ppl_label int64 4 4 | text stringlengths 2.54k 9.85k | __index_level_0__ int64 216 140k |
|---|---|---|
4 | ám có khả năng gây xúc động ngay cả với những người ít quan tâm đến thể loại này nhất. Không chỉ là hành trình đi tìm sự thật đằng sau những kỳ án, nó còn là hành trình tìm lại chính mình của cá nhân, là câu chuyện về tình yêu và gia đình, và trên hết thảy, là lời khẳng định khó khăn nhưng quả quyết về chiến thắng cuối cùng của niềm tin vào công lý và lương tâm con người. Bộ phim dựa trên tiểu thuyết này dự kiến sẽ công chiếu trong năm 2014. LIÊN XÔ UKRAINA LÀNG CHERVOY 25 THÁNG GIÊNG, 1933 VÌ MARIA ĐÃ QUYẾT ĐỊNH CHẾT nên con mèo của bà sẽ phải tự xoay xở lấy. Bà đã chăm sóc nó đến quá cái nghĩa lý của việc nuôi thú cưng. Đã từ lâu, chuột lớn chuột nhắt đều bị dân làng bẫy ăn thịt. Gia súc biến mất không lâu sau đó. Hết sạch, chỉ trừ một con, con mèo này, con vật bầu bạn mà bà giấu đi. Sao bà lại không thịt nó ư? Bà cần cái gì đó để sống vì nó; cái gì đó để bà che chở và thương yêu - cái gì đó để vì nó mà bà tồn tại. Bà đã thề tiếp tục nuôi nó cho đến ngày bà không còn tự nuôi thân được nữa. Ngày ấy là hôm nay đây. Bà đã xắt đôi ủng da của mình thành sợi mỏng rồi luộc với cây tầm ma và hạt củ cải đường. Bà cũng đã đào tìm giun đất, mút vỏ cây. Sáng nay trong con sốt mê sảng bà đã gặm chân ghế trong bếp, nhai mãi cho đến khi nướu găm đầy vụn gỗ. Thấy bà, con mèo bỏ trốn, nấp dưới gầm giường, không chịu ló mặt ra ngay cả khi bà quỳ xuống, gọi tên nó, cố dỗ nó ra. Đấy là lúc Maria quyết định chết, vì không có gì để ăn và không còn gì để thương yêu nữa. Maria chờ đến đêm xuống rồi mới mở cửa trước. Bà cho rằng nhờ bóng tối con mèo sẽ có cơ may vào tới rừng mà không bị ai thấy. Có ai trong làng mà trông thấy thì họ sẽđuổi bắt nó. Ngay cả khi chính bà đã gần kề cái chết thế này, cái ý nghĩ con mèo bị làm thịt vẫn khiến bà khổ sở. Bà tự an ủi với niềm tin rằng bất ngờ sẽ đứng về phía nó. Trong một ngôi làng mà người lớn phải nhai đất với hy vọng tìm thấy kiến hoặc trứng côn trùng, nơi trẻ con bới phân ngựa mong tìm được vỏ hạt chưa tiêu còn đàn bà thì đánh nhau giành sở hữu mấy mẩu xương thì Maria tin chắc không ai nghĩ rằng một con mèo lại còn sống. *** PAVEL KHÔNG TIN NỔI MẮT MÌNH. NÓ xấu xí, gầy còm, mắt xanh và bộ lông đốm đen. Rõ ràng đó là một con mèo. Đang nhặt củi thì nó thấy con mèo từ trong nhà Maria Antonovna phóng ra băng qua con đường tuyết phủ, hướng về phía rừng. Nó nín thở liếc nhìn xung quanh. Không còn ai khác phát hiện ra con mèo cả. Không có ai quanh đây; không có ánh đèn nào nơi những ô cửa sổ. Những làn khói, dấu hiệu duy nhất của sự sống, bốc lên từ chưa được phân nửa số ống khói. Như thể làng nó bị tuyết rơi dày dìm chết; mọi dấu hiệu của sự sống đều bị dập tắt. Phần lớn bề mặt tuyết vẫn còn nguyên: hầu như không có dấu chân và không có lấy một lối đi đào xuống. Ngày vắng vẻ như đêm. Không ai dậy làm lụng. Bạn bè nó không có đứa nào ra chơi, mà ở trong nhà, thu lu trên giường cùng gia đình, hàng mắt trũng sâu nhìn đăm đăm trần nhà. Người lớn bắt đầu trông như trẻ con, trẻ con trông như người lớn. Hầu hết mọi người đã thôi không rúc rỉa tìm cái ăn nữa. Trong tình cảnh này thì sự xuất hiện của một con mèo quả đúng là diệu kỳ - sự tái xuất hiện của một sinh vật từ lâu đã được xem là tuyệt chủng. Pavel nhắm mắt và cố nhớ lại lần sau cùng nó được ăn thịt. Khi mở mắt ra, nó đang chảy nước dãi. Nước dãi nhểu xuống bên mặt nó thành dòng. Nó đưa mu bàn tay chùi đi. Háo hức, nó thả đống củi đấy chạy về nhà. Nó phải báo cho mẹ Oksana tin quan trọng này. *** OKSANA NGỒI QUẤN MÌNH trong chăn len nhìn xuống sàn. Chị cứ ngồi im phắc, bảo tồn năng lượng trong khi nghĩ ra các cách cứu sống gia đình mình, những ý nghĩ xâm chiếm chị từng giờ thức và từng giấc mơ chập chờn. Chị là một trong số ít người không chịu đầu hàng. Chị sẽ không bao giờ đầu hàng. Không đầu hàng chừng nào chị vẫn còn mấy thằng con. Nhưng quyết tâm không thôi vẫn chưa đủ, chị phải thận trọng: một cố gắng sai lầm có thể nghĩa là kiệt sức, và kiệt sức luôn có nghĩa là chết. Vài tháng trước, Nikolai Ivanovich, hàng xóm và là một người bạn, đã tuyệt vọng lao vào cướp kho ngũ cốc của nhà nước. Anh ta đã không trở về. Sáng hôm sau chị vợ Nikolai và Oksana đi tìm. Họ thấy xác anh ta bên đường, nằm ngửa - thân hình da bọc xương với cái bụng căng tròn, bao tử anh ta đầy cứng hạt còn sống mà anh ta đã ních vào những phút sau cùng. Người vợ khóc lóc trong khi Oksana lấy chỗ hạt còn lại trong túi anh ta, chia đôi. Lúc trở về làng, vợ Nikolai báo tin cho dân làng biết. Thay vì được thương xót, chị ta lại bị ghen tị, điều duy nhất mọi người nghĩ đến là mấy vốc hạt chị ta có. Oksana nghĩ chị ta là một kẻ ngốc nghếch thật thà - chị ta đã gây nguy hiểm cho cả hai. Ý nghĩ của chị bị gián đoạn vì có tiếng ai đó đang chạy. Không ai lại chạy trừ phi có tin quan trọng. Chị đứng lên, sợ hãi. Pavel ào vào phòng và hổn hển thông báo: - Mẹ, con thấy một con mèo. Chị bước đến cầm chặt tay con trai. Chị cần kiểm cho chắc là nó không bị ảo giác: cái đói có thể chơi khăm. Nhưng mặt nó không có vẻ gì là mê sảng. Mắt nó sắc sảo, vẻ mặt nghiêm trọng. Nó mới mười tuổi mà đã như một người đàn ông. Hoàn cảnh buộc nó quên đi tuổi thơ. Bố nó gần như đã chết: nếu chưa chết thì đối với họ cũng như chết rồi. Ông bỏ lên thành phố Kiev những mong mang lương thực về. Ông không bao giờ trở lại và Pavel hiểu, không cần ai nói hay an ủi, rằng bố nó sẽ không bao giờ quay về. Giờ Oksana phụ thuộc vào con trai cũng như nó phụ thuộc vào chị. Họ là bầu bạn của nhau và Pavel đã thề thành tiếng là nó sẽ làm được điều mà bố nó đã không làm được: nó sẽ làm sao cho gia đình mình sống. Oksana đưa tay lên má con trai. - Con bắt nó được không? Nó mỉm cười, kiêu hãnh: - Nếu con có một mẩu xương. Ao nước đóng băng. Oksana thọc tay sâu qua lớp tuyết tìm một hòn đá. Sợ tiếng ồn thu hút sự chú ý, chị gói hòn đá trong khăn choàng để giảm bớt tiếng động khi chị đục một lỗ nhỏ trên băng. Chị bỏ hòn đá xuống. Lấy tinh thần trước làn nước lạnh cóng, đen ngòm, chị thò tay vào, thở dốc vì lạnh. Chỉ vài giây thôi là cánh tay chị sẽ tê cứng đi, nên chị nhanh tay hơn. Bàn tay chị chạm tới đáy mà không sờ thấy gì ngoài bùn. Nó đâu rồi nhỉ? Lo lắng, chị cúi xuống, thọc cả cánh tay, mò bên này bên kia, bàn tay mất hết cảm giác. Mấy ngón tay chị quẹt phải thủy tinh. Nhẹ nhõm, chị nắm lấy cái chai lôi lên. Da chị tím tái, như thể bị đấm. Điều đó chẳng làm chị bận tâm - chị đã tìm được cái muốn tìm, một cái chai khằn kín hắc ín. Chị lau sạch lớp bùn trên thành chai rồi nhìn vào bên trong. Trong chai là một mớ xương vụn. Về tới nhà, chị thấy Pavel đã nhóm lửa. Chị hơ nắp chai trên ngọn lửa, nhựa đường nhỏ xuống than hồng thành từng giọt tròn sánh đặc. Trong khi họ chờ, Pavel nhận thấy da chị tím nên xoa xoa cánh tay chị cho máu lưu thông trở lại, nó lúc nào cũng để tâm lo cho chị như thế. Khi nhựa đường chảy hết, chị dốc ngược cái chai mà lắc. Vài mẩu | 216 |
4 | xương thò ra bên miệng chai. Chị rút ra, đưa cho con trai. Pavel xem xét cẩn thận, chà chà lên bề mặt, ngửi từng mẩu một. Khi chọn xong, nó đã sẵn sàng đi. Chị ngăn nó lại. - Cho em con đi cùng. Pavel nghĩ đấy là một sai lầm. Em trai nó vụng về và chậm chạp. Và dù sao con mèo cũng thuộc về nó. Nó đã thấy con mèo, và sẽ bắt. Đấy là chiến công của nó. Aksana dúi thêm một mẩu xương vào tay nó: - Cho Andrei theo. *** ANDREI SẮP LÊN TÁM và nó yêu quý anh trai mình lắm. Nó hiếm khi ra khỏi nhà, hầu hết thời gian nó ngồi chơi bài trong phòng sau, nơi cả ba mẹ con ngủ. Những quân bài do bố nó làm từ những tờ giấy cắt thành ô vuông rồi dán vào nhau, một món quà chia tay trước khi bố nó lên Kiev. Andrei vẫn còn chờ bố quay về. Không ai bảo cho Andrei biết phải trông chờ khác đi. Mỗi khi nhớ bố, mà điều này thì thường xuyên, nó chia bài ra giữa sàn và chơi bài một mình. Nó đinh ninh rằng nếu nó chơi được hết ván bài thì bố nó sẽ quay về. Đố chẳng phải là lý do bố cho nó cỗ bài trước khi đi sao? Tất nhiên Andrei thích chai bài với anh trai hơn, nhưng Pavel đã không có thời gian mà chơi nữa rồi. Anh luôn bận giúp mẹ và chỉ chơi vào buổi tối ngay trước khi đi ngủ. Pavel vào phòng. Andrei mỉm cười, hy vọng anh nó sẵn sàng chơi một ván, nhưng anh nó cúi xuống xếp bài lại: - Cất bài đi. Mình ra ngoài. Laptys của em đâu? Hiểu câu hỏi là mệnhlệnh, Andrei bò xuống giường lôi đôi laptys của mình ra, hai mảnh được cắt từ lốp máy kéo và một mớ giẻ rách mà dùng dây buộc lại sẽ thành một đôi ủng tạm bợ. Pavel giúp nó buộc chặt dây giày, giải thích rằng đêm nay chúng sẽ có dịp ăn thịt miễn là Andrei làm y lời. - Bố sẽ về ư? - Bố không về đâu. - Bố mất tích rồi hả anh? - Ừ, bố mất tích rồi. - Ai đem thịt cho mình? - Mình sẽ tự đi bắt lấy. Andrei biết anh nó là một thợ săn sành sỏi. Anh bẫy được nhiều chuột hơn bất cứ thằng bé nào trong làng. Đây là lần đầu tiên Andrei được anh rủ đi cùng trong một việc quan trọng như vậy. Ra ngoài tuyết, Andrei hết sức để ý để không ngã. Nó thường vấp và trượt chân, vì nó chỉ thấy được thế giới bên ngoài lờ mờ. Chỉ những thứ nó cầm lên tận mặt thì nó mới thấy rõ. Khi ai đó nhận ra được một người ở đằng xa - trong khi Andrei chỉ thấy mỗi một vệt lờ mờ - nó sẽ cho đó là sự thông minh hoặc kinh nghiệm hoặc một năng lực nào đó mà nó chưa có được. Đêm nay, nó sẽ không ngã và biến mình thành thằng ngốc. Nó sẽ khiến anh trai thấy tự hào. Điều này quan trọng với nó hơn cái hy vọng được ăn thịt. Pavel dừng lại ở bìa rừng, cúi xuống xem xét dấu vết con mèo trên tuyết. Andrei cho rằng kỹ năng lần theo dấu vết của anh nó thật xuất sắc. Sợ sệt, nó khum xuống, theo dõi anh nó sờ một dấu chân mèo. Andrei chẳng biết gì về tìm vết hay săn bắn: - Con mèo đi qua đây hả anh? Pavel gật và nhìn vào rừng: - Dấu mờ quá. Bắt chước anh, Andrei đưa ngón tay sờ quanh dấu chân mèo, hỏi: - Thế là sao hả anh? - Con mèo không nặng lắm, nghĩa là sẽ có ít thịt cho ta. Nhưng nếu nó đói thì rất có thể nó sẽ đi tìm mồi. Andrei cố hiểu thông tin này nhưng đầu óc nó cứ vẩn vơ. - Anh ơi, nếu anh là quân bài thì anh sẽ là quân nào? Anh là quân át hay quân K, quân pích hay quân cơ? Pavel thở dài và Andrei, đau nhói vì sự phật ý của anh trai, cảm thấy nước mắt bắt đầu ứa ra: - Nếu anh trả lời thì em có hứa sẽ thôi không nói nữa không? - Em hứa. - Mình sẽ không bắt được con mèo này đâu nếu em cứ nói và làm con mèo sợ chạy mất. - Em sẽ giữ yên lặng. - Anh sẽ là quân J, một hiệp sĩ, người mang kiếm. Em đã hứa rồi - không nói gì đâu đấy. Andrei gật. Pavel đứng lên. Chúng đi vào rừng. Chúng đi một hồi lâu - tưởng như hàng nhiều giờ đã trôi qua mặc dù cảm nhận của Andrei về thời gian, cũng như thị giác của nó, không sắc bén lắm. Có ánh trăng và lớp tuyết phản chiếu, anh nó dường như dễ dàng lần theo dấu vết. Cả hai tiếp tục tiến sâu vào rừng, xa hơn mọi lần Andrei vẫn đi. Nó thường phải chạy để theo cho kịp. Chân nó nhức nhối, bụng nó đau tức. Nó lạnh và đói, và dù ở nhà không có cái ăn thì ít nhất nó cũng không cảm thấy đau. Sợi dây buộc mớ giẻ với dải lốp xe đã bung ra và nó có thể cảm thấy tuyết len xuống lòng bàn chân. Nó không dám bảo anh dừng để buộc lại. Nó hứa rồi - không nói gì hết. Chút nữa tuyết sẽ tan, mấy miếng giẻ sẽ sũng nước, và thế là hai bàn chân nó sẽ tê cóng. Để không nghĩ đến sự khó chịu nữa, nó bẻ một cành con trên cây nhỏ rồi gặm vỏ, nhai nát thành một thứ bột thô cố cảm giác xạo xạo nơi răng và lưỡi. Người ta bảo nó bột vỏ cây làm thỏa cảm giác đói. Nó tin họ; tin chuyện đó thật hữu ích. Đột nhiên Pavel ra hiệu cho nó đứng yên. Andrei dừng lại giữa chừng, răng nó nâu sì vỏ cây. Pavel khom người xuống. Andrei làm theo, nhìn quanh rừng tìm cái anh nó đã thấy, bất cần biết đó là gì. Nó nheo mắt, cố nhìn cho rõ mấy thân cây. Pavel nhìn chằm chằm con mèo và con mèo dường như cũng nhìn nó chằm chằm bằng cặp mắt nhỏ màu xanh. Nó đang nghĩ gì? Sao nó không bỏ chạy? Được giấu trong nhà bà Maria, có lẽ nó chưa biết sợ người. Pavel rút dao ra, cứa đầu ngón tay rồi bôi máu lên mẩu xương gà mẹ đưa. Nó làm tương tự với khúc mồi của Andrei - một đầu chuột nát - lấy máu mình vì nó không dám tin thằng em sẽ không thét lên làm con mèo hoảng sợ. Không nói một lời, hai anh em tách ra, tiến về hai hướng ngược nhau. Lúc ở nhà Pavel đã chỉ dẫn cặn kẽ cho Andrei nên không cần phải nói nữa. Khi chúng đã cách nhau một đoạn, ở hai phía của con mèo, chúng đặt mẩu xương trên tuyết. Pavel liếc qua thằng em, kiểm cho chắc là Andrei không làm hỏng việc. Làm y lời dặn, Andrei lôi sợi dây trong túi ra. Pavel đã thắt một đầu dây thành cái thòng lọng. Andrei chỉ phải làm mỗi một việc là quấn thòng lọng quanh cái sọ chuột. Nó làm vậy xong rồi bước lùi lại hết chiều dài sợi dây, nằm úp bụng xuống, làm tuyết bị nén lạo xạo. Nó nằm đợi. Chỉ giờ đây, nằm trên đất, nó mới nhận ra nó hầu như không thấy mồi của mình. Nó là một vệt mờ. Bỗng nhiên nó sợ, hy vọng con mèo sẽ đi về phía anh trai. Pavel sẽ không mắc sai lầm, anh nó sẽ bắt con mèo, rồi chúng sẽ về nhà ăn. Lo sợ và lạnh, tay nó bắt đầu run. Nó cố giữ cho hai bàn tay yên lại. Nó nhìn ra cái gì đó: một hình thù đen đen di chuyển về phía nó. Hơi thở của Andrei bắt đầu làm tan tuyết trước mặt; những giọt nước lạnh lăn tới rồi thấm vào quần áo nó. Nó muốn con mèo đi về phía đằng kia, về chỗ cái bẫy của anh nó, nhưng khi cái hình dáng lờ mờ tiến gần hơn thì không thể phủ nhận rằng con mèo đã chọn nó. Tất nhiên, nếu nó bắt được con mèo này thì Pavel sẽ yêu quý nó, sẽ chơi bài với nó, và không bao giờ nổi cáu nữa. Viễn cảnh ấy làm nó sung sướng, tâm trạng nó biến từ sợ hãi sang chờ đợi. Đúng, nó sẽ là người bắt được con mèo này. Nó sẽ thịt con mèo. Nỏ sẽ tự chứng tỏ mình. Anh nó đã dặn gì nhỉ? Anh đã dặn không được giật dây quá sớm. | 217 |
4 | của gã này, Pavel mới nhận ra người đàn ông này không muốn con mèo. Hắn muốn nó. Miệng Pavel há hốc đâu chừng cùng lúc cành cây bổ xuống, đầu cành cây nện vào đỉnh đầu nó. Nó không cảm thấy gì hết, nhưng nó biết mình không còn đứng nữa. Nó đang quỳ. Ngước nhìn lên, đầu ngoẹo một bên, máu trào xuống một bên mắt, nó nhìn người đàn ông giơ cành cây lên định giáng một đòn thứ hai. *** ANDREI NGỪNG NGÂM NGA. Có phải anh trai vừa gọi nó không? Nó không kiếm được nhiều củi lắm, chắc chắn là không đủ cho kế hoạch của chúng, nó không muốn bị mắng, nhất là sau khi nó đã làm được cừ như thế. Nó rút tay dưới tuyết lên và đứng dậy. Nó nhìn vào rừng, nheo mắt, dù cái cây gần nhất thì cũng chỉ thấy lòa lòa: - Pavel? Không có tiếng đáp. Nó lại gọi. Đây có phải trò chơi không? Không, Pavel không giỡn chơi, không vậy nữa. Andrei đi về hướng nó đã thấy anh lần cuối, nhưng nó không thấy gì hết. Thật ngớ ngẩn. Có gì đó không ổn. Nó lại gọi, lần này to hơn. Sao anh nó không trả lời? Andrei quẹt mũi vào ống tay áo và tự hỏi đây có phải là một thử thách không. Anh nó sẽ làm gì trong tình huống này? Anh nó sẽ lần theodấu vết trên tuyết. Andrei thả mớ củi và quỳ xuống, mò mẫm bò tìm trên đất. Nó tìm thấy dấu chân của nó và lần trở lại chỗ nó bỏ anh trai. Tự hào, nó chuyển sang dấu chân của anh. Nếu đứng lên, nó không thể thấy dấu chân, nên nó khom xuống, mũi chỉ cách mặt tuyết một cánh tay, nó cứ tiếp tục, như con chó đang đánh hơi. Nó tới được chỗ một cây đổ, những que củi rơi vãi xung quanh dấu chân khắp nơi - một số dấu rất sâu và lớn. Tuyết có màu đỏ. Andrei vốc một nắm, măn măn trong tay, bóp chặt và thấy tuyết hóa thành máu. - Pavel! Nó cứ gọi mãi cho đến khi cổ họng rát và giọng lạc đi. Thút thít, nó muốn nói với anh trai rằng anh ăn phần thịt mèo của nó cũng được. Nó chỉ muốn anh quay về. Nhưng chẳng ích gì. Anh nó đã bỏ nó mà đi rồi. Và nó chỉ còn một mình. *** OKSANA ĐÃ GIẤU một túi nhỏ bột cây ngô, cây rau muối, và vỏ khoai tây nghiền đằng sau mấy viên gạch lò sưởi. Trong các cuộc kiểm tra chị luôn để lửa cháy riu riu trong lò. Những người đi tịch thu được cử đến kiểm cho chắc là chị không tích trữ lúa mì không bao giờ nhìn qua bên kia ngọn lửa. Đêm nay, gia đình chị sẽ có một bữa tiệc. Chị làm tan vài nắm tuyết, đem đun sôi rồi đổ bột cây ngô vào cho đặc. Chị thêm vào phần xương còn lại trong chai. Khi đã chín, chị nghiền chỗ ấy thành bột. Tất nhiên chị chỉ đang làm trước. Phần việc của Pavel vẫn chưa xong. Nhưng chị cảm thấy chắc chắn là nó sẽ làm được. Nếu Chúa bắt chị chịu gian truân thì Người cũng đã cho chị một đứa con trai để đỡ đần. Ngay cả nếu nó không bắt được con mèo, chị tự hứa cũng sẽ không nổi giận. Khu rừng quá lớn, mà con mèo quá nhỏ, và dù gì tức giận chỉ làm hao sức thôi. Thậm chí, khi chị cố chuẩn bị trước tâm lý đón nỗi thất vọng thì chị cũng không cưỡng được cảm giác chếnh choáng trước viễn cảnh bữa thịt và xúp khoai tây. Andrei đứng nơi ngưỡng cửa, mặt mày trầy trụa, tuyết dính trên áo, mũi chảy nước mũi và máu. Đôi laptys của nó rách bươm và ngón chân lòi ra. Oksana chạy đến: - Anh con đâu? - Anh bỏ con rồi. Andrei òa ra khóc. Nó không biết anh trai ở đâu. Nó không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nó không giải thích đưọc. Nó biết mẹ sẽ ghét nó. Nó biết sẽ là lỗi của nó, cho dù nó đã làm đúng mọi chuyện, cho dù chính anh trai mới là người bỏ nó. Oksana nghẹt thở. Chị xô Andrei sang một bên và hấp tấp ra khỏi nhà, nhìn về phía rừng. Không thấy Pavel đâu. Có lẽ nó ngã và bị thương. Có lẽ nó cần được giúp. Chị chạy trở vào nhà, thiết tha tìm câu trả lời, chỉ thấy Andrei đứng bên nồi xúp và chiếc thìa trong miệng. Bị bắt quả tang, nó rụt rè nhìn mẹ, một dòng xúp khoai tây nơi miệng nó chảy giọt xuống. Quá tức giận - vì người chồng đã chết, đứa con trai mất tích - chị chạy lại, đánh nó ngã lăn ra đất, tọng chiếc thìa gỗ vào họng nó: - Khi tao rút chiếc thìa ra, mày phải kể cho tao nghe xem đã xảy ra chuyện gì. Nhưng khi chị rút chiếc thìa ra thì nó chỉ biết ho sặc sụa. Điên tiết, chị lại tọng chiếc thìa vào họng nó: - Cái thằng vô tích sự, vụng về, đần độn này. Con trai tao đâu? Nó đâu rồi? Chị lại rút chiếc thìa ra, nhưng nó vẫn khóc và nghẹn. Nó không nói được. Nó cứ khóc và sặc và thế là chị đánh nó, thụi vào lồng ngực nhỏ bé của nó. Chỉ khi nồi xúp sắp trào thì chị mới dừng lại. Chị đứng lên, bắc nồi xúp trên bếp xuống. Andrei thút thít giữa sàn nhà. Oksana nhìn nó, cơn giận nguôi dần. Nó còn bé quá. Nó rất yêu anh trai. Chị quỳ xuống, bế nó lên, rồi đặt nó trên ghế. Chị lấy chăn quấn quanh người nó và múc xúp vào bát cho nó, một suất thịnh soạn hơn mọi khi nó được ăn. Chị cố bón cho nó, nhưng nó không há miệng. Nó không tin chị. Chị đưa thìa cho nó. Nó nín khóc và bắt đầu ăn. Nó ăn xong bát xúp. Chị lại múc đầy. Chị bảo nó ăn chậm thôi. Nó không nghe, chén hết bát thứ hai. Rất khẽ chị hỏi đã có chuyện gì và lắng nghe nó giải thích vệt máu trên tuyết, những cành củi bỏ lại, không thấy anh đâu, và dấu chân in sâu. Chị nhắm mắt. - Anh con chết rồi. Anh con bị bắt ăn thịt rồi. Con hiểu không? Khi các con đang săn con mèo đó thì có người đang săn các con. Con hiểu không? Andrei vẫn im lặng, nhìn chằm chằm những giọt nước mắt của mẹ. Thực ra, nó không hiểu. Nó nhìn chị đứng lên ra khỏi nhà. Nghe thấy tiếng mẹ, nó chạy ra cửa. Oksana đang quỳ trên tuyết, ngước nhìn vầng trăng tròn. - Con cầu xin Chúa trả lại con trai cho con. Giờ thì chỉ có Chúa mới có thể mang nó về. Vài người hàng xóm xuất hiện trước cửa nhà họ. Họ nhìn Oksana. Họ nghe chị khóc. Nhưng nỗi đau kiểu này không có gì là lạ, nên người ta cũng chẳng đứng nhìn lâu. HAI MƯƠI NĂM SAU MÁTXCƠVA 11 THÁNG HAI, 1953 HÒN TUYẾT ĐẬP MẠNH vào sau đầu Jora. Cú va chạm bất ngờ khiến tuyết vỡ tung quanh tai nó. Đâu đó đằng sau, nó nghe thấy thằng em cười, cười rõ to - tự hào về bản thân, tự hào về cú ném, dù rằng đó là ăn may, chỉ xảy xa một lần. Jora phủi tuyết trên cổ áo khoác nhưng mấy mẩu vụn cũng đã trôi xuống lưng nó rồi. Tuyết tan ra, trượt trên da nó, để lại những vệt nước lạnh cóng. Nó kéo áo sơ mi bỏ ra ngoài quần, với tay hết mức để cào chỗ tuyết dính. Không thể tin được tính tự phụ của anh trai - cứ lo chiếc áo thay vì dè chừng đối thủ - Arkady cứ từ từ, vun mấy vốc tuyết lên nhau, nắm này chồng lên nắm kia. Quá lớn nên quả bóng tuyết trở nên vô dụng: khó ném, bay chậm, và né được dễ dàng. Lâu nay, đấy là sai lầm của nó, làm quả bóng tuyết quá to. Thay vì làm đối thủ đau hơn thì mấy hòn tuyết đó có thể vỡ ra giữa không và vụn ra, tan tành và còn không trúng anh nó nữa. Nó và Jora rất hay chơi ngoài tuyết. Đôi khi có cả tụi con nít khác | 219 |
