filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
ios 10.txt
iOS 10 là phiên bản thứ 10 của hệ điều hành iOS, hệ điều hành trên các thiết bị di động do Apple Inc. phát hành. iOS 10 được giới thiệu tại Hội nghị các nhà phát triển toàn cầu của Apple (WWDC) vào ngày 13 tháng 6 năm 2016, phiên bản chính thức phát hành vào ngày 13 tháng 9 năm 2016. == Thiết bị được hỗ trợ == Phiên bản iOS 10, Apple sẽ không hỗ trợ cho những thiết bị sử dụng chip A5: iPhone 4S, iPod Touch (thế hệ thứ 5), iPad 2, iPad (thế hệ thứ 3) và iPad Mini (thế hệ thứ nhất). Các thiết bị sau đây sẽ được hỗ trợ iOS 10: iPhone iPhone 5 iPhone 5C iPhone 5S iPhone 6 iPhone 6 Plus iPhone 6S iPhone 6S Plus iPhone SE iPhone 7 iPhone 7 Plus iPod Touch iPod Touch (6th generation) iPad iPad (4th generation) iPad Air iPad Air 2 iPad Pro 12.9 iPad Pro 9.7 iPad Mini iPad Mini 2 iPad Mini 3 iPad Mini 4 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức
ghana.txt
Ghana (Tiếng Việt: Ga-na), tên chính thức là Cộng hòa Ghana (Republic of Ghana) là một quốc gia tại Tây Phi. Ghana có biên giới với Côte d'Ivoire về phía tây, Burkina Faso về phía bắc, Togo về phía đông, còn về phía nam là Vịnh Guinea. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Ghana là Accra. Người dân Ghana cho rằng lịch sử của họ bắt nguồn từ Vương quốc Ghana cổ xưa tồn tại từ thế kỉ 8 đến thế kỉ 13 tại phía tây châu Phi, nhưng đến khi vương quốc này sụp đổ thì cư dân của nó đã di cư xuống phía nam và lập nên những tiểu quốc Fante và đặc biệt là Vương quốc Ashante hùng mạnh. Những mối liên hệ về thương mại với người Bồ Đào Nha được thiết lập từ thế kỉ 15 và đến năm 1874, Ghana trở thành một thuộc địa của Liên Hiệp Anh với tên gọi Bờ Biển Vàng (Gold Coast). Năm 1957, Ghana trở thành thuộc địa đầu tiên ở vùng Châu Phi hạ Sahara giành được độc lập. Bờ Biển Vàng giành độc lập từ tay Vương quốc Anh vào năm 1957 và trở thành quốc gia độc lập đầu tiên ở khu vực hạ Sahara. Ghana được chọn làm tên mới cho quốc gia này để ghi nhớ Đế chế Ghana, đã từng trải dài khắp cả khu vực Tây Phi. Ghana là thành viên của Khu vực hòa bình và hợp tác Nam Đại Tây Dương, Khối thịnh vượng chung, Cộng đồng Kinh tế Tây Phi, Liên minh châu Phi và là thành viên liên kết của Cộng đồng Pháp ngữ. Ghana là nước có sản lượng cacao đứng thứ 2 thế giới. Hồ nhân tạo lớn nhất thế giới về diện tích bề mặt Volta nằm ở quốc gia này. == Từ nguyên học == Ghana có nghĩa là "chiến binh của nhà vua" (ngự lâm quân) gắn liền với những vị vua thời trung đại của đế chế Ghana Tây Phi. Trước khi quốc gia Bờ Biển Vàng (Gold Coast) sáp nhập với Togoland thuộc Anh (British Togoland) vào ngày 6 tháng 3 năm 1957, Ghana trở thành tên pháp lý của quốc gia này. Tuy nhiên, sau khi tuyên bố hoàn toàn độc lập với vương quốc Anh, Ghana đã đổi tên thành Cộng hòa Ghana (Republic of Ghana). == Lịch sử == Ghana là một nước có lịch sử lâu đời. Từ thế kỷ 4, đã ra đời Vương quốc Sarakolle rộng lớn, chạy dài từ bờ biển Đại Tây Dương đến sông Niger. Thế kỷ 11, Vương quốc Ghana trở nên cực thịnh với nền nông nghiệp, thủ công, buôn bán phát triển. Từ năm 1471, người Bồ Đào Nha thám hiểm và khám phá ra vùng bờ biển mà sau này có tên gọi là Gold Coast (Côte de l'Or, Bờ biển Vàng). Họ xây dựng pháo đài Elmina và giữ độc quyền buôn bán vàng trong khoảng một thế kỉ rưỡi. Sau khi loại trừ người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, người Anh và một số thương gia châu Âu phân chia quyền kiểm soát và biến vùng này thành trung tâm mua bán nô lệ. Từ năm 1826, người Anh thực hiện một loạt các chiến dịch chống lại người bản xứ Ashanti ở sâu bên trong nội địa. Vùng duyên hải trở thành thuộc địa Anh (1874). Năm 1901, người Ashanti đầu hàng người Anh và lãnh thổ phía bắc trở thành xứ bảo hộ. Vùng Togoland lân cận, thuộc địa cũ của Đức, thuộc quyền ủy trị của Anh từ năm 1922. Năm 1957, Gold Coast là thuộc địa đầu tiên ở châu Phi giành được độc lập và đổi tên thành Ghana. Nền cộng hòa ra đời sau khi hiến pháp được thông qua (năm 1960). Chủ nghĩa chuyên quyền của Tổng thống Kwame Nkrumah và sự suy thoái kinh tế trong nước dẫn đến cuộc đảo chính quân sự năm 1966. Từ đó, đất nước rơi vào tình trạng bất ổn chính trị cho đến khi Jerry J. Rawlings lên nắm quyền năm 1981. Rawlings tiến hành khôi phục kinh tế và dân chủ. Được bầu làm Tổng thống năm 1992, Rawlings công bố hiến pháp mới và chấm dứt chế độ quân sự. Ứng cử viên đối lập John Kufuor lên cầm quyền sau khi giành thắng lợi trong cuộc tuyển cử chiếc ghế Tổng thống năm 2000. == Chính trị == Theo Bảng xếp hạng Chỉ số thất bại của nhà nước năm 2009, Ghana đứng ở vị trí thứ 124 trên thế giới và đứng áp chót trong số các nước châu Phi, trước Mauritius, dựa theo các số liệu từ năm 2006. Ghana cũng xếp thứ 7 trong số 48 nước vùng hạ Sahara vào năm 2008 theo chỉ số Ibrahim, phản ánh sự thành công của các chính sách chính phủ đối với dân chúng. === Chính phủ === Nền dân chủ nghị viện của Ghana được xác lập vào năm 1957, xen kẽ bởi các chính phủ quân sự và dân sự. Tháng 1 năm 1993, chính quyền quân đội đã dọn đường cho sự ra đời của nền cộng hòa thứ 4 sau cuộc bầu cử nghị viện và tổng thống vào cuối năm 1992. Hiến pháp năm 1992 thiết lập cơ cấu quyền lực bao gồm tổng thống, nghị viện, nội các, hội đồng nhà nước và một hệ thống toà án độc lập. Chính phủ được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, tuy nhiện cơ quan lập pháp của Ghana được cơ cấu không theo tỉ lệ, một số tỉnh có dân số ít lại có số đại biểu nhiều hơn các tỉnh có dân số đồng hơn. === Hệ thống tòa án === Hệ thống pháp luật dựa trên thông luật của Anh, tiền lệ án, và hiến pháp năm 1992. Hệ thống cấp bậc toà án bao gồm Toà án tối cao Ghana, Toà án cấp phúc thẩm, và Tòa án tư pháp. Các thiết chế tư pháp ngoài toà án là các Toà án công cộng. Từ khi giành độc lập cho đến nền cộng hòa thứ 4, các Toà án đã và đang duy trì được tính độc lập tương đối. === Chính trị === Các đảng phái chính trị được hoạt động hợp pháp từ giữa năm 1992 sau 10 năm bị gián đoạn. Nền cộng hòa thứ 4 xuất hiện rất nhiều đảng phái khác nhau, bao gồm Đảng Đại hội quốc gia dân chủ (đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống và nghị viện vào các năm 1992, 1996 và 2008) và Đảng Những người ái quốc mới, đảng đối lập đã giành chiến thắng trong các năm 2000 và 2004; Đảng Hội nghị quốc gia nhân dân và Đảng Hội nghị nhân dân, do Kwame Nkrumah sáng lập. === Ngoại giao === Từ khi giành độc lập, Ghana luôn ủng hộ xu hướng không liên kết và chủ nghĩa Pan-Africanism gắn liền với tên tuổi của vị tổng thống đầu tiên, TS. Kwame Nkrumah. Ghana ưu tiên các quan hệ hợp tác quốc tế và khu vực về chính trị cũng như kinh tế, đồng thời cũng là một thành viên tích cực của Liên hợp quốc và Liên minh châu Phi. Ghana thực hiện đường lối đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá, coi trọng quan hệ với Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản để tranh thủ vốn, kỹ thuật. Ghana nhận được sự trợ giúp của Mỹ trong khuôn khổ chương trình "đào tạo các chuyên gia quân sự nước ngoài" (IMET), chương trình "trợ giúp trong việc huấn luyện tiến hành các hoạt động chống khủng bố tại châu Phi" (ACOTA). Nhiều chính trị gia và nhà ngoại giao Ghana đang làm việc tại các tổ chức quốc tế, trong số đó phải kể đến cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan, thẩm phán Tòa án hình sự quốc tế Akua Kuenyehia và cựu tổng thống Jerry Rawlings, đang là chủ tịch của Cộng đồng kinh tế Tây Phi. Ghana hiện là thành viên tích cực của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế như: WTO, Phong trào không liên kết (NAM), Liên minh châu Phi (AU), Cộng đồng Kinh tế Tây Phi (ECOWAS). == Kinh tế == Được thiên nhiên ưu đãi, Ghana có thu nhập đầu người cao gấp hai lần các quốc gia khác ở Tây Phi. Mặc dù vậy, Ghana vẫn có những lợi tức khác từ thương mại và hỗ trợ quốc tế như các hoạt động đầu tư của những người có gốc gác Ghana ở nước ngoài. Khoảng 28% dân số sống dưới mức nghèo với $1.25 đô la Mĩ/ngày. Phần lớn trong số đó là những phụ nữ Ghana bị ảnh hưởng bởi những lý do chính trị ở các khu vực nghèo đói phía bắc của Ghana. và theo Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân theo đầu người hầu như đã không tăng gấp đôi trong 45 năm qua. Từ thời thuộc địa đến hiện tại, Ghana được biết đến là một trong những nước sản xuất vàng nhiều nhất thế giới. Những mặt hàng xuất khẩu khác như cacao, gỗ, điện, kim cương, bauxite, và mangan là những nguồn thu ngoại tệ chính của Ghana, được trực tiếp điều khiển và chỉ đạo bởi Bộ Nông nghiệp thuộc tổng thống, đứng đầu là bà Antoinette Efua-Addo (xem thêm thông tin tại www.Ghana-agricexport.com). Một mỏ dầu được cho là có khoảng 3 tỷ thùng (480.000.000 m3) dầu nhẹ đã được phát hiện vào năm 2007. Việc khai thác dầu mỏ vẫn đang diễn ra và số lượng dầu mỏ khai thác liên tục tăng lên. Điều này được kì vọng sẽ là một nguồn thu khổng lồ cho kinh tế Ghana kể từ quý IV năm 2010 khi nước này chính thức tăng sản lượng dầu mỏkinh doanh dầu mỏ. Đập thủy điện Akosombo được xây dựng vào năm 1965 trên sông Volta cung cấp điện năng cho cả Ghana và các nước láng giềng. Năm 2008, lực lượng lao động của Ghana có khoảng 11,5 triệu người. Kinh tế của Ghana chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp, chiếm tới 37,3% GDP và cung cấp việc làm cho 56% số người lao động, phần lớn trong số đó là những người sản xuất nhỏ. Tỉ trọng công nghiệp của Ghana vào năm 2007 chiếm 7,9% GDP. Những chính sách không mấy hiệu quả của chính quyền quân sự cũ và các cam kết giữ gìn hòa bình khu vực đã dẫn đến tình trạng lạm phát thâm hụt tài chính, sự sụt giá của đồng Cedi cũng như sự không hài lòng của công chúng với những biện pháp kém cỏi của chính phủ Ghana. Mặc dầu vậy, Ghana vẫn là một trong những quốc gia ổn định về kinh tế nhất châu lục Đen. Tháng 7 năm 2007, Ngân hàng nhà nước Ghana quyết định thay đổi đồng tiền đang sử dụng Cedi (¢) sang đồng Ghana Cedi (GH¢) để tái kiểm soát tiền tệ trong nước. Tỷ giá của thu đổi là 1 Ghana Cedi cho 10,000 Cedi (cũ). Ngân hàng nhà nước Ghana đã tiến hành các chiến dịch truyền thông mạnh mẽ nhằm thông báo cho người dân Ghana về chính sách này. Đồng tiền mới, Ghana Cedi, đã dần đi vào ổn định và đến năm 2009 trung bình $1 USD =Gh¢ 1.4 . Thuế giá trị gia tăng (VAT) cũng được áp dụng ở Ghana bắt đầu từ năm 1989 với một mức tỉ lệ áp dụng chung cho tất cả (các loại hàng hóa hoặc cá nhân). Bắt đầu từ tháng 9 năm 2007, chế độ thuế được chia thành nhiều mức tỉ lệ khác nhau. Năm 1998, mức thuế VAT ở Ghana là 10% và được điều chỉnh thành 12.5% vào năm 2000. Tuy nhiên với việc thông qua luật 734 năm 2007, mô hình VAT 3% đối với khu vực bán lẻ bắt đầu được triển khai. Mô hình này chỉ cho phép người bán lẻ các mặt hàng chịu thuế (được quy định theo luật 546) tính thêm tối đa 3% giá trị của mặt hàng được bán so với kê khai. Mục đích của luật này nhằm đơn giản hóa hệ thống thuế và gia tăng sự ủng hộ của người dân. Từ giữa tháng 12 năm 2010, ngành sản xuất dầu khí tại Ghana đã bắt đầu hoạt động và được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (mỏ dầu ngoài khơi Jubilee có trữ lượng lên tới 3 tỷ thùng). == Vùng và khu hành chính == Ghana được phân chia thành 10 khu vực hành chính và 138 quận, huyện, mỗi huyện hội đồng riêng của mình. Dưới huyện là các loại hình hội đồng, bao gồm 58 thị xã, khu vực hội đồng, hội đồng khu, 108, và 626 hội đồng khu vực. Các khu vực hành chính bao gồm: === Dân số của các thành phố lớn === == Địa lý == Ghana nằm trong khu vực Vịnh Ghana, rất gần với đường xích đạo nên có một khí hậu ấm áp. Diện tích của Ghana trải dài trên một khu vực rộng 238500 km2. phía đông giáp Togo, phía tây giáp Bờ Biển Ngà, phía bắc giáp Burkina Faso và còn phía nam giáp Vịnh Ghana (Đại Tây Dương). Kinh tuyến Greenwich chạy dọc theo quốc gia này, chính xác là ở thành phố công nghiệp Tema. Về mặt địa lý, Ghana là quốc gia gần với "trung tâm" của thế giới nhất. Mặc dù trên thực tế, điểm trung tâm thật sự (0°, 0°) nằm trên Vịnh Ghana (Đại Tây Dương), cách Accra của Ghana khoảng 614 km về phía nam. Ghana được bao phủ bởi những đồng bằng, đồi núi thấp và một số sông ngòi. Ghana có thể được chia thành 5 khu vực địa hình khác nhau. Đường bờ biển thấp với các bãi cát xoay lưng về phía đồng bằng và những rừng cây nhỏ, đồng thời bị chia cắt bởi các sông và suối. Trong khi đó, phía bắc của Ghana nổi bật bởi các cao nguyên. Tây Nam và Nam Ghana có được núi rừng che phủ, trong đó có vùng núi Ashanti, cao nguyên Kwahu và Akuapim-Togo chạy dọc sườn đông của đất nước. Lưu vực sông Volta chiếm một diện tích lớn khu vực trung tâm của Ghana. Điểm cao nhất của Ghana là đỉnh núi Afadjato. Ghana có khí hậu nhiệt đới. Dải bờ biển phía đông ấm và khô; khu vực tây nam nóng và ẩm ướt, trong khi phía bắc lại nóng và khô. Hồ Volta, hồ nhân tạo lớn nhất thế giới, bao phủ một tỉ lệ không nhỏ phần đất phía đông của Ghana, là nguồn nước chính cho nhiều con sông khác như Oti hoặc Afram. Khí hậu ở Ghana chia thành 2 mùa chính: mùa mưa và mùa khô. phía bắc Ghana mùa mưa bắt đầu từ tháng 3 cho đến tháng 11, trong khi ở phía nam, bao gồm cả thủ đô Accra, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 cho đến trung tuần tháng 11. phía nam của Ghana bao gồm những rừng cây nhiệt đới và rụng lá lớn. Ngoài ra khu vực này còn có những rừng cọ dầu và ngập mặn khác. == Dân cư == Dân số Ghana vào khoảng 24 triệu người bao gồm hơn 100 nhóm dân tộc khác nhau. Tuy vậy, ở Ghana không có những xung đột dân tộc gay gắt có thể dẫn đến nội chiến như ở nhiều nước châu Phi khác. Ngôn ngữ chính thức ở Ghana là tiếng Anh tuy nhiên hầu hết người dân Ghana đều biết ít nhất một thổ ngữ. Nhóm dân tộc chính ở Ghana là người Akan, trong đó có người Fante, Akyem, Ashanti, Kwahu, Akuapem, Nzema, Bono, Akwamu, Ahanta and others) 49.3%, Mole-Dagbon 15.2%, Ewe 11.7%, Ga-Dangme (comprising of the Ga, Adangbe, Ada, Krobo and others) 7.3%, Guan 4%, Gurma 3.6%, Gurunsi 2.6%, Mande-Busanga 1%, other tribes 1.4%, other (Hausa, Zabarema, Fulani) 1.8% (2000 census). Theo CIA World Factbook, các nhóm tôn giáo ở Ghana bao gồm: Thiên chúa giáo 68.8%, Hồi giáo 15.9%, tín ngưỡng truyền thống của người Phi 8.5%. == Ngôn ngữ == Ở Ghana có 47 thổ ngữ. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Ghana trong thương mại cũng như hành chính. Tiếng Anh cũng là ngôn ngữ tiêu chuẩn để giảng dạy ở các cấp giáo dục. Ngôn ngữ bản địa của Ghana được chia thành hai nhóm nhỏ thuộc nhóm ngôn ngữ Niger-Congo. == Văn hóa và con người == Ghana là một quốc gia đa dạng về thành phần dân tộc. Do đó, văn hóa của Ghana là sự pha trộn của tất cả các nền văn hóa của mọi nhóm dân tộc của quốc gia này: người Ashanti, người Fante, người Kwahu, người Ga, người Ewe, người Mamprusi, người Dagomba và các nhóm dân tộc thiểu số khác. Sự đa dạng văn hóa này thể hiện rất rõ trong cách ăn, cách mặc và nghệ thuật của người dân Ghana. Một số nghi lễ đặc trưng của văn hóa Ghana cho đến hiện tại vẫn còn rất phổ biến ở quốc gia này như lễ sinh con, lễ trưởng thành, kết hôn và ma chay. === Thể thao === Ở Ghana, bóng đá là môn thể thao phổ biến và được yêu thích nhất. Đội tuyển bóng đá quốc gia Ghana thường được gọi là "Những ngôi sao đen". Ngày 16 tháng 10 năm 2009, đội tuyển bóng đá U-20 Ghana đã trở thành đội tuyển quốc gia đầu tiên của châu Phi đoạt ngôi vô địch U-20 thế giới sau chiến thắng ở loạt sút luân lưu 11m với Brasil. Ghana cũng là quốc gia đầu tiên của châu Phi giành chiến thắng ở vòng chung kết World Cup 2010 diễn ra tại chính châu lục này sau khi đánh bại Serbia với tỉ số 1-0. Ghana cũng chính là đội tuyển quốc gia châu Phi duy nhất lọt vòng vòng knock-out của giải đấu này và đội bóng thứ 3 châu Phi góp mặt tại vòng tứ kết World Cup (sau Cameroon 1990 và Senegal 2002). == Tôn giáo == Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất của đất nước, và chiếm ưu thế ở phía nam Ghana và các bộ phận của miền Bắc Ghana, trong khi Hồi giáo phổ biến rộng rãi hơn trong các bộ phận của khu vực phía Bắc. Kitô giáo được theo bởi 71.2% dân số, theo điều tra dân số năm 2010. Kitô giáo đã được giới thiệu bởi người châu Âu trên bờ biển của Ghana trong thế kỷ 14, và dần dần người dân nước này đã tin theo tôn giáo mới. Hồi giáo là đức tin của 17.6% dân số. Nó được truyền bá đến phía Bắc Ghana trong thế kỷ 15. Kitô giáo và Hồi giáo ở Ghana chung sống hòa bình với nhau. Điều tra dân số năm 2010 cho biết 5.3% dân số Ghana tuyên bố không có tôn giáo, tôn giáo truyền thống được thực hiện bởi 5.2% dân số, theo điều tra dân số năm 2010. Ấn Độ giáo cũng có mặt ở quốc gia này với một Tu viện do giáo sĩ Swami Ghananand Saraswati điều hành. Đạo giáo và Phật giáo cũng đã xuất hiện ở Ghana do người Trung Quốc mang đến. == Giáo dục == == Xếp hạng quốc tế == == Ghi chú == ^ Trần, Văn Bình; Phan Doãn Nam (2001). Giáo trình Lịch sử quan hệ quốc tế. Hà Nội: Học viện quan hệ quốc tế. tr. 265. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Business Anti-Corruption Portal Ghana country profile Chính phủ Ghana official website The Parliament of Ghana official site National Commission on Culture official site Chief of State and Cabinet Members Thông tin chung Country Profile from BBC News Ghana from Encyclopaedia Britannica Ghana from UCB Libraries GovPubs Ghana tại DMOZ Wikimedia Atlas của Ghana, có một số bản đồ liên quan đến Ghana. The African Activist Archive Project website has photographs of the All Africa People's Conference held in Accra, Ghana, 5–ngày 13 tháng 12 năm 1958 including Kwame Nkrumah, Prime Minister of Ghana, addressing the conference, the American Committee on Africa delegation meeting with Nkrumah, and of Patrick Duncan and Alfred Hutchinson of South Africa at the conference. Key Development Forecasts for Ghana from International Futures Thể thao 1st Online Ghana Sports Portal
geumsan.txt
Huyện Geumsan (Geumsan-gun, âm Hán Việt: Cẩm Sơn quận) là một huyện ở tỉnh Chungcheong Nam, Hàn Quốc. Huyện này có diện tích 575,98 km², dân số năm 2003 là 60.740 người. Người dân địa phương nổi tiếng có Jung Myung Seok. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang mạng chính thức của chính quyền huyện
tiếng phần lan.txt
Tiếng Phần Lan (, hay suomen kieli [ˈsuomen ˈkieli]) là ngôn ngữ được nói bởi phần lớn dân số Phần Lan và bởi người Phần Lan cư trú tại nơi khác. Đây là một trong hai ngôn ngữ chính thức của Phần Lan và là một ngôn ngữ thiểu số được công nhận tại Thụy Điển. Ở Thụy Điển, cả tiếng Phần Lan chuẩn và Meänkieli (một nhóm phương ngữ tiếng Phần Lan) hiện diện. Kven, một phương ngữ khác, hiện diện tại bắc Na Uy. Tiếng Phần Lan là một thành viên của ngữ tộc Finn và có hình thái kết hợp giữa ngôn ngữ biến tố và ngôn ngữ chắp dính. Danh từ, tính từ, đại từ, số từ và động từ đều biến đổi trong tiếng Phần Lan, tùy thuộc vào vai trò của chúng trong câu. == Phân bố == Tiếng Phần Lan được nói bởi hơn năm triệu người, đa số sống tại Phần Lan. Cũng có những cộng đồng thiểu số nói tiếng Phần Lan tại Thụy Điển, Na Uy, Nga, Estonia, Brasil, Canada, và Hoa Kỳ. Phần lớn dân cư Phần Lan (90,37% tính đến năm 2010) nói tiếng Phần Lan như bản ngữ. Phần còn lại nói tiếng Thụy Điển (5,42%), Sami (Bắc Sami, Inari, Skolt) và một số khác. == Trạng thái chính thức == Tiếng Phần Lan là một trong hai ngôn ngữ chính thức của Phần Lan (ngôn ngữ còn lại là tiếng Thụy Điển, được nói bởi 5,42% dân số tính đến năm 2010) và là một trong những ngôn ngữ chính thức trong Liên minh châu Âu kể từ năm 1995. Tiếng Phần Lan bắt đầu có chỗ đứng trong thời kỳ Đại Công quốc Phần Lan, cùng với phong trào chủ nghĩa dân tộc Fennoman, và đạt được trạng thái chính thức trong Nghị viện Phần Lan năm 1863. Nó cũng có trạng thái là một ngôn ngữ thiểu số chính thức tại Thụy Điển. Dưới Công ước ngôn ngữ Bắc Âu, công dân của Các nước Bắc Âu nói tiếng Phần Lan có cơ hội sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình khi tương tác với các cơ quan chính thức ở các nước Bắc Âu khác mà không chịu bất cứ một sự giải thích hay chi phí phiên dịch nào. == Phương ngữ == === Biểu đồ phương ngữ tiếng Phần Lan === Phương ngữ phía Tây Phương ngữ Tây Nam Phương ngữ Tây Nam chính Nhóm phương ngữ phía Bắc Nhóm phương ngữ phía Nam Phương ngữ trung Tây Nam Phương ngữ vùng Pori Phương ngữ Ala-Satakunta Phương ngữ của cao nguyên Turku Phương ngữ vùng Somero Phương ngữ Tây Uusimaa Phương ngữ Tavastia Phương ngữ Ylä-Satakunta Phương ngữ tâm Tavastia Phương ngữ Nam Tavastia Phương ngữ Đông Nam Tavastia Nhóm phương ngữ Hollola Nhóm phương ngữ Porvoo Nhóm phương ngữ Iitti Phương ngữ Nam Botnia Phương ngữ Trung và Bắc Botnia Phương ngữ Trung Botnia Phương ngữ Bắc Botnia Phương ngữ Peräpohjola Phương ngữ Tornio ("Meänkieli" ở Thụy Điển) Phương ngữ Kemi Phương ngữ Kemijärvi Phương ngữ Jällivaara ("Meänkieli" ở Thụy Điển) Phương ngữ Ruija ("tiếng Kven" ở Bắc Na Uy) Phương ngữ phía Đông Phương ngữ Savonia Phương ngữ Bắc Savonia Phương ngữ Nam Savonia Phương ngữ Trung vùng Savonlinna Phương ngữ Đông Savonia hay Bắc Karelia Phương ngữ Kainuu Phương ngữ Trung Phần Lan Phương ngữ Päijänne Tavastia Phương ngữ Keuruu-Evijärvi Phương ngữ Savonia của Värmland (Thụy Điển) Phương ngữ Đông Nam Phương ngữ chính của Đông Nam Phương ngữ trung vùng Lemi Phương ngữ Ingria (ở Nga) == Ví dụ về ngôn ngữ == == Chào hỏi cơ bản == (Hyvää) huomenta – buổi sáng (tốt lành) (Hyvää) päivää – buổi trưa (tốt lành) (nghĩa đen là "ngày tốt lành") (Hyvää) iltaa – buổi tối (tốt lành) Hyvää yötä / Öitä! – Ngủ ngon Terve! / Moro!/Moi! – Chào! Hei! / Moi! – Chào! Heippa! / Moikka! / Hei hei! / Moi moi! – Tạm biệt! Nähdään! – Gặp lại sau! (nghĩa đen: thể bị động của từ "nähdä", "nhìn", nhưng thường hiểu là "ta xem") Näkemiin – Tạm biệt (nghĩa đen: "Cho đến khi chúng ta gặp lại". "Näkemiin" đến từ từ "näkemä" ("quang cảnh"). Nghĩa đen "näkemiin" nghĩa là "cho đến khi gặp lại" Hyvästi – Tạm biệt Hauska tutustua! – Rất vui được gặp bạn. Kiitos – Cảm ơn Kiitos, samoin – "Cảm ơn, bạn cũng vậy" (để trả lời cho "lời chúc") Mitä kuuluu? – Bạn thế nào / Bạn khỏe không? (Không sử dụng với người lại, nghĩa đen là "mày đang nghe thấy gì?") Kiitos hyvää! – Tôi khỏe, cảm ơn. Tervetuloa! – Hoan nghênh! Anteeksi – Xin lỗi == Từ và cụm từ quan trọng == kyllä – vâng/ừ joo – vâng/ừ (không trang trọng) ei – không en – tôi sẽ không / tôi không minä, sinä, hän (se) – tôi, bạn, anh ấy/cô ấy(nó) me, te, he (ne) – chúng tôi, các bạn, họ (minä) olen – tôi là (sinä) olet – bạn là hän on - anh/chị ấy là (te) olette – các bạn là (minä) en ole – tôi không là (sinä) et ole – bạn không là hän ei ole - anh/chị ấy không là yksi, kaksi, kolme – một, hai, ba neljä, viisi, kuusi – bốn, năm, sáu seitsemän, kahdeksan – bảy, tám yhdeksän, kymmenen – chín, mười yksitoista, kaksitoista, kolmetoista – mười một, mười hai, mười ba sata, tuhat, miljoona – một trăm, một nghìn, một triệu (minä) rakastan sinua – tôi yêu bạn/anh yêu em/em yêu anh/... kiitos – cảm ơn anteeksi – thứ lỗi, xin lỗi voitko auttaa – bạn có thể giúp? apua! – giúp! voisit(te)ko auttaa – bạn có thể giúp? missä... on? –... ở đâu? olen pahoillani – tôi xin lỗi otan osaa – chia buồn onnea – chúc may mắn totta kai/tietysti/toki – tất nhiên pieni hetki, pikku hetki, hetkinen – làm ơn chờ chút! odota – đợi missä on vessa? – phòng tắm ở đâu? Suomi – Phần Lan suomi/suomen kieli – tiếng Phần Lan suomalainen – (danh từ) người Phần Lan; (tính từ) thuộc Phần Lan En ymmärrä – tôi không hiểu (Minä) ymmärrän – tôi hiểu ¹Ymmärrät(te)kö suomea? – Bạn hiểu tiếng Anh không? ¹Puhut(te)ko englantia? – Bạn nói tiếng Anh không? Olen englantilainen / amerikkalainen / kanadalainen / australialainen / uusiseelantilainen / irlantilainen / skotlantilainen / walesilainen / ranskalainen / saksalainen / kiinalainen / japanilainen / ruotsalainen / vietnamilainen – tôi là người Anh / Mỹ / Canada / Úc / New Zealand / Ai-len / Scotland / Wales / Pháp / Đức / Trung Quốc / Nhật Bản / Thụy Điển / Việt Nam ¹Olet(te)ko englantilainen? – Bạn là người Anh à? Missä (sinä) asut/¹Missä (te) asutte? – Bạn sống ở đâu? ¹ -te được thêm vào để câu trở nên trang trọng. Nếu không thêm "-te", nó sẽ không trang trọng. Nó cũng được thêm vào khi nói chuyện với nhiều hơn một người. Sự chuyển đổi từ ngôi thứ hai số ít đến ngôi thứ hai số nhiều (teitittely) là một biểu hiện lịch sự, được khuyên bởi nhiều "hướng dẫn ứng xử tốt". Đặc biệt là người cao tuổi, họ mong đợi điều đó từ người lạ, trong khi người trẻ có thể cảm thấy rằng nó quá trang trọng đến mức lạnh lẽo. Tuy nhiên, người học ngôn ngữ này không nên quá quan tâm về nó. Bỏ mặc qua nó (hầu như) không bao giờ gây khó chịu, nhưng cần lưu ý rằng trong những dịp trang trọng, thói quen này có thể gây ấn tượng tốt. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
hướng nam.txt
Hướng Nam là một trong bốn hướng chính của la bàn, theo quy định chung trong địa lý. Ba hướng kia là: hướng Tây, hướng Đông và hướng Bắc. Ở toàn cầu, mặt trời mọc từ phía đông và lặn về phía tây. Nếu bạn đứng thẳng trên mặt đất, nhìn thẳng về hướng mặt trời mọc và dang rộng hai tay, thì mắt bạn nhìn về phía đông, tay phải chỉ phía nam, tay trái chỉ phía bắc và lưng bạn hướng phía tây. Theo quy ước trên bản đồ địa lý, phía nam ở bên dưới, phía bắc ở bên trên, phía đông bên tay phải, phía tây bên tay trái. == Tham khảo ==
thế kỷ 3.txt
Thế kỷ 3 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 201 đến hết năm 300, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. == Sự kiện == Năm 220 - 280: Thời kì Tam Quốc ở Trung Quốc. == Tham khảo ==
hiến chương olympic.txt
Hiến chương Olympic là bộ các quy tắc và hướng dẫn để tổ chức Thế vận hội, và điều hành phong trào Olympic. Phiên bản mới nhất được công bố ngày 2 tháng 8 năm 2015 Được thông qua bởi Ủy ban Olympic quốc tế (IOC), hệ thống hóa các nguyên tắc cơ bản, các quy tắc và luật lệ. Tiếng Pháp và Anh là ngôn ngữ chính thức của Hiến chương Olympic. == Mục đích == Trong suốt lịch sử của Thế vận hội, Hiến chương Olympic thường giải quyết các tranh cãi Olympic. Như thể hiện trong phần giới thiệu, Hiến chương Olympic phục vụ ba mục đích chính: Để thiết lập các nguyên tắc và giá trị của lý tưởng Olympic Để phục vụ như luật IOC Để xác định quyền và nghĩa vụ của bốn thành phần chính của phong trào Olympic: Ủy ban Olympic quốc tế (IOC), các Liên đoàn quốc tế, Ủy ban Olympic quốc gia, và Ban tổ chức Thế vận hội. == Nội dung chính == Với 5 chương và 61 điều, Hiến chương Olympic phác thảo chi tiết một số hướng dẫn và quy tắc. Những điều nổi bật và khái quát được coi là quan trọng nhất để điều hành Thế vận hội, phong trào Olympic, và ba thành phần chính Ủy ban Olympic quốc tế, các Liên đoàn quốc tế và Ủy ban Olympic quốc gia. === Chương 1: Phong trào Olympic và các hoạt động === Điều 2: Nhiệm vụ của IOC là tuyên truyền lý tưởng Olympic và chỉ đạo phong trào Olympic trên toàn thế giới. Điều này bao gồm giữ gìn đạo đức trong thể thao, khuyến khích tham gia vào các môn thể thao, bảo đảm Thế vận hội diễn ra thường xuyên, bảo vệ phong trào Olympic, và khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển của thể thao. Điều 6: Thế vận hội là những cuộc thi đấu giữa các vận động viên trong các môn thể thao cá nhân hay đồng đội không phải giữa các quốc gia. Điều 8: Biểu tượng Olympic gồm năm vòng tròn lồng vào nhau, từ trái sang phải là màu xanh, vàng, đen, xanh lá cây và đỏ. === Chương 2: Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) === Chương này nêu lên tư cách thành viên, các cuộc họp, và hướng dẫn của Ủy ban Olympic quốc tế (IOC). === Chương 3: Các Liên đoàn quốc tế (IFs) === Chương 3 nói về vị trí của các Liên đoàn quốc tế (IFs) trong phong trào Olympic. IFs là các tổ chức phi chính phủ quốc tế quản lý thể thao ở cấp thế giới và bao gồm các tổ chức quản lý thể thao như vậy ở cấp quốc gia. Đối với mỗi môn thuộc chương trình Thế vận hội, phải có Liên đoàn quốc tế. Những IFs này đảm bảo rằng thể thao của họ phát triển theo đúng điều lệ và tinh thần Olympic. Với các chứng nhận kỹ thuật của các môn thể thao đặc thù, IF phải kiểm soát đủ điều kiện thi đấu cũng như thông tin chi tiết về các địa điểm mà môn đó diễn ra. === Chương 4: Các Ủy ban Olympic quốc gia (NOCs) === Điều 28: Nhiệm vụ của Ủy ban Olympic quốc tế (NOCs) là phát triển, thúc đẩy và bảo vệ Phong trào Olympic trong quốc gia của mình. Họ chịu trách nhiệm đại diện của đất nước họ, quyết định thành phố chủ nhà, và hợp tác với các cơ quan chính phủ và phi chính phủ tại Thế vận hội. === Chương 5: Thế vận hội === Chương này nêu lên việc tổ chức Thế vận hội, lựa chọn các thành phố đăng cai, điều kiện để tham gia, các môn thể thao, truyền thông, các ấn phẩm, và tuyên truyền cho phép tại Thế vận hội. Ngoài ra, phần 3 của chương này đề cập tới nghi thức ngoại giao. Bao gồm việc sử dụng của lá cờ, ngọn lửa, lễ khai mạc và bế mạc Olympic. Năm vòng tròn của Thế vận hội biểu trưng cho năm châu lục. == Nguyên tắc cơ bản của lý tưởng Olympic == Lý tưởng Olympic là triết lý sống, là sự kết hợp hài hòa các tố chất của cơ thể, ý chí và tinh thần. Kết hợp thể thao với văn hoá và giáo dục, lý tưởng Olympic tạo ra phong cách sống trên cơ sở niềm vui, những nỗ lực, giá trị giáo dục theo tấm gương tốt và tôn trọng các nguyên tắc đạo đức cơ bản. Mục đích của lý tưởng Olympic là sử dụng thể thao để phục vụ sự phát triển hài hòa con người, nhằm phát triển một xã hội hòa bình liên quan đến việc gìn giữ phẩm giá con người. Phong trào Olympic là hoạt động có tính phối hợp, tổ chức, phổ biến và thường xuyên, được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Olympic Quốc tế, tất cả các cá nhân và tổ chức mong muốn theo đuổi những giá trị của lý tưởng Olympic. Phong trào Olympic bao trùm trên khắp năm Châu lục và đạt tới đỉnh cao trong việc giúp các vận động viên trên khắp thế giới tham dự lễ hội Thể thao lớn, Thế vận hội. Biểu tượng của phong trào Olympic là năm vòng tròn lồng vào nhau. Luyện tập thể thao là quyền con người. Mọi cá nhân đều có thể chơi thể thao không có sự phân biệt dưới mọi hình thức và theo tinh thần Olympic, đòi hỏi sự hiểu biết lẫn nhau với tình hữu nghị, đoàn kết và cao thượng. Tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động thể thao phải chịu sự chỉ đạo của các tổ chức thể thao độc lập. Với nhận định thể thao diễn ra trong khuôn khổ xã hội, các tổ chức thuộc phong trào Olympic sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ tự chủ, bao gồm tự do thiết lập và kiểm soát quy đinh của các môn thể thao, xây dựng cơ cấu và cách quản lý của các tổ chức của mình,được hưởng quyền bầu cử và có trách nhiệm đảm bảo tổ chức của mình được quản lý một cách đúng đắn. Mọi phân biệt đối xử đối với quốc gia hay cá nhân về chủng tộc, tôn giáo, chính trị, giới tính hoặc bất cứ lý do nào khác đều không phù hợp khi tham gia Phong trào Olympic. Để trở thành một phần của phong trào Olympic cần phải tuân thủ Hiến chương Olympic và được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận == Bảo vệ lý tưởng Olympic như một niềm tin == Hiện đã có một đề nghị từ các luật sư rằng, ở Anh Quốc, những người có một niềm tin mạnh mẽ trong phong trào Olympic có thể hưởng lợi từ việc bảo vệ chống lại sự phân biệt giống như những người theo Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo hay bất kỳ tôn giáo nào được bảo vệ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hiến chương Olympic (PDF) Historical texts of the Olympic Charter
margaret court.txt
Margaret Court (nhũ danh là Smith, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1942), còn được gọi là Margaret Smith Court, là 1 cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp số 1 thế giới. Cô là người giành được danh hiệu Grand Slam nhiều hơn bất cứ 1 người phụ nữ nào khác trong lịch sử quần vợt. Năm 1970, Court là tay vợt nữ đầu tiên trong kỷ nguyên mở rộng (và là tay vợt nữ thứ 2 trong lịch sử quần vợt) giành chiến thắng cả 4 giải Grand Slam đơn trong cùng 1 năm dương lịch. Court đang giữ kỷ lục Grand Slam đơn với 24 danh hiệu. Cô cũng giành được 19 danh hiệu ở nội dung đôi nữ và 21 danh hiệu ở nội dung đôi nam nữ, tổng cộng là 64 danh hiệu lớn. (có nơi ghi là tổng cộng 66 danh hiệu,, có nơi ghi 62 danh hiệu). == Cuộc đời, sự nghiệp == Margaret Smith là người trẻ nhất trong 4 người con của Lawrence Smith và Catherine Smith. Cô có hai anh trai, Kevin và Vincent, 1 chị gái, Conor Dorsett. Cô là người thuận tay trái nhưng đã tập luyện để sử dụng tốt tay phải. Cô bắt đầu chơi quần vợt khi 8 tuổi và đến năm 17 tuổi (năm 1960), cô giành chiến thắng đầu tiên tại giải vô địch Australia. Cô trở thành tay vợt nữ đầu tiên của Australia giành chiến thắng một giải Grand Slam ở nước ngoài, khi cô giành chiến thắng trong giải vô địch Pháp và Mỹ trong năm 1962. Các năm sau đó, cô tiếp tục giành chiến thắng tại Wimbledon. Sau Wimbledon 1966, cô tạm giã từ quần vợt để kết hôn với Barry Court năm 1967, cha của Barry Court là Sir Charles Court, và anh trai, Richard Court đều đã từng là thủ tướng của Tây Úc. Cô trở lại sự nghiệp quần vợt trong năm 1968 và đến năm 1970 cô đã giành chiến thắng cả 4 danh hiệu Grand Slam đơn trong 1 năm. Năm tiếp đó, cô để thua trong trận chung kết Wimbledon trước Evonne Goolagong Cawley trong lúc mang thai đứa con đầu lòng - Daniel, được sinh vào tháng 3 năm 1972. Court tạm nghỉ thi đấu một thời gian và trở lại vào cuối năm đó, thi đấu tại US Open và tiếp tục thi đấu suốt năm 1973. Năm 1974, cô sinh đứa con thứ hai - Marika và nghỉ thi đấu đến tháng 11. Cô vắng mặt hầu hết các giải đấu trong năm 1976, khi có đứa con thứ ba và trở lại thi đấu vào đầu năm 1977 nhưng sau đó cô đã nghỉ hưu vĩnh viễn khi mang thai đứa con thứ tư. Cô tham gia các giải đấu Grand Slam cuối cùng vào năm 1975. Năm 1973, Court nhận lời thách đấu của cựu tay vợt nam số 1 thế giới - Bobby Riggs (lúc này đã 55 tuổi)), trận đấu diễn ra tại Ramona, California, Riggs đã đánh bại cô với tỉ số 6-2, 6-1. Bốn tháng sau đó, Billie Jean King đã đánh bại được Riggs trong trận đấu giới tính (Battle of the Sexes) diễn ra ở Houston Astrodome. Court được vinh danh trong Đài danh vọng quần vợt thế giới năm 1970. Vào tháng 1 năm 2003, sân số 1 tại khu vui chơi giải trí tổng hợp Melbourne Park đã được đổi tên Margaret Court Arena. == Thành tích tại các giải Grand Slam == === Chung kết đơn nữ (24 vô địch, 5 á quân) === === Nội dung đôi nữ === === Nội dung đôi nam nữ === == Chú thích == == Liên kết ngoài == Margaret Court trên ITF Margaret Court tại Hiệp hội quần vợt nữ Margaret Court tại Fed Cup Margaret Court at the Australian Women's Register Margaret Court tại Internet Movie Database Court, Margaret Jean trongThe Encyclopedia of Women and Leadership in Twentieth-Century Australia
hồ thiền quang.txt
Hồ Thiền Quang (hay còn gọi là Hồ Ha-le, Hồ Halais theo tên của phố Nguyễn Du (rue Halais) thời Pháp thuộc) là một hồ ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Hồ được bao quanh bởi 4 con phố/đường đầy cây xanh và bóng mát là Nguyễn Du, Trần Bình Trọng, Trần Nhân Tông và Quang Trung, đặc biệt là đường Nguyễn Du có hàng cây hoa sữa tỏa hương ngào ngạt vào mùa thu. Hồ nằm ngay phía trước cổng chính của Công viên Thống Nhất (trước là Công viên Lê Nin) là một trong những nơi nghỉ ngơi, thư giãn và hóng mát của người Hà Nội. Tên hồ Thiền Quang có nghĩa là "đạo sáng", ánh sáng của thiền, vốn được đặt theo tên làng Thiền Quang. == Lịch sử == Trong bản đồ Hà Nội năm 1831 thì hồ có tên là Liên Thủy, rộng hơn hồ bây giờ: phía tây giáp phố Yết Kiêu ngày nay, phía đông ăn lấn vào vị trí phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, phía bắc tới phố Trần Quốc Toản và phía nam thì thông với hồ Bảy Mẫu. Quanh hồ có làng Liên Thủy ở phía bắc và tây, làng Thiền Quang ở phía đông nam (đầu phố Nguyễn Đình Chiểu), làng Quang Hoa ở tây nam và Pháp Hoa ở phía nam. Thời Pháp thuộc, hồ bị lấp dần để xây phố và có hình dạng ổn định từ năm 1930. Những năm cuối thế kỷ 20, bờ hồ này (do lúc đó hệ thống đèn chiếu sáng còn yếu) tụ tập nhiều dân đồng tính luyến ái, gái mại dâm và chích ma túy. Năm 2003, Sở Giao thông Công chính Hà Nội đã thực hiện kế hoạch tát nước, nạo vét lòng hồ, kè lại bờ và đổ lại nước mới vào, giữ cho bầu không khí tại đây được trong sạch. Ba phía vòng quanh hồ được xây các vườn hoa nhỏ, có khu đi vệ sinh, có ghế đá cho dân ngồi nghỉ ngắm cảnh. Phía phố Trần Bình Trọng (tên thời Pháp là Đơ-loóc-mơ rue Delorme) có cụm ba ngôi chùa Thiền Quang, Quang Hoa và Pháp Hoa nằm cạnh nhau, ở số nhà 31-33. Chùa của làng Liên Thủy bị phá năm 1926, vốn nằm tại vị trí số nhà 62 phố Nguyễn Du. Phố Nguyễn Du trước kia gồm ba phố: đoạn đầu từ Phố Huế đến Quang Trung là phố Ri-ki-ê rue Riquier, đoạn giữa dọc theo hồ là phố Ha-le, đoạn cuối từ Trần Bình Trọng đến Lê Duẩn là phố Đuy-phuốc rue Defourcq Phố Thiền Quang trước kia cũng là một phần của hồ, do Pháp lấp và lấn hồ năm 1920-1925, đặt tên là phố Cơ-rê-vốt rue Crévost. Phố Trần Nhân Tông chạy dọc phía bờ nam của hồ, vắt qua công viên Thồng Nhất và rạp xiếc Trung ương, vốn là phố Công sứ Mi-ri-ben rue Résident Miribel đổi tên sau 1945. Phố Quang Trung bên bờ đông có tên thời Pháp là đại lộ Giô-rê-ghi-be-ri boulevard Jauréguiberry. Phố Hồ Xuân Hương đâm từ đoạn cuối Quang Trung ra phố Bà Triệu, vốn cũng là phần của hồ được lấn ra năm 1920, với tên phố Gia-bui rue Jabouille Phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, đoạn đầu gần phố Hồ Xuân Hương trước kia vốn là phần của hồ và bãi rác, sau 1930 được lấp và lấn, có tên cũ là phố Rơ-nê Đô-ren rue René Daurelle Thôn Liên Thủy có một đoạn phố cụt mang tên Liên Trì (ao sen), là kết hợp phố Ba-rô-na rue Barona và ngõ Trạng Trình cũ == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == == Xem thêm == Các hồ tại Hà Nội
tổ chức minh bạch quốc tế.txt
Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International viết tắt là TI) là một phong trào toàn cầu của xã hội dân sự hoạt động trong lĩnh vực chống tham nhũng. Tổ chức này được luật sư Peter Eigen, một cựu giám đốc ngân hàng thế giới cho Đông Phi, và những người cùng ý tưởng thành lập. Trụ sở của TI đặt ở thủ đô Berlin, Đức. Ngoài Đức, TI còn có chi nhánh tại hơn 100 quốc gia khác. Ở Việt Nam, cơ quan đầu mối quốc gia của TI là tổ chức Hướng tới Minh bạch (gọi tắt là TT). == Bối cảnh và lịch sử == Nguyên nhân đưa tới việc thành lập tổ chức là do những kinh nghiệm tiêu cực của nhà sáng lập Peter Eigen với nạn tham nhũng qua những năm dài làm việc cho tổ chức Ngân hàng Thế giới, sau cùng với tư cách là giám đốc của vùng Đông Phi với trụ sở ở Kenya. Eigen nhận thấy nạn tham nhũng là yếu tố quan trọng làm cản trở sự thành công của các chương trình phát triển ở đây. Ông tin tưởng rằng các chương trình giúp đỡ phát triển sẽ không thực hiện được hiệu quả, nếu các cơ cấu tham nhũng giữa các nước giàu và các nước nghèo, cũng như trong các nước không bị ngăn chận cũng như không được minh bạch hóa. Khi ông bắt đầu bài trừ tham nhũng với chức vụ của mình, thì lại bị các người đứng đầu cơ quan cảnh cáo. Ngân hàng Thế giới cho ông biết, bất cứ hoạt động chính trị nào và những can thiệp vào nội bộ của một nước đều không được phép. Từ đó mới sinh ra một ý tưởng là thành lập một tổ chức phi chính phủ độc lập, chỉ với mục đích là bài trừ tham nhũng. Vào tháng 6 năm 1993 Eigen và 10 người đồng chí đã thành lập TI tại Den Haag. Sau đó TI được đăng ký là một hội theo luật Đức vào ngày 5 tháng 10 năm 1993. Ban đầu trụ sở của TI là Borsig-Villa Reiherwerder ở Berlin. Sự thành lập tổ chức TI đã được Hiệp hội hợp tác Kỹ thuật Đức (Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit) (GTZ) (bây giờ nhập lại thành Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit) (GIZ)) giúp đỡ rất nhiều. Giữa năm 1998 và 2008 các cơ sở của TI đã nhận được khoảng 590.000 Euro của GTZ. Trong lúc thành lập TI, ngoài Eigen còn có những người sau trong ban chấp hành: Hansjörg Elshorst, Joe Githongo, Fritz Heimann, Michael Hershman, Kamal Hossain, Dolores L. Español, George Moody Stuart, Jerry Parfitt, Jeremy Pope und Frank Vogl. Eigen trở thành chủ tịch và Pope gám đốc điều hành của TI. Báo cáo mới nhất của Tổ chức Minh bạch thế giới cho thấy 75 trong số 180 quốc gia được họ khảo sát có điểm minh bạch dưới 3/10. Hồi 2008 con số này là 72 quốc gia. Trong thời kỳ phục hồi của kinh tế thế giới, tham nhũng là một trong số ít những mảng hầu như không tiến triển. Đứng đầu danh sách minh bạch nhất năm nay là New Zealand, với mức điểm được đánh giá là 9,4/10. Đan Mạch đứng thứ hai với 9,3 điểm, không đổi kể từ năm 2008. Còn Mỹ năm nay tụt một bậc, đứng thứ 19 với 7,3 điểm, do khảo sát cho thấy Quốc hội là cơ quan bị ảnh hưởng nặng nhất bởi nạn tham nhũng tại Mỹ. Tại các quốc gia như Hy Lạp, Ấn Độ, Indonesia, Maroc và Pakistan, khoảng 60% quan chức được khảo sát thừa nhận đã từng gạ gẫm tiền đút lót. Iran, Venezuela nhiều năm liền không thoát ra khỏi nhóm đứng chót. Năm nay, Nga tụt một bậc, trở thành quốc gia minh bạch thứ 147 thế giới. Ở phía đầu bên kia danh sách, quán quân là Somali, một nước mà nhiều người còn băn khoăn về việc có nên gọi là quốc gia hay không khi mà nội chiến xảy ra liên miên và nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào nghề cướp biển. Tổ chức minh bạch quốc tế ước tính hàng năm số tiền hối lộ trên toàn cầu có thể đạt 20 đến 40 tỷ USD, dùng để bôi trơn trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh hoặc thủ tục hành chính. Forbes cho biết danh sách các quốc gia tham nhũng nhất thế giới của họ được dựa trên đánh giá minh bạch của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, khảo sát của Ngân hàng Thế giới và chỉ số Bertelsmann Transformation của tổ chức Bertelsmann, vốn dùng để đánh giá mức độ phát triển tại 128 quốc gia. Tổ chức Tư vấn Rủi ro Chính trị-Kinh tế (PERC), trụ sở tại Hong Kong, đặt Việt Nam vào vị trí thứ ba trong danh sách các nước tham nhũng nhất châu Á-Thái Bình Dương trong một phúc trình kinh tế mới ra. Ở vị trí quốc gia tham nhũng nhất là Indonesia, một trong những nền kinh tế đang phát triển mạnh ở châu lục này. Đứng thứ hai, trước Việt Nam, là Campuchia. Sau Việt Nam là Philippines. PERC đã xem xét 16 quốc gia châu Á-Thái Bình Dương trên góc độ của nhà đầu tư nước ngoài. Tổ chức này đã tham khảo ý kiến của 2.174 doanh nhân hạng trung và cao cấp làm ăn trong khu vực. Tổ chức này nhận xét rằng tại Indonesia, tham nhũng lan tràn trên mọi cấp độ và nỗ lực đấu tranh chống tham nhũng của Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đang bị cản trở khi các thế lực cảm thấy bị đe dọa tìm cách chính trị hóa chủ đề này. Phúc trình của PERC viết: "Tham nhũng đã trở thành một tội danh mà những kẻ tham nhũng sử dụng để tự vệ và chống lại cải cách. Chính cuộc chiến chống tham nhũng nay lại bị đe dọa làm tham nhũng." Indonesia bị chấm 9,07 điểm trên 10 trong khảo sát 2010, từ chỗ có 7,69 điểm năm ngoái. Các nước như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc và Malaysia cũng bị cho là có mức độ tham nhũng cao. Trong khi đó Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hong Kong, Australia và Singapore là ít tham nhũng nhất. Bản phúc trình cũng xem xét ảnh hưởng của nạn tham nhũng lên hệ thống lãnh đạo chính trị và hành chính của các nước và môi trường đầu tư-kinh doanh. PERC cũng tìm hiểu xem các công ty làm ăn tại các quốc gia khác nhau khi phát hiện ra tham nhũng có thể làm gì để đối phó. Trong khi đó, cuối năm ngoái Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) ra báo cáo nói các lãnh đạo Hoa Kỳ và thế giới đều chưa làm đủ để chống tham nhũng trên toàn cầu. Đưa ra sau một năm nhiều nền kinh tế bị khủng hoảng, báo cáo nhận định rằng "tham nhũng là mối nguy cơ đối với phục hồi kinh tế và là thách thức lớn đối với các quốc gia đang xung đột". Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chống tham nhũng là một trong các ưu tiên hàng đầu, nhưng cũng thừa nhận cuộc chiến này đang gặp nhiều khó khăn. Ngày 26/10, Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng 2010 (CPI). Việt Nam xếp hạng 116/178 quốc gia và vùng lãnh thổ, với điểm số 2,7/10. Từ năm 2012, TI đã thay đổi cách tính điểm với thang điểm 100, trong đó 100 là rất trong sạch và 0 là tham nhũng nghiêm trọng. Kết quả điểm số của Việt Nam năm 2014 là 31/100 và xếp hạng 119/175 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy tham nhũng vẫn là một vấn đề nghiêm trọng của quốc gia. Năm 2015, điếm số của Việt Nam là 31/100 và xếp hạng 112/168 quốc gia và vùng lãnh thổ. == Chỉ trích == Stephen Lendman - sinh năm 1934, là cử nhân của đại học Harvard và trưởng ban biên tập của đài Tiến bộ (Progressive Radio News) - đã chỉ trích tổ chức này thông qua chỉ số cảm nhận tham nhũng CPI và gọi tổ chức này là "báo cáo không đúng sự thật về tình trạng tham nhũng" của các nước phương Tây. Ông nói rằng: "Rất đáng tiếc vì phần lớn các quốc gia ở phương Tây được đánh giá cao.[...] Israel được đánh giá là xếp hạng thấp hơn Slovenia, Đài Loan, Puerto Rico, Estonia, Botswana, Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất và Qatar. Lẽ ra Israel phải xếp hạng tham nhũng thấp hơn nữa trên bảng xếp hạng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế!" Ông còn cho rằng "xếp hạng tham nhũng của TI xa rời thực tế" và "các nước phương Tây được đánh giá cao cũng chỉ vì tiền mà thôi" == Xem thêm == Hội nghị quốc tế chống tham nhũng == Chú thích ==
hồ núi cốc.txt
Hồ Núi Cốc là tên một hồ nước ngọt nhân tạo tại tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Đây là một địa điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Thái Nguyên. Không những thế nó còn được gắn với huyền thoại về chuyện tình nàng Công và chàng Cốc. Hồ Núi Cốc được nhắc đến nhiều khi mà năm du lịch Quốc gia 2007 và 2008 được tổ chức ở Thái Nguyên. == Vị trí == Hồ nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 16 km về phía tây. Từ thành phố Thái Nguyên đi qua xã Tân Cương (một xã nổi tiếng với cây chè), sẽ thấy hồ Núi Cốc hiện ra trước mắt. Đây là một vùng du lịch sinh thái gắn với nhiều huyền thoại. == Hình thành và đặc điểm == Hồ Núi Cốc được tạo nên sau khi đập ngăn sông Công được xây dựng trong các năm 1973 đến 1982. Hồ có độ sâu 35 m, diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước 20-176 triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm các mục đích: Cung cấp nước tưới cho 12.000 ha đất. Cấp 40-70 triệu m³ nước mỗi năm cho công nghiệp Giảm nhẹ lũ hạ lưu sông Cầu. Đáp ứng dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng và nuôi cá. Cải thiện môi trường. Hồ gồm một đập chính dài 480 m và 7 đập phụ. Mặt hồ rộng mênh mông với hơn 89 hòn đảo lớn nhỏ: đảo rừng xanh, đảo cư trú của những đàn cò, có đảo là quê hương của loài dê, đảo núi Cái nơi trưng bày các cổ vật từ ngàn xưa để lại và đảo đền thờ bà Chúa Thượng Ngàn. == Du lịch == Đến khu du lịch hồ Núi Cốc, khách tham quan sẽ có cơ hội hưởng thụ nhiều hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí, tham quan và nghỉ dưỡng như: Du thuyền trên mặt hồ thăm các đảo. Thăm huyền thoại cung (nghe kể truyền thuyết câu chuyện tình thuỷ chung chàng Cốc - nàng Công). Thăm công viên cổ tích, vườn thú, vui chơi ở công viên nước. Tại đây có hệ thống khách sạn, nhà hàng ăn uống phong phú từ bình dân đến cao cấp, giá cả hợp lý... Trong nhiều năm nay hồ Núi Cốc đã trở thành một địa chỉ tham quan hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. == Liên quan == Hồ Núi Cốc được nhắc đến trong bài Huyền thoại hồ Núi Cốc của nhạc sĩ Phó Đức Phương. Bên cạnh núi Cốc, sông Công, núi Văn, núi Võ, núi Quần Ngựa, nơi đây là chỗ tướng quân Lam Sơn Lưu Nhân Chú luyện binh, tích trữ lương thảo, lấy núi Văn, núi Võ kề bên làm sân tập, lấy nước sông Công nuôi quân để góp phần vào chiến thắng Chi Lăng năm 1427. == Quy hoạch == Ngày 25-6-2011 thủ tướng chính phủ đã quyết định công bố quy hoạch vùng du lịch quốc gia hồ Núi Cốc đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 và trao giấy chứng nhận đầu tư giai đoạn 1 cho các doanh nghiệp với tổng số vốn đầu tư giai đoạn 1 là 10.000 tỷ đồng. Theo quy hoạch, vùng Hồ Núi Cốc là khu du lịch trọng điểm quốc gia, khu du lịch sinh thái có quy mô gần 200 km2, gồm 9 xã và 1 thị trấn thuộc thành phố Thái Nguyên và 2 huyện (Phổ Yên, Đại Từ), trong đó diện tích thuộc Thành phố Thái Nguyên trên 5.400 ha, diện tích thuộc huyện Đại Từ trên 10.000 ha và diện tích thuộc huyện Phổ Yên hơn 3.400 ha. Dự tính đến năm 2020, dân số toàn vùng quy hoạch từ 60,5 đến 62 nghìn người; đến năm 2030 từ 68 đến 70 nghìn người. Vùng du lịch này được định hướng phát triển thành phân vùng phát triển kinh tế bao gồm khu vực phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, vùng trồng chè tập trung, vùng sản xuất nông nghiệp, vùng rừng tự nhiên, phòng hộ và Khu vực phát triển du lịch, thương mại dịch vụ và đô thị. Toàn bộ vùng du lịch này được chia thành 5 khu chức năng bao gồm: Du lịch, thể thao, thương mại dịch vụ tổng hợp với số vốn đầu tư 850-900 tỷ đồng; Khu giải trí, sân golf, du lịch sinh thái vốn đầu tư 8.100-8.300 tỷ đồng; Trung tâm hành chính mới vốn đầu tư 450-500 tỷ đồng; Khu đô thị và dịch vụ du lịch - Thị trấn Quân Chu. Các doanh nghiệp đầu tư giai đoạn 1 bao gồm các dự án: Dự án xây dựng hệ thống giao thông và thoát nước quanh Hồ Núi Cốc; Khu du lịch sinh thái và vui chơi có thưởng Hồ Núi Cốc; Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Quốc tế; xây dựng khu du lịch phía Nam Hồ Núi Cốc; du thuyền và hệ thống bến đỗ; Tổ hợp trung tâm du lịch quốc tế, vui chơi và nghỉ dưỡng 5; Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Hồ Núi Cốc; đường đô thị Đán - Hồ Núi Cốc. == Hình ảnh Hồ Núi Cốc == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == www.vietnamtourism.com
trình duyệt web.txt
Trình duyệt web là một phần mềm ứng dụng cho phép người sử dụng xem và tương tác với các văn bản, hình ảnh, đoạn phim, nhạc, trò chơi và các thông tin khác ở trên một trang web của một địa chỉ web trên mạng toàn cầu hoặc mạng nội bộ. Văn bản và hình ảnh trên một trang web có thể chứa siêu liên kết tới các trang web khác của cùng một địa chỉ web hoặc địa chỉ web khác. Trình duyệt web cho phép người sử dụng truy cập các thông tin trên các trang web một cách nhanh chóng và dễ dàng thông qua các liên kết đó. Trình duyệt web đọc định dạng HTML để hiển thị, do vậy một trang web có thể hiển thị khác nhau trên các trình duyệt khác nhau. == Các trình duyệt Web hiện nay == Một số trình duyệt web hiện nay cho máy tính cá nhân bao gồm Internet Explorer, Mozilla Firefox, Safari, Google Chrome,Opera., Avant Browser, Maxthon, Konqueror, Lynx, Flock, Arachne, Epiphany, K-Meleon, Midori và AOL Explorer. Một số trình duyệt web hiện nay cho điện thoại di động bao gồm Mozilla Firefox, Safari, Google Chrome, Opera, UCWeb == Các giao thức và các chuẩn == Trình duyệt web thường giao tiếp với máy chủ web bằng việc sử dụng HTTP (giao thức truyền siêu văn bản) để lấy về các trang web. HTTP cho phép các trình duyệt web gửi thông tin đến các máy chủ web, cũng như lấy các trang web về. HTTP được sử dụng rộng rãi nhất là HTTP/1.1, được định nghĩa đầy đủ ở RFC 2616. HTTP/1.1 có những chuẩn riêng mà Internet Explorer không hỗ trợ đầy đủ, nhưng hầu hết các trình duyệt web khác đều hỗ trợ đủ. Các trang được định vị bằng cách thức của một URL (bộ định vị tài nguyên chung) (RFC 1738), được coi như là một địa chỉ, bắt đầu bằng cụm http: để truy cập HTTP. Nhiều trình duyệt cũng hỗ trợ các kiểu URL khác và giao thức tương ứng, như gopher: cho Gopher (một giao thức siêu liên kết có thứ bậc), ftp: cho FTP (giao thức truyền file), rtsp: cho RTSP (giao thức streaming thời gian thực), và https: cho HTTPS (một phiên bản được mã hoá SSL của HTTP). Định dạng file của một trang web thường là HTML (ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) và được xác định bởi giao thức HTTP sử dụng kiểu nội dung MIME. Phần lớn các trình duyệt hỗ trợ nhiều định dạng file khác bên cạnh HTML, như là các định dạng ảnh JPEG, PNG, GIF... và có thể mở rộng để hỗ trợ nhiều hơn nhờ sử dụng các plug-in. Sự kết hợp của kiểu nội dung HTTP và đặc tả giao thức URL cho phép các nhà thiết kế trang web có thể đưa ảnh, hoạt hình, video, âm thanh và đa phương tiện được streaming vào trang web, hoặc có thể truy cập chúng thông qua trang web. == Lịch sử == == Xem thêm == Danh sách các trình duyệt web So sánh các trình duyệt web Thị phần trình duyệt web == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
khế ước xã hội.txt
Khế ước xã hội trong triết học và chính trị học là một học thuyết mô tả việc con người cùng thỏa thuận từ bỏ trạng thái tự nhiên để xây dựng cuộc sống cộng đồng. Về mặt luật pháp, khế ước xã hội thể hiện cụ thể là một tờ khế ước, một bản hợp đồng trên đó các thành viên xã hội thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau. Lý thuyết về khế ước xã hội lần đầu tiên được Thomas Hobbes đưa ra khi ông cho rằng con người ban đầu vốn sống ở trạng thái tự nhiên, trong tình trạng vô chính phủ, khi chưa hề có sự cưỡng bức có tổ chức lên mỗi cá nhân. Con người qua khế ước xã hội từ bỏ những quyền tự do tự nhiên của mình để được hưởng sự an toàn và trật tự của xã hội văn minh. Theo Hobbes, con người sơ khai sống thành bầy đàn để cùng chống lại các kẻ thù, nhưng không có gì ràng buộc giữa họ. Quyền sở hữu không tồn tại dẫn đến chuyện tất cả mọi người đều có thể sở hữu tất cả mọi vật. Leviathan là tên tác phẩm để đời của Hobbes, mô tả chính xác một sự hỗn độn vô chính phủ mà theo đó vì xã hội chưa công nhận rạch ròi thế nào là sở hữu cho nên mọi người có thể sẵn sàng gây chiến với người khác để giành lấy cái mình muốn. Ở trạng thái tự nhiên, tuy xã hội tự do tuyệt đối nhưng chẳng đem lại lợi ích cho bất kỳ ai kể cả kẻ mạnh, vì con người dù mạnh đến đâu cũng không thể đơn độc làm theo ý mình được. Con người buộc phải hy sinh một phần tự do để có thể chung sống với nhau trong hòa bình. Nói cách khác con người buộc phải thống nhất với nhau những nguyên tắc cộng đồng để tránh phải sống nơm nớm trong nỗi lo sợ bảo vệ tính mạng và những gì mình có. Do đó, quyền tự do cá nhân cần phải được giao ước để trao tuyệt đối cho một hoặc một số cá nhân, Hobbes ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế. Lý thuyết về khế ước xã hội được John Locke kế thừa và phát triển. Locke xây dựng chi tiết cụ thể từng giai đoạn phát triển từ trạng thái tự nhiên dẫn đến sự hình thành nhà nước qua khế ước xã hội và đi đến quan điểm về chủ quyền của nhân dân đối với nhà nước dù cho đó là nhà nước chuyên chế. Được biết đến trước hết là một nhà triết học theo trường phái duy nghiệm (empiric), Locke cũng là một tư tưởng gia xuất sắc trên lĩnh vực chính trị và xã hội. Locke cố gắng giải thích trước hết quyền sở hữu được con người định nghĩa với nhau thông qua các thỏa hiệp. Bắt đầu từ việc chiếm hữu bằng sức mạnh, con người dần dần tìm cách sở hữu bằng lao động. Một khi vấn đề sở hữu được giải quyết, con người đã có đủ các tiền đề cần thiết để đi đến các thỏa hiệp cao hơn về cuộc sống cộng đồng. Khế ước xã hội chính là bản thỏa hiệp của các thành viên cộng đồng, theo đó một con người sẽ từ bỏ quyền tự do tự nhiên - đổi lại anh ta trở thành một thành viên, được cộng đồng che chở và công nhận. Đối với một quốc gia, nhà nước là tập hợp những người đại diện đứng ra bảo đảm sự tôn trọng bản thỏa ước. Jean-Jacques Rousseau tiếp tục đi xa hơn khi cho rằng quyền lực phải được trao cho những người đại diện cho ý chí nguyện vọng của quần chúng. Trong tác phẩm "Du Contrat Social" - Khế ước xã hội - Rousseau, tiếp nối tư tưởng của Hobbes, đã mô tả quá trình hình thành các thỏa ước xã hội: một quá trình mà sức mạnh bắt đầu nhường chỗ cho định chế, lực (forces) nhường chỗ cho quyền (hay quyền lực: pouvoir, power) Chính trị ra đời như một nhu cầu tất yếu của loài người để tổ chức xã hội. Đối với một đất nước, Hiến pháp chính là bản Khế ước xã hội cơ bản nhất, nền tảng cho tất cả các thỏa ước khác của cộng đồng. Thông qua hiến pháp, con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức đánh đổi một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền (và do đó anh ta trở thành người bị trị) để có được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp. Để cho bản hợp đồng trao đổi này được công bằng, trong Khế ước xã hội cần phải định rõ nguyên tắc lựa chọn người cầm quyền. Nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ ai cũng có thể lên nắm quyền miễn là được đa số thành viên ủng hộ. Về phía người cầm quyền, đối trọng với quyền lực anh ta có, là những ràng buộc về mặt trách nhiệm với cộng đồng. Nếu người cầm quyền không hoàn thành trách nhiệm của mình, bản hợp đồng giữa anh và cộng đồng phải bị coi như vô hiệu, và cộng đồng phải có quyền tìm ra một người thay thế mới. Chính những ý tưởng này đã châm ngòi cho cả cuộc Cách mạng Pháp và Mỹ. Thomas Jefferson, một trong những người là Cha đẻ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục hoàn thiện lý thuyết khi cho rằng quyền tự nhiên của con người phải là một phần của khế ước xã hội và quyền lực của nhà nước chỉ có thể thực hiện khi xuất phát từ sự đồng thuận của chính những người bị trị. Nhìn chung, khế ước xã hội thường được nhìn nhận dưới góc độ một xã hội, một quốc gia. Tuy nhiên tư tưởng về khế ước xã hội không hề bị giới hạn ở đó. Chỉ cần có hai người là đã có thể cho ra đời một bản thỏa ước (giữa họ). Doanh nghiệp chính là một trường hợp khác vận dụng tinh thần khế ước. Bản điều lệ doanh nghiệp chính là khế ước xã hội giữa những người góp vốn. Điều lệ doanh nghiệp quy định sự tồn tại, nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên. Giám đốc doanh nghiệp là người đại diện cho doanh nghiệp cũng như Chủ tịch nước là người đại diện cho đất nước, tuy rằng hai bản khế ước này không có cùng quy mô như nhau. Quan điểm chúng ta thường gặp là coi giám đốc doanh nghiệp cũng giống như nhân viên doanh nghiệp. Ông ta bị ràng buộc với doanh nghiệp bằng một hợp đồng lao động và được trả lương cao hơn vì công việc quản lý xứng đáng được trả lương cao hơn. Quan điểm này vấp phải một rào cản vô cùng lớn trong hệ thống luật các nước phát triển, nhất là luật của nước cộng hòa Pháp, quê hương của Rousseau. Khi Tổng thống phạm sai lầm, người ta không sa thải tổng thống như ban quản trị doanh nghiệp sa thải giám đốc. Nếu tinh thần bình đẳng được tôn trọng, nhà nước cũng là một pháp nhân như doanh nghiệp và do đó cần phải có những định chế đặc biệt đối với giám đốc doanh nghiệp trong trường hợp ông ta không thực hiện được bản hợp đồng của mình. == Tham khảo == Gilbert Boss, La portée du contrat social chez Hume et Spinoza, Munich, 1998, 27 pages. (en pdf) Serge Paugam (organisateur), Solidarité/Solidarités. Le contrat social en choix et en actes, à l'EHESS, Paris, 7 au 9 mars 2007: vidéos des interventions Claude Pérès L'individu dans le Contrat Social: un concept coercitif
liên hiệp pháp.txt
Liên hiệp Pháp là một thực thể chính trị do chính phủ Đệ tứ Cộng hòa Pháp thành lập để thay thế hệ thống thuộc địa và danh xưng Đế quốc Pháp đồng thời bỏ thể chế "bản xứ" (indigène). Nó được thành lập theo Chương VIII Hiến pháp ngày 27 tháng 10 năm 1946 (Đệ tứ Cộng hòa). Việc thành lập Liên hiệp Pháp làm thay đổi tình trạng của các thuộc địa. Đế quốc thực dân Pháp trở thành Liên hiệp Pháp. Các thuộc địa trở thành các tỉnh và vùng lãnh thổ. Khung pháp lý này bãi bỏ indigénat - đặc trưng của lao động cưỡng bức và công lý bản địa đặc biệt - và khiến các thuộc địa Pháp có hình thức gần với Khối thịnh vượng chung. Theo lời mở đầu của Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1946: "Hình thái của người Pháp, bao gồm người các lãnh thổ hải ngoại, là một cộng đồng trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo (điều 16). Liên hiệp Pháp bao gồm các quốc gia và các dân tộc mà chia sẻ hoặc phối hợp các nguồn lực và nỗ lực để phát triển nền văn minh của họ, làm tăng hạnh phúc của họ và đảm bảo an toàn của họ (điều 17). Đúng với trách nhiệm truyền thống, Pháp sẽ dẫn dắt nhân dân bảo đảm sự tự do để họ tự quản và quản lý công việc của mình một cách dân chủ, loại bỏ hệ thống thuộc địa dựa trên sự tùy tiện, để đảm bảo cho tất cả được hưởng các dịch vụ công cộng và thực hành quyền tự do cá nhân và tập thể đã được thiết lập hoặc xác nhận.(điều 18)". == Thành lập == Liên hiệp Pháp được chủ trương thành lập từ Hội nghị Brazzaville năm 1944. Theo đó, hội nghị này đề xuất thực hiện cải cách trên các mặt xã hội, kinh tế và hành chính và tổ chức chính trị khác ở các thuộc địa. Nó đã được quyết định mở công việc "lớn hơn và lớn hơn" cho dân bản địa, tuy nhiên, người Pháp vẫn nắm giữ vị trí điều hành tại một số cơ quan bản địa, đồng thời đề xuất sự bình đẳng giữa người châu Âu và người bản địa, và đưa các khái niệm về tự do kết hôn, để thúc đẩy sự tự do của phụ nữ. Phát triển giáo dục, chấm dứt lao động cưỡng bức và tạo ra một hệ thống phúc lợi xã hội đầy đủ là một trong những đề xuất quan trọng nhất trên bình diện xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế hội nghị nhấn mạnh, "cần phải khuyến khích sự phát triển công nghiệp của vùng lãnh thổ thuộc địa". Trong khu vực hành chính, xem xét những biện pháp tổ chức lại khác nhau, nhưng không làm suy giảm sức mạnh của các nhà lãnh đạo thuộc địa. Trên mặt trận chính trị, hội nghị có nhiều thận trọng hơn đối với các tổ chức chính trị của đế quốc Pháp. Văn bản cuối cùng, dự thảo phù hợp với mong muốn của tướng de Gaulle, tuy nhiên, bác bỏ ý tưởng về giải phóng thuộc địa, toàn bộ ý tưởng là sự tự chủ của thuộc địa. Các văn bản khuyến cáo rằng "các thuộc địa có một sự tự do hành chính và kinh tế lớn. Chúng tôi cũng muốn các dân tộc thuộc địa cảm thấy mình tự do và trách nhiệm đang dần hình thành và cao để họ có liên quan đến việc quản lý các vấn đề công cộng của đất nước của họ." Nó đề nghị thành lập một cơ quan mới, Liên hiệp, trong khi tôn trọng sự tự do của vùng lãnh thổ địa phương, "khẳng định và bảo đảm sự thống nhất không thể phá vỡ của thế giới chính trị Pháp". Chủ trương này nhằm khẳng định chủ quyền Pháp ở các thuộc địa cũ, nhưng bảo đảm sự tự do dân chủ lớn hơn. Tuy nhiên Liên hiệp Pháp thành lập năm 1946 đã mở rộng hơn cơ chế so với tuyên bố tại Hội nghị Brazzaville. Liên hiệp này tồn tại từ năm 1946 đến năm 1958 thì bị thay thế bởi tổ chức Cộng đồng Pháp do Charles de Gaulle đề xướng. == Tổ chức == Liên hiệp Pháp dùng Khối thịnh vượng chung Anh làm mẫu. Điều 60 Hiến pháp quy định: Liên hiệp Pháp gồm cộng hòa Pháp bao gồm cả chính quốc Pháp, các tỉnh và vùng lãnh thổ hải ngoại, cộng thêm các vùng lãnh thổ và quốc gia hội viên. Vùng lãnh thổ hội viên được định nghĩa là "vùng lãnh thổ được uỷ thác" (territoires sous mandat), và "quốc gia hội viên" (États associés), "quốc gia bảo hộ" (États sous protectorat). Liên hiệp Pháp gồm có những thành viên: Chính quốc Pháp cùng người Pháp ở lãnh thổ hải ngoại, Những vùng lãnh thổ do Liên Hiệp Quốc tín thác cho Pháp (trường hợp Cameroon), Những xứ thuộc địa cũ của Pháp, và Những xứ do Pháp bảo hộ cũ. Các xứ (nước) thuộc địa cũ và bảo hộ cũ sẽ ký một hiệp ước mới với nhà nước Pháp, trở thành các tỉnh hải ngoại, lãnh thổ hải ngoại,... Quốc gia hội viên đã độc lập cũng sẽ ký một hiệp ước tương tự, và không dùng cụm từ "bảo hộ"; tương tự là các vùng lãnh thổ hội viên khác. Theo hiến chương của tổ chức này thì mục đích chính là phát triển văn hóa và quyền lợi nước Pháp nhưng những thành viên kia cũng được quyền tự trị. Tổng thống Liên hiệp Pháp là tổng thống Pháp do Nghị viện Pháp gồm Quốc hội và Hội đồng cộng hòa bầu. Hội đồng tối cao của Liên hiệp Pháp bao gồm một đoàn đại biểu của chính phủ Pháp và đại diện của các nước liên kết. Chức năng của nó là để hỗ trợ chính phủ trong việc điều hành chung của liên hiệp. Quốc hội của Liên hiệp Pháp bao gồm số lượng bằng nhau của các thành viên đại diện cho Pháp, và một nửa số thành viên đại diện các tỉnh và vùng lãnh thổ ở nước ngoài và các quốc gia hội viên. Tổng thống Liên hiệp có chức năng đại diện, chủ tọa Hội đồng tối cao, triệu tập Quốc hội theo yêu cầu của trên một nửa số thành viên Quốc hội. Hội đồng tối cao Liên hiệp gồm Tổng thống Pháp là Chủ tịch Hội đồng đương nhiên Tổng thống Liên hiệp, một phái đoàn của Chính phủ Cộng hòa Pháp; và đại diện mỗi quốc gia liên kết có quyền chỉ định vào cương vị Tổng thống Liên hiệp. Phái đoàn của chính phủ của nước Cộng hòa Pháp bao gồm: Sáu thành viên theo pháp luật, bao gồm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và năm bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các lực lượng vũ trang, Tài chính và Kinh tế Xã hội, Bộ người Pháp ở nước ngoài; Các thành viên có thể có, cụ thể là: Bộ trưởng khác theo nghị định của Hội đồng Bộ trưởng được bổ nhiệm trong cuộc họp của Hội đồng tối cao. Đối với các đại diện của các quốc gia hội viên đến Hội đồng tối cao, đại diện các đoàn chính phủ của mỗi nước hội viên là kết quả của thỏa thuận giữa Cộng hòa Pháp và các nước thành viên trong một phần hoạt động xác định mối quan hệ với Cộng hoà Pháp. Thành phần của Quốc hội Liên hiệp, không giống như Hội đồng tối cao, không dựa trên sự khác biệt giữa các quốc gia thành viên Liên hiệp - Cộng hòa Pháp và các quốc gia liên quan - mà là ở chính quốc và các vùng lãnh thổ bên ngoài. Cơ sở của nó là địa lý chứ không phải là quy phạm pháp luật. Cách thức bầu cử các nghị sĩ không giống nhau. Chiếu theo Hiến pháp Đệ tứ Cộng hòa Pháp thì công dân mọi xứ đều bình đẳng như công dân Pháp. == Thu nhỏ == Liên hiệp Pháp dần thu nhỏ lại khi ba nước Đông Dương rút khỏi liên hiệp vào năm 1956. Hai năm sau thì Maroc và Algérie giành được độc lập năm 1962, trước đó nước này rút khỏi Liên hiệp Pháp năm 1956. Năm 1958 thì Cộng đồng Pháp khai sinh và Liên hiệp Pháp chấm dứt tồn tại. == Xem thêm == Đế quốc Thực dân Pháp Đế quốc Pháp == Tham khảo ==
hướng tây.txt
Hướng Tây là một trong bốn hướng chính của la bàn, theo quy định chung trong địa lý. Ba hướng kia là: hướng Đông, hướng Nam và hướng Bắc. Ở toàn cầu, mặt trời mọc từ phía đông và lặn về phía tây. Nếu bạn đứng thẳng trên mặt đất, nhìn thẳng về hướng mặt trời mọc và dang rộng hai tay, thì mắt bạn nhìn về phía đông, tay phải chỉ phía nam, tay trái chỉ phía bắc và lưng bạn hướng phía tây. == Tham khảo ==
jerusalem.txt
Jerusalem (phiên âm tiếng Việt: Giê-ru-sa-lem, từ Hán-Việt: Gia Liêm; 31°46′B 35°14′Đ; tiếng Do Thái: ירושׁלים Yerushalayim; tiếng Ả Rập: al-Quds, tiếng Hy Lạp: Ιεροσόλυμα), là một thành phố Trung Đông nằm trên lưu vực sông giữa Địa Trung Hải và Biển Chết ở phía đông của Tel Aviv, phía nam của Ramallah, phía tây của Jericho và phía bắc của Bethlehem. Thành lập từ khoảng thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên, thành phố đã hai lần bị hủy diệt và trải qua nhiều lần bị vây hãm và tấn công trong suốt lịch sử. Hiện nay, nó vẫn nằm ở tâm điểm cuộc tranh chấp giữa Israel và Chính quyền Quốc gia Palestine. Trong Chiến tranh Sáu ngày (1967), Israel đã chiếm hoàn toàn lãnh thổ Jerusalem và tuyên bố thành phố là thủ đô của mình. Điều này không được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi và không có đại sứ quán nước ngoài nào đóng ở Jerusalem. Hiện có khoảng 20 vạn người Palestine sống ở phần Đông Jerusalem với một triển vọng thiết lập miền này thành thủ đô tương lại của một Nhà nước Palestine độc lập. Jerusalem là thánh địa quan trọng nhất đối với người Do Thái bởi vì theo Kinh Thánh Hebrew, chính nơi đây vua David của Israel đã xây dựng thủ đô của Vương quốc Israel thống nhất và vua Solomon xây Đền Thờ Đầu tiên. Còn theo Tân Ước, chính tại Jerusalem, Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá; và trong truyền thống Hồi giáo dòng Sunni đây là thành phố quan trọng thứ ba (sau Mecca và Medina) bởi theo Qur'an đây là điểm dừng chân trong Hành trình Đêm kỳ bí của ông. Do đó, thành phố trở thành một thánh địa chung của cả ba tôn giáo nói trên, lưu giữ nhiều di tích tôn giáo và là điểm hành hương hàng năm. Khu vực Cổ Thành đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1981. == Lịch sử == Jerusalem có lịch sử lâu dài, Theo thần thoại và truyền thuyết Do thái, Vua David, hậu duệ của tổ phụ Abraham, đã chinh phục thành phố này từ người Jebusite. Theo những đồ vật khảo cổ học đã được tìm thấy, sự định cư tại Jerusalem bắt đầu tồn tại từ 3 nghìn năm trước Công Nguyên. Theo những nguồn tin tức lịch sử, thành phố được nhắc đến lần đầu tiên vào những năm 2 nghìn trước Công Nguyên. Lúc đầu, thành phố được xây dựng và sáng lập nên bởi người Canaanite (có thể, nhưng cũng không nhất thiết phải là người Jebusite, người đã chiếm giữ thành phố cuối thời kỳ đồng thiếc) và trở thành thủ đô các vương quốc và thực thể: Vương quốc Israel thống nhất, Vương quốc Judah và Judea trong thời kỳ Đền thờ Thứ nhất và thời kỳ Đền thờ Thứ hai. Thành phố tiếp tục giữ vai trò quan trọng là thủ phủ của Đất Thánh trong thời kỳ thống trị của người Hồi giáo. Jerusalem là thành phố linh thiêng nhất của Do Thái giáo, và có ý nghĩa đặc biệt với Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Từ năm 1948 đến 1967, phần phía tây của Jerusalem được quản lý bởi Israel như thủ đô của đất nước, trong khi phía Đông Jerusalem được quản lý bởi Jordan. Thành phố hợp nhất lại bởi thắng lợi của Israel trong Chiến tranh sáu ngày, mặc dù địa vị của thành phố vẫn bị tranh chấp. Luật của Israel từ năm 1980 tuyên bố Jerusalem như thủ đô vĩnh viễn, không bị chia cách của Israel, trong khi Đông Jerusalem lại được cho là thủ đô đang được chờ đợi của đất nước Palestina sau này. Địa vị của những nơi linh thiêng trong thành phố cũng đang bị tranh cãi. Với số dân 704.900 (từ ngày 31 tháng 12 năm 2004), Jerusalem là thành phố không đồng nhất, tiêu biểu cho nhiều loại dân tộc, tôn giáo và những nhóm kinh tế xã hội. Khu vực được gọi là "Thành phố cổ" được bao vây bởi bức tường thành và bao gồm bốn khu: Hồi giáo, Kitô giáo, Do Thái, và Armenia. Thị trưởng hiện giờ của Jerusalem là Nir Barkat. == Tư cách chính trị == === Tư cách quốc tế === Trong khi cộng đồng quốc tế xem Đông Jerusalem, bao gồm toàn Phố Cổ, như một phần của các vùng lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng, không phải phần nào, phần phía Tây hoặc Đông Jerusalem, được công nhận như là một phần của lãnh thổ của Israel hoặc Nhà nước Palestine. Theo Kế hoạch phân vùng của Liên Hợp Quốc cho Palestine thông qua tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào năm 1947, Jerusalem đã được dự kiến ​​sẽ trở thành một corpus separatum được quản lý bởi Liên Hiệp Quốc. Trong cuộc chiến tranh năm 1948, phần phía tây của thành phố bị chiếm đóng bởi lực lượng của nhà nước non trẻ của Israel, trong khi phần đông bị chiếm đóng bởi Jordan. Cộng đồng quốc tế chủ yếu là xem xét tình trạng pháp lý của Jerusalem để lấy được từ kế hoạch phân vùng, và tương ứng từ chối công nhận chủ quyền của Israel trên thành phố. === Tình trạng dưới sự quản lý của Israel === Sau năm 1967 chiến tranh sáu ngày, Israel đã mở rộng thẩm quyền và điều hành của mình trên Đông Jerusalem, thiết lập biên giới thành phố mới. Trong năm 2010, Israel thông qua luật cho Jerusalem tình trạng ưu tiên quốc gia cao nhất ở Israel. Luật này ưu tiên việc xây dựng trong thành phố, và cung cấp các khoản tài trợ và lợi ích về thuế cho cư dân để làm nhà ở, cơ sở hạ tầng, giáo dục, việc làm, kinh doanh, du lịch, và các sự kiện văn hóa giá cả phải chăng hơn. Bộ trưởng Bộ Giao Moshe Kahlon nói rằng dự luật gửi "một thông điệp chính trị rõ ràng, dứt khoát rằng Jerusalem sẽ không được chia", và rằng "tất cả những người trong cộng đồng Palestine và quốc tế những người mong đợi chính phủ Israel hiện để chấp nhận bất cứ nhu cầu liên quan đến chủ quyền của Israel hơn của nó vốn là sai lầm và gây hiểu nhầm ". Tư cách của thành phố, và đặc biệt là thánh địa của mình, vẫn còn là một vấn đề cốt lõi trong cuộc xung đột Israel-Palestine. Chính phủ Israel đã thông qua kế hoạch xây dựng trong khu phố Hồi giáo của thành phố cũ để mở rộng sự hiện diện của người Do Thái ở Đông Jerusalem, trong khi một số nhà lãnh đạo Hồi giáo đã tuyên bố rằng người Do Thái không có kết nối lịch sử với Jerusalem, cáo buộc rằng bức tường phía Tây 2500 tuổi được xây dựng như là một phần của một nhà thờ Hồi giáo. Người Palestine coi Jerusalem là thủ đô của Nhà nước Palestine, và biên giới của thành phố đã là chủ đề của các cuộc đàm phán song phương. Một nhóm các chuyên gia đã nhóm họp lúc đó, Thủ tướng Israel Ehud Barak trong năm 2000 kết luận rằng thành phố phải được phân chia, do Israel đã không đạt được bất kỳ mục tiêu quốc gia của mình ở đó. Tuy nhiên, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết vào năm 2014 rằng "Jerusalem sẽ không bao giờ bị chia cắt". Một cuộc thăm dò được tiến hành trong tháng 6 năm 2013 cho thấy 74% người Do Thái Israel bác bỏ ý tưởng của một thủ đô của Palestine ở bất cứ phần nào của Jerusalem, mặc dù 72% công chúng coi nó như là một thành phố chia cắt. Một cuộc thăm dò được tiến hành bởi Trung tâm Palestine cho dư luận và Mỹ Pechter Trung Đông thăm dò ý kiến ​​của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, giữa những người dân Ả Đông Jerusalem vào năm 2011 cho thấy 39% người dân Ả Rập Đông Jerusalem sẽ thích có quốc tịch Israel so với 31% người chọn quyền công dân Palestine. Theo thăm dò, 40% cư dân Palestine sẽ thích được ở lại các khu phố của họ nếu họ sẽ được đặt dưới sự cai trị của người Palestine. === Jerusalem là thủ đô === ==== Thủ đô của Israel ==== tòa nhà Bộ Ngoại giao Israel Ngày 05 tháng 12 năm 1949, Thủ tướng đầu tiên của Israel, David Ben-Gurion, đã tuyên bố Jerusalem là thủ đô của Israel, và từ đó tất cả các nhánh của chính quyền Israel từ lập pháp, tư pháp và hành-được đóng ở đó, ngoại trừ Bộ Quốc phòng đóng ở HaKirya ở Tel Aviv. Tại thời điểm công bố, Jerusalem đã được phân chia giữa Israel và Jordan và do đó chỉ có Tây Jerusalem đã được tuyên bố thủ đô của Israel. Vào tháng 7 năm 1980, Israel đã thông qua Luật Jerusalem là Luật cơ bản. Luật tuyên bố Jerusalem là thủ đô "hoàn chỉnh và thống nhất" của Israel. "Luật cơ bản: Jerusalem, thủ đô của Israel" là một lý do quan trọng đối với cộng đồng quốc tế không công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 478 trên 20 tháng 8 năm 1980, trong đó tuyên bố rằng Luật cơ bản là "một sự vi phạm luật pháp quốc tế", là "vô giá trị và phải được hủy bỏ ngay lập tức". Các nước thành viên đã được kêu gọi rút đại diện ngoại giao của họ khỏi Jerusalem. Sau nghị quyết, 22 trong số 24 quốc gia mà trước đó đã có Đại sứ quán tại (Tây) Jerusalem chuyển chúng ở Tel Aviv, nơi mà nhiều đại sứ quán đã cư trú trước khi Nghị quyết 478. Costa Rica và El Salvador tiếp vào năm 2006. Hiện nay, không có đại sứ quán nằm trong giới hạn thành phố Jerusalem, mặc dù có bốn lãnh sự trong thành phố. Năm 1995, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật Đại sứ quán Jerusalem, yêu cầu, với điều kiện, mà đại sứ quán của nó được chuyển từ Tel Aviv đến Jerusalem. Tuy nhiên, Tổng thống Hoa Kỳ đã lập luận rằng các nghị quyết của Quốc hội về tình trạng của Jerusalem chỉ là tư vấn. Hiến pháp bảo lưu quan hệ đối ngoại như một quyền hành pháp, và như vậy, Đại sứ quán Hoa Kỳ vẫn là ở Tel Aviv. Do không công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, một số báo chí phi Israel sử dụng Tel Aviv là một hoán dụ cho Israel. ==== Thủ đô của Palestine ==== Palestine xem Đông Jerusalem là lãnh thổ bị chiếm đóng theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc 242. Chính quyền Palestine tuyên bố Jerusalem, bao gồm cả Haram al-Sharif, là thủ đô của Nhà nước Palestine, PLO tuyên bố rằng Tây Jerusalem cũng tuỳ thuộc vào cuộc đàm phán tình trạng vĩnh viễn. Tuy nhiên, nó đã tuyên bố họ sẽ sẵn sàng xem xét các giải pháp thay thế, chẳng hạn như làm Jerusalem là một thành phố mở. Vị trí hiện tại của PLO là Đông Jerusalem, theo định nghĩa của ranh giới đô thị trước năm 1967, sẽ là thủ đô của Palestine và Tây Jerusalem là thủ đô của Israel, với mỗi nhà nước được hưởng đầy đủ chủ quyền đối với một phần tương ứng của thành phố và với riêng của mình đô thị. Một hội đồng phát triển chung sẽ chịu trách nhiệm phát triển phối hợp. Một số nhà nước, như Nga và Trung Quốc, công nhận nhà nước Palestine với Đông Jerusalem là thủ đô của nó. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc Nghị quyết 58/292 khẳng định rằng những người Palestine có quyền chủ quyền đối với Đông Jerusalem. == Nhân khẩu học == == Thành phố kết nghĩa == Jerusalem là thành phố kết nghĩa với: USA Thành phố New York, Hoa Kỳ (từ 1993) == Hình ảnh == == Chú thích == === Tài liệu khác === Cheshin, Amir S.; Bill Hutman and Avi Melamed (1999). Separate and Unequal: the Inside Story of Israeli Rule in East Jerusalem Harvard University Press ISBN 978-0-674-80136-3 Cline, Eric (2004) Jerusalem Besieged: From Ancient Canaan to Modern Israel. Ann Arbor: University of Michigan Press ISBN 0-472-11313-5. Collins, Larry, and La Pierre, Dominique (1988). O Jerusalem! Simon and Shuster, N.Y. ISBN 0-671-66241-4 Gold, Dore (2007) The Fight for Jerusalem: Radical Islam, The West, and the Future of the Holy City International Publishing Company J-M, Ltd. ISBN 978-1-59698-029-7 Köchler, Hans (1981) The Legal Aspects of the Palestine Problem with Special Regard to the Question of Jerusalem Vienna: Braumüller ISBN 3-7003-0278-9 The Holy Cities: Jerusalem produced by Danae Film Production, distributed by HDH Communications; 2006 Wasserstein, Bernard (2002) Divided Jerusalem: The Struggle for the Holy City New Haven and London: Yale University Press. ISBN 0-300-09730-1 == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của thành phố tự trị Jerusalem Lịch những sự kiện văn hóa Jerusalem Ảnh những nhà thờ Hồi giáo tại Jerusalem VietNamNet - Đông Jerusalem - Thành phố sau Thế chiến thứ II - thư viện ảnh Webcam Bức tường phía tây Official website of Jerusalem Municipality Jerusalemp3, offers free virtual tours in mp3 format from the Jerusalem Municipality Chính quyền The Status of JerusalemPDF (159 KB), United Nations document related to the recent dispute over Jerusalem Basic Law: Jerusalem, Capital of Israel, Government of Israel, the Israeli law making Jerusalem the capital of Israel Văn hóa Israel Museum, one of Jerusalem's premier art museums Yad Vashem, Israeli memorial to victims of The Holocaust A comprehensive guide to events in Jerusalem Giáo dục Hebrew University of Jerusalem, Jerusalem's foremost institution of higher learning al-Quds University, "the only Arab university in Jerusalem" Bản đồ Modern-day map of Jerusalem, from City of Jerusalem. Ancient Maps of Jerusalem, from the Jewish National Library at the Hebrew University of Jerusalem Modern maps, post-1947 from PASSIA Maps of Jerusalem, from Israel Star News
trần văn cẩn.txt
Trần Văn Cẩn (1910 - 1994) là một họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam, được mệnh danh là một trong bộ tứ danh họa hàng đầu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam: Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn. Ông cũng là người chỉnh sửa mẫu phác thảo Quốc huy Việt Nam thành dạng hoàn chỉnh như ngày nay. == Thân thế và niềm đam mê hội họa == Ông sinh ngày 13 tháng 8 năm 1910 tại thị xã Kiến An, tỉnh Kiến An (nay là quận Kiến An, thành phố Hải Phòng). Sinh ra trong một gia đình trí thức nghèo, cha là một công chức bưu điện, ông được gia đình cho ăn học tử tế. Năm 1924, sau khi học hết hết bậc Tiểu học ở Kiến An, ông được gia đình đưa lên Hà Nội sống với bà nội. Thuở nhỏ, chịu ảnh hưởng từ mẹ, vốn là một nghệ nhân làm nghề thủ công nặn tò he và đèn giấy bằng nan tre, và người cậu chuyên nghề vẽ đèn giấy, ông sớm có biểu lộ năng khiếu và sự ham thích với ngành hội họa. Sự ham thích này được cha ông tán thành. Chính vì vậy, chỉ sau chưa đến 2 năm học bậc Trung học, năm 1925, theo ý kiến của bố, ông thi vào Trường Kỹ nghệ thực hành (École de l’art appliqué) Hà Nội, học vẽ mẫu đăng ten và thiết kế đồ gỗ. Năm 1930, ông tốt nghiệp và được điều về làm việc ở Viện Hải dương học Nha Trang, làm công việc vẽ, chép lại những con cá lạ đánh bắt được từ biển về để lưu trữ vào hồ sơ gốc. Tại đây, ông làm quen với một họa sĩ Pháp đến giúp Viện xây dựng mô hình để tham dự hội chợ triển lãm ở Paris, và bắt đầu làm quen với kỹ thuật hội họa phương Tây. Ông bắt đầu sáng tác những tác phẩm đầu tay của mình với chủ đề biển và cảnh cá. Không lâu sau, ông bỏ công việc ở Viện, quay về Hà Nội để theo đuổi ngành hội họa. Năm 1931, sau 3 tháng học dự bị do họa sĩ Nam Sơn hướng dẫn, ông thi đậu vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo học khóa VI (1931-1936) cùng với Nguyễn Gia Trí, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Văn Tại, Nguyễn Thụy Nhân, Vũ Đức Nhuận... == Thành danh tứ kiệt == Thời gian ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông cùng các bạn học vừa học tập vừa sáng tác. Năm 1933, ông cùng với Lê Phổ, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Quang Trân, nghiên cứu về kỹ thuật sơn ta, để tìm cách pha chế để có thể vẽ được nhiều lớp sơn chồng lên nhau và mài, thể nghiệm thành công tranh sơn mài với sơn son, vỏ trứng. Năm 1934, tác phẩm đầu tay mang tên "Mẹ tôi" đã được tham dự triển lãm ở Paris. Năm 1935, tại triển lãm lần thứ nhất Hội Khuyến khích Kỹ thuật và Công nghệ (viết tắt là SADEAL), ông có bốn tác phẩm "Em gái tôi" (sơn dầu), "Cha con" (lụa), "Đi làm đồng" và "Cảnh bờ sông" (khắc gỗ màu) tham gia triển lãm và được tặng giải ngoại hạng và được cử vào Ban giám khảo. Năm 1936, ông tham gia triển lãm SADEAL lần II với ba bức tranh lụa: "Cô đơn", "Chân dung cô gái nhỏ" và "Chăn ngựa". Năm 1937 ông dự hội chợ triển lãm quốc tế Paris với bốn tác phẩm lụa: "Chân dung cô gái trên nền hoa đào", "Chợ hoa", "Thê" và "Mang cỏ cho ngựa ăn". Tốt nghiệp với tác phẩm "Lều chõng" rất được đánh giá cao, nhưng khi ra trường, ông từ chối sự bổ nhiệm của chính quyền thuộc địa để tiếp tục tập trung vào trải nghiệm và sáng tác thử sức trên nhiều chất liệu khác nhau. Năm 1938, ông tham gia triển lãm SADEAL lần III tại Hải Phòng với các tác phẩm "Đi lễ chùa" (lụa), "Trong vườn" (sơn mài) và nhận được Giải Ngoại hạng, tác phẩm được gửi đi dự triển lãm ở Batavia. Năm 1939, ông tham gia triển lãm SADEAL lần IV với "Bên sông Hồng" (lụa), "Phong cảnh Huế" (sơn dầu). Năm 1940, ông gửi các tác phẩm "Gánh lúa" (lụa), "Ngư dân" (sơn dầu) sang tham dự triển lãm tại Tokyo. Năm 1943, ông gia nhập nhóm Trung tâm nghệ thuật Việt Nam (Foyer de l’ Art Annamite - FARTA) do họa sĩ Lê Văn Đệ sáng lập, đồng thời gửi hai tác phẩm tham dự triển lãm là "Em Thúy" (sơn dầu) và "Gội đầu" (khắc gỗ), và được tặng giải nhất. Năm sau, ông gửi hai tác phẩm "Bên ao sen" (sơn dầu), "Hai thiếu nữ trước bình phong" (lụa) tham gia triển lãm FARTA lần 2. Cũng năm 1944, ông gửi tác phẩm "Nắng trong vườn" (sơn dầu) tham dự triển lãm "Duy nhất". Chính những hoạt động của thế hệ họa sĩ tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thời đó như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị, Trần Văn Cẩn... đã tạo nên thời đại hoàng kim của những tác phẩm hội họa hiện đại ngay giai đoạn đầu ở Việt Nam. Đương thời, giới hội họa Việt Nam đã xưng tụng tứ kiệt hội họa Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn. == Sự nghiệp một đời == Là người dân thuộc địa, ông ít nhiều cảm tình với những nhà cách mạng đấu tranh giành độc lập. Mối cảm tình này đã thúc đẩy ông tham gia hoạt động trong phong trào Văn hóa Cứu quốc của Việt Minh, vẽ tranh cổ động "Cứu nông dân", "Trừ giặc đói", "Phá xiềng", "Bản đồ Việt Nam không thể chia cắt". Cách mạng tháng Tám thành công, Trần Văn Cẩn cùng nhiều họa sĩ khác đã hồ hởi dựng hàng chục tranh cổ động quanh hồ Hoàn Kiếm. Bức "Nước Việt Nam của người Việt Nam" của Trần Văn Cẩn đã được căng trên toà nhà Địa ốc ngân hàng (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Năm 1946, triển lãm mỹ thuật toàn quốc lần đầu tiên dưới chế độ mới được mở tại Hà Nội. Bức "Xuống đồng" của Trần Văn Cẩn đã được trao giải nhất và được Hội Văn hóa Cứu quốc mua, cùng với bức "Bác Hồ làm việc ở Bắc bộ phủ" của Tô Ngọc Vân và "Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Nguyễn Đỗ Cung. Tháng 7/1948: tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc, Trần Văn Cẩn được bầu vào Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam. Tháng 6/1954: Trần Văn Cẩn thay thế Tô Ngọc Vân (đã mất trong thời gian này) đảm nhiệm Hiệu trưởng trường Mỹ thuật và giữ cương vị này trong 15 năm (1954 -1969). Với những đóng góp to lớn, Trần Văn Cẩn đã được trao nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Lao động hạng nhất. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Năm 2010, một con phố thuộc khu đô thị Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội được đặt tên Trần Văn Cẩn. == Tác phẩm tiêu biểu == Em Thúy Nữ dân quân vùng biển Chân dung bác thợ lò Thiếu nữ áo trắng Gội đầu Xuống đồng Tát nước đồng chiêm == Chú thích == == Liên kết ngoài == Danh họa Trần Văn Cẩn Danh họa Trần Văn Cẩn: Chuyện đời lạ như chuyện nghề Mối tình cuối cùng của danh họa Trần Văn Cẩn
17 tháng 6.txt
Ngày 17 tháng 6 là ngày thứ 168 (169 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 197 ngày trong năm. == Sự kiện == 629 – Borandukht trở thành nữ hoàng đầu tiên của Đế quốc Sassanid Ba Tư, lãnh thổ đế quốc đạt cực đại trong thời gian bà trị vì. 1407 – Chiến tranh Minh - Đại Ngu: Sau khi bắt được Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly vào hôm trước, quân Minh bắt được vua Hồ Hán Thương, nhà Hồ diệt vong. 1596 – Trong hành trình thứ ba nhằm tìm hải lộ phương Bắc, nhà thám hiểm người Hà Lan Willem Barentsz khám phá ra quần đảo Svalbard ở vùng Bắc cực. 1885 – Tượng Nữ Thần Tự Do được chở một cách an toàn đến cảng New York trên chiếc tàu hơi nước Isère của Pháp. 1902 – Anh Liễm Chi thành lập Đại Công báo tại Thiên Tân, đây là một trong những báo giấy Trung văn lâu năm nhất. 1924 - Đại hội lần thứ năm của Quốc tế cộng sản họp tại Moskva 1929 – Tại Hà Nội, các tổ chức cơ sở cộng sản ở Bắc Kỳ họp đại hội quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. 1930 – Nguyễn Thái Học cùng 12 đảng viên Quốc Dân đảng bị chính phủ bảo hộ Pháp chặt đầu do tiến hành Khởi nghĩa Yên Bái. 1953 – Bùng phát nổi dậy chống chính phủ quy mô lớn tại Cộng hòa Dân chủ Đức, binh sĩ Liên Xô đồn trú tiến hành can thiệp nhằm trấn áp. 1968 – Đảng Cộng sản Malaya phát động một cuộc phục kích nhằm vào lực lượng an ninh Malaysia, đánh dấu khởi đầu một cuộc nổi dậy cộng sản kéo dài trong hơn 30 năm. 1972 – Năm người bị bắt khi đột nhập văn phòng của Đảng Dân chủ tại Washington, D.C., khởi đầu vụ bê bối chính trị dẫn đến sự từ chức của Tổng thống Mỹ Richard Nixon hai năm sau đó. 1994- Khai mạc World Cup 1994 tại Hoa Kỳ == Sinh == 1945 - Eddy Merckx, tay đua xe đạp Bỉ 1945 - Frank Ashmore, diễn viên Mỹ 1978 - Uchishiba Masato, vận động viên judo Nhật Bản == Mất == 1898 - Edward Burne-Jones, họa sĩ Anh (s. 1833) 1930 - Nguyễn Thái Học, người sáng lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhà cách mạng người Việt Nam (s. 1920) 1939 - Nguyễn Khắc Hiếu, hiệu Tản Đà, nhà thơ Việt Nam (s. 1889) 1954 - Tô Ngọc Vân, họa sĩ Việt Nam (s. 1906) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
nhà sản xuất phụ tùng gốc.txt
Nhà sản xuất phụ tùng gốc thường gọi tắt là OEM (viết tắt của Original Equipment Manufacturer trong tiếng Anh) là những hãng thực sự sản xuất một sản phẩm mặc dù sản phẩm đó lại mang nhãn hiệu của hãng khác. Đây là các công ty thực sự chế tạo ra một phụ tùng nào đó. Khác với những người buôn bán lại, làm tăng giá trị hàng hóa. Họ là những nhà chế tạo, sửa chữa, bỏ vào bọc, và bán ra phụ tùng đó. == Xem thêm == Thuê ngoài ODM, == Tham khảo ==
đảo ascension.txt
Đảo Ascension là một đảo ở Nam Đại Tây Dương, cách bờ biển châu Phi khoảng 1.000 dặm (1.600 km). Nó là lãnh thổ phụ thuộc của lãnh thổ hải ngoại của Anh Saint Helena, cách đó 800 dặm (1.287 km) về phía đông nam. Hòn đảo được đặt theo tên ngày khám phá, Ngày lễ thăng thiên (Ascension Day). Nó nằm ở 7,56° Nam, 14,25° Tây. Đảo Ascension là một đảo ở Nam Đại Tây Dương, cách bờ biển châu Phi khoảng 1.000 dặm (1.600 km). Nó là lãnh thổ phụ thuộc của lãnh thổ hải ngoại của Anh Saint Helena, cách đó 800 dặm (1.287 km) về phía đông nam. Hòn đảo được đặt theo tên ngày khám phá, Ngày lễ thăng thiên (Ascension Day). Nó nằm ở 7,56° Nam, 14,25° Tây. Đảo là nơi đặt sân bay Wideawake, là một cơ sở hợp tác của Không lực Hoàng gia và Không lực Hoa Kỳ. Đảo được dùng chủ yếu bởi quân đội Anh trong suốt Chiến tranh Falkland. Đảo Ascension có đặt một trong ba ăn ten mặt đất (những cái khác nằm ở Kwajalein và Diego Garcia) hỗ trợ việc hoạt động của Hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Đảo Ascension không có lá cờ hoặc quốc huy riêng. Lá cờ Liên hiệp và Quốc huy hoàng gia của Vương quốc Anh được dùng thay vào đó. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Wikimedia Atlas của Ascension Island, có một số bản đồ liên quan đến Ascension Island. Phương tiện liên quan tới Ascension Island tại Wikimedia Commons Ascension Island Newspaper Ascension Island Government Rocket launches from Ascension Barry Weaver home page of Ascension Islands CIA World Factbook entry about Saint Helena Live Web Cam of Ascension Cable and Wireless 7°56′N 14°22′T
ishikawa.txt
Ishikawa (Nhật: 石川県 (Thạch Xuyên Huyện), Ishikawa-ken) là một tỉnh của Nhật Bản thuộc vùng Chūbu trên đảo Honshū. Thủ phủ là thành phố Kanazawa. == Địa lý == Ishikawa nằm ở bờ biển Nhật Bản. Phần phía Bắc tỉnh bao gồm bán đảo nhỏ Noto, trong khi phần phía nam thì rộng hơn và có phần lớn là núi. Thủ phủ Kanazawa đặt ở vùng đồng bằng duyên hải. Tỉnh này cũng có một số hòn đảo bao gồm Notojima, Mitsukejima, Hegurajima. == Lịch sử == Ishikawa được thành lập từ vụ sáp nhập của 2 tỉnh cũ là Kaga và Noto == Hành chính == === Thành phố === Có 10 thành phố đặt ở tỉnh Ishikawa: === Thị trấn và làng mạc === Thị trấn và làng mạc tại mỗi quận: === Tách - Sáp nhập === == Kinh tế == Kinh tế chính của tỉnh là công nghiệp dệt, đặc biệt là vải nhân tạo, và công nghiệp máy móc, đặc biệt là máy móc xây dựng. == Văn hóa == Nghi thức uống trà xuất hiện ở đây năm 1666 khi Maeda Toshitsune mời Senbiki Soshitsu của urasenke tới Kanazawa. Đồ sứ Kutani (Kutani yaki), với nước men sáng khác với đồ sứ Trung Quốc. Ohi teaware (Ōhi yaki), một phong cách làm đồ gốm độc đáo của Kanazawa Lụa Kaga (Kaga yūzen), một loại lụa được in kĩ xảo của vùng. Đồ sơn mài Kanazawa (Kanazawa shikki), một loại hàng sơn mài chất lượng cao truyền thống được trang trí dát vàng. == Giáo dục == == Thể thao == == Du lịch == Thành phố Kanazawa là địa danh nổi tiếng nhất của tỉnh. Khách du lịch có thể đến Ishikawa bằng máy bay thông qua sân bay Komatsu. == Những vấn đề liên quan khác == Hideki Matsui, cầu thủ bóng rổ hiện chơi cho New York Yankees, sinh ra và lớn lên ở thị trấn Neagari (giờ là thành phố Nomi), Ishikawa. Anh là cầu thủ bóng chày nổi tiếng từ khi còn học trong trường trung học ở Kanazawa. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh Tài sản Văn hóa Thạch Xuyên
danh sách thành phố bangladesh.txt
Ở Bangladesh, có bốn vùng đại đô thị và 104 thị trấn, chúng được chia thành 3 cấp. Sau đây là danh sách các thành phố chính ở Bangladesh. == Khu vực Barisal == Barguna Barisal Bhola Jhalokati Patuakhali Pirojpur == Khu vực Chittagong == Bandarban Brahmanbaria Chandpur Comilla Cox's Bazar Feni Khagrachhari Lakshmipur Noakhali Rangamati Chittagong == Khu vực Dhaka == Dhaka Faridpur Gazipur Gopalganj Jamalpur Kishoreganj Manikganj Maradipur Munshiganj Mymensingh Narayanganj Narsingdi Netrokona Rajbari Shariatpur Sherpur Tangail == Khu vực Khulna == Bagherhat Chuadanga Jessore Jhenaidaha Khulna Kushtia Magura Meherpur Narail Shatkhira == Khu vực Rajshahi == Bogra Dinajpur Gaibandha Joypurhat Kurigram Lalmonirhat Naogaon Natore Nawabganj Nilphamari Pabna Panchagarh Rajshahi Rangpur Saidpur Sirajganj Thakurgaon == Khu vực Sylhet == Habiganj Maulvi Bazar Sunamganj Sylhet Shamla == Tham khảo ==
togo.txt
Togo (phiên âm tiếng Việt: Tô-gô, hay Cộng hòa Togo, là một quốc gia nằm ở phía Tây châu Phi có biên giới với Ghana ở phía Tây, Bénin ở phía Đông và Burkina Faso ở phía Bắc. Ở phia Nam Togo có bờ biển ngắn của vịnh Guinea, nơi mà đặt thủ đô Lomé của Togo. Togo trải dài từ phía Bắc đến phía Nam khoảng 550 km và bề ngang 130 km. Togo có diện tích khoảng 56.785 km², dân số khoảng 6.145.000 người, mật độ 102 người/km². Ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp. == Lịch sử == Từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14, Togo là nơi di cư đến của bộ lạc Eve đến từ lưu vực sông Niger. Từ thế kỉ 15, người Bồ Đào Nha đến lập các trạm thông thương buôn bán ở vùng ven biển, rồi đến người Hà Lan và Đan Mạch. Việc mua bán nô lệ diễn ra trong suốt thế kỉ 18. Năm 1884, người Đức áp đặt quyền bảo hộ vùng ven biển và khai thác vùng lục địa bên trong. Sau Chiến tranh thế giới thứ I, Togo bị phân chia thành vùng duyên hải Lomé thuộc Pháp, vùng lãnh thổ phía Tây thuộc Anh. Năm 1922, Hội quốc liên ủy quyền cho Anh cai trị vùng phía Tây, Pháp cai trị vùng phía Đông. Vùng Togo thuộc Anh tuyên bố sáp nhập vào Ghana năm 1956. Vùng Togo thuộc Pháp trở thành quốc gia độc lập năm 1960. Sylvanus Olympio trở thành vị Tổng thống đầu tiên. Năm 1963, Tổng thống Olympio bị trung sĩ Etienne Eyadéma bắn chết trong khi đang cố vượt qua tường của tòa Đại sứ Hoa Kỳ để xin tị nạn. Nicola Grunitzky lên cầm quyền và tiến hành thực hiện chính sách tự do hơn. Cuộc đảo chính quân sự năm 1967 đưa Trung tá E. Eyadéma lên cầm quyền, tuyên bố thành lập Đệ tam Cộng hòa năm 1980. Năm 1991, thể chế đa đảng được thông qua. Tổng thống Eyadéma tái đắc cử năm 1993 và năm 1998. == Địa lý == Quốc gia ở Tây Phi, nằm giữa Ghana ở phía Tây và Bénin ở phía Đông, Bắc giáp Burkina Faso và Nam giáp vịnh Bénin. Togo trải dài từ Bắc đến Nam trên gần 700 km, trong khi chiều rộng chỉ khoảng 100 km. Vùng ven bờ biển thấp và lẫn cát, khí hậu nhiệt đới ẩm và mưa nhiều ở phía Nam. Vùng cao nguyên rừng rậm tương đối ít mưa và khô ở vùng trung tâm và các vùng thảo nguyên ở phía Bắc. == Kinh tế == Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trồng trọt (ngô, sắn, kê) và trao đổi hàng hóa. Khu vực kinh tế này cung cấp việc làm cho khoảng 65% lực lượng lao động. Ca cao, cà phê, bông vải, phosphat là các mặt hàng xuất khẩu chính, đóng góp khoảng 30% giá trị xuất khẩu. Trong lãnh vực công nghiệp, khai thác phosphat là quan trọng nhất, mặc dầu ngành này cũng gặp khó khăn do giá phosphat trên thị trường thế giới giảm và do cạnh tranh với nước ngoài gia tăng. Togo là một trong các nước kém phát triển, tình hình kinh tế vẫn còn bấp bênh. Những cố gắng của chính phủ với sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhằm tiến hành những biện pháp cải cách kinh tế, khuyến khích đầu tư và tạo cán cân thăng bằng giữa thu nhập và tiêu dùng chưa thu được kết quả như mong muốn. Năm 1998, tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế ngưng tài trợ cho Togo và giá ca cao hạ làm cho GDP giảm 1%. Tăng trưởng GDP có dấu hiệu phục hồi kể từ năm 1999. Togo được coi là một Thụy Sĩ của Tây Phi nơi đặt trụ sở của quỹ phát triển Cộng đồng Kinh tế Tây Phi (ECOWAS), Ngân hàng phát triển Tây Phi (BOAD) và các ngân hàng khu vực khác. Hơn 10 năm nay, Togo tiến hành cải cách kinh tế, bao gồm tư nhân hoá, minh bạch tài chính công, giảm chi tiêu chính phủ, ổn định chính trị và thúc đẩy thương mại, nhằm tìm lại vị trí trung tâm thương mại ở khu vực Tây Phi trước đây. Trong một thập kỷ qua, với sự giúp đỡ của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Togo đã áp dụng những biện pháp cải cách kinh tế (tư nhân hóa, mở rộng hoạt động tài chính công…), giảm chi tiêu chính phủ. Vì vậy Togo đã nhận được sự ủng hộ tích cực của các nhà tài trợ nước ngoài. Từ đầu những năm 90, Togo đã trải qua cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội dẫn đến việc nền kinh tế bị suy thoái và có nhiều rối loạn về thể chế, làm nản lòng các nhà đầu tư tiềm năng. Trong những điều kiện đó, tỷ lệ tăng trưởng GDP không giúp bù đắp được tỷ lệ tăng trưởng dân số. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trong vòng 25 năm qua của Togo ở mức -1%. Còn về kinh tế, sức mua của các hộ gia đình đã sụt giảm một nửa giai đoạn từ 1983 đến 2006. Tình hình kinh tế - xã hội của Togo chịu cảnh thiếu vắng những nhà cho vay vốn lớn. Việc ngừng viện trợ gần như liên tục của Liên minh châu Âu từ năm 1993 và tình trạng hỗn loạn sau cái chết của Tổng thống Eyadéma vào tháng 2 năm 2005 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước. Kinh tế Togo vẫn chủ yếu dựa vào lĩnh vực nông nghiệp (nhất là bông, cà phê, cacao và cây lương thực) chiếm 41% GDP và sử dụng trên 75% dân lao động. Tuy nhiên, lĩnh vực bông hiện đang bị khủng hoảng do chưa thanh toán được các khoản nợ cho người sản xuất trong các vụ thu hoạch gần đây và do tình hình tài chính khó khăn của Công ty bông Tô-gô (SOTOGO). Togo cũng là một trong những trung tâm quá cảnh và dịch vụ của khu vực (lĩnh vực dịch vụ chiếm 35% GDP). Cảng tự quản Lomé, điểm vào của hàng hoá đi những nước thuộc khu vực Sahara đã được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng tại Côte d’Ivoire trong những năm gần đây. Cuối cùng, trong lĩnh vực công nghiệp (24% GDP), nếu như xi măng, ngành công nghiệp khai thác hàng đầu của đất nước và cung cấp mặt hàng xuất khẩu chính hiện đang có sự năng động tích cực (mặc dù có sự giảm sút sản lượng vào năm 2006 do các địa điểm khai thác bị ngập lụt) thì sản xuất phốt phát do thiếu đầu tư, đã không ngừng suy thoái những năm qua trong khi năm 2000, đây còn là sản phẩm xuất khẩu chính của Togo. Việc phục hồi lĩnh vực này đòi hỏi phải giải quyết các tranh chấp pháp lý hiện tại và có sự tham gia của một nhà đầu tư chiến lược lâu dài. GDP năm 2006 của Togo là 2,089 tỷ USD, tỷ lệ tăng trưởng là 2%. GDP bình quân đầu người là 362 USD. Nếu tính theo ngang giá sức mua, GDP bình quân đầu người là 1400 USD và Tô-gô nằm trong số những nước đang phát triển. Về mặt cải cách cơ cấu, Togo đã có những tiến bộ trong việc tự do hoá nền kinh tế, cụ thể là lĩnh vực thương mại và hoạt động cảng. Tuy nhiên, chương trình tư nhân hoá các lĩnh vực bông, viễn thông và nước dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Về cải cách chính trị, Togo đã bắt đầu đối thoại với EU về việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản, lập lại Nhà nước pháp quyền và mở rộng quyền lực chính trị sao cho dân chủ hơn. Trong khuôn khổ đó, một giải pháp thuận lợi có thể giúp Togo thực hiện những cam kết về tài chính của mình. Nước này hiện nay đang trong tình trạng nợ nhiều do không có sự trợ giúp tài chính từ bên ngoài trong khi Togo có khả năng nằm trong nhóm các nước được hưởng sự giúp đỡ theo Sáng kiến Các nước nghèo nợ nhiều. == Hành chính == Togo được chia thành 5 khu vực, 30 quận và 1 xã. Năm khu vực hành chính của Togo gồm: Centrale (Sokodé) Kara (Kara) Maritime (Lomé) Plateaux (Atakpamé) Savanes (Dapaong) Năm khu vực này được chia tiếp thành 30 quận và 1 xã. === Các quận của khu vực Centrale === Blitta Sotouboua Tchamba Tchaoudjo === Các quận của khu vực Kara === Assoli Bassar Bimah (hoặc Binah) Dankpen Doufelgou Kéran Kozah (hoặc Koza) === Các quận của khu vực Maritime === Avé Golfe Lacs Vo Yoto Zio Lomé (xã) === Các quận của khu vực Plateaux === Agou Amou Danyi Est-Mono Haho Kloto Moyen-Mono Ogou Wawa === Các quận của khu vực Savanes === Kpendjal Oti Tandjouaré Tône == Du lịch == == Tôn giáo == Cơ Đốc giáo 29%, Hồi giáo 20%, tín ngưỡng bản địa 51%. == Chính trị == Togo theo thể chế đa nguyên bằng bản Hiến pháp phê chuẩn ngày 27 tháng 9 năm 1992. Tuy nhiên, từ năm 1967 đến nay, Liên minh đảng nhân dân Togo (RPT) của cố Tổng thống Eyadema Gnassingbe luôn nắm quyền. Tháng 2 năm 2005, Tổng thống Eyadema Gnassingbe đột ngột qua đời, giới quân sự đưa con trai ông là Faure Gnassingbe lên thay thế. Dưới sức ép trong nước và của AU, ECOWAS, Faure Gnassingbe buộc phải nhượng bộ, cho tổ chức bầu cử hợp hiến tháng 4 năm 2005. Kết quả: Faure Gnassingbe giành thắng lợi với 60,2% số phiếu. Các cuộc bạo động giữa chính phủ và phe đối lập trước và sau bầu cử khiến gần 500 người thiệt mạng và hàng chục nghìn người bỏ chạy khỏi thủ đô, gây nên một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Nhờ trung gian hoà giải của Cộng đồng kinh tế Tây Phi (ECOWAS) trật tự tại Togo đã được lập lại. - Tháng 8 năm 2006, chính phủ và phe đối lập ký thoả thuận cho phép các đảng phái đối lập tham gia chính phủ chuyển tiếp. Tháng 9 năm 2006, ông Yawovi Agboyibo, lãnh tụ đối lập được đề cử làm Thủ tướng. - Tháng 10 năm 2007, Togo tiến hành bầu cử quốc hội, Đảng cầm quyền Liên minh Nhân dân Togo đã giành được thắng lợi và ông Komlan Mally được chỉ định làm Thủ tướng. Cộng đồng quốc tế đánh giá cuộc bầu cử quốc hội Togo tự do và công bằng. Sau sự kiện này, Liên minh châu Âu (EU) đã nối lại hợp tác kinh tế đầy đủ với Togo sau 14 năm trừng phạt. Để giành lại sự ủng hộ của quốc tế, chính quyền của Faure Gnassingbe cam kết mở rộng dân chủ trong nước, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. == Đối ngoại == Tổng thống Togo thi hành chính sách đối ngoại đa dạng hóa, hướng đến châu Á trong đó có Việt Nam. Togo thực thi chính sách Phong trào không liên kết, tham gia tích cực trong các vấn đề khu vực Tây Phi và trong Liên minh châu Phi. Quan hệ giữa Togo và các nước láng giềng nhìn chung tốt. Togo có mối quan hệ lịch sử văn hóa mật thiết với Pháp, Đức. Là thuộc địa cũ của Pháp nên xã hội Togo còn mang nhiều ảnh hưởng của nước thuộc địa. Togo có mối liên hệ chặt chẽ với Pháp về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội, văn hóa… Togo công nhận một Trung Quốc, đối với Trung Quốc Togo là đối tác thương mại ở khu vực Tây Phi. Năm 1987, Togo nối lại quan hệ với Israel. Togo là thành viên Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi (AU), Cộng đồng Kinh tế Tây Phi (ECOWAS), Cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie), FAO, IMF, WTO và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác. == Văn hóa == Người dân Togo ở thủ đô Lomé và các thành phố lớn như Bassar, Atakpamé, Bafilo... thì nay có cuộc sống khá văn minh theo kiểu châu Âu. Song các sắc tộc dân Togo ở miền quê, vùng xa vẫn còn giữ nhiều nét văn hóa, sinh hoạt riêng của họ. Trong số đó là cách làm nhà ở theo kiểu riêng mà họ gọi là nhà takienta, tức nhà tiểu vũ trụ vừa là nơi ở, nơi thờ, nơi cầu nguyện mưa thuận gió hòa để quanh năm làm ăn khá giả... Cuộc sống của họ có cái gì đó rất hòa hợp với thiên nhiên, thời tiết khiến ít bị ốm đau bệnh tật... Nhà báo Lucille Reyboz của Pháp thường đến Togo, và mới đây chị có triển lãm ảnh tại Paris về kiểu làm nhà của người Tamberma, đặc biệt tại làng Koulangou, phía đông bắc Togo sát biên giới Bénin. Nhà takienta được làm bằng đất sét trộn với rơm rạ và bông vải. Nhà thường có hình tròn ống, vì người Togo quan niệm vũ trụ tròn như một cái ống. Một nhà có thể gồm 2, 3... ống đứng kề nhau, mỗi ống lại có "2 mắt" như mắt người để thông gió; có "miệng" như miệng người làm chỗ ra vào. Lucille Reyboz cho đây là nét nhân văn của người Togo. Trên đầu ống nhà được đan cây và đắp đất làm "sân thượng", có thể lên đó nhìn trời đoán mưa nắng, hoặc ban đêm ngắm trăng. Ông N,tcha N,Dah Lapoili, già làng Koulangou cho biết: "Ngôi nhà takienta là nơi chúng tôi ở với tổ tiên mình". Vào mùa mưa, để tránh bị ngấm nước, người Tamberma thường làm một mái lá úp trên nhà; mùa nắng có thể lấy xuống để... đun bếp! Các sắc tộc như người Tamberma còn sống không nhiều ở miền quê Togo. Đa số họ đã ra thành phố sinh sống làm ăn nên số nhà takienta còn tồn tại ở nơi nào thì khách du lịch châu Âu thường hay đến xem, tìm hiểu từ đó biết thêm về các sắc tộc trên thế giới, làm cho du lịch văn hóa trở nên hấp dẫn hơn. === Giáo dục === Chiến dịch giáo dục miễn phí cho mọi trẻ em (từ 2-15 tuổi) được Chính phủ triển khai từ những năm 1970. Vào đầu những năm 1990, cả nước có khoảng 3/4 trẻ em đến tuổi được đến trường. Tuy nhiên, các trường truyền giáo vẫn giữ vai trò khá quan trọng (gần 1/2 số học sinh theo học). Togo có Trường Đại học Bénin ở thủ đô Lomé, đào tạo chương trình đại học và cao đẳng. == Thể thao == == Xem khác == Tất cả các trang có tựa đề chứa "Togo" === Danh sách === == Tham khảo == == Sự nghiên cứu về lịch sử và việc xuất bản sách == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cờ Togo Bản đồ Togo Vị trí của Togo ở Châu Phi
