filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
koruna séc.txt
Koruna là đơn vị tiền tệ của Cộng hòa Séc, viết tắt: Kč, được sử dụng từ năm 1993. 1 koruna = 100 haléř. Tiền xu: 10 h (đã thu hồi), 20 h (đã thu hồi), 50 h(đã thu hồi), 1 Kč, 2 Kč, 5 Kč, 10 Kč, 20 Kč và 50 Kč. Tiền giấy: 20 Kč (đã thu hồi), 50 Kč, 100 Kč, 200 Kč, 500 Kč, 1000 Kč, 2000 Kč và 5000 Kč. == Xem thêm == Koruna (Slovakia) Koruna (Tiệp Khắc) == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng CZK == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ngân hàng Quốc gia Séc, tiền giấy Ngân hàng Quốc gia Séc tiền kim loại
khoáng vật.txt
Khoáng vật là các hợp chất tự nhiên được hình thành trong các quá trình địa chất. Thuật ngữ "khoáng vật" bao hàm cả thành phần hóa học của vật liệu lẫn cấu trúc khoáng vật. Các khoáng vật có thành phần hóa học thay đổi từ dạng các nguyên tố hóa học tinh khiết và các muối đơn giản tới các dạng phức tạp như các silicat với hàng nghìn dạng đã biết. Công việc nghiên cứu khoáng vật được gọi là khoáng vật học. Có hơn 5.300 loại khoáng vật được biết đến; hơn 5.070 trong số này đã được sự chấp thuận của Hiệp hội Khoáng vật học quốc tế(IMA). Nhóm khoáng vật silicat chiếm hơn 90% vỏ Trái Đất. Sự đa dạng và phong phú của các loại khoáng vật được điều khiển bởi thành phần hóa học của Trái Đất. Silic và ôxy chiếm khoảng 75% vỏ Trái Đất, mà chúng chủ yếu nằm trong các cấu trúc của các khoáng vật silicat. Các loại khoáng vật được phân việt bởi nhiều tính chất vật lý và hóa học. Sự khác biệt về thành phần và cấu trúc tinh thể sẽ tạo ra các loại khoáng vật khác nhau, và các tính chất này đến lượt nó lại bị ảnh hưởng bởi môi trường địa chất mà khoáng vật đó được thành tạo. Những thay đổi về nhiệt độ, áp suất, và thành phần của khối đá có thể kà nguyên nhân làm thay đổi đặc điểm khoáng vật học của nó; tuy nhiên, một loại đá có thể duy trì thành phần của nó, nhưng sự thay đổi về lâu dài về nhiệt độ và áp suất thì tính chất khoáng vật học của nó cũng có thể thay đổi theo. == Định nghĩa và phân loại == Để được phân loại như là khoáng vật "thật sự", một vật chất cần phải tồn tại ở dạng rắn và có cấu trúc kết tinh. Nó cũng cần phải là vật chất có trong tự nhiên, thuần nhất và có thành phần hóa học xác định trước. Các định nghĩa truyền thống như Khoáng vật là chất khoáng vô cơ, tồn tại ở dạng rắn ở nhiệt độ thường và là thành phần cấu tạo nên các loại đá trong lớp vỏ Trái Đất đã loại bỏ các vật liệu có nguồn gốc hữu cơ. Tuy nhiên, Hiệp hội Khoáng vật Quốc tế vào năm 1995 đã chấp nhận một định nghĩa mới: a mineral is an element or chemical compound that is normally crystalline and that has been formed as a result of geological processes Tạm dịch: Một khoáng vật là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học thông thường kết tinh và được tạo ra như là kết quả của các quá trình địa chất . Các phân loại mới cũng bao gồm cả lớp hữu cơ – ví dụ như trong các hệ thống phân loại Dana và Strunz phiên bản mới. Thành phần hóa học có thể thay đổi giữa các thành viên đầu-cuối của hệ khoáng vật. Ví dụ, các fenspat nhóm plagiocla bao gồm một chuỗi liên tục từ dạng giàu natri là albit (NaAlSi3O8) tới dạng giàu canxi là anorthit (CaAl2Si2O8) với 4 thành phần trung gian đã được công nhận giữa chúng. Các vật liệu tương tự như khoáng vật nhưng không phù hợp chặt chẽ với định nghĩa về khoáng vật thì đôi khi hay được gọi chung là các á khoáng vật (mineraloid). Các vật chất nguồn gốc tự nhiên khác là các chất phi khoáng vật. Các khoáng vật công nghiệp là thuật ngữ thị trường để chỉ các loại vật liệu đã khai thác được và có giá trị thương mại (xem phần Khoáng vật và đá dưới đây). == Cấu trúc tinh thể == Cấu trúc tinh thể là sự sắp xếp trong không gian hình học có trật tự của các nguyên tử trong cấu trúc nội tại của khoáng vật. Hiện nay tồn tại 14 sắp xếp ô mạng tinh thể cơ bản của các nguyên tử trong không gian ba chiều và chúng được gọi chung là 14 "ô mạng Bravais". Mỗi một ô mạng tinh thể này lại có thể được phân loại vào một trong sáu hệ tinh thể, và tất cả các cấu trúc tinh thể hiện nay được công nhận đều phù hợp với một ô mạng Bravais/một hệ tinh thể. Cấu trúc tinh thể này dựa trên sự sắp xếp thông thường của nguyên tử hay ion bên trong và nó thường được biểu diễn theo dạng hình học mà tinh thể có. Thậm chí ngay cả khi các hạt khoáng vật là quá nhỏ để có thể nhìn hay có hình dạng bất thường thì cấu trúc tinh thể cơ bản của nó vẫn luôn luôn có tính chu kỳ và có thể xác định được nhờ nhiễu xạ tia X. Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể hợp lại với nhau để xác định khoáng vật. Trên thực tế, hai hay nhiều khoáng vật có thể có cùng một thành phần hóa học, nhưng khác nhau về cấu trúc kết tinh (chúng được gọi là các chất đa hình). Ví dụ, pyrit và marcasit đều có thành phần hóa học là sulfua sắt, nhưng sự sắp xếp các nguyên tử bên trong của chúng là khác nhau. Tương tự, một vài khoáng vật lại có các thành phần hóa học khác nhau, nhưng có cùng một cấu trúc tinh thể: ví dụ, halit (hình thành từ natri và clo), galen (hình thành từ chì và lưu huỳnh) cùng pericla (hình thành từ magiê và ôxy) đều có cùng cấu trúc tinh thể dạng lập phương. Cấu trúc tinh thể có ảnh hưởng lớn tới các tính chất vật lý của khoáng vật. Ví dụ, mặc dù kim cương và than chì (graphit) đều có cùng thành phần (cả hai đều là cacbon tinh khiết) nhưng graphit thì rất mềm còn kim cương thì lại là rắn nhất trong số các khoáng vật đã biết. Sở dĩ có điều này là do các nguyên tử cacbon trong than chì được sắp xếp thành các tấm có thể dễ dàng trượt trên nhau trong khi các nguyên tử cacbon trong kim cương lại tạo ra một lưới ba chiều cài chặt vào nhau. Hiện nay, người ta đã biết trên 4.000 khoáng vật, theo như Hiệp hội Khoáng vật Quốc tế - tổ chức chịu trách nhiệm phê chuẩn việc đặt tên cho các loại khoáng vật mới được tìm thấy trong tự nhiên. Trong số này, khoảng 150 khoáng vật có thể được coi là "phổ biến", 50 là "thỉnh thoảng" còn số còn lại là "hiếm" hay "cực hiếm". == Nguồn gốc == Theo điều kiện sinh thành khoáng vật được chia ra thành 2 nhóm lớn: Nhóm khoáng vật nội sinh, được hình thành trong các điều kiện liên quan đến các quá trình xảy ra trong lớp vỏ Trái Đất và trong phần trên của quyển manti (còn gọi là lớp phủ) (tức là thạch quyển) như do chịu sự tác động của macma hay do biến chất Nhóm khoáng vật ngoại sinh, thành tạo ở phần trên của vỏ Trái Đất và ở trên mặt đất liên quan đến các quá trình ngoại sinh -như tác dụng phong hóa và tích đọng từ dung dịch nước == Phân biệt khoáng vật và đá == Một khoáng vật là chất rắn kết tinh nguồn gốc tự nhiên với thành phần hóa học xác định, trong khi đá là tổ hợp của một hay nhiều khoáng vật. Trong đá có thể có cả các phần còn lại của các chất hữu cơ cũng như các dạng á khoáng vật. Một số loại đá chủ yếu bao gồm chỉ một loại khoáng vật. Ví dụ, đá vôi là một dạng đá trầm tích bao gồm gần như toàn bộ là khoáng vật canxit. Các loại đá khác có thể bao gồm nhiều khoáng vật và các loại khoáng vật cụ thể trong một loại đá nào đó có thể khác nhau rất nhiều. Một số khoáng vật, như thạch anh, mica hay fenspat là phổ biến, trong khi các khoáng vật khác có khi chỉ tìm thấy ở một vài khu vực nhất định. Phần lớn các loại đá của lớp vỏ Trái Đất được tạo ra từ thạch anh, fenspat, mica, clorit, cao lanh, canxit, epidot, olivin, ogit, hocblen, manhếtit, hematit, limonit và một vài khoáng vật khác. Trên một nửa các loại khoáng vật đã biết là hiếm đến mức chúng chỉ có thể tìm thấy ở dạng một nhúm mẫu vật, và nhiều trong số đó chỉ được biết tới từ 1 hay 2 hạt nhỏ. Các loại khoáng vật và đá có giá trị thương mại được gọi chung là các khoáng sản. Các loại đá mà từ đó các khoáng vật được khai thác cho mục đích kinh tế được coi là các loại quặng, trong khi các loại đá và khoáng vật còn lại sau khi đã tách rời khoáng vật mong muốn riêng ra từ quặng, được gọi là đá thải và quặng đuôi. === Các khoáng vật tạo đá === Yếu tố xác định chủ yếu trong sự hình thành các khoáng vật trong khối đá là thành phần hóa học của khối đá đó, đối với một khoáng vật cụ thể nào đó thì nó chỉ có thể hình thành khi các nguyên tố cần thiết phải có mặt trong đá. Canxit là phổ biến nhất trong các loại đá vôi, do chúng chủ yếu bao gồm cacbonat canxi; thạch anh trong các loại sa thạch (đá cát) và trong một số loại đá phún xuất với tỷ lệ phần trăm lớn là silica (điôxít silic). Các yếu tố khác cũng có tầm quan trọng tương đương trong việc quyết định các khoáng vật tạo đá được hình thành ngay từ đầu một cách tự nhiên hay do phát sinh thứ cấp là (i) cách thức đá được hình thành từ trong dung dịch, nước hay đá gốc và (ii) các giai đoạn mà đá đã trải qua để có được các kết cấu như hiện tại của mình. Hai khối đá có thể có thành phần hóa học khá tương đồng nhưng lại được cấu thành từ các kết hợp khác hẳn nhau của các khoáng vật. Xu hướng chung cho các hợp chất này được hình thành là sự ổn định theo các điều kiện mà khối đá được sinh ra. Granit được hình thành do sự đông đặc của macma nóng chảy ở nhiệt độ cao và áp suất lớn và các khoáng vật thành phần của nó cũng được hình thành trong các điều kiện như vậy. Khi bị sự ẩm ướt, axít cacbonic và các tác nhân cận không khí khác tác động ở điều kiện nhiệt độ bình thường trên bề mặt Trái Đất, một số khoáng vật nguyên thủy này, như thạch anh hay mica trắng (muscovit) không bị biến đổi; trong khi các khoáng vật khác bị "phong hóa" hay phân rã và bị thay thế bằng các tổ hợp mới. Fenspat chuyển hóa thành cao lanh, muscovit và thạch anh, và nếu mica đen (biotit) cũng có mặt thì nó sinh ra cả clorit, apidot, rutil và các khoáng vật hay các hợp chất khác. Các thay đổi này còn kèm theo sự phân hủy và đá chuyển thành dạng khối đất rời rạc, mềm xốp có thể được coi như là đất hay cát. Các vật liệu được hình thành như vậy có thể bị rửa trôi và trầm lắng hình thành nên sa thạch hay đá mạt. Cấu trúc của đá nguyên thủy bị thay thế bằng cấu trúc mới; thành phần khoáng vật cũng biến đổi rõ nét; nhưng thành phần hóa học của cả khối có thể không có khác biệt lớn. Đá trầm tích có thể một lần nữa lại trải qua những lần biến thái khác. Nếu đá phún xuất thâm nhập vào thì nó lại có thể tái kết tinh hoặc nếu bị đè nén dưới áp suất cao cùng nhiệt và chuyển động, chẳng hạn như có mặt trong kiến tạo các nếp oằn các dãy núi, thì nó có thể chuyển hóa thành gơnai mặc dù không khác biệt gì nhiều trong thành phần khoáng vật nhưng có khác biệt đáng kể về cấu trúc với granit là trạng thái ban đầu của nó. == Tính chất vật lý == Các đặc điểm vật lý của khoáng vật bao gồm: cấu tạo tinh thể, kích thước và độ hạt của tinh thể, song tinh, cát khai, ánh, màu bên ngoài của khoáng vật (màu giả sắc), và màu của bột khoáng vật khi mài ra (màu thực của khoáng vật), độ cứng và trọng lượng riêng v.v. Phân loại các khoáng vật có thể là rất đơn giản mà cũng có thể là rất khó. Một khoáng vật có thể được nhận biết bằng một vài tính chất vật lý, một vài tính chất đó cũng đủ để nhận biết một cách tổng thể mà không gây hiểu nhầm. Trong các trường hợp khác, các khoáng vật chỉ có thể được phân loại khi thực hiện các phân tích hóa học phức tạp hay nhiễu xạ tia X; tuy nhiên, các phương pháp này là tốn kém và mất nhiều thời gian. Các tính chất vật lý cơ bản hay được sử dụng là: === Cấu trúc tinh thể === Cấu trúc và hành vi tinh thể (Tinh hệ): Một khoáng vật có thể thể hiện hành vi hay dạng tinh thể rõ nét hay có thể là dạng khối lớn, bột hay khối đặc với các tinh thể chỉ nhìn thấy được ở dạng vi thể. Các tinh thể được xếp vào 7 nhóm chính dựa trên chiều dài của 3 trục tinh thể học, và các góc giữa các trục này. Bảng bên dưới thể hiện tóm tắt các thông tin, trong d0o1 a, b, và c là các trục, và α, β, γ lần lượt là các góc đối diện trục tinh thể học (ví dụ α là góc đối diện trục a, tức là góc tạo thành bởi trục b và c): === Độ cứng === Độ cứng vật lý của khoáng vật thông thường được đo theo thang độ cứng Mohs. === Màu sắc và màu vết vạch === Màu sắc chỉ ra biểu hiện về màu của khoáng vật trong ánh sáng phản xạ hay truyền qua (đối với các khoáng vật trong mờ hay trong suốt), nghĩa là những gì người ta nhìn thấy bằng mắt trần. Màu gây ra bởi bức xạ điện từ tương tác với các electron (trừ trường hợp dây tóc bòng đèn, không được sử dụng trong khoáng vật). Có hai nhóm rộng các nguyên tố được xác định là tạo ra màu của khoáng vật. Các nguyên tố Idiochromat là cần thiết trong thành phần khoáng vật; chúng góp phần tạo màu của khoáng vật là dấu hiệu chẩn đoán. Ví dụ về các khoáng vật này gồm malachit (lục) và azurit (lam). Ngược lại, các nguyên tố allochromat trong khoáng vật ở dạng vết hay tạp chất, ví dụ như các biến thể của corundum là ruby (đỏ) và sapphire (tất cả các màu còn lại). Màu của nhóm màu giả sắt tạo ra bởi sự giao thoa của sóng ánh sáng như opan, labradorit, ammolit và bornit. Màu vết vạch là màu của bột khoáng vật để lại sau khi cọ xát nó vào bề mặt đồ sứ không tráng men hay mảng các sọc. Lưu ý rằng nó không phải luôn luôn giống như màu của khoáng vật nguyên bản. === Các tính chất khác === Ánh là cách mà bề mặt khoáng vật tương tác với ánh sáng và có thể nằm trong khoảng từ mờ xỉn tới trong như thủy tinh. Hệ số phản xạ cao như kim loại: galena và pyrit Độ phản xạ gần như kim loại: magnetit Ánh phi kim: Ánh Adamantin – lấp lánh, ánh của kim cương, cerussit và anglesit Ánh thủy tinh vỡ –ánh của thủy tinh vỡ: thạch anh Ánh Trân châu – ánh như ngọc trai: tan và apophyllit Ánh hổ phách – ánh của nhựa cây: sphalerit và lưu huỳnh Ánh Lụa - mềm. mượt của các vật liệu có sợi: thạch cao và chrysotil Ánh mờ xỉn/đất -các khoáng vật kết tinh mịn: các dạng quặng màu nâu thận của hematit Cát khai miêu tả cách thức mà một khoáng vật có thể bị tách ra dọc theo các mặt phẳng khác nhau. Tính bóc tách được nhìn thấy như là các đường thẳng song song nhỏ dọc theo khoáng vật. Mặt gãy miêu tả khoáng vật bị gãy như thế nào khi các khe nứt phát sinh ngược với các mặt cát khai tự nhiên của khoáng vật. Mặt gãy concoit là mặt gãy cong và trơn nhẵn với các gợn đồng tâm, như các mặt gãy ở thủy tinh. Hackley là mặt gãy lởm chởm với các rìa sắc, nhọn. Sợi Dị thường Tỷ trọng riêng (thể trọng) nói về tỷ lệ giữa khối lượng của khối khoáng vật với một khối lượng tương đương về thể tích của nước. Trong khi phần lớn khoáng vật, bao gồm cả những khoáng vật tạo đá phổ biến nhất, có tỷ trọng riêng trong khoảng 2,5 – 3,5, thì một số ít khoáng vật có thể là nhẹ hơn hay nặng hơn. ví dụ một vài khoáng vật lớp sulfua có tỷ trọng riêng lớn hơn của các khoáng vật tạo đá phổ biến. Các tính chất khác: Huỳnh quang (tương tác với tia cực tím), từ tính, tính phóng xạ, độ bám dính (tương tác với các thay đổi cơ học trong thay đổi hình dạng), tính áp điện v.v. == Thành phần hóa học == Các khoáng vật có thể phân loại theo thành phần hóa học. Chúng hay được phân loại theo nhóm anion. Theo thành phần hóa học, các khoáng vật tồn tại dưới các dạng sau: Các nguyên tố Các sulfua Các ôxít và hyđroxit Các halua Các nitrat, cacbonat và borat Các sulfat, cromat, molybdat và tungstat Các photphat, asenat và vanadat Các silicat Các tiểu mục dưới đây liệt kê khoáng vật theo trật tự gần đúng về sự phổ biến của chúng trong lớp vỏ Trái Đất theo các lớp khoáng vật. Danh sách này lấy từ hệ thống phân loại Dana === Lớp silicat === Nhóm khoáng vật lớn nhất là nhóm silicat (phần lớn các loại đá chứa trên 95% là các silicat), với thành phần chủ yếu là silic và ôxy, cùng các cation như nhôm, magiê, sắt, và canxi. Một số loại silicat hình thành đá quan trọng như các loại fenspat, thạch anh, olivin, pyroxen, amphibol, garnet và mica. === Lớp cacbonat === Các khoáng vật cacbonat bao gồm các khoáng vật chứa anion (CO3)2- và bao gồm canxit cùng aragonit (cả hai đều là cacbonat canxi), dolomit (cacbonat magiê/canxi) hay siderit (cacbonat sắt). Các cacbonat là các trầm tích phổ biến trong các môi trường đại dương khi vỏ hay mai của các sinh vật đã chết bị tích lũy và trầm lắng xuống đáy biển. Các cacbonat cũng được tìm thấy trong các môi trường bốc hơi (ví dụ Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn), Utah) và cũng có trong các khu vực carxtơ (hang động đá vôi), tại đó sự hòa tan và trầm lắng của các cacbonat dẫn tới sự hình thành các hang động, thạch nhũ và măng đá. Lớp cacbonat cũng bao gồm cả các khoáng vật nitrat và borat. === Lớp sulfat === Các khoáng vật sulfat chứa các anion sulfat, SO42-. Các sulfat nói chung tạo thành trong các môi trường bốc hơi trong đó nước chứa nhiều muối chậm bốc hơi, cho phép sự hình thành của cả các sulfat lẫn các halua trong mặt phân giới nước-trầm tích. Các sulfat cũng có mặt trong các hệ thống mạch nhiệt dịch như là các khoáng vật thứ sinh đi kèm theo các khoáng vật quặng sulfua. Một nguồn phổ biến khác là các sản phẩm ôxi hóa thứ cấp của các khoáng vật sulfua ban đầu. Các sulfat phổ biến nhất có anhydrit (thạch cao khan) (sulfat canxi), celestin (sulfat stronti), barit (sulfat bari) và thạch cao (sulfat canxi ngậm nước). Lớp sulfat cũng bao gồm cả các khoáng vật gốc cromat, molybdat, selenat, sulfit, tellurat và tungstat. === Lớp halua === Các khoáng vật halua là nhóm các khoáng vật tạo ra các loại muối tự nhiên và bao gồm fluorit (florua canxi), halit (clorua natri), sylvit (clorua kali) và sal amoniac (clorua amoni). Các halua, tương tự như các sulfat, được tìm thấy chủ yếu tại các môi trường bốc hơi như các đáy hồ nước mặn đã khô hay các biển kín như biển Chết và Great Salt Lake. Lớp halua bao gồm các khoáng vật florua, clorua, iođua. === Lớp ôxít === Các khoáng vật ôxít là cực kỳ quan trọng trong khai thác mỏ do chúng tạo thành nhiều loại quặng mà từ đó các kim loại có giá trị có thể được tách ra. Chúng cũng chứa đựng các ghi chép tốt nhất về các thay đổi trong từ trường Trái Đất. Chúng có mặt chủ yếu trong các trầm tích gần với bề mặt Trái Đất, các sản phẩm ôxi hóa của các khoáng vật khác trong khu vực phong hóa gần bề mặt (thuộc phạm vi đới oxy hóa) và như là các khoáng vật kèm theo trong các loại đá phún xuất của lớp vỏ và lớp manti (phủ). Các khoáng vật ôxít phổ biến bao gồm hematit (ôxít sắt III), magnetit (ôxít sắt từ), cromit (ôxít crom sắt), spinen (ôxít nhôm magiê –thành phần phổ biến của lớp phủ), ilmenit (ôxít titan sắt), rutil (điôxít titan), và băng (nước đóng băng). Lớp ôxít bao gồm các khoáng vật ôxít và hyđroxit. === Lớp sulfua === Nhiều khoáng vật sulfua có tầm quan trọng kinh tế như là các quặng kim loại. Các sulfua phổ biến là pyrit (sulfua sắt), chancopyrit (sulfua sắt đồng), pentlandit (sulfua sắt niken) và galena (sulfua chì). Lớp sulfua bao gồm cả các khoáng vật selenua, teluarua, asenua, antimonua, bitmuthinua và các muối sulfo (bao gồm lưu huỳnh và anion khác như asen). === Lớp photphat === Nhóm khoáng vật photphat trên thực tế bao gồm bất kỳ khoáng vật nào với đơn vị tứ diện AO4, trong đó A có thể là photpho, antimon, asen hay vanadi. Khoáng vật lớp photphat phổ biến nhất có lẽ là apatit, là một chất khoáng quan trọng về mặt sinh học, được tìm thấy trong răng và xương của nhiều động vật. Lớp photphat bao gồm các khoáng vật photphat, asenat, vanadat và antimonat. === Lớp nguyên tố === Nhóm khoáng vật nguyên tố bao gồm các kim loại (vàng, bạc, đồng), á kim và phi kim (antimon, bitmut, than chì, lưu huỳnh). Nhóm này cũng bao gồm các hợp kim tự nhiên, như electrum (hợp kim tự nhiên của vàng và bạc); các photphua, silicua, nitrua và cacbua (thông thường chỉ tìm thấy trong tự nhiên trong một vài vẫn thạch hiếm). Cacbon tự nhiên có hai dạng thù hình là than chì và kim cương; kim cương được hình thành trong điều kiện nhiệt độ rất cao nên có cấu trúc cứng hơn than chì (và cứng nhất trong các loại khoáng vật tự nhiên). === Lớp hữu cơ === Lớp khoáng vật hữu cơ bao gồm các chất phát sinh từ sinh vật, trong đó các quá trình địa chất là một phần của nguồn gốc hay xuất xứ của các hợp chất đang hiện hữu . Các khoáng vật của lớp hữu cơ bao gồm hàng loạt các loại oxalat, mellitat, citrat, xyanat, axetat, format, hyđrocacbon và các loại linh tinh khác. Ví dụ về khoáng vật lớp hữu cơ là whewellit, moolooit, mellit, fichtelit, carpathit, evenkit và abelsonit. == Xem thêm == Danh sách khoáng vật Khoáng sản đạt giá trị công nghiệp Nước khoáng, nước có chứa các khoáng chất hay các chất hòa tan khác làm thay đổi mùi vị của nó và có giá trị trị liệu. Vi chất dinh dưỡng Len khoáng vật Khai thác mỏ Mỏ đá == Chú thích == == Tham khảo == Busbey, A.B.; Coenraads, R.E.; Roots, D.; Willis, P. (2007). Rocks and Fossils. San Francisco: Fog City Press. ISBN 978-1-74089-632-0. Chesterman, C.W.; Lowe, K.E. (2008). Field guide to North American rocks and minerals. Toronto: Random House of Canada. ISBN 0-394-50269-8. Dyar, M.D.; Gunter, M.E. (2008). Mineralogy and Optical Mineralogy. Chantilly, Virginia: Mineralogical Society of America. ISBN 978-0-939950-81-2. == Liên kết ngoài == Minerals.net mindat.org Cơ sở dữ liệu của Mindat Webmineral.com Bản đồ khoáng vật với các tính chất và ảnh
ngũ hồ thập lục quốc.txt
Thập lục quốc (giản thể: 十六国; phồn thể: 十六國; bính âm: Shíliù Guó), còn gọi là Ngũ Hồ loạn Hoa, là một tập hợp gồm nhiều quốc gia có thời gian tồn tại ngắn ở bên trong và tại các vùng lân cận Trung Quốc từ năm 304 đến 439 kéo theo sự rút lui của nhà Tấn về miền nam Trung Quốc đến khi Bắc triều thống nhất toàn bộ phương bắc, mở ra cục diện mới là Nam Bắc triều. == Tên gọi và nguồn gốc == Nguồn gốc thuật ngữ này do Thôi Hồng đưa ra trong văn bản hiện đã mất Thập lục quốc Xuân Thu và giới hạn trong mười sáu quốc gia ở thời kỳ này, gồm: Hán Triệu, Hậu Triệu, Thành Hán, Tiền Lương, Hậu Lương, Bắc Lương, Tây Lương, Nam Lương, Tiền Yên, Hậu Yên, Bắc Yên, Nam Yên, Tiền Tần, Hậu Tần, Tây Tần và Hạ. Thuật ngữ này đã được mở rộng ra cho tất cả các quốc gia tồn tại trong giai đoạn 304 đến 439. Tất cả các nước này đều không tồn tại được trong toàn bộ giai đoạn này. Giai đoạn này còn gọi là "Ngũ Hồ loạn Hoa" (năm dân tộc Hồ làm loạn Trung Hoa). Ngũ Hồ tính 5 tộc: Hung Nô (Lưu Uyên - Hán Triệu), Yết (Thạch Lặc - Hậu Triệu), Tiên Ti (Mộ Dung - các nước Yên, trừ Bắc Yên), Đê (Phù Kiên - Tiền Tần, Lý Đặc - Thành Hán), Khương (Diêu Trường - nước Hậu Tần). Một thuật ngữ ít được sử dụng hơn là Giai đoạn thập lục quốc miêu tả thời kỳ hỗn loạn này từ năm 304 đến 439. Hầu như quân chủ của các quốc gia trên đều có nguồn gốc từ dân tộc Ngũ Hồ và đều xưng đế và vương. Quân chủ bốn nước Bắc Yên, Tây Lương, Hậu Lương và nước Ngụy (Nhiễm Nguỵ) là người Hán. Sáu vị vua nước Tiền Lương vẫn giữ tước hiệu danh nghĩa của Nhà Tấn. Bắc Ngụy (với tiền thân là nước Đại) không được coi là một trong thập lục quốc dù cũng được thành lập trong giai đoạn này, vì về sau nó phát triển thành quốc gia lớn mạnh, thống nhất làm chủ cả Trung Nguyên, trở thành Bắc triều trong thời Nam Bắc triều. == Sự xâm nhập của các tộc Hồ == Sự xâm nhập của các dân tộc Hồ vào Trung Hoa thực ra đã bắt đầu từ lâu. Ngay từ cuối thời Đông Hán tới Tam Quốc, do nội chiến liên miên, dân số giảm sút, giai cấp thống trị cần bổ sung nhân lực cho chiến tranh nên cho các ngoại tộc vào trong Vạn Lý Trường Thành. Các địa chủ người Hán thường mộ họ làm tá điền, làm lính và cướp bán cho người khác làm nô lệ. === Người Hung Nô === Từ cuối thời Tây Hán, Hung Nô có nội loạn. Một thiền vu là Hô Hàn Tà mang 5.000 hộ vào hàng nhà Hán. Tới thời Đông Hán, thiền vu Nam Hung Nô cũng hàng Hán, được dời đến ở Thiểm Tây và bắc Sơn Tây. Tới thời Tam Quốc, dân Hung Nô đã đông đúc, thế lực lớn dần. Tào Tháo bèn phân tán người Hung Nô thành 5 bộ, cho ở 5 huyện thuộc Sơn Tây hiện nay là: Huyền Thị (huyện Cao Bình), Bồ Tử (huyện Bồ), Tân Hưng (Hãn Châu), Đại Lăng (huyện Văn Thuỷ), Kỳ huyện (huyện Kỳ). Mỗi bộ đặt một quan cầm đầu gọi là Súy, sau đổi làm Đô úy và chọn một người Hán làm chức Tư mã để cai quản chung. Trong 5 bộ đó, bộ nhỏ có khoảng 3.000 hộ, bộ lớn khoảng 10.000 hộ. === Người Yết === Đây là một bộ lạc nhỏ của người Hung Nô, từ Trung Á dời đến miền Vũ Hương ở đông nam Sơn Tây (huyện Tẩm) và chịu sự lãnh đạo của các quý tộc Hung Nô tại đây. === Người Tiên Ty === Là một tộc Đông Hồ. Cuối thời Đông Hán, sau khi người bắc Hung Nô dời về phía tây thì người Tiên Ty lấn gần hết đất cũ của Hung Nô. Tới giữa thế kỷ 2, người Tiên ty khống chế một vùng rộng lớn từ khu vực Liêu Hà tới hành lang Hà Tây, giáp U Xum và có một bộ phận đã vào bên trong Vạn Lý trường thành. Thị tộc Tiên Ty có 4 họ: Mộ Dung, Đoàn, Thác Bạt, Vũ Văn. === Người Chi (hay Đê) === Là một tộc ở miền đông Cam Túc, trước đây thời nhà Chu gọi là Tây Nhung. Sau này một bộ phận rời đến Thiểm Tây. Người Chi có 5 họ: Du Mi (huyện Kinh Dương - Thiểm Tây), Nghiên, Hưng Quốc, Lâm Vi, Lược Dương. Thời Tam Quốc, người Chi vào Trung nguyên rất nhiều. === Người Khương === Cũng là một tộc Tây Nhung, ở rải rác miền Cam Túc, Thanh Hải và Thiểm Tây. Thời Hán, người Khương luôn đánh nhau với người Hán. Người Khương có tới 150 thị tộc. === Người Tung === Dân tộc Tung vốn ở đất Ba Thục cổ, vùng Ba Tây, Giang Cừ (huyện Thượng Khê, huyện Cừ tỉnh Tứ Xuyên). Người Tung có 5 họ: Ba, Phàm, Thẩm, Tướng, Trịnh. Họ Ba làm vua, các họ kia làm tôi. Cuối thời Đông Hán, một bộ phận người Tung rời vào Hán Trung. Tào Tháo phân tán đến đất Lược Dương cho ở lẫn với người Chi. Cuối thời Tây Tấn, lưu dân trở về Ba Thục cùng tù trưởng Lý Đặc. == Sự sụp đổ của nhà Tây Tấn == Loạn bát vương làm nhà Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Hàng loạt tông thất có thế lực và tài năng bị giết, khiến hoàng tộc khủng hoảng nhân sự không có người phò trợ. Các bộ tộc ngoại vi thừa cơ xâm nhập và làm loạn Trung Hoa. Do khủng hoảng nhân sự, các vị vương nhà Tấn phải dùng tới các tướng sĩ người "Hồ" và họ nhân đó phát triển thế lực. Một bộ tướng của Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (tham chiến bát vương) là Lưu Uyên đã lớn mạnh trong lúc các sứ quân họ Tư Mã giết hại lẫn nhau. Khi loạn bát vương chấm dứt, Tư Mã Dĩnh đã bị giết; trong 8 vương chỉ còn lại Đông Hải vương Tư Mã Việt nắm quyền trong triều. Lưu Uyên phát triển thành cánh quân độc lập. Năm 304, Uyên xưng làm vua, lập ra nước Hán, sử gọi là Hán Triệu. Uyên mang quân đánh chiếm đất nhà Tấn, các vương công nhà Tấn vẫn mải mê chém giết lẫn nhau không lo trừ họa ngoại tộc. Trước khi Lưu Uyên nổi dậy, năm 303, người tộc Tung là Lý Đặc, Lý Hùng ở Tây Thục đã nổi lên chống Tấn. Sau khi Lý Đặc bị quân Tấn giết, Lý Hùng kế tục, tỏ ra là tướng có tài, đánh chiếm Tây Xuyên mà nhà Tấn không còn khả năng quản lý, lập ra nước Thành, sử gọi là Thành Hán. Tháng 11 năm 306, Tư Mã Việt giết Huệ Đế Tư Mã Trung, lập Hoài Đế Tư Mã Xí lên thay. Nhà Tấn không dẹp nổi sự làm loạn của các ngoại tộc người Hồ tràn lan khắp Trung Nguyên. Năm 310, Lưu Uyên chết, con là Vũ Đế Lưu Thông lên thay. Năm 311, Lưu Thông tấn công kinh thành Lạc Dương, bắt sống Tấn Hoài Đế và nhiều triều thần nhà Tấn. Trong cuộc tấn công của Lưu Thông, quân Tấn thất bại nhanh chóng do không đủ mạnh và các sứ quân nhà Tấn đều chỉ nhân loạn lạc để phát triển cơ đồ riêng, không muốn cứu vua. Vua Tấn bị bắt nhưng vẫn không ai lập vua thay để có chính lệnh điều khiển "thiên hạ" cứu vãn tình thế. Mãi tới năm 313, nghe tin Hoài đế bị Lưu Thông giết hại, một bộ phận triều thần lập Tư Mã Nghiệp lên nối ngôi ở Trường An, tức là Tấn Mẫn Đế. Tuy nhiên chính thể của Mẫn Đế cũng đã rất suy yếu, chỉ cai quản một góc Trường An. Năm 316, Lưu Thông lại điều quân dễ dàng đánh chiếm Trường An bắt sống Mẫn Đế. Tấn Mẫn Đế làm tù binh rồi bị Lưu Thông giết chết. Nhà Tây Tấn diệt vong. Một quý tộc nhà Tấn là Lang Nha vương Tư Mã Tuấn (hay Duệ - cháu nội Tấn Vũ Đế) tập hợp lực lượng ở Giang Đông, tự xưng làm vua, tức là Tấn Nguyên Đế, trở thành người kế tục Tấn Mẫn Đế. Do nhà Tấn của Tư Mã Tuấn đóng đô ở Kiến Khang, phía đông so với nhà Tấn của Tư Mã Viêm nên sử gọi là nhà Đông Tấn (317-420). == Ngũ Hồ hỗn chiến == === Tiền Triệu - Hậu Triệu === Một bộ tướng của cha con Lưu Uyên - Lưu Thông là Thạch Lặc, người tộc Yết, trong quá trình giúp Hán Triệu diệt nhà Tấn, đã tranh thủ phát triển thế lực riêng. Sau khi diệt được Tây Tấn, Lưu Thông không chú tâm đến chính sự, chỉ chơi bời hưởng lạc, việc triều đình bị Cận Chuẩn (靳準) thao túng. Năm 318, Thông quá ham tửu sắc mà chết, con là Lưu Xán lên thay. Cận Chuẩn nắm quyền lấn át Xán, lộng hành phế truất giết Xán, tàn sát con cháu Lưu Uyên và Lưu Thông. Một người con nuôi của Lưu Uyên là Lưu Diệu đang cầm quân ngoài mặt trận, kéo về kinh đô Bình Dương (Sơn Tây) diệt Cận Chuẩn. Lưu Diệu được một số lớn đại thần ủng hộ đưa lên ngôi đế, đặt quốc hiệu là Triệu, còn gọi là Tiền Triệu. Lúc đó các tộc Hồ tràn xuống Trung Nguyên rất nhiều. Lưu Diệu lên ngôi, bình định dẹp hết sự phản kháng của các dân tộc thiểu số như Chi, Khương, Ba, Yết. Để củng cố quyền thống trị, ông chia rẽ tộc Hồ và Hán và lợi dụng một số phần tử thượng tầng dân tộc để cai trị dân tộc ấy. Cùng lúc Lưu Diệu diệt Cận Chuẩn, tướng Thạch Lặc cầm quân ở ngoài cũng ra mặt xưng vương, ly khai Tiền Triệu, cũng đặt tên nước là Triệu, sử gọi là Hậu Triệu. Vì giới thống trị chính trị hủ bại, nội bộ Tiền Triệu mâu thuẫn gay gắt, cơ bản quốc gia hoàn toàn bất ổn. Năm 329, Lưu Diệu bị Thạch Lặc đánh bại, bắt sống và giết chết. Nước Hán Triệu mất. === Tiền Lương - Tiền Yên - Bắc Đại === Trong khi Ngũ Hồ xâu xé đất đai Trung Nguyên, một tướng vùng biên phía tây của nhà Tây Tấn là Trương Quỹ coi giữ Lương Châu, không hàng phục các chính quyền Ngũ Hồ, tự giữ bờ cõi cai trị và vẫn dùng niên hiệu nhà Tấn. Tới khi Trung Nguyên cơ bản mất về tay Ngũ Hồ, ông tự lập làm Lương Vương, lập ra nước Tiền Lương, định kỳ vẫn sai người đi sứ tới Kiến Khang xin lệnh nhà Đông Tấn. Dòng họ Trương Quỹ cai trị Tây Lương rất được lòng dân, truyền được 9 đời kéo dài hơn 70 năm, một thời gian dài trong số 16 nước thời đó. Trong khi đó tại vùng phía bắc và đông bắc có đông người Tiên Ty sinh sống, trong đó có họ tộc Mộ Dung và họ Thác Bạt lớn mạnh. Họ Thác Bạt trấn trị phía bắc, xen lẫn với người Hung Nô. Cuối thời Tây Tấn, thủ lĩnh Thác Bạt Y Lô có công cùng thứ sử U châu nhà Tấn là Vương Tuấn đánh lui vài cuộc tấn công của quân Hán Triệu do Thạch Lặc chỉ huy. Vì vậy, Y Lô được nhà Tấn phong làm Đại Công, cai trị đất Đại. Khi Tiền Triệu và Hậu Triệu lấy gần trọn trung nguyên, họ Thác Bạt xưng vương, lập ra nước Bắc Đại. Ở phía đông bắc, họ Mộ Dung cũng nhân lúc hai nước Triệu hỗn chiến và nhà Tấn nép xuống phía nam để phát triển lực lượng. Năm 337, Mộ Dung Hối lập ra nước Tiền Yên. === Hậu quả từ sự tan rã của Hậu Triệu: Tiền Tần === Tới giữa thế kỷ 4, phía bắc Trung Quốc có một loạt biến động dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt quốc gia Ngũ Hồ và thay vào đó là sự ra đời của một loạt nước khác. Sau khi diệt Tiền Triệu, Hậu Triệu trở thành nước lớn nhất miền bắc, tuy chưa diệt được Thành Hán, Tiền Yên và Tiền Lương nhưng vẫn hay can thiệp vào Bắc Đại. Thạch Lặc rất chú trọng xây dựng chính quyền, tiếp thu văn minh Hán tộc. Năm 333, Thạch Lặc chết, quyền hành rơi vào tay em Lặc là Thạch Hổ. Hổ giết hết con cháu Lặc, tự xưng làm vua. Nhưng Hổ là bạo chúa, tàn sát rất nhiều quan lại rồi cả con cháu của mình. Ông còn xây dựng tràn lan, cướp cả vợ con người khác để hoang dâm vô độ, nhân dân chết đói rất nhiều. Do vậy các dân tộc nổi dậy phản kháng không ngừng. Các con trai Thạch Hổ tranh quyền. Thái tử Thạch Tuyên giết Thạch Thao, Thạch Hổ giết Thạch Tuyên. Năm 349, Thạch Hổ chết, chính quyền rơi vào tay con nuôi Hổ là Thạch Mẫn (vốn tên là Nhiễm Mẫn, là người Hán). Mẫn giết hết con cháu Thạch Hổ, tự lập làm vua, đặt tên nước là Nguỵ, tức là nước Nhiễm Nguỵ. Một người trong hoàng tộc Hậu Triệu là Thạch Chi tự lập ở Tương Quốc. Nhiễm Mẫn đánh bại bức hàng tướng của Chi là Lưu Hiển, sai Lưu Hiển đánh giết Thạch Chi. Hậu Triệu mất. Tuy nhiên Nhiễm Mẫn hung hăng không được bao lâu. Có trong tay binh hùng tướng mạnh, Nhiễm Mẫn diệt Hậu Triệu. Năm 352, Nhiễm Mẫn mang quân đánh Tiền Yên, đánh chiếm hơn nửa đất Yên, sắp thống nhất miền bắc. Biết Nhiễm Mẫn kiêu ngạo chủ quan khinh địch, Yên vương Mộ Dung Tuấn dùng kế bắt sống được Mẫn chém chết. Nước Nhiễm Ngụy tồn tại chỉ hơn 2 năm. Năm 347, quyền thần Đông Tấn là Hoàn Ôn mang quân diệt nước Thành Hán của Lý Thế (cháu Lý Hùng). Khi Hậu Triệu tan rã, một loạt các tù trưởng các bộ tộc người Chi, người Khương ra sức tự lập. Năm 350, một tướng cũ của Hậu Triệu, người tộc Chi (hay Đê) là Bồ Hồng chiếm giữ Quan Trung, lập ra nước Tiền Tần, đổi ra họ Phù. Khi đó Hậu Triệu chưa mất hẳn, Phù Hồng bị tướng Hậu Triệu là Ma Thu đầu độc chết, con là Phù Kiện lên thay. Năm 351, đại tướng Hoàn Ôn của Đông Tấn sau khi diệt Thành Hán lại mang quân đánh Tiền Tần. Phù Kiện bỏ Trường An chạy, nhưng lại dùng kế "vườn không nhà trống", đốt hết lúa ngoài đồng khiến quân Đông Tấn bị đói. Hoàn Ôn buộc phải rút quân về. Tạm yên mặt nam, Phù Kiện tấn công về phía đông, tranh giành đất cũ của Hậu Triệu và Nhiễm Ngụy với Tiền Yên. Về cơ bản, sau năm 352, Trung Nguyên nằm trong tay Tiền Tần và Tiền Yên, phía bắc xa xôi là Bắc Đại, phía tây xa xôi là Tây Lương (Tiền Lương). Năm 355, Phù Kiện chết, con là Phù Sinh lên thay. Phù Sinh sinh ra đã chỉ có 1 mắt, rất tàn nhẫn, sát hại nhiều quan lại và người trong họ, hễ những người này lỡ phạm phải những chữ "một", "thiếu" "lẻ"... vì Sinh cho rằng ám chỉ đến tật một mắt của mình. Vì thế lòng người chán ghét Sinh. Năm 357, em họ Sinh là Phù Kiên giết Sinh lên thay, trở thành một trong những vua nổi tiếng nhất thời Ngũ Hồ. Nhờ chính sách hòa hợp dân tộc, thu hút nhân tài người Hán, Tiền Tần dưới tay Phù Kiên lớn mạnh rất nhanh. Năm 371, Kiên đánh bắt sống vua Tiền Yên là Mộ Dung Vĩ. Tới năm 376, bức hàng nước Tây Lương của Trương Thiên Tích. Sau đó, nhân khi Bắc Đại có tranh chấp nội bộ, Phù Kiên diệt Bắc Đại, chia đất làm hai. Về cơ bản, lần đầu tiên Phù Kiên thống nhất toàn miền bắc Trung Quốc kể từ năm 304. == Vai trò của Đông Tấn == === Bắc phạt === Đông Tấn dù phải nép xuống phía nam, nhưng nếu so tiềm lực với các nước Ngũ Hồ bị chia cắt ở phía bắc thì cũng là một nước lớn. Tuy nhiên, nội bộ Đông Tấn luôn ẩn chứa mâu thuẫn giữa các họ tộc nắm quyền trong triều. Họ Tư Mã làm vua chỉ có hư vị, quyền hành trong tay các chi họ quý tộc lớn, một số ở Giang Nam, một số di cư từ phương bắc xuống. ==== Tổ Địch ==== Khi nhà Tây Tấn mới mất, nhiều thành trì phía bắc vẫn trong tay các tướng trung thành với nhà Tấn. phía nam, một bộ phận tướng lĩnh, điển hình là Tổ Địch, rất tha thiết phối hợp với các tướng phía bắc tiến hành bắc phạt để thu phục Trung Nguyên. Nhưng vua Đông Tấn và đại đa số các địa chủ miền nam không muốn chiến tranh, do đó không cấp quân và vũ khí, chỉ cho Tổ Địch một ít lương thực. Tổ Địch vượt Trường Giang đến lưu vực Hoài Hà, tự tổ chức chế tạo vũ khí và mộ quân. Trong vòng 7-8 năm từ năm 323, quân Tổ Địch tấn công vào quân Hậu Triệu của Thạch Lặc, giành lại khá nhiều đất đai. Nhưng các đại thần nhà Đông Tấn sợ chiến thắng ngoài mặt trận sẽ khiến uy thế của ông quá lớn nên tìm cách kìm chế ông. Những hành động đơn lẻ của Tổ Địch dần dần bị cô lập, yếu đi và không mang lại kết quả lớn. Quân Ngũ Hồ thừa cơ phản công giành lại đất đai. Ông buồn rầu qua đời. Không lâu sau đó các tướng phía bắc như Vương Tuấn, Lưu Côn, Lý Củ lần lượt bị quân Ngũ Hồ đánh bại, miền bắc mất hoàn toàn. ==== Hoàn Ôn ==== Tuy không thành công, nhưng ý chí chống Ngũ Hồ của Tổ Địch, Lưu Côn đã trở thành những tấm gương cho tướng sĩ thế hệ sau các ông noi theo. Sau Tổ Địch, một thời gian dài Đông Tấn cố thủ ở miền nam không phát binh đánh miền bắc. Mãi tới khi Hoàn Ôn cầm quyền trong triều, việc bắc phạt mới được chú trọng. Là người có tài và quyết đoán, Hoàn Ôn tổ chức quân đội đánh Thành Hán. Năm 347, ông diệt nước Thành Hán của người Tung. Năm 351, ông lại tiến quân đánh Tiền Tần của Phù Kiện nhưng đường xa bị thiếu lương nên phải rút về. Năm 354, Hoàn Ôn làm trấn thủ Kinh châu lại cất quân bắc phạt đánh Phù Kiện nước Tiền Tần. Nhân dân người Hán thấy quân của Hoàn Ôn đều mừng rỡ, mang rượu thịt ra đón, nhưng các địa chủ ở gần Trường An lại không có ai hoan nghênh. Hoàn Ôn lấy làm lạ. Hỏi ra ông mới biết rằng từ khi vào chiếm Trung Nguyên, các triều đình người Hồ đã dùng chính sách ưu đãi địa chủ người Hán, cất nhắc làm quan và cho miễn sưu dịch. Vì thế các địa chủ người Hán rất ủng hộ các triều đình Ngũ Hồ. Hoàn Ôn đóng quân thêm một thời gian nữa nhưng vẫn không thể kêu gọi được tầng lớp này. Ông đành phải rút quân về nam. Trong lần bắc phạt này Hoàn Ôn cũng đã cầu danh sĩ người Hán là Vương Mãnh ra giúp mình, nhưng Mãnh từ chối và quay sang giúp quý tộc Tiền Tần, người sau đó trở thành vua Tần là Phù Kiên. Do mấy lần bắc phạt không thành, uy thế trong triều của Hoàn Ôn bị giảm sút. Họ Vương, họ Tạ nhân dịp ông già yếu, đã ngăn cản việc đoạt ngôi nhà Tấn của ông năm 372. === Đại chiến Phì Thuỷ === Hoàn Ôn mất, Tạ An nắm quyền. Tạ An tỏ ra là người mềm mỏng hơn Hoàn Ôn, không hiếp chế vua Tấn. Lúc đó, Tần vương Phù Kiên thôn tính toàn bộ miền bắc, huy động 100 vạn quân gồm nhiều sắc tộc Hồ và cả người Hán đi đánh miền nam, bất chấp sự phản đối của nhiều văn thần. Phù Kiên chủ quan kiêu hãnh nói rằng, quân Tần chỉ cầm ném roi ngựa xuống Trường Giang là đủ lấp sông rồi. Tướng tiên phong là Phù Dung được lệnh cầm 27 vạn quân tiên phong đi trước. Tạ An tiến cử cháu là Tạ Huyền với Tấn Hiếu Vũ Đế Tư Mã Diệu làm tướng, mang 8 vạn quân ra đóng ở Lạc Giản đón quân Tiền Tần. Khi hai bên sắp đối trận, Phù Kiên đã mắc sai lầm là tin tưởng vào hàng tướng người Hán của Đông Tấn mới hàng là Chu Tự, sai Tự đi dụ hàng Đông Tấn. Chu Tự còn nhớ Đông Tấn, nên mang hết tình hình Tiền Tần tiết lộ cho Tạ Huyền, khuyên nên chủ động đánh quân Tần trước khi đại quân 100 vạn kịp họp đông đủ. Tự còn hẹn làm nội ứng cho quân Tấn. Lúc đó Phù Dung đang án ngữ sông Phì. Tạ Huyền bèn sai người nói với Phù Dung xin quân Tần tạm rút để quân Tấn qua sông quyết chiến. Phù Kiên cũng muốn lợi dụng quân Tấn qua một nửa sẽ đánh úp nên đồng ý rút lui một đoạn. Đúng hẹn, quân Tấn sang sông. Trong đêm tối, quân Tần đang chờ nghênh địch, Chu Tự cầm một cánh quân, bỗng hô to: Quân Tần thua to rồi! Quân Tần đa sắc tộc, vốn bị cưỡng bức ra trận cho Phù Kiên, nghe nói thua trận liền quay đầu nhất loạt bỏ chạy, tiên phong Phù Dung không thể ngăn lại được. Tạ Huyền thấy quân Tần chạy, thừa cơ thúc quân Tấn truy kích, giết chết rất nhiều. Phù Dung bị tử trận trong loạn quân. Đó là trận Phì Thuỷ, lớn nhất thời Ngũ Hồ, quyết định cục diện nam bắc, cứu vãn sự tồn tại của nhà Tấn và làm suy yếu trầm trọng nước Tần. 100 vạn quân Tần đại bại bỏ chạy về phía bắc. Phù Kiên về tới Lạc Dương thu thập tàn quân chỉ còn vài chục vạn. == Sự thống nhất của Bắc Nguỵ == === Xé nát Tiền Tần === Đại quân Tiền Tần của Phù Kiên chạy về bắc, tan rã từng mảng. Nhân sự suy yếu của Tiền Tần, các tướng dưới quyền bắt đầu thực hiện ý định ly khai, tái lập thế chia cắt Ngũ Hồ ở miền bắc như trước đây. Thực ra, nguy cơ tái chia cắt đã tồn tại ngay khi Phù Kiên thống nhất, vì trong hàng ngũ tướng sĩ của ông, có nhiều người dị tộc được ông thu phục, đã manh tâm ly khai. Khi cầm đại quân xuống phía nam, Phù Kiên đã giao cho tướng Lã Quang đi dẹp các nước thiểu số phía tây thuộc nước Tiền Lương cũ. Dẹp xong vùng Tây Lương, Quang nhân Phù Kiên bại trận bèn cắt đất Lương xưng làm Lương vương, lập ra nước Hậu Lương (384). Năm sau, một thủ lĩnh người Tiên Ty khác là Khất Phục Quốc Nhân cũng nổi dậy xé đất Tần, lập ra nước Tây Tần (ở vùng Cam Túc ngày nay). Ngay năm 383, các tướng họ Mộ Dung, con cháu nước Tiền Yên cũ, đã tách riêng khỏi đại quân Tiền Tần tháo chạy về phía bắc, lập lực lượng riêng chống lại Phù Kiên. Ngay trong hàng ngũ các tướng họ Mộ Dung cũng chia cắt và không thần phục nhau. Con Tiền Yên vương Mộ Dung Tuấn là Mộ Dung Thùy lập ra nước Hậu Yên, một tướng khác là Mộ Dung Xung chiếm vùng Sơn Tây lập ra nước Tây Yên. Năm sau, một bộ tướng người Khương, cũng từng được Phù Kiên cho hàng không giết trong khi thống nhất phương bắc là Diêu Trường, nhân bị sai đi đánh Tây Yên bại trận, sợ bị Phù Kiên bắt tội, bèn ly khai, lập ra nước Hậu Tần. Dòng dõi nước Bắc Đại cũ là Thác Bạt Khuê, được một số cựu thần trung thành, nhân khi thiên hạ đại loạn, đón lập làm vua, tái lập nước Bắc Đại, đến năm 386 đổi tên là Nguỵ, sử gọi là Bắc Nguỵ. Như vậy, chỉ sau một thời gian rất ngắn sau trận Phì Thuỷ, miền bắc lại bị chia cắt trở lại, trên bản đồ phía bắc có sự tồn tại của 7 quốc gia. === Ngũ Hồ tái hỗn chiến === ==== Tần diệt Tần, Yên nuốt Yên ==== Mộ Dung Thùy nắm trong tay lực lượng khá mạnh cũ của Tiền Tần, nên nhanh chóng phát triển nước Hậu Yên thành nước lớn, đóng đô ở Trung Sơn. Hai nước Tây Yên và Hậu Tần liền kề với đất Tiền Tần nên xung đột xảy ra ác liệt. Năm 385, Phù Kiên bị quân Tây Yên của Mộ Dung Xung cũng kéo đến đánh Tiền Tần để báo thù họa vong quốc năm 371, vây đánh ở Trường An, phải phá vây ra ngoài. Cùng lúc đó quân Hậu Tần của Diêu Trường thừa cơ đón bắt giết Kiên. Một số triều thần sót lại của Tiền Tần lập con Kiên là Phù Phi lên ngôi ở Nghiệp Thành, nhưng nhanh chóng bị quân Tây Yên đánh bại. Phù Phi bị tử trận. Chính trong nội bộ các quốc gia ly khai Tiền Tần cũng vô cùng rối ren. Nước Tây Yên từ năm 384 đến 386 liên tục đổi chủ, họ Mộ Dung chém giết lẫn nhau. Cuối cùng, năm 386, Mộ Dung Vĩnh giành được ngôi vua. Nhưng lúc đó Tây Yên đã suy yếu, bị mất Trường An vào tay Hậu Tần. Năm 386, nghe tin vua Tiền Tần là Phù Phi bị giết, cháu họ của Phù Kiên là Phù Đăng được lập làm vua. Các vua Tiền Tần nối đời kế tục nhau chiến tranh với Hậu Tần của Diêu Trường, nhưng cuối cùng đều bị cha con Diêu Trường - Diêu Hưng đánh bại. Năm 394, Phù Đăng bị quân Hậu Tần của Diệu Hưng giết chết. Phù Sùng được lập lên thay, nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Phù Sùng bị quân Hậu Tần đánh bại, bỏ chạy về phía tây, bị quân Tây Tần bắt giết. Nước Tiền Tần mất. Hậu Tần diệt được Tiền Tần, phát triển thành nước lớn phía tây. Trong khi đó, Hậu Yên vương Mộ Dung Thùy không muốn họ tộc Mộ Dung bị chia rẽ, bèn mang quân đánh Tây Yên. Năm 394, Mộ Dung Thùy giết được Mộ Dung Vĩnh, diệt nước Tây Yên. Hậu Yên cũng trở thành nước lớn. Về cơ bản, Hậu Tần và Hậu Yên đóng ở vị trí như Tiền Tần và Tiền Yên trước đây. ==== Hai nước Yên mới ==== Tuy nhiên, cục diện đó lập tức bị phá vỡ. Nước Ngụy của Thác Bạt Khuê nhanh chóng lớn mạnh, cất quân nam tiến, đánh Hậu Yên. Quân yên không chống nổi, thái tử Mộ Dung Bảo liên tục bị thua trận. Mộ Dung Thùy phải tự tay cầm quân tạm đẩy lui được quân Nguỵ, nhưng không lâu sau thì già yếu mà mất (396). Quân Ngụy lại nam tiến, lấy đất Hậu Yên như tằm ăn lá dâu. Vùng Hà Nam, Hà Bắc bị quân Ngụy chiếm. Hậu Yên rút lên phía bắc, chỉ bao gồm đất của nước Yên cổ thời Chiến Quốc xưa kia. Cùng lúc đó nội bộ Hậu Yên lại xảy ra tranh đoạt, chém giết lẫn nhau, khiến liên tiếp chỉ trong chưa đầy 10 năm, các vua Mộ Dung Bảo (398), Mộ Dung Thịnh (401), Mộ Dung Hy (407) đều bị giết. Một người con nuôi của Mộ Dung Bảo là Cao Vân giết Hy làm vua, nhưng không lâu sau bị quyền thần giết chết (409). Một đại thần người Hán là Phùng Bạt được lập lên ngôi, đổi quốc hiệu là Bắc Yên, vì khi đó nước Yên nằm ở phương bắc, để phân biệt với nước Nam Yên. Khi Hậu Yên bị Ngụy xâm chiếm, một người con của Mộ Dung Thùy là Mộ Dung Đức bỏ chạy về vùng Sơn Đông, bị tách khỏi lực lượng của Mộ Dung Bảo, không thể liên hệ được. Nghe tin Mộ Dung Bảo bị giết (398), Đức bèn chiếm lấy vùng Hoài Bắc, giáp với Đông Tấn, xưng làm Nam Yên vương. Trên thực tế Nam Yên và Bắc Yên đều rất nhỏ bé, không có đủ thực lực để tái lập sự hùng mạnh của Tiền Yên. ==== Chia nhỏ Hậu Lương ==== Tại nước Hậu Lương, sau khi vua sáng lập Lã Quang chết (399), nội bộ cũng lục đục, những người trong họ tranh nhau quyền, giết hại lẫn nhau. Các bộ tộc lân cận thừa cơ ly khai, chia cắt nước Hậu Lương lớn thành 4 nước nhỏ: người tộc Hung Nô là Thư Cừ Mông Tốn dựng Đoàn Nghiệp làm vua Bắc Lương, người Tiên Ty là Thốc Phát Ô Cô lập ra nước Nam Lương, người Hán là Lý Cảo lập ra nước Tây Lương. Cùng lúc đó nước Hậu Lương vẫn chưa mất hẳn. Tới năm 403, cháu Lã Quang là Lã Long bị vua Hậu Tần là Diêu Hưng diệt. Trên bản đồ phía bắc khi đó có 8 nước: Bắc Ngụy (lớn nhất), Bắc Yên, Nam Yên, Hậu Tần, Tây Tần, Bắc Lương, Nam Lương, Tây Lương. === Cá lớn nuốt cá bé === Chiến tranh sinh tồn giữa Đông Tấn và Ngũ Hồ vẫn ác liệt. Năm 407, hậu duệ của một tộc người Hung Nô, con của Lưu Vệ Thần - thủ lĩnh người Hung Nô bị Thác Bạt Khuê đánh bại khi dựng nước Ngụy năm 386 - tên là Lưu Bột nổi dậy ở miền bắc, đổi họ là Hách Liên. Hách Liên Bột Bột vốn là thuộc tướng của Hậu Tần. Diêu Hưng phân cấp cho ông 5 bộ Tiên Ti và hơn 2 vạn người Hồ trấn thủ phương bắc, vì đó ông được nắm quân tự lập ra nước Hạ, định đô ở Thống Vạn (Hành Sơn, Thiểm Tây). Năm 410, tướng Đông Tấn là Lưu Dụ diệt nước Nam Yên của cháu Mộ Dung Đức là Mộ Dung Siêu. Năm 414, vua Tây Tần là Khất Phục Sí Bàn diệt nước Nam Lương của Thốc Phát Nục Đàn. Năm 417, tướng Đông Tấn là Lưu Dụ lại bắc tiến, chiếm Trường An, diệt nước Hậu Tần của cháu Diệu Trường là Diêu Hoằng. Dụ để con là Nghĩa Chân ở lại giữ Trường An rồi rút quân về. Nhân khi Lưu Dụ mải tranh giành quyền hành trong triều Tấn để chuẩn bị cướp ngôi, không chú ý tới miền bắc, vua Hạ là Hách Liên Bột Bột (Lưu Bột) mang quân đánh chiếm Trường An - kinh đô cũ của Hậu Tần. Lưu Nghĩa Chân bỏ Trường An chạy về nam. Từ đó Hạ cũng thành một nước lớn, thế chỗ của Hậu Tần. Năm 420, Lưu Dụ cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, sử gọi là Lưu Tống. Năm 421, vua Bắc Lương là Thư Cừ Mông Tốn (cướp ngôi Đoàn Nghiệp năm 401) mang quân diệt Tây Lương của cháu Lý Cảo là Lý Tuân. Như vậy tới năm 421, trên bản đồ phía bắc chỉ còn các nước: Bắc Nguỵ, Bắc Yên, Hạ, Bắc Lương, Tây Tần. Năm 431, vua Hạ là Hách Liên Định mang quân diệt Tây Tần. Nhưng cùng năm 431, vua Bắc Ngụy là Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo điều quân đánh Hạ. Nước Hạ vừa qua chiến tranh với Tây Tần, bị quân Ngụy diệt gọn, nước Hạ mất. Thế là 2 nước bị diệt năm 431. Đây cũng là lần duy nhất trong lịch sử nội chiến Trung Quốc, một nước vừa diệt một nước khác lại bị diệt ngay trong 1 năm. Năm 436, Bắc Ngụy đánh Bắc Yên, bắt vua Yên là Phùng Hoằng. Nước Bắc Lương còn lại trơ trọi cũng không tồn tại được lâu. Năm 439, Thác Bạt Đào đánh Bắc Lương, bắt vua Lương là Thư Cừ Mục Kiền. Cục diện Ngũ Hồ loạn Hoa hơn 100 năm với hơn 20 quốc gia chấm dứt. Toàn thể phương bắc được thống nhất trong tay Bắc Ngụy. Ở miền nam trong tay nhà Lưu Tống, sử gọi thời kỳ các triều đại nam và bắc nối nhau cai trị hai miền là Nam Bắc triều. Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. == Bình luận == === Tính sắc tộc === Tính cả các vua nhà Tấn, thời Ngũ Hồ thập lục quốc có tới gần 150 vua xưng đế hoặc xưng vương. Chiến tranh xảy ra liên miên trên hầu khắp miền bắc Trung Quốc. Miền nam tuy không nhiều chiến sự như miền bắc nhưng cũng gặp phải loạn do các tướng gây ra và sau đó là khởi nghĩa nông dân. Không giống như những thời đại loạn lạc Chiến Quốc trước đó hay Ngũ đại Thập quốc sau đó, chiến tranh Ngũ Hồ loạn Hoa mang nặng tính sắc tộc. Đây là lần đầu tiên các tộc Hồ phương Bắc tràn xuống Trung Nguyên và dựng lên chính quyền của chính mình, tranh giành với người Hán và tàn sát lẫn nhau. Do đó mức độ đối địch giữa các sắc tộc gay gắt hơn so với thời Ngũ Quý thế kỷ 10, khi các tộc này đã có bề dày vài trăm năm ở lẫn với người Hán và ít nhiều được hưởng địa vị nhất định trong xã hội, không đơn thuần làm nô tỳ như trước đây. === Những ông vua hiếu chiến === Một loạt quốc gia nay được dựng lên rồi mai đổ, thay hiệu, đổi ngôi chia cắt triền miên. Chẳng những chiến tranh tàn khốc mà nền cai trị của các vua Ngũ Hồ cũng tàn khốc, một phần do tính sắc tộc. Không giống với các vua người Hán, các vua Ngũ Hồ phần lớn xuất thân có trình độ văn hóa thấp, có tinh thần thượng võ, hiếu chiến và ưa dùng vũ lực. Các nhà sử học đã xác nhận thời kỳ này xuất hiện những bạo chúa như Thạch Hổ, Nhiễm Mẫn, Phù Sinh, Hách Liên Bột Bột... Nhiều vua Ngũ Hồ đồng thời là những viên tướng thiện chiến, thường trực tiếp làm tướng cầm quân ra mặt trận và lập công hiển hách như Thạch Lặc, Thạch Hổ, Phù Kiên, Mộ Dung Thuỳ, Diêu Trường, Hách Liên Bột Bột... Đồng thời không ít vị bị bắt hoặc bỏ mình ngoài chiến trường như Lưu Diệu nước Tiền Triệu; Nhiễm Mẫn nước Nhiễm Nguỵ; Phù Kiên, Phù Đăng, Phù Xung nước Tiền Tần... Đó là một điểm khác của các vua Ngũ Hồ với các vua Đông Tấn - thường kết thúc số mệnh trong cung đình, dù là trong thời hòa bình hay loạn lạc. === Những quốc gia và ông vua vắn số === Hiển nhiên, trong cung đình các triều đại Ngũ Hồ ngắn ngủi cũng không ít biến loạn. Hơn 20 nước thay nhau chia cắt miền bắc. Cũng như số phận các vua nhà Tây Tấn, hầu hết các quốc gia Ngũ Hồ đều chỉ hưng thịnh được một đời với một vị vua anh minh là vua khai quốc. Các vua khai quốc chưa đủ thời gian và lực lượng thống nhất đã qua đời hoặc bị trừ khử. Cuộc thanh trừng diễn ra trong hầu hết nội bộ các triều đại Ngũ Hồ. Tính trung bình, mỗi vị vua chỉ ngồi ngai vàng được vài năm. Trong số 20 nước chỉ có các nước Tiền Lương, Tiền Yên, Bắc Yên, Hạ, Tây Tần, Hậu Tần là tương đối yên ổn nội bộ, không có lật đổ, thoán đoạt. Còn lại những quốc gia khác đều xảy ra chém giết, sát hại cung đình, trong khi đó bên ngoài biên giới, chiến sự còn đang rối ren, nguy cơ mất nước cận kề. Suốt hơn 100 năm, chỉ có vài vị vua Ngũ Hồ được giới sử học đánh giá cao, như Lưu Uyên nước Hán Triệu, Thạch Lặc nước Hậu Triệu, Lý Hùng nước Thành Hán, Phù Kiên nước Tiền Tần và Mộ Dung Thùy nước Hậu Yên. Chính nước Bắc Ngụy hùng mạnh, có công thống nhất miền bắc cũng không tránh khỏi những biến loạn cung đình, ngay trong thời kỳ xây dựng: vua sáng lập Thác Bạt Khuê và vua thống nhất Thác Bạt Đảo đều bị sát hại. === Về nhà Tấn trong chiến tranh với Ngũ Hồ === Xét toàn cục sâu xa, ngọn lửa Ngũ Hồ có thể không cháy lan rộng và kéo dài như đã diễn ra trong lịch sử, nếu những người cầm quyền họ Tư Mã sáng suốt hơn. Thứ nhất là loạn bát vương châm lửa cho loạn Ngũ Hồ. Những người Hồ mở đầu cho cuộc đại loạn như Lưu Uyên, Lý Đặc sẽ không dám khởi loạn, hoặc sẽ bị dẹp nhanh chóng nếu kế tục Tấn Vũ Đế là một ông vua sáng suốt và loạn bát vương dừng lại ở trong cung đình, không trở thành chiến trường lan rộng ra ngoài kinh thành. Chính từ khi các vương tập hợp đại quân hỗn chiến để đánh Tư Mã Luân (301), Lý Đặc và Lưu Uyên mới lần lượt có cơ hội lộ diện (302, 304). Thứ hai, Đông Tấn chứa thêm mâu thuẫn của các sĩ tộc gốc Giang Nam và các sĩ tộc di cư từ Trung Nguyên. Các sĩ tộc miền nam bị đặt thấp hơn địa vị sĩ tộc miền bắc trong chính quyền Đông Tấn, vì vậy không thể huy động toàn thể sức mạnh của Giang Nam vào cuộc chiến. Thứ ba là sự ươn hèn của những người cầm quyền Đông Tấn. Các vua Tấn không có ai đáng kể trong lịch sử Trung Quốc, kể cả vua sáng lập Nguyên Đế Tư Mã Tuấn và Tấn Hiếu Vũ Đế Tư Mã Diệu - ông vua trong thời gian cai trị có trận Phì Thuỷ. Các vua Đông Tấn đại thể mờ nhạt như các vua Đông Hán sau Lưu Tú, đại quyền nằm trong tay các thế tộc. Ngay trong các thế tộc chia nhau nắm quyền thì hai họ lớn là họ Vương, họ Tạ cũng không có tinh thần bắc tiến, chỉ muốn giữ Giang Nam yên ổn. Vì thế, trước những cơ hội thu phục miền bắc như khi Cận Chuẩn tàn phá Hán Triệu, Nhiễm Mẫn tàn phá Hậu Triệu (và kêu gọi hợp tác), Phù Kiên đại bại ở Phì Thuỷ, Đông Tấn đều không tận dụng triệt để. Vì vậy, miền bắc tiếp tục trong tay tộc này hay tộc khác của Ngũ Hồ không chỉ trong thời Đông Tấn mà suốt gần 300 năm (tới năm 581). Chính sách đối phó của đại thần Vương Đạo là "Cứ bình tĩnh, hòa hoãn tạm thời rồi đâu lại vào đó". Tạ An khi kế tục Hoàn Ôn cũng lập lại chính sách của Vương Đạo. Cái chết uất ức của Tổ Địch, dù không oan khuất như Nhạc Phi, nhưng cũng xuất phát từ nguyên nhân "hòa hoãn, ngại bắc tiến" của các vua Đông Tấn - như Tống Cao Tông sau này. Đông Tấn được xem là kế tục Đông Ngô theo cách gọi Lục triều ở Giang Nam, nhưng nội bộ chia rẽ và bất ổn hơn nhiều so với Đông Ngô trước đây. Vì vậy, dù chiến thắng Phì Thủy có dáng dấp của chiến thắng Xích Bích - quân nam đại thắng quân bắc, dùng địa thế hiểm trở, lấy vài vạn địch trăm vạn, tận dụng sự chủ quan của địch mạnh..., nhưng sau đó Đông Tấn vẫn không mạnh lên như Đông Ngô mà lại yếu đi. Chiến thắng này chỉ ngăn cản sự nghiệp của Phù Kiên nói riêng, người Hồ nam tiến nói chung và duy trì thêm sự tồn tại của nhà Tấn. Vì vậy đời sau cũng không xem Phù Kiên như Tào Tháo, không so Tạ Huyền với Chu Du, không xếp Tư Mã Diệu ngang với Tôn Quyền. Có một nguyên nhân khác khiến nhà Tấn không thể bắc tiến thành công, đó là chính sách cai trị của các triều Ngũ Hồ. Họ biết tận dụng giai cấp địa chủ Trung Nguyên, cho hưởng ưu đãi, thu dụng làm quan để tận dụng trình độ văn hoá và cho miễn lao dịch. Vì vậy số đông địa chủ phía bắc đã ủng hộ các triều đại Ngũ Hồ. == Danh sách các nước == === Thập lục quốc === === Số khác === == Xem thêm == Ngũ Hồ (dân tộc) Nhà Tấn Loạn bát vương Hán hoá Trận Phì Thủy Danh sách vua Ngũ Hồ thập lục quốc == Tham khảo == Các hoàng đế Trung Hoa - Đặng Huy Phúc, 2001 Lịch sử Trung Quốc từ thượng cổ đến Ngũ đại Thập quốc, Học viện quân sự cấp cao - 1992 Lịch sử Trung Quốc - Nhà xuất bản Giáo dục - 1995 == Ghi chú == == Chú thích ==
bắc kỳ.txt
Bắc Kỳ (chữ Hán: 北圻) là địa danh do vua Minh Mệnh ấn định vào năm 1834 để mô tả lãnh địa từ tỉnh Ninh Bình trở ra cực Bắc Đại Nam, thay cho địa danh Bắc Thành đã tỏ ra kém phù hợp. Danh xưng Bắc Kỳ được chính quyền Liên bang Đông Dương kế thừa và duy trì cho đến năm 1945. Về sau, danh xưng này đôi khi được phổ dụng như cách gọi những cộng đồng có gốc gác từ miền Bắc Việt Nam. == Địa danh Tonkin == "Tonkin" vốn là đọc trại âm tên Hán-Việt của địa danh Hà Nội, thời nhà Lê gọi là Đông Kinh (東京). Vì đó cũng là trung tâm hành chính và thương mại miền Bắc nên Tonkin được người phương Tây dùng để chỉ toàn xứ Đàng Ngoài thời Trịnh - Nguyễn phân tranh dưới nhiều dạng như Tunquin, Tonquin, Tongking, Tongkin, và Tonkin. Cách viết phản ảnh văn tự của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh và Pháp khi phát âm "Đông Kinh". Sang thế kỷ 19 địa danh "Tonkin" được người Pháp chỉ định riêng xứ Bắc Kỳ của triều Minh Mệnh trở đi. Tuy tên Tonkin không còn dùng về mặt hành chính nhưng trong tiếng Anh ta còn thấy nó xuất hiện trong tên gọi Vịnh Bắc Bộ "Gulf of Tonkin" và cây thiên lý "Tonkin creeper". Tính từ tonkinois trong tiếng Pháp được dùng trong soupe tonkinois để chỉ món phở. Vincent Scotto sáng tác một bài hát vào năm 1906 với nhan đề "La petite Tonkinoise". (Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ). Tính từ latinh hóa tonkinensis (Phân loại học), dùng để miêu tả các loài, chủ yếu là các giống cây có ở Bắc Bộ (Tonkin). Ví dụ Sindora tonkinensis chỉ cây gụ lau, hay Dalbergia tonkinensis, tức sưa Bắc Bộ. Ngày nay từ Bắc Kỳ không được sử dụng chính thống. Những vùng như Miền Trung, Miền Nam, đặc biệt những vùng có ít người Bắc sinh sống, sử dụng từ Bắc Kỳ nhằm chỉ người Bắc, đôi khi với những định kiến nhất định. Nên người Bắc vào Nam sau 1975 xem đây là từ kỳ thị vùng miền. Trước 1975 từ Bắc Kỳ được sử dụng rộng rãi, người bắc di dân dân không xem đây là từ kỳ thị. Nhạc sĩ Phạm Duy, một người con của Hà Nội có một sáng tác mang tên " Cô Bắc Kỳ nho nhỏ ", đã chứng minh điều đó. == Lịch sử == === Thời nhà Nguyễn độc lập === Tiền thân của Bắc Kỳ là tổng trấn Bắc Thành được thiết lập từ thời Gia Long nhà Nguyễn năm 1802, là cơ chế hành chính phân quyền đầu thời Nguyễn. Bắc Thành gồm 1 trấn thành là thành Thăng Long và 11 trấn là: 5 nội trấn (Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ) và 6 ngoại trấn (Quảng Yên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa). Đứng đầu Bắc Thành là viên tổng trấn và đứng đầu 11 trấn là các viên quan trấn thủ. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi tên các trấn Sơn Nam Thượng thành Sơn Nam, Sơn Nam Hạ thành Nam Định. Trước khi thành lập năm 1834, năm 1831 Minh Mạng đã tiến hành cải cách hành chính: đổi toàn bộ các trấn thuộc Bắc Thành thành các tỉnh (13 tỉnh đầu tiên đều thành lập năm 1831). Ban đầu Bắc Kỳ gồm 13 tỉnh là: Hà Nội (trung tâm Bắc Thành), 4 tỉnh nội trấn (Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên), 8 tỉnh ngoại trấn (Nam Định, Ninh Bình, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên). Tỉnh Hà Nội lập mới từ thành Thăng Long và một phần tây bắc trấn Sơn Nam. Tỉnh Hưng Yên đổi tên từ trấn Sơn Nam. Tỉnh Bắc Ninh đổi tên từ trấn Kinh Bắc. Tỉnh Ninh Bình được tách ra lập nên từ phần thượng du trấn Nam Định. Để phân biệt các tỉnh này với các tỉnh có cùng tên gọi ở Bắc Bộ Việt Nam ngày nay nên gọi là các tỉnh Bắc Kỳ nhà Nguyễn. Tỉnh Hà Nội nhà Nguyễn nay là khu vực trung tâm và phía nam thành phố Hà Nội, cùng với tỉnh Hà Nam. Tỉnh Sơn Tây nhà Nguyễn nay là phần tây bắc thành phố Hà Nội cùng các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ. Tỉnh Bắc Ninh nhà Nguyễn nay là phần phía đông bắc thành phố Hà Nội và 2 tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Tỉnh Hải Dương nhà Nguyễn nay là Hải Dương và Hải Phòng. Tỉnh Hưng Yên nhà Nguyễn gồm cả một phần tỉnh Thái Bình ngày nay. Tỉnh Nam Định nhà Nguyễn nay là 2 tỉnh Thái Bình và Nam Định. Tỉnh Hưng Hóa nhà Nguyễn là gần như toàn bộ vùng Tây Bắc Bắc Bộ ngày nay, tức gồm toàn bộ hay một phần các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La. Tỉnh Tuyên Quang nhà Nguyễn nay là các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang. Tỉnh Thái Nguyên nhà Nguyễn nay là các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn. Tỉnh Quảng Yên nhà Nguyễn nay là tỉnh Quảng Ninh. Đứng đầu mỗi tỉnh Bắc Kỳ nhà Nguyễn là các quan tuần phủ (11 viên trừ 2 tỉnh Lạng - Bình), và 2 đến 3 tỉnh không chính thức ghép lại thành hạt hành chính do một viên quan tổng đốc quản lý cả dân sự lẫn quân sự. Toàn bộ Bắc Kỳ được quản hạt bởi 5 viên tổng đốc và 1 tuần phủ gồm: Tổng đốc Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang (còn gọi là Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên hay Tổng đốc Tam tuyên, với tuyên là tên gọi tắt của thừa tuyên tức đơn vị hành chính thời Lê sơ tiền thân của tỉnh) đóng ở Sơn Tây, Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình (Tổng đốc Hà - Ninh) đóng ở Hà Nội, Tổng đốc Hải Dương -Quảng Yên (Tổng đốc Hải - Yên) đóng ở Hải Dương, Tổng đốc Thái Nguyên - Bắc Ninh (Tổng đốc Ninh - Thái) đóng ở Bắc Ninh, Tuần phủ Lạng Sơn - Cao Bằng (Tuần phủ Lạng - Bình) đóng ở Lạng Sơn. === Thời Pháp thuộc === Sau lần đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất 1873, theo Hòa ước Giáp Tuất 1874, cho phép Pháp lập 2 khu nhượng địa ở Hà Nội và Hải Dương là khu Đồn Thủy (Hà Nội) và khu cảng Hải Phòng. Năm 1883, Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, buộc nhà Nguyễn ký Hiệp ước Harmand (25 tháng 8, 1883) đầu hàng thực dân Pháp và Hiệp ước Patenôtre (6 tháng 6, 1884), công nhận quyền bảo hộ của Pháp với vùng lãnh thổ còn lại của Đại Nam. Theo Hiệp ước Harmand, khu vực từ đèo Ngang trở ra bắc gọi là Tonkin (Bắc Kỳ) (nhập thêm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh). Hiệp ước Patenôtre quy định lại ranh giới Tonkin (Bắc Kỳ), theo đó Bắc Kỳ tính từ địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình trở ra. Tới năm 1885 Bắc Kỳ lại gồm có 13 tỉnh như trước: Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Hóa, Hưng Yên, Lạng Sơn, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Yên, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, và 2 khu nhượng địa của Pháp. Thực dân Pháp bắt đầu thay đổi quản lý hành chính các vùng chiếm được ở Bắc Kỳ kể từ năm 1886 bằng việc chia tách tỉnh có diện tích lớn nhất với các sắc tộc thiểu số khác nhau thành các tỉnh và đạo quân sự nhỏ hơn. Đầu tiên là lập tỉnh Mường Chợ Bờ, tháng 6 năm 1886 (Đồng Khánh thứ 2), từ một phần các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Ninh Bình (các vùng có người Mường cư trú), tỉnh này sau đổi tên thành Phương Lâm rồi cuối cùng là Hòa Bình (năm 1892). Năm 1888, sau khi thành Bắc Kỳ trở thành một xứ trong Liên bang Đông Dương mới thành lập, Pháp thành lập 2 thành phố Hà Nội và Hải Phòng bên cạnh các tỉnh Hà Nội và Hải Dương (lấy thêm đất từ 2 tỉnh này cho 2 thành phố mới gộp thêm với 2 nhượng địa năm 1874). Tháng 1 năm 1889 (Thành Thái thứ nhất), Pháp tách phần lớn tỉnh Hưng Hóa để lập đạo quân binh IV (Quân đoàn Bắc Kỳ), lỵ sở tại Lào Cai gồm các tiểu khu Lao Cai, Vạn Bú, Yên Bái, Lai Châu (là đất 16 châu và 4 huyện của tỉnh Hưng Hóa). Năm 1890, Pháp công nhận quyền thế tập cai quản vùng người Thái cho gia tộc Đèo của Đèo Văn Trị ở đạo quan binh VI. Năm 1890, thành lập các tỉnh Hà Nam (từ phủ Lý Nhân của tỉnh Hà Nội), Thái Bình (từ phần bắc sông Hồng của tỉnh Nam Định và phủ Tiên Hưng của Hưng Yên). Năm 1891, lập ra tỉnh Hà Giang từ các hạt Hà Dương (Hà Giang) và Bắc Quang của tỉnh Tuyên Quang nơi đồn trú của đạo quân binh III Quân đoàn Bộ binh Bắc Kỳ, đặt đạo Vĩnh Yên từ phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây. Năm 1895 tỉnh Bắc Giang được thành lập từ phủ Lạng Giang của tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Vạn Bú được thành lập từ 2 tiểu khu Sơn La và Lai Châu của đạo quân binh IV, (sau tỉnh này đổi thành tỉnh Sơn La năm 1904). Năm 1898 lập tỉnh Kiến An từ một phần tiếp giáp thành phố Hải Phòng của tỉnh Hải Dương. Tỉnh Vĩnh Yên được đổi từ đạo thành tỉnh dân sự năm 1899. Năm 1900, lập tỉnh Yên Bái từ việc trích một phần đạo quân binh IV, lập tỉnh Bắc Cạn từ một phần tỉnh Thái Nguyên. Năm 1902 bỏ tỉnh Hà Nội lập tỉnh Cầu Đơ thay thế (đóng tỉnh lỵ tại Cầu Đơ), sau đổi thành tỉnh Hà Đông (năm 1904). Năm 1903, sau nhiều lần tách rồi nhập thêm các phần của các tỉnh Sơn Tây và Tuyên Quang vào thành tỉnh Hưng Hóa mới, thì tỉnh Hưng Hóa được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. Năm 1905, lập tỉnh Phúc Yên từ một phần các tỉnh Sơn Tây và Bắc Ninh. Năm 1906 lập tỉnh Hải Ninh từ phủ Hải Ninh của tỉnh Quảng Yên. Năm 1907 lập tỉnh Lào Cai từ phần cuối cùng còn lại của đạo quân binh IV. Năm 1909 tách ra để lập tỉnh Lai Châu từ tỉnh Sơn La, lúc này việc thiết lập hành chính của Pháp ở Bắc Kỳ mới ổn định. Đến những năm 1910 đầu thế kỷ 20, Bắc Kỳ có 2 thành phố và 27 tỉnh là: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hòa Bình, Hà Nam, Thái Bình, Hà Giang, Bắc Giang, Sơn La, Kiến An, Vĩnh Yên, Yên Bái, Bắc Cạn, Phúc Yên, Hải Ninh, Lào Cai, Lai Châu. Theo Ngô Vi Liễn viết trong cuốn Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ năm 1924, thì tới thập niên 1920 Bắc Kỳ có 29 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm: 4 thành phố (2 thành phố độc lập: Hà Nội, Hải Phòng, và 2 thành phố thuộc tỉnh: Hải Dương, Nam Định), 4 đạo quan binh (Hải Ninh, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu), và 23 tỉnh: (Hải Dương, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hòa Bình, Hà Nam, Thái Bình, Bắc Giang, Sơn La, Kiến An, Vĩnh Yên, Yên Bái, Bắc Cạn, Phúc Yên, Lào Cai. Thành phố Nam Định thuộc tỉnh Nam Định được thành lập năm 1921. Thành phố Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương được thành lập năm 1923. Số lượng này là không thay đổi cho đến hết thời Pháp thuộc (năm 1945) cũng là lúc Bắc Kỳ được đổi tên thành Bắc Bộ. Vùng đất Bắc Kỳ tồn tại trên danh nghĩa vẫn thuộc lãnh thổ của Đại Nam, nhưng trên thực tế thuộc quyền cai trị của Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin; hay "Đông Kinh lưu trú quan đại thần") người Pháp. Các hiệp ước Pháp ký với triều đình nhà Nguyễn không được Trung Hoa công nhận. Phải đến sau Chiến tranh Pháp-Thanh (1884–1885), Pháp mới nắm toàn bộ chủ quyền của An Nam (miền Trung Việt Nam) và Bắc Kỳ. Năm 1887, Tonkin/Bắc Kỳ trở thành một xứ bảo hộ nằm trong Liên bang Đông Dương. Sau khi đảo chính Pháp, ngày 20 tháng 3 năm 1945, Nhật đã cử Thống sứ Nishimura tạm thời cai quản xứ này và đổi tên là Bắc Bộ. Sau khi thành lập Quốc gia Việt Nam quốc trưởng Bảo Đại chính thức thay Bắc Phần cho "Bắc Bộ". == Thống sứ == Trước khi triều đình Huế buộc phải ký Hòa ước Quý Mùi, 1883, người Pháp đã thành lập Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ (corps expéditionnaire du Tonkin) để xâm lược Bắc Kỳ. Các tướng chỉ huy Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ đồng thời cũng là Thống soái Bắc Kỳ. Năm 1885, tướng Philippe Marie André Roussel de Courcy được cử sang Việt Nam với quyền hạn kiêm quản cả Bắc và Trung Kỳ. Năm 1886, Paul Bert, một quan chức dân sự được cử sang với chức vụ "Tổng Công sứ Trung – Bắc Kỳ" (Résident supérieur du Tonkin), gọi tắt là Tổng sứ, thay mặt cho chính phủ Pháp chủ trì mọi công việc đối ngoại của triều đình Việt Nam và thường được gọi là "Toàn quyền lưỡng kỳ" hoặc "Toàn quyền Trung – Bắc Kỳ". Dưới quyền trực tiếp của Tổng sứ là một hệ thống quan lại thực dân Pháp giúp việc: đứng đầu Trung Kỳ là Khâm sứ Trung Kỳ (Résident supérieur de l’Annam) và đứng đầu mỗi tỉnh ở cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ là Công sứ (Résident) và Phó sứ (Résident adjoint). Năm 1887, chức vụ Toàn quyền Đông Dương được thành lập, nắm toàn quyền cai quản cả Bắc - Trung - Nam Kỳ. Năm 1889, chức vụ Tổng sứ bị bãi bỏ, chức vụ Thống sứ Bắc Kỳ (Résident général du Tonkin), còn được gọi là Tổng trú sứ, được đặt ra để đảm nhiệm các công việc cho chính phủ Pháp bên cạnh Nam triều. == Xem thêm == Hữu Kỳ Trực Kỳ Tả Kỳ Nam Kỳ == Tham khảo == L'adjectif latinisé tonkinensis est une épithète spécifique, partie de la nomenclature binomiale (taxonomie), utilisé pour décrire des espèces, surtout des arbres trouvés au Tonkin. Par exemple, Cornus hongkongensis subsp. tonkinensis [1] est une sous-espèce d'un arbre persistant ou un buisson de la famille bois à chien, qui est trouvé habituellement à Hong Kong. Une chanson de Georges Villard et Henri Christiné créée grâce à Vincent Scotto, datant de 1906, s'intitule « La Petite Tonkinoise ». La petite Tonkinoise est également le titre d'un roman de Suzanne Prou (1986). La Rose du Tonkin par Marthe Simard. (1981) Biographie d'une religieuse québécoise (Rose-Alba Brien, carmélite) qui passa sa vie au Tonkin. La ligne du Tonkin est une ligne de chemin de fer reliant Saint-Maurice à Genève (Suisse), en passant par Évian-les-Bains et Thonon-les-Bains (Pháp). La ligne est exploitée en territoire valaisan (Suisse), mais laissée à l'abandon entre Saint-Gingolph et Évian-les-Bains, en territoire français. Tonkin (voir Charpennes-Tonkin) est un quartier de Villeurbanne (Pháp), plus spécialement connu pour sa clinique, ses établissements (écoles jusqu'au collège), son centre commercial plein-air, ses nombreuses allées piétonnes et sa proximité avec le parc de la Tête-d'Or. Son nom lui a été donné en hommage aux nombreuses pertes humaines cumulées, durant la guerre franco-chinoise (certaines rues portent d'ailleurs le nom de soldats vietnamiens, morts au combat). Enfin, le Tonkin est un quartier du village d'Autrans, en Isère. == Liên kết ngoài == An Nam 1858-1863
olympic toán học quốc tế.txt
Olympic Toán học Quốc tế (International Mathematical Olympiad, thường được viết tắt là IMO) là một kì thi Toán học cấp quốc tế hàng năm dành cho học sinh trung học phổ thông. == Lịch sử == Kì thi IMO đầu tiên được tổ chức tại Rumani năm 1959 với sự tham gia của 7 quốc gia Đông Âu là chủ nhà Rumani, Bulgaria, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Ba Lan và Liên Xô. Trong giai đoạn đầu, IMO chủ yếu là cuộc thi của các quốc gia thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa và địa điểm tổ chức cũng chỉ trong phạm vi các nước Đông Âu. Bắt đầu từ thập niên 1970, số lượng các đoàn tham gia bắt đầu tăng lên nhanh chóng và IMO thực sự trở thành một kì thi quốc tế về Toán dành cho học sinh. Cho đến nay kì thi được tổ chức liên tục hàng năm, trừ duy nhất năm 1980. Kì IMO có số lượng đoàn tham gia đông đảo nhất tính đến IMO 2011 chính là kì IMO 2011 tổ chức tại Amsterdam, Hà Lan với 101 đoàn tham dự. Mỗi đoàn tham dự được phép có tối đa 6 thí sinh, một trưởng đoàn, một phó đoàn và các quan sát viên. Theo quy định, thí sinh tham gia phải dưới 20 tuổi và trình độ không được vượt quá cấp trung học phổ thông (secondary school hay high school trong tiếng Anh, hay lycée trong tiếng Pháp), vì vậy một thí sinh có thể tham gia tới 5 hoặc 6 kì IMO, riêng với Việt Nam do quy định của việc chọn đội tuyển, một thí sinh chỉ tham dự được nhiều nhất là hai kì. == Cách thức ra đề, thi và chấm thi == Mỗi bài thi IMO bao gồm 6 bài toán, mỗi bài tương đương tối đa là 7 điểm, có nghĩa là thí sinh có thể đạt tối đa 42 điểm cho 6 bài. 6 bài toán này sẽ được giải trong 2 ngày liên tiếp, mỗi ngày thí sinh giải 3 bài trong thời gian 270 phút. Các bài toán được lựa chọn trong các vấn đề toán học sơ cấp, bao gồm 4 lĩnh vực hình học, số học, đại số và tổ hợp. Bắt đầu từ tháng 3 hàng năm, các nước tham gia thi được đề nghị gửi các đề thi mà họ lựa chọn đến nước chủ nhà, sau đó một ban lựa chọn đề thi của nước chủ nhà sẽ lập ra một danh sách các bài toán rút gọn bao gồm những bài hay nhất, không trùng lặp đề thi IMO các năm trước hoặc kì thi quốc gia của các nước tham gia, không đòi hỏi kiến thức toán cao cấp, không quá khó hoặc quá dễ nhưng yêu cầu được thí sinh phải vận dụng hết khả năng suy luận và kiến thức toán được học. Một vài ngày trước kì thi, các trưởng đoàn sẽ bỏ phiếu lựa chọn 6 bài chính thức, chính họ cũng sẽ là người dịch đề thi sang tiếng nước mình để thí sinh có thể giải toán bằng tiếng mẹ đẻ, sau đó các vị trưởng đoàn sẽ được cách ly hoàn toàn với các thí sinh để tránh gian lận. Bài thi của thí sinh sẽ được ban giám khảo và trưởng đoàn của thí sinh đó chấm song song, sau đó hai bên sẽ hội ý để đưa ra kết quả cuối cùng. Giám khảo và trưởng đoàn đều có thể phản biện cách chấm của nhau để điểm bài thi đạt được là chính xác nhất. Nếu hai bên không thể đi tới đồng thuận thì người quyết định sẽ là trưởng ban giám khảo và giải pháp cuối cùng là tất cả các trưởng đoàn bỏ phiếu. Riêng bài thi của thí sinh nước chủ nhà sẽ do giám khảo đến từ các nước có đề thi được chọn chấm. == Giải thưởng == Tại IMO việc xét giải chỉ là cho cá nhân từng thí sinh tham gia thi, còn việc xếp hạng thành tích các đoàn đều do các nước tham gia tự tính toán và không có ý nghĩa chính thức. Giải thưởng của IMO bao gồm huy chương vàng, huy chương bạc và huy chương đồng được trao theo điểm tổng cộng mà thí sinh đạt được. Số thí sinh được trao huy chương là khoảng một nửa tổng số thí sinh, điểm để phân loại huy chương sẽ theo nguyên tắc tỉ lệ thí sinh đạt huy chương vàng, bạc, đồng sẽ là 1:2:3. Các thí sinh không giành được huy chương nhưng giải được trọn vẹn ít nhất 1 bài (7/7 điểm) sẽ được trao bằng danh dự. Ngoài ra, ban tổ chức IMO còn có thể trao các giải thưởng đặc biệt cho cách giải cực kì sáng tạo hoặc tổng quát hóa vấn đề nêu ra trong bài toán. Giải này phổ biến trong thập niên 1980 nhưng gần đây ít được trao hơn, lần cuối cùng giải thưởng đặc biệt được trao là năm 2005. Thí sinh đoàn Việt Nam từng đạt giải thưởng này là Lê Bá Khánh Trình tại IMO 1979. == Danh sách các kì thi Olympic == == Thống kê liên quan == Đoàn đạt thành tích tốt nhất trong một kì IMO là đoàn Hoa Kỳ tại IMO 1994, cả 6 thành viên của đoàn này đều giành huy chương vàng với số điểm tuyệt đối 42/42. Tính chung tất cả các kì IMO thì đoàn có thành tích tốt nhất là đoàn Trung Quốc, trong 22 lần tham gia đoàn này đã đứng đầu toàn đoàn 13 lần trong đó có tới 8 lần cả 6 thí sinh Trung Quốc giành huy chương vàng (IMO các năm 1992, 1993, 1997, 2000, 2001, 2002, 2004 và 2006). Thứ tự 10 đoàn có thành tích tốt nhất là: Cho đến nay đã có hai thí sinh từng 4 lần giành huy chương vàng IMO. Người đầu tiên đạt được thành tích này là Reid Barton (đoàn Hoa Kỳ), Barton giành huy chương vàng tại các kì IMO 1998 (32 điểm), 1999 (34 điểm), 2000 (39 điểm) và 2001 (42/42 điểm). Thí sinh thứ hai là Christian Reiher (đoàn Đức) với các huy chương vàng tại IMO 2000 (31 điểm), 2001 (32 điểm), 2002 (36 điểm) và 2003 (36 điểm). Ngoài ra Reiher còn giành thêm một huy chương đồng tại IMO 1999 (15 điểm), qua đó trở thành người có thành tích cao nhất trong tất cả các kì IMO tính đến nay. Ciprian Manolescu (đoàn Rumani) là thí sinh giành nhiều điểm tuyệt đối (42/42) nhất trong lịch sử IMO. Trong cả ba lần tham dự IMO vào các năm 1995, 1996 và 1997, Manolescu đều giành huy chương vàng với số điểm tuyệt đối. Eugenia Malinnikova (đoàn Liên Xô) là thí sinh nữ có thành tích cao nhất với ba huy chương vàng tại các IMO 1989 (41 điểm), 1990 (42 điểm) và 1991 (42 điểm), tức là chỉ kém duy nhất 1 điểm so với thành tích của Manolescu. Đào Triết Hiên (đoàn Úc) bắt đầu tham gia thi IMO khi mới 11 tuổi vào năm 1986. Đến kì IMO 1988, Đào giành huy chương vàng năm 13 tuổi và trở thành thí sinh trẻ nhất từng giành huy chương vàng tại IMO. Oleg Gol'berg (đoàn Nga và Mỹ) là thí sinh duy nhất trong lịch sử IMO từng giành huy chương vàng với tư cách là thành viên hai đội tuyển khác nhau, hai huy chương vàng với đoàn Nga tại IMO 2002 (36 điểm), 2003 (38 điểm) và một với đoàn Mỹ tại IMO 2004 (40 điểm). == Các nhà khoa học nổi tiếng từng là thí sinh IMO == Tính cho đến năm 2010, đã có tổng cộng 9 người từng là thí sinh thi IMO đã giành được giải thưởng Toán học nổi tiếng bậc nhất thế giới, Giải Fields. Danh sách cụ thể như sau: (Ghi chú: HCV, HCB, HCĐ lần lượt là huy chương vàng, huy chương bạc và huy chương đồng) Grigory Margulis đã giành huy chương bạc tại IMO 1962 trong thành phần đoàn Liên Xô. Ông được trao Giải Fields năm 1978, sau đó là Giải Wolf năm 2005. Margulis là một trong số ít ỏi bảy nhà toán học trên thế giới có được cả hai giải thưởng này. Grigori Perelman đã đạt điểm tuyệt đối 42/42 và giành huy chương vàng tại IMO 1982 trong thành phần đoàn Liên Xô. Năm 2006, ông được trao Giải Fields vì đã giải quyết được Giả thuyết Poincaré, một trong những vấn đề toán học lớn nhất của thế kỉ 20 được Henri Poincaré đề ra từ năm 1904. Bài toán này là một trong sáu bài toán được Viện Toán học Clay đặt giải 1 triệu USD cho bất kỳ ai giải được. Đào Triết Hiên (Terence Tao) giành huy chương vàng IMO 1988 trong thành phần đoàn Úc khi mới 13 tuổi. Cho đến nay đây vẫn là thí sinh trẻ nhất từng giành huy chương vàng trong một kì IMO. Đào được bổ nhiệm làm giáo sư Đại học California tại Los Angeles (UCLA) khi mới 24 tuổi và được đánh giá là "Mozart của toán học thế giới". Đào Triết Hiên được trao Giải Fields năm 2006 cùng với Perelman. Ngô Bảo Châu, giáo sư trẻ nhất Việt Nam, từng hai lần đoạt huy chương vàng IMO tại Úc (1988) và Cộng hoà Liên bang Đức (1989). Ngô Bảo Châu nổi tiếng với thành công trong việc chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands, công trình nghiên cứu đã giúp ông nhận Giải Fields năm 2010. == Xem thêm == Việt Nam tại Olympic Toán học Quốc tế == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của IMO Trang web về các kì thi Olympic quốc tế
lịch sử khoa học.txt
Khoa học là một tổng thể của kiến thức thực nghiệm, lý thuyết và thực tế về thế giới tự nhiên, do các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới phát triển với các phương pháp khoa học, trong đó đặc biệt là sự quan sát, giải thích, và dự báo những hiện tượng của thế giới thực bằng thực nghiệm. == Những nền văn hóa sớm == Vào thời tiền sử và cổ đại, khoa học phát triển từ nhu cầu giải thích thế giới và những đòi hỏi thực tế của con người như đo đạc, tính toán, làm thủy lợi, dự báo thời tiết... Khoa học thời kỳ này còn mang nặng tín ngưỡng, tôn giáo và sự thần bí. Những nền khoa học cổ đại sớm phát triển ở Ai Cập, Hy Lạp-La Mã, Ấn Độ và Trung Quốc. == Khoa học thời trung đại == Khoa học thời kỳ này đặc biệt phát triển mạnh mẽ ở thế giới Hồi giáo và trung cổ châu Âu. Những phát minh khoa học đưa đến sự phát triển mạnh mẽ của châu Âu và góp phần hình thành Thời kỳ Khai sáng. == Khoa học thời hiện đại == Khoa học thời hiện đại phát triển ở rất nhiều lĩnh vực với nhiều thành tựu ở vật lý, hóa học, địa lý, thiên văn học, sinh học, y học, công nghệ gen, sinh thái học và các ngành khoa học xã hội. == Xem thêm == Lịch sử cơ học Lịch sử thiên văn học Lịch sử địa chất học Lịch sử vật lý học Lịch sử thuyết tương đối hẹp Lịch sử thuyết tương đối rộng == Đọc thêm == Agassi, Joseph (2007) Science and Its History: A Reassessment of the Historiography of Science (Boston Studies in the Philosophy of Science, 253) Springer. ISBN 1-4020-5631-1, 2008. Boorstin, Daniel (1983). The Discoverers: A History of Man's Search to Know His World and Himself. New York: Random House. ISBN 0394402294. OCLC 9645583. Byers, Nina and Gary Williams, ed. (2006) Out of the Shadows: Contributions of 20th Century Women to Physics, Cambridge University Press ISBN 0-5218-2197-1 Heilbron, John L., ed., The Oxford companion to the history of modern science (New York: Oxford University Press, 2003). Herzenberg, Caroline L. 1986. Women Scientists from Antiquity to the Present Locust Hill Press ISBN 0-933951-01-9 Kuhn, Thomas S. (1996). The Structure of Scientific Revolutions (3rd ed.). University of Chicago Press. ISBN 0-226-45807-5 Kumar, Deepak (2006). Science and the Raj: A Study of British India, 2nd edition. Oxford University Press. ISBN 0-19-568003-0 Lakatos, Imre History of Science and its Rational Reconstructions published in The Methodology of Scientific Research Programmes: Philosophical Papers Volume 1. Cambridge: Cambridge University Press 1978 Margolis, Howard (2002). It Started with Copernicus. New York: McGraw-Hill. ISBN 0-07-138507-X Needham, Joseph. Science and Civilisation in China. Multiple volumes (1954–2004). Rousseau, George và Roy Porter, eds., The Ferment of Knowledge: Studies in the Historiography of Science (Cambridge: Cambridge University Press, 1980). ISBN 0-521-22599-X Russell, Bertrand (1945). A History of Western Philosophy: And Its Connection with Political and Social Circumstances from the Earliest Times to the Present Day. New York: Simon and Schuster. Sarton, George (1927-48), Introduction to the History of Science:Carnegie Institution of Washington Publication no. 376, Baltimore: Williams and Wilkins, Co Thorndike, Lynn (1923–1958). A History of Magic and Experimental Science. New York: Macmillan. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The official website of the International Academy of the History of Science The official website of the Division of History of Science and Technology of the International Union of History and Philosophy of Science A History of Science, Vols 1–4, online text Contributions of 20th century Women to Physics ("CWP") History of Science Society ("HSS") The CNRS History of Science and Technology Research Center in Paris (France). This center develop differents websites about history of science & tech.: Ampère and history of electricity, Lamarck: works and heritage, Buffon Online, etc. and, recently, the netvibes portal History Of Science In France The official site of the Nobel Foundation. Features biographies and info on Nobel laureates The Institute and Museum of the History of Science in Florence, Italy The Royal Society, trailblazing science from 1650 to date The Vega Science Trust Free to view videos of scientists including Feynman, Perutz, Rotblat, Born and many Nobel Laureates. Toward the Scientific Revolution From MIT OpenCourseWare, class materials for the history of science up to and including Isaac Newton. Orotava Foundation for the History of Science, Canary Islands, Spain The History of Science in Spain. Free contents (books, lectures and expositions) on History of Science and digital library.
lượng (kim hoàn).txt
Trong nghề kim hoàn, Lượng hay lạng là từ để chỉ đơn vị đo khối lượng của ngành kim loại quý Việt Nam, Trung Hoa, đặc biệt là vàng. Đơn vị đo này còn được dùng để đo khối lượng của một số kim loại quý khác như: bạc, bạch kim (tên khác: platin), vàng trắng. Nó còn được gọi dân dã là cây (như cây vàng). Một lượng bằng 37,50 gam theo hệ đo lường quốc tế. Đơn vị ước số của nó là chỉ. Một chỉ bằng 1/10 lượng hay 3,75 gam. Tuy nhiên, còn tùy quốc gia có những số đo lượng khác nhau. Tại Hong Kong và Singapore, 1 lượng là 37,79936375 g, tương đương với 1+1⁄3 Ounce (1 Ounce avoirdupois quốc tế, còn gọi là lượng tây là 28,349523125 g). Theo đó, 1 kg có 26,455 lượng vàng. Tại Đài Loan, 1 lượng vàng (金衡兩 = kim hành lượng) là 37,429 g, tương đương khoảng ~1,2 troy ounces. Có thông tin là Hong Kong nay cũng dùng hệ đo lường này. Tại Việt Nam, nghị định của Chính phủ Việt Nam năm 2007, quy định một chỉ bằng 3,75 gam hoặc bằng 1/10 cây (cây vàng cũng còn gọi là lạng vàng hay lượng vàng, bằng 37,5 g). Tại thị trường quốc tế, vàng được giao dịch theo đơn vị Troy Ounce (1 Troy ounce là 31,103 476 8 g) == Chú thích == == Xem thêm == Lạng
quyền lực thông minh.txt
Quyền lực thông minh hay sức mạnh thông minh (tiếng Anh: smart power) là một thuật ngữ trong quan hệ quốc tế mà triết gia người Mỹ Joseph Nye định nghĩa như sau "khả năng kết hợp quyền lực cứng và quyền lực mềm vào một chiến lược mang lại thắng lợi." Theo Chester A. Crocker, Fen Osler Hampson, và Pamela R. Aall, quyền lực thông minh "có liên quan tới chiến lược sử dụng ngoại giao, thuyết phục, xây dựng năng lực và điều khiển các sức mạnh và sự ảnh hưởng trong những con đường đạt hiệu quả cao và có tính chính đáng cả về chính trị lẫn xã hội" – cốt yếu là tận dụng các sức mạnh quân sự và toàn bộ các kiểu ngoại giao. Thuật ngữ này được đưa ra sau cuộc tấn công của Mỹ vào Iraq năm 2003 như là một phản ứng lại chính sách đối ngoại ngày càng mang xu hướng tân bảo thủ của tổng thống Mỹ khi này là George W. Bush. Được coi là một phiên bản thứ hai của chính sách của Bush nhưng mang tính tự do hơn, các đề xuất của nó coi trọng các tổ chức quốc tế có vài trò lớn hơn, chống lại chủ nghĩa đơn phương một mình, đối với nước Mỹ. Quyền lực thông minh còn được xem là một lực chọn khác của quyền lực mềm, vì lạm dụng quyền lực mềm có thể khiến Đảng Dân chủ Hoa Kỳ ngày càng xem là yếu đuối. Theo tạp chí Foreign Policy, người ta vẫn đang tranh cãi ai là người phát minh thuật ngữ này, mặc dù tạp chí này ủng hộ Suzanne Nossel, người đã viết một bài báo nhan đề quyền lực thông minh trên tạp chí Foreign Affairs. Trước năm 2004, Joseph Nye đã nhắc tới thuật ngữ này trong cuốn sách của mình là "Soft Power: The Means to Success in World Politics". Một cuốn sách khác phát hành vào năm 2008 của Ted Galen Carpenter là Smart Power: Toward a Prudent Foreign Policy for America. cũng nhắc tới thuật ngữ này. == Xem thêm == Quyền lực mềm Quyền lực xã hội == Chú thích ==
hàng bạc.txt
Phố Hàng Bạc nằm trong khu vực phố cổ Hà Nội. Vào thời thuộc Pháp cuối thế kỷ XIX phố có tên tiếng Pháp là Rue des changeurs (phố của những người đổi tiền). Từ năm 1945 phố được đổi tên thành Hàng Bạc. == Vị trí == Phố Hàng Bạc ngày nay thuộc phường Hàng Bạc, Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Toàn phố có chiều dài khoảng 0,5 km nằm theo hướng Đông - Bắc. Đầu phố phía Tây là ngã tư giáp với các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bồ. Đầu phố phía Đông giáp phố Hàng Mắm. Hàng Bạc nằm cách Hồ Hoàn Kiếm 0,3 km về phía Bắc. == Lịch sử == Do ông Lưu Xuân Tín được nhà vua cho phép mở lò đúc bạc thành nén cho triều đình, kéo người trong họ hàng và người làng Trâu Khê (hay Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang - Hải Dương) ra đây mở phường đúc bạc, thành lập trường đúc ở số nhà 58 Hàng Bạc. Căn cứ theo nội dung ghi tạc trên tấm bia đặt tại đình Dũng Hãn (ở số nhà 42) thì phố Hàng Bạc được thành lập vào thời nhà Lê hoặc sớm hơn một chút. Thời kỳ này, Hàng Bạc thuộc về phường Đông Các, huyện Thọ Xương. Vào thời Nguyễn, đất Hàng Bạc thuộc thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Nghề kim hoàn truyền thống trên phố Hàng Bạc ngày nay có lịch sử phát triển từ một làng nghề khác ở Bắc Bộ, đó là làng Làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Dưới triều vua Lê Thánh Tông (thế kỷ 15), vị quan thượng thư bộ lại Lưu Xuân Tín, ông vốn là người làng Châu Khê, được triều đình giao việc thành lập một xưởng đúc bạc nén (đơn vị tiền tệ dùng để trao đổi lấy hàng hoá) ở kinh thành Thăng Long (là Hà Nội ngày nay). Đầu thế kỷ 19, khi triều Nguyễn chuyển vào Huế có mang theo theo cả xưởng đúc bạc nén vào trong đó. Bấy giờ, phần lớn thợ Châu Khê còn ở Thăng Long vẫn tiếp tục với nghề kim hoàn truyền thống của mình, họ thành lập phường thợ ở tại phố Hàng Bạc ngày nay. Ngoài ra, Hàng Bạc còn tập trung cả thợ vàng bạc ở Ðịnh Công và Ðồng Tâm tới lập nghiệp Qua những thời kỳ thăng trầm phát triển nghề, không chỉ người thợ làng gốc, ngay cả người Châu Khê đang làm ăn sinh sống ở phố Hàng Bạc vẫn rất gắn bó, hỗ trợ nhau từ nghề nghiệp, buôn bán, đến sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng. Sống ở "phố" nhưng họ vẫn giữ tình "làng", cứ đến ngày 19 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhiều gia đình lại trở về để cùng dự hội làng, làm lễ dâng hương báo công với Đức Thành Hoàng và giỗ Tổ nghề kim hoàn. == Các di tích nổi bật == Ngày nay tại phố Hàng Bạc vẫn còn những ngôi nhà ghi dấu sử nghề của người làng Châu Khê. Như số nhà 58, xưa là Trang xưởng đúc bạc nén, số nhà 50 là Ðình Thượng và số 42 là Ðình Hạ thuộc những điểm giao dịch thu nhận bạc nén thành phẩm. Di tích thờ tự có đình Dũng Hãn (số nhà 42) có niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44, xây dựng vào cuối thế kỷ 18, đình thờ Linh Lang Vương, bên ngoài có miếu thờ thần nữ. Đây cũng là ngôi đình rộng nhất ở phố cổ Hà Nội. == Đúc bạc nén == Từ triều Gia Long, trong phố có một vị Ty quan quản lý công việc bạc, thu bạc vụn từ các tỉnh rồi giao cho các tràng đúc. Sau khi đúc thành bạc nén lại trao trả cho tỉnh, chuyển về kinh nhập vào công khố. Công việc đúc bạc nén được tiến hành như sau: Dùng vôi bột, gạch non tán nhỏ và gio bếp nhào với nước, từ thành phẩm của những nguyên liệu này người ta gia công một cái chảo, chảo này được sử dụng để nấu bạc chảy. Khi Bạc vụn và một phần các loại kim khí khác đã được nấu chảy thì cho chì vào với lượng vừa đủ để quyện và hớt các tạp chất khác có trong bạc, lấy ra sản phẩm bạc đủ tuổi. Để thành phẩm nguội hẳn, dỡ chọn lấy phần bạc tốt. Bạc chặt thành từng miếng, cân lên cứ mười lạng thành một nén Bạc. Đúc bạc: Nồi nấu được gia công từ nguyên liệu đất thó trộn với gio, trấu, sau đó phơi hoặc nung thật khô. Cho những miếng bạc chặt cân đủ nén vào nồi nấu, ngoài ra còn phải cho vào một ít hàn the (Bo3Na2). Hàn the sẽ làm bạc chóng chảy và láng mặt. Khi bạc đã nấu chảy mềm thì đem đổ vào khuôn. Khuôn đúc bạc nén còn gọi là gọi là thão, khuôn thường được làm bằng sắt và có chuôi cầm bằng gỗ. Trước khi đổ bạc, phải thoa dầu cây thầu dầu (một loại dầu phổ biến dùng để thắp đèn thời bấy giờ) để tránh cho bạc khỏi dính vào khuôn hay thão. Lấy bạc ra khỏi khuôn thì dùng búa nhỏ gõ sửa lại cho vuông vắn. Xong rồi, đóng dấu hai chữ "Thập túc" (đủ 10) vào thành của nén bạc. == Sản phẩm truyền thống == Theo cách chế tác thủ công truyền thống, người thợ kim hoàn Hàng Bạc đã làm ra được nhiều sản phẩm tinh xảo, là những đồ trang sức trơn thuần như nhẫn, khuyên tai, vòng xuyến, vòng bạc cho phụ nữ hoặc trẻ em. Nhưng chủ yếu vẫn là đồ trạm (chạm, khắc), được phổ biến dựa theo các hình mẫu trang trí như Tứ linh (lân, ly, quy, phượng), Lưỡng long chầu nguyệt (hai con rồng cùng chầu mặt trăng), Bát vật (Tám con vật). Ngoài đó ra. Hình ảnh con người và các loại cây, dựa theo quan niệm phương Đông tượng trưng cho tính quân tử, là trúc, mai, lan, cúc, Bát quả (Tám loại trái cây), và Bát bảo (Tám vật dụng quý)... cũng được thể hiện qua các sản phẩm trong nghề kim hoàn Hàng Bạc, vốn đã có bề dày kinh nghiệm chế tác từ thời kỳ hình thành các làng nghề truyền thống. Ở bất kỳ đồ vàng bạc trơn thuần hay chạm khắc hoặc đồ nữ trang, đều rất dễ nhận thấy hai đặc điểm nổi bật của các sản phẩm kim hoàn Hàng Bạc, là luôn tạo dáng nghệ thuật và văn hoa tinh xảo, sinh động. Đến nay, tuy nghề buôn bán trao đổi vàng bạc không chỉ còn tập trung ở một nơi là phố Hàng Bạc. Rải rác có các cửa hiệu buôn bán và chế tác kim hoàn phát triển trên nhiều phố khác ở Hà Nội. Tuy nhiên, Hàng Bạc vẫn là nơi tập trung những người thợ kim hoàn tay nghề cao, nhưng không nhiều xưa. Hiện nay bạc nén được sử dụng dùng để trang trí, tài sản có giá trị, trấn yểm long mạch, trong các lễ nghi văn hóa tín ngưỡng ở vùng miền núi. trong hôn nhân của dân tộc thái (Dựng vợ, gả chồng. Người lào. Giá trị của một nén bạc luôn tương đương bằng 1/2 giá trị 1 cây vàng. Nén bạc rất hiếm vì các của hàng vàng bạc thường thu mua để sản xuất các mặt hàng mỹ nghệ, trang sức. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phố Hàng Bạc Phố Hàng Bạc trong dự án đầu tư thành di tích quốc gia Trùng tu ngôi nhà cổ 51 Hàng Bạc Đãi rác, tìm vàng ở phố Hàng Bạc Bảo tồn ngôi nhà cổ thuần Việt duy nhất tại Hàng Bạc Nhà cổ nhất Hà Nội 47 Hàng Bạc đang có nguy cơ sập Phố Hàng Bạc - nghề Kim hoàn và việc trùng tu đình Kim Ngân Góc ảnh phố Hàng Bạc
đá trầm tích.txt
Đá trầm tích là một trong ba nhóm đá chính (cùng với đá mácma và đá biến chất) cấu tạo nên vỏ Trái đất và chiếm 75% bề mặt Trái đất. Khi điều kiện nhiệt động của vỏ trái đất thay đổi như các yếu tố nhiệt độ nước và các tác dụng hoá học làm cho các loại đất đá khác nhau bị phong hoá, vỡ vụn. Sau đó chúng được gió và nước cuốn đi rồi lắng đọng lại thành từng lớp. Dưới áp lực và trải qua các thời kỳ địa chất, chúng được gắn kết lại bằng các chất keo thiên nhiên tạo thành đá trầm tích. == Quá trình thành đá == Đá trầm tích được thành tạo chủ yếu bởi các quá trình sau: do phong hóa các đá gốc và sau đó lắng đọng thành đá trầm tích cơ học; do nước, băng gió tích tụ và gắn kết các hạt trầm tích; do sự lắng đọng được hình thành bởi các hoạt động có nguồn gốc sinh vật do mưa tuyết từ các dụng dịch hình thành nên. Bốn giai đoạn trong quá trình hình thành nên đá trầm tích cơ học bao gồm: (i) phong hóa hay bào mòn do tác động của sóng nước hay gió, (ii)vận chuyển các vật liệu trầm tích theo dòng nước hay gió, (iii) lắng đọng, hay trầm tích và (iv) nén ép hay thành đá khi các vật liệu trầm tích được tích tụ lại và bị ép chặt vào nhau tạo nên đá trầm tích. == Đặc điểm == Do được hình thành trong các điều kiện như trên nên đá trầm tích có các đặc điểm chung là: Có tính phân lớp rõ rệt, chiều dày, màu sắc, thành phần, độ lớn của hạt, độ cứng... của các lớp cũng khác nhau. Cường độ nén theo phương vuông góc với các lớp luôn luôn cao hơn cường độ nén theo phương song song với thớ. Đá trầm tích không đặc, chắc bằng đá mácma (do các chất keo kết thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại). Vì thế cường độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn. Một số loại đá trầm tích khi bị hút nước, cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan rã trong nước. Đá trầm tích rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi. == Phân loại == Căn cứ vào điều kiện tạo thành, đá trầm tích được chia làm 3 loại: === Đá trầm tích cơ học === Đá trầm tích cơ học được hình thành từ sản phẩm phong hoá của nhiều loại đá, thành phần khoáng vật rất phức tạp. Có loại hạt rời phân tán như cát sỏi, đất sét; có loại các hạt rời bị gắn với nhau bằng chất gắn kết thiên nhiên như sa thạch, cuội kết. Đá trầm tích cơ học được phân loại chi tiết hơn dựa trên thành phần độ hạt (xem kích thước hạt) cả độ hạt trung bình và khoảng dao động của độ hạt để phân loại và thành phần xi măng gắn kết chúng, và được định tên từ loại đá hạt thô cho đến đá sét. Theo các thang phân chia độ hạt khác nhau mà việc phân chia đá trầm tích cũng như tên gọi của đá trầm tích cơ học cũng khác nhau. Các loại đá hạt thô dựa trên độ mài tròn được chia thành loại tròn cạnh (cuội, sỏi kết) và loại sắc cạnh (dăm kết). Các loại đá có độ hạt vừa là cát (nếu rời rạc) hay cát kết (nếu gắn kết). Loại đá hạt mịn được gọi là bột hay bột kết. Loại nhỏ nhất là đá sét. Riêng đối với đá sét, việc phân loại và định tên dựa trên thành phần các khoáng vật sét === Đá trầm tích hoá học === Loại đá này được tạo thành do các chất hoà tan trong nước lắng đọng xuống rồi kết lại. Đặc điểm là hạt rất nhỏ, thành phần khoáng vật tương đối đơn giản và đều hơn đá trầm tích cơ học. Loại này phổ biến nhất là đôlômit, manhezit, túp đá vôi, thạch cao, anhydrit và muối mỏ. === Đá trầm tích hữu cơ === Đá trầm tích hữu cơ được tạo thành do sự tích tụ xác vô cơ của các loại động vật và thực vật sống trong nước biển, nước ngọt. Đó là những loại đá cacbonat và silic khác nhau như đá vôi, đá vôi vỏ sò, đá phấn, đá điatômit và trepen. == Tầm quan trọng của đá trầm tích == Đá trầm tích cung cấp nhiều sản phẩm cho con người từ thời tiền sử cho đến nay. Nghệ thuật: đá hoa, mặc dù là một loại đá biến chất từ đá vôi, là một ví dụ đặc trưng về những ứng dụng của nó trong nghệ thuật Sử dụng trong kiến trúc: các đá có nguồn gốc từ đá trầm tích được dùng làm đá khối và trong kiến trúc, đá phiến (hay đá bảng) biến chất cấp thấp từ đá phiến sét dùng để lợp, cát kết dùng làm cột Các vật liệu công nghiệp và sứ: sét dùng làm đồ gốm và sứ bao gồm cả các loại gạch; xi măng và vôi làm từ đá vôi. Kinh tế địa chất: các đá trầm tích chứa các tích tụ khoáng vật quặng như chì-kẽm-bạc, các mỏ đồng lớn, các mỏ vàng, tungsten và các khoáng sản quý khác, các đá quý và các vật liệu công nghiệp như mỏ cát chứa kim loại nặng Năng lượng: địa chất dầu khí dựa trên khối lượng đá trầm tích để tính lượng dầu có thể được sinh ra. Than và đá phiến dầu được tìm thấy trong các đá trầm tích. Phần lớn urani trên thế giới nằm trong các dãy đá trầm tích. Nước ngầm: các đá trầm tích chứa một lượng lớn nước trong các tầng chứa nước trên Trái Đất. == Xem thêm == Trầm tích học Phong hóa Kích thước hạt Danh sách các khoáng vật Danh sách các loại đá Chu trình thạch học == Tham khảo == Blatt, Harvey và Robert J. Tracy, 1996, Petrology: Igneous, Sedimentary and Metamorphic, Freeman, ấn bản lần thứ 2. ISBN 0-7167-2438-3 Folk, R.L., 1965, Petrology of sedimentary rocks PDF version. Austin: Hemphill’s Bookstore. Ấn bản lần thứ 2, 1981, ISBN 0-914696-14-9 Basic Sedimentary Rock Classification
mã bưu chính.txt
Mã bưu chính là một chuỗi ký tự viết bằng chữ, hoặc bằng số hay tổ hợp của số và chữ, được viết bổ sung vào địa chỉ nhận thư với mục đích tự động xác định điểm đến cuối cùng của thư tín, bưu phẩm. Mỗi quốc gia có một hệ thống ký hiệu mã bưu chính riêng. Mỗi mã bưu chính trong một quốc gia, ký hiệu cho một địa phận bưu điện duy nhất. Địa phận bưu điện có thể là một làng nhỏ, một thành phố nhỏ, một quận của một thành phố lớn. Những mã số đặc biệt đôi khi được sử dụng cho địa chỉ của các tổ chức có số lượng bưu phẩm lớn, như cơ quan chính phủ hay tập đoàn thương mại lớn. Ví dụ hệ thống Cedex của Pháp. Đức là quốc gia đầu tiên áp dụng hệ thống mã bưu chính năm 1941. Anh và Mỹ áp dụng theo lần lượt các năm 1959 và 1963. Tới tháng 2 năm 2005, có 117 quốc gia trong tổng số 190 nước thành viên của Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) có hệ thống mã số bưu điện. Một số quốc gia chưa áp dụng gồm Ireland (sẽ có hệ thống mã số năm 2008), Hồng Kông, Panama, v.v. Việt Nam bắt đầu triển khai việc sử dụng mã bưu chính từ năm 2004. == Cách sử dụng == Mỗi hệ thống bưu chính có cách thức và quy định để gán mã bưu chính riêng. Ở các nước nói tiếng Anh, mã số này được ghi sau địa chỉ nhận thư. Các nước Châu Âu thì quy định ghi mã số bưu điện trước tên thành phố, thị trấn hay khu dân cư. Tại một số quốc gia như ở châu Âu lục địa, nơi nhiều nước cho cấu trúc mã bưu chính khá tương đồng nhau, việc ghi mã số quốc gia trước mã số bưu điện là cần thiết để tránh nhầm lẫn. Các mã số này dựa trên mã biển phương tiện giao thông, ví dụ "D" cho Đức, "F" cho Pháp. Tuy vậy, thực tế áp dụng cho thấy cách ghi này không phổ biến. Khi gửi thư tới địa chỉ quốc tế, mã số bưu điện được ghi cùng với tên quốc gia nhận thư. Ví dụ: "ENGLAND – SW1A 1AA" – Mã số bưu điện cung điện Buckingham, London, Anh quốc. "75005 FRANCE, Paris" – Mã số bưu điện của Điện Panthéon Paris. Đa số các hệ thống mã bưu chính sử dụng dạng số. Một số quốc gia sử dụng cả số và chữ cho hệ thống mã bưu chính là: Andorra, Argentina, Bermuda, Brunei, Canada, Jamaica, Malta, Moldova, Hà Lan, Anh quốc, Venezuela. == Mã bưu điện Hoa Kỳ == Cục Bưu điện Hoa Kỳ sử dụng hệ thống ZIP code có 5 số từ năm 1963. Hệ thống được mở rộng vào những năm 1980 với bộ mã ZIP+4. == Mã bưu chính Việt Nam == Vào năm 2004, theo quyết định của Bộ Bưu chính Viễn thông, Việt Nam triển khai sử dụng mã số bưu chính trên cơ sở thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Liên minh Bưu chính Thế giới. Cơ cấu mã bưu chính bao gồm tối thiểu tập hợp 6 ký tự số, nhằm xác định vị trí địa lý của tỉnh, thành phố, quận hay huyện và của cụm địa chỉ phát hoặc một địa chỉ phát cụ thể trong phạm vi toàn quốc. Mã Bưu chính được Bưu điện Việt Nam công bố năm 2009, danh bạ mã bưu chính Việt Nam có thể tìm thấy tại http://postcode.vnpost.vn == Chú thích ==
sáo vòng cổ trắng.txt
Sáo vòng cổ trắng, tên khoa học Grafisia torquata, là một loài chim trong họ Sturnidae. == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Sáo vòng cổ trắng tại Wikispecies
quần đảo virgin.txt
Quần đảo Virgin là nhóm đảo phía tây của quần đảo Leeward, thuộc phần phía bắc của Tiểu Antilles, tạo nên ranh giới giữa biển Caribe và Đại Tây Dương. Về chủ quyền, các đảo đông bắc tạo thành Quần đảo Virgin thuộc Anh và phía tây nam là Quần đảo Virgin thuộc Mỹ. Quần đảo cũng được gọi là Quần đảo Thủ lĩnh cướp biển. Về mặt lý thuyết tên chính thức của quần đảo Virgin thuộc Anh chỉ đơn thuần là "Quần đảo Virgin" và tên gọi chính thức của Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là "Quần đảo Virgin của Hoa Kỳ", nhưng trong thực tế từ năm 1977 cả hai vùng lãnh thổ hầu như đều được gọi là "Quần đảo Virgin thuộc Anh" và "Quần đảo Virgin thuộc Mỹ" để phân biệt. Quần đảo nằm về phía đông của Puerto Rico. Quần đảo Virgin thuộc Anh là một lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bao gồm các hòn đảo Tortola, Virgin Gorda, Jost Van Dyke, hơn năm mươi hòn đảo nhỏ lân cận, và hòn đảo Anegada xa hơn về phía bắc. Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là một lãnh thổ chưa hợp nhất của Hoa Kỳ gồm có các đảo St. John, St. Thomas, các đảo nhỏ xung quanh và hòn đảo St. Croix về phía nam. Christopher Columbus đã đặt tên cho quần đảo là Santa Ursula y las Once Mil Vírgenes, rút ngắn lại là Las Vírgenes. Tuy nhiên trước đó đã có các thổ dân Người Arawak, Người Carib và người Cermic trên đảo, tuy nhiên họ đã bị tuyệt chủng do dịch bệnh, lao động nặng nhọc và bị thực dân châu Âu tiêu diệt. Sau đó, quần đảo được thực dân châu Âu thuộc địa hóa, với nô lệ được mang từ châu Phi sang. Hiện nay, đa số dân cư tại quần đảo đều là con cháu của những người nô lệ này. Năm 1917, Đan Mạch đã bán thuộc địa của mình trên quần đảo cho Hoa Kỳ. Xe cơ giới chạy bên trái đường ở cả hai phần quần đảo thuộc Anh và Mỹ, mặc dù vậy hầu hết xe đều có tay lái bên trái do được nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Ngoài ra, đồng đô la Mỹ là đơn vị tiền tệ chính thức trên cả Quần đảo Virgin thuộc Anh và Quần đảo Virgin thuộc Mỹ. == Xem thêm == Quần đảo Virgin thuộc Anh Quần đảo Virgin thuộc Mỹ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang tin chính thức Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
kinki.txt
Vùng Kinki của Nhật Bản (tiếng Nhật: 近畿地方 | Kinki-chiho) (âm Hán Việt: Cận Kỳ Địa phương, nghĩa đen là khu vực gần kinh đô) là một trong chín vùng địa lý của Nhật Bản. Vùng này nằm ở khu vực Trung Tây của đảo Honshu. Từ xưa đây vẫn là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Nhật Bản vì đây có Kyoto, cố đô của triều đình Nhật Bản. Vùng này bao gồm bảy tỉnh: Nara, Wakayama, Mie, Kyoto, Osaka, Hyogo, và Shiga. Vùng này cũng còn gọi là Kansai (Quan Tây, tức là phía tây cửa ải), chỉ khác là Kansai không gom tỉnh Mie. == Tham khảo ==
playstation vita.txt
PlayStation Vita (プレイステーション・ヴィータ, Pureisutēshon Vīta, viết tắt là PS Vita) là một máy chơi game cầm tay được sản xuất và tiếp thị bởi Sony Computer Entertainment. Đó là sự kế thừa cho hệ máy PlayStation Portable là một phần của thương hiệu PlayStation. Nó được phát hành tại Nhật Bản và các bộ phận của châu Á ngày 17 tháng 12 năm 2011, ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Singapore ngày 22 tháng 2 năm 2012 cuối cùng tại Úc vào ngày 23 tháng năm 2012, tập trung chủ yếu cạnh tranh với Nintendo 3DS. Thiết bị cầm tay bao gồm hai cần analog sticks, một màn hình 5-inch (130 mm) OLED đa cảm ứng điện dung, và hỗ trợ Bluetooth, Wi-Fi và 3G phiên bản tùy chọn. Bên trong, Vita có chip xử lý lõi tứ ARM Cortex-A9 MPCore và chip xử lý đồ họa SGX543MP, cũng như phần mềm LiveArea như giao diện người dùng chính của nó, hỗ trợ thành công XrossMediaBar. Trong tháng 5 năm 2013, Sony đã công bố rằng tất cả các trò chơi PlayStation 4 sẽ tương thích để được chơi thông qua Remote Play trên PlayStation Vita. == Tham khảo ==
djerma.txt
Djerma là một đô thị thuộc tỉnh Batna, Algérie. Dân số thời điểm năm 2002 là 3.063 người. == Tham khảo == == Xem thêm == “Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011.