4 | nữa, nhưng thường thì chỉ có hai anh em. Trò chơi thường bắt đầu ngẫu nhiên, rồi càng lúc càng gay cấn sau mỗi cú ném trúng. Arkady luôn thua, bị tốc độ và sức mạnh những cú ném của anh áp đảo. Trò chơi luôn kết thúc cùng một kiểu: thất vọng, đầu hàng, bực bội, hoặc tệ hơn, khóc lóc và giận dỗi bỏ đi. Nó không thích chuyện nó bao giờ cũng là người thua, và tệ hơn nữa, nó ghét chuyện nó quá cay cú về chuyện đó. Lý do duy nhất mà nó vẫn chơi là bởi vì nó chắc chắn hôm nay sẽ khác, hôm nay nó sẽ thắng. Và hôm nay là ngày đó đây. Cơ hội của nó đây rồi. Nó tiến đến gần hơn nhưng không quá gần: nó muốn cú ném này được tính. Bắn thẳng thì không tính. Jora thấy nắm tuyết bay đến: một cục tròn trắng bay vòng trên không, không lớn quá, không nhỏ quá, chỉ như hòn nó vẫn ném. Nó chẳng thể làm gì được nữa rồi. Tay nó còn ở sau lưng. Nó phải thừa nhận là em trai nó học nhanh. Hòn tuyết đập vào đầu mũi nó, bắn vào mắt nó, thốc lên mũi nó, miệng nó. Nó lùi lại, mặt nó đóng cả tuyết. Một cú ném hoàn hảo - thế là trận đấu kết thúc. Nó đã bị thằng em đánh bại- một thằng nhỏ còn chưa đầy năm tuổi. Thế nhưng chỉ giờ đây khi lần đầu tiên thua cuộc nó mới đánh giá cao tầm quan trọng của chiến thắng. Em nó lại cười - cố làm bộ làm tịch ra nữa, như thể một nắm tuyết trên mặt là thứ buồn cười nhất. À, ít nhất thì nó chưa bao giờ hả hê như Arkady bây giờ; nó chưa bao giờ cười ngặt nghẽo thế hay thỏa mãn chiến thắng như thế. Em nó là một đứa thua thảm hại và là một kẻ chiến thắng còn tệ hại hơn nữa. Thằng nhỏ cần phải được dạy cho một bài học, bị bẽ mặt. Nó đã thắng một trận, chỉ có vậy: một cú ăn may, một cuộc chơi bình thường, một trong cả trăm cuộc chơi: không - một trong cả ngàn. Và bây giờ, nó giả vờ là không hiểu sao chúng lại huề, hay tệ hơn nữa, em nó lại giỏi hơn nó ư? Jora cúi xuống, bới trong tuyết, xuống tận mặt đất đóng băng bên dưới, gom một nắm bùn đóng bánh lẫn cát và sỏi. Thấy anh mình đang chuẩn bị một hòn tuyết khác, Arkady quay đầu bỏ chạy. Đây sẽ là một cú phục thù: được vo cẩn thận và được ném hết sức bình sinh. Nó không định hứng một trong mấy cú ném kiểu đó đâu. Nếu bỏ chạy thì nó sẽ an toàn. Cú ném, dù được làm ngon lành thế nào, dù chính xác đến cỡ nào, cũng chỉ có thể bay trên không rồi bắt đầu méo mó đi, và rã ra. Mà dù cho có trúng đi nữa, sau một khoảng xa nhất định, nó cũng vô hại, gần như không đáng ném gì hết. Nếu nó chạy, nó sẽ kết thúc ở cửa trên. Nó không muốn chiến thắng của mình bị lật nhào, bị tì vết vì một loạt những cú ném tới tấp từ phía anh trai. Không, chạy và tuyên bố thắng cuộc. Kết thúc trò chơi ngay bây giờ. Nó sẽ tận hưởng được cảm giác này ít nhất cũng đến ngày mai khi nó có thể lại thua tiếp. Nhưng đấy là chuyện ngày mai. Hôm nay là chiến thắng. Nó nghe anh trai hét tên nó. Và nó ngoảnh lại, vẫn chạy, mỉm cười - chắc rằng mình đã ngoài tầm ném rồi. Cú va chạm như một quả đấm vào mặt nó. Đầu nó quay cuồng, chân nó hẫng khỏi mặt đất, và trong tích tắc nó đang bềnh bồng trên không. Khi bàn chân nó chạm đất trở lại thì hai giò nó khuỵu xuống, nó té, bất động - choáng váng quá còn không chìa tay ra được nữa - đổ sầm xuống tuyết. Trong một lúc, nó chỉ nằm đó, không thể hiểu chuyện gì đã xảy ra. Có cát, bùn, nước bọt và máu trong miệng nó. Nó thử chọc ngón tay đeo găng vào giữa hai môi. Răng nó có cảm giác lạo xạo như bị tọng cát vào miệng. Có một khe hở. Một cái răng đã gãy. Nó òa khóc, nhổ nước bọt xuống tuyết, đào bới trong đống lộn xộn; tìm chiếc răng rơi mất. Không hiểu sao đó là điều duy nhất nó có thể nghĩ đến lúc này, đó là điều duy nhất nó quan tâm. Nó phải tìm ra cái răng. Nó đâu rồi? Nhưng nó không thể tìm thấy, trên nền tuyết trắng như vậy. Mất rồi. Và đấy không phải cái đau, mà là nỗi tức giận, sự oán hận vì nỗi bất công này. Nó không thể thắng một trận sao? Nó đã giành được một cách ngay thẳng. Anh nó không cho nó điều đó được sao? Jora chạy lại em trai. Ngay khi nắm bùn, cát, tuyết và sỏi rời khỏi tay thì nó đã hối tiếc quyết định của mình. Nó đã hét gọi thằng em, muốn em nó cúi xuống, để tránh cú ném. Thay vì ngồi xuống, Arkady quay lại đón ngay cú ném. Thay vì giúp đứa em thì hành động đó dường như là một cái vung tay đặc biệt hiểm ác. Khi đến gần, nó thấy máu trên tuyết và cảm thấy buồn nôn. Nó đã gây ra chuyện này. Nó đã biến trò chơi của chúng, một trò chơi mà nó thích thú như thích thú bất cứ thứ gì, thành một chuyện khủng khiếp. Sao nó lại không thể để em nó thắng? Nó có thể thắng ngày mai, ngày kia rồi ngày kia nữa. Nó cảm thấy xấu hổ. Jora cúi xuống, đặt tay lên vai em. Arkady gạt đi, ngước nhìn lên với hai mắt đỏ ngầu đầy nước mắt và miệng đầy máu, trông như một con thú hoang. Nó không nói gì. Cả khuôn mặt nó đanh lại vì giận dữ. Nó đứng lên, hơi loạng choạng. - Arkady? Đáp lại, em trai nó chỉ há miệng và hét lên, tạo ra một âm thanh như con thú. Jora chỉ nhìn thấy được mỗi hàm răng be bét. Arkady quay người bỏ chạy. - Arkady, đợi đã! Nhưng Arkady không đợi - không dừng lại, không muốn nghe lời xin lỗi của anh trai. Nó cắm đầu cắm cổ chạy, lưỡi nó đưa lên tìm khe hở mới có chỗ răng cửa. Tìm thấy rồi, nó lần đầu lưỡi lên nướu, nó hy vọng sẽ không bao giờ gặp lại anh trai nữa. 14 THÁNG HAI LEO NGƯỚC NHÌN lô chung cư 18 - một khói bê tông xám, bè bè, ít tầng. Lúc đó xế chiều, trời đã tối. Cả ngày làm cho một việc dễ ghét và vụn vặt. Theo biên bản khám nghiệm của bên dân quân, người ta đã phát hiện một cậu bé bốn tuổi mười tháng chết trên đường ray. Cậu bé đang chơi trên đường ray, cách đây ba đêm, rồi bị một tàu chở khách đâm phải, người nó bị bánh tàu cắt nát. Lái tàu chuyến 9 giờ tối đi Khabarovsk đã thuật lại ở trạm dừng đầu tiên rằng anh ta đã thoáng thấy ai đó hoặc cái gì đó trên đường ray ngay sau khi rời nhà ga Yaroslavskiy Vokzal. Con tàu quả có đâm trúng cậu bé hay không thì còn chưa chắc chắn. Có lẽ lái tàu không muốn thừa nhận đã đâm phải đứa trẻ. Nhưng không cần thiết phải nhấn mạnh vấn đề này: đấy là một tai nạn thảm khốc không cần đặt vấn đề đổ lỗi cho ai. Sự việc lẽ ra đã khép lại. Thông thường, không có lý gì mà Leo Stepanovich Demidov - một nhân viên MGB, cơ quan An ninh Nhà nước - lại tham gia vào vụ việc như thế này. Ở đây thì có việc gì cho gã? Mất một đứa con là chuyện đau đớn cho gia đình và người thân. Nhưng, nói trắng ra, nó chẳng có nghĩa lý gì ở tầm mức quốc gia. Trẻ con sơ ý, trừ phi chúng không biết giữ mồm giữ miệng, không phải là vấn đề của An ninh Nhà nước. Tuy nhiên, tình huống cụ thể này lại trở nên phức tạp ngoài dự kiến. Nỗi đau của bậc cha mẹ đã mang một hình thức khác thường. Dường như họ không thể chấp nhận rằng con trai họ (Leo đã xem biên bản, ghi nhớ cái tên Arkady) phải chịu trách nhiệm cho chính cái chết của nó. Họ báo với mọi người rằng nó đã bị giết. Do ai - họ không biết. Vì lý do gì - họ không biết. Làm sao một chuyện như thế mà lại có thể xảy ra được - một lần | 220 |
4 | một mối liên hệ cá nhân - một nông dân của nông trang tập thể - mâu thuẫn với quan niệm rằng ông ta là gián điệp chuyên nghiệp. Tuy nhiên, Leo vẫn cảm thấy chắc chắn đây là đầu mối gã nên theo đuổi. Gã gạt bỏ những điều bất nhất sang một bên: việc của gã là bắt được người đàn ông này. Đây là đầu mối duy nhất gã có. Sự ngần ngừ đã khiến gã phải trả giá rồi. Gã vội vã đến chiếc xe tải đỗ bên ngoài và bắt đầu đọc lại hồ sơ vụ việc, tìm kiếm điều gì có thể liên hệ đến làng Kimov. Gã bị cắt ngang khi viên chỉ huy phó - Vasili Ilyich Nikitin - quay lại. Ba lăm tuổi, hơn Leo năm tuổi, Vasili có thời là một trong những nhân viên triển vọng nhất của MGB. Tàn nhẫn, ganh đua, hắn không trung thành với bất kỳ ai ngoài MGB. Leo ngầm coi lòng trung thành đó là yêu nước thì ít mà vì lợi ích cá nhân thì nhiều. Vừa lục soát xong phòng khám thú y, Vasili rõ ràng rất tự mãn. Hắn đưa cho Leo một bức thư vò nát mà hắn giải thích là đã tìm thấy sau bàn viết của kẻ phản bội. Tất cả thư từ khác đều bị đốt - giống như ở căn hộ - nhưng trong lúc vội, kẻ bị tình nghi đã bỏ sót bức thư này. Leo đọc nó. Bức thư của một người bạn nói với Anatoly rằng ông ta cứ tự nhiên đến ở với anh ta bất kỳ lúc nào. Địa chỉ bị mờ một phần, nhưng tên thành phố thì rõ ràng: Kiev. Leo gấp bức thư và đưa lại cho viên thuộc cấp: - Cái này là Brodsky viết. Không phải của người bạn. Ông ta muốn chúng ta tìm thấy nó. Ông ta không đến Kiev. Bức thư được viết tay vội vã. Chữ viết rời rạc, khó mà đánh lừa được. Nội dung thật nực cười và dường như chỉ nhằm thuyết phục người đọc rằng người viết là một người bạn mà Brodsky có thể nhờ cậy lúc ngặt nghèo. Địa chỉ được cố ý làm nhòe đi nhằm ngăn cản việc xác định ra nhanh chóng người gửi thực sự, và vì vậy là bằng chứng cho sự giả mạo của bức thư. Chỗ có bức thư - được thả sau bàn - dường như được sắp đặt. Vasili quả quyết về tính chân thực của bức thư: - Sẽ là tắc trách nếu không điều tra đầy đủ đầu mối Kiev. Mặc dù Leo không chút nghi ngờ bức thư là giả mạo, gã tự hỏi có khôn ngoan không nếu cử Vasili đi Kiev như là một biện pháp phòng ngừa, để khỏi có lời buộc tội có thể có là gã đã bỏ qua bằng chứng. Gã bác ngay ý tưởng này: gã tiến hành điều tra thế nào không quan trọng, nếu gã không tìm thấy kẻ bị tình nghi thì sự nghiệp của gã sẽ đi tong. Gã quay qua chú ý vào tập hồ sơ. Theo hồ sơ, Brodsky là bạn của một người tên Mikhail Sviatoslavich Zinoviev, người này đã được cho giải ngũ Hồng Quân sau khi bị phát cước kinh niên. Gần bị hoại tử, vài ngón chân của anh ta bị cắt cụt, anh ta được chăm sóc cho đến khi sức khỏe phục hồi và được giải ngũ. Brodsky đã thực hiện cuộc phẫu thuật. Leo rà ngón tay trên tài liệu, tìm kiếm địa chỉ hiện nay: Kimov Leo quay sang cấp dưới, bắt gặp vẻ mặt cáu kỉnh của Vasili: - Chúng ta sẽ đi. BA MƯƠI KI LÔ MÉT VỀ PHÍA BẮC MÁTXCƠVA 15 THÁNG HAI CON ĐƯỜNG RA KHỎI MÁTXCƠVA bị đóng băng và mặc dù lốp xe tải đã được gắn xích đi tuyết thì tốc độ của họ cũng hiếm khi vượt quá mười lăm ki lô mét mỗi giờ. Gió và tuyết thổi quanh họ dữ dội đến mức như thể nó có lợi ích riêng nếu họ không tới được đích của gã. Cần gạt trên kính chắn gió, lắp vào mái cabin trước, khó khăn lắm mới giữ được một mảng nhỏ cửa sổ được sạch. Với tầm nhìn xa chưa tới mười mét, chiếc xe tải cố tiến lên. Leo cố gắng thực hiện chuyến đi trong điều kiện như thế này thì chẳng khác gì một sự liều lĩnh. Leo ngồi khom lưng, bản đồ trải trong lòng, hai bên là Vasili và tài xế. Cả ba đều mặc như thể họ đang ở ngoài trời - áo khoác, găng tay, mũ. Cabin thép, mái thép và sàn thép chỉ được ủ ấm bởi hơi nóng còn sót lại từ cái động cơ ầm ầm. Nhưng ít ra thì cabin cũng che chở được trước thời tiết. Phía sau xe, chín mật vụ được vũ trang lỉnh kỉnh không được xa xỉ đến như vậy. Chiếc xe tải ZiS-151 được che mái bạt mà không khí lạnh và thậm chí cả tuyết vẫn luồn vào. Vì nhiệt độ có thể xuống đến âm ba mươi độ, mọi ngăn sau của chiếc ZiS-151 đều có một lò đốt bằng củi đóng vào sàn. Cái vật kỳ cục hình củ hành này chỉ có thể sưởi ấm cho những ai ngồi cách nó một sải tay, nên họ buộc phải túm tụm lại và thường xuyên đổi chỗ. Leo cũng đã nhiều lần ngồi ở đó: cứ sau mười phút hai người ngồi gần lò sưởi nhất sẽ miễn cưỡng rời xa chỗ ấm, tới chỗ lạnh nhất tít đầu kia ghế trong khi những người còn lại nhích lại gần. Lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình Leo có thể cảm thấy sự bất đồng trong đội của mình. Lý do không phải là sự khó chịu hay thiếu ngủ, lính của gã đã quen với điều kiện khắc nghiệt. Không, có gì đó khác. Có lẽ là việc đáng ra đã có thể né được nhiệm vụ này. Có lẽ họ không tinvào đầu mối Kimov. Nhưng gã đã yêu cầu lính của mình tin tưởng, và họ đã tin tưởng rồi. Đêm nay, gã cảm thấy sự thù nghịch, chống đối. Không tính tới Vasili thì gã không quen với chuyện này. Gã gạt ý nghĩ đó sang một bên. Ngay bây giờ, trong những mối bận tâm của gã, sự quý mến của mọi người nằm hạng bét. Nếu giả thiết của gã tỏ ra là đúng, nếu kẻ khả nghi đang ở Kimov, thì Leo nghĩ có khả năng ông ta sẽ trốn đi khi trời mờ sáng, cho dù là tự đi hoặc có sự trợ giúp của người bạn. Leo đang liều mà đánh cược là họ sẽ đến ngôi làng kịp thời. Gã quyết định không điều động dân quân địa phương đóng ở Zagorsk, thị trấn lớn gần nhất, vì theo gã bọn họ không chuyên nghiệp, kỷ luật kém, và không được đào tạo đầy đủ. Thậm chí các sư đoàn MGB tại địa phương cũng không đáng tin cậy trong một chiến dịch như thế. Đã biết trước mình là người bị truy nã, khó có khả năng Brodsky sẽ đầu hàng. Ông ta sẽ chiến đấu tới cùng. Cần phải bắt sống ông ta. Lời thú tội của ông ta có tầm quan trọng tối cao. Hơn nữa, việc ông ta trốn thoát làm bẽ mặt cá nhân Leo và gã quyết tâm sửa chữa, quyết tâm rằng gã sẽ là người thực hiện vụ bắt này. Đây không đơn thuần là vấn đề danh dự. Cũng không đơn thuần rằng sự nghiệp của gã phụ thuộc vào sự thành công này. Hậu quả còn sâu xa hơn thế. Thất bại trong một vụ án gián điệp gây nhiều chú ý thế này có thể dẫn đến những lời cáo buộc rằng Leo đã cố ý phá hoại cuộc điều tra. Thất bại trong việc bắt kẻ bị tình nghi sẽ khiến gã bị vướng víu sâu hơn. Nếu Brodsky không có ở Kimov, nếu Leo sai, thì Vasili sẽ là người đầu tiên đứng ra làm chứng tường tận việc cấp trên của hắn xem thường đầu mối khả quan Kiev. Đánh hơi thấy sự kém cỏi của gã, những người khác trong Ban chỉ huy, như những con thú bao vây con mồi bị thương, hầu như chắc chắn sẽ đứng ra tố cáo gã là chỉ huy kém cỏi, trong khi Vasill sẽ tự đứng ra ứng cử làm người kế nhiệm quá hợp lý của Leo. Leo liếc qua thuộc cấp của mình, một kẻ điển trai và không kém phần gớm ghiếc - như thể vẻ điển trai của hắn ta được trát đầy lên cái tâm thối nát, một gương mặt anh hùng với trái tim của kẻ tay sai. Chỉ có những vết nhỏ nhoi nhìn thấy được trên vẻ mặt cuốn hút của hắn ta, ở khóe miệng, một kiểu cười hơi nhếch mép, nếu ta biết cách diễn giải nó, gợi cho thấy những suy nghĩ đen tối nằm sau cái vẻ bề ngoài tốt đẹp của hắn. Có lẽ nhận thấy mình bị chú ý, Vasili quay sang và cười, một cái cười mím môi, mơ hồ. Điều gì đó làm hắn hài lòng | 226 |