hoa hậu việt nam 2008.txt
Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008 là cuộc thi Hoa hậu Việt Nam lần thứ 11 và là lần kỷ niệm 20 năm cuộc thi do Báo Tiền Phong tổ chức. Cuộc thi diễn ra từ ngày 18 đến 31 tháng 8 năm 2008 tại quảng trường sông Hoài, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Người đẹp Trần Thị Thùy Dung, sinh năm 1990, đến từ thành phố Đà Nẵng đã đăng quang Hoa hậu Việt Nam 2008, tiếp đến là hai Á hậu Phan Hoàng Minh Thư (đến từ Lâm Đồng) và Nguyễn Thụy Vân (đến từ Hà Nội). == Giải thưởng == Người giành danh hiệu Hoa hậu được tặng vương miện trị giá 15.000 đô la Mỹ, vương trượng, 150 triệu đồng và một chuyến du lịch nước ngoài. Hai Á hậu lần lượt nhận 80 và 60 triệu đồng. Ngoài 3 danh hiệu cao nhất, cuộc thi còn trao các giải thưởng phụ như: Hoa hậu Biển, Giải ứng xử hay nhất... == Điểm đặc biệt == Năm 2008 là năm kỷ niệm 20 năm cuộc thi sắc đẹp lớn nhất Việt Nam với sự đăng quang của 11 Hoa hậu Việt Nam trong lịch sử và là 55 năm kỷ niệm thành lập báo Tiền Phong - Tờ báo tổ chức rất thành công sự kiện-cuộc thi này. Để đánh dấu sự kiện này, bắt đầu từ năm 2008 vương miện Hoa hậu Việt Nam sẽ được trao luân lưu (Do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn tài trợ). Ba người thắng cuộc sẽ sở hữu 3 vương miện bạc gắn đá xa-phia. == Thí sinh == Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008 thu hút lượng thí sinh dự thi đông kỷ lục trong lịch sử cuộc thi Hoa hậu Việt Nam, các thí sinh lọt vào chung kết đa phần đều đã từng có danh hiệu đáng kể tại các cuộc các cuộc thi sắc đẹp cấp độ thấp hơn. Sau cuộc thi, nhiều thí sinh cũng giành thêm được những thành tích đáng chú ý khác. Nguyễn Thuỵ Vân là Á khôi 1 Hoa khôi Học Đường 2003, Hoa khôi ĐH Ngoại Thương Hà Nội 2006. Cô giành danh hiệu Á hậu 2 Hoa hậu Việt Nam 2008. Lâm Thu Hằng tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2008 nhưng không lọt vào vòng chung kết. Cô cũng tham dự cuộc thi Siêu mẫu Việt Nam 2008 và lọt vào Top 10 đồng thời đoạt luôn giải Hình thể đẹp nhất. Phan Thị Diễm Châu là Hoa khôi Áo dài khu vực miền Đông Nam bộ & Thành phố Hồ Chí Minh 2005, Á hậu 2 Hoa hậu Áo dài Việt Nam 2006. Nguyễn Linh Chi là Á hậu 1 cuộc thi Hoa hậu các miền đất võ Việt Nam 2008. Võ Thị Lệ Thu là Á hậu 1 Hoa hậu Nam Mê Kong 2007, Hoa khôi Hậu Giang 2007, Top 10 Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, Hoa khôi Đồng Bằng sông Cửu Long 2008, Á hậu 2 Hoa hậu Thời Trang Việt Nam 2008, vào vòng chung kết Hoa khôi Trang sức Việt Nam 2009. Nguyễn Thị Chúc Anh là Á hậu 1 Hoa hậu Nam Mekong 2008, Top 10 người đẹp biển Tây 2007. Giải 1 Duyên Dáng Truyền hình 2009. Trần Thị Diễm Hương đăng quang Hoa khôi Trang sức Việt Nam 2009. Lê Hoàng Bảo Ngọc là Á hậu 4 Hoa hậu Việt Nam Toàn Cầu 2009. Lê Thị Mây là Á khôi 1 Người đẹp Bắc Ninh 2008. Nguyễn Thị Ngọc Hà là Hoa khôi tỉnh Quảng Ninh 2008. Nguyễn Thị Diễm Hạnh là Hoa khôi tỉnh Quảng Nam 2008 Thạch Thị Hồng Nhung là Á khôi 2 Người đẹp Đồng Bằng sông Cửu Long 2008. Doãn Thị Như Trang từng vào vòng chung kết Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam và Hoa hậu Du lịch Việt Nam năm 2008. Vũ Thị Hoàng Điệp từng vào vòng chung kết Hoa hậu PNVN qua ảnh 2005, Á hậu 1 Hoa hậu Biển Việt Nam 2007. Năm 2009, cô tham dự cuộc thi Nữ hoàng sắc đẹp quốc tế và giành chiến thắng đồng thời đoạt Hoa hậu Tài năng và Á hậu 2 Miss Bikini. Hồ Thị Oanh Yến lọt vào vòng chung kết Hoa hậu Du lịch Việt Nam 2008, Top 15 Hoa hậu Thế giới người Việt 2010. Nguyễn Minh Ngọc Trâm là Hoa hậu Nam Mekong 2008, Á hậu 1 Hoa hậu Du lịch Việt Nam 2008. == Các ngôi vị cao nhất == === Xếp hạng === === Các thí sinh lọt vào vòng chung kết === Nguyễn Thị Chúc Anh - 22 tuổi - 1m65 (Cần Thơ) Vũ Thị Anh - 21 tuổi - 1m69 (Đak Lak) Nguyễn Thu Quỳnh - 20 tuổi - 1m66 (Hà Nội) Nguyễn Ngọc Diệp - 20 tuổi - 1m68 (Hà Nội) Trần Thị Diễm Hương - 19 tuổi - 1m70 (Thái Nguyên) Lê Hoàng Bảo Ngọc - 22 tuổi - 1m71 (Lâm Đồng) Vũ Hải Hà - 21 tuổi - 1m67 (Hà Nội) Phạm Diệu Linh - 18 tuổi - 1m67 (Hà Nội) Bùi Thị Ánh Tuyết - 21 tuổi - 1m73 (Thái Bình) Lê Thị Mây - 20 tuổi - 1m69 (Hải Dương) Nguyễn Thị Hồng Nhung - 18 tuổi - 1m76 (Hà Nội) Nguyễn Thị Ngọc Hà - 18 tuổi - 1m69 (Quảng Ninh) Lý Hồng Nhung - 20 tuổi - 1m66 (Hà Nội) Nguyễn Thị Diễm Hạnh - 18 tuổi - 1m65 (Quảng Nam) Thạch Thị Hồng Nhung - 20 tuổi - 1m65 (Cần Thơ) Doãn Thị Như Trang - 21 tuổi - 1m67 (Hải Dương) Đinh Thị Hằng Ni - 21 tuổi - 1m67 (Đak Lak) Vũ Thị Hoàng Điệp - 21 tuổi - 1m72 (Đồng Nai) Hồ Thị Oanh Yến - 22 tuổi - 1m69 (Bà Rịa Vũng Tàu) Nguyễn Minh Ngọc Trâm - 22 tuổi - 1m69 (Bến Tre) === Các giải thưởng === Hoa hậu ảnh: Thạch Thị Hồng Nhung Hoa hậu biển: Lâm Thu Hằng Hoa hậu thân thiện: Đậu Thị Hồng Phúc Người mặc áo dài đẹp nhất: Lê Thị Mây Người đẹp được bình chọn nhiều nhất: Vũ Thị Hoàng Điệp Người đẹp ứng xử hay nhất: Nguyễn Thụy Vân == Phần thi ứng xử top 5 == === Phan Hoàng Minh Thư === Câu hỏi: Thái độ của bạn trước sự nghèo đói? Trả lời: "Nghèo đói hiện nay đang là một gánh nặng không chỉ ở Việt Nam, mà ngay cả ở các nước phát triển. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là tại sao chúng ta nghèo, làm thế nào để thoát khỏi sự nghèo đói. Năm nay, cuộc thi với chủ đề An sinh Xã hội vì người nghèo và em muốn được trở thành Hoa hậu để thành đại sứ của chương trình an sinh xã hội vì người nghèo. === Đậu Thị Hồng Phúc === Câu hỏi: Bạn có nghĩ rằng, với tuổi trẻ, tình yêu đôi lứa là một khái niệm quá hẹp? Trả lời: Theo em, tình yêu đôi lứa là một tình cảm rất thiêng liêng, nhưng nếu đó là tình yêu chân chính, nó giúp con người sống đẹp hơn, bao dung hơn và đạt được những điều tốt đẹp hơn trong cuộc đời. Nhưng, bên cạnh tình yêu đôi lứa, còn có rất nhiều tình yêu khác: tình yêu cha mẹ, đất nước, con người… nên khi một tình yêu ích kỷ, chỉ biết đến ta thì đó đúng là một khái niệm quá hẹp === Nguyễn Thụy Vân === Câu hỏi: Cảm tưởng của bạn khi đến với Hội An? Trả lời: Đây là lần đầu tiên em đến với Hội An. Với em, Hội An quả thực rất đẹp. Nét đẹp ấy không chỉ hiện ra ở không gian mà còn có vẻ đẹp của con người với những nụ cười rất thân thiện. Đúng là "trăm nghe không bằng một thấy", đến đây em mới hiểu tại sao Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới. Chúng em đã được đến thăm thánh địa Mỹ Sơn, một di sản văn hóa thế giới thiêng liêng - rất phù hợp với tiêu chí của chương trình. Sau khi thăm những danh thắng ở Hội An, cảm thấy càng yêu đất nước thêm và muốn trau dồi bản thân để có thể góp phần bảo vệ các di sản thế giới. Em chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên: "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn", chắc chắn sau khi rời Hội An, đây sẽ là một kỉ niệm em không bao giờ quên === Lâm Thu Hằng === Câu hỏi: Trong cuộc sống đã bao giờ bạn tỏ ra là người thiếu thân thiện? Trả lời: Sự thân thiện đối với mỗi con người được đánh giá bởi những người xung quanh. Em luôn cố gắng vô tư và hòa đồng với mọi người, nhưng đôi lúc do áp lực trong cuộc sống và học tập nên em tự nhận thấy mình có đôi khi thiếu thân thiện, dù mọi người không nói ra. Em sẽ cố gắng trau dồi bản thân để được mọi người yêu mến hơn === Trần Thị Thùy Dung === Câu hỏi: Nếu đêm nay không trở thành hoa hậu, bạn nghĩ gì? Trả lời: Khi đến đây, tất cả các bạn đều mong muốn đăng quang hoa hậu. Nếu đêm nay em không trở thành hoa hậu thì em cũng sẽ buồn nhưng điều đó không phải là quan trọng nhất. Khi đến với cuộc thi này, em được tham gia vào một sân chơi, được học hỏi nhiều điều, trở nên mạnh dạn và tự tin hơn, có những ngày tháng bên nhau rất vui vẻ, nghe những lời tâm sự chân thật, đó mới là điều quan trọng nhất. Đêm nay, nếu em không thành Hoa hậu thì sẽ có bạn khác đăng quang và em mừng vì cuộc thi đã tìm được một người xứng đáng == Sự cố == Vài ngày sau khi đăng quang hoa hậu, xảy ra những xôn xao xung quanh thông tin rằng Hoa hậu Thùy Dung chưa tốt nghiệp trung học phổ thông. Việc này đã gây sốc và gây chia rẽ trong dư luận . Hoa hậu Thùy Dung không bị tước vương miện vì cô không làm gì sai so với thể lệ đặt ra của cuộc thi, nhưng sai phạm của Ban tổ chức cuộc thi dẫn đến hậu quả là cả Hoa hậu và hai Á hậu của cuộc thi đều không được Cục nghệ thuật biểu diễn Việt Nam cho phép tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2008. Dư luận đã có phản ứng dữ dội về vụ bê bối, bày tỏ sự thất vọng và chán nản với cuộc thi được xem là uy tín. Có ý kiến lo ngại rằng các giá trị và văn hóa truyền thống của đất nước đang bị đe dọa bởi những người tìm kiếm thành công bằng mọi giá. Các sai phạm về tổ chức trong vụ bê bối này, cùng với sự kiện múa khỏa thân ở trường FPT đã được xếp vào một trong hai vấn đề yếu kém nhất về mặt văn hóa trong năm 2008.. === Hoa hậu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học === Vài ngày sau khi đăng quang hoa hậu, báo chí Việt Nam đưa tin Hoa hậu Thùy Dung chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, do nghỉ học từ giữa năm lớp 12. Thông tin này được hiệu trưởng trường Quang Trung Phạm Sĩ Liêm khẳng định, được Sở giáo dục Đà Nẵng xác nhận. Báo Đất Việt đăng tải những hình ảnh về một cuốn học bạ được cho là của thí sinh Trần Thị Thùy Dung đã nộp cho Ban tổ chức , theo những hình ảnh được đăng tải này, kết quả của cả 2 học kỳ năm lớp 12 (với điểm trung bình học kỳ 1 là 6,8 và học kỳ 2 là 7,1). Tuy vậy, bà Lê Thị Mỹ Nguyên Hiệu phó Trường Trung học phổ thông Quang Trung, sau khi xem xét những hình ảnh trên lại thấy nhiều chữ ký của các giáo viên có trong hình không hề có thời gian dạy ở trường, hoặc đã thôi dạy từ cuối năm 2007. Tờ Báo Tuổi trẻ đặt câu hỏi nghi ngờ về một học bạ giả của tân hoa hậu, sau khi đăng công văn phúc trình của ban giám hiệu Trường Trung học phổ thông Quang Trung gửi Sở GD-ĐT thành phố Đà Nẵng cho thấy Trần Thị Thùy Dung chỉ học hết lớp 10 và lớp 11.. Về phía Ban tổ chức cuộc thi, ông Dương Xuân Nam, Tổng biên tập báo Tiền Phong (đến tháng 11 năm 2008), trưởng Ban tổ chức cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008, khẳng định "Ban tổ chức không yêu cầu thí sinh Ban tổ chức không yêu cầu thí sinh nộp học bạ" . Ban tổ chức cũng cung cấp hồ sơ đăng ký dự thi của Trần Thị Thùy Dung trong đó kê khai "đang học lớp 12" Ngày 4 tháng 9, ông Dương Xuân Nam cho biết, "Hội đồng chỉ đạo và ban tổ chức quốc gia đã họp và kết luận thí sinh Trần Thị Thùy Dung không vi phạm quy chế" và vẫn giữ được vương miện hoa hậu. === Ban Tổ chức vi phạm quy chế === Theo lý giải của ông Dương Xuân Nam, thể lệ của Ban tổ chức cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008 "chỉ yêu cầu thí sinh có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở lên", tức chỉ cần đang theo học phổ thông trung học chứ không đòi hỏi phải tốt nghiệp PTTH. Trước đó, ông Dương Xuân Nam đã từng nêu rõ quan điểm của mình trên trang báo điện tử VTC News tại thời điểm tháng 4/2008 - thời điểm cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008 mới đang trong giai đoạn tuyển lựa thí sinh trên cả nước và chưa diễn ra đêm chung kết . Đây là thời gian Cục nghệ thuật biểu diễn vừa tổng kết 2 năm thực hiện Quy chế tổ chức hoa hậu ban hành từ tháng 3/2006 còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế nên lấy ý kiến góp ý của các nhà chuyên môn và dư luận để điều chỉnh. Trong bài báo, Ông Dương Xuân Nam khi trả lời phỏng vấn về vấn đề trình độ tối thiểu của thí sinh thi hoa hậu đã thể hiện rõ quan điểm "chỉ nên yêu cầu thí sinh có trình độ trung học phổ thông, không nên yêu cầu phải tốt nghiệp PTTH", hoàn toàn nhất quán với những phát biểu của ông về sau này: "Tổng biên tập báo Tiền Phong, ông Dương Xuân Nam cũng cho rằng chỉ cần yêu cầu thí sinh có trình độ trung học phổ thông. Việc quy chế yêu cầu phải tốt nghiệp trung học mới được thi hoa hậu là không nên vì có nhiều người đẹp rất thông minh nhưng phải đi lao động ở miền núi hải đảo, hoặc có hoàn cảnh khó khăn không tốt nghiệp được phổ thông trung học. Nhiều nữ thanh niên trong lực lượng vũ trang, nữ thanh niên dân tộc thiểu số, nữ công nhân cũng có thể không đáp ứng được yêu cầu này. Theo ông, trên thực tế cuộc thi Hoa hậu không phải là cuộc thi đại học mà là một sân chơi văn hóa. (- trích bài báo "Thi Hoa hậu có cần tốt nghiệp trung học?", báo điện tử VTC News ngày 19/04/2008." Tuy nhiên, thể lệ của cuộc thi HHVN 2008 trái với Quy chế Tổ chức thi Hoa hậu của Bộ Thông tin và Truyền thông. Ông Dương Xuân Nam cho biết, dự thảo quy chế mới (quy chế 37) đã trình lên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam "nêu rõ thể lệ với các thí sinh tham gia các cuộc thi sắc đẹp: Học PTTH", từ vài tháng nhưng Thứ trưởng Lê Tiến Thọ chưa kịp ký, và ông đã làm "đúng với tinh thần của dự thảo". Còn theo ông Lê Tiến Thọ, đúng là ông đã nhận dự thảo mới về quy chế 37, nhưng "nội dung dự thảo mục thể lệ vẫn giữ nguyên: Thí sinh dự thi phải tốt nghiệp THPT", còn đề nghị của ông Dương Xuân Nam trong hội thảo quy chế 37 của Bộ hồi tháng 4 năm 2008 chỉ là một trong các ý kiến khác nhau.. Một đoàn thẩm tra xác minh cuộc thi hoa hậu Việt Nam 2008 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chính thức được thành lập ngày 9 tháng 9 năm 2008, đoàn gồm 5 thành viên, do ông Trần Văn Minh, Phó trưởng phòng Thanh tra - Báo chí - Xuất Bản làm trưởng đoàn. === Kết cục === Ngày 29/9, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Việt Nam có văn bản chính thức đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam tiến hành kiểm điểm Báo Tiền Phong và Ban tổ chức cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008. Bộ cũng khẳng định Hoa hậu Thùy Dung không được dự thi Hoa hậu Thế giới 2008 vì chưa tốt nghiệp trung học phổ thông. Trần Thị Thùy Dung không bị tước vương miện do cô không vi phạm quy chế, nhưng Báo Tiền Phong không được tiếp tục tổ chức cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010.. Cũng do việc ban tổ chức cuộc thi vi phạm quy chế, Cục Nghệ thuật biểu diễn không duyệt cho một Á hậu nào của cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2008 đi dự thi Hoa hậu Thế giới 2008. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức Video clip Đêm chung kết Hoa hậu Việt Nam 2008 Hoa hậu Việt Nam 2008 Các thí sinh khu vực phía Bắc
hà tĩnh (thành phố).txt
Thành phố Hà Tĩnh là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tĩnh, ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. == Vị trí địa lý == Thành phố Hà Tĩnh ở vị trí từ 18° - 18°24’ vĩ độ Bắc, 10°553’-10°556’ kinh độ Đông, nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách Hà Nội 350 km, thành phố Vinh 50 km về phía Bắc; Cách thành phố Huế 314 km về phía Nam và cách biển Đông 5 km. Thành phố Hà Tĩnh nằm ở trung tâm miền Đông Hà Tĩnh, trên vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh - Lam Giang Phía Bắc giáp: Thị trấn Thạch Hà (qua cầu Cày), sông cửa Sót. Phía Tây giáp: Xã Thạch Đài, xã Thạch Tân, sông Cày (huyện Thạch Hà). Phía Nam giáp: Xã Cẩm Bình, xã Cẩm Vịnh (huyện Cẩm Xuyên). Phía Đông giáp: Sông Đồng Môn (huyện Thạch Hà, Lộc Hà) == Hành chính == Thành phố Hà Tĩnh gồm 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 phường: Bắc Hà, Đại Nài, Hà Huy Tập, Nam Hà, Nguyễn Du, Tân Giang, Thạch Linh, Thạch Quý, Trần Phú, Văn Yên và 6 xã: Thạch Bình, Thạch Đồng, Thạch Hạ, Thạch Hưng, Thạch Môn, Thạch Trung. Chính trị: Bí thư Thành uỷ: Ngô Đức Huy - Uỷ viên Ban thường vụ Tỉnh uỷ Chủ tịch UBND: Trần Thế Dũng-Tỉnh Uỷ viên Chủ tịch HĐND: Đậu Thị Thuỷ == Lịch sử == Thời kỳ Bách Việt thuộc Vương Quốc Việt Thường, sau đó thuộc về Vương quốc Văn Lang rồi Âu Lạc. Thời Bắc thuộc nằm trong châu Phúc Lộc. Thời kỳ độc lập tự chủ: Dươi Nhà Tiền Lê (980-1008) thuộc châu Thạch Hà; từ năm 1025 đời Lý, có thể thuộc trại Định Phiên: đời Trần - Hồ (1226-1407) thuộc châu Nhật Nam. Thời thuộc Minh (1407-1427) là đất huyện Bàn Thạch, châu Nam Tĩnh. Từ năm 1469, vua Lê Thánh Tông định bản đồ đất nước cho đến đầu đời Nguyễn là đất Thạch Hà, phủ Hà Hoa, thừa tuyên Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mệnh nhà Nguyễn đã chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh. Khi đó xã Trung Tết, huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, được chọn làm nơi đặt trụ sở tỉnh lỵ tỉnh Hà Tĩnh. Tháng 2 năm 1886, Pháp đưa quân vào chiếm tỉnh thành Hà Tĩnh và ra sức xây dựng tỉnh lỵ thành một trung tâm đô thị đủ điều kiện phục vụ bộ máy cai trị. Ngày 3 tháng 7 năm 1924, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị xã Hà Tĩnh. Cho đến năm 1942, thị xã chỉ là một tỉnh lỵ nhỏ bé với diện tích 247 ha và 4.400 dân. Ngoài 4 xã mới sát nhập năm 1920 là Đông Quế, Xã Tắc, Trung Hậu, Tiền Bạt, nội thị chia làm 8 khu phố: Tịnh Trung, Hoàn Thị, Tiền Môn, Hậu Môn, Tả Môn, Hữu Môn, Tân Giang, Nam Ngạn. Trước tháng 8 năm 1945, thị xã Hà Tĩnh chưa phải là một cấp hành chính, việc cai trị do chính quyền cấp tỉnh trực tiếp đảm nhiệm. Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), thị xã Hà Tĩnh được nâng lên thành đơn vị hành chính ngang huyện, trực thuộc tỉnh. Diện tích 1,2km2 và dân số khoảng dưới 5.000 người. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thị xã Hà Tĩnh không trực thuộc tỉnh và chỉ là một đơn vị hành chính ngang xã, thuộc huyện Thạch Hà. Năm 1958, thị xã trở lại là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, nhưng cũng chỉ là một đơn vị cơ sở ngang xã. Năm 1960, thị xã Hà Tĩnh được công nhận là đơn vị hành chính tương đương cấp huyện. Đến năm 1975, thị xã vừa làm chức năng cấp huyện, vừa làm chức năng cơ sở, trực tiếp quản lý hai tiểu khu Bắc Hà, Nam Hà. Từ những năm 1976 - 1991, thị xã Hà Tĩnh là một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh. Tháng 9 năm 1989, chuyển 6 xã: Đại Nài, Thạch Linh, Thạnh Phú, Thạch Quý, Thạch Trung, Thạch Yên thuộc huyện Thạch Hà về thị xã Hà Tĩnh quản lý. Từ năm 1991, thị xã Hà Tĩnh là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 23 tháng 12 năm 1993, thành lập 2 phường Tân Giang và Trần Phú. Ngày 2 tháng 1 năm 2004, chuyển 5 xã: Thạch Hạ, Thạch Môn, Thạch Đồng, Thạch Hưng, Thạch Bình thuộc huyện Thạch Hà về thị xã Hà Tĩnh quản lý; chuyển xã Thạch Phú thành phường Hà Huy Tập, chuyển xã Đại Nài thành phường Đại Nài. Ngày 7 tháng 2 năm 2007, thành lập phường Nguyễn Du từ một phần diện tích tự nhiên và dân số của các phường Bắc Hà, Trần Phú và các xã Thạch Quý, Thạch Linh, Thạch Trung; chuyển xã Thạch Yên thành phường Văn Yên; chuyển 2 xã Thạch Quý và Thạch Linh thành 2 phường có tên tương ứng. Ngày 19 tháng 7 năm 2006, thị xã Hà Tĩnh được công nhận là đô thị loại 3. Ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ - Nguyễn Tấn Dũng - đã ký nghị định số 89/2007/NĐ-CP về việc nâng cấp thị xã Hà Tĩnh thành thành phố Hà Tĩnh. Ngày 20 tháng 6 năm 2007, đã diễn ra lễ công bố thành lập thành phố Hà Tĩnh tại quảng trường trung tâm thành phố. == Cảnh Quan == Thành phố Hà Tĩnh là một thành phố trẻ thành lập từ 2008. Cho đến nay, cảnh quan toàn thành phố vẫn mang dáng vóc của một đô thị nông thôn không được quy hoạch như bao thành phố khác của Việt Nam. Việc đô thị hóa nông thôn, làng lên phố vẫn giữ nguyên dáng hình của những ngôi làng truyền thống, cộng với việc kinh phí đô thị hạn hẹp khiến cho việc quy hoạch trở nên khó khăn. Mặc dù các tuyến đường mới được mở, nhưng những nhà quy hoạch thành phố vẫn không định hướng cho một tầm nhìn trên 20 năm đến 100 năm sau cho Thành phố Hà Tĩnh. Hầu hết các khối phố thuộc các phường trung tâm cơ sở hạ tầng dù được đầu tư nhưng vẫn không có quy hoạch, không thể đáp ứng được nhu cầu tăng dân số bộc phát trong tương lai. Dù sớm hay muộn thì Thành phố Hà Tĩnh có nguy cơ trở thành một đô thị thiếu quy hoạch và gặp vô số vấn đề nan giải như Hà Nội hiện nay. Thành phố Hà Tĩnh là một trong những thành phố chịu cảnh ngập úng trong mùa mưa bởi hệ thống thoát nước của thành phố không thể đáp ứng cho một thành phố đang trên đà phát triển. == Truyền thuyết - sự tích liên quan đến thành phố == Sau khi Nhà Nguyễn thành lập Tỉnh Hà Tĩnh, xã Trung Tiết được chọn làm địa điểm đóng tỉnh lỵ của Tỉnh. Nhà Nguyễn cho đắp thành Hà Tĩnh. Sau khi đắp xong thành, thì ngay đêm đó mưa to gió lớn bất thường; đến sáng hôm sau người dân địa phương và quan lại tỉnh nhà hết sức ngạc nhiên vì thấy sen mọc đầy trong hào thành. Từ đó thành Hà Tĩnh được gọi là Thành Sen. == Thành Sen - Thành Cổ Hà Tĩnh == Thành cổ Hà Tĩnh còn được gọi là Thành Sen. Đến nay kiến trúc của thành cổ Hà Tĩnh không còn, chỉ còn sót lại đoạn Hào Thành và sông Tân Giang dẫn nước từ sông Rào Cái chảy vào Hào vệ thành. Quan sát từ vệ tinh và thông qua ảnh của người Pháp chụp từ trên cao thành cổ Hà Tĩnh mang nét kiến trúc giống thành cổ Đồng Hới và thành Vinh. Đây là một trong những công trình phòng thủ từ xa cho Kinh thành Huế cùng với thành Vinh, thành Đồng Hới và thành Quảng Trị. Thành cổ Hà Tĩnh ngoảnh mặt về hướng Đông Nam, có 4 cửa ra vào thành. Hiện nay nền móng cũ của thành cổ Hà Tĩnh nằm trọn vẹn trong lòng phường Tân Giang. Trên nền cũ nơi xưa kia vốn là Trụ sở làm việc của quan lại phong kiến tỉnh Hà Tĩnh là trụ sở ủy ban nhân dân Tỉnh Hà Tĩnh, Quảng trường Hà Tĩnh, Công an tỉnh Hà Tĩnh, Thư viện Hà Tĩnh, Hội đồng nhân dân Tỉnh Hà Tĩnh. Phần hào vệ thành phía Nam thành cổ Hà Tĩnh đã bị lấp lại mà ngày nay chính là khu vực giữa đường Phan Đình Phùng và Đặng Dung. Do biến thiên của lịch sử đã biến thành cổ Hà Tĩnh chỉ còn trơ lại nền móng, cộng với việc dân cư sống tự phát trong hàng chục năm trời bên trong khu nội thành cũng như các trục đường chính chạy qua một phần nền thành cũ nên công việc phục dựng lại thành cổ Hà Tĩnh là không thể. == Văn hóa == === Di tích và danh thắng === Đền Võ Miếu (quan thánh). === Người nổi tiếng === Hoàng giáp chế khoa Nguyễn Hoành Từ Đình nguyên Thám hoa Đặng Văn Kiều(1824 - 1881): người xã Phất Náo, huyện Thạch Hà, nay là xã Thạch Bình. Danh họa Nguyễn Phan Chánh Giáo sư, Viện sĩ Hoàng Trinh Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Trọng Ngũ Nguyễn Đức Thanh: Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Ninh Thuận === Lễ hội truyền thống === Hội Chay ở chợ Thành phố Hà Tĩnh vào Tết Trung nguyên. == Giáo dục == Trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh tập trung nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo từ bậc mẫu giáo, tiểu học đến cao đẳng, đại học như: === Đại học, Cao đẳng === Trường Đại học Hà Tĩnh: Số 447, đường 26/3, phường Đại Nài Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh: Đường Nguyễn Công Trứ Trường Cao đẳng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Du: Khối 4 - Phường Đại Nài Trường Cao đẳng nghề Việt Đức Hà Tĩnh: 371 Nguyễn Công Trứ, P. Nguyễn Du Trường Cao đẳng nghề công nghệ Hà Tĩnh: Số 01 - Ngõ 455 - Đường Trần Phú - P.Thạch Linh === Trường Trung Cấp Nghề === Trường trung cấp nghề Hà Tĩnh === Trường Trung học Phổ thông === Trường Trung học phổ thông Chuyên Hà Tĩnh Trường THPT Phan Đình Phùng Trường THPT Thành Sen Trường THPT Ischool == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Diễn đàn Người Nghệ - Phong trào Đại Nghệ
wessex football league.txt
Wessex Football League là giải đấu bóng đá Anh thành lập năm 1986, với hạng đấu cao nhất nằm ở cấp độ 9 của hệ thống các giải bóng đá Anh. Các đội tham gia chủ yếu nằm ở Hampshire, nhưng cũng có sự tham gia của các đội bóng ở các hạt lân cận như Dorset, Wiltshire, Berkshire, và Đảo Wight. Giải đấu còn có tên gọi là Sydenhams League bởi lý do nhà tài trợ. Năm 2004, giải đấu lấy gần như toàn bộ các CLB ở giải đấu hạng dưới của nó là Hampshire League, để thành lập Division Two và Division Three. Năm 2006, các hạng đấu được đổi tên lại thành Premier Division, Division One và Division Two. Cuối mùa giải 2006–07, Division Two bị hủy bỏ, và một số CLB tách ra thành lập giải đấu mới có tên Hampshire Premier League. Nhà vô địch của Wessex League nếu đáp ứng đủ điều kiện về sân bãi và tài chính có thể thăng hạng lên chơi ở Southern Football League hoặc Isthmian League, tùy thuộc vào vị trí địa lý. == Các đội vô địch == Năm 2004, giải đấu mở rộng ra 3 hạng đấu. Năm 2006, các hạng đấu được quy ước lại, với hạng đấu cao nhất mang tên Premier Division. Năm 2007, Division Two không được tiếp tục diễn ra. == Wessex League Cup == Wessex League Cup, hay 'Sydenhams League Cup' do mục đích tài trợ, là một giải đấu cup địa phương dành cho tất cả các đội bóng ở Wessex League. === Các nhà vô địch Wessex League Cup === 1986–87 Road Sea Southampton 1987–88 East Cowes Victoria Athletic 1988–89 AFC Lymington 1989–90 A.F.C. Totton 1990–91 Thatcham Town 1991–92 Thatcham Town 1992–93 Gosport Borough 1993–94 Wimborne Town 1994–95 Thatcham Town 1995–96 Downton 1996–97 Thatcham Town 1997–98 Aerostructures Sports & Social 1998–99 Cowes Sports 1999–2000 Wimborne Town 2000–01 Không tổ chức 2001–02 Andover 2002–03 A.F.C. Totton 2003–04 Winchester City 2004–05 Hamworthy United 2005–06 A.F.C. Totton 2006–07 Lymington Town 2007–08 Wimborne Town 2008–09 VT 2009–10 Bemerton Heath Harlequins 2010–11 Bournemouth 2011–12 Christchurch 2012–13 Alresford Town 2013–14 Alresford Town == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web của giải
thành đô.txt
Thành Đô (tiếng Trung: 成都; bính âm: Chéngdu; Wade-Giles: Ch'eng-tu, phát âm: ), là một thành phố tại tây nam Trung Quốc, tỉnh lỵ tỉnh Tứ Xuyên, là thành phố thuộc tỉnh, đông dân thứ năm Trung Quốc (2005). Thành Đô là một trong những trung tâm giao thông vận tải và giao thương quan trọng của Trung Quốc. Hơn 4000 năm trước, nền văn hóa Kim Sa (金沙 Jinsha) thời kỳ đồ đồng được thiết lập tại khu vực này. Đồng bằng màu mỡ Thành Đô được gọi là "Thiên Phủ Chi Quốc", có nghĩa là "đất nước thiên đường". == Lịch sử == Trong thời Tam Quốc, nhà Thục Hán (221-263) do Lưu Bị thành lập đã đặt đô ở Thành Đô. == Phân chia hành chính == Thành Đô chia ra làm 9 quận, 4 huyện cấp thị và 6 huyện. Quận Thanh Dương Cẩm Giang Kim Ngưu Vũ Hầu Thành Hoa Long Tuyền Dịch Thanh Bạch Giang Tân Đô Ôn Giang Huyện cấp thị Bành Châu Cung Lai Sùng Châu Đô Giang Yển Huyện Kim Đường Song Lưu Bì Đại Ấp Bồ Giang Tân Tân == Dân số == Năm 2005, dân số thành phố Thành Đô là: 10.700.000, xếp thứ năm sau Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân và Trùng Khánh. Thành Đô là quê hương của nhà văn nổi tiếng Ba Kim. == Kinh tế == Thành Đô là nơi có nhiều ngành công nghiệp chủ chốt của Trung Quốc. Tứ Xuyên từ lâu là thủ đô thuốc Bắc của Trung Hoa. Thành Đô ngày nay là một trung tâm sản xuất và nghiên cứu dược phẩm của Trung Quốc. Khu công nghệ cao Thành Đô thu hút nhiều dự án công nghệ cao của Intel, Microsoft, và là đại bản doanh của Lenovo. == Giao thông == Sân bay quốc tế Song Lưu Thành Đô lớn thứ 6 tại Trung Quốc Đại lục, sau sân bay tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến. Năm 2005, lượng khách thông qua sân bay này là 13,89 triệu, xếp thứ 89 trong các sân bay toàn cầu. Thành Đô là thành phố thứ tư của Trung Quốc có các chuyến bay quốc tế. == Khí hậu == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Chengdu tại Wikimedia Commons
địa lý hoa kỳ.txt
Hoa Kỳ là một quốc gia ở Tây Bán cầu. Hoa Kỳ gồm 50 tiểu bang tiếp giáp nhau trên lục địa Bắc Mỹ; Alaska, một bán đảo tạo thành phần cực tây bắc của Bắc Mỹ và đảo Hawaii, một quần đảo ở Thái Bình Dương. Quốc gia này cũng có nhiều lãnh thổ thuộc Mỹ ở Thái Bình Dương và vùng Caribbean. Hoa Kỳ có chung biên giới với Canada và México và một vùng nước giáp với Nga. == Diện tích == Theo tổng diện tích bao gồm cả diện tích mặt nước, Hoa Kỳ hơi lớn hơn hoặc nhỏ hơn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khiến Hoa Kỳ là quốc gia có diện tích lớn thứ ba thế giới. Tuy nhiên vị trí này còn tùy thuộc vào việc hai vùng lãnh thổ do Ấn Độ tuyên bố chủ quyền nhưng do Trung Quốc quản lý và được tính vào diện tích của Trung Quốc. Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều xếp sau Canada và Nga về tổng diện tích. Tính theo diện tích đất, Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ ba thế giới, sau Nga và Canada.. Tính theo tổng diện tích, Hoa Kỳ: 3/10 kích thước châu Phi 1/2 kích thước Nam Mỹ 1/2 kích thước của Nga Gần như bằng Trung Quốc Hơi nhỉnh hơn Brasil Hơi hơn 1 và ¼ kích thước Australia 2 và ½ kích thước của Tây Âu Xấp xỉ hơn 14 lần kích thước Pháp Xấp xỉ 39 lần kích thước Anh quốc == Ghi chú ==
windows me.txt
Windows Millennium Edition, hay Windows ME (phát âm, /ˌɛm ˈiː/ em-ee), là một hệ điều hành giao diện đồ hoạ được phát hành ngày 14 tháng 9 năm 2000 bởi Microsoft và là hệ điều hành cuối cùng trong dòng Windows 9x. Nó được phát hành 7 tháng sau Windows 2000, 2 năm sau Windows 98 và 1 năm trước Windows XP. Nó được hỗ trợ cho đến hết ngày 11 tháng 7 năm 2006. Windows ME là sản phẩm kế tiếp Windows 98 và giống như Windows 98, nó hướng đến người dùng gia đình. Windows ME đi kèm với Internet Explorer 5.5, Windows Media Player 7, và phần mềm Windows Movie Maker, có các chức năng biên tập phim cơ bản và được thiết kế cho người dùng gia đình. Microsoft cũng nâng cấp giao diện người dùng và Windows Explorer trong Windows ME bằng giao diện và Windows Explorer lần đầu được giới thiệu ở Windows 2000, hệ điều hành dành cho người dùng văn phòng ra mắt 7 tháng trước. Windows ME có thể nâng cấp lên Internet Explorer 6 SP1 (nhưng không thể nâng cấp lên SP2 (SV1) hoặc Internet Explorer 7) và Windows Media Player 9. Microsoft .NET Framework đến phiên bản 2.0 được hỗ trợ trong Windows ME, nhưng phiên bản 2.0 SP1, 3.x, và cao hơn thì không. Office XP là phiên bản Microsoft Office cuối cùng tương thích với Windows 9x nói chung, trong đó có Windows ME. Windows ME là sự tiếp nối của dòng Windows 9x, nhưng hạn chế truy cập tới chế độ MS-DOS thực để làm giảm thời gian khởi động. Đây là một trong những thay đổi không hay nhất, vì những ứng dụng chạy ở chế độ này không thể chạy trong Windows ME, mặc dù có thể khởi động vào chế độ này bằng đĩa mềm. == Những tính năng mới và được cải tiến == === Giao diện người dùng === Windows ME có một vài cải thiện về giao diện người dùng, được kế thừa từ Windows 2000, ví dụ như các bảng chọn và thanh công cụ Windows Explorer được tùy chỉnh, tính năng tự động hoàn thành trong các hộp tìm kiếm và thanh địa chỉ, hiển thị các tooltip cho các lối tắt (shortcut), sắp xếp theo tên trong các menu, thanh chứa các địa chỉ thông dụng trong hộp thoại, một số giao diện từ gói Plus! của Windows 98, các biểu tượng 16 bit màu trong vùng thông báo của thanh tác vụ. === Đa phương tiện === Windows Movie Maker, một chương trình biên tập video đơn giản, cho phép lưu dưới định dạng Windows Media. Windows Media Player 7 hỗ trợ nhiều tính năng mới như dò đài, chỉ dẫn từ WindowsMedia.com, các giao diện mới. Windows DVD Player hỗ trợ xem DVD không cần thông qua thẻ. Image Preview giúp xem trước các tập tin ảnh có định dạng.BMP,.DIB,.EMF,.GIF,.JPEG,.PNG,.TIF,.WMF. Thư mục Hình ảnh của tôi (My Pictures) cũng tích hợp tính năng xem trước ảnh. Trò chơi: Windows ME đi kèm với Microsoft DirectX 7.1 và nhiều trò chơi mới: Internet Backgammon, Internet Checkers, Internet Hearts, Internet Reversi, Internet Spades, Spider Solitaire và Pinball. Phiên bản DirectX cuối cùng hỗ trợ Windows ME là DirectX 9.0c. === Chức năng hệ thống === System Restore giúp người dùng đưa hệ thống trở về một trạng thái đã sao lưu từ trước đó. System File Protection đảm bảo các tập tin hệ thống không bị sửa đổi trái phép. Compressed Folders: Xem một tập tin nén.ZIP dưới dạng một thư mục, đồng thời có thể giải nén các tập tin chứa trong đó, hoặc tạo các tập tin nén mới. Help and Support: Tiện ích hỗ trợ người dùng với giao diện mới, thay cho các phiên bản HTML trong Windows 98 và 2000. Automatic Updates tự động cập nhật các bản sửa lỗi và phần mềm hệ thống từ trang web Windows Update. System Configuration Utility cho phép người dùng lấy các tập tin hệ thống từ đĩa cài đặt Windows ME để thay thế các tập tin bị hư hỏng. SCANDISK được chạy ngay trong Windows sau khi tắt máy không đúng cách. Internet Explorer phiên bản 5.5 với tính năng xem trước khi in. === Chức năng hỗ trợ cho người khuyết tật === On-Screen Keyboard là một bàn phím ảo trên màn hình, dùng để nhập liệu bằng chuột. ClickLock (kéo thả không cần nhấn giữ chuột), ẩn con trỏ khi gõ phím, hiển thị vị trí con trỏ khi ấn Ctrl. Con trỏ ký tự có thể được điều chỉnh cho dày hơn, giúp nó trở nên dễ nhìn hơn. Nhiều tùy chọn tiếp cận hơn trong các ứng dụng Máy tính (Calculator) và Kính lúp (Magnifier). == Các tính năng bị loại bỏ == Chế độ DOS thực: Đây là thay đổi được biết đến nhiều nhất trong Windows ME. Theo Microsoft, việc loại bỏ chế độ này giúp cho Windows ME khởi động nhanh hơn. Người dùng có thể sử dụng đĩa cài đặt Windows ME hoặc đĩa khởi động Windows ME để truy cập chế độ DOS thực. Một số tính năng dành cho người dùng doanh nghiệp bị loại bỏ, vì Windows ME được thiết kế để sử dụng trong gia đình. == Chỉ trích == Windows ME đã bị nhiều người dùng chỉ trích vì sự thiếu ổn định. Thậm chí, một bài viết trên tạp chí PC World còn đưa Windows ME vào vị trí thứ 4 trong danh sách 25 sản phẩm công nghệ tồi nhất mọi thời đại. Bài viết đã nói rằng "Không lâu sau khi Windows ME xuất hiện vào cuối năm 2000, nhiều người dùng đã báo cáo vấn đề khi cài đặt, chạy Windows ME, làm Windows ME gặp lỗi với phần mềm và phần cứng, và kể cả những lỗi làm cho hệ thống ngừng hoạt động." Tính năng khôi phục hệ thống (System Restore) đôi khi có thể khôi phục cả những virus, phần mềm độc hại mà trước đó người dùng đã gỡ bỏ, vì cách theo dõi các thay đổi của tính năng này còn khá đơn giản. Người dùng có thể gỡ bỏ phần mềm độc hại bằng cách tắt chức năng này, nhưng sẽ bị mất tất cả các điểm khôi phục hệ thống được tạo ra trước đó. System Restore cũng có một lỗi khiến cho nó đánh dấu sai các điểm khôi phục được tạo ra sau ngày 8/9/2001, dẫn đến việc quá trình khôi phục bị thất bại. Microsoft đã đưa ra một bản cập nhật để sửa lỗi này. == Liên hệ với các phiên bản Microsoft Windows khác == Windows ME được ra mắt sau Windows 2000, và sau đó Windows XP đã thay thế cả hai hệ điều hành này. Windows XP được xây dựng dựa trên nền tảng Windows NT và bao gồm các tính năng của cả Windows 2000 và ME. Tất cả các hỗ trợ cho Windows ME kết thúc vào ngày 11/7/2006 cùng với Windows 98. Theo Microsoft, đây là những phiên bản Windows đã lỗi thời và sử dụng chúng có thể gây ra nhiều nguy hiểm về bảo mật cho người dùng. Nhiều ứng dụng cũ, đặc biệt là các trò chơi, chỉ có thể chạy được trên Windows ME mà không chạy được trên Windows 2000. Tuy nhiên với chế độ tương thích (Compatibility Mode) trên Windows XP, người dùng có thể sử dụng được các phần mềm trên. Windows ME không có bất kỳ gói dịch vụ nào, và là hệ điều hành Windows cuối cùng được xây dựng trên nhân Windows 9x và MS-DOS. == Yêu cầu hệ thống == === Cấu hình === Vi xử lý: Pentium 150 MHz Ổ cứng: 320 MB RAM: 32 MB === Cấu hình đề nghị === Vi xử lý: Pentium II 300 MHz Ổ cứng: 2 GB RAM: 64 MB === Giới hạn dung lượng RAM vật lý === Windows ME hỗ trợ nhiều nhất 1.5 GB RAM. == Tham khảo ==
quỳnh lưu.txt
Quỳnh Lưu là một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Nghệ An. == Địa lý - Hành chính == Huyện có đường ranh giới với các huyện thị là 122 km, trong đó đường ranh giới đất liền 88 km và 34 km đường bờ biển. Khoảng cách từ huyện lỵ là thị trấn Cầu Giát đến thành phố Vinh khoảng 60Km. Phía Bắc giáp với huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) Phía Tây bắc giáp huyện Như Thanh (Thanh Hóa), có chung địa giới khoảng 25 km. Phía Nam và Tây nam giáp với Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng 31 km. Vùng phía Nam huyện có chung khu vực đồng bằng với hai huyện Diễn Châu và Yên Thành (thường gọi là đồng bằng Diễn-Yên-Quỳnh). Phía Tây giáp các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa với ranh giới khoảng 33 km được hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có nhiều đèo thấp tạo ra những con đường nối liền hai huyện với nhau. Phía Đông huyện giáp biển Đông. Diện tích đất tự nhiên: 58.507 ha Diện tích đất dùng vào nông nghiệp là: 15.427 ha Dân số tính đến năm 1999 là 340.000 người Các đơn vị hành chính thuộc huyện gồm 1 thị trấn Cầu Giát (huyện lỵ) và 32 xã: An Hòa, Ngọc Sơn, Quỳnh Bá, Quỳnh Bảng, Quỳnh Châu, Quỳnh Diện, Quỳnh Đôi, Quỳnh Giang, Quỳnh Hậu, Quỳnh Hoa, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hưng, Quỳnh Lâm, Quỳnh Long, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Tam, Quỳnh Tân, Quỳnh Thạch, Quỳnh Thắng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận, Quỳnh Văn, Quỳnh Yên, Sơn Hải, Tân Sơn, Tân Thắng, Tiến Thủy. Tuy một số xã thuộc miền núi trung du như Quỳnh Châu, Quỳnh Tam, Quỳnh Thắng, nhưng phần lớn các xã nằm ở vùng đồng bằng nhỏ hẹp dọc theo biển Đông. == Khí hậu và thời tiết == Quỳnh Lưu nằm trong khu vực nhiệt đới nhưng lại ở miền biển nên thường nhận được ba luồng gió: - Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông Cổ, từng đợt thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ tràn về, bà con gọi là gió bắc. - Gió mùa Tây Nam ở tận vinh Bengal tràn qua lục địa, luồn qua các dãy Trường Sơn, thổi sang mà nhân dân thường gọi là gió Lào nhưng chính là gió tây khô nóng. - Gió mùa Đông nam mát mẻ từ biển Đông thổi vào nhân dân gọi là gió nồm Khí hậu Quỳnh Lưu chia làm hai mùa rõ rệt: - Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch. Mùa này tiết trời nóng nực, nhiệt độ trung bình 30C, có ngày lên tới 40C. - Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 dương lịch năm sau. Mùa này thường có gió mùa đông bắc, mưa kéo dài. == Giao thông == Đường sắt Ngoài tuyến đường sắt bắc nam chạy dọc theo chiều từ bắc xưống nam huyện,huyện này còn có tuyến đường sắt địa phương nối từ Giát qua ngã ba Tam Lệ, lên huyện Nghĩa Đàn. Đây là một trong số rất ít các tuyến đường sắt nội tỉnh ở Việt Nam, nối đường sắt quốc gia với vùng đất đỏ Phủ Quỳ. Đường bộ Ngoài quốc lộ 1A chạy dọc theo vùng trung tâm huyện, còn có quốc lộ 48 chạy cắt qua các xã phía tây nam huyện lên thị xã Thái Hòa, huyện còn có 2 tỉnh lộ 537A và 537B nối từ quốc lộ 48 chạy về các xã ven biển tạo thành hình vòng cung. Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Thanh Hóa – Hà Tĩnh đi qua đang được xây dựng. Đường thủy Với 3 cửa sông đổ ra biển và được nối với nhau bởi hệ thống kênh đào nhà Lê, giao thông đường thủy được nối thông suốt từ bắc xuống nam, từ tây sang đông huyện, hiện nay đã có một cảng cá ở cửa lạch Quèn phục vụ cho nghề cá rất phát triển ở đây. == Kinh tế == Với đặc điểm địa lý của huyện, người dân miền tây chủ yếu trồng cây công nghiệp như Cao su, Cà phê, Dứa... Người dân vùng đồng bằng chủ yếu là trồng lúa Người dân vùng biển thường sống bằng nghề đánh bắt cá, làm muối và trồng rau. Ngoài ra Quỳnh Lưu là một trong 2 huyện ở nước ta có nghề nuôi hươu lấy nhung rất phát triển, hiện có khoảng gần 12000 con đang được nuôi trong các hộ dân. == Di tích - Danh thắng == Quỳnh Lưu có khu du lịch Biển Quỳnh chạy dài từ Quỳnh Lập vào Tiến Thủy với bãi cát vàng, động Hang Dơi Quỳnh Tam. == Lịch sử - Văn hóa == === Lịch sử === Quỳnh Lưu là một vùng đất cổ có cư dân sinh sống từ rất lâu đời. Bằng chứng là di chỉ văn hoá Quỳnh Văn. Ngoài Quỳnh Văn, các di chỉ cồn sò, điệp thuộc loại hình văn hoá Quỳnh Văn còn có ở các xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Hậu, Quỳnh Xuân, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Hồng, Mai Hùng,… Niên đại văn hoá Quỳnh Văn được xác định là ít nhất ở thời kỳ đồ đá, tức là cách ngày nay khoảng 6000 năm. Cư dân nguyên thuỷ ở Quỳnh Lưu sinh sống thành từng bộ lạc ở vùng lõm, đồng lầy dọc bờ biển. Chính bằng lao động của mình, những chủ nhân cổ xưa trên mảnh đất Quỳnh Lưu đã "khai thiên phá thạch", vật lộn với thiên nhiên, tạo nên một kỳ tích hình thành vùng đất và hình thành cộng dân cư thời xa xưa. === Tên gọi === Tên Quỳnh Lưu xuất hiện vào thế kỷ XV thời Nhà Lê (1430) ở cương vực từ biển Đông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng phía trên (thuộc đất huyện Nghĩa Đàn hiện nay) và 4 tổng phía dưới (thuộc đất huyện Quỳnh Lưu ngày nay). Từ năm 1430 trở về trước, cương vực Quỳnh Lưu hiện nay thuộc đất Hàm Hoan (tên của vùng Nghệ Tĩnh từ thế kỷ I đến thế kỷ III). Từ cuối thể ký III đầu thế kỷ IV, Hàm Hoan đổi tên thành Đức Châu. Đến giữa thế kỷ VII (năm 650) thời Bắc thuộc, Nghệ Tĩnh hiện nay được gọi là Hoan Châu, rồi đến nửa cuối thể kỷ VIII (năm 764), Hoan Châu tách ra thành Hoan Châu và Diễn Châu. Diễn Châu lúc bấy giờ bao gồm các huyện ngày nay của Nghệ An như Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong. Thời nhà Lý, Diễn Châu là một châu, sau đổi thành một lộ và sau nữa đổi thành phủ, tức là một đơn vị hành chính thuộc chính quyền trung ương từ năm 1010 đến 1225, Quỳnh Lưu lúc bấy giờ nằm trong châu, lộ hoặc phủ Diễn Châu. Đến thời Trần, vùng Hoan Châu và Diễn Châu được đổi tên là trại, sau là lộ, phủ; năm 1397, Diễn Châu được gọi là trấn với tên là Vọng Giang. Thời nhà Hồ, trấn Vọng Giang được đổi thành phủ Linh Nguyên (nghĩa là đất linh thiêng) gồm đất Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu và Nghĩa Đàn ngày nay. Đến thời Lê, Diễn Châu chỉ là một phủ của Nghệ An. Phủ Diễn Châu thời kỳ này bao gồm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu. Như vậy, tên "Quỳnh Lưu" lần đầu tiên xuất hiện ở thời nhà Lê với niên đại được xác định là năm 1430. Từ mốc thời gian thành lập huyện Quỳnh Lưu trở đi tức là đến thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thừ 12 (1831), cả nước chia thành 29 tỉnh, trong đó tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh được lập riêng. Quỳnh Lưu là đơn vị hành chính thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An gồm 11 tổng. Từ năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), 7 tổng ở vùng trên được tách thành huyện Nghĩa Đường (sau đổi tên thành Nghĩa Đàn), 4 tổng còn lại (Quỳnh Lâm, Hoàng Mai, Hoàn Hậu, Thanh Viên) là huyện Quỳnh Lưu như hiện nay thuộc phủ Diễn Châu. Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, Quỳnh Lưu trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh không còn là cấp dưới thuộc Diễn Châu nữa. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945), địa giới huyện Quỳnh Lưu cho đến nay về cơ bản không có gì thay đổi lớn. Tuy nhiên một số làng phía bắc huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành được sáp nhập vào huyện Quỳnh Lưu. Từ đó đến nay, một số tên xã cũng được thay đổi. Theo đà phát triển của kinh tế - xã hội, các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện Quỳnh Lưu có thể còn thay đổi theo hướng lập ra những đơn vị mới trên cơ sở tách ra từ những đơn vị cũ. Sau năm 1975, huyện Quỳnh Lưu có thị trấn Cầu Giát và 34 xã: An Hòa, Mai Hùng, Quỳnh Bá, Quỳnh Châu, Quỳnh Diện, Quỳnh Đôi, Quỳnh Giang, Quỳnh Hoa, Quỳnh Hưng, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lập, Quỳnh Lộc, Quỳnh Long, Quỳnh Lương, Quỳnh Mai, Quỳnh Minh, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Phú, Quỳnh Phương, Quỳnh Sơn, Quỳnh Tam, Quỳnh Tân, Quỳnh Thắng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận, Quỳnh Trang, Quỳnh Văn, Quỳnh Xuân, Quỳnh Yên, Sơn Hải, Tiến Thủy. Ngày 19-9-1981, chia xã Quỳnh Sơn thành 3 xã: Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu, Quỳnh Thạch; chia xã Quỳnh Mai thành 3 xã: Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện, Quỳnh Dị; chia xã Quỳnh Phú thành 2 xã: Quỳnh Bảng và Quỳnh Liên; chia xã Quỳnh Tam thành 2 xã: Quỳnh Tam và Tân Sơn; thành lập một xã lấy tên là xã Ngọc Sơn. Ngày 10-4-2002, chia xã Quỳnh Thắng thành 2 xã: Quỳnh Thắng và Tân Thắng. Ngày 21-4-2006, chuyển xã Quỳnh Thiện thành thị trấn Hoàng Mai. Tính đến cuối năm 2012, huyện Quỳnh Lưu có 43 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn: Cầu Giát (huyện lị), Hoàng Mai và 41 xã: An Hòa, Mai Hùng, Ngọc Sơn, Quỳnh Bá, Quỳnh Bảng, Quỳnh Châu, Quỳnh Dị, Quỳnh Diện, Quỳnh Đôi, Quỳnh Giang, Quỳnh Hậu, Quỳnh Hoa, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hưng, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lập, Quỳnh Liên, Quỳnh Lộc, Quỳnh Long, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Phương, Quỳnh Tam, Quỳnh Tân, Quỳnh Thạch, Quỳnh Thắng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận, Quỳnh Trang, Quỳnh Văn, Quỳnh Vinh, Quỳnh Xuân, Quỳnh Yên, Sơn Hải, Tân Sơn, Tân Thắng, Tiến Thủy. Ngày 3 tháng 4 năm 2013, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Hoàng Mai và 9 xã: Mai Hùng, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân, Quỳnh Trang được tách ra thành lập thị xã Hoàng Mai. === Văn hóa, danh nhân === Quỳnh Lưu còn là nơi phát tích của dòng họ Hồ ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 10. Hồ Hưng Dật, người huyện Vũ Lâm, tỉnh Chiết Giang, đậ­u Trạng nguyên từ thời vua Ẩn Đế (948 - 995) nhà Hậu Hán, sang làm Thái thú Châu Diễn, đến hương Bào Đột (nay thuộc xã Quỳnh Lâm và xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lậ­p nghiệp, làm trại chủ và trở thành vị tổ khai cơ họ Hồ ở Châu Diễn. Họ Hồ ở Quỳnh Lưu có các nhân vật nổi tiếng như nhà Vua Hồ Quý Ly; nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương; bảng nhãn Hồ Sĩ Dương, Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống, Hồ Phi Tích, nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu, Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng kháng chiến chống Pháp (1930-1931) nguyên Huyện ủy viên huyện ủy Quỳnh Lưu - Nghệ An,... Họ Hồ đến Yên Thành thì có Hồ Tông Thốc,... ra Thanh Hóa thì sinh ra Hồ Quý Ly,... vào Hưng Nguyên thì tạo nên dòng dõi Quang Trung nhà Tây Sơn. Quỳnh Lưu còn là quê hương của nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng trong lịch sử như: Thám hoa Dương Cát Phủ; danh sĩ Phạm Đình Toái, Hoàng Văn Hoan... Ngày nay có những người nổi tiếng: chính khách Hồ Đức Việt; nhà báo Hồ Anh Dũng; Trung tướng Lê Nam Phong; Trung tướng, PGS, TS, NGND Phan Đức Dư (Giám đốc Học viện An ninh nhân dân); Giáo sư Phan Cự Đệ; Giáo sư Phan Nguyên Di; nhà văn Nguyễn Minh Châu (tác giả 'Dấu chân người lính'); nhà văn Bùi Hiển; nhà thơ Tú Mỡ; nhà thơ Hoàng Trung Thông, nhà thơ trào phúng Dương Quân, Hoàng Nhật Tân (Hoàng Thanh Đạm) nhà nghiên cứu sử học và dịch giả, con trai Hoàng Văn Hoan, Dương Viên, nguyên Tổng thư ký hội mỹ thuật tạo hình Việt Nam, Thiếu tướng, Nhạc sĩ An Thuyên, Nhạc sĩ Ánh Dương; Các anh hùng Cù Chính Lan, Phan Văn Trinh, Vũ Văn Huynh, Hoàng Hữu Nhất, Hoàng Quốc Đông, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Minh Châu; ông Hồ Mẫu Ngoạt- Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh văn phòng Tổng bí thư === Các Di tích lịch sử được Nhà nước Việt Nam xếp hạng === Di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn ở xã Quỳnh Văn Đền Quỳnh Tụ Nhà thờ họ Hồ ở xã Quỳnh Đôi Đình Tám Mái ở xã Quỳnh Thuận Đình Làng Quỳnh Đôi ở xã Quỳnh Đôi Đền Thượng ở xã Quỳnh Nghĩa Đền Voi ở xã Quỳnh Hồng Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Quỳnh Lưu tại Từ điển bách khoa Việt Nam Làng Quỳnh Đôi: Làng văn hoá, xã anh hùng Về thăm “đất phát nhân tài”, viết về các nhân vật tại làng Quỳnh Đôi
super bowl.txt
Super Bowl (tạm dịch: "Siêu cúp Bóng bầu dục Mỹ") là giải vô địch của Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia (NFL - National Football League), hiệp hội hàng đầu của bóng bầu dục chuyên nghiệp Mỹ, kể từ năm 1967 và thường được tổ chức vào Chủ nhật đầu tiên của tháng Hai dương lịch, gọi là Super Bowl Sunday ("Chủ nhật Siêu Cúp"). Đội thắng cuộc nhận được cúp Vince Lombardi Trophy, được đặt tên theo huấn luyện viên của đội Green Bay Packers, đội đã giành được chiến thắng hai trận Super Bowl đầu tiên và ba trong số năm giải vô địch NFL trước đó (năm 1961, 1962, và 1965). Trong hầu hết các năm qua, Super Bowl là chương trình được theo dõi nhiều nhất trong các chương trình phát sóng của truyền hình Mỹ. Ngày Chủ nhật Siêu Cúp của giải Super Bowl không chỉ là một trong những sự kiện thể thao lớn nhất mà bây giờ được coi de facto như là ngày lễ quốc gia của Hoa Kỳ. == Ảnh hưởng văn hóa và xã hội == Trong hầu hết các năm qua, Super Bowl là chương trình được theo dõi nhiều nhất trong các chương trình phát sóng của truyền hình Mỹ. Ngày đấu chung kết của giải Super Bowl không chỉ là một trong những sự kiện thể thao lớn nhất mà bây giờ được coi de facto như là ngày lễ quốc gia của Hoa Kỳ , gọi là Super Bowl Sunday ("Chủ nhật Siêu Cúp"). Chủ nhật Super Bowl cũng là ngày có số lượng tiêu thụ thực phẩm lớn thứ hai của Hoa Kỳ, sau Lễ Tạ ơn (Thanksgiving Day) . Nhiều ca sĩ nổi tiếng và các nhạc sĩ đã tham gia phụ diễn vào lúc trước và giữa trận đấu, như là Katy Perry, Michael Jackson, Madonna, Prince, The Rolling Stones, The Who, và Whitney Houston,... Ba trong số bốn mạng lưới truyền hình lớn nhất của Mỹ: CBS, Fox và NBC được luân phiên độc quyền phát sóng truyền hình cho Super Bowl mỗi năm. Do lượng người xem cao (khoảng 100 triệu người), phí tổn quảng cáo truyền hình trong Super Bowl là đắt tiền nhất trong năm. Cũng vì chi phí đầu tư cao vào các quảng cáo trên Super Bowl, các công ty thường xuyên đầu tư phát triển nhiều tiền nhất cho các quảng cáo hoành tráng này của họ. Kết quả là, xem và thảo luận về những quảng cáo thương mại của truyền hình cũng đã trở thành một khía cạnh quan trọng của sự kiện. == Lịch sử == Lamar Hunt, cựu chủ sở hữu của đội Kansas City Chiefs và là thành viên sáng lập của American Football League, đặt ra tên Super Bowl sau khi xem con mình chơi với một "Super Ball" (1 trái banh nhựa có sức đàn hồi cao của hãng Wham-O). Super Bowl lần đầu tiên diễn ra vào ngày 15 tháng 1 năm 1967, là một phần của thỏa thuận sáp nhập giữa NFL và đối thủ cạnh tranh sau đó là American Football League (AFL) đưa đến một thỏa thuận thống nhất là các đội vô địch hai giải đấu sẽ tranh tài trong một giải gọi là AFL–NFL World Championship Game, trong thời gian chuyển tiếp cho đến khi sáp nhập chính thức. Sau khi sáp nhập chính thức của hai giải đấu vào năm 1970, mỗi giải đấu trở thành một vòng tuyển ("conference"), hiện nay là giữa National Football Conference (NFC) và American Football Conference (AFC), và cuối cùng trận chung kết sẽ là cuộc tranh tài giữa 2 vô địch của 2 vòng này. == Thống kê == Super Bowl sử dụng chữ số La Mã để xác định kỳ chung kết, chứ không phải là năm mà nó được tổ chức. Super Bowl I đã được tổ chức vào năm 1967 để xác định chức vô địch của mùa bóng năm 1966, và gần đây nhất là Super Bowl LI (51), vào ngày 05 tháng 2 năm 2017 tại Houston, Texas, và New England Patriots trở thành nhà vô địch của mùa bóng năm 2016, sau khi chiến thắng đội Atlanta Falcons. Trận đấu chung kết năm sau (LII) sẽ được tổ chức vào ngày 4 Tháng Hai năm 2018 tại Minneapolis, Minnesota. Đội Pittsburgh Steelers đã giành sáu lần Super Bowl, trong khi đội New England Patriots, Dallas Cowboys và San Francisco 49ers đã từng giành được năm lần. Tổng cộng 19 đội đã giành ít nhất một lần Super Bowl. Cuối trận đấu, cầu thủ xuất sắc nhất (Most Valuable Player - viết tắt: MVP) sẽ được chọn và trao Cúp Pete-Rozelle. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Chủ nhật Super Bowl, ngày hội lớn ở Mỹ, VOA 01/02/2010 (tiếng Anh) Official Super Bowl website (tiếng Anh) America's Game - America's Game: The Super Bowl Champions, an NFL Films documentary of all Super Bowl winning teams (tiếng Anh) Super Bowl tại DMOZ (tiếng Anh) History of the Super Bowl (tiếng Anh) How to take Great Pictures of Football (tiếng Anh) Chili Recipes (tiếng Anh) Free Super Bowl Squares
quincy jones.txt
Quincy Delight Jones, Jr. (sinh 14 tháng 3 năm 1933) là nhà sản xuất thu âm, nhà soạn nhạc, và nghệ sĩ trumpet Mỹ. Ông hoạt động 6 thập kỷ trong nền công nghiệp giải trí và lập kỷ lục về đề cử Grammy Award (79 lần), 27 lần đoạt giải, bao gồm Grammy Legend Award vào năm 1991. == Chú thích == == Liên kết ngoại == Quincy Jones - Official Site Quincy Jones tại Internet Movie Database Quincy Jones Video Interview at the Archive of American Television. Quincy Jones Interview at Mix Magazine Online. Quincy Jones: The Story of an American Musician at PBS. Quincy Jones Speech at Beijing University, China. Quincy Jones Excerpts at The National Visionary Leadership Project.
1585.txt
Năm 1585 (số La Mã: MDLXXXV) là một năm thường bắt đầu vào thứ Ba trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ sáu của lịch Julius chậm hơn 10 ngày). == Sự kiện == == Sinh == == Mất == === Không rõ ngày === Nguyễn Bỉnh Khiêm, Việt Nam (s. 1491) == Tham khảo ==
charles darwin.txt
Charles Robert Darwin (12 tháng 2 năm 1809 – 19 tháng 4 năm 1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh. Ông là người đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Nếu như sự tiến hóa được cộng đồng các nhà khoa học và công chúng chấp nhận ở thời đại Darwin, thì lý thuyết chọn lọc của ông trong những năm 1930 được xem như lời giải thích chính yếu cho quá trình này, và ngày nay đã trở thành nền tảng cho lý thuyết tiến hóa hiện đại. Khám phá của Darwin là lý thuyết thống nhất cho các ngành khoa học sinh vật vì có thể đưa ra lời giải thích duy lý cho sự đa dạng loài. Trong thời gian học ở Đại học Edingburgh, Darwin bỏ bê việc học y khoa để tìm hiểu những loài động vật biển có xương sống. Sau đó ông học ở Đại học Cambridge, ở đây người ta khuyến khích đam mê nghiên cứu khoa học. Trong suốt chuyến hành trình năm năm sau đó ông có những quan sát và lý thuyết ủng hộ cho ý tưởng thống nhất sinh học của Charles Lyell. Ông cũng trở thành tác giả nổi tiếng sau khi xuất bản nhật ký về chuyến hải hành. Tự vấn về sự phân bố của các loài hoang dã và các hóa thạch theo phân vùng địa lý, Darwin đã tìm hiểu về sự biến đổi hình thái của các loài và phát triển lý thuyết chọn lọc tự nhiên vào năm 1838. Ông hoàn thành lý thuyết vào năm 1858. Khi đó Alfred Russel Wallace gởi đến ông bài luận cũng về ý tưởng như vậy. Sau đó cả hai cùng hợp tác để xuất bản lý thuyết này. Cuốn sách Nguồn gốc muôn loài (On the Origin of Species, 1859) của ông nói rằng tiến hóa qua các thế hệ là do biến dị và điều này cung cấp lời giải thích khoa học cho sự đa dạng trong tự nhiên. Ông kiểm định sự tiến hóa của loài người và chọn lọc giới tính trong các cuốn Dòng dõi của Con người (The Descent of Man), Quá trình Chọn lọc Liên quan đến Giới tính (Selection in Relation to Sex), sau đó là Biểu lộ Cảm xúc ở Con người và Loài vật (The Expression of Emotions in Man and Animals). Những nghiên cứu của ông về thực vật được xuất bản trong một loạt cuốn sách. Cuốn cuối cùng của ông là về các loài địa côn trùng và ảnh hưởng của chúng đối với đất. Để ghi nhận công lao to lớn của Darwin, ông là một trong năm người không thuộc Hoàng gia Anh của thế kỷ 19 được cử hành quốc tang và được chôn ở Westminster Abbey, cạnh mộ của John Herschel và Isaac Newton. == Tuổi thơ và quá trình học tập == Charles Robert Darwin sinh ngày 12 tháng 2 năm 1809 tại Shrewbury, Shropshire, nước Anh. Darwin là con kế út trong gia đình khá giả có sáu người con.ông nội ông là một nhà bác học có những nghiên cứu rất sâu về động vật, thực vật,khoáng chất đồng thời ông là nhà phát minh,nhà triết học,thi sĩ và bác sĩ, còn ông ngoại là người nổi tiếng với phong cách vẽ màu trên đồ gốm hết sức nổi tiếng và độc đáo. Cha ông là bác sĩ và là nhà tài chính tên Robert Darwin, mẹ ông là Susannah Darwin. Ngay từ lúc tám tuổi, Charles đã được biết đến lịch sử tự nhiên và sưu tập. Tháng bảy năm 1817 mẹ ông qua đời. Từ tháng 9 năm 1818 ông cùng anh trai học ở ngôi trường gần nhà. Mùa hè năm 1825 Darwin làm bác sĩ tập sự cho cha ông để chữa trị những bệnh nhân nghèo ở Shropshire. Sau đó vào tháng mười ông cùng anh trai đến Đại học Edingburgh. Ông không thích những bài giảng và phẫu thuật nên bỏ bê việc học hành. Ông học việc nhồi xác động vật (taxidermy) từ John Edmonstone, một nô lệ da đen được trả tự do mà ông mô tả là "rất dễ chịu và thông minh". Năm thứ hai ông tham gia Hội Plinian (Plinian Society), một nhóm sinh viên đam mê lịch sử tự nhiên. Ông giúp Robert Edmund Grant tìm hiểu về giải phẫu và vòng đời của các động vật biển có xương sống. Tháng ba năm 1827 ông trình bày trước Hội Plinian phát hiện của ông về bào tử sống trong vỏ sò thực ra là trứng đĩa (skate leech). Darwin không thích những giờ giảng lịch sử tự nhiên trên lớp vì nó đề cập đến địa lý và tranh luận Neptunism và Plutonism. Ông học cách phân loại thực vật, tham gia sưu tập mẫu vật cho Bảo tàng Đại học - một trong những bảo tàng đồ sộ nhất châu Âu thời này. Việc ông bỏ vê học hành y khoa làm cha ông nổi giận. Ông bị buộc vào trường Christ’s College, Cambridge để học cử nhân thần học, vì cha ông muốn con trai mình trở thành mục sư Anh giáo và đây là bước đầu để chuẩn bị. Darwin nhập học vào tháng 1 năm 1828. Tuy nhiên, ông thích cưỡi ngựa săn bắn hơn học. Người anh em bà con giới thiệu ông với nhóm sưu tầm bọ. Ông hăng hái tham gia và có vài phát hiện được đăng trên tập Minh Họa Côn Trùng Học của Stevens. Ông là bạn thân đồng thời là môn đệ của giáo sư thực vật John Stevens Henslow. Ông có cơ hội gặp những nhà tự nhiên học hàng đầu khác. Mặc dù lơ là việc học nhưng ông cũng tập trung chăm chỉ khi các kỳ thi đến gần. Trong kỳ thi cuối khóa tháng 1 năm 1831 ông làm bài tốt và đỗ hạng mười trong tổng số 178 sinh viên tốt nghiệp. Darwin ở Cambridge tới tháng 6 năm đó. Ông học thuyết tự nhiên của Paley - lý thuyết đề cập đến vấn đề thừa kế trong tự nhiên và giải thích thích nghi là tác động của Chúa thông qua những quy luật tự nhiên. Ông đọc cuốn sách mới xuất bản của John Herchel nói về mục đích cao cả nhất của triết học tự nhiên là hiểu những quy luật của nó thông qua lý luận quy nạp dựa trên quan sát. Ông còn đọc cuốn Personal Narrative của Alexander von Humboldt. Với nhiệt huyết muốn cống hiến cho khoa học, Darwin dự định học xong sẽ đến Tenerife cùng bạn bè để nghiên cứu lịch sử tự nhiên vùng nhiệt đới. Để chuẩn bị cho chuyến đi, ông đã theo học lớp địa lý của Adam Sedgwick, sau đó cùng ông này đi lập bản đồ địa tầng ở Wales trong mùa hè. Ông trở về nhà và nhận được thư giới thiệu của Henslow cho vị trí nhà tự nhiên học trên tàu MHS Beagle đi thám hiểm và vẽ bản đồ bờ biển Nam Mỹ. Cha của Darwin lúc đầu phản đối kế hoạch vì ông cho rằng chuyến đi chỉ lãng phí thời gian. Sau đó, em rể ông thuyết phục để Darwin đi và cuối cùng ông cũng chấp nhận. == Hành trình của tàu Beagle == Chuyến hành trình lập bản đồ bờ biển kéo dài năm năm. Trong suốt thời gian này Darwin dành thời gian ở trên đất liền để tìm hiểu địa lý và sưu tập lịch sử tự nhiên. Ông ghi chép cẩn thận những quan sát và những giả thuyết của mình. Ông thường xuyên gửi những mẩu vật đến Cambridge và thư viết về nhật ký hành trình cho gia đình. Mặc dù thường xuyên bị say sóng, nhưng đa số ghi chép về động vật học của ông liên quan đến các loài động vật biển có xương sống. Trong chuyến dừng chân đầu tiên ở St Jago, Darwin phát hiện được nhiều vỏ sò biển trên vách đá núi lửa. Thuyền trưởng FitzRoy đưa ông đọc tập một cuốn Địa Lý Cơ Bản của Charles Lyell. Quan sát của Darwin kiểm chứng cho giả thuyết của Charles Lyell nói rằng các vùng đất được nâng lên hoặc hạ xuống qua một khoảng thời gian dài. Darwin hình thành lý thuyết để viết một cuốn sách về địa lý. Đến Brazil, Darwin bị rừng nhiệt đới cuốn hút. Tuy nhiên, cảnh nô lệ ở đây làm ông thấy thương xót. Ở Punta Alta, Patagonia, ông khám phá hóa thạch của những loài hữu nhũ khổng lồ bị tuyệt chủng trên vách đá bên cạnh những vỏ sò biển hiện đại. Điều này cho thấy rằng những loài này bị tuyệt chủng mà không gặp phải thảm họa hoặc biến đổi khí hậu. Ông nhận dạng được loài Megatherium nhỏ bé, với lớp giáp bằng sừng mà lúc đầu ông thấy giống như phiên bản thu nhỏ của loài ẩm dillos địa phương. Phát hiện này làm nhiều người thích thú khi họ quay về Anh. Trong quá trình đi sâu vào đất liền để khám phá địa lý và thu thập hóa thạch ông có thêm những hiểu biết về xã hội, chính trị và nhân chủng về người bản địa cũng như thực dân. Đi sâu hơn về phía Nam ông thấy những đồng bằng gồm những lớp đá cuội và vỏ sò nằm liên tiếp nhau. [...]. Ông đọc tiếp tập hai cuốn sách của Lyell. Ông công nhận cách nhìn của Lyell về "trung tâm khởi tạo" của mọi loài. Tuy nhiên, những phát hiện và giả thuyết của ông lại mâu thuẫn với ý tưởng của Lyell về biến đổi dần dần (smooth continuity) và sự tuyệt chủng. Trong chuyến đi này của tàu Beagle, có ba người Fuegians được đem về Anh trong một năm và sau đó đưa trở lại để làm nhà truyền giáo. Darwin thấy những người này thân thiện, có văn hóa, trong khi đó những người bản địa là "những thổ dân khốn khổ, thấp kém". Darwin cho rằng sự khác biệt này cho thấy sự tiến bộ về văn hóa chứ không phải do chủng tộc. Khác với những nhà khoa học khác, Darwin nghĩ không có ranh giới bất khả giữa con người và động vật. Sau một năm, nhiệm vụ truyền giáo dừng lại. Một người Fuegian được đặt tên Jemmy Button sống như người bản địa khác, lấy vợ, và không muốn quay lại Anh. Ở Chilê, Darwin gặp một trận động đất. Nhờ vậy ông thấy được vùng đất đã được nhô cao lên và kèm theo nó là các lớp vỏ trai. Trên dãy Andes ông thấy vỏ sò, vài hóa thạch cây cối từng sống trên bãi biển. Ông lập luận rằng khi mặt đất nhô lên thì những biển đảo chìm xuống và các bãi san hô hình thành nên các vòng san hô. Trên địa vùng Quần đảo Galapagos mới hình thành, Darwin tìm kiếm bằng chứng để chứng minh những loài hoang dã ở đây được bắt nguồn từ tổ tiên "trung tâm sáng tạo". Ông phát hiện vài loài chim nhại giống với loài tìm thấy ở Chile nhưng khác với các loài ở trên các đảo khác. Ông nghe nói những loài rùa có mai khác nhau cho biết chúng từ đảo nào nhưng không sưu tập được. Những con chuột túi và thú mỏ vịt ở Úc có hình dạng khác thường làm Darwin nghĩ rằng có hai Tạo hóa riêng biệt. Ông thấy người Úc bản địa "vui tính và dễ chịu". Ông cũng lưu ý sự định cư của dân châu Âu đã tàn phá cuộc sống họ như thế nào. Tàu Beagle tìm hiểu cách hình thành các vòng san hô của quần đảo Cocos. Điều này cũng giúp cũng cố thêm giả thuyết của Darwin. Thuyền trưởng FitzRoy bắt tay viết nhật ký tàu Beagle. Sau khi đọc nhật ký của Darwin, FitzRoy đề nghị hai người cộng tác để viết chung một cuốn sách. Nhật ký của Darwin được biên tập thành một tập riêng biệt về lịch sử tự nhiên. Đến Mũi Hảo Vọng, Darwin và FitzRoy gặp John Herschel, người đã ngợi ca lý thuyết thống nhất của Lyell là giả định về "điều bí ẩn của những bí ẩn, sự thay thế các loài tuyệt chủng bởi các loài khác" là "một nhân tố tương phản với một tiến trình kỳ diệu". Trên đường quay về nước Anh, Darwin ghi chú rằng nếu như những nghi ngờ của ông về chim nhại, rùa và vùng Falkland Island Fox là đúng, thì "những yếu tố này bác bỏ giả thuyết về Loài". Sau đó ông cẩn thận thêm "có thể" trước "bác bỏ". Sau này ông viết những yếu tố này "dường như đem lại ánh sáng cho nguồn gốc các loài". == Khởi đầu cho Lý Thuyết Tiến Hóa == Tháng mười hai năm 1835, một năm trước khi trở về Anh, những bức thư của Darwin được thầy của mình là Henslow giới thiệu cho cộng đồng những nhà tự nhiên học. Ông nhanh chóng nổi tiếng. Darwin về đến Anh ngày 2 tháng 10 năm 1836. Ông ghé thăm nhà ở Shrewbury để gặp họ hàng của mình, sau đó nhanh chóng đến Cambridge gặp thầy Henslow. Ông gợi ý Darwin tìm những nhà tự nhiên học để phân loại các mẫu sưu tập, chính ông cũng nhận phân loại những mẫu thực vật. Cha của Darwin tài trợ để ông nghiên cứu như nhà khoa học độc lập. Darwin phấn khích tìm khắp các viện nghiên cứu ở Luân Đôn các chuyên gia để phân loại mẫu vật. Charles Lyell háo hức đến gặp Darwin lần đầu ngày 29 tháng mười. Ông giới thiệu với Darwin nhà giải phẫu Richard Owen, người đang trên đường đến Luân Đôn. Trường Cao đẳng Giải phẫu Hoàng gia (Royal College of Surgeons) nơi Owen nghiên cứu có trang thiết bị để phân tích những mẫu xương hóa thạch Darwin đã thu thập. Owen bất ngờ khi thấy những con lười (sloth) tuyệt chủng, một bộ xương gần hoàn chỉnh (của loài Scelidotherium, lúc bây giờ chưa biết tới), một hộp sọ giống loài gặm nhấm có kích thước sọ hà mã trông như của một con lợn nước (capybara) khổng lồ (của loài Toxodon). Có nhiều mãnh giáp của loài Glyptodon. Những loài bị tuyệt chủng này có mối liên hệ gần gũi với những loài sống ở Nam châu Mỹ. Darwin đến ở Cambridge vào giữa tháng 12 để sắp xếp công việc và biên tập lại nhật ký hành trình. Ông viết báo cáo khoa học đầu tiên nói về những vùng đất rộng lớn ở Nam Mỹ đang dần trồi lên. Lyell nhiệt thành giúp đỡ ông trình bày trước Hội Địa lý ở Luân Đôn ngày 4 tháng 1 năm 1837. Cũng ngày hôm đó, ông trình bày những mẫu vật động vật hữu nhũ và chim cho Hội Động vật Học. Nhà cầm học (ornithologist) [[John Gould nhận thấy những con chim mà Darwin đã lầm tưởng là những quạ, chim yến hồng, chim mỏ to thực ra là mười hai loài chim sẻ khác nhau. Ngày 17 tháng hai Darwin được bầu làm thành viên Hội Địa lý, nơi mà Lyell đang nắm chức chủ tịch. Lyell giới thiệu những phát hiện của Owen về những hóa thạch Darwin sưu tầm. Ông nhấn mạnh rằng sự thay đổi dần dần của các loài trải qua các vùng địa lý cũng cố cho ý tưởng của ông về thống nhất. Đầu tháng ba, Darwin chuyển đến Luân Đôn để tiện cho công việc. Ông tham gia cộng đồng các nhà khoa học và savants của Lyell. Ông gặp được Charles Babbage, người mô tả Chúa là người lập trình cho các định luật. Lá thư của John Herschel về "bí ẩn của những bí ẩn" của các loài mới hình thành được bàn luận rộng rãi. Đến giữa tháng 7 năm 1837 Darwin bắt tay viết Sự Biến Đổi của các Loài. Trên trang 36 của cuốn vở tựa là "B" này ông viết "Tôi nghĩ" bên trên cây tiến hóa. Trong lần gặp đầu tiên để trao đổi chi tiết những phát hiện của mình, Gould nói với Darwin những con chim nhại Galápagos trên các hòn đảo là những loài độc lập chứ không chỉ là các biến thể của nhau. Ngoài ra, những con chim hồng tước (wren) thuộc vào họ chim sẽ (finch). Hai con đà điểu cũng thuộc các loài khác nhau. Ngày 14 tháng ba Darwin thông báo rằng sự phân bố của chúng thay đổi đi về phía nam. Giữa tháng ba Darwin đưa ra giả định là có khả năng "một loài biến đổi thành loài khác" để giải thích sự phân bố theo địa lý của các loài đang sống như đà điểu và các loài đã tuyệt chủng như Macrauchenia (trông như con guanaco khổng lồ). Ông phác họa một nhánh dòng dõi, và sau đó là một nhánh di truyền của một cây tiến hóa đơn lẻ. Với cây tiến hóa này thì "Thật vô nghĩa khi nói một loài vật tiến bộ hơn loài khác", và như vậy là bác bỏ giả thuyết tiến triển tuyến tính độc lập từ dạng này sang dạng khác tiến bộ hơn của Lamarck. == Làm việc quá mức, bệnh tật, hôn nhân == Khi đang nghiên cứu về Sự Biến đổi, Darwin vướng vào các việc khác nữa. Vừa viết Nhật ký Hải hành, ông vừa biên tập và xuất bản các báo cáo khoa học về những mẫu sưu tầm. Được Henslow giúp sức, ông còn giành được phần thưởng 1000 bảng Anh tài trợ cho cuốn sách nhiều tập Động vật học. Darwin hoàn thành cuốn Nhật ký ngày 20 tháng 7 năm 1837 (ngày Nữ hoàng Victoria lên ngôi), sau đó các bằng chứng trong cuốn sách còn phải được sửa chữa lại. Darwin gặp phải vấn đề sức khỏe do làm việc dưới áp lực. Ngày 20 tháng 12 ông bị triệu chứng tim đập nhanh. Bác sĩ khuyên ông ngừng làm việc để đến vùng quê nghỉ trong vài tuần. Sau khi về thăm Shrewsbury ông đến họ hàng ở Maer Hall, Staffordshire. Những người ở đây lại quá háo hức muốn ông kể về chuyến đi (trên tàu Beagle) nên ông không được nghỉ ngơi nhiều. Chú Jos của ông chỉ ông xem một mảnh đất có bọt đá biến mất dưới đất mùn. Ông chú nghĩ có thể là do côn trùng đất và điều này gợi ý cho "một lý thuyết mới mẽ và quan trọng" về vai trò của côn trùng trong việc hình thành đất trồng trọt. Darwin trình bày kết quả trước Hội Địa lý vào ngày 1 tháng mười một. William Whewell thúc giục Darwin nhận chức thư ký Hội Địa lý. Tháng ba năm 1838, sau vài lần từ chối thì cuối cùng Darwin cũng nhận lời. Mặc dù miệt mài viết và biên tập các báo cáo, Darwin cũng tạo nên những tiến bộ đáng kể về thuyết Sự Biến Đổi. Ông tận dụng mọi cơ hội có được để chất vấn các chuyên gia tự nhiên học cũng như những người có kinh nhiệm thực tế như nông dân, người nuôi chim bồ câu... Càng về sau nghiên cứu của ông còn lấy thông tin có từ người thân, con cái, người làm việc nhà, hàng xóm, những người định cư và những người cùng đi trên tàu Beagle hồi trước. Ông còn đưa con người vào giả thuyết của mình. Ngày 28 tháng 3 năm 1838 ông thấy một con đười ươi trong sở thú và ghi chú nó có hành động giống như trẻ em. Do làm việc quá sức, tháng 6 năm đó ông bị đau dạ dày, đau đầu và triệu chứng bệnh tim. Cho đến hết đời, ông liên tục bị hành hạ bởi đau dạ dày, ói, phỏng nặng, tim đập bất thường, run và các bệnh khác. Nguyên nhân bệnh tình của ông đến giờ vẫn không rõ, và những cố gắng điều trị đều không mấy thành công. Ngày 23 tháng sáu ông đến Scotland để nghỉ ngơi. Đến tháng bảy ông đã hoàn toàn bình phục và quay trở lại Shrewsbury. Bình thường ông hay ghi chú những quan sát về sự sinh sản của động vật nên ông cũng dùng cách này để ghi những ý nghĩ về tiền đồ sự nghiệp. Ông dùng hai mảnh giấy trên đó ghi hai cột "Lấy vợ" và "Không lấy vợ". Điểm lợi bao gồm "bạn đồng hành và là bạn đời khi về già... dù sao cũng hơn vật nuôi", điểm bất lợi là "có ít tiền hơn để mua sách" và "mất quá nhiều thời gian". Sau khi đã có quyết định cho riêng mình ông bàn với cha ông. Họ đến thăm Emma vào ngày 29 tháng bảy. Trái với lời khuyên của cha, ông không ngỏ lời cầu hôn mà chỉ nói với Emma những ý tưởng của ông về Sự Biến Đổi. Darwin quay lại London và tiếp tục nghiên cứu. Ông đọc cuốn Thảo luận về Nguyên lý của Dân số. Tháng mười năm 1838, tức là mười lăm tháng kể từ khi tôi bắt đầu phân tích có hệ thống, tôi bắt gặp cuốn sách của Malthus bàn về Dân số. Qua quan sát hành vi của động thực vật suốt thời gian dài, tôi đã được biết cuộc đấu tranh sinh tồn hiện diện ở mọi nơi. Nó ngay lập tức làm tôi nảy ra ý nghĩ là trong những hoàn cảnh như vậy những biến dị phù hợp với môi trường sống sẽ được bảo tồn, còn những biến dị bất lợi sẽ bị tiêu diệt. Kết quả của quá trình này là một loài mới ra đời. Vậy là cuối cùng tôi cũng có một lý thuyết để nghiên cứu... Malthus cho rằng nếu dân số không được kiểm soát thì nó sẽ phát triển theo cấp số nhân và sớm vượt ngưỡng cung lương thực (được biết với khái niệm thảm họa Malthusian). Darwin - với nền tảng kiến thức của mình - đã nhanh chóng nhận ra điều này cũng được áp dụng cho ý tưởng của de Candolle về "cuộc chiến giữa các loài" cây và đấu tranh sinh tồn giữa các loài hoang dã. Điều này giải thích được tại sao số lượng cá thể trong một loài được giữ tương đối cân bằng. Các loài luôn sinh sản vượt quá nguồn cung thức ăn, những biến dị thuận lợi có các cơ quan tốt hơn để sinh tồn và được truyền lại cho con cháu của chúng, trong khi đó những biến dị bất lợi sẽ bị mất đi. Hệ quả là một loài mới được hình thành. Ngày 28 tháng 12 năm 1838 ông ghi chú lại phát hiện mới mẻ này, và mô tả đó như là việc "chèn" những cấu trúc thích nghi vào những khoảng trống của tự nhiên do những cấu trúc yếu hơn bị loại bỏ đã để lại. Đến giữa tháng mười hai, ông nhận thấy điểm tương đồng giữa việc những nông dân chọn ra những giống gia súc sinh sản tốt nhất với sự chọn ngẩu nhiên từ những cá thể trong Thuyết tự nhiên Malthusian (Malthusian Nature). Mỗi phần của cấu trúc mới đều phù hợp với thực tế và hoàn hảo. Ông thấy sự so sánh này là "phần đẹp đẽ của lý thuyết". Darwin cưới Emma Wedgwood. Ngày 11 tháng mười một, ông quay lại Maer và ngỏ lời cầu hôn Emma, lần này ông cũng nói những ý tưởng của mình về Sự Biến Đổi. Cô nhận lời. Những lá thư sau đó cô cho biết mình đánh giá cao sự cởi mở của Darwin khi chia sẻ những điểm khác biệt giữa họ, đồng thời bày tỏ niềm tin sâu sắc của cô vào Unitarrian và lưu ý những nghi ngờ của ông sẽ chia cách họ khi đã qua đời ra sao. Darwin quay lại Luân Đôn để tìm mua nhà và lại bị những căn bệnh hành hạ. Emma viết cho ông nói rằng hãy nghỉ ngơi và lưu ý "Đừng bị bệnh nữa à Charley, cho đến khi em đến sống cùng anh và chăm sóc cho anh". Darwin tìm được căn nhà tên Macaw Cottage ở phố Gower, sau đó chuyển nguyên "bảo tàng" của ông đến đây. Ngày 24 tháng 1 năm 1839 Darwin được bầu làm Thành viên Hội Hoàng gia. Darwin cưới Emma Wedgwood ngày 29 tháng hai, ngay sau đó cả hai lên tàu đến ngôi nhà mới của mình ở Luân Đôn. Ông qua đời ngày 19 tháng 4 năm 1882. Vì những cống hiến vượt thời đại của ông với sinh học nói riêng và khoa học nói chung, người ta đã mai táng ông ở Westminster Abbey, cạnh mộ của Isaac Newton. == Thành công == Sau chuyến đi huyền thoại vòng quanh thế giới trong 5 năm trời, Charles Darwin đã đi đến một lý thuyết làm chấn động nền tảng khoa học của thế kỉ 19: loài người có họ hàng với loài vượn! Trong cuốn sách "Nguồn gốc muôn loài" (The Origin of Species) ông đã đưa ra một quan điểm có tính chất cách mạng nói rằng tất cả các loài sinh vật, từ con kiến cho đến con voi, đều nằm trong vòng chọn lọc của tự nhiên. Những con vật thích nghi với tự nhiên sẽ tồn tại; những con không thích nghi sẽ bị diệt vong. Nhà thờ và công chúng đã bị sốc nặng qua cuốn sách trên. Họ kêu: "Con người do Chúa trời tạo ra... Con người là loài siêu đẳng, độc nhất vô nhị." Những cuộc tranh cãi bùng lên xoay quanh một quan điểm cốt tử: sự sống trên Trái Đất diễn ra như thế nào. Lý thuyết tiến hóa của Darwin đã được toàn thể cộng đồng khoa học chấp nhận vào khoảng những năm 1930-1950, thừa nhận chọn lọc tự nhiên là cơ chế tiến hóa của sự sống. == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == The Complete Works of Charles Darwin Online – Darwin Online; Darwin's publications, private papers and bibliography, supplementary works including biographies, obituaries and reviews. Các tác phẩm của Charles Darwin tại Dự án Gutenberg; public domain Darwin Correspondence Project Full text and notes for complete correspondence to 1867, with summaries of all the rest Free LibriVox Audiobook: On the Origin of Species by Means of Natural Selection Charles Darwin tại DMOZ Các công trình liên quan hoặc của Charles Darwin trên các thư viện của thư mục (WorldCat) Tài liệu lưu trữ liên quan đến Charles Darwin liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh Darwin 200: Celebrating Charles Darwin's bicentenary, Natural History Museum A Pictorial Biography of Charles Darwin Listing of the significant places in Shrewsbury relevant to Darwin’s early life. Mis-portrayal of Darwin as a Racist “Darwin, Charles Robert”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). 1911. The life and times of Charles Darwin, an audio slideshow, The Guardian, Thursday 12 tháng 2 năm 2009, (3 min 20 sec). CBC Digital Archives: Charles Darwin and the Origins of Evolution Darwin's Volcano - a short video discussing Darwin and Agassiz' coral reef formation debate Darwin's Brave New World - A 3 part drama-documentary exploring Charles Darwin and the significant contributions of his colleagues Joseph Hooker, Thomas Huxley and Alfred Russel Wallace also featuring interviews with Richard Dawkins, David Suzuki, Jared Diamond and Iain McCalman. A naturalists voyage around the world Account of the Beagle voyage using animation, in English from Centre national de la recherche scientifique, Paris.
2008.txt
2008 (số La Mã: MMVIII) là một năm nhuận, bắt đầu vào ngày thứ ba trong lịch Gregory. Theo âm lịch Trung Hoa, phần lớn thời gian của năm 2008 thuộc năm Mậu Tí. == Các sự kiện == === Tháng 2 === 10 tháng 2: Lễ trao giải Grammy lần thứ 50 tại Staples Center, Los Angeles, California, Mỹ 11 tháng 2: Lễ hội Loy Krathong 2007, lần thứ 24 24 tháng 2: Lễ trao giải Oscar lần thứ 80 của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh tại nhà hát Kodak, Hollywood, California, Mỹ === Tháng 5 === 2 tháng 5: Bão Nargis đổ bộ vào Myanmar làm hơn 130.000 người thiệt mạng 12 tháng 5: Một trận động đất mạnh 7,9 độ Richte xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc làm hơn 70 nghìn người thiệt mạng và mất tích 13 tháng 5: Đại lễ Phật Đản Liên hiệp quốc (Vesak) lần thứ 5, năm 2008 khai mạc tại Hà Nội, Việt Nam 21 tháng 5: Manchester United đánh bại Chelsea, vô địch Champions League. === Tháng 6 === 2 tháng 6: Một xe hơi chứa bom nổ trước tòa đại sứ quán Đan Mạch tại Islamabad, Pakistan làm chết ít nhất 5 người 3 tháng 6: Barack Obama đạt đủ số phiếu cần thiết để trở thành ứng viên tổng thống Hoa Kỳ chính thức của đảng Dân Chủ và là ứng viên da màu đầu tiên trong lịch sử Mỹ để trở thành ứng viên chính thức 7 tháng 6 đến 30 tháng 6: Vòng chung kết Euro 2008 diễn ra tại Áo & Thụy Sĩ 8 tháng 6: Tại Akihabara, Tokyo, một người đàn ông 25 tuổi đã dùng dao đâm chết 7 người và làm 11 người khác bị thương 8 tháng 6: Một trận động đất 6,5 độ Richter ở miền nam Hy Lạp làm 2 người chết và 120 người bị thương 11 tháng 6: Trung Quốc và Đài Loan đối thoại trực tiếp sau 13 năm 14 tháng 6: Expo 2008 bắt đầu tại Zaragoza, Tây Ban Nha === Tháng 7 === 14 tháng 7: Hoa hậu Hoàn Vũ 2008 tại Crown Convention Center, Diamond Bay Resort, Nha Trang, Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Hoa hậu Hoàn Vũ được tổ chức tại Việt Nam. === Tháng 8 === 1 tháng 8: Địa giới Hà Nội chính thức mở rộng 8 tháng 8 đến 24 tháng 8: Thế vận hội Mùa hè 2008 diễn ra tại Bắc Kinh, Trung Quốc === Tháng 9 === === Tháng 11 === Trận mưa kỷ lục ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam 2008 kéo dài 5 ngày gây ngập lụt nhiều tỉnh thành. Thiên tai làm 515 người chết và mất tích, thiệt hại 11.500 tỷ đồng ở Miền Trung. === Tháng 12 === 11 tháng 12: Tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2008 tại Nhật Bản. 28 tháng 12: Việt Nam vô địch AFF Cup 2008 == Sinh == == Mất == 3 tháng 1: Choi Yo Sam, võ sĩ Hàn Quốc (sinh 1972) 11 tháng 1: Sir Edmund Hillary, người leo núi, nhà thám hiểm, người nhân đức New Zealand, người đầu tiên chinh phục đỉnh Everest (sinh 1918) 15 tháng 1: Nguyễn Khải, nhà văn Việt Nam (sinh 1930) 15 tháng 1: Brad Renfro, nam diễn viên Mỹ (sinh 1982) 27 tháng 1: Heath Ledger, nam diễn viên Úc (sinh 1979) 27 tháng 1: Suharto, tổng thống Indonesia (sinh 1921) 10 tháng 2: Roy Scheider, nam diễn viên Mỹ (sinh 1932) 23 tháng 2: Janez Drnovšek, tổng thống, thủ tướng Slovenia (sinh 1950) 19 tháng 3: Paul Scofield, nam diễn viên Anh Quốc (sinh 1922) 19 tháng 3: Arthur C. Clarke, tác giả, nhà phát minh sáng chế, người theo thuyết vị lai Anh Quốc (sinh 1917) 24 tháng 3: Richard Widmark, nam diễn viên Mỹ (sinh 1914) 26 tháng 3: Manuel Marulanda, chiến sĩ du kich Colombia (sinh 1930) 3 tháng 4: Hrvoje Custic, cầu thủ bóng đá Croatia (sinh 1983) 5 tháng 4: Charlton Heston, nam diễn viên Mỹ (sinh 1923) 8 tháng 5: Francios Sterchele, cầu thủ bóng đá Bỉ (sinh 1982) 12 tháng 5: Irena Sendler, người nhân đạo Ba Lan (sinh 1910) 10 tháng 6: Chingiz Aitmatov, nhà văn Kyrgyzstan (sinh 1928) 11 tháng 6: Võ Văn Kiệt, thủ tướng Việt Nam (sinh 1922) 22 tháng 6: George Carlin, tác giả, nam diễn viên, nhà soạn kịch Mỹ (sinh 1937) 4 tháng 7: Jesse Helms, nhà chính trị Mỹ (sinh 1921) 5 tháng 7: Hòa thượng Thích Huyền Quang, lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, vị tăng thống thứ tư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (sinh 1919) 23 tháng 7: Kurt Furgler, nhà chính trị Thụy Sĩ (sinh 1924) 3 tháng 8: Aleksandr Solzhenitsyn, nhà văn, nhà viết kịch Nga (sinh 1918) 10 tháng 8: Isaac Hayes, nhạc sĩ Mỹ gốc Phi (sinh 1942) 26 tháng 9: Paul Newman, nam diễn viên Mỹ (sinh 1925) 2 tháng 10: Choi Jin Sil, nữ diễn viên Hàn Quốc (sinh 1968) 11 tháng 10: Jörg Haider, nhà chính trị Áo (sinh 1950) 10 tháng 11: Miriam Makeba, ca sĩ Nam Phi (sinh 1932) 29 tháng 11: Minh Phụng, nghệ sĩ sân khấu cải lương Việt Nam (sinh 1944) 5 tháng 12: Alexy II, Thượng phụ của Chính Thống giáo Nga (sinh 1929) 18 tháng 12: W. Mark Felt, cựu nhân viên FBI, người được mệnh danh là "nguồn tin giấu tên nổi tiếng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ" (sinh 1913) 20 tháng 12: Robert Mulligan, đạo diễn Mỹ (sinh 1925) 29 tháng 12: Freddie Hubbard, nghệ sĩ saxophone Mỹ (sinh 1938) == Giải Nobel == Tháng 10 tại Thụy Điển, ủy ban Nobel đã công bố các giải thưởng Nobel năm 2008: Người đạt giải và các công trình: Hòa bình: Martti Ahtisaari, cựu Tổng thống Phần Lan, một nhà trung gian hòa giải được cho là có những đóng góp quan trọng trong giải quyết các xung đột quốc tế từ Kosovo và Aceh, Indonesia. Văn học: Jean-Marie Gustave Le Clézio, nhà văn người Pháp, ông được ủy ban đánh giá là "tác giả của những sự ra đi mới, cuộc phiêu lưu thi ca và hứng khởi xuất thần nhục cảm, người khai phá một nhân loại bên ngoài và bên dưới nền văn minh đang thống trị". Hóa học: Osamu Shimomura (người Nhật), Martin Chalfie, Roger Tsien (người Mỹ), với công trình nghiên cứu về protein phát huỳnh quang xanh. Vật lý: Makoto Kobayashi, Toshihide Maskawa (người Nhật) và Yoichiro Nambu (người Mỹ gốc Nhật), với các công trình nghiên cứu về cơ chế "phá vỡ đối xứng tự phát" trong vật lý nguyên tử. Y học: Harald zur Hausen (người Đức), Françoise Barré-Sinoussi, Luc Montagnier (người Pháp), với công trình phát hiện hai loại virus gây ra các chứng bệnh nan y ở người. Kinh tế: Paul Krugman (người Mỹ), với các công trình "kinh tế địa lý mới" và "thuyết thương mại mới". == Tham khảo ==
cao bằng.txt
Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Tỉnh lị là thành phố Cao Bằng nằm trên quốc lộ 3, cách thủ đô Hà Nội 286 km. == Địa lý == Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333.403 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12" - 22°21'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105°16'15" - 106°50'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang). Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm. Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác như sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến. === Môi trường === Đa số diện tích Cao Bằng được che phủ bởi rừng vì thế không khí khá trong sạch ở các vùng nông thôn, các khu dân cư và ở trung tâm thị xã. Tuy nhiên do sản lượng quặng lớn cùng với sự khai thác bừa bãi và quản lý không nghiêm ngặt, các tuyến đường chính của Cao Bằng có mức độ ô nhiễm bụi cao. Nguồn nước sông đang bị ô nhiễm khá nặng do ý thức vứt rác bữa bãi của người dân cùng với ngành công nghiệp khai khoáng và khai thác cát đã làm cho các dòng sông ở đây bị ô nhiễm thu hẹp dòng chảy, hệ sinh thái bị ảnh hưởng. Đặc biệt ở các khu vực chợ và khu dân cư, nước sông có hiện tượng bốc mùi hôi thối. Các phương tiện giao thông trong tỉnh chủ yếu là xe máy, phương tiện ít làm cho mức tiêu thụ nhiên liệu không cao, Cao Bằng không bị ô nhiễm bởi các khí thải nhà kính và nhiều khí độc khác. Tuy nhiên, so với các địa phương khác của Việt Nam, Cao Bằng là một trong những tỉnh có khí hậu trong lành và ít ô nhiễm nhất. === Khí hậu === Nhìn chung Cao Bằng có khí hậu ôn hòa dễ chịu. Với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương bắc. Tuy nhiên nhiệt độ của Cao Bằng chưa bao giờ xuống thấp quá 0 °C, hầu như vào mùa đông trên địa bàn toàn tỉnh không có băng tuyết (trừ một số vùng núi cao có băng đá xuất hiện vào mùa đông). Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 32 °C và thấp trung bình từ 23 - 25 °C, nhiệt độ không lên đến 39 - 40 °C. Vào mùa đông, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 - 8 °C và trung bình cao từ 15 - 28 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6 - 8 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô. Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu. == Dân số và các dân tộc thiểu số == Dân số toàn tỉnh là 507.183 người (theo điều tra dân số ngày 01/10/2009). Dân số trung bình năm 2009 là 510.884 người. Các dân tộc ở Cao Bằng gồm Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1 %), H'Mông (10,1 %),Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay (1,4 %)... Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người. == Lịch sử == Tỉnh Cao Bằng cùng với tỉnh Lạng Sơn thời nhà Lý-nhà Trần được gọi là châu Quảng Nguyên. Vùng đất này (Lạng Sơn và Cao Bằng) chính thức phụ thuộc vào An Nam từ năm 1039, triều Lý Thái Tông, sau khi nước này chiến thắng Nùng Trí Cao. Sau khi thất thủ Thăng Long năm 1592 nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và xây dựng vùng đất này để chống lại nhà Lê Trịnh cho đến 1677 mới chấm dứt. == Các đơn vị hành chính == === Những thay đổi và sáp nhập trong lịch sử === Năm 1950, tỉnh Cao Bằng có 11 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Tràng Định, Trùng Khánh. Năm 1956, chuyển huyện Tràng Định về tỉnh Lạng Sơn quản lý. Năm 1958, huyện Trấn Biên đổi tên thành huyện Trà Lĩnh. Năm 1963, thành lập thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc tỉnh Cao Bằng Quyết định số 26-CP ngày 14 tháng 3 năm 1963. Đến năm 1981, chuyển thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc huyện Nguyên Bình Quyết định số 44-HĐBT ngày 1 tháng 9 năm 1981. Năm 1966, thành lập huyện Thông Nông trên cơ sở tách ra từ huyện Hà Quảng theo Quyết định số 67-CP ngày 7 tháng 4 năm 1966. Năm 1967, hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên hợp nhất thành huyện Quảng Hòa theo Quyết định số 27-CP ngày 8 tháng 3 năm 1967. Năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh theo Quyết định số 176-CP ngày 15 tháng 9 năm 1969. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Cao Bằng được sáp nhập với tỉnh Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng. Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Cao Bằng từ tỉnh Cao Lạng, đồng thời nhập hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4, ngày 29 tháng 12 năm 1978. Lúc đó tỉnh Cao Bằng có tỉnh lị là thị xã Cao Bằng và 11 huyện: Bảo Lạc, Chợ Rã, Hà Quảng, Hòa An, Ngân Sơn, Nguyên Bình, Quảng Hòa, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được thị xã Cao Bằng và đã hủy diệt hầu như toàn thị xã, các công trình kiến trúc đã bị phá tan tành, kể cả chùa chiền đền miếu. Khu di tích chủ tịch Hồ Chi Minh tại hang Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng cũng bị chúng đặt bom mìn phá sập cửa hang và các di tích của Bác, bức bia đá Bác viết khi vừa trở về Tổ quốc cũng bị nứt làm đôi. Năm 1981, tái lập huyện Hạ Lang từ các xã đã nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh theo Quyết định số 44-HĐBT ngày 1 tháng 9 năm 1981. Năm 1984, huyện Chợ Rã đổi tên thành huyện Ba Bể theo Quyết định số 144-HĐBT ngày 6 tháng 11 năm 1984. Năm 1996, trả hai huyện Ngân Sơn và Ba Bể về tỉnh Bắc Kạn mới tái lập. Năm 2000, chia huyện Bảo Lạc thành huyện Bảo Lạc mới và huyện Bảo Lâm theo Nghị định số 52/2000/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2000. Năm 2001, tái lập hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên từ huyện Quảng Hòa ngày 13 tháng 12 năm 2001. Năm 2012, chuyển thị xã Cao Bằng thành thành phố Cao Bằng theo Nghị quyết 60/NQ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2012. === Danh sách các đơn vị hành chính === Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố và 12 huyện: Trong đó có 199 đơn vị hành chính cấp xã gồm 177 xã, 8 phường, 14 thị trấn. == Danh lam thắng cảnh và du lịch == Nằm ở phía bắc vùng Việt Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc, Cao Bằng được thiên nhiên ưu đãi những tiềm năng du lịch phong phú. === Thắng cảnh === Cao Bằng có núi, rừng, sông, suối trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, nguyên sinh. Khu vực thác Bản Giốc là một thắng cảnh đẹp. Thác nằm trên dòng chảy của sông Quây Sơn, thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh. Động Ngườm Ngao (hang hổ), thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh là thế giới của nhũ đá thiên nhiên gồm hàng nghìn hình khối khác nhau, có cái như đụn gạo, đụn vàng, đụn bạc, hình voi, rồng, hổ báo, mây trời, cây cối, hoa lá, chim muông. Ngoài ra phải kể đến hồ núi Thang Hen ở huyện Trà Lĩnh. === Du lịch văn hoá === Cao Bằng là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam. Tiêu biểu như khu di tích lịch sử cách mạng Pác Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân về nước, sống và làm việc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập cho dân tộc từ năm 1941 đến 1945. Khu di tích Kim Đồng được xây dựng gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân Rặng núi đá cao đồ sộ, tượng đài anh Kim Đồng với bộ quần áo nùng và tay nâng cao con chim bồ câu đưa thư, trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và Nhi đồng của tỉnh Cao Bằng, cả nước thường tụ hội tại đây cắm trại, vui chơi ca hát. Khu di tích lịch sử Rừng Trần Hưng Đạo, nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam Thành Bản Phủ thời nhà Mạc và chùa Đống Lân thời Đinh ở trung tâm thành phố Cao Bằng. == Kinh tế == Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, tỉnh Cao Bằng xếp ở vị trí cuối bảng là 63/63 tỉnh thành. == Hình ảnh Cao Bằng == == Chú giải == == Liên kết ngoài == Tỉnh Cao Bằng trên website tỉnh Cao Bằng
phương pháp khối phổ.txt
Phương pháp khối phổ (tiếng Anh: Mass spectrometry - MS) là một kĩ thuật dùng để đo đạc tỉ lệ khối lượng trên điện tích của ion; dùng thiết bị chuyên dụng là khối phổ kế. Kĩ thuật này có nhiều ứng dụng, bao gồm: Xác định các hợp chất chưa biết bằng cách dựa vào khối lượng của phân tử hợp chất hay từng phần tách riêng của nó Xác định kết cấu chất đồng vị của các thành phần trong hợp chất Xác định cấu trúc của một hợp chất bằng cách quan sát từng phần tách riêng của nó Định lượng lượng hợp chất trong một mẫu dùng các phương pháp khác (phương pháp phổ khối vốn không phải là định lượng) Nghiên cứu cơ sở của hóa học ion thể khí (ngành hóa học về ion và chất trung tính trong chân không) Xác định các thuộc tính vật lý, hóa học hay ngay cả sinh học của hợp chất với nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Một khối phổ kế là một thiết bị dùng cho phương pháp phổ khối, cho ra phổ khối lượng của một mẫu để tìm ra thành phần của nó. Có thể ion hóa mẫu và tách các ion của nó với các khối lượng khác nhau và lưu lại thông tin dựa vào việc đo đạc cường độ dòng ion. Một khối phổ kế thông thường gồm 3 phần: phần nguồn ion, phần phân tích khối lượng, và phần đo đạc. == Ví dụ về cách hoạt động == Các hóa chất khác nhau thì có khối lượng phân tử khác nhau. Dựa vào đó, khối phổ kế sẽ xác định chất hóa học nào có nằm trong mẫu. Ví dụ, muối NaCl hấp thụ năng lượng (năng lượng hấp thụ tùy theo nguồn ion, ví dụ MALDI năng lượng là tia laser) tách ra thành các phân tử tích điện, gọi là ion), trong giai đoạn đầu của phương pháp phổ khối. Các ion Na+, Cl- có trọng lượng nguyên tử khác biệt. Do chúng tích điện, nghĩa là đường đi của chúng có thể được điều khiển bằng điện trường hoặc từ trường. Các ion được đưa vào buồng gia tốc và đi qua một khe vào miếng kim loại. Một từ trường được đưa vào buồng đó. Từ trường sẽ tác động vào mỗi ion với cùng một lực và làm trệch hướng chúng về phía đầu đo. Ion nhẹ hơn sẽ bị lệnh nhiều hơn ion nặng vì theo định luật chuyển động của Newton gia tốc tỉ lệ nghịch với khối lượng của phân tử. Đầu đo sẽ xác định xem ion bị lệnh bao nhiêu, và từ giá trị đo này, tỉ lệ khối lượng-trên-điện tích của ion có thể được tính toán. Từ đó, có thể xác định được thành phần hóa học của một mẫu gốc. Trên thực tế thì hai ion Na+ và Cl- sẽ không được đo trong cùng một lần, vì các máy đo chỉ có thể nhận ra ion điện tích dương hoặc điện tích âm nên nếu máy khối phổ kế được điều chỉnh để đo các ion điện tích dương thì chỉ có ion Na+ là được nhận ra bởi máy. .Một trong những tính năng lớn của khối phổ lượng là có thể tìm thấy cấu tạo không gian của phân tử ví dụ phân tử C7H14O2 có thể là acid hoặc ester... Và khả năng phát hiện ra hợp chất với độ nhậy cực cao từ 10−6 dến 10−12 gram. Dưới đây là một khối phổ (electrospray)của phân tử Kaempferol-rhamnose-rhamnose-glucose(m/z 741) trong loại cỏ thaliana, phân tích với 5.10−6L (nếu dùng máy MALDI thì chỉ cần 0,5.10−6L). == Ứng dụng sinh học == === Khối phổ của protein === === Protein và các phân mảnh peptit === Protein mà các nhà nghiên cứu sinh học quan tâm thường là sự kết hợp phức tạp của nhiều protein và phân tử khác nhau, cùng tồn tại trong một môi trường sinh học. Điều này đặt ra hai vấn đề chính. Thứ nhất, hai kĩ thuật ion hóa dùng cho các phân tử lớn chỉ làm việc tốt khi mà hỗn hợp từ các thành phần có cấu tạo gần giống, trong khi trong các mẫu sinh học, các protein khác nhau thường là có lượng khác biệt nhau lớn. Nếu hỗn hợp được ion hóa dùng phương pháp phun ion hay MALDI, thì những protein dạng mà dư thừa nhiều có xu hướng giảm tín hiệu so với những cái ít dư thừa hơn. Vấn đề thứ hai, quang phổ khối từ hỗn hợp phức tạp là rất khó để nghiên cứu do có quá nhiều thành phần phức hợp. Đó là vì với tác động của enzym, một protein tạo ra hàng loạt sản phẩm peptit. Để giải quyết vấn đề này, hai phương pháp được sử dụng rộng rãi để phân mảnh protein, hay các sản phẩm peptit từ sự tác động của enzym. Phương pháp đầu tiên sẽ phân mảnh toàn bộ protein và được gọi là điện chuyển gel hai chiều (2-DE: two-dimensional gel electrophoresis). Phương pháp thứ hai, ghi sắc lỏng hiệu suất cao (HPLC) được dùng với các phân mảnh peptit sau khi protein phân tách bởi tác động của enzym. Trong một số tình huống, có thể cần phải kết hợp cả hai phương pháp. Các vết gel được xác định trên 2D Gel thường là thuộc về một protein. Nếu cần biết định danh của protein đó, thì có thể xem xét vết gel đó. Khối peptit kết quả từ tác động của enzym lên protein có thể được xác định bằng khối phổ dùng lấy dấu khối peptit. Nếu thông tin này không cho phép xác định danh tính của protein một cách chính xác, các peptit của nó có thể xem là thuộc về đo phổ khối tandem. Việc xác định đặc tính của hỗn hợp protein dùng HPLC/MS còn được gọi là shotgun proteomics và mudpit. Một hỗn hợp là kết quả của sự tác động của enzym lên hỗn hợp protein sẽ được phân mảnh theo một hay hai bước bằng ghi sắc lỏng. Chất tách rửa từ giai đoạn ghi sắc có thể hoặc là trực tiếp đưa vào máy đo phổ khối thông qua ion hóa phun điện tử (ESI), hay tách ra thành một loạt các vết nhỏ để sử dụng sau này trong phân tích khối bằng MALDI. === Xác định Protein === Có 2 cách chính trong khối phổ để xác định protein. Lấy dấu khối peptit (PMF) dùng khối của các peptit đã phân giải làm đầu vào để tìm kiếm trong CSDL của các khối đã biết trước từ danh sách các protein đã biết. Nếu một chuỗi protein trong danh sách tham khảo trùng khớp với giá trị thử nghiệm thì có lý do để tin rằng protein đó có tồn tại trong mẫu gốc. Tandem MS đang trở thành một phương pháp thử nghiệm phổ biến để xác định protein. Phân ly do va chạm (CID) được dùng trong các ứng dụng chính để khởi tạo một tập các phân mảnh từ một ion peptit cụ thể. Quá trình phân tách chủ yếu dựa vào các chế phẩm phân tách để bẻ gãy liên kết peptit. Vì sự đơn giản của việc phân tách này, nó có thể dùng khối của các phân mảnh quan sát được để so trùng CSDL của các khối đã biết với một hay nhiều chuỗi peptit. == Xem thêm == Phổ kế electron == Tham khảo == == Đọc thêm == McLafferty, F. W. and Turecek, F., Interpretation of Mass Spectra, University Science Books; 4th edition (May, 1993) ISBN 0-935702-25-3 Tuniz, C., et al., "Accelerator Mass Spectrometry: Ultrasensitive Analysis for Global Science", CRC Press, (1998) ISBN 0-8493-4538-3 Muzikar, P., et al., "Accelerator Mass Spectrometry in Geologic Research", Geological Society of America Bulletin v. 115 (2003) p. 643 - 654. == Liên kết ngoài == Interactive tutorial on mass spectra National High Magnetic Field Laboratory Mass spectrometer simulation An interactive application simulating the console of a mass spectrometer Realtime Mass Spectra simulation Tool to simulate mass spectra in the browser
mật mã lyoko.txt
