạnh nhạt coi thường, cho việc làm thuốc như nghề buôn bán, thời không đáng kể. Cổ nhân có nói: "Không làm quan giỏi cũng làm thầy thuốc giỏi" vậy tôi chỉ nghĩ sao cho không hổ với lương tâm, nên bệnh nào không thể chữa được, thời báo trước cho nhà có bệnh biết. Nếu gặp những người tiếc của coi thường tính mệnh, hay là không đủ ăn mặc, thời tôi lại chu cấp thêm". Năm 1970, Bộ Y Tế nước ta đã tổ chức trọng thể kỷ niệm 250 năm sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Nhà nghiên cứu Văn Tân - Viện Sử học - trong bài tham luận của mình đã rút ra sáu bài học: 1. Lê Hữu Tr
431
4
ôn trong trong nhân dân nhằm bổ sung kiến thức. Sách của Lê Quý Đôn biên soạn, trước tác giúp ích cho muôn đời đã đành, nhưng trong đời thường ông cũng không từ nan một việc gì nếu có lợi cho đất nước. Tương truyền có lần sứ Trung Quốc gửi thông điệp sang nước ta vỏn vẹn chỉ… một chữ! Không ai hiểu họ muốn nói điều gì cả. Triều đình phải mời Lê Quý Đôn vào. Đọc xong chữ ấy, ông tâu vua gửi cho họ một tấm "áo cầu" (áo làm bằng da sang trọng). Không một ai trong triều hiểu tại sao phải làm như thế, nhưng vẫn tuân theo hướng dẫn của ông. Quả nhiên khi nhận được áo, sứ nhà Thanh đến ngay. Vua liền cử ông ra tiếp. Ông viết bốn chữ: 54 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM - Phi xa bất đông Nghĩa là: Không phải chữ xa (xe) cũng không phải chữ đông (phía đông). Sứ nhà Thanh đọc xong bốn chữ ấy vội vàng trả lại áo rồi vái bốn vái. Đến lúc này, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng, sứ nhà Thanh viết không phải chữ xa, cũng chẳng giống chữ đông là lấy tích trong câu thơ Mao Khâu: Hồ cừu mung lung, phi xa bất đông, thúc hề bá hề, thực bất dữ đông. Nghĩa là: Áo rách tứ tung, đánh xe qua đông, anh em chẳng tới, mà giúp nhau cùng. Hóa ra, sứ Tàu muốn ngụ ý họ không có áo đại lễ, nên không dám đến. Đó là nội dung bức thư có tính chất ngoại giao, thế mà Lê Quý Đôn đã giải được. Cả triều đình thở phào nhẹ nhõm mà sứ nhà Thanh phải khâm phục nước Nam ta có người tài giỏi. Nhưng một con người dù giỏi thế nào thì vẫn có những lĩnh vực không hiểu biết bằng người khác. Đây chính là bài học sâu sắc mà Lê Quý Đôn đã nhận được từ thời tuổi trẻ. Tương truyền, sau khi mới đỗ Bảng nhãn, ông cho treo ngoài cửa tấm bảng: "Thiên hạ nghi nhất tự vấn lai" (Ai có chữ gì nghi ngờ cứ đến đây mà hỏi). Bấy giờ cha của Lê Quý Đôn vừa mất, trong nhà rộn rịp sửa soạn tang lễ, bỗng có một ông già chống gậy vào viếng. Thấy không phải khách quen ông bèn hỏi lai lịch. Ông lão đáp: - Cháu còn nhỏ không biết, lão là bạn học với cha cháu, nhà nghèo đường xa nên ít đi lại. Hôm nay nghe tin cụ nhà mất nên mới đến có câu đối viếng. Cháu đem giấy bút ra để lão đọc cho cháu viết. Tấm biển "Văn hiến gia truyền" tại từ đường dòng họ Lê Quý Đôn do vua Lê ban tặng 55 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Lê Quý Đôn vâng lời, cầm bút đợi. Ông lão đọc: - Chi… Lê Quý Đôn không rõ chữ chi nào nên dùng đằng đợi: chi là chung, là biết, là cành… cả chục chữ chi với nghĩa khác nhau, nên ông ngập ngừng chờ đọc tiếp chữ sau để viết. Ông lão thấy thế liền giục: - Chi… Lê Quý Đôn lễ phép thưa: - Bẩm cụ, chữ chi nào ạ? Ông lão thở dài: - Trời ơi! Cháu đỗ đến Bảng nhãn mà chữ chi không biết viết! Thế cháu treo ngoài cửa tấm bảng kia để làm gì? Nghe ông lão nói, Lê Quý Đôn xám mặt. Ông lão đọc luôn hai vế câu đối: Ngôi nhà từ đường dòng họ Lê Quý Đôn tại Thái Bình (chụp năm 1979) 56 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kim thượng tại; Tại tại sổ thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chi. (Thấm thoắt hơn ba chục năm, xích huyện, hồng châu nay vẫn đó. Hỡi ôi xa ngoài vạn dặm, đào hoa, nước chảy, bác về đâu?). Kết quả là về sau Lê Quý Đôn cho gỡ tấm bảng đã treo ngoài cổng. Và ông càng cố tâm học hỏi không ngưng nghỉ cho đến khi qua đời năm 1784. Chẳng rõ giai thoại này hư thực ra sao. Có lẽ, thấy Lê Quý Đôn là bậc uyên bác nên thiên hạ mới đặt ra giai thoại này để nhắc nhở rằng, dù giỏi bao nhiêu, học bao nhiêu thì cũng chẳng bao giờ đủ cả. Ôi! Sở học mênh mông biết chừng nào! 57 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Gần kinh thành Thăng Long, dưới mái nhà tranh ở làng Đống (nay thuộc xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm - Hà Nội), một thư sinh đang ngồi đọc sách dưới ánh trăng rằm chiếu sáng ngời. Chàng đọc say sưa như không nghe tiếng trống ếch rộn ràng của trẻ con ngoài kia đang rước đèn trung thu. Lúc trẻ con kéo qua trước nhà chàng, chúng reo hò ầm ĩ đã khiến chàng bừng tỉnh. Chàng sực nhớ đến trung thu năm xưa. Lúc ấy, mẹ chàng đang bệnh. Bà nằmtrên chiếc chõng tre ọp ẹp, thở một cách khó nhọc, nhưng lúc ấy chàng vẫn chúi mũi vào trong kinh sử, quyết học để giật lấy bảng vàng! Sau khi đậu được Tú tài, trở về làng thì mẹ đã mất. Con đường hoạn lộ thênh thang đã mở ra trước mắt, nhưng bây giờ, đối với chàng thật vô nghĩa. Chữ hiếu không đền đáp được khiến chàng ray rứt mãi. Từ đó, chàng không ra làm quan mà ở nhà nghiên cứu về nghề thuốc. Chàng nghĩ, cứu sống được người, chữa bệnh cho người cũng là cách báo hiếu cho mẹ vậy. Chàng trai hết lòng vì đạo hiếu và đạo làm người đó là Nguyễn Hữu Đạo – một danh y nổi tiếng của thế kỷ XVIII. Về cuộc đời của ông sử sách xưa nay viết rất vắn tắt ngay trong quyển Góp phần xây dựng lịch sử ngành dược Việt Nam (NXB Y Học - 1985) cũng chỉ viết vỏn vẹn đôi dòng: "Ông phụ trách y học huấn khoa dưới thời Lê Hiến Tông (1774) đã viết hai tập sách Mạch học bằng quốc âm và Y lý tinh ngôn về lâm sàng bệnh học, phân tích những chứng trạng đặc biệt đối với mỗi loại bệnh kèm theo phương thang kinh trị thích NGUYỄN HỮU ĐẠO Làm thuốc để đức cho đời 58 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM đáng" (trang 71). Vì vậy, cuộc đời riêng của ông, và ngay cả năm sinh, năm mất của ông cũng không ai được biết. Tuy nhiên, căn cứ trong quyển Hà Nội di tích và văn vật (Sở VHTT Hà Nội 1994) và nhiều tài liệu khác chúng ta có thể hình dung ra công nghiệp của ông đối với sự nghiệp y học nước nhà. Năm tháng trôi qua. Tài năng của Nguyễn Hữu Đạo càng vang xa. Ngày nọ, vợ của Tổng trấn Sơn Tây lâm bệnh nặng mà các thầy thuốc nổi tiếng nhất trong vùng đều bó tay, không thể cứu chữa nổi. Nghe tiếng tăm của ông, viên Tổng trấn nầy cho vời đến. Khám bệnh xong, ông bốc thuốc cho người bệnh. Chỉ uống vài thang thì cơn bệnh đã bị đẩy lùi nhanh chóng. Viên Tổâng trấn vui mừng khôn xiết, hậu tạ vàng bạc hậu hĩnh nhưng ông đều lắc đầu từ chối, trước sau chỉ đáp: - Cứu sống được người thì tôi đã nhận được đức. Vậy tôi còn nhận lợi làm gì để mất đức mà không khéo lại mất cả danh nữa! Ông thầy thuốc Nam (trong đầu thế kỷ XX của học sinh trường vẽ Gia Định) 59 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Không còn cách nào khác, viên Tổng trấn đành sai người đưa ông về quê và luôn nghĩ đến cơ hội để trả ơn ân nhân của mình. Cơ hội ấy đã đến. Đó là lúc vua Lê Hiển Tông (1740- 1786) bị bệnh, viên Tổng trấn đã tiến cử Nguyễn Hữu Đạo. Chữa trị cho nhà vua lành bệnh, ông được phong Thượng ngự y trong Viện thái y của triều đình. Dù ngất ngưởng trên danh vọng mà nhiều người ham muốn, nhưng ông vẫn không cho đó là điều may. So với những ông vua khác trong lịch sử phong kiến nước ta thì Lê Hiển Tông là người trị vì lâu nhất: 47 năm! "Bí quyết" của vị vua này là không quan tâm đến chính
434
4
sự, mọi việc đều giao cho nhà chúa - từ chúa Trịnh Doanh đến Trịnh Sâm - quyết định. Lúc này chiến tranh, loạn xảy ra liên miên, đời sống dân nghèo vang rền những tiếng than khóc. Nhưng cũng chưa thảm bằng thân phận những người lính. Lao vào cuộc chiến tranh phi nghĩa của các thế lực phong kiến, bên cạnh hòn tên mũi đạn thì đói rét, bệnh tật đã giết họ chết dần chết mòn. Biết được điều này, Nguyễn Hữu Đạo xin được phục vụ trong quân đội. Theo các Đạo sắc do vua Lê Hiển Tông phong tặng ngày 25/5 năm Cảnh Hưng 43 (1782) mà dòng họ còn giữ được thì năm 1774, ông được phái đi phục vụ việc đánh dẹp hai xứ Thuận Quảng (Thuận Hoá và Quảng Nam) do tướng Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy. Chắc chắn trong chuyến hành quân vào Nam lần này, Nguyễn Hữu Đạo có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu những bài thuốc Nam mà dân đàng Trong đang lưu truyền. Việc làm nghiêm túc này sẽ bổ sung, mở rộng cho thực tiễn và lý luận về y học mà ông đang quan tâm. Vì lập được nhiều công lao nên ông được triều đình thưởng chức Huấn khoa, rồi được thăng Tướng sĩ thứ lang y học huấn khoa phủ Trường Khánh. Theo Đạo sắc thứ hai đề ngày 21/4/1786 thì ông là một danh y có công trong việc trông nom sức khoẻ cho gia thần, chăm chỉ làm thuốc ở Thái y viện nên được thăng chức Tiến công thứ lang Thái y viện lương y chính hạ. Suốt năm tháng hành nghề, ông đã viết sách thuốc truyền lại đời sau. Khi già, ông xin nghỉ hưu tại quê, dù nhà vua muốn ông cư ngụ tại Kinh đô để lúc cần là triệu được ngay. Nhưng ông vẫn cố xinvề 60 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM quê nhà, xa lánh chốn phồn hoa để dồn tâm lực cuối đời cứu dân nghèo. Do đó, nói là nghỉ hưu, nhưng thật ra ông vẫn tiếp tục hành nghề. Hằng ngày, ông vẫn đi thăm bệnh cho dân chúng nhưng không nhận bất cứ thù lao nào. Ngoài ra, ông còn hướng dẫn dân trong vùng trồng cây thuốc và dạy cho họ biết dược tính của từng loại cây thuốc Nam. Chẳng hạn, lá móng tay đắp mụt nhọt mới phát, nhân hạt gai dầu chữa bệnh táo bón, lá cây phèn đen chữa bệnh thổ tả, hoặc rễ lựu hạt cau dùng để trục giun v.v… Những tháng ngày này, triều đình vẫn thường đem xe ngựa về đón ông ra kinh đô để xem mạch, bốc thuốc cho các hoàng hậu, hoàng tử, công chúa trong cung cấm. Có lần vua Hiển Tông đi kinh lý, có đến thăm ông tại quê. Thấy ông từng làm quan to trong triều với bao bổng lộc, nhưng nay về hưu lại sống rất thanh bần nên nhà vua ái ngại hỏi: - Khanh làm quan mà liêm khiết như thế thì con cháu sống thế nào được? Ông cúi đầu đáp : - Tâu bệ hạ! Thần có ruộng, con cháu cày cấy đủ ăn. Thần cần tích nhiều đức để lại cho con cháu đời sau, chứ nào ham giàu. Nghe ông trả lời thật thà như vậy, nhà vua thở dài: - Ta vẫn biết vậy. Nhưng khanh sống thanh bạch như trong nhà chùa khiến ta khó nghĩ qua! Dụng cụ bào chế thuốc Nam ngày xưa (rút trong tập Đông y lược khảo) 61 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Trở về triều nhà vua sai công quỹ phát 3.000 quan tiền, giao cho một văn quan đến xem đất, cắm hướng nhà. Lại sai một võ quan làm đốc công, đem 3 con voi đến đắp nền nhà cho ông, hẹn 100 ngày phải xong. Ngôi nhà này làm xong, xây bằng gạch Bát Tràng, có 36 hàng cột gỗ dâu đen. Khi ông qua đời, ngôi nhà này được sử dụng làm nơi thờ phụng bậc danh y. Hiện nay, tại nhà thờ Nguyễn Hữu Đạo vẫn còn nhiều câu đối và bài thơ mà vua Lê Hiển Tông tặng, khắc trên gỗ được giữ gìn cẩn thận. 62 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Uống nước nhớ nguồn. Đó là đạo lý của con người. Là một nước văn hiến, dân tộc ta đã xây dựng đạo lý ấy thành một truyền thống tốt đẹp. Chỉ 60 năm sau khi dời kinh đô ra Thăng Long, năm 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho dựng Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử cùng tạc tượng 72 vị tiền hiền là học trò giỏi của Khổng Tử. Rồi sáu năm sau, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc tử giám. Đây là hành động tích cực nhằm đề cao tinh thần hiếu học của một dân tộc hiếu học. Cùng với tinh thần hiếu học, dân tộc ta đã có một nền y học lâu đời từ thời Hùng Vương dựng nước. Trong bia của Y miếu nước ta có ghi rõ: "Nguyên lúc mới có loài người chưa biết thuốc thang, thời ấy có Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế nối nhau làm vua lo đời cứu dân, nghiên cứu sâu rộng, biên chép sách thuốc, làm ra phương thư, diễn sách Linh Khu, sử dụng thuốc men, từ đó đạo y mới được sáng lập. Nhờ có y học mà gầy gò trở lại béo tốt, tàn tật được lành mạnh, người ta khỏi bị chết non, sống đến cõi thọ, muôn đời sau có thầy dạy cho học tập, phát huy rộng rãi phương pháp chữa bệnh cứu người được đầy đủ. Tới nay, nhân dân được chịu công ơn các bậc thánh ấy thật là to lớn, mà từ xưa đến nay chưa ai làm miếu thờ các bậc thánh đó để xuân thu tứ thời hưởng sự báo đáp của dân. Thế mà những thần tượng dị đoan lại chiếm những nơi đất đẹp làm đền lộng lẫy, cúng thờ nhảm nhí, còn những bậc thánh nhân chân chính thì không có nơi thờ. Những người hiểu biết phải lấy thế làm buồn. Đó không phải là một sự thiếu sót ư?". TRỊNH ĐÌNH NGOẠN Quốc thủ danh y 63 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Nước ta, các đấng vua trước chỉnh đốn việc thờ cúng, lúc đầu có để ý xét đến, truyền cho Viện Thái y tìm đất, lãnh tiền công để xây dựng Y miếu, không phải là không dốc lòng tôn trọng, nhưng các bậc ở thời ấy không lấy làm cẩn, không Vâng lệnh làm ngay, để đến nổi nhân dân không có chỗ chiêm ngưỡng". Vậy Y miếu của dân tộc ta được xây dựng vào năm nào? Sứ mệnh vẻ vang này được lịch sử trao cho danh y Trịnh Đình Ngoạn. Ông là người làng Định Công, huyện Thanh Trì (Hà Nội) sống trong thế kỷ XVIII dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), tự là Nghiêm Thận Ngoạn, tước Ngoạn Trung Hầu, giữ chức Thái Y Việnchưởng viện là tác giả quyển sách thuốc có giá trị Cương mục yếu ước chân kinh điêu luận. Với tác phẩm này, ông có công bổ sung các phương thuốc chữa thương hàn và một số bệnh do khí táo phát sinh. Suốt đời tận tuî với công việc, ông ý thức việc xây dựng Y miếu nhằm tôn vinh các bậc tiên thánh trong ngành là một trong những "việc cần làm ngay". Trước hết ông, tìm một khu đất công ở phường Bích Câu, về phía tây Phương Thành, phía trái Văn Miếu và có một cái ao trong suốt vòng quanh rất hữu tình hợp lý: Xanh xanh dãy liễu ngàn thông Cỏ hoang lối mục rêu phong dấu tiều Một vùng non nước đìu hiu Phất phơ gió trúc dập dìu mưa hoa (Bích Câu kỳ ngộ) Ý muốn của ông là Y miếu xây dựng cạnh Văn Miếu sẽ nhắc nhở những cho thiên hạ rằng, công đức của thầy thuốc cũng được sánh ngang với thầy dạy chữ vậy. Việc làm này xuất phát từ tấm lòng của một cá nhân, chứ không phải từ chỉ đạo của triều đình nên Trịnh Đình Ngoạn e rằng không đủ kinh phí để thực hiện. Do đó, ông mới tâu lên nhà vua. May mắn, nhà vua không những đã chuẩn y đề xuất của ông mà còn ban thêm 10 mẫu ruộng làm tự điền cho việc hương khói tế tự. Còn bà Hoàng thái hậu
435
4
ta vào bái kiến vua Gia Khánh (Thanh Nhân Tông), một cận thần của triều Thanh đột ngột hỏi: - Quốc vương các ông đặt hiệu là Gia Long, có phải ý muốn ngang hàng với hai hoàng đế thiên triều là Càn Long và Gia Khánh không? Chánh sứ của ta từ tốn đáp ngay: - Thưa khôngphải, nước chúng tôi phía Nam có Gia Định, phía Bắc có Thăng Long nên vua chúng tôi mới đặt hiệu như thế. Câu trả lời khôn ngoan, khéo léo, thông minh khiến nhà Thanh phải khen tài ứng đối, vừa giữ được hòa khí vừa không nhục quốc thể. Người ứng đối ấy là ai? Trước đây ở vùng Quảng Trị thường lưu truyền những bài toán đố: - Anh đi thì quế chưa trồng Anh về quế đã đâm bông trăm ngành Một ngành mười tám bông xanh Ba bông bốn trự (tiền) đố anh mấy tiền? NGUYỄN HỮU THẬN Người làm ra lịch hiệp kỷ sử dụng từ năm 1813 đến năm 1945 69 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Hoặc: - Mai anh đi chợ Gửi một quan tiền Mua lấy thanh yên Vừa cam vừa quýt Cam ba đồng một Quýt một đồng năm Thanh yên một trái năm đồng Chẳng nhiều chẳng ít, một trăm chẵn chòi Ai là người đã đặt những bài toán ấy? Đó là Nguyễn Hữu Thận. Trong Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn không ghi tên ông vào phần nhân vật đời Nguyễn – mà chỉ ghi tên con ông (!). Người đó là Nguyễn Hữu Thận sinh tháng 4/1757, quê ở làng Đại Hòa, tổng An Dã, huyện Đại Lăng, phủ Triệu Phong (Thừa Thiên - Huế) hiệu Chân Nguyên, tự Ý Trai. Ông còn là người có công làm ra lịch, được nhân dân gìn giữ để sử dụng trong vòng 112 năm ở nước ta (từ 1813 đến 1945). Ngày xưa, nước ta có những cơ quan nghiên cứu về thiên văn, chẳng hạn thời Trần có Thái sử cục lịnh, thời Lê có Thái sử cục, thời Lê - Trịnh có Tư thiên giám, sau đó là Khâm thiên giám… Các cơ quan thiên văn này, đồng thời cũng là nơi làm lịch. Ví dụ thời Lê - Trịnh đặt tên lịch là lịch Khâm Thụ (nghĩa là mệnh lệnh của trời). Năm 1780 khi xưng vương ở Gia Định, để tỏ rõ chính thống, Nguyễn Ánh đã ban hành lịch gọi là lịch Vạn Toàn (nghĩa là tính được chu đáo) và khi lên ngôi thì lịch này vẫn được sử dụng. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, ở phần Lễ nghi chí, nhà bách khoa Phan Huy Chú có viết: "Hàng năm, Tư Thiên giám tính trước lịch công bố năm sau, đến tháng 6 viết ra hai bản dự thảo, một bản dâng lên vua và khải với chúa xin lãnh tiền công mua giấy mực để in. Bản lịch dự thảo dâng lên, vua xem xong rồi giao cho Trung thư giám viết lại, xong giao cho trị giám việc khắc in. Khi bản khắc xong, Tư Thiên giám vâng lịnh đối chiếu xem xét rồi cho in. Trong tháng 12 chọn ngày dâng lên, vua chuẩn 70 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM y, đến ngày 24 tháng 12, là lễ Tiến lịch. Sáng ngày hôm ấy công hầu bá và các quan văn võ theo chỉ chúa, đều đủ phẩm phục, vào triều làm lễ. Làm lễ xong, Tư thiên giám bưng cái án lịch ở trước ngự tọa sang tiến ở phủ chúa. Quan Lễ khoa đem lịch ban cho các quan. Các quan quỳ xuống để nhận, giơ lịch lên ngang trán rồi lui ra". Tài liệu này đã cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc làm lịch thời ấy. Tư thiên giám sang đời Nguyễn được đổi tên là Khâm thiên giám. Cách làm lịch của ta hồi đó vẫn theo phép lịch Đại Thống (nhà Minh) hoặc lịch Thời Hiến của nhà Thanh. Trong sách Ý Trai toán pháp nhất đắc lục, Nguyễn Hữu Thận cho biết là từ thuở 8 tuổi, ông đã được thân phụ dạy cửu chương hoặc giảng cho nghe về phép lịch Đại Thống của nhà Minh. Lớn lên, qua kiểm nghiệm của thực tế ông thấy lũ lụt, hạn hán thì năm nào cũng có nhưng lịch Đại Thống lại dự báo không đúng. Vậy làm sao sửa chữa, bổ cứu để cải tiến hầu giúp ích cho bà con nông dân? Câu hỏi ấy cứ âm ỉ trong lòng ông suốt năm tháng hoa mộng của tuổi trẻ. Cơn lốc của thời đại đã cuốn ông trong biến động của thời cuộc. Khi ngọn cờ đào chính nghĩa của Nguyễn Huệ từ phía Nam kéo ra đánh đuổi chúa Trịnh khỏi Thuận Hóa, ông hăm hở ra giúp nhà Tây Sơn và làm đến chức Hữu thị lang bộ Hộ. Năm 1801 khi Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân thì ông phải "hiệu thuận" - theo triều đại mới "đới công chuộc tội"(!). Buổi đầu ông làm Chế cáo ở Viện hàn lâm, rồi làm Thiêm sự ở bộ Lại. Ít lâu sau làm Cai bạ ở Quảng Ngãi. Năm 1809 ông lại trở về triều nhậm chức Hưu tri tham bộ Lại, vài tháng sau được cử làm Chánh sứ cùng với hai phó sứ là Lê Đắc Tần và Ngô Tuấn sang Trung Quốc. Chuyến đi này đã khiến ông rộn lên niềm vui và ước mơ của thời trai trẻ: lịch số và toán học. Do đó, trong suốt chuyến đi sứ ông đã dành nhiều thời gian lưu tâm, tìm kiếmđể mua cho bằng được hai loại sách quý này. Trong Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn, quyển 25 "Truyện các quan mục XXII" có ghi lại như sau: "Bọn Thận vào bệ từ, vua dụ rằng: - Bọn người phụng mệnh đi sứ, nên thận trọng về lời lẽ để trọng quốc thể. 71 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Năm thứ 9, Thận từ nước Thanh trở về, đem quyển "Đại Thanh lịch tượng khảo thành thư" dâng lên. Vua hỏi, Thận tâu nói: - Kính báo cho thần dân biết thời tiết làm ruộng là công việc đầu tiên của người làm chủ một nước. Quyển lịch "Vạn toàn" của nước ta, cùng với quyển "Thời hiến thư" của nước Đại Thanh, từ trước đến giờ đều dùng theo như "Đại thống lịch pháp" của nhà Minh, hơn 300 năm nay chưa có đổi định lại, nên càng lâu càng sai. Khoảng năm Thanh Khang Hy mới tham khảo cách tính lịch của Tây dương, làm thành sách này, về phép đo lường, suy tính rất rõ ràng, so với sách Đại thống càng kỹ lưỡng hơn, mà về phép tính tam tuyến, bát giác tinh diệu, xin giao cho Khâm thiên giám, bảo các sinh viên về môn thiên văn xem xét tìm cách tính, thì độ số của trời được đều, mà tiết hậu được đúng vậy". Bộ sách dâng lên cho vua Gia Long là bộ sách mà lâu nay các nhà thiên văn học của ta đều ước mơ – nó giảng giải rõ về những nguyên lý thiên văn và toán học về lịch, trình bày hướng dẫn các tiết mục phép lịch Thần Hiến và đặt sẵn các biểu đồ lập thành. Đại Nam liệt truyện có viết thêm: "Năm thứ 10, Hộ bộ là Lê Quang Định nói: "Thận trong bụng mưu tính tinh thông, tài ấy có thể đại dụng". Bèn từ Lại bộ chuyển (Thận) sang hữu tham tri Hộ bộ. Mùa xuân năm thứ 11, (Thận) kiêm phó quản các công việc ở Khâm thiên giám. Năm thứ 14, vua thường cùng với Thận bàn về thiên tượng, nói rằng: "-Ngày sóc ngày Lịch nhà Nguyễn (1802-1812) 72 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM vọng mà gặp có nhật thực, nên bãi triều hạ và yến thưởng", để tỏ ý biết sợ hãi tu tính. Thận nhân đó tâu nói: "-Thần suy tính thiên tượng đến tháng 4 và tháng 10 năm Đinh Sửu đều có nhật thực". Vua nói: "-Nếu quả có, thời 2 lễ hưởng về mùa hạ, mùa đông nên đổi ngày khác mới phải". Lại bàn đến đạo Thiên Chúa giáo ở Tây dương, Nguyễn Văn Thắng tâu nói: "-Thiên Chúa ra đời tới nay đã được 1815 năm", vua sai Thận tính thử, thời thuộc về năm Tân Dậu, niên hiệu nguyên thủy thứ 1 đời Hán Bình đế. Năm thứ 15, (Thận) được đổi bổ tả tham tri bộ Hộ lĩnh Hộ tào ở Bắc thành. Năm thứ 16 (1817)
437
4
tức năm Đinh Sửu, quả có nhật thực. Vua cùng các quan bàn về phép làm lịch nói: "- Chức Khâm thiên giám, duy có học thuật của Nguyễn Hữu Thận mới đủ đương được". Mùa đông năm ấy, cho triệu (Thận) về, thăng làm Lại bộ thượng thư. Năm Minh Mạng thứ 1, đổi (Thận) sang làm Hộ bộ thượng thư. Năm thứ 2 kiêm quản cả việc ở phủ Nội vụ, rồi kiêm quản cả công việc ở Khâm thiên giám". Thời gian này, Nguyễn Hữu Thận đã tâu xin làm lịch Hiệp kỷ thay cho lịch Vạn Toàn đang sử dụng chính thống trong cả nước. Bộ lịch của ông được triều đình ban bố bắt đầu sử dụng từ năm 1813. So với những bộ lịch trước đó thì ông đã cải tiến nhiều như thời tiết được báo chính xác, giúp nông dân cày cấy kịp thời vụ v.v… Công việc đang hào hứng đối với ông thì năm 1816 nhà vua lại thăng cho ông lên làm Thượng Thư bộ Lại. Điều này khiến ông không vui. Năm 1820, khi Minh Mạng lên ngôi, ông xin được trở lại công việc mà mình đang đeo đuổi, hai năm sau ông mới được Lịch Niên đại Kỷ Bách trung kinh thời Lê Trung Hưng từ 1624-1785 73 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM giao quản Khâm thiên giám chủ nhiệm sách Vạn niên thư. Lập tức ông tâu vua định tiết khí thời hậu ở kinh đô Phú Xuân, Gia Định và Bắc Thành: theo kinh độ địa lý mà tính giờ mọc lặn của mặt trời và ngày đêm ngắn dài: theo độ cao của địa điểm phía bắc mà định vĩ độ. Những đề nghị này cho thấy tầm nhìn khoa học của Nguyễn Hữu Thận và bộ lịch Hiệp kỷ (nghĩa là: Hợp với cương kỷ của trời) ngày càng chính xác, phổ biến sâu rộng và được sử dụng mãi cho đến năm 1945. Do đó, không phải ngẫu nhiên khi Quốc sử quán triều Nguyễn dù không ghi tên ông vào Đại Nam nhất thống chí, nhưng cũng phải thừa nhận trong Đại Nam liệt truyện với dòng chữ tôn vinh chói lọi: "Hữu Thận cho học thuật, thạo việc làm quan, tính về lịch học, giỏi suy tính, nhà thiênvăn học không có ai hơn được". Có lần vua Minh Mạng bảo triều thần rằng: "Trẫm từ khi lên ngôi đến nay lúc nào cũng nâm nấm, nem nép chỉ sợ chưa hợp ý Trời, nay hạn, dịch làm tai có phải đấng Thượng đế đã khiển trách ta là không có đức vậy ư?" Quan Lại Bộ Thượng thư là Nguyễn Hữu Thận tâu rằng: "Tai trời lưu hành từ đời xưa thường có. Đấng vương giả mỗi khi gặp tai biến biết sợ mà lo thêm sửa đức chính thời tai lại chuyển nguy làm lành vậy". Điều này cho thấy Nguyễn Hữu Thận đã kín đáo khuyên nhà vua làm thêm nhiều việc đức. Âu đó cũng là thái độ của trí thức trước mệnh nước. Ngoài việc soạn tác phẩm Ý Trai toán pháp nhất đắc lục (Một điều tâm đắc về toán pháp của Ý Trai) đã cho thấy không những giỏi về lịch mà ông còn giỏi cả về toán học. Nói như giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì Nguyễn Hữu Thận là một nhà toán học Việt Nam đã bàn luận tới ma phương (carré magique). Tưởng cũng nên nhắc lại rằng, một ma phương cấp n là một hình vuông gồm n2 số nguyên khác nhau được sắp xếp sao cho tổng số các số theo hàng ngang, hoặc theo cột dọc, hoặc theo đường chéo, là bằng nhau, và bằng một hằng số gọi là hằng số ma của hình vuông. Ma phương gọi là chuẩn khi n2 số là n2 số nguyên dương đầu tiên. Người ta chứng minh được rằng hằng số ma của ma phương chuẩn cấp là n(n2+1). Thấy được điều này để chúng ta hiểu hơn về đầu óc uyên bác của Nguyễn Hữu 74 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Thận. Ông mất ngày 12-8-1831, một năm trước ngày mất ông còn viết tác phẩm Lập phương pháp biện ngôn vì "chưa thể thôi khổ công suy nghĩ tìm tòi được" như chính ông cho biết. Thật cảm động xiết bao khi biết năm đó ông đã ngoài 70 xuân, tấm lòng say mê lao động, luôn tìm tòi của ông đáng quý và đáng kính trọng biết chừng nào! 75 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Địa bộ muốn theo dòng Nhạc Mục, thét nhung bào từng ghê trận oai linh; Thiên tài toan học chước Vũ Hầu, chế súng đạn biết bao chừng cơ trí. Đây là hai câu trong bài Văn tế của cụ Phan Đình Phùng. Ai là người được cụ sánh với Nhạc Phi đời Tống? Với Gia Cát Khổng Minh đời Hán? Người đó chính là anh hùng Cao Thắng – cánh tay phải đắc lực của cụ Phan trong cuộc khởi nghĩa Lương sơn. Cao Thắng sinh năm 1864 tại thôn Yên Đức, xã Tuần Lễ (nay xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh). Dáng người ông thấp nhỏ, tay chân đều ngắn mà mọi người gọi là tướng ngũ đoản. Từ thuở nhỏ, ông đã thông minh lanh lẹ, dù giỏi chữ văn hay nhưng vẫn không thích theo nghiệp bút nghiên, chỉ thích đọc binh thư và luyện tập võ nghệ để sau này trở thành một chiến tướng. Em ruột ông là Cao Nữu cũng là một người như thế. Năm 1885 khi vua Hàm Nghi xuống hịch Cần Vương thì cụ Phan Đình Phùng được giao lãnh đạo phong trào chống Pháp ở ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Cụ đã cho nghĩa quân lùng bắt tên phản bội Trương Quang Ngọc chém đầu, vì hắn đã dẫn giặc Cao Thắng (1864-1893) CAO THẮNG Người chế súng trường 1874 theo kiểu Pháp 76 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Pháp đến bắt vua Hàm Nghi. Do đó, hào kiệt khắp nơi nức lòng tòng quân dưới ngọn cờ của cụ, trong số đó có anh em Cao Thắng. Thấy Cao Thắng là người có chí khí nên anh ruột của cụ là Phan Đình Thuận đã nhận làm con nuôi. Năm 1886 khi cụ Phan ra Bắc để liên lạc với các lực lượng chống Pháp, giao quyền chỉ huy cho Cao Thắng, năm đó ông mới 22 tuổi. Ông ra sức xây dựng lại lực lượng và điều canh cánh trong lòng là làm sao phải chế tạo được vũ khí để đánh lại lực lượng hùng hậu của giặc Pháp. Tương quan lực lượng đôi bên quá chênh lệch. Trong văn tế của cụ Nguyễn Đình Chiểu cho biết, đối phương "giăng dưới nước tàu đồng tàu sắt, súng nổ quá bắp rang"; còn ta "ngoài cật một manh áo vải; trong tay một ngọn tầm vông; hỏa mai đánh bằng rơm con cúi; gươm đao dùng bằng lưỡi dao phay...". Vì thế nỗi lo của Cao Thắng cũng là điều mong mỏi của nhiều thế hệ kháng chiến chống Pháp. Sau nhiều đêm trằn trọc, Cao Thắng sai nghĩa quân xuống hai làng Trung Lương và Vân Trung (thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) - nơi nổi tiếng với nghề thợ rèn, kêu gọi thợ thầy đi theo cụ Phan. Sự tuyên truyền ấy đã có hiệu quả. Hàng trăm thợ rèn đã mang vác dụng cụ lên chiến khu. Cao Thắng đã đưa họ vào Lệ Động - một khu rừng sâu để bí mật đúc súng. Trong vòngmấy tháng trời mày mò, vừa làm vừa rút kinh nghiệm sửa chữa, những người thợ rèn dưới quyền chỉ huy của Cao Thắng đã đúc được hơn 200 khẩu súng. Loại súng này thì phải nhồi thuốc ở ống rồi có chỗ cò máy để hạt nổ, hễ bóp cò có lửa bật ra thì đạn vụt bay khỏi nòng. Dù chưa thật ưng ý với loại súng này, nhưng loại vũ khí mới đã làm nức lòng các nghĩa quân. Khi xung trận thì ông chia quân làm hai đoàn lính được trang bị súng tự chế. Súng bao giờ cũng được nạp đạn sẵn, hễ 100 khẩu súng đồng loạt bắn xong và dừng lại để nạp đạn thì 100 khẩu súng kia tiếp tục nhả đạn. Cứ luân phiên nhau như thế, thành ra trong trận đánh lúc nào cũng có tiếng súng nổ liên tục, giặc không thể biết nghĩa quân có nhiều súng hay ít. 77 TẬP 3: DANH NHÂN
438
4
KHOA HỌC VIỆT NAM Nhờ loại vũ khí này mà thanh thế của cụ Phan lan rộng khắp nơi. Nhưng vốn là người có chí lớn, không bằng lòng với loại súng đã có, Cao Thắng đã nghĩ tới việc phải chế tạo được súng tối tân như súng trường 1874 của Pháp. Ông thường nói: "- Đã làm thì tất phải làm to, mà kiểu súng của ta thì tốn nhiều thời giờ quá, nào phải chùi súng, nạp thuốc súng… làm sao có thể địch lại với giặc Pháp? Muốn đánh với họ, tất phải có khí giới như họ mới được". Điều khó khăn đối với ông là làm sao có được một khẩu súng Pháp để bắt chước theo? Đang suy tính nát óc để kiếm một khẩu súng Pháp mà chưa có cách gì thì bất chợt, một nghĩa quân đến mật báo là trong ngày mai có hai lính Pháp ở tỉnh thành Nghệ An dẫn một toán lính tập chở mấy hòm bạc lên đồn Phố (thuộc hạt Hương Sơn) để phát lương cho binh lính. Nhận được tin cơ mật này, Cao Thắng vỗ đùi hét lớn: - Trời đã giúp ta phen này! Ông dùng kế "xuất kỳ bất ý công kỳ vô bị" – nhằm lúc người ta không phòng bị mình nhảy ra đánh thì tất thắng. Ông cùng Cao Nữu, Cao Đạt, Nguyễn Niên dẫn hai mươi cảm tử quân mai phục trong rừng rậm hiểm trở. Xế chiều hôm ấy, mọi việc đã diễn ra đúng như dự kiến. Nghĩa quân đã thu được 17 khẩu súng Pháp và 600 viên đạn. Có được súng, Cao Thắng mừng rỡ, ông liền dẫn thợ rèn vào sâu trong núi để bắt đầu công việc chế tạo. Ông tự tháo rời một khẩu súng ra từng bộ phận. Mỗi bộ phận lại lấy thước đo chi ly, rồi nghiên cứu từng công dụng một cách chu đáo. Suốt ngày ông ngồi bên cạnh thợ để đôn đốc và kiểm tra công việc, cứ lấy từng bộ phận của súng Pháp, theo đúng hình thức mà rèn đúc, sai đến đâu lại sửa đến đấy. Công việc nặng nề và khó nhọc này kéo dài hơn một tháng, một khẩu súng đã được chế tạo xong. Nhưng khi sử dụng thì Cao Thắng vẫn chưa ưng ý lắm. Ông bắt phá ra hết để rèn đúc lại. Rèn đi đúc lại mãi mà ông vẫn không nản lòng. Suốt mấy tháng ròng lao tâm khổ tứ, Cao Thắng tìm mọi cách để hoàn thiện khẩu súng theo kiểu Pháp. Chẳng hạn, lò xo trong 78 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM súng vì không có loại thép cứng thì ông dùng cây gọng dù uốn lại mà làm. Về nòng súng vì sản xuất thủ công, bắn dễ bị vỡ nên ông cho lồng nhiều vòng sắt ở bầu nòng để chắc chắn. Về báng súng thì ông hướng dẫn thợ tiện, thợ mộc ở làng Xa Lang thực hiện. Thiếu sắt thì ông cho thu mua sắt vụn, cày cuốc, móng ngựa… đem về đúc lại. Còn vỏ đạn thì ông cho góp nhặt những mâm đồng, nồi đồng, đập dẹp ra rồi cuốn lại. Để đảm bảo đầy đủ nguyên liệu cho thợ đúc súng, ông kêu gọi nhân dân trong làng chia bớt đồ đồng, đồ sắt trong nhà cho nghĩa quân. Qua mấy tháng trời ròng rã, những người thợ rèn đã đúc được 350 khẩu súng theo đúng kiểu súng Pháp, chỉ riêng thuốc súng thì Cao Thắng chưa có đủ nguyên liệu để làm, tạm thời phải dùng thuốc súng ta. Ghê gớm cho tinh thần của nghĩa quân Phan Đình Phùng, họ đã chế tạo súng chỉ bằng sức lao động, sự thông minh và tài trí, chứ không có máy móc nào cả. Sau khi đúc xong súng, Cao Thắng cho người tâm phúc ra Bắc rước cụ Phan về. Từ đây, thanh thế của nghĩa quân Hương Khê lan rộng khắp nơi và gây cho giặc những đòn thất điên bát đảo. Giặc Pháp kinh hoàng khi biết nghĩa quân sử dụng loại vũ khí tối tân không kém gì súng của chúng. Cao Thắng đã bàn với cụ Phan là mở đường đánh xuống các đồn trại của giặc - để mở rộng phạm vi hoạt động. Ông thưa với cụPhan: - Quân Pháp lấy Nghệ An để đối địch với ta, vì ở địa thế đó chúng khống chế được Hà Tĩnh, Quảng Bình và chận đường không cho ta giao thông, liên lạc với hào kiệt phía Bắc. Nếu ta cứ lấy núi rừng làm nơi kháng cự lâu dài thì cũng không ổn. Giặc không cần tấn công ta, chúng chỉ bao vây thì ta cũng tuyệt lương thực, bí đường, lần hồi binh mã cũng tan. Chi bằng ta ra tay trước để mở một sinh lộ mới? Súng trường do Cao Thắng chế tạo 79 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Cụ Phan đã thấy được điều này, nhưng cụ vẫn chưa dám quyết định vì nhiều lẽ trong chiến lược, nhưng Cao Thắng vẫn nằng nặc xin đi. Ông quỳ dưới chân cụ và nói những lời tâm huyết: - Đại trượng phu đến chết là cùng, chứ có điều chi mà phòng sợ! Cuối cùng, cụ Phan phải đồng ý trước ý nguyện của ông. Ông chọn những nghĩa quân ngoan cường, trang bị đầy đủ súng ống, được luyện tập thuần thục như binh pháp của người Pháp. Đặc biệt binh phục thì ông cho lính mặc toàn sắc đỏ với quan niệm: "Phương Nam ta thuộc về Hỏa, còn phương Tây thuộc về Kim, nay lấy hỏa khắc kim nghĩa là lấy lửa nung vàng cho chảy ra. Vậy quân phục sắc đỏ là tượng trưng cho hỏa vậy". Nghĩa quân ào ào xuống núi. Những đồn bót của giặc không chống cự nổi khí thế tiến công như chẻ tre. Đêm 21/11/1893 trong trận đánh đồn Nỏ (tài liệu của Pháp ghi là đồn Nu?) chẳng may ông trúng đạn và hy sinh. Năm đó người anh hùng Cao Thắng mới tròn 29 xuân. Tin dữ đến chiến khu Ngàn Trươi, cụ Phan khóc lóc thảm thiết: - Trời hại tôi. Ông Cao Thắng ơi! Trời hỡi trời! Một sĩ quan Pháp là đại úy Gosselin có tham gia trận đánh này, y nhặt được khẩu súng do Cao Thắng chế tạo đã hết sức kinh ngạc. Sau này trong hồi ký Empire d'Annam, y còn bàng hoàng viết: "Tôi có đem nhiều khẩu súng đó về tận bên Pháp, xem nó giống đủ mọi vẻ như súng của các xưởng binh khí nước ta chế tạo, đến nỗi tôi đưa cho các quan binh pháo thủ ta xem, các ông ấy phải sửng sốt lạ lùng. Nó chỉ khác với súng ta có hai chỗ: lò xo không đủ sức mạnh và trong nòng súng không có xẻ rảnh, vì đó mà đạn bắn ra không xa, không mạnh. Tuy vậy, những khẩu súng này đã từng bắn chết ít nhiều lính khổ xanh, cai đội Pháp và lính tập". Cái chết của Cao Thắng đã gây xúc động lớn trong nghĩa quân, ngay lập tức cụ Phan truyền lệnh đem thi hài của ông lên Ngàn Trươi để làm lễ an táng. Tướng sĩ khóc như mưa. Chính tay cụ Phan viết hai câu đối và đọc bài văn tế thống thiết: 80 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM - Thôi! Thôi! Cửa tía lầu vàng đành kẻ khuất, đem thân bách chiến, để tiếng thơm cho tỏ mặt anh hùng. Súng đồng gươm bạc mặc người còn, truyền lệnh ba quân, thét hơi mạnh để xây nền thịnh trị. Thương ôi là thương Kể sao siết kể. Có thể khẳng định, anh hùng Cao Thắng không chỉ nêu tấm gương sáng về tấm lòng yêu nước mà còn về tinh thần sáng tạo kỹ thuật và khắc phục khó khăn. Vì lẽ đó, khi ca ngợi cuộc khởi nghĩa của cụ Phan, nhân dân không quên ông: Khen thay Cao Thắng tài to Lấy ngay súng giặc về cho lò rèn Đêm ngày tỉ mỉ mở xem Lại thêm có cả đội Quyên cũng tài Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng - TP.HCM 81 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Xưởng trong kho chí xưởng ngoài Thợ rèn các tỉnh đều mời hội công Súng ta chế được vừa xong Đem ra mà bắn nức lòng lắm thay Bắn cho tiệt giống quân Tây Cậy nhiều súng ống phen này hết khoe Hiện nay, trên một ngọn đồi nhỏ thuộc xóm 6 xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh
439
4
VIỆT NAM mà rã tay chèo"; và "Bệnh tình thiên biến vạn hóa, người làm thuốc cũng phải thiên biến vạn hoá. Theo thời theo chứng, cứu tệ bổ thiên, nguyên tắc tuy nhất định, mà bệnh tình không nhất định… ta có thể cứ dựa vào nguyên tắc mà không hỏi đến sự biến hoá của bệnh tình được sao?". Tư tưởng trị bệnh cứu người của ông thể hiện qua câu: Bất trí thiên, địa, nhân, bất khả dữ y ngôn; Bất trí Nho, Phật, Tiên, bất khả dữ y ngôn. Nghĩa là: không hiểu biết về trời đất, con người, không hiểu biết về đạo Nho, đạo Phật và thánh hiền thì không bàn về y học được. Về mảng sách nghiên cứu y học, trong thư mục của ông có cả thẩy 71 quyển đã xuất bản – do ông vừa biên soạn, vừa dịch thuật ròng rã trong vòng 30 năm trời (1931-1965). Chúng ta có thể kể đến loạisách mà ông biên soạn là Y học tùng thư, Khoa thuốc trẻ em, Khoa thuốc đàn bà, Tinh dược giải nghĩa, Sách thuốc sởi đậu, Nhật hoa y học, Nguyên tắc trị liệu của Đông y v.v... hoặc loại sách dịch như Hoàng Đế nội kinh tố vấn, Hải Thượng quyền thu, Hoàng Đế nội kinh linh khu, Châm cứu lâm sàng trị liệu học v.v… Lương y Nguyễn Thiên Tích - Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam - khẳng định: "Cụ đã vắt hết ruột gan, moi tận đáy lòng... dành toàn tâm toàn ý hiến dâng cho nghề thuốc, lúc nào cũng muốn dành hết sức mình trước thuật cho nhiều để dựng ngọn cờ Hồng cho ngành y"; và ông Nguyễn Doãn Thuật - bí thư huyện uỷ Thạch Thất cho biết: "Nhiều lương y có tài năng và nổi tiếng đã tìm được những kinh nghiệm quý giá trong những bộ sách này". Tâm huyết với nghề nên cho dù cuối đời, ở xấp xỉ tuổi 70, Nguyễn Tử Siêu cũng dành tâm lực để viết tác phẩm Tử Siêu y thoại – trình bày lại kinh nghiệm điều trị và học tập làm thuốc – gồm 204 điều mà ông thu thập trong suốt một đời tâm huyết với nghề. Ngay trong điều 1 nhận thức về y đạo, ông viết: "Một danh y triều Mãn Thanh bên Trung Quốc thường nói: "Người thầy thuốc nên có tấm lòng coi ở đời không có một loại bệnh tật nào không chữa khỏi; sở dĩ có bệnh không chữa khỏi, đều do mình chưa hết lòng đó thôi". Hải Thượng Lãn Ông cũng viết ở bài Tiểu dẫn trong tập Âm án: "Người ta 95 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM khi ốm đau, đem cả tính mạng gửi vào trong tay người thầy thuốc. Nếu gặp bệnh biến khó khăn mà khoanh tay từ chối không chữa, thì đời còn quý chi người thầy thuốc ấy nữa. Vậy dù biết bệnh chết đến nơi, cũng chỉ nên bảo nhỏ cho gia đình bệnh nhân biết, còn tự bản thân ông thầy cũng phải cố gắng nghiên cứu suy nghĩ, hoạ may còn cứu vãn được phần nào, tuyệt nhiên không nên "thấy sóng cả mà rã tay chèo". Xem hai câu nói của hai vị trên, thật đáng là danh y". Trong cuộc đời tôn Hải Thượng Lãn Ông làm thầy, Nguyễn Tử Siêu cũng phấn đấu như thế. Học tập gương thầy, ông cũng ghi lại những kinh nghiệm lâm sàng của mình và của những bậc danh y khác. Đây là một trong những "ca" bệnh mà ông đã điều trị: "Năm 1960, tôi tản cư sang làng Mai Đình, huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) chữa một người là Tạ Thị Hào 39 tuổi. Mới đẻ được hai ngày, đến ngày thứ ba bỗng dưng nóng sốt, kêu la rầm rĩ chạy đi khắp xóm, đã thành hẳn là chứng cuồng. Người nhà bắt về trói trong buồng kín, đến sáng hôm sau đã đỡ kêu, đến mời tôi khám bệnh. Khi đó, tôi tuy tản cư, nhưng vẫn có thuốc mang theo. Tôi chuẩn bệnh thấy thần sắc không còn mà ngoài chỉ hơi nóng. Hỏi kỹ người nhà về quá trình phát bệnh thì được biết: khi đẻ huyết ra mất quá nhiều. Tôi nghĩ, huyết ra mất quá nhiều nên can mất sự nuôi dưỡng, phong mộc do đó không được yên. Trong Tố vấn thiên Âm dương ứng tượng đại luận có câu: "ở tạng là can, ở tiếng là hô"; thiên Ngũ thường có câu: "Ở bệnh là can… ở bệnh sẽ là chứng dao động sợ sệt"; thiên Sinh khí thông thiên luận lại có câu: "Âm không thắng được dương, thì mạch đi nhanh chóng, dồn cả lại sẽ phát cuồng"; thiên Bình nhiệt luận cũng nói: "Nếu âm hư, dương sẽ lấn vào". Xem như vậy thì các chứng điên rồ, chạy chọt, kêu la rầm rĩ, sốt nóng v.v… của thị Hào đều không ngoài mấy câu đó. Bệnh tình tuy biểu hiện ba trạng thái khác nhau nhưng gốc chỉ là một: âm hư. Tôi liền dùng các vị Câu kỷ, Thục địa, Dương quy, Đảng sâm, Huyền sâm, Mạch môn, Trúc như, Bạch vi… cắt thành một thang lớn cho uống. Uống hết một thang, mười phần bớt được sáu, bảy; uống hết thang thứ hai thì khỏi hẳn. Trong bài thuốc tôi cắt trên, lấy vị Huyền sâm làm chủ dược là tôi căn cứ vào lời chú giải vị Huyền sâm của Từ Hồi Khê: "Sau khi đẻ, huyết thoát thì âm hư, do đó hỏa không còn gì kìm chế được. Nhưng cái hoả đó 96 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM không thể dùng loại thuốc hàn lương dập tắt, mà trong khi khí huyết còn chưa yên, cũng không thể tiếp thụ được loại thuốc bổ mạnh. Chỉ có Huyền sâm vừa có tác dụng dẹp yên được hoả, đồng thời cũng bổ ít nhiều". Đây là lần đầu tiên tôi dùng Huyền sâm chữa chứng huyết thoát của sản phụ mà thu được kết quả nên chép để rút kinh nghiệm". Một điều thú vị khi đọc những chứng bệnh mà các danh y đã chữa, là ta thấy họ dùng thuốc có tính toán kỹ lưỡng nhưdụng binh. Hải Thượng Lãn Ông cũng từng dạy dụng thuốc như đánh giặc là vậy. Tuy nhiên, có những phương thuốc mà các danh y sử dụng theo kinh nghiệm dân gian mà chưa lý giải được. Trong Tử Siêu y thoại có kể lại một bài thuốc Nam rất lạ lùng mà chưa ai lý giải nổi do lương y Lê Hữu Thành (dòng dõi cụ Hải Thượng) kể lại: "Một người đuổi gà bị đâm một cái dằm vào giữa ngón chân cái, cái dăm chiều ngang bằng ba que diêm, gãy thụt vào trong móng, sâu tới hết móng, máu chảy lênh láng hàng bát, mặt tái hẳn đi, đau nhức vô cùng. Người chữa tạm buộc chặt ngón chân lại cho máu đỡ ra. Rồi mang con dao thật sắc, tìm một cây chuối, chém ngang một nhát thật mạnh cho đứt đôi, Để chừng một giờ, nõn chuối sẽ trồi lên chừng nửa đốt ngón tay. Người bệnh cắn chỗ nõn chuối mới trồi lên, thêm vào mấy hạt muối, nhai thật nát nhuyễn, đắp vào đầu ngón chân, buộc lại, chỉ bốn tiếng đồng hồ sau là có thể rút được dằm ra". Với chuyện này, Nguyễn Tử Siêu cũng nhớ lại: "Hồi còn bé, thấy một ông lang thuộc châu Chiêm Hoá (Tuyên Quang) chữa chứng kinh niên của chị tôi. Ông ta bảo tìm cây chuối tiêu cao, chém ngang cây bỏ một nửa, rồi đào lấy cả củ, đem về dựng tại xó nhà phía đông. Qua một đêm, sáng hôm sau, nõn chuối sẽ mọc trồi lên tới ngót một đốt ngón tay. Bệnh nhân ngủ dậy, đừng súc miệng, đem sẵn một nhúm muối chia nõn chuối ra làm ba miếng, thêm vào mấy hạt muối, nhai rồi nuốt. Sau khi nuốt cả ba miếng xong chỉ tráng miệng một hớp nước lã nóng. Chị tôi chỉ ăn một lần như vậy, mà chứng đau bụng bị tới ba, bốn năm khỏi hẳn. Khi đó bố tôi hỏi ông lang: "Các chứng đau bụng khác có chữa như thế được không?". Ông không trả lời được. Vậy nõn chuối vì sao có tác dụng như thế, xin nhờ các nhà khoa học phân tích". Qua trường hợp này thế mới biết nghề y khó biết dường nào! 97 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Ròng rã suốt mấy chục năm trời nghiên cứu y học, bốc thuốc cứu dân thì việc thầy thuốc Nguyễn Tử Siêu đi theo cách mạng cũng
443
4
HƯỞNG Thương người như thể thương thân 124 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM Đai học nào, thì ông xin học y khoa vì muốn cứu nhân độ thế. Suy nghĩ nầy đã nung nấu trong lòng ngay sau cái chết của người mẹ mà ông rất yêu thương. Trong những năm 1927-1930, ông học ở Hà Nội và hai năm sau sang Paris học hết chương trình và bảo vệ luận án. Những tháng năm ở nơi phồn hoa đô hội, ông không có niềm vui nào khác là chúi mũi vào trang sách và dự học bổ túc những lớp về bệnh lao, bệnh trẻ con… để bổ sung kiến thức của mình. Năm 1933, ông trở về nước. Bao nhiêu hăm hở của tuổi trẻ đã cuốn hút ông vào công việc. Trong thời gian làm việc ở bệnh viện Pasteur, ông cùng với bác sĩ Delbove nghiên cứu bệnh sốt phát ban của chuột ở Việt Nam (typhus naurin) và cùng bác sĩ Souchard nghiên cứu đề tài Bệnh trứng tóc ở Nam Kỳ (le piédra de Cochinchine). Sau năm năm làm việc, năm 1939 ông xin đi tu nghiệp ở Viện Pasteur Paris. Những tưởng, việc học tập chínhđáng nầy, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn sẽ được đồng ý, nhưng ông đã nhận được câu trả lời lạnh lùng: "Chính sách này chỉ áp dụng cho người Pháp,chứ không dành cho người bản xứ". Đối đầu với chính sách phân biệt nầy, không một chút chần chừ, ông phản đối bằng cách xin nghỉ việc rồi sau đó, mở phòng mạch riêng và phòng xét nghiệm tại nhà số 244 đường d'Arras (nay là đuờng Cống Quỳnh). Trong lúc hành nghề, ông luôn luôn theo truyền thống gia đình, giữ đạo đức, nhớ lời cha ông từng dặn dò "coi chừng nhất thế y, tam thế suy!" Vì vậy, đối với những bệnh nhân nghèo, ông không những không lấy tiền mà tìm mọi cách để an ủi, giúp đỡ họ. Bác sĩ Nguyễn Duy Cương kể, lúc còn sinh viên đã đến khám bệnh tại phòng mạch của Nguyễn Văn Hưởng: "Tôi có một thoáng thất vọng. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng mà tôi đang chờ đợi, theo trí tưởng tượng của tôi, phải là một người cao lớn ăn nói dõng dạc, có thể điều binh khiển tướng như ông đã từng điều khiển đám vi trùng của ông. Nhưng đứng trước mặt tôi là một con người nhỏ thó, mình dây, đi đứng khoan thai, ăn nói nhỏ nhẹ, cốt cách của một văn nhân. Một vầng trán cao, những tiếng ấm áp ân cần, một sự thuyết phục tuyệt đối, một sức hút kỳ lạ". Phòng mạch của ông và của bác sĩ 125 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM Phạm Ngọc Thạch thời kỳ đó là "điểm hẹn" của những người bệnh nghèo, lúc nào cũng đông người. Một bác sĩ người Pháp đã than phiền là ông giành bệnh nhân của họ (!). Ông trả lời: "Tôi là một bác sĩ người bản xứ, nước Việt Nam chúng tôi rộng mênh mông và phì nhiêu. Nếu như bệnh nhân không đến chữa bệnh ở chỗ tôi thì tôi về quê cày ruộng, tôi vẫn sống được, tôi đâu phải cần giành giựt bệnh nhân mà tự bệnh nhân đến với tôi". Năm tháng trôi qua. Cuộc cách mạng vĩ đại Tháng Tám 1945 đã đổi đời số phận cả một dân tộc nô lệ. Là một người căm ghét thực dân Pháp và luôn lấy đức độ của nhà bác học Pasteur làm gương thì Nguyễn Văn Hưởng đi theo cách mạng và kháng chiến cũng là điều dễ hiểu. Sau khi Nam Bộ kháng chiến, ngày 23/9/1945, ông tản cư về nông thôn. Chỉ gần một tháng sau, ông nhận được điện của Ủy ban nhân dân Nam Bộ mời xuống Mỹ Tho giúp về y tế. Trong gian khổ của cuộc kháng chiến, tại Tiểu Cần - cách Trà Vinh 28km, gần bờ sông Hậu, trên một chiếc ghe tam bản chở dụng cụ, kính hiển vi, lò hấp ướt và lò hấp khô, ông vẫn không ngừng nghiên cứu. Trước hết, ông xin hai con ngựa để bào chế huyết thanh chống uốn ván; rồi tiếp tục bào chế thuốc sốt rét, thuốc ghẻ ngứa v.v… Sau Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, ông trở lại Sài Gòn với nhiệm vụ giúp đỡ thuốc men, dụng cụ cho kháng chiến; chữa bệnh cho chiến sĩ, nhân dân từ chiến khu chuyển ra và hoạt động trí vận trong anh em trí thức để đấu tranh chính trị với Pháp. Lúc này nhằm thực hiện chính sách "chia để trị" thực dân Pháp đẻ ra quái thai Nam Kỳ tự trị, đứng đầu là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Quái đản hơn là chúng còn lấy những câu thơ mở đầu trong Chinh phụ ngâm để làm… quốc ca! Nhưng rồi cỗ máy chính trị lỗi thời và phản động này cũng không thể tồn tại. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng cũng được mời tham gia vào cái chính phủ này, ông trả lời thẳng thắng với bác sĩ Thinh: "Anh đã đi ngược dòng lịch sử rồi, xin anh nghĩ lại. Trên thế giới có xu hướng chung là thống nhất đất nước: Guillaume Ler và Bismarck ở Đức, Victor Emmanuel II và Cavour ở Ý đã làm cho hai nước ấy được thống nhất và hùng cường". Rất tiếc sau này 126 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM bác sĩ Thinh mới ý thức được chân lý này, ông ta tự hối lỗi bằng cái chết của chính mình. Vào sáng ngày chủ nhật 10/11/1946, đốc phủ Lộc, thư ký riêng của Thinh đến gõ cửa phòng nhưng không thấy mở. Khi phá tung cánh cửa vào được trong phòng, người ta thấy ông ta đã chết, ngang họng buộc một sợi dây đồng và trên bàn có cuốn sách thuốc mở đến trang nói về thắt cổ! Thời điểm này, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã ký tên vào bản tuyên ngôn của 200 trí thức Sài Gòn, đăng trên báo La Dépêche bày tỏ thái độ ủng hộ kháng chiến. Lúc Bollaert sang Việt Nam làm Cao ủy Pháp, thì ông cùng với Lưu Văn Lang, Đặng Văn Trứ – đại diện trí thức Sài Gòn – tìm đến gặp. Cuộc gặp gỡ này không đi đến đâu vì tên cáo già thực dân này trước sau chỉ công nhận Lê Văn Hoạch – người thay Thinh – là thủ tướngcủa cái Nam Kỳ quốc. Biết không thể dùng ngôn ngữ để dạy cho chúng chân lý "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam" mà chỉ có thể giải quyết bằng vũ trang. Do đó, sau cuộc gặp gỡ này, năm 1947, ông rời gia đình đi kháng chiến. Ra chiến khu, ông được giao nhiệm vụ ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ, kiêm giám đốc Sở Y tế Nam Bộ. Cùng với các đồng nghiệp của mình, ông đã tổ chức sản xuất văc-xin chống bệnh đậu mùa, tả, thương hàn; đào tạo cán bộ y tế, xây dựng nếp sống vệ sinh trong nhân dân… Để hình dung ra công tác phòng, chống bệnh tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ này, chúng ta hãy nghe chính bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng kể lại một trong những công việc của ông đã làm: "Để làm Vắc-xin phòng bệnh đậu mùa, chúng tôi dùng con nghé. Nghé được nhốt vào chuồng, tắm bằng xà bông và nước hấp chín trong những hũ (loại hũ đựng nước mắm được súc rửa rất sạch chuyên dùng đựng nước hấp để tắm cho nghé), dùng khăn hấp để lau cho nghé. Cạo sạch lông ở hông và bụng, dùng bàn nạo dừa đã hấp kỹ, cạo da lông và bụng cho trầy rươm rướm máu. Mủ đậu khô nghiền nhuyễn hòa với glycérine, bôi khắp vùng da trầy, xong dùng vải đã hấp có dây buộc bao bụng nghé lại rồi buộc dây trên lưng, giữ cho chỗ trống trải được sạch. Từ lúc này, ngày cũng như đêm, anh em luân phiên thức canh, nếu nghé đái, phải dội nước hấp chín rửa sàn ngay, thấy nghé dóng đuôi lên thì phải đưa 127 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM ky vào hứng liền không cho phân rớt trên ván. Canh như vậy khoảng ba ngày đêm, nếu trên bụng da nghé có những nốt tròn có mủ và mọc đều hết là trái mọc tốt. Dùng dao bào đã hấp để cạo mủ, không có máy làm khô, tôi nhớ những người Hoa kiều bán thuốc đã giữ sâm trong những hộp đựng gạo rang, sâm khô cứng không bị mốc, tôi cho làm những hộp tôn tròn, có nắp đậy kín, đường kính 60
450
4
chỉ muốn dặn rằng… Nói đến đây, người cha ngập ngừng, im lặng. Tiếâng còi tàu rúc lên… Ông ân cần đặt tay trên vai con rồi nói: - Thôi, những điều muốn dặn dò con thì thầy đã ghi cả trong thư nầy. Con giữ lấy. Chỉ khi nào tàu ra ngoài biển khơi thì con hãy mở ra xem. Thầy chúc con thượng lộ bình an… Đứng trên boong tàu, chàng thanh niên nhìn theo bóng cha đang xa khuất dần… Trong thư viết những gì mà cha dặn như vậy? Chàng Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) NGUYỄN KHẮC VIỆN Hướng dẫn cho mọi người biết… thở 188 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM rụt rè bóc lá thư. Trên trang giấy trắng, người cha viết bài thơ bằng chữ Hán, nét mực còn tươi rói. Chàng cúi xuống đọc (tạm dịch): Hà Thành đèn sách chửa đủ năm, Đi xa con hãy nhớ mẫu thân. Mưa Á, gió Âu có mới cũ, Mai: Nam, tuyết: Bắc- dặm xa gần Tạo hóa phô bày muôn cảnh đẹp, Đất khách gắng lo học chuyên cần. Tiệc thọ năm nay bao hoan hỉ, Sinh khí tươi màu ngọn gió xuân. Lật qua trang sau, là nét chữ Quốc ngữ chỉ viết vỏn vẹn một câu: "Thầy chắc chắn con sẽ học hành đầy đủ, không cần dặn gì thêm, chỉ mong con không lấy vợ đầm". Bất giác, chàng bật lên tiếng cười, thương cha quá, năm nay chàng chỉ mới 24 tuổi thôi mà, công danh sự nghiệp chưa có gì thì nào dám nghĩ đến chuyện vợ con! Chàng thanh niên đọc thư cha trên chuyến tàu từ Sài Gòn cặp bến Marseille năm 1937, sau này sẽ là nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện – một bác sĩ nổi tiếng trong y giới nước nhà. Nguyễn Khắc Viện sinh ngày 5/2/1913 tại Hương Sơn (Hà Tĩnh), là con trai của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm – phủ doãn Thừa Thiên. Dù làm quan trong triều Nguyễn, nhưng cụ Niêm không lấy đó làm vui mà thường giao thiệp với những chí sĩ yêu nước như Lê Huân, Phan Bội Châu… và giáo dục cho con tinh thần của "Tứ tôn châm": "Tôn trọng nòi giống, ắt đại hoà hợp; tôn trọng bổng lộc, ắt đại nguy nan; tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh; tôn trọng xiểm nịnh, ắt đại suy vong". Trong thời gian ra Hà Nội học trường Bưởi, Nguyễn Khắc Viện nổi tiếng là người học giỏi và được bạn bè kháo nhau về chủ trương "thật như đùa" của ông trong thời gian học là "ngứa không gãi, nóng không quạt, bẩn không... tắm!". Sau ba năm học Đại học Y khoa Hà Nội, ông là một trong ba người được sang Pháp học tiếp – vì lúc này trường Y Hà Nội cùng hệ thống với trường Y Paris. Động cơ nào đã thúc đẩy ông lo học, sau này, ông viết: "Ngày tôi học đại học Hà Nội, có lần về quê, một bà cô hỏi cháu ở ngoài 189 TẬP 3: DANH NHÂN KHOA HỌC VIỆT NAM ấy ăn tiêu hết bao nhiêu. Tôi trả lời là 20 đồng bạc. Bà thốt lên: Cả nhà cô 5-6 người ở quê ăn cũng đủ. Cả tỉnh Hà Tĩnh thời ấy cùng lứa chỉ một mình tôi được lên đại học. Rồi tôi qua Pháp, ăn tiêu mỗi tháng bằng 20-30 người ở nhà. Nợ dân, nợ nước, nợ nhà nặng quá, phải tìm cách trả.…Tôi lao vào hoạt động chính trị rồi từ quan điểm tu, tề, trị, bình tiến lên theo chủ nghĩa Mác. Theo con đường ấy, tôi thấy trả được nợ với thầy tôi, với làng nước". Lúc sang Pháp, được đi bằng vé hạng 3, nhưng lên tàu ông đổi xuống hạng 4 - dù nằm lẫn trong đám hành khách nghèo, nhưng được cái thú là tha hồ ngắm…trăng sao, trời biển! Và quan trọng nhất là dôi ra một ít tiền mà sau khi sang Pháp ông đã mua được chiếc xe đạp để đi học. Dù là con nhà quan, nhưng cụ Nguyễn Khắc Niêm có hai vợ, sinh được 14 người con nên chi tiêu trong gia đình cũng đạm bạc. Sự đạm bạc này sẽ giúp cho ông trong những ngày du học thiếu thốn. Sau này, ông nhớ lại: "Năm 1939, đại chiến bùng nổ, chúng tôi, lưu học sinh ở Pháp không nhận được tiền nhà gửi sang nữa. Chỉ có hai cách: một là cố gắng tìm việc làm, tự lo lấy; hai là cúi đầu lên Bộ Thuộc địa xin trợ cấp, muốn tránh nhục phải sống giản dị, chịu khó đi tìm việc làm nuôi thân. Lúc này tôi mới thấy cuộc sống đạm bạc của gia đình đã giúp tôi lựa chọn con đường sống". Sang đếnnơi, ở trong cư xá sinh viên, ông đã gặp những bạn bè mà sau này đều là những người nổi tiếng như Ngụy Như Kontum, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Quang Lễ (sau này được Bác Hồ đổi tên Trần Đại Nghĩa) v.v... Sau này, ông nhớ lại: "Về chuyện học hành thì qua năm 1939, tôi chuẩn bị thi "nội trú" thì chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, kỳ thi bãi bỏ, nhưng vì kết quả học tập trước đây khá tốt, nên họ cử tôi vào làm nội trú. Khi Đức chuẩn bị tiến công vào Paris, chúng tôi tản cư về phía Nam bằng xe đạp với ba lô trên vai. Đi cùng nhóm có anh Hoàng Xuân Nhị và Phạm Quang Lễ. Đi đến bờ sông Loire, cách Paris chừng 120km chúng tôi bảo nhau: "Quân Đức chưa tới đâu! Nghỉ ngơi tắm mát cái đã!". Tôi vì lười dựng lều, trải nệm ra dưới gầm cầu, nằm nghe anh Hoàng Xuân Nhị ngâm Kiều và Chinh phụ ngâm. Mờ sáng hôm sau, máy bay Đức đến ném bom vào cầu, chạy không kịp, may mà không chết! Hiểu biết về 190 BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM quân sự của chúng tôi hồi đó "cao siêu" như vậy đó! Chiến tranh hiện đại mà lại chọn trọng điểm giao thông, chui vào cầu ngủ để hứng bom. Thế mà về sau, anh Trần Đại Nghĩa lại trở nên một nhà sáng chế vũ khí có công lớn đối với dân tộc. Cho đến đầu năm 1942, lúc tôi trở lại làm việc ở một bệnh viện gần ngoại ô Paris thì bị bệnh lao. Hồi đó chưa có thuốc chữa như hiện nay, bệnh kéo dài trong gần chục năm, tôi phải lên bàn mổ bảy lần, cắt hẳn lá phổi bên phải, 1/3 lá phổi bên trái và 8 xương sườn. Vì sức yếu, mỗi lần chỉ cắt hai cái, đợi hai tháng sau mổ ra cắt tiếp 2 cái khác, nhiều lần tưởng nguy hiểm đến tính mạng. Trong những năm nằm viện, tôi đã có dịp đọc rất nhiều sách, trong đó có sách triết học của Trung Quốc và Ấn Độ. Là người bị giảm nghiêm trọng về sức thở, tôi đặc biệt chú ý đến phần Yoga - Trung Quốc gọi là khí công, trong đó yếu tố rất quan trọng là biết thở cho đúng phương pháp. Tôi đã tìm ra con đường sống cho mình từ đây"(1). Qua lời kể lại của chính ông, ta thấy hiện lên chân dung của một con người giàu nghị lực. Tại Viện điều dưỡng Saint Hilaire du Touvet ở Grenoble, ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp và đấu tranh chống lại bệnh tật bằng cách tập dưỡng sinh, học chữ Hán – để bổ sung cho vốn ngoại ngữ tiếng Pháp, Anh, Đức của mình. Trên trang vở học trò, đóng thành tập dày 120 trang, ông chia thành hai phần bằng nhau. Một nửa ghi tiếng Bạch Thoại (tiếng Trung Quốc hiện đại) và nửa bên kia thì ghi chữ Hán. Ghi từ cách phát âm, mẫu câu hội thoại, mẫu thư từ, các quy tắc ngữ pháp v.v… Ông chuyên cần học từng từ, cho đến lúc có thể dùng bút lông chép lại bằng toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trầân Côn hoặc toàn bộ tập Thiên văn tự v.v… Với kiến thức uyên thâm của hai nền văn hoá Đông - Tây, do đó, không phải ngẫu nhiên mà về sau thiên hạ gọi ông một cách tôn kính là "kẻ sĩ hiện đại"; "sĩ phu thời đại" hoặc "ông đồ Nghệ giỏi chữ Tây" … Thời thế lúc bấy giờ có nhiều xáo động, không thể yên tâm nằm dưỡng bệnh, ông xin rời Viện điều dưỡng. Ông Viện trưởng tròn mắt kinh ngạc: (1) Tưởng
466
4
ta có vẻ không được thoải mái lắm, anh có nghĩ vậy không?" Simon nhìn cô chằm chằm. Cứ thế nhìn chằm chằm. "Cô quan tâm đến sự thoải mái của hắn?" cuối cùng anh hỏi. Cô lắc đầu lo lắng, rồi gật, rồi lại lắc. "Có lẽ tôi nên - Nói thế nào nhỉ - Đây, đợi một lát." Cô cúi xuống và gỡ chân Nigel ra để anh ta ngửa người nằm thẳng trên sàn. "Tôi không nghĩ anh ta xứng đáng được về nhà trên xe của anh," cô giải thích trong lúc chỉnh lại áo khoác cho anh ta, "nhưng có vẻ hơi tàn nhẫn khi để mặc anh ta lại đây trong tư thế này. Đó, giờ thì tôi xong rồi." Cô đứng dậy và ngước mắt lên. Vừa đúng lúc nhìn thấy Công tước bước đi, làu bàu gì đó về Daphne cũng như về phụ nữ nói chung, và về chuyện gì đó chẳng chút liên quan mà Daphne không nghe được. Nhưng có lẽ thế là tốt nhất. Cô không tin rằng đó là một lời khen. Chương 4 Dạo gần đây London đã bị trôi vào vòng xoáy của các Bà Mẹ Tham Vọng. Tuần trước, tại buổi dạ vũ của phu nhân Worth, tác giả đây đã thấy ít nhất mười một Ngài Độc Thân co rúm lại trong góc phòng, cố gắng chạy khỏi tòa nhà trong khi vẫn bị các Bà Mẹ Tham Vọng bám theo sát nút. Thật khó để quyết định xem chính xác ai mới là tệ nhất trong biết bao nhiêu người như thế, tuy nhiên tác giả đây ngờ rằng cuộc cạnh tranh có thể thu hẹp lại chỉ còn là cuộc so găng giữa phu nhân Bridgerton và bà Featherington, trong đó bà F giành được chiến thắng sít sao trước phu nhân B. Xét cho cùng, hiện tại đang có đến tận ba cô Featherington trên thị trường hôn nhân, trong khi phu nhân Bridgerton chỉ cần lo lắng đến một. Tuy nhiên, tất cả những ai có tính cẩn thận tốt hơn hết nên tránh xa, rất xa khỏi những chàng trai độc thân gần đây nhất, khi các cô con gái E, F, và H nhà Bridgerton đến tuổi. Phu nhân B không có vẻ gì là sẽ nhìn trước ngó sau khi rảo bước băng qua phòng khiêu vũ với ba cô con gái đi theo, và cầu Chúa phù hộ tất cả chúng ta nếu bà quyết định đi bốt có mũi sắt. THỜI BÁO XÃ HỘI CỦA PHU NHÂN WHISTLEDOWN, 28 tháng Tư 1813 Đêm nay, Simon quyết định, không thể nào tệ hơn được nữa. Đã có lúc anh không tin như vậy, nhưng cuộc chạm trán kỳ lạ với Daphne Bridgerton dứt khoát đã trở thành cao điểm của tối. Phải, anh đã kinh hãi khám phá ra rằng anh thèm khát - dù chỉ trong thoáng chốc - em gái của bạn thân mình. Phải, những nỗ lực quyến rũ ngu xuẩn của Nigel Berbrooke đã xúc phạm đến mọi sự nhạy cảm của kẻ phóng đãng trong anh. Và phải, Daphne rốt cuộc đã làm anh phát khùng đến mức không thể chịu nổi bởi sự thiếu quyết đoán của cô trong việc nên đối xử với Nigel như một kẻ tội phạm hay lo lắng cho gã ta như thể đó là người bạn thân tình nhất. Nhưng không việc nào - không chút xíu nào - sánh được với sự tra tấn anh phải chịu đựng sau đó. Kế hoạch ồ-vô-cùng-sáng-suốt của anh rằng sẽ lẻn vào phòng khiêu vũ, bày tỏ lòng kính trọng với phu nhân Danbury rồi lẳng lặng rời đi đã ngay lập tức bị phá sản hoàn toàn. Anh chưa bước được quá hai bước vào phòng khiêu vũ thì đã bị phát hiện bởi một người bạn cũ từ Oxford, người mà Simon kinh hoảng nhận ra vừa mới kết hôn. Cô vợ quả là một quý cô duyên dáng hoàn hảo, nhưng thật không may lại ấp ủ những khát vọng của giới thượng lưu, và cô ta nhanh chóng xác định rằng con đường dẫn đến hạnh phúc của bản thân phụ thuộc vào vai trò là người giới thiệu vị Công tước mới với xã hội. Và Simon, dù vẫn tự xếp mình thuộc kiểu người chán đời, cay độc, đã khám phá ra rằng anh không đủ thô lỗ để trực tiếp xúc phạm vợ của người bạn cũ từ đại học. Và vì vậy, hai giờ sau đó, anh được giới thiệu với từng quý cô chưa chồng tại buổi dạ vũ, từng bà mẹ của mỗi quý cô chưa chồng tại buổi dạ vũ, và, dĩ nhiên, với từng người chị đã kết hôn của mỗi quý cô chưa chồng tại buổi dạ vũ. Simon không thể kết luận được thành phần nào trong đám phụ nữ ấy là tệ nhất. Các quý cô chưa chồng nhất định là kẻ buồn chán, các bà mẹ thì phiền phức với quá nhiều tham vọng, còn các cô chị - chà, các cô chị thì sốt sắng đến nỗi Simon bắt đầu tự hỏi chẳng biết có phải anh vừa sẩy chân vào nhà chứa hay không. Sáu người trong số họ đưa ra những dấu hiệu cực kỳ khêu gợi, hai người tuồn cho anh tin nhắn mời anh tới phòng ngủ của họ, và một cô ả còn luồn hẳn tay xuống đùi anh. Nhìn lại mới thấy, Daphne Bridgerton thực tình quá dễ chịu. Mà nhân nói tới Daphne, cô đang ở chỗ quái quỷ nào cơ chứ? Anh nghĩ anh đã thoáng nhìn thấy cô một giờ trước, bị bao quanh bởi các ông anh traikhá cao lớn và đáng sợ. (Không phải Simon nhận thấy từng người họ trông đáng sợ, nhưng anh nhanh chóng rút ra kết luận rằng chỉ có thằng đần mới đi khiêu khích họ khi họ đi thành nhóm). Nhưng lúc sau cô dường như biến mất. Thực tình, anh nghĩ có lẽ cô là vị tiểu thư độc thân duy nhất trong buổi tiệc anh không được giới thiệu. Simon không lo cô bị Berbrooke làm phiền sau khi anh bỏ họ lại sảnh. Anh đã thọi cho anh ta một cú trời giáng vào quai hàm, và chắc chắn anh ta sẽ bất tỉnh trong vài phút. Có thể lâu hơn, nếu tính đến lượng cồn không nhỏ mà gã Berbrooke đó đã nốc đầu buổi tối. Và ngay cả khi Daphne đã ngốc nghếch đối xử một cách tử tế với kẻ cầu hôn vụng về của mình, cô cũng không ngốc đến mức ở lại sảnh cho đến khi anh ta tỉnh. Simon liếc mắt về phía góc phòng nơi anh em nhà Bridgerton tụ tập, nhìn như thể họ đang được xả hơi rất thoải mái. Họ cũng bị các quý cô trẻ tuổi và các bà mẹ đứng tuổi gạ gẫm ráo riết chẳng thua gì Simon, nhưng ít nhất cũng có vẻ được an toàn về mặt số lượng. Simon để ý thấy thời gian các quý cô trẻ tuổi mới ra mắt lần đầu tiên dành cho nhóm Bridgerton không bằng một nửa thời gian họ dành cho anh. Simon cau có nhìn về phía họ. Anthony, đang uể oải dựa lưng vào tường, nhìn thấy vẻ mặt ấy và mỉm cười tự mãn, giơ ly vang đỏ về phía anh. Rồi anh hơi nghiêng đầu, ra hiệu về bên trái Simon. Simon quay lại, vừa đúng lúc để bị cầm chân bởi một bà mẹ đang đi cùng ba cô con gái, cô nào cô nấy đều ăn mặc kiểu cách và quái dị, thừa mứa nếp gấp cũng như viền ren, và dĩ nhiên, hàng đống dây buộc. Anh nghĩ về Daphne, với chiếc áo màu xanh lá mạ giản dị của cô. Daphne, với đôi mắt nâu thẳng thắn và nụ cười rộng mở... "Thưa ngài!" bà mẹ kêu lên the thé. "Thưa ngài!" Simon chớp mắt xóa tan ảo ảnh. Gia đình dây-nhợ-lòng-thòng cuối cùng đã có thể bao vây anh một cách hiệu quả đến nỗi anh còn chẳng thể bắn cái nhìn trừng trừng về phía Anthony. "Thưa ngài," bà mẹ nhắc lại, "thật vinh dự biết bao khi được quen biết ngài." Simon cố trưng ra một cái gật đầu lãnh đạm. Anh chẳng thể nói được gì. Cái gia đình toàn phụ nữ này ép anh chặt đến nỗi anh sợ mình ngạt thở đến nơi. "Georgiana Huxley bảo chúng tôi phải đến đây," người phụ nữ không buông tha anh. "Bà ấy nói nhất định tôi phải giới thiệu các con gái mình với ngài." Simon không thể nhớ ai là Georgiana Huxley, nhưng anh có cảm giác chỉ muốn bóp cổ bà ta cho xong. "Thông thường tôi không táo bạo thế," người phụ nữ tiếp tục, "nhưng người cha vô cùng thân mến của ngài là một người bạn thân thiết của tôi." Simon cứng người. "Ông ấy thật là một người phi thường," bà ta tiếp tục, giọng nói như đóng đinh vào não bộ Simon, "ý thức rất rõ ràng về trách nhiệm đối với tước vị của mình. Ông chắc hẳn cũng là một người cha tuyệt