4 | . Leo biết ngay chắc chắn có gì đó không ổn. Gã xem bản đồ. Với dân số chưa đến một nghìn người, làng Kimov chỉ là hạt bụi trên tấm bạt Liên Xô. Gã đã báo trước tài xế không được trông chờ vào biển chỉ đường. Thậm chí với tốc độ mười lăm ki lô mét mỗi giờ ngôi làng này cũng có thể xuất hiện và biến mất chỉ trong lúc sang số. Nhưng khi Leo lần ngón tay theo chỗ dấu chỉ đường, gã bắt đầu ngờ rằng họ đã chạy quá chỗ rẽ. Bọn họ vẫn còn đang đi về phía Bắc trong khi lẽ ra phải đi hướng Tây. Vì gần như không thể xác định phương hướng dựa trên khung cảnh xung quanh thế này, gã tính toán họ đang ở đâu tính theo ki lô mét. Họ đã quá xa về phía Bắc. Lái xe đã đi quá. - Quay lại! Leo nhận thấy cả tài xế lẫn Vasili dường như không ngạc nhiên trước yêu cầu đó. Tài xế lắp bắp: - Nhưng chúng ta không nhìn thấy lối ra. - Chúng ta chạy quá rồi. Dừng xe lại. Tài xế cho xe chậm lại, nhấp phanh để tránh bị trượt trên băng. Chiếc xe dần dần dừng lại, Leo nhảy ra và giữa trời bão tuyết bắt đầu hướng dẫn cho tài xế loay hoay quay xe ngoặt hình chữ u, chiếc ZiS-151 ngang gần bằng con đường. Xe mới quay đầu giữa chừng, tạo với đường thành một góc vuông thì tài xế dường như phớt lờ lệnh của Leo, lùi xe quá xa và quá nhanh. Leo chạy đến đấm thình thình vào cửa nhưng đã quá muộn. Một lốp sau đã lăn khỏi đường. Nó cứ quay tròn bất lực trong đống tuyết. Con tức giận của Leo bừng lên bởi lòng ngờ vực mỗi lúc một tăng đối với tên tài xế, anh ta dường như bộc lộ một mức độ kém cỏi không tin được. Vasili đã sắp đặt chuyến xe, và tài xế. Leo mở cửa cabin, quát lên: - Cút ra! Tài xế bước ra. Lúc này, các đặc vụ đằng sau xe cũng đã nhảy ra để xem xét tình hình. Họ nhìn Leo không hài lòng. Đấy là sự bực dọc do bị trì hoãn, về chính nhiệm vụ, hay là bực dọc vì sự lãnh đạo của gã? Gã không thể hiểu nổi. Gã ra lệnh cho một người giữ tay lái, trong khi cả đội, gồm cả Vasili, đẩy chiếc xe ra khỏi tuyết. Lốp xe xoay tròn, bắn bùn vào quân phục của họ. Cuối cùng, xích đi tuyết bám được mặt đường và chiếc xe tải tròng trành về phía trước. Leo cho tay tài xế thất sủng ra sau ngồi. Leo tự hỏi còn bao nhiêu người trong đội của gã đầu tư vào thất bại của gã thay vì thành công của gã. Cảm thấy đơn độc, bị cô lập trong đội của mình, gã cầm tay lái. Gã lái xe. Gã tìm đường. Gã sẽ đưa họ tới đó. Gã không thể tin ai được. Vasili vào xe ngồi bên cạnh gã, khôn ngoan yên lặng. Leo vào số xe. Lúc họ về đúng đường, đi theo phía Tây tiến đến làng Kimov, cơn bão đã qua. Mặt trời mùa đông yếu ớt bắt đầu mọc lên. Leo kiệt sức. Lái xe trong trời tuyết đã vắt hết sức lực của gã. Cánh tay và hai vai tê cứng, mí mắt trĩu xuống. Họ đang đi qua trung tâm nông thôn - những cánh đồng, những khu rừng. Quay sang phía thung lũng thoai thoải, gã nhìn thấy ngôi làng: một cụm nhà gỗ, một số nhà nằm bên đường, số khác nằm cách xa, tất cả đều có nền nhà hình vuông và mái cao hình tam giác, một khung cảnh vẫn không đổi suốt trăm năm qua. Đây là nước Nga xưa cũ: những cộng đồng xây dựng xung quanh những giếng nước múc bằng gàu và truyện cổ tích, nơi sức khỏe của gia súc được quyết định bởi đặc ân của Dvorovoi, thần vườn, nơi các bậc cha mẹ dặn dò con trẻ rằng nếu chúng không ngoan, các linh hồn sẽ bắt chúng và biến chúng thành vỏ cây. Các bậc cha mẹ cũng từng được kể câu chuyện đó khi họ còn nhỏ, và họ không bao giờ quên chúng, bỏ hàng tháng trời khâu quần áo chỉ để dâng tặng thần rừng, Rusalki, người được cho là có thể nhảy chuyền qua các ngọn cây và có thể, nếu muốn, cù một người cho đến chết. Leo lớn lên ở thành phố và những mê tín làng quê này chẳng có ý nghĩa gì với gã cả. Gã dừng xe ở ngôi nhà đầu tiên. Gã lấy trong túi áo khoác ra một lọ thủy tinh chứa những viên nhỏ, xù xì màu trắng đục - methamphetamine nguyên chất, một thứ ma túy được Đức Quốc xã ưa chuộng. Gã biết đến nó từ thời đang chiến đấu ở mặt trận phía Đông. Có những chiến dịch Leo không được nghỉ ngoi. Đây là một trong những chiến dịch đó. Giờ gã được bác sĩ của MGB kê đơn, gã liên tục sử dụng nó từ sau chiến tranh, mỗi khi nhiệm vụ đòi hỏi phải chạy cả đêm. Không thể đánh giá thấp tác dụng của nó. Nhưngcái giá của nó là sự suy sụp hoàn toàn chừng hai tư tiếng sau: sự kiệt sức hoàn toàn chỉ có thể hồi phục bằng cách dùng thêm thuốc hoặc ngủ mười hai tiếng. Tác dụng phụ đã bắt đầu bộc lộ. Gã sút cân; các đường nét trên mặt thắt lại. Trí nhớ kém dần, gã không thể nhớ được những chi tiết chính xác và những cái tên, nhũng vụ án và các vụ bắt người trước đây trở nên lộn xộn trong trí nhớ và giờ gã phải ghi lại cho nhớ. Không thể nói gã có bị hoang tưởng hơn do việc dùng thuốc hay không, bởi hoang tưởng là một tài sản thiết yếu, một phẩm chất tốt đẹp cần được trui rèn và vun trồng. Nếu nó được tán rộng thêm bằng methamphetamine, như thế chỉ càng tốt hơn thôi. Gã lắc một lượng nhỏ vào lòng bàn tay, rồi một ít nữa, cố nhớ dùng đúng liều. Quá nhiều còn hơn là quá ít. Thấy đã vừa, gã nuốt sạch cùng với thứ đựng trong chai bên hông. Vodka đốt cháy cổ họng, không át đi được vị hóa chất cay sẽ khiến gã muốn nôn ọe. Gã chờ cho cảm giác đó qua đi trong khi thăm dò xung quanh. Tuyết mới đổ xuống che lấp mọi thứ. Leo hài lòng. Bên ngoài làng Kimov có ít chỗ để ẩn náu. Có thể nhìn thấy một người từ khoảng cách hàng ki lô mét, dấu vết của họ trên tuyết dễ dàng lần theo. Gã không biết nhà nào là của Mikhail Zinoviev. Vì một xe nhà binh đỗ bên đường sẽ làm mất đi yếu tố bất ngờ, Leo nhảy ra, rút súng, và tiến đến ngôi nhà gần nhất. Mặc dù methamphetamine chưa phát huy tác dụng, gã đã cảm thấy tỉnh táo hơn, sắc sảo hơn khi bộ não sẵn sàng cho đợt hưng phấn tất yếu nhờ ma túy. Gã đến cổng, kiểm lại vũ khí. Trước khi gã kịp gõ cửa, một cụ bà da nâu xuất hiện. Bà mặc một chiếc váy có họa tiết xanh, ống tay màu trắng và quàng khăn trùm đầu thêu. Bà không bận tâm đến Leo, hay khẩu súng, quân phục, hay chiếc xe nhà binh của gã. Bà không sợ và không thèm che giấu những nếp nhăn khinh bỉ hằn trên trán. - Tôi tìm Mikhail Sviatoslavich Zinoviev. Đây là nhà anh ta phải không? Anh ta đâu rồi? Như thể Leo nói tiếng nước ngoài, bà cụ nghếch đầu và không trả lời. Đó là lần thứ hai trong hai ngày một bà già tỏ ra gan lì với gã, lộ rõ vẻ khinh thường với gã. Có gì đó ở những bà cụ này khiến họ không thể chạm tới được; quyền lực của gã chẳng có nghĩa gì với họ cả. Thật may, thế bí được gỡ khi người con trai của bà cụ, một người có thân hình lực lưỡng và ăn nói lắp bắp, vội vã đi ra: - Hãy thông cảm cho mẹ tôi. Bà ấy già rồi. Tôi có thể làm gì giúp anh? Một lần nữa người con trai xin lỗi thay cho người mẹ. - Mikhail Sviatoslavich. Anh ta đâu? Nhà anh ta ở đâu? Nhận ra Leo không định bắt họ, rằng anh ta và gia đình được an toàn thêm một ngày nữa, người con trai thấy vô cùng nhẹ nhõm. Anh ta vui vẻ chỉ về ngôi nhà của người bạn mình. Leo quay lại xe. Quân của gã đã tập hợp. Gã chia đội ra thành ba nhóm. Họ sẽ tiến đến ngôi nhà từ các phía khác nhau, một từ phía trước, một từ phía sau, và nhóm thứ ba sẽ tiến | 227 |
4 | uyết bên cạnh bố mẹ mình. Leo rút súng, nhằm vào cấp phó của gã: - Hạ súng xuống. Bổng nhiên mọi mệt mỏi tan biến, không phải vì một thứ ma túy nào. Sự giận dữ và adrenaline chạy dọc cơ thể gã. Tay gã giữ chắc. Gã nheo một mắt và nhắm cẩn thận. Ở khoảng cách này, gã sẽ không bắn trượt. Nếu giờ gã nổ súng, cô bé sẽ sống. Cả hai cô bé sẽ sống - không đứa nào bị giết. Không hề nghĩ tới, nhưng lời ấy đã vang lên trong đầu gã: Bị giết Gã lên cò súng. Vasili đã sai về đầu mối Kiev. Hắn bị bức thư của Brodsky đánh lừa. Hắn dám chắc với mấy gã kia là họ đang phí thời gian đến Kimov. Hắn đã bóng gió rằng thất bại đêm nay sẽ khiến hắn trở thành sếp mới. Những nhầm lẫn đáng xấu hổ này sẽ được đưa vào báo cáo về Leo. Ngay bây giờ Vasili có thể cảm thấy mấy sĩ quan kia đang nhìn hắn. Vị thế của hắn đã bị giáng một đòn bẽ mặt. Một phần trong hắn muốn xem liệu Leo có dám giết hắn không. Hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Nhưng hắn không khờ. Trong thâm tâm hắn biết rằng hắn là kẻ hèn còn Leo thì không. Vasili hạ súng. Giả vờ như hài lòng, hắn ra hiệu về hai đứa trẻ: - Các cô bé đã học được một bài học quý. Có lẽ lớn lên chúng sẽ trở thành những công dân tốt hơn cha mẹ chúng. Leo tiến tới chỗ viên thuộc cấp, qua hai xác chết, để lại dấu ủng trên tuyết dính máu. Gã vung khẩu súng thành một đường cong, đánh gờ súng vào bên đầu Vasili. Vasili ngã ngửa, ôm lấy thái dương. Có một vệt máu ở chỗ trán da bị xước. Nhưng hắn chưa kịp đứng thẳng dậy thì đã cảm thấy nòng súng Leo gí vào thái dương hắn. Ngoại trừ hai đứa bé, đang nhìn xuống đất, chờ chết, mọi người đều nhìn. Hết sức từ từ, Vasili nghiêng đầu nhìn lên, hàm hắn đánh lập cập. Hắn sợ chết, kẻ xem cái chết của người khác là bình thường. Ngón tay Leo chạm vào cò súng. Nhưng gã không thể làm thế. Không, dù đang lúc máu lạnh. Gã không thể là người hành quyết kẻ này. - Anh sẽ ở đây chờ dân quân đến. Anh sẽ phải giải thích chuyện gì xảy ra và giúp đỡ họ. Anh có thể tự về Mátxcơva lấy. Leo giúp hai bé gái đứng lên và đưa chúng vào nhà. Phải cần tới ba mật vụ mới đưa được Anatoly Brodsky lên thùng xe tải. Người ông rũ liệt tựa như sự sống đã bị hút đi. Ông đang lẩm nhẩm khó hiểu, hoảng loạn vì đau đớn và không nghe thấy gì khi những tay lính bảo ông im miệng. Họ không muốn nghe ông khóc. * * * TRONG NHÀ, hai bé gái không nói gì, vẫn chưa thể hiểu rằng những thi thể nằm ngoài tuyết kia là cha mẹ chúng. Bất cứ lúc nào chúng cũng hy vọng cha nấu bữa sáng cho chúng hoặc mẹ chúng đi làm đồng về. Không có gì là thực cả. Cha mẹ chúng là cả thế giới. Làm sao thế giới tồn tại mà không có họ được? Leo hỏi chúng còn người thân nào khác không. Không đứa nào trả lời. Gã bảo đứa lớn gói ghém đồ đạc - họ sẽ lên Mátxcơva. Chẳng đứa nào nhúc nhích. Gã vào phòng ngủ và bắt đầu gói đồ cho chúng, tìm kiếm đồ đạc, quần áo của chúng. Tay gã bắt đầu run rẩy. Gã dừng lại, ngồi trên giường, và nhìn xuống ủng. Gã chụm hai đế giày lại và nhìn chằm chằm nơi mấy vệt đầy tuyết lẫn máu nén cứng, mỏng tang đang rã trên sàn nhà. * * * VASILI BÊN LỀ ĐƯỜNG NHÌN THEO, hút điếu thuốc cuối cùng khi chiếc xe tải chạy đi. Hắn nhìn hai bé gái đang ngồi trong khoang lái, bên cạnh Leo, chỗ đáng ra là của hắn. Chiếc xe quành lại rồi mất dạng cuối đường. Hắn nhìn quanh. Có những khuôn mặt bên các cửa sổ của nông trại gần đó. Lúc này họ không quay đi. Hắn mừng là vẫn còn khẩu súng máy. Hắn đi vào nhà, nhìn hai thi thể đang năm trên tuyết.Hắn vào bếp, nấu nước và pha trà. Trà rất đặc nên hắn thêm đường cho ngọt. Gia đình này có một lọ đường nhỏ, có lẽ để dùng trong một tháng. Hắn đổ gần hết chỗ đường vào cốc, thành một thứ ngọt lợm. Hắn nhấp trà và đột nhiên thấy mệt mỏỉ. Hắn tháo ủng và cởi áo, đi vào phòng ngủ, kéo chăn, và nằm xuống. Hắn ước có thể lựa chọn giấc mơ. Hắn sẽ chọn giấc mơ trả thù. MÁTXCƠVA 16 THÁNG HAI DÙ ĐÂY LÀ nơi gã làm việc năm năm qua, nhưng Leo chưa bao giờ cảm thấy thoải mái ở Lubyanka, trụ sở của MGB. Những cuộc nói chuyện phiếm rất hiếm. Các phản ứng đều thận trọng. Tất cả chuyện này khó gây ngạc nhiên nếu xét đến bản chất công việc của họ, nhưng trong tâm trí gã thì chính tòa nhà có cái gì đó khiến mọi người thấy khó chịu, như thể nỗi sợ là một yếu tố được đưa vào thiết kế tòa nhà. Chẳng biết gì về ý đồ của kiến trúc sư, gã đành chấp nhận rằng giả thiết của mình là vớ vẩn. Tòa nhà được xây từ trước cách mạng, chỉ tồn tại như một văn phòng bảo hiểm trước khi được lực lượng an ninh mật Bolshevik tiếp quản. Nhưng gã vẫn thấy thật khó tin là người ta lại ngẫu nhiên chọn một tòa nhà có kích thước gây ái ngại như vậy: không cao không thấp, không rộng cũng không hẹp, nằm đâu đó lưng chừng một cách khó chịu giữa những thứ ấy. Mặt tiền tạo ấn tượng về sự canh gác: hàng hàng cửa sổ sít sịt nhau, chồng lên cao dần, tới một chiếc đồng hồ đặt trên chóp nhìn xuống toàn bộ thành phố như thể một con mắt tròn duy nhất. Một đường ranh giới vô hình tồn tại xung quanh tòa nhà. Người qua đường tránh xa cái vành đai tưởng tượng này như lo sợ họ sẽ bị hút vào. Vượt qua đường rãnh ấy có nghĩa ta là nhân viên hoặc người bị kết án. Khi ở bên trong những bức tường này, không có cơ may ta được xem là vô tội. Có lẽ Lubyanka không được xây dựng với chủ ý gây sợ hãi, tuy nhiên nỗi sợ vẫn chiếm cứ nó, nỗi sợ hãi đã biến tòa nhà trước đây vốn là văn phòng bảo hiểm thành của riêng nó, thành nơi trú ngụ của nó. Leo xuất trình chứng minh thư, một tấm thẻ không chỉ có nghĩa là gã có thể đi vào tòa nhà mà còn có thể đi ra khỏi đó. Tuy đã vào bên trong, Leo vẫn đang mặc đồ ngoài trời, gồm găng tay da và chiếc áo khoác len dài. Gã vẫn run cầm cập. Khi gã đứng yên, sàn nhà dường như tròng trành. Những cơn chóng mặt choán lấy gã, kéo chừng vài giây. Gã cảm thấy như mình sắp gục xuống. Đã hai ngày rồi gã không ăn gì, nhưng nghĩ đến thức ăn khiến gã buồn nôn. Cho dù vậy, gã vẫn ngoan cố không chịu nghĩ đến khả năng mình bị ốm: gã chắc chắn bị cảm lạnh một chút, có lẽ mệt mỏi, nhưng nó sẽ qua thôi. Trong cơn suy sụp sau khi dùng methamphetamine, gã chỉ cần ngủ. Không có cách nào để gã có thể nghỉ làm một ngày. Không phải hôm nay, khi vẫn còn đó cuộc chất vấn Anatoly Brodsky. Các cuộc thẩm vấn đúng ra không phải là phần trách nhiệm của gã. MGB có các chuyên gia không làm gì khác ngoài thẩm vấn kẻ bị tình nghi, đi từ phòng giam này sang phòng giam khác, lấy lời thú tội với một sự dửng dưng chuyên nghiệp và niềm tự hào cá nhân. Họ được khích lệ, giống hầu hết mọi nhân viên, bởi những điều đơn giản như khả năng được thưởng theo thành tích, được thưởng nếu như kẻ bị tình nghi ký ngay vào bản thú tội vô điều kiện mà không sửa đổi. Leo biết đôi chút về phương thức của họ. Gã không quen riêng ai trong số họ. Những chuyên gia thẩm vấn tạo thành một phe cánh riêng, làm việc như một đội, thường thẩm vấn chung kẻ bị tình nghi, phối hợp tài năng đặc biệt của họ để tấn công sự ngoan cố từ nhiều góc độ khác nhau. Tàn nhẫn, rành mạch, biết xoa dịu: tất cả những phẩm chất này được | 231 |
4 | bội, như ông ta đã thú nhận, đúng là kẻ phản bội thì sao? Nếu bằng cách nào đó ông ta đã làm việc cùng Raisa thì sao? Có lẽ ông ta đã khai thật. Tại sao Leo lại chắc chắn đến vậy rằng người đàn ông này vô tội? Tại sao gã lại chắc chắn đến vậy rằng vợ gã vô tội? Suy cho cùng, tại sao cô lại đi kết bạn với một giáo viên dạy văn có tư tưởng chống đối? Đồng xu kia đang làm gì trong căn hộ của họ? Không phải sáu cái tên khác trong lời thú tội đã bị bắt và tất cả đều được thẩm vấn thành công rồi sao? Danh sách đã được chứng minh và Raisa có trong danh sách. Đúng, cô là gián điệp và ở đây, trong túi gã, là đồng xu, bằng chứng để chứng minh điều đó. Gã có thể đặt đồng xu lên bàn và đề nghị bắt cả cô và Ivan Zhukov để xét hỏi. Gã đã bị lừa. Vasili nói đúng: cô là kẻ phản bội. Cô mang thai con người khác. Không phải gã luôn biết rằng cô không chung thủy với gã sao? Cô không yêu gã. Gã chắc như thế. Tại sao lại mạo hiểm mọi thứ vì cô - một phụ nữ lạnh lùng với gã, một phụ nữ may mắn lắm thì chỉ chịu đựng gã. Cô là mối đe dọa tới tất cả những gì gã đang phục vụ, tất cả những gì gã giành được cho cha mẹ mình và cho chính bản thân gã. Chuyện đã hết sức rõ ràng: nếu Leo nói rằng cô có tội thì chuyện này sẽ kết thúc tốt đẹp cho cả gã và cha mẹ gã. Điều đó là chắc chắn. Là điều an toàn duy nhất phải làm. Nếu đây là một phép thử phẩm chất của Leo, Raisa cũng sẽ được tha. Và cô sẽ không bao giờ cần phải biết. Nếu cô là gián điệp thì những người này đã có bằng chứng và chờ xem liệu Leo có làm việc với cô không. Nếu cô là gián điệp thì gã sẽ tố cáo cô, cô đáng chết. Điều duy nhất phải làm là tố cáo vợ mình. Thiếu tá Kuzmin bắt đầu thủ tục: - Leo Stepanovich, chúng tôi có lý do tin rằng vợ cậu đang làm việc cho cơ quan nước ngoài. Cá nhân cậu không bị nghi ngờ về bất cứ tội gì hết. Đây là lý do chúng tôi đề nghị cậu điều tra những cáo buộc. Hãy cho chúng tôi biết cậu tìm thấy gì. Leo đã có lời xác nhận mà gã chờ đợi. Đề nghị của thiếu tá Kuzmin rất rõ. Nếu gã tố cáo vợ mình, gã sẽ tiếp tục được họ tin tưởng. Vasili đã nói gì? Nếu anh thoát khỏi vụ tai tiếng này thì một ngày nào đấy anh sẽ điều hành MGB. Tôi chắc chắn điều đó. Sự thăng tiến chỉ còn cách một câu nói thôi. Căn phòng yên ắng. Thiếu tá Kuzmin rướn người lên: - Leo? Leo đứng dậy, chỉnh lại áo khoác đồng phục: - Vợ tôi vô tội. BA THÁNG SAU PHÍA TÂY DÃY NÚI URAL THỊ TRẤN VOUALSK 13 THÁNG BA DÂY CHUYỀN LẮP RÁP Ô TÔ chuyển sang ca tối. Ilinaya đã ngừng công việc và bắt đầu cọ rửa bàn tay, dùng miếng xà phòng đen hôi rình: loại xà phòng duy nhất sẵn có. Nước lạnh, xà phòng không sủi bọt - nó chỉ vữa ra thành những mẩu nhờn - nhưng điều duy nhất ả có thể nghĩ đến là mấy tiếng đồng hồ từ bây giờ đến ca làm việc tiếp theo. Ả định tối nay đi chơi. Trước hết, ả phải tẩy rửa dầu và kim loại bám dưới móng tay. Rồi ả sẽ về nhà, thay đồ, tô chút phấn màu lên má rồi tới Basarov, nhà hàng gần ga xe lửa. Nhà hàng Basarov là nơi quen thuộc với những người đến đây vì công việc, các viên chức dừng nghỉ chân trước khi họ tiếp tục chuyến đi trên tuyến đường sắt xuyên Siberia về phía Đông hoặc Tây. Nhà hàng phục vụ đồ ăn - xúp hạt kê, cháo lúa mạch, cá trích muối - mà Ilinaya nghĩ thật kinh khủng. Quan trọng hơn, có bán rượu. Vì bán rượu nơi công cộng mà không bán đồ ăn là phi pháp, đồ ăn chỉ là phương tiện để đạt được mục đích, một đĩa thức ăn là một loại giấy phép uống rượu. Thực ra quán này có phần như một ổ cho gái đứng đường hơn. Quy định không cá nhân nào được mua hơn một trăm gam vodka đã bị phớt lờ. Basarov, gã chủ đứng tên quán rượu, luôn say xỉn và thường thô bạo, và nếu Ilinaya muốn hành nghề tại quán của hắn ta, hắn muốn chia phần.Không cách nào ả có thể giả vờ là uống rượu ở đó để giải sầu, trong khi dò tìm khách hàng vãng lai. Không ai đến đấy uống rượu cho vui; quán toàn khách tạt qua, không có người địa phương. Nhưng đó là một lợi thế. Ả không thể kiếm ăn với dân địa phương được nữa. Gần đây ả bị ốm - đau, đỏ ửng, phát ban, đại khái thế. Vài khách quen bị các triệu chứng tương tự và nói xấu ả khắp thị trấn. Giờ ả chỉ còn kiếm ăn với những người không biết ả, những người không ở lại thị trấn lâu nên không thể phát hiện ra họ đi tiểu nước đục trước khi họ tới Vladivostok hay Mátxcơva, tùy là họ đi về hướng nào. Ả không vui thú gì việc truyền mấy con vi khuẩn cho dù họ chẳng phải hạng người tốt đẹp gì. Nhưng ở thị trấn này, đi bác sĩ khám một bệnh lây qua đường tình dục còn nguy hiểm hơn chính sự lây truyền. Với một phụ nữ không chồng, thế chẳng khác nào đi nộp một lời thú tội, ký dưới bằng một vết nhơ. Ả phải đến phòng khám chui để chữa trị. Việc đó cần phải có tiền, có thể rất nhiều tiền, mà ngay lúc này ả đang tiết kiệm cho một việc khác, một việc quan trọng hơn nhiều - thoát khỏi thị trấn này. Lúc ả đến, quán đông nghịt và các cửa sổ phủ đầy hơi nước. Không khí sặc mùi makhorka, loại thuốc lá rẻ tiền. Ả nghe tiếng cười say xỉn cách năm mươi bước chân, trước khi bước qua cửa. Ả đoán là lính. Ả đoán đúng. Thường có một kiểu tập trận diễn ra ở vùng núi, và những tay lính lúc rảnh việc thường đến đây. Basarov chủ yếu lo phục vụ dạng khách hàng này. Hắn bán rượu pha nước lã, nói rằng, khi có ai cự nự, mà bọn họ thì thường làm thế, đấy là một nỗ lực cao thượng nhằm hạn chế say xỉn. Thường có những vụ ẩu đả. Tuy nhiên, ả biết rằng bất chấp những kể lể của hắn nào là cuộc sống của hắn khó khăn ra sao và khách hàng tệ hại thế nào, hắn cũng kiếm được kha khá nhờ bán số rượu nguyên chất mà hắn đã lấy bớt đi. Hắn là kẻ đầu cơ. Hắn là tên cặn bã. Chỉ vài tháng trước, ả lên tầng trên để đưa phần tiền hằng tuần và, qua khe hở cửa phòng ngủ hắn, ả thấy hắn đếm những đồng rúp hết tờ này đến tờ khác, những đồng tiền hắn để trong chiếc hộp thiếc có dây buộc chặt. Ả đã theo dõi, không dám thở, khi hắn gói hộp thiếc vào tấm vải trước khi giấu trong ống khói. Từ lúc đó, ả đã mơ ăn trộm món tiền đó rồi chạy trốn. Tất nhiên, Basarov chắc chắn sẽ bẻ cổ ả nếu hắn bắt kịp ả, nhưng ả tính rằng hắn có phát hiện ra hộp thiếc trống không thì tim hắn đã nổ tung ra, ngay tại ống khói. Ả rất chắc quả tim hắn và cái hộp kia chỉ là một. Theo ả nghĩ, mấy tay lính còn uống chừng một giờ nữa. Lúc này bọn họ chỉ sờ soạng ả thôi, một ưu đãi bọn họ không phải mất tiền trừ phi người ta coi vodka miễn phí là tiền boa mà ả không cho là vậy. Ả dò quanh những khách hàng khác, tin rằng ả có thể kiếm thêm chút ít khi mấy tay lính kia phải quay về trại. Toán lính chiếm hết mấy bàn đầu, để các khách hàng còn lại những bàn sau. Những khách hàng này ngồi một mình - chỉ họ và đồ uống của họ và món thức ăn chưa động đến. Chắc chắn: họ đang kiếm tình. Chẳng có lý do nào khác để lảng vảng nơi đây. Ilinaya chỉnh lại vạt váy, bỏ ly rượu đấy, và đi qua giữa đám rất nhiều lính với những cái véo và bình phẩm cho đến khi tới một trong những bàn sau. Người đàn ông ngồi đó chừng bốn mươi, có lẽ trẻ hơn một chút. Thật khó đoán. Hắn không điển | 246 |