dwight d. eisenhower.txt
Dwight David "Ike" Eisenhower (phiên âm: Ai-xen-hao; 14 tháng 10 năm 1890 – 28 tháng 3 năm 1969) là một vị tướng 5-sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944 – 1945 từ mặt trận phía Tây. Năm 1951, ông trở thành tư lệnh tối cao đầu tiên của NATO. Eisenhower, tên khai sinh là David Dwight Eisenhower, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1890 tại số 208 Đường Day, khu đông thành phố Denison, tiểu bang Texas. Ông là con trai thứ ba trong gia đình có 7 anh em, gốc Đức, Anh và Thụy Sĩ. Là một đảng viên Cộng hòa, Eisenhower bước vào cuộc đua tranh cử tổng thống năm 1952 đối đầu với chủ nghĩa cô lập của thượng nghị sĩ Robert A. Taft, và cái mà ông muốn đi đầu để đối phó là "chủ nghĩa cộng sản, Triều Tiên và tham nhũng". Ông thắng lớn, kết thúc hai thập niên kiểm soát Nhà Trắng của nhóm chính trị New Deal. Là tổng thống, Eisenhower đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân để buộc Trung Quốc đồng ý ngưng bắn trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Ông luôn gây sức ép với Liên Xô trong thời Chiến tranh lạnh, cho phép ưu tiên phát triển các loại vũ khí hạt nhân không tốn nhiều kinh phí và giảm các lực lượng khác để tiết kiệm tiền bạc. Ông đã phải chơi trò đuổi bắt trong cuộc chạy đua không gian sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik năm 1957. Về mặt trận trong nước, ông giúp loại Joe McCarthy khỏi quyền lực nhưng mặc khác bỏ đa số các vấn đề chính trị cho phó tổng thống của mình là Richard Nixon đối phó. Ông từ chối hủy bỏ chương trình New Deal nhưng thay vào đó lại mở rộng chương trình An sinh Xã hội và khởi sự Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang. Ông là tổng thống đầu tiên bị giới hạn nhiệm kỳ theo tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ. Các sử gia thường xếp hạng Eisenhower trong số 10 tổng thống hàng đầu của Hoa Kỳ. == Thời thơ ấu và gia đình == Eisenhower có tên khai sinh là David Dwight Eisenhower, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1890 tại số 208 Đường Day, khu đông thành phố Denison, Texas, là tổng thống đầu tiên sinh ra tại tiểu bang này. Ông là người con trai thứ ba trong số bảy anh em trai, có cha là David Jacob Eisenhower và mẹ Ida Elizabeth Stover, gốc Đức, Anh và Thụy Sĩ. Ngôi nhà nơi ông được sinh ra nay được dùng làm nhà lưu niệm lịch sử tiểu bang có tên gọi "Eisenhower Birthplace State Historic Site" do Ủy ban Lịch sử Texas điều hành hoạt động. Tên ông là David Dwight và mọi người thường gọi ông là Dwight. Ông chọn giữ thứ tự tên gọi của mình là Dwight thay vì là David khi ghi danh vào Học viện Quân sự West Point Hoa Kỳ. Tổ tiên bên nội của Eisenhower có thể được truy tìm nguồn gốc đến Hans Nicolas Eisenhauer là người có họ Đức với nghĩa là "thợ làm đồ sắt". Hans Eisenhauer và gia đình di cư từ Karlsbrunn (bây giờ là Saarland), Đức đến Lancaster, Pennsylvania năm 1741. Con cháu di chuyển về hướng tây. Gia đình của Eisenhower định cư tại Abilene, Kansas năm 1892. Cha của ông, David Eisenhower, là một kỹ sư có bằng đại học. Do hoàn cảnh nghèo khó, ngay từ nhỏ cậu bé Eisenhower đã phải cùng với các anh em phụ giúp công việc gia đình, tỉ như tham gia trồng rau cải. Lớn lên ông lại phải ra ngoài làm tạp dịch để kiếm sống. Điều này đã hình thành thói quen cần kiệm và ham lao động của vị tướng tương lai. Trong thời gian này có hai sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến Eisenhower. Năm 10 tuổi, do tức giận vì không được đi chơi Giáng sinh với một số bạn lớn tuổi hơn, cậu bé Eisenhower đã đấm liên tục vào thân cây cho đến chảy máu tay. Lúc đó mẹ ông đã khuyên rằng: tức giận là vô ích, những người có khả năng khống chế tình cảm của mình còn vĩ đại hơn cả những người khống chế một thành phố. Lời khuyên này đã ảnh hưởng lớn đến tính cách của Eisenhower và giúp ông rất nhiều trong việc tạo lập mối quan hệ tốt với đồng sự và giữ một hình ảnh cá nhân tốt đẹp trong mắt mọi người. Việc thứ hai là khi Eisenhower bị thương ở đầu gối lúc 15 tuổi. Vết thương nhiễm trùng và thầy thuốc đề nghị phải cưa bỏ chân, tuy nhiên Eisenhower thà chết chứ không muốn làm một kẻ tàn phế. Điều kỳ diệu là vết thương của ông phục hồi nhanh chóng sau đó. Ý chí kiên cường và tinh thần dũng cảm của Eisenhower đã bắt đầu bộc lộ trong hoàn cảnh này. Ông kết hôn với Mamie Geneva Doud (1896–1979), một cư dân của thành phố Boone, Iowa và là con gái của một đại phú thương tại thành Denver, Colorado, vào ngày 1 tháng 7 năm 1916. Chính nhờ cuộc hôn nhân tốt đẹp nên Dwight Eisenhower đã có một hậu phương vững chắc cho đời sống quân sự và chính trị của mình. Hai người có hai người con trai: Doud Dwight và John Sheldon Doud. Doud Dwight sinh ngày 24 tháng 9 năm 1917, và chết vì bệnh sốt đỏ ngày 2 tháng 1 năm 1921 lúc 3 tuổi. Con trai thứ hai của họ, John Sheldon Doud Eisenhower, sinh năm sau đó vào ngày 3 tháng 8 năm 1922; John phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ, về hưu với cấp bậc chuẩn tướng, trở thành nhà văn, và phục vụ trong vai trò đại sứ Mỹ tại Bỉ từ năm 1969 đến 1971. John tốt nghiệp West Point trùng hợp vào ngày D-Day 6 tháng 6 năm 1944 và kết hôn với Barbara Jean Thompson ngày 10 tháng 6 năm 1947. John và Barbara có bốn người con: Dwight David II "David", Barbara Ann, Susan Elaine và Mary Jean. David, tên được đặt cho Trại David, kết hôn với con gái của Tổng thống Richard Nixon là Julie năm 1968. === Giáo dục === Dwight D. Eisenhower học ở trường Trung học Abilene, thành phố Abilene, tiểu bang Kansas và tốt nghiệp năm 1909. Trong trường học, Eisenhower yêu thích nhất là môn lịch sử. Ông rất thích đọc các truyện ký về các vị anh hùng, các danh nhân quân sự thuở xưa; hai người ông hâm mộ nhất là Thống soái Hannibal Barca và Tổng thống Hoa Kỳ George Washington. Khi trưởng thành, Eisenhower vẫn còn nhớ rõ các chiến dịch quân sự quan trọng trong lịch sử. Bạn bè ông cho rằng Eisenhower sẽ trở thành giáo sư tại Đại học Yale. Tuy nhiên do gia cảnh khó khăn ông tạm nghỉ học để đi làm giúp người anh thứ hai có tiền học tiếp. Việc giúp đỡ lẫn nhau là một điểm đặc trưng trong gia đình của Eisenhower và đã giúp ích rất nhiều cho ông sau này. Lúc đó ông làm trưởng toán đêm trong hãng làm bơ Belle Springs. Sau khi làm việc hai năm để giúp anh của ông là Edgar học đại học, một người bạn đã hối thúc ông xin vào Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Eisenhower dễ dàng vượt qua kỳ thi tuyển vào Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Indianapolis. Tuy nhiên, do quá tuổi nên không được nhận vào trường và ông được Thượng nghị sĩ tiểu bang Kansas là Joseph L. Bristow giới thiệu vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, New York năm 1911. Những sự trắc trở trên con đường học vấn của Eisenhower vô hình trung đã đem lại cho nước Mỹ một danh tướng lục quân. Eisenhower ghi danh vào Học viên Quân sự Hoa Kỳ tại West Point tháng 6 năm 1911. Cha mẹ của ông là những người chống chủ nghĩa quân phiệt đã phản đối ông vào học viện West Point vì họ là những người tài trợ giáo dục cho ông. Eisenhower là một vận động viên mạnh mẽ và có được những thành công nổi bật trong các cuộc tranh tài thể thao. Tại West Point, Eisenhower học lý luận quân sự cùng với các giáo trình chung khác của bậc Đại học. Ông yêu thích nhất môn Toán và môn Sử, đặc biệt ông bộc lộ đầu óc thông minh trong môn Toán khi có những bài giải còn hay hơn cả đáp án trong sách vở. Đồng thời ông cũng rất yêu thích thể dục: Eisenhower là một trung vệ nổi tiếng trong bóng bầu dục ở năm thứ hai Đại học, mặc dù sau đó ông bị chấn thương đầu gối và phải bỏ môn này - một trúc trắc khác trên con đường sự nghiệp của Eisenhower đã giúp cho nước Mỹ không bị mất đi một danh tướng lục quân. Tuy nhiên, ít nhất môn thể thao này đã giúp Eisenhower hình thành tinh thần làm việc tập thể - một điều cực kỳ quan trọng đối với binh nghiệp của ông về sau. Nhìn chung, "danh tiếng" của Eisenhower rất cao trong trường West Point thông qua thái độ nhiệt tình, khoan dung và thân thiện của ông. Nhưng cá tính cứng rắn của Eisenhower đã khiến thành tích học tập và hạnh kiểm của ông không tốt lắm: ông tốt nghiệp năm 1915 chỉ với hạng 61 trong số 168 học sinh. Năm học 1915 được biết đến như là "năm học sao rơi xuống" vì 59 học viên lần lượt trở thành các sĩ quan cấp tướng. === Nghiệp thể thao === Tại West Point, Eisenhower không thành công khi thử thời vận với môn bóng chày. Sau này ông có nói rằng "không thành công với môn bóng chày tại West Point là một trong số những thất vọng lớn của tôi, có lẽ là sự thất vọng lớn nhất." Tuy nhiên, Eisenhower thành công với môn bóng bầu dục. Năm 1916, trong lúc đóng quân ở đồn Sam Houston, Eisenhower làm huấn luyện viên bóng bầu dục cho trường Đại học St. Louis, bây giờ là viện Đại học St. Mary. Trong cuộc đời sau này Eisenhower rất mê say môn golf và gia nhập Câu lạc bộ Golf Quốc gia Augusta năm 1948 sau khi được câu lạc bộ này mời tham dự khi ông viếng thăm nơi này lần đầu tiên. Ông chơi golf thường xuyên trong hai nhiệm kỳ tổng thống của mình, và cũng như sau khi về hưu. Ông có một sân chơi golf cơ bản được lập tại Trại David. == Khởi sự binh nghiệp == Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ vào năm 1915, thiếu úy Eisenhower nhận công tác đầu tiên ở đồn Sam Houston, tiểu bang Texas. Tại đây, ông dùng giờ rảnh chỉ vào hai việc: đi săn và làm huấn luyện viên môn bóng bầu dục. Ông phục vụ ngành bộ binh cho đến năm 1918 ở nhiều trại khác nhau trong tiểu bang Texas và Georgia. === Chiến tranh thế giới thứ nhất === Trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, Eisenhower là chỉ huy số 3 của binh chủng xe tăng mới thành lập và vươn lên cấp bậc tạm thời trong thời chiến là trung tá trong Lục quân Quốc gia. Điều này khiến ông hết sức phấn khởi, và ông đã dùng khả năng tổ chức của mình để giữ sĩ khí và tinh thần sẵn sàng chiến đấu của binh đoàn ở mức cao. Tuy nhiên, một lần nữa số phận đã khiến ông không được toại nguyện khi vào tháng 9 cùng năm, Eisenhower bị phái đi làm sĩ quan huấn luyện tại một doanh trại huấn luyện dành cho các sĩ quan ở tiểu bang Georgia. Sau đó mấy tháng ông lại được điều đến một doanh trại huấn luyện khác. Việc không được tham chiến đã khiến Eisenhower tiếc nuối rất nhiều, nhưng một lần nữa, chính sự trớ trêu của số phận đã làm lợi cho ông: Eisenhower có thể tránh được mặc cảm bắn giết vô tình trong hồi ức và có một đầu óc tỉnh táo khi bước vào công tác lãnh đạo ở thế chiến thứ hai. Và nhiệm vụ đã khiến ông có cơ hội tham gia xây dựng và quản lý hàng nghìn binh sĩ, tham gia soạn thảo và giám sát kế hoạch huấn luyện; những kinh nghiệm tích lũy được trong thời gian này rất có lợi cho sự nghiệp của ông về sau. Lại nói về những công tác của ông trong thời kỳ này: do tài tổ chức và khả năng nhận biết, tận dụng nhân tài cùng với thái độ quan tâm chăm sóc đối với các thuộc cấp, Eisenhower đã chiếm được cảm tình của các sĩ quan cấp trên lẫn cấp dưới. Một thời gian ngắn sau, ông được điều đi tổ chức đơn vị tăng thiết giáp đầu tiên của Hoa Kỳ. Đó là một công việc hoàn toàn mới mẻ trong tình hình ở Mỹ chưa có một chiếc xe tăng nào cũng như chưa có tài liệu hướng dẫn nào về huấn luyện binh sĩ xe tăng; tuy nhiên Eisenhower vẫn hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của mình. Vì vậy năm 1918 ông được thăng lên trung tá và nhận được một tấm huân chương. Ông được đánh giá là người khắc khổ, chịu khó, có khả năng dự kiến, tổ chức và huấn luyện sĩ quan. Đơn vị của ông cũng được khen tặng là một trong những đơn vị ưu tú nhất nước Mỹ. === Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất === ==== Thời gian khó khăn ==== Trong suốt chiến tranh, ông đào tạo các binh sĩ xe tăng tại Pennsylvania và chưa từng tham gia chiến đấu. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ nhanh chóng tài giảm binh bị và quân hàm tạm thời trong thời chiến của Eisenhower trong Lục quân Quốc gia bị quay trở về cấp bậc thường trực là đại úy trong Lục quân chính quy (vài ngày sau đó được thăng lên thiếu tá) trước khi nhận nhiệm vụ tại Trại Meade, tiểu bang Maryland, nơi ông ở đó cho đến năm 1922. Mặc dù quan chức thấp kém nhưng Eisenhower vẫn kiên trì bắt rễ vững chắc trong quân đội. Trong thời gian này ông cũng tích cực nghiên cứu các sách vở, tài liệu quân sự nói về lực lượng tăng thiết giáp. Sở thích của ông về chiến tranh xe tăng được củng cố trong những lần tiếp xúc nói chuyện với George S. Patton và các vị chỉ huy xe tăng cao cấp khác; tuy nhiên ý tưởng của họ về chiến tranh xe tăng không được các cấp chỉ huy cao cấp hơn khuyến khích. Với con mắt nhìn xa trông rộng, ông đã đoán biết được xe tăng và máy bay sẽ là hai lực lượng quan trọng bậc nhất trong chiến tranh sau này. Chính vì vậy ông chủ trương vứt bỏ những loại xe tăng chậm chạm yếu kém, thay vào đó là các loại tăng mạnh, nhanh, hỏa lực tốt. Tuy nhiên tư tưởng đúng đắn của Eisenhower đã bị viên tư lệnh bộ binh Hoa Kỳ lúc bấy giờ chỉ trích dữ dội, vì ông ta cho rằng thiết giáp là một vật tùy thuộc của bộ binh và không thể tùy tiện thay đổi. Một điều không may khác xảy ra với Eisenhower là người con trai đầu của ông, Doug Dwight bị bệnh sốt phát ban cướp đi sinh mạng vào năm 1921. Hai việc không may này khiến cho Eisenhower cảm thấy hết sức chán nản. ==== Làm việc dưới trướng Conner ==== Tuy nhiên vận rủi của Eisenhower không kéo dài lâu. Eisenhower trở thành sĩ quan hành chính cho tướng Fox Conner tại vùng kênh đào Panama nơi ông phục vụ đến năm 1924. Fox Conner là vị tướng có học thức vào hàng bậc nhất trong quân đội Hoa Kỳ và cũng là một trong những người mà Eishenhower cảm kích nhất. Chính Conner đã phát hiện ra tài năng của Eisenhower và dốc tâm bồi dưỡng cho ông. Conner cho rằng một cuộc chiến tranh lớn trong tương lai là điều không tránh khỏi, vì vậy ông cho rằng Eisenhower nên chuyên tâm tìm đọc thật nhiều sách vở quân sự. Đồng thời Conner khuyên Eisenhower nên tìm cách chen chân vào hàng ngũ nhân viên dưới quyền của George Catlett Marshall, lúc này đang là đại tá, vì ông thấy Marshall là người có đảm lược siêu việt. Những lời khuyên của Conner đã giúp ích rất nhiều cho Eisenhower sau này. Dưới sự giám hộ của Conner, ông học lịch sử và học thuyết quân sự (gồm có cuốn sách Vom Kriege của Karl von Clausewitz). Sau này tư tưởng quân sự của ông mang nặng ảnh hưởng của Conner. Năm 1925 – 1926, ông học Đại học Tư lệnh và Tham mưu ở Đồn Leavenworth, Kansas, và rồi phục vụ trong vai trò tư lệnh một tiểu đoàn ở Đồn Benning, tiểu bang Georgia cho đến năm 1927. ==== Làm việc dưới trướng Douglas MacAthur ==== Trong suốt cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, binh nghiệp của Eisenhower trong Lục quân thời bình dậm chân tại chỗ; nhiều bạn đồng đội của ông phải giải ngũ để tìm việc có lương cao hơn. Ông được thuyên chuyển đến Ủy ban Tượng đài Chiến tranh Mỹ do tướng John J. Pershing điều hành, rồi học Đại học Chiến tranh Lục quân, sau đó phục vụ trong vai trò sĩ quan hành chính cho tướng George V. Mosely, vị trợ tá của Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ từ năm 1929 đến 1933. Năm 1930, Eisenhower khởi thảo một kế hoạch động viên cho thời chiến, kế hoạch này được Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ Douglas MacArthur đánh giá rất cao. Chính vì vậy năm 1932, MacArthur - lúc này là Tham mưu trưởng lục quân Mỹ - đã bổ nhiệm Eisenhower làm trợ tá trưởng quân sự cho mình. Eisenhower đã làm việc dưới trướng của MacArthur suốt 7 năm. Trong thời gian này, MacArthur nổi tiếng là một kẻ ngạo mạn và bướng bỉnh, nhưng Eisenhower xem thủ trưởng của mình như một "ông thánh" quả đoán, học cao hiểu rộng. Chính lập trường cứng rắn và tính kiên định của MacArthur đã ảnh hưởng sâu sắc đến Eisenhower. Eisenhower cũng học được nhiều kinh nghiệm đáng quý về quản lý hành chính cùng với nhiều bài học về cách làm việc quá khích của thượng cấp mình. Về phía MacArthur, ông rất quan tâm và trân trọng một sĩ quan tài năng như Eisenhower. Trong một báo cáo giám định MacArthur đã nhận xét Eisenhower là sĩ quan tốt nhất trong quân đội và sẽ là quân nhân có địa vị lãnh đạo trong cuộc chiến tranh tương lai. Chính vì trân trọng tài hoa của Eisenhower, MacArthur đã nằng nặc kéo Eisenhower đi theo mình khi ông nhận lệnh bay sang Phillipines tổ chức lại quân đội vào năm 1936. Đôi khi người nói rằng chính nhờ sự điều động này mà nó đã mang lại cho ông sự chuẩn bị quý giá để giao tiếp với những cá nhân có cá tính đầy thử thách như Winston Churchill, George S. Patton và Bernard Law Montgomery trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Eisenhower được thăng cấp thường trực lên trung tá vào năm 1936 sau 16 năm với cấp bậc thiếu tá. Ông cũng học bay mặc dù ông chưa bao giờ được xếp loại là một phi công quân sự. Ông thực hiện một chuyến bay một mình trên Philippines năm 1937. Tuy nhiên, bản thân Eisenhower lại cho rằng trong thời gian tại Phillipines ông chỉ được học lái máy bay, được thăng lên trung tá và có thêm một ít kinh nghiệm về việc tiết giảm dự chi của quốc gia. Thêm vào đó, trong thời gian này mối quan hệ giữa Eisenhower và thủ trưởng MacArthur bắt đầu chuyển biến xấu đi. Chính vì thế, vào tháng 9 năm 1939, đúng lúc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Eisenhower rời Phillipines trở về nước Mỹ. Sau khi về nước, Dwight D. Eisenhower giữ nhiều chức vụ tham mưu tại Washington, D.C., California và Texas. Ông được bổ nhiệm trung đoàn phó trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 3. Sau đó ông trở thành tham mưu trưởng của sư đoàn 3 đóng tại Lewisburg. Tháng 3 năm 1941 Eisenhower được thăng lên đại tá. Tháng 6 năm đó ông được bổ nhiệm là tham mưu trưởng tập đoàn quân số 3 do mọi người tán thưởng tầm nhìn xa, tư tưởng tiến bộ và sự túc trí đa mưu của ông. Trong chức vụ mới này ông đã lãnh đạo thành công một cuộc diễn tập lớn của quân đoàn số 2 và số 3 tại Lousiana. Thành tích này đã khiến ông được phong chuẩn tướng và lọt vào mắt xanh của đại tướng bốn sao George Marshall, lúc này đang là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Ông được thăng cấp chuẩn tướng ngày 3 tháng 10 năm 1941. Tuy khả năng hành chính của ông nổi bật nhưng trong đêm trước ngày Hoa Kỳ tham dự vào Chiến tranh thế giới thứ hai ông vẫn chưa từng giữ một bộ tư lệnh tác chiến nào trên cấp tiểu đoàn và đừng nói chi đến việc được xem là một vị tư lệnh tiềm năng của các cuộc hành quân lớn. == Chiến tranh thế giới thứ hai == Sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Eisenhower được phái đến làm việc ở bộ tổng tham mưu tại Washington nơi ông phục vụ cho đến tháng 6 năm 1942 với trách nhiệm lập kế hoạch tác chiến chính để đánh bại Đức và Nhật Bản. Ông được bổ nhiệm phó tư lệnh đặc trách phòng thủ Thái Bình Dương dưới quyền của tư lệnh Bộ tham mưu Hoạch định Tác chiến (war plans division) là tướng Leonard T. Gerow, và sau đó thay thế Gerow làm tư lệnh Bộ tham mưu Hoạch định Tác chiến. Sau đó ông được bổ nhiệm là trợ tá tham mưu trưởng đặc trách Bộ tham mưu Hành quân dưới quyền của Tham mưu trưởng George C. Marshall là người tìm kiếm tài năng và thăng chức đúng cách. Năm 1942, Eisenhower được bổ nhiệm tướng tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu (European Theater of Operations) và đóng quân tại Luân Đôn. Tháng 11, ông cũng được Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh mới bổ nhiệm làm tư lệnh tối cao Lực lượng Viễn chinh Đồng minh cho Mặt trận Hành quân Bắc Phi. Từ "viễn chinh" bị loại bỏ ngay sau khi ông được bổ nhiệm vì các lý do an ninh. Tháng 2 năm 1943, quyền tư lệnh của ông được nới rộng là tư lệnh Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh băng ngang qua vùng lòng chảo Địa Trung Hải bao gồm cả Lục quân 8 của Anh do tướng Bernard Law Montgomery chỉ huy. Lục quân 8 của Hoa Kỳ tiến qua sa mạc phía tây từ phía đông và sẵn sàng mở Chiến dịch Tunisia. Eisenhower lấy được ngôi sao thứ tư của mình (tức lên đại tướng) và bỏ quyền làm tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu để làm tư lệnh Mặt trận hành quân Bắc Phi. Sau khi các lực lượng phe Trục bị đánh bại tại Bắc Phi, Eisenhower giám sát chiến dịch xâm chiếm Sicilia và đất liền Ý. Tháng 12 năm 1943, Roosevelt quyết định rằng Eisenhower - chứ không phải Marshall - sẽ là Tư lệnh Tối cao Đồng minh châu Âu. Tháng 1 năm 1944, ông tiếp nhận lại chức tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu và tháng tiếp theo ông được chính thức giao trọng trách làm Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh, phục vụ một lúc hai chức vụ cho đến khi kết thúc các cuộc kình địch tại châu Âu vào tháng 5 năm 1945. Với hai chức vụ này, ông đảm trách việc lập kế hoạch và tiến hành cuộc tiến công đổ bộ trên duyên hải Normandy vào tháng 6 năm 1944 dưới mật danh Chiến dịch Overlord, giải phóng tây Âu và xâm chiếm Đức. Một tháng sau cuộc đổ bộ D-Day trên duyên hải Normandy ngày 6 tháng 6 năm 1944, cuộc xâm chiếm miền nam nước Pháp bắt đầu và quyền nắm các lực lượng tham chiến trong cuộc xâm chiếm miền nam được chuyển từ Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh sang Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh. Từ đó cho đến khi kết thúc chiến tranh tại châu Âu ngày 8 tháng 5 năm 1945, Eisenhower với tư cách là Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh đã nắm trong tay bộ tư lệnh tối cao gồm tất cả các lực lượng tác chiến của đồng minh2, và với tư cách tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu (tên gọi riêng cho lực lượng Hoa Kỳ tại Mặt trận phía Tây), ông nắm quyền điều hành tất cả các lực lượng Mỹ trên Mặt trận phía Tây, nằm về phía bắc dãy Alps. Ngày 20 tháng 12 năm 1944, để công nhận chức vụ cao cấp của ông trong Bộ tư lệnh Đồng minh, ông được thăng chức thống tướng, tương đương với cấp bậc thống chế của phần lớn lục quân châu Âu. Trong chức vụ này và các chức vụ tư lệnh cao trước đây, Eisenhower đã chứng tỏ được tài năng lãnh đạo và ngoại giao rất lớn của mình. Mặc dù ông chưa từng ra chiến trường nhưng ông đã nhận được sự nể trọng của các vị tư lệnh ở tiền tuyến. Ông giao tiếp khéo léo với những thuộc cấp khó khăn như George S. Patton, và các đồng minh như Winston Churchill, Thống chế Bernard Montgomery và Đại tướng Charles de Gaulle. Ông có bất đồng cơ bản với Churchill và Montgomery về các vấn đề chiến lược nhưng những vấn đề này hiếm khi làm phương hại đến mối quan hệ của ông với họ. Ông đã thương thảo với Nguyên soái Zhukov của Liên Xô, và vì thế chiếm được sự tin tưởng mà Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã đặt vào ông. Chiến dịch Overlord chưa bao giờ được nghĩ chắc chắn là sẽ thành công. Sự nghiêm trọng xoay quanh toàn bộ quyết định trong đó có thời điểm và vị trí của cuộc đổ bộ trên Normandy có lẽ đã được tóm tắt trong một bài diễn văn thứ hai ngắn hơn mà Eisenhower đã viết sẵn trong trường hợp ông cần đến nó. Sau cuộc đổ bộ thành công trong ngày D-Day và đài BBC phát thanh bài diễn văn ngắn của Eisenhower có liên quan đến cuộc đổ bộ thì một bài diễn văn thứ hai không bao giờ được dùng đến đã được một trợ tá tìm thấy trong một túi áo. Nó được viết như sau: Cuộc đổ bộ của chúng ta lên vùng Cherbourg-Havre đã thất bại để giành lấy một vị trí vững chắc vừa ý và tôi đã ra lệnh rút quân. Quyết định tấn công của tôi vào thời điểm và vị trí này là dựa vào những thông tin có sẵn tốt nhất. Các binh sĩ bộ binh, không quân và hải quân đã làm tốt trách nhiệm với lòng can đảm và tận tụy của mình như có thể. Nếu có gì đáng trách hay lỗi lầm gì có liên quan đến cuộc tấn công này thì đó chính là do mình tôi. == Kết cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai == === Chiếm đóng nước Đức === Sau khi Đức đầu hàng vô điều kiện ngày 8 tháng 5 năm 1945, Eisenhower được bổ nhiệm là thống đốc quân sự vùng chiếm đóng của Hoa Kỳ tại Đức với căn cứ đặt tại Frankfurt am Main. Ông không có trách nhiệm đối với ba vùng chiếm đóng khác do Pháp, Anh và Liên Xô kiểm soát. Sau khi phát hiện các trại tử thần của phát xít Đức, ông ra lệnh cho đội quay phim ghi hình để thu thập bằng chứng diệt chủng để sử dụng trong các phiên tòa truy tố các tội phạm chiến tranh. Ông quyết định tái xếp loại tù binh chiến tranh Đức đang bị Hoa Kỳ giam giữ thành "các lực lượng địch bị giải giới". Vì sự tàn phá của nước Đức sau chiến tranh, ông phải đối phó với sự khan hiếm lương thực trầm trọng và một dòng người tỵ nạn khổng lồ bằng việc phân phát đồ tiếp liệu y tế và thực phẩm của Mỹ. Hành động của ông phản ánh thái độ thay đổi của người Mỹ từ thái độ xem nhân dân Đức là những kẻ côn đồ thành những nạn nhân của chủ nghĩa phát xít trong lúc đó ra tay rất mạnh bạo để thanh trừng những người cựu phát xít. Tháng 11 năm 1945 Eisenhower chấp thuận phân phát 1000 bản miễn phí sách của Henry Morgenthau, Jr. có tựa đề Germany is Our Problem (Nước Đức là vấn đề của chúng ta) để cổ vũ và mô tả chi tiết cho Kế hoạch Morgenthau đến các giới chức quân sự Mỹ tại nước Đức bị chiếm đóng. Stephen Ambrose rút ra kết luận rằng mặc dù sau này Eisenhower tuyên bố rằng hành động này không phải là một sự tán thành kế hoạch Morgenthau nhưng việc Eisenhower chấp thuận kế hoạch và trước đó đã cho Morgenthau ít nhất một số ý tưởng của mình về cách nên xử sự thế nào với nước Đức. Theo Vladimir Petrov, Eisenhower cũng nhập các giới chức ngân khố của Morgenthau vào trong lục quân chiếm đóng. Những giới chức này thường được gọi là "Morgenthau boys" (đám nhỏ của Morgenthau) vì sự nhiệt thành của họ trong việc diễn giải chỉ thị chiếm đóng JCS 1067 nghiêm ngặc như có thể. Lệnh này bị bãi bỏ vào tháng 7 năm 1947. Phó tướng và sau đó thay thế Eisenhower tại Đức là tướng Lucius D. Clay nhận xét; "không nghi ngờ rằng chỉ thị JCS 1067 đã dự tính cho "nền hòa bình Carthaginia" (có nghĩa dàn xếp hòa bình một cách vội vã và nhằm thuyết phục những người yếu thế của phe thất trận) mà đã chiếm hết các hoạt động của chúng tôi tại Đức trong suốt những tháng đầu chiếm đóng." Các lực lượng chiếm đóng của Hoa Kỳ và gia đình của họ được lệnh nghiêm ngặc là không được chia sẻ lương thực của họ với dân chúng Đức, lương thực còn dư "phải bị hủy bỏ hoặc là làm sao để khỏi ăn được". Những nỗ lực của các cơ quan cứu trợ nhằm gửi lương thực đến Đức đều bị từ chối theo "đạo luật trao đổi với kẻ thù" nhưng vào tháng 1 năm 1946, sau khi được phép của Tổng thống Truman, Eisenhower cho phép hội hồng thập tự Thụy Điển gửi thực phẩm đến trẻ em Đức. === Tham mưu trưởng === Tháng 11 năm 1945, Eisenhower trở về Washington để thay tướng Marshall làm Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Vai trò chính của ông là nhanh chóng tháo gỡ lệnh tổng động viên cho hàng triệu binh sĩ, một công việc chậm chạp vì thiếu tàu vận chuyển. Khi căng thẳng giữa Đông và Tây trên vấn đề nước Đức và Hy Lạp leo thang, Eisenhower tin tưởng mãnh liệt vào năm 1946 rằng Liên Xô không muốn chiến tranh và rằng các mối quan hệ thân thiện có thể được duy trì; ông mạnh mẽ ủng hộ Liên Hiệp Quốc mới. Tuy nhiên, để thảo ra chính sách có liên quan đến bom nguyên tử cũng như về phía Liên Xô, Tổng thống Truman lắng nghe Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và phớt lờ Eisenhower và toàn bộ Lầu Năm Góc. Giữa năm 1947 Eisenhower quay hướng về chính sách kiềm chế để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô. === Đại học Columbia và NATO === Năm 1948, Eisenhower trở thành Chủ tịch Đại học Columbia, một đại học tư tại New York; đấy không phải là một chức vụ hợp với ông. Tháng 12 năm 1950, ông rời chức vụ trường đại học khi trở thành Tư lệnh Tối cao của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), và được giao Bộ tư lệnh các lực lượng NATO tại châu Âu. Eisenhower giải ngũ vào ngày 31 tháng 5 năm 1952, và nhận lại chức vụ chủ tịch đại học mà ông tiếp tục giữ cho đến tháng 1 năm 1953. Năm 1948 cũng là năm hồi ký của ông "Crusade in Europe" (Cuộc Thập tự chinh ở châu Âu) được phát hành. Theo Tự điển Bách khoa Britannica online, tác phẩm này đã mang đến sự thành công lớn về tài chính cho ông. === Bước vào chính trường === Không lâu sau khi ông trở về năm 1952, một phong trào trong Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ có tên là "Draft Eisenhower" (tuyển mộ Eisenhower) đã thuyết phục ông tuyên bố ứng cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1952 đối lại với chủ nghĩa không can thiệp của Thượng nghị sĩ Robert Taft (Eisenhower đã từng được cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa ve vãn vào năm 1948 nhưng ông từ chối ra tranh cử vào lúc đó). Eisenhower đánh bại Taft giành quyền đề cử của Đảng Cộng hòa cho cuộc tổng tuyển cử toàn quốc nhưng với một thỏa thuận rằng Thượng nghị sĩ Taft sẽ phải đứng ngoài những vấn đề ngoại vụ trong lúc Eisenhower theo đuổi một chính sách đối nội bảo thủ. Chiến dịch vận động tranh cử của Eisenhower nổi bật với khẩu hiệu đơn giản nhưng hữu hiệu là "I Like Ike" (có nghĩa "tôi thích Ike", Ike biệt danh ngắn gọn của ông) và là một chiến dịch lớn chống các chính sách của Chính phủ Truman liên quan đến "Triều Tiên, chủ nghĩa cộng sản và tham nhũng." Tổng thống Truman, trước đây là 1 người bạn của Eisenhower, sẽ mãi không bao giờ tha thứ cho Eisenhower vì đã không lên tiếng chỉ trích Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy trong suốt cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1952. Truman nói rằng ông trước đây đã từng nghĩ Eisenhower sẽ là một tổng thống vĩ đại nhưng "ông ấy đã phản bội gần như mọi thứ mà tôi nghĩ ông ấy từng tranh đấu cho." Trong suốt chiến dịch vận động tranh cử, Eisenhower hứa tự mình đi Triều Tiên và kết thúc chiến tranh tại đó. Ông cũng hứa duy trì một sự ràng buộc mạnh mẽ của NATO chống lại chủ nghĩa cộng sản và một bộ máy hành chính cần kiệm không tham nhũng tại quốc nội. Ông và người phó đứng chung liên danh tranh cử là Richard Nixon (là người có con gái kết hôn với cháu nội của Eisenhower tên David) đã đánh bại liên danh tranh cử của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ là Adlai Stevenson và John Sparkman bằng một chiến thắng lớn lao. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ trở lại nắm Nhà Trắng sau 20 năm, và Eisenhower trở thành vị tổng thống cuối cùng sinh trong thế kỷ 19. Eisenhower, lúc đó 62 tuổi, là người già nhất được bầu làm tổng thống kể từ khi James Buchanan được bầu năm 1856. Eisenhower là vị tướng duy nhất phục vụ trong chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, và là tổng thống gần đây nhất chưa từng giữ một chức vụ dân cử trước khi làm tổng thống. Các tổng thống khác của Hoa Kỳ chưa từng ra tranh cử một chức vụ dân cử nào trước khi làm tổng thống là Zachary Taylor, Ulysses S. Grant, William Howard Taft, và Herbert Hoover. == Vai trò tổng thống 1953–1961 == Suốt thời làm tổng thống, Eisenhower luôn rao giảng một học thuyết về chủ nghĩa bảo thủ năng động. Ông tiếp tục tất cả các chương trình New Deal chính còn dở dang, đặc biệt là chương trình An sinh Xã hội. Ông mở những chương trình của nó và đưa chúng vào một cơ quan mới cấp nội các, đó là Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Hoa Kỳ trong khi đó nới rộng phúc lợi cho thêm 10 triệu công nhân. Nội các của ông gồm có một số giới chức hành chính công ty và một lãnh đạo công đoàn được một nhà báo đặt cho biệt danh là "8 triệu phú và một thợ ống nước." Eisenhower tái trúng cử tổng thống nhiệm kỳ hai năm 1956, giành 457 trong số 531 phiếu đại cử tri đoàn và 57,6% phiếu phổ thông. === Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang === Một trong những thành tựu dài hạn của Eisenhower là tiên phong cổ vũ và ký đạo luật ra lệnh xây dựng Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang năm 1956. Ông biện minh kế hoạch này là thiết yếu đến an ninh của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh. Lúc đó người ta tin rằng các thành phố lớn của Hoa Kỳ có thể sẽ là các mục tiêu trong một cuộc chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai, và vì vậy hệ thống xa lộ này được thiết kế để di tản họ và giúp quân đội tới được các thành phố. Mục đích Eisenhower xây các xa lộ cải tiến này bị ảnh hưởng bởi những năm tháng ông phục vụ trong binh đoàn vận tải cơ giới liên lục địa của Lục quân Hoa Kỳ vào năm 1919. Lúc đó ông được điều động làm quan sát viên cho nhiệm vụ mà gồm có việc phái một đoàn xe của Lục quân Hoa Kỳ đi từ duyên hải bên này sang duyên hải phía bên kia nước Mỹ. Kinh nghiệm sau đó của ông về hệ thống xa lộ autobahn của Đức trong thờiChiến tranh thế giới thứ hai cũng đã thuyết phục ông về lợi ích của một hệ thống xa lộ liên tiểu bang. Nhận thấy khả năng cải thiện trong việc di chuyển đồ tiếp liệu xuyên suốt đất nước, ông nghĩ rằng một Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang tại Hoa Kỳ không chỉ có lợi cho các hoạt động quân sự mà còn là những nền tảng xây dựng cần cho sự phát triển kinh tế đất nước. === Trung Đông === Ngay sau khi nhậm chức, chính phủ Eisenhower chấp thuận cho phép Cục tình báo trung ương Mỹ lật đổ chính phủ dân cử của Thủ tướng Mohammad Mosaddegh ở Iran. Cuộc đảo chính này được thực hiện xong vào ngày 19 tháng 8 năm 1953. Ngày 15 tháng 12 năm 1954 Eisenhower ký một bản ghi nhớ trao tặng Huân chương An ninh Quốc gia cho nhân viên CIA là Kermit Roosevelt, đây là huân chương cao nhất của Hoa Kỳ dành cho các nhân viên hoạt động trong lĩnh vực an ninh vì vai trò của ông trong cuộc đảo chính. và đến ngày 24 tháng 3 năm 1955, Eisenhower trao cho Kermit Roosevelt, cháu nội của cố Tổng thống Theodore Roosevelt huân chương vừa nói trên trong một buổi lễ đặc biệt tại Nhà Trắng với sự hiện diện của cả hai anh em nhà Dulles (Allen Dulles là giám đốc CIA và John Foster Dulles là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ vào lúc đó) và Đại sứ Hoa Kỳ tại Iran là Loy Henderson. ==== Học thuyết Eisenhower ==== Sau cuộc Khủng hoảng Suez năm 1956, Hoa Kỳ trở thành quốc gia bảo vệ phần lớn những lợi ích của phương Tây tại Trung Đông. Kết quả là, Eisenhower công bố "Học thuyết Eisenhower" vào tháng 1 năm 1957. Để trả đũa Trung Đông, Hoa Kỳ sẽ "chuẩn bị sử dụng lực lượng vũ trang...để chống lại sự khiêu khích từ bất cứ quốc gia nào bị chủ nghĩa cộng sản quốc tế kiềm chế." Học thuyết Eisenhower năm 1957 tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ phân phối viện trợ quân sự và kinh tế và, nếu cần thiết, sẽ sử dụng lực lượng quân sự ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản tại Trung Đông. Eisenhower thấy khó khăn để thuyết phục các quốc gia Ả Rập hàng đầu hay Israel tán thành mục đích hay sự hữu dụng của học thuyết này. Tuy nhiên, ông đã dùng học thuyết này năm 1957- 1958 bằng cách tung viện trợ kinh tế để củng cố mối quan hệ với Vương quốc Jordan, và bằng cách khuyến khích các quốc gia lân bang của Syria xem xét đến các hoạt động quân sự chống lại Syria. Hơn thế nữa, tháng 7 năm 1958, ông phái chừng dưới 15.000 thủy quân lục chiến và binh sĩ khác đến Liban như một phần của Chiến dịch Blue Bat, một sứ mệnh gìn giữ hòa bình không tác chiến để củng cố chính phủ thân Tây phương và ngăn chặn một cuộc cách mạng cấp tiến không cho nó tràn ngập quốc gia Liban. Các binh sĩ này rời khỏi vào tháng 10 năm 1958. Học thuyết này bao gồm một sự ràng buộc lớn của Hoa Kỳ đối với nền an ninh và ổn định của Trung Đông và tỏ dấu hiệu một cấp bậc mới giải quyết vấn đề của Hoa Kỳ nhằm áp đặt ảnh hưởng của mình trong các vấn đề quốc tế. Qua việc công bố học thuyết này, Eisenhower đã làm tăng thêm viễn cảnh rằng Hoa Kỳ sẽ chiến đấu tại Trung Đông và chấp nhận những trách nhiệm trong vùng này mà Hoa Kỳ sẽ duy trì hàng thập niên sắp tới. === Việt Nam === Người Pháp đã yêu cầu Dwight D. Eisenhower giúp đỡ tại Đông Dương thuộc Pháp để chống phe Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Trung Quốc tiếp tế trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Năm 1953, Eisenhower phái Trung tướng John W. "Iron Mike" O'Daniel đến Việt Nam để nghiên cứu tình hình và "đánh giá" các lực lượng Pháp ở đó. Tham mưu trưởng Matthew Ridgway đã làm nản lòng Tổng thống bằng việc đệ trình lên ông một bản ước tính chi tiết về một lực lượng quân sự khổng lồ cần phải khai triển cho cuộc chiến. Tuy nhiên sau đó vào năm 1954, Eisenhower đã viện trợ kinh tế và quân sự cho quốc gia Việt Nam Cộng hòa mới được thành lập. Trong những năm theo sau đó, con số các cố vấn quân sự Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam gia tăng vì miền Bắc Việt Nam tăng viện cho "cuộc nổi dậy" ở miền Nam và vì lo sợ rằng Nam Việt Nam sẽ bị sụp đổ. Khi Chiến tranh lạnh gia tăng, Bộ trưởng Ngoại giao của Eisenhower là John Foster Dulles tìm cách cô lập Liên bang Xô viết bằng cách xây dựng các nhóm đồng minh vùng gồm các quốc gia chống lại Liên Xô. Nỗ lực của ông đôi khi được gọi là "pacto-mania". === Các vấn đề chủng tộc === Tháng 10 năm 1952, chính phủ Eisenhower tuyên bố kỳ thị chủng tộc là một vấn đề an ninh quốc gia, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản khắp thế giới đang sử dụng nạn kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ làm một điểm tấn công tuyên truyền của họ. Một ngày sau khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra quyết định của mình trong vụ án Brown đối đầu với Ban Giáo dục thành phố Topeka mà trong vụ án này các trường học tách ly chủng tộc (tách ly nhưng được đối xử công bằng) bị tuyên án là bất hợp hiến, Eisenhower bảo các viên chức Đặc khu Columbia biến thành phố Washington thành một kiểu mẫu cho toàn quốc noi gương bằng cách hội nhập tất cả các trẻ em da trắng và đen ở các trường công lập lại với nhau. Ông trình lên Quốc hội Hoa Kỳ Đạo luật Nhân quyền 1957 và Đạo luật Nhân quyền 1960 và ký các đạo luật này thành luật. Mặc dù cả hai đạo luật này yếu kém hơn so với luật nhân quyền sau này nhưng chúng đã tạo ra những đạo luật nhân quyền nổi bật đầu tiên kể từ khi Đạo luật Nhân quyền 1875 được Tổng thống Ulysses S. Grant ký thành luật. Sự kiện "Little Rock Nine" năm 1957 (9 học sinh ở thành phố Little Rock) xảy ra khi tiểu bang Arkansas không tuân theo lệnh tòa án liên bang hội nhập và hòa đồng lại tất cả học sinh của tất cả các chủng tộc tại các trường học. Theo lệnh hành pháp 10730, Eisenhower đặt Vệ binh Quốc gia của tiểu bang Arkansas dưới quyền kiểm soát của liên bang và đưa binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ đến để hộ tống 9 học sinh da đen vào trường Trung học Little Rock, một trường công lập toàn da trắng. Việc hội nhập hòa đồng chủng tộc được thực hiện nhưng không phải là không có bạo động. Eisenhower và Thống đốc tiểu bang Arkansas Orval Faubus đã lâm vào những trận tranh cãi dữ dội. === Bổ nhiệm quan chức tư pháp === Eisenhower đã bổ nhiệm các thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ sau đây: Earl Warren, 1953 (thẩm phán trưởng) John Marshall Harlan II, 1954 William J. Brennan, 1956 Charles Evans Whittaker, 1957 Potter Stewart, 1958 Ngoài ra năm thẩm phán Tối cao Pháp viện, Eisenhower đã bổ nhiệm 45 thẩm phán cho các Tòa án Thượng thẩm Hoa Kỳ và 129 thẩm phán cho các toàn án khu vực của Hoa Kỳ. === Các tiểu bang mới gia nhập liên bang === Alaska – ngày 3 tháng 1 năm 1959 tiểu bang thứ 49 Hawaii – ngày 21 tháng 8 năm 1959 tiểu bang thứ 50 === Các vấn đề sức khỏe === Có lẽ Eisenhower là tổng thống đầu tiên cho phép công bố các vấn đề sức khỏe cá nhân của tổng thống khi đang tại chức. Tháng 9 năm 1955, trong lúc đi nghỉ ở Colorado, ông bị lên cơn đau tim trầm trọng mà cần phải nằm bệnh viện vài tuần. Ông được bác sĩ giải phẫu tim mạch nổi tiếng quốc gia là Paul Dudley White điều trị và thường xuyên được vị bác sĩ này thông báo tiến triển sức khỏe của ông đến giới báo chí. Vì cơn đau tim này mà cơ thể Eisenhower phát triển chứng phình mạch tâm thất trái mà dần dần là nguồn gốc của lần đột quy tháng 11 năm 1957. Tổng thống cũng bị mắc chứng bệnh viêm ruột cần giải phẫu vào tháng 6 năm 1956. May thay, ba năm cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình, sức khỏe của Eisenhower tương đối là tốt. Tuy nhiên, sau này khi rời Nhà Trắng, ông bị thêm một vài lần nhồi máu cơ tim và sau cùng thân thể bị liệt vì chúng. === Mãn nhiệm tổng thống === Năm 1961, Eisenhower trở thành vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên "bị bắt buộc theo hiến pháp" rời khỏi chức tổng thống khi đã phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ mà tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép. Tu chính án này được thông qua năm 1951 trong nhiệm kỳ của Tổng thống Harry S. Truman nhưng quy định của tu chính án không ảnh hưởng đối với Truman vì nó đặc biệt miễn trừ cho tổng thống đương nhiệm vào lúc nó được đề nghị bởi Quốc hội Hoa Kỳ. Eisenhower cũng là tổng thống mãn nhiệm đầu tiên được bảo vệ theo Đạo luật Cựu Tổng thống; hai cựu tổng thống Hoa Kỳ còn sống vào lúc đó là Herbert Hoover và Harry S. Truman rời nhiệm sở trước khi đạo luật này được thông qua. Chiếu theo đạo luật này, Eisenhower được hưởng lương hưu bổng suốt đời, có một ban nhân viên do chính phủ cung cấp và được sở mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ. Trong cuộc bầu cử tổng thống để chọn người kế vị ông, Eisenhower ủng hộ phó tổng thống của mình là đảng viên Cộng hòa Richard Nixon đối đầu với đảng viên Dân chủ John F. Kennedy. Ông hết mực ủng hộ Nixon và nói với bạn bè rằng: "tôi sẽ làm gần như mọi cách để tránh đưa cái ghế của tôi và quốc gia này cho Kennedy." Tuy nhiên, ông chỉ tham gia vận động cho Nixon trong những ngày cuối cùng của chiến dịch vận động tranh cử và thậm chí ông đã làm một số điều bất lợi cho Nixon. Thí dụ, khi được phóng viên báo chí hỏi vào lúc cuối cuộc họp báo được truyền hình là ông hãy nêu ra một trong các ý tưởng về chính sách của Nixon mà ông đã chấp nhận thì ông cười đùa như sau: "Nếu ông cho phép tôi một tuần thì tôi có lẽ sẽ nghĩ ra một." Chiến dịch vận động tranh cử của Kennedy đã sử dụng câu nói này để chống lại cuộc vận động tranh cử của Nixon. Nixon thua khít khao trước Kennedy. Eisenhower, người già nhất được bầu làm tổng thống (và là tổng thống già nhất) trong lịch vào lúc đó, như thế đã trao quyền lực cho tổng thống đắc cử trẻ nhất. Ngày 17 tháng 1 năm 1961, Eisenhower đọc bài diễn văn cuối cùng được truyền hình trên toàn quốc từ văn phòng bầu dục. Trong bài diễn văn từ biệt, Eisenhower nêu lên vấn đề Chiến tranh lạnh và vai trò của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Ông diễn tả Chiến tranh lạnh qua lời nói như sau: "Chúng ta đối diện một hệ tư tưởng thù địch, toàn cầu trong phạm vi, vô thần trong bản chất, tàn bạo trong chủ tâm và xảo quyệt trong phương sách..." và cảnh báo về cái mà ông thấy như là những đề nghị chi tiêu không chính đáng của chính phủ và ông tiếp tục với một lời cảnh báo khác là "chúng ta phải phòng ngừa chống lại việc mua ảnh hưởng không chính đáng, cho dù được tìm đến hay không được tìm đến, bởi cái mối liên hệ phức tạp giữa quân sự và công nghiệp quân sự... Tiềm năng trỗi dậy tai hại của thứ quyền lực không đúng chỗ vẫn tồn tại và sẽ dai dẳng... Chỉ có sự cảnh giác và hiểu biết của công chúng mới có thể bắt buộc được một sự hài hoà thích hợp của bộ máy quân sự và công nghiệp quốc phòng khổng lồ theo phương thức và mục tiêu hòa bình của chúng ta để nền tự do và an ninh của chúng ta có thể phồn thịnh cùng với nhau." Vì vấn đề pháp lý liên quan đến việc giữ một cấp bậc quân sự trong lúc tại chức với một chức vụ dân sự, Eisenhower đã phải từ chức thống tướng lục quân trước khi nhận chức Tổng thống Hoa Kỳ. Sau khi mãn nhiệm tổng thống, sự ủy nhiệm quân sự của ông trên danh sách hồi hưu được tái phục hồi và Eisenhower được ủy nhiệm trở lại là một vị tướng 5-sao trong Lục quân Hoa Kỳ. == Sau khi mãn nhiệm tổng thống == Eisenhower trở về sống cuộc đời hồi hưu nơi ông và Mamie đã từng sống trong khoảng thời gian dài sau chiến tranh. Đó là một nông trại nằm gần cạnh bãi chiến trường Gettysburg, Pennsylvania. Năm 1967, gia đình Eisenhower quyên tặng nông trại này cho Sở Công viên Quốc gia Hoa Kỳ và từ năm 1980 nó được mở cửa cho công chúng với tên gọi Khu Lịch sử Quốc gia Eisenhower. Lúc hồi hưu, ông không hoàn toàn rút khỏi cuộc đời chính trị; ông đã diễn thuyết tại Hội nghị Quốc gia Đảng Cộng hòa năm 1964 và xuất hiện cùng với Barry Goldwater trong chương trình quảng cáo thương mại tranh cử của đảng Cộng hòa từ Gettysburg. === Qua đời và tang lễ === Dwight D. Eisenhower qua đời vì bị suy tim ứ huyết ngày 28 tháng 3 năm 1969 tại Bệnh viện Lục quân Walter Reed ở Washington D.C. Ngày hôm sau, xác của ông được đưa đến khu cầu nguyện Bethlehem của Nhà thờ Quốc gia Washington và được đặt ở đó trong 28 tiếng đồng hồ. Ngày 30 tháng 3, xác của ông được đưa đến Tòa Quốc hội Hoa Kỳ và được đặt yên tại mái vòm chính của tòa nhà. Ngày 31 tháng 3, xác của Eisenhower được đưa trở về Nhà thờ Quốc gia Washington - nơi tiến hành lễ tang cho ông. Chiều hôm đó, xác ông được đặt lên một chuyến xe lửa trên đường đến thành phố Abilene, Kansas. Xác ông đến đó ngày 2 tháng 4 và được mai táng vào cuối ngày hôm đó trong một nhà thờ nhỏ trên khu đất Thư viện Tổng thống Eisenhower. Eisenhower được chôn gần bên người con trai của ông mất lúc 3 tuổi vào năm 1921, và sau này vợ ông là Mamie cũng được chôn cất gần ông vào năm 1979. Richard Nixon nói về cái chết của Eisenhower như sau: === Di sản === Sau khi Eisenhower rời chức vụ tổng thống, thanh danh của ông xuống thấp và người ta nhận thấy ở ông, một vị tổng thống "không có làm gì cả". Một phần là vì sự tương phản giữa Eisenhower và người kế nhiệm trẻ tích cực hoạt động là John F. Kennedy. Mặc dù việc sử dụng (chưa từng có trước đây) các binh sĩ Lục quân để cưỡng bách lệnh liên bang bãi bỏ việc tách ly chủng tộc tại trường Trung học Little Rock, Eisenhower bị chỉ trích vì do dự không ủng hộ phong trào nhân quyền đến cấp độ mà những nhà hoạt động nhân quyền khác mong muốn. Eisenhower cũng bị chỉ trích vì việc xử lý sự kiện U-2 năm 1960 (U-2 bị bắn rơi trên bầu trời Liên Xô) và bị mất mặt với quốc tế, việc Liên bang Xô viết dẫn đầu thấy rõ trong cuộc chạy đua không gian, và ông không chống đối chủ nghĩa McCarthy một cách công khai. Đặc biệt, Eisenhower bị chỉ trích vì không bênh vực được cho George Marshall trong những cuộc tấn công từ phía Joseph McCarthy mặc dù cá nhân ông phản đối những tuyên bố và chiến thuật của McCarthy. Những khiếm khuyết này được đưa ra để chống ông trong thời khí thế của chủ nghĩa tự do lên cao trong thập niên 1960 và thập niên 1970. Tuy nhiên từ đó, thanh danh của Eisenhower lên cao trở lại. Trong những cuộc thăm dò vừa qua của các sử gia, Eisenhower thường được xếp hạng trong số 10 vị tổng thống hàng đầu của Hoa Kỳ từ xưa đến nay. Mặc dù chủ nghĩa bảo thủ đang lên cao trào trong thập niên 1950 và Eisenhower chia sẻ cái cảm giác này nhưng chính phủ của ông đã thực hiện một vai trò rất ôn hòa trong việc làm thay đổi bức tranh chính trị. "Những chiến thắng của Eisenhower", theo Hans Morgenthau, "là không gì khác hơn ngoài những sự cố không để lại hậu quả trong lịch sử của Đảng Cộng hòa." Eisenhower là tổng thống đầu tiên thuê mướn một "Tham mưu trưởng Nhà Trắng" (từ tiếng Anh "Chief of Staff" thường được gọi trong tiếng Việt là "trưởng hay chánh văn phòng Nhà Trắng") hay "người gác cổng" – một ý nghĩ mà ông đã mượn từ Lục quân Hoa Kỳ là chức vụ Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Sau này tất cả các tổng thống Hoa Kỳ từ sau thời Tổng thống Lyndon Johnson đều bắt chước theo. Jimmy Carter ban đầu có ý định không dùng đến một "tham mưu trưởng" nhưng cuối cùng phải từ bỏ ý nghĩ đó và thuê mướn một người. Dwight D. Eisenhower thành lập tổ chức "People to People International" năm 1956, dựa theo niềm tin của ông là sự tiếp xúc giữa các công dân với nhau sẽ thúc đẩy tiếp xúc văn hóa và hòa bình thế giới. Chương trình này gồm có một bộ phận thành phần đại sứ sinh viên mà sẽ gửi thanh niên Mỹ trong những chuyến đi học tập đến các quốc gia khác. Eisenhower là tổng thống đầu tiên xuất hiện trên truyền hình màu. Ông được thu hình khi nói chuyện tại buổi lễ ra mắt phòng thu mới của đài truyền hình WRC-TV tại Washington, D.C., vào ngày 22 tháng 5 năm 1958. Băng thu hình được cất giữ và được tin là băng thu hình màu xưa nhất còn tồn tại.[1] == Chỉ trích == Trong cuốn sách Other Losses xuất bản năm 1989, nhà văn Canada James Bacque gây tranh cãi khi cho rằng Eisenhower đã có chủ tâm tạo ra cái chết của 790.000 tù nhân người Đức trong các trại tập trung vì bệnh, đói, và rét từ 1944 đến 1949. Trong các trại tương tự ở Pháp, khoảng thêm 250.000 người được cho rằng đã vùi xác trong các trại. Ủy ban Hồng Thập tự Quốc tế bị từ chối cho vào các trại, Thụy Sĩ bị tước địa vị là quốc gia có "quyền bảo vệ tù nhân" và các tù binh chiến tranh bị tái xếp loại thành "các lực lượng thù địch bị giải giới" để khỏi được công nhận là tù binh chiến tranh theo Công ước Geneva. Bacque cho rằng vụ giết người tập thể vừa nói ở trên là kết quả trực tiếp đến từ các chính sách của đồng minh phương Tây cùng với Liên Xô cai trị nước Đức bị chia cắt từ tháng 5 năm 1945 cho đến năm 1949. Nhà văn này đổ tội lỗi lên tướng Dwight D. Eisenhower khi cho rằng người Đức bị giữ cho chết đói cho dù có đủ thực phẩm trên thế giới để tránh sự khan hiếm thực phẩm đến mức độ chết người tại Đức năm 1945–1946. Năm 1990, các sử gia được mời gồm có Stephen Ambrose và Günter Bischof tập hợp tại Trung tâm Hoa Kỳ học Eisenhower của Đại học New Orleans tham gia hội nghị hàm lâm để nghiên cứu về những lời cáo buộc mà Bacque đã đưa ra. Hội nghị kết luận rằng có sự ngược đãi tù binh Đức năm 1945 nhưng đấy không phải là do kết quả từ bất cứ lệnh nào của Eisenhower. Các chứng cứ mà Bacque thu thập được bị cho là lạc văn mạch và quá hời hợt bất cẩn. Năm 1992, một cuốn sách với kết quả của cuộc hội nghị đã được Ambrose và Bischof biên tập và xuất bản. == Tưởng niệm == Hình của Eisenhower có trên đồng đô la kim loại phát hành năm 1971 đến 1978. Gần 700 triệu tiền kim loại mạ đồng-nickel được đúc để lưu hành, và con số nhỏ hơn không lưu hành được phát hành cho các nhà sưu tầm. Ông tái xuất hiện trên đồng đô la tưởng niệm bằng bạc được phát hành năm 1990, kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của ông. Đồng bạc này có hai hình ảnh của ông trong hai vai trò, người lính và chính khách. Mặt trái mô tả ngôi nhà của ông tại Gettysburg. Trong chương trình phát hành tiền kim loại $1 kỷ niệm các tổng thống, Eisenhower sẽ có mặt trên một loại tiền kim loại màu vàng mệnh giá $1 vào năm 2015. Ông được tưởng nhớ vì vai trò của ông trong Chiến tranh thế giới thứ hai, việc xây dựng Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang và kết thúc Chiến tranh Triều Tiên. USS Dwight D. Eisenhower là siêu hàng không mẫu hạm thứ hai thuộc lớp Nimitz được đặt tên để vinh danh ông. Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang được chính thức gọi tên là Hệ thống Xa lộ Quốc phòng và Liên tiểu bang Quốc gia Dwight D. Eisenhower để vinh danh ông. Một số xa lộ cũng được đặt tên ông trong đó có Xa lộ Tốc hành Eisenhower (Xa lộ Liên tiểu bang 290) gần Chicago và Đường hầm Eisenhower trên Xa lộ Liên tiểu bang 70 nằm ở phía tây Denver. Đầu máy xe lửa hơi nước Vương quốc Anh lớp A4 số 4496 (đổi số thành 60008) Golden Shuttle được đặt tên lại là Dwight D. Eisenhower năm 1946. Nó được bảo tồn tại Bảo tàng Đường sắt Quốc gia ở Green Bay, Wisconsin. Đại học Eisenhower là một trường đại học nhỏ dạy mỹ thuật tự do ở Seneca Falls, New York năm 1965 có các lớp học bắt đầu năm 1968. Nhiều vấn đề tài chính đã buộc trường nằm dưới quyền điều hành của Viện Kỹ thuật Rochester năm 1979. Lớp học cuối cùng của trường tốt nghiệp vào năm 1983. Eisenhower Hall là tòa nhà hoạt động của học viên tại West Point, được xây xong năm 1974. Năm 1983, đài tưởng niệm Eisenhower được khánh thành tại West Point. Trung tâm Y tế Eisenhower ở Rancho Mirage, California được đặt tên ông năm 1971. Trung tâm Y tế Lục quân Dwight D. Eisenhower nằm ở đồn Gordon gần thành phố Augusta, Georgia được đặt tên ông để vinh danh ông. Tháng 2 năm 1971, Trường Dwight D. Eisenhower thuộc xã Freehold, New Jersey được chính thức mở cửa. Năm 1983, Viện Eisenhower được thành lập ở Washington, D.C. trong vai trò một viện chính sách nhằm giới thiệu rộng rãi những di sản lãnh đạo và tài trí của Eisenhower. Năm 1989, Đại sứ Hoa Kỳ Charles Price và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher khánh thành tượng đồng Eisenhower tại Quảng trường Grosvenor, London. Bức tượng được đặt phía trước Đại sứ quán Hoa Kỳ và phía bên kia là cựu trung tâm bộ tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Đồng minh trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai nơi mà Eisenhower có các văn phòng trong đó thời chiến tranh. Năm 1999, Quốc hội Hoa Kỳ thành lập Ủy ban Tượng đài Dwight D. Eisenhower để xây dựng một đài tưởng niệm quốc gia tại Washington, D.C. Năm 2009, ủy ban chọn kiến trúc sư Frank Gehry thiết kế đài tưởng niệm. Đài tưởng niệm sẽ đứng gần Khu dạo chơi Quốc gia (National Mall) trên Đường Maryland, khu tây nam, bên kia đường là Bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia (Hoa Kỳ). Ngày 7 tháng 5 năm 2002, Cựu Tòa Văn phòng Hành chánh được chính thức đặt tên mới là Tòa Văn phòng Hành chánh Eisenhower. Tòa nhà này là một phần của Khu phức hợp Nhà Trắng, ở phía tây của cánh Tây (West Wing) Nhà Trắng. Hiện tại nó có một số văn phòng hành chánh trong đó có văn phòng của phó Tổng thống Hoa Kỳ và phu nhân hay phu quân của mình. Một công viên quận tại East Meadow, New York (Long Island) được đặt tên ông để vinh danh ông. Ngoài ra, Công viên Tiểu bang Eisenhower trên Hồ Texoma gần nơi ông sinh ra trong thành phố Denison được đặt tên ông; nơi ông được sinh ra hiện nay đang được tiểu bang Texas quản lý như Khu Lịch sử Tiểu bang Nơi sinh của Eisenhower. Nhiều trường trung học công lập tại Hoa Kỳ được đặt tên Eisenhower. Có một ngọn núi tên Eisenhower trong dãy núi Tổng thống thuộc nhóm núi White ở tiểu bang New Hampshire. Một cây nhô ra phía trên lỗ số 17, là lỗ luôn tạo rắc rối cho ông tại Câu lạc bộ Golf Quốc gia Augusta nơi ông là thành viên, được đặt tên "Cây Eisenhower" để vinh danh ông. Câu lạc bộ Golf Eisenhower ở Học viện Không quân Hoa Kỳ, một sân golf 36-lỗ được xếp hạng một trong số các sân của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, được đặt tên Eisenhower để vinh danh ông. Lỗ thứ 18 ở Câu lạc bộ Cherry Hills Country gần thành phố Denver được đặt tên ông. Eisenhower là một thành viên lâu năm của câu lạc bộ này, một trong những sân golf mà ông thích. == Huân chương và tưởng thưởng == === Tưởng thưởng Hoa Kỳ === Theo thứ tự cao thấp Huân chương Phục vụ Xuất sắc Lục quân có bốn chùm lá sồi Huân chương Phục vụ Xuất sắc Hải quân Huân chương Chiến công Huân chương Phục vụ Biên giới Mexico Huân chương Chiến thắng Chiến tranh thế giới thứ nhất Huân chương Phục vụ Quốc phòng Mỹ Huân chương Chiến dịch châu Âu-châu Phi-Trung Đông với bốn ngôi sao phục vụ màu đồng và một ngôi sao bạc Huân chương Chiến thắng Chiến tranh thế giới thứ hai Huân chương Lục quân Chiếm đóng Huân chương Phục vụ Quốc phòng Quốc gia (2 lần) === Tưởng thưởng quốc tế === Danh sách các huân chương và tưởng thưởng do các quốc gia khác trao tặng. Anh: Huân chương Bath, Đại Thập tự Hiệp sĩ (Knight Grand Cross) Anh: Ngôi sao châu Phi với các mẫu hình số "8" và "1". Argentine: Huân chương Người giải phóng San Martin, Đại Thập tự Bỉ: Huân chương Léopold Bỉ: Thập tự Chiến tranh (Croix de Guerre/Belgisch Oorlogskruis) Brasil Huân chương Chiến dịch Brasil: Huân chương Chiến tranh Brasil: Huân chương Chiến công, Đại Thập tự Brasil: Huân chương Công trạng Hàng không, Đại Thập tự Brasil: Huân chương Quốc gia Nam Thập tự (National Order of the Southern Cross) Chile: Huân chương Chiến công hạng nhất Trung Quốc: Huân chương Yun Hui Trung Quốc: Huân chương Yun Fei Khối Thịnh vượng chung: Huân chương Chiến công Tiệp Khắc: Huân chương Sư tử trắng Tiệp khắc: Ngôi sao vàng Chiến thắng Đan Mạch: Huân chương Voi Ecuador: Ngôi sao Abdon Calderon Ai Cập: Huân chương Ismal Ethiopia: Huân chương Solomon Pháp: Thập tự Chiến tranh Pháp: Bắc đẩu bội tinh, Đại Thập tự. Pháp: Huân chương Giải phóng Pháp: Huân chương Quân sự Hy Lạp: Huân chương George I Guatemala Thập tự Chiến công, hạng nhất Haiti: Huân chương Vinh dự và Chiến công, Đại Thập tự Ý: Huân chương Quân sự, Đại Thập tự Hiệp sĩ Ý: Huân chương Malta Luxembourg Huân chương Chiến công Luxembourg: Thập tự Chiến tranh México: Huân chương Đại bàng Aztec, hạng nhất Mexico: Huân chương Công trạng Dân sự Mexico: Huân chương Chiến công Maroc: Huân chương Ouissam Alaouite Hà Lan: Huân chương Sư tử Hà Lan, Đại Thập tự Hiệp sĩ Na Uy: Huân chương St. Olav Pakistan: Huân chương Pakistan, hạng nhất Panama: Huân chương Vasco Nunez de Balboa, Đại Thập tự Panama: Huân chương Manuel Amador Guerrero Philippines: Ngôi sao Phục vụ Xuất sắc Philippines: Huân chương Vinh dự, Tổng tư lệnh Philippines: Huân chương Sikatuna, hạng nhất Ba Lan: Thập tự Grunwald, hạng nhất Ba Lan: Huân chương Polonia Restituta Ba Lan: Virtuti Militari Liên bang Xô viết: Huân chương Suvorov Liên bang Xô viết: Huân chương Chiến thắng Tunisia Huân chương Nichan Iftikhar. === Vinh dự khác === Năm 1966, Eisenhower là người thứ hai được vinh dự nhận giải công dân thế giới của hội Civitan International. Tên của Eisenhower được đặt cho một số con đường tại các thành phố trên thế giới trong đó có Paris, Pháp. Tháng 12 năm 1999, Eisenhower được ghi tên trong danh sách những người được ngưỡng mộ nhiều nhất trong thế kỷ 20 của Gallup. Năm 2009, Eisenhower được ghi tên trong Đại sảnh Danh vọng Golf Thế giới cho thể loại "thành tựu trọn đời" vì những cống hiến của ông cho môn thể thao này. Trên hết ông là Người Mỹ Trầm Lặng Của Thế giới Vì Hòa Bình. == Chú thích == == Tham khảo == === Binh nghiệp của Eisenhower === Ambrose, Stephen E. Eisenhower: Soldier, General of the Army, President-Elect, 1890–1952 (1983);' Ambrose, Stephen E. The Victors: Eisenhower and his Boys: The Men of World War II, New York: Simon & Schuster, 1998. ISBN 0-684-85628-X Eisenhower, David. Eisenhower at War 1943–1945 (1986), New York: Random House. ISBN 978-0-394-41237-5. A detailed study by his grandson. Irish, Kerry E. "Apt Pupil: Dwight Eisenhower and the 1930 Industrial Mobilization Plan", The Journal of Military History 70.1 (2006) 31–61 online in Project Muse. Pogue, Forrest C. The Supreme Command, Washington, D.C.: Office of the Chief of Military History, Dept. of the Army, 1954. The official Army history of SHAEF. Weigley, Russell. Eisenhower's Lieutenants. Đại học Indiana Press, 1981. Ike's dealings with his key generals in WW2 Cố Vân Thâm (chủ biên); Dịch giả: Phong Đảo (2003). Thập đại tùng thư: 10 Đại tướng soái thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. === Eisenhower khi là người thường === Albertson, Dean, ed. Eisenhower as President (1963). Alexander, Charles C. Holding the Line: The Eisenhower Era, 1952–1961 (1975). Ambrose, Stephen E. Eisenhower: Soldier, General of the Army, President-Elect, 1890–1952 (1983); Eisenhower. The President (1984); one volume edition mang tên Eisenhower: Soldier and President (2003). Standard biography. Bowie, Robert R. and Richard H. Immerman; Waging Peace: How Eisenhower Shaped an Enduring Cold War Strategy, Oxford University Press, 1998. Burk, Robert. "Eisenhower Revisionism Revisited: Reflections on Eisenhower Scholarship," Historian, Spring 1988, Vol. 50 Issue 2, pp 196–209 Damms, Richard V. The Eisenhower Presidency, 1953–1961 (2002). David Paul T. (ed.), Presidential Nominating Politics in 1952. 5 vols., Johns Hopkins Press, 1954. Divine, Robert A. Eisenhower and the Cold War (1981). Greenstein, Fred I. The Hidden-Hand Presidency: Eisenhower as Leader (1991). Harris, Douglas B. "Dwight Eisenhower and the New Deal: The Politics of Preemption" Presidential Studies Quarterly, Vol. 27, 1997. Harris, Seymour E. The Economics of the Political Parties, with Special Attention to Presidents Eisenhower and Kennedy (1962). Krieg, Joann P. ed. Dwight D. Eisenhower, Soldier, President, Statesman (1987). 24 essays by scholars. McAuliffe, Mary S. "Eisenhower, the President", Journal of American History 68 (1981), pp. 625–632. Medhurst, Martin J. Dwight D. Eisenhower: Strategic Communicator Greenwood Press, 1993. Pach, Chester J. and Elmo Richardson. Presidency of Dwight D. Eisenhower (1991). Standard scholarly survey. === Nguồn sơ cấp === Boyle, Peter G., ed. The Churchill-Eisenhower Correspondence, 1953–1955 University of North Carolina Press, 1990. Eisenhower, Dwight D. Crusade in Europe (1948), his war memoirs. Eisenhower, Dwight D. The White House Years: Waging Peace 1956–1961, Doubleday and Co., 1965. Eisenhower Papers 21 volume scholarly edition; complete for 1940–1961. Summersby, Kay. Eisenhower was my boss (1948) New York: Prentice Hall; (1949) Dell paperback.
hiến chương liên hiệp quốc.txt
Hiến chương Liên Hiệp Quốc là hiến pháp của Liên Hiệp Quốc. Nó được ký kết trong Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ chức Quốc tế (United Nations Conference on International Organization) tại San Francisco, California ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập – Trung Hoa Dân Quốc, Liên Bang Xô Viết, Pháp, Anh, Hoa Kỳ – và phần đông các nước khác. Bản Hiến chương được thảo luận bởi hội đồng lập pháp và các nước đã ký đều tuân theo các điều khoản của nó. Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đã thông qua Hiến chương. Vatican là quan sát viên lâu dài nên không ký kết toàn bộ. == Tóm tắt Hiến chương == Bản Hiến chương gồm một phần mở đầu, mô hình khái quát như phần giới thiệu về Hiến pháp Hoa Kỳ, và một loạt các điều khoản phân chia vào trong các chương. Chương I: trình bày mục đích của Liên Hiệp Quốc, những điều khoản quan trọng về hoà bình và an ninh thế giới. Chương II: định ra tiêu chuẩn hội viên của Liên Hiệp Quốc. Chương III-XV: số lượng lớn tài liệu mô tả các cơ quan, tổ chức trực thuộc Liên Hiệp Quốc và những quyền hạn của họ. Chương XVI và XVII: miêu tả sự sắp xếp một Liên Hiệp Quốc thống nhất, không phân biệt chủng tộc với sự công nhận của luật pháp quốc tế. Chương XVIII và XIX: dành cho sự bổ sung và phê chuẩn Hiến chương. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản hiến chương đầy đủ (tiếng Anh)
tennessee.txt
Tennessee ( /tɛnɪˈsiː/; tiếng Cherokee: ᏔᎾᏏ) là một trong 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Bang này nằm cạnh 8 tiểu bang khác: Kentucky và Virginia về phía bắc; Bắc Carolina ở phía đông; phía nam giáp Georgia, Alabama và Mississippi; và phía tây là Arkansas và Missouri. Tennessee là bang lớn thứ 36 về diện tích và thứ 17 về dân số ở Hoa Kỳ. Thủ phủ bang và là thành phố lớn thứ hai bang là Nashville, Tennessee, có dân số 609,644. Memphis, Tennessee là thành phố lớn nhất với dân số 652,050. Tennessee còn là quê hương của nhạc đồng quê. Tiểu bang Tennessee là bắt nguồn từ Hiệp hội Watauga, một hiệp ước biên giới 1772 nói chung được xem là chính phủ theo hiến đầu tiên ở phía tây của dãy Appalachian. Tennessee hiện nay là một phần của bang Bắc Carolina, và một phần Lãnh thổ Tây Nam. Tennessee được công nhận là một bang thứ 16 của Hoa Kỳ vào ngày 01 tháng 06 năm 1796. Trong nội chiến Hoa Kỳ, bang gia nhập vào Liên minh miền Nam Hoa Kỳ năm 1861 và gia nhập lại vào liên bang Hoa Kỳ sau khi chiến tranh kết thúc. == Giáo dục == Tennessee có nhiều cơ sở giáo dục công lập, tư thục từ bậc mẫu giáo đến bậc giáo dục đại học. === Đại học, cao đẳng === Giáo dục đại học công lập được quản lý với Ủy ban giáo dục Tennessee cung cấp định hướng và chỉ đạo cho các hệ thường đại học công lập, hệ thống đại học Tennessee. Thêm nữa, nhiều đại học tư thục cũng có mặt ở tất cả các nơi trong bang. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
oswaldo de oliveira.txt
Oswaldo de Oliveira Filho (sinh 5 tháng 12 năm 1950), thường được gọi là Oswaldo de Oliveira, là một huấn luyện viên bóng đá người Brazil hiện đang dẫn dắt Flamengo. == Danh hiệu == Corinthians Campeonato Paulista: 1999 Série A: 1999 FIFA Club World Championship: 2000 São Paulo Campeonato Paulista: 2002 Kashima Antlers J. League Hạng 1: 2007, 2008, 2009 Cúp Hoàng đế: 2007, 2010 J. League Cup: 2011 Siêu cúp Nhat Bản: 2009 Botafogo Campeonato Carioca: 2013 Cá nhân Huấn luyện viên xuất sắc nhất J.Leaguer: 2007, 2008, 2009 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Profile at Sambafoot
tổng thống.txt
Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, cá nhân lãnh đạo cao nhất trong một quốc gia, cũng như thủ tướng quyền hành và phạm vi của họ phụ thuộc quy định đề ra từ tổ chức lập pháp cao nhất của quốc gia đó. Theo hệ thống dân chủ, Tổng thống là người được bầu ra qua sự lựa chọn của người dân một cách trực tiếp hay gián tiếp, tuân theo hiến pháp của quốc gia đó. Phạm vi quyền lực của cá nhân này nhiều khi vượt xa hơn những quy định thông thường, ví dụ như trong điều kiện đặc biệt họ sẽ là tổng chỉ huy hay nếu có sự ủng hộ của quân đội họ sẽ tạo được quyền lực khó thay đổi. Ngày nay, phần nhiều quốc gia có một Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia. Tổng thống ở cộng hòa nghị viện là người không đảng phái và do 2/3 quốc hội bầu, có quyền: Bổ nhiệm và bãi nhiệm các quan tòa Trưng cầu dân ý Giải tán quốc hội == Chức vụ Tổng thống tại một số quốc gia == === Tổng thống Hoa Kỳ === === Tổng thống Nga === === Tổng thống Pháp === === Tổng thống Đức === === Tổng thống Ấn Độ === == Xem thêm == Chủ tịch nước Vua == Tham khảo ==
venezuela.txt
Venezuela (tên chính thức là Cộng hòa Bolivar Venezuela, tiếng Tây Ban Nha: República Bolivariana de Venezuela, [reˈpuβlika βoliβaˈɾjana ðe βeneˈswela], tên gọi trong tiếng Việt: Cộng hoà Bô-li-va-ri-a-na Vê-nê-du-ê-la, đôi khi là Vê-nê-xu-ê-la) là một quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ. Venezuela tiếp giáp với Guyana về phía đông, với Brasil về phía nam, Colombia về phía tây và biển Caribbean về phía bắc. Nhiều hòn đảo nhỏ ngoài khơi biển Caribbean cũng thuộc chủ quyền của Venezuela. Thuộc khu vực nhiệt đới, khí hậu Venezuela đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh vật phát triển với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã. Diện tích nước này là 916.445 km², dân số khoảng 28 triệu người. Venezuela từng là thuộc địa của Tây Ban Nha. Nước này chính thức trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1821 dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Simon Bolivar. Trong những năm gần đây, Venezuela là một trong những nước dẫn đầu Mỹ Latinh trong phong trào cánh tả dưới sự lãnh đạo của cố tổng thống Hugo Chavez. Venezuela là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao nhất Mỹ Latinh. Đa phần dân cư Venezuela tập trung sinh sống tại những thành phố lớn phía bắc. Caracas là thủ đô và đồng thời cũng là thành phố lớn nhất Venezuela. Ngày nay, đất nước Venezuela nổi tiếng khắp thế giới với thiên nhiên tươi đẹp, nguồn dầu mỏ dồi dào và những nữ hoàng sắc đẹp đoạt nhiều giải cao tại những kỳ thi quốc tế. == Địa lý == Venezuela nằm ở phía bắc Nam Mỹ, tiếp giáp với biển Caribbean về phía bắc. Nước này có đường bờ biển dài hơn 2800 km, khiến ảnh hưởng của biển đối với khí hậu Venezuela tương đối lớn. Địa hình Venezuela có thể chia làm ba vùng chính: Vùng Tây Bắc: đây là nơi có độ cao lớn nhất của Venezuela. Những dải núi cực đông bắc của dãy Andes lấn vào lãnh thổ Venezuela và mở rộng ra tận đường bờ biển phía bắc của nước này. Đây là nơi tọa lạc của đỉnh núi cao nhất Venezuela, đỉnh Pico Bolívar cao 4979 m. Vùng Trung tâm: là vùng có những đồng bằng rộng lớn. Các đồng bằng bằng phẳng với đất đai màu mỡ trải dài từ biên giới với Colombia ở phía tây đến tận vùng châu thổ sông Orinoco. Vùng Nam: phần lớn vùng này là Cao nguyên Guiana với độ cao trung bình. Thác Angel, thác nước cao nhất thế giới nằm tại khu vực này. Tuy nhiên, do sự đan xen phức tạp của các dạng địa hình, Venezuela có thể được chia làm 10 khu vực địa lý khác nhau, tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều hệ sinh thái với các loài động thực vật vô cùng đa dạng, trong đó có nhiều loài động thực vật đặc hữu cua riêng đất nước này. Venezuela có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên với cảnh quan đa dạng. Mặc dù hầu như nằm trọn trong khu vực nhiệt đới, khí hậu Venezuela lại thay đổi khác nhau giữa các vùng. Tại những vùng đồng bằng, nhiệt độ và độ ẩm thường cao với nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C, trong khi ở những vùng đồi núi cao thì nhiệt độ trung bình chỉ ở mức 8 °C. Lượng mưa cũng thay đổi từ mức 430 mm ở vùng bán hoang mạc tây bắc lên đến hơn 1000 mm ở vùng châu thổ Orinoco. == Nguồn gốc tên gọi == Tên gọi Venezuela được bắt nguồn từ chuyến hải trình của nhà vẽ bản đồ Amerigo Vespucci cùng với nhà thám hiểm Alonso de Ojeda đến bờ biển tây bắc vịnh Venezuela năm 1499. Khi đến bán đảo Guajira, Vespucci đã bắt gặp những ngôi nhà lá của thổ dân da đỏ được dựng trên mặt nước và khiến ông liên tưởng đến thành phố Venice (tiếng Italia: Venezia). Ông đã đặt tên cho vùng đất này là Venezuola, trong tiếng Italia có nghĩa là "Venice nhỏ". Trong tiếng Tây Ban Nha, cụm từ zuela dùng với vai trò giảm nghĩa tương tự như zuola trong tiếng Ý được ghép thay vào để hình thành cái tên Venezuela. Bên cạnh đó, nhà địa lý người Tây Ban Nha Martin Fernandez de Enciso, một thủy thủ đoàn của Ojeda đã nêu trong tác phẩm Summa de Geografía của mình rằng những thổ dân da đỏ tại vùng này tự gọi mình là Veneciuela, và cái tên Venezuela được bắt nguồn từ tên gọi đó. Song, câu chuyện của Vespuccia lại được chấp nhận rộng rãi hơn cả về nguồn gốc tên gọi đất nước Venezuela. == Lịch sử == Những bằng chứng khảo cổ cho thấy, con người đã định cư tại vùng đất Venezuela từ 13.000 năm trước công nguyên. Những mũi giáo săn bắn của người bản địa đã được xác định có niên đại trong khoảng từ 13000 đến 7000 năm về trước. Khi người Tây Ban Nha khám phá ra vùng đất này, những bộ lạc thổ dân da đỏ như người Mariche đã đứng lên chống lại. Tuy nhiên những cuộc khởi nghĩa của người da đỏ nhanh chóng thất bại và họ dần dần bị người Tây Ban Nha tiêu diệt. Năm 1522, người Tây Ban Nha bắt đầu thiết lập các thuộc địa đầu tiên ở Venezuela. Thời gian đầu, miền đông Venezuela được sát nhập vào một thuộc địa lớn với tên gọi New Andalusia. Đến đầu thế kỉ 18, Venezuela lại được sát nhập vào thuộc địa New Granada. Dưới sự thống trị hà khắc của phong kiến Tây Ban Nha, nhân dân Venezuela đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh nhưng không thành công. Ngày 5 tháng 7 năm 1811, nước Cộng hòa Venezuela tuyên bố độc lập. Francisco de Miranda, một chỉ huy từng tham gia Cách mạng Pháp và chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ quay trở về lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân Venezuela. Năm 1812, quân Tây Ban Nha quay trở lại tấn công, Miranda bị bắt về Tây Ban Nha và chết trong ngục. Cuộc đấu tranh sau đó vẫn tiếp tục với nền Cộng hòa thứ hai được thành lập vào ngày 7 tháng 8 năm 1813 nhưng rồi cũng nhanh chóng sụp đổ. Dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Simon Bolivar, Venezuela đã giành được độc lập với chiến thắng Carabobo vào ngày 24 tháng 6 năm 1821. Quốc hội mới của New Granada trao quyền lãnh đạo quân đội cho Bolivar và ông đã giải phóng thêm nhiều vùng đất mới, thành lập nên nước Đại Colombia (Gran Colombia) bao gồm Venezuela, Colombia, Ecuador và Panama ngày nay. Venezuela trở thành một phần của Đại Colombia cho đến năm 1830, khi nước này tách ra để thành lập một quốc gia mới. Thế kỉ 19 đánh dấu một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Venezuela với những cuộc khủng hoảng chính trị và chế độ độc tài quân sự. Nửa đầu thế kỉ 20, các tướng lĩnh quân đội vẫn kiểm soát nền chính trị của Venezuela mặc dù cũng chấp nhận một số cải cách ôn hòa và thúc đẩy kinh tế phát triển. Sau khi nhà độc tài Juan Vicente Gomez qua đời vào năm 1935, những phong trào dân chủ tại Venezuela cuối cùng đã loại bỏ sự thống trị của quân đội vào năm 1958 và tổ chức những cuộc bầu cử tự do. Dầu mỏ được phát hiện tại Venezuela đã mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế đất nước, thu nhập quốc dân được nâng cao. Đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những dòng người nhập cư từ Nam Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý cũng như những nước Mỹ Latinh nghèo hơn đã khiến xã hội của Venezuela trở nên vô cùng đa dạng. Giá dầu mỏ sụt giảm trong thập niên 1980 đã khiến nền kinh tế Venezuela khủng hoảng sâu sắc. Việc phá giá tiền tệ càng làm cho đời sống của người dân Venezuela bị hạ thấp. Những chính sách kinh tế thất bại và mâu thuẫn chính trị đã đẩy đất nước Venezuela vào khủng hoảng trầm trọng, thể hiện rõ nhất qua hai cuộc đảo chính trong cùng năm 1992. Tháng 2 năm 1992, viên sĩ quan quân đội Hugo Chavez đã tiến hành đảo chính nhưng thất bại. Đến tháng 11 cùng năm, những người ủng hộ Hugo Chavez lại một lần nữa tiến hành đảo chính song không thành công. Tuy nhiên, Chavez đã giành được nhiều thiện cảm của nhân dân Venezuela và ông đã chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Venezuela 1998 với tỉ lệ 56%. Sau khi lên nắm quyền, ông Hugo Chavez đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả và giúp nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ông cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của phe đối lập. Năm 2002, phe đối lập tại Venezuela tiến hành đảo chính song thất bại. Bạo loạn và đình công đã khiến kinh tế Venezuela một lần nữa rơi vào khủng hoảng, nặng nề nhất là vào năm 2003. Đến năm 2004, ông Hugo Chavez vượt qua cuộc trưng cầu ý dân về việc bãi nhiệm tổng thống với tỉ lệ 59%. == Chính trị == Tổng thống Venezuela được bầu cử với phiếu bầu trực tiếp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Tổng thống đảm nhiệm vai trò là nguyên thủ quốc gia và đồng thời cũng là người đứng đầu chính phủ. Nhiệm kỳ của một tổng thống là 6 năm và tổng thống có thể được bầu lại trong một nhiệm kỳ tiếp theo. Tổng thống Venezuela có quyền bổ nhiệm phó tổng thống và quyết định quy mô và thành phần của nội các và bổ nhiệm các thành viên với sự phê chuẩn của quốc hội. Tổng thống có thể đề nghị quốc hội sửa đổi các điều luật nhưng quốc hội cũng có thế phủ quyết đề nghị của tổng thống nếu đa số phản đối. Cơ quan lập pháp đơn viện của Venezuela là Quốc hội hay Asamblea Nacional. Quốc hội có 167 đại biểu, trong đó có 3 ghế được dành riêng dành cho người thổ dân da đỏ. Các đại biểu có nhiệm kỳ 5 năm và có thể được bầu lại tối đa thêm 2 nhiệm kỳ nữa. Các đại biểu quốc hội có thế được bầu theo danh sách các chính đảng hoặc ứng cử độc lập. Cơ quan tư pháp tối cao là Tòa án tối cao Venezuela hay Tribunal Supremo de Justicia, với các thẩm phán được quốc hội bầu với nhiệm kỳ 12 năm. Hội đồng bầu cử quốc gia Venezuela (Consejo Nacional Electoral, hay CNE) chịu trách nhiệm trong quá trình bầu cử, có năm lãnh đạo được Quốc hội bầu ra. Venezuela đã bãi bỏ án tử hình vào năm 1863, khiến cho nước này là quốc gia loại bỏ khỏi án tử hình lâu nhất trên thế giới. === Quan hệ ngoại giao === Trong suốt thế kỉ 20, mặc dù còn có một số tranh chấp lãnh thổ với hai nước láng giềng Colombia và Guyana song Venezuela thường duy trì quan hệ hữu hảo với hầu khắp các nước Mỹ Latinh cũng như các nước phương Tây. Sau khi tổng thống Hugo Chavez đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1998, ông đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả với học thuyết của chủ nghĩa Bolivar và chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21 cho châu Mỹ. Theo đó, ông muốn tách khu vực Mỹ Latinh ra khỏi sân sau của Hoa Kỳ và có những tuyên bố chống Mỹ khá mạnh bạo. Dưới thời ông Hugo Chavez, quan hệ ngoại giao với các nước cánh tả và xã hội chủ nghĩa tại Mỹ Latinh được đẩy mạnh, nhất là với Nga, Bolivia và Cuba khi cả ba nước thiết lập một hiệp định thương mại nhằm ngăn cản ảnh hưởng của Mỹ vào khu vực. Gần đây, ông Chavez cũng quan tâm và ủng hộ một số nước cánh tả đang lên khác tại khu vực như Ecuador và Nicaragua. Chưa kể đến việc ông cũng xúc tiến quan hệ ngoại giao với những quốc gia chống Mỹ như Belarus hay Iran. Đồng thời, quan hệ ngoại giao giữa Venezuela và Mỹ cũng xấu đi nhanh chóng. Quan hệ của Venezuela với nước láng giềng Colombia, một đồng minh của Mỹ cũng ngày một tồi tệ. Đầu năm 2008, khi quân đội Colombia tấn công tiêu diệt căn cứ quân nổi dậy FARC tại lãnh thổ Ecuador, Venezuela đã phản đối mạnh mẽ và hai nước suýt xảy ra một cuộc chiến tranh. == Quân đội == Quân đội Venezuela nằm dưới sự chỉ huy của Tổng tư lệnh quân đội là tổng thống Venezuela. Quân đội Venezuela được chia thành lục quân, hải quân, không quân và lực lượng phòng vệ. Bên cạnh đó còn có một số nhánh khác. Hiện nay lực lượng quân đội của Venezuela là khoảng 100.000 người. Chi phí dành cho quốc phòng mỗi năm của nước này ước tính bằng khoảng 1,7 tỉ USD (năm 2004). == Phân chia hành chính == Toàn bộ đất nước Venezuela được chia thành 23 tiểu bang (estados), 1 quận thủ đô (distrito capital) là thành phố Caracas, các vùng lãnh thổ phụ thuộc (Dependencias Federales) và khu vực Guyana Esequiba tranh chấp với Guyana. Ở cấp tiếp theo, Venezuela lại được chia tiếp thành 335 đô thị (municipios) rồi lại được chia tiếp thành hơn 1000 khu vực nhỏ (parroquias). Các bang của Venezuela được nhóm lại thành 9 vùng hành chính lớn. === Các bang === Các phân chia hành chính ngoài bang: Quận Thủ đô Venezuela (bao gồm Caracas) Các vùng lãnh thổ liên bang Venezuela === Các vùng hành chính === == Kinh tế == Công nghiệp dầu mỏ là ngành kinh tế đóng góp nhiều nhất cho kinh tế Venezuela, tới 1/3 GDP, 80% giá trị xuất khẩu và hơn một nửa ngân sách nhà nước. Đất nước này có một nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt to lớn và hiện nay, Venezuela là một trong 10 nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới. Những mỏ dầu chính của Venezuela nằm tại khu vực hồ Maracaibo, vịnh Venezuela và vùng châu thổ sông Orinoco. Do được chính phủ trợ cấp, Venezuela là một trong những nước có giá xăng dầu rẻ nhất thế giới. Tuy nhiên những lên xuống thất thường của giá dầu trên thị trường thế giới cũng như các cuộc khủng hoảng chính trị, đình công luôn đe dọa đến ngành kinh tế nhạy cảm này của Venezuela. Chính phủ Venezuela đang tìm cách làm đa dạng hóa nền kinh tế và tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào dầu mỏ của nước này. Tính đến năm 2016, GDP của Venezuela đạt 333.715 USD, đứng thứ 32 thế giới và đứng thứ 4 khu vực Mỹ Latin. Từ thập niên 1950 đến thập niên 1980, Venezuela là một trong những cường quốc kinh tế tại Mỹ Latinh. Thu nhập bình quân của nước này gia tăng nhanh chóng đã thu hút rất nhiều lao động từ khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong thập niên 1980, nền kinh tế Venezuela đã bị một phen điêu đứng. Trong những năm gần đây, giá dầu trên thị trường thế giới đã tăng trở lại và tạo điều kiện phục hồi cho nền kinh tế Venezuela. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này là 8,4%. Thu nhập bình quân đầu người là 12.200 USD. Dưới sự điều hành của Hugo Chavez tỷ lệ lạm phát đã tăng 30,9% năm 2008 và tăng 25,1% trong năm 2009 cao nhất trên toàn khu vực châu Mỹ. Mức lạm phát của Venezuela cao hơn rất nhiều 1 nước cũng thường hay bị lạm phát rất cao là Argentina. Trong khi cùng bị khủng hoảng kinh tế như Venezuela nhưng tỷ lệ lạm phát của Argentina chỉ từ 7-15% năm 2009. Kinh tế Venezuela năm 2009 theo thông báo chính thức đã giảm 2,9%. Hugo Chavez đã thực hiện quốc hữu hóa tài sản của các tập đoàn Cargill Inc., Gruma SAB và hãng bán lẻ của Pháp là Casino Guichard Perrachon nhằm kiểm soát các chuỗi sản xuất và phân phối thực phẩm. Trong tháng 8, giá lương thực tăng 0,9% so với tháng 7 trong khi mức tăng hàng tháng là 12,5% của tháng 4. Cũng trong tháng này, tỉ lệ lạm phát của mặt hàng lương thực đã giảm xuống nhưng vẫn còn tới 39,5%. Trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 năm nay, nền kinh tế Mỹ Latinh này đã tăng trưởng chậm lại quý thứ 5 liên tiếp, và đang phải trải qua thời điểm khốn đốn với tình trạng lạm phát khi giá tiêu dùng liên tục tăng kể cả khi nhu cầu giảm xuống. Mặc dù là một quốc gia nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng việc phân bố tài sản tại Venezuela lại không đồng đều, khiến cho đời sống một bộ phận lớn dân nghèo gặp nhiều khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của tổng thống Hugo Chavez, tỉ lệ người nghèo trong những năm gần đây tại Venezuela đã giảm đáng kể, từ mức 49% năm 1998 xuống còn 12,3% năm 2007. Các chương trình trợ cấp của Chavez như duy trì giá xăng ở mức dưới 0,1 USD/gallon (tương đương hơn 500 VND/lít), đang làm các nguồn tài nguyên của Venezuela dần cạn kiệt trong khi các doanh nghiệp tư nhân không dám tăng mức đầu tư do lo ngại về những vụ quốc hữu hóa và sung công thường hay xảy ra bất ngờ thời Chavez khiến nền kinh tế càng thêm khó khăn giữa lúc tốc độ tăng trưởng trì trệ mà tỷ lệ lạm phát lại cao. Hugo Chavez cũng không diệt trừ được tham nhũng. Bằng cách cho giới quân sự quản lý bộ máy ngân sách cồng kềnh, ông Chavez đã tạo điều kiện cho tham nhũng lan rộng ngay trong giới quân sự. Cải cách tư pháp thì chưa đâu vào đâu. Các thể chế mới không đem lại điều gì ngoài việc đẻ ra một loạt chức sắc bất tài do ông chỉ định. Đường lối kinh tế khiến cho Venezuela càng phụ thuộc hơn nhiều vào dầu mỏ và đưa tới một loạt chính sách thắt lưng buộc bụng. Giá trị đồng tiền giảm đáng kể cũng là một hậu quả của việc này.[5] Những hãng sản xuất hàng tiêu dùng khổng lồ như Colgate-Palmolive hay Avon từng nỗ lực chiếm lĩnh thị trường Mỹ Latin với các sản phẩm chủ lực như kem đánh răng, son môi. Nhưng công sức bấy lâu của họ có nguy cơ trôi ra sông ra biển khi Venezuela phá giá đồng nội tệ từ mức 2,15 bolivar ăn 1 USD xuống còn 4,3 bolivar ăn 1 USD. Đi đôi với quyết định phá giá đồng nội tệ, chính quyền Venezuela phải huy động cả quân đội để kiểm soát tình trạng tăng giá bán tại các cửa hàng. Bất chấp mọi nỗ lực của chính phủ, trong vòng 5 năm qua tỷ lệ lạm phát của nước này lên tới tổng cộng 160%. Venezuela hiện đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao tới gần 27% theo tính toán của Wall Street Journal. Năm 2009, nước này tăng trưởng âm 2,9%. Venezuela hy vọng lần phá giá đầu tiên kể từ 2005 này sẽ giúp nguồn thu chính phủ tăng lên, hạn chế nhập khẩu và tăng nguồn thu từ xuất khẩu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng đây không phải là giải pháp tốt về lâu dài. Nền kinh tế Venezuela, vốn một thời phát triển bùng nổ, nay cần những chính sách kích thích đầu tư tư nhân. Hãng đánh giá tín nhiệm Fitch cũng bày tỏ thái độ lo lắng: "Công việc kinh doanh tại Venezuela hiện đối mặt với nhiều căng thẳng liên quan đến thay đổi chính sách, môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, cơ cấu quản lý giá và sự bế tắc trong ngành năng lượng. Tất cả những yếu tố này làm chùn chân các nhà đầu tư". Cơ cấu kinh tế của Venezuela như sau: nông nghiệp 13%, công nghiệp 23% và dịch vụ 64% (số liệu năm 1997). Các thị trường chính của Venezuela là Mỹ, Colombia, Brasil, Antille thuộc Hà Lan, Trung Quốc… Về năng lượng, những con sông ở Venezuela đã cung cấp một lượng lớn thủy điện cho nhu cầu tiêu dùng điện năng của nước này. Hiện nay, 73% công suất phát điện của Venezuela phụ thuộc vào hệ thống thuỷ điện, còn hệ thống nhiệt điện lại đang hoạt động dưới mức công suất mà không có khả năng tăng lên, mặc dù nước này thuận lợi về nhiệt điện. Đồng peso tiếp tục rớt giá còn 6,3 peso ăn một đôla vào ngày 25-1-2010. Trong khi tỷ giá kép mà chính phủ đưa ra vào đầu tháng là 2,6 và 4,3 peso ăn một đôla. Người dân đã tổ chức những cuộc phản đối mạnh mẽ hơn. Cùng với nguyên nhân thiếu hụt điện nước, những người phản đối cũng nói đến tình trạng mất kiểm soát đối với tội phạm khiến cho Venezuela đang có tỷ lệ tội phạm cao nhất thế giới. Người biểu tình án ngữ trong sân vận động khi diễn ra một trận đấu bóng chày để kêu gọi ông Chavez từ chức. Người biểu tình đã giương cao khẩu hiệu đậm chất thể thao: "Chavez, ông đã bị loại!" == Nhân khẩu == Tính đến tháng 7 năm 2008, ước tính dân số Venezuela là 26.414.815 người. Venezuela là một trong những quốc gia có tốc độ gia tăng dân số nhanh nhất Nam Mỹ, chỉ đứng sau Bolivia, Paraguay và Guiana thuộc Pháp. Năm 2008, tốc độ gia tăng dân số của nước này là 1,5%. Những cuộc thống nhân khẩu được thực hiện từ năm 1926 tại Venezuela không bao gồm thông tin về chủng tộc cho nên tỉ lệ các sắc dân tại Venezuela chỉ có thể được biết thông qua các số liệu ước tính. Khoảng 70% dân số Venezuela là người Mestizo, tức người lai giữa người Tây Ban Nha và người da đỏ. Khoảng 20% là người da trắng có nguồn gốc chủ yếu từ Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha và Đức. Bên cạnh đó, tại Venezuela còn có một số nhỏ người da đen gốc châu Phi và người các nước châu Á như Liban, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ. Khoảng 5% dân số Venezuela là người da đỏ bản địa và họ có xu hướng bị lai giữa các chủng tộc khác ngày một nhiều hơn khi xã hội Venezuela ngày càng trở nên đa dạng. Khoảng 85% dân số Venezuela sống tập trung tại các đô thị miền bắc. Venezuela là một trong những nước có tỉ lệ dân cư sống tại thành thị cao nhất Nam Mỹ. Do đó khu vực phía nam đồng bằng Orinoco tuy chiếm đến một nửa diện tích đất nước nhưng lại vô cùng hoang vắng với chỉ 5% dân cư sống tại đó. Ngôn ngữ chính thức tại Venezuela là tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh đó còn có 31 ngôn ngữ của thổ dân da đỏ bản địa như tiếng Guajibo, Pemon, Warao, Wayuu, các ngôn ngữ thuộc nhóm Yanomaman. 83% dân cư theo Đạo Thiên chúa. == Văn hóa == Những di sản văn hóa của đất nước Venezuela mang đậm ảnh hưởng của phong cách Mỹ Latinh, thể hiện qua tất cả các mặt của đời sống như hội họa, kiến trúc, âm nhạc, các công trình lịch sử... Văn hóa Venezuela được hình thành trên nền của ba nhân tố chính: văn hóa của người da đỏ bản địa, của người Tây Ban Nha và người da đen châu Phi. Ban đầu, các yếu tố văn hóa này trộn lẫn vào nhau rồi sau đó lại phân hóa ra theo từng khu vực địa lý. Nghệ thuật Venezuela ban đầu xoay quanh các motif tôn giáo là chủ yếu. Tuy nhiên đến cuối thế kỉ 19, nền nghệ thuật này bắt đầu phản ánh các sự kiện lịch sử và những người anh hùng dân tộc, mà đi tiên phong là họa sĩ Martín Tovar y Tovar. Đến thế kỉ 20, chủ nghĩa hiện đại lên thay thế. Văn học Venezuela bắt đầu phát triển sau khi người Tây Ban Nha đặt chân đến đây khai phá thuộc địa. Nền văn học bằng tiếng Tây Ban Nha chiếm địa vị độc tôn với những ảnh hưởng của các phong cách văn học từ chính quốc. Văn học xoay quanh các chủ đề chính trị phát triển trong cuộc chiến tranh giành độc lập đầu thế kỉ 19 của nhân dân Venezuela. Tiếp đó, chủ nghĩa lãng mạn lên ngôi với một số nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu là Juan Vicente González. Về kiến trúc, Carlos Raúl Villanueva được coi là kiến trúc sư vĩ đại nhất của đất nước Venezuela hiện đại. Ông đã thiết kế Trường Đại học Trung tâm Venezuela, một công trình được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Cuatro, một loại đàn gần giống ghita là nhạc cụ truyền thống của Venezuela. Nhiều phong cách âm nhạc độc đáo khác nhau được phát triển tại vùng đồng bằng llanos với những bài hát nổi tiếng như Alma Llanera, Florentino y el Diablo, Concierto en la Llanura và Caballo Viejo. Nhạc gaita có nguồn gốc từ vùng Zulia được ưa chuộng và hay được biểu diễn vào dịp Giáng sinh. Còn điệu nhảy truyền thống của người Venezuela là điệu nhảy joropo. Tại Venezuela, môn thể thao phổ biến nhất là bóng chày. Gần đây, môn bóng đá cũng đang phát triển mạnh và dần thu hút khán giả nước này. === Văn hóa hoa hậu === Venezuela là một trong những quốc gia mà người dân hâm mộ các cuộc thi sắc đẹp nhất thế giới. Với một công nghệ đào tạo hoa hậu chuyên nghiệp, Venezuela đã trở thành một cường quốc hoa hậu mà không một quốc gia nào có thể sánh kịp. Đất nước này đã lập kỉ lục 6 lần đoạt Hoa hậu Thế giới, 7 lần đoạt Hoa hậu Hoàn vũ (2 lần liên tiếp đoạt vương miện năm 2008-2009) và 6 lần đoạt Hoa hậu Quốc tế. Bà Irene Saez, cựu Hoa hậu Hoàn vũ của Venezuela thậm chí đã từng ra tranh cử tổng thống năm 1998 nhưng không thành công. Hàng năm, cuộc thi Hoa hậu Venezuela được tổ chức vào tháng 9 để tìm kiếm người đại diện cho đất nước Venezuela tại các kỳ thi sắc đẹp quốc tế. Đây là sự kiện rất thu hút ở Venezuela với chương trình truyền hình trực tiếp kéo dài 4 giờ đồng hồ. Các hoa hậu Venezuela khi tham dự các kỳ thi quốc tế thường đoạt giải cao, mà gần đây nhất là Ivian Sarcos, người chiến thắng của cuộc thi Hoa hậu thế giới tại Mông Cổ,Dayana Mendoza đăng quang hoa hậu hoàn vũ thế giới tổ chức tại Việt Nam, Maria Gabriella Isler, người chiến thắng Hoa hậu Hoàn vũ 2013 tại Nga, và Edymar Martinez chiến thắng tại cuội thi Hoa hậu Quốc tế 2015 tại Nhật Bản. == Tôn giáo == Venezuela giống như hầu hết các quốc gia Nam Mỹ, là một quốc gia theo Công giáo Rôma. Ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo ở nước này có từ thời thực dân Tây Ban Nha. Theo ước tính của chính phủ, 92% dân số trên danh nghĩa là tín hữu Công giáo Rôma, và còn lại 8% là Tin Lành, các tôn giáo khác, hoặc vô thần. Các ước tính của Hội đồng Tin Lành Venezuela cho rằng Giáo hội Tin Lành chiếm 10% dân số. Có những cộng đồng Hồi giáo và Do Thái giáo nhỏ nhưng có ảnh hưởng. Các cộng đồng Hồi giáo của hơn 100.000 người tập trung ở những người gốc Lebanon và Syria hiện sống ở các khu vực như Nueva Esparta, Punto Fijo và khu vực Caracas. Các con số thuộc cộng đồng Do Thái giáo là khoảng 13.000 tín đồ và chủ yếu tập trung ở Caracas. Hiện nay có khoảng 153.000 tín đồ Mormon phần lớn ở tại Caracas. == Liên kết ngoài == Thông tin về Venezuela trên CIA - The World Factbook Venezuela Infornation Office == Tham khảo ==
romeo và juliet.txt
Romeo và Juliet là một vở bi kịch được viết bởi nhà văn đại tài của nước Anh, William Shakespeare. Trong những vở kịch được viết bởi Shakespeare thì vở này cùng Hamlet là 2 vở nổi tiếng nhất và thường xuyên được diễn lại bởi hậu thế. Ngày nay, cái tên Romeo và Juliet thường dùng để chỉ những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vở kịch này về sau không chỉ phổ biến trong nghệ thuật sân khấu, mà còn được chuyển thành điện ảnh, opera, tiểu thuyết,... Sau thời đại Chế độ quân chủ được phục hồi tại nước Anh, Romeo và Juliet được bảo tồn và càng được phổ biến rộng rãi bởi William Davenant. Các tác phẩm điện ảnh của vở kịch bao gồm bản năm 1935 của George Cukor, bản năm 1968 của Franco Zeffirelli, bản phim năm 1996 của Baz Luhrmann và bản phim năm 2013 của Carlo Carlei. == Cốt truyện == Romeo và Juliet được viết vào khoảng 1594 - 1595, dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ. Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ nhà Montague và nhà Capulet có mối hận thù lâu đời. Romeo, con trai họ Montague và Juliet, con gái họ Capulet đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet, do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó. Đôi trai gái này đã đến nhà thờ nhờ tu sĩ Friar Laurence bí mật làm lễ cưới. Đột nhiên xảy ra một sự việc: do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu nặng. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ. Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho Bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona. Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử theo người mình yêu. Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã chết, Juliet rút dao tự vẫn. Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, hai dòng họ đã quên mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ, nhưng câu chuyện tình yêu ấy vẫn mãi sẽ là nỗi đau rất lớn trong lòng những người biết đến họ. == Các nhân vật == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
linux foundation.txt
Linux Foundation (LF) là một hiệp hội thương mại công nghệ phi lợi nhuận được thành lập để thúc đẩy, bảo vệ và mở rộng Linux và hợp tác phát triển, hỗ trợ "các tài nguyên công nghệ chia sẻ lớn nhất trong lịch sử." INó bắt đầu vào năm 2000 dưới sự Open Source Development Labs (OSDL) và trở thành tổ chức hiện nay khi OSDL hợp nhất với Free Standards Group (FSG.) Linux Foundation tài trợ cho công việc của người sáng lập Linux, Linus Torvalds và người bảo trì Greg Kroah-Hartman và được hỗ trợ bởi các công ty hàng đầu về Linux và các công ty nguồn mở, bao gồm các tập đoàn công nghệ nổi tiếng như Cisco, Fujitsu, HP, IBM, Intel, Microsoft, NEC, Oracle, Qualcomm và Samsung và các nhà phát triển từ khắp thế giới. Trong những năm gần đây, Linux Foundation đã mở rộng các dịch vụ của mình thông qua các sự kiện, đào tạo và chứng nhận và Collaborative Projects. Ví dụ về Collaborative Projects tại Linux Foundation bao gồm Open Network Automation Platform (ONAP), Hyperledger, Cloud Native Computing Foundation, Open Platform for NFV (OPNFV), Cloud Foundry, Node.js Foundation... Trong khi thông điệp ban đầu của Linux Foundationlà để thúc đẩy, bảo vệ, và chuẩn hóa Linux "bằng cách cung cấp một bộ các dịch vụ toàn diện để cạnh tranh hiệu quả với các nền tảng khép kín," tổ chức đã mở rộng phạm vi công việc của mình bao gồm nhiều lĩnh vực của ngành công nghiệp phần mềm nguồn mở chuyên nghiệp nói chung. Các lĩnh vực này bao gồm công nghệ blockchain, máy tính hiệu suất cao (HPC) và công nghệ container. == Lịch sử == Nguồn gốc của Linux Foundation có thể được truy nguồn từ năm 2000 khi Open Source Development Labs (OSDL) được thành lập. OSDL là một tổ chức phi lợi nhuận được hỗ trợ bởi một tập đoàn toàn cầu nhằm "đẩy nhanh việc triển khai Linux cho máy tính doanh nghiệp" và "trở thành trung tâm chính cho ngành công nghiệp Linux".." Năm 2003, Linus Torvalds, người tạo ra hệ điều hành Linux tự do đã tuyên bố ông sẽ tham gia tổ chức như một thành viên của OSDL để làm việc toàn thời gian trên các phiên bản Linux tương lai. Năm 2007, OSDL hợp nhất với Free Standards Group, một tổ chức khác thúc đẩy việc áp dụng Linux. Vào thời điểm đó, Jim Zemlin, người đứng đầu FSG, đã tiếp quản làm giám đốc điều hành của The Linux Foundation. Vào ngày 11/9/2011, website của Linux Foundation đã bị gỡ xuống do sự vi phạm được phát hiện 27 ngày trước, bao gồm nhưng giới hạn cho tất cả tên miền phụ đang hoạt động của The Linux Foundation, như Linux.com. Các phần chính bao gồm OpenPrintingvẫn không kết nối vào ngày 20/10/2011. Quá trình khôi phục hoàn tất vào ngày 4/1/2012(mặc dù một trang, the Linux Developer Network,sẽ không được phục hồi). == Mục tiêu == The Linux Foundation đóng vai trò là người phát ngôn trung gian của nhà cung cấp cho Linux và tạo ra nội dung gốc giúp nâng cao sự hiểu biết về nền tảng Linux. Nó cũng thúc đẩy sự đổi mới bằng cách tổ chức sự kiện cộng tác giữa cộng đồng kỹ thuật Linux, các nhà phát triển ứng dụng, ngành công nghiệp và người dùng cuối để giải quyết các vấn đề cấp bách phải đối mặt với Linux. Thông qua các chương trình cộng đồng của Linux Foundation, người dùng cuối, các nhà phát triển và các thành viên trong ngành hợp tác về các vấn đề kỹ thuật, luật pháp và quảng bá. Để cho người tạo ra Linux Kernel, Linus Torvalds và các nhà phát triển hạt nhân quan trọng khác vẫn duy trì sự độc lập, the Linux Foundation tài trợ cho họ để họ có thể làm việc toàn thời gian vào việc nâng cao Linux. The Linux Foundation cung cấp cho các nhà phát triển ứng dụng các dịch vụ chuẩn hóa và hỗ trợ làm cho Linux trở thành một mục tiêu hấp dẫn cho những nỗ lực phát triển của họ. Chúng bao gồm: Linux Standard Base (LSB) và Linux Developer Network. The Linux Foundation hỗ trợ cộng đồng Linux bằng cách cung cấp thông tin kỹ thuật và giáo dục thông qua các sự kiện hàng năm của nó, chẳng hạn như Linux Collaboration Summit, Linux Kernel Developers Summit, Và sự kiện LinuxCon tổng thể kể từ tháng 9/2009. The Linux Foundation also provides services to key areas of the Linux community, including an open source developer travel fund and other administrative assistance. Through its workgroups, members and developers can collaborate on key technical areas. There is also a training program that is vendor-neutral, technically advanced, and created with the actual leaders of the Linux development community. == Cương vị quản lý cộng đồng == Với cộng đồng Linux kernel, The Linux Foundation tổ chức các cơ sở hạ tầng CNTT của mình và tổ chức các hội nghị như Linux Kernel Summit và Linux Plumbers Conference. Họ cũng tổ chức một Ban Cố vấn Kỹ thuật bao gồm các nhà phát triển hạt nhân Linux. Một trong những nhà phát triển được chỉ định để tham gia vào Ban quản trị Linux Foundation. === Hợp tác với Goodwill === Vào tháng 1/2016, The Linux Foundation đã công bố mối quan hệ hợp tác với Goodwill Central Texas để giúp đỡ hàng trăm người thiệt thòi từ các cộng đồng ít được phục vụ và nhiều nguồn gốc khác nhau được đào tạo cần thiết để bắt đầu sự nghiệp mới và sinh lợi trong Linux IT.. === Community Developer Travel Fund === Để tài trợ cho các nhà phát triển xứng đáng để đẩy nhanh việc giải quyết vấn đề kỹ thuật và cộng tác trong cộng đồng mã nguồn mở, The Linux Foundation đã khởi động Community Developer Travel Fund. Tài trợ dành cho các nhà phát triển cộng đồng ưu tú với thành tích phát triển mã nguồn mở đã được chứng minh là không thể có được nguồn tài chính để tham dự các sự kiện kỹ thuật từ nhà tuyển dụng. Các ứng dụng có tại đây. === Core Infrastructure Initiative === The Core Infrastructure Initiative (CII), một dự án được quản lý bởi The Linux Foundation cho phép các công ty công nghệ, các bên liên quan ngành công nghiệp và các nhà phát triển được coi trọng cùng xác định và tài trợ cho các dự án mã nguồn mở quan trọng cần được hỗ trợ. Tháng 6/2015, tổ chức này thông báo hỗ trợ tài chính gần 500.000 USD cho ba dự án mới để hỗ trợ tốt hơn các yếu tố an ninh quan trọng của cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu. == Thành viên == Tính đến tháng 1/2017, có hơn 260 thành viên doanh nghiệp xác định với lý tưởng và sứ mệnh của Linux Foundation: Thành viên Platinum (12), những thành viên đóng góp 500,000USD hàng năm, bao gồm. (Liệt kê theo thứ tự bảng chữ cái) AT&T Cisco Systems, Fujitsu Ltd, Hitachi, Huawei, IBM Corp., Intel Corp., Microsoft Corp., NEC Corp., Oracle Corp., Qualcomm Innovation Center Inc., Samsung Electronics Co. Ltd Thành viên vàng (19), những thành viên đóng góp 100,000USD hàng năm, bao gồm. Liệt kê theo thứ tự bảng chữ cái) Accenture, Citrix Systems, Doky, Ebay, EMC, Facebook, Google, Mazda, NetApp, Panasonic, PlumGrid, Renesas, Seagate, Suse, Symantec, Toshiba, Toyota, Verizon Terremark, VMware Thành viên bạc(244), những thành viên đóng góp 5,000-20,000USD (Nhân rộng với số lượng nhân viên) hành năm (Xếp theo bảng chữ cái) Adobe, ADP, Advanced Telematic, Agenda, Aisin Aw, AliCloud, AllGo, AllWinner, Alps, Altera, Amarula Solutions, Amazon, AMD, Amihan Global Strategies, Apcera, AppFormix, Apprenda, ARM, Atlassian, Autodesk, Avi Networks, Axis, BayLibre, Barefoot Networks, BasysKom, Bell Canada, Bitdefender, Bitnami, BlackDuck, BMC, Borqs, Bosch, Broadcom, Bromium, CA Technologies, Calastone, Calix, Canonical, CapitalOne, Cavium, Centrify, China Mobile, China Merchants Bank, China Telecom, Cinemo, Cirrus Logic, Cleversafe, Cloudbase Solutions, Cloudify, CloudLinux, CloudSoft, Cluster HQ, CME Group, Codethink, Collabora, Comcast Cable, Compuware, Concurrent, Container Solutions, ContainerShip, Core OS, Endpoint Protector, Credativ, Cumulus, Data Centred, Data Kinetics, Datawise.o, Datto, Daynix, Deis, Dell, Denso, Denx, DigitalOcean, Docker, DreamHost, DreamWorks Studios, DTCC, EasyStack, Eldarion, ENEA, Electronics And Telecommunications Research Institute|ETRI, Ericsson, Eureka, Exablox, Exoscale, Fluendo, FOSSter, Foxt, Fuji Heavy Industries, Fusion-Io, GenyMobile, GitHub, GlobalLogic, Goldman Sachs, Harman, Hi Corp., Honda, Hewlett Packard Enterprise, HSA Foundation, Igalia, Iguaz.io, IIX, Imagination, Infoblox, Innovium, Intrinsyc, Ishi Systems, Land Rover - Jaguar, Joyent, J.P. Morgan, JVC-Kenwood, Kinvolk, Kismatic, Knowles, Konsulko Group, Kontena, Kyup, Kubique, Lenovo, LG, Linaro, LinBit, Lineo Solutions, Linutronix, Linux Professional Institute, LiveWyer, LMAX Echange, MariaDB, mcCloudWare, Mediatek, Meinberg, Mellanox, MentorGraphics, Mesosphere, MetaSwitch, Metaswitch Networks, Meyer Sound, Microchip, Micron, Micware, Millenium, Miracle, Mitsubishi Electric, Monax, National Instruments, NCSoft, NexB, Nexenta, Next Thing Co., Nextiva, Nginx, NIpa, Nissan, Nokia, NTT, NTTData, Nutanix, Nvidia, NXP, OSSystems, OrangeFS, OpenLogic, OpenSynergy, Open vStorage, SADL, OwnCloud, Palamida, Paxos, PayPal, Pelagicore, Pinterest, Pioneer, Pivotal, Plansys, Plexistor, Polyverse, Portworx, Produban, Proxmox, The Qt Company, Rackspace, Raisecom, Rancher, Rausch Netzwerktechnik, Red Hat, Resin.io, Restlet, Ricoh, Robin, RUsBITech, RX-M, Sampo Software, SanDisk, SAP SE, Savoir-Faire Linux, Scality, Scalock, SELTECH, Serenata Flowers, sgi, Siemens, Sine Nomine Associates, SmartBear, Solace Systems, Solarflare, Sony, Soramitsu, SR Labs, StorageOS, Suntec, Supernap, SwiftStack, Symbio, Symphony Teleca, Synopsys, Sysdig, Target, Tech Mahindra, Texas Instruments, ThunderSoft, Tick42, TimeSys, Toyotsu Electronics, Travelping, Treasure Data, Tuxera, Twistlock, Twitter, Univa, VALVe, Vicom Infinity, Virtual Open Systems, Wercker, Western Digital, Williams Garcia, Wind, Witekio, Witz Corporation, Deepin, Xilinx, Yahoo!, ZTE Liên kết(7): Clemson, Fondazione Inuit, Konkuk University, NXT, Seneca, Zhejang University, Trace Các thành viên của hội đồng quản trị của quỹ được các thành viên trong hội đồng bầu ra (các thành viên cao hơn sẽ bầu nhiều thành viên hơn). Thành viên cũng mở rộng cho các cá nhân (cho phép họ chọn hai giám đốc và chạy đua riêng cho một trong hai ghế) cho đến tháng 1 năm 2016, khi những điều khoản đó đã được loại bỏ. Các cá nhân bây giờ chỉ có thể là "người ủng hộ". == Tài trợ == Nguồn tài trợ của nó đến từ các Thành viên Platinum: Cisco Systems, Microsoft, Fujitsu, HP, IBM, Intel, NEC, Oracle, Qualcomm, và Samsung và Hitachi trong nhiều năm. 9 đơn vị đều có đại diện trong hội đồng Quản trị, họ chiếm đa số trong hội đồng 16 người này. Tính đến tháng 4/2014, tổ chức thu phí hàng năm trị giá ít nhất là 6,245,000 USD: 8 thành viên Platinum members 16 Thành viên Vàng 224 Thành viên Bạc == Các sự kiện == Các sự kiện của The Linux Foundation là nơi những người sáng tạo, người bảo trì và những người thực hiện các dự án mã nguồn quan trọng nhất gặp nhau. Các sự kiện của Linux Foundation trong năm 2015 thu hút gần 15,000 nhà phát triển, bảo trì viên, quản trị hệ thống, các lãnh đạo tư tưởng, giám đốc điều hành doanh nghiệp và các chuyên gia ngành công nghiệp khác từ hơn 3.100 tổ chức trên 85 quốc gia. Nhiều dự án mã nguồn mở cũng đồng thời định vị các sự kiện của họ tại các sự kiện của The Linux Foundation để tận dụng sự hợp tác giữa cộng đồng với các dự án trong cùng ngành. Các sự kiện 2016 được lên kế hoạch sẽ bao gồm nhiều xu hướng trong mã nguồn mở, bao gồm Big Data, các ứng dụng đám mây, các ứng dụng chứa, IoT, mạng, bảo mật và hơn thế nữa. Enterprise End User Summit Linux Security Summit TIZEN Developer Summit TIZEN Developer Conference Open Compliance Summit Enterprise Users Meeting Collaboration Summit AllSeen Alliance Summit OPNFV Summit Linux Security Summit Linux Plumbers Conference Open Daylight Summit Xen Project Developer Summit Xen Project User Summit The Annual Linux Kernel Summit Korea Linux Forum CloudStack Days MesosCon KVM Forum ContainerCon Automotive Linux Summit CloudOpen LinuxCon ApacheCon Embedded Linux Conference cf. http://www.embeddedlinuxconference.com/ Android Builders Summit VAULT Linux Storage and Filesystem Conference == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức Linux Foundation Training Linux.com Linux Foundation Publications Linux Adoption Trends: A Survey of Enterprise End Users
nasdaq.txt
== Khái lược == NASDAQ, nguyên văn là National Association of Securities Dealers Automated Quotation System là một sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ. Đây là sàn giao dịch điện tử lớn thứ hai tại Hoa Kỳ hiện nay, chỉ sau NYSE. Với khoảng 3.200 giao dịch hàng ngày tại sàn, NASDAQ hiện là sàn giao dịch lớn nhất thế giới. Sàn này được lập năm 1971 bởi (tạm dịch) Hiệp hội Quốc gia các Nhà buôn Chứng khoán - National Association of Securities Dealers (NASD). == Điều kiện để được niêm yết trên NASDAQ == Niêm Yết trên Thị trường NASDAQ Tài sản hữu hình thuần tối thiểu: $US 6 Triệu Lợi tức sau thuế: $US 1 Triệu, hoặc Tài sản hữu hình thuần: $US 75 Triệu Thu nhập: $US 75 Triệu Giá trị thị trường: $US 75 Triệu Giá bán cổ phần tối thiểu: $US 5 Số cổ đông: 400 Vốn cổ đông: $US 15 Triệu Giá thị trường công cộng: $US 8 Triệu Market Makers: 3 Quá trình hoạt động: không bắt buộc == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ Lịch sử các chỉ số Dow Jones chính, NASDAQ,SP500 NASDAQ OMX Group to Complete Acquisition of The Philadelphia Stock Exchange Bản mẫu:Stock market indexes Bản mẫu:Stock market
cô gái xấu xí.txt