498
4
ạc thôi." Simon vươn người dậy, chìa tay ra giúp Daphne, và cô nắm với vẻ biết ơn, loạng choạng đứng lên. "Tôi vẫn chưa đi đứng vững vàng trên sàn tàu được," cô cười phá ra, nắm chặt tay anh để giữ thăng bằng. "Mà chúng ta chỉ đang ở trên sông thôi đấy," anh lầm bầm. "Ghét thật. Lẽ ra anh không nên chỉ ra sự thiếu duyên dáng và khả năng thăng bằng của tôi." Cô quay mặt về phía anh khi nói, và trong khoảnh khắc ấy, khi làn gió bắt được mái tóc và tô vẽ màu hồng trên má cô, cô trông đáng yêu một cách đầy mê hoặc đến nỗi Simon gần như quên cả thở. Đôi môi căng mọng của cô nửa như cười mỉm, nửa như sắp cười thành tiếng, và ánh mặt trời phản chiếu màu đỏ trên tóc cô. Trên mặt nước, cách xa những phòng khiêu vũ ngột ngạt, giữa không khí trong lành đang xoay vần xung quanh, cô trông tự nhiên và xinh đẹp biết bao, và chỉ cần sự hiện diện của cô cũng đủ khiến cho Simon muốn toét miệng cười như một thằng ngốc. Nếu không phải họ sắp cập bến tàu, với toàn thể gia đình cô chạy vòng vòng xung quanh, có lẽ anh đã hôn cô rồi. Anh biết anh không thể ve vãn cô, và anh biết anh sẽ không bao giờ cưới cô, ấy vậy mà anh vẫn thấy mình chồm về phía trước. Anh thậm chí còn không nhận ra mình đang làm gì cho đến khi anh đột nhiên mất thăng bằng và lảo đảo ngã về phía sau. Anthony, thật không may, đã chộp được toàn bộ cảnh tượng đó, vậy là anh bèn thô lỗ chen vào giữa Simon và Daphne, túm lấy tay cô bằng sức mạnh thay vì sự nhã nhặn. "Với tư cách anh cả," anh gầm gừ, "anh tin rằng vinh dự của anh là được hộ tống em vào bờ." Simon chỉ cúi chào và để Anthony làm theo ý mình, quá run rẩy và giận dữ trước khoảnh khắc mất kiểm soát tạm thời ấy nên chẳng còn tâm trí đâu mà tranh cãi. Thuyền cập vào sát bến cảng, và tấm ván cầu được đặt vào chỗ. Simon chỉ đứng quan sát khi toàn bộ gia đình Bridgerton bước lên bờ, rồi anh đi cuối cùng, theo họ đến bãi cỏ bên bờ sông Thames. Đài Thiên văn Hoàng gia nằm trên đỉnh đồi, một tòa nhà cổ trang nghiêm xây bằng gạch đỏ au. Những tòa tháp được chụp mái vòm màu xám, và Simon có cảm giác anh, đúng như Daphne đã nhắc đến, đang ở trung tâm của thế giới. Mọi thứ, anh nhận ra, đều được đo từ điểm này. Sau khi đã băng qua phần lớn bề mặt quả địa cầu, ý nghĩ này có phần khá khiêm tốn. "Mọi người đông đủ chưa?" Nữ Tử tước gọi lớn. "Đứng yên nào, mọi người, để mẹ có thể đảm bảo tất cả chúng ta đều đã có mặt." Bà bắt đầu đếm đầu người, cuối cùng kết thúc ở mình với vẻ hân hoan. "Mười! Tốt, tất cả chúng ta đều ở đây." "May là mẹ không còn bắt tụi con đứng xếp hàng theo tuổi nữa." Simon nhìn sang trái và thấy Colin đang nhăn nhở cười với anh. "Với vai trò một phương pháp duy trì thứ bậc, tuổi tác vẫn luôn hiệu quả miễn là nó tương đương với chiều cao. Nhưng rồi Benedict cao hơn Anthony hai phân, và Gregory cao hơn Francesca..." Colin nhún vai. "Mẹ đành bỏ cuộc thôi." Simon quét mắt qua đám đông và nhô vai lên thành một cái nhún vai. "Tôi chỉ đang cố hình dung xem mình đứng đâu cho phù hợp." "Đâu đó gần Anthony, nếu tôi phải đánh bạo đưa ra phán đoán," Colin trả lời. "Lạy Chúa đừng có chuyện đó," Simon lầm bầm. Colin liếc nhìn anh với ánh mắt vừa thích thú vừa tò mò. "Anthony!" Violet hét lớn. "Anthony đâu?" Anthony đánh tiếng cho sự hiện diện của mình bằng tiếng càu nhàu có phần gắt gỏng. "Ôi, con đây rồi, Anthony. Đến đây hộ tống mẹ nào." Anthony miễn cưỡng bỏ tay Daphne ra và bước về phía bà. "Mẹ không biết xấu hổ, nhỉ?" Colin thầm thì. Simon nghĩ tốt nhất là không bình luận gì. "Vậy đấy, đừng làm mẹ thất vọng nhé," Colin nói. "Sau tất cả những âm mưu của bà, ít ra anh cũng nên đến nắm tay Daphne đi." Simon quay qua Colin, hàng lông mày nhíu lại. "Cậu có thể cũng nguy hiểm không kém gì mẹ cậu." Colin chỉ bật cười. "Phải, trừ việc ít nhất tôi cũng không giả vờ tế nhị." Daphne chọn đúng lúc để bước tới. "Em nhận ra mình không có người hộ tống," cô nói. "Cứ tưởng tượng đi," Colin quay lại. "Bây giờ, nếu hai người thứ lỗi, tôi phải đi tìm Hyacinth đây. Nếu buộc phải hộ tống Eloise, tôi có khi phải bơi ngược về London mất. Từ khi được mười bốn tuổi, con nhóc đã trở nên ranh mãnh rồi." Simon chớp mắt bối rối. "Không phải cậu mới từ lục địa trở về tuần trước sao?" Colin gật đầu. "Phải, nhưng sinh nhật mười bốn tuổi của Eloise đã cả năm rưỡi trước rồi." Daphne đánh mạnh vào khuỷu tay anh. "Nếu anh may mắn, em sẽ không bảo con bé là anh nói thế." Colin chỉđảo mắt và biến mất vào trong đám đông nhỏ, rống lên tên Hyacinth. Daphne vòng tay qua khuỷu tay Simon khi anh giơ tay ra, và hỏi. "Chúng tôi có làm anh sợ không?" "Cô nhắc lại được không?" Cô trao cho anh nụ cười rầu rĩ. "Không có gì khiến người ta mệt lử như đi dạo với gia đình Bridgerton." "Ồ, cái đó à." Simon bước vội sang phải để tránh Gregory, lúc này đang vừa đuổi theo Hyacinth vừa la hét gì đó về bùn và báo thù. "Nó là, à, một kinh nghiệm mới." "Ngài lịch sự quá, thưa Công tước," Daphne nói vẻ thán phục. "Tôi bị ấn tượng đấy." "Vâng, à..." Anh nhảy lùi lại khi Hyacinth vừa lăn tới vừa ré lên chói lói đến nỗi Simon dám chắc sẽ khiến lũ chó từ đây tới tận London bắt đầu tru lên. "Xét cho cùng, tôi không có anh chị em nào cả." Daphne thở dài mơ màng. "Không anh chị em," cô trầm ngâm. "Ngay bây giờ điều đó nghe như thiên đường vậy." Ánh nhìn xa xăm lưu lại trong mắt cô thêm vài giây nữa, rồi cô thẳng người dậy rũ bỏ sự mơ màng. "Tuy nhiên, thế nào thì thế..." Cô vung tay ra vừa kịp lúc Gregory chạy qua, túm chặt tay thằng bé. "Gregory Bridgerton," cô quở trách, "lẽ ra em phải biết chạy xuyên qua đám đông như thế thì sẽ làm sao chứ. Em có thể xô ngã người khác đấy." "Sao cô làm được vậy?" Simon hỏi. "Làm gì, bắt thằng bé à?" "Phải." Cô nhún vai. "Tôi được luyện tập nhiều năm rồi." "Daphne!" Gregory rền rĩ. Rốt cuộc, tay thằng nhỏ vẫn đang bị cô nắm chặt. Cô cho nó đi. "Nào, chậm thôi." Cậu nhóc bước hai bước với vẻ khoa trương rồi bắt đầu phóng hết tốc lực. "Không khiển trách Hyacinth sao?" Simon hỏi. Daphne ra hiệu về phía sau lưng. "Có vẻ như mẹ tôi túm được Hyacinth rồi." Simon nhìn thấy phu nhân Violet đang vung vẩy ngón tay về phía Hyacinth. Anh quay lại nhìn Daphne. "Cô định nói gì trước khi Gregory xuất hiện?" Cô chớp mắt. "Tôi không biết." "Tôi tin rằng khi đó cô sắp bày tỏ sự phấn khích trước suy nghĩ không có anh chị em." "Ồ, dĩ nhiên." Cô bật cười khe khẽ trong lúc họ đi theo những thành viên khác trong gia đình Bridgerton leo lên đồi hướng tới đài thiên văn. "Thực sự thì, tin hay không tùy anh, tôi định nói rằng mặc dù thỉnh thoảng ý niệm mãi mãi cô đơn khá lôi cuốn, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ khá lẻ loi nếu không có gia đình." Simon chẳng nói gì. "Tôi không thể hình dung được nếu là con một thì sao," cô thêm. "Đôi lúc," Simon nói khô khốc, "người ta không có nhiều lựa chọn trong vấn đề ấy." Gò má Daphne ngay lập tức đỏ lựng. "Ồ, tôi xin lỗi," cô lắp bắp, đôi chân không thể bước
515
4
nghe cười ai đó, nên điều quan trọng là bạn phải cẩn thận tìm hiểu khán giả và lựa chọn câu chuyện cười vô hại, phục vụ đề tài một cách hiệu quả mà không động chạm đến bất kỳ người nghe nào. Mặc dù người nghe có vẻ thích chế giễu những người họ coi là thấp kém hơn mình, nhưng một diễn giả sẽ bị "ám" cả đời nếu nói ra một lời lăng mạ hay sỉ nhục ai đó thấp kém mà cứ nghĩ đó là một chuyện đùa vô hại. Nếu bạn muốn chế giễu một nhóm người nào đó, thì hãy tế nhị, như một nhà thuyết giảng Tin lành sau đây đã làm. Phát biểu trước một cuộc hội họp ngoài trời vào một ngày u ám, ông đã nói: "Cái ông làm dự báo thời tiết chả giúp ích gì cho chúng ta hôm nay. Nhưng thời tiết này cũng không phải là tệ... Chắc chắn nó dư tốt cho những người theo Hội thánh." Tuy nhiên, bạn nhất quyết không được chế giễu hay kể chuyện cười về những nhân vật thuộc tầng lớp ưu tú – những người có các thành tựu hay danh tiếng làm họ miễn nhiễm với những gì gây cười – và chính khán giả đang nghe bạn. Người ta ít khi thích tự cười vào mặt mình và khán giả không phải là trò vui của bạn. Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.ComNhật Nguyên (Biên soạn).Ò ỊÚ P T R Ẻ THÔNÒ MĨmỉ, HỒC GIỎI N H À X U ẤT B ẢN HÀ N ỘI Nhật Ngụyên (Biên soạn) o ầ[ổn ăn. GIÚP TRẺ THÔNG MINH, HỒC GIỎI Inl nmà xuất bản hà nội Bộ não là phần cực kỳ quan trọng trong cơ thể trẻ cần được chăm sóc chu đáo ngay từ những năm tháng đầu I đời cho đến những mùa thi nối tiếp nhau trong suốt quá I trình trưởng thành. Nếu quên chăm sóc nó thì sau đó 1 phải tốn thời gian khá dài mới làm cho não khỏe trở lại. 1 Có rất nhiều cách chăm sóc bộ não. Một bộ não khỏe mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số lượng các tế bào ỊíịH thần kinh có khả năng làm việc, nguồn dinh dưỡng như ^ "1 oxy, đường glucose, các chất đạm, béo, vitamin - đặc biệt, là các vitamin nhóm B,các nguyên tố vi lượng như đồng, kẽm, m agiê... sức khỏe cơ thể và cả thói quen, sự rèn luyện thể dục thể thao, mức độ tập trung và phương pháp học tập... Vì vậy, cần có một kế hoạch về thời gian học tập và nghỉ ngơi hợp lý, để giúp não được thư giãn đầy đủ! Ngoài các loại thuốc, thực phẩm chức năng được bác sĩ kê toa cho kỳ thi của con bạn, quyển sách này xin giới thiệu các loại thực phẩm thông dụng hàng ngày, các I món ăn bổ dưỡng giúp trẻ nhỏ thêm linh lợi, hoạt bát, giúp sĩ tử thêm vững tin trước các kỳ thi đầy gian nan. R"ềoj Tác giả ữííc c/iấ/ ííùi/t íểitờ/iự cầ/ì f/iiế( c/ỉo /ỉào Cần bổ sung, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho não, nhưng không nhất thiết phải ăn quá nhiều, mà là ăn đúng và ăn đủ. Ngoài các thức ăn giàu đạiiì nliưthịtcá, hãy nhớ bổ sung thức ăn giàu vitatnin như rau, củ, quả clio con. ^ Chất bột đường: Não sử dụng một lượng lớn đường (khoảng 20%) để hoạt động, tuy nhiên cần chọn loại bột đường hấp thu chậm (ngũ cốc thô, trái cây không quá ngọt như bưởi, táo...) để đường trong máu luôn ổn định. Ngược lại, những loại đường hấp thu nhanh (bánh kẹo, nước ngọt...) dễ làm đường huyết dao động. Không nên ăn bánh kẹo ngọt lúc đói mà chỉ nên ăn ngay sau bữa ăn chính để không làm đường huyết tăng vọt. Chất béo thiết yếu (omega-3 và omega-6): Là nguyên liệu cấu tạo nên tế bào thần kinh, hai chất này'rất dễ bị thiếu do cơ thể không thể tổng hợp được Iiìà phải đưa vào từ thức ăn với tỉ lệ hai chất ngang nhau. Omega-3 có trong các loại cá béo như cá thu, cá ngừ, cá hồi, cá mòi, cá basa... Omega-3rất dễ bị thiếu hụt, nên ăn cá ít nhất 3-4 lần trong tuần. Omega-3 tập trung nhiều ở đầu cá, ăn cá hấp hoặc nấu canh tốt hơn cá chiên. Omega-6 có trong các hạt nhiều dầu như hạt bí đỏ, hướng dương, mè và dầu thực vật. Phospholipid: Có nhiều trong lòng đỏ trứng và nội tạng, giúp tạo myelin bao bọc dây thần kinh, thúc đẩy sự truyền các tín hiệu một cách trơn tru trong não bộ. Acid amin: Một số acid amin làm thức tỉnh não, một số khác giúp não thư giãn, nghỉ ngơi. Hai loại acid amin quan trọng là trypto- phan và tyrosine là tiền chất tạo nên các chất dẫn truyền thần kinh. Tryptophan là acid anìin thiết yếu tạo ra chất dẫn truyền thần kinh serotonin giúp não thư giãn nhưng cơ thể không thể tổng hợp được mà phải đưa vào bằng thức ăn, có nhiều trongsữa, sữa chua, phô mai, thịt cá, trứng, mè, tảosprulina... Còn tyrosine thì cơ thể tổng hợp được, tạo nên chất dần truyền thần kinh dopamine, epinerphrine, nor- epiner|)hrine làm "thức tỉnh" não, giúp cơ thể năng động liơn. Vitamin và khoáng chất: Giúp các chất trên phát huy tác dụng, đặc biệt là các vitamin tilìóm B (trong ngũ cốc thô và các loại rau), vita- min c (trong rau và trái cây tươi), acid íolic (trong rau lá xanh đậm), magie (trong rau xanh và các loại hạt), mangan (các loại hạt, trà), kẽm (trong hàu, hải sản, thịt cá, các loại hạt), chất clìống oxy hóa (viat- min E, vitamin c, beta carotene...) giúp bảo vệ tế bào não chống lại sự tấn công của các gốc tự do. l-ốt và sắt: Là 2 vi chất rất cần cho bộ não. Thiếu i-ốt thì học sinh sẽ thụ động, trì trệ, kém sáng tạo, giảm tiếp thu bài giảng, vì vậy nên sử dụng muối i-ốt trong chế biến thực phẩm gia đìnhhàng ngày. Các em cũng cần ăn đầy đủ thực phẩm giàu chất sắt (trong huyết, gan, thịt, trứng, cá, rau xanh, các loại đậu thô) để không bị thiếu máu dẫn đến mệt nìỏi, dễ buồn ngủ. Chất sắt từ nguồn thức ăn động vật sẽ hấp thu tốt hơn thực vật. Trái cây giàu vitamin c sẽ giúp hấp thu tốt chất sắt, không nên uống trà đặc sau bữa ăn chính, vì trà ức chế sự hấp thu chất sắt. Hoạt động thê lực: Đây không phải là "thức ăn bổ não" nhưng lại hết sức cần thiết, giúp Iiìáu lưu thông tốt mang oxy và dưỡng chất đến cho não. Vài động tác thể dục gÌLÌa giờ hoặc đi bộ một vòng trong giờ giải lao cũng giúp máu lưu thông đến não đều đặn hơn. Giấc ngủ tốt: Thức khuya, ngủ không đủ giấc thì não bộ luôn trong trạng thái bị kích thích liên tục, dẫn đến năng suất học tậpkém. Không nên uống cà phê, nước tăng lực trong mija thi vì chất caíein sẽ làm tim đập nhanh, mau mệt, tuy không buồn ngủ nhưng đầu óc khó tập trung khi học bài. Cá: Đặc biệt là cá hồi, là thực phẩm tốt nhất cho não. Các thực nghiệm đã chứng minh, những người ăn nhiều cá có trí nhớ, khả năng tập trung, khả năng nói chuyện tốt hơn. Những bà mẹ mang thai, ăn nhiều cá trong ba tháng giữa của thai kì cũng giúp bộ não thai nhi phát triển thật hoàn thiện. Trứng: Collin - một chất giống vi- tamin - được giới khoa học đánh giá là món quà tuyệt vời đối với bộ não. Lòng đỏ trứng là thức ăn chứa nhiều collin nhất. Trong 50g lòng đỏ trứng có gần 500mg collin, tương tự như lượng collin có trong lOOg gan, nhiều gấp 2,5 lần so với lượng collin có trong lOOg thịt chim. Tuy nhiên mỗingày chí ăn 1 - 2 quả trứng gà đã có thể cung cấp đủ lượng collin cho cơ thể. Quả bơ: Chất béo trong quả bơ hỗ trợ điều hòa máu, hạ huyết áp, ngăn ngừa đột quỵ. Khi tuần hoàn máu tốt, oxy lên não đủ, tăng cường tập trung và năng lực suy nghĩ. Là một trong rất ít loại trái không có cholesterol, mà lại chứa chất béo đơn không bão hòa. Bắp(ngô):Trongbắp,đặcbiệ
670
4
tlàbắp ^ ìte c fi/ì€Ỉền />Ổ /ião tươi có ch ứa n h iều acid béo và acid không no như acid linoleic, có tác dụng bảo vệ não bộ và giảm lirợng mỡ trong máu. Đặc biệt, lượng acid glutamic trong bắp rất cao, kích thích các tế bào não không ngừng chuyển động và trao đổi thông tin. Sữa: Sữa bò được coi là một trong những nguồn dinh dưỡng quý giá nhất. Trong sữa có nhiều pro- tein, can xi và những nguyên tố cần thiết khác chonão. Khi căng thẳng, mất ngủ, hãy thử uống một ly sữa nóng vào buổi tối, nó sẽ giúp giấc ngủ đến dễ dàng hơn. Đậu phông (lạc) hay hạt kê đều có lợi cho não: Đậu phông chứa hàm lượng lecithin và cephalin phong phú. Thực nghiệm chứng minh, ăn đậu phông thường xuyên giúp cải thiện quá trình tuần hoàn máu, tăng cường trí nhớ, và đẩy lùi quá trình lão hóa. Rau xanh: Rau lá màu xanh dậm giúp dung nạp tốt các loại vita- min, khoáng chất và dinh dưỡng thực vật. Sắt, là một ví dụ, giúp mang nhiều oxy hơn đến cho cơ thể (đặc biệt là não), và cải thiện khả nătig kiểm soát nhậti thức. í ( 11 ■m soát nhậti thức. Cà tím: Ăn cà tím sẽ giữ cho bộ não tinh nhanh bằng cách tăng cường thông tin liên lạc gÌL/a các tế bào não với các phân tử đira tin. Chuối: lOOg chuối chứa 1,7mgsero- tonin.Đây là hormon cần thiết cho não, giúp chống lại stress và tập trutìg tốt. Nho: Chất đường đặt biệt trong quả nho có khả năng cưng cấp nguồn năng krợng hoạt động cho não bộ một cách nhanh chóng. Thơm (dứa): Nên ăn sống hoặc uống nước. Giúp thưgiãn thần kinh và bảo vệ các mạch không bị nghẽn. Táo (bom): Nên dùng giữa các bữa ăn chính. Có tác dụng bão hoà lượng đường trong lììáu và hỗ trợ rất tốt cho hoạt động suy nghĩ. Lê: Được dánh giá là có tác dụng tốt cho não nhir chuối và táo. Nguyên do là trong quả lê chứa các chất đặc biệt là acid silicic và acid phosphoric. Ngoài ra, lê cũng có hàm krợng hydrooxyd rất cao. Mật ong: Mật ong rất giàu chất dinh ckrỡng, trong đó đặc biệt chứa nhiều loại men, acid amin, các vitamin và nguyên tố vi lượng cần thiết cho hoạt dộng của hệ thần kinh trung irơng,qua đó cải thiện khả năng ghi nhớ. > 4 Dược thư cổ ghi nhận, uống mật ong lâu ngày sẽ làm mạnh mẽ thần trí, thân thể nhẹ nhàng, không già cỗi, sống lâu như thần tiên... Có nhiều cách dùng, nhưng đơn giản nhất là đều đặn mỗi tối uống 2 thìa cà phê mật ong trước khi đi ngủ. Đông trùng hạ thảo: Là một trong những vị thuốc - thực phẩm nổi tiếng của Y học cổ truyền, sánh ngang với nhân sâm và nhung hươu. Tác dụng dược lý của đông trùng hạ thảo hết sức phong phú, trong đó có tác dụng trấn tĩnh, tăng cường sức chú ý và nâng cao năng lực ghi nhớ. Có thể dùng dưới dạng thô hoặc dạng đã bào chế như viên nang, thuốc nước, thuốc bột... Hồ đào nhân: Cứ mỗi lOOg có chứa 58-74g chất béo, chủ yếu là các acid béo không no, 18g chất đạm, lOg chất vô cơ, nhiềuloại vitamin như: B I, B2, c, E... và các nguyên tố vi lượng như: Ca, p Fe, Zn, Mg... một lượng lớn phot- pholipid và lysine cần thiết cho cấu trúc và hoạt động của não bộ. Long nhãn: Y Thư cổ Khai Bảo Bán Thảo cho rằng long nhãn có khá năng bổ tỳ và có ích cho trí tuệ. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, long nhãn có khả năng điều ịfị § chỉnh hoạt động của vỏ não và cải thiện khả năng ghi níiớ. Nấm linh chi: Được mệnh danh là "tiên thảo" (cỏ tiên). Nghiên cứư lâm sàng hiện đại cho thấy, linh chi có khả năng hỗ trợ trị liệu rất tốt đối với những bệnh nhân suy nhược thần kinh, mất ngủ, hay quên... Nhân sâm: Là vị thuốc - thực phẩm đứng đầu trong nhóm dược liệu có công dụng bổ khí. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân sâm có khả năng cải thiện chuyển hóa củatổ chức não, hưng phấn và tăng cường tính linh hoạt của hệ thần kinh, nâng cao khả năng ghi nhớ. Bởi vậy, nhân sâm cũng là một trong những thực phẩm - thuốc rất hữu ích cho việc làm tăng trí nhớ, phòng chống suy nhược thần kinh và chứng hay quên do khí huyết suy nhược. Hạt sen: Giúp tăng cường trí nhớ rất tốt. Y Thư cổ Thần Nông Bản Thảo Kinh ghi nhận hạt sen bổ tỳ vị, có lợi cho thần khí, trừ được trăm bệnh, dùng lâu làm nhẹ người và kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra, còn nhiều loại thực phẩm khác cũng có công dụng làm tăng trí nhớ nlur: Tổ yến, ngân nhĩ, mộc nhĩ, bách hợp, hoàng kỳ, nấm hương, nấm rơm, nấm kim châm và các loại nấm ăn khác... Óc heo: Có công dụng ích thận bổ não, bổ cốt tủy, dược dùng dể chữa các chứng suy nhược thần kinh, hay quên, chóngmặt hoa mắt... Trứng chim bồ câu: Có công dụng bổ thận dưỡng tâm, thường đirợc dùng làm thức ăn cho những ngirời mất ngủ, hay quên, đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, lưng dau gối mỏi... Trứng chim cút: Có công dụng bổ khí huyết, kiện não, ích trí. Với giá tri dinh dirỡng rất cao, vượt xa so với các loại trứng gia cầm khác, đặc biệt có chứa nhiều leucithin. Trứng chim cút là một trong những loại thực phẩm rất hữu ích cho não bộ. T, u a /a t/ tốm *^ìỉjqtuặẻn íiòụ Tôm sú hoặc tôm đất: 400g Xà lách: 2 cây Rau quế, húng lủi, hành tây, dưa leo, cà chua: Mỗi loại một ít Chanh, ớt, nước mắm, đường Tôm rửa sạch, bóc vỏ và bỏ chỉ đen, có thể xào tôm, nướng tôm hoặc đơn giản hơn là luộc chín tôm. Các loại rau: Nhặt sạch, ngâm, rửa sạch. Dưa leo cắt mỏng, cà chua cắtlát, hành tây cắt khoanh. Nướcxốt: Cho nước mắm, đường, ớt, tỏi và gừng băm nhuyễn vào một nồi nhỏ, bật lửa lớn và khuấy đều hỗn hợp cho đến khi đường tan hết, rồi vắt chanh vào. Trộn tất cả rau quả và tôm với nhau, sau đó rưới nước xốt lên, trộn đều. ^ ưiẤdưânẹ: Theo bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam, trong lOOg tôm tươi có tới 1120mg canxi, 18,4g protid, 1,8g lipid, 150mg phospho. Salad tôm trộn có thể ăn kèm với mì hoặc bánh tráng. Lưu ý khi làm salad, chỉ chọn những con tôm còn sống. Những con chết bắt đầu mềm nhũn ra, đầu tôm dễ tách khỏi mình, màu trở thành sẫm, có nhiều nhớt. fJa /tu lcứ /nòi ^^Ylạuạên/ liệu. Cá xốt cà: 1 hộp Xà lách: 1 cây Hành tím: 2 củ Cà rổt: 1 củ Giấm: 4 muỗng canh Đường: 2 muỗng cà phê Tỏi xay; 1/2 muỗng cà phê Dưa leo: 1trái Ngò ta: một ít Muối; một ít íànv: Nhặt xà lách ngò ta rửa sạch, vẩy ráo cắt khúc vừa ăn. Hành tím lột vỏ rửa sạch cắt khoanh mỏng. Cà rốt gọt vó rửa sạch bào mỏng cắt khúc vừa ăn. Dưa leo gọt vỏ bào mỏng. Hòa tan đường, giấm, muối, cho thêm tói vào tạo mùi thơm để làm turớc xốt. xếp xà lách, hành tím, cà rốt ra đĩa, cho cá xốt cà lên trên. Dưa leo bào mỏng cuốn khoanh tròn trang trí bên cạnh, rắc ngò ta lên cho đẹp. ^ 'in k ẩuởncy: Khi nào ăn rưới nước xốt dầu giấm lên, dùng như món khai vị.
671
4
ҥt, nhánh ch ӗi m ӑc ӣ mé trong ph ҫn dѭ ӟi cu ӕng lá. c - Cây Bán H ҥ Nhành Ch ӗi: Cây tѭѫng Č ӕi t h ҩp bé, lá Čѫn hình b ҫu d өc, màu xanh nh ҥt, nhánh ch ӗi m ӑc ӣ ph ҫn g ӕc, cu ӕng lá có 3 lá kép. d - Cây Bán H ҥ Lá Dài: Cây cao và nhánh tr ӗi m ӑc trên cu ӕng lá cNJng gi ӕng nhѭ nhánh ch ӗi c ӫa cây Bán h ҥ lá r ӝng, nhѭng có 5 lá Čѫn, lá gi ӳa khá to. Trong 4 loài trê n, thѭ ӡng th ҩy nh ҩt là loài ph ә thông và lá r ӝng nhѭng s ҧn lѭ ӧng c ӫa loài nào cao nh ҩt, ch ҩt lѭ ӧng t ӕt nh ҩt c ҫn ph ҧi nghiên c ӭu thêm. (2) C ҫn phân bi Ӌt v ӟi cây Bán h ҥ nam còn g ӑi là c ӫ tróc (Typhonium trilobatum Schott). (3) CNJng c ҫn phân bi Ӌt v ӟi cây Thiê n nam tinh hay c ӫ Nѭa (Arisaema consanguine Arisaema balansae Engl. Arisaema petiolulatum Gagnep) có thân r Ӊ hình c ӫ tròn hѫi gi ӕng hình Bán h ҥ b ҳc nhѭng l ӟn hѫn, Čѭ ӡng kính kho ҧng 5cm Čѭ ӧc dùng làm thu ӕc có tác d өng an th ҫn, gi ҧm Čau tiêu Čàm, dùng tѭѫi Č ҳp ngoài ch ӳa sѭng t ҩy nh ӑt Č ӝc (Dqnh T ӯ Dѭӧc V ӏ Ĉông Y). BÈ ĈAO Bí Čao temp Bí Čao có tên khoa h ӑc là Benincasa hispida hay Cucrubita hispida, h ӑ B ҫu bí. B ҫu và Bí cùng h ӑ nên: B ҫu ѫi thѭѫng l ҩy bí cùng, Tuy r ҵng khác gi ӕng nhѭng chung m ӝt gìan. Hai cây này Č Ӆu có chi Ӄu hѭ ӟng ngóc lên cao nên thѭ ӡng cho leo gìan: Gìan cao thì bí cNJng cao Bí có ngã nhào cNJng t ҥi gìan xiêu. Cho nên có câu Č ӕ: Cái gì l ӫng l ҷng trên gìan? Cái gì lăn lóc gi ӳa Čàng cái Či? Qu ҧ bí l ӫng l ҷng trên gìan. Qu ҧ dѭa lăn lóc gi ӳa Čàng cái Či. Em ѫi gái có xuân thì, Thѭѫng anh cѭ ӟi g ҩp c ҫn gì m ӕi mai. Có hai lo ҥi bí Čao: a - Bí Čao ph ҩn do v ӓ quá có ph ҩn sáp tr ҳng, qu ҧ to nhѭng nhi Ӆu ru ӝt. b - Bí Čao Čá: v ӓ qu ҧ dày c ӭng và nh ҹn thín. Qu ҧ nh ӓ dài nhѭng ít ru ӝt. Cây Bí Čѭ ӧc tr ӗng quanh nhà nên: M ӗng tѫi, mѭ ӟp Č ҳng, ӟt, cà, Bí Čao, Č ұu ván v ӕn nhà tr ӗng nên. A - Ĉӑt bí ăn Čѭ ӧc nhѭng c ӭng và không ngon nhѭ Č ӑt b ҫu. B - Hoa bí. Ch Ӎ hái ăn hoa b ҫu Č ӵc, hoa cái Č Ӈ ra qu ҧ. Nó có v ӏ nh ҥt, hѫi chua, hѫi chát. H nhi Ӌt, có tinh thu sáp nh ҽ. b.1 - Món tôm cu ӕn Dùng tôm tѭѫi còn Čang nh ҭy, bóc v ӓ b ӓ Čҫu, v ҳt d ӏch qu ҧ chanh s Ӂ th ҩy Č әi màu, nghƭ r ҵng tôm Č әi màu Čã chín là không Čúng. Cu ӕn v ӟi hoa bí, rau thѫm trong mi Ӄng bánh tráng. Ch ҩm m ҳm nên là —h Ӄt s ҭy". Gi ҧi phѭѫng nhѭ sau: ·Tôm tanh. đHoa bí hѫi chát, kh ӱ mùi tanh. đRau thѫm cNJng kh ӱ mùi, tiêu th ӵc. ·M ҳm nêm có dѭá thái ch Ӎ. Dѭá giúp tiêu hoá protein. · Hoa bí và rau th ѫm Č Ӆu có tính kháng khu ҭn, ngѭà Čau b өng nhi Ӊm khu ҭn do tôm còn s ӕng. ·Ch Ӎ Čѭ ӧc ăn món này ӣ vùng nhi Ӆu tôm cá. Tôm Čông l ҥnh nh ҥt phèo không dùng: Cà mau có l ҳm tôm tѭѫi, V ҳt chanh tôm Č ӓ, cu ӕn bông bí vàng. Mi Ӌng nhai mà óc mѫ màng, Anh mѫ l ҩy Čѭ ӧc cô nàng nuôi tôm. b.2 - Hoa bí lu ӝc M ҽ mong g ҧ thi Ӄp v Ӆ vѭ ӡn, Ăn bông bí lu ӝc, dѭa hѭ ӡng n ҩu canh. Hoa bí lu ӝc ch ҩm mè Čen (v ӯng) tr ӏ âm hѭ, khô c ә, khan ti Ӄng, táo bón. Hoa bí có beta - caroten, d үn ch ҩt acid gallic, vitamin C và kali. Lu ӝc chín s Ӂ m ҩt vitamin C. Betqa - caroten và d үn ch ҩt acid gallic có tính ch ӕng oxy hoá, ch ӕng lão hoá. C - Qu ҧ bí non. Qu ҧ bí non nh ӓ b ҵng ngón tay ăn nhѭ rau s ӕng vì giòn, Č һc không ru ӝt.ăn nhi Ӆu b ӏ tiêu ch ҧy vì tính nhu ұn trѭ ӡng m ҥnh hѫn qu ҧ bí chín. D - Qu ҧ bí chín. 100g bí Čao sinh 19 calori, g ӗm 0,76g protein, 0,lg ch ҩt béo, 4,7g glucid, 32mg photpho,150mg kali, 10mg calci, 10mg manhê, 0,4mg s ҳt, 1,5mg vitamin C. Bí Č ҧ năng dinh dѭ ӥng th ҩp. Nó có tính thanh nhi Ӌt, ch Ӎ khát, nhu ұn trѭ ӡng, thông ti Ӈu. Mùa nó ng n ӵc nên ăn bí. Th Ӄ nhѭng mùa nóng l ҥi trùng vào mùa h ӑc thi. Các cô c ұu
684
4
hay —bí t ӏt". - Khi nào thì —bí x ӏ"? - Khi vòi vƭnh không Čѭ ӧc tho ҧ mãn (ví d ө thi Ӄu n ӳ Čòi l ҩy ch ӗng) thì m һt sѭng tròn nhѭ m ҽt, g ӑi là m һt mày bí x ӏ. - Tôi c ӭ tѭ ӣng là dân nghi Ӆn rѭ ӧu không ki Ӄm Čѭ ӧc x ӏ nào nên —bí x ӏ" (m ӝt x ӏ = dung tích m ӝt chai nѭ ӟc ng ӑt, kho ҧng 250 - 30ml) - CNJng Čúng thôi. Bí Č ӓ còn g ӑi là bí ngô, bí r ӧ, tên khoa h ӑc là Cucurbita pepo, h ӑ B ҫu bí. Dây bí Č ӓ m ӑc lan trên m һt Č ҩt. Hi Ӌn nay có nhi Ӆu loài mà qu ҧ có hình dáng và màu s ҳc khác nha u: hình c ҫu, hình c ҫu d ҽt, hình tr ө; v ӓ nâu, v ӓ vân, v ӓ s үm màu ; th ӏt Č ӓ, th ӏt h ӗng, th ӏt vàng ; có lo ҥi n һng trên 10kg. Trong s ӕ Čó có khá nhi Ӆu loài lai gi ӕng A - Ĉӑt bí. Ĉӑt bí ngô dùng làm rau ăn: xào, um (xào nѭ ӟc) hay n ҩu canh. Ĉ ӑt bí có tính thanh nhi Ӌt, nhu ұn tràng nh ӡ ch ҩt xѫ kích thích nhu Č ӝng ru ӝt. Món chay Č ӑt bí Č ӓ n ҩu v ӟi cà chua. Ĉ ӑt bí và cà chua Č Ӆu thanh nhi Ӌt, nhu ұn tràng. Ĉây là m ӝt k Ӄt h ӧp Č ӗng v ұn vì c ҧ hai Č Ӆu có tính ch ӕng oxy - hoá ; tăng tính tr ӏ li Ӌu cNJng tăng kh ҭu v ӏ. Khi tr ӡi n ҳng nóng nên ăn món này. B - Hoa bí. Hoa bí cNJng thanh nhi Ӌt nhu ұn tràng nhѭng hѫi chát nên có tính ҽ. Thu sáp nên c ҫm m ӗ hôi, c ӕ tinh. Nhuy Ӊn th Ӈ (nghêu, sò, ӕc, h Ӄn) có kh ҧ năng cѭ ӡng dѭѫng. Aên v ӟi hoa bí Č Ӈ c ӕ tinh, ch ӕng ho ҥt t inh. Cu ӕn nhuy Ӊn th Ӈ vào trong hoa bí r ӗi xào n ҩu s Ӂ có m ӝt món ăn ngon l ҥi tăng kh ҧ năng tình d өc n ӳa. Ĉó là món —ông khen ngon, bà khen hay Hoa bí có beta - carotene, m ӝt ch ҩt ti Ӆn sinh t ӕ A. Vào cѫ th Ӈ, betâa - caroten s Ӂ chuy Ӈn hoá thành vitamin A v ӟi hi Ӌu su ҩt kho ҧng 25%. Hoa bí um cà chua là món nhi Ӌt. Lycopen trong cà chua giúp tăng h ҩp th ө caroten vào máu. C - Qu ҧ bí non. Ĉӗng bào kh ҭn hoang thѭ ӡng tr ӗng các cây ng ҳn ngày nhѭ ngô, khoai mì, ӓ…. Qu ҧ bí Čӓ non dùng thay rau, lu ӝc ho һc n ҩu canh ; nhѭng ăn nhi Ӆu b ӏ tiêu ch ҧy. Ĉ ӑt bí làm rau ăn toàn hѫn qu ҧ non. D - Qu ҧ bí chín. 10g qu ҧ bí chín sinh 25 - 30 calori. Thành ph ҫn: 90% nѭ ӟc,8% glucid, 1% protein, 19mg photpho, 430mg kali, 23mg calci, 17mg manhê, 0,5mg s ҳt, 8mg vitamin C (15% nhu c ҫu hàng ngày), 2mcg folacin (1%), 1mg beta - caroten. Qu ҧ bí Č ӓ Čѭ ӧc dùng làm nhi Ӆu món ăn ngon: lu ӝc, xào, n ҩu canh: Em v Ӆ Bình Č ӏnh cùng anh, Ĉѭӧc ăn bí Č ӓ n ҩu canh nѭ ӟc d ӯa. Qu ҧ bí còn dùng Č Ӈ n ҩu chè, cháo và nh ҩt là các món ăn chay. d.1 - Thanh nhi Ӌt, gi ҧi khát, sinh tân d ӏch. Vào nùa nóng n ӵc nên ăn bí Č ӓ. d.2 - Quáng gà, khô m ҳt - Quáng gà là nhìn không rõ khi thi Ӄu ánh sáng. Nhìn không rõ nên l ӡ qu ӡ, l ҥng qu ҥng c ӭ nhѭ con gà vào lúc s ҭm t ӕi, —quáng ga" hay —gà mѫ" là c өm t ӯ th ұt hay và chính xác. N ӡi lao Čӝng l ҥng qu ҥng lè phè theo ki Ӈu —th ӧ v ӏn" b ӏ chê là —gà m ӡ", ki Ӈu gà m ӡ này không liên quan gì Č Ӄn vitamin A. Thi Ӄu vitamin A s Ӂ b ӏ khô m ҳt, quáng gà. Ĉi Ӆu c ҫn bi Ӄt là thi Ӄu vitamin A sinh b Ӌnh nhѭng dѭ vitamin A cNJn g b ӏ Čӝc. Theo tài li Ӌu cu ҧ Ĉҥi h ӑc Johns Hopkins 5 - 1999 trích Čăng Annal of Internal medicine ҥn vitamin A trên 1,5g/ngày (tѭѫng Čѭѫng 5.000UI), xѭѫng không gi ӳ Čѭ ӧc calci, t ӹ tr ӑng xѭѫng gi ҧm 6% và tăng g ҩp Čôi nguy cѫ loãng xѭѫng, d Ӊ gãy xѭѫn g. Rõ ràng vitamin A là con dao ӥi. Beta - caroten cu ҧ bí Č ӓ vào cѫ th Ӈ s Ӂ chuy Ӄn hoá thành vitamin A. Cѫ th Ӈ là m ӝt b ӝ máy tuy Ӌt v ӡi, nó ch Ӎ chuy Ӈn hoá caroten thành vitamin A khi c ҫn thi Ӄt. M ӝt khi Čã Č ӫ nhu c ҫu nó không chuy Ӈn hoá n ӳa, vì th Ӄ không s ӧ dѭ thѭà vitamin A, khá an toàn. R ҩt hi Ӄm khi dѭ caroten t ӟi Č ӝ vàng da. Gi ҧ d ө g һp trѭ ӡng h ӧp này, ch Ӎ c ҫn ngѭng ăn m ӝt th ӡi gian là cѫ th Ӈ t ӵ Čào th ҧi. Nên ăn
686
4
Ch Ӎ th ӵc v ӟi B ҥch tru ұt thì Či Ӆu hòa Čѭ ӧc T Ǥ mà dùng v ӟi Ĉ ҥi hoàng thì thúc Č ҭy Čѭ ӧc khí. N Ӄu ngѭ ӡi khí hѭ trѭ ӟng mà dùng Ch Ӎ th ӵc thì không khác gì ôm c ӫi mà ch ӳa cháy (B ҧn Th ҧo C ҫu Chân).. Ch Ӎ xác ki Ӌn t Ǥ, khai v ӏ, Či Ӆu hòa ngNJ t ҥng, c ҫm m ӱa tiêu Č ӡm, ch ӭng ăn vào m ӱa ra, ho ҳc lo ҥn, t ҧ l ӷ, tan hòn kh ӕi, tiêu nѭ ӟc Č ӑng trong ph әi và Č ҥi ti Ӈu trѭ ӡng (Chѭ Gia B ҧn Th ҧo).. Ch Ӎ xác v ӟi Ch Ӎ th ӵc khí v ӏ gi ӕng nhau, nhѭng Ch Ӎ th ӵc nh ӓ tính m ҥnh ch ҥy kh ӓe nhѭ m ӝt ngѭ ӡi tѭ ӟng tr ҿ hăng hái xung phong không lùi bѭ ӟc nào, còn Ch Ӎ xác to tính hoãn, Č ұm vào Čѭ ӧc ӣ ng ӵc, cách, ph әi, v ӏ, Č ҥi trѭ ӡng, ch ӳa ch ӭng tê ng ӭa (Vì ph Ӄ ch ӫ bì mao, t Ǥ ch ӫ cѫ nh өc, phong hàn, th ҩp vào 2 kinh ҩy thì sinh ng ӭa hay tê) ph ҧi có Ch Ӎ xác m ӟi ch ӳa Čѭ ӧc các ch ӭng ҩy (B ҧn Th ҧo Ĉѫn Phѭѫng).. Ch Ӎ xác và Ch Ӎ th ӵc xѭa kia không phân bi Ӌt. B ҳt Č ҫu t ӯ Ĉông viên chia ra Ch Ӎ xác tr ӏ ӣ trên cao, Ch Ӎ th ӵc tr ӏ ph ҫn dѭ ӟi, Vѭѫng H ҧi Tàng thì chia ra Ch Ӎ xác ch ӫ ph ҫn khí, khí Čã l ӧi thì Čӡm ph ҧi tiêu, tích ph ҧi hóa, trong thân th Ӈ con ngѭ ӡi, t ӯ c ӱa mi Ӌng Č Ӄn Phách môn, tam tiêu ČӅu thông m ӝt khí mà thôi, vi Ӌc gì ph ҧi chia ra trên v ӟi dѭ ӟi, khí v ӟi huy Ӄt. Nhѭng Ch Ӎ th ӵc tính c ҩp, Ch Ӎ xác tính hoàn là Čúng thôi, n Ӄu có ngѭ ӡi trung khí m ҥnh ch ҳc, ng үu nhiên vì ăn q uá nhi Ӆu Č ӗ khó tiêu, mѭ ӧn nó giúp cho t Ǥ ČӇ kh ҳc hóa thì Čѭ ӧc, n Ӄu trung khí không Č ҫy Čӫ, t Ǥ hѭ không v ұn hóa Čѭ ӧc thì càng tiêu l ҥi càng hѭ, cNJng nhѭ khí y Ӄu b Ӎ Čҫy mà dùng làm thu ӕc kh ҳc ph ҥt thì khí vô hình b ӏ thѭѫng, không nh ӳng càng ӫng tr Ӌ hѫn mà l ҥi bi Ӄn sinh ra ch ӭng khác. Còn nhѭ bài S ҩu thai ҭm dùng Ch Ӎ xác làm quân là vì ch ӳa cho công chúa H ӗ Dѭѫng khó sinh mà n әi ti Ӄng là vì công chúa Čѭ ӧc ph өng dѭ ӥng quá Č ҫy Č ӫ cho nên khó sinh, v ҧ l ҥi khí h ұu Č ӏa phѭѫng thu ӝc th ӵc thì h ӑa chăng có thích h ӧp, n Ӄu không thì t әn h ҥi Č Ӄn chân nguyên, thai không có l ӵc l ҥi làm cho khó sinh. Hu ӕng chi t Ǥ và v ӏ là cha m ҽ ČӇ hóa sinh, cNJng nhѭ tѭ ӡng vách trong thân th Ӈ con ngѭ ӡi có th Ӈ ch ӏu Čѭ ӧc s ӵ Čҭy ngã nhi Ӆu l ҫn Čâu! Ngѭ ӡi thѭ ӧng c ә ph ҫn nhi Ӆu b ӏ thѭѫng vì l өc dâ m h ӑa chăng ch ӏu n әi Čѭ ӧc, con ngѭ ӡi bây gi ӡ b ҭm th ө Čã thi Ӄu th ӕn, th ҩt tình l ҥi càng làm h ҥi, ch ӭng b ӏ trѭ ӟng Č Ӆu thu ӝc hѭ, thѭ ӡng thѭ ӡng nhѭ th Ӄ c ҧ, dùng làm thu ӕc công ph ҥt thì l ҥi càng thêm h ҥi, ph ҧi nên c ҭn th ұn (Dѭ ӧc Ph ҭm V ұng Y Ӄu). CÀ DÁI DÊ Bà b ҥn Č Ӄn nh ӡ coi b Ӌnh cho ngѭ ӡi quen. Ĉó là m ӝt ph ө n ӳ trang b ӏ —nhi Ӆu Č ӗ ph ө tùng silicon"(s ӱa s ҳc Č ҽp quá l ӕ). C ҷng tay b ӏ che m ҩt 1/3 b ӣi vòng vàng (khi Ӄn tôi có c ҧm tѭ ӣng ch ӏ ta b ӏ còng tay) gây tr ӣ ng ҥi cho b ҳt m ҥch. Thái Č ӝ r ҩt kênh ki Ӌu, lo ҥi ӹ g ìau, —có ti Ӆn mua tiên cNJng Čѭ ӧc". Sau khi khám b Ӌnh, tôi nói: - Ch ӏ có nhi Ӆu —h ӝt xoàn" há. Ĉѭӧc d ӏp, ch ӏ ta ca c ҭm liên thiên v Ӆ tài s ҧn cu ҧ mình c ӭ nhѭ băng cassette. Tôi һn ngang: - Ngѭ ӡi ta ch Ӎ c ҭn h ӝt xoàn vào bông tai, nh үn. Còn ch ӏ c ҭn c ҧ —h ӝät xoàn" vào chân, c ҷng chân Č ҫy h ӝt xoàn (v Ӄt Či ҧ và mu ӛi Č ӕt thâm Čen). œ Sau khi gài m ӝt Čòn ph ӫ Čҫu, tôi h ӓi ti Ӄp: - Phân màu gì, m һt phân có láng không? - Không bi Ӄt. - Khi Či c ҫu, c өc phân Č ҫu tiên khô c ӭng nhѭ
706
4
hòn s ӓi. Nhѭng sau Čó p hân còn c ӭng hay m Ӆm? - Không bi Ӄt. - Tr ӡi Č ҩt, h ӓi gì ch ӏ cNJng không bi Ӄt. Ch ӏ ch Ӎ lo cái v ӓ là săn sóc s ҳc Č ҽp và Čeo n ӳ trang còn —b ӝ Čӗ lòng" thì b ӓ ph Ӄ, nát b ҩy Č ӫ th ӭ b Ӌnh. —ăn thua ӣ cái lòng", —x ҩu b өng" thì bên ngoài làm sao t ӕt Č ҽp Čѭ ӧc. M ӛi ngày Či c ҫu nh ӟ quan sát phân cho k ӻ: màu s ҳc, khô hay láng, c ӭng m Ӆm và nh ҩt là ng ӱi xem có th ӕi không. Trѭ ӟc m ҳt ăn nhi Ӆu cà dái dê. Tu ҫn sau tr ӣ l ҥi cho bi Ӄt chi ti Ӄt. Sau khi thi Ӄu ph ө ra v Ӆ, bà b ҥn c ӵ n ӵ: - Ông này b ҩt l ӏch s ӵ. Ngѭ ӡi ta làm ăn l ӟn, ti Ӆn cu ҧ b ҥc t ӹ mà ông b ҧo xem phân, ng ӱi phân có th ӕi không. - Ng ӱi phân và xem phân là cách xét nghi Ӌm gan m ұt chính xác nh ҩt. - Th Ӄ sao không kê toa cho ngѭ ӡi ta Či —b ӕc" mà t өc tƭu d һn Cà dái dê. - Ĉã ch ҭn b Ӌnh xong Čâu mà Č Ӆ c ұp — toa" v ӟi —b ӕc". T ҥm th ӡi cho ăn cà dái dê Č Ӈ mát gan, thông m ұt. Tôi có nói b ұy gì Čâu mà ch ӏ c ӵ tôi? - Nói khéo m ӝt chút, thay vì cà dái dê thì b ҧo cà tím. - Thôi Či bà ѫi. B ҧo cà tím, nh ӥ ch ӏ ta ăn cà pháo tím là —v ӥ n ӧ". Cà dái dê hay cà tím có tên k hoa h ӑc là Solanum melongena, h ӑ Cà. Qu ҧ dài lòng thòng v ӟi hình dáng nhѭ tinh hoàn dê d ӵc nên có tên Cà dái dê. G ӑi tên cà tím là không chính xác vì m ӝt vài lo ҥi cà khác cNJng màu tím. Hѫn n ӳa Cà dái dê có hai loài: qu ҧ xanh ánh tím và qu ҧ tím. Có ngѭ ӡi nó i ăn cà dái dê b ӏ nh ӭc m ӓi. Ĉúng thôi, Čó là ăn qu ҧ cà còn xanh non nên nhi Ӆu solanin ; lѭ ӧng solanin gi ҧm khi chín. Cà dái dê nѭ ӟng có mùi thѫm h ҩp d үn do solanin. Hãy ch ӑn qu ҧ v ӯa chín t ӟi nghƭa là không còn c ӭng n ӳa. Hãy lѭ ҥ qu ҧ có da bóng mѭ ӧt và Čӗng màu, không có v Ӄt tr ҫy. Dùng ngón tay ҩn vào r ӗi buông ra, v ӓ qu ҧ ph ӗng tr ӣ l ҥi là qu ҧ còn tѭѫi. V ӓ nhân nhúm là b ӏ héo. 10g cà tím sinh 23 calori, có thành ph ҫn nhѭ sau: 92% nѭ ӟc, 5,5% glucid, 1,3% protein, 20mg kali, 15mg photpho, 12mg manhê, 10ng c alci, 15mg lѭu hu Ǥnh, 0,5mg s ҳt, 0,2mg mangan, 0,2mg k Ӂm, r ҩt ít vitamin. Ru ӝt qu ҧ nhi Ӆu ch ҩt nhày. V ӓ qu ҧ có violantine, m ӝt ch ҩt thu ӝc nhóm anthocyanosid. Theo Y h ӑc dân gian, cà dái dê có tính mát gan, thông m ұt, nhu ұn tràng, thông ti Ӈu, Či Ӆu hoà tiêu h oá. Th ӭc ăn thѭ ӡng làm là nѭ ӟng, xào m ӥ, bung, um, xào th ӏt…Nóng quá làm cà nhão ҩt ngon. Ru ӝt cà nh ҫy nhão l ҥi tѭ ӣng là có ch ҩt d ҫu, th ұt ra cà dái dê không có d ҫu m ӥ. Khi ăn cà dái dê nên ăn c ҧ v ӓ vì villantine ӣ v ӓ qu ҧ có tính ch ӕng oxy - hoá. 1 - Tăng t i Ӄt d ӏch tiêu hoá. Cà dái dê làm tăng ti Ӄt m ұt và d ӏch t өy, giúp tiêu hoá th ӭc ăn. Cholesterol trong ұt nhNJ hoá ch ҩt béo Č Ӈ có th Ӈ h ҩp th ө qua thành ru ӝt. Trypsin trong d ӏch t өy th ӫy phân protein thành albumin và aminoacid. M ұt còn làm tăng nhu Č ӝng ru ӝt. Cà này tr ӏ ăn không tiêu, Č ҫy b өng. N Ӄu tiêu hoá t ӕt thì phân có mùi th ӕi. Khi phân không th ӕi là tiêu hoá có v ҩn Č Ӆ, có th Ӈ do t ҥp khu ҭn ru ӝt thi Ӄu men xình th ӕi. (xembài T ҥp khu ҭn ru ӝt trong sách Thu ӕc kháng sinh cu ҧ cùng tác gi ҧ) 2 - Tr ӏ táo bón. · Ĉôn g y cho r ҵng táo bón có nhi Ӆu nguyên nhân nhѭng thѭ ӡng do âm suy nên rút h Ӄt nѭ ӟc vào cѫ th Ӈ, phân khô c ӭng. · Ch ҩt xѫ làm phân tăng th Ӈ tích và không Čóng t ҧng. · Ch ҩt nh ҫy làm phân trѫn nhu ұn. · Ngѭ ӡi âm suy vàtáo bón thì da không trѫn nhu ұn. N Ӄu ch Ӎ dùng m ӻ ph ҭm chăm sóc cái v ӓ ngoài mà không ngăn ch һn táo bón thì da không th Ӈ m ӏn màng tѭѫi mát. 3 - Gi ҧm cholesterol, gi ҧm thân tr ӑng. Gan ti Ӄt m ұt, cholesterol là thành ph ҫn quan tr ӑng cu ҧ m ұt. Ru ӝt có cholesterol cu ҧ m ұt và trong th ӵc ph ҭm (th ӏt, tr ӭng). - Ch ҩt béo c ҫn nh ӡ cholesterol nhNJ hoá m ӟi ng ҩm Čѭ ӧc vào máu. Ch ҩt nhày cu ҧ cà dái dê ngo ҥi h ҩp cholesterol. Ch ҩt này b ӏ
707
4
ҭn th ұn ӣ nh ӳng ch ӛ có l ӛ thì v үn ch ӯa ra thành hang sâu. Sau khi xây xong bên ngoài ch Ӎ t rông th ҩy Čá không th ҩy g ҥch. C ӱa s ә hang Č Ӆu l ҩy thép vít l ҥi, c ӱa ra vào cNJng làm b ҵng lѭ ӟi thép. Làm lòng núi c ҫn xây m ӝt hòn núi gi ҧ con, dài 1 - 7m, r ӝng 1m, m ӝt Č ҫu xây n ӕi li Ӆn v ӟi vách tѭ ӡng nóc núi gi ҧ. Ch ӛ cách Č ҩt 1m có ch ӯa nh ӳng l ӛ nh ӓ làm hang cho nó ӣ. B ӕn chung quanh có ch ӯa l ӕi Či Č Ӈ ti Ӌn quan sát. b) Nuôi: T ҳc kè thích ăn nh ӳng côn trùng b ӝ cánh m ӓng. Ban Čêm dùng Čèn d ҫu Č Ӈ nh ӳng côn trùng t ұp trung cho T ҳc kè b ҳt (T ҳc kè không s ӧ ánh sáng l ӡ m ӡ). N Ӄu ăn không Č ӫ no ph ҧi cho ăn m ӗi thêm. N Ӄu trong hang không Č ӫ ҭm thì ph ҧi phun thêm nѭ ӟc vào cho Č ӫ ҭm. T ӕi lúc lên Čèn th ҳp Čèn ӣ núi gi ҧ cho nh ӳng sâu b ӑ có cánh bay vào Č Ӈ T ҳc kè b ҳt ăn, n Ӄu không Č ӫ ta ph ҧi b ҳt thêm cho ăn t ӯng b ӳa, ban ngày lóa m ҳt cho nên ít ho ҥt Č ӝng. Bào ch Ӄ: (1) Dùng b úa Č ұp Č ҫu cho T ҳc kè ch Ӄt, t ӯ b өng tr ӣ xu ӕng bu ӝc vào giá căng l ҩy dao con nh ӑn s ҳc, m ә t ӯ Čít lên Č Ӄn hai chân trѭ ӟc, dùng gi ҿ s ҥch ho һc bông th ҩm cho s ҥch khô máu ӣ mình, không Čѭ ӧc r ӱa b ҵng nѭ ӟc, Č ӗng th ӡi móc v ӭt hai m ҳt Či vì m ҳt có ch ҩt Č ӝc, sau Čó căng trên chi Ӄc giá phѫi hay s ҩy khô. Giá g ӗm 1 thanh tre d ӑc hay hai thanh tre ngang, 2 thanh ngang Č Ӈ căng 4 chân. Sau khi căng lên giá thì dù Ӈ s ҩy khô. C ӭ hai con kích thѭ ӟc b ҵng nhau thì căng lên 1 giá (thѭ ӡng g ӑi là m ӝt Čôi Č ӵc cái). Cách căn g b өng có hai ki Ӈu: - N ҽp ki Ӈu b ҳt chéo d ҩu nhân: M ӝt n ҽp căng t ӯ chân ph ҧi phía trѭ ӟc chéo sang chân trái phía sau, m ӝt n ҽp cho t ӯ chân trái phía trѭ ӟc néo sang chân ph ҧi phía sau - N ҽp ki Ӈu song song: B өng chia làm hai ph ҫn. Ph ҫn trên ng ӵc căng m ӝt n ҽp r ӝng b ҧn, hình ch ӳ nh ұt, Č һt g ҫn phía hai chân trѭ ӟc. Ph ҫn dѭ ӟi ng ӵc m ӝt m ӝt n Ӌp r ӝng b ҧn, hình hѫi bán nguy Ӌt vì b өng thót d ҫn, n ҽp Č һt g ҫn hai chân sau. M ӝt n ҽp dài nh ӓ, c ӭng hѫn xuyên dѭ ӟi các n ҽp d ӑc theo xѭѫng s ӕng, Č Ӈ khi s ҩy khô Čuôi t ҳc kè kh ӓi b ӏ cong. Các n ҽp ph ҧi b ҵng c ұt tre gìa Čã ngâm h һc s ҩy ČӇ tránh m ӑt. Căng xong, hѫ than c ӫi ho һc s ҩy toàn thân t ӯ t ӯ, Č Ӄn khô, khi toàn thân thì chúc Č ҫu xu ӕng, Čuôi ch әng lên Č Ӈ ch Ӎ s ҩy riêng Č ҫu. Nhìn th ҩy khô, tay bóp th ҩy c ӭng là Čѭ ӧc. (2) Xung quanh m ҳt và con ngѭѫi c ӫa T ҳc kè có ch ҩt Č ӝc cho nên ngѭ ӡi ta thѭ ӡng hay khoét b ӓ m ҳt khi dùng, khi dùng b ӓ v ҭy trên Čuôi, dѭ ӟi b өng và trên th ӏt. Dùng rѭ ӧu ngâm cho th ҩm r ӗi l ҩy l ӱa than rang cách 2 l ҫn gi ҩy cho vàng khô, xong b ӓ vào bình s ӭ treo trên gó c nhà phía Čông m ӝt Čêm thì tác d өng tr ӏ b Ӌnh tăng lên g ҩp Čôi, nhѭng Č ӯng làm hѭ cái Čuôi Či Công). (3) Khi dùng Č ҫu và chân ph ҧi r ӱa b ӓ cái rêu c ӫa nó bên trong, n Ӄu không s ҥch Čѭ ӧc thì l ҩy s ӳa khô sao qua Č Ӈ dùng ho һc sao m ұt (Nh ұt Hoa T ӱ B ҧn Th ҧo). (4) Khi dùng sao cho th ұt vàng, khi th ӱ thì nѭ ӟng cho th ұt chín, ng ұm m ӝt mi Ӄng trong mi Ӌng r ӗi ch ҥy mà không th ӣ d ӗn d ұp là lo ҥi th ұt. Th ӭ thu ӕc này nên dùng vào hoàn t (D өng Dѭ ӧc Pháp Tѭ ӧng). Mô t ҧ dѭ ӧc li Ӌu: Cáp gi ӟi khô thѭ ӡng Čѭ ӧc m ә b өng b ӓ ru ӝt trong, t ӭ chi và Č ҫu ng ӵc, dùng c ҥp tre căng ra, ph ҫn Čuôi dùng gi ҩy c ӝt trên phi Ӄn tre m ӓng r ӝng, căng r ӝng ra t ӯ Čҫu t ӟi Čuôi dài kho ҧng 21 - 32cm. B ӝ xѭѫng vùng Č ҫu rõ ràng, m ҳt lõm sâu. Vùng lѭng sa phi Ӄn v ҧy màu xám xanh làm l ӝ da dѭ th ӯa màu nâu, c ӝt s ӕng gi ӳa và
710
4
5 œ 1cm (có khi t ӟi 2cm) Čѭ ӣng kính kho ҧn g 0,5 - 4cm. V ӓ ngoài màu nâu xám có n Ӄp nhăn d ӑc và l ӛ bì n ҵm ngang, Čôi khi còn v Ӄt tích c ӫa r Ӊ con ho һc Čo ҥn r Ӊ con còn sót l ҥi. M һt c ҳt ngang có mô m Ӆm, v ӓ m ӓng, nhi Ӆu b ӝt, libe màu tr ҳng ngà, t ҫng phát sinh trong m ҧnh màu nâu, ph ҫn g ӛ chi Ӄm n ӱa ti Ӄt d i Ӌn, không mùi, v ӏ Čҳng. + Cân phân bi Ӌt v ӟi cây Châu sa th ҩt (Polygonum m ultinorum Thunb. var. cillinerve (Nakai) Steward.). Ĉó là cây th ҧo dây leo s ӕng lâu năm, dài hѫn 1 mét. Thân phìn ӟn thành c ӫ. R Ӊ kh ӕi bi Ӈu hi Ӌn hình tr ӭng, m һt ngoài màu nâu, có nhi Ӆu r Ӊ nh ӓ, m һt c ҳt ngang có màu vàng h ӗng, khi tѭѫi có màu Č ӓ nhѭ Chu sa (vì v ұy mà có tên là Chu sa th ҩt). Khi khô thì bi Ӄn thành màu vàng. Thân nh ӓ mà dài g ҫn nhѭ th ҷng Č ӭng gi ӳa không trung, màu l өc tím, phân nhánh ít. Lá m ӑc cách, có cu ӕng dài, hìn h tr ӭng dài, dài 4 - 9cm. Hoa t ӵ hình viên chùy sinh ӣ ng ӑn ho һc ӣ nách, hoa màu tr ҳng. + Ӣ Tri Ӆu Tiên còn dùng cây Cynanchum willfordi Hemsley, h ӑ Asclepidaceac g ӑi là Hà th ӫ ô [Tri Ӆu Tiên] (Danh T ӯ Dѭӧc H ӑc Ĉông Y. HÀ Tên Vi Ӌt Nam: Tôm càng. Tên Hán Vi Ӌt khác: Hà. Tên khoa h ӑc: Macrobrachium Nip - ponense. H ӑ khoa h ӑc: Megascolecidae. Mô t ҧ: Thu ӝc Č ӝng v ұt không xѭѫng s ӕng, l ӟp Giáp li Ӆn (Leptostraca), b ӝ Tôm (Nacrura) mѭ ӡi chân (Decapoda), s ӕng ӣ nѭ ӟc m һn và nѭ ӟc ng ӑt, các Č ӕt ng ӵc dính v ӟi Č ҫu thà nh kh ӟi Č ҫu ng ӵc có giáp chung, ng ӵc có 8 Čôi ph ҫn ph ө; 3 Čôi trѭ ӟc bi Ӄn thành chân - hàm nh ӓ hѫn 5 Čôi chân sau là chân bò thѭ ӡng, có 1,2 hay 3 Čôi trѭ ӟc bi Ӄn thành kìm. Thân hình ӕng dài có 2 râu dài, lѭng cong, b өng dài, ph ҫn ph ө b ҵng b өng cu ӕi h ӧp v ӟi TE LSON làm thành t ҩm qu ҥt nѭ ӟc l ӟn. Ĉӏa lý: Ӣ nѭ ӟc ta có ph ә bi Ӄn các loài Tôm s ҳt (Laxapalaemon Carivata), Tôm càng (Macro - barachium Niponense), s ӕng ph ә bi Ӄn kh ҳp ao, h ӗ ӣ Vi Ӌt Nam, nѫi nѭ ӟc ng ӑt. C ҫn phân bi Ӌt v ӟi các loài tôm ӣ bi Ӈn nhѭ Tôm r ӗng (Panu lirus homarus), Tôm he (Metapenacopsis Barbatus), Tôm gõ tr ӕng (Alphaeus Distinguendus), Tôm san hô (Coralliocaris graminea). Trong nѭ ӟc l ӧ còn có các gi ӕng Palaemonetes, Palaemon. Tính v ӏ: V ӏ ng ӑt, Tính ҩm, Có Č ӝc ít. Tác d өng sinh lý: B ә dѭѫng khí, kh ӱ Čàm, sát trùng. Ch ӫ tr ӏ: Viêm qu ҫng. Li Ӆu lѭ ӧng, cách dùng: Ĉâm nhuy Ӊn tùy b Ӌnh nhi Ӆu hay ít Č ҳt lên r ӏt l ҥi. Tham kh ҧo: 1 - Tôm còn có tr ӭng g ӑi là Hà t ӱ hay Hà xuân (Cѭѫng M өc Th ұp Di), có v ӏ ng ӑt, tính ҩm, không Č ӝc. Có tác d өng tr ӧ dѭѫng thông huy Ӄt m ҥch (Cѭѫng M өc Th ұp Di). 2 - Tôm l ӝt b ӓ v ӓ ch Ӎ l ҩy th ӏt r ӗi phѫi n ҳng cho khô g ӑi là Hà m Ӊ. Có v ӏ ng ӑt, tính bình không Čӝc. Bài thu ӕc b ә th ұn ích dѭѫng, dùng Hà m Ӊ 1 cân, Cáp gi ӟi 2 con, H ӗi hѭѫng, Th өc tiêu, m ӛi th ӭ 4 lѭ ӧng. L ҩy mu ӕi hòa rѭ ӧu sao cho giò n,v ӏ, qua cách mô và y Ӄt h ҫu r ҧi rác gi ӳa ng ӵc, phát ra hô h ҩp mà hành thông ӣ ph ҫn vinh v Ӌ, Čó là trung khí. Trung tiêu cNJng xu ҩt t ӯ v ӏ sau thѭ ӧng tiêu, khí ӣ Čây l ӑc ph ҫn cѫm nѭ ӟc, chѭng b ӕc tân d ӏch lên ch ӛ vùng ph Ӄ, bèn hóa thành huy Ӄt là ph ҫn vinh khí. H ҥ tiêu t ӯ nѫi h ӗi tràng g ҥn l ӑc nѭ ӟc khác rót v Ӆ bàng quang là v Ӌ khí. C ҧ ba Č Ӆu g ӕc t ӯ th ӫy c ӕc, tam tiêu là g ӕc c ӫa vinh v Ӌ, s ӵ bi Ӄn hóa nghi Ӆn nát và chѭng b ӕc c ӫa t Ǥ v ӏ, l ҥi là g ӕc c ӫa tam tiêu. Hoàng k Ǥ b ә c ҧ ba, là c ӝi r Ӊ thông c ҧ tam tiêu, là lõi cho khí vinh v Ӌ, nên h Ӊ gi ӳa vinh v Ӌ tr ӣ tr Ӌ dùng Hoàng k Ǥ ČӅu thông su �
717
4
p giáp Č ҫu và xoang áo, có d ҥng ӕng kính n ón, thông v ӟi ngoài và v ӟi xoang áo. Hai bên ph Ӊu có hai v Ӄt lõm, kh ӟp v ӟi hai m ҩu l ӗi s өn Čóng m ӣ khe xoang áo (khe b өng). Khi thành xoang áo co l ҥi, hai van khép ch һt, khe b өng khép kín, nѭ ӟc s Ӂ Čѭ ӧc t ӕng ra ngoài qua ph Ӊu thoát nѭ ӟc. Khi thành xoang áo thôi co rút, nѭ ӟc l ҥi d ӗn t ӯ ngoài vào xoang áo qua khe b өng. Ho ҥt Č ӝng này t ҥo nên l ӵc Č ҭy m ӵc di chuy Ӈn theo chi Ӆu gi ұt lùi, ch ӭ không ti Ӄn lên phía trѭ ӟc. Cách di chuy Ӈn này có l ӧi cho m ӵc khi th ҩy k ҿ thù ho һc con m ӗi phía trѭ ӟc m ҳt. M ӵc có cu ӝc s ӕng bѫ i l ӝi r ҩt ho ҥt Čӝng, chúng Ču әi và b ҳt m ӗi r ҩt linh h ӑat. M ӵc nang có th Ӈ b ҳt m ӗi l ӟn hѫn nó v Ӆ t ҫm vóc. M ӵc ӕng thì thѭ ӡng lao nhѭ m ӝt mNJi tên b ҳn vào Čàn cá thu con Čang tun chóng ch ӟp l ҩy m ӝt con cá b ҵng cách c һp Čôi hàm s ҳc nh ӑn c ӫa mình vào lѭng ho һc g ҩy c ӫa cá. Hai trong mѭ ӡi tay c ӫa M ӵc bi Ӄn thành tay dài, ch Ӎ có giác ӣ ph ҫn cu ӕi, r ҩt thu ұn l ӧi khi b ҳt m ӗi. Các tay c ӫa M ӵ chuy Ӈn m ӗi Čѭa vào mi Ӌng, ӣ h ҫu có thành cѫ kh ӓe có lѭ ӥi bào và có hai hàm hình m ӓ v ҽt s ҳc. M ӵc có tuy Ӄn m ӵc t i Ӄt ra ch ҩt Čen vào ph ҫn cu ӕi tr ӵc tràng r ӗi Čҭy ra ngoài, khi g һp nguy con m ӵc phóng d ӏch Čen ch ӭa các h ҥt melanin, thành vùng t ӕi chung quanh cѫ th Ӈ ČӇ che m ҳt k ҿ thù. Hѫn th Ӄ n ӳa, b ҧn ch ҩt c ӫa ancaloit c ӫa ch ҩt m ӵc làm tê li Ӌt các cѫ quan c ҧm giác hóa h ӑc c ӫa k ҿ thù, nh ҩt là c ӫa cá. M ӵc thѭ ӡng s ӕng t ӯng Čàn ӣ t ҫng nѭ ӟc Čáy, khi ki Ӄm m ӗi m ӟi n әi lên t ҫng nѭ ӟc trên, h ҫu h Ӄt khi bѫi l ӝi trong nѭ ӟc, m ҳt m ӵc l ӗi ra và màu da luôn thay Č әi theo màu nѭ ӟc Č Ӈ d Ӊ l ҭn tránh và b ҳt m ӗi. M ӵc r ҩt thích ánh sáng và màu tr ҳng, khi th ҩy ánh sáng. M ӵc t ұp trung r ҩt Čông. Th ӭc ăn c ӫa M ӵc là các loài tr ӭng cá, tôm, cá con. Ĉӏa lý: Mi Ӆn bi Ӈn nѭ ӟc ta nѫi nào cNJng có M ӵc. Khai thác vào tháng 3 - 9, là th ӡi k Ǥ m ӵc bѫi vào g ҫn b ӡ ČӇ sinh Č ҿ. Phân bi Ӌt. Ӣ nѭ ӟc ta có nhi Ӆu lo ҥi M ӵc, nhѭng hai loài ph ә bi Ӄn có giá tr ӏ dinh dѭ ӥng là M ӵc ӕng (Logigo Formasana), nhѭng thѭ ӡng dùng nang thì ch Ӎ l ҩy ӣ các con M ӵc Nang nhѭ m ӵc Ván Sepia Subaculeate, m ӵc Cѫm Sepia Andreana Tte. Strup, ph ӕ r ҩt nhi Ӆu ӣ Qu ҧng Ninh, H ҧi Phòng, Ngh Ӌ Tƭnh, Th ӯa Thiên, Qu ҧng Tr ӏ, Qu ҧng Bình. Ph ҫn dùng làm thu ӕc: Mai (Os Sepiae). Mô t ҧ dѭ ӧc li Ӌu: Xѭѫng khô hình thuy Ӆn, bi Ӈu hi Ӌn hình viên chùy d ҽt, ӣ gi ӳa phình l ӟn hai Č ҫu cu ӕi nh ӓ d ҫn, dài ch ӯng 20cm, r ӝng ch ӯng 10cm, dày 2 - 3cm, m һt ngoài bi Ӈu hi Ӌn màu tr ҳng, h ai bên mép có l ӟp m ӓng hóa s ӯng màu tr ҳng vàng trong, mài thì khuy Ӄt không hoàn toàn, cu ӕi nang m ӵc có m ӝt nút nh ӑn hình chùy nh ӑn, m һt lѭng hѫi l ӗi lên, có l ӟp ch ҩt Čá vôi c ӭng ng ҳt, m һt ngoài n әi lên nh ӳng h ҥt phân b ӕ r ҩt dày, t ӯ nút cu ӕi phía sau b ҳt Č ҫu có bi Ӈu hi Ӌn hình ch ӳ —V" ngѭ ӧc, bày x Ӄp nhi Ӆu l ӟp m һt b өng th ҷng ngang, cu ӕi phái sau hѫi lõm xu ӕng, ch ҩt th ҥch hôi thѭa thѭa Či, dùng móng tay c ҥo vào có th Ӈ ra b ӝt tr ҳng, ch ҩt nh ҽ mà giòn, m һt b ҿ ngang màu tr ҳng có nhi Ӆu l ӟp b ҫy x Ӄp. Thѭ ӡng dùng nguy ên c ҧ mai, màu tr ҳng nh ҽ không v өn nát, ru ӝt không Čen không vàng là t ӕt. Bào ch Ӄ: 1 - Kinh nghi Ӌm xѭa: Khi dùng Ó t һc c ӕt c ҫn ph ҧi sao vàng Č Ӈ dùng (B ҧn Th ҧo Chú). Khi dùng Ô t һc c ӕt ph ҧi l ҩy n
731
4
Hồi của các tù nhân. Riêng mình, Roussard hy vọng cuộc tra tấn có người lính tóc vàng tham gia và rằng cô sẽ cởi quần áo cho tới khi chỉ còn bộ đồ lót đen bằng ren và cọ sát thân hình quyến rũ ấy vào người hắn. Dù biết mình đoán sai, nhưng những suy nghĩ thích thú về những gì hắn muốn với người đàn bà ấy đã giúp hắn dễ dàng trải qua những giờ đồng hồ cách ly dài đằng đẵng và cô đơn mà hắn phải chịu đựng. Hắn vẫn còn đang tiên đoán về số phận của mình khi nghe tiếng khóa cửa ở tận đầu kia xà lim. Roussard nhìn lên, hy vọng đó là người lính tóc vàng, nhưng không. Một người lính khác bước vào mang theo năm cái túi giấy. Cứ ngang qua mỗi tù nhân, anh ta lại vứt cho một cái. "Mặc vào!" Anh ta ra lệnh bằng thứ tiếng Ả-rập vụng về. Tất cả tù nhân, kể cả Philippe, đều bối rối lấy quần áo dân sự ra khỏi túi và mặc vào người. Chúng kín đáo nhìn nhau trong khi cố tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra. Roussard nhớ lại những câu chuyện đã từng nghe về các tù nhân trong trại tập trung người Do Thái, chúngnói rằng đưa họ đi tắm, nhưng thực chất là đưa đến các phòng gas. Hắn ngờ rằng những người Mỹ này đang cho cả bọn mặc quần áo mới chỉ để hành quyết họ, tuy nhiên, hắn hơi lo lắng một chút vì không biết chắc sẽ phải đối mặt với cái gì. "Sao chúng không chạy nhỉ?" Một trong số những người lính gác thì thầm vào tai đồng bọn khi anh ta đánh vào cái vòng cản của khẩu M16 của mình. "Tao chỉ muốn một trong số những thằng khốn này nói dông dài với chúng ta." "Nhảm nhí," người lính kia trả lời. "Chúng ta đang làm cái quái gì vậy?" "Hai thằng, câm ngay!" Chỉ huy của họ quát lên, rồi ra một loạt lệnh qua điện đài. Hẳn có chuyện gì đó không ổn. Ngay khi vừa mặc xong quần áo, chúng bị còng tay chân và bắt đứng xếp hàng quay mặt vào bức tường phía xa. Thế đấy, Roussard nghĩ bụng khi hắn bắt gặp cái nhìn chằm chằm của gã lính gác đang hy vọng một trong những tù nhân sẽ chạy chọt. Ngón tay anh lính bắt đầu lần từ cái vòng cản xuống chỗ cò súng và có vẻ muốn nói gì đó khi có một loạt xe dừng lại phía bên ngoài. "Đón chúng ta đấy." Vị chỉ huy Lực lượng Liên quân hết lên. "Lên thôi!" Đám tù nhân bị đẩy về phía cửa. Roussard hy vọng khi ra ngoài, hắn có thể nhìn thấy là họ đang đi đâu, như vậy sẽ rõ ràng hơn. Không được rồi, từng tù nhân một bị trùm đầu trước khi được đưa ra một đoàn xe đa năng màu xanh đang chờ bên ngoài. Mười phút sau, đoàn xe dừng lại. Trước khi cái mũ chụp đầu nặng nề ấy được gỡ bỏ, Roussard có thể nhận ra tiếng động cơ phản lực gào xé. Trên mặt nhựa đường đẫm nước mưa, trước khi được tháo còng, đám tù nhân nhìn lên, thấy một chiếc Boeing 727 khổng lồ. Một cái thang cuộn lên một bên chiếc phi cơ và khoang cửa mở rộng. Chẳng ai nói một lời, nhưng dựa vào thái độ của những người lính – dường như họ được lệnh đứng cách xa chiếc máy bay – Roussard đi đến một kết luận sáng suốt. Dù không được lệnh, Roussard cứ tiến một bước về phía trước. Không thấy người lính nào ngăn cản, hắn tiến lên bước nữa, rồi bước nữa, cho tới khi chân chạm vào bậc thang kim loại đầu tiên và hắn bắt đầu trèo lên. Hắn sắp có cơ hội được cứu. Chỉ đến cuối cùng hắn mới biết. Thấy tiếng các tù nhân khác chạy rầm rập ở lối đi phía sau mình, Roussard thận trọng bước vào cabin. Người hắn gặp đầu tiên trên máy bay là một sĩ quan, anh ta so sánh hắn với một tấm ảnh trên bìa kẹp hồ sơ, rồi rút ra một cái phong bì đen nặng nề, anh ta nói, "Chúng tôi được lệnh đưa anh cái này". Trước đó, Roussard đã từng nhận được những phong bì giống thế này. Dù không mở ra, hắn cũng biết ai gửi nó tới. "Mời anh ngồi vào chỗ," viên sĩ quan đầu tiên tiếp lời. "Cơ trưởng đang nóng lòng muốn cất cánh." Roussard tìm thấy một chỗ trống gần cửa sổ và thả mình vào đó. Khi cánh cửa khoang chính đóng lại, một số thành viên phi hành đoàn biến mất về phía đuôi máy bay và quay lại mang theo những thiết bị y tế kì cục cùng một số đồ làm lạnh bằng nhựa to. Chẳng điều gì có ý nghĩa với Roussard cho tới khi hắn mở chiwwcs phong bì và đọc nội dung bên trong. Một nụ cười từ từ hiện lên trên khuôn mặt. Thế alf xong. Không những đã được tự do, mà người Mỹ còn không thể theo đuổi được hắn nữa. Hắn sắp được trả thù – và nhanh hơn rất nhiều so với hắn tưởng. Mở cánh cửa sổ ra, Roussard có thể nhìn thấy đám lính đang trèo trở lại những chiếc xe đa năng và lái ra khỏi đường bay, một số giơ tay ra ngoài cửa sổ và giơ ngón giữa ra chào một cách mỉa mai. Khi động cơ của chiếc máy bay bắt đầu rú lên và con thú to lớn bỗng chồm mình về phía trước, phía mũi máy bay vang lên những tiếng vui mừng "Allahu Akbar", thánh Ala vĩ đại. Thánh Ala vĩ đại thật đấy, nhưng Roussard biết chẳng phải Người đã thu xếp vụ phóng thích này. Và khi nhìn vào chiếc phong bì màu đen, hắn biết rằng họ phải cảm ơn một người nào đó ít nhân từ hơn Người nhiều. Tập trung chú ý về phía cửa sổ nơi những người lính đang nhanh chóng khuất khỏi tầm nhìn, Roussard gõ gõ ngón trỏ và ngón cái, lấy mục tiêu và đẩy cò súng tưởng tượng. Giờ đây, khi đã được tự do, hắn biết rằng, chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi người quản lý để hắn tự do trong lòng nước Mỹ để báo thù. KHÔNG KHOAN NHƯỢNG Brad Thor Chương 2 QUẬN FAIRFAX, VIRGINIA SÁU THÁNG SAU Một tiếng sấm làm rung chuyển cả tường và cửa sổ phòng ngủ nổ ra trong một trận mưa đá đày kính vỡ vụn. Hoàn toàn theo bản năng, Scot Harvath với tìm cô bạn gái Tracy và lăn ra khỏi giường. Phía vai yếu của anh va mạnh xuống. Nặng nhọc nâng người lên, anh với tay và kéo ngăn kéo ra khỏi cái bàn đầu giường. Nó rơi đánh xoảng xuống. Những đồng ngoại tệ, một lọ thuốc giảm đau, một chùm chìa khóa cất giữ tài sản, bút, một tập giấy từ Rizt ở Parkerris gửi đế, tất cả văng ra nền gỗ.Mọi thứ đề ở đó trừ thứ anh đang cần khủng khiếp – khẩu súng của anh. Harvath lăn ngửa ra và chới với dưới gầm giường. Cuối cùng, anh tìm được cái hộp đạn rỗng và vỏ súng cũng rỗng nốt. Bản năng gào lên làm anh phải đi tìm một thứ vũ khí, trong khi lương tâm lại đang mắng chửi anh vì tội đi ngủ mà không mang theo súng. Nhưng anh có mang súng đi ngủ đấy chứ. Anh luôn làm thế mà. Anh đã cất nó trong ngăn kéo cạnh chỗ anh nằm. Chắc chắn là như vậy. Có khi Tracy lấy nó trước cũng nên. Anh quay sang phía cô, nhưng cô không còn ở đó. Thực ra, trong lúc lăn lộn, anh cũng không rõ cô có trên giường hay không. Không hiểu thế nào nữa. Đứng dậy, Harvath cố lần ra hành lang và cầu thang ở tận đầu đằng kia. Cứ mỗi bước chân, anh lại càng thêm lo lắng. Ruột gan như cố mách bảo anh điều gì và đến bước chân cuối cùng, anh nhìn thấy máu. Nền nhà, tường, trần nhà, chỗ nào cũng đầy máu. Đâu cũng lênh láng máu. Máu từ đâu ra nhỉ? Máu của ai vậy? Mặc dù Adranalin đang chảy khắp cơ thể, nhưng chânanh vẫn cứng đờ ra như đá. Phải dùng hết sức bình sinh, anh mới lết được về phía đường vào và mở cửa trước ra. Khi anh bước ra ngoài, đạp vào mắt anh là hình ảnh làm tim anh đau nhói – ngay trên cửa, một cái hòm mây treo ngược, sơn đầy máu và đổ sụp xuống bên thềm cửa, ngay cạnh chú chó trắng nhỏ, chính là cơ thể của người phụ nữ anh yêu. Harvath nghĩ anh nhìn thấy có chuyển động
996
4
ần đây, ông đã đưa ra một chương trình hoàn toàn mới mẻ, một lần nữa biến ông thành chủ đề trong các cuộc đàm luận trong giới tình báo Mỹ. KHÔNG KHOAN NHƯỢNG Brad Thor Chương 10 Finneyney vừa lái xe vừa với tay lấy lon bia lạnh phái sau và mời khách. Harvath lắc đầu từ chối. "Có khi tôi hoãn cả miệng mấy em vũ nữ lại vậy." Finneyney vừa đặt lon bia lại vừa nói. Harvath không trả lời. Lấy chiếc điện thoại BlackBerry ra khỏi túi để xem tin nhắn, tâm trí anh còn đang ở cách đây hàng triệu dặm… Anh đã đưa số điện thoại cho cha Tracy và cô y tá để gọi nếu có gì thay đổi. Anh cũng đã cố gắng hết sức để giải thích với ông Bill Hastings lý do anh đi vắng. Biết là không nên nhận điện thoại ở khu nghỉ mát đó, nên Harvath băn khoăn về việc đã đưa số điện thoại cho họ. Bỗng Finneyney hỏi: "Tới đó, anh có muốn ăn không hay là vào việc ngay?" "Chúng ta sẽ ăn sau," Harvath vừa nói vừa cất chiếc điện thoại đi. "Như vậy, không ai sẽ phải thức khuya vì tôi." Finneyney cười. Tiếng cười, giọng nói của ông, tất cả đều phù hợp với dáng người mập mạp. "Chúng ta làm việc với đội Sagasso ba ca suốt hai mươi tư giò." "Công việc tốt chứ?" Finneyney lại cười. "Tôi vẫn nói chẳng mấy nữa mà thiên đường cấm hòa bình." "Đừng lo," Harvath vừa nhìn đăm đăm vào hình ảnh của mình qua cửa và bầu trời đen thẫm lại, vừa trả lời. "Sẽ không như vậy đâu." Họ đã nói chuyện với nhau suốt chặng đường về khu nghỉ mát. Finneyney hiểu rất rõ Harvath. Nếu ông nói về những gì đã xảy ra với Tracy, anh sẽ là người ngừng câu chuyện lại. Vì Harvath chẳng kể gì về Tracy, nên họ nói rất nhiều chuyện khác. Tới cổng chính vào núi Elk, Finney điện đàm cho lính gác nói rằng ông đã về "kèm theo một người nữa". Mặc dù đám lính gác cứ nhìn là biết ngay ông chủ và cái xe của ông nhưng họ vẫn chặn lại, ghi lại thời gian, kiểm tra chiếc Hummer thật kỹ, rồi mới vẫy tay cho qua. Harvath luôn ấn tượng với độ an toàn tại khu núi Elk. Tại nhà nghỉ chính, Finney dừng lại để gọi giám đốc phụ trách các chiến dịch Ron Parkerrker. Đó là một người đàn ông gầu gò có bộ râu dê, xấp xỉ bốn mươi tuổi và cao khoảng một mét sáu. Trèo vào ghế sau, Parker lấy ra một lon bia, xoay lại đấm một cái vào vai trái Harvath. "Gặp lại anh vui ghê," anh ta nói. Anh ta nhìn lên và thấy Finney đang nhíu mày trong gương chiếu hậu. "Gì vậy ạ?" Anh ta hỏi. "Anh nghĩ xem thái độ vừa rồi của anh có ổn không?" Finney trả lời. Parkerrker nghiêng người chỗ giữa hai ghế trước, vừa giật nắp lon bia vừa hỏi, "Vai bên kia của anh không ổn, phải không?" Harvath gật đầu. "Vai trái của tôi không sao, cứ yên tâm." Parkerrker cười,ngồi lại và tu một hơi bia. "Anh biết đó không phải là những gì tôi đang nói tới chứ," Finney nói tiếp. "Phải không?" "Anh nghe đây," Parker nói, "Từ cách đây mười phút, tôi đã xong việc. Và những gì tôi làm trong thời gian cá nhân của tôi là chuyện riêng của tôi." "Vậy anh bị sa thải. Sáng mai, trên bàn của anh sẽ có tờ giấy hồng." Parker làm một ngụm bia nữa. "Tuyệt, tôi sẽ cài nó vào cái que nhọn cùng những cái còn lại thôi." Cả Finney và Parker đều đang khôi hài về công việc của họ. Vì đã biết nên Harvath nhận ra cả hai có sự phân biệt rõ ràng. Họ rất nghiêm túc trong công việc ở núi Elk, nhưng lại không quá nghiêm khắc với bản thân, đặc biệt là khi bạn bè chiến hữu gặp nhau. Finney nhìn lại Harvath và cười. "Rất mừng vì anh đã trở lại." "Chưa có nhiều thay đổi phải không?" Harvath lên tiếng. Finney đưa cánh tay đô vật của mình ra phía sau để Parker lấy cho lon bia. "Chúng tôi đã cho khóa kín gấp đôi tất cả các khóa ở hầm rượu từ lần anh tới thăm, ngoài ra không còn gì hơn." Parker và Finney uống mỗi người một lon bia. Chỉ hai ngụm Finney đã uống hết cả lon và họ tới một điểm kiểm soát khác. Lần này, cả ba phải xuất trình nhận dạng ảnh. Những người lính bảo vệ mặc đồ Diều hâu đen giống như ở cổng chính, ngoài ra còn được phát quần áo chống đạn và công khai mang vũ khí. Harvath thừa biết những người ở cổng cũng có súng nhưng họ giấu không để người khác nhìn thấy. Ở đây, người của Finney thể hiện rõ sức mạnh của họ. hai người mang khẩu H&K 416, còn người thứ ba thì mang một khẩu Benalli và không lúc nào rời mắt khỏi những người khách trên chiếc Hummer. Không biết Finney lấy ở đâu ra những người lính gác ấy, nhưng có vẻ họ làm việc rất tử tế. Khi họ lùi ra khỏi điểm kiểm soát và lái về phía khi Sagasso, Harvath hỏi: "Lính SWAT[1] trước đây phải không?" "Thực ra là Lực lượng đặc nhiệm," Parker trả lời. Harvath cười. "Tiếp đi." "Anh ta nói nghiêm túc một trăm phần trăm đấy," Finney lên tiếng. "Làm nhiệm vụ canh gác ấy à?" "Canh gác là một phần trong công việc của họ ở đây." Parker tiếp tục. "Họ quay vòng. Mỗi tháng, một người phải làm một ca." "Tôi biết những người đó làm gì trong thời gian rảnh rỗi rồi. Ông có những người gác cổng thật đắt giá." Finney mỉm cười, "Và từng xu cũng đáng giá chứ?" "Nhưng không hề mắc lỗi," Parker đế thêm. "Họ làm việc khá tốt. Ở đây, chúng tôi có những khoản tiền thưởng và trợ cấp vượt xa bất kỳ nơi nào khác." Harvath nhìn Finney, ông nói: "Chúng tôi chẳng hề quảng cáo. Tự họ tìm đến với chúng tôi." Chiếc SUV[2] dừng lại trước một lối vào đơn sơ, trông như một cửa hầm nhỏ. Harvath đang định hỏi xem đây là đâu thì nhìn thấy một cái biển đã bị mờ treo trên cửa cho biết đó là Công ty mỏ Sagasso. Anh đang ở lối vào của dự án tình báo mới, nóng hổi của Finneyney. Chú thích [1] SWAT: Viết tắt của cụm từ "Vũ khí chiến thuật chuyên dụng", là một đơn vị đặc biệt trong lực lượng cảnh sát Mỹ. [2] SUV: Xe có tính năng thể thao. KHÔNG KHOAN NHƯỢNG Brad Thor Chương 11 Một trăm phút[1] dưới đường hầm dốc thoai thoải dẫn tới khu hầm Sargasso, Harvath bán tín bán nghi rằng sẽ có một hướng dẫn viên du lịch với một cây đèn đeo trên trán của thợ mỏ, hoặc một diễn viên râu ria xồm xoàm, bụi mờ cả đi, kể cho họ nghe những câu chuyện về căn hầm số Bảy may mắn. Nhưng đến phút thứ một trăm, thái độ của Harvath thay đổi hẳn. Khá khăn cho Tim Finney. Chào đón họ, không phải là một cái cửa bằng thép không gỉ, công nghệ cao theo phong cách James Bond. Thay vào đó là một cái cửa ghép bằng năm tấm ván cũ kỹ như sắp rơi ra khỏi bản lề. Một cái biển không lấy gì làm nổi bật được gắn hờ vào với dòng chữ. Nguy hiểm. Tránh xa. Finney đã làm một chum chìa khóa và mở cái khóa móc dây xích bằng sắt nặng nề vắt ngang cửa. Ông tiếp tục lần xuống một đường hành lang rộng, gồ ghề. Bộ tam dò theo một loạt đường ray mà Harvath nghĩ hẳn từng được dùng để đẩy nguyên liệu vào và đưa hàng ra. Tới đó, một hàng bảo vệ lại chào đón họ. Mặc dù trông họ cũng chỉnh tề như những người lính gác trước đó, nhưng những người này chỉ vẫy tay. "Ở dưới mặt đất vài trăm phút, người của ông bắt đầu bớt nhiệt tình à?" Harvath nói đùa. Cả Finney và Parker cùng cười. "Anh không biết, trên đường tới đây, anh đã qua bao nhiêu cửa kiểm tra an ninh phải không?" Parker nói: "Từ lúc anh vào mỏ, chũng tôi không chỉ theo dõi thân nhiệt và nhịp tim của anh, mà chúng tôi còn biết rõ nếu anh có mang theo bất kỳ một loại vũ khí, chất n
1,002
4