4 | bớ. Khi trời đã sang buổi trưa ngày hôm sau, Leo dọn bữa sáng, tự hỏi sao lại lâu đến vậy. Khi cuối cùng thì cũng có tiếng gõ cửa đầu tiên, gã và Raisa đã đứng lên, thở gấp, nghĩ rằng đây là kết thúc, bọn lính đến đưa họ đi, chia rẽ họ và mang họ đến những cuộc thẩm vấn khác nhau. Thế mà, chỉ là việc vặt; đổi lính gác, một tên dùng nhà tắm của họ, hỏi về việc mua đồ ăn. Có lẽ họ không thể tìm thấy bằng chứng nào, có lẽ hai người sẽ được minh oan và vụ án chống lại họ sẽ sụp đổ. Leo chỉ đùa giỡn với ý nghĩ này trong thoáng chốc: những cáo buộc không bao giờ sụp đổ vì thiếu bằng chứng. Tuy nhiên, một ngày trở thành hai ngày, hai ngày trở thành bốn ngày. Vào ngày 6 tháng Ba, thay vì nghe tiếng gõ cửa báo tin số mệnh của họ, Leo và Raisa được phép dự lễ tang cấp nhà nước của Lãnh tụ. Theo quy định là vẫn đang bị quản thúc tại nhà, nhưng Leo và Raisa và hai lính canh đã hòa vào đám đông một cách đầy trách nhiệm, tất cả đều tiến về Quảng trường Đỏ. Nhiều người khóc, một số không kìm nén được - đàn ông đàn bà và trẻ em. Bầu không khí tràn ngập nỗi buồn. Các phố chính và tòa nhà Xô viết Tối cao chật ních người đến mức khó thở, tiến tới trước không kiểm soát được, giống như một hòn đá kẹt trong một trận sụt lở. Leo không lần nào để tuột tay Raisa, và mặc dù vai thiên hạ chen gã tứ phía gã cũng cố cho chắc là họ không bị xô nhau ra. Họ liền bị tách khỏi đám lính canh. Khi họ gần quảng trường, đám đông ép chặt hơn. Cảm thấy sự chen lấn, cơn cuồng loạn dâng cao, Leo đã quyết định xong. Tình cờ, họ bị đẩy ra rìa đám đông và thế là gã bước vào một cánh cửa, giúp Raisa thoát khỏi đám đông. Họ nấp đó, nhìn dòng người tiếp tục đi qua. Đó là quyết định đúng. Phía trước, mọi người chen lấn giẫm đạp lên nhau. Trong cơn hỗn loạn, họ có thể thử tẩu thoát. Họ đã cân nhắc điều đó, giằng co với nó, thì thầm với nhau điều đó ở ngưỡng cửa. Mấy tay lính gác theo họ đã mất dấu. Raisa muốn bỏ chạy. Nhưng bỏ chạy sẽ cho người ta mọi lý do cần thiết để tử hình họ. Và thực tế là, họ không có tiền, không bạn bè, và không chỗ ẩn nấp. Nếu họ quyết định bỏ chạy, cha mẹ Leo sẽ bị xử tử. Cho đến giờ họ vẫn may mắn. Leo đã đặt cược mạng sống của họ bằng việc ở lại đương đầu. * * * HÀNH KHÁCH CUỐI CÙNG ĐÃ LÊN TÀU. Trưởng ga, thấy những người mặc quân phục túm tụm trên sân ga gần đầu máy, nán lại chờ họ. Lái tàu thò đầu ra khỏi buồng lái, cố tìm hiểu xem có vấn đề gì. Những hành khách tò mò liếc trộm ra cửa sổ nhìn đôi vợ chồng trẻ đang gặp một rắc rối nào đó. Leo thấy là một nhân viên mặc quân phục đang bước về phía họ. Đó là Vasili. Leo đã nghĩ là hắn. Hắn ta khó mà bỏ lỡ cơ hội này để hả hê. Leo cảm thấy thoáng giận dữ nhưng gã buộc phải nén cảm xúc lại. Có lẽ vẫn còn một cái bẫy được giăng ra. Raisa chưa bao giờ gặp Vasili trước đó, nhưng cô đã nghe Leo tả về hắn: Một khuôn mặt người hùng có trái tim của kẻ tay sai. Thậm chí nhìn qua cô cũng có thể biết có gì đó rất lệch lạc ởhắn. Hắn cười như thể nụ cười đó được tạo ra không để biểu lộ gì hơn ác tâm. Khi hắn đến chỗ họ, cô nhận thấy hắn sung sướng trước sự bẽ mặt của Leo và hắn thất vọng vì nó không nhiều hơn. Vasili nhăn răng cười: - Tao khăng khăng là họ phải đợi, để tao có thể nói lời tạm biệt. Và giải thích cái gì đã được quyết định cho mày. Tao muốn đứng ra làm việc này, mày hiểu chứ? Hắn đang thích thú. Dù kẻ này đang làm Leo kinh tởm, nhưng thật ngu ngốc nếu liều lĩnh chọc giận hắn khi họ đã sống sót được đến giờ này. Bằng một giọng vừa đủ nghe gã lẩm bẩm: - Tôi rất cảm kích. - Mày bị thuyên chuyển. Không thể giữ mày lại MGB khi trên đầu mày vẫn treo quá nhiều câu hỏi chưa được trả lời. Mày sẽ gia nhập dân quân. Không phải là syshchik, không phải thanh tra, mà là cấp thấp nhất, một uchastkovyy. Mày sẽ là thằng đi rửa dọn phòng giam, một thằng ghi chép - một kẻ làm những gì được bảo. Mày phải quen với việc nhận lệnh nếu mày muốn sống. Leo hiểu sự thất vọng của Vasili. Hình phạt này - lưu đày đi làm việc cho lực lượng dân quân địa phương - quả là nhẹ nhàng. Căn cứ vào sự nghiêm trọng của các cáo buộc, họ có thể phải đối mặt với hai mươi lăm năm làm việc ở mỏ vàng Kolyma, nơi nhiệt độ là âm năm mươi độ, và bàn tay tù nhân bị biến dạng vì phát cước và chỉ còn mong sống được ba tháng. Họ không chỉ thoát được cùng mạng sống mà còn tự do. Leo không ảo tưởng rằng thiếu tá Kuzmin đã làm điều này vì tình cảm. Sự thật là ông ta cũng sẽ tự gây khó cho mình nếu truy tố người ông ta đỡ đầu. Sẽ tốt hơn, khôn ngoan hơn nếu chỉ cần cho gã đi xa dưới chiêu bài thuyên chuyển. Kuzmin không muốn các đánh giá của ông ta bị soi mói; dù gì, nếu Leo là gián điệp thì tại sao Kuzmin lại ưu ái gã bằng những lần thăng chức? Không, những câu hỏi đó thật rắc rối. Sẽ đơn giản hơn và an toàn hơn nếu quét lùa gã dưới một góc thảm nào đó. Hiểu rằng bất cứ biểu lộ nhẹ nhõm nào cũng sẽ làm Vasili bực mình, Leo cố hết sức tỏ vẻ chán nản: - Tôi sẽ làm nhiệm vụ ở nơi cần đến tôi. Vasili bước lên, dúi mấy tấm vé và giấy tờ vào tay Leo. Leo nhận lấy giấy tờ và tiến về phía tàu. Raisa bước lên toa. Khi cô đang bước thì Vasili nói với theo: - Thật khó khăn khi biết ra là chồng cô đã cho người theo dõi cô. Mà không chỉ một lần. Tôi chắc hắn đã kể cho cô nghe. Hắn ta theo dõi cô hai lần. Lần kia lại không phải việc công. Hắn không nghĩ cô là gián điệp. Hắn nghĩ cô là con điếm. Cô phải tha thứ cho hắn. Mọi người ai cũng có những nghi ngờ. Và cô lại quá xinh đẹp. Cá nhân tôi, tôi không nghĩ cô xứng đáng để mà phải từ bỏ tất cả. Tôi ngờ rằng khi chồng cô nhận ra cái hố xí chúng tôi chuyển hắn đến, hắn sẽ dần ghét bỏ cô. Còn nếu là tôi, thì tôi đã chọn căn hộ và để cô bị bắn như một kẻ phản bội. Tôi chỉ còn biết nghĩ rằng hẳn cô rất giỏi khi trên giường. Raisa thắc mắc về sự ám ảnh của kẻ này đối với chồng cô. Nhưng cô vẫn yên lặng: sự trả đũa có thể khiến họ phải trả giá cả tính mạng. Không bận tâm đến sợi dây bị tuột, cô xách va li lên và mở cửa toa tàu. Leo theo sau cô, thận trọng không quay lại. Có khả năng, nếu gã thấy Vasili nhếch mép, gã sẽ không thể kiểm soát bản thân được nữa. *** RAISA NHÌN RA cửa sổ khi con tàu rời nhà ga. Không còn chỗ ngồi và họ buộc phải đứng, ép sát nhau. Trong một lúc lâu, không ai nói gì, chỉ nhìn thành phố chạy qua. Cuối cùng Leo nói: - Anh xin lỗi. - Tôi chắc chắn là hắn ta nói dối. Hắn ta sẽ nói bất cứ điều gì để chọc tức anh. - Hắn nói sự thật. Anh đã cho người theo dõi em. Và chuyện đó không liên quan gì đến công việc hết. Anh đã tưởng... - Là tôi ngủ với người khác? - Có một thời gian em không nói chuyện với anh. Em không động vào anh. Em không ngủ với anh. Ta như những người lạ. Và anh không thể hiểu tại sao. - Ta không thể lấy một nhân viên MGB mà không nghĩ sẽ bị theo dõi. Nhưng cho tôi biết đi, Leo, làm sao tôi lại có thể không chung thủy? | 250 |
4 | ã cũng cảm thấy điều đó. Cô muốn tự gã phải hiểu, phải trải qua. Kiệt sức, mắt cô trĩu nặng vì buồn ngủ, cô ngước lên khi Leo đi vào quán. Cô đứng dậy, đến bên chồng mình, nhận thấy cặp mắt đỏ ngầu của gã. Trước đây cô chưa bao giờ thấy gã khóc. Gã quay đi và rót rượu từ cái chai gần nhất. Cô đặt tay lên vai gã. Chuyện xảy ra trong một tích tắc: Leo quay lại, bóp cổ cô và siết mạnh: - Cô đã gây ra thế này. Gân cổ cô thắt lại, mặt cô đỏ bừng - cô không thở được, cô đang bị nghẹt. Leo nhấc bổng cô lên: cô đang nhón trên đầu ngón chân. Tay cô quờ quạng nắm bàn tay gã. Nhưng gã không chịu buông và cô không gỡ được. Cô với tay xuống mặt bàn, ngón tay với tìm chiếc cốc, mắt cô nhòe đi. Cô chạm được chiếc cốc, làm đổ. Nó đã nằm trong tầm với: cô nắm lấy, xoay lại, phang vào bên mặt Leo. Chiếc cốc vỡ ra và cắt vào lòng bàn tay cô. Như thể bùa chú bị hóa giải, gã buông cô ra. Cô ngã ra sau,ho sặc, ôm lấy cổ. Họ nhìn nhau chằm chằm, như những người lạ, như thể toàn bộ quá khứ của họ đã bị xóa sạch trong tích tắc ấy. Mảnh thủy tinh cắm trong má Leo. Gã sờ vào mảnh vụn và rút ra, nhìn nó trong lòng bàn tay. Cô không quay lưng, men đến cầu thang, vội vã đi lên, bỏ gã lại. Leo không đuổi theo, gã nuốt hết ly rượu và lại rót ly khác rồi thêm một ly khác, và lúc nghe tiếng xe của Nesterov bên ngoài thì gã đã làm gần hết chai rượu. Gã chếnh choáng, chưa tắm rửa, chưa cạo râu, say nhòe, tàn ác và hung bạo một cách điên dại - chưa mất đến một ngày mà gã đã chìm xuống tầm mức của kẻ dân quân. Lúc trên xe, Nesterov không hỏi gì về vết xước trên mặt Leo. Anh ta nói nhát gừng về tình hình thị trấn. Leo không nghe, hầu như không ý thức gì về xung quanh, gã còn bận tâm với câu hỏi mình vừa làm gì. Gã đã cố bóp cổ vợ, hay đấy chỉ là ảo giác do bộ não thiếu ngủ gây ra? Gã sờ vết xước nơi má, thấy máu trên đầu ngón tay - là thật, gã đã làm vậy và gã có thể đã làm hơn thế. Thêm vài giây nữa, siết tay chặt thêm chút nữa, thì cô đã chết. Ngọn nguồn thúc đẩy là việc gã đã giao nộp tất cả: cha mẹ, sự nghiệp, tất cả vì một cái cớ giả dối, sự hứa hẹn về một gia đình, ý nghĩ rằng có mối liên hệ nào đó giữa họ. Cô đã lừa gã, dàn xếp mọi chuyện, làm lệch đi quyết định của gã. Cho đến khi cô đã an toàn và cha mẹ gã chịu khổ sở thì cô mới thừa nhận chuyện mang thai là dối trá. Rồi cô còn đi xa hơn nữa, ra mặt mô tả cô coi thường gã thế nào. Cô đã thao túng thói đa cảm của gã và phỉ nhổ vào mặt gã. Đổi lại cho sự hy sinh của mình, đổi lại việc bỏ qua bằng chứng tố cáo tội trạng của cô, gã chẳng nhận được gì. Nhưng Leo không tin dù chỉ một giây. Thời gian tự biện bạch đã hết. Điều gã đã làm là không thể tha thứ được. Cô đã đúng khi coi thường gã. Có bao nhiêu người anh, người chị, bao nhiêu người mẹ, người cha mà gã đã bắt? Gã thì có khác gì so với kẻ mà gã cho là đối nghịch về đạo đức với mình - Vasili Nikitin? Có phải sự khác biệt chỉ ở chỗ Vasili tàn nhẫn vô cảm, còn gã tàn nhẫn có lý tưởng? Một bên là tàn nhẫn trống rỗng, thờ ơ, còn bên kia tàn nhẫn một cách phép tắc, ngạo mạn tự cho mình là cần thiết, hợp lý. Nhưng nói một cách thực tế, nói một cách tiêu cực, giữa hai kẻ đó không mấy khác nhau. Leo thiếu trí tưởng tượng đến mức không nhận ra rằng gã dính líu vào chuyện gì ư? Hay tệ hơn nữa - gã đã lựa chọn không tưởng tượng? Gã đã đóng chặt những suy nghĩ đó, gạt bỏ chúng sang bên? Trong đống vụn nát những xác tín luân lý của gã còn lại một sự thật. Gã đã hy sinh đời mình cho Raisa để rồi lại cố giết cô. Điều này thật điên rồ. Nếu như vậy, gã không có gì hết, không có thậm chí người phụ nữ mà gã đã cưới. Gã muốn nói người phụ nữ mà gã yêu. Gã có yêu cô không? Gã đã cưới cô, không phải hai điều này giống nhau sao? Không, không hẳn - gã đã cưới cô bởi cô xinh đẹp, thông minh, và gã tự hào có cô bên mình, tự hào biến cô thành của gã. Đấy là một bước nữa tiến tới cuộc đời hoàn hảo - công việc, gia đình, và con cái. Trên nhiều khía cạnh, cô chỉ là một món tầm thường, một cái răng trong những bánh xe tham vọng của gã, một nền tảng gia đình cần thiết cho sự nghiệp thành công của gã, cho địa vị Công dân Kiểu mẫu của gã. Vasili chẳng đã đúng khi hắn nói có thể thay cô bằng người khác sao? Lúc trên tàu, gã đã đòi hỏi cô bày tỏ tình yêu đối với gã, xoa dịu gã, thưởng công cho gã bằng một câu chuyện lãng mạn tưởng tượng trong đó gã là người hùng. Thật lâm li. Gã buột ra tiếng thở dài, rồi day trán. Gã đã thua cơ - và đấy chính là ý nghĩa của chuyện này với Vasili, một trò chơi, và thẻ chơi được gán bằng nỗi đau. Thay vì Vasili hành hung vợ gã, khiến cô đau đớn, Leo đã làm phần việc đó cho hắn, làm tất cả mọi việc trong kế hoạch của kẻ kia. Họ đến nơi. Chiếc xe dừng lại. Nesterov đã ra khỏi xe và chờ gã. Không biết mình đã ngồi thế này lâu chưa, Leo mở cửa xe, bước ra và theo cấp trên vào trụ sở dân quân để bắt đầu buổi sáng làm việc. Được giới thiệu với các nhân viên, bắt tay, gật đầu, chào hỏi, đồng tình nhưng không thể nhớ điều gì; những cái tên, những chi tiết - chúng không hề đọng lại trong gã - và mãi cho đến khi ở một mình trong phòng thay đồ với bộ đồng phục treo trước mặt, gã mới bắt đầu tập trung vào thực tại. Gã cởi giày, từ từ tháo tất khỏi những ngón chân dính máu và xả chân dưới làn nước lạnh, nhìn nước ngả sang màu đỏ. Vì gã không có tất mới, và không thể đi hỏi xin đôi mới, gã đành phải dùng lại đôi cũ, nhăn mặt đau đớn khi kéo lớp vải trên những vết bỏng rộp. Gã cởi quần áo, để đồ dân sự thành đống ở chân tủ rồi mặc vào bộ đồng phục mới, quần vải thô có sọc đỏ và áo khoác dân quân nặng nề. Gã ngắm nhìn trong gương. Có vết đen dưới mắt, một vết cắt rỉ máu dọc xuống má trái. Gã liếc nhìn phù hiệu trên áo. Gã là một uchastkovyy, gã chẳng là gì hết. Những bức tường trong văn phòng Nesterov được trang hoàng những bằng khen có đóng khung. Đọc từ bên này sang bên kia, Leo phát hiện ra sếp mới của gã đã giành chiến thắng trong những cuộc thi vật và giải bắn súng nghiệp dư và nhận được nhiều danh hiệu Nhân viên của Tháng vào nhiều dịp ở cả đây và nơi ở cũ, Rostov. Thật là một sự trưng bày khoe khoang, và điều này có thể hiểu được khi tính đến vị trí anh ta nắm giữ tầm thường đến vậy. Nesterov dò xét nhân viên mới, không thể hiểu nổi gã. Tại sao người này, một cựu nhân viên MGB cấp cao, được tặng huân chương trong chiến tranh, lại trong tình trạng bệ rạc như vậy - móng tay cáu bẩn, mặt chảy máu, đầu tóc bẩn thỉu, người sặc mùi rượu, và rõ ràng thờ ơ trước sự giáng cấp này? Có lẽ gã đúng như người ta mô tả: hết sức bất tài không đáng được giao trách nhiệm. Vẻ ngoài của gã thật đúng mô tả rồi. Nhưng Nesterov không tin: có lẽ vẻ ngoài nhếch nhác này là một cái mẹo. Anh | 256 |
4 | EO? BÀI HÔM NAY LÀ VỀ BĂNG TỎA*. TA BẮT ĐẦU VỚI SỰ BĂNG PHONG*, SAU ĐÓ SANG BĂNG HỒ*. CÁI NHÌN LẠNH BĂNG BRRRR...! GIỚI THIỆU Những giờ địa lý. Buồn như chấu cắn nhỉ? Một số thầy dạy địa làm bạn cóng bằng những kiến thức buốt óc với đủ thứ từ ngữ quái đản... * Dịch nôm na thì băng tỏa là một thuật ngữ "tinh vi" để chỉ việc một nơi bị băng phủ như thế nào. Băng phong là nền đất bị đóng băng di chuyển và lún xuống khi băng tan ngấm xuống đất vào mùa xuân. Băng hồ là những khoảnh nước bị biển băng bao bọc. Cá là bạn sẽ chẳng muốn bị hỏi đâu! 6 BA-ÀI H-ỌC H-ÔM NA-AY LÀ VỀ... CƯ-Ứ TH-Ế LÀ H-ẾT NGA-ÀY! Thôi, tạnh đi! Chưa biết chừng còn tệ hơn nữa kia.Tệ hơn nhiều. Nếu bạn tưởng lớp học của bạn ẩm ướt và lạnh giá kinh hồn thì hãy cảm ơn số phận vì bạn không phải đến một trường lạnh co-óng ở Bắc hoặc Nam cực. Lúc đó thì bạn còn mải lo giữ ấm, chả có thời giờ đâu mà kêu ca. Tin xấu là miền cực giá lạnh là nơi lạnh nhất, băng giá nhất và khô nhất trên cả hành tinh lạnh giá của chúng ta. Nó còn thuộc vào hàng gió nhất nữa. Mà lại xa khủng khiếp. Thực ra đó chính là tận cùng của Trái đất và bạn chả còn đi được đâu xa hơn thế nữa. Càng may, chắc bạn nghĩ thế. Bé cái nhầm. Tin tốt là miền cực lạnh cóng ấy lại là những mẩu tuyệt vời nhất của địa lý xưa nay. Bạn sẽ sớm mắc chứng ám ảnh vùng cực thôi (nếu giá lạnh chưa cắn bạn trước). Thấy cứng hết cả chân rồi à? Đừng hoảng. Cái hay của Địa lý Kinh dị là bạn có thể thăm thú nhưng nơi xa tít xa mù mà chả phải ra khỏi nhà. Cuốn sách này là lý tưởng đối với các khách lữ hành salon. Y sì như bạn. Vậy thì hãy kiếm một cái ghế tựa thật ngon mà ngồi cho thoải mái vào. Thử tưởng tượng xem thầy địa lý của bạn tá hỏa cỡ nào trước những hiểu biết về vùng cực mới toe của bạn. Mà bạn thì ngay cả cây gắp đá cũng chả cần phải mang theo nữa. 7 CHẢ THẤY TĂM HƠI ĐÂU CẢ NHỈ? Nếu bạnđã ngứa ngáy muốn biết miền cực là thế nào (mà không cần phải đứng dậy), hãy thử một thí nghiệm đơn giản xem nhé. Chờ đến một ngày đông thật là lạnh. Ở châu Âu thì đó là ngày mà sáng ra thấy có xe ủi tuyết ngoài cửa ấy. Đó là ngày mà việc đến trường là HOÀN TOÀN KHÔNG ĐƯỢC BÀN ĐẾN! Bắt con nhỏ em bạn ra ngoài trời. (Vài phút thì gọi nó vào. KHÔNG ĐƯỢC QUÊN). Nhìn nhỏ em thật kỹ. Liệu nó có a. nổi da gà, b. đông cứng, hoặc c. trưng ra một cái mũi tím tái không? Nếu tất cả các câu trả lời là khẳng định thì bạn đã có ít nhiều khái niệm về vùng cực là thế nào rồi đấy. (Đừng lo, con em bạn không thể mách được. Răng nó gõ có ngừng được đâu). Và đó là cái mà cuốn sách này nói đến. Phải, lạnh hơn cả hầm lạnh lạnh nhất, và bị bao phủ một lớp băng dày tới vài ngàn mét, miền cực là nơi lạnh nhất hành tinh. Trong Miền Cực Lạnh Cóng bạn có thể... • học cách điều khiển xe chó kéo của người Inuit. • tìm những con voi ma-mút đông cứng bị vùi trong băng. 8 • nếm thử các thứ trong dạ dầy tuần lộc. • theo vết một núi băng to bằng cả nước Bỉ cùng với nhà băng học* sừng sỏ Gloria. MỪNG BẠN ĐẾN CHƠI * Nhà băng học là người chuyên nghiên cứu về băng (chứ không phải nhà băng). Thế là có người hiểu được thầy giáolải nhải cái gì rồi. Địa lý này chả giống gì ngày xưa. Và nó gay cấn khủng khiếp luôn. Nhưng coi chừng đấy - quấn cho thật ấm trước khi đọc cuốn sách này, kể cả có ngồi trong nhà. Bạn đang sắp dấn thân vào cuộc phiêu lưu băng giá, da gà tha hồ mà chạy khắp sống lưng. 9 CUỘC ĐUA ĐẾN CỰC 1 tháng Mười một năm 1911, McMurdo Sound, Nam cực Buổi sáng giá lạnh, một nhóm người chia tay với các bạn đồng hành. Ai nấy đều có vẻ trang trọng. Liệu họ có còn gặp lại bạn bè không? Không ai biết cả. Bởi lẽ họ sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu lớn nhất trong đời. Họ đang cố trở thành những người đầu tiên đến được cực Nam để lưu danh trong sử sách. Một chuyến đi khó khăn kinh khủng qua Nam cực mênh mông băng giá đang chờ họ. Một người đã được nếm mùi. Chín năm trước thuyền trưởng Robert Falcon Scott dẫn đầu một đoàn thám hiểm đã đến cách cực Nam chưa đầy một trăm cây số nhưng thời tiết giá buốt và gió dữ dội đã buộc họ phải quay lại. Lần này con người sắt đá đó quyết chí chỉ có thành công hoặc chết. Việc chuẩn bị cho chuyến đi chiếm gần trọn một năm. Rồi ngày 1 tháng Sáu năm 1910, chiếc Terra Nova, một chiếc tàu săn cá voi được sửa lại và gia cường để phá được băng, đã rời nước Anh. Sáu tháng sau, sau một chuyến hải hành bão táp, Terra Nova đãbỏ neo giữa đám băng trôi ở McMurdo Sound. Scott và người của ông dựng một ngôi nhà gỗ bên bờ mũi Evans trên đảo Ross để trú tạm qua những ngày đông tối tăm dài dằng dặc. (Ở bán cầu nam mùa ngược hẳn. Từ tháng Ba đến tháng Mười là mùa đông). CỨ LỐI NÀY MÀ ĐI NHÁ. LÀM NHƯ NGƯỜI TA KHÔNG BIẾT ĐÂU LÀ HƯỚNG NAM! 10 LẠI HƯƠU MŨI ĐỎ RUDOLF! LÀM CHO TÔI CÁI BỒN TRỒNG CÂY Ở CỬA SỔ ĐƯỢC KHÔNG? Đương đầu với cái lạnh kinh hoàng, họ lui cui chuyển đồ tiếp tế bố trí dọc đường và tiến hành các thí nghiệm. Tối tối họ nghe máy quay đĩa và xem phim đèn chiếu giết thời gian. Càng lâu càng tốt. Rồi cuối cùng thì chuỗi ngày chờ đợi cũng hết. Đã đến lúc tấn công địa cực. Khi nói lời tạm biệt, vẻ mặt buồn bã của thuyền trưởng trông lạnh lùng và bình tĩnh nhưng trong đầu thì những ý nghĩ cứ chạy nháo nhào cả lên. Ông yên lòng rời London vì biết rằng địch thủ lớn nhất của mình, nhà thám hiểm tài ba người Na Uy, Roald Amundsen đã lên đường đến Bắc cực ở đầu bên kia Trái đất. Amundsen hy vọng sẽ đến được cực Bắc trước tiên nên nhường cực Nam lại cho Scott. Đó là ông tưởng vậy. Vào ngày 6 tháng Tư năm 1909, người Mỹ Robert Peary tuyên bố đã đến được cực Bắc làm sụp đổ dự định của Amundsen. Không nói với ai một câu nào, Amundsen đầy tham vọng lập tức đổihướng nhằm phía Nam mà đi. Scott biết tin này qua bức điện Amundsen gửi đến như sau: 11 THÁI BÌNH DƯƠNG BIỂN ROSS TRẠI CỦA SCOTT TRẠI CỦA AMUNDSEN ĐẢO ROSS LỘ TRÌNH CỦA SCOTT BÃI BĂNG ROSS LỘ TRÌNH CỦA AMUNDSEN TRẠM TIẾP TẾ LỀU CỦA SCOTT ĐƯỢC TÌM THẤY TẠI ĐÂY CỰC NAM FRAM LÀ TÊN CON TÀU CỦA AMUNDSEN Nhưng lúc đó thì Amundsen đã trên đường đi rồi. Thế là cả hai đều không còn đường lùi. Cuộc đua đến cực Nam đã thực sự bắt đầu. Mười ngày sau khi Scott đến nơi thì Amundsen cùng bầu đoàn của mình cũng cập vịnh Cá Voi ở bãi băng Ross và dựng trại (tên là Framheim). Mọi thứ đều theo đúng kế hoạch. Trong lúc Scott và người của mình nói lời từ biệt thì Amundsen đã xuất phát. 12 MÌNH G | 310 |