Mật mã Lyoko (tiếng Pháp: Code Lyoko) là một bộ phim hoạt hình dài tập của truyền hình Pháp do Thomas Romain và Tania Palumbo sáng tác và được hãng MoonScoop sản xuất. Nội dung phim kể về cuộc phiêu lưu của một nhóm gồm năm thanh thiếu niên đi vào thế giới ảo có tên Lyoko để chiến đấu chống lại thế lực X.A.N.A. đang đe dọa đến Trái Đất. Mật mã Lyoko được hãng Anterfilms phát triển từ dự án Garage Kids và sau đó được MoonScoop sản xuất lại. Bộ phim được thực hiện bằng kỹ thuật vẽ tay 2D và CGI. Mật mã Lyoko bắt đầu công chiếu lần đầu tiên với 95 tập phim vào ngày 3 tháng 9 năm 2003 và kết thúc vào ngày 10 tháng 11 năm 2007 trên kênh France 3 của Pháp. Đồng thời được phát sóng lần đầu ở Mỹ vào ngày 19 tháng 4 năm 2004 trên kênh Cartoon Network và ở Việt Nam vào những năm 2004-2005 trên kênh thiếu nhi BiBi. Phần tiếp theo của bộ phim mang tên Mật mã Lyoko: Tiến hóa (tiếng Pháp: Code Lyoko: Evolution) gồm 26 tập phim và bắt đầu chiếu từ ngày 19 tháng 12 năm 2012 đến ngày 19 tháng 12 năm 2013. Bộ phim đã chính thức được phát sóng trên toàn cầu vào ngày 5 tháng 1 năm 2013. == Nội dung và nhân vật == === Nội dung === Jeremie Belpois, cậu bé 13 tuổi đang học tại trường nội trú Học viện Kadic, cậu tình cờ phát hiện ra một siêu máy tính nằm trong một nhà máy bị bỏ hoang gần trường học. Sau khi máy tính được kích hoạt, Jeremie phát hiện ra một thế giới ảo gọi là Lyoko và rồi quen biết cô gái tên Aelita Schaeffer đang bị mắc kẹt trong siêu máy tính. Từ đó, một loạt các sự kiện kỳ ​​lạ bắt đầu xảy ra tại ngôi trường Học viện Kadic. Cùng nằm trong máy tính này là một hệ thống thông minh tên là X.A.N.A với khả năng khống chế máy tính và mạng lưới điện toàn cầu, thậm chí còn điều khiển được con người. Mục tiêu của XANA là chinh phục thế giới và tất cả loài người. Trong phần một, Jeremie hỗ trợ bằng máy tính trong khi Aelita ở Lyoko để ngăn chặn âm mưu của XANA. Cậu được hỗ trợ từ ba người bạn là Ulrich Stern, Odd Della Robbia và Yumi Ishiyama để cứu cả hai thế giới bằng cách vào phòng quét để biến đổi vào thế giới ảo Lyoko. Trong mỗi trận chiến, Aelita luôn được Yumi, Ulrich, và Odd bảo vệ vì cô có khả năng mã hóa vùng Lyoko bị XANA xâm chiến và vô hiệu hóa tháp. Tuy nhiên, nhóm phát hiện ra XANA đã nhiễm một loại virus vào người Aelita để ngăn chặn khả năng tắt siêu máy tính của cô. Ở phần hai, nhóm của Jeremie tập trung tìm kiếm biện pháp để lấy virus ra khỏi người Aelita. Trong khi ở Lyoko, XANA cố gắng đánh cắp bộ nhớ của Aelita để lấy chìa khóa mở Lyoko để giúp chúng thoát khỏi siêu máy tính. Nhóm kết nạp thêm một thành viên nữa là William Dunbar ở phần ba. William là một học sinh được chuyển đến trường Kadic, nhưng cậu sớm bị trở thành nô lệ cho XANA để chống lại nhóm Jeremie. Trong phần bốn, nhóm bạn của Jeremie đã đánh bại và tiêu diệt được XANA để cứu William ra khỏi thế giới ảo. Người buồn nhất là Aelita vì cha cô đã hy sinh để giúp họ có tắt siêu máy tính. Ở đoạn cuối, nhóm đã cùng nhau tắt chiếc siêu máy tính để chuẩn bị cho cuộc sống mới, nhưng những kỷ niệm vui buồn khi cùng chiến đấu trong Lyoko sẽ mãi mãi ở trong tim của năm người bạn. ==== Lyoko ==== Lyoko (phát âm: lee-oh-koh) là một thế giới ảo trong siêu máy tính. Nó bao gồm năm lãnh thổ khác nhau như rừng, núi, băng, sa mạc, và lãnh thổ thứ 5 (trung tâm Lyoko). Mỗi lãnh thổ có một môi trường và phong cảnh khác nhau. Bốn lãnh thổ đầu tiên nằm ở bốn địa điểm khác nhau và chúng đều dẫn đến trung tâm Lyoko bằng một quả cầu khổng lồ. Tất cả lãnh thổ này bị hủy diệt trong phần ba, nhưng năm lãnh thổ được Jeremie và Aelita phục hồi dưới sự giúp đỡ của Franz Hopper trong phần bốn. Siêu máy tính được đặt trong tầng hầm của một nhà máy bị bỏ hoang ở gần trường Kadic. Ngoài ra, bên trong Lyoko còn có biển kỹ thuật số và nhiều bản sao Lyoko. ==== XANA ==== XANA là một hệ thống máy tính thông minh có khả năng khống chế máy tính và mạng lưới điện toàn cầu, thậm chí còn điều khiển được con người. XANA là nhân vật phản diện của bộ phim. Ban đầu, XANA được lập trình và tạo ra bởi Franz Hopper (cha của Aelita) trong những năm 1990 để chống lại Dự án Carthage - một hệ thống phần mềm quân sự mà Franz Hopper từng tham gia. XANA còn được dùng nó để ngăn chặn chính phủ Pháp. Thật không may, XANA dần lớn mạnh và thông minh hơn, rồi nó muốn tiêu diệt luôn Franz Hopper. Sau đó, XANA và cha con Aelita bị mắt kẹt trong siêu máy tính vì Franz bẫy được XANA vào siêu máy tính để ngăn chặn nó tàn phá thế giới thật. Những sự vật và con người được XANA khống chế có khả năng phi thường như: tăng sức mạnh, tăng tốc độ, biết bay, đi xuyên tường... XANA có tất cả 12 quái vật. Những quái vật này dùng để cản trở nhóm Jeremie mã hóa tháp mà XANA kích hoạt. Chúng là: Krabe, Blok, Kankrelat, Megatank, Hornet, Creeper, Kolossus, Kongre, Sharks, Manta, Tarantula và Scyphozoa. ==== Quái vật ==== ==== Khác ==== Tàu Skid (Skidbladnir) là chiếc tàu được Aelita, Yumi, Odd và Ulrich dùng để xuống đại dương số hay khám phá các bản sao khác của Lyoko. Tàu Skid gồm năm khoang; các khoang đều có thể tách khỏi thân tàu để chiến đấu với quái vật và thân tàu được Aelita trực tiếp điều khiển. Phòng quét là phương tiện dùng để biến đổi và quét Aelita, Odd, Yumi và Ulrich vào thế giới ảo Lyoko; máy quét có ba phòng. Nếu bị ngắt điện thì những ai còn trong Lyoko sẽ bị kẹt ở Lyoko. === Nhân vật === ==== Nhân vật chính ==== Trong lúc đang tìm kiếm bộ phận để lắp ráp robot, Jeremie vô tình phát hiện một siêu máy tính trong một tầng hầm mà Franz Hopper đã giấu kín hơn mười năm qua. Khi kích hoạt, Jeremie phát hiện ra một thế giới ảo gọi là Lyoko và quen biết với Aelita, một cô gái bị mắc kẹt trong siêu máy tính trong lúc cùng cha bỏ trốn sự truy sát của XANA. Sau khi biết về siêu máy tính, nhóm Jeremie thường vào Lyoko để chiến đấu với XANA để ngăn chặn mục tiêu chinh phục thế giới của nó. Sau một thời gian chiến đấu, nhóm quyết định giúp đưa Aelita ra thế giới thật để học hành như người bình thường. Khi thoát khỏi Lyoko, Aelita thường có linh cảm và những cơn ác mộng về những chuyện sắp xảy ra. Cô luôn gắn bó với Jeremie và cả hai dần có tình cảm với nhau. Tại trường Kadic, Odd ở cùng phòng với Ulrich. Odd có tính tình khá hài hước và thường gọi Aelita là "công chúa" cũng như gọi Jeremie là "Anhxtanh." Ulrich và Yumi có tình cảm với nhau, nhưng cả hai lại quyết định làm bạn. Ulrich giỏi môn thể dục nhưng lại sợ độ cao; cậu cũng hay ghen với William khi thấy Yumi đi cùng cậu ta. Còn Yumi là thành viên duy nhất trong nhóm không ở trong ký túc xá của trường mà ở cùng gia đình; cô cũng lớn hơn những thành viên còn lại một tuổi. Tham gia vào mỗi trận chiến với XANA gồm Yumi, Aelita, Odd và Ulrich. Khi vào Lyoko, nhiệm vụ của Odd, Ulrich, và Yumi là bảo vệ Aelita để cô mã hóa tháp mà XANA đã kích hoạt. Yumi dùng hai chiếc quạt truyền thống của Nhật Bản để chiến đấu ở khoảng cách xa và có khả năng siêu năng lực giúp nâng vật thể để cản trở quái vật. Vũ khí của Ulrich là thanh kiếm Nhật Katana, ngoài ra cậu cũng có thể phân thân thành ba người và di chuyển với tốc độ cao. Odd dùng mũi tên laser đặt trên bàn tay và đôi lúc cậu cũng có thể cảm ứng được tương lai. Aelita thì có quả cầu lửa để chiến đấu và chiếc đồng hồ đeo tay giúp mọc cánh để bay; cô còn có thể dùng siêu năng lực để tạo vật cản chống lại quái vật. Họ thường dùng xe bay scooter, ván trượt bay và mô-tô một bánh để làm phương tiện di chuyển. Còn Jeremie, do có nhiều am hiểu về máy tính nên cậu không bao giờ đi đến Lyoko mà ở lại phòng máy để hỗ trợ cho đồng đội. Họ thường phải đối đầu với William, một thành viên mới gia nhập nhóm nhưng lại bị XANA điều khiển. ==== Nhân vật khác ==== William Dunbar là một học sinh được chuyển đến trường Kadic. Khi mới đến trường, William là một người cô độc và ít tiếp xúc với ai. Thấy vậy, Yumi đến kết bạn với cậu, và hai người nhanh chóng nảy sinh tình cảm. Mặc dù William và nhóm Jeremie thường xảy ra tranh cãi, nhưng Jeremie, Ulrich, Odd, và Aelita đều ủng hộ cậu tham gia nhóm. Tuy vậy, Yumi lại không đồng ý, nhưng cuối cùng cô cũng chấp nhận. Vào Lyoko lần đầu tiên, William lại bị XANA khống chế để làm con rối cho chúng. Trong Lyoko, William mang một thanh kiếm khổng lồ với bộ trang phục màu đen (khi bị XANA kiểm soát). Nhiệm vụ của William là tìm cách tiêu diệt Aelita để cô không thể mã hóa tháp mà XANA đã kích hoạt. Phần bốn trong bộ phim, William được nhóm Jeremie cứu khỏi sự điều khiển của XANA. Waldo Franz Schaeffer (Franz Hopper) là cha của Aelita. Ông là người tạo ra Lyoko và cũng từng tham dự án Carthage. Trước đây, Franz Hopper là giáo viên dạy môn khoa học tại Học viện Kadic, nhưng sau đó ông biến mất đột ngột và sống trong một ngôi nhà ở khu trường học gọi là bảo tàng Hermitage. Trong một nhà máy bị bỏ rơi gần đó, Franz đã xây dựng siêu máy tính để tạo ra Lyoko và cuối cùng bị kẹt ở Lyoko vì cố ngăn chặn XANA. Jeremie Belpois phát hiện ra siêu máy tính đó gần mười năm sau. Trong tập cuối cùng của bộ phim, Franz Hopper hy sinh trong Lyoko để tiêu diệt XANA. Jim Morales là giáo viên dạy thể dục cho trường Học viện Kadic. Trong nhiều sự việc, thầy Jim đã phát hiện ra sự tồn tại của Lyoko và XANA, nhưng những ký ức này luôn được bị biến mất khi nhóm Jeremie đi ngược thời gian quay về quá khứ. Sissi Delmas là con gái của hiệu trưởng trường Kadic, chính vì thế mà cô luôn kiêu ngạo và chê bai người khác. Sissi cũng có tình cảm với Ulrich; cô và Odd hay thường xuyên trêu chọc nhau. == Sản xuất == === Nguồn gốc và ý tưởng === Mật mã Lyoko bắt nguồn từ phim ngắn "Les enfants font leur cinéma" ("The children make their movies") của đạo diễn Thomas Romain và được sản xuất bởi một nhóm sinh viên từ trường điện ảnh Gobelins ở Paris, Pháp. Các thành viên tham gia làm phim bao gồm Thomas Romain, Tania Palumbo, Stanislas Brunet và Jerome Cottray. Bộ phim được công chiếu tại Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy. Sau đó, trong một bản hợp đồng giữa công ty hoạt hình Pháp Antefilms và Romain, Tania Palumbo bắt đầu làm việc cho Garage Kids. Garage Kids được phát hành vào năm 2001. Dự án phim được Palumbo, Romain và Carlo de Boutiny thực hiện. Sau đó được Anne de Galard phát triển và do công ty Antefilms sản xuất. Ban đầu Garage Kids dự định với 26 tập kể về cuộc sống của bốn học sinh trường nội trú Pháp khám phá ra bí mật của thế giới ảo Xanadu. Tuy nhiên, hãng Anterfilms quyết định phát triển Garage Kids thành Mật mã Lyoko với thế giới ảo có tên là "Lyoko," bắt đầu phát sóng vào năm 2003. Bối cảnh trong phim được mô phỏng theo những địa điểm thật tại Pháp. Nhà máy được dựa trong bộ phim là nhà máy tại Boulogne-Billancourt và trường Học viện Kadic được mô phỏng theo trường Lycée Lakanal ở Sceaux. === Ê-kíp === === Nhạc phim === Subdigitals là album được hãng EMI France phát hành để quảng bá cho Mật mã Lyoko; Album bao gồm 12 bài hát. Album được ra mắt tại Pháp vào tháng 11 năm 2006 và tại Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2007. "A World Without Danger" được chọn làm ca khúc mở đầu cho phim, còn "Break Away" thì làm nhạc kết từ phần hai đến phần bốn. Tiếp đến, hãng cho phát hành Code Lyoko Featuring Subdigitals (phiên bản dành cho người hâm mộ) làm album giữa MoonScoop và Code Lyoko Fans, gồm các phiên bản từ album đầu và bản nhạc không lời của Code Lyoko Evolution. === Các phần của phim === === Công chiếu quốc tế === Tại Hoa Kỳ, bộ phim được phát sóng vào 19 tháng 4 năm 2004 trên kênh Cartoon Network. Còn phần prequel được phát sóng vào ngày 2 và 3 tháng 10 năm 2006. Bảy tập cuối cùng của phim được phát sóng trực tuyến. == Tiếp nhận == Mật mã Lyoko là chương trình xuất sắc nhất do khán giả kênh Canal J (Pháp) bình chọn và được nhiều khán giả quốc tế yêu thích; chương trình cũng được hai kênh Cartoon Network và Kabillion (Hoa Kỳ) đánh giá cao. Cụ thể, Mật mã Lyoko giữ vị trí thứ ba cho chương trình xuất sắc nhất năm 2006 tại Cartoon Network và vị trí thứ 4 cho chương trình được xem hàng tháng nhiều nhất năm 2010 tại Kabillion. Phim cũng đạt thành công lớn ở kênh Clan TVE của Tây Ban Nha, kênh Rai2 của Ý, và nhiều kênh ở Phần Lan và Anh Quốc. Tháng 12 năm 2006, Mật mã Lyoko nhận giải France's Prix de l'Export Award 2006 cho hạng mục phim hoạt hình. Sau khi phát hành thành phim, Mật mã Lyoko được xuất bản dưới dạng đĩa DVD và được in thành tiểu thuyết từ nhà xuất bản Ý Atlantyca Entertainment. Người viết lấy bút danh là Jeremy Belpois (tiểu thuyết được viết từ tính cách của các nhân vật). Năm 2004, phim được in ra thành truyện tranh bởi Hachette, gồm hai tập được trình bày bằng cách chụp ảnh từng tập của phim. Năm 2006, phim được sản xuất thành đồ chơi robot Marvel Toys, đồ dùng học tập, tạp chí và bìa lịch dựa theo các nhân vật trong phim. Tiếp đến, nhiều video games được ra mắt như: Code Lyoko, Code Lyoko: Fall of X.A.N.A. của Nintendo DS, Code Lyoko: Quest for Infinity của Wii, PSP và PlayStation 2. Hãng MoonScoop cũng hợp tác với 3D Duo cho ra mắt trò chơi video của phim trên Facebook vào mùa xuân năm 2012, hơn 200.000 người dùng tham gia chơi tích cực và được 1.3 triệu game thủ đăng ký. Còn ở Việt Nam, nhiều fanpage được tạo ra để người hâm mộ thể hiện tình cảm với phim. Vào tháng 1 năm 2011, bốn phần trong Mật mã Lyoko được phát hành trên iTunes tại Mỹ và MoonScoop Holdings ở Pháp. Một chương trình trò chơi được gọi là Code Lyoko Challenge ở Tây Ban Nha được dự kiến ​​phát hành vào cuối năm 2012 nhưng đã không được cho phép. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Code Lyoko tại Internet Movie Database
hypena manalis.txt
Hypena manalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Minnesota tới Nova Scotia, phía nam đến Florida và Texas. Sải cánh dài 23–28 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 5 đến tháng 9 ở phía nam và từ tháng 6 đến tháng 8 in the north. There two to three generations per year. == Liên kết ngoài == Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae) Bug Guide Images == Chú thích ==
afghanistan.txt
Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan (phiên âm tiếng Việt: Áp-ga-ni-xtan, Hán-Việt: A Phú Hãn; chữ Hán: 阿富汗; tiếng Pashtun: د افغانستان اسلامي جمهوریت Da Afġānistān Islāmī jomhoriyat; tiếng Dari: جمهوری اسلامی افغانستان jomhoriye-e Eslāmī-ye Afġānistān) là một quốc gia nằm giữa lục địa châu Á, có tên cũ là Nhà nước Hồi giáo Afghanistan (د افغانستان اسلامي دول Da Afghanistan Islami Dawlat). Tùy theo trường hợp nước này có thể bị coi là thuộc Trung và/hay Nam Á cũng như Trung Đông. Về mặt tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc và địa lý nước này có quan hệ với hầu hết các quốc gia láng giềng. Afghanistan có đường biên giới dài với Pakistan ở phía nam và phía đông, Iran ở phía tây, Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan ở phía bắc, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở khu vực viễn đông bắc. Cái tên Afghanistan có nghĩa "Vùng đất của người Afghan". Afghanistan bao gồm nhiều nhóm sắc tộc, và nằm ở ngã tư đường giữa Đông và Tây. Nước này từng là một trung tâm thương mại và di cư cổ đại. Vùng này cũng đã trải qua nhiều lần bị xâm lược và chinh phục, gồm cả từ Đế quốc Ba Tư, Alexandros Đại đế, người Ả Rập Hồi giáo, các dân tộc người Turk và những người du mục Mông Cổ, Đế quốc Anh, Liên bang Xô Viết và cả Hoa Kỳ. Ahmad Shah Durrani đã tạo lập đất nước Afghanistan ở giữa thế kỷ 18 với tư cách một quốc gia lớn, có thủ đô tại Kandahar. Sau đó, đa phần lãnh thổ quốc gia đã bị nhượng lại cho các quốc gia xung quanh ở đầu thế kỷ 20, sau những cuộc xung đột khu vực. Ngày 19 tháng 8 năm 1919, sau cuộc chiến tranh Anh-Afghan lần thứ ba, đất nước này đã giành lại độc lập hoàn toàn từ Anh Quốc về đối ngoại. Từ năm 1978, Afghanistan đã phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài và đẫm máu, với sự can thiệp từ nước ngoài dưới hình thức Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan và cuộc xung đột năm 2001 với Hoa Kỳ trong đó chính phủ Taliban cầm quyền đã bị lật đổ. Tháng 12 năm 2001, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã cho phép thành lập một Lực lượng Hỗ trợ An ninh quốc tế (ISAF). Lực lượng này, gồm binh lính NATO, đã hỗ trợ chính phủ của Tổng thống Hamid Karzai trong việc thiết lập an ninh trên toàn quốc. Năm 2005, Hoa Kỳ và Afghanistan đã ký kết một thoả thuận đối tác chiến lược cam kết mối quan hệ lâu dài giữa hai quốc gia. Cùng lúc ấy, khoảng 30 tỷ dollar Mỹ cũng đã được cộng đồng quốc tế rót vào cho việc tái thiết đất nước. Afghanistan lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 16 tháng 9 năm 1974. == Từ nguyên == Cái tên Afghānistān dịch thành "Vùng đất của người Afghan". Tên ngày này xuất phát từ từ Afghan. === Nguồn gốc từ "Afghan" === Người Pashtuns đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ Afghan là tên gọi họ ít nhất từ thời kỳ Hồi giáo trở về sau. Theo W. K. Frazier Tyler, M. C. Gillet và nhiều học giả khác, "Từ Afghan lần đầu xuất hiện trong lịch sử ở thời Hudud-al-Alam năm 982. Bách khoa toàn thư Iran giải thích: "Từ một quan điểm sắc tộc và có tính hạn chế hơn, 'Afghān' là thuật ngữ những người Afghanistan nói tiếng Ba Tư (và nói chung những nhóm sắc tốc không sử dụng tiếng Paštō) chỉ người Paštūn. Sự cân bằng [của] Afghan [và] Paštūn đã được phổ biến rộng rãi cả bên trong và bên ngoài Afghanistan, bởi liên minh bộ tộc Paštūn chiếm ưu thế áp đảo trong nước, cả về dân số và chính trị." Từ điển giải thích thêm: "Thuật ngữ 'Afghān' có lẽ đã được dùng để chỉ người Paštūn từ những thời cổ đại. Dưới hình thức Avagānā, nhóm sắc tộc này lần đầu tiên đã được nhà thiên văn học Ấn Độ Varāha Mihira đề cập ở đầu thế kỷ thứ 6 trong tác phẩm Brihat-samhita của ông." Bằng chứng trong văn học Pashto truyền thống ủng hộ lý thuyết này, ví dụ trong những văn bản thế kỷ 17 nhà thơ Pashto Khushal Khan Khattak đã viết: "Rút kiếm ra và giết chết bất kỳ kẻ nào, kẻ nói Pashtun và Afghan không phải là một! người Ả Rập biết điều này và người Roma cũng thế: người Afghan là người Pashtun, người Pashtun là người Afghan!" === Ý nghĩa và nguồn gốc cái tên "Afghanistan" === Phần cuối của cái tên, -stān, là một hậu tố Ấn-Iran với nghĩa "địa điểm", nó rất thường xuất hiện trong các ngôn ngữ trong vùng. Thuật ngữ "Afghanistan", nghĩa "Vùng đất của người Afghan", từng được Babur, Hoàng đế Môgôn, đề cập tới ở thế kỷ 16 trong cuốn hồi ký của ông, để gọi những vùng lãnh thổ phía nam Kabul nơi người Pashtun sinh sống (được gọi là "Afghans" bởi người Babur). Về quốc gia "Afghanistan" hiện đại, Bách khoa toàn thư Hồi giáo đã viết: "Afghānistān đã mang tên này từ giữa thế kỷ 18, khi quyền ưu của tộc người Afghan (Pashtun) bắt đầu được khẳng định: trước đó các tỉnh có tên gọi khác nhau, nhưng đất nước không phải là một đơn vị chính trị xác định, và các thành phần của nó không liên kết với nhau bởi sự đồng nhất chủng tộc hay ngôn ngữ. Trước kia từ này chỉ đơn giản có nghĩa 'vùng đất của người Afghan', một vùng lãnh thổ hạn chế không bao gồm nhiều phần hiện nay của quốc gia nhưng thực sự có bao gồm các vùng lãnh thổ hiện đã độc lập hay đang ở trong lãnh thổ Pakistan." Cho tới thế kỷ 19, cái tên này chỉ được sử dụng cho vùng đất truyền thống của người Pashtun, trong khi thực thể gồm cả vương quốc được gọi là Vương quốc Kabul, như đã được nhà sử học Anh Mountstuart Elphinstone nói tới. Những vùng khác của đất nước trong một số giai đoạn được thừa nhận như những vương quốc độc lập, như Vương quốc Balkh ở cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Với sự mở rộng và tập trung hóa của quốc gia, chính quyền Afghan đã chấp nhận và mở rộng cái tên "Afghanistan" cho toàn bộ vương quốc, sau khi cái tên dịch sang tiếng Anh của nó, "Afghanland", đã xuất hiện trong nhiều hiệp ước giữa British Raj và Triều đại Qajar Ba Tư, để chỉ những vùng đất phụ thuộc Triều đại Barakzai của người Pashtun tại Kabul. "Afghanistan" trở thành cái tên phổ biến chỉ toàn bộ vương quốc được công chúng phương Tây biết đến năm 1857 bởi Friedrich Engels khi ông viết về vương quốc này trong The New American Cyclopaedia. Nó đã trở thành tên chính thức khi nước này được cộng đồng quốc tế công nhận năm 1919, sau khi giành lại độc lập hoàn toàn từ người Anh và được tái xác nhận trong bản hiến pháp đất nước năm 1923. == Địa lý == Afghanistan là một nước nhiều đồi núi nằm kín trong lục địa tại vùng Trung Á, với các đồng bằng ở phía bắc và phía tây nam. Điểm cao nhất là Nowshak, độ cao 7.485 m (24.557 ft) trên mực nước biển. Phần lớn lãnh thổ có khí hậu khô và nguồn nước ngọt rất hạn chế. Afghanistan có khí hậu lục địa, với mùa hè nóng và mùa đông lạnh. Tại đất nước này thường xảy ra những trận động đất nhỏ, chủ yếu ở những vùng núi phía đông bắc Hindu Kush. Với diện tích 647.500 km² (249.984 mi²), Afghanistan là nước lớn thứ 41 trên thế giới (sau Myanma). Nước này hơi nhỏ hơn tiểu bang Texas của Hoa Kỳ. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia gồm vàng, bạc, đồng, kẽm, liti, urani, và quặng sắt ở những vùng đông nam; đá quý và bán quý như lapis, ngọc lục bảo và azure ở vùng đông bắc; và tiềm năng dầu mỏ cùng khí gas khá lớn ở phía bắc. Đất nước này cũng có than, cromit, đá tan, barit, sulfur, chì, và muối. Tuy nhiên, những nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng khá quan trọng đó phần lớn vẫn chưa được khai thác vì những ảnh hưởng của cuộc xâm lược Xô viết và cuộc nội chiến sau đó. Những kế hoạch hiện đang được triển khai nhằm khai thác chúng trong tương lai. == Lịch sử == === Tiền sử === Việc khai quật những địa điểm tiền sử của Louis Dupree, Đại học Pennsylvania, Viện Smithsonian và những tổ chức khác cho thấy, con người đã sống tại nơi hiện là Afghanistan từ ít nhất 50.000 năm trước, và các cộng đồng biết canh tác trong vùng là một trong số những cộng đồng xuất hiện sớm nhất trên thế giới. === Cổ đại === Afghanistan là đất nước ngã tư đường nơi nhiều nền văn minh Ấn-Âu đã tương tác và thường xung đột với nhau, và đây cũng là một vị trí quan trọng của hoạt động thời cổ. Qua các giai đoạn, vùng này đã trở thành nơi sinh sống của nhiều sắc tộc, trong số đó có người Aryan (các bộ tộc người Ấn-Iran), như Kambojas, Bactria, Ba Tư, vân vân. Nước này cũng đã bị xâm lược hay chinh phục bởi nhiều dân tộc khác, gồm các đế quốc Media Ba Tư, Hy Lạp, người Kushan, người Hepthalite, người Ả Rập, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Mông Cổ, Anh Quốc, Liên bang Xô Viết, và gần đây nhất là Hoa Kỳ và các đồng minh của họ. Mặt khác, những thực thể xuất hiện tại đây cũng đã xâm lược hay chinh phục các vùng xung quanh tại Cao nguyên Iran và Tiểu lục địa Ấn Độ để thành lập lên các đế chế của riêng họ. Khoảng giữa năm 2000 và 1200 trước Công Nguyên, những làn sóng người Aryan nói tiếng Ấn-Âu từ phía bắc sông Amu Darya được cho là đã tràn xuống các vùng phía bắc Afghanistan và sau đó mở rộng về phía nam về hướng Ấn Độ và phía đông tới Ba Tư, lập lên một quốc gia trong thời kỳ cai trị của người Medes và người Ba Tư Achaemenid và được biết đến với cái tên Aryānām Xšaθra hay Airyānem Vāejah. Sau này, dưới thời cầm quyền của đế quốc Ashkanian (Parthia), đế quốc Sassanid và sau đó được gọi là Erānshahr (Ba Tư: ايرانشهر ‎ ​ - Īrānšahr) có nghĩa "Lãnh địa của người Aryan", gồm cả nhiều phần tại Lưỡng Hà, Kavkaz, Armenia, Azerbaijan, Iran và Trung Á hiện nay (Afghanistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, phần phía tây của Pakistan, vân vân, phụ thuộc vào những cách định nghĩa khác nhau). Có suy xét cho rằng Bái hỏa giáo (đạo thờ lửa) đã bắt nguồn từ Afghanistan hiện nay trong khoảng năm 1800 tới 800 trước Công Nguyên. Các ngôn ngữ Đông Iran, như tiếng Avestan, có thể đã được sử dụng tại vùng này trong khoảng thời gian tương đương với sự xuất hiện của Bái hỏa giáo. Tới giữa thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, Đế chế Ba Tư của nhà Achaemenid đã chiếm chỗ Đế chế Media và gồm cả cái hiện gọi là Ba Tư của người Hy Lạp vào trong các biên giới của nó; và tới năm 330 trước Công Nguyên, Alexandros Đại đế đã xâm chiếm Afghanistan và chinh phục những vùng xung quanh. Sau một thời gian ngắn dưới sự cai trị của Alexandros, các quốc gia hậu thân của nền văn minh Hy Lạp cổ như Seleucid và Hy-Bactria đã chinh phục vùng này, trong khi nhà Maurya từ Ấn Độ đã sáp nhập vùng đông bắc trong một thời gian và du nhập Phật giáo vào đây cho tới khi vùng này lại quay trở lại thuộc quyền kiểm soát của người Bactria. Trong thế kỷ thứ nhất, người Kushan đã lập ra một đế chế to với trung tâm ở nước Afghanistan ngày nay và bảo hộ Phật giáo. Người Kushan đã bị người Sassanid đánh bại ở thế kỷ thứ 3. Dù nhiều vị vua cai trị tự gọi mình là người Kushan (và nói chung được gọi là người Kushano-Sassanian) tiếp tục cai trị ít nhất nhiều phần vùng ngày nay thuộc Afghanistan, có lẽ họ ít nhiều phụ thuộc người Sassanid. Tiếp sau người Kushan là người Hun Kidarite và tới lượt họ cũng bị thay thế trong bởi một triều đại ngắn ngủi nhưng đã đạt tới đỉnh cao quyền lực của người Hephthalite, ở nửa đầu thế kỷ thứ 5. Người Hephthalite bị vị vua Khosrau I nhà Sasanid đánh bại năm 557, ông đã tái lập quyền lực của người Sasanid tại Ba Tư. Tuy nhiên, những người kế vị người Kushan và Hepthalite đã lập lên một triều đình nhỏ tại Kabulistan được gọi là Kushan-Hephthalite hay Kabul-Shahan và sau này triều đình đó đã bị đánh bại bởi các đội quân Hồi giáo. === Trung đại === Từ thời Trung Cổ, cho tới thế kỷ 18, vùng này được gọi là Khorasan. Vì vậy, nhiều trung tâm quan trọng của Khorāsān nằm tại Afghanistan ngày nay, như Balkh, Herat, Ghazni và Kabul. Vùng Afghanistan đã trở thành trung tâm của nhiều đế chế lớn, gồm đế chế của người Samanid (875-999), Ghaznavid (977-1187), Đại Seljuk (1037-1194), Ghurid (1149-1212), và Timurid (1370-1506). Trong số đó, đế chế Ghaznavid của người Ghazni, và Timurid của Herat được coi là một trong những thời kỳ chói lọi nhất trong lịch sử Afghanistan. Năm 1219, vùng này bị quân đội Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn tàn phá. Thời kỳ cầm quyền của họ tiếp tục tới dòng Y Nhi, và kéo dài cho tới tận cuộc xâm lược của Timur Lenk ("Tamerlane"), một vị vua cai trị từ Trung Á. Năm 1504, Babur, một hậu duệ của cả Timur Lenk và Thành Cát Tư Hãn, đã thành lập lên Đế quốc Môgôn với thủ đô tại Kabul. Tới đầu những năm 1700, Afghanistan bị kiểm soát bởi nhiều nhóm cầm quyền: người Uzbek ở phía bắc, nhà Safavid ở phía tây, và vùng còn lại thuộc người Môgôn, hay do các bộ lạc Afghan tự trị. Năm 1709, Mirwais Khan Hotak, một người Afghan (Pashtun) địa phương thuộc dòng họ Ghilzai, đã lật đổ và giết chết Gurgin Khan, vị quan cai trị Kandahar của người Safavid. Mirwais Khan đã đánh bại người Ba Tư, đang tìm cách cải đạo người dân Kandahar từ dòng Hồi giáo Sunni sang Shi'a. Mirwais giữ vùng Kandahar cho tới khi ông mất năm 1715 và được con trai là Mir Mahmud Hotaki kế vị. Năm 1722, Mir Mahmud dẫn một đội quân Afghanistan tới Isfahan (hiện thuộc Iran), cướp bóc thành phố và tự phong mình thành Vua Ba Tư. Tuy nhiên, đại đa số dân vẫn bất tuân với chế độ của người Afghanistan và đứng lên khởi nghĩa, và sau cuộc thảm sát hàng ngàn thường dân tại Isfahan của người Afghanistan – gồm cả hơn ba ngàn học giả tôn giáo, các vị quý tộc, và các thành viên gia đình Safavid – triều đại Hotaki cuối cùng đã bị lật đổ khỏi quyền lực bởi Nader Shah của Ba Tư - một viên tướng trung thành của nhà vua Safavid. Năm 1738, Nader Shah và quân đội của mình, gồm bốn ngàn người Pashtun và dòng họ Abdali, đã chinh phạt vùng Kandahar; cùng năm ấy ông chiếm đóng Ghazni, Kabul và Lahore. Ngày 19 tháng 6 năm 1747, Nader Shah bị ám sát, có lẽ bởi chính người cháu trai là Ali Qoli. Cùng năm ấy, một trong những chỉ huy quân đội của Nader và cũng là vệ sĩ riêng của ông, Ahmad Shah Abdali, một người Pashtun từ dòng họ Abdali, đã kêu gọi triệu tập một đại hội loya jirga sau khi Nader Shah băng hà. Người Afghan đã tụ tập tại Kandahar và chọn Ahmad Shah làm vua. Từ đó, ông thường được coi là người sáng lập nước Afghanistan hiện đại. Sau khi lên làm vua, ông đã đổi danh hiệu hay tên dòng họ thành "Durrani", xuất phát từ từ Durr trong tiếng Ba Tư, có nghĩa "Ngọc Châu". Tới năm 1751, Ahmad Shah Durrani và đội quân Afghan đã chinh phục toàn bộ Afghanistan, Pakistan, Khorasan và tỉnh Kohistan của Iran, cùng Delhi tại Ấn Độ ngày nay. Tháng 10 năm 1772, Ahmad Shah về nghỉ tại nhà mình ở Maruf, Kandahar, và qua đời trong yên bình. Con trai ông, Timur Shah Durrani, lên nắm quyền và dời thủ đô từ Kandahar tới Kabul. Timur mất năm 1793 và được con trai là Zaman Shah Durrani kế vị. === Hiện đại === Trong thế kỷ 19, sau những cuộc chiến tranh Anh-Afghanistan (giai đoạn 1839-42, 1878-80, và 1919) và sự thăng tiến của triều đại Barakzai, Afghanistan chứng kiến phần lớn lãnh thổ cũng như quyền tự trị của mình rơi vào tay Anh Quốc. Anh nắm giữ ảnh hưởng rất lớn, và chỉ tới khi Vua Amanullah Khan lên ngôi năm 1919 Afghanistan mới giành lại được quyền độc lập hoàn toàn của mình trong các vấn đề ngoại giao (xem "The Great Game"). Trong giai đoạn can thiệp Anh tại Afghanistan, các lãnh thổ của sắc tộc Pashtun bị chia theo Đường Durand. Điều này sẽ dẫn tới sự căng thẳng trong quan hệ giữa Afghanistan và Ấn Độ thuộc Anh – và sau này là nhà nước Pakistan mới thành lập – về cái sẽ được gọi là cuộc tranh cãi Pashtunistan. Giai đoạn ổn định dài nhất tại Afghanistan là trong khoảng 1933 tới 1973, khi đất nước nằm dưới quyền cai trị của Vua Zahir Shah. Tuy nhiên, năm 1973, anh/em rể của Zahir Shah là Sardar Daoud Khan, đã thực hiện một cuộc đảo chính không đổ máu. Daoud Khan và toàn thể gia đình sau này đã bị giết hại năm 1978, khi Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan theo chủ nghĩa cộng sản tiến hành một cuộc đảo chính gọi là Cuộc cách mạng Saur vĩ đại và chiếm giữ quyền bính. Sự đối đầu và nhiều cuộc xung đột bên trong nhiều chính phủ cộng sản tiếp diễn. Như một phần của cuộc Chiến tranh lạnh, năm 1979 Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski bắt đầu ngầm cung cấp tài chính và huấn luyện cho các lực lượng Mujahideen chống chính phủ thông qua cơ quan an ninh mật Pakistan được gọi là Inter Services Intelligence (ISI), họ là những người Hồi giáo bất mãn trong nước chống lại thuyết vô thần cộng sản của chế độ Mác xít. Nhằm ủng hộ cho các lực lượng cộng sản Afghanistan, Liên bang Xô viết —trích dẫn Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Láng giềng thân thiện năm 1978 đã được ký kết giữa hai quốc gia— can thiệp vào nước này ngày 24 tháng 12 năm 1979. Theo các phương tiện truyền thông và các nguồn tin chính thức của chính phủ, khoảng 110.000 tới 150.000 quân Xô viết, với sự hỗ trợ của 100.000 hay hơn nữa quân đội ủng hộ cộng sản Afghan, đã hiện diện tại nước này. Giai đoạn chiếm đóng của Xô viết dẫn tới cuộc di cư hàng loạt của hơn 5 triệu người Afghan tới các trại tị nạn ở nước Pakistan, Iran và các nước láng giềng khác. Hơn 3 triệu người đã định cư tại Pakistan, hơn 1 triệu người tại Iran và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đối mặt với nhiều sức ép quốc tế và con số hơn 15.000 binh lính thiệt mạng sau các cuộc đụng độ với các lực lượng Mujahideen được Hoa Kỳ, Pakistan, và các chính phủ khác huấn luyện, quân đội Xô viết đã phải rút đi sau mười năm, năm 1989. Việc rút quân đội Xô viết khỏi Cộng hòa Dân chủ Afghanistan được coi là một thắng lợi về ý thức hệ tại Hoa Kỳ, nước đã hỗ trợ Mujahideen qua ba đời tổng thống nhằm ngăn cản sự mở rộng ảnh hưởng Xô viết tới vùng Vịnh Péc xích nhiều dầu mỏ. Sau khi quân đội Xô viết rút đi năm 1989, Hoa Kỳ và các đồng minh của họ đã mất sự chú ý tới Afghanistan và giúp đỡ rất ít cho việc khôi phục đất nước đã bị tàn phá sau chiến tranh cũng như gây ảnh hưởng tới các sự kiện tại đó. Liên bang Xô viết đã tiếp tục ủng hộ Tổng thống Najibullah (cựu lãnh đạo cơ quan an ninh mật, KHAD) cho tới khi ông mất chức năm 1992. Tuy nhiên, thiếu sự hiện diện của các lực lượng Xô viết, chính phủ thân cộng sản không thể giữ được ưu thế và dần mất lãnh thổ vào tay các lực lượng du kích. Kết quả của những cuộc chiến là đại đa số giới trí thức cùng các tầng lớp tinh hoa Afghanistan đã rời bỏ đất nước ra nước ngoài, một khoảng trống quyền lãnh đạo nguy hiểm xuất hiện. Những cuộc chiến tiếp tục giữa nhiều phe phái Mujahideen, cuối cùng dẫn tới sự nổi lên của các lãnh chúa địa phương. Những trận đánh đẫm máu nhất trong cuộc nội chiến diễn ra năm 1994, khi hơn 10.000 người bị giết hại tại Kabul. Sự hỗn loạn và tình trạng tham nhũng lan tràn tại đất nước Afghanistan thời hậu Xô viết và là nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện của Taliban, chủ yếu là người Pashtun thuộc vùng Helmand và Kandahar. Taliban đã phát triển thành một lực lượng chính trị-tôn giáo, và cuối cùng chiếm Kabul năm 1996. Tới cuối năm 2000, Taliban đã chiếm được 95% lãnh thổ đất nước, chỉ còn lại sự đối đầu của các cứ điểm (Liên minh Bắc Afghan) mạnh chủ yếu ở phía bắc Tỉnh Badakhshan. Taliban đã tìm cách áp đặt một các giải thích bộ Luật Sharia Hồi giáo hà khắc và sau này bị coi là những người ủng hộ khủng bố, chủ yếu vì đã cung cấp chốn nương thân cho mạng lưới Al-Qaeda của Osama bin Laden. Trong bảy năm cầm quyền của Taliban, đa số dân cư nước này phải sống trong tình trạng hạn chế đến cùng cực các quyền tự do và sự vi phạm vào quyền sống của họ. Phụ nữ bị cấm làm việc, trẻ em gái không được đi học. Những người chống đối bị trừng phạt ngay lập tức. Những người cộng sản bị tiêu diệt một cách có hệ thống và trộm cắp bị trừng phạt bằng cách chặt chân hoặc tay. Tuy nhiên, tới năm 2001 Taliban đã hầu như tiêu diệt được việc trồng cây thuốc phiện tại Afghanistan. Sau những vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ tung ra Chiến dịch Tự do Bền vững, một chiến dịch quân sự nhằm tiêu diệt mạng lưới Al-Qaeda đang hoạt động tại Afghanistan và lật đổ chính phủ Taliban. Hoa Kỳ đã liên minh với Liên minh Miền bắc Afghan để thực hiện mục tiêu của mình. Tháng 12 năm 2001, các lãnh tụ chính của các nhóm đối lập Afghan đã gặp gỡ tại Bonn, Đức, và đồng ý về một kế hoạch thành lập một chính phủ dân chủ mới dẫn tới việc Hamid Karzai, một người Pashtun từ thành phố miền nam Kandahar, trở thành chủ tịch Chính quyền Lâm thời Afghan. Sau Loya Jirga toàn quốc năm 2002, Karzai đã được các đại biểu chọn lựa làm Tổng thống tạm quyền của Afghanistan. Năm 2003, nước này đã triệu tập một Loya Jirga (Hội đồng các Thủ lĩnh) lập hiến và phê chuẩn một hiến pháp mới vào năm sau đó. Hamid Karzai được bầu làm tổng thống trong cuộc bầu cử toàn quốc tháng 10 năm 2004. Những cuộc bầu cử lập pháp được tổ chức tháng 9 năm 2005. Quốc hội – cơ quan lập hiến do bầu cử tự do đầu tiên tại Afghanistan từ năm 1973 – nhóm họp tháng 9 năm 2005, và đáng chú ý trong cuộc bầu cử này phụ nữ được tham gia với tư cách cử tri, ứng cử viên và cả người được bầu. Tuy đất nước tiếp tục được khôi phục và tái xây dựng, cuộc đấu tranh chống sự nghèo đói, cơ sở hạ tầng lạc hậu, số lượng mìn dày đặc và nhiều loại vũ khí chưa nổ khác, cũng như việc trồng cấy và buôn bán bất hợp pháp thuốc phiện đang là vấn đề nghiêm trọng. Afghanistan tiếp tục phải đối phó với cuộc nổi loạn của Taliban, những mối đe doạ tấn công từ một số thành viên al Qaeda còn sót lại, và sự bất ổn, đặc biệt tại miền bắc, đã gây ra tình trạng các lãnh chúa bán độc lập. Đầu năm 2007, các báo cáo về sự hiện diện ngày càng tăng của Taliban tại Afghanistan dẫn tới việc Hoa Kỳ phải xem xét tiến hành các chiến dịch quân sự lớn hơn, dài hơn và thậm chí phải tăng quân số. Theo một báo cáo do Robert Burns thuộc Associated Press đưa ra ngày 16 tháng 1 năm 2007, "Các quan chức quân sự Mỹ đã chỉ ra bằng chứng mới cho thấy quân đội Pakistan, vốn có những mối quan hệ từ lâu với phong trào Taliban, đã cố tình làm ngơ cho những cuộc xâm nhập của tổ chức này." Tương tự, "Một sĩ quan tình báo quân sự Mỹ đã nói với các phóng viên, số lượng những cuộc tấn công của bọn phiến loạn đã tăng 300 phần trăm từ tháng 9 năm [2006], khi chính phủ Pakistan đưa thỏa thuận hòa bình với các lãnh đạo bộ tộc vào thức hiện ở vùng miền bắc Waziristan, dọc theo biên giới phía đông của Afghanistan." Sản xuất thuốc phiện tăng mạnh, chiếm một phần ba tới hai phần ba GDP quốc gia. Chính quyền Taliban giảm được 95% sản lượng thuốc phiện trong khoảng thời gian 1999-2001, nhưng sau sự sụp đổ của Taliban vào năm 2001, quyền lực của các thủ lĩnh quân sự và trùm ma túy đã quay trở lại. Năm 2010, Afghanistan đứng thứ 175/177 trên thế giới về nạn tham nhũng, 175/186 về chỉ số phát triển con người, và từ năm 2004 tại đây sản xuất 5.300 tấn thuốc phiện mỗi năm. Người anh em của tổng thống Karzai, Ahmed Wali Karzai, là trùm ma túy được CIA hậu thuẫn. Sau suộc tấn công lớn của Mỹ vào tỉnh Kandahar năm 2011, đại tá Abdul Razziq được phong chức cảnh sát trưởng tỉnh này, việc gia tăng các hoạt động buôn lậu heroin đã đem lại cho ông ta 60 triệu USD mỗi năm. == Chính phủ và chính trị == Chính trị Afghanistan từ lâu đã bao gồm nhiều cuộc tranh giành quyền lực, đảo chính đẫm máu, và những cuộc chuyển giao quyền lực trong tình trạng bất ổn. Ngoại trừ một military junta (hội đồng thủ lĩnh quân sự), đất nước này đã trải qua hầu như tất cả các hệ thống chính phủ trong thế kỷ qua, từ quân chủ, cộng hòa, chính trị thần quyền tới quốc gia cộng sản. Hiến pháp được Loya jirga 2003 phê chuẩn đã quy định chính phủ theo hình thức nhà nước Cộng hòa Hồi giáo gồm ba nhánh, (hành pháp, lập pháp và tư pháp). Tổng thống hiện thời của Afghanistan là Hamid Karzai, được bầu tháng 10 năm 2004. Quốc hội hiện tại được bầu năm 2005. Trong số những đại biểu có cả các cựu thành viên mujahadeen, Taliban, cộng sản, những người cải cách, và Những người theo trào lưu chính thống Hồi giáo. 28% đại biểu là phụ nữ, lớn hơn 3% so với con số 25% tối thiểu do hiến pháp quy định. Điều này khiến Afghanistan, một nước từ lâu đã nổi tiếng về sự đàn áp phụ nữ thời Taliban, trở thành một trong những nước đứng đầu về số đại biểu nữ giới. Tòa án tối cao Afghanistan hiện do Abdul Salam Azimi, một cựu giáo sư đại học, người từng là cố vấn pháp lý cho tổng thống, lãnh đạo. Tòa án trước đó, được chỉ định trong giai đoạn chính phủ lâm thời, chủ yếu do những nhân vật thuộc trào lưu chính thống Hồi giáo điều khiển, trong đó gồm cả Chánh án Faisal Ahmad Shinwari. Tòa đã đưa ra nhiều phán quyết gây tranh cãi, như việc cấm truyền hình cáp, tìm cách cấm đoán một ứng cử viên trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, và hạn chế quyền của phụ nữ, cũng như vượt quá quyền hạn do hiến pháp quy định khi ra những phán quyết về những công dân chưa bị đưa ra trước tòa. Tòa án hiện nay được coi là có tính trung lập cao hơn và do những nhân vật có chuyên môn cao hơn điều khiển, dù nó vẫn chưa đưa ra bất kỳ phán quyết nào. === Lực lượng bảo vệ quốc gia === Afghanistan hiện có lực lượng cảnh sát 60.000 người. Nước này đang đặt kế hoạch tuyển dụng thêm 20.000 sĩ quan cảnh sát khác đưa con số lên tới 80.000 người. Dù về mặt chính thức cảnh sát chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự dân sự, các lãnh đạo quân sự địa phương và vùng tiếp tục nắm quyền kiểm soát tại những vùng chưa ổn định. Cảnh sát đã bị buộc tội đối xử không thích hợp và tra tấn các tù nhân. Năm 2003 khu vực ủy nhiệm của Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế, hiện thuộc quyền chỉ huy của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã được mở rộng tới vùng Kabul. Tuy nhiên tại một số vùng không thuộc quyền ủy nhiệm của lực lượng trên, các du kích địa phương vẫn nắm quyền kiểm soát. Ở nhiều vùng, các vụ phạm pháp không thể được điều tra bởi thiếu sự có mặt của lực lượng cảnh sát và/hay hệ thống thông tin liên lạc. Binh lính thuộc Quân đội Quốc gia Afghanistan đã được phái tới giữ gìn an ninh tại những nơi thiếu sự hiện diện của cảnh sát. == Các tỉnh và quận == Về hành chính, Afghanistan được chia thành ba tư tỉnh (welayats) và mỗi tỉnh có một trung tâm riêng. Mỗi tỉnh lại được chia tiếp thành quận/huyện và mỗi quận thường gồm một thành phố hay nhiều thị trấn. Thống đốc tỉnh do Bộ nội vụ và các Quận trưởng cảnh sát chỉ định, người đứng đầu các quận do thống đốc chỉ định. Thống đốc là người đại diện của chính phủ và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề hành chính và nghi lễ. Lãnh đạo cảnh sát và an ninh thường do Bộ nội vụ chỉ định và làm việc cùng với Thống đốc để bảo đảm an ninh. Riêng Kabul là nơi Thị trưởng thành phố do Tổng thống lựa chọn và hoàn toàn độc lập với quận trưởng Tỉnh Kabul. == Kinh tế == Afghanistan là một nước rất nghèo, một trong những nước nghèo và kém phát triển nhất thế giới. Hai phần ba dân số nước này sống với chưa đến 2 dollar Mỹ một ngày. Nền kinh tế đã phải chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ tình trạng bất ổn chính trị và quân sự từ cuộc chiến tranh xâm lược của Xô viết từ năm 1979 và những cuộc xung đột tiếp sau đó, ngoài ra tình trạng hạn hán nặng nề cũng gây rất nhiều khó khăn cho đất nước này trong giai đoạn 1998-2001. Tính đến năm 2016, GDP của Afghanistan đạt 18.395 USD, đứng thứ 114 thế giới, đứng thứ 36 châu Á và đứng thứ 6 Nam Á. Dân số tham gia tích cực vào hoạt động kinh tế năm 2002 khoảng 11 triệu người (trong tổng cộng khoảng 29 triệu). Tuy không có con số chính thức về tỷ lệ thất nghiệp, ước tính khoảng 3 triệu người, và dường như tăng thêm khoảng 300.000 người mỗi năm. Tuy nhiên, Afghanistan đã đạt được mức hồi phục và tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục từ năm 2002. Giá trị GDP thực, không tính thuốc phiện, đã tăng 29% năm 2002, 16% năm 2003, 8% năm 2004 và 14% năm 2005. Một phần ba GDP Afghanistan có từ hoạt động trồng cây anh túc và buôn bán trái phép các loại chất có nguồn gốc hay có dẫn xuất từ thuốc phiện, morphine và heroin, cũng như sản xuất hashish. Một lợi thế khác, những nỗ lực quốc tế nhằm tái thiết Afghanistan đã dẫn tới sự thành lập Chính quyền Lâm thời Afghanistan (AIA), kết quả của Thỏa thuận Bonn tháng 12 năm 2001 Bonn, và sau đó là Hội nghị các Nhà tài trợ cho việc Tái thiết Afghanistan tại Tokyo năm 2002, với 4,5 tỷ dollar được hứa hẹn tài trợ và số vốn này sẽ được Nhóm Ngân hàng Thế giới quản lý. 4 tỷ dollar khác cũng được hứa hẹn cho vay năm 2004 và tiếp đó là 10,5 tỷ dollar đầu năm 2006 tại Hội nghị Luân Đôn. Đầu năm 2007, 11,6 tỷ dollar đã được cam kết tài trợ cho nước này từ riêng Hoa Kỳ. Những lĩnh vực được ưu tiên tái thiết gồm việc tái xây dựng hệ thống giáo dục, sức khoẻ, các cơ sở y tế, tăng cường năng lực quản lý hành chính, phát triển lĩnh vực nông nghiệp và tái thiết đường sá, năng lượng và viễn thông. Theo một bản báo cáo năm 2004 của Ngân hàng Phát triển châu Á, nỗ lực tái thiết hiện tại tập trung vào hai hướng: thứ nhất chú trọng tái thiết các cơ sở hạ tầng quan trọng và thứ hai, xây dựng các cơ sở hiện đại trong lĩnh vực công cộng từ những tàn dư của kiểu kế hoạch hóa Xô viết sang kiểu hướng mạnh vào phát triển kinh tế thị trường. Năm 2006, hai công ty Hoa Kỳ, Black & Veatch và Louis Berger Group, đã thắng một hợp đồng trị giá 1,4 tỷ dollar xây dựng lại đường sá, các hệ thống cung cấp điện nước cho Afghanistan. Một trong những định hướng chính của việc khôi phục kinh tế hiện nay là hồi hương cho hơn 4 triệu người tị nạn từ các quốc gia và phương Tây, những người sẽ mang theo về nguồn nhân lực mới, mối quan hệ, tay nghề cũng như nguồn vốn cần thiết cho việc khởi động lại nền kinh tế. Một yếu tố tích cực khác là con số viện trợ từ 2 đến 3 tỷ dollar mỗi năm từ cộng đồng quốc tế, việc hồi phục một phần lĩnh vực nông nghiệp, và việc tái xây dựng các định chế kinh tế. Những kế hoạch phát triển khu vực tư nhân cũng đang được tiến hành. Năm 2006, một gia đình người Afghanistan tại Dubai đã mở một nhà máy đóng chai Coca Cola trị giá 25 triệu dollar tại Afghanistan. Con số thâm hụt tài khoản vãng lai của nước này hiện được bù đắp phần lớn bởi khoản tiền từ các nhà tài trợ, chỉ một phần nhỏ – khoảng 15% – được lấy từ ngân sách chính phủ. Số còn lại được chia cho các khoản chi tiêu không thuộc ngân sách và những dự án do nhà tài trợ chỉ định thông qua hệ thống Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ. Chính phủ có một quỹ trung ương chỉ 350 triệu dollar năm 2003 và ước tính đạt 550 năm 2004. Tổng dự trữ ngoại tệ quốc gia khoảng 500 triệu dollar. Nguồn thu đa số từ hải quan, bởi các nguồn thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp rất nhỏ nhoi. Lạm phát từng là vấn đề nghiêm trọng tại nước này trước năm 2002. Tuy nhiên, việc hạ giá đồng Afghani năm 2002 sau khi đồng tiền mới được đưa vào lưu hành (1.000 Afghani cũ tương đương 1 Afghani mới) cộng với tình trạng ổn định hơn so với trước kia đã giúp giá cả ổn định và thậm chí giảm bớt trong giai đoạn tháng 12 năm 2002 và tháng 2 năm 2003, phản ánh sự ưa thích với đồng Afghani mới. Kể từ đó, chỉ số lạm phát đã trở nên ổn định, hơi tăng vào cuối năm 2003. Chính phủ Afghanistan và các nhà tài trợ quốc tế dường như muốn chú trọng vào cải thiện các lĩnh vực nhu cầu then chốt, phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, nhà ở và cải cách kinh tế. Chính phủ trung ương cũng tập trung vào việc cải thiện tình trạng lỏng lẻo trong chi trả lương và chi tiêu công cộng. Việc tái thiết lĩnh vực tài chính dường như cần một thời gian lâu dài để đạt tới thành công. Hiện tiềm có thể được chuyển ra và vào đất nước thông qua các kênh ngân hàng chính thức. Từ năm 2003, hơn mười bốn ngân hàng mới đã được thành lập trong nước, gồm cả Standard Chartered Bank, Afghanistan International Bank, Kabul Bank, Azizi Bank, First MicroFinanceBank, và các ngân hàng khác. Một luật mới về đầu tư tư nhân đã quy định khoảng thời gian ưu đãi thuế từ ba tới bảy năm cũng như khoảng thời gian bốn năm miễn trừ thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích các công ty. Afghanistan là một thành viên đầy đủ của Tổ chức hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) và Tổ chức hợp tác kinh tế (ECO), các tổ chức khu vực, cũng như Tổ chức hội nghị Hồi giáo. Một số dự án đầu tư tư nhân, với sự hỗ trợ của nhà nước, cũng đang hình thành tại Afghanistan. Một bản thiết kế ý tưởng ban đầu được gọi là Thành phố ánh sáng, do Tiến sĩ Hisham N. Ashkouri, Giám đốc ARCADD, Inc. đề xuất cho một dự án phát triển và thực hiện dựa trên cơ sở đầu tư hoàn toàn tư nhân đã được đề xuất với mục tiêu hình thành một khu đa chức năng thương mại, lịch sử và phát triển văn hóa bên trong Thành phố Cổ Kabul dọc bờ nam Sông Kabul và dọc Đại lộ Jade Meywand, đem lại sức sốc mới cho một trong những khu vực thương mại và lịch sử quan trọng nhất bên trong Thành phố Kabul, với nhiều thánh đường và lăng mộ lịch sử cũng như các khu vực hoạt động thương mại đã bị tàn phá trong chiến tranh. Trong bản thiết kế này cũng bao gồm một phức hợp cho Bảo tàng Quốc gia Afghanistan. Tuy những dự án đó sẽ giúp xây dựng lại một cơ sở căn bản của quốc gia trong tương lai, hiện tại, một nửa dân số vẫn phải sống trong tình trạng thiếu lương thực, quần áo, nhà cửa và các vấn đề khác do các hoạt động quân sự và sự bất ổn chính trị gây ra. Chính phủ không đủ mạnh để thu thuế và phí từ tất cả các tỉnh vì tình trạng lãnh chúa địa phương. Tình trạng gian lận lừa đảo và "tham nhũng xuất hiện trong hàng loạt tổ chức chính phủ Afghanistan. Điều tốt lành với Afghanistan là nước này có tiềm năng để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo đói để trở thành một quốc gia ổn định. Nhiều bản báo cáo cho thấy đất nước sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản quan trọng, có giá trị trên thị trường thế giới. Theo Nghiên cứu của US Geological và Bộ Công nghiệp và Mỏ Afghanistan, nước này có thể sở hữu tới 36 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên, 3,6 tỷ barrel dầu mỏ và tới 1.325 triệu barrel khí gas hóa lỏng. Điều này có thể đánh dấu bước ngoặt trong những nỗ lực tái thiết Afghanistan. Xuất khẩu dầu mỏ có thể mang lại nguồn thu Afghanistan cần để hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và mở rộng các cơ hội kinh tế cho đất nước. Những báo cáo khác cho rằng nước này có khá nhiều nguồn tài nguyên vàng, đồng, than, quặng sắt và các khoáng sản giàu khác. == Nhân khẩu == Dân cư Afghanistan được chia thành nhiều nhóm sắc tộc khác nhau. Vì một cuộc điều tra dân số có hệ thống chưa từng được thực hiện ở nước này trong nhiều thập kỷ, con số chính xác về số lượng và thành phần các nhóm dân tộc hiện chưa được biết. Vì thế những con số dưới đây chỉ có tính ước đoánJ. Feiser, Asia Times === Ngôn ngữ === Theo CIA factbook các ngôn ngữ được sử dụng ở Afghanistan gồm: tiếng Ba Tư (chính thức được gọi là Dari, nhưng được biết đến rộng hơn dưới cái tên Farsi) 50% và Pashto 35%; cả hai đều là các ngôn ngữ Ấn-Âu trong ngữ chi Iran. Tiếng Pashto và Ba Tư là các ngôn ngữ chính thức của quốc gia. Tiếng Hazara, của cộng đồng thiểu số Hazara, là một thổ ngữ của tiếng Ba Tư. Các ngôn ngữ khác gồm các ngôn ngữ Turk (chủ yếu là Uzbek và Turkmen) 9%, cũng như 30 ngôn ngữ nhỏ khác chiếm 4% (chủ yếu gồm Baloch, Nuristan, Pashai, Brahui, các ngôn ngữ Pamir, Hindko, Hindi/Urdu, vân vân.). Số người thạo nhiều ngôn ngữ rất đông. Theo Từ điển bách khoa Iran, tiếng Ba Tư là ngôn ngữ mẹ đẻ của khoảng một phần ba dân số Afghanistan, và nó cũng là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong nước, với khoảng 90% dân số. Từ điển bách khoa này cũng cho rằng tiếng Pashto được khoảng 50% dân số sử dụng. === Các nhóm sắc tộc === Dưới đây là sự phân bố các nhóm sắc tộc gần đúng dựa trên CIA World Factbook. Từ điển bách khoa toàn thư Anh đưa ra một danh sách nhóm sắc tộc Afghanistan hơi khác: 49% Pashtun 18% Tajik 9% Hazara 8% Uzbek 4% Aimaq 3% Turkmen 9% khác Dựa trên những con số từ cuộc điều tra dân số thập niên 1960 tới 1980, cũng như thông tin có được từ các học giả, Bách khoa toàn thư Iran đưa ra danh sách sau: 36,4% Pashtun 33,6% Tajik, Farsiwan, và Qezelbash 8,0% Hazara 8,0% Uzbek 3,2% Aimak 1,6% Baloch 9,2% khác === Tôn giáo === Theo tôn giáo, Hơn 99% người dân Afghanistan là người Hồi giáo: khoảng 74-89% thuộc hệ phái Sunni và 9-25% thuộc Shi'a (những con số ước tính có thể khác biệt). Có khoảng 30.000 tới 150.000 người Ấn giáo và người đạo Sikh sống tại nhiều thành phố nhưng chủ yếu tại Jalalabad, Kabul, và Kandahar. Tương tự, có một cộng đồng người Do Thái nhỏ tại Afghanistan (Xem Người Do Thái Bukharan) họ đã bỏ chạy khỏi đất nước sau cuộc xâm lược năm 1979 của Xô viết, và ngày nay chỉ duy nhất một người Do Thái là Zablon Simintov, còn ở lại nước này. === Các thành phố lớn === Thành phố duy nhất tại Afghanistan có hơn một triệu dân là thủ đô Kabul. Các thành phố lớn khác gồm: (theo thứ tự dân số) Kandahar, Herat, Mazari Sharif, Jalalabad, Ghazni và Kunduz. == Văn hóa == Người Afghanistan tự hào về tôn giáo, quốc gia, tổ tiên, và trên tất cả là nền độc lập của họ. Như những người dân vùng cao nguyên khác, người Afghanistan được cho là nhanh nhạy và mến khách, vì họ rất coi trọng danh dự cá nhân, vì sự trung thành với dòng tộc và vị sự sẵn sàng mang theo và sử dụng vũ khí để giải quyết các tranh chấp. Vì các cuộc tranh chấp bộ tộc và những cuộc tàn sát phong kiến đã trở thành một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của họ từ xa xưa, kiểu chủ nghĩa cá nhân tiêu biểu này đã là một trở ngại lớn đối với những kẻ xâm lược từ bên ngoài. Afghanistan có một lịch sử phức tạp thể hiện qua những nền văn hóa hiện nay của họ cũng như dưới hình thức nhiều ngôn ngữ và công trình kiến trúc khác. Tuy nhiên, nhiều công trình kiến trúc lịch sử quốc gia đã bị tàn phá trong những cuộc chiến gần đây. Hai pho tượng Phật tại Tỉnh Bamiyan đã bị lực lượng Taliban, những kẻ coi đó là sự sùng bái thần tượng, phá huỷ. Các địa điểm nổi tiếng khác gồm các thành phố Kandahar, Herat, Ghazni và Balkh. Tháp Jam, tại thung lũng Hari Rud, là một địa điểm di sản văn hóa thế giới của UNESCO. Tấm áo choàng của Muhammad được cất giữ bên trong Khalka Sharifa nổi tiếng tại Thành phố Kandahar. Buzkashi là một môn thể thao quốc gia tại Afghanistan. Nó tương tự như polo và những người chơi cưỡi trên lưng ngựa chia thành hai đội, mỗi bên tìm cách chiếm và giữ xác một con dê. Chó sói Afghanistan (một kiểu chó đua) cũng có nguồn gốc từ Afghanistan. Dù tỷ lệ người biết chữ thấp, thi ca Ba Tư đóng một vai trò rất quan trọng trong văn hóa Afghanistan. Thi ca luôn là một môn học quan trọng tại Iran và Afghanistan, tới mức nó đã thống nhất vào trong văn hóa. Văn hóa Ba Tư, từng, và luôn luôn, có ảnh hưởng lớn trong văn hóa Afghanistan. Những cuộc thi thơ giữa cá nhân được gọi là "musha’era" thường xuất hiện trong những người bình dân. Hầu như mọi gia đình đều sở hữu một hay nhiều tập thơ ở mọi kiểu, thậm chí khi chúng không được mang ra đọc thường xuyên. Các thổ ngữ phía đông của ngôn ngữ Ba Tư thường được gọi là "Dari". Cái tên này xuất xứ từ từ "Pārsī-e Darbārī", có nghĩa Tiếng Ba Tư của các triều đình hoàng gia. Thuật ngữ Darī cổ – một trong những cái tên gốc của ngôn ngữ Ba Tư – was đã được tái sinh trong hiến pháp Afghanistan năm 1964, và có mục tiêu "biểu thị rằng người Afghanistan coi quốc gia của họ là cái nôi của ngôn ngữ. Vì thế, cái tên Fārsī, ngôn ngữ của người Fārs, thường bị tránh nhắc tới. Theo quan điểm này, chúng ta có thể coi sự phát triển của Dari hay văn học Ba Tư trong thực thể chính trị được gọi là Afghanistan." Nhiều nhà thơ Ba Tư nổi tiếng trong giai đoạn thế kỷ thứ mười đến thế kỷ mười lăm xuất thân từ Khorasan nơi được coi là Afghanistan ngày nay. Đa số họ cũng là các học giả trong nhiều trường phái khác nhau như ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, y học, tôn giáo và thiên văn học. Mawlānā Rumi, sinh ra và học tập tại Balkh ở thế kỷ mười ba và đã tới Konya ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay Rabi'a Balkhi (nhà thơ nữ đầu tiên trong Lịch sử Thi ca Ba Tư, thế kỷ thứ mười, nguồn gốc Balkh) Daqiqi Balkhi (thế kỷ thứ mười, nguồn gốc Balkh) Farrukhi Sistani (thế kỷ thứ mười, nhà thơ hoàng gia Ghaznavids) Unsuri Balkhi (nhà thơ thế kỷ thứ mười/mười một, xuất thân Balkh) Khwaja Abdullah Ansari (thế kỷ mười một, từ Herat) Anvari (thế kỷ mười hai, sống và qua đời tại Balkh) Sanā'ī Ghaznawi (thế kỷ mười hai, xuất thân Ghazni) Jāmī xứ Herāt (thế kỷ mười lăm, xuất thân tại Herat phía tây Afghanistan), và cháu trai của ông Abdullah Hatifi Herawi, một nhà thơ nổi tiếng khác Alī Sher Navā'ī, (thế kỷ mười lăn, Herat). Đa số những nhân vật trên đều là người Ba Tư (Tājīk) theo sắc tộc và đây vẫn là nhóm sắc tộc lớn thứ hai tại Afghanistan. Tương tự, một số nhà thơ và tác gia tiếng Ba Tư hiện đại, những người khá nổi tiếng trong thế giới sử dụng tiếng Ba Tư, gồm Ustad Betab, Qari Abdullah, Khalilullah Khalili, Sufi Ghulam Nabi Ashqari, Sarwar Joya, Qahar Asey, Parwin Pazwak và những người khác. Năm 2003, Khaled Hosseini đã xuất bản cuốn The Kiterunner, dù chỉ là tiểu thuyết nhưng đã thể hiện đa phần lịch sử, chính trị và văn hóa xảy ra tại Afghanistan từ thập niên 1930 tới nay. Ngoài các nhà thơ và tác gia, nhiều nhà khoa học Ba Tư cũng có nguồn gốc từ nơi hiện được gọi là Afghanistan. Nổi tiếng nhất là Avicenna (Abu Alī Hussein ibn Sīnā), cha ông xuất thân từ Balkh. Ibn Sīnā, người đã tới Isfahan để lập ra một trường y tại đó, được một số học giả coi là "người cha của y học hiện đại". George Sarton đã gọi ibn Sīnā là "nhà khoa học nổi tiếng nhất của Hồi giáo và một trong những người nổi tiếng nhất ở mọi sắc tộc, địa điểm và thời đại". Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm Sách chữa vết thương (The Book of Healing) và Luật lệ ngành y (The Canon of Medicine), cũng được gọi là Qanun. Câu chuyện về Ibn Sīnā thậm chí đã xuất hiện trong văn học hiện đại Anh qua cuốn Thầy thuốc (The Physician) của Noah Gordon, hiện đã được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng. Hơn nữa, theo Ibn al-Nadim, Al-Farabi, một nhà khoa học và triết học nổi tiếng, cũng xuất thân từ Tỉnh Faryab Afghanistan. Trước khi Taliban lên nắm quyền lực, thành phố Kabul là nơi có nhiều nhạc sĩ bậc thầy cả về âm nhạc truyền thống và hiện đại Afghanistan, đặc biệt trong lễ hội Nauroz. Ở thế kỷ hai mươi Kabul từng là trung tâm văn hóa được coi như Viên ở thế kỷ mười tám và mười chín. Hệ thống bộ tộc, quy định cuộc sống của hầu hết mọi người bên ngoài các khu đô thị, và có ảnh hưởng mạnh mẽ theo các thuật ngữ chính trị. Những người đàn ông có một lòng trung thành cuồng nhiệt với bộ tộc của mình, tới mức, khi được kêu gọi, họ sẵn sàng tập trung lại với vũ khí trong tay dưới quyền lãnh đạo của người đứng đầu bộ tộc cũng các lãnh đạo dòng họ (Khans). Trên lý thuyết, theo luật Hồi giáo, mọi tín đồ đều phải đứng lên cầm vũ khí theo lời hiệu triệu (Ulul-Amr) của thủ lĩnh. Heathcote coi hệ thống bộ tộc là cách thức tốt nhất để tổ chức những nhóm người lớn trong một quốc gia với những khó khăn địa lý, và trong một xã hội, từ quan điểm duy vật, có phong cách sống đơn giản. == Cơ sở hạ tầng == === Viễn thông và Công nghệ === Afghanistan đã tăng cường nhanh chóng công nghệ viễn thông, và đã thành lập các công ty truyền thông không dây, Internet, đài phát thanh cùng các đài truyền hình. Các công ty viễn thông Afghanistan, Afghan Wireless, Roshan và Areeba, đã góp phần vào việc làm gia tăng nhanh chóng số lượng người sử dụng điện thoại di động. Năm 2006, Bộ viễn thông Afghanistan đã ký kết một thỏa thuận trị giá 64,5 triệu dollar Mỹ với một công ty (ZTE Corporation) về việc thành lập một mạng lưới cáp quang rộng khắp quốc gia. Dự án này sẽ cải thiện các dịch vụ điện thoại, Internet, vô tuyến và truyền thanh trên toàn quốc. Các kênh truyền hình Afghanistan gồm: Truyền hình Quốc gia Afghanistan Aina TV Ariana TV Lamar TV Shamshad TV Tolo TV Ariana Afghanistan TV (phát sóng từ Hoa Kỳ) === Giao thông === Công ty hàng không thương mại Afghanistan Ariana Afghan Airlines, hiện có đường bay tới Frankfurt, Dubai và Istanbul khứ hồi từ Kabul và Herat. Afghanistan cũng đã cải thiện chất lượng xe cộ của mình với sự hiện diện của các đại lý Toyota, Land Rover, BMW và Hyundai trên khắp Kabul, và một khu vực trưng bày xe second-hand từ Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất tại Kandahar. Tuy Afghanistan vẫn còn một chặng đường dài về công nghệ hiện đại phía trước nhưng họ đang tiến bước khá nhanh trên con đường đó. === Giáo dục === Mùa xuân năm 2003, ước tính 30% trong số 7.000 trường học tại Afghanistan đã bị hư hại nặng nề sau hơn hai thập kỷ nội chiến. Theo báo cáo, chỉ một nửa số trường có nước sạch, và chưa tới 40% có điều kiện vệ sinh thích hợp. Giáo dục cho trẻ em trai không phải là vấn đề được ưu tiên ở thời chính quyền Taliban, trẻ em gái bị cấm tới trường. Vì tình trạng nghèo đói và bạo lực xung quanh, một cuộc nghiên cứu năm 2002 của Quỹ Cứu trợ Trẻ em cho thấy trẻ em Afghanistan rất nhanh nhạy và dũng cảm. Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy những định chế vững chắc trong gia đình và cộng đồng. Năm 2006, trên khắp đất nước hơn bốn triệu học sinh nam và nữ đã được tới trường. Giáo dục tiểu học hoàn toàn miễn phí và tự do với cả trẻ em trai và gái. Tỷ lệ biết đọc biết viết toàn quốc ước tính khoảng 36%, tỷ lệ biết đọc viết của nam là 51% nữ là 21%. Hiện nay có 9.000 trường học trên toàn quốc. Một khía cạnh giáo dục khác đang nhanh chóng thay đổi tại Afghanistan, đó là giáo dục bậc cao. Sau sự sụp đổ của chính quyền Taliban, Đại học Kabul đã mở cửa trở lại cho cả sinh viên nam và nữ. Năm 2006, Đại học Mỹ tại Afghanistan cũng đã mở cửa, với mục tiêu cung cấp các lớp học tiêu chuẩn thế giới, với môi trường giáo dục tốt, sử dụng tiếng Anh tại Afghanistan. Trường đại học nhận cả các sinh viên Afghanistan và từ các nước láng giềng. Công việc xây dựng Đại học Balkh tại Mazari Sharif cũng sẽ sớm bắt đầu. Tòa nhà mới của trường sẽ được xây dựng trên khuôn viên rộng 600 acre với chi phí 250 triệu dollar. == Xem thêm == == Tham khảo == == Tham khảo và ghi chú == == Liên kết ngoài ==
điền kinh.txt
Điền kinh là một tập hợp các môn thể thao cạnh tranh bao gồm đi bộ, chạy các cự ly, nhảy cao, nhảy xa, ném lao, ném đĩa, ném búa, đẩy tạ và nhiều môn phối hợp khác. Với việc cần ít các thiết bị đi kèm và tính đơn giản của các môn này đã khiến điền kinh trở thành các môn thể thao được thi đấu nhiều nhất trên thế giới. Điền kinh chủ yếu là môn thể thao cá nhân, với ngoại lệ là các cuộc đua tiếp sức và các cuộc thi mà kết hợp biểu diễn vận động viên chẳng hạn như xuyên quốc gia. Cơ sở của môn điền kinh chính là các động tác tự nhiên có tác dụng phát triển toàn diện về thể lực và tăng cường sức khỏe. Chính vì vậy, điền kinh được xem là rất quan trọng trong giáo dục thể chất cũng như trong chương trình tập luyện vì sức khoẻ của mọi người. Tại các kỳ thi đấu Thế vận hội, điền kinh cũng là nội dung quan trọng hàng đầu. Nó xuất hiện ngay từ những kỳ Thế vận hội cổ đại từ năm 776 TCN. Ngoài thi đấu điền kinh tại Thế vận hội, trên thế giới còn nhiều giải điền kinh khác. == Lịch sử == === Thời cổ đại và Trung cổ === Các cuộc thi điền kinh với các môn chạy, đi bộ, nhảy cao, nhảy xa, ném đá là một trong những môn thể thao lâu đời nhất, nguồn gốc của chúng có từ thời tiền sử. Các cuộc thi đấu điền kinh được vẽ trong các ngôi mộ Ai Cập cổ đại ở Saqqara, với hình minh họa môn chạy ở lễ hội Dt Sed và nhảy cao xuất hiện trong mộ từ năm 2250 trước Công nguyên. Hội Tailteann là một lễ hội Celtic cổ xưa ở Ireland, được tổ chức vào khoảng năm 1800 trước Công nguyên. Cuộc thi đấu điền kinh này kéo dài ba mươi ngày, có các môn chạy và ném đá. Môn thi đấu ban đầu và duy nhất tại Thế vận hội đầu tiên vào năm 776 TCN là một cuộc thi chạy dài, vòng quanh sân vận động. Sau đó các môn thi được mở rộng với các môn thi ném đá, nhảy cao và nhảy xa tạo thành năm môn phối hợp thời cổ đại. Các cuộc thi điền kinh cũng diễn ra tại các Panhellenic Games, thời điểm khoảng 500 năm trước Công nguyên. Tại nước Anh vào thế kỷ 17, các giải đấu Cotswold Olimpick Games, một lễ hội thể thao, cũng có các môn điền kinh dưới hình thức các cuộc thi ném búa tạ. Hàng năm từ 1796 đến 1798, tại Pháp đã diễn ra L'Olympiade de la République ngay trong cuộc cách mạng Pháp. Đây là một tiền thân của Thế vận hội Mùa hè hiện đại. Môn thi đấu hàng đầu của cuộc thi này là môn chạy, nhưng các môn thi đấu khác của Hy Lạp cổ đại cũng được đưa vào. Olympiade tại Pháp năm 1796 đánh dấu việc đưa các hệ thống số liệu vào để đo kết quả thi đấu trong thể thao. === Thời cận đại và hiện đại === Học viện Quân sự Hoàng gia tại Woolwich, nước Anh đã tổ chức một cuộc thi điền kinh vào năm 1849. Đại học Exeter, Oxford, nước Anh từ năm 1850 đã tổ chức một loạt các cuộc thi điền kinh thường xuyên chỉ dành cho sinh viên đại học. Lần đầu tiên một Đại hội thể thao dành cho mọi người bao gồm các cuộc thi điền kinh được tổ chức tại Wenlock, Shropshire vào năm 1850. Ngoại trừ hai năm phải dừng do chiến tranh và những năm kinh tế khó khăn, các cuộc thi điền kinh trên đã được tổ chức liên tục cho đến ngày nay. Cuộc thi điền kinh trong nhà đầu tiên theo mô hình hiện đại được tổ chức thời gian ngắn sau đó vào năm 1860, bao gồm một cuộc thi tại Ashburnham Hall ở London, nước Anh với bốn môn thi chạy và một môn thi nhảy xa ba bước. Thành lập tại Anh vào năm 1880, Hiệp hội điền kinh nghiệp dư (AAA: Amateur Athletic Association) là tổ chức đầu tiên của điền kinh và bắt đầu tổ chức giải điền kinh hàng năm của mình - giải vô địch AAA. Mỹ cũng bắt đầu tổ chức một cuộc thi điền kinh quốc gia hàng năm - giải vô địch điền kinh Mỹ ngoài trời. Giải này được câu lạc bộ điền kinh New York tổ chức lần đầu vào năm 1876. Điền kinh đã được AAA và các tổ chức thể thao khác hệ thống hóa và tiêu chuẩn hóa vào cuối thế kỷ 19. Trong số các tổ chức này có Hiệp hội điền kinh nghiệp dư Mỹ (thành lập tại Mỹ vào năm 1888) và Hiệp hội điền kinh Pháp (thành lập tại Pháp vào năm 1889). Điền kinh đã được đưa vào Thế vận hội Olympic hiện đại đầu tiên năm 1896 và nó đã là một trong những cuộc thi quan trọng nhất tại Olympic bốn năm một lần kể từ đó. Ban đầu điền kinh chỉ dành cho nam giới, Thế vận hội Olympic 1928 đã đánh dấu sự ra đời của các môn điền kinh nữ. Điền kinh là một phần của Olympic cho người khuyết tật ngay từ khi nó được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1960. Các vận động viên điền kinh rất được coi trọng trong các giải lớn, đặc biệt là Thế vận hội. Cơ quan quản lý quốc tế về điền kinh, Liên đoàn điền kinh không chuyên quốc tế (IAAF) được thành lập vào năm 1912. Liên đoàn này được đổi tên như hiện nay (Hiệp hội quốc tế các Liên đoàn Điền kinh) vào năm 2001. IAAF thành lập giải vô địch điền kinh thế giới ngoài trời trong năm 1983. Các vận động viên điền kinh có thể nhận được tiền thưởng khi giành chiến thắng, chấm dứt giai đoạn "nghiệp dư" trước đó. Các cuộc thi quốc tế đầu tiên được tổ chức cho các vận động viên điền kinh khuyết tật về thể chất (không điếc) bắt đầu vào năm 1952 với giải thể thao quốc tế Stoke Mandeville Games được tổ chức cho các cựu chiến binh Thế chiến II. Lúc đó giải này chỉ dành cho các vận động viên chạy xe lăn. Điều này truyền cảm hứng cho Paralympic Games đầu tiên được tổ chức vào năm 1960. Theo thời gian, cuộc thi dành cho người khuyết tật chạy xe lăn được mở rộng để bao gồm các vận động viên bị cụt chi, suy bại não và thị giác. == Các môn thi đấu == Hiệp hội quốc tế các Liên đoàn điền kinh, cơ quan chủ quản của điền kinh, chia điền kinh thành năm lĩnh vực: điền kinh trong nhà, chạy trên đường, đi bộ thể thao, chạy xuyên quốc gia và chạy leo núi. Tất cả các hình thức điền kinh là môn cá nhân trừ môn chạy tiếp sức. Tuy nhiên, thành tích của vận động viên điền kinh thường được tính gộp vào thành tích của nước mình tại các giải vô địch quốc tế, và trong trường hợp xuyên quốc gia thời gian kết thúc của các vận động viên hàng đầu từ mỗi đội hoặc quốc gia được cộng lại để tìm ra đội thắng cuộc. === Điền kinh trong sân vận động === Các giải thi đấu điền kinh đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 dành cho các vận động viên đại diện cho các cơ sở giáo dục, tổ chức quân sự và câu lạc bộ thể thao đối địch nhau. Các vận động viên có thể thi đấu một hoặc nhiều môn thi theo chuyên môn của họ. Nam và nữ thi đấu riêng biệt. Thi đấu điền kinh kiểu này có cả hai định dạng trong nhà và ngoài trời, với hầu hết các cuộc thi trong nhà xảy ra trong mùa đông, trong khi các cuộc thi ngoài trời chủ yếu được tổ chức tại mùa hè. Tên của môn được chọn dựa theo nơi tổ chức - sân vận động track and field. Một loạt các môn thi chạy được tổ chức trên đường chạy, chia làm ba loại: chạy nước rút, chạy tầm trung và chạy dài. Chạy tiếp sức bao gồm bốn vận động viên. Mỗi người sau khi đã chạy xong phần của mình phải trao một chiếc gậy cho đồng đội để đồng đội của mình có thể chạy tiếp. Chạy vượt rào và chạy băng đồng là một biến thể, ở đó các vận động viên phải vượt qua các trở ngại khác nhau trên đường đua. Các môn điền kinh thi trên cỏ có hai môn: nhảy và ném. Trong các môn ném, các vận động viên thi xem ai ném xa nhất. Các môn ném bao gồm ném tạ, ném đĩa, ném lao và ném búa. Có bốn môn thi nhảy: nhảy xa và nhảy ba bước tính xem vận động viên nào có thể nhảy xa nhất, trong khi nhảy cao và nhảy sào tính xem vận động viên nào nhảy cao nhất. Các môn điền kinh phối hợp, trong đó bao gồm mười môn phối hợp (dành cho nam) và bảy môn phối hợp (dành cho nữ), là cuộc thi mà các vận động viên thi đấu trong một số môn khác nhau và mỗi môn sẽ được một số điểm, cộng tổng số để tính ra nhà vô địch. Các cuộc thi uy tín nhất của điền kinh được tổ chức trong các chương trình điền kinh tại các sự kiện thể thao hỗn hợp. Các Olympic mùa hè, Giải vô địch điền kinh thế giới, Paralympic mùa hè và Giải vô địch thế giới điền kinh IPC là các giải có mức cạnh tranh cao nhất và uy tín nhất trong làng điền kinh. Các giải chạy và nhảy này đã trở thành phần nổi bật nhất của các giải điền kinh chính. Nhiều vận động viên nổi tiếng trong các môn thể thao điền kinh đã thành danh tại các giải này. Các giải vô địch điền kinh quốc gia và các giải hàng năm hay giải mời khác có mức độ quan trọng thấp hơn. Các giải khác bao gồm các giải ở mức cạnh tranh giữa các câu lạc bộ điền kinh hay giữa các trường học là các giải ở mức dưới cùng của điền kinh. Ghi chú: in nghiêng là nội dung chỉ thi đấu tại giải vô địch trong nhà thế giới === Chạy đường trường === === Chạy xuyên quốc gia === === Đi bộ thể thao === Đặc điểm cơ bản của kĩ thuật đi bộ thể thao là suốt quá trình đi, cơ thể không được bay trên không mà luôn luôn có một hoặc cả hai chân cùng chạm đất và từ khi chân chống trước đến khi kết thúc đạp sau, chân phải luôn giữ thẳng. Tập luyện và thi đấu đi bộ có thể tiến hành được trên mọi loại đường khác nhau. Đi bộ có thể không đi theo cự lymà đi theo thời gian. === Chạy === Gồm có: Chạy cự ly ngắn 100m; 200m; 400m. Chạy cự ly trung bình (gồm các cự ly 500m đến 2000m, trong đó môn Chạy 800m và 1500m là nội dung thi trong Thế vận hội). Chạy cự ly dài (gồm các cự ly từ 3000m đến 30000m, trong đó môn Chạy 3000m (nữ), 5000m (nam) và 10.000m (nam) là nội dung thi trong Đại hội thể thao Ôlympic. các môn phối hợp: 10 môn phối hợp gồm nhảy xa, chạy, nhảy cao... == Các nhóm tuổi == == Điền kinh cho người khuyết tật == == Sân thi đấu điền kinh == == Các hiệp hội điền kinh == == Các giải điền kinh == == Điền kinh trong văn hóa và truyền thông == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Amateur Track & Field International Association of Athletics Federations (IAAF) – official site Masters Track & Field World Rankings Athletics all-time performances Track and Field Results Almanac IAAF Competition Rules 2006-2007 Information for track and field events
giải bóng đá vô địch quốc gia brasil.txt
Giải vô địch bóng đá Brasil (tiếng Bồ Đào Nha: Campeonato Brasileiro Série A) là hạng thi đấu cao nhất của bóng đá Brasil. Giải được tổ chức từ 1971 đến nay. == Các đội vô địch trong lịch sử == == Các đội vô địch == 6 lần-São Paulo 5 lần – Corinthians, Flamengo 4 lần – Vasco da Gama (2) và Palmeiras 3 lần - Internacional và Fluminense 2 lần - Grêmio và Santos 1 lần - Atlético Mineiro, Atlético Paranaense, Bahia, Botafogo, Coritiba, Cruzeiro, Criciúma, Juventude, Palmeiras, Paulista và Santo André, Guarani và Sport (1) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Liên đoàn bóng đá Brasil (tiếng Bồ Đào Nha) RSSSF Brazil Danh sách các đội vô địch
cộng hòa macedonia.txt
Macedonia ( /ˌmæsɪˈdoʊniə/ mas-i-DOH-nee-ə; tiếng Macedonia: Македонија, chuyển tự: Makedonija, IPA: [makɛˈdɔnija]), tên đầy đủ là Cộng hòa Macedonia (tiếng Macedonia: Република Македонија, Republika Makedonija), là một quốc gia thuộc khu vực đông nam châu Âu. Nước Cộng hòa Macedonia giáp với Serbia và vùng lãnh thổ Kosovo về phía bắc, giáp với Albania về phía tây, giáp với Hy Lạp về phía nam và giáp với Bulgaria về phía đông. Dân số của nước này khoảng 2 triệu người. Cộng hòa Macedonia có những tranh cãi với Hy Lạp về tên gọi của nước này do Macedonia lại là một vùng đất lịch sử nằm trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau và có lịch sử/văn hóa gắn liền Hy Lạp. Vì vậy vào năm 1991, nước này tách ra khỏi Liên bang Nam Tư và đã gia nhập Liên Hiệp Quốc với tên gọi Cựu Cộng hòa Nam Tư Macedonia, tuy nhiên tên gọi là Cộng hòa Macedonia cũng được sử dụng rộng rãi để chỉ nước này. Cộng hòa Macedonia là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới. Hiện nước này đang là một trong những ứng cử viên tiếp theo sẽ gia nhập Liên minh châu Âu. == Từ nguyên == Tên của quốc gia này bắt nguồn từ từ tiếng Hy Lạp Μακεδονία (Makedonía), tên gọi về một quốc gia của người Macedonia cổ đại. Tên người Macedonia, Μακεδόνες (Makedónes), bắt nguồn từ một chữ của tiếng Hy Lạp cổ đại là μακεδνός (makednós), có nghĩa là "cao, thon nhọn", cũng cùng chung nguồn gốc với danh từ μάκρος (mákros), nghĩa là "chiều dài" trong cả tiếng Hy Lạp cổ đại và hiện đại. Tên này được cho là có nghĩa nguyên là "người vùng cao nguyên" hay "người cao", có thể ám chỉ đến tầm vóc cao lớn của người Macedonia cổ đại hoặc nói đến địa hình vùng núi cao nơi họ sinh sống. == Lịch sử == === Thời kỳ cổ đại === Vương quốc cổ đầu tiên được thành lập tại vùng đất nay là Cộng hòa Macedonia là vương quốc Paionia của người Thrace-Ilyria, họ đã kiểm soát một phần lớn khu vực sông Axius và các khu vực chung quanh lúc bấy giờ. Vào năm 336 trước công nguyên, Vương quốc Macedonia đã xâm chiếm Paionia dưới thời vua Philipos II của Macedonia. Ông đã xây dựng nên thành phố cổ Heraclea Lycentis và tàn tích ngày nay vẫn còn được lưu lại trên lãnh thổ Cộng hòa Macedonia. Quyền lực của vương triều Paionia bị giảm xuống còn như một nước bán tự trị phụ thuộc vào Vương quốc Macedonia. Con trai của vua Philip II là Alexandros Đại đế (356–323 TCN) đã tiếp tục mở rộng hơn nữa quyền hạn của Macedonia tại Paionia, tuy nhiên vương gia Paionia tại đây vẫn nhận được sự kính trọng từ phía triều đình Alexandros Đại đế. Năm 280 trước công nguyên, người Celt đã đến tàn phá những vùng đất của người Paionia, song sau đó họ lại bị người Dardani đàn áp. Trải qua một vài biến cố lịch sử, người Paionia vẫn tiếp tục duy trì một quốc gia tự trị cho đến khi bị sát nhập vào Đế chế La Mã hùng mạnh. Và đến năm 400 sau công nguyên, người Paionia đã hoàn toàn bị đồng hóa và cái tên Paionia chỉ còn lại là một địa danh trên bản đồ mà thôi. === Thời kỳ Trung cổ === Vào cuối thế kỷ 6, Đế quốc Đông La Mã (Byzantine) dần trở nên hùng mạnh và bắt đầu kiểm soát những lãnh thổ tan rã của Đế quốc La Mã. Trong khi đó, tại lãnh thổ Cộng hòa Macedonia ngày nay, người Slav đã tràn vào từ phía bắc. Các dân tộc khác tại vùng này như người Hy Lạp, người Latinh, người Illyria và người Thracia đã bị đẩy đi nơi khác hoặc bị người Slav đồng hóa. Người Slav sau đó bắt đầu nhiều cuộc chiến tranh lớn chống lại Đế quốc Đông La Mã. Họ đã xâm chiếm được hầu hết lãnh thổ Hy Lạp, một bộ phận quan trọng của Đế quốc Đông La Mã ngoại trừ một số thành phố lớn quan trọng như Athena hay Thessaloniki. Để đối phó với người Slav, Đế quốc Đông La Mã đã nhiều lần sử dụng những đội quân viễn chinh lớn. Dưới thời hoàng đế Justinianus II của Đông La Mã, những đội quân viễn chinh này đã trục xuất tới 200.000 người từ vùng Macedonia đến trung tâm Tiểu Á (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) để triều cống và phục vụ trong quân đội của đế chế. Trong khi rất nhiều người Slav tại Macedonia đã phải thừa nhận sự thống trị của đế quốc thì một bộ phận lớn khác vẫn cố gắng duy trì bản sắc dân tộc, đồng thời họ vẫn chiếm đa số trong các nhóm sắc tộc tại địa phương. Cùng với sự phát triển của Đế quốc Bulgaria thứ nhất, người Slav tại Macedonia đã sát nhập vào nền văn hóa Slav của người Bulgaria này. Người Slav tại Cộng hòa Macedonia ngày nay đã chấp nhận Đạo Cơ đốc là tôn giáo chính thức của họ vào thế kỷ 9 dưới thời hoàng đế Boris I của Bulgaria. Những linh mục người Byzantine Hy Lạp là thánh Cyril và thánh Methodius đã sáng lập ra bảng chữ cái Glagolit và đã có ảnh hưởng quan trọng trong việc hình thành nền văn học của người Slav tại khu vực lúc bấy giờ. Những công trình của họ đã được chấp nhận tại Bulgaria trung cổ và thánh Clement của Ohrid đã dựa vào đó mà sáng tạo nên bảng chữ cái Kirin cho các dân tộc Slav. Thánh Naum của Ohrid đã thành lập nên Trường Văn học Ohrid, một trong những trung tâm văn hóa lớn của Đế chế Bulgaria lúc bấy giờ. Vào năm 1018, hoàng đế Basil II của Đông La Mã đã đánh thắng hoàng đế Samuil của Bulgaria và lãnh thổ Cộng hòa Macedonia ngày nay lại thuộc về chủ quyền của Đông La Mã. Những thế kỉ sau đó, vùng đất này liên tiếp bị cai trị bởi nhiều thế lực khác nhau. Vào thế kỷ 11, người Đông La Mã đã kiểm soát hoàn toàn khu vực Balkan nhưng sau đó, đến cuối thế kỷ 12 vùng đất này lại rơi vào tay của Đế quốc Bulgaria thứ hai. Đế chế này sau đó đã vấp phải nhiều vấn đề chính trị nội bộ và Macedonia lại trở về tay Đông La Mã vào thế kỷ 13. Thế kỷ 14, vùng đất Macedonia trở thành một phần của Đế quốc Serbia. Skopje (nay là thủ đô Cộng hòa Macedonia) trở thành thủ đô của hoàng đế Stefan Dushan của người Serbia. Sau khi hoàng đế Stefan Dushan mất, Đế quốc Serbia nhanh chóng suy yếu do những người kế vị kém cỏi và sự tranh giành quyền lực trong nước. Hậu quả là phần lớn khu vực Balkan, trong đó có Macedonia đã rơi vào tay Đế quốc Ottoman suốt 5 thế kỉ sau đó. === Phong trào Vận động Dân tộc === Sự cai trị tàn bạo của Đế chế Ottoman đã khiến cho nhiều cuộc nổi dậy của người Macedonia nổ ra. Một trong những cuộc nổi dậy sớm nhất nổ ra là Khởi nghĩa Karposh vào năm 1689. Từ cuối thế kỷ 19, nhiều cuộc vận động dân tộc đã diễn ra với mục tiêu là thành lập một nhà nước tự trị cho người Macedonia trên toàn vùng Macedonia. Các tổ chức chính trị quan trọng như Tổ chức Cách mạng Quốc gia Macedonia (viết tắt theo tiếng Anh là IMRO) được thành lập đã đóng vai trò quan trọng trong việc vận động tinh thần dân tộc đất nước và tiến hành những cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền Ottoman, lúc bấy giờ đã bắt đầu suy yếu. Năm 1903, IMRO đã tiến hành cuộc Khởi nghĩa Iliden-Preobrazhenie với đỉnh cao là sự thành lập nước Cộng hòa Krushevo. Tuy cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp dã man song nó được đánh giá là nền móng và tiền thân của sự thành lập nước Cộng hòa Macedonia sau này. === Thế kỉ 20 === Sau hai cuộc chiến tranh Balkan vào năm 1912 và 1913 rồi sau đó là sự sụp đổ của Đế quốc Ottoman, vùng Macedonia được phân chia thành các phần của Hy Lạp, Bulgaria và Serbia. Vùng lãnh thổ ngày nay là Cộng hòa Macedonia trở thành một bộ phận của Serbia với tên gọi Južna Srbija ("Nam Serbia"). Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Serbia lại trở thành một phần của Vương quốc của người Serb, người Croat và người Sloven. Năm 1929, vương quốc này đổi tên thành Vương quốc Nam Tư và chia thành các tỉnh. Nam Serbia được đổi thành tỉnh Vardar nằm trong vương quốc. Năm 1941, quân phát xít xâm lược Nam Tư và tỉnh Vardar bị chia sẻ giữa phát xít Bulgaria và phát xít Ý lúc đó đã xâm chiếm Albania. Trong thời kỳ này, 7000 người Do Thái tại hai thành phố Skopje và Bitola đã bị bắt vào những trại tập trung rồi bị trục xuất. Chế độ phát xít tàn bạo đã thúc đẩy phong trào đấu tranh của những người cộng sản tại Nam Tư dưới sự lãnh đạo của Nguyên soái Josip Broz Tito. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Tito trở thành Tổng thống Nam Tư và Liên bang Cộng hòa Nhân dân Nam Tư được thành lập. Nước Cộng hòa Nhân dân Macedonia cũng được thành lập và trở thành một trong sáu nước thành viên của Liên bang. Về sau năm 1963, khi Nam Tư đổi tên thành Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư thì nước này cũng đổi tên lại thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Macedonia. === Cộng hòa Macedonia (từ năm 1991 đến nay) === Ngày 8 tháng 9 năm 1991, Macedonia ly khai ra khỏi Liên bang Nam Tư một cách hòa bình và lấy ngày này là ngày quốc khánh. Khoảng đầu thập niên 1990, nước này vẫn giữ được hòa bình và không can dự vào cuộc Chiến tranh Nam Tư khốc liệt ở những nước láng giềng. Những vấn đề nhỏ về mặt biên giới giữa Cộng hòa Macedonia với Nam Tư đều đã được giải quyết. Nhưng khi cuộc chiến tranh ở Kosovo nổ ra vào năm 1999, khoảng 360.000 người Albania tị nạn đã chạy vào Macedonia khiến gây mất ổn định tình hình tại nước này. Mặc dù một phần người Albania đã dời đi sau khi chiến tranh kết thúc nhưng những người Albania ở cả hai phía biên giới lại tìm cách đòi quyền tự trị và thậm chí cao hơn nữa là đòi quyền độc lập cho cộng đồng người Albania tại Cộng hòa Macedonia. Những vụ xung đột đã nổ ra giữa chính phủ Skopje với quân phiến loạn Albania tại miền bắc và miền tây đất nước trong khoảng giữa tháng 3 và tháng 6 năm 2001. Cuối cùng cuộc chiến kết thúc với sự can thiệp của lực lượng ngừng bắn của NATO. Theo Hiệp định Ohrid, chính phủ Macedonia đồng ý trao nhiều quyền chính trị rộng rãi hơn cho người Albania cũng như công nhận những đóng góp văn hóa của cộng đồng thiểu số này. Còn người Albania theo thỏa thuận sẽ ngừng các hoạt động ly khai chống chính phủ và giao nộp vũ khí cho NATO. Năm 2005, Cộng hòa Macedonia chính thức được công nhận là ứng cử viên tiếp theo cho việc gia nhập Liên minh châu Âu. == Chính trị == === Chính phủ === Cộng hòa Macedonia là một quốc gia theo thể chế dân chủ nghị viện. Nhánh hành pháp nằm dưới sự điều hành của chính phủ, nhánh lập pháp thì cùng được điều hành bởi cả chính phủ và quốc hội. Nhánh tư pháp độc lập với hai nhánh hành pháp và lập pháp. Chính phủ Cộng hòa Macedonia được thành lập bởi sự liên kết của nhiều đảng phái hợp thành. Quốc hội nước này được tổ chức theo mô hình lưỡng viện: thượng viện và hạ viện. Số thành viên trong Quốc hội nước cộng hòa là 120 thành viên và được bầu lại 4 năm một lần. Tại Cộng hòa Macedonia, tổng thống chỉ có vai trò nghi thức còn phần lớn quyền lực thực sự thì nằm trong tay người đứng đầu chính phủ là thủ tướng. Tổng thống còn là tổng tư lệnh quân đội và là người đứng đầu các lực lượng vũ trang quốc gia. Ông cũng là người đứng đầu Hội đồng An ninh của đất nước. Chức vụ tổng thống tại Cộng hòa Macedonia có nhiệm kỳ 5 năm và mỗi tổng thống có thể nắm tối đa 2 nhiệm kỳ. Đương kim tổng thống hiện nay là ông Gjorge Ivanov. Còn đương kim thủ tướng hiện nay là ông Nikola Gruevski. Nhánh tư pháp ở nước này được thực thi bởi các tòa án. Đứng đầu hệ thống tư pháp là Tòa án Tư pháp Tối cao, Tòa án Hiến pháp và Tòa án Tư pháp nước Cộng hòa. Một trong những vấn đề chính trị hàng đầu hiện nay tại Cộng hòa Macedonia là mâu thuẫn chính trị giữa các đảng của người Macedonia chiếm đa số và cộng đồng người Albania thiểu số. Những xung đột này đã dẫn đến một cuộc chiến tranh xảy ra trong thời gian ngắn vào năm 2001 và được dàn xếp bởi cộng đồng quốc tế sau đó. Tháng 8 năm 2004, chính phủ Cộng hòa Macedonia đồng ý trao cho người Albania thiểu số quyền tự trị rộng rãi tại những vùng miền mà họ kiểm soát, tuy nhiên nguy cơ về vấn đề ly khai như Kosovo vẫn có khả năng xảy ra tại quốc gia này. === Quan hệ ngoại giao === Về nhiều mặt, Cộng hòa Macedonia vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với Hy Lạp. Khoảng 57% đầu tư nước ngoài ở Cộng hòa Macedonia đến từ quốc gia láng giềng phía nam này. Mối quan hệ giữa Cộng hòa Macedonia với Hy Lạp có thể nói đã được cải thiện khá nhiều trong vài năm qua nhưng bên cạnh đó, vấn đề tên gọi quốc gia vẫn là một trở ngại lớn trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa hai nước . Trong khi người Macedonia cho rằng cái tên Macedonia là tên gọi để chỉ dân tộc và ngôn ngữ của họ thì người Hy Lạp cho rằng cái tên đó lại bao hàm cả những phần lãnh thổ của Hy Lạp với cùng tên đó nữa. Những tranh cãi và lịch sử và văn hóa giữa hai nước cũng hết sức căng thẳng. Năm 1992, sau khi tách ra khỏi Liên bang Nam Tư, nước Cộng hòa Macedonia thông qua việc sử dụng một lá cờ mới với hình ảnh mặt trời Vergina của Vương quốc Macedonia cổ đại. Athena đã lên tiếng phản đối quyết liệt hành động trên và vào năm 1995, Cộng hòa Macedonia đã đổi sang sử dụng lá cờ như hiện nay. Do không thể giải quyết thỏa đáng vấn đề tên gọi quốc gia với Hy Lạp, Cộng hòa Macedonia đã chấp nhận gia nhập các tổ chức quốc tế với tên gọi Cựu Cộng hòa Nam Tư Macedonia (tiếng Macedonia: Поранешна Југословенска Република Македонија, Poraneshna Jugoslovenska Republiska Makedonija, tên tiếng Anh là "Former Yugoslavia Republic of Macedonia", có khi được viết tắt là "Macedonia FYRO" hay "FYROM"). Hiện nước này là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, Hội đồng châu Âu, Cộng đồng Pháp ngữ, Tổ chức Thương mại Thế giới... Cộng hòa Macedonia hiện đang có nguyện vọng gia nhập Liên minh châu Âu và NATO nhưng việc khởi động các quá trình đàm phán gia nhập vẫn chưa được bắt đầu. Ngày 17 tháng 12 năm 2005, Cộng hòa Macedonia chính thức được công nhận là ứng cử viên tiếp theo cho việc gia nhập Liên minh châu Âu. == Phân chia hành chính == Vào tháng 9 năm 1996, toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hòa Macedonia được chia thành 123 đô thị tự trị. Nhưng đến tháng 8 năm 2004, số đô thị tự trị tại nước này được tổ chức lại và giảm xuống con số 85 (trong đó 10 đô thị tự trị nằm trong thành phố Skopje, còn gọi là Đại Skopje). Các đô thị tự trị là bậc phân cấp hành chính cơ bản của Cộng hòa Macedonia. Trước đó, chính quyền địa phương của nước này được tổ chức vào 34 quận hành chính phía trên. Bên cạnh đó, Cộng hòa Macedonia còn được chia thành 8 vùng, chủ yếu nhằm mục đích thống kê. Danh sách các vùng thống kê của Cộng hòa Macedonia bao gồm: Skopje Pelagonia Polog Vùng Đông Vùng Đông Nam Vùng Đông Bắc Vùng Tây Nam Vardar == Kinh tế == Macedonia chủ trương xây dựng kinh tế thị trường. Tuy nhiên với một nền kinh tế nhỏ, mở cửa, điều này khiến Macedonia trở thành nước dễ bị tác động bởi các nền kinh tế phát triển khác của châu Âu và khả năng phát triển kinh tế phụ thuộc vào hội nhập khu vực và quá trình gia nhập Liên minh châu Âu. Thời kỳ 1991-2001, kinh tế suy thoái (GDP -4,5%) do tình hình chính trị không ổn định, bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng ở Kosovo (1999) và cuộc nội chiến với người Albania (2001). Từ năm 2002 bắt đầu có dấu hiệu phục hồi ở một số ngành kinh tế mũi nhọn như khai khoáng, chế biến nông phẩm, nông nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải và dịch vụ. Trong các năm 2003- 2007 GDP tăng trưởng trung bình 4%/năm. Từ sau năm 1996, Macedonia trở thành nước có nền kinh tế vĩ mô ổn định với tỉ lệ lạm phát thấp, tuy nhiên không hấp dẫn được đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tín dụng thấp, thâm hụt ngoại thương lớn, tạo được ít việc làm. Vì vậy, tỉ lệ thất nghiệp luôn ở mức cao (trên 30%). Năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, GDP của Macedonia giảm (tăng trưởng đạt âm 1,2%), lạm phát dưới 1%, thất nghiệp khoảng 33%, nợ công 32% GDP. Năm 2010, nhờ thực hiện chính sách tài chính bảo thủ, chính sách tiền tệ nghiêm ngặt và hoàn thiện hệ thống tài chính, Macedonia đã cải thiện được bước đầu mức tín dụng, giữ được kinh tế vĩ mô ổn định, kinh tế có tăng trưởng nhẹ (mức tăng GDP đạt 1,3%), duy trì được lạm phát ở mức 1,6%, nợ công thấp ~35% GDP, nhưng tỉ lệ thất nghiệp cao (31,7%). Tỉ trọng các ngành trong nền kinh tế (ước tính năm 2010, %GDP) Nông nghiệp: 8,7%. Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là nho, hoa quả, rau củ, sữa, trứng, thuốc lá. Công nghiệp: 22,1%. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu là chế biến thực phẩm, đồ uống, dệt may, hoá chất, sắt, thép, xi măng, năng lượng, dược phẩm. Dịch vụ: 69,2%. Kim ngạch xuất khẩu: 3,17 tỉ USD (2010). Macedonia xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng như thực phẩm, nước uống, thuốc lá, hàng dệt may, hàng tạp hoá, sắt, thép. Các bạn hàng xuất khẩu chính là Đức, Hy Lạp, Ý, Bulgari và Croatia. Kim ngạch nhập khẩu: 5,113 tỉ USD (2010). Hàng nhập khẩu chủ yếu vào Macedonia là máy móc và thiết bị, động cơ, hoá chất, chất đốt, thực phẩm. Bạn hàng nhập khẩu chính là Đức, Hy Lạp, Bulgaria, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Slovenia và Hungary. Tính đến năm 2016, GDP của Macedonia đạt 10.492 USD, đứng thứ 132 thế giới và đứng thứ 41 châu Âu. == Tôn giáo == Chính Thống giáo là tôn giáo lớn nhất của nước Cộng hòa Macedonia chiếm 64,7% dân số, phần lớn trong số đó thuộc về Giáo hội Chính thống Macedonia. Nhiều giáo phái Kitô giáo khác chiếm 0,37% dân số. Người Hồi giáo chiếm 33,3% dân số; Macedonia có tỷ lệ người Hồi giáo cao thứ 5 ở châu Âu, sau khi Thổ Nhĩ Kỳ (96%), Kosovo (90%), Albania (56,7%), và Bosnia–Herzegovina (45%). Phần lớn người Hồi giáo là người gốc Albania, Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc người Rôma, mặc dù một số ít cũng là người Hồi giáo Macedonia. Còn lại 1,63% được ghi nhận là "tôn giáo không xác định" trong năm 2002 theo cuộc điều tra dân số quốc gia. Tổng cộng, đã có 1.842 nhà thờ Chính Thống giáo và 580 nhà thờ Hồi giáo vào cuối năm 2011. Các cộng đồng Chính Thống giáo và Hồi giáo đều có trường Đại học tôn giáo ở Skopje. Ngoài ra còn có một trường đại học thần học Chính Thống giáo ở thủ đô. Giáo hội Chính thống Macedonia có thẩm quyền đối với 10 giáo xứ (bảy trong nước và ba ở nước ngoài), có 10 Giám mục và khoảng 350 linh mục. Tổng cộng có 30.000 người được rửa tội trong tất cả các giáo xứ mỗi năm. Có một sự căng thẳng giữa Giáo hội Chính Thống Macedonia và Giáo hội Chính Thống Serbia do tuyên bố Autocephaly năm 1967. Tuy nhiên, Tổng Giám mục Giáo hội Chính Thống Serbia, theo Quyết định số 06/1959, đã công nhận quyền tự chủ (không phụ thuộc) của Giáo hội mình đối với Giáo hội Chính Thống Macedonia. Sau khi các cuộc đàm phán thống nhất giữa hai giáo hội đã bị đình chỉ, Giáo hội Chính Thống Serbia đã công nhận Tổng Giám mục Jovan của Ohrid, một cựu Giám mục Giáo hội Chính Thống Macedonia, là Đức Tổng Giám mục Ohrid. Phản ứng của Giáo hội Chính Thống Macedonia là cắt đứt mọi quan hệ với địa hạt Ohrid của vị tổng Giám mục mới và để ngăn chặn các Giám mục của Giáo hội Chính Thống Serbia xâm nhập vào Macedonia. Giám mục Jovan đã bị tù 18 tháng cho tội "phỉ báng Giáo hội Chính thống Macedonia và làm tổn hại đến tình cảm tôn giáo của người dân địa phương" bằng cách phân phát lịch nhà thờ Chính thống Serbia và tờ rơi tuyên truyền cho Giáo hội Serbia. Công giáo La Mã có khoảng 11.000 tín đồ ở Macedonia. Giáo hội Công giáo Macedonia được thành lập vào năm 1918, và được tạo thành chủ yếu bởi người cải đạo từ Chính Thông giáo sang Công giáo và con cháu của họ. Giáo hội Công giáo Macedonia thực hành theo nghi lễ Byzantine và hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội Công giáo Rôma và các Giáo hội Công giáo Đông phương khác. Có một cộng đồng Tin Lành nhỏ ở Macedonia. Tín đồ Tin Lành nổi tiếng nhất trong cả nước là cố Tổng thống Boris Trajkovski. Ông xuất thân từ cộng đồng Methodist, đó là nhà thờ Tin Lành lớn nhất và lâu đời nhất tại Cộng hòa Macedonia, có niên đại từ cuối thế kỷ 19. Từ những năm 1980 cộng đồng Tin Lành đã phát triển, một phần thông qua niềm tin mới và một phần với sự giúp đỡ truyền giáo bên ngoài. Cộng đồng Do Thái Macedonia, có khoảng 7.200 người trước cuộc chiến tranh thế giới II, đã bị giết chết gần như hoàn toàn: chỉ có 2% người Do Thái sống sót ở Macedonia. Sau khi giải phóng họ và kết thúc chiến tranh, hầu hết người Do Thái Macedonia đã chọn di cư tới Israel. Hiện nay, con số cộng đồng Do Thái khoảng 200 người, tất cả hiện sống ở Skopje. Người Do Thái Macedonia hầu hết thuộc nhánh Sephardic - con cháu của những người tị nạn từ thế kỷ 15 những người đã chạy trốn khỏi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong cuộc thanh trừng người Do Thái giáo ở 2 nước này. == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ chính phủ Exploring Macedonia – Cổng du lịch quốc gia Macedonia – bách khoa toàn thư đa phương tiện về Cộng hòa Macedonia
nguyễn vinh phúc.txt
Nguyễn Vinh Phúc (1926 – 2012), là một nhà nghiên cứu lịch sử – văn hóa nổi tiếng của Việt Nam. Ông cũng từng là một nhà giáo, và là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về Thủ đô Hà Nội. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Nhà giáo ưu tú", được trao tặng giải thưởng "Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội", được vinh danh là "Công dân Thủ đô Ưu tú" năm 2010. Tuy nhiên, mọi người trân trọng, yêu mến và biết đến ông nhiều hơn thông qua danh xưng "Nhà Hà Nội học". == Tiểu sử == Quê gốc ở Hưng Yên, vốn là con trong một gia đình công chức, từ nhỏ Nguyễn Vinh Phúc đã được đi rất nhiều nơi như Thanh Hóa, Huế, Nha Trang... và đặc biệt là Hà Nội. Tham gia kháng chiến đến năm 1948, vì sức khỏe yếu, ông chuyển sang làm nghề dạy học. Năm 1955-1957, ông dạy ở trường tư Khai Thành. Năm 1957-1959, ông dạy trường tư Thăng Long. Năm 1959-1960, ông sang trường dân lập Trưng Vương . Đến năm 1960, ông là giáo viên của trường Hà Nội B (sau chuyển thành B1, B3 rồi Lý Thường Kiệt, nay là trường Việt - Đức). Vì là thầy giáo dạy văn, sử, địa, nên ông dần đam mê nghiên cứu về Hà Nội. Ông tự nghiên cứu thêm về Hà Nội để làm phong phú cho bài giảng của mình. Đây cũng là thời điểm người các nơi kéo về Hà Nội khá đông, và đa phần trong số họ chưa có nhiều hiểu biết về Hà Nội. Do đó, ông gửi các báo như Thủ đô Hà Nội, Độc lập, Lao động... để đăng những nghiên cứu của mình từ những năm 1960. Ông mất ngày 28 tháng 1 năm 2012, hưởng thọ 86 tuổi. == Tác phẩm == Cho tới nay, Nguyễn Vinh Phúc đã in riêng 15 tập sách về Hà Nội, gồm: Hà Nội Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội Hà Nội qua những năm tháng Hà Nội con đường, dòng sông, lịch sử Hanoi passé et présent Hanoi past and present Sites, histoire et légendes d’Hanoi Hà Nội thành phố nghìn năm Hà Nội và phụ cận Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn Mặt gương Tây Hồ Phố và đường Hà Nội, Hà Nội - cõi đất con người. Ông cũng đứng chủ biên 6 bộ sách: Đường Hà Nội, Hỏi đáp 1.000 năm Thăng Long, Du lịch Hà Nội, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân, Lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Ngoài ra ông còn viết hàng trăm bài báo khác. == Chú thích == == Nguồn tham khảo == Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc đoạt giải Bùi Xuân Phái Nguyễn Vinh Phúc - trọn một tình yêu Hà Nội
văn hóa gò mun.txt
Văn hóa Gò Mun ước chừng trong khoảng thời gian từ năm 1.000 - năm 700 TCN, thuộc cuối thời kỳ đồ đồng. Nền văn hóa này được đặt theo tên của địa điểm mà vào năm 1961, các nhà khảo cổ học đã khai quật được nhiều di chỉ của nền văn hóa này, gò Mun, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Văn hóa Gò Mun được nhìn nhận như là nền văn hóa tiền văn hóa Đông Sơn. Thời kỳ này, người Việt cổ đã có những chuyển biến rõ rệt về một xã hội phúc tạp và giàu có, thúc đẩy việc ra đời nhà nước sơ khai của người Việt. == Khám phá == Rời Đồng Đậu và các di chỉ đồng dạng, chúng ta hãy đi thăm Gò Mun cùng với hơn 10 địa điểm khảo cổ khác thuộc giai đoạn văn hóa Gò Mun được phân bố trên một địa bàn về cơ bản phù hợp với địa bàn các địa điểm thuộc những giai đoạn trước. Đó là Bãi Dưới, Vinh Quang, Đình Tràng, Đồng Lâm, Nội Gầm... thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội. Người Gò Mun cũng thích ở trên những gò đồi cao nổi lên giữa vùng đồng bằng và trung du; họ bắt đầu thích tập trung ở những vùng chân gò, những vùng gò thấp ven các sông Hồng, Cầu, Đáy, Cà Lồ... Cuộc sống định cư lâu dài của họ đã để lại những tầng văn hóa khá dày. Đến giai đoạn Gò Mun, công cụ và vũ khí đồng thau đã chiếm tỷ lệ trên 50% tổng số công cụ và vũ khí, với các loại mũi tên, mũi nhọn, lưỡi câu, dao, giáo, dây, kim, giũa, dùi, đục. Loại rìu lưỡi xéo đã xuất hiện dưới dạng hoàn chỉnh với mũi rìu hơi chúc và lưỡi hơi cong. Đồ đồng thau Gò Mun đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp: những lưỡi hái đã được phát hiện; những chiếc rìu cũng đã được sử dụng như những nông cụ. Đồng thau cũng được dùng làm đồ trang sức: vòng tay được uốn bằng những dây đồng. Đồ gốm Gò Mun có độ dày rất đều, độ nung cao (khoảng 900C); có mảnh được nung gần thành sành. Gốm có màu xám xanh, xám mốc. Người thợ gốm Gò Mun phát triển lối trang trí hoa văn bên trong miệng hiện vật đã có từ giai đoạn Đồng Đậu. Các miệng gốm Gò Mun thường được bẻ loe ra, nằm ngang, rộng bản, góc tạo thành giữa cổ và thân thường là góc nhọn. Những loại hình thường gặp là các loại nồi, các loại vò, bình cổ cao, chậu, âu, bát đĩa, cốc. Chân đế có xu hướng thấp dần, loại đáy bằng xuất hiện, hình dáng ổn định, thanh thoát. Ngoài ra còn có các loại bi, dọi xe chỉ, chì lưới. Loại hoa văn độc đáo và phổ biến của gốm Đồng Đậu là hoa văn nan chiếu, và hoa văn khắc vạch: những đường nét này được phối trí hài hòa với những vòng tròn nhỏ tạo nên những đồ án sinh động kết thành một dải quây vòng phủ kín miệng gốm, làm thành đặc trưng chủ yếu của hoa văn gốm Gò Mun. Kỹ thuật chế tác đá đang ở trên bước đường suy thoái. Đó là do sự phong phú và sự phát triển của nghề luyện kim đồng thau. Những cái hái bằng đồng thau phát hiện được ở nhiều nơi nói lên sự phát triển và hoàn thiện của nông nghiệp trồng lúa. Hợp kim đồng thau để đúc hái có 89% đồng và 0,1% thiếc với những vết chì. Trong số những công cụ bằng đồng thau dùng để thu hoạch hoa màu của người xưa ở vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, loại hái Gò Mun lưỡi cong, có gờ ở giữa, họng tra cán hình chóp cụt là có hình dáng hoàn thiện và tiến bộ hơn cả. Lần đầu tiên những mũi tên đồng thau xuất hiện, với loại hình đa dạng và số lượng nhiều, đòi hỏi những tiến bộ về kỹ thuật và cũng đòi hỏi phải có một khối lượng nguyên liệu lớn để đáp ứng đủ nhu cầu, vì mũi tên một lần bắn đi là mất "một đi không trở lại". Truyền thống giỏi cung nỏ của người Việt cổ khiến quân thù xâm lược ở buổi đầu công nguyên phải khiếp sợ và khâm phục, vốn đã có một gốc rễ lâu bền từ giai đoạn Gò Mun này. Sự phát triển của nghề thủ công luyện kim đã có ảnh hưởng lớn không những đến sự phát triển của nông nghiệp mà còn thúc đẩy sự hoàn thiện của các nghề thủ công khác - trừ nghề làm đồ đá. Những mũi giáo gỗ phát hiện được ở giai đoạn Gò Mun cho chúng ta biết rằng nghề làm đồ gỗ - một nghề cũng có truyền thống xa xưa như nghề làm đồ đá - vẫn tiếp tục tồn tại và cải tiến. Người Gò Mun sống bằng nghề làm ruộng trồng lúa nước là chính, đồng thời họ cũng là những người chăn nuôi, săn bắn, đánh cá. Đây là một cung cách làm ăn tiến bộ, cũng là cách làm ăn của mọi dân cư ở những vùng trung tâm nông nghiệp của thế giới cổ đại. Hiện vật khảo cổ cho thấy rõ: giai đoạn Gò Mun được phát triển trực tiếp lên từ giai đoạn Đồng Đậu và có mối liên hệ chặt chẽ với các giai đoạn phát triển trước đó. Đồng thời giai đoạn Gò Mun cũng chứa đựng những tiền đề vật chất cho sự phát triển của một giai đoạn cao hơn vào cuối thời đại đồng thau và đầu thời đại đồ sắt ở nước ta: giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun: 3 giai đoạn lớn của thời đại đồng thau trong đó cư dân nông nghiệp Việt cổ, người Phùng Nguyên, người Đồng Đậu, người Gò Mun ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, bắc Trung Bộ, đã từng bước chế ngự thiên nhiên, làm ruộng lúa, phát huy được tính ưu việt của nền kinh tế nông nghiệp, bước vào chế độ dòng cha, làm chủ vùng tam giác châu sông Hồng, mở đường cho một giai đoạn văn hoá rực rỡ, đỉnh cao thời đại dựng nước: giai đoạn Đông Sơn. Trích từ: Hành Trình Về Thời Ðại HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC == Di vật == Phân bố trên cùng địa bàn với văn hoá Phùng Nguyên và văn hoá Đồng Đậu trước đó, trong các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây và thành phố Hà Nội. Chủ nhân VHGM là cư dân nông nghiệp. Công cụ và vũ khí bằng đồng khá đa dạng, gồm rìu, liềm, dao, giáo, lao, mũi tên, vv. Đồng cũng được dùng làm chuông, vòng tay, khuyên tai, trâm cài và tượng động vật. Đồ gốm có độ nung cao. Phổ biến nhất là các loại bình, nồi có miệng loe gãy và trang trí hoa văn khắc vạch phía trong miệng. VHGM phát triển lên từ văn hoá Đồng Đậu và tồn tại trước văn hoá Đông Sơn, trong khoảng thế kỉ XI đến thế kỉ VII Tr. CN. == Đánh giá == == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
cúp bóng đá nam mỹ.txt
Cúp bóng đá Nam Mỹ (tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha: Copa América) là giải bóng đá giữa các đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Mỹ do Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) tổ chức. Đây là giải bóng đá quốc tế lâu đời nhất trên thế giới, được tổ chức lần đầu vào năm 1916 với tên gọi Giải vô địch bóng đá Nam Mỹ và đến năm 1975 mới đổi thành như hiện nay. Ngoài 10 thành viên của CONMEBOL, từ năm 1993 mỗi giải có thêm 2 đội tuyển từ các liên đoàn bóng đá khác (thường là CONCACAF) được mời tham dự. Do chỉ có 12 đội tuyển tham dự nên giải đấu này không có đấu loại. Uruguay là đội đoạt chức vô địch nhiều lần nhất (15 lần). == Kết quả == === Giải vô địch bóng đá Nam Mỹ === === Cúp bóng đá Nam Mỹ === (Các đội mời được in nghiêng) === Danh sách các đội nằm trong top 4 === === Kết quả của các nước chủ nhà === === Kết quả của đương kim vô địch === == Giải thưởng == === Cầu thủ xuất sắc nhất giải === === Vua phá lưới === == Thống kê theo số trận thắng == Tính đến mùa giải 2016. == Các huấn luyện viên vô địch == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cúp bóng đá Nam Mỹ trên trang web của RSSSF.