ổ, thuốc nổ, chất lỏng hay chất keo nào trên người anh nữa." "Mọi thứ trừ việc liệu tôi mặc quần lót ống rộng hay không", Harvath khẳng định. "Chúng tôi cũng biết cả điều đó", Finney vừa giả vờ kiểm tra cái tai nghe vừa nói. "Rõ ràng, nó có đoạn da với từ Go Navy trên những đồng xê- quin[2]". Harvath cười nhăn nhở và giơ ngón tay ra. Họ tiếp tục đi cho đến lúc tới chỗ một cái thang máy kiểu của thợ mỏ. Finney nâng cái lưới sàng quặng lên và họ cùng bước vào trong. Finney lấy một cái thẻ trong túi ra, quét qua chỗ đọc thẻ từ, rồi giơ ngón tay phải để máy kiểm tra. Khi được chấp nhận, thang máy mới bắt đầu chạy xuống. Xuống đáy hầm, có một chiếc xe đặc biệt được thiết kế để chạy trong lòng đất chờ bọn họ. Trong khi người lái xe đưa họ vào sâu trong lòng mỏ, Finney giải thích cho Harvath nghe về mục đích của chương trình Sargasso. Đã có nhiều đoàn từ pháo đài Bragg, Trại Perry cùng CIA, cũng như pháo đài Story với những người nhái hải quân SEAL tới thăm quan chỗ chúng tôi và họ đều thích quy trình đào tạo ở đây. Mục đích cuối cùng, dù người của họ có tốt đến đâu, dù thành công hay thất bại, đều đề đạt được một yêu cầu duy nhất: khả năng làm tình báo. "Từ đó tôi có một ý tưởng và tôi gọi vài cuộc điện thoại tới một số người quen trước đây ở phía Đông. Chúng tôi nghe nói nhiều về mức trợ cấp hao mòn sức lực rất caokhi một số người rời bỏ lực lượng vũ trang và tới làm việc cho những tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt như Black Water hay Triple Canopy, nơi họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn. Nhưng trong ngành tình báo, chẳng bao giờ người ta được nghe nói tới điều ấy. "Quả thật, tôi chưa bao giờ khao khát có một công ty quân sự tư nhân. Nhưng công ty tình báo tư nhân thì lại là một chuyện khác hẳn và có vẻ như nó rất hợp với những gì chúng ta đang làm ở đây." Harvath tóm được một cái gối để tựa đầu ở phía trước khi họ va vào một loạt ổ gà. Khi đường bắt đầu bằng phẳng, anh hỏi, "Tôi biết Valhalla và khu số Sáu mang lại tiền cho ông thế nào, nhưng với công ty tình báo riêng, không hiểu ông kiếm tiền bằng cách nào nhỉ?". "Có hai cách", Finney trả lời. "Trước hết, chúng tôi không phải dàn trải vào cả thế giới, mà chỉ tập trung vào những điểm nóng, nơi đang xảy ra hầu hết các sự vụ. Qua tập hợp và phân tích, chúng tôi nhận thấy tất cả bọn khủng bố và tình báo khủng bố đều xuất phát từ những nơi có ảnh hưởng quá nhiều của chính phủ Mỹ. "Thứ hai, không có chuyện quốc hội bỏ quên việc làm của chúng tôi. Có nhiều người ủng hộ hoạt động của chúng tôi. Có những cơ quan sẵn sàng trả rất nhiều tiền để chúng tôi thu thập tin tức tình báo cho họ. Về tiến độ, có thể nói tới thời điểm này chúng tôi đã thực hiện lượng công việc nhiều gấp đôi so với dự kiến. Chúng ta không thể lôi kéo người từ CIA, NSA hay FBI tới đây để làm việc nhanh đến thế". Harvath lắc đầu. Finney quả là đáng ngạc nhiên. Chiếc xe dừng lại trước điểm kiểm soát cuối cùng, trước một thứ giống như hai cánh cửa nặng nề. Khi được vẫy tay cho phép đi, Finney dẫn đường cho họ tới vị trí trung tâm của trung tâm các hoạt động của Chương trình Sargasso. Khác hẳn với dự đoán của Harvath. Vừa bước chân vào, họ mất ngay cảm giác đang ở trong một hầm mỏ bên dưới mặt đất hàng trăm phút. Nếu không biết nhiều hơn, có lẽ Harvath đã thề sống thề chết rằng anh đang ở một khu chuyên gia cố vấn phát triển mũi nhọn tại nơi làm việc của Microsoft. Không còn những bóng đèn trong lồng treo dọc những bức tường thô nháp nữa. Thay vào đó là những chum đèn tinh vi thụt vào các góc trên trần nhà, tạo ánh sang ngoài trời như thật. Nền nhà bằng đá nhẵn bóng và tường phòng đều ốp kính cách âm cho phép người sử dụng có thể điều chỉnh độ chắn sang theo ý muốn của mình. Những màn hình hi-fi mỏng tới mức không tưởng tượng được đang lơ lửng trên mặt kính giống như cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài. Khi họ đi ngang qua phong cảnh nổi tiếng của các nước trên thế giới, Finney giải thích rằng, người làm việc được phép chọn cảnh mình thích từ các màn hình số hiển thị phong cảnh khắp nơi trên thế giới. Đó chỉ là một trong số rất nhiều những thứ nho nhỏ Finney tạo ra để thời gian làm việc dưới mặt đất của các nhân viên được dễ chịu hơn bao giờ hết. Ở cuối hành lang tiếp theo, cả nhóm rẽ trái và tới một văn phòng nơi có một cửa sổ ảo đang hiển thị một dòng sông với những dãy núi trập trùng phía sau. Một người đàn ông đi ủng lội nước đang bay và câu cá. Tiếng nước chảy róc rách nhẹ nhàng phát ra từ một chiếc loa ẩn đâu đó trong căn phòng. "Tom nên trở lại ngay", Finney nói về nhân viên vắng mặt trong văn phòng. "Chúng ta có thể vào đây đợi anh chàng". Trên mặt bàn bằng crôm bóng loáng là một cặp tài liệu gọn gang, một chiếc bút bằng bạc và một tệp giấy dán nhắc việc. Dù là ai đi chăng nữa, chắc chắn người đàn ông này hẳn chẳng có mấy việc mà làm hoặc chắn chắn là một người rất ngăn nắp. Căn cứ vào những gì Finney đã nói, Harvath đoán, đó là một người ngăn nắp. Khi Tom Morgan bước vào văn phòng, anh đang mãi mê ngắm cửa sổ ảo và phong cảnh hiện lên trên đó. " Đó là dòng sông Snake[3] - Một trong những con sông lớn nhất của Idoho, một tiểu bang thuộc miền Tây Bắc nước Mỹ. Morgan vừa nói vừa đặt cốc cà-phê và chiếc máy tính xách tay lên bàn. "Một trong những dòng sông đẹp nhất thế giới". "Địa điểm đặc biệt này ở ngay phía ngoài Jacson Hole, Wyoming, đảo Park, phải không?" Harvath quay đi và hỏi. "Anh đi câu trên dòng sông Snake rồi à?". Harvath gật đầu. "Tôi đã câu ở chính điểm kia kìa". Anh vừa nói vừa chỉ lên màn hình. Anh nhận ra chỗ đó ngay lập tức. Anh đã định mùa thu năm ấy đưa Tracy tới đó để dạy cô cách câu cá. Chẳng còn những đám đông nhộn nhịp của mùa hè, những chiếc lá cũng đã đổi màu và những ngọn núi cũng trở nên xanh tốt hơn. Anh đã đặt một cabin nhỏ tại một nơi gọi là Dormans ở ngay trong công viên quốc gia Grand Teton. Anh thầm nghĩ, ước gì bây giờ anh và cô lại có thể cùng nhau đi tới bất cứ nơi nào trên trái đất này. "Tôi yêu con sông Snake, nhưng ở Corlorado cũng có một vài điểm câu cá khá đẹp. Đó là một phần vì sao tôi chọn công việc này", Morgan nói. Câu nói của ông đưa Harvath trở lại với thực tại. Harvath nở một nụ cười đồng ý với nhận xét đó, còn Finney đang tiếp tục giới thiệu. Tom Morgan nguyên là một nhân viên của NSA[4] và khoảng ngoài sáu mươi. Ông đeo kính, để ria và đi tập tễnh – hậu quả của một lần làm việc không may mắn và ông không bao giờ đả động tới. Sau cả đời suốt ngày mặc veston đeo cà vạt ở trụ sở của NSA tại Fort Meade, Mary Land, Morgan sung sướng được mặc quần áo thật thoải mái ở núi Elk. Tối nay, ông diện quần bò, áo sơ mi kẻ ô vuông và một cái áo khoác thể thao vải tuýt. Trông ông có vẻ rất săn chắc ở lứa tuổi của mình. Khi ông nói, có thể nhận ra một chút pha trộn chất giọng của người New England và Harvath cho rằng ông là người gốc đảo Rohde hoặc New Hampshire. Khi họ ngồi xuống, Finney nói, "Tom chính là lý do tôi đề nghị anh tới". Harvath đang chờ đợi điều này. "Ông có cái gì vậy?". Morgan không đổi giọng, "Tôi nghĩ chúng ta đã đặt gã Lùn vào trong hộp và khóa lại rồi".Harvath rướn lông mày lên nhìn ông ta. "Mọi thứ à?" Anh hỏi. Morgan nhìn anh và trả lời, "Tài khoản ngân hàng, thế chấp, mọi thứ ". Chú thích [1] Đơn vị đo chiều dài của Anh bằng 0,3048m [2] Đồng tiền vàng ở Vơ-ni-zơ [3] Sông Snake: Một trong những con sông lớn nhất của Idaho, một tiểu bang thuộc miền Tây Bắc nước Mỹ. [4] NSA: Bộ An Ninh quốc gia Mỹ KHÔNG KHOAN NHƯỢNG Brad Thor Chương 12 ANGRA
1,003
4
thì đơn giản là tại anh chàng xấu số đáng thương đó. Cũng có thể là như vậy, cả Aposhian và Rutherford đều đang có việc gì đó khi họ bị giết. Với mấy kẻ giả danh điệp vụ của FBI đó, khó có thể bỏqua khả năng lớn nhất rằng có một âm mưu đen tối nào đó đang âm thầm diễn ra. Tại sao phải dùng một cái xác vô thừa nhận ở Baltimore để làm giả cái xác bị chết do dấu súng với cảnh sát ở Nam Carolina? Chưa đầy hai phút, Sheppard đã tìm ra những mấu chốt đầu tiên cho câu trả lời. Charleston là một thành phố nhỏ, đặc biệt là so với Baltimore ngoài ra các cư dân ở đây thường không dính líu vào các cuộc đấu súng có dính dáng đến cảnh sát. Anh mới nghĩ được một nửa bài báo đầu tiên sẽ đẩy lên Google khi anh biết rõ bước tiếp theo sẽ là gì. Mark Sheppard sẽ phải tới Nam Carolina. KHÔNG KHOAN NHƯỢNG Brad Thor Chương 32 MEXICO Đó là một quán cà-phê nhỏ, rất dở trong một thị trấn nhỏ, tồi tàn của Mexico nhưng ở đây lại có bánh sandwich khá ngon, bia lạnh và thật khó mà tìn được có cả kết nối Internet tốc độ cao. "Phát triển", Philippe Roussard vừa kéo tay áo lau tí rượu Negro Model còn dính trên mép vừa lẩm bẩm và gõ mật mã. Quá trình thiết lập khá đơn giản và phải mất một chút thời gian nhưng với toàn bộ công nghệ của người Mỹ vẫn chưa tìm được ra cách để phá vì thế nó rất hoàn hảo. Roussard và người quản lý của hắn có chung một tài khoản thư điện thử miễn phí. Thay vì việc đẩy những tin nhắn bí hiểm lên một cái bảng điện tử hoặc mạo hiểm gửi thư qua lại, chúng chỉ đơn giản để lại những lời ngắn gọn cho nhau trong thư mục nháp. Ai đọc xong tin nhắn thì người đó xóa ngay đi. Làm như vậy, chẳng ai có thể theo dõi được cuộc nói chuyện của chúng. Roussard làm những gì cần làm thoát khỏi đó rồi kéo chai bia lạnh qua trán. Thật là một đất nước kỳ cục, hắn ta tự nhủ. Internet tốc độ cao, nhưng lại không có điều hòa không khí. Chai bia làm hắn cảm thấy mặt và cổ thật dễ chịu. Sáng sớm hôm nay, hắn đã dừng lại để lấy gas tìm thấy căn phòng của những người đàn ông và cạo râu. Đó là thói quen hàng ngày của hắn. Hắn phải cảm ơn mẹ mình vì đã cho hắn nước da sẫm màu. Râu tóc mà để lởm chởm thì trông rất tệ. Từ lâu, có người nói với hắn rằng trông hắn giống người Italia nhưng đa số không thấy vậy. Roussard không thể thoát khỏi dòng giống của mình. Trông hắn giống một người Palestine thì đúng hơn. Trên tất cả những mục đích ngoại giao, hắn là người Pháp. Hắn ta nói tiếng Pháp và mang hộ chiếu quốc tịch Pháp. Thậm chí, hắn còn không thích người Mỹ điều đó có nghĩa là hắn cực kỳ phù hợp với việc sống ở Pháp. Nhưng thực tế lại là lâu lắm rồi hắn chưa tới đó. Cuộc chiến ở Iraq khiến hắn khá bận bịu. Là Juba nay đây mai đó giết chết từng tên lính phương tây một chỉ bằng một tiếng tách từ khẩu súng của hắn là việc làm luôn ám ảnh người ta. Rồi hắn bị bắt. Giữa những đợt hỏi cung căng thẳng, Roussard đã có thời gian để suy nghĩ – nghĩ rất nhiều về việc này. Và đến lúc đó, một số vấn đề đã trở nên rõ ràng đối với hắn. Sắp đến lúc người Mỹ phải chịu thua. Nó sẽ không xảy ra trong vài tháng hay vài năm mà là hàng thập kỷ Mỹ sẽ thua. Đã từng xảy ra rồi. Nó xảy ra ngay trước mắt từng người Mỹ ấy vậy mà họ vẫn vui vẻ chứng kiến. Roussard không thể tưởng tượng nổi một quốc gia từng kiêu hãnh thế có thể sụp đổ nhanh đến thế nào. Cơ cấu của xã hội là vứt cho bất kỳ ai đó một trong những sợi chỉ và nó tan biến đi nhanh hơn. Nếu không ngạo nghễ đến vậy có lẽ Mỹ có thể đáng thương. Đã từng có rất nhiều thành tựu, nhưng cũng giống như Rome sự khao khát quyền lực và thống trị thế giới đã thúc giục con người ta tự đào mồ chôn mình. Roussard nôn nóng quay trở lại với công việc. Những tai ương là một ý tưởng rất hay. Nó càng làm Harvath đau khổ hơn sau những gì hắn đã phải chịu đựng. Và sau khi đã kết thúc với Harvath, Roussard dự định sẽ quay trở lại với công việc của mình ở Iraq. Mặc dù quân đội Hồi giáo Iraq đã huấn luyện và sử dụng rất nhiều đội quân bắn tỉa tinh nhuệ, nhưng nỗi sợ hãi khi họ thọc sâu vào trái tim và khối óc của kẻ thù không thể sâu sắc như những gì Juba có thể tạo ra. Juba là một cơn ác mộng. Lính bắn tỉa Juba tấn công bất thình lình khiến cho những tên lính Mỹ thao thức trên giường với nỗi sợ hãi rằng mình sẽ là kẻ tiếp theo bị giết. Juba là thần chết, cho phép ai được sống và ai sẽ phải chết. Chừng nào hoàn thành nhiệm vụ này, hắn tự nhủ, mình có thể trở về với các chiến hữu ở Iraq. Hơn thế nữa, mình sẽ trở về nhà. KHÔNG KHOAN NHƯỢNG Brad Thor Chương 33 CHƯƠNG TRÌNH TÌNH BÁO SARGASSO KHU NGHỈ MÁT NÚI ELK MONTROSE, COLORADO Phải đến chiều, Harvath mới trở lại phòng họp Sargasso với Tim Finney, Ron Parker và Tom Morgan. Người chủ khu nghỉ mát đã chuẩn bị một bữa và họ trao đổi một chút trong khi ăn. Bữa ăn vừa kết thúc, Morgan đã bắt đầu bài thuyết trình. "Tôi muốn đưa ra một tóm tắt ngắn gọn rồi mới đi vào chi tiết. Điệp vụ Harvath cứ cho là anh có thể biết nhiều về chuyện này nhưng tôi nghĩ ông Finney và Parker sẽ có lợi." Harvath lịch sự ra hiệu cho Morgan tiếp tục. "Sau vụ 11/9, rất nhiều người bất ngờ xuất hiện ở Afghanistan, Iraq và những nơi khác. Theo nguồn tin của tôi, những kẻ bị giữ do tình nghi đến từ hơn năm mươi nước, chỉ bốn mươi mốt trong số đó là đã được công bố ra báo chí." "Số kẻ bị tình nghi lớn nhất là từ Ả rập Xê-út, tiếp đó là Afghanistan, rồi đến Yamen." "Không có gì đáng ngạc nhiên", Finney đáp lại. "Thực ra", Morgan vừa bật máy tính vừa tán đồng và màn hình máy tính sáng rực lên với trang slide[1] đầu tiên của một bài trình bày Power Point. "Mối quan hệ ở Mexico thế nào?" "Đã có thời, cả các cơ quan tình báo Mỹ và Mexico đều cảnh giác với các trại tập huấn quân sự chuyên sâu ở khắp Mexico, một số trong đó nằm ở biên giới phía Nam của chúng ta." "Những trại này do một nhóm lực lựng quân sự đặc biệt trước đây của Mexico điều khiển, được biết đến với cái tên Zetas". Morgan chuyển sangtrang tiếp theo – một loạt ảnh những kẻ bị theo dõi. "Thường xuyên ra vào những trại này là nhiều người khác nhau như Ả rập, những người quốc tịch Châu Á, trong đó có Thái Lan, Indonesia và Philipine". "Đại diện của tất cả các điểm nóng cấp tiến đạo Hồi của thế giới", Finney chua thêm. "Thường là một Disneyland của khủng bố ở đó". Morgan gật đầu và mở trang tiếp theo. "Tôi có một đồng nghiệp ở D.C. Người này nói với tôi từ lâu rồi, rằng thông qua Zetas bọn khủng bố đang khai thác khả năng của các tập đoàn ma túy để buôn người, vũ khí và chất nổ qua biên giới của chúng ta và Mexico. Tiếp tục điều tra nữa tôi nghĩ rằng một ngày nào đó trong tương lai chúng ta sẽ có thể chứng minh rằng con người và những chất liên quan tới các vụ tấn công qua ngày cuối tuần mùng 4 tháng 7 đã được đưa vào đất nước này qua biên giới phía Nam của chúng ta". "Nếu chúng ta biết trước tất cả tại sao chúng ta chẳng làm gì? Xây dựng một hàng rào bảo vệ hay dựng trại hoặc làm việc gì đó chứ không phải chỉ ngồi chờ bị xâm lược?". Morgan nhăn mặt và nói, "Với loại câu hỏi đó, cần một nhà phân tích chính trị. Còn về những quân nhân tình báo Mỹ và một số ít thành viên đã được khai sáng của Nghị viện mà nói thì những kẻ man rợ không ở trước cổng, chúng đã mở đường vào rồi. Bên cạnh Alqaeda ở Bắc Mexico chúng tôi đã thấy hoạt động của quân phiến loạn Hezbolla và quân Jihad đạo hồi. Chúng ở đó cả". Người cựu quân nhân của NSA mở trang tiếp theo, "Chúng không chỉ ở đó, mà chúng còn chẳng biết
1,014
4
BẠN - dưới mỗi bức tranh đều có hàng chữ như thế. Trong phòng một giọng du dương đang nói về việc sản xuất gang, có dẫn cả các số liệu. Tiếng nói phát ra từ một tấm kim loại gắn chặt vào bức tường bên phải, trông như một chiếc gương mờ. Winston vặn núm loa, tiếng nói có nhỏ đi, nhưng vẫn rõ. Cái máy này (gọi là màn vô tuyến) có thể điều chỉnh cho nhỏ đi nhưng không thể nào tắt hẳn được. Winston đi về phía cửa sổ; vốn đã gầy lại mặc đảng phục nên trông anh càng có vẻ ốm o hơn. Tóc anh màu sáng, khuôn mặt ửng đỏ đẩy vảy tróc do xà phòng kém chất lượng, do dao cạo cùn và vì mùa đông hanh khô vừa kết thúc. Bên ngoài trời còn lạnh lắm. Khắp nơi, bụi và giấy vụn bị gió cuốn thành những vòng xoáy bay tứ tung trên mặt đất và mặc dù có nắng, bầu trời rất xanh nhưng bao trùm lên tất cả, nếu không kể những tấm biểu ngữ, vẫn là một màu xám chán ngắt. Góc phố nào cũng có tranh vẽ khuôn mặt người đàn ông rậm râu nọ. Bức tường căn nhà đối diện cũng có. ANH CẢ ĐANG QUAN SÁT BẠN - hàng chữ bên dưới ghi như thế và đôi mắt đen của ông ta đang nhìm chằm chằm vào Winston. Phía dưới bức tranh, vắt ngang qua phố là một biểu ngữ đã bị đứt một góc, bay phất phơ trước gió, chữ CHUANH ghi trên đó đôi lúc bị cái góc rách che không thể nhìn rõ được. Phía xa, một chiếc trực thăng đang luồn lách giữa các mái nhà, có lúc trông nó như treo nguyên một chỗ hệt như một con nhặng xanh, sau đó nó bỗng bay vút theo một đường cong và biến mất. Đấy là máy bay cảnh sát, họ tuần tra bằng cách nhìn qua cửa sổ nhà dân. Nhưng tuần tra thì không đáng ngại. Đáng ngại là Cảnh Sát Tư Tưởng cơ. Sau lưng Winston màn vô tuyến vẫn tiếp tục câu chuyện về luyện gang và việc hoàn thành kế hoạch ba năm lần thứ chín. Màn vô tuyến còn làm việc thu và phát nữa. Chỉ cần Winston nói, nếu không quá nhỏ như kiểu thì thầm, thì màn vô tuyến sẽ thu và truyền đi ngay lập tức, hơn nữa nếu đứng trong vùng quan sát của màn vô tuyến thì anh không chỉ bị nghe lén mà còn bị nhìn trộm nữa. Tất nhiên không ai biết là có thật sự bị theo dõi hay không. Cảnh Sát Tư Tưởng theo dõi thường xuyên hay theo thời gian biểu nào thì không ai rõ, chỉ có thể đoán mò mà thôi. Không loại trừ khả năng là họ theo dõi tất cả mọi người suốt ngày đêm. Không ai dám chắc, nhưng chắc chắn là họ có thể theo dõi bất kì ai vào bất kì lúc nào họ muốn. Người ta buộc phải sống, mà quả thật họ đã sống, theo thói quen đã trở thành bản năng rằng lời nói nào cũng có thể bị nghe lén và khi còn ánh sáng thì hành động nào cũng có thể bị theo dõi. Winston quay lưng lại phía màn vô tuyến. Thế an toàn hơn, dù anh biết rằng chỉ cần nhìn lưng người ta cũng có thể phát hiện được khối thứ. Bên ngoài cửa sổ, cách đây khoảng một cây số lừng lững một toà nhà màu trắng nổi lên giữa khung cảnh xám ngoét của thành phố, đấy là toà nhà Bộ Sự Thật, nơi anh làm việc. London, thành phố quan trọng nhất của Đường Bay I, thành phố đông dân thứ ba của Oceania trông như thế đấy, ý nghĩ pha chút khinh bỉ mơ hồ vụt lướt qua đầu Winston. Anh cố nhớ lại thời niên thiếu, lúc đó London cũng như thế này ư? Lúc nào cũng là những ngôi nhà có từ thế kỉ XIX cũ nát, phải chống bằng cột gỗ, cửa sổ táp giấy các tông, mái lợp tôn sóng và tường những khu vườn thì nghiêng ngả như say rượu như thế này ư? Lúc nào cũng có những hố bom đầy bụi vữa với những cây liễu đang cố vươn mình lên khỏi đám xà bần và những khoảng trống do bom phát quang, trên đó là những dãy nhà gỗ trông như chuồng gà thế kia ư? Nhưng hoá ra vô ích, anh chẳng thể nhớ được gì, ngoài những tấm áp-phích sáng nhấp nháy trên nền không màu và thường là rất khó hiểu. Bộ Sự Thật, nói theo Ngômo [1] là Bôta trông khác hẳn những ngôi nhà xung quanh. Đấy là một cấu trúc hình kim tự tháp bằng bê tông trắng toát, tầng tầng lớp lớp, cao đến trên ba trăm mét. Từ đây có thể trông thấy ba khẩu hiệucủa Đảng được kẻ rất rõ và đẹp ngay trên mặt tiền tòa nhà: CHIẾN TRANH LÀ HÒA BÌNH TỰ DO LÀ NÔ LỆ NGU DỐT LÀ SỨC MẠNH Người ta đồn rằng Bộ Sự Thật có ba ngàn phòng ở bên trên và những chi nhánh tương ứng ở dưới mặt đất nữa. Ở London còn có ba toà nhà tương tự về hình dáng và kích thước như thế. Chúng cao hơn hẳn các toà nhà xung quanh nên từ nóc chung cư Chiến Thắng có thể trông thấy cả bốn cái. Đấy là tổng hành dinh của bốn Bộ, bộ máy của chính phủ nằm trong bốn toà nhà này. Bộ Sự Thật theo dõi lĩnh vực tin tức, giải trí, giáo dục và nghệ thuật. Bộ Hòa Bình theo dõi lĩnh vực chiến tranh. Bộ Tình Yêu theo dõi lĩnh vực trật tự và luật pháp. Bộ Ấm No theo dõi lĩnh vực kinh tế. Theo Ngômo thì đấy là các Bộ: Bôta, Bôbi, Bôti và Bôno. Ngôi nhà Bộ Tình Yêu trông rất khiếp, không hề có một cửa sổ nào. Nói cho ngay thì Winston chưa vào bên trong bao giờ, thậm chí anh chưa từng đến gần quá nửa cây số. Chỉ được vào đấy khi có việc, mà phải đi theo những lối ngoằn ngoèo, xung quanh rào kẽm gai, phải vượt qua nhiều cánh cửa thép và những ụ súng máy bí mật nữa. Ngay trên những con phố dẫn đến hàng rào bên ngoài đã có những người bảo vệ đồng phục đen, mặt đằng đằng sát khí tay lăm lăm dùi cui đứng gác rồi. Winston quay người lại. Nét mặt anh vụt trở nên tươi tỉnh, ai cũng phải giả vờ thế khi đứng trước màn vô tuyến, anh đi về phía gian bếp nhỏ ở đầu kia của căn hộ. Ra khỏi Bộ vào giờ này là mất bữa ăn trưa, ở nhà chỉ còn một lát bánh mì đen khô, nhưng phải để dành đến sáng mai. Anh lấy từ trên chạn bát xuống một chai nước không màu có dán nhãn trắng: RƯỢU GIN CHIẾN THẮNG. Lọai rượu này có mùi hôi hôi khó chịu y như mùi rượu gạo của Tàu. Winston rót đầy một li và lấy hết can đảm dốc vào miệng như uống thuốc. Mặt anh lập tức ửng đỏ, mấy giọt nước mắt trào ra. Chua không khác gì axit nitric, hơn nữa khi nuốt còn có cảm giác như bị nện dùi cui vào lưng. Nhưng cơn xót trong dạ dày cũng mau qua và mọi vật bỗng như sống động hơn, vui hơn. Anh cầm bao thuốc lá Chiến Thắng nhàu nát để rút lấy một điếu, nhưng do không chú ý nên đã dốc điếu thuốc xuống và thế là tất cả thuốc đều rơi ra ngoài. Điếu thứ hai anh giữ cẩn thận hơn. Anh quay lại phòng khách và ngồi xuống bên cạnh cái bàn phía trái màn vô tuyến. Anh lấy từ ngăn kéo ra cái quản bút, lọ mực, cuốn sổ dày gáy đỏ, bìa màu cẩm thạch. Không hiểu vì sao cái màn vô tuyến lại được lắp ở một chỗ ấy. Thường thì nó được lắp ở phía cuối để có thể quan sát khắp phòng, nhưng cái này lại lắp trên bức tường dài, đối diện với cửa sổ. Winston ngồi vào cái chỗ xây thụt ở gần góc phòng, chắc người ta định đặt kệ sách ở đó, chỗ này nằm phía bên màn vô tuyến. Ngồi ở đó, lại ngả hẳn về phía sau thì màn vô tuyến chịu. Nghe trộm thì có thể, nhưng nếu anh cứ ngồi ở đó thì họ không thể nào trông thấy được. Có lẽ một phần do cách bố trí căn phòng hơi bất bình thường như thế mà anh nảy ra ý định làm cái công việc anh sắp làm đây. Nhưng còn do cuốn sổ nữa. Cuốn sổ đẹp quá. Giấy mịn, đã ngả vàng vì năm tháng, loại giấy này phải được sản xuất ít nhất là bốn chục năm về trước. Nhưng anh cho rằng có thể trước nữa. Anh nhìn thấy nó trên quầy một cửa hàng đồng nát trong một khu ổ chuột (cụ thể khu nào thì anh không nhớ) và lập tức nảy ra ý định phải mua bằng được.
1,151
4
Đảng viên không được vào các cửa hàng bình thường (buôn bán trên thị trường tự do, người ta vẫn gọi thế), nhưng nguyên tắc này không được tuân thủ tuyệt đối vì nhiều thứ như dây giày hay dao cạo râu chỉ có thể mua bằng cách này mà thôi. Anh vội đảo mắt nhìn quanh rồi chui ngay vào cửa hàng và mua cuốn sổ giá hai đô la rưỡi. Lúc đó anh cũng không biết sẽ dùng cuốn sổ vào việc gì. Anh đút nó vào cặp và vội lủi về nhà. Dù không có chữ nào, cuốn sổ cũng là bằng chứng tố cáo chính chủ nhân của nó. Việc đầu tiên anh sẽ làm là bắt đầu ghi nhật kí. Đấy không phải là một hành động phạm pháp (không có việc gì phạm pháp vì đã không còn luật pháp nữa), nhưng nều bị phát hiện thì có thể bị tử hình hoặc ít nhất cũng hai mươi lăm năm khổ sai. Winston lắp ngòi bút và liếm lớp mỡ chống gỉ đi. Bút là một công cụ cổ xưa, ít được sử dụng ngay cả để kí, mua nó không phải dễ, lại phải lén lút nữa, nhưng anh vẫn cố mua bằng được, đơn giản chỉ vì anh nghĩ rằng đối với những tờ giấy mịn như thế thì phải dùng bút mực chứ không thể là bút chì hoá học được. Nói cho ngay, anh không quen viết bằng tay. Anh chỉ viết những mẩu ghi chú ngắn, ngoài ra anh thường đọc cho máy ghi, nhưng cách đó dĩ nhiên là không thể dùng được cho mục đích này. Anh ấn ngòi bút vào lọ mực nhưng lại lưỡng lự trong giây lát. Một cơn rùng mình nhẹ chạy khắp khoang bụng. Chỉ cần chạm ngòi bút vào giấy là xong, không thể nào quay lại được nữa. Anh bắt đầu viết bằng những chữ nhỏ tí, ngả nghiêng: Ngày 4 tháng tư năm 1984. Anh khẽ ngả người ra sau. Cảm giác bất lực bao trùm khắp cơ thể. Trước hết anh không biết năm nay có đúng là năm 1984 hay không. Không nghi ngờ gì rằng con số gần đúng như thế vì anh biết chắc tuổi của mình là ba chín, mà anh sinh khoảng năm 1944 hay 1945, nhưng bây giờ thì chẳng có cách nào xác định được chính xác, sai số phải khoảng một hai năm. Anhbỗng tự hỏi: ta đang viết nhật kí cho ai đây? Cho tương lai, cho người chưa ra đời. Tâm trí anh treo bên trên cái ngày tháng đáng ngờ được ghi trên tờ giấy và bất ngờ đụng phải từ nướcđôi của Ngômo. Đây cũng là lần đầu tiên anh nhận thức được mức độ nghiêm trọng của công việc mà anh đã khởi sự. Làm sao có thể giao thiệp với tương lai? Thực chất là không thể được. Tương lai hoặc là sẽ giống như hiện tại, sẽ chẳng ai thèm nghe; hoặc là tương lai sẽ khác hiện tại và nếu thế hoàn cảnh của anh sẽ chẳng còn ý nghĩa gì với họ. Anh ngồi yên lặng ngắm tờ giấy một lúc. Vô tuyến chuyển sang phát nhạc hành khúc. Có điều lạ là anh cảm thấy không những không có khả năng viết ra ý nghĩ của mình mà còn quên không biết mình đang định nói gì nữa. Anh đã chuẩn bị cho ngày hôm nay suốt mấy tuần lễ liền và anh không ngờ rằng chỉ lòng dũng cảm không chưa đủ. Viết thì có gì khó. Chỉ cần ghi ra giấy những cuộc độc thoại không ngừng diễn ra trong đầu anh hết năm này qua tháng khác. Nhưng lúc này những cuộc độc thoại bỗng ngừng bặt. Còn chỗ loét do giãn tĩnh mạch thì ngứa không chịu được. Anh không dám gãi vì nếu gãi thì sẽ bị viêm ngay. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ vẫn điểm đều đều. Trong tâm trí anh chỉ còn một tờ giấy trắng nằm trước mặt, cơn ngứa phía bên trên mắt cá chân, tiếng nhạc ồn ào và cảm giác lâng lâng do li rượu vừa mới uống gây ra mà thôi. Rồi bất ngờ anh viết - đơn giản là do sợ, anh cũng không biết mình viết gì nữa. Anh viết những hàng chữ khi lên khi xuống như trẻ con, lúc đầu quên viết hoa rồi sau quên luôn cả đánh dấu chấm câu. Ngày 4 tháng tư năm 1984. Hôm qua đi xem phim. Toàn phim chiến đấu. Một phim hay, một chiếc tàu thuỷ đầy người tị nạn ở Địa Trung Hải bị ném bom. Cả khán phòng thích chí khi xem cảnh một gã đàn ông to lớn đang bơi, trong khi một chiếc trực thăng đuổi theo sau, đầu tiên thấy gã lặn hụp như cá heo, sau đó thấy gã qua ống ngắm từ trên máy bay, sau đó gã bị bắn thủng lỗ chỗ như mặt sàng, mặt biển bỗng biến thành màu hồng, gã chìm nhanh y như nước bị hút qua các lỗ thủng trên người vậy. khi gã chìm đến đáy thì cả khán phòng phá lên cười. Sau đó là một cái xuồng đầy trẻ con, bên trên lại một chiếc trực thăng nữa. trên mũi xuồng là một người phụ nữ trung niên, có lẽ là Do Thái, tay bế một đứa nhỏ chừng ba tuổi. Đứa nhỏ gào lên vì sợ, đầu cứ dúi vào ngực mẹ còn bà ta thì vừa vỗ về vừa lấy tay che cho con mặc dù chính bà ta cũng sợ, mặt xanh như tầu lá. bà ta lấy tay che cho con, làm như có thể ngăn được đạn không bằng. sau đó cái trực thăng ném xuống một quả bom loại hai mươi cân tiếng nổ kinh hoàng và cái thuyền tan ra thành từng mảnh vụn. sau đó là một cảnh tuyệt vời một cánh tay trẻ con bay lên, vọt thẳng lên trời chắc là người ta quay từ mũi chiếc trực thăng và những tiếng vỗ tay ồn ào vang lên từ những hàng ghế dành riêng cho đảng viên nhưng từ chỗ dành cho bọn cu li thì có một phụ bỗng gào lên, bà ta bảo không được chiếu những cảnh đó cho trẻ con xem và cứ thế cho đến khi cảnh sát phải lôi phải lôi bà ta ra chắc là họ chẳng làm gì đâu bọn cu li thì chấp làm gì phản ứng của chúng vẫn thế ai thèm quan tâm… Winston ngừng viết, môt phần vì tay bị tê. Anh cũng không hiểu vì sao lại viết ra chuyện nhảm nhí này. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là trong khi anh viết thì một chuyện hoàn toàn khác bỗng hiện lên một cách rõ ràng trong trí nhớ đến nỗi có thể viết ngay ra được. Bây giờ thì anh hiểu rằng chính vì sự kiện đó mà anh quyết định đi về nhà để ghi nhật kí trong ngày hôm nay. Chuyện đó xảy ra trong Bộ sáng nay, nếu như có thể dùng chữ "xảy ra" với những chuyện mơ hồ kiểu đó. Lúc ấy gần mười một giờ đúng, trong Ban Tài Liệu, nơi Winston công tác, người ta đã mang ghế từ các ngăn ra, để tập trung vào giữa phòng, đối diện với màn vô tuyến lớn, chuẩn bị cho Hai Phút Hận Thù. Winston vừa chuẩn bị ngồi vào chỗ, đấy là một trong các dãy ghế giữa nhà, thì có hai người mà anh chỉ nhìn thấy chứ chưa nói chuyện bao giờ bất ngờ bước vào phòng. Một người là con gái, anh thường gặp cô ta trong hành lang. Anh không biết tên cô, chỉ biết rằng cô làm ở Ban Sáng Tác. Anh nghĩ thế vì có lần thấy cô cầm cờ lê, tay đầy dầu mỡ, chắc là cô ta đang sửa máy viết văn. Cô ta khoảng hai mươi bảy tuổi, mặt đầy tàn nhang, tóc đen dày, dáng tự tin, nhanh nhẹn, động tác dứt khoát. Một chiếc thắt lưng hẹp màu đỏ tươi, biểu tượng của Hội Thanh Niên Chống Tình Dục, quấn mấy vòng xung quanh eo bộ đồng phục càng làm nổi rõ cái bụng thon nhỏ của cô. Winston thấy khó ưa cô ta ngay từ lần gặp đầu tiên. Anh biết vì sao. Cô ta sặc mùi sân khúc quân cầu và buồng tắm nước lạnh, mùi của những chuyến dã ngoại và thái độ cuồng tín ra mặt. Anh không thích đàn bà, đặc biệt là những cô gái trẻ, xinh đẹp. Đàn bà, nhất là các cô gái trẻ, thường là những kẻ cuồng tín, những người sẵn sàng nuốt sống ngay mọi khẩu hiệu của Đảng, những tên chỉ điểm tự nguyện, những kẻ đánh hơi bất kì biểu hiện phi chính thống nào. Nhưng cô này có vẻ nguy hiểm hơn cả. Một lần hai người gặp nhau ở hành lang, cô ta liếc xéo như xoáy vào người anh, lúc đó một nỗi sợ vô hình như choán hết tâm can anh. Anh ngờ rằng cô ta chính là mật vụ của Cảnh SátTư Tưởng. Chắc là không phải. Dù sao anh cũng cảm thấy lúng túng, cảm thấy vừa sợ vừa ghét mỗi lần gặp cô ta. Người thứ hai tên là O'Brien, đảng viên Đảng Nội Bộ, nghe nói làm to và ở xa nên Winston hiểu rất mù mờ. Vừa nhìn thấy người mặc đồng phục áo đen của Đảng Nội Bộ đến gần là những người ngồi trước màn vô tuyến lập tức im bặt.
1,152
4
O'Brien là một người cao, to, cổ bự, khuôn mặt thô đầy vẻ hài hước. Hình thức tuy dữ dằn nhưng trông anh ta cũng khá hấp dẫn. Anh ta có thói quen lấy tay sửa lại gọng kính ở trên mũi, thói quen này lạ kì thay lại có vẻ như tố cáo rằng anh ta là một người quân tử. Một nhà quí tộc thế kỉ mười tám đang mời thuốc lá, người nào còn có khả năng so sánh theo cách ấy, sẽ nghĩ như thế khi nhìn thấy thói quen đó của anh ta. Trong mười năm lại đây Winston chỉ gặp anh ta khoảng chục lần. Anh cảm thấy mến O'Brien không chỉ bởi sự tương phản giữa thái độ tao nhã và vẻ bề ngòai lực lưỡng như võ sĩ của anh ta. Trong đáy sâu tâm hồn Winston vẫn ngờ rằng, có thể không phải là ngờ mà chỉ là hi vọng rằng O'Brien không phải là kẻ cuồng tín. Nét mặt anh ta gợi cho người khác nghĩ như vậy. Nhưng cũng có thể đấy không phải là sự nghi ngờ giáo lí, mà đơn giản có thể đấy chỉ là trí thông minh cũng nên. Nhưng dù sao hình thức bên ngoài cho thấy anh ta là một người có thể nói chuyện, nếu có điều kiện gặp riêng và tránh được màn vô tuyến. Winston chưa thử kiểm tra ước đoán này lần nào: thực ra là không thể làm được. O'Brien nhìn đồng hồ đeo tay, thấy là đã gần đúng mười một giờ, anh ta quyết định ở lại Ban Tài Liệu cho đến hết Hai Phút Hận Thù. Anh ngồi cùng hàng với Winston, chỉ cách hai dãy ghế. Một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc hung vẫn làm việc trong ngăn bên cạnh Winston ngồi trên cái ghế ngăn giữa hai người. Cô gái tóc đen ngồi ngay phía sau Winston. Một giọng nói nghe rùng rợn, ghớm ghiếc như tiếng ma sát của một cái máy cực to không dầu bôi trơn bỗng bật ra từ màn vô tuyến gắn ở phía cuối căn phòng. Âm thanh đó khiến người ta có cảm giác ghê ghê trong từng kẽ răng và tóc gáy thì dựng lên. Hận Thù bắt đầu. Cũng như mọi khi, khuôn mặt Emmanuel Goldstein, kẻ thù của nhân dân, hiện lên trên màn ảnh. Tiếng húyt gió chế giễu nổi lên đây đó. Người đàn bà nhỏ bé tóc hung rít lên tỏ vẻ vừa khinh vừa sợ. Goldstein là một tên phản bội, một người ngày xưa (từ bao giờ thì không ai nhớ nổi) vốn nằm trong ban lãnh đạo Đảng, gần như cùng cấp với Anh Cả, nhưng sau đó lại tham gia hoạt động phản cách mạng, bị kết án tử hình rồi bí mật vượt ngục và biến mất. Chương trình Hai Phút Hận Thù thay đổi mỗi ngày, nhưng nhân vật chính bao giờ cũng là Goldstein. Hắn là tên phản bội đầu sỏ, là kẻ hủy hoại thanh danh của Đảng. Chính lí thuyết của hắn là nguồn gốc mọi tội ác chống Đảng, mọi hành vi phá hoại, phản bội, lệch lạc. Hắn vẫn sống ở đâu đó và tiếp tục họat động phá hoại ngầm: có thể là ở nước ngoài, dưới sự bảo trợ của những ông chủ ngoại quốc, mà cũng có thể, như thỉnh thoảng có người nói, là ở ngay tại Oceania này. Winston cảm thấy khó thở. Cứ mỗi lần nhìn thấy mặt Goldstein là trong anh lại xuất hiện một mớ những tình cảm lộn xộn. Đấy là một khuôn mặt Do Thái điển hình, được những lọn tóc mềm điểm bạc bao quanh, bộ râu thưa, một khuôn mặt thông minh nhưng khó ưa, nhưng cái mũi nhỏ và dài, cặp kính trễ xuống tận cánh mũi, lại chứng tỏ rằng đấy là một con người ngờ ngệch, bạc nhược. Khuôn mặt giống như mặt cừu, giọng nói cũng be be y hệt như vậy. Cũng như mọi khi, Goldstein tấn công vào đường lối của Đảng, lí lẽ của hắn đầy ác ý và cường điệu không lừa được cả trẻ con, nhưng có sức thuyết phục, thính giả có thể vô tình nghĩ rằng những người khác, không tỉnh táo bằng mình có thể bị hắn lôi kéo cũng nên. Hắn lăng mạ Anh Cả, hắn tố cáo chế độ Đảng trị, hắn yêu cầu kí ngay hoà ước với Eurasia, hắn đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tư do tư tưởng, hắn điên cuồng gào lên rằng cách mạng đã bị phản bội - tất cả những bài phát biểu liến thoắng, dài dòng của hắn giống như nhại theo cách nói của các diễn giả của Đảng, hơn nữa còn chứa nhiều từ ngữ của Ngômo, thậm chí nhiều hơn số từ các đảng viên thường có thể sử dụng hàng ngày. Để không ai nghi ngờ ý định thực sự đằng sau những lời dối trá tràng giang đại hải của Goldstein, bao giờ trên màn ảnh phía sau đầu hắn cũng là những đoàn quân Eurasia đang nhịp bước, những hàng quân Á châu đằng đằng sát khí, nét mặt không một chút biểu cảm nào liên tục diễu hành từ trong ra rồi biến mất và được thay thế bằng những đoàn khác trông cũng hệt như thế. Tiếng giầy đinh lính tráng nện lộp cộp, đều đều làm nền cho giọng nói be be thé thé của Goldstein. Hận Thù kéo dài chưa được ba mươi giây thì một nửa gian phòng đã không kìm được những tiếng thét căm hờn. Chỉ nhìn thấy hay nghĩ đến Golstein là người ta đã căm ghét và hoảng sợ rồi, đằng này lại phải nhìn mãi cái khuôn mặt tự mãn, dài như mặt cừu và đoàn quân Eurasia hùng mạnh phía sau nữa, ai mà chịu đựng nổi. Hắn là đối tượng căm thù thường trực, hơn cả Eurasia và Eastasia vì khi Oceania gây chiến với một trong hai siêu cường thì bao giờ cũng hòa hoãn với siêu cường kia. Nhưng điều kì lạ là mặc dù mọi người đều căm thù, đều khinh bỉ Goldstein, lí thuyết của hắn bị đem ra phê phán, chế giễu ở ga tàu, trên màn ảnh, trongsách báo hàng ngàn lần mỗi ngày, có vẻ như ảnh hưởng của hắn không hề giảm tí nào. Lúc nào cũng có những kẻ ngốc nghếch sẵn sàng để cho hắn dụ dỗ. Ngày nào cũng có những tên gián điệp, phá hoại hoạt động dưới trướng của hắn bị Cảnh Sát Tư Tưởng tóm được. Hắn chỉ huy một đội quân bí mật đông đảo và một mạng lưới gián điệp ngầm có mục đích lật đổ chế độ. Người ta cho rằng tổ chức của hắn có tên là Huynh Đệ. Người ta còn đồn thổi về một cuốn sách, tuyển tập các quan điểm phản động mà tác giả chính là Goldstein đang được lưu hành bí mật nữa. Cuốn sách này không có tựa đề. Trong những câu chuyện phiếm, người ta gọi nó đơn giản là cuốn sách. Nhưng những chuyện như vậy người ta chỉ được nghe qua những lời đồn rất mù mờ. Đảng viên thường tránh nhắc đến Huynh Đệ cũng như cuốn sách nếu hoàn cảnh cho phép họ làm thế. Đến phút thứ hai thì lòng căm thù đã trở thành điên loạn. Người ta nhảy chồm chồm và hò hét đến lạc giọng hòng át được tiếng the thé như xoáy vào não của Goldstein. Người đàn bà nhỏ bé tóc hung ửng lên như tôm luộc, miệng há hốc như cá mắc cạn. Ngay cả mặt O'Brien cũng ửng lên. Anh ta ngồi thật thẳng, ngực nhồi lên, nhịp xuống như sóng đánh. Cô gái tóc đen phía sau Winston gào lên: "Đồ khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn!", rồi bất thình lình cầm lấy cuốn tự điển Ngômo khá dày và ném thằng vào màn vô tuyến. Cuốn sách đập vào mũi Goldstein và bay ra xa; nhưng giọng nói thì vẫn tiếp tục. Trong một phút tỉnh táo Winston bỗng phát hiện ra rằng mình cũng đang gào lên như mọi người, còn gót chân thì đang dậm kịch liệt lên thanh ngang của chân ghế. Điều kinh khủng nhất trong Hai Phút Hận Thù không phải là việc hành động như mọi người mà chính là việc không thể không hành động. Chỉ cần khoảng ba mươi giây là việc giả đò đã không còn cần thiết nữa. Cơn phấn khích của nỗi sợ hãi và lòng thù hận, ước muốn sát sinh và tra khảo, ước muốn được đập vỡ mặt bằng một cái búa tạ giống như luồng điện truyền khắp phòng, không ai còn kiểm soát được hành vi của mình, tất cả cùng nhăn nhó, kêu gào như một lũ điên. Cơn bộc phát này thực ra là không có chủ đích, có thể được chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác giống như ánh lửa của cái đèn xì. Có lúc Winston hoàn toàn không thù ghét Goldstein, mà ngược lại, anh căm ghét Anh C
1,153
4
có ghi nhật kí hay không ghi thì cũng thế. Trước sau gì thì Cảnh Sát Tư Tưởng cũng tóm được anh thôi. Anh đã phạm, chắc chắn đã phạm, dù không động bút vào giấy, một tội chính, tội chủ yếu, một tội bao gồm tất cả các tội lỗi khác. Tội tư tưởng, tên của nó là như thế. Không thể che giấu mãi được tội tư tưởng. Có thế giấu được một thời gian, trong nhiều năm, nhưng trước sau gì họ cũng phát hiện ra mà thôi. Việc bắt người luôn xảy ra vào ban đêm. Bất ngờ bị đánh thức, một bàn tay thô bạo nắm lấy vai, ánh sáng chiếu thẳng vào mắt, những bộ mặt nghiêm khắc vây quanh giường. Thường thì không có toà án, vụ bắt giữ cũng không được thông báo. Người ta bỗng nhiên biến mất, thế thôi, mà bao giờ cũng vào ban đêm. Tên bị rút khỏi sổ hộ tịch, những việc đã làm bị xoá sạch, sự kiện là có một người từng sống bị phủ nhận và sau đó thì bị vùi lấp. Con người bị xoá bỏ, bị tiêu diệt, hay như người ta thường nói: bị bốc hơi Có một lúc anh như phát cuồng. Anh viết vội vàng, nghiêng ngả: họ sẽ bắn tôi tôi cóc cần họ sẽ bắn vào gáy tôi tôi cóc cần đả đảo anh cả họ bao giờ cũng bắn vào gáy tôi tôi cóc cần đả đảo anh cả- Anh ngả lưng ra thành ghế, thâm tâm cảmthấy xấu hổ, tay buông bút. Anh bỗng giật nảy mình. Có người gõ cửa. Đến rồi! Anh ngồi im lặng như một con chuột nhắt, hi vọng rằng người ta sẽ bỏ đi. Nhưng không, tiếng gõ lại vang lên. Chậm là chết. Tim anh đập như trống trận, nhưng nét mặt, có thể vì đã quen từ lâu, vẫn giữ được vẻ lạnh lùng vô cảm. Anh đứng dậy và nặng nề lê bước về phía cửa chính. II. Khi đã nắm chốt cửa trong tay Wiston mới nhận ra rằng cuốn nhật kí vẫn để mở trên bàn. Cả trang đầy những chữ ĐẢ ĐẢO ANH CẢ, chữ to đến mức đứng ở đầu kia căn phòng vẫn đọc được. Ngu không tưởng tượng nổi. Không, anh nghĩ, ngay cả trong lúc hoảng loạn anh cũng không muốn gấp cuốn sổ khi mực chưa khô, trang giấy trắng bóng ấy sẽ bẩn hết. Anh hít vào một hơi dài và mở cửa. Một luồng sóng ấm áp do tâm trí được giải toả chạy khắp cơ thể. Một người đàn bà nhợt nhạt, ủ rũ, mái tóc lòa xòa, mặt đầy nếp nhăn đứng ngay bên ngoài. "A, đồng chí", bà ta nói, giọng the thé, khó chịu. "Đúng là tôi đã nghe thấy anh về. Anh có thể xem hộ tôi cái bồn rửa bát trong bếp được không? Nó bị tắc" Đấy là bà Parsons, vợ một người hàng xóm cùng tầng. (Đảng không thích gọi phụ nữ là "bà", phải gọi tất cả là đồng chí, nhưng không hiểu sao đối với một số phụ nữ từ này cứ bật ra như một thứ bản năng). Bà ta mới khoảng ba mươi nhưng trông già hơn nhiều. Có cảm giác như bụi bám đầy trong các nếp nhăn trên mặt bà ta. Winston đi theo bà ta. Gần như ngày nào anh cũng phải làm công việc sửa chữa lặt vặt như thế này. Chung cư Chiến Thắng được xây dựng từ năm 1930 hay gần năm đó, đã cũ lắm rồi. Vôi trên trần và tường rớt từng mảng, cứ hễ lạnh là đường ống dẫn nước vỡ, mái thì dột mỗi khi có tuyết, hệ thống sưởi chỉ chạy một nửa công suất, đấy là nói khi người ta không tắt hẳn để tiết kiệm điện. Nếu không tự chữa được thì phải xin các uỷ ban cấp trên, chỉ thay một tấm kính vỡ cũng phải mất hai năm. "Tại anh Tom nhà tôi đi vắng", bà Parsons rụt rè nói. Căn hộ nhà Parsons rộng hơn căn của Winston, cũng tồi tàn nhưng theo một cách khác. Tất cả đồ đạc đều nhàu nát, bẹp dúm y như có một con vật dữ dằn, to lớn vừa đi ra khỏi đây. Dụng cụ thể thao, que chơi khúc quân cầu, găng tay đấu box, bóng da vỡ, quần đùi ướt lộn trái vất đầy trên sàn, còn trên bàn thì bát đĩa bẩn nằm ngổn ngang cạnh những cuốn vở nhàu nát. Trên tường có treo cờ đỏ của Hiệp Hội Thanh Niên, đội Tình Báo và bức ảnh to, loại treo ngoài phố hình Anh Cả. Ở đây cũng có mùi bắp cải luộc, cái mùi chung trong toàn bộ khu nhà, nhưng mùi mồ hôi, có thể thấy ngay khi vừa hít vào hơi đầu tiên, tuy không thể rõ tại sao, của một người hiện đi vắng còn mạnh hơn, lấn át cả mùi bắp cải. Ở phòng bên cạnh có người đang dùng lược và giấy vệ sinh bắt chước nhạc điệu một khúc quân hành phát trên màn vô tuyến. "Các cháu nhà tôi", bà Parsons vừa nói vừa lo lắng nhìn vào cửa. "Hôm nay chúng ở nhà. Thế nên…" Bà ta có thói quen ngừng ở giữa câu. Cái chậu rửa trong bếp chứa đầy nước bẩn màu xanh rêu, bốc mùi khó chịu hơn bắp cải nhiều. Winston quì xuống xem khớp nối bên dưới. Anh không thích công việc chân tay, anh cũng không thích cúi vì sẽ bị ho. Bà Parsons bất lực đứng nhìn. "Nếu anh Tom nhà tôi ở nhà thì anh ấy làm xong ngay", bà ta nói. "Anh ấy thích những việc thế này lắm. Anh ấy là người khéo tay." Parsons cùng công tác trong Bộ Sự Thật với Winston. Đấy là một người to béo, khá năng động nhưng dốt nát, biểu hiện của lòng nhiệt tình tăm tối, một trong những kẻ trung thành, không bao giờ nghi ngờ, sẵn sàng bảo vệ Đảng còn hơn cà cảnh Sát Tư Tưởng. Ở tuổi ba lăm anh ta vẫn không muốn rời bỏ hàng ngũ Hiệp Hội Thanh Niên, trước khi gia nhập Hiệp Hội anh ta cũng tìm cách ở lại đội Tình Báo thêm một thời gian. Trong Bộ anh ta chỉ giữ chức vụ phụ trợ, không cần kiến thức, nhưng mặt khác, anh ta là nhân vật chủ chốt trong Ủy Hội Thể Thao và những ủy hội khác liên quan đến tổ chức các chuyến dã ngoại, diễu hành tự phát, phong trào tiết kiệm và nói chung là các hoạt động tình nguyện. Vừa hút tẩu anh ta vừa có thể nói một cách tự hào thầm kín rằng trong suốt bốn năm qua anh ta chưa từng bỏ một buổi sinh hoạt tối nào tại Trung Tâm Xã Hội. Mùi mồ hôi nồng nặc là bằng chứng của một đời sống vất vả, theo anh khắp nơi, thậm chí còn ở lại sau khi anh đã đi khỏi rồi. "Nhà có mỏ lết không?", vừa nói Winston vừa lấy tay thử xoay con ốc. "Mỏ lết", bà Parsons nói, người như lả đi. "Thực tình là tôi không biết. Có thể các cháu…" Có tiếng dậm chân, rồi nghe có mấy đứa trẻ chạy vào phòng. Bà Parsons mang mỏ lết vào. Winston tháo nước và rút mớ tóc thút nút đường ống ra, tanh quá, suýt nữa thì anh nôn. Anh cố gắng kì cọ tay cho thật sạch rồi đi vào phòng khách. "Giơ tay lên", có tiếng quát. Một đứa bé xinh xắn chừng chín tuổi, nét mặt cau có, nhảy ra từ dưới gầm bàn, đang chĩa khẩu súng giả về phía anh, trong khi cô em, nhỏ hơn thằng anh chừng hai tuổi thì giơ lên một mẩu gỗ. Cả hai đứa đều mặc đồng phục đội viên Tình Báo, quần đùi xanh, áo sơ mi xám, cổ đeo khăn quàng đỏ. Winston giơ tay lên, trong bụng cảm thấy bất an: đứa nhỏ trông hung dữ quá, không có vẻ gì là trò chơi cả. "Tên phản bội!", đứa bé thét lạc cả giọng. "Tội phạm tư tưởng! Gián điệp Eurasia! Ta sẽ bắn, ta sẽ cho ngươi bốc hơi, ta sẽđày ngươi đi mỏ muối!" Rồi hai đứa nhảy lò cò xung quanh, miệng thét: "Phản bội!", "Tội phạm tư tưởng!", đứa con gái bắt chước mọi động tác của thằng anh. Cảnh tượng hơi ghê ghê, giống như bày hổ con sắp sửa thành lũ hổ lớn ăn thịt người. Mắt thằng con trai ánh lên vẻ dữ dằn đầy tính toán, rõ ràng là nó muốn nhảy vào đấm hay đá Winston, thâm tâm biết rằng nó sắp làm được việc đó rồi, chỉ cần lớn thêm chút nữa là xong. May là nó chỉ cầm khẩu súng giả thôi đấy, Winston nghĩ. Bà Parsons lo lắng hết nhìn
1,155
4
bọn trẻ lại nhìn Winston. Phòng này sáng hơn và Winston lấy làm thích thú khi nhìn rõ bụi trong những nếp nhăn trên trán bà ta. "Nghịch lắm", bà ta nói. "Chúng đang bực vì không được đi xem treo cổ đấy anh ạ. Tôi thì bận có đi được đâu, anh Tom còn chưa thấy về nữa." "Tại sao không được đi xem treo cổ?", thằng con trai gào lên. "Muốn xem treo cổ! Muốn xem treo cổ!", đứa con gái vừa đế theo vừa nhảy lò cò như cũ. Có mấy tên gián điệp, tội phạm chiến tranh người Eurasia sẽ bị treo cổ trong công viên, tối nay, Winston sực nhớ. Tháng nào cũng có cảnh đó, đông người xem lắm. Trẻ con bao giờ cũng hò hét đòi dẫn đi xem. Anh bước lại phía cửa, đi về. Nhưng mới đi được chừng sáu bước ngoài hành lang thì bỗng thấy có một vật gì đó đập mạnh vào gáy, đau nhói. Giống như bị một sợi dây nóng đỏ quất vào cổ vậy. Anh quay lại và trông thấy bà Parsons đang kéo thằng bé, còn nó thì cố nhét cái súng cao su vào túi. "Goldstein!", thằng bé gào lên, trước khi cánh cửa đóng hẳn. Nhưng điều làm Winston choáng váng hơn cả chính là ánh mắt thảng thốt, bất lực trên khuôn mặt xám ngoét của bà mẹ. Winston bước vào phòng, anh đi nhanh qua màn vô tuyến và lại ngồi cạnh cái bàn, tay vẫn xoa gáy như cũ. Màn vô tuyến không phát nhạc nữa. Thay vào đó là một giọng lính tráng đang đọc một cách ngắc ngứ, nhưng đầy vẻ tự mãn một cách hằn học về trang bị của một pháo đài nổi mới thả neo giữa Iceland và quần đảo Fareo. Tội nghiệp bà ta, anh nghĩ, con như thế thì phải sợ cả đời thôi. Chỉ một hai năm nữa là chúng sẽ theo dõi mẹ suốt ngày đêm, chỉ lỡ lời một tí là nguy to ngay.Trẻ con bây giờ đứa nào cũng thế cả, kinh khủng lắm. Điều tệ hại nhất chính là ở chỗ các tổ chức như kiểu Tình Báo đang biến trẻ con thành những đứa hung dữ không còn biết sợ là gì, hơn nữa, chúng sẽ không bao giờ có ý định chống lại kỉ luật Đảng. Ngược lại, chúng còn sùng kính Đảng và tất cả những gì liên quan đến Đảng nữa. Những bài hát, những cuộc tuần hành, những lá cờ, những buổi dã ngoại, những buổi tập quân sự có súng giả, việc hô khẩu hiệu, việc sùng bái Anh Cả, tất cả đều là trò chơi thú vị đối với chúng. Tính ác của chúng bị hướng ra bên ngoài, nhắm vào kẻ thù của Chế Độ, nhắm vào người ngoại quốc, vào những kẻ phản bội, phá hoại, tội phạm tư tưởng. Những ông bố, bà mẹ ngoài ba mươi tuổi sợ con đã là chuyện bình thường. Mà cũng phải thôi, ít có tuần nào mà tờ Times không có mục kể chuyện một đứa bé mách lẻo - "các tiểu anh hùng", người ta gọi chúng như vậy - đã nghe trộm được bố mẹ nói một câu không hay nào đó và báo cáo với Cảnh Sát Tư Tưởng. Cơn đau ở gáy đã giảm hẳn. Anh cầm bút lên, lưỡng lự, tự nhủ không biết còn có thể viết được gì nữa. Bất chợt anh lại nghĩ đến O'Brien. Mấy năm trước - không biết mấy năm rồi nhỉ? Phải đến bảy năm rồi, anh mơ thấy mình đang đi trong một gian phòng tối đen như mực. Có tiếng người nói khi anh đi ngang: "Chúng ta sẽ gặp nhau ở nơi không còn bóng tối nữa". Câu nói rất khẽ, như vô tình, không phải là mệnh lệnh, chỉ là một câu nói thôi. Anh vẫn bước tiếp. Có điều lạ là lúc đó, trong giấc mơ, câu đó không gây được ấn tượng nào. Chỉ sau này, câu nói càng ngày càng có ý nghĩa với anh hơn. Bây giờ anh không thể nhớ là anh mơ trước hay sau lần gặp đầu tiên với O'Brien và khi nào thì anh nhận ra giọng nói ấy là của anh ta. Nhưng anh đã nhận ra giọng nói. Chính O'Brien đã nói với anh trong đêm tối đó. Winston không biết, ngay cả sau khi đã trao nhau ánh mắt sáng nay, anh cũng không thể nào biết chắc được O'Brien là bạn hay là thù. Nhưng thực ra chuyện đó cũng không quan trọng lắm. Giữa họ đã có sự thông cảm, điều đó còn quan trọng hơn cả tình thương hay sự ủng hộ. "Chúng ta sẽ gặp nhau ở nơi không còn bóng tối nữa" - O'Brien nói. Winston không hiểu anh ta ám chỉ gì, nhưng cảm thấy rằng chuyện đó nhất định rồi sẽ tới. Màn vô tuyến bỗng ngưng nói trong vài giây. Tiếng kèn đồng rộn rã, vui tươi, thúc giục bỗng vang lên trong căn phòng ngột ngạt. Giọng khàn khàn lại tiếp tục: "Chú ý! Chú ý! Chúng tôi vừa nhận được bản tin nhanh từ mặt trận Malabar. Quân đội ta trên mặt trận Nam Ấn vừa giành được một chiến thắng hết sức quan trọng. Tôi được phép tuyên bố rằng kết quả chiến dịch này là điềm báo ngày kết thúc chiến tranh không còn bao xa nữa. Xin mời nghe bản tin nhanh". Hãy đợi đấy, Winston nghĩ. Quả nhiên thế, sau khi mô tả chiến dịch xoá sổ đội quân của Eurasia với số lượng người bị giết và bị bắt rất lớn là đến thông báo từ tuần sau sẽ giảm khẩu phần chocolate từ ba mươi gram xuống còn hai mươi. Winston lại ợ một lần nữa. Cảm giác phấn chấn do li rượu Gin tạo ra đã hết, chỉ còn nỗi chán chường. Màn vô tuyến, có thể là để mừng chiến thắng mà cũng có thể để người ta không còn chú ý đến chuyện giảm khẩu phần chocolate, phát bài: "Hát mừng Oceania". Phảiđứng nghiêm, mắt nhìn thẳng. Nhưng anh ngồi ở đây thì không lo, màn vô tuyến không nhìn thấy đâu. Ngoài phố gió vẫn giật tấm biểu ngữ rách lúc qua lúc lại, chữ CHUANH khi đọc được khi không. Chuanh. Những nguyên tắc thiêng liêng của Chuanh. Ngômo, nước đôi, quá khứ khả biến. Anh cảm thấy như đang đi trong một khu rừng dưới đáy đại dương, lạc giữa một thế giới quái dị và chính anh cũng là quái vật. Anh hoàn toàn đơn độc. Quá khứ đã chết, tương lai mờ mịt. Liệu có thể tin được rằng có một người đang sống thông cảm với anh không? Làm sao có thể biết được rằng sự thống trị của Đảng sẽ không kéo dài vĩnh viễn? Đáp lại là ba khẩu hiệu trên nền trắng của toà nhà Bộ Sự Thật đập thẳng vào mắt anh: CHIẾN TRANH LÀ HOÀ BÌNH TỰ DO LÀ NÔ LỆ NGU DỐT LÀ SỨC MẠNH Anh rút từ trong tuí ra đồng hai mươi lăm xu. Trên mặt đồng xu cũng có ba khẩu hiệu đó, nét chữ rõ và rất nhỏ; mặt bên kia là đầu Anh Cả. Từ mặt đồng xu đôi mắt ấy vẫn đang theo dõi. Nó theo dõi từ mặt đồng xu, từ con tem, từ bìa sách, từ các biểu ngữ, từ vỏ bao thuốc là - từ khắp mọi nơi. Đôi mắt dõi theo khắp nơi và giọng nói cũng bao trùm khắp chốn. Cả khi ngủ lẫn khi thức, cả lúc ăn lẫn lúc làm, cả trong nhà lẫn ngoài đường, cả trong phòng tắm lẫn trên giường ngủ - không chỗ nào thoát. Ngoài mấy phân khối bên trong hộp sọ ra thì không có gì là riêng tư hết. Mặt trời đã ngả, hàng ngàn cửa sổ Bộ Sự Thật không còn ánh sáng, trông đen ngòm như những lỗ châu mai. Tim anh thắt lại khi mỗi khi nhìn thấy cái kim tự tháp đồ sộ ấy. Vững chãi lắm, không thể tấn công vào được. Hàng ngàn quả rốc két bắn vào cũng không phá huỷ nổi. Anh lại tự hỏi đang ghi nhật kí cho ai. Cho tương lai, cho quá khứ, cho thời đại tưởng tượng. Không phải là cái chết mà sự huỷ diệt đang chờ anh ở phía trước. Cuốn nhật kí sẽ hoá ra tro, còn anh thì thành bụi. Cảnh Sát Tư Tưởng sẽ đọc những điều anh viết trước khi xoá sạch dấu vết của nó trên mặt đất và trong trí nhớ. Khi dấu vết không còn, khi ngay cả một từ nặc danh trên giấy cũng không còn thì làm sao có thể liên lạc được với tương lai? Màn vô tuyến báo mười bốn giờ. Mười phút nữa anh phải ra khỏi nhà. Anh phải có mặt ở cơ quan vào lúc mười bốn giờ rưỡi. Có điều lạ là dường như tiếng chuông đồng hồ đã tiếp thêm cho anh sức mạnh. Anh là một con ma cô đơn đang nói sự thật, sự thật không bao giờ có người nghe
1,156
4
. Nhưng anh nói nghĩa là sự liên tục vẫn còn, dù rất mù mờ. Không phải bằng cách làm cho người ta nghe được mình mà là bằng cách không hoá điên, tiếp tục giữ vững di sản của loài người. Anh trở lại bên bàn viết, chấm mực và ghi: Người nhận: Tương lai hay là quá khứ, thời đại của tự do tư tưởng, khi không ai giống ai, khi ai sống ở nhà nấy - thời đại khi sự thật vẫn còn và cái đã tồn tại không bị biến thành tro bụi: Người gửi: Thời của đồng phục, thời của cô đơn, thời của Anh Cả, thời của nước đôi - xin gửi lời chào! Mình đã chết rồi, anh nghĩ. Anh có cảm tưởng rằng khi giành lại được khả năng suy nghĩ chính là lúc anh đã có quyết định không thể đảo ngược được. Hậu quả của bất kì hành động nào cũng nằm ngay chính trong hành động đó. Anh viết: Tội tư tưởng không kéo theo án tử hình; tội tư tưởng CHÍNH LÀ án tử hình. Giờ đây, khi anh hiểu rằng mình đã chết thì điều quan trọng là phải sống càng lâu càng tốt. Hai ngón tay phải bị dây mực. Chỉ chút xíu đó cũng đủ hỏng việc rồi. Một kẻ cuồng tín nào đó trong Bộ (một người phụ nữ, có thể là người đàn bà tóc hung bé nhỏ, cũng có thể là cô gái tóc đen thuộc Ban Sáng Tác) có thể tự hỏi tại sao anh lại viết trong lúc nghỉ trưa, tại sao anh lại dùng loại bút cũ, anh đã viết cái gì - và sau đó thông báo đến địa chỉ cần thiết là xong. Anh vào phòng tắm và chà thật kĩ bằng cục xà phòng màu nâu, loại này ăn tay, xót như chà bằng giấy nhám, thế mà hết. Anh đặt cuốn nhật kí vào ngăn kéo. Dấu cũng vô ích thôi, nhưng ít ra anh cũng biết chắc rằng họ đã phát hiện được nó hay chưa. Sợi tóc đặt vào cuối trang thì lộ ngay. Anh lấy móng tay chấm một tí bụi và dính lên một góc bìa: hễ có người mở là bụi rơi xuống ngay. III. Winston mơ thấy mẹ. Theo như anh nhớ thì mẹ đã biến mất khi anh chừng mười hay mười một tuổi. Mẹ là một người cao, đẹp và trang nghiêm, ít nói, làm gì cũng chậm rãi, mái tóc sáng và dày. Anh không nhớ rõ bố lắm, chỉ nhớ ông có mái tóc đen, người gầy, luôn mặc bộ complet sang trọng màu đen (không hiểu sao anh nhớ rất rõ đế giày bố rất mỏng), đeo kính. Cả hai chắc đã bị làn sóng thanh trừng đầu tiên hồi những năm 50 nuốt chửng. Trong mơ mẹ ngồi bên dưới, sâu lắm, tay đang bế cô em gái. Anh hoàn toàn không nhớ gì về cô em cả, ngoại trừ hình ảnh đấy là một đứa nhỏ ốm yếu, đôi mắt to, lặng lẽ quan sát, không bao giờ khóc. Cả hai đang nhìn vào anh. Họ ngồi ở dưới lòng đất - trong lòng một cái giếng, mà cũng có thể dưới mồ sâu - và đang hạ xuống ngày một sâu hơn. Họ ngồi trong buồng một con tàu đang chìm và nhìn lên Winston qua làn nước màu đen. Trong buồng vẫn còn không khí, họ còn nhìn thấy anh và anh thấy họ, nhưng họ đang chìm dần vào làn nước xanh và chỉ chút nữa nữa là sẽ biến mất hoàn toàn. Anh ở ngoài không khí, ngoài ánh sáng còn họ thì đang bị hútvào chỗ chết, họ bị hút xuống vì anh đang ở trên này. Anh biết thế, họ cũng biết thế, nhìn mặt họ là thấy. Trên nét mặt hay trong tim họ không hề có lời oán trách nào, chỉ có nhận thức rằng họ phải chết để anh được sống vì qui luật là như thế. Winston không nhớ chuyện đó xảy ra như thế nào, nhưng trong mơ anh biết rằng mẹ và em đã hi sinh vì anh. Đấy là một trong những giấc mơ có thể nhớ được những cảnh huống chính và là sự tiếp nối những suy nghĩ lúc ban ngày; những sự kiện và ý tưởng ta thấy trong đó càng trở nên mới mẻ và có ý nghĩa hơn sau khi đã tỉnh. Winston bỗng nhận ra rằng cái chết của mẹ gần ba mươi năm trước là một bi kịch và sự đau khổ mà người thời nay không thể nào hiểu được nữa. Bi kịch, như anh thấy, là tài sản của thời xa xưa, thời còn sự riêng tư, thời còn tình yêu, tình bạn, thời mà các thành viên trong một gia đình còn bảo vệ nhau mà không cần lí lẽ. Hình ảnh mẹ vò xé trái tim anh vì bà yêu anh mà anh thì quá nhỏ và ích kỉ chưa biết đáp lại tình yêu ấy, và cũng vì, anh không biết tại sao, bà đã hi sinh thân mình cho quan điểm trung thành không lay chuyển, của riêng bà. Hiện tại, theo anh những thứ tình cảm như thế không còn nữa. Hiện tại chỉ còn nỗi sợ hãi, lòng thù hận và khổ đau, nhưng không còn tình cảm cao thượng, không còn nỗi buồn sâu sắc hay phức tạp nữa. Dường như anh đã đọc được tất cả những điều đó trong ánh mắt mẹ và em, những ánh mắt đang nhìn anh qua làn nước trong xanh, từ độ sâu hàng trăm mét, lại đang chìm dần. Bất ngờ anh thấy mình đang đứng trên một thảm cỏ cắt ngắn, trong một buổi chiều mùa hè, ánh mặt trời chiếu xiên khoai. Anh thường mơ thấy chỗ này nên không thể biết chắc đã thật sự nhìn thấy nó bao giờ hay chưa. Khi thức anh gọi chỗ đó là Địa Hoàng. Đấy là một bãi cỏ cằn cỗi, bị thỏ gặm nham nhở, có một con đường mòn nhỏ chạy vắt ngang, hang chuột đùn lên khắp nơi. Phía cuối bãi cỏ là hàng du đung đưa, tán lá dầy phấp phới như tóc đàn bà bay trước gió. Ở đâu đó rất gần, tuy không trông thấy, là tiếng nước róc rách, nơi những con cá nhỏ đang bơi dưới bóng liễu thướt tha. Cô gái tóc đen đang đi ngang qua cánh đồng. Có vẻ như chỉ bằng một động tác cô ta đã giật hết quần áo ra khỏi người và ném xuống đất một cách khinh bỉ. Da cô ta trắng và nhẵn, nhưng không khêu gợi được bất kì ham muốn nhục dục nào, thậm chí anh không nhìn cô ta nữa. Cái làm anh thán phục chính là động tác vất bỏ quần áo của cô ta. Hành động đầy duyên dáng và bất cần đời đó có vẻ như đã giết chết toàn bộ nền văn hoá này, toàn bộ hệ tư tưởng này, cứ như thể Anh Cả, Đảng và Cảnh Sát Tư Tưởng, tất cả đều có thể bị quét sạch bằng một cú vung tay điệu nghệ. Đấy là cử chỉ của thời quá khứ xa xôi. Winston thức giấc, môi vẫn mấp máy từ "Shakespeare". Màn vô tuyến phát một tiếng huýt gió chói tai, kéo dài đúng ba mươi giây. Đấy là tiếng cói báo thức vào lúc 7 giờ 15 phút, giành cho viên chức nhà nước. Winston chui ra khỏi giường, trên người không mảnh vải vì thành viên Đảng Ngoại Vi chỉ được phát tem phiếu giá ba ngàn để mua quần áo, trong khi giá một bộ pijama đã là sáu trăm rồi, anh rút vội chiếc áo trấn thủ và cái quần đùi treo trên lưng ghế. Ba phút nữa sẽ đến giờ thể dục buổi sáng. Ngay lập tức anh phải gập đôi người lại vì ho, sau khi thức dậy bao giờ anh cũng bị ho như thế. Cơn ho làm anh mệt đến nỗi anh phải nằm ngửa ra và thở sâu mấy lần mới hồi phục được. Các mạch máu căng lên vì ho, còn vết loét do giãn tĩnh mạch thì bắt đầu ngứa. "Nhóm từ ba mươi đến bốn mươi!", một giọng đàn bà the thé cất lên. "Nhóm từ ba mươi đến bốn mươi! Đứng vào chỗ! Ba mươi đến bốn mươi!" Winston đứng nghiêm trước màn vô tuyến: một người phụ nữ còn khá trẻ, gày nhưng rắn chắc, váy ngắn, giày thể thao đã hiện rõ trên màn hình. "Cong hai tay lại và đưa ra!", cô ta hô. "Chúng ta cùng đếm nào. Một, hai, ba, bốn! Một, hai, ba, bốn! Tiếp tục, các đồng chí, mạnh mẽ lên! Một, hai, ba, bốn! Một, hai, ba, bốn!" Cơn đau do trận ho vừa rồi gây ra chưa xoá hết ấn tượng của giấc mơ, nhịp điệu thể dục dường như lại làm nó hồi sinh. Vừa đưa tay ra đưa tay vô một cách tự động với bộ mặt thoả mãn cau có, theo đúng yêu cầu của một buổi tập, Winston vừa cố gắng quay lại với kí ức mù mờ của ngày thơ ấu. Khó quá. Anh đã quên hết những chuyện xảy ra hồi những năm năm mươi rồi. Khi không còn một bằng chứng bên ngoài nào để ta có thể dựa vào thì ngay những nét chính của cuộc đời mình cũng
1,157
4
thành ra mờ nhạt hết. Ta có thể nhớ được các sự kiện lớn, nhưng có thể sự kiện đó chưa từng xảy ra; ta có thể nhớ rõ chi tiết một biến cố, nhưng không thể cảm nhận được không khí của nó; và có những khoảng trống dài, không được đánh dấu bằng bất kì sự kiện nào. Lúc đó mọi thứ đều khác bây giờ. Ngay tên các nước cũng như đường biên giới trên bản đồ cũng khác bây giờ. Thí dụ, Đường Bay I lúc đó gọi là England hay Britain, nhưng London – Winston nhớ rõ – thì vẫn gọi là London. Winston không nhớ rõ những giai đọan ngừng chiến, nhưng chắc chắn là khi còn nhỏ anh đã được sống trong một thời hòa bình khá dài, bằng chứng là vụ oanh kích đầu tiên đã làm mọi người rất ngạc nhiên. Có thể đấy là lần Colchester bị bỏ bom nguyên tử. Anh không nhớ rõ vụoanh kích, chỉ nhớ là cha nắm chặt tay anh khi họ chạy xuống, xuống, xuống mãi dưới lòng đất, hết vòng nọ đến vòng kia theo một cái thang hình xoắn ốc, rung rinh dưới chân, cuối cùng mỏi quá, anh thút thít khóc và hai bố con phải ngồi xuống nghỉ. Mẹ, vẫn như mọi khi, mơ mộng và chậm rãi, đi sau khá xa hai bố con. Mẹ bế cô em gái, mà cũng có thể mẹ chỉ ôm đống chăn thôi: Winston không nhớ lúc đó đã có em hay chưa. Cuối cùng họ đến một chỗ đông người, ồn ào – anh nghĩ là ga tầu điện ngầm. Một số người ngồi trên nền lát đá, số khác chen chúc trên những cái giường sắt xếp thành tầng. Winston ngồi cùng với bố mẹ trên nền, cạnh đấy là hai ông bà già ngồi sát nhau trên một cái giường sắt. Ông cụ mặc bộ complet đen trang nhã, cái mũ cũng màu đen lệch hẳn ra phía sau, tóc bạc trắng, khuôn mặt ửng hồng, đôi mắt màu xanh đầy nước. Người ông sặc mùi rượu Gin. Có vẻ như cơ thể ông đang bốc ra mùi rượu chứ không phải mùi mồ hôi, người ta có thể nghĩ rằng những giọt nước mắt kia cũng là những giọt Gin chính hiệu nữa. Ông già say, nhưng toàn bộ con người ông toát ra một nỗi buồn chân thành và quá sức chịu đựng. Bằng trí óc non nớt của mình anh đã đoán được là đã xảy ra một sự kiện khủng khiếp, không thể tha thứ, không thể sửa chữa được. Anh còn biết sự kiện đó nữa. Một người thân của ông già, có thể là một cô cháu gái, đã bị giết. Ông cứ nhắc đi nhắc lại: "Không được tin bọn chúng. Tôi đã nói thế, đúng không bà? Tin chúng thì được thế đấy. Tôi vẫn nói vậy mà. Không được tin bọn khốn kiếp đó." Nhưng bọn khốn kiếp không nên tin là ai thì Winston không nhớ. Chiến sự diễn ra liên tiếp từ đó, nhưng nói cho ngay thì đấy không phải là một cuộc chiến kéo dài liên tục từ bấy đến nay. Những cuộc hỗn chiến ngay trên đường phố London kéo dài mấy tháng liền, đấy là khi anh còn nhỏ, có những cảnh anh còn nhớ rất rõ. Nhưng theo dõi tiến trình lịch sử những năm đó, xác định xem ai đánh nhau với ai và vào lúc nào thì hoàn toàn không thể được vì không thể tìm được một tài liệu nào, một lời nào về việc phân bố lực lượng khác với phân bố hiện nay. Thí dụ hiện nay, năm 1984 (nếu đúng là năm 1984), Oceania đang giao tranh với Eurasia và liên minh với Eastasia. Không ai bày tỏ một cách công khai hay kín đáo rằng trước đây ba nước này đã từng có quan hệ với nhau khác hẳn bây giờ. Nhưng Winston biết rõ rằng Oceania mới đánh nhau với Eurasia và liên minh với Eastasia được bốn năm. Anh có được một chút kiến thức vụng trộm đó là vì người ta chưa quản lí được hoàn toàn trí não của anh đấy thôi. Chính thức thì bạn và thù chưa bao giờ thay đổi. Oceania đang giao tranh với Eurasia có nghĩa là Oceania luôn luôn giao tranh với Eurasia. Kẻ thù hiện nay là hiện thân của quỉ sứ, chưa từng có chuyện thỏa hiệp với chúng trong quá khứ càng không thể có chuyện thoả hiệp trong tương lai. Kinh khủng nhất, anh nghĩ trong khi vặn người (tay chống nạnh, người vặn sang một bên – như thế rất tốt cho cơ lưng), ý nghĩ này đã lặp lại không biết đến lần thứ mấy ngàn, mấy vạn rồi, kinh khủng nhất chính là điều đó có thể là sự thật. Nếu Đảng có thể thò tay vào quá khứ và bảo rằng sự kiện này hay sự kiện kia chưa hề xảy ra, thì điều đó còn khủng khiếp hơn cả tra tấn, hơn cả cái chết. Đảng nói rằng Oceania chưa bao giờ liên minh với Eurasia. Nhưng anh, Winston Smith, biết rõ rằng mới bốn năm trước đây Oceania từng là đồng minh của Eurasia. Kiến thức ấy được lưu trữ ở đâu? Không ở đâu hết, chỉ có trong đầu anh mà thôi, nhưng anh thì sắp bị tiêu diệt rồi. Nếu tất cả mọi người đều chấp nhận sự giả dối do Đảng áp đặt, nếu tất cả tài liệu đều chép giống nhau như thế thì sự giả dối này sẽ đi vào lịch sử, sẽ trở thành sự thật. "Ai làm chủ quá khứ, người đó sẽ làm chủ tương lai; ai làm chủ hiện tại, người đó sẽ làm chủ quá khứ" - khẩu hiệu của Đảng viết như thế. Quá khứ có thể biến cải, nhưng không ai biến cải được. Điều gì đúng cho hôm nay cũng đúng đối với quá khứ vô cùng và sẽ đúng cho tương lai vô tận. Đơn giản là như thế. Bắt buộc phải thường xuyên khuất phục trí tuệ của chính mình. Đấy là "làm chủ hiện thực" hay gọi bằng Ngômo là "nướcđôi". "Nghỉ!", hướng dẫn viên hô, giọng đã hơi dịu lại. Winston vừa hạ tay xuống vừa hít vào một hơi thật dài. Tâm trí anh đã lạc vào mê cung của sự bất nhất. Biết mà làm như không biết; hiểu rõ sự thật nhưng lại nói những điều dối trá tinh vi; giữ cùng một lúc hai quan điểm đối lập, dù biết rõ rằng cái nọ phủ nhận cái kia mà vẫn tin tưởng cả hai; dùng logic giết logic; vi phạm đạo đức trong khi hô hào đề cao đức dục; cho rằng không thể có dân chủ nhưng Đảng lại là người bảo vệ dân chủ; quên những việc phải quên nhưng sẽ nhớ khi cần, rồi lại có thể quên ngay và quan trọng nhất là phải áp dụng quá trình này vào chính tiến trình tư duy. Đấy chính là sự tinh tế tối hậu: cố tình quên và sau đó quên ngay hành động thôi miên vừa mới làm. Ngay cả muốn hiểu từ "nước đôi" cũng phải sử dụng nước đôi. "Bây giờ xem ai có thể với tay tới mũi ngón chân!", hướng dẫn viên khích lệ. "Các đồng chí, gập người ngang thắt lưng. Một-hai! Một-hai!..." Winston ghét động tác này nhất: đau từ gót chân lên tận mông và thường kết thúc bằng một cơn ho. Mấy ý nghĩ vui vui đã biến sạch khỏi đầu. Quá khứ không chỉ bị cải biến, nó đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Làm sao có thểxác định ngay cả một sự kiện hiển nhiên nếu ngoài trí nhớ cá nhân ra, nó không được ghi chép ở đâu cả? Mình được nghe nói đến Anh Cả lần đầu tiên khi nào nhỉ? –anh tự hỏi thế. Hình như từ những năm 60, nhưng bây giờ làm sao nhớ nổi. Lịch sử Đảng, dĩ nhiên, viết rằng Anh Cả đã là lãnh tụ ngay từ những ngày cách mạng còn trong trứng nước. Chiến công của đồng chí ấy được đẩy lùi dần mãi về thế giới huyền thọai của những năm ba mươi và bốn mươi, khi những tên tư sản đội những chiếc mũ phớt trông rất kì dị vẫn còn nghênh ngang trên những chiếc ô tô láng coóng hay những chiếc xe ngựa bọc kính tứ phía. Không thể nào biết được đâu là thật đâu là bịa nữa. Winston không nhớ Đảng ra đời vào lúc nào. Anh cũng không tin là anh đã từng nghe từ Chuanh trước năm 1960, nhưng cũng có thể theo Ngôn ngữ cũ thì từ "chủ nghĩa xã hội Anh" đã được sử dụng từ trước rồi. Mọi chuyện quả là rất mù mờ. Nhưng đôi khi có thể phát hiện được những sự dối trá trắng trợn. Thí dụ lời khẳng định trong cuốn Lịch sử Đảng rằng Đảng phát minh ra máy bay là hoàn toàn sai. Anh nhớ rằng máy bay đã có từ thời anh còn bé tí. Nhưng chứng minh thì chịu. Không thể tìm được bất kì chứng cớ nào. Chỉ một lần duy nhất anh nắm được một tài liệu chứng minh tính chất giả dối của một sự kiện lịch sử. Nhưng lần đó… "Smith", có tiếng thét. "Số 6079, Smith W. Đúng, anh đấy! Cúi thấp nữa xuống!