4 | ẦN ĐẾN NƠI CHƯA NHỈ? Tháng Mười hai năm 1911/tháng Giêng năm 1912 Lúc Scott rời mũi Evans thì Amundsen đã đi trước ông tới 12 ngày. Và cách biệt càng gia tăng. Đến ngày 17 tháng Mười một thì Amundsen già dơ và người của ông đã đến điểm nửa đường là chân dãy núi Transantarctic (liên nam cực). Lúc này lại có một trở ngại khác chắn đường họ - một sông băng dốc đứng gọi là sông băng Axel Heiberg. Con sông lỗ chỗ những khe nứt to tướng với các khối băng khổng lồ nằm rải rác. Để vượt qua sườn dốc hung hiểm phải mất đứt bốn ngày gãy lưng. Nhưng rốt cuộc họ đã lên đến đỉnh. Đến đó thì ngăn cách họ vớiđịa cực chỉ là một khoảng mênh mông toàn băng trắng toát (gọi là cao nguyên cực) trải dài hút tầm mắt. Thế rồi tai họa ập đến. Thời tiết đột nhiên thay đổi. Suốt hai tuần liền bão tuyết mịt mù và gió dữ quét ngang cao nguyên. Những người Na Uy gan góc chỉ còn có nước dựng cái lều mỏng manh của họ sau lưng một tảng băng và cầu nguyện. May sao mà trời cao nghe thấy lời họ. Gió đột ngột tắt và trời quang hẳn. Với nắng chói và trời xanh, đoạn đường còn lại đúng là một cuộc dạo chơi. Ngày 14 tháng Mười hai, Amundsen và những người đồng hành kiên cường của ông cuối cùng đã đặt chân đến cực Nam. Không 13 nói một lời, họ lặng lẽ bắt tay nhau. Chả còn gì để mà nói cả. Họ đã làm được - và thế là đủ. Nhưng họ cũng không dám dừng lại quá lâu. Họ quá biết rằng thời tiết có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Amundsen bỏ ra ba ngày để xác định vị trí của họ thật cẩn thận bằng kính lục phân (một dụng cụ hàng hải ngày trước dùng để đo góc giữa mặt trời và đường chân trời) để chứng minh cho mọi người rằng ông đã thực sự làm được. Trước khi rời đi họ dựng lều và cắm một lá cờ Na Uy trên đỉnh. Amundsen còn để lại lời nhắn cho Scott, nhờ ông này chuyển tin thắng trận của ông đến vua Na Uy. Lời nhắn viết rằng: Sáu tuần sau những ngườiNa Uy đã về tới Framheim an toàn và mạnh khỏe. Họ đã hoàn thành hành trình kỳ công 2.500km của mình trong 98 ngày. Trong lúc đó thì Scott đang lâm vào cảnh tuyệt vọng. Khi Amundsen tự hào chụp hình tại cực Nam thì Scott và người của ông đang vật lộn trên một con sông băng phản phúc khác là sông băng Thuyền trưởng Scott thân mến, Vì chắc ông sẽ là người đầu tiên sau chúng tôi đến được đây nên tôi tha thiết nhờ ông chuyển thư này lên đức vua Haakon VII. Nếu ông có thể dùng được thứ gì còn lại trong lều thì xin chớ do dự. Trân trọng. Mong ông trở về an toàn. Kính thư, Roald Amundsen 14 Beardmore, cách đó gần 640km. Cuối cùng, vào đúng năm mới, 1912, họ cũng tới được cao nguyên cực. Bấy giờ cái đích đã ngay trước mắt nên ai nấy đều phấn chấn. Họ nào có biết Amundsen đã lên đường trở về. Trong đợt tấn công cuối cùng này Scott đã chọn bốn bạn đồng hành tin cậy - Edgar Evans, Lawrence Oates, Henry Bowers và bác sĩ Edward Wilson. Những người còn lại trong nhóm hỗ trợ ông đã cho quay lại. Đó là một nỗ lực siêu nhiên. Với nhiệt độ xuống dưới -400C, mỗi bước đi là một cực hình. Nhưng điều tệ nhất đã phải đến. Vào ngày 16 tháng Giêng, mọi người trông thấy một lá cờ đen ở đằng xa. Như vậy có nghĩa là đã có dấu hiệu dựng trại ở đấy rồi. Amundsen đã đánh bại họ. Những longại tệ hại nhất của họ đã trở thành hiện thực. Trong nhật ký của mình, Scott đã ghi lại những giấc mơ tan vỡ của họ: "Điều tệ hại nhất hoặc gần như thế đã xảy ra... Những người Na Uy đã qua mặt chúng tôi để trở thành người đầu tiên đặt chân đến địa cực. Đó là một thất vọng khủng khiếp... Ngày mai chúng tôi sẽ lên đường đến địa cực rồi quay về nhanh hết sức có thể." Thất vọng chán chường, hai hôm sau Scott đã đến cực Nam. "Lạy Chúa chí thánh!" ông viết trong nhật ký. "Chốn này thật khủng khiếp." Đường về Kiệt sức, đói lả, bị cước vì giá lạnh và xuống tinh thần, Scott và những người đồng hành bắt đầu cuộc hành trình ác mộng trở về. Tuyết bay lấp mất dấu nên họ thường xuyên lạc đường. Từng người một lần lượt xuống sức. Vào ngày 17 tháng Hai, Edgar Evans chết sau khi ngã xuống một khe băng. Một tháng sau Lawrence Oates quả cảm đã ra khỏi lều bước vào bão tuyết."Tôi ra ngoài một chút," ông nói. "Có lẽ cũng lâu lâu đấy." Đó là lần cuối họ thấy Oates còn sống. Chân ông bị cước nặng và ông đã chọn chết một mình để khỏi làm chậm bước mọi người. 15 Thứ năm, ngày 29 tháng Ba năm 1912 Từ ngày 21 đến giờ gió giật liên tục. Chúng tôi chỉ còn đủ chất đốt để nấu hai tách trà và một mẩu thức ăn chỉ đủ cho hai ngày. Ngày nào chúng tôi cũng chuẩn bị lênđường đến trạm nhưng bên ngoài lều vẫn rú rít không dứt. Lúc này tôi không nghĩ chúng tôi có chút hy vọng khá hơn nào. Chúng tôi sẽ chống chọi đến cùng, có điều sức đã yếu đi, tất nhiên rồi, và kết thúc cũng không còn xa nữa. Tiếc thay, chắc tôi không thể viết thêm được. Vào ngày 19 tháng Ba, khi khẩu phần thức ăn và chất đốt đã xuống đến mức nguy hiểm thì oái oăm thay họ lại bị mắc kẹt trong lều vì một cơn bão tuyết mịt mù. Gió giật ào ào và tuyết xoáy tít không làm sao bước nổi. Trạm tiếp tế chỉ cách đó 18km, có đủ thức ăn và chất đốt để cứu sống họ. Thế mà không thể tới được mới tức chứ. Ngày qua ngày họ chờ thời tiết khá lên, tuy nhiên trong lòng họ đã biết rằng số họ đã tận. Họ yếu đi từng ngày. Với một chút sức tàn, Scott viết thư về nhà và vẫn tiếp tục ghi nhật ký. Lần cuối cùng là vào thứ năm, ngày 29 tháng Ba năm 1912. Ông viết: 16 XIN CHÀO! GÌ THẾ... Đến tháng Mười một, một đoàn tìm kiếm đã thấy cái lều phủ tuyết, bên trong có ba xác chết. Cuốn nhật ký và những bức thư của Scott nằm bên cạnh ông. Một ụ tuyết với cây thập giá làm bằng ván trượt tuyết bên trên được đắp lên ngay chỗ đó. Năm nguyên nhân giúp Amundsen đến được cực Nam trước 1 Amundsen xuất phát trước. Ông dựng trại ngay mép bãi băng Ross -một việc khá liều lĩnh. Nếu băng vỡ thì trại của ông sẽ trôi ra biển. Nhưng việc này cũng đáng liều. Như vậy Amundsen đã gần địa cực hơn Scott khoảng 100km. Đến khi Scott lên đường thì Amundsen đã ở xa phía trước rồi. 17 2 Amundsen để chó kéo Bắc cực làm hết những việc nặng. Bầy chó nhanh nhẹn, được huấn luyện tốt và rất bền sức. Sáu con chó thượng hạng có thể kéo một chiếc xe trượt nửa tấn chạy tới 100km mỗi ngày. Thoạt đầu người ta còn ngồi xe trượt, sau đó thì được kéo theo sau trên ván trượt. Scott không có kinh nghiệm lắm trong việc dùng chó. Ông còn nghĩ phải để người của mình tự kéo xe trượt mới đáng mặt đàn ông, kể cả việc đó có nặng gãy lưng cũng thế. Một người thuật lại rằng ruột gan ông ta như thể lộn tùng phèo cả lên. Đối với những con ngựa lùn mà Scott cất công đưa từ mãi Siberia sang thì đi lại quả là vất vả. Những con vật tội nghiệp bị ngập đến gối trong tuyết, còn mồ hôi ra đến đâu đóng băng đến đấy trong bộ lông của mình. Để chúng đỡ khổ, cuối cùng người ta đành phải bắn hết. Còn về ba chiếc xe trượt gắn máy thì hai chiếc hỏng, một thì bị ném qua mạn tàu vì nó chả chở gì. 3 Người của Amundsen ăn thịt tươi. Ông hiểu rằng nếu không được cung cấp thịt tươi thì người của ông sẽ chết vì bệnh scurvy (sco-bút - là một chứngbệnh chết người do thiếu vitamin C quan trọng sống còn). Thành ra khi dự trữ đã hết thì ông đè lũ chó ra mà mổ. Tại địa điểm mang tên "Hàng | 311 |
4 | thịt" trên cao nguyên cực, ông bắn một nửa số chó (cả thảy hơn 30 con). Một số được đem làm món thức ăn cho chó, còn người thì ăn chả chó. Scott kỹ tính 18 ÍT RA PHẢI NHỔ HẾT RĂNG ĐÃ CHỨ! thì cho rằng ăn thịt chó thì man rợ quá. Khẩu phần bất di bất dịch của ông là ruốc (còn gọi là chà bông - một hỗn hợp khủng khiếp gồm thịt bò khô và mỡ lợn) và cháo yến mạch lẫn mấy miếng chả chim cánh cụt hoặc hải cẩu. Khổ cái, kéo xe trượt tốn nhiều năng lượng mà ăn lại không đủ. Trong khi nhóm của Amundsen được ăn tốt ngay từ đầu thì người của Scott thiếu vitamin và dần dần thiếu ăn đến chết. 4 Amundsen đã nghiên cứu rất kỹ người Inuit. Ông đã học được những bài học quan trọng từ thổ dân Bắc cực về cách sống sót qua cái lạnh giá chết người. Quần áo của ông may bằng da chó sói theo đúng kiểu của người Inuit. Thứ này mặc ấm mà khô ráo, ngay cả khi nhiệt độ xuống dưới -400C. Scott thì trái lại chỉ chuộng quần áo làm bằng vải bông và len. Tệ một cái là nó không đủ ấm và không thoát mồ hôi. Thành ra mọi người bị lạnh cóng và ướt đầm. 5 Amundsen không quan tâm đến khoa học. Ông chỉcó duy nhất một mục tiêu là đến được cực Nam. Vì vậy ông chọn toàn những người thông thạo miền cực cho một chuyến đi khắc nghiệt. Họ có những chuyên gia điều khiển chó và người đánh xe chó kéo, cả một nhà vô địch trượt tuyết siêu khỏe. Bản thân Amundsen mới đầu còn học làm bác sĩ, nhưng sau bỏ phắt để chuyên về thám hiểm. (Ngay từ lúc còn bé ở Na Uy ông đã mơ đến được cực Nam. Ông thậm chí còn mở cửa sổ mà ngủ vào mùa đông để rèn luyện mình cho chuyến đi). Còn Scott thì chỉ sống chết với khoa học. Ông cho chất lên xe trượt những mẫu đá nặng ịch kéo 19 muốn chết luôn. (Thực ra những mẫu đá này là bằng chứng quan trọng cho thấy Nam cực vốn ấm hơn bây giờ. Buồn thay, phát hiện chấn động đó đến quá muộn đối với Scott xui xẻo). 6 Amundsen rất may mắn. Trên đường về Scott phải đối mặt với thời tiết lạnh khác thường. Đáng lẽ chỉ vào khoảng -300C như thường ngày thì Scott phải đương đầu với nhiệt độ dưới -400C. Lúc đó thì Amundsen đã bình yên về đến căn cứ rồi. Vậy thì đó là một thực tế. Các cực là chốn hiểm nghèo. Như thuyền trưởng Scott quả cảm đã thấy nó hung hiểm với mình thế nào, bạn cần phải rất rắn mặt mới sống sót qua cái giá lạnh kinh hồn đó. Liệu bạn có chịu đựng nổi tất cả những cái đó mà sống sót trở về không? Trước hếtbạn cần phải biết rõ hơn về các cực cái đã. Rõ hơn thật nhiều... 20 CÁC ĐỊA CỰC LẠNH GIÁ Hãy tưởng tượng hết dặm này sang dặm khác toàn những băng với tuyết đến hút tầm mắt. Thêm vào đó là những trận gió giật và nhiệt độ lạnh cóng cả người. Tưởng như bị nhét vào một cái tủ lạnh to nhất, lạnh nhất và giá nhất trên đời - nhưng lại không có kem hay thạch gì. Chào mừng đến với miền cực lạnh giá. Vị trí của cực Chả phải cực kỳ, cực đẹp đâu mà mơ. Không, thực ra đây là hai cực của Trái đất, là hai đầu của trục quay Trái đất (là đường tưởng tượng chạy xuyên qua giữa ruột Trái đất ấy mà). Như vậy có nghĩa là ở cực Bắc thì đi kiểu gì cũng là về hướng nam, còn ở cực Nam thì lên hướng bắc. Rắc rối quá à? Yên tâm đi. Đã có Gloria với sơ đồ cực số 1 đây. Để làm mọi chuyện thêm rối tung lên, các nhà địa lý kinh dị còn gọi cái vùng bao quanh cực Bắc là Bắc cực và quanh cực Nam là Nam cực. Hai cái mảng này chiếm cả thảy 8% bề mặt Trái đất. CỰC BẮC CỰC NAM TRỤC XÍCH ĐẠO 21 TA LÀ NGHỊCH GẤU ĐÂY! CÓ MÀ LÀ NGHỊCH DẠI! BẮC CỰC NAM CỰC CỰC BẮC CỰC NAM Thực ra thì mấy ông Hy Lạp ở đâu cũng thấy mặt này chưa hề bén mảng đến gần Nam cực, vậy thì làm sao họ biết nó ở đó? Sựthật kinh hoàng là họ không biết. Mọi cái chỉ là đoán mò, mà ai Bây giờ đến sơ đồ cực số 2. Nhưng cũng chả trách được các nhà địa lý kinh dị. Trong tất cả các thứ tiếng Tây thì Bắc cực đều là Arctic, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp vì chính người Hy Lạp cổ đại là người đầu tiên đặt tên cho vùng này mà. Cá là bạn không biết rằng trong tiếng Hy Lạp thì "Arctic" có nghĩa là gấu. Có điều đấy không phải là thứ gấu trắng hung dữ ở Bắc cực đâu. Nó cũng không săn hải cẩu trên băng nữa. Không, đó là cái hình chòm sao nằm ở cực bắc trên bầu trời cơ. Còn Nam cực thì là Antarctic, chỉ đơn giản là đối nghịch với gấu. 22 chứ người Hy Lạp thì giỏi cái khoản này đáo để. Họ cho rằng phải có một cái ụ đất ở bên dưới của thế giới đặng cân bằng với ụ đất phía trên. Nếu không thì Trái đất đâm ra trên nặng dưới nhẹ, thể nào cũng lộn tùng phèo. Cũng lạ là họ có lý - nhưng không phải về chuyện Trái đất lộn tùng phèo. Quả thực là có Antarctic thật. Hai cực riêng rẽ Bạn có thể nghĩ là hai cực lạnh giá trông giống nhau. Ý tôi là cả hai đều lạnh căm căm và toàn băng là băng, đúng không? Nhưng thực ra bên dưới lớp băng thì hai cực là hai thế giới khác nhau. Vậy thì làm sao bạn biết cực nào là cực nào? Lấy các cựcra đố nhau chơi nhé? Bạn không biết mình đang ở phía nào của Trái đất chứ gì? Thế thì sao không thử tí trắc nghiệm buốt răng để nói rằng hai cực lạnh giá khác nhau. Việc của bạn là trả lời CỰC NAM, CỰC BẮC hoặc CẢ HAI cho mỗi câu hỏi. Sẵn sàng chưa? 1 Đó là một lục địa phủ băng. 2 Đó là một mảnh đại dương bị đóng băng. 3 Ở đây có gấu trắng nhưng không có chim cánh cụt. 4 Vào mùa hè mặt trời chiếu sáng cả đêm. 5 Tháng Sáu là giữa mùa đông. 6 Người ta sống ở đó quanh năm. Trả lời: 1 CỰC NAM. Bên dưới lớp băng đó là một lục địa rộng lớn. Nam cực rộng 14 triệu km2 - gần gấp đôi châu Âu. Nhưng 99% của nó bị bao phủ một một mảng băng khổng lồ, có nơi DÀY GẦN 5KM. Như vậy là quá nửa đoạn đường lên đỉnh Everest rồi. Khối băng nặng quá thể đáng đó đè dí nền đất bên dưới xuống. Mà không chỉ có thế. Bị vùi dưới khối băng kinh hoàng kia là những dãy núi lớn và những ngọn núi lửa dữ dằn. May mà phần lớn chúng đã ngưng hoạt động - nhưng có một ngọn 23 NAM CỰC NAM BĂNG DƯƠNG TÂY NAM CỰC ĐÔNG NAM CỰC BÃI BĂNG RONNE ĐỈNH EREBUS 3.794M BIỂN WEDDELL DÃY VINSON: ĐỈNH CAO NHẤT NAM CỰC 4.897M BÃI BĂNG ROSS BIỂN ROSS CAO NGUYÊN CỰC BÁN ĐẢO NAM CỰC DÃY LIÊN NAM CỰC dở chứng là núi Erebus, ngọn này thì có thểthổi bay cái chóp của nó bất cứ lúc nào. Nam cực bị bao bọc hoàn toàn bởi Nam Băng dương. Vào mùa đông khoảng một phần ba đại dương này bị đóng băng làm tăng diện tích của Nam cực lên. Cảnh báo: Chớ có ngã khỏi tàu khi bạn đi thám hiểm chuyến tới. Vùng biển bão táp này lạnh đến nỗi não của bạn đông cứng lại chỉ trong vài phút. Brrrừ! BÃI BĂNG ROSS 24 CANADA BẮC CỰC CỰC BẮC GREENLAND CHÂU ÂU N G A 2 CỰC BẮC. Chả có tí đất nào ở cực Bắc cả, | 312 |
4 | chỉ là đại dương bị đóng băng mà thôi. Bắc Băng dương là đại dương nhỏ nhất hành tinh (khoảng 14.000.000km2), và lạnh nhất (chú ý bộ óc!).Trong hầu hết thời gian của nó bị bao phủ bởi băng trôi có thể dày tới 3m. Bắc Băng dương bị đất liền bao bọc gần kín. Đó là phần lãnh thổ phía bắc của Canada, Alaska, Scadinavia và Nga cùng với Greenland băng phủ. Tất cả chỗ này tạo thành một vùng mà các nhà địa lý gọi là Bắc cực. Vậy là đất ở Nam cực bị biển bao bọc, còn biển ở Bắc cực thì bị đất bao quanh. Hiểu cả chưa nào? 25 MẶT TRỜI TIA NẮNG CỰC BẮC ĐÊM NGÀY TRÁI ĐẤT CỰC NAM TRÁI ĐẤT QUAY CÓ CHẮC LÀ TÔI LẠC KHÔNG ĐẤY? TIN TÔI ĐI! 4 CẢ HAI. Nếu bạn không ngủ được... (thì sẽ chả có cửa nào cho bạn ở đấy đâu). Hàng nhiều tuần lễ liền không thấy mặt trời mọc và rồi sau đóthì tối thui suốt ngày. Ở cực Nam vào mùa đông trời tối liên tục sáu tháng liền. Sao lại có chuyện kỳ cục như vậy? Số là khi Trái đất quay quanh mặt trời (theo quĩ đạo tròn) thì nó còn tự quay quanh trục của mình nữa, cứ 24 giờ quay được một vòng. Mà trục của Trái đất lại còn bị nghiêng một góc. Thành ra trên Trái đất có những chỗ nghiêng về phía mặt trời còn có những chỗ khác thì ngoảnh ra, vì vậy mà có những chỗ sáng lâu hơn. Chính vì vậy mà độ dài của ngày và đêm thay đổi liên tục suốt năm. 3 CỰC BẮC. Ở cực Bắc không có chim cánh cụt. Bạn có thể va phải một con gấu trắng, chứ nếu thấy chim cánh cụt nhởn nhơ đi qua thì bạn lộn tiệm mất rồi! 26 CHÀO BÁC! 5 CỰC NAM. Trong khi bạn nằm ườn trên bãi biển nghỉ hè thì ở cực Nam là mùa đông. Và khi ở phía bắc là mùa đông thì phía Nam lại là mùa hè. Đó là vì vào tháng Sáu, bán cầu bắc nghiêng về phía mặt trời và thế là được mùa hè. Nhưng bán cầu nam lại ngoảnh ra, thế thì làm gì mà chả mùa đông. Rồi đến tháng Mười hai thì đảo ngược lại. 6 CẢ HAI. Dân bản địa đã sinh sống ở Bắc cực từ lâu. Họ là những bậc thầy trong việc sống sót.(Bạn sẽ được gặp vài người trong chương Dân Cư Bắc cực Lạnh Giá). Nhưng ở cực Nam thì khác. Chỉ có vàinhà khoa học rắn mặt kinh khủng sống ở đó trọn năm. Như thế cũng quá ghê răng rồi. Mà họ còn phải sống rất xa nhà. Láng giềng gần nhất của họ là ở Nam Mỹ, cách đó khoảng 3.000km. Nhưng không lo, bạn đã có hàng triệu con chim cánh cụt ở bên. Điểm của bạn nói lên điều gì? Bạn làm ăn ra sao rồi? Cứ mỗi câu đúng thì tự thưởng cho mình 100 điểm. 500-600 điểm. Chức mừng! Bạn "cực" đấy. Nhưng chớ vội chủ quan nhé. Tiếp theo đây bạn còn phải có một chuyến dã ngoại cực lạnh với thầy giáo nữa. Nghĩ mà rùng mình. 27 MỸ BẮC CỰC CHÀO! CHÂU ÂU CHÂU PHI ĐẠI TÂY DƯƠNG NAM CỰC NAM MỸ 300-400 điểm. Không tệ. Bạn có vẻ cũng thoải mái với môn này. Nhưng cẩn thận kẻo băng trơn trượt ngã đấy. 200 điểm và ít hơn. Chết thật. Bạn đang lò dò trên băng mỏng đấy. Điểm số kiểu này thì bạn chả có cửa làm thiên tài địa lý đâu. Nhưng nếu bạn không thể phân biệt được cực nào là cực nào thì dưới đây xin hiến cho bạn một sơ đồ đơn giản để giúp bạn. Bạn sẽ phải xoay ngược sách lại để tìm cực Nam, nếu không thì trồng cây chuối... 