Cô gái xấu xí là một bộ phim truyền hình dài tập do Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp với Công ty BHD và Hãng phim Việt sản xuất. Bộ phim được mua bản quyền nguyên tác từ bộ phim Betty la Fea của Colombia, một bộ phim truyền hình hấp dẫn đã được nhiều nước trên thế giới mua bản quyền và chuyển thể. Phim xoay quanh nhân vật chính là Huyền Diệu, một cô gái thông minh, giỏi học vấn và có năng lực nhưng ngoại hình "xấu xí", tác phong vụng về và có phong cách ăn mặc lỗi thời làm việc trong công ty thời trang nổi tiếng mang tên SBBT (SB Brands Trading J.S.C), diễn biến và sự phát triển của những mối quan hệ, những mối mâu thuẫn tình ái và công việc xảy đến trong những tháng ngày làm việc của cô tại công ty này. == Nội dung chính == Huyền Diệu là một cô gái thông minh, học vấn giỏi, có tấm bằng về thạc sĩ tài chính. Tuy nhiên nhược điểm của cô là nhan sắc quá xấu xí: tóc chẻ, răng phải kẹp hàm, mắt đeo đôi kinh to đùng và ăn mặc cực kỳ lỗi thời. Vì vậy, nhiều cánh cửa việc làm đã đóng lại trước mặt cô. May mắn thay, cô đã được An Đông - tổng giám đốc của công ty thời trang SBBT - nhận vào làm trợ lý. Tại đây, cô luôn cố gắng làm việc chăm chỉ và thông minh giải cứu công ty thoát khỏi những tình huống ngặt nghèo. Cũng tại đây, SBBT, Huyền Diệu gặp được Hùng Long, Mai Lan và Phương Trinh, những người khinh thường vẻ bề ngoài và luôn nghi ngờ thực lực của cô. Mai Lan là vợ chưa cưới của An Đông, cô luôn tìm mọi cách kiểm soát mọi hành động của người yêu mình. Còn Phương Trinh là bạn của Mai Lan, đồng thời cũng là một gián điệp của Đăng Dương, người luôn muốn lật đổ An Đông khỏi chiếc ghế giám đốc công ty. Tại SBBT, Huyền Diệu đã không ít lần phải chịu sự dò xét và những việc làm gây khó dễ của Mai Lan và Phương Trinh. Tuy nhiên, cô cũng được "nhóm G7", một nhóm các cô gái làm việc trong SBBT yêu thương và ủng hộ. Không lâu sau đó, vì muốn có lợi cho công ty, An Đông đã giả vờ tỏ ra thương yêu Huyền Diệu và luôn đưa cô đi chơi, tặng thiệp và quà thường xuyên. Nhưng những món quà và thiệp này lại do Tiến Mạnh chuẩn bị kỹ lưỡng và cũng là người xúi giục An Đông làm việc này. Mọi việc ổn thỏa cho tới khi Mạnh đi công tác cùng Mai Lan và đem túi quà cho An Đông. Tình cờ San - thành viên nhóm G7, thấy túi quà và lại vào tay Huyền Diệu. Diệu đã mở túi quà ra và phát hiện mọi sự thật nằm trong đó. Ban đầu Diệu rất choáng váng nhưng sau đó cô đã vùng dậy lên và luôn cố gắng tỏ ra mình không vô dụng và yếu đuối. Và để làm được điều này, Diệu đã mua xe ô tô trích từ tiền công ty mà Diệu đang đứng đầu là Vinamode ("con đẻ" của SBBT), sau đó Diệu luôn phớt lờ và nhấm nhẳn cãi lại giám đốc An Đông, rồi Diệu còn ăn chơi, đi những nơi đắt tiền, ăn uống tại nơi sang trọng nhưng dù vậy Diệu vẫn không thể thay đổi được bề ngoài của mình. Ngoài ra Diệu còn giả vờ rằng Ninh Lâm - bạn thân từ thuở sinh viên của Diệu là bạn trai mình, thực chất đó chỉ là đóng kịch để trả thù An Đông. An Đông không hiểu rằng tại sao Diệu lại có thể thay đổi bề ngoài như vậy và trong khi đó đám cưới giữa An Đông và Mai Lan đang ngày một tới gần, lúc đó An Đông nhận ra rằng anh đã yêu Huyền Diệu thật sự không thể chối cãi. Huyền Diệu nghĩ đến ngày thôi việc liền đưa ra bản quyết toán thật sự là SBBT nợ Vinamode 90 tỷ đồng. An Đông bị từ chức và Huyền Diệu đưa lá thư của Mạnh cho Mai Lan. Mai Lan sốc thật sự. Sự thật là Diệu đi tổ chức thi Hoa hậu cùng Cẩm Linh - người bạn của An Đông và muốn giữ kín chuyện này. Ở Hội An, Diệu thay đổi ngoại hình, vui vẻ và gặp nhiều bạn mới. Còn An Đông vì tha thiết Huyền Diệu nên làm nhiều việc ngu ngốc như gây lộn ở quán bar, đến công ty trong bộ dạng ủ dột. Khi Diệu trở về thì hoàn toàn xinh đẹp khiến tất cả ngỡ ngàng. Theo lời Đăng Dương nói, Diệu có hàng tá đàn ông vây quanh, hay theo Zelda Thuý Vân bói thì Diệu có một người đàn ông sa ngã nhất đang đeo đuổi và một người từ rất xa chuẩn bị về Sài Gòn tìm Diệu. Trong lúc Công ty lâm vào hoàn cảnh khốn đốn thì Diệu được bầu làm tổng giám đốc của SBBT và Vinamode. Mọi người đều không tán thành nhưng buộc phải như vậy. Mai Lan định từ chức nhưng không được vì không muốn công ty sa ngã. Nhưng rồi mọi chuyện lại thay đổi khi Thư Kỳ (nữ doanh nhân Hồng Kông) đến SBBT ký hợp đồng. Cô rất xinh đẹp, mọi người tưởng rằng An Đông sẽ nghiêng ngả nhưng không. An Đông quyết định chia tay Mai Lan dứt khoát không phải vì Thư Kỳ mà vì anh không muốn làm khổ cả hai. Huyền Diệu có kế hoạch thiết kế cho G7. Hùng Long không muốn nhưng phải làm, làm xong anh lại muốn thôi việc nhưng Diệu có cách thuyết phục anh bằng cách đưa anh đi nghỉ cùng bạn trai đồng tính và đối xử như khách VIP. Thư Kỳ vừa về Hồng Kông thì Michael Tiến (bạn của Huyền Diệu ở Hội An) về thăm Diệu. Anh ta có ý định mời Diệu làm quản lý các chuỗi nhà hàng giúp mình ở Hội An. Diệu đồng ý, nhóm G7 cũng muốn đi cùng nhưng không được. Một lần An Đông vào phòng Diệu trong khi Diệu đi vắng thì bất chợt đọc nhật ký của Diệu. An Đông đau đầu và nhận ra rằng trong Diệu anh ta và Mạnh là những thằng tồi. Anh nổi điên, phá phách, đánh nhau với Mạnh rồi đi tìm Diệu giải thích. Nhờ G7 và mẹ Diệu, Đông tìm tới quán bar mà Diệu và Michael. Anh thú nhận và giải thích rằng yêu Diệu nhưng Diệu cầu xin anh tránh xa mình. An Đông đi và nhờ nhạc công hát bài hát "NHƯ ĐÃ DẤU YÊU" mà trước kia Diệu và Đông từng hát. Nhưng cũng vô ích, Diệu biết Đông đọc nhật ký càng căm thù Đông hơn. Khi Diệu quyết định đi thì An Đông lại xin từ chức để không cho Diệu đi khỏi SBBT. Mọi người trong công ty rất lo lắng vì Huyền Diệu đã giúp cho công ty này thoát khỏi bờ vực phá sản, nay lại từ chức. Biết được tin này, Đăng Dương đã đến và nhận làm chức giám đốc nhưg thực chất là anh muốn bán công ty này cho các chủ nợ để lấy lời. Còn An Đông vẫn không thay đổi ý kiến của mình và mở một buổi lễ nhỏ với các nhân viên trong xưởng may để chia tay anh. Nhóm G7 đã đưa Huyền Diệu xuống đó. Tại đây Diệu đã nghe được tất cả những tâm sự của An Đông và chính cô đã đứng lên để mong anh đừng rời khỏi nơi này đi, bất chợt các nhân viên cùng nhóm G7 đã cùng nhau thuyết phục cả hai đừng rời công ty này mà bỏ đi. Anh Phê đã đứng lên và giảng hòa cho cả hai, Diệu nói rằng ngàn lần tha thứ cho anh Đông, rồi Phê cầm tay cả hai và trao tay cho nhau. Rồi chợ cả hai ôm nhau và chung quanh la hét vui mừng, nhưng rồi bố Huyền Diệu xuất hiện và bắt cả hai giải thích rõ chuyện này. Tại đây An Đông và Huyền Diệu đã giải thích rằng cả hai đã yêu nhau và muốn cưới nhau sống bên nhau trọn đời, với bố mẹ của An Đông cũng có lời giải thích như vậy. Cả hai bên đã đồng ý, nhưng Mai Lan đã phải rời đi xa và chỉ có bác Tuyết Mai ra tiễn, Mai Lan tại đây đã mong muốn rằng cả hai cư xử như mẹ con. Còn Đăng Dương buộc phải bỏ đi vì Huyền Diệu đã quay trở lại. Đám cưới giữa An Đông và Huyền Diệu đã diễn ra tốt đẹp với tất cả các nhân vật đến dự. Cả hai hưởng trọn hạnh phúc này cho tới khi già, cuối phim con trai của cả hai với vẻ đẹp giống bố đã mang một cô gái tới nhà chơi, cô bé này lại giống Mai Lan và tự nhận là con gái của Mai Lan và họ đã yêu nhau, rất muốn cưới nhau. An Đông và Huyền Diệu ngỡ ngàng một lúc. Nhưng chợt Huyền Diệu mỉm cười. == Diễn viên chính == Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Hiệp vai Huyền Diệu: Là một cô gái thông minh, tháo vát và có tấm bằng về thạc sĩ tài chính. Tuy nhiên, nhược điểm của cô là nhan sắc quá xấu xí: tóc chẻ, răng phải kẹp hàm, mắt đeo đôi kinh to đùng và ăn mặc cực kỳ lỗi thời. Vì vậy, nhiều cánh cửa việc làm đã đóng lại trước mặt cô. May mắn thay, cô đã được An Đông - tổng giám đốc của công ty thời trang SBBT - nhận vào làm trợ lý. Tại đây, cô luôn cố gắng làm việc chăm chỉ và thông minh giải cứu công ty thoát khỏi những tình huống ngặt nghèo. Về sau nhờ Cẩm Linh, cô trở nên vô cùng xinh đẹp. Tuy nhiên Huyền Diệu đôi lúc hơi bướng bỉnh. Chi Bảo vai An Đông: Tổng giám đốc của SBBT,đẹp trai và có nhiều tham vọng trong cuộc đời,đôi lúc lại khá hách dịch khi làm giám đốc, rồi bị từ chức vì phá hoại công ty dẫn đến món nợ khổng lồ. Có vợ chưa cưới là Mai Lan, nhưng cưới chỉ vì mong có 1 phiếu bầu làm Tổng Giám đốc chứ không yêu Mai Lan. Lừa dối tình cảm của Huyền Diệu và tạo ra một bi kịch tình yêu. NHưng về sau yêu Huyền Diệu thực sự và cưới Huyền Diệu. Lan Phương vai Mai Lan: Giám đốc phụ trách bán hàng đồng thời là vợ chưa cưới của An Đông. Xinh đẹp, lành tính, khá tâm lý nhưng hay ghen tuông, nổi nóng bất chợt, sẵn sàng dùng chính thủ đoạn nào để lật cô gái nào muốn gần An Đông. Mai Lan từng nói: "Tôi sẵn sàng bóp chết cô gái nào ve vãn An Đông". Bình Minh vai Tiến Mạnh: Phó tổng giám đốc SBBT, là bạn thân nhất của An Đông. Về sau bị từ chức vì cùng An Đông tạo ra món nợ. Anh là người xúi giục An Đông tạo ra bi kịch tình yêu. Đẹp trai và ga lăng, anh được nhiều cô gái theo đuổi. Phi Thanh Vân vai Phương Trinh: Cô nàng chân dài, da đen bóng. Bạn thân của Mai Lan đồng thời từng là gián điệp của Đăng Dương. Tuy chân dài nhưng không được làm người mẫu. Từng trải qua một đời chồng. Ngang ngạnh, cong queo, đã nghèo lại chi tiêu phung phí rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất, là đối thủ đặc biệt của nhóm G7, nhất là San vì có khá nhiều mâu thuẫn với cô. Lý Anh Tuấn vai Đăng Dương: Đối thủ của An Đông, khá ích kỷ, xấu tính và đầy thủ đoạn tàn nhẫn, dù Mai Lan là em gái nhưng anh không bao giờ nể em và vô cùng kình địch An Đông. Mục tiêu của anh là lật đổ An Đông và đặt ra tình huống khó xử cho An Đông, đồng thời lật đổ SBBT để kiếm lời cho mình. Trịnh Kim Chi vai chị Huyền Thư: Chị cả của Đăng Dương và Mai Lan, rất hay nói và nói nhiều, đầu óc hơi có chút vấn đề, nói về thời trang một chút là sang luôn giải phẫu thẩm mĩ. Xinh đẹp và thon thả nhưng tất cả đều nhờ giải phẫu thẩm mĩ. Đức Hải vai Hùng Long: nhà thiết kế đồng tính, có tài nhưng kiêu căng và ngạo mạn. Tự coi mình là nhất. Khinh miệt tất cả mọi người. Minh Thuận vai Ninh Lâm: trợ thủ đắc lực của Diệu và cũng là bạn thân của cô thời sinh viên, từng yêu đơn phương Phương Trinh. Rất giỏi việc tài chính. Thấp bé nhẹ cân và cũng xấu xí nhưng rất tốt bụng, nhưng lại hay nhẹ dạ cả tin và luôn mong muốn mình cuộc sống giàu sang hơn để có thể làm Phương Trinh đem lòng yêu. == Nhóm G7 == Nhóm G7 xuất hiện ngay trong tập đầu của bộ phim và kết nạp Huyền Diệu vào nhóm. Nhóm tập hợp những cô gái rất thích tán gẫu đủ các thứ chuyện và luôn moi móc, mổ xẻ những câu chuyện mới nhất của công ty. Các thành viên của nhóm gồm: Huyền Diệu, Sâm, Vân, Hương, San, Thanh và bà Tâm. Cát Tường, vai Sâm: Là cô gái đã có tuổi, khá nóng tính và quyết đoán, thẳng thắn, cũng rất mê tám chuyện. Lê Giang, vai Thanh: Khá tham ăn và luôn nghĩ tới chuyện ăn nhưng lại rất tốt bụng, có điều hay cãi nhau và rất hay dỗi. Là bạn thân của Sâm. Quỳnh Trang, vai San San: Sở hữu chiều cao khá lý tưởng, rất hay quan tâm tới người khác, luôn tâm lý. Cô là người gần nhất với Vân, là đối thủ lớn nhất của Phương Trinh. Minh Khuê vai Hương: Xinh nhất G7. Đa sầu đa cảm, khá yêu đời, lãng mạn, rất quý Huyền Diệu, có tình cảm với Phê nhưng cũng hay có nhiều xích mích do bản tính cong cớn. Phi Phụng vai bà Tâm: Già nhất nhóm G7. Có kinh nghiệm lâu năm và xin vào làm SBBT từ khi còn thiếu nữ, vì vậy nên khá già dặn và luôn khuyên bảo điều tốt cho mọi người. Thúy Uyên vai Vân: Sở hữu nước da ngăm, bói toán rất giỏi và có đầu óc cực kì vui tính, thích chọc cười và cũng là người nói rất nhiều. == Diễn viên phụ == Nguyễn Hồng Ân vai Michael Tiến: Là một Việt kiều, khá đẹp trai, ga lăng, là bạn của Huyền Diệu khi cô còn ở Hội An. Micheal rất yêu Diệu nhưng dường như với cô đối với anh chỉ là bạn thân mật nên anh khá buồn về điều này. Xuân Thùy vai Thảo My: Là người mẫu của SBBT. Người đã yêu chồng của Sâm nên bị nhóm G7 ghét bỏ. Trong một lần trình diễn, cô đã sơ ý bị ngã vì bị Sâm thóa mạ dưới hàng ghế khán giả. Ốc Thanh Vân vai Cẩ m Linh: Là PR cho SBBT. Rất tự tin, luôn chan hòa cởi mở với mọi người xung quanh và đặc biệt dành mọi quan tâm cho Huyền Diệu, cô có quan hệ rộng với mọi người. Đức Thịnh vai Phê: Là nhân viên chuyển phát thư tín cho SBBT, hơi dại gái, rất tốt bụng và là người tình của Hương. Tuy vậy anh lại rất hay dỗi vặt nên đôi lúc nảy sinh những mâu thuẫn nhở thành to giữa Hương và Phê. == Diễn viên khách mời == Thúy Hạnh Minh Khang Ngô Kiến Huy Tăng Thanh Hà Hiếu Hiền Hương Giang Diễm Châu Thu Minh Lã Thanh Huyền Tú Vi Bùi Việt Hà == Tham khảo ==
samsung galaxy s iii mini.txt
Samsung Galaxy S III Mini (mã GT-I8190) là một điện thoại thông minh màn hình cảm ứng dạng thanh được thiết kế và sản xuất bởi Samsung. Nó được công bố vào tháng 10 năm 2012 và phát hành vào tháng 11 cùng năm. Thông số kĩ thuật của Galaxy S III Mini gồm màn hình Super AMOLED 4-inch, bộ xử lý hai nhân tốc độ 1 GHz với bộ nhớ RAM 1 GB, máy ảnh trước 5-megapixel cùng máy ảnh sau VGA để gọi video hay chụp ảnh selfie. Samsung Galaxy S III Mini là phiên bản nhỏ hơn của Samsung Galaxy S III và có nhiều tính năng tương đồng. Tuy nhiên, nó thiếu máy ảnh trước 8-megapixel, màn hình lớn 4.8-inch và kính Gorilla Glass. Thiết bị này có pin 42 h trong bài kiểm tra độ bền. Ban đầu nó được cài Android 4.1.1 (Jelly Bean) nhưng sau được cập nhật lên 4.1.2. Các tính năng khác gồm giao diện TouchWiz của Samsung, ứng dụng tin nhắn ChatON, Smart alert, Buddy Photo Share, Pop-Up Play, S Suggest, S Voice, Smart Stay, Video Hub, Game Hub 2.0, và công nghệ S Beam (S Beam chỉ có mặt trên phiên bản đặc biệt có NFC, GT-I8190N). Pin của thiết bị thay đổi tùy theo nhà mạng, có thể là dạng 3 pin phổ biến, hoặc là 4 pin.. == Các biến thể == == Thiết bị kế nhiệm == Thiết bị kế nhiệm Galaxy S III Mini là Galaxy S4 Mini. Nó được công bố vào ngày 30 tháng 5 năm 2013, và được phát hành vào tháng 7 năm 2013. == Xem thêm == Samsung Galaxy S series == Tham khảo ==
câu lạc bộ bóng đá nam định.txt
Câu lạc bộ Bóng đá Nam Định (tiếng Anh: Namdinh Football Club, NDFC) là một đội tuyển bóng đá địa phương Việt Nam có trụ sở tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Đây là một câu lạc bộ tham dự Giải bóng đá hạng nhất quốc gia Việt Nam từ mùa bóng 2015 sau khi bị tụt hạng 2 năm liền (2010 và 2011). Đội bóng này từng là một trong những câu lạc bộ bóng đá giàu truyền thống của Việt Nam mặc dù mới chỉ 1 lần vô địch Việt Nam trong danh xưng đội bóng công nghiệp Hà Nam Ninh. == Lịch sử == Tiền thân của câu lạc bộ bóng đá Nam Định là đội Cotonkin (đã 2 lần vô địch Đông Dương các năm 1943 và 1945). Năm 1943 là lần đầu có giải bóng đá Đông Dương. Câu lạc bộ chính thức được thành lập năm 1965 với tên gọi Thanh niên Nam Hà (Thời gian này Nam Hà gồm tỉnh Hà Nam và Nam Định nhập lại) Năm 1978, đổi tên thành Công nghiệp Hà Nam Ninh (thời gian này tỉnh Hà Nam Ninh gồm 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình gộp lại) Năm 1981, lên hạng A1 (hạng cao nhất thời gian này) Năm 1989, đội bị giải thể Năm 1991, thành lập lại với tên Nam Định và thi đấu ở hạng A2 (hạng cao thứ 3) Năm 1992, lên hạng A1 (hạng cao thứ 2) Năm 1997, lên hạng nhất (hạng cao nhất) Ngày 22 tháng 8 năm 2003, đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Sông Đà-Nam Định. Đồng thời đổi tên sân vận động từ Chùa Cuối thành Thiên Trường[1]. Năm 2006, tên câu lạc bộ được đổi thành Câu lạc bộ Mikado-Nam Định[2]. Năm 2007, câu lạc bộ một lần nữa đổi tên thành Câu lạc bộ Đạm Phú Mỹ-Nam Định[3]. Sau mùa bóng thi đấu không được như ý (chỉ cán đích ở hạng 12 V- League) Câu lạc bộ Bóng đá Nam Định đã chia tay với Đạm Phú Mỹ. Giờ đây Mikado đã trở lại, CLB lại mang tên Mikado Nam Định. Năm 2009, đội bóng được đổi tên thành Megastar Nam Định. Năm 2010, đội Megastar Nam Định (huấn luyện viên Nguyễn Ngọc Hảo, Lê Văn Tuấn) đứng cuối bảng xếp hạng với 3 trận thăng, 3 trận hòa, 20 trận thua, tổng số điểm 12 và chia tay với giải V-League để xuống đá ở giải hạng nhất quốc gia sau 10 năm ở giải chuyên nghiệp. Từ năm 2011, đội bóng lấy lại tên cũ là Mikado Nam Định và phải xuống hạng nhì chỉ sau 1 năm. Năm 2012, Mikado Nam Định đã thất bại trong cuộc đua thăng hạng nhất sau thất bại trên chấm phạt đền trước đội trẻ Khánh Hoà ở bán kết. Năm 2013 CLB Bóng đá Nam Định thất bại trong cuộc đua tranh lên hạng nhất 2014, trận 1 thua Tây Ninh 0 - 1, trận 2 thua Đắc Lắc 0 - 1 Năm 2014 CLB Bóng đá Nam Định giành được suất thăng hạng Nhất 2015 sau khi đánh bại Vĩnh Long 4 - 0 trong trận chung kết hạng Nhì 2014 tại SVĐ Tam Kỳ - Quảng Nam. Năm 2015 CLB Bóng đá Nam Định thi dấu tại giải hạng nhất quốc gia 2015. Năm 2016 Nam Định xếp thứ 3 chung cuộc tham gia trận play off tại giải hạng nhất quốc gia 2016. == Thành tích == V-League: 1 1985 Cúp bóng đá Việt Nam: 1 2007 Giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam: 2 2004, 2011 Giải vô địch bóng đá U15 Việt Nam: 1 2008 Giải bóng đá hạng nhất quốc gia: 3 2016 == Đội hình hiện tại == Tính đến đầu mùa giải Hạng nhất 2017. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Thành viên nổi bật == === Vua phá lưới === Cầu thủ đoạt giải Vua phá lưới khi đang chơi cho Nam Định: Nguyễn Văn Dũng – 1984, 1985, 1986, 1998 Emeka Achilefu - 2003 Amaobi Uzowuru - 2004 == Huấn luyện viên == Lâm Ngọc Lập Ninh Văn Bảo Herve Renard Bùi Hữu Nam Nguyễn Ngọc Hảo Nguyễn Thế Cường Lê Hữu Tường Nguyễn Thế Cường Phạm Hồng Phú Phạm Hồng Phú == Thành tích từ khi có giải V-League == == Thành tích tại AFC Champions League == == Tín chương == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ câu lạc bộ bóng đá Nam Định Câu lạc bộ bóng đá Nam Định trên trang thể thao của Việt Nam Net
time warner.txt
Time Warner Inc. là một tập đoàn truyền thông giải trí của Mỹ có trụ sở chính tại New York. Tập đoàn này được thành lập vào năm 1972. Các lĩnh vực chủ yếu của tập đoàn là truyền hình, điện ảnh, âm nhạc, Internet, v.v... Time Warner sở hữu và có cổ phần tại khá nhiều kênh truyền nổi tiếng như HBO, Cartoon Network, CNN,... và các hãng phim Hollywood như Warner Bros, New Line Cinema, Tom and Jerry,... Ngoài ra Time Warner còn là chủ sở hữu AOL. Ngày 22/10/2016 AT&T thông báo đã đưa ra thỏa thuận mua lại Time Warner với giá 85 tỷ đô la Mỹ. == Tham khảo ==
phá sản.txt
Phá sản (hay còn gọi bình dân là sập tiệm) là tình trạng một công ty hay xí nghiệp khó khăn về tài chính, bị thua lỗ hoặc thanh lý xí nghiệp không đảm bảo đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn. Khi đó, tòa án hay một cơ quan tài phán có thẩm quyền sẽ tuyên bố công ty hay xí nghiệp đó bị phá sản. Có hai loại phá sản: phá sản đơn và phá sản gian lận. Phá sản đơn là khi người chủ công ty bất cẩn, thiếu tính toán, quản lý tồi, vay mượn tuỳ tiện, kế toán không minh bạch, không tôn trọng những nghĩa vụ đã cam kết, không khai báo cho toà án hay cơ quan có thẩm quyền về tình hình ngừng chi trả theo đúng thời hạn luật pháp quy định. Phá sản gian lận là khi người chủ công ty có ý gian trá trong kế toán, che giấu bớt tài sản nơ, khai tăng tài sản có. Phá sản gian lận bị phạt nặng hơn phá sản đơn. Việc phá sản có thể do chủ công ty tự nộp đơn xin phá sản, hay do một hoặc nhiều chủ nợ có đơn yêu cầu. Tài sản, tiền vốn của công ty có thể được mang bán đấu giá để thanh toán nợ. Một số quốc gia, cá nhân cũng có quyền tuyên bố phá sản. == Quốc gia phá sản == Một quốc gia được gọi là phá sản nếu trong tình trạng nợ quốc gia tới hạn trả lớn hơn số tiền có thể thanh toán tức thời. Trên thực tế, các quốc gia trong hoàn cảnh này sẽ tìm cách vay nợ mới để trả các nợ cũ. Một thí dụ là Iceland trong cuộc khủng hoảng kinh tế đã quốc hữu hóa 3 nhà băng lớn nhất 2008 và sau đó từ chối không trả nợ của các nhà băng này, như vậy đã phá sản vào tháng 10 năm 2008 , và được cho mượn 2,1 tỷ từ IMF và 2,5 tỷ từ các nước Bắc Âu lân cận. == Tham khảo == == Xem thêm == Phá sản doanh nghiệp == Liên kết ngoài == U.S. Federal Bankruptcy Courts Official U.S. Bankruptcy Statistics Executive Office for United States Bankruptcy Trustees Cornell Bankruptcy Laws National Association of Consumer Bankruptcy Attorneys Website of the Insolvency Service in the UK Bankruptcy Statistics in Hong Kong Bankruptcy Research Database (WebBRD)
nxp semiconductors.txt
NXP Semiconductors N.V. là một nhà sản xuất bán dẫn toàn cầu của Hà Lan có trụ sở ở Eindhoven, Hà Lan. Công ty có khoảng 45.000 nhân viên tại hơn 35 quốc gia, trong đó có 11.200 kỹ sư tại 23 quốc gia. NXP báo cáo doanh thu 6,1 tỷ USD vào năm 2015, bao gồm một tháng đóng góp doanh thu từ vụ sáp nhập Freescale Semiconductor. Vào ngày 27 tháng 10 năm 2016, Qualcomm được nói rằng sẽ mua lại NXP. == Mô tả == NXP cho biết họ là nhà cung cấp bán dẫn không có bộ nhớ lớn thứ năm vào năm 2016, và là nhà cung cấp bán dẫn hàng đầu cho ngành công nghiệp nhận dạng an toàn, ô tô và mạng kỹ thuật số. Công ty được thành lập vào năm 1953 như là một phần của công ty điện tử Philips, với sản xuất và phát triển ở Nijmegen, Hà Lan. Được biết đến như Philips Semiconductors, công ty đã được bán cho một tập đoàn các nhà đầu tư cổ phần tư nhân vào năm 2006, và khi đó công ty được đổi tên thành NXP. Vào ngày 6 tháng 8 năm 2010, NXP đã hoàn thành phát hành lần đầu ra công chúng, với cổ phiếu được giao dịch trên sàn NASDAQ dưới mã NXPI. Vào ngày 23 tháng 12 năm 2013, NXP Semiconductors được thêm vào NASDAQ 100. Sau cùng, vào ngày 2 tháng 3 năm 2015, đã có thông báo rằng NXP Semiconductors sẽ hợp nhất với nhà thiết kế và sản xuất chip Freescale Semiconductor trong một thương vụ 40 tỉ USD. Vụ sáp nhập được hoàn thành vào ngày 7 tháng 12 năm 2015. NXP sở hữu hơn 9000 bằng sáng chế hoặc đang chờ giải quyết. == Philips Semiconductors == == Sự ra mắt NXP Semiconductors N.V. == Tên gọi mới của công ty NXP (lấy từ Next eXPerience, nghĩa là trải nghiệm kế tiếp) được công bố vào ngày 31 tháng 8 năm 2006, và chính thức ra mắt trong Triển lãm Điện tử Tiêu dùng Quốc tế (IFA) ở Berlin. == Sự kiện đáng chú ý == Chủ tịch và giám đốc điều hành hiện tại Rick Clemmer tiếp quản vị trí từ Frans van Houten ào ngày 1 tháng 1 năm 2009. == Mua lại Freescale Semiconductor == Tháng 3 năm 2015, một thỏa thuận sáp nhập đã được thông báo thông qua đó NXP sẽ mua lại đối thủ Freescale Semiconductor. === Phân tích sáp nhập === == Các cơ sở trên toàn cầu == == Liên doanh và các lợi ích chính khác == Systems on Silicon Manufacturing company (SSMC) Pte. Ltd. (61%) Datang NXP Semiconductors Co., Ltd. (49%) Suzhou ASEN Semiconductors Co., Ltd (40%) Advanced Semiconductor Manufacturing Co. Ltd. (27%) Cohda Wireless Pty Ltd. (23%) == Xem thêm == Thẻ thông minh không tiếp xúc và thẻ cảm ứng NXP MIFARE NTAG Vi điều khiển NXP LPC NXP GreenChip == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức NXP's no-big-chip-in-the-middle strategy – EE Times article about NXP's high-performance mixed signal strategy FAQ around the MIFARE issue on NXP website
lễ hội.txt
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh. Các lễ hội cổ truyền phản ảnh hiện tượng đó. Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội. Tôn giáo thông qua lễ hội đê phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóa những thứ trần tục. Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảm bớt và chỉ còn mang nặng tính văn hóa. Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%). == Tham khảo ==
quần đảo biển san hô.txt
Lãnh thổ Quần đảo Biển San hô là tập hợp của các nhóm đảo và bãi đá ngầm có diện tích nhỏ và hầu như không có dân cư sinh sống tại Biển San hô. Đông bắc tiểu bang Queensland, Úc. Hòn đảo duy nhất có người sinh sống là Willis. Lãnh thổ trải ra trên 780.000 km² mặt biển, kéo dài trên phía đông và nam của rìa ngoài Đá ngầm Great Barrier, và gồm có đảo Heralds Beacon, Đá ngầm Osprey, Nhóm Willis, và 15 nhóm đảo/đá ngầm khác. == Lịch sử == Quần đảo Biển San hô được ghi trên bản đồ lần đầu tiên vào năm 1803; vào các năm 1870 và 1880, quần đảo đã xuất hiện ngành khai thác phân chim nhưng việc không có một nguồn cung cấp nước sạch thường xuyên đã ngăn cản việc cư trú lâu dài của con người. Lãnh thổ được thành lập năm 1969 theo Đạo luật Quần đảo Biển San hô (trước đó, khu vực này được coi là một phần của tiểu bang Queensland) và được mở rộng vào năm 1997 với việc sáp nhập thêm đá ngầm Elizabeth và Middleton cách đó gần 800 km về phía nam, trong biển Tasman. Quần đảo thuộc chủ quyền của Úc và được quản lý từ thủ đô Canberra. Quần đảo cũng được Hải quân Hoàng gia Úc thanh tra đều đặn. == Địa lý == Có khoảng 30 đá ngầm và đảo san hô vòng riêng biệt, 12 trong số đó hoàn toàn chìm dưới mặt biển hay chỉ nổi khi thủy triều xuống, và 18 đá ngầm và đảo san hô vòng còn lại gồm tổng cộng 51 hòn đảo nhỏ (trong đó đá ngầm Lihou có 18), một vài đảo có thực vật sinh trưởng. Các đảo san hô vòng có quy mô lớn về kích cỡ, từ vài kilômét đường kính đến có thể là đảo san hô vòng lớn thứ hai trên thế giới theo tổng diện tích (gồm cả đầm phá bên trong): Đá ngầm Lihou, với kích thước 100 và 30 km có diện tích là 2.500 km² trong khi chỉ bao gồm một diện tích đất liền 0,91 km² của 18 hòn đảo riêng lẻ. Ngoài ra có một số hòn đảo nhân tạo cũng được xây dựng. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Coral Sea Islands History and the list of other Australia territories (Australian Government, Attorney-General's Department)
đấu kiếm.txt
Đấu kiếm ngày nay còn gọi là môn đấu kiếm là một môn thể thao đối kháng trong chương trình thi đấu Thế vận hội ngày nay. Hai đấu sĩ thi đấu (còn gọi là kiếm sĩ) sẽ mặc các áo bảo hộ màu trắng, sử dụng các loại kiếm thuộc ba thể loại: kiếm ba cạnh, kiếm chém, liễu kiếm để đâm vào các bộ phận của đối phương. Đấu kiếm xuất phát từ môn thể thao dành cho giới quý tộc Pháp ở thế kỷ 15. == Đặc điểm == Môn thể thao này bề ngoài nhìn có vẻ là nguy hiểm nhưng tham gia mới biết đây là môn khá an toàn. Thường trong áo bảo hộ có gắn vi mạch điện tử, nếu kiếm sĩ đâm trúng đối phương thì máy sẽ báo hiệu để tính điểm. Các kiếm sĩ được bảo hộ rất nghiêm ngặt, họ mặc áo bảo hộ dày, đeo bao tay, đi ủng và đội mũ bảo hiểm che kín mặt. Phía sau lưng của kiếm sĩ có một sơi giây kéo. Khi chơi môn này người chơi phải tuân thủ các quy tắc mang mặt nạ cùng găng tay chuyên dụng để bảo vệ ống và cánh tay, áo và quần giáp, tất cả đều phải có đai giữ sau lưng, nách bảo vệ (plastron). Người chơi sử dụng kiếm không có lưỡi, đầu kiếm tròn với đường kính 5-8mm nên đâm vào người sẽ không gây chấn thương. Thông thường một kiếm thủ muốn thành tài phải có ít nhất 36 tháng rèn luyện cơ bản để có sự ổn định. Đấu kiếm giống như đánh cờ, phải tập trung trí não nhiều. Ở Việt Nam, đấu kiếm không phải là môn thể thao phổ biến, ít được nhiều người ưa chuộng tại Việt Nam và không có nhiều người tập luyện môn thể thao này. Không giống như đấu kiếm một mất một còn, liễu kiếm là môn thi đấu tính điểm. Nó đòi hỏi người thi đấu phải khéo léo, phản xạ nhanh, tính toán để có đường kiếm đạt điểm tối đa. == - Chú thích : ==
rwanda.txt
Rwanda IPA: [ɾ(g)wɑndɑ], tên chính thức Cộng hòa Rwanda (tiếng Việt: Cộng hòa Ru-an-đa; tiếng Pháp: République Rwandaise; tiếng Anh: Republic of Rwanda; tiếng Rwanda: Repubulika y'u Rwanda), là một quốc gia nhỏ nằm kín trong lục địa tại Vùng hồ lớn trung đông Phi. Nước này có dân số xấp xỉ 9 triệu người. Rwanda giáp biên giới với Uganda, Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo và Tanzania. Nước này có địa hình đồi và đất đai màu mỡ. Điều này giải thích danh hiệu "Vùng đất của một nghìn quả đồi, " (tiếng Pháp: Pays des Mille Collines, /pei de mil kɔ. lin/) ("Igihugu cy'Imisozi Igihumbi" trong tiếng Kinyarwanda.) Rwanda là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất lục địa đen. Nước này nổi tiếng trên thế giới về vụ diệt chủng năm 1994 dẫn tới cái chết của 1 triệu người chỉ trong 100 ngày nội chiến đẫm máu. Ngoài vụ thảm sát năm 1994, Rwanda cũng có một lịch sử xung đột lâu dài và tàn khốc, bạo lực và thảm sát hàng loạt. Rwanda phụ thuộc vào nông nghiệp tự cung tự cấp, mật độ dân số cao và ngày càng tăng, đất đai thoái hóa và khí hậu bất thường khiến tình trạng nghèo đói và suy dinh dưỡng lan rộng và đã thành một nạn dịch quốc gia. == Lịch sử == === Vương quốc Rwanda === Người Twa có lẽ đã từng sống trong và xung quanh Rwanda từ 35.000 năm. Theo truyền thuyết do những người châu Âu đầu tiên tới đây đưa ra, gồm cả John Hanning Speke, nhóm người Hutu đã tới Rwanda từ châu thổ sông Congo. Truyền thuyết này còn nói thêm rằng giữa thế kỷ 14 và 15, dân cư du mục đồng cỏ Tutsi đã tới đây từ Ethiopia, nơi họ lai một chút dòng máu da trắng. Theo cách này, những người định cư châu Âu giải thích nguồn gốc cái mũi hẹp và vóc dáng cao của nhóm người Tutsi—những đặc điểm được cho là riêng có của cái gọi là giống người da trắng thượng đẳng. Dù truyền thuyết này vẫn được lặp lại, thông thường là không có minh chứng về nguồn gốc, các nhà ngôn ngữ học và di truyền học hiện đại đặt nghi vấn về nó, câu chuyện có thể đã được kể lại tại những ngôi trường nông thôn thời thuộc địa và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội Rwanda., Thực tế, Kinyarwanda, ngôn ngữ của tất cả những người dân Rwanda, đã thống nhất đất nước. Nếu một người coi ngôn ngữ hình thành nên cơ bản của chủng tộc, như ở các quốc gia Châu Phi khác, thì tất cả người dân Rwanda đều thuộc nhóm sắc tộc Kinyarwanda. Hơn nữa, tất cả người dân Rwanda đều có, như họ vẫn đang có, cùng tôn giáo và văn hóa, dù Thiên chúa giáo sau này có thể thay thế các đức tin truyền thống Rwanda. Vì thế, theo những tiêu chuẩn được nhiều người công nhận, tất cả người dân Rwanda đều thuộc một sắc tộc. Rwanda thời tiền thuộc địa không còn lưu lại bất kỳ một văn bản nào, và điều thực tế đã diễn ra hiện chỉ còn lại lờ mờ sau những truyền thuyết do người châu Âu sáng tạo ra. Tuy nhiên, cái đã được biết rõ hiện nay là Vương quốc Rwanda đã từng ở trình độ tổ chức cao, là một xã hội đồng nhất, với tôn giáo và các câu truyện thần thoại riêng. Đất nước này, thậm chí khi ấy đã được biết đến vì tính kỷ luật của quân đội, đã thành công trong việc chống chọi các cuộc tấn công từ những kẻ ngoại bang, và tung ra những cuộc tấn công vào Vương quốc Burundi và vùng lãnh thổ phía tây hồ Kivu. Không có bằng chứng về sự bất hòa xã hội trước khi những người châu Âu đặt chân đến đây. Về mặt lịch sử, Rwanda đã tồn tại như một vương quốc dưới sự quản lý tập trung trung ương của một vị vua. Người dân Rwanda luôn có một nền văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ (kinyarwanda) chung. Họ chỉ khác nhau về mặt xã hội tùy theo mức độ tài sản (bò). Thông thường, tầng lớp Batutsi sống bằng chăn nuôi bò. Tầng lớp Abahutu sống bằng nông nghiệp còn người Batwa hoặc làm đồ gốm hoặc chuyên diễn trò giải trí trong hoàng cung. Tất cả ba tầng lớp trên đều phải đóng góp cho đức vua để đổi lấy sự bảo hộ và nhiều ân sủng khác. Người Batutsi mất gia súc vì dịch bệnh như Rinderpest sẽ trở thành người Bahutu và tương tự những người Bahutu có gia súc sẽ trở thành Batutsi nhờ thế leo lên một nấc trong hệ thống thứ bậc xã hội. Tính lưu động xã hội này đã bất ngờ chấm dứt khi chế độ quản lý thuộc địa xuất hiện. Những thứ từng là các cấp bậc xã hội cho tới thời điểm đó, trở thành dấu hiệu xã hội xác định không thể thay đổi và vì thế đã xuất hiện "các nhóm sắc tộc Tutsi, Hutus và Twa". Một số người thậm chí còn đi xa hơn khi tự cho mình là "các bộ tộc lớn của Rwanda". Một hệ thống tòa án truyền thống được gọi là Gacaca đã từng được coi là phương tiện tài phán chính giải quyết các xung đột, đóng vai trò phán xử và hòa giải. Đức vua là vị quan tòa tối cao và là trọng tài cho những trường hợp cần tới ông giải quyết. Dù hệ thống này xuất hiện một cách tự nhiên, sự hài hòa và liên kết đã từng được thiết lập trong những người Rwanda bên trong quốc gia. === Thời kỳ thuộc địa === Sau khi ký kết các hiệp ước với các vị thủ lĩnh vùng Tanganyika trong giai đoạn 1884-1885, Đức tuyên bố Tanganyika, Rwanda và Burundi là lãnh thổ của họ. Bá tước von Götzen đã gặp gỡ Tutsi Mwami lần đầu tiên năm 1894. Tuy nhiên, khi chỉ có 2.500 binh sĩ tại Đông Phi, Đức không muốn hành động nhiều trong việc thay đổi các cấu trúc xã hội tại hầu hết các vùng, đặc biệt là tại Rwanda. Sau cái chết của Mwami năm 1895, một giai đoạn bất ổn diễn ra. Những người Đức và các nhà truyền giáo khi ấy bắt đầu thâm nhập vào đất nước từ Tanganyika năm 1897-98. Tới năm 1899 những người Đức đã có một số ảnh hưởng qua việc thiết lập một số cố vấn bên trong các triều đình của những vị thủ lĩnh địa phương. Đa phần thời gian của người Đức là để chiến đấu chống lại các cuộc nổi dậy tại Tanganyika, đặc biệt là cuộc chiến tranh Maji-Maji giai đoạn 1905-1907. Ngày 14 tháng 5 năm 1910, Hội nghị châu Âu tại Brussels ấn định các biên giới của Uganda, Congo, và Đông Phi thuộc Đức gồm cả Tanganyika và Ruanda-Urundi. Năm 1911, người Đức giúp người Tutsi tiêu diệt một cuộc nổi dậy của người Hutus ở vùng phía bắc Rwanda, những người không muốn chịu sự quản lý của chính quyền trung ương Tutsi. Trong Thế chiến thứ I, năm 1916, các lực lượng Bỉ tiến từ Congo vào các thuộc địa vùng Đông Phi của Đức. Sau khi Đức thua trận, Bỉ chấp nhận Uỷ trị của Hội quốc Liên năm 1923 cai quản Ruanda-Urundi cùng Congo, trong khi Anh Quốc chấp nhận Tanganyika và các thuộc địa khác của Đức. Sau Thế chiến II Ruanda-Urundi trở thành một "Lãnh thổ uỷ thác" Liên hiệp quốc do Bỉ quản lý. Người Bỉ đã can thiệp vào trong vùng ở mức độ trực tiếp cao hơn nhiều so với Đức và mở rộng giám sát cả lĩnh vực giáo dục và nông nghiệp. Nông nghiệp là lĩnh vực đặc biệt quan trọng sau hai trận hạn hán và những nạn đói năm 1928-29 và 1943. Những nạn đói đó đã dẫn tới những làn sóng di cư lớn của người Rwanda tới nước Congo láng giềng. Những kẻ thực dân Bỉ cũng đã chấp nhận tầng lớp cai trị sẵn có trước đó, ví dụ, nhóm thiểu số Tutsi tầng lớp trên và các tầng lớp thấp hơn gồm người Hutus và người dân thường Tutsi. Tuy nhiên, vào năm 1926, Bỉ đã xóa bỏ các chức vụ "thủ lĩnh đất đai", "thủ lĩnh gia súc" và "thủ lĩnh quân đội" địa phương, và khi làm vậy họ đã tước đoạt của người Hutu quyền lực hạn chế của họ với đất đai. Trong thập niên 1920, dưới mối đe dọa quân sự, Bỉ cuối cùng đã giúp đỡ thành lập các vương quốc Hutu ở phía tây bắc, những vương quốc này được giữ quyền kiểm soát đất đai không thuộc sở hữu của Mwami, dưới sự quản lý của chính quyền hoàng gia Tutsi trung ương. Hai hành động này đã tước đi quyền chính trị của người Hutu. Những vùng đất to lớn, đã được tập trung hóa khi ấy bị chia thành nhiều vùng đất nhỏ thuộc quyền quản lý của các thủ lĩnh. Việc phân chia những vùng đất của người Hutu khiến Mwami Yuhi IV tức giận, ông đã hy vọng tập trung hơn nữa quyền lực của mình tới mức độ đủ mạnh để tống khứ những người Bỉ. Năm 1931 những âm mưu của người Tutsi chống lại chính quyền Bỉ khiến người Bỉ hạ bệ Tutsi Mwami Yuhi. Việc này khiến người Tutsi đứng lên cầm vũ khí chống Bỉ, nhưng vì sợ ưu thế quân sự của Bỉ, họ không dám ra mặt nổi dậy. Nhà thờ Cơ Đốc giáo La Mã và các chính quyền thuộc địa Bỉ coi người Hutu và người Tutsi là các dòng giống sắc tộc khác nhau dựa trên những khác biệt về hình thể và cách thức di cư. Tuy nhiên, vì sự tồn tại của nhiều người Hutu giàu có, những người có cùng tình trạng tài chính (nếu không phải là hình thể) tương tự người Tutsi, người Bỉ đã sử dụng thủ đoạn phân tầng xã hội dựa theo số lượng gia súc người đó sở hữu. Bất kỳ ai có mười con gia súc hoặc hơn được coi là một thành viên của tầng lớp quý tộc Tutsi. Từ năm 1935 trở về sau, "Tutsi", "Hutu" và "Twa" được ghi rõ trên chứng minh thư. Nhà thờ Cơ Đốc giáo La mã, những nhà sư phạm chủ chốt trong nước, cũng góp phần mở rộng những sự khác biệt giữa Hutu và Tutsi. Họ phát triển những hệ thống giáo dục riêng biệt cho mỗi nhóm. Trong thập niên 1940 và 1950 đa phần sinh viên là người Tutsi. Năm 1943, Mwami Mutari III trở thành vị vua Tutsi đầu tiên cải đạo theo Cơ Đốc giáo. Những kẻ thực dân Bỉ tiếp tục phải dựa vào tầng lớp quý tộc Tutsi để thu thuế và thực hiện các chính sách của mình. Họ duy trì ưu thế thống trị của Tutsi trong bộ máy hành chính thuộc địa và mở rộng hệ thống lao động Tutsi cho những mục đích thuộc địa. Liên hiệp quốc sau này đã chỉ trích chính sách này và yêu cầu tăng cường đại diện Hutu trong những vấn đề địa phương. Năm 1954 triều đình Tutsi của Ruanda-Urundi yêu cầu được độc lập khỏi Bỉ. Cùng lúc ấy họ đồng ý hủy bỏ hệ thống nô lệ giao kèo (ubuhake và uburetwa) những người Tutsi đã áp dụng với người Hutu cho tới thời điểm đó. Trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, một làn sóng Chủ nghĩa Liên Phi tràn khắp Trung Phi, với các nhà lãnh đạo như Julius Nyerere tại Tanzania và Patrice Lumumba tại Congo. Tình cảm chống thực dân nổi lên khắp Trung Phi, và một nền tảng chủ nghĩa xã hội cho sự thống nhất châu Phi cũng như sự bình đẳng cho tất cả người dân Châu Phi được xúc tiến. Chính Nyerere đã viết về sự phát triển các tầng lớp ưu tú của các hệ thống giáo dục, mà người Hutu coi là một bản cáo trạng về hệ thống giáo dục cho các tầng lớp ưu tú cho người Tutsi trong chính đất nước của họ. Được khuyến khích bởi những người ủng hộ Thuyết Liên Phi, người Hutu tán thành Nhà thờ Cơ đốc giáo, và bởi những tín đồ Thiên Chúa giáo Bỉ (những người dần có ảnh hưởng ở Congo), tình cảm chống giới quý tộc Tutsi của người Hutu dần phát triển. Sự uỷ trị của Liên Hiệp Quốc, tầng lớp lãnh chúa Tutsi, và những kẻ thực dân Bỉ đều góp phần vào tình trạng căng thẳng ngày càng tăng đó. Phong trào "giải phóng" của người Hutu xuất hiện nhờ Gregoire Kayibanda, người sáng lập PARMEHUTU, và chính ông đã viết "Hutu Manifesto" năm 1957. Phong trào này nhanh chóng được quân sự hóa. Để phản ứng, năm 1959, đảng UNAR được những người Tutsi với tham vọng giành độc lập ngay lập tức cho Ruanda-Burundi thành lập, dựa trên chế độ triều đình Tutsi sẵn có. Nhóm này cũng đã nhanh chóng được quân sự hóa. Những cuộc xích mích bắt đầu diễn ra giữa các nhóm UNAR và PARMEHUTU. Sau đó vào tháng 7 năm 1959, Tutsi Mwami (Vua) Mutara III Charles mà những người Rwanda Tutsi cho là đã bị ám sát, khi ông qua đời sau khi được một bác sĩ Flemish tiêm vắc xin thông thường tại Bujumbura. Người em trai nửa dòng máu của ông trở thành vị vua tiếp theo của Tutsi monarch, Mwami (Vua) Kigeli V. Tháng 11 năm 1959, các lực lượng Tutsi bắt giữ một chính trị gia Hutu, Dominique Mbonyumutwa, và những lời đồn đại về cái chết của ông ta đã gây ra tình trạng bạo lực chống lại người Tutsi được gọi là "làn gió phá hoại. " Hàng nghìn người Tutsi đã bị giết hại và hàng nghìn người khác, gồm cả Mwami, bỏ chạy tới nước Uganda láng giềng trước khi lực lượng đặc biệt của Bỉ tới vãn hồi trật tự. Nhiều người Bỉ sau này đã bị các lãnh đạo Tutsi lên án đã xúi giục những người Hutu gây ra bạo lực. Những người tị nạn Tutsi cũng bỏ chạy tới tỉnh Nam Kivu của Congo, nơi họ tự gọi mình là Bunyamalengi. Cuối cùng họ trở thành một lực lượng chính trong Cuộc chiến tranh Congo thứ nhất và thứ hai. Năm 1960, chính phủ Bỉ đồng ý tổ chức các cuộc bầu cử đô thị dân chủ tại Ruanda-Urundi, trong đó những đại diện người Hutu đã được cộng đồng Hutu đa số bầu lên. Sự thay đổi triệt để trong cơ cấu quyền lực này đa đe dọa hệ thống ưu thế có từ nhiều thế kỷ của người Tutsi được duy trì bởi chế độ quân chủ. Một nỗ lực nhằm thành lập một nhà nước Ruanda-Urundi độc lập với sự phân chia quyền lực Tutsi-Hutu đã không thành công, chủ yếu bởi sự leo thang bạo lực. Chính phủ Bỉ, với sự hối thúc của Liên hiệp quốc, vì thế đã quyết định chia Ruanda-Urundi thành hai quốc gia riêng biệt, Rwanda và Burundi. Mỗi nước đều tổ chức bầu cử riêng năm 1961 để chuẩn bị cho nền độc lập. Năm 1961, người Rwanda bỏ phiếu, thông qua cuộc trưng cầu dân ý và với sự hỗ trợ của chính phủ thuộc địa Bỉ, xóa bỏ chế độ quân chủ Tutsi và thành lập một chế độ cộng hòa. Dominique Mbonyumutwa, người sống sót sau cuộc tấn công trước đó, được chỉ định làm tổng thống đầu tiên của chính phủ chuyển tiếp. Trái lại, Burundi thành lập một nhà nước quân chủ chuyên chế, và trong cuộc bầu cử năm 1961 dẫn tới độc lập, Louis Rwagasore, con trai của Tutsi Mwami và là một chính trị gia cũng như một nhà hành động chống chế độ thuộc địa uy tín, đã được bầu làm Thủ tướng. Tuy nhiên, ông nhanh chóng bị ám sát. Chế độ quân chủ, với sự trợ giúp của quân đội, nhờ thế nắm lấy quyền kiểm soát đất nước, và không cho phép các cuộc bầu cử khác diễn ra cho tới tận năm 1965. Từ 1961 tới 1962, các nhóm du kích Tutsi đã bắt đầu tổ chức các cuộc tấn công vào Rwanda từ các nước láng giềng. Quân đội Rwanda với đa số là người Hutu đáp trả và hàng nghìn người đã thiệt mạng trong các cuộc xung đột. Ngày 1 tháng 7 năm 1962, Bỉ, với sự giám sát của Liên hiệp quốc, trao quyền độc lập hoàn toàn cho hai nước. Rwanda được thành lập với tư cách một nhà nước cộng hòa nằm dưới quyền quản lý của Phong trào Giải phóng Hutu (PARMEHUTU) đa số, đảng đã hoàn toàn nắm được quyền kiểm soát chính trị trong nước ở thời điểm đó. Năm 1963, một cuộc tấn công của du kích Tutsi vào Rwanda từ Burundi đã gây ra một làn sóng chống người Tutsi khác của chính phủ Hutu tại Rwanda, và ước tính 14.000 người đã bị giết hại. Để trả đũa, một liên minh kinh tế trước đó giữa Rwanda và Burundi đã bị giải tán và căng thẳng giữa hai nước gia tăng. Rwanda khi ấy đã trở thành quốc gia độc đảng với đa số Hutu chiếm ưu thế. === Sau khi độc lập === Gregoire Kayibanda, người sáng lập PARMEHUTU (và cũng là một người Hutu) là tổng thống đầu tiên (từ 1962 tới 1973), tiếp sau là Juvenal Habyarimana (giữ chức tổng thống từ 1973 tới 1994). Habyarimana, cũng là một người Hutu (từ vùng tây bắc Rwanda), nắm quyền từ Kayibanda trong một cuộc đảo chính năm 1973, tuyên bố chính phủ không hiệu quả và thiên vị. Ông đặt đảng chính trị của riêng mình vào trong chính phủ. Hành động này xảy ra như một phần sự phản kháng với cuộc diệt chủng Burundi năm 1972, với kết quả là làn sóng những người tị nạn Hutu và tình trạng bất ổn xã hội sau đó. Nhiều người coi ông là một kẻ độc tài tàn nhẫn, dù, 20 năm cầm quyền của ông để lại dấu ấn bằng một chính sách bàn tay sắt chống lại cả những người Tutsi và những người Hutu ôn hòa phản đối ông. Ông khước từ tất cả những lời kêu gọi tổ chức tuyển cử tự do và phản đối những lời yêu cầu của người tị nạn Tutsi về quyền quay trở về của họ. (Tới thập niên 1990, Rwanda có tới một triệu người tị nạn, cả Tutsi và Hutu, sống rải rác ở các quốc gia láng giềng, tại Uganda, Congo, Burundi, và Tanzania.) Dù có những vấn đề như vậy, Rwanda vẫn có nền kinh tế khá thịnh vượng trong thời gian cầm quyền đầu tiên của chính quyền này. === Quan hệ tương hỗ với các sự kiện tại Burundi === Tình hình tại Rwanda bị ảnh hưởng lớn từ tình hình Burundi. Cả hai nước đều có cộng đồng Hutu đa số, dù một chính phủ quân đội của người Tutsi đã cầm quyền tại Burundi trong nhiều thập kỷ. Sau vụ ám sát Rwagasore, đảng UPRONA của ông phân rẽ thành các nhánh Tutsi và Hutu. Một vị Thủ tướng người Tutsi đã được vương triều chọn lựa, nhưng, một năm sau vào năm 1963, triều đình buộc phải chỉ định một vị thủ tướng người Hutu, Pierre Ngendandumwe, trong nỗ lực nhằm đối phó với tình trạng bất ổn ngày càng tăng trong số người Hutu. Tuy nhiên, triều đình đã nhanh chóng phải thay thế ông bằng một vị hoàng tử Tutsi khác. Trong cuộc bầu cử đầu tiên tại Burundi sau độc lập, năm 1965, Ngendandumwe được bầu làm Thủ tướng. Ông ngay lập tức bị một kẻ cực đoan người Tutsi ám sát và được thay thế bởi một người Hutu là Joseph Bamina. Người Hutu thắng 23/33 ghế trong cuộc tuyển cử quốc gia vài tháng sau đó, nhưng triều đình hủy bỏ kết quả cuộc bầu cử. Bamina cũng nhanh chóng bị ám sát và vị quốc vương người Tutsi đưa thư ký riêng của mình, Leopold Biha, lên làm thủ tướng. Điều này dẫn tới một cuộc đảo chính của người Hut khiến Mwami phải bỏ chạy khỏi đất nước và Biha bị bắn (nhưng không chết). Quân đội dưới quyền chỉ huy ưu thế của người Tutsi, do Michel Micombero lãnh đạo đã phản ứng mãnh liệt: hầu như tất cả các chính trị gia Hutu đều bị giết hại. Micombero nắm quyền kiểm soát chính phủ và vài tháng sau hạ bệ một vị quốc vương Tutsi mới (con trai của nhà vua cũ) và xóa bỏ vai trò của triều đình. Sau đó ông đe dọa xâm lược Rwanda. Một chính quyền độc tài quân sự tồn tại ở Burundi trong 27 năm tiếp theo, cho tới cuộc bầu cử tự do năm 1993. 7 năm bạo lực không liên tục diễn ra tại Burundi (từ 1965 - 1972) giữa người Hutu và người Tutsi. Năm 1969 một cuộc thanh trừng người Hutu của giới quân sự Tutsi diễn ra. Khi ấy, một cuộc nổi dậy mang tính địa phương của người Hutu năm 1972 đã bị quân đội Burundi trong tay người Tutsi đàn áp dã man trong cuộc diệt chủng người Hutu tại Burundi lớn nhất, với con số người chết lên tới 200.000. Làn sóng bạo lực này dẫn tới một làn sóng người tị nạn của người Hutu từ Burundi xuyên biên giới vào Rwanda. Hiện có nhiều người tị nạn cả Hutu và Tutsi sống ở khắp vùng, và căng thẳng tiếp tục gia tăng. Năm 1988, tình trạng bạo lực của người Hutu chống lại người Tutsi trên khắp vùng miền bắc Burundi một lần nữa diễn ra, quân đội Tutsi trả đũa bằng cuộc thảm sát khiến hơn 20.000 người Hutu thiệt mạng. Một lần nữa hàng nghìn người Hutu buộc phải chạy tị nạn vào Tanzania và Congo tránh một cuộc diệt chủng người Hutu nữa. === Nội chiến === Năm 1986, các lực lượng du kích của Yoweri Museveni tại Uganda đã nắm được quyền kiểm soát nước này, lật đổ nhà độc tài Uganda Milton Obote. Nhiều người tị nạn Rwandan Tutsi tại Uganda đã gia nhập các lực lượng nổi dậy của ông và khi ấy đã trở thành một phần của quân đội Uganda, được thành lập từ các lực lượng du kích của Museveni. Tuy nhiên, người Uganda phẫn nộ với sự hiện diện của người Rwanda trong quân đội mới của mình, và vào năm 1986 Paul Kagame, một người Tutsi đã trở thành lãnh đạo cơ quan tình báo quân đội trong lực lượng quân đội Uganda mới của Museveni, đã thành lập RPF, Mặt trận Yêu nước Rwanda, cùng với Fred Rwigema. Họ bắt đầu huấn luyện đội quân của mình để xâm lược Rwanda từ Uganda, và nhiều người Tutsi từng ở trong quân đội Uganda gia nhập RPF. Kagame cũng nhận được sự trợ giúp huấn luyện quân sự từ Hoa Kỳ. Năm 1991, một đài phát thanh với những chương trình ủng hộ RPF từ Uganda được RPF thành lập. Trước mối đe dọa từ RPF, quân đội Rwanda người Hutu của Juvénal Habyarimana cũng bắt đầu huấn luyện những thanh niên Hutu vào trong những đội quân không chính thức được gọi là Interahamwe (một thuật ngữ gần có nghĩa "những người cùng chiến đấu"). Năm 1990, đảng RPF của đa số Tutsi xâm lược Rwanda từ Uganda. Năm 1993, một số thành viên liên minh với chính phủ độc tài quân sự của Habyarimana phản ứng lại cuộc xâm lược của RPF với việc đài truyền thanh bắt đầu phát đi những chương trình chống Tutsi và khuyến khích cuộc tàn sát chống người Tutsi, sắc tộc mà họ cho rằng đang tìm cách tái lập chế độ nô lệ lên người Hutu. Tuy nhiên, sau ba năm chiến đấu và nhiều lần "ngừng bắn", chính phủ và RPF đã ký một thỏa thuận ngừng bắn "cuối cùng" vào tháng 8 năm 1993, được gọi là thỏa thuận Arusha, nhằm thành lập một chính phủ chia sẻ quyền lực. Tuy nhiên, không bên nào có vẻ sẵn sàng chấp nhận thỏa thuận, và những trận đánh tiếp diễn giữa hai phía. Tình hình trở nên xấu đi sau khi vị tổng thống đầu tiên do dân bầu của Burundi, Melchior Ndadaye, một người Hutu, bị quân đội Burundi do đa số Tutsi lãnh đạo ám sát tháng 10 năm 1993. Tại Burundi, một cuộc nội chiến đẫm máu nổ ra giữa người Tutsi và Hutu sau cuộc thảm sát của quân đội, và hàng chục nghìn người, cả Tutsi và Hutu đã bị giết hại trong cuộc xung đột. Cuộc xung đột này tràn qua biên giới vào Rwanda và khiến nền hòa bình mong manh tại Rwandan sau thỏa thuận Arusha nhanh chóng tan vỡ. Tình trạng thù địch Tutsi-Hutu nhanh chóng dâng cao. Dù Liên hiệp quốc đã gửi một lực lượng hòa bình là Phái bộ Hỗ trợ Liên hiệp quốc cho Rwanda (UNAMIR) tới đây, nhưng lực lượng này không được cấp tiền, nhân sự và hoàn toàn không có hiệu quả trong cuộc nội chiến ở hai nước, như Trung tướng Roméo Dallaire đã viết trong cuốn Bắt tay với ma quỷ của ông. Trong cuộc xung đột quân sự tại Rwanda, RPF bị cáo buộc ném bom thủ đô Kigali. Ngày 6 tháng 4 năm 1994, tổng thống người Hutu của Rwanda và vị tổng thống mới được bầu thứ hai của Burundi (cũng là một người Hutu) đều bị ám sát khi chiếc máy bay của họ bị bắn hạ, được cho là từ những quả tên lửa của quân đội Uganda, khi đang hạ cánh tại Kigali. Một tòa án Pháp đã cáo buộc hành động này thuộc các lực lượng RPF của Kagame. Tuy nhiên, Kagame, một chuyên gia tình báo quân sự và tuyên truyền luôn bác bỏ và cho rằng những người Hutu bất bình đã giết hại vị tổng thống của họ, cũng như vị tổng thống người Hutu của Burundi, để bào chữa cho cuộc diệt chủng khi ấy đang diễn ra với "sự tham gia của Pháp" cũng như du kích quân Hutu. Trả đũa vụ ám sát hai vị tổng thống vào tháng 4, trong vòng ba tháng sau đó (tháng 4 - tháng 7 năm 1994) quân đội do người Hutu lãnh đạo và các nhóm du kích Interahamwe đã giết hại khoảng 800.000 người Tutsi và người Hutu ôn hòa trong cuộc "Diệt chủng Rwanda". Tuy nhiên, đảng RPF của người Tutsi tiếp tục tiến về thủ đô, và nhanh chóng chiếm vùng phía bắc, phía đông và phía tây đất nước vào tháng 6. Hàng nghìn thường dân khác bị giết hại trong cuộc xung đột. Các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc từ chối những yêu cầu của UNAMIR về binh lính và tài chính. Trong lúc ấy, dù quân đội Pháp đã được triển khai để "ổn định tình hình, " họ chỉ có thể sơ tán những người ngoại quốc tại đây. Từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1994, quân đội RPF Tutsi của Kagame tiến vào Kigali và nhanh chóng chiếm các vùng còn lại của đất nước. Hơn hai triệu người Hutu đã phải bỏ chạy khỏi đất nước, gây ra Cuộc khủng khoảng người tị nạn Hồ lớn. Nhiều người tới vùng Đông Zaire (chủ yếu là tỉnh Bắc Kivu). Từ năm 1994 tới 1996, chính phủ RPA của người Tutsi dưới sự lãnh đạo của Paul Kagame tiếp tục cuộc báo thù chống lại người Hutu ở Rwanda. Để tiếp tục các cuộc tấn công vào các lực lượng Hutu Interahamwe đã bỏ chạy sang Đông Zaire, các lực lượng RPA của Kagame xâm lược Zaire năm 1996, sau những cuộc đàm phán trước đó của Kagame với các quan chức Mỹ. Trong cuộc xâm lược này Kagame liên minh với Laurent Kabila, một nhà cách mạng mác xít ở Đông Zaire người từ lâu kẻ thù của nhà độc tài Zaire, Mobutu Sese Seko. Kagame cũng được các lực lượng Uganda của Yoweri Museveni ủng hộ, hai người đã cùng được huấn luyện hồi cuối thập niên 1980, các lực lượng Uganda tấn công Zaire từ phía đông bắc. Sự kiện này bắt đầu được gọi là cuộc Chiến tranh Congo lần thứ nhất. Trong cuộc chiến này, những người tị nạn Tutsi được trang bị vũ khí ở vùng Nam Kivu của Zaire, được gọi là Banyamulenge để phân biệt với những người Tutsi Rwanda, liên minh với các lực lượng Tutsi RDF chống lại những người tị nạn Hutu ở vùng Bắc Kivu, gồm cả nhóm du kích Interahamwe. Giữa cuộc xung đột, Kabila, người có mục tiêu chủ yếu là hạ bệ Mobutu, dời các lực lượng của mình tới Kinshasa, và vào năm 1997, năm Mobutu Sese Seko chết vì ung thư tuyến tiền liệt, Kabila chiếm Kinshasa và trở thành tổng thống Zaire, sau đó được ông đổi tên thành Cộng hòa Dân chủ Congo. Với thắng lợi của Kabila tại Congo, ông không còn muốn liên minh với quân đội Rwanda của phe Tutsi-RDF và các lực lượng Uganda nữa, và vào tháng 8 năm 1998 ông ra lệnh cho cả quân đội Uganda và Rwanda Tutsi rời khỏi Cộng hòa Dân chủ Congo. Tuy nhiên, cả các lực lượng Rwanda Tutsi của Kagame và các lực lượng Uganda của Meseveni đều không có ý định rời khỏi Congo, và bối cảnh cho cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai hình thành. Trong cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai, du kích quân của Banyamulenge tại tỉnh Kivu thuộc Congo muốn sáp nhập mình với Rwanda (khi ấy đã thuộc các lực lượng đa số Tutsi trong chính phủ Kagame). Kagame cũng muốn điều này, vừa để tăng cường sức mạnh của Rwanda khi có thêm vùng Kivu, và cũng tăng số dân Tutsi, mà Banyamulenge hy vọng sẽ trở thành hậu thuẫn chính trị quan trọng cho ông ở Rwanda. Trong cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai, Uganda và Rwanda muốn giành lấy lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo khỏi tay các lực lượng Kabila, và hầu như đã thành công. Tuy nhiên, vì những vấn đề tài chính cá nhân liên quan tới nhiều vị lãnh đạo quanh vùng Nam Phi ở Congo (như Robert Mugabe và Sam Nujoma), các đội quân đã được phái tới hỗ trợ cho Kabila, đáng chú ý nhất là quân đội Angola và Zimbabwe. Những đội quân này đẩy lùi các lực lượng Rwanda Tutsi của Kagame và các lực lượng Uganda. Trong cuộc xung đột lớn trong giai đoạn 1998 - 2002, trong đó Congo bị chia thành ba phần, nhiều nhóm du kích cơ hội, được gọi là Mai Mai, xuất hiện, được cung cấp bởi những tay buôn lậu vũ khí trên thế giới, kiếm lợi từ việc buôn bán vũ khí nhỏ, gồm cả Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc và các nước khác. Hơn 3.8 triệu người đã chết trong cuộc xung đột này, cũng như đa số thú vật sống trong vùng. Laurent Kabila bị ám sát tại Cộng hòa Dân chủ Congo năm 2001, con trai ông, Joseph Kabila, lên nắm quyền. Nhiều người Congo cho rằng Joseph Kabila là con của một bà mẹ Tutsi Rwanda và người cha thực sự của ông là một người bạn của Laurent Kabila; ông đã được Laurent Kabila nhận làm con khi Laurent lấy bà mẹ người Rwanda của Joseph như một trong những người vợ của mình. Joseph nói thành thạo tiếng Rwanda và đã được giáo dục tại Tanzania, Uganda, Rwanda, và Trung Quốc. Sau khi làm việc 5 năm với tư cách tổng thống chính phủ chuyển tiếp, ông trúng cử trong một cuộc bầu cử tự do trở thành tổng thống năm 2006, phần lớn nhờ sự hỗ trợ có được từ Đông Congo. Các lực lượng Uganda và Rwanda trong Congo bắt đầu đánh lẫn nhau để giành lãnh thổ, và du kích quân Mai Mai Congo, hoạt động mạnh nhất tại các tỉnh Nam và Bắc Kivu (nơi đa số người tị nạn sinh sống lợi dụng cơ hội xung đột để kiếm chác và mở rộng cuộc xung đột, đánh lẫn nhau, đánh các lực lượng Uganda và Rwanda, và thậm chí cả các lực lượng Congo). Trớ trêu thay, chính Banyamulengi, nhóm người tị nạn Tutsi lớn ở Congo, đã góp phần chấm dứt cuộc xung đột. Mệt mỏi vì cuộc chiến kéo dài, họ nổi dậy chống quân đội Rwanda của Kagame và buộc lực lượng này phải rút về Rwanda, cho phép Kabila tái nắm quyền kiểm soát Đông Congo với sự hỗ trợ của các lực lượng Angola và Zimbabwe. Quân đội RPF Rwanda cuối cùng đã rời Congo năm 2002, để lại một làn sóng bệnh dịch và thiếu dinh dưỡng tiếp tục giết hại hàng nghìn người mỗi tháng. Tuy nhiên, quân nổi loạn Rwanda tiếp tục hoạt động (tháng 5 năm 2007) ở miền đông bắc Congo và các vùng Kivu. Họ được cho là những kẻ còn lại của các lực lượng Hutu và không được phép quay trở lại Rwanda without facing genocide charges, yet are not welcomed in Congo and are pursued by DRC troops. In the first 6 months of 2007, over 260.000 civilians were displaced. Congolese Mai Mai rebels also continue to threaten people and wildlife. Dù có nỗ lực to lớn để giải giáp các nhóm du kích, với sự hỗ trợ của quân lính Liên hiệp quốc, những du kích quân cuối cùng chỉ chịu từ bỏ vũ khí năm 2007. Tuy nhiên, những cuộc xung đột đẫm máu ở các vùng đông bắc Congo giữa các bộ tộc địa phương tại vùng Ituri, ban đầu không liên quan tới cuộc xung đột Hutu-Tutsi nhưng đã trở thành một phần của cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai, vẫn tiếp diễn. Tại Burundi, cuộc Nội chiến Burundi từ 1993 tới 2006 trùng khớp với cuộc Chiến tranh Congo lần thứ nhất và thứ hai. Ít nhất 300.000 người Burundi đã thiệt mạng, và người tị nạn sang Tanzania và Congo đã khiến rất nhiều người phải rời bỏ nhà cửa. Tháng 8 năm 2005, một người Hutu Thiên chúa giáo, Pierre Nkurunziza, được bầu làm tổng thống Burundi. Ít nhất ba thỏa thuận ngừng bắn đã được ký kết giữa các nhóm phiến loạn và các lực lượng Burundi, vào năm 2003, 2005, và tháng 9 năm 2006. Sự ổn định tại Rwanda rõ ràng phụ thuộc vào sự ổn định ở Đông Cộng hòa Dân chủ Congo và Burundi. === Sau nội chiến === Sau khi đảng RPF của người Tutsi nắm quyền kiểm soát chính phủ, Kagame đã đặt lên một vị tổng thống người Hutu, Pasteur Bizimungu, năm 1994. Nhiều người tin rằng ông ta chỉ là một vị tổng thống con rối, tuy nhiên khi Bizimungu bắt đầu chỉ trích chính phủ Kagame năm 2000, ông đã bị lật đổ khỏi chức vụ tổng thống và chính Kagame lên nắm giữ chức này. Bizimungu ngay lập tức thành lập một đảng đối lập (the PDR), nhưng nó đã bị chính phủ Kagame cấm hoạt động. Bizimungu bị bắt giữ năm 2002 vì tội phản bội, kết án 15 năm tù, nhưng đã được thả ra theo lệnh ân xá của tổng thống năm 2007. Sau khi nắm quyền kiểm soát chính phủ năm 1994 sau cuộc nội chiến, đảng RDF của người Tutsi đã viết lại lịch sử cuộc thảm sát và nêu các sự kiện theo quan điểm của họ trong hiến pháp năm 2003. Năm 2004, một buổi lễ được tổ chức tại Kigali ở đài Tưởng niệm Gisozi (do Aegis Trust tài trợ và được nhiều chính khách nước ngoài tham dự) để kỷ niệm năm thứ mười của cuộc thảm sát, và đất nước này dành ra một ngày quốc tang mỗi năm vào ngày 7 tháng 4 để kỷ niệm sự kiện này. Các lãnh đạo vụ thảm sát người Hutu đang bị xét xử tại Tòa án Tội phạm Rwanda, trong hệ thống Tòa án Quốc gia Rwanda, và, hầu hết ở gần đây, qua chương trình công lý chính thức Gacaca. Những báo cáo gần đây nêu ra một số vụ giết hại những người còn sống sót vì đã ra làm chứng tại gacaca. Nhiều người cho rằng việc đưa ra tưởng nhớ vụ thảm sát mà không có sự chấp nhận những tội ác do đảng RDF của người Tutsi tiến hành là thiên lệch, và là một phần trong chiến dịch tuyên truyền đang diễn ra của chính phủ do người Tutsi quản lý, là chính phủ độc đảng ở thời điểm hiện tại. Tác giả cuốn Hotel Rwanda, Paul Rusesabagina, đã yêu cầu Paul Kagame, tổng thống hiện tại của Rwanda, phải được đưa ra xét xử như một tội phạm chiến tranh. Cuộc xâm lược Rwanda của Kagame năm 1990 và Zaire/Congo trong cuộc Chiến tranh Congo lần thứ nhất và thứ hai đã gây ra cái chết của hơn 4 triệu người. Cuộc bầu cử đầu tiên từ cuộc xâm lược Rwanda của các lực lượng Kagame năm 1990 (và sự thành lập chính phủ quân sự Kagame năm 1994) được tổ chức năm 2003. Kagame, người đã được chính phủ của ông chỉ định làm tổng thống, sau đó đã "trúng cử" tổng thống với 95% số phiếu. Các đảng đối lập đã bị cấm tới ngay trước cuộc bầu cử năm 2003. Sau cuộc bầu cử, năm 2004, một sửa đổi hiến pháp cấm các đảng chính trị thể hiện liên minh với "Hutu" hay "Tutsi" đã được đưa ra. Tuy nhiên, đảng RPF, một tổ chức chính trị chủ yếu gồm người Tutsi, không bị giải tán và vì thế vẫn tiếp tục nắm giữ ưu thế của mình. Đa số nhà quan sát vì thế không tin cuộc bầu cử năm 2003 là tự do và mang tính đại diện cho đất nước. Cuộc bầu cử đã được so sánh với cuộc "bầu cử tự do" của đảng ZANU của Robert Mugabe tại Zimbabwe. Cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo sẽ được tổ chức năm 2010. === Tái thiết === Rwanda ngày nay đang phải chiến đấu để hồi phục và tái thiết, nhưng đã có những dấu hiệu về một sự phát triển khá nhanh chóng. Một số người Rwanda tiếp tục vật lộn với di sản của 60 năm chiến tranh. Một cơ quan tham gia tái thiết Rwanda là Benebikira Sisters, một tổ chức các nữ tu sĩ Thiên chúa giáo, họ đang chú trọng vào giáo dục và y tế. Từ cuộc diệt chủng, các nữ tu đã cung cấp chỗ ở và nuôi nấng hàng trăm trẻ mồ côi, và lập ra các trường giáo dục cho thế hệ tiếp sau của Rwanda. Các thị trường xuất khẩu chính của Rwanda là Bỉ, Đức, và Trung Quốc. Vào tháng 4 năm 2007, một thỏa thuận đầu tư và thương mại giữa Bỉ và Rwanda đã bắt đầu có hiệu lực. Bỉ đóng góp $25–35 triệu euro mỗi năm cho Rwanda. Chương trình hợp tác của Bỉ với Bộ nông nghiệp và gia súc tiếp tục phát triển và tái thiết các cơ sở nông nghiệp trong nước. Nước này cung cấp các trang thiết bị nông nghiệp và giống cho Rwanda. Bỉ cũng giúp tái xây dựng ngành đánh bắt thủy sản trên Hồ Kivu, với giá trị US$470.000, năm 2001. Ở Đông Rwanda, Sáng kiến Phát triển Săn bắn Clinton, cùng với Đối tác Sức khỏe, đang giúp đỡ cải thiện hiệu suất nông nghiệp, cải thiện chất lượng nước và các dịch vụ y tế, và giúp các sản phẩm nông nghiệp tiếp cận với các thị trường quốc tế. == Chính trị == Sau thắng lợi quân sự của mình hồi tháng 7 năm 1994, Mặt trận yêu nước Rwanda đã tổ chức một chính phủ liên minh lỏng lẻo dựa trên thỏa thuận Arusha năm 1993. Mặt trận Quốc gia vì Dân chủ và Phát triển – đảng của Habyarimana đã xúi giục và tiến hành hệ tư tưởng diệt chủng– cùng với CDR (một đảng cực đoan Hutu khác) đã bị cấm hoạt động, với đa số các lãnh đạo của hai đảng này hoặc bị bắt hoặc phải chạy ra nước ngoài. Không rõ hiện có bất kỳ một đảng Hutu nào được phép hoạt động tại Rwanda hay không. Sau cuộc diệt chủng năm 1994, RPF đã thành lập một chính phủ độc đảng "dựa trên cơ sở liên minh. " Paul Kagame trở thành Phó tổng thống. Năm 2000, ông được nghị viện bầu làm Tổng thống Rwanda. Một hiến pháp mới, do chính phủ Kagame soạn thảo, đã được thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2003. Cuộc bầu cử tổng thống và nghị viện đầu tiên thời hậu chiến đã được tổ chức vào tháng 8 và tháng 9 năm 2003. Các đảng đối lập bị cấm hoạt động cho đến ngay trước cuộc bầu cử vì thế không có sự đối lập thực sự với RPF. Chính phủ do RPF lãnh đạo tiếp tục khuyến khích tái thiết và thống nhất trong toàn bộ người dân Rwanda như được quy định trong hiến pháp mới ngăn cấm bất kỳ hành động chính trị dựa trên sự phân biệt sắc tộc, dòng giống hay tôn giáo. Quyền quay trở về nước của những người Rwanda đã phải bỏ nước ra đi trong giai đoạn 1959 tới 1994, đặc biệt là người Tutsi, được đảm bảo trong hiến pháp, nhưng lại không đề cập tới quyền quay trở về của người Hutu đã phải bỏ chạy tới Congo trong làn sóng khủng hoảng người tị nạn lớn năm 1994-1998 trước các lực lượng RPF của Kagame. Tuy nhiên, hiến pháp đảm bảo "Tất cả những người có nguồn gốc từ Rwanda và con cháu của họ, sẽ, khi họ yêu cầu, được trao quốc tịch Rwanda" và "Không người Rwanda nào sẽ bị trục xuất khỏi đất nước. " Theo luật pháp, ít nhất một phần ba đại diện nghị viện phải là phụ nữ. Mọi người tin rằng phụ nữ sẽ không cho phép những cuộc giết người hàng loạt như trong quá khứ diễn ra một lần nữa. Rwanda đứng đầu trong một cuộc điều tra gần đây trên toàn thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong nghị viện với đại diện phụ nữ lên tới 49%, cao nhất thế giới. Thượng viện có ít nhất 26 thành viên, mỗi người phục vụ nhiệm kỳ 8 năm. Ít nhất 1/3 vị trí phải do phụ nữ nắm giữ. 8 vị trí do Tổng thống chỉ định. 12 được bầu theo đại diện từ 11 tỉnh và thành phố Kigali. Bốn thành viên được Tòa án Các tổ chức Chính trị (một tổ chức gần giống hình thức chính phủ hiện là một phương tiện của đảng chính trị ưu thế) đề xuất; một thành viên là giảng viên đại học hay nhà nghiên cứu được các trường đại học công bầu ra; một thành viên là giảng viên đại học hay nhà nghiên cứu do các trường đại học tư bầu. Bất kỳ một cựu tổng thống nào đều có quyền hiện diện thường trực trong Thượng viện. Theo hệ thống này, có tới 12 thành viên Thượng viện do Tổng thống và đảng của ông chỉ định. Các thành viên được bầu phải được Tòa án Tối cao thông qua. 14 thành viên của Tòa án Tối cao được Tổng thống đề nghị và được Thượng viện thông qua. Viện đại biểu có 80 thành viên, với nhiệm kỳ 5 năm; 24 ghế được dành cho phụ nữ và do các tỉnh bầu ra; 53 ghế có thể là phụ nữ hay nam giới và cũng được bầu bởi các cuộc bầu cử địa phương; 2 ghế được bầy bởi Hội đồng Thanh niên Quốc gia; 1 ghế do Liên hiệp các hội người tàn tật bầu. Tổng thống và Người phát ngôn Viện đại biểu phải thuộc các đảng chính trị khác nhau. Tổng thống được bầu với nhiệm kỳ 7 năm và có thể phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ. Tuy nhiên, vào năm 2006 cơ cấu quốc gia đã được tổ chức lại. Hiện không rõ nó ảnh hưởng sau tới các tỷ lệ đại biểu được bầu. Chính phủ Rwandan hiện nay, do Paul Kagame lãnh đạo, đã được ca ngợi vì mang lại được an ninh, sự hòa giải và phát triển kinh tế, nhưng cũng bị chỉ trích bởi một số hành động quá thiên về quân sự và không khoan dung đối lập. Đất nước này hiện thu hút nhiều khách du lịch quốc tế và được coi là một điểm đến an toàn của du khách, với chỉ một vụ tấn công lựu đạn duy nhất vào đầu năm 2007 quanh Vườn quốc gia Volcanoes gần Gisenyi. Với các đài truyền thanh và báo chí độc lập mới, Rwanda đang nỗ lực xây dựng một nền báo chí tự do, nhưng đã có những báo cáo về sự mất tích của các nhà báo và những rắc rối với những bài báo có ý nghi ngờ chính phủ. Việc tiếp sóng France International đã bị chính phủ Rwanda ngăn cấm năm 2006 khi đài này bắt đầu chỉ trích Kagame và RPF. == Phân chia hành chính == Rwanda được chia thành năm tỉnh (tiếng Rwanda|intara}}) và các tỉnh được chia tiếp thành ba mươi quận (tiếng Rwanda|akarere}}). Các tỉnh gồm: Tỉnh Bắc Tỉnh Đông Tỉnh Nam Tỉnh Tây Tỉnh Kigali Trước ngày 1 tháng 1 năm 2006, Rwanda có mười hai tỉnh, nhưng chúng đã bị xóa bỏ và phân chia lại như một phần của chương trình phi trung ương hóa và tái tổ chức. == Địa lý == Đất nước nhỏ này nằm gần trung tâm châu Phi, vài độ chếch hướng nam xích đạo. Rwanda ngăn cách với Cộng hòa Dân chủ Congo bởi Hồ Kivu và thung lũng Sông Ruzizi ở hướng tây; ở phía bắc nước này giáp với Uganda, và phía đông với Tanzania, phía nam với Burundi. Thủ đô Kigali nằm ở trung tâm đất nước. Vùng nông thôn Rwanda chủ yếu là những cánh đồng cỏ và những trang trại nhỏ trải dài theo những ngọn đồi, với những diện tích bị ngăn cách bởi các dãy núi chạy về phía đông nam từ một dãy núi lửa ở phía tây bắc. Sự phân chia giữa các hệ thống sông Congo và Nin trải dài từ bắc xuống nam qua tây Rwanda ở độ cao trung bình lên tới 9.000 foot (2.740 m). Trên những sườn phía tây dải núi này, các vùng đất dốc bất ngờ chuyển hướng về Hồ Kivu và châu thổ sông Ruzizi, và hình thành một phần của Thung lũng tách giãn Lớn. Các sườn phía đông thoai thoải hơn, với các ngọn đồi trải dài suốt những vùng đất cao trung tâm và dần nâng độ cao, tới các đồng bằng, đầm lầy và hồ nước ở vùng biên giới phía đông. Vì thế nước này cũng được gọi là "Vùng đất một nghìn quả đồi". Năm 2006, một đoàn thám hiểm của người Anh đã thông báo rằng họ định vị được dòng đầu nguồn dài nhất của Sông Nin tại Rừng Nyungwe. == Khí hậu == Rwanda là một quốc gia nhiệt đới; độ cao lớn khiến nước này có khí hậu ôn hòa. Ở vùng núi, băng giá và tuyết có thể xảy ra. Nhiệt độ trung bình ban ngày gần Hồ Kivu, ở độ cao 1.463 m (4.800 foot) là 23°C (73°F). Rwanda được coi là thủ đô sét của thế giới, Lượng mưa hàng năm trung bình 830 mm (31 inch) nhưng nói chung lượng mưa cao hơn ở vùng núi phía tây và tây bắc so với các đồng cỏ phía đông. == Vận tải == Hệ thống vận tải tại Rwanda tập trung chủ yếu ở mạng lưới đường bộ, với những con đường trải nhựa nối giữa thủ đô Kigali và hầu hết các thành phố, thị trấn lớn trong nước. Rwanda cũng có đường bộ kết nối tới các quốc gia khác ở Đông Phi, và đây là con đường xuất nhập khẩu chính cho các mặt hàng ở nước này. Rwanda có một sân bay quốc tế tại Kigali, phục vụ cả các chuyến bay quốc tế và nội địa, và một mạng lưới vận tải đường sông hạn chế giữa các thành phố trên Hồ Kivu. Một lượng lớn đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông đã được chính phủ tiến hành từ cuộc diệt chủng năm 1994, với sự trợ giúp của Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước khác. Hình thức vận tải công cộng chủ yếu trong nước là taxi chung, với các tuyến cao tốc nối các thành phố lớn và nội bộ ở hầu hết các làng dọc theo các con đường chình của đất nước. Dịch vụ xe buýt dẫn tới nhiều quốc gia lân cận. Năm 2006, chính phủ Trung Quốc đã đề xuất tài trợ cho một cuộc nghiên cứu xây dựng một tuyến đường sắt nối từ Bujumbura ở Burundi tới Kigali ở Rwanda tới Isaki ở Tanzania. Một đoàn đại biểu từ ngành đường sắt Mỹ BNSF cũng đã gặp Tổng thống Paul Kagame để đàm phán về một con đường từ Kigali tới Isaki và cùng lúc ấy chính phủ thông báo rằng họ đã lựa chọn một công ty tư vấn Đức để tiến hành công việc chuẩn bị cho tuyến đường đề xuất. == Kinh tế == Rwanda là một quốc gia nông thôn với khoảng 90% dân số sống bằng nông nghiệp (chủ yếu tự cung tự cấp). Nước này nằm kín trong lục địa với rất ít nguồn tài nguyên thiên nhiên và hạ tầng công nghiệp. Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm cà phê và chè, những năm gần đây có thêm các sản phẩm khoáng sản (chủ yếu Coltan, được dùng trong chế tạo hàng điện tử các thiết bị viễn thông như điện thoại di động) và hoa. Du lịch cũng là ngành có tốc độ tăng trưởng tốt, chủ yếu là du lịch sinh thái (Rừng Nyungwe, Hồ Kivu) và loài khỉ đột (gorilla) nổi tiếng thế giới và đặc hữu tại vườn Virunga. Nước này có Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) thấp, và từng được coi là một Quốc gia nghèo có gánh nặng nợ nần lớn (HIPC). Năm 2005, hoạt động kinh tế và hiệu năng quản lý chính phủ nước này khiến Các định chế Tài chính Thế giới đã quyết định xóa bỏ hầu như toàn bộ các khoản nợ của họ. Theo Chương trình Lương thực Thế giới, ước tính 60% dân số sống dưới mức nghèo khổ và từ 10-12% phải đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực hàng năm. Quản lý đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong những cuộc xung đột tại Đông Phi. Đáng ngạc nhiên, dù hệ thống phong kiến về sử dụng đất đai đã biến mất với cuộc "Cách mạng Xã hội" năm 1959, hoạt động lĩnh canh lại xuất hiện sau sự quay trở lại của chính phủ RPF năm 1994, với các chính sách sử dụng đất của chính phủ RPF mới được thể chế hóa thành luật pháp năm 2005. Những luật lệ về sử dụng đất đai này có mục đích chuyển những mảnh đất nhỏ, phân tán và có sản lượng thấp trở thành những khu vực canh tác lớn có sản lượng cao sản xuất ra sản phẩm cho thị trường quốc tế (cũng như thị trường địa phương). Nếu nông dân không thể thực hiện kế hoạch nhà nước, đất đai của họ sẽ bị trưng thu không bồi thường và mảnh đất đó có thể bị giao cho người khác. Mặc dù một phong trào sở hữu ruộng đất cá nhân đã diễn ra ở thời điểm độc lập, sự khan hiếm đất đai trên hầu khắp đất nước Rwanda khiến việc này không thể diễn ra. Cuộc cải cách ruộng đất hiện nay ở một số mặt tương tự với hệ thống kiểm soát đất đai "igikingi" của triều đình Tutsi, và chính phủ thuộc địa Bỉ, đã từng được áp dụng ở thời điểm trước độc lập. Tây bắc Rwanda có truyền thống áp dụng một hình mẫu tập trung đất đai dưới sự quản lý địa phương, chứ không phải dưới sự quản lý trung ương của Mwami, được gọi là "ubokonde bw' isuka" ở thời tiền thuộc địa. Vì thế vùng tây bắc Rwanda phản đối mạnh mẽ nhất chính sách quản lý đất đai trung ương tương tự igikingi, lấy đi quyền của những người sở hữu địa phương. Một số nông dân phản đối chính sách này khi nó bắt đầu được áp dụng trong thập niên 1990 đã bị phạt hay bỏ tù; chính sách này hiện vẫn gây nhiều tranh cãi. Luật cũng xác định chính sách bắt buộc tập trung khu vực sinh sống theo đó những người sống rải rác phải rời về các khu "làng" tập trung do chính phủ lập ra được gọi là imidugudu. Thay vì mỗi gia đình sống trên mảnh đất của riêng mình, các làng sẽ được tái lập, để có được nhiều đất trồng trọt hơn. Khi chính sách này được áp dụng trên phạm vi rộng hồi cuối thập niên 1990, chính quyền trong một số trường hợp đã dùng tới vũ lực, hình phạt và nhà tù để tiến hành tái định cư. Ít nhất hai imidugudu đã được thành lập ở phía tây bắc Rwanda năm 2005, dẫn tới việc mất đất đai của những nông dân địa phương. Dù luật tuyên bố công nhận những quyền theo phong tục về đất đai, nó bác bỏ việc sử dụng theo phong tục việc sử dụng những vùng đầm lầy của người nghèo và xóa bỏ các quyền quan trọng của những vị chủ đất giàu có (abakonde) ở vùng tây bắc. Tuy nhiên, chính sách này cũng đảm bảo khả năng của chính phủ trong việc tiến hành quyền trưng dụng vì những lý do môi trường, mà họ đã thực hiện vào năm 2007 khi đuổi những người định cư xâm lấn khu vực Hồ Kivu trong một nỗ lực nhằm bảo vệ môi trường ở đó. Chính phủ cũng đang tìm kiếm biện pháp nhằm thu khí methane từ Hồ Kivu cung cấp cho nhu cầu năng lượng quốc gia. Không có thị trường vốn đúng nghĩa tại Rwanda. Cho tới gần đây chính phủ vẫn là bên cung cấp chủ yếu các dịch vụ kinh tế. Các thị trường tiền tệ và tài chính chủ yếu thuộc 9 ngân hàng và 6 công ty bảo hiểm với sở hữu ưu thế của nhà nước. Hơn 200 định chế tín dụng nhỏ, thường được các nhà tài trợ nước ngoài hỗ trợ, đã xuất hiện ở Rwanda (đặc biệt từ năm 2004), nhưng nhiều tổ chức không đăng ký, không được kiểm soát và thường quản lý kém cỏi. Nhiều tổ chức đã bị chính phủ Rwanda đóng cửa năm 2006. Tháng 9 năm 2006, Ngân hàng Thế giới đã phê duyệt khoản trợ cấp US$10 triệu cho Rwanda để phát triển kỹ thuật thông tin và viễn thông. == Nhân khẩu == Đa số người Rwanda nói tiếng Kinyarwanda. Trước khi những kẻ thực dân châu Âu tới đây, chưa hề có lịch sử bằng chữ viết. Ngày nay, nước này có khoảng 84% người Hutu, 15% người Tutsi, và 1% người Twa, với các cộng đồng thiểu số Nam Á, Ả Rập, Pháp, Anh và Bỉ nhỏ hơn. Khoảng 56.5% dân số là tín đồ Cơ đốc giáo La Mã, 26% Tin lành, 11.1% Adventist, và 4.6% Hồi giáo, các đức tin truyền thống 0.1%, vô thần 1.7% (2001). == Văn hóa == Xem thêm thông tin: Âm nhạc Rwanda và Văn học Rwanda Người pygmy Twa được coi là một trong những chủng tộc lâu đời nhất trên trái đất, theo những phân tích mitochondrial DNA. Cùng với người Efé và BaMbuti tại vùng Ituri, BayAka tại Cộng hòa Trung Phi, người San (Bushmen) tại Namibia, và người Hadzabe tại Tanzania, họ là đại diện cho những hậu duệ còn lại của một số trong những nền văn hóa lâu đời nhất trên trái đất. Tương tự như đối với một số nhóm người khác, một số người Twa vẫn sinh sống theo kiểu săn bắn hái lượm (trong Vườn Quốc gia Rừng Nyungwe), dù đa số đã bị buộc phải chấp nhận trở thành những lao động cấp bậc thấp trong xã hội khi đất đai ngày một mất đi. Với sự nhấn mạnh mới đây trên sự "không chủng tộc" tại Rwanda, những quyền lợi của họ thậm chí còn mất đi và họ đang ở ven rìa xã hội Rwanda. Người "Intore, " từng là giới tinh hoa của quân đội Tutsi truyền thống, không chỉ được huấn luyện quân sự mà còn cả nhảy cao và nhảy múa. Họ nổi tiếng về một kỹ thuật đáng chú ý cho phép nhảy cao tới 7 feet (2.4 mét). Intore đã trở nên nổi tiếng toàn thế giới với tư cách các vũ công năm 1958 khi cuộc triển lãm thế giới (World Expo) được tổ chức ở Brussels. Ngày nay các vũ công Intore là một phần của truyền thống dân gian đặc sắc của Rwanda. == Xem thêm == Hội hướng đạo sinh Rwanda Viễn thông Rwanda Giáo dục Rwanda Quan hệ nước ngoài Rwanda Ngày lễ tại Rwanda Đạo Hồi tại Rwanda Danh sách các chủ đề liên quan tới Rwanda Danh sách thành phố Rwanda Quân đội Rwanda Pro-Femmes Twese Hamwe Diệt chủng Rwanda == Chú thích == == Đọc thêm == For books specifically dealing with the Rwandan Genocide, see Bibliography of the Rwandan Genocide Bradt Tavel Guide: Rwanda Janice Booth and Philip Briggs Lonely Planet: East Africa Land of a Thousand Hills: My Life in Rwanda Rosamund Halsey Carr and Ann Howard Halsey Rwanda: The Land God Forgot (2002) by Meg Guillebaud detailing the history of the Christian church in Rwanda, analyzing some of the causes behind the genocide and the path to future. Left To Tell: Discovering God Amidst the Rwandan Holocaust by Immaculee Ilibagiza == Liên kết ngoài == Chính phủ The Republic of Rwanda (only English) official government site Republic of Rwanda unofficial Rwanda Parliament (Kinyarwanda, Tiếng Pháp, English) official site Tin tức East African Business Week business news for Uganda, Kenya, Tanzania, Rwanda and Burundi The Puliltzer Center on Crisis Reporting American Teens, Rwandan Truths (Video) AllAfrica.com — Rwanda news headline links IRIN News for Rwanda, from the United Nations 'Free News Monitoring' Free News for Rwanda Tổng quan Rwanda news Local news for Rwanda BBC News Country Profile — Rwanda CIA World Factbook — Rwanda Guardian Unlimited — Special Report: Rwanda Open Directory Project — Rwanda directory category US Congressional Research Service (CRS) Reports — Rwanda US State Department — Rwanda includes Background Notes, Country Study and major reports Du lịch Rwanda travel guide - very detailed trở lên-to-date Rwanda Business portal Provide Information about Rwanda companies, organizations, The one way stop to the WEB search of Rwanda. L'Afrique dot com Hundreds of photos and articles (in English and French) Rwanda National Tourist Board (ORTPN) official site Rwanda Safari and Travel Guide Guide for Africa National Museum of Rwanda official site The Rwanda Online Video Guide Chawbacon.org allows you to download and watch video clips (129) about Rwanda. They provide a visual representation of information provided by traditional guides like The Bradt Travel Guide and Lonely Planet. All aspects from guest rooms to game parks are presented in 10 MB or less. Rwanda Travel Guide Provide Information about Rwanda tourism, culture and wildlife. Khác Bridge to Rwanda Sister Patricia of Muhororo Parish provides help for orphan children. Voices of Rwanda Rwanda Testimony Film Project Pulitzer Center on Crisis Reporting Rwanda Human Conflict and Environmental Consequences (Video) Survivors Fund Representing and supporters survivors of the Rwandan genocide Photos of Miss Rwanda (L'Afrique) Rwanda online Rwanda directory and Portal. International Criminal Tribunal for Rwanda official site Global Issues — Conflict in Rwanda Rwanda Development Gateway Rwanda: Articles The Borgen Project Rwanda: a history of Empire and exploitation 1894–1990 ASSIST a.s.b.l. Rwandan NGO serving vulnerable children and youth The 800.000 Project Information on a humanitarian art-in-action installation piece memorializing the victims of the Rwandan genocide and raising funds to establish local water wells Project Rwanda Furthering the economic development of Rwanda through initiatives based on the bicycle as a tool and symbol of hope. Our goal is use the bike to help boost the Rwandan economy as well as re-brand Rwanda as a beautiful and safe place to do business and visit freely UNESCO Nairobi office on HIV/AIDS in Rwanda RWANDA The enduring legacy of the genocide and war Homepage of the Rwanda GovNet Project Kigali Coders software consulting
tchad.txt
Tchad hay Chad (phát âm tiếng Việt: Sát, tiếng Ả Rập: تشاد Tšād; tiếng Pháp: Tchad), tên chính thức là nước Cộng hòa Tchad, là một quốc gia không giáp biển tại Trung Phi. Tchad giáp với Libya ở phía bắc, với Sudan ở phía đông, với Cộng hòa Trung Phi ở phía nam, với Cameroon và Nigeria ở phía tây nam và với Niger ở phía tây. Tchad được chia thành các vùng: một đới sa mạc ở phía bắc, một vành đai Sahel khô cằn ở trung tâm và một đới xa van Sudan phì nhiêu hơn ở phía nam. Quốc gia lấy theo tên của hồ Tchad, đây là vùng đất ngập nước lớn nhất tại Tchad và lớn thứ nhì tại châu Phi. Đỉnh cao nhất của Tchad là Emi Koussi tại Sahara, còn thủ đô N'Djamena là thành phố lớn nhất. Tchad là nơi sinh sống của trên 200 dân tộc và nhóm ngôn ngữ khác nhau. Tiếng Ả Rập và tiếng Pháp là các ngôn ngữ chính thức. Hồi giáo và Ki-tô giáo là các tôn giáo được hành lễ rộng rãi nhất. Bắt đầu vào thiên niên kỷ thứ 7 TCN, loài người di chuyển đến bồn địa Tchad với số lượng lớn, sau đó một loạt các quốc gia và đế quốc nổi lên rồi sụp đổ trong dải Sahel thuộc Tchad, tập trung vào kiểm soát các tuyến đường mậu dịch Xuyên Sahara băng qua khu vực. Pháp chinh phục lãnh thổ vào năm 1920 và hợp nhất nó thành một phần của Xích đạo châu Phi thuộc Pháp. Năm 1960, Tchad giành được độc lập dưới quyền lãnh đạo của François Tombalbaye. Người Hồi giáo ở phía bắc phẫn uất trước các chính sách của ông, tình cảm này bùng nổ thành một cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1965. Năm 1978, các phiến quân đánh chiếm thủ đô và kết thúc quyền lãnh đạo của phương nam. Tuy nhiên, các chỉ huy phiến quân chiến đấu với nhau cho đến khi Hissène Habré đánh bại các đối thủ. Habré bị tướng của mình là Idriss Déby lật đổ vào năm 1990. Từ năm 2003, khủng hoảng Darfur tại Sudan tràn qua biên giới và khiến quốc gia bất ổn định. Tchad vẫn gặp khó khăn do bạo lực chính trị và các nỗ lực đảo chính. Tchad là một trong số các quốc gia nghèo nhất và tham nhũng nhất trên thế giới; hầu hết cư dân sống trong cảnh bần cùng nhờ nông nghiệp tự cung cấp. Từ năm 2003, dầu thô trở thành nguồn thu nhập xuất khẩu chính của quốc gia, thay thế công nghiệp bông truyền thống. == Lịch sử == Vào thiên niên kỷ thứ 7 TCN, các điều kiện sinh thái học tại nửa phía bắc của lãnh thổ Tchad tạo thuận lợi cho loài người định cư, và khu vực này trải qua gia tăng dân số mạnh. Một vài trong số các di chỉ khảo cổ học quan trọng nhất tại châu Phi được phát hiện tại Tchad, chủ yếu tại khu vực Borkou-Ennedi-Tibesti Region; Một số có niên đại sớm hơn 2000 TCN. Trong hơn 2.000 năm, bồn địa Tchad là nơi cư trú của các dân tộc nông nghiệp và định cư, trở thành một nơi gặp gỡ của các nền văn minh, lớn nhất trong đó là văn minh Sao truyền thuyết với các đồ tạo tác và lịch sử truyền khẩu. Sao sụp đổ trước Đế quốc Kanem, đây là đế quốc đầu tiên và kéo dài nhất trong số các đế quốc phát triển tại dải Sahel thuộc Tchad vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 CN. Sức mạnh của Kanem và các quốc gia kế thừa nó dựa trên quyền kiểm soát các tuyến đường mậu dịch Xuyên Sahara đi qua khu vực. Các quốc gia này, ít nhất mặc nhận là người Hồi giáo, chưa từng mở rộng quyền kiểm soát của họ xuống các thảo nguyên phương nam ngoại trừ việc đột kích để bắt nô lệ. Trong Kanem, khoảng một pha dân số là nô lệ. Pháp mở rộng thuộc địa dẫn đến việc hình thành "Lãnh thổ quân sự quốc gia và xứ bảo hộ Tchad" năm 1900. Đến năm 1920, Pháp giành được quyền kiểm soát toàn bộ thuộc địa và hợp nhất nó vào Xích đạo Phi châu thuộc Pháp. Sự cai trị của Pháp tại Tchad có đặc trưng là thiếu các chính sách nhằm thống nhất lãnh thổ và hiện đại hóa chậm chạp so với các thuộc địa khác của Pháp. Pháp chủ yếu xem thuộc địa là một nguồn không quan trọng về lao động chưa qua đào tạo và bông thô; Pháp đưa đến sản xuất bông quy mô lớn vào năm 1929. Chính quyền thuộc địa tại Tchad thiếu nhân lực trầm trọng và phải dựa vào các công vụ viên tồi người Pháp. Người Pháp chỉ quản lý hiệu quả với người Sara ở phía nam; còn sự hiện diện của họ đối với các khu vực phía bắc và phía đông theo Hồi giáo chỉ là trên danh nghĩa. Hệ thống giáo dục chịu ảnh hưởng từ sự bỏ bê này. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp trao cho Tchad địa vị lãnh thổ hải ngoại và các cư dân Tchad được trao quyền bầu các đại diện tại Quốc hội Pháp và một hội đồng lập pháp của lãnh thổ. Chính đảng lớn nhất là Đảng Tiến bộ Tchad (PPT), có cơ sở tại nửa phía nam của thuộc địa. Tchad giành được độc lập vào ngày 11 tháng 8 năm 1960, lãnh đạo của PPT là một người Sara tên François Tombalbaye trở thành tổng thống đầu tiên. Hai năm sau, François Tombalbaye cấm các chính đảng đối lập và thiết lập một hệ thống độc đảng. Quyền lực độc đoán của François Tombalbaye và cách quản lý tồi không nhạy cảm làm trầm trọng thêm căng thẳng giữa các dân tộc. Năm 1965, những người Hồi giáo bắt đầu tiến hành một cuộc nội chiến. François Tombalbaye bị lật đổ và sát hại vào năm 1975, song nội loạn vẫn tiếp tục. Năm 1979, các phe phái phiến quân đánh chiếm thủ đô, và toàn bộ chính quyền trung ương Tchad sụp đổ. Các phe nhóm vũ trang tranh giành quyền lực, nhiều trong số đó bắt nguồn từ cuộc nổi dậy ở phía bắc. Sự tan rã của Tchad khiến vị thế của Pháp tại quốc gia này suy sụp. Libya hành động để lấp đầy khoảng trống quyền lực và trở thành một thành phần trong nội chiến tại Tchad. Cuộc phiêu lưu của Libya kết thúc trong thất bại vào năm 1987; khi tổng thống thân Pháp Hissène Habré thu thập được một phản ứng thống nhất chưa từng thấy từ những người Tchad và buộc quân Libya triệt thoái khỏi lãnh thổ Tchad. Hissène Habré củng cố chế độ độc tài của mình thông qua một hệ thống quyền lực dựa trên tham nhũng và bạo lực với hàng nghìn người được ước tính là đã bị giết dưới sự cai trị của ông. Vị tổng thống này ưu đãu dân tộc Daza của ông và phân biệt đối xử với các cựu đồng minh là người Zaghawa. Hissène Habré bị tướng dưới quyền là Idriss Déby lật đổ vào năm 1990. Các nỗ lực nhằm truy tố Hissène Habré dẫn đến việc người này bị quản thúc tại gia tại Senegal vào năm 2005; và vào năm 2013 thì chính thức bị buộc tội phạm tội ác chiến tranh trong thời gian cai trị. Idriss Déby cố gắng hòa giải các nhóm phiến quân và khởi đầu lại chính trị đa đảng. Người dân Tchad chấp thuận một hiến pháp mới bằng trưng cầu dân ý, và đến năm 1996, Idriss Déby dễ dàng giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử tổng thống cạnh tranh. Ông chiến thắng cho nhiệm kỳ thứ nhì vào 5 năm sau đó. Khai thác dầu bắt đầu tại Tchad vào năm 2003, đem đến hy vọng rằng Tchad cuối cùng có một số cơ hội tiến đến hòa bình và thịnh vượng. Tuy nhiên, bất đồng nội bộ trở nên tồi tệ hơn, và một cuộc nội chiến mới bùng nổ. Idriss Déby đơn phương sửa đổi hiến pháp để loại bỏ giới hạn hai nhiệm kỳ của chức tổng thống; điều này gây náo động trong xã hội dân cư và các đảng đối lập. Năm 2006, Idriss Déby giành thắng lợi cho nhiệm kỳ tổng thống thứ ba, song cuộc bầu cử bị phe đối lập tẩy chay. Bạo lực sắc tộc tại đông bộ Tchad tăng lên, Cao ủy Liên Hiệp Quốc cảnh báo một cuộc diệt chủng giống như tại Darfur có thể xáy ra tại Tchad. Năm 2006 và 2008, các lực lượng phiến quân từng nỗ lực chiếm thủ đô bằng vũ lực, song cả hai lần họ đều thất bại. Một hiệp định về khôi phục hòa hợp giữa Tchad và Sudan được ký vào năm 2010 đã đánh dấu chấm dứt cuộc chiến 5 năm giữa hai bên. Việc hàn gắn quan hệ khiến những phiến quân Tchad trở về tổ quốc từ Sudan, mở cửa biên giới giữa hai quốc gia sau 7 năm đóng cửa, và triển khai một lực lượng chung để bảo vệ biên giới. Vào tháng 5 năm 2013, các lực lượng an ninh tại Tchad làm thất bại một cuộc đảo chính chống Tổng thống Idriss Déby. == Địa lý == Với diện tích là 1.284.000 kilômét vuông (496.000 sq mi), Tchad là quốc gia lớn thứ 21 trên thế giới, lớn hơn Nam Phi một chút. Tchad thuộc trung-bắc châu Phi, nằm giữa kinh độ 7°Đ và 24°Đ, giữa vĩ độ 13°B và 24°B. Tchad giáp với Libya ở phía bắc, với Sudan ở phía đông, Niger ở phía tây, Nigeria và Cameroon ở phía tây nam, và phía nam giáp với Cộng hòa Trung Phi. Thủ đô của Tchad nằm cách cảng gần nhất là Douala, Cameroon 1.060 kilômét (660 mi), Do nằm xa biển nên Tchad phần lớn là có khí hậu hoang mạc, thỉnh thoảng được gọi là "Tâm chết của châu Phi". Cấu trúc vật chất chi phối là một bồn địa rộng được bao bọc ở phía bắc, đông và nam bởi các dãy núi như Cao nguyên Ennedi ở đông-bắc. Hồ Tchad vẫn là một hồ rộng lớn với diện tích 330.000 kilômét vuông (130.000 sq mi) 7.000 năm trước. Song đến thế kỷ 21 thì hồ chỉ còn rộng khoảng 17.806 kilômét vuông (6.875 sq mi), với diện tích bề mặt dao động mạnh theo mùa, Hồ là vùng đất ngập nước lớn thứ nhì tại châu Phi. Emi Koussi với cao độ 3.414 mét (11.201 ft) là đỉnh cao nhất tại Tchad và Sahara, là một núi lửa không hoạt động tại Dãy núi Tibesti. Các bãi cỏ cao và đầm lầy rộng của khu vực tạo thuện lợi cho các loài chim, bò sát và thú lớn. Các sông chính của Tchad là Chari, Logone và các chi lưu của chúng, chúng chảy từ phía đông nam qua các xa van phía nam vào hồ Tchad. Mỗi năm một hệ thống thời tiết nhiệt đới được gọi là đới phức hợp nhiệt đới di qua Tchad từ nam lên bắc, đem đến một mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 ở phía nam, và từ tháng 6 đến tháng 9 tại Sahel. Biến động về lượng mưa địa phương hình thành ba đới địa lý lớn: Sahara nằm ở một phần ba phía bắc với lượng mưa hàng năm khắp vùng dưới 50 milimét (2,0 in); chỉ đôi khi có các lùm cây cọ tự sinh là sống sót. Nằm sát sa mạc Sahara là một vành đai Sahel ở trung bộ của Tchad; lượng mưa thay đổi từ 300 đến 600 mm (11,8 đến 23,6 in) hàng năm. Tại Sahel, một thảo nguyên bụi gai (hầu hết là keo) dần nhường chỗ cho xa van Đông Sudan ở phía nam. Lượng mưa hàng năm trong vùng này là trên 900 mm (35,4 in). == Loài hoang dã == Đới sống động vật và thực vật tại Tchad tương ứng với ba đới khí hậu. Tại vùng Sahara, thực vật duy nhất là các lùm cây chà là tại các ốc đảo. Các loại cọ và keo mọc tại vùng Sahel. Ở phía nam có các thảo nguyên rộng thích hợp cho chăn thả gia súc. Năm 2002, có ít nhất 134 loài thú, 532 loài chim (354 loài không di trú và 155 loài di trú), và trên 1.600 loài thực vật trên khắp Tchad. Voi, sư tử, trâu, hà mã, tê giác, hươu cao cổ, linh dương, báo hoa mai, báo ăn, linh cẩu, và nhiều loài rắn được phát hiện tại Tchad, song hầu hết loài ăn thịt lớn suy giảm mạnh về số lượng kể từ đầu thế kỷ 20. Hoạt động phá rừng quy mô rộng khiến Tchad mất đi các loài cây như keo, bao báp, chà là và cọ. Điều này cũng khiến môi trường sống tự nhiên của các động vật hoang dã bị mất đi, một trong các lý do chính cũng là săn bắn và chăn nuôi gia súc ngày càng tăng. Các động vật như sư tử, báo hoa mai, và tê giác đã bị sát hại gần hết. Tổ chức Lương-nông tiến hành các nỗ lực nhằm cải thiện mối quan hệ giữa nông dân, nông-mục dân và mục dân tại Vườn quốc gia Zakouma, Siniaka-Minia, và khu bảo tồn Aouk tại đông nam bộ Chad nhằm thúc đẩy phát triển bền vững. Nằm trong nỗ lực bảo tồn cấp quốc gia, trên 1,2 triệu cây được trồng lại để ngăn sa mạc mở rộng, nhân tiện cũng giúp cho kinh tế địa phương bằng thu nhập từ các cây keo, là thứ dùng để sản xuất gôm Ả Rập, hay từ các cây ăn quả. Săn bắn là vấn đề nghiêm trọng tại Tchad, đặc biệt là voi cho ngành ngà voi sinh lợi và cũng là mối đe dọa đối với tính mạng của kiểm lâm. Voi thường bị sát hại trong các đàn và quanh các vườn quốc gia bởi các thợ săn có tổ chức. == Nhân khẩu == Theo ước tính, vào năm 2005 dân số của Tchad là 10.146.000; 25,8% sống tại các khu vực thành thị và 74,8% sống tại các khu vực nông thôn. Tchad có dân số trẻ: ước tính 47,3% dưới 15. Tỷ suất sinh ước tính là 42,35 ca sinh trên 1.000 người, tỷ suất tử là 16,69. Tuổi thọ bình quân là 49,44 năm, xếp hạng thấp nhất trên thế giới theo thống kê của Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ năm 2014. Dân số Tchad phân bố không đều, với 0,1 /km2 (0,26 /sq mi) tại vùng Borkou-Ennedi-Tibesti thuộc Sahara song lên 52,4 /km2 (136 /sq mi) tại vùng Logone Occidental. Tại thủ đô, mật độ dân số còn cao hơn. Khoảng một nửa dân số quốc gia sống tại 1/5 phía nam của lãnh thổ, khiến cho vùng này có mật độ dân số cao nhất. Sinh hoạt đô thị hầu như chỉ giới hạn tại thủ đô, nơi dân số chủ yếu tham gia vào thương nghiệp. Các đô thị lớn khác là Sarh, Moundou, Abéché và Doba, chúng có mức đô thị hóa thấp hơn song đang phát triển nhanh chóng và cùng với thủ đô là các nhân tố quyết định trong tăng trưởng kinh tế. Từ năm 2003, 230.000 người Sudan tị nạn đã chạy sang đông bộ Tchad do chiến tranh tại Darfur. Với 172.600 người Tchad phải chuyển chỗ ở do nội chiến ở phía đông, điều này làm gia tăng căng thẳng giữa các cộng đồng khu vực. Đa thê là hiện tượng phổ biến, với 39% phụ nữ sống trong các cuộc hôn nhân như vậy. Tình trạng này được luật pháp cho phép, theo đó tự động cho phép đa thê trừ khi phỗi ngẫu xác định rằng đây là điều không thể chấp nhận trong hôn nhân. Mặc dù bạo lực chống phụ nữ bị cấm, song bạo lực gia đình là điều phổ biến. Cắt xẻo bộ phận sinh dục nữ cũng bị cấm, song vẫn được tiến hành phổ biến và đã ăn sâu và truyền thống: 45% phụ nữ Tchad trải qua thủ tục này, tỷ lệ này cao hơn trong cộng đồng người Ả Rập, Hadjarai, và Ouaddaï. Tỷ lệ thấp hơn được ghi nhận trong cộng đồng Sara (38%) và Toubou (2%). Nữ giới thiếu các cơ hội bình đẳng trong giáo dục và đào tạo, khiến họ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh việc làm trong lĩnh vực chính thức vốn đã tương đối ít. Mặc dù các luật về tài sản và thừa kế không phân biệt đối xử với nữ giới, song các lãnh đạo địa phương xét xử hầu hết các vụ án thừa kế theo hướng ưu tiên nam giới, theo như thông lệ truyền thống. Tchad có trên 200 dân tộc khác nhau, tạo ra cấu trúc xã hội đa dạng. Chính quyền thuộc địa và chính quyền quốc gia có các nỗ lực nhằm áp đặt một xã hội quốc gia, song đối với hầu hết người Tchad thì ảnh hưởng quan trọng nhất ngoài gia đình vẫn là xã hội địa phương hoặc khu vực. Tuy thế, người Tchad có thể được phân loại theo khu vực địa lý mà họ sống. Người Sara sống định cư ở phía nam là dân tộc chính của quốc gia, có các đơn vị xã hội xác định theo dòng giống. Các dân tộc định cư tại Sahel sống gần bên những người du mục như người Ả Rập-dân tộc lớn thứ nhì của quốc gia. Ở phía bắc có những người du mục cư trú, hầu hết là người Toubou. Các ngôn ngữ giao dịch chính thức tại Tchad là tiếng Pháp, tiếng Ả Rập, và tiếng Hausa cũng là ngôn ngữ phổ biến, song trên 100 ngôn ngữ và phương ngôn cũng được nói. Do vai trò quan trọng của các thương nhân Ả Rập lưu động và các thương nhân định cư trong các cộng đồng địa phương, tiếng Ả Rập Tchad trở thành một ngôn ngữ chung. Tchad là một quốc gia đa dạng về tôn giáo, theo điều tra nhân khẩu năm 1993 thì 54% người Tchad là tín đồ Hồi giáo, 20% là tín đồ Công giáo La Mã, 14% là tín đồ Tin Lành, 10% theo thuyết vật linh và 3% là vô thần. Thuyết vật linh gồm nhiều tín ngưỡng hướng về tổ tiên và địa điểm, biểu hiện mang tính đặc trưng cao. Hồi giáo được thể hiện theo nhiều cách. Ki-tô giáo đến Tchad cùng với các nhà truyền giáo người Pháp và người Mỹ. Tín đồ Hồi giáo tập trung chủ yếu ở bắc bộ và đông bộ Tchad, còn người theo thuyết vật linh và tín đồ Ki-tô giáo tập trung chủ yếu tại nam bộ Tchad và Guéra. Hiến pháp quy định Tchad là nhà nước thế tục và đảm bảo tự do tôn giáo; các cộng đồng tôn giáo khác nhau thường cùng tồn tại mà không có vấn đề. == Chính phủ và chính trị == Hiến pháp Tchad quy định một nhánh hành pháp mạnh do tổng thống đứng đầu, người này chi phối hệ thống chính trị. Tổng thống có quyền bổ nhiệm thủ tướng và nội các, và sử dụng ảnh hưởng đáng kể trong việc bổ nhiệm các thẩm phán, tướng lĩnh, quan chức cấp tỉnh và các hãng bán quốc doanh của Tchad. Trong các trường hợp đe dọa nghiêm trọng và trực tiếp, tổng thống hội ý với Quốc hội và có thể tuyên bố một tình trạng khẩn cấp. Tổng thống được bầu trực tiếp theo phổ thông đầu phiếu cho một nhiệm kỳ 5 năm; giới hạn nhiệm kỳ được bãi bỏ vào năm 2005, cho phép tổng thống duy trì quyền lực sau khi đến giới hạn 2 nhiệm kỳ. Hầu hết các cố vấn chủ chốt của Tổng thống Déby là người thuộc dân tộc Zaghawa, song các cá nhân người nam bộ và đối lập cũng có hiện diện trong chính phủ. Tchad được Quỹ Hòa bình (FFP) xếp hạng là quốc gia thất bại, xếp hạng cao thứ bảy trong chỉ số quốc gia thất bại vào năm 2007, sau đó xu hướng là tăng lên mỗi năm. Tchad xếp thứ 4 trong chỉ số quốc gia thất bại vào năm 2012. Tham nhũng lan tràn ở mọi cấp; Chỉ số nhận thức tham nhũng của Tổ chức Minh bạch quốc tế vào năm 2005 xếp Tchad (đồng hạng với Bangladesh) là quốc gia tham nhũng nhất thế giới. Thứ hạng của Tchad về chỉ số này chỉ cải thiện nhẹ trong những năm gần đây. Thứ hạng năm 2011 là 2/10. Những người chỉ trích Tổng thống Déby cáo buộc ông nhậm dụng thân tín và bộ lạc chủ nghĩa. Hệ thống luật pháp của Tchad dựa trên dân luật Pháp và điều lệ tập quán của người Tchad, song tập quán không gây trở ngại cho trật tự công cộng và đảm bảo về bình đẳng trong hiến pháp. Mặc dù hiến pháp đảm bảo tính độc lập của tư pháp, song tổng thống bổ nhiệm hầu hết quan chức tư pháp chủ chốt. Cơ quan tư pháp tối cao trong hệ thống tư pháp là Tòa án Tối cao và Hội đồng Hiến pháp- hoạt động đầy đủ từ năm 2000. Tòa án Tối cao có một chánh án do tổng thổng bổ nhiệm, và 15 ủy viên được bổ nhiệm trọn đời bởi tổng thống và quốc hội. Đứng đầu Tòa án hiến pháp là chín thẩm phán được chọn cho các nhiệm kỳ 9 năm. Nó có quyền xét lại pháp luật, các hiệp định và thỏa thuận quốc tế trước khi chúng được thông qua. Quốc hội là cơ quan lập pháp, gồm 155 nghị viên được bầu cho các nhiệm kỳ 4 năm, tham gia họp ba lần mỗi năm. Quốc hội họp thường kỳ hai lần mỗi năm, bắt đầu vào tháng 3 và tháng 10, và có thể tổ chức các phiên họp đặc biệt khi thủ tướng triệu tập. Các nghị sĩ bầu Chủ tịch Quốc hội mỗi hai năm. Chủ tịch cần phải ký hoặc bác bỏ các điều lập mới thông qua trong vòng 15 ngày. Quốc hội cần phải phê duyệt các kế hoạch về chính quyền của thủ tướng và có thể buộc thủ tướng từ chức bằng một đa số phiếu bất tín nhiệm. Tuy nhiên, nếu Quốc hội từ chối chương trình của nhánh hành pháp hai lần trong một năm, tổng thống có thể giải tán Quốc hội và tuyên bố bầu cử nghị viện mới. Trong thực tế, Tổng thống có ảnh hưởng đáng kể đến Quốc hội thông qua đảng của người này là Phong trào Ái quốc cứu tế (MPS), vốn chiếm đa số lớn. Cho đến khi hợp pháp hóa các đảng đối lập vào năm 1992, MPS của Déby là đảng hợp pháp duy nhất tại Tchad. Kể từ đó có 78 chính đảng đã đăng ký trở thành hoạt động. Năm 2005, các đảng đối lập và các tổ chức nhân quyền ủng hộ tẩy chay trưng cầu hiến pháp mà theo đó cho phép Déby có thể tái tranh cử nhiệm kỳ thứ ba trong khi có các tường thuật về vi phạm phổ biến trong đăng ký cư tri và quyền kiểm duyệt của chính phủ đối với truyền thông độc lập trong chiến dịch. Các phóng viên đánh giá cuộc bầu cử tổng thống năm 2006 mang tính hình thức, do phe đối lập cho rằng bỏ phiếu là trò hề và tẩy chay nó. === Đơn vị hành chính === Kể từ tháng 2 năm 2008, Tchad được phân thành 22 vùng. Việc phân chia Tchad thành các vùng xuất hiện vào năm 2003 trong một quá trình phi tập trung hóa, khi chính phủ bãi bỏ 14 tỉnh trước đó. Mỗi vùng do một thống đốc đứng đầu, người này do tổng thống bổ nhiệm. Dưới các vùng là 61 tỉnh, đứng đầu là tỉnh trưởng. Các tỉnh này được chia thành 200 phó tỉnh, và được chia tiếp thành 446 tổng. Các tổng được dự kiến thay thế bằng communautés rurales (xã), song khuông khổ pháp lý và giám quản vẫn chưa hoàn tất. Hiến pháp quy định phi tập trung hóa chính phủ để thúc đẩy dân cư địa phương đóng một vai trò tích cực trong sự phát triển của họ. Hiến pháp tuyên bố rằng mỗi đơn vị hành chính được quản lý bởi hội đồng địa phương được bầu lên, song không có cuộc bầu cử địa phương nào được tiến hành, và các cuộc bầu cử cấp xã được lên kế hoạch tổ chức vào năm 2005 đã bị hoãn lại nhiều lần. Các vùng là: === Quân sự === Năm 2011, Tchad giành 1,6% GDP cho quân đội, trong khi tỷ lệ vào năm 2009 là 4,2%, là khi quốc gia đang vướng vào nội chiến, với các phiến quân được Sudan ủng hộ. Đến năm 2013 thì con số này tăng lên 2,0% GDP, khi Tchad bắt đầu can thiệp quân sự tại bắc bộ Mali, nhằm giúp Pháp và các quốc gia châu Phi khác khôi phục chủ quyền tại vùng phía bắc. Quân đội Tchad có trên 20.350 nhân viên thường trực và 3 triệu người trong tuổi nghĩa vụ quân sự. Có nhiều nhóm nổi dậy tại Tchad trong vài thập niên qua. Năm 2007, một hiệp định hòa bình được ký kết mà theo đó tích hợp các binh sĩ của Mặt trận Thống nhất về Thay đổi dân chủ hay "FUC" vào Quân đội Tchad. Phong trào Công lý và Dân củ tại Chad hay "MDJT" cũng có xung đột với lực lượng chính phủ vào năm 2003 trong một nỗ lực nhằm lật đổ Tổng thống Idriss Déby. Thêm vào đó, có nhiều vụ xung đột với các phiến quân Janjaweed của Sudan tại đông bộ Tchad, nhóm này từng dùng trực thăng vũ trang sát hại thường dân. Hiện nay, Liên minh các lực lượng kháng chiến hay "UFR" là một nhóm phiến quân vẫn tiếp tục giao chiến với chính phủ Tchad. Năm 2010, UFR được tường trình là có một lực lượng gồm 6.000 lính và 300 xe. == Kinh tế == Chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc xếp Tchad vào hàng nghèo nhất thế giới, với trên 80% dân số sống dưới mức nghèo khổ. GDP (PPP) trên người được ước tính là 1.651 USD vào năm 2009. Tchad là một thành viên của Ngân hàng Các quốc gia Trung Phi, Cộng đồng Kinh tế Các quốc gia Trung Phi (UDEAC) và Tổ chức về Hài hòa pháp luật thương nghiệp tại châu Phi (OHADA). Đơn vị tiền tệ hiện nay của Tchad là franc CFA. Trong thập niên 1960, ngành công nghiệp khai mỏ của Tchad sản xuất Natri cacbonat. Cũng có các báo cáo về thạch anh chứa vàng tại tỉnh Biltine. Tuy nhiên, nhiều năm nội chiến khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo sợ; họ rời khỏi Tchad từ năm 1979 đến 1982 và chỉ gần đây mới bắt đầu có niềm tin vào tương lai của quốc gia này. Năm 2000, đầu tư trực tiếp nước ngoài quy mô lớn trong lĩnh vực dầu mỏ bắt đầu, thúc đẩy triển vọng kinh tế của quốc gia. Trên 80% dân số Tchad dựa vào trồng trọt và chăn nuôi cho sinh kế của họ. Các loại cây trồng và địa điểm chăn thả các đàn gia súc được xác định do khí hậu địa phương. 10% cực nam của Tchad là vùng đất trồng trọt phì nhiêu nhất của quốc gia, với sản lượng cao về lúa miến, kê. Tại Sahel, chỉ có các loại kê cứng được trồng, và có sản lượng thấp hơn nhiều so với phía nam. Trên một khía cạnh khác, Sahel là mục trường lý tưởng đối với các đàn gia súc thương mại lớn, như dê, cừu, lừa và ngựa. Các ốc đảo rải rác trên sa mạc Sahara cấp dưỡng chỉ cho các loại chà là và họ đậu. Các thành phố của Tchad đối mặt với khó khăn nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng đô thị, chỉ 48% cư dân đô thị tiếp cận được với nước sạch và chỉ 2% có điều kiện vệ sinh cơ bản. Trước khi ngành công nghiệp dầu mỏ phát triển, bông là ngành công nghiệp chi phối, cũng như chi phối về thị trường lao động, chiếm xấp xỉ 80% thu nhập xuất khẩu. Bông vẫn là một mặt hàng xuất khẩu chính, song không rõ về số lượng chính xác. Pháp, Hà Lan, Liên minh châu Âu, và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) cung cấp tài chính để khôi phục Cotontchad, một công ty bông lớn từng chịu tổn thất từ suy giảm giá bông trên thế giới. Các công ty bán quốc doanh được dự kiến tư nhân hóa. == Cơ sở hạ tầng == Nội chiến làm tê liệt sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông; năm 1987, Tchad chỉ có 30 kilômét (19 mi) đường trải nhựa. Các dự án cải tạo đường bộ giúp cải thiện mạng lưới lên 550 kilômét (340 mi) vào năm 2004. Tuy vậy, mạng lưới đường bộ vẫn hạn chế, đường bộ thường không thể đi được trong vài tháng mỗi năm. Tchad phải phụ thuộc nhiều vào hệ thống đường sắt của Cameroon để vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Tchad đến và đi từ hải cảng Douala. Tháng 3 năm 2011, Tchad và Công ty Công trình dân dụng Trung Quốc (CCECC) ký một thỏa thuận trị giá 7,5 tỷ USD nhằm xây dựng trên 1.300 km đường sắt khổ chuẩn tại Tchad, kết nối đến biên giới Sudan và Cameroon. Lĩnh vực năng lượng của Tchad phải trải qua nhiều năm quản lý yếu kém từ Hiệp hội nước và điện lực (STEE) bán quốc doanh, doanh nghiệp này cung cấp điện cho 15% công dân thủ đô và chỉ 1,5% dân số quốc gia. Hầu hết người Tchad lấy năng lượng bằng cách đốt các nhiên liệu sinh học như gỗ và phân động vật. ExxonMobil dẫn đầu một tài đoàn gồm cả Chevron và Petronas để đầu tư 3,7 tỷ USD nhằm phát triển trữ lượng dầu mỏ dự tính là 1 tỷ thùng tại nam bộ Tchad. Sản xuất dầu mỏ bắt đầu vào năm 2003 với việc hoàn thành một đường ống dẫn nối các mỏ dầu ở nam bộ Tchad với đầu cuối trên bờ biển Đại Tây Dương của Cameroon. Là một điều kiện viện trợ, Ngân hàng Thế giới yêu cầu rằng 80% lợi nhuận dầu mỏ được dành cho các dự án phát triển. Tháng 1 năm 2006, Ngân hàng Thế giới đình chỉ chương trình cho vay khi chính phủ Tchad thông qua các dựa luật giảm bớt số lượng này. Ngày 14 tháng 7 năm 2006, Ngân hàng Thế giới và Tchad ký một bị vong lục mà theo đó Chính phủ Tchad cam kết giành 70% chi tiêu cho ưu tiên các chương trình giảm nghèo. Tháng 9 năm 2010, tỷ lệ thâm nhập của điện thoại di động tại Tchad được ước tính là 24,3% dân số. Khán giả truyền hình tại Tchad giới hạn tại N'Djamena, và đài truyền hình duy nhất là TeleTchad thuộc sở hữu nhà nước. Phát thanh có tầm tiếp cận lớn hơn nhiều, với 13 đài phát thanh tư nhân. Báo chí hạn chế về số lượng và phân phối, số lượng phát hành thấp do chi phí vận chuyển, tỷ lệ biết chữ thấp và nghèo khổ. Mặc dù hiến pháp bảo vệ quyền tự do ngôn luận, song chính phủ thường xuyên hạn chế quyền này, và đến cuối năm 2006 bắt đầu ban hành một hệ thống kiểm duyệt trước đối với truyền thông. Các nhà giáo dục phải đối mặt với các thách thức nghiêm trọng do dân số phân tán và ở mức độ nhất định là sự miễn cưỡng của các cha mẹ trong việc cho con của họ đến trường. Mặc dù theo học là bắt buộc, song chỉ 68% số trẻ trai là học tiểu học, và hơn một nửa dân số mù chữ. Giáo dục bậc đại học được cung cấp tại Đại học N'Djamena. Với 33%, Tchad là một trong các quốc gia có tỷ lệ biết chữ thấp nhất tại châu Phi Hạ Sahara. == Văn hóa == Do có sự đa dạng lớn về dân tộc và tôn giáo, Tchad sở hữu một di sản văn hóa phong phú. Chính phủ Thcad tích cực thúc đẩy văn hóa và các truyền thống dân tộc bằng việc mở cửa Bảo tàng quốc gia Tchad và Trung tâm văn hóa Tchad. Sáu ngày lễ quốc gia được cử hành mỗi năm, và các ngày lễ không cố định theo lịch Gregory là Thứ hai Phục sinh và các ngày lễ Hồi giáo Eid ul-Fitr, Eid ul-Adha, và Eid Milad Nnabi. Âm nhạc Tchad có một số nhạc cụ dị thường như kinde, một loại đàn hạc vĩ; kakaki, một chiếc kèn co dài bằng thiếc; và hu hu, một nhạc cụ có dây sử dụng bầu như loa phóng thanh. Các nhạc cụ khác và những kết hợp của chúng có liên kết nhiều hơn với các dân tộc cụ thể: người Sara thích còi, balafon, đàn hạc và trống kodjo; còn người Kanembu kết hợp các âm thanh khi đánh trống với âm thanh từ các nhạc cụ giống như sáo. Người dân Tchad thường không xem trọng âm nhạc hiện đại, song đến năm 1995 thì sự quan tâm lớn hơn đã phát triển và cổ vũ phát hành các CB và băng cassette tiết mục của nghệ sĩ Tchad. Vi phạm bản quyền và thiếu bảo hộ pháp lý đối với các quyền của nghệ sĩ vẫn là các vấn đề để ngành công nghiệp âm nhạc Tchad phát triển hơn nữa. Kê là lương thực chính trên khắp Tchad, được dùng để làm thành viên bột nhúng vào nước xốt khi ăn. Ở phía bắc, món này được gọi là alysh; còn ở phía nam được gọi là biya. Cá là thực phẩm phổ biến, chúng thường được chế biến và bán dưới dạng salanga (Alestes và Hydrocynus phơi khô và hun khói nhẹ) hay banda (cá lớn hun khói). Carcaje là một thức uống ngọt phổ biến được chiết xuất từ lá dâm bụt. Đồ uống có cồn vắng bóng ở phía bắc song phổ biến ở phía nam, tại đây người dân uống bia kê, được gọi là billi-billi khi được ủ từ kê đỏ và coshate được ủ từ kê trắng. Giống như tại các quốc gia Sahel khác, văn học Tchad trải qua một cơn khát kinh tế, chính trị và tinh thần tác động đến các nhà văn nổi tiếng nhất. Các tác gia Tchad buộc phải viết trong cảnh lưu vong hoặc tha hương và tạo ra thứ văn học bị chi phối bởi chủ đề đàn áp chính trị và đàm luận lịch sử. Từ năm 1962, 20 tác gia người Tchad đã viết khoảng 60 tác phẩm hư cấu. Trong số các nhà văn nổi tiếng nhất ở quy mô quốc tế có Joseph Brahim Seïd, Baba Moustapha, Antoine Bangui và Koulsy Lamko. Năm 2003, nhà phê bình văn học duy nhất của Tchad là Ahmat Taboye cho xuất bản tác phẩm Anthologie de la littérature tchadienne của ông để tăng cường hiểu biết về văn học Tchad ở tầm quốc tế và trong giới trẻ và để bù đắp cho việc thiếu các nhà xuất bản và cấu trúc quảng cáo tại Tchad. Sự phát triển của một ngành công nghiệp điện ảnh Tchad chịu sự tàn phá của nội chiến và thiếu rạp chiếu phim, khi mà toàn quốc chỉ có một rạp. Bộ phim đầu tiên của Tchad là Bye Bye Africa, được sản xuất vào năm 1999 bởi Mahamat Saleh Haroun. Bộ phim sau đó của ông là Abouna được giới phê bình hoan nghênh, và Daratt của ông giành giải Đại đặc biệt của ban giám khảo tại Liên hoan phim Venezia lần thứ 63. Phim A Screaming Man năm 2010 đoạt giải ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes 2010, khiến Haroun là đạo diễn người Tchad đầu tiên tham gia và giành chiến thắng một giải thưởng chính tại Cannes. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Tchad. Đội tuyển bóng đá thi đấu tại Sân vận động tổng hợp Idriss Mahamat Ouya và được theo dõi sát trong các cuộc thi đấu quốc tế. Các cầu thủ bóng đá của Tchad cũng thi đấu cho các đội bóng của Pháp. Bóng rổ và vật tư do được chơi rộng rãi, vật còn được thi đấu dưới dạng các đô vật mặc da động vật theo truyền thống và phủ bụi lên người. Năm 2007, Hilton và Salim Group Inc phát triển khách sạn đầu tiên của Tchad tại N'Djamena. == Tham khảo == == Thư mục == == Đọc thêm == "Chad Urban Development Project" (PDF). ngày 21 tháng 10 năm 2004. World Bank. Azevedo, M J and Nnadozie, Emmanuel, Chad: A Nation in Search of its Future, (Westview Press Inc., 1997) Azevedo, M J, Roots of Violence: History of War in Chad, (Routledge, 1998) Collelo, Thomas (1990); Chad: A Country Study, 2d ed. Washington: U.S. GPO. ISBN 0-16-024770-5 Myas, Terry M, Africa's First Peacekeeping Operation: The OAU in Chad, 1981–1982, (Greenwood Press, 2002) (tiếng Pháp) République du Tchad – Circonscriptions administratives tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2007). Government of Chad. Zuchora-Walske, Christine, Chad in Pictures, (Twenty-First Century Books, 2009) == Lên kết ngoài == (tiếng Pháp) Trang chính thức của tổng thống Mục “Chad” trên trang của CIA World Factbook. Nghiên cứu quốc gia Chad từ Tư viện Quốc hội Mỹ Bản mẫu:GovPubs Tchad tại DMOZ hồ sơ Chad từ BBC News Wikimedia Atlas của Chad, có một số bản đồ liên quan đến Chad.