1,158
4
Anh có thể làm được mà. Anh chưa cố hết sức. Thấp nữa! Thế tốt, đồng chí! Bây giờ, tất cả nghỉ, nhìn tôi đây." Mồ hôi đổ ướt đẫm khắp người Winston. Nhưng nét mặt thì vẫn thế, không một chút xúc động nào. Không được tỏ ra sợ hãi! Không được tỏ ra bực bội! Chỉ cần một cái chớp mắt là họ phát hiện ra ngay. Anh đứng lặng, quan sát hướng dẫn viên đưa tay lên quá đầu - không thể nói là duyên dáng, nhưng khéo léo và dứt khoát - và gập người, đưa tay chạm đất. "Làm thế đấy! Tôi muốn các đồng chí cũng làm được đúng như thế. Xem lại lần nữa này. Tôi đã ba mươi chín tuổi, bốn lần sinh nở rồi đấy. Nhìn này.", cô ta gập người lần nữa. "Các vị xem đầu gối tôi có chùng đâu." Vừa nói cô ta vừa đứng thẳng lên. "Tất cả những người dưới bốn lăm đều có thể đưa ngón tay chạm đất được. Không phải tất cả chúng ta đều được vinh dự chiến đấu ngoài mặt trận nhưng ít nhất chúng ta cũng phải giữ cho thân hình cân đối. Hãy nghĩ đến các chiến sĩ của chúng ta trên mặt trận Malabar! Và các thuỷ thủ trên các Pháo Đài Nổi nữa! Biết bao nhiêu khó khăn gian khổ ấy chứ. Bây giờ hãy thử lần nữa. Tốt, đồng chí, tốt lắm!" Cô ta động viên Winston trong khi anh cố gập về phía trước, gối giữ thẳng và lần đầu tiên chạm được ngón tay xuống đất. IV. Winston thường có thói quen thở dài một cách vô ý thức, dù đang đứng ngay gần màn vô tuyến, mỗi khi bắt đầu một ngày làm việc mới, rồi anh kéo cái máy ghi lại gần, thổi đám bụi bám trên micro và lấy kính ra đeo. Sau đó anh giở bốn cuộn giấy nhỏ vừa lăn từ một cái ống điều kiển bằng khí nén, nằm ở bên phải bàn làm việc, ra và ghim lại với nhau. Trên tường trong ngăn có ba cái lỗ. Ở bên phải máy ghi là ống khí nén nhỏ dùng để chuyển những tờ giấy giao nhiệm vụ và một lỗ to hơn để chuyển báo chí, còn trên bức tường bên cạnh, có thể với tay tới là một cái khe hình chữ nhật, dài, chắn lưới thép. Cái này dùng để hủy giấy. Trong tòa nhà của Bộ có hàng ngàn, có thể là hàng chục ngàn cái khe như vậy; ngăn nào cũng có đã đành, mà ngoài hành lang cứ vài bước lại có một cái. Không hiểu tại sao người ta lại gọi đấy là hang nhớ. Khi thấy một tài liệu nào đó cần phải hủy, hay khi trông thấy một mảnh giấy rơi bên cạnh thì người ta phải tự động nhặt lên, rồi thả vào cái khe gần nhất, nó sẽ bị dòng khí nóng cuộn đến những chiếc lò đốt khổng lồ nằm bí mật trong tòa nhà. Winston đọc bốn mảnh giấy mà anh vừa giở ra. Mỗi mảnh ghi một nhiệm vụ chỉ một đến hai dòng bằng tiếng lóng viết tắt – không phải Ngômo nhưng đa phần là Ngômo - thứ tiếng lóng dùng trong nội bộ. Nhiệm vụ như sau: times 17.3.84 A.C. nói tường thuật sai châu Phi chính xác hóa. times 19.12.83 kế họach quí IV 83 in sai kiểm tra hiện nay times 14.2.84 bôno trích sai chính xác hóa times 3.12.83 tường thuật nhật lệnh A.C. sai đôi nói đến không ai viết lại Winston để tờ nhiệm vụ thứ tư sang một bên. Đây là nhiệm vụ phức tạp và quan trọng, tốt nhất là làm sau cùng. Ba cái còn lại là những nhiệm vụ thường nhật, tuy cái thứ hai có thể tốn nhiều thì giờ tìm kiếm số liệu. Winston bấm trên màn vô tuyến các "số cũ" để tìm các số báo Times cần thiết và chỉ mấy phút sau ống khí nén đã chuyển đến các số báo anh cần. Nhiệm vụ của anh liên quan đến các bài báo hoặc tin tức đã đăng mà vì lí do nào đó phải sửa lại, hay nói theo ngôn ngữ chính thức là chính xác hóa. Thí dụ tờ Times ngày 17 tháng 3 tường thuật bài nói chuyện của Anh Cả ngày hôm trước, trong đó Anh tiên đoán rằng mặt trận Nam Ấn sẽ yên tĩnh, quân Eurasia sẽ tấn công trên lục địa Bắc Phi. Nhưng hóa ra Bộ Chỉ Huy Tối Cao Eurasia đã mở mặt trận ở Nam Ấn, trong khi ở Bắc Phi không hề có động tĩnh gì. Như vậy là phải viết lại một đoạn trong bài nói chuyện của Anh Cả sao cho tiên đoán của Anh phù hợp với thực tế chiến trường. Hay số ra ngày 19 tháng 12 năm 83 công bố dự báo kế hoạch sản xuất các mặt hàng tiêudùng trong quí tư năm 83 hay quí thứ sáu của Kế Họach Ba Năm Lần Thứ Chín. Số báo ra ngày hôm nay đăng các số liệu sản xuất thực tế cho thấy dự báo là hoàn toàn sai. Winston có trách nhiệm sửa lại các số liệu ban đầu sao cho trùng khớp với số đăng hôm nay. Nhiệm vụ thứ ba cực kì đơn giản, có thể hoàn thành ngay trong một phút. Số là tháng hai vừa qua Bôno hứa (theo ngôn ngữ chính thức là long trọng cam kết) sẽ không giảm khẩu phần chocolate trong năm 1984. Nhưng thực ra, như anh đã biết, khẩu phần sẽ giảm từ ba mươi gram xuống còn hai mươi ngay cuối tuần này. Anh chỉ việc thay lời hứa ban đầu bằng thông báo rằng khẩu phần chocolate có thể bị giảm vào tháng tư là xong. Sau khi làm xong, Winston sẽ đính những tờ sửa chữa do máy ghi lại vào số báo Times phù hợp rồi đưa vào ống khí nén. Sau đó, bằng một động tác vô thức, anh vò tờ ghi nhiệm vụ cũng như tất cả những ghi chép có liên quan và vất vào hang nhớ, ngọn lửa sẽ làm phần việc còn lại. Anh không biết cụ thể công việc trong cái mê cung đằng sau những đường ống khí nén này, anh chỉ biết một cách đại khái thôi. Sau khi những hiệu chỉnh, sửa chữa cho một số báo Times nào đó đã được thu thập đủ và kiểm tra kĩ thì số báo đó sẽ được in lại, số cũ bị hủy, tờ mới in được đưa vào lưu trữ thay cho tờ cũ. Không chỉ báo mà cả sách, tạp chí, khẩu hiệu, truyền đơn, phim ảnh, đĩa ghi âm, tranh vui; tất cả các lọai hình văn học nghệ thuật và tài liệu có giá trị về chính trị hay tư tưởng đều phải cải biến như thế cả. Từng ngày, gần như từng phút, quá khứ được điều chỉnh cho phú hợp với hiện tại. Như vậy có thể chứng minh tất cả các dự đoán của Đảng đều đúng bằng giấy trắng mực đen hẳn họi; không được để lại bất kì mẩu tin hay ý kiến nào mâu thuẫn với nhu cầu của hiện tại. Lịch sử giống như được viết trên một tấm da, có thể cạo đi và viết lại bao nhiêu lần cũng được. Sau đó có tài thánh cũng không chứng minh được đấy là tài liệu giả. Trong phòng đông nhất của Ban Tài Liệu, lớn hơn phòng của Winston nhiều, có vô số người làm việc, họ chỉ có mỗi nhiệm vụ là tìm và thu thập tất cả các cuốn sách, các tờ báo và các tài liệu đã được thay thế, cần phải hủy. Nhiều số Times, do thay đổi liên kết về chính trị hay do đã đăng những tiên đoán sai lầm của Anh Cả mà phải in đi in lại, có thể cả chục lần, vẫn ghi ngày tháng cũ, được xếp trong kho lưu trữ, không có một bản phủ nhận nào tồn tại trên đời. Sách cũng được viết đi viết lại như thế mà không hề có dòng ghi chú nào về việc sửa chữa cả. Ngay cả trên những tờ hướng dẫn nhiệm vụ mà Winston nhận được mỗi ngày, anh phải hủy ngay sau khi hoàn thành công việc, cũng không có câu nào nói đến hay ngụ ý việc giả mạo: chỉ là trích dẫn sai, nhầm lẫn, in nhầm, nói nhầm cần phải sửa lại cho chính xác mà thôi. Nhưng thực ra, anh vừa sửa các số liệu của Bộ Ấm No vừa nghĩ, đây cũng không phải là giả mạo. Đơn giản chỉ là thay một tài liệu nhảm nhí này bằng một tài liệu nhảm nhí khác mà thôi. Đa số tài liệu mà người ta phải xử lí chẳng có một tí quan hệ nào với thế giới hiện thực, ngay cả quan hệ với cái thế giới giả dối này cũng không nốt. Số liệu lúc đầu cũng như số liệu đã hiệu chỉnh đều là sản phẩm của trí tưởng tượng. Thường là phải tự nghĩ ra. Thí dụ Bộ Ấm No dự kiến trong quí tư sẽ sản xuất 145 triệu đôi giày. Bây giờ người ta thông báo là đã sản xuất được 62 triệu đôi. Nhưng Winston, khi hiệu chỉnh kế hoạch, lại viết 57 triệu để có thể tuyên bố, như mọi khi, là đã hoàn thành vượt mức kế hoạch. Nhưng thực ra 62 triệu hay 57 triệu hay 145 triệu thì cũng thế mà thôi, số nào cũng gần sự thật và có thể cũng cách xa sự
1,159
4
thật như nhau. Rất có thể là chẳng sản xuất được một đôi nào. Cũng có khả năng là chẳng ai biết đã sản xuất được bao nhiêu đôi và chủ yếu là chẳng ai cần biết làm gì. Tất cả những điều người ta biết là: quí nào cũng sản xuất được hằng hà sa số giày, nhưng có thể một nửa dân số Oceania vẫn phải đi chân đất. Mọi tài liệu, từ lớn chí bé, đều như thế hết. Trong cái thế giới huyễn hoặc này tất cả mọi thứ đều trở nên mờ ảo và cuối cùng đến ngay ngày tháng cũng không làm sao xác định được nữa. Winston nhìn sang ngăn bên kia hành lang. Một người đàn ông dáng nhỏ bé, nghiêm cẩn, cằm lún phún râu tên là Tillotson đang chăm chú vào công việc, tờ báo mở rộng đặt trên đầu gối, miệng gí sát vào máy ghi. Anh ta làm ra vẻ bí mật, những lời anh ta nói không thể lọt ra ngoài, chỉ một mình cái máy ghi nghe được mà thôi. Anh ta bỗng ngẩng đầu lên, đôi kính loé lên môt luồng ánh sáng thù địch hướng thẳng vào Winston. Winston gần như không quen Tilloton và cũng không biết anh ta làm gì. Người của Phòng Tài Liệu thường không thích nói về công việc của mình. Đấy là một phòng dài, không cửa sổ, trong đó có hai dãy buồng ngăn nhỏ luôn luôn có tiếng lật giấy sột soạt, tiếng thì thầm đọc vào máy ghi là khoảng một tá nhân viên mà Winston vẫn trông thấy đi qua đi lại trong hành lang và vung tay múa chân trong Hai Phút Hận Thù nhưng không biết tên. Anh biết trong ngăn bên cạnh có người phụ nữ nhỏ nhắn, tóc hung, suốt ngày này sang ngày khác bà ta chỉ có một nhiệm vụ là tìm và xóa tên những người đã bị bốc hơi nghĩa là những người được coi là chưa từng cómặt trên cõi đời này. Về một khía cạnh nào đó thì công việc này phù hợp với bà ta vì chính chồng bà cũng bị bốc hơi khoảng hai năm về trước. Cách chỗ anh mấy ngăn là một người hoà nhã, bất lực, mơ mộng, tên là Ampleforth có tài là viết những bài ngắn, có vần điệu chuyên làm những bài vè xuyên tạc, được gọi là thơ, những bài hơi có vấn đề về mặt tư tưởng nhưng không thể loại khỏi các tuyển tập văn học. Nhưng cái phòng này với khoảng năm mươi hay gần năm mươi nhân viên cũng mới chỉ là một tiểu ban, một tế bào trong cái cơ thể phức tạp là Phòng tài Liệu mà thôi. Đằng kia, bên trên, bên dưới là rất nhiều người đang tham gia giải quyết hàng núi công việc. Có những xưởng in lớn với các biên tập viên riêng, chuyên gia in ấn riêng và cả những phòng trang bị tối tân để làm tranh ảnh giả. Có cả phòng chương trình vô tuyến với các kĩ sư, đạo diễn và các nhóm diễn viên chuyên giả giọng người khác nữa. Có một đội quân đông đảo các thư kí có nhiệm vụ liệt kê các cuốn sách và các ấn phẩm định kì cần kiểm tra. Ngoài ra còn có những kho cực kì lớn lưu trữ các tài liệu đã được sửa chữa và những lò đốt bí mật chuyên thiêu hủy các văn bản gốc nữa. Và ở đâu đó, không ai biết ở đâu, là bộ óc, là cơ quan lãnh đạo chuyên soạn thảo đường lối nói rằng phần này của quá khứ phải được giữ, phần này phải làm giả, phần này thì xoá sổ hoàn toàn. Thế mà Ban Tài Liệu cũng chỉ là một nhánh của Bộ Sự Thật thôi, nhiệm vụ chủ yếu của Bộ không phải là tái tạo quá khứ mà là cung cấp cho các công dân Oceania sách báo, phim ảnh, sách giáo khoa, chương trình truyền hình, kịch nghệ, tiểu thuyết nghĩa là tất cả các loại thông tin, hướng dẫn hoặc giải trí, từ một bức tượng cho đến khẩu hiệu chính trị, từ một bài thơ cho đến luận thuyết sinh học, từ cuốn sách dạy đánh vần cho đến cuốn từ điển Ngômo. Bộ không chỉ có nhiệm vụ thoả mãn các nhu cầu rất đa dạng của Đảng mà còn làm ra các sản phẩm tương tự, tất nhiên là loại hai, cho nhu cầu của bọn cu li nữa. Có một loạt phòng ban chuyên về văn chương, nhạc, kịch và các trò giải trí khác cho bọn cu li. Các phòng ban này in những tờ báo nhảm nhí chuyên về thể thao, tội phạm, thuật chiêm tinh, tiểu thuyết tình cảm lãng mãn giá năm xu, sản xuất các phim đầy cảnh làm tình, những bài hát uỷ mị được những máy gọi là máy chế thơ viết. Có cả một tiểu ban gọi theo Ngômo là Phimheo chuyên sản xuất các loại phim ảnh khiêu dâm hạ đẳng, các phim này được đóng gói kĩ rồi mới chuyển ra ngoài, các đảng viên bên ngoài các phòng chuyên trách bị cấm tuyệt đối không được xem những phim kiểu đó. Trong khi Winston làm thì lại có thêm ba tờ giấy ghi nhiệm vụ nữa được ống khí nén mang tới, nhưng đây là những việc dễ nên anh đã hoàn thành xong trước khi tham gia Hai Phút Hận Thù. Sau đó anh quay lại ngăn và lấy cuốn từ điển Ngômo từ trên giá sách xuống, anh đặt cái máy ghi sang một bên, đem kính ra lau và bắt đầu giải quyết nhiệm vụ chính của ngày hôm đó. Thú vui lớn nhất trong đời Winston chính là công việc. Đa phần công việc dĩ nhiên là những chuyện thường nhật chán ngắt, nhưng đôi khi cũng có những việc khó và phức tạp phải dành toàn tâm toàn ý thì mới làm được, giống như giải một bài toán khó vậy, đấy là những vụ giả mạo mà muốn thực hiện thì phải nắm vững các nguyên tắc của Chuanh cũng như phải đánh giá đúng thái độ của Đảng về vấn đề đó nữa, nói nôm na là Đảng thích nghe gì. Ba cái vụ này thì Winston khá rành. Đôi khi anh còn được giao nhiệm vụ chữa cả những bai xã luận viết hoàn toàn bằng Ngômo trên tờ Times nữa cơ. Anh mở tờ giấy giao nhiệm vụ mà lúc sáng anh đã xếp sang bên cạnh: times 3.12.83 tường thuật nhật lệnh A.C. sai đôi nói đến không ai viết lại Theo ngôn ngữ cũ (tiếng Anh chuẩn) thì nội dung đại khái như sau: Times, Số ra ngày 3 tháng 12 năm 1983 đã tường thuật sai nghiêm trọng nhật lệnh của Anh Cả, trong đó có nhắc tới những người không hề tồn tại. Viết lại toàn bộ rồi trình cho cấp trên trước khi đưa vào lưu trữ. Winston đọc lại bài báo sai lầm. Toàn bộ nhật lệnh của Anh Cả ngày hôm đó là để ca ngợi một tổ chức gọi là FFCC chuyên cung cấp thuốc lá và các vật dụng khác cho thuỷ thủ trên các Pháo Đài Nổi. Bản nhật lệnh đặc biệt khen ngợi một đồng chí tên là Wither, nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Nội Bộ, dịp này đồng chí được tặng Huân Chương Chiến Công hạng II. Ba tháng sau FFCC bị giải tán một cách bất thình lình, không thấy một lí do nào được đưa ra cả. Wither và các cộng sự bị thất sủng mặc dù báo chí hay màn vô tuyến không đả động gì đến chuyện này. Cũng là việc bình thường vì những nhà hoạt động chính trị thất sủng thường ít khi bị đưa ra toà hay lên án công khai. Các cuộc thanh trừng hàng loạt, đụng chạm đến hàng ngàn người, các phiên toà xét xử công khai những tên phản bội và tội phạm tư tưởng với những lời thú tội đáng khinh và sau đó bị đem đi hành quyết là những vụ mẫu, vài năm mới có một lần. Những người không được lòng Đảng thường là biến mất một cách bí hiểm, không còn có ai nghe nói đến họ nữa. Không ai biết chuyện gì đã xảy ra với họ. Có thể một số người vẫn còn sống. Chừng ba mươi người quen của Winston, chưa kể bố mẹ anh, đã biến mất như thế trong những khoảng thời gian khác nhau. Winston lấy cái kẹp giấy gãi mũi. Phía bên kia, đồng chí Tillotson vẫn tiếp tục bí mật đọc vào micro của cáimáy ghi. Anh ta ngẩng đầu lên: đôi mắt kính lại phát ra một luồng ánh sáng thù địch. Winston tự hỏi không biết đồng chí Tillotson có làm cùng công việc như mình không. Hoàn toàn có thể như thế. Không bao giờ người ta giao công việc tế nhị cỡ này cho một người duy nhất, nhưng mặt khác, nếu giao cho một ủy ban thì lại có nghĩa là công nhận có sự giả mạo. Rất có khả năng là có đến cả chục người đang đua nhau chấp bút cho bài diễn văn giả định của Anh Cả. Sau đó một cán bộ lãnh đạo trong Đảng Nội Bộ sẽ chọn phương án thích hợp, sẽ hiệu đính lại rồi đưa cho rất nhiều người khác tham khảo, cuối cùng điều bịa đặt đó sẽ được chuyển vào kho lư trữ và trở thành sự thật. Winston không biết vì sao Wither bị thất sủng. Có thể là do tham nhũng, cũng có thể là do thiếu hiệu năng. Cũng có thể là Anh Cả thấy cần phải loại bỏ một cộng sự đã trở nên quá nổi tiếng. Cũng có thể là Wither hay một người
1,160
4
ái gây cho người ta cảm giác rờn rợn chính là không thể nghe rõ được một từ nào trong mớ âm thanh đang tuôn ra liên hồi kì trận từ cái miệng rộng của người đàn ông nọ. Chỉ có một lần Winston nghe thấy câu: "Tiêu diệt hết và hoàn toàn phái Goldstein", câu nói bắn ra nhanh gọn, như một hàng chữ bật ra từ máy in. Còn nói chung thì giống như một tiếng ồn liên tục, như tiếng đàn vịt kêu: cạc-cạc-cạc bất tận. Vàtuy không nghe rõ người ta vẫn có thể đoán được nội dung câu chuyện của người đàn ông. Dù là ông ta có lên án Goldstein, dù là ông ta có đòi phải áp dụng các biện pháp cứng rắn chống lại bọn tội phạm tư tưởng và bọn phá hoại, dù ông ta có tỏ ý bất bình với những hành động dã man của quân Eurasia; dù ông ta có ca ngợi Anh Cả hay các chiến sĩ trên mặt trận Malabar, thì cũng thế mà thôi. Dù nói gì thì đấy vẫn chỉ là tuyệt đối chính thống, tuyệt đối Chuanh. Nhìn cái miệng liên tục há ra ngậm vào trên khuôn mặt không có mắt của ông ta, Winston bỗng nghĩ hay đây không phải là người thật mà chỉ là một manơcanh thôi. Những câu nói không xuất phát từ óc não mà xuất phát từ thanh quản. Đúng là từ ngữ chui ra khỏi miệng, nhưng đấy không phải là nói, theo đúng nghĩa của từ này: đấy chỉ là âm thanh sinh ra trong vô thức, chả khác gì tiếng quạc quạc của bầy vịt. Syme ngồi yên lặng, anh lấy cán thìa vẽ lên chỗ nước sốt đổ trên mặt bàn. Tiếng quạc-quạc ở bàn bên vẫn phun ra liên tục và nhanh như cũ, người ta dễ dàng phân biệt được nó với tiếng ồn ào xung quanh. "Có một từ trong Ngômo", Syme nói. "Không hiểu cậu đã biết chưa: vịtngữ, nghĩa là kêu quạc quạc như vịt. Đấy là một trong những từ thú vị, có hai nghĩa trái ngược nhau. Với địch thủ thì đấy là lời chửi rủa, nhưng với đồng chí thì lại là ngợi ca." Chắc chắn là Syme sẽ bốc hơi thôi, Winston lại nghĩ. Anh cảm thấy hơi buồn mặc dù biết rằng Syme coi thường mình, chẳng ưa gì mình và nếu phát giác ra thì sẽ tố cáo anh là tội phạm tư tưởng ngay. Syme có phần chưa thật hoàn toàn. Anh bị thiếu một cái gì đó: có thể là sự thận trọng hay sự lãnh đạm mà cũng có thể là sự khù khờ để được thánh nhân đãi chăng. Không thể bảo là anh ta phi chính thống. Anh tin tưởng vào các nguyên lí của Chuanh, kính yêu Anh Cả, vui mừng với mỗi chiến thắng, anh căm thù bọn tội phạm tư tưởng, không những căm thù một cách chân thành mà còn với lòng nhiệt tình vô bờ bến nữa, lại còn nắm được những tin tức mới nhất mà không phải đảng viên nào cũng có quyền biết. Nhưng nhìn anh người ta sẽ nghĩ ngay đây là một kẻ bất hảo. Anh nói những chuyện đáng lẽ không nên nói, anh đọc rất nhiều sách, lại hay ghé quán cà phê Cây Dẻ là chỗ tụ bạ của bọn nhạc sĩ và họa sĩ nữa. Không có điều luật thành văn hay bất thành văn nào cấm vào quán Cây Dẻ nhưng chỗ đó như có điềm gở thế nào ấy. Trước đây các đảng viên già, thất sủng thường tụ tập ở đó, cuối cùng họ đã bị thanh trừng. Nghe nói Goldstein cũng thường đến đây, lâu rồi, có thể cả chục năm rồi, dĩ nhiên. Số phận của Syme không phải là việc khó đoán. Nhưng có một điều chắc chắn là nếu Syme phát hiện được quan điểm của Winston thì anh ta sẽ báo cáo với Cảnh Sát Tư Tưởng ngay. Ai cũng sẽ làm thế: nhưng Syme làm nhanh hơn nhiều người khác. Lòng nhiệt tình không chưa đủ. Chính thống là trạng thái vô thức. Syme bỗng ngẩng đầu lên. "Parsons đang tới kìa", anh nói. Giọng của anh như muốn thêm: "một thằng ngốc chán ngắt". Parsons, một người thấp và béo phệ, mặt như mặt ếch, hàng xóm cùng chung cư Chiến Thắng với Winston, đang lách qua căn phòng. Anh ta mới có ba mươi lăm tuổi nhưng cổ đã bự và bụng thì núc ních những mỡ, tuy thế dáng đi dứt khoát và nhanh nhẹn không khác gì thanh niên. Anh ta có dáng của một đứa trẻ, cho nên mặc dù anh ta mặc đồng phục nhưng vẫn có thể tưởng tượng như anh ta đang mặc quần sọc xanh, áo sơ mi xám, cổ đeo khăn quàng đỏ của đội viện đội Tình Báo. Nhắm mắt lại ta có thể tưởng tượng ra hai đầu gối xù xì và hai ống tay áo sắn đến tận khuỷu của anh ta. Thực ra Parsons luôn luôn vận quần sóoc khi đi dã ngoại hay tham gia các hoạt động thể thao nghĩa là mặc ngay khi hoàn cảnh cho phép. Anh ta nói : "Xin chào, xin chào" với cả hai người rồi ngồi xuống cạnh bàn, mùi mồ hôi nồng nặc lập tức bao trùm khắp nơi. Khuôn mặt anh bám đầy những giọt mồ hôi to bự. Khả năng ra mồ hôi của Parsons quả là vô địch. Ở câu lạc bộ, chỉ cần cầm vào vợt, thấy còn ướt, là có thể đoán Parsons đã chơi bóng bàn trước đó bao lâu. Syme lôi ra một mảnh giấy đầy chữ và đọc, tay cầm sẵn một chiếc bút chì hoá học. "Xem này, ăn cũng không nghỉ", vừa nói Parsons vừa thúc vào sườn Winston. "Say mê quá? Việc gì đấy, anh bạn? Tớ thì hiểu sao nổi, đúng không? Smith, có biết tại sao tớ phải tìm cậu không? Cậu quên đóng cho tôi." "Đóng gì?", Winston vừa nói vừa đưa tay vào túi lấy tiền. Khoảng một phần tư tiền lương được dùng vào việc tự nguyện mua đủ thứ, nhiều thứ đến nỗi chẳng thể nhớ xuể. "Tuần lễ Hận Thù. Cậu biết đấy, đóng theo khu dân cư mà. Tớ là thủ quỹ khu nhà mình. Chúng tớ đang cố hết sức để làm một buổi lễ cho ra trò. Nếu chung cư Chiến Thắng không treo được lá cờ to nhất khu phố thì cũng không phải lỗi của tớ đâu đấy. Cậu hứa nộp hai dollar mà." Winston lấy hai tờ tiền nhàu nát, nhớp mỡ đưa cho Parson. Anh ta liền ghi bằng những nét chữ nắn nót của một người ít học tên Winston vào cuốn sổ tay. "Tiện đây", Parsons lại nói. "Tớ nghe nói thằng nhóc nhà này hôm qua đã bắn vào cậu. Tớ đã mắng cho một trận ra trò. Tờ còn dọa là nếu còn thế sẽ bị tịch thu súng cao su đấy. "Mình nghĩ cu cậu bực vì không được đưa đi xem hành quyết thôi", Winston đáp. "Vâng, tớ muốn nói thằng bé được lắm. Cả hai đứa đều nghịch khủng khiếp, nhưng say mê thì không chê vàođâu được! Chúng chỉ quan tâm tới đội Tình Báo và chiến tranh thôi. Các anh có biết con nhỏ nhà tôi đã làm được chuyện gì thứ bảy tuần rồi không? Chúng đi dã ngoại ở Berkhamsted, thế mà con bé kéo hai đứa con gái nữa theo dõi một người lạ mặt suốt một buổi chiều. Chúng theo dõi người này qua hết khu rừng, hai tiếng đồng hồ liền và khi đến Amersham thì giao cho đội tuần tra. "Vì sao chúng lại làm thế?", Winston vội vã hỏi. "Con bé ngờ rằng hắn ta là gián điệp, mới xâm nhập bằng cách nhảy dù chẳng hạn. Nhưng cái chính là thế này. Các anh thử nghĩ xem vì sao con bé lại nghi ngờ người đó? Hoá ra là tại đôi giày, con bé nói chưa thấy đôi giày như vậy bao giờ. Có nhiều khả năng hắn là người ngoại quốc. Mới bảy tuổi thôi đấy, nhanh trí không?" "Thế rồi sao?", Winston lại hỏi. "Tớ không biết. Nhưng tớ sẽ không ngạc nhiên nếu…", vừa nói Parsons vừa làm điệu bộ ngắm súng và bật lưỡi, giả làm tiếng bóp cò. "Tuyệt vời", Syme nói một cách lơ đễnh, mắt vẫn không rời tờ giấy. "Tất nhiên không được mất cảnh giác rồi", Winston đế thêm. "Thời chiến mà", Parsons nói. Dường như để phụ hoạ với điều Parsons vừa nói, chiếc màn vô tuyến treo ngay trên đầu ba người bỗng gióng lên hồi kèn xung trận. Nhưng đây không phải là tin chiến thắng mà chỉ là thông báo của Bộ Ấm No thôi. "Thưa các đồng chí", một giọng trẻ trung và mạnh mẽ vang lên. "Các đồng chí chú ý! Chúng tôi xin thông báo một tin vui. Chúng ta vừa thu được một chiến công to
1,163
4
lớn trên mặt trận sản xuất! Số liệu về tổng sản phẩm các mặt hàng tiêu dùng chứng tỏ rằng mức sống đã được nâng lên ít nhất là 20 phần trăm so với năm ngoái. Sáng nay trên khắp cả nước Oceania đều có những cuộc diễu hành quần chúng tự phát, công nhân các nhà máy và công sở đã đổ ra đường với cờ, hoa, khẩu hiệu, biểu ngữ để tỏ lòng tri ân Anh Cả, tri ân sự lãnh đạo sáng suốt của Anh mới có cuộc sống mới ấm no hạnh phúc như ngày hôm nay. Đây là một vài con số tổng kết. Về mặt thực phẩm…" Câu "cuộc sống mới, ấm no, hạnh phúc" được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Thời gian gần đây Bộ Ấm No rất hay nói câu này. Parsons, lúc nãy đã giật mình vì tiếng kèn, chăm chú lắng nghe, miệng há hốc vừa như long trọng vừa như chán nản. Anh ta không thể nhớ hết các con số, nhưng anh biết rằng đấy là lí do để vui. Anh lấy từ trong túi ra một cái tẩu to, sặc mùi, thuốc đã cháy đen lèn chặt một nửa phễu. Với khẩu phần là 100 gram thuốc lá một tuần thì hiếm ai dám lèn đầy. Winston hút Chiến Thắng, anh phải chú ý giữ cho điếu thuốc luôn nằm ngang. Ngày mai mới được lĩnh tiêu chuẩn cho tuần sau mà anh chỉ còn có bốn điếu nữa thôi. Lúc này anh đang lắng nghe màn vô tuyến, cố không để ý tiếng ồn xung quanh. Hóa ra còn có cả các cuộc tuần hành để tỏ lòng biết ơn Anh Cả vì đã nâng khẩu phần chocolate lên hai mươi gram một tuần nữa. Thế mà hôm qua, anh tự nhủ, người ta vừa tuyên bố giảm khẩu phần xuống còn hai mươi gram đấy. Chả lẽ mới có hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà họ đã tin sao? Đúng thế, họ tin. Parsons tin liền, tin như một con vật ngu si. Cái thằng không mắt ngồi bên cạnh cũng tin, tin một cách cuồng tín, một cách nồng nhiệt, sẵn sàng phát hiện, tố cáo và làm cho bốc hơi bất kì người nào nói rằng tuần trước khẩu phần là ba mươi gram. Syme cũng tin, tuy rắc rối hơn, phải nhờ nước đôi. Hoá ra chỉ mỗi một mình anh còn trí nhớ thôi ư? Các số liệu tưởng tượng vẫn tiếp tục tuôn ra từ màn vô tuyến. So với năm ngoái thì năm nay có nhiều lương thực hơn, nhiều quần áo hơn, nhiều nhà mới hơn, nhiều đồ gỗ hơn, nhiều chảo hơn, nhiều nhiên liệu hơn, nhiều tàu thủy hơn, nhiều máy bay hơn, nhiều sách vở hơn, nhiều trẻ em hơn, mọi thứ đều nhiều hơn; chỉ có bệnh tật, tội ác và người điên là ít hơn mà thôi. Từng năm, thậm chí từng phút, mọi người, mọi vật, mọi hiện tượng đều phát triển, đều vươn lên tầm cao mới. Bắt chước Syme, Winston cũng lấy cán thìa nhúng vào chỗ nước sốt đổ trên mặt bàn và kéo dần, kéo dần nó từ một vệt dài ngoằng thành ra có hình thù cân đối. Vừa làm thế, anh vừa nghĩ về cuộc sống của mình, về điều kiện sống nói chung, tâm trạng vô cùng bức xúc. Chả lẽ ngày xưa cũng như thế này ư? Lúc nào thức ăn cũng có mùi, có vị như thế này ư? Anh đảo mắt nhìn quanh căng tin. Trần thì thấp, người thì đông, tường thì bẩn, bàn ghế mòn vẹt lại để gần nhau, khuỷu tay người nọ chạm người kia, thìa dĩa thì cong vênh, mâm thì thủng, bát đĩa thô kệch, chỗ nào cũng nhớp mỡ, bụi bám đầy các khe hở, rồi mùi chua chua, cái mùi hỗn hợp của rượu rởm, cà phê rởm, nước sốt han đồng và quần áo bẩn nồng nặc khắp nơi. Lúc nào ruột gan, da thịt cũng có cảm giác khó chịu, cảm giác bị lừa bịp. Quả tình suốt đời anh chưa từng biết cảm giác nào khác. Chưa bao giờ có thức ăn dư dả, chưa bao giờ tất và quần áo lót không đầy lỗ thủng, bàn ghế thì bao giờ cũng mòn vẹt và ọp ẹp như sắp đổ đến nơi, phòng thì lạnh, tầu điện ngầm chật ních người, tường nhà lở loét, chỉ độc một loại bánh mì đen, chè là của hiếm, cà phê đắng nghét, thuốc lá không đủ hút – ngoài rượu Gin tổng hợp ra thì cái gì cũng thiếu, cũng đắt. Tất nhiên là cơ thể ngày một già đi, nặng nề, chậm chạp thêm; nhưng nếu ta luôn cảm thấy khó chịu vì thiếu thốn, vì bẩn thỉu và lộn xộn, vì mùa đông kéo dài vô tận, vì những chiếc tất nhớp nhúa, vì thang máy chẳng bao giờ chạy, vì nước lạnh,vì xà phòng cứng, vì thuốc lá không chặt, vì mùi vị thức ăn khủng khiếp thì đấy có phải dấu hiệu là nếp sống đang có vấn đề không? Nếu ta thấy cuộc sống này là không chấp nhận được thì có phải trí nhớ được truyền lại từ bao đời trước đã mách bảo ta rằng trước đây mọi sự đã khác hay không? Anh lại nhìn quanh căng tin một lần nữa. Người nào trông cũng xấu, dù họ có thay bộ đồng phục màu xanh đang mặc bằng những bộ khác thì cũng thế mà thôi. Ở phía cuối căn phòng có một người đàn ông thấp bé đang uống cà phê, trông ông ta không khác gì một con cánh cam, mắt láo liêng, không ngừng ngó ngược ngó xuôi. Nếu không quan sát, Winston nghĩ, thì người ta dễ tin rằng dường như mẫu người lí tưởng do Đảng vẽ ra: thanh niên thì to khoẻ, phụ nữ thì ngực đầy, tóc sáng, vô tư, năng động, da sạm nắng đã và đang tồn tại, thậm trí chiếm ưu thế. Nhưng theo anh thì đa số cư dân Đường bay I là những người nhỏ bé, đen đủi và thiếu hấp dẫn. Không hiểu sao trong các Bộ lại có lắm loại người-cánh cam: thấp tè, chân ngắn, bụng phệ sớm, dáng điệu vội vàng hấp tấp, mặt dày vô cảm, thế nhỉ? Dưới sự lãnh đạo của Đảng loại người này đặc biệt đông. Bản thông báo của Bộ Ấm No kết thúc trong tiếng kèn đồng rộn rã và sau đó là bản nhạc vui. Parsons, cảm thấy phấn chấn vì các số liệu, đưa tay lên rút tẩu ra. "Năm nay Bộ Ấm No làm khá lắm", vừa nói anh ta vừa gật đầu tỏ vẻ thành thạo. "Này, Smith, cậu có cái dao cạo dự trữ nào không?" "Không", Winston đáp. "Tháng rưỡi nay tớ vẫn dùng có một cái." "Ừ, thì...mình cũng hỏi thế." "Xin lỗi", Winston lại nói. Tiếng quạc quạc ở bàn bên đã tạm ngưng khi nghe thông báo của Bộ, nay lại tiếp tục vang lên, to như cũ. Không hiểu sao tự nhiên Winston lại nghĩ đến bà Parsons, nghĩ đến mớ tóc ướt lòa xòa và những nếp nhăn dính bụi của bà ta. Chỉ hai năm nữa thôi, con bà ta sẽ tố cáo bà với Cảnh Sát Tư Tưởng. Bà Parsons sẽ bốc hơi. Syme sẽ bốc hơi. O'Brien sẽ bốc hơi. Nhưng ông Parsons sẽ không bao giờ bốc hơi. Thằng không mắt đang kêu quạc quạc kia sẽ không bao giờ bốc hơi. Những thằng lùn, những thằng người-cánh cam, suốt ngày chạy trong những hành lang rắc rối như mê cung của các Bộ cũng không bao giờ bốc hơi. Và cái cô gái tóc đen ở Ban Sáng tác cũng không bao giờ bốc hơi. Anh có thể đoán được ai sẽ sống và ai sẽ diệt vong, mặc dù không thể nói tại sao. Winston bỗng giật nảy mình. Người con gái ở bàn bên cạnh vừa xoay lại và nhìn thẳng vào anh. Đấy chính là cô gái tóc đen. Cô ta nhìn nghiêng, nhưng rất chăm chú. Nhưng khi mắt họ vừa gặp nhau thì cô vội quay đi. Mồ hôi túa ra dọc sống lưng Winston. Anh phát run lên vì sợ. Nỗi kinh hoàng ập đến rất nhanh và qua cũng nhanh, chỉ còn lại cảm giác bứt rứt không yên. Tại sao cô ta lại theo dõi mình? Đáng tiếc là anh không thể nhớ khi mình vào thì cô ta đã ngồi ở đấy hay sau này mới tới. Nhưng hôm qua, lúc Hai Phút Hận Thù, thì rõ ràng là cô ta ngồi ngay đằng sau anh, mặc dù chẳng có lí do gì để làm như thế cả. Có nhiều khả năng là cô ta định nghe và kiểm tra xem anh có nói đủ to không. Anh lại nghĩ như trước: có thể cô ta không phải là nhân viên của Cảnh Sát Tư Tưởng, nhưng chính bọn nghiệp dư còn đáng sợ hơn. Anh không biết cô ta đã theo dõi bao lâu, có thể khoảng năm phút, anh cũng
1,164
4
không biết vừa rồi mình có giữ đúng tư thế hay không. Ở nơi công cộng hay trong vùng quan sát của màn vô tuyến mà tỏ ra đăm chiêu là nguy to. Chỉ một chút vô tình là coi như xong. Chỉ cần một cái máy mắt, một biểu hiện lo lắng, thói quen lẩm bẩm một mình, hay bất kì biểu hiện bất bình thường hay ý định che giấu một cái gì đó là xong. Chỉ cần nét mặt không phù hợp (thí dụ tỏ không tin khi nghe thông báo thành tích) cũng bị trừng trị rồi. Ngômo gọi đấy là: mặtội, tội lỗi thể hiện trên nét mặt. Cô gái đã quay lưng lại. Có thể là cô ta không theo dõi anh, có thể vô tình cô đã ngồi gần anh hai ngày liền mà thôi. Điếu thuốc đã tắt hẳn, anh cẩn thận đặt nó bên mép bàn. Anh sẽ hút sau khi xong việc, đấy là nói nếu anh còn giữ được. Có thể người ở bàn bên cạnh chính là chỉ điểm của Cảnh Sát Tư Tưởng, có thể chỉ ba ngày nữa anh sẽ bị đưa vào tầng hầm của Bộ Tình Yêu, nhưng không được để rơi chỗ thuốc lá hút dở. Syme gập tờ giấy và nhét vào túi. Parsons lại lên tiếng. "Mình đã kể cho cậu nghe", anh ta nói trong khi vẫn ngậm tẩu, "chuyện hai đưa nhóc nhà mình đốt váy một con mẹ bán hàng ngoài chợ khi chúng trông thấy mụ ta lấy tờ biểu ngữ có ảnh Anh Cả để gói lạp xường chưa nhỉ? Chúng lẻn từ phía sau tới và dùng cả một bao diêm đang cháy để đốt. Chắc là bỏng phải biết. Bọn nhóc quậy ha? Nhưng nhạy bén đấy chứ! Đấy là những bài học đầu tiên của đội Tình Báo, phải nói là tốt hơn thời của tôi. Các vị có biết gần đây chúng được trang bị gì không? Trang bị cả ống nghe, có thể nghe lén qua lỗ khoá nhé! Hôm qua con nhóc mang về nghe thử, nó bảo rõ gấp hai tai không. Dĩ nhiên đấy chỉ là đồ chơi thôi. Nhưng ý tưởng thì không chê vào đâu được, đúng không?" Màn hình bỗng phát ra tiếng huýt chói tai. Đấy là tín hiệu báo giờ làm việc bắt đầu. Cả ba cùng đứng dậy, trước thang máy là một đám đông chen chúc, Winston không thể giữ được chỗ thuốc lá hút dở. VI. Winston ghi trong nhật kí: Chuyện này xảy ra cách đâyđã ba năm. Trời tối, trên một con hẻm gần ga tầu hoả. Bà ta đứng bên cạnh cửa ra vào, dưới bóng đèn điện tối mù. Nét mặt còn trẻ, trát đầy son phấn. Má phấn, môi son đã quyến rũ mình. Đảng viên nữ không đánh phấn. Đường phố vắng tanh, không có màn vô tuyến. Bà ta bảo hai dollar. Mình... Anh cảm thấy khó viết tiếp. Anh nhắm mắt lại và lấy những ngón tay đè lên mí mắt, như cố đẩy những hình ảnh cứ lặp đi lặp lại ra khỏi đầu. Anh chỉ muốn văng tục, thật to, thật dài mới đã. Hoặc là đập đầu vào tường, hay đá đổ cái bàn, ném lọ mực ra khỏi cửa sổ, tức là làm bất cứ thứ gì một cách ồn ào, một cách mãnh liệt hay đau đớn để có thể tống khứ ra khỏi tâm trí những hình ảnh luôn luôn hành hạ anh. Kẻ thù tệ hại nhất của một người, anh nghĩ, là hệ thần kinh của chính anh ta. Bất cứ lúc nào những căng thẳng nội tâm cũng có thể phát tác ra thành biểu hiện nhìn thấy được. Anh chợt nhớ đến một người đàn ông đã gặp cách đây vài tuần trên phố, một người rất bình thường, đảng viên, tuổi khoảng ba lăm hay bốn mươi, cao, gầy, tay xách cặp. Hai người cách nhau mấy bước, đột nhiên má bên trái ông ta giật lên vì co cơ. Chuyện ấy lặp lại khi họ bước ngang qua mặt nhau: đấy chỉ là một cơn co giật nhẹ, chỉ là một cơn rung nhẹ như cú đóng của cái màn máy ảnh vậy thôi, nhưng rõ là một thói quen! Lúc đó anh đã nghĩ: thằng này xong rồi. Kinh khủng nhất là hắn ta có thể không biết mình có thói quen đó. Nhưng nguy hiểm hơn cả là nói mê. Chuyện này thì vô phương, anh nghĩ. Anh hít vào một hơi và tiếp tục viết: Mình đi theo bà ta qua một cái sân và vào căn bếp bên dưới tầng hầm. Có một cái giường kê sát tường và một cái đèn vặn nhỏ như hạt đỗ. Bà ta... Hai hàm răng anh nghiến chặt. Chỉ muốn nhổ nước miếng. Bên cạnh hình ảnh người đàn bà trong căn bếp dưới tầng ngầm, trong tâm trí anh lại hiện về bóng dáng Katherine, người vợ cũ của anh. Winston đã cưới vợ, đã có vợ và có thể hiện nay vẫn có vợ vì theo anh biết thì cô còn sống. Anh như đang hít thở cái không khí ngột ngạt, nặng mùi của căn bếp dưới tầng ngầm, một cái mùi hỗn hợp giữa quần áo bẩn, chấy rận và nước hoa rẻ tiền, nhưng quyến rũ vì không có nữ đảng viên nào xức nước hoa hay có thể tưởng tượng mình lại xức nước hoa. Chỉ có bọn cu li mới xức nước hoa. Theo anh mùi nước hoa là mùi đĩ thõa. Đây là lần sa ngã đầu tiên trong suốt hai năm qua. Dĩ nhiên là không được quan hệ với gái điếm, nhưng đôi khi cũng có thể liều. Việc này nguy hiểm đấy, nhưng không phải là vấn đề sống còn. Bị tóm tại trận thì cũng chỉ năm năm khổ sai là cùng, đấy là nói nếu không có tình tiết tăng nặng. Miễn đừng bị trai trên gái dưới là được. Các khu phố nghèo đầy bọn đàn bà sẵn sàng bán mình. Có thể chỉ một chai Gin cũng xong, bọn cu li không được uống loại rượu này. Đảng ngấm ngầm khuyến khích nạn mãi dâm vì đây là một lối thoát cho các thứ bản năng mà đằng nào cũng không đè nén được. Bản thân việc mua dâm không phải là vấn đề lớn, nhưng chỉ được quan hệ với bọn phụ nữ thuộc tầng lớp nghèo hèn, bị khinh bỉ và tất nhiên là phải lén lút. Quan hệ giữa các đảng viên là điều không thể tha thứ được. Mặc dù những người bị đàn áp trong các vụ thanh trừng lớn thường vẫn thú nhận đã phạm tội này, thật khó tưởng tượng điều đó lại có thể xảy ra trên thực tế. Mục đích của Đảng không chỉ là ngăn chặn các quan hệ gắn bó lâu dài giữa đàn ông và đàn bà vì nó có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Tuy không nói ra, như mục đích thực sự chính là tước bỏ mọi vui thú khỏi hành động làm tình. Kẻ thù chính không phải là tình yêu mà là thú vui nhục dục, kể cả trong hôn nhân cũng như ngoài hôn nhân. Các đảng viên phải được một ủy ban chuyên trách về lĩnh vực này cho phép thì mới được kết hôn và mặc dù không công bố công khai, nhưng thường thì đơn sẽ bị bác nếu người ta thấy hai người có vẻ mê nhau về thể xác. Mục đích duy nhất của hôn nhân là sinh con đẻ cái để phục vụ sự nghiệp của Đảng. Như vậy làm tình phải được coi là một động tác chẳng có gì hay ho, giống như phải rửa ruột trước khi mổ vậy. Chuyện này cũng không bao giờ được nói công khai, nhưng được nhồi nhét một cách gián tiếp vào đầu các đảng viên ngay từ tuổi ấu thơ. Có cả những tổ chức như Hội Thanh Niên Chống Tình Dục tuyên truyền kiểu sống đơn thân của cả hai phái. Việc thụ thai đáng lẽ ra phải được thực hiện bằng nhân tạo (Ngômo gọi là Thụtạo) và trẻ con được nuôi dạy tập trung trong các cơ sở của nhà nước. Winston biết rằng đây không phải là chuyện nghiêm túc, nhưng nó phù hợp với đường lối chung của Đảng. Đảng tìm mọi cách tiêu diệt bản năng nhục dục, nhưng nếu không diệt được thì cũng phải bôi nhọ nó, làm cho nó méo mó đi. Anh không biết tại sao lại như vây, nhưng có cảm giác phải vậy mới đúng. Nếu chỉ nói riêng về phụ nữ thì Đảng đã thành công. Anh lại nghĩ đến Katherine. Họ đã xa nhau chín, không...mười...gần mười một năm rồi. Có điều lạ là anh ít khi nghĩ đến cô. Có khi mấy ngày liền anh không nghĩ là mình có vợ. Họ ở bên nhau tổng cộng có mười lăm tháng. Đảng không cho li hôn, nhưng thường động viên li thân nếu không có con. Katherine là một cô gái cao, tóc sáng, lưng thẳng, điệu bộ sang trọng. Cô có khuôn mặt trái xoan, tự tin, có thể nói là quí phái nữa; đấy là nói khi tachưa phát hiện ra rằng đằng sau đó là một tâm hồn rỗng tuếch. Ngay từ những ngày sống chung đầu tiên Winston đã nhận ra rằng;
1,165
4
cũng có thể đấy là do anh gần gũi với cô hơn là với những người khác, anh chưa từng gặp một người nào ngu ngốc, thô lậu và trống rỗng như cô. Trong đầu cô toàn là khẩu hiệu; Đảng đưa ra bất cứ cái gì, dù ngu ngốc đến đâu, cô cũng ăn tươi nuốt sống ngay lập tức. Anh vẫn gọi cô là "máy hát biết đi" - tất nhiên là chỉ gọi thầm trong đầu thôi. Nhưng anh vẫn sẵn sàng chịu đựng cuộc sống với cô nếu không có vấn đề tình dục. Chỉ cần chạm vào người là cô đã nhăn nhó và cứng đơ ra rồi. Ôm cô chẳng khác gì ôm một hình nhân bằng gỗ. Có điều lạ là khi cô ghì lấy anh thì anh cũng có cảm giác là cô đang cố sức hất anh ra. Chính những cánh tay rắn chắc của cô tạo cảm giác như thế. Cô thường nằm yên, mắt nhắm, không kháng cự cũng chẳng hợp tác, đơn giản là chịu đựng. Ban đầu anh thấy lúng túng, nhưng sau này thì đâm ra hãi. Lúc đó anh vẫn sẵn sàng chấp nhận miễn là hai người đồng ý không ngủ với nhau nữa. Nhưng có điều lạ là chính Katherine không chịu. Chúng ta có trách nhiệm sinh con, cô bảo thế. Chuyện chăn gối được thực hiện đều đặn, nếu không có trở ngại thì tuần một lần. Cô còn thường nhắc anh vào buổi sáng, giống như nhắc một việc phải làm vào buổi tối cho khỏi quên. Cô gọi chuyện đó bằng hai cái tên. Một là "nghĩ đến em bé" và thứ hai là "trách nhiệm trước Đảng" (vâng, cô dùng chính câu đó). Chẳng bao lâu sau, cứ gần đến ngày qui định anh đã thấy sợ rồi. May là họ không có con, cuối cùng cô không cố nữa và họ chia tay ngay sau đó. Winston hít một hơi dài. Anh cầm bút và viết: Bà ta nằm vật ra giường và ngay lập tức, không mầu mè gì, bà ta tốc váy lên bằng một động tác thô lỗ, tục tằn nhất mà ta có thể tưởng tượng được. Mình... Anh như thấy mình đang đứng dưới ánh đèn leo lét, giữa một không gian sặc mùi chấy rận, mùi nước hoa rẻ tiền, thâm tâm cảm thấy thất bại, uất hận và cũng như lúc đó anh chợt nhớ đến thân hình trắng trẻo nhưng đã bị Đảng thôi miên làm cho tê liệt, đông cứng lại của Katherine. Tại sao lúc nào cũng như thế này? Tại sao anh lại không có một người đàn bà của riêng mình mà cứ phải chịu đựng những vụ chung đụng dơ dáy, vội vàng, mấy năm mới có một lần thế này? Nhưng tình yêu là việc không tưởng. Tất cả các nữ đảng viên đều giống nhau. Sự trong trắng cũng như lòng trung thành với Đảng đã ăn sâu bén rễ vào lòng họ từ lâu rồi. Tình cảm chân thật của họ đã bị hoàn cảnh sống với những trò chơi, những buổi tắm nước lạnh, những điều nhảm nhí được nhồi nhét vào đầu họ từ trong nhà trường, trong đội Tình Báo, trong Đoàn Thanh Niên; các bản báo cáo, các cuộc tuần hành, các bài hát, các khẩu hiệu, các khúc quân hành giết chết từ lâu. Lí trí nói với anh rằng nhất định phải có ngoại lệ, nhưng tình cảm thì lại nói không. Tất cả đều là những người không thể lay chuyển, Đảng đã đạt được mục đích. Điều anh muốn không chỉ là được yêu mà là đập tan bức tường đạo đức đó, dù chỉ một lần trong đời cũng cam. Một cú làm tình thành công đã là một cuộc khởi nghĩa. Ham muốn cũng là tội tư tưởng. Ngủ với Katherine đã tỉnh thức, nếu anh làm được như thế, thì đấy chính là hành động cám dỗ, cho dù cô là vợ anh. Nhưng phải viết nốt câu chuyện. Anh lại cầm bút và viết: Mình vặn to đèn lên. Dưới ánh đèn mình thấy bà ta... Từ ngoài tối mới vào nên ngọn đèn dầu hoả tù mù cũng có vẻ rất sáng. Đây là lần đầu tiên anh trông rõ người phụ nữ. Anh bước một bước về phía bà ta nhưng vội đứng dừng lại, vừa khao khát vừa sợ. Anh biết rõ những hiểm nguy một khi dấn bước vào đây. Có thể là cảnh vệ sẽ tóm anh khi vừa bước ra, mà có thể họ đang đứng đợi anh ngay ngoài cổng rồi cũng nên. Nhưng nếu đi ra mà không làm cho xong thì đến đây làm gì...! Phải viết hết, phải thú nhật hết. Điều làm anh bất ngờ chính là việc bà ta quá già. Phấn trát trên mặt dày đến nỗi tưởng như có thể rời ra từng mảng đến nơi. Tóc bà ta đã bạc, nhưng kinh khủng nhất là miệng bà ta hơi mở, để lộ ra một khoảng trống đen ngòm như một cái hang. Không còn cái răng nào. Anh viết vội vàng, bằng những chữ ngụêch ngoạc: Dưới ánh đèn mình thấy bà ta quá già, ít nhất cũng phải năm mươi. Nhưng mình vẫn làm như không có chuyện gì xảy ra. Winston lại lấy ngón tay đè lên mí mắt. Anh đã viết xong, nhưng thâm tâm chẳng cảm thấy một sự thay đổi nào hết. Liệu pháp không đem lại kết qủa như ý. Ước muốn văng tục thật to, to hết cỡ vẫn còn y nguyên, như cũ. VII. Nếu có hi vọng, Winston viết, thì đấy chính là bọn cu li. Nếu có hi vọng thì nhất định chỉ là bọn cu li mà thôi, một lúc nào đó từ trong cái đám quần chúng đông đảo, chiếm đến 85 phần trăm dân số Oceania này, sẽ xuất hiện lực lượng đủ sức lật đổ Đảng. Đảng không thể bị lật từ bên trong. Kẻ thù của nó, nếu quả thật nó có kẻ thù, không thể nào tập hợp lại được, nhận diện nhau cũng còn không được nữa là. Ngay cả nếu tổ chức Huynh Đệ huyền thoại thực sự tồn tại đi nữa, nhiều khả năng là có một tổ chức như thế, thì cũng không thể tưởng tượng được là các thành viên của nó có thể tổ chức được một cuộc họp đông quá hai, ba người. Nổi loạn đối với họ là một ánh mắt, một giọng nói hoặc nhiều nhất là một từ nói lén. Nhưng bọncu li, nếu chúng nhận thức được sức mạnh của mình thì sẽ không cần phải hoạt động bí mật. Chỉ cần chúng cùng đứng dậy và rũ bỏ như ngựa rũ ruồi là xong. Chỉ cần muốn là chúng có thể thổi bay Đảng ngay trong sáng mai. Sớm muộn gì chúng cũng sẽ nhận ra điều đó. Nhưng!... Anh chợt nhớ có lần đang đi trên một con phố đông người thì bỗng nghe thấy tiếng thét, đấy là tiếng kêu gào của hàng trăm người đàn bà trong một con hẻm nhỏ. Tiếng thét đầy thất vọng và phẫn nộ, to, sâu và kéo dai như tiếng chuông: "A-a-a-a!". Tim anh đập rộn lên. Bắt đầu rồi! – anh nghĩ. Loạn! Bọn cu li làm loạn rồi! Nhưng khi anh đến gần thì hoá ra là một đám đông khoảng hai trăm đến ba trăm người phụ nữ đang vây quanh mấy cái quầy bán hàng trên phố, mặt người nào trông cũng hoảng loạn như đang đứng trên một con tàu sắp chìm. Ngay lúc đó đám đông tuyệt vọng bỗng tản ra thành những nhóm nhỏ tiếp tục hò hét, tranh cãi. Cỏ vẻ như một quầy ở đấy có bán chảo. Đấy toàn là những thứ xấu xí, mỏng dính, thế nhưng đồ gia dụng thường rất khó kiếm. Người đông thế mà hàng lại đột ngột hết. Những người gặp may, dù có bị chen lấn xô đẩy, bị thúc cùi chỏ vào sườn cũng cố gắng giữ chặt cái chảo vừa mua được và lách ra; trong khi những người khác kém may mắn hơn thì bao vây quầy hàng, trách móc người bán hàng vì không công bằng và hỏi xem có giấu bớt đi không. Lại có tiếng thét. Hai bà béo, một bà tóc đã xổ tung ra, đang giằng nhau một cái chảo. Họ cùng giật mạnh, cái cán chảo gãy rời ra. Winston đứng nhìn bằng cặp mắt đầy khinh khi. Nhưng tiếng hò hét của chỉ mấy trăm cái miệng đã đáng sợ làm sao! Thế tại sao chúng lại không bao giờ hét lên vì những cái đáng giá hơn nhỉ? Anh viết trong nhật kí: Chúng sẽ không khởi nghĩa khi chưa nhận thức được; nhưng chúng sẽ không nhận thức được khi chưa khởi nghĩa. Câu này giống như được chép thẳng từ sách giáo khoa của Đảng ra vậy, anh nghĩ. Dĩ nhiên là đảng vẫn thường tuyên bố rằng đã giải phóng bọn cu li khỏi gông xiềng. Trước Cách mạng chúng bị bọn tư bản bóc lột thậm tệ, bị bỏ đói và trừng phạt bằng roi vọt, phụ nữ cũng phải làm việc dưới hầm mỏ (thực ra bây giờ phụ nữ vẫn phải làm việc dưới mỏ), trẻ con bị bán vào
1,166
4
nhà máy từ năm lên sáu tuổi. Đồng thời, theo đúng quan điểm bất nhất, Đảng lại dạy rằng cu li là lũ tiểu nhân, chỉ có thể bắt làm theo chứ không giảng lí sự được, giống như súc vật, đối với chúng chỉ cần áp dụng mấy qui tắc đơn giản là đủ. Nói cho ngay người ta chẳng hiểu gì về cu li cả. Cũng chẳng cần phải tìm hiểu làm gì. Chỉ cần chúng tiếp tục làm việc và sinh con đẻ cái, các việc khác cứ để mặc chúng. Nếu được để yên, giống như lũ súc vật trên các bình nguyên của Argentina, chúng sẽ quay về với lối sống tự nhiên, như tổ tiên chúng đã từng sống. Chúng sinh ra, lớn lên trong đói nghèo, bẩn thỉu; mười hai tuổi đã phải đi làm; trải qua giai đoạn dậy thì ngắn ngủi; chúng sẽ kết hôn năm vừa tròn hai mươi tuổi; ba mươi tuổi đã là trung niên; ít người sống quá sáu mươi. Công việc nặng nhọc, lo lắng cho gia đình và con cái, những cuộc cãi vã với láng giềng, phim ảnh, bóng đá, bia bọt và chủ yếu là trò đỏ đen đã chiếm hết tâm trí chúng. Quản lí chúng không khó. Cảnh Sát Tư Tưởng luôn luôn bám địa bàn, họ vừa tung các tin đồn thất thiệt vừa ghi nhận và loại bỏ những tên bị nghi là phần tử nguy hiểm; nhưng vấn đề truyền bá tư tưởng của Đảng cho chúng thì chưa bao giờ được đặt ra. Cu li quan tâm nhiều đến chính trị không phải là việc hay. Chỉ cần có lòng yêu nước là được, phải kéo dài thời gian lao động hay cắt bớt khẩu phần là bao giờ người ta cũng kêu gọi yêu nước. Ngay cả khi chúng bất mãn, đôi khi có chuyện đó thật, thì sự bất mãn cũng không đi đến đâu; do không có đường lối chung chúng chỉ biết hướng sự bất bình vào những vấn đề cụ thể, lặt vặt mà thôi. Chúng không để ý đến những vấn đề lớn. Nhà đa số cu li không có cả màn vô tuyến. Cảnh sát thường không can thiệp vào việc riêng của chúng. London là thành phố đầy tội phạm; phải nói cả một thế giới trong một thế giới: trộm cắp, cướp giật, mại dâm, ma tuý, bảo kê đủ loại, nhưng đây là chuyện nội bộ của bọn cu li nên được coi là không quan trọng. Về đạo đức, chúng được phép theo các phong tục của mình. Bọn cu li không phải tuân theo nguyên tắc chay tịnh trong quan hệ nam nữ của Đảng. Chúng được phép li hôn, còn lang chạ thì không bị trừng phạt. Nói cho ngay, nếu muốn, chúng có thể thành lập cả tôn giáo nữa. Không ai thèm nghi ngờ chúng làm gì. Khẩu hiệu của Đảng vẫn nói: "Cu li và súc vật được tự do". Winston cúi xuống và khẽ gãi chỗ loét do giãn tĩnh mạch. Lại ngứa nữa rồi. Dù muốn dù không tâm trí anh luôn trở về với câu hỏi: trước Cách mạng người ta đã sống ra sao? Anh lấy từ trong ngăn kéo bàn ra một cuốn sách giáo khoa lịch sử dành cho trẻ con vừa mượn của bà Parsons và chép một đoạn vào cuốn nhật kí: Ngày xưa, trước cuộc Cách Mạng vĩ đại, London không được đẹp như ngày hôm nay. Đấy là một thành phố vừa tối vừa bẩn, nghèo nàn đến độ chẳng ai được ăn no, hàng trăm, hàng ngàn người nghèo khổ phải đi chân không, màn trời chiếu đất. Trẻ em còn nhỏ tuổi hơn các cháu đã phải làm việc mười hai tiếng mỗi ngày mà chỉ được ăn vỏ bánh mì với nước lã, làm chậm còn bị chủ đánh bằng roi. Nhưng giữa cảnh nghèo khổ hoang tàn đó lại có những toà nhà tođẹp dành cho những kẻ giàu có, trong đó mỗi tên có đến ba chục đầy tớ. Những kẻ giầu có này được gọi là nhà tư sản. Chúng là những tên béo phị, xấu xí, hung dữ như tranh minh hoạ ở trang sau. Các cháu có thể thấy hắn mặc một cái áo khoác có đuôi gọi là áo đuôi tôm và đội một cái mũ kì quặc, bóng loáng, có hình thù như ống khói, gọi là mũ phớt. Đấy là đồng phục của bọn tư sản, người khác không được mặc như thế. Bọn tư sản nắm giữ tất cả tài sản trên thế gian này, ai cũng là nô lệ của chúng hết. Chúng chiếm hết đất đai, nhà cửa, công xưởng và tiền bạc. Ai phản đối liền bị chúng vất vào tù, hoặc sẽ bị đuổi việc và chết đói. Một người bình thường khi nói chuyện với tư sản phải khép nép, phải cúi rạp mình xuống chào, phải bỏ mũ ra và gọi hắn là "ngài". Tên tư sản đầu sỏ tự gọi là Vua và... Anh vẫn thuộc lòng danh sách này. Sau đó sẽ là các thày tu áo thụng, các quan tòa áo viền lông chồn, rồi gông cùm, rồi việc đạp cối xay, rồi roi thắt chín nút, rồi những bữa chiêu đãi của ngài tỉnh trưởng, rồi truyền thống hôn giày của Giáo hoàng. Cả cái gọi là jus primae noctis (quyền qua đêm đầu tiên) mà sách dành cho trẻ em chắc sẽ không nói. Theo qui định này thì các tên tư sản có quyền ngủ với bất kì người phụ nữ làm thuê nào mà hắn thích. Làm sao biết có bao nhiêu phần trăm giả dối? Rất có thể là một người trung bình hiện nay sống tốt hơn trước Cách Mạng. Chỉ có một bằng chứng chống lại, đấy là sự phản kháng không nói nên lời của chính da thịt ta, một cảm giác mang tính bản năng rằng điều kiện sống hiện nay là không thể chấp nhận được, rằng ngày xưa chắc chắn người ta sống khác bây giờ. Anh chợt nghĩ đặc điểm của đời sống hiện nay không phải là sự tàn bạo, không phải là sự bấp bênh mà chính là sự nghèo nàn, trống rỗng, nhếch nhác và thờ ơ. Hãy nhìn quanh xem, có gì tương tự với những điều dối trá vẫn được màn vô tuyến tuôn ra hàng ngày hay ngay cả với những lí tưởng mà Đảng theo đuổi. Phần lớn đời sống của ngay một đảng viên cũng diễn ra bên ngoài chính trị: đấy là thực hiện cho xong những công việc vất vả, chán ngấy; đấy là chen nhau để giành một chỗ đứng trong tầu điện ngầm; đấy là mạng những chiếc tất thủng; đấy là xin xỏ những viên đường hoá học; đấy là cố giữ cho thuốc lá khỏi rơi. Còn lí tưởng của Đảng lại là một cái gì đó to lớn, khủng khiếp, lấp lánh - một thế giới của sắt thép và bê tông, của những chiếc máy khổng lồ, của những vũ khí reo rắc kinh hoàng; của một dân tộc với các chiến binh và những kẻ cuồng tín, cùng nhịp bước trong một đội ngũ thống nhất, tất cả cùng nghĩ một ý, cùng hô một khẩu hiệu, luôn luôn làm việc, luôn luôn chiến đấu, luôn luôn diễu hành và sẵn sàng trấn áp; một đất nước ba trăm triệu người với cùng một khuôn mặt. Nhưng thực tế lại là sự thối rữa, những thành phố dơ dáy với những con người đói ăn đi đi lại lại trong những đôi tất rách, sống trong những ngôi nhà xây từ thế kỉ mười chín sặc mùi bắp cải và mùi nhà xí cũ. Anh như nhìn thấy toàn cảnh thành phố London, to lớn và bị tàn phá, một thành phố với hàng triệu thùng rác và trên bức tranh chung ấy là hình ảnh bà Parsons mặt đấy nếp nhăn, tóc ướt bê bết, bất lực, đang cố móc cái ống nước bị tắc. Anh lại cúi xuống để gãi mắt cá chân. Cái màn vô tuyến cứ ra rả phun vào tai suốt đêm ngày những con số chứng minh rằng hiện nay nhân dân được ăn nhiều hơn, mặc ấm hơn, có nhà đẹp hơn, nghỉ ngơi thú vị hơn, sống lâu hơn, làm ít hơn, to hơn, khoẻ hơn, mạnh mẽ hơn, hạnh phúc hơn, thông minh hơn, được giáo dục tốt hơn cách đây năm mươi năm. Không thể chứng minh hay phủ nhận bất kì từ nào. Thí dụ Đảng tuyên bố rằng hiện nay 40 phần trăm cu li trưởng thành biết đọc biết viết, trước Cách mạng chỉ có 15 phần trăm thôi. Đảng cũng tuyên bố rằng hiện nay tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh là 160 trên một ngàn, trong khi trước Cách mạng con số đó là 300 vân vân và vân vân. Giống như một phương trình có hai ẩn số. Hoàn toàn có khả năng là tất cả các từ trong sách lịch sử, kể cả những điều ta coi là hiển nhiên, đều là bịa cả. Ai mà biết, có thể chưa bao giờ có luật gọi là quyền qua đêm đầu tiên, cũng có thể chưa từng có một sinh vật nào có tên là tư sản, hoặc có thể chưa từng có một thứ trang sức gọi là mũ phớt cũng
1,167
4
hỏi, vì tuy nay chút chứng chứng cứ ấy không còn, nhưng ngày xưa đã từng có một bằng chứng như thế. Nhưng giả sử như có thể phục hồi được bức ảnh thì có thể nó cũng không còn là bằng chứng nữa. Ngay khi anh phát hiện được bức ảnh thì Oceania đã không còn đánh nhau với Eurasia nữa và ba người kia đã phải bán nước cho điệp viên của Eastasia rồi. Từ đó đến nay còn mấy lần thay đổi nữa, hai hoặc ba lần, anh không nhớ rõ. Rất có thể là những lời thú nhận đã được viết đi viết lại nhiều lần, nhiều đến nỗi sự kiện và ngày tháng ban đầu chẳng còn một tí ý nghĩa nào nữa. Qúa khứ không chỉ bị sửa đổi mà còn bị sửa đổi thường xuyên, sửa đổi liên tục. Điều kinh khủng nhất đối với anh chính là anh không làm sao hiểu nổi tại sao lại phải làm cái công việc giả mạo hao tiền tốn của ghê gớm này. Lợi ích trước mắt thì rõ nhưng mục đích cuối cùng thì còn là bí mật. Anh cầm bút và viết: Tôi hiểu làm THẾ NÀO; nhưng không hiểu TẠI SAO. Anh tự hỏi, cũng như anh đã từng tự hỏi nhiều lần, rằng minh có bị khùng không. Có thể người khùng là người thuộc về thiểu số, cái thiểu số rút lại đến mức chỉ còn có một người duy nhất. Ngày xưa tin rằng trái đất quay xung quanh mặt trời bị coi là khùng, còn nay, khùng là tin rằng quá khứ là không thể sửa đổi được. Có thể anh là người duy nhất tin như thế, mà duy nhất nghĩa là khùng rồi. Nhưng ý nghĩ rằng mình đã bị điên không làm anh lo: sợ nhất là anh vừa điên vừa sai nữa cơ. Anh cầm cuốn sách lịch sử dành cho thiếu nhi và ngắm bức ảnh của Anh Cả minh hoạ trên trang nhất. Cặp mắt thôi miên nhìn thẳng vào anh. Giống như có một sức mạnh vô hình đè nén người ta, xuyên thấu vỏ não, đập liên hồi kì trận vào óc, doạ dẫm buộc phải từ bỏ niềm tin của chính mình, thuyết phục người ta từ bỏ cả những giác quan của mình nữa. Cuối cùng thì Đảng có thể tuyên bố rằng hai cộng hai là năm và dân chúng sẽ buộc phải tin. Sớm muộn gì họ sẽ tuyên bố như thế, quyền lực của họ đòi hỏi như vậy. Triết lí của họ không chỉ ngấm ngầm phủ nhận giá trị của kinh nghiệm mà còn phủ nhận luôn cả hiện thực khách quan nữa. Điều nhảm nhí nhất trong những điều nhảm nhí đã trở thành hợp lí. Sợ nhất không phải là họ sẽ giết vì ta nghĩ khác mà là họ có thể đúng. Thực ra làm sao ta biết được rằng hai cộng với hai là bốn? Hoặc làm sao ta biết có lực hấp dẫn? Làm sao ta biết là quá khứ không thể thay đổI được? Hoặc giả nếu quá khứ và thế giới bên ngoài chỉ tồn tại trong tâm mà tâm có thể điều khiển được thì sao? Không! Anh chợt thấy mình mạnh mẽ lên rất nhiều. Khuôn mặt O'Brien đột ngột hiện về trong tâm trí anh. Bây giờ anh biết rõ rằng O'Brien ủng hộ anh. Anh đang viết nhật kí cho O'Brien, gửi O'Brien: giống như một bức thư dài bất tận, sẽ chẳng có ai đọc, nhưng đây là viết riêng cho một người và sẽ có ý nghĩa khác trước. Đảng bảo đừng tin vào tai mắt của chính mình. Đây chính là mệnh lệnh cuối cùng, mệnh lệnh quan trọng nhất của Đảng. Anh cảm thấy hoàn toàn chán nản khi nghĩ đến cái sức mạnh khủng khiếp đang bao vây mình, bất cứ một cán bộ chính trị nào của Đảng cũng có thể dễ dàng đánh bại anh trong các cuộc tranh luận, hắn sẽ dùng những lí lẽ mà anh không thể nào hiểu nổi chứ đừng nói có thể thể bác bỏ. Dù sao mặc lòng, chân lí ở phía anh! Chúng sai còn anh đúng. Một điều hiển nhiên, một điều giản dị, một điều đúng đắn cần phải được bảo vệ. Chân lí bao giờ cũng là chân lí, hãy giữ vững như thế! Thế giới đang tồn tại, các qui luật của nó không hề thay đổi. Đá thì cứng, nước thì ướt, vật không bị giữ sẽ rơi vào tâm trái đất. Cảm thấy như đang nói với O'Brien cũng như đang phát minh ra một sự thật hiển nhiên, Winston viết: Tự do là tự do phát biểu rằng hai cộng hai là bốn. Nếu điều này được đảm bảo thì mọi việc khác sẽ tự đến. VIII. Từ phía trong lối đi đưa tới mùi cà phê rang, mùi cà phê thật sự chứ không phải loại cà phê "Chiến thắng". Winston vô tình dừng bước. Anh như được quay về thời thơ ấu, chuyện đó kéo dài chừng hai giây. Rồi cáchcửa bỗng đóng sập lại, chặn đứng mùi thơm của cà phê như chặn đứng tiếng động vậy. Anh đã đi mấy cây số, chổ loét do giãn tĩnh mạch tiếp tục hành hạ. Đây là lần thứ hai trong vòng ba tuần lễ anh bỏ sinh hoạt tại Trung Tâm: một hành động thiếu thận trọng vì người ta kiểm tra quân số kĩ lắm. Về nguyên tắc, đảng viên không có thời gian rỗi và không được ở một mình, trừ khi ngủ. Khi không làm, không ăn, không ngủ, đảng viên phải tham gia vào một hoạt động giải trí công cộng nào đó: làm bất cứ điều gì tỏ ra là thích được cô đơn, ví dụ đi bộ một mình, đều đáng ngờ cả. Có một từ trong Ngômo: sốngmột, để chỉ lối sống cá nhân, lập dị. Nhưng hôm nay, vừa bước ra khỏi Bộ anh đã bị không khí êm dịu của một buổi chiếu tháng tư lôi cuốn rồi. Năm ngoái trời không được xanh như thế này; cứ nghĩ đến một buổi tối kéo dài, ồn ào trong Trung Tâm; cứ nghĩ đến những trò chơi mệt mỏi, chán ngắt; cứ nghĩ đến những bài diễn văn, những cuộc tụ hội, dù có được bôi trơn bằng rượu Gin là anh đã cảm thấy không thể chịu được. Bất giác anh bước khỏi bến ô tô và bắt đầu lang thang khắp London, đầu tiên anh đi về hướng nam, rồi sang đông và lại lên bắc và bị lạc trong những con phố chưa từng đặt chân đến bao giờ, cuối cùng anh cứ đi mà chẳng thèm nghĩ xem mình đang đi đâu nữa. Nếu có hi vọng, anh đã viết trong nhật kí, thì đấy chính là bọn cu li. Câu đó, như một sự thật huyền nhiệm, cũng là một điều vô lí rành rành như vậy, cứ trở đi trở lại trong óc anh. Lúc này anh đang đi giữa một khu ổ chuột, phía đông bắc của khu vực trước đây gọi là Ga Saint Pancras. Anh đang đi trên những con phố rải đá, ngang qua những dãy nhà hai tầng nhỏ tí, cửa cũ dẹo dọ, mà không hiểu sao lại mở thẳng ra vỉa hè, trông giống như những cái hang chuột. Thỉnh thoảng lại thấy một vũng nước bẩn. Trong các ô cửa tối mò, cũng như trên các hẻm nhỏ hai bên đường không hiểu sao lại nhiều người như vậy; đám con gái dậy thì môi son má phấn nghuệch ngoạc; các thanh niên thì chạy theo đám con gái; những mụ nạ dòng sồ sề, dáng đi lạch bạch, hình ảnh của lũ con gái trong mươi năm nữa; những bà già lưng gù lê bước bằng những bàn chân to bè; đám trẻ con chân trần, quần áo rách rưới đang nghịch nước, mỗi lần nghe mẹ chúng thét lại chạy tản ra. Có đến một phần tư cửa sổ bị hỏng phải táp bằng gỗ. Ít người chú ý đến Winston, nhưng cũng có vài cặp mắt dõi theo anh với vẻ tò mò pha chút lo âu. Trước một cánh cửa có hai người đàn bà khổng lồ, đeo tạp dề, cánh tay đỏ như tôm luộc đang đứng nói chuyện. Khi đi đến gần Winston đã nghe được loáng thoáng vài đoạn. "Vâng, tôi nói, chuyện này rất tốt, tôi nói. Nếu chị thì chị cũng làm hệt như tôi thôi. Phê phán thì dễ lắm. Tôi nói. Nhưng họ có gặp chuyện như tôi đâu." "Vâng", người kia đáp. "Vấn đề là ở chỗ đó đấy chị ạ." Giọng nói chối tai ngừng bặt. Hai người đàn bà yên lặng nhìn theo một cách thù địch khi anh đi ngang. Nhưng đúng ra đấy không phải là thù địch mà cảnh giác, họ đờ ra trong phút chốc như trông thấy một sinh vật lạ đi ngang qua vậy. Màu áo đồng phục xanh của đảng viên ít khi xuất hiện trong những khu phố loại này. Chẳng nên đến đây nếu không có công chuyện. Đội tuần tra có thể giữ lại và căn vặn đủ thứ. "Cho phép xem giấy tờ của đồng chí. Đồng chí làm gì ở đây? Đồng chí rời cơ quan lúc mấy giờ? Đồng chí có hay đi đường này không?" vân vân và vân vân. Không có luật nào cấm đi về nhà bằng những con đường khác nhau:
1,169
4
nhưng nếu Cảnh sát Tư Tưởng biết thì họ sẽ để ý đấy. Bất thình lình cả khu phố cùng nháo nhào lên. Tiếng thét báo động vang lên từ khắp mọi hướng. Người ta lao vào nhà nhanh như thỏ. Từ một cánh cửa gần chỗ Winston có một người đàn bà lao ra, bà ta ôm lấy đứa trẻ đang chơi trên vũng nước, lấy tạp dề che cho nó và phóng trở vào, tất cả diễn ra chỉ trong chớp mắt. Ngay lúc đó có một người đàn ông, mặc bộ complet đen, nhàu như cái ăccoocđêông, chạy từ trong ngõ lại chỗ Winston, ông ta chỉ lên trời điệu bộ vô cùng xúc động. "Hoả xa", ông ta thét lên. "Trông kìa, thủ trưởng! Nó bắn đấy! Nằm xuống!" Không hiểu sao bọn cu li lại gọi tên lửa là hoả xa. Winston lập tức nằm sấp, úp mặt xuống đất. Trong những trường hợp như thế này thì bọn cu li ít khi lầm lắm. Dường như bản năng báo cho họ biết trước vài giây mặc dù tên lửa được coi là đi nhanh hơn tốc độ âm thanh. Winston vòng hai cánh tay lên che đầu. Một tiếng nổ chát chúa, vỉa hè dường như rung rinh, rác rưởi tung đầy lên lưng anh. Khi đứng dậy anh mới biết rằng đấy là những mảnh kính cửa sổ vỡ. Anh tiếp tục đi. Quả tên lửa phá sập mấy căn nhà cách đó chừng hai trăm mét. Một đám khói đen treo lơ lửng trên bầu trời, phía bên dưới, đám đông đã tụ lại xung quanh những đống gạch vụn còn mù mịt bụi vữa. Anh nhìn thấy trong đống xà bần nằm trên vỉa hè cách chỗ anh đứng mấy mét một vệt màu đỏ. Khi đến gần thì nhận ra đó là một bàn tay người. Trừ chỗ cổ tay dính máu ra, cả bàn tay trông trắng bệch như đúc bằng thạch cao. Anh lấy chân hất bàn tay vào rãnh nước, sau đó, để tránh đám đông, anh rẽ vào con hẻm bên phải. Sau khoảng ba bốn phút anh đã ra khỏi khu vực bị bắn phá, ở đây cuộc sống chen chúc, dơ dáy vẫn tiếp diễn như chưa có gì xảy ra. Lúc đó đã gần tám giờ tối, các quán biadành cho bọn cu li chật cứng người. Cánh cửa bẩn thỉu của các quán cứ mở ra đóng vào liên tục, từ trong quán phả ra hơi ấm sặc mùi nước đái, mùi mùn cưa và mùi bia chua. Trong một góc gần ngôi nhà hơi nhô ra có ba người đàn ông đứng sát vào nhau, người đứng giữa cầm một tờ báo, còn hai người kia thì vươn cổ lên đọc ké. Tuy còn cách xa, chưa nhìn rõ mặt, nhưng dáng điệu của cả ba người cho thấy họ đang để hết tâm trí vào tờ báo. Khi anh còn cách mấy bước thì hai người bỗng tách ra và bắt đầu to tiếng cãi cọ. Có vẻ như họ sắp thượng cẳng tay hạ cẳng chân với nhau đến nơi. "Đồ ngu, nghe đây! Tao đã bảo là suốt mười bốn tháng rồi đít bảy chưa ăn lần nào nhá." "Có, có ăn!" "Tao bảo không! Ở nhà tao có ghi ra giấy suốt hai năm qua. Tao ghi đều như đồng hồ ấy chứ. Tao bảo mày đít bảy chưa ăn lần nào." "Có, bảy có ăn! Tao có thể đọc toàn bộ con số. Số cuối là bốn trăm linh bảy. Tháng hai, tuần thứ hai của tháng hai." "Con bà mày tháng hai thì có! Tao ghi giấy trắng mực đen cẩn thận. Không có con bảy nào hết." "Thôi câm đi!". Người thứ ba bấy giờ mới can thiệp. Họ đang tranh cãi về xổ số. Đi cách chừng ba mươi mét Winston còn ngoái lại. Họ vẫn tiếp tục tranh cãi một cách hùng hổ như cũ. Xổ số mở hàng tuần, tiền thưởng rất lớn, đây là hoạt động xã hội duy nhất lôi cuốn được sự quan tâm của bọn cu li. Có đến hàng triệu người coi xổ số là mục đích sống chính, nếu không nói là mục đích duy nhất. Đấy là niềm vui, là sự điên loạn, là niềm an ủi, là chất kích thích của họ. Trong lĩnh vực này thì ngay cả những người chỉ vừa thoát nạn mù chữ cũng tỏ ra rất giỏi tính toán và có trí nhớ tuyệt vời. Có cả một bọn chuyên sống bằng nghề bán các tờ dự báo và bùa chú. Winston không liên quan gì đến trò này, đây là việc của Bộ Ấm No, nhưng anh biết (tất cả đảng viên đều biết) các vụ trúng thưởng lớn đều là giả mạo cả. Thực ra chỉ có những món trúng nhỏ là thật, còn tên những người trúng lớn là bịa. Khi các vùng của Oceania không thể liên lạc được với nhau thì khó gì mà không làm được chuyện này. Nhưng nếu có hi vọng thì đấy chính là bọn cu li. Phải bám chắc ý đó. Nói nghe có lí, nhưng nhìn vào những người gặp hàng ngày thì lại thấy đấy chỉ là niềm tin mù quáng. Anh rẽ sang dãy phố hướng xuống phía chân đồi. Anh có cảm giác quen quen, con đường chính cũng không xa đây lắm. Phía trước có tiếng ồn ào vọng lại. Sau một khúc quanh là đến những bậc thang dẫn vào một con hẻm nhỏ, có những người đứng bán hàng, chủ yếu là rau úa. Winston đã nhận ra. Con hẻm này dẫn ra phố chính, còn chỗ rẽ kia, đi khoảng năm phút nữa, là cửa hàng đồng nát, nơi anh đã mua quyển sổ nhật kí. Đi tí nữa là đến của hành văn phòng phẩm, nơi anh đã mua cái bút và lọ mực. Anh đứng lại một lúc trên cái bậc cao nhất. Phía bên kia con con hẻm là một quán bia trông rất nhếch nhác, các ô cửa sổ mờ như bị băng phủ lên mặt kính, nhưng thực ra chỉ là bụi bám mà thôi. Một ông lão lưng gù nhưng dáng đi còn nhanh nhẹn, chòm râu bạc trắng đua ra phía trước như râu tôm đang mở cửa đi vào. Winston chợt nghĩ rằng ông lão đó ít nhất cũng phải tám mươi tuổi, khi Cách Mạng nổ ra thì ông cụ cũng đã bước vào tuổi trung niên. Lão và một vài người khác tầm tuổi lão là những mối dây liên hệ còn sót lại cuối cùng với chủ nghĩa tư bản đã bị xoá bỏ. Ngay trong Đảng số người mà tư tưởng đã định hình từ trước Cách Mạng còn lại cũng không nhiều. Thế hệ lớn tuổi hầu như đã bị tiêu diệt hoàn toàn trong các cuộc thanh trừng hồi những năm năm mươi và sáu mươi, số sống sót thì sợ hãi đến độ lú lẫn hết. Muốn gặp một người có thể nói về điều kiện sống trong nửa đầu thế kỉ thì chỉ có thể tìm trong bọn cu li mà thôi. Winston bỗng nhớ lại đoạn nhật kí chép từ cuốn sách lịch sử dành cho trẻ con và một ý nghĩ điên rồ bỗng choán hết tâm trí anh. Anh sẽ vào quán bia, làm quen với ông lão và hỏi những câu đại loại như: "Xin cụ kể lại cuộc sống thời trai trẻ. Lúc đó có giống bây giờ không ạ? Đời sống lúc đó khá hơn hay kém hơn bây giờ hả cụ?" Anh chạy theo bậc thang rồi băng qua con hẻm nhỏ, sợ rằng nếu chần chừ thì lại không dám. Dĩ nhiên chỉ có người điên mới hành động như vậy. Không có điều luật nào cấm nói chuyện với bọn cu li hay cấm vào quán bia của họ, nhưng một hành động bất thường như thế nhất định là bị ghi sổ đen rồi. Nếu gặp đội tuần tra thì anh sẽ nói dối là bị chóng mặt, nhưng chắc gì họ tin. Anh giơ tay đẩy cửa, mùi bia chua lờm lợm xông thẳng ngay vào mũi. Tiếng ồn ào lặng hẳn xuống.Tất cả các cặp mắt dồn vào bộ đồng phục anh mang trên người. Những người đang thi ném phi tiêu ở phía cuối quán ngừng chơi chừng ba mươi giây. Ông lão anh đi theo đứng cạnh quầy bar, đang cãi vã với chủ quán, một người còn trẻ, khoẻ, chắc mập, mũi khoằm, có đôi cánh tay to như hộ pháp. Nhiều người khác tay cầm vại, đứng xung quanh theo dõi. "Tôi chỉ xin anh thôi", ông lão vừa nói vừa vươn vai lên có vẻ muốn gây sự. "Thế mà anh lại bảo tôi rằng quán của anh không bán theo pint." "Cháu chẳng biết pint là gì đâu cụ ơi", chủ quán cãi, tay nắm chặt quầy, người hơi vươn ra phía trước. "Các vị có nghe rõ không? Chủ quán mà không biết pint là gì!
1,170
4
Pint là nửa quart [1],bốn quart là một gallon [2]. Chả lẽ phải dạy anh từ A, B, C nữa sao?" "Tôi chưa nghe nói pint bao giờ", chủ quán đáp. "Chúng tôi bán loại một lít và nửa lít. Cốc nằm trên ngăn kia kìa." "Tôi chỉ uống một pint", ông lão vẫn khăng khăng. "Rót cho lão một pint thì có gì khó? Lúc còn trẻ tôi chưa uống lít bao giờ." "Khi cụ còn trẻ thì chúng con còn trên ngọn tre, ngọn pheo cơ cụ ơi", chủ quán vừa nói vừa nhìn những khách hàng khác. Mọi người cười rộ, không ai còn cảm thấy lúng túng vì sự có mặt của Winston nữa. Mặt lão gìa chuyển thành màu đỏ. Lão vừa càu nhàu vừa bước ra và đụng phải Winston. Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay ông lão. "Cháu xin mời cụ một li ạ", Winston nói. "Phúc đức quá", lão già đáp, ngực ưỡn ra đằng trước. Có lẽ lão không nhìn thấy bộ đồng phục của Winston. "Một pint", lão ra lệnh cho chủ quán. "Một pint bia, nghe chưa?" Chủ quán nhúng hai cái cốc to vào chậu nước đặt dưới quầy rồi rót vào mỗi cốc nửa lít bia đen. Bia là đồ uống duy nhất trong các quán dành cho cu li. Cu li không được uống rượu Gin, nhưng thực ra kiếm món đó không khó khăn gì. Cuộc thi ném phi tiêu lại tiếp tục còn những người đứng cạnh quầy thì bắt đầu nói về vé số. Không ai còn để ý đến Winston nữa. Gần cửa sổ có một cái bàn bằng gỗ thông, ngồi ở đó tâm sự thì không sợ bị nghe lén. Quá mạo hiểm, nhưng may là trong quán không có màn vô tuyến, Winston nhận ra ngay khi vừa bước vào. "Anh ta có thể rót cho già này một pint". Lão già vừa làu bàu vừa ngồi xuống bên cạnh cái bàn. "Nửa lít thì ít quá, chưa đã. Một lít thì lại nhiều quá. Tiểu tiện suốt. Chưa nói tiền đấy." "Từ hồi thanh niên đến nay chắc cụ đã chứng kiến nhiều thay đổi lắm rồi", Winston nói. Đôi mắt xanh đã mờ đục vì năm tháng chuyển từ bàn chơi phi tiêu sang quầy rượu rồi cánh cửa nhà vệ sinh làm như có thể tìm được những thay đổi ấy ngay tại đây, trong quán bar này không bằng. "Bia ngày xưa ngon hơn", cuối cùng ông lão nói. "Rẻ hơn! Khi tôi còn trẻ loại bia nhẹ wallop giá có 4 xu một pint thôi. Đấy là nói thời trước chiến tranh." "Chiến tranh nào ạ?", Winston hỏi. "Chiến tranh liên miên", lão già giải thích. Lão nâng vại bia lên, ngực ưỡn ra theo thói quen. CChúc sức khoẻ anh!" Cục hầu nhọn hoắt trên cái cần cổ gày nhẳng lên xuống liên tục, vại bia cạn trong nháy mắt. Winston đi lại phía quầy, lấy thêm hai vại nữa. Lão già hình như đã quên lời khẳng định không uống một lít. "Cụ già hơn cháu nhiều rồi ạ", Winston nói. "Khi cháu mới sinh thì chắc cụ đã lớn tuổi rồi. Chắc cụ còn nhớ thời trước Cách Mạng chứ ạ. Chúng cháu thì chả biết gì về thời đó cả. Chúng cháu chỉ biết đọc sách, mà sách chắc gì đã đúng. Hôm nay cháu muốn được nghe ý kiến cụ. Sách lịch sử nói rằng cuộc sống ngày xưa khác hẳn bây giờ. Nào là đàn áp dã man, nào là bất công, nào là nghèo đói đến mức không thể nào tưởng tượng được. Ngay tại London rất nhiều người bị đói từ lúc lọt lòng mẹ cho đến lúc chết. Một nửa dân số không biết gìay dép là gì. Chín tuổi đã thất học, làm thì mười hai giờ mỗi ngày, ngủ thì mười người một buồng. Trong khi đó một ít người, khoảng mấy ngàn, gọi là tư sản lại nắm hết tài sản và quyền lực. Chúng nắm hết mọi thứ có thể nắm. Chúng sống trong những biệt thụ sang trọng, có hàng ba chục đầy tớ, chúng đi bằng xe ô tô và xe tứ mã, chúng uống rượu champagne, chúng đội mũ phớt... Ông già tươi tỉnh hẳn lên. "Mũ phớt à", ông nói. "Anh nhớ chuyện đó, vui đấy. Hôm qua tôi cũng nghĩ đến chuyện này. Không hiểu sao nữa. Tôi nghĩ không biết đã bao nhiêu năm không trông thấy mũ phớt rồi. Lần cuối cùng tôi đội mũ phớt là tại đám ma chị dâu. Lần đó... không nhớ năm nào nữa, nhưng cũng phải năm mươi năm rồi. Dĩ nhiên là thuê rồi, anh hiểu không?" "Mũ phớt, thực ra không quan trọng cụ ơi", Winston vội vã chen ngang. "Cái chính là có phải bọn tư sản...và một ít luật sư, thày tu sống bám vào chúng là chủ nhân trên trái đất. Mọi thứ đều thuộc về họ. Còn ví dụ như cụ, những người bình thường, những người công nhân là nô lệ của họ. Họ muốn làm gì với các cụ thì làm. Họ có thể đưa các cụ sang Canada như đưa súc vật cũng được. Nếu muốn họ có thể ngủ với con gái các cụ. Họ có thể ra lệnh đánh các cụ bằng roi chín nút. Khi gặp họ, các cụ phải ngả mũ chào. Đi đâu mỗi tên tư sản đều có cả chục đầy tớ tiền hô hậu ủng..." Ông già lại tươi tỉnh lên. "Đầy tớ!, ông nói. "Lâu qúa không được nghe từ này. Đầy tớ! Nói thật nhá, nó làm tôi nhớ lại thời trai trẻ đấy. Tôi nhớ...lúc đó...chủ nhật nào tôi cũng đến Hyde Park để nghe diễn thuyết. Đủ mọi hạng người, nào là Đội Quân Cứu Thế, nào là người công giáo, người Do Thái, người Ấn Độ. Có một tay...tên thì không nhớ...nhưng nói hay ơi là hay! Hắn mắng tụi đầy tớ nhé. Đầy tớ, hắn nói. Đầy tớ của bọn tư sản! Tôi tớ của giai cấp cầm quyền! Lũ ăn bám, hắn nói thế đấy. Linh cẩu, đúng rồi gọi là linh cẩu. Tất nhiên đấy là nói về Đảng Lao Động, chú mày hiểu chứ. Winston cảm thấy rõ là ông nói gà bà nói vịt, câu chuyện sẽ chẳng đi đến đâu. "Cháu muốn hỏi là", anh bảo. "Cụ có cảm thấy bây giờ được tự do hơn hồi xưa không? Có được đối xử tử tế hơn không? Trước đây những người giầu có, người thượng lưu..." "Thượng viện", cụ già ngắt lời. "Thượng viện cũng được. Cháu muốn hỏi là có phải bọn đó có thể đối xử với các cụ như những người hạ lưu chỉ vì họ giầu còn cụ thì nghèokhông? Có đúng là cụ phải gọi họ là "Ngài" và phải ngả mũ chào khi gặp họ không?" Có vẻ như lão phải suy nghĩ rất lung. Lão uống nốt một phần tư vại bia rồi mới trả lời. "Đúng", lão nói. "Họ thích mình chạm tay vào mũ. Kiểu như là tôn trọng ấy. Thực ra thì tôi không thích, nhưng vẫn làm. Tránh đi đâu được." "Có phải thường là, đấy là cháu chỉ kể lại theo sách lịch sử thôi, có phải thường là bọn đó ra lệnh cho đầy tớ không cho các cụ đi trên vỉa hè, hất các cụ xuống rãnh nước không?" "Một thằng đã đẩy tôi đấy", lão già nói. "Vẫn nhớ như vừa mới hôm qua thôi. Đêm đó có hội đua thuyền, đêm đua thuyền bao giờ cũng lộn xộn lắm, tôi đâm phải một gã trên đại lộ Shaftesbury. Gã trông có dáng quí tộc, complet, mũ phớt, áo bành tô đen. Gã đang đi trên vỉa hè, siêu siêu vẹo vẹo, thế là vô tình tôi đâm phải. Hắn nói: "Không có mắt à?". Tôi bảo: "Vỉa hè của nhà mày đấy à?". Hắn lại bảo: "Mất dạy hả? Tao vặn cổ đi bây giờ". Tôi bảo: "Xỉn hả, tao giao mày cho cảnh sát thì tiêu đời". Cậu có tin không, nó nắm lấy ngực áo tôi và cứ thế mà đẩy, chút nữa thì tôi rơi vào bánh ô tô rồi. Lúc đó tôi còn trẻ, đáng lẽ nó chết với tôi, nhưng..." Winston cảm thấy vô cùng thất vọng. Lão già chỉ nhớ toàn những chuyện vụn vặt. Có thể nói chuyện với lão suốt ngày mà chẳng được thông tin nào có giá trị. Lịch sử Đảng nói đúng, mà có thể là hoàn toàn đúng cũng nên.
1,171
4
Anh cố thử lần cuối. "Có thể cháu nói chưa rõ", anh bảo. "Cháu muốn hỏi thế này cụ ạ. Cuộc đời cụ phải nói là dài, cụ đã sống một nửa đời người trước Cách Mạng. Lấy thí dụ năm 1925, lúc đó cụ đã lớn. Theo ý cụ thì đời sống năm 1925 tốt hơn hay kém hơn bây giờ? Nếu được lựa chọn thì cụ thích thời nào hơn?" "Lão hiểu anh muốn gì rồi", ông già đáp. "Anh muốn ta nói thích được trẻ lại chứ gì. Ai không muốn được trẻ lại cơ chứ. Trẻ thì có sức khoẻ, có tất. Già bằng tôi đi rồi sẽ biết, đủ thứ bệnh. Khi thì đau chân, rồi bọng đái nữa, khổ lắm. Đêm dậy sáu bảy lần. Nhưng già có thú của già. Chẳng phải lo gì nữa. Không tơ tưởng gì đến đàn bà nữa, quan trọng lắm. Anh có tin hay không thì tùy, nhưng đã ba mươi năm nay lão không dính dáng gì đến đàn bà nữa. Cái chính là không còn hứng nữa. Winston tựa hẳn lưng vào bậc cửa sổ. Hỏi nữa cũng vô ích. Anh định mua thêm bia, nhưng lão gìa đột ngột đứng dậy và lê bước về phía nhà vệ sinh nồng nặc ở bên hông căn phòng. Nửa lít uống thêm đã có tác dụng rồi. Winston ngồi ngắm chiếc vại không thêm một hai phút nữa rồi bỗng thấy mình đã bước ra đường phố lúc nào không hay.Trong suốt hai mươi năm qua, anh nghĩ, một câu hỏi lớn, nhưng đơn giản "Cuộc sống trước Cách Mạng có dễ chịu hơn bây giờ không?" đã vĩnh viễn không thể tìm được câu trả lời. Thực ra ngay lúc này cũng không tìm được câu trả lời vì một ít chứng nhân của thế giới cũ còn lại hiện nay không có khả năng so sánh. Họ nhớ rất nhiều sự kiện vô ích, nào là cãi nhau với đồng nghiệp, nào là tìm cái bơm xe đạp bị mất, nào là nét mặt của người chị gái chết đã lâu, nào là cơn lốc bụi trong một buổi sáng lộng gió cách đây bảy mươi năm; nhưng các sự kiện có ý nghĩa thì lại nằm ngoài tầm của họ. Họ giống như bầy kiến, chúng có thể trông thấy những vật nhỏ, nhưng vật lớn thì chịu. Kí ức không còn, hồ sơ thì bị xuyên tạc, khi điều đó xảy ra, thì phải chấp nhận lời tuyên bố là Đảng đã cải thiện điều kiện sống của người dân vì không có và sẽ không bao giờ có tiêu chuẩn nào để đối chiếu nữa. Đến đây luồng tư tưởng của anh bỗng bị ngắt quãng. Anh đứng lại và ngước mắt nhìn. Anh đang đứng trên một con phố hẹp, có mấy cửa hàng nhỏ tối tăm nằm chen giữa khu dân cư. Ngay trên đầu anh có treo ba quả cầu kim loại, chắc là trước đây mạ vàng, nhưng giờ đã xỉn. Dường như anh đã nhận ra. Đúng rồi! Anh đã mua cuốn nhật kí trong cái cửa hàng đồng nát này. Anh bỗng phát hoảng. Mua cuốn sổ đã là liều rồi, anh đã thề sẽ không lai vãng đến khu này nữa. Thế mà chỉ lơ đãng một chút đôi chân đã tự lôi anh đến chỗ này rồi. Anh viết nhật kí chính là để tránh những cơn bốc đồng có tính tự sát như thế này đây. Đã gần chín giờ tối nhưng cửa hàng vẫn còn mở. Anh vội bước qua ngưỡng cửa để vào bên trong vì nghĩ rằng như thế sẽ ít bị chú ý hơn là cứ đi phất phơ trên trên vỉa hè. Nếu bị hỏi anh sẽ trả lời là định mua lưỡi dao cạo râu. Ông chủ cửa hàng châm chiếc đèn dầu hoả treo lơ lửng giữa nhà, mùi tuy không sạch nhưng có vẻ ấm cúng. Ông ta khoảng sáu mươi tuổi, lưng đã còng, dáng vẻ ốm yếu, chiếc mũi dài, đôi mắt sau cặp kính trông có vẻ to, phúc hậu. Tóc ông đã bạc trắng, nhưng cặp lông mày dày thì vẫn còn đen. Cặp kính, dáng điệu nhẹ nhàng lịch sự, bộ complet cũ may bằng vải nhung; tất cả tạo cho ta cảm giác ông là một người tri thức, một văn nhân hay nhạc sĩ. Giọng ông dịu dàng, đã khàn nhưng không khó nghe như đa số cu li khác. "Tôi đã nhận ra khi ông còn đứng ngoài đường cơ", ông ta nói khi anh vừa bước vào. "Ông là người đã mua quyển anbom dành cho bạn gái ở đây. Giấy đẹp, rất đẹp. Thường gọi là giấy vecjê màu kem. Tôi xin nói năm mươi năm nay không làm loại giấy này nữa rồi". Ông ta nhìn thẳng vào Winston. "Ông có muốn tìm món gì đặc biệt không ạ? Hay là ông chỉ thích ngắm chơi vậy thôi?" "Tôiđi ngang qua đây", Winston đáp một cách lơ đãng. "Tôi chỉ vào xem. Cũng chưa định mua gì cụ thể cả." "Không sao, chả còn món gì ra hồn nữa rồi ông ơi", ông ta lấy tay phác một cử chỉ như là xin lỗi. "Ông thấy đấy, có thể nói cửa hàng trống trơn hết rồi. Có ông tôi mới dám nói chứ việc buôn bán cổ vật hết thời rồi. Không có người mua, cũng chả còn gì mà bán. Đồ gỗ, đồ sứ, đồ thủy tinh cứ gãy, vỡ dần. Đồ kim loại thì bị đem đi nấu lại hết. Đã bao năm nay tôi không trông thấy một cái giá đỡ nến bằng đồng thau nào rồi đấy." Gian hàng nhỏ bé tuy chật cứng đủ thứ, nhưng chẳng có vật gì gọi là đáng giá cả. Chật quá, cạnh tường chỗ nào cũng thấy những khung tranh đầy bụi. Trong tủ kính thấy có những chiếc mâm chứa nào là ốc, nào là đinh vít, nào là đục cũ, nào là dao nhíp gãy, nào là đồng hồ hỏng, và đủ thứ bà giằn khác. Trên cái bàn trong một góc có nhiều thứ lặt vặt như hộp đựng thuốc lá sơn mài, trâm bằng đá mã não là may ra có gì hay hay chăng. Winston đi lại phía cái bàn và nhìn thấy một vật tròn, nhẵn, lấp lánh dưới ánh đèn, anh cầm lên xem. Đấy là một vật làm bằng kính, một phía cong, một phía thẳng, gần như nửa quả cẩu. Mầu sắc và cấu trúc của nó tạo cảm giác mềm mại, như một giọt nước mưa. Bên trong có một vật màu hồng, vặn vẹo, xoắn xuýt như là cây hoa hồng hay cỏ chân ngỗng. "Cái gì đây ạ?", Winston ngạc nhiên hỏi "Cái này hả? San hô", ông già đáp. "Chắc là từ Ấn Độ Dương. Trước đây người ta hay đổ vào bên trong kính. Phải hơn một trăm năm rồi đấy." "Đẹp quá", Winston nói. "Vâng, đẹp lắm", ông kia đáp. "Nhưng bây giờ ít người biết đánh giá lắm". Ông ta húng hắng ho. "Nếu ông muốn mua thì tôi chỉ lấy bốn dollar thôi. Ngày xưa nó phải có giá tám pound, mà tám pound [3] thì…tôi không thể nói chính xác là bao nhiêu nhưng lớn lắm. Bây giờ ai còn cần đồ cổ, mặc dù đồ cổ thực chẳng còn bao nhiêu nữa." Winston lập tức trả bốn dollar và bỏ món đồ quí vào túi áo. Anh thích không phải vì nó đẹp mà vì nó gợi nhớ khung cảnh một thời xa xưa, khác hẳn bây giờ. Anh chưa bao giờ thấy một món đồ nào làm bằng kính mà lại có vẻ mềm mại, giống như giọt nước mưa như thế này. Thú vị nhất là nó hoàn toàn vô ích, tuy anh đoán rằng trước đây nó được dùng làm cái chặn giấy. Khá nặng, nhưng may là nó không to. Một món đồ kì cục, có thể làm tổn hại danh dự một đảng viên. Tất cả những món đồ cũ, thêm nữa nếu lại đẹp đều đáng ngờ cả. Ông chủ có vẻ vui hơn sau khi nhận được bốn dollar. Winston cho rằng chỉ cần trả ba thậm chí hai dollar ông ta cũng bán. "Nếu ông còn muốn xem thì trên kia còn một gian nữa", ông ta nói. "Không có nhiều. Chỉ có vài món thôi. Nếu ông lên thì để tôi châm đèn." Sau khi châm thêm một cái đèn nữa, ông chậm rãi đi lên theo những bậc thang đã mòn vẹt và qua một cái hành lang nhỏ rồi dẫn Winston vào một căn phòng nhìn ra một cái sân rải sỏi và một rừng ống khói có mái che. Winston để ý thấy đồ gỗ được sắp xếp như một phòng ngủ. Trên sàn có một tấm thảm hẹp, trên tường treo một hai bức tranh và một chiếc ghế bành sâu, sứt sẹo kê sát lò sưởi. Trên bệ lò sưởi là chiếc đồng hồ kiểu cổ, mặt kính có mười hai chữ số vẫn tích tắc điểm nhịp. Bên dưới cửa sổ, là chiếc giường khổng l
1,172
4
ồ, chiếm đến một phần tư diện tích căn phòng, vẫn còn cả nệm. "Trước khi bà nhà tôi mất thì chúng tôi sống trong phòng này", ông già nói như người mắc lỗi. "Tôi cứ phải bán dần đồ gỗ đi. Còn cái giường gỗ đỏ tuyệt vời này, đúng hơn là sẽ tuyệt nếu diệt được hết rệp. Nhưng chắc ông cho là hơi to." Ông ta giơ đèn lên quá đầu để có thể chiếu sáng cả căn phòng, trong luồng ánh sáng ấm và mờ căn phòng trông có vẻ khá tiện nghi. Nếu có đủ can đảm, Winston chợt nghĩ, thì có thể thuê căn phòng này, chỉ mấy dollar một tuần thôi. Một ý tưởng ngông cuồng, nhảm nhí trôi qua cũng nhanh như lúc xuất hiện, nhưng căn phòng đã khơi dậy trong anh lòng hoài cổ, đánh thức kí ức của tổ tiên vẫn lưu chuyển trong từng giọt máu của anh. Anh cảm thấy mình hiểu rõ cảm giác khi ngồi trong một căn phòng như thế này, ngả mình trong một cái ghế bành cạnh lò sưởi, chân gác trên thanh chắn, trên bếp than là một siêu nước; cứ ngồi một mình như thế, không lo lắng, không bị ai theo dõi, không bị tiếng loa phát thanh săn đuổi, chỉ có tiếng reo của nước sôi và tiếng đồng hồ tích tắc điểm nhịp. "Không có màn vô tuyến!", anh bỗng thì thầm. "À, cái này", ông già nói. "Tôi chưa bao giờ mua. Đắt lắm. Mà anh biết không, tôi chưa bao giờ thấy có nhu cầu. Có một cái bàn cánh lật dễ thương trong góc kia kìa. Bây giờ nếu muốn mở cánh thì phải thay bản lề." Trong một góc khác có một cái kệ sách nhỏ, Winston bước về phía đó. Trên kệ chỉ toàn những thứ vớ vẩn. Việc tìm diệt sách trong các khu cu li cũng được thực hiện triệt để như mọi nơi khác. Chắc là trên khắp nước Oceania chẳng còn cuốn sách nào được in trước năm 1960. Ông già tay cầm đèn đang đứng trước bức tranh trong khung bằng gỗ hồng mộc treo trên bức tường đối diện với lò sưởi, trước mặt cái giường. "Nếu ông quan tâm đến tranh khắc cổ…", ông già lịch sự nói. Winston bước lại phía bức tranh. Đấy là một bức tranh khắc ngôi nhà hình bầu dục, với các cửa sổ hình vuông và một cái tháp nhỏ đằng trước trên một tấm thép. Xung quanh ngôi nhà có hàng rào và phía trong cùngcó một cái gì đó trông như bức tượng. Winston đứng ngắm khá lâu. Khung cảnh dường như quen, nhưng anh không nhớ bức tượng. "Khung tranh được gắn vào tường", ông già nói. "Nhưng nếu ông thích thì tôi sẽ tháo vít ra." "Tôi biết ngôi nhà này", Winston bảo. "Nó bị phá rồi. Nó nằm ở giữa phố, bên cạnh Cung Tư Pháp." "Đúng đấy. Cạnh Toà Án. Bị bom phá…Lâu lắm rồi. Đây là nhà thờ St. Clement, thánh Clement của người Đan Mach", ông mỉm cười như người mắc lỗi rồi nói thêm: "Cam cam chanh chanh là chuông Clement" "Cái gì đấy ạ?", Winston hỏi. "À, Cam cam chanh chanh là chuông Clement. Đấy là một bài đồng dao khi tôi còn nhỏ. Tôi không nhớ cả bài, chỉ nhớ hai câu cuối: Nghe thì thắp nến cho đi vào giường, Không nghe rút búa thì mày tan xương. Trẻ con vừa hát vừa múa. Một bọn nắm tay nhau cho một đứa luồn qua, khi hát đến câu: Không nghe rút búa thì mày tan xương, thì bọn kia bỏ tay ra để bắt. Bài hát toàn tên các nhà thờ. Tất cả các nhà thờ của London, các nhà thờ chính ấy." Winston tự hỏi không biết cái nhà thờ này được xây từ bao giờ. Khó xác định tuổi các toà nhà ở London lắm. Tất cả các toà nhà to, bề thế, bề ngoài có vẻ còn mới đều được coi là xây sau Cách Mạng, còn các ngôi nhà cũ hơn, thì được gán cho một giai đoạn rất mù mờ gọi là thời Trung Cổ. Giai đoạn tư bản chủ nghĩa chẳng làm được trò trống gì cả. Kiến trúc cũng như sách vở chẳng giúp được gì trong việc nghiên cứu lịch sử nữa. Các bức tượng, các bức phù điêu, bia đá cũng như tên phố, tên phường, tóm lại bất cứ thứ gì có thể gợi nhớ về quá khứ đều đã bị sửa đổi một cách có hệ thống. "Trước đây cháu đâu biết đấy là nhà thờ", Winston nói. "Vẫn còn nhiều", ông già bảo. "Nhưng được dùng vào việc khác hết. Bài đồng dao thế nào nhỉ? À, nhớ rồi. Cam cam chanh chanh là chuông Clement Nợ ta ba xèng là chuông Martin… Chịu không nhớ được nữa. Xèng làm bằng đồng, giống như tiền xu bây giờ." "Thế nhà thờ Thánh Martin nằm ở đâu ạ?", Winston hỏi. "Nhà thờ Thánh Martin à? Vẫn còn đấy. Trên quảng trường Chiến Thắng, cạnh viện bảo tàng tranh ấy. Toà nhà có cổng vòm hình vuông, hàng cột to ở đằng trước và cái cầu thang rất rộng ấy." Winston biết rõ khu vực này. Đây là viện bảo tàng dùng cho mục đích tuyên truyền, thường trưng bày các mô hình tên lửa, hay Pháo Đài Nổi và các hình người bằng sáp mô tả sự tàn bạo của kẻ thù và những cảnh đại loại như vậy. "Nhà thờ này tên là Thánh-Martin-ngoài-đồn-điền", ông lão nói thêm. "Nhưng tôi chẳng thấy cánh đồng nào ở đó bao giờ." Winston không mua bức tranh. Món này còn nguy hại hơn cả cái chặn giấy, vả lại muốn mang về thì phải tháo khung ra cơ. Nhưng anh vẫn ở lại nói chuyện với ông già thêm một lúc nữa, hoá ra tên ông không phải là Week như bảng hiệu treo trước cửa hàng mà là Charrington. Theo như lời kể thì ông Charrington năm nay sáu mươi ba tuổi, góa vợ và sống tại cửa hàng này đúng ba mươi năm rồi. Ông cứ định thay bảng hiệu suốt, thế mà cuối cùng vẫn không thay được. Bài đồng dao cứ trở đi trở lại trong đầu Winston suốt thời gian anh nói chuyện với ông già. Cam cam chanh chanh là chuông Clement, Nợ ta ba xèng là chuông Martin! Kì thật: khi lẩm nhẩm câu đó anh như nghe thấy tiếng chuông nhà thờ vang vọng đâu đây, tiếng chuông của thành phố London xưa, cái thành phố dù bị lãng quên, dù bị khinh khi nhưng vẫn tồn tại. Anh như nghe thấy những tiếng chuông, anh như thấy những cái chuông mờ ảo, cái nọ tiếp sau cái kia cùng lên tiếng. Nhưng thực ra từ trước tới nay anh chưa hề được nghe tiếng chuông nhà thờ ngân nga bao giờ. Anh chia tay với ông Charrington và đi xuống thang gác một mình vì không muốn ông già chứng kiến cảnh anh quan sát đường phố trước khi bước ra khỏi cửa. Anh quyết định là một lúc nào đó thuận tiên, khoảng một tháng nữa, sẽ lại liều ghé vào cửa hàng này một lần nữa. Chuyện này cũng chẳng nguy hiểm hơn việc bỏ một buổi sinh hoạt tại Trung Tâm. Hành động thiếu thận trọng nhất là đã trở lại nơi này sau khi mua cuốn sổ mà không biết rõ là chủ nhà có đáng tin không thì anh đã làm rồi. Nhất định, anh tự nhủ, mình sẽ quay lại. Anh sẽ mua một vài thứ lặt vặt nữa. Anh sẽ mua bức tranh khắc nhà thờ St. Clement của người Đan Mạch, sẽ tháo khung ra rồi dấu vào trong áo khoác, đem về. Anh sẽ động viên ông Charrington cố nhớ lại toàn bộ bài đồng dao. Ngay cả ý nghĩ điên rồ là thuê căn phòng cũng chợt hiện về trong óc. Cơn bốc đồng kéo dài chỉ chừng năm giây, thế mà anh đã lú lẫn và bước ra ngoài trước khi ngó chừng qua cửa sổ. Anh lại còn bắt đầu hát, dĩ nhiên là theo nhịp tự biên của chính mình: Cam cam chanh chanh là chuông Clement Nợ ta ba xèng là chuông Martin Anh bỗng giật thót người, tim như ngừng đập, chân tay rụng rời. Một người mặc đồng phục màu xanh đang đi trên vỉa hè, theo hướng ngược lại, cách anh chỉ chừng mươi mét là cùng. Đấy chính là cô gái tóc đen trong Ban Sáng Tác. Trời đã xâm xẩm tối, nhưng anh đã nhận ra ngay cô ta. Cô nhìn thẳng vào mắt anh rồi đi lướt nhanh qua như chưa từng trông thấy. Chân anh rã rời, mấy giây sau vẫn chưa bước được. Anh rẽ sang bên phải, nặng nề lê bước, không hề nhận ra là đã đi sai đường. Dù sao mặc lòng, một vấn đề đã được giải quyết. Không còn nghi ngờ gì rằng cô gái kia
1,173
4
đang theo dõi anh. Cô ta đã đi theo anh tới đây vì hai người vô tình gặp nhau trong một con phố nhỏ tồi tàn, cách xa khu vực cư ngụ của đảng viên cả chục cây số như thế này là chuyệnkhông thể nào tin được. Cô ta là chỉ điểm của Cảnh Sát Tư Tưởng hay chỉ là một kẻ nhiễu sự không phải là việc quan trọng. Quan trọng là cô ta đã theo dõi anh. Có thể cô ta đã trông thấy anh đi vào quán bia cũng nên. Mệt quá, không bước nổi nữa. Cứ mỗi lần bước là cái chặn giấy lại đập một cái vào sườn, anh đã định vất đi. Nhưng khổ nhất là những cơn co thắt ở bụng. Có lúc anh cảm thấy rằng sẽ lăn ra chết nếu không tìm được nhà vệ sinh ngay lập tức. Nhưng trong khu như thế này thì làm gì có nhà vệ sinh công cộng. Một lúc sau thì bụng hết co thắt, nhưng vẫn còn đau ê ẩm. Hoá ra anh đi vào một con phố cụt. Winston đứng lại, lưỡng lự một lúc rồi mới quay ra. Khi quay lại anh chợt nhận ra rằng cô gái tóc đen mới đi cách đây chừng ba phút, chạy thì có thể đuổi kịp. Anh có thể đi theo cô ta đến một chỗ vắng và lấy hòn đá lát đường nện cho một phát vào sọ. Cái chặn giấy trong túi cũng khá nặng, được việc đấy. Nhưng kế hoạch này lập tức bị bác bỏ, ngay ý định hành hung cũng đã không thể chấp nhận được rồi. Anh không đủ sức chạy, càng không đủ sức ra tay. Hơn nữa cô ta còn trẻ, lại khỏe nữa, cô ta sẽ kháng cự. Anh lại nghĩ đến việc đi thật nhanh đến Trung Tâm và ngồi đợi cho đến khi đóng cửa, đấy cũng là cách chứng tỏ mình ngoại phạm, dù chỉ phần nào. Nhưng không thể được. Anh cảm thấy hoàn toàn kiệt sức. Anh chỉ muốn đi thật mau về nhà, rồi ngồi xuống, nghỉ ngơi. Hơn hai mươi hai giờ anh mới về đến nhà. Điện sẽ cắt vào lúc mười một giờ rưỡi. Anh đi vào bếp và uống hết hẳn một cốc rượu Gin Chiến Thắng. Sau đó anh lại chỗ bàn viết, ngồi xuống và lấy cuốn nhật kí từ trong ngăn kéo ra. Nhưng anh không mở cuốn sổ ra ngay. Từ màn vô tuyến một giọng phụ nữ nghe như lệnh vỡ đang hát một bài đầy tinh thần ái quốc. Anh ngồi yên lặng ngắm cuốn sổ màu cẩm thạch, cố quên tiếng hát đi, nhưng không được. Chúng sẽ đến vào ban đêm, bao giờ cũng đến ban đêm. Tốt nhất là tự sát trước khi bị bắt. Chắc chắn là có một số người đã làm như thế. Nhiều vụ bốc hơi thực ra là những vụ tự sát. Nhưng phải gan lắm thì mới tự sát được vì không thể nào kiếm được súng, không thể nào mua được độc dược đảm bảo chắc ăn mà lại phát tác nhanh. Anh lấy làm ngạc nhiên khi nghĩ rằng nỗi đau và nỗi sợ là những cảm giác vô ích về mặt sinh học, rằng cơ thể con người ta rất hay ì ra ngay đúng lúc cần phải có những hành động quyết liệt. Anh đã có thể bịt miệng cái cô gái tóc đen kia nếu như anh hành động kịp thời: chính mối hiểm nguy quá lớn đã làm anh kiệt sức. Anh bỗng nhận ra rằng trong những tình huống khẩn trương con người ta không bao giờ chiến đấu chống lại kẻ thù bên ngoài mà bao giờ cũng chống lại chính cơ thể của mình. Ngay cả lúc này, sau khi đã có li Gin, cơn đau âm ỉ trong ổ bụng vẫn không để cho anh suy nghĩ một cách mạch lạc. Anh cho rằng những hoàn cảnh tưởng, dù là bi kịch hay anh hùng thì cũng thế mà thôi. Trên mặt trận, trong phòng tra tấn, trên những con tầu đang chìm dần bao giờ ta cũng quên ngay mục đích của cuộc chiến đấu vì cơ thể ta đã phồng lên choán đầy vũ trụ và ngay cả khi ta không đờ ra vì sợ, không gào lên vì đau thì cuộc đời cũng chỉ là những cuộc chiến đấu, từng giây từng phút chiến đấu chống lại cái đói, cái rét, những cơn mất ngủ, những cơn đau dạ dày và chứng nhức răng mà thôi. Anh mở cuốn sổ. Cần phải ghi một chuyện gì đó. Người đàn bà trên màn vô tuyến bắt đầu một bài hát mới. Giọng bà ta như cứa vào óc não không khác gì mảnh thuỷ tinh vỡ. Anh cố gắng nghĩ về O'Brien, cuốn nhật kí này là dành cho anh ta, nhưng thay vào đó anh bắt đầu nghĩ đến việc sau khi bị Cảnh Sát Tư Tưởng bắt. Nếu chúng giết ngay thì không ngại. Chết thì chắc chắn rồi. Nhưng trước khi chết (không ai nói chuyện này nhưng ai cũng biết) người ta còn phải thú nhận theo đúng thủ tục đã: phải bò trên nền nhà mà xin tha tội, rồi còn bị đánh đến gãy xương, còn bị vặn răng, tóc bê bết máu. Tại sao lại phải chịu đựng tất cả những chuyện ấy nếu kết cục vẫn là cái chết? Tại sao không tự kết liễu trước vài tuần hay vài ngày? Không ai thoát được cảnh bị mang ra đấu tố và tất cả đều nhận tội. Ngay khi phạm tội tư tưởng là ta đã tự kí bản án tử hình cho chính mình rồi. Thế thì những điều khủng khiếp trong tương lai đó có ý nghĩa gì? Anh cố gắng nhớ lại hình ảnh của O'Brien, lần này thì được. "Chúng ta sẽ gặp nhau ở nơi không còn bóng tối nữa" - O'Brien đã nói với anh như thế. Anh biết ý nghĩa của câu nói đó, hay ít ra anh nghĩ rằng mình biết. Nơi không còn bóng tối là tương lai trong trí tưởng tượng, đời ta không thể thấy, nhưng dựa vào tiên tri, ta có thể bí mật chia sẻ cùng nhau. Giọng nói từ màn vô tuyến như chọc vào tai, anh không thể phát triển tiếp luồng tư tưởng của mình. Anh lấy một điếu thuốc ra hút. Một nửa điếu thuốc rơi ngay vào lưỡi, còn lâu mới nhổ hết được đám bụi đắng nghét này ra. Hình ảnh Anh Cả bỗng xuất hiện trong đầu thế chỗ cho O'Brien. Giống như đã làm cách đó vài ngày, anh rút từ trong túi ra một đồng xu và đưa lên ngắm. Đôi mắt đang nhìn thẳng vào anh, nét mặt nghiêm khắc, bình thản, chở che: nhưng nụ cười dấu sau chòm râu đen kia ẩn chứa điều gì? Lúc đó những từ sau đây bỗng đập vào óc não, nặng nềnhư một hồi chuông báo tử: CHIẾN TRANH LÀ HOÀ BÌNH TỰ DO LÀ NÔ LỆ NGU DỐT LÀ SỨC MẠNH PHẦN II I. Lúc đó là giữa buổi sáng, Winston bước ra khỏi ngăn để đi vệ sinh. Từ đầu kia cái hành lang dài vắng ngắt có một người đang đi theo hướng ngược lại. Đấy là cô gái tóc đen. Anh chạm trán cô ta ở gần cửa hàng đồng nát cách đây vừa đúng bốn hôm. Khi cô đến gần thì anh nhận thấy tay phải cô được treo bằng một sợi dây quấn quanh cổ, sợi dây cùng màu với bộ đồng phục, từ xa không thể nhận ra được. Chắc là cô bị thương trong khi quay cái máy phác thảo nội dung các cuốn tiểu thuyết, thường gọi là kính vạn hoa. Đây là tai nạn thường thấy trong Ban Sáng Tác. Khi họ còn cách nhau chừng bốn mét thì cô gái bất ngờ xảy chân và ngã úp mặt xuống đất. Cô thét lên vì đau. Chắc cô ngã đè lên chính cánh tay bị thương. Winston sững lại. Cô đã gượng chống hai đầu gối để đứng lên. Da mặt cô biến thành màu vàng sữa, đôi môi vì vậy trông càng đỏ thêm. Cô nhìn thẳng vào Winston, cầu khẩn, ánh mắt lộ vẻ sợ hãi hơn là đau đớn. Trong lòng Winston bỗng dậy lên những tình cảm trái ngược nhau. Trước mặt anh là kẻ thù mà anh muốn thanh toán, nhưng đồng thời đây cũng là một con người đang bị đau, có thể đã bị gãy xương nữa. Anh chạy lại gần để giúp cô theo bản năng. Lúc anh nhìn thấy cô ngã đè lên cánh tay bị thương anh như thấy chính mình đang bị đau vậy. "Có đau lắm không?", Winston hỏi. "Không sao đâu. Tay. Sẽ hết ngay thôi", cô nói giọng run run như đang rất bối rối. Mặt cô bỗng trắng bệch ra. "Có bị gãy chỗ nào không?" "Không. Không sao. Đau một tí, giờ thì hết rồi" Cô đưa cánh tay lành ra và anh đỡ dậy. Mặt cô hồng trở lại, có vẻ như đã hết đau rồi. "Không sao đâu", cô nhắc lại, "Chỉ có cổ tay bị đau. Cám ơn, đồng chí!" Rồi cô bước tiếp, mạnh mẽ như chưa có gì xảy ra. Việc đó kéo dài chừng nửa phút. Thói quen không biểu lộ tình cảm đã trở thành bản
1,174
4
năng, vả lại lúc đó hai người đứng ngay trước màn vô tuyến. Nhưng thật khó mà che dấu được sự ngạc nhiên: chỉ trong vòng hai hoặc ba giây khi anh giúp cô đứng dậy, cô đã kịp dúi một vật gì đó vào tay anh. Không thể có chuyện vô tình. Đấy là một vật nhỏ và phẳng. Vừa bước vào nhà vệ sinh anh vừa đưa vật đó vào túi và lấy ngón tay mân mê. Đấy là một mảnh giấy gấp thành hình vuông. Vừa đứng tiểu tiện anh vừa cho tay vào túi mân mê để mở mảnh giấy ra. Đây chắc chắn là một thông điệp. Có lúc anh đã định đi vào buồng vệ sinh để đọc ngay tại trận. Nhưng anh biết đấy là một hành động điên rồ. Đây chính là chỗ màn vô tuyến theo dõi kĩ nhất, liên tục nhất. Anh quay về ngăn, ngồi xuống, rồi như vô tình vất mảnh giấy vào giữa đống giấy tờ trên bàn, sau đó anh đeo kính và kéo chiếc máy ghi lại gần. "Năm phút nữa", anh tự nhủ, "ít nhất phải năm phút nữa!". Tim đập như trống trận. Rất may là anh đang phải làm một công việc bình thường, chỉ phải chính xác hoá một loạt số liệu, không đòi hỏi phải tập trung tư tưởng. Dù tờ giấy có viết gì thì cũng chỉ là chuyện chính trị. Theo anh hiểu thì có hai khả năng. Thứ nhất, khả năng này có lí hơn, cô ta là chỉ điểm của Cảnh Sát Tư Tưởng, đúng như anh vẫn lo từ trước tới nay. Anh chỉ không hiểu tại sao Cảnh Sát Tư Tưởng lại chọn cách đưa tin như thế này, nhưng chắc là phải có lí do nào đó nên họ mới làm thế. Thông điệp có thể là một lời đe dọa, một giấy triệu tập, hay mệnh lệnh tự sát, mà cũng có thể là một cái bẫy. Khả năng khác, khó chấp nhận hơn, anh đã cố gắng gạt đi nhưng chỉ được một lúc rồi nó lại hiện lên trong trí não. Có khả năng bức thông điệp không phải là của Cảnh Sát Tư Tưởng mà là của một tổ chức bí mật nào đó. Có thể tổ chức Huynh Đệ vẫn tồn tại chăng! Cô ta là thành viên của nó! Điều này hoàn toàn vô lí, nhưng ý nghĩ đó xuất hiện ngay khi anh biết là mình đang cầm tờ giấy trong tay. Phải vài phút sau thì cái khả năng thứ nhất, có lí hơn nói trên mới xuất hiện trong đầu. Ngay cả bây giờ, mặc dù trí óc mách bảo rằng tờ giấy ấy có thể báo hiệu cái chết đã cận kề, nhưng anh không tin và tuy không có cơ sở, nhưng anh vẫn hi vọng, tim đập thình thịch, anh phải cố gắng hết sức giữ cho giọng không run và tiếp tục đọc các số liệu vào máy ghi. Anh cuộn những tờ giấy đã làm xong và đưa vào ống khí nén. Đã được tám phút rồi. Anh sửa lại kính, hít một hơi dài rồi kéo tập tài liệu có mảnh giấy do cô gái kia đưa về phía mình. Anh giở mảnh giấy ra. Trên mặt mảnh giấy có một hàng chữ to, viết bằng tay, nghiêng ngả: Em yêu anh. Choáng váng mất mấy giây, anh không đủ sức vất được ngay vật chứng vào lỗ nhớ. Mặc dù biết rằng chú ý quá đến tờ giấy có thể nguy, nhưng anh vẫn liều đọc một lần nữa để tin chắc rằng đúng là những chữ đó. Anh gần như không làm được gì cho đến tận bữa ăn trưa. Anh không thể tập trung chú ý vào các công việc chán ngấy đã đành, mà che dấu tâm trạng bồn chồn để màn vô tuyền không phát hiện được còn khó khăn hơn. Anh cảm thấy như có lửa đốt trong lòng. Ăn trong cái căng tin nóng bức, chật chội, ồn ào thật không khác gì bị tra tấn. Anh hi vọng có thể được ngồi một mình, nhưng thật không may là thằng ngốc Parsons lại hạ bệ ngay xuống cái ghế bên cạnh, mùi mồ hôi của hắn át hẳn mùi thịt hầm vàhắn bắt đầu thao thao bất tuyệt về việc chuẩn bị cho Tuần Lễ Hận Thù. Hắn đặc biệt phấn khích khi nói về bức chân dung Anh Cả rộng những hai mét, vẽ trên giấy bồi do đội Tình Báo của cô con gái làm nhân sự kiện này. Bực nhất là do quá ồn nên Wiston không thể nghe rõ và cứ phải hỏi đi hỏi lại suốt, thành ra nhiều câu ngớ ngẩn phải nghe đến hai lần. Anh đã thoáng thấy cô gái tóc đen, cô ngồi cùng một bàn với hai người khác ở tận đầu bên kia căn phòng. Có vẻ như cô không trông thấy anh, còn anh cũng không nhìn sang phía ấy lần nào nữa. Buổi chiều có đỡ hơn. Ngay sau bữa trưa anh được giao một việc khó, tế nhị, phải dẹp hết các thứ khác sang một bên và làm liên tục trong mấy giờ mới xong. Nhiệm vụ được giao là xuyên tạc một loạt báo cáo kết quả sản xuất cách đây hai năm nhằm hạ uy tín của một cán bộ cao cấp của Đảng Nội Bộ nay đã thất sủng. Winston rất thạo các công việc kiểu này và anh đã hoàn toàn quên được cô gái kia trên hai tiếng đồng hồ. Nhưng sau đó nét mặt cô lại hiện về ngay trước mắt, và lúc đó anh chỉ muốn được ở một mình. Chỉ ngồi một mình anh mới có thể suy nghĩ thấu đáo được. Tối nay anh phải có mặt tại Trung Tâm. Anh nuốt vội bữa ăn tối chán ngấy trong căng tin rồi chạy vào Trung Tâm để tham gia vào cuộc thảo luận tổ diễn ra long trọng như một trò hề, sau đó chơi hai séc bóng bàn, uống mấy li Gin và nghe thuyết trình đề tài "Quan hệ giữa Chuanh và cờ tướng" trong vòng ba mươi phút. Chán phải nói là đến tận cổ, nhưng khác với mọi khi, hôm nay anh không thích chuồn sớm. Mấy từ em yêu anh như làm bừng dậy trong lòng ước muốn được sống lâu thêm, có là người ngu mới làm những việc mạo hiểm vào lúc này. Gần đến hai mươi ba giờ anh mới về đến nhà và chui vào giường, trong bóng tối, nếu không lên tiếng thì màn vô tuyến không thể làm gì được, đấy là lúc anh có thể suy nghĩ mà không sợ bị phân tâm. Có một vấn đề kĩ thuật cần phải giải quyết: tiếp xúc như thế nào và hẹn hò ở đâu. Giả thuyết cô là một cái bẫy đã bị bác. Không có chuyện đó rồi, bởi vì anh thấy rõ cô đã run như thế nào khi trao mảnh giấy cho anh. Cô đã thần hồn nát thần tính và chuyện đó cũng dễ hiểu thôi. Anh không hề nghĩ đến chuyện né tránh. Mới năm ngày trước đây anh đã định đập vỡ sọ cô bằng một cục đá, nhưng nay chuyện đó không còn quan trọng nữa. Anh mường tượng ra thân thể trẻ trung, trần truồng của cô như anh đã từng nhìn thấy trong mơ. Thế mà trước đây anh đã cho rằng cô cũng là một người ngu, đầu óc toàn những điều dối trá và hận thù, lòng thì lạnh như băng, giống như những người khác mà thôi. Anh bỗng cảm thấy phát sốt khi nghĩ rằng có thể sẽ mất cô, có thể sẽ chẳng được ôm ấp cái thân thể trẻ trung, trắng trẻo ngọc ngà của cô! Điều anh sợ nhất là cô sẽ nghĩ lại nếu anh không mau chóng tiếp xúc được với cô. Nhưng tiếp xúc được với cô là chuyện cực kì khó. Không khác gì chơi cờ khi đã bị chiếu tướng. Quay hướng nào cũng thấy màn vô tuyến. Anh đã nghĩ đến tất cả phương pháp tiếp cận ngay trong vòng năm phút đầu tiên sau khi đọc mẩu giấy và bây giờ, khi có điều kiện suy nghĩ, anh đang cân nhắc từng phương án, giống như đang sắp xếp các dụng cụ đặt ngay trên bàn trước mặt vậy. Rõ ràng là không thể tái ngộ như hồi sáng được nữa rồi. Nếu cô làm ở Phòng Tài Liệu thì còn tương đối dễ, Phòng Sáng Tác nằm ở đâu thì anh lại biết rất mù mờ, vả lại cũng chẳng có lí do gì để đến đó cả. Nếu anh biết chỗ cô ở và thời gian cô rời công sở thì có thể anh sẽ cố gắng tìm cách gặp cô trên đường về; nhưng đi theo cô cũng chả an toàn đâu vì dù muốn dù không cũng phải lảng vảng quanh Bộ mà như thế thì bị chú ý ngay. Chẳng nên nghĩ đến chuyện gửi thư. Ai cũng biết là tất cả thư từ đều bị kiểm duyệt trước khi đến tay người nhận. Thực ra là rất ít người viết thư. Đôi khi nếu cần nhắn cho ai thì chỉ việc mua những cái bưu thiếp, trên đó đã có sẵn các câu mẫu, chỉ cần xoá những câu không cần thiết là xong. Anh không biết cả tên cô chứ chưa nói địa chỉ. Cuối cùng anh cho rằng chỗ an toàn nhất chính là căng tin. Nếu cô ngồi một mình một bàn ở khoảng giữa phòng, đừng có gần màn vô tuyến quá và nếu trong phòng ồn ào... giả sử được như thế, thí dụ, khoảng ba
1,175
4
mươi giây thì hai người có thể đủ thời gian trao đổi vài câu. Tuần lễ tiếp theo trôi qua như một giấc mơ. Hôm sau, khi tiếng còi báo hiệu giờ làm việc nổi lên rồi cô mới tới căng tin, lúc đó thì anh đã đứng dậy chuẩn bị đi. Chắc là cô đã chuyển sang làm ca hai. Họ đi lướt qua nhau, không ai nhìn ai. Hôm sau nữa cô có mặt ở căng tin như thường lệ, nhưng có ba cô đi kèm, họ ngồi ngay dưới màn vô tuyến. Sau đó là ba ngày kinh hoàng đối với anh: không thấy cô đâu cả. Cả tâm hồn cũng như thể xác anh bỗng trở nên nhậy cảm đến mức không thể chịu đựng nổi; mọi hành vi, mọi tiếng động, mọi va chạm, mọi lời nghe được hay nói ra đều làm cho anh đau đớn, như bị tra tấn. Hình ảnh cô theo anh vào tận giấc ngủ mỗi ngày. Suốt mấy hôm đó anh không động đến cuốn nhật kí lần nào. Chính lúc làm việc anh lại được thư giãn đôi chút, anh có thể quên những giằng xé nội tâm khoảng mươi phút mỗi lần. Hiện cô ra sao, anh hoàn toàn mù tịt. Biết hỏi aibây giờ. Có thể cô đã bốc hơi rồi, có thể cô đã tự sát rồi, có thể cô đã bị chuyển đến một vùng xa xôi hẻo lánh của Oceania rồi: nhưng điều tệ hại nhất và cũng dễ xảy ra nhất là cô đã nghĩ lại và quyết định không gặp anh nữa. Ngày thứ tư cô lại xuất hiện. Cánh tay không còn treo trên cổ nữa, chỉ có cổ tay bị bó bột mà thôi. Như trút được gánh nặng, anh nhìn chằm chằm về phía cô đến mấy giây liền. Hôm sau chỉ chút xíu nữa thì anh đã nói chuyện được với cô. Khi anh bước vào căng tin thì thấy cô ngồi một mình bên cạnh cái bàn đặt cách xa tường. Lúc ấy còn sớm, chưa đông lắm. Winston đã đứng ngay cạnh quầy thì phải dừng lại chừng hai phút vì có người kêu là không được phát viên đường hoá học. Dù bị chậm một chút nhưng cô gái vẫn ngồi một mình khi Winston bưng mâm, anh quyết định đi về phía bàn của cô. Vừa bước anh vừa làm như vô tình ngước mắt tìm kiếm một cái bàn ngay sát chỗ cô ngồi. Cô chỉ còn cách anh chừng ba mét. Chỉ hai giây nữa là xong. Bỗng có người gọi từ đằng sau: "Smith!". Anh giả vờ như không nghe thấy. "Smith!", người kia lại gọi, lần này to hơn. Không thể tránh được nữa. Anh quay lại. Hóa ra là Wilsher, gã còn trẻ, tóc vàng, vẻ mặt ngây ngô, anh không biết rõ tay này, hắn ta mời anh ngồi xuống cái ghế còn để trống cùng bàn với hắn. Từ chối sẽ bị nghi ngay. Đã bị nhận diện rồi thì không thể đến ngồi cùng bàn với người phụ nữ đang ăn một mình. Sẽ bị chú ý ngay. Anh ngồi xuống, miệng nở một nụ cười thân thiện. Bộ mặt ngây ngô của Wilsher tươi tỉnh hẳn lên. Anh mường tượng cảnh mình đang cầm một cái búa chim cuốc thẳng vào giữa bộ mặt cầu tài đó. Bàn cô gái cũng có người ngồi ngay sau đó. Chắc chắn là cô đã trông thấy anh định đi lại phía cô, có thể cô đã hiểu được thâm ý của anh. Hôm sau anh cố gắng đến căng tin sớm hơn mọi khi. Quả đúng như dự đoán, cô đã ngồi ngay gần chỗ hôm qua, vẫn chỉ có một mình. Đứng trước anh là một người đàn ông bé loắt choắt, cử động liên tục, người trông như bọ hung, hai mắt nhỏ tí, láo liên. Khi vừa bưng mâm bước ra khỏi quầy, Winston đã trông thấy người đàn ông nhỏ bé kia đang bước thẳng lại phía bàn cô gái. Hi vọng tưởng sắp tắt ngúm. Xa hơn một chút có một cái bàn trống, nhưng dáng vẻ của người đàn ông cho thấy rằng gã chỉ quan tâm đến sự tiện lợi của chính mình và gã sẽ chọn cái bàn ở chỗ trống trải nhất. Winston bước theo gã mà lòng nặng trĩu. Nếu anh không gặp riêng được cô thì câu chuyện chẳng thể nào tiến triển được. Bỗng nghe có tiếng xoảng một cái. Con người nhỏ bé đang lồm cồm bò, cái mâm bắn ra xa, cà phê và xúp tạo thành hai vệt nước chạy dài trên nền nhà. Gã đứng dậy và cáu kỉnh nhìn quanh, có thể gã ngờ rằng đã bị Winston gạt chân. Thế là xong. Chỉ năm giây sau, Winston đã ngồi cùng một bàn với cô gái, tim đập như trống trận. Anh không nhìn cô. Anh xếp các thứ ra bàn và lập tức ngồi ăn. Cần phải nói ngay, trước khi có người đến phá quấy, nhưng đột nhiên Winston phát hoảng. Từ lần gặp đầu tiên đến nay đã một tuần rồi. Cô ta đã nghĩ lại, chắc chắn cô ta đã nghĩ lại rồi! Chuyện này chẳng thể nào kết thúc có hậu được; làm gì có chuyện như thế trong cuộc đời này. Có thể anh đã không dám mở miệng nếu đúng lúc đó không trông thấy Ampleforth, một thi sĩ tai đầy lông lá đang thất thểu bước quanh phòng để tìm một chỗ trống. Anh chàng Ampleforth đãng trí tuy vậy rất quí Winston, nếu nhìn thấy thì anh ta sẽ lại ngồi bên cạnh ngay. Thời gian hành động có hạn, chỉ một phút là cùng. Hai người vẫn tiếp tục ăn. Họ ăn món thịt hầm đậu tương, toàn nước là nước. Winston bắt đầu nói, gần như thì thầm. Không ai ngẩng lên, họ tiếp tục xúc từng thìa nước đưa vào miệng, vừa ăn vừa khẽ trao đổi với nhau những câu thật ngắn. "Mấy giờ em về?" "Sáu giờ rưỡi" "Ta có thể gặp nhau ở đâu?" "Quảng trường Chiến Thắng, gần bức tượng" "Ở đấy nhiều màn vô tuyến lắm" "Không sao đâu, đông người lắm" "Tín hiệu?" "Không cần. Chỉ được đến gần khi thấy em đứng ở chỗ đông người thôi đấy. Cũng đừng có nhìn. Nhưng đừng đi xa" "Mấy giờ?" "Mười chín giờ" "Thôi nhé" Ampleforth không nhìn thấy Winston, anh ta đến ngồi ở một bàn khác. Họ không nói gì thêm và tuy ngồi đối diện với nhau trên cùng một bàn ăn, họ cũng cố không nhìn nhau lần nào nữa. Cô gái ăn thật nhanh cho xong bữa và đứng dậy đi ngay, Winston còn ngồi lại hút thuốc. Winston có mặt tại quảng trường Chiến Thắng trước giờ hẹn. Anh đi đi lại lại xung quanh chân cái cột cực lớn có những đường hoa văn trang trí, trên đỉnh cột là bức tượng Anh Cả. Bức tượng hướng cặp mắt về phương Nam, nơi Anh đã đập tan không lực của Eurasia (trước đây vài năm thì là không lực của Eastasia) trong trận đánh bảo vệ Đường Bay I. Trên đường phố đối diện có tượng một người cưỡi ngựa được cho là của Oliver Cromwell [1]. Đã mười chín giờ năm mà cô gái vẫn chưa đến. Winston rất lo. Cô ấy không đến, cô ấy đã nghĩ lại rồi! Anh đi về hướng bắc quảng trường và cảm thấy vui lên chút ít khi nhận ra nhà thờ St. Martin, nhà thờ với cái chuông, đấy là nói khi còn chuông, từng ngân nga "Nợ ta ba xèng". Sau đó anh trông thấy cô gái đứng ở dưới chân bức tượng đang đọc hay đang giả vờ đọc một khẩu hiệu quấn quanh cột như cái lò xo. Chưa thật an toàn vì ở đấy còn vắng. Xung quanh mái che phía trên có nhiều màn vô tuyến lắm. Nhưng từ phía bên trái bỗng dậy lên tiếnghò hét và tiếng gầm rú của xe tải nặng. Tất cả mọi người trên quảng trường cùng hò nhau lao ra hướng đó. Cô gái chạy thật nhanh tránh mấy con sư tử dưới chân cột và nhập vào đám đông. Winston vội vã bám theo. Anh nghe thấy người ta bảo đang giải bọn tù binh Eurasia. Một đám rất đông đã tụ tập ở phía nam quảng trường. Winston thuộc loại những người thường đứng phía ngoài mọi cuộc tụ bạ, nhưng lần này lại cố xô đẩy, chen lấn hòng len vào giữa đám đông. Chẳng mấy chốc anh đã chỉ còn cách cô chừng một sải tay, nhưng một gã cu li to như voi và một người đàn bà, chắc là vợ gã kia, cũng to không kém bỗng làm thành một bức tường thịt không cách gì vượt qua được. Wiston quay nghiêng và lấy hết sức lách vai vào giữa hai người. Có lúc anh tưởng chừng như hai khối thịt kia sẽ ép nát hết ruột gan phèo phổi, nhưng cuối cùng đã luồn qua được, tuy có bị toát một ít mồ hôi. Anh đã đến bên cô gái. Hai người đứng sát nhau, vai kề vai, mắt cùng chăm chú nhìn về phía trước. Một đoàn xe tải từ từ
1,176
4
