text stringlengths 1 55.3k |
|---|
- Được! Được! - Đến lượt De Mole vừa nói vừa mỉm cười - Nếu vậy đã có tôi ở đó để nhắc nhở ông ta. - Thôi được! Trong hai giờ nữa ông sẽ có thuốc. - Tạm biệt ông. - Ông bảo gì cơ? - Tạm biệt ông. Người đàn ông mỉm cười nói: - Tôi có thói quen lúc nào cũng chào vĩnh biệt. |
Vậy vĩnh biệt ông, ông de Mole, trong hai giờ nữa ông sẽ có thuốc. Ông đã rõ chưa, thuốc phải uống vào nữa đêm, chia làm ba lần, cách nhau một giờ. |
Nói tới đó, ông ta ra đi và chỉ còn De Mole ở lại một mình với Coconnas. Coconnas đã nghe thấy cả cuộc nói chuyện nhưng chẳng hiểu gì: đó là những tiếng vô nghĩa, những lời xì xầm vô nghĩa của các từ lọt đến tai chàng. Trong cả cuộc chuyện trò, chàng chỉ nhớ được mỗi một từ: "Nửa đêm". Chàng vẫn đưa cặp mắt cháy bỏng n... |
De Mole cẩn thận để thuốc lên một chiếc lò bạc rồi đi nằm. Hành động đó của De Mole làm cho Coconnas nghỉ ngơi được một chút. Chàng cố nhắm mắt lại, nhưng ngủ thiu thiu trong cơn sốt của chàng chỉ là chuỗi tiếp nối của trạng thái thức trong mê sảng. Vẫn bóng ma đã đeo đuổi chàng ban ngày ấy lại tiếp tục trở lại ban đêm... |
Coconnas mở đôi mắt rực lửa, hai thở nóng bỏng của chàng thiêu đốt đôi môi khô nẻ. Cơn khát không thể dập tắt hun đốt cổ họng nóng giãy của chàng. |
Ngọn đèn đêm vẫn sáng như thường lệ, ánh tù mù của nó khiến như có trăm ngàn bóng ma nhảy múa chập chờn trước mắt Coconnas. |
Thật khủng khiếp, chính vào lúc đó chàng thấy De Mole từ trên giường tụt xuống. Sau khi lượn một vài vòng trong phòng như con chim cắt lượn trước con mồi mà nó đã thôi miên, De Mole tiến tới tận chỗ chàng và giơ nắm đấm ra. Coconnas với tay về phía con dao găm, nắm lấy cán và chuẩn bị đâm thủng bụng kẻ thù. |
De Mole vẫn tiến lại. |
Coconnas thì thầm. - A! Lại mày, vẫn là mày! Lại đây! A! Mày doạ tao, mày giơ nắm đấm với tao, mày lại mỉm cười! Lại đây! Lại đây! A! Mày vẫn từng bước tiến lại cơ à! Lại đây! Lại đây! Tao sẽ giết mày! |
Và quả thật, hành động đi đôi ngay với lời đe doạ âm thầm đó. |
Lúc De Mole cúi xuống, Coconnas tung từ dưới chăn ra một lưỡi dao. Nhưng do cố gắng nhổm dậy nên chàng trai Piémontais bị kiệt sức, cánh tay vung về phía De Mole bị dừng lại nửa chừng, con |
cầm quân mới, các cầu thủ bị kéo khỏi nhịp điệu và thói quen thường ngày. Những cầu thủ chính thức buộc phải cố để giữ vị trí, những kẻ dự bị thì càng phải cố vì biết cơ hội thay đổi đã đến. |
Bốn trận thắng ấy diễn ra trước Maritimo (2-1), Benfica (3-2), Varzim (1-0) và Vitoria de Setubal (4-1). Trong số này, đáng chú ý nhất tất nhiên phải là trận đấu với Benfica, đội bóng cũ nay đã trở mặt thành thù với Mou. Đấy không chỉ là một trận derby mà còn ảnh hưởng lớn đến suất dự Cúp UEFA mùa tới nên Mou dồn hết t... |
Liệu Benfica sẽ ra sân với một trung phong (Jankauskas) và 2 cầu thủ chạy cánh (Simao Sabrosa và Mantorras) hay cho Mantorras bó vào trung lộ, để 2 cánh lại cho Carlitos và Miguel? Nếu Jankauskas đá chính, ông |