bari.txt
Xem các nghĩa khác tại Bari (định hướng) Bari (tên Latinh: Barium) là nguyên tố hoá học ký hiệu Ba, số thứ tự 56 trong bảng tuần hoàn. Nó là một kim loại kiềm thổ có tính độc. Bari là một chất rắn, màu trắng bạc, và nóng chảy ở nhiệt độ rất cao. Ôxít của nó được gọi là baryta và được tìm thấy chủ yếu trong quặng barit, nhưng bari chưa bao giờ được tìm thấy ở dạng tinh khiết do bị ôxi hóa trong không khí. Các hợp chất của kim loại này được sử dụng với số lượng nhỏ trong sơn và trong sản xuất thủy tinh. == Tính chất == === Tính chất vật lý === Bari là kim loại kiềm thổ có tính chất hóa học tương tự canxi. Ở dạng tinh khiết, nó có màu trắng bạc như chì. Nó kết tinh theo kiểu ô mạng lập phương tâm khối. Kim loại này bị ôxi hóa rất dễ dàng trong không khí và phản ứng mãnh liệt với nước hoặc cồn. Một số hợp chất của nguyên tố này có trọng lượng riêng lớn, chẳng hạn như BaSO4 (bari sulfat), hay còn gọi là khoáng spat. Khi cháy nó cho ra ngọn lửa màu lục hoặc lục nhạt và phát ra bước sóng 524.2 và 513.7 nm. === Tính chất hóa học === Bari phản ứng mạnh với ôxy ở nhiệt độ phòng tạo ra bari ôxít và peroxide. Do nó nhạy cảm với không khí, các mẫu bari thường được cất giữ trong dầu. Phản ứng diễn ra rất mãnh liệt khi bari ở dạng bột. Kim loại dễ dàng phản ứng với hầu hết axit, với ngoại lệ là axít sulfuric, phản ứng dừng lại khi tạo thành lớp muối không tan trên bề mặt là bari sulfat. Nó cũng phản ứng mạnh với nước theo phản ứng: Ba + 2 H2O → Ba(OH)2 + H2↑ Bari kết hợp với một số kim loại khác như nhôm, kẽm. chì và thiếc tạo thành các pha kim loại trung gian và hợp kim. === Các đồng vị === Bari trong tự nhiên là hỗn hợp của 7 đồng vị bền, đồng vị phổ biến nhất là 138Ba (71,7 %). Có 22 đồng vị của bari đã được biết đến, nhưng hầu hết trong chúng là các chất phóng xạ cao và có chu kỳ bán rã chỉ vài mili giây đến vài ngày. Chỉ trừ các đồng vị nổi tiếng là 133Ba, có chu kỳ bán rã 10,51 năm, và 137mBa (2,55 phút). 133Ba là một chất hiệu chỉnh tiêu chuẩn cho các máy dò tia gamma trong các nghiên cứu vật lý hạt nhân. == Ứng dụng == Bari được sử dụng chủ yếu trong sản xuất bụi ống chân không, pháo hoa và bóng đèn huỳnh quang. Được sử dụng để làm chất thu khí trong các ống chân không. Hợp chất bari sulfat có màu trắng và được sử dụng trong sản xuất sơn, trong chẩn đoán bằng tia X, và trong sản xuất thủy tinh. Barít được sử dụng rộng rãi để làm chất độn trong hoạt động khoan tìm giếng dầu và trong sản xuất cao su. Bari cacbonat được dùng làm bả chuột và có thể được sử dụng trong sản xuất thủy tinh và gạch. Bari nitrat và bari clorua được sử dụng để tạo màu xanh lá cây trong sản xuất pháo hoa. Bari sulfua không tinh khiết phát lân quang sau khi đặt dưới ánh sáng. Các muối của bari, đặc biệt là bari sulfat, có khi cũng được sử dụng để uống hoặc bơm vào ruột bệnh nhân, để làm tăng độ tương phản của những tấm phim X quang trong việc chẩn đoán hệ tiêu hóa. Lithopone (một chất nhuộm chứa bari sulfat và kẽm sulfua) có khả năng bao phủ tốt và không bị thẫm màu khi tiếp xúc với những muối sunfua. Bari perôxít được sử dụng làm chất xúc tác để bắt đầu một phản ứng tỏa nhiệt nhôm khi hàn các thanh ray lại với nhau. Bari clorua còn được sử dụng để trừ sâu bệnh trong nông nghiệp vì độc tính cao của nó. == Lịch sử == Bari (Barium) theo tiếng Hy-Lạp nghĩa là "nặng", được Carl Scheele nhận biết lần đầu tiên vào năm 1774, và được Humphry Davy cô lập vào năm 1808 tại Anh. Bari ôxít ban đầu được Guyton de Morveau gọi là barote. Sau này, nó được Antoine Lavoisier đổi tên thành baryta, và không lâu sau đó được gọi là "barium" để thể hiện tính kim loại của nó. Robert Bunsen và Augustus Matthiessen tạo ra bari tinh khiết bằng phương pháp điện phân nó chảy hỗn hợp bari clorua và ammoni clorua. Việc sản xuất ôxy tinh khiết bằng phương pháp Brin đã sử dụng một lượng lớn bari peroxide trước khi điện phân và chưng cất phân đoạn không khí lỏng trở thành cách phổ biến để tạo ra ôxy. Trong quá trình này bari ôxít phản ứng với không khí ở 500–600 °C tạo ra bari peroxide, hợp chất này đến lượt nó sẽ phân hủy ở nhiệt độ trên 700 °C giải phóng ra ôxy. 2 BaO + O2 ⇌ 2 BaO2 == Phân bố == Bari chiếm 0,0425% trong vỏ Trái Đất và 13 µg/L trong nước biển. Nó có mặt trong các khoáng barit (ở dạng sulphat) và witherit (ở dạng cacbonat). Các mỏ witherit đã được khai thác từ thế kỷ 17 cho đến năm 1969 ở miền bắc Anh, như mỏ Settlingstones gần Newbrough, ngày nay tất cả bari được khai thác ở dạng barite. == Sản xuất == Dạng đá quý hiếm gặp chứa bari là benitoit. Các mỏ barit lớn được phát hiện ở Trung Quốc, Đức, Ấn Độ, Maroc, và Hoa Kỳ. Bởi vì bari bị ôxi hóa nhanh chóng trong không khí nên khó thu được kim loại này ở dạng tinh khiết.Do barit không tan, nên khô thể dùng để tạo ra các hợp chất bari khác một cách trực tiếp. Do đó, quặng được nung với cacbon để khử thành bari sulfua: BaSO4 + 2 C → BaS + 2 CO2 Bari sunfua sau đó bị thủy phân hoặc xử lý với axit để tạo thành các hợp chất bari khác như Bari clorua, Bari nitrat, và cacbonat. Bari được sản xuất thương mại bằng phương pháp điện phân nóng chảy bari clorua (BaCl2). Phương trình điện phân như sau: (ở catốt) Ba2+* + 2e- → Ba (ở anốt) Cl-* → ½Cl2 (khí) + e- Kim loại bari cũng được tạo ra khi khử bari oxit với nhôm nghiền mịn ở nhiệt độ giữa 1100 và 1200 °C: 4 BaO + 2 Al → BaO·Al2O3 + 3 Ba Hơi bari được làm lạnh để cho ra kim loại rắn, có thể tạo thành các dạng que hoặc sợi. Là chất rắn cháy được, nó được bảo quản trong các hộp théo hoặc các túi nhựa chứa argon. == Hợp chất == Những hợp chất quan trọng nhất là bari perôxít, bari clorua, bari sulfat, bari cacbonat, bari nitrat, và bari clorat. == Cảnh báo == Tất cả hợp chất có thể hòa tan của bari với nước hoặc axít đều vô cùng độc hại. Bari sulfat có thể dùng trong y khoa chỉ bởi vì nó không tan và được bộ máy tiêu hóa thải ra hoàn toàn. Không như những kim loại nặng khác, bari không gây ra hiện tượng tích tụ sinh học. Tuy nhiên, khi hít bụi có chứa các hợp chất bari có thể tích tụ trong phổi gây ra các chứng bệnh về đường hô hấp. Vì sự ôxi hóa bari diễn ra rất dễ dàng nên nó phải được bảo quản trong dầu mỏ hay dầu lửa hoặc bất kì chất lỏng không có ôxy nào, để có thể ngăn cách sự tiếp xúc với không khí. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == WebElements.com – Barium
thị giác máy tính.txt
Thị giác máy tính (tiếng Anh: computer vision) là một lĩnh vực bao gồm các phương pháp thu nhận, xử lý ảnh kỹ thuật số, phân tích và nhận dạng các hình ảnh và, nói chung là dữ liệu đa chiều từ thế giới thực để cho ra các thông tin số hoặc biểu tượng, ví dụ trong các dạng quyết định. Việc phát triển lĩnh vực này có bối cảnh từ việc sao chép các khả năng thị giác con người bởi sự nhận diện và hiểu biết một hình ảnh mang tính điện tử. Sự nhận diện hình ảnh có thể xem là việc giải quyết vấn đề của các biểu tượng thông tin từ dữ liệu hình ảnh qua cách dùng các mô hình được xây dựng với sự giúp đỡ của các ngành lý thuyết học, thống kê, vật lý và hình học. Thị giác máy tính cũng được mô tả là sự tổng thể của một dải rộng các quá trình tự động và tích hợp và các thể hiện cho các nhận thức thị giác. Thị giác máy tính là một môn học khoa học liên quan đến lý thuyết đằng sau các hệ thống nhân tạo có trích xuất các thông tin từ các hình ảnh. Dữ liệu hình ảnh có thể nhiều dạng, chẳng hạn như chuỗi video, các cảnh từ đa camera, hay dữ liệu đa chiều từ máy quét y học. Thị giác máy tính còn là một môn học kỹ thuật, trong đó tìm kiếm việc áp dụng các mô hình và các lý thuyết cho việc xây dựng các hệ thống thị giác máy tính. Các lĩnh vực con của thị giác máy tính bao gồm tái cấu trúc cảnh, dò tìm sự kiện, theo dõi video, nhận diện bố cục đối tượng, học, chỉ mục, đánh giá chuyển động và phục hồi ảnh. == Các lĩnh vực liên quan == Các lĩnh vực liên quan của trí tuệ nhân tạo giải quyết các vấn đề như lên kế hoạch tự động hay các suy tính cho các hệ thống robot để dò đường ở một môi trường nào đó. Sự hiểu biết chi tiết của các môi trường này được yêu cầu để dò đường thông qua chúng. Thông tin về môi trường có thể được cung cấp bởi một hệ thống thị giác máy tính, hoạt động như các cảm biến và cung cấp thông tin mức độ cao về môi trường và robot. Trí tuệ nhân tạo và thị giác máy tính chia sẻ các chủ đề như nhận dạng mẫu và các kỹ thuật học. Kết quả là thị giác máy tính đôi khi được xem là một phần của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo hay lĩnh vực khoa học máy tính nói chung. Thị giác máy tính theo một cách nào đó là sự đảo ngược của đồ họa máy tính. Trong khi đồ họa máy tính sản sinh hình ảnh từ mô hình 3D, thì thị giác máy tính lại thường sản sinh ra các mô hình 3D từ dữ liệu hình ảnh. Có một khuynh hướng kết hợp 2 môn học này, ví dụ như khám phá trong tăng cường thực tế. == Xem thêm == Mạng nơ-ron nhân tạo == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thị giác máy là gì - Nhật Quang Mvtec USC Iris computer vision conference list Computer vision papers on the web A complete list of papers of the most relevant computer vision conferences. Computer Vision Online News, source code, datasets and job offers related to computer vision. Keith Price's Annotated Computer Vision Bibliography CVonline Bob Fisher's Compendium of Computer Vision. The British Machine Vision Association Supporting computer vision research within the UK via the BMVC and MIUA conferences, Annals of the BMVA open-source journal, BMVA Summer School and one-day meetings
tòa thánh.txt
Tòa Thánh (Latinh: Sancta Sedes) dùng để chỉ Giáo phận Rôma, nơi giáo hoàng cai quản với tư cách Giám mục. Theo giáo luật Công giáo Rôma, danh từ Tòa Thánh và Điện Tông Tòa dùng để chỉ chung cho Giáo hoàng và Giáo triều Rôma. Chính vì lý do này Giáo hoàng và Giáo triều Rôma thực sự là giáo quyền cai quản giáo hội Công giáo Hoàn vũ. Mặc dù Tòa Thánh có mối liên hệ rất gần với Thành quốc Vatican, một quốc gia có chủ quyền dưới quyền cai trị của Tòa Thánh, nhưng đây là hai thực thể riêng biệt nhau. Tòa Thánh không chấm dứt với một triều đại Giáo hoàng. Khi một Giáo hoàng băng hà, tất cả các vị tổng trưởng các bộ trong Giáo triều đồng thời chấm dứt nhiệm vụ, cũng như tất cả các Giám mục trong Giáo triều Rôma và các Giám mục cai quản các giáo phận địa phương trên thế giới cũng đồng loạt không còn là Giám mục chính tòa nữa, cho đến khi có lại Giáo hoàng mới. Trong thời gian trống tông tòa (sede vacante), từ lúc Giáo hoàng băng hà cho đến lúc bầu được vị Giáo hoàng kế vị, Hồng y Đoàn (Collegium Cardinalium) sẽ tạm cai quản Tòa Thánh và Giáo hội Hoàn vũ. Vị Hồng y Thị Thần còn gọi là Hồng y Nhiếp chính (Cardinal Camerlengo) tạm thời điều hành các tài sản và vấn đề tài chính trong thời gian này. Giáo luật cũng ngăn cấm Hồng y Đoàn và Hồng y Nhiếp chính tự ban hành những luật lệ mới trong thời gian trống tòa. Ngoài ra, trong thời gian trống tông tòa, vị Hồng y Chánh án Tòa Ân giải Tối cao vẫn tiếp tục công việc, không buộc từ nhiệm. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tòa Thánh Quyền bính trong Giáo hội Công giáo
robinho.txt
Robson de Souza (sinh ngày 25 tháng 1 năm 1984 tại São Vicente, São Paulo), thường gọi Robinho, là một cầu thủ bóng đá người Brasil thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Atlético Mineiro tại Giải vô địch bóng đá Brasil. == Tiểu sử == Robinho sinh tại Parque Bitaru, một vùng nghèo khổ của São Vicente thuộc Santos, tại đây anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá từ rất trẻ. Khi lên 6, anh gia nhập Beira-Mar, một câu lạc bộ nhỏ và là trường đào tạo bóng đá trong khu vực; đội bóng của anh đoạt chức vô địch ngay trong năm đầu tiên anh đến. Một trong những người cùng chơi với anh lúc ấy là Marcelo, nay là đồng đội của anh tại Real Madrid. Hồi 1993, mới 9 tuổi, Robinho đã ghi 73 bàn thắng cho Portuários, một đội bóng đá trong nhà. Sau đó, anh gia nhập đội trẻ Santos FC, đội bóng của huyền thoại Pelé trước kia. == Sự nghiệp == === Santos F.C. === Năm 2002, lúc 19 tuổi, Robinho gia nhập làng bóng đá chuyên nghiệp khi được đưa lên đội hình chính của Santos. Anh xuất hiện 24 trận trong mùa giải đó và ghi 9 bàn, cùng Santos vô địch Campeonato Brasileiro. Năm 2004, anh trở thành mũi nhọn tấn công của đội khi ghi 21 bàn sau 37 trận của giải vô địch, và lần thứ hai chiến thắng tại giải này với Santos. Sự thể hiện đó khiến anh thu hút sự chú ý của nhiều câu lạc bộ Âu châu vào mùa hè năm 2004. Nhưng Santos từ chối tất cả lời đề nghị, và Robinho không đi đâu cả. Đến mùa giải 2004-2005, Robinho suy sụp tinh thần khi mẹ anh, bà Marina da Silva Souza, bị bắt cóc khi đang ăn bánh cuốn ở nhà riêng tại Praia Grande. Sáu tuần sau, nhờ một món tiền chuộc, bà mới được thả ra mà không tổn hại gì. Anh chỉ ghi 4 bàn sau 8 trận mùa giải đó, song giá của anh vẫn tăng lên. Cho đến cuối năm, Santos lâm vào khó khăn tài chính, phải bán bớt một số ngôi sao trong đội hình. Cuối cùng vào tháng 5 năm 2005, câu lạc bộ Real Madrid của Tây Ban Nha đã có được Robinho sau khi giao cho Santos 24 triệu Euro. === Real Madrid === Robinho chơi trận đầu tiên tại La Liga vào ngày 28 tháng 8 năm 2005, trong trận mà Real Madrid đả bại Cádiz CF với tỉ số 2-1. Anh vào sân vào phút thứ 65th thay cho Thomas Gravesen. Cả mùa giải đầu tiên ở đây, anh có 37 lần xuất hiện và ghi 9 bàn thắng. Tại mùa bóng 2006-07, Robinho được đá ít hơn khi Fabio Capello lên nắm chức huấn luyện viên của kền kền trắng, anh đá như mệt mỏi vào cả nửa đầu mùa giải. Chỉ đến sau mùa đông, anh mới lấy lại phong độ và được trở lại đội hình xuất phát. Robinho đã được sự chấp thuận của FIFA để bỏ một buổi tập huấn chuẩn bị cho Copa América với Brasil. Anh dùng nó để cùng Madrid thi đấu trận quyết định với Mallorca vào 18 tháng 6 năm 2007, đội bóng đã thắng 3-1 và lên ngôi vô địch lần thứ 30 trong lịch sử, đó là lần thứ 3 trong sự nghiệp của Robinho. Anh ghi 11 bàn và có 14 đường chuyền ăn bàn tại La Liga mùa bóng 2007-08. === Manchester City === Vào ngày 1 tháng 12 năm 2008, ngày đóng cửa thị trường chuyển nhượng mùa hè của Premier League, Robinho đã ký kết thành công một hiệp đồng mới trị giá 42,5 triệu € để chuyển qua Manchester City với mức lương 160,000 bảng một tuần. Đến kì chuyển nhượng mùa đông năm 2010 do không đạt dược phong độ tốt Manchester City,anh đã được BLD của nửa Xanh thành Machester cho Santos (CLB anh tham gia khi còn trẻ) nhằm muốn lấy lại phong độ như lúc còn ở Real. == Quốc tế == Robinho đá trận đầu cho tuyển quốc gia tại CONCACAF Gold Cup vào ngày 13 tháng 7, trong một trận đấu mà Brasil đã để thua Mexico 1-2. Anh được chơi 4 trong 5 trận của Brasil tại World Cup 2006, ra sân từ ghế dự bị và không ghi bàn nào. Đến Copa América 2007, anh thành một thủ lĩnh đưa đội tuyển đến chức vô địch. Mùa bóng ấy, anh khoác áo số 11, số áo của thần tượng Romario đã từng mang. Robinho ghi tất cả 5 bàn cho Brazil ở vòng loại, trong đó có 1 cú hat trick giúp đội nhà thắng Chilê 3-0, bàn còn lại từ qua Penalty trong trận thắng Ecuador 1-0. Hai bàn cuối cùng của anh tại giải này được ghi trong trận tứ kết gặp lại Chile, mà Brasil đã thắng 6-1. Brasil đem chiến thắng về nhà, và Robinho về với rất nhiều giải thưởng, trong đó có chiếc giày vàng cho vua phá lưới và danh hiệu cầu thủ chơi hay nhất giải đấu. Robinho có 1 trận làm đội trưởng tuyển vàng xanh khi đội này tiếp Algeria, vì cả Lúcio và Gilberto Silva đều vắng mặt. Vào 18 tháng 10 năm 2007, Robinho và Ronaldinho là trung tâm của sự chú ý khi họ đã rủ nhau ăn chơi một bữa sau trận đấu cho tuyển quốc gia, mà quên cả việc về Tây Ban Nha với câu lạc bộ. Một tờ báo Brasil: O Globo tường thuật rằng cả hai cùng với một vài đồng đội (Baptista cũng bị nhìn thấy) đã bày tiệc rầm rộ tại một hộp đêm nổi tiếng ở Rio de Janeiro, để ăn mừng cho chiến thắng 5-0 trước Ecuador trước đó 1 ngày. Robinho bị phóng viên phát hiện là đang nhún nhảy với những cô gái, và còn tuyên bố rằng họ sẽ sử dụng hết 40 cái bao cao su trước khi rời khỏi hộp đêm vào lúc 5 giờ sáng. Robinho phủ nhận chuyện đó, nói thêm rằng anh sắp cưới cô bạn gái rồi, sau khi giúp cô này có thai đứa con đầu tiên vào đầu năm 2008. Sau kì Copa América 2015 không thành công của đội tuyển Brasil (thất bại trước Paraguay ở loạt sút luân lưu 11m với tỉ số 3–4), Robinho quyết định chia tay đội tuyển quốc gia Brasil sau 8 năm gắn bó, tổng cộng anh đã thi đấu 99 trận và ghi được 28 bàn thắng. == Thống kê sự nghiệp == === Câu lạc bộ === Số liệu thống kê chính xác tới 8 tháng 12 năm 2016. === Thi đấu quốc tế === === Bàn thắng quốc tế === == Thành tích == Campeonato Brasileiro 2002 Bola de Ouro 2004 FIFA Confederations Cup 2005 Copa America 2007 La Liga (2) 2006/07, 2007/08 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Robinho trên FiFA.com Thông tin trên trang web chính thức của Real Madrid Thông tin về Robinho trên Football Database Robinho official website - Trang web chính thức về Robinho
samuel johnson.txt
Samuel Johnson (thường được biết đến là Dr.Johnson) sinh ngày 18/9/1709, mất 13/12/1784 là một tác giả người Anh. Bắt đầu sự nghiệp là một phóng viên trên đường Grub, sau đó ông đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp văn học, nhà văn tiểu luận, nhà đạo đức học, nhà viết tiểu thuyết, nhà phê bình văn học, người viết tiểu sử, tổng biên tập và người viết từ điển. Ông là một tác giả người Anh đã có những đóng góp lâu dài cho văn học Anh với tư cách là một nhà thơ, nhà văn, nhà đạo đức, nhà phê bình văn học, người viết tiểu sử, biên tập viên người nghiên cứu từ ngữ học. Johnson là một người Tory mộ đạo Anh giáo. Johnson sinh ra ở Lichfield, Staffordshire, và theo học Pembroke College, Oxford trong hơn một năm, trước khi thiếu của các quỹ buộc ông phải rời bỏ. Sau khi làm giáo viên, ông chuyển đến London, nơi ông bắt đầu viết nhiều phần linh tinh cho tạp chí The Gentleman's Magazine. Các tác phẩm ban đầu của ông gồm tiểu sử The Life of Richard Savage, các tập thơ "London" và "The Vanity of Human Wishes", và kịch Irene. Sau chín năm làm việc, Johnson đã biên soạn Từ điển tiếng Anh được xuất bản năm 1755; nó có một hiệu ứng sâu rộng hiện đại Tiếng Anh và đã được mô tả như "một trong những lớn nhất thành tựu duy nhất của học thuật." Tác phẩm này mang lại Johnson sự nổi tiếng và thành công. Cho đến khi hoàn thành của Từ điển tiếng Anh Oxford 150 năm sau đó, từ điển của Johnson đã được xem như là từ điển Anh vượt trội, sau đó ông sáng tác các bài tiểu luận, một phiên bản chú thích ảnh hưởng của vở kịch của William Shakespeare, và Rasselas câu chuyện được nhiều người đọc. Năm 1763, ông kết bạn với James Boswell, người mà sau này ông đến Scotland, Johnson mô tả chuyến đi của họ trong Hành trình đến quần đảo phía Tây của Scotland. == Tham khảo ==
giải grammy lần thứ 50.txt
Giải Grammy lần thứ 50 được diễn ra tại Trung tâm Staples, Los Angeles vào 10 tháng 2 năm 2008. Giải thưởng vinh danh những thành tựu âm nhạc năm 2007, trong đó có các album được phát hành từ 1 tháng 10 năm 2006 đến 30 tháng 9 năm 2007. Buổi lễ trao giải được truyền hình trực tiếp trên kênh CBS. Tuy nhiên theo thông lệ hầu hết các giải thưởng sắp trao tặng sẽ được trưng bày một phần tại Trung tâm Hội nghị Los Angeles và được phát sóng trực tiếp trên kênh phát thanh XM Satellite. Hai đêm trước chương trình tưởng niệm Aretha Franklin là giải MusicCares của năm. Người chiến thắng lớn nhất tại lễ trao giải là Amy Winehouse: ca sĩ 24 người Anh vừa cai nghiện ma túy thành công và đã không đến Los Angeles để nhận giải. Các quan chức ngoại cảnh Mỹ đã không cho cô vào Mỹ bởi vấn đề Visa; sau đó dù họ đã thay đổi quyết định nhưng đã quá trễ cho một chuyến đi dài từ Anh tới Mỹ. Cô đã trở thành nữ nghệ sĩ thứ năm đoạt cả năm giải thưởng trong một đêm, trước đó là Lauryn Hill, Norah Jones, Alicia Keys và Beyoncé. Các khoảnh khắc Vàng của Giải Grammy và NARAS đã được giới thiệu trong tài liệu tham khảo và trình chiếu trong suốt buổi lễ. Alicia Keys là người mở đầu buổi tối với việc chơi piano và hát cùng với các MV và audio của cố nghệ sĩ Frank Sinatra. Buổi biểu diễn còn là sự kết hợp của các nghệ sĩ đương đại và quá khứ bao gồm Beyoncé và Tina Turner, Rihanna và The Time, nghệ sĩ piano cổ điển Lang Lang với nghệ sĩ Jazz Herbie Hancock và người chiến thắng tại lễ khai mạc Keely Smith và Kid Rock. Trong buổi lễ còn có sự ghi nhận những đóng góp to lớn cho ngành âm nhạc đương đại của The Beatles. == Trình diễn == Dưới đây là danh sách những nghệ sĩ biểu diễn theo bảng chữ cái. == Dẫn chương trình == Dưới đây là danh sách những người dẫn chương trình theo bảng chữ cái. == General == Thu âm của năm "Irreplaceable" – Beyoncé Beyoncé Knowles, S. Smith & Stargate, producers; Jim Caruana, Jason Goldstein & Geoff Rice, engineers/mixers "The Pretender" – Foo Fighters Gil Norton, producer; Adrian Bushby & Rich Costey, engineers/mixers "Umbrella" – Rihanna & Jay-Z Kuk Harrell & C. "Tricky" Stewart, producers; Kuk Harrell & Manny Marroquin, engineers/mixers "What Goes Around.../...Comes Around" – Justin Timberlake Nate (Danja) Hills, Timbaland & Justin Timberlake, producers; Jimmy Douglass & Timbaland, engineers/mixers "Rehab" – Amy Winehouse Mark Ronson, producer; Tom Elmhirst, engineer/mixer Album của năm Echoes, Silence, Patience & Grace – Foo Fighters Gil Norton, producer; Adrian Bushby & Rich Costey, engineers/mixers; Brian Gardner, mastering engineer These Days – Vince Gill John Anderson, Guy Clarke, Rodney Crowell, Diana Krall & The Del McCoury Band, featured artists; Vince Gill, John Hobbs & Justin Niebank, producers; Neal Cappellino & Justin Niebank, engineers/mixers; Adam Ayan, mastering engineer River: The Joni Letters – Herbie Hancock Leonard Cohen, Norah Jones, Joni Mitchell, Corinne Bailey Rae, Luciana Souza & Tina Turner, featured artists; Herbie Hancock & Larry Klein, producers; Helik Hadar, engineer/mixer; Bernie Grundman, mastering engineer Graduation – Kanye West Dwele, Lil Wayne, Mos Def & T-Pain, featured artists; Chris Martin, Douglas Vale, Warryn "Baby Dubb" Campbell, Eric Hudson, Brian "Allday" Miller, Nottz, Patrick "Plain Pat" Reynolds, Gee Roberson, Toomp & Kanye West, producers; Bruce Beuchner, Andrew Dawson, Mike Dean, Anthony Kilhoffer, Greg Koller, Manny Marroquin, Nottz Raw, Tony Rey, Seiji Sekine, Paul Sheehy & D. Sloan, engineers/mixers; Vlado Meller, mastering engineer Back to Black – Amy Winehouse Mark Ronson & Salaamremi, producers; Tom Elmhirst, Gary Noble & Franklin Socorro, engineers/mixers; Mark Ronson, mastering engineer Bài hát của năm "Before He Cheats" – Carrie Underwood songwriters; Josh Kear & Chris Tompkins "Hey There Delilah" – Plain White T's songwriter; Tom Higgenson "Like a Star" – Corinne Bailey Rae songwriter; Corinne Bailey Rae "Rehab" – Amy Winehouse songwriter; Amy Winehouse "Umbrella" – Rihanna & Jay-Z songwriters; Jay-Z, Kuk Harrell, Terius "Dream" Nash, & Christopher Stewart Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất Feist Ledisi Paramore Taylor Swift Amy Winehouse == Pop == Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất "Candyman" – Christina Aguilera "1234" – Feist "Big Girls Don't Cry" – Fergie "Say It Right" – Nelly Furtado "Rehab" – Amy Winehouse Trình diễn giọng Pop nam xuất sắc nhất "Everything" – Michael Bublé "Belief" – John Mayer "Dance Tonight" – Paul McCartney "Amazing" – Seal "What Goes Around.../...Comes Around" – Justin Timberlake Trình diễn Song ca/ Nhóm nhạc Pop xuất sắc nhất "(You Want to) Make a Memory" – Bon Jovi "Home" – Daughtry "Makes Me Wonder" – Maroon 5 "Hey There Delilah" – Plain White T's "Window in the Skies" – U2 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất "Steppin' Out" – Tony Bennett & Christina Aguilera "Beautiful Liar" – Beyoncé & Shakira "Gone Gone Gone (Done Moved On)" – Robert Plant & Alison Krauss "The Sweet Escape" – Gwen Stefani & Akon "Give It to Me" – Timbaland featuring Nelly Furtado & Justin Timberlake Best Pop Instrumental Performance "Off the Grid" – Beastie Boys "Paris Sunrise#7" – Ben Harper & The Innocent Criminals "Over the Rainbow" – Dave Koz "One Week Last Summer" – Joni Mitchell "Simple Pleasures" – Spyro Gyra Best Pop Instrumental Album The Mix-Up - Beastie Boys Italia – Chris Botti At the Movies – Dave Koz Good to Go-Go – Spyro Gyra Roundtrip – Kirk Whalum Best Traditional Pop Vocal Album Call Me Irresponsible – Michael Bublé Cool Yule – Bette Midler Trav'lin' Light – Queen Latifah Live in Concert 2006 – Barbra Streisand James Taylor at Christmas – James Taylor Best Pop Vocal Album Lost Highway – Bon Jovi The Reminder – Feist It Won't Be Soon Before Long – Maroon 5 Memory Almost Full – Paul McCartney Back to Black – Amy Winehouse == Dance Field == Best Dance Recording "Do It Again" – The Chemical Brothers Tom Rowlands & Ed Simons, producers "D.A.N.C.E." – Justice Gaspard Auge & Xavier de Rosnay, producers; Gaspard Auge & Xavier de Rosnay, mixers "Love Today" – Mika Jodi Marr, John Merchant, Mika & Greg Wells, producers; Greg Wells, mixer "Don't Stop the Music" – Rihanna StarGate, producer; Phil Tan, mixer "LoveStoned/I Think She Knows Interlude" – Justin Timberlake Nate (Danja) Hills, Timbaland & Justin Timberlake, producers; Jimmy Douglass & Timbaland, mixers Best Electronic/Dance Album We Are the Night – The Chemical Brothers † – Justice Sound of Silver – LCD Soundsystem We Are Pilots – Shiny Toy Guns Elements of Life – Tiësto == Rock Field == Best Rock Solo Vocal Performance "Timebomb" – Beck "Only Mama Knows" – Paul McCartney "Our Country" – John Mellencamp "Radio Nowhere" – Bruce Springsteen "Come On" – Lucinda Williams Trình diễn Song ca/ Nhóm nhạc Rock xuất sắc nhất "It's Not Over" – Daughtry "Working Class Hero" – Green Day "If Everyone Cared" – Nickelback "Instant Karma" – U2 "Icky Thump" – The White Stripes Best Hard Rock Performance "Sweet Sacrifice" – Evanescence "The Pretender" – Foo Fighters "I Don't Wanna Stop" – Ozzy Osbourne "Sick, Sick, Sick" – Queens of the Stone Age "The Pot" – Tool Best Metal Performance "Nothing Left" – As I Lay Dying "Never Ending Hill" – King Diamond "Aesthetics of Hate" – Machine Head "Redemption" – Shadows Fall "Final Six" – Slayer Best Rock Instrumental Performance "The Ecstasy of Gold" – Metallica "Malignant Narcissism" – Rush "Always with Me, Always with You" – Joe Satriani "Once Upon a Time in the West"– Bruce Springsteen "The Attitude Song" – Steve Vai Bài hát Rock hay nhất "Come On" songwriter; Lucinda Williams (Lucinda Williams) "Icky Thump" songwriter; Jack White (The White Stripes) "It's Not Over" songwriters; Chris Daughtry, Gregg Wattenberg, Mark Wilkerson & Brett Young (Daughtry) "The Pretender" songwriters; Dave Grohl, Taylor Hawkins, Nate Mendel & Chris Shiflett (Foo Fighters) "Radio Nowhere" songwriter; Bruce Springsteen (Bruce Springsteen) Album Rock xuất sắc nhất Daughtry – Daughtry Revival – John Fogerty Echoes, Silence, Patience & Grace – Foo Fighters Magic – Bruce Springsteen Sky Blue Sky – Wilco == Alternative Field == Album Alternative xuất sắc nhất Alright, Still – Lily Allen Neon Bible – Arcade Fire Volta – Björk Wincing the Night Away – The Shins Icky Thump – The White Stripes == R&B Field == Best Female R&B Vocal Performance "Just Fine" – Mary J. Blige "When I See U" – Fantasia "No One" – Alicia Keys "If I Have My Way"– Chrisette Michele "Hate on Me"– Jill Scott Best Male R&B Vocal Performance "Woman" – Raheem DeVaughn "B.U.D.D.Y." – Musiq Soulchild "Because of You" – Ne-Yo "Future Baby Mama" – Prince "Please Don't Go" – Tank Best R&B Performance By a Duo/Group W/ Vocals "Same Girl" – R. Kelly & Usher "Disrespectful" – Chaka Khan & Mary J. Blige "Hate That I Love You" – Rihanna & Ne-Yo "Baby"– Angie Stone & Betty Wright "Bartender" – T-Pain & Akon Best Traditional R&B Vocal Performance "Walk a Mile In My Shoes" – Otis Clay "All Night Long" – Randy Crawford & Joe Sample "In My Songs" – Gerald Levert "I Apologize" – Ann Nesby "I Am Your Man" – Ryan Shaw Best Urban/Alternative Performance "Make a Baby" – Vikter Duplaix "That's the Way of the World" – Dwele "Daydreamin'" – Lupe Fiasco & Jill Scott "Fantasy" – Meshell Ndegeocello "Dream" – Alice Smith Best R&B Song "Beautiful Flower" songwriters; India.Arie & Joyce Simpson (India.Arie) "Hate That I Love You" songwriters; M.S. Eriksen, T.E. Hermansen & Shaffer Smith (Rihanna featuring Ne-Yo) "No One" songwriters; Dirty Harry, Kerry Brothers & Alicia Keys (Alicia Keys) "Teachme" songwriters; Ivan Barias, Adam W. Blackstone, Randall C. Bowland, Carvin Haggins, Johnnie Smith II & Corey Latif Williams (Musiq Soulchild) "When I See U" songwriters; Louis Biancaniello, Waynne Nugent, Erika Nuri, Kevin Risto, Janet Sewel & Sam Watters (Fantasia) Best R&B Album Funk This – Chaka Khan Lost & Found – Ledisi Luvanmusiq – Musiq Soulchild The Real Thing – Jill Scott Sex, Love & Pain – Tank Best Contemporary R&B Album Konvicted – Akon Just Like You – Keyshia Cole Fantasia – Fantasia East Side Story – Emily King Because of You – Ne-Yo == Rap Field == Best Rap Solo Performance "The People" – Common "I Get Money" – 50 Cent "Show Me What You Got" – Jay-Z "Big Things Poppin' (Do It)" – T.I. "Stronger" – Kanye West Best Rap Performance by a Duo or Group "Southside" – Common & Kanye West "Make It Rain" – Fat Joe & Lil Wayne "International Player's Anthem (I Choose You)" – UGK & OutKast "Party Like a Rockstar" – Shop Boyz "Classic (Better Than I've Ever Been)" – Kanye West, Nas, KRS-One & Rakim Best Rap/Sung Collaboration "I Wanna Love You" – Akon & Snoop Dogg "Kiss Kiss" – Chris Brown & T-Pain "Let It Go" – Keyshia Cole, Missy Elliott & Lil' Kim "Umbrella" – Rihanna & Jay-Z "Good Life" – Kanye West & T-Pain Best Rap Song "Ayo Technology" songwriters; Nate "Danja" Hills, Curtis Jackson, Timothy Mosley & Justin Timberlake (50 Cent featuring Justin Timberlake & Timbaland) "Big Things Poppin' (Do It)" songwriters; Clifford Harris & Byron Thomas (T.I.) "Can't Tell Me Nothing" songwriters; Kanye West & Aldrin Davis (Kanye West) "Crank That (Soulja Boy)" songwriter; DeAndre Way (Soulja Boy) "Good Life" songwriters; Alrin Davis, Faheem Najm & Kanye West (Kanye West & T-Pain) Best Rap Album Finding Forever – Common Kingdom Come – Jay-Z Hip Hop Is Dead – Nas T.I. vs. T.I.P. – T.I. Graduation – Kanye West == Country Field == Best Female Country Vocal Performance "Simple Love" – Alison Krauss "Famous in a Small Town" – Miranda Lambert "Nothin' Better to Do" – LeAnn Rimes "Before He Cheats" – Carrie Underwood "Heaven, Heartache, and the Power of Love" – Trisha Yearwood Best Male Country Vocal Performance "Long Trip Alone" – Dierks Bentley "A Woman's Love" – Alan Jackson "If You're Reading This" – Tim McGraw "Give It Away" – George Strait "Stupid Boy" – Keith Urban Best Country Performance By A Duo Or Group With Vocals "Proud of the House We Built" – Brooks & Dunn "How Long" – Eagles "Moments" – Emerson Drive "Lucky Man" – Montgomery Gentry "Sweet Memories" – The Time Jumpers Best Country Collaboration w/ Vocals "Days Aren't Long Enough" – Steve Earle & Allison Moorer "Because of You" – Reba McEntire & Kelly Clarkson "I Need You" – Tim McGraw & Faith Hill "Lost Highway" – Willie Nelson & Ray Price "Oh Love" – Brad Paisley & Carrie Underwood Best Country Instrumental Performance "Little Monk" – Russ Barenberg "Mucky the Duck" – The Greencards "Throttleneck" – Brad Paisley "Rawhide!" – Andy Statman "Fidoodlin" – The Time Jumpers Best Country Song "Before He Cheats" Josh Kear & Chris Tompkins, songwriters (Carrie Underwood) "Give It Away" Bill Anderson, Buddy Cannon & Jamey Johnson, songwriters (George Strait) "I Need You" Tony Lane & David Lee, songwriters (Tim McGraw featuring Faith Hill) "If You're Reading This" Tim McGraw, Brad Warren & Brett Warren, songwriters (Tim McGraw) "Long Trip Alone" Brett Beavers, Dierks Bentley & Steve Bogard, songwriters (Dierks Bentley) Best Country Album Long Trip Alone – Dierks Bentley These Days – Vince Gill Let It Go – Tim McGraw 5th Gear – Brad Paisley It Just Comes Natural – George Strait == New Age Field == Best New Age Album Faces of the Sun – Peter Kater Sacred Journey of Ku–Kai, Volume 3 – Kitarō One Guitar – Ottmar Liebert Southwest – Eric Tingstad Crestone – Paul Winter Consort == Jazz Field == Best Contemporary Jazz Album Party Hats – Will Bernard Downright Upright – Brian Bromberg Re–imagination – Eldar River: The Joni Letters – Herbie Hancock He Had A Hat – Jeff Lorber Best Jazz Vocal Album Avant Gershwin – Patti Austin Red Earth: A Malian Journey – Dee Dee Bridgewater Music Maestro Please – Freddy Cole Nightmoves – Kurt Elling On the Other Side – Tierney Sutton Best Jazz Instrumental Solo Performance "Levees" – Terence Blanchard "Anagram" – Michael Brecker "Both Sides Now– Herbie Hancock "Lullaby" – Hank Jones "1000 Kilometers" – Paul McCandless Best Jazz Instrumental Album, Individual or Group Pilgrimage – Michael Brecker Live at the Village Vanguard – The Bill Charlap Trio Kids: Live at Dizzy's Club Coca–Cola – Joe Lovano và Hank Jones Line by Line – John Patitucci Back East – Joshua Redman Best Large Jazz Ensemble Album A Tale of God's Will (A Requiem for Katrina) – Terence Blanchard Eternal Licks & Grooves: Limited Edition – Bob Florence Hommage – The Bill Holman Band Sky Blue – Maria Schneider Orchestra With Love – Charles Tolliver Big Band == Gospel Field == Best Gospel Performance "East to West" – Casting Crowns "Blessed & Highly Favored" – The Clark Sisters "Never Gonna Break My Faith" – Aretha Franklin & Mary J. Blige (Featuring The Harlem Boys Choir) "With Long Life" – Israel And New Breed Featuring T-Bone "He Set My Life to Music" – CeCe Winans Best Gospel Song "Blessed & Highly Favored" Karen Clark–Sheard, songwriter (The Clark Sisters) "East to West" Mark Hall & Bernie Herms, songwriters (Casting Crowns) "Encourage Yourself" Donald Lawrence, songwriter (Donald Lawrence & The Tri–City Singers) "Made to Love" Cary Barlowe, Toby McKeehan, Jamie Moore & Aaron Rice, songwriters (TobyMac) "Praise on the Inside" James L. Moss, songwriter (J. Moss) Best Rock or Rap Gospel Album Before the Daylight's Shot – Ashley Cleveland HIStory: Our Place In His Story – The Cross Movement Open Book – Da' T.R.U.T.H. The Reckoning – Pillar Comatose – Skillet Best Pop/Contemporary Gospel Album The Altar and the Door – Casting Crowns A Deeper Level – Israel and New Breed True Beauty – Mandisa Stand – Michael W. Smith Portable Sounds – TobyMac Best Southern/Country/Bluegrass Album Amazing Grace – Bill & Gloria Gaither and the Homecoming Friends Journey of Joy – Karen Peck & New River Everybody's Brother – Billy Joe Shaver Salt of the Earth – Ricky Skaggs & The Whites Tell Someone – Kenny & Amanda Smith Band I'll Fly Away: Country Hymns & Songs of Faith – Various Artists Best Traditional Gospel Album Live: One Last Time – The Clark Sisters The Grand Finale': Encourage Yourself – Donald Lawrence & The Tri–City Singers Life Changing – Smokie Norful Thirsty – Marvin Sapp Cherch – Bebe Winans Best Contemporary R&B Gospel Album Grateful – Coko Free to Worship – Fred Hammond V2...– J. Moss T57 – Trin-i-tee 5:7 Alone But Not Alone – Marvin Winans == Latin Field == Best Latin Pop Album Papito – Miguel Bosé 12 Segundos de Oscuridad – Jorge Drexler Navidades – Luis Miguel Dicen Que el Tiempo – Jennifer Peña El Tren de los Momentos – Alejandro Sanz Best Latin Rock or Alternative Album No Hay Espacio – Black Guayaba Adelantando – Jarabe De Palo Amantes Sunt Amentes – Panda Kamikaze – Los Rabanes Memo Rex Commander y el Corazón Atómico de la Vía Láctea – Zoé Best Latin Urban Album E.S.L. – Akwid El Abayarde Contraataca – Tego Calderón Residente O Visitante – Calle 13 El Cartel: The Big Boss – Daddy Yankee Vacaneria! – Fulanito Best Latin Jazz Album Funk Tango – Paquito Rivera Quintet The Magician – Sammy Figueroa and his Latin Jazz Explosion Borrowed Time – Steve Khan Refugee – Hector Martignon Big Band Urban Folktales – Bobby Sanabria Big Band Best Tropical Latin Album Greetings From Havana – Cubanismo En Primera Plana – Issac Delgado Arroz con Habichuela – El Gran Combo De Puerto Rico La Llave de mi Corazón – Juan Luis Guerra United We Swing – Spanish Harlem Orchestra Best Mexican/Mexican–American Album 100% Mexicano – Pepe Aguilar El Indomable – Cristian Castro Para Siempre – Vicente Fernández Puro Dolor – Paquita la del Barrio Esta Tierra Es Tuya (This Land Is Your Land) – Sones De México Ensemble Best Tejano Album Ram Herrera and the Outlaw Band 2007 – Ram Herrera and the Outlaw Band Before the Next Teardrop Falls – Little Joe & La Familia Corazon de Oro – David Marez 35th Anniversary – Ruben Ramos Vagar Libremente – Sunny Sauceda Best Banda Album Te Va a Gustar – El Chapo Los Mejores Corridos – El Potro De Sinaloa Lobo Domesticado – Valentin Elizalde Conquistando Corazones – K-PAZ De La Sierra Entre Copas y Botellas – Lupillo Rivera == Blues Field == Best Traditional Blues Album Pinetop Perkins on the 88's: Live in Chicago – Pinetop Perkins Live...and in Concert from San Francisco – Otis Rush 10 Days Out: Blues from the Backroads – Kenny Wayne Shepherd featuring Various Artists Old School – Koko Taylor Last of the Great Mississippi Delta Bluesmen: Live In Dallas – Henry James Townsend, Joe Willie "Pinetop" Perkins, Robert Lockwood, Jr. & David Honeyboy Edwards Best Contemporary Blues Album Into the Blues – Joan Armatrading Is It News – Doyle Bramhall The Road to Escondido – JJ Cale & Eric Clapton Truth – Robben Ford The Scene of the Crime – Bettye LaVette == Folk Field == Best Traditional Folk Album Try Me One More Time – David Bromberg Let Us Now Praise Sleepy John – Peter Case Banjo Talkin – Cathy Fink Dirt Farmer – Levon Helm Charlie Louvin – Charlie Louvin Best Contemporary Folk/Americana Album The Calling – Mary Chapin Carpenter My Name Is Buddy – Ry Cooder Washington Square Serenade – Steve Earle Children Running Through – Patty Griffin Orphans: Brawlers, Bawlers & Bastards – Tom Waits Best Bluegrass Album Cherryholmes II: Black and White – Cherryholmes Lefty's Old Guitar – J. D. Crowe và The New South The Bluegrass Diaries – Jim Lauderdale Scenechronized – The Seldom Scene Double Banjo Bluegrass Spectacular – Tony Trischka Best Native American Music Album Oklahoma Style – Walter Ahhaitty & Friends Watch This Dancer! – Black Lodge The Ballad of Old Times – Davis Mitchell Reconnections – R. Carlos Nakai, Cliff Sarde, William Eaton & Randy Wood Totemic Flute Chants – Johnny Whitehorse == Reggae Field == Best Reggae Album The Burning Spear Experience – Burning Spear Mind Control – Stephen Marley The End of an American Dream – Lee "Scratch" Perry Anniversary – Sly & Robbie and the Taxi Gang Light Your Light – Toots & The Maytals == World Music Field == Best Traditional World Music Album When the Soul Is Settled: Music of Iraq – Rahim Al Haj With Souhail Kaspa From Mali to America – Cheick Hamala Diabat & Bob Carlin Live at Couleur Café – Konono Nº1 African Spirit – Soweto Gospel Choir Singing for Life: Songs of Hope, Healing, and HIV/AIDS in Uganda – Various Artists Best Contemporary World Music Album Céu – Céu Gil Luminoso – Gilberto Gil Momento – Bebel Gilberto Djin Djin – Angelique Kidjo An Ancient Muse – Loreena McKennitt Best Hawaiian Music Album Ka Hikina O Ka Hau (The Coming of the Snow) – Keola Beamer Hawaiiana – Tia Carrere He'eia – Cyril Pahinui Hawaiian Blossom – Raiatea Helm Treasures of Hawaiian Slack Key Guitar – Various Artists Best Zydeco Or Cajun Music Album Le Cowboy Creole – Geno Delafose & French Rockin' Boogie King Cake – Lisa Haley Live: Á La Blue Moon – Lost Bayou Ramblers Blues De Musicien – Pine Leaf Boys Racines – Racines The La Louisianne Sessions – Roddie Romero and the Hub City All–Stars Live! Worldwide – Terrance Simien and the Zydeco Experience Best Polka Album Polka's Revenge – Brave Combo Bulletproof Polkas – John Gora & Gorale Polka Freak Out – Bubba Hernandez & Alex Meixner Dueling Polkas – Walter Ostanek and His Band & Brian Sklar and the Western Senators Come Share the Wine – Jimmy Sturr & His Orchestra == Children's Field == Best Children's Music Album Chickens – Buck Howdy with BB Experience...101 – Sweet Honey in the Rock A Green and Red Christmas – The Muppets I Wanna Play – Bill Harley My Green Kite – Peter Himmelman The Velveteen Rabbit: Love Can Make You Real – Various Artists Best Children's Spoken Word Album Harry Potter and the Deathly Hallows – Jim Dale Making the Heart Whole Again: Stories for a Wounded World – Milbre Burch The One and Only Shrek – Meryl Streep & Stanley Tucci Who's Got Game? The Ant or the Grasshopper? The Lion or the Mouse? Poppy or the Snake? – Toni Morrison Wickety Whack: Brer Rabbit Is Back – Diane Ferlatte == Spoken Word Field == Best Spoken Word Album The Audacity of Hope: Thoughts on Reclaiming the American Dream – Barack Obama Celebrations – Maya Angelou Giving: How Each of Us Can Change the World – Bill Clinton Sunday Mornings in Plains: Bringing Peace to a Changing World – Jimmy Carter Things I Overheard While Talking to Myself – Alan Alda == Comedy Field == Best Comedy Album America's Mexican – George Lopez Dirty Girl – Lisa Lampanelli The Distant Future – Flight of the Conchords I Still Have a Pony – Steven Wright Songs Pointed & Pointless – Harry Shearer == Musical Show Field == Best Musical Show Album A Chorus Line David Caddick, producer (Marvin Hamlisch, composer; Edward Kleban, lyricist) (2006 New Cast Recording with Various Artists) Company Tommy Krasker, producer (Stephen Sondheim, composer/lyricist) (2006 Cast Recording with Raúl Esparza & Others) Grey Gardens Steven Epstein, producer (Scott Frankel, composer; Michael Korie, lyricist) (Original Broadway Cast with Christine Ebersole, Mary Louise Wilson & Others) Spring Awakening Duncan Sheik, producer; Duncan Sheik, composer; Steven Sater, lyricist (Original Broadway Cast with Jonathan Groff, Lea Michele & Others) West Side Story Nick Panntrick, producer (Leonard Bernstein, composer; Stephen Sondheim, lyricist) (Vittorio Grigolo, Hayley Westenra, Connie Fisher & Others) == Film, Television And Other Visual Media Field == Best Compilation Soundtrack Album Across The Universe – Various Artists Dreamgirls – Various Artists Hairspray – Various Artists Love– George Martin & Giles Martin (The Beatles) Once – Glen Hansard & Marketa Irglova Best Score Soundtrack Album Babel – Gustavo Santaolalla Blood Diamond – James Newton Howard The Departed – Howard Shore Happy Feet – John Powell Pan's Labyrinth – Javier Navarrete Ratatouille – Michael Giacchino Best Song–Motion Picture, TV, Visual Media "Falling Slowly" (from Once) Glen Hansard & Marketa Irglova, songwriters (Glen Hansard & Marketa Irglova) "Guaranteed" (from Into the Wild) Eddie Vedder, songwriter (Eddie Vedder) "Love You I Do" (from Dreamgirls) Siedah Garrett & Henry Krieger, songwriters (Jennifer Hudson) "Song of the Heart" (From Happy Feet) Prince Rogers Nelson, songwriter (Prince) "You Know My Name" (from Casino Royale) David Arnold & Chris Cornell, songwriters (Chris Cornell) == Composing/Arranging Field == Best Instrumental Composition "Ash Wednesday" Harry Connick, Jr., composer (Harry Connick, Jr.) "Cerulean Skies" Maria Schneider, composer (Maria Schneider Orchestra) "Deep Six" Mark Walker, composer (Oregon) "I Knew Her" Philip Glass, composer (Philip Glass) "Spectacle" Béla Fleck, composer (Chick Corea & Béla Fleck) Best Instrumental Arrangement "Ash Wednesday" Harry Connick, Jr., arranger (Harry Connick, Jr.) "Besame Mucho" Steve Wiest, arranger (Maynard Ferguson) "Black Is the Color of My True Love's Hair" Frank Macchia, arranger (Frank Macchia & The Prague Orchestra) "In a Silent Way" Vince Mendoza, arranger (Joe Zawinul) "Yo Tannenbaum (From Bah, Humduck! A Looney Tunes Christmas)" Gordon Goodwin, arranger (Gordon Goodwin's Big Phat Band) Best Instrumental Arrangement Accompanying Vocalist(s) "Cry Me a River" Jorge Calandrelli, arranger (Ella Fitzgerald & Jorge Calandrelli) "I'm Gonna Live Till I Die" John Clayton, arranger (Queen Latifah) "In the Wee Small Hours of the Morning" Jay Ashby, Darmon Meader & Kim Nazarian, arrangers (New York Voices) "Overture/Gershwin Medley" Michael Abene, arranger (Patti Austin) "Smile" Pete McGuinness, arranger (The Pete McGuinness Jazz Orchestra) == Package Field == Best Recording Package Cassadaga Zack Nipper, art director (Bright Eyes) The Dio Years Masaki Koike, art director (Black Sabbath) Friend & Foe Craig Thompson, art director (Menomena) Secrets Keep You Sick Don Clark, art director (The Fold) White Horse Qing-Yang Xiao, art director (GTS) Best Boxed/Special Limited Edition The Black Parade Special Edition- Matt Taylor, Ellen Wakayama & Gerard Way, art directors (My Chemical Romance) A Fever You Can't Sweat Out Limited Edition Collectible Deluxe Box- Alex Kirzhner, art director (Panic! At The Disco) Icky Thump Limited Edition USB Flash Drive- Stan Chow, art director (The White Stripes) Venus Doom Matt Taylor & Ville Valo, art directors (HIM) What It Is!: Funky Soul and Rare Grooves (1967–1977) Masaki Koike, art director (Various Artists) Best Album Notes Actionable Offenses: Indecent Phonograph Recordings from the 1890s Patrick Feaster and David Giovannoni (Various Artists) Classic Chu Berry Columbia and Victor Sessions Loren Schoenberg (Leon "Chu" Berry) John Work III: Recording Black Culture Bruce Nemerov (Various Artists) Off the Record: The Complete 1923 Jazz Band Recordings David Sager ("King" Oliver's Creole Jazz Band) Ricky Jay Plays Poker Ricky Jay (Various Artists) == Historical Field == Best Historical Album Actionable Offenses: Indecent Phonograph Recordings from the 1890s David Giovannoni, Meagan Hennessey & Richard Martin, compilation producers; Richard Martin, mastering engineer (Various Artists) Forever Changing: The Golden Age of Elektra Records 1963-1973 (Deluxe Edition) Stuart Batsford, Mick Houghton & Phil Smee, compilation producers; Dan Hersch & Bill Inglot, mastering engineers (Various Artists) The Live Wire: Woody Guthrie in Performance 1949 Nora Guthrie & Jorge Arévalo Mateus, compilation producers; Jamie Howarth, Steve Rosenthal, Warren Russell-Smith & Dr. Kevin Short, mastering engineers (Woody Guthrie) Love Is the Song We Sing: San Francisco Nuggets 1965-1970 Alec Palao, compilation producer; Dan Hersch, Bill Inglot & Dave Schultz, mastering engineers (Various Artists) People Take Warning! Murder Ballads & Disaster Songs 1913-1938 Christopher King & Henry "Hank" Sapoznik, compilation producers; Christopher King & Robert Vosgien, mastering engineers (Various Artists) == Production, Non Classical Field == Best Engineered Album, Non Classical Beauty & Crime Tchad Blake, Cameron Craig, Emery Dobyns & Jimmy Hogarth, engineers (Suzanne Vega) Destination Moon Dave O'Donnell & Elliot Scheiner, engineers (Deborah Cox) Don't Mess With the Dragon Robert Carranza, Serban Ghenea, John Hanes & KC Porter, engineers (Ozomatli) Floratone Tucker Martine, engineer (Floratone) II Jason Lehning, engineer (Viktor Krauss) Producer of the Year, Non Classical Howard Benson Daughtry (Daughtry) (A) Devils & Angels (Mêlée) (A) Direction (The Starting Line) (A) Five Score and Seven Years Ago (Relient K) (A) Stay Inside (Sound the Alarm) (A) Joe Chiccarelli Mercy (Burden Brothers) (A) The Narcotic Story (Oxbow) (A) Nightmoves (Kurt Elling) (A) Wincing the Night Away (The Shins) (A) Mike Elizondo It Won't Be Soon Before Long (Maroon 5) (A) Under the Blacklight (Rilo Kiley) (A) Mark Ronson Back to Black (Amy Winehouse) (T) Littlest Things (Lily Allen) (T) Rehab (Amy Winehouse) (T) Version (Mark Ronson) (A) You Know I'm No Good (Amy Winehouse) (T) Timbaland Come Around (M.I.A. featuring Timbaland) (T) Give It to Me (Timbaland featuring Nelly Furtado & Justin Timberlake) (T) Make Me Better (Fabolous featuring Ne-Yo) (S) Timbaland Presents: Shock Value (Timbaland) (A) The Way I Are (Timbaland featuring Keri Hilson & D.O.E.) (S) Best Remixed Recording "Angelicus" (Andy Moor Full Length Mix) Andy Moor, remixer (Delerium featuring Isabel Bayrakdarian) "Bring the Noise" (Benny Benassi Sfaction Remix) Benny Benassi, remixer (Public Enemy) "Like a Child" (Carl Craig Remix) Carl Craig, remixer (Junior Boys) "Proper Education" (Club Mix - Radio Edit) Eric Prydz, remixer (Eric Prydz vs. Pink Floyd) "Sorry" (Dirty South Mix) Dirty South, remixer (Kaskade) == Production, Surround Sound Field == Best Surround Sound Album At War With the Mystics 5.1 The Flaming Lips & Dave Fridmann, surround mix engineers; The Flaming Lips & Dave Fridmann, surround mastering engineers; The Flaming Lips & Dave Fridmann, surround producers (The Flaming Lips) Fear of a Blank Planet Steven Wilson, surround mix engineer; Darcy Proper, surround mastering engineer; Porcupine Tree, surround producers (Porcupine Tree) Grechaninov: Passion Week John Newton, surround mix engineer; Jonathan Cooper, surround mastering engineer; Blanton Alspaugh, surround producer (Charles Bruffy, Kansas City Chorale & Phoenix Bach Choir) Love Paul Hicks, surround mix engineer; Tim Young, surround mastering engineer; George Martin & Giles Martin, surround producers (The Beatles) Vaughan Williams: Symphony No. 5; Fantasia on a Theme by Thomas Tallis; Serenade to Music Michael Bishop, surround mix engineer; Michael Bishop, surround mastering engineer; Elaine Martone, surround producer (Robert Spano & Atlanta Symphony Orchestra & Chamber Chorus) == Production, Classical Field == Best Engineered Album, Classical Garden of Dreams Keith O. Johnson, engineer (Jerry Junkin & Dallas Wind Symphony) Grechaninov: Passion Week John Newton, engineer (Charles Bruffy, Phoenix Bach Choir & Kansas City Chorale) Nielsen: Clarinet & Flute Concertos Arne Akselberg & Tobias Lehmann, engineers (Sabine Meyer, Emmanuel Pahud & Simon Rattle) Spirit of the Season Bruce Leek, Fred Vogler & Trent Walker, engineers (Craig Jessop, Mack Wilberg & Mormon Tabernacle Choir) Strauss: Don Juan, Death and Transfiguration Lawrence Rock, engineer (Lorin Maazel & New York Philharmonic) Producer of the Year, Classical Blanton Alspaugh Eternal Rest: Mäntyjärvi, Ticheli, Martin, Clausen (Charles Bruffy, Phoenix Bach Choir & Kansas City Chorale) Grechaninov: Passion Week (Charles Bruffy, Phoenix Bach Choir & Kansas City Chorale) The Harrington String Quartet: Daniel McCarthy (The Harrington String Quartet) Hartke: The Greater Good (Stewart Robertson & Glimmerglass Opera Orchestra) Rider On The Plains: Cello Concertos By Virgil Thomson And Charles Fussell (Emmanuel Feldman) John Fraser Chopin: Piano Sonata No. 2, Scherzos (Simon Trpceski) Great Handel (Ian Bostridge) Kate Royal (Kate Royal) Krommer/Spohr: Clarinet Concertos (Julian Bliss, Sabine Meyer & Kenneth Sillito) Schubert: Piano Sonata D958, Lieder, Fragments (Leif Ove Andsnes & Ian Bostridge) Marina A. Ledin Balakirev And Russian Folksong (Joseph Banowetz) Louisiana - A Pianist's Journey (Kenneth Boulton) Piano Impromptus (Jungran Kim Khwarg) 20th Century Piano Sonatas (Allison Brewster Franzetti) Judith Sherman American Virtuosa: Tribute To Maud Powell (Rachel Barton Pine & Matthew Hagle) From Barrelhouse To Broadway: The Musical Odyssey Of Joe Jordan (Rick Benjamin & The Paragon Ragtime Orchestra) Górecki: String Quartet No. 3 '...Songs Are Sung' (Kronos Quartet) Strange Imaginary Animals (Eighth Blackbird) Tchaikovsky: Three String Quartets, Souvenir De Florence (Ying Quartet) Robina G. Young As Steals The Morn...Handel Arias & Scenes For Tenor (Mark Padmore, Andrew Manze & The English Concert) Bach, CPE: Symphonies 1-4, Cello Concerto (Andrew Manze & The English Concert) Brahms: Variations (Olga Kern) Music For Compline (Stile Antico) Stockhausen: Stimmung (Paul Hillier & Theatre Of Voices) == Classical Field == Best Classical Album Cherubini: Missa Solemnis in E Riccardo Muti, conductor; Wilhelm Meister, producer (Ildar Abdrazakov, Herbert Lippert, Marianna Pizzolato & Ruth Ziesak; Symphonieorchester Des Bayerischen Rundfunks) Grechaninov: Passion Week Charles Bruffy, conductor; Blanton Alspaugh, producer (Kansas City Chorale & Phoenix Bach Choir) Homage: The Age of the Diva Renée Fleming; David Frost, producer (Valery Gergiev; Orchestra Of The Mariinsky Theatre) Lorraine Hunt Lieberson Sings Peter Lieberson: Neruda Songs Lorraine Hunt Lieberson; Dirk Sobotka, producer (James Levine; Boston Symphony Orchestra) Tower: Made In America Leonard Slatkin, conductor; Tim Handley, producer (Nashville Symphony) Best Orchestra Performance "Beethoven: Symphony No. 9" Osmo Vänskä, conductor (Minnesota Orchestra) "Shostakovich: The Golden Age" José Serebrier, conductor (Royal Scottish National Orchestra) "Stravinsky: Le Sacre Du Printemps" Esa–Pekka Salonen, conductor (Los Angeles Philharmonic) "Tower: Made in America" Leonard Slatkin, conductor (Nashville Symphony) "Vaughan Williams: Symphony No. 5, Fantasia on a Theme of Thomas Tallis, Serenade to Music" Robert Spano, conductor (Atlanta Symphony Orchestra) Best Opera Recording "Albéniz: Pepita Jiménez" José De Eusebio, conductor; Enrique Baquerizo, Carlos Chausson, Plácido Domingo, Jane Henschel & Carol Vaness; Michael Haas, producer (Orquesta Y Coro De La Comunidad De Madrid) "Donizetti: Dom Sébastien, Roi De Portugal" Mark Elder, conductor; Carmelo Corrado Caruso, Giuseppe Filianoti, Vesselina Kasarova, Simon Keenlyside & Alastair Miles; Patric Schmid, producer (The Royal Opera Chorus; The Orchestra of the Royal Opera House, Covent Garden) "Humperdinck: Hansel & Gretel" Sir Charles Mackerras, conductor; Rebecca Evans, Jane Henschel & Jennifer Larmore; Brian Couzens, producer (Sarah Coppen, Diana Montague & Sarah Tynan; New London Children's Choir; Philharmonia Orchestra) "Lully: Thésée" Paul O'Dette & Stephen Stubbs, conductors; Howard Crook, Ellen Hargis, Laura Pudwell & Harry Van Der Kamp; Renate Wolter–Seevers, producer (Boston Early Music Festival Chorus; Boston Early Music Festival Orchestra) "Verdi: La Traviata" Zubin Mehta, conductor; Piotr Beczala, Paolo Gavanelli & Anja Harteros; Andreas Caemmerer & Felix Gargerle, producers (Choir Of The Bavarian State Opera; Bavarian State Orchestra) Best Choral Performance "Brahms: Ein Deutsches Requiem" Simon Rattle, conductor; Simon Halsey, chorus master (Thomas Quasthoff & Dorothea Röschmann; Rundfunkchor Berlin; Berliner Philharmoniker) "Cherubini: Missa Solemnis in E" Riccardo Muti, conductor; Peter Dijkstra, chorus master (Ildar Abdrazakov, Herbert Lippert, Marianna Pizzolato & Ruth Ziesak; Chor Des Bayerischen Rundfunks; Symphonieorchester Des Bayerischen Rundfunks) "Grechaninov: Passion Week" Charles Bruffy, conductor (Kansas City Chorale & Phoenix Bach Choir) "Penderecki: Symphony No. 7 'Seven Gates Of Jerusalem'" Antoni Wit, conductor; Henryk Wojnarowski, chorus master (Boris Carmeli, Ewa Marciniec, Aga Mikolaj, Wieslaw Ochman, Olga Pasichnyk & Romuald Tesarowicz; Warsaw National Philharmonic Choir; Warsaw National Philharmonic Orchestra) "Schönberg: Gurrelieder" Michael Gielen, conductor; Howard Arman & Michael Gläser, choir directors (Melanie Diener, Ralf Lukas, Yvonne Naef, Andreas Schmidt, Gerhard Siegel & Robert Dean Smith; Chor Des Bayerischen Rundfunks & MDR Rundfunkchor Leipzig; SWR Sinfonieorchester Baden–Baden Und Freiburg) Best Instrumental Soloist(s) Performance (with Orchestra) "Barber/Korngold/Walton: Violin Concertos" Bramwell Tovey, conductor; James Ehnes (Vancouver Symphony Orchestra) "Beethoven: Piano Concertos Nos. 1 & 4" Christoph Eschenbach, conductor; Lang Lang (Orchestre De Paris) "Nielsen: Clarinet & Flute Concertos" Simon Rattle, conductor; Sabine Meyer & Emmanuel Pahud (Berliner Philharmoniker) "Rózsa: Violin Concerto, Op. 24" Dmitry Yablonsky, conductor; Anastasia Khitruk (Russian Philharmonic Orchestra) "Tchaikovsky/Saint-Saëns/Ginastera" Ari Rasilainen, conductor; Sol Gabetta (Münchner Rundfunkorchester) Best Instrumental Soloist Performance (without Orchestra) "Beethoven Sonatas, Vol. 3" – Garrick Ohlsson "Haydn: Piano Sonatas" – Marc-André Hamelin "Louisiana: A Pianist's Journey" – Kenneth Boulton "Solo Piazzolla" – Manuel Barrueco "20th Century Piano Sonatas" – Allison Brewster Franzetti Best Chamber Music Performance "On the Threshold of Hope" – Artists Of The Royal Conservatory Ensemble (Richard Margison, Joaquin Valdepeñas & Diane Werner) "Saint-Saëns/Poulenc/Devienne/Milhaud" – Oleg Maisenberg & Sabine Meyer "Strange Imaginary Animals" – Eighth Blackbird "Tchaikovsky: Three String Quartets, Souvenir De Florence" – Ying Quartet (James Dunham & Paul Katz) "30 Songs of the Russian People" – Joseph Banowetz & Alton Chung Ming Chan Best Small Ensemble Performance "Bach: Brandenburg Concertos" – Swiss Baroque Soloists "Bridges: Eddie Daniels Plays the Music of Frank Proto" – Frank Proto, conductor; Eddie Daniels; Ensemble Sans Frontière "Mahler: Das Lied Von Der Erde" – Kenneth Slowik, conductor; The Smithsonian Chamber Players & Santa Fe Pro Musica "Music for Compline" – Stile Antico "Stravinsky: Apollo, Concerto in D; Prokofiev: 20 Visions Fugitives" – Yuri Bashmet, conductor; Moscow Soloists Best Classical Vocal Performance "Gitano: Zarzuela Arias" Rolando Villazón (Plácido Domingo; Orquesta De La Comunidad De Madrid) "Homage: The Age of the Diva" Renée Fleming (Valery Gergiev; Orchestra Of The Mariinsky Theatre) "Lorraine Hunt Lieberson Sings Peter Lieberson: Neruda Songs" Lorraine Hunt Lieberson (James Levine; Boston Symphony Orchestra) "Russian Album" Anna Netrebko (Valery Gergiev; Orchestra Of The Mariinsky Theatre) "Sea Pictures, Op. 37" Sarah Connolly (Simon Wright; Bournemouth Symphony Chorus; Bournemouth Symphony Orchestra) Best Classical Contemporary Composition "Amargós: Northern Concerto" Joan Albert Amargós (Lan Shui, conductor; Danish National Symphony Orchestra/DR) "Chesky: Concerto for Bassoon and Orchestra" David Chesky (Rossen Gergov, conductor; Symphony Orchestra Of Norrlands Opera) "Higdon: Zaka" Jennifer Higdon (Eighth Blackbird) "Lorraine Hunt Lieberson Sings Peter Lieberson: Neruda Songs" Peter Lieberson (James Levine, conductor; Boston Symphony Orchestra) "Made in America" Joan Tower (Leonard Slatkin, conductor; Nashville Symphony Orchestra) Best Classical Crossover Album The Jazz Album: Watch What Happens – Thomas Quasthoff A Love Supreme: The Legacy of John Coltrane – Turtle Island String Quartet Spirit of the Season – Craig Jessop & Mack Wilberg, conductors (Mormon Tabernacle Choir; Orchestra At Temple Square) Whirled Chamber Music – Quartet San Francisco Wolfgang's Big Night Out – Brian Setzer (The Brian Setzer Orchestra) == Music Video Field == Best Short Form Music Video "God's Gonna Cut You Down" – Johnny Cash Tony Kaye, video director; Rachel Curl, video producer "1234" – Feist Patrick Daughters, video director; Geoff McLean, video producer "Gone Daddy Gone" – Gnarls Barkley Chris Milk, video director; Barbara Benson, video producer "D.A.N.C.E." – Justice Jonas & François and So-Me, video directors and producers "Typical" – Mutemath Israel Anthem, video director; Brandon Arolfo, video producer Best Long Form Music Video "Live and Loud at the Fillmore" – Dierks Bentley Russell Thomas, video director; James Whetherly, video producer "Trapped in the Closet: Chapters 13-22" – R. Kelly R. Kelly, Jim Swaffield and Victor Mignatti, video directors; Ann Carli, video producer "The Confessions Tour" – Madonna Jonas Akerlund, video director; Sara Martin and David May, video producers "10 Days Out: Blues from the Backroads" – Kenny Wayne Shepherd and various artists Noble Jones, video director; Kenny Wayne Shepherd, video producer "Liberacion: Songs of the Cuban Underground" – Various artists Reuben Fields, video director; Dean Bates, video producer == Chú thích == == Liên kết ngoài == Top 10 Grammy Performances NARAS CBS GRAMMY Site
sân vận động shah alam.txt
Sân vận động Shah Alam (tiếng Mã Lai: Stadium Shah Alam) là sân vận động đa chức năng nằm ở Shah Alam, Selangor, Malaysia. Nó được sử dụng chủ yếu cho các trận đấu bóng đá nhưng cũng có cơ sở cho vận động viên. Sân vận động là ngôi nhà cũ của Selangor FA và ngôi nhà hiện tại của PKNS FC, và có sức chứa 80.372 chỗ ngồi. == Lịch sử == Việc xây dựng bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 1990, và sân vận động chính thức mở cửa vào ngày 16 tháng 7 năm 1994, khi Dundee United chơi Selangor FA trong trận đầu tiên của giải đấu mời, vẽ 1-1. Bàn thắng đầu tiên tại sân vận động được ghi bởi Billy McKinlay. Các đội khác trong giải đấu là Bayern Munich, Leeds United, đội Olympic của Úc "Olyroos", và Flamengo (đội đoạt giải). Sân vận động nằm ở phía đông của Shah Alam. Sân vận động Shah Alam, bao gồm sáu không gian bán kín khổng lồ, là sân vận động lớn nhất ở bang Selangor. Đây là sân vận động lớn nhất Malaysia trước khi hoàn thành Sân vận động Quốc gia tại Bukit Jalil. Cấu trúc khung là vòng cung tự do dài nhất trên thế giới. Được xây dựng bằng công nghệ mới nhất, giờ đây đã trở thành địa điểm phổ biến cho các sự kiện thể thao đẳng cấp thế giới. Sân vận động này được thiết kế bởi Kiến trúc sư người Malaysia, Hijjaz Kasturi. Sân vận động có khoảng 5.500 chỗ đỗ ô tô trong bãi đậu xe xung quanh sân vận động. Sân vận động đã trở thành công trình dấu ấn quan trọng ở Shah Alam do quy mô và kiến ​​trúc tuyệt đẹp của nó. Ngoài các cơ sở thể thao, sân vận động cũng có một mạch đua xe go-kart. Một lần nữa, Khoa Nghệ thuật biểu diễn Universiti Teknologi MARA (UiTM) đã chiếm một phần sân vận động như là trường xây dựng khoa của trường trước khi hoàn thành khu trường sở vệ tinh của Đại học Puncak Perdana. Trong năm 2011, người ta đã chi 3,4 triệu ringitđể cải tạo sân vận động để nâng cấp hệ thống chiếu sáng, sửa chữa mái nhà, cỏ mới cho sân và cũng như thay thế ghế bị phá hoại, cải tiến hệ thống âm thanh, nâng cấp phòng thay đồ, sơn lại một số phần của sân vận động, sửa chữa nhà vệ sinh cũng như các công trình tiện ích khác. Sân vận động Shah Alam hiện là sân nhà của PKNS FC, đội thi đấu ở giải đấu hàng đầu của Malaysia - Super League (Premier League là đội mới cho Giải hạng hai / Giải vô địch). Kích thước trường cho sân vận động theo quy định FIFA là 105 x 68. == Tham khảo ==
bảo hộ mậu dịch.txt
Bảo hộ mậu dịch là thuật ngữ trong kinh tế học quốc tế chỉ việc áp dụng nâng cao một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ, v.v... hay việc áp đặt thuế xuất nhập khẩu cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu nào đó để bảo vệ ngành sản xuất các mặt hàng tương tự (hay dịch vụ) trong một quốc gia nào đó. == Lý thuyết và thực tế == Về lý thuyết, việc áp đặt các tiêu chuẩn nói trên thuộc về lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, được các chính phủ áp dụng khi các báo cáo thống kê và các phân tích kinh tế-xã hội cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của việc nhập khẩu đối với sản xuất trong nước dường như lớn hơn so với lợi ích mà việc này. Đối với các quốc gia đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc áp đặt này chỉ được phép đối với một hay nhiều thành viên khác của WTO khi và chỉ khi phán quyết của WTO cho phép quốc gia này làm điều đó (với các chứng cứ cho thấy các thành viên kia đang thực hiện việc bán phá giá hay hỗ trợ bất hợp pháp cho ngành sản xuất của mình v.v). Đối với các quốc gia chưa gia nhập WTO hoặc quốc gia là thành viên của WTO áp đặt đối với các quốc gia chưa là thành viên WTO hay ngược lại: Việc áp đặt này hoàn toàn nằm trong ý chí chủ quan của từng quốc gia hoặc sau khi nhận được đơn kiện của các (nhóm, hiệp hội) công ty tại quốc gia đó về việc bán phá giá. Các vụ kiện tôm hay cá tra, cá ba sa tại Mỹ vừa qua đối với các quốc gia xuất khẩu các mặt hàng này là một ví dụ cho thấy việc áp đặt bảo hộ mậu dịch. Ngân hàng Thế giới ước tính nếu các rào cản thương mại hoàn toàn được dỡ bỏ thì sẽ có thêm hàng chục triệu người nữa được thoát nghèo... Thương mại và tự do hóa thương mại thậm chí có thể còn là những công cụ hữu hiệu hơn để xóa đói, giảm nghèo và giúp cho các quốc gia có nguồn lực kinh tế để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết nhất của họ. Cũng theo Ngân hàng Thế giới, chỉ riêng việc xóa bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa, mỗi năm các quốc gia đang phát triển cũng có thể tăng thêm thu nhập 142 tỷ USD. Con số đó có thể sẽ cao hơn 80 tỷ USD viện trợ kinh tế của các nước công nghiệp phát triển trong năm 2005 và cao hơn 42,5 tỷ USD tổng các khoản nợ dự kiến được giảm cho các nước đang phát triển. Trên thực tế, các yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của một chính phủ trong bảo hộ mậu dịch. Còn một thực tế khác là điều trái ngược xảy ra ngay tại quốc gia kêu gọi chủ trương tự do thương mại toàn cầu. Các nhà sản xuất Hoa Kỳ - thay vì tăng cường hiệu năng sản xuất để nâng cao tính cạnh tranh, lại sẵn sàng chi tiền để vận động những nhà lập pháp và hành pháp nhằm đưa ra những luật lệ bất bình đẳng. Việc làm đó bị coi là cổ vũ cho chủ nghĩa bảo hộ chứ không phải là tự do mậu dịch. == Các khía cạnh == Về lý thuyết, việc bảo hộ mậu dịch đem lại lợi ích nhất thời cho các nhà sản xuất trong nước, đảm bảo được mục tiêu xã hội là đảm bảo được công ăn việc làm cho một số nhóm người lao động nào đó. Mặt trái của nó là làm cho các nhà sản xuất trong nước có cơ hội đầu cơ trên giá bán hàng (hay cung cấp dịch vụ) ở mức có lợi nhất cho họ hoặc không có các biện pháp nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Điều này đem lại thiệt hại cho người tiêu dùng xét theo mục tiêu dài hạn. == Lý lẽ bảo vệ cho chế độ bảo hộ mậu dịch == === Chính trị === Bảo vệ việc làm và ngành công nghiệp. Bảo vệ an ninh quốc gia. Trả đũa. == Các chủ đề liên quan == Chống phá giá Trợ cấp Rào cản thuế quan Rào cản kỹ thuật Tổ chức thương mại thế giới == Chống bảo hộ mậu dịch == Ngày 14 tháng 2 năm 2009, các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương các thành viên nhóm 7 nước công nghiệp phát triển nhất thế giới (G7) nhóm họp tại Roma, Ý, với trọng tâm là soạn thảo những quy định chung đối phó với khủng hoảng kinh tế và đấu tranh chống những quyết định bảo hộ mậu dịch. Trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ, ông Barack Obama hôm 19 tháng 2 năm 2009 đã cam kết hợp tác với Canada về năng lượng, phục hồi kinh tế và Afghanistan, đảm bảo với Canada rằng ông sẽ không theo đuổi các chính sách bảo hộ mậu dịch. Trong tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh khẩn cấp về kinh tế ngày 1 đến 3 tháng 3 năm 2009 tại Brussels Bỉ, các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) đã cam kết chống các hình thức bảo hộ mậu dịch trên thị trường chung của khối. Thông điệp mạnh mẽ này được EU đưa ra trong bối cảnh có nhiều lo ngại về sự xuất hiện trở lại của chủ nghĩa bảo hộ ở châu Âu, đặc biệt sau khi Pháp công bố những khoản viện trợ lớn cho ngành chế tạo xe hơi trong nước. Ủy ban châu Âu (EC) tới đây sẽ xem xét và ra quyết định về việc Pháp cho vay ưu đãi 6 tỷ euro để ngành ô tô vượt qua khủng hoảng có vi phạm "bảo hộ mậu dịch" hay không. Việc Bắc Kinh chuyển đến các chính quyền địa phương khẩu hiệu "hãy mua hàng Trung Quốc" đang gây nên lo ngại sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và những biện pháp trả đũa. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cái giá phải trả của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch Tự do Thương mại và Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch
ba vì (huyện).txt
21°04′0″B 105°20′5″Đ Ba Vì là một huyện bán sơn địa, nằm Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, Việt Nam. == Lịch sử == Huyện Ba Vì được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1968 trên cơ sở hợp nhất các huyện cũ Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai của tỉnh Hà Tây, khi mới thành lập, huyện gồm 43 xã: Ba Trại, Ba Vì, Cẩm Lĩnh, Cam Thượng, Châu Sơn, Chu Minh, Cổ Đô, Cổ Đông, Đông Quang, Đồng Thái, Đường Lâm, Hòa Thuận, Khánh Thượng, Kim Sơn, Minh Châu, Minh Quang, Phong Vân, Phú Châu, Phú Cường, Phú Đông, Phú Phương, Phú Sơn, Sơn Đà, Sơn Đông, Tân Đức, Tản Hồng, Tản Lĩnh, Tây Đằng, Thái Hòa, Thanh Mỹ, Thuần Mỹ, Thụy An, Tích Giang, Tiên Phong, Tòng Bạt, Trạch Mỹ Lộc, Trung Hưng, Trung Sơn Trầm, Vân Sơn, Vạn Thắng, Vật Lại, Xuân Sơn, Yên Bài. Ngày 16 tháng 10 năm 1972, chuyển xã Trung Hưng về thị xã Sơn Tây quản lý. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Ba Vì thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Ngày 18 tháng 12 năm 1976, hợp nhất 2 xã Vân Sơn và Hòa Thuận thành xã Vân Hòa. Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Ba Vì thuộc thành phố Hà Nội. Ngày 2 tháng 6 năm 1982, chuyển 7 xã: Cổ Đông, Đường Lâm, Kim Sơn, Sơn Đông, Thanh Mỹ, Trung Sơn Trầm, Xuân Sơn về thị xã Sơn Tây quản lý và chuyển 2 xã: Tích Giang, Trạch Mỹ Lộc về huyện Phúc Thọ quản lý. Ngày 3 tháng 3 năm 1987, thành lập thị trấn Quảng Oai (tách ra từ xã Tây Đằng). Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Ba Vì lại trở về với tỉnh Hà Tây. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, hợp nhất thị trấn Quảng Oai và xã Tây Đằng thành thị trấn Tây Đằng. Từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, giải thể tỉnh Hà Tây, Ba Vì lại trở về là một huyện của Hà Nội. Cùng lúc đó, xã Tân Đức được chuyển về thành phố Việt Trì của tỉnh Phú Thọ quản lý. == Địa lý == Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất. Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, Phú Thọ, với ranh giới là sông Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc. Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ. Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng. Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội. Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng Mô (tại khu du lịch Đồng Mô). Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy. Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì. Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện với thành phố Việt Trì). Các điểm cực: Cực Bắc là xã Phú Cường. Cực Tây là xã Thuần Mỹ. Cực Nam là xã Khánh Thượng. Cực Đông là xã Cam Thượng. == Dân số == Theo thống kê năm 2009, dân số huyện Ba Vì là hơn 265 nghìn người, gồm các dân tộc: Kinh,Mường,Dao == Hành chính == Trước khi sáp nhập vào Hà Nội, toàn huyện Ba Vì có 1 thị trấn và 31 xã. Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cũng như các huyện khác của tỉnh Hà Tây, huyện Ba Vì sáp nhập vào Hà Nội. Tuy nhiên trước đó, ngày 10 tháng 7 năm 2008, toàn bộ diện tích tự nhiên là 454,08ha và dân số 2.701 người của xã Tân Đức, thuộc huyện Ba Vì được sáp nhập vào thành phố Việt Trì, Phú Thọ, theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính giữa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ.. Hiện tại, huyện Ba Vì có 1 thị trấn là Tây Đằng (huyện lỵ) và 30 xã: Ba Trại, Ba Vì, Cẩm Lĩnh, Cam Thượng, Châu Sơn, Chu Minh, Cổ Đô, Đông Quang, Đồng Thái, Khánh Thượng, Minh Châu, Minh Quang, Phong Vân, Phú Châu, Phú Cường, Phú Đông, Phú Phương, Phú Sơn, Sơn Đà, Tản Hồng, Tản Lĩnh, Thái Hòa, Thuần Mỹ, Thụy An, Tiên Phong, Tòng Bạt, Vân Hòa, Vạn Thắng, Vật Lại, Yên Bài. == Đường phố == Phú Mỹ Quảng Oai Tây Đằng == Giao thông == Đường bộ: có quốc lộ 32 chạy qua thị trấn Tây Đằng, nối Sơn Tây với Hưng Hóa tỉnh Phú Thọ và đi các tỉnh vùng Tây Bắc Bắc Bộ. Trên quốc lộ này, đoạn cuối tại xã Thái Hòa, có cầu Trung Hà, bắc qua sông Đà. Đường thủy: sông Hồng, sông Đà và sông Tích. == Sai phạm == === Xây nhà trái phép tại vườn quốc gia Ba Vì === Ngày 8 tháng 3 năm 2016, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết UBND huyện Ba Vì phải chịu trách nhiệm cho việc xây dựng trái phép 59 căn biệt thự thuộc khu nghỉ dưỡng Điền Viên thôn nằm tại khu rừng Mu, thôn Chóng, xã Yên Bài có diện tích khoảng 4,8 ha đã được xây dựng từ năm 2011 tới nay. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ Cổng Giao tiếp điện tử huyện Ba Vì Điều kiện tự nhiên, lịch sử, truyền thống văn hóa huyện Ba Vì 13:16 17/09/2012
thạch lam.txt
Thạch Lam (1909-1942) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông cũng là em ruột của 2 nhà văn khác nổi tiếng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ. == Tiểu sử == Thạch Lam sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình công chức gốc quan lại, thuở nhỏ chủ yếu sống ở quê ngoại, phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Thạch Lam là người con thứ 6 trong gia đình 7 người con (6 trai, 1 gái). Nguyên tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt là Nguyễn Tường Sáu, vì là con thứ sáu trong nhà. Khi bắt đầu đi học trường huyện Cẩm Giàng, cha mẹ ông làm lại khai sinh cho con là Nguyễn Tường Vinh. Đến năm Thạch Lam 15 tuổi, thấy mình học chậm, cần tăng thêm tuổi để học "nhảy" 4 năm, ông làm lại khai sinh lần nữa, thành Nguyễn Tường Lân. Cha là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918), thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ, thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm, là con gái đầu lòng cụ Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở huyện Cẩm Giàng. Bấy giờ tri huyện Cẩm Giàng Nguyễn Tường Tiếp (tục gọi là Huyện Giám), quê gốc Quảng Nam, có con trai là Nguyễn Tường Nhu đến tuổi lấy vợ, mới cho người mai mối hỏi cô Lê Thị Sâm về làm dâu họ Nguyễn Tường. Ông bà Phán Nhu lấy nhau hơn chục năm, dời từ ấp Thái Hà về số 10 Hàng Bạc, Hà Nội, rồi hết về quê Cẩm Giàng lại theo con cả Nguyễn Tường Thụy ở Tân Đệ, Thái Bình. Do buôn bán ở Thái Bình được một năm chẳng thuận, bà Nhu lại đưa cả gia đình về Hà Nội. Khi vợ Nguyễn Tường Thụy xin ra ở riêng, bà lại về Cẩm Giàng. Người bạn cân gạo ngày trước là bà cả Hội nợ bà Nhu 60 đồng Đông Dương từ trước, trừ tiền nợ bằng hai mẫu đất cho bà Nhu. Thế là bà cho đào ao, đắp nền, làm nhà gỗ, lợp rạ, cột vuông, bốn chung quanh hiên rộng, gọi là Nhà ánh sáng. Ngày 31 tháng 8 năm 1917, cha của Thạch Lam sang Sầm Nưa, Lào làm thông phán Tòa sứ, được đem theo vợ để buôn bán mưu sinh nhưng chỉ tám tháng sau, ông bạo bệnh qua đời. Một mình nơi xa xứ, lo chôn cất chồng xong, bà Nhu trở về Việt Nam đi hết 12 ngày đường bộ và đường thủy, gian nguy vô ngần. Mãn tang chồng một năm, bà cùng bốn người thân lại sang Lào để mang hài cốt ông về nước đặt mộ bên bờ ao thuộc làng La A, xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng. Sau khi chồng mất, bà tảo tần khuya sớm đi về làng quê cân gạo nhưng không đủ sống, đành nấu thuốc phiện, biết là hiểm nguy có thể bị người Pháp bắt bỏ tù bất cứ lúc nào để các con học hành thành đạt, tảo tần lo cho 7 người con ăn học. Sau khi các con đều đã có gia đình, bà xuất gia đến tu ở Đào Xuyên, Bối Khê, Hà Nội. Khi biết tin Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long (Trung Quốc) năm 1948, bà đã làm lễ cầu siêu cho con, rồi vào Sài Gòn, tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960. Ít lâu sau bà viên tịch tại đó, trước ngày Nhất Linh quyên sinh (7 tháng 7 năm 1963 [2].. === Thời thơ ấu === Cha ông mất sớm, mẹ ông phải một mình buồn bán nuôi mẹ chồng và bảy người con... Lúc nhỏ, ông chủ yếu sống ở quê ngoại. Ở Cẩm Giàng, Thạch Lam học tại trường Nam (tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu). Đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy ra trường dạy học ở Tân Đệ (Thái Bình), mẹ ông đã đưa cả nhà đi theo người con cả, nên Thạch Lam đến học ở Tân Đệ. Nhưng ở đây được một năm, làm vẫn không đủ cho các miệng ăn, mẹ ông dẫn các con (trừ Nguyễn Tường Thụy) về Hà Nội ở nhà thuê, rồi cứ thế lúc thì ở Hà Nội, lúc thì ở Cẩm Giàng. Muốn sớm đỡ đần cho mẹ, Thạch Lam đã nhờ mẹ nói khéo với ông lý trưởng cho đổi tên và khai tăng tuổi để học ban thành chung. Tiếp theo, ông thi đỗ vào Cao đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng chỉ học một thời gian, rồi vào trường Trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài. == Bước vào nghiệp văn == Khi đã đỗ Tú tài phần thứ nhất, Thạch Lam thôi học để làm báo với hai anh. Buổi đầu, ông gia nhập Tự Lực văn đoàn do anh là Nguyễn Tường Tam sáng lập, rồi được phân công lo việc biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của bút nhóm này. Đến tháng 2 năm 1935, thì ông được giao làm Chủ bút tờ Ngày nay. Khác với tất cả các anh trai đều lấy vợ qua mai mối, được bố mẹ chấp thuận mới coi mặt nhau, rồi cưới, Thạch Lam lấy vợ hoàn toàn do sự lựa chọn của cá nhân ông. Khoảng năm 1935, Thạch Lam lấy vợ là bà Nguyễn Thị Sáu, người Ninh Bình, đã từng có một đời chồng. Ông được người chị (Nguyễn Thị Thế) nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây (Hà Nội) cho vợ chồng ông ở. Cũng theo hồi ức của bà Nguyễn Thị Thế thì bản tính Thạch Lam "ưa tĩnh mịch nên khi có con, vú em được lệnh cấm không được ru và cũng cấm không được để nó khóc. Ngoài cổng, có khi chú còn cho treo một cái biển đề: "Ai hỏi gì xin lên tòa soạn". Và bà Thế kết luận, những tháng ngày cuối đời, Thạch Lam "khó tính đến nỗi hầu như chỉ có thím là chiều chuộng được chú, còn tôi và mẹ tôi cũng đành chịu". Tuy chỉ là một mái tranh vách đất, thế nhưng "nhà cây liễu" là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ. Ngoài các thành viên trong Tự Lực văn đoàn, còn có: Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Huyền Kiêu, Nguyễn Xuân Khoát... == Qua đời == Theo những gì mà người thân của Thạch Lam kể lại, mặc dù cao tới 1m70, nhưng sức khỏe của Thạch Lam lại rất không tương xứng với chiều cao của ông. Có thể nói, ông thuộc dạng thể chất yếu. Vì thế mà ông rất năng chơi thể thao (ông chơi tennis vào loại khá) và có thời kỳ, ông cùng người anh rể tương lai tên gọi Nguyễn Kim Hoàn đi học võ nghệ. Một tuổi thơ nhọc nhằn cộng với cuộc sống lao lực vì miếng cơm manh áo đã làm Thạch Lam sớm mắc căn bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y thời bấy giờ. Ông mất tại "nhà cây liễu" vào ngày 27 tháng 6 năm 1942, lúc mới 32 tuổi, khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn. Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ trong cảnh nghèo. Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Thạch Lam có ba người con, hai trai một gái là bà Nguyễn Tường Nhung (sau này là vợ của trung tướng Ngô Quang Trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa trước đây), ông Nguyễn Tường Đằng, và trước vài ngày khi Thạch Lam mất, vợ ông sinh thêm con trai mà sau này là nhà văn Nguyễn Tường Giang. Nguyễn Tường Giang tốt nghiệp Trường Đại học Y khoa Sài Gòn năm1968. Ra trường, anh làm việc tại các bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương. Qua Mỹ, anh hành nghề tư, tham gia giảng dạy chuyên môn (sản phụ khoa) tại Southside Hospital, Bay Shore, New York rồi tại Virginia Hospital Center, tại Arlington, Virginia. Về hưu năm 2010. Theo nhà văn Băng Sơn thì sau khi Thạch Lam mất, vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian rồi vào Nam . == Tác phẩm == Hầu hết sáng tác của Thạch Lam được đăng báo trước khi in thành sách. Tác phẩm gồm có: Gió lạnh đầu mùa (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1937) Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1938) Ngày mới (truyện dài, Nhà xuất bản Đời nay, 1939) Theo giòng (bình luận văn học, Nhà xuất bản Đời nay, 1941) Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1942) Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nhà xuất bản Đời nay, 1943) Và hai quyển truyện viết cho thiếu nhi:Quyển sách, Hạt ngọc. Cả hai đều do Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940. == Đôi nét về nhân cách == Nhà văn Thế Uyên (con trai bà Nguyễn Thị Thế, cháu gọi Thạch Lam là cậu), trong bài Tìm kiếm Thạch Lam, có đoạn: Mẹ tôi bảo chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thủa nhỏ đã thế... Và chính ở đây (trại Cẩm Giàng) những người đàn ông ngồi uống trà, hút thuốc, nói chuyện tâm đắc... Có khi bàn chuyện văn chương, báo chí, có thể là chuyện cải cách dân tộc. Thường trong lúc ấy, Thạch Lam ngồi trong đám bạn văn thơ, bởi tính cách Thạch Lam chỉ có thế... Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Thạch Lam yêu sự sống hơn bất kỳ ai. Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính... như thể cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy. Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời...khiến người ta tủi thân mà buồn. Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng… Anh là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn... Có lần Thạch Lam nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống. Một lần, Thạch Lam cho tiền một đứa trẻ bán lạc rang bị cướp mất tiền, tôi nhắc khéo là có thể bị đứa trẻ đánh lừa, Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm. Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý mình... Tháng 2 năm 1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày nay. Một nhà thơ, vì cảnh nhà túng quẫn, cứ đến gặp ông xin tạm ứng tiền nhuận bút. Nhưng bạn vay 10 mà trả bài có 3. Có người nhắc ông sao không chặn lại, ông vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy. Nếu không giúp đỡ, họ sống ra sao? Và mặc dù là người nghèo nhất trong gia đình (nhà tranh vách đất, thậm chí chăn mền không có tiền mua), Thạch Lam vẫn thường mời bạn văn đến chơi nhà và thiết đãi tận tình. Khúc Hà Linh cho biết: Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng. Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm. Trong lúc chè chén, có khi sinh sự ồn ào, những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, mà chỉ cười... == Sự nghiệp văn chương của Thạch Lam == Là thành viên của Tự Lực văn đoàn, nhưng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng... ngòi bút của Thạch Lam có khuynh hướng đi gần với cuộc sống của những người dân bình thường nghèo khổ. Nhận xét khái quát về sự nghiệp văn chương của ông, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam có đoạn viết: Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, hay ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, nhất là những người phụ nữ trong xã hội cũ, sống vất vả, thầm lặng, chịu đựng, giàu lòng hi sinh ("Cô hàng xén"). Có truyện miêu tả với lòng cảm thông sâu sắc một gia đình đông con, sống cơ cực trong xóm chợ ("Nhà mẹ Lê"). Có truyện phân tích tỉ mỉ tâm lý phức tạp của con người ("Sợi tóc"). "Ngày mới" đi sâu vào nội tâm của một cặp vợ chồng trí thức nghèo. Chưa có truyện nào có ý nghĩa xã hội rõ nét như các tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán. "Theo giòng" là một thiên tiểu luận viết kiểu tuỳ bút, ghi lại suy nghĩ của ông về nghệ thuật tiểu thuyết, có những ý kiến hay, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh nào. Cuốn "Hà Nội ba sáu phố phường" có phong vị đậm đà của quê hương xứ sở, lại rất gợi cảm. Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, giàu chất thơ, sâu sắc, thâm trầm, thường để lại một ấn tượng ngậm ngùi, thương xót. Trong "Lời nhà xuất bản Văn học" (khi in lại tác phẩm "Gió đầu mùa" năm 1982) cũng có đoạn viết như sau: Giới thiệu tập truyện ngắn "Gió đầu mùa" xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam viết: "Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn". Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là "Tuyên ngôn văn học" của Thạch Lam. Và quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của Thạch Lam, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó. Là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chảy riêng biệt một dòng. Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang màu sắc cải lương, là những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý. Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời. Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nước đọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn gió bấc, những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng... Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũng hiện lên với cái vẻ heo hút, thảm đạm của số kiếp lầm than - Đó là mẹ Lê, người đàn bà nghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn, là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột, là Thanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô, là cô Tâm hàng xén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn...Tất cả những cảnh, những người ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chân thực... Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố...Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông. Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam...Đọc truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu con người, quý trọng con người hơn. Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chút tốt đẹp trong mỗi một con người. Trích thêm nhận xét của: Nhà văn Nguyễn Tuân: Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và tầng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của Thạch lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch lam, vẫn thấy đầy đủ cáo dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học... Nhà văn Vũ Ngọc Phan: Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta đã thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng...Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỷ mỷ những cái rất nhỏ và rất đẹp... Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy...'. GS. Phạm Thế Ngũ: Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội...Đối với ông, nhân vật thường là những người tầm thường trong xã hội: mẹ Lê trong xóm nghèo, cô hàng xén ở phố huyện, cậu học trò đi ở trọ, hai cô gái giang hồ trơ trọi…Và ông thường để ý vạch vẽ cuộc đời, tình cảm cùng ý nghĩ của họ, chớ không bận tâm lắm đến việc tuyên truyền tư tưởng cách mạng xã hội như trong các tác phẩm của Nhất Linh hay Hoàng Đạo…Ta thấy Thạch Lam, luôn hòa đồng trong cái xã hội nhỏ bé mà ông thương xót với tất cả tâm hồn đa cảm của ông... GS. Phong Lê: Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: "Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn". Có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo, vừa xây dựng, đều được Thạch Lam chú ý; và trong phần thành công của nó, các dấu ấn hiện thực và lãng mạn trong văn Thạch Lam đều tìm được sự gắn nối ở chính quan niệm này. Ở tư cách nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực của người nghệ sĩ. Ông viết: "Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị. Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi". PGS. Nguyễn Hoành Khung: ...Tình cảm của Thạch Lam chân thành, tuy nhiên, ông chỉ mới băn khoăn, thương cảm đối với số phận người nghèo qua những câu chuyện mang một dư vị ngậm ngùi, tội nghiệp. Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái "tôi", với sự phân tích cảm giác tinh tế. Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng "đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu" (Nguyễn Tuân). Ông là cây bút có biệt tài về truyện ngắn. Nhiều truyện ngắn của ông dường như không có cốt truyện, song vẫn có sức lôi cuốn riêng. Truyện dài "Ngày mới" của ông không có gì đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật. Khúc Hà Linh (Hiệu trưởng Trường Văn hóa nghệ thuật Hải Dương): Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, nên trong tác phẩm ông chất chứa nhiều hình bóng con người và đời sống làng quê...Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế. Văn ông hài hòa giữa lãng mạn và chân thực, mà vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc. Thạch Lam không chỉ nổi tiếng về truyện ngắn, ông còn thành công trong thể loại bút ký. "Hà Nội băm mươi sáu phố phường" gồm nhiều mẩu văn ngắn mà sinh động, thể hiện vốn sống phong phú và tài hoa của ông.... Năm 1996, ở Cẩm Giàng có một con đường mang tên Thạch Lam. Đây là một việc làm mạnh dạn, là cách trân trọng văn chương hiếm thấy tại thời điểm lịch sử lúc bấy giờ. Hiện nay, truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (in trong tập truyện "Nắng trong vườn") của ông đang được giảng dạy tại lớp 11 trong hệ thống giáo dục Việt Nam. == Thông tin dòng họ == Theo Gia phả họ Nguyễn Tường hiện đang lưu giữ ở Hội An, thì họ này khởi đầu từ ông Nguyễn Văn Vân, thi đỗ nhị trường, được bổ chức lễ sinh, làm việc bên chúa Nguyễn Phúc Ánh. Năm 1797, ông Vân theo chúa Nguyễn ra đánh Quảng Nam, lập công to, nên được ban họ Nguyễn Tường. Ông Vân có hai vợ. Người vợ thứ (Nguyễn Thị Khoa Nhàn) sinh ra bốn con trai, trong đó có người con thứ hai tên Nguyễn Tường Phổ. Nguyễn Tường Phổ (1807-1856), sinh ở Cẩm Phổ (Hội An) là người văn võ toàn tài. Năm 35 tuổi (1842), ông thi đỗ Tiến sĩ, lần lượt trải qua các chức: Hàn lâm viên biên tu nội các (Huế), Tri phủ Hoằng An (Bến Tre), Tri phủ Tân An (Gia Định)... Rồi cuối cùng là Đốc học tỉnh Hải Dương. Vậy là ông Phổ, người Quảng Nam, trở thành vị khai nguyên cho dòng Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng. Ông Phổ có hai con là Nguyễn Tường Trấp (còn gọi là Tiếp) và Nguyễn Tường Chữ. Sau, ông Trấp làm Tri huyện Cẩm Giàng, được dân trong vùng gọi là Huyện Giám. Ông Trấp có ba vợ, nhưng chỉ có bốn người con, trong số này có Nguyễn Tường Nhu, tức cha Thạch Lam... == Chú thích == == Sách tham khảo == Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại (tập 2). Nhà xuất bản KHXH in lại năm 1989. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển 3). Quốc học tùng thư xuất bản, 1965. Thạch Lam, Gió đầu mùa. Nhà xuất bản Văn học, 1982. Phong Lê, Tuyển tập Thạch Lam. Nhà xuất bản Văn học, 1988. Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam . Nhà xuất bản KHXH, 1992. Nhiều người soạn, Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1930-1945, tập 5). Nhà xuất bản KHXH. 1989. Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004. Nhiều người soạn, Ngữ văn lớp 11 (tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 2008. Khúc Hà Linh, Anh em Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh: Ánh sáng và bóng tối. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2008. == Liên kết ngoài == Thạch Lam; cốt cách của một tri thức mới Bài viết của nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn (đã in tạp chí văn học 1990, số 5). Thạch Lam với Hà Nội Bài của GS. Phong Lê. Tư tưởng nghệ thuật của Thạch Lam. Bài của GS. Hoàng Thiệu Khang.