đi qua, mỗi góc thùng xe có một người lính mặt vô hồn, đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, tay lăm lăm súng máy. Trong thùng xe ngồi lúc nhúc một bọn người nhỏ bé da vàng, quân phục màu xanh đã sờn. Đấy là những người Mông Cổ, mặt buồn rười rượi, nhìn ngang, vô cảm. Mỗi lần xe bị xóc lại có tiếng kim loại va vào nhau loảng xoảng: tất cả tù binh đều bị xích chân. Từng chiếc xe với những khuôn mặt buồn bã nối tiếp đi qua. Winston biết rằng tù binh thường bị giải qua đây, nhưng thỉnh thoảng anh mới gặp như thế này. Vai và tay cô gái ép sát vào vai và tay anh. Má cô gần đến nỗi anh cảm thấy cả hơi ấm của cô. Cô lập tức lợi dụng cơ hội, giống như đã làm trong căng tin. Cô bắt đầu nói, môi chỉ khẽ mấp máy, giọng thì thầm chìm nghỉm trong tiếng ồn ào của đám đông và tiếng gầm rú của động cơ. "Anh nghe rõ chứ?" "Có" "Chiều chủ nhật có rỗi không?" "Có" "Thế thì nghe đây. Anh phải nhớ đấy. Anh sẽ ra ga Paddington...." Anh lấy làm ngạc nhiên khi nghe cô mô tả đường đi chính xác theo lối nhà binh. Đi tàu hỏa nửa tiếng; xuống ga; rẽ trái; đi bộ hai cây số; cái cổng không có xà ngang; đường mòn xuyên qua cánh đồng; đường hai bên đầy cỏ dại; đường mòn giữa các lùm cây; một cái cây đã chết đầy rêu. Dường như cô thuộc lòng cả tấm bản đồ. "Anh có thể nhớ hết không?", cô nói thêm. "Có" "Rẽ trái, rẽ phải rồi rẽ trái nữa. Thấy một cái cổng không xà ngang" "Được rồi. Mấy giờ?" "Khoảng mười lăm giờ. Anh có thể phải đợi đấy. Em sẽ đi đường khác. Anh có chắc là nhớ không?" "Có" "Thế thì đi khỏi đây mau" Chẳng cần nói anh cũng biết. Nhưng đông người quá, không thể nào đi được. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh, người xem vẫn không chán. Ban đầu có tiếng la ó, tiếng huýt gió chế giễu từ nhóm các đảng viên, nhưng không được hưởng ứng. Người ta đi xem chủ yếu là vì tò mò. Người ngoại quốc, dù là Eurasia hay Eastasia, đều bị coi là những sinh vật lạ. Chỉ có thể nhìn thấy người ngoại quốc khi họ đã là tù binh, mà cũng chỉ thoáng qua thôi. Trừ một vài người bị treo cổ công khai như những tội phạm chiến tranh, không ai biết số phận những người còn lại ra sao, đơn giản là họ đã biến mất, có lẽ bị đưa vào trại lao động khổ sai. Sau những đoàn tù binh Mông Cổ mặt tròn tròn là đến những đoàn Âu Châu, râu ria xồm xoàm, mệt mỏi, bẩn thỉu. Ánh mắt trên những khuôn mặt gầy gò, râu ria ấy chiếu thẳng vào Winston, cũng có người nhìn một cách chăm chú khác thường. Đoàn diễu hành sắp sửa chấm dứt. Trên cái xe cuối cùng có một người đàn ông đã có tuổi, râu trắng phủ đầy mặt, đứng bắt chéo hai tay trước bụng như thể đã quen bị trói vậy. Cần phải tách khỏi cô gái ngay. Nhưng đúng vào những phút cuối cùng, khi đám đông chưa kịp tản ra, thì cô gái kia tìm được tay anh và bóp mạnh. Chuyện đó kéo dài chỉ chừng mười giây, thế mà anh tưởng hai người đã nắm tay nhau lâu lắm rồi. Anh đã kịp khảo sát toàn bộ bàn tay cô. Anh sờ từng ngón tay búp măng, từng móng nhọn, anh sờ lòng bàn tay cứng và chai vì vất vả, anh nắn chỗ thịt mềm ngay sát cổ tay cô. Chỉ cần sờ thế anh đã có thể mường tượng được bàn tay cô. Ngay lúc đó anh chợt nhận ra rằng mình không biết màu mắt cô. Có thể màu nâu, nhưng đôi khi người tóc đen lại có mắt xanh. Nhưng quay đầu lại để nhìn vào mắt cô là một hành động thiếu thận trọng không chấp nhận được. Họ đứng giữa đám đông, tay trong tay, mắt nhìn thẳng và không phải mắt cô gái mà là cặp mắt người tù binh già, râu rậm, buồn nản đang chằm chằm nhìn Winston. II. Winston bước đi trên con đường loang lổ nắng, chỉ những chỗ thưa cành mới có những khoảng vàng hẳn. Bên trái mọc đầy cây hoa chuông lá tròn. Không khí như mơn man da thịt lữ khách. Hôm đó là ngày mồng hai tháng năm. Từ trong rừng vọng lại tiếng gù của một con chim gáy cô đơn. Anh đến hơi sớm. Anh không gặp bất cứ trở ngại nào trên suốt dọc đường đi, cô gái có nhiều kinh nghiệm đến nỗi anh không có cảm giác sợ hãi như đáng lẽ phải có trong những trường hợp như thế này. Không còn nghi ngờ gì rằng cô đã chọn được chỗ an toàn. Nói chung khó có thể nghĩ rằng ở nông thôn thì an toàn hơn là London. Dĩ nhiên là không có màn vô tuyến, nhưng ở đâu mà chả có thể dấu micro, người ta chỉ cần ghi lại giọng nói là xong, ngoài ra, đi du ngoạn một mình thế này sẽ bị để ý ngay. Đi dưới một trăm cây số thì không cầngiấy thông hành, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những đội tuần tra lảng vảng quanh các nhà ga, họ kiểm tra giấy tờ của mọi đảng viên và hỏi những câu rất khó chịu. Không thấy đội tuần tra nào, còn từ lúc rời khỏi ga thỉnh thoảng anh lại ngoái nhìn xem có cái đuôi nào không. Tầu hỏa đầy cu li, tâm trạng phấn chấn vì không khí ấm áp của buổi sáng mùa hè. Một gia đình đông đúc từ bà già đã rụng hết răng đến em bé chưa đầy tháng tuổi, đã chiếm hết cái toa ghế cứng mà anh đi, họ bảo với anh là đi nghỉ một ngày ở nhà thông gia ở nhà quê và nhân tiện mua ít bơ trên thị trường chợ đen. Cây đã thưa hơn, anh đi vào con đường mòn, theo đúng như cô chỉ, con đường này là để cho xe kéo, hai bên đầy các bụi cây. Anh không có đồng hồ, nhưng bây giờ chưa thể đến mười lăm giờ được. Hoa chuông lá tròn mọc đầy dưới chân, không thể nào tránh bước lên được. Anh quì xuống và hái một ít hoa, vừa để giết thì giờ vừa để có cái tặng cho cô gái. Anh hái được một bó to và vừa đưa lên mũi hít cái mùi thơm nồng nhẹ nhàng của nó thì bỗng giật bắn người vì nghe thấy tiếng cành khô gãy răng rắc phía sau. Anh tiếp tục hái hoa. Đấy là cách hành xử đúng nhất. Người ở đằng sau có thể là cô gái, mà cũng có thể là kẻ đang theo dõi anh. Ngoảnh lại chứng tỏ là người không trong sáng. Anh hái một bông, rồi một bông nữa. Có một bàn tay đặt nhẹ lên vai anh. Anh ngẩng lên. Chính là cô. Cô lắc đầu như có ý bảo đừng lên tiếng, sau đó cô rẽ những bụi cây ra và dẫn anh đến một con đường nhỏ đi thẳng vào rừng. Chắc chắn là cô đã đi con đường này rồi vì anh thấy cô tránh những chỗ bùn lầy như thể đã thuộc lòng. Winston cầm bó hoa đi theo. Lúc mới gặp cô anh có cảm giác như trút được gánh nặng, nhưng bây giờ khi quan sát từ phía sau cái cơ thể khoẻ mạnh, cân đối với chiếc thắt lưng màu đỏ buộc chặt càng làm nổi bật vòng eo của cô thì anh lại thấy mình không xứng với cô. Cô có thể ngoái lại, nhìn mình và thế là đi đứt – ý nghĩ ấy cứ lởn vởn trong đầu suốt cả quãng đường. Không khí trong lành và màu xanh của cỏ cây càng làm anh lúng túng thêm. Ngay lúc rời khỏi ga, ánh sáng tháng năm đã gieo vào lòng anh cảm giác bẩn thỉu, ốm yếu, cảm giác của một người chỉ ru rú xó nhà, lỗ chân lông nào cũng đấy bụi và bồ hóng của thành phố London. Anh chợt nghĩ rằng cô chưa từng trông thấy anh giữa ban ngày ban mặt. Họ tiến lại chỗ cái cây đổ mà cô đã kể. Cô gái bước qua một bên và bắt đầu gạt bụi cây rậm rạp để đi tiếp. Chẳng bao lâu sau anh thấy hai người đã lọt vào một khu đất trống, cỏ mọc lúp xúp, bốn xung quanh là bụi rậm che kín hoàn toàn. Cô gái quay lại. "Tới rồi", cô nói. Anh đứng cách cô vài bước, mắt nhìn trân trối. Anh không dám bước lại gần hơn. "Trên đường đi em không muốn nói", cô giải
1,177
4
thích. "Sợ có micro. Em nghĩ không có đâu, nhưng biết đâu đấy. Để bọn khốn kiếp đó nhận được giọng nói thì thôi rồi. Nhưng ở đây thì yên trí" Anh vẫn không dám bước lại gần. "Ở đây có chắc không?", anh hỏi lại. "Chắc. Nhìn cây kìa", đấy là những cây tần bì nhỏ, mọc từ những gốc bị đốn hạ, chưa có cây nào to bằng cổ tay. "Toàn cây nhỏ, không thể dấu micro được. Em đã đến đây một lần rồi" Họ bắt đầu nói chuyện. Anh đánh liều bước lại gần cô hơn. Cô đứng thẳng, miệng nở nụ cười, nửa như giễu cợt, nửa như tự hỏi tại sao anh lại chậm chạp như thế. Bó hoa chuông tròn rơi xuống đất. Anh cầm lấy tay cô. "Em có tin không", anh nói, "đến tận lúc này anh vẫn không biết mắt em màu gì?". Mắt cô màu nâu, nâu sáng, cặp lông mi màu đen sậm. "Bây giờ khi đã thấy rõ anh rồi em có thấy ghê không?" "Không" "Năm nay anh ba mươi chín. Đã có vợ, không bỏ được. Anh bị giãn tĩnh mạch. Có năm cái răng giả" "Em không quan tâm đến chuyện đó", cô gái nói. Và ngay lập tức, không biết là ai khởi sự trước, họ ôm lấy nhau. Đầu tiên anh không có cảm giác gì, chỉ nghĩ: không thể thế được. Một cơ thể trẻ trung đang ôm ghì lấy anh, tóc cô vờn lên má anh, đúng thế!, cô bỗng ngẩng mặt lên và anh hôn lên đôi môi đỏ mọng của cô. Tay cô ghì lấy cổ anh, cô gọi anh là yêu, là quí, là thương. Anh đặt cô lên bãi cỏ, cô hoàn toàn không chống cự, anh muốn làm gì cô thì làm. Nhưng sự thật là anh không có ham muốn. Anh chỉ thấy tự hào và vẫn không tin đây là sự thật. Niềm vui tràn ngập trong lòng, nhưng ham muốn nhục dục thì hoàn toàn không. Chuyện này xảy ra nhanh quá, cơ thể trẻ trung, xinh đẹp của cô làm anh phát sợ, anh đã quen sống thiếu đàn bà, anh không biết tại sao. Cô ngồi dậy và gỡ những bông hoa chuông tròn dính vào tóc. Sau đó cô dựa vào người anh rồi lấy tay ôm ngang hông anh. "Không sao đâu anh. Đừng vội. Chúng ta còn cả nửa ngày nữa cơ. Chỗ này kín đáo đấy chứ? Em tìm ra chỗ này khi đi dã ngoại bị lạc đấy. Người đi cách cả trăm mét đã nghe được rồi" "Tên em là gì?", Winston hỏi. "Julia. Tên anh thì em biết. Winston...Wiston Smith" "Làm sao em biết?" "Về chuyện săn tin thì em giỏi hơn anh, yên trí đi. Nói nghe coi, trước khi nhận được mẩu giấy thì anh cho em là người thế nào?" Anh không muốn nói dối. Vả lại một trong những cách khởi đầu tình yêu là nói ngay điều tệ hại nhất. "Anh ghét em lắm", anh nói. "Anh muốn hiếp sau đó thì giết chết em. Hai tuần trước anh đã định đậpvỡ đầu em bằng một cục đá đấy. Nói cho ngay, anh nghĩ rằng em là chỉ điểm của Cảnh Sát Tư Tưởng đấy". Cô gái cười như nắc nẻ, vì cho rằng như vậy là cô vào vai rất thành công. "Cảnh Sát Tư Tưởng! Anh nghĩ thế thật à?" "Thật, có thể không hoàn toàn thế. Nhưng nhìn em... có thể tại vì em trẻ, khoẻ, tươi mưởi nữa, em biết không, anh cứ nghĩ, biết đâu đấy..." "Anh nghĩ em là một đảng viên gương mẫu. Trong sáng cả lời nói lẫn việc làm. Cờ quạt, diễu hành, khẩu hiệu, trò chơi, dã ngoại và đủ thứ bà giằn khác. Và anh cho rằng chỉ cần phát hiện một chút sơ hở là em sẽ tuyên bố anh là tội phạm tư tưởng để họ làm thịt anh, đúng không?" "Đúng, anh nghĩ thế đấy. Em biết không, nhiều đứa con gái như thế lắm" "Chỉ tại cái này đấy thôi", vừa nói cô vừa giật phăng cái thắt lưng màu đỏ của Hội Thanh Niên Chống Tình Dục và ném vào bụi cây. Sau đó cô cho tay vào túi và lấy ra một thanh chocolate. Cô bẻ làm đôi rồi đưa cho Winston một nửa. Trước khi cầm anh đã thấy thanh chocolate này có mùi đặc biệt rồi. Màu đen, bóng loáng, gói trong giấy bạc. Chocolate bình thường có màu nâu xậm, còn mùi thì, không thể mô tả chính xác được, nhưng có thể nói giống như mùi rác cháy. Nhưng đôi khi anh cũng được ăn loại chocolate như thế này. Mùi của nó lập tức nhắc anh nhớ đến, nhớ cái gì thì không rõ, nhưng nỗi nhớ rõ ràng là mạnh mẽ và tạo trong anh cảm giác bất an. "Em kiếm ở đâu ra thứ này thế?", anh hỏi. "Ở chợ đen chứ còn đâu nữa", cô nói. "Em thích tìm tòi lắm. Em chơi thể thao rất tốt. Em từng là đội trưởng Tình Báo đấy. Mỗi tuần em có ba buổi sinh hoạt trong Hội Thanh Niên Chống Tình Dục. Em phải dán các khẩu hiệu thối tha của chúng nó khắp London đấy. Khi đi biểu tình bao giờ em cũng tham gia khiêng biểu ngữ. Lúc nào mặt cũng phải tươi và không bao giờ trốn việc. Người ta gào thì mình cũng gào, em luôn nhắc mình như vậy. Thế mới an toàn." Mẩu chocolate tan ngay trên đầu lưỡi. Ngon tuyệt. Nhưng nỗi nhớ vẫn ẩn hiện đâu đó trong đáy sâu tâm hồn anh, nó tạo cảm giác khắc khoải, nhưng không thể định hình, giống như khi nhìn một vật bằng con mắt nheo lại vậy. Anh cố gắng gạt nó khỏi tâm trí, nhưng anh biết rõ rằng đấy là kí ức về một hành động đã làm mà nay anh sẵn sàng hủy bỏ nếu có thể được. "Em còn trẻ lắm", anh nói. "Em phải trẻ hơn anh từ mười đến mười lăm tuổi. Một người như anh thì có gì hấp dẫn nhỉ?" "Nét mặt anh. Em quyết định liều. Em có tài phát hiện những con chiên lạc. Ngay khi nhìn thấy anh em đã nghĩ anh chống lại chúng" Chúng chắc là để chỉ Đảng, trước hết là Đảng Nội Bộ, giọng cô đầy vẻ căm tức và nhạo báng, Winston cảm thấy bất an, dù anh biết rằng chỗ này an toàn, nếu người ta quả thật có thể được an toàn. Điều làm anh ngạc nhiên nhất là sự trắng trợn trong cách nói của cô. Đảng viên không nên nói tục, Winston ít khi nói tục, nếu có cũng chỉ nói thầm. Nhưng có vẻ như Julia không thể nói đến Đảng, đặc biệt là Đảng Nội Bộ mà không dùng kèm những từ thuộc loại được ghi bằng phấn trên tường các ngõ hẻm. Nhưng anh không thấy khó chịu. Đấy chỉ là cách thể hiện sự chống đối của cô đối với Đảng và đường lối của nó, cũng tự nhiên và lành mạnh như con ngựa hắt hơi khi ngửi phải mùi cỏ mốc mà thôi. Họ rời khỏi khu đất trống và đi dạo dưới những tán cây, tay ôm eo nhau, đấy là nói những chỗ quang có thể đi sát vào nhau được. Không còn thắt lưng, anh thấy eo cô bây giờ mềm mại hơn. Họ vẫn chỉ nói thầm vừa đủ nghe. Ở bên ngoài cái khoảng trống kia, Julia bảo, thì phải nói thầm cho an toàn. Chẳng bao lâu sau họ đã đi đến bìa rừng. Julia bảo đứng lại. "Đừng bước ra ngoài đồng trống. Có thể có người theo dõi đấy. Đứng sau các lùm cây an toàn hơn", cô nói. Họ đứng dưới bóng một bụi dẻ. Ánh mặt trời xuyên qua vòm lá chiếu cả vào mặt hai người. Winston ngắm bãi cỏ trước mặt và dần dần cái cảm giác vừa kinh hãi vừa ngạc nhiên cứ dâng lên trong lòng khi anh nhận ra cánh đồng quen thuộc. Phong cảnh rất quen. Đấy là một bãi cỏ cằn cỗi, có một con đường mòn nhỏ chạy vắt ngang, hang chuột đùn lên khắp nơi. Phía cuối bãi cỏ là hàng du đung đưa trước gió, tán lá dầy xao động như tóc đàn bà. Nhất định gần đây phải có một con suối, những vũng nước với những con cá chép tung tăng bơi lội. "Ở gần đây có con suối nào không?", anh thì thầm hỏi. "Có đấy, có một con. Ở rìa cánh đồng bên kia cơ. Có cả cá nữa, to lắm. Anh có thể thấy chúng nằm vẫy đuôi trong vũng nước dưới bóng dương liễu nữa cơ" "Đây gần giống Địa Hoàng", anh lẩm bẩm. "Địa Hoàng à?" "Không có
1,178
4
chi đâu. Đấy là vùng đất anh thường mơ thấy ấy mà" "Trông kìa!", Julia thì thầm. Ngang tầm mắt họ, trên một bụi cây cách chừng năm mét có một chú chim hét vừa đỗ xuống. Có thể nó không nhìn thấy hai người. Nó đậu ngoài nắng còn họ đứng dưới bóng cây. Chú chim xòe cánh ra rồi từ từ gập lại như cũ, sau đó chú cúi đầu, như thể lạy mặt trời và bắt đầu hót. Trong buổi chiều thanh vắng tiếng hót của chú to đến không ngờ. Winston và Julia đứng nép vào nhau, mê mẩn lắng nghe. Tiếng hót cứ thế tiếp tục, từng phút, từng phút một, giai điệu mỗi lúc một khác, không bao giờ lặp lại, dường như chú chim đang cố ý trình diễn tài nghệ của mình. Thỉnh thoảng chú lại nghỉ vài giây, chú xòe cánh ra rồi cụp lại, sau đó chú ưỡn ngực lên và tiếp tục hót. Wiston quan sát chú với vẻthán phục. Nó hót cho ai nghe? Bạn tình không, tình địch cũng không nốt. Điều gì thúc đẩy chú đến đậu trên bìa cánh rừng hoang và gửi tiếng hót vào thinh không? Anh tự hỏi liệu có cái micro nào được giấu gần đây không. Anh và Julia chỉ nói thầm, micro không thể ghi được, nhưng nó sẽ ghi được tiếng chim hót. Có thể ở đầu kia của thiết bị, một người nhỏ bé, trông như cánh cam đang chăm chú lắng nghe, lắng nghe chính tiếng hót của con chim này. Dần dần tiếng hót xóa sạch mọi tính toán khỏi trí não anh. Tiếng hót đã biến thành dòng nước, hoà trộn với ánh nắng xuyên qua cành lá tưới xuống khắp người anh. Ý tưởng ngừng bặt, chỉ còn cảm giác. Vòng eo cô gái mềm và ấm trong bàn tay anh. Anh xoay cô lại, hai người đứng úp mặt vào nhau, cơ thể cô như tan vào trong anh. Tay anh đưa đến đâu chỗ đó như tan thành nước. Môi họ bỗng gắn vào nhau, nụ hôn này khác hẳn nụ hôn họ trao nhau lúc đầu. Hai người cùng thở vào thật sâu khi rời nhau. Con chim hét bỗng hoảng sợ và vỗ cánh bay đi. Winston ghé sát môi vào tai cô gái. "Bây giờ nhá", anh thì thầm. "Không phải ở đây", cô đáp. "Quay lại chỗ ban nãy" Họ bước vội về khu đất trống, tiếng cành khô gãy răng rắc dưới chân. Khi đã đến khu vực có những bụi cây non bao quanh cô quay hẳn người lại. Cả hai cùng thở gấp, nhưng nụ cười thoáng hiện trên môi cô. Cô nhìn thẳng vào anh trong mấy giây rồi đưa tay kéo phéc-mơ-tuya. Đúng rồi! Hệt như trong mơ. Cô cởi quần áo cũng nhanh y như anh thấy trong mơ, rồi cô quẳng xuống đất bằng một cú vung tay điệu nghệ tưởng có thể huỷ diệt toàn bộ nền văn minh này. Da cô sáng lên dưới ánh mặt trời. Nhưng lúc đó mắt anh vẫn dán chặt vào khuôn mặt tàn nhang, đang hé cười của cô. Anh quì xuống và nắm lấy hai bàn tay cô. "Em đã làm thế bao giờ chưa?" "Rồi. Hàng trăm lần... không, nhiều lần rồi" "Với các đảng viên à?" "Vâng, chỉ với đảng viên thôi" "Đảng Nội Bộ chứ?" "Không, bọn khốn đó thì không. Nhưng nhiều thằng sẽ khoái ngay nếu có cơ hội. Chúng chỉ giả vờ "hồng" thế thôi anh ơi" Tim anh đập rộn lên. Cô đã làm thế này nhiều lần, nếu là hàng trăm, hàng ngàn lần thì càng tốt nữa. Đấy chính là hi vọng, bất cứ cái gì chứng tỏ sự thối nát đều là hi vọng cả. Ai biết, có thể Đảng đang bị thối rữa ngay từ bên trong, có thể sự sùng bái đức hi sinh và lòng tận tuỵ của nó cũng chỉ là tấm màn giả tạo che đậy những hành động xấu xa. Nếu có thể làm cho tất cả bọn chúng đều bị hủi, bị giang mai thì tốt biết bao! Làm tất cả, chỉ cốt cho chúng suy yếu, thối rữa và tan rã! Anh đỡ cô xuống, cả hai cùng quì trên đầu gối. "Càng nhiều thằng đàn ông qua tay em anh càng yêu em hơn. Em có hiểu anh nói gì không?" "Vâng, em hiểu" "Anh căm thù sự trong trắng, anh căm thù đức dục! Anh muốn xoá sổ đức hạnh. Anh muốn tất cả đều thối rữa đến tận xương tủy" "Thế thì em hợp với anh đấy, anh yêu ơi. Em đã thối rữa đến tận xương tủy rồi" "Em có thích không? Ý anh là không chỉ với anh. Nói chung cơ" "Em mê lắm" Đấy là điều anh đặc biệt thích nghe. Không phải là tình yêu mà chính là bản năng tự nhiên, chính cái ham muốn nhục dục đơn thuần sẽ trở thành sức mạnh đủ sức xé Đảng ra thành từng mảnh. Anh đỡ cô nắm xuống bãi cỏ, giữa những bông hoa chuông lá tròn nằm rải rác đó đây. Lần này mọi sự diễn ra trôi chảy. Sau một hồi thở rốc, chân tay rã rời, họ buông nhau ra. Mặt trời có vẻ nóng hơn. Cả hai đều buồn ngủ. Anh với tay lấy bộ đồng phục và đắp lên người cô. Họ lập tức thiếp đi và thức dậy sau đó chừng nửa tiếng. Winston thức giấc trước. Anh ngồi ngắm khuôn mặt tàn nhang, đang bình thản ngủ, đầu gối trên cánh tay. Trừ cái miệng ra, cô không phải là người đẹp. Nhìn gần sẽ thấy hai nếp nhăn ngay mí mắt. Mái tóc đen cắt ngắn rất dày và mềm. Anh chợt nhớ là chưa biết họ cũng như địa chỉ của cô. Ngắm nhìn cái cơ thể trẻ trung, khoẻ mạnh trong giấc ngủ đã trở thành bất lực, trong anh bỗng dâng lên cảm giác xót thương, che chở. Nhưng đấy chưa phải sự dịu dàng vô tư mà anh cảm thấy trong tâm khi đứng nghe con chim hót dưới gốc cây dẻ. Anh nâng bộ đồng phục lên và chăm chú quan sát cạnh sườn cô. Ngày xưa, anh nghĩ, khi người đàn ông nhìn cơ thể một người đàn bà thì anh ta chỉ thấy đấy là đối tượng của nhục dục mà thôi. Nhưng nay thì khác, không còn tình yêu trong sáng, cũng chẳng còn sự thèm khát thuần túy. Không còn tình cảm nào là đơn thuần nữa bởi vì tất cả đều bị trộn lộn với nỗi sợ hãi và lòng hận thù. Ôm nhau là chiến đấu, đỉnh điểm của tình yêu là chiến thắng. Đấy chính là một cái tát vào mặt Đảng. Đấy là một hành động chính trị. [1]Oliver Cromwell – Viên tướng và lãnh tụ Anh quốc (1599-1658) III. "Chúng ta có thể đến đây một lần nữa", Julia nói. "Nói chung là sử dụng một chỗ hai lần không có vấn đề gì. Nhưng một hai tháng sau đó thì không an toàn đâu" Sau khi ngủ dậy thái độ của cô khác hẳn, tỉnh táo và năng động hơn. Cô mặc quần áo, đeo thắt lưng đỏ và bắt đầu thu xếp cho chuyến trở về. Dĩ nhiên là chuyện đó được giao cho cô. Rõ ràng là cô tháo vát hơn Winston, ngoài ra chính nhờ những chuyến đi dã ngoại mà cô hiểu biết tường tận khu vực ngoại ô London. Cô hướng dẫn cho anh đi theo con đường hoàn toàn khác và xuống ở một ga khác. "Không bao giờ được quay về bằng con đường vừa đi qua", cô nói cứ như thể đang phát biểu mộtnguyên tắc chung vậy. Cô ra về trước, Winston phải đợi thêm nửa tiếng nữa rồi mới được đi. Cô nói địa điểm cho lần gặp tới, bốn hôm nữa, vào buổi tối. Đấy là con phố trong khu vực nghèo nhất, chỗ ấy có một cái chợ, lúc nào cũng đông đúc và rất ồn ào. Cô sẽ đi loanh quanh cạnh các quầy hàng giả vờ tìm mua dây giày hay chỉ khâu. Nếu cảm thấy an toàn thì khi anh đến gần cô sẽ hỉ mũi, nếu không thì anh phải đi ngang, làm bộ như không nhận ra cô. Nếu gặp may thì có thể len vào giữa đám đông để nói chuyện và hẹn chỗ gặp cho lần tiếp theo. "Em đi đây", cô nói sau khi anh đã nhớ qui ước. "Em phải có mặt trước mười chín giờ rưỡi. Em có hai tiếng sinh hoạt ở Hội Thanh Niên Chống Tình Dục, phát các tờ rơi hoặc những việc tương tự như thế. Không tởm à? Rũ tóc cho em với. Trên đầu có cọng cỏ nào bám không? Chắc chắn chứ? Thôi, tạm biệt nhé, anh yêu!" Cô lao vào vòng tay anh, hôn anh một cách cuồng nhiệt rồi rẽ đám cây con và biến vào rừng, không một
1,179
4
tiếng động. Hóa ra đến giờ anh vẫn chưa biết họ và địa chỉ của cô. Nhưng không sao, không thể có chuyện trao đổi thư từ hay gặp nhau trong nhà được rồi. Họ không bao giờ quay lại khu đất trống này nữa. Cả tháng năm họ chỉ ở bên nhau được có một lần. Julia chọn một chỗ khác, đấy là một nhà thờ đổ do bị bỏ bom nguyên tử cách nay ba mươi năm, trong một khu gần như không người. Chỗ đó rất an toàn nhưng đường đi thì lại nguy hiểm. Những lần khác họ chỉ gặp nhau trên phố, mỗi lần một chỗ khác nhau, không lần nào kéo dài quá nửa tiếng. Trên phố thì chỉ có thể nói chuyện được thôi. Vừa đi cùng đám đông, không được bước sát nhau, cũng không được nhìn nhau, họ vừa trao đổi những câu chuyện ngắt quãng như tia sáng ngọn hải đăng: cứ thấy bóng đồng phục hay đến gần màn vô tuyến thì phải tạm dừng, rồi sau vài phút lại tiếp tục có khi ở giữa câu, đến chỗ hẹn chia tay thì ngắt hẳn để đến hôm sau lại tiếp tục. Julia có vẻ đã quen với cách nói chuyện như vậy, cô gọi đấy là "chuyện nhiều kì". Ngoài ra cô còn nói mà không mấp máy môi một cách rất tài tình. Suốt một tháng trời, tối nào họ cũng gặp nhau, thế mà chỉ hôn nhau được một lần. Hôm đó họ đang yên lặng bước đi trong một ngõ hẻm (Julia không bao giờ nói khi đi vào hẻm) thì bất ngờ có tiếng nổ lớn, mặt đất rung lên, trời tối sầm lại, Winston ngã lăn ra đất, hồn vía lên mây, mình mẩy thâm tím. Quả bom chắc rơi rất gần. Bất thình lình anh thấy Julia, chỉ cách anh chừng dăm tấc, mặt cô trắng bệch, không khác gì phấn. Ngay cả môi cũng trắng. Chết rồi! Anh ôm chặt cô vào lòng rồi bất thình lình hôn lên gò má nóng ấm của cô, thế là bụi bám ngay vào môi anh, lau mãi vẫn không hết. Mặt hai người phủ đầy bụi vữa. Cũng có những hôm hai người đến chỗ hẹn nhưng đành đi lướt qua nhau, không nói đựơc lời nào vì hoặc là gặp đội tuần tra hoặc là máy bay trực thăng quần đảo trên đầu. Chưa nói đến nguy hiểm, thì giờ cũng kẹt lắm. Winston phải làm sáu mươi giờ một tuần, Julia còn làm nhiều hơn, ngày nghỉ phụ thuộc vào khối lượng công việc mà lại ít khi trùng nhau. Julia thường ít khi được nghỉ trọn vẹn cả buổi tối. Cô tốn rất nhiều thời gian vào việc đi nghe nói chuyện, tham gia biểu tình, phân phát tài liệu của Hội Thanh Niên Chống Tình Dục, chuẩn bị biểu ngữ cho Tuần Lễ Hận Thù, thu tiền đóng góp cho các phong trào tiết kiệm và những việc tương tự khác. Ngụy trang ấy mà, cô nói. Chịu khó tuân thủ một số qui định nhỏ để có thể vi phạm các qui định lớn. Cô còn thuyết phục Winston hi sinh thêm một buổi tối để tham gia vào việc sản xuất đạn dược do các đảng viên trung kiên tổ chức làm ngoài giờ hành chính. Thế là từ nay mỗi tuần Winston phải hi sinh thêm bốn tiếng đồng hồ, anh chuyên vặn ốc để gắn những mẩu kim loại nhỏ với nhau, chắc là bộ phận khai hoả của bom, trong một xưởng sản xuất tối tăm, gió lộng tứ bề, tiếng búa và tiếng nhạc của màn vô tuyến lúc nào cũng ầm ầm như muốn chọc thủng màng nhĩ. Khi họ gặp nhau trên tháp chuông nhà thờ thì mới được nói chuyện liên tục. Trời hôm ấy rất oi. Căn phòng hình vuông nhỏ tí nóng và ngột ngạt, sặc mùi cứt chim bồ câu. Họ ngồi nói chuyện mấy tiếng đồng hồ liền trên nền nhà bẩn thỉu, đầy rác, thỉnh thoảng một người phải đứng dậy để nhìn qua cửa sổ xem có ai đi bên dưới không. Năm nay Julia vừa tròn hai mươi sáu. Cô sống trong nhà tập thể với ba mươi cô khác ("Chỗ nào cũng sặc mùi đàn bà! Sao em ghét đàn bà thế!"- cô bảo), cô làm việc, đúng như anh đoán, trong Ban Sáng Tác, chuyên bảo dưỡng máy viết tiểu thuyết. Cô thích công việc đó, thực ra cô chỉ phải chạy và bảo dưỡng một cái động cơ điện công suất lớn, nhưng hay giở chứng. Cô "không thông minh" nhưng thích công việc chân tay và có hiểu biết về máy móc. Cô có thể kể cho anh nghe toàn bộ quá trình viết một cuốn tiểu thuyết, từ lúc nhận chỉ thị của Phòng Kế Hoạch cho đến những sửa chữa cuối cùng của Phòng Biên Tập. Nhưng cô không quan tâm đến sản phẩm cuối cùng. "Em không ham đọc" - cô bảo thế. Sách cũng là một loại sản phẩm tiêu dùng cần được sản xuất, giống như giăm bông hoặc dây giầy vậy thôi. Cô không nhớ gì về những sự kiện xảy ra trước những năm 60, trong những người cô biết thì chỉ có ông cô là hay nói về những ngày trước Cách Mạng, nhưng cụ đã biến mất khi cô lên tám tuổi. Khi còn đi học cô từng là đội trưởng đội khúcquân cầu và đã đoạt giải thể dục dụng cụ hai năm liền. Cô đã là trung đội trưởng Tình Báo, trước khi tham gia Hội Thanh Niên Chống Tình Dục cô từng là bí thư chi đoàn Liên Hiệp Thanh Niên. Ổ đâu cô cũng xuất sắc. Cô đã được giới thiệu vào Phimheo (chứng tỏ có uy tín), một tổ của Ban Sáng Tác chuyên về phim ảnh khiêu dâm rẻ tiền dành cho cu li. Những người ở đấy gọi ban này là Kho Cứt, cô bảo thế. Cô đã làm ở đấy một năm, tham gia viết những cuốn sách đại loại như "Những câu chuyện tếu" hay "Một đêm trong trường nữ sinh", những cuốn sách được gửi đi trong hòm kín, thanh niên vô sản thậm thụt mua vì nghĩ rằng đang mua đồ quốc cấm. "Sách đó viết cái gì?", Winston tò mò hỏi. "Nhảm nhí lắm. Đọc chán ngắt. Chỉ có mỗi sáu nội dung, tráo qua tráo lại. Em chỉ chạy kính vạn hoa thôi. Không bao giờ làm trong Phòng Biên Tập. Anh yêu ơi, em dốt văn lắm" Anh lấy làm ngạc nhiên khi nghe nói rằng ngoài ban lãnh đạo ra, Phimheo gồm toàn con gái. Lí do là bản năng tình dục của nam giới khó kiểm soát hơn so với nữ giới vì vậy nếu làm việc này nam giới sẽ dễ bị tiêm nhiễm hơn. "Phụ nữ có chồng không được làm ở đấy", Julia bảo. "Con gái được coi là trong trắng. Nhưng em khác bọn họ" Năm mười sáu tuổi cô đã yêu, đấy là một đảng viên sáu mươi tuổi, ông ta đã tự sát để tránh bị bắt. "May quá", Julia nói. "Nếu không ông ta khai ra tên em thì nguy". Sau này còn nhiều người nữa. Theo cô cuộc đời thật là đơn giản. Anh muốn sống vui, nhưng "chúng", nghĩa là Đảng, không cho; anh càng vi phạm nhiều qui định bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Việc "chúng" muốn cướp thú vui của anh, theo cô, cũng tự nhiên như là việc anh không muốn bị tóm vậy thôi. Cô căm thù Đảng, cô nói điều đó bằng những từ lỗ mãng nhất, nhưng nói chung cô không phê phán Đảng. Cô không quan tâm đến lí thuyết của Đảng, trừ những điều liên quan trực tiếp đến đời tư của cô. Anh để ý thấy cô không sử dụng Ngômo, nếu có thì đấy là những từ đã trở thành thông dụng. Cô chưa từng nghe nói đến Huynh Đệ và không tin là nó đang tồn tại. Cô coi mọi cuộc nổi dậy có tổ chức đều là ngớ ngẩn vì nhất định sẽ thất bại. Người khôn là người có thể vi phạm các qui định mà vẫn không sao. Anh lơ đãng tự hỏi có bao nhiêu người thuộc thế hệ trẻ như cô, thế hệ lớn lên sau Cách Mạng, không biết gì khác ngoài việc coi Đảng là một cái gì đó bất di bất dịch, như thể bầu trời, không bao giờ nổi loạn chống lại quyền lực của nó mà chỉ tìm cách trốn tránh như thỏ trốn chó săn mà thôi. Họ không nói đến chuyện cưới xin. Chuyện đó có vẻ xa vời quá, chẳng nên nghĩ đến làm gì. Không một uỷ ban nào chấp thuận, ngay cả khi Winston đã li dị được với cô vợ cũ là Katherine. Đấy là chuyện vô vọng. "Chị ấy là người thế nào, là em nói chị vợ cũ của anh ấy?", Julia hỏi. "Cô ấy là người, em có biết từ chánhtudu trong Ngômo không? Nghĩa là người hoàn toàn chính thống, không thể có ý nghĩ xấu"" "Không, em không biết từ đó, nhưng kiểu người thì hiểu, thậm chí hiểu rõ nữa" Anh bắt đầu kể cho cô nghe đời sống gia đình của mình, nhưng hoá ra cô đã
1,180
4
đồ đường đi. IV. Winston đảo mắt nhìn căn phòng tồi tàn phía bên trên cửa hàng của ông Charrington. Bên cạnh cửa sổ là chiếc giường quá khổ, phủ chăn rách với cái gối ôm không vỏ. Chiếcđồng hồ cũ trên mặt lò sưởi vẫn đều đều điểm nhịp. Trong góc, trên cái bàn cánh lật, cái chặn giấy bằng thuỷ tinh mà anh mang lại lần trước lấp lánh sáng. Trong lò sưởi ông Charrington để sẵn một cái bếp dầu cũ méo mó, một cái xoong đầy nước và hai cái li. Anh đã mua một gói cà phê Chiến Thắng và mấy viên đường hoá học. Kim đồng hồ chỉ bảy giờ hai mươi, nghĩa là mười chín giờ hai mươi. Cô sẽ tới vào lúc mười chín giờ rưỡi. Liều mạng, liều mạng quá – anh thầm nhắc đi nhắc lại như vậy - chẳng khác gì tự sát. Trong tất cả tội lỗi một đảng viên có thể phạm thì đây là tội lỗi khó che giấu nhất. Thực ra ban đầu ý tưởng này chỉ như một cái bóng, giống như bóng của cái chặn giấy trên mặt bàn kia thôi. Đúng như anh dự đoán, ông Charrington đồng ý cho thuê căn phòng ngay lập tức. Ông ta tỏ ra mừng rỡ vì có thêm mấy dollar. Ông ta cũng không tỏ ra ngạc nhiên hay tức tối khi nghe Winston nói sẽ dùng căn phòng cho việc hẹn hò trai gái. Mắt nhìn xa xăm, ông toàn nói những chuyện đâu đâu một cách tế nhị, tạo cho ta ấn tượng rằng ông không hề hiện diện ở đó. Riêng tư, ông nói, giá trị lắm. Thỉnh thoảng ai cũng thích có một chỗ riêng tư. Khi một người tìm được một chỗ riêng tư như thế thì bất kì ai biết được chuyện đó đều phải giữ kín, đấy là phép lịch sự tối thiểu. Ông nói thêm rằng ngôi nhà có hai cổng, cổng thứ hai mở ra sân sau, từ sân sau có đường ra hẻm, khi đó dường như ông đã hoàn toàn không còn hiện diện nữa. Bên dưới cửa sổ có người đang hát. Winston nấp sau tấm màn sáo bằng vải muslin để quan sát cái sân sau. Nắng tháng sáu còn gắt lắm, trên khoảng sân đầy nắng ở bên dưới, một người đàn bà to lớn, rắn rỏi, hai cánh tay lực lưỡng đỏ au đang đi đi lại lại giữa bể giặt và giây phơi để phơi những tấm vải trắng hình vuông mà Winston cho là tã trẻ em. Mỗi khi không ngậm kẹp là bà lại hát bằng một giọng nữ trầm: "Chỉ là những giấc mơ thôi, Vút qua như ngày xuân mới Người xưa giờ ở nơi đâu Lòng em thổn thức khôn nguôi Bao giờ gặp lại người ơi" Mấy tuần gần đây khắp London, đi đâu cũng nghe thấy bài này. Đấy là một trong rất nhiều bài hát dành cho cu li do Ban Âm Nhạc sáng tác. Lời những bài hát loại này được một cái máy có tên là "Thi sĩ" viết, không cần bàn tay con người can thiệp. Nhưng giọng người đàn bà du dương đến nỗi dù bài hát nhảm nhí nghe vẫn êm tai. Anh nghe thấy tiếng hát, nghe thấy tiếng giày loẹt xoẹt trên mặt đá, tiếng trẻ con hò hét trên đường phố, tiếng động cơ ô tô từ xa vẳng lại, nhưng căn phòng thì vẫn yên tĩnh lạ lùng, ấy là do không có màn vô tuyến. Liều mạng, liều mạng quá! anh lại nghĩ. Không thể có chuyện đến đây mấy tuần liền mà không bị bắt. Nhưng một chỗ riêng tư, kín đáo, lại gần, quả là điều hấp dẫn. Sau buổi nói chuyện trên gác chuông nhà thờ đổ họ không có dịp gặp nhau lần nào nữa. Gần đến Tuần Lễ Hận Thù phải làm thêm giờ. Còn hơn một tháng nữa cơ, nhưng công việc chuẩn bị phức tạp và nhiều nên ai cũng phải làm thêm mới kịp. Cuối cùng cả hai cũng tìm cách xin nghỉ buổi chiều vào cùng một ngày. Trước đó họ đã hẹn sẽ gặp nhau trong rừng. Ngay tối hôm trước họ có gặp nhau một lúc ngoài phố. Bình thường trong khi rẽ đám đông để đến với nhau Winston ít khi nhìn Julia, nhưng hôm ấy chỉ nhìn qua là anh đã thấy cô xanh hơn mọi ngày. "Hỏng rồi", cô thì thầm khi đã cảm thấy an toàn. "Đấy là em nói ngày mai ấy" "Vì sao?" "Chiều mai. Em không tới được" "Tại sao không?" "Cũng như mọi khi thôi. Nhưng mai bắt đầu sớm hơn" Winston tức lắm. Trong một tháng qua, từ ngày quen cô, tình cảm của anh với cô đã thay đổi về chất. Lần đầu có thể nói là chưa có cảm giác gì. Cuộc hò hẹn đầu tiên chỉ là một hành động lí tính. Nhưng sau lần gặp thứ hai thì vấn đề đã khác. Mùi tóc cô, hương vị môi cô, làn da cô dường như đã xâm nhập vào anh, thấm đẫm không gian xung quanh anh. Cô đã trở thành một nhu cầu vật chất không thể thiếu, anh không chỉ muốn mà cảm thấy có quyền sở hữu cô. Khi nghe cô nói rằng không đến được thì anh thấy như bị cô lừa vậy. Nhưng đúng lúc đó hai người bỗng bị đám đông ép sát và tay họ vô tình chạm vào nhau. Cô bóp mạnh mấy đầu ngón tay anh như có ý cầu xin tình yêu chứ không phải là nhục cảm. Anh chợt nhận ra rằng khi sống với một người đàn bà thì những trục trặc kiểu này phải được coi là bình thường, sẽ còn lặp đi lặp lại nhiều lần nữa; trong lòng anh bỗng bừng dậy một tình cảm yêu thương tha thiết, chưa từng có đối với cô. Anh ước ao họ là vợ chồng và đã ở bên nhau cả chục năm rồi. Anh ước họ được đi bên nhau, trên phố, y như lúc này, nhưng là công khai, không sợ hãi, vừa đi vừa nói đủ thứ chuyện và mua những thứ lặt vặt dùng trong gia đình. Nhưng trên hết là ước muốn tìm được một chỗ riêng tư để có thể ngồi bên nhau mà không có cảm giác phải làm tình ngay mỗi khi gặp nhau. Nhưng lúc đó anh chưa nghĩ ra, phải đến ngày hôm sau anh mới nghĩ đến việc thuê căn phòng của ông Charrington. Khi anh nói chuyện đó với Julia thì không ngờ cô đồng ý ngay. Cả hai đều biết rằng đấy là một hành động điên rồ. Có vẻ như họ đang cố tình bước vào nghĩa địa. Vừa ngồi xuống thành giường đợi, anh vừa nghĩ tới những căn hầm trong tòa nhà Bộ Tình Yêu. Anh tò mò dõi theo nỗi kinh hoàng định mệnh thoắt ẩn thoắthiện trong tâm trí. Nó đang chực chờ ở đâu đó trong tương lai, sau đó là chết, chắc chắn như sau số 99 là số 100 vậy. Không thể tránh được, trì hoãn, thì có thể được; nhưng thay vì thế người ta lại tự nguyện, người ta cố tình rút ngắn khoảng cách đó lại. Có tiếng chân gấp gáp bước trên cầu thang. Julia lao vào phòng. Cô xách một cái túi vải bạt màu nâu, đây là túi dựng dụng cụ, anh vẫn thường thấy cô khoác trên vai khi đi trong hành lang Bộ. Anh chạy lại định ôm cô, nhưng cô vội vã tránh, có thể là vì cô đang xách cái túi nặng. "Đợi chút", cô nói. "Để em cho anh xem em có cái gì. Anh có mang theo cà phê Chiến Thắng kinh tởm ấy không? Em nghĩ là anh có. Anh có thể ném đi được rồi đấy. Xem này" Cô quì xuống, mở túi và lấy mấy cái cờ-lê, mỏ lết, tua vít nằm ở bên trên ra. Phía dưới là những bọc giấy nhỏ. Cô đưa cho anh bọc thứ nhất, không biết là cái gì, nhưng lấy tay sờ thì lại như quen. Nặng, giống như cát. "Đường à?", anh hỏi. "Đường thật. Không phải đường hoá học đâu. Còn đây là bánh mì, bánh mì trắng hẳn hoi nhá, không phải loại tởm lợm ta vẫn ăn đâu... đây là lọ mứt, còn đây là lon sữa bò, nhìn này! Thấy em giỏi không! Em phải lấy giấy gói xi măng bọc bên ngoài vì..." Nhưng cô không cần nói tại sao phải gói kĩ. Mùi thơm nồng ấm, nhắc nhớ một thời thơ ấu, đã toả ra khắp phòng; bây giờ đôi khi anh cũng còn gặp trong một con hẻm nào đó, trước khi một cánh cửa đột ngột đóng hay thấy nó chợt lượn lờ một cách bí ẩn trên đầu đám đông ồn ào rồi đột ngột tan biến. "Đây là cà phê", anh nói. "Cà phê nguyên chất" "Đây là cà phê dành cho Đảng Nội Bộ. Hẳn một cân đấy" "Em kiếm ở đâu ra đủ thứ thế này?" "Toàn đồ dành cho Đảng
1,182
4
Nội Bộ thôi đấy. Bọn khốn đó chẳng thiếu thứ gì đâu. Dĩ nhiên là bồi bàn và đấy tớ phải ăn cắp chứ... xem này, em kiếm được cả một gói trà nữa này" Winston ngồi xổm cạnh cô. Anh xé một góc bọc trà. "Trà chính hiệu. Không phải lá mâm xôi", anh nói. "Gần đây có nhiều trà rồi. Đã chiếm được Ấn Độ hay thế nào không biết", cô nói phỏng chừng. "Nghe đây anh yêu. Em muốn anh quay lưng lại, ba phút thôi. Lại ngồi lên giường kia. Đừng đến gần cửa sổ quá. Đợi em kêu mới quay lại đấy" Winston nhìn bâng quơ qua tấm màn cửa sổ. Người đàn bà vẫn đi qua đi lại. Bà ta rút hai cái kẹp khỏi miệng và say sưa hát: "Người bảo rằng rồi sẽ qua đi Người bảo rằng rồi sẽ quên thôi. Nước mặt, nụ cười, ngày tháng cứ trôi Mà lòng em chẳng thể nào nguôi" Có vẻ như bà ta thuộc lòng bài hát rẻ tiền này. Giọng hát cứ thế bồng bềnh trôi giữa buổi chiều hè êm ả, du dương và man mác buồn. Có cảm tưởng rằng bà ta sẽ rất hài lòng nếu buổi chiều tháng sáu hôm nay cứ kéo dài mãi cho đến vô cùng, nếu cứ có quần áo mà phơi mãi, nếu cứ được móc tã và hát mọi thứ nhảm nhí như thế cả ngàn năm, cả vạn năm cũng được. Anh chợt lấy làm ngạc nhiên khi nghĩ rằng chưa bao giờ nghe thấy đảng viên nào tự hát một mình như vậy. Việc đó có thể bị coi là hơi bất thường, lập dị, giống như thói quen lẩm bẩm một mình. Có thể người ta chỉ có nhu cầu hát khi đứng trên bờ vực của đói nghèo, khốn khổ. "Anh có thể quay lại được rồi", Julia bảo. Anh quay lại và phải một lúc sau mới nhận ra cô. Anh tưởng sẽ nhìn thấy cô khoả thân. Nhưng không phải. Sự chuyển hoá còn đáng ngạc nhiên hơn rất nhiều. Cô vừa trang điểm xong. Chắc là cô đã rẽ vào một cửa hàng trong khu vô sản và mua một bộ đồ trang điểm. Môi cô đỏ rực, má hồng, mũi bôi phấn, ngay mắt cũng được bôi một cái gì đó, trông sáng hơn. Không được khéo lắm, nhưng Winston cũng có hiểu gì mấy đâu. Anh chưa bao giờ nhìn thấy hay tưởng tượng được một nữ đảng viên môi soi má phấn. Julia trông xinh hẳn lên. Chỉ cần một ít son phấn đúng chỗ là trông cô không chỉ đẹp lên mà chủ yếu nhất là nữ tính hơn rất nhiều. Mái tóc ngắn và bộ đồng phục kiểu con trai càng tăng hiệu quả. Vừa đưa tay ôm cô, mùi hoa vi-ô-lét nhân tạo đã xộc ngay vào mũi. Anh bỗng nhớ tới căn bếp ngầm tăm tối và cái miệng không khác gì một cái hang của người đàn bà trước đây. Vẫn mùi nước hoa đó, nhưng không quan trọng. "Nước hoa!", anh nói. "Đúng là nước hoa đấy, anh yêu. Anh có biết em sẽ làm gì bây giờ không? Em sẽ kiếm một bộ áo dài và mặc thay cho cái quần chết tiệt này. Em cũng sẽ đi tất lụa và giày cao gót! Thế là trong phòng này em sẽ là vợ chứ không còn là đồng chí nữa" Họ cởi vội quần áo và nhảy lên cái giường gỗ đỏ to đùng. Đây là lần đầu tiên anh đứng trần truồng trước mặt cô. Từ trước đến nay anh vẫn ngượng vì thấy mình vừa gầy, vừa xanh, mạch máu nổi khắp bắp chân và vết bầm ngay bên trên mắt cá. Không có vải trải giường, cái chăn bên dưới đã tướp hết, nhưng vẫn mềm, cả hai người đều ngạc nhiên khi thấy cái giường to và êm như thế. "Lắm rận lắm đây, nhưng không sao", Julia nói. Giường đôi chỉ còn trong các nhà cu li thôi. Winston từng được nằm trên một cái giống như thế này, còn Julia thì chưa thấy bao giờ. Họ thiếp đi một lúc. Khi Winston tỉnh dậy thì kim đồng hồ chỉ gần hai mốt giờ. Anh không động đậy vì Julia đang gối đầu lên tay anh. Son phấn trên mặt cô đã chuyển hết sang anh và cái gối ôm, nhưng một ít phấn hồng còn sót lại vẫn làm khuôn mặt cô trông xinh đẹp hơn. Ánh mặt trời sắp tàn chiếu thẳng vào chân giường,nhờ đó có thể nhìn rõ những thứ để bên trong lò sưởi, nước trong xoong đã sôi từ lâu. Không thấy tiếng người phụ nữ hát nữa, chỉ có tiếng hò hét của trẻ con vọng lại từ xa. Anh lờ mờ tự hỏi chả lẽ trước đây, trong cái quá khứ đã bị xoá bỏ ấy, việc người ta, ấy là nói một người đàn ông và một người đàn bà, có thể nằm bên nhau, không một mảnh vải che thân, muốn làm tình lúc nào thì làm, muốn nói gì thì nói, không cảm thấy cần đi đâu, chỉ nằm và nghe tiếng vọng của đời thường từ ngoài phố đưa lại như thế này, là việc bình thường ư. Không, không thể nào có chuyện đó được. Julia đã tỉnh, cô dụi mắt và chống khuỷu tay để vươn người lên nhìn cái bếp dầu. "Cạn một nửa nước rồi", cô bảo. "Em dậy pha cà phê đây. Còn một tiếng nữa cơ. Nhà anh mấy giờ thì cúp điện?" "Hai ba giờ rưỡi" "Khu tập thể của em thì hai ba giờ. Nhưng phải về nhà sớm hơn vì... A, cút ngay, đồ bẩn thỉu!" Cô nhoài người ra và nhặt cái giày trên nền nhà rồi vung tay ném vào góc phòng, động tác giống hệt như ném cuốn từ điển vào mặt Goldstein ở buổi Hai Phút Hận Thù sáng hôm trước. "Cái gì thế?", anh ngạc nhiên hỏi. "Chuột cống. Em thấy cu cậu thò mõm ra khỏi ván ốp chân tường kia kìa. Chắc ở đó có hang. Nhưng dù sao cũng sợ lắm rồi" "Chuột cống!", Winston thì thầm. "Phòng này có chuột!" "Đâu chả có", Julia vừa nói vừa ngả người ra như cũ. "Ngay trong bếp nhà tập thể của em cũng có. Có những khu nhiều khủng khiếp nữa cơ. Chúng tấn công cả trẻ con đấy, anh không nghe nói à? Đúng thế đấy. Có những chỗ không dám để trẻ em nằm một mình nữa cơ. Những con lớn màu vàng là dữ nhất. Nhưng tởm nhất là giống này..." "Thôi đi!", Winston nói, mắt nhắm lại. "Anh yêu ơi! Mặt anh trắng bệch ra rồi này. Sao thế? Anh sợ chuột à?" "Trên đời này anh sợ nhất là chuột đấy!" Cô quấn chặt lấy người anh, như muốn dùng hơi ấm của cơ thể để trấn an anh. Anh chưa mở mắt ra ngay. Anh như cảm thấy đang ở giữa cơn ác mộng mà thỉnh thoảng anh vẫn gặp trong giấc ngủ. Anh đứng trước một bức tường tối đen, phía sau là một cái gì đó kinh khủng, không thể chịu nổi, anh không dám nhìn. Nhưng cái chính là cảm giác tự dối mình vì anh biết rõ đằng sau bức tường đen đó là cái gì. Nếu dùng hết sức, nếu có thể giật được một ít óc ra khỏi não thì anh cũng có thể đưa được điều đó ra ngoài ánh sáng. Anh luôn thức dậy mà không biết đấy là cái gì: nhưng nó có liên quan thế nào đấy với câu chuyện mà Julia nói trước khi bị anh cắt ngang. "Anh xin lỗi - Anh nói - Không có gì đâu. Anh rất ghét chuột, thế thôi" "Đừng lo, anh yêu. Bọn chúng không ra được nữa đâu. Trước khi về em sẽ nút cái lỗ bằng vải bạt. Lần sau em sẽ mang theo ít vữa và trám hẳn lại" Tâm trạng hoảng hốt qua mau. Cảm thấy ngượng, Wiston ngồi dịch ra gần đầu giường. Julia đứng lên lấy quần áo mặc và đi pha cà phê. Mùi thơm ngào ngạt và hấp dẫn đến nỗi họ phải đóng cửa sổ: nhỡ có kẻ nào tò mò, thêm rách việc. Không chỉ mùi vị, điều đặc biệt ở đây chính là cái cảm giác êm dịu trên đầu lưỡi của đường tự nhiên, thứ Winston đã quên từ lâu. Một tay đút túi, tay kia cầm mẩu bánh mì phết mứt, mắt lơ đãng nhìn vào cái tủ sách, Julia vừa đi vừa giảng giải cách chữa cái bàn cánh lật rồi quăng người xuống cái ghế bành để kiểm tra xem có êm không và bắt đầu ngắm cái đồng hồ có mười hai chữ số với vẻ thích thú. Cô cầm cái chặn giấy lại đầu giường, gần cửa sổ, để nhìn cho rõ. Winston bảo đưa cho mình và cũng như mọi khi
1,183
4
, anh đưa lên ngắm, không hết ngạc nhiên vì vẻ mềm mại, giống như một giọt nước mưa của nó. "Cái này để làm gì, anh?", Julia hỏi. "Anh nghĩ chẳng để làm gì… anh muốn nói nó chẳng có ích bổ gì. Anh thích chính vì thế đấy. Chỉ là một mảnh vỡ của lịch sử người ta quên cải biến mà thôi. Một thông điệp từ cách đây cả trăm năm, ước gì có thể đọc được" "Thế còn bức tranh kia", vừa nói cô vừa hất cằm về phía bức tường đối diện. "Cũng cả trăm năm rồi à?" "Hơn. Có lẽ đến hai trăm. Khó nói lắm. Bây giờ không thể biết cái gì có từ bao giờ" Julia đi lại gần bức tranh. "Chuột chui ở đây ra này", vừa nói cô vừa lấy chân đá vào ván ốp chân tường ngay bên dưới bức tranh. "Chỗ nào thế này nhỉ? Em đã trông thấy ở đâu rồi?" "Nhà thờ, trước đây đã là nhà thờ. Gọi là nhà thờ Saint Clement của người Đan Mạch", Anh chợt nhớ khúc đầu bài đồng giao ông Charrington mới dạy và nói thêm giọng buồn buồn: "Cam cam chanh chanh là chuông Clement" Anh rất ngạc nhiên khi nghe cô đế theo: "Nợ mấy đồng xèng là chuông Martin Bao giờ trả đây? là chuông Barley Em không nhớ đoạn sau. Nhưng em nhớ hai câu cuối: Nghe thì thắp nến cho đi vào gường, Không nghe rút búa thì mày tan xương". Nghe như một khẩu lệnh. Nhưng sau Barley phải còn một câu nữa. Nếu khéo gợi ý, ông Charrington có thể nhớ được cũng nên. "Ai dạy em thế?", anh hỏi. "Ông em. Ông thường hát bài này khi em còn bé tí. Khi em lên tám thì ông bốc hơi, dù sao thì ông cũng biến mất. Em cứ thắc mắc không biết chanh là gì", cô nói thêm một cách bâng quơ. "Cam thì em thấy rồi. Quả tròn, màu vàng, da dày" "Chanh thì anh còn nhớ", Winston nói. "Hồi những năm năm mươi sẵn lắm. Chua, chỉ thấy mùi đã ứa nước dãi ra rồi" "Em ngờ rằng rận nằm sau bức tranh này này - Hôm nào rỗi em sẽ tháo xuống để rửa. Có lẽ đến giờ rồi đấy. Em phải rửa sạch phấnđi đã. Buồn quá! Sau đó em sẽ lau son cho anh" Winston còn nằm thêm mấy phút nữa. Trời tối dần. Anh quay sang phía cửa sổ và lại ngắm cái chặn giấy. Thú vị không phải là san hô mà chính là phần kính bên trong. Vừa sâu lại vừa trong suốt như là không khí vậy. Mặt cong bên ngoài giống như bầu trời trùm lên một thế giới nhỏ xíu, kể cả bầu khí quyển bao quanh. Winston bỗng cảm thấy như anh có thể chui vào bên trong, thực ra anh đã ở bên trong rồi, cả anh, cả cái giường, cái bàn, bức tranh và chính cái chặn giấy nữa. Cái chặn giấy là căn phòng này, còn mẩu san hô là cuộc đời anh và cuộc đời Julia, đã bị nhốt kín vĩnh viễn trong lòng nửa quả cầu pha lê. V. Syme biến mất. Buổi sáng không thấy anh ta đến sở: có mấy người vô tâm bình phẩm chuyện này. Ngày hôm sau không còn ai nhắc đến anh ta nữa. Ngày thứ ba Winston ra tiền sảnh Ban Tài Liệu để xem các tờ yết thị. Một tờ yết thị có tên các thành viên Ủy Ban Cờ Tướng trong đó có Syme. Tờ giấy vẫn nguyên hình thù như hôm trước, không một vết tẩy xoá nào, nhưng danh sách đã giảm một người. Rõ rồi. Syme đã không còn hiện diện, anh ta chưa từng hiện diện bao giờ. Nóng như thiêu như đốt. Trong những mê cung, những phòng không cửa sổ của Bộ đã có điều hoà không khí, nhưng ngoài đường nóng muốn lột da chân, còn giờ cao điểm trong tầu điện ngầm thì hơi người nồng nặc không thể chịu nổi. Công việc chuẩn bị cho Tuần Lễ Hận Thù đang vào giai đoạn quyết liệt nhất, tất cả công nhân, viên chức các Bộ đều phải làm thêm giờ. Cần phải tổ chức các cuộc diễu hành, mít tinh, duyệt binh, diễn thuyết, triển lãm tượng sáp, chiếu phim, các chương trình truyền hình đặc biệt; cần phải dựng khán đài, lắp ráp tượng, cắt khẩu hiệu, viết bài hát, tung tin thất thiệt, làm tranh ảnh giả. Nhóm của Julia trong Ban Sáng Tác tạm ngưng tiểu thuyết và đã kịp cho ra một loạt sách mỏng về đề tài tính ác. Winston, ngoài công việc thường nhật, còn phải dành nhiều thì giờ đọc các số Times cũ để hiệu chỉnh và đánh dấu những chỗ sẽ được trích dẫn trong những bài diễn văn. Đêm khuya, khi đám đông cu li ồn ào tràn ra đường, London sục sôi như đang lên cơn sốt. Tên lửa rơi xuống thành phố nhiều hơn trước, đôi khi nghe thấy những tiếng nổ rất to từ xa vẳng lại, người ta đồn đủ thứ, nhưng không có ai biết nổ ở đâu. Bài hát mới cho chương trình của Tuần Lễ Hận Thù (gọi là Bài Hát Căm Hờn) đã soạn xong và được phát liên tục trên màn vô tuyến. Nhịp điệu hung tợn, như tiếng chó sủa, khó có thể gọi đấy là bản nhạc, nó gợi cho người ta liên tưởng tiếng trống ngũ liên. Tiếng gào thét của cả ngàn cái miệng hòa cùng nhịp chân đều bước đủ làm những người táo tợn nhất phải phát run. Bọn cu li khoái bài này lắm, nó đã giành được thế thượng phong so với bài: "Chỉ là những giấc mơ thôi" vẫn thịnh hành lâu nay. Hai đứa con của Parsons hát suốt ngày đêm, lại còn gảy bằng cái lược nữa, không thể nào chịu đựng nổi. Bây giờ buổi tối Winston còn bận hơn. Các đội tình nguyện dưới quyền Parsons trang trí đường phố, chuẩn bị cho Tuần Lễ Hận Thù; họ treo biểu ngữ, dán áp phích, dựng cột cờ trên mái nhà, họ căng dây thép ngang qua phố để chuẩn bị treo khẩu hiệu, bất chấp tính mạng người qua đường. Parsons khoe rằng chỉ riêng chung cư Chiến Thắng đã treo tổng cộng bốn trăm mét cờ và biểu ngữ. Thật đúng sở trường, hắn vui như tết. Vì trời nóng và làm việc chân tay nên anh ta có cớ chuyển sang quần soóc và áo sơ mi. Anh ta có mặt khắp nơi, lúc kéo, lúc đẩy, lúc cưa, lúc đóng, cười đùa, động viên mọi người, mồ hôi khét lẹt túa ra khắp các lỗ chân lông. Khắp nơi ở London bỗng xuất hiện một tấm biểu ngữ mới. Đấy là một tấm bảng to, ba bốn mét, vẽ hình một người lính Eurasia, nét mặt Mông Cổ, không chút biểu cảm nào, đôi ủng to quá khổ, khẩu súng máy cầm ngang hông, đang sải chân bước. Dù nhìn từ góc nào thì cái nòng súng cũng như đang chiếu thẳng vào đầu. Bức tranh này được treo trên mọi bức tường trống, số lượng có thể vượt cả ảnh Anh Cả. Bọn cu li thường chẳng quan tâm gì đến chiến cuộc, lại như sôi lên vì lòng ái quốc, cứ một thời gian nó lại được hâm nóng theo cách ấy. Nhiều người bị giết vì hoả tiễn hơn mọi khi, cứ như thể đấy là biện pháp giữ vững tinh thần chiến đấu. Một quả rơi trúng rạp chiếu bóng đông nghẹt ở khu Stepney chôn vùi mấy trăm người dưới đống gạch vụn. Tất cả dân chúng trong vùng đều tham gia đoàn đưa tang kéo dài mấy tiếng đồng hồ, đám tang đã biến thành một cuộc mít tinh phản đối. Một quả khác rơi trúng khu đất trống vẫn dùng làm sân chơi cho trẻ con, mấy chục đứa tan xác. Có nhiều cuộc biểu tình phản đối tiếp theo, người ta đốt hình nộm Goldstein, hàng trăm bức vẽ tên lính Eurasia bị xé nát và vứt vào lửa, trong lúc lộn xộn nhiều cửa hàng bị cướp, sau đó lại có tin đồn là bọn gián điệp dùng sóng vô tuyến điều khiển tên lửa, nhà của hai ông bà già tình nghi là người ngoại quốc bị đốt, hai người đều chết ngạt cả. Julia và Winston đã cất hết chăn nệm trong cái phòng phía trên cửa hàng của ông Charrington thế mà trước khi nằm họ phải cởi hết quần áo mới hơi đỡ nóng được một chút. Không thấy chuột nữa, nhưng rệp thì phát triển nhanh khủng khiếp. Nhưng chuyện đó không quan trọng. Dù sạch dù bẩn, căn phòng vẫn là thiên đường. Vừa bước vào phòng họ liền lấy ớt mua ngoài chợ
1,184
4
đen rải khắp nơi, rồi họ cởi quần áo và làm tình dù người còn ướt đẫm mồ hôi, sau đó họ thiếp đi, lúc dậy mới thấy hàngđàn rệp đang lao vào tấn công. Bốn, năm, sáu,… họ gặp nhau bảy lần nội trong tháng sáu. Winston bỏ thói quen uống rượu Gin bất kể giờ giấc. Anh cảm thấy không có nhu cầu nữa. Anh béo ra, chỗ loét do giãn tĩnh mạch đã liền da, chỉ còn một vết sẹo màu nâu bên trên mắt cá chân, không còn ho rũ ra vào buổi sáng như mọi khi nữa. Cuộc sống đã không còn quá nặng nề nữa, anh cũng không cần giả vờ trước màn vô tuyến hay muốn chửi thật to nữa. Bây giờ, khi đã có một chỗ kín đáo, an toàn, gần như nhà riêng, họ không còn thấy bực dọc vì thỉnh thoảng mới được gặp nhau mà mỗi lần cũng chỉ được chừng vài tiếng đồng hồ. Điều quan trọng là họ có một căn phòng như thế ở bên trên cửa hàng đồng nát. Biết rằng nó vẫn còn ở đấy, không bị ai xâm phạm thì cũng như đang có mặt trong đó rồi. Căn phòng là cả một thế giới, một khu vực biệt lập của quá khứ, nơi những động vật đã tuyệt chủng có thể dạo chơi. Ông Charrington, Winston nghĩ, cũng là một loài động vật đã tuyệt chủng khác. Trước khi bước lên cầu thang anh thường dừng lại vài phút để nói chuyện với ông. Có vẻ như ông già không bao giờ đi ra ngoài mà cũng chả có mấy khách. Cuộc đời ông lặng lẽ trôi giữa một cái cửa hàng tối tăm, bé tí và gian bếp dành để nấu ăn ở phía sau, gian này còn bé nữa, trong đó ngoài những vật dụng thường nhật còn có một cái máy hát cổ lỗ sĩ có cái loa rất dài. Ông già rất khoái nói chuyện. Trông ông ta, một người mũi dài, kính dày, vai so trong bộ quần áo bằng vải tơ, đi lại giữa những món đồ vô giá trị, người ta dễ nghĩ ông là một người sưu tập chứ không phải là một thương nhân. Khi thì ông ta chỉ cho Winston xem chứ không phải mua thứ này hoặc thứ kia, đấy có thể là cái nút chai bằng sứ, hay nắp một cái hộp sơn mài dùng đựng thuốc lá đã sứt, có khi là cái huy hiệu hình một trái tim bằng vàng giả có kẹp lọn tóc một đứa trẻ đã chết không biết từ bao giờ. Nói chuyện với ông ta chả khác gì nghe một cái máy hát cũ. Thỉnh thoảng ông lại lôi ra được một đoạn bài đồng dao nào đó. Một bài về sáo sậu, sáo đen, bài khác về con bò có cái sừng cong, một bài về con chim chích. "Tôi nghĩ ông sẽ thích cái này đấy" – ông nói vừa vừa mỉm cười mỗi khi sắp hát. Nhưng bài nào ông cũng chỉ nhớ được vài ba câu là cùng. Cà hai đều biết, nói một cách khác, đều luôn luôn nhớ rằng chuyện này không thể kéo dài mãi được. Đôi khi hình ảnh thần chết hiện lên rõ ràng như có thể sờ nắn được, thật như cái giường họ đang nằm; mỗi lần như thế họ lại xoắn lấy nhau trong niềm hoan lạc tuyệt vọng, như những linh hồn sa đoạ bám chặt vào khoái lạc ngay trước khi đồng hồ báo tử điểm. Nhưng cũng có lúc họ lại có ảo tưởng rằng họ không những an toàn mà còn có thể cứ sống như thế này mãi mãi. Cả hai đều cảm thấy rằng khi đã bước vào đây rồi thì không còn gì phải lo nữa. Đường đi có thể khó khăn, nguy hiểm. Nhưng căn phòng thì tuyệt đối an toàn. Winston cũng có cảm giác như thế khi ngắm cái chặn giấy, dường như có thể chui vào trung tâm cái thế giới bằng thuỷ tinh đó và khi đã ở trong rồi thì thời gian sẽ ngưng lại. Họ cũng thường mơ tưởng hão huyền. Họ mường tượng sẽ còn gặp may, còn có thể tiếp tục mãi cuộc tình này trong phần đời còn lại. Hay là Katherine chết và họ sẽ khôn khéo vận động để có thể cưới nhau. Hoặc là họ sẽ cùng nhau tự sát. Hay là họ sẽ bỏ trốn, thay đổi nhân dạng, bắt chước giọng vô sản, xin vào nhà máy và sống cuộc đời mai danh ẩn tích trong một ngõ vắng nào đó. Cả hai đều biết đấy chỉ toàn là chuyện viển vông. Không có lối thoát, sự thật là như thế. Thực tế nhất là tự sát, nhưng họ sẽ không làm. Bản năng không thể chế ngự nhủ rằng cứ để thế, được ngày nào hay ngày ấy, sống hôm nay không cần biết ngày mai; giống như là phổi tiếp tục hít vào khi vẫn còn không khí vậy thôi. Đôi khi họ cũng thảo luận việc tham gia hoạt động chống lại Đảng, nhưng không biết phải bắt đầu như thế nào. Ngay cả nếu tổ chức Huynh Đệ huyền thoại là có thật đi nữa thì cũng khó mà tiếp cận được. Anh bảo giữa anh và O'Brien đã có hay dường như là có một sự cảm thông nào đó, đôi khi anh muốn đi gặp O'Brien và tuyên bố rằng anh là kẻ thù của Đảng, xin được giúp đỡ. Điều làm anh ngạc nhiên là Julia không cho rằng đấy là một ý nghĩ điên rồ. Cô thường có thói quen nhận định người qua nét mặt, việc Winston tin ngay O'Brien khi hai người mới nhìn nhau có một lần đối với cô cũng là chuyện bình thường. Hơn nữa, cô cho rằng tất cả hay gần như tất cả mọi người đều căm thù Đảng một cách bí mật và sẽ vi phạm luật lệ ngay nếu không thấy bị đe doạ. Nhưng cô không tin là có một phong trào đối lập có tổ chức, nó không tồn tại hoặc không thể tồn tại được. Cô bảo những câu chuyện về Goldstein và đội quân ngầm của hắn chỉ là những trò nhảm nhí do Đảng bịa ra vì mục đích riêng, ta phải giả vờ tin mà thôi. Cô không nhớ đã bao nhiêu lần, trong các hội nghị của Đảng cũng như trong những cuộc diễu hành tự phát cô đã gào đến đứt họng, yêu cầu tử hình những người cô chưa từng nghe nói tới, tội lỗi của họ cô cũng chẳng mảy may tin. Khi có những phiên toà công khai cô thường đứng trong hàng ngũ Liên Hiệp Thanh Niên, bao vây tòa án từ sáng đến tối, thỉnh thoảng lại hô: "Giết chết bọn phản bội!". Trong những buổi Hai PhútHận Thù cô thường lăng mạ Goldstein một cách dữ dội hơn những người khác. Nhưng thực ra cô hiểu rất mù mờ về Goldstein cũng như lí thuyết được gán cho là của ông ta. Trưởng thành sau Cách Mạng, còn ít tuổi, nên cô chẳng có hiểu biết gì về những cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra hồi những năm 50 và 60. Không bao giờ cô nghĩ đến một phong trào chính trị độc lập: gì thì gì, Đảng vẫn là bất khả chiến bại. Đảng sẽ luôn luôn tồn tại và vĩnh viễn như thế. Chỉ có thể chống lại nó bằng những hành động bất tuân bí mật, cùng lắm cũng chỉ là những hành động khủng bố đơn lẻ thí dụ giết một người nào đó hay cho nổ một công trình nào đó mà thôi. Ở một khía cạnh nào đó mà nói thì cô sắc sảo hơn Winston và ít bị tiêm nhiễm hơn. Có lần, nhân nhắc đến cuộc chiến tranh với Eurasia, Julia đã làm anh phải sửng sốt khi cô tuyên bố rằng chẳng hề có cuộc chiến tranh nào hết. Tên lửa rơi xuống London hàng ngày có thể là do chính chính phủ của Oseania bắn, "để làm cho dân sợ". Anh chưa từng nghĩ như thế bao giờ. Có lần anh đã phát ghen khi nghe cô nói rằng việc khó nhất đối với cô là không phá lên cười khi tham gia Hai Phút Hận Thù. Cô không quan tâm đến học thuyết của Đảng, cô chỉ thắc mắc khi những chuyện đó liên quan trực tiếp đến cuộc sống của cô mà thôi. Cô sẵn sàng chấp nhận tất cả những huyền thoại chính thức, đơn giản vì theo cô thật hay giả cũng chẳng có gì quan trọng. Cô tin, vì người ta đã dạy thế, rằng Đảng đã phát minh ra máy bay. (Theo Winston thì thời anh còn đi học, cuối những năm 50 Đảng mới chỉ tuyên bố phát minh ra máy bay trực thăng thôi; khoảng chục năm sau, khi Julia đi học, Đảng đã nhận phát minh ra máy bay; vài thế hệ nữa, có thể nó sẽ tuyên bố phát minh ra máy hơi nước cũng nên). Điều làm anh ngạc nhiên là cô không hề tỏ vẻ quan tâm khi anh nói rằng máy bay đã có trước anh, trước Cách Mạng rất nhiều. Ai phát minh ra máy bay mà chả thế. Nhưng điều làm anh choáng váng nhất là khi vô tình phát hiện ra rằng Julia không nhớ là cách đây bốn năm Oceania đã từng đánh nhau với Eastasia và hòa hoãn với Eurasia. Thật ra cô coi tất cả các cuộc chiến tranh đều là tráo trở: nhưng rõ ràng là cô không biết kẻ thù đã thay
1,185
4