kinh tế argentina.txt
Kinh tế Argentina là nền kinh tế tương đối phát triển, GDP tính theo sức mua tương đương là 541.748 tỉ USD, đứng thứ 21 trên thế giới. Thu nhập bình quân đầu người là 20,972 USD. Argentina có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, dân số có học cao, ngành nông nghiệp theo hướng xuất khẩu, ngành công nghiệp đa dạng. Trong lịch sử, nền kinh tế của Argentina đã có bước phát triển không đồng đều. Đầu thế kỷ 20, Argentina là một trong những nước giàu có nhất thế giới , nhưng hiện nay nó chỉ là nước có thu nhập trên trung bình. Mặc dù vậy, Argentina vẫn là một đất nước có nền kinh tế phát triển nhất ở Mỹ Latin (tính theo GDP bình quân đầu người và chỉ số phát triển con người). Trong bài này chỉ đề cập đến thời kỳ lịch sử phát triển kinh tế của Argentina bắt đầu từ những năm 1870, đó là những gì đã đưa đến nền kinh tế như hiện nay. == Tham khảo ==
alfred đại đế.txt
Alfred Vĩ đại (tiếng Anh cổ: Eldred; khoảng 849 – 26 tháng 10, năm 899) là Quốc vương của Vương quốc Wessex (phía nam Anglo-Saxon nước Anh) từ năm 871 đến khi qua đời vào năm 899. Alfred bảo vệ được vương quốc của ông trước các cuộc chinh phục của người Viking và trước khi chết đã trở thành người cai trị chiếm ưu thế nhất ở Anh . Ông là một trong hai quốc vương của nước Anh được trao danh hiệu "Đại đế", người còn lại là Knud Đại đế (mặc dù Knud không phải là người Saxon, nhưng mà là người Đan Mạch). Ông là vị vua người West Saxons đầu tiên lấy danh hiệu "Vua của người Anglo-Saxon". Chi tiết về cuộc đời của Alfred được mô tả trong tác phẩm của nhà học giả xứ Welsh là giám mục Asser vào thế kỷ thứ 10. Ngoài ra, ông còn là một người ham học hỏi, đã ủng hộ giáo dục và cải tiến luật pháp. == Tuổi thơ == Alfred được sinh ra ở làng Wanating, nay là Wantage, Oxfordshire. Ông là con trai út của vua Æthelwulf xứ Wessex với người vợ đầu tiên là Osburh . Năm 853, vừa được bốn tuổi, Alfred được cho là đã được gửi đến Rome, nơi mà theo Ký sự Anglo-Saxon , ông đã được Giáo hoàng Leo IV "xức dầu làm vua". Các nhà văn thời Victoria sau đó giải thích đây là một lễ đăng quang trước để chuẩn bị cho việc ông lên ngôi vua xứ Wessex. Tuy nhiên, việc ông kế nhiệm là điều khó có thể xảy ra tại thời điểm đó vì Alfred vẫn còn ba người anh. Một lá thư của Leo IV cho thấy rằng Alfred phong làm "quan chấp chính"; một sự hiểu sai của sự trao quyền này, cố ý hay vô tình, có thể giải thích được sự nhầm lẫn này . Nó cũng có thể dựa trên việc Alfred theo cha trong một cuộc hành hương đến Rome, nơi ông đã trải qua một thời gian tại triều đình của Charles Hói, Vua của người Frank, khoảng năm 854 đến 855. Trên đường về từ Rome vào năm 856, Æthelwulf bị xoán ngôi bởi con trai của ông là Æthelbald. Trước nghi cơ của một cuộc nội chiến, các đại thần của vương quốc đã gặp nhau để tìm ra một thỏa hiệp. Theo đó Æthelbald sẽ cai trị vùng đất phía tây và Æthelwulf sẽ cai trị ở phía đông. Khi vua Æthelwulf chết vào năm 858, Wessex lần lược được cai trị bởi ba người anh của Alfred là Æthelbald, Æthelberht và Æthelred . Giám mục Asser kể câu chuyện về việc cậu bé Alfred đã có được một quyển thơ ca của người Saxon, được trao bởi mẹ của ông do là người con đầu tiên của bà có thể ghi nhớ nó . Truyền thuyết cũng kể rằng Alfred lúc trẻ đã dành thời gian sống tại Ireland để chữa bệnh. Alfred gặp nhiều rắc rối bởi các vấn đề sức khỏe trong suốt cuộc đời của ông. Người ta nghĩ rằng ông có thể đã bị bệnh Crohn . Tượng của Alfred ở Winchester và Wantage miêu tả ông như một chiến binh vĩ đại. Bằng chứng cho thấy ông không mang thể chất mạnh mẽ và mặc dù không thiếu lòng can đảm, ông được biết đến về trí tuệ của mình hơn là một nhân vật hiếu chiến . == Dưới thời của anh trai == Trong suốt triều đại ngắn ngủi của hai người anh lớn tuổi nhất, Æthelbald của Wessex và Æthelberht của Wessex, Alfred không được nhắc đến. Một đội quân người Danes mà Ký sự Anglo-Saxon mô tả là Đại quân Ngoại đạo đã đổ bộ ở Đông Anglia với ý định chinh phục bốn vương quốc tạo thành nước Anh của người Anglo-Saxon vào năm 865 . Trong bổi cảnh này cuộc đời của Alfred bắt đầu được biết đến, với việc lên ngôi của người anh thứ ba của ông là Æthelred của Wessex vào năm 865. Trong thời gian này, Giám mục Asser áp dụng cho một Alfred danh hiệu độc đáo là "secundarius", một vị trí tương dương với chức vụ tanist của người Celt, tức là người kế vị được công nhận liên quan chặt chẽ với quốc vương trị vì. Có thể là sự sắp xếp này được áp dụng bởi cha của Alfred, hoặc bởi các Witan, để chống lại các mối nguy hiểm từ một chuỗi tranh chấp nếu Æthelred tử trận. Sự sắp xếp của người kế thừa như một hoàng tử và chỉ huy quân sự khá phổ biến trong số các dân tộc German khác, chẳng hạn như người Thụy Điển và người Frank, các dân tộc mà người Anglo-Saxon có liên quan chặt chẽ nhất. === Chống lại cuộc xâm lược của người Viking === Năm 868, Alfred được ghi nhận là đã chiến đấu bên cạnh Æthelred trong một nỗ lực không thành công để giữ chân Đại quân Ngoại đạo dẫn đầu bởi Ivar Không xương ra khỏi Vương quốc Mercia liền kề . Vào cuối năm 870, Ivar Không xương rút về nước. Các năm sau đó được gọi là "năm chiến trận của Alfred". Chín cuộc giao tranh đã xảy ra với những kết quả khác nhau, mặc dù địa điểm và ngày tháng của chúng đã không được ghi chép lại. Tại Berkshire, một cuộc giao tranh thành công trong trận Englefield vào ngày 31 tháng 12 năm 870 đã được theo sau bởi một thất bại nặng nề trong cuộc bao vây tiến hành bởi của anh trai của Ivar là Halfdan Ragnarsson vào ngày 5 tháng 1 năm 871. Bốn ngày sau đó, người Anglo-Saxon giành được một chiến thắng rực rỡ trong trận Ashdown tại Berkshire Downs, có thể gần Compton hoặc Aldworth. Alfred được ghi nhận với sự thành công của trận chiến này . Cuối tháng đó, vào ngày 22 tháng 1, người Saxon bị đánh bại tại trận Basing. Họ bị đánh bại một lần nữa vào ngày 22 tháng 3 tại trận Marton (có lẽ là Marden tại Wiltshire hoặc Martin ở Dorset) . Æthelred chết ngay sau đó vào ngày 23 tháng 4. == Chiến đấu == === Đấu tranh ban đầu, thất bại và trốn chạy === Vào tháng 4 năm 871, vua Æthelred chết, và Alfred lên ngôi vua Wessex và nắm lấy gánh nặng quốc phòng của nó, mặc dù Æthelred vẩn còn hai con trai chưa truỏng thành, Æthelhelm và Æthelwold. Điều này là phù hợp với các thỏa thuận mà Æthelred và Alfred đã thiết lập ra trong một hội nghị tại Swinbeorg. Hai ông đã đồng ý rằng bất cứ ai trong số họ sống lâu hơn người kia sẽ thừa kế tài sản cá nhân mà vua Æthelwulf đã để lại cho các con trai của ông trong di chúc. Con trai của người quá cố sẽ chỉ nhận được tài sản và sự giàu có mà cha họ đã để lại và bất cứ vùng đất phụ mà chú của họ đã mua. Với sự xâm lược của người Viking đang diễn ra và các cháu trai của ông còn quá nhỏ, việc Alfred nối ngôi có lẽ đã không gây ra bất cứ tranh cãi nào. Trong khi ông đang bận rộn với các nghi lễ chôn cất cho anh trai của mình, người Danes đánh bại quân Saxon trong sự vắng mặt của ông tại một nơi vô danh, và sau đó một lần nữa trong sự hiện diện của ông tại Wilton vào tháng 5 . Sự thất bại tại Wilton đập tan mọi hy vọng còn lại về việc Alfred có thể đẩy lui những kẻ xâm lược ra khỏi vương quốc của mình. Ông buộc phải ký hòa ước với họ, theo các nguồn tin không nêu lên các điều khoản chòa bình là gì. Giám mục Asser tuyên bố rằng người 'ngoại đạo' đồng ý dọn ra khỏi lãnh thổ và thực hiện tốt lời hứa của họ. Thật vậy, các đội quân Viking đã rút khỏi Reading vào mùa thu năm 871 để lui về Mercian London. Mặc dù không được đề cập bởi Asser hoặc Ký sự Anglo-Saxon, Alfred có lẽ cũng trả cho người Viking tiền mặt để họ rút đi, như Mercians đã làm vào năm sau . Kho báu gắn liền với sự chiếm đóng của người Viking ở London trong những năm 871 đến 872 đã được khai quật tại Croydon, Gravesend và cầu Waterloo. Những phát hiện này đã gợi ý đến các chi phí liên quan đến việc làm hòa với những người Viking. Trong 5 năm tiếp theo, người Danes chiếm đóng các lãnh thổ khác của nước Anh . Năm 876, người Danes dưới sự lãnh đạo của Guthrum đã vược qua qua các đội quân Saxon và đã tấn công và chiếm đóng Wareham ở Dorset. Alfred tiến hành phong tỏa thành phố, nhưng đã không thể chiếm lại Wareham bằng một cuộc tấn công . Do vậy, ông đã đàm phán hòa bình bằng cách trao đổi con tin và thề ước, được người Danes tiến hành trước một "vòng thánh" . Người Danes, tuy nhiên, đã phá vỡ lời thề của họ và sau khi giết chết tất cả các con tin, đã sử dụng màn đêm để rút về Exeter ở Devon . Alfred phong tỏa các tàu Viking ở Devon, và với việc hạm đội cứu trợ đã bị phân tán bởi một cơn bão, người Danes đã buộc phải thuất phục. Người Danes rút về Mercia. Vào tháng 1 năm 878, người Danes đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào Chippenham, một thành trì của hoàng gia, nơi mà Alfred đã ở lại trong dịp Giáng sinh, "và hầu hết mọi người đều bị giết trừ vua Alfred, và người cùng với một nhóm nhỏ đã băng qua rừng và đầm lầy, và sau lễ Phục Sinh, người đã cho xây một pháo đài ở Athelney trong đầm lầy của Somerset, và từ pháo đài này lại tiếp tục chiến đấu chống lại kẻ thù" . Từ pháo đài của ông tại Athelney, một hòn đảo ở vùng đầm lầy gần North Petherton, Alfred đã có thể gắn kết một phong trào kháng chiến có hiệu quả, tập hợp lực lượng dân quân địa phương từ Somerset, Wiltshire và Hampshire . Một huyền thoại phổ biến, xuất phát từ biên niên sử thế kỷ thứ 12 . nói về việc khi ông trốn sang Somerset Levels, Alfred đã được một phụ nữ nông dân cho ở nhờ và do không biết được danh tính thật sự của ông, đã nhờ Alfred coi chừng vài cái bánh mà bà đang nung trên bếp. Quá bận tâm với các vấn đề của vương quốc, Alfred vô tình để cho bánh bị cháy và do đó bị trách mắng bởi người phụ nữ nông dân khi bà trở về. Những năm 870 là thời kỳ tồi tệ trong lịch sử của vương quốc Anglo-Saxon. Trong khi tất cả các vương quốc khác đã rơi vào tay người Viking, Wessex vẫn một mình chống cự lại . === Phản công và chiến thắng === Trong tuần thứ bảy sau lễ Phục Sinh (4 đến 10 tháng 5 năm 878), xung quanh Whitsuntide, Alfred đi đến Edington ở phía đông Selwood, nơi ông đã gặp "tất cả người dân của Somerset và Wiltshire và một phần của Hampshire ở phía bên này của biển (có nghĩa là, phía tây của Southampton Water), và họ đều vui mừng khi thấy ông" . Sự xuất hiện của Alfred từ thành trì ở vùng đầm lầy của ông là một phần của một cuộc tấn công được lên kế hoạch cẩn thận để tạo ra một đội dân quân của ba quận. Alfred giành được một chiến thắng quyết định trong trận Edington vốn có thể đã diễn ra gần Westbury, Wiltshire . Sau đó ông truy đuổi người Danes đến thành trì của họ ở Chippenham và vây hãm, khiến họ phải phục tùng. Một trong các điều khoản của sự đầu hàng là Guthrum chuyển đổi sang Thiên Chúa giáo. Ba tuần sau, vị vua Đan Mạch và 29 người khác đã được rửa tội tại triều đình của Alfred tại Aller, gần Athelney và Alfred công nhận Guthrum như một người con về mặt tinh thần . Một đại lễ đã diễn ra tám ngày sau đó tại Wedmore ở Somerset, với việc Guthrum sau đó thực hiện lời hứa của mình là rời khỏi Wessex. Chưa có bằng chứng về việc Alfred và Guthrum đã thoả thuận một hiệp ước chính thức tại thời điểm này; cái gọi là Hiệp ước Wedmore là một phát minh của các nhà sử học hiện đại. Hiệp ước của Alfred và Guthrum, bảo quản trong tiếng Anh cổ ở Corpus Christi College, Cambridge (Manuscript 383) và trong một biên soạn Latin gọi là Quadripartitus, đã được đàm phán sau đó, có lẽ trong năm 879 hoặc 880, khi vua Ceolwulf II của Mercia bị lật đổ . Hiệp ước này phân chia vương quốc Mercia. Theo các điều khoản của nó thì ranh giới giữa vương quốc của Alfred và vương quốc của Guthrum là kéo lên đến tận sông Thames, cho cho đến sông Lea; theo sông Lea đến nguồn của nó (gần Luton); từ đó mở rộng theo một đường thẳng đến Bedford; và từ Bedford theo sông Ouse đến phố Watling . Nói cách khác, Alfred đã kế thừa vương quốc của Ceolwulf, bao gồm phía tây của Mercia; và Guthrum hợp phần nhất phần phía đông của Mercia vào vương quốc Đông Anglia (từ đó về sau được gọi là Danelaw). Bởi các điều khoản của hiệp ước, Alfred có quyền kiểm soát thành phố London của Mercian, ít nhất là trong thời gian này . === Năm yên tĩnh, sự phục hồi của Luân Đôn (những năm 880) === Với việc ký kết Hiệp ước của Alfred và Guthrum, một sự kiện thường được tổ chức đã diễn ra vào khoảng năm 880 khi người của Guthrum bắt đầu định cư ở Đông Anglia, Guthrum đã không còn là một mối đe dọa Cùng với thỏa thuận này một đội quân Đan Mạch rời khỏi Anh và đi thuyền tới Gent . Alfred vẫn buộc phải đấu tranh với một số mối đe dọa của người Đan Mạch. Một năm sau vào năm 881, Alfred đã tiến hành một trận đánh nhỏ trên biển với bốn tàu Đan Mạch "trên biển cả" . Hai tàu đã bị phá hủy và những người còn lại đã đầu hàng lực lượng của Alfred . Những cuộc đụng độ nhỏ tương tự với các nhóm Viking độc lập đã xảy ra trong nhiều trong nhiều thập kỷ sau đó. Trong năm 883, mặc dù có một số tranh cãi trong nhiều năm, vua Alfred, vì đã ủng hộ và đóng góp cho Rome, đã nhận được một số lượng quà tặng từ Giáo hoàng Marinus . Một trong số những món quà đó có thể là một mảnh của Thập giá Đích thực, một kho báu thật sự cho một vua Saxon sùng đạo. Theo Asser, vì tình bạn của Giáo hoàng Marinus với vua Alfred, Giáo hoàng đã cấp quyền miễn thuế và cống nạp cho bất kỳ người Anglo - Saxon cư trú tại Rome . Sau khi ký kết hiệp ước với Guthrum, vua Alfred đã tránh được nhiều cuộc xung đột quy mô lớn trong một thời gian. Mặc dù vậy, nhà vua vẫn buộc phải đối phó với một số cuộc tấn công và xâm nhập của người Đan Mạch. Trong số đó có một cuộc đột kích diễn ra tại Kent, một nước đồng minh trong khu vực Đông Nam nước Anh trong năm 885, được coi là cuộc đột kích lớn nhất kể từ sau cuộc chiến với Guthrum. Asser ghi chép lại cuộc tấn công của người Đan Mạch vào thành phố Rochester của người Saxon , nơi họ xây dựng một pháo đài tạm thời để bao vây thành phố. Để đối phó với sự xâm nhập này, Alfred đã chỉ huy quân đội Anglo-Saxon chống lại người Đan Mạch, những người thay vì giao tranh với quân đội của Wessex lại chạy trốn sang tàu mắc cạn của họ và đi thuyền tới một phần khác của nước Anh. Các lực lượng của người Đan Mạch được cho là đã rời nước Anh vào mùa hè năm sau . Không lâu sau cuộc tấn công thất bại của người Đan Mạch ở Kent, Alfred cử hạm đội của ông kéo sang Đông Anglia. Mục đích của chuyến đi này vẫn còn gây tranh cãi, mặc dù Asser tuyên bố rằng đó là vì lợi ích của việc cướp bóc . Sau khi đi lên sông Stour, hạm đội này đã đụng độ với khoảng 13 đến 16 tàu Đan Mạch (nhiều nguồn khác nhau về số lượng) và một trận đánh đã xảy ra sau đó . Hạm đội Anglo-Saxon giành chiến thắng và theo ghi chép của Huntingdon, "mang đầy chiến lợi phẩm" . Hạm đội sau đó đã bị bất ngờ khi cố gắng rời khỏi sông Stour và bị tấn công bởi một lực lượng Đan Mạch tại cửa sông. Các đội tàu của Đan Mạch đã có thể đánh bại hạm đội của Alfred do họ có thể đã bị suy yếu trong trận chiến trước . Một năm sau, vào năm 886, Alfred tái chiếm Luân Đôn và lại làm cho thành phố có thể định cư được . Alfred ủy thác thành phố cho con rể là Æthelred của Mercia. Sự phục hồi của Luân Đôn tiến triển trong nửa sau của những năm 880 và được cho là đã xoay quanh một kế hoạch cho làm đường phố mới, thêm công sự bên ngoài các bức tường La Mã hiện có, và theo một số người, xây dựng thành phố cho phù hợp hơn với công sự trên bờ phía nam của sông Thames . Đây cũng là khoảng thời gian mà hầu như tất cả các biên niên sử đồng ý rằng những người Saxon trước thời nước Anh thống nhất đều phục tùng Alfred Tuy nhiên đây không phải là thời điểm mà Alfred được biết đến như là vua của nước Anh. Trong thực tế, ông chưa bao giờ sử dụng danh hiệu này. Sự thật sức mạnh mà Alfred nắm giữ với người dân Anh tại thời điểm này dường như xuất phát chủ yếu từ sức mạnh quân sự của Tây Saxon, kết nối chính trị của Alfred từ việc có người cai trị của Mercia là con rể của ông, và tài năng hành chính của Alfred. Giữa sự phục hồi của London và các cuộc tấn công mới với quy mô lớn của người Đan Mạch vào đầu những năm 890, triều đại của Alfred khá yên ổn. Hòa bình tương đối của những năm cuối thập kỷ 880 bị ảnh hưởng bởi cái chết của em gái của Alfred, Æthelswith, người đã chết trên đường đến Rome năm 888 . Cũng trong năm đó Tổng giám mục Canterbury, Æthelred, cũng chết. Một năm sau Guthrum, hoặc tên rửa tội là Athelstan, kẻ thù cũ của Alfred và vua của Đông Anglia, đã chết và được chôn cất tại Hadleigh, Suffolk . Cái chết của Guthrum đã làm thay đổi cảnh quan chính trị của Alfred. Khoảng trống quyền lực đã làm xuất hiện các lãnh chúa đang muốn thay thế Guthrum. Những năm yên tĩnh tronh cuộc đời của Alfred đã sắp kết thúc và chiến tranh lại sắp bắt đầu. === Đánh bật các cuộc tấn công khác của người Viking (những năm 890) === Sau thời gian tạm lắng, vào mùa thu năm 892 hay 893, người Danes lại tấn công một lần nữa. Nhận thấy vị trí của họ ở châu Âu lục địa đang bấp bênh, họ vượt biển đến Anh bằng 330 con tàu và chia thành hai nhóm. Họ cố thủ, trong đó nhóm lớn nhất đóng quân ở Appledore, Kent, còn nhóm nhỏ hơn, dưới sự chỉ huy của Hastein, đóng quân ở Milton, cũng tại Kent. Những kẻ xâm lược cũng mang theo vợ và con cái, cho thấy một nỗ lực để chinh phục và làm thuộc địa. Alfred, vào năm 893 hoặc 894, chiếm một vị trí mà từ đó ông có thể quan sát cả hai lực lượng của người Danes . Trong khi ông đang đàm phán với Hastein, người Danes đóng tại Appledore bắt đầu đem quân tấn công vùng tây bắc. Họ bị chặn lại bởi con trai cả của Alfred là Edward và bị đánh bại trong một trận giao chiến tại Farnham ở Surrey. Họ bèn lấy nơi trú ẩn trên một hòn đảo ở Iver, trên sông Colne ở Hertfordshire, nơi họ bị phong tỏa và cuối cùng phải thuất phục . Lực lượng này phải quay trở lại Essex và sau khi gặp phải một thất bại khác tại Benfleet, đã phải hội quân với lực lượng của Hastein tại Shoebury . Alfred đang trên đường đến giúp cho con trai ông tại Thorney thì nhận được tin người Danes ở Northumbrian và Đông Anglian đang vây hãm Exeter và một thành trì không tên trên bờ Bắc Devon. Alfred vội vã tiến quân về phía tây để cứu Exeter. Số phận của thành trì còn lại không được ghi lại. Trong khi đó, lực lượng dưới sự chỉ huy của Hastein tiến về Thung lũng Thames, có thể với ý định giúp bạn bè của họ ở phía tây. Nhưng họ đã gặp phải một đội quân lớn nằm dưới sự chỉ huy của các ealdormen ở Mercia, Wiltshire và Somerset, và buộc phải tiến về phía tây bắc, cuối cùng đã bị phong tỏa tại Buttington. Một số người cho là vị trí này nằm ở Buttington Tump tại cửa sông Wye, trong khi một số khác lại cho là nó ở Buttington gần Welshpool. Một nỗ lực để vượt qua phòng tuyến của quân Anh đều thất bại. Những người trốn thoát được lui về Shoebury. Sau khi có thêm quân tiếp viện, họ đã đột ngột đi xuyên qua nước Anh và chiếm đóng bức tường La Mã đổ nát của Chester. Người Anh không có ý định tiến hành một cuộc phong tỏa mùa đông, thay vào đó lại phá hủy tất cả các nguồn cung cấp trong vùng. Đầu năm 894 (hoặc 895), do thiếu lương thực người Danes phải rút lui một lần nữa về Essex. Vào cuối năm này và đầu năm 895 (hoặc 896), người Danes đã dùng tàu của họ để đi lên sông Thames và sông Lea, củng cố vị trí của họ cách hai mươi dặm (32 km) về phía bắc Luân Đôn. Một cuộc tấn công trực tiếp vào phòng tuyến của người Danes đã thất bại nhưng trong năm sau đó, Alfred đã tìm ra cách ngăn trở dòng sông để ngăn chặn các lối ra của tàu Đan Mạch. Người Danes nhận ra rằng họ đã bị qua mặt. Họ kéo quân về phía tây bắc và trú đông tại Cwatbridge gần Bridgnorth. Các năm tiếp theo, 896 (hoặc 897), họ đã từ bỏ cuộc đấu tranh. Một số lui về Northumbria, một số khác về Đông Anglia. Những người không có liên kết ở Anh rút lui trở lại châu lục. == Tổ chức lại quân đội == Các bộ tộc German xâm chiếm nước Anh vào thế kỷ thứ năm và thứ sáu dựa vào lực lượng bộ binh không mang giáp, hoặc fyrd . Fyrd là lực lượng dân quân địa phương trong lãnh địa Anglo-Saxon, mà trong đó tất cả người tự do đều phải tham gia; những người từ chối nghĩa vụ quân sự sẽ bị phạt tiền hoặc mất đi đất đai , Theo một bộ luật của vua Ine của Wessex, ban hành vào năm 694: Nếu một nhà quý tộc nắm giữ đất đai bỏ qua nghĩa vụ quân sự, anh ta phải nộp 120 shilling và mất đất; một nhà quý tộc không có đất phải nộp 60 shilling; một người dân thường phải trả tiền phạt là 30 shilling cho bỏ qua nghĩa vụ quân sự. Lịch sử những thất bại của xứ Wessex trước sự thành công của ông vào năm 878 đã khiến Alfred nhận ra rằng hệ thống chiến đấu truyền thống mà ông thừa kế đã mang lại lợi thế cho người Danes. Trong khi cả người Anglo-Saxon lẫn Danes đều tấn công các khu định cư để chiếm tài sản và các nguồn tài nguyên khác, họ sử dụng những chiến lược tấn công rất khác nhau. Trong các cuộc tấn công, người Anglo-Saxon thích tấn công trực diện bằng cách tập hợp lực lượng của họ trong theo đội hình khiên, áp sát mục tiêu và đánh bại đội hình khiên của đối phương . Ngược lại, người Danes lại thích lựa chọn các mục tiêu dễ dàng, thiết lập bản đồ đột phá thận trọng để tránh việc dồn hết quân của họ vào một cuộc tấn công mang tính rủi ro cao. Alfred nhận ra chiến lược của người Danes là phát động các cuộc tấn công quy mô nhỏ hơn từ một cơ sở an toàn, nơi mà họ có thể rút lui nếu quân của họ gặp phải sự kháng cự mạnh . Các cơ sở này đã được chuẩn bị trước, thường bằng cách chiếm lấy một địa điểm và củng cố phòng thủ xung quanh bằng mương, tường thành và hàng rào bằng cọc. Một khi bên trong pháo đài, Alfred nhận ra, người Danes có được lợi thế hơn đối phương . Điều này khiến người Anglo-Saxon khi đang tập hợp lực lượng để bảo vệ chống lại kẻ cướp cũng khiến cho họ dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công của người Viking. Trách nhiệm của các lãnh chúa là để đối phó với các cuộc tấn công tại địa phương. Nhà vua có thể kêu gọi lực lượng dân quân quốc gia để bảo vệ vương quốc; Tuy nhiên, trong trường hợp người Viking dùng chiến thuật tấn công đánh và chạy, vấn đề trong việc liên lạc và cung cấp lương thảo cũng có nghĩa rằng các lực lượng dân quân quốc gia không thể tập trung đủ nhanh. Các khu vực rộng lớn hơn có thể bị tàn phá trước khi fyrd mới đến nơi. Và mặc dù các chủ đất có nghĩa vụ với nhà vua trong việc cung cấp quân khi được kêu gọi, trong cuộc tấn công vào 878, nhiều chủ đất đã bỏ rơi vua của họ và cộng tác với Guthrum . Với những bài học này, Alfred vào những năm tương đối yên bình ngay sau chiến thắng của ông tại Edington đã tập trung vào một kế hoạch đầy tham vọng trong việc thay đổi cơ cấu phòng thủ quân sự của vương quốc. Trên một chuyến đi đến Rome, Alfred đã ở lại với Charles Hói và có thể là ông đã học hỏi cách vị vua Carolingian đã xử lý các vấn đề liên quan đến người Viking như thế nào, và từ những kinh nghiệm này mà thiết lập một hệ thống thuế và quốc phòng cho vương quốc. Vì vậy, khi người Viking bắt đầu tấn công trở lại vào năm 892, Alfred đã có thể đối phó với họ bằng một đạo quân cơ động, một mạng lưới các đơn vị đồn trú, và một đội tàu nhỏ trong việc điều hướng các con sông và cửa sông . === Hành chính và thuế === Người dân ở nước Anh thời Anglo-Saxon có nghĩa vụ dựa trên diện tích đất của họ; những cái gọi là "gánh nặng chung" này bao gồm nghĩa vụ quân sự, sửa chữa pháo đài và cầu cống. Nghĩa vụ có truyền thống này được gọi là trinoda neccessitas hoặc trimoda neccessitas . Tên tiếng Anh cổ cho tiền phạt vì tội bỏ qua nghĩa vụ quân sự được gọi là fierdwite hoặc fyrdwitee . Để duy trì các công sự burh và tổ chức lại dân quân fyrd như một đội quân thường trực, Alfred mở rộng hệ thống thuế và nghĩa vụ quân sự dựa vào năng suất từ diện tích đất của người dân. Da thú là đơn vị cơ bản của một hệ thống mà trên đó các nghĩa vụ công cộng của người dân được đánh giá. Một miếng da thú được cho là đại diện cho số lượng đất cần thiết để hỗ trợ cho một gia đình. Các miếng da thú sẽ khác nhau về kích thước dựa theo giá trị và nguồn tài nguyên của đất đai và chủ đất sẽ phải cung cấp dịch vụ dựa trên bao số da thú mà người đó sở hữu . === Hệ thống Burghal === Tại trung tâm của hệ thống phòng thủ quân sự được cải cách bởi Alfred là một mạng lưới các burh, phân bố tại các điểm chiến lược trên khắp vương quốc . Tổng cộng có ba mươi ba burh, cách nhau khoảng 30 km (19 dặm), cho phép quân đội đương đầu với bất kỳ các cuộc tấn công nào trong vương quốc chỉ trong một ngày . Burh của Alfred (sau này gọi là thị xã) kéo dài từ các thị trấn La Mã trước đây, chẳng hạn như Winchester, nơi những bức tường đá cũ được sửa chữa và bổ sung thêm, cho đến những bức tường bằng đất khổng lồ bao quanh bởi mương rộng có thể được gia cố bằng kè gỗ và tường bằng cọc như tại Burpham, Sussex . Kích thước của burh dao động từ tiền đồn nhỏ bé như Pilton đến các công sự lớn ở các thị trấn, lớn nhất là ở Winchester . Một tài liệu mà ngày nay gọi là Burghal Hidage cung cấp một cái nhìn sâu hợn về cách mà hệ thống này hoạt động. Nó liệt kê chỉ số hidage cho mỗi thị trấn được ghi lại trong tài liệu. Ví dụ, Wallingford có hidage là 2400 có nghĩa rằng các chủ đất có trách nhiệm cung cấp và cho ăn cho khoảng 2.400 người, một số lượng đủ để duy trì một bức tường dài 9.900 feet (3,0 km) . Tổng cộng có 27.071 binh sĩ cần thiết cho hệ thống, tức là khoảng một trên bốn người trên tổng số tất cả những người tự do sống trong Wessex . Nhiều burh là các thị trấn đôi nằm lên một con sông và nối với nhau bằng một cây cầu kiên cố, giống như những cái xây dựng bởi Charles Hói một thế hệ trước . Các burh đôi chặn lối đi trên sông, buộc tàu Viking phải di chuyển bên dưới một câu cầu được đồn trú với những người lính được trang bị với đá, giáo hoặc cung tên. Một số burh là các vị trí được bố trí gần khu biệt thự hoàng gia có công sự cho phép nhà vua kiểm soát tốt hơn các thành lũy của ông . Mạng lưới các burh được đồn trú này gây ra những trở ngại đáng kể cho những người Viking xâm lược, đặc biệt là những người mang đầy chiến lợi phẩm. Do thiếu công cụ vây thành người Viking chỉ còn cách bỏ đói burh để khiến họ phục tùng, nhưng điều này lại cho phép nhà vua phái quân thường trực hoặc đơn vị đồn trú từ burh láng giềng đến để hỗ trợ. Trong trường hợp như vậy, người Viking cực kỳ dễ bị tổn thương do gặp phải sự truy đuổi từ lực lượng quân sự của nhà vua . Hệ thống burh mà Alfred đặt ra có tính hiệu quả cao khi mà người Viking tấn công trở lại vào năm 892, người Anglo-Saxon đã có thể hạn chế sự thâm nhập của họ đến các vùng biên giới phía phía ngoài của Wessex và Mercia . Hệ thống phòng thủ này của vua Alfred mang tính cách mạng trong quan niệm chiến lược nhưng cũng khá tốn kém trong việc thực thi. Người viết tiểu sử đương đại là Asser viết rằng nhiều nhà quý tộc đã ngần ngại trước những yêu cầu mới đặt ra cho họ mặc dù chúng phục vụ cho "nhu cầu chung của vương quốc" . === Hải quân === Vào năm 896 , Alfred ra lệnh cho xây dựng một hạm đội nhỏ, khoảng vài chục con thuyền dài có 60 mái chèo, dài gấp hai lần kích thước tàu chiến Viking. Đây không phải là sự ra đời của Hải quân Anh như người dưới thời Victoria khẳng định vì trước đây Wessex đã có trong tay một hạm đội hoàng gia. Vua Athelstan của Kent và Ealdorman Ealhhere đã đánh bại một đội tàu Viking vào năm 851, thu giữ 9 con tàu , và chính bản thân Alfred đã chỉ đạo các hoạt động hải quân vào năm 882 . Tuy vậy, tác giả của Ký sự Anglo-Saxon và có lẽ là chính bản thân vua Alfred coi năm 897 là một bước đánh dấu quan trọng trong sự phát triển sức mạnh hải quân của xứ Wessex. Bộ Ký sự đã ca ngợi sự bảo trợ của hoàng gia bằng cách khoe khoang rằng tàu của Alfred là không chỉ lớn hơn, nhưng nhanh hơn, ổn định hơn và cưỡi sóng cao hơn so tàu của người Đan Mạch và Frisian. Rất có thể là dưới sự giúp đỡ của Asser, Alfred sử dụng thiết kế của tàu chiến Hy Lạp và La Mã, được thiết kế để chiến đấu chứ không phải để điều hướng . Alfred cũng lưu tâm đến sức mạnh trên biển - nếu ông có thể đánh chặn các đội tàu cướp phá trước khi chúng đổ bộ, ông có thể bảo vệ vương quốc của ông khỏi sự tàn phá. Tàu chiến của Alfred tuy vậy chỉ mạnh về mặt lý thiết. Trong thực tế chúng quá lớn để có thể cơ động tốt trong vùng biển gần các cửa sông và con sông, những nơi duy nhất có thể xảy ra hải chiến . Các tàu chiến vào thời điểm đó không được thiết kế để tiêu diệt tàu chiến khác mà là được dùng làm tàu chở quân. Đã có ý kiến cho rằng, giống với các trận hải chiến ở Scandinavia vào cuối thời Viking, những trận hải chiến ở nước Anh có thể bao gồm việc một chiếc tàu sẽ áp sát một tàu địch, lúc này thủy thủ cho hai con tàu đập mạnh vào nhau trước khi nhảy lên tàu của đối phương. Kết quả của hành động này sẽ như một trận chiến trên đất liền liên quan đến một trận chiến xáp lá cà giữa hai thủy thủ đoàn . Trong một trận hải chiến được ghi chép lại vào năm 896 , hạm đội mới của Alfred gồm 9 tàu chặn một nhóm 6 tàu Viking trên miệng một con sông không xác định ở phía nam nước Anh. Người Danes cho neo lại 3 tàu của họ và tiến vào nội địa nhằm để cho người chèo thuyền của họ nghỉ ngơi hoặc đi kiếm thức ăn. Tàu của Alfred lập tức di chuyển để ngăn chặn lối trốn thoát của họ ra biển. Ba tàu Viking còn lại cố gắng vượt qua phòng tiến của người Anh . Chỉ có một tàu vược qua được; tàu của Alfred chặn 2 tàu cònkia lại . Áp sát tàu Viking bằng tàu của chính họ, các thủy thủ người Anh đổ bộ lên tàu của đối phương và giết hết tất cả người trên tàu. Con tàu duy nhất trốn thoát được là do tất cả các tàu nặng hơn của Alfred đều mắc cạn khi thủy triều đi xuống . Những gì xảy ra sau đó là một trận chiến trên đất liền giữa thủy thủ đoàn của những con tàu neo lại. Người Danes, bị áp đảo về quân số, đã có thể bị tiêu diệt nếu thủy triều không nổi lên. Khi điều đó xảy ra, người Danes vội vã quay trở lại thuyền của họ, vốn nhẹ hơn nên đã dễ dàng dời đi trước khi tàu của Alfred đến nơi. Bất lực, người Anh chỉ còn cách nhìn người Viking vược qua họ . Những tên cướp biển đã chịu đựng quá nhiều thương vong (120 người Danes chết khi chống lại 62 người Frisian và Anh) khiến họ gặp khó khăn trong việc đi ra biển. Tất cả tàu của người Danes đều đã quá hư hỏng để di chuyển quanh Sussex và hai tàu bị đẩy về phía bờ biển Sussex (có thể tại Selsey Bill) . Các thủy thủ bị đắm tàu bị đưa đi gặp Alfred ở Winchester và đã bị treo cổ sau đó . == Cải cách == Vào cuối những năm 880 hoặc đầu những năm 890, Alfred đã ban hành một bộ luật dài, bao gồm luật "của riêng" ông tiếp nối theo những luật lệ được đưa ra bởi người tiền nhiệm vào cuối thế kỷ là vua Ine của Wessex . Cùng nhau những điều luật này được sắp xếp thành 120 chương. Trong phần giới thiệu của mình, Alfred giải thích rằng ông đã tập hợp lại với nhau các luật ông tìm thấy trong rất nhiều "sách của hội nghị tôn giáo" và "ordered to be written many of the ones that our forefathers observed—those that pleased me; and many of the ones that did not please me, I rejected with the advice of my councillors, and commanded them to be observed in a different way." Alfred đặc biệt chỉ ra những luật lệ mà ông "tìm thấy trong những ngày của Ine, người bà con của tôi, hoặc từ Offa, vua của Mercians, hay vua Æthelberht của Kent, người đầu tiên trong số những người Anh được rửa tội". Ông tiếp nối thay vì tích hợp các luật lệ của Ine vào bộ luật của mình. Offa chưa bao giờ ban hành một bộ luật nào, dẫn đến việc sử gia Patrick Wormald suy đoán rằng Alfred đã nắm được bộ luật capitulary legatine được dâng lên cho Offa bởi hai sứ thần của giáo hoàng vào năm năm 786 . Khoảng một phần năm của bộ luật được nêu lên theo lời giới thiệu của Alfred, trong đó bao gồm các bản dịch ra tiếng Anh của Mười điều răn, một vài chương trong Sách Xuất Hành, và "Tông Thư" từ Sách Công vụ Tông đồ (15:23-29). Lời giới thiệu có thể được hiểu như là Alfred suy ngẫm về ý nghĩa của pháp luật Kitô giáo . Nó là nguồn liên kết giữa món quà của Luật pháp mà Chúa tặng cho Moses và việc Alfred phát hành bộ luật riêng cho người Tây Saxon. Bằng cách này, nó liên kết quá khứ thần thánh đến lịch sử hiện tại và do đó đại diện cho pháp luật của Alfred như là một loại pháp luật linh thiên . Đây là lý do mà Alfred chia bộ luật của ông thành 120 chương: 120 là độ tuổi mà Moses qua đời, theo biểu tượng của các chú giải Thánh Kinh vào đầu thời trung cổ, 120 đại diện cho luật pháp . Mối liên hệ giữa Luật Mosaic và luật pháp của Alfred là "Tông Thư", tron đó giải thích rằng Chúa Kitô "đã đến không phải để phá vỡ hoặc bãi bỏ các điều răn, nhưng là để kiện toàn; và ông dạy lòng thương xót và sự hiền lành" (Intro, 49,1). Lòng thương xót mà Chúa truyền vào Luật Mosaic là nền tảng của thuế thương tích nổi bật trong các bộ luật man rợ, kể từ khi hội nghị tôn giáo Thiên chúa "established, through that mercy which Christ taught, that for almost every misdeed at the first offence secular lords might with their permission receive without sin the monetary compensation, which they then fixed.". Tội ác duy nhất không thể được bồi thường bằng tiền là việc phản bội người đứng đầu, "since Almighty God adjudged none for those who despised Him, nor did Christ, the Son of God, adjudge any for the one who betrayed Him to death; and He commanded everyone to love his lord as Himself.".Alfred chuyển đổi lời răn của Chúa Kitô từ "Love your neighbour as yourself" (Matt. 22:39–40) to love your secular lord as you would love the Lord Christ himself underscores the importance that Alfred placed upon lordship, which he understood as a sacred bond instituted by God for the governance of man. Khi so sánh lời giới thiệu của bộ luật với những điều khoản được ghi trong đó, rất khó để phát hiện ra bất kỳ sự sắp xếp hợp lý nào. Những ai đọc bộ luật sẽ chỉ thấy một hỗn hợp các điều luật linh tinh. Các bộ luật, vì đặc tính của nó, không phù hợp để sử dụng trong các vụ kiện. Trên thực tế, một số điều luật của Alfred trái với luật của Ine, vốn là một phần không thể thiếu của bộ luật. Patrick Wormald giải thích rằng bộ luật của Alfred nên được hiểu không phải là một thủ tục pháp lý, nhưng mà là một tuyên ngôn về ý thức hệ của vương quyền, "thiết kế cho tác động tượng trưng hơn là chỉ đạo thực tiễn" . Trong thực tế, điều khoản quan trọng nhất trong bộ luật cũng chính là câu đầu tiên: "Chúng tôi ra lệnh cấm, những gì là cần thiết nhất, mà mỗi người phải giữ cẩn thận trong lời thề và cam kết của họ", diễn tả một nguyên lý cơ bản của pháp luật Anglo-Saxon . Alfred dành một sự quan tâm và suy nghĩ đáng kể đến các vấn đề tư pháp. Asser nhấn mạnh mối quan tâm của ông cho sự công bằng tư pháp. Alfred, theo Asser, sau khi xem xét các bản án tạo ra bởi ealdormen và reeve, khẳng định rằng ông "sẽ xem xét cẩn thận gần như tất cả các bản án đã được thông qua [cấp] trong sự vắng mặt của ông ở bất cứ đâu trong lãnh địa, để xem chúng chúng có công bằng hay không" . Một hiến chương từ triều đại của con trai ông là Edward Trưởng giả đã mô tả Alfred nghe được lời kêu gọi như vậy trong buồng ngủ của ông, trong khi đang rửa tay . Asser đại diện Alfred như một thẩm phán Solomon, siêng năng trong việc điều tra pháp lý và trách mắng các quan chức hoàng gia đã đưa ra các bản án bất công hay không khôn ngoan. Mặc dù Asser chưa bao giờ nói về bộ luật của Alfred, ông cũng nói rằng Alfred khẳng định rằng các thẩm phán của ông là biết chữ để họ có thể áp dụng chính mình "để theo đuổi sự khôn ngoan." Việc không tuân theo mệnh lệnh này của hoàng gia này sẽ bị trừng phạt bằng cách cách chức . Ký sự Anglo-Saxon, sáng tác vào thời của vua Alfred, có lẽ được viết để thúc đẩy sự thống nhất đất nước (nước Anh) , trong khi cuốn Cuộc đời của Vua Alfred của Asser lại ca ngợi các thành tựu và phẩm chất cá nhân của Alfred. Có thể là tài liệu này được thiết kế theo cách này để chúng có thể được phổ biến ở xứ Wales, vốn được Alfred nắm quyền kiểm soát vào thời điểm đó . == Quan hệ với bên ngoài == Asser miêu tả quan hệ của Alfred với các cường quốc nước ngoài, nhưng rất ít thông tin nhất định có sẵn . Sụ quan tâm của ông đối với nước ngoài được thể hiện bởi các phần thêm vào mà ông thực hiện trong bản dịch của Orosius. Ông trao đổi thư từ với Elias III, Thượng Phụ của Giêrusalem và mở đại sứ quán đến Rome để truyền đạt những bố thí của người Anh với Giáo hoàng một cách khá thường xuyên Khoảng năm 890, Wulfstan của Hedeby đã thực hiện một cuộc hành trình từ Hedeby ở Jutland dọc biển Baltic đến thị trấn thương mại Truso ở Phổ. Bản nhân Alfred thu thập thông tin chi tiết của chuyến đi này . Quan hệ của Alfred với các hoàng tử Celtic ở nửa phía Tây của nước Anh thì rõ ràng hơn. Tương đối sớm trong triều đại của ông, theo Asser, các hoàng tử xứ Nam Wales, do áp lực từ Bắc Wales và Mercia, đã ca tụng Alfred. Cuối triều đại của ông Bắc Welsh cũng noi theo gương của họ, và sau này đã phối hợp với ngườitiếng Anh trong các chiến dịch năm 893 (hoặc 894). Alfred cũng gửi bố thí cho các tu viện ở Irish và Continental dựa trên thẩm quyền của Asser. Chuyến thăm của ba người hành hương "Scot" (tức là Irish) đến Alfred vào năm 891 chắc chắn là có thực. Câu chuyện việc bản thân ông trong thời thơ ấu của mình đã được gửi đến Ireland để được chữa lành bởi Thánh Modwenna, mặc dù là thần thoại, đã thể hiện sự quan tâm của Alfred đến hòn đảo này . == Tôn giáo và văn hóa == Vào những năm 880, cùng lúc với việc "thuyết phục và đe dọa" những quý tộc của mình xây dựng và quản lý các burh, Alfred, có lẽ được truyền cảm hứng từ Hoàng đế Charlemagne sống gần một thế kỷ trước, cũng đã nỗ lực để thực hiện tham vọng khôi phục giáo dục. Trong thời kỳ này, những cuộc tấn công của người Viking thường được xem như sự trừng phạt của thần linh, và Alfred có lẽ đã cố phục hồi tôn giáo để làm dịu cơn thịnh nộ của Chúa. Công cuộc này dẫn tới việc chiêu mộ các tu sĩ có học thức từ Mercia, Wales và ngoại quốc nhằm nâng cao trình độ của triều đình và của các giám mục quản lý nhà thờ; việc thiết lập một trường học trong cung để giáo dục các con của ông, con trai của các quý tộc, và các cậu bé có tố chất về mặt trí tuệ ở các tầng lớp thấp hơn; yêu cầu phải biết chữ đối với những người cai quản các cấp chính quyền; một loạt các hoạt động dịch thuật ra tiếng Latin bản địa các tác phẩm mà nhà vua cho rằng "mọi người cần phải biết nhất"; sự biên soạn một biên niên ký chi tiết về nguồn gốc của vương quốc và gia tộc của Alfred, với ông tổ là Adam, làm cho vị vua này có xuất thân từ kinh thánh. Có rất ít ghi chép về hệ thống nhà thờ dưới thời của Alfred. Các cuộc tấn công của người Đan Mạch đặc biệt phá hoại các tu viện, và Alfred đã cho thành lập các tu viện ở Athelney và Shaftesbury, những nhà dòng đầu tiên ở Wessex kể từ đầu thế kỷ thứ VIII. Theo Asser, Alfred đã lôi kéo các thầy tu ngoại quốc tới tu viện ở Athelney của ông vì có rất ít người dân bản địa muốn trở thành tu sĩ. Alfred không có cải cách gì về hệ thống tu viện hay các thói quen tín ngưỡng ở Wessex. Đối với ông, điều chính yếu để khôi phục niềm tin vào tôn giáo của vương quốc là phải có các giám mục và cha trưởng tu viện ngoan đạo, có học thức cao và tốt bụng. Trong vai trò một vị vua, ông cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm về phúc lợi về mặt trần thế và tinh thần của con dân mình. Quản lý các vấn đề thế tục và tinh thần không phải là hai hạng mục quá tách biệt đối với Alfred. Ông cũng rất thoải mái trong việc chia sẻ bản dịch Pastoral Care của Giáo hoàng Gregory I cho các giám mục để họ có thể đào tạo và giám sát các giáo sĩ tốt hơn, và chỉ định các giám mục này làm quan chức và thẩm phán. Và lòng mộ đạo cũng không ngăn ông sung công những phần đất có vị trí chiến lược thuộc nhà thờ, nhất là những bất động sản dọc biên giới Danelaw, và chuyển đổi chúng thành các thành trì thuộc hoàng gia để có thể chống lại các đợt tấn công của người Viking tốt hơn. == Hình dáng và tính cách == == Gia đình == == Tổ tiên == == Qua đời, chôn cất và số phận của hài cốt == == Vinh danh == Alfred được giáo hội Công giáo Rôma và Chính Thống giáo phương Đông phong thánh và được xem là anh hùng của nhà thờ Thiên Chúa giáo trong cộng đồng giáo phái Anh, với ngày lễ là 26 tháng 10, và có thể được vẽ trên kính màu ở các nhà thờ Anh. == Di sản == Phần lớn cải cách của vua Alfred được xem là đặt nền tảng cho việc xây dựng nước Anh. == Tượng == == Xem thêm == Lịch sử quân sự Anh Vương quốc Anh Những vầng thơ ngắn của Boethius Ngọc đá quý Alfred == Tham khảo == Bùi Đức Tịnh (biên dịch) Lịch sử thế giới: Từ 570 triệu năm trước đến 1990 Công nguyên: Trình bày bằng những hình ảnh cụ thể, Nhà xuất bản Văn hóa, tr. 125. == Đọc thêm == == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
kinh nguyệt.txt
Kinh nguyệt là tập hợp các thay đổi sinh lý lặp đi lặp lại ở cơ thể phụ nữ dưới sự điều khiển của hệ hormone sinh dục và cần thiết cho sự sinh sản. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt điển hình xảy ra hàng tháng giữa thời kỳ dậy thì và mãn kinh. Cùng với loài người, chu kỳ kinh nguyệt chỉ xảy ra ở các loài khỉ cao cấp khác, trong khi hầu hết các loài có vú có chu kỳ động dục. Trong chu kỳ kinh nguyệt, cơ thể phụ nữ trưởng thành về giới tính phóng thích một trứng (đôi khi 2 trứng, có thể dẫn đến hình thành 2 hợp tử và sinh đôi) vào giai đoạn phóng noãn (rụng trứng). Trước khi phóng noãn, nội mạc tử cung, bao phủ bề mặt tử cung, được xây dựng theo kiểu đồng bộ hoá. Sau khi phóng noãn, nội mạc này thay đổi để chuẩn bị cho trứng thụ tinh làm tổ và hình thành thai kỳ. Nếu thụ tinh và thai kỳ không xảy ra, tử cung loại bỏ lớp nội mạc và chu kỳ kinh mới bắt đầu. Quá trình loại bỏ nội mạc được gọi là hành kinh và biểu hiện ra bên ngoài là kinh khi phần nội mạc tử cung và các sản phẩm của máu ra khỏi cơ thể qua âm đạo. Mặc dù nó thường được gọi là máu, nhưng thành phần của nó khác với máu tĩnh mạch. Hành kinh là dấu hiệu người phụ nữ không mang thai. (Tuy nhiên, điều này không chắc chắn vì đôi khi có hiện tượng chảy máu trong giai đoạn sớm của thai kỳ.) Trong tuổi sinh sản, không hành kinh là dấu hiệu đầu tiên nghi vấn một phụ nữ có thể có thai. Trễ kinh là khi giai đoạn hành kinh theo mong đợi đã đến nhưng không xảy ra, và người phụ nữ có thể đã thụ thai. Hành kinh là hiện tượng bình thường của tiến trình tự nhiên theo chu kỳ xảy ra ở phụ nữ khoẻ mạnh giữa tuổi dậy thì và cuối tuổi sinh sản. Tuổi trung bình của hành kinh lần đầu là 12 tuổi, nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào từ 8 đến 16 tuổi.[1]Lần kinh cuối, mãn kinh, thường xảy ra vào giữa độ tuổi 45 và 55. Lệch khỏi mẫu hình này cần được quan tâm về y khoa. Vô kinh chỉ một giai đoạn dài mất kinh không do thai kỳ ở phụ nữ trong tuổi sinh sản, thí dụ ở phụ nữ có lượng mỡ cơ thể rất thấp, như vận động viên, có thể bị ngưng hành kinh. Sự hiện diện của kinh nguyệt không chứng minh rụng trứng đã xảy ra, và người phụ nữ không rụng trứng vẫn có thể có chu kỳ kinh nguyệt. Các chu kỳ kinh nguyệt không rụng trứng có khuynh hướng diễn ra không đều và biểu hiện độ dài chu kỳ dao động lớn hơn. Ngoài ra, không hành kinh cũng không chứng minh rụng trứng đã không xảy ra, vì những bất thường về hormone ở phụ nữ không mang thai có thể ức chế hiện tượng chảy máu. == Từ nguyên == Kinh: trải qua, từng qua. Nguyệt: tháng. Việt-Nam Tự-Điển định nghĩa "kinh nguyệt" là "sự thấy tháng" ở phụ nữ. == Tổng quan == Kinh nguyệt bình thường kéo dài vài ngày, thường 3 đến 5 ngày, nhưng một sốt trường hợp 2 đến 7 ngày cũng được xem là bình thường. Chu kỳ kinh nguyệt trung bình là 28 ngày kể từ ngày đầu tiên của một chu kỳ có kinh đến ngày đầu tiên của chu kỳ tiếp theo. Chu kỳ kinh nguyệt bình thường ở phụ nữ trưởng thành nằm trong khoảng 21 đến 35 ngày. Đối với thiếu nữ thì có sự dao động rộng hơn thường trong khoảng 21 đến 45 ngày. Các biểu hiện kinh nguyệt xuất hiện trong thời gian khi có kinh như đau ngực, sưng, đầy hơi, mụn trứng cá là các molimina tiền kinh nguyệt. Thể tích trung bình của chất lỏng kinh nguyệt trong một chu kỳ hàng tháng là 35 ml với 10–80 ml được coi là điển hình. Chất lỏng kinh nguyệt được gọi chính xác là dòng kinh nguyệt, mặc dù nhiều người hay gọi nó là máu kinh. Chất lỏng kinh nguyệt thực tế có chứa một ít máu, cũng như chất nhầy cổ tử cung, âm đạo và các mô nội mạc cổ tử cung. Chất lỏng kinh nguyệt có màu nâu đỏ, hơi đậm hơn so với máu tĩnh mạch. Nhiều phụ nữ trưởng thành cũng thấy xuất hiện máu cục trong khi hành kinh. Các cục này như những cục máu trông giống như mô. Nếu có thắc mắc (ví dụ như có sẩy thai hay không?), thì việc kiểm tra dưới kính hiển vi sẽ xác nhận liệu nó có phải là các mô nội mạc tử cung hay các mô thai (đã thụ thai) đã bị thải ra. Đôi khi máu cục hoặc mô nội mạc tử cung thải ra không phản ánh đúng sẩy thai của phôi trước thời hạn. Một enzym có tên gọi là plasmin – chứa nội mạc tử cung – có khuynh hướng ức chế máu từ máu đông. Lượng sắt bị mất trong chất lỏng kinh nguyệt tương đối nhỏ so với hầu hết phụ nữ. Theo một nghiên cứu, phụ nữ tiền mãn kinh thể hiện các triệu chứng thiếu sắt khi nội soi. 86% trong số họ thật sự đã có bệnh đường tiêu hóa và có nguy cơ bị chẩn đoán nhầm đơn giản chỉ vì họ đang có kinh. Chảy máu nhiều xuất hiện hàng tháng có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu. Kỳ kinh nguyệt đầu tiên xuất hiện ngay sau khi bắt đầu phát triển dậy thì. Tuổi có kinh thường bắt đầu khoảng 12–13 (xảy ra sớm hơn ở các bé gái Mỹ gốc Phi so với người da trắng châu Âu), nhưng thường có thể xuất hiện ở tuổi 9 đến 15. Có kinh sớm hoặc chậm nên được kểm tra; nhiều nguồn tài liệu cũ hơn cho thấy rằng nên kiểm tra nếu kỳ kinh đầu tiên xuất hiện trước 10 tuổi hoặc muộn hơn sau 16 tuổi, trong khi các tài liệu mới hơn dựa trên nhiều chứng cứ hơn thì cho rằng nên kiểm tra nếu kỳ kinh đầu tiên xuất hiện trước 9 tuổi, hoặc nếu không có ở tuổi 15, nếu không có sự phát triển của ngực ở tuổi 13, hoặc nếu không có chu kỳ trong vòng 3 năm sau khi ngực phát triển. Mãn kinh là khi khả năng thụ tinh (sinh sản) ở phụ nữ giảm, và kinh nguyệt có thể xảy ra không thường xuyên trong nhiều năm kể từ kỳ kinh nguyệt cuối cùng, khi phụ nữ ngừng kinh nguyệt hoàn toàn và không còn thụ tinh nữa. Định nghĩa của ngành y về thời kỳ mãn kinh là trong một năm mà không có kỳ nào, và thường xuất hiện ở lứa tuổi cuối 40 và đầu 50 ở các quốc gia phương Tây. == Hình ảnh == khi mang thai không xảy ra hiện tượng kinh nguyệt khi trứng rụng, nang trứng còn lại sẽ tạo thành thể vàng tiết hooc- mon progesteron, cùng với otstrogen làm lớp niêm mạc tử cung dày lên, xốp, tích nhiều máu - khi trứng chưa được thụ tinh thì thể vàng suy giảm hooc-mon progesteron không được tiết ra--> niêm mạc bị bong tróc gây chảy máu _ còn khi trứng đã thụ tinh rồi, bám vào lớp niêm mạc tử cung tạo thành nhau thai. nhau thai tiết ra hooc mon kích dục nhau thai HCG -->duy trì thể vàng --> progesteron vẫn được tiết ra --> lớp niêm mạc tử cung bị bong tróc--> không gâ chảy máu == Chú thích == == Xem thêm == Mãn kinh
châu âu.txt
Châu Âu về mặt địa chất và địa lý là một bán đảo hay tiểu lục địa, hình thành nên phần cực tây của đại lục Á-Âu, hay thậm chí Âu Phi Á, tùy cách nhìn. Theo quy ước, nó được coi là một lục địa, trong trường hợp này chỉ là một sự phân biệt thuần về văn hóa hơn là địa lý. phía bắc giáp Bắc Băng Dương, phía tây giáp Đại Tây Dương, phía nam giáp Địa Trung Hải và biển Đen, tuy nhiên về phía đông thì hiện không rõ ràng. Tuy nhiên có thể coi dãy núi Ural được coi là vùng đất với địa lý và kiến tạo rõ rệt đánh dấu ranh giới giữa châu Á và châu Âu (xem chi tiết trong bài Địa lý châu Âu). Khi được coi là một lục địa thì châu Âu thuộc loại nhỏ thứ hai trên thế giới về diện tích, vào khoảng 10.600.000 km², và chỉ lớn hơn Úc. Xét về dân số thì nó là lục địa xếp thứ tư sau châu Á, châu Mỹ và châu Phi. Dân số của châu Âu vào năm 2003 ước tính vào khoảng 799.466.000: chiếm khoảng 16% dân số thế giới. == Từ nguyên == Tên gọi trong tiếng Việt của châu Âu bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “歐洲” (âm Hán Việt: Âu châu). Chữ “Âu” 歐 trong “Âu châu” 歐洲 là gọi tắt của “Âu La Ba” 歐羅巴. “Âu La Ba” 歐羅巴 là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “Europa”. Từ “Europa” trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọi tiếng La-tinh “Europa”. Nàng Europa (tiếng Hy Lạp: Ευρώπη; xem thêm Danh sách các địa danh Hy Lạp cổ đại) là một công chúa con vua Agenor xứ Týros trong thần thoại Hy Lạp, bị thần Zeus - cha của các vị thần - dưới dạng một con bò trắng dụ đưa đến đảo Crete (Kríti), tại đó nàng hạ sinh Minos - sau là chúa đảo Crete. Trong các tác phẩm của Homer, Ευρώπη là tên vị hoàng hậu thần thoại của đảo Crete, chứ không phải địa danh. Sau đó, từ này trở thành tên gọi của mảnh đất Hy Lạp và đến năm 500 TCN, ý nghĩa của nó được dùng rộng ra cho cả phần đất đó lên tận phía bắc. Xét rộng ra thì từ này trong tiếng Hy Lạp gồm hai từ eurys ("rộng") và ops ("mặt"), tuy nhiên giả thuyết này không rõ ràng. Một số nhà ngôn ngữ học đưa ra một giả thuyết khác dựa trên nguồn gốc dân gian là từ này có gốc từ tiếng Semit, bản thân lại mượn từ erebu trong tiếng Akkad, nghĩa là "mặt trời lặn" (tức phương Tây) (xem thêm Erebus). Đứng từ phía châu Á hay Trung Đông thì đúng là Mặt Trời lặn ở phần đất châu Âu–mảnh đất phía tây. Cũng thế, tên gọi châu Á có gốc từ asu trong tiếng Akkad, nghĩa là "mặt trời mọc", chỉ vùng đất phía đông dưới góc nhìn của một người Lưỡng Hà. Ở Việt Nam, châu Âu còn được biết đến với cái tên "Lục địa già", chú ý phân biệt với thuật ngữ Cựu Thế giới để chỉ Lục địa Phi-Á Âu. Bản đồ châu Âu chứa các liên kết, thể hiện các biên giới địa lý thông thường (chú thích: đen = nằm hoàn toàn ở châu Âu; xanh lam = nằm trên cả châu Á và châu Âu; xanh lá cây = đôi khi được tính vào châu Âu nhưng theo địa lý nằm ngoài biên giới châu Âu) == Lịch sử == === Sự hình thành của châu Âu === Châu Âu có một quá trình lịch sử xây dựng văn hóa và kinh tế tương đối lâu đời, có thể xét từ Thời đại đồ đá cũ (Paleolithic). Việc khám phá ra những viên đá hình bàn tay có độ tuổi cách đây 800.000 năm theo phương pháp định tuổi cácbon mới đây tại Monte Poggiolo, Ý, có thể có những ý nghĩa đặc biệt. Nền văn minh Hy Lạp cổ đại được coi là "Bà mẹ của châu Âu". Tương truyền, người Troia ở Tiểu Á đã bắt cóc vợ của vua Menelaus người Hy Lạp. Để đáp trả, quân Hy Lạp vượt biển làm nên cuộc chiến tranh thành Troia, và phá tan được thành này. Nền văn hóa Hy Lạp bấy giờ có biết bao nhiêu là anh tài xuất chúng như Homer, Hesiod, Callinus người xứ Ephesus, Xenophanes người xứ Colophon... về thi ca, Aristotle và Plato về triết học, Pythagoras người đảo Samos về toán học, Herodotos, Thucydies, Xenophon... về sử học. Trong các thành bang Hy Lạp cổ, Nhà nước chính trị đầu sỏ Sparta (Lacedaemon) thì tập trung xây dựng chủ nghĩa quân phiệt, còn nước Cộng hòa Athena dân chủ thì phát triển hoàng kim dưới thời cầm quyền của lãnh tụ Perikles. Cũng có những Nhà nước quân chủ, tỷ như đảo Samos của ông vua hải tặc Polycrates, và cũng có những Nhà nước độc tài, điển hình là các thành bang chư hầu của người Ba Tư ở Tiểu Á (Từ năm 559 trước Công Nguyên vua Cyrus Đại Đế khởi lập Đế quốc Ba Tư và chinh phạt phần phía đông cũng nền văn minh Hy Lạp). Nhờ tài năng của mình, các chiến binh Hy Lạp ở châu Âu đã cầm chân và đánh tan tác quân xâm lược Ba Tư trong những trận đánh lừng lẫy. Người Hy Lạp cũng tổ chức những kỳ Hy Vận Hội trên núi Olympus, trong đó có nhiều môn thi đấu. Người Athena kể từ thời Perikles là trung tâm của nền văn minh Hy Lạp xưa. Nhưng từ năm 431 trước Công Nguyên cho đến năm 404 trước Công Nguyên, người Sparta đánh Athena trong cuộc Chiến tranh Peloponnesus dẫn đến sự suy sụp của thành bang Athena cũng như của chế độ dân chủ, thống soái Sparta là Lysandros ca khúc khải hoàn. Tuy Athena nỗ lực hồi phục nhưng họ không thể nào làm đàn anh của thế giới Hy Lạp cổ nữa. Nhưng đến Sparta hùng mạnh cũng bị quân Thebes đánh bại trong trận Leuctra vào năm 371 trước Công Nguyên. Vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, khi tộc Hy Lạp cứ đánh nhau suốt mà không có ai làm bá chủ, Vương quốc Macedonia vươn lên, vua Philippos II xuất chinh đánh tan nát liên quân Athena - Thebes, dẫn đến sự kết liễu nền độc lập của các thành bang Hy Lạp. Vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, tộc Hy Lạp có Vương quốc Macedonia vươn lên, vua Alexandros Đại Đế (trị vì: 336 - 323 trước Công nguyên) mở rộng bờ cõi đất nước cho đến tận sông Ấn trong một loạt cuộc chinh phạt lẫy lừng của ông, nhưng những cuộc chiến tranh liên miên này kết thúc sau khi ông qua đời. Nhờ có Alexandros Đại Đế mà nền văn minh Hy Lạp truyền bá mạnh mẽ đến Á châu, tạo nên các quốc gia Hy Lạp hóa. Vào năm 753 trước Công nguyên, Vương quốc La Mã ra đời với việc vua Romulus gầy dựng "kinh thành vĩnh cửu" La Mã. Sau khi lật đổ vua Tarquin Kiêu hãnh và năm 510 trước Công Nguyên thì người La Mã thiết lập nền Cộng hòa do các quan Tổng tài trị nước. Thoạt đầu họ lâm chiến với Vương quốc Ipiros do vua Pyrros trị vì (282 - 272 trước Công nguyên), và dù ban đầu ông vua mạo hiểm này giữ được xứ Syracuse, Syracuse thất thủ và nhà toán học lỗi lạc Archimedes bị một tên lính La Mã giết hại trong trận chiến này (212 trước Công Nguyên). Trước vó ngựa của người La Mã, nền văn minh Hy Lạp cùng các quốc cuối cùng đã chinh phạt được nền văn minh Hy Lạp xưa, và dần dần tiêu diệt luôn cả các quốc gia Hy Lạp hóa. Thời bấy giờ, Cicero là nhà hùng biện xuất sắc nhất của La Mã. Danh tướng Julius Caesar thắng lớn trong các cuộc nội chiến La Mã, khi ông ta lên làm nhà độc tài, có người cảm thấy lo sợ nền Cộng hòa sụp đổ nên đã lập mưu giết ông vào năm 44 trước Công Nguyên. Cuối cùng cháu ông là Augustus lật đổ chế độ Cộng hòa và lên ngôi Hoàng đế, thành công vang dội trong việc thiết lập Đế quốc La Mã. Vào năm 9, quân La Mã đại bại trong trận chiến Teutoburg với các bộ lạc người German do tù trưởng Hermann chỉ huy. Cuộc xâm lược Đức của người La Mã hoàn toàn thất bại và chiến công hiển hách giải phóng Đức của Hermann đã mở đường cho sự phát triển riêng biệt của nền văn hóa dân tộc Đức. Nền văn minh La Mã sản sinh những nhân tài sử học như Titus Livius, Plutarchus. Cùng thời đó, Ki-tô giáo cũng ra đời ở Tây Á, với những lời giáo huấn của Chúa Giêsu người xứ Nazareth. Ngài bị đóng đinh tại Jerusalem dưới triều Hoàng đế Tiberius (trị vì: 14 - 37). Khi quân La Mã xâm lược đảo Anh, vị Nữ hoàng tóc đỏ Boudicca kêu gọi nhân dân kháng chiến, nhưng bị đánh bại. Đế quốc La Mã thái bình thạnh trị dưới các triều Hoàng đế Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và Marcus Aurelius từ năm 96 đến năm 180. Nerva cứu giúp người bần hàn, Traianus thì sáng suốt và có tài dụng binh, Hadrianus thì bảo trợ nghệ thuật và kiến trúc, Antoninus Pius thì hiển đức còn Marcus Aurelius thì quả là một ông vua - hiền triết đức độ, với tinh thần trách nhiệm cao. Người Goth (tộc German) tấn công La Mã vào năm 250 và hủy diệt quân đội của Hoàng đế Decius, giết được cả Decius. Sau một thời kỳ đại loạn, Hoàng đế Diocletianus (trị vì: 284 - 305) gầy dựng lại cơ đồ La Mã, xuất chinh thắng địch mang lại vẻ vang cho Đế quốc. Với các Hoàng đế Domitianus, Marcus Aurelius, Decius và Diocletianus, Ki-tô giáo bị trấn áp tàn nhẫn. Cũng từ thời Diocletianus, Đế quốc La Mã bị chia cắt thành hai nước. Ông trị vì phần phía đông, từ đó khởi lập Đế quốc Đông La Mã. Hoàng đế Constantinus I Đại Đế dời đô về thành Tân La Mã, từ đó thành La Mã không còn làm kinh đô của đát nước mà chính nó lập ra nữa. Với những chiến công hiển hách của Constantinus I Đại Đế, Đế quốc La Mã thống nhất. Cũng trong thời điểm này lần đầu tiên Ki-tô giáo trở thành quốc giáo của La Mã. Người Goth càng ngày hùng mạnh làm Hoàng đế Theodosius I Đại Đế phải gặp nhiều gian nan, để bảo vệ Đế quốc La Mã. Trong triều vua này Ki-tô giáo hoàn toàn là tôn giáo hợp pháp duy nhất của Đế quốc La Mã. Khi ông qua đời vào năm 395, Đế quốc La Mã không bao giờ được thống nhất nữa. Vào năm 410, khi có loạn người La Mã phải rời khỏi đảo Anh, tạo điều kiện cho nước Anh trỗi dậy. Vào năm 441, vua Attila kéo đại binh Hung Nô vào phá tan tành vài thành phố của người Tây La Mã, song quân Tây La Mã của danh tướng Flavius Aetius hợp binh với vua người Tây Goth là Theodoric và đánh tan tác quân đội tinh nhuệ của Attila trong trận đánh lớn tại Chalons (451). Mối đe dọa từ người Hung Nô bị đẩy lùi. Trước cuộc tấn công của người German, Đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm 476 đời Hoàng đế Romulus Augustus. Từ đó, châu Âu đã bước vào một thời kỳ dài đầy biến động thường được biết đến dưới tên gọi Thời kỳ Di cư. Thời kỳ đó còn gọi là "Thời kỳ Đen tối" theo các nhà tư tưởng Phục Hưng, và là "Thời kỳ Trung cổ" theo các nhà sử học đương đại và những người thuộc phong trào Khai sáng. Trong suốt thời gian này, các tu viện tại Ireland và các nơi khác đã gìn giữ cẩn thận những kiến thức đã được ghi chép và thu thập trước đó. Đến năm 610, người Avar và Quân đội Ba Tư tiến đánh Đế quốc Đông La Mã, Hoàng đế Phocas không giữ được nước, bị Heraclius hạ bệ. Là người có tài dụng binh, Heraclius phản công đại phá tan nát quân Ba Tư, Đế quốc Ba Tư đại bại vào năm 627. Nhưng đúng lúc đó, người Ả Rập Hồi giáo trỗi dậy mãnh liệt dưới sự lãnh đạo của nhà tiên tri Muhammad ở Tây Á. Vào năm 632, vó ngựa của người Ả Rập tung hoành trên Đế quốc Đông La Mã. Hoàng đế Heraclius xuất chinh, bị thảm bại tại Yarmouk (636). Vào năm 638, ông tiếp tục mất thành Jerusalem về tay quân Ả Rập do Khalip Omar thân chinh thống suất. Bước tiến của người Ả Rập vào Âu châu chỉ bị một bộc lạc người German là người Frank do Karl Búa Sắt chỉ huy chặn đứng tại Tours (732). Dưới triều vua Karl I Đại Đế (trị vì 768 - 814), Đế quốc Frank cường thịnh tung hoành ngang dọc khắp cõi Âu châu. Đế quốc Frank bấy giờ có cương thổ từ biển Đại Tây Dương cho đến sông Danube, từ Hà Lan cho đến Provence. Ông cũng củng cố vùng núi Pyrenees nhằm chống lại các cuộc cướp phá của quân Ả Rập. Vào năm 800, Giáo hoàng Lêô III tấn phong Karl I Đại Đế làm Hoàng đế. Từ đây, một Đế quốc Ki-tô giáo ở Tây phương được hình thành, độc lập với Đế quốc Đông La Mã. Chế độ phong kiến được dựng xây, người Frank bấy giờ coi như đã hợp nhất Âu châu, nhưng sự thống nhất này cũng tan thành mây khói sau khi Hoàng đế Karl I qua đời. Các vua kế tục Karl I Đại Đế đánh lẫn nhau, và theo Hiệp định Verdun (843) thì các quốc gia Đức và Pháp ra đời. Vua Heinrich der Finkle (trị vì: 912 - 936) là người có công đưa nước Đức trở thành một liệt cường của châu Âu thời Trung Cổ. Ông ngự tại kinh thành Mamleben ở vùng núi Harz, và chinh đông, dựng xây các thành phố đồng thời ngăn chặn những cuộc xâm lược của người Magyar, người Slavơ và ngưới Đan Mạch. Con ông là vua Otto I người xứ Sachsen (trị vì: 936 - 973) xuất chinh đập tan tác quân xâm lược Magyar trong trận Lechfeld vang danh (955). Bước tiến công của người Magyar vào châu Âu hoàn toàn bị đẩy lùi. Sau chiến công hiển hách, vua Otto I được Giáo hoàng Gioan XIII tấn phong làm Hoàng đế, từ đây khởi lập Đế quốc La Mã Thần thánh. Trong khi ấy, Đế quốc Đông La Mã hưng thịnh với Hoàng đế Basil I (trị vì: 867 - 886), người có tài trị quốc đã củng cố sự vững mạnh của Đế quốc. Các Hoàng đế Leōn VI ho Sophos (886 - 912) và Kōnstantinos VII Porphyrogennētos (trị vì: 913 - 959) đưa kinh kỳ Constantinopolis trở nên phồn vinh và khuếch trương thương mại. Thời bấy giờ, ở vùng Balkan một quốc gia hùng mạnh trỗi dậy, trở thành kẻ kình địch của Đế quốc Đông La Mã. Đó là Đệ nhất đế chế Bulgaria, do các thủ lĩnh dũng mãnh Terbel, Crum và Omartag khởi lập. Người Bulgaria theo Ki-tô giáo Chính Thống, nhưng điều này không thể ngăn họ đánh nhau với người Đông La Mã. Sa hoàng Crum đã tuyên chiến với người Đông La Mã, tiêu diệt Hoàng đế Nicephorus I Dưới triều Sa hoàng Simeon I (trị vì: 893 - 927), ông xưng "Quốc vương và Đấng cầm quyền chuyên chính của người Hy Lạp và Bulgaria", khởi binh đánh thành Constantinopolis nhưng thất bại (924). Sang đời Sa hoàng Samuel (trị vì: 927 - 1014), ông dời đô về thành Ochrid tráng lệ. Hoàng đế Basil II đánh tan tác quân Bulgaria, lại còn đui mù đám tù binh, làm cho Samuel đau khổ và chết. Trong thời gian đó, vào năm 997, István I lên làm thủ lĩnh của người Magyar, sáng lập Vương quốc Hungary vào năm 1001 Từ thập niên 1030, người Thổ Seljuk hưng thịnh lên, liền tiến công Đế quốc Đông La Mã và thắng trận lớn ở Manzikert gần hồ Van (1071). Họ còn xâm phạm đến Vương quốc Gruzia hùng mạnh của vua David IV (trị vì: 1089 - 1125), nhưng ông xuất chinh đánh lui quân Seljuk ra khỏi kinh đô Tbilisi. Dưới triều Nữ vương Tamara, cung đình Gruzia bước vào giai đoạn hoàng kim. Văn hóa nở rộ, nhà thi hào Shot'ha Rust'aveli - từng được giáo dưỡng tại Hy Lạp - làm quan trong Triều đình Tamara và được coi là người tiếp bước cho cao trào Phục Hưng. Trước bước tiến mãnh liệt của người Thổ Seljuk, từ năm 1096 cho đến năm 1291, người Ki-tô giáo phải tiến hành tám cuộc Thập tự chinh lớn và nhiều cuộc chiến nhỏ chống người Ả Rập và người Seljuk. Một ví dụ điển hình là cuộc Thập tự chinh lần thứ ba do vua Anh Richard I, vua Pháp Philippe II Auguste và Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich Barbarossa tiến hành, thất bại trong việc giành lại Jerusalem từ tay người Ả Rập. Cháu của Friedrich I Barbarossa là Friedrich II (trị vì: 1211 - 1250) vừa giữa nghiệp đế vừa làm vua xứ Sicilia. Là một "Kỳ nhân thiên hạ" (stupor mundi) ông khuếch trương nền văn hóa, đặt mầm mống cho thời kỳ Phục Hưng. Trong Đế quốc La Mã Thần thánh rộng lớn, Hoàng đế cũng muốn gầy dựng một nền thái binh thịnh trị. Sau thời ông thì Ý cũng có một nhân tài xuất sắc của nền thi ca Trung Cổ là nhà thi hào Dante Alighieri (1265 - 1320). Trong khi đó, vua Anh là John Lackland (trị vì: 1199 - 1216) bị mất xứ Normandy về tay người Pháp sau thất bại trong trận Bouvines (1214). Vào năm 1215, triều thần Anh ép John Lackland phải ký kết "Đại Hiến chương" (1215), mở ra truyền thống dân chủ của nước Anh. Đời vua Edward III (trị vì: 1327 - 1377), nước Anh lâm vào cuộc Chiến tranh Một trăm năm tàn khốc. Đây là một cuộc chiến có nhiều giai đoạn lẻ tẻ. Ông ngự giá thân chinh hủy diệt thủy binh Pháp trong trận Sluys (1340), sau đó liên tiếp đánh bại quân Pháp trong trận Cressy vào năm 1346 và trận Poitiers vào năm 1356. Vua Henry V cũng xuất chinh đại phá quân Pháp trong trận Agincourt vào năm 1415. Trong trận Castillion vào năm 1453 quân Anh đại bại và cuộc chiến tranh mới chấm dứt. Nhưng vào năm 1475, vua Edward IV thân chinh khởi binh đánh Pháp, buộc người Pháp phải triều cống cho Vương quốc Anh. Cũng trong thời bấy giờ, khi người Thổ Seljuk suy sụp, người Thổ Ottoman trỗi dậy với Sultan Osman I (trị vì: 1281 - 1326). Trước vó ngựa khủng khiếp của người Thổ Ottoman, Đệ nhị đế chế Bulgaria đại bại phải chấp nhận làm chư hầu cho họ vào năm 1366. Tiếp theo đó, quân Ottoman hủy diệt quân đội Serbia trong trận Kosovo (1389) ác liệt. Sau cùng, Bulgaria bị sáp nhập vào Đế quốc Ottoman. Vào năm 1396, vua Hungary là Sigismund tổ chức Thập tự chinh, bị Sultan Bayezid I đánh cho đại bại trong trận Nicopolis trên sông Danube. Sau khi Sultan Murad II đánh tan tác một cuộc Thập tự chinh trong trận Varna (1444), Sultan Mehmed II công thành Constantinopolis và kết liễu Đế quốc Đông La Mã. Thời bấy giờ, nhà Habsurg của các Đại Quận công Áo lên làm Hoàng đế La Mã Thần thánh, đóng đô tại thành Viên. Đại Quận công Áo Karl lên ngôi Hoàng đế tức Karl V vào năm 1519. Vào năm 1526, ông trị vì một Đế quốc rộng lớn hơn bất kỳ một Đế quốc nào trong lịch sử Âu châu kể từ thời Karl I Đại Đế. Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh đại thắng trong trận chiến Pavia chống vua Pháp là François I vào năm 1526. Nhưng cũng trong thời này, ngọn lửa của phong trào Kháng Cách bùng lên với nhà thần học Đức lừng danh Martin Luther (1483 - 1546). Vào năm 1517, ông dán "95 luận đề" tố cáo việc Giáo hoàng sử dụng phép ân xá (indulgence) trên cửa Thành trị - Giáo đường Wittenberg. Phong trào Kháng Cách có lối suy nghĩ khác với thần học Trung Cổ về việc Thiên Chúa cứu rỗi các linh hồn khỏi tội lỗi. Điều này khiến Triều đình Karl V phải bận tâm vào việc trừng trị Kháng Cách. Nhưng một nhóm Vương hầu người Đức cũng đứng về phe Luther cả. Người Bắc Âu nhanh chóng tiếp nhận tư tưởng này. Trong khi ấy, việc các danh sĩ Đông La Mã chạy sang Ý sau khi kinh kỳ Constantinopolis thất thủ đã tạo nên phong trào Phục Hưng ở các nước phương Tây, là sự hồi phục của hai nền văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại, qua văn chương và nghệ thuật. Kiến trúc Âu châu thời đại này đã trở về về với lối kiến trúc Hy Lạp - La Mã xưa. Những công trình tiêu biểu của trào lưu Phục Hưng là cung điện và văn phòng công cộng. Một trong những danh nhân tiêu biểu của phong trào văn hóa Phục Hưng là nhà họa sĩ người Ý Leonardo da Vinci (1452 - 1519). Trào lưu văn hóa Phục Hưng là ảnh hưởng hoàn toàn không nhỏ đối với lối suy nghĩ của người Âu châu và cùng với phong trào Kháng Cách mở ra thời kỳ cận đại. Nhưng trào lưu này ít được đón nhận ở các nước thuộc Đế quốc Ottoman, và có chúc ít công trình kiến trúc tại Đại Công quốc Moskva. Đời Sultan Selim I (trị vì: 1520 - 1520), Đế quốc Ottoman tạm thời không còn là mối lo ngại của người Âu châu nữa do họ chuyển sang đánh các nước Tây Á và Bắc Phi. Con của Selim I là vị Sultan kiêu hùng.Suleiman I (trị vì: 1520 - 1566), quân Ottoman lại phát động Thánh chiến chống các nước Ki-tô giáo, chinh phạt thành Beograd và đảo Rhodes. Người Hungary bị mất vua, mất nước. Em của Hoàng đế Karl V là Ferdinand I lên làm vua của một phần đất Hungary, tiếp tục cuộc tranh hùng Áo - Ottoman. Suleiman I thân hành kéo đại quân đến đánh kinh thành Viên nhưng thất bại vào năm 1529. Khi đó, tại Đại Công quốc Moskva, Ivan IV (trị vì: 1533 - 1584) xưng làm Sa hoàng, khởi lập nước Nga Sa hoàng. Là ông vua hùng tài đại lược, ông thân chinh đánh người Kazan vào năm 1547 và với chiến thắng trong cuộc chiến này, nước Nga mở mang cương thổ đến miền Xibia. Quân Nga cũng chiếm lĩnh xứ Astrakhan. Trong thời đại này có hai biến cố lớn: Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ, đồng thời người châu Âu đã vượt được mũi Hảo Vọng. Qua đó, châu Âu có tầm nhìn ra ngoài thế giới, tài năng của các nhà hàng hải để giúp cho người châu Âu bắt đầu vượt biển mà tiến hành chủ nghĩa thực dân. Các Đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng tiến hành khai phá thuộc địa, chiếm lĩnh được không ít đất đai ở châu Mỹ La Tinh. Tiếp theo là các nước Pháp, Hà Lan và Anh đã hình thành nên các Đế quốc thực dân với bạt ngàn đất đai và tài sản tại châu Phi, châu Mỹ, và châu Á. Trong khi ấy, Đế quốc Ottoman khuếch trương bành trướng và lâm chiến với Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva vào năm 1620. Ban đầu, người Thổ Nhĩ Kỳ thắng lớn, nhưng sau đó quân Kỵ binh Ba Lan phản công đánh tan nát đại quân Ottoman do đích thân Sultan Osman II chỉ huy trong trận Chocim (1621). Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva - vốn là một nhà nước Cộng hòa có vua do dân bầu lên - cũng đạt đến đỉnh cao chói lọi. Cùng thời, Đế quốc Thụy Điển vươn lên trở thành một liệt cường đáng gờm ở phương Bắc, với ông vua hùng tài đại lược Gustav II Adolf (trị vì: 1617 - 1632), với một nền chính trị vững chắc, một lực lượng Thủy binh hùng hậu và Quân đội tinh nhuệ. Thấy nước Nga đang biến loạn, ông xuất chinh hạ được thành Gdov vào năm 1614. Vào năm 1617, Sa hoàng Mikhail I Romanov phải nhượng đất đai cho Thụy Điển, đổi lại Nga giành lại được vùng Novgorod vốn từng bị quân Thụy Điển xâm lăng. Sau đó, người Thụy Điển quay sang đánh bại Ba Lan - Litva (1621). Quân Ba Lan hợp lực với Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh chặn chân quân Thụy Điển vào năm 1629, từ đó người Thụy Điển nhận thấy mối đe dọa từ người Áo. Trước đó, cuộc Chiến tranh Ba Mươi năm đã bùng nổ giữa liên minh Công giáo do người Áo dẫn đầu và liên minh Kháng Cách trong Đế quốc La Mã Thần thánh. Vua Đan Mạch là Christian IV xuất binh sang Đức nhưng bị liên quân Công giáo đánh đại bại vào năm 1626. Do đó vào năm 1629, vua Gustav II Adolf ngự giá thân chinh cùng đại quân tiến vào Đức làm minh chủ của liên minh Kháng Cách. Sau nhiều trận thắng, Gustav II Adolf hy sinh. Người Pháp tuy theo Công giáo nhưng thù địch với Áo nên nhảy vào tham chiến, thành thử chiến tranh chấm dứt với Hoà ước Westfalen vào năm 1648, Kháng Cách trường tồn. Thụy Điển và Pháp mở rộng bờ cõi. Vua Louis XIV (trị vì: 1643 - 1715) là người có công gầy dựng Nhà nước quân chủ chuyên chế ở Pháp. Trong thời đại này, Pháp là quốc gia hùng mạnh nhất ở Tây Âu. Trên khắp Âu châu, các nước học hỏi theo Nhà nước của Louis XIV. Trong cuộc Chiến tranh Ủy thác (1667 - 1668), ông ta đánh Tây Ban Nha để giành lấy vùng Franche-Comté, và toàn thắng vào năm 1674. Nhưng vào năm 1690, vua Anh là William III lập chiến công lừng lẫy đại phá liên quân Pháp - Ireland trong trận Boyne. Vào năm 1655, vua Thụy Điển là Karl X thân hành dẫn quân tiến đánh Ba Lan. Là một chư hầu của Ba Lan, nhưng xứ Brandenburg - Phổ (tộc Đức, nằm trong Đế quốc La Mã Thần thánh) họp binh với quân Transylvannia, quân Thụy Điển và quân Nga. Trong [[trận đánh Warsaw (1656), quân Ba Lan đại bại và đại binh Brandenburg - Phổ do Tuyển hầu tước kiêm Quận công Friedrich Wilhelm I Vĩ đại (trị vì: 1640 - 1688) thân hành thống suất đã chiến đấu mãnh liệt. Sau đó, ông buộc Ba Lan phải nhượng vùng Đông Phổ và lui khỏi cuộc chiến. Quân Ba Lan đuổi được liên quân Nga - Thụy Điển, nhưng rồi sau cuộc chiến tình hình rối loạn làm Ba Lan, xứ Phổ - Brandenburg trở nên hùng cường, uy dũng. Xứ Phổ còn đe dọa mạnh mẽ đến sức mạnh quân sự của Thụy Điển. Quả nhiên, khi đại binh Thụy Điển (được Pháp giúp đỡ) sang xâm lược, các chiến binh dũng mãnh Phổ - Brandenburg đã đánh úp địch ở Rathenow, và đại phá địch trong trận chiến Fehrbellin (1675). Với Friedrich Wilhelm I Vĩ đại, người Phổ - Brandenburg cũng có được một bộ máy chính quyền hữu hiệu, Nhà nước quân chủ chuyên chế vững chắc. Vào năm 1683, quân Ottoman lại vây hãm kinh kỳ Viên, nhưng bị Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh và đại binh Ba Lan do ông vua đại tài Jan III Sobieski đích thân chỉ huy đánh đại baị. Sau đó, Jan III Sobieski cùng Hoàng đế Leopold I đánh đuổi người Thổ, quân Áo chiếm được Hungary. Vào năm 1701, thấy thực lực đủ mạnh, Tuyển hầu tước Friedrich Wilhelm II xứ Brandenburg khởi lập Vương quốc Phổ, lên làm vua Friedrich I độc lập với người Áo. Ông xây dựng Quân đội cùng những cung điện nguy nga tráng lệ. Quân Phổ tham chiến cùng liên minh Anh - Áo - Hà Lan chống Pháp trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha tàn khốc (1701 - 1713). Các danh tướng Eugène xứ Savoie (Áo), John Churchill, Quận công Marlborough thứ nhất (Anh) và Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau đều lập những chiến công hiển hách đập tan tành quân đội của Louis XIV, mang lại vinh quang cho nước nhà (tỷ như trong những trận đánh vang danh tại Blenheim 1704 và Cassano 1705). Sự suy sụp của Pháp tạo điều kiện cho các liệt cường mới mẻ vươn lên phát triển. Mở đầu là nước Nga, với Sa hoàng Pyotr Đại Đế đánh thắng người Ottoman (1696). Ông còn liên minh với Đan Mạch, Sachsen và Ba Lan để đánh gục Đế quốc Thụy Điển của ông vua - chiến binh Karl XII, nhưng cả ba nước lần lượt bị Thụy Điển đè bẹp. Trong khi Ba Lan suy sụp, Pyotr Đại Đế xuất chinh đại phá quân Thụy Điển trong trận Poltava (1709), lấy đất và giành địa vị liệt cường từ tay Thụy Điển. Song, người Ottoman vực dậy đánh đuổi được quân Nga. Không những trở thành liệt cường mà nước Nga còn được cải cách đổi mới. Đế quốc Nga ra đời vào năm 1720 khi Pyotr Đại Đế xưng Hoàng đế. Trong khi Đế quốc Nga là điển hình của một nước lớn uy dũng vươn lên bá chủ, thì Vương quốc Phổ lại là tấm gương của một nước nhỏ, dân số ít nhưng nhanh chóng phát triển mãnh liệt, tranh hùng tranh bá. Nhờ có vua Friedrich Wilhelm I (trị vì: 1713 - 1740), người Phổ sở hữu một lực lượng hùng binh mãnh tướng siêu việt và một bộ máy hành chính hiệu quả, xã hội được cải cách, nền giáo dục đáng tự hào, thậm chí còn đoạt được đất đai của vua Thụy Điển Karl XII (1721) để làm chủ cửa sông Oder. Khi vị vua hùng tài đại lược Friedrich II Đại Đế lên nối ngôi báu (trị vì: 1740 - 1786), nước Phổ đã có thể tranh hùng tranh bá. Khi Hoàng đế La Mã Thần thánh Karl V qua đời và Công chúa Maria Theresia lên làm Nữ hoàng nước Áo, vua Friedrich II Đại Đế thân chinh thống suất đại binh đánh tỉnh Silesia trù phú của người Áo, mở ra cuộc Chiến tranh Kế vị Áo (1740 - 1748). Phổ liên minh với Pháp, và Áo liên minh với Anh. Nhờ có tài dụng binh như thần của Friedrich II Đại Đế, quân Phổ lập nên nhiều chiến công huy hoàng của ông (tỷ như các trận Hohenfriedberg và Soor làm cả Âu châu phải thán phục, để rồi ông kết thúc thắng lợi cuộc chinh phạt Silesia vào ngày Giáng sinh năm 1745, trước đó ông cũng chiếm lĩnh được cảng Emden vào năm 1744. Đồng thời, vua George II thân chinh kéo đại binh đánh tan nát quân Pháp trong trận Dettingen (1743), đã thế thủy binh Anh cũng nghiền nát thủy binh Pháp trong trận thủy chiến Ouessant (1747) đưa nước Anh ngày càng hùng cường vào năm 1748 khi chiến sự chấm dứt, đồng thời Phổ vẫn giữ vững Silesia và trở thành liệt cường châu Âu. Khi ấy, Nữ hoàng Nga là Elizaveta hoảng hốt trước sự trỗi dậy như vũ bão của nước Phổ, thấy vậy Maria Theresia lập liên minh với Nga và Thụy Điển. Đồng thời, việc Phổ lập liên minh với Anh chống Pháp dẫn đến cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756 - 1763). Đương đầu với liên minh chống Phổ hùng hậu, vua Friedrich II Đại Đế chủ động ra tay, và tài cầm quân cùng với lòng quyết tâm của ông đã giúp quân Phổ lập nên những chiến thắng vang lừng như trận Rossbach, trận Leuthen (1757) và trận Liegnitz (1760), để rồi Phổ là quốc gia thắng trận trong cuộc chiến (1763). Đại bại trước quân Phổ trên bộ và quân Anh trên biển, Pháp bị khánh kiệt tả tơi sau cuộc chiến tranh này, do đó có thể thấy sự tiêu đời của Vương quốc Pháp mở đầu với cuộc chinh phạt Silesia của người Phổ vào năm 1740. Nước Anh thắng trận với những chiến công hiển hách như trận thủy chiến vịnh Quiberon và trận thắng Pháp tại Quebec ở Bắc Mỹ (1759), nhờ đó Anh lấy được nhiều đất đai. Nhưng rồi cả Anh và Pháp đều suy yếu trước sự vươn lên của các liệt cường phương Đông, mà điển hình là Phổ, Áo và Nga. Do là một nước nhỏ mà có thể đánh thắng liên quân các nước lớn láng giềng, nước Phổ của Friedrich II Đại Đế hoàn toàn là liệt cường Âu châu khi Chiến tranh Bảy Năm chấm dứt. Lúc ấy, lực lượng Quân đội Phổ tinh nhuệ trở thành đội quân thiện chiến nhất Âu châu, và dù họ nhiều lần bị Quân đội Nga đánh bại trong thời gian chiến tranh, đó chỉ là do Nga đông người hơn Phổ hẳn. Cá nhân của người lãnh đạo luôn đóng vai trò quan trọng, mà về mặt này Phổ được lợi lớn vì có vị vua xuất sắc Friedrich II Đại Đế là có tầm nhìn xa trông rộng, quyết đoán, là một "kỳ nhân của thiên hạ" (stupor mundi) thời bấy giờ. Đồng thời, nước Nga tiến hành những cuộc chinh phạt lớn lao của vị Nữ hoàng tài năng hơn người Ekaterina II Đại Đế nước Nga (trị vì: 1762 - 1796). Vào năm 1772, với tài năng ngoại giao của mình, vua Phổ mang lại lợi ích cho nước nhà khi ông cùng Nga và Áo tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất. Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ suy vong, bị Nga đánh bại và lấy đất. === Sau thời kỳ khai phá châu Âu === Sau thời kỳ khai phá, các ý niệm về dân chủ bắt rễ tại châu Âu. Vào thế kỷ thứ 18, trào lưu triết học Khai sáng ở Pháp có những nhà triết học hàng đầu như Voltaire (François-Marie Arouet, 1694 - 1778) - bạn hữu của vua Phổ Friedrich II Đại Đế - và Jean-Jacques Rousseau (1712 - 1778). Ngay từ năm 1688, cuộc Cách mạng Vinh Quang đã giành thắng lợi tại Anh, lật đổ ông vua độc đoán James II. Thậm chí tại một số nước phong kiến như Phổ và Nga, các vị minh quân Friedrich II Đại Đế và Ekaterina II Đại Đế đã tiến hành những cải cách tiến bộ, dù không triệt để. Vua Friedrich II Đại Đế cũng từng tham gia trong Hội Tam Điểm - một tổ chức bí mật có tư tưởng tiến bộ. Vào năm 1789, ngọn lửa Cách mạng Pháp cũng rực cháy, đến độ vào năm 1793 vua Louis XVI bị hành quyết. Kết quả đã dẫn đến những biến động to lớn tại châu Âu khi các tư tưởng cách mạng này truyền bá khắp lục địa. Việc hình thành tư tưởng dân chủ khiến cho căng thẳng trong châu Âu không ngừng gia tăng, ngoài những căng thẳng đã có sẵn do tranh giành tài nguyên tại Tân Thế giới. Một trong những căng thẳng tiêu biểu trong thời kỳ này là khi Napoléon Bonaparte lên ngôi Hoàng đế đã tiến hành các cuộc chinh phục nhằm hình thành một Đế chế thứ nhất của người Pháp, tuy nhiên Đế chế này nhanh chóng sụp đổ. Sau các cuộc chinh phục này, châu Âu dần ổn định. Nước Nga hùng mạnh trở thành một "tên sen đầm" bách chiến bách thắng của châu Âu. Tuy trào lưu Khai sáng suy yếu nhưng các tư tưởng của trào lưu triết học này vẫn chưa bị phai sau nhiều biến cố lịch sử, thể hiện qua những cải cách đúng đắn của quan đại thần Triều đình Phổ Heinrich Friedrich Karl vom und zum Stein (1757 - 1831). Rồi chủ nghĩa lãng mạn ra đời. Cuộc Cách mạng Công nghiệp khởi nguồn từ nước Anh vào cuối thế kỷ 18, dẫn đến sự chuyển dịch ra khỏi nông nghiệp và mang lại thịnh vượng chung đồng thời gia tăng số dân. Vào năm 1848, làn sóng Cách mạng lan rộng trên nhiều nước châu Âu, chẳng hạn như Ý. Đó cũng là cái năm mà Karl Marx và Friedrich Engels viết nên bản "Tuyên ngôn của chủ nghĩa Cộng sản". Vào năm 1863, ngọn lửa đấu tranh vì tự do lại bùng cháy tại Ba Lan, nhưng bị chính phủ Nga hoàng đàn áp. Vương quốc Phổ hùng mạnh, với quân sĩ tinh nhuệ đã giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh và gầu dựng nên Đế chế Đức vào năm 1871 dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Wilhelm I và Thủ tướng Otto von Bismarck. Trong các năm 1904 - 1905, châu Âu phải chứng kiến một sự kiện khác thường: Đế quốc Nhật Bản đánh thắng Đế quốc Nga trong cuộc chiến tranh giữa hai nước. Biên giới các nước châu Âu vẫn trong tình trạng hiện nay khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến khi kết thúc tình trạng Chiến tranh Lạnh, châu Âu đã từng bị chia thành hai khối chính trị và kinh tế lớn: các nước cộng sản ở Đông Âu và các nước tư bản ở Tây Âu. Vào khoảng 1990, với sự sụp đổ của Bức tường Berlin, khối Đông Âu dần dần tan rã. == Địa lý và phạm vi == === Vị trí địa lý === Về mặt địa lý, châu Âu nằm trong một đại lục rộng hơn là lục địa Âu Á. Ranh giới của lục địa châu Âu với châu Á bắt đầu từ dãy Ural ở Nga phía đông, đến đông nam thì không thống nhất, có thể coi là sông Ural hoặc sông Emba. Từ đó ranh giới này kéo đến biển Caspia, sau đó đến sông Kuma và Manych hoặc dãy Kavkaz, rồi kéo đến Biển Đen; eo biển Bosporus, biển Marmara, và eo biển Dardanelles chấm dứt ranh giới với châu Á. Biển Địa Trung Hải ở phía nam phân cách châu Âu với châu Phi. Ranh giới phía tây là Đại Tây Dương, tuy thế Iceland, nằm cách xa hẳn so với điểm gần nhất của châu Âu với châu Phi và châu Á, cũng nằm trong châu Âu. Hiện tại việc xác định trung tâm địa lý châu Âu vẫn còn trong vòng tranh luận. Trên thực tế, biên giới của châu Âu thông thường được xác định dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, và văn hóa. Do vậy mà kích thước cũng như số lượng các nước của châu Âu sẽ khác nhau tùy theo định nghĩa. Hầu hết các nước trong châu Âu là thành viên của Hội đồng châu Âu, ngoại trừ Belarus, và Tòa Thánh (Thành Vatican). Khái niệm lục địa châu Âu không thống nhất. Vì châu Âu không được bao bọc toàn bộ bởi biển cả nên nhiều người coi nó chỉ là bán đảo của lục địa Âu Á. Trong quá khứ, khái niệm lãnh thổ Kitô giáo được coi là quan trọng hơn cả đối với châu Âu. Châu Âu được chia làm 4 khu vực: Bắc Âu, Nam Âu, Tây Âu, Đông Âu. Trên thực tế, châu Âu ngày càng được dùng là cách gọi tắt để chỉ Liên minh châu Âu (LMCÂ) và các 25 thành viên hiện tại của nó. Một số nước châu Âu đang xin làm thành viên, số khác dự kiến cũng sẽ tiến hành thương lượng trong tương lai (xem Mở rộng Liên minh châu Âu). === Đặc điểm địa hình === Về mặt địa hình, châu Âu là một nhóm các bán đảo kết nối với nhau. Hai bán đảo lớn nhất là châu Âu "lục địa" và bán đảo Scandinavia ở phía bắc, cách nhau bởi Biển Baltic. Ba bán đảo nhỏ hơn là (Iberia, Ý và bán đảo Balkan) trải từ phía nam lục địa tới Địa Trung Hải, biển tách châu Âu với châu Phi. Về phía đông, châu Âu lục địa trải rộng trông như miệng phễu tới tận biên giới với châu Á là dãy Ural. Bề mặt địa hình trong châu Âu khác nhau rất nhiều ngay trong một phạm vi tương đối nhỏ. Các khu vực phía nam địa hình chủ yếu là đồi núi, trong khi về phía bắc thì địa thế thấp dần từ các dãy Alps, Pyrene và Karpati, qua các vùng đồi, rồi đến các đồng bằng rộng, thấp phía bắc, và khá rộng phía đông. Vùng đất thấp rộng lớn này được gọi là Đồng bằng Lớn Âu Châu, và tâm của nó nằm tại Đồng bằng Bắc Đức. Một vùng đất cao hình vòng cung nằm ở biên giới biển phía tây bắc, bắt đầu từ quần đảo Anh phía tây và dọc theo trục cắt fjord có nhiều núi của Na Uy. Mô tả này đã được giản lược hóa. Các tiểu vùng như Iberia và Ý có tính chất phức tạp riêng như chính châu Âu lục địa, nơi mà địa hình có nhiều cao nguyên, thung lũng sông và các lưu vực đã làm cho miêu tả địa hình chung phức tạp hơn. Iceland và quần đảo Anh là các trường hợp đặc biệt. Iceland là một vùng đất riêng ở vùng biển phía bắc được coi như nằm trong châu Âu, trong khi quần đảo Anh là vùng đất cao từng nối với lục địa cho đến khi địa hình đáy biển biến đổi đã tách chúng ra. Do địa hình châu Âu có thể có một số tổng quát hóa nhất định nên cũng không ngạc nhiên lắm khi biết là trong lịch sử, vùng đất này là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc tách biệt trên các vùng đất tách biệt mà ít có pha trộn. == Hệ sinh thái == Có mặt bên cạnh những người làm nông nghiệp hàng nghìn năm nay, động vật cũng như thực vật của châu Âu bị các hoạt động của con người ảnh hưởng mạnh. Ngoại trừ Scandinavia và bắc Nga, thì chỉ còn vài vùng trong châu Âu hầu như còn nguyên tình trạng hoang dã, không kể các vườn động thực vật nhân tạo. === Thảm thực vật chủ yếu === Thảm thực vật chủ yếu ở châu Âu là rừng. Điều kiện ở châu Âu rất thuận lợi cho rừng phát triển. Về phía bắc, Hải lưu Gulf Stream và Hải lưu Bắc Đại Tây Dương sưởi ấm lục địa này. Nam Âu thì có khí hậu ấm và ôn hòa. Vùng này thường có mưa rào mùa hè. Các dãy núi cũng ảnh hưởng tới các điều kiện phát triển sinh vật. Một số dãy (Alps, Pyrene) có hướng đông-tây nên tạo điều kiện cho gió mang một lượng nước rất lớn từ biển vào trong đất liền. Các dãy khác thì hướng nam-bắc (các dãy Scandinavia, Dinarides, Karpati, Apennin) và vì mưa chỉ đổ chủ yếu phía bên sườn núi hướng ra biển nên rừng rất phát triển về phía này, trong khi phía bên kia thì điều kiện kém thuận lợi hơn. Một số nơi trong châu Âu lục địa ít có thú nuôi trong một vài giai đoạn, và việc phá rừng cho sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến hệ sinh thái động và thực vật nguyên thủy. Khoảng 80 đến 90 phần trăm châu Âu đã từng được bao phủ bởi rừng. Rừng trải từ Địa Trung Hải đến tận Biển Bắc Cực. Mặc dù hơn nửa số rừng nguyên sơ của châu Âu biến mất qua hàng thế kỷ thực dân hóa, châu Âu vẫn còn một phần tư số rừng của thế giới - rừng vân sam (spruce) của Scandinavia, rừng thông bạt ngàn ở Nga, rừng nhiệt đới ẩm (rainforest) của Caucasus và rừng sồi bần (cork oak) trong vùng Địa Trung Hải. Trong thời gian gần đây, việc phá rừng đã bị hạn chế rất nhiều và việc tái trồng rừng ngày càng nhiều. Tuy thế, trong hầu hết các trường hợp người ta thích trồng cây họ thông hơn là loại các cây rụng lá sớm nguyên thủy vì thông mọc nhanh hơn. Các trang trại và đồn điền chăn nuôi thiên về một loài trên một diện tích rộng lớn đã không tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật khác nhau trong rừng châu Âu sinh trưởng. Lượng rừng nguyên sinh ở Tây Âu chỉ còn chừng hai đến ba phần trăm tổng số rừng (nếu tính cả Nga thì sẽ là năm đến mười phần trăm). Nước có tỉ lệ rừng bao phủ thấp nhất là Ireland (tám phần trăm), trong khi nước có nhiều rừng bao phủ nhất là Phần Lan (72 phần trăm). Trong châu Âu "lục địa", rừng cây rụng lá sớm (deciduous) chiếm ưu thế. Các loài quan trọng nhất là sồi beech, bulô (birch) và sồi. Về phía bắc, nơi rừng taiga sinh sôi, loài cây phổ biến nhất là bulô. Trong vùng Địa Trung Hải, người ta trồng nhiều cây olive là loại đặc biệt thích hợp với khí hậu khô cằn ở đây. Một loài phổ biến tại Nam Âu là cây bách. Rừng thông chiếm ưu thế ở các vùng cao hay khi lên phía bắc trong Nga và Scandinavia, và nhường lối cho tundra khi đến gần Bắc Cực. Vùng Địa Trung Hải với khí hậu bán khô cằn thì có nhiều rừng rậm. Một dải lưỡi hẹp đông-tây của thảo nguyên Âu Á, trải dài về phía đông tại Ukraina và về phía nam tại Nga và kết thúc ở Hungary và đi qua rừng taiga ở phía bắc. === Động vật === Việc đóng băng trong thời kỳ Băng hà gần đây nhất và sự hiện diện của con người đã ảnh hưởng tới sự phân bố của hệ động vật châu Âu. Về động vật thì trong nhiều khu vực của châu Âu, đa phần các loài động vật lớn và các loài thú ăn thịt hàng đầu đã bị săn tới tuyệt chủng. Loài voi mamut có lông và bò rừng châu Âu (aurochs) đã tuyệt chủng trước cuối thời kỳ Đá Mới. Ngày nay chó sói (ăn thịt) và gấu (ăn tạp) đang bị đe dọa tuyệt chủng. Có thời những loài này có mặt trên khắp châu Âu. Tuy nhiên, việc phá rừng đã khiến các loài này mất dần. Vào thời Trung Cổ thì môi trường sống của các loài gấu chỉ còn trong các vùng đồi núi khó đến với rừng rậm bao phủ. Ngày nay, gấu nâu sống chủ yếu trong bán đảo Balkans, ở Bắc Âu và Nga; một số nhỏ cũng còn ở một số nước châu Âu (Áo, Pyrene, v.v.), tuy thế tại những nơi này số lượng gấu nâu bị phân tán và cho ra rìa vì môi trường sống của chúng bị phá hoại. Ở cực bắc châu Âu, có thể thấy gấu bắc cực. Chó sói là loài phổ biến thứ hai ở châu Âu sau gấu nâu cũng được tìm thấy chủ yếu tại Đông Âu và vùng Balkans. Các loài ăn thịt quan trọng ở châu Âu là mèo rừng Âu Á (Eurasian lynx), mèo hoang châu Âu, cáo (đặc biệt là cáo đỏ), chó rừng (jackal) và các loài chồn marten, nhím Âu, các loại rắn (rắn viper, rắn cỏ...), các loài chim (cú, diều hâu và các loài chim săn mồi). Các loài ăn cỏ quan trọng ở châu Âu là ốc sên, các loài lưỡng cư, cá, các loại chim, các loại động vật có vú, như các loài gặm nhấm, hươu, hoẵng (roe deer), lợn rừng, cũng như con marmot, dê rừng vùng Alps (steinbock), sơn dương (chamois) là những loài sống trong núi. Động vật biển cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ động thực vật châu Âu. Thực vật biển chủ yếu là tảo đơn bào trôi nổi (phytoplankton). Các loài động vật quan trọng sống trong môi trường biển châu Âu là giáp xác trôi nổi (zooplankton), động vật thân mềm (molluscs), động vật da gai (echinoderms), các loài tôm, mực ống và bạch tuộc, các loại cá, cá heo, và cá mập. Một số loài sống trong hang như proteus và dơi. == Con người == Đa số người châu Âu định cư ở đây trước hoặc trong thời kỳ Băng hà cuối cùng cách đây kh. 10.000 năm. Người Neanderthal và người hiện đại sống chung với nhau ít vào một giai đoạn nào đó của thời kỳ này. Việc xây dựng các con đường La Mã đã pha trộn các giống người châu Âu bản địa Từ thời xa xưa, con người ở đây có sự phát triển vượt bậc, biết chế tạo cũng như phát minh nhiều thứ để phục vụ cho đời sống. Khi sang thế kỷ 20, số dân châu Âu là hơn 600 triệu người, nhưng hiện nay số dân đang vào giai đoạn giảm dần vì các nhân tố xã hội khác nhau. == Các quốc gia == === Các quốc gia độc lập === Các nhà nước sau đây có các quốc gia độc lập trong châu Âu: 2 Azerbaijan và Gruzia nằm một phần trong châu Âu theo định nghĩa thông thường coi đỉnh của Caucasus là biên giới với châu Á.3 Lãnh thổ châu Âu của Kazakhstan bao gồm một phần tây dãy Ural và sông Emba.4 Tên nước này đang là tranh luận quốc tế. Xem chi tiết tại Cộng hòa Macedonia.5 Phần lãnh thổ của Nga nằm phía tây dãy Ural được coi là trong châu Âu.7 Thổ Nhĩ Kỳ châu Âu bao gồm lãnh thổ về phía tây và bắc của eo biển Bosporus và Dardanelles.2, 3, 5, 7 Xem chi tiết các nước ở cả châu Âu và châu Á. === Các lãnh thổ phụ thuộc === Các lãnh thổ châu Âu liệt kê dưới đây được công nhận là có văn hóa và địa lý xác định. Đa phần đều có một mức đọ tự trị nhất định. Phần trong ngoặc giải thích tình trạng phụ thuộc của mỗi lãnh thổ. Quần đảo Faroe (khu tự trị của Đan Mạch) Gibraltar (lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Anh) Guernsey (phụ thuộc vương miện Anh) Jersey (phụ thuộc vương miện Anh) Đảo Man (phụ thuộc vương miện Anh) Svalbard (khu tự trị của Na Uy) Lưu ý: Đây không phải là danh sách đầy đủ các lãnh thổ phụ thuộc các nước trong châu Âu. Các lãnh thổ phụ thuộc trên các lục địa khác không được liệt kê ở đây. === Các lãnh thổ tự ly khai === Đây là các lãnh thổ đòi tách khỏi các quốc gia độc lập. Các vùng lãnh thổ này đã tuyên bố và giành được độc lập chính thức trên thực tế (de facto), nhưng không được các quốc gia mà nó thuộc trước đó hoặc một quốc gia độc lập khác công nhận chính thức theo luật (de jure). Abkhazia (tách ra từ Gruzia) Nagorno-Karabakh (về mặt địa lý nằm tại châu Á; được Armenia công nhận; tách ra từ Azerbaijan) Nam Ossetia (tách ra từ Gruzia) Transnistria (tách ra từ Moldova) Crimea (tách ra từ Ukraine) === Lãnh thổ dưới sự quản lý của Liên Hiệp Quốc === Kosovo và Metohia (tỉnh của Serbia) == Các vùng ngôn ngữ và văn hóa trong châu Âu == Sự phân chia thành các vùng văn hóa và ngôn ngữ trong châu Âu ít mang tính chủ quan hơn là phân chia về mặt địa lý vì nó thể hiện mối liên hệ về văn hóa của con người ở đây. Có thể chia ra làm ba nhóm chính là: === Châu Âu Giecman === Châu Âu German là nơi sử dụng các ngôn ngữ German. Khu vực này gần như tương ứng với tây-bắc châu Âu và một số phần của Trung Âu. Tôn giáo chính trong khu vực này là đạo Tin Lành, mặc dù cũng có một số vùng miền trong đó đa phần dân chúng theo Công giáo (đặc biệt là Áo). Khu vực này bao gồm các nước: Vương quốc Anh, Iceland, Đức, Áo, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Luxemburg, Liechtenstein, quần đảo Faroe, vùng Thụy Sĩ nói tiếng Đức, vùng Vlaanderen thuộc Bỉ, vùng nói tiếng Thụy Điển thuộc Phần Lan, khu tự trị của Phần Lan, và vùng Nam Tyrol thuộc Ý. === Châu Âu Latinh === Châu Âu Latinh là nơi nói các ngôn ngữ Rôman. Khu vực này gần như tương ứng với tây-nam châu Âu, ngoại trừ România và Moldova nằm ở Đông Âu. Đa phần khu vực này theo Công giáo, ngoài trừ România và Moldova. Khu vực này bao gồm các nước: Ý, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, România, Moldova, vùng Bỉ nói tiếng Pháp và vùng Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, cũng như vùng Thụy Sĩ nói tiếng Ý và tiếng Romansh. === Châu Âu Slavơ === Châu Âu Slavơ là nơi nói các ngôn ngữ Slavơ. Khu vực này gần như tương ứng với Trung và Đông Âu. Tôn giáo chính là Chính thống giáo và Công giáo, cũng như cả Hồi giáo. Khu vực này gồm các nước: Ukraina, Ba Lan, Nga, Belarus, Cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenia, Bosna và Hercegovina, Croatia, Serbia, Montenegro, Cộng hòa Macedonia, Bulgaria. === Các nhóm khác === Ngoài ba nhóm chính kể trên còn có: Các khu vực gốc Celt: Scotland, Wales, Bắc Ireland, Cornwall (nằm trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland); đảo Man (phụ thuộc Vương miện Anh); Ireland; Bretagne (nằm trong Pháp). Đây là các nước và vùng đã hoặc đang nói các thứ tiếng Celt, đồng thời có chung một văn hóa ở góc độ nào đó (xem Phong trào toàn Celt). Galicia (Tây Ban Nha) (nằm trong Tây Ban Nha) cũng được một số người coi là một vùng Celt, nơi mà ngôn ngữ gốc Celt của họ đã biến mất cách đây vài trăm năm. Hy Lạp nói tiếng Hy Lạp (cũng có thể tính cả cộng đồng người Hy Lạp tại Síp), Albania nói tiếng Albania và Armenia nói tiếng Armenia. Ba ngôn ngữ này tạo thành ba nhánh riêng trong ngữ hệ Ấn-Âu. Tuy nhiên, Hy Lạp có thể xếp vào các nước Latinh do liên hệ địa lý và văn hóa với khu vực Địa Trung Hải, hoặc xếp vào nhóm Chính thống giáo Slavơ vì đa phần người dân theo Chính thống giáo. Ibero-Caucasus, một nhóm bao gồm các sắc dân thiểu số trong khắp vùng Kavkaz (cả bắc và nam). Nhóm ngôn ngữ Ibero-Caucasus không thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Nhóm này bao gồm các sắc dân Gruzia, Abkhaz, Chechen, Balkar và một số các sắc dân nhỏ khác trong vùng Kavkaz. Hungary nói tiếng Magyar, một ngôn ngữ có liên hệ với tiếng Phần Lan và tiếng Estonia. Do vị trí địa lý của nó, Hungary được xếp vào các nước Trung và Đông Âu. Phần Lan và Estonia do vị trí địa lý nên được xếp vào các nước Bắc Âu mặc dù có ngôn ngữ cùng thuộc ngữ hệ Ural với tiếng Hungary (tuy không chặt). Thổ Nhĩ Kỳ, nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ cũng không thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, và gần như là một nước Hồi giáo, không giống như các nước trong châu Âu theo các nhánh Cơ Đốc giáo. == Xem thêm == === Đặc điểm chính của châu Âu === Văn hóa châu Âu Kinh tế châu Âu Địa lý châu Âu Lịch sử châu Âu Chính trị châu Âu Giao thông châu Âu Eurozone Liên minh châu Âu Euroregion Europium === Danh sách và bảng biểu === Con người Diện tích và số dân các nước châu Âu Thống kê Liên minh châu Âu Các khu vực đô thị đông dân nhất của châu Âu Các khu vực đô thị đông dân nhất của Liên minh châu Âu Kinh tế Danh sách các quốc gia châu Âu theo GDP danh nghĩa 2012 Danh sách các quốc gia châu Âu theo nội tệ Kinh tế Liên minh châu Âu Xếp hạng tài chính và xã hội các nước châu Âu GDP các nước châu Âu Chính trị Tên các thành phố châu Âu Ngày độc lập của các nước châu Âu Các tổ chức quốc tế trong châu Âu (bảng thành viên) Khác Các chủ đề về châu Âu Danh sách các quốc gia châu Âu theo diện tích Danh sách các quốc gia châu Âu theo ngôn ngữ chính thức Danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Âu theo tỉ lệ mặt nước Danh sách các quốc gia châu Âu theo chiều dài đường bờ biển == Ghi chú == == Liên kết ngoài == EUROPEstartpage.com, hướng dẫn du lịch tại châu Âu LimitlessEurope.com: hướng dẫn tin tức về châu Âu châu Âu về đêm nhìn từ NASA Earth Observatory Europe roadmap Các vùng của châu Âu Bản đồ châu Âu
đường sắt bắc nam.txt
Đường sắt Bắc Nam, hay đường sắt Thống Nhất, là tuyến đường sắt bắt đầu từ thủ đô Hà Nội và kết thúc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đường sắt Bắc Nam chạy gần song song với quốc lộ 1A, có nhiều đoạn gặp nhau, nhất là tại các tỉnh lỵ. Tổng chiều dài toàn tuyến: 1730 km, khổ rộng 1 m; đi qua các tỉnh và thành phố sau: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, tuyến đường sắt Bắc Nam là một phần của hệ thống tuyến đường sắt xuyên lục địa Á - Âu. == Lịch sử == Từ năm 1881, Pháp đã bắt đầu xây dựng tuyến đường sắt tại Việt Nam. Việc xây dựng con đường sắt Trans-Indochinois (Xuyên Đông Dương) hoàn thành ngày 1 tháng 10 năm 1936 thời Pháp thuộc. Ngày hôm sau, 2 tháng 10 là ngày chính thức khánh thành tuyến đường sắt Bắc Nam (từ Hà Nội đến Sài Gòn với chiều dài dài 1.730 km. Sau năm 1975 ga Sài Gòn dời về ga Hòa Hưng và ga này đổi tên ga thành ga Sài Gòn nên chiều dài chỉ còn 1.726 km). Những toa xe dùng lúc bấy giờ là voitures-couchettes, có toa voiture-restaurant chạy máy lạnh. Đầu máy thường là máy Mikado. === 1955-1975 === Sau Chiến tranh thế giới thứ hai rồi Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ thì đoạn đường phía nam vĩ tuyến 17 vào thập niên 1950, khoảng 1/3 bị hư hại nặng, không sử dụng được. Còn lại là hai khúc từ Đông Hà vào Đà Nẵng và từ Sài Gòn ra Ninh Hòa. Việc tái thiết kéo dài bốn năm dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam cho đến năm 1959 thì xe lửa mới chạy được suốt từ Sài Gòn ra Đông Hà, lần đầu tiên sau 12 năm gián đoạn. Số liệu năm 1959 cho biết hệ thống đường sắt chuyên chở 2.658.000 lượt khách và 440.000 tấn hàng hóa. Số lượng sau đó giảm nhiều vì tình hình an ninh. Tính đến năm 1971-1972 thời Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam thì tổng cộng có 1.240 km đường sắt nhưng chỉ có 57% sử dụng được. Tổng lượng hành khách và hàng hóa chuyên chở bằng đường sắt giảm nhiều so với thập niên trước nhưng cũng tăng dần: Sở Hỏa xa Việt Nam (tiếng Pháp: Regie des Chemins de fer du Viet-nam) điều hành các tuyến xe và tiếp tục dùng đầu máy Mikado, tăng thêm máy của General Electric chạy bằng diesel. === Sau năm 1976 === Ngày 31 tháng 12 năm 1976, hoàn thành sửa lại do bị chiến tranh tàn phá. Tồn tại: hiện tuyến đường sắt có tốc độ lưu thông thấp nhất thế giới do chạy qua nhiều đô thị đông dân cư, qua nhiều đèo có khúc cua gấp, giao cắt với đường bộ nhiều, đường đơn, đặc biệt là khổ đường hẹp (1 m). Ngày 7 tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ Việt nam Phan Văn Khải đã phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020". == Kế hoạch nâng cấp == Nội dung và quy mô các yếu tố chính của Quy hoạch: Giao thông vận tải đường sắt cần chiếm tỷ trọng 25% - 30% về tấn và tấn - km, 20% - 25% về hành khách và hành khách - km trong tổng khối lượng vận tải của toàn ngành giao thông vận tải đến năm 2020 có tỷ trọng vận chuyển hành khách đô thị bằng đường sắt đạt ít nhất là 20% khối lượng hành khách tại các thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Duy trì khổ đường sắt hiện tại, gồm các khổ đường 1.000 mm, 1.435 mm và đường lồng (1.000 mm và 1,435 mm) để nâng cấp, cải tạo đạt cấp kỹ thuật. Khi xây dựng các đoạn, tuyến đường sắt mới phải phù hợp và kết nối thuận tiện với khổ đường sắt hiện có ở khu vực đó. Riêng đường sắt cao tốc Bắc - Nam xây dựng theo tiêu chuẩn khổ đường 1.435 mm. Phát triển phương tiện vận tải đường sắt theo hướng đa dạng với cơ cấu hợp lý, đổi mới sức kéo và sức chở theo hướng hiện đại, giảm chi phí, hạ giá thành, chú trọng phát triển các đoàn tàu tốc độ cao, tàu tự hành, tàu chở container... áp dụng công nghệ tiên tiến trong vận tải và đóng mới phương tiện nhằm tăng tốc độ chạy tàu để đến năm 2020, tốc độ tàu hàng đạt 80 km/h và tốc độ tàu khách đạt 120 km/h trở lên. Những tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định sau khi thống nhất với các cơ quan liên quan và phù hợp với quy định hiện hành. Đầu tư cơ sở hạ tầng đến năm 2020: - Giai đoạn đến 2010: + Nâng cấp các tuyến đường hiện có vào cấp kỹ thuật quy định và xây dựng mới một số đoạn, tuyến, các đường nhánh nối với cảng, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm trong cả nước và kết nối với các tuyến hiện tại ưu tiên nâng cao năng lực và hiện đại hóa trục Bắc - Nam, trục Đông - Tây tiến hành điện khí hóa tuyến Hà Nội - Hải Phòng để làm cơ sở phát triển sức kéo điện cho giai đoạn sau. + Đồng thời với việc xây dựng đường sắt đô thị ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phải tiến hành xây dựng mới và đồng bộ các nhà ga, các cơ sở sửa chữa, vận dụng đầu máy-toa xe. + Làm mới hệ thống: thông tin cáp quang, tổng đài điện tử số, tín hiệu bán tự động tiến tới tự động, ghi điện khí tập trung, dừng tàu tự động, hệ thống cảnh báo đường ngang tự động... Tham gia thị trường viễn thông chung để tận dụng hết năng lực của ngành đường sắt. + Quy hoạch sắp xếp lại để phát triển các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, phụ tùng, phụ kiện cơ khí phục vụ sửa chữa, bảo trì và làm mới cơ sở hạ tầng đường sắt. + Nâng cấp, làm mới để từng bước hoàn chỉnh hệ thống nhà ga hành khách, ga hàng hóa ở các khu vực trọng điểm đặc biệt lưu ý các ga hành khách tại trung tâm Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vừa là ga trung tâm của đường sắt vừa là đầu mối trung chuyển, kết nối các loại phương tiện vận tải, đồng thời là trung tâm dịch vụ đa năng. - Giai đoạn đến 2020: Hoàn thành việc nâng cấp các tuyến đường sắt để đạt cấp kỹ thuật quốc gia và khu vực, xây dựng thêm một đường để thành đường đôi và điện khí hóa các tuyến Hà Nôi - Vinh, Sài Gòn - Nha Trang, tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt mới để tạo thành mạng lưới đường sắt đồng bộ, hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn hiện đại. Trên trục Bắc - Nam, ngoài tuyến đường sắt Thống Nhất hiện có cần xây dựng thêm một tuyến đường đôi riêng biệt chạy tàu khách cao tốc Bắc - Nam khổ đường 1.435 mm để giảm thời gian chạy tàu từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh xuống dưới 10 giờ và có khả năng kết nối với đường sắt liên vận quốc tế. Tiếp tục xây dựng đường sắt vành đai, nội đô ở các thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác để tạo thành mạng lưới giao thông đô thị hoàn chỉnh và đồng bộ. == Các ga trên tuyến đường sắt Bắc-Nam == Xem Các ga trên tuyến đường sắt Thống Nhất. == An toàn == Theo báo cáo của ngành đường sắt Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2009 đã xảy ra 431 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 166 người, bị thương 319 người. Hiện, có gần 6.000 điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt, trong đó có hơn 4.500 điểm giao cắt dân sinh, nhiều điểm không có rào chắn, biển báo. Riêng 3 thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng có trên 4.200 điểm vi phạm với diện tích bị lấn chiếm gần 1,5 triệu m2. == Xem thêm == Thể loại:Đường sắt Việt Nam == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đường sắt cao tốc ở Việt Nam sẽ trở thành hiện thực Tổng công ty Đường sắt sẽ thành tập đoàn kinh tế mạnh
ở nhà một mình (phim).txt
Ở nhà một mình (tên gốc tiếng Anh: Home Alone) là một bộ phim hài của Mỹ sản xuất vào năm 1990 kể về chú bé Kevin bị gia đình bỏ rơi khi đi nghỉ Noel chỉ vì mâu thuẫn với mẹ cậu. Trong thời gian này, cậu rất vui vẻ nhưng bị vướng mắc với hai tên trộm. Sau đó cậu ra kế hoạch đặt bẫy và cho chúng bài học. Cậu đã ngủ và gặp lại mẹ vào sáng hôm sau. Cậu vô cùng sung sướng vì gặp lại gia đình. == Nội dung == == Các diễn viên trong phim == Macaulay Culkin vai Kevin McCallister: Là một cậu bé 8 tuổi thường hay gây rắc rối cho gia đình, luôn muốn khẳng định bản thân mình rằng: "Mình không sợ một điều gì vì mình là đàn ông trong nhà". Vào đêm trước ngày gia đình đi nghỉ đông ở Pháp, cậu đã mong cho gia đình mình biến mất để mình ở nhà một mình, nhưng sau đó mới nhận ra rằng đó hoàn toàn là một sự lạnh lẽo. Cậu bé đã dạy cho hai tên trộm (biệt hiệu là Ướt nhẹp) một bài học bằng cách đặt những cái bẫy tuy hơi vụng về nhưng mang lại hiệu quả cao khi chúng có ý định "chôm" sạch đồ của nhà cậu khi mọi người đều đã đi vắng, là người đã "giả giọng" một người hàng xóm để gọi cảnh sát đến bắt hai tên trộm đi, và cậu đã thành công. Joe Pesci vai Harry Lyme: Là tên cầm đầu trong nhóm trộm cắp định xông vào nhà Kevin để lấy hết đồ, là tên thông minh nhất trong hai tên. Daniel Stern vai Marv Merchants: Là kẻ đồng bọn của Harry, ngu ngốc và tham lam để muốn có được mọi thứ trong nhà, muốn giết Kevin nhưng không thành. Roberts Blossom vai Ông già Marley: Một ông già có mái tóc và râu bạc, được cho là kẻ đã sát hại cả gia đình và chôn xác dưới tuyết. Ông vào cửa hàng tạp hóa và đứng trước nhà Kevin và làm cho Kevin sợ hãi, phải vội vã lên giường chùm chăn và chui xuống gầm giường (mặc dù trước đó nói: Tôi không sợ một ai đâu). Nhưng khi gặp ông ở nhà thờ, Kevin đã thấy ông không hề đáng sợ, không phải là người xấu và là người đã cứu Kevin khỏi hai tên trộm khi cậu bị bọn chúng tóm (bằng cách dùng xẻng đập vào đầu bọn chúng). Catherine O'Hara vai Kate McCallister: Là mẹ của Kevin, đồng thời là mẹ của bốn đứa con khác. John Heard vai Peter McCallister: Là bố của Kevin, đồng thời là bố của bốn đứa con khác. Devin Ratray vai Buzz McCallister: Là anh trai thứ nhất của Kevin, người luôn bày trò chọc ghẹo Kevin, làm Kevin luôn gặp rắc rối, có nuôi một con nhện trong bể kính (đoạn cuối phim đã làm lành với Kevin). Hillary Wolf vai Megan McCallister: Chị gái thứ nhất của Kevin, đã bảo Kevin là lộn xộn vì hay nhờ mẹ xếp đồ giúp. Angela Goethals vai Linnie McCallister: Chị gái thứ hai của Kevin. Michael C. Maronna vai Jeff McCallister: Anh trai thứ hai của Kevin, nuôi nhện cùng Buzz. Gerry Bamman vai Frank McCallister: Là bác của Kevin, kết hôn với bà Leslie. Ông luôn bực tức vì những trò nghịch ngợm, phá hoại của Kevin và không muốn nhìn mặt Kevin. Terrie Snell vai Leslie McCallister: Là dì của Kevin, kết hôn với Frank và đồng thời cũng là mẹ của Fuller. Jedidiah Cohen vai Rob McCallister: Chú của Kevin, em trai của Peter và ông Frank. Senta Moses vai Tracy McCallister: Một trong những em họ Kevin. Daiana Campeanu vai Sondra McCallister: Em họ Kevin. Kieran Culkin vai Fuller McCallister: Em họ của Kevin, con trai của ông Frank và bà Leslie, uống nhiều nước nên hay đái dầm làm Kevin không muốn ngủ chung. Anna Slotky vai Brooke McCallister: Em họ Kevin. John Candy vai Gus Polinski: Một trong những người đã bỏ lỡ chuyến bay của mình, ông và ban nhạc là những người đã giúp Kate trở về Chicago để gặp lại Kevin. Ông đã thừa nhận có lần bỏ quên đứa con trai tại nhà tang lễ. Ông đã giúp Kate được đi chuyến xe tải về Chicago miễn phí. == Sản xuất == == Doanh thu == Tuần đầu, bộ phim đã thu về 17 triệu đôla tại 1.202 rạp chiếu phim, trung bình $ 14,211 cho mỗi trang web và chỉ 6% của tổng số cuối cùng một mình. Đây là bộ phim hạng 1 tại phòng vé cho 12 tuần, từ cuối tuần phát hành từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 18 tháng 11 năm 1990 thông qua việc cuối tuần của tháng 2. Ngày 1 tháng 3 năm 1991, nó vẫn là một 10 đầu vẽ tại phòng vé cho đến ngày 26 tháng 4 năm đó, mà cũng là ngày cuối cùng của tuần lễ Phục Sinh vừa qua. Nó đã hai lần xuất hiện trong top 10 (31 tháng 5 - 2 tháng 6 và 14 tháng 6 - 16 tháng 6) trước khi cuối cùng đã rơi ra khỏi top 10. Bộ phim Ở nhà một mình là phim có doanh thu cao nhất thứ ba của mọi thời đại, theo kênh truyền hình HBO. Tổng cộng, doanh thu của bộ phim thu về khoảng 476,684,675 đôla trên toàn thế giới. == Âm nhạc == == Các phần tiếp theo == === Ở nhà một mình 2: Lạc ở New York === Tiếp theo bản gốc của bộ phim, năm 1992 hãng chính thức phát hành bộ phim Ở nhà một mình 2: Lạc ở New York, các diễn viên và các nhân vật vẫn được giữ nguyên như bản gốc. Ở phần này, Kevin có đi cùng gia đình mình nhưng đã bị lên nhầm chuyến bay do nhầm lẫn với một người đàn ông khác. Ở đây, phim được quay tại khách sạn Plaza với những người quản lý. Lần này, Kevin gặp phải một bà già chuyên nuôi chim bồ câu và tiếp tục gặp gỡ với hai tên trộm lần trước. === Ở nhà một mình 3 === Năm 1997, hãng chính thức phát hành Ở nhà một mình 3, với nhân vật là chú bé Alex sống tại Chicago đã chống lại 4 tên trộm quốc tế ăn trộm một con chip vi tính, với cốt truyện khác hoàn toàn so với bản gốc năm 1990. === Ở nhà một mình 4: Trở lại nhà === Năm 2002, hãng chính thức phát hành Ở nhà một mình 4. Lần này, tên các nhân vật vẫn giữ nguyên như bản gốc, diễn viên có sự thay đổi nhưng bối cảnh là một ngôi nhà thông minh với hai ông bà già quản gia và cô Natalie (người mà bố Kevin định tái hôn nhưng sau đó lại thay đổi quyết định). Kevin đã chống trả quyết liệt với hai tên trộm có ý định đột nhập vào căn nhà này. === Ở nhà một mình 5 === Năm 2012, hãng phim chính thức phát hành Ở nhà một mình 5. == Xem thêm == Ở nhà một mình 2: Lạc ở New York Ở nhà một mình 3 Ở nhà một mình 4 Ở nhà một mình 5 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của phim. (tiếng Anh) Home Alone tại Internet Movie Database Home Alone tại Allmovie Home Alone tại Rotten Tomatoes Home Alone tại Metacritic Home Alone tại Home Alone Wiki Trailer phim.
đội tuyển bóng đá quốc gia ấn độ.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Ấn Độ là đội tuyển cấp quốc gia của Ấn Độ do Liên đoàn bóng đá Ấn Độ quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Ấn Độ là trận gặp đội tuyển Pháp vào năm 1948. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là 2 chiếc huy chương vàng Asiad giành được vào các năm 1951, 1962, ngôi vị á quân của Cúp bóng đá châu Á 1964, ngôi vô địch Challenge 2008 và 6 lần vô địch Nam Á. == Danh hiệu == Vô địch châu Á: 0 Á quân: 1964 Vô địch Cúp Challenge: 1 Vô địch: 2008 Vô địch Nam Á: 0 Vô địch: 1993; 1997; 1999; 2005; 2009; 2011 Á quân: 1995; 2008; 2013 Hạng ba: 2003 Bóng đá nam tại Asiad: 1951; 1962 1970 Hạng tư: 1958 Bóng đá nam tại Olympic: Hạng tư: 1956 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch bóng đá thế giới === === Cúp bóng đá châu Á === Ấn Độ từng 3 lần lọt vào vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á, với một lần giành ngôi á quân năm 1964. Lần gần đây nhất họ lọt vào vòng chung kết (2011) bằng việc vô địch Cúp Challenge AFC. === Giải vô địch bóng đá Nam Á === 1993 - Vô địch 1995 - Á quân 1997 - Vô địch 1999 - Vô địch 2003 - Hạng ba 2005 - Vô địch 2008 - Á quân 2009 - Vô địch 2011 - Vô địch 2013 - Á quân === Cúp Challenge AFC === 2006 - Tứ kết (Ấn Độ tham dự bằng đội U-20) 2008 - Vô địch 2010 - Vòng bảng 2012 - Vòng bảng 2014 - Không vượt qua vòng loại == Cầu thủ == === Đội hình hiện tại === Trận đấu tiếp theo: tháng 3 năm 2017 Đối thủ: Campuchia và Myanmar Số liệu thống kê tính đến ngày: 28 tháng 3 năm 2017 === Triệu tập gần đây === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Ấn Độ trên trang chủ của FIFA
cách mạng pháp.txt
Cách mạng Pháp (tiếng Pháp: Révolution française; 1789–1799), là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp, diễn ra từ năm 1789 đến 1799, khi lực lượng dân chủ và cộng hòa đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế và cả Giáo hội Công giáo Rôma tại Pháp cũng đã phải trải qua nhiều thay đổi. Tuy thể chế của Pháp đã trải qua các giai đoạn cộng hòa, đế quốc, và quân chủ trong 75 năm sau khi Đệ nhất Cộng hòa bị Napoléon Bonaparte đảo chính, cuộc cách mạng này đã kết thúc chế độ phong kiến trong xã hội Pháp. Nó được xem là quan trọng hơn các cuộc cách mạng khác tại Pháp sau này. Nó cũng làm giảm xu hướng chuyên chế và đề cao sức mạnh của nhân dân, biến họ từ thần dân thành công dân. Sức ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp rất lớn lao, nhất là đối với các quốc gia theo chế độ phong kiến thời bấy giờ. Trong khoảng thời gian từ năm 1760 tới năm 1840, vai trò của nước Pháp trên thế giới rất quan trọng. Ảnh hưởng của người Pháp đã tới các xứ Ái Nhĩ Lan, Ba Lan, Hà Lan, Ý và nhiều miền đất khác. Pháp đã là trung tâm của các phong trào trí thức trong thế kỷ 18. Khoa học của nước Pháp đã dẫn đầu thế giới. Phần lớn các tác phẩm văn hóa và chính trị đều được viết bằng tiếng Pháp được các nhà trí thức thuộc nhiều quốc gia tìm đọc và các ý tưởng, sáng kiến, phát minh của người Pháp được các dân tộc khác trên thế giới theo dõi và bắt chước. Tiếng Pháp đã là một ngôn ngữ quốc tế, dùng cho các nhà trí thức và giới quý tộc của nhiều quốc gia tại châu Âu. Nước Pháp với dân số 24 triệu người vào giữa thế kỷ 18, là một miền đất giàu có nhất và đông dân nhất dưới quyền một chính phủ trung ương trong khi vào thời gian này, nước Đức còn bị chia rẽ, nước Nga mới chỉ đang trỗi dậy chậm chạp còn dân số của cả nước Anh và Scotland cộng lại mới được 10 triệu người. Thành phố Paris tuy nhỏ hơn so với thành phố Luân Đôn về diện tích nhưng lại rộng gấp hai lần các thành phố Wien và Amsterdam. Tiền vàng của nước Pháp được lưu hành khắp châu Âu và chiếm một nửa số lượng ngoại tệ giao dịch, và số lượng hàng hóa xuất cảng của nước Pháp qua các nước khác của châu Âu đã lớn hơn số lượng hàng hóa của nước Anh. Nhưng trong hoàn cảnh phát triển với ảnh hưởng rộng lớn như vậy, cuộc Cách mạng Pháp đã bùng nổ, làm rung động cả châu Âu, đã lật đổ chế độ cũ bằng một thứ "xã hội mới" và là một khuôn mẫu mà các phong trào cách mạng sau này hướng vào, coi cuộc Cách Mang Pháp năm 1789 là một cách mạng đi trước. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng Pháp được cho là nguyên nhân làm suy vong ảnh hưởng của Pháp trên toàn châu Âu, mà sau đó, Anh đã lấp dần chỗ hổng để trở thành thế lực dẫn đầu châu Âu sau này. == Nguyên nhân == === Tình hình kinh tế === Về nông nghiệp: Cuối thế kỉ XVIII, Pháp vẫn là một nước nông nghiệp. Công cụ và phương thức canh tác thô sơ, lạc hậu, ruộng đất bỏ hoang nhiều năng suất thu hoạch rất thấp. Dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông. Nông dân nhận ruộng đất của lãnh chúa để cày cấy và phải nộp địa tô hết sức nặng nề, phải thực hiện mọi nghĩa vụ phong kiến với lãnh chúa. Đời sống nông dân ngày càng khốn quẫn bởi sự bóc lột đến cùng cực của lãnh chúa phong kiến và Giáo hội. Nạn đói thường xuyên xảy ra. Công thương nghiệp phát triển, máy móc được sử dụng ngày càng nhiều, đặc biệt trong công nghiệp dệt, khai khoáng, luyện kim với những xí nghiệp tập trung hàng nghìn công nhân. Ngoại thương cũng có những bước tiến mới, các công ty thương mại Pháp buôn bán với nhiều nước ở châu Âu và phương Đông. Công thương nghiệp Pháp thời kì này đã phát triển, tập trung ở các vùng ven Địa Trung Hải và Đại Tây Dương. Nhưng chế độ phong kiến chuyên chế đã cản trở sự phát triển của công, thương nghiệp: thuế má nặng, không có đơn vị tiền tệ đo lường thống nhất, sức mua của dân nghèo rất hạn chế. === Tình hình chính trị xã hội === Đến cuối thế kỉ XVIII, nước Pháp vẫn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế (đứng đầu là vua Louis XVI). Xã hội chia thành ba đẳng cấp: Tăng lữ, Quý tộc và Đẳng cấp thứ ba. Hai đẳng cấp đầu tuy chỉ chiếm số ít trong dân cư, nhưng được hưởng mọi đặc quyền, đặc lợi, không phải nộp thuế, có nhiều bổng lộc và giữ những chức vụ cao trong chính quyền, quân đội và Giáo hội. Do vậy, họ muốn duy trì quyền lực của phong kiến và không muốn thay đổi chế độ chính trị. Đẳng cấp thứ ba gồm nhiều giai cấp và tầng lớp: tư sản, nông dân, bình dân thành thị. Họ phải chịu mọi thứ thuế và nghĩa vụ, song không có quyền lợi chính trị và bị lệ thuộc vào những đẳng cấp có đặc quyền. Như vậy, đến cuối thế kỉ XVIII, do mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế và địa vị chính trị giữa Đảng cấp thứ ba với đẳng cấp Tăng lữ và Quý tộc, nước Pháp lâm vào cuộc khủng hoảng xã hội sâu sắc, báo hiệu một cuộc cách mạng đang đến gần. Sau cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), nền quân chủ Pháp suy thoái nghiêm trọng, trong khi những liệt cường phía Đông là Nga, Phổ và Áo lại phát triển lớn mạnh, trong khi Anh đã vươn lên trở thành đối thủ khó ưa của Pháp. Nhiều yếu tố dẫn tới cuộc cách mạng; về một số mặt chế độ cũ không còn chống đỡ nổi tính cứng nhắc của chính nó đối diện với một thế giới đang thay đổi; một số mặt khác, nó rơi vào những tham vọng của một tầng lớp trưởng giả đang nổi lên, cộng với sự lo lắng của những người nông dân, người làm công ăn lương, và các cá nhân ở mọi tầng lớp đang chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng của thời đại Khai sáng. Khi cách mạng diễn ra và khi quyền lực được trao từ tay triều đình cho các thể chế luật pháp, những xung đột quyền lợi của các nhóm liên minh ban đầu đó đã trở thành nguồn gốc của xung đột và đổ máu. Chắc chắn, các nguyên nhân của cách mạng phải bao gồm tất cả những điều sau: Sự oán giận đối với chế độ quân chủ chuyên chế đương thời. Sự oán giận đối với hệ thống lãnh chúa từ phía những người nông dân, làm công ăn lương, và ở một mặt rộng hơn cả của tầng lớp trưởng giả. Sự nổi lên của các tư tưởng của thời đại ánh sáng. Nợ quốc gia không thể kiểm soát nổi, có nguyên nhân từ việc tăng thêm gánh nặng của một hệ thống thuế rất lớn. Sự thiếu thốn thức ăn vào những tháng ngay trước khi cách mạng nổ ra. Sự oán giận đối với tầng lớp quý tộc đặc quyền và sự thống trị đối với cuộc sống công cộng từ phía những tầng lớp chuyên nghiệp đầy tham vọng. Ảnh hưởng của Cách mạng Hoa Kỳ. Hoạt động tiền cách mạng đã bắt đầu khi vua Louis XVI của Pháp (trị vì từ 1774–1792) đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính hoàng gia. Nhà vua Pháp, và về mặt tài chính cũng là quốc gia Pháp, có những món nợ rất lớn. Trong thời vua Louis XV (trị vì từ 1715–1774) và Louis XVI nhiều bộ trưởng, gồm cả Nam tước Turgot (Bộ trưởng Tài chính 1774–1776) và Jacques Necker (Bộ trưởng Tài chính 1777–1781), đều không thành công trong việc đưa ra cải cách nhằm biến hệ thống thuế của Pháp trở nên đồng đều hơn. Các biện pháp đó luôn bị phản đối từ phía "hội đồng nhà vua" (tòa án), dân "Quý tộc," vốn tự coi mình là những người bảo vệ quốc gia chống lại chế độ chuyên quyền, cũng như khỏi các bè phái của triều đình, và cả các bộ trưởng mất chức. Charles Alexandre de Calonne, người đã trở thành Bộ trưởng Tài chính năm 1783, theo đuổi một chiến lược chi tiêu minh bạch, coi đó là phương tiện để thuyết phục những ông chủ nợ tiềm tàng về sự đáng tin cậy và ổn định của nền tài chính Pháp. Tuy nhiên, Calonne, từ lâu đã theo dõi tình hình tài chính của Pháp, đã quyết định rằng nó vẫn có thể cứu vãn được và đưa ra một loại thuế đất đai thống nhất coi đó là phương tiện để đưa tài chính Pháp vào khuôn khổ về dài hạn. Trước mắt, ông hy vọng rằng một sự biểu thị ủng hộ từ phía Hội đồng quý tộc được chọn lọc kỹ lưỡng sẽ lấy lại được lòng tin vào tài chính Pháp, và cho phép vay mượn thêm cho tới khi thuế đất đai mang lại hiệu quả và cho phép bắt đầu trả nợ. Mặc dù Calonne đã thuyết phục nhà vua về sự cần thiết của những cải cách của ông, Hội đồng quý tộc đã từ chối tán thành các biện pháp của ông, đòi hỏi rằng chỉ một chỉ một cơ cấu đại diện thực sự; tốt nhất là États Généraux (Hội nghị các Đẳng cấp) của vương quốc, mới có thể thông qua luật thuế mới. Nhà vua, thấy rằng chính Calonne là một trở ngại đã cách chức ông và thay bằng Étienne Charles de Loménie de Brienne, vị Tổng giám mục Toulouse, người sau này là lãnh đạo phe đối lập trong Quốc hội. Brienne lúc ấy đã có được vị trí mở rộng để tiến hành cải cách, trao cho dân chúng nhiều quyền dân sự (gồm cả tự do tôn giáo với phái Tin lành), và hứa hẹn triệu tập hội nghị đại diện các đẳng cấp trong năm năm, nhưng trong lúc ấy ông cũng cố gắng thúc đẩy các kế hoạch của Calonne. Khi các biện pháp này được đưa ra trước "Hội đồng Nhà vua" tại Paris (một phần cũng phải nhờ đến sự không lịch thiệp của nhà vua), Brienne phản đối, gắn sức giải tán toàn bộ Hội đồng và thu thêm các loại thuế mà không cần quan tâm tới họ. Điều này đã dẫn tới một sự phản ứng rộng lớn từ nhiều nơi trong đất Pháp, gồm cả "Ngày của những viên ngói" nổi tiếng ở Grenoble. Thậm chí quan trọng hơn, sự hỗn loạn khắp đất nước đã làm các nhà cho vay ngắn hạn, mà ngân khố Pháp phải phụ thuộc vào và từng ngày một phải thuyết phục họ ngừng rút các khoản nợ, đưa lại một tình trạng gần như phá sản buộc Louis và Brienne phải đầu hàng. Ngày 8 tháng 8 năm 1788 nhà vua đồng ý triệu tập hội nghị bất thường États Généraux vào tháng 5 năm 1789 — lần đầu tiên kể từ 1614. Brienne từ chức vào ngày 25 tháng 8, 1788, và Necker một lần nữa lại gánh vác trọng trách tài chính quốc gia. Ông đã sử dụng vị trí của mình để đề xuất các cải cách mới, nhưng chỉ để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ của các đại diện quốc gia. == Hội nghị đại diện các Đẳng cấp năm 1789 == Để có miêu tả chi tiết hơn về các sự kiện từ 8 tháng 8, 1788 – 17 tháng 6, 1789, xem Hội nghị các Đẳng cấp năm 1789. Việc kêu gọi triệu tập Hội nghị các Đẳng cấp dẫn tới sự gia tăng lo ngại từ phía đối lập rằng chính phủ sẽ cố gắng triệu tập một hội nghị với thành phần có lợi cho họ. Nhằm tránh tình trạng này, "Hội đồng Nhà vua" của Paris, vốn đã trở về vai trò quyền lực tại thành phố trong thắng lợi, tuyên bố rằng Hội nghị phải được triệu tập theo những cách thức đã được tiến hành như ở lần Hội nghị trước. Mặc dầu có vẻ rằng các thành viên Hội đồng Paris không nhận thức đầy đủ về "những cách thức năm 1614" khi họ đưa ra quyết định này, nhưng nó đã gây nên một sự xáo động. Hội nghị năm 1614 bao gồm số lượng đại biểu ngang nhau từ mỗi đẳng cấp, và trật tự là, Đẳng cấp thứ nhất (tăng lữ), Đẳng cấp thứ hai (quý tộc), và Đẳng cấp thứ ba (bao gồm tầng lớp Đại tư sản, tư sản công thương, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân nghèo) và mỗi đẳng cấp (toàn thể tất cả các đại biểu thuộc đẳng cấp đó) được bầu một phiếu.Hầu như ngay lập tức "Ủy ban Ba mươi", một tổ chức những người Paris tự do, đa số là quý tộc, bắt đầu kích động chống lại nó, đòi phải tăng gấp đôi Đẳng cấp thứ ba và bầu theo đầu phiếu (như đã từng được thực hiện ở nhiều hội đồng địa phương). Hội đồng Nhà vua tại Paris nhanh chóng phản công lại, tuyên bố rằng chỉ các quy trình bầu cử; những người được ủy quyền được bầu cử bởi những "Quan án quản hạt" và "hội đồng nhà vua" tại các địa phương chứ không phải bởi các tỉnh; mới cần được quyết định bởi kiểu năm 1614. Necker, thay mặt cho chính phủ, cuối cùng đi đến kết luận là Đẳng cấp thứ ba cần phải được tăng lên gấp đôi, nhưng vấn đề bầu theo đầu phiếu vẫn phải để lại cho Hội nghị tự giải quyết. Nhưng những sự oán giận từ cuộc tranh cãi đó vẫn còn rất lớn, và những cuốn sách mỏng, như của Abbé Sieyès Đẳng cấp thứ ba là gì, tuyên truyền rằng các đẳng cấp được ưu tiên là những kẻ ăn bám và rằng chính các đại biểu của Đẳng cấp thứ ba mới là đại diện quốc gia, làm cho những sự oán giận đó vẫn tồn tại. Khi Hội nghị được triệu tập ở Versailles vào ngày 5 tháng 5 năm 1789, những bài phát biểu dài của Necker và Lamoignon, người giữ các con dấu, không hướng dẫn được gì nhiều cho các đại biểu, họ lại phải quay lại các cuộc họp nhóm để ủy nhiệm cho các thành viên của mình. Vấn đề bầu cử theo đầu phiếu hay theo đẳng cấp không được đặt ra, nhưng các đại biểu Đẳng cấp thứ ba lúc ấy yêu cầu lá phiếu của một đẳng cấp chỉ có giá trị khi đại diện cho toàn thể các đại biểu của đẳng cấp đó tại Hội nghị. Tuy nhiên, những cuộc thương lượng giữa các đại biểu tại Hội nghị của các đẳng cấp thứ nhất và thứ hai để hoàn thành việc này không mang lại kết quả, vì chỉ có một đa số không đáng kể tăng lữ và đa số lớn hơn các quý tộc tiếp tục ủng hộ việc bầu cử theo đẳng cấp. == Quốc hội == Vào 28 tháng 5 năm 1789, giáo sĩ Emmanuel Joseph Sieyès đề nghị rằng các đại biểu Đẳng cấp thứ ba, hiện đang hội họp như các "Nhóm bình dân" (Commons), tiến hành xác minh những quyền lực của chính mình và mời hai nhóm đại biểu của hai đẳng cấp kia tham gia, nhưng không phải chờ đợi họ. Họ đã tiến hành như vậy, hoàn thành quá trình vào 17 tháng 6. Sau đó họ bỏ phiếu ủng hộ một biện pháp cơ bản hơn, tuyên bố họ là Quốc hội, một cơ quan đại diện không phải là của các đẳng cấp mà là của "nhân dân". Đạo luật đầu tiên của quốc hội là Tuyên bố Dân quyền và Nhân quyền. Họ đã mời các đại biểu của các đẳng cấp trên tham gia cùng họ, nhưng nói rõ rằng họ có ý định tiến hành các công việc quốc gia dù có hay không có sự tham gia của các đại biểu kia. Louis XVI đóng cửa Phòng quốc gia nơi Quốc hội họp. Quốc hội chuyển những cuộc bàn cãi của mình ra ngoài sân Jeu de Paume của vua, nơi họ tiến hành Lời tuyên thệ Jeu de Paume (20 tháng 6, 1789), theo đó họ đồng ý không trở về cho tới khi lập ra được một hiến pháp cho nước Pháp. Đa số các đại diện của giới tăng lữ nhanh chóng gia nhập với họ, cùng với bốn bảy thành viên giới quý tộc. Tới 27 tháng 6 phe hoàng gia đã công khai nhượng bộ, mặc dù quân đội bắt đầu kéo tới với số lượng đông đảo quanh Paris và Versailles. Các thông điệp ủng hộ Quốc hội bay tới từ Paris và các thành phố khác của Pháp. Ngày 9 tháng 7, Quốc hội tự tổ chức lại thành Quốc hội lập hiến. Ở Paris, Cung điện hoàng gia và những khoảng đất của nó đã trở thành nơi tụ họp của nhiều cuộc tụ tập liên tục. Một số quân đội quay sang phía chính nghĩa của dân chúng. == Quốc hội lập hiến == === Đột chiếm ngục Bastille === Vào ngày 11 tháng 7, 1789, vua Louis, dưới ảnh hưởng của các quý tộc bảo thủ trong Hội đồng Cơ mật, cũng như của vợ ông, Marie Antoinette, và em trai, Quận công Artois, trục xuất vị bộ trưởng cải cách Necker và tái cơ cấu lại tất cả các bộ. Đa phần Paris coi đó là sự khởi đầu của cuộc đảo chính của hoàng gia, đã nổi loạn. Một số lực lượng quân đội tham gia vào đám đông dân chúng; một số khác thì đứng trung lập. Ngày 14 tháng 7, 1789, sau bốn giờ xung đột, quân khởi nghĩa chiếm được ngục Bastille. Mặc dù có lệnh ngừng chiến để tránh sự tàn sát lẫn nhau, vị quan giám ngục ở đó là Hầu tước Bernard de Launay và nhiều lính gác vẫn bị giết. Đám đông đem đầu quan giám ngục cắm cọc mang đi diễu hành quanh thành phố. Tuy những người Paris chỉ giải thoát cho bảy tù nhân (bốn kẻ lừa đảo, hai công tử quý tộc bị giam do đạo đức xấu, và một nghi phạm giết người) nhưng Bastille vẫn được coi là một biểu tượng hùng hồn của tất cả những gì bị căm ghét của "chế độ cũ". Quay trở về Tòa thị chính, đám đông buộc tội vị prévôt des marchands (tương đương chức thị trưởng) Jacques de Flesselles là kẻ phản bội; ông bị giết ngay trên đường đến một nơi có vẻ là một tòa án ở Cung điện hoàng gia Palais Royal. Nhà vua và những kẻ ủng hộ trong quân đội lùi bước, ít nhất là ở thời điểm đó. Hầu tước Lafayette đảm nhiệm chỉ huy Cảnh vệ quốc gia ở Paris; Jean-Sylvain Bailly — chủ tịch Quốc hội vào lúc đó của Lời tuyên thệ Jeu de Paume — trở thành thị trưởng thành phố dưới một cơ cấu chính quyền mới được gọi là "công xã" (thay cho Hội đồng Nhà vua tại Paris). Nhà vua tới Paris, nơi mà vào ngày 27 tháng 7, ông chấp nhận một phù hiệu tam tài (ba màu) giữa lúc dân chúng hô "Quốc gia muôn năm" thay vì "Đức vua muôn năm". Tuy nhiên, sau cuộc bạo lực này, các quý tộc; vẫn được đảm bảo chút ít bởi sự hòa giải tạm thời, giữa nhà vua và người dân; đã bắt đầu giải phóng đất nước khỏi những kẻ "nhập cư", một số họ bắt đầu âm mưu tiến hành nội chiến bên trong vương quốc và xúi giục liên minh châu Âu chống lại nước Pháp. Necker được gọi trở lại nắm quyền, nhưng thắng lợi của ông chóng tàn. Là một nhà tài chính khôn ngoan hơn là một chính trị gia khôn khéo, ông đã quá nhấn mạnh vai trò của mình bằng cách yêu cầu và giành được một sự ân xá chung, đánh mất phần lớn sự ủng hộ của nhân dân. Ông còn cho rằng mình có thể tự cứu nước Pháp. Giới quý tộc không yên tâm với sự hòa giải bề ngoài giữa nhà vua và dân chúng. Họ bắt đầu chạy ra nước ngoài, một số bắt đầu âm mưu nội chiến và kêu gọi một liên minh châu Âu chống Pháp. Đến cuối tháng 7, khởi nghĩa và tinh thần chủ quyền nhân dân lan ra khắp nước Pháp. Tại các vùng nông thôn, rất nhiều người có hành động quá mức: một số đốt các chứng từ nợ và đốt phá không ít các lâu đài, coi chúng là một phần của một cuộc tổng khởi nghĩa nông dân được gọi là La Grande Peur (Sự sợ hãi vĩ đại). Thêm vào đó, âm mưu tại triều đình Versailles và số lượng lớn người lang thang do thất nghiệp đã dẫn đến các tin đồn bừa bãi và sự hoang tưởng (đặc biệt ở nông thôn), gây ra sự lo sợ và rối loạn trong nước, góp phần vào La Grande Peur (Hibbert, 93). === Bãi bỏ chế độ phong kiến === Để có thêm chi tiết, xem Cách mạng Pháp từ sự bãi bỏ chủ nghĩa phong kiến đến Hiến pháp dân sự của giới tăng lữ-Sự bãi bỏ chế độ phong kiến Ngày 4 tháng 8 năm 1789, Quốc hội bãi bỏ chế độ phong kiến, dẹp bỏ cả các quyền của lãnh chúa của Đẳng cấp thứ hai và các loại thuế thập phân của Đẳng cấp thứ nhất. Trong vòng vài giờ, các quý tộc, tăng lữ, các thị trấn, tỉnh lỵ, các công ty và các thành thị mất đi quyền ưu tiên của mình. === Bớt ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo Rôma === Cuộc cách mạng đã đem lại sự chuyển dịch quyền lực lớn từ Giáo hội Công giáo La Mã sang Nhà nước. Luật ban hành năm 1790 bao gồm cả việc bãi bỏ quyền đánh thuế trên vụ mùa (còn được gọi là "dîme") của Giáo hội, việc xóa bỏ những đặc quyền của giới giáo sĩ, và sung công tài sản Giáo hội, người sau đó sở hữu nhiều đất đai nhất trên toàn quốc. Đi cùng với cuộc cách mạng là cú phản đòn dữ dội về phe giáo chức mà kèm theo đó là bắt bớ và thảm sát các linh mục trên toàn đất Pháp. Điều ước năm 1801 giữa Quốc hội và Giáo hội đã chấm dứt thời kỳ bài Công giáo và thiết lập nên những luật lệ cho mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và Nhà nước Pháp. Điều ước này tồn tại cho đến khi bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tam Cộng hòa nước Pháp để tách biệt giữa Giáo hội và nhà cầm quyền vào ngày 11 tháng 12 năm 1905. === Sự hình thành các đảng phái === Các bè phái trong Quốc hội bắt đầu lộ rõ hơn. Quý tộc Jacques Antoine Marie de Cazalès và đức cha Jean-Sifrein Maury dẫn đầu một phe sau này được gọi là cánh hữu, chống lại cách mạng. Những nhà "dân chủ bảo hoàng" hay còn gọi là monarchiens, liên kết với Necker lại thiên về tổ chức một nước Pháp tương tự như mô hình nước Anh Quân chủ lập hiến. Họ bao gồm Jean Joseph Mounier, Bá tước Lally-Tollendal, Bá tước Clermont-Tonnerre và Pierre Victor Malouet, Bá tước của Virieu. Đảng Quốc gia, đại diện cho thành phần trung hữu của Quốc hội, bao gồm Honoré Mirabeau, La Lafayette và Bailly; trong khi Adrien Duport, Antoine Barnave và Alexander Lameth đại diện cho quan điểm cực hữu hơn. Hầu như đơn độc với thuyết cấp tiến bên cánh tả là luật sư Maximilien Robespierre. Cha Emmanuel Joseph Sieyès đi đầu trong đề xuất lập pháp trong giai đoạn này và đã đôi lúc thành công trong việc đem lại sự đồng lòng giữa thành phần trung lập và cánh tả. Ở Paris, nhiều hội đồng, thị trưởng, hội đồng đại biểu và các quận riêng biệt đều đòi hỏi quyền độc lập lẫn nhau. Tầng lớp trung lưu đang trên đà phát triển. Đội Cảnh vệ Quốc gia dưới sự dẫn dắt của La Lafayette từ từ nổi lên như một thế lực chính trị độc lập tương tự như các hội nhóm tự phát khác. Trên cơ sở tham khảo Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 8 năm 1789, Quốc hội ban hành Tuyên ngôn về nhân quyền và quyền công dân. Tương tự như tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, bản tuyên ngôn này chỉ bao gồm những tuyên bố nguyên tắc hơn là một bản hiến pháp có hiệu lực thực thụ. === Đến một hiến pháp === Xem thêm chi tiết tại Tiến đến một hiến pháp Quốc hội lập hiến không chỉ hoạt động như một cơ quan lập pháp mà còn như một thực thể thống nhất để soạn thảo một hiến pháp mới. Necker, Mounier, Lally-Tollendal đã đầu tranh để thành lập một thượng viện nhưng không thành công. Thượng viện do họ đề nghị gồm những thành viên được chọn bởi hoàng gia từ những người được nhân dân đề cử. Giới quý tộc đòi hỏi phải có một Thượng viện được bầu cử từ những người có dòng dõi. Nhưng chính đảng được yêu chuộng nhất mới giành được lợi thế: nước Pháp sẽ có một Quốc hội với một viện duy nhất. Trong đó nhà vua chỉ có quyền "phủ quyết tạm thời": có thể hoãn việc đưa một dự luật vào thi hành, nhưng không thể phủ quyết hoàn toàn. Nhân dân Paris đã đánh bại mọi nỗ lực của phe bảo hoàng nhằm chống lại trật tự xã hội mới: họ đã tuần hành trên đại lộ Versailles ngày 5 tháng 10 năm 1789. Sau vài cuộc ẩu đả, nhà vua và hoàng tộc đã chấp thuận sự dẫn độ từ Versailles về Paris. Quốc hội đã thay thế Các tỉnh của Pháp với tám mươi ba phân khu (département), được điều hành giống như nhau và giống nhau về quy mô và dân số. Lúc đầu chỉ được hình thành để đối phó với một cuộc khủng hoảng tài chính, tới lúc này Quốc hội lại chủ trọng đến những vấn đề khác và làm sự thiếu hụt càng trở nên trầm trọng. Mirabeau dẫn đầu trong vụ việc này, trong Quốc hội giao cho Necker quyền lực tuyệt đối về tài chính. === Tiến đến Bộ luật dân sự cho giới tu sĩ === Nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế, Quốc hội đã thông qua bộ luật ngày 2 tháng 12 năm 1789 cho phép chuyển toàn bộ tài sản của Giáo hội cho chính quyền quốc gia, với điều kiện chính quyền phải chịu mọi chi phí cho các hoạt động của Giáo hội. Nhằm nhanh chóng tiền tệ hóa một lượng của cải khổng lồ đến như vậy, Chính phủ đã phát hành một loại tiền giấy mới, assignat, được đảm bảo giá trị bằng số đất tịch thu của Giáo hội. Việc ban hành thêm bộ luật ngày 13 tháng 2 năm 1790 đã bãi bỏ lời thề của nhà tu hành. Bộ luật dân sự cho giới tu sĩ (Constitution civile du clergé) được thông qua ngày 12 tháng 7 năm 1790 (mặc dù đến ngày 26 tháng 12 năm 1790 mới được nhà vua ký), đã biến các giáo sĩ còn lại trở thành người làm công cho nhà nước và yêu cầu họ phải tuyên thệ tuyệt đối trung thành với Hiến pháp. Bộ luật dân sự cho giới tu sĩ còn biến giáo hội Công giáo thành một lực lượng của nhà nước thế tục. Phản ứng lại bộ luật này, Tổng giám mục giáo phận Aix và giám mục giáo phận Clermont đã tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công của các giáo sĩ ở Quốc hội lập hiến. Giáo hoàng không chấp nhận sự sắp đặt này, và điều đó đã dẫn đến sự phân hóa các giáo sĩ thành hai phái: "những người tuyên thệ" (juror hay "giáo hội lập hiến"), gồm những người đã lập lời thề chấp nhận sự sắp đặt mới; và "những người không tuyên thệ" (non-juror hay "những thầy tu bướng bỉnh" - refractory priests), gồm những người không chịu chấp nhận theo sự sắp đặt của chính quyền. === Từ sự kiện kỷ niệm ngày phá ngục Bastille đến cái chết của Mirabeau === Thảo luận chi tiết về sự kiện ngày 14 tháng 7 năm 1790 – ngày 30 tháng 9 năm 1791, xem Từ sự kiện kỷ niệm ngày phá ngục Bastille đến cái chết của Mirabeau Quốc hội đã bãi bỏ những đặc trưng của "chế độ cũ" — quốc hiệu, chế phục (quần áo của người hầu các nhà quyền quý), v.v.. việc này đã cô lập hơn nữa tầng lớp quý tộc bảo thủ và làm gia tăng đội ngũ những kẻ lưu vong. Vào ngày 14 tháng 7 năm 1790 và trong nhiều ngày tiếp theo, những đám đông ở quảng trường Champ de Mars đã kỷ niệm 1 năm ngày phá ngục Bastille; những người tham gia đã lập lời thề "trung thành với đất nước, với pháp luật, và với đức vua"; đích thân vua và hoàng tộc cũng tham dự. Các cử tri trước đó đã bầu ra chính quyền tối cao để nắm quyền trong năm đầu, nhưng nhờ Lời thề Jeu de Paume Công xã Paris vẫn được quyền tổ chức những cuộc họp thường kỳ liên tục cho đến khi Hiến pháp được ban hành. Phe cánh hữu giờ đây đòi hỏi một cuộc bầu cử mới, nhưng Mirabeau đã thành công khi khẳng định cơ cấu Quốc hội cơ bản đã được thay đổi, và do đó không cần thêm bất cứ cuộc bầu cử nào khác trước khi Hiến pháp hoàn thành. Những năm cuối của thập niên 1790 là thời kỳ bùng nổ của nhiều cuộc phản cách mạng quy mô nhỏ với nỗ lực huy động toàn bộ hay một bộ phận quân đội nhằm đối phó với cách mạng. Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy này đều chung một kết cục là thất bại. Hoàng gia, theo nhận xét của François Mignet, "ủng hộ mọi nỗ lực phản cách mạng nhưng không thừa nhận trong bất cứ trường hợp nào". Quân đội phải đối mặt với tình trạng rối loạn nội bộ nghiêm trọng: Đại tướng Bouillé, với thành tích đàn áp được một số cuộc nổi dậy yếu thế, càng được những người phản cách mạng kính trọng và ngưỡng mộ. Theo luật mới trong quân đội, những chiến sĩ có thâm niên và thực lực sẽ được coi trọng và tiến cử chứ không còn quan trọng người đó thuộc đẳng cấp hay giai cấp nào. Luật lệ mới này đã làm cho nhiều hạ sĩ, sĩ quan hiện thời bất mãn, không lâu sau đó họ đã đào ngũ và tham gia phản cách mạng. Trong thời kỳ này, nổi bật là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các "phái hội" trong giới chính trị Pháp, tiêu biểu là phái Jacobin (phiên âm "Gia-cô-banh"): Theo Bách khoa toàn thư Britannica 1911, tính đến ngày 10 tháng 8 năm 1790 đã có 152 phái hội liên kết với Jacobin. Khi phái Jacobin bắt đầu vang danh khắp nơi, một số những người đồng sáng lập đã rời bỏ nó để thành lập phái '89. Những người bảo thủ đã thành lập phái Impartiaux và sau đó là phái Quân chủ (Monarchique). Các phái này tổ chức phân phát bánh mì với mong muốn nhận được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân nhưng đã không thành công, trái lại họ còn thường xuyên bị chống đối và thậm chí trở thành mục tiêu phá hoại. Cuối cùng chính quyền thành phố Paris đã giải tán phái Quân chủ vào tháng 1 năm 1791. Giữa tình hình này, Quốc hội vẫn tiếp tục công việc của mình để hoàn thành bản Hiến pháp mới. Theo đó, một tòa án mới sẽ được bổ nhiệm, mang tính chất tạm thời và các thẩm phán được quyền hoạt động độc lập với nhà vua. Bãi bỏ hình thức bổ nhiệm kiểu "cha truyền con nối" ở mọi cơ quan nhà nước, trừ chính quyền Quân chủ. Nhà vua vẫn có quyền lực tuyệt đối nếu muốn gây chiến, nhưng cơ quan lập pháp mới được quyền quyết định có nên tuyên bố chiến tranh hay không. Ngoài ra, Quốc hội còn bãi bỏ mọi hàng rào thương mại trong nước; cấm mở phường hội, xưởng dạy nghề và các tổ chức của công nhân; bất cứ cá nhân nào cũng phải có giấy phép hành nghề (môn bài) mới được hành nghề và buôn bán; đình công trở thành việc bất hợp pháp. Mùa đông năm 1791, lần đầu tiên Quốc hội lưu tâm về vấn đề quý tộc bỏ đi di tản (émigrés). Trong phiên họp của Quốc hội về việc ban hành luật mới cấm di tản, sự an toàn của đất nước được đặt ra trước quyền tự do xuất cảnh của mỗi người. Mirabeau đã giành phần thắng với cách giải quyết mà ông cho là "xứng đáng được dùng trong bộ luật tàn bạo của Draco". Không may, Mirabeau đã qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1791. Mignet nhận xét, "Không ai có thể sánh với quyền lực và sự nổi tiếng của Mirabeau", và trong vòng năm đó, Quốc hội mới đã thông qua điều luật "tàn bạo" của Mirabeau. === Cuộc đào tẩu Varennes === Dù phải vất vả chống đỡ với cuộc Cách mạng trong nước, vua Louis XVI vẫn từ chối mọi lời đề nghị giúp đỡ đầy mưu toan và không đáng tin cậy của các quốc vương khác ở châu Âu mà bắt tay với tướng Bouillé, người luôn đối đầu với Quốc hội và lên án gay gắt tình trạng quý tộc di tản. Bouillé hứa cho vua Louis ẩn náu ở Montmedy để âm thầm ủng hộ ông. Đêm 20 tháng 6 năm 1791, Hoàng gia vội vã rời bỏ Tuileries. Tuy vậy, vì quá tự tin dẫn đến khinh suất, ngay trong ngày hôm sau vua Louis đã để lộ sơ hở và bị phát hiện và bắt giữ tại Varennes (tại phân khu Meuse). Chiều ngày 21 tháng 6, vua bị đưa về Paris trong sự canh giữ cẩn mật của Quốc hội. Pétion, Latour-Maubourg và Antoine Pierre Joseph Marie Barnave, đại diện cho Quốc hội, đã tiếp kiến Hoàng gia tại Épernay và cùng đi với họ. Kể từ lúc này, Barnave trở thành cố vấn và người ủng hộ Hoàng gia. Khi họ đến Paris, quần chúng nhân dân đã im hơi lặng tiếng. Quốc hội lâm thời đã tước quyền lực của vua Louis. Vua và hoàng hậu Marie Antoinette bị giam giữ dưới sự canh phòng nghiêm ngặt. === Những ngày cuối cùng của Quốc hội lập hiến === Thảo luận chi tiết tại Những ngày cuối cùng của Quốc hội lập hiến Với đa số đại biểu trong Quốc hội vẫn còn ủng hộ chế độ Quân chủ lập hiến hơn là chế độ Cộng hoà, các phe phái đã đi đến thỏa thuận cho vua Louis làm một đấng quân vương bù nhìn: nhà vua phải lập một lời thề trong Hiến pháp và ban sắc lệnh để tuyên bố rằng nếu ngài chống lại lời thề đó, chỉ huy quân đội với mục đích gây chiến tranh với Quốc gia, hay cho phép ai làm điều đó nhân danh ông thì ông sẽ phải thoái vị. Jacques Pierre Brissot đã thảo một bản kiến nghị, nhấn mạnh rằng dù sao dưới con mắt của Quốc hội thì Louis XVI đã bị phế truất kể từ chuyến du hành đến Varennes. Một đám đông khổng lồ đã tụ tập ở Quảng trường Champ-de-Mars để ký vào bản kiến nghị này. Georges Danton và Camille Desmoulins đọc một bài diễn văn sôi nổi. Quốc hội đã phải huy động chính quyền thành phố để bảo vệ "trật tự công cộng". Lực lượng Vệ binh Quốc gia dưới sự chỉ huy của La Lafayette đã đứng ra đương đầu với đám đông. Các vệ binh phải bắn chỉ thiên để cảnh cáo sau những loạt đá được ném ra từ đám đông; nhưng nhận thấy đám đông vẫn lấn tới không chút e dè, tướng Lafayette ra lệnh bắn thẳng vào đoàn người tiến tới, làm khoảng 50 người chết. Tiếp theo sau vụ thảm sát này, chính quyền địa phương đã đóng cửa nhiều hội ái quốc và những tờ báo cấp tiến như L'Ami du Peuple của Jean-Paul Marat. Danton vội vã trốn đến Anh, Desmoulins và Marat thì giấu mình ẩn nấp. Trong lúc đó, nỗi lo ngoại xâm lại bắt đầu đe dọa: Hoàng đế La Mã Thần thánh là Leopold II - anh vợ vua Louis XVI, vua nước Phổ là Friedrich Wilhelm II, và em trai vua Louis XVI là Charles-Phillipe, Bá tước của Artois đã ban hành Tuyên bố Pilnitz, yêu cầu trao trả tự do cho vua Louis XVI và giải tán Quốc hội, nếu chính quyền Cách mạng không đáp ứng những điều kiện này thì họ sẽ tiến đánh nước Pháp. vô hình trung bản tuyên bố này càng đẩy vua Louis vào tình thế hiểm nghèo. Người Pháp thì chẳng hề để ý đến, còn những lời đe dọa dùng vũ lực trên chỉ đơn thuần là chiến sự ở ngoài vùng biên giới. Ngay từ trước chuyến đi ở Varennes, các thành viên của Quốc hội Lập hiến đã quyết định quyền lập pháp sẽ do Quốc hội mới (Quốc hội lập pháp) tiếp tục. Giờ đây Quốc hội (Quốc hội Lập hiến) thu thập và chọn lựa nhiều điều luật khác nhau trong Hiến pháp mà trước đây họ đã thông qua để viết thành một bản Hiến pháp mới, cho thấy sự dũng cảm đáng nể khi không lợi dụng cơ hội này để sửa lại một số điều quan trọng, rồi trình nó lên cho vua Louis XVI vừa được trao trả ngôi vị. Nhà vua chấp nhận Hiến pháp và viết rằng "Trẫm cam kết sẽ duy trì Hiến pháp này tại Tổ quốc, bảo vệ nó khỏi mọi sự công kích từ nước ngoài, và phê chuẩn thực thi Hiến pháp này bằng mọi cách mà ta tùy ý sử dụng". Nhà vua đã có một buổi diễn thuyết trước Quốc hội và nhận được những tràng pháo tay nhiệt tình từ khán giả và các thành viên trong Quốc hội. Quốc hội tuyên bố chấm dứt nhiệm kỳ vào ngày 29 tháng 9 năm 1791. Mignet đã viết, "Hiến pháp năm 1791... là công trình của giai cấp tư sản và sau đó trở thành giai cấp có quyền lực nhất; bởi vì, theo lẽ thường, thế lực chiếm ưu thế hơn bao giờ cũng giành được quyền kiểm soát trong thể chế... Trong bản Hiến pháp này, con người là nguồn gốc của mọi quyền lực, nhưng nó đã không được sử dụng". == Quốc hội lập pháp và sự sụp đổ của nền Quân chủ == Xem chi tiết về sự kiện ngày 11 tháng 10 năm 1791 – ngày 19 tháng 9 năm 1792, xem bài chính Quốc hội lập pháp và sự sụp đổ của nền Quân chủ ở Pháp. === Quốc hội === Với Hiến pháp 1791, nước Pháp vẫn theo chế độ Quân chủ lập hiến. Nhà vua phải chia sẻ quyền lực với Quốc hội được bầu ra, nhưng nhà vua vẫn được sử dụng quyền phủ quyết và quyền lựa chọn bộ trưởng. Quốc hội mới họp phiên đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1791 và bắt đầu tan rã, lộn xộn trong vòng không đến một năm sau đó. Theo nhận xét của Britanica 1911: "Quốc hội đã thất bại trong nỗ lực cầm quyền, để lại đằng sau là ngân khố trống rỗng, lực lượng quân đội và hải quân vô kỷ luật, và một dân tộc trụy lạc, chơi bời trác táng trong an bình và thành công". Quốc hội bao gồm khoảng 165 người trong Hoàng gia Feuillant theo Quân chủ lập hiến bên cánh hữu, khoảng 330 người theo phe Cộng hòa tự do thuộc phái Girondin (phiên âm Gi-rông-đanh) bên cánh tả, và khoảng 250 đại biểu trung lập. Ban đầu, nhà vua bác bỏ bản án tử hình đối với di dân và ra sắc lệnh bắt buộc các giáo sĩ chưa tuyên thệ trong vòng 8 ngày phải lập lời tuyên thệ do Hiến pháp Công dân của Giới Tăng lữ quy định trước đây. Sau một năm, những bất đồng trong đường lối cầm quyền đã dẫn đến khủng hoảng. === Chiến tranh === Tình hình chính trị của thời kỳ này đã đưa đến kết quả tất yếu là đẩy nước Pháp vào cuộc chiến với đế quốc Áo và các nước Đồng minh. Nhà vua, Hoàng gia Feuillant và phái Girondin háo hức lao vào gây chiến. Nhà vua cùng nhiều thành viên Feuillant cho rằng chiến tranh là cách quảng bá rộng rãi hình ảnh và quyền lực của mình; vua còn lập cả một kế hoạch khai thác bóc lột các quốc gia bại trận. Dù bất cứ kết quả nào xảy ra đều có thể củng cố thế lực cho nhà vua. Phái Girondin thì lại muốn mở rộng phạm vi Cách mạng bao trùm cả châu Âu. Chỉ một số thành viên cấp tiến trong phái Jacobin đứng ra phản đối chiến tranh với lý do nên củng cố và mở rộng Cách mạng trong nước. Hoàng đế La Mã Thần thánh Leopold II, anh trai Hoàng hậu Marie Antoinette, có lẽ cũng không mong muốn chiến tranh xảy ra, nhưng đã qua đời ngày 1 tháng 3 năm 1792. Nước Pháp khai chiến với Đế quốc Áo ngày 20 tháng 4 năm 1792 và Vương quốc Phổ liên minh với phe Áo vài tuần sau đó. Chiến tranh Cách mạng Pháp đã bắt đầu. Trận chiến có ý nghĩa quan trọng đầu tiên là trận đánh giữa Pháp - Phổ tại Valmy ngày 20 tháng 9 năm 1792. Trời mưa tầm tã nhưng hỏa lực của pháo binh Pháp vẫn tỏ ra đầy uy lực. Vào thời gian ấy, nước Pháp chìm trong sự hỗn loạn và chế độ phong kiến giờ chỉ còn là quá khứ. === Nền lập hiến bị khủng hoảng === Bài chính: 10 tháng 8 (Cách mạng Pháp) Đêm 10 tháng 8 năm 1792, quân khởi nghĩa với sự ủng hộ của nhà lãnh đạo cách mạng mới, Công xã Paris, đã tấn công Tuileries. Vua và hoàng hậu trở thành các tù nhân, những người còn lại trong Quốc hội, gồm khoảng hơn một phần ba nghị sĩ có mặt lúc đó, phần lớn thuộc phái Jacobin, đã đình chỉ quyền lực của triều đình. Phần còn lại của chính phủ phụ thuộc vào sự ủng hộ của Công xã Cách mạng. Khi Công xã đưa những toán sát thủ vào tù để xét xử một cách tùy ý và giết gần 1.400 người, và gửi giấy thông báo qua khắp các thành phố khác của Pháp để kêu gọi noi theo, Quốc hội chỉ có thể chống đỡ một cách yếu ớt. Tình hình này cứ kéo dài đến khi Quốc ước họp ngày 20 tháng 9 năm 1792 với nhiệm vụ soạn thảo Hiến pháp mới và trên thực tế đã trở thành chính quyền mới của Pháp. Ngày hôm sau, chính quyền tuyên bố chấm dứt chế độ Quân chủ và lập ra nền Cộng hoà. Ngày này được chọn là ngày bắt đầu của năm đầu tiên trong Lịch Cách mạng Pháp. == Quốc ước == Xem chi tiết về sự kiện ngày 20 tháng 9 năm 1792 – 26 tháng 9 năm 1795 tại Quốc ước. Với chế độ Cộng hòa mới, quyền lập pháp thuộc về Quốc ước và quyền hành pháp thuộc về Ủy ban An ninh Toàn quốc. Phái Girondin trở thành đảng phái có thế lực nhất trong Quốc ước và trong Ủy ban. Trong Bản Tuyên ngôn Brunswick, Quân đội Phổ dọa sẽ trả thù người Pháp nếu nước Pháp ngăn cản các nỗ lực của vua Phổ trong việc phục hồi chế độ Quân chủ trên nước này. Vào ngày 17 tháng 1 năm 1793, cựu vương LouisXVI bị kết án tử hình cùng tội danh âm mưu chống lại tự do nhân dân và an ninh chung với sự chấp thuận của một số ít thành viên trong Quốc ước. Buổi hành quyết ngày 21 tháng 1 đã làm nổ ra nhiều cuộc chiến với các quốc gia châu Âu khác. Hoàng hậu người Áo của cựu vương Louis XVI là Marie Antoinette, cũng theo gót Louis lên máy chém ngày 16 tháng 10. Khi cơn sốt chiến tranh lên cao, giá cả leo thang khiến các sans-culotte (lao công nghèo và các thành viên cấp tiến của phái Jacobin) nổi dậy: các hoạt động phản Cách mạng bắt đầu nổ ra ở vài vùng miền. Điều này càng tạo cơ hội cho phái Jacobin thâu tóm quyền lực. Chịu ảnh hưởng của quần chúng nhân dân do bất bình với bè phái Girondin và nhờ lợi dụng sức mạnh của các sans-culotte ở Paris, một cuộc đảo chính (coup d'état) đã diễn ra với sự tham gia của quân đội. Nhờ kết quả này, sự liên minh giữa phái Jacobin và các phần tử sans-culotte trở thành nòng cốt trong chính quyền mới. Các chính sách thể hiện sự cấp tiến rõ rệt. Ủy ban An ninh Toàn quốc dưới sự quản lý của Maximilien Robespierre và phái Jacobin đã gây nên giai đọan Thời kì Khủng bố (tạm dịch từ Reign of Terror)(1793–1794). Ít nhất 1200 người đã phải bước lên máy chém vì bị quy vào tội phản Cách mạng. Chỉ cần là một ý nghĩ thoáng qua hay một biểu hiện nhỏ trong hành vi cũng bị nghi ngờ là phản Cách mạng (hay như trường hợp của Jacques Hébert chính vì quá nhiệt tình với Cách mạng hơn cả các nhà đương chức cầm quyền); và các phiên tòa bao giờ cũng chỉ xử một cách qua loa và kết tội là chủ yếu. Vào năm 1794 Robespierre đã xử tử các thành viên Jacobin cấp tiến thuộc phái Cực đoan và Ôn hoà; chính vì vậy, sự ủng hộ tích cực của quần chúng nhân dân đối với ông giảm đi rõ rệt. Vào ngày 27 tháng 7 năm 1794, người Pháp nổi dậy chống lại Triều đại Kinh hoàng với cuộc đảo chính tháng Chín. Kết quả: những thành viên phái Ôn hòa trong Quốc ước đã phế truất và xử tử Robespierre cùng các đồng đội của ông trong ban lãnh đạo của Ủy ban An ninh Toàn quốc. "Hiến pháp năm thứ III" (theo lịch Cách mạng Pháp) được Quốc ước thông qua ngày 17 tháng 8 năm 1795; được dân chúng ủng hộ trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 9 và có hiệu lực từ ngày 26 tháng 9 năm 1795. Sau trận đánh tại Valmy, nước Phổ vẫn tiếp tục là thành viên chủ chốt của liên quân chống Pháp, thậm chí còn đánh tan tác quân Pháp tại Alsace và vùng Saar. Tuy nhiên, đầu óc của họ bị phân tâm bởi các vấn đề khác: Họ ký riêng Hiệp định Basle với nước Pháp Cách mạng vào ngày 5 tháng 4 năm 1795. Nước Phổ đạt nhiều lợi thế theo Hiệp định này, nhưng từ đó họ đứng trung lập đối với cuộc Cách mạng Pháp. == Chế độ Đốc chính == Xem chi tiết về sự kiện ngày 26 tháng 9 năm 1795 – 9 tháng 11 năm 1799 tại Hội đồng Đốc chính Pháp. Hiến pháp mới đã lập ra Hội đồng Đốc chính (Directoire) và Lưỡng viện lập pháp đầu tiên trong lịch sử nước Pháp. Quốc hội bao gồm Hạ viện gồm 500 đại biểu (Conseil des Cinq-Cents - Hội đồng 500) và Thượng viện gồm 250 đại biểu (Conseil des Anciens). Quyền hành pháp nằm trong tay 5 đốc chính do Thượng viện bổ nhiệm hàng năm từ danh sách do Hạ viện đưa lên. Với sự thành lập của chế độ Đốc chính, Cách mạng Pháp có vẻ đã kết thúc. Đất nước muốn nghỉ ngơi và chữa lành các vết thương. Những người muốn tái lập vua Louis XVIII cùng chế độ cũ, và những người muốn quay lại Thời kì khủng bố La Terreur chỉ chiếm số lượng không đáng kể. Khả năng can thiệp của nước ngoài đã tiêu tan cùng thất bại của Đệ nhất Liên minh (Première coalition). Tuy nhiên, 4 năm của chế độ Đốc chính đã là khoảng thời gian của một chính phủ chuyên quyền độc đoán và sự bất an thường xuyên. Những sự tàn bạo trong quá khứ đã làm cho lòng tin và thiện ý giữa các bên trở thành không thể được. Cũng bản năng tự bảo vệ mà đã dẫn các thành viên của Quốc ước chiếm phần lớn trong cơ quan lập pháp và toàn bộ Hội đồng Đốc chính buộc họ giữ ưu thế. Khi đại đa số dân chúng Pháp muốn loại bỏ họ, họ đã chỉ có thể giữ được quyền lực của mình bằng những biện pháp bất thường. Họ đã từng bước lờ đi các điều khoản của hiến pháp, và dùng đến vũ khí khi kết quả bầu cử chống lại họ. Họ đã quyết tâm kéo dài chiến tranh - cách tốt nhất để kéo dài quyền lực của mình. Do đó, họ bị dẫn đến việc dựa vào quân đội - phe cũng muốn chiến tranh. Chế độ mới vấp phải sự chống đối từ những người bảo hoàng và các phần tử Jacobin còn sót lại. Quân đội đàn áp các cuộc nổi dậy và các hoạt động phản cách mạng. Nhờ đó quân đội và vị thống lĩnh xuất sắc của họ, Napoleon Bonaparte càng có thế lực hơn. Ngày 9 tháng 11 năm 1799 (ngày 18 tháng Sương mù của năm thứ 8 theo lịch Cách mạng Pháp), Napoléon tổ chức một cuộc đảo chính, lập nên chế độ tổng tài. Sự kiện Napoléon xưng Hoàng đế vào năm 1804 đã đặt dấu chấm hết cho giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa, thành quả tiêu biểu của Cách mạng Pháp. == Ý nghĩa == Cách mạng tư sản Pháp đã lật đổ được chế độ phong kiến, đưa giai cấp tư sản lên cầm quyền, xóa bỏ nhiều trở ngại trên con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản. Quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu đưa cách mạng đạt tới đỉnh cao với nền chuyên chính dân chủ Jacobin. Một số quyền lợi cho nhân dân đã được đáp ứng. Vì vậy, Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII được coi là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất. Tuy nhiên nó vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ quyền lợi cho nhân dân, vẫn không hoàn toàn xóa bỏ được chế độ phong kiến, chỉ có giai cấp tư sản là được hưởng lợi. Chủ nghĩa tự do Pháp-Mỹ có những ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, và cũng từ cách mạng Pháp, người Mỹ đã rút ra nhiều bài học để từ đó tiến đến một nền dân chủ triệt để hơn không chỉ trong tam giác quyền lực nhà nước mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến các bước tiến về dân quyền của Mỹ trong các giai đoạn chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ, Nội chiến Hoa Kỳ và phong trào Dân quyền của Martin Luther King con. Hơn nữa, bức tượng Nữ thần tự do do Pháp trao tặng cho Mỹ cũng được lấy cảm hứng từ cách mạng Pháp. == Chú thích == == Tham khảo == William Doyle: Oxford history of the French Revolution. 2nd ed. Oxford: Oxford University Press, 2002 ISBN 0-19-925298-X William Doyle: Origins of the French Revolution. 3rd ed. Oxford: Oxford University Press, 1999 ISBN 0-19-873175-2 ISBN 0-19-873174-4 (pbk) Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, Harvard University Press, 2006. ISBN 0-674-02385-4. Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, Cambridge University Press, 2001. ISBN 0-521-79269-X. Chronicle of the French Revolution 1788-1799. London: Longman, and, Chronicle Communications, 1989 ISBN 0-582-05194-0 François Furet: La révolution en debat. Paris: Gallimard, 1999 ISBN 2-07-040784-5 Peter McPhee: The French Revolution, 1789-1799. Oxford: Oxford University Press, 2002 ISBN 0-19-924414-6 Timothy Tackett: Becoming a Revolutionary: the deputies of the French National Assembly and the emergence of a revolutionary culture (1789-1790). Princeton, N.J.; Chichester: Princeton University Press, c1996 ISBN 0-691-04384-1 == Xem thêm == Cách mạng Hà Lan Cách mạng Anh Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ.