thanh hải (trung quốc).txt
Thanh Hải (tiếng Trung: 青海; bính âm: Qīnghǎi), là một tỉnh thuộc Tây Bắc Trung Quốc. Thanh Hải là một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có diện tích lớn nhất tại Trung Quốc, tỉnh xếp thứ 4 về diện tích song lại là đơn vị hành chính cấp tỉnh ít dân thứ ba. Thanh Hải nằm chủ yếu trên cao nguyên Thanh-Tạng và là nơi sinh sống của một lượng lớn người Tạng. Người Hán chiếm đa số và sinh sống chủ yếu tại khu vực thủ phủ Tây Ninh ở phía đông bắc của tỉnh. Thanh Hải giáp với Cam Túc ở phía đông bắc, giáp với Tân Cương ở phía tây bắc, giáp với Tứ Xuyên ở phía đông nam, và giáp với khu tự trị Tây Tạng ở phía tây nam. Thanh Hải gần tương ứng với Amdo, một trong ba phân vùng truyền thống của văn hóa Tây Tạng. == Từ nguyên == Tên tiếng Hán của tỉnh, "Thanh Hải" được đặt theo hồ Thanh Hải, hồ lớn nhất tại Trung Quốc. Trong tiếng Anh, tỉnh Thanh Hải còn được gọi là Kokonur, bắt nguồn từ tên tiếng Oirat của hồ Thanh Hải. Tên tiếng Tạng của tỉnh Thanh Hải là "Tsongon". == Lịch sử == === Sơ khởi === Các phát hiện trong di chỉ Tiểu Sài Đán (小柴旦遗址) cho thấy vào cuối thời kỳ đồ đá cũ, cách nay 30.000 năm, ở phía tây Thanh Hải đã có loài người lao động và sinh sống. Trong thời đại đồ đồng tại Trung Quốc, Thanh Hải là nơi sinh sống của tổ tiên những người Tạng Amdo, họ sinh sống nhờ vào nông nghiệp và săn bắn, hình thành nên văn hóa Ca Ước (卡约文化). Đến thời Thương và Chu tại Trung Nguyên, bộ lạc Khương đã hình thành trên địa bàn Thanh Hải, sử sách Trung Quốc gọi là Tây Khương (西羌). Căn cứ theo giáp cốt văn từ thời Thương, vua Vũ Đinh của Thương đã xuất binh chinh phạt Tây Khương, chiếm lĩnh nhiều khu vực rộng lớn ở đông bộ tỉnh Thanh Hải ngày nay, người Khương phải cứ sứ thần đến triều Thương để thương lượng. Thời Tây Chu, đã xuất hiện liên hệ về chính trị và kinh tế giữa khu vực tỉnh Thanh Hải ngày nay và Trung Nguyên, đến thời Tần thì quan hệ này trở nên mật thiết hơn. === Thừ thế kỷ 2 TCN đến thế kỷ 3 SCN === Đến thời nhà Hán, khu vực phía đông của Thanh Hải nằm dưới quyền kiểm soát của triều đình Trung Hoa. Triều đình nhà Hán đã từng thiết lập nên Tây Hải quận, Hà Nguyên quận, Hoàng Nguyên quận, Kim Thành quân, khống chế các khu vực như Quý Nam, Quý Đức, Tây Ninh, Hoàng Nguyên ngày nay, cũng thiết lập chức hộ Khương hiệu úy. Những năm 121 TCN-111 TCN thời Tây Hán, nhà Hán đã thiết lập Tây Bình đình (西平亭) tại khu vực Tây Ninh ngày nay, mở đầu cho lịch sử phát triển của thành phố này. Thời Hán Bính Đế, Vương Mãnh đã thiết lập Tây Hải quận ở địa phận Thanh Hải ngày nay. Đến năm Kiến An thứ 19 (214 TCN), triều đình Trung Hoa lại thiết lập Tây Hải quận trên địa bàn Thanh Hải. Đầu thời Hán, phía tây tỉnh Thanh Hải ngày nay tồn tại các bộ lạc như Tiên Linh Khương (先零羌), Thiêu Đang Khương (烧当羌), Phát Khương (发羌). Sau khi nhà nước Tiên Ti tan rã, 1.700 hộ thuộc các nhóm du mục do Mộ Dung Thổ Dục Hồn lãnh đạo đã di cư từ khu vực Đông Bắc Trung Quốc ngày nay đến vùng đồng cỏ tươi tốt quanh hồ Thanh Hải vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3. Những người Tiên Ti này đã lập nên nước Thổ Dục Hồn vào năm 284 khi họ khuất phục các sắc dân bản địa, tức người Khương cổ, những người mà bao gồm trên 100 bộ lạc phối hợp lỏng lẻo và khác biệt, không quy phục lẫn nhau hay một thế lực nào. Ngoài Thanh Hải, nước Thổ Dục Hồn còn khống chế một phần tỉnh Cam Túc ngày nay. Ở nam bộ Thanh Hải ngày nay, người Đinh Linh (丁零) đã thành lập ra Bạch Lan Quốc (白蘭國) từ thế kỉ thứ 2, dân cư của nước này bao gồm người Đinh Linh và người Khương cổ, tồn tại cho đến đầu thế kỷ 4, tức trong thời gian đầu của Thổ Dục Hồn. === Thế kỉ 4 đến 6 === Trong thời Ngũ Hồ thập lục quốc, năm 395, Thốc Phát Ô Cô đã tấn công một số bộ lạc không chịu thần phục mình ở xung quanh, bao gồm Ất Phất (乙弗) và Chiết Quật (折掘), buộc họ phải khuất phục. Ông cho xây dựng Liêm Xuyên bảo (廉川堡, nay thuộc Hải Đông, Thanh Hải) để làm tổng hành dinh. Năm 397, Thốc Phát Ô Cô lập ra nước Nam Lương. Vào mùa xuân năm 399, Thốc Phát Ô Cô dời đô từ Liêm Xuyên đến Lạc Đô (樂都, cũng thuộc Hải Đông ngày nay). Vua cuối cùng của Nam Lương là Thốc Phát Nục Đàn đã buộc phải đầu hàng Tây Tần- cũng là một nước trong Ngũ Hồ thập lục quốc, vào năm 414, sau khi Tây Tần chiếm được kinh thành Lạc Đô. Đến mùa đông năm 426, quân Hồ Hạ do Hô Lô Cổ (呼盧古) và Vi Phạt (韋伐) chỉ huy đã chiếm được thành Tây Bình (西平, nay thuộc Tây Ninh, Thanh Hải) của Tây Tần, sau đó quân Hạ rút lui. Dưới thời vua Khất Phục Mộ Mạt trị vì (428 – 431), quân Bắc Lương đã liên minh với vua Mộ Dung Mộ Lợi Diên (慕容慕利延) của Thổ Dục Hồn để tấn công Tây Tần. Năm 431, hoàng đế nước Hạ là Hách Liên Định đã bắt và giết chết vua Khất Phục Mộ Mạt của Tây Tần, Tây Tần bị tiêu diệt, còn lãnh thổ trước đây của Tây Tần hầu hết đều rơi vào tay Thổ Dục Hồn. Thổ Dục Hồn là thế lực đầu tiên trong lịch sử đã thống nhất vùng Tây Bắc Trung Quốc, phát triển tuyến phía nam của Con đường tơ lụa, thúc đẩy trao đổi văn hóa giữa các lãnh thổ phía đông và phía tây. Thổ Dục Hồn thống trị khu vực tây bắc trong hơn ba thế kỷ rưỡi cho đến khi bị Thổ Phồn tiêu diệt. Thổ Dục Hồn tồn tại như một nước độc lập bên ngoài Trung Hoa và không được coi là một phần của sử học sử Trung Quốc, không được tính là một trong Thập lục quốc. Thời Nam-Bắc triều, một số bộ phận ở phía đông của Thanh Hải chịu sự kiểm soát của các Bắc triều, lần lượt là Bắc Ngụy, Đông Ngụy rồi đến Bắc Chu. Năm 445, Bắc Ngụy đã đổi Tây Bình quận thành Thiện Thiện trấn, đến năm 526, Bắc Ngụy lại đổi Thiện Thiện trấn thành Thiện châu, quản lý khu vực Tây Bình (Tây Ninh ngày nay). === Từ thế kỷ 7 đến 10 === Đến thời nhà Tùy, vào năm Đại Nghiệp thứ 3 (607) thời Tùy Dạng Đế, triều đình đã đổi Thiện châu thành Tây Bình quận, quản lý hai huyện Hoàng Thủy và Hóa Long, khu vực Tây Ninh ngày nay thuộc Hoàng Thủy huyện của Tây Bình quận. Năm Đại Nghiệp thứ 5 (609), Tùy Dạng Đế tây chinh đánh Thổ Dục Hồn, đánh bại Thổ Dục Hồn, quân chủ của Thổ Dục Hồn bị bắt sống. Thổ Dục Hồn do đó phải di cư về phía nam, chịu mất một lãnh thổ rộng lớn cho Tùy. Trên đất cũ của Thổ Dục Hồn, nhà Tùy thiết lập bốn quận là Thiện Thiện, Tây Hải, Thả Mạt, Hà Nguyên. Đến năm 618 TCN, nhà Đường sau khi thành lập, đã thiết lập hai châu Thiện và Khuếch ở phía đông Thanh Hải, quản lý khu vực bao gồm Tây Ninh ngày nay. Những năm đầu thế kỷ 7, Thổ Phồn lớn mạnh, khuếch trương thế lực đến khu vực Thanh Hải ngày nay, đe dọa trực tiếp đến Thổ Dục Hồn. Còn trong thời gian đầu của nhà Đường, Thổ Dục Hồn suy yếu dần và ngày càng vướng vào xung đột giữa Đường và Thổ Phồn. Trong những năm 662-663, quân Thổ Phồn đã thôn tính Thổ Dục Hồn, quân chủ Thổ Dục Hồn là Mộ Dung Nặc Hạt Bát đưa tàn dư của đất nước đến đầu hàng Đường ở Lương Châu thuộc Cam Túc ngày nay. Bên cạnh đó, một bộ phận người Thổ Dục Hồn vẫn ở lại đất cũ và trở thành thuộc quốc của Thổ Phồn. Năm 670, trong trận Đại Phi Xuyên (大非川之戰) tại nơi mà nay thuộc huyện Cộng Hòa của Thanh Hải, quân Đường đã thất bại trước 20 vạn quân Thổ Phồn, đây là thất bại lớn nhất trong lịch sử của Đường và chính thức đưa Thổ Dục Hồn đến hồi kết. Có học giả nhận định rằng người Thổ ở Thanh Hải và Cam Túc hiện nay là hậu duệ của Thổ Dục Hồn. Sau loạn An Sử, nhà Đường suy yếu, Thổ Phồn nhân cơ hội này đã đoạt lấy Tây Ninh vào năm 763. Trong thời gian nằm dưới quyền cai quản của Thổ Phồn, Tây Ninh được gọi trong tiếng Hán là "Thanh Đường thành". Khu vực Thanh Hải cũng như đa phần phía tây Trung Quốc từ đó nằm trong phạm vi thế lực của Thổ Phồn. Các bộ lạc Thổ Phồn tại khu vực Thanh Hải không phụ thuộc lẫn nhau, cuối cùng xảy ra nội chiến. === Giác Tư La Quốc === Đến đầu thế kỷ 11, Thổ Phồn phân liệt thành một vài tập đoàn bộ lạc lớn. Lý Lập Tuân (李立遵) là thủ lĩnh của một trong số các tập đoàn bộ lạc đó, ông ta đưa một hậu duệ của tán phổ Thổ Phồn là Giác Tư La (唃廝囉, dịch âm từ tiếng Tạng, ý chỉ Phật tử) đến khu vực nay là huyện Bình An của Thanh Hải, tôn làm tán phổ, Lý Lập Tuân tự lập làm luân bô (论逋, tức tể tướng). Quyền lực đều nằm trong tay của Lý Lập Tuân song người này lại xa hoa trác táng. Sau khi Giác Tư La trở thành tán phổ, cá bộ lạc Thổ Phồn ở khu vực Hà Hoàng dần quy phục. Đến khi Lý Lập Tuân thất bại trong trận Tam Đô Cốc (三都谷之战) trước danh tướng Tào Vĩ của Bắc Tống, Giác Tư La thừa cơ ly khai khỏi Lý Lập Tuân. Năm 1034, Giác Tư La định đô tại Thanh Đường thành, hiệu là Tông Khách Vương, lập ra Giác Tư La Quốc (唃厮啰国), sử Trung Quốc còn gọi là vương quốc Thanh Đường. Thời hưng thịnh, cương vực Giác Tư La Quốc trải rộng đến Tam Đô Cốc (nay thuộc huyện Cam Cốc của tỉnh Cam Túc, bắc giáp Kỳ Liên Sơn, nam đến châu Quả Lặc của Thanh Hải ngày nay, tây đến hồ Thanh Hải, rộng trên 3000 lý, nhân khẩu gần một triệu người. Nhiều thương nhân thay vì đi qua hành lang Hà Tây do Tây Hạ kiểm soát đã lựa chọn chuyển sang tuyến đường Thanh Hải, giúp Giác Tư La Quốc phát triển mạnh về mậu dịch. Khi đó Thanh Dường thành là một đô thị thương nghiệp phồn vinh. Giác Tư La có quan hệ với cả Tống, Liêu, Tây Hạ, Hồi Cốt và Tây Vực, bảo vệ tính độc lập của mình. === Thuộc Tống, Kim, Hạ === Năm 1099, quân Tống tiến chiếm lưu vực Hoàng Thủy, thiết lập Bộ châu tại Thanh Đường và thiết lập Hoàng châu tại Mạc Xuyên. Tuy nhiên, trước sự phán kháng của người Thổ Phồn, quân Tống đã rút khỏi lưu vực Hoàng Thủy vào năm sau. Đến năm 1103, quân Tống do Vương Hậu (王厚) thống lĩnh lại công chiếm Hoàng châu. Đến năm sau, quân Tống lại chiếm được Thiện châu, Khuếch châu, đổi Thiện châu thành Tây Ninh châu, chính quyền Giác Tư La Quốc tuyên cáo giải thể. Đến năm 1127, Bắc Tống sụp đổ, quân Tống rút khỏi đông bộ Thanh Hải vào năm sau, giao lại vùng đất này cho hậu duệ của Giác Tư La quản lý. Năm 1131, quân Kim công chiếm khu vực Hà Hoàng. Năm 1136, Tây Hạ đánh chiếm Lạc châu và Tây Ninh châu của Kim. Sau đó, Tây Hạ sai sứ thần sang thỉnh cầu Kim cấp khu vực đông bộ Thanh Hải cho mình, Kim đồng ý cấp ba châu Lạc, Khuếch và Tích Thạch cho Tây Hạ. Sau đó Hạ đổi tên Tích Thạch châu thành An Thành. Về sau, Kim tách phía tây Hà châu để lập nên Tích Thạch quân, đến năm 1182 thì Kim thăng Tích Thạch quân thành châu. Biên giới giữa Kim và Hạ ở khoảng Long Vụ Hà (隆务河), phía nam của Hoàng Hà. === Thời Nguyên === Năm 1227, sau khi quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn suất lĩnh ngược dòng Hoàng Hà công chiếm Tích Thạch châu của Kim, lại phân binh công chiếm Tây Ninh và các châu khác của Tây Hạ. Năm 1261, tức năm Trung Thống thứ hai thời Nguyên Thế Tổ, nhà Nguyên đã thiết lập Tây Hạ Trung hưng hành trung thư tỉnh (sau đổi tên thành Cam Túc đẳng xứ hành trung thư tỉnh), khu vực trung hạ du Hoàng Thủy của Thanh Hải thuộc Tây Ninh châu của Cam Túc hành tỉnh. Đầu những năm Chí Nguyên (1264-1294) (có thuyết nói là vào năm 1253), nhà Nguyên đã thiết lập Thổ Phồn đẳng xứ tuyên ủy sứ ty nguyên soái phủ (吐蕃等處宣慰司都元帥府), lãnh thổ bao gồm khu vực Thanh Hải (trừ trung hạ du Hoàng Thủy), tây nam Cam Túc và một bộ phận phía bắc Tứ Xuyên ngày nay. Thời Nguyên, Lạc châu và Khuếch châu đời Tống và Tây Hạ được nhập vào Tây Ninh châu. Bồn địa Sài Đạt Mộc ở tây bắc Thanh Hải quy thuộc Cam Túc hành tỉnh. Thời Nguyên, triều đình thực hiện chính sách phái tông vương đến trấn thủ địa phương. Vào đầu thời Nguyên, Hốt Tất Liệt đã phong cho con trai thứ bảy của mình là Áo Lỗ Xích (奧魯赤) làm Tây Bình vương, trấn thủ khu vực Xuyên-Tạng-Cam-Thanh. Thời Nguyên, dân tộc chủ thể của Thanh Hải là người Tạng, bên cạnh đó là người Hán, người Mông Cổ và người Hồi Hột. Cũng trong thời gian đó, bộ tộc Tát Lỗ Nhĩ thuộc bộ lạc Ô Cổ Tư của người Đột Quyết đã từ Trung Á di cư đến Thanh Hải, định cư tại huyện tự trị dân tộc Tát Lạp Tuần Hóa ngày nay. Tổ tiên người Hồi từ Trung Á nhập cư đến Thanh Hải với số lượng lớn, họ đa phần là "Tây Vực thân quân" và thợ thủ công đi theo trong quân đội Mông Cổ, thương nhân và gia thuộc, sau này hình thành cộng đồng người Hồi ở khu vực Cam-Thanh. Triều đình nhà Nguyên thúc đẩy và lợi dụng Phật giáo Tạng truyền để phục vụ cho việc thống trị của họ tại Thanh Hải, thi thành chế độ chính giáo hợp nhất trên toàn bộ các khu vực dân tộc tại Thanh Hải. === Thời Minh === Những năm đầu Hồng Vũ triều Minh, quân Minh dưới quyền phó tướng Đặng Dũ (鄧愈) đã tiến vào khu vực Hà Hoàng, Tây Ninh, các thế lực triều Nguyên cũ dần dần hàng Minh. Vào năm Hồng Vũ thứ 6 (1373) thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, triều Minh đã đổi Tây Ninh châu của nhà Nguyên thành Tây Ninh vệ, vệ được chia tiếp thành năm thiên hộ sở Trung, Tả, Hữu, Tiền, Hậu. Triều Minh cũng tiến hành gia tăng mức độ khống chế đối với khu vực Thanh Hải, thi hành chính sách "Thổ Hán tham trị" tại khu vực Hà Hoàng, và đây cũng là đặc điểm chính trong nền chính trị Thanh Hải vào thời Minh. Ngoài ra, đối với người Tát Lý Uý Ngột Nhi ở bồn địa Sài Đạt Mộc, triều Minh thiết lập bốn vệ: An Định, A Đoan, Khúc Tiên, Hãn Đông, do Tây Ninh vệ kiểm soát, sử gọi là "Tây Ninh Tái Ngoại tứ vệ". Năm Tuyên Đức thứ 9 (1434) thời Minh Tuyên Tông, triều đình đã thiết lập Tất Lý Truật Giang vệ tại lưu vực Thông Thiên Hà thuộc địa phận châu Ngọc Thụ ngày nay. Vệ sở quân của các thể chế theo chế độ ki mi này do thủ lĩnh bộ lạc đảm nhiệm, tiến hành quản lý nội bộ bộ lạc. Về mặt quân sự, vào hậu kỳ nhà Minh, song song tồn tại với hệ thống vệ sở còn có hệ thống quan chức trấn thủ, trong đó có tổng binh, phó tổng binh, tham tướng, du kích, thủ bị, bả tổng và các chức vụ khác. Nói chung, vào thời Minh, khu vực nông nghiệp ở phía đông của Thanh Hải, chủ yếu là đồn điền quốc hữu cùng thổ địa thuộc sở hữu của lãnh chúa (hoặc địa chủ), còn lại là thổ địa tự canh tác của nông dân. Ở phía tây và phía nam Thanh Hải là khu vực mục nghiệp, theo chế độ lãnh chúa bộ lạc chiếm hữu. Đồn điền ở khu vực Hà Hoàng vào thời Minh chủ yếu là quân đồn, với mục đích để nuôi quân, đảm bảo ổn định biên cương tây bắc Đại Minh. Từ thời Tống đến thời Nguyên, đã có nhiều người Mông Cổ nhập cư đến Thanh Hải. Đến thời Minh, lại có những người Mông Cổ thuộc nhánh Hòa Thạc Đặc (和硕特, Khoshuud) di cư đến, họ chăn nuôi ven hồ Thanh Hải, bồn địa Sài Đạt Mộc và khu vực quanh đoạn uống khúc của Hoàng Hà, thủ lĩnh của họ là Cố Thủy Hãn (固始汗). Tông-khách-ba, một nhà cải cách tôn giáo xuất thân từ khu vực Tây Tạng, đã sáng lập ra Cách-lỗ phái, một trong những giáo pháp quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng. Cách-lỗ-phái được truyền bá rộng rãi trong khu vực của người Tạng, cũng có ảnh hưởng sâu rộng đến chính trị và kinh tế của Thanh Hải. Vào những năm cuối thời Minh, một bộ phận quân khởi nghĩa của Lý Tự Thành do Hạ Cẩm (賀錦) đã tây tiến, khống chế khu vực Tây Ninh trong một năm, thế lực vươn tới khu vực hồ Thanh Hải. Hạ Cẩm bị thế lực địa phương tại Tây Ninh giết chết. === Thời Thanh === Vào đầu thời Thanh, chế độ thống trị tại Thanh Hải về cơ bản vẫn giống như dưới thời nhà Minh. Triều đình nhà Thanh bổ nhiệm các quan sĩ đã đầu hàng mình làm các thổ ti thế tập, trở thành một lực lượng quan trọng trong việc duy trì nền thống trị phong kiến. Năm Thuận Trị thứ 15 (1658), triều đình nhà Thanh đã đổi Tây Ninh phó tướng thành Tây Ninh trấn tổng binh, gia tăng đồn trú quân sự đối với khu vực phía đông của Thanh Hải.. Thời Khang Hy Đế và Ung Chính Đế, triều Thanh cũng phái quân đến bồn địa Sài Đạt Mộc của Thanh Hải để đối phó với Chuẩn Cát Nhĩ. Từ cuối thời Minh có đến đầu thời Thanh, một phần lớn địa bàn Thanh Hải ngày nay nằm dưới quyền kiểm soát của người Mông Cổ Hòa Thạc Đặc. Năm 1653, nhà Thanh đã sách phong cho Cố Thủy Hãn là Tuân Hành Văn Nghĩa Mẫn Tuệ Cố Thủy Hãn, hợp pháp hóa địa vị thống trị của Cố Thủy Hãn tại Thanh-Tạng. Sau khi Cát Nhĩ Đan bị quân Thanh đánh bại, các thai cát Mông Cổ ở Thanh Hải đã quy thuận triều Thanh. Năm 1697, nhà Thanh đã phong cho thủ lĩnh Mông Cổ tại Thanh Hải làm Hòa Thạc Thân vương. Năm 1717, Hòa Thạc Đặc hãn quốc diệt vong, cháu Cố Thủy Hãn là La Bốc Tạng Đan Tân (羅卜藏丹津, Lobsang Tendzin) đã liên lạc với triều đình Thanh để phản công chiếm lĩnh Tây Tạng từ quân Chuẩn Cát Nhĩ. Năm 1720, Khang Hy Đế phái hoàng thập tứ tử Dận Trinh làm đại tướng quân vương, nhập Tạng đánh đuổi danh tướng Đại Sách Lăng Đôn Đa Bố (大策凌敦多布) của Chuẩn Cát Nhĩ. Sau đó, triều đình Thanh thực thi chính sách hạn chế và đề phòng La Bốc Tạng Đan Tân khiến người này bất mãn. Đến năm 1723, La Bốc Tạng Đan Tân liên hiệp các bộ tộc Mông Cổ ở phía đông Amdo (tức phía đông Thanh Hải ngày nay) phản lại triều đình Thanh, liên lạc với đại hãn Sách Vọng A Lạp Bố Thản (策妄阿拉布坦, Tsewang Arabtan) của Chuẩn Cát Nhĩ. Ung Chính Đế đã phái Phủ Viễn đại tướng quân Niên Canh Nghiêu và Tứ Xuyên đề đốc Nhạc Chung Kỳ suất quân tây chinh, đến năm 1724 thì đánh bại La Bốc Tạng Đan Tân, ông ta buộc phải chạy đến Chuẩn Cát Nhĩ. Sau đó, theo tấu chương của Niên Canh Nghiêu, triều đình nhà Thanh đã có sự điều chỉnh lớn đối với việc quản lý Thanh Hải, tăng cường trung ương tập quyền: đầu thời Ung Chính, triều đình Thanh đã thiết lập chức Thanh Hải biện sự đại thần (青海辦事大臣), trực thuộc Lý Phiên viện (理藩院) của triều đình trung ương Thanh, quản lý các khu vực dân tộc thiểu số tại Thanh Hải và sự vụ hai tộc Mông-Tạng; chia khu vực của người Mông Cổ ở Thanh Hải thành 29 kỳ, các kỳ do trát tát khắc (札薩克, jasagh) quản lý, hoạch định địa giới du mục của các kỳ; các bộ lạc Tạng vốn lệ thuộc vào các bộ lạc Mông Cổ thì nay chuyển sang chịu sự quản lý của quan phủ địa phương lân cận. Triều Thanh đã đổi Tây Ninh vệ thành phủ, thiết lập Tây Ninh huyện, Niễn Bá huyện và Đại Thông vệ, do đại thần trú tại Tây Ninh trực tiếp quản lý. Năm 1829 thời Đạo Quang Đế, khu vực phía đông Hà Hoàng về mặt hành chính được tổ chức thành 1 phủ 3 huyện (Tây Ninh, Niễn Bá, Đại Thông), 4 thính (Ba Yên Nhung Cách, Đan Cát Nhĩ, Tuần Hóa, Quý Đức). Triều đình nhà Thanh cũng tiến hành chỉnh đốn tại các tu viện Cách-lỗ-phái trên địa bàn Thanh Hải. Thời Ung Chính, nhà Thanh quy định đất chăn nuôi của người Mông Cổ và của người Tạng tại Thanh Hải lấy Hoàng Hà làm ranh giới, cấm chỉ qua lại. Tuy nhiên, do thảo nguyên Hà Nam nhỏ hẹp, không đủ để chăn thả gia súc, người Tạng Hà Nam (tức phía nam Hoàng Hà) nhớ đến vùng mục địa ở phía bắc nên đã nhiều lần tiến sang bờ bắc Hoàng Hà, phát sinh xung đột vũ trang với quân Thanh tuần phòng, một bộ phận còn cướp bóc của cải của các bộ lạc Mông Cổ. Triều đình nhà Thanh nhiều lần phái binh trấn áp hoạt động trở lại phía bắc của người Tạng, buộc họ phải quay trở về Hà Nam. Tuy nhiên, người Tạng vẫn di cư về phía bắc với số lượng lớn, đấu tranh để lại được chăn nuôi ở Hà Bắc. Sau khi bùng phát khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, triều đình Thanh mới đồng ý để các bộ lạc Tạng đến chăn nuôi ở khu vực phía bắc Hoàng Hà và quanh hồ Thanh Hải. Những năm Càn Long, Đồng Trị, Quang Tự, ở Thanh Hải đã xảy ra nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình nhà Thanh như của người Tát Lạp, người Hồi, song đều bị triều đình trấn áp. Thời Thanh, Tây Ninh và các thành thị khác là những trung tâm mậu dịch, thời Càn Long đã xuất hiện các thương hiệu, hội quán của thương nhân Sơn Tây, Thiểm Tây và các địa phương khác. Sau thời Quang Tự, sản phẩm chăn nuôi của Thanh Hải bắt đầu đến tay thương nhân nước ngoài, "lông thú Tây Ninh" có được danh tiếng trên thị trường quốc tế. === Thời Dân Quốc === Sau Cách mạng Tân Hợi, quan địa phương của triều Thanh tại Thanh Hải tự động từ chức. Chính phủ Bắc Dương bãi bỏ thể chế Thanh Hải biện sự đại thần, thiết lập chức Thanh Hải biện sự trưởng quan. Tháng 9 năm 1912, Viên Thế Khải bổ nhiệm tri phủ trước đây của Tây Ninh phủ, Liêm Hưng (廉興), làm Thanh Hải biện sự trưởng cung, bổ nhiệm Mã Kỳ (馬麒) làm Tây Ninh trấn tổng binh. Năm sau, Liêm Hưng và Mã Kỳ cùng chủ trì hội minh Tế Hải, tuyên bố hoàng đế nhà Thanh thoái vị, tin tức về việc thành lập Trung Hoa Dân Quốc, khuyên những người đứng đầu cộng đồng Mông Cổ và Tạng liên danh ký tên biểu thị ủng hộ nền cộng hòa để gửi đến chính phủ Bắc Dương. Từ đó, toàn bộ địa bàn Thanh Hải chính thức nằm trong phạm vi của Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi nhậm chức, Mã Kỳ tích cực mở rộng quân sự, lập ra Ninh Hải quân. Đến năm 1915, Liêm Hưng bị chính phủ Bắc Dương bãi chức, Mã Kỳ nhậm chức Cam Biên Ninh Hải trấn thủ sứ kiêm Mông Phồn tuyên ủy sứ, có được sức mạnh cả về quân sự và chính trị tại Thanh Hải. Từ đó, khu vực Thanh Hải kết thúc cục diện quyền lực phân tán cả trăm năm dưới thời Thanh, gia tộc họ Mã thiết lập cơ sở thống trị vững chắc tại Thanh Hải. Đến năm 1925, quân Quốc Dân tiến vào Cam Túc. Năm sau, Phùng Ngọc Tường bổ nhiệm Mã Kỳ làm Thanh Hải hộ quân sứ, quân đội địa phương của Mã Kỳ tiếp nhận quân Quốc Dân cải biên. Ngày 17 tháng 10 năm 1928, Hội nghị chính trị Trung ương Quốc Dân Đảng quyết định lấy 7 huyện của đạo Tây Ninh thuộc tỉnh Cam Túc và vùng thuộc quyền quản lý của Thanh Hải biện sự trưởng quan để thành lập tỉnh Thanh Hải, lấy Tây Ninh làm tỉnh lị, bổ nhiệm Tôn Liên Trọng làm chủ tịch tỉnh Thanh Hải nhiệm kỳ đầu tiên. Nhiệm kỳ của Tôn Liên Trọng kéo dài không được một năm, sau đó Mã Kỳ, Mã Lân (馬麟), Mã Bộ Phương (馬步芳) kế tiếp nhau làm chủ tịch tỉnh hoặc đại chủ tịch tỉnh Thanh Hải. Sau khi Mã Bộ Phương nắm được chính quyền và quân đội tại Thanh Hải, Thanh Hải về bề ngoài thì phục tùng chính phủ Quốc Dân, quân đội Thanh Hải cũng được xếp vào quân chính phủ Quốc Dân, song quân phiệt họ Mã vẫn hưởng quyền tự chủ tương đối lớn, Thanh Hải độc lập trên hầu hết phương diện, có thể nói là ở trạng thái nửa cát cứ. Ban đầu, khi mới thành lập, quân đội của quân phiệt họ Mã chỉ có hơn 1.300 người song đến thời Nội chiến Trung Quốc đã tăng lên đến 150.000 quân. Trong chiến tranh Trung-Tạng, quân Tây Tạng đã quyết định mở rộng cuộc chiến đến Thanh Hải để chống lại Mã Bộ Phương vào năm 1932, song đã bị đánh bại. Mã Bộ Phương được nhà báo Mỹ John Roderick đánh giá là một người theo chủ nghĩa xã hội và thân thiện so với các quân phiệt họ Mã khác. Mã Bộ Phương được ghi nhận là người vui vẻ nếu so sánh với sự cai trị thô bạo của Mã Hồng Quỳ (馬鴻逵; một quân phiệt tại Ninh Hạ bấy giờ). Trong thời gian diễn ra chiến tranh Trung-Nhật và Nội chiến Trung Quốc, khác với các tỉnh ở phía đông, Thanh Hải hầu như không bị tác động. Quân của họ Mã đã thất bại trong chiến dịch Lan Châu trước Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Lúc mới thành lập tỉnh, toàn tỉnh Thanh Hải có 930.000 người. Dưới thời Dân Quốc, hành chính của Thanh Hải có nhiều thay đổi, đến năm 1943 thì toàn tỉnh có 19 huyện. 6 thiết trị cục, đến năm 1947 thì toàn tỉnh của 1 thị là Tây Ninh, 1 địa là đốc sát khu hành chính Ngọc Thụ, 19 huyện, cùng với Kì Liên thiết trị cục và Tinh Xuyên thiết trị cục. === Từ 1949 đến nay === Ngày 5 tháng 9 năm 1949, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Tây Ninh. Ngày 26 tháng 9 cùng năm, Uỷ ban quân chính Nhân dân tỉnh Thanh Hải tuyên cáo thành lập. Ngày 1 tháng 1 năm 1950, chính quyền tỉnh Thanh Hải chính thức được thành lập, lấy Tây Ninh làm thủ phủ. Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vẫn duy trì ranh giới từ trước đó của Thanh Hải. == Địa lý == Thanh Hải nằm ở phía tây Trung Quốc, phía đông bắc của cao nguyên Thanh-Tạng-nóc nhà thế giới. Về mặt tọa độ, tỉnh Thanh Hải giới hạn từ 89°36'-103°04' kinh Đông, 31°9'-39°19' vĩ Bắc. Tỉnh Thanh Hải có diện tích 722.300 km², chiếm 13% tổng diện tích của Trung Quốc, chỉ xếp sau Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông. Tỉnh Thanh Hải có chiều dài đông-tây là hơn 1.200 km, chiều dài bắc-nam là trên 800 km. Thanh Hải tiếp giáp với tỉnh Cam Túc ở phía đông, giáp khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ở phía tây bắc, giáp với khu tự trị Tây Tạng ở phía nam và tây nam, giáp với tỉnh Tứ Xuyên ở đông nam. === Địa hình === Toàn bộ tỉnh Thanh Hải nằm trong phạm vi của cao nguyên Thanh-Tạng, khu vực phía đông của tỉnh nằm trong phần quá độ từ cao nguyên Thanh Tạng đến cao nguyên Hoàng Thổ. Địa hình Thanh Hải phức tạp, địa mạo đa dạng. Phía tây Thanh Hải cao và dốc, nghiêng xuống phía đông, tạo thành các bậc thang. Độ cao trung bình của tỉnh Thanh Hải là trên 3000 mét, đỉnh cao nhất là đỉnh Bukadaban (布喀达板) thuộc Côn Lôn Sơn với cao độ đạt 6.860 mét. Điểm thấp nhất của tỉnh Thanh Hải là tại thôn Hạ Xuyên Khẩu của huyện Dân Hòa. Vùng cao nguyên ở phía nam Thanh Hải có độ cao trung bình vượt quá 4.000 mét so với mực nước biển. Vùng thung lũng Hà Hoàng có độ cao thấp hơn, đa phần là trên dưới 2000 mét. Ở phía đông bắc và phía đông của Thanh Hải là khu vực quá độ với cao nguyên Hoàng Thổ và vùng sơn địa Tần Lĩnh, phía bắc của Thanh Hải nhìn xuống hành lang Hà Tây của Cam Túc, tây bắc Thanh Hải tách biệt với dãy Altyn-Tagh và bồn địa Tarim của Tân Cương, phía nam liên tiếp với vùng cao nguyên phía bắc Tây Tạng, đông nam Thanh Hải kết nối với bồn địa Tứ Xuyên thông qua các vùng sơn địa và bồn địa cao nguyên. Về con số cụ thể, 30,1% diện tích Thanh Hải là vùng đất bằng phẳng, 18,7% là vùng gò đồi và 51,2% là vùng núi non. Diện tích cao dưới 3.000 mét chiếm 26,3% diện tích, còn diện tích cao trên 5.000 mét chiếm 5% diện tích, diện tích mặt nước chiếm 1,7% tổng diện tích toàn tỉnh. Bồn địa Qaidam (Sài Đạt Mộc) nằm ở nằm ở tây bắc tỉnh Thanh Hải, bồn địa có diện tích xấp xỉ 120.000 km², trong đó một phần tư được bao phủ bằng các hồ nước mặn và hồ khô cạn. === Khí hậu === Thanh Hải nằm sâu trong vùng cao nguyên nội địa, địa thế cao, khí hậu Thanh Hải vì thế thuộc đới khí hậu cao nguyên lục địa với đặc điểm là khô, ít mưa, nhiều gió, lạnh lẽo, thiếu dưỡng khí, nhiệt độ trong ngày biến đổi lớn, đông dài hạ ngắn. Thanh Hải không có bốn mùa rõ rệt, có sự khác biệt giữa các khu vực trong địa bàn tỉnh. Nhiệt độ bình quân của tỉnh Thanh Hải là từ 0,4 °C-7,4 °C, nhiệt độ bình quân thấp nhất vào tháng 1 là từ -10,3 °C đến -5,0 °C, nhiệt độ bình quân cao nhất vào tháng 7 là từ 10,8 °C đến 19,0 °C. Ở khu vực thung lũng Hoàng Hà và Hoàng Thủy, có từ 3-5 tháng là không có sương giá, các khu vực khác thì chỉ có một tháng, có những địa phương gần như luôn luôn có sương giá. Do thực hiện việc xây dựng hệ sinh thái, trả đất trồng trọt và chăn nuôi về cho đồng cỏ và rừng, tình hình khí hậu của khu vực Thanh Hải trên phạm vi cục bộ đã được cải thiện, lượng mưa tăng lên qua các năm. Trong số 8 địa cấp thị, địa khu và châu của Thanh Hải, có 3 khu vực có lượng giáng thủy hàng năm trên 500 mét, thuộc khí hậu khô hạn hoặc bán khô hạn. Bình quân mỗi năm, tổng lương bức xạ mặt trời của Thanh Hải đạt 140-177 kcal/cm, số giờ nắng mỗi năm đạt từ 2.350-2.900 giờ. === Sông hồ === Diện tích mặt nước của tỉnh Thanh Hải là hơn 10.000 km². Thanh Hải là nơi bắt nguồn của ba trong số những con sông dài nhất thế giới: Hoàng Hà, Trường Giang và Mê Kông, vì thế còn được gọi là "tháp nước Trung Hoa" (中华水塔). Hồ Thanh Hải là hồ có diện tích bề mặt lớn nhất Trung Quốc với 4.489 km² vào năm 2007. Thanh Hải cũng có nhiều hồ muối, tập trung tại bồn địa Qaidam. === Sinh vật === Theo số liệu năm 2012, toàn tỉnh Thanh Hải có hơn 270 loài động vật có xương sống trên cạn. Một số loài động vật quý hiếm tại Thanh Hải gồm: gấu nâu, báo tuyết, bò Tây Tạng, lạc đà hai bướu, lừa rừng Trung Á, linh dương Tây Tạng, sếu cổ đen, hươu môi trắng (Cervus albirostris), thiên nga, gà tuyết, cừu hoang Himalaya và các loại khác. Các loài thú quý có lông ở Thanh Hải gồm rái cá, macmột thảo nguyên, cáo đỏ, linh miêu, chồn đá, mèo manul, chồn núi Altai (Mustela altaica). Thanh Hải có khoảng hơn 2000 loài thực vật hoang dã, trong đó có hơn 1.000 loài có giá trị về kinh tế, hơn 680 loài có thể sử dụng trong ngành dược phẩm. Các loài thực vật dùng làm thuốc chủ yếu tại Thanh Hải gồm: tuyết liên (Saussurea involucrata), đông trùng hạ thảo, cam thảo, tần giao (Gentiana macrophylla), đại hoàng (Rheum rhabarbarum), bối mẫu (Fritillaria), đương quy (Angelica sinensis), ma hoàng (Ephedra). Các loài thực vật hoang dã có thể dùng làm thực phẩm có: nấm lớn, ráng cánh to (Pteridium aquilinum), phát thái (Nostoc flagelliforme), địa y, củ khởi. == Dân cư == Tính đến cuối năm 2011, tỉnh Thanh Hải có 5.681.700 nhân khẩu thường trú, trong đó có 2.626.200 người (46,2%) sinh sống tại các đô thị và 3.055.500 người (53,8%) sinh sống tại các khu vực nông thôn. Cũng theo đó, Thanh Hải có 2.669.300 người dân tộc thiểu số, chiếm 47% số nhân khẩu thường trú. Tỷ xuất sinh trong năm 2011 của Thanh Hải là 14,43‰, còn tỷ suất tử vong trong năm này là 6,12‰. Thanh Hải là tỉnh có nhiều dân tộc, bên cạnh người Hán ra, tỉnh còn có 36 dân tộc thiểu số khác, trong đó chủ yếu là người Tạng, người Hồi, người Thổ, người Tát Lạp và người Mông Cổ. Theo số liệu thống kê nhân khẩu hộ tịch thì vào cuối năm 2009, người Hán có 2.991.600 người và chiếm 53,68% tổng nhân khẩu toàn tỉnh, các dân tộc thiểu số có 2.581.400 người và chiếm 46,32%. Tỷ trọng dân tộc thiểu số của Thanh Hải xếp thứ ba tại Trung Quốc sau Tây Tạng và Tân Cương, còn cao hơn ba khu tự trị Nội Mông, Ninh Hạ và Quảng Tây. Trong đó, người Tạng có 1.223.800 người và chiếm 21,96%, người Hồi có 886.700 người và chiếm 15,91%, người Thổ có 230.700 người và chiếm 4,14%, người Tát Lạp có 122.600 người và chiếm 2,2%, người Mông Cổ có 97.500 người và chiếm 1,75%. Người Hán chiếm ưu thế hơn hẳn tại Tây Ninh, Đức Linh Cáp và Cách Nhĩ Mộc, và ở những nơi khác tại đông bắc của tỉnh. Người Hồi sống tập trung tại Tây Ninh, Hải Đông, Dân Hòa, Hóa Long, và Đại Thông. Người Thổ chiếm ưu thế ở Hỗ Trợ và người Tát Lạp chiếm ưu thế tại Tuần Hóa. Cả người Hán và người Tạng bản địa tại Thanh Hải đều có điểm khác biệt so với đồng tộc của họ ở bên ngoài tỉnh; người Hán ở Thanh Hải nhiệt thành hơn với Phật giáo và chịu ảnh hưởng của phong tục Tạng, trong khi có nhiều người Tạng ở Thanh Hải không thể nói được tiếng Tạng và hòa nhập vào dòng chảy chính của văn hóa Trung Quốc. Người Tạng Thanh Hải tự nhìn nhận họ khác biệt với người Tạng tại khu tự trị Tây Tạng, và kỷ niệm nền độc lập không bị gián đoạn của khu vực này khỏi quyền kiểm soát từ Lhasa kể từ khi Thổ Phồn sụp đổ. Người Tạng sinh sống với mật độ thấp tại sáu châu tự trị của mình, ngoài ra họ cũng cư trú tại huyện Đại Thông của Tây Ninh cùng huyện Bình An của địa khu Hải Đông. Tại Thanh Hải, chỉ có một bộ phận người Tạng ở Ngọc Thụ sử dụng phương ngữ Kham, còn lại dùng phương ngữ Amdo. Chữ Tạng vẫn thông dụng trong cộng đồng người Tạng tại Thanh Hải. Người Tạng hầu hết đều tin theo Phật giáo Tạng truyền. == Các đơn vị hành chính == Thanh Hải được chia thành 8 đơn vị hành chính cấp địa khu, gồm 1 thành phố (địa cấp thị), 1 địa khu và 6 châu tự trị: Chúng được chia tiếp thánh bốn khu, hai huyện cấp thị, ba mươi huyện, và bảy huyện tự trị. == Khoáng sản == Thanh Hải là một tỉnh có kinh tế dựa vào tài nguyên. Tính đến năm 2012, người ta đã phát hiện được 127 loại khoáng sản với 688 mỏ đơn khoáng và 91 mỏ đa khoáng. Trữ lượng khoáng sản tiềm năng của Thanh Hải có giá trị khoảng 17 nghìn tỉ NDT, chiếm 13,6% giá trị toàn Trung Quốc. Trong số các loại khoáng sản đã xác minh được trữ lượng, có 58 loại khoáng sản đứng trong 10 thứ hạng đầu của toàn Trung Quốc, các loại khoáng sản đứng ở vị trí đầu tiên là magiê, kali, liti, stronti, amiăng, mirabilit, đá vôi dùng làm canxi cacbua, serpentinit dùng làm phân bón, quartzit dùng trong luyện kim, quartzit dùng làm thủy tinh. Các hồ muối tại Thanh Hải chủ yếu tập trung tại Qaidam như ở Đại Sài Đán, khu vực Golmud cùng huyện Ô Lan và Lãnh Hồ. Bồn địa Qaidam có 27 hồ muối cỡ lớn và trung bình, hơn 60 điểm trầm tích, điểm khoáng, điểm khoáng hóa. Trong đó có 2 hồ có trữ lượng trên 10 tỉ tấn muối, 6 hồ có trữ lượng từ 1 tỉ đến 10 tỉ tấn muối và nhiều hồ nằm rải rác có trữ lượng hàng nghìn tấn muối. Các hồ muối và mỏ muối lớn gồm: hồ muối Sát Nhĩ Hãn (Qarhan), mỏ muối Đại Lãng Than, hồ muối Tiểu Sài Đán, mỏ muối Nhất Lý Bình, hồ muối Đông Thai Cát Nãi Nhĩ, hồ muối Tây Thai Cát Nãi Nhĩ. Ngoài ra thì trong các hồ muối và mỏ muối tại Thanh Hải, còn có nhiều loại khoáng sản khác như natri, kali, magiê, liti... Trữ lượng muối quặng của Thanh Hải là 331,7 tỉ tấn, chiếm 25,71% trữ lượng của cả nước, còn magiê có trữ lượng 5,9 tỉ tấn và chiếm tới 96,69% trữ lượng của Trung Quốc. == Kinh tế == Thanh Hải có nhiều diện tích núi đá, sông băng, núi tuyết, sa mạc, đầm lầy nước mặn không thích hợp cho phát triển nông nghiệp. Diện tích đất nông, lâm, mục, ngư nghiệp chiếm 52% tổng diện tích của Thanh Hải. Trong đó, diện tích đất canh tác là 542.000 ha và chiếm 0,76%, đất đồng cỏ có diện tích 40,34 triệu ha và chiếm 55,9%, đất rừng có diện tích 2,66 triệu ha và chiếm 3,7%. Trong diện tích đất canh tác của Thanh Hải, có trên 73% nằm ở khu vực nông nghiệp phía đông. Cũng trong diện tích đất canh tác, diện tích được tưới tiêu chiếm 32,6%. Trong số diện tích đồng cỏ của Thanh Hải, có thể tận dụng 331,61 triệu ha cho chăn nuôi. Năm 2009, số đầu gia súc của Thanh Hải là 19,78 triệu. Các loại gia súc chủ yếu của Thanh Hải là cừu Tây Tạng, cừu Mông Cổ, cừu Kazakh, dê, bò Tây Tạng, bò nhà, ngựa Đại Thông, ngựa Hà Khúc, ngựa Sài Đạt Mộc, ngựa Ngọc Thụ, lừa, lạc đà, và lợn. Các nông sản chủ yếu của Thanh Hải là lúa mì, lúa mạch cao nguyên, đại mạch, ngô, kiều mạch, yến mạch, cải dầu, đậu răng ngựa, đậu Hà Lan, đậu ván, đậu hương, khoai tây, vừng, hồng hoa, củ cải ngọt. Các loại quả chủ yếu của Thanh Hải bao gồm táo "tam hồng", lê, mơ tây, đào, táo tây dại, óc chó, dâu tây, dưa hấu, nho, sơn tra. Bốn trụ cột của ngành công nghiệp Thanh Hải là khai thác dầu khí, điện lực, công nghiệp kim loại màu và công nghiệp diêm hóa. Các ngành công nghiệp nặng trên địa bàn tỉnh gồm có sản xuất gang và thép nằm gần thủ phủ Tây Ninh. Ngành khai thác dầu khí tập trung tại bồn địa Qaidam. Ngành khai thác muối tồn tại trên nhiều hồ muối lớn nhỏ của tỉnh. Ngoài khu vực Tây Ninh, hầu hết Thanh Hải vẫn kém phát triển. == Du lịch == Trong năm 2011, tỉnh Thanh Hải đã đón tiếp hơn 14 triệu lượt du khách trong và ngoài nước, trong đó có 41.100 du khách ngoại quốc nhập cảnh. Cảnh quan du lịch thiên nhiên Thanh Hải mang đặc trưng của vùng cao nguyên Thanh-Tạng. Cùng với đó là các quần thể mộ cổ, chùa miếu cổ, hình khắc trên đá, thành cổ. Người Hán, Tạng, Hồi, Mông Cổ và Tát Lạp ở Thanh Hải có một lịch sử lâu dài và còn lưu giữ được truyền thống văn hóa độc đáo, phong phú. Thanh Hải là nơi bắt nguồn hai con sông quan trọng nhất của Trung Quốc là Trường Giang và Hoàng Hà, có hồ lớn nhất Trung Quốc là hồ Thanh Hải, có Côn Lôn Sơn, chùa Tháp Nhĩ. Ngoài ra, Thanh Hải còn có các tài nguyên du lịch đặc sắc khác như Đường Phồn cổ đạo (唐蕃古道), Nhật Nguyệt Sơn, khu rừng Mạnh Đạt, khu mộ Liễu Loan, chùa Cù Đàn, thành Nguyên Tử, di chỉ Mã Trường Viên. == Giao thông == Tỉnh Thanh Hải có liên kết đường sắt, đường bộ và đường hàng không trong và ngoài tỉnh. Tính đến năm 2012, tổng lý trình đường sắt kinh doanh của Thanh Hải là 1.651 km, với chuyến tàu nhanh thông đến các thành phố cỡ trung và cỡ lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thành Đô, Tây An, Lhasa và Golmud. Tuyến đường sắt Thanh-Tạng kéo dài từ Golmud của Thanh Hải đến thủ phủ Lhasa của khu tự trị Tây Tạng có tổng chiều dài 1118 km, đây là một tuyến đường sắt cao nguyên có cao độ lớn nhất và dài nhất thế giới. Tuyến đường sắt Lan-Thanh nối từ Lan Châu đến Tây Ninh là tuyến giao thông chính để đi và đến Thanh Hải, tuyến đường này hoàn thành từ năm 1959. Đường sắt Đôn-Cách (敦格铁路) nối từ Golmud đến Đôn Hoàng ở phía tây Cam Túc đã được bắt đầu xây dựng từ tháng 10 năm 2012. Tổng lý trình đã thông xe của hệ thống công lộ Thanh Hải là 60.100 km, trong đó có 217 km công lộ cao tốc. Thanh Hải có 5 tuyến quốc lộ, 23 tuyến tỉnh lộ, mạng lưới công lộ lấy Tây Ninh làm trung tâm. Năm 2012, toàn tỉnh Thanh Hải có 269.000 ô tô dân dụng. Các sân bay tại Thanh Hải có các chuyến bay đến Bắc Kinh, Tây An, Quảng Châu, Trùng Khánh, Thâm Quyến, Lhasa, Nam Kinh, Thẩm Dương, Hohhot, Thanh Đảo, Golmud, Thành Đô, Vũ Hán, Thượng Hải, Hàng Châu, Urumqi. Thanh Hải có sân bay Tào Gia Bảo Tây Ninh, sân bay Golmud, sân bay Ba Đường Ngọc Thụ cùng với các sân bay đang xây dựng như sân bay Đức Linh Cáp, sân bay Quả Lặc, sân bay Hoa Thổ Câu. == Các trường đại học == Đại học Thanh Hải (青海大学), thành lập năm 1958 Đại học Sư phạm Thanh Hải (青海师范大学), thành lập năm 1956 Đại học Dân tộc Thanh Hải (青海民族大学), thành lập năm 1949 == Tham khảo ==
soma, manisa.txt
Soma là một huyện thuộc tỉnh Manisa, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 839 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 97739 người, mật độ 116 người/km². == Chú thích == == Tham khảo == == Xem thêm == “Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011.
15 tháng 3.txt
Ngày 15 tháng 3 là ngày thứ 74 (75 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 291 ngày trong năm. == Sự kiện == 44 TCN – Nhà độc tài vĩnh viễn của Cộng hòa La Mã Julius Caesar bị hàng chục nguyên lão sát hại tại một buổi họp của Viện Nguyên lão. 1493 – Cristoforo Colombo trở lại Tây Ban Nha sau khi ông tìm ra châu Mỹ 1874 – Chính phủ Pháp và triều Nguyễn Việt Nam ký kết Hòa ước Giáp Tuất, công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp đối với Nam Kỳ. 1892 – Doanh nhân người Anh John Houlding thành lập câu lạc bộ bóng đá Liverpool, tách ra từ câu lạc bộ bóng đá Everton. 1906 – Rolls-Royce được thành lập 1917 – Sau Cách mạng Tháng Hai, Sa hoàng Nikolai II thoái vị, trở thành người cuối cùng nắm giữ các tước hiệu Sa hoàng Nga, Đại công tước Phần Lan và Quốc vương Ba Lan. 1943 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Donets kết thúc với kết quả là quân Đức tái chiếm thành phố Kharkov từ Liên Xô. 1972 – Bố già được phát hành, bộ phim này dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Mario Puzo, đạo diễn là Francis Ford Coppola. == Sinh == 938 - Romanos II, hoàng đế Byzantine 1275 - Margaret Plantagenet, công chúa người Anh (m. 1318) 1455 - Pietro Accolti, hồng y giáo chủ thiên chúa người Ý (m. 1532) 1493 - Anne de Montmorency, Pháp Constable (m. 1567) 1591 - Alexandre de Rhodes, thầy tu dòng Tên người truyền giáo người Pháp (m. 1660) 1666 - George Bähr, kiến trúc sư người Đức (m. 1738) 1684 - Francesco Durante, nhà soạn nhạc người Ý (m. 1755) 1713 - Nicolas Louis de Lacaille, nhà thiên văn người Pháp (m. 1762) 1767 - Andrew Jackson, tổng thống Mỹ thứ 7 (m. 1845) 1779 - Lord Melbourne, thủ tướng Anh (m. 1848) 1790 - Ludwig Immanuel Magnus, nhà toán học người Đức (m. 1861) 1791 - Charles Knight, nhà xuất bản người Anh (m. 1873) 1809 - Joseph Jenkins Roberts, tổng thống Liberia đầu tiên (m. 1876) 1809 - Karl Josef von Hefele, nhà thần học người Đức (m. 1893) 1821 - William Milligan, nhà thần học người Scotland (m. 1892) 1821 - Eduard Heine, nhà toán học người Đức (m. 1881) 1821 - Johann Josef Loschmidt, nhà khoa học người Áo (m. 1895) 1824 - Jules Chevalier, thầy tu người Pháp (m. 1907) 1830 - Paul Heyse, nhà văn, giải thưởng Nobel người Đức (m. 1914) 1830 - Élisée Reclus, Geographer người Pháp (m. 1905) 1831 - Daniel Comboni, người truyền giáo người Ý (m. 1881) 1835 - Eduard Strauss, nhà soạn nhạc người Áo (m. 1916) 1838 - Karl Davydov, nghệ sĩ vĩ cầm người Nga (m. 1889) 1851 - William Mitchell Ramsay, nhà khảo cổ người Scotland (m. 1939) 1864 - Johan Halvorsen, nhà soạn nhạc người Na Uy (m. 1935) 1866 - Matthew Charlton, chính khách người Úc (m. 1948) 1866 - Johan Vaaler, nhà phát minh người Na Uy (m. 1910) 1867 - Lionel Johnson, nhà thơ người Anh (m. 1902) 1868 - Grace Chisholm Young, nhà toán học người Anh (m. 1944) 1869 - Stanisław Wojciechowski, tổng thống Ba Lan (m. 1953) 1882 - Jim Lightbody, người chạy đua người Mỹ (m. 1953) 1887 - Marjorie Merriweather Post, người giao thiệp rộng, nữ doanh nhân người Mỹ (m. 1973) 1890 - Boris Nikolaevich Delaunay, nhà toán học người Nga (m. 1980) 1897 - Jackson Scholz, người chạy đua người Mỹ (m. 1986) 1899 - George Brent, diễn viên người Mỹ (m. 1979) 1907 - Zarah Leander, nữ diễn viên, ca sĩ người Thụy Điển (m. 1981) 1912 - Lightnin' Hopkins, nhạc sĩ người Mỹ (m. 1982) 1913 - MacDonald Carey, diễn viên người Mỹ (m. 1994) 1913 - Jack Fairman, người đua xe người Anh (m. 2002) 1914 - Aniello Dellacroce, găngxtơ người Mỹ (m. 1985) 1915 - Joe E. Ross, diễn viên, diễn viên hài người Mỹ (m. 1982) 1916 - Fadil Hoxha, chính khách người Nam Tư (m. 2001) 1918 - Richard Ellmann, Biographer người Mỹ (m. 1987) 1919 - Lawrence Tierney, diễn viên người Mỹ (m. 2002) 1920 - Nguyễn Thị Định, nữ tướng Việt Nam (m. 1992) 1920 - Lawrence Sanders, tiểu thuyết gia người Mỹ (m. 1998) 1924 - Walter Gotell, diễn viên người Đức (m. 1997) 1925 - Bert Bolin, Meteorologist người Thụy Điển 1926 - Norm Van Brocklin, cầu thủ bóng đá người Mỹ (m. 1983) 1926 - Ben Johnston, nhà soạn nhạc người Mỹ 1927 - Stanisław Kania, chính khách người Ba Lan 1927 - Carl Smith, ca sĩ người Mỹ 1927 - Christian Marquand, diễn viên, người đạo diễn người Pháp (m. 2000) 1929 - Cecil Taylor, nhạc Jazz nghệ sĩ dương cầm người Mỹ 1930 - Zhores Ivanovich Alferov, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Nga 1932 - Alan Bean, nhà du hành vũ trụ người Mỹ 1933 - Philippe de Broca, đạo diễn phim người Pháp (m. 2004) 1934 - Aldo Giorgini, nghệ sĩ người Ý 1935 - Judd Hirsch, diễn viên người Mỹ 1935 - Jimmy Swaggart, televangelist người Mỹ 1936 - Paul Zindel, tác gia, nhà soạn kịch, nhà sư phạm người Mỹ (m. 2003) 1936 - Howard Greenfield, người sáng tác bài hát người Mỹ (m. 1986) 1936 - David Andrews, chính khách người Ireland 1939 - Jack Whyte, tác gia người Scotland 1940 - Frank Dobson, chính khách người Anh 1943 - David Cronenberg, đạo diễn phim người Canada 1944 - Sly Stone, nhạc sĩ người Mỹ 1944 - Jacques Doillon, đạo diễn phim người Pháp 1944 - Chi Cheng, vận động viên, chính khách người Đài Loan 1946 - Bobby Bonds, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 2003) 1947 - Ry Cooder, nghệ sĩ đàn ghita người Mỹ 1947 - Juraj Kukura, diễn viên người Slovakia 1948 - Sérgio Vieira de Mello, nhà ngoại giao người Brasil (m. 2003) 1948 - Kate-bornstein, tác gia người Mỹ 1950 - Jørgen Olsen, ca sĩ người Đan Mạch 1953 - Richard Bruton, chính khách người Ireland 1954 - Craig Wasson, diễn viên người Mỹ 1956 - Clay Matthews, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1957 - Park Overall, nữ diễn viên người Mỹ 1957 - David Silverman, họa sĩ phim hoạt hình người Mỹ 1957 - Víctor Muñoz, ông bầu bóng đá người Tây Ban Nha 1959 - Harold Baines, vận động viên bóng chày người Mỹ 1959 - Renny Harlin, đạo diễn phim người Phần Lan 1959 - Lisa Holton, nhà văn người Mỹ 1959 - Fabio Lanzoni, người mẫu, người Ý 1960 - Chris Sanders, họa sĩ phim hoạt hình, người đạo diễn người Mỹ 1961 - Terry Cummings, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1961 - Craig Ludwig, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Mỹ 1962 - Sananda Maitreya (formerly Terence Trent D'Arby), ca sĩ người Mỹ 1962 - Jimmy Baio, diễn viên người Mỹ 1964 - Davide Pinato, cầu thủ bóng đá người Ý 1967 - Naoko Takeuchi, nghệ sĩ người Nhật Bản 1968 - Kahimi Karie, ca sĩ người Nhật Bản 1968 - Sabrina Salerno, ca sĩ người Ý 1969 - Rona Ambrose, chính khách người Canada 1969 - Timo Kotipelto, nhạc sĩ người Phần Lan 1969 - Kim Raver, nữ diễn viên người Mỹ 1969 - Gianluca Festa, cầu thủ bóng đá người Ý 1969 - Yutaka Take, vận động viên đua ngựa người Nhật Bản 1970 - Derek Parra, vận động viên trượt băng tốc độ người Mỹ. 1970 - Hồng Nhung, danh ca nhạc nhẹ của Việt Nam. 1971 - Penny Lancaster, người mẫu, người Anh 1975 - Eva Longoria, nữ diễn viên người Mỹ 1975 - Will.i.am, nhạc sĩ người Mỹ 1975 - Veselin Topalov, đấu thủ cờ vua người Bulgaria 1975 - Eva Longoria, diễn viên người Mỹ 1975 - Darcy Tucker, vận động viên khúc côn cầu người Canada 1976 - Jennifer 8. Lee, nhà báo người Mỹ 1976 - Cara Pifko, nữ diễn viên người Canada 1976 - Jose Sanchez Zolliker, nhà văn người México 1977 - Joe Hahn, nhạc sĩ người Mỹ 1977 - Brian Tee, diễn viên người Mỹ 1979 - Kevin Youkilis, vận động viên bóng chày người Mỹ 1980 - Freddie Bynum, vận động viên bóng chày người Mỹ 1981 - Mikael Forssell, cầu thủ bóng đá người Phần Lan 1981 - Young Buck, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ 1982 - Emily Tyndall, nữ diễn viên người Mỹ 1982 - Rafael Pérez, vận động viên bóng chày người Dominica 1983 - Sean Biggerstaff, diễn viên người Scotland 1983 - Daryl Murphy, cầu thủ bóng đá người Ireland 1984 - Kostas Vassiliadis, cầu thủ bóng rổ người Hy Lạp 1985 - James MacLurcan, diễn viên người Úc 1985 - F.V.A. Morriello, tác gia người Canada 1985 - Eva Amurri, nữ diễn viên người Mỹ 1985 - Tom Chilton, người đua xe người Anh 1988 - Ever Guzman, cầu thủ bóng đá người México 1989 - Caitlin Wachs, nữ diễn viên người Mỹ == Mất == 44 TCN – Julius Caesar, tướng La Mã (s. 100 TCN) 1575 - Annibale Padovano, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1527) 1673 - Salvator Rosa, họa sĩ, nhà thơ người Ý (s. 1615) 1701 - Jean Renaud de Segrais, nhà văn người Pháp (s. 1624) 1842 - Luigi Cherubini, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1760) 1849 - Giuseppe Caspar Mezzofanti, giáo chủ hồng y, nhà ngôn ngữ học người Ý (s. 1774) 1879 – Gottfried Semper, kiến trúc sư Đức (s. 1803) 1891 - Théodore de Banville, nhà văn người Pháp (s. 1823) 1891 - Joseph Bazalgette, kĩ sư dân sự người Anh (s. 1819) 1898 – Henry Bessemer, kỹ sư Anh (s. 1813) 1937 - H. P. Lovecraft, nhà văn người Mỹ (s. 1890) 1941 - Alexej von Jawlensky, họa sĩ người Nga (s. 1864) 1951 - John S. Paraskevopoulos, nhà thiên văn người Hy Lạp (s. 1889) 1959 - Lester Young, nhạc sĩ người Mỹ (s. 1909) 1962 - Arthur Compton, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Mỹ (s. 1892) 1966 - Abe Saperstein, bóng rổ người điều hành người Mỹ (s. 1902) 1970 - Tarjei Vesaas, nhà văn người Na Uy (s. 1897) 1972 - Aleksandr Ivanovich Laktionov, họa sĩ người Nga (s. 1910) 1975 – Aristotle Onassis, tỷ phú Hy Lạp, ngành vận tải biển (s. 1906) 1977 - Antonino Rocca, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Argentina 1981 - René Clair, đạo diễn phim người Pháp (s. 1898) 1983 - Rebecca West, nhà văn người Anh (s. 1892) 1985 - Radha Krishna Choudhary, sử gia, nhà văn Ấn Độ (s. 1921) 1989 - Muhammad Jameel Didi, nhà thơ người Maldives (s. 1915) 1990 - Tom Harmon, cầu thủ bóng đá, phát thanh viên truyền thanh người Mỹ (s. 1919) 1991 - Bud Freeman, nhạc Jazz nhạc sĩ người Mỹ (s. 1906) 1997 - Gail Davis, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1925) 1997 - Victor Vasarely, họa sĩ người Hungary (s. 1906) 1998 - Benjamin Spock, Pediatrician, nhà văn người Mỹ (s. 1903) 2001 - Ann Sothern, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1909) 2003 - Dame Thora Hird, nữ diễn viên người Anh (s. 1911) 2004 - John Pople, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Anh (s. 1925) 2005 - Bob Bellear, quan tòa người Úc (s. 1944) 2006 - George Rallis, thủ tướng Hy Lạp (s. 1918) 2012 - Hoài An, nhạc sĩ, sinh 1929 2016 - Thanh Tùng, nhạc sĩ Việt Nam, sinh 15 tháng 9 năm 1948. == Ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Quyền Người tiêu dùng Thế giới (World Consumer Rights Day) Ngày thành lập ngành điện ảnh Việt Nam. == Tham khảo ==
kiến trúc và giao thức hspa.txt
HSPA (High Speed Packet Access) truy cập gói tốc độ cao là công nghệ được triển khai trên nền WCDMA. HSPA bao gồm: HSDPA (High Speed Downlink Packet Access) truy cập gói đường xuống tốc độ cao. HSUPA (High Speed Uplink Packet Access) truy cập gói đường lên tốc độ cao. Ở Việt Nam, sau khi 3G được phép triển khai thì công nghệ HSPA cũng được nhanh chóng phát triển. Một sản phẩm điển hình sử dụng HSPA là các USB MODEM giao tiếp với máy tính qua cổng usb, có khả năng kết nối internet qua sóng điện thoại, hỗ trợ download và upload dữ liệu với tốc độ cao. Nội dung chính của phần này là những tác động của HSDPA và HSUPA tới mạng vô tuyến và kiến trúc giao thức cũng như những chức năng phần tử mạng và các giao tiếp. === 1.Kiến trúc quản lý tài nguyên vô tuyến === Chức năng quản lý tài nguyên vô tuyến (RRM: Radio Resource Management) với HSDPA và HSUPA đã có nhiều sự thay đổi so với phiên bản R99. Trong phiên bản R99, điều khiển lập lịch biểu hoàn toàn dựa trên bộ điều khiển mạng vô tuyến (RNC: Radio Network Controller) khi trong trạm gốc (BTS hoặc trong thuật ngữ 3GPP là Node B) phần lớn đã có một chức năng liên quan đến điều khiển công suất. SNRC (Serving RNC) là bộ phận được kết nối tới mạng lõi sẽ điều khiển lập lịch biểu cho kênh riêng (DCH: Dedicated Channel) và bộ phận đang được kết nối tới trạm BTS sẽ điều khiển kênh chung (FACH: Forward Access Channel). Vì chức năng lập lịch biểu được chuyển tới BTS nên có một sự thay đổi trong toàn bộ kiến trúc RRM. SNRC vẫn sẽ điều khiển vùng chuyển giao và sẽ là nơi quyết định thông số chất lượng dịch vụ (QoS: Quality of Service) phù hợp. Đối với HSDPA các trạng thái được đơn giản hóa vì không có chuyển giao mềm cho dữ liệu HSDPA, không cần chạy dữ liệu người dùng trên nhiều giao tiếp Iur và Iub. === 2.Kiến trúc giao thức người dùng HSDPA và HSUPA === Kiến trúc có thể được xác định bao gồm phần người dùng, xử lý dữ liệu người dùng và phần điều khiển. Lớp điều khiển tài nguyên vô tuyến (RRC: Radio Resource Control) trong phần điều khiển xử lý tất cả báo hiệu liên quan đến cấu hình các kênh, quản lý tính di động...mà người dùng không thấy được. Giao thức hội tụ dữ liệu gói (PDCP: Packet Data Convergence Protocol) có chức năng chính là nén tiêu đề (header) và không liên quan đến dịch vụ chuyển mạch kênh. Nén tiêu đề (header) là cần thiết vì tiêu đề (header) không nén trong giao thức IP có kích thước lớn gấp 2 tới 3 lần so với kích thước tiêu đề (header) đã nén. Điều khiển kết nối vô tuyến (RLC: Radio Link Control) điều khiển phân mảnh và truyền lại cho cả dữ liệu người dùng và dữ liệu điều khiển. RLC có thể hoạt động ở 3 chế độ khác nhau là: Chế độ trong suốt: không có overhead được thêm vào. Chế độ này không thích hợp khi kênh truyền tải của HSDPA và HSUPA được sử dụng. Chế độ không có báo nhận: không truyền lại lớp RLC. Chế độ này được dùng với những ứng dụng cho phép sự mất gói như VoIP nhưng không cho phép trễ. Chế độ báo nhận: có truyền lại lớp RLC. Chế độ này phù hợp với những ứng dụng yêu cầu tất cả gói tin truyền đi mà không có sự thất thoát. Lớp điều khiển truy nhập môi trường (MAC: Medium Access Control) trong phiên bản R99 tập trung vào phân bố kênh luận lý và điều khiển ưu tiên cũng như sự lựa chọn tốc độ dữ liệu, sự lựa chọn định dạng truyền tải. Chuyển mạch kênh truyền tải cũng là một chức năng lớp MAC. Cả HSDPA và HSUPA đều đưa ra những yếu tố mới trong kiến trúc. Hình 2.3 minh họa cho toàn bộ kiến trúc giao tiếp vô tuyến cho dữ liệu người dùng HSDPA và HSUPA, phần tô đậm là những phần tử giao thức mới có liên quan đến dữ liệu người dùng. Phần điều khiển báo hiệu (không có trong hình 2.3) có thể kết nối dễ dàng tới RLC và mang báo hiệu đi cả trên DCH và trên HSDPA/HSUPA. Đối với dữ liệu người dùng, PDCD điều khiển nén tiêu đề (header) IP. Phần tử PDCD và RLC trong hình vẽ chỉ ra khả năng những dịch vụ có thể chạy song song. Chức năng lập lịch biểu BTS là một chức năng lớp MAC và có một phần tử giao thức mới là MAC-hs (high speed) trong BTS. Hình 2.4 minh họa một phần của kiến trúc giao thức phần người dùng dựa theo những tính năng bổ sung của HSDPA và vị trí của chúng trong phần tử mạng. RNC điều khiển MAC-d (delicate) nhưng chức năng duy nhất còn lại là chuyển mạch kênh truyền tải vì tất cả những chức năng khác như lập lịch biểu và xử lý ưu tiên đã được chuyển tới MAC-hs. Cần chú ý rằng lớp trên lớp MAC (cụ thể là lớp RLC) phần lớn vẫn không thay đổi ngoại trừ một vài sự tối ưu hóa cho các dịch vụ thời gian thực như VoIP. Ngay cả nếu HSDPA đã có truyền lại lớp vật lý thì lớp RLC vẫn có thể điều khiển truyền lại khi hoạt động của lớp vật lý có sự cố hay trường hợp đặc biệt là kết nối có những sự biến đổi như cell HS-DSCH thay đổi. Đây là chế độ hoạt động có báo nhận của RLC. Đối với HSUPA, có một phần tử lớp MAC mới được thêm vào BTS như trong hình 2.5. Đầu cuối cũng có phần tử lớp MAC mới là MAC-es/s để thay thế phần chức năng lập lịch biểu đã chuyển tới node B và nó dựa trên sự điều khiển thông tin từ RNC và một yêu cầu dung lượng trực tiếp từ thiết bị người dùng tới node B. Cũng có một giao thức mới cho RNC do chuyển giao mềm HSUPA và việc truyền lại lớp vật lý có ảnh hưởng đến việc làm các gói sai thứ tự. Khi dữ liệu nhận được từ một vài vị trí BTS, có một khả năng là thiết bị hoạt động trong khu vực chuyển giao mềm nên các gói đến từ những BTS khác nhau và có thứ tự không chính xác. Để sắp xếp lại thì chức năng sắp xếp lại cần được kết hợp với phân tập macro trong MAC-es. Vì thế, chức năng mới là hàng đợi truyền đi MAC-es có chức năng chính là đảm bảo cho các lớp trên gói tin được phân phối đúng thứ tự truyền từ đầu cuối. Chức năng sắp xếp được xử lý trong BTS nên sẽ có trễ vì BTS phải chờ những gói bị thiếu cho tới khi chúng được xác định là đã nhận được từ một BTS khác trong nhóm BTS đang hoạt động. Tương tự đối với HSDPA, lớp RLC trong HSUPA cũng có chức năng truyền lại các gói nếu lớp vật lý không thể truyền các gói đó đi sau khi vượt quá số lần truyền lại tối đa hoặc trong kết nối có những biến cố. === 3.Tác động của HSDPA và HSUPA đến các giao tiếp mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS (UTRAN: UMTS Terrestrial Radio Access Network) === Trong khi những tác động của HSDPA và HSUPA dưới dạng tốc độ dữ liệu trong giao tiếp không gian được quan tâm và thường là trọng tâm của các buổi thảo luận thì tác động của HSDPA và HSUPA lên sự hoạt động của những giao diện khác cũng cần được chú ý. Trong phiên bản R99, tốc độ dữ liệu ở đầu cuối trên những giao tiếp khác nhau hầu hết là 384kbps bao gồm cả giao tiếp Iu-ps tới mạng lõi gói node hỗ trợ dịch vụ GPRS (SGSN: Serving GPRS Support Node), tốc độ này bằng với tốc độ sử dụng trong vô tuyến. Tuy nhiên đối với HSDPA thì khác, trong giao tiếp không gian tốc độ dữ liệu có thể lên tới 14.4Mbps trong khoảng thời gian truyền (TTI: Transmission Time Interval) ngắn (2ms). Tuy nhiên điều này không có nghĩa là tốc độ đó đang được sử dụng trên giao tiếp Iub và Iu-ps cho người dùng. Từ góc nhìn của người dùng, tài nguyên vô tuyến là thời gian và mã được chia sẻ với những người dùng khác trong một cell nên tốc độ dữ liệu trung bình cho một người dùng trong một cell rõ ràng là thấp hơn. Hơn nữa tốc độ đỉnh 10Mbps yêu cầu những điều kiện sóng vô tuyến cực kỳ thuận lợi và không thể xảy ra trường hợp tất cả người dùng trong một cell đều có nhu cầu sử dụng tốc độ dữ liệu cao. Vì thế lưu lượng trung bình trên giao tiếp Iub cũng thấp hơn tốc độ đỉnh cho sóng vô tuyến. Bộ đệm trong BTS cho phép có một tốc độ đỉnh cho sóng vô tuyến cao hơn trong một TTI nhỏ so với tốc độ trung bình trên Iub/Iu-ps. Vì có bộ đệm truyền trong BTS nên điều khiển luồng cần được tích hợp để tránh tràn bộ đệm. Trong phương pháp này người dùng dưới điều kiện sóng tốt hơn có thể có tốc độ dữ liệu cao hơn so với người dùng có điều kiện sóng vô tuyến xấu hơn. Người dùng có điều kiện sóng vô tuyến tốt hơn sẽ có nhiều sự phân phối Iub vì dữ liệu được truyền nhanh hơn nhìn dưới góc độ sóng vô tuyến. Mặt khác, khi bộ đệm bắt đầu đầy do điều kiện sóng vô tuyến không tốt (kết quả là tốc độ dữ liệu thấp) điều khiển luồng sẽ làm chậm luồng dữ liệu lại cho phù hợp với những người dùng này. Đối với BTS và đầu cuối, nhân tố thay đổi trong HSDPA có liên quan đến sự bổ sung của chức năng lập lịch biểu và truyền lại tại BTS cũng như chức năng kết hợp gói cần thiết tại đầu cuối. Trong HSUPA, lập lịch biểu được điều khiển bởi BTS và có những yêu cầu cho luồng dữ liệu trong hướng lên cũng như những kênh báo hiệu mới cho HSUPA. Hiện nay chức năng kết hợp được đặt ở trạm gốc và chức năng sắp xếp lại được thêm vào RNC. Đầu cuối hiện nay sẽ có thể cho phép truyền dẫn đa mã nhưng chưa hoàn thiện trong môi trường thương mại. === 4.Những trạng thái giao thức HSDPA và HSUPA === Cell_DCH là trạng thái được sử dụng khi bắt đầu truyền dữ liệu từ (hoặc đến) đầu cuối trên DCH hay HSDPA/HSUPA. Từ trạng thái Cell_DCH đầu cuối sẽ được chuyển qua trạng thái Cell_FACH hay những trạng thái cao hơn bằng hai cách, hoặc là chuyển trực tiếp từ trạng thái Cell_DCH lên trạng thái cao hơn, hoặc là thông qua Cell_FACH nếu không có dữ liệu trong bộ đệm. Cần có một sự đồng bộ giữa thời gian đáp ứng của mạng cho việc gói đầu tiên được truyền sau một thời gian rỗi và bộ đếm bắt đầu hoạt động. Thời gian chuyển tiếp giữa các trạng thái phụ thuộc vào yêu cầu của việc cấu hình lại hay những quá trình cài đặt. Lưu giữ lại tài nguyên HSDPA/HSUPA dự trữ của người dùng khi không có dữ liệu truyền là không hiệu quả đối với dung lượng hệ thống hay tài nguyên BTS. Tuổi thọ pin của thiết bị đầu cuối cũng giảm do một đầu cuối hoạt động mà không có dữ liệu truyền qua cũng sẽ làm pin hết nhanh chóng. Dữ liệu có thể được truyền trong trạng thái Cell_FACH nhưng chỉ cho kênh truy nhập chuyển tiếp (FACH) cho đường xuống và kênh truy nhập ngẫu nhiên (RACH: Random Access Channel) cho đường lên. Một đầu cuối trong trạng thái Cell_FACH sẽ giải mã kênh FACH và bắt đầu đáp ứng dữ liệu hướng xuống (hoặc bắt đầu truyền dữ liệu trong bộ đệm hướng lên) trên RACH. Phụ thuộc vào lượng dữ liệu đầu cuối có thể được chuyển trở lại trạng thái Cell_DCH. Nếu thời gian rỗi kéo dài sẽ tác động đến việc chuyển trạng thái đầu cuối sang Cell_PCH hay URA_PCH. Những trạng thái này là nhân tố tác động lớn nhất tới mức tiêu thụ năng lượng đầu cuối. Hiển nhiên, việc sử dụng chu kỳ nhận gián đoạn (DRX: Discontinuous Reception) với hoạt động đánh số sẽ gây trễ vì để nối tiếp việc truyền dữ liệu thì đầu cuối cần được đánh số trước. Điều này xảy ra trong một cell (trạng thái Cell_PCH) và cả trong khu vực ưu tiên (trạng thái URA_PCH). Thuê bao di chuyển nhanh trong một mạng dày đặc sẽ cần nhiều sự cập nhật cell nên làm tăng tải trên RACH. == Tham khảo == HSDPA/HSUPA for UMTS:High Speed Radio Access for Mobile Communications Edited by Harri Holma and Antti Toskala © 2006 John Wiley & Sons, Ltd. ISBN 0-470-01884-4. == Tham khảo ==
thỏ bunyoro.txt
Poelagus marjorita là một loài động vật có vú trong họ Leporidae, bộ Thỏ. Loài này được St. Leger mô tả năm 1929. == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Poelagus marjorita tại Wikimedia Commons
2 tháng 2.txt
Ngày 2 tháng 2 là ngày thứ 33 trong lịch Gregory. Còn 332 ngày trong năm (333 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 932 – Quốc vương nước Mân Vương Diên Quân mệnh con là Vương Kế Bằng nắm quyền cai quản quân phủ sự, còn bản thân trở thành một đạo sĩ, tức ngày Bính Tý (23) tháng 12 năm Tân Mão. 962 – Giáo hoàng Gioan XII tôn Otto I làm Hoàng đế La Mã Thần thánh đầu tiên sau gần 40 năm. 1421 – Minh Thành Tổ Chu Lệ tổ chức nghi lễ lập Thái Miếu, thụ triều hạ tại Bắc Kinh, Bắc Kinh chính thức trở thành thủ đô của triều Minh, tức ngày Giáp Tý (1) tháng 1 năm Tân Sửu. 1536 – Đoàn thám hiểm Tây Ban Nha dưới sự lãnh đạo của Pedro de Mendoza thành lập nên khu định cư Ciudad de Nuestra Señora Santa María del Buen Ayre, được xem là sự kiện hình thành nên thủ đô Buenos Aires của Argentina. 1611 – Nữ bá tước người Hungary Báthory Erzsébet bị xét xử vì tội sát hại 610 thiếu nữ nhằm lấy máu để uống và tắm để gìn giữ nét thanh xuân. 1848 – Chiến tranh Hoa Kỳ-México chính thức kết thúc với việc ký kết Hiệp ước Guadalupe Hidalgo, theo đó biên giới Texas kéo dài đến Rio Grande, Hoa Kỳ giành được quyền sở hữu một lãnh thổ rộng lớn nay thuộc các bang California, New Mexico, Arizona, Nevada, Utah, và một phần Wyoming cùng Colorado. 1864 – Chiến tranh Schleswig lần thứ hai: Quân đội Đan Mạch giành chiến thắng trong Trận Mysunde trước quân đội Phổ. 1868 – Các lực lượng ủng hộ Thiên hoàng chiếm Thành Osaka từ Mạc phủ Tokugawa và phóng hỏa đốt thành. 1889 – Nguyễn Phúc Bửu Lân trở thành hoàng đế thứ 10 của triều Nguyễn, đặt niên hiệu là Thành Thái. 1895 – Chiến tranh Thanh-Nhật: Quân đội Nhật Bản tiến vào Uy Hải vệ tại đông bộ Sơn Đông. 1899 – Hội nghị các thủ hiến Úc tổ chức tại Melbourne quyết định đặt thủ đô của quốc gia tại Canberra, địa điểm nằm giữa Sydney và Melbourne. 1900 – Samuel Langhorne Clemens lần đầu tiên chọn dùng bút hiệu Mark Twain, nguồn gốc từ những kỷ niệm lái tàu trên dòng sông Mississippi từ thuở nhỏ. 1922 – Tiểu thuyết Ulysses của nhà văn người Ireland James Joyce được phát hành. 1935 – Nhà phát minh người Mỹ Leonarde Keeler thử nghiệm máy phát hiện nói dối đầu tiên. 1943 – Trong thế chiến thứ hai, toán quân còn sót lại của lực lượng Đức Quốc xã từ trận chiến Stalingrad đầu hàng Xô Viết. Stalingrad được đổi tên thành Volgograd. 1971 – Idi Amin Dada thay thế Milton Obote trong vai trò nguyên thủ quốc gia của Uganda. 1971 – Công ước Ramsar được trình bày và thông qua bởi một số quốc gia tại một hội nghị ở Iran. 1974 – Máy bay chiến đấu F-16 Fighting Falcon của Hoa Kỳ có chuyến bay chính thức đầu tiên tại Trung tâm thử nghiệm bay Không quân tại California. 2004 – Vận động viên quần vợt người Thụy Sĩ Roger Federer trở thành tay vợt đơn nam hạng nhất, ông đứng ở hạng này trong thời gian kỷ lục là 237 tuần. == Sinh == 1649 – Biển Đức XIII, giáo hoàng thứ 245 của giáo hội Công giáo (m. 1730) 1717 – Gideon Ernst von Laudon, thống chế quân đội Áo (m. 1790) 1741 – Pigneau de Behaine, giáo sĩ người Pháp (m. 1799) 1754 – Charles-Maurice de Talleyrand-Périgord, Thủ tướng Pháp (m. 1838) 1775 – Cố Luân Hoà Hiếu, công chúa của nhà Thanh, tức 3 tháng 1 năm Ất Mùi (m. 1823) 1803 – Albert Sidney Johnston, tướng lĩnh người Mỹ (m. 1862) 1812 – Yevhen Hrebinka, nhà thơ người Nga, tức 21 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1848) 1813 – Alexander August Wilhelm von Pape, tướng lĩnh Phổ (m. 1895) 1817 – Eduard Kuno von der Goltz, tướng lĩnh Phổ (m. 1897) 1841 – Eduard Linnemann, nhà hóa học người Đức (m. 1886) 1875 – Fritz Kreisler, nghệ sĩ violon và nhà soạn nhạc người Áo-Pháp-Mỹ (m. 1962) 1882 – James Joyce, tác gia người Ireland (m. 1941) 1885 – Mikhail Vasilyevich Frunze, nhà hoạt động chính trị tại Đế quốc Nga và Liên Xô, tức 21 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1925) 1889 – Jean de Lattre de Tassigny, thống chế người Pháp (m. 1952) 1893 – Damdin Sükhbaatar, thủ lĩnh quân sự người Mông Cổ (m. 1923) 1901 – Jascha Heifetz, nghệ sĩ violon người Litva (m. 1987) 1905 – Ayn Rand, tác gia và triết gia người Nga-Mỹ (m. 1982) 1908 – Nguyễn Đức Cảnh, nhà hoạt động người Việt Nam (m. 1932) 1909 – Micae Nguyễn Khắc Ngữ, giám mục người Việt Nam (m. 2009) 1910 – Cơ Bằng Phi, chính trị gia người Trung Quốc (m. 2000) 1914 – Huỳnh Văn Nghệ, chính trị gia, sĩ quan người Việt Nam (m. 1977) 1915 – Saukam Khoy, Tổng thống Campuchia (m. 2008) 1916 – Xuân Diệu, nhà thơ người Việt Nam (m. 1985) 1917 – Đỗ Mười, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam 1926 – Valéry Giscard d'Estaing, Tổng thống Pháp 1929 – Đặng Hồi Xuân, chính trị gia người Việt Nam (m. 1988) 1929 – Giang Nam, nhà thơ người Việt Nam 1931 – Dries van Agt, Thủ tướng Hà Lan 1933 – Nguyễn Hà Phan, nhà chính trị người Việt Nam 1933 – Than Shwe, quốc trưởng Myanma 1941 – Lê Uyên Phương, nhạc sĩ người Việt Nam (m. 1999) 1941 – Lee Redmond, kỷ lục gia người Mỹ 1944 – Norodom Ranariddh, thành viên vương thất, chính trị gia người Campuchia 1946 – Isaias Afewerki, Tổng thống Eritrea 1946 – Jang Sung-taek, chính trị gia ngươì Triều Tiên (m. 2013) 1949 – Phùng Quang Thanh, tướng lĩnh, chính trị gia người Việt Nam 1952 – Park Geun-hye, Tổng thống Hàn Quốc 1956 – Lê Quý Vương, tướng lĩnh công an người Việt Nam 1963 – Eva Cassidy, ca sĩ và nhạc sĩ người Mỹ (m. 1996) 1967 – Lê Công Tuấn Anh, diễn viên người Việt Nam (m. 1996) 1977 – Shakira, ca sĩ, nhạc sĩ, nhạc công người Colombia 1982 – Han Ga In, diễn viên, người mẫu người Hàn Quốc 1982 – Trần Thu Trang, nhà văn người Việt Nam 1987 – Gerard Piqué, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha 1987 – Victoria Song, ca sĩ người Trung Quốc 1989 – Guillermo Rivera-Aránguiz, vận động viên quần vợt người Chile 1989 – Ivan Perišić, cầu thủ bóng đá người Croatia == Mất == 1594 – Giovanni Pierluigi da Palestrina, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1525) 1769 – Clêmentê XIII, giáo hoàng thứ 248 của giáo hội Công giáo (s. 1693) 1886 – David Hunter, tướng lĩnh người Mỹ (s. 1802) 1907 – Dmitri Mendeleev, nhà hóa học Nga (s. 1834) 1970 – Bertrand Russell, triết gia, nhà toán học người Anh Quốc (s. 1872) 1980 – William Howard Stein, nhà hóa sinh học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1911) 1983 – Hằng Phương, nhà thơ người Việt Nam (s. 1908) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
chữ cái.txt
Một chữ cái là một đơn vị của hệ thống viết theo bảng chữ cái, như bảng chữ cái Hy Lạp và các bảng chữ cái phát sinh từ nó. Mỗi chữ cái trong ngôn ngữ viết thường đại diện cho một âm vị (âm thanh) trong ngôn ngữ nói. Những ký hiệu viết trong các hệ thống viết khác đại diện cho cả âm tiết hoặc như trong chữ tượng hình, đại diện cho một từ. == Một số chữ cái == Bảng chữ cái tiếng Việt (23 chữ cái): A, B, C, D, Đ, E, G, H, I, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X, Y. Nếu kể cả dấu âm thì ta có thêm 06 nguyên âm biến thể là: Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư thành 29 và thêm 11 phụ âm ghép: CH,GI,GH,KH,NH,NG,NGH,PH,QU,TH,TR thành ra 40. Bảng chữ cái Syria: (đọc từ phải sang trái) ܐ, ܒ, ܓ, ܕ, ܗ, ܘ, ܙ, ܚ, ܛ, ܝ, ܟܟ, ܠ, ܡܡ, ܢܢ, ܣ, ܥ, ܦ, ܨ, ܩ, ܪ, ܫ, ܬ. Bảng chữ cái Cyril: А, Б, В, Г, Ґ, Д, Е, Є, Ж, З, И, І, Ї, Й, К, Л, М, Н, О, П, Р, С, Т, У, Ф, Х, Ц, Ч, Ш, Щ, Ю, Я, Ъ, Ь, Ђ, Љ, Њ, Ћ, Џ, Ы. Bảng chữ cái Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν, Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω. Bảng chữ cái Hebrew: (đọc từ phải sang trái) א, ב, ג, ד, ה, ו, ז, ח, ט, י, כ, ל, מ, נ, ס, ע, פ, צ, ק, ר, ש, ת. Bảng chữ cái Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z. == Đọc thêm == Daniels, Peter T., and William Bright, eds. 1996. The World's Writing Systems. ISBN 0-19-507993-0. Powell, Barry B. 1991. Homer and the Origin of the Greek Alphabet. ISBN 978-0-521-58907-9 | ISBN 0-521-58907-X. Robinson A. 2003, "The Origins of writing" in David Crowely and Paul Heyer 'Communication in History: Technology, Culture, Society' (fourth edition) Allyn and Bacon Boston pp 34–40 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bảng chữ cái tiếng Anh Unicode Code Charts LetterCount.com Count the number of letters in a document
nhà hậu lê.txt
Nhà Hậu Lê (Hán-Nôm: 家後黎・後黎朝, nhà Hậu Lê • Hậu Lê triều; 1427-1789) là một triều đại phong kiến Việt Nam, tồn tại sau thời Bắc thuộc lần 4 và đồng thời với nhà Mạc, nhà Tây Sơn trong một thời gian, trước nhà Nguyễn. Nhà Hậu Lê do Lê Thái Tổ lập ra, được phân biệt với nhà Tiền Lê (980-1009) do Lê Đại Hành lập ra cuối thế kỷ 10. Nhà Hậu Lê gồm có 2 giai đoạn: Nhà Lê sơ (黎初; 1428-1527): kéo dài 100 năm, bắt đầu từ khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi gạt bỏ vua bù nhìn Trần Cảo, tự làm vua, lập ra triều đại mới và kết thúc khi quyền thần Mạc Đăng Dung phế bỏ vua Lê Cung Hoàng lập ra nhà Mạc. Nhà Lê trung hưng(黎中興; 1533-1789): kéo dài 256 năm, bắt đầu từ khi Thượng tướng quân Nguyễn Kim lập tông thất Lê Duy Ninh lên ngôi, tức Lê Trang Tông tại Ai Lao để khôi phục nhà Hậu Lê; kết thúc khi Lê Chiêu Thống chạy sang lưu vong tại Trung Quốc dưới thời Thanh Cao Tông. Cách gọi nhà Hậu Lê bao gồm cả 2 giai đoạn Lê sơ và Lê trung hưng. Đặc biệt, thời Lê Trung hưng tuy kéo dài nhưng các Hoàng đế nhà Lê mất thực quyền, chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Thời kỳ đầu gọi là Nam Bắc triều, nhà Lê và nhà Mạc chia đôi nước Đại Việt. Khi nhà Mạc bị đánh bại phải chạy lên Cao Bằng (1592, tới năm 1677) thì công thần có công đánh Mạc là họ Trịnh đã nắm hết quyền hành. Công thần họ Nguyễn không thần phục họ Trịnh, ly khai ở phía nam, do đó phần lớn hậu kỳ thời Lê trung hưng, nước Đại Việt lại bị chia cắt bởi chúa Trịnh và chúa Nguyễn, gọi là Trịnh Nguyễn phân tranh. Lịch sử nhà Hậu Lê được đề cập chi tiết tại 2 bài nhà Lê sơ, nhà Lê trung hưng. == Xem thêm == Nhà Lê (định hướng) Nhà Mạc Nam-Bắc triều (Việt Nam) Chúa Trịnh Chúa Nguyễn Chúa Bầu Trịnh Nguyễn phân tranh Nhà Tây Sơn == Tham khảo ==
mũi né.txt
Mũi Né là tên một mũi biển, một trung tâm du lịch nổi tiếng ở Phan Thiết được đưa vào danh sách các khu du lịch quốc gia Việt Nam. Ngày nay, Mũi Né là một phường của thành phố Phan Thiết với tổng diện tích là 35,41 km², dân số năm 1999 là 24.275 người, mật độ dân số 686 người/km² và đang hình thành đề án nâng cấp thành thị xã của tỉnh Bình Thuận. Từ một dải bờ biển hoang vu với các đồi cát đỏ như sa mạc nằm rất xa đường giao thông, chỉ có lác đác vài xóm chài nghèo, Mũi Né đã mọc lên hàng trăm khu resort. Cách trung tâm thành phố Phan Thiết 22 km về hướng Đông Bắc, Mũi Né được nối liền với thành phố biển này bởi hai con đường Nguyễn Đình Chiểu (đường 706) và Võ Nguyên Giáp (đường 706B) - được coi là tuyến trọng yếu cho ngành du lịch của Bình Thuận. Khi đến Mũi Né, du khách sẽ có thể được tham quan làng chài Mũi Né, có cơ hội chứng kiến được hoạt động của một làng chài xứ biển thuần chất Việt Nam. == Nguồn gốc tên gọi == Tên gọi Mũi Né xuất phát từ việc ngư dân đánh cá, mỗi khi đi biển gặp bão, thường đến đây nương náu. "Mũi" là cái mũi đất đưa ra biển; "Né" có nghĩa là để né tránh. Nơi đây có sự hài hòa giữa màu vàng của cát, màu óng của nắng và màu xanh thẳm của biển tạo cảm giác ấm áp và trong lành, thu hút rất nhiều du khách. Tên gọi xuất phát từ công chúa Út của vua Chăm là công chúa Chuột - tương truyền vùng đất này của người Chăm, xưa kia lau sậy mọc um tùm. Công chúa Chăm năm 16 tuổi mắc bệnh nan y, về sau xây dựng miếu Am để tu tại Hòn Rơm. Từ đó lấy biệt danh là bà Nà Né - lâu dần người dân đọc trại chữ Nà Né thành Mũi Né. Né là tên của công chúa Út - Mũi là mũi đất đưa ra biển. == Đường ra Mũi Né == Từ nội thành Phan Thiết ra Mũi Né khoảng 22 km, có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh, nơi tham quan nằm rải rác trên đường. Việc tập trung như thế này khiến cho đường ra Mũi Né thêm phần hấp dẫn. Thứ tự từ hướng Thành phố Hồ Chí Minh đi vào như sau: Nhà ở Mộng Cầm - một trong những người tình của Hàn Mạc Tử nằm tại số nhà 300 (số mới là 394) đường Trần Hưng Đạo. Sông Cà Ty với Tháp nước Phan Thiết. Vạn Thủy Tú. Trường Dục Thanh. Chợ Phan Thiết. Tháp Chăm Phố Hài - Tháp Pôshanư. Lầu Ông Hoàng. Núi Cố với mộ Nguyễn Thông. Bãi đá Ông Địa. Rặng Dừa Hàm Tiến (Rạng). Khu resort cao cấp. Suối Tiên. Làng chài Mũi Né Đồi Cát Mũi Né. Hòn Rơm == Tham khảo == 1. Nhiều tác giả - Non nước Việt Nam - Nhà xuất bản văn hóa thông tin. == Chú thích == == Liên kết == Lịch sự kiện du lịch & giải trí ở Mũi Né & Phan Thiết www.muinelife.com | #CheckInMuiNe có gì hay?