là rất hay. Giảm số động từ… tôi nghĩ anh sẽ thích đấy. Để tôi nghĩ xem, hay là gửi cho anh cuốn từ điển theo đường văn thư? Nhưng tôi sợ tôi hay quên lắm. Hay lúc nào tiện anh ghé qua nhà tôi? Đợi chút. Để tôi ghi địa chỉ cho anh" Họ đứng ngay trước màn vô tuyến. O'Brien đưa tay lục cả hai túi, rồi lấy ra một cuốn sổ bìa da và cái bút chì màu vàng. Rồi cứ thế, đứng ngay dưới màn vô tuyến, chả cứ gì màn vô tuyến, đứng ở tận đầu kia hành lang cũng đọc được, anh ta ghi địa chỉ, sau đó xé tờ giấy và đưa cho Winston. "Buổi tối tôi thường ở nhà", anh ta nói. "Nếu tôi đi vắng thì tên đầy tớ sẽ đưa cho anh" Anh ta bước đi, Winston vẫn cầm mảnh giấy, lần này chẳng cần phải giấu nữa. Nhưng Winston vẫn học thuộc lòng và sau đó vài giờ thì quăng vào lỗ nhớ cùng với những giấy tờ khác. Câu chuyện của họ chỉ kéo dài chừng vài ba phút là cùng. Chỉ có một cách giải thích. Mục đích là để thông báo cho Winstonđịa chỉ của O'Brien. Không còn cách nào khác: muốn biết địa chỉ phải hỏi thẳng đương sự. Không có bất kì cuốn danh bạ nào. "Nếu muốn gặp tôi thì hãy tìm tôi ở đây"- O'Brien muốn nói như thế. Có thể anh ta sẽ kẹp thư vào cuốn từ điển. Thế là đã rõ: tổ chức bí mật mà anh mơ ước là có và anh đã đến sát nó rồi. Anh biết rằng sớm muộn gì anh cũng sẽ đến nhà O'Brien thôi. Có thể ngay ngày mai, cũng có thể còn lâu, anh không dám chắc. Cuộc hội ngộ vừa rồi chỉ là sự tiếp tục của một quá trình kéo dài đã mấy năm nay. Khởi thủy chỉ là một ý nghĩ vô tình, bí mật; bước thứ hai là ghi nhật kí. Anh đã chuyển từ ý nghĩ sang lời nói, và bây giờ sắp sửa chuyển từ lời nói thành việc làm. Bước cuối cùng sẽ là Bộ Tình Yêu. Anh chấp nhận chuyện đó. Nhân nào thì quả nấy. Nhưng anh bỗng cảm thấy sợ, đúng hơn là anh đã ngửi thấy mùi tử khí, cảm thấy như bước đến gần thần chết hơn. Trong lúc nói chuyện với O'Brien, trước khi hiểu được toàn bộ ý nghĩa câu chuyện, anh cảm thấy ớn lạnh khắp người. Anh thấy như đang bước chân vào huyệt mộ ẩm ướt, dù trước đây anh đã biết rằng nghĩa địa không xa, nó vẫn đợi chờ anh, nhưng hiểu biết cũng chẳng giúp được gì. VII. Winston thức giấc, nước mắt lưng tròng. Julia lăn sát vào anh, miệng lẩm bẩm câu gì đó, đại loại như: "Có việc gì thế?" "Anh mơ", anh bắt đầu nhưng vội ngừng ngay. Khó quá, không thể diễn tả thành lời. Có một giấc mơ, và sau đó là hồi ức, liên quan đến giấc mơ đó, diễn ra trong mấy giây sau khi đã tỉnh. Anh lại nằm xuống, mắt vẫn nhắm, ý thức vẫn chìm trong mơ. Một giấc mơ trải dài, trong sáng, toàn bộ cuộc đời anh hiện lên trước mặt như phong cảnh buổi chiều hè sau cơn mưa vậy. Câu chuyện xảy ra trong cái chặn giấy bằng thuỷ tinh, nhưng bề mặt của nó lại là bầu trời, bên dưới bầu trời một luồng ánh sáng dìu dịu bao trùm khắp mọi vật, có thể nhìn thấy cả không gian bao la phía trước. Nguyên nhân của giấc mơ, có thể một phần nội dung của nó chính là động tác đưa tay lên của mẹ, ba mươi năm sau được một người phụ nữ Do Thái, trong bộ phim thời sự, lặp lại, khi bà ta giơ tay che đạn cho đứa con nhỏ trước khi cả hai bị máy bay bắn tan ra từng mảnh. "Em biết không?", Winston nói. "Trước đây anh cứ nghĩ là mình giết mẹ đấy" "Tại sao lại giết?", Julia hỏi, cô vẫn chưa tỉnh hẳn. "Anh không giết. Về mặt thể xác thì không" Trong mơ anh nhớ đã trông thấy mẹ lần cuối và ngay sau khi thức giấc tất cả các sự kiện ngày hôm đó lần lượt hiện về trong trí não. Chắc là nhiều năm qua anh đã cố tình gạt khỏi tâm trí đoạn hồi ức này. Anh không biết chính xác khi nào, nhưng ít nhất lúc đó anh đã lên mười, có thể mười hai. Bố biến mất từ trước, mấy năm trước thì anh không nhớ. Hoàn cảnh sống khó khăn, lộn xộn thời đó thì anh nhớ rõ: vài hôm lại bị không kích, phải chạy xuống ga tầu điện ngầm, đổ nát hoang tàn hiện diện khắp nơi, những lời hiệu triệu khó hiểu dán đầy các góc phố, đâu cũng thấy các nhóm thanh niên mặc đồng phục, những hàng người dài lê thê bên ngoài hiệu bánh mì, tiếng súng máy từ xa vọng lại, nhưng trên hết là không bao giờ được ăn no. Anh vẫn nhớ đã cùng với những đứa trẻ khác chiều nào cũng đi bới các đống rác để tìm những cái lá bắp cải, vỏ khoai tây, đôi khi cả vỏ bánh mì thiu, rồi cạo sạch những chỗ cháy quá đi; hoặc ngồi đợi những cái xe tải chở thức ăn gia súc chạy ngang những con đường nhất định, những cái xe này thường hay đánh rơi bánh khô dầu trên những đoạn đường xóc. Mẹ không hề tỏ ra ngạc nhiên hay quá đau khổ khi cha mất, nhưng trở thành một người khác hẳn. Không còn chút sinh khí nào. Ngay Winston cũng biết rằng bà đang chờ một cái gì đó, không thể tránh khỏi, sắp sửa xảy ra. Bà vẫn làm việc như mọi khi: nấu ăn, giặt giũ, sửa chữa, dọn giường, quét nhà, lau bụi; nhưng làm rất chậm, không một động tác thừa nào, y như người máy vậy. Cái cơ thể cao to và cân đối của bà dường như đã rơi vào trạng thái bất động. Có khi bà ngồi mấy tiếng liền trên giường, tay bế cô em, lúc đó chừng hai hay ba tuổi, nhỏ xíu, ốm yếu, mặt quắt lại y như một con khỉ. Thỉnh thoảng bà lại ôm lấy Winston, ghì chặt anh vào lòng rất lâu, nhưng không nói gì. Dù còn bé, dù ích kỉ anh cũng đã biết rằng chuyện này có liên quan đến cái điều, tuy bà không bao giờ nói, nhưng chắc chắn sẽ xảy ra nay mai. Anh vẫn nhớ căn phòng họ sống lúc đó, tối tăm, ngột ngạt, cái giường phủ vải trắng chiếm đến một nửa diện tích. Trong phòng có bếp ga, chạn bát và bên ngoài, trên chiếu nghỉ cầu thang có một cái bồn tắm bằng gốm màu nâu, chung cho mấy gia đình. Anh vẫn nhớ thân hình quí phái của mẹ đang cúi xuống khuấy cái gì trong chảo trên bếp ga. Nhưng nhớ nhất là cảm giác đói triền miên và những vụ tranh chấp nhỏ nhoi nhưng vô cùng dữ dội quanh bàn ăn. Anh thường mè nheo, lần nào cũng hỏi sao ít thức ăn thế, anh thường hò hét, quát tháo mẹ (anh vẫn còn nhớ cả giọng của mình, vỡ sớm và đôi khi trầm rất lạ), thỉnh thoảng anh còn khóc lóc, van vỉ đòi thêm. Mẹ thường cho anh phần hơn. Mẹ coi việc đó là đương nhiên vì anh là "con trai", anh phải được phần nhiều nhất, thế nhưng càng cho anh càng vòi thêm. Lần nào bà cũng dỗ ngọt rằng đừng có ích kỉ thế, rằng còn có em gái, mà em thì lại đang ốm, em cũng cần ăn, nhưng không ăn thua. Anh thường gào khóc, giằng lấy thìa và chảo haychộp lấy một miếng từ đĩa của em. Anh biết rằng vì anh mà mẹ và em bị đói nhưng không thể sửa được, thậm chí còn cho rằng mình có quyền làm như thế. Đói quá, lúc nào bụng cũng cồn cào, không chịu nổi nên anh mới làm thế chứ có phải tại anh đâu. Giữa ngày, hễ mẹ quay mặt đi là y như rằng anh nhón một ít thức ăn trên chạn. Một hôm có phiếu chocolate. Mấy tuần hoặc mấy tháng mới có đấy. Anh nhớ rất rõ cái miếng chocolate nhỏ xíu, ngon lành đó. Ba người được hai ounce [1] (khi đó vẫn dùng đơn vị ounce). Không cần nói cũng biết là phải chia làm ba phần đều nhau. Bất thình lình, Winston nghe thấy giọng mình oang oang, cứ như thể người nào đó nói chứ không phải anh, đòi cả thanh kẹo. Mẹ bảo không được tham ăn. Sau đó là cuộc tranh cãi kéo dài, giằng co, thôi thì đủ: quát tháo, than van, nước mắt, thuyết phục, mặc cả. Cô em bé nhỏ bám chặt lấy mẹ, y hệt một con khỉ con, ngoái cổ nhìn anh bằng đôi mắt to và buồn. Cuối cùng mẹ bẻ ba phần tư thanh kẹo và
1,187
4
chúng. Chúng có thể lôi ra tất cả mọi thứ, chúng có thể biết tường tận ta đã làm gì, nói gì, nghĩ gì, nhưng tâm hồn ta, cơ chế hoạt động của nó là một điều bí ẩn đối với chính ta, sẽ không kẻ nào xâm nhập vào được. [1]Ounce – Đơn vị đo trọng lượng, bằng 28,35 gram. VIII. Tới rồi, cuối cùng ta đã tới được đây rồi! Hai người đứng trong một căn phòng dài, không sáng quá, nhưng cũng không tối. Màn vô tuyến được vặn nhỏ nghe như tiếng thì thầm, tấm thảm mềm đến nỗi có cảm giác như đang bước trên nhung. Ở đầu kia căn phòng là O'Brien, anh ta ngồi bên bàn viết, dưới ánh sáng của cái đèn có chụp màu xanh, hai bên là hàng đống giấy tờ. Anh ta không thèm ngẩng lên khi người đầy tớ giới thiệu Julia và Winston. Tim Winston đập rộn lên, anh ngờ là mình sẽ không thể thốt thành lời. Tới rồi, cuối cùng ta đã tới, anh chỉ nghĩ được mỗi thế mà thôi. Đi đến đây một mình đã là liều rồi, đi hai người cùng một lúc thì rõ là điên; nhưng thực ra họ đi bằng những đường khác nhau và chỉ mới gặp nhau ngay cửa phòng O'Brien thôi. Vào đây là cả vấn đề. Ít người có dịp nhìn thấy nội thất của các đảng viên Đảng Nội Bộ, lọt vào khu vực họ sống cũng đã khó. Toàn bộ khung cảnh của một toà nhà to lớn trang bị đủ thứ mà cái nào trông cũng hoành tráng, mùi thức ăn ngon, thuốc lá ngon, thang máy vừa nhanh vừa không ồn, cảnh những người đầy tớ đi lại tất bật; chỉ thế cũng đủ ngợp rồi. Mặc dù có đủ cơ sở để đến đây, nhưng cảm giác sợ hãi vẫn không buông tha anh: một tên vệ binh áo đen bỗng chui ra từ một khúc quanh nào đó, hắn sẽ soát giấy tờ và bảo đằng sau quay. Nhưng người đầy tớ của O'Brien đã mời hai người vào ngay. Anh ta là một người nhỏ bé, tóc đen, mặt trái xoan, hoàn toàn vô cảm, có lẽ là người gốc Trung Hoa. Hành lang họ đi qua được trải thảm dày, hai bên tường dán giấy bồi màu kem, bên dưới đóng lam bri màu trắng, không một hạt bụi. Ở đây còn choáng ngợp hơn. Winston chưa thấy một một hành lang nào sạch sẽ như thế. O'Brien cầm một mảnh giấy và có vẻnhư đang chăm chú đọc. Bộ mặt đầy đặn của anh ta hơi cúi, có thể nhìn rõ sống mũi, vừa dữ dằn vừa thông thái. Anh ta ngồi bất động như thế chừng hai mươi giây. Sau đó anh ta kéo cái micro lại gần và bắt đầu xổ ra hàng tràng tiếng lóng: "Mục một phảy mục năm phảy mục bảy đồng ý hoàn toàn chấm đề nghị mục sáu hai cộng sai biên tội tưởng huỷ chấm không tiếp tục cho đến khi nhận được số liệu cộng vượt kế hoạch chế tạo máy chấm kết thúc" Anh ta thong thả đứng lên và đi về phía hai người. Trông anh ta đã bớt trịnh trọng, nhưng nét mặt lại cau có hơn mọi khi, có vẻ như anh ta không thích bị quấy rầy. Winston vốn đã sợ, nay càng lúng túng thêm. Anh có cảm giác như vừa mắc một sai lầm nghiêm trọng. Điều gì chứng tỏ O'Brien đang dự phần vào một âm mưu chính trị? Một ánh mắt và câu nói nước đôi, thế thôi, còn lại tất cả đều là trí tưởng tượng dựa trên những giấc mơ mà thôi. Anh không thể giả vờ nói là đến mượn cuốn từ điển vì như vậy Julia đi theo làm chi? O'Brien chợt nhớ chuyện gì đó khi bước ngang qua màn vô tuyến. Anh ta dừng lại và lấy tay bấm một cái nút trên tường. Có một tiếng tách nhỏ. Giọng nói im bặt Julia khẽ rít lên vì kinh ngạc. Dù rất hoảng sợ, Winston cũng sửng sốt đến mức không nén nổi, anh thốt lên: "Anh có thể tắt được à?" "Được", O'Brien đáp, "Chúng tôi có thể tắt được. Chúng tôi được ưu tiên". Anh ta đã đứng ngay trước mặt hai người. Thân hình to lớn đồ sộ của anh ta cao vượt hẳn hai người, còn nét mặt thì vẫn bí hiểm như cũ. Anh ta vẫn lạnh lùng chờ cho Winston nói, nhưng nói gì đây? Ngay lúc này vẫn có thể thấy O'Brien là người bận bịu và đang bực mình vì bị quấy rầy không đúng lúc. Không ai nói gì. Màn vô tuyến đã bị tắt, xung quanh lặng ngắt như tờ. Từng giây trôi qua, nặng nề. Winston vận hết sức lực nhìn chằm chằm vào mắt O'Brien. Bất ngờ khuôn mặt cau có của gia chủ như giãn ra, có vẻ như sắp mỉm cười. O'Brien đưa tay sửa kính theo thói quen. "Tôi bắt đầu hay anh đây?", O'Brien mở đầu câu chuyện. "Để tôi nói", Winston phấn chấn đáp. "Đã tắt thật chưa?" "Tắt hết rồi. Chỉ có chúng ta với nhau thôi" "Chúng tôi đến đây vì..." Anh cảm thấy ngắc ngứ vì chợt nhận ra động cơ của mình thật mơ hồ. Anh không biết O'Brien sẽ giúp được gì, giải thích lí do đến đây cũng không phải chuyện dễ. Anh tiếp tục nói dù cảm thấy câu nói vừa thiếu thuyết phục vừa huyênh hoang. "Chúng tôi nghĩ có một tổ chức chống Đảng và anh là thành viên. Chúng tôi muốn tham gia hoạt động. Chúng tôi là kẻ thù của Đảng. Chúng tôi không tin nguyên tắc của Chuanh. Chúng tôi là tội phạm tư tưởng. Chúng tôi là những kẻ trụy lạc. Tôi nói như thế vì chúng tôi muốn giao phó cuộc đời cho anh. Nếu anh còn muốn chúng tôi thú nhận những tôi lỗi nào khác, chúng tôi cũng sẵn sàng" Anh ngừng bặt và ngoái lại nhìn vì cảm giác có người mở cửa. Đúng thế, tên đầy tớ nhỏ thó, da vàng vừa bước vào mà không gõ cửa. Winston trông thấy hắn bê một cái mâm trên đặt bình rượu và mấy cái li. "Martin là người mình", O'Brien giải thích. "Martin, mang lại đây. Bày lên cái bàn tròn kia kìa. Có đủ ghế chưa? Nào, mời ngồi xuống đây nói chuyện. Martin, lấy thêm một cái ghế nữa cho anh đi. Đây là công chuyện. Anh có thể nghỉ làm đầy tớ trong vòng mười phút" Con người nhỏ bé đó ngồi xuống, dáng điệu tự nhiên, nhưng đồng thời vẫn thấy toát ra dáng vẻ cung kính, dáng vẻ của một tên đầy tớ được chủ vỗ về. Winston khẽ liếc mắt quan sát thái độ của anh ta. Anh chợt nghĩ rằng con ngươi này đã đóng mãi một vai và bây giờ cảm thấy sợ, không dám bỏ vai dù chỉ vài phút. O'Brien cầm lấy cổ bình và rót đầy mấy cái li một loại nước màu đỏ đậm. Winston bỗng lờ mờ nhớ đã trông thấy, lâu rồi, ở đâu đó, trên tường hay trên hàng rào, một cái chai rất to kết bằng bóng đèn điện, cái chai cứ nâng lên hạ xuống như đang rót ra li vậy. Nhìn từ phía trên thì nước có màu đen, nhưng ở trong bình thì nó lại lấp lánh như màu hồng ngọc. Mùi chua chua, ngọt ngọt. Julia đưa cái li lên mũi và ngửi có vẻ rất tò mò. "Đây gọi là rượu vang", O'Brien vừa nói vừa khẽ mỉm cười. "Chắc chắn các bạn đã đọc về nó rồi.Tôi nghĩ đảng viên Đảng Ngoại Vi ít được phân phối loại rượu này". Nét mặt anh ta lại trở nên trang nghiêm."Tôi nghĩ chúng ta phải nâng cốc chúc sức khoẻ. Nào xin nâng cốc chúc sức khoẻ lãnh tụ, đồng chí Emannuel Goldstein kính mến của chúng ta!" Winston từ tốn nâng li. Anh đã từng đọc, đã từng mơ thấy rượu vang. Giống như cái chặn giấy bắng thuỷ tinh hay những bài đồng dao của ông Charrington, rượu vang thuộc về một thời quá khứ lãng mạn, đã bị xóa bỏ, thuộc về một thời vàng son, như anh vẫn thầm gọi. Không hiểu sao anh lại nghĩ là rượu vang rất ngọt, giống như mứt mâm xôi và uống vào là say ngất ngây ngay. Nhưng hoá ra anh đã thất vọng. Anh đã quen uống Gin rồi, mùi vị này không hợp. Anh đặt cái li không xuống bàn. "Có một người tên là Goldstein thật ư?", anh hỏi "Có, có một người như vậy, còn sống. Ở đâu thì tôi không biết" "Thế còn âm mưu, thế còn tổ chức? Có thật không? Không phải là sản phẩm của Cảnh Sát Tư Tưởng chứ?" "Không, có thực. Gọi là Huynh Đệ. Các vị sẽ chỉ biết rằng có một tổ chức tên là Huynh Đệ và các vị là thành viên của nó, thế thôi. Tôi sẽ còn quay lại vấn đề này – Ngay cả đảng viên Đảng Nội
1,189
4
bắt, sẽ thú nhận và sẽ chết. Kết cục là như thế đấy. Chúng ta sẽ chẳng được chứng kiến một thay đổi lớn nào đâu. Chúng ta đã là những thây ma. Cuộc sống thực sự của chúng ta là ở tương lai. Khi đó chúng ta sẽ chỉ còn là một nhúm tro hay nắm xương tàn mà thôi. Không ai biết bao giờ thì cái tương lai đó sẽ đến. Có thể phải cả ngàn năm nữa. Hiện thời việc duy nhất có thể làm là khai hóa một cách từ từ. Chúng ta không thể hành động theo lối tập thể. Chúng ta chỉ có thể truyền bá kiến thức từ người nọ đến người kia, từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Không có cách nào khác vì các đồng chí phải nhớ rằng kẻ thù của chúng ta là Cảnh sát Tư Tưởng. Anh ta ngừng lời và lại nhìn đồng hồ. "Đến giờ đồng chí phải đi rồi", anh ta nói với Julia. "Đợi chút. Bình còn rượu" Anh ta rót đầy ba li "Lần này nâng cốc vì gì đây?", anh ta nói, vẫn giọng khôi hài như cũ. "Chúc Cảnh Sát Tư Tưởng mắc sai lầm? Chúc Anh Cả chóng chết? Chúc tình nhân ái? Chúc cho tương lai?" "Chúc cho quá khứ", Winston nói. "Quá khứ quan trọng hơn", O'Brein long trọng tán thành. Họ cạn li và Julia lập tức đứng lên. O'Brien lấy một cái hộp nhỏ từ trên mặt tủ thuốc, rồi đưa cho Julia viên thuốc màu trắng và bảo cô ngậm chứ đừng nuốt. "Không được có mùi rượu vang", anh ta bảo. "Mấy người gác thang máy thính lắm" Có vẻ như khi Julia vừa đóng cửa là anh ta đã quên ngay cô. Anh ta đi qua đi lại vài bước nữa rồi dừng hẳn. "Có vài việc cụ thể cần giải quyết", anh ta bảo."Tôi nghĩ anh có một chỗ kín đáo chứ?" Winston nói có một chỗ như thế, đấy là căn phòng phía trên cửa hàng của ông Charrington. "Thời gian đầu như thế là được. Sau này chúng tôi sẽ tìm cho đồng chí một chỗ khác. Cần phải thường xuyên thay đổi địa chỉ. Còn hiện thời tôi sẽ cố gắng chuyển, trong thời gian sớm nhất, cho đồng chí cuốn sách của Goldstein"- Winston để ý thấy ngay O'Brien cũng nhấn mạnh khi phát âm từ cuốn sách – "Có thể vài hôm nữa tôi mới tìm được. Chắc đồng chí cũng biết, số lượng ít lắm. In bao nhiêu cũng không đủ, Cảnh Sát Tư Tưởng săn lùng và đốt bằng sạch. Nhưng không sao. Chúng không đốt hết được đâu. Nếu bản cuối cùng có bị đốt chăng nữa thì chúng tôi vẫn có thể viết lại gần như đúng từng từ một. Khi đi làm đồng chí có mang theo cặp không?", anh ta nói thêm. "Thường là có" "Trông thế nào?" "Màu đen, cũ lắm rồi, hai khoá" "Màu đen, hai khoá, rất cũ - tốt. Một ngày gần đây thôi, tôi chưa thể nói ngày nào, đồng chí sẽ thấy một từ in sai trong tờ giấy giao nhiệm vụ vào buổi sáng, đồng chí sẽ phải hỏi lại. Ngày hôm sau khi đi làm đồng chi đừng xách theo cặp. Trong ngày hôm đó, khi đồng chí đang đi trên đường thì sẽ có một người chạm vào tay và bảo: "Theo tôi, anh vừa đánh rơi cặp". Anh ta sẽ đưa cho đồng chí cái cặp trong đó có cuốn sách của Goldstein. Nửa tháng sau đồng chí sẽ phải trả cuốn sách" Họ cùng lặng im trong vài giây. "Đồng chí phải đi trong vài phút nữa", O'Brien nói. "Chúng ta sẽ gặp lại... ấy là nói nếu còn có dịp gặp lại..." Winston nhìn thẳng vào mắt anh ta. "Ở nơi không còn bóng tối nữa", anh lưỡng lự nói. O'Brien gật đầu, không tỏ ra ngạc nhiên gì hết. "Ở nơi không còn bóng tối nữa", anh ta nhắc lại, làm ra vẻ như hiểu được ẩn ý, "Bây giờ, trước khi ra về, đồng chí còn muốn nói gì? Muốn nhắn nhủ gì? Hỏi gì nữa không?" Winston trầm ngâm. Không còngì để hỏi nữa, càng không muốn nói những lời có cánh chung chung trước khi chia tay. Thay vì nghĩ đến O'Brien hay Huynh Đệ, trong đầu anh chợt hiện lên hình ảnh, đúng hơn, phải nói là hiện lên như một bức vẽ hình ảnh căn phòng tối tăm, nơi mẹ anh đã sống những ngày cuối cùng và căn phòng bên trên cửa hiệu của ông Charrington, rồi cái chặn giấy bằng kính và bức tranh khắc bằng thép trong cái khung gỗ xếp chồng lên nhau. Anh nói như vô tình: "Anh có bao giờ nghe bài đồng dao bắt đầu như sau :"Cam cam chanh chanh là chuông Clement" không? " O'Brien gật đầu. Rồi anh ta trịnh trọng đọc cả đoạn: "Cam cam chanh chanh là chuông Clement. Nợ ba đồng xèng là chuông Martin. Bao giờ trả đây? là chuông Barley Đợi ngày rủng rỉnh là chuông Shoreditch" "Anh có biết câu cuối cùng không?", Winston hỏi. "Biết, tôi biết câu cuối cùng. Nhưng có lẽ anh phải đi thôi. Nhưng đợi chút. Để tôi đưa anh viên thuốc" Khi Winston vừa đứng lên thì O'Brien đã đưa tay ra. Bàn tay hộ pháp của anh ta bóp Winston đau điếng. Ra đến ngưỡng cửa Winston còn ngoái lại, nhưng có vẻ như O'Brien đã nghĩ sang chuyện khác rồi. Anh ta đang đặt tay trên nút điều khiển màn vô tuyến. Sau lưng anh ta là cái bàn với chụp đèn màu xanh lam, cái máy ghi và cái giỏ đầy chặt giấy tờ. Thế là xong. Chỉ ba mươi giây nữa, Winston chợt nghĩ, O'Brien sẽ quay về với những công việc quan trọng của Đảng. IX. Winston mệt rã rời như một miếng thịt đông. Từ thịt đông rất hợp. Từ này xuất hiện một cách đột ngột, nhưng diễn tả đúng. Mình mẩy không chỉ rã rời mà còn trong như một miếng thịt đông. Anh cảm thấy có thể nhìn xuyên qua được lòng bàn tay nếu đưa nó ra trước luồng ánh sáng. Công việc đã rút cạn máu huyết, chỉ còn lại da, xương và hệ thần kinh. Mọi cảm giác đều trở thành thái quá. Áo như cứa vào vai, mặt đường như cù vào chân, chỉ nắm lại đã nghe tiếng kêu lục cục trong các đốt ngón tay. Anh đã làm việc tổng cộng chín mươi tiếng trong năm ngày liền. Mọi người trong Bộ đều làm như thế cả. Nhưng bây giờ xong rồi, tuyệt đối không phải làm gì, ít nhất là cho đến sáng mai. Anh có thể nghỉ sáu tiếng trong căn phòng bí mật và chín tiếng trên giường nhà mình. Nắng đã nhạt, anh bước một cách chậm rãi trên con phố bẩn thỉu để đến cửa hàng ông Charrington, mắt vẫn không ngừng quan sát xem có đội tuần tra nào không, nhưng thâm tâm anh biết rằng chiều nay sẽ không bị ai quấy rầy đâu. Cái cặp nặng cứ đập vào gối mỗi lần cất bước, làm cho bắp vế ngứa ran lên. Trong cặp có một cuốn sách, anh đã giữ nó sáu ngày rồi, nhưng chưa đọc, thậm chí chưa từng nhìn nó lần nào. Trong ngày thứ sáu của Tuần Lễ Hận Thù, sau bao cuộc tuần hành, sau bao bài diễn văn, sau khi hò hét, sau khi hát hỏng, sau khi đã xem đủ thứ khẩu hiệu, biểu ngữ, phim ảnh, tượng sáp, sau khi đã nghe tiếng trống, tiếng kèn xung trận, tiếng xích xe tăng nghiến trên đường đá, tiếng gầm rú của những phi đội máy bay, tiếng súng đại bác chào mừng, sau sáu ngày liên tục như vậy, khi mà niềm phấn khích đã đạt tới đỉnh điểm, khi mà lòng hận thù Eurasia đã trở thành cuồng nộ đến mức nếu 2000 tên tội phạm chiến tranh Eurasia bị treo cổ công khai trong ngày cuối cùng mà rơi vào tay đám đông thì họ sẽ xé xác chúng ra thành từng mảnh - nhưng đúng lúc đó thì mọi người lại được nghe tuyên cáo rằng Oceania không đánh nhau với Eurasia. Oceania đang đánh nhau với Eastasia. Eurasia là đồng minh. Không ai nói rằng đã có thay đổi bạn thù, chuyện đó đương nhiên. Ngay lập tức và khắp mọi nơi mọi người đều biết Eastasia là kẻ thù chứ không phải Eurasia nữa. Chuyện đó xảy ra khi Winston đang tham gia mít tinh trên một trong những quảng trường trung tâm của London. Lúc đó đã tối, đèn chiếu phả ánh sáng nhợt nhạt lên mặt người trắng bệch và màu cờ đỏ chói chang. Mấy ngàn người tập trung trên quảng trường, trong đó có một ngàn học sinh mặc đồng phục đội viên Tình Báo đứng thành một khối riêng. Diễn giả, đảng viên Đảng Nội Bộ, một người đàn ông nhỏ thó, gày còm, tay dài ngoẵng, đầu
1,191
4
to, lại hói, chỉ còn lưa thưa vài sợi tóc, đang hùng hổ hò hét trên một cái bục trải thảm đỏ. Thân hình nhỏ bé co dúm lại vì căm tức, một tay anh ta nắm cổ cái micro, trong khi cái tay to lớn, xương xẩu còn lại kia chém lia lịa vào khoảng không ở trên đầu. Cái loa phóng thanh cứ thế lải nhải những từ như tàn bạo, tàn sát, trục xuất, cướp, hiếp, tra tấn tù binh, ném bom khu dân cư, tung tin thất thiệt, xâm lăng trắng trợn, vi phạm hiệp ước. Nghe hắn nói đầu tiên người ta tin, sau đó người ta sẽ phát khùng. Chốc chốc đám đông lại gầm lên và tiếng nói của diễn giả lại chìm vào trong tiếng gào thét phát ra từ hàng ngàn cuống họng cùng một lúc. Bọn học sinh hò hét dữ tợn nhất. Buổi nói chuyện kéo dài được khoảng hai mươi phút thì có người chạy lên bục và đưa cho diễn giả mảnh giấy. Hắn ta giở ra đọc, miệng vẫn tiếp tục diễn thuyết. Không có gì thay đổi, cả trong giọng nói, cả trong động tác, cả trong nội dung, nhưng tên thì đã khác. Không ai thốt lên lời nào, mọi người hiểu ngay lập tức. Oceania đang đánh nhau với Eastasia! Một sự hỗn loạn kinh hoàng diễn ra ngay sau đó. Tất cả các khẩu hiệu, biểu ngữ trang trí quảng trường đều sai! Một nửa tranh ảnh cũng sai nốt! Phá hoại! Lũ gián điệp của Goldstein đây! Người ta giật áp phích, người ta xé tan biểu ngữ và đưa xuống làm giẻ lau. Các đội viên Tình Báo tỏ ra rất khéo léo, chúng trèo lên mái nhà và cắt những tấm băng rôn treo từ ống khói nhà này sang ống khói nhà kia. Chuyện đókèo dài hai hoặc ba phút. Diễn giả lại một tay cầm cổ micro, ngực ưỡn ta đằng trước, tay kia chém lia lịa vào khoảng không trên đầu, tiếp tục bài diễn văn như chưa có gì xảy ra. Chỉ một phút sau đám đông đã lại gào lên một các man dại như cũ. Hận Thù tiếp tục, chỉ có đối tượng là khác. Nhớ lại chuyện đó, điều làm Winston ngạc nhiên nhất là diễn giả đã kịp chuyển hướng ngay giữa câu nói mà không ngắc ngứ, thậm chí không hề sai cú pháp. Nhưng lúc này anh có một việc còn quan trọng hơn. Số là trong lúc lộn xộn, khi tất cả còn mải giật biểu ngữ thì có người, anh không nhìn rõ mặt hắn ta, vỗ vào vai anh và nói: "Xin lỗi, hình như ông vừa đánh rơi cặp". Anh đưa tay cầm ngay chiếc cặp, nhưng không nói gì. Anh biết rằng phải mấy ngày nữa mới có điều kiện xem đến nó. Anh quay về Bộ Sự Thật ngay sau khi kết thúc mít tinh, tuy lúc đó đã gần hai mươi ba giờ. Tất cả công nhân viên chức của Bộ cũng đều đến sở cả. Mệnh lệnh phát trên màn màn vô tuyến, hạ lệnh mọi người trở lại công sở, thực ra là thừa. Oceania đang đánh nhau với Eastasia: Oceania luôn luôn đánh nhau với Eastasia. Phần lớn sách báo chính trị năm năm vừa qua đã hoàn toàn lỗi thời. Tất cả các bản báo cáo, các tài liệu đủ mọi loại, các tờ báo, cuốn sách, phim ảnh, đĩa ghi âm - tất cả đều phải được hiệu chỉnh với tốc độ nhanh nhất. Dù không có ai ra lệnh, nhưng mọi người đều biết lãnh đạo muốn rằng trong vòng một tuần phải hủy hết mọi chứng cứ liên quan đến cuộc chiến với Eurasia và liên minh với Eastasia. Công việc quả thật là nhiều, hơn nữa các thủ tục lại không được gọi đúng tên của chúng. Tất cả cán bộ công nhân viên Ban Tài Liệu đều làm việc mười tám tiếng đồng hồ mỗi ngày, chỉ tranh thủ được ngủ chừng ba bốn tiếng thôi. Nệm được lấy từ tầng hầm lên và rải dọc hành lang, thức ăn gồm bánh mì kẹp thịt và cà phê Chiến Thắng được nhân viên căng tin chở trên xe đẩy. Mỗi lần đến phiên đi ngủ Winston đều cố gắng làm xong hết việc, nhưng mỗi lần bò trở lại, mắt vẫn nhắm, người đau như dần, là anh lại thấy hàng đống giấy tờ, trùm lên máy ghi, rơi cả xuống nền nhà, và việc đầu tiên là thu chúng vào một đống cho gọn để lấy chỗ làm việc. Không được thụ động, thế mới mệt. Đôi khi chỉ cần thay một cái tên, nhưng các bản báo cáo các sự kiện cụ thể thì phải chú ý và có sáng kiến nữa. Chỉ cần chuyển chiến cuộc từ vùng này đến vùng khác cũng cần biết bao nhiêu kiến thức địa lí rồi. Ngày thứ ba mắt anh đã đau không thể chịu nổi, còn kính thì cứ năm phút phải lau một lần. Giống như khi phải làm một công việc chân tay quá sức mình: có thể không làm nhưng người ta lại sốt ruột muốn làm cho xong. Mỗi lần nhớ lại anh dường như không mấy bận tâm về việc tất cả những lời anh thì thầm vào máy ghi, tất cả những điều viết ra bằng bút, đều là những dối trá có chủ đích. Điều anh cũng như mọi người trong Ban quan tâm là làm sao cho sự giả mạo phải thật hoàn hảo. Đến buổi sáng ngày thứ sáu thì nhiệm vụ đã bớt dần. Chờ nửa tiếng đồng hồ mà không có cuộn giấy nào, sau đó có một cuộn rồi chấm hết. Khắp mọi chỗ công việc chấm dứt gần như cùng một lúc. Mọi người cùng thở phào. Một công việc vĩ đại, nhưng sẽ chẳng bao giờ được nhắc tới, đã hoàn thành. Từ giờ trở đi sẽ không ai có thể chứng minh bằng giấy trắng mực đen rằng đã có chiến tranh với Eurasia. Đúng mười hai giờ thì có thông báo cán bộ công nhân viên của Bộ được nghỉ đến sáng ngày mai. Winston cầm cái cặp có chứa cuốn sách (khi làm việc thì anh kẹp vào háng, còn lúc ngủ thì đặt làm gối) và đi về nhà, cạo râu và thiếp đi ngay trong bồn tắm dù nước chỉ hơi âm ấm thôi. Anh bước lên thang gác nhà ông Charrington, mỗi bước lại nghe kêu rắc rắc trong các khớp xương. Mệt nhưng không còn buồn ngủ nữa. Anh mở cửa sổ, đốt cái bếp dầu để đun nước pha cà phê. Tí nữa Julia sẽ tới, nhưng bây giờ phải xem sách đã. Anh ngồi vào cái ghế bành sờn và mở khoá cặp. Một cuốn sách dày, bìa màu đen, không có tên tác giả hay tác phẩm. Chữ in cũng không thật chuẩn. Các trang giấy đều sờn mép và dễ rách, chắc đã qua tay nhiều người lắm rồi. Trang thứ nhất có ghi: EMMANUEL GOLDSTEIN CHỦ NGHĨA TẬP THỂ BĂNG ĐẢNG LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Winston bắt đầu đọc. "Chương I - Ngu dốt là sức mạnh. Từ ngày có sử, có thể là từ cuối thời Đồ Đá Mới, loài người đã chia làm ba giai tầng, thượng, trung và hạ lưu. Các giai tầng đó được hình thành theo những cách khác nhau, mang đủ những danh hiệu khác nhau, tỉ lệ thành phần giữa các tầng lớp, thái độ của họ với nhau cũng mỗi thời kì mỗi khác, nhưng cấu trúc cơ bản của xã hội thì vẫn không bao giờ thay đổi. Ngay cả sau những cuộc biến loạn, tưởng chừng như không thể đảo ngược được, thì cấu trúc này vẫn luôn luôn tự tái lập, giống như con quay hồi chuyển trở lại vị trí cân bằng, dù trước đó có bị đẩy kiểu nào đi nữa. Mục đích của ba nhóm là không thể dung hoà. Winston ngừng đọc, mục đích là để xem có ngồi một cách thoải mái và an toàn không. Chỉ có một mình: không màn vô tuyến, không có tai nghe đặt ngoài lỗ khoá, không phải ngó chừng hay giơ tay che trang sách. Không khí ngày hè ngọt ngào vờn trên má. Phía xa xa vọng lại tiếng trẻ con reo hò: nhưng trong phòng thì tuyệt đối im lặng, chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc điểm nhịp, nghe như tiếng dế kêu. Anh ngồi sâu vào lòng ghế và gác chân lên cửa lò sưởi.Đây chính là hạnh phúc, đây chính là an lạc. Bất ngờ, người ta vẫn làm thế khi biết rằng trước sau gì cũng sẽ đọc hết, cũng sẽ còn đọc đi đọc lại nhiều lần, anh giở một trang bất kì và tìm thấy chương III. Anh đọc: Chương III - Chiến tranh là hoà bình. Việc chia thế giới thành ba siêu cường đã có thể được dự báo và đã được dự báo từ giữa thế kỉ hai mươi. Hai siêu cường là Eurasia và Oceania đã thực sự hình thành sau khi Nga nuốt chửng Châu Âu và Mĩ xâm lược
1,192
4
công việc đồ sộ, theo một kế hoạch chính xác nhằm chặn đứng vòng quay của bánh xe lịch sử tại một thời điểm nhất định? Chúng ta đang tiến gần đến bí mật quan trọng nhất. Như chúng ta đã thấy, tính chất thần bí của Đảng, nhất là Đảng Nội Bộ phụ thuộc trực tiếp vào nướcđôi. Nhưng bên dưới nó là cái động cơ nguyên thủy, cái bản năng chưa hề được khảo sát, dẫn đến việc đầu tiên là chiếm quyền sau đó mới tạo ra nướcđôi, rồi thành lập Cảnh Sát Tư Tưởng, rồi tiến hành chiến tranh liên miên và đủ thứ cần thiết khác cho chế độ. Động cơ đó là…» Winston cảm thấy được sự im lặng, như người ta nghe thấy âm thanh vậy. Anh thấy dường như Julia không hề động đậy đã khá lâu rồi. Cô nằm nghiêng, hở từ thắt lưng trở lên, má đặt trên lòng bàn tay, một lọn tóc đen vắt ngang qua mắt. Ngực cô đưa lên đưa xuống một cách chậm rãi và nhịp nhàng. "Julia?" Không thấy cô trả lời. "Julia, em ngủ hả?" Vẫn không thấy cô trả lời. Cô đang ngủ. Anh gấp sách rồi thả nhẹ xuống sàn và nằm xuống, kéo chăn đắp cho cả hai người. Anh nằm yên, tiếp tục suy nghĩ, thế là anh vẫn chưa biết được cái bí mật quan trọng nhất. Anh hiểu làm thế nào, nhưng không hiểu tại sao. Chương I và chương III không có gì mới, nó chỉ hệ thống lại những kiến thức mà anh đã biết. Nhưng sau khi đọc xong thì anh biết một cách chắc chắn rằng mình không điên. Thiểu số, ngay cả rút lại chỉ còn một người cũng không có nghĩa là điên. Thật và giả luôn luôn tồn tại, nếu ta bám chặt vào sự thật, dù cho có phải chống lại cả thế gian thì ta vẫn không phải là một người điên. Một tia nắng vàng chiếu qua cửa sổ và rơi xuống cái gối. Winston nhắm mắt lại. Tia nắng mặt trời âm ấm vờn trên má cùng với những xúc chạm vào da thịt mềm mại của người con gái tạo ra trong anh cảm giác tin tưởng vừa mơ màng, vừa mạnh mẽ. Anh vẫn an toàn, mọi việc vẫn tốt. Anh thiếp đi, miệng lẩm bẩm: "Sáng suốt không phải là số liệu thống kê", thâm tâm thấy như câu đó chứa cả một đạo lí sâu sắc. [1]Nguyên văn: like three sheaves of corn - giống như ba cây ngô. [2]Nguyên văn shortlived – mau chết, chóng tàn. X. Sau khi thức giấc anh cứ ngỡ mình đã ngủ lâu lắm rồi, nhưng hoá ra đồng hồ mới chỉ tám giờ hai mươi. Anh lại thiếp đi một lúc nữa; tiếng hát quen thuộc vọng lại từ cái sân bên dưới: "Chỉ là những giấc mơ thôi, Vút qua như ngày xuân mới Người xưa giờ ở nơi đâu Lòng em thổn thức khôn nguôi Bao giờ gặp lại người ơi" Có vẻ như bài hát vô duyên này vẫn còn thịnh hành lắm. Ở đâu cũng nghe thấy người ta hát. Nó sống dai hơn "Bài ca hận thù". Tiếng hát cũng làm Julia thức giấc, cô khoan khoái duỗi dài chân ra rồi bước xuống giường. "Em đói rồi", cô bảo. "Pha cà phê nhá. Chán quá, dầu thì hết, nước thì nguội ngắt". Cô đưa cái bếp lên và lắc. "Hết tiệt dầu rồi" "Hay hỏi xin ông chủ một ít" "Lạ nhỉ, em vừa thấy còn đầy mà. Em phải mặc áo vào đây", cô nói thêm. "Có vẻ lạnh rồi" Wnston cũng đứng dậy lấy áo mặc. Tiếng hát vẫn tiếp tục. "Người bảo rằng rồi sẽ qua đi Người bảo rằng rồi sẽ quên thôi. Nước mặt, nụ cười, ngày tháng cứ trôi Mà lòng em chẳng thể nào nguôi" Vừa kéo thắt lưng bộ đồng phục Winston vừa bước lại gần cửa sổ. Mặt trời đã lặn, ánh sáng đã tắt. Mặt đá lát sân ướt như vừa được kì cọ vậy; anh có cảm giác như bầu trời cũng như vừa được kì cọ, xanh nhạt và thật tươi. Người đàn bà vẫn đi đi lại lại, không biết mỏi, lúc ngậm cái móc áo, lúc lấy ra, hát một tí rồi ngừng, rồi lại hát và cứ phơi, phơi mãi. Winston tự hỏi không biết bà ta giặt thuê hay là phải "hầu" vài ba chục đứa cháu nội ngoại. Julia lại đứng bên anh, cả hai cùng lặng lẽ thán phục ngắm nhìn người đàn bà mạnh mẽ ở bên dưới. Nhìn động tác quen thuộc của bà ta, tay giơ lên treo tã, mông to như mông ngựa vẩy lên, Winston chợt nhận ra là bà ta khá đẹp. Chưa bao giờ anh nghĩ rằng cơ thể một người đàn bà ngoài năm mươi, sồ sề ra vì những lần sinh nở rồi khô cứng đi, đanh lai như một củ cải già vì phải làm việc quá sức lại có thể đẹp. Nhưng thật thế, bà ta đẹp, và hơn nữa, anh nghĩ, tại sao không? Da đỏ và thô, thân hình rắn rỏi và chẳng còn eo iếc gì, so với một cô gái thì bà ta giống như quả tầm xuân đặt cạnh bông hoa chúm chím. Nhưng tại sao quả lại không bằng hoa? "Bà ta đẹp đấy", anh thì thầm. "Vòng hai phải hai mét là ít", Julia bảo. "Đấy cũng là một kiểu đẹp", Winston nói. Anh lấy tay ôm ngang eo cô. Cô dựa sát vào anh. Họ sẽ không bao giờ có con. Số phận là như thế. Họ chỉ có thể truyền miệng, từ người này sang người kia cái bí mật họ giữ trong đầu. Người đàn bà dưới kia không có đầu, bà ta chỉ có một đôi tay rắn chắc, một trái tim yêu thương và cái bụng mắn đẻ mà thôi. Anh tự hỏi không biết bà ta đã sinh cả thẩy mấy lần. Trông thế kia phải mười lăm lần là ít. Bà ta cũng có một giai đoạn xuân thì ngắn, chừng khoảng một năm, làm con gái dậy thì, đẹp như một đoá hồng dạirồi giống như đoá hoa đã thụ phấn, bà ta phồng lên, rắn lại, da thành đỏ quạch và thô và sau đó cuộc đời chỉ còn là chuỗi những giặt giũ, quét dọn, vá may, nấu nướng, sửa chữa, quét dọn vá may, quét dọn, giặt giũ; đầu tiên là cho con rồi sau là cho cháu, trên ba mươi năm, không nghỉ. Thế mà vẫn còn sức hát. Lòng cảm phục không lí giải được của anh đối với bà ta như tan vào khung cảnh của bầu trời xanh nhạt, không một gợn mây, kéo dài từ sau những ống khói trước mặt đến mãi khoảng không vô cùng vô tận. Bầu trời thì ở đâu chả vậy, ở đây cũng thế, mà ở Eurasia hay Eastasia thì cũng thế mà thôi. Con người dưới gầm trời này thì cũng giống nhau, khắp nơi, trên toàn thế giới này, hàng trăm triệu người cũng giống như người phụ nữa kia, họ không biết gì về sự tồn tại của nhau, họ bị phân cách bởi những bức tường hận thù và dối trá, và tuy giống hệt nhau, họ không học được cách tư duy đúng, nhưng lại tích tụ trong tim gan, trong đầu óc, trong cơ bắp một sức mạnh có thể xoay chuyển cả thế gian trong một ngày nào đó. Nếu có hi vọng thì đấy chính là bọn cu li! Tuy chưa đọc hết cuốn sách nhưng anh biết rằng đấy phải là thông điệp của Goldstein. Tương lai thuộc về cu li. Liệu có thể tin được rằng sau này, khi thời thế đến, xã hội do những người cu li tạo dựng, đối với anh, Winston Smith, sẽ là một xã hội không xa lạ như của Đảng hiện nay không? Có thể tin như thế, vì ít nhất nó cũng sẽ là xã hội sáng suốt. Ở đâu có bình đẳng ở đó sẽ có sáng suốt. Trước sau gì điều đó cũng sẽ xảy ra, không chóng thì chày sức mạnh sẽ biến thành nhận thức. Cu li là dân mà dân thì vạn đại, chỉ cần nhìn vào cái thân hình kiên cường ở dưới sân kia là mọi ngờ vực đều sẽ tiêu tan. Nhất định cuối cùng họ sẽ tỉnh ngộ. Còn bây giờ, trong khi điều đó chưa xảy ra, có thể phải chờ đợi cả ngàn năm nữa, họ vẫn cứ phải sống, mặc kệ tất cả, giống như chim trời, tiếp tục truyền từ người này sang người khác cái sức sống mà Đảng không có nhưng cũng không thể huỷ diệt được. "Em có nhớ", anh hỏi, "cái con chim hát cho chúng ta nghe ở bìa rừng hôm nọ không?" "Nó đâu có hót cho chúng ta", cô bảo. "Nó hót cho vui. Thế cũng không đúng. Nó chỉ hót vậy thôi" Chim hót, cu li hát, chỉ có Đảng không hề hát. Khắp nơi trên trái đất này, ở
1,201
4
London và New York, ở châu Phi và Brazil, ở những khu vực bí ẩn, ta không được quyền đặt chân tới, ở trên các đường phố Paris và Berlin, ở trên những bình nguyên bạt ngàn của nước Nga, trong các chợ ở Trung Quốc và Nhật Bản, đâu đâu cũng là hình ảnh người đàn bà mạnh mẽ, bất khả chiến bại đó, đâu đâu cũng là những người như thế, dù có bị phồng ra vì sinh con đẻ cái, dù có phải làm việc quần quật từ lúc lọt lòng cho đến lúc chết, họ vẫn hát. Những cái hĩm đầy sức mạnh đó nhất định rồi sẽ sản sinh ra một chủng tộc có ý thức. Ta đã chết, tương lai thuộc về họ. Nhưng ta có thể tham gia tạo lập tương lai đó nếu ta vẫn giữ được tâm, như họ giữ được thân và truyền đi mãi cái học thuyết bí mật rằng hai cộng hai là bốn. "Chúng ta đã chết", anh nói. "Chúng ta đã chết", Julia đáp. "Các người đã chết", một giọng sắc lạnh rít lên ngay đằng sau lưng. Họ nhảy về hai phía khác nhau. Winston cảm thấy ruột gan đông cứng lại như đá. Anh nhìn thấy đồng tử của Julia dãn ra. Mặt cô vàng bệch như màu kem. Những đốm tàn nhang trên gò má càng nổi rõ hơn, như thể chúng không còn bám trên da thịt nữa. "Các người đã chết", tiếng nói kia lặp lại. "Nó ở đằng sau bức tranh ấy", Julia thì thầm. "Nó ở đằng sau bức tranh", giọng nói đế theo. "Đứng yên tại chỗ. Không được cử động nếu không có lệnh" Bắt đầu rồi, thế là bắt đầu rồi! Họ cứ đứng yên như thế, người nọ nhìn vào mắt người kia. Chạy trốn, lao ra khỏi nhà trước khi quá muộn - ý nghĩ ấy thậm chí không hề xuất hiện trong đầu cả hai người. Không thể có chuyện chống lại giọng nói phát ra từ cái loa trên tường. Nghe có tiếng như cái then cửa đóng, rồi tiếng kính vỡ. Bức tranh khắc rơi xuống, phía sau nó là màn vô tuyến. "Bây giờ họ sẽ nhìn thấy chúng ta", Julia bảo. "Bây giờ chúng ta sẽ nhìn thấy các người", giọng nói kia nhắc lại. "Đứng vào giữa phòng. Quay lưng lại với nhau. Tay vòng ra sau gáy. Hai người không được chạm nhau" Họ không chạm vào nhau, nhưng anh có cảm giác Julia đang run bắn lên. Hay đấy là do chính anh đang run cũng nên. Anh có thể ngăn không cho răng đánh vào nhau, nhưng đầu gối thì chịu, không điều khiển được. Có tiếng giày đinh, cả bên dưới, bên trong cũng như bên ngoài căn nhà. Ngoài sân có vẻ như đã đầy người. Có tiếng kéo vật gì đó trên nền đá lát. Tiếng hát của người đàn bà đột ngột ngừng bặt. Có tiếng lạch cạch như vật gì đó đang lăn, có thể họ quăng cái bồn giặt trên mặt sân, rồi những tiếng hò hét, tức tối, cuối cùng là tiếng thét lên vì đau đớn. "Nhà đã bị vây", Winston nói. "Nhà đã bị vây", giọng nói đế theo. Anh nghe thấy tiếng răng Julia đập vào nhau. "Hay chúng ta nói lời chia tay ở đây", Julia bảo. "Các người có thể nói lời chia tay", giọng kia nhắc lại. Đúng lúc đó có một giọng nam cao, rõ là của một người có học, Winston cảm thấy đã từng nghe ở đâu rồi: "Nhân thể nói đến chuyện này: Nghe thì thắp nến cho đi vào giường, không nghe lấy búa thì mày tan xương!" Một vật gì đó rơi xuống cái giường đằng sau Winston. Người ta chọc một cái thang qua ôcửa sổ và móc đầu nó vào khung sắt. Có người đang leo lên. Có tiếng bước chân vội vã chạy lên thang gác phía trong nhà. Căn phòng đã đầy những người đàn ông vận đồng phục đen, giày đinh, tay lăm lăm dùi cui. Winston không còn run nữa. Mắt anh cũng gần như không chớp. Chỉ có một việc phải nhớ: không được động đậy, không được động đậy để chúng không có cớ đánh mình! Trước mặt anh là một người đàn ông cằm bạnh như võ sĩ quyền Anh, cái miệng thì chỉ như một vết nứt, trầm ngâm, mân mê dùi cui. Winston nhìn thẳng vào mắt hắn. Cảm giác như đang bị lột trần truồng, tay chắp sau gáy, thân thể thì phơi ra làm anh gần như không thể chịu nổi. Người đàn ông lè cái lưỡi trắng và liếm chỗ trước đây đã từng là môi và bước đi. Có tiếng đập mạnh. Một kẻ nào đó đã nhặt cái chặn giấy bằng thuỷ tinh và ném vào lò sưởi. Một mẩu san hô nhỏ tí màu hồng, trông giống như nụ hoa bằng đường trên chiếc bánh sinh nhật, lăn trên tấm thảm. Nhỏ quá, Winston chợt nghĩ, sao nó lại nhỏ thế nhỉ! Có tiếng thở mạnh và tiếng đấm vào một vật mềm; rồi anh bị đá thật mạnh vào mắt cá, suýt ngã. Một tên đấm vào bụng Julia làm cô gục ngay xuống sàn. Cô quằn quại dưới sàn nhà, gần như không thở nổi. Winston không dám quay đầu, dù chỉ một phân, nhưng thỉnh thoảng khuôn mặt trắng bệch, đang thở dốc của cô cũng lọt vào tầm mắt anh. Dù rất hoảng sợ anh vẫn cảm thấy như chính cơ thể mình đang đau, đau đến chết đi được, nhưng đau vẫn không sợ bằng cô đang khó thở. Anh biết rõ: đau khủng khiếp, đau như chết đi sống lại, không lúc nào ngừng, nhưng đâu có cảm giác bởi vì trước hết phải là thở đã! Sau đó hai tên nắm lấy đầu gối và vai cô rồi khiêng ra khỏi phòng như khiêng một cái bao tải. Winston thoáng thấy mặt cô, úp sấp, méo xệch, màu vàng, mắt nhắm nghiền, những nốt tàn nhang hiện rõ trên hai gò má; đây là lần cuối cùng anh nhìn thấy cô. Anh vẫn đứng lặng như chết. Chưa bị đánh. Trong đầu cứ hiện lên đủ thứ ý nghĩ. Anh tự hỏi không biết chúng đã bắt ông Charrington chưa. Anh tự hỏi không biết chúng đã làm gì với người đàn bà phơi tã dưới sân. Anh rất muốn đi tiểu và lấy làm ngạc nhiên vì mới tiểu tiện cách đây có vài tiếng. Anh thấy chiếc đồng hồ bên trên lò sưởi chỉ số chín, nghĩa là mới có hai mươi mốt giờ. Nhưng trời sáng lắm. Tháng tám thì hai mươi mốt giờ trời phải tối rồi chứ? Hay là anh và Julia nhầm, cho rằng mới ngủ một tiếng nghĩa là dậy lúc hai mươi giờ rưỡi, trong khi thực ra là tám rưỡi sáng ngày hôm sau. Nhưng anh không theo tiếp ý nghĩ đó. Anh không còn quan tâm nữa. Có tiếng bước chân đi theo thang gác, lần này nhẹ hơn. Ông Charrington bước vào phòng. Những người mặc đồng phục đen lập tức im bặt. Trông ông Charrington cũng khác mọi hôm. Ông ta nhìn những mảnh thuỷ tinh vỡ trên sàn. "Nhặt lên", ông ta gằn giọng. Một người cúi xuống nhặt. Không còn cái giọng của dân khu Đông London nữa; Winston chợt nhận ra rằng đây chính là giọng trong màn vô tuyến. Ông Charrington vẫn mặc bộ complet cũ may bằng vải nhung; nhưng tóc ông ta không còn trắng nữa mà là đen. Ông ta cũng không đeo kính. Ông ta liếc xéo Winston một cái, dường như để nhận diện, sau đó thì không quan tâm đến anh nữa. Vẫn có thể nhận ra ông ta, nhưng ông ta đã là một người khác hẳn. Lưng thẳng băng, có vẻ như to thêm. Chỉ có một chút thay đổi trên mặt thôi mà đã khác hoàn toàn. Lông mày không còn rậm như cũ, các nếp nhăn cũng biến mất, nét mặt cũng hơi khác, mũi có vẻ như ngắn hơn. Đấy là nét mặt của một người khoảng ba mươi lăm, thận trọng và lạnh lùng. Winston chợt nghĩ rằng đây là lần đầu tiên trong đời anh nhìn thấy một cách rõ ràng nhân viên của Cảnh Sát Tư Tưởng. Phần III I. Winston không biết mình đang ở đâu. Có thể họ đã đưa anh vào Bộ Tình Yêu, nhưng khẳng định thì chịu. Anh đang ở trong một căn phòng không cửa sổ, trần khá cao, tường ốp gạch men sáng loáng. Những chiếc đèn mắc ngầm trên trần phả ra một thứ ánh sánh lạnh lẽo; có tiếng rì rì đều đều, chắc là tiếng quạt thông gió. Dọc suốt các bức tường, trừ khoang cửa đi, là một cái có thể gọi là ghế băng mà cũng có thể gọi là kệ, chiều rộng chỉ vừa đủ cho một người ngồi; đối diện với cửa, ở tận đầu kia căn phòng là một
1,202
4
bô vệ sinh. Bức tường nào cũng gắn màn vô tuyến, vị chi bốn cái tất cả. Bụng cứ đau âm ỉ suốt. Đau ngay từ lúc anh bị tống vào chiếc xe hòm kín và giải đi. Nhưng anh còn bị đói nữa, đói một cách cồn cào, đói muốn lả người. Bữa cuối cùng cách đây phải cả một ngày, mà cũng có thể một ngày rưỡi rồi. Anh vẫn chưa biết, mà cũng có thể sẽ chẳng bao giờ biết là bị bắt buổi sáng hay buổi chiều. Từ lúc bị bắt đến giờ anh chưa được miếng nào vào bụng. Anh ngồi thật nhẹ xuống cái kệ hẹp tay bắt chéo trên đầu gối. Anh đã học được cách ngồi im lặng. Chỉ cần cử động là bị màn vô tuyến quát ngay. Nhưng đói thì ngày một dữ dội hơn. Chỉ thèm một miếng bánh mì. Anh cho là trong túi quần phải còn sót vài mẩu. Có thể như vậy lắm, vì thỉnh thoảng anh lại thấy như có vật gì đó cọ nhẹ vào đùi, chắc chắn là một mẩu bánh mì rồi. Cuối cùng thì sức cám dỗ đã vượt được cả nỗi sợ hãi, anh đưa tay vào túi. "Smith!", màn vô tuyến thét. "Sáu không bảy chín Smith W! Trong buồng giam không được cho tay vào túi!" Anh lại ngồi im, hai tay bắt chéo trên đầu gối như cũ. Anh đã đi qua một trạm trung chuyển rồi mới tới đây, không biết đấy là nhàtù thường hay là buồng tạm giam của các đội tuần tra. Anh cũng không biết mình đã ở đó bao lâu, khá lâu đấy: không có đồng hồ, không thấy ánh sáng mặt trời làm sao biết được giờ giấc. Chỗ đó vừa ồn vừa thối không chịu nổi. Anh bị tống vào một buồng giống như thế này nhưng bẩn kinh khủng và lúc nào cũng có từ mười đến mười lăm người. Đa số là tù hình sự, nhưng cũng có một ít chính trị phạm. Anh ngồi thu mình sát vào tường, chen chúc giữa những thân hình bẩn thỉu, vừa sợ vừa đau bụng, không còn sức để ý đến những người xung quanh, nhưng vẫn nhận thấy thái độ khác nhau một trời một vực giữa phạm nhân đảng viên và các tù hình sự khác. Phạm nhân đảng viên lúc nào cũng lấm la lấm lét, không ai dám hé răng nói nửa lời trong khi tù thường thì trâng tráo chẳng biết sợ là gì. Chúng lăng mạ cả cai ngục, đánh trả khi bị tịch thu đồ đạc, viết những từ tục tĩu lên sàn nhà, ăn những thứ dấu trong quần áo và được đưa lén từ ngoài vào, quát lại cả màn vô tuyến khi nó ra lệnh giữ trật tự. Nhưng một số tên có vẻ như thân thiện với cai ngục, gọi họ bằng cả hỗn danh và còn xin họ chuyển thuốc lá qua khe nhòm nữa. Cai ngục cũng thường tỏ ra nhẫn nhịn ngay cả khi phải áp dụng biện pháp cứng rắn đối với chúng. Người ta nói nhiều đến các trại lao động khổ sai, đa số tù nhân rồi sẽ bị gửi tới các trại như vậy. Qua câu chuyện anh hiểu rằng trại cũng "không sao" nếu có "dây". Ở đấy cũng có hối lộ, ô dù, đấu gấu, đồng tính luyến ái, mại dâm thậm chí cả "quốc lủi" nấu bằng khoai tây nữa. Hình sự được tin tưởng, đặc biệt là những tên cướp của, giết người, chúng cũng là một kiểu quí tộc. Chính trị phạm phải làm những việc bẩn thỉu nhất. Có đủ loại người đến và đi: bọn buôn bán xì ke, ma tuý, trộm cắp, cướp giật, đầu cơ, say rượu, gái điếm. Một số tên say rượu tỏ ra rất hung hăng, cả phòng phải hợp sức lại mới chế ngự được. Bốn cai ngục, mỗi người nắm một chân một tay, khiêng vào một người đàn bà khoảng sáu mươi tuổi, quần áo nhầu nát, vú sồ sề, thõng xuống; bà ta hò hét, giãy giụa, mái tóc dày, bạc trắng sổ tung hết cả ra. Họ giật đôi ủng của bà ta ra vì sợ bị đá và quẳng cái cơ thể nặng nề đó vào lòng Winston làm anh tưởng như bị gãy xương đùi. Người đàn bà ngồi dậy và quát với theo "độc ác!". Sau đó, nhận ra là mình đang ngồi trên một chỗ không bằng phẳng, bà ta mới trườn khỏi đầu gối Winston xuống cái ghế băng. "Xin lỗi cậu", bà ta bảo. "Có phải tôi tự ngồi lên đâu, bọn khốn ấy nó quăng vào đấy chứ. Thấy chúng đối xử với phụ nữ như thế nào chưa?". Bà ta ngừng lời, lấy tay vỗ vào ngực và ợ. "Xin lỗi. Tôi mệt quá" Bà ta cúi gập ra đằng trước và nôn ngay xuống nền nhà. "Nhẹ rồi", bà ta vừa nói vừa ngả người ra sau. "Tôi vẫn bảo đừng có giữ trong bụng. Nôn được là nhẹ người ngay" Sau khi tỉnh hồn, bà ta ngoái lại ngó Winston và lập tức tỏ ra mến anh. Bà ta lấy tay bá vai anh, lôi lại phía mình và phả vào mặt anh hơi thở sặc mùi bia lẫn với mùi dãi dớt. "Cậu tên là gì?", bà ta hỏi. "Smith", Winston đáp. "Smith à? Hay nhỉ. Tôi cũng tên là Smith", bà ta nói thêm, giọng mùi mẫn. "Tôi phải đáng tuổi mẹ cậu rồi!" Bà ta đáng tuổi mẹ mình thật, Winston nghĩ. Tuổi gần bằng nhau, sức vóc cũng như nhau; hai mươi năm khổ sai thì thay đổi nhiều là cái chắc. Ngoài ra chẳng còn ai nói chuyện với anh nữa. Thật lạ là tù thường phạm chẳng coi tù đảng viên ra gì. Chúng gọi họ là "chính trị" với giọng khinh bỉ ra mặt. Tù đảng viên có vẻ như sợ nói chuyện, nhất là nói với nhau. Chỉ có một lần, anh nghe thấy hai nữ đảng viên ngồi sát bên nhau thì thầm, lẫn giữa những tiếng ồn ào, câu gì đó đại loại như "buồng một linh một" mà anh không hiểu ẩn ý. Họ đưa anh đến đây được hai hay ba tiếng đồng hồ rồi. Bụng vẫn đau như cũ, nhưng có lúc thăng, lúc giáng; ý nghĩ của anh cũng khi mở rộng ra, khi thu hẹp lại cùng với cơn đau. Khi nó thăng, anh chỉ nghĩ đến cơn đau và cái đói. Khi nó giáng thì anh lại thấy một nỗi sợ hãi tràn ngập trong lòng. Có lúc tương lai hiện rõ đến nỗi tim anh đập rộn lên và hơi thở như ngừng lại. Anh cảm thấy những cú dùi cui nện vào khuỷu tay, những cú giầy đinh đá vào ống quyển; anh thấy mình đang bò dưới đất, thều thào cầu xin tha tội bằng cái miệng không còn chiếc răng nào. Anh gần như không nghĩ đến Julia. Anh không thể tập trung tư tưởng được. Anh yêu cô và sẽ không phản bội cô; nhưng đây chỉ là sự kiện, sự kiện quen thuộc như phép tính số học vậy thôi. Không có tình yêu thương, thậm chí anh cũng không nghĩ đến chuyện gì đang xảy ra với cô. Anh nghĩ đến O'Brien nhiều hơn, thậm chí còn hi vọng nữa. O'Brien có thể đã biết là anh bị bắt. Huynh đệ, như anh ta nói, không bao giờ có ý cứu các thành viên. Nhưng còn cái dao cạo râu, họ sẽ đưa dao cạo râu nếu có điều kiện. Chỉ cần năm giây trước khi cai ngục chạy vào là xong. Lưỡi dao sẽ cắm ngập vào thịt, sắc lạnh, các ngón tay giữ nó cũng đứt đến tận xương. Anh thấy rất rõ cảm giác ấy, cơ thể rã rời của anh cứ run bắn lên vì đau. Nhưng anh không tin là mình sẽ dùng lưỡi dao khi có điều kiện. Con người ta thường sống từng khoảng ngắn, chấp nhận kéo dài thêm từng mười phút một, dù biết rằng sau đó sẽ là tra tấn, đoạ đầy. Đã mấy lần anh lại thử đếm số gạch men ốp tường. Công việc chắc chắn khôngkhó, nhưng anh cứ bị lẫn suốt. Anh thường tự hỏi mình đang ở đâu, mấy giờ rồi. Có lúc anh nghĩ bên ngoài trời đang sáng rõ, có lúc anh lại nghĩ đang là nửa đêm. Còn ở đây, bản năng bảo rằng, đèn sẽ không bao giờ tắt. Đây là chỗ không còn bóng tối: anh đã hiểu tại sao O'Brien lại có vẻ hiểu ngay được ẩn ý. Nhà Bộ Tình Yêu không có cửa sổ. Phòng giam này có thể nằm giữa toà nhà, mà cũng có thể ở bên ngoài; nó có thể nằm ở tầng thứ mười dưới mặt mà cũng có thể trên tầng ba mươi. Anh tự dịch chuyển trong đầu từ chỗ nọ
1,203
4
đến chỗ kia, để xem liệu cơ thể có xác định được là đang lơ lửng trên không trung hay đang bị vùi sâu dưới mặt đất hay không. Có tiếng ủng bước bên ngoài. Bản lề cái cửa sắt kêu lét két. Một sĩ quan trẻ, đồng phục bằng da thuộc màu đen, bóng loáng; khuôn mặt thẳng băng, tái mét như làm bằng sáp, nhanh nhẹn bước vào phòng. Anh ta ra hiệu cho cho những cai ngục bên ngoài dẫn một người tù vào. Thi sĩ Ampleforth khập khiễng bước vào. Cái cửa sắt lại nghiến lét két và đóng hẳn lại. Thi sĩ mò mẫm từ bên này sang bên kia, làm như thể còn một cánh cửa nữa để chui ra; sau đó anh ta đi đi lại lại từ đầu này đến đầu kia phòng giam. Anh ta vẫn chưa nhìn thấy Winston. Anh ta lo lắng nhìn vào mảng tường phía trên đầu Winston chừng một mét. Ampleforth không có giầy; những ngón chân to bè thò ra khỏi đôi tất rách. Mấy ngày nay anh ta không cạo râu. Chòm râu rậm rì mọc lên đến tận gò má, nếu không phải là một bộ khung gầy yếu và thái độ bồn chồn thì trông anh ta không khác gì một gã lưu manh. Winston cố gượng dậy. Anh phải nói chuyện với Ampleforth, ngay cả nếu màn vô tuyến có quát đi nữa. Có khả năng là Ampleforth mang theo lưỡi dao lam. "Ampleforth!", anh gọi. Màn vô tuyến không phản ứng. Ampleforth khẽ giật mình và dừng bước. Đôi mắt anh ta chậm chạp hướng về phía Winston. "À, Smith!", anh ta nói. "Anh cũng ở đây à!" "Vì sao lại vào đây thế?" "Nói thật với anh", anh ta lúng túng ngồi xuống cái ghế bên phía bức tường đối diện. "Chỉ có một tội danh thôi, đúng không?" "Thế anh đã phạm chưa?" "Có lẽ rồi" Anh ta đưa tay lên trán và bóp vào hai bên thái dương, có vẻ như muốn nhớ lại chuyện gì đó. "Biết làm thế nào được", anh ta bắt đầu câu chuyện. "Tôi chỉ có thể nhớ được một trường hợp... trường hợp khả dĩ. Do thiếu thận trọng, chắc chắn là thế rồi. Số là chúng tôi chuẩn bị in toàn tập thơ của Kipling [1]. Tôi vẫn giữ nguyên từ "Chúa" ở cuối một dòng. Tôi không tìm được từ khác! – anh ta nói thêm, đầy phẫn uất – Không thể sửa được. Khổ thơ có vần là "ua". Tôi đã nghĩ nát óc. Không thay vần điệu được" Nét mặt anh ta đã khác. Không còn phiền muộn nữa, lúc này trông anh ta còn có vẻ như hài lòng. Trên khuôn mặt râu ria bẩn thỉu ánh lên vẻ thoả mãn và lòng hăng hái của một con mọt sách vừa tìm thấy một sự kiện vô tích sự. "Anh có bao giờ nghĩ", anh ta nói tiếp, "rằng tiếng Anh nghèo vần điệu và chính điều đó đã quyết định tiến trình phát triển của thơ không?" Không, Winston không bao giờ nghĩ đến chuyện đó. Trong hoàn cảnh hiện nay anh lại càng chẳng thấy nó có gì quan trọng hay đáng để ý. "Anh có biết mấy giờ rồi không?", Winston hỏi. Ampleforth lại khẽ giật mình. "Tôi lại không để ý. Họ bắt tôi hai, mà cũng có thể, ba ngày nay rồi", anh ta ngước nhìn lên tường, có vẻ như định tìm một cái cửa sổ. "Ngày đêm không thể nào phân biệt được. Tôi cũng chịu đấy" Họ còn nói chuyện phiếm thêm vài phút nữa, rồi cái màn vô tuyến, chẳng thấy có lí do gì, bỗng quát bắt phải im. Winston lại ngồi yên lặng, tay bắt chéo trên đầu gối như cũ. Ampleforth thì quá to mà ghế thì quá bé nên cứ loay hoay mãi, hết quay phải lại quay trái, đôi tay gầy nhẳng hết ôm gối bên này lại ôm gối bên kia. Cái màn vô tuyến lại tru lên bắt phải ngồi im. Thời gian tiếp tục trôi. Đã hai mươi phút hay là một giờ, không thể nào biết được. Lại có tiếng giầy đi bên ngoài. Ruột gan Winston như quặn lại. Sắp rồi, sắp đến nơi rồi, chỉ năm phút nữa, mà có thể ngay bây giờ, họ sẽ vào và thế là đến lượt anh. Cánh cửa bật mở. Một sĩ quan trẻ, mặt lạnh như tiền bước vào. Anh ta đưa tay chỉ Ampleforth. "Sang buồng một linh một", viên sĩ quan nói. Ampleforth đứng dậy, ngơ ngác, chẳng hiểu người ta bảo mình đi đâu và lảo đảo bước giữa hai cai ngục. Thời gian cứ thế trôi. Bụng Winston lại đau. Ý nghĩ chỉ lởn vởn quanh có mấy chuyện, hệt như viên bi cứ rơi vào những cái rãnh quen. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có sáu thứ. Đau bụng, bánh mì, máu và kêu la, O'Brien, Julia và dao lam. Bụng lại quặn đau, tiếng giầy đinh đang lại gần. Cánh cửa bật mở, một luồng không khí lập tức tràn vào mang theo mùi mồ hôi quen thuộc. Parsons bước vào. Anh ta diện quần soóc kaki, áo thể thao. Winston sửng sốt đến quên hết mọi thứ. "Anh cũng ở đây!", Winston nói. Parsons liếc nhìn Winston, ánh mắt chẳng tỏ ra quan tâm cũng không ngạc nhiên, chỉ thấy tội nghiệp. Anh ta cứ đi đi lại lại suốt, hình như anh ta không thể ngồi yên được. Rõ ràng là đầu gối anh ta run. Đôi mắt anh ta mở to, nhìn trân trối như không thể rời khỏi một vật khá xa nào đó. "Vì sao lại vào đây thế?", Winston hỏi. "Tội tư tưởng!", Parsons nói, gần như muốn khóc. Giọng anh ta vừa như công nhận tội lỗi, vừa như ngạc nhiên pha lẫn hoảng loạn: chả lẽ từ đó lại áp dụng cho chính anh ta? Anh ta dừng lại ngay trước mặt Winston và nói như van vỉ: "Anh khôngnghĩ là họ sẽ bắn tôi chứ? Họ sẽ không bắn nếu chưa làm gì mà chỉ là nghĩ, có phải lúc nào ta cũng làm chủ được ý nghĩ đâu, đúng không? Tôi biết mà, họ sẽ nghe hết. Tôi tin là như thế. Họ biết thành tích của tôi, đúng không? Chính anh cũng biết tôi là người thế nào rồi mà. Không tồi, đúng không? Đầu óc thì không có mấy nhưng rất nhiệt tình. Tôi đã làm tất cả vì sự nghiệp của Đảng, anh thấy đúng không? Anh nghĩ sao, năm năm là cùng, đúng không? Hay phải mười năm? Những người như tôi trong trại cũng có ích lắm. Một lần vấp ngã thì đâu đã đáng bắn, đúng không?" "Nhưng anh có tội không?" "Có, dĩ nhiên là có tội rồi!", Parsons gào lên, mắt lấm lét nhìn màn vô tuyến. "Chả lẽ Đảng lại bắt người vô tội hay sao?". Bộ mặt đua ra như mặt ếch của anh ta đã điềm tĩnh trở lại, thậm chí còn có vẻ cao đạo nữa. "Tội tư tưởng là nặng lắm đấy, bạn ơi", anh ta lên giọng dạy đời. "Nham hiểm lắm. Nó tấn công anh mà anh không biết. Anh có biết tôi bị khi nào không? Lúc đang ngủ mới khổ chứ! Đúng thế đấy. Tôi đã cố gắng công tác, cố gắng đóng góp phần nhỏ bé của mình, tôi đâu có ngờ đầu mình lại có những thứ như thế. Thế là tôi nói mê. Anh có biết họ nghe thấy tôi nói gì không?" Anh ta hạ thấp giọng, giống như một người được bác sĩ yêu cầu phải nói ra những lời không được nhã vậy. "Đả đảo Anh Cả! Tôi nói thế đấy! Nói nhiều lần nữa kia. Nói thật với anh, tôi thấy mừng vì bị bắt trước khi quá muộn đấy. Anh có biết tôi sẽ nói gì khi ra trước toà không? Tôi sẽ nói: "Cám ơn các đồng chí, các đồng chí đã cứu tôi trước khi quá muộn" "Ai đã tố cáo anh?", Winston hỏi. "Con gái tôi", Parsons nói, giọng buồn buồn nhưng không dấu được vẻ thích thú."Cháu nghe trộm qua lỗ khoá. Nghe được một cái là báo cho cảnh vệ ngay ngày hôm sau. Bảy tuổi như vậy là khá đấy chứ, hả? Tôi không giận cháu đâu. Ngược lại, tôi còn tự hào về cháu nữa kia. Điều đó chứng tỏ tôi đã dạy con đúng đường lối" Anh ta đứng lên ngồi xuống mấy lần, rồi lại chăm chăm nhìn vào cái bô. Bất thình lình anh tụt quần soóc ra. "Xin lỗi ông bạn nhé", anh ta bảo. "Mình không chịu được nữa. Tại hồi hộp quá" Anh ta phệ
1,204
4