quảng trường thời đại.txt
Quảng trường Thời đại (Times Square) là một giao lộ chính ở Manhattan, nối Đại lộ Broadway và Đại lộ Số bảy, kéo dài từ Đường 42 Tây đến Đường 47 Tây, New York. Quảng trường Thời đại gồm những khối nhà nằm giữa Đại lộ Số sáu và Đại lộ Số chín, từ đông sang tây; giữa Đường thứ 39 Tây và Đường thứ 52 Tây, từ nam ra bắc; tạo thành phần phía tây của vùng thương mại Midtown Manhattan. Quảng trường này được đặt theo tên của báo New York Times từ năm 1904, khi tòa soạn của tờ báo này dọn về khu vục này, trước đó quảng trường có tên là Longacre Square. Trên vài chục quán cà phê, sân khấu nhỏ và phòng quay của MTV đã tạo nên bộ mặt của quảng trường này và được chọn làm ngoại cảnh cho rất nhiều phim nhựa. Quảng trường cũng nổi tiếng với khu sân khấu Broadway với khoảng 40 nhà hát lớn giữa đường 41 và đường 53 và giữa đại lộ thứ 6 (Sixth Avenue) và thứ 9 (Ninth Avenue). Giống như Quảng trường Đỏ ở Moskva, Champs-Elysées ở Paris hoặc Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, Quảng trường Thời đại trở thành một biểu tượng đô thị của Thành phố New York. Quảng trường Thời đại trở nên sống động và đặc trưng phần lớn là nhờ vào sự chiếu sáng của các bảng hiệu quảng cáo. Trước và sau cuộc cách mạng Mỹ, miền đất này thuộc quyền của John Morin Scott, một nhà chiến lược của quân sự New York và làm việc dưới quyền của George Washington. Ngày nay, nhà của ông Scott Manor ở tại đường số 43, được bao quanh bởi vùng miền quê và thường được sử dụng cho mục đích trang trại và chuồng ngựa. Vào nửa đầu thế kỷ thứ 19, nơi này trở thành một trong những nơi sở hữu của John Jacob Astor, người đã tạo ra sự may mắn lần thứ hai trong việc kinh doanh khách sạn và những mục khác làm cho thành phố phát triển một cách nhanh chóng. Quảng trường Thời đại còn là nơi mà những người dân đón chào năm mới hàng năm. Thường thì họ xếp hàng vào những ngày cuối năm nhìn quả cầu Quảng trường rơi từ độ cao 40m, cầu nguyện và đón chào năm mới. == Hình ảnh khác == == Tham khảo == Thư mục Brown, H. Valentine's Manual of Old New York. Valentine, 1922 Fazio, W. Times Square, Children's Press, 2000. ISBN 0-516-26530-X Friedman, J. Tales of Times Square Feral House, 1993. ISBN 0-922915-17-2 NYC-Architecture.com Leach, William (1993). Land of Desire. New York: Pantheon Books. ISBN 0307761142. Taylor, W. Inventing Times Square, Johns Hopkins U. Press, 1996. ISBN 0-8018-5337-0 Traub, James The Devil's Playground: A Century of Pleasure and Profit in Times Square New York: Random House, 2004. ISBN 0-375-50788-4 == Liên kết ngoài == Camera trực tiếp tại Quảng trường Thời đại The Times Square Alliance và Events Listing Times Square 360 panorama Trung tâm nghệ thuật Quảng trường Thời đại NYC-Architecture.com New York City Tourist
tiếng nepal.txt
Tiếng Nepal (नेपाली) là ngôn ngữ của người Nepal, và là ngôn ngữ chính thức trên thực tế của Nepal. Tiếng Nepal là một thành viên của ngữ chi Indo-Arya thuộc ngữ tộc Indo-Iran của ngữ hệ Ấn-Âu. Đây là ngôn ngữ chính ở Nepal, và cũng được sử dụng ở đất nước Bhutan, một phần của Ấn Độ và Myanma. Tại Ấn Độ, ngôn ngữ này được công nhận là một trong 23 ngôn ngữ chính thức cấp địa phương: Tiếng Nepal có vị thế chính thức ở bang Sikkim và quận Darjeeling của bang Tây Bengal. Tiếng Nepal phát triển trong tình trạng ở gần với các ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng-Miến, nhất là với tiếng Nepal Bhasa. Tiếng Nepal có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ Hindi và thỉnh thoảng có thể hiểu lẫn nhau ở một số từ, ngôn ngữ này có nhiều từ có gốc là tiếng Phạn và rất ít từ mượn từ tiếng Ba Tư và tiếng Anh so với tiếng Hindi-Urdu. Tiếng Nepal thường được viết bằng chữ Devanagari giống như tiếng Hindi và tiếng Phạn. == Phân bổ == Khoảng 1/3 dân số Nepal sử dụng ngôn ngữ này như tiếng mẹ đẻ. Tiếng Nepal nay được chính phủ Nepal sử dụng và là ngôn ngữ hàng ngày của dân cư trong cả nước. Tuy thế việc không chấp nhận sử dụng tiếng Nepal trong tòa án và chính quyền ở Nepal là một sự thách thức. Phiến quân theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông coi việc công nhận các ngôn ngữ khác ở Nepal là một trong các mục tiêu theo đuổi của họ. Khoảng 242.000 người (chiếm 35%) dân số đất nước Bhutan nói tiếng Nepal nếu tất cả những người tị nạn Bhutan được tính (các con số không chính thức cho răng dân tộc Nepal ở Bhutan lên tới 30 hay 40%, chủ yếu ở miền nam) Ở Ấn Độ, ước tính có 500.000 người nói tiếng Nepal trong tổng số 560.000 dân ở bang Sikkim. Ơr các quận Darjeeling và Jalpaiguri ở bang Tây Bengal có khoảng 1.400.000 người nói tiếng Nepal. Ơr vùng đông bắc Ấn Độ (gồm 7 bang Assam, Meghalaya, Nagaland, Manipur, Tripura, Mizoram và Arunachal Pradesh) cũng có vài triệu người nói tiếng Nepal. Một cộng đồng nói tiếng Nepal đáng kể có mặt ở nhiều thành phố của Ấn Độ như Kolkata, Delhi, Bangalore, Visakhapatnam, Chennai, Mumbai và Hyderabad. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói Type In Nepali Unicode Romanized Nepali Unicode Keyboard developed by OOPSLite Technologies Nepali Unicode Romanized Nepali Unicode Traditional A set of free tools for typing, web search and email in Unicode Nepali A set of free materials for learning Nepali How to write Nepali Download Nepali Word Processor: Madhyam developed by Balendu Sharma Dadhich Download Nepali Fonts Nepali alphabets, pronunciation and script Lipikaar Online Nepali Editor Unicode to Nepali easy version developed by http://www.mylove.com.np == Liên kết ngoài ==
microphone.txt
Microphone là một loại cảm biến thực hiện chuyển đổi tín hiệu âm thanh sang tín hiệu điện. Microphone được sử dụng ở nhiều lĩnh vực như điện thoại, tăng âm, hệ thống karaoke, trợ thính, thu băng, lưu trữ, sản xuất phim, đài FRS, megaphone, phát thanh và truyền hình, thiết bị thu âm ở máy tính, nhận diện giọng nói, VoIP, và một số mục đích không liên quan đến âm thanh như cảm biến gõ cửa. == Tham khảo ==
1918.txt
1918 (số La Mã: MCMXVIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Ba trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1918 == Sự kiện == === Tháng 1 === 3 tháng 1 - Tôn Trung Sơn đích thân chỉ huy pháp kích tổng quân bộ 8 tháng 1 - Hoa Kỳ đưa ra kế hoạch 14 điểm. 27 tháng 1 - Cách mạng ở Phần Lan. 28 tháng 1 - Thành lập hồng quân công nông ở Nga. === Tháng 2 === 16 tháng 2 - Binh lính Thổ Nhĩ Kỳ đốt thư viện Bagdad. 17 tháng 2 - Phùng Quốc Chương lấy danh nghĩa tổng thống công bố tổ chức quốc hội 24 tháng 2 - Estonia tuyên bố độc lập. 25 tháng 2 - Đương Kế Nghiêu khống chế Tứ Xuyên === Tháng 3 === 3 tháng 3- Hòa ước Brest-Litovsk được ký giữa nước Nga Xô Viết và các nước Liên minh Trung tâm nhằm đưa nước Nga Xô Viết ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ nhất. 5 tháng 3 - Ký kết hiệp định Yash giữa România và nước Nga Xô viết. 9 tháng 3 - Nước Nga Xô viết dời thủ đô từ Petrograd về Mạc Tư Khoa. 15 tháng 3 - Quân phiệt Bắc Dương công chiếm Trường Sa, Nhạc Dương 21 tháng 3 - Bắt đầu cuộc Tổng tấn công Mùa xuân 1918 của đế quốc Đức ở mặt trận phía Tây thế chiến thứ nhất. 25 tháng 3 - Belarus tuyên bố độc lập. === Tháng 4 === 5 tháng 4 - Quân đội Nhật Bản chiếm Vladivostok. 14 tháng 4 - Tại Trường Sa, Mao Trạch Đông và Thái Hòa Sâm hội Tân Dân Học === Tháng 5 === 7 tháng 5 - Ký kết hiệp định hòa bình giữa România và Liên minh Trung tâm tại Bucarest. === Tháng 7 === 4 tháng 7 - Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson trình bày 4 mục tiêu của Hoa Kỳ trong chiến tranh. 4 tháng 7 - Mehmed VI trở thành vị vua thứ 36 và cũng là cuối cùng của đế quốc Ottoman. === Tháng 8 === 2 tháng 8 - Quân đội các nước Entente đổ bộ lên Arkhangelsk, miền bắc nước Nga. 30 tháng 8 - Lenin bị ám sát bởi Fanny Dora-Kaplan nhưng chỉ bị thương nặng. === Tháng 9 === 29 tháng 9- Bulgaria đầu hàng. === Tháng 10 === 3 tháng 10 - Wilhelm II chỉ định Max von Baden làm thủ tướng Đức. 28 tháng 10 - Hạm đội Đức nổi loạn ở Kiel. 28 tháng 10 - Tiệp Khắc tách khỏi đế quốc Áo-Hung và tuyên bố độc lập. 29 tháng 10 - Thành lập nhà nước của người Serb, người Croatia và người Slovenia. 30 tháng 10- Đế quốc Ottoman đầu hàng. === Tháng 11 === 3 tháng 11- Đế quốc Áo-Hung đầu hàng. 9 tháng 11 - Cách mạng diễn ra ở Đức. Wilhelm II chạy trốn sang Hà Lan. 11 tháng 11- Đế quốc Đức đầu hàng. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. 11 tháng 11 - Hoàng đế Áo-Hung Karl I chạy khỏi kinh đô Viên. 12 tháng 11 - Áo trở thành nước cộng hoà. 16 tháng 11 - Hung Nha Lợi tuyên bố độc lập. === Tháng 12 === 4 tháng 12 - Thành lập vương quốc của người Serbia, Croatia và Slovenia. 6 tháng 12 - Đảo chính phản cách mạng ở Berlin. 20 tháng 12 - Tomáš Garrigue Masaryk trở về Tiệp Khắc. == Sinh == Đồng Văn Cống, trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam == Mất == Nikolai II, Nga hoàng cuối cùng == Giải Nobel == Vật lý - Max Karl Ernst Ludwig Planck Hóa học - Fritz Haber Sinh lý học hoặc Y học - không có giải Văn học - không có giải Hòa bình - không có giải == Xem thêm == == Tham khảo ==
utah.txt
Utah (phát âm như U-ta) là một tiểu bang miền tây của Hoa Kỳ. Đây là bang thứ 45 được gia nhập vào hiệp chúng quốc vào ngày 4 tháng 1 năm 1896. Khoảng 88% dân số của tiểu bang Utah sống trong một khu vực đô thị lớn là Wasatch Front với thành phố Salt Lake là trung tâm. Trong khi đó, một phần lớn diện tích tiểu bang không có dân cư sinh sống đã biến Utah trở thành bang có mức độ đô thị hóa cao thứ 6 tại Hoa Kỳ. Cái tên "Utah" được bắt nguồn từ ngôn ngữ của người da đỏ Ute bản địa, có nghĩa là "những con người của vùng núi". Utah được biết đến như một tiểu bang rất đa dạng về địa hình, từ những dãy núi cao tuyết phủ cho đến những thung lũng sông và các sa mạc đá khô cằn, khắc nghiệt. Tiểu bang này còn được biết đến với tỉ lệ tương đồng về tôn giáo cao nhất liên bang. Khoảng 61% người trưởng thành ở Utah là thành viên của Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là đạo Mormon), một tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến văn hóa và đời sống thường nhật của tiểu bang này. Tiểu bang Uath là một trung tâm về giao thông vận tải, công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học, khai thác khoáng sản và du lịch, đặc biệt là những khu trượt tuyết. Thành phố Salt Lake, thủ phủ của tiểu bang Utah là nơi đăng cai Thế vận hội Mùa đông 2002. == Lịch sử == Sau sự kiện Joseph Smith, Jr. - người sáng lập Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (hay còn gọi là đạo Mormon) bị giết hại vào năm 1844 tại Illinois, Brigham Young - một trong những người phụ tá của Smith đã quyết định đưa người Mormon đến một vùng đất hoang vu mới ở phía tây để có thể tự do hành đạo. Brigham Young và những nhóm dân di cư người Mormon đã đến thung lũng Salt Lake thuộc tiểu bang Utah ngày nay vào ngày 24 tháng 7 năm 1847. Trong 22 năm tiếp sau đó, khoảng hơn 70.000 dân di cư Mormon đã đến vùng đất này. Họ sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, các hoạt động thủ công và công nghiệp nhẹ. Chính những di dân đầu tiên này đã tạo nền tảng cho sự phát triển của tiểu bang Utah cả về kinh tế lẫn văn hóa. Vào năm 1847, khi những di dân đầu tiên đến Utah thì nơi đây vẫn là một vùng lãnh thổ của México. Nhưng cuộc chiến tranh Hoa Kỳ-Mexico kết thúc với việc Mexico bại trận đã dẫn tới việc ký kết Hiệp ước Guadalupe Hidalgo vào ngày 2 tháng 2 năm 1848, theo đó Utah cũng nhiều vùng đất khác của Mexico sát nhập vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Thời gian đầu, Vùng lãnh thổ Utah có diện tích lớn hơn bây giờ, bao gồm trong đó phần lớn bang Nevada và một số phần nhỏ của các bang xung quanh. Mâu thuẫn chủ yếu giữa cộng đồng người Mormon với chính phủ liên bang là việc người Mormon duy trì chế độ đa thê và đòi chính phủ liên bang thành lập tiểu bang Deseret, một khu vực rộng lớn do người Mormon hoạch định. Những xung khắc này đã dẫn đến cuộc chiến tranh Utah vào năm 1857 giữa người Mormon và chính phủ liên bang. Trong khoảng thời gian năm 1865 đến 1872, một cuộc chiến tranh nữa lại nổ ra giữa người Mormon với thổ dân da đỏ. Ngày 10 tháng 5 năm 1896, tuyến đường sắt xuyên lục địa đầu tiên được hoàn thành, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao thông, đi lại, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Những dòng người khác nhau cũng nhập cư vào Utah. Thập niên 1890 đánh dấu một bước ngoặt khi đạo Mormon tuyên bố cấm chỉ chế độ đa thê. Utah đăng đơn gia nhập liên bang lần nữa và đã được chấp nhận. Ngày 4 tháng 1 năm 1896, Utah chính thức trở thành tiểu bang thứ 45 của Hoa Kỳ. Đầu thế kỉ 20, những công viên quốc gia đầu tiên bắt đầu được thành lập tại Utah và tiểu bang này dần được biết đến với vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú. Vùng miền nam Utah với phong cảnh sa mạc là địa điểm ưa thích cho những bộ phim cao bồi. Trong suốt thập niên 1950, 1960 và 1970, hệ thống đường cao tốc liên bang được xây dựng đã nhanh chóng đưa Utah kết nối với các vùng khác của nước Mỹ. Năm 1939, Utah thành lập khu trượt tuyết Alta. Tiểu bang này dần trở thành một địa điểm trượt tuyết nổi tiếng thế giới. Loại tuyết khô và xốp ở dãy núi Wasatch đã làm nên những bãi trượt tuyết vào hàng tốt nhất trên thế giới. Du lịch đóng góp một phần quan trọng trong hoạt động kinh tế của tiểu bang Utah. Năm 1995, thành phố Salt Lake đã giành được quyền đăng cai Thế vận hội Mùa đông 2002. Cuối thế kỉ 20, dân số tiểu bang Utah đã tăng lên nhanh chóng. Giao thông và đô thị hóa là những vấn đề chủ yếu của Utah, song song với việc mở rộng diện tích nông nghiệp với việc bảo vệ môi trường sinh thái. == Địa lý == === Địa hình === Một trong những đặc điểm chính của Utah là sự đa dạng về địa hình. Vùng trung tâm phía bắc của tiểu bang là dãy Wasatch Range chạy xuống theo chiều bắc nam, có độ cao trung bình hơn 3650 m so với mặt nước biển. Vùng này nhận được hơn 500 inch (khoảng 12,7 m) tuyết mỗi năm nên đã trở thành một địa điểm trượt tuyết được yêu thích hàng đầu thế giới với loại tuyết sáng và xốp, rất thích hợp cho môn thể thao này. Tại vùng đông bắc Utah, dãy núi Uinta chạy theo chiều đông tây có độ cao hơn 3950 m. Đỉnh núi cao nhất tại Utah, đỉnh Kings Peak nằm tại dãy núi này với độ cao 4123 m. Ở phía tây của dãy Wasatch Range là vùng Wasatch Front, một khu vực gồm nhiều bồn địa và thung lũng và đồng thời là nơi tập trung phần lớn dân số tiểu bang. Các thành phố chính của Utah như Ogden, thành phố Salt Lake, Layton, thành phố West Valley, West Jordan, Orem và Provo đều nằm trong khu vực này. Dải đô thị Wasatch Front kéo dài từ thành phố Brigham ở phía bắc đến thành phố Nephi ở phía nam. Khoảng 75% dân số Utah sống tại đây, và các khu dân cư sẽ còn tiếp tục mở rộng đến tận chân sườn các thung lũng khi mà dân số của tiểu bang tiếp tục tăng lên. Miền tây Utah có địa hình khô hạn và gồ ghề với các bồn địa và dãy núi nhỏ. Riêng Đồng bằng Muối Bonneville là một ngoại lệ với địa hình tương đối bằng phẳng vì trước đây từng là đáy của một hồ nước lớn. Hồ Great Salt, hồ Utah, hồ Sevier, hồ Rush và hồ Little Salt là những hồ nước mặt sót lại của một hồ nước ngọt lớn trước kia từng bao phủ hầu khắp vùng Great Basin. Phía tây hồ Great Salt là sa mạc Great Salt Lake, trải rộng tới tận biên giới Nevada. Phần lớn quang cảnh miền nam Utah là các bãi đá sa thạch. Sông Colorado và các phụ lưu của nó khi đi qua những vùng đá sa thạch đã làm xói mòn các lớp đá, tạo ra nhiều dạng địa hình phong phú tại Utah với các vòm, đỉnh, dốc, cầu đá vô cùng đa dạng và độc đáo. Dạng địa hình sa thạch chiếm chủ yếu tại các công viên quốc gia như Arches, Bryce Canyon, Canyonlands, Capitol Reef, Zion, các khu tưởng niệm Cedar Breaks, Grand Staircase-Escalante, Hovenweep, Natural Bridges, các công viên tiểu bang như Glen Canyon National Recreation Area, Dead Horse Point, Goblin Valley và khu phim trường nổi tiếng Monument Valley. Vùng tây nam Utah là vùng thấp nhất và nóng nhất của tiểu bang. Dòng suối theo mùa Beaver Dam Wash là điểm thấp nhất của Utah với độ cao 610 m. Điểm cực bắc của sa mạc Mojave cũng nằm tại vùng này. Vùng tây nam còn bao gồm khu trượt tuyết trên núi cao nhất tiểu bang Brian Head. Phía đông Utah có địa hình cao gồm nhiều cao nguyên và bồn địa. Kinh tế Utah dựa một phần lớn vào vùng phía đông với các ngành khai mỏ, khai thác dầu mỏ, khí đốt, chăn nuôi và lĩnh vực giải trí. Phần lớn miền đông Utah nằm trong vùng "Uintah and Ouray Indian Reservation", trú khu của người da đỏ. Điểm đến hấp dẫn nhất của miền đông Utah là Khu công viên khủng long gần Vernal. === Khí hậu === Phần lớn diện tích Utah có khí hậu hoang mạc khô cằn. Nguyên nhân là do Utah nằm khuất bóng sườn núi Sierra Nevada ở California và khuất bóng dãy núi Wasatch ở phía đông khiến các luồng không khí ẩm khó có thể tiếp cận nội địa. Lượng mưa chính của Utah bắt nguồn từ các cơn bão Thái Bình Dương diễn ra diễn ra từ giữa tháng 10 đến tháng 4 năm sau, còn ở miền bắc Utah thì mùa mưa kéo dài hơn đôi chút. Vào mùa hè, miền đông và miền nam nằm trong tầm ảnh hưởng của gió mùa từ vịnh California thổi vào. Hầu hết các vùng đất thấp của Utah nhận được ít hơn 12 inch (300 mm) mưa mỗi năm. Khu vực đông dân cư Wasatch Front nhận được khoảng 15 inch (380 mm) còn tại vùng sa mạc Great Salt Lake, lượng mưa chỉ là 5 inch (125 mm). Tuyết rơi ở hầu khắp các vùng của tiểu bang trừ miền nam. Nếu thành phố St. George chỉ nhận được khoảng 3 inch (7,5 cm) tuyết mỗi năm thì tại thành phố Salt Lake, lượng mưa tuyết là 60 inch (150 mm) do chịu ảnh hưởng mạnh từ hồ Great Salt. Một số vùng thuộc dãy núi Wasatch Range nhận được lượng tuyết tới 500 inch (1270 mm) mỗi năm với đặc điểm tuyết khô, xốp, thích hợp với các môn thể thao mùa đông. Do đó, Utah đã phát triển mạnh các khu trượt tuyết và có câu khẩu hiệu "the Greatest Snow on Earth". Vào mùa đông, sương mù diễn ra dày đặc hàng tuần tại những vùng lòng chảo và thung lũng của Utah. Nhiệt độ của Utah tương đối khắc nghiệt, với mùa đông rất lạnh và mùa hè rất nóng (ngoại trừ vùng núi cao). Nhiệt độ trung bình tháng 1 dao động từ 30 °F (-1 °C) ở những thung lũng phía bắc đến 30F (13C) ở St. George. Nhiều nơi ở tiểu bang nhiệt độ xuống dưới 0 °F (-18 °C) hàng năm. Vào tháng 7 nhiệt độ trung bình dao động từu 85 °F (29 °C) đến 100 °F (38 °C). Tuy nhiên độ ẩm thấp và địa hình cao của Utah đã dẫn đến sự chênh lệch nhiệt độ lớn, khiến cho ban đêm trời cũng khá lạnh. Nhiệt độ cao nhất ghi tại Utah là 118F (47C) tại St. George vào ngày 4 tháng 7 năm 2007, còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -69 °F (-56 °C) tại Peter’s Sink, miền bắc Utah vào ngày 1 tháng 2 năm 1985. Utah, cũng như hầu hết các bang miền tây nước Mỹ có ít ngày trời mưa bão. Mỗi năm tại Utah có ít hơn 40 ngày trời mưa nhưng các trận mưa thường diễn ra tương đối bất ngờ, kéo dài từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 9, chủ yếu tại miền đông và miền nam Utah. Cháy rừng xảy ra vào thời gian hè khô nóng còn các trận mưa dễ gây ra lũ quét, đặc biệt tại vùng miền nam có địa hình hiểm trở. Lốc xoáy không diễn ra thường xuyên tại Utah, trung bình khoảng 2 cơn một năm và ít khi vượt quá cấp F1. Tuy nhiên vào ngày 11 tháng 8 năm 1999, một cơn lốc xoáy cấp F2 đã tấn công thành phố Salt Lake, khiến 1 người chết và gây thiệt hại 170 triệu USD. == Nhân khẩu == Theo thống kê năm 2007, dân số của Utah là 2.645.300 người, tăng 65.000 ngưới so với năm trước. 88% dân số của tiểu bang sinh sống tại Wasatch Front, một chuỗi đô thị kéo dài theo chiều bắc nam dọc theo dãy núi Wasatch. Những vùng còn lại của tiểu bang rất thưa dân, nhiều nơi không có người ở. Utah là một trong tiểu bang có mật độ dân số thấp nhất Hoa Kỳ, chỉ khoảng 11 ngưới/km². Người da trắng là sắc dân chủ yếu tại Utah, chiếm khoảng 95% dân số. Người da trắng tại Utah chủ yếu có gốc từ các nước Tây Âu và Bắc Âu như Anh, Đức, Ireland, Scotland, Thụy Điển, Đan Mạch... Chủ yếu họ là con cháu của những người Mormon đầu tiên di cư đến Utah dưới sự chỉ đạo của Brigham Young, số còn lại là những người nhập cư vào Utah sau này. Thời gian trở lại đây, người da trắng gốc latinh (còn gọi là người Hispanic) có nguồn gốc từ châu Mỹ latinh và các bang miền nam cũng nhập cư nhiều vào Utah, nâng tỉ lệ người latinh tại Utah lên 11%. === Chủng tộc === Phân bố chủng tộc tại Utah năm 2005: Người da trắng: 95,01% Người da đen: 1,32% Người da đỏ: 1,69% Người gốc Á: 2,40% Người các đảo Thái Bình Dương: 0,95% Người hispanic thuộc mọi sắc tộc trên: 11,03% === Tôn giáo === Khoảng 61% người dân Utah là thành viên của Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (còn được gọi là đạo Mặc Môn). Trụ sở chính của giáo hội này được đặt tại thành phố Salt Lake. Ngay từ buổi ban đầu, các giáo dân Mặc Môn đã có những cống hiến quan trọng cho tiểu bang Utah. Vì muốn tránh khỏi sự thù địch và cưỡng bách từ những người dân thuộc tôn giáo khác, các giáo dân Mặc Môn đã đến vùng đất hẻo lánh và cằn cỗi này để sinh sống. Ngày nay, những điều giảng dạy của Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô vẫn là một ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với đời sống thường nhật của đại đa số người dân tiểu bang Utah. Các tín đồ của tôn giáo này chọn việc không uống rượu, cà phê hoặc sử dụng các chất kích thích nên đã tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống tại tiểu bang này: tỉ lệ phạm tội ở Utah rất thấp, trong khi tuổi thọ của người dân Utah thuộc vào hàng cao nhất nước Mỹ. Đặc biệt do chính sách khuyến khích thanh niên lập gia đình sớm của đẻ nhiều con, tỉ lệ sinh sản ở Utah cao nhất nước Mỹ, với 25 đứa trẻ/1000 dân, cao hơn 25% so với trung bình của liên bang. Cử tri Utah thường có truyền thống ủng hộ Đảng Cộng hòa. == Kinh tế == Năm 2006, tổng sản phẩm quốc nội của Utah đạt 97,7 tỉ USD (Xem Danh sách tiểu bang Hoa Kỳ theo GDP), đứng hàng 33 trong liên bang. Thu nhập bình quân đầu người tại Utah là 32.357 USD, đứng hàng thứ 40/51 nước Mỹ. Những ngành kinh tế chính tại Utah là khai mỏ, chăn nuôi gia súc, sản xuất muối, công nghiệp quốc phòng và du lịch. Ở miền đông Utah, khai thác dầu là một trong những ngành công nghiệp chính. Khai thác than ở miền trung Utah cũng đóng góp một phần quan trọng vào ngành công nghiệp này. Công nghiệp khai mỏ phát triển tại Utah từ cuối thế kỉ 19 và thu hút rất nhiều nhân công đến đây làm việc. Ngoài các nguồn khoáng sản năng lượng như dầu mỏ, khí đốt và than đá, Utah còn có một trữ lượng lớn các kim loại đồng, vàng, bạc, kẽm, chì, uranium... Ngày nay, hoạt động du lịch đang trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của Utah. Miền nam Utah có 5 công viên quốc gia lớn là Arches, Bryce Canyon, Canyonlands, Capitol Reef và Zion với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Tiểu bang này cũng nổi tiếng với nhiều khu trượt tuyết chất lượng cao với loại tuyết dày và xốp, rất thích hợp cho các môn thể thao mùa đông. Thành phố Salt Lake là chủ nhà của Thế vận hội Mùa đông 2002. Những khung cảnh kỳ thú như Monument Valley ở Utah được sử dụng làm bối cảnh cho nhiều bộ phim cao bồi miền tây. Utah cũng là nơi bấm máy của nhiều bộ phim nổi tiếng như Broken Arrow, Indiana Jones and The Last Crusade, loạt phim High School Musical. == Hình ảnh về Utah == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
asean+3.txt
ASEAN+3 là một cơ chế hợp tác giữa ASEAN và ba quốc gia Đông Bắc Á gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. == Khái quát == Tháng 4 năm 1997, ASEAN đề xuất tổ chức hội nghị cấp cao giữa ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Tháng 12 năm 1997, hội nghị cấp cao lần thứ nhất đã diễn ra ở Kuala Lumpur. Sau đó, đến năm 2000, tại hội nghị cấp cao lần thứ tư tổ chức tại Singapore, ASEAN+3 chính thức được thể chế hóa. == Các diễn đàn == Hội nghị cấp cao ASEAN+3: hội nghị hàng năm giữa các nguyên thủ quốc gia của các nước thành viên. Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN+3: hội nghị hàng năm giữa các bộ trưởng về kinh tế của các nước thành viên Tại các hội nghị cấp cao và hội nghị bộ trưởng kinh tế của ASEAN+3, đã có 48 hiệp định trong 17 lĩnh vực được ký kết. == Triển vọng == Năm 2002, Nhóm Tầm nhìn Đông Á (East Asia Vision Group) đã đệ trình một báo cáo đề nghị chuyển ASEAN+3 thành Hội nghị Cấp cao Đông Á. Tháng 12 năm 2005, Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ nhất được tổ chức tại Kuala Lumpur với sự tham gia của không chỉ các nước thành viên ASEAN+3 mà còn của Úc, New Zealand và Ấn Độ. Tháng 1 năm 2007, Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ hai sẽ diễn ra tại đảo Sebu (Philippines). == Xem thêm == Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Hội nghị Cấp cao ASEAN Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN Hội nghị Cấp cao ASEAN+3 Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN+3 Cộng đồng Kinh tế Đông Á Cộng đồng Đông Á Hội nghị Cấp cao Đông Á == Tham khảo ==
bình định.txt
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Tỉnh lỵ của Bình Định là thành phố cảng Quy Nhơn nằm cách thủ đô Hà Nội 1.070 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 652 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A. == Vị trí địa lý == Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông). Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108o54'00 Đông). Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông). Phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông). Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào. == Khí hậu == Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều. Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1 °C, cao nhất là 31,7 °C và thấp nhất là 16,5 °C. Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0 °C, cao nhất 39,9 °C và thấp nhất 15,8 °C. Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%. Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài tháng 1 - 8. Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm 2.000 - 2.400 mm. Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751 mm. Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Về bão: Bình Định nằm ở miền Duyên hải Nam Trung Bộ, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tần suất xuất hiện bão lớn nhất tháng 9 - 11. == Lịch sử == Bình Định đời nhà Tần, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà 2 (137) người trong quận làm chức Công Tào tên là Khu Liên đã giết viên huyện lệnh chiếm đất và tự phong là Lâm Ấp vương. Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp. Đời nhà Đường, Năm 627 đổi tên là Lâm Châu. Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này được đổi là Đồ Bàn, Thị Nại. Đời nhà Lê, Tháng 7 năm 1471, vua Lê cho lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện là: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Từ đó người Việt bắt đầu tiến vào sinh sống trên vùng đất Bình Định ngày nay. Năm 1490 (chưa đầy 20 năm sau), theo Thiên nam dư hạ tập cho biết: dưới thời Hồng Đức, Phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và 100 xã. Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam. Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn giữ nguyên. Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị. Phủ lỵ dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay là phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn). Năm 1725, ở phủ Quy Nhơn đặt các chức quan trông coi: Chánh hộ, Khám lý, Đề đốc, Đề lãnh, Ký lục, Cai phủ, Thư ký, mỗi chức đặt một người; mỗi huyện đặt cai tri, thư ký, mỗi chức một người và 2 viên lục lại; mỗi tổng có cai tổng. Giữa thế kỷ 18, có cuộc khởi nghĩa của một chàng trai ở Gò Sặt võ nghệ cao cường, tên là Lía. Chàng chọn Truông Mây làm căn cứ. Ngày nay còn có câu: Từ 1773 đến 1797, nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này, sau khi lấy lại đất này Nguyễn Ánh đổi tên đất này là dinh Bình Định, sai Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trấn thủ và đặt quan cai trị gọi là Lưu Thủ, Cai Bộ, Ký Lục. Từ 1799 đến 1802, thành Quy Nhơn bị quân Nguyễn Ánh chiếm đóng và đổi làm thành Bình Định và suốt chiều dài lịch sử, đây là trung tâm cai trị của triều Nguyễn tại Bình Định trong những năm đầu thế kỷ XIX. Năm 1808 đổi dinh Bình Định thành trấn Bình Định. Năm 1814, vua Gia Long cho xây dựng lại thành Bình Định mới, ngày nay ở thị trấn Bình Định, nằm về phía đông nam và cách thành cũ khoảng 5 km ở phía gần sông Côn. Sau khi xây xong cho chuyển toàn bộ nhà cửa về thành mới này. Năm 1825 đặt tri phủ Quy Nhơn, năm 1831 lại đổi thành phủ Hoài Nhơn. Năm 1832 tách huyện Tuy viễn thành hai huyện Tuy Viễn và Tuy Phước, tách huyện Phù Ly thành hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát đồng thời Bình Định và Phú Yên thành liên tỉnh Bình Phú, sau đó bỏ liên tỉnh này. Năm 1888 đặt huyện Bình Khê. Vào năm 1885 Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai - Kon Tum còn thuộc về Bình Định. Năm 1890, thực dân Pháp sát nhập thêm Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách ra khỏi Bình Phú. Ngày 4 tháng 7 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh tự trị Pleikou Derr, tỉnh lỵ đặt tại làng Pleikan Derr của dân tộc Gia Lai. Địa bàn tỉnh Pleikou Derr bao gồm các vùng cư trú của đồng bào thiểu số Xơ đăng, Bana, Gialai tách từ tỉnh Bình Định ra. Ngày 25 tháng 4 năm 1907 xoá bỏ tỉnh Pleikou Derr. Toàn bộ đất đai của tỉnh này chia làm hai phần: một là Đại lý Kontum cho sát nhập trở lại tỉnh Bình Định và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định; một gọi là Đại lý Cheo Reo, cho sát nhập vào tỉnh Phú Yên và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Phú Yên. Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú và thành lập tỉnh Kontum làm tỉnh riêng; địa bàn tỉnh Kontum bao gồm Đại lý Kontum tách từ tỉnh Bình Định, Đại lý Cheo Reo tách từ tỉnh Phú Yên và Đại lý Đắc Lắc. Ngày 28 tháng 3 năm 1917 cắt tổng Tân Phong và tổng An Khê thuộc cao nguyên An Khê, tỉnh Bình Định, sát nhập vào tỉnh Kontum. Năm 1921, thực dân Pháp cắt tỉnh Phú Yên ra khỏi tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945. Thời Việt Nam Cộng hòa đổi các huyện thành quận, tỉnh Bình Định có 11 quận, 1 thị xã, trong đó có 4 quận miền núi. Tháng 2 năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam theo đó hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Năm 1981, chia huyện Hoài Ân thành 2 huyện: Hoài Ân và An Lão; chia huyện Phước Vân thành 2 huyện: Tuy Phước và Vân Canh; chia huyện Tây Sơn thành 2 huyện: Tây Sơn và Vĩnh Thạnh. Năm 1986, chuyển thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn. Năm 1989, Bình Định tách ra từ tỉnh Nghĩa Bình để tái lập lại tỉnh và kéo dài như vậy cho đến nay. Khi tách ra, tỉnh Bình Định có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Quy Nhơn (tỉnh lị) và 10 huyện: An Lão, An Nhơn, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tây Sơn, Tuy Phước, Vân Canh, Vĩnh Thạnh. Năm 2011, chuyển huyện An Nhơn thành thị xã An Nhơn. == Hành chính == Bình Định bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 9 huyện, chia thành 126 xã, 21 phường và 12 thị trấn: == Địa hình == Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông. Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển. Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây. Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là: Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh. Đại bộ phận sườn dốc hơn 20°. Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây Sơn và Hoài Ân (31.000 ha). Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh. Chiếm 70% diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m. Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá. Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15°. Phân bố ở các thị xã Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha). Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi. Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng 25–50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000 km². Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Côn, còn lại là các đồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các chân núi và ven biển. Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian. Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dãi cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung Lương đến Lý Hưng. Ven biển còn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh Vũng Mới...; các cửa biển như Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Quy Nhơn. Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển. Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động. === Hải đảo === Ven bờ biển tỉnh Bình Định gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ. Tại khu vực biển thuộc thành phố Quy Nhơn gồm cụm đảo Cù Lao Xanh là cụm đảo lớn gồm 3 đảo nhỏ; cụm Đảo Hòn Đất gồm các đảo nhỏ như Hòn Ngang, Hòn Đất, Hòn Rớ; cụm Đảo Hòn Khô còn gọi là cù lao Hòn Khô gồm 2 đảo nhỏ; cụm Đảo Nghiêm Kinh Chiểu gồm 10 đảo nhỏ (lớn nhất là Hòn Sẹo); cụm Đảo Hòn Cân gồm 5 đảo nhỏ trong đó có Hòn ông Căn là điểm A9 trong 12 điểm để xác định đường cơ sở của Việt Nam; Đảo đơn Hòn Ông Cơ. Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay Hòn Trâu Nằm gồm 4 đảo nhỏ; Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa. Ven biển xã Mỹ Thọ có 3 đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là Hòn Nước hay Đảo Đồn; Đảo Hòn Tranh còn gọi là Đảo Quy vì có hình dáng giống như con rùa, đảo này nằm rất gần bờ có thể đi bộ ra đảo khi thủy triều xuống; Đảo Hòn Nhàn nằm cạnh Hòn Đụn. Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn đá và cát. Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đèn hiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Quy Nhơn, thì Bình Định còn có 2 ngọn hải đăng: một ngọn được xây dựng trên mạng bắc của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ, ngọn này có tên gọi là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ hai được xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn. === Sông ngòi === Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw. Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn. Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém. Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan. Ngoài các sông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ có nước chảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện. Độ che phủ của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷ phá nghiêm trọng. Ngược lại, mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nước tưới. === Hồ đầm === Toàn tỉnh Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ mục đích tưới tiêu trong mùa khô. Trong đó có thể kể tên một số hồ lớn tại các huyện trong tỉnh như: hồ Hưng Long (An Lão); hồ Vạn Hội, Mỹ Đức và Thạch Khê (Hoài Ân); hồ Mỹ Bình (Hoài Nhơn); hồ Hội Sơn và Mỹ Thuận (Phù Cát); hồ Diêm Tiêu, Hóc Nhạn và Phú Hà (Phù Mỹ); hồ Định Bình, Thuận Ninh (Tây Sơn); hồ Núi Một (Vân Canh - An Nhơn); hồ Vĩnh Sơn, hồ Định Bình (Vĩnh Thạnh). Ngoài ra Bình Định còn có một đầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và Thị Nại (Tuy Phước - Quy Nhơn). Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay. == Dân cư == Bình Định có diện tích tự nhiên 6850,6 km², dân số 1.962.266 người, mật độ dân số 286 người/km² (số liệu năm 2015). Theo số liệu niên giám thống kê năm 2015, toàn tỉnh có 1.962.266 người, trong đó nam chiếm 48,7%, nữ chiếm: 51,3%. Dân số ở thành thị chiếm 33.2%, nông thôn chiếm 66.8%, mật độ dân số là 286 người/km² và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng chiếm: 58.8% dân số toàn tỉnh. Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân. == Văn hóa == Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của vương quốc Chămpa mà di sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Đây cũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ 18 với tên tuổi của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; là quê hương của các danh nhân Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,Nguyễn Đăng Lâm, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp Trường Phát..., và các văn thi nhân Nguyễn Diêu, Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan,Quách Tấn, Nguyễn Thành Long, Phạm Hổ, Phạm Văn Ký... Bình Định còn được biết đến với truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, hò bá trạo của cư dân vùng biển... cùng với các lễ hội như: lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi... Thành phố Quy Nhơn có trường Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung (tư thục), Cao đẳng Bình Định (trước kia là Cao đẳng sư phạm Bình Định), Cao đẳng Nghề Quy Nhơn, Cao đẳng Nghề cơ điện nông lâm Trung bộ, Cao đẳng Y tế Bình Định hàng năm đào tạo hàng chục ngàn sinh viên khoa học kỹ thuật cho tỉnh và khu vực miền trung Tây Nguyên. === Tuồng Bình Định === Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng rất phát triển gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ (Hiện Nay đền thờ danh nhân Đào Duy Từ ở tại xã Hoài Thanh Tây, thị xã Hoài Nhơn, cách quốc lộ 1A 2 km), Đào Tấn. Các đoàn hát tuồng trong tỉnh được hình thành ở khắp các huyện. Với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay Nguyễn Hữu Dỉnh của Quảng Nam. Tuồng còn gọi là "hát bội" hay hát bộ sở dĩ nó có tên gọi như thế là vì ngoài việc hát thì yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một vở tuồng hay và đặc sắc là hành động điệu bộ của các đào kép. Việc kết hợp võ thuật vào các màng nhào lộn, đánh trận ở mỗi đoàn có khác nhau tùy theo trình độ của đào kép. Trước kia khi hát bội còn thịnh hành thì có nhiều đoàn hát nhưng những năm gần đây dưới sự biến động của kinh tế thị trường thì nhiều đoàn dần giải tán, bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này có nguy cơ thất truyền. Lúc còn thịnh hành các đoàn hát bội thường được các làng, những gia chủ giàu có hay các lăng, đình ven biển mời về biểu diễn. Sau những màn diễn hay người cầm chầu ném tiền thưởng lên sân khấu. Vì thế mới có câu "Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu" thường thì sau đêm hát cuối cùng các đoàn hay hát màn "tôn vương" để chúc tụng gia chủ, làng xóm gặp nhiều may mắn và cuối màn "tôn vương" thì thường hát câu: "Rày mừng hải yến Hà Thanh - nhân dân an lạc thái bình âu ca" hay "ngũ sắc tường vân khai Bắc khuyết - nhất bôi thọ tửu chúc Nam san". == Du lịch == === Đặc sản === Ngoài các đặc sản về lâm, thổ, thuỷ, hải sản của duyên hải miền Trung nói chung, Bình Định còn có: rượu Bàu Đá (An Nhơn), cá chua nước lợ (Đề Gi - Phù Cát), bánh tráng nước dừa (Tam Quan), bún Song Thằn và bánh hỏi, nem chả Chợ Huyện, bánh ít lá gai, bánh tráng Trung Thành. Ngày nay ở huyện Hoài Nhơn còn có thêm đặc sản Cá Ngừ Đại Dương dân địa phương gọi là cá "Bò Gù". == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web tỉnh Bình Định Sở khoa học công nghệ tỉnh Bình Định Bộ địa chí Bình Định Thư viện tỉnh Bình Định
1987.txt
Theo lịch Gregory, năm 1987 (số La Mã: MCMLXXXVII) là một năm bắt đầu từ ngày thứ năm. Bản mẫu:Tháng trong năm 1987 == Sự kiện == 1 tháng 1: Pierre Aubert trở thành tổng thống Thụy Sĩ 23 tháng 2: Khám phá Siêu tân tinh 1987A 6 tháng 3: Chiếc phà Herald of Free Enterprise (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) chìm trước cảng Zeebrugge, 193 người chết 10 tháng 3: Động đất tại Colombia và Ecuador, trên 1.000 người chết Tháng 4, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (thuộc Liên Hiệp Quốc) đã ban hành Báo cáo Brundtland, trong đó định nghĩa rõ về sự phát triển bền vững 4 tháng 5: Giáo hoàng Johannes Paul II viếng thăm Augsburg, Đức 9 tháng 5: Một chiếc Iljuschin Il-62 của LOT rơi gần Warszawa, Ba Lan. 183 người chết. 28 tháng 5: Mathias Rust đáp xuống Quảng trường Đỏ tại Moskva 3 tháng 6: Erich Honecker thăm viếng chính thức Hà Lan 19 tháng 6: Đánh bom trong một trung tâm mua sắm tại Barcelona, 18 người chết 19 tháng 7: Bầu cử quốc hội tại Bồ Đào Nha 16 tháng 8: Một chiếc McDonnell Douglas MD-80 của Northwest Airlines rơi tại Detroit, Michigan, 156 người chết 31 tháng 8: Djibouti trở thành thành viên của UNESCO 3 tháng 9: Đảo chính của giới quân đội tại Burundi 15 tháng 10: Blaise Compaoré trở thành lãnh đạo nhà nước và chính phủ của Burkina Faso 17 tháng 10: Quần đảo Cook trở thành thành viên của UNESCO 20 tháng 10: Aruba trở thành thành viên của UNESCO 24 tháng 10: Kiribati trở thành thành viên của UNESCO 7 tháng 11: Zine El Abidine Ben Ali trở thành tổng thống Tunisia 29 tháng 11: Bom nổ trong một chiếc Boeing 707 của Korean Air, tất cả 115 người trên máy bay đều chết 20 tháng 12: Phà Dona của Philippines chìm làm chết 4375 hành khách 29 tháng 12: Nhà du hành vũ trụ Nga Yuri Victorovitch Romanenko trở về Trái Đất sau 326 ngày trên Trạm vũ trụ Mir == Sinh == 2 tháng 1: Sören far, cầu thủ bóng đá Đức 9 tháng 1: Wanbi Tuấn Anh, ca sĩ Việt Nam (mất 2013) 13 tháng 1: Radosław Wojtaszek, người đánh cờ Ba Lan 24 tháng 1:Luis Alberto Suárez,cầu thủ bóng đá Uruguay 8 tháng 2: Carolina Kostner, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Ý 22 tháng 1: Shane Long, cầu thủ người Ai len 11 tháng 2: Robert Fleßers, cầu thủ bóng đá Đức 19 tháng 2: Martin Büchel, cầu thủ bóng đá 21 tháng 2: Ellen Page, nữ diễn viên người Canada 6 tháng 3: Hannah Taylor-Gordon, nữ diễn viên Anh 6 tháng 3: Kevin-Prince Boateng, cầu thủ bóng đá Đức 13 tháng 3: Andreas Beck, cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Đức 19 tháng 3: Kathrin Geißler, nữ ca sĩ nhạc pop Đức 20 tháng 3: Nizamettin Çalışkan, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ 26 tháng 3: YUI, nữ ca sĩ Nhật Bản 31 tháng 3: Humpy Koneru, người đánh cờ Ấn Độ 9 tháng 4: Jesse McCartney, diễn viên Mỹ và ca sĩ 11 tháng 4: Joss Stone, nữ ca sĩ nhạc soul Anh 19 tháng 4: Maria Sharapova, nữ vận động viên quần vợt người Nga 27 tháng 4: William Moseley, diễn viên Anh 4 tháng 5: Francesc Fabregas, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha 15 tháng 5: Andy Murray, vận động viên quần vợt người Anh 18 tháng 5: Toàn Shinoda, vlogger Việt Nam (mất 2014) 22 tháng 5: Novak Djokovic, vận động viên quần vợt người Serbia 3 tháng 6: Lalaine Vergara-Paras, nữ diễn viên Mỹ 11 tháng 6: Gonzalo Castro, cầu thủ bóng đá Đức 22 tháng 6: Lee Min Ho, diễn viên Hàn Quốc 24 tháng 6: Lionel Messi, cầu thủ bóng đá Argentina 29 tháng 6: Marc-André Kruska, cầu thủ bóng đá Đức 10 tháng 7: Steffen Deibler, vận động viên bơi lội Đức 3 tháng 8: Kim Hyung Joon, nam ca sĩ Hàn Quốc, thành viên của nhóm nhạc SS501 7 tháng 8: Sidney Crosby, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada 8 tháng 8: Katie Leung, nữ diễn viên Scotland 14 tháng 8: Rosalie Thomass, nữ diễn viên Đức 22 tháng 8: Dan Weekes-Hannah, diễn viên New Zealand 27 tháng 8: Phương Vy, ca sĩ Việt Nam 5 tháng 9: Pierre Casiraghi, con trai của công chúa Caroline của Hannover 7 tháng 9: Evan Rachel Wood, nữ diễn viên Mỹ 22 tháng 9: Tom Felton, diễn viên Anh 26 tháng 9: Zlatko Junuzovic, cầu thủ bóng đá Áo 28 tháng 9: Hilary Duff, nữ diễn viên Mỹ và nữ ca sĩ 24 tháng 10: Anthony Vanden Borre, cầu thủ bóng đá Bỉ 4 tháng 11: T.O.P,Choi Seung Hyun, nam ca sĩ Hàn Quốc, thành viên của nhóm nhạc Big Bang 13 tháng 11: Rina Thieleke, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 7 tháng 12: Aaron Carter, nam ca sĩ 23 tháng 12: Daniela Götz, nữ vận động viên bơi lội 31 tháng 12: Jan Smit, nam ca sĩ Hà Lan == Mất == 14 tháng 1: Johann Cramer, chính trị gia Đức (sinh 1905) 14 tháng 1: Rauli Somerjoki, nhạc sĩ nhạc rock Phần Lan, nam ca sĩ (sinh 1947) 17 tháng 1: Hugo Fregonese, đạo diễn phim (sinh 1908) 22 tháng 1: Fabio Metelli, nhà tâm lý học (sinh 1907) 23 tháng 1: Elly Linden, nữ chính trị gia Đức (sinh 1895) 26 tháng 1: James Barnes, nhà soạn nhạc Mỹ, giáo sư (sinh 1949) 28 tháng 1: Grete Rehor, nữ chính trị gia Áo (sinh 1910) 30 tháng 1: Joe Lederer, nữ nhà báo Áo, nhà văn nữ (sinh 1904) 1 tháng 2: Christian Broda, chính trị gia Áo (sinh 1919) 1 tháng 2: Gustav Knuth, diễn viên Đức (sinh 1901) 2 tháng 2: Alistair MacLean, nhà văn Scotland (sinh 1922) 2 tháng 2: Jakow Borissowitsch Estrin, người đánh cờ Nga (sinh 1923) 4 tháng 2: Carl Rogers, nhà tâm lý học Mỹ (sinh 1902) 9 tháng 2: Costante Girardengo, tay đua xe đạp Ý (sinh 1893) 10 tháng 2: Anton Donhauser, chính trị gia Đức (sinh 1913) 12 tháng 2: Rudolf Henz, nhà văn Áo (sinh 1897) 19 tháng 2: Kirsten Walther, nữ diễn viên Đan Mạch (sinh 1933) 20 tháng 2: Joseph Parecattil, tổng giám mục của Ernakulam, Hồng y (sinh 1912) 20 tháng 2: Adrian Cruft, nhà soạn nhạc Anh, giáo sư (sinh 1921) 22 tháng 2: Hildegard Domizlaff, nữ điêu khắc gia Đức (sinh 1898) 23 tháng 2: José Afonso, nam ca sĩ Bồ Đào Nha, nhà soạn nhạc (sinh 1929) 28 tháng 2: Anny Ondra, nữ diễn viên (sinh 1903) 28 tháng 2: Karl Emerich Krämer, nhà văn Đức (sinh 1918) 3 tháng 3: Danny Kaye, diễn viên Mỹ, nam ca sĩ (sinh 1913) 13 tháng 3: Bernhard Grzimek, bác sĩ thú y, tác giả (sinh 1909) 17 tháng 3: Georg Lammers, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1905) 18 tháng 3: Karl Heinz Robrahn, nhà thơ trữ tình (sinh 1913) 19 tháng 3: Louis-Victor de Broglie, nhà vật lý học Pháp (sinh 1892) 21 tháng 3: Robert Preston, diễn viên Mỹ (sinh 1918) 26 tháng 3: Eugen Jochum, người điều khiển dàn nhạc Đức (sinh 1902) 26 tháng 3: Georg Muche, họa sĩ (sinh 1895) 28 tháng 3: Maria Augusta von Trapp, nữ ca sĩ Mỹ, nhà văn nữ (sinh 1905) 10 tháng 4: Berta Drews, nữ diễn viên Đức (sinh 1901) 11 tháng 4: Erskine Caldwell, nhà văn Mỹ (sinh 1903) 11 tháng 4: Primo Levi, nhà văn Ý, nhà hóa học (sinh 1919) 13 tháng 4: Herbert Blumer, nhà xã hội học Mỹ (sinh 1900) 14 tháng 4: Karl Höller, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1907) 15 tháng 4: Lawrence Kohlberg, nhà tâm lý học Mỹ, giáo sư (sinh 1927) 19 tháng 4: Maxwell Taylor, tướng, nhà ngoại giao của Hoa Kỳ (sinh 1901) 21 tháng 4: Hermann Götz, chính trị gia Đức (sinh 1914) 27 tháng 4: Attila Hörbiger, diễn viên Áo (sinh 1896) 27 tháng 4: Walther Kauer, nhà văn Thụy Sĩ (sinh 1935) 1 tháng 5: Walther G. Oschilewski, nhà xuất bản Đức, nhà thơ trữ tình (sinh 1904) 3 tháng 5: Dalida, nữ ca sĩ, nữ diễn viên (sinh 1933) 4 tháng 5: Paul Butterfield, nhạc sĩ (sinh 1942) 10 tháng 5: Hermann Glöckner, họa sĩ Đức (sinh 1889) 12 tháng 5: Victor Feldman, nhạc sĩ nhạc jazz Anh (sinh 1934) 14 tháng 5: Rita Hayworth, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1918) 17 tháng 5: Georgi Ivanowitsch Petrov, kĩ sư Nga (sinh 1912) 17 tháng 5: Gunnar Myrdal, nhà kinh tế học Thụy Điển (sinh 1898) 21 tháng 5: Emmy Damerius-Koenen, nữ nhà báo (sinh 1903) 23 tháng 5: Ernst Nagelschmitz, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1902) 24 tháng 5: Detlef Struve, chính trị gia Đức (sinh 1903) 29 tháng 5: Choudhary Charan Singh, thủ tướng của Ấn Độ (sinh 1902) 7 tháng 6: Clara Döhring, nữ chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1899) 7 tháng 6: Humberto Costantini, nhà văn Argentina (sinh 1924) 10 tháng 6: Elizabeth Hartman, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1943) 12 tháng 6: Paul Janes, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1912) 13 tháng 6: Geraldine Page, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1924) 22 tháng 6: Fred Astaire, nghệ sĩ múa Mỹ, nam ca sĩ, diễn viên (sinh 1899) 23 tháng 6: Adrienne Gessner, nữ diễn viên Áo (sinh 1896) 26 tháng 6: Henk Badings, nhà soạn nhạc Hà Lan, giáo sư (sinh 1907) 7 tháng 7: Hannelore Schroth, nữ diễn viên Đức (sinh 1922) 10 tháng 7: John Hammond, nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc (sinh 1910) 17 tháng 7: Jörg Fauser, nhà văn Đức, nhà báo (sinh 1944) 18 tháng 7: Gilberto Freyre, nhà xã hội học Brasil, nhà nhân loại học (sinh 1900) 24 tháng 7: Eugen Kogon, nhà xuất bản Đức, nhà xã hội học, nhà chính trị học (sinh 1903) 1 tháng 8: Pola Negri, nữ diễn viên Ba Lan (sinh 1894) 5 tháng 8: Zygmunt Mycielski, nhà soạn nhạc Ba Lan (sinh 1907) 10 tháng 8: Patrick Aloysius O'Boyle, tổng giám mục của Washington, Hồng y (sinh 1896) 11 tháng 8: Alexander Ziegler, diễn viên, nhà xuất bản, nhà văn (sinh 1944) 14 tháng 8: Vincent Persichetti, nhà soạn nhạc Mỹ, giáo sư (sinh 1915) 16 tháng 8: Arthur Grundmann, chính trị gia Đức (sinh 1920) 17 tháng 8: Clarence Brown, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1890) 17 tháng 8: Rudolf Heß, chính trị gia Đức Quốc xã (sinh 1894) 17 tháng 8: Carlos Drummond de Andrade, nhà thơ trữ tình Brasil (sinh 1902) 21 tháng 8: Imre Reiner, họa sĩ Hungary, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1900) 23 tháng 8: Siegfried Borris, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1906) 26 tháng 8: Georg Wittig, nhà hóa học Đức (sinh 1897) 29 tháng 8: Lee Marvin, diễn viên Mỹ (sinh 1924) 1 tháng 9: Gerhard Fieseler, nhà tư bản công nghiệp, phi công (sinh 1896) 3 tháng 9: Morton Feldman, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1926) 9 tháng 9: Gunnar de Frumerie, nghệ sĩ dương cầm Thụy Điển, nhà soạn nhạc (sinh 1908) 11 tháng 9: Lorne Greene, diễn viên Canada (sinh 1915) 11 tháng 9: Peter Tosh, nam ca sĩ Jamaica (sinh 1944) 13 tháng 9: Mervyn LeRoy, đạo diễn phim Mỹ, nhà sản xuất phim (sinh 1900) 18 tháng 9: Américo Tomás, đô đốc, tổng thống Bồ Đào Nha (1958 đến 1974) (sinh 1894) 19 tháng 9: Einar Gerhardsen, chính trị gia Na Uy (sinh 1897) 21 tháng 9: Jaco Pastorius, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1951) 23 tháng 9: Bob Fosse, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1927) 23 tháng 9: Maria Müller-Gögler, nhà văn nữ Đức (sinh 1900) 25 tháng 9: Mary Astor, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1906) 26 tháng 9: Herbert Tichy, nhà văn (sinh 1912) 26 tháng 9: Ethel Catherwood, nữ vận động viên điền kinh Canada (sinh 1908) 27 tháng 9: Jochen Steffen, chính trị gia (sinh 1922) 28 tháng 9: Mario von Galli, thầy tu dòng Tên, nhà xuất bản (sinh 1904) 30 tháng 9: Alfred Bester, nhà văn thể loại khoa học giả tưởng Mỹ (sinh 1913) 3 tháng 10: Kalervo Palsa, họa sĩ Phần Lan của Trường phái biểu hiện (sinh 1947) 3 tháng 10: Jean Anouilh, nhà văn Pháp (sinh 1910) 3 tháng 10: Hans Gál, nhà soạn nhạc Áo (sinh 1890) 9 tháng 10: William Parry Murphy, bác sĩ Mỹ, Giải Nobel (sinh 1892) 11 tháng 10: Fritz Rößler, chính trị gia Đức (sinh 1912) 12 tháng 10: Martin Ness, vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1942) 12 tháng 10: Fahri Korutürk, chính trị gia Thổ Nhĩ Kỳ, đô đốc (sinh 1903) 12 tháng 10: Heinz Vollmar, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1936) 13 tháng 10: Walter H. Brattain, nhà vật lý học Mỹ, nhận Giải Nobel. (sinh 1902) 13 tháng 10: Gisela Andersch, nữ họa sĩ Đức (sinh 1913) 16 tháng 10: Joseph Höffner, Hồng y Giáo chủ Đức (sinh 1906) 19 tháng 10: Igor Newerly, nhà văn Ba Lan, nhà sư phạm (sinh 1903) 19 tháng 10: Hermann Lang, đua xe Đức (sinh 1909) 23 tháng 10: Diether Ritzert, họa sĩ (sinh 1927) 23 tháng 10: Karlfranz Schmidt-Wittmack, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1914) 28 tháng 10: André Masson, họa sĩ Pháp (sinh 1896) 29 tháng 10: Jakob Bräckle, họa sĩ Đức (sinh 1897) 29 tháng 10: Woody Herman, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1913) 30 tháng 10: Joseph Campbell, giáo sư Mỹ, tác giả (sinh 1904) 31 tháng 10: Natalie Beer, nữ nhà thơ trữ tình Áo, nhà văn nữ (sinh 1903) 4 tháng 11: Ekkehard Fritsch, diễn viên Đức (sinh 1921) 6 tháng 11: Jean Rivier, nhà soạn nhạc Pháp (sinh 1896) 10 tháng 11: Seyni Kountché, cựu tổng thống của Niger (sinh 1931) 12 tháng 11: Cornelis Vreeswijk, nhà soạn nhạc, thi sĩ (sinh 1937) 17 tháng 11: Kurt Lindner, doanh nhân Đức (sinh 1906) 18 tháng 11: Jacques Anquetil, tay đua xe đạp Pháp (sinh 1934) 26 tháng 11: Willibald Pschyrembel, bác sĩ Đức (sinh 1901) 28 tháng 11: Wolfgang Liebeneiner, diễn viên Đức, đạo diễn phim (sinh 1905) 30 tháng 11: Helmut Horten, doanh nhân Đức (sinh 1909) 1 tháng 12: James Baldwin, nhà văn Mỹ (sinh 1924) 3 tháng 12: Christine Busta, nữ nhà thơ trữ tình Áo (sinh 1915) 3 tháng 12: Luis Federico Leloir, nhà hóa sinh Argentina (sinh 1906) 4 tháng 12: Rouben Mamoulian, đạo diễn Mỹ (sinh 1897) 5 tháng 12: Molly O'Day, nữ ca sĩ nhạc đồng quê Mỹ (sinh 1923) 6 tháng 12: Peter Lorenz, chính trị gia Đức (sinh 1922) 8 tháng 12: Annelies Kupper, nữ ca sĩ opera Đức (sinh 1906) 9 tháng 12: Leroy Stewart, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1914) 12 tháng 12: Clifton Chenier, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1925) 13 tháng 12: Klaus Schädelin, mục sư, chính trị gia, nhà văn (sinh 1918) 13 tháng 12: Claude T. Smith, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1932) 13 tháng 12: Herbert Tiede, diễn viên Đức (sinh 1915) 14 tháng 12: Georg Knöpfle, cầu thủ bóng đá Đức, huấn luyện viên bóng đá (sinh 1904) 17 tháng 12: Marguerite Yourcenar, nhà văn nữ (sinh 1903) 24 tháng 12: Joop den Uyl, chính trị gia Hà Lan (sinh 1919) 25 tháng 12: Werner Scheid, nhà thần kinh học Đức, bác sĩ tâm thần (sinh 1909) 26 tháng 12: Kurt Birrenbach, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1907) 27 tháng 12: Harry Buckwitz, đạo diễn phim Đức (sinh 1904) 29 tháng 12: M. G. Ramachandran, diễn viên Ấn Độ, chính trị gia (sinh 1917) == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Donald J Cram, Jean-Marie Lehn, Charles J. Pedersen Văn học - Joseph Brodsky Hòa bình - Oscar Arias Sanchez Vật lý - J. Georg Bednorz, K. Alexander Müller Y học - Susumu Tonegawa Kinh tế - Robert Solow == Xem thêm == Thế giới trong năm 1987, tình trạng thế giới trong năm này == Tham khảo ==
sylvia.txt
Sylvia là một chi chim trong họ Sylviidae. == Các loài == Loài Parophasma galinieri đặc hữu Ethiopia thuộc về nhánh chứa Sylvia với độ hỗ trợ 100% trong phân tích phát sinh chủng loài với sự lấy mẫu của loài điển hình cho chi Sylvia là Sylvia atricapilla, nhưng nó có thuộc về Sylvia hay chỉ là quan hệ chị-em với chi này lại là điều không chắc chắn, vì thế xử lý thận trọng nhất và tốt nhất là coi nó như một chi đơn loài có quan hệ chị-em với S. atricapilla và các đồng minh gần gũi nhất của loài này. Phần còn lại của chi Sylvia do vậy nên chuyển sang chi mới được phục hồi lại là Curruca. === Phần giữ lại === Bao gồm cả các loài trước đây xếp trong các chi Horizonrhinus, Lioptilus và Pseudoalcippe. Sylvia atricapilla: Loài điển hình. Sylvia borin Sylvia dohrni (đồng nghĩa: Horizorhinus dohrni) Sylvia nigricapillus (đồng nghĩa: Lioptilus nigricapillus) Sylvia atriceps Sylvia abyssinica (đồng nghĩa: Pseudoalcippe abyssinica) === Chuyển sang Curruca === Chi Curruca tự bản thân nó là tổ hợp của 5 nhánh khác biệt, có thể coi là 5 phân chi hoặc 5 chi riêng biệt, bao gồm: Atraphornis, Adophoneus, Parisoma, Curruca và Melizophilus. Atraphornis Sylvia deserti = Curruca deserti Sylvia nana = Curruca nana Melizophilus Sylvia deserticola = Curruca deserticola Sylvia melanothorax = Curruca melanothorax Sylvia mystacea = Curruca mystacea Sylvia rueppelli = Curruca rueppelli Sylvia melanocephala = Curruca melanocephala Sylvia subalpina (đồng nghĩa: Sylvia moltonii, tách ra từ tổ hợp loài S. cantillans) = Curruca subalpina Sylvia inornata (tách ra từ tổ hợp loài S. cantillans) = Curruca inornata Sylvia cantillans (chia thành 3 loài từ tổ hợp loài S. cantillans) = Curruca cantillans Sylvia communis = Curruca communis Sylvia conspicillata = Curruca conspicillata Sylvia sarda = Curruca sarda Sylvia undata = Curruca undata Sylvia balearica = Curruca balearica Adophoneus Sylvia nisoria = Curruca nisoria Parisoma Sylvia layardi (trước thuộc chi Parisoma) = Curruca layardi Sylvia boehmi (trước thuộc chi Parisoma) = Curruca boehmi Sylvia subcaerulea (Sylvia subcaeruleum, trước thuộc chi Parisoma) = Curruca subcaerulea Curruca Sylvia buryi (trước thuộc chi Parisoma) = Curruca buryi Sylvia lugens (trước thuộc chi Parisoma) = Curruca lugens Sylvia leucomelaena = Curruca leucomelaena Sylvia hortensis = Curruca hortensis Sylvia crassirostris (đồng nghĩa: Sylvia hortensis crassirostris) = Curruca crassirostris Sylvia curruca (tách tiếp tổ hợp loài này thành 3 loài mới sau khi đã tách S. minula) = Curruca curruca Sylvia minula (tách ra từ tổ hợp loài S. curruca) = Curruca minula Sylvia blythi (tách ra từ tổ hợp loài S. curruca) = Curruca blythi Sylvia halimodendri (tách ra từ tổ hợp loài S. curruca) = Curruca halimodendri Sylvia althaea = Curruca althaea Sylvia margelanica (tách ra từ tổ hợp loài S. curruca) = Curruca margelanica == Chú thích == == Tham khảo == Bauer, H.-G.; Bezzel, E. & Fiedler, W.: Das Kompendium der Vögel Mitteleuropas - Alles über Biologie, Gefährdung und Schutz. Band 2: Passeriformes - Sperlingsvögel. 2. vollst. überarb. Aufl., AULA-Verlag Wiebelsheim, 2005. ISBN 3-89104-648-0 Tham khảo Fauna Europaea : Sylvia (tiếng Anh) Sylvia tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS). Tham khảo Animal Diversity Web : Sylvia (tiếng Anh) Sylvia tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI). Typical warbler videos on the Internet Bird Collection Verschiedene Grasmücken und ihre Stimmen (www.vogelstimmen-wehr.de)
định luật gresham.txt
Trong kinh tế, định luật Gresham là một nguyên tắc tiền tệ nói rằng "tiền xấu đuổi tiền tốt". Ví dụ, nếu có hai hình thức hoá tệ trong lưu thông, mà được chấp nhận bởi luật pháp là có giá trị danh nghĩa tương tự, loại hoá tệ có giá trị hơn sẽ biến mất khỏi lưu thông. Luật này đã được đặt tên năm 1860 bởi Henry Dunning Macleod, theo Ngài Thomas Gresham (1519-1579), là một chuyên gia tài chính Anh trong triều đại Tudor. Tuy nhiên, có rất nhiều người đi trước. Định luật đã phát biểu trước bởi Nicolaus Copernicus; vì lý do này, nó là đôi khi được gọi là Định luật Copernicus. Nó là cũng được phát biểu trong thế kỷ 14, bởi Nicole Oresme k. 1350 1350, trong tác phẩm Về nguồn gốc, bản chất, định luật, và sự thay đổi tiền tệ, và bởi luật gia, và sử gia Al-maqrizi (1364-1442) ở Đế quốc Mamluk; và được ghi nhận bởi Aristophanes trong vở kịch Những con Ếch, từ khoảng cuối thế kỷ 5 trước công nguyên. == Tiền tốt và tiền xấu == Tiền tốt là tiền có ít khác biệt giữa giá trị danh nghĩa (ghi trên mặt đồng xu) và giá trị thực (giá trị của kim loại dùng để đúc, thường là kim loại quý, nickel, hoặc đồng). Khi vắng mặt luật về tiền pháp định, đồng xu tiền kim loại sẽ tự do trao đổi ở trên giá trị thị trường thỏi một chút. Điều này có thể được quan sát với thỏi tiền xu như Lá phong Vàng Canada, Krugerrand Nam Phi, Đại bàng Vàng Mỹ, hoặc thậm chí bạc Theresa Maria (Áo). Các đồng xu loại này được biết đến với sự tinh khiết và ở trong một hình thức thuận tiện. Mọi người thích giao dịch bằng đồng tiền hơn là bằng những mẩu kim loại quý vô danh tính, do đó, họ gắn thêm giá trị cho các đồng xu. Độ vênh giữa mệnh giá và giá hàng hoá được gọi là seigniorage. Bởi vì một số tiền xu không lưu thông, nằm lại trong các bộ sưu tập, nhu cầu đúc có thể tăng lên. Mặt khác, tiền xấu là tiền mà giá trị hàng hoá thấp hơn nhiều giá trị danh nghĩa và được lưu thông cùng với tiền tốt, nơi cả hai dạng phải được chấp nhận ngang giá như là tiền pháp định. == Ghi chú ==
viện kiểm sát nhân dân tối cao (việt nam).txt
Viện Kiểm sát Nhân dân là cơ quan có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy đinh tại Hiến pháp năm 2013. == Chức năng, nhiệm vụ == Viện Kiểm sát Nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. == Tổ chức, bộ máy == Viện Kiểm sát Nhân dân Việt Nam là một hệ thống độc lập và được được tổ chức ở bốn cấp, gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (hiện có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (hiện có 63 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh). Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có 691 Viện kiểm sát cấp huyện tại 691 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Viện kiểm sát quân sự, gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương. Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn... Viện kiểm sát quân sự cấp Khu vực. == Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao == Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao là người lãnh đạo cao nhất của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Vị trí này do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo quy định của Hiến pháp. Sau đây là danh sách Viện trưởng qua các thời kỳ. == Lãnh đạo Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đương nhiệm == === Viện trưởng === Viện trưởng hiện nay là Lê Minh Trí. === Phó Viện trưởng === Nguyễn Văn Khánh, Thiếu tướng, kiêm Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương Lê Hữu Thể, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kiểm sát. Nguyễn Thị Thủy Khiêm, nguyên Viện trưởng VKSND tỉnh Long An. Trần Công Phàn, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp Tác Quốc tế. Nguyễn Hải Phong, nguyên Viện trưởng VKSND tỉnh Hà Tây, nguyên Cục trưởng Cục 6 VKSTC. Bùi Mạnh Cường, nguyên Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk, nguyên Vụ trưởng Vụ 9 VKSTC. == Các đơn vị trực thuộc Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao == Văn phòng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh (vụ 1) Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự xã hội (vụ 2) Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế (vụ 3) Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy (vụ 4) Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ (vụ 5) Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp (vụ 6) Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (vụ 7) Vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (vụ 8) Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình (vụ 9) Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (vụ 10) Vụ kiểm sát thi hành án dân sự (vụ 11) Vụ kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (vụ 12) Vụ hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự (vụ 13) Vụ pháp chế và quản lý khoa học (vụ 14) Vụ tổ chức cán bộ (vụ 15) Vụ thi đua - khen thưởng (vụ 16) Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (cục 1) Cục thống kê tội phạm và công nghệ thông tin (cục 2) Cục kế hoạch - tài chính (cục 3) Thanh tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (T1) Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (T2) Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh (T3) Tạp chí Kiểm sát (T4) Báo Bảo vệ pháp luật (T5) == Nhân vật nổi tiếng == Trần Hiệu (1914 - 1997). Vũ Đức Khiển nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Dương Thanh Biểu nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Trần Thị Thái Hà (1924 - 2014) Nguyên phó Viện trưởng Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm 1, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
đầu tư trực tiếp nước ngoài.txt
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".[1] == Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài == === Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước === Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất)của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp. === Chu kỳ sản phẩm === Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI. Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. === Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia === Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981), Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này! === Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại === Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. === Khai thác chuyên gia và công nghệ === Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electronics, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy. === Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên === Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự. == Lợi ích của thu hút FDI == === Bổ sung cho nguồn vốn trong nước === Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI. === Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý === Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước. === Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu === Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu. === Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công === Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. === Nguồn thu ngân sách lớn === Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006. == Các hình thức FDI == === Phân theo bản chất đầu tư === ==== Đầu tư phương tiện hoạt động ==== Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào. ==== Mua lại và sáp nhập ==== Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào. === Phân theo tính chất dòng vốn === ==== Vốn chứng khoán ==== Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. ==== Vốn tái đầu tư ==== Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm. ==== Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ ==== Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau. === Phân theo động cơ của nhà đầu tư === ==== Vốn tìm kiếm tài nguyên ==== Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh. ==== Vốn tìm kiếm hiệu quả ==== Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi,điều kiện pháp lý v.v... ==== Vốn tìm kiếm thị trường ==== Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu. == Tham khảo == Akamatsu, Kaname (1962) "A Historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries," The Developing Economies, Preliminary Issue No. 1, pp. 3–25. Dunning, John H. (1981), International Production and the Multinational Enterprise, London: George Allen and Unwin. Dunning, John H. (2001) "The Eclectic (OLI) Paradigm of International Production: Past, Present and Future," International Journal of the Economics of Business, Vol. 8, No. 2, pp. 173–190. Hymer, Stephen H. (1960, published 1976), The International Operations of National Firms: a Study of Direct Foreign Investment, Cambridge, MA: MIT Press. Rugman. A. M. (1987), "The Firm-Specific Advantages of Canadian Multinationals," Journal of International Economics Studies, Vol. 2, No. 1, pp. 1–14. UNCTAD (2003), World Investment Report 2003. Vernon, Raymond (1966) "International Investment and International Trade in the Product Cycle," Quarterly Journal of Economics, Vol. 80, No. 2, pp. 190–207. == Xem thêm == Các hình thức huy động vốn đầu tư nước ngoài khác: Đầu tư gián tiếp nước ngoài Vay ngân hàng nước ngoài Viện trợ phát triển chính thức Xếp hạng các nước theo lượng FDI thu hút được == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD Bản đồ đầu tư
việc làm.txt
Việc làm (tiếng Anh là job, career) hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên, người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán. Thời hạn cho một công việc có thể nằm trong khoảng từ một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời (trong trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ. Một công việc phải có điểm đầu và điểm kết thúc, phải có mục tiêu, kết quả, có nguồn lực. == Phân loại theo thời gian làm việc == Toàn thời gian: Là một định nghĩa chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần. Bán thời gian: Là một định nghĩa mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 0,5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục. Làm thêm: Là một định nghĩa mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. == Xem thêm == Nghề Thanh toán Freelancer == Tham khảo ==
27 tháng 11.txt
Ngày 27 tháng 11 là ngày thứ 331 (332 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 34 ngày trong năm. == Sự kiện == 25 – Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú vào Lạc Dương, định đô triều đại Đông Hán tại thành này. 1095 – Giáo hoàng Urbanô II tuyên bố Cuộc thập tự chinh thứ nhất tại Hội đồng Clermont, nhằm đánh chiếm các thánh địa ở phía Đông từ tay người Hồi giáo. 1895 – Tại Paris, Alfred Nobel ký di chúc cuối cùng của mình, trong đó dành tài sản của bản thân để lập ra giải Nobel sau khi qua đời. 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận Peleliu tại Palau kết thúc với thắng lợi của quân đội Hoa Kỳ trước quân đội Nhật Bản. 1978 – Đảng Công nhân người Kurd được thành lập tại thành phố Riha (Urfa) tại Thổ Nhĩ Kỳ. 1992 – Lần thứ hai trong vòng một năm, Lực lượng vũ trang cố gắng lật đổ Tổng thống Carlos Andrés Pérez tại Venezuela. 2004 – Giáo hoàng Gioan Phaolô II giao di cốt của Gioan Kim Khẩu cho Giáo hội Chính Thống giáo Đông phương. == Sinh == 111 – Antinous, ái nhân của Hoàng đế La Mã Hadrianus (m. 130) 1127 – Tống Hiếu Tông Triệu Thận, sinh ngày Mậu Dần tháng 10 năm Đinh Mùi (m. 1194) 1576 – Shimazu Tadatsune, daimyo người Nhật (m. 1638) 1701 – Anders Celsius, nhà thiên văn học người Thụy Sĩ (m. 1744) 1874 – Chaim Weizmann, chính trị gia người Israel, Tổng thống thứ nhất của Israel (m. 1952) 1894 – Matsushita Kōnosuke, doanh nhân người Nhật, thành lập Panasonic (m. 1989), 1903 – Lars Onsager, nhà hóa học người Na Uy, đoạt Giải Nobel hóa học (m. 1976) 1921 – Alexander Dubček, chính trị gia người Slovak (m. 1992) 1939 – Laurent-Desire Kabila, Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo (m. 2001) 1940 – Lý Tiểu Long, diễn viên võ thuật, sáng lập võ phái Triệt quyền đạo người Mỹ gốc Hoa (m. 1973) 1942 – Jimi Hendrix, ca sĩ-người viết ca khúc, người chơi guitar, và nhà sản xuất người Mỹ (m. 1970) 1951 – Kathryn Bigelow, đạo diễn người Mỹ 1956 – William Fichtner, diễn viên người Mỹ 1957 – Caroline Kennedy, tác gia và luật sư người Mỹ 1960 – Yulia Volodymyrivna Tymoshenko, chính trị gia người Ukraina, Thủ tướng Ukraina 1963 – Công chúa Désirée xứ Hohenzollern 1964 – Roberto Mancini, cầu thủ bóng đá và nhà quản lý người Ý 1968 – Michael Vartan, diễn viên người Mỹ gốc Pháp 1992 - Park Chan Yeol, thành viên nhóm nhạc Hàn Quốc EXO == Mất == 8 TCN – Horace, thi nhân La Mã (s. 65 TCN) 511 – Clovis I, quốc vương của Vương quốc Frank (s. 466) 395 – Flavius Rufinus, chính khách La Mã 1474 – Guillaume Dufay, nhà soạn nhạc sinh tại ngoại ô Bruxelles (s. 1397) 1852 – Ada Lovelace, nhà toán học người Anh (s. 1815) 1895 – Alexandre Dumas con, tác gia và nhà soạn kịch người Pháp (s. 1824) 1953 – Eugene O'Neill, nhà soạn kịch người Mỹ, đoạt Giải Nobel Văn học (s. 1888) 1955 – Arthur Honegger, nhà soạn nhạc người Thụy Sĩ-Pháp (s. 1892) 1968 – Út Tịch, nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (m. 1931) 1978 – Giuse Maria Trịnh Như Khuê, giam mục Công giáo người Việt Nam (s. 1898) 2011 – Gary Speed, cầu thủ bóng đá và nhà quản lý người Anh Quốc (s. 1969) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
chu dung cơ.txt
Chu Dung Cơ (tiếng Hán: 朱镕基; bính âm: Zhū Róngjì; Wade-Giles: Chu Jung-chi) là Thủ tướng thứ năm của Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1998 đến 2003. Theo một số tài liệu, ông là hậu duệ đời thứ 18 của Chu Tiện, con trai thứ 18 của Minh Thái Tổ - hoàng đế khai quốc nhà Minh. == Tiểu sử == Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1928 tại Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc. Cha ông mất từ khi ông chưa sinh ra. Lên 10 tuổi ông mồ côi mẹ, ở với bác cả là Châu Học Phương. Chu Dung Cơ học sơ trung ở 2 trường là Sùng Đức và Quảng Tích. Học cao trung ở trường trung học tỉnh lập số 1. Từ năm 1947 đến năm 1951 học khoa cơ điện trường Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh). Đến năm thứ 3, Chu Dung Cơ giữ chức Chủ tịch hội sinh viên đỏ của trường. Tháng 10 năm 1949, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 9 năm 1951 được đề bạt giữ chức Phó Văn phòng chủ nhiệm, làm thư ký cho Lý Phú Xuân. Tháng 10 năm 1951 làm việc tại phòng Kế hoạch sản xuất, Vụ Kế hoạch thuộc Bộ Công nghiệp. Tháng 12 năm 1952 tới Bắc Kinh làm tại Cục nhiên liệu và Động lực thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Đầu năm 1958 ông bị quy là "phần tử hữu phái chống Đảng" bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc. và ông được điều đi làm giáo viên một trường cán bộ. Tới năm 1962 mới được ân xá. Năm 1970 lại bị đưa đi cải tạo ở Trường cán bộ 57 của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 1 tháng 1 năm 1987 ông trúng cử làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, giữ chức phó Bí thư Thượng Hải. Tháng 8 năm 1988 trúng cử chức Thị trưởng Thượng Hải. Tháng 8 năm 1989 ông kiêm nhiệm chức Bí thư thành ủy Thượng Hải. Ngày 8 tháng 4 năm 1991, tại kỳ họp thứ 4 Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc khóa 7, ông được bầu giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện. Tháng 10 năm 1992 là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày 29 tháng 3 năm 1993 được bổ nhiệm giữ chức Phó Thủ tướng Thứ nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1993 kiêm chức Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 3 năm 1998 trở thành Thủ tướng Trung Quốc. Ông giữ chức này cho tới tháng 3 năm 2003. == Về hưu == Sau khi nghỉ hưu, Ông không tham gia chính trị và đã có bài tổng kết về "Hiểu đời" như sau: Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng. Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó. "Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú". Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với "ông sư khổ hạnh", hãy làm "con chim bay lượn". Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già. Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy. Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn. Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc). Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao. Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình. Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong. Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên "vừa phải". Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn. Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết. Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh. "Hoàn toàn khỏe mạnh", đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh. Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc. Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào. Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt. Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn./. == Tham khảo ==
nhà thờ.txt
Nhà thờ là nơi thờ phụng, cầu nguyện của những người theo các tôn giáo như: Kitô giáo (Công giáo, Tin Lành...), Hồi giáo, đạo Cao Đài... hoặc phục vụ cho việc thờ cúng tổ tiên. Nhà thờ là một trong những cơ sở xã hội quan trọng dựa trên yếu tố tinh thần để giáo dục đạo đức theo một niềm tin nhất định và đóng vai trò như là một trung tâm thuyết giáo, nơi hành lễ, cầu nguyện của tín đồ, nơi tổ chức lễ tang, cầu siêu cho những người đã khuất, và một số vai trò khác. Mỗi tôn giáo có mô hình kiến trúc nhà thờ riêng, dễ phân biệt với các công trình kiến trúc khác. Ví dụ như nhà thờ của Kitô giáo thường có gắn một thập tự giá bên trên. == Nhà thờ ở Việt Nam == Các loại hình nhà thờ ở Việt Nam gồm có: Nhà thờ họ: là nơi thờ cúng tổ tiên theo dòng họ, phổ biến ở cư dân Việt các miền châu thổ Nhà thờ Kitô giáo: (cũng gọi là nhà thánh, thánh đường, giáo đường Kitô giáo) gồm nhà thờ Công giáo và nhà thờ Tin Lành, phổ biến trên cả nước, tập trung tại các thành thị, ven đường quốc lộ, miền biển. Nhà thờ Hồi giáo (mosque) (còn gọi là thánh đường Hồi giáo) có mặt ở các những vùng có người Chăm ở Nam Bộ, và rải rác một ở nơi khác có người theo tín ngưỡng Hồi giáo sinh sống. Nhà thờ Cao Đài (thường gọi là Thánh thất Cao Đài) có mặt ở một số tỉnh Nam Bộ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
jack and jill (phim).txt
Jack and Jill là một bộ phim hài do Hoa Kỳ sản xuất, được phát hành rộng rãi vào năm 2011. Bộ phim có sự góp mặt của nam danh hài Adam Sandler trong vai trò diễn viên chính và sản xuất, trong khi Dennis Dugan một lần nữa được cộng tác cùng Adam khi đảm nhận làm đạo diễn cho bộ phim này. Bộ phim sau đó được phát hành chính thức vào ngày 11 tháng 11 năm 2011 bởi hãng phim Columbia Pictures. Bộ phim là một thành công lớn về mặt thương mại khi đã đạt tổng doanh thu trên toàn cầu lên gần 150 triệu đô-la Mỹ, nhưng là một thất bại lớn về mặt chuyên môn khi bị chỉ trích nặng nề bởi hầu hết các nhà phê bình điện ảnh. Phim chỉ đạt được 3% đánh giá tích cực trên trang Rotten Tomatoes và lập kỉ lục trở thành bộ phim đầu tiên giành giải ở tất cả các hạng mục được đề cử trong một mùa giải Mâm xôi vàng, phá vỡ kỉ lục thắng nhiều giải nhất của một bộ phim lẻ mà Battlefield Earth nắm giữ trước đây. Đồng thời, bộ phim này còn được nhiều người đánh giá là một trong những bộ phim tệ nhất mọi thời đại. == Nội dung phim == Bộ phim được mở đầu bằng những đoạn video tự quay ở nhà của một cặp song sinh tên là Jack và Jill khi chúng đang lớn lên. Càng về sau video, Jack tự thể hiện mình tài năng nhỉnh hơn bé còn lại, khiến Jill liên tục cố gắng giành được sự chú ý bằng việc đấm cậu và đánh những bé gái khác. Trở về hiện thực, khi Jack đã lớn và là một nhà hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo thành công tại Los Angeles cùng với một người vợ xinh đẹp, Erin và hai đứa con, Sofie và Gary. Jill vẫn chưa một lần rời khỏi nơi mà cô sinh ra và vẫn tiếp tục sống với mẹ cô cho đến khi bà qua đời khoảng 1 năm trước khi những sự kiên của bộ phim này diễn ra. Jack cảm thấy cực kì xấu hổ về sự hiện diện của cô em gái song sinh "đồng nhất" của mình trong dịp lễ Tạ ơn, khi anh đang trên đường đến đón cô lúc 4 giờ chiều. Tính kiên nhẫn của Jack sau đó không thể giữ được lâu, khi Jill phá hỏng bữa tối lễ tạ Ơn bằng việc nói chuyện lớn tiếng, gọi một trong những người khách là kẻ vô gia cư và sau đó bỏ chạy vào rừng cùng con thú cưng là một chú vẹt mào. Jill có một danh sách những điều mà cô muốn làm-như tham gia một chương trình gameshow, cưỡi ngựa và tham quan một xưởng phim. Cô bỏ ngỏ tấm vé máy bay của mình và quyết định ở lại cho đến khi hết mùa lễ hội Ánh sáng. Trong lúc đó, một nhà đại diện khách hàng của Jack yêu cầu nam diễn viên Al Pacino phải xuất hiện trong quảng cáo của Dunkin' Donuts. Jack không chắc rằng mình sẽ thực hiện điều đó ra sao. Jill sau đó thử tìm đến dịch vụ mai mối trên mạng, nhưng không có nhiều phản hồi, cho đến khi Jack đóng giả làm Jill và đăng nhiều tấm ảnh quyến rũ lên đó và thay đổi hồ sơ của cô, khiến tài khoản của cô nhận hơn 100 lời phản hồi. Bạn hẹn của cô, "Funbucket" sau khi gặp cô đã tìm cách lẩn trốn cô trong nhà vệ sinh của một nhà hàng. Cảm thấy tội lỗi, Jack dắt cô đến trận đấu bóng rổ của đội Lakers, nơi mà Pacino cũng ở đó. Ban đầu Pacino để ý đến Jack, nhưng sau đó lại có tình cảm với Jill. Gã cho cô số điện thoại khi ghi chúng bằng mù tạt và sốt cà trên một cái bánh hot dog. Jack hi vọng rằng Jill sẽ rời khỏi đó vào đêm Giao thừa, khi gia đình của Jack có dự định đi nghỉ mát. Các bạn của Jack sau đó tổ chức cho anh một bữa tiệc sinh nhật bất ngờ và sau đó chúc mừng luôn cho cả Jill khi họ vẫn chưa biết Jack có một người em gái. Pacino ngỏ ý mời Jill đến nhà của anh, nhưng cô từ chối và giận dỗi bỏ đi. Ngày hôm sau, nhân viên làm vườn người Mexico của Jack, Felipe, dắt Jill về chung vui sum họp cùng gia đình của anh. Vì không muốn cô phải cô độc trong đêm Giao thừa, Jack mời cô đi nghỉ mát cùng gia đình anh và cô vui vẻ nhận lời. Pacino đặt thỏa thuận, nếu muốn anh đóng quảng cáo thì Jack phải mai mối Jill cho gã. Jack phải tự cải trang thành Jill và đến cuộc hẹn cùng gã ta. Jill sau đó nghi ngờ lý do duy nhất mà Jack mời cô đi dã ngoại chung là vì muốn dùng cô để thuyết phục Pacino đóng quảng cáo cho anh. Jack nhận ra gã ta yêu em gái mình nhiều đến thế nào và chạy về con thuyền dã ngoại của họ, nhưng khi đến đó thì Jill đã bỏ về nhà ở The Bronx. Tại nhà hàng trong đêm Giao thừa, cùng với tấm ảnh của người mẹ đã khuất của cả hai, Jill gặp phải một nhóm bạn cũ đang trêu chọc cô, do Monica khơi mào. Họ bắt nạt cô cho đến khi Jack và gia đình của anh xuất hiện. Jack và Jill sau đó làm lành bằng ngôn ngữ song sinh riêng của họ. Panico cũng đến bữa tiệc đó, với bộ dạng như trong Man of La Mancha để chứng tỏ tình cảm của mình cho Jill. Nhưng sau đó cô từ chối anh và đi về nhà, nơi Felipe đã tỏ tình với cô. Cô vô cùng sung sướng và ôm chầm lấy anh. Mục quảng cáo trên truyền hình sau đó cũng được thực hiện, khi Pacino diễn và hát khi đang quảng cáo cho loại cà phê mới -- "Dunkaccino" - cùng với một bài nhạc rap. Nhưng khi Jack mở lại cho gã xem, Pacino ghét nó và bảo anh hãy hủy tất cả bản sao của đoạn phim đó và dọa giết chết những ai xem nó. == Dàn diễn viên == Adam Sandler trong vai Jack Sadelstein/Jill Sadelstein Al Pacino trong vai Chính mình Katie Holmes trong vai Erin Sadelstein Eugenio Derbez trong vai Felipe / bà của Felipe Tim Meadows trong vai Ted Nick Swardson trong vai Todd Allen Covert trong vai Otto Elodie Tougne trong vai Sofie Sadelstein Rohan Chand trong vai Gary Sadelstein Geoff Pierson trong vai Carter Simmons Valerie Mahaffey trong vai Bitsy Simmons Gad Elmaleh trong vai Xavier Gary Valentine trong vai Dallas Kristin Davis trong vai Delilah Những sự xuất hiện khác Dana Carvey trong vai Crazy puppeteer David Spade trong vai Monica Dennis Dugan trong vai Henry, đóng thay Pacino Norm Macdonald trong vai Funbucket John Farley trong vai Mort Christie Brinkley trong vai Chính mình Drew Carey trong vai Chính mình Jared Fogle trong vai Chính mình Michael Irvin trong vai Chính mình Billy Blanks trong vai Chính mình Bruce Jenner trong vai Chính mình John McEnroe trong vai Khách dự tiệc Shaquille O'Neal trong vai Chính mình Santiago Segura trong vai Eduardo Lamar Odom trong vai Chính mình Vince Offer trong vai Chính mình Dan Patrick trong vai Khách dự tiệc Regis Philbin trong vai Chính mình Bill Romanowski trong vai Khách dự tiệc Johnny Depp trong vai Chính mình Kevin Nealon trong vai Bác sĩ (cảnh phim đã bị cắt) Jackie Sandler trong vai Nữ y tá (cảnh phim đã bị cắt) == Phản hồi == === Đánh giá chuyên môn === Jack and Jill nhận được những lời chỉ trích nặng nề từ giới chuyên môn điện ảnh, thậm chí còn có vài ý kiến cho rằng đây là một trong số những bộ phim tệ nhất mọi thời đại. Tạp chí Salon khẳng định rằng "Jack and Jill phải hứng chịu nhiều lời đánh giá tồi nhất mà một bộ phim có thể nhận được từ trước tới nay" ngay từ khi nó được phát hành. Trang mạng tổng hợp các đánh giá của các nhà phê bình Rotten Tomatoes cho kết quả chỉ vỏn vẹn 3% là tích cực dựa trên 100 bài đánh giá, với số điểm trung bình là 2.6/10. Lời đánh giá chung của trang mạng này có viết: "Mặc cho bộ phim có sự góp mặt một cách không giải nghĩa được của nam tài tử Al Pacino, Jack and Jill vẫn không thể nhận được bất cứ lời tiến cử nào dù có nằm trên bất kì cấp độ nào đi chăng nữa." Trang Metacritic cho kết quả gồm 23% tích cực trên 26 bản đánh giá, đồng nghĩa với mức đánh giá tiêu cực. Mary Pols từ Tạp chí Time xếp bộ phim này tại ngôi đầu bảng trong danh sách "10 Bộ phim tệ nhất năm 2011". The A.V. Club cũng đưa bộ phim này lên vị trí quán quân trong danh sách "Những bộ phim tồi nhất năm 2011" (cùng với một bộ phim khác cũng do Adam Sandler tham gia mang tên Just Go with It). TV Guide cũng liệt bộ phim này vào danh sách "Phim tồi nhất năm 2011". Andrew Barker từ Variety cho rằng bộ phim này "là một mớ đần độn, với hướng đi cẩu thả và dựa trên một tiền đề không hề có một chút hài hước nào để thực hiện là những vấn đề dễ nhìn thấy nhất của nó." Chương trình đánh giá trên mạng mang tên Half in the Bag chỉ trích bộ phim này vì việc sử dụng lại những trò đùa cũ từ những bộ phim trước của Sandler, việc lồng ghép quảng cáo sản phẩm vào phim không ngớt và sự lười biếng trong cả chất lượng của kịch bản phim và gọi nó là "thứ tệ hại nhất trên trái đất". Bộ phim này nhận tổng cộng 12 đề cử trong tổng số 10 hạng mục tại Giải Mâm xôi vàng lần thứ 32 (với 2 hạng mục đã được đề cử đến 2 lần) và giành hết tất cả 10 giải trong đêm công bố diễn ra trùng với ngày lễ Cá tháng Tư vào năm 2012. Với chiến thắng tuyệt đối này, bộ phim thiết lập một kỉ lục mới và đánh bật bộ phim Battlefield Earth khỏi danh hiệu Bộ phim nhận được nhiều giải nhất, với thành tích 9 giải đã nhận vào năm 2000. Cho dù phim bị phê bình một cách rộng rãi bởi nhiều nhà chuyên môn, nó vẫn nhận được vài đánh giá khả quan. Dù vậy, đây vẫn là những đánh giá thiểu số và gây nhiều bất ngờ khi so sánh với những lời đánh giá còn lại. Armond White từ CityArts/New York Press gây nên một làn sóng tranh cãi lớn khi tuyên dương Jack and Jill và khẳng định rằng "Những bộ phim của Adam Sandler không phải thuộc loại 'hài hước một cách đần độn'; có lẽ vì vậy mà chúng không phải thuộc sở thích của cánh chuyên môn." Mick LaSalle từ San Francisco Chronicle khẳng định khi vừa cảm thấy chính bản thân nhân vật Jill rất phiền phức, vừa cho rằng "...mọi thứ khác trong bộ phim hài này đều đạt thành công. Trường hợp trung tâm... sở hữu sức mạnh mang tính hài hước.... (bộ phim đã có) những khoảnh khắc thành công và thỏa mãn của một bộ phim hài." Tom Russo từ Boston Globe cho bộ phim này 2.5/5 sao === Các giải thưởng và đề cử === Tại lễ trao giải Mâm xôi vàng lần thứ 32, Jack and Jill được đề cử cho tất cả hạng mục, trong đó có hai lần đề cử cho hạng mục Nam diễn viên chính tồi nhất và Nữ diễn viên chính tồi nhất và nhận được hết tất cả 10 hạng mục được đề cử. === Doanh thu phòng vé === Bộ phim này được công chiếu tại 3.438 rạp phim và đạt ngôi Á quân với 25.003.575 đô-la Mỹ, chỉ đứng sau Immortals với 32.206.425 đô-la Mỹ. Bộ phim ngừng trình chiếu vào ngày 26 tháng 2 năm 2012 với tổng doanh thu tại Hoa Kỳ và Canada là 74.158.157 đô-la. Phim đạt tổng doanh thu trên toàn cầu là 149.673.788 đô-la Mỹ, trước tổng kinh phí chỉ 79 triệu đô-la. === Giải trí tại gia === Sony Pictures Home Entertainment phát hành Jack and Jill trên DVD và Blu-ray vào ngày 6 tháng 3 năm 2012. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Jack and Jill tại Internet Movie Database Jack and Jill tại Box Office Mojo Jack and Jill tại Rotten Tomatoes Jack and Jill tại Metacritic
trận sông nin.txt
Trận sông Nin (còn được gọi là Trận vịnh Aboukir, trong tiếng Pháp là Bataille d'Aboukir hoặc trong tiếng Ả Rập Ai Cập là معركة أبي قير البحرية) là một trận hải chiến lớn đã diễn giữa quân đội Anh và Pháp tại vịnh Aboukir bên Địa Trung Hải một bờ biển của Ai Cập vào ngày 1 đến 3 tháng 8 năm 1798. Trận đánh là đỉnh cao của một Chiến dịch hải quân đã diễn ra trên Địa Trung Hải trong suốt ba tháng trước đó, một đoàn quân viễn chinh lớn của Pháp khởi hành từ Toulon để đến Alexandria, lực lượng viễn chinh do Napoleon Bonaparte chỉ huy đã bị đánh bại bởi lực lượng của Anh do Đô đốc Horatio Nelson chỉ huy. Bonaparte đã tìm cách xâm lược Ai Cập, như là bước đầu tiên trong một chiến dịch chống lại Ấn Độ thuộc Anh có mục tiêu cuối cùng là đẩy Anh ra khỏi các cuộc chiến tranh cách mạng Pháp. Hạm đội Bonaparte vượt Địa Trung Hải, họ bị theo đuổi bởi Hải quân Anh dưới sự chỉ huy của Tử tước Horatio Nelson khởi hành từ Tagus, để nắm bắt được mục đích thám hiểm của Pháp và đánh bại họ. Sau hơn hai tháng, Nelson vẫn tiếp tục bám theo hạm đội Pháp, một số lần chỉ thiếu vài giờ là có thể đuổi bắt kịp. Bonaparte, đã biết được mình đang bị Nelson theo đuổi, do đó, bắt buộc giữ bí mật tuyệt đối về điểm đến của mình để có thể chụp được Malta và sau đó là đất Ai Cập mà không phải chạm trán với Hải quân Anh hùng mạnh. Cùng với đội quân Pháp vào bờ, hạm đội neo ở vịnh Aboukir, cách 20 dặm (32 km) về phía bắc của Alexandria, tin tưởng trình độ chỉ huy của mình, Phó Đô đốc François-Paul Brueys D'Aigalliers, tự tin thiết lập một vị trí phòng thủ bất khả chiến bại. Khi hạm đội của Nelson đã tới Ai Cập vào ngày 1 tháng và phát hiện ra phòng thủ Brueys, ông đã ra lệnh tấn công ngay lập tức, và chiến hạm của ngài tiến trên phòng tuyến Pháp. Khi đến gần, họ chia thành hai đơn vị, một trong số đó cắt ngang cắt ngang qua người đứng đầu tuyếnn và bờ neo, trong khi nhóm kia tiến ra hướng ra biển của Hạm đội Pháp. Bị kẹt giữa tuyến, các tàu hàng đầu của Pháp bị tấn công dữ dội trong một trận chiến kéo dài ba giờ, đạo quân chủ lực đã có thể và đẩy lùi được đợt tấn công đầu tiên của Anh. Khi quân tiếp viên Anh đến, một đợt tấn công lớn vào Trung quân Pháp xảy ra, vào lúc 22:00 giờ soái hạm Phương Đông (Oirent) bị phát nổ. Với việc Brueys tử trận trung quân cũng thất bại theo, bộ phận phía sau hạm đội Pháp đã cố gắng thoát ra khỏi vịnh, nhưng cuối cùng chỉ có 2 tàu chiến tuyến và 2 tàu frigate trốn thoát được từ tổng cộng 17 tàu ban đầu. Trận chiến đảo ngược tình hình chiến lược ở Địa Trung Hải và cho phép Hải quân Hoàng gia nhận được một vị trí thống trị mà nó sẽ còn giữ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nó cũng khuyến khích các nước châu Âu khác chống lại Pháp, và là một yếu tố trong sự bùng nổ của cuộc chiến tranh với Liên minh thứ hai. Quân đội của Bonaparte đã bị mắc kẹt ở Ai Cập, và Hải quân Hoàng gia ngự trị ngoài khơi bờ biển Syria góp phần góp đáng kể trong việc đánh bại Pháp tại cuộc vây hãm Acre năm 1799, trước khi Bonaparte trở lại châu Âu. Nelson, người đã bị thương trong trận chiến, được tuyên bố như một người hùng trên khắp châu Âu và sau đó đã trở thành Nam tước Nelson. Thuyền trưởng của ông cũng được đánh giá cao, và sẽ đi vào để tạo thành nên hạt nhân của Nelsonic Band of Brothers. Trận chiến vẫn còn nổi bật trong văn hóa phổ biến, có lẽ nổi tiếng nhất là bài thơ Casabianca của nữ thi sĩ Felicia Hemans năm 1826 == Bối cảnh == === Chiến dịch Địa Trung Hải === Hạm đội của Bonaparte khởi hành vào ngày 19 tháng 5 năm 1798, rời Toulon và tiến nhanh chóng xuyên qua biển Liguria, thu thập thêm tàu bè tại Genoa và dương buồm về phía nam dọc theo bờ biển Sardinia, qua Sicilia trong ngày 7 tháng 6. Ngày 9 tháng 6 hạm đội đến ngoài khơi Malta, nơi đây thuộc sở hữu của các hiệp sĩ thánh Gioan của Jerusalem dưới quyền của Đại Thống lĩnh Ferdinand von Hompesch zu Bolheim. Bonaparte yêu cầu hạm đội của ông được phép di chuyển vào hải cảng Valetta vốn đã được phòng thủ kỹ càng. Khi yêu cầu bị các hiệp sĩ cứu tế từ chối, người Pháp đã phản ứng bằng cách mở một cuộc xâm lược quy mô lớn vào quần đảo Malta, nhanh chóng đè bẹp lực lượng phòng thủ sau 24 giờ giao chiến. Các hiệp chính thức đầu hàng vào ngày 12 tháng 6 và để đổi lấy một khoản tiền đền bù tài chính đáng kể và cũng như việc chuyển giao các đảo cùng tất cả các nguồn lực của họ cho Bonaparte, bao gồm cả tài sản khổng lồ của Giáo hội Công giáo La Mã trên đảo Malta. Trong vòng một tuần, Bonaparte đã trang bị đầy đủ cho đội tàu của ông và ngày 19 tháng 6 hạm đội của ông ta rời đến Alexandria theo hướng Crete, để lại tướng Claude-Henri Vaubois cùng 4.000 lính ở Valetta để đảm bảo quyền kiểm soát của Pháp tại các hòn đảo ở đây. Trong khi Bonaparte dương buồm đến Malta, Hải quân Hoàng gia Anh đã thâm nhập trở lại Địa Trung Hải lần đầu tiên sau hơn một năm. Bị báo động bởi các báo cáo bởi công tác chuẩn bị của người Pháp trên bờ biển Địa Trung Hải, Bá tước Spencer tại bộ hải quân gửi thư đến cho Phó Đô đốc Bá tước St. Vincent, chỉ huy của Hạm đội Địa Trung Hải đóng trụ sở tại sông Tagus, mau lẹ điều một hải đội để đi điều tra. Hải đội này gồm ba tàu chiến tuyến và ba tàu frigate, được giao phó cho Chuẩn đô đốc Sir Horatio Nelson. Nelson là một sĩ quan rất thành công và đã bị mù một mắt trong thời gian chiến đấu tại Corsica vào năm 1794, đã nhận được lời khen thưởng cho việc bắt sống hai tàu chiến tuyến của Tây Ban Nha tại trận Mũi St. Vincent trong tháng 2 năm 1797 nhưng sau đó lại bị mất một cánh tay tại Trận Santa Cruz de Tenerife trong tháng 7 năm 1797. Trở về với đội tàu tại Tagus vào cuối tháng 4, ông đã nhận lệnh thu thập hải đội tại Gibraltar và căng buồm tới vùng biển Liguria. Vào ngày 21 tháng 5, Hải đội của Nelson tiếp cận Toulon, và nó đã bị đánh tơi bời bởi một cơn bão khốc liệt và chiếc kỳ hạm của Nelson HMS Vanguard mất chiếc cột buồm của nó và gần như bị đắm tại bờ biển Corsica. Hải đội nằm rải rác, các tàu chiến tuyến tạm nằm tại đảo San Pietro ngoài khơi Sardinia, trong khi các tàu khu trục bị gió thổi về phía tây và không quay lại được. Ngày 07 tháng 6, sau khi vội vàng sửa chữa kỳ hạm của mình, Nelson quay lại ngoài khơi Toulon với một đội mườ gồm tàu chiến tuyến và một tàu hạng tư. Hạm đội dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Thomas Troubridge và được Bá Tước St. Vincent gửi đến để củng cố cho lực lượng của Nelson với các mệnh lệnh là ông phải theo đuổi đoàn Toulon và ngăn chặn nó. Mặc dù bây giờ đã có tàu, đủ để thách thức hạm đội Pháp, Nelson lại còn có hai nhược điểm quan trọng: ông không có tình báo về đích đến của Pháp và không có tàu frigate nào để đi dò thám phía trước hạm đội. Duỗi buồm thẳng về phía nam với hy vọng thu thập thông tin về chiến dịch của người Pháp, tàu của Nelson dừng lại tại Elba và Napoli, nơi mà đại sứ Anh Sir William Hamilton thông báo rằng hạm đội Pháp đã đi qua Sicilia theo hướng Malta. Bất chấp những lời cầu xin từ Nelson và Hamilton, vua Ferdinando của Napoli từ chối cho người Anh mượn những tàu frigate nhỏ của mình vì sợ bị người Pháp trả thù. Ngày 22 tháng 6, Nelson gặp phải một thuyền hai buồm brig từ Ragusa và được biết, Pháp đã cho tàu từ Malta đi về phía đông vào ngày 16 tháng 6. Sau khi xác nhận với thuyền trưởng của mình, đô đốc quyết định rằng mục tiêu của Pháp phải là Ai Cập và quyết định theo đuổi họ. Nhầm tưởng rằng người Pháp đã đi được năm ngày trước đó chứ không phải là hai ngày, Nelson quyết định đi theo một đường thẳng trực tiếp tới Alexandria mà không có độ lệch nào. Tối ngày 22 tháng 6, hạm đội của Nelson vượt qua hạm đội Pháp trong bóng tối, vượt qua những đoàn tầu chở đạo quân xâm lược bơi chậm mà không có một người nào trong hai bên nhận ra họ đã ở gần với nhau như thế nào. Đi rất nhanh vì vận động theo một đường thẳng, Nelson đến Alexandria ngày 28 tháng 6 và phát hiện ra rằng không có người Pháp ở đó. Sau khi có một cuộc họp với chỉ huy cao cấp của đế quốc Ottoman Sayyid Muhammad Kurayyim, Nelson ra lệnh cho hạm đội Anh đi về phía bắc, tiếp cận bờ biển Anatolia ngày 04 tháng 7 và quay về phía tây quay trở lại Sicilia. Nelson bị mất dấu người Pháp bởi đi sau hơn một ngày, những tàu trinh sát của hạm đội Pháp khi đến ngoài khơi Alexandria vào tối ngày 29 tháng 6. Lo lắng bởi có thể có sự chạm trán bất thình lình giữa hạm đội của ông với Nelson, Bonaparte ra lệnh phát động một cuộc xâm lược ngay lập tức, bởi những yếu kém trong khâu điều khiển hoạt động tiếp đất đã làm ít nhất 20 người bị chết đuối. Tập hợp dọc theo bờ biển, quân đội Pháp xông đến Alexandria và chiếm thành phố, Bonaparte sau đó chỉ huy các lực lượng chính của quân đội của ông ta trong nội địa. Tư lệnh hải quân của ông ta, phó Đô đốc François-Paul Brueys d'Aigalliers, thả neo tại cảng Alexandria, nhưng khảo sát hải quân báo cáo rằng các kênh vào bến cảng đã quá nông cạn và hẹp cho các tàu lớn của hạm đội Pháp. Kết quả là một nơi neo đậu thay thế tại Vịnh Aboukir đã được chọn, cách 20 dặm (32 km) về phía đông bắc của Alexandria. Đội tàu của Nelson đến Syracuse ở Sicilia vào ngày 19 tháng 7 và lấy các nguồn cung cấp thiết yếu. Nelson đã viết bức thư mô tả những sự kiện của các tháng trước: "Cổ nhân có câu, 'con của ác quỷ thường có những cái may của ác quỷ' Tôi không thể tìm thấy, tại thời điểm này, ngoài những phỏng đoán mơ hồ, nơi Hạm đội Pháp đang đi. Số phận hẩm hiu hiện nay của tôi khởi nguồn từ việc cần có vài tàu frigate." Vào ngày 24 tháng 7 hạm đội của ông đã được tăng cường hàng tiếp liệu và đã xác định được người Pháp phải ở một nơi nào đó tại phía Đông Địa Trung Hải, Nelson khởi hành trở lại theo hướng Morea. Ngày 28 tháng 7 tại Coron, thông tin cuối cùng đã thu được qua các mô tả về các cuộc tấn công của Pháp vào Ai Cập và Nelson chuyển hướng về phía nam, các tàu trinh sát của ông ta là chiếc HMS Alexander và HMS Swiftsure phát hiện các đội tàu vận tải Pháp tại Alexandria vào chiều ngày 1 tháng 8. === Vịnh Aboukir === Khi thấy bến cảng Alexandria không đủ sâu cho hạm đội của mình, Brueys đã tập hợp các thuyền trưởng của mình và thảo luận về những lựa chọn của họ. Bonaparte ra lệnh cho hạm đội neo ở Aboukir Vịnh, một vịnh cạn và trống trải, nhưng có bổ sung các mệnh lệnh với đề nghị rằng nếu Brueys thấy vịnh Aboukir quá nguy hiểm thì có thể đi thuyền về phía bắc tới Corfu, chỉ để lại tàu vận tải và một số tàu chiến nhẹ tại Alexandria. Brueys từ chối, với niềm tin rằng hạm đội của ông có thể cung cấp hỗ trợ cần thiết cho quân đội Pháp trên bờ biển và cho gọi các thuyền trưởng của ông trên boong của kỳ hạm 120 súng Orient để thảo luận về việc phản ứng như thế nào nếu Nelson tìm ra các đội tàu tại nơi neo đậu của nó. Bất chấp sự phản đối cao giọng của Chuẩn đô đốc Armand Blanquet, người nhấn mạnh rằng hạm đội có thể tận dụng toàn bộ hoả lực để đáp trả quân Anh trong vùng nước mở, các thuyền trưởng đều nhất trí rằng neo đậu trong một tuyến bên trong vịnh sẽ tạo ra một hoả lực mạnh để đối phó với Nelson. Có thể là Bonaparte dự tính cho các tầu thả neo để tạo một căn cứ tạm thời, trong ngày 27 tháng7, ông bày tỏ sự kỳ vọng rằng Brueys sẽ chuyển tới Alexandria và ba ngày sau đó đã ban hành lệnh cho các đội tàu sửa soạn tới Corfu để chuẩn bị cho các hoạt động của hải quân chống lại các lãnh thổ của Đế quốc Ottoman ở vùng Balkan nhưng trớ trêu thay, quân du kích Bedouin đã chặn và giết chết người đưa thư khiến mệnh lệnh không thể đến được. Vịnh Aboukir là một chỗ thụt vào ở ven biển dài 16 hải lý (30 km), kéo dài từ làng Abu Qir ở phía tây đến thị trấn Rosetta ở phía Đông, nơi mà một trong những cửa của sông Nin chảy ra Địa Trung Hải. Năm 1798, vịnh được bảo vệ ở phía tây bằng bãi cát ngầm rộng chạy dài 3 dặm (4,8 km) từ một doi đất được phòng vệ bởi lâu đài Aboukir vào vịnh. Những bãi cát ngầm cũng đã được bảo vệ bởi một pháo đài nhỏ nằm trên một hòn đảo giữa các tảng đá. Pháo đài này được đồn trú bởi lính Pháp và trang bị ít nhất bốn khẩu đại bác và hai khẩu pháo cối hạng nặng. Brueys đã gia cố cho đồn bằng tàu phóng bom và pháo hạm, được buông neo ở gần bãi đá ở phía tây của hòn đảo ở một vị trí để có thế hỗ trợ cho tuyến đầu của người Pháp. Các bãi cát ngầm chạy không đều ở phía nam của đảo và mở rộng ra vịnh theo hình bán nguyệt khoảng 1.650 thước Anh (1.510 m) từ bờ biển. Những bãi cát ngầm quá cạn để cho phép các tàu chiến lớn hơn đi qua, do đó Brueys đã ra lệnh mười ba tàu của ông ta lập đội hình thành một tuyến kéo từ rìa đông bắc của bãi cát ngầm ở phía nam của đảo, một vị trí cho phép các tàu để lấy nguồn cung cấp từ phía cảng của họ trong khi kiểm soát cả việc đổ bộ bằng pháo mạn phải của họ. Đế cho có trật tự, các tàu được buộc dây xích chặt lại với nhau, điều này biến nó thành một hàng đại bác về mặt lý thuyết có thể nói là bất khả chiến bại. Một tuyến thứ hai bên trong bao gồm bốn tàu frigate được bố trí khoảng 350 thước Anh (320 m) ở phía tây của tuyến chính, khoảng nằm giữa đội hình chiến đấu và bãi cát ngầm. Các tàu tiên phong của Pháp, dẫn đầu bởi chiếc Guerrier, được định vị ở khoảng 2.400 thước Anh (2.200 m) phía đông nam của đảo Aboukir và khoảng 1.000 thước Anh (910 m) từ cạnh của bãi cát ngầm bao quanh các hòn đảo. Tuyến tàu đó kéo dài về phía đông nam, với trung tâm hướng mũi ra phía biển từ bãi cát ngầm. Các tàu chiến của Pháp có khoảng cách với nhau khoảng 160 thước Anh (150 m) và toàn bộ đội hình tuyến kéo dài 2.850 thước Anh (2.610 m), với kỳ hạm Orient ở trung tâm và hai tàu lớn 80 pháo, neo ở hai bên. Đội hậu quân của đội hình này dưới sự chỉ huy của Chuẩn đô đốc Pierre-Charles Villeneuve từ chiếc Guillaume Tell. Bằng việc triển khai các tàu của mình theo cách này, Brueys hy vọng rằng người Anh sẽ bị mắc vào các bãi cát ngầm khi tấn công vào đội hình trung tâm và đội hậu quân trang bị mạnh mẽ của mình, cho phép tiền đội có thể mượn sức gió đông bắc để phản công người Anh khi tiền quân tham gia vào trận đánh. Tuy nhiên, ông đã thực hiện một sự xét đoán sai nghiêm trọng: giữa chiếc Guerrier và bãi cát ngầm có đủ khoảng trống cho một tàu của đối phương đi cắt ngang qua chiếc tàu đứng đầu tuyến của Pháp, làm cho các tàu tiên phong không được hỗ trợ và rơi vào trường hợp bị bắn chéo cánh sẻ từ hai đội tàu của đối phương. Ngoài ra, người Pháp chỉ chuẩn bị cho mạn phải cho các tàu của họ (hướng ra biển), hướng mà họ đoán rằng các cuộc tấn công sẽ đến; còn về phía cảng và đất liền, họ đã không chuẩn bị trước. Các pháo ở mạn trái đều bị đậy nắp lại trong khi trên sàn lại bày la liệt đồ dự trữ khiến việc tiếp cận pháo lại càng khó khăn hơn. Trong bố trí của Brueys có một lỗ hổng quan trọng thứ hai, đó là khoảng trống 160 yard giữa các tàu là đủ lớn cho một chiếc tàu của Anh xuyên qua và phá vỡ đội hình tuyến của Pháp và không phải tất cả các thuyền trưởng của ông đã làm theo lệnh buộc kèm dây cáp vào mũi và đuôi tàu gần họ, nếu làm việc này đã có thể ngăn ngừa sự vận động uyển chuyển của người Anh. Vấn đề đã trở nên nghiêm trọng bởi mệnh lệnh cho phép chỉ neo tại các mũi, cho phép các tàu dịch chuyển trong gió và mở rộng các khoảng trống. Nó cũng tạo ra các khu vực trong đội hình của Pháp mà (khu vực này) không bị bao phủ bởi những pháo mạn của bất kỳ tàu nào, trong khu vực đó, một tàu của Anh có thể neo và tấn công tầu của Pháp mà không sợ bị bắn trả. Ngoài ra, việc triển khai các hạm đội của ông ta đã ngăn cản đôị hậu quân hỗ trợ một cách có hiệu quả cho các các tàu tiên phong bằng gió mậu dịch. Một vấn đề nan giải hơn của Brueys là việc thiếu thức ăn và nước cho các đội tàu. Bonaparte đã bốc dỡ gần như tất cả các đồ cung cấp dự trữ trên tàu và không có nguồn cung cấp đã được mang tới cho các tàu từ bờ biển. Để khắc phục điều này, Brueys gửi các đội đi lục lọi dọc theo bờ biển để trưng thu thực phẩm và lấy nước, nhưng các cuộc tấn công liên tục của du kích Bedouin yêu cầu mỗi đội tàu phải có một đội bảo vệ vũ trang hạng nặng, dẫn đến một phần ba thủy thủ của hạm đội phải ra khỏi tàu của họ tại bất kỳ thời gian nào. Brueys đã viết một lá thư mô tả tình hình đển Bộ trưởng Bộ Hải quân Étienne Eustache Bruix, báo cáo rằng "Thuỷ thủ đoàn của chúng tôi rất yếu, cả về số lượng và chất lượng, buồm cơ của chúng tôi, nói chung không sửa chữa được nữa, và tôi chắc chắn rằng phải đòi hỏi không ít can đảm để quản lý một hạm đội được trang bị với những thứ như vậy." == Bài binh bố trận == == Giao chiến == === Nelson đến === Mặc dù lúc đầu gặp phải thất vọng vì hạm đội Pháp không neo ở Alexandria, Nelson biết từ quá trình vận chuyển rằng họ phải ở đâu đó gần đó. Lúc 14:00 ngày 01 tháng 8, những người đứng gác trên chiếc HMS Zealous báo cáo rằng Hạm đội của Pháp neo trong vịnh, trung úy tín hiệu của nó ra hiệu cho trung úy của chiếc HMS Goliath, nhưng miêu tả sai khi nói quân Pháp có 16 tàu chiến tuyến thay vì 13. Những người gứng gác trên chiếc Heureux Pháp đồng thời nhìn cũng thấy hạm đội Anh, 9 hải lý (17 km) ở ngoài cửa vịnh Aboukir. Người Pháp dự đoán rằng hạm đội Anh có khoảng 11 tàu, vì khi đó những chiếc Swiftsure và Alexander đang trên đường trở về từ Alexandria và đang còn cách 3 hải lý (5,6 km) về phía tây của hạm đội chính, nên vượt ra khỏi tầm mắt. Chiến hạm HMS Culloden của Troubridge ở một khoảng cách khá xa đội hình chính và đang kéo theo một chiếc tàu buôn bị bắt. Trong tầm mắt của người Pháp, Troubridge bỏ con tàu kia lại và không ngừng hăng hái để tái gia nhập đội của Nelson. Do cần thiết phải để nhiều thủy thủ làm việc trên bờ, Brueys không triển khai các tàu chiến nhẹ hơn của ông như các chiếc tàu trinh sát, mà ông ta còn không thể nhanh chóng phản ứng trước sự xuất hiện bất ngờ của người Anh. Khi tàu của ông sẵn sàng cho chiến đấu, Brueys ra lệnh cho các thuyền trưởng tụ họp bàn sách lược trên Orient và vội vàng thu hồi thủy thủ của ông từ bờ, mặc dù hầu hết các đội thủy thủ đi kiếm lương thực vẫn không quay lại cho đến khi thời gian của trận đánh bắt đầu. Để thay thế cho họ, một số lượng lớn thuỷ thủ đã được đưa ra khỏi tàu frigate và bổ sung vào các tàu chiến tuyến. Brueys cũng hy vọng sẽ thu hút các hạm đội Anh vào bãi cát ngầm tại đảo Aboukir bằng cách tung các chiếc brig Alerte và Railleur để hoạt động như mồi nhử trong vùng nước nông. Vào lúc 16:00 hai chiếc Alexander và Swiftsure vẫn ở trong tầm mắt, mặc dù chỉ cách hạm đội chính của Anh một khoảng và Brueys đã cho lệnh bỏ kế hoạch thả neo và thay vào đó cho ra lệnh cho đội tàu của mình căng buồm lên. Blanquet phản đối lệnh với lý do là người Pháp không có đủ nhân lực để vừa căng buồm vừa bắn pháo. Nelson sau đó lệnh cho tàu đi đầu của mình chậm lại để cho phép các đội tàu tiếp cận với một đội hình có tổ chức. Việc này đã thuyết phục Brueys rằng chi bằng đánh liều một trận vào buổi tối ở vùng nước nông trong khi người Anh có lập kế hoạch để chờ ngày hôm sau. Vì thế, ông đã hủy bỏ lệnh dương buồm trước đó. Brueys có thể đã hy vọng rằng sự chậm trễ sẽ cho phép hạm đội của ông ta có thể vượt qua người Anh trong đêm và qua đó thực hiện theo mệnh lệnh của Bonarparte nếu có thể tránh được thì chớ nên động thủ với hạm đội Anh. Mệnh lệnh của Nelson được đưa ra vào lúc 16:00 là tiến chậm để cho tàu của ông có thể sắp sếp các cáp neo của họ, điều này cho phép họ đưa đi đưa lại các pháo mạn của mình khi đối mặt với kẻ thù bị thả neo bất động. Nó cũng làm giảm nguy cơ bị bắn vào cột buồm khi họ di chuyển vào vị trí. Kế hoạch của Nelson được định hình thông qua các cuộc thảo luận với thuyền trưởng cấp cao của ông trong suốt chuyến đi trở về Alexandria, là tiến về phía quân Pháp và tấn công từ phía biển đội hình tiền quân và trung tâm của đội hình tuyến của Pháp, sao cho mỗi tàu Pháp sẽ phải đối mặt với hai tàu của Anh và chiếc kỳ hạm Orient sẽ phải chiến đấu chống lại ba chiếc tầu đối phương. Hướng gió chỉ ra rằng đội hậu quân Pháp sẽ bị cắt ra từ phía sau và không thể dễ dàng tham gia vào cuộc chiến và sẽ bị cắt bỏ với phần phía trước của tuyến. Để đảm bảo rằng trong khói và sự dễ nhầm lẫn của một trận chiến đêm các tàu của ông sẽ không vô tình bắn vào nhau, Nelson đã ra lệnh cho rằng mỗi con tàu chuẩn bị bốn đèn ngang ở phần đầu cột buồm giữa của tầu của họ và cũng để chiếu sáng cờ hiệu trắng. Đó là sự khác nhau khi cờ của người Pháp có đủ ba màu rõ rằng người ta sẽ không bị lầm lẫn trong tầm nhìn hạn chế, giảm thiệu xác suất rằng tàu Anh sẽ bắn nhầm tàu Anh khác khi trời tối. Khi tất cả đã sẵn sàng cho trận đánh, Nelson đã tổ chức một bữa ăn tối cuối cùng với các sĩ quan của chiếc Vanguard và nói rằng: "Giờ này đêm mai, một là ta sẽ được ban cho chức khanh tướng hoặc tu viện Westminster",, ý nói là sẽ được ban thưởng khi thắng hoặc sẽ chết và được chôn cất ở nơi chôn cất truyền thống của những Anh hùng Anh tử chiến sa trường. Ngay sau khi lệnh căng buồm của Pháp lại bị huỷ bỏ, hạm đội Anh bắt đầu tiến lại gần một lần nữa và Brueys, bây giờ quyết định sẽ thực hiện một cuộc tấn công vào ban đêm nên ra lệnh cho các tàu của ông cũng đặt buộc dây neo của họ và chuẩn bị cho chiến đấu. Chiếc Alerte đã được gửi đi trước, đi qua gần các tàu hàng đầu của Anh và sau đó ngoặt nhanh về phía tây với hy vọng rằng các tàu của Anh có thể làm theo và bị mắc cạn. Không có thuyền trưởng nào của Nelson mắc phải mưu mẹo này và hạm đội Anh tiếp tục tiến lên một cách không nao núng. Lúc 17:30, Nelson ca ngợi một trong hai chiếc tàu hàng đầu của ông, chiếc HMS Zealous dưới thuyền trưởng Samuel Hood, vốn đang chạy đua với chiếc Goliath để là người đầu tiên nã pháo vào người Pháp. Đô đốc đã ra lệnh cho Hood tiến hành một di chuyển an toàn nhất vào bến cảng; người Anh không có bảng xếp hạng độ sâu hoặc hình dạng của vịnh, ngoại trừ một bản đồ họa thô mà chiếc Swiftsure đã thu được từ một thuyền trưởng tàu buôn, một tập bản đồ không chính xác của người Anh trên chiếc HMS Zealous và một bản đồ Pháp 35 năm tuổi trên tàu Goliath. Hood trả lời rằng ông sẽ đi cẩn thận dò độ sâu khi ông tiến lên để kiểm tra độ sâu của nước, và nói rằng: "Nếu như ngài ban cho tôi vinh dự dẫn người vào trận chiến, tôi sẵn sàng dẫn đầu." Ngay sau đó, Nelson phải tạm dừng để nói chuyện với chiếc HMS Mutine, mà chỉ huy của nó là Đại úy Hải quân Thomas Hardy vừa mới bắt được một hoa tiêu từ một tàu nhỏ ở Alexandrina. Chiếc Vanguard đến để chặn lại, các tàu phía sau đi chậm lại. Điều này gây ra một khoảng cách lớn giữa chiếc Zealous và Goliath và phần còn lại của đội tàu. Để cuộc tấn công này có hiệu lực, Nelson ra lệnh cho chiếc HMS Theseus dưới thuyền trưởng Ralph Miller vượt qua kỳ hạm của mình và tham gia cùng với chiếc Zealous và Goliath trong đội hình tiên phong. Vào lúc 18:00, hạm đội Anh đã được ra lệnh căng hết buồm, chiếc Vanguard là chiếc thứ sáu trong đội hình mười tàu, với chiếc Culloden bị dấu tít ở đằng sau về phía bắc và hai chiếc Alexander và Swiftsure phải di chuyển nhanh để bắt kịp về phía tây. Sau sự thay đổi nhanh chóng từ một đội hình không chặt trẽ để hình thành một tuyến, cả hai hạm đội kéo cao cờ của mình lên cột buồm, các tàu của Anh treo thêm chiếc Union Jack để đề phòng khi cờ chính bị bắn rơi. Lúc 18:20, chiếc Zealous và Goliath nhanh chóng lách qua hai tàu hàng đầu của Pháp là chiếc Guerrier và Conquérant và nổ súng. Mười phút sau khi nổ súng vào tàu Pháp, chiếc Goliath vượt qua phần đầu của tuyến người Pháp, bất chấp đạn bắn vào mạn phải từ pháo đài và từ chiếc Guerrier vào cửa tàu khi phần lớn chúng đều bị bắn quá cao để có thể gây khó khăn. Thuyền trưởng Thomas Foley nhận thấy là ông đã tiếp cận một kẽ hở không mong muốn giữa chiếc Guerrier và vùng nước nông. Bằng sự sáng tạo của mình, Foley đã quyết định sửa chữa lỗi chiến thuật này và cho thuyền đi xiên góc để có thể vượt qua khoảng trống này. Khi mũi của chiếc Guerrier vào trong phạm vi tầm bắn, chiếc Goliath nổ súng, các pháo mạn bắn đạn đôi gây thiệt hại nghiêm trọng trong khi tàu Anh quay sang mạn bên kia, phía mạn không được chuẩn bị gì của chiếc Guerrier. Thuỷ quân Anh và đại đội vệ binh người Áo của Foley tham gia vào trận chiến và nã súng hoả mai. Foley đã có dự định neo tàu ở cạnh tàu Pháp và áp chặt vào nó, nhưng dây neo của ông lại quá dài để hạ xuống và tàu của ông hoàn toàn trôi qua chiếc Guerrier. Chiếc Goliath cuối cùng dừng lại ở gần mũi của chiếc Conquérant, nổ súng vào đối thủ mới và sử dụng súng mạn phải bắn qua bắn lại với tàu frigate nhỏ Sérieuse và tàu tầu phóng bom Hercule đang được neo gần ở gần tuyến chính của người Pháp. Foley tấn công tiếp liên trong khi chiếc Zealous của Hood, cũng lách qua tuyến tàu của Pháp và neo thành công bên cạnh cạnh chiếc Guerrier vào đúng chỗ Foley đã định neo tàu, và bắt đầu tấn công vào mũi tàu Pháp từ cự ly gần. Trong vòng năm phút cột buồm mui của chiếc Guerrier gẫy, tạo nên sự kích thích tăng thêm nhuệ khí cho người Anh. Các thuyền trưởng người Pháp đã bị bất ngờ bởi tốc độ của tầu Anh nhưng vẫn ở trên boong của chiếc Orient và hội họp với các đô đốc khi trận đánh bắt đầu. Họ vội vàng xuống xuồng để trở về tàu của mình. Thuyền trưởng Jean-François-Timothée Trullet của chiếc Guerrier phải đứng dưới xuồng, hò hét ra lệnh người của mình bắn trả chiếc Zealous. Chiếc tàu thứ ba của Anh là chiếc HMS Orion tham gia tấn công dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Sir James Saumarez, họ đi vòng qua các tàu ở tuyến đầu và lách qua giữa tuyến chính và các tàu frigate neo gần bờ của Pháp. Khi ông ta làm như vậy, tàu frigate nhỏ Sérieuse nổ súng vào chiếc Orion, làm bị thương hai người. Theo quy ước trong hải chiến thời đó là tàu chiến tuyến không tấn công các tàu frigate nhỏ hơn khi có các tàu có kích cỡ tương đương để tấn công, nhưng trong loạt bắn đầu tiên, thuyền trưởng Pháp Claude-Jean Martin đã nhổ toẹt vào quy tắc này. Saumarez đợi cho đến khi chiếc frigate vào cự ly gần trước khi bắn trả. Orion chỉ cần nổ một loạt pháo mạn là hạ ngay một tàu frigate, chiếc tàu bị phá huỷ của Martin trôi đi trong vùng nước nông. Trong lúc chậm trễ do phải đi đường vòng này, hai tàu khác của Anh tham gia vào cuộc chiến, chiếc Theseus, được xem là một tàu chiến tuyến hạng nhất, đi theo đường vòng vượt qua chiếc Guerrier. Thuyền trưởng Miller cho tàu của mình đi xuyên qua giữa cuộc hỗn chiến của các tàu Anh và Pháp cho đến khi ông gặp con tàu thứ ba của Pháp là chiếc Spartiate. Neo xong, Miller cho nổ súng ở cự ly gần. Chiếc HMS Audacious dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Davidge Gould theo sau, thả neo giữa chiếc Guerrier và Conquérant và nã pháo vào cột buồm của chúng. Chiếc Orion sau đó tham gia vào cuộc tấn công ở xa hơn về phía nam so với dự định và bắn vào chiếc tàu thứ năm của Pháp là Peuple Souverain và chiếc Franklin của Đô đốc Blanquet. Ba tàu tiếp theo Anh do chiếc Vanguard dẫn đầu, theo sau là hai chiếc HMS Minotaur và HMS Defence, vẫn giữ đội hình tuyến chiến đấu và thả neo ở bên mạn phải của đội hình của người Pháp lúc 18:40. Nelson hướng kỳ hạm của ông vào chiếc Spartiate, trong khi thuyền trưởng Thomas Louis của chiếc Minotaur tấn công chiếc Aquilon và chiếc Defence của thuyền trưởng John Peyton tham gia vào cuộc tấn công vào chiếc Peuple Souverain. Lúc này, tiền quân của Pháp đã bị bao vây bởi rất nhiều tàu Anh. Sau đó hai chiếc tàu Anh là HMS Bellerophon và HMS Majestic đi xuyên qua chận hỗn chiến và tiến về phía đội trung tâm của Pháp cho đến lúc này vẫn chưa giao chiến. Cả hai tàu này phải chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn mình và bắt đầu thiệt hại nghiêm trọng: Thuyền trưởng Henry Darby trên chiếc Bellerophon lỡ mất dự định của ông là thả neo gần chiếc Franklin và thay vào đó tàu của ông lại đến đúng bên dưới khẩu đội pháo chính của chiếc kỳ hạm Pháp, trong khi thuyền trưởng George Blagdon Westcott trên chiếc Majestic cũng bị mất chỗ neo của mình và gần như va chạm với chiếc Heureux, và bị dính đạn nặng nề nặng từ chiếc Tonnant. Không thể dừng lại trong lúc này, chiếc tàu buồm tam giác của Westcott di chuyển xung quanh chiếc Tonnan, khiến họ bị lúng túng. Các tàu Pháp cũng bị trúng quá nhiều phát: Đô đốc Brueys trên chiếc Orient bị thương nặng nề ở vùng mặt và tay bởi các mảnh vỡ bay lung tung khi giao chiến vớii chiếc Bellerophon. Con tàu cuối cùng của hạm đội Anh, trong màn đêm đang lan nhanh, chiếc Culloden của Troubridge di chuyển đến quá gần đảo Aboukir và khiến nó bị mắc kẹt ở vùng nước nông. Bất chấp những nỗ lực vất vả từ thủy thủ đoàn của con tàu, từ tàu brig Mutine và tàu 50 pháo HMS Leander dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Thomas Thompson, con tàu chiến tuyến này vẫn không thể di chuyển được, những đợt sóng biển lại đẩy chiếc Culloden sâu thêm vào bãi ngầm gây hư hỏng nghiêm trọng cho thân tàu. === Tiền quân Pháp đầu hàng === Vào lúc 19:00 đèn nhận dạng tại cột buồm trung tâm của hạm đội Anh đã được thắp sáng. Vào thời gian này, chiếc Guerrier đã hoàn toàn bị gãy hết cột buồm và thiệt hại nặng nề: Hood để cho chiếc Zealous ở bên ngoài tầm của hầu hết các pháo mạn tàu Pháp và trong bất kỳ trường hợp nào các khẩu đội pháo ở đồng thời cả hai bên mạn của chiếc Guerrier đã không được chuẩn bị sẵn sàng cho một trận đánh khi mà tất cả các khẩu pháo đều bị đậy nắp. Mặc dù tàu của họ chỉ là còn là một cái xác đầy thương tích, các thủy thủy đoàn của chiếc Guerrier từ chối không chịu đầu hàng, họ vẫn tiếp tục bắn vài khẩu súng nhỏ mỗi khi có thể, bất chấp đạn hạng nặng bắn từ chiếc Zealous. Ngoài đại pháo hạng nặng của mình, Hood lệnh cho Thủy quân lục chiến Hoàng gia trên tàu của mình bắn bắn hàng tràng hỏa mai vào boong của tàu Pháp, xua thủy thủ đoàn ra khỏi tầm mắt nhưng vẫn thất bại trong việc đảm bảo an toàn cho sự đầu hàng của thuyền trưởng Trullet. Mãi cho đến 21:00, khi Hood gửi một chiếc thuyền nhỏ đển chiếc Guerrier với một đội thủy thủ nhảy lên boong, thì chiếc tàu Pháp cuối cùng mới chịu đầu hàng. Chiếc Conquérant bị đánh bại nhanh chóng, sau những loạt pháo mạn hạng nặng từ các tàu Anh đang vượt qua, và sự áp sát của chiếc Audacious và Goliath đã đánh gẫy cả ba cột buồm trước 19:00. Với con tàu bất động và hư hỏng nặng của mình, vị thuyền trưởng Etienne Dalbarade đang bị thương nặng cho lệnh vẫy cờ đầu hàng. Và một đội thủy thủ Anh đổ bộ lên boong và nắm quyền kiểm soát con tàu. Không giống như chiếc Zealous, các tàu của Anh tham gia tấn công đã bị hư hại khá nghiêm trọng, chiếc Goliath mất phần lớn buồm của nó, cả ba cột buồm đều bị hư hỏng và có hơn 60 thương vong. Với những đối thủ mà ông đánh bại, Thuyền trưởng Gould trong chiếc Audacious neo lại thuyền để nã pháo vào chiếc Spartiate, chiếc tiếp theo trong tuyến người Pháp. Ở phía tây của trận đánh, chiếc Serieusé chìm trong bãi nước nông, cột buồm nhô ra từ mặt nước và những người còn sống sót tranh giành các xuồng cứu sinh và bơi vào bờ. Việc chiếc tầu Audacious dùng pháo mạn để bắn chiếc Spartiate có nghĩa rằng thuyền trưởng Maurice-Julien Emeriau bây giờ đã phải đối mặt với ba đối thủ. Trong vòng vài phút cả ba cột buồm đã gẫy, nhưng các trận đánh trên tàu vẫn tiếp tục cho đến 21:00, khi đó do bị thương nặng, Emeriau mới cho phất cờ chấp nhận đầu hàng. Mặc dù chiếc Spartiate bị áp đảo bởi số lượng đối thủ lớn hơn, con tàu này thỉnh thoảng được hỗ trợ bởi chiếc tiếp theo trong tuyến, Aquilon, mà đây là chiếc duy nhất của Hải đội tiên phong Pháp chỉ phải giao tranh với một đối thủ, chiếc Minotaur. Thuyền trưởng Henri-Alexandre Thévenard cho neo tàu của mình để tạo góc bắn pháo mạn của mình vào một vị trí bắn thia lia vào mũi chiếc kỳ hạm của Nelson, kết quả khiến hơn 100 thương vong, trong đó có cả vị đô đốc. Vào lúc khoảng 20:30, con mắt bên phải của Nelson bị mù mắt bởi một mảnh vụn sắt bắn tung gây ra bởi một loạt bắn của chiếc Spartiate. Vết thương tạo ra một miếng da lòng thòng trên mặt của ông, ông ta tạm thời bị mù hoàn toàn. Nelson ngã vào cánh tay của thuyền trưởng Edward Berry và được đặt nằm ở dưới đất. Cho rằng vết thương của ông sẽ gây tử vong, ông khóc và nói "Ta chết rồi, ngươi hãy nhớ chăm sóc vợ ta" và cho gọi tu sĩ Stephen Comyn tới. Vết thương đã được kiểm tra ngay lập tức bởi bác sĩ phẫu thuật Michael Jefferson từ chiếc Vanguard, người đã thông báo với đô đốc rằng nó chỉ là một vết thương phần mềm đơn giản và khâu vết thương ngoài da với nhau.. Jefferson khuyên Nelson nên tĩnh dưỡng và không hoạt động nhưng Nelson phớt lờ, lại còn trở lại boong chỉ huy ngay trước khi vụ nổ trên chiếc Orient xảy ra để giám sát việc kết thúc các giai đoạn của trận đánh. Mặc dù đã giành được một số thành công, chiếc Aquilon quay vòng mũi tàu tại ngay vị trí của mình dưới làn đạn của chiếc Minotaur và đến 21:25, tàu Pháp đã hoàn toàn bị gãy hết cột buồm và thiệt hại nặng nề, Thuyền trưởng Thévenard thiệt mạng và các sĩ quan của ông buộc phải đầu hàng. Sau khi đánh bại đối thủ của mình, thuyền trưởng Thomas Louis của chiếc Minotaur tiến về phía nam tham gia các cuộc tấn công vào chiếc Franklin. Chiếc tàu thứ năm của Pháp, Peuple Souverain bị tấn công từ cả hai bên hoặc bởi chiếc Defence hoặc chiếc Orion và nhanh chóng bị mất phần mũi và cột buồm chính. Thuyền trưởng Saumarez mặc dù bị thương ở đùi bằng một mảnh gỗ bị bắn văng ra từ một trong những cột buồm của chiếc Orion và nó cũng giết chết hai người lính thủy khác trước khi làm ông ta bị thương. Trên chiếc Peuple Souverain, thuyền trưởng Pierre-Paul Raccord bị thương nặng, đã ra lệnh cắt cáp neo tàu của ông trong một nỗ lực để thoát khỏi trận pháo kích và Peuple Souverain trôi dạt về phía nam của kỳ hạm Orient. Do trời tối mờ mịt, chiếc Orient đã không nhận ra tàu của mình và đã lỡ nã đạn vào nó. Chiếc Orion và Defence không thể ngay lập tức theo đuổi. Defence đã mất cột buồm trước của nó và Orion suýt bị phá hủy bởi một hoả thuyền tình cờ trôi dạt vào trận đánh. Nguồn gốc của con tàu này là một con tàu bị bỏ lại và đốt cháy bằng hắc ín và với các vật liệu dễ cháy, không chắc chắn chiếc tàu này là của bên nào nhưng nó có thể đã được phóng ra từ chiếc Guerrier khi trận chiến bắt đầu. Chiếc Peuple Souverain neo không xa chiếc Orient và không tham gia thêm vào một cuộc giao tranh nào nữa. Các chiếc tàu đắm đầu hàng vào ban đêm. Franklin vẫn tiếp tục chiến đấu, nhưng Blanquet đã bị một vết thương nghiêm trọng ở đầu còn Thuyền trưởng Gillet thì đã được cáng đi dưới tình trạng bất tỉnh khi dính thương nặng. Ngay sau đó, một đám cháy xảy ra trên boong lái sau khi một kho chữa vũ khí phát nổ, mà rồi cuối cùng cũng đã được dập tắt với những nỗ lực của thuỷ thủ đoàn. Về phía Nam, chiếc Bellerophon gặp rắc rối nghiêm trọng với hệ thống pháo mạn cực khủng của chiếc Orient, chúng đã đánh nát con tàu này. Vào lúc 19:50, các buồm giữa và buồm chính đều đổ gục và cháy nổ xảy ra đồng thời ở một vài chỗ. Mặc dù đã được dập tắt các đám cháy, nhưng chiếc tàu đã có hơn 200 thương vong. Thuyền trưởng Darby công nhận rằng vị trí của ông đã không thể tự bảo vệ và đã ra lệnh cắt dây neo lúc 20:20, con tàu mang đầy thương tích trôi ra khỏi cuộc chiến và tiếp tục dính đạn từ chiếc Tonnant làm cột buồm mui của nó cũng sụp đổ nốt. Chiếc Orient cũng bị hư hại đáng kể và Đô đốc Brueys đã bị bắn trúng vào cơ hoành bằng bằng một viên đạn hình cầu cắt gần một nửa người của ông. Đô đốc Pháp có mười lăm phút hấp hối trước khi chết, ông vẫn cố nằm lại trên boong và từ chối được cáng xuống boong dưới bởi người của mình. Thuyền trưởng Luc-Julien-Joseph Casabianca của chiếc Orient cũng đã bị thương trúng vào mặt bằng mảnh gỗ vỡ bay và bất tỉnh, trong khi đứa con 12 tuổi của ông bị bắn bay mất chân khi đang đứng cạnh cha. Chiếc tàu Anh cuối cùng lao vào tấn công là chiếc Majestic, trong một khoảng thời gian ngắn vướng mắc vào chiếc tầu 80 pháo Tonnant của Pháp, thuyền trưởng Westcott cũng đã bị giết bởi súng hỏa mai Pháp. Trung úy Robert Cuthbert được chỉ định làm thuyền trưởng và ra lệnh tách tàu của mình ra, cho phép chiếc Majestic bị hư hỏng nặng trôi dạt về phía nam đến 20:30 nó đã nằm ở giữa chiếc Tonnant và chiếc Heureux ở hàng tiếp theo. Để hỗ trợ đội hình trung tâm, thuyền trưởng Thompson của chiếc Leander từ bỏ những nỗ lực vô ích để kéo chiếc Culloden ra khỏi vùng nước nông và đi vào thế trận của tuyến tàu Pháp, qua khoảng trống được tạo ra bởi chiếc Peuple Souverain bị thả trôi và nổ những loạt pháo kinh hồn vào buồm của chiếc Franklin và Orient. Trong khi trận đánh đang diễn ra một cách cuồng bạo ở trong vịnh, hai chiếc tàu không còn thứ tự của Anh không ngừng tiến lên để tham gia chiến đấu, chúng tập trung vào những ánh sáng nhấp nháy của pháo trong bóng tối. Được cảnh báo về vùng nước nông ở Aboukir từ chiếc Culloden, thuyền trưởng Benjamin Hallowell trong chiếc Swiftsure đi xuyên qua các trận hỗn chiến ở phần đầu của tuyến tàu này và nhằm tàu của ông vào đội hình trung tâm của Pháp. Ngay sau lúc 20:00, một thân tầu gãy hết cột buồm đã được phát hiện trôi trước mặt chiếc Swiftsure, Hallowell bước đầu ra lệnh cho người của mình trước khi hủy bỏ mệnh lệnh, quan tâm về dạng của chiếc tàu lạ ông ta cho gọi tới tấp, Hallowell nhận được câu trả lời "Bellerophon, đã rút khỏi trận đánh vì không còn lực chiến đấu." Để chắc chắn rằng ông đã không tấn công nhầm lẫn một tàu của quân mình trong bóng tối, Hallowell cho tàu mình lách qua chiếc Orient và Franklin và nổ súng vào cả hai. Chiếc Alexander, chiếc tàu Anh cuối cùng chưa tham chiến bơi lại gần chiếc Tonnant, lúc này nó đã bắt đầu trôi dạt ra khỏi vị trí bên cạnh chiếc kỳ hạm Pháp. Sau đó thuyền trưởng Alexander Ball ra lệnh tham gia vào cuộc tấn công vào chiếc Orient. === Đánh chìm Kỳ hạm Orient === Lúc 21:00, người Anh phát hiện ra ngọn lửa phát ra ở sàn dưới hơn của chiếc Orient (kỳ hạm Pháp). Nhận ra mối nguy hiểm này đối với chiếc kỳ hạm Pháp, thuyền trưởng Hallowell chỉ đạo người của mình nã pháo của họ trực tiếp vào ngọn lửa này, làm nó lây lan khắp tàu và ngăn chặn những nỗ lực để dập tắt nó. Trong vòng vài phút ngọn lửa đã cháy lên và làm chiếc buồm rộng lớn bốc cháy, con tàu chuyển thành một địa ngục trần gian. Các tàu Anh gần nhất là chiếc Swiftsure, Alexander và Orion, tất cả đều ngừng bắn, cho đóng lại các nắp pháo và cố gắng lượn xa khỏi chiếc kỳ hạm đang bốc cháy với dự đoán rằng sẽ có vụ nổ khi có khối lượng lớn đạn dược được lưu trữ trên boong tầu. Tương tự như vậy các tàu Pháp khác như chiếc Tonnant, Heureux và Mercure tất cả đều cắt dây neo và trôi dạt về phía nam ra khỏi xác chiếc tàu cháy. Lúc 22:00 ngọn lửa lan vào kho đạn và chiếc tàu bị nổ tung bởi một vụ nổ lớn. Những chấn động của riêng vụ nổ này đủ để xé toạc các mạch của các tàu gần nhất, và đống đổ nát cháy rực đã rơi xuống thành một vòng tròn lớn, phần những mảnh vụn bay xung quanh thành ngoài của các tàu ở quanh đó. Các chiếc Swiftsure, Alexander và Franklin tất cả đã bị bắt phải lửa khi đống đổ nát của chiếc Orient rơi xuống. Trong tất cả các trường hợp này, các thủy thủ đã chuẩn bị sẵn xô chậu trên tay đã thành công trong việc dập lửa, mặc dù chiếc Franklin cũng bị dính một vụ nổ nhỏ. === Sáng ngày hôm sau === == Hậu quả == === Phản ứng === === Tác động === === Di sản === == Chú thích == == Tham khảo == ==== Trích dẫn ==== ==== Tham khảo ==== == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Battle of the Nile tại Wikimedia Commons Hannay, David (1911). “Nile, Battle of the”. Trong Chisholm, Hugh. Encyclopædia Britannica 19 (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge. tr. 699–700.