thiếu rõ ràng. |
Trong kinh doanh, sự rõ ràng và cam kết này cũng là điều rất cần thiết. Mỗi nhân viên của bạn phải hiểu rõ những việc họ cần làm và cam kết hết mình để giành chiến thắng như những người lính trên trận địa. Nguyên tắc tấn công. |
Hoàng đế Napoleon từng nói: “Không thể thắng lớn nếu chỉ phòng thủ.” Các nhà lãnh đạo không đi những nước đi an toàn; họ không chờ mọi việc xảy ra. Họ bước ra ngoài và giành quyền kiểm soát tình hình. Họ không liều lĩnh, điên rồ mà xông xáo, tập trung. |
Nguyên tắc số đông. Đây là vấn đề tập trung lực lượng – trong kinh doanh, điều này đồng nghĩa với việc tập hợp nguồn nhân lực tài năng nhất, năng lượng mạnh mẽ nhất và tất cả các nguồn lực khác – nhắm thẳng vào nơi có cơ hội giành chiến thắng cao nhất. Những nhà lãnh đạo có khả năng xoay chuyển thường tái tổ chức hoạt ... |
Nguyên tắc điều động. |
Phần đa chiến thắng trên trận địa là chiến thắng của những nhà chỉ huy giỏi điều quân. |
Ngoài trận địa, nguyên tắc điều động nằm ở sự sáng tạo và linh hoạt. |
Ví dụ, đôi khi nó có nghĩa là đi ngược hẳn lại thông lệ để xoay chuyển một tổ chức có nguy cơ thua cuộc trở thành người chiến thắng. |
Nguyên tắc thu thập tin tức. Nhà lãnh đạo cần nắm |
T ớ Là JE K R y THOMPSON, M Ớr. . THAM ỠÍA VÃO NHÓM .• N e à Y H Ô M N A ỵ . ' HÂN HẠNH ' €>ược & ẶP CÂU. Nhũng việc như thế nàữ có thể giúp bạn gặp gd nhiéu ngư^p Vó Là nhũng v\ệc có nhiJu ngưài cùng ấộ ỉuầ vài bạn tham gia. Bạn nên thử làm một việc gì đó có nhiều người cùng trang lứa với bạn tham gia. Có thể công việ... |
“Vâng, tôi nghĩ nó mắc phải dịch cúm giờ đang hoành hành quanh đây.” Cô cười toét miệng. |
Người phụ nữ khoảng ba mươi, mặc chiếc áo choàng đen bằng vải trơn, trang nhã tự nhiên mà Harry dư biết là rất đắt. |
“Tôi đang định ra ngoài,” người phụ nữ nói. “Anh đến đây à?” “Tôi nghĩ vậy. Ông Sindre Fauke có nhà không?” “Suýt nữa thì có,” cô nói. “Anh đến chậm vài tháng rồi. |
Cha tôi đã dọn vào thành phố.” Harry tiến đến gần hơn và thấy cô là người hấp dẫn. Điều gì đó trong cách ăn nói thoải mái, cách cô nhìn thẳng vào mắt anh, cho thấy cô còn là người tự tin. Một phụ nữ có học thức, anh đoán. Cô phải làm nghề gì đó đòi hỏi một trí tuệ điềm tĩnh, duy lý. |
Công ty môi giới bất động sản, đứng đầu một phòng ban trong ngân hàng, một chính trị gia hay điều gì đó tương tự. |
Bất luận thế nào cũng là gia đình khá giả, về điều này thì anh hoàn toàn chắc chắn. |
Không phải chỉ vì chiếc áo khoác và ngôi nhà bề thế sau lưng, mà nó toát ra từ thái độ và khuôn xương gò má cao, quý phái. |
Cô bước xuống bậc thềm như thể đang bước dọc theo một đường thẳng tắp, khiến nó dường như thật dễ dàng. |
Những bài học ba lê, Harry nghĩ. |
“Tôi có thể giúp gì được không?” Những phụ âm được phát âm rõ ràng, âm điệu nhấn mạnh vào chữ “tôi” quá dễ nhận ra đến gần như hơi phô trương. |
“Tôi từ bên cảnh sát.” Anh định lục trong túi áo choàng tìm thẻ cảnh sát, nhưng cô đã xua tay đi. |