thẳm, xa hẳn lũ chuột. Anh vẫn bị trói chặt vào thành ghế, nhưng anh đã rơi qua nền nhà, qua những bức tường, qua đất, qua biển, qua không gian, rơi vào khoảng không trong vũ trụ, vào khoảng không giữa các vì sao, xa, xa mãi bầy chuột. Anh đã cách chúng cả năm ánh sáng, nhưng O'Brien vẫn đứng bên cạnh. Vẫn còn thấy thanh thép lành lạnh cọ vào má. Anh chợt nghe thấy một tiếng tách nữa, tiếng động như truyền qua đêm đen bao phủ xung quanh và anh hiểu rằng đấy là tiếng đóng cửa cái lồng chứ không phải mở. VI. Quán Cây Dẻ gần như không có ai. Ánh nắng xiên khoai chiếu qua cửa sổ đổ lên mặt bàn đầy bụi. Lúc đó là mười lăm giờ chiều, giờ này thường vắng. Màn vô tuyến phát một bản nhạc du dương. Winston ngồi vẫn ngồi trong góc như mọi khi, mắt dán vào cái li không. Thỉnh thoảng anh lại ngước nhìn bộ mặt to lớn, đang chăm chăm theo dõi anh, trên bức tường đối diện. ANH CẢ ĐANG QUAN SÁT BẠN, hàng chữ bên dưới viết như thế. Người hầu bàn tự động đi tới và rót rượu Gin Chiến Thắng vào li, sau đó anh ta còn giỏ thêm vài giọt từ một cái chai có ống hút ở nắp vào nữa. Đấy là đường hoá học pha dầu đinh hương, món tủ của quán này. Winston lắng nghe màn vô tuyến. Bây giờ chỉ có nhạc thôi, nhưng Bộ Hoà Bình có thể sẽ phát bản tin đặc biệt bất cứ lúc nào. Tin tức từ mặt trận Phi Châu đặc biệt đáng lo. Anh cảm thấy áy náy về việc này ngay từ sáng cơ. Quân đội Eurasia (Oceania đang đánh nhau với Eurasia: Oceania luôn luôn đánh nhau với Eurasia) đang tiến về phía nam với tốc độ chóng mặt. Bản tin buổi trưa không nói cụ thể vùng nào, nhưng có khả năng là mặt trận đã lan đến vùng cửa sông Congo rồi. Brazzaville và Leopoldville đang bị đe doạ. Không cần bản đồ cũng biết điều đó có ý nghĩa như thế nào. Đấy không chỉ là vấn đề mất vùng Trung Phi: lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến, lãnh thổ của Oceania đang bị đe doạ. Một tình cảm mãnh liệt, không phải nỗi sợ, mà là sự xúc động không có lí do bỗng dậy lên trong lòng anh và sau đó lắng dần. Anh không nghĩ đến chiến cuộc nữa. Bây giờ anh không thể tập trung suy nghĩ về bất cứ vấn đề gì quá mấy giây. Anh nâng cốc và uống cạn ngay lập tức. Cũng như mọi lần, rượu Gin làm cho anh rùng mình và hơi buồn nôn. Khiếp quá. Đinh hương với đường hoá học không đã kinh rồi, nhưng nó vẫn không đánh tan được mùi hôi dầu của rượu và điều kinh khủng nhất chính là mùi rượu Gin cứ bám riết lấy anh suốt ngày đêm, lại luôn làm anh liên tưởng tới mùi của…. Anh không bao giờ nhắc đến chúng, ngay cả trong suy nghĩ, và cố gắng không gợi ra hình ảnh của chúng trong đầu. Chúng là một cái gì đó mờ ảo, lượn lờ trước mặt, nhưng mùi thì xộc thẳng vào mũi. Rượu Gin sôi lên trong dạ dày, anh chề môi ra để ợ. Từ ngày được tha anh đã lên cân, da dẻ cũng trở lại như cũ, thậm chí còn hồng hơn. Mặt phị ra, da trên mũi và hai gò má thì đỏ và sần sùi, ngay phần da đầu hói cũng có màu hồng. Người hầu bàn tự động mang đến một bàn cờ và tờ Times, số mới nhất, thậm chí anh ta còn giở sẵn cả trang có in ván cờ thế ngày hôm đó nữa. Nhìn thấy li của Winston đã cạn, anh ta lấy chai và rót đầy. Ở đây không cần phải gọi. Họ biết thói quen của anh. Một bàn cờ luôn bày sẵn, một cái bàn trong góc luôn dành cho anh, ngay cả khi quán chật thì anh vẫn ngồi một mình vì chẳng ai dám lảng vảng đến gần một người như anh. Anh không thèm đếm số li đã uống. Lâu lâu họ lại mang đến một mẩu giấy bẩn thỉu và bảo đấy là hoá đơn, nhưng anh ngờ rằng họ thường tính bớt cho anh. Ngay cả họ có tính thêm thì anh cũng chẳng quan tâm. Trong túi anh lúc nào cũng rủng rỉnh tiền. Anh còn đi làm, một chỗ ngon ăn, lương còn cao hơn cả trước lúc bị bắt. Màn vô tuyến thôi phát nhạc, rồi đến tiếng phát thanh viên. Winston dỏng tai lên nghe. Không phải tin chiến sự. Chỉ có một bản thông báo ngắn của Bộ Ấm No. Quí vừa qua đã sản xuất vượt mức về dây giày do kế hoạch Ba Năm Lần Thứ Mười đề ra là 98 phần trăm. Anh xem ván cờ thế và bắt đầu xếp quân. Cờ tàn rất khéo, còn hai mã. "Trắng đi trước, chiếu hết sau hai nước". Winston ngước nhìn ảnh Anh Cả. Quân trắng bao giờ cũng chiếu hết, anh nghĩ với cảm giác thần bí mù mờ. Luôn luôn là như thế, không có ngoại lệ, trời đã sinh ra thế rồi. Từ khai thiên lập địa đến nay chưa bao giờ có ván cờ thế nào mà quân đen lại được. Đấy có phải biểu tượng chiến thắng vĩnh viễn, không bao giờ thay đổi của cái Thiện đối với cái Ác không? Bộ mặt to lớn, bình thản, đầy quyền uy nhìn lại anh, biểu đồng tình. Quân trắng luôn luôn chiếu hết. Tiếng phát thanh ngừng trong giây lát và sau đó nói tiếp bằng giọng nghiêm trọng hơn nhiều: "Chú ý, vào hồi mười lăm giờ ba mươi sẽ có một thông báo quan trọng. Mười lăm giờ ba mươi! Tin đặc biệt quan trọng. Hãy chú ý theo dõi thông tin của chúng tôi. Mười lăm giờ ba mươi". Bản nhạc lại tiếp tục. Tim Winston đập rộn lên. Đây là tin chiến sự, bản năng mách bảo anh rằng đây sẽ là tin không hay. Suốt ngày hôm nay, ý nghĩ về thất bại thảm hại trên mặt trận Phi Châu cứ trở đi trở lại trong đầu, làm anh lo lắng không yên. Anh tưởng như đang trông thấy những đạo quân đông như kiến của Eurasia vượt qua các vùng biên giới vốn là bất khả xâm phạm từ trước đến nay và tràn xuống mũi của lục địa Phi Châu. Tại sao lại không bọc sườn chúng?Anh mường tượng được đường bờ biển phía Tây châu lục. Anh nhặt con mã trắng và đặt vào góc bên kia của bàn cờ. Đứng đấy mới hợp lí. Trong khi nhìn thấy lũ mọi đen đang tiến về phía Nam thì anh cũng thấy một đạo quân khác đang bí mật tập hợp lực lượng, bất ngờ xâm nhập vào hậu phương của chúng, cắt đứt các đường vận chuyển trên biển và trên đất liền. Anh cảm thấy đã tạo ra đạo quân ấy bằng chính ước muốn của mình. Nhưng phải hành động gấp thì mới kịp. Nếu chúng chiếm được toàn bộ Phi Châu, nếu chúng chiếm được các căn cứ không quân và hải quân ở mũi Hảo Vọng Các thì Oceania sẽ bị cắt ra làm đôi. Điều đó có nghĩa là: thua trận, phân chia lại thế giới, tan rã Đảng! Anh hít vào thật sâu. Trong lòng anh bỗng nổi lên một mớ những tình cảm mâu thuẫn nhau, xoắn xuýt vào nhau, giằng xé nhau, đúng hơn phải nói là các tình cảm đó không xoắn xuýt vào nhau mà là xếp chồng lên nhau thành từng lớp, không thể biết lớp nào nằm ở đáy nữa. Cơn xúc động rồi cũng qua. Anh đặt con mã trở lại vị trí cũ, nhưng không tập trung vào ván cờ được. Ý nghĩ cứ lang thang ở tận đâu đâu. Anh lấy ngón tay vẽ trên mặt bàn bụi một cách vô thức: 2 + 2 = 5 "Chúng không thể chui vào bụng anh được" – Julia bảo. "Những việc xảy ra với anh ở đây sẽ là vĩnh viễn" – O'Brien đã nói như thế. Đúng như thế. Có những việc, do chính ta làm và rồi sau đó ta không thể nào hồi phục lại được nữa. Một cái gì đó đã chết ở trong lòng: đã chai lại, đã bị đốt cháy hết rồi. Anh đã trông thấy Julia, thậm chí đã nói chuyện với cô. Không có gì nguy hiểm. Bản năng mách bảo anh rằng từ nay họ gần như không còn quan tâm đến anh nữa. Anh có thể hẹn gặp cô lần thứ hai nếu một trong hai người muốn như thế. Họ gặp nhau một cách tình cờ. Chuyện đó xảy ra ở trong công viên, một ngày tháng ba, gió lạnh kinh người, mặt đất thì rắn như đá, cỏ chết hết, xung quanh chỉ có vài khóm nghệ tây, gió đánh tả tơi. Anh đang vừa đi vừa chạy, tay lạnh cóng, mắt nhoè nước, thì bất ngờ trông thấy cô, họ cách nhau chỉ chừng mươi mét. Anh ngạc nhiên vì thấy cô thay đổi nhiều quá, nhưng cụ thể thay đổi thế nào thì
1,218
4
anh không nói được. Họ đi lướt qua nhau, không ai nói một lời nào; nhưng sau đó anh quay lại và đi theo cô. Anh biết là không có gì nguy hiểm cả, không ai thèm quan tâm đến anh nữa. Cô không nói gì. Cô bước ngang qua đám cỏ, dường như muốn tránh anh, nhưng sau đó thì có vẻ như chấp nhận để anh đi bên cạnh. Chẳng bao lâu sau họ đã lọt vào giữa những bụi cây khẳng khiu, trơ trụi, chẳng tránh được gió mà cũng chẳng giấu được người. Họ đứng lại. Lạnh khủng khiếp. Gió luồn trong những nhánh cây, gió giật những khóm nghệ tây bẩn thỉu, tả tơi. Anh ôm ngang sườn cô. Không có màn vô tuyến, nhưng micro thì có thể lắm, ngoài ra họ có thể bị người ta nhìn thấy nữa. Nhưng cái đó không quan trọng, không còn gì là quan trọng nữa. Họ có thể nằm xuống đất và làm cái đó nếu họ muốn. Chỉ nghĩ đến điều đó anh đã thấy lạnh sống lưng rồi. Cô không có phản ứng gì, vẫn cứ để anh ôm như thế. Bây giờ thì anh hiểu chuyện gì đã xảy ra với cô. Mặt cô tái hơn, có một vết sẹo dài, chạy suốt trán, đến tận thái dương, được mấy sợi tóc che đi một phần. Nhưng đấy không phải là cái chính. Cái chính là eo cô đẫy đà thêm và thật lạ là đã trở nên rắn hơn. Anh nhớ có lần, sau khi bom nổ, anh đã tham gia kéo một cái xác ra khỏi đống gạch vụn, anh lấy làm ngạc nhiên vì nó không chỉ rất nặng mà còn cứng và khó giữ, có vẻ như đấy là một cục đá chứ không phải xác người nữa. Bây giờ cô cũng hệt như thế. Anh cho rằng da thịt cô đã thay đổi, khác hẳn ngày xưa. Anh không tìm cách hôn cô, họ cũng không nói gì với nhau. Lần đầu tiên cô nhìn thẳng vào mắt anh là khi họ đã quay lại và đang đi ngang qua đám cỏ. Chỉ là giây lát, nhưng ánh mắt chứa đầy ác cảm, khinh khi. Anh không biết đấy là ác cảm với quá khứ hay còn do bộ mặt béo phì và đôi mắt ướt nhoèn vì gió nữa. Họ ngồi trên hai cái ghế bằng sắt, cạnh nhau, nhưng vẫn giữ một khoảng cách tương đối. Anh thấy rằng cô sắp lên tiếng. Cô đưa chiếc giầy khá thô ra thêm vài phân và cố ý di di một cọng cỏ. Anh thấy bàn chân cô có vẻ cũng to thêm. "Em đã phản bội anh", cô bảo. "Anh đã phản bội em", anh cũng nói. Một lần nữa cô lại nhìn anh, cái nhìn vẫn đầy ác cảm như cũ. "Có lúc", cô nói tiếp, "người ta doạ bằng những cái mà ta không thể chịu đựng được, ta không thể tưởng tượng là lại có thể như thế. Và ta nói: 'Đừng làm thế với tôi, hãy làm với người khác, với người này... người này'. Sau này có thể ta sẽ giả vờ rằng đấy chỉ là giả, ta nói thế là để họ dừng tay, chứ ta không có chủ ý thế. Nhưng không phải vậy. Lúc đó ta chủ ý như thế. Ta nghĩ rằng không còn cách nào khác, đấy là lối thoát duy nhất. Ta muốn họ làm điều đó với người kia. Người kia có bị đau khổ thì cũng mặc xác nó. Ta chỉ còn nghĩ đến cá nhân mình thôi" "Ta chỉ nghĩ đến cá nhân mình thôi", anh lặp lại. "Và sau đó thì tình cảm của ta không thể nào còn được như xưa nữa" "Đúng thế", anh nói, "không thể nào còn được như xưa" Không còn gì để nói nữa. Gió ép bộ đồng phục vào sát người. Im lặng trở nên nặng nề, cũng không thể ngồi thêm được nữa vì lạnh quá. Cô bảophải đi ngay mới kịp chuyến tầu điện ngầm và đứng lên. "Chúng ta phải gặp nhau một lần nữa", anh nói. "Vâng", cô bảo". "Chúng ta phải gặp nhau lần nữa" Anh lững thững bước theo cô, hai người cách nhau nửa bước. Họ không nói gì thêm. Không phải là cô muốn tránh xa anh, nhưng cô bước nhanh đến nỗi anh không thể nào theo kịp. Anh quyết định sẽ tiễn cô đến tận ga tầu điện ngầm, nhưng sau đó thấy rằng lẽo đẽo theo cô trong gió lạnh thế này là việc lực bất tòng tâm và vô ích nữa. Anh không chỉ muốn đi cho khuất mắt cô, mà hơn thế, còn muốn vào ngay quán Cây Dẻ nữa, chưa bao giờ cái quán ấy có sức hấp dẫn với anh bằng lúc này. Anh cảm thấy nhớ cái bàn ở trong góc, nhớ tờ báo, nhớ bàn cờ và li rượu không bao giờ cạn. Cái chính là quán rất ấm. Chỉ một lúc sau, không hẳn là vô tình, anh để cho một nhóm nhỏ xen vào giữa hai người. Anh lưỡng lự rảo bước, nhưng sau đó đi chậm lại và cuối cùng quay ngang và rẽ sang hướng khác. Khi đi cách chỗ cũ chừng năm mươi thước anh còn ngoái lại. Không đông, nhưng anh đã không thể nào nhận ra cô nữa. Bất kì ai trong hơn một chục người đang hớt hơ hớt hải bước kia cũng có thể là cô. Không thể nhận ra cái thân hình đẫy đà, thô kệch của cô từ phía sau được nữa. "Lúc đó ta có chủ ý như thế"- Julia đã nói như vậy. Anh cũng có chủ ý như thế. Anh không chỉ nói điều đó, anh muốn điều đó. Anh muốn họ đưa cô chứ không phải anh cho lũ.... Có những nốt nhạc lạ xen vào bản đang phát trên màn vô tuyến. Những nốt rè rè, khủng bố, những nốt nhạc vàng. Sau đó – có thể chuyện đó không xảy ra đâu, có thể đấy chỉ là sự hồi sinh của kí ức khi nghe thấy những âm thanh quen thuộc mà thôi - một giọng cất lên: Dưới bóng cây dẻ này Tôi bán anh và anh bán tôi. Mắt anh đẫm lệ. Người hầu bàn vô tình đi ngang. Nhận thấy li của anh đã cạn, anh ta mang chai rượu tới và rót đầy. Anh nâng li rượu lên ngửi. Cảm giác kinh tởm không giảm mà còn tăng thêm sau mỗi lần đưa li lên miệng. Nhưng rượu đã là một phần của con người anh. Nó là cuộc sống, là cái chết và sự tái sinh của anh. Rượu dìm anh vào trạng thái mụ mị hằng đêm và cũng chính rượu đánh thức anh mỗi sáng. Khi anh thức giấc, thường là sau mười một giờ, mắt không mở ra được, miệng đắng nghét, còn lưng thì đau như là bị gẫy, anh sẽ không thể nào ngồi lên được nếu không phải là để lấy cái chai và cái li đã đặt bên cạnh giường ngay từ tối hôm trước. Thế rồi, với chai rượu bên cạnh, anh cứ ngồi đờ đẫn như thế mà nghe màn vô tuyến nói đến tận trưa. Từ mười lăm giờ trở đi anh là khách thường trực của quán Cây Dẻ. Không còn ai quan tâm đến công việc anh làm, tiếng còi không còn đánh thức anh, màn vô tuyến không còn nhắc nhở anh. Thỉnh thoảng, hai lần một tuần, anh có đến công sở, một văn phòng đầy bụi, vắng ngắt trong Bộ Sự Thật để làm việc, nếu có thể gọi đấy là công việc. Anh được bổ nhiệm vào tiểu ban của một trong rất nhiều tiểu ban của hằng hà sa số ban bệ chuyên giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình biên soạn lần in thứ mười một cuốn từ điển Ngômo. Họ tham gia soạn thảo cái gọi là Báo Cáo Sơ Bộ, nhưng báo cáo cái gì thì anh cũng chẳng rõ. Có một vấn đề cần giải quyết: dấu phẩy đặt bên trong hay bên ngoài dấu ngoặc đơn? Trong tiểu ban còn bốn người nữa, cũng có hoàn cảnh như anh. Có những ngày họ giải tán ngay khi vừa gặp nhau, sau khi đã thống nhất rằng thực ra chẳng có việc gì để mà làm cả. Nhưng cũng có những hôm họ nhiệt tình lao vào công việc, chúi mũi viết biên bản hay chắp bút cho những bản ghi nhớ tràng giang đại hải, chẳng bao giờ có đoạn kết; hay tranh luận sôi nổi về những vấn đề phải mang ra bàn thảo, có khi lạc đề vì những cuộc thảo luận tinh tế về định nghĩa, và còn doạ đưa nhau đi gặp cấp trên nữa. Nhưng sự nhiệt tình đột nhiên lắng xuống, họ ngồi quanh bàn, nhìn nhau bằng những con mắt vô hồn, như những bóng ma tan dần khi có tiếng gà gáy sáng. Màn vô tuyến ngừng bặt trong giây lát. Winston lại ngẩng đầu lên. Tin tức! Không, người ta chỉ thay bản nhạc thôi. Anh mường tượng rõ bản đồ Phi Châu ở trong đầu. Việc di chuyển các binh đoàn được thể hiện bằng những mũi tên: màu đen hướng thẳng xuống phía nam còn màu trắng đi ngang sang hướng đông, đâm vào phần đuôi mũi tên thứ nhất. Để cho vững dạ, anh lại
1,219
4
ngước nhìn khuôn mặt điềm tĩnh, tự tin trong bức ảnh. Có thể tưởng tượng là không có mũi tên thứ hai được không? Anh không quan tâm đến chuyện đó nữa. Anh uống một ngụm rượu và nhấc con mã lên, đi một nước. Hết. Nhưng nước đi này rõ rằng là sai, vì rằng... Kí ức đột ngột hiện về trong tâm trí anh. Anh nhìn thấy một căn phòng, ngọn nến đang cháy, cái giường lớn phủ vải trắng toát, anh, lúc đó mới chín, mười tuổi, ngồi dưới chân giường, tay lắc cái cốc gieo xúc xắc, cười như nắc nẻ. Mẹ anh ngồi trước mặt, cũng cười. Đấy là khoảng một tháng trước khi bà biến mất. Đấy là giây phút hoà bình, khi anh quên được cái đói trong dạ dày và tình yêu thương của anh đối với mẹ tạm thời được đánh thức. Anh nhớ rõ ngày hôm đó: mưa như trút, nước chảy thành dòng trên kính cửa sổ, trong phòng tối om, sách cũng không đọc được. Hai đứa trẻ trong căn buồng tối, tù túng, buồn không chịu được. Winston lải nhải đến sốt ruột, rồi đòi ăn, đi qua đi lại, kéo hết đồ vật từ chỗ nọ sang chỗ kia, đá vào những tấm vánốp đến nỗi hàng xóm phải đập vào tường; cô em thì thỉnh thoảng lại gào lên. Cuối cùng mẹ bảo: "Thôi, ngoan đi nào, mẹ sẽ mua cho con một thứ đồ chơi. Đẹp lắm. Con sẽ thích đấy", rồi bà bước ra phố, trong mưa, để vào một cửa hàng tạp hoá ở gần đấy và mang về một hộp các tông có món đồ chơi "rắn và thang" [2]. Bây giờ anh vẫn nhớ rõ mùi các tông ướt. Món đồ chơi trông không ra gì. Thanh gỗ thì nứt nẻ, súc sắc thì không phẳng. Winston phụng phịu đứng nhìn, chẳng thèm quan tâm đến món đồ chơi mới. Mẹ thắp một ngọn nến và họ ngồi xuống chơi. Nhưng anh mê ngay và phá lên cười khi cái vòng tròn nhỏ xíu từ từ tiến lên từng bậc thang hoặc là rơi xuống chỗ con rắn, gần điểm xuất phát. Anh chơi tám vàn, mỗi lần đều được bốn điểm. Cô em gái nhỏ, ngồi ở đầu giường, cô còn quá nhỏ, chẳng hiểu mô tê gì nhưng cũng cười vì thấy mẹ và anh cười. Suốt buổi chiều hôm ấy cả ba người đều vui, y như ngày anh còn bé vậy. Anh vội xua ngay bức tranh ấy ra khỏi đầu. Kí ức sai lầm. Thỉnh thoảng anh lại bị kí ức sai lầm làm phiền như vậy đấy. Cũng không đáng ngại lắm nếu ta biết rõ chúng. Có cái đã từng xảy ra, có cái chưa từng xảy ra. Anh quay lại bàn cờ và nhấc con mã trắng lên. Bất ngờ, anh đánh rơi quân cờ đến cách một cái. Anh nhảy dựng lên như có kim đâm vào người. Tiếng kèn đồng bỗng gầm lên, như muốn xé toạc bầu không khí. Bản tin! Chiến thắng rồi! Kèn đồng thổi trước khi đưa tin là chiến thắng. Như có một luồng điện truyền khắp quán. Ngay cả các hầu bàn cũng nhảy lên và dỏng ra tai nghe. Sau tiếng kèn đồng là tiếng ồn ào chưa từng có. Một giọng nói lắp bắp, hồi hộp vang lên trên màn vô tuyến, nhưng nó bị chìm ngay trong tiếng reo hò vang lên ngoài đường phố. Tin tức lập tức được truyền đi khắp các ngõ nghách. Winston không nghe được mấy, nhưng như thế cũng đủ - giống như anh đã dự đoán: hạm đội hải quân hùng mạnh bí mật tập trung và bất ngờ tấn công vào hậu phương quân địch, mũi tên trắng cắt đứt đôi cái đuôi của mũi tên đen. Những lời hân hoan, đứt quãng nghe khi được khi không vì tiếng ồn ào: "Cuộc hành binh chiến lược... một sự phối hợp tài tình... tháo chạy hỗn loạn... nửa triệu tù binh... sự suy sụp hoàn toàn... làm chủ toàn bộ Phi Châu... kết thúc chiến tranh trong một tương lai không xa... chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại... chiến thắng, chiến thắng, chiến thắng!" Chân Winston cứ giật liên hồi. Anh vẫn ngồi ở chỗ cũ, nhưng đầu óc anh đang phóng đi, phóng rất nhanh, anh đang hoà cùng đám đông bên ngoài, hò reo đến điếc cả tai. Anh lại ngước nhìn Anh Cả. Một người khổng lồ ngạo nghễ trên đầu thiên hạ! Bọn mọi Á Châu sẽ tan tành khi đập vào tảng đá chắn đường ấy! Anh nghĩ mới mười phút trước, đúng thế, chỉ mười phút trước anh vẫn còn nghi ngờ, anh vẫn còn chưa biết tin từ mặt trận sẽ ra sao: chiến thắng hay là thất bại. Không, không phải chỉ có đội quân Eurasia bị xoá sổ! Trong anh đã diễn ra nhiều thay đổi kể từ ngày vào Bộ Tình Yêu, nhưng sự thay đổi tối hậu, sự thay đổi cần thiết, chữa lành căn bệnh thì bây giờ mới xẩy ra. Màn vô tuyến vẫn tiếp tục rót vào tai người ta huyền thoại vế số tù binh, về chiến lợi phẩm, về những cuộc tàn sát, nhưng tiếng hò reo bên ngoài thì đã lắng xuống rồi. Những người hầu bàn tiếp tục trở lại làm việc. Một người cầm cái chai đến bên bàn anh. Winston, vẫn còn mơ màng, không biết là li đã được rót đầy. Anh không còn chạy và reo hò nữa. Anh đã quay lại Bộ Tình Yêu, mọi việc đều được tha thứ, tâm hồn anh trở nên trong trắng như tuyết. Anh ngồi trên ghế bị cáo, nhận hết, khai ra tất cả mọi người. Anh đang đi trong một hành lang lát đá trắng, cảm giác như đang bước dưới ánh mặt trời, phía sau là viên cai ngục. Viên đạn mà anh chờ đợi bấy lâu đang chui vào óc anh. Anh ngắm nhìn khuôn mặt to bè. Phải bốn mươi năm anh mới hiểu được ý nghĩa của nụ cười ẩn chứa đằng sau chòm râu đen ấy. Một sự hiểu lầm ác nghiệt, vô ích! Mình là một kẻ ngoan cố, bướng bỉnh, được thương lại còn không muốn! Hai giọt nước mắt, anh vừa uống một ngụm Gin, lăn trên cánh mũi. Nhưng tốt rồi, bây giờ thì mọi việc đều tốt rồi, cuộc chiến đấu đã kết thúc. Anh đã thắng được mình. Anh đã yêu Anh Cả. 1949 Dịch lần đầu 15/03/2004 - 15/06/2004. [1]Nguyên văn: the worst thing in the world - điều tệ hại nhất trên thế gian. [2]Nguyên văn: Snake and ladder (Rắn và thang), trò chơi, tính điểm, thêm điểm thì chuyển quân lên (leo thang), còn mất điểm thì chuyển xuống dưới (xuống rắn) Phụ lục Những nguyên tắc cơ bản của Ngômo (lược dịch) Ngômo là ngôn ngữ chính thức của Oceania, được sáng chế để phục vụ cho hệ tư tưởng Chuanh hay Chủ nghĩa xã hội Anh quốc. Vào năm 1984 chưa có ai sử dụng Ngômo trong giao tiếp, kể cả nói cũng như viết. Những bài xã luận trên tờ Times được viết bằng Ngômo, nhưng đấy là công việc của các chuyên viên. Người ta cho rằng Ngômo sẽ hoàn toàn thay thế Ngôn ngữ cũ (tiếng Anh chuẩn như vẫn gọi) trước năm 2050. Hiện nay nó đang dần ổn định, ngày càng có nhiều đảng viên sử dụng các từ và cấu trúc ngữ pháp của Ngômo trong giao tiếp. Phương án được sử dụng vào năm 1984, được thể hiện trong lần xuất bản thứ chín và mười cuốn Từ điển Ngômo là phương án tạm, còn chứa nhiều từ thừa và các cấu trúc ngữ pháp cũ, sẽ bị thay thế trong lần xuất bản thứ mười một. Ở đây xin được bàn về các nguyên tắc cơ bản của Ngômo trong lần xuất bản thứ mười một. Mục đích của Ngômo khôngchỉ là cung cấp cho những người đi theo Chuanh phương tiện thể hiện thế giới quan và hoạt động tư duy mà còn nhằm ngăn chặn mọi luồng tư tưởng không phù hợp khác. Người ta cho rằng khi Ngômo đã giành thắng lợi hoàn toàn và Ngôn ngữ cũ đã bị quên thì những tư tưởng dị giáo, nghĩa là những tư tưởng xa lạ với Chuanh sẽ không còn đất sống vì không thể tư duy được, nếu quả thật tư duy là phải thông qua vỏ ngôn ngữ như người ta vẫn nói. Từ vựng được xây dựng sao cho có thể thể hiện một cách chính xác, mà thường là cực kì chính xác ý tưởng mà đảng viên muốn nói, đồng thời loại bỏ tất cả những nghĩa phụ, nghĩa không cần thiết. Điều này được thực hiện bằng cách chế ra các từ mới, nhưng chủ yếu là bằng cách loại bỏ những từ thừa và tẩy sạch những nghĩa dị giáo
1,220
4
úc Hoặc rất sợ, không dám nhận lời, nói riêng với Vương Hoằng rằng "Đổng Hiền là Đại Tư Mã, trong schs văn của Hoàng thượng đã có câu "Doãn chấp kỳ trung", đó là văn tự Đường Nghiêu nhường ngôi cho Ngu Thuấn chứ không phải là chuyện kể của Tam Công, trưởng lão mà thấy không thể không khiếp sợ. Chẳng lẽ điều này con một người thứ dân lại có thể đảm đương được hay sao?!" Vương Hoằng rất thông minh, nghe Tiêu hoặc nói, trong lòng ông dã hiểu là điều gì. Thế là ông quay về hội báo với Đổng Cung, tha thiết nói lên tinh thần tự ti, nhún nhường của Tiêu Hoặc. Đổng Cung thở dài nói: "Họ Đổng nhà tôi có người nào đắc tội với thiên hạ mà bị mọi người sợ hãi đến như vậy!" và trong lòng rất không vui. Sau đó Hán Ai Đế thết tiệc rượu ở Điện Kỳ Lân, cha con Đổng Hiền và những người thân thuộc cũng tham gia tiệc rượu này. Anh em Vương Hoằng như thị trung, trung thường thị đều có mặt trong bữa tiệc. Hán Ai Đế uống rượu rôì ung dung cười nói với Đổng Hiền: "Trẫm định thực hiện việc Đường Nghiêu nhường ngôi cho Ngu Thuấn, các khanh thấy thế nào?" Vương Hoằng tiến lên khuyên giải: "Thiên hạ vẫn là thiên hạ do Hán Cao tổ lập ra, không phải là thiên hạ của bệ hạ. Bệ hạ tiép tục duy trì tông miếu xã tắc, nên truyền ngôi cho con cháu, không nên giữ mãi đến vô cùng tận mới là đúng. Cơ ngiệp chính thống của quốc gia thật vô cùng quan trọng, thiên tử không thể nói chơi như vậy được!" Hán ai đế mặc nhiên chẳng nói chẳng rằng, trong lòng rất không phấn khởi,quần thần xung quanh nghe vậy thì rất sợ hãi. Thế là Vương Hoằng bị Hoàng đế đuổi ra khỏi Điện Kỳ Lân, sau đó không bao giờ được đóc Hoàng đế trong các bữa tiệc rượu nữa. Phủ đệ của Đổng Hiền vừa mới xây dựng xong, công trình vô cùng kiên cố. Thế nhưng cống lớn bên ngoài nhà Đổng Hiền thì tự nhiên vô cớ lại đổ sụp. Trong lòng Đổng Hiền rất không phấn khởi., mấy tháng sau thì Hán Ai Đế qua đời. Thái hoàng thái hậu triệu kiến Đại Tư Mã Đổng Hiền và đã gặp ông ở trong Đông sương phòng, hỏi ông về phương pháp điều độ việc tang. Đổng Hiền trong lòng lo lắng, không sao trả lời được. Thái hậu nói: "Ngày trước, Tân đô hầu Vương Mãng là Đại tư Mã đã tổ chức đại hành tiên đế, là người rất thông hiểu chuyện lễ nghĩa, ta cho Vương Mãng làm phụ tá cho ông". Đổng Hiền nghe xong liền cúi đầu cảm tạ. Thái hậu cho sứ tiết triệu kiến Vương Mãng. Sau khi Vương Mãng đến, với danh nghĩa thái hậu sai thượng thư tố cáo Đổng Hiền trong thời gian Hoàng đế ốm đã không chữa chạy, cấm chỉ Đổng Hiền hành động, không cho ông ta tuỳ ý ra vào cung điện và phủ Tư mã. Đổng Hiền không biết làm thế nào, đến hoàng cung cúi đầu chịu tội. Vương Mãng cử xứ giả dùng chiếu lệnh của Thái hậu đến điện Khuyết hạ ra lệnh cho Đổng Hiền rawngf "Gần đây âm dương bất điều, tai hoạ liên tiếp xảy ra, dân chúng bị tai hoạ. Tam Công là phụ chính đại thần quan trọng của nước nhà, Cao an hầu Đổng Hiền chưa kinh qua thử thách, làm Đại Tư Mã thì không hợp với lòng dân. Phải thu hồi mũ áo cân đai Đại Tư Mã, cách chức đưa về nhà". Ngay ngày hôm đó, Đổng Hiền cùng với vợ, hai người đa tự vẫn chết, cả nhà đều khiếp sợ, ngay đêm hôm đó vội vàng chôn cất thi hài họ. Vương Mãng hoài nghi vợ chồng Đổng Hiền là chết giả. Các ngành cóliên quan tấu thỉnh triều đình mở quan tài Đổng Hiền ra, đưa vào ngục để kiểm chứng. Vương Mãng lại chỉ thị cho Đại Tư đồ Khổng Quang tấu báo: "Đổng Hiền tính tình xảo quyệt, dựa vào gian mưu để được phong hầu, cha con chuyên quyền trong triều, anh em được quí trọng, thu rất nhiều bổng lộc, xây dựng trại ấp phủ đệ khang trang, tu tạo phần mộ, khoa trương vô độ, không tuân theo khuôn pháp vương triều, tiêu phí tiền tài tới ngàn vạn lạng, quốc khố do đó mà rỗng không. Cha con họ kiêu căng ngạo mạn, bất kính sứ giả của thiên tử, thu bổng lộc mà không baói tạ thiên vương, tội ác tày trời. Đổng Hiền phục tội tự sát, sau khi chết, bố ông ta là Đổng Cung vẫn không hối cải sửa chữa, vẫn dùng cchất chu sa để sơn quan tài, vẫn trang hoàng điêu khắc phong cảnh bốn mùa, bên trái vẽ rồng xanh, bên phải vẽ bạch hổ, hình vẽ bên trên có mặt trời mặt trăng bằng vàng bằng bạc, trong quan tài có rất nhiều châu báu không sao bì nổi. Những người như Đổng Cung may mắn không bị chu di, nhưng không được ở trong Kinh sư nữa. Các quan viên đại thần kiến nghị tịch thu toàn bộ tài sản nhà họ Đổng sung vào công quĩ. Còn những người dựa vào Đổng Hiền mà được tăng quan tiến chức sẽ bị bãi miễn toàn bộ". Cha của Đổng hiền là Đổng Cung, em trai Đổng Khoan Tín và gia thuộc cùng bị đưa đến Hợp phố, nhưng mẹ đẻ của ông ta thì được đưa về quê hương Cự Lộc. Thường dân trong thành Trường an vui mừng phấn khởi, giả vờ khóc thương em ông ta, nhưng thực tế là muốn đến cướp bóc. Quan phủ phát mại tài sản nhà họ Đổng, tổng cộng giá trị lên tới 430 triệu lạng. Sau khi Đổng Hiền chết rồi lại conf bị quật quan tài lên để kiểm tra thi thể, do đó mà bị chôn lần thứ hai ở trong ngục thất. Chu Hử, người huyện Bái trước đây vẫn được Đổng Hiền hậu đãi nay tự xin ra khỏi phủ Đại Tư Mã. Ông ta mua một cỗ quan tài, giấu thi hài Đổng Hiền vào đó để đem chôn. Sau khi Vương Mãng biết thì nổi giận đùng đùng, kiếm cớ Chu Hử có tội khác để giết chết. Con Chu Hử là Chu Phù được nổi danh trong thời kỳ Kiến Vũ, làm quan đến chức Đại Tư Mã, Tư Không, được phong hầu. Trong thờikỳ Vương Hoằng, Vương Mãng còn làm quan thì anh ta làm chân chăn cừu, vô danh tiểu tốt. Sau khi Vương Mãng bị ốm yếu đã xin từ quan. Hán Th: ế Tổ hạ chiếu nói: "Sau khi Chu Vũ vương lật đổ triều đình nhà Thương đã thu thập hiền nhân. Vương Hoằng là người tu thiện cẩn sắc, thời kỳ chiến loạn, trong số quan lại chỉ có ông ta là người không tranh chấp địa vị. Hiện nay có thể để cho con cuả Vương Hoằng lên thay làm quan". Anh ta từ lính trở thànhquan, nghe nói đó là cháu ngoại của Tiêu Hoặc. Tuyển tự "Hán Thư" Quyển 93 LƯƠNG KÝ LỜI MỞ ĐẦU - Lương Ký, tự là Bá Trác, người vùng An Định Ô Thị (nay thuộc Tây Bắc huyện Bình Lương, tỉnh Cam Túc), là một gian hùng trứ danh thời kỳ Đông Hán. Lương Ký xuất thân trong một gia đình quan lại, thoạt đầu làm việc cho Lương ích Nhĩ đại phu nước Tấn. Trong thời nhà Hán, gia tộc họ Lương tương đối giàu sang phú quí. Bố của Lương Ký là Lương Thương làm đến chức Đại tướng quân, được nhận vào gia tộc họ Thừa.Con gái và em gái của Lương Thương bị Hán Thuận đế nom thấy liền tuyển ngay vào cung làm Hoàng hậu và Quí nhân của Hán Thuận đế. Con trai của ông là Lương Ký hoàn toàn ngược lại với người cha tính tình ôn hoà khiêm tốn. Sau khi làm quan Lương Ký vô cùng tàn bạo, dâm loạn cực kỳ, hoành hành bạo ngược, gây nhiều tai hoạ cho bá tính, do đó mà trở thành một tên gian thần nổi tiếng xấu xa trong lịch sử nhà Đông Hán. Lương Ký xuất thân hiển hách, thời kỳ người cha còn sống, Lương Ký đã giả dối bất nhân, làm những điều tà bậy, thậm chí còn sai người đi ám sát người khách của bố từ Lạc Dương tới. Năm Vĩnh Hoànguyên niên (136) tham gia đánh Kim Ngô nên được đề bạt làm Hà Nam do
1,240
4
á Ngọc đi giấu ở giữa những bức tường. Lương Ký cũng rất thích giám nô Tần Cung, đề bạt Tần Cung lên làm Thái Thương lệnh, có thể tự do ra vào nơi ở của Tôn Thọ. Mỗi lần Tôn Thọ nhìn thấy Tần Cung liền đuổi hết những người xung quanh ra ngoài, giả vờ thảo luận công việc, thực tế là nhân cơ hội này để tư thông với ông ta. Tần Cung nổi tiếng trong ngoài triều đình, quyền uy rất lớn, ngay đến thích sử triềuđình, quan đại thần 2000 thạch đều phải làm thân với ông ta. Ý kiến thu nhận Tôn Thọ của Lương Ký, việc tước đoạt chức quan đại thần của dòng họ Lương, bề ngoài cóa vẻ khiêm nhường, nhưng thực tế là tôn sùng swj tôn thân của Tôn thị. Những người mạo danh để làm thị trung, khanh, hiệu uý, quận thú, trưởng lại có tới mười mấy người. Chúng đều là bọn tham lam, hung bạo, hoang dâm vô độ, mỗi tên đều cử người của mình đi sách nhiễu, cướp đoạt những nhà giầu trong huyện, vu cho những tội danh này khác để bắt những người giầu có bỏ tù; đánh đập nhục hình, bắt họ phải bỏ tiền ra chuộc. Ai không có đủ tiền chuộc thì bị chết. Một người ở Phù Phong tên là Sĩ Tôn Phấn, gia đình rất giàu có, nhưng lại rất keo kiệt. Lương Ký liền tặng cho ông ta xe ngựa với mưu đồ là dùng những thứ này để vay ông ta một khoản tiền là 50 triệu đồng. Nhưng Sĩ Tôn Phấn chỉ cho vay 30 triệu. Lương Ký bỗng nổi giận đùng đùng liền thông tri cho các quan lại quận huyện, chỉ thị cho họ phải nhận rằng mẹ của Sĩ Tôn Phấn là nô tì trông coi của cải cho ông ta đã ăn cắp 10 đấu bạch ngọc và gần 1000 cân vàng đỏ rồi bỏ trốn. Thế là các quan phủ liền cho bắt và tra khảo anh em Sĩ Tôn Phán cho đến chết ở trong ngục. Toàn bộ gia sản của Sĩ Tôn Phấn có tới trên 170 triệu bạc đều bị tịch thu. Hồi đó có tục lệ là hàng năm các nơi đều phải cống hiến đúng kỳ hạn. Nơi nào cũng giành những thứ quí giá hạng nhất nộp cho Lương Ký. Còn nộp cho hoàng cung chỉ là những thứ hạng nhì. Các quan lại hối lộ cho Lương Ký để cầu quan mưu chức, hoặc những người xin giảm tội cứ xếp hàng dài dài bất tận. Lương Ký còn cử tay sai thân tín đi công cán, liên hệ với nước ngoài, ra sức vơ vét vàng bạc châu báu cùng những của quí hiếm lạ lùng. Khi ông ta đi ra ngoài, đến đâu cũng tìm những cô gái đẹp, bọn tay chân của ông ta cũng phô trương quyền thế, hoành hành ngang ngược, cướp đoạt vợ con dân lành, đánh đập quan lại, sĩ tốt địa phương. Nơi nào chúng đi qua nhân dân đều oán ghét, thù hận. Lương Ký còn xây dựng phủ trại rất qui mô. Tôn Thọ cũng xây dựng một biệt thự cho mình ở phố đối diện, công trình nào cũng hào hoa tráng lệ không cái nào chịu thua kém cái nào. Trong những căn phòng của điện đường, chỗ nào cũng có những phòng bí mật âm dương, xây kiểu liền phòng, thông hộ. Các cột và tường đều dùng đồng và sơn mài để trang trí. Các cửa ra vào và cửa sổ đều chậm khắc hoa văn màu xanh, trên những bức hoạ là những tiên linh vân khí. Lầu các thông nhau, có thể đi lại ngắm cảnh, xà bay ghế đá, lăng tẩm vươn ra mặt nước. Họ có nhiều vàng bạc châu báu, những của quí hiếm của nước ngoài xếp chật các kho tàng nhà chứa. Ngoài ra Lương Ký còn đem từ nơi xa về những con ngựa hãn huyết. Bọn Lương Ký còn xây dựng lớn những lâm viên, hồ nước, đào đất đắp thành núi, dài 9 dốc 10 dặm, mô phỏng hình dáng núi Nhị Hào sơn, rừng sâu khe suối, giống như đại tự nhiên. Những loài cầm thú chạy nhảy bay lượn ở trong núi, trong vườn. Lương Ký và Tôn Thọ cùng ngồi trên xe người kéo, mở dù lông, mặc áo vàng, mũ bạc, dạo chơi, tham quan du ngoạn trong phủ đệ, có cả một đoàn ca kỹ đi theo, trống chiêng hoà tấu, hoan lạc suốt dọc đường. Có khi chúng còn truy hoan suôts đêm, ung dung phóng túng. Khách khứa đến trước cổng mà không báo trước đều phải đút lót bọn canh cửa. Tài sản của bọn canh cửa này cũng lên tới hàng nghìn lạng vàng. Lương Ký cũng xây dựng nhiều viên lâm, chế độ y như vương gia vậy. Phạm vi phía tây đến Hoằng nông, phía đông đến Huỳnh Dương, phía nam đến Lỗ Dương. Giới tuyến phía Bắc đến tận Hoàng Hà, Kỳ Thuỷ, bao hàm Sơn Tẩu, một vùng đồi núi xa tắp, có vực thẳm bao quanh, khuôn viên gần ngàn dặm. Lương Ký cũng xây dựng Thỏ Uyển ở phía Tây thành phố Hà Nam, kéo dài liên miên mấy chục dặm, bắt binh lính trong huyện xây dựng những nhà lầu để ngắm cảnh, phải mấy năm trời mới hoàn thành. Tiếp đó Lương Ký lại gửi công văn báo cho các quan phủ sở tại phải thu bắt những con thỏ sống, trên lông thỏ phải ghi ký hiệu chức danh, nếu có ai xúc phạm đến chúng thì sẽ bị kết tội chết. Đã từng có một vị tên là Hồ Thương ở Tây vực, không biết đến điều cấm kỵ này, đi giết lầm một con thỏ, thế là có mười mấy người bị giết. Người em thứ hai của Lương Ký đã từng ngầm cử người đến săn bắn ở Đảng Thượng. Sau khi Lương Ký nghe được chuyện này liền phái người đi giết chết những vi khách này, một lúc giết chết hơn 30 người, không có người nào sống sót trở về. Lương Ký cũng xây dựng phủ đệ ở phía tây thành phố để thu nạp những kẻ lưu manh côn đồ, có khi đi cướp những phụ nữ nhà lành, bắt họ làm nô tỳ, số lượng có tới mấy nghìn người, gọi họ là những người "Tự bán mình". Năm Nguyên Gia nguyên niên (151), Hán Hoàn Đế thấy Lương Ký có công lao trong việc đưa ông ta lên ngôi hoàng đế nên có ý định tôn sùng Lương Ký một cách đặc biệt. Thế là hoàng đế triệu tập đại hội công khanh bách quan, cùng trao đổi cách tổ chức lễ mừng Lương Ký. Trong cuộc họp triều đình, có quan viên đã tấu thỉnh rằng Lương Ký vào triều chưa được thăng tiến, đeo kiếm vào điện, tấu thỉnh không cần báo danh, llễ nghi nên làm như đối với Tiêu Hà, phong Cập cho Lương Ký 4 huyện, ngang với Đặng Vũ; còn tặng cho Lương Ký vàng bạc, nô tỳ, gấm vóc, ngựa xe, quần áo toàn hạng nhất, nhiều không kém gì Hoăc Quang, tôn sùng Lương Ký như Nguyên Huân. Mỗi khi có cuộc họp các đại thần trong triều, Lương Ký ngồi ghế ngang hàng với Tam Công để bình nghị những việc thượng thư 10 ngày một lần. Chế độ này được Hoàng đế thông cáo tuyên bố trong toàn thiên hạ, coi như một nguyên tắc nghìn đời không thay đổi. Như vậy mà Lương Ký vẫn không hài lòng với các cơ quan hữu quan tấu thỉnh cho ông ta lễ vật quá đạm bạc, trong lòng rất không phấn khởi. Lương Ký chuyên quyền, nắm mọi quyền bính trong triều đình, tính tình phóng túng hung bạo càng ngày càng ác liệt, mọi việc dù to dù nhỏ đều phải do ông ta tham gia quyết đoán. Các vệ binh hầu cận trong triều đình đều do ông ta tuyển lựa. Mọi hoạt động của Hoàng đế trong cung cấm, đến những việc nhỏ nhặt nhất, Lương Ký cũng đều phải biết. Mọi sự thăng tiến của văn võ bá quan đều phải đến hậu tạ tạ ơn Lương Ký trước, sau đó mới dám đến phủ thượng thư. Ngo Thụ, người huyện Hạ Phi được bổ nhiệm làm huyện lệnh huyện Uyển thành, trước khi đi nhậm chức đã đến cáo từ Lương Ký. Tân khách của Lương Ký rải rác khắp cả Uyển huyện, do tư tình đòi Ngô Thụ phải từ chối. Ngô Thụ không nghe. Lương Ký nghe thấy vậy, chẳng nói chẳng
1,242
4
ímật báo cáo lên hoàng đế. Chân Thâm và Lý Bình v.v...lúc đầu rất thành kiến với Triệu Tu, cho rằng không có việc gì xấu mà anh ta không làm. Nhưng họ ssợ liên luỵ đến bản thân cho nên tranh nhau tố giác Triệu Tu, giúp Vương Hiển trừng phạt Triệu Tu. Triều đình ban bố chiếu thư nói: "Tiểu nhân khó dạy bảo, gỗ mục khó trạm khắc, đại gian đại ác không hối cải, chẳng lẽ còn để người ta phụng dưỡng mãi sao! Tán kỵ thường thị, Trấn đông tướng quân, tuỳ tùng Triệu Tu, trước đây được Đông triều tuyển vào làm người phục vụ, tính nết thời trẻ, lớn lên khó bỏ. Sở dĩ thời kỳ đầu mới lên ngôi, trẫm vẫn dùng anh ta ở Tây cấm. Mặc dù địa vị anh ta nghèo hèn, lại chẳng có tài năng gì, đáng lẽ không nên tuyển dụng, nhưng trẫm nghĩ rằng trẫm biết anh ta từ bé, thế là đề bạt anh ta. Nhưng sau khi Triệu Tu dược thăng tiến, tính mê muội hung hãn của anh ta ngày càng quyết liệt, gian dâm thô bạo, kiêu căng khinh mạn. Anh ta không biết luân thường đạo lý, không hiểu dài ngắn nông sâu, lăng nhục vương hầu, súc phạm khanh tướng. Khi có người đến bái khấu, Triệu Tu không hề tiếp đãi. Tính khí thô bạo, dã tâm tràn trề, lòng tham vô đáy. Gần đay nghe nói Triệu Tu khi về an táng phụ thân, lòng đầy dâm dật đã gian dâm cuồng loạn. Triệu Tu xây dựng nhà cửa, phủ trại ở Kinh sư, ngược đãi dân chúng. Anh ta còn khoa trương thanh thế, câu kết với Triệu Tăng, người Ung châu, đồng ý giấu diếm ngọc ấn. Triệu Tu gian hành bất quĩ ngày càng tăng lên, ngày càng phát triển. Trẫm còn biểu thị đồng tình với sức khoẻ vốn có của anh ta, bao giờ cũng giúp đỡ, song Triệu Tu vẫn lạm quyền lộng thế. Đại pháp quốc gia đồng tình với mọi người, nếu vi phạm pháp luật thì tìm đến hiến cương. Trẫm tuy muốn khoan dung cho Triệu Tu, nhưng hình luật lại không cho phép. Triệu Tu tuy là con người tiểu nhân, nhưng đã có thời hầu hạ trẫm, triều đình tấu thỉnh định tội thật nặng, nhưng trẫm không nhẫn tâm gia hình với Triệu Tu. Có thể đánh Triệu Tu 100 đòn, rồi đày đi Đôn hoàng làm lính. Lập tức ra lệnh đình chỉ xây dựng nhà cửa của Triệu Tu. Mọi thân thích đồng đảng của Triệu Tuở trong triều đình nhất luật đuổi ra khỏi cung cấm. Trẫm đã bị gian thần mê hoặc sâu sắc, đi nâng đỡ những kẻ lòng lang dạ sói như Triệu Tu. Nhìn lại những sai lầm đã qua, trẫm rất xấu hổ với thiên hạ thần dân, lần này cũng nhân tiện thanh minh để tạ ơn triều dã nhân sĩ." Ngay ngàyhôm đó Triệu Tu đến nhà lãnh quân Vu Kinh để bàn mưu tính kế, nhưngchưa sắp đặt hoàn tất thì có mấy người vũ lâm quân tiếp tục đuổi đến nhà Vu Kinh tuyên đọc chiếu lệnh gọi Triệu Tu đi. Triệu Tu sợ hãi đi ra cùng vũ lâm quân. Giữa đường vũ lâm quân dẫn Triệu Tuđến phủ lãnh quân. Chân Thâm và Vương Hiển nhận lệnh theo dõi người trừng phạt Triệu Tu, trước hết tra hỏi rồi cho 5 người lực lưỡng thay nhau đánh đập Triệu Tu, lệnh cho họ phải đánh Triệu Tu cho đến chết. Thánh chỉ qui định chỉ đánh có 100 roi, nhưng thực tế họ đã đánh 300 roi. Bình thường Triệu Tu rất béo khoẻ, lưng to vai rộng, có thể chịu đựng được những đòn này, suốt từ đầu không giãy giụa. Sau khi đánh xong, bọn Chân Thâm gọi lên chửi mắng, thúc giục Triệu Tu phải ra đi ngay. Triệu Tủa khỏi Kinh thành theo cổng phía Tây, cảm thấy không chịu đựng được nữa, bị trói vào yên ngựa, thúc ngựa phóng đi. Mẹ và vợ Triệu Tu đứng đằng sau nhìn theo cũng không có cách nào nói chuyện được với Triệu Tu. Đi được 80 dặm, Triệu Tu mới chết. Thoạt đầu khi Vu hậu vào cung đã từng được Triệu Tu giúp đỡ. Sau khi Triệu Tu chết, lãnh quân Vu Kinh còn nhớ lại những ân huệ cũ của Triệu Tu nên đã nhận trợ Cập cho toàn thể gia đình già trẻ lớn bé nhà Triệu Tu. Từ đó về sau, các quan lại trong triều đình trước kia đã có quan hệ tốt với Triệu Tu, nay cúng hoàn toàn đoạn tuyệt quan hệ với gia đình Triệu Tu để tỏ ra rằng từ lâu mình đã xa lánh Triệu Tu. Tuyển tự "Nguỵ thư" Quyển 93 NGUYÊN XOA LỜI MỞ ĐẦU - Nguyên Xoa, tự là Bá Tuấn, tiểu tự là Dạ Xoa, người dân tộc Tiên Ti, thuộc dòng họ Thác Bạt. Nguyên Xoa là cháu năm đời của Bắc Nguỵ Thái Tổ Thác Bạt Khuê. Cha là Nguyên Kế là con thứ của Nam Bình vương Thác Bạt Tiêu. Thời Bắc Nguỵ Hiến Văn đế, Nguyên Kế được kế tiếp Giang Dương vương Thác Bạt Căn, được phong làm Giang Dương vương, từng giữ các chức vụ quan trọng như Bắc trấn đại tướng quân. Nguyên Xoa là con trưởng của Nguyên Kế, thời kỳ Tuyên Vũ đế được cử làm Viên ngoại lang. Sau thời Hiếu Văn đế, chính quyền Bắc Nguỵ mục nát suy yếu, triều chính đen tối. Sau khi Hiếu Minh đế lên ngôi, Nguyên Xoa dựa vào vợ có quan hệ với em gái của Hồ thị làLinh thái hậu, mẹ của Hiéu Minh đế, nắm được quyền hành, dần dần phát tích. Vào thời kỳ Bắc Nguỵ Hiếu Minh đế, Nguyên Xoa đã tèng làm thông trực tán kỵ thị lang, tán kỵ thường thị, quang lục thiếu khanh, quang lục khanh, thị trung, lãnh quân tướng quân v.v.. vừa nắm được những công việc chính trong triều đình, vừa thống soái quốc gia cấm quân, quyền khuynh thời đó. Năm Chính Quang nguyên niên, những người như Nuyên Xoa và Lưu Đằng âm mưu làm chính biến: chuyển Túc Tôing sang điện Hiển dương, đưa Linh thái hậu Hồ thị giam vào trong Bắc cung, đồng thời phát động đột kích bất ngờ, bắt giết các đại thần chấp chính không cùngchính kiến với Nguyên Xoa như Thái Truyền, Thanh Hà vương Nguyên Dịch. Sau đó những người như Nguyên Xoa phụ giúp Túc Tông Hiếu Minh đế, trấn áp sự phản loạn của bọn Trung Sơn vương Nguyên Hi, tấn công dạp tan thế lực đối địch, nắm lấy hoạt động chính trị, quân sự của quốc gia. Cho nên con trai của Hoặc Dương vương Nguyên Hỉ là Nguyên Thụ trong bài viết thanh trừ Nguyên Xoa đã gọi ông ta là "Lang thú gian ác, không có luân thường đạo lý, chẳng có lương tâm, công khai phản nghịch, tự do phóng túng, cả thần và người đều căm hận". Sự gian hành và bạo chính của Nguyên Xoa gây nên sự bất mãn của mọi người, làm cho tâm tư người ta rối loạn. Được sự ủng hộ của một số triều thần, Bắc Nguỵ Túc Tông và Linh Thái hậu đã thừa cơ phản kích, giải trừ chức lãnh quân tướng quân của Nguyên Xoa, tước hết đại quyền thống lĩnh cấm quân của ông ta. Sau này do áp lực của dư luận, triều đình mới giết Nguyên Xoa. *** Nguyên Xoa là con trưởng của Giang Dương vương Nguyên Kế. Nguyên Xoa tự là Bá Tuấn, lại có tiểu tự là Dạ Xoa. Thời kỳ Bắc Nguỵ Thế Tông hoàng đế đương triều, Nguyên Sắc làm Viên ngoại lang. Đến khi Linh Thái hậu lâm triều xưng chế tì Nguyên Xoa là em rể của bà, được đề bạt lầm thông trực tán kỵ thị lang. Vợ Nguyên Xoa được phong làm quận chúa Tân Bình, sau đó lại đổi thành quận chúa Phùng Dực, giữ chức nữ thị trung. Từ đó trở đi, Nguyên Xoa dựa vào sự tín nhiệm của Linh Thái hậu, quyền thế càng ngày càng lớn, chẳng bao lâu lại điiêù đi làm tán kỵ thường thị, Quang lục thiếu khanh, lãnh thường thực điển ngự, lại chuyển làm Quang lục chính khanh. Con gái của Nguyên Xoa bị chết yểu, Linh Thái hậu chiếu lệnh nói: "Con gái lớn của Nguyên X
1,253
4
oa tuổi vừa cập kê, chẳng may đã chết, chúng ta rất cảm thông, có thể truy tặng cho cô là Hương chủ". Từ đó về sau, Nguyên Xoa lại được đề bạt lmà thị trung,, còn những quan chức khác vẫn giữ nguyên như cũ, và thêm một chức vụ nữa là lãnh quân tướng quân. Còn trong nhà hoàng tộc, Nguyên Xoa kiêm chức tỏng quản cấm quân binh sĩ, nghĩa là được Linh Thái hậu vô cùng tín nhiệm và yêu mến, quí trọng. Thái truyền, Thanh Hà vương Nguyên Dịch, lấy danh nghĩa thân hiền ra phụ tá triều chính, tham dự quyết đoán những việc quân cơ đại sự của quốc gia. Ông cho rằng Nguyên Xoa dựa vào sự ân huệ của Linh Thái hậu, kiêu căng chuyên quyền, dã tâm rất lớn, Nguyên Dịch đem luật nhà nước ra để chế ngự ông ta. Nguyên Xoa rất coi thường Nguyên Dịch, luôn luôn tìmcơ hội để đả kích bài xích Nguyên Dịch. Thế là Nguyên Xoa chỉ thị cho thông trực lang Tông Duy Vu báo cho tư nhiễm đô uý Hàn Văn Chu mưu đồ phản nghịch đưa Nguyên Dịch lên làm vua. Nguyên Dịch do đó mà bị liên luỵ (bị mất tự do).Sau này các cơ quan hữu quan của nhà nước nghiêm khấưc thẩm vấn đương sự của vụ án này, không có chứng cứ gì tỏ ra là Hàn Văn Thù có âm mưu lập Nguyên Dịch. Trong vụ này tuy Nguyên Dịch có tránh được tai hoạ, nhưng ông vẫn đem quân đi bảo vệ biệt quán ở phía Tây hoàng cung. Thời gian kéo dài, Nguyên Xoa sợ Nguyên Dịch cuối cùng biết được tai hoạ của mình liền cùng với thị trung Lưu Đằng mật mưu trừ khử biện pháp của Nguyên Dịch. Linh Thái hậu sống ở cung điện Gia Phúc, còn chưa đến tiền điện, Lưu Đằng thông qua thủ đoạn lừa gạt để cho trung hoàng môn chủ thực Hồ Hoằng Độ, Hồ Định Liệt hãm hại Nguyên Dịch, nói rằng ông ta đồng ý đưa cho Hồ Hoằng Độ v.v.. vàng, bạc, châu báu, để họ bỏ thuốc độc vào thức ăn khi hoàng đế ăn cơm để mưu hại hoàng đế, hy vọng mình có thể trở thành hoàng đế, hứa là anh em Hồ Hoằng Độ sẽ được vinh hoa phú quí. Lưu Đằng báo cáo việc này lên hoàng đế. Bắc Nguỵ Túc Tông nghe vậy thì rất tin, Thếa là Túc Tông đi đến Hiển Dương điện, Lưu Đằng đóng chặt cổng Vĩnh Cảng, Linh Thái hậu bị nhốt không ra được. Sau khi Nguyên Dịch tiến vào, gặp Nguyên Xoa ở phía sau điện Hàm Chương, ông định đi vào Huy Chương Đông Các, Nguyên Xoa lên tiếng ngăn cản, không nghe lời Nguyeen Dịch. Nguyên Dịch nói : "Ông định tạo phản ư?" Nguyên Xoa trả lời "Nguyên Xoa tôi không tạo phản, mà đang muốn đi bắt kẻ tạo phản". Nguyên Xoa ra lệnh cho hơn 30 người như Tông Sĩ và Trực Trai nắm lấy tay áo Nguyên Dịch, đưa vào Đông xương phòng ở Điện Hàm Chương, rồi cử mấy chục người canh giữ Nguyên Dịch. ưu Thằng giả truyền thánh chỉ triệu tập triều đình công khanh đại thầnđến họpbàn việc định ssssssscho Nguyên Dịch phạm trọng tội. Triều thần ai cũng sợ quyền thế của Nguyên Xoa, không ai dám đứng ra kháng nghị, chỉ có một mình Bộc Tạ Du Triệu là kiên quyết không đồng ý với ý kiến của Lưu Đằng. Lời của ông viết trong chuyên văn của ông. Nguyên Xoa, Lưu Đằng đem ý kiến của quần thần vào cung tấu minh với hoàng đế Túc Tông, chẳng bao lâu đã được Túc Tông đồng ý ngay. Đêm hôm đó, bọn Nguyên Xoa đã giết chết Nguyên Dịch. Thế là Nguyên Xoa giả tạo ra chiếu thư nói Linh thái hậu từ bỏ quyền lực. Như vậy là Nguyên Xoa cùng với thái sư, Cao Dương vương Nguyên Unglàm phụ chính triều đình, quanh năm sống ở trong hoàng cung. Túc Tông gọi Nguyên Xoa là Dượng. Từ đó trở đi, Nguyên Xoa chuyên quyền độc đoán mọi việc trọng đại trong triều đình, bất kỳ việc lớn việc nhỏ đều phải tự thân quyết định, thanh thế vang lừng khắp trong ngoài triều đình. Quần thần bá quan đều phải nghe theo. Thích sử Tương châu, Trung Sơn vương Nguyên Hi kháng biểu khởi nghĩa, lấy danh nghĩa thảo phạt Nguyên Xoa dấy binh làm phản, nhưng không thành công, Nguyên Hi bị giết.Sau đó Nguyên Xoa được thăng làm vệ tướng quân, các chức vụ khác vẫn như cũ không thay đổi. Sau đó Linh Thí hậu cùng với Túc Tông hoàng đế dự tiệc ở Tây lâm viên, trời tối mới trở về cung, hữu vệ tướng quân Hề Khang Sinh một lần nữa chuẩn bị mưu sát Nguyên Xoa, hành động không thành công, Hề Khang Sinh cũng bị giết. tình hình này có viết trong cuốn "Hề Khang Sinh truyện". Từ đó trở đi hoàng đế Túc Tông chuyển đến làm việc ở Điện Huy Âm, Nguyên Xoa cũng chuyển đến sống ở phía bên phải điện Huy Âm. ở ngay bên cạnh Túc Tông, quan hệ mật thiết, Nguyên Xoa liền ra sức nịnh bợ hoàng đế Túc Tông, chiều theo mọi tâm ý của hoàng đế. Thế là Nguyên Xoa càng được hoàng đế Túc Tông yêu mến, tín nhiệm. nguyên Xoa ra vào hoàng cung, thường ra lệnh cho vệ sĩ tay cầm đao kiếm đi trước và sau mình khi đi ra ngoài bất kỳlà việc công hay là việc tư, việc phòng vệ càng nghiêm mật hơn. Nguyên Xoa cho làm hàng rào bằng gỗ bao quanh khoảng trống ở bên ngoài cổng Thiên thu, có khi ông đến đấy để nghỉ ngơi, cử những vệ sĩ thân tín tâm đắc, để đề phòng những chuyện bất ngờ xảy ra. Nếu có ngườinào xin gặp chỉ có thể đối đáp từ xa với Nguyên Xoa. Ngoài ra Nguyên Xoa còn phong cho con trai của mình là Nguyên Lượng làm Khai quốc công quận Bình Nguyên., Cập thực ấp 1000 hộ. Khi làm lễ sắc phong, hoàng đế Túc Tông thân chinh đến Nam môn để xem và thưởng cho anh ta ngự mã và 1000 súc gấm vóc. Thoạt đầu khi Nguyên Xoa mới làmchủ triều chính, giả vờ khiêm tốn, lễ hiền hạ sĩ, ra vẻ quan tâm đến sự mất còn của thời cuộc. Song ông ta tài sơ học ít, rốt cuộc không có chí hướng cao xa. Sau khi đắc chí, Nguyên Xoa trở nên kiêu căng ngạo mạn, sa đoạ vào con đường tửu sắc. Trong cung cấm, Nguyên Xoa xây cho mình một cái kho rieng biệt, khác với kho của nhà nước, do ông ta tự quản. Trong kho chứa đầy vàng bạc châu báu. Ông đã từng để cho phụ nữ nằm trong xe chở lương thực, dùng vải phủ lên người, bắt phu xe phải đưa con gái vào cung để gian dâm. Khi con gái đi ra cũng đùng thủ pháp như khi đưa vào. Vệ sĩ cấm quân trực ban tuy có biết nội tình, nhưng không ai dám tiết lộ. Có một số kẻ khinh bạc xu thế đã sử dụng rượu ngon gái đẹp để mua chuộc Nguyên Xoa, cùng ông ta dắt díu con gái vào làm trò truỵ lạc. Những việc quốc gia đại sự thì không được xử lý, kỷ cương triều đinh lỏng lẻo, châu trấn quan viên đại đa số đều không xứng với chức vụ. Cho nên thiên hạ bắt đầu rối loạn. Từ sau khi Lưu Đằng qua đời, việc phòng vệ của Nguyên Xoa cũng lơi lỏng dần. Nguyên Xoa cũng cảm thấy được tự do, thường xuyên ngủ ở bên ngoài. Ngày nào cũng ra ngoài du ngoạn, sống ở nơi khác quên cả về nhà. Linh Thái hậu có biết được chút ít. Thói quen của Nguyên Xoa không cải được, cũng không nghĩ xem sẽ có nguy hiểm gì. Những người thân tín có khi cũng khuyên can Nguyên Xoa, nhưng Nguyên Xoa không tiếp thu. Mùa thu năm Chính Quang thứ năm (524), trước mặt Túc Tông hoàng đế, Linh Thái hậu nói với bá quan triều đình: "Nguyên Xoa tách rời mẹ con chúng ta, không cho ta và con trai đi lại với nhau, vậy còn dùng ta để làm gì? Cho ta về nhà đi thôi, ta và nhân gian thế tình vĩnh tuyệt, lên chùa Nhàn cư trên núi Tung cao tu đạo. Hồi tiên hoàng đế còn sống đã nhìn thấy rõ tương lai, thì ra xây dựng khu chùa miếu này chính là để cho ta ngày nay xuất gia."Linh Thái hậu tự tay cắt tóc lên chùa tu đạo. hoàng đế Túc Tôngvà các công khanh đại thần cả triều đình nghe lời Linh Thái hậu nói đều rất sợ hãi, gục đầu khóc thút thít, xôn xao
1,254
4
, được phong làm Tử tước. Thậm chí các bá quan triều thần từ Cập Thấi truyền, Bắc Hải vương Nguyên Tường trở xuống đều phải kết thân và nịnh bợ Nhự Hạo. Do đó, từ sau khi kế nhiệm Triệu Tu, Nhự Hạo đã nổi tiếng triều đình. Nhự Hạo là con người thông minh khéo léo, giỏi nghề buôn bán, tham lam tiền tài lợi lộc, ăn hối lộ rất nhiều, đục vọng rất lớn. Những năm cuối đời, Nhự Hạo bịo các đại thần như Cao Triệu công kích và bài xích, bị trung uý Thôi Lượng tố cáo, Nhự Hạo có một thời khuynh đảo triều đình đã bị Tuyên Vũ đế ban cho chết tại nhà. *** Nhự Hạo, tự là Cầm Kỳ, trước kia là người Ngô địa. Phụ thân Nhự Nhượng Chi, chính ra tên gọi là Nhự Yếu, đã từng theo hầu Lưu Tuấn, Ba Lăng vương Lưu Hưu Nhược, làm đại tướng, đánh trận đến Bành thành. Hồi đó vùng Giang Nam bị đói kém, chiến tranh loạn lạc liên miên, gia đình ông liền rời đến ở Thượng đảng Hoài dương. Năm Nhự Hạo 15 - 16 tuổi đã từng làm chức quan lại nhỏ là Kim tào ở trong huyện. Anh có khí chất tốt, khuôn mặt tươi tắn đẹp đẽ. Là người cẩn thận thông minh. Nam Từ châu thích sử Thẩm Lăng nhìn thấy hự Hạo thì rất thích anh. Thế là Nhự Hạo đi theo Thẩm Lăng đến Lạc dương, được tiến cử lên Bắc Nguỵ Cao Tổ và được phong chức quan, thị hầu bên cạnh nhà vua. Bắc Nguỵ Thế Tông lên ngôi thì Nhự Hạo đang trực ban ở trong cung, nên dần dần được sùng ái. Thế Tông dã từng có một lần ra ngoài đi lễ ở Sơn Lăng, giữa đường định để cho Ngự Hạo cùng ngồi xe với mình, Nhự Hạo vén áo chuẩn bị lên xe thì hoàng môn thị lang tên là Nguyên Khuông kiên quyết ngăn cản, lúc này Thế Tông hoàng đế mới thôi không đểcho anh lên xe nữa. Sau khi Thế Tông hoàng đé tự nắm triều chính, Nhự Hạo được ân đãi và ban thưởng càng ngày càng nhiều và hậu trọng. Do có công lao chăn nuôi ngựa, Nhự Hạo được đáng được bổ nhiệm làm viên ngoại tướng quân. Lúc đó Triệu Tu cũng được Thế Tông hoàng đế yêu mến, ông ta rất ghen tị với Nhự Hạo, đem lòng hãm hại Nhự Hạo, yêu cầu đưa Nhự Hạo ra ngoài làm thái thú. Nhự Hạo cung nghĩ đến những nguy hiểm mà mình đã gặp, không muốn làm nội quan. Thế là Nhự Hạo được thăng làm thái thú Bộc dương, thêm chức Lịch uy tướg quân. Nhờ có công lao của Nhẹ Hạo,cha ông cũng được bổ nhiệm làm thái thú Dương bình Cổn châu, được phong Tử tước. Hai cha con ùng được nổi danh lại được gần nhau nên Nhự Hạo rất phấn khởi rời khỏi triều đình. Và không cho việc đi làm uan ở bên ngoài là xa lạ. Mãi đến sau khi Triệu Tu thất thế, Nhự Hạo mới được toàn miễn. Tuy xuất thân là người hàn vi thấp hèn, nhưng khi Nhự Hạo làm thái thú, ông vẫn thanh bạch giản dị. Thế Tông hoàng đế tuần thú đến Nghiệp thành Giảng võ, Nhự Hạo xin trở về triều đình, thế là giải trừ được chức quận, lại được sphong chức tả trung lang tướng, Lãnh trực các. Thế là lại được sủng ái như cũ. Vận quan của Nhự Hạo lên vùn vụt. Ông ta tự xưng xuất thân từ nhạn môn, những người nhạn môn xu nịnh Nhự Hạo, tiến cử Nhự Hạo lên Tư đồ, thỉnh cầu để ông làm Tứ châu đại trung chính. Phủ tỉnh quan viên tấu báo lên hoàng đế, triều đình đặc chiếu cho phép. Nhự Hạo còn kiêm chức phiêu kỵ tướng quân, thông lĩnh các ngành nghề Hoa lâm. Nhự Hạo bản tính cần cù tếa nhị, khéo tay. Trong công tác xây dựng Nhự Hạo có nhiều sáng kiến. Ông dắp đất thành núi ở phía Tây hồ Thiên Uyên, khai thác ở Bắc mang và Nam ssơn những đá aúi. Chở tre trúc từ các châu như Nhữ Dĩnh đến để trồng ở trong đó. Xây dựng các lầu quán từng hàng trên dưới. Rồi còn trồng các loại hoa cỏ, cây cối, viên lâm thật tự niên thú vị. Thâm tâm hoàng đế Thế Tông rất thích nơi đó, thường xuyên đi chơi du ngoạn rất đúng giò. Do đó mà Nhự Hạo được thăng làm quán quân tướng quân, vẫn kiêm chức kiêu kỵ tướng quân. Ngự Hạo ngày càng được hoàng đế sủng ái, quyền thế hiển quí, được tham dự chính sự. Các đại thần từ Cập Thái truyền, Bắc hải vương Nguyên Tường trở xuống đều sợ hãi và dựa dẫm vào Nhự Hạo. Người em trai của Nhự Hạo mới có 20 tuổi đã được đề bạt làm viên ngoại lang. Nhự Hạo lấy người em gái họ của Bộc tạ Cao Triệu làm vợ. Bà lại là đườngmẫu của hoàng đế Thế Tông. Hôm cưới, Bắc Hải vương Nguyên Tường thân chinh đến nhà Nhự Hạo đem theo ngựa tốt, vật quí làm trọng lễ tặng Nhự Hạo. Nhự Hạo còn cưới vợ cho em trai là em gái của An Phong vương Diên Minh lấy làm hổ thẹn vì không môn đăng hộ đối, nên đã cự tuyệt yêu cầu của Nhự Hạo. Nguyên Tươngkhuyên gián Diên Minh nên miễn cưỡng nhận lời với đám này, ôngnói : "Nếu ông muốn tìm người quyền cao chức trọng, thì phải kết thành hôn nhân với Nhự Hạo". An Phong vương nghe xong mới đồng ý cho em gái mình lấy em trai Nhự Hạo. Nhự Hạo là người rất thông minh cần mẫn, là lễ hiền hạ sĩ. Ông ngầm tự kinh doanh tài lợi, nhận hối lộ rất ghê, tài sản trong nhà rất nhiều. Ông xây nhà ở phía Tây cung đình, trình độ hào hoa thì ngay cả những đại thần quyền quí trongg triều đình cũng không bì kịp. Lúc đó, tuy hoàng đế Thế Tông ở xa, nhưng Nhự Hạo cũng thường ở lại trong cung, ben đêm thì ở những nơi khá nhau. ít lâu sau Nhự Hạo được thăng chức Quang lục thiếu khanh, lòng tham không đáy, ông ta còn muốn lập công với tiên đế để được thăng tiến hơn nữa. Thoạt đầu, khi Nhự Hạo và Triệu Tu cùng được hoàng đế ân sủng, những người như Bắc Hải vương Nguyên Tường đều dựa vào họ. Ngoài ra trực các tướng quân Lưu Vị, chính ra là do Nguyên Tường tiến cử, luôn luôn cảm kích tấm lòng của Nguyên Tường, họ câu kết với nhau, đi lại với nhau làm những điều gian tà. Bình thường Cao Triệu rất hận các chư vương, thường đả kích hãm hại họ. Cao Triệu biết rõ những người như Nhự Hạo và Nguyên Tường quan hệ đi lại rất mật thiết, cho nên đã nói xấu họ trước mặt hoàng đế Thế Tông, nói rằng bọn Nhự Hạo có âm mưu phản nghịch. Thế là hoàng đế Thế Tông triệu kiến trung uý Thôi Lượng vạch tội bốn người là Nhự Hạo, Lưu Vị, Thường Quí Hiền, Trần Tảo Tĩnh chuyên quyền độc đoán, nhận hối lộ và có âm mưu phản loạn. Ngay ngày hôm đó cho bắt nhóm Nhự Hạo đưa đến Nam đài. Ngày hôm sau có tư tấu thỉnh cầu xử tử họ. Ngay đêm hôm đó, Nhự Hạo bị giải vềnhà giết chết. Vợ Nhự Hạo ra khỏi nhà khóc lóc đón Nhự Hạo trở về, Nhự Hạo bước vào khóc lóc cáo biệt người nhà, ăn hạt tiêu mà chết. Con trai Hoài Lang, làm thích sử Nam Thanh châu. Năm Hưng Hoà nguyên niên, vì phạm tội bị giết chết, con cháu bị lưu đầy đi biên cương. Tuyển tự "Nguỵ thư" Quyển 93 LÝ HỒNG CHI LỜI MỞ ĐẦU - Lý Hồng Chi, tên chính là Lý Văn Thông, là tên nịnh thần dưới chính quyền Bắc Nguỵ, thời kỳ Nam Bắc triều. Lý Hồng Chi xuất thân tương đối nghèo khổ. Hồi còn trẻ vì gia cảnh bần hàn nên xuất gia làm hoà thượng. Sau khi trưởng thành, anh mới kết thúc cuộc sông chùa chiền hoàn tục về nhà. Vào những năm Bắc Nguỵ Thái Vũ đế Thác Bạt Đào Thái Bình chân quân (440 -
1,256