việt minh.txt
Việt Nam độc lập đồng minh (tên chính thức trong nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương), còn gọi là Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh, là liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập vào ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích công khai là "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Do Việt Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam xem là một hình thức mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam nên còn được gọi là Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, Mặt trận Việt Minh. Mặt trận dân tộc thống nhất là mặt trận thống nhất do các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái quốc nội kết thành nhằm tiến hành cách mạng dân tộc, chống lại sự xâm lược và áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.. Trước đó, đã có một tổ chức chính trị chống đế quốc của người Việt Nam ở nước ngoài có tên gọi tương tự là Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập năm 1936 ở Nam Kinh (Trung Quốc). Theo Hoàng Văn Hoan, Hồ Chí Minh chủ trương lấy danh nghĩa hội này và mời Hồ Học Lãm làm chủ trì để dựa vào mà hoạt động. Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "giải tán", nó là một tổ chức chính trị tham gia bầu cử và nắm chính quyền, là thành viên của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, sau lại tách ra, tồn tại đến năm 1951. Trong cuộc chiến với người Pháp, Việt Minh là một vũ khí chính trị hiệu quả do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập nhằm thu hút mọi tầng lớp người dân, kể cả những người không Cộng sản tham gia chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. == Thành lập == Tháng 10/1940, tại Quế Lâm, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội gọi tắt là Việt Minh do Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần và một số chính trị gia khác thành lập năm 1936, đồng thời mời ông Hồ Học Lãm đứng ra chủ trì để các đảng viên cộng sản Việt Nam tại Trung Quốc có danh nghĩa hợp pháp để hoạt động. Chủ trương này xuất phát từ chỗ Việt Minh là một tổ chức không phải là cộng sản và người sáng lập của tổ chức này là Hồ Học Lãm có quan hệ tốt với Nguyễn Ái Quốc. Những đảng viên cộng sản Việt Nam giới thiệu với Lý Tề Thâm, chủ nhiệm hành dinh khu Tây Nam Trung Hoa Quốc dân Đảng, rằng Việt Minh là tổ chức chính trị lớn bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng Cộng sản Đông Dương có ảnh hưởng trong giai cấp công nhân thành thị còn Việt Minh hoạt động chủ yếu trong các tầng lớp trên ở nông thôn. Người đồng sáng lập Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội là Nguyễn Hải Thần tuy không đồng ý với việc người cộng sản lợi dụng danh nghĩa Việt Minh để hoạt động nhưng vẫn hoạt động trên danh nghĩa Việt Minh.. Trước tình hình Chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan rộng và ác liệt, đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định về nước. Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng của Đảng Cộng sản Đông Dương, họp vào cuối tháng 4 năm 1941, dưới sự chủ tọa của Hoàng Văn Thụ và Vũ Anh, đã khẳng định công tác xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc đạt kết quả tốt, chứng tỏ chủ trương hoạt động trên danh nghĩa Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc là hoàn toàn đúng đắn. Sau một thời gian nắm tình hình và chuẩn bị, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Hội nghị đã xác định cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng và chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Ngoài ra, hội nghị cũng hoàn chỉnh hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng được đề ra từ hội nghị VI vào tháng 11 năm 1939 là nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thay cho Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản Đế Đông Dương (thành lập theo Quyết nghị của Hội nghị trung ương 6 - khóa 1, tháng 11 năm 1939). Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 bế mạc, một đại hội (ngày 19-5-1941) gồm đại diện đảng Cộng sản và các tổ chức quần chúng thành lập chính thức Việt Minh. Ngoài Đảng Cộng sản, các tổ chức tham gia lần lượt có (thời gian đầu): Đảng Cách mệnh An Nam, Việt Nam Quốc dân Cách mệnh Đảng, Đảng Quốc gia Cách mệnh An Nam, Phục quốc Hội, Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội, Đảng Đại Việt Quốc xã, Đảng Hưng Việt, Đảng Đại Việt, Việt Cách… Theo báo Cứu quốc "nhà đại ái quốc Hồ Chí Minh, ròng rã ba mươi năm nay bị mật thám thuộc địa truy nã, từ trong bóng tối nhảy ra, có một nhãn quan chính trị hết sức minh mẫn, ông đề nghị với người Pháp ở Đông Dương lập một mặt trận chung chống phát xít. Việt Minh, hay là mặt trận chung chống phát xít dành độc lập, ra đời" nhưng chính quyền thuộc địa về phe phát xít. == Cương lĩnh == Tháng 9 năm 1941, văn kiện Chương trình Việt Minh kèm theo điều lệ của một số hội cứu quốc đã được soạn thảo, coi như phụ lục của Nghị quyết hội nghị tháng 5 năm 1941. Ngày 25 tháng 10, Tổng bộ Việt Minh chính thức Chương trình Việt Minh để phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Văn kiện này nhấn mạnh tới những mục tiêu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc: Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do Chương trình của Việt Minh được Nguyễn Ái Quốc soạn thành một bài thơ dài theo thể song thất lục bát gồm 212 câu và được Bộ tuyên truyền Việt Minh xuất bản. Tháng 8 năm 1942, Tòa soạn báo Việt Nam độc lập phát hành cuốn Ngũ tự kinh (kinh 5 chữ) dùng văn vần để phổ biến chương trình của Việt Minh. Ngày 15 tháng 3 năm 1944, Bộ Tuyên truyền Cổ động Việt Minh cho in một tập sách bao gồm: Tuyên ngôn, Chương trình (đã được bổ sung) và Điều lệ của Mặt trận Việt Minh. Chủ trương cụ thể: - Chủ trương liên hiệp hết thảy các từng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở. Việt Nam Độc lập Đồng minh lại còn hết sức giúp đỡ Ai Lao Độc lập Đồng minh và Cao Miên Độc lập Đồng minh để cùng thành lập Đông Dương Độc lập Đồng minh hay là mặt trận thống nhất dân tộc phản đế toàn Đông Dương để đánh được kẻ thù chung giành quyền độc lập cho nước nhà. - Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng nǎm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra sẽ thi hành những nhiệm vụ như sau: Chính trị Phổ thông đầu phiếu vô luận nam nữ hễ ai từ 18 tuổi trở lên được quyền bầu cử, ứng cử. Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong xứ và xuất dương. Tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võ trang dân chúng để thẳng tay trừng trị bọn Việt gian phản quốc, giữ vững chính quyền cách mạng. Tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, Nhật và bọn Việt gian phản quốc. Toàn xá chính trị phạm và thường phạm. Nam nữ bình quyền. Tuyên bố các dân tộc được quyền tự quyết. Liên lạc mật thiết với các dân tộc thiểu số và nhất là Tàu, Ấn Độ, Cao Ly. Kinh tế Bỏ thuế thân và các thuế do Pháp, Nhật đặt ra, lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng. Quốc hữu hoá ngân hàng của đế quốc Pháp, Nhật, lập nên quốc gia ngân hàng thống nhất. Mở mang kỹ nghệ, giúp đỡ thủ công nghiệp làm cho nền kinh tế quốc gia được phát triển. Dẫn thuỷ nhập điền, bồi đắp đê điều làm cho nền nông nghiệp được phồn thịnh. Cho dân chúng tự do khai khẩn đất hoang có chính phủ giúp đỡ. Quan thuế độc lập. Mở các đường giao thông như đường sá, cầu cống, v.v.. Vǎn hoá Huỷ bỏ giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bực sơ đẳng, cho các dân tộc được quyền dùng tiếng mẹ đẻ mình, phổ thông trong việc giáo dục mình. Lập các trường chuyên môn quân sự, chính trị, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài. Giúp đỡ và khuyến khích các hạng trí thức để họ được phát triển tài nǎng của họ. Xã hội Thi hành ngày làm tám giờ. Giúp đỡ cho gia đình đông con. Lập ấu trĩ viện để chǎm nom trẻ con. Lập nhà diễn kịch, chớp bóng, câu lạc bộ để nâng cao trình độ tri thức của nhân dân. Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân. Ngoại giao Huỷ bỏ tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký bất kỳ với nước nào. Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hoà bình. Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền lợi của nước Việt Nam. Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới. Đối với các lớp nhân dân Công nhân: Ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, công việc như nhau thì tiền lương ngang nhau. Cứu tế thất nghiệp xã hội, bảo hiểm, cấm đánh dập, chửi mắng thợ, thủ tiêu giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí. Nông dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa. Binh nhân: Hậu đãi những người có công giữ gìn Tổ quốc phụ cấp cho gia đình họ được đầy đủ. Học sinh: Bỏ học phí, bỏ giấy khai sinh, hạn tuổi, giúp đỡ học sinh nghèo. Phụ nữ: Đàn bà được bình đẳng với đàn ông về mọi phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, vǎn hoá. Thương nhân: Bỏ ba tǎng môn bài và các thứ thuế khác do Pháp đặt ra. Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập. Những người già và tàn tật được chính phủ chǎm nom cấp dưỡng. Nhi đồng được chính phủ chǎm nom về trí dục và thể dục. Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc. == Tổ chức == Việt Minh cũng công bố luôn Tuyên ngôn và Điều lệ, nói rõ tôn chỉ, mục đích của mình:"Liên hiệp hết thảy tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật-Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa." Tôn chỉ đó đã quy định điều kiện gia nhập Việt Minh:"Việt Minh kết nạp từng đoàn thể, không cứ đảng phái, đoàn thể nào của người Việt Nam hay của các dân tộc thiểu số sống trong nước Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo và xu hướng chính trị, hễ thừa nhận mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh và được Tổng bộ Việt Minh thông qua, thời được gia nhập Việt Minh." Về tổ chức, Mặt trận có một cơ chế riêng, khác hẳn với cơ chế tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương. Về hệ thống tổ chức, ở các xã có Ban chấp hành Việt Minh do do các đoàn thể Việt Minh ở làng hay xã cử ra; tổng, huyện (hay phủ, châu, quận), tỉnh, kì có Ban chấp ủy Việt Minh cấp ấy; Việt Minh toàn quốc có Tổng bộ. Ngoài những đoàn thể cứu quốc có tính chất chính trị, cách mạng rõ rệt (như Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc,...) còn có những đoàn thể không có điều lệ, hoạt động công khai và bán công khai như Hội cứu tế thất nghiệp, Hội tương tế, Hội hiếu hỉ, nhóm học Quốc ngữ, nhóm đọc sách, xem báo,... Chỉ thị về công tác của Ban chấp hành Trung ương ngày 1 tháng 12 năm 1941 đã chỉ rõ: "Cần phải chú ý không nên dùng phương pháp Đảng mà tổ chức quần chúng, vì Đảng là một tổ chức gồm những phần tử giác ngộ nhất, hăng hái, trung thành nhất, hoạt động nhất của vô sản giai cấp. Tổ chức của Đảng cần phải chặt chẽ và nghiêm ngặt. Còn những tổ chức quần chúng phải rộng rãi, nhẹ nhàng"." Tổng bộ Việt Minh theo một tài liệu của Mỹ, từ 6/1945 đến giữa 1946 có Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh và Hồ Tùng Mậu, không có Chu Văn Tấn và Trần Đăng Ninh thành viên trong các ủy ban quan trọng, và Lê Thanh Nghị và Văn Tiến Dũng, trong ủy ban quân sự cách mạng. == Mối quan hệ với Đảng Cộng sản Đông Dương == Trong quan hệ với Việt Minh, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định: "Đảng ta cũng là một bộ phận trong mặt trận phản đế Đông Dương, bộ phận trung kiên và lãnh đạo"", là "một bộ phận linh động nhất trong Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật-Pháp. Ngày 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán khi Pháp, Trung hoa dân quốc và các đồng minh của họ muốn tiêu diệt đảng, đi vào hoạt động bí mật và thành lập tổ chức công khai của Đảng là Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương đồng thời đóng cửa tờ báo Cờ giải phóng. Thông cáo Đảng Cộng sản Đông Dương tự ý giải tán, ngày 11-11-1945: 1- Cǎn cứ vào điều kiện lịch sử, tình hình thế giới và hoàn cảnh trong nước, nhận rằng lúc này chính là cơ hội nghìn nǎm có một cho nước Việt Nam giành quyền hoàn toàn độc lập; 2- Xét rằng: muốn hoàn thành nhiệm vụ dân tộc giải phóng vĩ đại ấy, sự đoàn kết nhất trí của toàn dân không phân biệt giai cấp, đảng phái là một điều kiện cốt yếu; 3- Để tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc; 4- Để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ngày 11 tháng 11 nǎm 1945, nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Những tín đồ của chủ nghĩa cộng sản muốn tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa sẽ gia nhập "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương" Sau khi Đảng Cộng sản tuyên bố tự giải tán, phần lớn đảng viên cộng sản chuyển sang hoạt động bí mật và trên danh nghĩa Việt Minh; một số ít tham gia Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương để hoạt động công khai. Các lãnh đạo Đảng cộng sản tham gia Quốc hội và Chính phủ như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu... cũng với tư cách là thành viên Việt Minh. Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương cũng là một tổ chức thành viên của Việt Minh. Tuy nhiên Việt Minh không chỉ có tổ chức thành viên là Đảng Cộng sản Đông Dương và các đoàn thể cứu quốc mà còn có các đảng phái cách mạng theo đường lối khác. Năm 1941 Đại hội thành lập Việt Minh thiết lập liên minh chống phát xít của người Việt ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương, có Tân Việt Nam đảng (Tân Việt đảng), Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam, một phần Việt Nam Quốc dân Đảng, một số hội giải phóng dân tộc... góp phần vào việc nâng cao uy tín Mặt trận. Một trong những biểu hiện rõ nét là vào năm 1943, Đảng đưa ra "Đề cương Văn hóa Việt Nam", tập hợp đông đảo những nhà văn hóa, văn nghệ, trí thức. Trên cơ sở đó, cuối năm 1944, Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam ra đời, trở thành một thành viên của Mặt trận Việt Minh. Tháng 6 năm 1944, Đảng Cộng sản Đông Dương giúp cho một số trí thức thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam. Đảng Dân chủ Việt Nam gia nhập Việt Minh một thời gian ngắn rồi tách ra do mâu thuẫn với Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 12 năm 1946, đảng Dân chủ Việt Nam lại gia nhập Việt Minh. Đảng Cộng sản Đông Dương còn mở rộng Mặt trận Việt Minh trong việc liên lạc với một số người cộng sản và cánh tả thuộc Đảng Xã hội Pháp trong quân đội lê dương và giới công chức Pháp ở Việt Nam. Nhưng do quan điểm khác nhau nên kế hoạch lập Hội của Đảng thất bại. Đảng còn tranh thủ sự giúp đỡ của các lực lượng chống Nhật ở Trung Quốc, vận động thành lập Mặt trận Trung-Việt liên minh, đặt quan hệ hợp tác với Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (và một thời gian nhập vào tổ chức này trên danh nghĩa)- một tổ chức chính trị của người Việt Nam ở Trung Quốc để tranh thủ đoàn kết rộng rãi với những người Việt yêu nước hoạt động ở Trung Quốc. Ở Nam Kì, các cán bộ Đảng trong khi tập hợp lực lượng đã vận động được nhiều đảng phái khác tham gia Việt Minh. Kì bộ Việt Minh Nam Kì bao gồm Đảng Cộng sản Đông Dương, Tân Dân chủ, Tổng công đoàn, Thanh niên tiền phong, Việt Nam quốc gia, Cao Đài hợp nhất, Việt Nam cứu quốc đoàn (Kì bộ cũ của Việt Minh), Quốc gia độc lập, Công giáo, Thanh niên nghĩa dũng đoàn. Vào cuối năm 1944, Việt Minh tuyên bố tổng số thành viên là 500.000 người, trong đó có 200.000 người ở Bắc Kỳ, 150.000 người ở Trung Kỳ, và 150.000 người tại Nam Kỳ. Trong suốt quá trình vận động cách mạng từ hội nghị 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đến Cách mạng Tháng Tám, những chủ trương nghị quyết của Đảng nhằm xây dựng lực lượng cách mạng đều được quán triệt trong các văn kiện của Mặt trận Việt Minh. Về thực tế Đảng Cộng sản Đông Dương còn lãnh đạo chi bộ đảng ngoài Việt Nam, như Lào, Miên, và sau khi tách các chi bộ này ra, để thành lập ba đảng riêng năm 1951, cùng với thành lập Liên Việt trên cơ sở hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt, cũng thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào (do Tôn Đức Thắng làm chủ tịch) nhằm phối hợp cách mạng ba nước, tiến tới giành độc lập cho mỗi nước. == Hợp tác với cơ quan tình báo Mỹ OSS == Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh gặp Trung tướng Mỹ Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc). Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Còn Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật. Theo Hồ Chí Minh, việc được tướng Chennault tiếp kiến được xem là một sự công nhận chính thức của Mỹ, là bằng chứng cho các đảng phái Quốc gia thấy Mỹ ủng hộ Việt Minh. Người Mỹ xem đây chỉ là một mưu mẹo của Hồ Chí Minh nhưng ông cũng đã đạt được kết quả. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn sử dụng các tổ chức cách mạng người Việt vào các hoạt động quân sự chống Nhật tại Việt Nam, ông đã thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đồng thời chỉ thị cho Việt Minh làm tất cả để giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho OSS, tiến hành một số hoạt động tuyên truyền cho Trung Hoa Dân Quốc và OWI. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh. Ngày 16 tháng 7 năm 1945, nhóm Con Nai thuộc cơ quan tình báo Mỹ OSS do thiếu tá Thomas chỉ huy nhảy dù xuống vùng lân cận làng Kim Lung cách Tuyên Quang 20 dặm về phía đông. Nhóm tình báo Con Nai được lực lượng Việt Minh tại Tuyên Quang gồm khoảng 200 người đón tiếp. Trong vòng một tháng, nhóm Con Nai đã huấn luyện cho lực lượng Việt Minh cách sử dụng những vũ khí Mỹ và chiến thuật du kích. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhóm Con Nai cùng Việt Minh về Hà Nội và tham dự lễ thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thông qua mối quan hệ với OSS, Việt Minh đề nghị Mỹ biến Đông Dương thành một xứ bảo hộ của Mỹ và yêu cầu Mỹ can thiệp với Liên Hiệp Quốc để gạt người Pháp và người Trung Quốc ra ngoài kế hoạch chiếm đóng tại Đông Dương của Đồng Minh. Việt Minh lo sợ Trung Quốc sẽ trở thành những kẻ chiếm đất đai ở Đông Dương, sống bằng cướp bóc và tước đoạt. Tổng bộ Việt Minh ở Hà Nội gửi một công hàm cho Chính phủ Mỹ để giải thích lập trường của họ. Trong đó có đoạn viết: "Nếu người Pháp mưu toan trở lại Đông Dương để hòng cai trị đất nước này và một lần nữa lại đóng vai những kẻ đi áp bức thì nhân dân Đông Dương sẵn sàng chiến đấu đến cùng chống lại việc tái xâm lược đó của Pháp. Mặt khác, nếu họ đến với tư cách là những người bạn để gây dựng nền thương mại, công nghiệp mà không có tham vọng thống trị thì họ sẽ được hoan nghênh như bất kỳ cường quốc nào khác." Tổng bộ Việt Minh muốn báo cho cho Chính phủ Mỹ biết nhân dân Đông Dương yêu cầu trước hết là nền độc lập của Đông Dương và mong rằng nước Mỹ sẽ giúp đỡ họ giành lại độc lập bằng những cách sau đây: Ngăn cấm hoặc không giúp đỡ người Pháp quay trở lại Đông Dương bằng vũ lực. Kiểm soát người Trung Quốc để hạn chế đến mức thấp nhất các cuộc cướp bóc, tước đoạt. Cho các chuyên viên kỹ thuật sang giúp người Đông Dương khai thác các nguồn tài nguyên đất đai Phát triển các ngành kỹ nghệ mà Đông Dương có khả năng cung ứng. Hồ Chí Minh cố gắng thuyết phục Mỹ tiếp tục chính sách chống thực dân của Mỹ đối với Đông Dương. Ông tìm cách làm Mỹ tin rằng ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Thông qua OSS, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một bức điện cho Tổng thống Mỹ Truman yêu cầu Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời đồng thời Mỹ và Chính phủ Lâm thời sẽ có đại diện trong Ủy ban Liên tịch các nước Đồng Minh giải quyết các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Việt Minh hy vọng tranh thủ được sự có mặt của Mỹ trong cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Pháp về Đông Dương vì hai nước này có thể làm nguy hại đến nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đồng thời khuyến khích các nước Đồng Minh công nhận Chính phủ Lâm thời là đại diện duy nhất và hợp pháp của Việt Nam trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền của Việt Nam. Việt Minh lo ngại việc không được các nước Đồng Minh công nhận sẽ làm suy yếu địa vị lãnh đạo của họ và có lợi cho Việt Cách, Việt Quốc trong việc thành lập chính phủ của các lực lượng này. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức này cũng không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Trước mắt, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, bù nhìn của Moscow vì ông đã ở Moscow nhiều năm nhưng ông không phải là người cộng sản theo nghĩa Mỹ hiểu mà là nhà cách mạng hoạt động độc lập. Tuy nhiên Mỹ không đáp lại nguyện vọng của Hồ Chí Minh. Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh. == Lãnh đạo nhân dân giành chính quyền == Theo Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, kể từ khi Việt Minh ra đời, "toàn bộ phong trào chống phát xít Pháp-Nhật của nhân dân ta mang tên Phong trào Việt Minh, cái tên tiêu biểu cho lòng yêu nước, chí quật cường của dân tộc ta." Tổ chức này giành quyền và thành lập chính quyền với tên Khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh năm 1944. Năm 1945, khi Nhật vừa đầu hàng phe Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim vừa thành lập, Việt Minh là lực lượng chính trị quan trọng tổ chức một số cuộc biểu tình trên cả nước và tuyên bố thành lập chính quyền. Quốc dân Đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp ở Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh, tuyên bố thành lập chính phủ lâm thời của Việt Minh, khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi người Pháp tái chiếm Đông Dương, Việt Minh chuyển mục tiêu sang đấu tranh giành lại toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ cho Việt Nam từ tay của thực dân Pháp. == Thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa == Thời gian đầu năm 1946, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Văn Hoan lui vào hoạt động bí mật. Hoạt động công khai với danh nghĩa là thành viên Việt Minh gồm có chủ tịch Hồ Chí Minh, các ông Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam, Hồ Tùng Mậu, và Nguyễn Lương Bằng. Về mặt công khai, trong một thời gian ngắn nhóm Mác-xít độc lập với Việt Minh. Thành viên Việt Minh không công khai là người Mác-xít. Theo các tài liệu chính thống của nhà nước Việt Nam, chủ nhiệm Tổng bộ một thời gian dài là Hoàng Quốc Việt. Cơ quan ngôn luận là báo Cứu quốc. Việt Minh lãnh đạo chính phủ trung ương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi được thành lập cho đến khi chiến tranh Đông Dương kết thúc. Đảng Lao động chính thức xác nhận vai trò lãnh đạo năm 1951. Một số ít thành viên Việt Minh chuyển sang ủng hộ cho Quốc gia Việt Nam khi Việt Minh ngả sang khuynh hướng thân Liên Xô - CHND Trung Hoa công khai. Tại miền Nam, Việt Minh cũng lãnh đạo Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Các nhóm chính trị khác tham gia hợp tác với Việt Minh trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở trung ương và địa phương trong giai đoạn 1945 - 1946. Nhưng sau đó phần lớn lại quay sang hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh hoặc vừa chống Pháp vừa chống Việt Minh. Sau đó các đảng phái này đa phần ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam. Ủy ban dân tộc giải phóng gồm 12 thành viên Việt Minh, trong đó có 6 thành viên Đảng Cộng sản Đông Dương, 2 thành viên Đảng Dân chủ Việt Nam. Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ thành lập ngày 25/8/1945 có 6 thành viên Việt Minh (4 là thành viên Đảng Cộng sản, gồm Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tây, 2 thành viên Việt Minh không công khai là đảng viên cộng sản Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Đôn Văn), 1 thành viên Đảng Dân chủ Việt Nam (Huỳnh Văn Tiểng), 2 thành viên không đảng phái (Phạm Văn Bạch, Huỳnh Thị Oanh), 1 thành viên Đảng Độc lập Dân tộc (Ngô Tấn Nhơn) (sau cải tổ đưa Huỳnh Phú Sổ - Hòa Hảo, Trần Văn Thạch - Trotskyist, Huỳnh Văn Phương - trí thức, Phan Văn Hùm, Trần Văn Nhọ, Nguyễn Văn Thủ... tham gia, nhưng sau một thời gian Việt Minh xung đột với các nhóm tôn giáo và Trotskyist). Ngày 10/9/1945, Ủy ban nhân dân Nam Bộ thành lập theo thể lệ của Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh gồm: Phạm Văn Bạch (trạng sư, không đảng phái): Chủ tịch, Trần Văn Giàu (giáo sư, Đảng Cộng sản Đông Dương), Phạm Ngọc Thạch (bác sĩ, thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong), Huỳnh Văn Tiểng (cựu sinh viên, Tân Dân chủ đoàn), Ngô Tấn Nhơn (kỹ sư, Đảng Quốc gia Độc lập), Nguyễn Văn Thọ (viết báo, Đảng Cộng sản Đông Dương), Hoàng Đôn Văn (Lao động Tổng công đoàn), giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ (Việt Nam Độc lập Vận động hội), Nguyễn Văn Nghiêm (kỹ sư, không đảng phái), Tứ Bảo Hòa (điền chủ, không đảng phái), dự khuyết Phan Văn Hùm, Trần Văn Nhọ, Nguyễn Văn Thủ Chính phủ Cách mạng Lâm thời có 9 thành viên Việt Minh (6 đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương), 4 đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam, 2 không đảng phái, 1 Công giáo. Chính phủ Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập ngày 2/3/1946 có 2 thành viên Việt Minh (thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương), 3 thành viên Việt Quốc, 1 thành viên Việt Cách, 2 thành viên Dân chủ, 1 thành viên Xã hội, 3 độc lập. Chính phủ Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập ngày 3/11/1946 có 5 thành viên Việt Minh (thuộc Đảng Cộng sản), 5 độc lập, 2 Dân chủ, 1 Xã hội, 1 Dân tộc (Việt Nam Quốc dân Đảng - Chu Bá Phượng), khuyết 2 ghế. Chính phủ Liên hiệp Quốc dân năm 1949, 5 thành viên Đảng Cộng sản - Việt Minh, 5 độc lập, 2 đảng Dân chủ, 3 đảng Xã hội, 1 dân tộc (Việt Nam Quốc dân đảng- Chu Bá Phượng), 1 Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Bồ Xuân Luật). Trong các thứ trưởng có 4 độc lập, 2 đảng Dân chủ, 1 đảng Xã hội, 1 Việt Minh (thuộc Đảng Cộng sản), 1 trống. Theo tài liệu của CIA thì Đảng Cộng sản tuy tuyên bố "giải tán" năm 1945 nhưng năm 1946 có 50.000 đảng viên, và tới 1950 có 400.000 đảng viên, dù trên danh nghĩa người của Việt Minh (Liên Việt), nhưng thực tế bán công khai. == Xung đột với các nhóm chính trị đối lập == Trước năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng phái Quốc gia khác tuy có ý thức hệ khác nhau nhưng vẫn có chung nền tảng giáo dục, thường xuyên có sự hợp tác và đôi khi có cùng quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân. Trong giai đoạn 1924 - 1927, ở miền Nam Trung Quốc, các nhóm người Việt chống thực dân Pháp đa dạng tương tác với nhau, với cả người Trung Quốc, Triều Tiên và các dân tộc khác. Từ năm 1941 đến 1944 ở miền nam Trung Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) cùng tham gia vào mặt trận chống Nhật, đôi khi tố giác nhau với chính quyền Trung Quốc, nhưng không bắt cóc hoặc ám sát lẫn nhau. Chính sự cạnh tranh để kết nạp thành viên, thu nhận viện trợ cũng như sự bảo trợ của người Trung Quốc, hơn là sự khác biệt về ý thức hệ, mới là nguyên nhân khiến căng thẳng giữa các tổ chức lưu vong gia tăng. Trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng từng hợp tác với những người Trotskyist tại Nam Kỳ trong giai đoạn 1933-1937. Hai bên sau đó chỉ trích nhau chẳng hạn thành viên của Quốc tế thứ ba (Đảng Cộng sản Đông Dương) và Quốc tế thứ tư (những người Trotskyist) cáo buộc lẫn nhau là phục vụ lợi ích đế quốc. Ban đầu cuộc tranh đấu chỉ trong phạm vi báo chí, truyền thông. Đến năm 1945 thì nhiều phe đã dùng vũ lực để tiêu diệt lẫn nhau. Theo sử gia David G. Marr, đó là một thời kỳ đầy hận thù, phản bội và giết chóc. Cho tới tháng 8 năm 1946, các đảng phái đối lập, ngoại trừ Giáo hội Công giáo, đều bị phá vỡ, vô hiệu hóa, hoặc buộc phải lưu vong. === Việt Nam Quốc dân Đảng === Ngay sau khi Việt Minh giành chính quyền ngày 19/8/1945, Lê Khang dẫn đầu một nhóm Việt Quốc rời Hà Nội đến Vĩnh Yên nằm trên tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội. Tại đây họ tổ chức một cuộc biểu tình của dân chúng để thuyết phục lực lượng Bảo an binh địa phương tham gia. Ngày 29/8/1945, hàng ngàn người ủng hộ Việt Minh thuộc 3 huyện lân cận tiếp cận căn cứ của Việt Quốc tại Vĩnh Yên kêu gọi Việt Quốc tham gia một cuộc diễu hành xuyên qua thị trấn. Khi bị từ chối, họ bắn thành viên Việt Quốc. Việt Quốc bắn trả khiến một số người chết đồng thời bắt giữ khoảng 150 người. Những người bị bắt được thả sau khi đã được tuyên truyền về Việt Quốc và thừa nhận mình bị lừa khi tham gia biểu tình. Sau đó, Việt Minh và Việt Quốc tiếp tục thảo luận về việc phóng thích những người còn bị Việt Quốc giam giữ, về việc tổ chức đàm phán và những đề xuất liên quan đến việc thành lập chính quyền liên hiệp ở địa phương. Trong khi hai bên thảo luận, Việt Minh cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho thị xã Vĩnh Yên khiến cuộc sống ngày càng khó khăn. Ngày 18/9/1945, Hoàng Văn Đức, một thành viên quan trọng của Đảng Dân chủ Việt Nam cùng đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Hà Nội đến Vĩnh Yên thương lượng. Cuộc thương lượng không thành công, Lê Khang tấn công Phúc Yên nhưng thất bại. Các đơn vị quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công Vĩnh Yên nhưng không giành được thị xã này. Sau đó hai bên ngừng bắn trong vài tháng. Việt Quốc không tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh ở vùng nông thôn ngoài việc chiếm giữ nông trại Tam Lộng tại Vĩnh Yên. Đầu tháng 12/1945, Việt Minh tấn công Tam Lộng nhưng bị đẩy lùi. Tháng 9/1945, Việt Quốc thỏa thuận bí mật với đại úy Nguyễn Duy Viên theo đó đại đội lính khố đỏ của ông sẽ theo Việt Quốc. Tuy nhiên Việt Quốc nghi ngờ đại úy Viên là điệp viên hai mang của Pháp và sẽ điều động đơn vị của mình thủ tiêu đảng viên Việt Quốc ngay sau khi vượt biên giới về Việt Nam. Đầu tháng 11, Viên đến Hà Giang gặp các thành viên Việt Quốc tại đây. Những binh sĩ đào ngũ từ các đơn vị lính thuộc địa cũng đổ về Hà Giang giúp Viên có được một đội quân khoảng 400 người. Việt Quốc và Việt Minh tại Hà Giang mâu thuẫn nhau khiến Viên đến Hà Nội yêu cầu chính phủ cử đại diện đến thuyết phục mọi người cùng chống Pháp. Sau khi gặp Hồ Chí Minh, Viên trở về Hà Giang, cho quân bắt giữ các đảng viên Việt Quốc tại đây và xử bắn một số người trên một ngọn đồi gần thị xã. Tháng 4/1946, Việt Quốc cho người ám sát ông tại Hà Nội. Tháng 5/1946, Trần Đăng Ninh, phụ trách an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Vĩnh Yên với lý do thảo luận về công tác sửa chữa đê điều và bị Vũ Hồng Khanh bắt. Ninh và 2 người khác trốn thoát. Việc bắt giữ này trở thành lý do để đàn áp Việt Quốc. Vệ quốc quân bắt đầu tuần tra quanh nơi hoạt động của Việt Quốc. Ngày 20/5/1946, trong một cuộc đụng độ gần Phú Thọ, Việt Quốc bắt giữ và hành quyết một nhóm người ủng hộ Việt Minh, thả vài xác chết xuống sông Hồng để cảnh cáo. Giữa tháng 5/1946, Bộ Nội vụ ra lệnh cho tất cả các cán bộ công chức đang làm việc tại 7 thị xã ở các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Hà Nội sơ tán và tham gia vào các Ủy ban thay thế được thành lập ở các địa điểm mới. Những người không thực hiện lệnh này không còn là người của chính phủ. Tháng 6/1946, khi quân đội Trung Quốc rút về Vân Nam, dân quân của Việt Minh cô lập các thị xã do Việt Quốc kiểm soát. Ngày 18/6/1946, Vệ quốc quân tấn công Phú Thọ và Việt Trì. Quốc dân quân của Việt Quốc ở Phú Thọ hết đạn sau 4 ngày và phải rút lui. Vũ Hồng Khanh chỉ huy 350 lính phòng thủ Việt Trì trong 9 ngày rồi rút lui về Yên Bái. Việt Quốc ở Vĩnh Yên do Đỗ Đình Đạo chỉ huy đàm phán với Việt Minh và đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong 2 tháng. Đỗ Đình Đạo đồng ý sáp nhập lực lượng của ông vào Vệ quốc quân và thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp tại Vĩnh Yên. Lực lượng này được chia nhỏ đưa về các tiểu đoàn Vệ quốc quân tại nhiều nơi. Đỗ Đình Đạo được thuyên chuyển về Hà Nội. Trong suốt tháng 5 và tháng 6/1946, Báo Việt Nam của Việt Quốc tại Hà Nội khẩn thiết kêu gọi Việt Minh ngừng tấn công Việt Quốc. Cuối tháng 6 tại Hà Nội, các thành viên Việt Quốc họp để thảo luận về việc có nên thừa nhận sự lãnh đạo của Việt Minh, rút lui về biên giới hay tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, Trương Tử Anh, đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng là đồng minh của Việt Quốc, đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính có thể bắt đầu bằng việc tấn công lính Pháp để gây rối loạn. Người Pháp lại có ý định diễu binh quanh hồ Hoàn Kiếm để kỷ niệm Quốc khánh Pháp (14/7/1789) khiến lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lo ngại sự kiện này có thể trở thành mục tiêu của các đảng phái đối lập với Việt Minh. Võ Nguyên Giáp hỏi ý kiến của chỉ huy quân Pháp tại Bắc Kỳ, đại tá Jean Crépin về thái độ của Pháp nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường trấn áp Việt Quốc và Việt Cách thì được ông này trả lời Pháp sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật, chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương) được Nha Công an Trung ương báo cáo phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị đảo chính Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ đạo phải tập trung trấn áp Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng phải có đủ chứng cứ. Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946, Việt Nam Quốc dân Đảng được giữ hơn 40 ghế trong số 70 ghế "đại biểu đương nhiên" (không phải qua bầu cử) trong Quốc hội khóa I và có một số thành viên chủ chốt tham gia lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ do Quốc hội khóa I bầu ra như Nguyễn Hải Thần (Phó chủ tịch Quốc hội), Trương Đình Chi (Bộ trưởng xã hội, y tế và lao động). Theo hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, do không bằng lòng với vị trí có được, Việt Nam Quốc dân Đảng tìm cách lật đổ Việt Minh để cùng với các đảng phái Việt Cách, Đại Việt... chiếm chính quyền. Trong khi giải giáp vũ khí của quân Nhật tại phía Bắc vĩ tuyến 16 theo Hiệp ước Hoa - Pháp tháng 2 năm 1946 và Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp đã chuyển giao cho Việt Nam Quốc dân Đảng và các đảng phái đối lập với Việt Minh hàng tấn vũ khí thu gom được của Nhật. Với số vũ khí này và được thực dân Pháp "bật đèn xanh", Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã tổ chức các đội vũ trang mang tên "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám"... Các đội vũ trang này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người không đảng phái như ông Ba Viên rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh đã không đảm bảo được an ninh trật tự ở Hà nội và một số đô thị ở Bắc Bộ. Đầu tháng 6 năm 1946, Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cho Nghiêm Xuân Chi (đảng viên Việt Quốc) ám sát một số lãnh đạo của Việt Minh như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh và ông Bồ Xuân Luật, một người cũ của Việt Cách nay đứng về phe Việt Minh. Vụ ám sát được bố trí tại Nhà Thủy tọa, cạnh Hồ Gươm, đối diện với nhà số 8 đường Vua Lê (nay là phố Lê Thái Tổ) một trong những nơi ăn nghỉ của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi Nghiêm Xuân Chi chưa kịp ra tay thì đã bị tổ trinh sát của Sở Công an Bắc Bộ do Nguyễn Bá Hùng chỉ huy khống chế. Khám người Nghiêm Xuân Chi, Công an Bắc bộ thu được hai khẩu súng ngắn với 12 viên đạn trong ổ đạn. Mỗi khẩu đều có một viên đã lên nòng. Tại trụ sở Công an Bắc bộ (số 87 đường Gamberta, nay là phố Trần Hưng Đạo), Nghiêm Xuân Chi khai nhận đã được các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng giao nhiệm ám sát một số lãnh đạo Việt Minh Trước những hoạt động gây mất trật tự an ninh tại Hà Nội và một số thành phố ở Bắc Bộ, Sở Công an Bắc Bộ đã lập chuyên án mà sau này được lấy tên công khai là Chuyên án số 7 phố Ôn Như Hầu Sau khi Việt Nam Công an vụ xin ý kiến chỉ đạo của Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, với chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương), vào rạng sáng ngày 12 tháng 7 năm 1946, Đội trinh sát đặc biệt đã thực hiện nhiệm vụ bắt, khám xét những người có mặt tại số 7 phố Ôn Như Hầu vì can tội tống tiền và bắt cóc người., đã thực hiện phá vụ án phố Ôn Như Hầu. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là các ông Lê Giản (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ), Nguyễn Tuấn Thức (Giám đốc Công an Hà Nội) và Nguyễn Tạo (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương). Lực lượng công an xung phong đã thực hiện khám xét các trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng tại Hà Nội, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó... Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt, có Phan Kích Nam tự xưng là một lãnh đạo của Quốc dân Đảng. Theo điều tra của Nha công an, Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị những hành động khiêu khích rất nghiêm trọng. Dự định các thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ phục sẵn dọc đường quân Pháp diễu qua nhân ngày quốc khánh Pháp, bắn súng, ném lựu đạn để tạo ra những chuyện rắc rối giữa Pháp và Chính phủ, gây sự phá hoại hòa bình rồi tung truyền đơn hô hào lật đổ chính quyền và sau đó đứng ra bắt tay với Pháp. Trên thực tế, trong cuộc vây bắt, khám xét tại số 7 - Ôn Như Hầu ngày 12 tháng 7, Công an Bắc Bộ thu được 8 súng ngắn, 5 súng trường và 1 trung liên Nhật, dụng cụ tra tấn, thuốc mê và đào được 6 xác người chôn đứng trong vườn chuối sau nhà. Tuy nhiên, trụ sở hành chính của Việt Nam Quốc dân Đảng tại số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều) chỉ là bình phong để che đậy hai căn cứ quan trọng hơn của Việt Nam Quốc dân Đảng trong nội thành Hà Nội khi đó là nhà số 132 phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân) và nhà số 80 phố Quán Thánh. Cuộc bắt, khám xét tại 132 - Duvigneau và 80 Quán Thánh diễn ra cùng thời điểm với vụ bắt, khám xét ở số 7 - Ôn Như Hầu. Tại nhà số 132 phố Duvigneau, Nha Công an Bắc Bộ thu giữ nhiều tang vật gồm 6 máy in tipo với các "bát chữ" còn nguyên vẹn nội dung; 11 mặt đá in lito đã khắc chữ; trên 3 tạ truyền đơn, khẩu hiệu; tài liệu chống Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa in xong còn chưa kịp chuyển đi; 18,6 kg tiền giả (gồm cả giấy bạc Quan Kim và giấy bạc Đông Dương); 12 khẩu súng ngắn, 8 khẩu tiểu liên, 17 súng trường, 3 trung liên FM và 13 quả lựu đạn Nhật. Khám xét tại nhà số 80 phố Quán Thánh, Công an Bắc Bộ thu được 9 súng ngắn, 21 súng trường, 2 trung liên Nhật, 11 quả lựu đạn các loại, hai thùng tài liệu, truyền đơn chống chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quân Pháp tại Hà Nội đã điều xe tăng đến can thiệp vào vụ bắt, khám xét tại 80 phố Quán Thánh nhưng Việt Minh đã tiến hành đàm phán trên cơ sở Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1945. Trưa ngày 12 tháng 7, xe tăng và quân Pháp rút khỏi phố Quán Thánh. Ngày 13 tháng 7, tướng Morlière, tư lệnh các lực lượng Pháp tại Hà nội đã cử sĩ quan tùy tùng đến trụ sở chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Bộ Phủ thông báo việc người Pháp rút đề nghị tổ chức cuộc diễu binh của quân Pháp tại Hà Nội do nhận thấy không bảo đảm an toàn. Tại dây, viên tùy tùng của tướng Morlière được đại diện Chính phủ Việt Nam thông báo rằng Việt Minh sẽ tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội và một số con phố quanh Hồ Gươm để chào mừng kỷ niệm ngày Cách mạng Pháp 14-7-1789. Tất cả những chứng cứ, tang vật, truyền đơn, khẩu hiệu, ảnh chụp những xác chết, những hố chôn người... mà Công an Bắc Bộ thu tập được trong Vụ án phố Ôn Như Hầu đều được trưng bày cho toàn thể nhân dân Hà Nội được biết trong cuộc mít tinh diễu hành này. Nhà nước sau đó thông báo sự việc với báo chí. Các cuộc tấn công được gọi tắt là "Vụ án phố Ôn Như Hầu". Các báo của Việt Minh và các đảng phái thân Việt Minh đều tường thuật vụ án này. Các báo đưa tin công an đã phá tan âm mưu chống chính phủ, đã bắt những kẻ tiến hành những vụ bắt cóc tống tiền, ám sát, bán nước, in truyền đơn chống chính phủ, làm bạc giả... Tuy nhiên Việt Quốc đã không bị kể tên trong một số bài báo. Theo David G. Marr, nếu thật sự Pháp muốn đảo chính (họ đã cân nhắc và hoãn nhiều lần) thì không cần phải dựa vào Trương Tử Anh khơi ngòi, càng không cho Anh thành lập chính phủ. Công an cố tình lập lờ giữa Đại Việt Quốc Dân Đảng do Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Tưởng Tam và Vũ Hồng Khanh lãnh đạo khi nhắm vào tòa soạn Báo Việt Nam và các trụ sở khác của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau cuộc tấn công, có người trong chính quyền đã cố gắng hạn chế những lời lên án công khai Việt Quốc để tuyên truyền về Mặt trận Thống nhất. Việt Quốc trên danh nghĩa vẫn nằm trong mặt trận. Ngoại trừ một vài đảng viên Việt Quốc hợp tác với Việt Minh, mọi công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ đó trở đi đều sợ hãi khi bị cho là đảng viên Việt Quốc. Việt Quốc đồng nghĩa với tội phản quốc. Ngày 20/7/1946, Ủy ban Hành chính Bắc Bộ dù không nhắc đến Việt Quốc đã thông báo đến các tỉnh rằng gần đây công an đã phát hiện được việc tống tiền, bắt cóc và làm tiền giả. Tất cả đều phải bị điều tra và truy tố. Ủy ban hướng dẫn các địa phương không để việc bắt bớ và giam giữ các phần tử phản động biến thành khủng bố. Các Ủy ban Hành chính địa phương giờ đã được chấp thuận cho việc bắt giữ các đảng viên Việt Quốc đã bị phát hiện hay còn tình nghi, tuy nhiên họ không săn lùng và hành quyết ngay lập tức. Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người bị bắt, bị thẩm vấn. Hàng trăm người bị tống giam, bị đưa đến các trại cải tạo; hàng trăm người khác bị cách chức. Cán bộ phòng chính trị thuộc Sở Công an các tỉnh bắt những kẻ tình nghi, thẩm vấn, bắt ký vào lời khai, sau đó báo cáo lên chính quyền tỉnh là thả, xét xử hay biệt giam những người này. Từ cuối tháng 7/1946 cho đến cuối năm 1946, phần lớn những người bị công an giam giữ vì lý do chính trị đều bị xem là Việt Quốc. Công an tiếp tục thẩm vấn các đảng viên Việt Quốc về vụ bắt cóc một số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương xảy ra vào cuối năm 1945. Cuối tháng 7/1946, Báo Việt Nam bị đình bản nhưng Tuần báo Chính Nghĩa vẫn tiếp tục xuất bản suốt 3 tháng sau. Báo chính Nghĩa đăng một loạt bài xã luận lên án chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc Xô Viết đồng thời chỉ trích hệ thống Ủy ban Hành chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc chính phủ không thể thành lập hệ thống tư pháp độc lập, chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh cũng bị hoài nghi. Cuối tháng 10/1946, các bài xã luận và tin tức trong nước bị loại bỏ. Tới đầu tháng 12, Tuần báo Chính Nghĩa hoàn toàn bị vô hiệu hóa, không còn một tin tức hay bài viết nào đáng phải kiểm duyệt nữa. Từ tháng 7/1946 đến tháng 11/1946, nhiều đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc bị bắt. Đại biểu Phan Kích Nam, đảng viên Việt Quốc, bị bắt trong vụ án phố Ôn Như Hầu, bị buộc tội bắt cóc, tống tiền và bị tống giam ngay lập tức. Đại biểu Nguyễn Đổng Lâm bị công an Hải Dương bắt và bị kiến nghị gửi đến trại biệt giam trong 2 năm với lý do "chính quyền địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn nếu ông Lâm còn tự do ngoài vòng pháp luật". Trường hợp của Lâm được báo cáo lên Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Văn Tố. Tố cùng Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh thả Lâm. Ngày 21/8/1946, Nguyễn Đổng Lâm được thả. Tại các địa phương khác, các đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc cũng bị sách nhiễu hoặc bắt giữ. Đại biểu Trình Như Tấu gửi kháng nghị đến 5 cơ quan chính phủ khác nhau sau khi ông bị dân quân bao vây nhà riêng để yêu cầu bồi thường một máy đánh chữ không có thật và đe dọa dùng vũ lực nếu ông không tuân thủ. Trình Như Tấu yêu cầu được bảo vệ với tư cách nghị sĩ nhưng không được hồi đáp. Tại kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội vào cuối tháng 10/1946, chưa tới 12 người trong số 50 đại biểu Quốc hội thuộc Quốc dân Đảng tham dự. Sau khi rút lui về Yên Bái, Vũ Hồng Khanh nhận ra rằng nguồn cung cấp lương thực tại địa phương chỉ đủ nuôi sống lực lượng quân đội Việt Quốc chứ không đủ cung cấp cho những người ủng hộ Việt Quốc từ đồng bằng sông Hồng đến. Vệc tiếp tế từ Lào Cai gặp nhiều khó khăn vì Việt Minh đã phá hủy đường sắt. Tới tháng 11, Lào Cai bị Vệ Quốc quân bao vây và lương thực sắp hết. Vũ Hồng Khanh quyết định sơ tán sang Vân Nam và ra lệnh hành quyết 2 giảng viên học viện quân sự vì cố gắng dẫn học viên của họ quay trở lại đồng bằng. Tháng 10/1947, khi Pháp nhảy dù xuống Phú Thọ, công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị cáo buộc giết chết hơn 100 tù nhân Việt Quốc trước nguy cơ họ có thể trốn thoát hoặc rơi vào tay người Pháp. === Đại Việt Quốc dân đảng === Sau khi giành được chính quyền, ngày 5 tháng 9 năm 1945, nhân danh Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể Đại Việt Quốc dân đảng với lý do "Đại Việt Quốc dân đảng đã âm mưu những việc hại cho sự độc lập quốc gia và nền kinh tế Việt Nam" Do Chính phủ ban hành Sắc lệnh giải tán Đại Việt Quốc dân đảng, nên các đảng viên Đại Việt đã mất tư cách pháp nhân để tham gia chính trường. Trước chiến thắng của Việt Minh trong cuộc Tổng tuyển cử, ngày 15 tháng 12 năm 1945, Đại Việt Quốc dân đảng cùng với Việt Nam Quốc dân Đảng (lãnh đạo là Vũ Hồng Khanh) và Đại Việt Dân Chính Đảng (lãnh đạo là Nguyễn Tường Tam) thành lập Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam nhằm chống lại "phe Cộng sản". Trương Tử Anh làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Bí thư trưởng và Nguyễn Tường Tam làm Tổng thư ký. Việc tham gia Mặt trận Quốc dân Đảng giúp các đảng viên Đại Việt có lại khả năng tham chính dưới danh nghĩa của Mặt trận. Đối với chương trình hành động của Mặt trận Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân đảng đưa ra kế hoạch bốn điểm nhằm chống lại Việt Minh trong việc bầu cử Quốc hội và thành lập Chính phủ Liên hiệp: Phát động phong trào toàn dân bất hợp tác với Việt Minh Tách rời cựu hoàng Bảo Đại ra khỏi Việt Minh và vô hiệu hóa Quốc hội Việt Minh Thành lập một Trung tâm chính trị ở hải ngoại Củng cố các chiến khu, tăng cường khối Quốc dân Quân, mở rộng địa bàn hoạt động. Trong tháng 9 và tháng 10 năm 1945, các tổ chức khác nhau của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Minh có thể đã thủ tiêu hoặc bắt giữ hàng trăm đảng viên và những người có liên quan đến Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng tại các tỉnh Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Bình, Phú Thọ, Hưng Yên... Trương Tử Anh lẩn trốn sự truy nã của công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời liên tục cảnh báo Việt Nam Quốc dân Đảng không được liên minh với Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong suốt năm 1946, công an tiếp tục truy lùng thành viên các đảng Đại Việt. Theo David G. Marr, nhờ tuyên truyền có hiệu quả nên Việt Minh làm dân chúng tin rằng đảng viên Đại Việt là những tên tay sai cho phát xít Nhật dù trên thực tế trước ngày 9/3/1945 khi Nhật đảo chính Pháp chỉ có một số ít người Việt có quan hệ với người Nhật, sau ngày 9/3/1945 tất cả các đảng phái ở Việt Nam kể cả Việt Minh đều tiếp xúc với quân đội và nhân viên dân sự Nhật. Trong ngày 12/7/1946, một tiểu đội công an do Lê Hữu Qua chỉ huy bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do phát hiện Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính chính quyền cách mạng đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14/7/1946. Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên. Nhưng vẫn thực hiện bao vây khám xét để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Lực lượng công an đột kích bất ngờ vào lúc sáng sớm khiến cho lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp có hành động phản ứng. Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn. Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ngày 19 tháng 12 năm 1946 thì Trương Tử Anh đột ngột mất tích. Có nguồn cho là ông bị Việt Minh thủ tiêu. === Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng === Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng (thường được gọi tắt là Đại Việt Quốc xã) theo Chủ nghĩa Quốc xã do Nguyễn Xuân Tiếu sáng lập vào năm 1936, Trần Trọng Kim là tổng bí thư. Đây là tổ chức chính trị thân Đế quốc Nhật Bản, được thành lập để làm hậu thuẫn chính trị cho việc lập ra một Đế quốc Việt Nam, được xem là "chính phủ tay sai" của Nhật Bản trong thời kỳ Đế quốc Nhật chiếm đóng và thống trị Đông Á, Đông Nam Á và Việt Nam trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Đại Việt Quốc xã là lực lượng có xu hướng bảo hoàng, ủng hộ Bảo Đại, có khoảng 2 ngàn thành viên, ảnh hưởng ở các thị thành công nghiệp nhẹ ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng trong thời gian Chiến tranh thế giới II diễn ra. Sau khi Việt Minh giành được chính quyền, ngày 5 tháng 9 năm 1945, thừa ủy quyền Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng với lý do "Đại Việt quốc gia xã hội Đảng đã tư thông với ngoại quốc để mưu những việc có hại cho sự độc lập Việt Nam". === Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng === Trong thời gian quân Tưởng vào miền Bắc, Đại Việt Duy dân tìm cách thâm nhập gây cơ sở ở Hòa Bình, xây dựng Hòa Bình thành căn cứ. Đại Việt Duy dân liên kết với một số lang đạo chống chính quyền, lôi kéo một số lang đạo có thái độ hai mặt trong bộ máy chính quyền các cấp và được số này che chở. Vì vậy, cơ sở Đại Việt duy dân phát triển khá nhanh bao gồm một số huyện của tỉnh Hà Đông (cũ), Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình. Đảng Đại Việt Duy dân chọn Mường Diềm làm căn cứ chính của Đại Việt Duy dân ở Hòa Bình. Được các lang đạo giúp đỡ, Đại Việt Duy dân đã tích cực xây dựng lực lượng vũ trang bằng cách đưa thành viên từ miền xuôi lên, tập hợp thành viên ở địa phương, thành lập được một số đơn vị, mở một vài lớp huấn luyện quân sự... Giữa năm 1946, Đại Việt Duy dân bị chính quyền tấn công mạnh tại Hà Nội và các tỉnh ở đồng bằng. Đảng trưởng Đại Việt Duy dân Lý Đông A (tức Trần Khắc Tường) phải rời Hà Nội về Gia Viễn (Ninh Bình). Tại đây, Lý Đông A lại bị truy đuổi phải chạy lên Hòa Bình và về vùng Diềm. Nhiều thành viên Đại Việt Duy dân ở các nơi khác bị truy quét cũng chạy lên Hòa Bình. Trong thế bị truy đuổi, dồn ép, các lãnh đạo Đại Việt Duy dân dựa vào sự giúp đỡ của lang đạo chống chính quyền và có được một vài đơn vị vũ trang trong tay dự định đánh chiếm Lương Sơn, Lạc Sơn, Chợ Bờ, Suối Rút rồi tiến lên đánh chiếm thị xã Hòa Bình, làm chủ toàn bộ tỉnh Hòa Bình. Lấy Hòa Bình làm bàn đạp chiếm Sơn La, xây dựng Hòa Bình - Sơn La thành một căn cứ rộng lớn ở miền núi rừng Tây Bắc để chống lại chính quyền do Việt Minh lãnh đạo. Nhưng kế hoạch của Đại Việt Duy dân đã bị quần chúng phát giác. Ban cán sự Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Hòa Bình thông qua con trai lang cun Mường Diềm là cán bộ phụ trách lực lượng vũ trang của huyện Mai Đà đã nắm được những tin tức quan trọng về tổ chức, hoạt động của Đại Việt Duy dân và đặc biệt là nắm được âm mưu kế hoạch bạo loạn của Đại Việt Duy dân. Do nắm được kế hoạch của Đảng Đại Việt Duy dân nên trước ngày Đại Việt Duy dân định khởi sự, Ban cán sự Đảng tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo lực lượng vũ trang, công an tiêu diệt các toán vũ trang của Đại Việt Duy dân ở Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong, Lương Sơn, thị xã Hòa Bình. Để tiêu diệt căn cứ của Lý Đông A tại vùng Mường Diềm, Ban cán sự Đảng tỉnh đã dùng mưu dụ toán vũ trang của Đại Việt Duy dân ra khỏi căn cứ. Lực lượng chiến đấu của Ban cán sự Đảng tỉnh Hòa Bình đã tiêu diệt và bắt sống đại bộ phận lãnh đạo và lực lượng vũ trang của Đại Việt Duy dân tại Bến Chương. Đảng trưởng Lý Đông A chết tại Bến Chương thuộc xã Hiền Lương - Mai Đà. === Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội === Khi quân Trung Hoa tiến vào miền Bắt Việt Nam để giải giáp quân Nhật, lực lượng của Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội cũng theo về, mục đích của Việt Quốc, Việt Cách để mở đường, tạo dựng cơ sở cho Quân đội Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam, gây xung đột vũ trang với Quân giải phóng và cướp chính quyền các địa phương... Ngày 11 tháng 5, các Lữ đoàn hành động theo 4 hướng vượt biên giới. Tuy nhiên trong 4 cánh quân này khi xung đột vũ trang với Việt Minh thì 3 cánh quân (do Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trương Trung Phụng chỉ huy) đã hạ vũ khí, tự giải giáp hoặc gia nhập lực lượng quân đội quốc gia của Việt Minh, chỉ có một cánh quân do Vũ Kim Thành chạy về vùng Hải Ninh rồi bị tiêu diệt. Bồ Xuân Luật sau đó làm Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp. Riêng Nguyễn Hải Thần thì về Hà Nội lập trụ sở ở đường Quan Thánh phố Cửa Bắc, tìm cách vận động dân chúng nội thành ủng hộ. Việt Cách bắc loa tố cáo Việt Minh là cộng sản; sự việc dẫn đến xô xát giữa những đám người ủng hộ và chống đối. Trong khi lãnh đạo các phe phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách tranh cãi về các định nghĩa pháp lý, về việc bổ nhiệm các bộ trưởng và việc đưa ra các tuyên bố chung để đi đến thành lập Chính phủ liên hiệp thì các chủ bút, cán bộ chính trị, lực lượng vũ trang của các bên vẫn đấu tranh với nhau gay gắt. Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến ban biên tập các tờ báo một bức thư hư cấu chỉ trích Nguyễn Hải Thần không cử người tham gia đoàn quân Nam tiến chi viện cho miền Nam đồng thời buộc tội ông thỏa thuận với quân Pháp. Báo chí thường xuyên cáo buộc Việt Cách và Việt Quốc tống tiền dân chúng. Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên bắt giữ các thành viên Việt Cách vì tội tống tiền, đặc biệt là đối với Hoa kiều. Các thành viên Việt Minh và Việt Cách xé áp phích của nhau, đe dọa tính mạng và phá các cuộc họp của đối thủ. Việt Minh khuyến khích Bồ Xuân Luật rời bỏ Việt Cách lập ra tờ báo Đồng Minh xuất bản cho đến tháng 11 năm 1946. Mười ngày sau đó, tại Hà Nội, Bồ Xuân Luật bị phục kích nhưng may mắn thoát chết. Các lãnh đạo Việt Cách không gặp khó khăn gì trong việc kiểm soát các thị xã từ biên giới Trung Quốc đến đồng bằng sông Hồng cho đến khi quân đội Trung Quốc rút về nước vào tháng 4/1946. Các viên chức nhà nước tại những nơi đó phải đối mặt với việc trung thành với Việt Cách, trung lập hay di tản khỏi thị xã. Việt Cách đôi khi phải xin phép chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện một số hoạt động của họ. Bị Việt Quốc làm lu mờ và ngày càng mất đoàn kết, tháng 3/1946, Việt Cách bị chia rẽ. Một số thành viên tập trung bảo vệ các thị xã phía Bắc Hà Nội, những người khác gia nhập Việt Quốc, số còn lại lệ thuộc Việt Minh. Việt Cách có thể đã tổ chức một số cuộc tấn công vào lính Pháp tại Hải Phòng vào tháng 4/1946. Cuối tháng 4/1946, Pháp khai quật được 12 thi hài tại tầng hầm trụ sở cũ của Việt Cách tại Hà Nội trong đó có 2 công dân Pháp mất tích ngày 24/12/1945. Cuối tháng 5/1946, thành viên Việt Cách Hồ Đắc Thành tham gia Mặt trận Liên Việt. Các thành viên Việt Cách ở Quảng Yên và Móng Cái đã rút qua Trung Quốc vào giữa tháng 6/1946. Cuối tháng 10/1946, báo Đồng Minh của Bồ Xuân Luật đưa tin về cuộc họp của một số chi bộ còn lại của Việt Cách và việc một số thành viên Việt Cách tham gia kỳ họp thứ hai của quốc hội. Công an thu được một số tài liệu của Việt Cách và triệu tập các thành viên Việt Cách tới thẩm vấn. Từ đó trở đi một vài thành viên Việt Cách hợp tác với Việt Minh để xây dựng một hình ảnh mặt trận quốc gia liên hiệp giữa các đảng phái trong khi đó các thành viên khác bị tống giam hoặc phải lưu vong. === Trotskyist === Tạ Thu Thâu là người tổ chức và lãnh đạo phong trào Tả Đối lập Trốt-kít (L'Opposition de Gauche), ông hoạt động cách mạng bằng nhiều phương tiện. Về báo chí, ông xuất bản tờ Vô sản (tháng 5 năm 1932), làm báo Pháp ngữ La Lutte (Tranh đấu; tháng 4 năm 1933); nhóm trí thức làm báo này được gọi là "Les Lutteurs" (nhóm Tranh đấu) theo tên tờ báo. Có tên trong đó còn có Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch và Dương Bạch Mai. Vì những hoạt động này Tạ Thu Thâu bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam từ tháng 8/1932 đến tháng 1/1933. Ngay sau khi cấm Đại Việt Quốc dân Đảng hoạt động, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tố cáo những người Trotskyist (nhóm La Lutte và nhóm Liên minh Cộng sản Quốc tế) là kẻ thù của mình. Đảng cộng sản Đông Dương và những người Trotskyist từ lâu đã chỉ trích nhau là tay sai đế quốc. Tuy nhiên xung đột của hai nhóm này trước năm 1945 chỉ thể hiện bằng báo chí, diễn thuyết, truyền đơn. Sau năm 1945, hai nhóm bất đồng quan điểm về việc thực hiện cách mạng xã hội và cách đối phó với việc Đồng Minh đổ bộ vào Nam Kỳ. Những người Trotskyist muốn thực hiện ngay lập tức một cuộc cách mạng xã hội và vũ trang quần chúng chống lại lực lượng Đồng Minh còn Đảng cộng sản Đông Dương muốn thực giải phóng dân tộc trước rồi làm cách mạng xã hội đồng thời thỏa hiệp với Đồng Minh để giành độc lập từng bước. Ngày 7 và 8 tháng 9 năm 1945, một số thành viên Trotskyist cùng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tham gia một cuộc tấn công đẫm máu nhưng bất thành nhằm vào các thành viên Việt Minh ở Cần Thơ. Họ tổ chức một cuộc biểu tình của khoảng 20.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo với các khẩu hiệu "Võ trang quần chúng chống thực dân Pháp. Tẩy uế các phần tử thúi nát trong ủy ban Hành chánh Nam bộ". Việt Minh huy động Thanh niên Tiền phong bắn vào đoàn biểu tình khiến nhiều người chết và bị thương. Ngay sau đó, Dương Bạch Mai tống giam những người Trotskyist tại Sài Gòn. Binh lính Anh tìm thấy họ đêm 22/9/1945 và giao nộp cho người Pháp. Sau khi được thả, những người Trotskyist tổ chức tấn công quân Anh, Pháp theo lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu đứng đầu. Trong một đợt tổng rút quân của lực lượng kháng chiến Nam Bộ giữa tháng 10/1945, Đảng cộng sản Đông Dương đã truy lùng, bắt giữ và hành quyết một cách có hệ thống khoảng 20 lãnh đạo phe Trotskyist trong đó có Phan Văn Hùm, một lãnh đạo có uy tín của phe Trotskyist. Những thành viên Trotskyist khác phải nương tựa Hòa Hảo và các đảng phái quốc gia khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Cuối năm 1945, trên đường ra Hà Nội, vừa đến Quảng Ngãi, ông bị giết.. Một số ý kiến khác cho rằng sau khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 9 năm 1945, Tạ Thu Thâu về Nam Kỳ. Trên đường về, ông bị Việt Minh bắt và sau đó xử tử tại Quảng Ngãi. Phan Văn Hùm cũng là một thành viên nổi bật trong nhóm Trotskyist. Đầu năm 1946, khi Pháp đánh chiếm lại Nam Bộ, Phan Văn Hùm bị Kiều Đắc Thắng giết tại miền Đông Nam Bộ. Tại miền Bắc, các chính quyền địa phương được lệnh phát hiện, bắt giữ và tống giam những người Trotskyist tuy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ra văn bản nào cấm lực lượng này hoạt động. Đến năm 1946, những người Trotskyist tại miền Bắc không còn là mối lo ngại đối với chính quyền hoặc không còn người Trotskyist nào bị phát hiện. Trên báo chí, từ Trotskyist vẫn tiếp tục xuất hiện là để cảnh cáo những nhân viên nhà nước công khai phàn nàn đồng lương không đủ sống hay những người dám đấu tranh để người lao động kiểm soát nhà máy, xí nghiệp. === Hòa Hảo === Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo. Đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái Hòa Hảo là ông giáo chủ Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, theo Việt Minh, một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hỏa đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ cai quản, quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán. Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ. Ngày 9/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với lý do "đi rước Đức Thầy", thực chất là dự định cướp chính quyền. Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng. Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản: Hai bên cam kết không chống lại nhau. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp. Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực. Pháp lợi dụng những người chống chính quyền của Việt Minh trong đạo Hòa Hảo, hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc cho họ. Pháp mua chuộc những người đứng đầu Hòa Hảo có tư tưởng chống Việt Minh, lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang Hòa Hảo khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ, gây ra nhiều tội ác với dân chúng. Được Pháp trợ giúp, những người chống Việt Minh lập ra 4 nhóm nhằm mục đích để chống lại Việt Minh. Các nhóm này gồm: Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long). Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc). Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên). Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên). Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái bỏ không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui. Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng chống Việt Minh đội lốt Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát dã man thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của kháng chiến. Những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc tắm máu ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không theo Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo. Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động cướp phá ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ. Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa đều cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ. Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo lừa dối tín đồ nói: "Súng Việt Minh bắn không nổ!", xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An - Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính. Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới - Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp. Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Những người chống Việt Minh đã lợi dụng danh nghĩa đạo Hòa Hảo, tổ chức nhiều lực lượng vũ trang hợp tác với Pháp, áp bức khủng bố dân chúng, gây ra nhiều tội ác. Dù vậy, đa số tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 - 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, "trung lập hóa", không đàn áp dân chúng và tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh. === Cao Đài === Đạo Cao Đài là một tôn giáo được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, năm 1926. Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao", nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Trời. Cả người Nhật lẫn Việt Minh đều tranh thủ ra sức lôi kéo các nhóm Cao Đài. Do sự vận động của các cán bộ Việt Minh, một nhóm các chức sắc Cao Đài, nòng cốt ở các phái Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Minh Chơn Đạo, đã bí mật thành lập Hội Cao Đài Cứu Quốc. Hội hoạt động chủ yếu ở các vùng xa ở Tây Nam Bộ, bí mật tập hợp lực lượng trên nền tảng Thanh niên Đạo đức đoàn dưới sự lãnh đạo của Cao Triều Phát cố vấn Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, có xu hướng chống cả Pháp lẫn Nhật. Người Nhật thì can thiệp mở lại Tòa Thánh Tây Ninh tại Sài Gòn, đổi lại việc Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh), người tạm thời thay mặt Hộ pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tập hợp các tín đồ hợp tác với quân đội Nhật để chống Pháp. Khá đông tín đồ Cao Đài được tuyển làm nhân công của xưởng đóng tàu Nichinan của quân đội Nhật tại Nam Bộ. Một lực lượng bán vũ trang Cao Đài được ra đời với tên gọi Nội ứng nghĩa binh, dưới danh nghĩa được Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập để liên minh với Nhật Bản. Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều nhóm bán vũ trang Cao Đài đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc và tham gia giành chính quyền ở khắp Nam Bộ. Sau khi giành được chính quyền cuối tháng 8 năm 1945, nhiều chức sắc Cao Đài được chính quyền Việt Minh mời ra tham chính. Tại Tây Ninh, một tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là ông Trương Văn Xương được mời làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh tỉnh, một chức sắc Cao Đài thuộc Tòa Thánh Tây Ninh khác là Giáo sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) được mời làm cố vấn. Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, các nhóm lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham chiến tại các mặt trận số 1 và số 2, chiến đấu ở mặt Đông và Bắc Sài Gòn. Sau khi vào Nam, đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình đã tổ chức hội nghị An Phú Xã, thống nhất tổ chức các đơn vị vũ trang thành các chi đội Vệ Quốc đoàn. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được tổ chức thành 2 chi đội số 7 do Nguyễn Thanh Bạch chỉ huy và chi đội số 8 do Nguyễn Hoài Thanh chỉ huy. Tuy nhiên, trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận nhanh chóng tan vỡ. Nhiều đơn vị vũ trang tan rã, hoặc trở thành những lực lượng quân phiệt cát cứ, không chịu sự chỉ huy thống nhất. Một số chức sắc cao cấp và chỉ huy quân sự Cao Đài đã đưa lực lượng của mình tự rút về Tây Ninh và tự xây dựng các căn cứ để bảo vệ Tòa Thánh Tây Ninh. Hành động cát cứ này là lý do để các phần tử Việt Minh quá khích lên án các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là phản bội. Một vài cuộc xung đột đẫm máu đã nổ ra bắt nguồn từ những tín đồ Cao Đài và các phần tử Việt Minh quá khích. Chi đội số 7 và số 8 do Cao Đài chỉ huy bị Việt Minh bao vây tước khí giới. Hàng ngàn tín đồ Cao Đài bị Việt Minh giết, nhiều nhất tại tỉnh Quảng Ngãi (miền Trung) và Trung Lập (miền Nam). Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) cũng bị bắt tại Chợ Đệm và bị giải giam tại Cà Mau cùng với Giáo sư Hồ Văn Ngà, Chủ tịch Việt Nam Độc lập Đảng. Nắm được sự mâu thuẫn này và để tranh thủ thêm đồng minh trong cuộc chiến chống Việt Minh, chính quyền Pháp cho phép Hộ pháp Phạm Công Tắc trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại các tín đồ Cao Đài sẽ không tấn công người Pháp và được quân Pháp bảo trợ. Thậm chí, chính quyền Pháp còn cho phép các lãnh thổ do Tòa Thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được chính quyền Pháp bảo trợ và trang bị vũ khí, do Trung tướng Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành làm Tham mưu trưởng, có vai trò như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh. Bất đồng với sự hợp tác này, một số chức sắc Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham gia kháng chiến đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc, mở rộng thành Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hiệp Nhứt. Các lực lượng vũ trang của Cao Đài Cứu Quốc được tập hợp thành Trung đoàn 124, chiến đấu cho đến hết cuộc Kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Việt Minh. Phản ứng trước việc này, lãnh đạo Tòa Thánh Tây Ninh tuyên bố trục xuất các chức sắc và tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh nào tham gia Cao Đài Cứu Quốc. === Bình Xuyên === === Thiên chúa giáo === == Trong chiến tranh Đông Dương == Năm 1951, đảng Cộng sản ra hoạt động công khai, Việt Minh và Liên Việt chính thức hợp nhất, lấy tên là Mặt trận Liên Việt (3 tháng 3 năm 1951), tuy vậy Mặt trận Liên Việt vẫn được nhiều người quen gọi là Việt Minh. Sau năm 1955, Mặt trận Liên Việt tuyên bố hoàn thành nhiệm vụ và tự giải tán. Ngày 10 tháng 9 năm 1955, một tổ chức kế thừa Mặt trận Liên Việt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời và hoạt động cho đến ngày nay. == Tên gọi Việt Cộng và Vi Xi (VC) == Năm 1954, tại Điện Biên Phủ quân Pháp đã đầu hàng. Theo quy định của Hiệp định Genève được ký kết tại Genève, Thụy Sĩ, Việt Nam được tạm thời chia cắt thành hai vùng tập trung quân sự và một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm và thống nhất đất nước. Phần lớn lực lượng của Việt Minh được tập trung về phía Bắc vĩ tuyến 17. Quân đội thực dân Pháp và đồng minh Quân đội Quốc gia Việt Nam tập trung về phía Nam vĩ tuyến 17. Các nhà lãnh đạo Việt Minh tin rằng với sự ủng hộ của đa số dân chúng, họ chắc chắn sẽ giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm, dựa vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ thông qua Chính sách Truman, đã đè bẹp lực lượng dân chủ đối lập, kẻ thù cá nhân cũng như các nhân vật tình nghi ủng hộ cộng sản tại miền Nam và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa và từ chối tiến hành tổng tuyển cử. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tiếp tục đấu tranh để thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Một phần lực lượng Việt Minh tại miền Nam lui vào hoạt động bí mật và sau này đã tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào 1960. Trong các tài liệu, sách báo của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, họ được gọi là Việt Cộng, còn sách báo phương Tây gọi là Viet Cong, hay Victor Charlie, Vietnamese Communist hay V.C. (Vi Xi). == Nguồn tham khảo == == Thư mục == Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2006). Đại cương Lịch sử Việt Nam - Tập II. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục. Dương Trung Quốc, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (2005). Việt Nam Những sự kiện lịch sử (1919-1945). Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục. == Xem thêm == Danh sách các đảng phái chính trị của Việt Nam
viện đại học đông dương.txt
Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université Indochinoise) là một viện đại học công lập ở Liên bang Đông Dương do chính quyền đô hộ Pháp thành lập vào năm 1907. Viện đại học này đào tạo người dân ba nước Đông Dương và cả các nước châu Á khác. == Lịch sử == === Thành lập === Toàn quyền Đông Dương Paul Beau (từ 15 tháng 10 năm 1902 đến 25 tháng 6 năm 1908), vào 16 tháng 5 năm 1906, đã theo đề nghị của Hội đồng Phát triển Giáo dục Bản xứ (Conseil de Perfectionnement de l’Enseignement Indigène) ra Nghị định số 1514a thành lập Viện Đại học Đông Dương trên cơ sở một số cơ sở giáo dục đã có sẵn và có mở rộng. Viện đại học này vừa có chức năng đào tạo vừa có chức năng nghiên cứu. Đây là một cơ sở giáo dục công lập với kinh phí do chính quyền Liên bang Đông Dương cấp. Ban đầu viện đại học nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương và dưới sự điều hành của một hội đồng quản trị. Tuy nhiên sau đó, nó được giao cho Tổng Giám đốc Nha Học chính Đông Dương quản lý và Hội đồng hoàn thiện Viện Đại học điều hành. Tháng 11 năm 1907, cơ sở giảng dạy đầu tiên được khánh thành ở khu vực cạnh Nhà thương Đồn Thủy. Vài tuần sau thì khai giảng khóa học đầu tiên với ba phân khoa: văn khoa, luật khoa và khoa học, tổng cộng có 94 sinh viên. Tuy nhiên việc giảng dạy chỉ tiến hành chưa được một năm thì phải dừng lại mà không có quyết định và không thông báo nguyên nhân. Có nguồn thì cho cuộc kháng thuế ở Quảng Nam, Trung Kỳ là một nguyên do. Từ năm 1908, trong ngân sách của chính quyền Liên bang Đông Dương không còn khoản chi nào cho Viện Đại học Đông Dương nữa. Một số cơ sở vật chất của trường còn bị lấy đi. Các trường cũ sáng lập nên Viện Đại học Đông Dương quay trở lại vị thế xưa của mình. Viện Đại học Đông Dương thực chất bị giải thể. === Tái khai giảng === Mười năm sau, vào ngày 21 tháng 12 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương lúc ấy là Albert Sarraut mới ra một quyết định trong đó có nội dung tập hợp các cơ sở giáo dục bậc cao hiện có lại để thành lập Viện Đại học Đông Dương. Ngoài ba phân khoa nguyên thủy, Viện Đại học Đông Dương năm 1917 mở thêm: Y dược, Thú y, Thủy lâm, Sư phạm, Thương mại, Tài chính, Luật khoa hành chánh, và Mỹ thuật. Năm 1941 mặc dù Chiến tranh thế giới thứ hai gây gián đoạn với chính quốc, Viện Đại học Đông Dương mở thêm trường Kiến trúc. Viện Đại học Đông Dương sau khi được tái lập hoạt động cho đến tận năm 1945 và là cơ sở giáo dục bậc đại học duy nhất ở Đông Dương cho đến năm 1945. Niên học cuối cùng trước khi chính quyền Pháp bị Nhật đảo chính Viện Đại học Đông Dương có 1575 sinh viên ghi danh, đại đa số là người Việt nhưng cũng có ít nhất 18 người Khmer, 12 người Lào, 8 người Hoa. === Sau năm 1945 === Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Trường Đại học Quốc gia Việt Nam trên cơ sở kế thừa Viện Đại học Đông Dương. Khi Pháp trở lại Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Viện Đại học Đông Dương được đổi tên thành Viện Đại học Hà Nội (tiếng Pháp: Université de Hà Nội), đứng đầu là một viện trưởng người Pháp. Do yêu cầu của người dân miền Nam, Viện Đại học Hà Nội mở một chi nhánh ở Sài Gòn, đặt dưới quyền một phó viện trưởng người Việt. Sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, chi nhánh ở Sài Gòn trở thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam dưới chính thể Quốc gia Việt Nam. Vào năm 1957, dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, Viện Đại học Quốc gia Việt Nam trở thành Viện Đại học Sài Gòn. == Các trường thành viên == == Giảng viên == Viện Đại học Đông Dương có giảng viên đều là người Pháp từ các cơ sở giáo dục đã có, từ Viện Viễn Đông Bác cổ, và từ Viện Đại học Paris. == Ảnh hưởng == Viện Đại học Đông Dương được nhiều trường đại học sau này nhận là tiền thân của mình. Trường Đại học Quốc gia Việt Nam (thành lập năm 1945 ở miền Bắc), Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956), Đại học Quốc gia Hà Nội (1993) là các trường phát triển dựa trên nền tảng Viện Đại học Đông Dương. Viện Đại học Quốc gia Việt Nam (thành lập năm 1954 ở miền Nam), Viện Đại học Sài Gòn (1957), Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (1977), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1996) tiếp tục kế tục chi nhánh ở miền nam của Viện Đại học Đông Dương. == Tham khảo và chú thích == Đại học Đông Dương, nền móng của giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam Nguyễn Thanh Liêm, Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975 (Education in South Vietnam before 1975), Lê Văn Duyệt Foundation, California, 2006. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên: Lịch sử phát triển
chó.txt
Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây 15.000 năm vào cuối Kỷ băng hà. Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơi. Trong các từ ghép Hán Việt chó được gọi là "cẩu" (chữ Hán: 狗) hoặc "khuyển" (犬). Con chó con được gọi là "cún". Vì chó trông giống con cầy nên chó còn được gọi là "cầy". Họ chó có tên khoa học là Canidae (tiếng Latinh canis có nghĩa là chó) gồm khoảng 37 loài: chó sói, chó sacan, cáo, chó rừng và các giống chó nhà. Tất cả các thành viên trong họ chó đều là loài ăn thịt và thích nghi đặc biệt để săn mồi. Răng của chúng dùng để giết mồi, nhai thịt và gặm thịt, thỉnh thoảng để đánh nhau. Các giác quan như thị giác, thính giác và khứu giác phát triển mạnh: Chó có mắt to, tai dựng và mũi nhạy, nhờ đó chúng có thể theo dấu con mồi thành công, dù là săn đơn độc hay theo bầy.Tất cả các loài chó trừ chó bụi rậm Nam Mỹ đều có chân dài thích nghi với chạy nhanh khi săn đuổi mồi. Chó là loài "đi bằng đầu ngón chân" và có các bàn chân đặc trưng, năm ngón ở chân trước và bốn ngón ở chân sau. Đôi khi có trường hợp chó nhà có năm ngón ở chân sau (móng thứ năm gọi là móng huyền). Chó rừng có đuôi dài, lông dày, thường đồng màu và không có đốm sọc. == Nguồn gốc == Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói là một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám. Vào cuối kỳ Băng hà, cách đây khoảng 40.000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Nhưng hẳn là chó sói đã bắt đầu tìm bới những mẩu thức ăn thừa do con người bỏ lại. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà. == Đặc tính == Thời gian mang thai trung bình của chó kéo dài khoảng 60 đến 62 ngày, có thể sớm hơn hoặc kéo dài đến 65 ngày. Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng.Giống như tất cả các động vật có vú, sau khi con non được sinh ra con mẹ cho con non bú và chăm sóc con non vài tháng, với sự giúp đỡ của các thành viên khác trong gia đình, lúc này con mẹ sẽ trở nên hung dữ. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc. Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng rất thính, chúng có thể nhận biết được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất thính như tai. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi khác nhau. Não chó rất phát triển. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém,chỉ nhìn thấy 3 màu xanh lục-xanh dương-vàng. Ta có thể thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cơ thể cho mình. Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ "hạ nhiệt" trong những ngày oi bức. Người ta đã tính được rằng: chó 1 năm tuổi tương ứng với người 16 tuổi. Chó 2 tuổi tương ứng với người 24 tuổi, chó 3 năm tuổi - người 30, và sau đó cứ thêm một năm tuổi chó bằng 4 năm tuổi người. Ngày nay, nhu cầu nuôi chó cảnh đang được phát triển nên những giống chó nhỏ như Chihuahua Fox, hoặc chó thông minh như Collie được nhiều người chơi quan tâm đến. Điều này cũng không có gì khó hiểu bởi chó là con vật thủy chung, gần gũi với con người. Chó giúp con người rất nhiều việc như trông nhà cửa, săn bắt, và được xem như là loài vật trung thành, tình nghĩa nhất với con người. Chó là gia súc được nuôi nhiều trên thế giới, có thể trông coi nhà, chăn cừu, dẫn đường, kéo xe... cũng là món thực phẩm giàu đạm. == Lai giống == Chó lai là loài chó vốn được ghép bởi 2 loài chó bố, mẹ khác nhau (về màu sắc, hình dạng,...). Hai con bố, mẹ này sau khi giao phối sẽ tạo ra một giống chó mới mang thuộc tính của bố mẹ == Tín ngưỡng dân gian == Trong văn hóa tâm linh của một số dân tộc, chó là con vật thân thiết gắn bó thủy chung với người chủ nói riêng và con người nói chung, những đức tính của chó được tôn vinh, thậm chí có nơi chó được thờ cúng tại các đền thờ, miếu mạo. Theo một nhà dân tộc học người Nga, tục thờ chó khá phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới, và có ở hầu khắp thần thoại các dân tộc ở Đông Nam Á lục địa. Ban đầu tục này xuất phát từ các dân tộc chăn nuôi gia súc khu vực Tây Nam Á, với vai trò canh giữ đàn gia súc. Sau đó có thể người Ấn–Âu từ thời đồng thau đã mang vào Đông Á truyền thống chăn nuôi cùng với tín ngưỡng thờ chó. Trong thần thoại vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, hình tượng chó, kẻ canh giữ gia súc đã sớm chuyển thành kẻ canh giữ thế giới âm phủ. == Thịt chó == Thịt chó là một món ăn thông thường tại một số nước châu Á như Hàn Quốc, nó vừa có tính cách bình dân lại vừa được xếp vào hàng đặc sản.Theo quan niệm của người Việt Nam thì thịt chó còn là món ăn giải xui.Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia Tây phương và Hồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó (và mèo) được coi là tàn bạo và bị cấm. Tại Việt Nam, chó dùng làm thịt thường là chó cỏ không phải là "chó cảnh", "chó Tây", vì theo đánh giá thì hai loại đó vừa đắt vừa không ngon. Thịt chó ngoài việc cung cấp thực phẩm còn có một giá trị y học nhất định theo quan niệm người Á Đông (trừ Nhật Bản). Thịt chó theo Trung y có vị mặn, tính ấm và có rất nhiều chất đạm. Theo công văn Cục Thú y ban hành vào ngày 23.1.2014, chỉ riêng tại Việt Nam, hàng năm ước tính có khoảng 5 triệu cá thể chó bị giết phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ thịt. == Chó trong không gian == Con chó đầu tiên được đưa vào không gian là con Laika của Nga trong chuyến bay năm 1957. Laika cuối cùng đã bị bốc cháy khi rơi vào bầu khí quyển. == Những chú chó nổi tiếng == Ngoài Laika đã nói ở trên, chú chó Hachiko (1924 - 1935) của Nhật Bản cũng là một biểu tượng của sự trung thành == Đọc thêm == Abrantes, Roger (1999). Dogs Home Alone. Wakan Tanka, 46 pages. ISBN 0-ngày 93 tháng 2 năm 484 (paperback). A&E Television Networks (1998). Big Dogs, Little Dogs: The companion volume to the A&E special presentation, A Lookout Book, GT Publishing. ISBN 1-57719-353-9 (hardcover). Alderton, David (1984). The Dog, Chartwell Books. ISBN 0-89009-786-0. Bloch, Günther. Die Pizza-Hunde (tiếng Đức), 2007, Franckh-Kosmos-Verlags GmbH & Co. KG, Stuttgart, ISBN 978-3-440-10986-1 Brewer, Douglas J. (2002) Dogs in Antiquity: Anubis to Cerberus: The Origins of the Domestic Dog, Aris & Phillips ISBN 0-85668-704-9 Coppinger, Raymond and Lorna Coppinger (2002). Dogs: A New Understanding of Canine Origin, Behavior and Evolution, University of Chicago Press ISBN 0-226-11563-1 Cunliffe, Juliette (2004). The Encyclopedia of Dog Breeds. Parragon Publishing. ISBN 0-7525-8276-3. Derr, Mark (2004). Dog's Best Friend: Annals of the Dog-Human Relationship. University of Chicago Press. ISBN 0-226-14280-9 Donaldson, Jean (1997). The Culture Clash. James & Kenneth Publishers. ISBN 1-888047-05-4 (paperback). Fogle, Bruce, DVM (2000). The New Encyclopedia of the Dog. Doring Kindersley (DK). ISBN 0-7894-6130-7. Grenier, Roger (2000). The Difficulty of Being a Dog. University of Chicago Press ISBN 0-226-30828-6 Milani, Myrna M. (1986). The Body Language and Emotion of Dogs: A practical guide to the Physical and Behavioral Displays Owners and Dogs Exchange and How to Use Them to Create a Lasting Bond, William Morrow, 283 pages. ISBN 0-688-12841-6 (trade paperback). Pfaffenberger, Clare (1971). New Knowledge of Dog Behavior. Wiley, ISBN 0-87605-704-0 (hardcover); Dogwise Publications, 2001, 208 pages, ISBN 1-929242-04-2 (paperback). Shook, Larry (1995). "Breeders Can Hazardous to Health", The Puppy Report: How to Select a Healthy, Happy Dog, Chapter Two, pp. 13–34. Ballantine, 130 pages, ISBN 0-345-38439-3 (mass market paperback); Globe Pequot, 1992, ISBN 1-55821-140-3 (hardcover; this is much cheaper should you buy). Shook, Larry (1995). The Puppy Report: How to Select a Healthy, Happy Dog, Chapter Four, "Hereditary Problems in Purebred Dogs", pp. 57–72. Ballantine, 130 pages, ISBN 0-345-38439-3 (mass market paperback); Globe Pequot, 1992, ISBN 1-55821-140-3 (hardcover; this is much cheaper should you buy). RW Nelson, Couto page 107 Small animal internal medicine, Thomas, Elizabeth Marshall (1993). The Hidden Life of Dogs (hardcover), A Peter Davison Book, Houghton Mifflin. ISBN 0-395-66958-8. Trumler, Eberhard. Mit dem Hund auf du; Zum Verständnis seines Wesens und Verhaltens (tiếng Đức); 4. Auflage Januar 1996; R. Piper GmbH & Co. KG, München == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) American Kennel Club Biodiversity Heritage Library bibliography for Canis lupus familiaris CompareCanines.com - Compare 150+ dog breeds in over 50 different categories Canadian Kennel Club Fédération Cynologique Internationale (FCI) - World Canine Organisation New Zealand Kennel Club The Kennel Club (UK) Dogs in the Ancient World, an article on the history of dogs (tiếng Việt) Hiệp hội Những người nuôi chó giống Việt Nam - Vietnam Kennel Association VKA
düsseldorf.txt
Düsseldorf là thủ phủ của bang Bắc Rhine-Westphalia và là trung tâm kinh tế phía Tây của Đức(cùng với Köln và vùng Ruhr). Düsseldorf tọa lạc bên dòng sông Rhine và là một trong những trung tâm chính của vùng đô thị đông dân Ruhr. Vùng đô thị Rhine-Ruhr có 10 triệu dân. Düsseldorf là ​​một trung tâm kinh doanh quốc tế và trung tâm tài chính và nổi tiếng về thời trang của mình và các hội chợ thương mại. Nằm trong Chuối Xanh, thành phố là trụ sở chính đến năm Fortune Global 500 và một số công ty DAX.. Messe Düsseldorf tuyên bố tổ chức gần một phần năm hội chợ thương mại hàng đầu tất cả thế giới. Về mặt văn hóa, Düsseldorf được biết đến với học viện của mỹ thuật (Kunstakademie Düsseldorf, ví dụ như Joseph Beuys, Emanuel Leutze, August Macke, Gerhard Richter, Sigmar Polke và Andreas Gursky), ảnh hưởng tiên phong của mình về âm nhạc điện tử / thử nghiệm (Kraftwerk) cộng đồng Nhật Bản tương đối lớn. Là một thành phố của sông Rhine, Düsseldorf là ​​một thành trì cho lễ hội Carnival Rhenish. Mỗi năm vào tháng Bảy hơn 4,5 triệu người đến Hội chợ lớn nhất của thành phố trên sông Rhine funfair. == Các quận == Altstadt Angermund Benrath Bilk Carlstadt Derendorf Düsseltal Eller Flehe Flingern-Nord Flingern-Süd Friedrichstadt Garath Gerresheim Golzheim Grafenberg Hafen Hamm Hassels Heerdt Hellerhof Himmelgeist Holthausen Hubbelrath Itter Kaiserswerth Kalkum Lichtenbroich Lierenfeld Lohausen Lörick Ludenberg Mörsenbroich Niederkassel Oberbilk Oberkassel Pempelfort Rath Reisholz Stadtmitte Stockum Unterbach Unterbilk Unterrath Urdenbach Vennhausen Volmerswerth Wersten Wittlaer === Các thành phố và quận giáp ranh === Các quận và thành phố giáp ranh Düsseldorf (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc): thành phố Duisburg, quận Mettmann (Ratingen, Mettmann, Erkrath, Hilden, Langenfeld, và Monheim), và quận Neuss (Dormagen, Neuss, và Meerbusch). == Chú thích ==
châu đại dương.txt
Châu Đại Dương là một khu vực địa lý, thường là địa chính trị, bao gồm một loạt các vùng đất chủ yếu là đảo nằm trong Thái Bình Dương và khu vực cận kề. Châu Đại Dương là một trong số các châu lục được ghi nhận và nó cũng là một trong số 8 khu vực sinh thái đất liền. Thuật ngữ châu Đại Dương là phiên âm từ cụm từ tiếng Trung 大洋洲 để chỉ "Oceania" trong tiếng Anh hay "Océanie" trong tiếng Pháp. Từ tiếng Pháp Océanie được nhà địa lý học người Pháp Conrad Malte-Brun tạo ra vào khoảng năm 1812.. Từ này xuất phát từ oceanus trong tiếng Latinh, có nguồn gốc từ ὠκεανός (ōkeanós) trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là đại dương. Về mặt dân tộc học, các đảo được gộp trong châu Đại Dương được chia ra thành các khu vực nhỏ hơn, bao gồm Australasia, Melanesia, Micronesia, Polynesia. Các phần nhỏ của Melanesia và toàn bộ Micronesia cùng Polynesia không tạo thành phần đại lục của châu Đại Dương. Ranh giới của châu Đại Dương được xác định theo nhiều cách khác nhau. Phần lớn các định nghĩa coi các phần thuộc Australasia như Australia, New Zealand, New Guinea, một phần nhất định của quần đảo Mã Lai là thuộc châu Đại Dương == Phạm vi == Theo truyền thống, châu Đại Dương được hiểu như là bao gồm các khu vực: Australasia, Micronesia, Melanesia và Polynesia. Tuy nhiên, diễn giải các khu vực này cũng không cố định; các nhà khoa học và địa lý ngày càng có xu hướng chia châu này thành hai khu vực gọi là châu Đại Dương gần và châu Đại Dương xa Phần lớn châu Đại Dương bao gồm các đảo quốc, mỗi đảo quốc bao gồm hàng nghìn đảo san hô vòng và đảo núi lửa, với dân số ít. Australia là quốc gia đại lục duy nhất còn Papua New Guinea là quốc gia duy nhất có biên giới bộ với Indonesia (khi coi toàn bộ Indonesia thuộc về châu Á) hay Indonesia là quốc gia duy nhất có biên giới bộ với Malaysia, Đông Timor, Papua New Guinea (khi coi các đảo thuộc phía đông nước này thuộc về Melanesia của châu Đại Dương). Trong trường hợp Melanesia mở rộng tới các đảo phía đông Indonesia thì điểm cao nhất châu Đại Dương thuộc về đỉnh Puncak Jaya ở tỉnh Papua với độ cao tới 4.884 m (16.024 ft) còn điểm thấp nhất thuộc về hồ Eyre, Australia với độ cao -16 m (-52 ft) so với mực nước biển. == Các khu vực == Định nghĩa các khu vực của châu Đại Dương phụ thuộc vào từng nguồn. Bảng dưới đây chỉ ra các phân khu và quốc gia của châu Đại Dương theo biểu đồ phân chia khu vực địa lý của Liên hiệp quốc. == Đọc thêm == Danh sách các quốc gia châu Đại Dương theo GDP danh nghĩa 2009 Danh sách các quốc gia châu Đại Dương theo GDP danh nghĩa 2012 Danh sách các quốc gia châu Đại Dương theo GDP trên người 2012 Danh sách các quốc gia châu Đại Dương theo GDP trên người 2009 == Ghi chú == * Những quốc gia độc lập là thành viên Liên hiệp quốc. == Liên kết ngoài == Jane's Oceania Home Page Oceania photos and information Open-Site Oceania - Information about the different countries of Oceania Oceania Paper Money - Japanese occupation currency Anglican history in Oceania - primary texts Early Societies of Oceania, 3500 TCN- 500 TCN - historical map.