28 Bắt đầu từ hôm nay trời sẽ lạnh tê tái với nhiệt độ xuống rất thấp. Dự báo có gió giật mạnh vào buổi chiều lên đến mức bão tuyết. Và đi đứng phải cẩn thận vì sẽ tối thui cả ngày. Ngày mai có vẻ cũng không khácgì, ngày tiếp theo và tiếp theo nữa cũng vậy. Mùa hè có hơi ấm hơn một chút (nếu bạn chịu trận được tới lúc đó, và ít nhất bạn cũng còn thấy đường mà đi). Thông báo thời tiết vùng cực Bạn đang lăm le tự làm một chuyến thám hiểm vùng cực à? Tốt nhất hãy coi lại dự báo thời tiết vùng cực lạnh giá của Gloria rồi hẵng liều nhắm mắt đưa chân... Cảnh báo thời tiết vùng cực Nếu bạn tưởng mùa đông ở chỗ bạn là lạnh giá thì hãy nghĩ lại. Vùng cực lạnh giá thì phải nói là c-c-cực lạnh luôn. Dù là bạn chọn mùa nào trong năm thì vẫn cứ phải quấn cho thật ấm. NẾU BẠN MUỐN CÒN SỐNG. Dự báo cho tương lai sắp tới: Lạnh tê răng Đây là thông tin chính thức. Các cực là nơi lạnh nhất hành tinh. Ở Nam cực, nhiệt độ trung bình là -490C, tức là khoảng gấp năm 29 DÀI NGẮN NGẮN NGẮN DÀI TIA NẮNG MẶT TRỜI NGẮN NGẮN MẶT TRỜI Tệ hơn nữa, phần lớn nắng chiếu vào các cực lại còn phản xạ vì màu băng tuyết trắng toát nữa. Các nhà địa lý kinh dị gọi đó là hiệu ứng albedo. Giải thích nôm na ra thì những màu tối hút nhiệt vào còn màu trắng thì hắt nhiệt đi. Và chính vì vậy mà mặc áo trắng trong những ngày nắng nóng thì mát hơn là mặc màu tối. Cứ thử đi khắc biết. lần bên trong tủ lạnh nhà bạn. Nhưng như vậy vẫn là nóng chảy mỡ so vớimột nơi tên là Vostok có nhiệt độ xuống đến -890C. Đến đây thì dư sức ướp lạnh bạn chết ngắc luôn. Ở Bắc cực lạnh giá thì ấm hơn, vào giữa mùa hè còn nóng đến 00C (tuy mùa đông là -300C). Nhưng tại sao các cực lại lạnh ghê răng thế? Xin lỗi, chỗ này là một bài khoa học kinh dị mất rồi... Đó là vì bề mặt Trái đất nó cong cong nên ánh nắng mặt trời chiếu vào cực dưới một góc lớn. Chúng rải ra một vùng rộng lớn nên đâm ra yếu hơn. Ánh sáng mặt trời còn phải đi qua một đoạn đường xa hơn qua khí quyển để đến các cực nên bị hấp thụ mất thêm một chút nhiệt lượng nữa hoặc bị bầu khí quyển phân tán ra trước khi xuống được mặt đất. 30 Ớ! Hoang dã và cả gió Cẩn thận với gió máy ở vùng cực lạnh giá đấy. Món chả hải cẩu có thể làm ruột gan bạn lộn tùng phèo lên đấy. (Đùa thôi, cái đó chả liên quan gì tới gió máy cả). Gió ở đây là thứ gió thổi theo các sườn dốc băng giá với vận tốc lên tới 200km/giờ, nhanh cứ như tàu cao tốc vậy. Nhanh đến mức thổi bạn ngã lăn chiêng kia. Hoặc bão tuyết mù mịt dập bạn te tua. Bão tuyết là cơn bão cuốn theo tuyết. Bạn mà gặp phải nó là gay go to. Nó sẽ thốc tuyết vào mồm bạn nghẹt thở và bưng mắt bạn chả còn thấy gì. Và đó là một trong những lý dochính khiến các nhà thám hiểm cực lạc lối, thường là đưa đến kết thúc bi thảm. Tệ hơn nữa, gió còn làm cho chân bạn tê cóng hơn thực tế. Bạn cũng biết đấy, gió mà càng mạnh thì càng thấy lạnh. Nếu sức gió là 50km/giờ và nhiệt độ là -350C thì mức cóng cứ như là -800C vậy. Nếu bạn không quấn cho kỹ thì chỉ trong vài giây sẽ bị đông cứng như đá ngay. Nghe căng thật... Khô như ngói Nói đúng ra, các nhà địa lý coi vùng cực là hoang mạc. Không, các bác ấy chả điên tí nào đâu. Loại hoang mạc này không có cát bỏng, cọ và lạc đà như bạn vẫn tưởng đâu. Nhưng vẫn cứ là hoang mạc như thường. Các nhà địa lý định nghĩa hoang mạc là nơi có lượng 31 CÓ VẺ NHƯ TRỜI TRỞ LẠNH RỒI. ĐÂY LÀ HOANG MẠC, CHẢ CÓ GÌ mưa hoặc tuyết dưới 250mm một năm. Nam cực thì chỉ | 313 |
4 | được một phần năm con số đó. Tuy được bao phủ trong nước đá nhưng một phần của Nam cực còn khô hạn hơn cả sa mạc Sahara khô rang nữa là khác. Tại một vài nơi như các thung lũng khô cằn gần McMurdo Sound, cả hai triệu năm nay chả có lấy một giọt mưa. Thực tế rúng động Cực Nam lạnh giá một thời từng là miền nhiệt đới ấm áp. Không tin thì thôi. Các nhà khoa học đã tìm thấy hóa thạch những động thực vật giống nhau trong các tảng đá ở Australia, Nam Mỹ và Nam cực. Chúng chứngtỏ rằng 200 triệu năm trước những lục địa này dính liền với nhau. Thật ngạc nhiên, Nam cực từng được bao phủ bởi những khu rừng xanh um rậm rịt với những con khủng long lang thang kiếm ăn. Sau đó, khoảng 180 triệu năm trước, ba lục địa này tách rời ra và bị biển ngăn cách. Nam Mỹ và Australia vẫn cứ nóng rãy, nhưng Nghịch Gấu nhà ta thì trôi dạt mãi xuống cực Nam và trở nên lạnh lùng băng giá. 32 *Aurora borelis tạm dịch là "ánh sáng phương Bắc". Aurora là tên La Mã của nữ thần Bình minh, còn borelis có nghĩa là phương Bắc. Ở cực Nam thì bạn có Nam cực quang hoặc là Aurora australis. MA! Cực quang dễ sợ Nếu bạn chịu khó ra ngoài đi dạo trong những đêm đông dài dằng dặc ở Bắc cực, bạn sẽ đột nhiên nhìn thấy ánh sáng chập chờn trên bầu trời - ĐỪNG SỢ. Không phải tàu ngoài hành tinh ghé lại bắt cô giáo bạn đâu (đừng tưởng bở). Không, thứ ánh sáng kỳ ảo miền cực ấy gọi là bắc cực quang (aurora borealis*). Nó được sinh ra bởi những dòng điện tích từ mặt trời va vào lớp khí trong bầu khí quyển của Trái đất. À mà bạn biết chuyện đó rồi thì phải, đúng không? Nhưng mà ngày xưa dân chúng chả biết cái gì đã gây ra thứ hào quang dễ sợ đó. Thế là họ mới bịa ra những câu chuyện để lý giải hiện tượng này. 33 XEM KÌA! Á-Á! MÀY NHÌN AI, HẢ? TAO NGHĨ LÀMÀY MẶC NHIỀU GIÁP NÊN NẶNG QUÁ ĐẤY 3 Những dân tộc khác thì thấy thứ ánh sáng đó quả là đáng sợ. Họ tưởng (nhầm) rằng nó gieo rắc chết chóc bệnh tật và chiến tranh. Tốt nhất là không dây với nó kẻo nó lại cáu. Nghĩa là chớ có vẫy nó, huýt sáo với nó hay nhìn nó chằm chằm (nhìn đểu). Không thì nó thò xuống tóm cổ bạn. Cá là bạn sợ bằng chết. 1 Người Inuit ở Canada nghĩ rằng bầu trời là cái mái che lên Trái đất. Các lỗ dột trên mái để cho ánh sáng lọt và linh hồn người chết thoát ra. Họ tin rằng cực quang là ánh đuốc đưa đường cho linh hồn về trời. 2 Người Viking tin rằng Bắc cực quang là hơi thở của những chiến binh trên trời. Khi chết đi, lên trời họ đánh nhau tối ngày. 34 LẠI MA-MÚT NỮA À? Một phát hiện ma-mút Cảnh báo: dù say sưa nhìn cực quang nhảy nhót, bạn vẫn phải nhớ để ý dưới chân. Bạn có thể vấp phải một thứ khổng lồ - voi ma-mút - thế mới kinh chứ. Có thể bạn không biết chứ đã có hàng trăm con voi ma-mút lông lá (giống một con voi nhưng rất rậm lông) thời tiền sử đã được tìm thấy bị đóng băng cứng ngắc trong nền đất Siberia cứng quèo. (Trời lạnh thấu xương lòng đất không lúc nào rã đông được nên mới gọi là đóng băng vĩnh cửu). Chúng bị vùi ở đây cả ngàn năm rồi, từ Kỷ Băng Hà cuối cùng kia. Cónhững con còn tươi nguyên, đến nỗi ta có thể thấy cả bộ lông hung đỏ bờm xờm của nó, thậm chí còn nấu lên mà chén được kia. Trong một bữa tiệc ở Nga vào thế kỷ XIX, chả ma-mút là món chính của ngày hôm đó. Có thèm một chút đồ cổ không? Ở đây chỉ có một vấn đề nho nhỏ - trước khi thò đũa vào món ăn quái chiêu đó, bạn cần phải rã đông nó đã. Làm thế này nhá. Thử tài xẻ thịt ma-mút Bạn cần có: • Một con ma-mút đông lạnh kỹ, khoảng 20.000 năm tuổi • Một số dụng cụ - xẻng, cuốc chim, khoan và búa khoan • Một trực thăng • Thật nhiều máy sấy tóc • Một bếp lò to và tủ lạnh cực to • Mặt nạ phòng độc 35 MA-MÚT! CHẮC PHẢI LẤY BỚT SALAD RA Bạn phải làm: 1 Trước hết phải tìm cho được con ma-mút của mình cái đã. Nhưng nhớ mặc ấm đấy nhé - xứ tuyết Siberia là nơi dễ tìm thấy chúng nhất. 2 Đào con ma-mút lên. Việc này nói thì dễ hơn làm. Đất đóng băng cứng chẳng khác gì bê tông, nhưng ta đã có búa khoan rồi. 3 Lôi con ma-mút lên khỏi lòng đất. Đoạn này cần đến trực thăng. Kiểm tra xem dây nhợ buộc chắc chưa - tảng băng cổ quái này nặng đến 20 tấn đấy. 4 Chọn một nơi lạnh lẽo u tịch mà cất con ma-mút, chẳng hạn một tủ lạnh thật to hoặc một động băng. Như vậy nó mới không bị tan chảy,ôi hết cả thịt là mất ngon đấy. 5 Rã đông con ma-mút bằng máy sấy tóc. Nhưng xin lưu ý là việc này tẻ ngăn ngắt mà lại lâu, phải vài tháng hoặc vài năm. (Nhưng đâu có sao, hãy nghĩ đến những tiết địa lý dở hơi mà bạn không phải học. Và bạn còn cần cả mặt nạ phòng độc khi rã đông con ma-mút nữa. Mùi của nó ghê lắm). 36 BÂY GIỜ TÔI HẾT THẤY ĐÓI RỒI. 6 Để bữa tiệc thịt quay thêm phần độc đáo, hãy nấu con ma- mút của bạn trong cái bếp lò thật to (nấu liên tục trong một tuần). Sau đó dọn ra với chút rau và nước sốt, nhớ bày cả cặp ngà cho đẹp. Dễ ợt! Trước khi bạn bỏ của chạy lấy người khỏi món ma-mút thì vẫn còn câu hỏi ngắn nữa. Cái gì lạnh, trắng và trơn tuột? Không, không phải một món ăn ở trường đâu. Chịu chưa nào? Được rồi, không có nó thì các nhà băng học như Gloria đành phải kiếm nghề khác mà làm. Cái gì nào? Băng, dĩ nhiên rồi. 37 BĂNG ĐÁ TUYẾT CHÓP CUA NÚI BĂNG Có người bảo băng đá là thứ chán phèo. Ý là ngoài trò đông lạnh ma-mút và làm lạnh đồ uống thì cái thứ nước đông cứng ấy có tích sự quái gì? Nó đại để cũng có ích như một tách sôcôla là cùng chứ gì. Mà lại không ngon bằng nữa chứ. Nhưng mà về băng thì lắm chuyện lắm chứ không phải chơi đâu nhé. Không tin cứ đọc mà xem.Liệu bạn có thể trở thành nhà băng học? Một số nhà địa lý kinh dị như kiểu Gloria dành trọn cuộc đời để nghiên cứu băng đá. Vậy là sao, ngồi đó mà ngắm con ma-mút rã đông à? Bạn có thể trở thành một nhà băng học tanh tưởi không ư? Nếu bạn nghĩ nước đá thì cục nào chả giống cục nào thì tốt nhất hãy xem mục hướng dẫn Băng gì? Của Gloria để biết cách phân biệt các loại băng khác nhau. Băng gì? Băng tấm Mô tả: Một tấm băng thật to bao phủ hết Nam cực và Greenland. Do đâu mà có: Nó hình thành từ những bông tuyết rơi xuống đất rồi bị nhiều bông tuyết khác rơi đè lên. Dần dần không khí bị đẩy ra khỏi tuyết và thế là thành băng. Nhưng quá trình này diễn ra trong hàng nghìn năm cơ. 38 NÚI SÔNG BĂNG BIỂN Bạn còn dư chút thời gian đấy chứ? Thế thì thử làm một tấm băng chơi nhé? Tất cả những gì bạn cần làm là tạo ra vài cục nước đá - khoảng chừng 1.000 TRIỆU TRIỆU TRIỆU cục là đủ. Chỗ đó là bằng tấm băng phủ lên Nam cực khủng khiếp rồi đấy. À mà bạn phải chế một cái tủ lạnh lớn gấp đôi Australia để đựng miếng băng đó nữa chứ. Sông băng Mô tả: Một dòng sông khổng lồ toàn băng. Do đâu mà có: Do băng ở giữa tấm trôi xuống mà thành. Nhìn vào cứ ngỡ tấm băng cứng ngắc. Nhưng thực ra bọn băng này cũng chạy nhảy tưng tưng | 314 |
4 | .Nó từ giữa trôi ra rìa để từ từ trườn xuống biển. Sông băng vô địch là sông băng Lambert ở Nam cực, dài 515km và rộng tới 40km. May mà con sông băng khổng lồ này bò chậm như rùa, mỗi ngày chỉ được có 2,5cm thôi. 39 BIỂN BĂNG BIỂN HỘP BĂNG CƠM HỘP XE KEM ĐẤT BIỂN NÚI BĂNG BÃI BĂNG Băng biển Mô tả: Một lớp băng mỏng trên mặt biển. Do đâu mà có: Do nước biển đóng băng mà thành. Bắc Băng dương và một vài biển ở Nam Băng dương đông cứng lại vào mùa đông. Thực ra băng biển vào mùa đông làm tăng diện tích Nam cực lên gần gấp đôi. Nó chỉ dày vài mét và đến mùa hè thì tan gần hết. Những hộp băng gồm những mảnh vỡ băng biển trôi theo gió và dòng chảy đại dương. Đoạn băng biển dính với bờ gọi là băng nhanh. Tất cả đều là tai họa khủng khiếp cho tàu bè. Bãi băng Mô tả: Một mảng băng lớn dính vào đất liền nhưng vẫn nổi trên mặt biển. Do đâu mà có: Là những tấm băng hoặc sông băng trôi ra biển mà thành. Bãi băng đứng cố định vào tấm băng, còn núi băng là những đầu mẩu bị vỡ ra mà trôi đi. Bãi băng có thể rất lớn. Bãi băng Ross ở Nam cực diện tích cũng xấp xỉ nước Pháp đấy. 40 BĂNG TẢNG TUYỆT CÚ MÈO Một hỗn hợp lầy nhầy những tinh thể băng bằng đầu kim nổi trong nước. Hút qua kẽ răng rất sướng. BĂNG BÁNH TRÁNGTUYỆT HẢO Tròn dẹt như cái bánh tráng nhưng giòn hơn hẳn. Những cái bánh tráng này trôi trên biển. Hãy vớt một cái làm linh vật biển để lạnh run suốt mùa đông. Dành riêng cho khách miệng rộng. BĂNG MỠ NGON LÀNH Một đám sền sệt toàn băng biển khiến mặt nước óng ánh như váng mỡ. Dành cho khách trơn tuột. KEM Bác Gino Bạn sẽ đi cùng trời cuối đất vì nó! Nhưng bốn anh bạn lạnh lùng này mới chỉ là chóp của núi băng. Bạn phải đến tiệm kem vùng cực của ông bác cô Gloria là bác Gino để biết những vị còn lại. Đi nào, bạn cũng xứng đáng được chiêu đãi. Hãy lựa chọn lấy một trong sáu vị lạnh tê thời thượng. Bảo đảm không tan không lấy tiền. 40 41 SUNCUP ĐẶC BIỆT Một bức tượng băng đá khổng lồ được gió và sóng tạc từ tuyết. Trông giống như những cây nấm to tướng. Món chay đặc sản. NỘM SASTRUCI Băng bị gió bào thành chỗ lồi chỗ lõm. Hơi giống kỹ thuật bắt bông kem. Bạn chỉ còn há hốc mồm! ĐẠI TIỆC NÚI BĂNG Món đặc biệt của hôm nay, một kẹo mút bằng băng bạn chưa bao giờ được thấy. Chỉ cần một que là đủ cho bạn ngậm miệng nhiều năm. Lưu ý: Đọc kỹ về những thực tế được ghi nhận trước khi thè lưỡi liếm! 41 42 LỪNG LỮNG TRÔI TRONG SƯƠNG MÙ, CỨ NHƯ HẠM ĐỘI CẢ THẾ GIỚI TỤ TẬP MỘT CHỖ KHÔNG BẰNG. Tám thực tế tê răng về núi băng 1 Núi băng làkhối băng to vật vã bị lở ra từ các sông băng và bãi băng. Không phải chỉ có vài núi băng mà mỗi năm có đến hàng nghìn núi băng như vậy trôi lềnh bềnh. Cũng lạ, các nhà địa lý kinh dị gọi cái việc lở ra đó là "sinh bê". Hẳn bạn đang bụng bảo dạ rằng một núi băng mới lở có thể gọi là bê đấy nhỉ? Không phải đâu. Các nhà địa lý gọi núi băng con chỉ là núi băng con. Thành ra nếu đang ngồi tàu Titanic mà nghe tiếng bê kêu thì cứ bình chân như vại cho tôi. Nhưng nó đớp thì toi đấy. 2 Các núi băng con chỉ lớn cỡ cây đại dương cầm. Hơn tí nữa thì gọi là mảng băng, to bằng cỡ ngôi nhà, nhưng như vậy vẫn chưa là gì. Có những núi băng còn to khủng khiếp kia. Ở Nam cực chúng lớn như những hòn đảo băng thực thụ, có thể đo được đến 150km bề dài và cao tới 150m. Chính đó là cái mà nhà thám hiểm Bắc cực dữ dằn là đô đốc Richard E. Byrd tả lại khi lần đầu trông thấy các núi băng: 43 NÚI BĂNG MẶT BÀN BỀ MẶT BẰNG CHẰN CHẶN NHƯ CÁI BÀN (TO VẬT VÃ) NÚI BĂNG DỊ HÌNH NÚI BĂNG VÒM NÚI BĂNG BẮP CẢI BỀ MẶT LỞM CHỞM NHƯ TƯỜNG PHÁO ĐÀI HOẶC NHỌN HOẮT LÊN NHƯ KIM TỰ THÁP KHUM KHUM NHƯ NẮM XÔI CÓ HÌNH THÙ NHƯ BẮP CẢI 3 Núi băng có đủ kiểu hình thù và kích thước. Dưới đây là hướngdẫn về một vài kiểu chính. Bạn có thể chỉ ra cái nào cổ quái nhất không? 4 Núi băng lớn nhất từng được phát hiện là ở ngoài khơi Nam cực do thủy thủ đoàn của chiến hạm Sông Băng nhìn thấy. Năm 1956 họ đã một phen sợ gần chết khi một núi băng quái vật TO CỠ NƯỚC BỈ trôi ngang qua. Tưởng tượng xem, cái kẹo mút mà to thế có phải là sướng không! Cũng may là họ còn sống để kể lại ta nghe. 5 Hành khách và thủy thủ đoàn trên con tàu Titanic, con tàu được coi là không thể chìm và hoa hòe hoa sói nhất, còn nhiều chuyện hơn nữa để mà kể. Tháng Tư năm 1912, Titanic thực hiện chuyến hành trình đầu tiên từ Southampton đến New York với hơn 2.000 hành khách băng qua Đại Tây dương. Đêm về 44 NÓNG THẾ NÀY CHẮC TAN MẤT THÔI! TÔI ĐANG Ở NGAY SAU BÁC ĐÂY! khuya và biển lạnh giá. Đến lúc những người quan sát trông thấy núi băng lù lù trước mặt thì đã quá muộn. Ngọn núi băng chết người đục một lỗ lớn bên sườn con tàu và nước tràn vào. Vài giờ sau Titanic đã chìm, mang theo 1.490 sinh mạng. 6 Khổ cái phát hiện núi băng khó kinh khủng vì đến bảy phần mười nó nằm dưới mặt nước. Ta chỉ có thể thấy được cái chóp của nó. Thành ra nó dễ dàng chẻ tàu của bạn làm đôi trước khi bạn biết có chuyện. Ngày nay các máy bay của Tuần Băng Quốc Tế ràquét các biển băng Bắc cực và cảnh báo tàu bè về mối đe dọa của núi băng. Các nhà khoa học còn dùng cả radar và vệ tinh để dò tìm núi băng. Một số núi băng còn được gắn cả máy phát sóng radio để báo cho các nhà khoa học biết chúng đang trôi nổi ở đâu. 7 Kiểm soát núi băng nói thì dễ. Nhưng núi băng nó có chịu ở đó dầm dề cho đâu mà kiểm. Những núi băng lớn có thể trôi giạt xa hàng ngàn km theo gió và các dòng chảy đại dương. Và chúng luôn vuột khỏi tay các nhà khoa học. Núi băng từ Bắc cực mà dạt xuống tới Bermuda ấm áp. Phần lớn các núi băng cứ lang thang như thế khoảng hai năm mới chịu vỡ ra rồi tan. Nhưng cũng có cái cứ trơ trơ lạnh giá mãi 20 năm trời... 8 Núi băng cũng có thể có ích cho con người ghê lắm. Nếu bạn làm tan chảy một núi băng cỡ trung bình thì bạn sẽ có đủ nước 45 THƯA THẦY, BĂNG CÓ THỂ CHO BIẾT THỜI GIAN KHÔNG Ạ? KIM BĂNG? Thầy sẽ ngẩn người ra, chả còn nhớ mới hỏi gì bạn đâu. Nhưng bạn hỏi cái quái gì thế? dùng cho một thành phố lớn trong nhiều tuần lễ. Đó là tin vui cho những nơi khô hạn như Australia và Trung Đông vốn rất ít mưa. Nhưng có một rắc rối con con. Làm sao mà lôi cả cái núi băng khuỳnh khoàng như vậy về được bây giờ? Các nhà khoa học nghĩc | 315 |