“Vâng, à, tôi muốn được nói chuyện với cha cô.” Harry bực tức nhận thấy âm điệu của mình vô tình trở nên trịnh trọng hơn mọi lần. |
“Tại sao thế?” “Chúng tôi đang tìm một người. Và tôi hy vọng cha cô có thể giúp.” “Các anh đang muốn tìm ai?” “Tôi e rằng mình không thể nói.” “Được.” Cô gật đầu như thể đó là một bài kiểm tra Harry vừa vượt qua. “Nhưng nếu cô nói tôi là ông ấy không sống ở đây..!” Harry nói, che mắt. |
Cô có đôi bàn tay mảnh mai. Những bài học dương cầm, Harry nghĩ. |
Cô ấy còn có những vết nhăn quanh mắt khi cười. |
Có lẽ rốt cuộc cô phải hơn ba mươi? |
“Bố tôi không có nhà!” cô nói. |
“Bố tôi đã chuyển đến Majorstuen rồi. |
Phố Vibes 18. |
Anh sẽ tìm thấy bố tôi ở đó hoặc ở thư viện đại học, tôi nghĩ vậy.” Thư viện đại học. |
Cô phát âm rõ ràng đến mức không bỏ mất một âm tiết nào cả. |
“Phố Vibes 18. |
Tôi hiểu rồi.” “Tốt.” Harry gật đầu. Rồi cứ gật. Như một chú chó. |
Cô mỉm cười với đôi môi mím chặt, nhướng cả hai lông mày như thể muốn nói rằng thế là xong, nếu không còn câu hỏi nào nữa thì buổi họp dời sang một ngày khác. |
“Tôi hiểu!” Harry lặp lại. |
Cô có cặp lông mày đen và đều. |
Có thể là do tỉa, Harry nghĩ. |
Cho dù tỉa nhẹ, khó nhận ra. |
“Giờ tôi phải đi rồi,” cô nói. “Chuyến xe điện của tôi…” “Tôi hiểu,” Harry nói câu này đến lần thứ ba nhưng vẫn không nhúc nhích. “Tôi hy vọng anh tìm được ông ấy. Bố tôi.” “Chúng tôi sẽ tìm được.” “Tạm biệt.” sỏi kêu lạo xạo dưới gót giày khi cô cất bước đi. “À… Tôi có một rắc rối nhỏ…” Harry nói. |
• • • “Cảm ơn cô đã giúp.” “Có gì đâu,” cô đáp. “Anh chắc là đi đường vòng không quá xa cho anh chứ?” “Chắc chắn là không. |
Cũng cùng đường mà.” Harry đáp, liếc trộm đôi găng tay da thanh tú, khỏi cần hỏi cũng biết là đắt cắt cổ kia, giờ đây xám xịt bụi đất vì giúp anh đẩy chiếc Escort. |
“Câu hỏi là liệu cái xe này có chịu nổi quãng đường không,” anh nói. |
“Dường như nó đã có một quá khứ huy hoàng,” cô nói, chỉ tay vào một lỗ hổng trên bảng đồng hồ, một đám dây lộn xộn màu vàng, màu đỏ thò ra ở nơi từng là chiếc radio. |
“Trộm!” Harry đáp. |
“Đó là lý do tại sao cánh cửa không khóa được. Chúng phá cả cái đó.” “Vậy thì tất cả mọi người sẽ được thả cửa rồi?” “Phải, khi cô đủ già rồi thì sẽ là thế đấy!” Cô bật cười. “Thế sao?” Anh liếc xéo cô thật nhanh. |
Có lẽ cô là típ người có vẻ ngoài không thay đổi theo tuổi tác, từ hai mươi đến năm mươi tuổi cũng trông như ba mươi. Anh thích nét mặt nhìn nghiêng của cô, những đường nét mềm mại. Vào tháng Hai, làn da cô vẫn sáng tự nhiên, ấm áp chứ không khô, mờ xỉn như làn da của những phụ nữ ưa phơi nắng khác cùng tuổi với cô. |
Cô cài kín áo khoác nên anh chỉ còn trông thấy cái cổ dài, thanh mảnh. |
Anh trông thấy đôi bàn tay cô để nhẹ trong lòng. “Đèn đỏ,” cô bình tĩnh nói. |
Harry dộng chân phanh. |
“Xin lỗi,” anh đáp. |
Anh đang làm gì thế nhỉ? |
Nhìn đôi tay cô để xem có đeo nhẫn cưới không à? |