shropshire.txt
Shropshire ( /ˈʃrɒpʃər/ hay /ˈʃrɒpʃɪə/; hoặc là Salop; viết tắt trong in ấn, Shrops; danh xưng người danh của hạt Salopian /səˈləʊpjən/) là một hạt của Anh. Thủ phủ hạt đóng ở Shrewsbury. Hạt này nằm ở Tây Midlands của Anh, giáp với Powys và Wrexham ở xứ Wales phía tây và tây bắc, Cheshire ở phía bắc, Staffordshire ở phía đông, Worcestershire về phía đông nam và Herefordshire về phía Nam. Hội đồng Shropshire được thành lập vào năm 2009, một cơ quan thống nhất tiếp nhận từ hội đồng quận hạt và hội đồng quận hạt năm trước. Khu vực của Telford và Wrekin là một cơ quan độc lập riêng biệt từ năm 1998 nhưng vẫn tiếp tục được đưa vào quận nghi lễ. Dân số và nền kinh tế của quận tập trung vào năm thị trấn: thị xã hạt Shrewsbury, có ý nghĩa văn hoá và lịch sử và gần trung tâm của quận; Telford, một thị trấn mới ở phía đông được xây dựng xung quanh một số Các thị trấn cũ hơn, đáng chú ý là Wellington, Dawley và Madeley, ngày nay đông dân nhất; và Oswestry ở phía tây bắc, Bridgnorth chỉ ở phía nam Telford, và Ludlow ở phía nam. Hạt có nhiều thị trấn thị trường, bao gồm Whitchurch ở phía bắc, Newport phía đông bắc Telford và Market Drayton ở phía đông bắc của quận. Khu vực Ironbridge Gorge là Di sản Thế giới được UNESCO công nhận, bao gồm Ironbridge, Coalbrookdale và một phần của Madeley. Madeley.Có các khu công nghiệp lịch sử khác trong quận, chẳng hạn như ở Shrewsbury, Broseley, Snailbeach và Highley, cũng như Kênh Liên minh Shropshire (Shropshire Union Canal. Khu vực Đồi núi Shropshire Hills của vẻ đẹp tự nhiên nổi bật bao gồm khoảng ¼ quận, chủ yếu ở phía nam. Shropshire là một trong những quận thuộc vùng nông thôn và vùng thưa thớt của Anh, với mật độ dân số 136 dặm / km2. Wrekin là một trong những địa danh tự nhiên nổi tiếng nhất trong hạt mặc dù đồi cao nhất là đồi Clee Hills, Stiperstones and the Long Mynd. Wenlock Edge là một địa danh địa chất và địa chất quan trọng khác. Ở vùng tây bắc thấp của quận chồng lấn đường biên với xứ Wales là Fenn's, Whixall và Bettisfield Mosses Khu bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia, một trong những đầm lầy quan trọng nhất và được bảo tồn tốt nhất ở Anh. Sông Severn, con sông dài nhất của Anh Quốc, chạy qua quận hạt, xuất phát từ Worcestershire qua thung lũng Severn. Shropshire là đất liền và với diện tích 3.487 cây số vuông (1.346 dặm vuông) là quận nội địa lớn nhất nước Anh. Hoa biểu tượng của hạt này của cây Drosera rotundifolia. == Tham khảo ==
giáo dục việt nam cộng hòa.txt
Giáo dục Việt Nam Cộng hòa là nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa quy định quyền tự do giáo dục, và quy định nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí, "nền giáo dục đại học được tự trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn". Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương tới địa phương. Nhìn chung, mô hình giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1960-1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử trí thức và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chuyển sang mô hình giáo dục đại chúng và thực tiễn. == Tổng quan == Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Cao Miên. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, chương trình học của Việt Nam - còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn ban hành trong khoảng thời gian từ 20 tháng 4 đến 20 tháng 6 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam - được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc. Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ nhất Cộng hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình cũ của Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục người Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo. Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộng hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị. Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn. === Tỷ lệ người đi học === Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7–7,5% cho giáo dục), nhưng theo Nguyễn Thanh Liêm (cựu Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa), nền giáo dục đã phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp ngay cả ở các quốc gia phát triển. Kết quả này là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và dành nhiều tâm huyết đóng góp cho nghề nghiệp, cũng như nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp tài chính cho việc xây dựng nền giáo dục, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Năm học 1973–1974, Việt Nam Cộng hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Quốc gia Hành chánh và ở các trường đại học cộng đồng), chiếm 0,75% dân số. Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa thực hiện phổ cập tiểu học, mọi trẻ em đến 6 tuổi đều có quyền đăng ký đi học tại trường công. Tuy nhiên tới lớp 5 (lớp cuối cùng của cấp tiểu học), một loạt các kỳ thi được đề ra với tỷ lệ đánh trượt cao ở mọi giai đoạn: Học hết tiểu học phải trải qua kỳ thi vào trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi có tính chọn lọc khá cao, tỷ lệ đậu vào trường công khoảng 62%, số 38% bị trượt phải vào trường tư và tự trang trải học phí. Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II. Nói chung Tú tài I tỷ lệ đậu chỉ khoảng 15–30% và Tú tài II khoảng 30–45%. Nam giới thi hỏng Tú tài I phải trình diện nhập ngũ quân đội và đi quân dịch hai năm hoặc vào trường hạ sĩ quan Đồng Đế ở Nha Trang. Do số thí sinh bị đánh trượt cao, học sinh thời Việt Nam Cộng hòa phải chịu áp lực rất lớn về thi cử nên phải học tập rất vất vả, và chỉ khoảng 24% tổng số thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18 là được đi học. Tới năm 1974, tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số. == Triết lý giáo dục == Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Việt Nam Cộng hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật... Ba nguyên tắc "nhân bản", "dân tộc", và "khai phóng" được chính thức hóa ở hội nghị này. Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967). Theo Nguyễn Thanh Liêm trong một công trình nghiên cứu xuất bản tại Santa Ana năm 2006, và theo tài liệu Chính sách văn hóa giáo dục của Hội đồng Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng hòa ấn hành năm 1972, những nguyên tắc trên có thể hiểu như sau: Nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Đề cao những giá trị thiêng liêng của con người. Chủ trương sự phát triển quân bình và toàn diện của mỗi người và mọi người. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc... Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải biểu hiện, bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác. Giáo dục còn nhằm bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia. Khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng tinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại. == Mục tiêu giáo dục == Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra những mục tiêu chính cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại: Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại. Tuy nhiên trong giai đoạn 1955-1963, dưới thời Ngô Đình Diệm, nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa bị xem là thiên vị Thiên Chúa giáo nặng nề. Ngô Đình Diệm dành cho Giáo hội Thiên Chúa giáo quyền chi phối các trường (kể cả các trường không phải là của giáo hội) về mặt tinh thần, cốt bảo đảm thực hiện được nội dung giáo dục “Duy linh” mà thực chất là nội dung thần học theo lối triết học kinh viện thời Trung cổ. Phần lớn các học bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên Thiên Chúa giáo Do chính sách ưu đãi tài chính cùng với những đặc quyền mà Ngô Đình Diệm dành cho, hệ thống trường tư thục của Thiên Chúa giáo phát triển rất nhanh. Avro Manhattan thống kê rằng: Từ năm 1953 đến năm 1963, khắp miền Nam đã xây dựng 145 trường cấp II và cấp III, riêng ở Sài Gòn có 30 trường với tổng số 62.324 học sinh. Cũng trong cùng thời gian này, Giáo hội Thiên Chúa giáo ở miền Nam Việt Nam, từ chỗ chỉ có 3 trường cấp II và III trong năm 1953, đến năm 1963 đã lên tới 1.060 trường. Có nơi Linh mục dùng uy thế của mình để phụ huynh không cho con học trường công mà phải vào học trường của Giáo hội, nên trường tư thục của Giáo hội làm tê liệt cả trường công vì không tuyển được học sinh Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo trong nền giáo dục mới kết thúc, tuy nhiên những nội dung liên quan đến chủ nghĩa cộng sản và việc Việt Minh lãnh đạo chiến tranh chống Pháp thì vẫn bị cấm giảng dạy. == Giáo dục tiểu học và trung học == === Giáo dục tiểu học === Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ nhất Cộng hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ nhất Cộng hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học "đúp", tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác. Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều. Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, 82% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi theo học ở 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long, và Sa Đéc). Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục. Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn quốc văn; 2 giờ bổn phận công dân và đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ sử ký và địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn quốc văn, công dân và sử địa chiếm 12–13 tiếng mỗi tuần. Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết). Đối với các sắc tộc người Thượng, sắc luật 033 ngày 29 Tháng 8, 1967 ấn định việc giảng dạy thổ ngữ cùng với tiếng Việt ở bậc tiểu học nên có bốn bộ sách giáo khoa cho bốn thứ tiếng Jarai, Rhadé, Kaho và Bahnar. Đến năm 1971 thì hoàn thành tổng cộng 12 bộ sách cho 12 ngôn ngữ Thượng. === Giáo dục trung học === Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức 24% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc). Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)... Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác. Các trường tư thục thì thu học phí với mức khác nhau (tùy từng trường và khối lớp). Trung học đệ nhất cấp Trung học đệ nhất cấp bao gồm bốn lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1970 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1970 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%. Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải tự trả học phí. Một năm học được chia thành hai "lục cá nguyệt" (hay "học kỳ"). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp. Môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần. Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường. Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp (tiếng Pháp: brevet d'etudes du premier cycle). Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp. Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966–67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp. Trung học đệ nhị cấp Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở. Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chương; và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn và La Tinh. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai. Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972–1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn. Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8. Tỷ lệ đậu Tú tài I (15–30%) và Tú tài II (30–45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng "tối ưu" hay "ưu ban khen" (18/20 điểm trở lên), thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng "ưu" (16/20 điểm trở lên); "bình" (14/20); "bình thứ" (12/20), và "thứ" (10/20). Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Cường Để (Quy Nhơn), Tăng Bạt Hổ (Bồng Sơn), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ) dành cho nam sinh. Các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Hồng Đức (Đà Nẵng), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh. Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương. Trung học tổng hợp Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey, sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ. Chương trình này chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v... nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống. Thời Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức, sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Anh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng binh Lễ ở Long Xuyên. Trung học kỹ thuật Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp. Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng),, Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh). === Các trường tư thục và Quốc gia Nghĩa tử === Các trường tư thục của Giáo hội Công giáo và hệ thống trường Bồ đề của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970–1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học. con số này Tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo hội Công giáo. Tổng cộng Giáo hội Công giáo sở hữu 226 trường trung học, 1030 trường tiểu học. Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Vào năm 1962 có 16 trường trung học của cộng đồng người Hoa với 5.635 học sinh. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466. Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie-Curie, Colette, Saint-Exupéry, Lycée Yersin (Đà Lạt), College Đà Nẵng, và College Nha Trang. Những trường này theo giáo trình của Pháp để học sinh thi tú tài Pháp. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam. Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm. Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới). Các trường Quốc gia Nghĩa tử Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia Nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa như là một ưu đãi của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng. Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chủ đích của các trường Quốc gia Nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho học sinh chứ không huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia Nghĩa tử khác trường thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường Quốc gia Nghĩa tử cũng bị giải thể. == Giáo dục đại học == Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện đại học, trường đại học, và học viện trong nước. Tuy nhiên, ở một số nơi vì số chỗ rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ thuật, Quốc gia Hành chánh, và Sư phạm. Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên. Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán...); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh...) hay bằng kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông...). Cấp 2: học thêm 1–2 năm và thi lấy bằng cao học hay tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteur de troisième cycle; tương đương thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2–3 năm và làm luận án thì lấy bằng tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ). Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học. === Mô hình các cơ sở giáo dục đại học === Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa được tổ chức theo mô hình viện đại học. Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ. Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v...) hoặc trường hay trường đại học (ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v...). Trong mỗi phân khoa đại học hay trường đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v...); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tương đương với đơn vị khoa hiện nay). Trong thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị hòa bình diễn ra ở Paris, Việt Nam Cộng hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết hậu chiến, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành: trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa. Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành. Sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Nam California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam). Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng. Vào năm 1973, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về nông nghiệp, kỹ thuật, giáo dục, khoa học và nhân văn, kinh tế và quản trị, và thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường sau đại học. Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều có một khuôn viên rộng lớn, tạo môi trường gợi cảm hứng cho suy luận, cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí. Theo như Hiến pháp quy định thì nền giáo dục đại học được tự trị. Tuy nhiên về học vụ, sự thành lập các khoa, trường, ngành học, văn bằng, chứng chỉ vẫn phải do Bộ Giáo dục chấp thuận, về nhân viên, việc tuyển dụng, lương bổng, thăng thưởng, sa thải phải do Bộ Giáo dục và Tổng Nha Công vụ chấp thuận, về Ngân sách: Quyền chuẩn chi được ủy nhiệm cho Viện trưởng". Như vậy, về hành chính, Viện Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục, và có thể bị chi phối bởi Bộ Giáo dục và Tổng Nha Công vụ chứ không hẳn là tự trị. Chính quyền Sài Gòn chỉ muốn xây dựng Viện Đại học hoàn toàn lệ thuộc vào chính quyền hoặc đảng phái hay cá nhân người lãnh đạo, bởi vậy, trong cộng đồng sinh viên đại học miền Nam từng dấy lên nhiều phong trào đấu tranh đòi thực thi tự trị đại học Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập. Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các "trường đại học bách khoa" được thành lập dưới hai chính thể này không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật. Tương tự, mô hình "trường đại học tổng hợp" cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện. Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập hai "đại học" cấp quốc gia và ba "đại học" cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu Quốc hội đưa ra đề nghị gọi tên các "đại học" cấp quốc gia và cấp vùng là "viện đại học". === Các viện đại học công lập === Viện Đại học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại học Quốc gia Việt Nam (1955) - còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất miền Nam. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại học Y khoa dùng cả tiếng Anh. Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn. Viện Đại học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa. Viện Đại học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa. Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972). === Các viện đại học tư thục === Viện Đại học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người. Viện Đại học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật học, Khoa học xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên. Viện Đại học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967, tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3 Tháng Hai), Quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng. Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh. Viện Đại học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Viện Đại học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Viện Đại học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công giáo điều hành. === Các học viện và viện nghiên cứu === Học viện Quốc gia Hành chánh: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3 tháng 2), Quận 10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự. Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972–1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông lâm súc (1962–1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968–1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức năm 1974. Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v. với những chuyên môn đặc biệt. === Các trường đại học cộng đồng === Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long. Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng. === Các trường kỹ thuật và huấn nghệ === Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học. Trường Quốc gia Nông lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B'lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc, vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông lâm súc (1962–1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968–1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972–1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương. Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng hòa gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức. Học viện Cảnh sát Quốc gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp. === Các trường nghệ thuật === Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ nhất Cộng hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điển Tây phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ. Trường Quốc gia Âm nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế, chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam, dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh thành Huế làm nơi giảng dạy. Trường Quốc gia Trang trí Mỹ thuật: thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940). Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn: thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954–1966). === Các trường giáo dục bình dân === Ngoài những cơ sở giáo dục chính quy, chính phủ còn hợp tác với những đoàn thể tư nhân tổ chức những lớp giáo dục bình dân, giúp xóa nạn mù chữ, nhắm lớp người 16 tuổi trở lên. Giáo trình là những lớp tập đọc, tập viết, toán, sử ký, địa lý, vệ sinh, nhạc lý, và công dân. Lớp học thường là buổi sáng hay buổi chiều, kéo dài hai giờ đồng hồ, nhóm họp ở đình, chùa, nhà thờ... Sách, vở, bút, giấy đều phát miễn phí. Sĩ số toàn quốc lên đến một triệu người vào năm 1960. Trường Bách khoa Bình dân là một thí dụ. === Sinh viên du học ngoại quốc === Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm là Pháp (2.059 năm 1959, 1.522 năm 1964) và Hoa Kỳ (102 năm 1959, 399 năm 1964), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư. == Tài liệu và dụng cụ giáo khoa == Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học. Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo. Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam. Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học. Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm. == Nhà giáo == === Đào tạo giáo chức === Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958. Sau có thêm các trường cao đẳng sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên. Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt. Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học. Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp. Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v... Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa. === Đời sống và tinh thần giáo chức === Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể thuê được người giúp việc trong nhà. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy đời sống chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, hầu hết các nhà giáo vẫn giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương. == Thi cử và đánh giá kết quả học tập == Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965–1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp. Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển... đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v... Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn. == Tổ chức quản trị == === Hệ thống quản trị giáo dục === Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, Bộ Quốc gia Giáo dục có Tổng Nha Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục phụ trách giáo dục tiểu học và trung học; đứng đầu là một Tổng Giám đốc. Tổng Nha này (văn phòng đặt tại số 7 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn) bao gồm Nha Trung học, Nha Tiểu học, Nha Tư thục, Sở Khảo thí, và Ban Thanh tra và Soạn Đề thi. Ở địa phương, mỗi tỉnh có một Ty Tiểu học để quản lý tất cả các trường tiểu học trong tỉnh. Nhưng các trường trung học ở Sài Gòn và ở các tỉnh lỵ và quận lỵ đều làm việc thẳng với Nha Trung học ở Tổng Nha. Khi số trường trung học gia tăng quá nhiều thi Nha Trung học hoạt động không còn hữu hiệu nữa. Ở tại các tỉnh, hiệu trưởng trường trung học tỉnh lỵ kiêm luôn việc kiểm soát các trường bán công và tư thục khiến vị trí công việc này rất nặng nề. Năm 1958 lập Ban Tu thư để soạn sách giáo khoa, phần lớn in ở ngoại quốc với viện trợ của Mỹ. Tháng 6 năm 1971, dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, Bộ Quốc gia Giáo dục mở rộng thành Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên (VH–GD–TN). Cơ quan đầu não của Bộ bào gồm: Một Tổng trưởng (ngày nay gọi là Bộ trưởng), một Thứ trưởng, và bốn Phụ tá đặc biệt (ngang hàng thứ trưởng) đặc trách Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục, Văn hóa, Thanh niên, và Kế hoạch. Điều hành văn phòng cơ quan đầu não có Đổng lý văn phòng (chức vụ này bị bãi bỏ từ năm 1974), Chánh văn phòng của Tổng trưởng, Chánh văn phòng của Thứ trưởng, Bí thư của Tổng trưởng, Bí thư của Thứ trưởng, Tham chánh Văn phòng của Tổng trưởng, các Công cán Ủy viên của Tổng trưởng, Thứ trưởng, Phụ tá đặc biệt, và một số Thanh tra đặc biệt tại Bộ. Tổng thư ký và Phó tổng thư ký của Bộ trông coi khối điều hành ở trung ương với 13 nha, 1 sở, và 1 trung tâm: (1) Nha Sưu tầm và Nghiên cứu Giáo dục, (2) Nha Kế hoạch và Pháp chế, (3) Nha Học chánh (tức là Quản trị Giáo dục), (4) Nha Sinh hoạt Học đường, (5) Nha Sinh hoạt Văn hóa, (6) Nha Sinh hoạt Thanh niên, (7) Nha Công tác Quốc tế, (8) Nha Sư phạm và Tu nghiệp, (9) Nha Khảo thí, (10) Nha Y tế Học đường, (11) Nha Nhân viên, (12) Nha Tài chính, (13) Nha Tạo tác (tức là Kiến thiết và Hậu cần), (14) Sở Văn thư, và (15) Trung tâm Học liệu. Thanh tra Đoàn được lập ở trung ương, bên cạnh khối điều hành của Tổng thư ký. Tổng Nha Trung Tiểu học và Bình Dân Giáo dục được giải tán và tất cả các công việc thuộc Tổng Nha được đưa về Bộ và nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Phụ tá đặc biệt đặc trách Trung Tiểu học và Bình Dân Giáo dục. Vào năm 1972, Bộ VH–GD–TN thiết lập 4 Khu Học chánh để đại diện cho Bộ ở 4 vùng chiến thuật (quân khu) để đôn đốc, kiểm soát và giúp đỡ công việc văn hóa, giáo dục, và thanh niên ở các tỉnh thuộc phạm vi quân khu của mình. Đây là một cơ quan hoạt động rất hữu hiệu, tuy nhiên vì ngân sách eo hẹp và vì nhu cầu cải tổ công vụ trên toàn quốc nên Khu Học chánh bị giải tán sau hơn một năm hoạt động. Tại mỗi tỉnh, Bộ VH–GD–TN cho thiết lập một Sở Học chánh để phụ trách tất cả các công việc liên quan đến văn hóa và giáo dục trong tỉnh; Ty Tiểu học được sáp nhập vào Sở Học chánh. Bộ VH–GD–TN mong muốn rằng cơ quan học chánh ở mỗi tỉnh phải có địa vị quan trọng và càng ít bị áp lực của địa phương càng tốt cho nên đã nâng cơ quan này lên thành Sở. Tuy vậy, do tình hình đất nước, điều này không thể thực hiện được, và công cuộc cải tổ công vụ toàn quốc đã đưa đến quyết định chuyển Sở Học chánh thành Ty Văn hóa Giáo dục tại địa phương từ năm 1974. Trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa lúc này có 50 Ty Văn hóa Giáo dục đặt tại 48 tỉnh lỵ và 2 thị xã. Về mặt ngân sách vào thời điểm năm 1961 thời Đệ nhất Cộng hòa với ngân sách quốc gia là 15.276 triệu đồng, chính phủ đã chi 811,4 triệu đồng cho ngân sách giáo dục; chính quyền địa phương góp 563,3 triệu đồng tính tổng cộng là 8,99% ngân sách quốc gia. Bộ Quốc gia Giáo dục còn điều hành Viện Khảo cổ và quản lý các viện bảo tàng quốc gia như Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam ở Sài Gòn, Viện Bảo tàng Huế và Viện Bảo tàng Chàm. === Những người làm giáo dục === Ở Việt Nam, ngay từ thời quân chủ, giáo dục là của những người làm giáo dục. Các vương triều của Việt Nam thường chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo đó là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào hoạt động giảng dạy của các cơ sở giáo dục. Sang thời Pháp thuộc, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành và soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn, dù là người Pháp hay người Việt. Đặc điểm trên được tôn trọng trong suốt thời Quốc gia Việt Nam của Cựu hoàng Bảo Đại và đặc biệt là thời Việt Nam Cộng hòa. Các chức vụ bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng các chức vụ khác trong Bộ Giáo dục đều là những nhà giáo chuyên nghiệp đảm trách (ngoài trừ một số chức vụ có tính chất chính trị như đổng lý văn phòng, bí thư, v.v...). Họ là những người am hiểu công việc, có kinh nghiệm, giàu tâm huyết, và xem chính trị chỉ là nhất thời, tương lai của dân tộc mới quan trọng. Trong các cơ quan lập pháp, những người đứng đầu các ủy ban hay tiểu ban giáo dục của Thượng viện và Hạ viện (của Quốc hội Việt Nam Cộng hòa) đều là những nghị sĩ quốc hội xuất thân từ nhà giáo. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đều ngưng lại trước ngưỡng cửa học đường. Riêng trong lĩnh vực giáo dục đại học, Điều 10 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967) nêu rõ: Nền giáo dục đại học được tự trị. Ở miền Nam trước 1975 không có "Bộ Đại học" cũng không có cơ quan chủ quản kiểu như Bộ Y tế quản lý các trường đại học Y–Dược. Trong ban lãnh đạo của Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại học. Công việc của vị này chủ yếu là lo về chính sách chung vì các viện đại học là cơ quan ngoại vi đối với Bộ ở trung ương. Về học vụ và điều hành, các cơ sở giáo dục đại học được tự trị. Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa đại học) có quyền thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai. Các hiệu trưởng hay khoa trưởng của các trường đại học hay phân khoa đại học khong do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên. Về mặt tài chính, tuy các viện đại học công lập có ngân sách riêng nhưng đây là một phần của ngân sách chung thuộc ngân sách quốc gia và phải được Quốc hội chấp thuận. Tất cả các chi tiêu phải qua thủ tục "chiếu hội ngân sách" ("chiếu hội"=kiểm nhận) do Bộ Tài chính kiểm soát và thực hiện. Ngoài ra, giảng viên và nhân viên là công chức quốc gia. Việc tuyển mới, chuyển ngạch, bổ nhiệm, thăng chức, v.v... phải qua thủ tục "chiếu hội công vụ" do Phủ Tổng ủy Công vụ thực hiện để kiểm soát. Trong thực tế, thủ tục này được thực hiện một cách khá dễ dàng và nhanh chóng. Như vậy, về mặt tài chính các viện đại học công lập ở miền Nam không được nhiều quyền tự trị như các viện đại học ở Hoa Kỳ. Lý do của việc này là do các viện đại học này không thu học phí của sinh viên, không có nguồn thu riêng. === Các kỳ đại hội giáo dục quốc gia === Đại hội Giáo dục Quốc gia lần I: tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958. Triết lý giáo dục nhân bản - dân tộc - khai phóng được chính thức hóa ở hội nghị này. Đại hội Giáo dục Quốc gia lần II: tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1964. Đại hội này tái xác nhận ba nguyên tắc căn bản nhân bản - dân tộc - khai phóng và tổ chức lại hệ thống học đường nhấn mạnh đến sự học tập liên tục từ lớp 1 đến lớp 12. === Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu === Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu: Phan Huy Quát: sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng trưởng Giáo dục Quốc gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nguyễn Thành Giung: sinh năm 1894 tại Sa Đéc; tiến sĩ vạn vật học (Viện Đại học Khoa học Marseille); Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục 1952–1953 thời Quốc gia Việt Nam, kiêm Phó Viện trưởng Viện Đại học Hà Nội. Trần Hữu Thế: sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học (1952), từng dạy học ở Lyon (Pháp) và làm giáo sư ở Trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục; từng làm Đại sứ của Việt Nam Cộng hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958 chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng hòa. Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng trưởng Giáo dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ vào năm 1966. Trần Ngọc Ninh: sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, giáo sư Văn minh Đại cương và Văn hóa Việt Nam tại Viện Đại học Vạn Hạnh; Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa. Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục (1968–1969) bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969. Nguyễn Lưu Viên: sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, Bệnh viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục rồi Phó thủ tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa ở Hội nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm. Ngô Khắc Tĩnh: sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đỗ Bá Khê: sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Nam California); Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên thời Đệ nhị Cộng hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở miền Nam Việt Nam và được xem là "cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam". Ông còn thiết lập Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974 dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ) và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này. Nguyễn Thanh Liêm: sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên thời Đệ nhị Cộng hòa. Các Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục: Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình. == Trợ giúp của quốc tế == Những nỗ lực phát triển giáo dục của Việt Nam Cộng hòa nhận được sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới. Một vài ví dụ có thể kể đến: UNESCO giúp thiết lập một hệ thống các trường tiểu học cộng đồng. UNDP giúp đỡ trang thiết bị cho Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ. New Zealand xây dựng các tòa nhà cho Trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Pháp cung cấp nhiều giáo sư, trang thiết bị, khoản tài trợ giúp phát triển nhân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực toán học hiện đại. Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) giúp xây dựng và cung cấp trang thiết bị cho một trường trung học kỹ thuật, ngoài ra còn hỗ trợ Trường Đại học Y khoa của Viện Đại học Huế, v.v... Phần lớn sự trợ giúp đến từ Hoa Kỳ. Trong đó có sự giúp đỡ trong việc ấn loát sách giáo khoa, xây dựng Trường Đại học Sư phạm của Viện Đại học Sài Gòn và các trường sư phạm khác ở các tỉnh, 11.000 phòng học trong các ấp chiến lược, 18 trường trung học kỹ thuật, một trung tâm y khoa cho Viện Đại học Sài Gòn, một trường sư phạm và cùng với nó là một trường trung học kiểu mẫu, một trường sư phạm kỹ thuật, một trường đại học nông nghiệp, một trường đại học kỹ thuật, một trung tâm hành chính cho viện đại học, v.v... Tất cả các chương trình này được thực hiện thông qua các nhóm chuyên gia gồm các giáo sư, nhà quản trị, và sinh viên của các viện đại học Hoa Kỳ. == Chữ viết == Vào thời đó, chính tả tiếng Việt khác với bây giờ ít nhiều. Điểm khác biệt gồm có việc dùng gạch nối "-" giữa các từ trong một từ kép, ví dụ như "ngân-hàng", "Việt-Nam". Cách viết tên riêng thì có khi viết thành "Nguyễn-văn-Mỗ" thay vì viết hoa mỗi chữ (Nguyễn Văn Mỗ). Những khác biệt này không phải do chính quyền tạo ra hay chỉ mới xuất hiện vào thời buổi đó mà đúng ra là tiếp nối cách viết từ thời tiền chiến. == Các thành tựu và khuyết điểm == === Thành tựu === Giáo dục Việt Nam Cộng hoà tuy còn những hạn chế nhất định nhưng đã xây dựng được cho mình một số nền tảng ban đầu của một nền giáo dục mới, tạo cơ sở cho những bước phát triển thêm về sau: Thực hiện giáo dục miễn phí đối với những trường công lập: Người đi học từ bậc tiểu học đến khi tốt nghiệp đại học gần như không phải đóng học phí, trừ vài khoản lệ phí đóng góp (tuy nhiên nếu học trường tư thì vẫn phải đóng học phí tùy theo quy định từng trường). Nền giáo dục vận hành trên cơ sở tự chủ cao: Các viện đại học cả công lẫn tư được quyền hoạt động độc lập và tự chủ trong cơ cấu bộ máy, hoạt động, tự do thiết lập chương trình giảng dạy và học tập, ít bị lệ thuộc bởi chỉ đạo từ chính phủ (miễn không dùng giảng đường để tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản). Môi trường đại học tự chủ: Vận hành theo cơ chế "tự trị đại học" (tương đương với "tự chủ" đại học hiện nay), tạo điều kiện cho mọi giáo sư, sinh viên được quyền nghiên cứu, sáng tạo, phát biểu. Sinh viên được học trong môi trường mở, miễn không trái quy định của luật pháp và không được ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Nền giáo dục mang tính xã hội hóa cao: mọi cá nhân hoặc đoàn thể/tổ chức hợp pháp đều có quyền mở trường dạy học từ mẫu giáo đến đại học theo quy định của luật, nhờ vậy hệ thống giáo dục tư nhân phát triển mạnh. Khá đa dạng về loại hình, đã bước đầu thiết lập được một số mô hình giáo dục đặc biệt, thích nghi với hoàn cảnh của từng địa phương và của đất nước. Hình thức tổ chức các lớp học đa dạng, tạo điều kiện cho mọi người được học, không giới hạn tuổi tác. Giáo dục tách khỏi chính trị và tôn giáo: ở cả ba cấp tiểu, trung và đại học (phổ thông lẫn chuyên nghiệp), nội dung sách giáo khoa ít bị chính trị chi phối. Ở các môn xã hội như văn học, lịch sử, triết học, các sự kiện, nhân vật được giảng dạy, phản ánh khá đầy đủ, ít bị chi phối bởi chủ đích chính trị (trừ những nội dung về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chủ nghĩa cộng sản). Nhờ vậy, kiến thức của sinh viên học sinh khá bao quát. Giáo dục cũng tách khỏi tôn giáo, nội dung giảng dạy không phụng sự riêng cho một tôn giáo nào (trừ những trường do các tổ chức tôn giáo thành lập và điều hành). Nề nếp thi cử tương đối ổn định, khá công bằng và bình đẳng cho mọi người đi học. Trình độ nghiệp vụ, lương tâm, trách nhiệm, thể diện, tư cách mô phạm … của các giáo viên vẫn giữ được một cách căn bản nhờ được đào tạo tương đối tốt. Ít xảy ra những hiện tượng tiêu cực như tham ô, móc ngoặc, lãng phí của công một cách tràn lan. === Khiếm khuyết, hạn chế của nền giáo dục === Bên cạnh những thành tự kể trên, nền giáo dục Việt Nam Cộng hoà cũng tồn tại những khuyết điểm. Thời gian đầu, trong quá trình góp ý và cải tổ giáo dục, nhiều nhà giáo, giảng viên Việt Nam Cộng hòa đương thời đã nêu ra các khiếm khuyết, hạn chế của nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa:: Nền giáo dục vay mượn ngoại lai, là di sản của thực dân phong kiến, chịu ảnh hưởng sâu đậm của chương trình giáo dục cũ của Pháp suốt 1 thế kỷ mà họ cai trị, thiếu tính tự chủ, thiếu sự sáng tạo... Thiếu một chính sách rõ rệt, chưa có kế hoạch mang tính lâu dài. Chương trình nặng về lý thuyết và thi cử, xa thực tế, thiếu thực hành. Chương trình nặng và dài, nhưng chỉ trọng trí dục mà xem nhẹ phần đức dục và thể dục. Thiếu trường ốc, giáo chức không đủ, thiếu cơ sở vật chất giáo dục... Nền giáo dục thiếu tính cách thuần nhất trong cơ cấu tổ chức và trong sự phân phối chương trình giữa ba cấp học, thiếu sự phối hợp và liên thông giữa các cấp. Thiếu quan niệm và tổ chức hướng học và hướng nghiệp, tâm lý trọng văn kinh nghề... Ngay tại các trường chuyên môn và kỹ thuật, chương trình học cũng nặng phần lý thuyết, kém phần thực hành. Nền giáo dục thiếu một chính sách hướng dẫn, kế hoạch tổ chức để thích ứng với nhu cầu quốc gia. Đã có nhiều bài báo phân tích các khuyết điểm của nền giáo dục, tựu chung như sau: (1) Thiếu một kế hoạch dài hạn và quy mô; (2) Thiếu một cơ cấu tổ chức hữu hiệu; không đủ trường ốc và một đội ngũ sư phạm được huấn luyện chu đáo; (3) Giáo dục thiếu thực dụng, đặc biệt về phương diện kinh tế; (4) Áp dụng một chương trình học sai lầm, lạc hậu Sinh viên học sinh Việt Nam Cộng hòa phải chịu áp lực rất lớn về thi cử (do tỷ lệ xét đậu khá thấp). Một tỷ lệ khá lớn (40%) bị trượt thi tuyển lớp Đệ thất trường công, rồi lại phải chịu áp lực nặng nề trong các kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp, Tú tài I (mỗi kỳ chỉ xét đậu khoảng 15–30%). Học sinh sinh viên phải học rất vất vả vì lo thi rớt, nếu đậu lại lo ra trường bị thất nghiệp. Hoàn cảnh kinh tế, đời sống của giáo viên bị sa sút khiến nhiều người đã bỏ nghề hoặc phải tìm việc làm thêm để nuôi sống gia đình. Đã vậy, lại không có Luật Giáo dục hoặc Quy chế Giáo chức để đảm bảo quyền lợi của giáo viên, nên họ chịu nhiều hậu quả như: sự bất bình đẳng trong hàng ngũ giáo chức; trường tư thục bị biến thành cơ sở thương mại và giáo chức tư thục bị chủ trường bóc lột; giáo chức tiểu học bị nhiều thiệt thòi; giáo chức bị hiệu trưởng và người ngoài hiếp đáp (phê điểm, hành hung…) và rất nhiều hậu quả khác" === Nguyên nhân khuyết điểm, hạn chế === Trong quá trình góp ý và cải tổ giáo dục, những nguyên nhân gây ra các khuyết điểm này được các nhà nghiên cứu kể ra như: Về mặt khách quan: do chiến tranh kéo dài, liên tục bất ổn về chính trị, ngân sách giáo dục thiếu thốn (chỉ khoảng 5–6% trên tổng ngân sách quốc gia); Về mặt chủ quan: Chưa có chính sách lâu dài về giáo dục. Những lý thuyết "giáo dục nhân bản, khai phóng", "giáo dục tiến bộ"… nghe thì lý tưởng nhưng khi áp dụng vào thực tế thì bị lúng túng, vá víu. Do thiếu thực hành cho nên đặt tiêu chuẩn như vậy không có tính khả thi. Các ý niệm "giáo dục Nhân bản, Khoa học, Dân tộc và Khai phóng" khá mơ hồ, khiến sự phát triển không định hướng, lộn xộn và chắp vá. Chính sách giáo dục thay đổi liên tục: chỉ trong vòng 5 năm (1964–1969) đã thay tới 14 vị Tổng trưởng ngành giáo dục. Mỗi vị có một chủ trương, một đường lối khác nhau, không chịu tiếp nối công trình của vị tiền nhiệm. Có ý kiến cho rằng chính phủ Việt Nam Cộng hòa chưa bao giờ đặt vấn đề giáo dục lên đúng tầm quan trọng của nó. Ngoài ra, còn có những cản trở khác: căn bệnh kỳ thị xuất thân Nam, Bắc và tình trạng tranh chấp ngấm ngầm giữa lớp giáo viên Cũ (ảnh hưởng từ Pháp) và lớp Mới (ảnh hưởng từ Mỹ) Ngoài ra, hiện tượng tham nhũng đã bắt đầu len lỏi vào ngành giáo dục với một số trường hợp được đưa ra ánh sáng, càng làm mất thêm niềm tin chung của người dân về tính lành mạnh và thiện chí của bộ máy giáo dục === Các đề xuất, dự án cải tổ === Từ những khuyết điểm, các nhà giáo đương thời đề nghị phải có các vị am hiểu về giáo dục cùng nghiên cứu chương trình cải tổ cụ thể. Chính phủ phải đặt vấn đề giáo dục lên hàng quốc sách mới hy vọng nền giáo dục thoát ra khỏi cảnh bế tắc… Phải lưu tâm đến mấy điểm dưới đây: Xem xét thực trạng của nền giáo dục; Tìm hiểu nguyên nhân đã dẫn đến cuộc khủng hoảng và bế tắc hiện tại; Tìm biết về nhu cầu của quốc gia hiện tại; Soạn thảo và vạch định hướng cùng chương trình của một nền giáo dục tiến bộ; Có kế hoạch thực hiện, cải tổ toàn diện nền giáo dục từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học đến Đại học. Nhà giáo Trần Ngọc Ninh đề nghị một chương trình khẩn trương gồm bốn điểm chính: Tạo lại lòng tin: hãy tránh sự thay đổi vụn vặt về chương trình học, hợp lý hóa và bỏ bớt các kỳ thi cử; Phải có một chính sách toàn diện hợp lý và hợp với tình trạng xã hội Việt Nam, tránh rập khuôn; Phải coi giáo dục là trọng tâm của tinh thần dân chủ; Phải hiểu giáo dục là một việc đầu tư chắc chắn và hợp lý nhất trong các việc đầu tư của một quốc gia. Một số đề án cải tổ tiêu biểu: Hệ thống dự án giáo dục mới 1964: Dự án này đề ra 6 mục tiêu cơ bản: Gia tăng tính thuần nhất của hệ thống giáo dục; Đi sát thực trạng với nhu cầu địa phương, Thiết lập tổ chức hướng học và hướng nghiệp theo các nước tiền tiến; Tăng cường nền học chuyên nghiệp và kỹ thuật ở Trung học; Thích ứng với nhu cầu quốc gia; Tăng gia hiệu năng của trường đại học. Hệ thống giáo dục cải tổ theo Chính sách Văn hóa Giáo dục (1972) của Hội đồng Văn hóa Giáo dục' "Kế hoạch phát triển giáo dục bốn năm (1971–1975)" của Bộ Giáo dục: Với 3 mục tiêu: Phát huy năng khiếu cá nhân; Thích ứng cá nhân với xã hội; Phát huy tinh thần quốc gia. Kế hoạch Giáo dục quốc gia của Nhóm Nghiên cứu hậu chiến Hệ thống giáo dục theo một đề xuất cải tổ của tư nhân. Các đề xuất cải tổ đề nghị vận dụng sáng tạo nhiều hình thức đào tạo, mô hình trường đào tạo từ tiểu học đến đại học: như tiểu học cộng đồng, đại học cộng đồng, trung học tổng hợp, trường cao đẳng và chuyên nghiệp, các viện, đại học bách khoa...; chú trọng đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn kỹ thuật thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Việc thi cử cũng được đơn giản bớt: Bãi bỏ kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp (niên khóa 1965–1966) và Tú tài phần I (vào năm 1972–1973). Tập dự thảo "Kế hoạch phát triển giáo dục bốn năm (1971–1975)" của Bộ Giáo dục đã đưa ra 3 mục tiêu cải tổ giáo dục: (1) Phát huy năng khiếu cá nhân; (2) Thích ứng cá nhân với xã hội; (3) Phát huy tinh thần quốc gia. Phải lo phát triển: (1) Giáo dục cộng đồng cấp I; (2) Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp cấp II; (3) Đại học bách khoa. Tuy nhiên, bản dự thảo này bị một số nhà giáo như Trần Nho Mai chê là thiếu thực tế, không có tính khả thi, vì những mục tiêu đặt ra vượt quá khả năng về điều kiện vật chất để thi hành. Do vậy, kế hoạch bị bãi bỏ. Vì vậy, năm 1974, Hội đồng cải tổ giáo dục đã từng nêu đề xuất là sẽ soạn một chương trình cải cách mới với mục tiêu dài hạn, tuy nhiên năm 1975 Việt Nam Cộng hòa sụp đổ nên vẫn chỉ dừng ở mức ý tưởng == Đánh giá == Lời đánh giá về nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa trên trang mạng của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Định: "Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam. Mỹ-ngụy đã cố sử dụng giáo dục làm công cụ xâm lược Việt Nam. Chúng đã gieo rắc trong học sinh, sinh viên tư tưởng hoài nghi, mơ hồ, tư tưởng an phận, sợ Mỹ, phục Mỹ. Chúng phát triển trong học sinh, sinh viên lối sống thực dụng, quay lưng với hiện tại, chấp nhận cuộc sống vị kỷ ương hèn... Mặt khác, Mỹ-ngụy tìm mọi cách tiêu diệt nền giáo dục cách mạng, tìm cách ngăn chặn, loại trừ những mầm mống cách mạng trong nhà trường." Trong một giáo án về Lịch sử Giáo dục huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị: "Giáo dục Mỹ-ngụy tuy có phát triển về số lượng và có những cải cách nhất định, nhưng không thoát khỏi mục đích nô dịch, thống trị." Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 (tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì "Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra." Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam. Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: "Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục "xã hội chủ nghĩa" (1975–1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng..." Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến tại Hà Nội, thì nhận định: "Chế độ Việt Nam Cộng hòa ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt, họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn, chứ không phải như những con người giả dối, trong hội trường thì tung hô một nẻo, về nhà thì nói một nẻo. Rồi còn có báo chí, nhân quyền được tôn trọng hơn, có tự do ngôn luận hơn chứ không như ở miền Bắc là bưng bít, phải nói theo Đảng làm theo Đảng, không được phê bình Đảng, không nói được nguyện vọng của nhân dân, của quần chúng." Nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh thì cho rằng: "Việt Nam Cộng hòa chết yểu, chỉ sống 20 năm (1955-1975), nên lý thuyết/dự tính/kế hoạch giáo dục cao siêu thì nhiều nhưng sự thể hiện trên thực tế lại chưa được trọn vẹn, vẫn còn bị nhiều bậc thức giả đương thời chỉ trích nặng nề. Có những kế hoạch được soạn thảo nhưng vẫn chỉ nằm trên giấy, chưa có thời gian, điều kiện thực hiện, hoặc chỉ thực hiện được một phần nhỏ. Vài kế hoạch đôi khi chỉ phản ảnh sáng kiến của một vài cá nhân hay tập thể, giai đoạn đầu vẫn còn lúng túng chưa có một chính sách giáo dục rõ rệt và nhất quán từ trên xuống, sự phát triển có lúc còn thiếu định hướng, lộn xộn và chắp vá." Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê: "Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dạy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu." == Các vấn đề khác == === Sự tham gia của Hoa Kỳ theo nhận xét của đối phương === Theo bác sĩ nhi khoa, nhà nghiên cứu văn hóa và tâm lý - y học - giáo dục Nguyễn Khắc Viện, vì hoạt động cho đảng cộng sản Pháp nên bị trục xuất về Việt Nam vào năm 1963, rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, thì trong suốt quá trình tồn tại, giáo dục Việt Nam Cộng hòa có sự tham gia lớn cả về tài chính và nhân sự của Mỹ. Trong giai đoạn 1954–1960, đã có 729 chuyên gia được cử sang Mỹ đào tạo: 222 trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, 114 học về quản trị công cộng, nhưng chỉ có 55 người học về nông nghiệp và 7 người học về công nghiệp. Điều này nhấn mạnh mục tiêu của Mỹ trong việc hỗ trợ Việt Nam Cộng hòa, đó là đào tạo nên đội ngũ cán bộ chính phủ chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và văn hóa Mỹ. Trong khoảng 1958 tới 1973, đã có 1778 quan chức cấp cao của Việt Nam Cộng hòa được đào tạo chỉ riêng bởi nhóm công tác của Đại học Michigan (Mỹ) Cũng theo ông, tính từ năm 1956 tới 1974, Mỹ đã chi tổng cộng 76 triệu USD (tương đương 450 triệu USD thời giá 2012) để viện trợ cho giáo dục Việt Nam Cộng hòa. Phần lớn sách giáo khoa của Việt Nam Cộng hòa được in ấn tại Mỹ, Hàn Quốc và Philipine Nhiều bộ sách giáo khoa được biên soạn với sự cố vấn từ Hoa Kỳ, trong đó lồng ghép nhiều tư tưởng chống Cộng, ví dụ sách giáo khoa giáo dục công dân lớp 4 của Bộ giáo dục năm 1960 có ghi "Cộng sản là những kẻ phản bội gia đình, đất nước và tôn giáo. Tại các nước cộng sản con người bị coi như súc vật". Do Việt Nam Cộng Hòa coi Việt Minh là kẻ thù, sách giáo khoa lịch sử thời Việt Nam Cộng hòa không hề nhắc tới những thành tích chống Pháp của Việt Minh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) dù đó là những sự kiện mới diễn ra ít lâu trước đó. Ví dụ, sách giáo khoa lịch sử lớp 4 (xuất bản năm 1970) của Việt Nam Cộng hòa có nhắc tới Cách mạng Tháng Tám và Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng không hề nói về việc chính Việt Minh đã làm nên hai sự kiện đó (chỉ ghi chung chung là "dân chúng kéo nhau giành chính quyền", "người Việt yêu nước trường kỳ kháng chiến và thắng lợi"). Thay vào đó, sách mô tả Việt Minh đã "giành quyền lãnh đạo, 2 lần cấu kết với Pháp phản bội dân tộc". Sách cũng không viết gì về sự ra đời của Quốc gia Việt Nam (chính là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa) và sự cộng tác của họ với quân Pháp trong suốt giai đoạn 1949–1954 (chỉ ghi chung chung là "Pháp rước Bảo Đại về lập Chính phủ, mong lôi kéo người Quốc gia") Sự can dự sâu của các trường đại học Mỹ vào chương trình đào tạo và chính sách chiến tranh tại Việt Nam đã gây nhiều phản ứng từ phía học sinh và giáo viên người Việt === Các phong trào phản chiến và chống Mỹ === Trong thời chiến tranh Việt Nam, các phong trào sinh viên đã nổi lên với mục đích là: đòi hòa bình, chống sự can thiệp của Mỹ, chống quân sự hóa học đường, đòi thả tù chính trị, ủng hộ chính phủ liên hiệp hòa giải dân tộc, ủng hộ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Các hoạt động nổi bật: Tháng 8–1964, sinh viên họp ở tổng hội, kéo đến phủ thủ tướng phản đối hiến chương mới của chính phủ Nguyễn Khánh. Khi có báo đăng sai lệch về cuộc gặp này, tổ chức biểu tình rầm rộ từ Trường J.J.Rousseau (tức Trường Chasseloup Laubat, nay là Trường THPT Lê Quý Đôn) kéo đến Bộ thông tin đòi đính chính. Năm 1970: phong trào đòi trả tự do cho Huỳnh Tấn Mẫm (chủ tịch hội) và 30 thành viên khác bị chính quyền bắt giữ, được sự ủng hộ của các phong trào sinh viên quốc tế. Đây còn gọi là ‘Vụ mồng 10 tháng 3′, ngày Huỳnh Tấn Mẫm và các sinh viên bị bắt. Năm 1970, Đại hội thanh sinh viên thế giới cùng hội thảo với chủ đề "Sinh viên thế giới và Hòa bình Việt Nam" được Tổng hội sinh viên Sài Gòn kết nối tổ chức tại chùa Ấn Quang và Đại học Nông Lâm Súc. Sự kiện diễn ra trong hai ngày 10 và ngày 11 tháng 7 năm 1970, thu hút hàng ngàn sinh viên học sinh và các tầng lớp nhân dân, tôn giáo. Chủ tịch Tổng hội sinh viên Hoa Kỳ Charles Palmer dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ, trong đó có Sam Brown, Ronald Young, những người trước đó từng tổ chức các cuộc biểu tình lớn nhất tại Washington đòi Tổng thống Nixon chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Tham dự còn có Chủ tịch Tổng hội sinh viên các nước Úc, Hà Lan, New Zealand, các linh mục đại diện Liên tôn thế giới… Đặc biệt là sự có mặt của GS. George Wald (Đại học Harvard, Mỹ) – người đạt giải thưởng Nobel Y khoa về sinh học năm 1967. Đại hội kết thúc bằng một cuộc xuống đường diễu hành rầm rộ trên đường phố, chính quyền Sài Gòn đã dùng vòi rồng, lựu đạn cay, dùng cả trực thăng bắn lựu đạn lửa để dẹp đám đông. Nhiều sinh viên bị thương, đại diện các phái đoàn quốc tế thì bị bắt và trục xuất về nước. Năm 1971 nổ ra phong trào chống bầu cử tổng thống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu. Chiến dịch đốt xe Mỹ: tháng 12–1970, nhân sự kiện em học sinh Nguyễn Văn Minh ở Quy Nhơn bị hai lính Mỹ bắn chết ngay trước cổng trường trong trò chơi "bắn người uống bia", nối theo những vụ giết hại dân thường như Thảm sát Sơn Mỹ, tổng hội liền phát động phong trào đốt xe Mỹ để bày tỏ sự phẫn uất. Rất nhiều nhóm hành động mang tên Sao băng, Sao chổi, Sao xẹt... đã được lập. Chiếc xe đầu tiên bị đốt để mở đầu chiến dịch ở ngã tư Hồng Thập Tự - Cường Để (Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ). Người Mỹ khi ấy cho rằng phong trào đấu tranh của học sinh - sinh viên miền Nam còn "nguy hiểm hơn Việt Cộng" == Xem thêm == Tú tài I và II == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
birmingham, alabama.txt
Birmingham (bûr'mĭng-hām') là thành phố lớn nhất bang Alabama và là thủ phủ của Hạt Jefferson, Hoa Kỳ. Dân số của nội thành thành phố theo điều tra dân số năm 2000 là 242.820 người nhưng đã giảm còn 231.483 người theo ước tính năm 2003. Thành phố Birmingham là đô thị lõi của vùng đô thị Đại Birmingham với dân số 1.180.206 người, chiếm khoảng ¼ dân số toàn bang Alabama. Birmingham được thành lập năm 1871 là một tổ chức công nghiệp, ngay sau khi Nội chiến Hoa Kỳ. Nó được đặt tên là Birmingham theo tên của thành phố Birmingham, một thành phố công nghiệp lớn của Anh. Cho đến giữa thế kỷ 20, Birmingham đã là một trung tâm công nghiệp hàng đầu của Nam Hoa Kỳ. Với sự phát triển vượt bậc như thế, thành phố được đặt bí danh là "Thành phố diệu kỳ" và " Pittsburgh của miền Nam". Rất giống Pittsburgh ở phía Bắc, các ngành công nghiệp lớn của Birmingham tập trung vào sản xuất sắt thép. Trong thế kỷ 20, nền kinh tế của thành phố đã đa dạng hóa. Dù ngành chế tạo vẫn hiện diện mạnh mẽ ở Birmingham, các ngành khác như ngân hàng, bảo hiểm, y tế, xuất bản và công nghệ sinh học đã ngày càng nổi trội. Birmingham đã được công nhận là thành phố hàng đầu về tăng trưởng thu nhập ở Hoa Kỳ với sự tăng thu nhập đầu người đạt gần như 100% kể từ thập niên 1990. Ngày nay, Birmingham được xếp vào một trong những trung tâm kinh doanh quan trọng nhất ở Đông Nam Hoa Kỳ và cũng là một trong những trung tâm ngân hàng lớn nhất ở Hoa Kỳ. Ngoài ra, khu vực Birmingham là nơi có trụ sở của một công ty có tên trong 500 công ty hàng đầu Fortune 500: Regions Financial. Năm công ty trong Fortune 1000 có trụ sở tại Birmingham. Trong những năm gần đây, Birmingham đã được nhiều tổ chức đánh giá là một trong những thành phố tốt nhất Hoa Kỳ có thể sinh sống và nuôi sống một gia đình. == Tham khảo ==
woodrow wilson.txt
Thomas Woodrow Wilson (28 tháng 12 năm 1856–3 tháng 2 năm 1924), là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 28. Là một người mộ đạo Giáo hội Trưởng Lão và là nhà trí thức hàng đầu của Thời kỳ tiến bộ, ông đã làm chủ tịch của Đại học Princeton và sau đó là một thống đốc cải tổ của tiểu bang New Jersey năm 1910. Với sự kiện Theodore Roosevelt và William Howard Taft chia nhau phiều bầu của Đảng Cộng hòa, Wilson đã được bầu làm tổng thống thuộc Đảng Dân chủ vào năm 1912. Ông đã tỏ ra thành công lớn trong việc lãnh đạo Quốc hội với phe Dân chủ đa số để thông qua các đạo luật và các văn kiện pháp lý quan trọng, bao gồm Ủy ban Thương mại Liên bang, Luật Chống độc quyền Clayton, Luật Underwood, Luật Vay mượn nông trại Liên bang và nổi bật nhất là Hệ thống Dự trữ Liên bang. Được bầu lại với tỷ lệ sít sao vào năm 1916, nhiệm kỳ thứ hai của ông tập trung vào đệ nhất thế chiến. Ông đã cố gắng thương lượng hòa bình ở Âu châu, nhưng khi Đức bắt đầu chiến tranh tàu ngầm không hạn chế, ông bắt đầu viết nhiều công hàm gởi Đức. Ông đã kêu gọi Quốc hội Mỹ tuyên chiến khi các yếu tố dẫn đến một quyết định có lợi cho việc Mỹ tham chiến đã được tập hợp. Bỏ qua các sự việc quân sự, ông tập trung vào lĩnh vực ngoại giao và tài chính. Ở mặt trận đối nội, ông bắt đầu chế độ quân dịch hiệu quả vào năm 1917, thu được hàng tỷ Mỹ kim thông qua các khoản vay tự do, áp dụng thuế thu nhập, thiết lập Ban các ngành chiến tranh, tăng cường sự phát triển của công đoàn lao động, giám sát nông nghiệp và sản xuất thực phẩm thông qua Luật Lever, kiểm soát đường ray, đàn áp các phong trào phản chiến. Ông ít để ý đến công tác binh bị nhưng đã cung ứng quỹ và lương thực góp phần giúp Đồng Minh giành chiến thắng năm 1918. Cuối cuộc chiến, ông đã đàm phán riêng với Đức, đặc biệt là Mười bốn điểm và hiệp ước đình chiến. Ông đã đến Paris năm 1919 để thành lập nên Hội Quốc Liên và định hình nên Hiệp ước Versailles, với sự chú ý đặc biệt đến việc thành lập các tân quốc gia từ các đế quốc đã hết tồn tại. Wilson qua đời vì đột quỵ vào năm 1924, và trong nước đã dấy lên các cuộc bạo động chủng tộc và biểu tình hàng loạt và sự thịnh vượng thời chiến tranh trở thành tình trạng đình đốn thời hậu chiến. Ông đã từ chối thỏa hiệp với phe Cộng hòa kiểm soát Quốc hội sau năm 1918, trên thực tế đã hủy bỏ cơ may phê chuẩn Hiệp ước Versailles. Hội Quốc Liên vẫn đi vào hoạt động nhưng Hoa Kỳ chưa bao giờ gia nhập hội này. Chủ nghĩa quốc tế lý tưởng hóa của Wilson trong bối cảnh Hoa Kỳ tham gia vào sân khấu thế giới đấu tranh vì dân chủ, tiến bộ và tự do đã là một quan điểm gây tranh cãi cao trong quan hệ đối ngoại của Mỹ, tạo ra một mô hình cho "những người lý tưởng hóa" ganh đua với "những người hiện thực hóa" bác bỏ trong thời gian sau. == Tham khảo ==
sân bay quốc tế cam ranh.txt
Sân bay quốc tế Cam Ranh là sân bay dân sự chính phục vụ cho tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Cực Nam Trung Bộ. Đến thời điểm năm 2012, sân bay này đã đạt lượng khách thông qua 1 triệu lượt/năm và 4.858.362 lượt khách vào năm 2016. Mã IATA: CXR (theo tên của thành phố Cam Ranh) Mã ICAO: VVCR == Vị trí địa lý, thông số kỹ thuật == Sân bay Cam Ranh có tọa độ 11°59′53″N, 109°13′10″E, và tọa lạc cách Nha Trang 30 km. === Thông số kỹ thuật === Đường hạ cất cánh (Runway): dài: 3.048m, rộng 45m. Sân đỗ tàu bay (Apron): 26 vị trí đỗ tàu bay. Tiếp nhận các loại máy bay B777, B767, B737, A320, A321, ATR-72 và tương đương. Cấp sân bay: 4D Sân bay dùng chung quân sự và hàng không dân dụng. Nhà ga hành khách (Passenger Terminal): 13.995m2. Năng lực thông qua: 1,5 triệu hành khách/năm. == Lịch sử == Sân bay Cam Ranh do quân đội Hoa Kỳ xây dựng và được sử dụng là căn cứ Không quân Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh. Năm 1973, sau Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ trao căn cứ này lại cho Không lực Việt Nam Cộng hòa. Sau 1975, sân bay Cam Ranh tiếp tục được sử dụng vào mục đích quân sự cho tới năm 2004. Ngày 19 tháng 5 năm 2004, sân bay Cam Ranh đón chuyến bay dân sự đầu tiên, bay từ Hà Nội thay thế cho sân bay Nha Trang nằm trong nội thị thành phố bị hạn chế về diện tích và vì lý do an toàn. Ngày 16 tháng 8 năm 2007, Văn phòng chính phủ ra quyết định nâng cấp cảng hàng không Cam Ranh trở thành cảng hàng không Quốc tế. Tháng 12 năm 2009, bằng việc đưa vào sử dụng nhà ga hàng không mới, hiện đại, quy mô lớn bậc nhất miền Trung, sân bay Cam Ranh chính thức trở thành Cảng hàng không quốc tế thứ ba của khu vực này.. Ngay trong buổi sáng công bố quyết định trở thành cảng hàng không quốc tế, sân bay đã đón chuyến bay đầu tiên do Hãng Hàng không Silk Air Singapore thực hiện bay thẳng từ Singapore đến Việt Nam bằng máy bay Airbus A319. == Các tuyến bay và các hãng hàng không hoạt động == === Các Tuyến bay hiện tại === == Năng lực phục vụ == Năm 2007, sân bay này phục vụ khoảng 500.000 khách, xếp thứ 5 trong các sân bay tại Việt Nam. Từ tháng 6 năm 2008, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay ban đêm . Năm 2008, sân bay này đã phục vụ 683.000 lượt khách, vượt Sân bay Phú Bài để thành sân bay lớn thứ 4 Việt Nam tính theo số lượng khách thông qua. Tỷ lệ tăng của số lượt khách thông qua vào năm 2007 là 36,8%, của năm 2008 là 36,3% so với năm trước, là sân bay có tốc độ tăng trưởng lượng hành khách cao nhất tại Việt Nam. Cuối năm 2009, nhà ga mới hoàn thành,có thể phục vụ 800 hành khách trong giờ cao điểm. Dự kiến sân bay này sẽ đạt 2,5 triệu lượt/năm vào năm 2015 . Với diện tích đất 750 ha, Sân bay quốc tế Cam Ranh có diện tích rộng hơn Sân bay quốc tế Nội Bài. Năm 2012 sân bay đón 1,2 triệu lượt khách thông quan (đứng thứ 4 Việt Nam) trong đó có hơn 1000 chuyến bay quốc tế với hơn 200.000 hành khách làm thủ tục xuất nhập cảnh tại sân bay . Hãng hàng không chuyển chở nhiều hành khách nhất tại sân bay Cam Ranh là Vietnam Airlines với gần 826,500 lượt khách lên xuống trong năm 2012 chiếm khoảng 2/3 lượt khách thông quan tại sân bay. Đền năm 2013 Cam Ranh đón 1,509,212 lượt khách tiếp tục giữ vị trí thứ 4 Việt Nam. Trong đó khách từ các đường bay quốc nội là 1,143,015 lượt (chiếm 75.74%) và khách từ các đường bay quốc tế là 366,197 chiếm 24.26%. == Định hướng phát triển == Sân bay Cam Ranh có công suất thiết kế chỉ 1,5 triệu lượt khách/năm nhưng 9 tháng trong năm 2014, tổng lượt khách đến Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh đã lên đến 1,58 triệu. Tình trạng trên khiến sân bay luôn phải hoạt động trong tình trạng quá tải. Không chỉ quá tải về nhà ga, đường băng duy nhất của sân bay được xây dựng cách đây 40 năm cũng chưa một lần được sửa chữa và đã xuống cấp trầm trọng đòi hỏi phải tạm dừng hoạt động để sửa chữa, hoặc phải xây dựng thêm đường băng mới. Đầu tháng 11 năm 2014, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ra văn bản đồng ý để tỉnh Khánh Hòa huy động các nguồn vốn của tỉnh thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đường cất, hạ cánh số 2 của Dự án Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh Ngày 15 tháng 3 năm 2015, UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức lễ khởi công xây dựng đường băng số 2, sân bay quốc tế Cam Ranh. Đường băng dài 3.048 m, rộng 45 m, đạt tiêu chuẩn Cảng hàng không cấp 4E, tức là có thể tiếp nhận các loại máy bay chở khách cỡ lớn hiện nay như A320, A321, B767, B777. Dự kiến đường băng số 2 sẽ được đưa vào sử dụng vào năm 2018. Với tình trạng quá tải hiện nay ở sân bay Cam Ranh, Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam trong thông cáo đấu giá cổ phần đã lên kế hoạch đầu tư cho dự án nâng cấp nhà ga hiện tại lên công suất 2,5 triệu lượt khách/năm với tổng mức đầu tư là 80 tỷ đồng. Song song với việc nâng cấp nhà ga hiện hữu là đầu tư góp vốn trong dự án xây mới nhà ga hành khách quốc tế với tổng mức đầu tư toàn dự án dự kiến là 2000 tỷ đồng, công suất thiết kế của nhà ga mới là 2 triệu lượt khách/ năm. Dự kiến nhà ga hành khách mới sẽ khởi công vào quý II năm 2016 và đưa vào sử dụng vào năm 2018. Kể từ thời điểm đó, nhà ga hiện hữu chỉ phục vụ cho các chuyến bay quốc nội. Nhà ga T2 (khách quốc tế) được dự kiến khởi công vào tháng 9 năm 2016, hoàn thành vào tháng 12 năm 2017, với phương án thiết kế có thể phục vụ 4 triệu khách/năm đến năm 2025, công suất tối đa 6 triệu khách/năm và có thể nâng cấp lên 8 triệu khách/năm, đồng thời dễ dàng kết nối với nhà ga T1 (khách nội địa). == Thống kê == == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == ASN lịch sử tai nạn của VVCR
11 tháng 5.txt
Ngày 11 tháng 5 là ngày thứ 131 (132 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 234 ngày trong năm. == Sự kiện == 330 – Constantinus Đại đế quyết định đổi tên thành Byzantium thành Tân La Mã (Nova Roma), chính thức dời đô về thành phố này. 1792 – Thuyền trưởng Robert Gray trở thành người da trắng đầu tiên được ghi chép là đi thuyền trên sông Columbia tại Bắc Mỹ. 1924 – Hãng Mercedes-Benz thành lập khi Gottlieb Daimler và Karl Benz sáp nhập hai công ty riêng lại. 1939 – Chiến tranh biên giới Xô-Nhật: Một đơn vị kị binh Mông cổ đi vào khu vực tranh chấp với Mãn Châu Quốc, khởi nguồn Chiến dịch Khalkhyn Gol. 1946 – Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất chính thức được thành lập tại Johor Bahru, với mục tiêu ban đầu là phản đối thành lập Liên hiệp Malaya. 1949 – Israel gia nhập Liên Hiệp Quốc. 1949 – Xiêm chính thức đổi quốc hiệu sang Thái Lan lần thứ nhì, quốc hiệu này được sử dụng liên tục cho đến nay. 1994 – Nelson Mandela tuyên thệ nhậm chức tổng thống, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. 1995 – Tại Thành phố New York, hơn 170 quốc gia quyết định mở rộng Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân vô thời hạn và vô điều kiện. 1997 – Trong trận đấu 6 ván, đại kiện tướng cờ vua Garry Kasparov bị máy tính Deep Blue đánh bại. 1998 – Một sở đúc tiền Pháp sản xuất ra những đồng tiền chung châu Âu đầu tiên mà ngày nay chính là đồng euro. == Sinh == 1930 – Edsger Dijkstra, nhà khoa học máy tính Hà Lan (m. 2002) == Mất == 1812 - Spencer Perceval, thủ tướng Anh, Bô trưởng Bộ tài chính Anh (s. 1762) == Những ngày lễ và kỷ niệm == Ngày của Mẹ tại nhiều quốc gia Ngày Kỹ thuật (Ấn Độ) Ngày Nhân quyền Cho Việt Nam (được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết của tổng thống Bill Clinton từ năm 1994 [1]) == Tham khảo ==
somapura mahavihara.txt
Somapura Mahavihara (Sanskrit; Bengali: সোমপুর মহাবিহার Shompur Môhabihar) nằm ở Paharpur, Badalgachhi Upazila,Naogaon, Tây bắc Bangladesh là một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, là thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.Đây cũng là địa điểm khảo cổ học quan trọng nhất tại Bangladesh được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1985. == Lịch sử == Lịch sử ở đây từng là một trong 5 địa điểm tu viện phật giáo lớn nhất ở Bengal và Magadha cổ đại (cùng với Vikramashila, Nalanda, Odantapurā, và Jaggadala). Tu viện được xây dưới thời các vị vua của đế chế Pala (khoảng 770-810). Ông là người kế vị Devapala và đã cho xây dựng sau khi chinh phục được vùng Varendra. Vào thế kỷ 11, tu viện bị thiêu hủy trong một cuộc chiến tranh. Phải một thời gian khá lâu sau đó, tu viện được cải tạo lại và xây dựng thêm một đền thờ Arya Tara. Sau đó, nơi đây trở thành tu viện, là nơi ở và làm việc của nhà truyền bá phật giáo Atiśa Dīpaṃkara Śrījñāna cùng nhiều nhà sư, nhà truyền bá phật giáo, học giả. Dưới thời đế chế Sena tu viện dần bị suy thoái và bị bỏ rơi vào thế kỷ 13 và sau đó là bị chiếm đóng bởi những người Hồi giáo. Mặc dù vậy, quy mô kiến trúc của tu viện khá còn nguyên vẹn. == Kiến trúc == Phế tích có diện tích 110.000 m 2, là trung tâm tôn giáo truyền bá Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo (đạo Jainism) và Hindu giáo. Cấu trúc của nó là một tứ giác khổng lồ mỗi cạnh dài 275 m, với một ngôi đền trung tâm hình chữ thập cùng các khu liên hợp ở phía Bắc và một bức tường bao quanh dày 5 m, cao từ 3 – 5 m, với tổng cộng 177 địa điểm nhỏ là các tịnh xá, bảo tháp, đền thờ và nhiều công trình phụ trợ. Cách bố trí cùng các trang trí chạm khắc bằng đá và đất nung ảnh hưởng tới các kiến ​​trúc Phật giáo khác ở cả Miến Điện, Campuchia và Indonesia. Tòa tháp trung tâm là một cấu trúc thượng tầng nhưng đến này đã bị phá hủy, chỉ còn lại các tầng bậc tháp dẫn lên trên cùng các tác phẩm nghệ thuật đất nung vô cùng ấn tượng đại diện cho nghệ thuật trang trí trạm khắc của Phật giáo. Ngày nay, nơi đây là địa điểm tham quan hấp dẫn khác du lịch khi tới Bangladesh. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Banglapedia Article on Somapura Mahavihara Pharapur Buddhist Vihara from Department of Archeology, Government of Bangladesh More info,images, videos, 360degree panoramic views and more
mùa hè chiều thẳng đứng.txt
Mùa hè chiều thẳng đứng (tên quốc tế: The Vertical Ray of the Sun) là bộ phim thứ ba của đạo diễn hải ngoại Trần Anh Hùng, nằm trong bộ tam Việt Nam trilogy. Bộ phim là một phim bi kịch của 3 chị em gái, có tên là Sương, Khánh, và Liên - ba mảnh đời tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam qua các thời kì. Nhạc nền được dùng trong phim là của Tôn Thất Tiết. Ngoài ra, ba bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng như những bài hát của The Velvet Underground, Lou Reed, Arab strap, và The Married Monk cũng được sử dụng làm nhạc nền trong phim. == Nội dung == Tại Hà Nội, gia đình của bốn chị em nhà nọ sum họp để chuẩn bị giỗ mẹ tại quán nước của người chị cả, Sương (Nguyễn Như Quỳnh). Trong ngày giỗ, Khanh (Lê Khanh) kể lúc chồng mình, Kiên (Trần Mạnh Cường) tìm được manh mối về thân phận của ông Phan Châu Toàn, người được tin là mối tình lúc trẻ thơ mà mẹ họ tiết lộ trong lúc lâm chung. Người cha của họ lúc đó vì quá đau buồn mà cũng qua đời một tháng sau. Sau ngày giỗ, Khanh tiết lộ mình có thai cùng Kiên, nhưng đề nghị anh giữ kín thêm một vài tháng nữa. Khi gặp bế tắc trong đoạn kết của quyển tiểu thuyết đầu tay, Kiên bỏ ra một tuần lễ đến Sài Gòn cho khuây khỏa. Trong chuyến đi, anh tìm đến phòng của một người phụ nữ tại khách sạn, dù họ không có gì với nhau. Biết chuyện, Khanh nghi ngờ sự trung thực của chồng mình. Trong lúc Quốc (Chu Hưng) thường xuyên đi khắp nơi để chụp ảnh các loài thực vật, Sương lén lút chồng mình quan hệ cùng Tuấn (Lê Tuấn Anh), một nhà kinh doanh người Sài Gòn mà cô gặp được ở quán nước. Trong một lần trở về, Quốc công bố với Sương về một người vợ khác (Đỗ Thị Hải Yến) và đứa con trai của họ tại Hạ Long, Quảng Ninh. Đau khổ, Sương tiết lộ mình đã biết về đứa con riêng của Quốc từ trước, tha lỗi cho anh và chấm dứt quan hệ cùng Tuấn. Người em út, Liên (Trần Nữ Yên Khê) làm tại quán nước của Sương và sống cùng một căn hộ với người anh ruột, Hải (Ngô Quang Hải) là một diễn viên sống chật vật. Dù được một chàng trai khác để ý, Liên lại thích thú vì hay bị người ngoài nhìn nhầm cô và anh trai là vợ chồng. Cô thường hay tưởng tượng mình mang thai mà sau cùng lại tin mình đang có thai cùng một chàng sinh viên trường Kiến trúc. Khi cả ba chị em gái kể cho nhau mọi chuyện, họ cùng nhau khóc nhưng lại mau chóng cười đùa, khi biết Liên nhầm tưởng về cái thai. Phim khép lại tại căn hộ của Liên và Hải, khi họ thức dậy và chuẩn bị cho ngày giỗ của người cha. == Vai diễn == Trần Nữ Yên Khê trong vai Liên Nguyễn Như Quỳnh trong vai Sương Lê Khanh trong vai Khanh Ngô Quang Hải trong vai Hải Chu Hưng trong vai Quốc Trần Mạnh Cường trong vai Kiên Lê Tuấn Anh trong vai Tuấn Lê Ngọc Dũng trong vai Hương Đỗ Thị Hải Yến trong vai Vợ lẽ của Quốc == Phát hành == === Phòng vé === Theo thống kê của trang Box Office Mojo, đây là phim có doanh thu tại Hoa Kỳ năm 2001 cao thứ 282, phim nhãn PG-13 có doanh thu nội địa năm 2001 cao thứ 87 và là phim có doanh thu cao thứ 226 năm 2001 trên toàn cầu. Trong tuần phát hành đầu tiên tại Hoa Kỳ, phim thu về 29.339 đô-la Mỹ tại 4 rạp chiếu. Trong tuần kế tiếp, phim giành được 29.966 đô-la Mỹ ở 7 rạp chiếu, trở thành tuần có doanh thu lớn nhất trong thời gian trình chiếu tại quốc gia này. Trong tuần lễ trình chiếu cuối cùng vào ngày 30 tháng 12 năm 2001, phim đạt tổng doanh thu 456.387 đô-la Mỹ. Phim còn được ghi nhận doanh thu 195.767 bảng Anh với 41.521 khán giả tại Tây Ban Nha, tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2002. Tại Pháp, phim thu hút 143.909 khán giả và tại Hà Lan là 7.522 khán giả. === Đánh giá chuyên môn === Mùa hè chiều thẳng đứng được các nhà phê bình điện ảnh khen ngợi. Trên trang tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes, bộ phim nhận được "Chứng nhận tươi"(Fresh) với 82% đánh giá tích cực được tổng hợp dựa trên 55 bài bình luận, với điểm số trung bình là 7,1 trên 10, cùng lời nhận xét "Mùa hè chiều thẳng đứng điềm tĩnh một cách tráng lệ, nên thơ, ru người xem vào câu chuyện đời thường". Tại Metacritic, một trang chuyên cho điểm số trung bình dựa trên 100 đánh giá hàng đầu từ các nhà phê bình chính thống, bộ phim nhận được 72 điểm dựa trên 21 bài đánh giá, được xếp hạng "nhìn chung là ý kiến tán thành". === Giải thưởng === == Tham khảo == Chú thích == Liên kết ngoài == Trang mạng chính thức Mùa hè chiều thẳng đứng tại Internet Movie Database Mùa hè chiều thẳng đứng tại Allmovie Mùa hè chiều thẳng đứng tại Rotten Tomatoes Mùa hè chiều thẳng đứng tại Metacritic
this is it (chuyến lưu diễn của michael jackson).txt
This Is It là một loạt các buổi hòa nhạc của Michael Jackson được tổ chức tại Sân vận động O2 ở Luân Đôn. Chương trình được dự kiến bắt đầu vào tháng 7 năm 2009 và tiếp tục cho đến tháng 3 năm 2010. Tuy nhiên, sau khi tất cả vé của các buổi biểu diễn được bán hết, Jackson đột ngột qua đời do ngộ độc propofol và benzodiazepine, chỉ hơn 3 tuần trước khi buổi hòa nhạc đầu tiên được bắt đầu. Jackson chính thức công bố kế hoạch biểu diễn tại một cuộc họp báo được tổ chức bên trong sân vận động O2 và tiết lộ rằng This Is It sẽ là buổi hòa nhạc cuối cùng của mình. AEG Live, đơn vị tổ chức chúng, phát hành một đoạn video quảng bá rộng rãi cho buổi hòa nhạc, và đã thiết lập một kỷ lục người xem trên ITV. Nếu được tổ chức, đây sẽ là lần đầu tiên Michael Jackson thực hiện một chương trình biểu diễn dài hơi kể từ HIStory World Tour kết thúc vào năm 1997, cũng như được xem là một trong những sự kiện âm nhạc quan trọng nhất năm. Randy Phillips, chủ tịch và giám đốc điều hành của AEG Live, nói rằng trong 10 buổi đầu của chuyến lưu diễn, nam ca sĩ sẽ kiếm được khoảng 50 triệu bảng. Theo kế hoạch ban đầu, chỉ có 10 buổi biểu diễn được lên kế hoạch, nhưng do cơn sốt vé bán ra (vé đã bán hết trong chưa đầy 1 giờ đồng hồ) nên đã có thêm 40 buổi được bổ sung, nâng tổng số buổi diễn lên thành 50. Việc tiêu thụ vé đã phá vỡ nhiều kỷ lục và AEG Live nói rằng Jackson có thể bán hết vé với nhiều show hơn thế (thậm chí đạt đến cột mốc 200 buổi). Doanh số bán album của Jackson cũng từ đó tăng mạnh sau khi kế hoạch được thông báo. Để chuẩn bị cho loạt buổi hòa nhạc, ông đã cộng tác với nhiều nhân vật nổi bật, chẳng hạn như nhà thiết kế thời trang Christian Audigier, biên đạo múa Kenny Ortega và nhà thể dục thể hình Lou Ferrigno. Trước khi Jackson qua đời, Allgood Entertainment đã kiện nam ca sĩ 40 triệu USD, khi tuyên bố rằng ông đã vi phạm một thỏa thuận độc quyền với họ để ký kết hợp đồng thực hiện This Is It. Vụ việc sau đó đã bị bác bỏ. Khi tin tức về cái chết của Jackson được công bố, AEG Live đã hoàn trả lại đầy đủ tiền vé cho tất cả cho khán giả. Buổi biểu diễn bị hủy bỏ, việc bán vé kỷ lục và kế hoạch cho một tour du lịch thế giới, biến This Is It trở thành "buổi hòa nhạc lớn nhất" của Jackson đã không bao giờ thành hiện thực. Sau đó, hãng Columbia Pictures đã mua lại toàn bộ các cảnh quay luyện tập của chương trình và thực hiện một bộ phim hòa nhạc mang tên Michael Jackson's This Is It. Tổ chức di sản của Jackson đã nhận được 90% lợi nhuận thực hiện trong khi 10% còn lại chuyển đến AEG Live. Columbia Pictures thu được ít nhất 60 triệu đô tiền bản quyền khai thác thương mại. Cùng với việc phát hành các cảnh quay buổi hòa nhạc, một album đi kèm bộ phim cũng được phát hành. == Danh sách trình diễn == Đây được xem là danh sách trình diễn chính thức cho This Is It Michael sẽ thỉnh thoảng thay thế "Human Nature" bằng "Stranger in Moscow". Điều đó cũng xảy ra với "The Way You Make Me Feel" bằng "You Rock My World". Do thời gian giới hạn và danh sách trình diễn dài, Jackson sẽ biểu diễn một số bài hát với chỉ một đoạn so với những tour trước, như "Wanna Be Startin' Somethin'", "The Way You Make Me Feel" và "Black or White". Vào những ngày diễn cuối cùng, Jackson mong muốn biểu diễn bản ballad "River Ripple", được sáng tác bởi chính ông, với một dàn đồng ca trẻ em và người da màu. Jackson muốn biểu diễn "Bad" trong một vài ngày trước tiết mục "You Are Not Alone". Bài hát "Best of Joy" được sáng tác và thu âm vào năm 2009, được dự định ra mắt vào ngày cuối cùng của buổi hòa nhạc trước khi trình diễn "Man in the Mirror". Nó sau đó được phát hành trong album Michael. Trong một buổi phỏng vấn với Larry King, Lady Gaga tiết lộ rằng cô được chọn để trình diễn một bài hát (như là ca sĩ mở màn) cho This Is It mang tên "Pictures". == Các ngày tháng == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức của This Is It Website chính thức trả tiền vé
samsung galaxy tab.txt
Đối với dòng sản phẩm 'thế hệ thứ ba' hiện tại của Samsung Galaxy Tab xem Samsung Galaxy Tab 3 7.0. Samsung Galaxy Tab là thiết bị máy tính bảng chạy trên nền Android được sản xuất bởi công ty Samsung. Sản phẩm này được ra mắt vào ngày 2 tháng 9 năm 2010 tại IFA 2010, Berlin, Đức. Thiết bị này được trang bị một màn hình cảm ứng TFT LCD 7 inch (180 nm), một bộ xử lý 1.0 Ghz ARM Cortex-A8. Thiết bị hỗ trợ Wi-Fi và hệ thống nhập liệu Swype. Thiết bị này được trang bị 2 camera: một camera 3.2MP phía sau và một camera 1.3 MP phía trước để hỗ trợ cuộc gọi hình ảnh. Galaxy Tab sẽ được phát hành với hệ điều hành Android 2.2 (Froyo). == Tham khảo ==
kōchi.txt
Kōchi (Nhật: 高知県 (Cao Tri Huyện), Kōchi-ken) là một tỉnh của Nhật Bản ở vùng Shikoku, trên đảo Shikoku, trông ra Thái Bình Dương. Trung tâm hành chính của tỉnh này là thành phố Kochi. == Địa lý == Rừng núi chiếm tới 89% diện tích của tỉnh Kochi. == Lịch sử == == Hành chính == === Các thành phố === Có 11 thành phố: Aki Kami Kōchi (thủ phủ) Kōnan Muroto Nankoku Shimanto Sukumo Susaki Tosa Tosashimizu === Làng và thị trấn === == Kinh tế == == Văn hóa == Lễ hội Yosakoi == Giáo dục == Đại học Kochi == Du lịch == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh Kochi Website hướng dẫn du lịch tỉnh Kochi (tiếng Anh)
anh.txt
Anh (tiếng Anh: England) là một quốc gia rộng lớn và đông dân nhất trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm về phía tây bắc của châu Âu. Dân số của Anh chiếm hơn 84% tổng số dân của Vương quốc Liên hiệp Anh và chiếm phần lớn diện tích của đảo Anh. Anh tiếp giáp với Scotland về phía bắc và Wales ở phía tây. Ngoài ra, Anh còn giáp với biển Bắc, biển Ireland, Đại Tây Dương và eo biển Manche. Anh được thống nhất vào thế kỷ 10 và thủ đô của nước này, Luân Đôn, là thành phố lớn nhất của vương quốc, đồng thời được phần lớn các nghiên cứu xác nhận là thành phố lớn nhất trong Liên minh châu Âu. Nước Anh là nơi khai sinh cuộc Cách mạng Công nghiệp vào thế kỷ 18 đã làm thay đổi lịch sử thế giới, đưa nước Anh trở thành một trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới và sau đó là Đế quốc Anh hùng mạnh có hệ thống thuộc địa khắp thế giới với biệt danh: "đất nước Mặt Trời không bao giờ lặn". Nước Anh cũng là một trong những trung tâm văn hóa có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Đây là nơi khởi nguồn của tiếng Anh, thứ ngôn ngữ phổ biến toàn thế giới và Giáo hội Anh. Luật pháp của Anh cũng là nền tảng cho nhiều hệ thống pháp luật khác tại nhiều nước trên thế giới. Anh tồn tại như một vương quốc độc lập riêng lẻ cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1707, khi Đạo luật Thống nhất được ban hành, hợp nhất nước này với Vương quốc Scotland để thành lập Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain). Ngày nay, Anh là một quốc gia nằm trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cùng với Scotland, Wales và Bắc Ireland. == Nguồn gốc quốc hiệu == Tên gọi Anh trong tiếng Việt là gọi tắt của Anh Cát Lợi. Anh Cát Lợi là âm Hán Việt của “英吉利”. “英吉利” là một trong số các tên gọi trong tiếng Trung chỉ nước Anh. Tên gọi "England" xuất xứ từ từ Englaland trong tiếng Anh cổ, có nghĩa "vùng đất của người Ănglê". Người Ănglê là một trong những bộ tộc man rợ German định cư tại Anh trong Thời đầu Trung Cổ. Người Angles tới từ bán đảo Angeln tại khu vực Vịnh Kiel thuộc Biển Baltic. Theo Từ điển Oxford Anh, lần đầu tiên từ "England" được dùng để chỉ vùng phía nam hòn đảo Great Britain là năm 897, và cách đánh vần hiện đại của nó bắt đầu từ năm 1538. Sự đề cập sớm nhất tới cái tên được chứng nhận diễn ra ở thế kỷ thứ nhất trong tác phẩm của Tacitus, Germania, trong đó từ tiếng Latin Anglii đã được sử dụng. Từ nguyên của chính cái tên bộ tộc bị các nhà học giả tranh cãi; đã có đề xuất rằng nó xuất phát từ hình dạng của bán đảo Angeln, một hình có góc. Làm thế nào và tại sao thuật ngữ xuất xứ từ cái tên của một bộ tộc không nổi bật so với các bộ tộc khác, như người Sachsen, lại được sử dụng để chỉ toàn bộ quốc gia và người dân của nó vẫn chưa được biết, nhưng dường như nó liên quan tới phong tục gọi người German tại Anh là Angli Saxones hay Anh - Sachsen.. Một cái tên khác của nước Anh là Albion. Cái tên Albion ban đầu để chỉ toàn bộ hòn đảo Great Britain. Ghi chép đầu tiên về cái tên xuất hiện trong tác phẩm Corpus Aristotelicum của nhà triết học Aristotle của Hy Lạp cổ đại, một cách rõ ràng ở thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên De Mundo: "Phía ngoài Các cột của Hercules là đại dương chảy quanh Trái Đất. Trong đó có hai hòn đảo rất lớn được gọi là Britannia; chúng là Albion và Ierne". Từ Albion (Ἀλβίων) hay insula Albionum có hai khả năng nguồn gốc. Hoặc nó xuất phát từ từ tiếng Latin albus có nghĩa trắng, một sự đề cập tới các vách trắng Dover, là quang cảnh đầu tiên của Anh nhìn từ Lục địa châu Âu. Một nguồn gốc khá được cho là bởi cuốn sách cổ của thương gia Massaliote Periplus, đề cập tới một "hòn đảo của người Albiones". Albion hiện được dùng thay cho Anh (England) theo một nghĩa thi vị hơn. Một cái tên lãng mạn khác của nước Anh là Loegria, liên quan tới Lloegr tiếng Wales, xuất xứ từ truyền thuyết trứ danh về vua Arthur. == Lịch sử == === Tiền sử và Cổ đại === Xương người nguyên thuỷ cổ nhất được phát hiện trong vùng có niên đại từ 700.000 năm trước, Sự khám phá, các di cốt của Homo erectus, đã được thực hiện ở nơi ngày nay là Norfolk và Suffolk. Con người hiện đại lần đầu tiên tới vùng này khoảng 35,000 năm trước; nhưng bởi điều kiện khắt khe của Thời kỳ băng hà cuối cùng, còn được gọi riêng trong khu vực này là băng hà Devensian, họ đã rời khỏi Anh tới những vùng núi phía nam châu Âu. Chỉ những loài thú có vú lớn như voi mammoth, bò rừng bison và tê giác lông len còn ở lại. Khoảng 11.000 năm trước, khi các phiến băng bắt đầu rút lui, con người quay trở lại sinh sống trong vùng; nghiên cứu gene cho thấy họ tới từ vùng phía bắc của bán đảo Iberia. Mực nước biển thấp hơn hiện tại, và Anh được nối với cả Ireland và đại lục Á Âu bằng một cây cầu đất. Khi nước biển dâng lên, nó bị chia tách khỏi Ireland 10000 năm trước và khỏi Á Âu hai thiên niên kỷ sau đó. Văn hoá Beaker xuất hiện khoảng năm 2500 trước Công Nguyên, và việc chế tạo bình đựng thực phẩm bằng đất sét và đồng đã diễn ra. Cũng trong thời gian này các công trình lớn thời Đồ đá mới như Stonehenge và Avebury được thực hiện. Bằng cách nấu chảy thiếc và đồng, cả hai chất đều có rất nhiều trong vùng, người dân thuộc văn hoá Beaker đã có khả năng chế tạo đồng, và sau này là sắt từ các quặng sắt. Họ có khả năng quay và dệt lông cừu, và từ đó làm ra quần áo. Theo John T. Koch và những người khác, Anh ở cuối thời đồ đồng là một phần của một nền văn hoá mạng lưới thương mại biển được gọi là Thời kỳ đồ đồng Atlantic gồm toàn bộ Anh và cả Ireland, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nơi các ngôn ngữ Celt đã phát triển cùng với ngôn ngữ Tartessian ngôn ngữ Celt viết đầu tiên vẫn chưa được phát triển. Trong thời đồ sắt, văn hoá Celt, xuất xứ từ văn hoá Hallstatt và La Tène, xuất hiện từ miền Trung Âu. Sự phát triển của kỹ thuật nấu chảy sắt cho phép chế tạo những chiếc cày tốt hơn, thúc đẩy nông nghiệp phát triển (ví dụ, với các cánh đồng Celt), cũng như việc chế tạo nhiều vũ khí hiệu quả hơn. Brythonic là ngôn ngữ nói trong thời kỳ này. Xã hội là bộ tộc; theo tác phẩm Geographia của nhà địa lý học Ptolemy có khoảng 20 bộ tộc khác nhau trong vùng, tuy nhiên, nhưng sự phân chia ban đầu không được rõ bởi người Briton không có chữ viết. Như các vùng khác ở rìa Đế quốc, Anh từ lâu đã có các con đường thương mại với người La Mã. Nhà độc tài La Mã là Julius Caesar đã tấn công Anh hai lần vào năm 55 trước Công nguyên; dù thất bại, ông đã lập được một vị vua chư hầu ở vùng Trinovantes. Dưới thời Hoàng đế Claudius, người La Mã chinh phục được Anh vào năm 43 Công Nguyên, và vùng đất này bị sáp nhập vào Đế chế La Mã như tỉnh Britannia. Man tộc nổi tiếng nhất tìm cách chống trả là Catuvellauni dưới sự lãnh đạo của Caratacus. Sau này, một cuộc khởi nghĩa bùng nổ dưới sự lãnh đạo của Boudica, Nữ hoàng của người Iceni; quân La Mã tiến hành đàn áp và bà hy sinh trong trận Watling Street. Vùng này đã có một thời kỳ đỉnh cao của nền văn hoá Hy Lạp-La Mã với sự xuất hiện của pháp luật và trật tự, kiến trúc La Mã, vệ sinh cá nhân, các hệ thống cống rãnh, giáo dục, nhiều vật phẩm nông nghiệp, và tơ lụa. Ở thế kỷ thứ 3, Hoàng đế Septimius Severus qua đời tại York - nơi Hoàng đế Constantinus I sau này đăng cơ. Kitô giáo xuất hiện lần đầu tiên trong khoảng thời gian này, dù có những truyền thống liên kết với Glastonbury tuyên bố một sự xuất hiện thông qua Joseph của Arimathea, trong khi những người khác cho rằng thông qua Lucius của Anh. Tới năm 410, khi Đế quốc của họ suy tàn, người La Mã rời khỏi hòn đảo Anh, để bảo vệ các biên giới của họ ở lục địa châu Âu. === Thời Trung Cổ === Sau khi người La Mã rút đi, Anh được để ngỏ cho cuộc xâm lược của những người ngoại giáo, các chiến binh thuỷ thủ như người Sachsen và người Jute họ giành được quyền kiểm soát tại các khu vực quanh vùng đông nam. Sự tiến bước của họ đã bị chặn lại trong một thời gian sau chiến thắng của người Anh trong trận quyết chiến tại núi Badon. Các vương quốc chư hầu La Mã của người Brython ở phương Bắc, sau này được gọi chung trong thi ca Anh là Hen Ogledd, cũng dần bị người Angles chinh phục ở thế kỷ thứ 6. Những lời tường thuật đáng tin cậy còn lại từ thời ấy cũng như bằng chứng khảo cổ rất hiếm, khiến thời gian này đã được miêu tả như một Thời kỳ Tăm tối. Có nhiều lý thuyết xung đột nhau về mức độ và quá trình người Angles-Sachsen định cư tại Anh; Cerdic, người sáng lập triều đại nhà Wessex, có thể là một người Anh (Briton). Quả thực, tới thế kỷ thứ 7 một loạt các vương quốc Angles-Sachsen chặt chẽ được gọi là Heptarchy đã xuất hiện ở phía nam và miền trung Anh: Northumbria, Mercia, Đông Anglia, Essex, Kent, Sussex, và Wessex. Kitô giáo du nhập vào phía Nam bởi nhà truyền giáo La Mã là Augustinus và vào phía Bắc bởi Aidan từ Ireland. Sự tái xuất hiện này của Kitô giáo, đã mất sau sự thành lập Heptarchy. Danh hiệu Bretwalda, có nghĩa "Lãnh chúa của người Anh", biểu thị vương quyền ảnh hưởng nhất. Northumbria và Mercia là các lực lượng có ảnh hưởng nhất từ thời kỳ đầu trở về sau, sau những cuộc chinh phục của người Viking ở phía bắc và phía đông, và sự áp đặt Luật lệ Đan Mạch, vương quốc Anh đầu tiên trở thành Wessex dưới thời Alfred Đại Đế. Cháu ông là Athelstan thống nhất Anh năm 927, dù nước này chỉ được cùng cố sau khi Edred đánh tan tác người Viking do Eric Bloodaxe chỉ huy. Vua Cnut Đại Đế sáp nhập Anh vào một đế chế bao gồm cả Đan Mạch và Na Uy trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên nhà Wessex đã được tái lập dưới thời Edward Người tuyên tín. Nước Anh bị chinh phục năm 1066 bởi một đạo quân tinh nhuệ Normandy - một thái ấp của Vương quốc Pháp - dưới sự chỉ huy của Quận công William Người chinh phục. Chính người người Norman có nguồn gốc từ Scandinavia và đã định cư ở Normandy vài thế kỷ trước. Họ mang tới một hệ thống phong kiến và duy trì quyền lực thông qua các nam tước, những người lập ra các lâu đài trên khắp nước Anh. Ngôn ngữ nói của tầng lớp tinh hoa cầm quyền mới là tiếng Pháp Normandy, sẽ có ảnh hưởng lớn tới tiếng Anh. Nhà Plantagenet khởi nghiệp ở xứ Anjou, được thừa kế ngai vàng Anh dưới thời vua Henry II, thêm vào nước Anh Đế quốc Angevin bắt đầu phát triển là các thái ấp của gia đình đã được thừa kế tại Pháp gồm cả Aquitaine. Họ cai trị trong ba thế kỷ, với những ông vua lỗi lạc như Richard I, Edward I, Edward III và Henry V. Giai đoạn này chứng kiến những thay đổi trong thương mại và thể chế, gồm cả việc ký kết "Đại Hiến chương" (Magna Carta), một hiến chương pháp lý nước Anh được dùng để hạn chế các quyền lực của nhà vua theo luật pháp và bảo vệ các quyền ưu tiên của người tự do. Đan sĩ Cơ đốc giáo phát triển, đào tạo ra các nhà triết học và các trường đại học Oxford và Cambridge đã được thành lập với sự bảo trợ của Hoàng gia. Công quốc Wales trở thành một thái ấp Plantagenet trong thế kỷ 13 và Vùng đất quý tộc Ireland được Giáo hoàng trao tặng cho vương quốc Anh. Ở thế kỷ 14, Plantagenets và Nhà Valois đều tuyên bố là những người thừa kế hợp pháp của Nhà Capet và với nó là cả Pháp — hai cường quốc xung đột trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm. Vào năm 1346, quân Anh dưới quyền vua Edward III đại phá quân Pháp tại trận Crecy, thanh thế lừng lẫy. Năm sau (1347), con ông là Hoàng tử đen Edward lại đè bẹp quân Pháp trong trận Poitiers vẻ vang. Chưa hết, vào năm 1415, vua Henry V lại đại phá quân Pháp trong trận Agincourt. Cho đến năm 1453, tình hình nghiêng về bất lợi cho nước Anh, cuối cùng chiến tranh kết thúc với thất bại của người Anh. Quân Pháp tái chiếm mọi đất đai mà quân Anh đã chiếm đóng, ngoại trừ thành phố Calais. Dịch bệnh Cái chết Đen lan tới Anh, bắt đầu năm 1348, cuối cùng nó đã giết hại một nửa dân số Anh. Từ năm 1453 tới năm 1487 cuộc nội chiến giữa hai nhánh của Hoàng gia diễn ra — nhà York và nhà Lancaster — được gọi là Chiến tranh Hoa Hồng. Vào năm 1475, vua Edward IV của Anh khởi binh đánh Pháp, buộc Triều đình Pháp phải cống nạp cho nước Anh để kết thúc cuộc binh lửa này. Cuối cùng, cuộc Chiến tranh Hoa Hồng dẫn tới việc triều York mất toàn bộ ngôi báu vào tay một gia đình quý tộc Wales là nhà Tudor, một nhánh của triều Lancaster đứng đầu là Henry Tudor, dưới sự hỗ trợ của quân tay sai Wales và Breton, đã xuất binh và giành thắng lợi trong trận cánh đồng Bosworth, vua nhà York là Richard III bại vong. === Buổi đầu Cận đại === Triều đại Tudor chứng kiến nhiều sự kiện. Phục hưng lan tới nước Anh qua các triều thần người Ý, chính họ đã làm xuất hiện trở lại nghệ thuật, giáo dục và sự tranh luận học thuật từ thời cổ đại. Trong thời gian này nước Anh bắt đầu phát triển các kỹ năng đi biển, gồm cả việc phát minh ra máy kinh vĩ và khám phá phía Tây. Chất xúc tác của những cuộc thám hiểm đó là việc Đế quốc Ottoman người Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát biển Địa Trung Hải, ngăn cản thương mại với phương Đông của các quốc gia Kitô giáo châu Âu. Vua Henry VIII của Anh đã phá vỡ quan hệ tôn giáo với Giáo hội Công giáo Rôma, về những vấn đề liên quan tới ly hôn, theo Đạo luật Tối cao năm 1534 tuyên bố Quốc vương lãnh đạo Giáo hội Anh. Trái với hầu hết các phong trào Tin Lành châu Âu, những nguồn gốc của sự phân chia mang nhiều ý nghĩa chính trị hơn thần học. Ông cũng chính thức sáp nhập vùng Wales của tổ tiên vào trong Vương quốc Anh với các đạo luật năm 1535–1542. Đã có những cuộc xung đột tôn giáo nội bộ trong thời gian cầm quyền của các con gái của Henry VIII là Mary I và Elizabeth I. Nữ hoàng Mary I tìm cách đưa quốc gia quay trở lại với Công giáo, trong khi Elizabeth I tách biệt mạnh mẽ với Công giáo bằng cách yêu cầu bắt buộc tôn trọng vị thế thượng thẩm của Anh giáo. Hải quân Anh dưới quyền chỉ huy của Francis Drake đã đánh tan một hạm đội Tây Ban Nha trong thời kỳ Elizabeth. Trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, thuộc địa đầu tiên của Anh tại châu Mỹ đã được nhà thám hiểm Walter Raleigh lập ra năm 1585 và đặt tên là Virginia. Với Công ty Đông Ấn, nước Anh cũng cạnh tranh với Hà Lan và Pháp ở phương Đông. Bản chất của hòn đảo đã thay đổi, khi nhà Stuart trị vì Scotland, từ một vương quốc vốn từ lâu là thù địch, được thừa kế ngôi báu Anh - tạo ra một liên minh cá nhân dưới thời vua James I năm 1603. Ông tự xưng là Vua Anh, dù không có cơ sở trong luật pháp Anh. Dựa trên sự xung đột chính trị, tôn giáo và vị thế xã hội, đã có một cuộc Nội chiến Anh giữa những người ủng hộ Nghị viện và những người theo vua Charles I, được gọi là những Người tóc ngắn và các Kỵ sĩ. Đây là một phần của cuộc chiến tranh Ba Vương quốc với sự tham gia của Scotland và Ireland. Những người theo phe Nghị viện giành chiến thắng, vua Charles I bị hành quyết và vương quốc bị thay thế bằng Thịnh vượng chung Anh (Commonwealth of England). Lãnh đạo các lực lượng nghị viện là Oliver Cromwell tuyên bố mình là Người bảo hộ năm 1653, một giai đoạn cai trị cá nhân tiếp nối sau đó. Tới khi Oliver Cromwell qua đời, nước Anh đã chán ngán với sự cai trị của Thanh giáo, nhiều người muốn dàn xếp những mối bất hoà cũ và vua Charles II được mời quay trở lại triều đình năm 1660 với cuộc Khôi phục. Khi ấy Hiến pháp được đưa ra với quy định rằng Nhà vua và Nghị viện sẽ cùng cai trị, dù trên thực tế mãi tới thế kỷ sau quy định này mới được thực sự áp dụng trong thực tế. Với việc thành lập Hội Hoàng gia, khoa học và nghệ thuật được khuyến khích phát triển. Cuộc Đại hoả hoạn Luân Đôn năm 1666 đã tàn phá kinh thành nhưng nó nhanh chóng được xây dựng lại. Trong Nghị viện hai phe nhóm xuất hiện — Những người theo phe Bảo thủ và Những người theo Đảng Whig. Đảng Bảo thủ bảo hoàng trong khi Đảng Whig có khuynh hướng tự do. Dù ban đầu những người theo Đảng Bảo thủ ủng hộ ông vua sùng Công giáo là James II, một số trong số họ, cùng với những người theo Đảng Whig đã hạ bệ ông ta trong cuộc Cách mạng năm 1688 và mời Vương công xứ Orange là William III lên ngôi. Một số người Anh, đặc biệt là những người ở phía bắc theo phái Jacob và tiếp tục ủng hộ James II và các con trai của ông. Ông vua hùng cường Louis XIV của Pháp hỗ trợ James II, khơi mào cuộc chiến giữa William III và Louis XIV. Trong trận sông Boyne ở xứ Ireland, quân của William III giành thắng lợi. Sau khi những đại biểu nghị viện Anh và Scotland đều đồng thuận, hai nước tham gia vào trong liên minh chính trị, để lập ra Vương quốc Anh năm 1707. Để tạo điều kiện thuận lợi cho liên minh, các định chế như pháp luật và nhờ thờ quốc gia của mỗi bên đều tiếp tục hoạt động riêng biệt. Từ năm 1702, dưới thời Nữ hoàng Anne, nước Anh lại lâm chiến với Louis XIV trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha tàn khốc. Dưới sự chỉ huy xuất sắc của John Churchill, Quận công Marlborough thứ nhất, quân Anh liên tiếp đánh thắng quân Pháp, điển hình là trong các trận Höchstädt lần thứ hai (1704), Ramillies (1706), Oudenarde (1708) và Malplaquet (1709). Vào năm 1713, Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha kết thúc, nước Anh giành được nhiều thuộc địa từ tay Pháp. Nhờ đó, Đế quốc Anh vươn lên thành một cường quốc hải quân trong khi Louis XIV phải hứng chịu nỗi nhục thất bại. Tiếp theo đó, họ lại đánh Pháp trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo (1740 - 1748). Năm 1743, vua George II trực tiếp chỉ huy quân Anh đập nát quân Pháp trong trận Dettingen (1748). Nền hành chính quân sự nước Anh cũng được cải tiến khi cuộc chiến tranh ác liệt kết thúc. Nhưng đến năm 1756, cuộc Chiến tranh Bảy Năm bùng nổ. Khi vua Friedrich II của Phổ (tức Friedrich Đại Đế) xua quân tấn công Vương triều nhà Habsburg là đồng minh của Pháp, Thủ tướng Anh William Pitt Già cho rằng người Phổ sẽ giúp nước Anh thắng trận. Tại Ấn Độ, Robert Clive, Tử tước Clive thứ nhất đánh tan quân của Công ty Đông Ấn Pháp trong trận Plassey vào năm 1757. Cùng năm đó, quân Phổ liên tiếp đại phá quân Pháp và quân Áo trong trận Roßbach và trận Leuthen. Vào năm 1759, Hải quân Hoàng gia Anh dưới quyền Đô đốc tài năng Edward Hawke, Tử tước Hawke thứ nhất đè bẹp Hải quân Pháp trong trận hải chiến Vịnh Quiberon, thanh thế lẫy lừng. Cùng năm, danh tướng James Wolfe cũng hất cẳng quân Pháp ra khỏi Quebec. Trong khi đó, tại châu Âu lục địa, quân Anh do Thống chế Phổ là Quận công Ferdinand xứ Brunswick chỉ huy cũng đánh tan tác quân Pháp ở trận Minden. Khi vua George II qua đời vào năm 1760, nước Anh đã làm chủ các thuộc địa của Pháp tại Bắc Mỹ, Ấn Độ và biển cả. Với Hiệp định Paris (1763), Anh là một trong những nước thắng trận. === Cuối thời Cận đại và Hiện đại === Dưới thời Vương quốc Anh mới được thành lập, những phát minh từ Hội Hoàng gia và các cải tiến của Anh cộng với thời kỳ Khai sáng Scotland đã mang lại những cải tiến trong khoa học và công nghệ. Điều này đã mở đường cho sự thành lập Đế quốc Anh, trở nên rộng lớn nhất trong lịch sử. Ở trong nước nó dẫn tới cuộc Cách mạng Công nghiệp, một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc trong các điều kiện kinh tế xã hội và văn hoá của Anh, dẫn tới nền nông nghiệp, chế biến, công nghệ và khai mỏ công nghiệp hoá, cũng như việc xây dựng các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thuỷ lớn tạo điều kiện cho sự phát triển và mở rộng của vương quốc. Việc khai trương kênh đào Bridgewater ở tây bắc Anh năm 1761 đã dẫn tới thời đại kênh đào ở Anh. Năm 1825 tuyến đường sắt chở khách chạy bằng đầu tàu hơi nước thường trực đầu tiên —tuyến Đường sắt Stockton và Darlington — được mở cửa cho công chúng. Trong thời Cách mạng Công nghiệp, nhiều công nhân đã di chuyển từ các vùng quê ở Anh tới các khu vực công nghiệp và đô thị mới được mở rộng để làm việc trong các nhà máy, ví dụ tại Manchester và Birmingham, được gọi là "Thành phố Nhà kho" và "Công xưởng của Thế giới". Vương quốc Anh duy trì được sự ổn định khá tốt trong suốt thời kỳ Cách mạng Pháp; William Pitt Trẻ là Thủ tướng trong thời trị vì của George III. Vào năm 1798, quân Pháp dưới quyền Napoléon Bonaparte xâm lược Ai Cập, Chính phủ nước Anh phái hạm đội đến cứu Ai Cập. Tử tước Nelson thứ nhất - Horatio Nelson đã đánh tan nát Hải quân Pháp trong trận hải chiến vịnh Aboukir. Sau đại bại, Napoléon phải về nước. Không những thế, vào năm 1801, quân Anh do Ngài Ralph Abercromby chỉ huy cũng đánh tan tác quân Pháp trong trận Alexandria. Không những thế, tại Copenhagen, Hải quân củaa Nelson cũng đập tan Hải quân Đan Mạch là đồng minh của Pháp. Trong thời Các cuộc chiến tranh của Napoléon, Napoleon đã có kế hoạch xâm lược vùng Đông Nam. Tuy nhiên kế hoạch đã phá sản và Hải quân của Napoleon bị Hải quân Anh dưới quyền Tử tước Nelson đập nát trong trận Trafalgar ngoài khơi, trong khi Lục quân của ông ta thì bị Công tước Wellington đánh bại. Đại thắng Waterloo của Quân đội Anh vào năm 1815 đã giết tươi, niềm vinh quang của Napoléon. Các cuộc chiến tranh Napoleon đã dẫn tới một khái niệm tính cách Anh và một dân tộc Anh thống nhất, cùng với người Scotland và người Wales. Luân Đôn trở thành khu vực đô thị rộng lớn và đông dân nhất thế giới trong thời kỳ Victoria, và thương mại bên trong Đế chế Anh - cũng như vị thế của Lục quân và Hải quân Anh - rất thịnh vượng. Những động thái chính trị trong nước từ những người cấp tiến như những người theo Phong trào Hiến chương và những người đòi quyền bầu cử cho phụ nữ đã dẫn tới cuộc cải cách luật pháp và phổ thông đầu phiếu. Những thay đổi quyền lực ở Đông-trung Âu đã dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ nhất; hàng nghìn binh sĩ Anh đã thiệt mạng tại những chiến hào chiến đấu cho nước Anh như một phần của phe Hiệp Ước. Những trận đánh kinh hoàng như Somme (1916) và Passchendaele (1917) đã in sâu vào ký ức dân tộc Anh; kết thúc chiến tranh Anh là một nước thắng trận (1918). Hai thập kỷ sau, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Vương quốc Anh một lần nữa chiến đấu trong phe Đồng Minh. Winston Churchill là Thủ tướng thời chiến. Giữa các năm 1940-1941, nước Anh đóng vai trò chính yếu trong việc ngăn chặn thắng lợi của Đức Quốc xã ở châu Âu. Những phát triển công nghệ thời chiến đã khiến nhiều thành phố bị phá huỷ trong những trận ném bom trong đợt oanh kích Blitz. Ngoài ra, tại Bắc Phi năm 1942 quân Anh dưới quyền tướng Bernard Montgomery cũng đánh bại quân Đức dưới quyền tướng Erwin Rommel trong trận El Alamein thứ hai, làm nên một bước ngoặt cho Chiến tranh thế giới thứ hai. Một lần nữa, Anh là một nước thắng trận. Song, cái giá của chiến thắng rất đắt và sau cuộc chiến Đế chế Anh trải qua một quá trình phi thuộc địa hóa nhanh chóng, cũng như hàng loạt những phát minh công nghệ; ô tô trở thành phương tiện vận tải chính và phát triển của Whittle về động cơ phản lực đã dẫn tới sự mở rộng việc đi lại bằng đường không. Từ thế kỷ 20 đã có một sự dịch chuyển dân số đáng kể tới Anh, chủ yếu từ các phần khác của Quần đảo Anh, nhưng cũng cả từ Khối thịnh vượng chung, đặc biệt là tiểu lục địa Ấn Độ. Từ thập niên 1970 đã có một sự dịch chuyển lớn khỏi ngành chế tạo và sự gia tăng công nghiệp dịch vụ. Như một phần của Vương quốc Anh, vùng này đã gia nhập một sáng kiến thị trường chung được gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu sẽ phát triển thành Liên minh châu Âu. Từ cuối thế kỷ 20 quản lý hành chính trong Vương quốc Anh đã di chuyển theo hướng chuyển giao quyền lãnh đạo tại Scotland, Wales và Bắc Ireland. Anh và Wales tiếp tục tồn tại như một thực thể pháp lý bên trong Vương quốc Anh. Chuyển giao quyền lực đã dẫn tới một sự nhấn mạnh lớn hơn với một khái niệm bản sắc và lòng yêu nước riêng biệt của Anh. Không có sự chuyển giao quyền lực ở Anh, nhưng một nỗ lực để tạo ra một hệ thống riêng biệt trên cơ sở cấp tiểu vùng đã bị bác bỏ trong một cuộc trưng cầu dân ý. == Cai trị == === Chính trị === Như một phần của Vương quốc Anh, hệ thống chính trị căn bản ở Anh là một chế độ quân chủ lập hiến và một hệ thống nghị viện. Đã không có một Chính phủ Anh từ năm 1707, khi Đạo luật Liên minh 1707, đưa vào thực hiện các điều khoản của Hiệp ước Liên minh, của Anh và Scotland để hình thành nên Vương quốc Anh. Trước liên minh Anh được cai quản bởi vương triều của mình và Nghị viện Anh. Ngày nay Anh được quản lý trực tiếp bởi Nghị viện Vương quốc Anh, dù cùng với các quốc gia của Vương quốc Anh có các chính phủ chuyển giao quyền lực. Trong House of Commons là hạ viện của Nghị viện Anh đóng trụ sở tại Cung điện Westminster, có 532 Đại biểu Nghị viện (MPs) đại diện cho các khu vực bầu cử ở Anh, trong tổng số 650 đại biểu. Trong cuộc Tổng tuyển cử Vương quốc Anh năm 2015 Đảng Bảo thủ đã giành đa số tuyệt đối trong số 650 ghế với 10 ghế nhiều hơn tất cả các đảng khác cộng lại. Trong cuộc Tổng tuyển cử Vương quốc Anh năm 2010 Đảng Bảo thủ đã giành đa số tuyệt đối trong số 532 ghế tranh cử ở Anh với 61 ghế nhiều hơn tất cả các đảng khác cộng lại (một ghế nữa sẽ được tranh cử vào ngày 27 tháng 5). Tuy nhiên, khi tính cả Scotland, Bắc Ireland và xứ Wales con số này không đủ đảm bảo một đa số tuyệt đối, dẫn tới một nghị viện treo. Để giành được đa số Đảng Bảo thủ, dưới sự lãnh đạo của David Cameron, đã tham gia một thoả thuận liên minh với đảng lớn thứ ba, Đảng Dân chủ Tự do, dưới sự lãnh đạo của Nick Clegg. Sau đó, Gordon Brown đã thông báo việc từ chức thủ tướng và lãnh đạo Công đảng, hiện được dẫn dắt bởi quyền lãnh đạo Harriet Harman cho tới khi có một cuộc bầu cử lãnh đạo đảng mới. Bởi Vương quốc Anh là một thành viên của Liên minh châu Âu, có những cuộc bầu cử được tổ chức tại Anh để quyết định ai sẽ được cử làm Các thành viên của Nghị viện châu Âu. Cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm 2009 có kết quả như sau: 23 đại biểu Bảo thủ, 10 đại biểu Công đảng, 9 đại biểu ĐẢng Độc lập Vương quốc Anh (UKIP), 9 đại biểu Đảng Dân chủ Tự do, 2 đại biểu Đảng Xanh và hai từ Đảng Quốc gia Anh (BNP). Từ thời kỳ chuyển giao quyền lực, trong đó cùng với các quốc gia khác thuộc Vương quốc Anh —Scotland, Wales và Bắc Ireland — mỗi bên đều có một nghị viện hay quốc hội chuyển giao quyền lực quyết định các vấn đề của riêng mình, đã có cuộc tranh luận về sự đối trọng như vậy ở Anh. Ban đầu có kế hoạch rằng nhiều vùng của Anh sẽ được phân quyền, nhưng sau khi đề xuất bị bác bỏ bởi người dân Đông Bắc trong một cuộc trưng cầu dân ý, kế hoạch này đã không được thực hiện. Một vấn đề lớn là vấn đề Tây Lothian, tại đó các đại biểu từ Scotland và Wales có thể bỏ phiếu về vấn đề pháp lý chỉ liên quan tới Anh, trong khi các đại biểu Anh không có quyền lực tương tự với quyền pháp lý với các vấn đề đã phân quyền. Điều này khi đặt trong bối cảnh Anh sẽ là địa điểm duy nhất ở Vương quốc Anh không có sự chữa trị ung thư miễn phí, đơn thuốc, chăm sóc nhà ở cho người già và miễn phí đại học top-up, đã dẫn tới sự gia tăng ngày càng lớn trong chủ nghĩa quốc gia Anh. Một số người đã đề xuất việc tạo lập một nghị viện phân quyền Anh, trong khi những người khác đề nghị một cách đơn giản giới hạn quyền bỏ phiếu với các vấn đề luật pháp chỉ liên quan tới Anh cho các đại biểu Anh. === Luật pháp === Hệ thống pháp lý luật pháp Anh, được phát triển qua các thế kỷ, là nền tảng của nhiều hệ thống pháp luật trên khắp Anglosphere. Dù hiện là một phần của Vương quốc Anh, hệ thống pháp luật của Các toà án Anh và xứ Wales tiếp tục như một hệ thống luật pháp riêng biệt với hệ thống được sử dụng tại Scotland như một phần của Hiệp ước Liên minh. Nội dung chung của luật pháp Anh là nó được đưa ra bởi các thẩm phán tại các toàn án, thể hiện tình cảm chung và sự ghi nhận tiền lệ pháp lý—stare decisis—với các thực tế có trước chúng. Hệ thống toà án được lãnh đạo bởi Toà án Tối cao Tư pháp, gồm Toà Kháng cáo, Toà Tối cao Tư pháp cho các vụ việc dân sự và Toà án Tối cao cho các vụ hình sự. Toà án Tối cao Vương quốc Anh là toà cao nhất cho các vụ hình sự và dân sự tại Anh và xứ Wales, nó được thành lập năm 2009 sau những thay đổi hiến pháp, thay thế cho các chức năng tư pháp của Thượng viện. Một quyết định của toà kháng cáo cao nhất tại Anh và xứ Wales, Toà án tối cao, là bắt buộc với mọi toà án khác trong vương quốc, là những cơ quan phải tuân thủ các hướng dẫn của nó. Tội phạm đã gia tăng trong giai đoạn 1981–1995, dù từ đó đã có sự sụt giảm 42% trong các vụ tội phạm giai đoạn 1995–2006. Con số tù nhân đã gia tăng gấp đôi trong cùng giai đoạn đó, khiến nước này có tỷ lệ tù nhân cao nhất ở Tây Âu ở mức 147 trên 100,000 dân. Sở Nhà tù của Nữ hoàng trực thuộc Bộ Tư pháp, quản lý hầu hết các tù nhân, giam giữ hơn 80,000 người bị kết án. === Các vùng, hạt và quận === Phân chia hành chính Anh gồm tới bốn mức độ phân chia dưới cấp quốc gia được điều khiển thông qua nhiều kiểu thực thể hành chính. Chúng đã được tạo ra cho các mục đích của chính quyền địa phương tại Anh. Bậc cao nhất của chính quyền địa phương là chín vùng của Anh —Đông Bắc, Tây Bắc, Yorkshire và the Humber, East Midlands, West Midlands, Đông, Đông Nam, Tây Nam, và Đại Luân Đôn. Chúng được thành lập năm 1994 như các Văn phòng Chính phủ, được Chính phủ Anh sử dụng để cung cấp một loạt các chính sách và chương trình cấp vùng. Chúng được sử dụng để bầu Các thành viên của Nghị viện châu Âu trên cơ sở địa phương. Sau khi việc phân quyền bắt đầu diễn ra ở những vùng khác của Vương quốc Anh có kế hoạch để các cuộc trưng cầu dân ý cho các vùng của Anh sẽ diễn ra để quyết định quốc hội vùng sẽ xuất hiện như các đối trọng. Luân Đôn chấp nhận năm 1998 —Quốc hội Luân Đôn được thành lập hai năm sau đó. Tuy nhiên, đề xuất này bị các cuộc trưng cầu dân ý phân quyền phía bắc Anh năm 2004 bác bỏ ở Đông Bắc, những cuộc trưng cầu dân ý tiếp theo đã bị huỷ bỏ. Có những kế hoạch để xoá bỏ các quốc hội vùng còn lại vào năm 2010 và chuyển giao các chức năng của chúng cho các Cơ quan Phát triển Vùng và các hệ thống Ban Lãnh đạo Chính quyền Địa phương mới tương đương. Bên dưới mức vùng tất cả nước Anh được chia thành một trong 48 hạt nghi lễ. Những hạt này chủ yếu được dùng như những khuôn khổ địa lý để tham khảo và đã dần phát triển từ Thời Trung cổ, và một số hạt được thành lập gần đây như vào năm 1974. Mỗi hạt có một Lord Lieutenant và High Sheriff; các chức vụ này được dùng để thể hiện nền quân chủ Anh tại địa phương. Bên ngoài Đại Luân Đôn và quần đảo Scilly, Anh cũng được chia thành 83 hạt đô thị và phi đô thị; chứng tương đương với các khu vực được dùng cho các mục đích chính quyền địa phương và có thể gồm chỉ một quận hay được chia thành nhiều quận. Có sáu hạt đô thị dựa trên các khu vực đô thị hoá nhất và không có các hội đồng hạt. Tại các khu vực này nguyên tắc chính quyền là các uỷ ban của các tiểu vùng, các thành phố đô thị. 27 hạt "shire" phi đô thị có một hội đồng hạt và được chia thành các quận, mỗi quận có một hội đồng quận. Thông thường, dù không phải là luôn luôn, chúng được thành lập tại các khu vực đô thị. Các hạt phi đô thị còn lại chỉ là một quận và thường tương đương với các thị trấn hay các hạt lớn có dân số ít; chúng được gọi là các chính quyền đơn nhất. Đại Luân Đôn có một hệ thống quản lý địa phương khác biệt, với ba hai thị trấn Luân Đôn và Thành phố Luân Đôn bao phủ một khu vực nhỏ ở giữa, được quản lý bởi Hội đồng Thành phố Luân Đôn. Ở mức độ địa phương nhất, hầu hết Anh được chia thành các xứ đạo dân sự với hội đồng; chúng không tồn tại ở Đại Luân Đôn. == Địa lý == === Quang cảnh và các dòng sông === Về mặt địa lý Anh gồm vùng trung tâm và hai phần ba hòn đảo Anh, cộng các hòn đảo ngoài khơi như Đảo Wight và Đảo Scilly. Anh giáp với hai quốc gia anh em trong Vương quốc Anh —Scotland ở phía bắc và Wales ở phía tây. Anh ở gần Lục địa châu Âu hơn bất kỳ phần nào khác của lục địa Anh. Nước này bị chia tách với Pháp bởi một eo biển rộng 34 km, dù hai quốc gia được kết nối với nhau bằng Đường hầm eo biển Manche gần Folkestone. Bởi Anh nằm trên một hòn đảo, nó được bao quanh bởi Biển Ireland, Biển Bắc và Đại Tây Dương. Các con sông quan trọng nhất của Anh, bởi chúng có các bến cảng tại Luân Đôn, Liverpool, và Newcastle, là các con sông thuỷ triều là Thames, Mersey và Tyne. Thuỷ triều làm mực nước trong các phụ lưu của nó dâng lên cho phép tàu vào các bến cảng. Với chiều dài 354 km, Severn là con sông dài nhất chảy qua nước Anh. Nó đổ vào Kênh Bristol và nổi tiếng vì các đợt thuỷ triều Severn Bore của mình, có thể đạt tới độ cao 2m. Tuy nhiên, con sông dài nhất nằm hoàn toàn trong nước Anh là sông Thames, với chiều dài 346 km. Nước Anh có nhiều hồ nhưng đa số nằm tại quận được đặt tên một cách chính xác là Quận Hồ; hồ lớn nhất là Hồ Windermere, nổi tiếng với tên hiệu "Nữ hoàng của các hồ". Về địa chất, các Pennine, được gọi là "xương sống của Anh", là rặng núi cổ nhất nước, có nguồn gốc từ cuối Kỷ Paleozoic khoảng 300 triệu năm trước. Tổng chiều dài của các Pennine là 400 km, đỉnh cao nhất tại Cross Fell ở Cumbria. Vật chất cấu tạo núi chủ yếu là đá cát và đá vôi, nhưng cũng bao gồm cả than đá. Có các phong cảnh đá vôi tại các khu vực calcite như các phần của Yorkshire và Derbyshire. Phong cảnh Pennine hoang dã hơn tại các vùng cao, rải rác có các thung lũng tươi tốt cạnh các con sông. Ở đây có ba vườn quốc gia, Yorkshire Dales, Northumberland, và Peak District. Điểm cao nhất của Anh, ở độ cao 978m, là Scafell Pike tại Cumbria. Nằm giữa biên giới Anh và Scotland là Cheviot Hills. Các vùng đất thấp của Anh nằm ở phía nam Pennines, gồm các quả đồi tươi tốt, gồm cả Cotswold Hills, Chiltern Hills, North và South Downs —nơi chúng giáp với biển và hình thành nên những vách đá trắng như vách Dover. Bán đảo tây nam granitic ở West Country là nơi có những vùng đất cao hoang dã, như Dartmoor và Exmoor, với một khí hậu ôn hoà; cả hai đều là các vườn quốc gia. === Khí hậu === Anh có khí hậu biển ôn hoà có nghĩa các giới hạn nhiệt độ của nước này không thấp hơn 0 °C vào mùa đông và không cao hơn 32 °C vào mùa hè. Khí hậu thường xuyên ẩm ướt và dễ thay đổi. Các tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2, đặc biệt là tháng 2 ở bờ biển Anh, trong khi tháng 7 thường là tháng nóng nhất. Các tháng có thời tiết ôn hoà tới ấm với lượng mưa ít là tháng 5, 6, tháng 9 và tháng 10. Những ảnh hưởng lớn nhất với thời tiết Anh là từ sự gần gũi địa lý với Đại Tây Dương, vĩ độ bắc của nước Anh và các vùng nước ấm bao quanh Gulf Stream. Anh nhận được lượng mưa khá lớn trong năm, với mùa thu và mùa đông là những khoảng thời gian ẩm thấp nhất - về mặt địa lý Quận Hồ có lượng mưa nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trong nước. Từ khi việc lưu trữ dữ liệu thời tiết bắt đầu, nhiệt độ cao nhất ghi nhận được là 38.5 °C vào ngày 10 tháng 8 năm 2003 tại Brogdale ở Kent, trong khi nhiệt độ thấp nhất là −26.1 °C ngày 10 tháng 1 năm 1982 tại Edgmond, Shropshire. === Các khu đô thị chính === Vùng Đô thị Đại Luân Đôn là khu vực đô thị lớn nhất tại Anh và là một trong những thanh phố đông đúc nhất trên thế giới. Nó được coi là một thành phố toàn cầu và có dân số lớn hơn các quốc gia khác trong Vương quốc Anh và cả chính nước Anh. Các khu vực đô thị khác với kích cỡ và tầm ảnh hưởng lớn thường nằm ở miền bắc nước Anh hay miền trung nước Anh. Có năm mươi khu định cư đã được gọi là có vị thế thành phố tại Anh, trong khi cả Vương quốc Anh có sáu mươi sáu. Tuy nhiều thành phố ở Anh khá lớn về kích thước, như Birmingham, Manchester, Liverpool, Leeds, Newcastle, Bradford, Nottingham và các thành phố khác, một lượng dân cư đông đảo không cần thiết phải có đối với một khu định cư để được trao vị thế thành phố. Theo truyền thống vị thế này được trao cho các thị trấn với các nhà thờ chính tòa và vì thế có các thành phố nhỏ hơn như Wells, Ely, Ripon, Truro và Chichester. Theo Văn phòng Thống kê Quốc gia mười thành phố lớn nhất và đang tiếp tục phát triển là; == Kinh tế == Nền kinh tế Anh là một trong những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, với GDP trên đầu người ở mức £22,907. Thường được coi là một nền kinh tế thị trường pha trộn, nó đã chấp nhận nhiều nguyên tắc thị trường tự do trái ngược với Chủ nghĩa tư bản Rhine của châu Âu, tuy vậy vẫn duy trì được một cơ sở hạ tầng an sinh xã hội tiên tiến. Đồng tiền tệ chính thức của Anh là pound sterling, cũng được gọi là GBP. Thuế tại Anh khá cạnh tranh khi so sánh với hầu hết phần còn lại của châu Âu - ở thời điểm năm 2009 tỷ lệ thuế cá nhân cơ bản là 20% trên thu nhập có thể đánh thuế lên tới £37,400, và 40% trên bất kỳ khoản thu nhập nào khác trên mức này. Kinh tế Anh chiếm phần lớn nhất trong nền Kinh tế Vương quốc Anh, với mức GDP theo PPP đứng hạng 18 trên thế giới. Anh đứng hàng đầu trong các lĩnh vực hoá chất và dược phẩm và trong những ngành công nghiệp kỹ thuật quan trọng, đặc biệt là hàng không, công nghiệp vũ khí, và lĩnh vực chế tạo công nghiệp phần mềm. Luân Đôn, là nơi đóng trụ sở của Thị trường Chứng khoán Luân Đôn, thị trường chứng khoán chính của Vương quốc Anh và lớn nhất ở châu Âu, là trung tâm tài chính của Anh —100 trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất châu Âu đóng trụ sở tại Luân Đôn. Luân Đôn đồng thời là trung tâm tài chính lớn nhất châu Âu. Ngân hàng Anh, được vị chủ ngân hàng người Scotland William Paterson thành lập năm 1694 là ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh. Ban đầu được thành lập để hoạt động như một ngân hàng tư nhân với Chính phủ Anh, nó đã tiếp tục thực hiện vai trò này cho Vương quốc Anh -từ năm 1946 nó đã trở thành một định chế thuộc sở hữu nhà nước. Ngân hàng có vị thế độc quyền trong việc phát hành tiền tệ ở Anh và xứ Wales, dù không có vị thế này ở những nơi khác tại Vương quốc Anh. Uỷ ban Chính sách Tiền tệ của ngân hàng đã được trao trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ quốc gia và quy định các tỷ lệ lợi tức. Anh là một quốc gia công nghiệp hoá cao, nhưng từ thập niên 1970 đã có một sự sụt giảm mạnh trong các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp chế tạo truyền thống, và có sự gia tăng nhấn mạnh trên một nền kinh tế theo định hướng công nghiệp dịch vụ. Du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp quan trọng, thu hút hàng triệu du khách tới Anh mỗi năm. Lĩnh vực xuất khẩu của nền kinh tế chủ yếu là dược phẩm, ô tô —dù nhiều nhãn hiệu Anh hiện thuộc sở hữu của nước ngoài, như Rolls-Royce, Lotus, Jaguar và Bentley— dầu thô và dầu mỏ từ những phần của Anh trong North Sea Oil cùng với Wytch Farm, động cơ máy bay và đồ uống có cồn. Nông nghiệp chuyên canh và được cơ giới hoá mạnh, sản xuất ra 60% nhu cầu thực phẩm của quốc gia với chỉ 2% lực lượng lao động. Hai phần ba sản lượng thuộc lĩnh vực cho chăn nuôi gia súc, phần còn lại là trồng trọt. === Cơ sở hạ tầng === Sở vận tải là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm giám sát việc vận tải tại Anh. Có nhiều đường cao tốc tại Anh, một trong những tuyến đường quan trọng nhất cho xe tải là A1 Great North Road, trải dài xuyên quốc gia từ Luân Đôn tới Newcastle. Đường cao tốc dài nhất tại Anh là M6, kéo dài từ Rugby tới Tây Bắc lên tới biên giới Anh-Scotland. Ngoài ra còn có những con đường lớn khác; đường M1 từ Luân Đôn tới Leeds, đường M25 bao quanh Luân Đôn, đường M60 bao quanh Manchester, đường M4 từ Luân Đôn tới South Wales, đường M62 từ Liverpool tới Manchester và Đông Yorkshire và đường M5 từ Birmingham tới Bristol và Tây Nam. Vận tải bằng xe buýt xuyên quốc gia rất phổ thông, các công ty lớn gồm National Express, Arriva và Go-Ahead Group. Những chiếc xe buýt hai tầng màu đỏ tại Luân Đôn đã trở thành một biểu tượng của Anh. Có một mạng lưới đường sắt nhanh tại hai thành phố của Anh; Tàu điện ngầm Luân Đôn và Tyne and Wear Metro, mạng lưới thứ hai nằm tại Newcastle, Gateshead và Sunderland. Cũng có các mạng lưới xe điện, như; Blackpool, Manchester Metrolink, Sheffield Supertram và Midland Metro. Vận tải đường sắt tại Anh lâu đời nhất trên thế giới, với hệ thống đầu tiên xuất hiện năm 1825. Đa phần mạng lưới đường sắt dài 16,116 km của Vương quốc Anh nằm trong lãnh thổ Anh, bao phủ toàn bộ đất nước. Những tuyến đường này chủ yếu là đường sắt đơn, đường sắt đôi hay đường sắt bốn, dù cũng có những tuyến đường sắt khổ hẹp. Anh có kết nối vận tải đường sắt với Pháp và Bỉ qua tuyến đường sắt ngầm dưới biển, Đường hầm eo biển Manche được hoàn thành năm 1994. Anh có các cơ sở vận tải hàng không kết nối với nhiều địa điểm trên thế giới, sân bay lớn nhất là Sân bay Luân Đôn Heathrow nếu tính theo lượng hành khách là sân bay bận rộn nhất châu Âu và là một trong những sân bay bận rộn nhất trên thế giới. Các sân bay lớn khác gồm Sân bay Manchester, Sân bay Luân Đôn Stansted, Sân bay Luton và Sân bay Quốc tế Birmingham. Bằng đường biển có vận tải bằng phà, cả cho các tuyến nội địa và quốc tế, một số tuyến đông đúc nhất kết nối với Ireland, Hà Lan và Bỉ. Việc đi lại bằng đường thuỷ như trên các con sông, kênh, tàu biển rất phổ thông với khoảng 7100 km đường thuỷ có thể lưu thông tại Anh, một nửa trong số đó thuộc sở hữu của Đường thuỷ Anh (Waterscape). Sông Thames là tuyến đường thuỷ chủ chốt của Anh, với hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu tại Cảng Tilbury, một trong ba cảng chính của Vương quốc Anh. Sở Y tế Quốc gia (NHS) là hệ thống y tế tài chính công tại Anh chịu trách nhiệm cung cấp đa phần các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trong nước. NHS bắt đầu hoạt động ngày 5 tháng 7 năm 1948, thực hiện các nội dung của Đạo luật Sở Y tế Quốc gia năm 1946. Nó dựa trên các phát hiện của Báo cáo Beveridge, được chuẩn bị bởi nhà kinh tế và cải cách xã hội William Beveridge. NHS được cấp kinh phí phần lớn từ thuế chung gồm cả các khoản chi trả Bảo hiểm Quốc gia, nó cung cấp hầu hết các dịch vụ không mất phí bổ sung dù cũng có những khoản phụ phí cho việc xét nghiệm mắt, chăm sóc răng miệng, kê đơn thuốc và các lĩnh vực chăm sóc cá nhân. Cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về NHS là Sở Y tế, đứng đầu là Bộ trưởng Y tế Nhà nước, và có chân trong Nội các Vương quốc Anh. Hầu hết chi phí của Sở Y tế được chi cho NHS —năm 2008-2009 £98.6 tỷ được dành cho NHS. Trong những năm gần đây lĩnh vực tư nhân dần được gia tăng để cung cấp thêm các dịch vụ cho NHS dù có sự phản đối của các bác sĩ và các công đoàn. Tuổi thọ trung bình của người dân Anh là 77.5 năm cho nam và 81.7 năm với nữ, cao nhất trong số bốn quốc gia thuộc Vương quốc Anh. == Nhân khẩu == === Dân số === Với hơn 51 triệu dân, Anh là nước đông dân nhất trong Vương quốc Anh, chiếm 84% tổng dân số. Anh được lấy như một đơn vị và so với các quốc gia trên thế giới có dân số đứng hàng thứ tư trong Liên minh châu Âu và hạng thứ 25 theo dân số trên thế giới. Với mật độ dân số 395 người trên kilômét vuông, nước này có mật độ đứng hàng thứ hai ở Liên minh châu Âu sau Malta. Người Anh là một British people—bằng chứng gene cho thấy 75–95% hậu duệ theo họ nội từ những người định cư thời tiền sử ban đầu tới từ Bán đảo Iberia. Có một thành phần Norse quan trọng, và một phần đóng góp 5% từ Angles và Saxons, dù các chuyên gia gene khác đưa ra ước tính người Norse-Germanic chiếm một nửa. Cùng với thời gian nhiều nền văn hoá đã để lại ảnh hưởng—Tiền sử, Brythonic, Roman, Anglo-Saxon, Norse Viking, Các văn hoá Gaelic, cũng như một ảnh hưởng lớn từ người Normans. Có một cộng đồng Do Thái Anh tại những phần cũ của Đế chế Anh; đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, Chile, Nam Phi và New Zealand. Từ cuối những năm 1990, người Anh đã di cư tới Tây Ban Nha. Ở thời Sổ điền thổ, được biên soạn năm 1086, hơn 90% dân số Anh khoảng hai triệu người sống ở vùng nông thôn. Tới năm 1801 dân số đã tăng lên 8.3 triệu, và tới năm 1901 đã tăng lên 30.5 triệu. Vì sự thịnh vượng kinh tế ở Đông Nam Anh có nhiều người nhập cư kinh tế từ các nơi khác của Vương quốc Anh. Đã có một làn sóng di cư khá lớn của người Ireland, với 25% dân số Anh có tổ tiên là người Ireland. Tổng dân số là người Âu chiếm 89.90%, gồm cả người Đức và Ba Lan. Những sắc tộc khác chủ yếu từ các thuộc địa cũ của Anh cũng đã tới từ những năm 1950—5.30% người sống tại Anh đã di cư tới từ tiểu lục địa Ấn Độ, chủ yếu là Ấn Độ và Pakistan. 