4 | ách đóng một tàu kéo khổng lồ để kéo nó từ Nam cực về. Việc này mất khoảng một năm. Không biết các nhà khoa học có nghiêm chỉnh không nhỉ? Liệu cái ý tưởng không giống ai đó có khả thi không? Muốn làm được chắc tốn bộn, nhưng cứ chờ đấy. Hiện tại thì dự án này đang "đóng băng". Thực tế rúng động Ở Nhật và Canada vùng gần Bắc cực, các công ty đang bán những viên băng lấy từ sông băng để cho vào đồ uống. Khi băng đá tan ra thì những bong bóng khí bốc lên, mang theo không khí bị giam hãm trong băng từ hàng ngàn năm trước. Đã chưa! Ghẹo thầy tí chơi Lần tới nếu bị thầy hỏi khó, bạn cứ hỏi lại một câu. Hãy cười thật tươi như thể trong miệng bạn đang có một cục băng lấy từ sông băng về rồi giơ tay mà rằng: 46 CHA! BA CÂY SỐ! CỨU, VUỐT BẤU! Ấy, không có gì đâu. Vuốt bấu chỉ là một chỏm đất hoặc cù lao nhô lên khỏi tấm băng. Thực ra đó là cách người Inuit gọi những rẻo đất đứng chơ vơ biệt lập. Trả lời: Lạ là băng cũng có thể cho biết thời gian đấy! Để tìm hiểu sâu hơn về băng, các nhà băng học đã khoan những lỗ sâu lấy lên các thanh băng dài như những chiếc đũa bằng băng mà họ gọi là lõi băng. Bằng cách đếm các lớp trong băng, họ có thể cho biết độ tuổi của nó. Mới đây các nhà khoa học đã khoan mộtlõi băng dài tới 3km ở Nam cực. Họ bảo rằng lớp băng cổ ở dưới đáy có độ tuổi chừng 250.000 năm. Choáng! 47 Cần những người đàn ông cho một chuyến đi gian khổ, lương thấp, lạnh giá. Nhiều tháng liền sống trong bóng tối hoàn toàn. Nguy hiểm thường xuyên, ngày an toàn trở về không nói chắc được. Vinh quang và nổi tiếng nếu thành công. Thế thì bạn có đâm đơn vào đấy không? Xin kiếu hả? Thế mà hên cho Ernest, người ta đổ đến ùn ùn. Và trong số 5.000 người tình nguyện ông chọn ra những tay quái kiệt nhất. Ngày 1 tháng Tám năm 1914 ông cùng đội tàu gồm 28 người của mình đã rời nước Anh trên con tàu hùng dũng mang tên Endurance của mình. Đối với nhà thám hiểm người Anh gan góc là Sir Ernest Shackleton (1874-1922) thì vuốt bấu chả là cái đinh gì. Nếu được nhìn thấy lại băng đá hẳn ông đã đã chả nói năng kiểu đó. Lúc này chắc răng bạn đã hết va lập cập rồi, ta sẽ xem qua một câu chuyện lạ thường mà có thật... Kẹt băng giữa Nam cực, 1914-1917 Lúc nhỏ Sir Ernest Shackleton thường mơ được nhìn ngắm thế giới. Có thể nói mạo hiểm đã có sẵn trong máu của ông. Mới 16 tuổi ông đã bỏ học mà nhào ra biển. Sau đó ông vào học trường hàng hải và trở thành một thủy thủ thành thạo. Đã hai lần ông suýt chạm đến cực Nam (một lần đi cùng thuyền trưởng Scott) nhưng bị thời tiếtkhắc nghiệt đánh bật trở lại. Bây giờ ông muốn là người đầu tiên băng qua lục địa Nam cực băng giá. Nhưng trước hết ông cần một đội tàu cái đã. Chuyện kể rằng ông cho đăng một mẩu rao vặt trên báo: 48 Phía trước họ là chuyến đi liều lĩnh băng qua hầu hết những nơi hung hiểm nhất Trái đất. Một chuyến đi mà chưa ai từng thử. Bến cuối cùng trước khi đến Nam cực là hòn đảo nhỏ South Georgia. Vào tháng Mười hai, Endurance tiến vào vùng nước lổn nhổn băng phản phúc của biển Weddell. Vật lộn để vượt qua những khối băng lạnh giá chả phải vui vẻ gì. Trong mấy tuần liền họ cố tìm một luồng không vướng để đi qua những tảng băng trôi không lúc nào ngừng. Nhưng mọi cố gắng đều thành công cốc. Rồi đến ngày 19 tháng Giêng năm 1915 thì tai họa giáng xuống. Tàu Endurance dính cứng vào một khối băng đúng một ngày trước khi họ đến bến đậu ở vịnh Vahsel. Chẳng mấy chốc nó đã bị đóng băng cứng, "như hạt hạnh nhân dính vào miếng kẹo bơ", một người trong bọn kể lại. Khi khối băng lôi Endurance đi xa bờ hơn nữa thì Shackleton biết là giấc mơ của ông đã không thành. Mùa hè đã sắp hết - không còn đủ thời gian để băng qua lục địa nữa, kể cả nếu họ có đến được đó. Họ đành phải qua đông trên băng rồi. Mới đầu thì con tàu còn đủ chắc chắn để mà ở. Nhưng được bao lâu? Khôngai biết cả. Một trong hai điều có thế xảy ra. Hoặc mùa xuân đến băng sẽ tan và con tàu được giải thoát hoặc những tảng băng chuyển động và bóp vỡ con tàu như vỏ trứng mỏng. (Tảng băng trôi là một phần của băng biển mà). Đến tháng Mười thì những dấu hiệu trở nên đáng ngại. Băng trôi bóp mạn tàu rầm rầm như sấm. Endurance bắt đầu vỡ ra từng mảnh ngay trước những 49 cặp mắt sửng sốt của mọi người. Những thanh gỗ của nó kêu ken két và vỡ vụn dưới sức ép rồi liên tiếp thủng hết chỗ này đến chỗ khác. Lúc nó bắt đầu nghiêng đi thì Shackleton đành ra lệnh rời tàu. Mọi người cố gắng cứu được cái gì hay cái ấy, trong đó có ba chiếc xuồng cứu sinh, và thế là họ dựng lều ngay trên băng. Hy vọng duy nhất của họ là băng sẽ đưa mình đến chỗ nào gần bờ, nếu không thì tương lai xem ra mờ hẳn rồi. Không có liên lạc vô tuyến nên không ai biết họ đang ở chỗ mô. Vài tuần sau, vào 21 tháng Mười một, Shackleton và người của ông buồn bã nhìn Endurance chìm xuống băng. Ác mộng trên biển Họ trôi dạt trên băng trong nhiều tháng. Nhưng đến tháng Tư thì thấy rõ là băng bắt đầu nứt ngay dưới chân họ. Bất kỳ kúc nào nó cũng có thể vỡ - như vậy là trại của họ không còn an toàn nữa rồi. Shackleton ra lệnh chuẩn bị xuồng cứu sinh - họ phải cố màvào được bờ, dù chuyến đi có hiểm nghèo đến mấy. Mà nó hiểm nguy thật. Họ phải đương đầu với những núi băng và những trận gió giật đùng đùng tưởng xé toang xuồng của họ đến nơi. Mọi người thay phiên nhau chèo. Đến cuối phiên, tay họ đóng băng cứng phải giật mãi mới rời được mái chèo. Đêm đêm họ cắm trại ngay trên băng trôi cho tới khi nó trở nên quá nguy hiểm. Một đêm băng chợt vỡ toác ra và một người bị rớt xuống biển lạnh giá trong túi ngủ của 50 mình. May mà ông này được Shackleton cứu thoát, nhưng họ đã được một bài học. Rốt cuộc họ ngủ luôn trên xuồng. Sau sáu ngày trời vất vả, cuối cùng họ cũng đến được một đảo đá tên là đảo Voi ở bán đảo Bắc Nam cực và tấp vào bờ đá phủ đầy băng tuyết. Đó là lần đầu tiên họ được đặt chân xuống đất trong 497 ngày liền. Nhưng họ cũng không mừng được lâu. Nếu cứ nằm ở hòn đảo heo hút này thì sẽ không có hy vọng gì được cứu. Chưa từng có ai đến gần hòn đảo khủng khiếp đó cả. Đã thế một mùa đông tồi tệ nữa lại sắp tới... Shackleton biết chỉ còn một lựa chọn cho họ mà thôi. Ông cần phải đi tìm người giúp. Lấy theo năm người, Shackleton lên đường trên một trong những chiếc xuồng cứu sinh. Đó là một việc làm cực kỳ mạo hiểm. Ông quyết định nhắm hướng South Georgia và trạm cá voi của nó, cáchđó khoảng 1.200km, qua những vùng biển bão táp nhất thế giới. Nhiều ngày liền họ phải chống chọi để giữ cho chiếc xuồng khỏi chìm trước những ngọn sóng khổng lồ và những cơn gió dữ tợn. Trời lạnh đến nỗi bọt nước bắn lên đóng thành một lớp băng dày trên xuồng. Bất chấp gió dập sóng dồi liên tục, họ phải liều mạng cạy băng ra, nếu không thì xuồng chỉ có chìm. Chống chọi lại với thời tiết chỉ duy nhất có một tấm bạt căng trên mũi xuồng. Nhưng ở bên trong thì quả là địa ngục. Chỉ vừa đủ chỗ cho ba người chui vào cùng một lúc. Mà nó còn ẩm ướt, tù túng và cực kỳ lạnh giá. Cứ như bị chôn sống vậy. 51 Bị cước, kiệt sức và ướt sũng, mà nước uống chỉ còn đủ cho hai ngày, mọi thứ tưởng không thể kéo lâu hơn được | 316 |
4 | nữa. Thế rồi, sau 17 ngày cực nhọc trên biển, bỗng có một cọng rong biển trôi qua - một dấu hiệu cho thấy đất liền đã rất gần! Nhưng chưa xong. Khi South Georgia đã thấy trước mặt rồi thì đột nhiên thời tiết trở xấu. Gió bão đẩy họ vào những vách đá dựng đứng đe dọa đập nát chiếc xuồng. Bằng một cố gắng ngoài sức tưởng tượng, họ đã đưa được xuồng vào một vịnh nhỏ. Chặng cuối Nhưng vẫn còn một trở ngại nho nhỏ - trạm cá voi nằm ở bên kia đảo. Chèo xuồng vòng qua thì quá liều. Chỉ còn một cách: phải có ai đó đi bộ sang vậy.Đó là một thử thách khủng khiếp đối với những người đã kiệt quệ chỉ còn một chút tàn lực cuối cùng. Theo đường chim bay thì trạm cá voi chỉ nằm cách đó 35km. Nhưng với họ thì xa chẳng khác gì lên trời. Trước đây chưa ai từng thử băng ngang qua đảo - hơn nữa lại không có một cái bản đồ nào xài được. Ngăn cách họ với trạm này là những ngọn núi lạnh giá với những sông băng vắt qua và những vết nứt sâu thăm thẳm chết người. Nhưng đó là sự mạo hiểm mà họ buộc phải chấp nhận. Ngày 19 52 tháng Năm, Shackleton lên đường cùng với hai người, một sợi dây, một búa đục băng và thực phẩm dự trữ ba ngày lèn trong những chiếc tất. Để tăng thêm độ bám, họ nhổ đinh của chiếc xuồng đóng thêm vào đế giày. Rồi suốt 36 giờ ròng rã đứt hơi, ba người bươn bả bò lên, ít khi dám dừng lại thở. Chỉ sẩy chân một cái là họ sẽ rơi xuống biển băng chết chắc. Cuối cùng, vào chiều ngày 20 tháng Năm, họ đã lần vào tới trạm cá voi. Bất chấp tất cả những không thể, họ đã làm được. Dơ dáy và hoang dại, Shackleton đến trước mặt người phụ trách trạm. "Tên tôi là Shackleton," ông nói. Thật may là họ đến vừa kịp lúc. Ngay đêm đó bão tuyết nổi lên và hẳn họ sẽ chết cóng nếu nó bắt gặp họ giữa đường. Cũng năm đó Skackleton đã đưa tàu ra đảo Voi cứu những người củamình còn kẹt lại. Lạ thay, tuy gian khổ là thế mà không một ai mất mạng. Thử thầy tí chơi Ernest Shackleton thừa sức trở thành một nhà giáo ưu tú. Ông sáng suốt, can đảm, lạc quan và là một thủ lĩnh bẩm sinh. Rõ là một người hùng! Bạn nghĩ sao, nghe có giống thầy giáo nào bạn biết không? Ông còn là một trong những nhà thám hiểm nổi tiếng nhất xưa nay. Nổi tiếng thế thì chắc thầy địa lý nhà bạn hẳn phải biết hết về ông đấy nhỉ. Không chừng thầy còn là chuyên gia trong lĩnh vực này nữa kia. Thử trắc nghiệm thầy một tí là biết ngay thôi. 1 Con tàu của Shackleton có tên là Endurance. Tại sao vậy? a. Đó là một truyền ngôn cổ của gia đình. b. Lấy từ vỏ bịch bột ngũ cốc. 53 CHẲNG NHẼ HỌ KHÔNG BIẾT BỤNG NO THÌ KHÔNG BƠI ĐƯỢC HAY SAO? A HA! MÌNH PHẢI ĐẶT TÊN CHO CON TÀU LÀ "GIÒN TAN" c. Đó là tên một trận hải chiến lẫy lừng. 2 Trên đường đi Nam cực, con mèo tên là Bà Chippy của tàu bị rớt xuống biển. Shackleton đã làm gì? a. Bỏ mặc nó chết cóng. b. Quay tàu lại tìm. c. Ném cho nó vài con chuột trên tàu. 3 Nickname của Shackleton là gì? a. Giày Xếp. b. Quần Đùi Cục Cằn. c. Ông Trùm. 4 Bố mẹ của Shackleton muốn ông làm nghề gì? a. Bác sĩ. b. Nhà thám hiểm. c. Bác sĩ thú y. 54 HỪM, MIỀN CỰC LẠC? MIỀN CỰC KỲ? MIỀN CỰC KHỔ?TIÊU CỰC? Trả lời: 1 a. Tuyên ngôn cổ bằng tiếng Latin của gia đình Shackleton là "Fortitudine vincimus". Câu này có nghĩa là "Chịu đựng để chinh phục" (endurance là nghiến răng chịu đựng mà). 2 b. Ngoài Bà Chippy, Shackleton còn mang theo 69 con chó. Đáng buồn là cả Bà Chippy lẫn đàn chó sau này phải hạ thủ hết để tiết kiệm thực phẩm dự trữ. 3 c. Shackleton là một thủ lĩnh bẩm sinh. Ông còn rất thông minh. Ông không bao giờ buộc người của mình làm những gì mà chính ông sẽ không chịu làm. Thành ra người ta theo ông đến cùng trời cuối đất. 4 a. Cha của Shackleton là bác sĩ nên chắc chắn muốn ông nối nghiệp nhà. 5 b. và c. Cuốn Trái tim của Nam cực thuật lại mưu đồ chinh phục cực Nam đầu tiên của Shackleton. Ông buộc phải quay lại khi chỉ còn cách đích có 160km. Phía nam là câu chuyện về chuyến đi bi tráng năm 1914-1917 của ông. Cả hai cuốn này đều là bestseller. Có một điều chắc chắn. Chọi nhau với băng giá dữ dằn là một việc làm mạo hiểm. Nếu tàu của bạn không bị bóp nát bét thì bạn vẫn có thể chết vì thức uống đông lạnh. Hãy tự coi mình là may mắn đi. Bạn lúc nào cũng có thể lủi nhanh vào nhà kiếm thứ gì nong nóng mà uống trong khi sưởi ấm đôi chân lạnh cóng. Mọi thứ khó nhằn mà bạn tính đương đầu sẽ bị bỏ lại ngoài trời giá rét. 5 Trong các sáchsau thì cuốn nào do Shackleton viết? a. Miền cực lạnh giá. b. Phía nam. c. Trái tim của Nam cực. 55 CUỘC SỐNG NƠI BĂNG GIÁ Nhiều người cứ tưởng mình cứng cựa lắm. Chắc bạn cũng từng gặp mấy vị hảo hán như vậy rồi. Giữa mùa đông, trong khi bạn quấn đầy người như xác ướp Ai Cập thì họ ăn mặc phong phanh và luôn mồm kêu nực. Nhưng liệu họ có cứng cựa thật không? Sẽ ra sao nếu nhiệt độ là â-â-âm 200C? Và sẽ ra sao nếu nó đi kèm với bóng đêm tịt mít, cả gió thổi tê xương nữa? Thực ra đó là điều kiện tiêu chuẩn của miền cực đấy. Chắc chả có gì sống ở cái rốn băng giá của Trái đất ấy mà không chết cóng đâu nhỉ? Cũng lạ là hàng trăm loài động thực vật lại chọn miền cực lạnh ngăn ngắt làm chốn nương thân mới kinh chứ. Làm thế nào mà chúng tồn tại được ở cái nơi nghiệt ngã ấy? CẢNH BÁO SỨC KHỎE KINH DỊ Một vài loài thú kiểng ở đây dữ ra phết đấy, nhất là lúc chúng đói. Vì vậy nếu bạn tính dạy chúng xách dép hay lấy điều khiển từ xa giúp thì CHỚ DẠI! Với lại con gấu trắng kiểng của bạn sẽ cần một nơi xinh xắn thật lạnh để ở, tốt nhất là bên ngoài nhà. Nếu bạn giữ nó trong nhà thì phải tắt hết hệ thống sưởi đi. Nếu ấm quá là nó chết đấy. Tiệm thú kiểng miền cực Có phải bạn là một nhà địalý cô đơn? Có phải bạn đang tìm kiếm một người bạn nhỏ để chúi vào với nhau trong những đêm miền cực lạnh buốt? Hãy đến cửa hàng Thú Nuôi Miền Cực. Xin bảo đảm là không có những con thỏ lông lá xác xơ hay cá vàng ngu ngốc đâu... 56 Cá băng có chất chống đông trong máu giống như thứ người ta đổ vào xăng xe trong mùa đông ấy. Cái đó giúp con cá cổ quái không bị đông cứng mà chết. Độc chiêu đấy chứ, hả? Mà lỡ có quên cho ăn cũng không phải lo. Nó vẫn đói luôn ấy mà. Trong đại dương băng giá đôi khi cũng khó kiếm được cái ăn. Thành ra cũng chẳng có gì lạ là loài cá câm lặng này sẽ đớp bất cứ thứ gì, kể cả chỉ có một nửa cơ hội. CÁ BĂNG MÊ HOẶC MÔ TẢ: MỘT LOÀI CÁ TRONG SUỐT CÓ RĂNG CỰC TO, MÕM LỚN, MẮT TO THÔ LỐ, TRÔNG NHƯ CON MA CÁ. KÍCH THƯỚC: NUÔI CÁ NÀY BẠN CẦN CÁI BỂ THẬT LỚN VÌ | 317 |
4 | cẩu trồi lên thở thì nó bợp cho một phát vào đầu. Ngon! Cái mũi thính của gấu có thể đánh hơi thấy hải cẩu xa cả cây số, kể cả vùi mình trong băng. Huấn luyện gấu cực ở nhà. Nếu bạn có gan. Chúng có những thói quen kinh dị lắm, thật đấy. Khi không có nhiều đồ ăn bên mình thì chúng sẽ vào phố lục lọi thùng rác nhà người ta. Ở Churchill, Canada, lũ gấu cực trộm vặt làm phiền bà con không ít, thành ra người ta phải vây bắt chúng mà nhốt vào tù dành cho gấu cực! Mấy tên thường xuyên tái phạm thì họ phải bắn thuốc mê rồi đem trực thăng chở đi. Chúng được đưa đến một nơi an toàn thật xa thành phố. 63 Sự thật kinh hoàng Ở Nam cực chả có con gấu cực nào. Thực ra ở đó chả có con thú trên bờnào lớn cả. Ở đó quá lạnh với chúng. Con vật sống quanh năm ở đó lớn nhất là một loài ruồi nhuế nhỏ xíu. Loài côn trùng bé tẹo này chỉ dài có 12mm - tức là bằng này: Nếu bạn còn thắc mắc thì sở dĩ nó không có cánh vì chả để làm gì khi trời cứ gió như điên. Ngay cả những con ve bé tí (là một họ hàng gần của loài nhện) cũng sống trong lỗ mũi con hải cẩu... Giá chúng được huấn luyện để ngoáy mũi thì hay biết mấy. • Đừng có thấy bề ngoài chúng xinh xẻo mà tưởng bở. Mấy con gấu con mà chẳng dễ thương sao? Nhất là trên thiệp Giáng sinh. Nhưng bề ngoài dễ lừa người lắm. Bây giờ thì trông chúng mắt huyền mũm mĩm, nhưng cũng giống như chó con mèo con, chúng sẽ lớn nhanh lắm. Và chỉ vừa chập chững biết đi là nó đã bắt đầu tập săn mồi rồi. Cho nên nếu bạn định vuốt ve một con gấu cực con thì chuẩn bị tinh thần bị đợp vài miếng. Úi! 64 MỎ NHỎ ĐỂ TRÁNH MẤT NHIỆT BỘ LÔNG DÀY CHỐNG GIÓ VÀ CHỐNG THẤM NƯỚC LỚP MỠ DÀY BỌC ẤP TRỨNG CÁNH DÙNG NHƯ MÁI CHÈO ĐỂ BƠI (TUY KHÔNG BAY ĐƯỢC NHƯNG CHÚNG BƠI THÌ KHỎI CHÊ) CHÂN NHỎ ĐỂ TRÁNH MẤT NHIỆT. T-t-t-óm lấy một con chim cánh cụt Nếu bạn không đủ chỗ nuôi gấu cực, còn ve chỉ tổ làm bực mình thì sao không t-t-t-óm lấy một con chim cánh cụt thế vào. Bây giờ bạn đang nghĩcánh cụt là loài chim ngộ nghĩnh và trông như đang đóng bộ cánh bồi bàn trong những nhà hàng sang trọng. Và dĩ nhiên là bạn đúng. Nhưng khi nó dám sống ở một nơi lạnh kinh người như vậy thì lũ chim cánh cụt to gan đó hẳn không phải tầm thường. Lấy chim cánh cụt Hoàng đế làm ví dụ. Cơn lạnh đột ngột chả là gì với chim cánh cụt Hoàng đế. Chúng rắn mặt hơn nhiều. Thực ra chúng thấy trời lạnh là khỏe người nên chúng trụ lại Nam cực vào đúng mùa đông, khi mà khí hậu trở nên tệ hại nhất. Con cháu chúng cũng được sinh ra ở đó. Hãy tưởng tượng mình là một chim cách cụt Hoàng đế con. Liệu bạn có sống sót không? 65 XIN CHÀO! CÓ AI NGOÀI ĐÓ KHÔNG? NÓNG QUÁ XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO LẠNH THẾ! Liệu bạn có thể là một con chim cánh cụt 1 Nếu bạn bắt đầu cuộc đời bằng một quả trứng to cỡ 12cm, chiều dài mà mẹ bạn đặt ngay trên đôi chân của mình. Rồi bà ấy chuồn. Bà ấy ra biển bắt cá trong khi bố bạn ở nhà trông nom quả trứng. 2 Bố bạn giữ bạn trên đôi chân của mình và ủ lên trên một tấm mền da lót lông. Tấm mền đó gọi là bọc ấp trứng, nó giữ cho trứng ấm áp dễ chịu. Nếu nó bị rơi ra mặt băng thì quả trứng sẽ hỏng ngay. 3 Còn bố bạn thì đã 60 ngày đêm không ănmà cứ đứng ngay giữa trời. Ngay cả dù nhiệt độ có xuống -400C và bị bão tuyết vùi dập. Ông ấy dũng cảm nhỉ? Nhưng không chỉ có bố bạn. Ông cùng hàng nghìn ông bố khác xúm xít cả vào một chỗ để giữ ấm. 4 Bạn nở ra giữa mùa đông. Brrr! Bố bạn ẵm bạn trên chân mình cho đến khi bạn được 8 tuần tuổi. Lúc đó chân bạn đã phủ một bộ lông dày để giữ ấm cho mình được rồi. 66 ĐI ĂN! BRRRR! MÓN RAU TRỘN NHÃO NHOẸT Ở TRƯỜNG MỘT CON SÂU VẶN VẸO CHÉN RAU. BẠN KHÔNG ĐỂ Ý... BIẾT RA THÌ ĐÃ MUỘN. BẠN ĐÃ XƠI CON SÂU. ÚI! 5 Ông bố quý hóa của bạn đã không ăn uống gì mấy tháng rồi nên gầy nhẳng, chỉ còn da bọc xương. May mà mẹ bạn vừa về tới. Đúng lúc quá đi mất. Ông bố đói lả của bạn dông thẳng ra biển để kiếm gì đó ăn cho lại sức, còn mẹ bạn thì ợ ra vài con cá cho bạn chén. Sướng. 6 Đến giữa mùa hè bạn đã đủ lớn để tự săn sóc mình. Bạn rời nhà ra biển kiếm ít cá. Nhưng nhớ coi chừng những con hải cẩu đốm rình rập ở mép băng. Món khoái khẩu của chúng là, biết gì không? Đúng lắm, chim cánh cụt non. Cuộc sống miền biển cực Bạn phải thật cứng cựa mới sống nổi trên bờ ở miền cực, nhưng dưới lòng biển miền cực thì khác. Tuy nước lạnh cắt da nhưng sự sống vẫn cứ sôi sùngsục. Đó là bởi ở đó có nhiều thức ăn cho những sinh vật miền cực háu đói. Loài vật dưới biển được xâu vào với nhau thành chuỗi thức ăn. Đó là cách các nhà khoa học kinh dị mô tả mối liên hệ giữa những loài vật và các thứ chúng xơi. Hầu hết các chuỗi thức ăn đều bắt đầu từ thực vật. Một chuỗi thức ăn điển hình có dạng đại để như dưới đây: 67 Nhật ký bí mật của Văn Tép Một chuỗi thức ăn ở Nam Băng dương đại để là thế này: TẢO NHỮNG SINH VẬT ĐƠN BÀO NHỎ XÍU CON TÉP CÁ VOI XANH NHỮNG CON TÔM NHỎ SỐNG NHỜ TẢO ĐỘNG VẬT LỚN NHẤT XƯA NAY (CHẤP CẢ KHỦNG LONG CỦA CÁC BẠN NỮA ĐẤY) KHOÁI ĂN TÉP. Nhật ký bí mật của một con tép Tép là những sinh vật giống như tôm nhỏ màu hồng dài nhiều lắm là 5cm. Một con mồi nhỏ xíu. Vì vậy bạn có thể nghĩ phải có nhiều tép khủng khiếp lắm mới đủ cho một con cá voi xanh. Thì đúng là thế. Cá voi xanh mà ăn uống thì phải nói là hoành tráng lắm. Chúng có thể xơi chừng BỐN TẤN tép... MỖI NGÀY. Thử nghĩ ăn chừng ấy đồ ăn ở trường xem! Mà không chỉ có chúng. Những con chim biển tham lam, rồi chim cánh cụt, hải cẩu và cá cũng chén tép thật lực. Vậy thì bạn cũng thấy tép có vai trò quan trọng sống còn thế nào trong chuỗi thức ăn vùng cực. Nhưng bản thân anh tép nhàta thì sao? Ý tôi là bị thiên hạ đổ xô vào chén suốt ngày suốt đêm thì nào có vui vẻ gì. Vậy nếu anh bạn tép mà lén ghi nhật ký thì sao nhỉ? (OK, chỗ này bạn phải chịu khó vận dụng trí tưởng tượng một chút nhé...) 68 TÔI ĐANG CHÉN! ĐỒ DU CÔN! Nam Băng dương, giữa mùa hè 1 giờ chiều. Vào giờ ăn trưa mình bơi lòng vòng với cả đàn lo việc của riêng mình. Cảm thấy đói bèn dừng lại lót dạ tí tảo băng ngon lành. 1.10 chiều. Hả? Vừa mới định đớp một miếng thì một con cá voi xanh tò tò bơi qua. Nó | 319 |