sân bay quốc tế thủ đô bắc kinh.txt
Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh (giản thể: 北京首都国际机场; phồn thể: 北京首都國際機場; bính âm: Běijīng Shǒudū Guójì Jīchǎng; tiếng Anh: Beijing Capital International Airport; Hán-Việt: Bắc Kinh Thủ đô Quốc tế Cơ trường) là sân bay quốc tế phục vụ thủ đô Bắc Kinh. Dự án nâng cấp sân bay này có giá trị 500 triệu euro (625 triệu Đô la Mỹ) vay của Ngân hàng Phát triển châu Âu. Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh là sân bay nhộn nhịp nhất Trung Quốc, lượng khách tăng trưởng 2 con số kể từ năm 2003, là sân bay bận rộn nhất châu Á về lượng máy bay hoạt động, vượt lên trên Sân bay Quốc tế Tokyo. Về lượng khách, sân bay này bận rộn thứ 2 châu Á và bận rộn thứ 14 thế giới năm 2005 với tổng lượng khách phục vụ là 33.143.003, cao hơn Sân bay Quốc tế Hồng Kông. Năm 2009, sân bay này đã phục vụ 488.495 lượt chuyến, 65.329.851 lượt khách., năm 2010, sân bay phục vụ 73,8 triệu lượt khách, là sân bay lớn nhất Trung Quốc về lượt khách thông qua, năm 2013 là 83,7 triệu lượt khách, là sân bay thứ 2 thế giới về số lượt khách thông qua, chỉ sau sân bay quốc tế Hartsfield–Jackson Atlanta ở thành phố Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ (với 89,3 triệu lượt khách). Sân bay này cách trung tâm Bắc Kinh 20 km về phía đông bắc. Năm 2015, số lượng khách thông qua sân bay này là hơn 89,9 triệu lượt khách, xếp thứ nhì thế giới sau sân bay quốc tế Hartsfield–Jackson Atlanta. == Lịch sử == Sân bay Thủ Đô Bắc Kinh đã được mở cửa vào ngày 2 tháng 3 năm 1958. Sân bay sau đó bao gồm một nhà ga nhỏ, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, được sử dụng cho các chuyến bay VIP và các chuyến bay thuê. Ngày 01 Tháng 1 năm 1980, nhà ga mới và lớn hơn được xây dựng - có màu xanh lục đã được khai trương, với các chỗ đỗ cho 10-12 máy bay. Nhà ga lớn hơn nhà ga thập niên 1950, nhưng giữa những năm 1990, nó trở nên quá nhỏ. Sau đó, nhà ga này đã được đóng cửa để cải tạo sau khi mở nhà ga 2. Vào cuối năm 1999, để đánh dấu kỷ niệm 50 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sân bay này đã được mở rộng một lần nữa. Nhà ga mới này mở cửa vào ngày 11 tháng 11, và được đặt tên là nhà ga 2. 20 Tháng 9 năm 2004, mở cửa nhà ga số 1 mới cho một vài hãng hàng không, bao gồm cả các chuyến bay nội địa và quốc tế của hãng hàng không China Southern Airlines từ Bắc Kinh. Các hãng hàng không các chuyến bay nội địa và quốc tế vẫn hoạt động trong nhà ga số 2. Một đường băng thứ ba mở cửa vào ngày 29 tháng 10 năm 2007, để làm giảm tắc nghẽn trên hai đường băng khác. Một dự án mở rộng, nhà ga số 3 (T3) được hoàn thành vào tháng 2 năm 2008, trong thời gian cho Thế vận hội Bắc Kinh. Việc mở rộng quy mô khổng lồ đợt này bao gồm một đường băng thứ ba và nhà ga hành khách khác cho sân bay Bắc Kinh, và một kết nối đường sắt giữa sân bay với trung tâm thành phố. Tại thời điểm mở cửa nhà ga này, nó là cấu trúc do con người xây dựng lớn nhất trên thế giới về diện tích, và một mốc lớn ở Bắc Kinh đại diện cho các thành phố đang phát triển và phát triển của Trung Quốc. Mở rộng phần lớn được tài trợ bởi một khoản vay 30 tỷ yên từ Nhật Bản và 500 triệu euro (USD 625 triệu USD) vốn vay từ Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB). Khoản vay này là lớn nhất từ ​​trước đến nay của EIB cấp ở châu Á, thỏa thuận đã được ký kết trong Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-EU 8 được tổ chức vào tháng 9 năm 2005. Từ lưu thời điểm Thế vận hội 2008 và với việc hoàn thành nhà ga mới, sân bay Thủ đô Bắc Kinh đã vượt qua sân bay quốc tế Haneda-Tokyo là sân bay bận rộn nhất ở châu Á dựa trên lưu lượng chuyên chở hành khách theo lịch trình. Do năng lực hạn chế tại Sân bay Quốc tế Thủ đô Bắc Kinh, sân bay sân bay mới ở Đại Hưng được khởi công xây dựng từ năm 2012 dự kiến hoàn thành vào năm 2017, có 9 đường băng, công suất thiết kế từ 120-200 triệu lượt khách mỗi năm. Chưa rõ việc phân chia các tuyến bay giữa hai sân bay. == Các hãng hàng không == === Hành khách === Notes^1 MIAT Mongolian chọn Bắc Kinh làm một điểm dừng trên hành trình bay đi đến Singapore; tuy nhiên hãng không có quyền vận chuyển khách chỉ giữa Bắc Kinh và Singapore. === Hàng hóa === == Các nhà ga (Terminal) == Terminal 1 mở cửa ngày 20/9/2004 và phục vụ các tuyến quốc nội và Hồng Kông, Macau. Nhà ga 1 nhỏ và có 10 cổng lên máy bay. Terminal 2 có thể phục vụ 20 máy bay đồng thời. Kentucky Fried Chicken và Starbucks là 2 quầy phục vụ khách nhà ga T2 trước chuyến bay. Terminal 3 đang được xây dựng với thiết kế của một công ty kiến trúc Anh Foster and Partners, và dự kiến hoàn thành năm 2007. Diện tích sàn lên đến 900.000 m2 với 5 tầng nổi và 2 tầng ngầm, 66 cầu dẫn hành khách. Một đường băng mới cũng được xây dựng. == Hải quan == Hải quan Bắc Kinh tịch thu rượu bỏ trong hành lý dù không có cảnh báo rõ (10/2005). == Thư viện hình == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Công ty Sân bay Quốc tế thủ đô Bắc Kinh Trang web chính thức (Tiếng Trung, Tiếng Anh)
ōe kenzaburo.txt
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Ōe. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Oe Kenzaburo (大江 健三郎, Ōe Kenzaburō, Đại Giang Kiện Tam Lang) (tên khai sinh: Ōse Mura (大瀬 村, Ōse Mura), sinh ngày 31/1/1935) là một nhà văn, nhà nhân văn Nhật Bản, đoạt giải Nobel Văn học năm 1994, tác giả của hơn 20 tiểu thuyết và nhiều tập truyện, là một trong những nhà văn lớn nhất của Nhật thế kỷ XX. == Tiểu sử == Ōe sinh ở Uchiko, Nhật trong một gia đình có 7 người con, bố mất khi Ōe lên chín tuổi. Từ năm 18 tuổi học văn học Pháp ở Đại học Tokyo, viết luận văn tốt nghiệp về tác phẩm của Jean-Paul Sartre. Năm 1960 Ōe cưới con gái của một nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng. Cũng trong năm này cùng đoàn nhà văn Nhật Bản thăm Trung Quốc, được gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông. Năm 1961 là thành viên Hội đồng của Đại hội các nhà văn Á-Phi tổ chức ở Tokyo nhưng sau đó xin từ chức để phản đối Trung Quốc thử vũ khí hạt nhân. Thời gian tiếp đó, Ōe đi du lịch nhiều nước châu Á và châu Âu. Ở Paris, ông gặp Jean-Paul Sartre. Năm 1963 sinh con trai Hikari, bị dị tật vì ảnh hưởng của bom nguyên tử. Những năm 70-80-90 Ōe tiếp tục đi du lịch, đọc bài giảng ở các trường đại học và tham gia các hoạt động văn học ở nhiều nước trên thế giới. == Văn nghiệp == Ōe bắt đầu viết văn khi còn là sinh viên, năm 23 tuổi ông được giải thưởng Akutagawa cho thiên truyện Nuôi kẻ thù (1957). Năm 1958 ông xuất bản tiểu thuyết Hái nụ, giết trẻ viết về số phận một thanh niên nông thôn. Mười năm sau ông đã cho ra đời bộ tuyển tác phẩm của mình gồm 6 tập. Đến cuối thế kỉ XX, với hơn 40 năm cầm bút, Ōe có hơn 60 tác phẩm đã được dịch ra tiếng nước ngoài. Những tác phẩm tiêu biểu của ông có thể kể: tiểu thuyết Tuổi mười bảy (1961) kể về việc một thanh niên thuộc tổ chức phát xít mới 17 tuổi đã ám sát thủ lĩnh Đảng Dân chủ trong một cuộc mít tinh; Sổ tay Hiroshima (1965) viết về nạn nhân của vụ ném bom nguyên tử xuống nước Nhật; các tiểu thuyết Trận bóng đá năm Vạn Diên thứ nhất (1967); Hãy dạy chúng tôi thoát khỏi bệnh điên rồ của mình (1969); Nước ngập tận tâm hồn tôi (1973) nói về một thế giới phi lý của hận thù, sai lầm và hiểm họa nguyên tử. Năm 1994, Ōe là nhà văn Nhật Bản thứ hai nhận giải Nobel Văn học. Lễ mừng giải diễn ra cùng lúc với ngày hội trong gia đình: buổi hòa nhạc lớn do các nhạc công nổi tiếng nhất nước Nhật biểu diễn 10 tác phẩm của nhạc sĩ trẻ Hikari Oe. Trong lễ nhận giải Nobel, Ōe Kenzaburo đã đọc diễn từ Nobel với nhan đề: Sinh ra từ tính đa nghĩa của Nhật Bản (mà một số dịch giả đã dịch là Nhật Bản, sự nhập nhằng, và bản thân tôi), nối tiếp truyền thống của Kawabata Yasunari trước đó, vào năm 1968, với diễn từ Sinh ra từ vẻ đẹp của Nhật Bản. Ngoài giải Nobel, Ōe được tặng nhiều giải thưởng cao quý của Nhật và của nhiều nước trên thế giới. == Tác phẩm == Nuôi kẻ thù (Shiiku, 1957), truyện ngắn Công việc kì khôi (Kimyo na Shigoto, 1957), tiểu thuyết. Niềm kiêu hãnh của người chết (Shisha no ogori, 1957), truyện ngắn Hái nụ, giết trẻ (Memushiri kouchi, 1958), tiểu thuyết Đàn cừu nhân gian (Ningen no hitsuji, 1958), tiểu thuyết. Tuổi mười bảy (Sevuntin, 1961), tiểu thuyết [Seventeen]. Tuổi trẻ tới muộn (The youth who came late, 1961), tiểu thuyết. Một vấn đề cá nhân (Kojinteki na taiken, 1964), tiểu thuyết Agui, con quái vật của bầu trời (Sora no kaibutsu Agui, 1964 Sổ tay Hiroshima (Hiroshima noto, 1965), tiểu luận Trận bóng đá năm Vạn Diên thứ nhất (Mannen ganen no futtoboru, 1967), tiểu thuyết Hãy dạy chúng tôi thoát khỏi bệnh điên (Warera no kyụki wo ikinobiru michi wo oshieyo, 1969), tiểu thuyết Những ghi chép Okinaoa (Okinaoa noto, 1970), tiểu luận Nước ngập tận tâm hồn tôi (Kozui wa waga tamashii ni oyobi, 1973), tiểu thuyết Trò chơi đương đại (Dojidai gemu, 1979), truyền thuyết và lịch sử Hãy đứng lên, hỡi những chàng trai của thế hệ mới (Atarashii hito yo mezameyo, 1983), tiểu thuyết M/T và chuyện kể về những cánh rừng kì lạ (M/T to mori no fushigi no monogatari, 1986). Những bức thư gửi năm tháng ngọt ngào xa xưa (Na tsukashii toshi e no temgami, 1987), tiểu thuyết Họ hàng nhân sinh (Jinsei no shinseki, 1989) Cây xanh bốc cháy (The flaming green tree), tiểu thuyết bộ ba. Gia đình tự chữa lành (Kaifukusuru kazoku, 1995), Vĩnh biệt sách của tôi (Sayōnara, watashi no hon yo!, 2005), tiểu thuyết == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nobel e-Museum Biography Nobel Laureate page Tiểu sử và danh sách sách
dòng họ nguyễn ở đông tác.txt
Dòng họ Nguyễn Đông Tác là một trong những dòng họ định cư lâu đời nhất tại khu vực Thăng Long - Hà Nội liên tục từ thế kỉ 15 cho đến hiện nay. Địa bàn sinh sống chủ yếu của dòng họ này trong lịch sử là làng Trung Tự - Phường Đông Tác (nay thuộc phường Phương Liên - Quận Đống Đa - Hà Nội). Đây cũng là dòng họ khoa bảng, đã sinh ra nhiều danh nhân cho Hà Nội và đất nước. == Lịch sử hình thành == Theo tài liệu trong cuốn Thọ Xương Đông Tác Nguyễn thị Thế phả, soạn năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) thì dòng họ Nguyễn Đông Tác có nguồn gốc từ Gia Miêu ngoại trang, Thanh Hóa đã ra Thăng Long khai nghiệp "đã hơn 400 năm". Như vậy, thời điểm lập nghiệp của dòng họ Nguyễn Đông Tác tại Thăng Long là vào khoảng giữa thế kỷ 15. Theo bản đồ năm 1490 đời Lê Thánh Tông thì đất Trung Tự thuộc phường Đông Tác, huyện Vĩnh Xương, phủ Phụng Thiên. Theo bản đồ năm 1831 đời vua Minh Mệnh thì Trung Tự thuộc phường Đông Tác, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Cụ sơ Tổ của dòng họ là Nguyễn Chính Thiện. Con trai của Tổ là Nguyễn Lương Phúc, hiệu Thanh Nhàn, giữ chức Quang Tiến Phụ Quốc Thượng tướng Quân. Tuy nhiên, vào đời thứ tư (thế kỷ 16), dòng họ đã bị một số quan lại đương thời chiếm đất, nên phải sang cư trú tạm tại làng Kim Hoa ở bên cạnh. == Sự phát triển == Đến đời thứ 7, dòng họ Nguyễn Đông Tác có ông Nguyễn Hy Quang (1634-1692) khi còn đang đi học cũng đã bày mưu kế cho dân làng tranh kiện đòi lại đất đai với các chức dịch. Về sau, Nguyễn Hy Quang đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương khoa Đinh Dậu (1657), vào thi Hội trúng Tam trường, lại đỗ khoa Sĩ vọng (khoa Canh Tuất-1670), được bổ chức Giáo thụ phủ Thường Tín. Chúa Trịnh Tạc biết tiếng ông, bèn triệu vào Phủ Chúa, làm thầy giáo dạy các cháu nhà chúa là đích tôn Trịnh Vĩnh và Trịnh Bính. Con trai của Nguyễn Hy Quang là Đặc tiến Phụ Quốc Thượng tướng quân Nguyễn Hữu Dụng (1661-1729), đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ Võ) được phong tước Tào quận công và phối thờ trong đình Trung Tự. Cháu ruột của Nguyễn Hy Quang là Nguyễn Trù (đời 8), đỗ Hoàng giáp năm 1697, sau làm quan đến chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Đời thứ 11, họ Nguyễn Đông Tác có ông Nguyễn Hữu Diễn đỗ tạo sĩ (tiến sĩ võ) khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông, làm quan đến chức Vệ uy thị giảng, Quả cảm tướng quân, tước Thức Võ hầu. Cũng ở đời 11, họ Nguyễn Đông Tác lại có ông Nguyễn Văn Lý (1795-1868), đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn đời vua Minh Mạng (năm 1832), là nhà giáo, nhà văn hóa lớn, để lại nhiều tác phẩm. Nguyễn Hữu Cầu, đời thứ 13, là một trong những người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguyễn Hữu Tảo, đời thứ 14, là người đặt nền móng cho bộ môn Tâm lý - Giáo dục học Việt Nam. Thiều Chửu đời thứ 14 là một cư sĩ nổi tiếng của Phật giáo Việt Nam trong thế kỉ 20. == Hiện tại == Dòng họ Nguyễn Đông Tác đã có gần 600 năm định cư ở Hà Nội và đã phát triển đến đời thứ 21. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã khiến nhiều người trong dòng họ lưu tán ở nhiều nơi, chứ không tập trung tại làng như trước kia. Tuy nhiên, dòng họ Nguyễn Đông Tác vẫn duy trì được ngày hội làng 15 tháng 3 (Âm lịch) và ngày giỗ họ 3 tháng 3 Âm lịch. == Chú thích ==
hiện tượng cảm ứng điện từ.txt
Năm 1831, Michael Faraday đã chứng tỏ bằng thực nghiệm rằng từ trường có thể sinh ra dòng điện. Thực vậy, khi cho từ thông gửi qua một mạch kín thay đổi thì trong mạch xuất hiện một dòng điện. Dòng điện đó được gọi là dòng điện cảm ứng. Hiện tượng đó được gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ. == Các định luật về hiện tượng cảm ứng điện từ == === Thí nghiệm Faraday === Lấy một cuộn dây và mắc nối tiếp nó với một điện kế G thành một mạch kín (hình a). Phía trên ống dây đặt một thanh nam châm 2 cực SN. Thí nghiệm cho thấy: Nếu rút thanh nam châm ra, dòng điện cảm ứng có chiều ngược lại (hình b) Di chuyển thanh nam châm càng nhanh, cường độ dòng điện cảm ứng Ic càng lớn. Giữ thanh nam châm đứng yên so với ống dây, dòng điện cảm ứng sẽ bằng không. Nếu thay nam châm bằng một ống dây có dòng điện chạy qua, rồi tiến hành các thí nghiệm như trên, ta cũng có những kết quả tương tự. Từ các thí nghiệm đó, Faraday đã rút ra những kết luận sau đây: Từ thông gửi qua mạch kín biến đổi theo thời gian là nguyên nhân sinh ra dòng điện cảm ứng trong mạch đó. Dòng điện cảm ứng chỉ tồn tại trong thời gian từ thông gửi qua mạch kín biến đổi. Cường độ dòng điện cảm ứng tỉ lệ thuận với tốc độ biến đổi của từ thông. Chiều của dòng điện cảm ứng phụ thuộc vào sự tăng hay giảm của từ thông gửi qua mạch (vì trên hình 15a và 15b ta thấy từ thông ở hai đầu nam châm bao giờ cũng lớn hơn ở vị trí giữa của nam châm). === Ðịnh luật Lenz === Ðồng thời với Michael Faraday, Heinrich Lenz cũng nghiên cứu hiện tượng cảm ứng điện từ và đã tìm ra định luật tổng quát giúp ta xác định chiều của dòng điện cảm ứng, gọi là định luật Lenz. Nội dung định luật như sau Dòng điện cảm ứng phải có chiều sao cho từ trường do nó sinh ra có tác dụng chống lại nguyên nhân sinh ra nó Ðiều này có nghĩa là khi từ thông qua mạch tăng lên, từ trường cảm ứng sinh ra có tác dụng chống lại sự tăng của từ thông: từ trường cảm ứng sẽ ngược chiều với từ trường ngoài. Nếu từ thông qua mạch giảm, từ trường cảm ứng (do dòng điện cảm ứng sinh ra nó) có tác dụng chống lại sự giảm của từ thông, lúc đó từ trường cảm ứng sẽ cùng chiều với từ trường ngoài. Dưới đây, ta hãy vận dụng định luật đó để xác định chiều của dòng điện cảm ứng trong trường hợp ở trên (hình a), Cực Bắc của thanh nam châm di chuyển vào trong lòng ống dây làm cho từ thông (gửi qua ống dây tăng lên. Theo định luật Lenz, dòng điện cảm ứng phải sinh ra từ trường ngược chiều với từ trường của thanh nam châm để từ thông Fc sinh ra có tác dụng làm giảm sự tăng của là nguyên nhân sinh ra nó. Muốn vậy dòng điện cảm ứng phải có chiều như trên hình vẽ. Bằng lý luận ta nhận thấy nếu dịch chuyển cực Bắc của thanh nam châm ra xa ống dây, dòng điện cảm ứng xuất hiện trong mạch sẽ có chiều ngược với chiều của dòng điện cảm ứng trong trường hợp trên (Hình 15.1b). Như vậy, theo định luật Lenz, dòng điện cảm ứng bao giờ cũng có tác dụng chống lại sự dịch chuyển của thanh nam châm. Do đó, để dịch chuyển thanh nam châm, ta phải tốn công. Chính công mà ta tốn được biến thành điện năng của dòng điện cảm ứng. === Ðịnh luật cơ bản của hiện tượng cảm ứng điện từ === "Suất điện động cảm ứng luôn luôn bằng về trị số, nhưng trái dấu với tốc độ biến thiên của từ thông gửi qua diện tích của mạch điện." Suất điện động cảm ứng là suất điện điện sinh ra do hiện tượng cảm ứng điện từ. Để tìm biểu thức của Suất điện động cảm ứng, ta dịch chuyển một vòng dây dẫn kín (C) trong từ trường để từ thông gửi qua vòng dây thay đổi (hình). Khi đó công của lực từ tác dụng lên dòng điện cảm ứng có giá trị: d A = I c . d ϕ m {\displaystyle dA=I_{c}.d{\phi _{m}}\,} Theo định luật Lenx, công của từ lực tác dụng lên dòng điện cảm ứng là công cản có giá trị: d A ′ = − I c . d ϕ m {\displaystyle dA'=-I_{c}.d{\phi _{m}}\,} Công d A ′ {\displaystyle dA'\,} này được chuyển thành năng lượng của dòng cảm ứng có giá trị: ξ c . I c . d t = − I c . d ϕ m {\displaystyle \xi _{c}.I_{c}.dt=-I_{c}.d{\phi _{m}}\,} Từ đó ta suy ra: ξ c = − d ϕ m d t {\displaystyle \xi _{c}=-{d{\phi _{m}} \over dt}\,} Đó là biểu thức của suất điện động mà ta phải tìm. == Ứng dụng của hiện tượng cảm ứng điện từ == Một ứng dụng quan trọng của hiện tượng cảm ứng điện từ là tạo ra dòng điện xoay chiều. Thực chất của quá trình này là biến đổi cơ năng thành điện năng. Xét một khung dây dẫn gồm nhiều vòng quay trong một từ trường đều ( B → = c o n s t → {\displaystyle {\vec {B}}={\vec {const}}\,} ) với vận tốc góc không đổi ( ω = c o n s t {\displaystyle \omega =const\,} ). Ta sẽ phải tốn một công để làm quay khung và nhận được điện năng của dòng điện cảm ứng chạy trong khung đó. Để dẫn được dòng điện ra ngoài, ta nối 2 đầu dây của khung với 2 hình trụ dẫn cách điện với nhau và cùng gắn với trục quay khung, sau đó dùng 2 chổi than tì vào 2 hình trụ đó để nối khung dây với mạch tiêu thụ ngoài. Giả sử ban đầu ( t = 0 {\displaystyle t=0\,} ) pháp tuyến n → {\displaystyle {\vec {n}}} của mặt khung tạo với B → {\displaystyle {\vec {B}}} một góc a {\displaystyle a\,} . Như vậy sau thời gian t {\displaystyle t\,} , góc đó thay đổi thành φ = ω t + a {\displaystyle \varphi =\omega t+a\,} . Khi đó từ thông gửi qua khung là: ϕ m = n B S cos ⁡ ( ω t + a ) {\displaystyle \phi _{m}=nBS\cos({\omega t+a})\,} Trong đó n {\displaystyle n\,} là tổng số vòng dây của khung, S {\displaystyle S\,} là diện tích khung Suất điện động cảm ứng xuất hiện trong khung theo định luật cơ bản của hiện tượng cảm ứng điện từ là: ξ c = ξ c m a x sin ⁡ ( ω t + a ) {\displaystyle \xi _{c}=\xi _{cmax}\sin({\omega t+a})\,} Vậy khi cho khung quay đều trong từ trường đều, ta được một suất điện động xoay chiều hình sin, có chu kì là chu kì quay của khung: T = 2 π ω {\displaystyle T={2\pi \ \over \omega }\,} == Xem thêm == Định luật cảm ứng Faraday == Tham khảo ==
18 tháng 11.txt
Ngày 18 tháng 11 là ngày thứ 322 (323 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 43 ngày trong năm. == Sự kiện == 923 – Hậu Đường Trang Tông Lý Tồn Úc đem quân đến thủ đô Đại Lương của triều Hậu Lương, Hoàng đế Hậu Lương Chu Hữu Trinh tự sát. 935 – Sau khi phụ thân là Mân Huệ Tông Vương Diên Quân qua đời trong một cuộc binh biến, Vương Kế Bằng tuyên bố rằng Hoàng thái hậu lệnh cho ông giám quốc và tức hoàng đế vị trong ngày, tức ngày Tân Tị (20) tháng 10 năm Ất Mùi 1067 – Tống Thần Tông ban tên Tư trị thông giám cho biên niên sử Thông chí mà Tư Mã Quang dâng lên. 1095 – Hội đồng Clermont, do Giáo hoàng Urban II kêu gọi, bắt đầu để thảo luận về việc gửi lính đi giải phóng Đất Thánh trong cuộc Viễn chinh Chữ thập đầu tiên. 1302 – Giáo hoàng Boniface VIII ra sắc lệnh Unam sanctam. 1307 – William Tell bắn một quả táo khỏi đầu của con ông. 1421 – Một quãng tường của bờ đê ven biển Zuider Zee bị vỡ, làm 72 làng bị ngập và làm vào khoảng 10.000 người bị chết ở Hà Lan. 1477 – William Caxton in ra Dictes or Sayengis of the Philosophres (Tục ngữ của các Nhà triết học), cuốn sách đầu tiên mà được in ra dùng máy in ở nước Anh. 1493 – Christopher Columbus lần đầu tiên kiếm thấy đảo Puerto Rico ngày nay. 1626 – Đền thờ Thánh Phêrô ở Thành Vatican được thánh hiến. 1812 – Các cuộc chiến tranh của Napoléon: Mặc dù quân Pháp chiến bại trong trận Krasnoi tại Nga song Thống chế Michel Ney trở thành người dũng cảm nhất trong số những người dũng cảm. 1824 – Quốc hội Mexico quyết định Thủ đô Mexico là một khu vực liên bang, thuộc quyền hạn quản lý của liên bang. 1865 – Câu chuyện The Celebrated Jumping Frog of Calaveras County (Con ếch nhảy nổi tiếng của Quận Calaveras) của Mark Twain được xuất bản trong tờ báo New York Saturday Press. 1883 – Các hãng đường xe lửa thiết lập năm múi giờ tiêu chuẩn cho Bắc Mỹ, làm khỏi bị lẫn lộn do hàng ngàn giờ địa phương. 1912 – Chiến tranh Balkan lần thứ nhất: Quân Ottoman đại thắng trước quân Bungary trong Trận Çatalca lần thứ nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. 1928 – Phát hành phim Tàu hơi nước Willie, phim hoạt hình có lồng tiếng đầu tiên của Disney và được xem là sự ra mắt của hai nhân vật hoạt hình chuột Mickey và chuột Minnie. 1930 – Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam được thành lập. [1] 1959 – Phim sử thi Ben-Hur được công chiếu tại New York, phim đoạt được 11 giải Oscar và là phim tốn kém nhất cho đến đương thời. == Sinh == 1928 – Chuột Mickey, nhân vật hoạt hình, linh vật & biểu tượng của Disney. == Mất == 2015 – Jonah Lomu, huyền thoại bóng bầu dục người New Zealand (sinh 1975) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
linh vật.txt
Linh vật hay còn gọi là vật lấy phước hay những con vật linh thiêng là một thuật ngữ dùng để chỉ cho bất cứ biểu tượng chính thức nào, cho bất kỳ cá nhân nào, động vật và các đối tượng, chủ đề nào mà mang lại sự may mắn, thông thường linh vật thường là động vật được nhân hóa với những đường nét phá cách ngộ nghĩnh, đáng yêu. Ở góc độ văn hóa thì Linh vật là những con vật huyền thoại hoặc có thật được linh hóa, được con người sáng tạo và sử dụng như những biểu tượng văn hóa để truyền đạt ý tưởng và niềm tin tâm linh, tôn giáo. == Khái luận == Theo thông tục (không chính thức) nó bao gồm bất cứ điều gì được sử dụng để đại diện cho một nhóm với một bản sắc cộng đồng phổ biến, chẳng hạn như một trường học, đội thể thao chuyên nghiệp, xã hội, đơn vị quân đội, hoặc tên thương hiệu và đặc biệt là các sự kiện lớn như thể thao. Linh vật cũng được sử dụng như hư cấu, phát ngôn viên đại diện cho các sản phẩm tiêu dùng. Linh vật thường được mô tả trong thần thoại, truyền thuyết và được biểu đạt trong nghệ thuật tạo hình. Người xưa tin rằng, linh vật là hiện thân của các lực lượng tự nhiên hoặc mang những đặc tính huyền bí, năng lực siêu nhiên có thể chi phối nhân sinh, vũ trụ. Trong các môn thể thao, linh vật cũng được sử dụng rất rộng rãi. Linh vật của đội thường bị nhầm lẫn với các biệt danh của đội, trong khi hai chủ đề này có thể được hoán đổi cho nhau nhưng chúng không phải luôn luôn giống nhau. Linh vật của đội có thể mang hình thức của một biểu tượng, người, động vật sống, đối tượng vô tri vô giác, hoặc một nhân vật trang phục, và thường xuất hiện ở các trận đấu đội và các sự kiện khác có liên quan, linh vật thể thao thường được sử dụng như một công cụ tiếp thị cho đội bóng đến người hâm mộ. == Thế giới == Mỗi kỳ Cúp bóng đá thế giới kể từ năm 1966 tại Vương quốc Liên hiệp Anh & Bắc Ireland đều lấy hình ảnh một vật riêng làm đại diện cho mình, gọi là linh vật (tiếng Anh: mascot). Mỗi linh vật là một biểu tượng vui, thể hiện rõ nét văn hoá của quốc gia đăng cai World Cup và tính chất bóng đá thời kỳ đó. == Thế vận hội == Linh vật tại Thế vận hội bắt đầu xuất hiện tại thế vận hội Mùa hè Munich năm 1972. Từ đó đến nay, linh vật được coi như một nhãn hiệu nhằm phân biệt các kỳ thế vận hội và là biểu tượng của thành phố đăng cai tổ chức, đồng thời cũng trở thành nguồn thu nhập khổng lồ cho các nhà tổ chức. == Đông Nam Á == Mỗi kỳ Sea Games kể từ năm 1989 tại Kuala Lumpur đều lấy hình ảnh một vật riêng làm đại diện cho mình, gọi là linh vật (tiếng Anh: mascot). Mỗi linh vật là một biểu tượng vui, thể hiện rõ nét văn hoá của điểm đến đăng cai SEA Games và tính chất thể thao thời kỳ đó. == Châu Âu == Mỗi kỳ giải vô địch bóng đá châu Âu kể từ năm 1960 tại Pháp đều lấy hình ảnh một vật riêng làm đại diện cho mình, gọi là linh vật (tiếng Anh: mascot). Mỗi linh vật là một biểu tượng vui, thể hiện rõ nét văn hóa của đất nước đăng cai EURO và tính chất bóng đá thời kỳ đó. == Châu Á == Mỗi kỳ Asiad kể từ năm 1951 tại New Delhi & Asian Indoor Games kể từ năm 2005 tại Băng Cốc đều lấy hình ảnh một vật riêng làm đại diện cho mình, gọi là linh vật (tiếng Anh: mascot). Mỗi linh vật là một biểu tượng vui, thể hiện rõ nét văn hoá của thành phố đăng cai Asiad hoặc AIGs và tính chất thể thao thời kỳ đó == Nam Mỹ == Mỗi kỳ Copa América, kể từ năm 1987, đều lấy hình ảnh một vật riêng làm đại diện cho mình, gọi là linh vật (tiếng Anh: mascot).Gardelito, linh vật của giải đấu 1987 tại Argentina, là linh vật đầu tiên của Copa América. Mỗi linh vật là một biểu tượng vui, thể hiện rõ nét văn hoá (trang phục, cây cỏ, động vật...) của quốc gia đăng cai và tính chất bóng đá thời kỳ đó. == Chú thích ==
peridot.txt
Peridot là tên theo tiếng Anh dùng để chỉ một biến thể có màu lục của khoáng vật olivin, là loại silicat chứa Mg và Fe với hàm lượng Mg lớn hơn Fe. Peridot là loại đá đại diện cho những người sinh tháng 8. Với màu sắc lục phớt vàng đặc trưng (màu oliu)đây là một đá quý hết sức đặc biệt, có trong các đá núi lửa và trong cả thiên thạch rơi xuống trái đất. Người La Mã gọi peridot là "emerald hoàng hôn" vì màu lục của chúng không tối vào ban đêm và vẫn thấy được dưới ánh đèn. Người ta cho rằng peridot giúp tăng thêm sức mạnh cho bất kỳ loại thuốc nào. == Đặc điểm == Tinh hệ: Hệ trực thoi . Tinh thể hoàn chỉnh thường hiếm, đôi khi ở dạng tấm hoặc lăng trụ ngắn. Cát khai rõ theo [010], không hoàn toàn theo [100] Lưỡng chiết suất: 0,036; không phát quang; giá trị phổ hấp thụ: 6530, 5530, 5290, 4970, 4950, 4930, 4730, 4530 Các bao thể thường gặp trong peridot là cromdipxit, cromspinen, flogopit và các bao thể anhydrit dạng tấm, lá. Trong peridot của Việt Nam thường gặp các bao thể khoáng vật dạng 8 mặt tự hình của cromit cùng với các bao thể flogopit... == Phân bố trên thế giới == Nguồn cung cấp peridot chủ yếu cho thế giới là vùng Biển đỏ đã được khai thác từ 3500 năm trước đây, một số lượng lớn được khai thác ở Miến Điện (cách Mogok 30 km về phía đông bắc). Bên cạnh đó peridot còn được khai thác ở Australia (bang Queensland), Brasil (mỏ Minas Gerais), Nam Phi cùng với khai thác kim cương, Mỹ, Zaia... ở Châu Âu peridot được khai thác chủ yếu ở Na Uy. Ở Việt Nam peridot được khai thác nhiều trong bazan miền nam Việt Nam, peridot được kết tinh ở giai đoạn đầu của hoạt động phun trào macma và hình thành nên các nodule. Khu vực khai thác nhiều nhất hiện nay là vùng Hàm Rồng (Gia Lai), Lâm Đồng... == Mài cắt == Thời Trung cổ peridot được sử dụng rất rộng rãi ở châu Âu, peridot thường được cắt kiểu emơrôt và đôi khi được cắt kiểu kim cương và thường được gắn trên nhẫn vàng. == Các loại đá giả và phương pháp nhận biết == Các loại đá có màu gần giống như peridot có demantoit, zircon, sa-phia vàng, cryzoberin, sinhalit,, opxidian (mondavit). Tuy nhiên peridot dễ nhận biết bởi màu lục vàng đặc trưng với lưỡng chiết mạnh (đây là một đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt) ở những viên mài dày ta có thể quan sát được hiệu ứng nhân đôi thậm chí ngay cả bằng mắt thường. Màu giống như peridot chỉ thấy trong thuỷ tinh giả. Sinhalit (borat của Fe, Al và Mg)" được coi như là một dạng của peridot nhưng có chỉ số chiết suất và tỷ trọng cao hơn do hàm lượng của Fe trong thành phần cao hơn. == Các phương pháp xử lý == Mới đây peridot Việt Nam đã được các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định Đá quý và Vàng (VGC) tiến hành xử lý làm tăng vẻ đẹp của peridot. Peridot Việt Nam thường bị nhuốm màu nâu do vậy có thể dùng phương pháp xử lý nhiệt để làm sạch màu nâu và chỉ giữ lại màu thân đá (body color). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Peridot Gemstone in Vietnam Tiềm năng đá quý Việt Nam
kadua.txt
Kadua là một chi thực vật có hoa trong họ Thiến thảo (Rubiaceae). == Loài == Chi Kadua gồm các loài: == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Kadua tại Wikimedia Commons Dữ liệu liên quan tới Kadua tại Wikispecies
phím compose.txt
Một soạn thảo quan trọng, có sẵn trên một số bàn phím máy tính, là một loại đặc biệt của các phím bổ trợ được tín hiệu các phần mềm để giải thích các trình tự sau đây của hai (hoặc hơn) các phím tắt như một sự kết hợp để sản xuất một nhân vật không được tìm thấy trực tiếp trên bàn phím. Ví dụ, ấn tượng sáng tác tiếp theo là A và E có thể sản xuất từ lắp ghép æ, trong khi sáng tác nổi bật tiếp theo là O và sau đó C có thể mang lại © (vòng C, biểu tượng bản quyền). Các phím soạn thảo có thể được tìm thấy trên các LK201 gia đình của bàn phím từ Tổng công ty Thiết bị kỹ thuật số và kế thừa của nó. Điều quan trọng cũng có thể được tìm thấy trên bàn phím từ Sun Microsystems. Tuy nhiên, bất kỳ phím trên bàn phím có thể được cấu hình để phục vụ như là một phím soạn thảo, miễn là chức năng được hỗ trợ bởi phần mềm được sử dụng. == Cách sử dụng == Các phím soạn thảo là khác nhau từ một khóa sửa đổi lần điển hình (chẳng hạn như AltGr hoặc Tùy chọn ⌥) trong đó, hơn là bị ép và tổ chức trong khi quan trọng khác là tấn công, nó được nhấn và phát hành trước khi tấn công các phím được sửa đổi. Thông thường, hệ thống văn bản nhập cảnh không chỉ ra rằng bất kỳ phím đã được ép cho đến khi các nhân vật bao gồm xuất hiện sau khi ký tự cuối cùng của một chuỗi được xác định trước. Do đó, các phím soạn thảo cũng có thể được mô tả như là một loại chung chung phím chết. Điều gì làm cho các phím soạn thảo khác nhau từ một khóa chết trong khi mỗi phím chết chỉ có thể được sử dụng để đính kèm một dấu phụ cụ thể để thư cơ sở khác nhau, các phím soạn thảo có thể được sử dụng để sản xuất bất kỳ loại của một nhân vật hỗ trợ bộ ký tự và phông chữ sử dụng. Bằng cách này, một loạt rộng lớn hơn của các ký tự đặc biệt có thể được thực hiện trên một bàn phím với một số giới hạn của các phím. Trong một ý nghĩa lỏng lẻo, nhân vật được sản xuất với một chuỗi phím soạn thảo có thể được xem như là một nhân vật precomposed, nhưng nó không cần phải là kỹ thuật phân huỷ hoặc có bất kỳ giống hình ảnh với các nhân vật thường được sản xuất bằng các phím tương tự (nghĩa là không có nổi bật phím soạn thảo đầu tiên). Tuy nhiên, thường có một số loại của một hiệp hội giúp làm cho dãy phím dễ nhớ hơn. Ví dụ, gõ Soạn tiếp theo T và sau đó, H có thể sản xuất tiếng Iceland (cũng như Bắc Âu và tiếng Anh) thư þ (gai), ngữ âm tương ứng với các digraph thứ, ví dụ, điều. == Soạn quan trọng trong hệ thống máy tính khác nhau == Các phím soạn thảo được biết đến như "Multi_key" trong hệ thống cửa sổ X, và phải được giải thích bởi chương trình khách hàng (thường Xlib), không phải là máy chủ. XFree86 và X.Org máy chủ, bố trí bàn phím có một biến thể bản đồ Multi_key một số trọng điểm, thường (trên bàn phím máy tính) hoặc là các phím Windows, hoặc ⇧ phím Shift' + AltGr hoặc đôi khi ⇧ phím Shift + chuột phải Ctrl.Nó cũng có thể được quy định tại XkbOptions. Multi_key cũng có thể được chỉ định với các tiện ích xmodmap. Lưu ý rằng nó được phổ biến cho ⇧ phím Shift + AltGr được ánh xạ tới các phím soạn thảo, nhưng cho AltGr + ⇧ Shift để được ánh xạ tới sửa đổi lần "bàn phím mức độ" thứ tư. (lần đầu tiên ba cấp độ tương ứng với tổ chức không bổ, Shift ⇧, và AltGr.) Vì vậy, ví dụ như biểu tượng bản quyền, © có thể được đánh máy bằng cách sử dụng các phím soạn thảo như ⇧ Shift + AltGr + o,c, hoặc bằng cách sử dụng các mức độ sửa đổi lần 4 là AltGr + ⇧ Shift + c. ISO / IEC 9995 -7 giao cho khoá này một biểu tượng đồ họa ⎄, tồn tại trong Unicode U 2384 kể từ khi phiên bản 3.0.0 của tiêu chuẩn. [3] Tuy nhiên, biểu tượng này không xuất hiện để được sử dụng bởi ngành công nghiệp. Ban đầu các dấu hiệu tiền tệ trên bàn phím đã được quốc hữu hoá, và không phải tất cả các bàn phím được bán trên thế giới có một dấu đô la ($), điều này giải thích lý do tại sao nó xuất hiện có, mặc dù nó là một phần của bất kỳ tiêu chuẩn [ ai? ] bàn phím từ những năm 1990. Đặc biệt là sáng tác trình tự đã không còn làm việc [ khi ] trên hiện đại [ đó? ] hệ thống. Trình tự dấu gạch chéo ngược lịch sử nhân chứng của các tình huống tương tự cho khoá này và vẫn làm việc trên hệ thống hiện đại. Microsoft Windows không sử dụng một phím soạn thảo như vậy, nhưng một vài chương trình như PuTTY cung cấp soạn hỗ trợ quan trọng. Ngoài ra còn có một số mã nguồn mở tiện ích (như AllChars) và bố trí bàn phím cài đặt có sẵn, có thi đua các phím soạn thảo bằng cách sử dụng một chìa khóa sửa đổi lần lựa chọn như kiểm soát hoặc AltGr. == Kết hợp soạn thảo thông thường == Bảng hiển thị dưới đây chứa các thành phần phổ biến hiện nay cho Xorg 7. Các thành phần khác có thể làm việc, dựa trên de-facto Sun / tháng 12 / Falco tiêu chuẩn. Riêng đối với hệ thống hiện đại có hỗ trợ tùy biến trình tự soạn thảo và Unicode, bảng sẽ được hoàn toàn đầy đủ. Với số lượng lớn các trình tự cho phép và số lượng lớn các ký tự có sẵn trong Unicode, một danh sách đầy đủ sẽ rất dài. Nó có thể được duyệt trên mạng tại hay địa phương. Có một dự án để thu thập và duy trì được xác định sử dụng phần mở rộng == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Linux Compose Key Sequences with equivalent unicode mappings XFree86 Compose Key character map by XFree86 Everything2's list of Compose Key combinations SUN's Compose Key combinations used under CDE Setting up Compose Key in the X Window System AllChars, an open-source utility that emulates the Compose key under MS-Windows JLG Extended Keyboard Layout - yet another utility based on the Compose Key mechanism under Windows Installable keyboard layouts for Windows with source for editing in the MSKLC keyboard editor Accent Composer - Compose accented characters and other symbols under Microsoft Windows. Unicode compatible Compose key sequences used in GNOME/GTK
đan mạch.txt
Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Danmark) là một quốc gia thuộc vùng Scandinavia ở Bắc Âu và là thành viên chính của Vương quốc Đan Mạch. Đan Mạch nằm ở vùng cực nam của các nước Nordic, nằm phía Tây Nam của Thụy Điển, phía Nam của Na Uy và giáp với Đức về phía Nam. Đan Mạch giáp cả biển Baltic và biển Bắc. Đan Mạch bao gồm một bán đảo lớn, Jutland (Jylland) và nhiều đảo, được biết đến nhiều nhất là Zealand (Sjælland), Funen (Fyn), Vendsyssel-Thy, Lolland, Falster, Bornholm, và hàng trăm đảo nhỏ thường được gọi là quần đảo Đan Mạch. Đan Mạch từ lâu đã kiểm soát cửa ngõ vào biển Baltic. Trước khi có kênh đào Kiel, nước chảy vào biển Baltic qua ba eo biển được gọi là những eo biển Đan Mạch. Đan Mạch là một quốc gia quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị. Đan Mạch có một chính phủ cấp quốc gia và chính quyền địa phương ở 98 khu tự quản. Đan Mạch là thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 1973, mặc dù không thuộc khu vực đồng Euro. Đan Mạch là thành viên sáng lập của NATO và OECD. Đan Mạch, với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hỗn hợp và hệ thống phúc lợi quốc gia lớn, xếp hạng nhất trên thế giới về bình đẳng thu nhập. Theo tạp chí kinh tế Hoa kỳ Forbes, Đan Mạch có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới. Từ năm 2006 đến 2008, theo thăm dò, Đan Mạch được xếp hạng là nơi hạnh phúc nhất thế giới dựa trên các tiêu chí sức khỏe, phúc lợi xã hội và giáo dục. Thăm dò Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2009 xếp Đan Mạch là nước yên bình thứ nhì trên thế giới sau New Zealand. Đan Mạch được xếp là nước ít tham nhũng nhất trên thế giới theo Chỉ số nhận thức tham nhũng 2008, cùng hạng với Thụy Điển và New Zealand. Tiếng Đan Mạch, ngôn ngữ quốc gia được coi là gần với tiếng Thụy Điển và tiếng Na Uy. Đan Mạch cũng có văn hóa và lịch sử tương đồng với hai nước này. 82,0% dân số Đan Mạch và 90,3% dân tộc Đan là thành viên của giáo hội Luther. Năm 2009, 526.000 người (9,5% dân số Đan Mạch) là người nhập cư hoặc thế hệ sau của những người nhập cư. Đa số (54%) trong số này có nguồn gốc từ Scandinavia hoặc châu Âu, phần còn lại chủ yếu đến từ các nơi ở châu Á. == Tên gọi == Tên gọi của Đan Mạch trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của Đan Mạch trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung Đan Mạch được gọi là “丹麥”. “丹麥” có âm Hán Việt là “Đan Mạch”. == Địa lý == Đất nước thuộc vùng Scandinavia với diện tích 43.000 km², một phần ba trong số đó là diện tích của 443 hòn đảo lớn nhỏ. Hai hòn đảo lớn nhất là Zealand (Sjælland) – rộng khoảng 7.000 km² và Funen (Fyn) – khoảng 3.000 km². Đường bờ biển dài tới 7.314 km. Địa hình của Đan Mạch khá bằng phẳng, với điểm cao nhất cách 173 m so với mực nước biển. Bán đảo Jutland (Jylland) hình thành nên phần đất liền của Đan Mạch. Nó trải dài trên 300 km tính từ biên giới với Đức. Các cồn cát, vũng biển và bãi bồi bảo vệ bờ tây của bán đảo trước những cơn bão dữ dội từ ngoài Bắc Hải. 443 hòn đảo lớn nhỏ tập trung chủ yếu trên biển Baltic, ngay sát với bờ tây của Jutland. Chỉ 76 trong số này có người ở. Độ cao trung bình của Đan Mạch so với mực nước biển là 30 m.. Những khối băng lớn của thời kì băng hà đã hình thành nên Đan Mạch ngày nay. Một vành đai băng cổ đã chia cắt phần đông và tây của Jutland. Vịnh hẹp khoét sâu vào đất liền lớn nhất có tên là Limfjorden, chạy xuyên ngang phần phía bắc bán đảo hướng tới mũi Skagen. Phía đông Jutland là Eo biển Lillebælt ngăn cách đảo Funen(Fyn) với lục địa. Đông nam Funen có hệ thống cầu nối với hòn đảo nhỏ Langeland. Chếch sang phía đông một chút là đảo Zealand (Sjælland), ngăn cách với Funen bởi Eo biển Storebælt. Trên bờ phía đông của đảo này ta sẽ tìm thấy thủ đô Copenhagen(København). Xa xa về phía đông là hòn đảo granit có tên Bornholm. Trên đảo Greenland (Grønland)có khoảng hơn 55.000 dân cư sinh sống, 48.000 trong số họ là người thiểu số Inuit. Thủ phủ của Greenland là Nuuk. Từ năm 1380 hòn đảo này là thuộc địa của Đan Mạch, từ năm 1953 nó trở thành một lãnh thổ tự trị thuộc Đan Mạch. Quần đảo Faroe (Farøerne) (thủ phủ: Tórshavn, diện tích 1.399 km², 44.800 dân) là thuộc địa của Na Uy từ năm 1035 tới năm 1814. Quần đảo này có khí hậu ôn hoà, dễ chịu chủ yếu nhờ vào ảnh hưởng của dòng hải lưu Gulf. Cũng chính dòng hải lưu này, cùng với vị trí phía bắc của Đan Mạch, ảnh hưởng phần lớn tới khí hậu của vương quốc: thường có một đợt gió từ ôn hoà tới mạnh thổi chủ yếu từ phía tây, mùa hè lạnh hơn so với các nước châu Âu khác, nhưng mùa đông lại ấm áp hơn, lượng mưa hàng năm vào loại trung bình. Cây trồng đa phần là cây chắn gió và chắn cát lấn vào đất liền. Ngoại trừ loài hươu sừng nhiều nhánh (Cervus elaphus) Đan Mạch hầu như không có thêm loài thú lớn nào khác. Ngược lại, nơi đây lại là thế giới của vô số các loài chim. Ô nhiễm môi trường chính là nguyên nhân chủ yếu đe dọa sự tồn tại của các loài động vật vùng hồ và bờ biển của Đan Mạch. Các tài nguyên chính của quốc gia: dầu mỏ, khí đốt, cá, muối và đá vôi. === Khí hậu === Đan Mạch có khí hậu ôn đới, đặc trưng bởi mùa đông ấm áp, với nhiệt độ trung bình tháng một 1,5 °C (34,7 °F), và mùa hè mát, với nhiệt độ trung bình tháng 8 17,2 °C (63,0 °F). Đan Mạch có 179 ngày có giáng thủy với tổng lượng nước 765 milimét (30 in) mỗi năm; mùa thu là mùa ẩm ướt nhất và mùa xuân khô nhất. Vị trí giữa lục địa và đại dương làm cho thời tiết thường thay đổi. Do vị trí phía bắc của Đan Mạch nên có những dao động theo mùa về ánh sáng ban ngày. Ngày ngắn trong mùa đông khi mặt trời mọc khoảng 8:45 sáng và lặn lúc 3:45 pm (giờ chuẩn), và mùa hè kéo dài khi mặt trời mọc lúc 4:30 sáng va lặn lúc 10 tối (giờ mùa hè). == Phân chia hành chính == Đan Mạch có tổng diện tích 43,094 kilômét vuông (16,639 sq mi) được phân thành 5 vùng hành chính (tiếng Đan Mạch: regioner). Các vùng này lại được chia thành 98 đô thị (kommuner). Vùng đất tận cùng phía đông ở Đan Mạch là quần đảo Ertholmene có diện tích 39 ha (0,16 m2), không phải là vùng đô thị cũng không phải một vùng nhưng trực thuộc Bộ Quốc phòng của nước này. Các vùng được thành lập ngày 01/01/2007 để thay thế 16 hạt trước đây. Cùng lúc này, các đô thị nhỏ hơn được hợp nhất để tạo thành các đơn vị lớn hơn nên giảm xuống từ 270. Hầu hết các đô thị có dân số ít nhất 20.000 dân tạo ra sự bền vững về tài chính và quản lý tốt hơn, mặc dù có một vài ngoại lệ. Đứng đầu các đơn vị hành chính là hạt được bầu cử trực tiếp nhiệm kỳ 4 năm; lần bầu cử gần đây nhất được tổ chức vào ngày 19 tháng 11 năm 2013. Các cấu trúc vùng khác sử dụng các ranh giới đô thị, bao gồm các quận cảnh sát, quận tòa án và quận bầu cử. === Các vùng === Chính thể của các vùng là các hội đồng hạt khu vực gồm 41 người được bầu nhiệm kỳ 4 năm. Đứng đầu hội đồng là regionsrådsformand người được bầu ra từ hội đồng. Hội đồng chịu trách nhiệm về chăm sóc sức khỏe quốc gia, dịch vụ xã hội, và phát triển vùng. Không giống các hạt đã được thay thế, các vùng không được phép thu thuế và dịch vụ y tế được chi trả chủ yếu từ đóng góp chăm sóc sức khỏe quốc gia khoảng 6% (sundhedsbidrag) cộng thêm các quỹ từ chính phủ và đô thị. Diện tích và dân số của các vùng thay đổi nhiều; ví dụ vùng thủ đô Đan Mạch trãi dài vùng đô thị Copenhagen và đảo Bornholm có dân số gấp 3 lần vùng phía bắc Bắc Đan Mạch, trong đó bao gồm các khu vực thưa thớt dân cư của bắc Jutland. Theo hệ thống hạt các vùng đông đúc dân cư như Copenhagen và Frederiksberg được trao quy chế tương tự như các hạt, làm nó trởi thành các đơn vĩ hành chính cấp một. Các đô thị sui generis không được sáp nhập vào các dùng mới theo cải cách năm 2007. == Ngôn ngữ == Ngôn ngữ chính của Đan Mạch là tiếng Đan Mạch, ở vùng Sønderjylland (giáp với Đức) tiếng Đức là ngôn ngữ chính thứ hai, trên đảo Greenland người ta còn nói tiếng Greenland (tiếng Đan Mạch: Grønlandsk), còn ở quần đảo Faroe thì tiếng Faroe cũng là ngôn ngữ chính thức. Phía nam Đan Mạch có khoảng 80.000 dân nói tiếng Đức. Tiếng Đan Mạch thuộc nhánh phía Bắc của nhóm ngôn ngữ German của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu với rất nhiều từ vay mượn từ ngôn ngữ miền Bắc nước Đức. Ngày nay tiếng Anh là ngoại ngữ quan trọng nhất ở Đan Mạch, đa số học sinh chọn tiếng Anh là sinh ngữ chính. Tuy nhiên tiếng Đức và tiếng Pháp vẫn có một ảnh hưởng đáng kể. == Tôn giáo == Thời tiền sử cho tới ít năm trước thời Trung cổ, Đan Mạch cũng như các nước vùng Scandinavia có niềm tin vào các vị thần trong Thần thoại Bắc Âu, gọi là Asatroen hay Nordisk mytologi. Các tác phẩm quan trọng nhất về thần thoại Bắc Âu là 2 quyển Edda cổ (ældre Edda) và Edda mới (yngre Edda). Quyển Edda cổ (hay Edda bằng thơ) là một tuyển tập thơ về các vị thần và anh hùng Bắc Âu, gồm 34 tập, trong đó có 2 tập quan trọng nhất là Voluspá và Hávamál, được viết bằng chữ Iceland cổ, từ khoảng năm 800 tới năm 1200. Quyển Edda mới (hay Edda bằng văn xuôi), còn được gọi là Snorra Edda vì được thi sĩ người Iceland là Snorri Sturluson (1179 - 1241) viết khoảng năm 1220, dạy cách làm thơ cổ Bắc Âu (skjaldekvad) và có rất nhiều truyện thần thoại (khoảng 90.000 từ). Các ngày trong tuần được gọi theo tên các vị thần: Thứ Hai: Mandag (ngày của Mặt Trăng) Thứ Ba: Tirsdag (ngày của thần Tyr) Thứ Tư: Onsdag (ngày của thần Odin) Thứ Năm: Torsdag (ngày của thần Thor) Thứ Sáu: Fredag (ngày của thần Freja) Thứ Bảy: Lørdag (ngày đi tắm) Chủ Nhật: Søndag (ngày của Mặt Trời) Đan Mạch theo Kitô giáo từ khoảng năm 965. Tới thời Kháng Cách (reformationen) năm 1536 thì phong trào Kháng Cách dòng Giáo hội Luther trở thành quốc giáo. Có một bộ trong chính phủ phụ trách về tôn giáo. Theo thống kê năm 2006 thì những người theo Giáo hội Luther Quốc giáo chiếm 95%, Công giáo Rôma 3%, Hồi giáo 2% (hầu như toàn người nhập cư), các đạo khác hoặc vô thần 13,1%. == Lịch sử == === Thời tiền sử === Các phát hiện khảo cổ ở Đan Mạch có niên đại từ năm 130.000–110.000 trước Công nguyên trong thời kỳ gian băng Eem. Con người đã sống ở Đan Mạch từ khoảng năm 12.500 trước Công nguyên và có bằng chứng ngành nông nghiệp đã tồn tại từ khoảng năm 3900 trước Công nguyên. Thời kỳ đồ đồng Nordic (1.800–600 trước Công nguyên) ở Đan Mạch đã được đánh dấu bằng các gò mộ để lại nhiều phát hiện khảo cổ, bao gồm lur và Sun Chariot. Trong Thời kỳ Đồ sắt tiền La Mã (500 trước Công nguyên – 1 Công nguyên), các nhóm dân bản địa bắt đầu di cư về phía nam, dù những người Đan Mạch đầu tiên đến Đan Mạch giữa thời kỳ tiền La Mã và Thời kỳ Đồ sắt German, trong Thời kỳ Đồ sắt La Mã (sau Công nguyên 1–400). Thời tiền sử ở Đan Mạch cách nay khoảng 15.000 năm, khi sông băng lục địa (inland ice) trôi chệch về phía bắc do một sự thay đổi khí hậu. Những người săn bắt tuần lộc (loại hươu lớn có sừng nhiều nhánh, tên khoa học là Rangifer tarandus) đã sống tại đây, sau đó tới những người sống bằng nghề săn bắt các muông thú khác và những người đánh cá trải qua hàng thiên niên kỷ. Cách nay khoảng 6.000 năm thì bắt đầu thời đại đồ đá của người săn bắt, dần dần thay thế bằng thời đại đồ đá của nông dân, sau đó là thời đại đồ đồng, rồi thời đại đồ sắt. Ngay cuối thời đại đồ sắt, tức khoảng thế kỷ thứ 8, ở đây đã tồn tại một chính quyền trung ương mạnh, bằng chứng là đã có công trình Dannevirke gồm hệ thống bờ lũy cao, dài 14 km ở cách phía nam biên giới Đan Mạch - Đức hiện nay khoảng 40 km, gần bên thành phố viking Hedeby (tiếng Đức là Haithabu), vùng Slien gần Schleswig. Ngoài ra trong thời đại đồ sắt còn một hệ thống kênh đào ngang qua đảo Samsø dài khoảng 500 m, rộng 11 m để tàu thuyền lưu thông, thời đó dùng làm một khâu của căn cứ hải quân bảo vệ thành phố Aarhus, gọi là Kanhavekanalen. === Trung cổ === Thời tiền sử kết thúc vào thời Viking, khi những người Viking Đan Mạch bắt đầu đi buôn bán và cứớp bóc ở phần lớn châu Âu. Nhờ có 2 tấm bia đá khắc chữ rune ở Jelling (nam bán đảo Jylland, tấm nhỏ do Gorm già dựng khoảng năm 955, tấm lớn do Harald răng xanh dựng khoảng năm 965) mà ta biết vị vua đầu tiên của bán đảo Jylland là Gorm già Gorm den Gamle và là cha của Harald Blauzahn (Harald răng xanh), người sau này đã thống nhất Đan Mạch vào năm 980. Hai tấm bia kể trên được coi là "Giấy khai sinh của Đan Mạch". Cho tới tận thế kỷ 11 người Đan Mạch vẫn còn được coi là người Viking, dân tộc đã từng làm chủ nhiều thuộc địa và thâu tóm việc buôn bán khắp châu Âu. Người Viking cũng như thường xuyên cướp phá và gây chiến. Họ bắt đầu đòi cái gọi là Danegæld (món nợ người Đan Mạch) theo đó thì các vua Anh phải nộp thuế cho vua Đan Mạch, để không bị cướp bóc, vì họ có một hạm đội rất mạnh. === Cận đại === Rất nhiều lần trong lịch sử Đan Mạch đã giành được quyền kiểm soát Vương quốc Anh, Na Uy, Thuỵ Điển và một phần lớn bờ biển Baltic, cũng như phần phía bắc nước Đức. Vùng Skåne (phần đất phía nam Thuỵ Điển ngày nay) cũng đã từng thuộc về Đan Mạch trong một thời gian dài trước khi trao cho Thụy Điển sau Hòa ước Roskilde vào năm 1658. Liên hiệp Đan Mạch - Na Uy (1380-1814) kết thúc vào năm 1814 cùng với việc Na Uy bị sát nhập vào Thuỵ Điển (tới năm 1905). Riêng Greenland, quần đảo Faroe, Iceland (cho tới năm 1944) và vùng Đan Mạch-Tây Ấn (cho tới năm 1917) vẫn thuộc quyền sở hữu của Đan Mạch. Phong trào dân tộc và những người dân chủ ở Đan Mạch bắt đầu tạo được nhiều ảnh hưởng từ thập niên 1830. Sau cuộc cách mạng châu Âu 1848, nhà nước quân chủ lập hiến Đan Mạch được thành lập: hiến pháp đầu tiên được soạn thảo. Sau khi thất bại trong cuộc Chiến tranh Phổ-Đan Mạch năm 1864, Đan Mạch buộc phải cắt vùng Schleswig-Holstein cho nước Phổ. Kể từ sau thất bại này Đan Mạch giữ một thái độ nhất quyết trung lập trong đối ngoại của quốc gia cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. === Thế kỷ 20 đến nay === Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất biên giới Đan Mạch - Đức được tái xác lập, lần này là lui về phía nam. Năm 1920 nó được xác định chính thức và tồn tại cho đến ngày nay: bắc Schleswig trở về với Đan Mạch. Việc thường xuyên thay đổi đường biên giới dẫn tới sự tồn tại của hai bộ phận dân cư thiểu số ở hai phía: người Đức ở nam Đan Mạch và người Đan Mạch ở miền bắc nước Đức. Từ ngày 9 tháng 4 năm 1940 cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai Đan Mạch nằm dưới sự chiếm đóng của quân đội Đức. Cuộc nổi dậy của nhân dân Đan Mạch chống lại sự thảm sát người Do Thái đã trở nên tiêu biểu. Tháng 10 năm 1943 những người Do Thái ở Đan Mạch đã được nhân dân Đan Mạch cứu thoát. Sau chiến tranh, Đan Mạch trở thành thành viên của khối NATO. Năm 1973 vương quốc này là quốc gia Bắc Âu đầu tiên trở thành thành viên của Cộng đồng châu Âu, nay là Liên minh châu Âu, sau cuộc trưng cầu dân ý. Năm 1989, Đan Mạch trở thành nước đầu tiên trên thế giới thông qua luật cho phép người đồng tính luyến ái được phép chung sống với nhau. Sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1992, người Đan Mạch phản đối việc phê chuẩn hiệp ước Maastricht (Hiệp ước ngày 7 tháng 2 năm 1992, thành lập Liên minh châu Âu của 12 quốc gia thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu), nhưng lại chấp nhận vào năm 1993. Trong cuộc trưng cầu ý dân năm 2000, Đan Mạch đã từ chối lưu hành đồng euro, nước này vẫn sử dụng đồng tiền riêng của nước mình. == Chính trị == Luật căn bản - cũng gọi là luật hiến pháp - của Vương quốc Đan Mạch (Danmarks Riges Grundlov) được vua Frederik VII ký ban hành ngày 5 tháng 6 năm 1849. Luật này chuyển quốc gia Đan Mạch từ một vương quốc do một người cai trị (enevælde) sang một quốc gia theo chính thể quân chủ lập hiến với chế độ tam quyền phân lập. Quyền lập pháp ở trong tay quốc hội (Folketinget), quyền hành pháp do chính phủ đảm nhiệm và quyền tư pháp độc lập. Người đứng đầu quốc gia (chỉ đóng vai trò tượng trưng) là vua hoặc nữ hoàng. Hiện nay đứng đầu vương quốc là Nữ hoàng Margrethe II. Luật căn bản này đã trải qua 3 đợt tu chính: lần thứ nhất vào năm 1866, lần thứ hai vào năm 1915 (cho phép các phụ nữ được quyền ứng và bầu cử) và lần thứ ba vào năm 1953. === Chế độ quân chủ lập hiến === Đan Mạch theo thể chế quân chủ lập hiến và hệ thống chính trị đa đảng, đứng đầu Nhà nước là Nữ hoàng. Nữ hoàng chỉ mang tính lễ nghi, không còn quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị thuộc về cơ quan hành pháp (Chính phủ), đứng đầu là Thủ tướng. === Quyền lập pháp === Kể từ năm 1953, Quốc hội Đan Mạch bỏ việc phân chia Quốc hội thành Thượng viện và Hạ viện (do hai viện nay có quyền hạn như nhau nên rất khó để phân biệt) và theo chế độ một viện (unicameral) với 179 nghị sĩ (trong đó 2 ghế dành riêng cho đảo Greenland và 2 ghế dành cho quần đảo Faroe), được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm. Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở Đan Mạch là nền dân chủ liên hiệp (collaborative democracy). Từ năm 1909, không có một đảng nào giành đa số tuyệt đối trong bầu cử; phần lớn là chính phủ thiểu số của một đảng hoặc chính phủ liên minh 2-3 đảng. Kể từ thập kỷ 1980, trong quốc hội luôn có đại diện của ít nhất là 7 đảng. Quốc hội Đan Mạch (Folketinget) nắm quyền lập pháp, gồm 179 đại biểu và được bầu 4 năm một lần. Trong số 179 đại biểu quốc hội có hai đại diện của đảo Greenland và hai đại diện của quần đảo Faroe. Hiện nay - sau cuộc bầu cử trước thời hạn, ngày 23 tháng 11 năm 2007 - có tất cả 8 đảng phái đại diện trong quốc hội và số đại biểu được chia như sau: Đảng Tả (chủ trương tự do kinh tế) (Venstre): 46 đại biểu Đảng Dân chủ Xã hội (Socialdemokratiet): 45 đại biểu Đảng Dân tộc Đan Mạch (Dansk Folkeparti): 25 đại biểu Đảng Dân tộc Xã hội (Socialistisk Folkeparti): 23 đại biểu Đảng Dân tộc Bảo thủ (Det Konservative Folkeparti): 18 đại biểu Đảng Tả Cấp tiến (Det Radikale Venstre): 9 đại biểu Đảng Tân Liên minh (Ny Alliance): 5 đại biểu Danh sách thống nhất (Enhedslisten): 4 đại biểu Đảo Greenland: 2 đại biểu Quần đảo Faroe: 2 đại biểu Các đảng khác không đạt được tỷ lệ 2% phiếu bầu của tổng số cử tri thì bị loại. === Quyền hành pháp === Đứng đầu là Thủ tướng, do Nữ hoàng Đan Mạch chỉ định (thường là lãnh đạo đảng chiếm đa số hoặc lãnh đạo của liên minh cầm quyền). Thủ tướng có quyền thành lập nội các và trình lên Nữ hoàng để xem xét chấp thuận. Chính phủ hiện nay là chính phủ của Thủ tướng Helle Thorning-Schmidt. Chính phủ nắm quyền hành pháp, hiện nay nội các do phe đa số nắm giữ, gồm đảng Tả chủ trương tự do kinh tế, đảng Dân tộc Đan Mạch, Đảng Dân tộc Bảo thủ và Đảng Tân Liên Minh, do chủ tịch đảng Tả là Anders Fogh Rasmussen giữ chức thủ tướng ( statsminister). === Quyền tư pháp === Quyền tư pháp hoàn toàn độc lập, do hệ thống các tòa án nắm giữ, đứng đầu là tòa án tối cao (højesteret), 2 tòa án quốc gia (landsret) miền đông và miền tây (tương đương tòa thượng thẩm) cùng các tòa án sơ thẩm cấp thành phố (byret) v.v. === Các đảng phái chính trị === - Đảng Tự do, thành lập năm 1870, do Thủ tướng Lars Løkke Rasmussen đứng đầu. - Đảng Bảo thủ, do Bộ trưởng Tư pháp Lars Barfoed đứng đầu. - Đảng Dân chủ xã hội, thành lập năm 1871, do bà Helle Thorning-Schmidt đứng đầu. - Đảng Nhân dân Đan Mạch, thành lập năm 1995, do bà Pia Merete Kjærsgaard đứng đầu. - Đảng Nhân dân Xã hội chủ nghĩa, thành lập năm 1916, do ông Villy Søvndal đứng đầu. - Đảng Tự do xã hội, thành lập năm 1905, do bà Margrethe Vestager đứng đầu. - Đảng Liên minh xanh – đỏ cánh tả, thành lập năm 1989, lãnh đạo tập thể. - Đảng Liên minh Tự do cánh hữu, thành lập năm 2007, do ông Anders Samuelsen đứng đầu. === Các khu vực hành chính === Trước đây Đan Mạch chia ra thành 13 amt (tương đương tỉnh hạt) và 270 kommune (tương đương thị trấn hay xã nông thôn). Theo cuộc cải cách cơ cấu hành chính 2007 ( strukturreformen 2007) thì kể từ 1 tháng 1 năm 2007, bãi bỏ các amt, thay vào đó là 5 vùng: vùng Thủ đô (Region Hovedstaden) vùng Sjælland (Region Sjælland) vùng Nam Đan Mạch (Region Syddanmark) vùng Trung bán đảo Jylland (Region Midtjylland) vùng Bắc bán đảo Jylland (Region Nordjylland) Số 270 kommune cũng được nhập chung lại còn 98 kommune. == Quan hệ ngoại giao == Năm 2003, Đan Mạch được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2004-2006. Đan Mạch luôn theo đuổi chính sách đối ngoại rộng mở, tích cực và gắn bó với Tây Âu và Mỹ; ủng hộ việc xây dựng một châu Âu thống nhất, vững về kinh tế, mạnh về chính trị, an ninh và quốc phòng. Đan Mạch có cùng quan điểm với Anh, Ý trong việc thông qua Hiến pháp EU mới; tăng cường quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Với EU: Năm 2010, Đan Mạch tiếp tục ưu tiên tăng cường quan hệ với EU, hoan nghênh phê chuẩn Hiệp ước Lisbon, ủng hộ lập Quỹ cứu trợ giúp các nước giải quyết khủng hoảng nợ công; đơn phương cam kết cho Ireland vay 400 triệu bảng Anh để khắc phục khó khăn tài chính. Đan Mạch ủng hộ EU lập Cơ quan đối ngoại chung và tích cực đóng góp để EU có vai trò quan trọng tại diễn đàn Liên Hợp Quốc (LHQ) và trên thế giới. Chính phủ Đan Mạch hiện nay chủ trương Đan Mạch cần tham gia đầy đủ vào các cơ chế của EU, tiến tới gia nhập khu vực đồng euro và tích cực phát huy vai trò khi đảm nhận chức Chủ tịch luân phiên EU trong 6 tháng đầu năm 2012. Với châu Âu: Năm 2010, Đan Mạch làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tổ chức hợp tác khu vực Bắc Âu và Hội đồng các nước vùng Bắc Cực, đã tích cực thúc đẩy hợp tác với các nước này về đối ngoại, an ninh, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đan Mạch tăng cường quan hệ với Nga, nhất là về kinh tế, năng lượng. Với châu Á: Đan Mạch đánh giá cao sự phát triển kinh tế và vai trò to lớn của Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế mới nổi ở châu Á, coi đây là khu vực ưu tiên hàng đầu trong chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu và quan hệ kinh tế đối ngoại đến năm 2020. Tháng 12 năm 2010, Đan Mạch công bố "Chiến lược đối ngoại đến năm 2020", trong đó xác định ưu tiên phát triển quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và các nước mới nổi về kinh tế. Các vấn đề quốc tế: Đan Mạch ủng hộ tăng cường vai trò của Liên Hiệp Quốc, cải tổ NATO, tăng cường phối hợp NATO, Liên Hiệp Quốc và các cơ chế đa phương khác để đảm bảo hòa bình và ổn định trên thế giới. Đan Mạch tiếp tục cam kết chống khủng bố và giúp bình ổn tình hình ở Afghanistan; nỗ lực cải thiện quan hệ với các nước Hồi giáo, cùng EU đóng góp thúc đẩy tiến trình hòa bình Trung Đông, giải quyết vấn đề hạt nhân Iran, tham gia lực lượng chống hải tặc ở vùng ngoài khơi Somalia. Đan Mạch có quan hệ ngoại giao với trên 100 nước, là thành viên của hầu hết các tổ chức chính trị, kinh tế, tài chính quốc tế và khu vực, tham gia Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) năm 1959, Hội đồng Bắc Âu và Quỹ Dự án Bắc Âu (NOPEF)(1952), gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) (1949), nhưng không cho phép NATO thiết lập căn cứ hạt nhân NATO trên lãnh thổ Đan Mạch trong thời bình. Ngoài ra, Đan Mạch là thành viên tích cực của Liên Hợp Quốc (UN), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). == Mạng lưới giao thông == Đan Mạch có mạng lưới giao thông đường bộ tổng cộng khoảng 71.600 km, trong đó 880 km là xa lộ. Có 35 cầu các loại, có chiều dài từ 200 m trở lên. Vào mùa hè năm 1998, đã khánh thành cầu nối từ đảo Fyn sang đảo Zealand, Cầu Storebælt (Storebæltsbroen), là một trong các cầu dài nhất châu Âu, với một phần đường hầm dưới lòng biển (tunnel) dành cho xe lửa. Đan Mạch cũng xây dựng chung với Thụy Điển Cầu Oresund nối từ đảo Zealand (Đan Mạch) sang vùng Nam Thụy Điển (Øresundsbroen). Ngoài ra còn các tàu phà (ferry) nối liền giao thông giữa đất liền với các đảo hoặc giữa các đảo với nhau. Mạng lưới đường sắt Đan Mạch có tổng chiều dài 2.875 km (năm 2000), trong đó có 508 km đường sắt do công ty tư nhân khai thác, số còn lại do Công ty đường sắt quốc gia Đan Mạch ( Danske Statsbaner) quản lý. Từ ngày 19 tháng 10 năm 2002, Đan Mạch có thêm một số đường tàu điện ngầm (Metro) tại thủ đô Copenhagen. Đan Mạch có bốn sân bay quốc tế là: sân bay Copenhagen, sân bay Billund, sân bay Aalborg và sân bay Aarhus. == Kinh tế == Đan Mạch có một nền kinh tế thị trường hiện đại và một nền công nghiệp chuyên môn hóa, năng động, đủ khả năng cạnh tranh với các nước khác. Ngoài các xí nghiệp trung bình và nhỏ, Đan Mạch cũng có các công ty đa quốc gia như A.P. Møller-Mærsk (hãng vận tải hàng hải quốc tế), Lego (sản xuất đồ chơi trẻ em), Carlsberg (hãng bia), Vestas (sản xuất quạt gió), các hãng dược phẩm Lundbeck và Novo Nordisk. Do thị trường nội địa nhỏ bé, kinh tế Đan Mạch chủ yếu dựa vào việc buôn bán với nước ngoài. Khoảng 70% là buôn bán với các nước trong Liên minh châu Âu, trong đó khoảng 17% là với Đức, đối tác lớn nhất. Đan Mạch xuất cảng các dịch vụ, các máy móc công nghiệp, các dụng cụ chuyên ngành, sản phẩm hóa chất, thuốc chữa bệnh, hàng dệt may, v.v. Nguồn dầu khí khai thác từ Bắc Hải được tiêu dùng trong nước, số thặng dư cũng được xuất cảng, mang lại một lợi tức đáng kể. Ngành nông nghiệp sản xuất thực phẩm hàng năm đủ cung cấp cho 15 triệu người (dân số Đan Mạch là trên 5,4 triệu). Ngành chăn nuôi sản xuất thịt các loại và các sản phẩm chế biến từ sữa, riêng thịt heo năm 2005 là trên 2 triệu tấn. Các sản phẩm nông nghiệp nói chung, trị giá khoảng 90 tỷ kroner/năm (tỷ giá hối đoái đầu tháng 12/2007 khoảng 1 US$ = 5,1 krone). Đan Mạch không có thủy điện, cũng không sử dụng năng lượng hạt nhân, nhưng sử dụng nhiệt điện và năng lượng sức gió từ các cánh quạt lớn. Nguồn năng lượng này đáp ứng được 10% nhu cầu trong nước. Số năng lượng thiếu hụt được nhập từ Thụy Điển. Thặng dư tài chính quốc gia năm 2005 là 4,9% BNP, năm 2006 là 4,2% BNP. Cán cân thanh toán các năm gần đây là thặng dư và Nhà nước hầu như không có nợ nước ngoài. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 10 năm 2007 là 3% tức 81.700 người. Năm 1999, là năm bùng nổ của ngành du lịch Đan Mạch với việc đón trên 2 triệu lượt khách quốc tế tới thăm, trong số đó có trên một triệu người Đức. Doanh thu từ du lịch ước đạt khoảng 3,31 tỉ USD. Do nghèo tài nguyên và thiếu nguyên liệu buộc người Đan Mạch phải học cách sử dụng nguyên liệu một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất như ứng dụng năng lượng gió và các năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, Đan Mạch cũng phụ thuộc lớn vào các hoạt động ngoại thương, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu lương thực và năng lượng. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Đan Mạch chiếm 31,8% GDP (tương đương 99,37 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu đạt 29,1% GDP cả nước (tương đương 90,83 tỷ USD). Nền kinh tế Đan Mạch trong năm 2010 tuy chưa thực sự phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nhưng cũng đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại với mức tăng GDP 1% trong năm 2010 (so với mức suy thoái -5,2% vào năm 2009), tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ còn 4,2% trong năm 2010, tuy nhiên tỷ lệ lạm phát tăng ở mức 2,6%. Tính đến năm 2016, GDP của Đan Mạch đạt 302.571 USD, lớn thứ 39 trên thế giới và lớn thứ 16 châu Âu. === Tiền tệ === Đơn vị tiền của Đan Mạch là đồng krone Đan Mạch (ký hiệu quốc tế DKK). Ngày 28.9.2000, trong một cuộc trưng cầu ý dân (46,8% thuận, 53,2% chống), Đan Mạch đã từ chối không gia nhập đồng tiền chung của Liên minh châu Âu. Cùng với Anh, Đan Mạch đã ký với các nước trong Liên minh một điều khoản gọi là opting-out (sự chọn lựa không tham gia) cho phép Đan Mạch không gia nhập đồng tiền chung của Liên minh là đồng euro. Tuy nhiên trên thực tế, đồng krone gắn bó chặt chẽ với đồng euro qua hệ thống Cơ chế tỷ suất hối đoái châu Âu II (European Exchange Rate Mechanism II), một phần của Hệ thống tiền tệ châu Âu (European Monetary System). Tỷ giá giữa đồng euro và đồng krone bao giờ cũng xấp xỉ: 1 euro = 7,45 krone. == Văn hoá == Những di sản văn hoá thế giới ở Đan Mạch bao gồm các đồi mộ cổ (gravhøj,kæmpehøj, tiếng Anh: tumulus), những bia đá Jelling (khắc chữ Rune) và nhà thờ vùng Jelling, cũng như nhà thờ chính tòa Roskilde và lâu đài Kronborg ở thành phố Helsingør. Nhiều người Đan Mạch được giải Nobel: 1903: Niels Ryberg Finsen, giải Nobel dành cho Sinh lý và Y học 1908: Fredrik Bajer, giải Nobel hòa bình (cùng với người Thụy Điển Klas Pontus Arnoldson) 1917: Henrik Pontoppidan và Karl Gjellerup, giải Nobel văn chương 1920: August Krogh, giải Nobel dành cho Sinh lý và y học 1922: Niels Bohr, giải Nobel vật lý 1926: Johannes Fibiger, giải Nobel dành cho Sinh lý và y học 1943: Henrik Dam, giải Nobel dành cho Sinh lý và y học (cùng với người Mỹ Edward A. Doisy) 1944: Johannes Vilhelm Jensen, giải Nobel văn chương 1975: Aage Niels Bohr và Ben Roy Mottelson, giải Nobel vật lý (cùng với người Mỹ Leo J. Rainwater) 1984: Niels Kaj Jerne, giải Nobel dành cho Sinh lý và y học (cùng với người Đức George J.S. Köhler và người Argentina Cesar Millstein) 1997: Jens Christian Skou, giải Nobel Hóa học (cùng với người Mỹ Paul D. Boyer và người Anh John E. Walker) === Văn học === Nhà văn lớn đầu tiên của Đan Mạch là Saxo Grammaticus (khoảng 1160 - sau 1208), người viết tác phẩm Gesta danorum (Các kỳ công của người Đan Mạch) bằng tiếng Latin. Nhà văn nổi tiếng thế giới của Đan Mạch là Ludvig Holberg(1684 - 1574, gốc Na Uy), tác giả của 31 hài kịch, 4 tập thơ, 4 tiểu luận, 8 tiểu thuyết lịch sử và một tiểu thuyết trào phúng. Về khuynh hướng lãng mạn có Johannes Ewald (1743 - 1781) và Jens Baggesen (1764 - 1826). Georg Brandes (1842 - 1927) là nhà phê bình văn học nổi tiếng. Ngoài ra còn các nhà văn nổi tiếng khác như Gustav Wied (1858 - 1914), Martin A. Nexø (1869 - 1954), Tom Kristensen (1893 - 1974). Những nhà văn Đan Mạch có nhiều đóng góp cho văn học thế giới có thể kể đến Hans Christian Andersen (1805 - 1875) - tác giả của nhiều câu truyện cổ tích nổi tiếng, nhà văn nữ Karen Blixen (1885 - 1962), cũng như nhà văn từng đoạt giải thưởng Nobel năm 1944 Johannes Vilhelm Jensen (1873 -1950), tiểu thuyết Kongens Fald của ông vừa được một số tờ báo chọn là tác phẩm thế kỉ của Đan Mạch. Hai nhà văn Karl Gjellerup (1857 -1919) và Henrik Pontoppidan(1857 - 1943) cùng chia nhau giải Nobel năm 1917. Nhà văn tiêu biểu cho trường phái ấn tượng của Đan Mạch là Herman Bang (1857 - 1912). Các tác phẩm nổi tiếng của ông là Ved Vejen (Bên đường, 1886) được Max von Sydow chuyển thể thành phim năm 1988, dưới tên Katinka, Stuk (1887) và Tine (1889), được Knud Leif Thomsen đưa lên màn ảnh năm 1964, Mikael (1904) cũng được Mauritz Stiller đưa lên màn ảnh năm 1916, sau đó Carl Theodor Dreyer cũng lại làm một bản phim mới (1924). Mặc dù được biết đến nhiều hơn trong vai trò một nhà triết học, Søren Kierkegaard (1813 - 55) cũng là một tên tuổi lớn của nền văn học Đan Mạch. Một tác giả nổi tiếng thế giới khác là Peter Høeg (1957 - ?), ông được biết đến với tác phẩm Frøken Smillas fornemmelse for sne (Cảm giác về tuyết của nàng Smillas). === Điện ảnh === Trong thời kì phim câm Đan Mạch là nhà sản xuất phim lớn của thế giới sau Mỹ, Đức và Pháp. Dẫu cho địa vị này bị phá vỡ cùng với sự ra đời của phim có âm thanh, nhưng những tác phẩm điện ảnh của Đan Mạch vẫn giành được sự chú ý trên thế giới. Thập niên 1990 đánh dấu sự trở lại của Đan Mạch trên phim trường quốc tế cùng với phong trào tuyên ngôn Dogma 95. Những đạo diễn nổi tiếng của Đan Mạch: Carl Theodor Dreyer (1889 - 1968), giải Bodil (giải thưởng cao nhất của Viện hàn lâm phim Đan Mạch) năm 1955 và giải Quả cầu vàng (Golden Globe) của The Hollywood Foreign Press Association cho phim Ordet (Ngôi Lời) (1955) Lars von Trier (s. 30 tháng 4 năm 1956) với phim Breaking the Waves (1996) đoạt Grand Prix tại Liên hoan phim Cannes cùng năm và giải César cho Phim nước ngoài hay nhất. Năm 2000, phim Dancer in the Dark đoạt giải Cành cọ vàng (Palme d'or) tại Liên hoan phim Cannes và nữ diễn viên chính Björk đoạt giải diễn viên xuất sắc nhất. Bille August (s. 9 tháng 11 năm 1948) với phim Pelle Eroberen (Pelle người chinh phục, 1987) đoạt giải Cành cọ vàng ở Liên hoan phim Cannes (1988), giải Quả cầu vàng (Golden Globe) (1989) và giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất. Phim Den gode vilje (Thiện chí, 1991) đoạt Cành cọ vàng ở Liên hoan phim Cannes (1992). Erik Balling (1924 - 2005) với bộ phim dài 14 tập nổi tiếng Olsen Banden (Băng đảng Olsen) Lasse Spang Olsen (s. 23 tháng 4 năm 1965) với phim I Kina spiser de hunde (Ở Trung Quốc người ta ăn thịt chó) (1999) Thomas Vinterberg (s. 19 tháng 5 năm 1969) là một trong 4 thành viên phong trào Dogma 95 Lone Scherfig (s. 2 tháng 5 năm 1959), nữ đạo diễn phim Italiensk for begyndere (Tiếng Ý cho người mới bắt đầu học) (2000), giải Gấu bạc tại Liên hoan phim Berlin năm 2001. Susanne Bier (s. 15 tháng 4 năm 1960), giải Bodil (1999) và giải Robert (của Viện hàn lâm phim Đan Mạch) (2000) cho phim Den eneste ene (Người duy nhất); giải Bodil và giải Robert (2003) cho phim Elsker dig for evigt (Yêu em mãi mãi). Phim Efter brylluppet (Sau đám cưới) (2006) cũng được đề nghị trao giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất. Ole Bornedal (s. 26 tháng 5 năm 1959) với các phim như Nattevagten (Người trực gác đêm, tiếng Anh: Nightwatch) (1994) và I am Dina (2002) v.v. Phim nước ngoài ở Đan Mạch thường không được lồng tiếng mà chỉ được làm thêm phụ đề, ngoại trừ một số phim thiếu nhi. === Thể thao === Các môn thể thao phổ biến nhất ở Đan Mạch là bóng đá, đua thuyền các loại và bóng ném. Năm 1992 đội tuyển bóng đá nam của Đan Mạch đã giành chức vô địch châu Âu. Đội tuyển bóng ném nữ cũng giành huy chương vàng trong các kì Thế vận hội 1996, 2000 và 2004. Đội tuyển bóng ném nam cũng giành 1 huy chương vàng trong giải vô địch bóng ném châu Âu tại Na Uy (tháng 1/2008) và 2 huy chương đồng trong giải vô địch bóng ném châu Âu tại Thụy Sĩ năm 2006 và giải vô địch bóng ném thế giới tại Đức năm 2007. Hiện nay (10.4.2008) đội tuyển bóng ném nam Đan Mạch đứng đầu trong bảng xếp hạng các đội bóng ném nam châu Âu với 416 điểm hơn đội Pháp thứ nhì 8 điểm. Trong môn cầu lông (badminton) các vận động viên của Đan Mạch cũng là những nhà vô địch thế giới. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cổng chính phủ Đan Mạch (tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, và Đức)
giải quần vợt mỹ mở rộng.txt
Giải quần vợt Mỹ Mở rộng (tiếng Anh: US Open) là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam cuối cùng trong năm và diễn ra vào nửa cuối tháng 8 và đầu tháng 9 tại Thành phố New York, Hoa Kỳ. == Lịch sử == Trước năm 1968, giải này có tên là Giải Vô địch quốc gia Hoa Kỳ (US National Championships) và chỉ những đấu thủ nghiệp dư mới được tham dự. Đến năm 1968 thì giải này được "mở rộng" ra cho cả những đấu thủ chuyên nghiệp tham dự, vì vậy được đổi tên thành "US Open" - Giải quần vợt Mỹ Mở rộng. Từ 1881 đến 1915, giải tổ chức ở Newport Casino, Newport, Rhode Island (nay là địa điểm của International Tennis Hall of Fame). Năm 1915 giải được rời về West Side Tennis Club ở Forest Hills, New York cho đến năm 1978 thì rời về địa điểm hiện tại ở Flushing Meadows, New York. Giải vô địch Hoa Kỳ đã được chơi trên 3 mặt sân trong lịch sử. Từ lúc khởi đầu năm 1881 cho đến năm 1974, giải chơi trên sân cỏ (ở Newport Casino và Forest Hills). Từ 1975 đến 1977 đổi sang sân đất Har-Tru (ở Forest Hills). Từ 1978 đến nay dùng sân cứng DecoTurf (ở Flushing Meadows). Jimmy Connors là nhà vô địch duy nhất đã chiến thắng trên cả ba mặt sân: năm 1974 ông thắng trên sân cỏ, năm 1976 thắng trên sân đất và các năm 1978, 1982, 1983 ông vô địch trên sân cứng. == Sân thi đấu == Hiện nay toàn bộ hệ thống sân quần vợt ở Flushing Meadows được gọi là Trung tâm quần vợt quốc gia Billie Jean King (USTA Billie Jean King National Tennis Center), mang tên cựu số 1 nữ thế giới Billie Jean King. Trung tâm này có các sân như sau: sân chính tên là Sân vận động Arthur Ashe có 24.000 ghế ngồi. Sân này lấy tên từ Arthur Ashe là một tay vợt nổi tiếng người Mỹ da đen, đã vô địch giải Mỹ Mở rộng lần đầu tiên trong kỉ nguyên Mở năm 1968. Sân số 2 là Sân vận động Louis Armstrong. Sân số 3 là Sân vận động Grandstand, nối liền với sân Louis Armstrong. Những sân phụ số 4, 7 và 11 mỗi sân chứa được 1000 người. Tất cả các sân ở US Open là loại sân cứng DecoTurf ngoài trời. Sân DecoTurf được làm bằng nhiều lớp cao su mỏng trộn với cát rồi đổ lên sàn xi măng. Vì vậy trên sân US Open banh đi rất nhanh và độ nảy đều nên hợp với các đấu thủ có cú giao bóng mạnh và thích lên lưới. Từ năm 2005, các sân ở US Open được đổi từ màu truyền thống của sân quần vợt là màu xanh lá sang màu xanh dương để thấy bóng rõ hơn. == Tiền thưởng == Tổng tiền thưởng cho nhà vô địch Mỹ Mở rộng 2016 là 46,300,000 US$, được phân chia như sau: * per team == Điểm xếp hạng == Điểm xếp hạng cho nam (ATP) and nữ (WTA) đã có nhiều thay đổi tại US Open thông qua nhiều năm nhưng bây giờ tay vợt nhận được các điểm như sau đây: == Danh sách các nhà vô địch == Danh sách vô địch đơn nam Mỹ Mở rộng Danh sách vô địch đơn nữ Mỹ Mở rộng Danh sách vô địch đôi nam Mỹ Mở rộng Danh sách vô địch đôi nữ Mỹ Mở rộng Danh sách vô địch đôi nam nữ Mỹ Mở rộng == Thống kê kỉ lục == == Chú thích == == Tham khảo ==
diêm hoài lễ.txt
Diêm Hoài Lễ (tiếng Trung: 闫怀礼; bính âm: Yān Huāi Lǐ, 23 tháng 3 năm 1936 - 12 tháng 4 năm 2009) là một diễn viên Trung Quốc từng thủ vai Sa Tăng trong phim truyền hình năm 1986 Tây du ký. == Tiểu sử == Ông sinh ngày 23 tháng 6 năm 1936 tại Sơn Đông và đã tốt nghiệp trường văn hóa Hà Bắc và được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân của Trung Quốc. Ông đóng góp rất nhiều bộ phim của Trung Quốc và là giảng viên. == Sự nghiệp == Diêm Hoài Lễ là diễn viên cấp 1 quốc gia, là nghệ sĩ nhân dân toàn quốc. Khán giả biết đến Hoài Lễ nhờ nhân vật Sa Tăng nhưng có lẽ ít người biết rằng trong bộ phim Tây Du Ký, ông còn đóng thêm 9 vai khác là Thái Thượng lão quân, Ngưu Ma Vương, Tây Hải Long Vương, Mắt ngàn dặm; và những nhân vật quần chúng như hòa thượng, ông già, đại tướng Cuốn Bộ… Năm 1958, ông thi vào khoa nhạc kịch nghệ thuật dân tộc Bắc Kinh, từ đó đi theo con đường nghệ thuật. Những năm 60 thế kỉ 20, trong vở Tuổi trẻ một thời, Hoài Lễ đóng vai Tiêu Tức Nghiệp, ngoài ra trong Trí tuệ Uy Hổ Sơn, Hồng Nham. Năm 1982 bắt đầu sự nghiệp phim truyền hình. Những năm 80 đóng vai Sa tăng trong phim Tây Du Kí Năm 1991 đóng vai Trình Phổ trong bộ phim Tam quốc diễn nghĩa Năm 1993 đóng Tạ Tốn trong bộ phim nhựa Ỷ thiên đồ long kí Năm 1996, ông đóng vai Tề Công trong bộ phim Đông Chu Liệt Quốc Năm 2000, ông đóng vai Trần Huy Tổ trong bộ phim Kỉ Hiểu Lam == Qua đời == Ngày 12 tháng 4 năm 2009, Diêm Hoài Lễ qua đời do tuổi cao và bị mắc bệnh phổi tại bệnh viện Millennium Monument ở Bắc Kinh. Mã Đức Hoa - diễn viên đóng vai Trư Bát Giới đã không kịp nhìn mặt bạn thân. Đám tang do các nhân vật chính và người hâm mộ đến dự vào ngày 16 tháng 4 năm 2009. Tham dự lễ tang ông trong số các diễn viên Tây Du Ký có Trì Trọng Thoại, Uông Việt, Lục Tiểu Linh Đồng và vợ, Mã Đức Hoa, Lưu Đại Cương (vào vai Sa Tăng phần hai), Vương Bá Chiêu (vai Tiểu Bạch Long), Châu Lâm, Châu Long Nghiễm (vai Phật tổ), Tôn Phượng Cầm (vai Lê Sơn Lão Mẫu). == Bộ phim đã tham gia == Tây du ký; Mad men and mad women and two Love; Tam Quốc diễn nghĩa; Zhan Tianyou; Ỷ Thiên Đồ Long Ký. == Các vai trong Tây du ký == Ngoài vai Sa Tăng ra, Diêm Hoài lễ còn tham gia các vai sau: Thiên lý nhãn (tập 1, 2,3); Ngưu Ma Vương (tập 2); Người dân thường; Tây Hải Long Vương (tập 5); Mã giám quan (tập 2); Thái thượng lão quân (tập 12); Một lão sư (tập 6); Quyển liêm đại tướng và một vài vai khác . == Xem thêm == Tôn Ngộ Không Trư Bát Giới == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Sa Tăng của 'Tây Du Ký' đã qua đời 'Thầy trò Đường Tăng' đưa tiễn Sa Tăng Chùm ảnh thầy trò Đường Tăng sau hơn 20 năm. Các tin về Diêm Hoài Lễ (tiếng Trung) Trang wed của đám tang Diêm Hoài Lễ (tiếng Trung) Trang web của Diêm Hoài Lễ
phnôm pênh.txt
Phnôm Pênh (tiếng Khmer: ភ្ន៓ពេញ; chuyển tự: Phnum Pénh; IPA: [pʰnum peːɲ]), hay Phnom Penh, còn gọi là Nam Vang hay Nam Vinh, là thành phố lớn nhất và là thủ đô của Vương quốc Campuchia. Đây cũng là thủ phủ của thành phố tự trị Phnôm Pênh. Từng được gọi là "Hòn ngọc châu Á" thập niên 1920, Nam Vang cùng với Xiêm Riệp là hai thành phố thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế của Campuchia. Thành phố này có nhiều toà nhà mang ảnh hưởng kiến trúc Pháp cùng nhiều công trình đặc sắc của kiến trúc Khmer. Với dân số là 2,2 triệu người (2011), thành phố này là trung tâm chính trị, văn hóa, thương mại của Campuchia. == Địa lý và khí hậu == Phnôm Pênh tọa lạc tại vị trí trung nam Campuchia, chỗ hợp lưu của sông Tonlé Sap và sông Mekong. Tọa độ: 11.55°B 104.91667°Đ / 11.55; 104.91667 (11°33' North, 104°55' East, [1]). Khí hậu gần giống vùng Nam Bộ của Việt Nam với đặc trưng là nóng quanh năm chia thành hai mùa mưa và khô trong năm. == Nguồn gốc tên gọi == Địa danh này xuất phát từ Wat Phnom Daun Penh (hay Wat Phnom, nghĩa là "Chùa trên đồi"), xây từ năm 1373 để thờ 5 pho tượng Phật. Đồi ở đây là một gò đất nhân tạo, đắp cao 27 m. Tên quả đồi lấy từ nhân vật Daun Penh (Bà Penh), tương truyền là một góa phụ giàu có. Phnôm Pênh còn có nghĩa là "vùng đất của Bà Pênh". Phnôm Pênh một thời còn có tên là Krong Chaktomuk có nghĩa "Thành phố bốn mặt" do thành phố nằm trên ngã tư của mấy con sông Mekong, Bassac, sông Tonle Sap chạy ngang tạo thành bốn ngả sông. Krong Chaktomuk còn là cách gọi tắt sắc phong vua Ponhea Yat đặt cho thị trấn này là "Chaktomuk Mongkol Sakal Kampuchea Thipadei Sereythor Inthabot Borei Roth Reach Seima Maha Nokor". == Lịch sử == Phnôm Pênh được chọn làm kinh đô của Campuchia từ thế kỷ 15 dưới triều vua Ponhea Yat khi Angkor Thom bị quân Xiêm chiếm mất. Triều đình phải bỏ vùng Tây Bắc rút về Đông Nam lấy Phnôm Pênh làm bản doanh mới. Ngày nay trong số những mộ tháp phía sau Wat Phnom là tháp chứa di cốt Ponhea Yat cùng các hoàng thân. Chứng tích khác từ thời Angkor vàng son còn lưu lại là mấy pho tượng Phật ở Wat Phnom. Dù vậy mãi đến năm 1866 triều vua Norodom I thì Phnôm Pênh mới trở thành doanh sở dài lâu của Miên triều. Cung điện vua Miên được xây vào thời kỳ này, đánh dấu thời điểm khi ngôi làng nhỏ dần chuyển mình thành chốn đô hội. Khi người Pháp sang lập nền Bảo hộ trên xứ Campuchia thì họ cũng cho đào kênh rạch, đắp đường sá, mở bến cảng thông thương. Đến thập niên 1920 thì cảnh quan đẹp đẽ của Phnôm Pênh đã khiến nơi này có mệnh danh là "Hòn ngọc châu Á". Trong 40 năm kế tiếp thành phố tiếp tục mở mang giao thông, nối đường sắt với hải cảng Sihanoukville và mở Sân bay Quốc tế Pochentong. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, lực lượng võ trang của phe cộng sản (Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) lấy đất Campuchia làm căn cứ và khu an toàn để đánh Việt Nam Cộng hòa và ủng hộ Khmer Đỏ, gây xáo trộn và bất an khiến hàng ngàn người Campuchia phải lánh miền quê, tản cư vào thành phố để tránh giao tranh. Chiến cuộc lan rộng. Đến năm 1975 thì dân số Phnôm Pênh đã lên 2 triệu dân, phản ảnh tình hình bất an ở nông thôn. Ngày 17 tháng 4 trùng ngày tết Khmer, thủ đô nước Cộng hòa Khmer thất thủ; quân Khmer Đỏ tiến chiếm được Phnôm Pênh. Chế độ này thi hành chính sách giải thể phố xá, dồn dân thành thị về miền quê lao động sản xuất. Thủ lĩnh Pol Pot dùng trường Trung học Chao Ponhea Yat thành nhà giam tra tấn và thủ tiêu mọi thành phần liên quan đến chính thể Cộng hòa Khmer cùng giới trí thức, chuyên môn. Nơi đó sau năm 1979 là Bảo tàng Toul Sleng cùng với Choeung Ek (Cánh Đồng Chết) cách Phnôm Pênh 15 km nay là hai nơi tưởng niệm những nạn nhân bị chế độ Khmer Đỏ sát hại. Năm 1979, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiến chiếm Phnôm Pênh, đánh bại Khmer Đỏ. Dân chúng sau đó mới dần hồi cư về thành phố. Phnôm Pênh lại khởi sắc, xây dựng lại. Đầu tư nước ngoài và ngoại viện trong những năm liên tiếp giúp chấn chỉnh lại thành phố. Dân số tăng đều từ 826.000 (1998) lên một triệu (2001). == Du lịch == Các điểm du lịch chính ở Phnom Penh: Cung điện Hoàng gia Campuchia Chùa Bạc Bảo tàng Quốc gia Phnom Penh Tượng đài Độc lập Phnôm Pênh (Vimean Akareach) Tượng đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia Bảo tàng diệt chủng Tuol Sleng Wat Phnom Bên ngoài thành phố có: Trung tâm Diệt chủng Choeung Ek Cố đô OOdong Phnom Đa/Angkor Borei Tháp Bà Đen - Prasat Neang Khmau Tonle Bati/Ta Prohm Núi Ta Mao và Vườn thú Ta Khmau Đảo Mekong - làng thủ công Koh Okhna Tey == Giao thông == Sân bay Quốc tế Pochentong là sân bay lớn nhất Campuchia có các chuyến bay quốc tế, trong đó có tuyến bay đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam. Có xe buýt nối với Thành phố Hồ Chí Minh, phà cao tốc nối với Cần Thơ. == Các đơn vị hành chính == Thành phố Phnôm Pênh tương đương đơn vị cấp tỉnh, có 9 quận và 76 phường. Chomkarmon Daun Penh Prampi Makara Toul Kok Dangkor Meanchey Ruesey Keo Sen Sok Posenjey == Thành phố kết nghĩa == Long Beach, California, Hoa Kỳ Providence, Rhode Island, Hoa Kỳ Cần Thơ, Việt Nam == Xem thêm == Campuchia Lịch sử Campuchia Cung điện Hoàng gia == Tham khảo == History of Phnom Penh Queen Kossamak's residence turned to a boutique hotel == Liên kết ngoài == === Website chính thức === Phnom Penh Government Website in English In Khmer In French === Các website khác === Cambodia Travel & Leisure Guide - from ElephantGuide.com 2006 Cambodia Travel Guide - Phnom Penh Official website of the Phnom Penh Post, Cambodia's oldest English-language newspaper, issued fortnightly. Royal University of Phnom Penh Cambodia Airports Home of Pochentong (Phnom Penh) and Angkor (Siem Reap) International Airports. In English and French Detailed Phnom Penh map at the website of Cambodia Yellow Pages
20 tháng 11.txt
Ngày 20 tháng 11 là ngày thứ 324 trong mỗi năm thường (thứ 325 trong mỗi năm nhuận). Còn 41 ngày nữa trong năm. == Sự kiện == 284 – Diocletianus được chọn làm Hoàng đế của Đế quốc La Mã. 1468 – Cuốn sách Tirant lo Blanc của Joanot Martorell được xuất bản lần đầu tiên. 1700 – Đại chiến Bắc Âu: Trong Trận Narva, nhà vua Thụy Điển Karl XII đánh bại Nga hoàng Pyotr Đại đế ở Narva (thuộc Estonia ngày nay). 1789 – New Jersey trở thành tiểu bang Hoa Kỳ đầu tiên thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ. 1759 – Chiến tranh Bảy năm: Quân Áo đánh tan một đạo quân Phổ trong trận đánh tại Maxen và bắt được đạo quân này. 1820 – Cá nhà táng nặng 73 tấn đánh tàu bắt cá voi Essex (chạy từ Nantucket, Massachusetts) xa bờ biển tây của Nam Mỹ hơn 3.000 km. Vụ này gây ra một phần truyện Moby–Dick của Herman Melville năm 1851. 1873 – Chiến tranh Pháp-Đại Nam: quân Pháp giành thắng lợi trước quân Nguyễn trong trận thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương trọng thương. 1974 – Chuyến bay Lufthansa 540 rơi và bốc cháy ngay sau khi rời đường băng cất cánh tại Nairobi, Kenya. 1989 – Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em. 1998 – Nga phóng mô đun Zarya từ Sân bay vũ trụ Baykonur ở Kazakhstan, là mô đun đầu tiên của Trạm vũ trụ Quốc tế được phóng. == Sinh == 270 – Maximinus II, hoàng đế La Mã (m. 313) 809 – Lý Ngang, tức Văn Tông, hoàng đế của triều Đường, tức 10 tháng 10 năm Kỉ Sửu (m. 840) 939 – Triệu Khuông Nghĩa, tức Thái Tông, hoàng đế của triều Tống, tức ngày Giáp Thìn (7) tháng 10 năm Kỉ Hợi 944 – Phạm Cự Lạng, nhân vật quân sự và chính trị nhà Đinh, nhà Tiền Lê (m. 984) 1602 – Otto von Guericke, nhà vật lý học người Đức (m. 1686) 1750 – Tippu Sultan, sĩ quan quân đội và quốc vương Ấn Độ (m. 1799) 1761 – Giáo hoàng Piô VIII (m. 1830) 1858 – Selma Lagerlöf, tác gia người Thụy Điển, đoạt giải Nobel Văn học (m. 1940) 1869 – Zinaida Nikolaevna Gippius, tác gia người Nga (m. 1945) 1886 – Karl von Frisch, nhà động vật học người Áo, đoạt giải Nobel (m. 1982) 1889 – Edwin Hubble, nhà thiên văn học người Mỹ (m. 1953) 1912 – Otto von Habsburg, con của Hoàng đế Karl I của Áo (m. 2011) 1915 – Hồ Diệu Bang, chính trị gia Trung Quốc, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc (m. 1989) 1923 – Nadine Gordimer, tác gia và nhà hoạt động Nam Phi, đoạt giải Nobel Văn học 1924 – Benoît Mandelbrot, nhà toán học người Pháp–Mỹ gốc Ba Lan (m. 2010) 1925 – Robert F. Kennedy, chính trị gia người Mỹ, Bộ trưởng Tư pháp thứ 64 của Hoa Kỳ (m. 1968) 1926 – Andrew Schally, nhà nội tiết học người Ba Lan, đoạt giải Nobel 1926 – Tôn Thất Đính, tướng lĩnh và chính trị gia người Việt Nam (m. 1929 – Đỗ Cao Trí, tướng lĩnh ngơ]ì Việt Nam (m. 1972) 1937 – Viktoria Samoylovna Tokareva, nhà soạn kịch người Nga 1942 – Joe Biden, chính trị gia người Mỹ, Phó Tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ 1946 – Trương Cao Lệ, chính trị gia Trung Quốc 1951 – Nguyễn Ngọc Thiện, nhạc sĩ người Việt Nam 1953 – Nguyễn Quốc Quân, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam 1959 – Sean Young, diễn viên người Mỹ 1963 – Timothy Gowers, nhà toán học người Anh 1965 – Yoshiki, nhạc sĩ, người viết ca khúc, nhà sản xuất âm nhạc Nhật Bản 1968 – Châu Sơ Minh, diễn viên người Singapore 1971 – Joel McHale, diễn viên và nhà sản xuất người Mỹ 1984 – Justin Hoyte, cầu thủ bóng đá người Anh 1989 – Cody Linley, diễn viên và ca sĩ người Mỹ 1992 – Ishimura Maiha, ca sĩ người Nhật (Berryz Kobo) 2000 – Connie Talbot, ca sĩ người Anh == Mất == 1316 – Quốc vương Jean I của Pháp (s. 1316) 1764 – Christian Goldbach, nhà toán học Phổ (s. 1690) 1873 – Nguyễn Lâm, quý tộc và danh tướng Việt Nam (s. 1844) 1882 – Henry Draper, bác sĩ và nhà thiên văn học nghiệp dư người Mỹ (s. 1837) 1883 – Tenshōin, chính thất của Tướng Quân Tokugawa Iesada tại Nhật Bản (s. 1836) 1899 – Wilhelm von Heuduck, tướng lĩnh Phổ (s. 1821) 1910 – Lev Nikolayevich Tolstoy, tác gia người Nga (s. 1828) 1945 – Francis William Aston, nhà hóa học người Anh, đoạt giải Nobel (s. 1877) 1949 – Wakatsuki Reijirō, chính trị gia người Nhật, Thủ tướng thứ thứ 25 và 28 của Nhật Bản (s. 1866) 1975 – Francisco Franco, nhà độc tài Tây Ban Nha (s. 1892) 1980 – John McEwen, chính trị gia Úc, Thủ tướng thứ 18 của Úc (s. 1900) 1992 – Trần Thị Lý, quân nhân người Việt Nam (s. 1933) == Những ngày lễ và ngày kỷ niệm == Ngày Thiếu nhi Thế giới Việt Nam: Ngày Nhà giáo Việt Nam == Tham khảo ==
hệ tinh thể lập phương.txt
Hệ tinh thể lập phương là một hệ tinh thể có các ô đơn vị là hình lập phương. Đây là một trong những dạng tinh thể đơn giản nhất và phổ biến nhất của các tinh thể kim loại. Một cách tổng quát, nếu viết theo các véctơ tịnh tiến không gian thì cấu trúc lập phương sẽ có các hằng số mạng a = b = c {\displaystyle a=b=c} và ba góc α = β = γ = 90 o {\displaystyle \alpha =\beta =\gamma =90^{o}} . == Các mạng Bravais == Có ba kiểu mạng Bravais có cấu trúc tinh thể lập phương gồm: Lập phương đơn giản: là một hình lập phương, mỗi nút mạng là một nguyên tử nằm ở đỉnh của hình lập phương có cạnh là hằng số mạng. Cấu trúc lập phương đơn giản chỉ chứa 1 nguyên tử trong một ô nguyên tố. Lập phương tâm mặt (hay lập phương diện tâm): là cấu trúc lập phương với các nguyên tử nằm ở các đỉnh hình lập phương (8 nguyên tử) và 6 nguyên tử khác nằm ở tâm của các mặt của hình lập phương. Cấu trúc này chứa 4 nguyên tử trong một ô nguyên tố. Trong tinh thể học, cấu trúc lập phương tâm mặt được ký hiệu là f c c {\displaystyle fcc} (Face-centered cubic). Các chất điển hình có cấu trúc fcc là nhôm, đồng... Lập phương tâm khối: là cấu trúc lập phương với 8 nguyên tử ở các đỉnh hình lập phương và 1 nguyên tử ở tâm của hình lập phương. Cấu trúc này chứa 2 nguyên tử trong một ô nguyên tố, và thường được ký hiệu là b c c {\displaystyle bcc} (Body-centered cubic). == Các nhóm điểm và nhóm không gian == Có 36 nhóm không gian lập phương và 5 nhóm điểm được liệt kê theo bảng dưới đây: == Hệ số xếp chặt == Cấu trúc lập phương đơn giản có hệ số xếp chặt chỉ là 52%. Cấu trúc lập phương tâm mặt có hệ số xếp chặt là 74%. Cấu trúc lập phương tâm khối có hệ số xếp chặt 68%. == Các chất có cấu trúc tinh thể lập phương == Cấu trúc đơn nguyên tử: Cấu trúc lập phương đơn nguyên tử tồn tại khá nhiều trong các kim loại (điển hình là kim loại chuyển tiếp). Cấu trúc lập phương đơn giản có hệ số xếp chặt rất thấp nên kém bền hơn, chất điển hình mang cấu trúc này là Polonium (Po). Cấu trúc fcc và bcc tồn tại phổ biến ở các kim loại, ví dụ như đồng, nhôm... mang cấu trúc fcc, sắt, crôm... mang cấu trúc bcc. Cấu trúc đa nguyên tử: Cấu trúc lập phương cũng tồn tại trong các chất có nhiều loại nguyên tử, ví dụ trong các hợp kim, hợp chất... Muối ăn (NaCl) là hợp chất điển hình với cấu trúc fcc, hợp kim Fe(Si) là hợp kim điển hình mang cấu trúc bcc... == Xem thêm == Cấu trúc tinh thể Lục giác xếp chặt == Tham khảo == ^ Charles Kittel (1996). Introduction to Solid State Physics (ấn bản 7). John Willey & Sons Inc. ISBN 0-471-11181-3. == Tham khảo ==
fritz haber.txt
Fritz Haber (9 tháng 12 năm 1868 – 29 tháng 1 năm 1934) là một nhà hóa học Đức, người được nhận giải Nobel hóa học vào năm 1918 cho những cống hiến của ông trong việc phát triển phương thức tổng hợp amonia, đóng vai trò quan trọng cho tổng hợp phân bón và chất nổ. Haber, cùng với Max Born đã đưa ra chu trình Born–Haber như là một phương pháp ước tính năng lượng tinh thể của kim loại rắn. Ông cũng được miêu tả như là "cha đẻ của vũ khí hóa học" vì vai trò của ông trong việc phát triển và ứng dụng chlorine và các loại khí độc khác trong Thế chiến I. == Tiểu sử == Haber sinh ra tại Breslau, Đức (hiện nay là Wrocław, Ba Lan), trong một gia đình Do Thái sinh sống lâu đời trong thị trấn, nhưng sau đó Haber cải sang đạo Cơ đốc. Mẹ của ông mất trong lúc sinh nở. Cha của ông là một thương gia nổi tiếng trong thị trấn. Từ năm 1886 đến 1891 ông học tại Đại học Heidelberg và là học trò của Robert Bunsen, tại Đại học Berlin (ngày nay là Đại học Humboldt, Berlin) trong nhóm của A. W. Hofmann, và tại trường Đại học Kỹ thuật Charlottenburg (ngày nay là Trường Đại học Kỹ thuật Berlin) với Carl Liebermann. Ông kết hôn với Clara Immerwahr trong năm 1901. Con trai của họ, Hermann ra đời năm 1902. Trước khi bắt đầu sự nghiệp hàn lâm của mình, ông đã làm việc kinh doanh hóa chất của cha ông và tại Viện Kỹ thuật Liên bang Thụy Sĩ ở Zürich với Georg Lunge. === Giải Nobel === Trong suốt thời gian tại Đại học Karlsruhe từ năm 1894 đến 1911, ông và Carl Bosch đã phát triển tiến trình Haber, có tác dụng xúc tác cho sự tạo thành amoniac từ hydrogen và nitrogen khí quyển dưới điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao. Năm 1918 ông được nhận giải Nobel hóa học cho đóng góp của mình. Tiến trình Haber-Bosch đánh dấu một cột mốc quan trọng trong ngành công nghiệp hóa học, bởi gì nó giúp việc sản xuất các sản phẩm của nitơ như phân bón, thuốc nổ và nguyên liệu chế biến, không còn phụ thuộc vào trữ lượng nitơ tự nhiên, đặc biệt là từ natri nitrat (caliche), mà trữ lượng khoáng sản của Chile là nguồn chủ yếu (và gần như là duy nhất). Việc nguồn cung cấp nitơ bỗng nhiên trở nên dồi dào và sẵn có đã ngăn ngừa thảm họa Malthusia, hay khủng hoảng dân số thế giới và dẫn tới sự thất nghiệp hàng loạt ở Chile. Ông cũng có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu các phản ứng cháy, sự tách vàng từ nước biển, tác dụng của sự thẩm thấu, điện hóa học, và nghiên cứu cơ bản (xem thuốc thử Fenton). Một phần lớn công việc của ông từ năm 1911 đến 1933 được thực hiện tại Viện Hóa Lý học và Điện hóa học Kaiser Wilhelm tại Berlin-Dahlem. Năm 1953 viện này được đổi theo tên ông. Tuy nhiên ông thường được biết đến một cách không chính xác rằng là người đầu tiên tổng hợp MDMA (vốn được tổng hợp đầu tiên bởi Merck KGaA nhà hóa học Anton Köllisch vào năm 1912). === Thế chiến I === Haber đóng vai trò chủ yếu trong việc áp dụng vũ khí hóa học trong Thế chiến I. Một phần công việc của ông bao gồm việc phát triển các loại mặt nạ phòng độc với các tấm lọc hấp thu. Ngoài việc chỉ huy nhóm nghiên cứu phát triển sử dung khí chlorine và các loại khí chết người khác trong chiến tranh hào, Haber cũng giúp đỡ trong việc loại bỏ các khí này. Những người được nhận giải Nobel trong tương lai như James Franck, Gustav Hertz, và Otto Hahn cũng làm việc trong nhóm của Haber như là lính phụ trách về khí. Các khí độc được sử dụng trong thế chiến I khiến cho cuộc chiến này trở thành cuộc đối đầu giữa các nhà hóa học, với Haber bên kia chiến tuyến với nhà hóa học được nhận giải Nobel người Pháp Victor Grignard. Vợ của ông, Clara Immerwahr, đồng thời là đồng nghiệp của ông, luôn chống đối công việc của Haber trong phát triển khí độc và bà đã tự tử bằng chính vũ khí mà ông tạo ra trong vườn, nhiều khả năng là bà muốn đáp lại kết quả thành công đầu tiên của khí chlorine được Haber giám sát tại Trận Ypres lần thứ nhì vào ngày 22 tháng 4 năm 1915. Bà đã tự bắn vào tim mình vào ngày 15 tháng 5, và chết vào buổi sáng. Trong buổi sáng cùng ngày, Haber đi tới Mặt trận phía Đông để xem xét việc dùng khí độc chống lại quân Nga. Haber là một người Đức yêu nước vốn tự hào về sự phục vụ của mình trong Thế chiến I, vì những thành tích trên ông đã được vinh danh. Thậm chí ông còn được phong làm Đại úy bởi Kaiser, một điều hiếm thấy đối với các nhà khoa học được tuyển dụng trong quân đội. Những nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng những tác dụng của khí độc đối với trường hợp tiếp xúc với nồng độ thấp trong một thời gian dài tương đương với tác dụng của việc tiếp xúc với nồng độ khí cao trong một thời gian ngắn. Ông đã đưa ra công thức toán nhằm đơn giản hóa mối quan hệ giữa nồng độ khí và thời gian tiếp xúc cần thiết để gây ra tác dụng. Công thức này thường được biết đến như là định luật Haber. Đáp lại những lời chỉnh trích việc sử dụng vũ khí hóa học là vô nhân đạo, Haber phát biểu rằng chết vẫn luôn là chết, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Trong thập niên 1920, các nhà khoa học trong việc nghiên cứu của ông đã nghiên cứu ứng dụng cyanide dưới nhãn Zyklon B, dùng như là thuốc diệt côn trùng, đặc biệt là khí xông trong các cửa hàng ngũ cốc, và cũng sau đó, khi ông rời khỏi viện, khí này lại được sử dụng trong các trại tập trung của Đức Quốc xã và được dùng để giết những người Do Thái khác bao gồm cả họ hàng của ông. === Sau chiến tranh === Trong thập niên 1920, Haber đã dành rất nhiều tâm huyết tìm ra phương pháp tách vàng từ nước biển, và đã xuất bản một số lượng lớn các tài liệu nghiên cứu khoa học về đề tài này. Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu, ông kết luận rằng nồng độ của vàng hòa tan trong nước biển là rất thấp so với các báo cáo được đưa ra bởi những nhà nghiên cứu trước đó, và việc chiết tách vàng từ nước biến là hoàn toàn không kinh tế. Haber bị buộc phải rời Đức vào năm 1933 bởi chính sách trục xuất người Do Thái của Đức Quốc xã. Giải Nobel danh giá của ông dành cho những đóng góp to lớn trong ngành hóa học, và đặc biệt là góp phần phát triển các loại phân bón hóa học, thuốc nổ và vũ khí hóa học cho nước Đức, vẫn không thể ngăn cản sự gièm pha những thành tựu của ông do chính quyền Phát xít thực hiện. Ông chuyển tới sống ở Cambridge, nước Anh trong vài tháng, trong thời gian này Ernest Rutherford kiên quyết không hợp tác với ông, vì những công trình của ông phát triển vũ khí hóa học. Haber được Chaim Weizmann mời làm giám đốc Viện Nghiên cứu Sieff (hiện tại là Viện Weizmann) ở Rehovot, thuộc Palestine do Anh ủy trị, và ông đã nhận lời mời. Ông bắt đầu chuyến đi của mình tới nơi mà hiện nay là Israel vào tháng 1 năm 1934, sau khi phục hồi từ một cơn đau tim. Tuy nhiên, sau đó căn bệnh dã quật ngã ông vào ngày 29 tháng 1, 29, 1934, vào độ tuổi 65, ông mất vì suy tim tại khách sạn Basel, nơi ông đang nghỉ chân trên đường tới Trung Đông. Ông được hỏa táng và tro của ông, cùng với tro của Clara được an táng tại nghĩa trang Hornli tại Basel. Ông để lại thư viện cá nhân đồ sộ cho viện Sieff. Ngay lập tức gia đình của Haber rời Đức. Người vợ thứ hai của ông Charlotte, cùng với hai đứa con, đã định cư ở Anh. Con trai của Haber trong cuộc hôn nhân đầu tiên, Hermann, di cư đến Hoa Kỳ trong Thế chiến II. Ông này tự tử vào năm 1946. Nhiều thành viên trong gia đình Haber chết trong trại tập trung. Một trong những người con của ông, Ludwig ("Lutz") Fritz Haber (1921-2004), trở thành nhà sử học nổi tiếng về vũ khí hóa học trong Thế chiến I, và cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề The Poisonous Cloud (1986). === Chỉ trích === Haber bị chỉ trích rất nhiều do vai trò của ông trong việc phát triển và áp dụng vũ khí hóa học trong khoảng thời gian trước Thế chiến II bởi các nhà khoa học đương thời cũng như hiện nay. == Nhân vật trong các tác phẩm kịch == Một tác phẩm kịch nói về cuộc đời của Haber, và đặc biệt là mối quan hệ lâu dài của ông với Albert Einstein, xuất hiện trong vởi kịch năm 2003 của Vern Thiessen mang cái tên Einstein's Gift. Thiessen miêu tả Haber như là một nhân vật bi thảm, phải đối mặt với các nỗ lực không thành công trong suốt cuộc đời của mình để lẩn tránh cả tổ tiên Do Thái của ông cũng như việc ứng dụng một cách tốt nhất những thành tựu khoa học của mình. Đài BBC Radio 4 trong chương trình Afternoon Play đã phát sóng hai vở kịch về cuộc đời của Fritz Haber. Vở thứ nhất miêu tả cuộc đời ông như sau lấy từ Diversity Website: Vở kịch thứ hai mang tên "The Greater Good" và được công chiếu đầu tiên vào 23 tháng 10 năm 2008. Vở này được chỉ đạo bởi Celia de Wolff và viết bởi Justin Hopper, trong đó ngôi sao Anton Lesser đóng vai Haber. Nó nói về việc khám phá ra vũ khí hóa học trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và những áp lực đè nặng lên vợ ông Clara (Lesley Sharp), kết thúc với việc tự tử của bà và sự che đậy của chính quyền. Các nhân vật khác bao gồm Dan Starkey trong vai trợ lý nghiên cứu của Haber là Otto Sackur, Stephen Critchlow trong vai Đại tá Peterson, Conor Tottenham trong vai con trai của Haber là Hermann, Malcolm Tierney trong vai General Falkenhayn và Janice Acquah trong vai Zinaide. Năm 2008, một bộ phim ngắn mang tự đề "Haber" mô tả quyết định của Fritz Haber bắt tay vào thực hiện công trình nghiên cứu vũ khí hóa học và mối quan hệ của ông với vợ. Bộ phim được viết và đạo diễn bởi Daniel Ragussis. Vào tháng 11 năm 2008 Haber lại được đóng vai bởi Anton Lesser trong vở Einstein and Eddington. == Tham khảo == == Đọc thêm == Daniel Charles, Master mind: The Rise and Fall of Fritz Haber, the Nobel Laureate Who Launched the Age of Chemical Warfare (New York: Ecco, 2005), ISBN 0-06-056272-2. Dietrich Stoltzenberg, Fritz Haber: Chemist, Nobel Laureate, German, Jew: A Biography (Chemical Heritage Foundation, 2005), ISBN 0-941901-24-6. Vaclav Smil, Enriching the Earth: Fritz Haber, Carl Bosch, and the Transformation of World Food Production (2001) ISBN 0-262-19449-X Thomas Hager, The Alchemy of Air: A Jewish Genius, a Doomed Tycoon, and the Scientific Discovery That Fed the World but Fueled the Rise of Hitler (2008) ISBN 978-0-307-35178-4. == Liên kết ngoài == Nobel e-Museum - Biography of Fritz Haber HABER - A Biographical Film about Fritz Haber Photographs of Fritz Haber's life A short biography of Fritz Haber, by Bretislav Friedrich Encyclopedia Britannica: Nobel Prizes - Fritz Haber "The Synthesis of Ammonia from its Elements", Nobel Lecture, 2 tháng 6 năm 1920
samsung galaxy pocket plus.txt
Samsung Galaxy Pocket Plus là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android do Samsung sản xuất, được phát hành vào tháng 1 năm 2013, là thiết bị kế nhiệm của Samsung Galaxy Pocket. Nó vẫn hướng đến phân khúc giá rẻ, với màn hình LCD 2.8-inch tương đối nhỏ. Thông số kĩ thuật của nó tương tự như Samsung Galaxy Pocket, với một vài nâng cấp như hệ điều hành Android 4.0 ICS và bộ nhớ trong. Pocket Plus được trang bị bộ xử lý 850 MHz và các tùy chọn kết nối gồm 3G, Wi-Fi và Bluetooth 4.0. Nó có bộ nhớ trong 4 GB và có thể nâng cấp lên 32 GB thông qua thẻ nhớ microSD, cùng với pin Li-ion 1200 mAh. == Tính năng == == Xem thêm == Samsung Galaxy Pocket Neo, thiết bị kế nhiệm, được phát hành vào tháng 6 năm 2013 Samsung Galaxy Y Samsung Galaxy Mini Samsung i5500 (Galaxy 5) == Ghi chú == == Liên kết ngoài ==
bảo mật.txt
Bảo mật là sự hạn chế khả năng lạm dụng tài nguyên và tài sản. Bảo mật trở nên đặc biệt phức tạp trong quản lý, vận hành những hệ thống thông tin có sử dụng các công cụ tin học, nơi có thể xảy ra và lan tràn nhanh chóng việc lạm dụng tài nguyên (các thông tin di chuyển vô hình trên mạng hoặc lưu trữ hữu hình trong các vật liệu) và lạm dụng tài sản (các máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi, các phần mềm của cơ quan hoặc người sở hữu hệ thống). Hạn chế ở đây có ý rằng không thể triệt phá hết ngay việc lạm dụng, cho nên cần sẵn sàng đề phòng mọi khả năng xấu với các phương cách thích hợp và chuẩn bị xử lý các sự cố nếu có việc lạm dụng xảy ra. An toàn của một hệ thống thông tin thực chất là sự đảm bảo an ninh ở mức độ chấp nhận được. Muốn hệ thống thông tin an toàn thì trước hết phải có sự đảm bảo thông tin trên cơ sở mạng truyền dữ liệu thông suốt. Sau chữ an toàn thưởng có chữ bảo mật để mở rộng khía cạnh đảm bảo bí mật về nội dung thông tin.Như vậy, an toàn bảo mật hệ thống thông tin là đảm bảo hoạt động lưu thông và nội dung bí mật cho những thành phần của hệ thống ở mức độ chấp nhận được. == Định nghĩa == Một hệ thống sẽ là an toàn (safe) khi các khiếm khuyết không thể làm cho hoạt động chủ yếu của nó ngừng hẳn và các sự cố đều xảy ra sẽ được khắc phục kịp thời mà không gây thiệt hại đến mức độ nguy hiểm cho chủ sở hữu. Hệ thống được coi là bảo mật (confident) nếu tính riêng tư của nội dung thông tin được đảm bảo theo đúng các tiêu chí trong một thời gian xác định. == Quan hệ giữa an toàn và bảo mật == Hai yếu tố an toàn và bảo mật đều rất quan trọng và gắn bó với nhau: hệ thống mất an toàn thì không bảo mật được và ngược lại hệ thống không bảo mật được thì mất an toàn. == Khác nhau giữa an toàn và bảo mật == Phân tích theo mô hình OSI sự an toàn của hệ thống thông tin được thực hiện chủ yếu ở các tâng dưới, còn việc bảo mật nội dung thông tin được thực hiện ở các tầng trên == Tham khảo ==
neodymi.txt