Lạy Chúa. |
Anh nhìn quanh và bất chợt nhận ra họ đang ở đâu. |
“Có chuyện gì không ổn à?,” cô hỏi. “Không, không”. |
Đèn chuyển màu xanh. |
“Tôi có những kí ức tồi tệ về nơi này.” “Tôi cũng vậy!” cô nói. “Vài năm trước tôi đã đi qua đây trên tàu điện, ngay sau khi một chiếc xe cảnh sát băng qua đường ray, đâm ngay vào bức tường đằng kia kìa.” Cô đưa tay chỉ. “Đau lòng lắm. |
Một cảnh sát vẫn treo trên cột hàng rào kia, trông cứ như bị đóng đinh trên thập giá ấy. |
Tôi đã không ngủ được suốt mấy đêm liền sau đó. |
Người ta nói rằng tay cảnh sát đó lái xe khi đang say rượu.” “Ai nói vậy?” “Một người bạn học của tôi. |
Từ học viện cảnh sát.” Họ đi qua Froen. Vinderen đã ở sau lưng họ. |
Một chặng đường dài, Harry nghĩ. |
“Vậy là cô đã theo học ở học viện cảnh sát?” anh hỏi. “Không, anh mất trí à?” Cô lại cười. |
Harry thích âm thanh đó. |
“Tôi học luật ở trường đại học.” “Tôi cũng thế,” anh đáp. “Cô theo học khi nào?” Láu cá đấy, Hole. “Tôi tốt nghiệp năm 1992.” Harry nhẩm tính. |
Thế thì ít nhất cũng ba mươi rồi. |
“Còn anh?” “Năm 1990,” Harry đáp. |
“Anh còn nhớ buổi trình diễn âm nhạc có ban nhạc Rock Raga Rockers trong Liên hoan khoa Luật năm 1988 không?” “Dĩ nhiên là có. |
Tôi có đi xem mà. Ở trong vườn.” “Tôi cũng thế! |
Nó không tuyệt hay sao!” Cô nhìn anh, đôi mắt cô lấp lánh. |
Ở đâu? anh nghĩ. Cô đã ở đâu thế? |
“Đúng vậy, nó thật tuyệt vời.” Harry không còn nhớ nhiều về buổi hòa nhạc đó. |
Nhưng nó bất ngờ gợi anh nhớ đến tất cả những phụ nữ tuyệt vời vẫn thường xuất hiện mỗi khi Raga trình diễn. “Nếu chúng ta học cùng thời điểm đó, chắc chúng ta có nhiều người quen chung lắm,” cô nói. |
“Tôi nghi ngờ điều đó. |
Lúc ấy tôi là cảnh sát và thật ra thì không giao du với sinh viên.” Họ băng qua Industrigata không nói gì. |
“Anh cứ cho tôi xuống đây!” cô nói. “Đây có phải là nơi cô muốn đến không?” “Vâng, vậy được rồi.” Anh cho xe vào lề đường và cô quay về phía anh. Một lọn tóc xòa xuống trước mặt cô. Ánh mắt cô vừa dịu dàng vừa can đảm. Đôi mắt nâu. |
Một suy nghĩ tức thì nhưng hoàn toàn bất ngờ chợt đến với anh: anh muốn hôn cô. “Cảm ơn anh!” cô nói và mỉm cười Cô kéo tay nắm cửa xuống. |
Chẳng có chuyện gì xảy ra. |
“Xin lỗi,” Harry nói, cúi người qua hít lấy mùi hương của cô. “Cái khóa…” Anh đánh thật mạnh vào cánh cửa, nó bật mở. |
Anh cảm thấy như thể mình đang chết đuối. |
“Có lẽ chúng ta sẽ gặp lại nhỉ?” “Có lẽ.” Anh cảm thấy cái thôi thúc muốn hỏi cô rằng cô sẽ đi đâu, cô làm việc ở đâu, cô có yêu thích công việc của mình không, cô còn thích điều gì nữa, cô đã có người yêu chưa, liệu cô có muốn đi xem hòa nhạc dù cho đó không phải là Raga. |
Tuy nhiên, may mắn làm sao, đã quá muộn. |
Cô đã bước những bước ba lê dọc vỉa hè trên đường Sporveisgata. |
Harry thở dài. |
Anh gặp cô nửa tiếng rồi mà thậm chí còn chẳng biết tên cô. |
Chắc anh đang trải qua quá trình mãn dục sớm. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.