4 | há cái mõm rộng hoác. Sao nó không ăn con gì vừa tầm một tí? Mà ở đâu ra cái kiểu ăn bất lịch sự thế chứ. Chúng vừa bơi vừa ngoạc mồm ra (không sợ người ta cười cho à?) 1.20 chiều. Bị hốt vào cái họng to uîch, đúng là đồ du côn. May mắn chuồn ra ngoài cùng với mấy đồng đội, nhưng những kẻ xui xẻo thì bị tách ra khỏi nước. Bữa ăn của cá voi. Chạy đàng nào cho khỏi. Phải, làm tép thật chả vui vẻ gì đâu, xin cam đoan với mọi người thế. Phải có cả mắt đằng sau ót nữa. Cùng ngày... 3.00 chiều. Aaaaá! Mình lại ra đó. Nó sắp tóm được mình rồi. Và cái mồm to bự lại hớp nước. Mẹ ơi! Vài phút sau... Ghi chú: Đáng buồn thay, đó là những dòng cuối cùng trong nhật ký của Văn Tép. Lần này thì may mắnđã ngoảnh mặt đi. Cá voi xanh liệu có động lòng? Nó cứ chén thôi! Chả phải nó thì còn khối cá khác dưới biển. 69 Tép bơi thành từng đàn lớn, phải cả mười triệu tấn mỗi đàn. Những đàn này lớn đến nỗi radar tàu còn phát hiện được, thậm chí cả vệ tinh ngoài không gian cũng thấy. Các nhà khoa học cho rằng có khoảng 600 triệu triệu tép ở Nam Băng dương (tức là gấp cả một trăm lần người trên Trái đất). Thành ra làm gì mà cá voi chả vơ được một bữa. Cảnh báo sức khỏe kinh dị Thích chén một đĩa xúc xích và khoai tây chiên chứ? Xúc xích tép mà khoai tây chiên cũng tép luôn ấy mà. Rồi bánh kẹp tép và phô mai kem? Không tin thì thôi chứ các món tép là người ta khoái khủng khiếp luôn đấy. Phiền một cái là bạn phải chộp thật nhanh - tép nó nhảy như... tép nhảy ấy. Phù! Thực vật miền cực gan góc Hầu hết cây cỏ đều ưa tiết trời nắng ấm với chút mưa rào nhẹ. Đó là điều kiện lý tưởng để cây phát triển. Điều kiện mà bạn chả bao giờ có ở miền cực. Có thể bạn nghĩ rằng với điều kiện lạnh, khô và gió như thế thì thực vật miền cực chỉ có héo rũ mà chết. Nhưng lạ thay một số loài cây vẫn xoay xở mà sống ở đó được đấy. Thật xấu cả hổ cho tất cả thực vật ở đây nếu có cây nào tính chuyện dời đi nơi khác vì:70 CẬU CÓ HÒN ĐÁ ĐẸP GHÊ! TỚ THÍCH LẮM! A, KEM MÂM XÔI! 1 Đừng áy náy về đất. Một số loài tảo (những thực vật đơn bào nhỏ xíu) Nam cực có một ít lông để bơi trên tuyết. Bằng cách đó chúng mới đến được chỗ có nắng cần thiết để tạo ra thức ăn. Và để tránh cho cơ thể bị đóng băng, chúng tạo ra một loại chất chống đông. Ở một số nơi tảo còn biến hình thành kem mâm xôi gợn sóng. Việc chuyển màu đỏ của cây gần giống như bôi kem chống nắng vậy, nó giúp cho cây tránh bị cháy nắng dưới ánh mặt trời chói chang miền cực. Giỏi đấy chứ, nhỉ? 2 Ăn uống chớ quá kén chọn. Địa y là loài cây lý tưởng của miền cực vì chúng thậm chí xơi cả đá hộc trần xì. Địa y tạo ra acid làm rã vụn đá ra. Sau đó chúng cắm những "cái rễ" nhỏ xíu vào để hút hết những gì có trong đá. Chúng dùng những thứ đó tạo ra thức ăn. Các loài địa y khác thì sống trên phân hải cẩu hoặc chim cánh cụt vương vãi trên vách đá. Dễ thương ghê! 3 Học cách sống ở bất cứ đâu. Một vài loài tảo Nam cực sống ngay trong tảng đá. Những thực vật cầu kỳ này chuộng loại đá màu tối hấp thụ nhiều nhiệt của mặt trời. Nó lại còn không bị gió quất nữa chứ. Tảo chui vào đá theo những khe nứt bé xíu. Nó duy trì sự sống nhờ ánh sáng rọi quanhững hạt trong suốt trong đá. 71 Nhưng mấy con chim cánh cụt ngốc nghếch, cá voi dềnh dàng và cây cối tí hin không phải là những thứ khác thường duy nhất của sự sống hoang dã mà bạn tìm thấy ở miền cực. Một số người cũng thấy điều kiện vùng cực là khỏe người đấy. Họ điên hẳn rồi hay chẳng qua họ quấn quá ấm? Sao không nhòm thử vào chương sau để gặp vài người như vậy? BẮT CHƯỚC TÔI HẢ? 4 Mọc càng chậm càng tốt. Đó là cách địa y sống sót qua cái lạnh khủng khiếp. Ở miền cực băng giá cả năm may ra mới có một ngày nắng đủ ấm để mà lớn. Thành thử một mảng địa y to bằng cái lá bắp cải cũng phải có hàng trăm năm tuổi. Ngay cả mấy lá rau già nhất trong bữa ăn ở trường cũng chưa già bằng thế! 5 Nở hoa mùa đông - quên đi. Lúc đó vừa lạnh vừa tối thui. Nhưng khi mùa xuân đến thì hoa miền cực nở rộ. Chúng phải làm mọi chuyện thật nhanh để kịp rải hạt ra trước khi cơn lạnh năm sau ập đến. 6 Cúi thấp xuống. Cây cối miền cực không cao và cành lá lòa xòa như những cây bạn thường thấy đâu. Thực ra nó thấp đến nỗi bạn bước qua ngọn của nó được. Những loại cây như liễu Bắc cực mọc rất thấp và khẳng khiu để tránh gió. Giống như cây địa y già lão, chúng cũng mọc rất chậm. Một cây liễu to bằng cây bút chìcũng phải vài trăm tuổi. (À mà Nam cực thì chả có cây thân gỗ nào đâu). 72 Nhưng không có ai thường trú ở Nam cực cả - nó quá cóng. Nhưng chút xíu nữa bạn có thể đụng một vài nhà khoa học Nam cực điên rồ. A TAXI DÂN CƯ MIỀN CỰC LẠNH GIÁ Cuộc sống ở miền cực với gấu trắng có thể là sướng. Nhưng mà con người thì sao? Cũng lạ là có những người rắn mặt lại chọn sống gần Bắc cực, bất chấp điều kiện khắc nghiệt kinh người ở đó. Vậy thì làm thế nào những cư dân miền cực chịu đựng nỗi kiểu sống băng giá ấy? Còn ai đáng để hỏi hơn dân Inuit bản địa ở Bắc cực. Họ sống trên băng suốt cả cuộc đời. Cư dân miền cực Người Inuit chủ yếu sống ở Alaska, bắc Canada và Greenland băng giá. Trong tiếng Inuit, tên gọi "inuit" nghĩa là "người". Từ bao đời nay người Inuit đã lang thang khắp Bắc cực đánh cá và săn thú kiếm ăn. Cuộc sống của họ xoay vòng theo sự thay đổi mùa. Mùa hè họ săn hải cẩu, cá voi và con moóc ở gần bờ và dự trữ thức ăn cho mùa đông. Mùa đông họ chuyển lên bờ săn tuần lộc (hươu sừng tấm). Người Inuit trông vào đất và biển để có mọi thứ họ cần và hết sức trân trọng xứ sở băng giá của mình, cố gắng không làm tổn thương nó. Vậy thì người Inuit làm điều đó như thế nào? Bạn đã sẵn sàng tìm hiểu xemhọ sống sót thế nào chưa? Nếu bạn có dự định đến thăm người Inuit thì phải cẩn thận. Có thể bạn nghĩ rằng mình có 73 THƯA CÔ, EM CHƯA LÀM Ạ. QARASAASIAQ CỦA EM TỐI HÙ À. Liệu bạn có cần đi bác sĩ không nhỉ? Trả lời: Không cần đâu, chả có chuyện gì với bạn cả. Qarasaasiaq trong ngôn ngữ Inuit là máy tính. Nó là tập hợp của bốn từ "óc nhân tạo nhỏ". Nếu người Inuit không có một từ nào thì họ chỉ việc tạo ra nó. Bạn có uống trà với đường không? Nếu cần đường thì hãy xin họ cái thứ "trông giống cát" là xong. Giỏi đấy chứ nhỉ? quá nhiều bài về nhà mà quá ít tiền tiêu vặt là căng lắm. Ít ra thì bạn không phải lo bị đông cứng mỗi lần lò dò ra ngoài. Cuộc sống ở Bắc cực thì cực ơi là cực. Người Inuit biết rõ băng giá như trong lòng bàn tay và họ là những tay cự phách đã sống sót ở miền cực. Tuy vậy chỉ sơ sẩy một bước là họ - và cả bạn nữa - đứt bóng như chơi. Nếu bạn muốn học cách sống của người bản địa thì sao lại không ngó qua cuốn Hướng dẫn thiết yếu để sống sót ở miền cực của người Inuit xem sao. Nó chứa đầy những bí quyết và mẹo vặt giữ gìn sự | 320 |
4 | sống. Thử hỏi cô Gloria mà xem - cô ấy chả bao giờ ra khỏi nhà mà không cầm nó theo. Ghẹo thầy một chút Nếu chẳng may cô giáocủa bạn lúc nào cũng tỏ vẻ ta đây biết nhiều ngoại ngữ thì làm sao? Chán chứ gì? Thử mấy câu gãy lưỡi để trả đòn nhé. Khi cô giáo hỏi đến bài làm về nhà thì bạn hãy nhoẻn miệng cười mà rằng: 74 Bài học vỡ lòng về sống sót ở miền cực lạnh giá của người Inuit Bài 1. Mặc gì Nếu bạn lên đường đến miền cực lạnh giá thì bạn cần mặc cho đúng điệu. Nhưng quên những kiểu cọ vớ vẩn đi. Phải giữ được ấm cái đã. Và tôi e là mặc thêm áo len vào cũng không ăn thua gì đâu. (Kể cả cái áo bà ngoại bạn đan tặng nhân Giáng sinh). Bạn cần mặc thành nhiều lớp quần áo mà vừa giữ được hơi ấm ở lớp sát da vừa thoát được mồ hôi (Nếu không thì mồ hôi thoát ra làm da bạn cóng đấy). Muốn thực sự ấm áp và thoải mái thì hãy xem dân bản địa ăn mặc thế nào. Kiểu cọ gì cũng phải theo họ hết. Dưới đây là là thứ xịn nhất. Đây là trang phục truyền thống của người Inuit mà họ đã mặc hàng trăm năm nay. Ngày nay nhiều người Inuit đã mặc theo lối hiện đại mua ở một công ty tên là Vịnh Hudson, không thì mua qua mạng cũng được. NGON THẬT! Sự thật rúng động Áo có mũ trùm thực ra không phải là thứ tầm thường như bạn tưởng đâu. Trong tiếng Inuit từ annuraaq là để chỉ một loại áo khoác xịn lắm đấy - mà đương nhiên cũngrất ấm nữa. 75 ÁO KHOÁC DA TUẦN LỘC: Mặc lớp lông ra ngoài. Da thú là ấm cực kỳ và chống gió cũng tốt. Mặc thêm một chiếc áo chẽn da hải cẩu hoặc lông chim mỏng hơn ở bên dưới mà lớp lông lồng vào phía trong. MỘT MIẾNG LÔNG CÁO HOẶC CHÓ SÓI VIỀN QUANH MŨ TRÙM: Tránh cho hơi thở không làm cóng da bạn. QUẦN DA GẤU BẮC CỰC: Mặc lớp lông ra ngoài. Nhét ống quần vào trong giày để tránh gió lùa. Mặc thêm một chiếc quần da hải cẩu hoặc cáo mỏng hơn bên dưới và mặt lông quay vào trong. GIÀY: (Da hải cẩu) mang với một đôi tất (vớ) bằng da cừu hoặc hải cẩu, mặt lông quay vào trong. Nếu quá lạnh thì có thể mang một lúc mấy đôi giày lồng vào nhau. BAO TAY DA HẢI CẨU: Bạn có thể rút cả bàn tay vào trong tay áo để ngón tay khỏi bị cước. 76 Giày ra giày Nếu bạn cần một đôi giày tập bạn chỉ việc chạy ra cửa hàng giày. Dễ như bỡn. Nhưng ở Bắc cực băng giá thì chả có sẵn tiệm giày thế đâu. Thế là những người Inuit khéo tay kinh khủng bèn tự làm lấy hết thảy trang phục của mình theo truyền thống lâu đời. Lá gan bạn lớn cỡ nào? Bạn phải có đủ gan cho một chút tiếp theo ở đấy. Bạn sắp sửa được biết người Inuit làm giày da hải cẩu cho mình thế nào. Ghi chú: Trước đây, hàng triệu hải cẩu đã bị bọn săn hải cẩuqui mô lớn giết để làm áo lông. Nhưng giờ đây việc này đã được kiểm soát nghiêm ngặt. Riêng người Inuit thì được phép săn hải cẩu vì họ cần thịt và lông hải cẩu để sống chứ không săn hải cẩu cho vui hay vì bộ lông đắt tiền. 1 Trước tiên người Inuit phải bắt được hải cẩu cái đã. Việc này không phải dễ xơi đâu. Phần lớn thời gian, hải cẩu ở dưới nước, ngay dưới lớp băng. Nhưng được cái người Inuit thì rành vụ này. Họ biết chính xác đâu là cái lỗ bí mật mà hải cẩu ngoi lên thở. Bằng cách nào? Thì họ tìm vết răng gặm vào băng hoặc ngửi ra mùi rất nặng của hải cẩu. 2 Họ chờ bên lỗ thở, tay lăm lăm cây lao. (Ngày nay người Inuit hầu hết dùng súng trường. Dở một cái là nếu bắn hụt thì tiếng nổ lớn sẽ xua hải cẩu chạy hết). Họ cần phải kiên nhẫn. Rất kiên nhẫn. Có khi phải chờ hàng giờ hải cẩu mới ngoi lên thở. 77 3 Khi hải cẩu trúng lao thì người Inuit lôi nó lên và lột da và xẻ thịt. Người Inuit thích thịt hải cẩu, bất kể đã nấu hay chưa. Lòng hải cẩu sấy khô là là món đặc sản khoái khẩu của họ. Thực ra miếng thịt hải cẩu duy nhất bạn không thể chén là cái túi mật mỡ màng. Còn lại thì đem đông lạnh dự trữ cho mùa đông. 4 Da hải cẩu lột ra sẽ được lóc mỡ bằng dao. (Người ta không quăng chỗmỡ này đi đâu - nó được dùng làm dầu thắp hoặc đốt bếp). Người làm giày Inuit cố không khía vào da, sau đó họ ngâm vào nước tiểu, phải rồi, nước tiểu, qua đêm để nó sạch sẽ và bền hơn. Bước tiếp theo là giũ và căng ra phơi cho khô. 5 Chỉ đến bây giờ họ mới có thể bắt tay làm đôi giày của mình. Họ đo chân (cả bàn chân và ống chân) bằng một mẩu dây. Sau đó cắt từ da hải cẩu ra hai cái đế và hai mũi giày. Da hải cẩu cứng hơi khó khâu nên họ phải cắn một lúc cho mềm ra. Rồi họ khâu giày vào. Trước đây người Inuit dùng kim bằng xương hải cẩu và chỉ bằng gân hải cẩu để khâu giầy da hải cẩu. (Ngày nay họ dùng tơ và chỉ nha khoa thay thế!) 6 Họ gập cổ giày lại và khâu đường luồn dây. Đến đây thì đôi giày đã sẵn sàng. 78 TÔI DÀNH LOẠI NÀY CHO THẦN SEDNA. Hồn hải cẩu Một điều mà người Inuit không bao giờ quên là cám ơn thần biển Sedna đã cho họ săn được hải cẩu. Họ tin rằng thú cũng có linh hồn chả khác gì người. Nếu bạn không tỏ lòng kính trọng hải cẩu thì Sedna sẽ nổi giận ngay. Như vậy chả có gì hay ho cả. Truyền thuyết nói rằng khi Sedna nổi giận thì tóc bà xỉn màu bẩn lắm và hải cẩu chui hết vào đấy, chả còn con nào ở ngoài mà săn cả. Nếu điều đó xảy ra thìmột người Inuit sẽ phải lên đồng và vào hang ổ của thần Sedna cáu kỉnh để chải đầu cho bà để kéo hải cẩu ra. Đầu mà bẩn thì lắm chuyện thế đấy. Bài 2: Ăn gì OK, vậy là bạn đã có trang phục miền cực rồi, bây giờ ăn thế nào đây? Bắc cực lạnh ghê răng, làm gì có cây trái nào mọc nổi, thành ra người Inuit chủ yếu chỉ ăn thịt, mỡ và cá. Thế mà bạn bảo bữa ăn ở trường chán phèo! Thực ra bữa ăn kỳ cục của họ bổ dưỡng kinh khủng, cung cấp đầy đủ những vitamin thiết yếu (khác hẳn bữa ăn ở trường). Sau một ngày đi săn, người Inuit về mở tiệc để chia các thứ họ kiếm được. Và biết gì không? Phải rồi, bạn cũng được mời đấy. Thực đơn bữa tiệc Inuit Khai vị • Một lô món chấm thượng hạng Ăn cùng với những lát thịt hải cẩu hoặc tuần lộc khô đông lạnh. 79 MÓN NÀY ĐƯỢC CÁI HAY LÀ CÓ CẢ TĂM! DỄ THƯƠNG! Món chấm 1. Những mẩu thịt nạc mềm của hải cẩu hoặc tuần lộc trộn với tiết và mỡ nước. Gia thêm lòng gà gô xám. Món chấm 2. Những thỏi mỡ phần của hải cẩu hoặc cá voi ướp lạnh cho khô quánh lại. Món chấm 3. Phèo tuần lộc (còn nguyên thức ăn tiêu hóa dở). Còn sót tí cỏ rả nào thì nhặt ra. Món chính • Kiviak: Là một loại xúc xích cuộn khoanh ngon lành. Đây là món đặc sản ở Greenland, phàm là đám cưới thìkhông thể thiếu. Dưới đây là cách làm nếu bạn thấy thèm: Nguyên liệu: • Khoảng 300 con chim anca nhỏ (một loài chim nhỏ ở vùng biển Bắc cực) • Một tấm da hải cẩu còn dính mỡ. | 321 |
4 | Cách làm: 1 Nhồi chim vào tấm da hải cẩu rồi khâu lại. 2 Chôn nó trong đống đá và cứ để kệ nó thối. 3 Chờ trong sáu tháng, sau đó đào lên. 4 Nếu có mùi thum thủm như phô mai thối là ăn được! Ghi chú: Món này ăn bốc, nếu có lông, xương hay mỏ chim dắt vào răng thì móc ra. 80 Cảnh báo sức khỏe kinh dị Nếu bạn thích gan và hành thì cần lưu ý đó không phải là gan gấu trắng Bắc cực. Nó chứa quá nhiều vitamin A, có thể gây chết người. Những món phụ • Da kỳ lân (một loài cá voi) thái sợi Món nhấm nháp ngon, có vị hạnh nhân • Óc hải cẩu nghiền Ăn nóng. • Địa y dầm Mổ dạ dày tuần lộc lấy ra ăn. Tráng miệng • Món tuần lộc lạ miệng Quên ngay những kem với trái cây các thứ đi. Món này cay cay hăng hăng làm từ máu tươi còn nóng trong dạ dày tuần lộc mới mổ. Không lạ miệng không lấy tiền! Bài 3: Tìm chỗ trú Ngày nay nhiều người Inuit sống trong những ngôi nhà gỗ nhỏ giữa các thị trấn. Theo truyền thống thì họ sống trong những chiếc lều da hải cẩu vào mùa hè, còn mùa đông thì trong những ngôi nhà bằng đất và đá xây ngầm.Nhưng nếu bạn đang đi săn mà bất chợt bão tuyết nổi lên thì sao? Bạn cần một chỗ trú ấm áp, kín gió cho một vài đêm, nhưng chả có gì ngoài tuyết trong vòng mấy dặm quanh đấy cả. Đừng hoảng, đâu có đó. Dưới đây là cách làm một cái lều tuyết thông dụng bậc nhất của người Inuit. 81 THẾ NÀY MÀ LÀ TỔ À? CỨ THẾ NÀY CÒN LÂU MỚI TÌM ĐƯỢC GIUN. CỨ THẾ NÀY ĐẾN TẾT CŨNG CHẢ BAY LÊN ĐƯỢC 3. Xếp mấy cục tuyết thành vòng tròn, sau đó chất những cục khác lên theo đường xoáy trôn ốc cho thành hình một cái nhà. 2. Cắt lấy chừng 30 cục tuyết bằng cỡ cái va li. Nguyên liệu: • một con dao (làm bằng xương hoặc ngà của con moóc) hoặc cưa • một chỗ tuyết chắc Cách làm: 1. Nằm xuống tuyết, tay chân dang hết ra. Vẽ một vòng tròn quanh bạn bằng cách quơ chân tay lên xuống (giống như tập động tác nhảy ấy). 82 LỀU TUYẾT THÂN THƯƠNG Nói thêm: Tuyết là một vật liệu tuyệt vời để xây dựng vì nó giữ được nhiệt. Bên trong lều tuyết bạn sẽ cảm thấy ấm áp và thoải mái, dù bên ngoài có lạnh giá thế nào. Với lại một người Inuit từng trải chỉ mất chưa đến một giờ để đắp một lều tuyết xịn. Còn bạn nghĩ mình sẽ mất bao lâu? 4 Chặn cục cuối cùng lên nóc nhưng phải chừa lỗ để thông khí. 5 Trám những kẽ hở bằng tuyết. 6 Moi một cửa chui ra chuivào ở bên cạnh, thấp hơn mặt sàn (cho khỏi lọt khí lạnh) Người Inuit đã sinh sống ở Bắc cực từ hàng ngàn năm nay với những kỹ năng sống sót tuyệt vời của mình. Nhưng ngày nay cách sống của họ đã thay đổi. Nhiều người Inuit buộc phải bỏ lối sống du mục của mình để vào các khu định cư với những ngôi nhà tiện nghi. Có vài thứ cũng giúp cuộc sống của người Inuit trở nên dễ dàng hơn như siêu thị, súng trường và xe máy trượt tuyết. Nhưng cũng có những người lo ngại rằng lối sống truyền thống sẽ bị mai một. Và đó sẽ là một thảm họa khủng khiếp. Nhưng không phải tất cả đều ảm đạm tối tăm như thế: đã có những người Inuit đứng lên phản kháng. Năm 1999, một vùng lãnh thổ mới đã được thiết lập ở miền Bắc Canada tên là Nunavut, nghĩa là "Đất Ta" do người Inuit tự mình cai quản lấy mình. 83 KHI NÀO THÌ TA ĐẾN ĐƯỢC SÔNG BĂNG? Khoa học cực Nam Trong khi đó thì ở Nam cực mọi chuyện lại khác. Bạn biết đấy, ở đây quá lạnh nên không thể ăn đời ở kiếp mãi được. Nhưng đi nghỉ thì vô tư (hơi bị tốn nên bạn phải bắt đầu dành dụm đi là vừa, xem trang 113 để xem làm sao đến đó được), hoặc không thì bạn đến đó với tư cách là một nhà khoa học mà làm việc. Cũng lạ là có đến hàng ngàn nhà khoa học cùng đội ngũ hỗ trợ cố đấm ănxôi nằm lại Nam cực, bất chấp lạnh và gió. Vậy chứ vì sao họ lại lỳ thế? Chả là vì Nam cực là nơi tuyệt vời đến khó tin cho khoa học. Trước hết, đó là phòng thí nghiệm lớn nhất trên thế gian. Và không còn nơi nào khác giống như vậy. Nhưng đây không phải là thứ khoa học mà bạn học ở trường đâu - bạn thừa biết nó chán đến không mở được mắt thế nào rồi đấy. Không, loại khoa học ở đây là thứ chưa từng có trước đây. Nó hồi hộp kinh khủng luôn. Quên ngay những thí nghiệm tẻ ngắt và những ống nghiệm nhạt phèo đi. Khoa học ở đây là về những sông băng kỳ thú, những hóa thạch đóng băng lâu đời, những sự sống khác lạ và nhiều thứ nữa. Sướng chưa? Liệu bạn có thể trở thành nhà khoa học miền cực băng giá? Bạn có những phẩm chất cần thiết để làm việc ở vùng cực không? Thử trắc nghiệm nhanh xem thế nào nhé. 1 Bạn có sức khỏe và sức chịu đựng kinh hồn? Có/Không 2 Bạn có thích cắm trại? Có/Không 3 Bạn có lúc nào cũng thấy đói? Có/Không 4 Bạn đeo kính bảo hộ vào nhìn có rõ không? Có/Không 5 Bạn có dễ dàng lên đường không? Có/Không 6 Bạn có giỏi ngoại ngữ không? Có/Không 7 Bạn có ghét tắm không? Có/Không 84 TÔI CÓ RÂU MÀ CON CÚN CỦA TÔI CŨNG THẾ NGỨA CHẾT ĐI ĐƯỢC 8 Bạn có gọn gàng ngăn nắp không? Có/Không 9 Bạn có râu không? Có/Không Kết quảthế nào? 7-9 có: Chúc mừng! Bạn có vẻ ngon cơm đấy. Bạn sẽ là một chú học xuất sắc (ý là bác học ấy mà, hơ hơ) 4-6 có: Không tệ lắm. Nhưng có lẽ bạn nên làm gì đó không qu-úa la-ạnh. 3 có trở xuống: Trời đất! Khoa học miền cực không dành cho bạn rồi. Thử làm gì đó ít mạo hiểm một chút. Gì đó giống như bài địa về nhà của bạn ấy mà! OK, tất cả các bạn học có vẻ khá đấy và chắc các bạn nghĩ rằng mình ngon lành cho công việc rồi. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu thôi. Hãy xem lại xem bạn đưa mình vào đâu nhé... 1 Sức khỏe và sức chịu dựng hả? Bạn cần phải thế - có rất nhiều việc năng nhọc liên quan đến khoa học miền cực. Bạn sẽ được kiểm tra sức khỏe đến nơi đến chốn trước khi được phép lên đường. Là nhà thể thao thì tốt lắm. Leo núi đá đặc biệt có ích trong việc cứu người ở các khe băng. Coi chừng đừng rớt xuống nhé. 2 Khoái cắm trại à? Tốt nhất bạn hãy quen dần với việc này đi. Ở Nam cực, các nhà khoa học sống chủ yếu ở những trạm nghiên cứu. Một số trạm giống như một thị trấn nhỏ với những khu ở, các phòng thí nghiệm, nhà bếp, bệnh xá, thư viện, phòng tập thể dục và trạm phát điện riêng nữa. Có một trạm còn có cả chỗ chơi bowling mới 85 CHẾ NƯỚC VÀO ĐÊM QUA CÓ BÃO TUYẾT ĐẤYAI NÓI THẾ NHỈ? ghê chứ. Nhưng các nhà khoa học còn phải có những chuyến đi dã ngoại lạnh giá kéo dài hàng tháng trời nên cắm trại là việc không thể thiếu rồi. Tốt nhất nên mang theo một cái lều kim tự tháp vì hình dáng của nó chịu được gió mạnh. Nhưng chớ quên đánh dấu vị trí cắm trại của mình bằng một lá cờ. Cái đó là đề phòng có bão tuyết vùi lều trại của bạn xuống tuyết. 3 Lúc nào cũng đói à? Ở Nam cực bạn đốt nhiều năng lượng để giữ ấm. Đó là chưa kể những công việc nặng nhọc mà bạn phải làm. Vậy nên bạn phải ăn cho nhiều vào. Trong | 322 |
End of preview. Expand
in Data Studio
README.md exists but content is empty.
- Downloads last month
- 6