Neodymi (tên Latinh: Neodymium) là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Nd và số nguyên tử bằng 60. == Đặc trưng == Neodymi, một kim loại đất hiếm, có mặt trong Misch metal ở hàm lượng tới khoảng 18%. Kim loại này có ánh kim màu trắng bạc sáng, tuy nhiên, là một trong số các kim loại đất hiếm nhóm Lantan rất dễ phản ứng hóa học nên nó nhanh chóng bị ôxi hóa trong không khí. Lớp ôxít trên bề mặt sau đó dễ bị tách ra làm kim loại này tiếp tục bị ôxi hóa. Mặc dù thuộc về nhóm gọi là "kim loại đất hiếm", nhưng neodymi hoàn toàn không hiếm. Nó chiếm khoảng 38 ppm khối lượng lớp vỏ Trái Đất. === Tính hóa học === Kim loại Neodymi bị xỉn từ từ trong không khí và cháy dễ dàng ở nhiệt độ 150 °C và tạo thành Neodymi(III) ôxít: 4 Nd + 3 O2 → 2 Nd2O3 Neodymi có tính điện dương khá cao, nó phản ứng từ từ với nước lạnh, phản ứng khá nhanh với nước nóng để tảo thành neodymi hiđrôxít: 2 Nd (s) + 6 H2O (l) → 2 Nd(OH)3 (aq) + 3 H2 (g) Kim loại Neodymium phản ứng với tất cả các khí halogen: 2 Nd (s) + 3 F2 (g) → 2 NdF3 (s) [màu tím] 2 Nd (s) + 3 Cl2 (g) → 2 NdCl3 (s) [màu hoa cà] 2 Nd (s) + 3 Br2 (g) → 2 NdBr3 (s) [màu tím] 2 Nd (s) + 3 I2 (g) → 2 NdI3 (s) [màu lục] Neodymi bị hòa tan dễ dàng trong axít sulfuric loãng để tạo thành dung dịch chứa ion Nd (III) màu hoa cà, tồn tại dưới dạng phức [Nd(OH2)9]3+: 2 Nd (s) + 3 H2SO4 (aq) → 2 Nd3+ (aq) + 3 SO2−4 (aq) + 3 H2 (g) === Các hợp chất === == Ứng dụng == Các nam châm neodymi là các nam châm vĩnh cửu mạnh nhất hiện đã biết - Nd2Fe14B. Các nam châm này rẻ hơn, nhẹ hơn và mạnh hơn so với các nam châm samari-coban. Các nam châm neodymi xuất hiện trong các sản phẩm như microphon, các loa chuyên nghiệp, trong tai nghe, ghi-ta và các đầu cảm biến của ghi-ta bass cũng như đầu đọc của ổ đĩa cứng máy tính trong đó cần có khối lượng nhỏ, dung tích bé hay từ trường mạnh. Neodymi là thành phần hợp thành của didymi được sử dụng để tạo màu cho thủy tinh dùng làm kính bảo hộ trong nghề hàn và thổi thủy tinh. Dải hấp thụ sắc nét của nó trùng với tần số bức xạ của natri ở bước sóng 589 nm. Neodymi có nhiệt dung riêng lớn bất thường ở ngưỡng nhiệt độ của heli lỏng, vì thế nó là hữu ích trong các thiết bị siêu lạnh. Các đèn neodymi là các đèn nóng sáng chứa neodymi trong thủy tinh để lọc ánh sáng vàng, tạo ra ánh sáng trắng hơn so với ánh sáng mặt trời. Neodymi tạo màu cho thủy tinh với các sắc thái nằm trong khoảng từ tía tới đỏ rượu vang và xám nóng. Ánh sáng truyền qua thủy tinh như vậy thể hiện các dải hấp thụ sắc nét bất thường; thủy tinh như thế được sử dụng trong thiên văn học để tạo ra các dải sắc nét, trong đó các vạch quang phổ có thể được xác định. Neodymi cũng được sử dụng để loại bỏ màu xanh lục của thủy tinh do các tạp chất sắt gây ra. Các muối neodymi được dùng như là chất tạo màu cho men thủy tinh. Có lẽ là do các tính chất tương tự như ion Ca2+, nên Nd3+ đã được thông báo là hỗ trợ tăng trưởng của thực vật. Các hợp chất của nguyên tố đất hiếm này cũng thường xuyên được sử dụng tại Trung Quốc như là phân bón. Xác định niên đại bằng samari-neodymi là hữu ích để xác định các mối liên hệ về niên đại của các loại đá và của vẫn thạch. Quy mô và cường độ của phun trào núi lửa có thể được dự đoán bằng cách quét các đồng vị neodymi. Các phun trào núi lửa nhỏ và lớn sinh ra dung nham với thành phần khác nhau về các đồng vị neodymi. Từ thành phần của các đồng vị, các nhà khoa học có thể dự báo sự phun trào sắp xảy ra có thể mạnh ở mức nào và sử dụng thông tin này để cảnh báo dân cư về cường độ của đợt phun trào. Một số vật liệu trong suốt nhất định với hàm lượng nhỏ các ion neodymi có thể được sử dụng trong các laser như là vật liệu laser cho các bước sóng hồng ngoại (1.054-1.064 nm), chẳng hạn như Nd:YAG (thạch lựu yttri nhôm), Nd:YLF (florua yttri liti), Nd:YVO4 (orthovanadat yttri), và thủy tinh Nd. Laser hiện thời tại Atomic Weapons Establishment (AWE) của Vương quốc Anh là laser thủy tinh neodymi HELEN 1-TW, có thể tiếp cận các điểm giữa của các khu vực áp suất và nhiệt độ và được sử dụng để thu được các dữ liệu cho việc lập mô hình về việc tỷ trọng, nhiệt độ và áp suất tương tác như thế nào bên trong các đầu đạn hạt nhân. HELEN có thể tạo ra plasma có nhiệt độ khoảng 106 K, mà từ đó độ chắn và sự truyền của nguồn bức xạ được đo đạc. == Thủy tinh neodymi == Thủy tinh neodymi (thủy tinh Nd) được tạo ra bằng việc đưa vào ôxít neodymi (Nd2O3) trong thủy tinh nóng chảy. Trong ánh sáng ban ngày hay ánh sáng của các đèn nóng sáng thì thủy tinh neodymi có màu tím oải hương, nhưng nó trở thành màu lam nhạt khi được chiếu sáng bằng ánh sáng của đèn huỳnh quang. Các laser trạng thái rắn thủy tinh neodymi được sử dụng trong các hệ thống nhiều tia cực cao công suất (cỡ terawatt), cao năng lượng (cỡ megajoule) cho nhiệt hạch hãm quán tính. Các laser thủy tinh Nd thông thường là nhân ba tần số cho họa ba thứ ba ở bước sóng 351 nm trong các thiết bị nhiệt hạch laser. Thủy tinh neodymi được sử dụng rộng rãi trong các đèn nóng sáng để tạo ra ánh sáng "tự nhiên" hơn. Thủy tinh neodymi cũng đã được cấp bằng sáng chế để sử dụng trong các gương chiếu hậu của ô tô để giảm sự chói lòa về ban đêm. Sử dụng thương mại đầu tiên của neodymi tinh chế là trong tạo màu thủy tinh, bắt đầu với các thực nghiệm của Leo Moser trong tháng 11 năm 1927. Thủy tinh "Alexandrite" được tạo ra vẫn là màu dấu hiệu của các công xưởng thủy tinh Moser cho tới nay. Thủy tinh neodymi được các xưởng thủy tinh tại Mỹ mô phỏng rộng rãi trong đầu thập niên 1930, đáng chú ý nhất có Heisey, Fostoria ("wisteria"), Cambridge ("heatherbloom") và Steuben ("wisteria") cũng như ở một vài nơi khác (chẳng hạn Lalique ở Pháp hay Murano). Thủy tinh "twilight" của Tiffin còn trong sản xuất từ khoảng 1950 tới khoảng 1980. Các nguồn hiện tại bao gồm các nhà sản xuất kính tại Cộng hòa Séc, Hoa Kỳ và Trung Quốc; Caithness Glass ở Scotland cũng sử dụng rộng rãi chất tạo màu này. Các dải hấp thụ sắc nét của neodymi làm cho màu thủy tinh thay đổi theo các điều kiện chiếu sáng khác nhau, từ có màu tía hơi đỏ dưới ánh sáng ban ngày hay dưới ánh sáng của đèn nóng sáng vàng, nhưng trở thành màu lam dưới ánh sáng trắng của đèn huỳnhg quang, hoặc ánh xanh lục dưới điều kiện chiếu sáng ba màu. Hiện tượng thay đổi màu này được các nhà sưu tập thủy tinh đánh giá cao. Neodymi kết hợp với praseodymi tạo ra thủy tinh "Heliolite" của Moser. Khi kết hợp với vàng hay selen nó tạo ra màu đỏ đẹp cho thủy tinh, chẳng hạn "Royalite" của Moser hay "Wistaria" của Tiffin hay một số màu khác mà Fenton thu được. Do sự tạo màu của neodymi phụ thuộc vào các sự chuyển tiếp f-f "hãm" sâu bên trong nguyên tử, nên ở đây có ảnh hưởng tương đối ít đối với màu sắc từ môi trường hóa học, vì thé màu là không thấm qua được đối với lịch sử nhiệt của thủy tinh. Tuy nhiên, để có màu tốt nhất, các tạp chất chứa sắt cần phải ở mức tối thiểu trong cát được dùng để nấu thủy tinh. Cùng một "mức hãm" của các chuyển tiếp f-f làm cho các chất tạo màu từ kim loại đất hiếm ít gắt hơn so với các chất tạo màu từ các nguyên tố có chuyển tiếp chủ yếu là lớp d, vì thế cần phải dùng nhiều hơn trong thủy tinh để đạt được cường độ màu mong muốn. Công thức gốc của Moser sử dụng khoảng 5% ôxít neodymi trong thủy tinh nóng chảy, một lượng vừa đủ như vậy được Moser nói tới như là thủy tinh "kích thích bằng đất hiếm". Là một bazơ đủ mạnh, mức như vậy của neodymi có thể ảnh hưởng tới cacs tính chất nóng chảy của thủy tinh và hàm lượng canxi trong thủy tinh có thể cũng phải điều chỉnh theo. == Lịch sử == Neodymi được nam tước Carl Auer von Welsbach, một nhà hóa học người Áo, phát hiện tại Viên năm 1885. Ông tách neodymi cũng như nguyên tố praseodymi từ vật liệu được gọi là didymi bằng cách kết tinh phân đoạn của nitrat amoni tetrahydrat kép từ axít nitric, trong khi tuân theo việc chia tách bằng phân tích quang phổ; tuy nhiên, nó đã không được cô lập ở dạng tương đối tinh khiết cho tới tận năm 1925. Tên gọi neodymi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp neos nghĩa là mới và didymos nghĩa là kép, đôi. Kết tinh nitrat kép từng là phương thức tinh chế neodymi thương mại cho tới tận thập niên 1950. Lindsay Chemical Division của American Potash and Chemical Corporation, một thời từng là nhà sản xuất các kim loại đất hiếm lớn nhất trên thế giới, cung cấp ôxít neodymi tinh chế theo kiểu này ở phẩm cấp 65%, 85% và 95% độ tinh khiết, với mức giá trong khoảng từ 2 tới 20 USD mỗi pao (USD năm 1960). Lindsay cũng là cơ sở đầu tiên thương mại hóa quá trình tinh chế bằng trao đổi ion ở quy mô lớn để sản xuất neodymi, sử dụng công nghệ do Frank Spedding tại Đại học bang Iowa và Phòng thí nghiệm Ames phát triển; một pao ôxít độ tinh khiết 99% có giá 35 USD vào năm 1960; còn phẩm cấp 99,9% chỉ tăng thêm 5 USD nữa. Bắt đầu từ thập niên 1950, neodymi độ tinh khiết cao (như 99+%) chủ yếu thu được bằng công nghệ trao đổi ion từ cát monazit ((Ce,La,Th,Nd,Y)PO4), một vật liệu giàu các nguyên tố đất hiếm. Bản thân kim loại này thu được bằng điện phân các muối halua của nó. Hiện tại, phần lớn neodymi được chiết ra từ bastnaesit, (Ce,La,Nd,Pr)CO3F, và được tinh chế bằng chiết dung môi. Tinh chế trao đổi ion được dùng để điều chế neodymi với các độ tinh khiết cao hơn (thông thường >4N, do khi Molycorp lần đầu tiên đưa ra ôxít neodymi của họ có phẩm cấp 98% vào năm 1965, điều chế bằng chiết dung môi từ bastnaesit thu được tại mỏ Mountain Pass, California, nó chỉ có giá ở mức 5 USD mỗi pao đối với các lượng nhỏ, do vậy Lindsay nhanh chóng ngừng không sản xuất nữa). Công nghệ phát triển và độ tinh khiết được nâng cao của ôxít neodymi có sẵn ở quy mô công nghiệp được phản ánh bằng sự xuất hiện của thủy tinh neodymi được làm từ đó vẫn tồn tại trong các bộ sưu tập ngày nay. Các miếng kính thời kỳ đầu của Moser và các loại thủy tinh neodymi khác sản xuất trong thập niên 1930 bị pha màu cam hay hơi đỏ nhiều hơn so với các loại thủy tinh neodymi ngày nay (có màu tía thuần khiết hơn), do các khó khăn trong việc loại bỏ các dấu vết cuối cùng của praseodymi khi người ta còn phải dựa vào công nghệ kết tinh phân đoạn. == Phổ biến == Neodymi không được tìm thấy trong tự nhiên ở dạng nguyên tố tự do mà nó thường xuất hiện trong các loại quặng như cát monazit ((Ce,La,Th,Nd,Y)PO4) và bastnasit ((Ce,La,Th,Nd,Y)(CO3)F) trong đó chứa các lượng nhỏ của mọi nguyên tố đất hiếm. Neodymi cũng có thể tìm thấy trong misch metal; nó rất khó tách ra từ các nguyên tố đất hiếm khác. == Hợp chất == Các hợp chất của neodymi bao gồm: Các halua: NdF3, NdCl3, NdBr3, NdI3 Các ôxít: Nd2O3 Các sulfua: NdS, Nd2S3 Các nitrua: NdN Xem thêm Hợp chất neodymi == Đồng vị == Neodymi phổ biến trong tự nhiên là hợp thành của 5 đồng vị ổn định, bao gồm Nd142, Nd143, Nd145, Nd146 và Nd148, với Nd142 là phổ biến nhất (27,2%), và 2 đồng vị phóng xạ là Nd144 và Nd150. Tổng cộng 31 đồng vị phóng xạ của neodymi đã được nêu đặc trưng cho tới nay, với ổn định nhất là các đồng vị có trong tự nhiên Nd144 (phân rã alpha với chu kỳ bán rã (T½) bằng 2,29×1015 năm) và Nd150 (phân rã beta kép, T½ bằng 7×1018 năm). Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 11 ngày và phần lớn trong số đó có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 70 giây. Nguyên tố này cũng có 13 trạng thái giả ổn định đã biết với ổn định nhất là Nd139m (T½ bằng 5,5 giờ), Nd135m (T½ bằng 5,5 phút) và Nd133m1 (T½ ~70 giây). Phương thức phân rã chủ yếu trước đồng vị phổ biến nhất (Nd142) là bắt điện tử và phân rã positron còn phương thức chủ yếu sau đồng vị ổn định phổ biến nhất là phân rã beta trừ. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước Nd142 là các đồng vị của nguyên tố Pr (praseodymi) còn sản phẩm phân rã chủ yếu sau Nd142 là các đồng vị của nguyên tố Pm (promethi). == Phòng ngừa == Bụi của neodymi kim loại có nguy hiểm cháy và nổ. Các hợp chất của neodymi, giống như các muối của mọi kim loại đất hiếm khác, có độc tính từ nhẹ tới vừa phải; tuy nhiên độc tính của chúng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bụi neodymi và các muối của nó kích ứng mạnh đối với mắt và các màng nhầy và kích ứng vừa phải đối với da. Hít thở phải bụi có thể gây ra tắc mạch phổi và sự phơi nhiễm tích tụ gây nguy hiểm cho gan. Neodymi cũng đóng vai trò như là tác nhân chống đông máu, đặc biệt là khi truyền vào theo đường ven. Các nam châm neodymi đã được thử nghiệm để sử dụng trong y học, chẳng hạn như các vòng từ tính và chỉnh sửa xương, nhưng các vấn đề về tương thích sinh học đã không cho phép các ứng dụng này được phổ biến. == Xem thêm == Nam châm neodymi (NIB or Nd2Fe14B) == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ Los Alamos - Neodymi "The Industrial Chemistry of the Lanthanons, Yttrium, Thorium and Uranium" của R.J. Callow, Nhà in Pergamon, 1967. Lindsay Chemical Division, American Potash and Chemical Corporation, Bảng giá, 1960. "Chemistry of the Lanthanons" của R.C. Vickery, Butterworths, 1953. == Ghi chú == == Liên kết ngoài == USGS Rare Earth Commodity Summary 2006 WebElements.com – Neodymium It's Elemental – Neodymium
1990.txt
Theo lịch Gregory, năm 1990 (số La Mã: MCMXC) là một năm bắt đầu từ ngày thứ hai. Bản mẫu:Tháng trong năm 1990 == Sự kiện == 1 tháng 1: Arnold Koller trở thành tổng thống Thụy Sĩ 3 tháng 2: Bulgaria. Andrej Lukanov trở thành thủ tướng 11 tháng 2: Nelson Mandela được tự do 11 tháng 3: Comoros. Said Mohamed Djohar được bầu làm tổng thống 14 tháng 3: Mikhail Sergeyevich Gorbachov trở thành tổng thống của Liên bang Xô viết 24 tháng 3: Islam Karimow trở thành tổng thống tại Uzbekistan 25 tháng 3: Bầu cử dân chủ lần đầu tiên từ hơn 40 năm nay tại Hungary 30 tháng 3: Estonia tuyên bố thành lập Cộng hòa 3 tháng 4: Petar Mladenov trở thành tổng thống Bulgaria 23 tháng 4: Namibia trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc 24 tháng 4: Nursultan Nazarbayev trở thành tổng thống của Kazakhstan 4 tháng 5: Latvia tuyên bố độc lập 25 tháng 5: Bầu cử quốc hội tại Myanma 13 tháng 6: Bắt đầu giật sập Bức tường Berlin 19 tháng 6: Bỉ, Cộng hòa Liên bang Đức, Hà Lan, Luxembourg và Pháp ký kết Hiệp ước Schengen 20 tháng 6: Động đất tại Iran, 40.000 đến 50.000 người chết 23 tháng 6: Cộng hòa Moldau tuyên bố độc lập 16 tháng 7: Động đất tại Luzon, Philippines, 1621 người chết 1 tháng 8: Bulgaria. Zhelyu Zhelev trở thành tổng thống 3 tháng 8: Armenia tuyên bố độc lập 22 tháng 8: São Tomé và Príncipe có Hiến pháp mới 18 tháng 9: Liechtenstein trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc 3 tháng 10: Đông Đức chấm dứt tồn tại, sáp nhập vào Tây Đức 22 tháng 10: Turkmenistan tuyên bố độc lập 27 tháng 10: Saparmurat Niyazov trở thành tổng thống Turkmenistan 9 tháng 11: Hiến pháp dân chủ tại Nepal 5 tháng 12: Bangladesh. Tổng thống Hussain Mohammed Ershad bị lật đổ 11 tháng 12: Hiến pháp mới tại Bénin bắt đầu có hiệu lực 15 tháng 12: Kyrgyzstan tuyên bố độc lập == Sinh == 2 tháng 1: Khởi My, ca sĩ Việt Nam 7 tháng 1: Liam Aiken, diễn viên Mỹ 12 tháng 1: Sergej Karjakin, kiện tướng cờ vua Ukraina 4 tháng 3: Andrea Bowen, nữ diễn viên Mỹ 6 tháng 3: Ronja hoàng tử, nữ diễn viên Đức 24 tháng 3: Keisha Castle-Hughes, nữ diễn viên Úc 9 tháng 4: Kristen Stewart, nữ diễn viên Mỹ 15 tháng 4: Emma Watson, nữ diễn viên Anh 20 tháng 4: Luhan, ca sĩ Trung Quốc 1 tháng 5: Caitlin Stasey, nữ diễn viên Úc 8 tháng 5: Tiêu Nhiên, nhà văn, nhà môi trường học Việt Nam 16 tháng 5: Thomas Sangster, diễn viên Anh 30 tháng 5: Im Yoon Ah, ca sĩ, diễn viên Hàn Quốc 11 tháng 7: Connor Paolo, diễn viên Mỹ 17 tháng 7: Mattie Stepanek, nhà thơ trữ tình Mỹ 24 tháng 7: Daveigh Chase, nữ diễn viên Mỹ 29 tháng 7: Matt Prokop 12 tháng 8: Mario Balotelli, cầu thủ bóng đá Italia gốc Ghana 17 tháng 8: Rachel Hurd-Wood, nữ diễn viên Anh 30 tháng 8: Lưu Thị Diễm Hương, Hoa hậu Thế giới người Việt 2010 7 tháng 9: Tanja Kolbe, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 20 tháng 9: John Tavares, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada 21 tháng 10: Ricky Rubio, cầu thủ bóng rổ Tây Ban Nha 7 tháng 11: Rosa-Mystique Jones, nữ vận động viên điền kinh 27 tháng 11: Sarah Hyland, nữ diễn viên Mỹ 30 tháng 11: Magnus Carlsen, kiện tướng cờ vua Na Uy 10 tháng 12: Tamira Paszek, nữ vận động viên quần vợt Áo 20 tháng 12: Joanna 'JoJo' Levesque, nữ ca sĩ Mỹ 22 tháng 12: Jean-Baptiste Maunier, nam ca sĩ Pháp và diễn viên 25 tháng 12: Marie Luise Stahl, nữ diễn viên Đức 12 tháng 12: Seungri, nam ca sĩ Hàn Quốc thuộc nhóm nhạc BIGBANG 9 tháng 12: LaFee, nữ ca sĩ Đức 10 tháng 2: SooYoung, ca sĩ Hàn Quốc == Mất == 1 tháng 1: Ernst Kuzorra, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1905) 4 tháng 1: Vladimir Ussachevski, nhà soạn nhạc (s. 1911) 6 tháng 1: Hans Jaray, đạo diễn phim, tác giả (s. 1906) 6 tháng 1: Pavel Alekseyevich Cherenkov, nhà vật lý học Nga (s. 1904) 8 tháng 1: Terry-Thomas, diễn viên Anh (s. 1911) 9 tháng 1: Bazilio Olara Okello, tổng thống Uganda (s. 1929) 10 tháng 1: Ernst Engelbrecht-Greve, chính khách Đức (s. 1916) 14 tháng 1: Hellmut Haase-Altendorf, nhà soạn nhạc Đức, nghệ sĩ dương cầm (s. 1912) 16 tháng 1: Alfred Maleta, chính khách Áo (s. 1906) 17 tháng 1: Charles Hernu, chính khách Pháp (s. 1923) 19 tháng 1: Herbert Wehner, chính khách Đức (s. 1906) 20 tháng 1: Barbara Stanwyck, nữ diễn viên Mỹ (s. 1907) 21 tháng 1: Wilhelm Flitner, nhà sư phạm (s. 1889) 25 tháng 1: Ava Gardner, nữ diễn viên Mỹ (s. 1922) 26 tháng 1: Bob Gerard, đua xe Anh (s. 1914) 26 tháng 1: Lewis Mumford, triết gia (s. 1895) 26 tháng 1: Higashikuni Naruhiko, chính khách Nhật Bản, thủ tướng (s. 1887) 2 tháng 2: Mel Lewis, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (s. 1929) 14 tháng 2: Tony Holiday, nam ca sĩ Đức (s. 1951) 14 tháng 2: Luděk Čajka, vận động viên khúc côn cầu trên băng Séc (s. 1964) 16 tháng 2: Keith Haring, nghệ nhân Mỹ (s. 1958) 23 tháng 2: James M. Gavin, tướng Mỹ (s. 1907) 24 tháng 2: Alessandro Pertini, chính khách Ý (s. 1896) 5 tháng 3: Edmund Conen, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1914) 7 tháng 3: Carl Alvar Wirtanen, nhà thiên văn học Mỹ (s. 1910) 7 tháng 3: Claude Arrieu, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1903) 10 tháng 3: Tseng Kwong Chi, nhiếp ảnh gia (s. 1950) 12 tháng 3: Philippe Soupault, thi sĩ Pháp, nhà văn (s. 1897) 12 tháng 3: Baldur Hönlinger, kiện tướng cờ vua Áo (s. 1905) 13 tháng 3: Karl Münchinger, nhạc trưởng Đức (s. 1915) 16 tháng 3: Fritz Ewert, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1937) 17 tháng 3: Ric Grech, nhạc sĩ nhạc rock Anh (s. 1946) 17 tháng 3: Capucine, nữ diễn viên Pháp (s. 1931) 19 tháng 3: Leopold Neumer, cầu thủ bóng đá (s. 1919) 21 tháng 3: Lew Iwanowitsch Jaschin, cầu thủ bóng đá Nga (s. 1929) 24 tháng 3: An Wang, nhà phát minh (s. 1920) 26 tháng 3: Christian Meyer-Oldenburg, nhà văn thể loại khoa học giả tưởng tiếng Đức (s. 1936) 28 tháng 3: Kurt Scharf, Giám mục Tin Lành (s. 1902) 2 tháng 4: Aldo Fabrizi, diễn viên Ý, đạo diễn phim (s. 1905) 4 tháng 4: Paul Yoder, nhà soạn nhạc Mỹ, giáo sư (s. 1908) 6 tháng 4: Alfred Sohn-Rethel, nhà kinh tế học, triết gia (s. 1899) 12 tháng 4: Otto Neumann, vận động viên điền kinh Đức (s. 1902) 12 tháng 4: Luis Trenker, kiến trúc sư, diễn viên, đạo diễn phim, nhà văn (s. 1892) 13 tháng 4: Hans Reinerth, nhà khảo cổ học Đức (s. 1900) 15 tháng 4: Greta Garbo, nữ diễn viên Thụy Điển (s. 1905) 15 tháng 4: Helmut Lemke, chính khách Đức, thủ hiến của bang Schleswig-Holstein, Đức (s. 1907) 17 tháng 4: Karl Walz, chính khách Đức (s. 1900) 18 tháng 4: Friedrich Wilhelm Kraemer, ein kiến trúc sư Đức (s. 1907) 19 tháng 4: Marco Aurelio Robles Méndez, tổng thống thứ 32 của Panama (s. 1905) 22 tháng 4: Bob Davies, cầu thủ bóng rổ Mỹ (s. 1920) 23 tháng 4: Paulette Goddard, nữ diễn viên Mỹ 29 tháng 4: Max Bense, triết gia Đức, nhà văn, nhà xuất bản (s. 1910) 6 tháng 5: Irmtraud Morgner, nhà văn nữ Đức (s. 1933) 8 tháng 5: Gustav Rudolf Sellner, đạo diễn phim Đức (s. 1905) 11 tháng 5: Heidemarie Hatheyer, nữ diễn viên Áo, nữ ca sĩ (s. 1918) 14 tháng 5: André Amellér, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1912) 16 tháng 5: Jim Henson, đạo diễn phim Mỹ (s. 1936) 16 tháng 5: Sammy Davis Jr., nam ca sĩ Mỹ, nghệ sĩ múa, diễn viên (s. 1925) 18 tháng 5: Giuse Maria Trịnh Văn Căn, tổng Giám mục của Hà Nội, Hồng y Giáo chủ (s. 1921) 24 tháng 5: Julijans Vaivods, tổng Giám mục của Riga, Hồng y Giáo chủ (s. 1895) 26 tháng 5: Chris McGregor, nghệ sĩ dương cầm Nam Phi, nhà soạn nhạc (s. 1936) 27 tháng 5: Hans Bunge, đạo diễn phim, tác giả (s. 1919) 28 tháng 5: Giorgio Manganelli, nhà văn Ý, nhà văn tiểu luận, nhà báo (s. 1922) 31 tháng 5: Willy Spühler, chính khách Thụy Sĩ (s. 1902) 1 tháng 6: Ernst Wilhelm Borchert, diễn viên Đức (s. 1907) 2 tháng 6: Jack Gilford, diễn viên Mỹ (s. 1907) 12 tháng 6: Georg Meistermann, họa sĩ Đức (s. 1911) 16 tháng 6: Thomas George Cowling, nhà thiên văn học Anh, nhà toán học (s. 1906) 22 tháng 6: Rocky Graziano, võ sĩ quyền Anh Mỹ (s. 1921) 23 tháng 6: Ilja Michailowitsch Frank, nhà vật lý học Nga, Giải Nobel vật lý năm 1958 (s. 1908) 25 tháng 6: Peggy Glanville-Hicks, nhà soạn nhạc Úc (s. 1912) 28 tháng 6: Herbert Jobst, nhà văn Đức (s. 1915) 7 tháng 7: Hugo Makibi Enomiya-Lassalle, thầy tu dòng Tên (s. 1898) 14 tháng 7: Dagmar Dimitroff, nữ nghệ nhân (s. 1960) 18 tháng 7: Yun Bo-seon, chính khách Hàn Quốc (s. 1897) 21 tháng 7: Sergei Parajanov, đạo diễn phim (s. 1924) 22 tháng 7: Manuel Puig, nhà văn Argentina, tác giả kịch bản (s. 1932) 25 tháng 7: Jean Fourastié, nhà kinh tế học (20 (s. 1907) 26 tháng 7: Hans Aebli, nhà sư phạm Thụy Sĩ (s. 1923) 29 tháng 7: Bruno Kreisky, chính khách Áo (s. 1911) 31 tháng 7: Wilhelm Nowack, chính khách Đức (s. 1897) 31 tháng 7: Fernando Sancho, diễn viên Tây Ban Nha (s. 1916) 1 tháng 8: Norbert Elias, nhà xã hội học, triết gia, thi sĩ (s. 1897) 2 tháng 8: George de Mestral, kĩ sư Thụy Sĩ (s. 1907) 3 tháng 8: Betty Amann, nữ diễn viên (s. 1905) 4 tháng 8: Heinz Frieler, chính khách Đức (s. 1927) 5 tháng 8: Ivan Blatný, thi sĩ Séc, nhà văn (s. 1919) 7 tháng 8: Gebhard Müller, thủ hiến của Baden-Württemberg, Đức (s. 1900) 12 tháng 8: Roy Williamson, nhạc sĩ (s. 1936) 15 tháng 8: Wiktor Robertowitsch Zoi, ca sĩ nhạc rock Nga (s. 1962) 16 tháng 8: Annik Saxegaard, nhà văn nữ Na Uy (s. 1905) 20 tháng 8: Rudolf Gellesch, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1914) 20 tháng 8: Werner Lansburgh, nhà văn Đức, nhà xuất bản (s. 1912) 22 tháng 8: Rudolf Marić, kiện tướng cờ vua (s. 1927) 22 tháng 8: Luigi Dadaglio, Hồng y Giáo chủ của nhà thờ Công giáo La Mã (s. 1914) 24 tháng 8: Sergei Donatovich Dovlatov, nhà văn Nga (s. 1941) 25 tháng 8: Morley Callaghan, nhà văn Canada (s. 1903) 27 tháng 8: Stevie Ray Vaughan, nhạc sĩ nhạc blues (s. 1954) 29 tháng 8: Luigi Beccali, vận động viên điền kinh Ý, huy chương Thế Vận Hội (s. 1907) 2 tháng 9: Piet Stalmeier, nhà soạn nhạc Hà Lan, nhạc trưởng (s. 1912) 3 tháng 9: Karl Mommer, chính khách Đức (s. 1910) 3 tháng 9: Mieczysław Fogg, nam ca sĩ Ba Lan (s. 1901) 4 tháng 9: Irene Dunne, nữ diễn viên (s. 1898) 5 tháng 9: Beppo Brem, diễn viên Đức (s. 1906) 7 tháng 9: Ahti Karjalainen, chính khách Phần Lan (s. 1923) 9 tháng 9: Nicola Abbagnano, triết gia Ý (s. 1901) 9 tháng 9: Samuel K. Doe, tổng thống của Liberia 11 tháng 9: Iris von Roten, nữ luật gia Thụy Sĩ, nữ nhà báo (s. 1917) 26 tháng 9: Alberto Moravia, nhà văn Ý (s. 1907) 30 tháng 9: Michel Leiris, nhà văn Pháp, nhà dân tộc học (s. 1901) 30 tháng 9: Patrick White, Giải thưởng Nobel văn học (s. 1912) 1 tháng 10: John Stewart Bell, nhà vật lý học (s. 1928) 1 tháng 10: Andrzej Krzanowski, nhà soạn nhạc Ba Lan (s. 1951) 2 tháng 10: Peter Herman Adler, nhạc trưởng (s. 1899) 4 tháng 10: Erwin Bünning, nhà thực vật học Đức (s. 1906) 6 tháng 10: Juan José Arévalo, tổng thống Guatemala (s. 1905) 9 tháng 10: Georges de Rham, nhà toán học Thụy Sĩ (s. 1903) 10 tháng 10: Emil Joseph Diemer, kỳ thủ Đức (s. 1908) 10 tháng 10: Carlos Thompson, diễn viên Argentina, nhà văn (s. 1923) 13 tháng 10: Lê Đức Thọ (s. 1911) 13 tháng 10: Hans Freudenthal, nhà toán học Đức (s. 1905) 14 tháng 10: Leonard Bernstein, nhà soạn nhạc Mỹ, nhạc trưởng (s. 1918) 16 tháng 10: Jorge Bolet, nghệ sĩ dương cầm (s. 1914) 20 tháng 10: Joel McCrea, diễn viên (s. 1905) 22 tháng 10: Werner Jarowinsky, chính khách Đức (s. 1927) 23 tháng 10: Louis Althusser, triết gia Pháp (s. 1918) 27 tháng 10: Gerhard Wacher, chính khách Đức (s. 1916) 27 tháng 10: Jacques Demy, đạo diễn phim Pháp (s. 1931) 28 tháng 10: Sigrid Kressmann-Zschach, nữ kiến trúc sư Đức (s. 1929) 29 tháng 10: Volker von Collande, diễn viên Đức, tác giả kịch bản, đạo diễn phim (s. 1913) 2 tháng 11: Eliot Porter, nhiếp ảnh gia Mỹ (s. 1901) 3 tháng 11: Mary Martin, nữ diễn viên Mỹ (s. 1913) 10 tháng 11: Ronnie Dyson, ca sĩ nhạc pop Mỹ (s. 1950) 11 tháng 11: Giannis Ritsos, nhà văn Hy Lạp (s. 1909) 12 tháng 11: Hans Jürgen Hundt, nhà khảo cổ học Đức (s. 1902) 12 tháng 11: Eve Arden, nữ diễn viên Mỹ (s. 1908) 13 tháng 11: Nico Haak, nam ca sĩ Hà Lan (s. 1939) 17 tháng 11: Robert Hofstadter, nhà vật lý học Mỹ, nhận Giải thưởng Nobel (s. 1915) 18 tháng 11: Wolfgang Büttner, diễn viên Đức (s. 1912) 19 tháng 11: Felix Lützkendorf, tác giả kịch bản Đức (s. 1906) 23 tháng 11: Roald Dahl, nhà văn (s. 1916) 24 tháng 11: Helga Feddersen, nữ diễn viên Đức (s. 1930) 24 tháng 11: Arnold Marquis, diễn viên Đức (s. 1921) 26 tháng 11: Ludwig von Moos, chính khách Thụy Sĩ (s. 1910) 28 tháng 11: Paco Godia, tay đua xe Tây Ban Nha (s. 1921) 30 tháng 11: Hilde Spiel, nữ nhà báo, nhà văn nữ (s. 1911) 1 tháng 12: Octavio Antonio Beras Rojas, tổng Giám mục của Santo Domingo, Hồng y Giáo chủ (s. 1906) 1 tháng 12: Vijaya Lakshmi Pandit, nữ chính khách Ấn Độ (s. 1900) 2 tháng 12: Robert Cummings, diễn viên Mỹ (s. 1908) 2 tháng 12: Aaron Copland, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1900) 2 tháng 12: Sergio Corbucci, đạo diễn phim Ý (s. 1927) 7 tháng 12: Joan Bennett, nữ diễn viên Mỹ (s. 1910) 7 tháng 12: Horst Bienek, nhà văn Đức (s. 1930) 8 tháng 12: Martin Ritt, đạo diễn phim Mỹ (s. 1914) 13 tháng 12: Alice Marble, nữ vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1913) 14 tháng 12: Friedrich Dürrenmatt, nhà văn Thụy Sĩ, nhà soạn kịch, họa sĩ (s. 1921) 15 tháng 12: Walther Hans Reinboth, họa sĩ, thi sĩ (s. 1899) 19 tháng 12: Norbert Dufourcq, nghệ sĩ đàn ống (s. 1904) 21 tháng 12: Anne-Marie Barat, nữ nghệ sĩ đàn ống Pháp (s. 1948) 21 tháng 12: Magda Julin, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Thụy Điển (s. 1894) 24 tháng 12: Thorbjørn Egner, nhà văn Na Uy (s. 1912) == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Elias James Corey Văn học - Octavio Paz Hòa bình - Mikhail Sergeyevich Gorbachov Vật lý - Jerome Isaac Friedman, Henry Way Kendall, Richard Edward Taylor Y học - Joseph E. Murray, E. Donnall Thomas Kinh tế - Harry Markowitz, Merton Miller, William Sharpe == Xem thêm == Thế giới trong năm 1990, tình trạng thế giới trong năm này == Tham khảo ==
2003.txt
2003 (số La Mã: MMIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ tư trong lịch Gregory. Nó cùng lúc với những năm 5763–5764 trong lịch Do Thái, 1423–1424 trong lịch Hồi giáo, 1381–1382 theo lịch Ba Tư, và 2756 a.u.c. 2003 được chỉ định là Năm Nước ngọt quốc tế, Năm Người tàn tật ở châu Âu, và Năm Blog. Trong lịch Trung Quốc, nó là năm Quý Mùi. == Sự kiện == 1 tháng 1 – Luíz Inácio Lula Da Silva trở thành Tổng thống thứ 37 của Brasil. 1 tháng 1 – Pascal Couchepin trở thành Tổng thống Thụy Sĩ 24 tháng 1 – Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ chính thức bắt đầu hoạt động. Tháng 1 – Khủng hoảng về giảm quân bị tại Iraq: Vì lời phê bình khắp nơi, luật sư chính của Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Hungary, Ba Lan, Đan Mạch và Cộng hòa Séc đã tuyên bố phát biểu ý kiến ủng lập trường của Hoa Kỳ về Iraq, và nói là Saddam Hussein phải tuân theo nghị quyết của Liên hiệp quốc. 1 tháng 2 – Tàu Columbia nổ ở trên Texas trong lúc hạ cánh, giết tất cả 7 phi hành gia trên tàu. 5 tháng 2 – Khủng hoảng về giảm quân bị tại Iraq: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Colin Powell diễn thuyết tại Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc về Iraq. 15 tháng 2 – Toàn thế giới chống chiến tranh tại Iraq – hơn 6 triệu người đã biểu tình tại hơn 600 đô thị trên toàn thế giới, một trong những vụ biểu tình lớn nhất trong lịch sử nhân loại. 23 tháng 2 – Thành phố New York là địa điểm cho Giải Grammy 2003, với sự hiện diện của Nickelback, No Doubt, Foo Fighters, Britney Spears và các nhạc sĩ khác. 24 tháng 2 – Động đất trong tỉnh Tân Cương, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, 261 người chết 26 tháng 2 – Một doanh nhân người Mỹ được đưa vào Bệnh viện Việt-Pháp tại Hà Nội, Việt Nam. Bác sĩ của WHO, Carlo Urbani thông báo tình trạng bệnh truyền nhiễm lạ lây rất nhanh tới WHO. Bác sĩ Carlo Urbani và bệnh nhân đó đều chết vì SARS vào tháng 3. 26 tháng 2 – Khủng hoảng về giảm quân bị tại Iraq: Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush phát biểu công khai về viễn cảnh "cải cách dân chủ" ở Iraq. Ông nói đây sẽ là "một ví dụ" cho các quốc gia Ả Rập khác. 1 tháng 3 – Khủng hoảng về giảm quân bị tại Iraq: Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất kêu gọi Tổng thống Iraq Saddam Hussein nhượng bộ để tránh chiến tranh. Quan điểm này sau đó được Kuwait nhắc lại. 6 tháng 3 – Tamanrasset, Algerie. Một chiếc Boeing 737 của Air Algerie rơi, tất cả 103 người trên máy bay đều chết 15 tháng 3 – Hồ Cẩm Đào trở thành Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, thay thế Giang Trạch Dân. 1 tháng 5 – Động đất tại phía đông Thổ Nhĩ Kỳ, 177 người chết 21 tháng 5 – Động đất tại Algerie, 2.266 người chết 7 tháng 7 – Sudan. Rơi một chiếc Boeing 737 của Sudan Airways, 116 người chết 31 tháng 10 – Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Công ước phòng chống tham nhũng 5 tháng 12 – Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003 diễn ra tại Hà Nội (Việt Nam) == Sinh == 13 tháng 1: Phương Mỹ Chi ca sĩ Việt Nam 23 tháng 4: Công chúa Laetitia Maria Nora Anna Joachim Zita, con gái công chúa Astrid của Bỉ và Hoàng tử Lorenz của Austria-Este 29 tháng 4: Maud Angelica Behn, con gái Công chúa Märtha Louise của Na Uy và Ari Behn 8 tháng 5: hoàng tử kế vị Mulai Hassan, con trai vua Muhammad VI của Maroc và công chúa Lalla Salma 15 tháng 5: Ana María Morales y de Grecia, con gái Công chúa Alexia của Hy Lạp và Đan Mạch và Carlos Morales 27 tháng 5: Moritz Emmanuel Maria, con trai hoàng tử Constantin của Liechtenstein và Marie von Kalnoky 20 tháng 8: Hoàng tử Gabriel Baudouin Charles Marie, con trai Vua Philippe của Bỉ và Mathilde d'Udekem d'Acoz 24 tháng 8: Alexandre, con trai ngoài giá thú của Đại Công tước Albert II của Monaco và bạn gái Nicole Coste. 8 tháng 11: Louise Alice Elizabeth Sophie, con gái của Hoàng tử Edward, Bá tước xứ Wessex và Sophie Helen Rhys-Jones. 7 tháng 12: Công chúa Catharina-Amalia Beatrix Carmen Victoria, con gái Vua Willem-Alexander của Hà Lan và Máxima Zorreguieta 28 tháng 12: Công chúa Vittoria Cristina Adelaide Chiara Maria, con gái của hoàng tử Emanuele Filiberto của Savoia và công nương Clotilde Courau == Mất == 5 tháng 1 – Roy Jenkins, Chính trị gia người Anh. 11 tháng 1: Mickey Finn, nhạc sĩ Anh (sinh 1947) 24 tháng 1: Giovanni Agnelli, doanh nhân Ý (sinh 1921) 2 tháng 2: Lou Harrison, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1917) 13 tháng 2: Walt Whitman Rostow, nhà kinh tế học Mỹ (sinh 1916) 28 tháng 2: Chris Brasher, vận động viên điền kinh Anh, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (sinh 1928) 3 tháng 3: Horst Buchholz, diễn viên Đức (sinh 1933) 12 tháng 3: Zoran Đinđić, chính trị gia Serbia (sinh 1952) 24 tháng 3: Heinrich Neuy, họa sĩ Đức (sinh 1911) 29 tháng 3: Carlo Urbani, bác sĩ đã tìm ra dịch SARS. 13 tháng 5: Hà Triều, soạn giả Cải lương. 17 tháng 5: Luigi Pintor, nhà văn Ý, nhà báo, chính trị gia (sinh 1925) 30 tháng 5: Günter Pfitzmann, diễn viên Đức (sinh 1924) 5 tháng 6: Jürgen W. Möllemann, chính trị gia Đức (sinh 1945) 12 tháng 6: Gregory Peck, diễn viên Mỹ (sinh 1916) 26 tháng 6: Marc Vivien Foe, cầu thủ người Cameroon (sinh 1975) 29 tháng 6: Katharine Hepburn, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1907) 4 tháng 7: Barry White, ca sĩ nhạc soul Mỹ (sinh 1944) 17 tháng 7: Hans Abich, nhà sản xuất phim Đức (sinh 1918) 22 tháng 7: Udai Hussein (sinh 1964), Kusai Hussein (sinh 1967), các con trai của Saddam Hussein 21 tháng 7: Ingrid von Bothmer, nữ diễn viên Đức (sinh 1918) 13 tháng 8: Helmut Rahn, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1929) 16 tháng 8: Idi Amin, nhà độc tài của Uganda (sinh 1928) 28 tháng 8: Peter Hacks, nhà soạn kịch Đức (sinh 1928) 29 tháng 8: Horace Welcome Babcock, nhà thiên văn học Mỹ (sinh 1912) 30 tháng 8: Charles Bronson, diễn viên Mỹ (sinh 1921) 8 tháng 9: Leni Riefenstahl, nữ đạo diễn phim người Đức (sinh 1902) 9 tháng 9: Edward Teller, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1908) 11 tháng 9: Anna Lindh, nữ bộ trưởng Bộ Ngoại giao Thụy Điển (sinh 1957) 12 tháng 9: Johnny Cash, ca sĩ nhạc country Mỹ (sinh 1932) Trương Quốc Vinh, diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng của Hồng Kông (Sinh 1956) 17 tháng 9: Ljubica Marić, nhà soạn nhạc Serbia (sinh 1909) 19 tháng 9: Slim Dusty, nam ca sĩ Úc (sinh 1927) 23 tháng 9: Josef Guggenmos, nhà thơ trữ tình, nhà văn (sinh 1922) 26 tháng 9: Robert Palmer, nam ca sĩ Anh (sinh 1949) 10 tháng 10: Eugene Istomin, nghệ sĩ dương cầm Mỹ (sinh 1925) 19 tháng 10: Alija Izetbegović, chính trị gia, chính khách (sinh 1925) 29 tháng 10: Hal Clement, nhà văn Mỹ (sinh 1922) 6 tháng 11: Hallvard Johnsen, nhà soạn nhạc Na Uy (sinh 1916) 12 tháng 11: Jonathan Brandis, diễn viên Mỹ (sinh 1976) 27 tháng 11: Will Quadflieg, diễn viên Đức (sinh 1914) 2 tháng 12: Ignaz Kiechle, chính trị gia Đức (sinh 1930) 19 tháng 12: Hope Lange, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1931) 22 tháng 12: Dave Dudley, (Darwin David Pedruska), ca sĩ nhạc country Mỹ (sinh 1928) 27 tháng 12: Alan Bates, (Sir Alan Arthur), diễn viên Anh (sinh 1934) 30 tháng 12: Mai Diễm Phương, (Anita Mui) danh ca, diễn viên nổi tiếng của Hồng Kông (sinh 1963). == Giải thưởng Nobel == Vật lý học: Alexei Alexeevich Abrikosov, Nga và Hoa Kỳ Vitaly Lazarevich Ginzburg, Nga Anthony James Leggett, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, "vì các đóng góp tiên phong cho thuyết siêu dẫn và siêu lưu" Hoá học: Peter Agre, Hoa Kỳ "vì các phát hiện liên quan tới các kênh trong màng tế bào", "vì phát hiện các kênh nước" Roderick MacKinnon, Hoa Kỳ "vì các nghiên cứu cấu trúc và cơ học đối với các kênh ion" Sinh lý học hoặc y học: Paul Lauterbur, Hoa Kỳ Sir Peter Mansfield, Vương quốc Anh "vì các phát hiện của họ liên quan tới chụp cộng hưởng từ" Văn học: John Maxwell Coetzee, Nam Phi, "người trong nhiều vô số cách thức đã miêu tả sinh động sự tham gia đáng ngạc nhiên của người ngoài cuộc" Hoà bình: Shirin Ebadi, Iran "vì các nỗ lực của bà cho dân chủ và nhân quyền" Kinh tế chính trị: Robert F. Engle, Hoa Kỳ "cho các phương pháp phân tích chuỗi thời gian kinh tế với sự biến động theo thời gian" Clive W. J. Granger, Vương quốc Anh "cho các phương pháp phân tích chuỗi thời gian kinh tế với các xu hướng chung" == Tham khảo ==
guinée.txt
Guinée (phát âm /ˈɡɪni/, tên chính thức Cộng hòa Guinée tiếng Pháp: République de Guinée, Tiếng Việt: Cộng hòa Ghi-nê), là một đất nước nằm ở miền Tây Phi. Trước đây quốc gia này được biết với cái tên Guinée thuộc Pháp (Guinée française), đôi khi từ Guinée-Conakry dùng để chỉ quốc gia này để phân biệt với đất nước láng giềng Guinea-Bissau. Conakry là thủ đô, nơi đặt các cơ quan chính phủ quốc gia, và là thành phố lớn nhất nước. Diện tích Guinée vào khoảng 246.000 kilomet vuông (94.981 dặm vuông). Hình dạng lưỡi liềm của quốc gia này bắt đầu từ bờ biển phía tây giáp Đại Tây Dương cong về phía đông và nam. Guinée biên giới với Guiné-Bissau, Sénégal và Mali về phía bắc, phía nam giáp Bờ Biển Ngà, Liberia và Sierra Leone. Con sông Niger bắt nguồn từ Guinée và chảy về hướng đông. Dân số 10.000.000 người của Guinée thuộc về hai mươi bốn nhóm dân tộc. Các nhóm sắc tộc chiếm đa số là Fula, Mandinka, và Susu. == Lịch sử == Thế kỉ 12, vùng thượng Guinée là phần đất thuộc đế quốc Mali. Sau khi người Bồ Đào Nha đặt chân đến vùng bờ biển này (từ năm 1461), chế độ buôn bán nô lệ bắt đầu diễn ra và kéo dài đến năm 1850. Guinée trở thành thuộc địa của Pháp từ năm 1893, bị sáp nhập vào lãnh thổ Tây Phi thuộc Pháp năm 1895. Nhân dân Guinée dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Samori Touré đã chiến đấu chống lại thực dân Pháp trong nhiều năm. Năm 1898, thủ lĩnh Samori Touré bị bắt và tới năm 1905 Pháp chiếm hoàn toàn Guinée và đặt Guinée trong khối Tây Phi thuộc Pháp. Sau khi Pháp chiếm Guinée, nhân dân Guinée đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống ách thống trị của Pháp. Nổi bật nhất là các cuộc khởi nghĩa của nhân dân vùng Fouta. Năm 1947, một nhóm người tiến bộ do Sékou Touré lãnh đạo thành lập Đảng Dân chủ Guinée(PDG). Đảng Dân chủ Guinée nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị quan trọng chống lại chế độ thực dân Pháp. Nhằm giữ thuộc địa sau thất bại ở Đông Dương, chính quyền Pháp chủ trương thành lập "Cộng đồng Pháp" ở châu Phi. Ngày 28 tháng 9 năm 1958, dưới sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Guinée, nhân dân Guinée đã bỏ phiếu chống lại kế hoạch lập Cộng đồng Pháp trong cuộc trưng cầu dân ý về tương lai của Guinée do chính quyền Pháp tổ chức. Ngày 2 tháng 10 năm 1958, Guinée tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa Guinée do Sékou Touré làm Tổng thống. Guinée là nước đầu tiên của thuộc địa Tây Phi thuộc Pháp giành độc lập năm 1958. Chính quyền của Tổng thống Sékou Touré theo đuổi chính sách độc lập dân tộc, ủng hộ các phong trào giải phóng châu Phi. Từ năm 1978, Cộng hoà Guinée đổi tên thành Cộng hoà Nhân dân Cách mạng Guinée. Năm 1982, Guinée bình thường hoá quan hệ với Pháp, bắt đầu hợp tác kinh tế và dần dần có quan hệ gắn bó với Mỹ và phương Tây. Tháng 4 năm 1984, sau khi Tổng thống Sékou Touré chết, lực lượng quân sự do Đại tá Lansana Conté đứng đầu tiến hành đảo chính và lên cầm quyền, đổi tên nước thành Cộng hoà Guinée. Tổng thống Lansana Conté đứng đầu đã tuyên bố thực hiện đường lối phát triển đát nước theo hướng tự do hoá kinh tế (1985), đa dạng hoá quan hệ với các nước, xây dựng hiến pháp mới theo chế độ đa đảng (1990). Tổng thống Lasana Conté tái đắc cử trong cuộc bầu cử Tổng thống các năm 1993, 1998 và 2003. Guinée và nước láng giềng Liberia vẫn tiếp tục trong tình trạng khó khăn. Cuộc nội chiến ở Liberia kéo dài trong thập niên 90, cuộc chiến ở đây đã lan sang biên giới Guinée, những cuộc đụng độ ở biên giới vẫn tiếp tục diễn ra sau khi nội chiến đã tạm lắng xuống. Guinée ủng hộ việc chống lại nhà lãnh đạo đối lập Charler Taylor trong cuộc nội chiến ở Liberia, cho nên mối quan hệ giữa Tổng thống Conté với Taylor không mấy tốt đẹp sau khi Taylor trở thành Tổng thống Liberia năm 1997. Từ tháng 9 năm 2000, cuộc chiến tại ngã ba biên giới Guinée, Liberia và Sierra Leone ngày càng gia tăng. Quân đội Guinée phải chiến đấu chống lại lực lượng nhiều thành phần phe nhóm trong nhóm nổi dậy Guinée và Liberia. Do cơ sở hạ tầng thiếu, nền kinh tế yếu kém, gần 300.000 người tị nạn do cuộc nội chiến ở Sierra Leone đã tràn sang Guinée. Năm 2006 và đầu năm 2007, tình hình kinh tế chính trị Guinée bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các cuộc tổng đình công của các nghiệp đoàn phản đối chính phủ quản lý yếu kém, đòi Tổng thống Lansana Conté phải từ chức (do vấn đề sức khỏe) và bổ nhiệm một vị Thủ tướng. Ngày 22 tháng 12 năm 2008, Tổng thống Lansana Conté qua đời. Một nhóm lực lượng quân đội đã tiến hành đảo chính giành chính quyền. Lãnh đạo nhóm đảo chính là Đại tá Moussa Dadis Camara tuyên bố là Tổng thống mới của Guinée và thành lập chính phủ mới. Ngày 15 tháng 2 năm 2010, chính phủ chuyển tiếp gồm 34 thành viên được thành trong đó chính trị gia đối lập kỳ cựu Jean-Marie Dore giữ chức Thủ tướng. Ghi-nê dự kiến sẽ tổ chức bầu cử tổng thống vào ngày 27 tháng 6 năm 2010 nhằm thay thế chính quyền quân sự hiện nay. == Chính trị == === Đối nội === Ghi-nê theo thể chế Cộng hòa Tổng thống Tổng thống được tranh cử nhiều lần. Kể từ năm 2003, nhiệm kỳ của Tổng thống kéo dài 7 năm. Năm 1992, Guinée thực hiện chế độ đa đảng. Hiện nay ở Guinée có hơn 40 đảng phái, trong đó có các đảng chính: Đảng Thống nhất và Tiến bộ (PUP) Liên minh Tiến bộ và Đổi mới (UPR) Liên minh vì tiến bộ của Guinée (UPR) Liên minh vì Nhân dân của Guinée (UPG) Đảng Nhân dân Guinée (PPG) === Đối ngoại === Trong những năm 1960, 1970 Guinée là một trong những nước cách mạng tiến bộ nhất châu Phi. Chính quyền của Tổng thống Sékou Touré thực hiện chính sách đối ngoại tích cực chống thực dân, đế quốc, quan hệ hữu nghị với các nước châu Phi tiến bộ và xã hội chủ nghĩa nên Ghi-nê có uy tín lớn ở châu Phi và trên thế giới. Những năm 80, do khó khăn về kinh tế, phải dựa vào viện trợ của phương Tây, Mỹ và các nước Ả Rập thân Mỹ, chính quyền Sékou Touré ngày càng có chiều hướng ngả sang Mỹ và phương Tây. Sau khi Tổng thống Lassana Conté lên cầm quyền, Guinée tuyên bố tiếp tục duy trì đường lối đối ngoại Không liên kết nhưng thực chất thân phương Tây và đối với các vấn đề quốc tế lớn Guinée thường tránh bày tỏ lập trường. Guinée là thành viên của Phong trào không liên kết, UN, AU, Francophonie, IMF, WB... == Khu vực và quận == Guinée được chia thành 7 khu vực hành chính và 33 quận. Thủ đô Conakry được xếp hạng là một khu vực đặc biệt. == Địa lý == Guinée nằm ở Tây Phi, bên bờ Đại Tây Dương có chung biên giới với Guiné-Bissau, Sénégal, Mali, Bờ Biển Ngà, Liberia và Sierra Leone. Vùng đồng bằng ven biển tiếp giáp với khôi núi Fouta-Djalon. Vùng cao nguyên phía Đông phần lớn là các đồng cỏ nơi có thượng lưu sông Niger chảy qua; phía Đông Nam là các khối núi cao có các khu rừng rậm bao phủ. == Kinh tế == Năm 1985, Guinée thực hiện cải cách kinh tế theo hướng đẩy mạnh quá trình tư nhân hoá và chuyển sang cơ cấu kinh tế thị trường, nhà nước chỉ quản lý các ngành kinh tế lớn như năng lượng, viễn thông, khai khoáng. Hiện Guinée đang cố gắng tìm lại hình ảnh và kêu gọi hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), và các nước tài trợ... Trong năm 2008, đồng Fanc Guinée giảm giá mạnh do giá cả các mặt hàng thiết yếu trong nước vượt quá mức tiêu dùng của người dân. Nông nghiệp: Nông nghiệp chiếm khoảng hai phần ba lực lượng lao động. Guinée có khoảng 9 triệu ha đất trồng trọt ít chịu ảnh hưởng của sa mạc hoá, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Sản phẩm chính có cà phê, chuối, lúa, ngô, dứa... Do chính sách nông nghiệp không kích thích được sản xuất, nên sản xuất nông nghiệp của Guinée không phát triển. Hàng năm Guinée phải nhập khẩu từ 150.000 đến 200.000 tấn gạo/năm. Guinée sớm thực hiện cải cách kinh tế và từng bước thực hiện cải cách chính trị. Mặc dù Guinée là nước sản xuất lúa lớn thứ hai tại châu Phi sau Nigeria nhưng sản xuất vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu trong nước. Với diện tích canh tác là 450.000 ha, sản lượng trung bình năm là 800.000 tấn thóc tương đương 533.000 tấn gạo, nước này hiện phải nhập khẩu 325.000 tấn gạo mỗi năm, tức là tăng 40% so với cách đây 10 năm. Mỗi người dân tiêu thụ gần 100 kg gạo mỗi năm. Phần lớn gạo địa phương được tiêu thụ và kinh doanh dưới dạng gạo đồ. Các nước cung cấp chính là Indonesia, Ấn Độ, Ai Cập và Việt Nam. Công nghiệp: Guinée là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Guinée có trữ lượng bauxite 18 tỉ tấn (chiếm 1/2 trữ lượng thế giới, đứng thứ 2 thế giới về sản xuất bauxite), sắt 13 tỉ tấn, kim cương 5 triệu carats... Khai thác bô xít là ngành công nghiệp chính của Guinée, sản xuất 12 triệu tấn/năm, ngoài ra còn khai thác vàng, kim cương. Ngành khai thác mỏ chiếm 70% giá trị xuất khẩu của Guinée. Thời gian gần đây, mỗi năm trung bình Guinée xuất khẩu khoảng 1,5 tỷ USD gồm các mặt hàng bô xít, nhôm, vàng, kim cương, cà phê, cá, sản phẩm nông nghiệp. Các đối tác xuất khẩu chính gồm Ấn Độ, Tây Ban Nha, Nga, Đức, Hoa Kỳ, Ireland, Pháp và Ukraina. Guinée nhập khẩu cũng khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm gồm sản phẩm dầu khí, kim loại, thiết bị vận tải, dệt may, ngũ cốc và thực phẩm khác. Các đối tác nhập khẩu chính gồm Trung Quốc, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Bỉ và Ấn Độ. GDP (thực tế): 10,64 tỷ USD (2009) GDP bình quân (thực tế): 1100 USD (2009) Tăng tưởng GDP: -2,5% (2009) Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 23,7%, công nghiệp 36,1%, dịch vụ 40,2%. == Giao thông vận tải == == Dân số == Dân số khoảng 10, 057 triệu người. Bao gồm các nhóm sắc tộc: người Peuhl 40%, Malinke 30%, Soussou 20%, các bộ tộc nhỏ 10%. Ngôn ngữ chính thức của Guinea là tiếng Pháp. Ngôn ngữ quan trọng khác được nói là tiếng Pular (Fulfulde hoặc Fulani), Maninka (Malinke), susu, Kissi, Kpelle, và Loma. == Tôn giáo == Hồi giáo là tôn giáo chiếm đa số. Khoảng 85% dân số là người Hồi giáo, trong khi 8% là Kitô giáo, và 7% giữ niềm tin duy linh truyền thống. Hồi giáo Guinea nói chung là dòng Sunni và Sufi; có rất ít người Hồi giáo Shia ở Guinea. Kitô giáo giáo bao gồm Công giáo La Mã, Anh giáo, Baptist, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, và các nhóm Tin Lành khác. Nhân chứng Jehovah hiện đang hoạt động trong cả nước và được công nhận bởi Chính phủ. Có một cộng đồng Bahá'í nhỏ. Có một số lượng nhỏ của người Hindu, Phật giáo và các tôn giáo truyền thống của Trung Quốc trong cộng đồng người nước ngoài. == Quân đội == Lực lượng vũ trang Guinea được chia thành năm nhánh - lục quân, hải quân, không quân, hiến binh bán quân sự và Cảnh sát. Ngoài ra, lực lượng an ninh chế độ bao gồm Lực lượng Cảnh sát Quốc gia (Sûreté). Đội hiến binh, chịu trách nhiệm về an ninh nội bộ. Lục quân, với khoảng 15.000 người, đến nay là nhánh lớn nhất của lực lượng vũ trang. Chủ yếu chịu trách nhiệm bảo vệ biên giới, an ninh của vùng lãnh thổ quản lý, và bảo vệ lợi ích quốc gia Guinea. Lực lượng không quân tổng số khoảng 700 người. Thiết bị của lực lượng bao gồm một số máy bay chiến đấu của Nga cung cấp. Hải quân có khoảng 900 người và hoạt động với một số tàu tuần tra nhỏ và sà lan. == Bảo vệ sức khỏe == Dịch vụ chăm sóc y tế của Guinée còn yếu kém (chỉ những người giàu mới được chăm sóc tốt). Khoảng 1/2 số bác sĩ sinh sống ở thủ đô Conakry. Một số trung tâm y tế được mở ra ở nông thôn, cung cấp dịch vụ chăm sóc cơ bản với giá rẻ. Suy dinh dưỡng ở trẻ em khá phổ biến. Guinée có tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh vào loại khá cao trên thế giới. == HIV/AIDS ở Guinea == Các trường hợp đầu tiên nhiễm HIV/AIDS được báo cáo trong năm 1986. Mặc dù mức độ AIDS thấp hơn so với một số quốc gia châu Phi khác, nhưng đến năm 2005, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết Guinea đang đối mặt với căn bệnh này một cách phổ biến. Ước tính có khoảng 170.000 người lớn và trẻ em bị nhiễm căn bệnh này vào cuối năm 2004. Sự lây lan của HIV/AIDS được cho là do các yếu tố như giáp với các quốc gia có tỷ lệ người dân nhiễm HIV/AIDS cao, đón nhận lượng người tỵ nạn lớn, v.v. == Văn hóa == === Ngôn ngữ === Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, các thổ ngữ khác được sử dụng rộng rãi. === Thể thao === === Chủ đề chính === === Đáng chú ý === === Ghi chú === == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
tổng cục quân huấn, quân lực việt nam cộng hòa.txt
Tổng cục Quân huấn, trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Có nhiệm vụ tổ chức, điều hành, phối trí và chuyên về huấn luyện, đào tạo từ cấp Binh sĩ đến Hạ sĩ quan ngạch Trừ bị và Đặc biệt, Sĩ quan ngạch Hiện dịch, Trừ bị và Đặc biệt cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Chú trọng tích cực việc huấn luyện Căn bản Quân sự, Chiến thuật và Quân kỷ cho các lớp khóa sinh. Ngoài ra, Tổng cục còn tổ chức những khóa chuyên tu về nghiệp vụ cho mọi phương diện và lĩnh vực theo điều luật của Quân đội, các khóa bổ túc Quân sự và Chiến thuật cho các đơn vị từ cấp Đại đội trở lên. Đặc biệt, còn mở ra các lớp huấn luyện và bồi dưỡng chiến thuật cho Sĩ quan các cấp theo học lớp Chỉ huy và Tham mưu. Tổng cục trưởng Quân huấn đồng thời kiêm giữ chức Tham mưu phó Huấn luyện tại Bộ Tổng Tham mưu. Tổng cục chia ra thành nhiều đơn vị trực thuộc theo hàng dọc để dễ điều hành. == Lịch sử hình thành == Sau Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, việc huấn luyện do Phòng Quân huấn thuộc Bộ Tổng Tham mưu đảm trách tổ chức lại cho phù hợp với hiện tình Quân đội. Các Quân trường và Trung tâm huấn luyện hoạt động đặt nặng vào hai lĩnh vực: -Huấn luyện Tân binh hoàn hảo cá nhân và đơn vị. -Huấn luyện tại chỗ hành quân, thao dượt các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn và Đại đơn vị. Bộ Tổng tham mưu rút tỉa kinh nghiệm, quan niệm một Quân nhân có thể chiến đấu giỏi nếu họ được huấn luyện đầy đủ và có một tinh thần Kỷ luật cao. Hệ thống tổ chức Quân lực Việt Nam Cộng hòa mỗi ngày thêm lớn mạnh nên việc huấn luyện đòi hỏi cần phải cải tiến rộng lớn. Năm 1964, Tổng cục Quân huấn được thành lập để thay thế Phòng Quân huấn tại Bộ Tổng Tham mưu. Từ đó, việc huấn luyện được chú trọng nhiều hơn trong việc đào tạo Sĩ quan hiện dịch, Trừ bị, Hạ sĩ quan và Binh sĩ cho các Quân, Binh chủng cùng huấn luyện đặc biệt về các lãnh vực: tham mưu, kỹ thuật và chuyên môn cho Quân nhân trong Quân lực. Ngoại trừ Trường Cao đẳng Quốc phòng trực thuộc Bộ Quốc phòng. Còn lại các Quân trường và Trung tâm Huấn luyện đều đặt dưới sự điều hành và giám sát của Tổng cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng tham mưu và nhiều Quân trường, Trung tâm Huấn luyện cấp Sư đoàn, các Quân, Binh chủng chuyên môn. == Cơ cấu tổ chức == Văn phòng Tổng cục trưởng Sở điều hành Sở Nghiên huấn Sở Hành chính Yểm trợ == Bộ chỉ huy Tổng cục tháng 4/1975 == == Đơn vị trực thuộc Tổng cục tháng 4/1975 == Với sự lớn mạnh về tổ chức cũng như điều hành huấn luyện quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa tùy theo cấp bậc có đầy đủ khả năng về lãnh đạo chỉ huy, am tường các lãnh vực tham mưu, kỹ thuật và tác chiến để hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp, hữu hiệu cho một Quân đội tân tiến. == Tổng cục trưởng qua các thời kỳ == == 1975 == Ngành "Huấn luyện Quân sự" cũng như tất cả các đơn vị thuộc Quân lực Việt nam Cộng hòa, vào những ngày của tháng 3 đối với Quân khu 1 và 2, tháng 4 đối với Quân khu 3 và 4 đã tự rã ngũ và di tản. == Chú thích == == Tham khảo == Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
gran sabana (khu tự quản).txt
Gran Sabana là một khu tự quản thuộc bang Bolívar, Venezuela. Thủ phủ của khu tự quản Gran Sabana đóng tại Santa Elena de Uairen. Khự tự quản Gran Sabana có diện tích 32990 km2, dân số theo điều tra dân số ngày 21 tháng 10 năm 2001 là 9220 người. == Tham khảo == Bản mẫu:Bang Bolívar
lịch sử việt nam.txt
Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 trước Công nguyên. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời kỳ Đồ đá cũ thuộc các nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổ sông Hồng - Văn minh sông Hồng và sông Mã này đã khai hóa đất để trồng trọt, tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự nước lụt của các sông, đào kênh để phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã. Đến thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ 7 trước công nguyên đã xuất hiện nhà nước đầu tiên của người Việt trên miền Bắc Việt Nam ngày nay, theo sử sách đó là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Thời kỳ Vua Hùng được nhiều người ghi nhận ra là một quốc gia có tổ chức đầu tiên của người Việt Nam, bắt đầu với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác. == Thời tiền sử == Lịch sử Việt Nam thời kỳ tiền sử (trước thời Hồng Bàng) chỉ được ghi nhận, dự đoán thông qua các di tích khảo cổ. Các truyền thuyết, dã sử đều có sau giai đoạn này. === Thời đại đồ đá === Khu vực nay là Việt Nam đã có người ở từ thời kỳ Đồ đá cũ. Các nhà khảo cổ đã tìm ra các dấu vết người thượng cổ cư ngụ tại hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), núi Đọ, Ninh Bình và Nga Sơn, Thanh Hóa cách đây hàng trăm nghìn năm. Thời kỳ này mực nước biển thấp hơn, và Việt Nam khi đó nối liền với bán đảo Malaysia, đảo Java, Sumatra và Kalimantan của Indonesia, với khí hậu ẩm và mát hơn bây giờ. Người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ một mặt, tạo nên những công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, nạo... bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ (mảnh tước). Những di tích ở núi Đọ được coi là bằng chứng cổ xưa nhất về sự có mặt của con người tại vùng đất Việt, khi tổ chức xã hội loài người chưa hình thành. Vào thời kỳ mà các nhà nghiên cứu gọi là văn hóa Sơn Vi, những nhóm cư dân nguyên thủy tại đây đã sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một hệ sinh thái miền nhiệt - ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng cách đây 11-23 nghìn năm, cuối thời thế Canh Tân (Late Pleistocene). Cách đây 15000 - 18000 năm trước đây là thời kỳ nước biển xuống thấp. Đồng bằng Bắc bộ bấy giờ kéo dài ra mãi đến tận đảo Hải Nam và các khu vực khác. Về mặt địa chất học thời kỳ khoảng 15 nghìn năm trước Công Nguyên - (cách đây khoảng 18 nghìn năm) là thời kỳ cuối của kỷ băng hà, nước biển dâng cao dần đến khoảng năm 8000 năm trước đây thì đột ngột dâng cao khoảng khoảng 130m (tính từ tâm của kỹ băng hà là khu vực Bắc Mỹ. Nước biển ở lại suốt thời kỳ này cho đến và rút đi vào khoảng 5500 năm trước đây. Ứng với thời kỳ này cùng với các di chỉ khảo cổ cho thấy nước biển đã ngập toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng ngày nay đến tận Vĩnh Phú trong suốt gần 3000 năm. Do chính đặc trưng về địa chất nên vùng đồng bằng sông Hồng, vịnh Bắc bộ không có điều kiện khai quật nền đất cổ đại có ở khoảng 8000 năm trước Công nguyên (trước khi có đại hồng thủy) để xác nhận dấu vết của các nền văn minh khác nếu có. Trang sử Việt có một khoảng trống không xác định được từ khoảng năm trước 5500 năm - 18000 năm trước. Sau thời kỳ văn hóa Sơn Vi là văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, thuộc thời kỳ đồ đá mới.(?) Văn hóa Hòa Bình được ghi nhận là cái nôi của nền văn minh lúa nước, xuất thân từ Đông Nam Á có niên đại trễ được tìm thấy vào khoảng 15000 năm trước đây. Do đặc trưng địa chất về hồng thủy nên có thể một phần sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Hòa Bình có thể đã chưa bao giờ được nhận ra và tìm thấy. Các nhà khảo cổ đã liên kết sự khởi đầu của nền văn minh người Việt ở cuối thời kỳ Đồ đá mới và đầu thời kỳ Đồ đồng (vào khoảng hơn 5700 năm trước Công Nguyên). === Thời đại đồ đồng đá === Văn hóa của Phùng Nguyên là một nền văn hóa tiền sử thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm. Phùng Nguyên là tên một làng ở xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra các di chỉ của nền văn hóa này. === Thời đại đồ đồng === Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. === Thời đại đồ sắt === Đến khoảng 1200 TCN, sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng. Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen. == Thời sơ sử == === Nước Xích Quỷ === Theo một số sách cổ sử, các tộc người Việt cổ (Bách Việt) lập quốc đầu tiên ở miền Lĩnh Nam, bao gồm một vùng rộng lớn phía nam sông Trường Giang của Trung Quốc hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền bắc Việt Nam. Truyền thuyết cho biết nhà nước của các tộc người Việt được hình thành từ năm 2879 TCN tại vùng Hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay). Đến thời Xuân Thu-Chiến Quốc (thế kỷ 8 TCN đến thế kỷ 3 TCN) do các sức ép từ các vương quốc Sở, Tần ở miền bắc Trung Quốc và làn sóng người Hoa Hạ chạy tỵ nạn chiến tranh từ miền Bắc xuống nên dần dần các tộc người Việt cổ bị mất lãnh thổ, một số bộ tộc Việt bị đồng hóa vào người Hoa Hạ. Đỉnh điểm là vào thời Tần Thủy Hoàng lãnh thổ của Trung Hoa kéo xuống tận ven biển phía nam Quảng Đông. Vương quốc của các tộc người Việt cổ (Xích Quỷ) thời kỳ này có thể nói đây là một liên bang lỏng lẻo giữa các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Sơn Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền bắc Việt Nam ... Những biến động trong thời kỳ này cũng dẫn tới sự tan rã của nhà nước liên minh của các tộc người Việt, từ thế kỷ 8 trước công nguyên trở đi từ các bộ tộc Việt cư trú tại các khu vực khác nhau ở miền nam sông Dương Tử đã hình thành nên các nhà nước khác nhau ở từng khu vực cũng như thời kỳ như: Nước Việt, Văn Lang, Việt Thường, Nam Việt, Âu Lạc, Quỳ Việt, Mân Việt, Đông Việt,...các nhà nước độc lập này từng bước bị các vương triều của người Hoa Hạ ở miền Bắc sông Dương Tử đánh bại thôn tính, hoặc là tự nội chiến với nhau dẫn tới suy yếu. Đến thời kỳ đế chế Hán khoảng thế kỷ 1 TCN các nhà nước Việt đều bị thôn tính. === Nước Văn Lang === Sau thời kỳ tan rã của nhà nước liên minh các tộc người Việt, các nhà nước độc lập của các tộc người Việt cũng được hình thành khắp vùng phía nam sông Dương Tử. Vào khoảng thế kỷ 7 trước Công nguyên , người Lạc Việt, một trong những nhóm tộc Việt ở phía nam mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam đã xây dựng nên nhà nước của mình, đó là nhà nước Văn Lang do các vua Hùng cai trị, đóng đô ở Phong Châu (thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay). Các tài liệu nghiên cứu hiện đại phần lớn đều đồng ý theo ghi chép của Việt sử lược về một vương quốc Văn Lang của người Lạc Việt có niên đại thành lập vào thế kỷ 7 TCN cùng thời Chu Trang Vương (696 TCN - 682 TCN) ở Trung Quốc. Vương quốc này tồn tại ở khu vực mà ngày nay là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ cũng như ba tỉnh Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh, và đã có giao lưu với nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn (Lạc Câu Tiễn) ở khu vực hạ lưu sông Trường Giang (Trung Quốc) ngày nay. Bộ máy nhà nước Văn Lang theo thể chế quân chủ. Ở trung ương do vua Hùng đứng đầu, có các Lạc hầu và Lạc tướng giúp việc. Ở địa phương chia thành 15 bộ (là 15 bộ lạc của vùng đồng bằng Bắc Bộ trước khi nhà nước ra đời) do Lạc tướng cai quản. Dưới bộ là các làng do Bồ chính cai quản. == Nước Âu Lạc == Đến thế kỷ thứ 3 TCN, Thục Phán, thủ lĩnh của bộ tộc Âu Việt - một trong những bộ tộc của Bách Việt ở phía bắc Văn Lang, đã đánh bại Hùng Vương thứ 18 lập nên nhà nước Âu Lạc. Nhà nước liên minh Âu Việt- Lạc Việt đã đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần. Nhà nước định đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay. Ông tự xưng là An Dương Vương. Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà (một viên tướng cũ của nhà Tần) thôn tính năm 208 TCN (hoặc 179 TCN). == Thời Bắc thuộc == Bắc thuộc là một vấn đề còn có hai quan điểm khác nhau từ xưa đến này của lịch sử Việt Nam, phần lớn các quan điểm sử học thời phong kiến đều cho rằng nhà Triệu là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, vì vậy thời Bắc thuộc bắt đầu từ năm 111 trước Công nguyên khi nhà Hán đánh chiếm nước Nam Việt. Quan điểm thứ hai được xuất hiện từ thế kỷ 18 khi sử gia Ngô Thì Sĩ phủ nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam vì Triệu Đà vốn là người phương Bắc, là tướng theo lệnh Tần Thủy Hoàng mà đánh xuống phương Nam. Quan điểm này được tiếp nối bởi sử gia Đào Duy Anh trong thế kỷ 20, các sách lịch sử trong nền giáo dục tại Việt Nam hiện nay đều theo quan điểm này. Theo quan điểm thứ hai này thì thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 208 TCN khi nhà Triệu đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương. === Thuộc Nam Việt và thuộc Hán === Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu thời Chiến Quốc, nay là tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc) được nhà Tần bổ nhiệm là Huyện lệnh huyện Long Xuyên, sau được Nhâm Ngao tự ý bổ nhiệm làm Quận úy quận Nam Hải (thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay). Nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chết của Tần Thủy Hoàng (210 TCN), Triệu Đà đã tách ra cát cứ quận Nam Hải, sau đó đem quân thôn tính sáp nhập vương quốc Âu Lạc và quận Quế Lâm lân cận rồi thành lập một nước riêng, quốc hiệu Nam Việt với kinh đô đặt tại Phiên Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông) vào năm 207 TCN. Nước Nam Việt trong thời nhà Triệu bao gồm khu vực hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam ngày nay. Nam Việt được chia thành 4 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Giao Chỉ và Cửu Chân. Biên giới phía bắc là hệ thống dãy núi Ngũ Lĩnh, biên giới phía nam là dãy Hoành Sơn. Sau khi nhà Hán được thành lập và thống nhất toàn Trung Quốc, Triệu Đà xưng là Hoàng đế của nước Nam Việt để tỏ ý ngang hàng với nhà Tây Hán. Trong khoảng thời gian một thế kỷ (207 TCN-111 TCN), miền Bắc Việt Nam hiện nay là một phần của nước Nam Việt, nước này có vua là người Trung Hoa và vị vua này không công nhận sự cai trị của nhà Hán. Năm 111 TCN, đội quân của Hán Vũ Đế xâm chiếm nước Nam Việt và sáp nhập Nam Việt vào đế chế Hán. Người Trung Quốc muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng để có điểm dừng cho tàu bè đang buôn bán với Đông Nam Á. Trong thế kỷ thứ 1, các tướng Lạc vẫn còn được giữ chức, nhưng Trung Quốc bắt đầu chính sách đồng hóa các lãnh thổ bằng cách tăng thuế và cải tổ luật hôn nhân để biến Việt Nam thành một xã hội phụ hệ để dễ tiếp thu quyền lực chính trị hơn. Một cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở quận Giao Chỉ, tiếp theo sau đó là các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và các địa phương khác của vùng Lĩnh Nam (mà theo cổ sử Việt ghi nhận là có tất cả 65 thành trì) hưởng ứng trong năm 40. Sau đó nhà Hán phái tướng Mã Viện sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa bị tướng Mã Viện đàn áp. Do bị cô lập và quân đội chưa tổ chức hoàn thiện nên Hai Bà Trưng không đủ sức chống cự lại quân do Mã Viện chỉ huy. Hai Bà Trưng đã tự vẫn trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết. === Giành độc lập ngắn ngủi sau thuộc Hán === Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc kế tiếp khác như Đông Ngô, nhà Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương lần lượt thay nhau đô hộ Việt Nam, người Việt cũng đã nhiều lần nổi dậy chống lại sự cai trị của ngoại bang, tuy nhiên tất cả đều không thành công cho mục tiêu giành độc lập. Các cuộc nổi dậy tiêu biểu như khởi nghĩa anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh vào thời thuộc Đông Ngô. Cuộc nổi dậy của anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến từ thời bắc thuộc Lưu Tống, Nam Tề từ năm 468 đến 485. Năm 541, Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa, đã đánh đuổi được thứ sử Tiêu Tư nhà Lương, sau 3 lần đánh bại quân Lương những năm kế tiếp, Lý Bí tự xưng đế tức là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân vào năm 544. Đến năm Năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục. Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục đánh đuổi được quân Lương vào năm 550, bảo vệ được nước Vạn Xuân. Ông tự xưng là Triệu Việt Vương, đến năm 571 một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 20 năm cho đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602. === Thuộc Đường === Kế tiếp nhà Tùy, nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300 năm. Trung Quốc đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra 4 phía, phía bắc lập ra An Bắc đô hộ phủ, phía đông đánh nước Cao Ly lập ra An Đông đô hộ phủ, phía tây lập ra An Tây đô hộ phủ và phía nam lập ra An Nam đô hộ phủ, tức là lãnh thổ nước Vạn Xuân cũ. Trong thời kỳ thuộc nhà Đường, đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống bắc thuộc của người Việt như khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, khởi nghĩa Mai Hắc Đế, khởi nghĩa Phùng Hưng và khởi nghĩa Dương Thanh từ cuối thế kỷ 7 đến thế kỷ 9. Từ sau loạn An Sử (756-763), nhà Đường suy yếu và bị mất thực quyền kiểm soát với nhiều địa phương do các phiên trấn cát cứ, không kiểm soát nổi phía nam. An Nam đô hộ phủ bị các nước láng giềng Nam Chiếu, Chăm Pa, Sailendra vào cướp phá và giết hại người bản địa rất nhiều, riêng Nam Chiếu đã giết và bắt đến 15 vạn người, quân Đường bị đánh bại nhiều lần. Tới năm 866, nhà Đường kiểm soát trở lại và đổi gọi là Tĩnh Hải quân. Cuối thế kỷ 9 nhà Đường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào và các chiến tranh quân phiệt tại Trung Quốc. Tại Việt Nam, năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại La, bắt đầu thời kỳ tự chủ của người Việt. === Ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam === Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán, mặc dù người Việt chịu nhiều ảnh hưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của Trung Quốc, nhưng người Việt Nam vẫn giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộc vốn có của mình sau một nghìn năm đô hộ. Người Việt cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa đang phát triển ở Đông Á. Mặc dù lúc đó Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo Nguyên thủy. Phật giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Lão giáo và thêm vào đó là các tín ngưỡng dân gian địa phương. == Thời phong kiến độc lập == === Xây dựng đất nước === [[Tập|nhỏ|150px|phải|Đồng Thái Bình hưng bảo dưới thời Đinh Tiên Hoàng, tiền đầu tiên của Việt Nam]] Năm 905, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho nền độc lập của Việt Nam. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, lập nên nhà Đinh (968-980) và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi vua, lập nên nhà Tiền Lê (980-1009) Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập nên nhà Lý (1009-1225). Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi tên thành Đại Việt. Đại Việt trải qua nhiều chế độ phong kiến: Nhà Trần (1226-1400), Nhà Hồ (1400-1407), Nhà Lê sơ (1428-1527), Nhà Mạc (1527-1592), Nhà Lê trung hưng (1533-1789), nhà Tây Sơn (1778-1802). Trong thời kỳ này các vương triều phương bắc ở Trung Hoa, Mông Cổ mang quân sang xâm lược, nhưng đều bị Việt Nam đẩy lùi: Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đẩy lui hai lần quân nhà Tống (năm 981 và 1076), nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ năm 1258 và kế tiếp là nhà Nguyên vào năm 1285 và 1288. Đầu thế kỷ 15 nhà Minh xâm chiếm được Đại Việt và cai trị trong 20 năm, nhưng cũng bị Lê Lợi nổi lên đánh đuổi năm 1428 và thành lập nhà Hậu Lê, Năm 1789 nhà Thanh sang xâm lược cũng bị Nguyễn Huệ đánh bại. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 18 trở đi phong kiến Việt Nam đã bắt đầu suy yếu. Từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 14, các triều đại Đại Việt xây dựng nhà nước trên cơ sở Phật giáo cùng với những ảnh hưởng Nho giáo từ Trung Quốc. Tới cuối thế kỷ 14, ảnh hưởng của Phật giáo dần thu hẹp và ảnh hưởng của Nho giáo tăng lên, sự phát triển nhà nước Nho giáo theo mô hình kiểu Trung Hoa, sang đến thế kỷ 15 thì Đại Việt có một cơ cấu chính quyền tương tự nước láng giềng Trung Hoa, cơ cấu luật pháp, hành chính, văn chương và nghệ thuật đều theo kiểu Trung Hoa. Cùng với việc thu nhận mô hình chính trị, tổ chức xã hội của Trung Hoa. Các triều đại Việt Nam từ thế kỷ 10 trở đi từng bước mở rộng vùng ảnh hưởng ra ngoài khu vực đồng bằng sông Hồng. Từ triều Lý, thông qua các cuộc hôn nhân, quân sự và tấn phong thủ lĩnh các bộ tộc miền núi, các vương triều Lý, Trần, Lê đã lần lượt sát nhập và đưa các sắc tộc khác ở vùng Tây bắc, Đông bắc vào quốc gia Đại Việt. Cùng với người Việt, các bộ tộc miền núi đã cùng chung sức với người Việt trong các công cuộc chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Việt Nam trong thời phong kiến phát triển vẫn dựa vào nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa nước để cung cấp lương thực, từng triều đại đã lần lượt cho đắp đê ngăn lũ lụt, đào kênh dẫn nước cũng như giao thông đi lại, khai hoang các vùng đất đồng bằng ven biển để tăng diện tích trồng trọt. Các hoạt động thương mại, ngoại thương cũng đã được hình thành. Ngoài hai quốc gia láng giềng Trung Quốc và Chăm Pa, vào thời nhà Lý, nhà Trần đã có buôn bán thêm với các vương quốc trong vùng Đông Nam Á tại cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), thời Hậu Lê có buôn bán thêm với Châu Âu, Nhật Bản tại các trung tâm như Thăng Long và Hội An. === Đàng Ngoài-Đàng Trong === Bắt nguồn từ thời kỳ Nam-Bắc triều, năm 1527, sau khi giành ngôi từ nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung đã lập nên nhà Mạc. Nhà Lê trung hưng được tái lập vài năm sau đó với sự giúp đỡ của Nguyễn Kim, một tướng cũ và giành được sự kiểm soát khu vực từ Thanh Hóa vào Bình Định. Sau khi Nguyễn Kim chết, người con rể là Trịnh Kiểm đã giành quyền bính, 60 năm kế tiếp Trịnh Kiểm và các con cháu của ông đã giành được chiến thắng trước nhà Mạc vào năm 1592 và mở đầu cho thời kỳ đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thời kỳ vua Lê chúa Trịnh Sự mâu thuẫn giữa hai người cận thần của nhà Lê trung hưng là Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng (trấn thủ xứ Thuận Hóa và Quảng Nam) đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước ra thành hai lãnh thổ. Trong khi Trịnh Kiểm tìm cớ giết Nguyễn Uông (con cả của Nguyễn Kim) thì Nguyễn Hoàng chạy vào Thuận Hóa lập cát cứ, hai chính quyền riêng biệt là Đàng Ngoài và Đàng Trong với sông Gianh (Quảng Bình) làm biên giới. Các con cháu của Trịnh Kiểm lần lượt kế tiếp nhau nắm quyền ở Đàng Ngoài được gọi là các chúa Trịnh, các con cháu của Nguyễn Hoàng kế tiếp nhau cầm quyền ở Đàng Trong được gọi là các chúa Nguyễn, các vua Lê chỉ có danh vị hoàng đế của Đại Việt trên danh nghĩa. Thời kỳ Đại Việt chia thành hai lãnh thổ riêng biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong cũng là thời kỳ hoạt động ngoại thương sôi động, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đều tham gia vào hệ thống giao thương toàn cầu bởi các thương nhân châu Âu, Nhật Bản, Trung Hoa đến Đại Việt buôn bán. Người Hà Lan, Anh, Pháp lập các thương điếm tại Kẻ Chợ (Hà Nội), người Bồ Đào Nha, Anh, Nhật Bản đặt các thương điếm tại Faifo (Hội An). Các mặt hàng chính được xuất khẩu từ Đại Việt là tơ lụa, hồ tiêu, gốm sứ. Tuy nhiên, sang đến thế kỷ 18 thì hoạt động thương mại giảm sút ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Cùng với sự giao thương buôn bán với các nước phương Tây, đạo Công giáo cũng bắt đầu được truyền vào Đại Việt qua các giáo sĩ công giáo phương Tây theo các tàu buôn vào giảng đạo ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong, lúc đó các chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều ngăn cấm, nên ảnh hưởng của Công giáo ở Việt Nam trong thời kỳ này còn hạn chế. === Mở rộng lãnh thổ về phương Nam === Dấu ấn về việc mở rộng đất nước trong thời kỳ phong kiến này chính sự bành trướng xuống phương Nam, cuộc Nam tiến nhằm tìm đất nông nghiệp để cung cấp lương thực cho sự gia tăng dân số của Đại Việt. Với một quân đội có tổ chức tốt hơn, từ thế kỷ 11 đến thể kỷ 15, sau các cuộc chiến tranh cũng như hôn nhân chính trị giữa Đại Việt và Chăm Pa, lãnh thổ Đại Việt đã được mở rộng thêm từ dãy Hoành Sơn (bắc Quảng Bình) tới đèo Cù Mông (bắc Phú Yên). Từ thế kỷ 17, Đàng Trong là một lãnh thổ, chính quyền riêng biệt với Đàng Ngoài. Nhằm tiếp tục tìm kiếm thêm diện tích đất đai cho sự gia tăng dân số, cũng như tăng cường quyền lực các chúa Nguyễn đã lần lượt tiến hành các cuộc chiến tranh với Chăm Pa và sát nhập hoàn toàn phần lãnh thổ còn lại của người Chăm (từ Phú Yên tới Bình Thuận) vào năm 1693. Tiếp đó, sau các cuộc di dân của người Việt từ Đàng Trong vào sinh sống ở vùng đất của người Khmer, các chúa Nguyễn lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam Bộ, sau các cuộc chiến với vương quốc Khmer, vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu tố chính trị khác, từ năm 1698 đến năm 1757 chính quyền Đàng Trong đã giành được hoàn toàn Nam Bộ ngày nay vào sự kiểm soát của mình. Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên biển Đông và vịnh Thái Lan. Quần đảo Hoàng Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ 17, Côn Đảo từ năm 1704, Phú Quốc từ năm 1708 và quần đảo Trường Sa từ năm 1816 Sự khác biệt về văn hóa giữa hai miền có lẽ bắt nguồn từ cuộc Nam tiến này. Văn hóa Nho giáo trong chính quyền miền Nam không phát triển nhiều, do họ chịu ảnh hưởng phần nào của văn hóa Champa, văn hóa Khmer. Ngày nay, người miền Bắc tiết kiệm, bảo vệ nhóm, giỏi ứng xử; người miền Nam thoải mái trong đời sống, trong suy nghĩ và thẳng thắn. Tổ chức hành chính cũng khác biệt. Cách tổ chức chính quyền tỉ mỉ ở miền Bắc đã được đơn giản hóa ở miền Nam. === Thống nhất đất nước === Từ giữa thế kỷ 18, các cuộc chiến liên tục giữa Đàng Trong với vương quốc Khmer, Ayutthaya cũng như các cuộc tranh chấp ở Đàng Ngoài làm cho đời sống người dân thêm cùng quẫn. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra, song phần lớn chịu thất bại. Tới phong trào nổi dậy của Tây Sơn bùng nổ năm 1771 tại Quy Nhơn (Bình Định) đã phát triển rộng lớn đánh bại hai chế độ cai trị của hai họ Nguyễn, Trịnh, chấm dứt việc chia đôi đất nước, cũng như bãi bỏ nhà Hậu Lê vốn chỉ còn trên danh nghĩa. Nhà Tây Sơn đã đánh bại 5 vạn quân Xiêm La (năm 1784) tại miền Nam và 29 vạn quân Mãn Thanh (năm 1789) xâm lược tại miền Bắc. Nguyễn Huệ chính thức trở thành vua của Đại Việt, lấy niên hiệu là Quang Trung, thống nhất hầu hết lãnh thổ từ miền Bắc vào tới Gia Định. Tuy nhiên sau cái chết của ông năm 1792, nội bộ lục đục khiến chính quyền Tây Sơn càng ngày càng suy yếu. Một người thuộc dòng dõi chúa Nguyễn ở miền Nam là Nguyễn Phúc Ánh, với sự hậu thuẫn và cố vấn của một số người Pháp, đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802. Ông lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long và trở thành vị vua đầu tiên cai trị một đất nước thống nhất với hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dải duyên hải, năm 1804 ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt Nam. Gia Long (1802-1820) đóng đô ở Huế, ông cho xây dựng kinh đô Huế tương tự như Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Gia Long và con trai Minh Mạng (cai trị 1820-1841) đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm và phương pháp hành chính Trung Hoa. Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ) đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp - thương mại, nhưng họ chỉ là thiểu số. Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế tục Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1847-1883) chọn chính sách đã lỗi thời là coi trọng phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản) và ngăn cản Công giáo, tôn giáo từ phương Tây. Những nhà truyền giáo người Pháp đã có mặt ở Việt Nam từ giữa thế kỷ 17. Họ cũng hỗ trợ nhân lực và vật lực cho nhà Nguyễn trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn dẫn đến chiến thắng của vua Gia Long. Đến giữa thế kỷ 19, có khoảng 450.000 người cải đạo sang Công giáo . Chính quyền nhà Nguyễn thực sự lo ngại sự hình thành của một tôn giáo xa lạ có tổ chức nên đã ra lệnh cấm truyền đạo Công giáo, đồng thời đàn áp những người theo đạo Công giáo và san bằng nhiều xóm đạo. == Thời Pháp thuộc == Ngày 31 tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn. Tháng 6 năm 1862, Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ. Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do những mối bất hòa giữa người Việt và người Hoa lưu vong. Chính quyền Việt Nam không thể kiểm soát nổi mối bất hòa này. Cả Trung Hoa và Pháp đều coi khu vực này thuộc tầm ảnh hưởng của mình và gửi quân đến đó, nhưng cuối cùng thì người Pháp đã chiến thắng. Pháp tuyên bố là họ sẽ "bảo hộ" Bắc kỳ (Tonkin) và Trung kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy trì các vua nhà Nguyễn cho đến Bảo Đại (làm vua từ 1926 đến 1945) cùng bộ máy quan lại. Nhà Nguyễn tuy tiếp tục tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng chỉ còn quyền lực hạn chế, mọi vấn đề lớn phải được Toàn quyền Đông Dương của Pháp thông qua. Vào năm 1885, các quan lại Việt Nam tổ chức phong trào kháng chiến Cần Vương chống Pháp nhưng thất bại. Các vua Nguyễn là Hàm Nghi, Duy Tân và Thành Thái có ý phản kháng đều bị Pháp truất ngôi và đưa đi đày. Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Ở trung ương là Phủ toàn quyền Đông Dương (ban đầu thủ phủ ở Sài Gòn, năm 1902 đặt ở Hà Nội). Đứng đầu Phủ toàn quyền gọi là Toàn quyền Đông Dương, là người có quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị Pháp trên toàn cõi Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Cao Miên. Đứng đầu ở 3 kỳ là: Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ, cả ba đều nằm dưới quyền giám sát và điều khiển tối cao của viên Toàn quyền Đông Pháp, trực thuộc bộ Thuộc địa. Đến năm 1893 quyền kiểm soát của Toàn quyền Đông Pháp được mở rộng thêm, bao gồm cả Ai Lao. Sau thất bại của phong trào Cần vương cuối thế kỷ 19, người Pháp đã cũng cố hoàn toàn việc tổ chức cai trị tại Việt Nam. Cuộc cải cách trong giáo dục trong thập niên 1910 đã xóa bỏ hoàn toàn nền nho học với chữ Hán cả nghìn năm trong chế độ phong kiến Việt Nam để thay thế bằng phong trào tân học theo chữ quốc ngữ đã tạo ra một tầng lớp trí thức mới, đó là những người xuất thân từ truyền thống nho giáo nhưng được tiếp cận với văn hóa phương Tây. Đại diện tiêu biểu cho giới này là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đã mở đầu cho phong trào Duy Tân và phong trào Đông Du vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt trước tầng lớp người Pháp cai trị. Tuy nhiên sự phát triển các phong trào này sau đó bị chính quyền thực dân dẹp bỏ vì nhận thấy nguy cơ đối với chế độ thuộc địa của họ. Cuối thập niên 1920, những người Việt cấp tiến dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam dân đã thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng. Tuy nhiên, đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm đó, một số thanh niên Việt Nam theo chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bình dân trong chính quyền Pháp. Nhật Bản tấn công Đông Dương vào năm 1940 và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để cho Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Chính quyền thực dân Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật tấn công toàn bộ Đông Dương. Ngay sau đó, Nhật thiết lập một chính quyền thân Nhật với quốc vương Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim, đặt quốc hiệu mới đế quốc Việt Nam và quốc kỳ là cờ quẻ ly. Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) thành lập năm 1941 với vai trò một mặt trận của Đảng Cộng sản Đông Dương được điều hành từ Pắc Bó (ở biên giới Việt-Trung) bởi Hồ Chí Minh khi ông trở về nước lần đầu tiên kể từ năm 1911 (năm ông rời Việt Nam), mặc dù ông có liên hệ với những người Cộng sản trong nước trong các thập niên 1920 và 1930. Đầu năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc kỳ và Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này . == Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986 == === Tuyên bố độc lập === Ngày 11 Tháng 3 năm 1945 khi quân đội Nhật Bản làm cuộc đảo chính lật đổ chính phủ Bảo hộ của Pháp, được sự hậu thuẫn và kiểm soát của Nhật, hoàng đế Bảo Đại ban ra một chiếu chỉ với nguyên văn: "Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một quốc gia độc lập." Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm thủ tướng một chính phủ mới với danh xưng Đế quốc Việt Nam, nhưng hầu hết quyền lực của chính phủ này do lực lượng quân quản Nhật nắm giữ. Đến ngày 14 tháng 8 năm 1945 khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, chính quyền Trần Trọng Kim mất chỗ hậu thuẫn đã không kiểm soát được tình thế, đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Quyền lực của Pháp - Nhật không còn, tạo nên một khoảng trống quyền lực chính trị trên cả nước. Đúng thời điểm này, lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám, giành lấy quyền lực ở hầu khắp các tỉnh tại Việt Nam (trừ một số tỉnh biên giới giáp Trung Quốc). Quyền lực của phát xít Nhật không còn, chính quyền Đế quốc Việt Nam sụp đổ sau hơn 5 tháng tồn tại, hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập và thống nhất từ miền Bắc tới miền Nam. Đầu năm 1946, một cuộc bầu cử toàn quốc đã được tổ chức. Việt Minh chiếm ưu thế, song các phe phái khác cũng được mời tham gia chính phủ một cách rộng khắp. Quốc kỳ được chọn là cờ nền đỏ, sao vàng năm cánh. === Chiến tranh Đông Dương === Tuy nhiên, nền độc lập của Việt Nam bị đe dọa chỉ sau 2 tuần. Ở miền Bắc, Đồng Minh chỉ định quân đội quốc gia Trung Hoa giải giới Nhật Bản. Quân Trung Hoa duy trì ở đó đến tháng 5 năm 1946 rồi chuyển giao cho Pháp trong sự chịu đựng của chính quyền Hồ Chí Minh. Ngược lại, ở miền Nam, quân Nhật được giải giới bởi quân Anh-Ấn. Sau đó, quân Anh-Ấn đã chuyển giao miền Nam cho Pháp khi Pháp trở lại miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1945. Trong suốt năm 1946, chính quyền Hồ Chí Minh đàm phán hòa bình với Pháp, mặc dù vậy hai bên cũng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh. Chiến tranh giữa Việt Minh và thực dân Pháp bùng nổ tháng 12 năm 1946. Vào đầu năm 1947, Pháp có vẻ thắng thế và nắm được toàn bộ các đô thị lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Minh kiên trì với chiến lược "chiến tranh nhân dân" và chiến thuật du kích, tổ chức và đào tạo dân chúng cho một cuộc chiến vũ trang lâu dài. Tới năm 1949, để giảm bớt gánh nặng, Pháp đàm phán với các chính trị gia người Việt không ủng hộ nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo. Pháp chấp nhận ký hiệp ước công nhận sự ra đời của một nhà nước mới là Quốc gia Việt Nam. Người đứng đầu nhà nước này là Quốc trưởng Bảo Đại, với cờ Quẻ Càn là quốc kỳ. Chính quyền này có sự tham gia của các quan lại cũ thân Pháp. Được Pháp hỗ trợ tài chính và vũ khí, Quân đội Quốc gia Việt Nam tích cực góp quân tham gia cùng Pháp hòng dập tắt phong trào Việt Minh. Năm 1950, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Xô bắt đầu trợ giúp Việt Minh vũ khí. Bên kia, Pháp được Mỹ hậu thuẫn, hỗ trợ phần lớn chiến phí, nhưng đầu thập niên 1950, thế trận của Pháp bắt đầu yếu đi ở Đông Dương. Thất bại ở trận Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954 đã kết thúc hoàn toàn nỗ lực của Pháp và Mỹ nhằm giữ Việt Nam và toàn bộ Đông Dương. === Đất nước chia cắt === Sau trận Điện Biên Phủ, các bên tham chiến đã họp tại Genève năm 1954 để tìm kiếm phương cách giải quyết chiến tranh. Kết quả Hiệp định Genève được ký kết với nội dung là đình chiến và tạm thời phân chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự tạm thời có ranh giới tại vĩ tuyến 17. Miền Bắc là nơi tập kết của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh. Miền Nam là nơi tập kết quân của Liên hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam). Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định, sau 2 năm, khi Pháp rút quân xong thì cả 2 miền sẽ tổ chức tuyển cử để thống nhất đất nước. Dân chúng có quyền lựa chọn cư trú tại miền Bắc hoặc miền Nam. Khoảng 1 triệu người, đa số theo Công giáo và ở miền Bắc đã di cư vào Nam. Chính quyền Hồ Chí Minh xem Hiệp định Genève là một thắng lợi quan trọng vì Hiệp định này quy định một cuộc tổng tuyển cử để thành lập một quốc gia thống nhất. Họ tin rằng mình sẽ thắng cử vì uy tín rộng khắp của Hồ Chí Minh lúc đó. Tuy nhiên cuộc tuyển cử đã không bao giờ diễn ra. Pháp rút quân, tổng thống Mỹ Eisenhower được báo cáo của CIA cho biết khoảng 80% người Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu mở cuộc tổng tuyển cử và hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm thành lập một chính thể riêng biệt ở phía Nam vỹ tuyến 17, không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đây là hành động phá hoại Hiệp định Genève. Ở miền Bắc, chính quyền Hồ Chí Minh kêu gọi những giá trị mang tính cộng đồng, hướng lên xã hội chủ nghĩa, bao gồm nông nghiệp tập thể. Đa số dân chúng đã ủng hộ hết mình cho chính quyền Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, một số sai lầm đã diễn ra, như cuộc cải cách ruộng đất trong thập niên 1950 đã đưa hàng ngàn người thuộc diện địa chủ ra đấu tố, cầm tù hoặc xử tử đã tạo ra sự xáo trộn đời sống xã hội miền Bắc trong giai đoạn đầu. Mặt khác một số nhà văn, nhà báo của phong trào Nhân văn Giai phẩm phải đi cải tạo, kiểm điểm hoặc cho thôi việc, treo bút vì viết bài không đúng ý nhà cầm quyền. Năm 1955, Ngô Đình Diệm thắng trong cuộc Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, cho phép ông lên làm Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam và sau này trở thành Tổng thống nền Đệ nhất Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa. Bảo Đại phải lưu vong sang Pháp. Mỹ bắt đầu giúp chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng cải cách điền địa, cũng như củng cố quân đội để giữ vững chính thể. Vào năm 1959, số người Mỹ tại miền Nam Việt Nam chỉ vào khoảng vài trăm người, dưới hình thức là các "cố vấn" cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên những xáo trộn chính trị vào cuối thập niên 1950 tạo nên sự bất ổn lớn trong xã hội miền Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt đầu thực thi những chính sách "Tố cộng, Diệt cộng", nhiều cuộc thảm sát xảy ra như Vĩnh Trinh, Hướng Điền (Quảng Trị), ở nhà tù Phú Lợi (tàn sát hàng nghìn tù nhân tình nghi là người cộng sản hoặc thân cộng bằng cách bỏ độc vào cơm ăn, nước uống). Các cuộc biểu tình của Phật giáo vốn chiếm số đông trong các tầng lớp dân chúng cũng bị đàn áp, gây mâu thuẫn tôn giáo sâu sắc. === Chiến tranh Việt Nam === Từ năm 1959, tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và được chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn. Đầu thập niên 1960, lực lượng vũ trang của Mặt trận này là Quân Giải Phóng Miền Nam đã tấn công rộng lớn ở nông thôn miền nam, và mở nhiều vụ tấn công ở Sài Gòn. Hoa Kỳ tăng cường viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa và gửi 17.500 "cố vấn" đến Việt Nam. Tuy nhiên những mâu thuẫn giữa chính quyền Ngô Đình Diệm với phật giáo Việt Nam cùng với việc chống Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam không đạt mục tiêu, Hoa Kỳ quyết định thay đổi chính quyền Ngô Đình Diệm bằng cách ủng hộ lực lượng quân đội. Tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đảo chính và ám sát Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa và thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa. Sau sự kiện này Hoa Kỳ tuyên bố sẽ tiếp tục hỗ trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa. Trên chiến trường, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liên tiếp gặp thất bại trong chiến lược chiến tranh đặc biệt. Để cứu vãn tình thế, sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào tháng 4 năm 1964, tổng thống Mỹ Johnson có cớ ra Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, theo đó gửi quân đội Mỹ đến Việt Nam trực tiếp tham chiến. Bắt đầu từ tháng 3 năm 1965 lần lượt các đoàn quân được chuyển tới chiến trường Việt Nam cùng với khoảng 20.000 "cố vấn" đã có từ trước, số lượng quân đội đội Mỹ lên tới khoảng 540.000 người vào thời điểm cao nhất. Chiến tranh bùng nổ ác liệt năm 1964 ở khu vực Nam Việt Nam, các vùng biên giới với Campuchia và Lào, và các trận không kích của Mỹ đánh vào miền Bắc Việt Nam. Một bên chiến cuộc là Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ và các đồng minh Hàn Quốc, Thái Lan, Úc, New Zealand, Philippines tham chiến trực tiếp. Một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham chiến, còn Liên Xô và Trung Quốc chỉ cung cấp viện trợ quân sự và lực lượng cố vấn. Sau giai đoạn đảo chính liên tiếp, năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa. Ở miền Bắc, Lê Duẩn là lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969. Đầu năm 1968, quân đội Nhân dân Việt Nam mở cuộc tổng tấn công chiến dịch Tết Mậu Thân vào hầu hết các thành phố chính ở miền Nam Việt Nam, tuy họ thất bại về mặt chiến thuật nhưng đã đạt mục đích: khiến cho Chính phủ và dân chúng Mỹ mất lòng tin vào khả năng chiến thắng của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Tới tháng 11 năm 1968, Johnson tuyên bố dừng hoàn toàn "tất cả cuộc không kích, pháo kích và hải chiến với Bắc Việt Nam" và đồng ý ngồi vào đàm phán. Tuy nhiên một năm sau tổng thống kế nhiệm Richard Nixon thông báo Mỹ quay trở lại, Nixon và cố vấn Henry Kissinger cho ra đời chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Vào tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cùng với chiến sự ở chiến trường, cả hai bên đều tìm kiếm giải pháp chấm dứt chiến tranh thông qua các cuộc hội đàm ở Paris. Mãi đến tháng 1 năm 1973, Hiệp định Hòa bình Paris mới được ký giữa Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau sự thất bại nặng nề của Mỹ trong các cuộc không kích vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố khác ở miền Bắc Việt Nam do không lực Hoa kỳ tiến hành cuối năm 1972. Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã tấn công vào quần đảo Hoàng Sa lúc đó đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát và chiếm đóng hoàn toàn quần đảo này Sau hiệp định Paris 1973, quân viễn chinh Mỹ rút khỏi Việt Nam - điều khoản đầu tiên của hiệp định công nhận sự "độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" của Việt Nam. Các điều khoản khác là đình chiến và giữ lãnh thổ của mỗi bên trước khi đình chiến, tổng tuyển cử để xác định chính quyền tương lai ở miền Nam. Hiệp định nói rõ Hoa Kỳ phải triệt thoái quân hoàn toàn trong vòng 60 ngày. Mặc dù đã có hiệp định nhưng Chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp diễn, quân đội hai bên tại Nam Việt Nam không công nhận điều khoản đình chiến trong hiệp định Paris. Nhưng với sự rút quân của Hoa Kỳ cùng với những điểm yếu nội tại của mình, Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể duy trì được lâu. Đến giữa tháng 3 năm 1975, quân đội Nhân dân Việt Nam mở cuộc tấn công ở Tây Nguyên, khởi đầu những chiến dịch nối tiếp nhau. Quân Việt Nam Cộng hòa liên tục để mất Tây Nguyên rồi Huế, Đà Nẵng sau chưa đầy 1 tháng. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm được Sài Gòn, chính quyền của tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng. === Thống nhất === Ngày 25 tháng 4 năm 1976, hai miền của Việt Nam được thống nhất thành một quốc gia có tên chính thức là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, do những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan như: chủ trương thống nhất mọi mặt theo tiêu chuẩn miền Bắc (thí dụ, kế hoạch xã hội hóa toàn bộ kinh tế miền Nam nhằm hợp nhất với kinh tế miền Bắc); các cuộc tấn công liên tục của quân đội Khmer Đỏ, thiên tai và lũ lụt năm 1977 và 1978, Trung Quốc tấn công ở phía Bắc, di chứng chiến tranh như chất độc da cam... đã làm cho quốc gia mới này rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, đời sống sút kém gây ra một làn sóng người vượt biên ra nước ngoài bắt đầu từ năm 1978. Từ tiếng Anh boat people (thuyền nhân) lần đầu tiên xuất hiện cũng do sự kiện này. Đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam trở nên gay gắt trầm trọng, tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986. Những khủng hoảng này đã gây sức ép đổi mới cả về chính trị và quản lý kinh tế. === Xung đột vũ trang với Campuchia Dân chủ, Trung Quốc === Sau chiến tranh Việt Nam, Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Tháng 5 năm 1975, quân đội Khmer đỏ đã tấn công đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt Nam. Từ năm 1975-1978 tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra thường xuyên, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc, quân đội Khmer đỏ nhiều lần tiến hành các cuộc đột kích vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, theo thống kê có khoảng 30.000 thường dân và hàng nghìn quân lính Việt Nam bị quân đội Khmer đỏ giết hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới trong thời gian này. Vào tháng 12 năm 1978, quân Khmer đỏ mở các cuộc tấn công lớn vào các tỉnh biên giới từ Tây Ninh đến Kiên Giang, thị xã Hà Tiên bị chiếm. Quân đội Việt Nam tổ chức phản công, tới ngày 7 tháng 1 năm 1979 họ tiến quân vào thủ đô Phnom Penh đánh đuổi Khmer đỏ. Ngày 8 tháng 1, với sự hậu thuẫn của Việt Nam, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch. Khoảng mười ngày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia. Tới năm 1989, quân đội Việt Nam rút về nước. Sự kiện Việt Nam phản công và lật đổ chế độ Khmer Đỏ ở Campuchia là một cái cớ để Trung Quốc vốn ủng hộ chế độ Khmer đỏ có lý do tấn công xâm lược Việt Nam với tuyên bố của Đặng Tiểu Bình "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam một bài học". Ngày 17 tháng 2 năm 1979, với một lực lượng khoảng 400.000 quân, Trung Quốc đã bất ngờ tất công vào các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Lai Châu, sau 3 tuần đã chiếm được thủ phủ các tỉnh này. Sau sự yếu thế ban đầu, Việt Nam đã tổ chức phản công lại và cùng với những quân đoàn thiện chiến được chuyển từ chiến trường Campuchia ra đã dần giành lại được lợi thế, tới ngày 18 tháng 3 năm 1979 Trung Quốc tuyên bố rút quân. Sự kiện này đã gây nên cuộc khủng hoảng "nạn kiều" ở trong nước. Đầu thập niên 1980, nhiều người Hoa và Việt gốc Hoa chạy khỏi Việt Nam về Trung Hoa hoặc gia nhập nhóm "thuyền nhân" chạy sang nước khác. Cuộc chiến này cũng đưa tới việc cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước, hơn 13 năm sau tới năm 1992, hai nước mới bình thường hóa lại quan hệ ngoại giao. Cũng trong thời gian này, tháng 3 năm 1988 Trung Quốc mở cuộc hải chiến vào các bãi đá Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa và chiếm đóng Gạc Ma. == Giai đoạn từ năm 1986 đến nay == === Cải cách "Đổi mới" === Năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI tiến hành chính sách "Đổi mới", đứng đầu là ông Nguyễn Văn Linh, để hợp lý hóa cơ cấu hành chính, cải cách cơ cấu Đảng, chính quyền pháp quyền, dân chủ hơn, cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường với định hướng Xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới được phát hành toàn diện, từ một nước nhập khẩu và nhận viện trợ của nước ngoài thành nước xuất khẩu. Trước 1989, Việt Nam nhập khẩu lương thực nhưng từ năm 1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu: 1->1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; và tăng dần hàng năm: 4,5 triệu tấn (năm 2004), 4,9 triệu tấn (năm 2005), đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Lạm phát giảm dần (đến năm 1990 còn 67,4%) và năm 2005 lạm phát chỉ còn 8,5%. Trong thời gian 1991-1995, nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%. Đến tháng 6 năm 1996, đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 30,5 tỷ USD. Lạm phát giảm từ 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,7% (1996). Năm 2004 Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng là 7,7% cao hơn mức tăng trưởng năm trước và đứng vị trí thứ hai trong khu vực sau Singapore. (Tổng sản phẩm quốc nội đạt 35 tỷ USD, khoảng bằng GDP của bang Mecklenburg–Vorpommern của Đức). Sự phát triển bền vững được thể hiện qua sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu (tăng 30%) cũng như sự tăng trưởng của sản xuất công nghiệp và xây dựng (10,2%). Năm 2005, tăng trưởng GDP của Việt Nam là 8,5%. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với 167 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước. Các công ty của hơn 70 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Năm 1995, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và tiếp đó gia nhập khối ASEAN, APEC, thành viên diễn đàn ASEM. Ngày 7 tháng 11 năm 2006 đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO. === Từ khi gia nhập WTO đến nay === Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán. Vào ngày 16 tháng 10 năm 2007 Việt Nam đã được bầu làm một trong các thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho nhiệm kỳ 2008-2009. Ngay sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cho Đảng Cộng sản Việt Nam phải ngăn chặn, khắc phục triệt để một bộ phận cán bộ, Đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, song song với việc đề cao cảnh giác các thế lực thù địch . Đến năm 2015, kinh tế Việt Nam đã bắt đầu có những dấu hiệu hồi phục mạnh mẽ. Về các tác động ngoại cảnh, các sự kiện tranh chấp ở biển Đông như tàu địa chấn Bình Minh 02 bị hải giám Trung Quốc cắt cáp, Vụ giàn khoan Hải Dương 981 và việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở biển Đông là các sự kiện chính ảnh hưởng đến tình hình chính trị Việt Nam hiện nay. Điều này thúc đẩy Việt Nam tiếp tục đóng góp nhiều hơn vào việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, ký các Hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản, Hàn Quốc và liên minh châu Âu Tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN Ngày 31 tháng 12 năm 2015, Việt Nam chính thức tham gia thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN - ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC gồm 10 quốc gia thành viên. AEC sẽ là cơ hội quý báu để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nhanh chóng bắt nhịp với xu thế và trình độ phát triển kinh tế của khu vực và thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi lớn, AEC ra đời, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN sẽ dẫn đến một số ngành, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí rút khỏi thị trường. Các nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt Nam nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa cạnh tranh của các nước trong ASEAN. Việc tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội lớn để Việt Nam đẩy mạnh cải cách thể chế, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao trình độ phát triển. Tuy nhiên, trong những năm tới, Việt Nam cũng đứng trước sức ép rất lớn về cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh, trong bối cảnh ASEAN nhảy vọt từ nấc Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) lên nấc thang Liên minh Kinh tế AEC. Hiện nay, trình độ phát triển của Việt Nam còn kém xa nhiều quốc gia trong ASEAN như: Singapore, Malaysia, Thái Lan...do vậy, sức ép cải cách đặt ra với Việt Nam là rất lớn. Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố cho năm 2015-2016, Việt Nam đ ứng rất thấp trong khu vực và chỉ đứng thứ 56 trên tổng số 144 nền kinh tế. Nền quản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến năng lực cạnh tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp Việt Nam, đơn cử như việc các doanh nghiệp Việt Nam cần đến 872 giờ/năm để đóng thuế trong khi con số bình quân của dịch vụ đó ở các nước ASEAN-6 chỉ là 172 giờ/năm.Thực tế này cho thấy, cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học-công nghệ và năng lực cạnh tranh đang là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho Việt Nam trong giai đoạn tới. == Tên nước qua các thời kỳ == Tên gọi của Việt Nam qua các thời như sau: === Thời Hồng Bàng === Văn Lang: Thời Hùng Vương Âu Lạc: Thời An Dương Vương === Thời Bắc thuộc === (thuộc) Nam Việt: thời nhà Triệu, vương quốc Nam Việt gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, đại bộ phận tương đương Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tương đương nam bộ Quý Châu) (thuộc) Giao Chỉ bộ: Bắc thuộc thời Hán, bộ Giao Chỉ gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam (thuộc) Giao Châu: Bắc thuộc từ thời Đông Ngô đến thời Đường, Giao Châu bao gồm cả Quảng Đông Vạn Xuân: Giai đoạn độc lập ngắn dưới thời nhà Tiền Lý năm (542-602) An Nam đô hộ phủ: Bắc thuộc thời Đường (618-866) Tĩnh Hải quân: tiếp tục trong thời thuộc Đường qua thời Tự chủ tới hết thời nhà Ngô (866-967) === Thời phong kiến độc lập === Đại Cồ Việt: thời Nhà Đinh-nhà Tiền Lê và đầu thời Nhà Lý, từ 968-1054 Đại Việt: thời Nhà Lý-Nhà Trần, từ 1054-1400 Đại Ngu: thời Nhà Hồ, từ 1400-1407 Đại Việt: thời Nhà Hậu Lê-Nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn, từ 1428-1804 Việt Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1804-1839 Đại Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1839-1945 === Thời Pháp thuộc === (thuộc) Liên bang Đông Dương: nhập chung với Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan từ 1887 đến 1945. === Giai đoạn từ năm 1945 đến nay === Đế quốc Việt Nam: tháng 4 năm 1945 - tháng 8 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976 Quốc gia Việt Nam: dựng lên từ 1949 đến 1955 với quốc trưởng Bảo Đại bởi chính quyền Pháp Việt Nam Cộng hòa: tồn tại với danh nghĩa kế tục Quốc gia Việt Nam từ 1955 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại miền Nam Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sau là Cộng hoà Miền Nam Việt Nam: từ 8 tháng 6 năm 1960 đến 2 tháng 7 năm 1976 Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay. == Tham khảo == Đại Việt Sử Ký toàn thư và một số sách sử dạng PDF Ngô Sĩ Liên và Nguyễn Huy Oánh, Quốc sử toản yếu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2004 Trần Trọng Kim: Việt Nam Sử Lược Đại Việt sử ký toàn thư Việt Sử lược, người dịch: Trần Quốc Vượng An Nam chí lược, tác giả: Lê Tắc (Lê Trắc) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (nhà sử học) (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp == Liên kết ngoài == Các sách sử dưới dạng PDF tại Viện Việt học Phạm Quân Khanh và Phạm Thị Tuyết Mai, Lịch sử Việt Nam Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Hà văn Thùy, Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động Nghèo nàn clip giới thiệu lịch sử Việt Nam, VnExpress, 9/1/2013 == Ghi chú == == Xem thêm == Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Chăm Pa Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Thái Lan Lịch sử Đông Nam Á Địa lý Việt Nam Tranh chấp chủ quyền Biển Đông
cây giáng sinh.txt
Cây Giáng sinh là cây xanh (thường là cây thông) được trang hoàng để trưng bày trong dịp lễ Giáng sinh theo phong tục của người Kitô giáo. == Lịch sử == Trong khi rõ ràng là cây Giáng sinh hiện đại có nguồn gốc từ nước Đức thời phục hưng từ thế kỷ 16, vẫn có một số giả thuyết và truyền thuyết được truyền tụng về nguồn gốc tối hậu của nó. Theo Encyclopædia Britannica , "Việc sử dụng cây xanh mãi, vòng hoa, và những dây trang trí tượng trưng cho sự sống đời đời là một phong tục của người Ai Cập cổ đại, Trung Quốc, và Do Thái cổ. "Cây thờ cúng" đã trở thành phổ biến trong số những người châu Âu ngoại đạo và tồn tại khi họ chuyển đổi sang Thiên Chúa giáo theo phong tục Scandinavia để trang trí nhà và chuồng, kho với cây thường xanh vào dịp năm mới để xua đuổi ma quỷ và thiết lập một cây trú ẩn cho chim muông trong mùa Giáng Sinh". === Truyền thuyết === Vào thế kỷ thứ VIII, thánh Boniface, một thầy tu người Anh, trên đường hành hương, ông tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ không thờ thiên chúa sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ không thờ thiên chúa rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế. Theo một nguồn khác, thì giáo sĩ Boniface từ Anh sang Đức truyền bá đức tin Cơ đốc. Ông đã tặng cho thành phố Geismer một cây thông tượng trưng cho tình thương và một tín ngưỡng mới mà ông đã mang đến cho dân tộc Đức. Khi người Đức chấp nhận Cơ đốc giáo, họ chọn cây thông làm cây giáng sinh (cây Nô-en) để nhắc nhở họ nhớ đến công ơn của thánh Boniface, người đã giúp họ dẹp bỏ tà thần trở lại thờ phượng Thiên Chúa. Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng. Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva ở vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây. Tương truyền, một lần Martin Luther dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ông thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Vì thế, khi trở về ông đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ông đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh. Ông giải thích là các cây nến cháy sáng trên các nhánh của cây thông tượng trưng cho ánh sáng của Đức Giêsu mang đến cho nhân loại, màu xanh tươi quanh năm của cây thông tượng trưng cho Đức Chúa Trời hằng hữu. Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước châu Âu. === Thế kỷ 18 và 19 === Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert thuộc Nhà Sachsen-Coburg và Gotha gốc Đức, chồng tương lai của nữ hoàng Victoria của Anh ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh mỳ gừng. Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada. Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Đức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã cảm thấy bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo. Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều mặt hàng trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của châu Âu và Bắc Mỹ, cây của châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn một mét rưỡi, chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà. === Thế kỷ 20 và 21 === Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh, và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỷ 20, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng vật trang trí do chính tay họ làm ra. Vật trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến. Tại Liên Xô cũ, sau cách mạng tháng Mười, cây Giáng sinh bị cấm, nhưng phong tục này lại phục hồi sau năm 1935 như là Cây năm mới. Cũng trong khuôn khổ chủ nghĩa vô thần nhà nước, chủ trương bởi nhà nước Liên bang Xô Viết lúc đó, nhiều "cơ sở nhà thờ tại [các] cấp địa phương, quốc gia hay giáo phận đã bị phá hủy hoặc bãi bỏ chức năng tôn giáo" trong chiến dịch chống tôn giáo 1921-1928. nhưng từ năm 1990, sau khi từ bỏ chế độ Cộng sản, nhiều nhà thờ bị phá hủy đã dần được phục dựng. Tại châu Âu, những cây thông thuộc chi Lãnh sam thường được sử dụng làm cây Giáng sinh, bên cạnh đó là chi Vân sam, và đặc biệt là Thông Nordmann (Abies nordmanniana) hiện nay rất được ưa chuộng. Như tại Đức năm 2013, 80% cây Giáng sinh là từ cây Abies nordmanniana. Chỉ riêng tiền cây, theo thống kê năm 2006, người Đức đã chi 616 triệu Euro để mua 28 triệu cây, và số lượng này ngày càng tăng, như năm 2013 tại Đức, khoảng 30 triệu cây Giáng sinh đã được bán. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ ngày càng có khuynh hướng dùng cây nhân tạo (thường là cây thông bằng nhựa nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc Thái Lan) thay thế cây tự nhiên. Như năm 1990, tại Hoa Kỳ, khoảng 35 triệu hộ gia đình Mỹ trưng bày cây Giáng sinh tự nhiên trong lúc 36,3 triệu gia đình đã lựa chọn cây nhân tạo cùng năm đó. Năm 2000, 50,6 triệu hộ gia đình sử dụng cây nhân tạo, trong khi 32 triệu chọn cây Giáng sinh tự nhiên và đến năm 2003 doanh số bán hàng của các cây tự nhiên đạt 23,4 triệu. Mỗi năm có từ 33 đến 36 triệu cây Giáng sinh được sản xuất ở Hoa Kỳ, tại châu Âu là từ 50 đến 60 triệu cây. Trong năm 1998, đã có khoảng 15.000 người trồng cây ở Mỹ (một phần ba trong số là các trang trại cho khách hàng đến "lựa chọn và cưa về"). Trong cùng năm đó, người ta ước tính rằng người Mỹ đã chi 1,5 tỷ $ (USD) để mua cây Giáng sinh. == Phong tục và truyền thống == Các cây được trang trí theo truyền thống với những vật trang trí như táo, các loại hạt, thực phẩm khác. Trong thế kỷ 18, cây thông bắt đầu được chiếu sáng bởi những ngọn nến và cuối cùng đã được thay bằng đèn Giáng sinh sau khi sự ra đời của điện khí hóa. Ngày nay, có rất nhiều loại vật trang trí truyền thống, chẳng hạn như vòng hoa, kim tuyến, trái châu, và kẹo. Một thiên thần hay sao có thể được đặt ở trên cùng của cây để đại diện cho Tổng lãnh thiên thần Gabriel hoặc Ngôi sao Bethlehem, ngôi sao báo hiệu Chúa Giêsu giáng sinh theo Phúc Âm Mátthêu. Thông thường, một cây thông Giáng sinh được dựng lên vào đầu mùa Vọng. Một số gia đình ở Mỹ và Canada dựng một cây Giáng sinh một tuần trước Lễ Tạ Ơn của Mỹ (ngày thứ Năm thứ tư của tháng mười một), và các mặt hàng trang trí Giáng sinh có thể xuất hiện sớm hơn trong các cửa hàng bán lẻ, thường là sau Halloween (31 tháng 10). Ở Ý và Argentina, cùng với nhiều quốc gia ở châu Mỹ Latin, cây Giáng sinh được dựng lên ngày 08 tháng 12 (ngày Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội) và giữ cho đến ngày 6 tháng 1. Theo truyền thống, thường là cây Giáng sinh được giữ cho đến ngày Lễ Hiển Linh (6 tháng 1). Một số gia đình Công giáo còn giữ cho đến khi Lễ Dâng Chúa trong đền thánh (ngày 2 tháng 2). Sau lễ, những cây Giáng sinh đã qua sử dụng được thu gom phế thải và một phần bị đốt cháy trong lửa vào dịp Phục Sinh. Cây Giáng sinh tồn kho (không trang trí) có thể phục vụ như là thực phẩm và đồ chơi cho voi và các động vật khác trong rạp xiếc hoặc sở thú. Tại nhiều nơi, như tại Wien, cây Giáng sinh đã qua sử dụng được thu thập để dùng đốt cháy trong một nhà máy điện sinh học để sưởi ấm. == Đọc thêm == O Tannenbaum Chợ Giáng sinh Bánh khúc cây Ông già Noel Hoa trạng nguyên Nhạc Giáng sinh Phim Giáng sinh == Hình ảnh == Trang trí cây Giáng Sinh: Những cây Giáng Sinh khắp nơi: == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hiệu Minh, Cây thông Noel và bài học về hạnh phúc, Vietnamnet, 24/12/2013 Christmas trees British Royal Family Christmas trees Christmas Tree Survives War, A-Bomb By Eric Talmadge; 21 tháng 12 năm 2007 Riga, Latvia purported home of the original Christmas Tree Christmas Lights around the World History of the Christmas Tree
phân rã beta.txt
Trong vật lý hạt nhân, phân rã beta là một kiểu phân rã phóng xạ mà theo đó sinh ra một hạt beta (electron hoặc positron). Trong trường hợp sinh ra electron thì người ta gọi là phân rã beta âm hay beta trừ (β⁻), trường hợp còn lại thì gọi là beta cộng (β+). Khi phát ra hạt electron, một electron antineutrino cũng sinh kèm, trong khi phát ra positron thì đi kèm là electron neutrino. == Phân rã β⁻ == Khi phân rã β⁻, tương tác yếu chuyển một neutron (n) thành một proton (p) trong khi phát ra một electron (e⁻) và một electron antineutrino (νe): n → p + e − + ν e ¯ {\displaystyle n\rightarrow p+e^{-}+{\bar {\nu _{e}}}} Ở mức cơ bản (như miêu tã trong biểu đồ Feynman bên dưới), là do sự biến đổi một quark xuống thành quark lên bằng cách phát ra một W⁻ boson; W⁻ thường phân rã thành một electron và một electron antineutrino. Phân rã β⁻ nhìn chung thường gặp ở những hạt nhân giàu neutron. == Phân rã β+ == Khi phân rã β+, năng lượng được sử dụng để biến đổi 1 proton thành 1 neutron, đồng thời phát ra 1 positron (e+) và 1 electron neutrino (νe): Vì vậy, khác với phân rã β⁻, phân rã β+ không thể xuất hiện một cách độc lập do nó cần có năng lượng, khối lượng của neutron nặng hơn khối lượng của proton. Phân rã β+ chỉ có thể xảy ra bên trong hạt nhân khi mà trị số năng lượng liên kết của các hạt nhân mẹ nhỏ hơn năng lượng liên kết của hạt nhân con. Điểm khác biệt giữa các mức năng lượng này tạo ra phản ứng biến đổi 1 proton thành 1 neutron, 1 positron và 1 neutrino, và thành động năng của các hạt này. == Phân rã beta kép == Phân rã beta kép là loại phân rã phóng xạ trong đó hai proton được đồng thời biến thành hai neutron, hoặc ngược lại, bên trong hạt nhân nguyên tử. Như trong phân rã beta duy nhất, quá trình này cho phép các nguyên tử chuyển về gần hơn với tỷ lệ tối ưu của các proton và neutron. Kết quả của chuyển đổi này là các hạt nhân phát ra hai hạt beta có thể dò được, là electron hoặc positron . == Xem thêm == Phân rã beta kép Bắt lượng tử Neutrino Phân rã alpha Đồng vị phóng xạ == Tham khảo == Franz N. D. Kurie, J. R. Richardson, H. C. Paxton (tháng 3 năm 1936). “The Radiations Emitted from Artificially Produced Radioactive Substances. I. The Upper Limits and Shapes of the β-Ray Spectra from Several Elements”. Physical Review 49 (5): 368–381. Bibcode:1936PhRv...49..368K. doi:10.1103/PhysRev.49.368. F. N. D. Kurie (tháng 5 năm 1948). “On the Use of the Kurie Plot”. Physical Review 73 (10): 1207. Bibcode:1948PhRv...73.1207K. doi:10.1103/PhysRev.73.1207. Jagdish K. Tuli, Nuclear Wallet Cards, 7th edition, April 2005, Brookhaven National Laboratory, US National Nuclear Data Center == Liên kết ngoài == The Live Chart of Nuclides - IAEA with filter on decay type, in Java or HTML
viện khoa học giáo dục việt nam.txt
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: "The Vietnam Institute of Educational Sciences" - viết tắt: VNIES) là một đơn vị sự nghiệp khoa học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. == Chức năng == Viện có vai trò hỗ trợ Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo trong nghiên cứu toàn diện về giáo dục (nghiên cứu cơ bản về khoa học giáo dục, nghiên cứu về quản lý giáo dục, nghiên cứu về chương trình và nội dung, phương pháp giáo dục, nghiên cứu về chính sách giáo dục), xây dựng chiến lược giáo dục, chính sách quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ về khoa học giáo dục và các ngành liên quan. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của viện
pha mặt trăng.txt
Pha Mặt Trăng hay pha của Mặt Trăng là sự xuất hiện của phần bề mặt Mặt Trăng được chiếu sáng bởi Mặt Trời khi quan sát từ một vị trí, thường là từ Trái Đất. Các pha của Mặt Trăng thay đổi một cách tuần hoàn khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, tùy thuộc vào sự thay đổi vị trí tương đối của ba thiên thể Trái Đất, Mặt Trăng, Mặt Trời. Một nửa bề mặt của Mặt Trăng luôn được chiếu sáng bởi Mặt Trời (ngoại trừ lúc nguyệt thực), và tỉ lệ bán cầu được chiếu sáng khi quan sát từ Trái Đất thay đổi từ 0% (trăng mới hay trăng đầu tháng hoặc sóc) đến 100% (trăng tròn hay vọng). Biên của vùng được chiếu sáng và không được chiếu sáng của bán cầu được gọi là vùng phân giới hoặc vùng chạng vạng. == Khái quát == Các pha của Mặt Trăng là kết quả từ việc nhìn bán cầu được chiếu sáng của Mặt Trăng từ những vị trí hình học khác nhau; những phần tối đó không phải là do bóng của Trái Đất che lấp Mặt Trăng xảy ra trong quá trình nguyệt thực. Mặt Trăng thể hiện các pha khác nhau khi vị trí hình học tương đối của Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng thay đổi, trăng tròn (vọng) hiện lên khi Mặt Trời và Mặt Trăng ở hai phía đối diện của Trái Đất, và trăng mới (sóc) hiện lên khi chúng cùng ở một phía so với Trái Đất. Các pha trăng tròn và trăng mới là những ví dụ của hiện tượng sóc vọng, xảy ra khi Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời nằm gần theo một đường thẳng. Thời gian giữa hai lần trăng tròn (tháng Mặt Trăng) trung bình khoảng 29,53 ngày (29 ngày 12 giờ 44 phút) (từ đây, khái niệm về khoảng của một chu kỳ thời gian của một tháng được suy ra). Tháng giao hội này dài hơn thời gian để Mặt Trăng quay được một vòng quanh quỹ đạo của Trái Đất so với các ngôi sao cố định ở xa (gọi là tháng thiên văn, dài khoảng 27,32 ngày). Sự khác nhau này là do trong khi hệ Mặt Trăng-Trái Đất quay quanh Mặt Trời thì Mặt Trăng cũng di chuyển trên quỹ đạo quanh Trái Đất. Thời gian thực giữa hai lần sóc vọng hoặc hai pha hơi biến đổi một chút vì quỹ đạo của Mặt Trăng có dạng elip và chịu nhiều nhiễu loạn có tính chu kỳ, khiến cho vận tốc trên quỹ đạo của nó bị thay đổi. Khi Mặt Trăng gần Trái Đất hơn, nó di chuyển nhanh hơn, khi nó ở xa so với Trái Đất, nó di chuyển chậm hơn. Quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời cũng là một hình elip, do đó vận tốc của nó cũng bị thay đổi, và tổng hợp lại làm ảnh hưởng đến các pha của Mặt Trăng. Chúng ta mong đợi rằng mỗi tháng một lần khi Mặt Trăng đi vào giữa Trái Đất và Mặt Trời trong giai đoạn trăng mới, bóng của nó sẽ chiếu lên Trái Đất gây ra hiện tượng nhật thực. Tương tự như vậy, trong giai đoạn trăng tròn chúng ta mong rằng bóng của Trái Đất sẽ che khuất Mặt Trăng, dẫn đến hiện tượng nguyệt thực. Nhưng hai hiện tượng này không xảy ra hàng tháng được bởi vì mặt phẳng quỹ đạo của Mặt Trăng quanh Trái Đất bị nghiêng khoảng 5 độ so với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời (gọi là mặt phẳng hoàng đạo). Do vậy, khi đến thời điểm trăng mới hoặc trăng tròn, Mặt Trăng nằm ở phía bắc hoặc nam đường nối Trái Đất và Mặt Trời. Mặc dù thiên thực chỉ có thể xảy ra khi Mặt Trăng ở thời điểm trăng mới hoặc trăng tròn, vị trí của nó cũng phải nằm gần ở giao điểm của mặt phẳng quỹ đạo của Mặt Trăng với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất (còn gọi là giao điểm Mặt Trăng). Vị trí thuận lợi của Mặt Trăng xảy ra khoảng hai lần trong một năm, và do đó có khoảng 4 đến 7 lần thiên thực trong năm. Hầu hết chúng chỉ là sự che khuất một phần, và sự che khuất toàn phần hiếm khi xảy ra. == Tên của các pha Mặt Trăng == Tên các pha của Mặt Trăng theo thứ tự như sau (có 8 pha của Mặt Trăng): Khi Mặt Trời và Mặt Trăng sắp hàng nằm về cùng một phía so với Trái Đất, thì Mặt Trăng là "mới" và không nhìn thấy được phần Mặt Trăng được Mặt Trời chiếu sáng. Khi Mặt Trăng tròn dần (diện tích bề mặt của nó được chiếu sáng tăng lên khi nhìn từ Trái Đất), các pha của nó bắt đầu từ trăng mới, trăng lưỡi liềm, bán nguyệt đầu tháng, trăng khuyết, trăng tròn, sau đó lại là trăng khuyết, bán nguyệt cuối tháng, trăng lưỡi liềm và không trăng (bắt đầu trăng non). Nửa vầng trăng thường nhắc đến bán nguyệt đầu tháng (trăng thượng huyền) hoặc bán nguyệt cuối tháng (trăng hạ huyền). Thuật ngữ tuần trăng (thượng tuần, trung tuần và hạ tuần) là để chỉ sự kéo dài của chu kỳ pha Mặt Trăng. Khi một hình cầu được chiếu sáng trên bán cầu của nó và nhìn nó dưới một góc, tỉ lệ diện tích được chiếu sáng được trông thấy sẽ là một hình hai chiều xác định bởi giao của một hình elip và hình tròn (trong đó trục lớn của elip bằng đường kính của đường tròn). Nếu một nửa elip ghép lồi với một nửa hình tròn thì hình thu được là hình tròn khuyết (phình ra ngoài), trong khi nếu một nửa elip ghép lõm với một nửa hình tròn thì hình thu được là hình lưỡi liềm. Khi Trăng lưỡi liềm xuất hiện, hiện tượng địa chiếu có thể xảy ra, theo đó phần tối của Mặt Trăng phản xạ hơi mờ ánh sáng từ Trái Đất. Ở Bắc bán cầu, nếu phần bên trái của Mặt Trăng là tối thì phần được chiếu sáng sẽ tăng diện tích lên trong tháng, và Mặt Trăng được gọi là tròn dần (chuyển dịch dần về phía trăng tròn). Nếu phần phải của Mặt Trăng là tối thì phần được chiếu sáng sẽ giảm dần diện tích, và Mặt Trăng được gọi là khuyết dần (chuyển dịch dần về phía trăng mới). Giả sử rằng vị trí chúng ta quan sát ở Bắc bán cầu, phần bên phải của Mặt Trăng luôn luôn tăng lên (tức là nếu phần bên phải đang là tối, thì Mặt Trăng sẽ trở lên tối dần, nếu phần bên phải của Mặt Trăng sáng, thì Mặt Trăng đang sáng dần lên). == Lịch == Độ dài trung bình của một tháng trong năm, bằng 1/12 của năm, là khoảng 30,44 ngày, trong khi chu kỳ pha của Mặt Trăng (chu kỳ giao hội) lặp lại khoảng 29,53 ngày. Do vậy việc tính thời gian cho các pha của Mặt Trăng dịch chuyển trung bình khoảng một ngày cho các tháng kế tiếp. Khi chúng ta chụp ảnh các pha Mặt Trăng mỗi ngày trong một tháng, bắt đầu từ buổi tối sau khi Mặt Trời lặn, cứ lặp lại chụp ảnh đều đặn sau khoảng 25 phút ở các ngày tiếp theo, và kết thúc chụp đến cuối tháng vào buổi sáng trước khi Mặt Trời mọc, ta sẽ thu được một bức ảnh tổ hợp như hình bên từ ngày 8 tháng 5 năm 2005 đến ngày 6 tháng 6 năm 2005. Không có bức ảnh cho ngày 20 tháng 5 do bức ảnh phải chụp trước nửa đêm vào ngày 19 tháng 5, và sau nửa đêm vào ngày 21 tháng 5. Tương tự, ta có thể liệt kê thời gian trăng mọc và trăng lặn trên lịch, một số ngày sẽ được bỏ qua. Khi Mặt Trăng mọc vừa trước nửa đêm của một đêm thì nó sẽ mọc vừa sau nửa đêm của đêm tiếp theo. 'Ngày bỏ qua' chỉ là của lịch nhân tạo và không phải là do sự bất thường của Mặt Trăng. == Trong thơ văn == Đồng dao Việt Nam có bài về các pha Mặt Trăng cũng như thời gian trăng mọc: Mồng một lưỡi trai Mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm Mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm giật Mồng sáu thật trăng Mồng bảy thượng huyền Mười rằm trăng náu Mười sáu trăng treo Mười bảy sảy giường chiếu Mười tám rám trấu Mười chín đụn dịn Hăm mươi giấc tốt Hăm mốt nửa đêm Hăm hai hạ huyền Hăm ba gà gáy Hăm bốn ở đâu Hăm nhăm ở đấy Hăm sáu đã vậy Hăm bảy làm sao Hăm tám thế nào Hăm chín thế ấy Ba mươi chẳng thấy Mặt mày trăng đâu ? == Xem thêm == Trăng xanh Giao điểm Mặt Trăng Tháng Quan sát Mặt Trăng Quỹ đạo của Mặt Trăng Hành tinh chiếu Bảng các pha Mặt Trăng Thủy triều == Tham khảo == == Liên kết ngoài == === Tổng quan === Pha của Mặt Trăng trên YouTube Ảnh Mặt Trăng theo thời gian thực Dịch vụ của Hải quân Mỹ về các pha Mặt Trăng / Mặt Trăng nhìn giống gì ngày nay (Đài quan sát Hải quân Mỹ) Tên gọi các pha Mặt Trăng trong tiếng Anh Ảnh thiên văn chụp các pha của Mặt Trăng của Michael Myers Mặt Trăng bên dưới đường xích đạo Pha của Mặt Trăng Độ dài của chu kỳ Mặt Trăng (Phân tích bằng phương pháp số) Pha Mặt Trăng trực tuyến, thời gian mọc và lặn của Mặt Trăng vvà Mặt Trời Pha Mặt Trăng và sự đu đưa của nó năm 2013 NASA.gov === Cho giáo dục === Starchild: Moonlight Madness Trò chơi các pha Mặt Trăng Quia 3rd Grade SOL 3.8 – Trò chơi đặt các pha của Mặt Trăng theo đúng thứ tự
hynix.txt
Hynix Semiconductor Inc. KRX: 000660 of Hàn Quốc là một công ty bán dẫn, nhà cung cấp DRAM và bộ nhớ flash, tên cũ là Hyundai Electronics, một công ty có trụ sở tải Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan. Cổ phiếu công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc, và cổ phiếu lưu ký toàn cầu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Luxemburg. Bộ nhớ của Hynix được sử dụng trong vài máy tính MacBook Pro của hãng Apple và máy tính để bàn của ASUS Eee PC. == Xếp hạng == Nhà sản xuất bán dẫn lớn thứ sáu thế giới Công ty chip bộ nhớ lớn thứ hai trên thị trường Cổ phiếu lớn nhất tại Trung Quốc == Cột mốc == Tháng bảy, 2008 công bố đóng cửa nhà máy DRAM tại Eugene, Oregon. Hơn 1100 nhân công bị sa thải trong vòng 2 tháng. 2007 Thu được lợi nhuận cao Ông Jong-Kap Kim làm chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành 2006 Công bố kỷ lục về doanh thu từ lúc thành lập Thành lập mạng lưới sản xuất toàn cầu với việc xây dựng công ty bán dẫn Hynix-ST. 2005 Tái cấu trúc công ty 2004 Ký hợp đồng chuyển giao công nghệ hệ thống mạch IC với công ty System Semiconductor 2002 Bán HYDIS, bộ phận TFT-LCD 2001 Đổi tên thành "Hynix Semiconductor Inc."; chia tách Hyundai Syscomm, Hyundai CuriTel, và Hyundai Networks; Hoàn thành việc chia tách từ tập đoàn Hyundai Group; 2000 Tách thành 2 bộ phậnHyundai Image Quest, Hyundai Autonet 1999 Sát nhập với công tyLG Semiconductor Co., Ltd. 1996 Phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) 1993 Nắm quyền Maxtor (nhà máy chính tại Mỹ) 1985 Bắt đầu sản xuất DRAM 256K 1983 Thành lập công ty Hyundai Electronics Industries Co., Ltd. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hynix Semiconductor Inc. http://www.hynix.com/eng/
1916.txt
1916 (số La Mã: MCMXVI) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1916 == Sự kiện == 8 tháng 1 - Liên quân Entente rút khỏi Gallipoli. 29 tháng 1 - Paris bị khí cầu Zeppelins của Đức ném bom lần đầu tiên. 21 tháng 2 - Bắt đầu trận Verdun giữa Pháp và Đế quốc Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. 15 tháng 3 - Mỹ can thiệp vũ trang vào México. 24 tháng 4 - Khởi nghĩa chống ách đô hộ của Anh ở [Dublin] (Ái Nhĩ Lan). 4 tháng 5 - Đức tuyên bố ngừng cuộc chiến tranh toàn diện trên biển. 6 tháng 5 - Vua Duy Tân của Việt Nam bị Pháp bắt. 31 tháng 5 đến 1 tháng 6 - Trận Jutland giữa đế quốc Đức và Anh trong đệ nhất thế chiến. 4 tháng 6 - Bắt đầu cuộc tổng tấn công của tướng Brusilov vào phòng tuyến quân đội Áo-Hung tại Galicia. 1 tháng 7 - Bắt đầu trận Somme lần thứ nhất giữa Anh và Đế quốc Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất với thương vong của quân Anh trong ngày đầu tiên của trận chiến là 60 000 người. 3 tháng 7 - Thỏa ước liên minh Nga-Nhật. 4 tháng 8 - Quần đảo Vierges trở thành lãnh thổ Mỹ. 7 tháng 8 - Bồ Đào Nha gia nhập khối Entente. 17 tháng 8 - România ký hiệp định liên minh với các nước khối Entente. 27 tháng 8 - Romania tuyên chiến với đế quốc Áo-Hung và tham gia vào thế chiến thứ nhất. 15 tháng 9 - Xe tăng được sử dụng lần đầu tiên trong lịch sử thế giới. 5 tháng 11 - Đức và Áo-Hung tuyên bố thành lập vương quốc tự trị Ba Lan. 7 tháng 11 - Woodrow Wilson đánh bại Charles E. Hughes trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. 18 tháng 11 - Trận Somme lần thứ nhất kết thúc. 21 tháng 11 - Tàu ngầm Đức bắn chìm tàu quân y HMHS Britannic của Anh tại gần đảo Kea,Hy Lạp,30 người thiệt mạng 6 tháng 12 - Quân Đức do Falkenhayn chỉ huy chiếm thủ đô Bucharest của Romania. 18 tháng 12 - Trận Verdun kết thúc với hơn 70 vạn người chết và bị thương. tháng 9 - Vụ sập cầu Quebec. 21 tháng 11 - Chìm tàu HMHS Britannic. == Sinh == 24 tháng 1 - Rafael Caldera, tổng thống Venezuela. 2 tháng 2 - Xuân Diệu, nhà thơ Việt Nam (m. 1985) 2 tháng 4 - Hữu Loan, Nhà thơ Việt Nam (m. 18/3/2010). 9 tháng 6 - Robert McNamara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ 19 tháng 9 - Giáo sư Vũ Khiêu, là một học giả nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Không rõ ngày: Dương Văn Minh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cuối cùng (m. 2001) Dadi Janki == Mất == 17 tháng 5 - Thái Phiên, nhà hoạt động cách mạng Việt Nam trong phong trào chống Pháp thời kỳ Vua Duy Tân. 6 tháng 6 - Viên Thế Khải, chính trị gia Trung Quốc. 21 tháng 9 - Franz Joseph I, hoàng đế đầu tiên của đế quốc Áo-Hung 22 tháng 11 - Jack London, nhà văn Mỹ (s. 1876) 9 tháng 12 - Natsume Sōseki, nhà văn Nhật Bản (s. 1867) 29 tháng 12 - Grigori Rasputin, tu sĩ Nga. == Xem thêm == == Tham khảo ==
viện hàn lâm khoa học bulgaria.txt
Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria (tiếng Bulgaria: Българска академия на науките, Balgarska akademiya na naukite, viết tắt БАН) là viện hàn lâm quốc gia của Bulgaria, được thành lập năm 1869. Viện là cơ quan có quy chế tự trị, gồm những viện sĩ chính thức, viện sĩ thông tấn và viện sĩ nước ngoài. Viện có nhà xuất bản riêng, xuất bản và lưu hành nhiều công trình khoa học khác nhau, các từ điển, từ điển bách khoa, các báo chuyên ngành. Chủ tịch viện hiện nay là viện sĩ Nikola Sabotinov. Ngân sách năm 2009 của Viện là 84 triệu lev, tương đương 42,7 triệu euro, không kể Cơ quan Không gian Bulgaria trực thuộc Viện, có ngân sách riêng là 1 triệu euro. == Lịch sử == Khi Bulgaria còn là thành phần của Đế quốc Ottoman, những người di cư Bulgaria đã lập ra Hội Văn học Bulgaria ngày 26.9.1869 ở Brăila, Vương quốc Romania, với quy chế sau: Ban quản trị Nikolai Tsenov – Chủ tịch Vasilaki Mihailidi Petraki Simov Kostaki Popovich Stefan Beron Ban điều hành Marin Drinov (1838-1906) – Chủ tịch Vasil Drumev (1840-1901) - Ủy viên Vasil D. Stoyanov (1839-1910) – Thư ký Năm sau, Hội Văn học Bulgari bắt đầu phát hành một tờ báo định kỳ, xuất bản phẩm chính thức của Hội, và năm 1871 đã bầu một hội viên danh dự đầu tiên là Gavril Krastevich. Năm 1878, ngay sau khi Bulgaria được giải phóng khỏi đế quốc Ottoman, thì Đại hội đồng của Hội đã biểu quyết di chuyển trụ sở Hội từ phiếu Brăila về Sofia, và ngày 1.3.1893 Hội Văn học Bulgaria dọn vào tòa nhà riêng của mình, do kiến trúc sư Hermann Mayer thiết kế, được xây dựng hoàn tất năm 1892, ngay bên cạnh trụ sở Nghị viện Bulgaria. Trong thập niên 1920 tòa nhà trụ sở này được nới rộng thêm. Năm 1911 Hội Văn học Bulgaria đổi tên thành Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria, và Ivan Geshov được bầu làm chủ tịch Viện đầu tiên. Năm 1913, Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria trở thành thành viên của Union of Slavonic Academies and Scientific Communities (Liên hiệp các viện hàn lâm ngôn ngữ Slave và Cộng đồng Khoa học), và đến năm 1931 được gia nhập Hội đồng Khoa học quốc tế. == Tổ chức == Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria có 9 ban ngành, hợp nhất trong 3 ngành chính: Khoa học tự nhiên, Toán học và Khoa học kỹ thuật Sinh học, Y học và Khoa học Nông nghiệp Khoa học Xã hội, Nhân văn và Nghệ thuật Mỗi ngành có các phân viện khoa học, phòng thí nghiệm vv… độc lập. === Toán học === Viện Toán học và Tin học Viện Cơ học Institute for Parallel Processing (Viện xử lý song song ?) Phòng thí nghiệm quốc gia Virus học máy tính === Vật lý học === Viện nghiên cứu hạt nhân và Năng lượng hạt nhân Viện Vật lý chất rắn Viện Điện tử Viện Thiên văn học Đài Thiên văn quốc gia - Rozhen Đài thiên văn Belogradchik Phòng thí nghiệm trung ương năng lượng Mặt trời và các nguồn năng lượng mới Phòng thí nghiệm trung ương Vật lý ứng dụng - Plovdiv Phòng thí nghiệm trung ương vật liệu quang học và xử lý thông tin === Hóa học === Viện Hóa học vô cơ và tổng quát Viện Hóa học hữu cơ với Trung tâm Hóa học thực vật Viện Hóa Sinh học Viện Xúc tác Viện Hệ thống Năng lượng và Điện Hóa học (trước đây là Phòng thí nghiệm trung ương các nguồn Năng lượng Điện Hóa học) Viện Khoa học kỹ thuật Hóa học Central Laboratory of Photoprocesses (Phòng thí nghiệm trung ương xử lý quang điện?) Viện Polyme === Sinh học === Viện Sinh học phân tử Viện Di truyền học Viện Sinh lý học Viện Sinh lý học thực vật Viện Vi sinh vật học Viện Hình thái học thực nghiệm và Nhân loại học Viện Thực vật học Viện Động vật học Viện nghiên cứu rừng Viện Bệnh lý học thực nghiệm và Ký sinh học Viện Sinh học và Miễn dịch học của Quá trình sinh sản Viện Lý sinh học Nhà bảo tàng quốc gia Lịch sử tự nhiên Phòng thí nghiệm trung ương Khoa học kỹ thuật Y sinh học Phòng thí nghiệm trung ương Sinh thái học tổng quát === Khoa học Trái đất === Viện Địa chất Viện Địa Vật lý Viện Khí tượng học và Thủy văn học quốc gia Phòng thí nghiệm trung ương Trắc địa học Phòng thí nghiệm trung ương Khoáng vật học và Tinh thể học Viện Đại dương học Viện Địa lý học Viện nghiên cứu Không gian Phòng thí nghìệm trung ương các ảnh hưởng Mặt trời – Trái đất Phòng thí nghiệm trung ương Cơ học địa chấn và Khoa học kỹ thuật Địa chấn Viện nghiên cứu vấn đề Nước === Khoa học kỹ thuật === Viện Khoa học kim loại Phòng thí nghiệm trung ương Cơ học Hóa-Lý Viện Máy tính và Hệ Truyền thông Viện Công nghệ Thông tin Viện Kiểm tra và nghiên cứu Hệ thống Phòng thí nghiệm trung ương Cơ điện tử và dụng cụ đo đạc Trung tâm Thủy động lực tàu thủy Bulgaria === Khoa học nhân văn === Viện ngôn ngữ Bulgaria Viện Văn học Viện Lịch sử Viện nghiên cứu vùng Thraccia Viện Khảo cổ với Nhà bảo tàng Viện nghiên cứu vùng Balkan Viện dân tộc học với Nhà bảo tàng Viện nghiên cứu Nghệ thuật Viện nghiên cứu văn học dân gian Trung tâm nghiên cứu thánh Cyril và Methodius Trung tâm nghiên cứu khoa Kiến trúc === Khoa học xã hội === Viện Xã hội học Viện nghiên cứu pháp lý Viện Kinh tế học Trung tâm nghiên cứu Khoa học và Lịch sử khoa học Viện Tâm lý học Viện Dân số học Viện nghiên cứu Triết học === Các đơn vị hỗ trợ và chuyên môn hóa === Ban quản trị trung ương Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria Thư viện trung ương của Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria Phòng lưu trữ hồ sơ khoa học của Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria Nhà xuất bản "giáo sư Marin Drinov" của Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria Vườn bách thảo Trung tâm quốc gia khoa học Nano và Công nghệ Nano Trung tâm thông tin khoa học về Từ điển bách khoa Bulgaria Cơ quan công ích – xã hội Trung tâm nghiên cứu An ninh quốc gia Hiệp hội phát triển nghiên cứu và thực hiện "thiết bị đo đạc khoa học" Phòng thí nghiệm Tin học viễn thông (Telematics) Trung tâm phát triển sự nghiệp nghiên cứu tiến sĩ == Vinh dự == Academia Peak (ngọn núi Viện hàn lâm) và Camp Academia (trại hàn lâm) trên đảo Livingston thuộc Quần đảo Nam Shetland, Nam Cực được đặt theo tên Viện hàn lâm Khoa học Bulgaria để đánh giá cao đóng góp của Viện này vào việc thám hiểm Nam Cực. == Tham khảo và Chú thích == == Liên kết ngoài == Bulgarian Academy of Sciences Official website Institute of Solid State Physics
bắc kạn.txt
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang. Diện tích đất tự nhiên 4.859 km2, dân số 313.084 người, gồm 7 dân tộc anh em (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa và Sán Chay) sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%. Đôi khi tên tỉnh được viết là Bắc Cạn, tuy nhiên tên Bắc Kạn được coi là chính thức và tỉnh Bắc Kạn có con dấu khắc chữ "Bắc Kạn" để chỉ đơn vị tỉnh. Năm 1965, Bắc Kạn hợp nhất với tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh Bắc Thái, nhưng đến ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ tỉnh Bắc Thái cũ, gồm thị xã Bắc Kạn và 5 huyện: Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn. Năm 1999, chia huyện Bạch Thông thành 2 huyện: Bạch Thông và Chợ Mới. Năm 2003, chia huyện Ba Bể thành 2 huyện: Ba Bể và Pác Nặm. Năm 2015, chuyển thị xã Bắc Kạn thành thành phố Bắc Kạn. Tỉnh lị là thành phố Bắc Kạn, cách thủ đô Hà Nội 160 km. == Hành chính == Tỉnh Bắc Kạn có 1 thành phố và 7 huyện, bao gồm 110 xã, 6 phường và 6 thị trấn. == Vị trí địa lý == Bắc Kạn là một tỉnh miền núi cao, địa hình bị chi phối bởi những dãy núi vòng cung quay l­ưng về phía đông xen lẫn với những thung lũng. Bắc Kạn có thể phân thành 3 vùng nh­ư sau: Vùng phía tây và tây-bắc: bao gồm các mạch núi thuộc khu vực huyện Chợ Đồn, Pác Nặm, Ba Bể chạy theo hư­ớng vòng cung tây bắc–đông nam, định ra h­ướng của hệ thống dòng chảy lư­u vực sông Cầu. Dãy núi cao nhất là Phia Bióoc - 1578m. Vùng phía đông và đông-bắc: hệ thống núi thuộc cánh cung Ngân Sơn chạy theo hư­ớng bắc-nam, mở rộng thung lũng về phía đông bắc. Vùng trung tâm: vùng địa hình thấp, kẹp giữa một bên là dãy núi cao thuộc cánh cung sông Gâm ở phía tây, với một bên là cánh cung Ngân Sơn ở phía đông. == Kinh tế == Bắc Kạn Là tỉnh vùng núi cao, có địa hình phức tạp, cơ sở vật chất và kinh tế chưa phát triển. Tuy nhiên những năm gần đây tỉnh Bắc Kạn đã có một số bước phát triển đáng kể. Một số chỉ tiêu kinh tế của tỉnh năm 2011: Tổng giá trị gia tăng (theo giá cố định 1994) ước đạt 1.477.155 triệu đồng, tăng 13% so với năm 2010 (kế hoạch 13,5%), trong đó: Khu vực kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp đạt 551.839 triệu đồng, tăng 11,36% (kế hoạch 7,5%); khu vực kinh tế công nghiệp - XDCB đạt 298.426 triệu đồng, tăng 2,64% (kế hoạch 23%); khu vực kinh tế các ngành dịch vụ đạt 626.890 triệu đồng, tăng 20,29% (kế hoạch 14%). Tổng giá trị gia tăng (theo giá thực tế) ước đạt 4.349.665 triệu đồng, tăng 22,81% so với năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,6 triệu đồng, tăng 2,7 triệu đồng so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông - lâm nghiệp chiếm 42%; khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 14,2%; khu vực dịch vụ chiếm 43,8%. So với cùng kỳ năm 2010, khu vực kinh tế nông - lâm nghiệp tăng 3,5%, công nghiệp - xây dựng giảm 3%; dịch vụ tăng 0,4%. Tỉnh đã hoàn thành chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Chính phủ. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện đã xây dựng 2.601/2.629 nhà cho hộ nghèo (còn lại 28 hộ không có nhu cầu làm nhà). Các chương trình, dự án, mô hình giảm nghèo tiếp tục được các cấp, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo ước giảm 6% (xuống còn 26,13%). Bắc Kạn có thế mạnh phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng, nông lâm nghiệp và du lịch. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, tỉnh Bắc Kạn xếp ở vị trí thứ 55/63 tỉnh thành. == Du lịch == Bắc Kạn là tỉnh giàu tiềm năng du lịch bởi sự phong phú của tài nguyên, khoáng sản và nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc miền núi đông bắc Việt Nam. Hồ Ba Bể là danh thắng thiên nhiên được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1996, Năm 2011 được UNESCO công nhận Ba Bể là khu Ramsar - Đây là khu bảo tồn đất ngập nước có tầm quan trọng của thế giới và là một trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới. Hội xuân Ba Bể được tổ chức vào tháng giêng âm lịch hàng năm. Căn cứ địa cách mạng ATK Chợ Đồn: Một trong những khu căn cứ của chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Khu di tích lịch sử Nà Tu, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông nơi Hồ Chí Minh đã tặng lực lượng thanh niên xung phong 4 câu thơ vào năm 1951 "Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên". Ngoài ra phải kể đến những danh thắng nổi tiếng như: động Puông, động Hua Mạ, động Nàng Tiên, động Nả Phòong, động Ba Cửa, hang Sơn Dương, khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ. == Giao thông == • Có tuyến Quốc lộ 3, Quốc lộ 3B, Quốc lộ 279, quy hoạch đường tỉnh 258 thành QL 3C. Ngoài ra còn các tỉnh lộ 245, 254, 255, 256, 257, 258, 258B, 259 • Hiện cơ bản đã hoàn thành tuyến cao tốc Thái Nguyên - Chợ Mới (nối với cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên thành cao tốc Hà Nội - Chợ Mới, trong tương lai nối lên trung tâm tỉnh), giúp giảm lưu lượng xe và thời gian di chuyển so với quốc lộ 3 cũ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn Trang Báo Điện tử tỉnh Bắc Kạn
bộ thài lài.txt
Bộ Thài lài (danh pháp khoa học: Commelinales) là một bộ thực vật một lá mầm, trong đó bao gồm họ thài lài (Commelinaceae). Một điều không may là thành phần của bộ phận còn lại trong nhóm đã thay đổi rất nhiều giữa các hệ thống phân loại. Trong hệ thống Cronquist bộ này được đặt trong phân lớp Commelinidae của lớp Liliopsida và bao gồm họ Commelinaceae cùng 3 họ bổ sung sau đây: Rapataceae Xyridaceae Mayacaceae Tuy nhiên, nhiều tác giả hiện nay cho rằng các họ này có quan hệ họ hàng gần gũi hơn với các nhóm khác, như APG, đã chuyển cả 3 họ này vào bộ Hòa thảo (Poales). Ngược lại, một loạt các dạng trước đây được phân loại trong bộ Loa kèn (Liliales) đã được công nhận là có quan hệ gần gũi hơn với Commelinidae, và vì thế hoặc là được nhóm vào bộ Commelinales hoặc đưa vào bộ riêng, có thể là bộ đa ngành với tên gọi Philydrales. Theo cập nhật của APG II thì các họ được đưa vào Commelinales là như sau: Commelinaceae: Họ Thài lài Haemodoraceae: Họ Huyết bì thảo Hanguanaceae: Họ Thuốc giun Philydraceae: Họ Cỏ đuôi lươn Pontederiaceae: Họ Lục bình Sự thay đổi trong quan hệ thành viên này tạo ra sự rất khó xác định các đặc trưng của bộ Commelinales (ngoại trừ họ Commelinaceae và các họ hàng gần của nó). == Phát sinh chủng loài == Cây phát sinh chủng loài của bộ Thài lài so với các bộ thực vật một lá mầm khác trong nhánh Thài lài lấy theo APG III. Cây phát sinh chủng loài trong nội bộ bộ Thài lài lấy theo APG III. == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Commelinales (Plant order) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
modus vivendi.txt
Modus vivendi là một cụm từ Latin biểu thị cho một thỏa thuận giữa những người có ý kiến, quan điểm khác nhau. == Ý nghĩa == Modus có nghĩa là hay phương pháp, cách thức. Vivendi nghĩa là thuộc về cuộc sống. Cùng với nhau, cụm từ này ngụ ý chỉ sự dàn xếp giữa các bên tranh chấp để giải quyết các sự khác biệt về quan điểm. Nó thường mô tả những thỏa thuận không chính thức và tạm thời trong các vấn đề chính trị. Ví dụ, nếu hai bên đạt được một "modus vivendi" liên quan đến lãnh thổ tranh chấp, mặc dù xung khắc nhau về chính trị, lịch sử, hay văn hóa, một sự thỏa thuận tương ứng với vị trí các phe để giải quyết sự khác biệt được hình thành. Ý nghĩa của thuật ngữ này đã được sử dụng như là một nguyên tắc căn bản trong triết học chính trị của John N. Gray. Trong ngoại giao, một "modus vivendi" là một công cụ cho việc thiết lập một thỏa thuận quốc tế có tính chất tạm thời, dự định sẽ được thay thế bằng một thỏa thuận có thực chất hơn và thấu đáo, chẳng hạn như một hiệp ước. Nó thường là thỏa thuận không chính thức nên không bao giờ đòi hỏi lập pháp phê chuẩn. Thông thường, đình chiến và các công cụ của sự đầu hàng quân sự là modus vivendi. == Thí dụ == Sau khi Kuwait trở nên độc lập vào năm 1961, Iraq tuyên bố là nó thuộc lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, sau khi Anh quốc can thiệp vào, Iraq tuy công nhận sự độc lập của Kuwait, nhưng vẫn cho nó là tỉnh thứ 19 của mình, một modus vivendi. == Chú thích ==
thủy điện.txt
Thủy điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước. Đa số năng lượng thủy điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay một tuốc bin nước và máy phát điện. Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng lượng động lực của nước hay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước như năng lượng thuỷ triều. Thủy điện là nguồn năng lượng có thể hồi phục. Năng lượng lấy được từ nước phụ thuộc không chỉ vào thể tích mà cả vào sự khác biệt về độ cao giữa nguồn và dòng chảy ra. Sự khác biệt về độ cao được gọi là áp suất. Lượng năng lượng tiềm tàng trong nước tỷ lệ với áp suất. Để có được áp suất cao nhất, nước cung cấp cho một turbine nước có thể được cho chảy qua một ống lớn gọi là ống dẫn nước có áp (penstock). Ngoài nhiều mục đích phục vụ cho các mạng lưới điện công cộng, một số dự án thủy điện được xây dựng cho những mục đích thương mại tư nhân. Ví dụ, việc sản xuất nhôm đòi hỏi tiêu hao một lượng điện lớn, vì thế thông thường bên cạnh nhà máy nhôm luôn có các công trình thủy điện phục vụ riêng cho chúng. Tại Cao nguyên Scotland đã có các mô hình tương tự tại Kinlochleven và Lochaber, được xây dựng trong những năm đầu thế kỷ 20. Tại Suriname, đập hồ van Blommestein và nhà máy phát điện được xây dựng để cung cấp điện cho ngành công nghiệp nhôm Alcoa. Ở nhiều vùng tại Canada (các tỉnh bang British Columbia, Manitoba, Ontario, Québec và Newfoundland và Labrador) thủy điện được sử dụng rất rộng rãi tới mức từ "hydro" đã được dùng để chỉ bất kỳ nguồn điện nào phát ra từ nhà máy điện. Những nhà máy phát điện thuộc sở hữu nhà nước tại các tỉnh đó được gọi là BC Hydro, Manitoba Hydro, Hydro One (tên chính thức "Ontario Hydro"), Hydro-Québec và Newfoundland và Labrador Hydro. Hydro-Québec là công ty sản xuất thủy điện lớn nhất thế giới, với tổng công suất lắp đặt năm 2005 đạt 31.512 MW. == Tầm quan trọng == Thủy điện, sử dụng động lực hay năng lượng dòng chảy của các con sông hiện nay chiếm 20% lượng điện của thế giới. Na Uy sản xuất toàn bộ lượng điện của mình bằng sức nước, trong khi Iceland sản xuất tới 83% nhu cầu của họ (2004), Áo sản xuất 67% số điện quốc gia bằng sức nước (hơn 70% nhu cầu của họ). Canada là nước sản xuất điện từ năng lượng nước lớn nhất thế giới và lượng điện này chiếm hơn 70% tổng lượng sản xuất của họ. Ngoài một số nước có nhiều tiềm năng thủy điện, năng lực nước cũng thường được dùng để đáp ứng cho giờ cao điểm bởi vì có thể tích trữ nó vào giờ thấp điểm (trên thực tế các hồ chứa thủy điện bằng bơm – pumped-storage hydroelectric reservoir - thỉnh thoảng được dùng để tích trữ điện được sản xuất bởi các nhà máy nhiệt điện để dành sử dụng vào giờ cao điểm). Thủy điện không phải là một sự lựa chọn chủ chốt tại các nước phát triển bởi vì đa số các địa điểm chính tại các nước đó có tiềm năng khai thác thủy điện theo cách đó đã bị khai thác rồi hay không thể khai thác được vì các lý do khác như môi trường. == Ưu điểm == Lợi ích lớn nhất của thủy điện là hạn chế được giá thành nhiên liệu. Các nhà máy thủy điện không phải chịu cảnh tăng giá của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá, và không cần phải nhập nhiên liệu. Các nhà máy thủy điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện, một số nhà máy thủy điện đang hoạt động hiện nay đã được xây dựng từ 50 đến 100 năm trước. Chi phí nhân công cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao và có ít người làm việc tại chỗ khi vận hành thông thường. Các nhà máy thủy điện hồ chứa bằng bơm hiện là công cụ đáng chú ý nhất để tích trữ năng lượng về tính hữu dụng, cho phép phát điện ở mức thấp vào giờ thấp điểm (điều này xảy ra bởi vì các nhà máy nhiệt điện không thể dừng lại hoàn toàn hàng ngày) để tích nước sau đó cho chảy ra để phát điện vào giờ cao điểm hàng ngày. Việc vận hành cách nhà máy thủy điện hồ chứa bằng bơm cải thiện hệ số tải điện của hệ thống phát điện. Những hồ chứa được xây dựng cùng với các nhà máy thủy điện thường là những địa điểm thư giãn tuyệt vời cho các môn thể thao nước, và trở thành điểm thu hút khách du lịch. Các đập đa chức năng được xây dựng để tưới tiêu, kiểm soát lũ, hay giải trí, có thể xây thêm một nhà máy thủy điện với giá thành thấp, tạo nguồn thu hữu ích trong việc điều hành đập. == Nhược điểm == Xem thêm thông tin: Tác động môi trường của hồ chứa nước Trên thực tế, việc sử dụng nước tích trữ thỉnh thoảng khá phức tạp bởi vì yêu cầu tưới tiêu có thể xảy ra không trùng với thời điểm yêu cầu điện lên mức cao nhất. Những thời điểm hạn hán có thể gây ra các vấn đề rắc rối, bởi vì mức bổ sung nước không thể tăng kịp với mức yêu cầu sử dụng. Nếu yêu cầu về mức nước bổ sung tối thiểu không đủ, có thể gây ra giảm hiệu suất và việc lắp đặt một turbine nhỏ cho dòng chảy đó là không kinh tế. Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thủy điện lớn có thể phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh. Trên thực tế, các nghiên cứu đã cho thấy rằng các đập nước dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương của Bắc Mỹ đã làm giảm lượng cá hồi vì chúng ngăn cản đường bơi ngược dòng của cá hồi để đẻ trứng, thậm chí ngay khi đa số các đập đó đã lắp đặt thang lên cho cá. Cá hồi non cũng bị ngăn cản khi chúng bơi ra biển bởi vì chúng phải chui qua các turbine. Điều này dẫn tới việc một số vùng phải chuyển cá hồi con xuôi dòng ở một số khoảng thời gian trong năm. Các thiết kế turbine và các nhà máy thủy điện có lợi cho sự cân bằng sinh thái vẫn còn đang được nghiên cứu. Sự phát điện của nhà máy điện cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường của dòng sông bên dưới. Thứ nhất, nước sau khi ra khỏi turbine thường chứa rất ít cặn lơ lửng, có thể gây ra tình trạng xối sạch lòng sông và làm sạt lở bờ sông. Thứ hai, vì các turbine thường mở không liên tục, có thể quan sát thấy sự thay đổi nhanh chóng và bất thường của dòng chảy. Tại Grand Canyon, sự biến đổi dòng chảy theo chu kỳ của nó bị cho là nguyên nhân gây nên tình trạng xói mòn cồn cát ngầm. Lượng oxy hoà tan trong nước có thể thay đổi so với trước đó. Cuối cùng, nước chảy ra từ turbine lạnh hơn nước trước khi chảy vào đập, điều này có thể làm thay đổi số lượng cân bằng của hệ động vật, gồm cả việc gây hại tới một số loài. Các hồ chứa của các nhà máy thủy điện ở các vùng nhiệt đới có thể sản sinh ra một lượng lớn khí methane và carbon dioxide. Điều này bởi vì các xác thực vật mới bị lũ quét và các vùng tái bị lũ bị tràn ngập nước, mục nát trong một môi trường kỵ khí và tạo thành methane, một khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh. Methane bay vào khí quyển khí nước được xả từ đập để làm quay turbine. Theo bản báo cáo của Uỷ ban Đập nước Thế giới (WCD), ở nơi nào đập nước lớn so với công suất phát điện (ít hơn 100 watt trên mỗi km2 diện tích bề mặt) và không có việc phá rừng trong vùng được tiến hành trước khi thi công đập nước, khí gas gây hiệu ứng nhà kính phát ra từ đập có thể cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường. Ở các hồ chứa phương bắc Canada và Bắc Âu, sự phát sinh khí nhà kính tiêu biểu chỉ là 2 đến 8% so với bất kỳ một nhà máy nhiệt điện nào. Một cái hại nữa của các đập thủy điện là việc tái định cư dân chúng sống trong vùng hồ chứa. Trong nhiều trường hợp không một khoản bồi thường nào có thể bù đắp được sự gắn bó của họ về tổ tiên và văn hoá gắn liền với địa điểm đó vì chúng có giá trị tinh thần đối với họ. Hơn nữa, về mặt lịch sử và văn hoá các địa điểm quan trọng có thể bị biến mất, như dự án Đập Tam Hiệp ở Trung Quốc, đập Clyde ở New Zealand và đập Ilisu ở đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Một số dự án thủy điện cũng sử dụng các kênh, thường để đổi hướng dòng sông tới độ dốc nhỏ hơn nhằm tăng áp suất có được. Trong một số trường hợp, toàn bộ dòng sông có thể bị đổi hướng để trơ lại lòng sông cạn. Những ví dụ như vậy có thể thấy tại Sông Tekapo và Sông Pukaki. Tại Việt Nam đã có một số thủy điện đổi dòng, như thủy điện An Khê - Kanak đổi dòng sông Ba gây thảm họa khô hạn cho vùng hạ lưu và đang là đề tài tranh cãi . Những người tới giải trí tại các hồ chứa nước hay vùng xả nước của nhà máy thủy điện có nguy cơ gặp nguy hiểm do sự thay đổi mực nước, và cần thận trọng với hoạt động nhận nước và điều khiển đập tràn của nhà máy. Việc xây đập tại vị trí địa lý không hợp lý có thể gây ra những thảm hoạ như vụ Đập Vajont tại Ý, gây ra cái chết của 2001 người năm 1963. == Các số liệu về thuỷ điện == === Cũ nhất === Cragside, Rothbury, Anh Quốc hoàn thành năm 1870. Appleton, Wisconsin, Hoa Kỳ hoàn thành năm 1882, một bánh xe nước trên sông Fox cung cấp nguồn thủy điện đầu tiên để thắp sáng cho hai nhà máy giấy và một ngôi nhà, hai năm sau Thomas Edison đã trưng bày đèn sợi đốt trước công chúng. Chỉ trong khoảng vài tuần sau sự kiện này, một nhà máy phát điện cũng đã đi vào hoạt động thương mại tại Minneapolis. Duck Reach, Launceston, Tasmania. Hoàn thành năm 1895. Nhà máy thủy điện sở hữu nhà nước đầu tiên tại Nam Bán Cầu. Cung cấp điện thắp sáng đường phố cho thành phố Launceston. Decew Falls 1, St. Catharines, Ontario, Canada hoàn thành 25 tháng 8 năm 1898. Thuộc sở hữu của Ontario Power Generation. Bốn tổ máy vẫn đang hoạt động. === Các nhà máy thuỷ điện lớn nhất === Tổ hợp La Grande tại Québec, Canada, là hệ thống nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới. Bốn tổ máy phát điện của tổ hợp này có tổng công suất 16.021 MW. Chỉ riêng nhà máy Robert Bourassa có công suất 5.616 MW. Tổ máy thứ chín (Eastmain-1) hiện đang được xây dựng và sẽ cung cấp thêm 480 MW. Một dự án khác trên Sông Rupert, hiện đang trải qua quá trình đánh giá môi trường, sẽ có thêm hai tổ máy với tổng công suất 888 MW. Mọi người cho rằng Nhà máy thủy điện cổ nhất Hoa Kỳ nằm tại Claverack Creek, ở Stottville, NY 11721. Chiếc tuốc bin, do Morgan Smith sản xuất, được hoàn thành năm 1869 và lắp đặt 2 năm sau đó. Đây là việc lắp đặt một trong những bánh xe nước sớm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày nay nó thuộc sở hữu của Edison Hydro. Các nhà máy trên được xếp hạng theo công suất tối đa. === Đang tiến hành === Na Hang, Sơn La, Bản Vẽ === Các nước có công suất thuỷ điện lớn nhất === Canada, 341.312 GWh (66.954 MW đã lắp đặt) Hoa Kỳ, 319.484 GWh (79.511 MW đã lắp đặt) Brasil, 285.603 GWh (57.517 MW đã lắp đặt) Trung Quốc, 204.300 GWh (65.000 MW đã lắp đặt) Nga, 169.700 GWh (46.100 MW đã lắp đặt) (2005) Na Uy, 121.824 GWh (27.528 MW đã lắp đặt) Nhật Bản, 84.500 GWh (27.229 MW đã lắp đặt) Ấn Độ, 82.237 GWh (22.083 MW đã lắp đặt) Pháp, 77.500 GWh (25.335 MW đã lắp đặt) Đây là những số liệu của năm 1999 và gồm cả những nhà máy thuỷ điện tích năng. == Thủy điện tại Việt Nam == Theo bộ Xây dựng, hiện ở Việt Nam có khoảng 260 công trình thủy điện đang được khai thác và 211 công trình đang thi công xây dựng. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hoàng Văn Thắng, hiện cả nước có hơn 6.500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích 11 tỷ m³ nước, trong đó có hơn 560 hồ chứa lớn, còn lại đều là loại hồ chứa nhỏ. Theo TS. Nguyễn Thanh Giang, "do thiếu quy hoạch chung nên các công trình thủy điện không có lưu lượng xả để duy trì dòng chảy, do việc xây hồ chứa chưa quan tâm đến chức năng phòng chống lũ và cấp nước cho hạ du nên hạn hán và lũ lụt đã không chỉ là thiên tai mà còn do nhân tai." Tuy nhiên về trách nhiệm quản lý các hồ, đập này, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú cho biết: "Trong quản lý an toàn đập thủy điện, đến nay vẫn chưa phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ Công thương, UBND các tỉnh, thành trong việc phê duyệt phương án phòng chống lụt bão". == Chú thích == == Tham khảo == New Scientist report on greenhouse gas production by hydroelectric dams International Water Power and Dam Construction Venezuela country profile International Water Power and Dam Construction Canada country profile Tremblay, Varfalvy, Roehm and Garneau. 2005. Greenhouse Gas Emissions - Fluxes and Processes, Springer, 732 p. == Xem thêm == Năng lượng thuỷ triều Tennessee Valley Authority Thuỷ điện tích năng Tác động môi trường của hồ chứa nước Thủy điện ở lưu vực sông Mê Kông == Liên kết ngoài == Hydroelectric power World Commission on Dams report on environmental and social effects of large dams, including discussion of greenhouse gas emissions Edith Irvine Collection of photographs which includes the Electra Power Project, the first hydroelectric project in California located at Mokelumne Hill, California Hydro Quebec CBC Digital Archives – Hydroelectricity: The Power of Water University of Washington Libraries Digital Collections – Seattle Power and Water Supply Collection Historical photographs and pamphlets documenting the construction of hydroelectric power and water supply facilities built in Washington State from the late 1890s to the 1950s including the Snoqualmie Falls Power Plant, the Electron Plant, the Skagit River Hydroelectric Project, and the Cedar River water supply system. The Federal Energy Regulatory Commission (FERC) Federal Agency that regulates more than 1500 hydropower dams in the United States. Hydropower Reform Coalition A U.S.-based coalition of more than 130 national, state, and local conservation and recreation groups that seek to protect and restore rivers affected by hydropower dams. Bản mẫu:Energy Conversion Bản mẫu:Sustainability and energy development group
nhóm ngôn ngữ quechua.txt
Nhóm ngôn ngữ Quechua /ˈkɛtʃwə/, cũng được gọi là runa simi ("ngôn ngữ con người"), là một nhóm ngôn ngữ bản địa châu Mỹ, gồm những ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với nhau, được nói bởi người Quechua tại dãy Andes ở Nam Mỹ. Các ngôn ngữ Quechua xuất phát từ một ngôn ngữ tổ tiên chung. Với tổng cộng 8–10 triệu người nói, Quechua là nhóm ngôn ngữ bản địa phổ biến nhất châu Mỹ. Đây cũng từng là ngôn ngữ chính của Đế quốc Inca. == Tham khảo ==
tháp đôi petronas.txt
3°9′28,26″B 101°42′41,94″Đ Tháp đôi Petronas, hay Petronas Twin Towers, là tên một cao ốc tại Kuala Lumpur, Malaysia. Tòa tháp đôi này đã từng là tòa nhà cao nhất thế giới khi đo từ tầng trệt lên đến đỉnh cao nhất của tháp trước khi bị Taipei 101 qua mặt về chiều cao vào ngày 17 tháng 10 năm 2003. Tòa tháp đôi này hiện nay là tòa tháp đôi cao nhất thế giới. Tòa nhà 1 của tháp này được công ty dầu khí Petronas sử dụng làm văn phòng. Một số công ty khác sử dụng tháp số 2 như Accenture, Al Jazeera International, Bloomberg, Boeing, Exact Software, IBM, Khazanah Nasional Berhad, McKinsey & Co, Microsoft và Newfield Exploration. Chiều cao đến nóc của tòa nhà là 403 m, cao 88 tầng. == Chi tiết == == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The Official Website Structurae: Petronas Towers SkyScrapers.org - Illustration Entry of Petronas Towers panoramas.dk 360-Panorama Petronas Tower Drawings, photos and videos of the Petronas Towers Satellite Image of the Petronas Twin Towers at Google Maps Petronas Twin Towers at the Google Earth Community Design and construction of the Petronas Towers
huy chương mary clark thompson.txt
Huy chương Mary Clark Thompson là một giải thưởng của Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ dành cho "công trình nghiên cứu địa chất học và cổ sinh vật học quan trọng". Huy chương được đặt theo tên Mary Clark Thompson, quả phụ của Frederick Ferris Thompson - người đã cúng vốn để lập ra giải thưởng này – và được trao 3 năm một lần, từ năm 1921. == Các người đoạt Huy chương == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Mary Clark Thompson Medal National Academy of Sciences web site
tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa liên hiệp quốc.txt
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc, viết tắt UNESCO (tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hiệp quốc, hoạt động với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện có 195 quốc gia thành viên và 9 quan sát viên. Trụ sở chính đặt tại Paris, Pháp, với hơn 50 văn phòng và vài viện hay trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới. Hầu hết các văn phòng của UNESCO làm việc với 3 nước hoặc nhiều hơn trong cùng khu vực. Một số các dự án nổi bật của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại... == Chức năng == UNESCO có 3 chức năng hoạt động chính phục vụ cho mục đích của tổ chức, bao gồm: Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua những phương tiện thông tin rộng rãi; khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn ngữ và hình ảnh; Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa bằng cách: Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của từng nước; Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ hoặc bất cứ sự khác biệt nào khác về kinh tế hay xã hội; Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để luyện tập thiếu nhi toàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do; Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức bằng cách: Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các công trình lịch sử hay khoa học, khuyến nghị với các nước hữu quan về các Công ước quốc tế cần thiết; Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí óc, trao đổi quốc tế những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa kể cả trao đổi sách báo, tác phẩm nghệ thuật, dụng cụ thí nghiệm và mọi tư liệu có ích; Tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc tiếp xúc với các xuất bản phẩm của mỗi nước thông qua các phương pháp hợp tác quốc tế thích hợp. Nguồn: Công ước thành lập UNESCO == Cơ cấu == UNESCO được tổ chức với một Đại hội đồng, một Hội đồng chấp hành và một Ban Thư ký. Đại hội đồng gồm các đại diện của các nước thành viên UNESCO (mỗi nước thành viên được chọn cử 5 đại biểu). Hội đồng chấp hành gồm các ủy viên được Đại hội đồng bầu ra trong số các đại biểu được các nước thành viên ứng cử; mỗi ủy viên của Hội đồng chấp hành đại diện cho Chính phủ nước mình. Ban Thư ký UNESCO gồm có Tổng Giám đốc và số nhân viên được thừa nhận là cần thiết. Tổng Giám đốc do Hội đồng chấp hành đề nghị và Đại hội đồng bầu cử (nhiệm kỳ 6 năm) với những điều kiện được Đại hội đồng chấp nhận. Tổng Giám đốc là viên chức cao nhất của UNESCO. Hiện UNESCO có 195 quốc gia là thành viên. Các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc có quyền gia nhập UNESCO; còn các quốc gia khác có thể được chấp nhận nếu được Hội đồng chấp hành giới thiệu và được Đại hội đồng biểu quyết với đa số hai phần ba thành viên có mặt tán thành. Các quốc gia thành viên thường thành lập một tổ chức đại diện cho UNESCO ở nước mình, tùy điều kiện cụ thể. Phổ biến hiện nay là Ủy ban quốc gia UNESCO, trong đó có đại diện của Chính phủ và của các ngành Giáo dục, Khoa học, Văn hóa và Thông tin. Tuy có đại diện tại từng quốc gia, phương châm hoạt động của UNESCO là không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các quốc gia. Ủy ban quốc gia UNESCO làm nhiệm vụ cố vấn cho đoàn đại biểu nước mình ở Đại hội đồng và cho Chính phủ trong các vấn đề liên quan đến UNESCO. Ủy ban này thường gồm đại diện các Vụ, Cục, các Bộ, các cơ quan và tổ chức khác quan tâm đến các vấn đề giáo dục, khoa học, văn hóa và thông tin, các nhân vật độc lập tiêu biểu cho các giới liên quan. Nó cũng có thể bao gồm Ban chấp hành thường trực, các cơ quan phối hợp, các tiểu bang và các cơ quan phụ cần thiết khác. == Lịch sử == UNESCO được thành lập ngày 16 tháng 11 năm 1945 với việc ký kết Công ước thành lập của UNESCO. Ngày 1 tháng 11 năm 1946, Công ước này được chính thức có hiệu lực với 20 quốc gia công nhận: Thập niên 1970 và 1980, UNESCO là trung tâm của một tranh cãi trong đó Hoa Kỳ và Anh cho rằng đây là một diễn đàn để các nước theo chủ nghĩa cộng sản và thế giới thứ ba chống lại phương tây. Hoa Kỳ và Anh lần lượt rút khỏi tổ chức này năm 1984 và 1985. Sau đó, Anh và Hoa Kỳ lại tham gia tổ chức này lần lượt vào các năm 1997 và 2003. Những năm cuối thập niên 1990, UNESCO đã thực hiện một số cải cách trong tổ chức, như cắt giảm nhân lực và số đơn vị. Số văn phòng giảm từ 79 (năm 1999) xuống 52 (hiện nay). Năm 1998, UNESCO ủng hộ phần mềm tự do. == Các tổ chức phi chính phủ UNESCO NGO == UNESCO có quan hệ chính thức với 322 tổ chức phi chính phủ quốc tế (NGO). Phần lớn số đó được UNESCO gọi là "operational", và một số chọn lọc là "formal". Mức quan hệ cao nhất với UNESCO là "formal associate" và có 22 NGO như vậy. == Các viện và trung tâm == Các viện và trung tâm == Những ngày Quốc tế của UNESCO == Những ngày hành động quốc tế do UNESCO đề xuất và được thừa nhận == Đại hội đồng == === Các chủ tịch (Director-General) từ 1946 === === Đại hội đồng UNESCO từ 1946: === === Ban điều hành === Ban điều hành được bầu tại kỳ họp của Đại hội đồng UNESCO. Mỗi ủy viên được bầu đảm trách nhiệm kỳ 4 năm, tính từ 01 tháng 1 năm sau trúng cử. Kỳ họp tháng 11/2015 chưa có kết quả cuối cùng. == Các văn phòng == UNESCO có văn phòng tại nhiều nơi trên toàn cầu; trụ sở chính của nó đặt tại Place de Fontenoy, Paris, Pháp, hiện tại đã đổi tên thành World Heritage Centre. UNESCO's field offices are categorized into four primary office types based upon their function and geographic coverage: cluster offices, national offices, regional bureaux and liaison offices. === Các văn phòng theo vùng === Danh sách sau đây bao gồm tất cả các văn phòng UNESCO được phân chia theo vùng và được đánh dấu bằng tên các nước văn phòng đó phục vụ. ==== Châu Phi ==== Abuja – Văn phòng Quốc gia Nigeria Accra – Văn phòng chung cho Bénin, Bờ Biển Ngà, Ghana, Liberia, Nigeria, Sierra Leone và Togo Addis Ababa – Văn phòng cho Liên minh châu Phi (AU, African Union) và Economic Commission for Africa Bamako – Văn phòng chung cho Burkina Faso, Guinea, Mali và Niger Brazzaville – Văn phòng Quốc gia Cộng hòa Congo Bujumbura – Văn phòng Quốc gia Burundi Dakar – Văn phòng cấp vùng cho Giáo dục ở châu Phi và Văn phòng chung cho Cape Verde, Gambia, Guinea-Bissau, và Senegal Dar es Salaam – Văn phòng chung cho Comoros, Madagascar, Mauritius, Seychelles và Tanzania Harare – Văn phòng chung cho Botswana, Malawi, Mozambique, Zambia và Zimbabwe Kinshasa – Văn phòng Quốc gia Cộng hòa Dân chủ Congo Libreville – Văn phòng chung cho Cộng hòa Congo, Cộng hòa Dân chủ Congo, Guinea xích đạo, Gabon và Sao Tome và Principe Maputo – Văn phòng Quốc gia Mozambique Nairobi – Văn phòng cấp vùng cho Sciences in Africa và Văn phòng chung cho Burundi, Djibouti, Eritrea, Kenya, Rwanda, Somalia, Nam Sudan và Uganda Windhoek – Văn phòng Quốc gia Namibia Yaoundé – Văn phòng chung cho Cameroon, Cộng hòa Trung Phi và Chad ==== Các nước A rập ==== Iraq – Văn phòng Quốc gia Iraq (hiện tại đang đặt ở Amman, Jordan) Amman – Văn phòng Quốc gia Jordan Beirut – Văn phòng cấp vùng cho Giáo dục tại các nước A rập và Văn phòng chung cho Liban, Syria, Jordan, Iraq và Palestine Cairo – Văn phòng cấp vùng cho Khoa học tại các nước A rập và Văn phòng chung cho Ai Cập, Libya và Sudan Doha – Văn phòng chung cho Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Yemen Khartoum – Văn phòng Quốc gia Sudan Rabat – Văn phòng chung cho Algérie, Mauritanie, Maroc và Tunisia ==== Châu Á Thái Bình dương ==== Almaty – Văn phòng chung cho Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan Apia – Văn phòng chung cho Australia, Quần đảo Cook, Fiji, Kiribati, Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Nauru, New Zealand, Niue, Palau, Papua New Guinea, Samoa, Quần đảo Solomon, Tonga, Tuvalu, Vanuatu và Tokelau (quan sát viên) Bangkok – Văn phòng cấp vùng cho Giáo dục tại châu Á Thái Bình Dương và Văn phòng chung cho Thái Lan, Miến Điện, Lào, Singapore, Việt Nam và Campuchia Bắc Kinh – Văn phòng chung cho Bắc Triều Tiên, Nhật Bản, Mông Cổ, Trung Quốc và Hàn Quốc Dhaka – Văn phòng Quốc gia Bangladesh Hà Nội – Văn phòng Quốc gia Việt Nam Islamabad – Văn phòng Quốc gia Pakistan Jakarta – Văn phòng cấp vùng cho Khoa học tại châu Á Thái Bình Dương và Văn phòng chung cho Brunei, Indonesia, Malaysia, the Philippines và Đông Timor Kabul – Văn phòng Quốc gia Afghanistan Kathmandu – Văn phòng Quốc gia Nepal New Delhi – Văn phòng chung cho Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Maldives, Nepal và Sri Lanka Phnom Penh – Văn phòng Quốc gia Campuchia Tashkent – Văn phòng Quốc gia Uzbekistan Tehran – Văn phòng chung cho Afghanistan, Iran, Pakistan và Turkmenistan ==== Châu Âu và Bắc Mỹ ==== Brussels – Liaison Office to the European Union và its subsidiary bodies in Brussels Geneva – Liaison Office to the United Nations in Geneva New York City – Liaison Office to the United Nations in New York Moscow – Văn phòng chung cho Armenia, Azerbaijan, Belarus, Moldova và Nga. Venice – Văn phòng cấp vùng cho Sciences và Culture in Europe và North America ==== Mỹ Latinh và quần đảo Caribê ==== Brasilia – Văn phòng Quốc gia Brazil Guatemala City – Văn phòng Quốc gia Guatemala Havana – Văn phòng cấp vùng cho Văn hóa ở châu Mỹ Latinh và quần đảo Caribê và Văn phòng chung cho Cuba, Cộng hòa Dominicana, Haiti và Aruba Kingston – Văn phòng chung cho Antigua và Barbuda, Bahamas, Barbados, Belize, Dominica, Grenada, Guyana, Jamaica, Saint Kitts và Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Suriname và Trinidad và Tobago cũng như cho các quan sát viên Quần đảo Virgin thuộc Anh, Quần đảo Cayman, Curaçao và Sint Maarten Lima – Văn phòng Quốc gia Peru Mexico City – Văn phòng Quốc gia Mexico Montevideo – Văn phòng cấp vùng cho Khoa học vùng Mỹ Latinh và quần đảo Caribê và Văn phòng chung cho Argentina, Brazil, Chile, Paraguay và Uruguay Port-au-Prince – Văn phòng Quốc gia Haiti Quito – Văn phòng chung cho Bolivia, Colombia, Ecuador và Venezuela San José – Văn phòng chung cho Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras, Mexico, Nicaragua và Panama Santiago de Chile – Văn phòng cấp vùng cho Giáo dục vùng Mỹ Latinh và quần đảo Caribê và Văn phòng Quốc gia Chile == Đại sứ thiện chí == Các Đại sứ thiện chí của UNESCO là người sử dụng tài năng hay sự nổi tiếng của mình để truyền bá tư tưởng của UNESCO, đặc biệt là thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Chất chuyên ngành khác nhau của người ủng hộ bao gồm những ngưới hoạt động vì hòa bình, hoạt động thể thao, hay làm Đặc phái viên cho UNESCO. == Danh sách giải thưởng UNESCO == UNESCO có 22 giải thưởng trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hóa và hòa bình: === Các giải thưởng ngừng trao tặng === == Tranh cãi và cải cách == === Trật tự thông tin và truyền thông thế giới mới === UNESCO đã từng là trung tâm của tranh cãi trong quá khứ, đặc biệt là trong mối quan hệ với Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Singapore và Liên Xô cũ. Trong những năm 1970 và 1980, UNESCO hỗ trợ cho một "Trật tự thông tin và truyền thông thế giới mới" (New World Information and Communication Order), và báo cáo MacBride (MacBride report) của nó kêu gọi dân chủ hóa phương tiện truyền thông và tiếp cận bình đẳng hơn với các thông tin, đã bị lên án ở các nước vốn có nỗ lực kiềm chế tự do báo chí. UNESCO đã được một số nước cảm nhận như là sân đấu cho các nước cộng sản và các nhà độc tài của thế giới Thứ ba để tấn công phương Tây. Nó thể hiện rõ rệt trong tố cáo của Liên Xô vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu những năm 1950. Năm 1984, Hoa Kỳ đã cắt giảm của mình đóng góp và rồi rút lui khỏi UNESCO để phản đối, tiếp theo năm 1985 là Vương quốc Anh. Singapore cũng rút theo, với lý do phí thành viên tăng. Sau khi thay đổi chính phủ trong năm 1997, Anh gia nhập trở lại. Hoa Kỳ gia nhập lại vào năm 2003, tiếp theo là Singapore ngày 08/10/2007. === Israel === === Wikileaks và UNESCO === Vào ngày 16 và 17 tháng 2 năm 2012, UNESCO đã tổ chức một hội nghị mang tên Truyền thông thế giới sau WikiLeaks và Tin tức thế giới (The Media World after WikiLeaks and News of the World). Mặc dù tất cả sáu tấm áp phích đều tập trung về WikiLeaks, nhưng lại không có ai từ WikiLeaks được mời là diễn giả. Sau khi nhận được đơn khiếu nại từ người phát ngôn WikiLeaks Kristinn Hrafnsson, UNESCO đã mời ông tham dự, nhưng không đưa ra bất kỳ một vị trí trên bảng. Các đề nghị cũng chỉ được đưa ra một tuần trước khi hội nghị được tổ chức tại Paris, Pháp. Những diễn giả khác như David Leigh và Heather Brooke thì lên tiếng công khai chống lại WikiLeaks và người sáng lập Julian Assange trong quá khứ. WikiLeaks phát hành một thông cáo báo chí vào ngày 15/02/2012 tố cáo UNESCO trong đó nói: "UNESCO đã tự biến mình thành một trò đùa về nhân quyền quốc tế. Sử dụng "tự do ngôn luận" để kiểm duyệt WikiLeaks từ một hội nghị về WikiLeaks là một điều Orwellian ngớ ngẩn vượt mọi ngôn từ. Đây là một sự lạm dụng quá quắt Hiến chương UNESCO. Đây là thời gian để chiếm UNESCO." Kèm theo tuyên bố là email trao đổi của người phát ngôn WikiLeaks Kristinn Hrafnsson và ban tổ chức hội nghị UNESCO. == Xem thêm == Thư viện kỹ thuật số Thế giới Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam Ngày lễ quốc tế Đại sứ thiện chí UNESCO MacBride report == Tham khảo == == Liên kết ngoài == UNESCO Member States Trang chủ UNESCO UNESCO tại Việt Nam Giới thiệu UNESCO tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm UNESCO Văn hóa Giáo dục và Đào tạo
chỉ số dân chủ.txt
Tạp chí The Economist ở Anh đã khảo sát tình trạng dân chủ ở 167 quốc gia và cố gắng định lượng chỉ số dân chủ (DI) do bộ phận Economist Intelligence Unit Index of Democracy tiến hành dựa trên năm phân loại chung là: Việc tiến hành bầu cử công bằng và tự do Các quyền tự do của công dân Sự hoạt động của chính quyền Việc tham gia chính trị Văn hóa chính trị. Na Uy có tổng điểm số cao nhất là 9,93 trên thang số 10, ngược lại, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cuối bảng với số điểm 1,08. Dân chủ đầy đủ, Dân chủ khiếm khuyết, và Thể chế hỗn hợp được xem là dân chủ và Chính thể chuyên chế được xem là độc tài. == Phương pháp đánh giá == Như được mô tả trong bản báo cáo, chỉ số dân chủ được tính theo cách tính bình quân trọng lượng dựa trên trả lời của 60 câu hỏi, mỗi câu có từ hai đến ba lựa chọn để trả lời. Hầu hết các câu hỏi được các chuyên gia đánh giá; tuy nhiên, báo cáo đó không cho biết chuyên gia ngành nào, cũng như số lượng chuyên gia, hay các chuyên gia có phải là nhân viên của Tạp chí đó hay không. Một cách sơ lược, các câu hỏi được phân bổ vào năm loại chính. Mỗi câu trả lời được cho điểm là 0 hoặc 1, hoặc có thêm 0,5 điểm đối với ba lựa chọn. Tổng số điểm được cộng dồn vào cho từng loại, nhân với mười, rồi chia cho tổng số câu hỏi của từng loại đó. Ví dụ: Các cuộc bầu cử trong nước có tự do và công bằng hay không"; An toàn của cử tri"; Sự ảnh hưởng của thế lực bên ngoài đến chính quyền nước đó"; Khả năng của công chức trong việc thực thi chính trị. Trung bình cộng của các chỉ số từng loại đó được làm tròn cho ta kết quả chỉ số dân chủ cho từng quốc gia. Dân chủ đầy đủ— có điểm từ 8 - 10. Dân chủ khiếm khuyết — từ 6 - 7,9. Thể chế hỗn hợp— từ 4 - 5,9. Chính thể chuyên chế— dưới 4. == Bảng xếp hạng 2016 == Nguồn Economist Intelligence Unit EIU, xếp hạng 2016. == Xem thêm == Dân chủ Tự do trên thế giới (báo cáo) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Việt Nam xếp thứ 145 về dân chủ "The Economist Intelligence Unit's index of democracy" [1]
cải cách kinh tế trung quốc.txt
Cải cách Kinh tế Trung Quốc (giản thể: 改革开放; bính âm: Găigé kāifàng) (Cải cách khai phóng) là một chương trình thực hiện các thay đổi về kinh tế gọi là "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc" ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được những người theo chủ nghĩa thực dụng bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo và vẫn đang tiếp diễn cho đên đầu thế kỷ 21. Mục tiêu của cải tổ kinh tế Trung Quốc là tạo ra giá trị thặng dư đủ để cung cấp tài chính cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của Trung Hoa Đại lục. Cả nền kinh tế chỉ huy xã hội chủ nghĩa được những người bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và nỗ lực của Chủ nghĩa Mao trong một cuộc Đại nhảy vọt từ xã hội chủ nghĩa sang cộng sản chủ nghĩa trong nông nghiệp (với chế độ công xã) đều không tạo đủ giá trị thặng dư để phục vụ cho những mục đích này. Thách thức ban đầu của cải cách kinh tế là giải quyết vấn đề thúc đẩy công nhân và nông dân sản xuất một giá trị thặng dư lớn và xóa bỏ những vấn đề thiếu cân bằng kinh tế thường có ở các nền kinh tế chỉ huy. Công cuộc cải tổ kinh tế đã bắt đầu kể từ năm 1978 đã giúp hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo, đưa tỷ lệ nghèo từ 53% dân số năm 1981 xuống còn 8% vào năm 2001. Cải cách kinh tế Trung Quốc đã được tiến hành thông qua một loạt các cải cách theo giai đọan. Nói chung, các cuộc cải cách không phải là hệ quả của một chiến lược lớn mà là các phản ứng tức thì đối với các vấn đề cấp bách. Trong một số trường hợp, như đóng cửa các doanh nghiệp quốc doanh, chính phủ đã bị miễn cưỡng bởi những sự kiện và hoàn cảnh kinh tế để thực hiện những hành động mà mình không mong muốn. Đến năm 2005, 70% GDP của Trung Quốc thuộc lĩnh vực tư nhân. Lĩnh vực quốc doanh khá nhỏ do khoảng 200 doanh nghiệp nhà nước lớn chi phối tập trung chủ yếu vào dịch vụ tiện ích, công nghiệp nặng và các nguồn năng lượng. Mặc dù cải cách kinh tế Trung Quốc đã được nhiều người phương Tây mô tả là sự quay trở lại tư bản chủ nghĩa, các quan chức Trung Quốc đã khẳng định rằng cuộc cải cách này là một dạng của chủ nghĩa xã hội, tương tự như Lenin đã từng thực hiện Chính sách kinh tế mới tại Liên Xô thập niên 1920. Tuy nhiên, họ đã không lập luận tiền đề mà nhiều cuộc cải tổ liên quan đến việc áp dụng các chính sách kinh tế đang được áp dụng ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa, và một trong những tiền đề của công cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc là Trung Quốc không nên né tránh áp dụng "bất kể tác phẩm nào" vì lý do hệ tư tưởng. Ngoài ra, nhiều cơ cấu kinh tế được tạo ra trong quá trình cải tổ kinh tế Trung Quốc có vẻ bên ngoài giống với các cải cách ở các quốc gia khác nhưng trên thực tế là hoàn toàn duy nhất. == Lịch sử == == Tham khảo ==
bóng chày.txt
Bóng chày hay còn gọi là dã cầu là một môn thể thao đồng đội; trong đó một cầu thủ của đội này (cầu thủ giao bóng) sẽ nỗ lực ném banh (kích thước vừa nắm ở tay) thật mạnh về phía cầu thủ của đội kia, và người này sẽ cố gắng đánh bật trái bóng chày bằng một cây gậy đánh bóng chày, trước khi nó được tóm gọn lại bởi đồng đội của anh đứng sau cầu thủ đội bạn (cầu thủ bắt bóng) Một đội chỉ ghi điểm khi đánh xong, chạy vượt qua 4 điểm mốc gọi là căn cứ (base) đặt ở 4 góc của hình vuông. Mỗi căn cứ cách nhau 90 bộ. Bóng chày đôi khi còn gọi là bóng cứng để phân biệt nó với các môn thể thao tương tự như là bóng mềm. Đây còn gọi là "Trò tiêu khiển quốc gia Mỹ" (America's National Pastime), do nó có nguồn gốc từ Mỹ. Ngoài ra, bóng chày còn được chơi nhiều ở các quốc gia khác như Canada, Cuba, Venezuela, Nhật Bản,... Bóng chày rất phổ biến ở Mỹ và Đông Á. Ở Nhật, Puerto Rico, Cộng hòa Dominica, Cuba, Panama, Venezuela, Nicaragua, México, Canada, Nam Hàn và Đài Loan, nó là một trong những môn thể thao phổ biến nhất. Ở Mỹ (nơi khai sinh của bóng chày), bóng chày không chỉ là môn thể thao chính mà còn là trò giải trí quốc gia và Major League Baseball đã được Quốc hội Mỹ trao biểu tượng độc quyền; tổng số người tham dự các trận ở Major League gần bằng với tổng số các môn thể thao chuyên nghiệp khác của Mỹ hợp lại. Về mặt khán giả truyền hình, bóng chày vượt qua bóng bầu dục về mặt phổ biến (theo tỉ lệ bình chọn qua truyền hình). Mặc dù ba trong số bốn môn thể thao phổ biến ở Bắc Mỹ là các trò chơi về bóng (bóng chày, bóng rổ và bóng bầu dục), sự phổ biến của bóng chày lớn đến nỗi mà từ ballgame ở Mỹ thường dùng để ám chỉ môn bóng chày, và ballpark dùng để chỉ sân bóng chày. Ngoại trừ ở phía nam, nơi bóng đá rất phổ biến và ballgame thường dùng để nói đến môn bóng này. == Giới thiệu == Bóng chày là một trong số những môn thể thao lâu đời và phổ biến nhất ở Mỹ. Luôn có một nền văn hóa đặc trưng đi kèm theo nó, bao gồm bản thân trò chơi, sân bóng, các cầu thủ và các cổ động viên. Mặc dù nguồn gốc và nhiều cải tiến của các trò chơi đánh bóng khác nhau vốn không rõ ràng, nhưng bóng chày là sáng tạo riêng của người Mỹ. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng nó có nguồn gốc từ trò chơi rounders, và cũng chịu ảnh hưởng bởi các quy luật của môn cricket. Trở lại những năm 1870, các tờ báo Mỹ xem bóng chày là "Trò Tiêu Khiển Quốc gia" hay "Trò Chơi Quốc gia". Hầu hết các trận đấu đều diễn ra vào các tháng ấm, khá thoải mái trong năm, nên nhiều người gọi các cầu thủ bóng chày là các chàng trai của mùa hè. Nhiều người tin rằng bóng chày là sự kết hợp tối đa của kĩ năng, thời gian, thể lực và chiến lược. Yogi Berra (một huyền thoại bóng chày) từng nói rằng: "Bóng chày có 90% là tinh thần—phần còn lại là thể lực." Nhiều người Mỹ có tư tưởng rằng chơi môn thể thao chơi bóng mà không dùng tay là không hay vì vậy mà họ có xu hướng thích môn này cũng như bóng bầu dục hơn bóng đá. Phần sau sẽ miêu tả về luật lệ của trò chơi, nhưng sự thu hút của bóng chày là ở sự tinh tế của nó: tình huống phòng thủ, vị trí ném bóng, thứ tự ném, thống kê, sân chơi, lịch sử, và cá tính của cầu thủ. Với những người hâm mộ cuồng nhiệt, trò chơi—ngay cả những thời điểm diễn ra chậm nhất—vẫn không bao giờ chán vì những sắc thái này. Vì thế, để hiểu về bóng chày cần nắm rõ luật của nó; cũng như quan sát kĩ những cái tạo nên sự thu hút và tồn tại của bóng chày,ta hãy điểm qua những điều cơ bản nhất của bóng chày. == Cách chơi == Một phiên bản đơn giản của luật chơi bóng chày có thể tham khảo ở Luật bóng chày. === Dụng cụ chơi === ==== Găng tay ==== Một đôi găng tay bóng chày là một găng tay lớn bằng da mà người ta chơi trong bóng chày. Tất cả các cầu thủ đều phải bắt bóng, từ pitcher, catcher cho đến batter. Riêng người bắt bóng (catcher) được phép mặc áo bảo vệ để bắt. Các cầu thủ khác đeo găng để bắt trái bóng của đồng đội. Găng tay bắt bóng của các cầu thủ luôn có một cái lưới giữa ngón cái và ngón trỏ. Chiếc lưới có công dụng là bắt bóng, bởi bóng có lực và vận tốc rất mạnh và cao. ==== Quả bóng chày ==== Quả bóng chày có cấu tạo bằng cao su và vỏ bọc ở ngoài bằng da, đường kính 2,7/ 8 inch đến 3 inch, được quấn nối bằng các sợi chỉ hoặc dây màu. Bóng có hai loại: bóng mềm dùng cho tập luyện và bóng cứng dành cho thi đấu. Bóng mềm được làm tư cao su và bóng cứng được làm từ gỗ bọc da. ==== Gậy bóng chày ==== Gậy bóng chày được làm bằng gỗ hoặc kim loại mịn, dùng để đánh quả bóng sau khi người ném bóng ("pitcher") phát bóng. Đường kính gậy không quá 2,75 inch ở phần dày nhất và chiều dài không quá 42 inch (1.067 m). Gậy bóng chày thường nặng không quá 1 kg. Người đập bóng (batter) sử dụng gậy để cố gắng đánh quả bóng do Pitcher ném, sau đó chạy đến các căn cứ và cuối cùng chạy về dĩa nhà. === Cấu trúc chính === Bóng chày gồm hai đội chơi, mỗi đội gồm 9 người, dưới sự giám sát của một hay nhiều trọng tài (umpire). Thường có 4 trọng tài trong một trận đấu của giải "Major League"; có thể tới 6 tùy vào giải và tầm quan trọng của trận đấu. Có 4 gôn (có thể gọi là chốt). Đánh số theo ngược chiều kim đồng hồ, gôn 1, gôn 2 và gôn 3 (base) có dạng hình vuông 15 in (38 cm) nhô lên cao một khoảng ngắn so với mặt đất; cùng với home plate, cũng là gôn 4, tạo thành một hình vuông có cạnh 90 ft (27.4 m) gọi là kim cương. Gôn nhà (plate) là phiến đá mỏng bằng cao su hình ngũ giác gọi là nhà (home). Sân chơi được chia làm 2 phần chính: Khu vực sân trong: bao gồm cả 4 gôn (3 gôn và 1 nhà), được cách với bên ngoài bởi 4 đường vôi trắng và bao quanh là khu vực cỏ xanh (xem hình). Tuy nhiên xét kỹ về mặt kỹ thuật thì khu vực nội thành chỉ bao gồm phần đất nền bên cạnh đường vôi, 4 gôn và 4 đường vôi trắng. Khu vực sân ngoài: là khu vực có trồng cỏ bao quanh khu vực nội thành, giữa 4 gôn, và ngoài cùng được bao bọc bởi 1 bờ tường hoặc hàng rào chắn. Đường vôi nối gôn nhà và gôn 1, gôn nhà và gôn 3 kéo dài ra đến khi chạm bờ rào, được xem là đường ngăn cách khu vực phạm lỗi. Khu vực nằm trên (cỏ mọc dày hơn) là khu vực an toàn, khu vực phía dưới là khu vực phạm lỗi (đường vôi được tính là nằm trong khu vực an toàn) Trận đấu gồm 9 hiệp đấu (còn gọi là lượt đấu), trong đó mỗi đội thay phiên nhau đánh bóng và cố gắng ghi điểm (gọi là run: điểm hay số cầu thủ về đến gôn nhà), trong khi đội kia ném bóng và bảo vệ sân. Trong bóng chày, đội phòng thủ luôn có bóng—một điều khác với các môn thể thao khác. Vai trò mỗi đội sẽ được thay đổi khi có 3 cầu thủ của đội đánh bóng bị loại. Đội thắng là đội có nhiều điểm nhất sau 9 hiệp. Trong trường hợp hòa nhau, một số hiệp bổ sung cho tới khi một đội comes out trước ở cuối lượt đấu (nếu đội khách chơi trước) hay trong một lượt đấu thiếu (nếu đội nhà dẫn đầu trong nửa đầu lượt đấu bổ sung, trận đấu kết thúc tại đó). Tại đầu trận đấu, tất cả 9 cầu thủ của đội nhà đều ra sân (để phòng thủ), trong khi các cầu thủ đội khách lần lượt đánh bóng. Cuộc đối đầu quan trọng nhất trong bóng chày là giữa cầu thủ ném bóng (pitcher) ở đội phòng thủ, và cầu thủ đập bóng ở phía đội tấn công. Cầu thủ ném bóng sẽ ném bóng về hướng gôn nhà, ở nơi đó có sẵn một cầu thủ bắt bóng (catcher) chờ để bắt gọn quả bóng này. Đứng ở sau lưng cầu thủ bắt bóng là một trọng tài, trọng tài này có thể quyết định một cú ném bóng có phạm luật hay không, cầu thủ bắt bóng có dính hay không. Còn cầu thủ đánh bóng ở phía đội tấn công sẽ đứng ở vị trí tay phải hoặc trái của catcher, cố gắng đánh trúng quả bóng ném đi từ pitcher. Vị trí chỗ pitcher đứng ném bóng gọi là "ụ ném bóng", ở chính giữa có thanh đệm cao su (61x14cm). Pitcher chỉ được phép bước lùi hoặc tiến 1 bước trong cả quá trình ném bóng. Nhiệm vụ của catcher không chỉ phải bắt bóng bị đập hụt hoặc không đập mà còn phải ra hiệu cho pitcher bằng cách dùng ám hiệu ở tay hướng ném bóng và cách ném bóng. Pitcher sẽ đồng ý bằng cách gật đầu, bằng không anh ta có thể lắc đầu để bác bỏ yêu cầu của catcher. Nhiệm vụ của catcher sẽ nặng nề hơn khi tình hình diễn biến trên sân phức tạp và phải phối hợp ăn ý với pitcher. Cứ mỗi nửa lượt đấu (hiệp đấu), mục đích của đội phòng ngự là loại cho bằng được 3 cầu thủ bất kỳ của đội tấn công mới thôi. Một cầu thủ bị loại sẽ phải rời sân và chờ lượt đánh bóng kế tiếp của mình. Có rất nhiều cách để loại cầu thủ đập bóng hoặc cầu thủ chiếm gôn; phổ biến nhất là cầu thủ đội phòng ngự cố gắng bắt quả bóng ngay khi nó còn đang bay và chưa chạm đất (sau khi bị đập), hoặc cầu thủ giữ gôn nhận được bóng và chạm vào người cầu thủ đang chạy chiếm gôn, hoặc cầu thủ giao bóng làm cho cầu thủ đập bóng hụt 3 lần. Nếu pitcher ném hỏng (bóng lỗi) 4 lần thì batter được chạy về gôn mà không có sự ngăn cản nào của đối thủ. Sau khi số cầu thủ bị loại của đội tấn công lên tới 3 người thì nửa lượt đấu đó sẽ chấm dứt, 2 đội đổi phiên cho nhau. Không có giới hạn bao nhiêu cầu thủ được quay vòng đập bóng ở mỗi hiệp đấu, chỉ đến khi bị loại 3 cầu thủ mới thôi. Nếu ở một hiệp đấu, đội tấn công đã sử dụng hết tất cả cầu thủ trong danh sách thứ tự đập bóng của mình thì hiệp đấu đó được gọi là "batting around" (Đập bóng vòng quanh). Nó có thể báo hiệu cho một hiệp đấu có nhiều điểm được ghi. Một hiệp đấu kết thúc khi 2 đội đã thực hiện xong phần tấn công của mình. === Đội trên sân === Các cầu thủ của đội phòng ngự sẽ đứng trong sân bóng và có nhiệm vụ ngăn chặn những cầu thủ đối phương ghi điểm. Có tất cả 9 cầu thủ ở bên đội phòng thủ, trong đó chỉ có 2 vị trí (người ném và người bắt) là cố định, còn tất cả các vị trí khác là tùy ý. Thông thường sẽ có một bố trí tối ưu cho các cầu thủ phòng ngự, nhưng tùy vào người đập bóng và tình hình trận đấu mà các cầu thủ có thể thay đổi cho phù hợp. Chín vị trí phòng thủ là: cầu thủ ném bóng (pitcher), cầu thủ bắt bóng (catcher), chốt gôn 1 (first baseman), chốt gôn 2 (second baseman), chốt gôn 3 (third baseman), chặn ngắn (shortstop), trái ngoài (left fielder), giữa ngoài (center fielder), phải ngoài (right fielder). Thứ tự của các cầu thủ trên bảng ghi điểm sẽ là cầu thủ ném bóng (1), cầu thủ bắt bóng (2), chốt gôn 1 (3), chốt gôn 2 (4), chốt gôn 3 (5), chặn ngắn (6), trái ngoài (7), giữa ngoài (8), phải ngoài (9). Vị trí của chặn ngắn (shortstop) hơi khác biệt so với các vị trí khác là do thói quen của các cầu thủ trong thời sơ khai của môn thể thao này. ==== Khẩu đội hình ==== Khẩu đội bao gồm người ném - người đứng trên bục ném - và người bắt - người ngồi sau và bảo vệ gôn nhà (home plate). Khẩu đội (battery) bao gồm 2 vị trí luôn phải đấu cùng người đập của đội đối phương cho nên mới được gọi là battery, từ do Henry Chadwick sáng tạo. Nhiệm vụ của người ném là ném bóng về phía chốt nhà với mục đích loại người đập bên đối phương. Ngoài ra sau khi ném, người ném còn có thể hoạt động như một cầu thủ phòng ngự thực sự. Người bắt sẽ có nhiệm vụ bắt quả bóng nếu như người đập không đánh trúng. Cùng với người ném và huấn luyện viên, người bắt cũng quyết định chiến thuật, điều khiển các cầu thủ phòng ngự đội nhà, và đồng thời phòng ngự khu vực xung quanh chốt nhà. ==== Khu vực sân trong (infield) ==== Bốn cầu thủ phòng ngự khu vực sân trong là chốt gôn một, chốt gôn hai, chốt gôn 3 và chặn ngắn. Thời đầu, các vị trí một, hai, ba đứng gần với các gôn tương ứng, vị trí chặn ngắn thường chơi phía trong, ở giữa hai và ba. Sau này, các vị trí dần thay đổi cho đến hình dạng "cái ô" quen thuộc hiện nay. Trong hình dạng cái ô, chốt một và ba sẽ đứng cách gôn tương ứng một quãng ngắn về phía chốt hai, chốt hai sẽ đứng gần về phía chốt một, và chặn ngắn sẽ đứng gần hơn về phía chốt hai. Nhìn từ người đập, các vị trí chốt một, chốt hai, chặn ngắn và chốt ba sẽ đứng cách đều nhau về hai phía của người ném (giống hình cái ô), và hầu như không có khoảng trống. Người chốt gôn một có nhiệm vụ chính là nhận bóng để loại người chạy bên đối phương ở gôn một. Khi một cầu thủ ở khu vực sân trong chặn được một quả đập bóng, họ sẽ phải ném bóng về phía gôn một trước khi người đập kịp chạy đến đó để loại người đập đó. Do đó người chốt gôn một phải có khả năng nhận bóng rất tốt. Ngoài ra họ cũng cần chặn được những quả đập chạy gần ở chốt một. Người chốt gôn một cũng cần nhận bóng từ người ném để có thể loại người chạy đang đứng ở gôn một trong trường hợp anh này rời quá xa gôn và không quay về kịp. So với các vị trí khác thì vị trí chốt gôn một thường an nhàn hơn, nhưng cũng vẫn cần rất nhiều kĩ thuật. Những cầu thủ ở sân trong không luôn luôn ném bóng tốt, do đó người chốt gôn một có nhiệm vụ đón tất cả các quả bóng ném về phía mình thật tốt. Những cầu thủ có tuổi, hoặc cầu thủ đập bóng tốt nhưng phòng ngự kém thường được chuyển về chốt gôn một. Cầu thủ chốt gôn hai phòng ngự khu vực bên phải của gôn hai và chơi hỗ trợ cầu thủ chốt gôn một trong các tình huống chơi đỡ nhẹ (bunt). Chốt gôn hai cũng thường cắt các đường chuyền về gôn nhà không cần thiết của các cầu thủ ở sân ngoài, hoặc làm cầu nối trong trường hợp cầu thủ ở sân ngoài không thể ném thẳng về đến chỗ người bắt. Người chặn ngắn chơi ở khoảng trống giữa chốt gôn hai và chốt gôn ba, nơi những người đập bóng tay phải thường đập bóng đến. Họ cũng chơi hỗ trợ cho chốt gôn hai, chốt gôn ba hoặc vùng ngoại thành bên trái. Cũng giống như chốt gôn hai, đôi khi họ cũng cắt, hoặc làm cầu nối cho các cầu thủ ở sân ngoài. Đây là vị trí rất quan trọng trong phòng ngự, vì thế đôi khi một cầu thủ chặn ngắn tốt được chọn để chơi trong đội hình chính mặc dù có thể không phải là một cầu thủ đập bóng giỏi. Người ở chốt gôn ba thường cần phải có cánh tay khỏe để ném bóng thật nhanh xuyên qua sân trong về phía chốt một. Ngoài ra họ cũng cần có phản xạ tốt, vì những người ở chốt gôn ba có thể nhìn được những quả đập bóng rõ ràng hơn so với ở các vị trí khác. ==== Khu vực sân ngoài (outfield) ==== Ba cầu thủ sân ngoài (hay còn gọi là outfielder) là trái ngoài, giữa ngoài và phải ngoài, được đặt tên theo hướng nhìn của người bắt bóng. Người chơi ở vị trí phải ngoài thường có cánh tay khỏe nhất để có thể loại được những người chạy đang chạy về phía chốt ba hoặc chạy về home ghi điểm. Người ở giữa ngoài có khu vực phòng thủ rộng nhất do đó cần phải rất nhanh, và có cánh tay khỏe để chuyển bóng nhanh về khu vực sân trong. Cũng giống như vị trí chặn ngắn, đây là vị trí được đặt trọng yếu trong phòng ngự. Ngoài ra người chơi ở vị trí này cũng là chỉ huy của nhóm cầu thủ sân ngoài. Các cầu thủ phải ngoài hoặc trái ngoài thường nhường bóng cho họ trong trường hợp bóng bay đến khu vực giữa của hai người. Người chơi ở vị trí trái ngoài thường có cánh tay yếu nhất do không cần thiết phải ném bóng ở khoảng cách xa. Tuy nhiên họ cũng cần có kĩ năng chạy và bắt bóng tốt do những người đập bóng tay phải (chiếm số đông) thường đánh bóng về khu vực này hơn. Ngoài ra họ cũng chơi hỗ trợ người chốt gôn ba trong khi nhận bóng ném từ phía người bắt. ==== Chiến lược phòng thủ ==== ===== Ném bóng ===== Ném bóng khó là phương thức phòng ngự hữu hiệu nhất bên phía đội phòng thủ, nó có thể loại trực tiếp cầu thủ đánh bóng và ngăn ngừa cầu thủ chạy chiếm chốt. Một trận đấu thực sự có tổng cộng hơn 100 cú ném bóng từ mỗi đội. Tuy nhiên đa số các pitcher đều không đủ thể lực để cầm cự tới thời điểm đó. Trước kia, một cầu thủ ném bóng có thể bị yêu cầu ném liên tục 4 trận đấu (9 hiệp) trong vòng 1 tuần. Nhưng với y học hiện đại đã chứng minh rằng đó là một sự tra tấn về thể lực, các cầu thủ ném bóng chính hiện nay chỉ được yêu cầu ném từ 6 đến 7 hiệp trong 1 trận đấu (tùy vào phong độ) sau 5 ngày. Mặc dù pitcher chỉ được phép tiến hoặc lùi một bước trong quá trình ném bóng, nhưng bù lại anh ta cũng có lợi thế nhất định khi có thể thay đổi vị trí ném bóng, tốc độ, đường bóng, cách vung tay và độ xoáy khác nhau. Đa số các pitcher đều cố gắng nắm vững từ 2 đến 3 kỹ năng ném bóng khác nhau; nhưng cũng có những pitcher ném tốt cả 6 cách ném bóng với mức độ khó cao. Cú ném thường thấy nhất là một cú "bóng nhanh", bóng đi với tốc độ nhanh nhất có thể và thường đi thẳng; một cú "bóng cong" (bóng xoáy), đường bóng đi hơi cong vì cách kết hợp ngón tay và cổ tay của Pitcher tạo độ xoáy cho bóng; và ngoài ra con có cú ném "bóng giả nhanh" giả mạo cú ném "bóng nhanh" nhưng tốc độ thấp hơn nhiều để đánh lừa cầu thủ đánh bóng. Chiến lược ném bóng cổ điển dễ hiểu nhất của pitcher là sự kết hợp giữa "bóng nhanh" và "bóng hơi nhanh". Một cầu thủ ném bóng ở giải chuyên nghiệp có thể ném bóng đạt vận tốc 145 km/h (90 dặm một giờ), thậm chí một số pitcher ném bóng đạt tới vận tốc 161 km/h (100 dặm một giờ). Trong khi đó cú "bóng hơi nhanh" có vận tốc chỉ là 121 đến 137 km/h (75 đến 85 dặm một giờ). Mặc dù cách ném và đường bóng rất giống cú ném "bóng nhanh" nhưng tốc độ lại giảm đáng kể. Điều này có thể đánh lừa cầu thủ đập bóng vì cầu thủ đập bóng canh thời gian để đánh một cú "bóng nhanh" nhưng không ngờ lại bóng lại bay chậm hơn nhiều. Một số pitcher chọn kiểu ném "tàu ngầm", một cách ném rất khó chịu đòi hỏi pitcher phải vung tay hướng từ dưới lên hoặc đưa ngang. Tuy nhiên những cú ném như vậy thường rất khó để có thể đánh trúng được vì hướng đi và tốc độ của bóng rất khó đoán. Mặc dù những cú ném như vậy thường không thể đi nhanh bằng những cú vung tay qua đầu nhưng các pitcher thường ném bóng đi hiểm để làm cầu thủ đập bóng bị mất thăng bằng khi đập bóng. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ Walter Johnson, cầu thủ nổi tiếng với những cú ném bóng nhanh nhất trong lịch sử bóng chày ném bóng bằng cách vung tay ngang (mặc dù không hoàn toàn là kiểu ném tàu ngầm). Một trận đấu có thể đòi hỏi nhiều cầu thủ ném bóng, bao gồm cầu thủ ném bóng chính và một vài cầu thủ ném bóng dự bị. Pitcher được thay ra thay vào giống như các cầu thủ khác, và luật không hạn chế có bao nhiêu pitcher được sử dụng mỗi trận đấu. Hạn chế duy nhất chỉ là số thành viên trong danh sách đăng ký. Trong những lúc tình hình không nguy hiểm, các cầu thủ ném bóng dự bị được sử dụng để giảm tải cho cầu thủ ném bóng chính (ngoại trừ các trận đấu về cuối mùa giải cực kỳ quan trọng). Các cầu thủ ném bóng dự bị được sử dụng một khu vực trên sân để làm nóng người trước khi được thay vào. Nếu trận đấu phải bước vào hiệp phụ thì không có lý gì một đội bóng lại sử dụng cầu thủ dự bị. Họa hoằn lắm một đội bóng có thể sử dụng một vị trí khác trên sân để trám vào vị trí ném bóng, ở giải chuyên nghiệp một số cầu thủ ngoài khả năng chuyên môn ở vị trí của mình còn có thể chơi khá ở vị trí ném bóng. Chuyện này khá phổ biến, hơn nữa, trong quá khứ, khi một đội bóng chỉ sử dụng một cầu thủ ném bóng chính duy nhất, một cầu thủ đa năng sẽ được ném bóng phòng khi pitcher chính bị chấn thương hoặc ném bóng quá thiếu hiệu quả. Ngày nay trong bóng chày hiện đại, con số 100 được xem như là con số thần kỳ, hiếm pitcher nào ném liên tục đạt mức đó, trong một trận đấu một đội có thể sử dụng từ 2 cho đến 5 pitcher. Ở mùa giải 2005 ALCS, Chicago White Sox thắng liên tục 4 trận chỉ sử dụng duy nhất một pitcher, một sự kiện đáng ghi nhận trong bóng chày hiện đại. ===== Chiến lược trên sân ===== Trong một trận đấu, chỉ có vị trí của người ném và người bắt là cố định, còn các cầu thủ khác phải di chuyển quanh sân bóng để ngăn chặn đối phương ghi điểm. Tùy vào tình huống trận đấu mà các cầu thủ có thể bố trí vị trí khác nhau. Các "tình huống" của trận đấu có thể bao gồm: số cầu thủ đã bị loại, số bóng đã ném (strike và ball), số cầu thủ đang chạy và tốc độ chạy của cầu thủ, khả năng và kiểu ném bóng của người ném, lượt ném bóng, sân nhà hay sân đối phương, và rất nhiều yếu tố khác. Các tình huống phòng ngự điển hình gồm có: chống chơi đỡ nhẹ (bunt), chống đánh cắp gôn (người chạy tiến đến gôn tiếp theo mà không cần chờ người đập đập bóng), phòng ngự thật gần để ngặn chặn người chạy ở chốt gôn ba ghi điểm, phòng ngự kiểu kép (double play) tức là loại cùng lúc hai người chạy ở chốt một và chốt hai, chuyển các vị trí phòng ngự đến những chỗ người đập bóng hay đập tới,... == Thuật ngữ == Strike out: batter vung chày nhưng không đập trúng bóng (cho dù bóng lỗi hay không) hoặc đập trúng nhưng bóng ra ngoài biên. Mỗi lần như vậy là 1 strike. Sau 3 lần strike sẽ bị loại (out). Fly out: batter đập trúng bóng nhưng bóng bị cầu thủ của đội phòng ngự bắt khi chưa kịp chạm đất. Trong trường hợp này, batter bị loại. Ground out: batter đập trúng bóng và bắt đầu chạy về gôn, bóng chạm đất nhưng cầu thủ của đội phòng ngự bắt được bóng và ném về gôn trước khi batter kịp tới nơi. Batter bị loại. Tag out: batter đập trúng bóng và chạy về gôn, nhưng bị cầu thủ của đội phòng ngự đang giữ bóng chạm vào người. Double play: loại cùng lúc hai người Tripple play: loại cùng lúc 3 người Foul: batter đập bóng ra ngoài biên (vạch foul hai bên sân bóng) Ball: Pitcher ném bóng lỗi, bóng nằm ngoài vùng strike và batter không đập. 4 lần ball được tính là 1 walk (4 balls = 1 walk) Dead ball: Pitcher ném bóng trúng người batter. Batter được walk. Walk: batter được đi bộ lên chiếm gôn 1 sau 4 lần Pitcher ném bóng lỗi hoặc bị ném bóng trúng vào người. Bunt: nảy bóng; batter giơ ngang chày ra trước vị trí bắt bóng của catcher để đón bóng. Squeeze: bunt khi có Runner ở Base 3 Safe: đội tấn công an toàn chiếm được gôn. Out: cầu thủ chạy lên chiếm gôn (hoặc cầu thủ đánh bóng) của đội tấn công bị loại, hoặc batter nhầm thứ tự đập bóng, hoặc batter đánh được Home run nhưng khi chạy về quên đạp lên gôn. Home run: battter đánh bóng ra ngoài sân, trong vùng giữa hai vạch foul, chạy 1 vòng quanh 3 gôn và về đến gôn 1 (home). Steal: cướp gôn: cầu thủ bên tấn công đứng ở các gôn đã chiếm được bắt đầu chạy khi pitcher vừa ném bóng để tranh thủ cơ hội chiếm gôn tiếp theo. No hit, no run: Pitcher không mắc lỗi xử lý bóng nào trong trận. Perfect game: trận thắng tuyệt đối, sau 9 hiệp đội thua không có cầu thủ nào lên chiếm được gôn. Called game: một đội thua trước khi đấu hết 9 hiệp (thường là ở hiệp 5 hoặc hiệp 7, do quá cách biệt về tỷ số). Quy định về called game khác nhau tuỳ theo hình thức giải đấu (giải chuyên nghiệp hay không chuyên, vòng loại hay vòng bán kết,...) Các loại ném bóng: Fast ball: bóng thẳng, tốc độ cao. Off speed: chậm hơn fast ball, có thể được ném với nhiều quỹ đạo. Breaking ball: một loại off speed, bóng thay đổi quỹ đạo khi bay Curve ball: breaking ball, bóng xoáy (cong), vòng về bên trái hoặc phải, độ xoáy lớn. 12-6 curveball: là một loại curve ball, bóng xoáy xuống theo đường thẳng. Slider: breaking ball, một dạng bóng cong nhưng độ xoáy ít và để tăng tốc độ (chỉ hơi cong). Slurve: là một loại breaking ball kết hợp giữa slider và curveball Screwball: là một loại breaking ball, quỹ đạo bay ngược với curveball và slider. Fork ball: breaking ball, một loại đường bóng nhẹ và chậm, kèm độ lắc, dùng để lừa các batter. Change up: một loại off speed, đường bóng giống fast ball nhưng tốc độ chậm hơn và không thay đổi quỹ đạo. Cirlce change up: là một loại change up nhưng bóng thay đổi quỹ đạo khi bay. 4-seam fast ball: bóng thẳng, tốc độ cao nhất trong tất cả các cú ném. 2-seam fast ball: là một loại fast ball nhưng có độ cắt từ trái sang phải. Sinker: 2-seam fast ball cộng thêm quỹ đạo đi xuống. Cutter: fast ball có độ cắt từ phải sang trái. Splitter (split-finger fast ball): bóng đột ngột hạ xuống khi tới gần batter. Knuckleball: bóng chậm, không có độ xoáy nên đường bóng rất khó phán đoán, ngay cả pitcher cũng không thể biết được quỹ đạo của bóng. Eephus: bóng chậm (rất chậm), đi theo đường cầu vồng. == Tham khảo == Bjarkman, Peter C. (2004). Diamonds Around the Globe: The Encyclopedia of International Baseball. Greenwood. ISBN 0313322686. OCLC 58806121. Block, David (2005). Baseball Before We Knew It: A Search for the Roots of the Game. Univ. of Nebraska Press. ISBN 0803262558. OCLC 70261798. Burgos, Adrian (2007). Playing America's Game: Baseball, Latinos, and the Color Line. Univ. of California Press. ISBN 0520251431. OCLC 81150202. Burk, Robert F. (2001). Never Just a Game: Players, Owners, and American Baseball to 1920. Univ. of North Carolina Press. ISBN 0807849618. OCLC 28183874. Charlton, James (ed.) (1991). The Baseball Chronology: The Complete History of the Most Important Events in the Game of Baseball. Macmillan. ISBN 0025239716. OCLC 22704314. Clarke, William Jones, and Fredrick Thomas Dawson (1915). Baseball: Individual Play and Team Play in Detail. Charles Scribner's Sons. OCLC 2781766. Gmelch, George (2006). Baseball Without Borders: The International Pastime. Univ. of Nebraska Press. ISBN 0803271255. OCLC 64594333. González Echevarría, Roberto (2001). The Pride of Havana: A History of Cuban Baseball. Oxford University Press. ISBN 0195146050. OCLC 46601626. Guzzo, Glenn (2007). The New Ballgame: Baseball Statistics for the Casual Fan. ACTA. ISBN 087946318X. OCLC 123083947. Heaphy, Leslie A. (2003). The Negro Leagues, 1869–1960. McFarland. ISBN 0786413808. OCLC 50285143. Keri, Jonah (ed.) (2007). Baseball Between the Numbers: Why Everything You Know About the Game Is Wrong. Basic. ISBN 0465005470. OCLC 77795904. Koppett, Leonard (2004). Koppett's Concise History of Major League Baseball. Carroll & Graf. ISBN 0786712864. OCLC 54674804. Lewis, Michael M. (2003). Moneyball: The Art of Winning an Unfair Game. W. W. Norton. ISBN 0393324818. OCLC 54896532. Mandelbaum, Michael (2005). The Meaning of Sports: Why Americans Watch Baseball, Football, and Basketball and What They See When They Do. PublicAffairs. ISBN 1586483307. OCLC 55539339. McNeil, William (2000). Baseball's Other All-Stars: The Greatest Players from the Negro Leagues, the Japanese Leagues, the Mexican League, and the Pre-1960 Winter Leagues in Cuba, Puerto Rico, and the Dominican Republic. McFarland. ISBN 0786407840. OCLC 42976826. Porterfield, Jason (2007). Baseball: Rules, Tips, Strategy, and Safety. Rosen. ISBN 1404209913. OCLC 67773742. Powers, Albert Theodore (2003). The Business of Baseball. McFarland. ISBN 078641426X. OCLC 50866929. Puhalla, Jim, Jeff Krans, and Mike Goatley (2003). Baseball and Softball Fields: Design, Construction, Renovation, and Maintenance. John Wiley and Sons. ISBN 0471447935. OCLC 50959054. Rader, Benjamin G. (2008). Baseball: A History of America's Game (ấn bản 3). Univ. of Illinois Press. ISBN 0252075501. OCLC 176980876. Riess, Steven A. (1991). City Games: The Evolution of American Urban Society and the Rise of Sports. Univ. of Illinois Press. ISBN 0252062167. OCLC 23739530. Rudel, Anthony J. (2008). Hello, Everybody!: The Dawn of American Radio. Houghton Mifflin. ISBN 015101275X. OCLC 192042215. Schwarz, Alan (2004). The Numbers Game: Baseball's Lifelong Fascination with Statistics. Thomas Dunne. ISBN 0312322224. OCLC 54692908. Stallings, Jack, and Bob Bennett (eds.) (2003). Baseball Strategies: Your Guide to the Game Within the Game. American Baseball Coaches Association/Human Kinetics. ISBN 0736042180. OCLC 50203866. Sullivan, Dean (ed.) (1997). Early Innings: A Documentary History of Baseball, 1825–1908. Univ. of Nebraska Press. ISBN 0803292449. OCLC 36258074. Sullivan, Dean (ed.) (1998). Middle Innings: A Documentary History of Baseball, 1900–1948. Univ. of Nebraska Press. ISBN 0803242581. OCLC 37533976. Sullivan, Dean (ed.) (2002). Late Innings: A Documentary History of Baseball, 1945–1972. Univ. of Nebraska Press. ISBN 0803292856. OCLC 47643746. Thurston, Bill (2000). Coaching Youth Baseball: A Baffled Parents Guide. McGraw-Hill. ISBN 0071358226. OCLC 43031493. Tygiel, Jules (2000). Past Time: Baseball as History. Oxford University Press. ISBN 0195089588. OCLC 42290019. Zimbalist, Andrew (2007). In the Best Interests of Baseball?: The Revolutionary Reign of Bud Selig. John Wiley and Sons. ISBN 0470128240. OCLC 62796332. Zoss, Joel (2004). Diamonds in the Rough: The Untold History of Baseball. Univ. of Nebraska Press. ISBN 0803299206. OCLC 54611393. == Liên kết ngoài == Official Website of Major League Baseball Official Website of the British Baseball Federation New York Mutuals Vintage Base Ball Club 19th Century Base Ball at Old Bethpage Long Island Baseball Basics from MLB.com MLB Official Rules Online Museum of Early Baseball Memorabilia Baseball Blogs Directory Baseball Statistics International Baseball A documentary about baseball and society in Cuba. Directed by Robert A. Clift and Salomé Aguilera Skvirsky Baseball in China Article MLB News and Facts A look at baseball through rarely seen postcards Pro Baseball Newspaper Articles Archive
nguyễn huy tưởng.txt
Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, vở kịch lớn như: Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô. == Tiểu sử == Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6 tháng 5 năm 1912 trong một gia đình nho giáo ở làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Năm 1930, ông tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng. Năm 1935 ông làm thư ký nhà Đoan (Thuế quan) ở Hải Phòng, sau đó quay về Hà Nội. Năm 1938 ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào hướng đạo sinh ở Hải Phòng. Năm 1943 ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng. Sau đó ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội, Nam Định và Phúc Yên. Tháng 6 1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc. Tháng 8 năm đó, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Ông còn là đại biểu văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong. Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc. Nguyễn Huy Tưởng là đại biểu Quốc hội khóa 1 năm 1946. Tháng 4 năm đó, vở kịch Bắc Sơn của ông được công diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội đem lại thành công lớn. Tháng 7, ông được bầu là Phó thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam. Tháng 12 năm 1946, toàn quốc kháng chiến, ông tổ chức và đưa Đoàn văn hóa kháng chiến lên Việt Bắc. Tiếp tục hoạt động văn hóa, ông là ủy viên Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, thư ký toà soạn Tạp chí Văn nghệ và tham gia tiểu ban Văn nghệ Trung ương Đảng. Năm 1951, ông tham gia chiến dịch biên giới. Trong hai năm 1953, 1954 ông công tác giảm tô trong cải cách ruộng đất. Sau hòa bình 1954, ông làm Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1. Ông là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng. Nguyễn Huy Tưởng mất ngày 25 tháng 7 năm 1960 tại Hà Nội. Năm 1995, Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội đã đặt tên cho một phố của thủ đô là phố Nguyễn Huy Tưởng, nối từ phố Vũ Trọng Phụng cắt ngang qua phố Nguyễn Tuân đến đường Khuất Duy Tiến. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996. == Sự nghiệp văn học == == Tác phẩm == === Tiểu thuyết === Đêm hội Long Trì (1942) An Tư công chúa (1944) Truyện Anh Lục (1955) Bốn năm sau (1959) Sống mãi với Thủ Đô (1960) Lá cờ thêu sáu chữ vàng về Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản === Kịch === Vũ Như Tô (1943) Cột đồng Mã Viện (1944) Bắc Sơn (công diễn 6 tháng 4 năm 1946) Những người ở lại (1948) Anh Sơ đầu quân (tập kịch, 1949) Lũy hoa (1960) Cùng nhiều truyện và ký sự khác: Truyện phim Lũy hoa (1961), Ký sự Cao Lạng (ký, 1951), Chiến sĩ ca-nô, An Dương Vương xây thành ốc, Truyện anh Lục, Tìm mẹ, Lá cờ thêu sáu chữ vàng... Ngoài ra, năm 2006 Nhà xuất bản Thanh Niên tập hợp nhật ký của ông và phát hành thành mang tên Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Người là thật. Phải thật với người, giới thiệu nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng
lancashire.txt
Lancashire là một hạt ở tây bắc của Anh. Hạt có diện tích km², dân số 1.449.700 người. Thủ phủ hạt đóng ở Lancaster. Hạt lấy tên từ thành phố Lancaster, và đôi khi được gọi là quận Lancaster. Mặc dù Lancaster là vẫn được coi là thị trấn của hạt, Hội đồng hạt có trụ sở tại Preston. Lancashire là đôi khi được viết tắt Lancs, như ban đầu được sử dụng bởi thư tín hoàng gia. Lancashire được cho là đã bắt đầu thành lập vào thế kỷ thứ 12. Trong Domesday Book (1086), một số đất của nó đã được coi là một phần của Yorkshire. Đất nằm liên Ripam et Mersam, "giữa Ribble và Mersey", hình thành một phần của lợi nhuận cho Cheshire. Khi ranh giới ban đầu của nó đã được thành lập, nó giáp Cumberland, Westmorland, Yorkshire và Cheshire. Lancashire trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp là một khu vực thương mại và công nghiệp lớn. Hạt đã trải qua một cải cách ranh giới quan trọng vào năm 1974, trong đó Liverpool và Manchester được và hầu hết các khu đô thị xung quanh để tạo thành một phần của các hạt đô thị của vùng Merseyside và Đại Manchester. Tại thời điểm này, phía bắc tách ra một phần của Lancashire ở Lake District, bao gồm cả bán đảo Furness và Cartmel, đã được tạo thành một phần của Cumbria. Ngày hạt giáp Cumbria, Greater Manchester, Merseyside và Bắc và Tây Yorkshire. Duchy của Lancaster thực hiện quyền của Hoàng gia trong khu vực được gọi là các Palatine của Lancaster County, bao gồm các quận của Lancashire, Greater Manchester và Merseyside. == Tham khảo ==