2.30% dân số là người da đen, chủ yếu tới từ vùng Caribbean. Có một số lượng khá lớn người Hoa và người Anh gốc Hoa. Ở thời điểm năm 2007, 22% trẻ em theo học các trường tiểu học tại Anh thuộc các gia đình sắc tộc thiểu số. Khoảng một nửa sự gia tăng dân số giai đoạn 1991–2001 là do nhập cư. Tranh cãi về việc nhập cư là một vấn đề chính trị quan trọng, theo một cuộc điều tra của Home Office 80% người dân muốn ngăn chặn nhập cư. Văn phòng Thống kê Quốc gia đã dự đoán rằng dân số sẽ tăng thêm sáu triệu người trong khoảng thời gian năm 2004 và 2029. === Ngôn ngữ === Tiếng Anh ngày nay được hàng trăm triệu người trên khắp thế giới sử dụng, có nguồn gốc từ ngôn ngữ Anh, nơi hiện tại nó vẫn là một ngôn ngữ chính. Một ngôn ngữ Ấn-Âu trong nhánh Anglo-Frisian của ngữ hệ Germanic, nó liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ Scots. Sau cuộc chinh phục của người Norman, tiếng Anh Cổ bị thay thế và chỉ được các giai cấp bình dân sử dụng, tiếng Pháp Norman và tiếng Latin được giới quý tộc sử dụng. Tới thế kỷ 17, tiếng Anh quay trở lại thành ngôn ngữ được ưa chuộng trong mọi tầng lớp, dù đã thay đổi nhiều; hình thức tiếng Anh Trung Cổ thể hiện nhiều ảnh hưởng từ tiếng Pháp, cả trong từ vựng và cách phát âm. Trong thời Phục hưng Anh, nhiều từ bị ảnh hưởng từ tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Tiếng Anh hiện đại tiếp tục truyền thống uyển chuyển này, khi nó hấp thu các từ từ các ngôn ngữ khác nhau. Nhờ một phần lớn ở Đế chế Anh, tiếng Anh đã trở thành tiếng mẹ đẻ không chính thức của thế giới. Dạy và học tiếng Anh là một hoạt động kinh tế quan trọng, và bao gồm các trường ngôn ngữ, chi tiêu du lịch, và xuất bản, Không hề có điều luật quy định một ngôn ngữ chính thức cho Anh, nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong thương mại chính thức. Dù nước này có kích cỡ khá nhỏ, có nhiều kiểu giọng địa phương, và các cá nhân có cách phát âm mạnh có thể không dễ dàng được hiểu ở mọi nơi trong nước. Ngôn ngữ Cornish, đã không còn là một ngôn ngữ của cộng đồng từ thế kỷ 18, đang được hồi sinh, và hiện được bảo vệ theo Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ vùng và thiểu số. NÓ được 0.1% dân số tại Cornwall sử dụng, và được dạy ở một số mức độ tại nhiều trường cấp một và cấp hai. Các trường nhà nước dạy học sinh một ngôn ngữ thứ hai, thường là tiếng Pháp, tiếng Đức hay tiếng Tây Ban Nha. Vì tình trạng nhập cư, có thông báo vào năm 2007 rằng khoảng 800,000 học sinh tại các trường học nói một thứ tiếng nước ngoài tại gia đình, phổ thông nhất là tiếng Punjabi và Urdu. === Tôn giáo === Ki-tô giáo là tôn giáo có số tín đồ đông nhất ở Anh, và nó đã có mặt từ Sơ kỳ Trung Cổ, dù nó xuất hiện lần đầu còn sớm hơn nữa, ở thời Gaelic và La Mã. Nó tiếp tục thông qua Kitô giáo Hải đảo sơ khởi, và ngày nay khoảng 71.6% người Anh tự coi mình là tín đồ Ki-tô giáo. Hình thức Ki-tô giáo được thực hiện nhiều nhất ngày nay là Anh giáo, có từ giai đoạn Cải cách ở thế kỷ 16, với sự chia rẽ năm 1536 khỏi Rome về ý muốn ly dị Catherine của Aragon của Henry VIII, hệ phái này tự xem mình vừa là Công giáo vừa là Cải cách. Có các truyền thống Thượng Giáo hội và Hạ Giáo hội, và một số người theo giáo phái Anh coi mình là Công giáo Anh, sau phong trào Tractarian. Vương triều Vương quốc Anh là lãnh đạo của Giáo hội, hoạt động như Người quản trị Tối cao. Giáo hội Anh có vị thế là giáo hội thiết lập tại Anh. Có khoảng 26 triệu người theo Giáo hội Anh và họ hình thành nên một phần của Cộng đồng Anh giáo với Tổng Giám mục Canterbury hoạt động như thủ lĩnh biểu tượng trên khắp thế giới. Nhiều nhà thờ chính tòa và các nhà thờ giáo xứ là các công trình lịch sử với tầm quan trọng về kiến trúc, như Tu viện Westminster, York Minster, nhà thờ chính tòa Durham và nhà thờ chính tòa Salisbury. Giáo phái Ki-tô giáo đứng thứ hai là Giáo hội Latinh thuộc Giáo hội Công giáo Rôma, có nguồn gốc lịch sử đoàn thể tại Anh từ thế kỷ thứ 6 với cuộc truyền giáo của Augustine và là tôn giáo chính trên toàn bộ hòn đảo trong khoảng một nghìn năm. Từ khi nó tái xuất hiện sau sự Giải phóng Công giáo, Nhà thờ đã tổ chức các giáo sĩ theo cơ sở Anh và xứ Wales theo đó có 4.5 triệu thành viên (hầu hết trong số đó là người Anh). Cho tới nay chỉ có một Giáo hoàng là người Anh, Adrian IV; trong khi các thánh Bede và Anslem được coi là Tiến sĩ Hội thánh. Một hình thức của Tin lành được gọi là Hội Giám lý là giáo phái lớn thứ ba và đã phát triển ra ngoài giáo phái Anh nhờ John Wesley. Nó giành được sự quy thuận của nhân dân tại các thị trấn nhà máy ở Lancashire và Yorkshire, và cả trong các công nhân thiếc tại Cornwall. Cũng có các cộng đồng thiểu số phi tuân phục khác, như Baptists, Quakers, Tự trị Giáo đoàn, Nhất vị luận và Cứu thế quân. Vị thánh bảo hộ của Anh là Thánh George, ông được thể hiện trên lá cờ quốc gia, cũng như trên Cờ Liên minh như một phần của sự kết hợp. Có nhiều vị thánh người Anh và những vị thánh có liên quan khác, một số vị thánh đáng chú ý nhất gồm; Cuthbert, Alban, Wilfrid, Aidan, Edward Người tuyên tín, John Fisher, Thomas More, Petroc, Piran, Margaret Clitherow và Thomas Becket. Cũng có các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo. Đạo Do Thái có một lịch sử của một cộng đồng nhỏ trên hòn đảo từ năm 1070. Họ đã bị trục xuất khỏi Anh năm 1290 sau Sắc lệnh Trục xuất, chỉ được phép quay trở lại vào năm 1656. Đặc biệt từ những năm 1950 các tôn giáo phương Đông từ các thuộc địa cũ của Anh đã bắt đầu xuất hiện, vì những người nhập cư từ nước ngoài; Hồi giáo là phổ thông nhất và chiếm khoảng 3.1% tại Anh. Hindu giáo, Sikh giáo và Phật giáo đứng hàng thứ hai với tổng cộng 2%, được đưa vào từ Ấn Độ và Đông Nam Á. Khoảng 14.6% dân số tuyên bố không theo tôn giáo nào. Trước khi Kitô giáo được truyền bá, các thuyết đa thần Celtic, La Mã, Anglo-Saxon và thần thoại Norse được thực hành. == Giáo dục == === Các trường đại học và các định chế giáo dục === Cơ quan chịu trách nhiệm giáo dục quốc gia phổ thông tới tuổi 19, tại Vương quốc Anh là Sở Trẻ em, Trường học và Gia đình —cơ quan này quản lý trực tiếp các trường học công ở Anh. Được cung cấp tài chính qua thuế các trường học công được xấp xỉ 93% trẻ em ở độ tuổi đi học ở Anh theo học. Trong đó có một số ít là các faith school, chủ yếu thuộc Giáo hội Anh và Giáo hội Công giáo Rôma. Giữa tuổi lên ba và lên bốn có một trường mẫu giáo, từ bốn tới mười một là trường tiểu học, và từ mười một tới mười sáu là trường trung học, với một lựa chọn hai năm kéo dài để theo học sixth form college. Dù hầu hết các trường trung học Anh là trường hỗn hợp, có các trường phổ thông lựa chọn đầu vào, với yêu cầu phải vượt qua eleven plus exam. Khoảng 7.2% trẻ em ở độ tuổi đến trường ở Anh theo học các trường tư, với ngân quỹ từ các nguồn tư nhân. Các tiêu chuẩn được giám sát bởi các thanh tra thường xuyên với các trường nhà nước bởi Văn phòng Tiêu chuẩn Giáo dục và với các trường tư bởi Ban Thanh tra Trường độc lập. Sau khi hoàn thành giáo dục phổ cập, học sinh thực hiện một kỳ thi GCSE, tiếp theo đó các học sinh có thể quyết định tiếp tục học và tham gia một trường cao đẳng. Các học sinh thường ghi danh vào các trường đại học tại Vương quốc Anh từ năm 18 tuổi trở về sau, nơi họ theo học một bằng cấp hàn lâm. Anh có hơn 90 trường đại học công, được giám sát bởi Sở Sáng kiến, Đại học và Kỹ năng. Các sinh viên nói chung được cấp các khoản vay sinh viên để theo học. Bằng cấp một được trao cho các sinh viên chưa tốt nghiệp là Bachelor's degree, thường mất ba năm để hoàn thành. Các sinh viên sau đó đủ tư cách để có một bằng hậu tốt nghiệp, một Master's degree, mất một năm, hay một Doctorate degree, mất ba năm. Anh có một lịch sử khuyến khích giáo dục, và các trường đại học hàng đầu của họ được quốc tế công nhận. Các trường đại học nổi tiếng nhất của Anh gồm Đại học Oxford và Cambridge. Hai "trường đại học lâu đời" này có nhiều đặc điểm chung và hiện được gọi là Oxbridge. The King's School, Canterbury và The King's School, Rochester là các trường lâu đời nhất tại các quốc gia nói tiếng Anh. Nhiều trường học nổi tiếng của Anh, như Winchester College, Eton College, St Paul's School, Rugby School, và Harrow School là các cơ sở giáo dục miễn phí. === Khoa học, công nghệ và phát minh === Các nhân vật nổi tiếng của Anh trong lĩnh vực khoa học và toán học gồm Sir Isaac Newton, Michael Faraday, Robert Hooke, Robert Boyle, Joseph Priestley, J. J. Thomson, Charles Babbage, Charles Darwin, Stephen Hawking, Christopher Wren, Alan Turing, Francis Crick, Joseph Lister, Tim Berners-Lee, Andrew Wiles và Richard Dawkins. Các chuyên gia cho rằng ý tưởng sớm nhất về một hệ mét đã được phát minh bởi John Wilkins, thư ký thứ nhất của Hội Hoàng gia năm 1668. Là nơi ra đời của cuộc Cách mạng Công nghiệp, Anh cũng là quê hương của nhiều nhà phát minh nổi bất hồi cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Các kỹ sư nổi tiếng của Anh gồm Isambard Kingdom Brunel, được biết đến nhiều nhất về việc lập ra Great Western Railway, một loạt các tàu hơi nước nổi tiếng và nhiều cây cầu quan trọng, vì thế đã mang lại cuộc cách mạng trong vận tải công cộng và kỹ thuật hiện đại. Các phát minh và khám phá của người Anh gồm; máy quay sợi công nghiệp đầu tiên, máy tính đầu tiên và máy tính hiện đại, World Wide Web cùng với HTTP và HTML, sự truyền máu thành công đầu tiên ở con người, và máy hút bụi, máy xén cỏ, dây an toàn, tàu đệm khí, động cơ điện, microphone, động cơ hơi nước, và các lý thuyết như lý thuyết tiến hoá của Darwin và thuyết nguyên tử. Newton đã phát triển các ý tưởng về định luật vạn vật hấp dẫn, cơ học Newton, và phép tính vi phân, và Robert Hooke với tên của ông đã được đặt cho định luật co giãn. Các phát minh khác gồm đường sắt mạ thép, thermosiphon, tarmac, dây chun, bẫy chuột, thiết bị an toàn đường bộ "mắt mèo", cùng phát triển bóng đèn điện, đầu máy hơi nước, máy gieo hạt, động cơ phản lực và nhiều kỹ thuật và công nghệ hiện đại được dùng trong cơ khí chính xác. == Văn hoá == === Kiến trúc === Nhiều công trình đá đài đã được dựng lên trong giai đoạn tiền sử, trong số đó các công trình được biết tới nhiều nhất gồm Stonehenge, Devil's Arrows, Rudston Monolith và Castlerigg. Với sự xuất hiện của kiến trúc La Mã cổ đại đã có một sự phát triển các La Mã hoàng cung, nhà tắm, sân khấu vòng, khải hoàn môn, villas, đền La Mã, đường La Mã, pháo đài La Mã, hàng rào cọc và các cống dẫn nước. Chính những người La Mã đã lập ra các thành phố và thị trấn đầu tiên như Luân Đôn, Bath, York, Chester và St Albans. Có lẽ ví dụ được biết tới nhiều nhất là Bức tường Hadrian trải dài xuyên miền bắc nước Anh. Một công trình khác được bảo tồn tốt là nhà tắm La Mã tại Bath, Somerset. Các công trình thế tục kiểu kiến trúc đầu thời kỳ Trung Cổ là những ngôi nhà đơn giản chủ yếu sử dụng gỗ với mái bằng tranh. Kiến trúc giáo hội thay đổi từ kiểu tổng hợp Hiberno—Saxon tu viện, tới La Mã hoàng cung Kitô giáo sơ khởi và kiến trúc đặc trưng bởi các dải trụ bổ tường, dãy nhịp cuốn trống, các thân lan can và các cửa mở đỉnh tam giác. Sau cuộc chinh phục của người Norman năm 1066 nhiều lâu đài tại Anh đã được xây dựng để các chúa đất có thể củng cố quyền lực của họ và ở phía bắc là để bảo vệ chống xâm lược. Một số lâu đài nổi tiếng nhất có từ thời Trung Cổ gồm Tháp Luân Đôn, Lâu đài Warwick, Lâu đài Durham và Lâu đài Windsor cùng một số công trình khác. Trong suốt thời kỳ Plantagenet một phong cách kiến trúc Gothic Anh đã phát triển mạnh mẽ - các nhà thờ chính tòa Trung Cổ như nhà thờ chính tòa Canterbury, Tu viện Westminster và Nhà thờ lớn York là một số ví dụ tiêu biểu. Phát triển từ cơ sở kiến trúc Norman cũng có các lâu đài, cung điện, những ngôi nhà lớn, trường đại học và các nhà thờ xứ đạo. Kiến trúc thời Trung Cổ hoàn thành phong cách Tudor ở thế kỷ 16; four-centred arch, hiện được gọi là vòm Tudor, là một đặc trưng định nghĩa giống như các ngôi nhà wattle and daub trong nước. Sau thời kỳ Phục hưng một hình thức kiến trúc phỏng theo phong cách cổ đại, pha trộn với Kitô giáo xuất hiện — phong cách Baroque Anh, kiến trúc sư Christopher Wren đặc biệt nổi tiếng với phong cách này. Kiến trúc Georgian nối tiếp với một phong cách tinh vi hơn, tạo ra một hình thức Palladian đơn giản; Royal Crescent tại Bath là một trong những ví dụ nổi tiếng nhất của nó. Với sự xuất hiện của chủ nghĩa lãng mạn thời Victoria, một sự Phục hưng Gothic được đưa ra —với phong cách này và cùng khoảng thời gian đó là cuộc Cách mạng Công nghiệp đã mở đường cho những công trình xây dựng như The Crystal Palace. Từ thập niên 1930 nhiều hình thức hiện đại đã xuất hiện và sự tiếp nhận dành cho chúng cũng thường trái ngược, dù những phong trào truyền thống phản đối tiếp tục được sự ủng hộ từ những vị trí quan trọng. === Dân gian === Văn hoá dân gian Anh đã phát triển trong nhiều thế kỷ. Một số nhân vật và câu chuyện hiện diện trên khắp nước Anh, nhưng hầu hết gắn liền với các vùng riêng biệt. Các nhân vật dân gian thông thường gồm yêu tinh, người khổng lồ, người lùn, ông ba bị, troll, goblin và dwarves. Tuy nhiều truyền thuyết và tục lệ dân gian được cho là có từ cổ xưa, ví dụ các câu chuyện về Offa of Angeln và Weyland Smith, những câu chuyện khác xuất hiện sau cuộc xâm lược của người Norman; Robin Hood và những người bạn của mình trong rừng Sherwood và những trận đánh của họ với cảnh sát trưởng Nottingham có lẽ là câu chuyện nổi tiếng nhất. Trong thời kỳ đỉnh cao Trung Cổ các câu truyện cổ tích bắt nguồn từ truyền thống Brythonic đã xâm nhập vào trong văn hoá dân gian Anh - truyền thuyết Arthurian. Chúng xuất xứ từ các nguồn Anglo-Norman, Pháp và Welsh, thể hiện các nhân vật Vua Arthur, Camelot, Excalibur, Merlin và Các hiệp sĩ bàn tròn như Lancelot. Những câu chuyện này hầu hết được gộp vào với nhau trong Historia Regum Britanniae của Geoffrey of Monmouth. Một nhân vật xuất hiện sớm khác trong truyền thống Anh, Vua Cole, có thể đã dựa trên một nhân vật thực tế từ nước Anh thuộc La Mã. Nhiều câu chuyện và cái gọi là lịch sử đã tạo nên một phần của Vấn đề Anh rộng lớn hơn, một tổng thể của văn hoá dân gian Anh được chia sẻ. Một số nhân vật dân gian dựa trên các nhân vật lịch sử thực tế hay bán thực tế mà những câu chuyện của họ đã được kể lại sau hàng thế kỷ; ví dụ Lady Godiva được cho là đã khoả thân cưỡi trên một con ngựa chạy qua Coventry, Hereward the Wake là một nhân vật anh hùng của Anh đã chống lại cuộc xâm lược của Norman, Herne thợ săn là một con ma đi bộ gắn liền với khu rừng Windsor và Đại công viên và Mẹ Shipton là một phù thuỷ nguyên mẫu. Vào ngày 5 tháng 11 mọi người đốt những đống lửa, đốt pháo và ăn toffee apple để kỷ niệm việc đánh bại Âm mưu Thuốc súng tập trung quanh Guy Fawkes. Băng nhóm hào hiệp, như Dick Turpin, là một nhân vật tái xuất hiện, trong khi Râu đen là nguyên mẫu cướp biển. Có nhiều hoạt động văn hoá dân gian quốc gia và ở mức vùng, liên quan tới ngày này, như nhảy Morris, nhảy Maypole, Rapper sword ở Đông Bắc., Long Sword dance ở Yorkshire, Mummers Play, bottle-kicking ở Leicestershire, và lăn phó mát tại Cooper's Hill. Không có trang phục truyền thống quốc gia chính thức, nhưng một số kiểu trang phục được bảo tồn tốt như Pearly Kings and Queens gắn liền với người dân khu đông Luân Đôn, Cận vệ Hoàng gia, trang phục Morris và Beefeater. === Ẩm thực === Từ Đầu Thời kỳ Hiện đại thực phẩm Anh theo lịch sử đã có đặc trưng ở sự đơn giản trong cách tiếp cận, sự chân thực trong hương vị, và một sự đề cao chất lượng của sản phẩm tự nhiên. Ở thời Trung Cổ và trong suốt giai đoạn Phục hưng, ẩm thực Anh đã có được danh tiếng lẫy lừng, dù đã có một sự suy giảm trong thời Cách mạng Công nghiệp với một sự dịch chuyển khỏi ruộng đất và sự gia tăng số lượng dân thành thị. Người Pháp thỉnh thoảng gọi người Anh là les rosbifs, như một công thức hàm ý rằng ẩm thực Anh không tinh vi hay còn thô. Tuy nhiên, ẩm thực Anh gần đây đã có sự hồi sinh, và đã được công nhận bởi các nhà phê bình ẩm thực với một số loại món ăn được xếp hạng tốt trong bảng [[nhà hàng tốt nhất thế giới của Restaurant. Một cuốn sách thời kỳ đầu về các công thức làm món ăn Anh là Forme of Cury từ triều đình hoàng gia của Richard II. Các ví dụ truyền thống về ẩm thực Anh gồm Sunday roast; với một miếng thịt nóng, thường là thịt bò, thịt cừu hay thịt gà, dùng với các loại rau chín, Yorkshire pudding và nước sốt. Các món nổi bật khác gồm fish and chips và full English breakfast —gồm thịt lợn xông khói, grilled tomatoes, bánh mì rán, black pudding, đậu nướng, nấm rán, xúc xích và trứng. Nhiều loại bánh thịt cũng được tiêu thụ như steak and kidney pie, shepherd's pie, cottage pie, Cornish pasty và pork pie, pork pie được ăn nguội. Các loại xúc xích cũng thường được tiêu thụ, hoặc như bangers and mash hay toad in the hole. Lancashire hotpot là một món nổi tiếng. Một số loại pho mát phổ thông là Cheddar và Wensleydale. Nhiều món ăn lai Anglo-Indian, curries, đã được tạo ra như chicken tikka masala và balti. Các món bánh kẹo Anh gồm bánh táo, mince pie, spotted dick, scones, Eccles cake, custard và sticky toffee pudding. Các món đồ uống phổ thông gồm trà, đã bắt đầu trở thành đồ uống được sử dụng rộng rãi bởi Catherine của Braganza, trong khi các loại đồ uống có cồn gồm rượu và các loại bia Anh như bitter, bia nhẹ, bia đen, và brown ale. === Nghệ thuật === Những ví dụ được biết đến đầu tiên là các tác phẩm tranh đá và nghệ thuật hang động thời tiền sử, đáng chú ý nhất là tại Bắc Yorkshire, Northumberland và Cumbria, nhưng cũng có mặt ở phía nam, ví dụ như tại Creswell Crags. Với sự xuất hiện của văn hoá La Mã ở thế kỷ thứ nhất, nhiều hình thức nghệ thuật sử dụng các bức tượng, tượng bán thân, kính và mosaic đã trở thành tiêu chuẩn. Có nhiều đồ tạo tác vẫn còn tới ngày nay, ví dụ những đồ tại Lullingstone và Aldborough. Ở Đầu Thời kỳ Trung Cổ phong cách là thánh giá điêu khắc và ngà vôi, tranh trong bản viết tay, đồ trang sức vàng và nạm, thể hiện một tình yêu với sự phức tạp, các mẫu thiết kế dệt như tại Staffordshire Hoard được phát hiện năm 2009. Một số phong cách nghệ thuật pha trộn Gaelic và Anglian đó, như Lindisfarne Gospels và Vespasian Psalter. Sau này nghệ thuật Gothic trở nên phổ biến tại Winchester và Canterbury, các ví dụ còn lại như Benedictional of St. Æthelwold và Luttrell Psalter. Thời kỳ Tudor có các nghệ sĩ nổi bật trong triều, với những bức tranh chân dung sẽ mãi là một phần của nghệ thuật Anh, với sự đóng góp của hoạ sĩ Hans Holbein người Đức cùng các nghệ sĩ trong nước như Nicholas Hilliard. Dưới thời Stuarts, các nghệ sĩ từ Lục địa có ảnh hưởng lớn đặc biệt là Flemish, các ví dụ từ giai đoạn này gồm —Anthony van Dyck, Peter Lely, Godfrey Kneller và William Dobson. Thế kỷ 18 là một thời điểm đáng chú ý với sự thành lập Hội Hoàng gia, một chủ nghĩa kinh điển dựa trên Đỉnh cao Phục hưng với các nhân vật đáng chú ý —Thomas Gainsborough và Joshua Reynolds trở thành hai nghệ sĩ có số lượng tác phẩm lớn của Anh. Trường phái Norwich tiếp tục truyền thống sáng tác tranh phong cảnh, trong khi Pre-Raphaelite Brotherhood với phong cách mạnh mẽ và chi tiết của họ đã khôi phục lại phong cách Tiền Phục hưng —Holman Hunt, Dante Gabriel Rossetti và John Everett Millais là những người lãnh đạo. Người nổi bật trong số các nghệ sĩ ở thế kỷ 20 là Henry Moore, được coi là đại biểu của điêu khắc Anh và chủ nghĩa hiện đại Anh nói chung. Các hoạ sĩ hiện tại gồm Lucian Freud, tác phẩm Benefits Supervisor Sleeping năm 2008 của ông đã lập một kỷ lục về giá trị của một bức tranh của nghệ sĩ đang sống. === Văn học, thi ca và triết học === Các tác gia thời kỳ đầu sáng tác bằng tiếng Latinh như Bede và Alcuin. Giai đoạn Văn học cổ điển Anh có bài thơ sử thi Beowulf, bãi tụng ca thế tục Biên niên sử Anglo-Saxon, cùng với các tác phẩm Kitô giáo như Judith, Thánh ca của Cædmon kể lại tiểu sử các vị thánh. Sau cuộc chinh phục của người Norman văn học Latin tiếp tục phổ biến trong hầu hết các giai cấp có học vị, cũng như văn hoá Anglo-Norman. Văn học Anh thời Trung Cổ xuất hiện với Geoffrey Chaucer tác giả của The Canterbury Tales, cùng với Gower, Pearl Poet và Langland. Franciscans, William xứ Ockham và Roger Bacon là các nhà triết học lớn thời Trung Cổ. Julian của Norwich cùng tác phẩm Revelations of Divine Love của mình là một tác phẩm thần bí Kitô giáo tiêu biểu. Với thời kỳ Phục hưng Anh văn học dưới hình thức Anh tiền hiện đại xuất hiện. William Shakespeare, với những tác phẩm gồm Hamlet, Romeo và Juliet, Macbeth, và A Midsummer Night's Dream, vẫn là một trong các tác gia được ca tụng nhiều nhất trong văn học Anh. Marlowe, Spenser, Sydney, Kyd, Donne, Jonson cũng là các tác gia có tên tuổi khác trong thời Elizabeth. Francis Bacon và Thomas Hobbes đã viết về chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy vật, gồm cả phương pháp khoa học và khế ước xã hội. Filmer đã viết về Quyền lực Thần thánh của các vị Vua. Marvell là nhà thơ nổi tiếng nhất trong Khối thịnh vượng chung, trong khi John Milton sáng tác Paradise Lost trong thời kỳ Cải cách. Một số nhà triết học nổi bật nhất từ Thời đại khai sáng là Locke, Paine, Johnson và Benthem. Các thành phần cấp tiến hơn sau này bị phản đối bởi Edmund Burke người được coi là người sáng lập chủ nghĩa bảo thủ. Nhà thơ Alexander Pope với những bài thơ trào phúng của mình được đánh giá cao. Người Anh đóng một vai trò quan trọng trong chủ nghĩa lãng mạn —Coleridge, Byron, Keats, M Shelley, PB Shelley, Blake và Wordsworth là các nhân vật chủ chốt. Với sự xuất hiện của Cách mạng Công nghiệp, các tác gia nông nghiệp đã tìm cách có được một con đường giữa tự do và truyền thống; Cobbett, Chesterton và Belloc là những nhân vật chính, trong khi người sáng lập chủ nghĩa xã hội phường hội, Penty và phong trào hợp tác xã ủng hộ Cole cũng có sự liên quan. Chủ nghĩa kinh nghiệm tiếp tục thông qua Mill và Russell, trong khi Williams tham gia vào lĩnh vực phân tích. Các tác gia từ khoảng thời kỳ Victoria gồm cả Dickens, chị em Brontë, Austen, Kipling, Wells, và Underhill. Từ đó Anh tiếp tục sản sinh ra những nhà văn viết tiểu thuyết như C. S. Lewis, Orwell, Blyton, Christie, J. R. R. Tolkien, và J. K. Rowling. === Nghệ thuật trình diễn === Âm nhạc dân gian truyền thống Anh có từ hàng thế kỷ và đã đóng góp vào nhiều thể loại âm nhạc nổi tiếng; đáng chú ý nhất là sea shanties, jigs, hornpipe và dance music. Âm nhạc truyền thống Anh có các biến thể riêng biệt và tính chất riêng cấp vùng. Các bản ballad in của Wynkyn de Worde về Robin Hood từ thế kỷ 16 là một tạo tác quan trọng, cũng như các bản The Dancing Master của John Playford và Roxburghe Ballads của Robert Harley's. Một số những bài hát nổi tiếng nhất gồm "The Good Old Way", "Pastime with Good Company", "Maggie May" và "Spanish Ladies" cùng những bài khác. Nhiều bài hát cho trẻ em có nguồn gốc ở Anh như "Twinkle Twinkle Little Star", "Roses are red", "Jack and Jill", "Here We Go Round the Mulberry Bush" và "Humpty Dumpty". Các nhà soạn nhạc Anh thời kỳ đầu ở thể loại âm nhạc cổ điển gồm các nghệ sĩ thời kỳ Phục hưng Thomas Tallis và William Byrd, tiếp sau là Henry Purcell thuộc thời kỳ Baroque. George Frideric Handel người gốc Đức đã trở thành một công dân Anh và dành hầu hết thời gian sáng tác của mình tại Luân Đôn, sáng tạo ra một số tác phẩm nổi tiếng nhất trong thể loại âm nhạc cổ điển, The Messiah, Water Music, và Music for the Royal Fireworks. Đã có một sự phục hưng trong danh sách các nhà soạn nhạc Anh ở thế kỷ 20 đứng đầu là Benjamin Britten, Frederick Delius, Edward Elgar, Gustav Holst, Ralph Vaughan Williams và những người khác. Các nhà soạn nhạc Anh hiện nay gồm cả Michael Nyman, được biết đến nhiều nhất với bản The Piano. Trong lĩnh vực âm nhạc đại chúng nhiều ban nhạc và các nghệ sĩ solo Anh đã được nêu ra như là những nhân vật có ảnh hưởng nhất hay các nghệ sĩ có số lượng đĩa bán chạy nhất mọi thời đại. Các ban nhạc như The Beatles, Led Zeppelin, Pink Floyd, Elton John, Queen, Rod Stewart và The Rolling Stones nằm trong số những nghệ sĩ có số lượng đĩa bán nhiều nhất thế giới. Nhiều thể loại âm nhạc có nguồn gốc hay có liên quan chặt chẽ với Anh, như British invasion, hard rock, glam rock, heavy metal, mod, britpop, drum and bass, progressive rock, punk rock, indie rock, gothic rock, shoegazing, acid house, UK garage, trip hop và dubstep. Các festival âm nhạc ngoài trời lớn vào mùa hè và mùa thu thường xuyên được tổ chức, như Glastonbury, V Festival, Reading and Leeds Festivals. Nhà hát opera nổi tiếng nhất tại Anh là Nhà hát Opera Hoàng gia tại Covent Gardens. The Proms, một sự kiện nhạc cổ điển giao hưởng được tổ chức tại Royal Albert Hall, là sự kiện văn hoá lớn được tổ chức hàng năm. The Royal Ballet là một trong những công ty ballet cổ điển hàng đầu của thế giới, danh tiếng của nó đã được xây dựng trên hai nhân vật nổi bật của nghệ thuật múa thế kỷ 20, prima ballerina Margot Fonteyn và nhà biên đạo múa Frederick Ashton. === Bảo tàng, thư viện và phòng trưng bày ảnh === Xem thêm thông tin: Bảo tàng tại Anh Di sản Anh là một cơ quan chính phủ với thẩm quyền rộng trong việc quản lý các di sản lịch sử, những đồ tạo tác và môi trường tại Anh. Hiện cơ quan này được hỗ trợ bởi Sở Văn hoá, Truyền thông và Thể thao. Hiến chương Cơ quan Quốc gia về các Địa điểm Lợi ích Lịch sử hay Vẻ đẹp Thiên nhiên giữ một vai trò trái ngược. Mười bảy trong số hai nhăm Địa điểm Di sản Thế giới của UNESCO tại Vương quốc Anh nằm ở Anh. Một số địa điểm nổi tiếng nhất gồm; Hadrian's Wall, Stonehenge, Avebury và các địa điểm liên quan, Tháp Luân Đôn, Bờ biển Jurassic, Saltaire, Ironbridge Gorge, Công viên Hoàng gia Studley và nhiều địa điểm khác. Có nhiều bảo tàng tại Anh, nhưng nổi tiếng nhất là Bảo tàng Anh tại Luân Đôn. Bộ sưu tập hơn bảy triệu đồ vật của bảo tàng là một trong những bộ sưu tập lớn và đầy đủ nhất trên thế giới, có nguồn gốc từ mọi lục địa, thể hiện và là tài liệu về câu chuyện văn hoá loài người từ khi khởi đầu tới hiện tại. Thư viện Anh tại Luân Đôn là thư viện quốc gia và là một trong những thư viện nghiên cứu lớn nhất trên thế giới, sở hữu hơn 150 triệu đồ vật ở mọi ngôn ngữ và hình thức; gồm cả khoảng 25 triệu cuốn sách. Gallery nghệ thuật lớn nhất là Gallery Quốc gia tại Quảng trường Trafalgar, nơi có bộ sưu tập hơn 2,300 bức tranh có niên đại từ giữa thế kỷ 13 tới năm 1900. Các gallery Tate là nơi giữ các bộ sưu tập của nghệ thuật Anh và quốc tế hiện đại; các gallery này cũng tổ chức Giải Turner nổi tiếng và thường gây tranh cãi. == Thể thao == Anh có một di sản thể thao mạnh, và trong thế kỷ 19 đã phát minh ra nhiều môn thể thao hiện được chơi trên khắp thế giới. Các môn thể thao có nguồn gốc từ Anh gồm bóng đá, cricket, rugby union, rugby league, tennis, cầu lông, squash, rounders, hockey, đấm bốc, snooker, billiards, phi tiêu, bóng bàn, bowls, bóng rổ, đua ngựa và săn cáo. Nước này cũng góp phần vào sự phát triển môn đua thuyền buồm và Công thức một. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất trong số đó. Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh, với sân nhà là Sân vận động Wembley, đã giành FIFA World Cup năm 1966, năm nước này là chủ nhà. Đội tuyển quốc gia Anh được mệnh danh la Tam Sư, trận đấu đầu tiên của họ là trận hòa Scotland 0-0 tai Patrick ngày 30/11/1872. Cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều lần nhất là Peter Shilton (125 lần). Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất là Wayne Rooney với 51 bàn. Ở mức độ câu lạc bộ Anh được FIFA công nhận là nơi khai sinh ra câu lạc bộ bóng đá, vì Sheffield FC được thành lập năm 1857 là câu lạc bộ lâu đời nhất. Liverpool là câu lạc bộ nổi tiếng nhất, từng được xem là niềm tự hào của thể thao nước Anh ở thế kỉ XX. Liên đoàn bóng đá là liên đoàn được tổ chức sớm nhất, FA Cup và The Football League là chiếc cúp và giải đầu tiên. Ngày nay Premier League là giải bóng đá hấp dẫn nhất và cũng nằm trong số các giải hàng đầu. Liverpool, Manchester United, Nottingham Forest và Aston Villa đã giành European Cup, trong khi Arsenal, Chelsea và Leeds United đã từng lọt tới trận chung kết. Cricket nói chung được cho là đã phát triển từ đầu thời kỳ trung cổ trong các cộng đồng nông nghiệp và thợ luyện kim tại Weald. Đội tuyển cricket Anh gồm cả đội tuyển Anh và xứ Wales. Một trong những cặp đấu nổi tiếng nhất của môn này là The Ashes series giữa Anh và Úc, được tổ chức từ năm 1882. Trận chung kết 2009 Ashes đã được gần 2 triệu người theo dõi, dù cực điểm 2005 Ashes được 7.4 triệu người theo dõi bởi nó được phát trên truyền hình mặt đất. Anh hiện giữ cúp và xếp hạng năm cả ở Test và One Day International cricket. Anh đã tổ chức bốn Cricket World Cup (1975, 1979, 1983, 1999) và ICC World Twenty20 năm 2009. Có nhiều giải thi đấu trong nước, gồm cả County Championship trong đó Yorkshire là câu lạc bộ thành công nhất với 31 lần giành chiến thắng. Lord's Cricket Ground tại Luân Đôn thỉnh thoảng được gọi là "Mecca của môn Cricket". William Penny Brookes là nhân vật nổi tiếng vì đã đưa ra cơ cấu cho Olympic Games hiện đại. Luân Đôn đã tổ chức Olympic mùa hè năm 1908 và 1948, và sẽ lại một lần nữa đăng cai sự kiện này năm 2012. Anh cũng tham gia thi đấu tại Commonwealth Games, được tổ chức bốn năm một lần. Thể thao Anh là cơ quan quản lý chịu trách nhiệm phân bổ quỹ và chỉ đạo chiến lược cho hoạt động thể thao tại Anh. Một Grand Prix được tổ chức tại Silverstone. Đội tuyển rugby union Anh đã giành chiến thắng tại 2003 Rugby World Cup, nước này là một trong những nước chủ nhà giải đấu 1991 Rugby World Cup và sẽ tiếp tục tổ chức 2015 Rugby World Cup. Mức độ giải đấu cao nhất của câu lạc bộ là English Premiership. Leicester Tigers, Luân Đôn Wasps, Bath Rugby và Northampton Saints đã giành thắng lợi trong Heineken Cup châu Âu. Trong một hình thức thể thao khác —rugby league ra đời tại Huddersfield năm 1898, Đội tuyển rugby league quốc gia Anh được xếp hạng ba thế giới và hạng nhất tại châu Âu. Từ năm 2008 Anh đã là một quốc gia tham dự thay mặt cho Đội tuyển rugby league Vương quốc Anh, giành ba World Cups nhưng hiện đã nghỉ. Các câu lạc bộ chơi tại Super League, đại diện hiện tại của Rugby Football League Championship. Một số câu lạc bộ thành công nhất gồm Wigan Warriors, St Helens, Leeds Rhinos và Huddersfield Giants; ba câu lạc bộ đầu đều đã giành World Club Challenge trước kia. Trong môn tennis Wimbledon Championships là giải đấu lâu đời nhất thế giới và được công nhận rộng rãi là giải đấu danh tiếng nhất. == Các biểu tượng quốc gia == Lá cờ Quốc gia Anh, được gọi là cờ Thập tự Thánh George, đã trở thành lá cờ quốc gia từ thế kỷ 13. Ban đầu cờ được dùng bởi quốc gia hàng hải Cộng hoà Genoa. Vương triều Anh đã trả một khoản cống nạp cho Tổng trấn Genoa từ năm 1190 trở về sau, nhờ thế các con tàu Anh có thể treo lá cờ như một phương tiện bảo vệ khi đi vào Địa Trung Hải. Một chữ thập đỏ là một biểu tượng cho nhiều Thập Tự Chinh ở thế kỷ 12 và 13. Nó đã gắn liền với Thánh George, cùng với các quốc gia và thành phố, tuyên bố ông là vị thánh bảo hộ và sử dụng chữ thập của ông như một lá cờ. Từ năm 1606 lá cờ Chữ thập Thánh George đã là một phần trong thiết kế của Lá cờ Liên minh, một lá cờ cho toàn Vương quốc Anh được thiết kế bởi Vua James I. Có nhiều biểu tượng và đồ tạo tác mang tính biểu tượng khác, cả chính thức và không chính thức, gồm hoa hồng Tudor, biểu tượng thực vật quốc gia, Rồng Trắng và Ba con Sư tử được thể hiện trên quốc huy quốc gia. Hoa hồng Tudor đã được chấp nhận như một biểu tượng quốc gia của Anh vào khoảng thời gian Các cuộc chiến tranh Hoa hồng như một biểu tượng của hoà bình. Nó là một biểu tượng dung hợp ở điểm nó kết hợp cả hoa hồng trắng của Nhà York và hoa hồng đỏ của Nhà Lancaster —các nhánh út của Nhà Plantagenet những người đã tham gia vào cuộc chiến tranh tranh giành vương triều. Nó cũng được gọi là Hoa hồng Anh. Cây sồi là một biểu tượng của Anh, thể hiện sức mạnh và sự trường tồn. Thuật ngữ Cây Sồi Hoàng gia được dùng để biểu thị sự trốn thoát của Vua Charles II khỏi những người theo phe nghị viện sau khi cha ông bị hành quyết; ông đã trốn trong một cây sồi để tránh bị phát hiện trước khi trốn thoát ra nước ngoài. Quốc huy Anh, với hình ba chú sư tử có niên đại từ khi nó được Richard Sư tử tâm chấp nhận từ năm 1198–1340. Chúng được miêu tả là gules, three lions passant guardant or và là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Anh; nó tương tự như những hình ảnh truyền thống của Normandy. Anh không có một biểu tượng quốc gia được quy định chính thức, bởi Vương quốc Anh như một tổng thế có Chúa phù hộ Nữ hoàng. Tuy nhiên, những thứ sau thường được coi là những biểu tượng quốc gia không chính thức của Anh: Jerusalem, Land of Hope and Glory (được dùng cho Anh trong 2002 Commonwealth Games), và I Vow to Thee, My Country. Ngày quốc khánh của Anh là Ngày Thánh George, bởi Thánh George là vị thánh bảo hộ của Anh, và được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng 4. == Ghi chú == == Tham khảo == === Chú thích === === Thư mục === == Liên kết ngoài == Tin tức Anh trên BBC Trang chủ du lịch Anh Thông tin du lịch Anh trên Lonely Planet Hình ảnh về nước Anh Official website of the United Kingdom Government English Heritage – national body protecting English heritage Natural England – wildlife and the natural world of England Enjoy England – website of the English Tourist Board BBC England – news items from the BBC relating to England
shamisen.txt
Shamisen hay Samisen (Tiếng Nhật: 三味線; âm Hán-Việt: tam vị tuyến) là một loại nhạc cụ ba dây của Nhật được chơi với một miếng gẩy đàn được gọi là bachi. Ở Việt Nam, loại đàn còn có tên gọi khác là đàn tam. == Cấu tạo == Shamisen có chiều dài tương tự với guitar nhưng cổ loại đàn này mỏng hơn và không có phím. Thân hình chữ nhật giống mặt trống của cây đàn được bọc da ở mặt trước và sau giúp khuếch đại âm thanh khi gẩy đàn. Da đàn thường được làm bằng da chó hoặc da mèo nhưng trong quá khứ có một loại giấy đặc biệt được sử dụng và nhiều loại nhựa cũng được dùng để làm mặt đàn. Dây đàn thường được làm bằng lụa, gần đây thì nylon cũng được sử dụng làm dây đàn. == Tham khảo ==
hệ thống trên một vi mạch.txt
Hệ thống trên một vi mạch hay có thể gọi "hệ thống trên chip", (trong tiếng Anh gọi là system-on-a-chip, viết tắt là SoC hay SOC) là một hệ thống điện tử được xây dựng trên một đế silicon với ý tưởng ban đầu là tích hợp tất cả các thành phần của một hệ thống máy tính lên trên một vi mạch đơn (hay còn gọi là một chip đơn). Hệ thống SoC này có thể bao gồm các khối chức năng số, tương tự, tín hiệu kết hợp (mixed-signal) và cả các khối tần số radio (RF). Ứng dụng điển hình của các hệ thống trên một vi mạch là các hệ thống nhúng. Hệ thống trên một vi mạch đôi khi còn được gọi là hệ thống đơn chip hay hệ thống "sốc" (SoC). Một hệ thống máy tính điển hình bao gồm một loạt các mạch tích hợp cho phép thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Các mạch tích hợp này có thể là: bộ vi xử lý (microprocessor) bộ nhớ (RAM, ROM) khối truyền thông nối tiếp UART các cổng song song (parallel port) khối điều khiển truy xuất bộ nhớ trực tiếp (DMA controller) Sự phát triển gần đây của công nghệ bán dẫn cho phép chúng ta tích hợp ngày càng nhiều thành phần vào một hệ thống trên một vi mạch. SoC có thể tích hợp thêm các khối như: bộ xử lý tín hiệu số, bộ mã hóa, giải mã Viterbi, Turbo,... tùy theo yêu cầu của từng ứng dụng cụ thể. Công nghệ thiết kế và xây dựng các hệ thống trên một vi mạch (SoC) có thể kể đến như: Công nghệ chế tạo ASIC FPGA Các thiết kế SoC thường tiêu tốn ít năng lượng và có giá thành thấp hơn các hệ thống đa chip nếu so sánh cùng một thiết kế. Ngoài ra, hệ thống đơn chip cũng có tính ổn định cao hơn. Các ứng dụng xây dựng trên cơ sở sử dụng các hệ thống đơn chip cũng cho giá thành thấp hơn, không gian chiếm chỗ ít hơn. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == TDK electric power meter IC- a typical mixed-signal system on chip SOCC Annual IEEE International SOC Conference MIPS-based SoCs at linux-mips.org
one thing.txt
"One Thing" là một bài hát của nhóm nhạc nam người Anh-Ireland One Direction. Bài hát được phát hành vào ngày 6 tháng 1 năm 2012 tại các nước châu Âu dưới dạng đĩa đơn (single) thứ hai trích từ album đầu tay của nhóm, Up All Night (2011) và ngày 12 tháng 2 năm 2012 tại Anh dưới dạng đĩa đơn thứ ba. Đây cũng là đĩa đơn thứ hai của nhóm ở Mỹ sau khi được gửi tới các đài phát radio ở quốc gia này vào ngày 22 tháng 5 năm 2012. Được sáng tác bởi Rami Yacoub, Savan Kotecha và Carl Falk trong khi được sản xuất bởi hai người đầu, "One Thing" là một bản uptempo mang thể loại pop rock. "One Thing" nhận được chủ yếu các đánh giá tích cực từ các nhà phê bình nhạc, họ khen đoạn điệp khúc của bài hát hay cùng với nền ghita đệm. Về mặt thương mại, bài hát cực kỳ thành công tại châu Âu và châu Đại Dương khi lọt vào tốp 10 của Anh cùng Úc, Hungary, Ireland và Scotland; trong khi tại Mỹ bài hát chỉ đạt vị trí thứ 39 trên Billboard Hot 100. Video âm nhạc cho "One Thing" được đạo diễn bởi Declan Whitebloom và được ra mắt ngày 13 tháng 1 năm 2012, mô tả nhóm nhạc biểu diễn trong và xung quanh khu ngoại ô của thủ đô Luân Đôn cùng với nhiều nhóm fan hâm mộ. Bài hát đã được nhóm biểu diễn nhiều nơi, trong đó có tour lưu diễn năm 2011-12 Up All Night Tour và các chương trình Today của Mỹ và Dancing on Ice của Anh. == Thực hiện và sáng tác == "One Thing" được sáng tác bởi Rami Yacoub, Savan Kotecha cùng với Carl Falk trong khi được sản xuất bởi hai người đầu. Bài hát ra mắt trước công chúng lần đầu trên BBC Radio 1 ngày 21 tháng 11 năm 2011. Ngoài ra One Direction cũng thông báo sẽ phát hành "One Thing" được phát hành dưới dạng đĩa đơn (single) thứ ba trích từ album đầu tay của nhóm, Up All Night (2011) vào ngày 22 tháng 11 năm 2011. Hai thành viên Horan và Payne thì nói rằng "One Thing" là ca khúc mà họ yêu thích nhất từ album. Hãng đĩa của nhóm, Syco nói rằng "One Thing là ca khúc nhạc pop đang chuẩn bị bùng nổ với giai điệu hấp dẫn mà bạn sẽ không thể quên." Sau đó vào tháng 1 năm 2012 "One Thing" được phát hành trên các đài radio rộng khắp châu Âu. Ngày 25 tháng 12, mặt B của ca khúc được thông báo là "I Should Have Kissed You." Theo tờ nhạc của "One Thing", ca khúc được sáng tác trên hợp âm Rê trưởng với nhịp đập trung bình là 128 nhịp một phút. Các nhạc cụ có trong bài hát gồm piano và ghita cùng với giọng ca của năm anh chàng One Direction. Bài hát có sự ảnh hưởng của thể loại nhạc rock. == Đánh giá của chuyên môn == "One Thing" nhận được các đánh giá tích cực từ phía phê bình nhạc, họ ca ngợi đoạn điệp khúc hay và phần đệm ghita. Zachary Houle của trang mạng Pop Matter cho rằng bài hát có phần chịu ảnh hưởng từ ca khúc "I Want It That Way" của nhóm nhạc nam Backstreet Boys năm 1998. Brian Mansfield từ tờ báo USA Today cũng có những quan điểm trên, nói rằng "các fan một thời của những nhóm nhạc xưa cũ từ thập niên 1990 có thể nghe thấy những giai điệu của 'I Want It That Way' của Backstreet Boys trong 'One Thing'." Lewis Corner của Digital Spy đánh giá bài hát với số điểm 4/5 sao, khen ngợi phần đệm ghita của "One Thing" cùng giai điệu cuốn hút và nói "bài hát là một hit." Newsround đánh giá bài hát với số điểm 4,5/5 sao và khen ngợi phần giai điệu hay và cuốn hút. Tạp chí âm nhạc Billboard thì nói rằng "bài hát có thể được phát trên radio hàng tháng." == Diễn biến thương mại == "One Thing" ra mắt trên bảng xếp hạng Irish Singles Chart của Ireland tại vị trí #15 ngày 19 tháng 1 năm 2012. Sau nhiều tuần lên hạng, bài hát đạt vị trí cao nhất là #6 tại đây vào ngày 16 tháng 2 năm 2012. Đĩa đơn ra mắt tại vị trí #48 trên bảng xếp hạng Ultratop 50 của Bỉ và đạt vị trí cao nhất là #38 vào ngày 28 tháng 1 năm 2012. "One Thing" ra mắt tại vị trí #28 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart của Anh ngày 22 tháng 1 năm 2012 và đạt vị trí cao nhất là #9, trở thành đĩa đơn thứ ba của One Direction lọt vào tốp 10 tại Anh. Mặt B của "One Thing", "I Should Have Kissed You" cũng có mặt trên UK Singles Chart ở vị trí #55. "One Thing" đạt vị trí cao nhất là #8 trên Scottish Singles Chart. "One Thing" đạt thành tích là ca khúc bán chạy thứ hai tại Anh cho tới tháng 8 năm 2012, với 154.000 bản tiêu thụ. Bài hát ra mắt ở vị trí #34 tại New Zealand Singles Chart ngày 23 tháng 1 năm 2012 sau đó lần lượt nhảy hạng từ #28 lên #16. "One Thing" được cấp chứng nhận đĩa vàng bởi RIANZ do tiêu thụ được 7.500 bản sao đĩa đơn. Mặt B của ca khúc, "I Should Have Kissed You" cũng lọt vào bảng xếp hạng với vị trí #27 vào ngày 20 tháng 2 năm 2012. Trên bảng xếp hạng ARIA Charts của Úc, "One Thing" ra mắt ở vị trí #32 vào ngày 12 tháng 2 năm 2012. Sau 10 tuần trong bảng xếp hạng, "One Thing" đạt vị trí cao nhất là #3 tại đây. Với "One Thing" ở vị trí #3 và "What Makes You Beautiful" ở vị trí #10 trên ARIA, điều này giúp One Direction trở thành nghệ sĩ thứ hai có hai đĩa đơn tốp 10 bảng xếp hạng trong năm 2012. Đĩa đơn này được cấp chứng nhận 4 lần đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc với doanh số là 280.000 bản sao đĩa đơn. "One Thing" ra mắt tại vị trí #90 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 vào ngày 21 tháng 3 năm 2012 sau khi album Up All Night được phát hành tại đây. Sau đó "One Thing" xếp ở vị trí #62 với 330.000 bản tải kỹ thuật số. Sau khi được gửi tới đài radio tại Mỹ ngày 22 tháng 5 năm 2012, "One Thing" tiếp tục xếp hạng ở vị trí #39 vào ngày 20 tháng 6 năm 2012. Vào ngày 21 tháng 9 năm 2012, "One Thing" được cấp chứng nhận đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ do tiêu thụ được hơn 1.000.000 bản sao đĩa đơn. Tính đến ngày 20 tháng 1 năm 2013, "One Thing" đã tiêu thụ được 1.305.000 bản sao đĩa đơn tại Mỹ. == Danh sách ca khúc và định dạng == Bản đĩa CD "One Thing" – 3:19 "I Should Have Kissed You" – 3:34 Bản tải nhạc số "One Thing" – 3:19 "I Should Have Kissed You" – 3:34 "One Thing" (phiên bản acoustic) – 3:04 "One Thing" (phiên bản acoustic kèm video âm nhạc) – 3:08 Bản đĩa CD ở Úc "One Thing" – 3:19 "One Thing" (phiên bản acoustic) – 3:04 "I Should Have Kissed You" – 3:34 == Xếp hạng và chứng nhận == == Lịch sử bảng xếp hạng == == Tham khảo ==
canxi ascorbat.txt
Canxi ascorbat là một hợp chất hóa học có công thức phân tử CaC12H14O12. Đây là muối canxi của axit ascorbic. Canxi ascorbat là phụ gia thực phẩm với số E là E302. == Chú thích ==
tả truyện.txt
Tả truyện (tiếng Trung Quốc: 左傳; bính âm: Zuo Zhuan; Wade-Giles: Tso Chuan) hay Tả thị Xuân Thu là tác phẩm sớm nhất của Trung Quốc viết về lịch sử phản ánh giai đoạn từ năm 722 TCN đến năm 468 TCN. == Tác giả == Theo truyền thống, Tả truyện thường được coi là tác phẩm của Tả Khâu Minh, và là lời bình cho cuốn Xuân Thu, mặc dầu một số học giả hiện nay vẫn còn tranh luận về điều này. Đa phần học giả nổi tiếng trong số đó, như Dương Bá Tuấn (楊伯峻) cho rằng tác phẩm đã được sáng tác thời Chiến Quốc, và nó đã được hoàn thành không muộn hơn năm 389 TCN. Nhà sử học hiện đại Trung Quốc là Lê Đông Phương diễn giải về tác giả Tả truyện theo hướng khác. Ông nêu các luận điểm: Tác giả Tả thị Xuân Thu (tức Tả truyện) không thể là Tả Khâu Minh vì họ của Tả Khâu Minh là Tả Khâu chứ không phải Tả. Hai chữ Tả truyện có thể không phải là tên người mà là tên địa phương. Tả Thị là quê của danh tướng Ngô Khởi. Ngô Khởi lại là đệ tử của một người học trò của Khổng Tử, tên là Bốc Thương - còn gọi là Tử Hạ. Tử Hạ có sở trường về văn chương. Có thể chính Tử Hạ mới là tác giả sách này. Ngô Khởi mang bộ sách này về quê Tả Thị. Về sau, bộ sách ấy được các đệ tử của ông mang từ Tả Thị qua nơi khác. Khi sách được truyền bá, người ta quen gọi "Sách Xuân Thu xuất phát từ họ Tả" - và nói gọn lại là Tả thị Xuân Thu, hay Tả truyện. == Nội dung == Theo thứ tự 12 đời vua nước Lỗ từ Lỗ Ẩn Công năm thứ nhất đến Lỗ Ai Công năm thứ hai mươi bảy, tổng cộng 254 năm, Tả truyện ghi chép lịch sử các nước chư hầu lúc bấy giờ, toàn bộ khoảng 18 vạn chữ. Cuối sách phụ thêm sự kiện Trí bá diệt vong vào năm Lỗ Điệu Công thứ tư. == Đánh giá == Cuốn sách này là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để hiểu được lịch sử giai đoạn Xuân Thu. Cuốn sách cũng chứa đựng thông tin đầu tiên đề cập tới cờ vây trong đoạn viết về năm thứ 25 Lỗ Tương Công theo lịch Gregory là năm 548 TCN. Với phong cách hành văn dễ hiểu và cô đọng, Tả truyện cũng là một tác phẩm quý giá trong những văn bản kinh điển Trung Quốc. Tác phẩm này và cuốn Sử ký Tư Mã Thiên được nhiều thế hệ coi là những khuôn mẫu văn chương có phong cách duy nhất thời Trung Hoa cổ đại. Về sau, đời Tây Tấn có danh tướng Đỗ Dự say mê sách Tả truyện đến mức thường mang theo trên mình ngựa khi đi ra ngoài, nên bị gọi là mắc "bệnh Tả truyện". == Tham khảo == Yang Bojun (1990). The Annotation of Zuozhuan Chunqiu: On Preface. Beijing: Zhonghua Shuju. ISBN 7-101-00262-5. Burton Watson (1989). The Tso chuan: selections from China's oldest narrative history. New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-06715-1. == Chú thích == == Liên kết ngoài == The Zuozhuan Digital Concordance. bởi El Colegio de Mexico, dữ liệu tiếng Anh dựa trên bản dịch đầy đủ bởi nhà Hán học kiêm truyền giáo người Anh thế kỷ 19 - James Legge. Giới Chi Thôi bất ngôn lộc
đế quốc la mã.txt
Đế quốc La Mã, hay còn gọi là Đế quốc Roma (tiếng Latinh: IMPERIVM ROMANVM) là thời kỳ hậu Cộng hòa của nền văn minh La Mã cổ đại. La Mã từng là một đế quốc rộng lớn tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ 1 TCN cho đến khoảng thế kỷ thứ 5 hay thế kỷ thứ 6, gồm phần đất những nước vây quanh Địa Trung Hải ngày nay. Đế quốc La Mã là sự tiếp nối của Cộng hòa La Mã và nằm trong giai đoạn cuối cùng của thời cổ điển.. Nó được tính từ khi Augustus bắt đầu trị vì từ năm 27 TCN và có nhiều mốc kết thúc khác nhau. Nền Cộng hòa La Mã 500 năm tuổi, tiền thân của Đế quốc La Mã, đã bị suy yếu qua nhiều cuộc nội chiến. Đã có nhiều sự kiện xảy ra đánh dấu bước chuyển mình từ nền Cộng hòa sang Đế quốc, bao gồm việc Julius Caesar được bổ nhiệm làm nhà độc tài suốt đời (44 TCN), trận Actium (31 TCN), và sự kiện Viện nguyên lão trao cho Octavianus danh hiệu cao quý Augustus (27 TCN). Hai thế kỷ đầu của đế quốc ghi dấu với nền Thái bình La Mã (Pax Romana), một giai đoạn hòa bình thịnh trị chưa từng thấy. Sự mở rộng cương thổ của La Mã đã bắt đầu từ thời Cộng hòa, nhưng đạt tới cực đỉnh vào thời hoàng đế Traianus. Ở đỉnh cao, Đế quốc La Mã kiểm soát gần 6.5 triệu km2, tuy rằng những người kế tục đã từ bỏ phần lớn đất đai mà ông chiếm được. Vì sự rộng lớn và bền vững dài lâu của mình, những thể chế và văn hóa của Đế quốc La Mã có những ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến sự phát triển của ngôn ngữ, tôn giáo, kiến trúc, triết học, luật pháp trong những vùng mà nó cai trị, đặc biệt là châu Âu, và nhờ vào chủ nghĩa bành trướng của châu Âu, sau này chúng lan ra toàn thế giới hiện đại. == Lịch sử == Roma đã bắt đầu sáp nhập các tỉnh mới của nó từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, và quá trình này kéo dài suốt bốn thế kỷ trước khi lãnh thổ của nó đạt đến mức cực đỉnh, và theo chiều hướng là một "đế chế" trong khi vẫn cai trị như là một nhà nước cộng hòa. Các tỉnh Cộng hòa thì được cai quản bởi các viên cựu chấp chính quan và cựu pháp quan, vốn được bầu hàng năm và nắm giữ quyền lực tuyệt đối . Với việc tập trung quá nhiều của cải cũng như sức mạnh quân đội trong tay của một vài người thông qua quyền cai trị các tỉnh, nó đã trở thành nhân tố chính trong quá trình chuyển từ nhà nnước cộng hòa sang chế độ quân chủ chuyên chế. Vì là vị hoàng đế đầu tiên, Augustus đã đảm nhận địa vị chính thức này nhờ vào việc ông đã phục hồi nền Cộng hòa, và điều chỉnh quyền hạn của mình một cách cẩn thận trong khuôn khổ các nguyên tắc của hiến pháp cộng hòa. Ông từ chối danh hiệu mà người La Mã kết hợp với chế độ quân chủ, và thay vào đó tự gọi mình là Princeps, "Đệ nhất công dân". Các chấp chính quan tiếp tục được bầu, quan bảo dân của người bình dân thì tiếp tục có quyền ban hành những điều luật, và các nguyên lão vẫn được tranh luận trong Curia. Tuy nhiên, Augustus cũng còn là người tạo ra tiền lệ đó là các vị hoàng đế là người quyết định cuối cùng, với sự ủng hộ của quân đội. Triều đại của Augustus đã kéo dài hơn 40 năm, và nó đã được mô tả trong các tác phẩm văn học thời kì này như là một "Thời Đại Hoàng Kim". Augustus đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì "Nguyên Thủ" (27 TCN-284 CN), 200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã ("Pax Romana"). Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn hóa, luật pháp và tôn giáo. Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra, nhưng chúng lại bị dập tắt một cách "không thương tiếc và nhanh chóng" khi xảy ra, giống như ở Britain và Gaul. Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng. Triều đại Julio-Claudius sau đó còn có thêm bốn vị hoàng đế-Tiberius, Caligula, Claudius, và Nero trước khi nó kết thúc vào năm 69 CN. Tiếp theo đó là những cuộc nội chiến trong suốt "Năm tứ đế", và từ đó Vespasianus nổi lên với tư cách là người chiến thắng. Vespasianus đã trở thành người sáng lập của triều đại Flavius chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, trước khi nó được kế tục bởi triều đại Nerva-Antoninus mà tạo nên cái gọi là "Ngũ Hiền Đế": Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và vị hoàng đế triết gia Marcus Aurelius. Theo quan điểm của sử gia Hy Lạp, Dio Cassius, một người đương thời, với việc hoàng đế Commodus lên kế vị trong 180 CN đã đánh dấu sự suy yếu "từ một vương quốc của vàng trở thành một vương quốc của gỉ sắt" -bình luận nổi tiếng trên đã khiến một số nhà sử học, đặc biệt là Edward Gibbon coi triều đại của Commodus đã bắt đầu sự suy tàn của Đế chế La Mã. Năm 212, dưới thời trị vì của Caracalla, quyền công dân La Mã đã được ban cho tất cả các cư dân tự do của Đế quốc. Tuy nhiên, bất chấp điều này, triều đại Severus lại là một triều đại hỗn loạn-và các vị hoàng đế của triều đại này thường xuyên bị sát hại hoặc bị hành quyết-và tiếp sau sự sụp đổ của nó, Đế quốc La Mã đã bị nhấn chìm bởi cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba, một thời kì của cuộc xâm lược, nội chiến, suy thoái kinh tế, và bệnh dịch . Trong việc định rõ các thời kỳ lịch sử, cuộc khủng hoảng này đôi khi được xem như là đã đánh dấu sự chuyển đổi từ thời kì cổ đại tới thời kì Hậu cổ đại. Ảo tưởng vốn tàn lụi về nền Cộng hòa cũ đã phải hy sinh cho mục ích thiết lập lại trật tự: Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đã đưa Đế quốc thoát khỏi bờ vực của sự sụp đôt, nhưng lại từ chối đóng vai trò của một Nguyên Thủ và thay vào đó đã trở thành vị hoàng đế đầu tiên được đề cập thường xuyên như là Dominus, "chủ nhân" hay " Chúa Tể". Hoàng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế). Sau thời ông tình hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I - vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đô của đế quốc ở phía Đông là Constantinopolis - lập lại. Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một trục Đông-Tây (Constantinopolis/Roma). Theodosius I là hoàng đế cuối cùng trị vì cả đông lẫn tây, và mất năm 395 sau khi đưa Ki-tô giáo lên làm quốc giáo của đế quốc. Kể từ cuối thế kỷ 4, đế quốc bắt đầu tan rã do các man tộc từ phương Bắc lấn át chính quyền La Mã. Vốn đã vỡ vụn, Đế quốc Tây La Mã cáo chung vào năm 476 khi Romulus Augustus bị viên chỉ huy người German là Odoacer hạ bệ. Đế quốc Đông La Mã (người nay gọi là Đế quốc Byzantine nhưng người đương thời chỉ gọi là "Đế quốc La Mã") tiếp tục tồn tại dưới nhiều hình thức cho đến năm 1453 với cái chết của Kōnstantinos XI và sự xâm chiếm Constantinopolis của Sultan Mehmed II của Đế quốc Ottoman. == Địa lý == Đế quốc La Mã là một trong những đế quốc lớn nhất trong lịch sử. Thành ngữ Latinh imperium sine fine ("đế quốc mà không có điểm kết thúc" ) nhằm nêu lên sự mơ tưởng rằng đế quốc không bị giới hạn về cả thời gian hay không gian. Trong bộ sử thi Aeneid của Vergil, sự vô hạn của đế quốc được nói là do vị thần Jupiter ban cho những người La Mã. Tuyên bố về sự thống trị thế giới này đã được tiếp tục nhắc đến và tồn tại cho đến khi Đế quốc nằm dưới sự thống trị của Kitô giáo vào thế kỷ thứ 4. Trong thực tế, công cuộc bành trướng của người La Mã đã được thực hiện chủ yếu dưới thời Cộng hoà, mặc dù các vùng ở khu vực bắc Âu đã được chinh phục vào thế kỷ 1, khi mà người La Mã đã củng cố quyền lực của họ ở châu Âu, châu Phi và châu Á. Trong suốt triều đại của Augustus, một "bản đồ toàn cầu của thế giới được biết đến" đã được trưng bày lần đầu tiên trước công chúng tại Rome, trùng thời điểm với tác phẩm toàn diện nhất về địa lý chính trị tồn tại từ thời cổ đại, Geography của nhà văn người Pontos gốc Hy Lạp Strabo Khi Augustus qua đời, tác phẩm nhằm ca ngợi về những thành tựu của ông (Res Gestae) đã mô tả những nét đặc trưng nổi bật theo danh mục về địa lý của các dân tộc và những nơi bên trong đế quốc. Địa lý, điều tra dân số, và những văn thư ghi lại được lưu giữ một cách kĩ càng là những mối quan tâm chủ yếu của chính quyền đế quốc. Đế quốc đạt tới ngưỡng mở rộng lớn nhất của nó dưới thời Trajanus (trị vì từ năm 98-117), trên một diện tích lên tới 5.000.000 km vuông vào năm 2009 và được chia thành bốn mươi quốc gia khác nhau hiện nay.. Dân số của nó theo ước tính truyền thống lên tới 55-60.000.000 cư dân chiếm khoảng từ một phần sáu tới một phần tư dân số của thế giới và khiến cho nó trở thành quốc gia có dân cư lớn nhất hơn bất cứ thực thể chính trị thống nhất nào ở phương Tây cho đến giữa thế kỷ 19 Những nghiên cứu nhân khẩu học gần đây đã minh chứng rằng vào lúc đỉnh điểm, đế quốc có từ 70 triệu đến hơn 100 triệu thần dân. Bất cứ thành phố nào trong ba thành phố lớn nhất của Đế quốc-Rôma, Alexandria, và Antioch- gần như đều có kích thước gấp đôi bất kỳ thành phố châu Âu vào đầu thế kỷ 17. Vị hoàng đế kế vị Trajanus, Hadrianus đã thông qua một chính sách duy trì thay vì mở rộng đế quốc. Biên giới (fines) đã được đánh dấu, còn các phòng tuyến biên giới (limes) thì được tuần tra. Những khu vực biên giới được củng cố vững chắc nhất là nơi ổn định nhất. Trường thành Hadrian vốn ngăn cách thế giới La Mã khỏi những gì đã được coi là một mối đe dọa man rợ luôn hiện diện, là công trình chính còn sót lại của nỗ lực này. == Ngôn ngữ == Ngôn ngữ của người La Mã là tiếng Latin, nó đã được Vergil nhấn mạnh như một nguồn gốc của sự thống nhất và truyền thống của người La Mã. Cho đến tận thời của Alexander Severus (trị vì từ năm 222-235), Giấy khai sinh và chúc thư của công dân La Mã đều phải được viết bằng tiếng Latin. Tiếng Latin cũng còn là ngôn ngữ của các tòa án ở phía Tây và của quân đội trên khắp Đế quốc, nhưng lại không được áp dụng chính thức đối với những cư dân nằm dưới sự cai trị của người La Mã. Thánh Augustinô nhận xét rằng người La Mã ưa thích tiếng Latinh đến mức đã chấp nhận và thực hiện per societatis pacem, thông qua một hiệp ước xã hội. Chính sách này tương phản với của Alexandros Đại đế, vốn mong muốn nhằm biến tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức trên khắp đế chế của mình. Như là một hệ quả từ các cuộc chinh phục của Alexandros, ngôn ngữ Koine Hy Lạp đã trở thành ngôn ngữ chung ở khu vực quanh phía đông Địa Trung Hải và ở Tiểu Á "Biên giới ngôn ngữ họ" này đã phân chia đế quốc thành hai nửa với tiếng Latin ở Phía Tây và tiếng Hy Lạp ở Phía Đông thông qua bán đảo Balkan, tạo ra một hệ ngôn ngữ song song bên trong đế quốc La Mã. Những người La Mã mà được nhận một nền giáo dục ưu tú, thì lại học tiếng Hy Lạp như là một ngôn ngữ thơ ca, và hầu hết những người thuộc chính quyền đều có thể nói tiếng Hy Lạp. Các vị hoàng đế của triều đại Julio-Claudius đã khuyến khích những tiêu chuẩn cao đối với tiếng Latin chuẩn (Latinitas), một trào lưu ngôn ngữ được đồng nhất theo những thuật ngữ hiện đại như là tiếng La tinh cổ điển, và ủng hộ việc sử dụng chính thức tiếng Latin trong các hoạt động kinh doanh. Hoàng đế Claudius đã cố gắng để hạn chế việc sử dụng tiếng Hy Lạp, và nhân dịp này ông đã cho thu hồi quyền công dân của những người ít sử dụng tiếng Latin, nhưng ngay cả trong Viện nguyên lão, ông chỉ cần sử dụng đến song ngữ riêng của mình trong những dịp phải tiếp kiến với những sứ thần biết nói tiếng Hy lạp. Suetonius trích dẫn lời nói của ông mà đã đề cập đến "hai ngôn ngữ của chúng ta," và hoàng đế đã sử dụng hai viên thư ký hoàng gia, một dùng tiếng Hy Lạp và một là tiếng Latinh, để đề ngày tháng cho triều đại của ông. Ở phía Đông của đế chế, pháp luật và các văn bản chính thức thường xuyên được dịch sang tiếng Hy Lạp từ tiếng La tinh. Sự giao thoa hàng ngày của hai ngôn ngữ được thể hiện trong những câu văn viết bằng song ngữ, mà thậm chí đôi khi có sự chuyển đổi qua lại giữa tiếng Hy Lạp và Latinh. Ví dụ như Văn bia của một người lính nói tiếng Hy lạp, có thể chủ yếu được viết bằng tiếng Hy Lạp, với cấp bậc và đơn vị của ông ta trong quân đội La Mã thể hiện bằng tiếng Latinh. Sau khi tất cả các cư dân tự do của đế quốc được ban cho quyền công dân La Mã vào năm 212 CN, một số lượng lớn các công dân La Mã sẽ phải biết chút ít tiếng Latinh. Một trong những cải cách của hoàng đế Diocletianus (trị vì từ năm 284-305) đó là đã tìm cách khôi phục lại uy quyền của tiếng Latinh với những từ ngữ tiếng Hy Lạp ἡ κρατοῦσα διάλεκτος (hẽ kratousa dialektos) là minh chứng cho việc duy trì địa vị của tiếng Latin là "ngôn ngữ của quyền lực". Học giả Libanius (thế kỷ thứ 4) coi tiếng Latinh như là nguyên nhân gây ra một sự suy giảm trong chất lượng của thuật hùng biện Hy Lạp Trong những năm đầu của thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinianus đã tiến hành một nỗ lực viển vông nhằm tái khẳng định địa vị của tiếng Latin như là ngôn ngữ của pháp luật. mặc dù vào thời của ông ta, tiếng Latin không còn giữ được sự thịnh hành như là một sinh ngữ ở phía Đông. === Những ngôn ngữ địa phương === Những luật gia La Mã cũng cho thấy một mối quan tâm đối với các ngôn ngữ địa phương như tiếng Punic, Gaul, và tiếng Aramaic trong việc đảm bảo sự hiểu biết chính xác cùng với việc áp dụng pháp luật và tuyên thệ. Ở hành tỉnh châu Phi, Tiếng Punic đã được sử dụng cho những chữ khắc trên các đồng tiền xu dưới triều đại Tiberius (thế kỷ thứ 1 sau công nguyên), và các chữ khắc bằng tiếng Punic lần xuất hiện trên các tòa nhà công cộng vào thế kỷ thứ 2, một số song song cùng với tiếng Latinh. Ở phía Tây, tiếng Latinh có vai trò cực kì quan trọng trong việc vươn tới bộ máy chính quyền và đều này gây ra sự biến mất nhanh chóng của những bản khắc đã được sử dụng để diễn tả ngôn ngữ địa phương trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha thời La Mã) và ở Gaul. Một trong những số các khía cạnh khác biệt của nền văn hóa Gallo-La Mã đó là việc tạo ra các bản văn Gallo-Latin, và ngay tại khu vực Gallia Narbonensis, cả ba ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, Gaul) đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 1 trước CN. Ở Ý, việc sử dụng các văn bản bằng tiếng Latin đã thay thế tiếng Etruscan và Oscan vào cuối thế kỷ 1 sau CN Sự thống trị của tiếng Latinh ở giữa tầng lớp có học thức có thể đã dần làm phai mờ tính liên tục của các ngôn ngữ nói, và còn vì tất cả các nền văn hóa trong đế chế La Mã chủ yếu đều truyền miệng. === Di sản ngôn ngữ === Ở đế quốc Tây La Mã, tiếng Latin dần dần thay thế tiếng Celtic và tiếng Italic vốn có liên quan đến nó bằng cách chia sẻ chung nguồn gốc Ấn-Âu. Tương đồng trong cú pháp và từ vựng đã tạo thuận lợi cho việc chấp nhận và sử dụng tiếng Latinh. Tiếng Basque thì lại vốn không phải là một ngôn ngữ Ấn-Âu và nó đã tiếp tục tồn tại trong khu vực dãy núi Pyrenee. Sau giai đoạn phân chia quyền lực chính trị vào thời kì hậu cổ đại, tiếng Latin đã phát triển thành các nhánh khác nhau với tính chất cục bộ mà cuối cùng đã trở thành nhóm ngôn ngữ Rôman, chẳng hạn như tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý và Romania. Vì là một ngôn ngữ quốc tế của tri thức và văn học, bản thân tiếng Latin vẫn tiếp tục là một phương tiện dùng trong các hoạt động ngoại giao và cho sự phát triển trí thức được đồng nhất với chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng cho đến tận thế kỷ 17, và đối với pháp luật và Giáo hội Giáo hội Công giáo Rôma cho đến ngày nay. Mặc dù tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ của Đế quốc Byzantine, sự phân bố ngôn ngữ ở phía Đông lại phức tạp hơn. Đa số những người nói tiếng Hy lạp sống ở bán đảo và các quần đảo của Hy Lạp, miền tây Tiểu Á, các thành phố lớn, và một số vùng ven biển. Giống như tiếng Hy Lạp và Latinh, tiếng Thracia có nguồn gốc từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, và cũng như một số ngôn ngữ đã biến mất khác ở Anatolia như tiếng Galatia, Phrygia, Pisidian, và Cappadocia, chúng chỉ được chứng thực từ những chữ khắc vào thời kì đế quốc. Có nhiều ngôn ngữ Phi Á-chủ yếu là tiếng Copt ở Ai Cập, và tiếng Aramit ở Syria và Lưỡng Hà-không bao giờ bị tiếng Hy Lạp thay thế. Những người lính Palmyra thậm chí sử dụng phương ngữ Aramaic của họ trên các chữ khắc, đây là một ngoại lệ đáng chú ý bởi vì tiếng Latinh là ngôn ngữ được dùng cho quân đội. == Xã hội == Đế quốc La Mã đã khá đa dạng về văn hóa, cùng với "khả năng gắn kết hơn đáng kinh ngạc" để tạo ra một bản sắc chung trong khi lại chứa đựng rất nhiều các dân tộc khác nhau nằm bên trong hệ thống chính trị của nó suốt một khoảng thời gian dài. Người La Mã đã quan tâm đến việc tạo ra các công trình và không gian công cộng dành cho tất cả mọi người dân như là các khu chợ,đấu trường đài vòng, trường đua ngựa và các nhà tắm. Xã hội La Mã cũng có nhiều hệ thống phân cấp xã hội chồng chéo mà những khái niệm hiện đại về "giai cấp" trong tiếng Anh có thể không đại diện một cách chính xác cho nó. Hai thập kỷ của những cuộc nội chiến mà từ đó đã giúp cho Augustus nổi lên và trở thành nhà cai trị duy nhất đã để khiến cho xã hội truyền thống ở Roma rơi vào tình trạng hỗn loạn và biến động, nhưng nó lại không ảnh hưởng một cách trực tiếp tới sự phân bố giàu nghèo và quyền lực xã hội. Những mối quan hệ cá nhân như sự bảo trợ, tình bạn (Amicitia), gia đình, hôn nhân đã tiếp tục ảnh hưởng đến các hoạt động chính trị và chính quyền như dưới thời Cộng hòa. Tuy nhiên, vào triều đại của Nero, việc tìm thấy một cựu nô lệ lại giàu có hơn một công dân tự do, hoặc một kị sĩ có nhiều quyền lực hơn một nguyên lão lại không phải là một điều bất thường. === Địa vị pháp lý === Theo luật gia Gaius, sự khác biệt quan trọng trong "Dân luật" của người La Mã đó là tất cả mọi người hoặc là những người tự do(Liberi) hoặc là nô lệ (servi). Tư cách pháp lý của người tự do xa hơn nữa có thể được xác định bằng quyền công dân của họ. Vào đầu thời kì đế quốc, chỉ có một số lượng nam giới tương đối hạn chế có được đầy đủ các quyền công dân La Mã mà cho phép họ có quyền bỏ phiếu, tranh cử, và gia nhập vào hàng ngũ thầy tế. Hầu hết người dân đều giữ những quyền hạn chế (chẳng hạn như ius Latinum,"quyền của người Latin"), nhưng đã được pháp luật bảo vệ và những đặc quyền mà người thiếu quyền công dân không được hưởng. Người tự do không được coi là công dân, nhưng sinh sống bên trong thế giới La Mã, đã giữ địa vị là peregrini, không phải người La Mã. Năm 212 CN, bằng sắc lệnh được biết đến như là Constitutio Antoniniana, hoàng đế Caracalla đã mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc. Chủ nghĩa quân bình hợp pháp này đòi hỏi một sự sửa đổi sâu rộng đối với những pháp luật hiện hành vốn đã phân chia giữa công dân và những người không phải công dân. ==== Phụ nữ ==== Những người phụ nữ La Mã tự do được coi là công dân từ thời nhà nước Cộng hoà cho tới thời Đế quốc, nhưng họ không có quyền bỏ phiếu hay nắm giữ chức vụ chính trị, hoặc phục vụ trong quân đội. Đứa trẻ sinh ra từ người mẹ có quyền công dân thì cũng sẽ có được điều này, thể hiện bằng cách nói ex duobus civibus Romanis natos ("trẻ em sinh ra bởi hai công dân La Mã"). Một người phụ nữ La Mã giữ tên họ của gia đình mình (nomen)trong suốt cuộc đời. Con cái thường lấy theo tên của người cha, nhưng vào thời kì đế quốc, đôi khi lại sử dụng một phần tên của người mẹ cho tên của họ, hoặc thậm chí sử dụng nó để thay thế. Hình thái hôn nhân cổ xưa manus trong đó người phụ nữ phải lệ thuộc vào uy quyền của người chồng đã được bãi bỏ một cách rộng khắp vào thời kì đế quốc, và một người phụ nữ đã lập gia đình có quyền giữ lại quyền sở hữu với bất kỳ của hồi môn nào mà họ sở hữu. Về mặt pháp lý, họ vẫn nằm dưới thẩm quyền pháp lý của người cha, bất kể là họ đã đi lấy chồng đi chăng nữa và chỉ khi nào người cha qua đời, họ mới được tự do về mặt pháp lý. Người con gái có quyền thừa kế bình đẳng với người con trai nếu người cha của họ qua đời mà không để lại một di chúc Một người mẹ La Mã của quyền sở hữu tài sản và nhường lại nó khi thấy phù hợp, bao gồm thiết lập các điều khoản trong di chúc của mình, điều này khiến họ có ảnh hưởng rất lớn với những người con trai của họ hơn ngay cả khi những người con trai của họ đã trưởng thành. ==== Nộ lệ và pháp luật ==== Dưới triều đaị của Augustus, có đến 35 phần trăm người dân ở Ý là nô lệ, điều này khiến cho Roma trở thành một trong năm "xã hội nô lệ" trong lịch sử, trong đó những người nô lệ chiếm ít nhất một phần năm dân số và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trong môi trường đô thị, nô lệ có thể là các chuyên gia như thầy giáo, thầy thuốc, đầu bếp, người giữ sổ sách, ngoài ra thì phần lớn các nô lệ đã qua huấn luyện hoặc không có kỹ năng thì lao động ở trong các hộ gia đình hoặc các công xưởng. Các ngành nông nghiệp và công nghiệp, chẳng hạn như xay xát và khai thác mỏ, đều dựa trên việc khai thác sức lao động của nô lệ. Bên ngoài đất Ý, nô lệ chiếm trung bình khoảng từ 10 đến 20 phần trăm dân số, ở tỉnh Ai Cập thuộc La Mã thì lại thưa thớt nhưng tập trung nhiều hơn ở một số vùng của Hy Lạp. Việc mở rộng quyền sở hữu đất canh tác và các ngành công nghiệp của người La Mã sẽ bị ảnh hưởng từ thực tiễn của chế độ nô lệ ở các tỉnh.. Pháp luật liên quan đến chế độ nô lệ là "cực kỳ phức tạp". Theo luật La Mã, nô lệ được coi là tài sản và không có địa vị pháp lý. Họ có thể phải chịu các hình thức nhục hình vốn không thường được áp dụng đối với công dân, bóc lột tình dục, tra tấn, và hành quyết nô lệ mà không cần xét xử. Một nô lệ bị cưỡng bức thì không phải là một vấn đề quan trọng trong pháp luật bởi lẽ tội hiếp dâm chỉ có thể bị tống giam nếu đó là người tự do; Người chủ nô có quyền khởi tố người cưỡng bức nô lệ của mình vì đã làm thiệt hại tài sản theo Luật Aquilia Nô lệ có hình thức hôn nhân không được pháp luật công nhận được gọi là conubium, nhưng đôi khi hôn nhân của họ được công nhận, và nếu cả hai được trả tự do thì họ có thể kết hôn. Sau những cuộc chiến tranh nô lệ dưới thời Cộng hòa, pháp luật dưới triều đại của Augustus và những người kế vị ông đã cho thấy một chiều hướng quan tâm đến việc kiểm soát các mối đe dọa từ các cuộc khởi nghĩa thông qua việc hạn chế kích thước của các nhóm lao động, và việc săn lùng nô lệ bỏ trốn. Về mặt pháp luật, một nô lệ không thể sở hữu tài sản, nhưng nếu một nô lệ quản lý việc kinh doanh, người này có thể được trao cho một tài khoản cá nhân hoặc quỹ (peculium) mà có thể sử dụng như thể nó là của riêng mình. Các điều khoản của tài khoản này khác nhau tùy thuộc vào mức độ tin tưởng và hợp tác giữa người chủ nô với nô lệ: một nô lệ với năng khiếu kinh doanh có thể được cho phép dành nhiều thời gian cho việc tạo ra lợi nhuận, và có thể được phép thừa kế peculium, người này còn quản lý các nô lệ khác trong gia đình của chủ nô. Trong một hộ gia đình hoặc nơi làm việc, một hệ thống cấp bậc giữa các nô lệ có thể tồn tại, với một nô lệ có đóng vai trò là ông chủ của nô lệ khác. Theo thời gian, nô lệ đã dần nhận được sự bảo vệ của pháp luật, trong đó họ có quyền nộp đơn khiếu nại chống lại người chủ của họ. Một dự luật buôn bán có thể chứa một điều khoản quy định rằng các nô lệ không được phép sử dụng cho nạn mại dâm, tuy rằng gái mại dâm ở La Mã cổ đại thường là nô lệ. Với việc bùng phát buôn bán nô lệ thái giám trong những năm cuối thế kỷ 1 CN đã thúc đẩy đạo luật trong đó cấm thiến một nô lệ trái với ý muốn của họ "vì ham muốn hoặc lợi ích." Trong giai đoạn bành trướng dưới thời Cộng hòa khi chế độ nô lệ đã trở nên phổ biến, tù nhân chiến tranh là một nguồn cung cấp nô lệ chính và cuộc chinh phục Hy Lạp đã đem về Rome thêm một số nô lệ có tay nghề cao và cả nô lệ có học thức. Nô lệ cũng được buôn bán trong các khu chợ, và đôi khi được bán bởi những tên cướp biển. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và việc tự bán mình làm nô lệ của những người nghèo là những nguồn khác. Những nô lệ có tay nghề cao hoặc học thức có thể tích lũy được một peculium đủ lớn để mua lại sự tự do của họ, hoặc được chủ nô giải phóng. Việc giải phóng nô lệ đã trở nên đủ thường xuyên tới mức vào năm 2 trước Công nguyên một đạo luật (Lex Fufia Caninia) đã được ban hành trong đó giới hạn số lượng nô lệ mà một chủ nô được cho phép giải phóng trong di chúc của mình. ==== Nô lệ được giải phóng ==== Roma khác với các thành bang Hy Lạp ở chỗ cho phép những người nô lệ được giải phóng trở thành công dân. Sau khi được giải phóng, một nô lệ đã từng thuộc về một công dân La Mã không chỉ được hưởng sự tự do thụ động từ quyền sở hữu, mà còn cả quyền tự do chính trị thực sự (Libertas), trong đó có cả quyền biểu quyết. Một nô lệ mà đã đạt được Libertas, thì cũng còn là một libertus ("người được giải phóng", Liberta nữ) nhờ mối quan hệ với chủ cũ của mình, và sau đó đã trở thành người bảo trợ của ông ta (Patronus): hai bên tiếp tục có những nghĩa vụ thông thường và hợp pháp với nhau. Những người nô lệ được giải phóng còn được xếp vào một tầng lớp xã hội, nói chung gọi là libertini, mặc dù các nhà văn sau đó sử dụng thuật ngữ libertus và libertinus. Một libertinus không có quyền nắm giữ chức vụ công hoặc giáo sĩ tối cao của nhà nước, nhưng người này có thể đóng một vai trò của một giáo sĩ trong tôn giáo thờ cúng hoàng đế. Ông ta cũng không thể kết hôn với một người phụ nữ từ một gia đình thuộc tầng lớp nguyên lão, cũng như bản thân ông ta không được phép đứng vào hàng ngũ nguyên lão, nhưng vào thời kì đầu của đế quốc, những nô lệ được giải phóng đã giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy quan liêu của chính phủ nhiều tới mức Hadrianus đã phải hạn chế sự tham gia của họ bằng pháp luật. Bất kỳ đứa trẻ nào được một nô lệ được giải phóng sinh ra thì đều là người tự do, với đầy đủ các quyền công dân. === Hệ thống đẳng cấp === Từ La tinh Ordo (số nhiều ordines) đề cập đến một sự phân biệt xã hội được dịch sang tiếng Anh với nhiều cách khác nhau như là "giai cấp, tầng lớp, đẳng cấp", nhưng không có cái nào trong số đó là chính xác. Một mục đích của việc điều tra dân số La Mã là xác định một cá nhân thuộc về Ordo nào. Hai ordines cao nhất ở Roma là tầng lớp nguyên lão và kị sĩ. Bên ngoài Roma, decurion, hay còn được gọi là curiales (tiếng Hy Lạp:bouleutai), là Ordo thống trị cao nhất của một thành phố riêng lẻ. "Nguyên lão", bản thân nó thì không phải là một chức vụ được bầu ở La Mã cổ đại, một cá nhân được nhận vào Viện nguyên lão sau khi ông ta đã được bầu và giữ chức vụ là một thẩm phám hành pháp ít nhất một nhiệm kì. Một nguyên lão cũng phải đáp ứng một yêu cầu về tài sản tối thiểu là 1 triệu sestertii, vốn được xác định bởi những cuộc điều tra dân số. Nero đã ban tặng nhiều tiền bạc cho một số nguyên lão từ các dòng họ lâu đời nhưng nay họ đã trở nên quá nghèo khổ để có thể đủ điều kiện. Không phải tất cả những người có đủ điều kiện Ordo senatorius đều được lựa chọn vào một vị trí trong Viện nguyên lão, mà trong đó yêu cầu có nơi cư trú hợp pháp tại Roma. Hoàng đế thường bổ sung những vị trí còn khuyết trong hội đồng 600 thành viên bằng cách bổ nhiệm. Con trai của một nguyên lão thuộc Ordo senatorius cũng phải hội đủ điều kiện riêng của mình thì cũng mới được chấp nhận vào Viện Nguyên Lão. Một nguyên lão có thể bị mất ghế nếu ông ta vi phạm tiêu chuẩn đạo đức: ví dụ như ông ta bị cấm kết hôn với một phụ nữ được trả tự do hoặc chiến đấu trong đấu trường. Dưới triều đại của Nero, các nguyên lão chủ yếu vẫn từ Roma và các vùng đất khác của Ý cùng với một số đến từ bán đảo Iberia và miền nam nước Pháp;. Những người đến từ các tỉnh nói tiếng Hy lạp ở phương Đông bắt đầu được thêm vào dưới thời Vespasianus Vị nguyên lão đầu tiên tới từ tỉnh Cappadocia phía đông đã được thừa nhận dưới triều đại Marcus Aurelius. Các nguyên lão đã có một vầng hào quang uy tín và là tầng lớp thống trị truyền thống của những người nổi lên thông qua honorum cursus, con đường của sự nghiệp chính trị, nhưng tầng lớp kị sĩ của đế quốc lại thường nắm giữ sự giàu có và nhiều quyền lực chính trị hơn. Thành viên của tầng lớp kị sĩ được căn cứ vào tài sản, vào những ngày đầu của Roma, equites hay kị sĩ đã được phân biệt bởi việc họ có khả năng tham gia lực lượng kị binh trong quân đội (những "kị binh của nhân dân"), nhưng vào thời đế quốc, việc tham gia kị binh đã được tách riêng Một người được coi là một Kị sĩ nếu như ông ta có giá trị tài sản là 400.000 sesterces và ba thế hệ trong gia đình sinh ra là người tự do thì mới đủ điều kiện. Cuộc điều tra dân số vào năm 28 trước Công nguyên đã khám phá ra một số lượng lớn những người đủ điều kiện, và trong năm 14 CN, một ngàn kị sĩ đã được ghi nhận chỉ riêng tại Cadiz và Padua. Tầng lớp kị sĩ còn nổi lên thông qua con đường binh nghiệp(tres militiae) để nắm giữ các chức vụ quan trọng như Thái thú và Kiểm sát trưởng trong chính quyền đế quốc. Sự nổi lên của các nguyên lão và kị sĩ đến từ các tỉnh là một khía cạnh của biến động xã hội trong ba thế kỷ đầu của đế quốc. Tầng lớp quý tộc La Mã được dựa trên sự cạnh tranh, và không giống tầng lớp quý tộc châu Âu sau này, một gia đình La Mã không thể duy trì vị thế của nó chỉ đơn thuần thông qua thừa kế hoặc có được quyền sở hữu đất đai. Được đứng vào những ordines cao hơn mang đến sự ưu đãi và đặc quyền, nhưng cũng có một số trách nhiệm. Vào thời cổ đại, mỗi một thành phố đều phải trông đợi vào sự tài trợ từ các công dân có thế lực của nó cho những công trình công cộng, các sự kiện, và các buổi lễ (munera), chứ không phải là thu nhập từ thuế, trong đó chủ yếu là hỗ trợ cho quân đội. Để duy trì địa vị thì đòi hỏi mỗi người đều phải có những khoản chi tiêu cá nhân lớn. Những Decurion đã trở nên quan trọng đối với hoạt động của các thành phố tới mức vào giai đoạn cuối của đế quốc, khi mà những thành viên của Hội đồng thành phố ngày càng trở nên ít dần, những người đã đứng vào Viện nguyên lão lại được chính quyền trung ương khuyến khích từ bỏ vị trí của mình và trở về quê hương, trong một nỗ lực để duy trì các hoạt động dân sự. ==== Sự bất bình đẳng ==== Khi mà nguyên tắc về sự bình đẳng của các công dân trước pháp luật thời cộng hòa bị lu mờ dần, các đặc quyền mang tính biểu tượng và xã hội của tầng lớp thượng lưu dẫn sự phân cấp một cách không chính thức ở bên trong xã hội La Mã thành hai tầng lớp đó là những người nắm giữ quyền cao chức trọng (honestiores) và những người thuộc tầng lớp thấp kém(humiliores). Nói chung, honestiores là những thành viên của ba "giai cấp" trên, cùng với một số sĩ quan quân đội. Việc cấp quyền công dân cho tất cả cư dân vào năm 212 dường như đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các tầng lớp thượng lưu vốn có địa vị cao hơn hẳn các công dân được xác nhân khác, đặc biệt là trong hệ thống tư pháp == Chính quyền và quân đội == Ba trụ cột quan trọng của chính quyền đế quốc La Mã đó là chính quyền trung ương, quân đội, và chính quyền địa phương. Quân đội thiết lập sự kiểm soát đối với các vùng đất thông qua chiến tranh, nhưng sau khi một thành phố hoặc một dân tộc đã chịu khuất phục, thì quân đội lại đảm nhiệm nhiệm vụ giữ gìn trật tự: bảo vệ các công dân La Mã (sau năm 212 SCN, là với tất cả cư dân tự do của Đế quốc), các vùng đất nông nghiệp mà nuôi sống họ, và địa điểm tôn giáo Việc hợp tác với tầng lớp quý tộc đầy quyền lực ở các địa phương là điều cần thiết để duy trì trật tự, thu thập thông tin, và tăng thêm nguồn thu cho ngân khố. Người La Mã thường tiến hành lợi dụng tình trạng chia rẽ chính trị nội bộ bằng cách ủng hộ một trong hai phe:theo như quan điểm của Plutarch, "đó là sự bất hòa giữa các phe phái trong các thành phố mà dẫn đến việc mất quyền tự cai quản" ". Cộng với việc chứng minh lòng trung thành với Roma đã giúp họ giữ lại được những luật lệ riêng, và đồng thời có thể thu thuế tại địa phương của họ, và trong trường hợp đặc biệt sẽ được miễn thuế La Mã. Đặc quyền pháp lý và sự độc lập một cách tương đối là một động lực để tiếp tục giữ được vị thế tốt đối với Roma. Sự cai quản của La Mã như vậy đã bị hạn chế, nhưng điều này lại tỏ ra hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực có sẵn cho nó. === Chính quyền trung ương === Quyền hạn của một vị hoàng đế (quyền lực tuyệt đối của ông) tồn tại ít nhất là trong lý thuyết, gồm có "quyền quan bảo dân" (potestas tribunicia) và "quyền quan trấn thủ của Hoàng đế" (Imperium proconsulare). Trên lý thuyết, quyền hạn của quan bảo dân (tương tự như Quan bảo dân của người bình dân của nền cộng hòa cũ) khiến cho bản thân hoàng đế và chức vụ của ông trở thành bất khả xâm phạm, và đem lại cho hoàng đế quyền lực đối với chính quyền dân sự của Roma, bao gồm cả quyền lực để chủ trì và kiểm soát viện nguyên lão. Quyền hạn của quan trấn thủ (tương tự như của các thống đốc quân sự, hoặc quan trấn thủ, dưới thời nền Cộng hòa cũ) đã đem lại cho ông quyền lực đối với toàn bộ quân đội La Mã. Ông cũng đã được giao những quyền hạn, mà dưới thời Cộng hòa, đã được dành cho viện nguyên lão và các hội đồng, bao gồm cả quyền tuyên bố chiến tranh, phê chuẩn các hiệp ước quốc tế, và đàm phán với các nhà lãnh đạo ngoại quốc. Hoàng đế cũng có thẩm quyền để thực hiện một loạt các công việc đã được thực hiện bởi các kiểm duyệt viên, bao gồm cả quyền hạn kiểm soát các thành viên của viện nguyên lão Ngoài ra, hoàng đế còn kiểm soát cả tôn giáo, vì từ khi là hoàng đế, ông cũng luôn luôn đảm nhiệm chức Pontifex Maximus (Đại Tư tế) và là thành viên của mỗi nhóm trong bốn nhóm thầy tế lớn.. Trong khi những tước hiệu này đã được định rõ vào thời kì đầu của giai đoạn đế quốc, cuối cùng chúng cũng bị mất đi, và quyền lực của hoàng đế dần ít tính lập hiến và mang nhiều tính quân chủ hơn. Trên thực tế, quyền hạn của một vị hoàng đế và quyền lực của ông được dựa trên sự ủng hộ chính đến từ quân đội. Được trả lương bởi ngân khố hoàng gia, những lính lê dương này cũng đã thề một lời thề quân sự thường niên để tỏ lòng trung thành đối với ông, được gọi là Sacramentum. Sau khi một vị hoàng đế qua đời, trên lý thuyết, viện nguyên lão được quyền lựa chọn vị hoàng đế mới, nhưng hầu hết các hoàng đế đều đã chọn người kế vị riêng của họ, thường là một thành viên trong gia đình. Vị Hoàng đế mới phải nhanh chóng tìm kiếm một sự thừa nhận cho địa vị mới của ông ta và để ổn định bối cảnh chính trị. Không có vị hoàng đế có thể hy vọng sống sót, ít ra là trị vì, mà không có lòng trung nghĩa của đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã và các quân đoàn. Để bảo đảm lòng trung thành của họ, hoàng đế thường ban cho họ donativum, một khoản tiền thưởng. === Quân đội === Các binh sĩ của quân đội đế quốc La Mã đều là những quân nhân chuyên nghiệp và họ tình nguyện tham gia phục vụ 25 năm trong quân ngũ. Nhiệm vụ chính của quân đội La Mã vào đầu thời kì đế quốc đầu đó là bảo vệ nền Thái bình La Mã (Pax Romana). Ba bộ phận chính của quân đội đó là: Các đơn vị đồn trú tại Rome, trong đó bao gồm cả lực lượng vệ binh hoàng gia và vigile, những người có vai trò như là cảnh sát và nhân viên cứu hỏa; Quân đội ở các tỉnh, bao gồm cả các quân đoàn La Mã và các đạo quân trợ chiến được cung cấp bởi các tỉnh (auxilia); Hải quân. Trong và sau cuộc nội chiến, Octavianus giảm số lượng to lớn của các Binh đoàn Lê dương La Mã (gồm hơn 60 Binh đoàn) xuống còn 28 Binh đoàn - một con số dễ chấp nhận và kiểm soát hơn nhiều. Một số Binh đoàn bị ngờ vực về sự trung thành chỉ đơn giản là bị sa thải. Các Binh đoàn khác được hợp nhất - sự thật này được gợi nên qua biệt hiệu Gemina (Anh em song sinh). Năm 9, các bộ tộc German tận diệt ba Binh đoàn La Mã trong trận rừng Teutoburg. Thảm họa này giảm số lượng các Binh đoàn xuống còn 25. Sau này, tổng số các Binh đoàn sẽ lại được tăng lên và trong vòng 300 năm sau, La Mã luôn luôn có chừng trên dưới 30 Binh đoàn. Augustus cũng thành lập đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã (Praetoriani): chín cohorts có vẻ là để gìn giữ nền hòa bình chung và đóng quân tại Ý. Được trả lương hậu hĩnh hơn các Binh đoàn, các Cận vệ cũng phục vụ ngắn hạn hơn; thay vì phục vụ theo thời gian tiêu chuẩn của các Binh đoàn là 25 năm, họ về phép sau 16 năm tại nhiệm. Tuy quân trợ chiến (tiếng Latinh: auxilia = những hỗ trợ) không nổi danh các Binh đoàn, họ có tầm quan trọng không nhỏ. Khác với các Binh đoàn, quân trợ chiến được tuyển mộ từ người không có quyền công dân. Được tổ chức trong các đơn vị nhỏ hơn gồm toàn là lính cohort, họ được trả thù lao ít hơn các Binh đoàn, và sau 25 năm phục vụ trong quân đội, họ cùng các con mình được trao quyền công dân La Mã. Theo Tacitus quân trợ chiến cũng có số lượng xấp xỉ bằng các Binh đoàn. Từ thời điểm đó La Mã có 25 Binh đoàn với khoảng 5.000 lính, ta suy ra quân trợ chiến cũng có chừng khoảng 125.000 binh sĩ, vậy là có xấp xỉ 250 trung đoàn trợ chiến. Lực lượng Hải quân La Mã (tiếng Latinh: Classis, dịch sát nghĩa. "hạm đội") không chỉ hỗ trợ trong việc tiếp tế và vận tải của các Binh đoàn, nhưng cũng góp phần bảo vệ biên thùy ở các dòng sông Rhine và Donau. Một trách nhiệm của họ là bảo vệ những con đường buôn bán rất quan trọng trên biển chống lại mối đe dọa của cướp biển. Do đó, họ tuần tra khắp biển Địa Trung Hải, một phần của Bắc Đại Tây Dương (các bờ biển của Hispania, Gallia, và Britannia), và cũng hiện diện trên Biển Đen. Song, người La Mã vẫn coi Lục quân là một nhánh cao cấp và vinh hiển hơn. === Chính quyền tỉnh === Quá trình để một vùng lãnh thổ bị sáp nhập trở thành một tỉnh đều phải trải qua ba bước: làm một sổ ghi danh sách các thành phố, tiến hành một cuộc tổng điều tra dân số, và vẽ bản đồ Hơn nữa những hồ sơ lưu trữ của chính quyền còn bao gồm ngày sinh và qua đời, giao dịch bất động sản, thuế và những biên bản pháp lý Trong thế kỷ 1 và 2, chính quyền trung ương đã phái khoảng 160 quan chức mỗi năm để cai trị các vùng đất bên ngoài Ý Trong số các quan chức có các "thống đốc La Mã", theo cách gọi bằng tiếng Anh: hoặc thẩm phán được bầu tại Rome, những người có tên trong viện nguyên lão và nhân dân La Mã, cai trị các tỉnh trực thuộc viện nguyên lão;. hoặc thống đốc, thường thuộc tầng lớp kị sĩ, những người nắm giữ quyền tuyệt đối của họ thay mặt cho hoàng đế ở những tỉnh không nằm dưới sự kiểm soát của viện nguyên lão, đặc biệt là tỉnh Ai Cập thuộc La Mã Một thống đốc phải khiến cho bản thân ông ta trở nên gần gũi với người dân mà ông ta cai quản. Tuy nhiên, bộ máy giúp việc của ông ta lại rất nhỏ: những cấp dưới chính thức của ông ta (apparitores), bao gồm các vệ sĩ, sứ truyền lệnh, sứ giả, những người chép bản thảo, và cận vệ; Các Legate, cả dân sự và quân sự, thường là những người thuộc tầng lớp kị sĩ và bạn bè, đang trong độ tuổi và có kinh nghiệm, hộ tống ông ta nhưng không chính thức. Các quan chức khác được bổ nhiệm đó là các giám sát tài chính của chính quyền. Việc tách riêng trách nhiệm tài chính khỏi luật pháp và chính quyền là một cải cách ở thời kì đế quốc. Những kiểm sát trưởng thuộc tầng lớp kị sĩ mà ban đầu có quyền lực "ngoài vòng pháp luật và ngoài hiến pháp," đã quản lý cả tài sản của nhà nước và một lượng lớn tài sản cá nhân của hoàng đế (res Privata). === Luật La Mã === Tòa án La Mã nắm giữ quyền xét xử đầu tiên đối với các trường hợp liên quan đến công dân La Mã khắp đế quốc, nhưng lại có quá ít các công chức tư pháp để có thể áp đặt luật La Mã thống nhất ở các tỉnh. Hầu hết các vùng của miền đông của đế quốc đã có các bộ luật và những thủ tục pháp lý chính thức. Nói chung, chính sách của La Mã là tôn trọng mos regionis ("truyền thống vùng" hay "luật pháp của địa phương") và coi luật pháp địa phương như là một nguồn tiền lệ pháp lý và ổn định xã hội Sự phù hợp giữa luật La Mã và luật địa phương được cho là phản ánh một ius gentium cơ bản, "luật của các quốc gia" hay luật quốc tế được coi là phổ biến và nhất quán giữa tất cả các cộng đồng con người. Nếu một bộ luật tỉnh riêng biệt mâu thuẫn với luật La Mã hoặc luật pháp theo tục lệ, các quan tòa La Mã sẽ nghe kháng cáo, và hoàng đế nắm giữ thẩm quyền cuối cùng để đưa ra quyết định. Ở phía Tây, pháp luật đã được thi hành dựa trên cơ sở địa phương hóa cao độ hay nền tảng bộ lạc, và quyền sở hữu tư nhân có thể là một sự mới lạ của thời đại La Mã, đặc biệt là trong số các bộ tộc người Celt. Luật La Mã tạo điều kiện cho việc cho một tầng lớp thân La Mã có thể đạt được sự giàu có một cách thuận lợi thông qua việc có được đặc quyền mới của mình là công dân. Sự mở rộng quyền công dân cho tất cả các cư dân tự do của đế quốc vào năm 212 đã được áp dụng thống nhất trong pháp luật La Mã, thay thế các bộ luật địa phương vốn áp dụng cho những người không phải là công dân. Những nỗ lực của Diocletianus nhằm để ổn định đế quốc sau khi kết thúc cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba bao gồm việc biên soạn hai bộ luật quan trọng trong vòng bốn năm đó là Codex Gregorianus và Codex Hermogenianus, để hướng dẫn việc cai quản các tỉnh theo những tiêu chuẩn pháp lý phù hợp. === Thuế === Việc thu thuế vào thời đế quốc lên tới khoảng 5 phần trăm tổng sản lượng. Tỷ lệ thuế điển hình đối với mỗi cá nhân dao động trong khoảng từ 2-5 phần trăm Những luật lệ về thuế lại tạo ra sự "lúng túng" trong hệ thống phức tạp của các loại thuế trực tiếp và gián tiếp, một số được thu bằng tiền mặt và một số bằng hiện vật. Các loại thuế có thể được cụ thể cho một tỉnh, hoặc đối với các loại tài sản như: thủy sản, ruộng muối;. chúng có thể có kết quả trong một thời gian hạn chế Việc thu thuế đã được chứng minh là điều cần thiết để có thể duy trì quân đội, và người nộp thuế đôi khi có thể nhận được một khoản hoàn lại nếu quân đội cướp được một lượng chiến lợi phẩm dư thừa. Thuế bằng hiện vật đã được chấp nhận từ các khu vực ít lưu hành tiền tệ, đặc biệt là đối với những người có thể cung cấp lương thực, hàng hoá đến các doanh trại quân đội. Các nguồn thu chính của việc thuế trực tiếp là các cá nhân, những người nộp thuế khoán và một khoản thuế đối với đất đai của họ, có thể hiểu như là một khoản thuế đối với sản lượng của nó hoặc năng lực sản xuất Những khoản bổ sung có thể được nộp bởi những người hội đủ điều kiện miễn trừ nhất định;. Ví dụ, nông dân Ai Cập có thể ghi vào sổ các cánh đồng mà bỏ hoang và được miễn thuế tùy thuộc vào mức độ ngập lụt của sông Nile. Nghĩa vụ nộp thuế được xác định căn cứ theo các cuộc điều tra dân số. Một nguồn thu quan trọng của thuế gián thu là portoria, thuế quan và thuế cầu đường đối với việc nhập khẩu và xuất khẩu, bao gồm cả giữa các tỉnh. Những khoản thuế đặc biệt còn được áp dụng đối với việc buôn bán nô lệ. Vào cuối triều đại của mình, Augustus tiến hành đánh thuế 4 phần trăm đối với việc bán nô lệ, và sau này Nero chuyển từ thu thuế người mua sang thu thuế của người bán, những người phản ứng bằng cách tăng giá bán của họ. Một chủ nô nếu giải phóng một nô lệ thì cũng phải trả "thuế tự do", tính theo 5 phần trăm giá trị. Thuế thấp đã giúp cho tầng lớp quý tộc La Mã gia tăng sự giàu có của họ, mà bằng hoặc hơn cả nguồn thu của chính quyền trung ương. Một vị hoàng đế đôi khi bổ sung ngân khố của mình bằng cách tịch thu điền sản của những người "siêu giàu", nhưng vào thời kì sau này, sự chống đối của những người giàu có vốn phải đóng thuế là một trong những yếu tố góp phần vào sự sụp đổ của đế quốc. == Kinh tế == Moses Finley là người đề xướng chính cho quan điểm quan điểm rằng nền kinh tế La Mã là "kém phát triển và chưa hoàn thiện", và nó mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp, với các trung tâm đô thị tiêu thụ nhiều hơn so với khả năng sản xuất của chúng trong điều kiện về thương mại và công nghiệp; các nghệ nhân có địa vị thấp, công nghệ chậm phát triển; và "thiếu hợp lý về kinh tế." Những quan điểm hiện tại thì lại phức tạp hơn. Những cuộc chinh phục lãnh thổ đã cho phép tiến hành một quá trình tái tổ chức quy mô lớn việc sử dụng đất mà tạo ra thặng dư nông nghiệp và sự chuyên môn hóa, đặc biệt là ở phía bắc châu Phi. Một số thành phố được biết đến với các ngành công nghiệp cụ thể hoặc hoạt động thương mại, và quy mô xây dựng trong các khu vực đô thị đã cho thấy ngàng công nghiệp xây dựng đã đóng một vai trò quan trọng Những cuộc giấy cói đã bảo tồn các phương pháp kế toán phức tạp cho thấy các yếu tố của chủ nghĩa duy lý kinh tế, và cũng đã có sự lưu hành tiền tệ ở mức độ cao trong đế quốc Mặc dù các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông bị hạn chế vào thời cổ đại, việc vận chuyển hàng hóa vào thế kỷ 1 và 2 đã trải dài một cách rộng khắp, và các tuyến đường thương mại kết nối các nền kinh tế trong khu vực. Những hợp đồng tiếp tế cho quân đội, mà vốn đóng quân ở tất cả các nơi trong đế quốc, đã thu hút các thương nhân địa phương ở gần các căn cứ (Castrum), trên địa bàn tỉnh, và giữa các tỉnh. Đế quốc có lẽ được đánh giá tốt nhất ở việc có một mạng lưới các nền kinh tế khu vực, dựa trên một hình thức của "chủ nghĩa tư bản chính trị" trong đó nhà nước giám sát và quy định các hoạt động thương mại để đảm bảo nguồn thu của nó Tăng trưởng kinh tế của đế quốc mặc dù không thể so sánh với các nền kinh tế hiện đại, nhưng nó đã lớn hơn so với hầu hết các xã hội khác trước khi tiến hành công nghiệp hóa. === Tiền tệ và ngân hàng === Thời kì đầu đế quốc đã có sự lưu hành tiền tệ đạt đến một mức độ gần như phổ quát, với ý nghĩa của việc sử dụng tiền như một cách để thể hiện giá cả và các khoản nợ. Đồng sestertius (số nhiều sestertii, tiếng Anh "sesterces", ký hiệu là HS) là đơn vị cơ bản về mặt giá trị thanh toán vào thế kỷ thứ 4, mặc dù đồng denarius bạc, trị giá bốn sesterces, cũng đã được sử dụng trong việc thanh toán vào triều đại Severus. Đồng tiền có giá trị nhỏ nhất thường được lưu hành là đồng as (số nhiều asses), bằng một phần tư đồng sestertius. Vàng nén và thỏi dường như không được tính là pecunia, "tiền", và chỉ được sử dụng trên các vùng biên giới để giao dịch kinh doanh hoặc mua bất động sản. Người La Mã vào thế kỷ 1 và 2 tính số lượng tiền, chứ không phải cân chúng -một dấu hiệu cho thấy đồng tiền được định giá ngay trên mặt của nó và không phải dựa vào hàm lượng kim loại của đồng tiền. Khuynh hướng đối với tiền định danh này cuối cùng dẫn đến làm giảm giá trị của tiền xu La Mã, với những hậu quả để lại vào thời kì cuối của đế quốc. Sự tiêu chuẩn hóa đối với tiền trong toàn đế quốc đã thúc đẩy thương mại và hội nhập thị trường Với số lượng lớn tiền xu kim loại trong lưu thông đã làm tăng nguồn cung tiền cho các giao dịch hoặc tiết kiệm. Roma không có ngân hàng trung ương, và các quy định của hệ thống ngân hàng là tối thiểu. Ngân hàng vào thời cổ đại thường tiến hành dự trữ với số lượng nhỏ. Một ngân hàng điển hình thường có số vốn hạn chế, và thường chỉ có một người chủ, mặc dù một ngân hàng có thể có nhiều từ 6 tới 15 người chủ. Seneca thừa nhận rằng bất cứ ai có liên quan đến thương mại đều cần phải tiếp cận nguồn tín dụng. Một người chủ ngân hàng gửi tiền chuyên nghiệp (argentarius, coactor argentarius, hoặc sau này là nummularius) nhận và giữ những khoản tiền gửi trong một thời hạn nhất định hoặc không thời hạn và cho bên thứ ba vay tiền. Tầng lớp nguyên lão đã tham gia rất nhiều vào việc cho tư nhân vay, cả các chủ nợ và khách hàng vay, cho vay từ tài sản cá nhân của họ trên cơ sở các mối quan hệ xã hội. Chủ sở hữu của một món nợ có thể sử dụng nó như một phương tiện thanh toán bằng cách chuyển nó cho một bên khác, không dùng tiền mặt trao tay. Mặc dù đôi khi người ta cho rằng La Mã cổ đại thiếu "giấy" hoặc giao dịch tài liệu, các hệ thống của các ngân hàng trên khắp đế quốc cũng cho phép trao đổi một khoản tiền rất lớn mà không có sự vận chuyển tiền tự nhiên, một phần vì những rủi ro của việc di chuyển số lượng lớn tiền mặt, đặc biệt là bằng đường biển. Chỉ có một vụ thiếu tín dụng nghiêm trọng được biết đến và đã xảy ra vào đầu thời đế quốc, một cuộc khủng hoảng tín dụng vào năm 33 SCN mà khiến cho một số nguyên lão gặp phải rủi ro, chính quyền trung ương đã giải cứu thị trường thông qua một khoản vay 100 triệu HS được hoàng đế Tiberius thực hiện vào ngành ngân hàng (Mensae). Nói chung, số vốn khả dụng vượt quá số lượng cần thiết cho khách hàng vay. Bản thân chính quyền trung ương không vay tiền, và cũng không có nợ công để cần bù đắp cho thâm hụt ngân sách từ dự trữ tiền mặt. Các vị hoàng đế của triều đại Antoninus và Severus về mặt tổng thể đều đã làm mất giá trị đồng tiền, đặc biệt là đồng denarius, dưới áp lực của việc biên chế quân đội. Lạm phát đột ngột dưới triều đại Commodus đã gây tổn hại đối với thị trường tín dụng. Vào giữa những năm 200, nguồn cung tiền đồng giảm mạnh Tình cảnh của cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba- chẳng hạn như việc giảm sút thương mại đường dài, hoạt động khai thác mỏ bị gián đoạn, và việc vận chuyển tiền đúc vàng ra bên ngoài đế quốc bởi những kẻ thù xâm lược- đã làm suy giảm mạnh nguồn cung tiền và ngành ngân hàng cho đến năm 300 Mặc dù tiền xu La Mã từ lâu đã là tiền định danh hoặc tiền tệ tín dụng, những lo ngại kinh tế chung đã lên đến đỉnh điểm dưới triều đại Aurelianus, và giới ngân hàng mất niềm tin vào đồng tiền hợp pháp của chính quyền trung ương. Mặc dù Diocletianus sau này giới thiệu đồng solidus vàng và những cải cách tiền tệ, thị trường tín dụng của đế quốc sẽ không bao giờ phục hồi mạnh mẽ lại như nó trước đây. === Khai mỏ và luyện kim === Các khu vực khai thác khoáng sản chính của đế quốc là Tây Ban Nha (vàng, bạc, đồng, thiếc, chì); Gaul (vàng, bạc, sắt), Anh (chủ yếu là sắt, chì, thiếc), các tỉnh Danube (vàng, sắt); Macedonia và Thrace (vàng, bạc) và Tiểu Á (vàng, bạc, sắt, thiếc). Việc tập trung khai mỏ trên quy mô lớn - trong lòng đất và bằng các phương tiện khai thác lộ thiên và dưới lòng đất - đã diễn ra từ dưới triều đại của Augustus cho đến đầu thế kỷ thứ 3, khi sự bất ổn của đế quốc đã gián đoạn quá trình khai thác. Ví dụ như các mỏ vàng của Dacia đã có thể không còn được người La Mã khai thác sau khi tỉnh này bị từ bỏ vào năm 271. Khai thác mỏ dường như đã khôi phục lại được một phần trong suốt thế kỷ thứ 4. Khai thác thủy lực, mà được Pliny gọi là Ruina montium ("hủy hoại những ngọn núi"), đã cho phép khai thác các kim loại thường và kim loại quý trên quy mô công nghiệp nguyên thủy. Tổng sản lượng sắt hàng năm ước tính khoảng 82.500 tấn sản lượng đồng được sản xuất với tốc độ hàng năm là 15.000 tấn, và chì là 80.000 tấn, những cấp độ sản xuất chưa từng có cho đến cuộc cách mạng công nghiệp; Chỉ riêng Tây Ban Nha đã chiếm 40 phần trăm sản lượng chì thế giới Sản lượng chì cao là do nó là một sản phẩm phụ của quá trình khai thác bạc quy mô lớn đạt 200 tấn mỗi năm. Vào giai đoạn cao điểm vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2, kho bạc La Mã được ước tính có khoảng 10.000 tấn, lớn hơn từ 5 tới 10 lần hơn toàn bộ lượng bạc của châu Âu thời trung cổ và các Caliphate vào khoảng 800 SCN. Như một dấu hiệu cho quy mô sản xuất kim loại của người La Mã, ô nhiễm chì trong các tảng băng ở Greenland tăng gấp bốn lần so với mức tiền sử của nó trong thời kỳ đế quốc, và sau đó tiếp tục giảm. === Giao thông và vận chuyển === Đế quốc La Mã hoàn toàn bao quanh Địa Trung Hải, và họ gọi nó là "biển của chúng tôi" (Mare Nostrum). Tàu thuyền của người La Mã đã đi lại khắp Địa Trung Hải cũng như các con sông chính của Đế quốc, trong đó có sông Guadalquivir, Ebro, Rhône, Rhine, sông Tiber và sông Nile. Việc vận chuyển bằng đường biển thường được chọn nếu có thể, và vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ là rất khó khăn. Phương tiện đi lại, bánh xe, và tàu thuyền cho thấy sự tồn tại của một số lượng lớn các thợ mộc lành nghề. Vận tải bằng đường bộ thì sử dụng hệ thống các con đường La Mã tiên tiến. Các loại thuế bằng hiện vật được các cộng đồng đóng bao gồm việc cung cấp lương thực cho các nhân viên, động vật, hoặc phương tiện cho các cursus publicus, hệ thống bưu điện nhà nước và dịch vụ vận tải đã được Augustus thành lập Các trạm ngựa nằm dọc theo những con đường mỗi 7-12 dặm La Mã, và có xu hướng phát triển thành một làng hoặc trạm buôn bán. Một mansio (số nhiều mansiones) là một trạm dịch vụ tư nhân đặc quyền của triều đình đế quốc dành cho cursus publicus. Các nhân viên hỗ trợ tại một cơ sở như vậy bao gồm người dắt la, thư ký, thợ rèn, xe ngựa, một thầy thuốc thú y, một vài quân cảnh và người đưa thư. Khoảng cách giữa mansiones được xác định bằng quãng đường một chiếc xe ngựa có thể đi di chuyển trong một ngày. La là loài động vật thường được sử dụng cho xe kéo, và nó có thể đi được khoảng 4 dặm mỗi giờ. Như một ví dụ về tốc độ thông tin liên lạc, một người đưa tin ít nhất phải mất chín ngày để đi đến Rome từ Mainz thuộc tỉnh Thượng Germania, ngay cả khi đang có một vấn đề cấp bách Ngoài các mansiones, một số quán rượu cũng cung cấp chỗ ở cũng như ăn uống, một nhãn được ghi lại trong một lần lưu lại cho thấy chi phí cho rượu vang, bánh mì, thức ăn cho con la, và chi phí của một gái mại dâm. === Thương mại và hàng hóa === Các tỉnh La Mã buôn bán giữa chúng với nhau, nhưng thương mại còn mở rộng ra bên ngoài biên giới tới các khu vực xa xôi như Trung Quốc và Ấn Độ. Các mặt hàng chính là ngũ cốc. Ngoài ra còn buôn bán mặt hàng khác như dầu ô liu, các loại thực phẩm, garum (nước mắm), nô lệ, quặng và đồ vật kim loại, sợi và dệt may, gỗ, gốm, đồ thủy tinh, đá cẩm thạch, giấy cói, gia vị và dược liệu, ngà voi, ngọc trai và đá quý. === Lao động và việc làm === Những dòng chữ khắc ghi lại 268 ngành nghề khác nhau trong thành phố Rome, và 85 ở Pompeii. Hiệp hội nghề nghiệp hoặc các Hội thương gia (collegia) được chứng thực cho một loạt các ngành nghề, trong đó có ngư dân (piscatores), người buôn muối (salinatores), người buôn bán dầu ô liu (olivarii), người làm trò mua vui (scaenici), người buôn bán gia súc (pecuarii), thợ kim hoàn (aurifices), người đánh xe (asinarii hoặc muliones), và thợ đá (lapidarii) Đôi khi có những nghề khá đặc biệt: một collegium tại Rome bị hạn chế nghiêm ngặt đối với thợ thủ công làm việc với ngà voi và gỗ cam quýt. Các công việc được thực hiện bởi những người nô lệ rơi vào năm loại chung: nội trợ, trên các văn bia ghi lại ít nhất 55 công việc khác nhau trong gia đình, phục vụ hoàng gia hoặc công cộng; hàng thủ công đô thị và dịch vụ, nông nghiệp và khai thác khoáng sản Tù nhân cung cấp phần lớn lao động trong các mỏ hoặc mỏ đá, nơi mà điều kiện làm việc nổi tiếng là tàn bạo. Trong thực tế, có rất ít sự phân công lao động giữa nô lệ và người tự do. Một số lượng lớn những người lao động thông thường được sử dụng trong nông nghiệp: trong hệ thống canh tác công nghiệp của Ý (latifundia), có thể chủ yếu là nô lệ, nhưng trên khắp đế quốc, nô lệ lao động trong nông nghiệp có lẽ là ít quan trọng hơn so với các hình thức lao động phụ thuộc vào những người về cơ bản không phải là nô lệ. Dệt may và sản xuất trang phục là một nguồn việc làm chính. Vải và cả áo quần đã hoàn thành được giao dịch giữa các dân tộc của đế quốc mà có sản phẩm thường được đặt tên theo tên gọi của họ hay một thị trấn đặc biệt, giống như một "nhãn hiệu" thời trang. === GDP === Các sử gia kinh tế có tính toán khác nhau về sản phẩm quốc nội của nền kinh tế La Mã. Trong những năm 14, 100, và 150 SCN, ước tính GDP bình quân đầu người khoảng từ 166 tới 380 HS. GDP bình quân đầu người của Ý được ước tính là cao hơn từ 40 đến 66 phần trăm so với phần còn lại của đế quốc, do thuyên chuyển thuế từ các tỉnh và sự tập trung thu nhập của tầng lớp có địa vị ở trung tâm của đế quốc. == Kiến trúc và kĩ thuật xây dựng == Những đóng góp chính của người La Mã đối với kiến trúc là cung vòm và mái vòm. Ngay cả sau khi trải qua hơn 2.000 năm một số cấu trúc La Mã vẫn còn đứng vững, một phần do những phương pháp chế tạo xi măng và bê tông tinh vi Các con đường La Mã được coi là những con đường tiên tiến nhất xây dựng cho đến đầu thế kỷ 19. Hệ thống đường sá tạo điều kiện cho việc duy trì trật tự của quân đội, giao thông và thương mại. Những con đường có thể chịu được lũ lụt và các mối đe dọa môi trường khác. Ngay cả sau khi chính quyền trung ương sụp đổ, một số tuyến đường vẫn có thể sử dụng trong hơn một ngàn năm. Các cây cầu La Mã là một trong những cây cầu lớn và bền vững đầu tiên, chúng được xây dựng từ đá cùng với kiểu kiến ​​trúc cung vòm như cấu trúc cơ bản. Vật liệu được sử dụng nhiều nhất bê tông. Cây cầu La Mã lớn nhất là cây cầu Trajan bắc qua hạ lưu sông Danube, nó được xây dựng bởi Apollodorus của Damascus và vẫn là cây dài nhất đã được xây dựng cả về chiều dài tổng thể và chiều dài trong hơn một thiên niên kỷ. Người La Mã đã xây dựng nhiều đập để trữ nước, chẳng hạn như các đập Subiaco, hai trong số đó cấp nước cho Anio Novus, một trong những hệ thống cầu máng lớn nhất của Roma. Họ đã xây dựng 72 đập chỉ riêng trên bán đảo Iberia, và một số lượng nhiều hơn thế nữa được biết đến trên khắp Đế quốc, và một số vẫn còn được sử dụng. Một số đập bằng đất ở nước Anh từ thời La Mã cũng đã được biết đến, trong đó có một ví dụ đã được bảo quản tốt là ở Longovicium (Lanchester). Người La Mã đã xây dựng nhiều cầu máng. Một luận án còn sót lại tới ngày nay của Frontinus, người từng giữ chức vụ curator aquarum (ủy viên về nước) dưới thời Nerva, đã phản ánh vai trò hành chính quan trọng đối với việc bảo đảm cung cấp nước. Sau khi nước đi qua cầu máng, nó được tập trung vào các bể chứa nước và theo các đường ống để tới các đài phun nước công cộng, phòng tắm, nhà vệ sinh, hoặc các khu công nghiệp. Các hệ thống cống dẫn nước chính trong thành phố Roma là Aqua Claudia và Aqua Marcia. Một hệ thống phức tạp còn được xây dựng để cung cấp nước cho Constantinoplis từ nơi cách nó hơn 120 km dọc theo một tuyến đường quanh co dài hơn 336 km. Người La Mã cũng đã sử dụng cống dẫn nước trong hoạt động khai thác khoáng sản phong phú của họ trên toàn đế quốc, tại các địa điểm như Las Médulas và Dolaucothi ở miền Nam xứ Wales. == Lịch sử quân sự == === Thời kì Nguyên thủ (27 TCN-235 CN) === Giữa các triều đại của hoàng đế Augustus và Traianus, Đế quốc La Mã đã giành được những vùng lãnh thổ rộng lớn ở cả phía Đông và phía Tây. Ở phía Tây, sau một vài chiến thắng trong năm 16 TCN,, quân đội La Mã đã mở rộng biên giới đế quốc về phía bắc và phía đông của Gaul, chinh phục rất nhiều đất đai xứ Germania. Mặc dù vậy, La Mã đã bị mất một đạo quân lớn cùng với hầu hết binh lính của nó với thảm bại của Varus trong trận rừng Teutoburg vào năm 9 CN. Được xem là thất bại quân sự lớn nhất của Đế quốc La Mã, thảm họa này đã chấm dứt quá trình bành trướng của họ về mạn Đông sông Rhine. La Mã sau đó đã hồi phục và tiếp tục bành trướng và vượt ra ngoài biên giới của thế giới được biết đến. Dưới thời Tiberius, tướng Germanicus lại tổ chức các chiến dịch tấn công Germania trong các năm 15 - 17, nhưng không mấy thành công và chịu nhiều thiệt hại. Mặc dù vậy, để tuyên dương những trận thắng của Germanicus trước quân German trong các chiến dịch của mình, ông được Hoàng đế tổ chức lễ diễu binh khải hoàn vào năm 17. Người La Mã xâm chiếm đảo Anh vào năm 43, chiếm đóng khu vực nội địa,, và xây dựng hai căn cứ quân sự để bảo vệ vùng đất này chống lại các cuộc khởi nghĩa và những cuộc tấn công từ phía bắc. Hoàng đế Claudius đã ra lệnh tạm dừng các cuộc tấn công hơn nữa trên khắp sông Rhine, và thiết lập nên giới hạn cố định cho sự mở rộng của đế quốc theo hướng này.. Xa hơn về phía đông, Traianus chuyển sự chú ý của ông tới Dacia. Sau một số lượng không chắc chắn các trận chiến xảy ra, Trajan tiến vào Dacia,, bao vây kinh đô của người Dacia và san bằng nó Cùng với việc dẹp yên Dacia, Trajan sau đó xâm chiếm đế quốc Parthia ở phía đông, những cuộc chinh phục của ông đã khiến cho Đế quốc La Mã mở rộng đến đỉnh điểm. Vào năm 69, Marcus Salvius Otho đã sát hại hoàng đế Galba và tự mình xưng đế, Tuy nhiên, Vitellius cũng tấn phong mình làm Hoàng đế. Otho sau đó đã rời Roma, và giao chiến với Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ nhất, nhưng quân đội của phe Otho lại thua trận và buộc phải rút về trại của họ, và ngày hôm sau họ đầu hàng lực lượng của phe Vitellius. Trong khi đó, các lực lượng quân đội đang đóng quân tại các tỉnh Trung Đông như Judaea và Syria đã tôn Vespasianus lên làm hoàng đế. Quân đội của Vespasianus và Vitellius sau đó đã giao tranh trong trận Bedriacum lần thứ hai, kết quả là quân đội của phe Vitellius bị đánh tan tác. Vespasianus, sau khi thành công trong việc kết thúc cuộc nội chiến, đã được tuyên bố làm hoàng đế. Cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất, đôi khi được gọi là Cuộc đại khởi nghĩa, là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong ba cuộc khởi nghĩa lớn của người Do Thái ở tỉnh Judaea chống lại Đế quốc La Mã. Những thành công ban đầu của người Do Thái khi chống lại La Mã chỉ càng thu hút thêm sự chú ý lớn hơn từ Hoàng đế Nero, ông ta đã giao cho tướng Vespasianus nhiệm vụ đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Đến năm 68, sự kháng cự của người Do Thái ở khu vực phía Bắc, vùng Galile, đã bị nghiền nát và trong năm 70 năm, Jerusalem đã bị chiếm cùng với đó Đền thờ thứ hai đã bị phá hủy. Năm 115, một cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục nổ ra trong tỉnh, dẫn đến cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ hai mà còn được gọi là Chiến tranh Kitos, và một lần nữa là vào năm 132, lần này được gọi là cuộc khởi nghĩa của Bar Kokhba. Cả hai cuộc khởi nghĩa này đều bị đàn áp dã man. Do đã triển khai lực lượng kỵ binh nặng hùng mạnh và lực lượng kị cung cơ động, Đế chế Parthia là kẻ thù ghê gớm nhất của Đế quốc La Mã ở phía đông. Trajan đã tiến hành chiến dịch chống lại người Parthia và ông đã chiếm được kinh đô của họ trong một thời gian ngắn, đặt một vị vua bù nhìn lên ngai vàng, nhưng các vùng lãnh thổ này sau đó đã bị từ bỏ. Một Đế quốc Parthia phục hưng lại tấn công La Mã năm 161, và đánh bại hai đạo quân La Mã. Tướng Gaius Avidius Cassius được lệnh phản kích Parthia đang hồi sinh vào năm 162. Thành Seleucia trên sông Tigris của Parthia bị phá hủy, và người Parthia giảng hòa nhưng bị buộc phải nhượng vùng Tây Lưỡng Hà cho La Mã. Năm 197, Hoàng đế Septimius Severus phát động một cuộc chiến ngắn gọn chống Đế quốc Parthia, trong đó La Mã giành thắng lợi và cướp phá đế đô của Parthia, một nửa vùng Lưỡng Hà được giao trả cho La Mã. Hoàng đế Caracalla xuất binh đến Parthia vào năm 217 từ Edessa để khơi mào một cuộc chiến chống lại họ, nhưng ông bị ám sát khi đang ra quân. Năm 224, Đế quốc Parthia bị tiêu diệt không phải là do người La Mã mà là do cuộc khởi nghĩa của vua chư hầu Ba Tư là Ardashir, dẫn đến sự thành lập nhà Sassanid của Đế quốc Ba Tư, thay thế Parthia làm kình địch của La Mã ở phía Đông. === Các vị hoàng đế trại binh và gốc Illyria (235–284) cùng với chế độ chuyên quyền (284-395) === Mặc dù lịch sử chưa xác minh rõ ràng, một vài nhóm dân German, Celt, và những sắc dân pha trộn Celt-German đã định cư trên lãnh thổ Germania từ thế kỷ 1 trở đi. Vấn đề quan trọng của các nhóm bộ tộc lớn trên biên giới hầu như là giống hết tình hình mà La Mã phải đối mặt trong những thế kỷ trước, và thế kỷ thứ 3 đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kể những mối đe dọa lớn này. Các nhóm chiến binh người Alamanni liên tục vượt qua biên giới, tấn công Thượng Germania nhiều tới mức mà họ gần như liên tục lâm chiến với Đế quốc La Mã. Tuy nhiên, cuộc tấn công quy mô lớn của họ vào sâu trong lãnh thổ La Mã đã không xảy ra cho đến năm 268. Trong năm đó người La Mã đã bị buộc phải lấy đi rất nhiều binh lực ở biên cương Germaniađ để đáp trả cuộc xâm lược ồ ạt của một liên minh các bộ lạc Đức khác, người Goth, từ phía đông. Người Alamanni nhanh chóng nắm lấy cơ hội tiến hành một cuộc xâm lược lớn nhằm vào Gaul và miền Bắc Italia. Tuy nhiên, người Visigoth đã bị đánh bại trong trận chiến vào mùa hè năm đó và sau đó họ lại tiếp tục thua chạy tan tác trong trận Naissus Người Alamanni mặt khác lại tiếp tục cuộc tấn công của họ nhằm vào Italia gần như ngay lập tức. Mặc dù họ đã đánh bại Aurelianus trong trận Placentia vào năm 271 nhưng họ đã bị đánh lui chỉ một thời gian ngắn sau đó, và họ chỉ tái nổi lên sau năm mươi năm nữa. Trong năm 378, người Goth đã đánh tan tác quân đội của đế quốc Đông La Mã tại trận Hadrianopolis. Đồng thời, người Frank đã tiến hành cướp bóc suốt khu vực Biển Bắc và eo biển Anh, Người Vandal thì hối hả vượt qua sông Rhine, người Iuthungi tiến đánh khu vực sông Danube, người Iazyge, Carpi và người Taifali quấy rối Dacia, và người Gepids gia nhập với người Goth và người Heruli trong các cuộc tấn công quanh Biển Đen Vào đầu thế kỷ thứ 5, áp lực nhằm vào biên giới phía tây của La Mã đã gia tăng mãnh liệt. == Văn hóa == Cuộc sống ở Đế chế La Mã thường xoay quanh thành phố Roma, và bảy ngọn đồi nổi tiếng của nó. Thành phố cũng đã có một số nhà hát, gymnasia, các quán rượu, phòng tắm và nhà thổ. Trên khắp các vùng đất nằm dưới sự kiểm soát của Rome, trình độ kiến trúc các căn nhà ở đều rất khiêm tốn tới cả những biệt thự thôn quê, và ngay trong kinh đô Rome, các căn nhà ở trên đồi Palatine thanh lịch, mà từ đó từ "cung điện" được hình thành. Phần lớn dân số sống ở trung tâm thành phố, gói gọn trong các khu nhà chung cư. Hầu hết các thị trấn và thành phố La Mã đều đã có một khu chợ và các đền thờ, cũng như chính bản thân thành phố Roma. Hệ thống cống dẫn nước được xây dựng để đưa nước đến các trung tâm đô thị và được sử dụng như một con đường để nhập khẩu rượu vang và dầu từ nước ngoài. Địa chủ thường cư trú ở các thành phố và việc chăm sóc điền trang của họ được giao lại cho những người quản lý trang trại. Để kích thích năng suất lao động cao hơn nhiều, nhiều địa chủ đã giải phóng một số lượng lớn nô lệ. Vào triều đại của Augustus, các nô lệ Hy Lạp có học thức trong nhà đã dạy học cho các trẻ em nam La Mã (đôi khi ngay cả các cô gái). Các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp được dùng để trang trí cảnh quan cho khu vườn mang phong cách Hy Lạp trên đồi Palatine hoặc trong các biệt thự. Nhiều khía cạnh của văn hóa La Mã đã được tiếp thu từ người Etruscan và người Hy Lạp. Trong kiến ​​trúc và điêu khắc, sự khác biệt giữa các hình mẫu Hy Lạp và những bức họa La Mã là rõ ràng. Đóng góp chính của người La Mã cho nghệ thuật kiến trúc là khung vòm và mái vòm. Chế độ nô lệ và nô lệ là một phần của trật tự xã hội. Có rất nhiều chợ nô lệ, ở nơi đó họ có thể bị mua và bán. Nhiều nô lệ có thể được giải phóng bởi những người chủ của họ, một số nô lệ có thể tiết kiệm được tiền để mua lại sự tự do của mình. Người ta ước tính rằng hơn 25% dân số La Mã đã làm nô lệ. == Giao thông == Địa Trung Hải tấp nập thuyền bè đi lại, đặc biệt trong khoảng tháng 3 đến tháng 11 là thời gian có gió thuận lợi. Ngoài ra còn có hệ thống đường sá hoàn chỉnh trong khắp đế quốc, nhờ đó việc chuyển quân và chuyển thư dễ dàng, nhanh chóng. == Dân cư == Thời đầu Công Nguyên khoảng 50 triệu người. Quân đội ít nhưng tinh nhuệ. Có ba thành phố lớn: La Mã là trung tâm đầu não của đế quốc, dân số khoảng 1 triệu, nhiều người thuộc giới lãnh đạo. Alexandria ở Ai Cập, phía nam Địa Trung hải, là trung tâm văn hóa, có thư viện nổi tiếng thời đó, kiều dân Do Thái chiếm 1/3 số dân ở đây. Antiokhia (Antioch), từng là thủ đô xứ Syria cổ (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), nơi Kitô giáo phát triển rất sớm. == Tôn giáo == Sự mở rộng của đế quốc đồng nghĩa với việc cư dân La Mã bao gồm người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau, sự cúng bái những vị thần với số lượng ngày một gia tăng được khoan dung và chấp nhận. Chính quyền Đế quốc nói riêng và người La Mã nói chung, đều có xu hướng rất khoan dung cho phần lớn tôn giáo và tín ngưỡng, sao cho họ không gây bất an. Điều đó dễ dàng được các đức tin khác đồng thuận do các nghi thức tế thần và lễ hội La Mã thường được thêm bớt cho phù hợp với văn hóa và bản sắc địa phương. Do người La Mã theo Đa Thần giáo, họ cũng dễ dàng đồng hòa thần linh của các tộc người mà họ chinh phạt. Một cá nhân có thể cúng tế cả chư thần La Mã để thể hiện bản sắc La Mã của anh ta và tôn giáo cá nhân, vốn được xem là một phần của đặc điểm cá nhân của anh em. Cũng có những giai đoạn chính quyền tổ chức các cuộc bách hại, nhất là với Kitô giáo. === Sự thờ cúng Hoàng đế === Trong một nỗ lực nhằm để tăng cường lòng trung thành, các cư dân của đế quốc đã được kêu gọi tham gia thờ cúng hoàng đế để tỏ lòng tôn kính đối với những vị hoàng đế (thường là đã qua đời) như là các á thần Một vài hoàng đế tự mình tuyên bố là vị thần trong khi đang còn sống với hoàng đế, đó là các trường hợp ngoại lệ và những vị hoàng đế này vào thời điểm đó bị coi là mất trí một cách rộng rãi (chẳng hạn như Caligula). Làm như vậy trong giai đoạn đầu thời đế quốc sẽ mạo hiểm tiết lộ một cách nông cạn những gì mà Hoàng đế Augustus gọi là "khôi phục nhà nước Cộng hòa". Kể từ đó, công cụ này chủ yếu là cách mà mỗi một vị Hoàng đế sử dụng để kiềm chế thần dân của mình. == Tham khảo == Ghi chú Trích dẫn == Đọc thêm == Frank Frost Abbott (1901). A History and Description of Roman Political Institutions. Elibron Classics. ISBN 0-543-92749-0. John Bagnell Bury, A History of the Roman Empire from its Foundation to the death of Marcus Aurelius, 1913, ISBN 978-1-4367-3416-5 Winston Churchill, A History of the English-Speaking Peoples, Cassell, 1998, ISBN 0-304-34912-7 J. A. Crook, Law and Life of Rome, 90 BC–AD 212, 1967, ISBN 0-8014-9273-4 Donald R. Dudley, The Civilization of Rome, 2nd ed., 1985, ISBN 0-452-01016-0 Arther Ferrill, The Fall of the Roman Empire: The Military Explanation, Thames and Hudson, 1988, ISBN 0-500-27495-9 Freeman, Charles (1999). The Greek Achievement: The Foundation of the Western World. New York: Penguin. ISBN 0-670-88515-0. Edward Gibbon, The History of the Decline and Fall of the Roman Empire, 1776–1789 Adrian Goldsworthy, The Punic Wars, Cassell & Co, 2000, ISBN 0-304-35284-5 Adrian Goldsworthy, In the Name of Rome: The Men Who Won the Roman Empire, Weidenfield and Nicholson, 2003, ISBN 0-297-84666-3 Adrian Goldsworthy, The Complete Roman Army, Thames and Hudson, 2003, ISBN 0-500-05124-0 Michael Grant, The History of Rome, Faber and Faber, 1993, ISBN 0-571-11461-X Benjamin Isaac, "The Limits of Empire: the Roman Army in the East" Oxford University Press, 1992, ISBN 0-19-814926-3 Andrew Lintott, Imperium Romanum: Politics and administration, 1993, ISBN 0-415-09375-9 Edward Luttwak, The Grand Strategy of the Roman Empire, Johns Hopkins University Press, ISBN 0-8018-2158-4 Reid, T. R. (1997). “The World According to Rome”. National Geographic 192 (2): 54–83. Antonio Santosuosso, Storming the Heavens: Soldiers, Emperors and Civilians in the Roman Empire, Westview Press, 2001, ISBN 0-8133-3523-X == Liên kết ngoài == Adena, L. The 'Jesus Cult' and the Roman State in the Third Century, Clio History Journal, 2008. Roman battlefield unearthed deep inside Germany BBC Romans for Children Classics Unveiled Complete map of the Roman Empire in year 100 Detailed history of the Roman Empire Historical Atlas (Swedish) Roman Numismatic Gallery The Celts and Romans The Roman Empire The Roman Empire in the First Century from PBS Timeline of the Roman Empire and its split on WikiTimeScale. UNRV Roman History Worlds of Late Antiquity website: links, bibliographies: Augustine, Boethius, Cassiodorus etc.
ngoại luân đôn.txt
Ngoại Luân Đôn (tiếng Anh: Outer London) là một tiểu vùng gồm một nhóm khu tự quản Luân Đôn tạo thành một vòng bao quanh Nội Luân Đôn. Những khu vực này trước đây không phải là một phần của Hạt Luân Đôn và đã chính thức trở thành một phần của Đại Luân Đôn vào năm 1965. Ngoại trừ North Woolwich vốn thuộc Hạt Luân Đôn nhưng đã chuyển sang Newham vào năm 1965. == Đạo luật Chính phủ Luân Đôn 1963 == Các khu tự quản Luân Đôn ở vùng ngoài được xác định theo Đạo luật Chính phủ Luân Đôn 1963. Barking và Dagenham Barnet Bexley Brent Bromley Croydon Ealing Enfield Haringey Harrow Havering Hillingdon Hounslow Kingston trên sông Thames Merton Newham Redbridge Richmond trên sông Thames Sutton Waltham Forest == Tham khảo ==
karl iv của đế quốc la mã thần thánh.txt
Karl IV (14 tháng 5 năm 1316 - 29 tháng 11 năm 1378) ở Praha, tên lúc sinh ra là Wenzel (Václav), là vua Bohemia thứ 11, vị vua thứ 2 thuộc dòng dõi nhà Luxemburg, và ông cũng là vua Bohemia đầu tiên trở thành Hoàng đế La Mã Thần thánh (1355-1378). Ông là con trưởng/người thừa kế của Jang de Blannen (tiếng Đức: Johann von Böhmen), Bá tước Luxemburg và vua của Bohemia. Sau khi Jang chết vào ngày 29 tháng 8 năm 1346 tại trận Crécy, Karl thừa hưởng các tước hiệu này. Ngày 2 tháng 9, năm 1347 Karl chính thức đăng ngôi vua. Ngày 11 tháng 7 năm 1346 các tuyển hầu người Đức bầu ông làm Vua của người La Mã (rex Romanorum) đối lập với Hoàng đế Ludwig IV. Sau khi Ludwig băng hà, ông được bầu lại làm Vua của người La Mã vào ngày 17 tháng 6 và làm lễ đăng quang ngày 25 tháng 7 1349. Năm 1355, ông đăng quang làm Vua của Ý ngày 6 tháng 1 và Hoàng đế La Mã Thần thánh ngày 5 tháng 4. Với việc ông đăng quang làm vua Vương quốc Burgund ngày 4 tháng 6 1365, ông trở thành quốc trưởng của tất cả các vương quốc thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh. == Thời niên thiếu == Karl IV sinh ra ở Praha, là con của vua Bohemia Johann von Böhmen thuộc nhà Luxemburg và hoàng hậu Elizabeth của Bohemia thuộc nhà Premyslid. Ông ban đầu được đặt tên là Wenzel (Václav), tên của ông ngoại, vua Wenzel II của Bohemia. Ông đã chọn tên Karl trong lúc làm lễ bí tích Thêm Sức để tỏ lòng kính trọng người chú của mình, vua Charles IV của Pháp, mà đã cho ông cư trú 7 năm trong cung điện của ông ta. Ông đã được giáo dục bằng tiếng Pháp và nói thông thạo năm thứ tiếng: tiếng Latinh, Séc, Đức, Pháp và Ý. Trong năm 1331 ông đã đạt được một số kinh nghiệm chiến tranh ở Ý với cha mình. Vào đầu năm 1333, Karl đi đến Lucca, (Toscana) để củng cố quyền lực của mình ở đó. Trong một nỗ lực để bảo vệ thành phố, Karl lập pháo đài gần đó và thị trấn Montecarlo (Núi Karl). Từ năm 1333, ông quản lý các vùng đất của vương quốc Bohemia do sự vắng mặt thường xuyên và suy giảm thị lực của cha ông. Trong năm 1334, Charles được phong làm bá tước Mähren, danh hiệu truyền thống cho những người thừa kế ngai vàng. Hai năm sau đó, ông đảm đương chính phủ của Tirol thay mặt cho anh trai của mình, Johann Heinrich, và sớm tích cực tham gia vào một cuộc đấu tranh cho quyền sở hữu của lãnh thổ này. === Vua La Mã Đức === ==== Vua La Mã Đức đối lập ==== Ngày 11 tháng 7 1346, kết quả của sự liên minh giữa cha ông và Giáo hoàng Clêmentê VI, kẻ thù không nao núng của Hoàng đế Ludwig IV, Karl đã được lựa chọn làm vua La Mã Đức đối lập với Ludwig bởi một số các tuyển hầu tước tại Rhens. Như ông trước đây đã hứa sẽ phục tùng Clêmentê, ông đã nhượng bộ rất nhiều cho Giáo hoàng trong năm 1347. Xác nhận giáo hoàng có quyền sở hữu những lãnh thổ rộng lớn, ông hứa sẽ bãi bỏ các hành vi của Ludwig chống lại Clêmentê, không xía vào các vấn đề ở Ý, và biện hộ và bảo vệ nhà thờ. Karl IV ban đầu ở một vị trí rất yếu ở Đức. Do các điều khoản của cuộc bầu cử của mình, ông đã bị gọi chế giễu bởi một số người như là một ông "vua bù nhìn của giáo hoàng" (Pfaffenkönig). Nhiều giám mục và gần như tất cả các thành phố đế quốc vẫn trung thành với Ludwig der Bayer. Tệ hơn nữa, Karl hậu thuẫn sai phía trong chiến tranh trăm năm, mất cha và nhiều hiệp sĩ tốt nhất của mình tại Trận Crécy trong tháng 8 năm 1346, với Karl tự mình trốn thoát khỏi trận chiến với thương tích. Tuy nhiên, nội chiến ở Đức đã không kéo dài, do Ludwig IV qua đời vào ngày 11 tháng 10 năm 1347, sau khi bị đột quỵ trong một cuộc săn gấu. Vào tháng 1 năm 1349, Nhà Wittelsbach đã cố gắng để lập Günther von Schwarzburg làm vua, nhưng ông ta thu hút ít người ủng hộ và qua đời không được chú ý chỉ sau một vài tháng. Sau đó, Karl không còn phải đối mặt với đe dọa trực tiếp đối với ngai vàng của mình. Karl từ đó rảnh tay làm việc để đảm bảo cơ sở quyền lực của mình. Bohemia hầu như không bị ảnh hưởng bởi bệnh dịch mà đang lan tràn vào thời đó. Prague trở thành thủ đô của ông ta, và ông đã xây dựng lại thành phố theo mô hình của Paris, thành lập khu đô thị mới (Nové Město). Năm 1348, ông thành lập trường Đại học Karl ở Praha, được đặt theo tên ông và là trường đại học đầu tiên ở Trung Âu. Đây từng là nơi đào tạo các quan chức và các luật sư. Chẳng bao lâu Praha nổi lên như một trung tâm trí tuệ và văn hóa của Trung Âu. ==== Vua La Mã Đức chính thức ==== Hưởng lợi từ những khó khăn của các đối thủ của ông, Charles được bầu một lần nữa ở Frankfurt vào ngày 17 tháng 6 năm 1349 và tái đăng quang tại Aachen vào ngày 25 Tháng Bảy 1349. Ông chẳng bao lâu thành người cai trị không bị tranh chấp của Đế quốc. Quà tặng hay những lời hứa đã giành được sự ủng hộ của các thị trấn Rhenish và Swabia; một liên minh hôn nhân bảo đảm tình hữu nghị với nhà Habsburg; và một liên minh với Rudolf II của Bayern, công tước Kurpfalz, đã đạt được khi Charles, góa vợ năm 1348, kết hôn với con gái của Rudolph, Anna của Bayern. === Chính sách đối phó với Ý và Pháp === 1354 Karl dẫn đầu một đoàn quân nhỏ sang Ý. Ông được phong làm vua Ý tại Milano vào ngày 6 tháng 1 1355 và làm hoàng đế đế quốc La Mã Thần thánh tại Roma ngày 5 tháng 4 năm 1355 bởi một hồng y được Giáo hoàng Innôcentê VI ủy nhiệm. Các giáo hoàng kể từ Giáo hoàng Clêmentê V, đều cư trú tại Avignon, nên không thể đứng ra làm lễ được. Ngay sau đó ông rời Ý, không can thiệp vào nền chính trị địa phương. Ngoài những lợi tức thu được từ rất nhiều cộng đồng, chuyến đi đăng quang hoàng đế của ông cũng không gây ra đổ máu. Một chính sách chính trị như đã thỏa hiệp với giáo hoàng. Chiến dịch Ý lần thứ nhì của Karl 1368–69 cũng không khác gì lần trước. Ông nhận tiền từ các cộng đồng, ban bố quyền lợi, ngoài ra không xía vào các vấn đề ở Ý. Chính sách đối phó ở Ý của ông được so sánh như là hành động của một nhà buôn. Như vậy Karl đã từ bỏ chính sách chính trị toàn diện của ông nội mình Heinrich VII để theo đuổi một chính sách địa phương dựa vào quyền lực do lãnh thổ được mở rộng. Ở phương Tây, Karl không làm gì cả để đối phó với chính sách mở rộng lãnh thổ của Vương quốc Pháp, một triều đình mà ông có quan hệ tốt đẹp. Ngược lại, mặc dù đăng quang ở Arles vào năm 1365 ông từ bỏ chủ quyền của đế quốc ở Avignon và trong năm 1378 bỏ luôn chức đại diện đế chế ở vương quốc Burgund (Arelat), để có thể hoạt động tốt chính sách đế quốc của mình, không sợ sự can thiệp từ bên ngoài. Do vậy chính sách này đã mở đường cho sự bành trướng của Pháp, mặc dù ông 1361 đã tách rời Geneva và Savoy ra khỏi vương quốc Burgund và nhập chúng vào đế quốc. === Sắc chỉ vàng và chính trị ở Đức === 1354 ông chú của Karl, Balduin của Luxembourg, mất, một trụ cột quan trọng nhất của hoàng đế ở phương Tây. Có lẽ bước quan trọng nhất trong chính phủ của Karl là việc thông qua sắc chỉ vàng sau cuộc đàm phán khó khăn năm 1356. Sắc chỉ vàng quy định trong số những vấn đề khác thủ tục bầu cử vua La Mã Đức và ấn định số lượng và tên của các tuyển hầu tước. Vì vậy, nó đã trở thành "Luật cơ bản" của đế chế cho đến khi nó tan rã vào năm 1806. Điều đáng chú ý về Goldene Bulle, là việc xác nhận của giáo hoàng, để đạt được tước hiệu hoàng đế không được đề cập tới. Bên cạnh đó, quyền đại diện của Giáo hoàng ở Ý đã bị bãi bỏ. Qua lịch sử, các tuyển hầu tước và cả chính quyền hoàng đế đã sử dụng sắc luật này tạo lợi thế cho mình. Con trai cả của Karl Wenzel, người từ năm 1363 là vua của Bohemia, được bầu làm vua La Mã Đức vào ngày 10 tháng 6 năm 1376, trong khi Karl vẫn còn sống. Goldene Bulle không dự tính điều này, nhưng cũng không cấm nó, nhờ vậy mà Karl đã có thể tạo điều kiện cho con trai ông được bầu, mặc dù ông đã phải mua phiếu của các tuyển hầu tước với một món tiền lớn. Tuy nhiên đó một phương cách phổ biến của ông để mang lại lợi ích cho mình. Cho đến khi Thánh chế La Mã Đức tan rã vào năm 1806 việc nối ngôi của Triều đại Luxemburg và họ hàng của họ, nhà Habsburg, qua việc bầu cử ngôi vua chỉ bị gián đoạn bởi nhà Wittelsbach, Ruprecht von der Pfalz (1400–1410) và Karl VII von Bayern (1742–1745). Ở phía Bắc, Karl chú ý tới vùng Liên minh Hanse và viếng thăm thành phố Lübeck năm 1375 như là vua La Mã Đức đầu tiên kể từ Friedrich I. Tại Tangermünde (Altmark) Karl cho xây dựng tại lâu đài cổ một Königspfalz. Thành phố này nên được phát triển thành thủ phủ của các tỉnh miền Trung, nhưng bị ngăn cản bởi cái chết của ông. Sau khi Karl mất, vùng Mark Brandenburg đã có một thời kỳ náo động, cho tới khi nhà Hohenzollern lên nắm chức vụ tuyển hầu tước và ban đầu cư trú tại Tangermünde. Một vai trò quan trọng trong chính trị của Karl là thành phố đế quốc tự do Nürnberg, với dự định của ông tạo tại vùng này một Bohemia mới. Những nơi cư trú của Karl ở đó là Lâu đài Nürnberg cũng như lâu đài Wenzel được xây dựng cho ông từ 1356 bên dòng sông Pegnitz. Ở phía Đông, Karl theo đuổi chính sách mở rộng lãnh thổ ở Ba Lan và Hungary. Karl chết trong năm 1378, năm cũng xảy ra cuộc Ly giáo Tây phương kéo dài đến 1417. Hoàng đế, một người sùng đạo và luôn luôn cố gắng để cai trị hài hòa với Giáo hoàng, không thể làm gì nữa để ngăn chặn sự phân ly này, nhưng quyết định đứng về phía Giáo hoàng La Mã. === Vua của Bohemia === Sau khi Karl trong năm 1344 cho nâng cấp giáo phận Praha thành tổng giáo phận, ông chỉ đạo việc xây dựng nhà thờ Gothic Thánh Vitus (Katedrála sv. Víta). Đối với việc lưu trữ an toàn biểu hiệu của hoàng gia và triều đình, ông cho xây dựng lâu đài Karlštejn. Các hoạt động xây dựng rộng rãi tại nơi cư trú của ông đã biến Praha thành "thành phố vàng". Cụ thể là cầu Karl qua sông Vltava. 1348 Karl cho thành lập đại học đầu tiên Trung Âu, Đại học Karl (Univerzita Karlova), theo khuôn mẫu của Đại học Napoli được xây dựng bởi Hoàng đế Friedrich II. Praha đã được ông mở rộng thành một trong những trung tâm văn hóa và tinh thần quan trọng nhất vào thời đó và trên thực tế là thủ đô và thành phố cư ngụ của Thánh chế La Mã; ngoài ra những thành phố đáng kể khác là Frankfurt, Nürnberg và từ 1355 Sulzbach (ngày nay Sulzbach-Rosenberg) là trung tâm triều đình tậu được ở Oberpfalz ngày nay. văn phòng của nhà vua được điều hành bởi Johannes von Neumarkt là mẫu mực cho sự hình thành của ngôn ngữ Đức chuẩn mới. Tuy nhiên, Karl đã thất bại với sắc luật Maiestas Carolina trong năm 1355 do sự phản đối của giới quý tộc địa phương. Trong Triều đại của ông, Silesia trở thành một phần của vương quốc Bohemia qua Hiệp ước Namslau 1348, mà cha ông đã tạo điều kiện với Hiệp ước Trenčín. Đổi lại, vua Ba Lan Casimir III được Mazovia như một thái ấp cá nhân. Hôn nhân của Karl với Elisabeth 1363, một cháu gái của Casimir, tạm chấm dứt cuộc xung đột Bohemia-Ba Lan cũ. ==== Chính sách mở rộng lãnh thổ và quyền lực ==== Karl chắc chắn là người thành công nhất với chính sách mở rộng lãnh thổ và quyền lực thời Hậu Trung cổ. Bohemia lấy được Silesia (hoàn tất 1368) và Niederlausitz (mua năm 1367). 1373 qua hiệp ước Fürstenwalde Kảl được toàn quyền ở Mark Brandenburg, do đó tậu thêm được một lá phiếu cho nhà mình. Cuộc hôn nhân của con trai ông Sigismund với người thừa kế vua Ludwig I của Hungary (hứa hôn 1372) bảo đảm nhà Luxemburger cũng được vương quốc này. Mong muốn lấy được Ba Lan đã không thành công. Để tăng cường quyền lực của mình, Karl dám cầm cố tài sản hoàng gia hoặc thậm chí từ bỏ quyền của đế quốc, như lãnh thổ Burgund ở phương Tây (xem ở trên). Chính sách cầm cố của Karl một phần là do thiếu tiền kinh niên (một mình ông phải kiếm một số tiền rất lớn để đảm bảo cuộc bầu cử của mình thành vua La Mã Đức), một phần do chính sách Triều đại của ông. Vì vậy mỗi vị vua kế tiếp phụ thuộc vào cơ sở quyền lực của mình. Nhà Luxemburg đã trở thành gần như không thể công kích được. Nhưng điều này làm cho con trai của ông, Sigismund, mang một gánh nặng vì ông ta ngoài phạm vi ảnh hưởng của Luxemburg không sở hữu bất kỳ cơ sở quyền lực nào khác đáng kể và không có tài sản đế quốc lớn. Karl cũng quyết định là các con trai và người thân sau cái chết của ông phải sống nhờ vào cơ sở quyền lực phức tạp, do đó vị trí quyền lực mà Karl đã tạo được, cuối cùng lại bị mất đi. == Chú giải == == Tham khảo ==
wolfram.txt
Wolfram (IPA: /ˈwʊlfrəm/), còn gọi là Tungsten hoặc Vonfram, là một nguyên tố hóa học có ký hiệu là W (tiếng Đức: Wolfram) và số nguyên tử 74. Là một kim loại chuyển tiếp có màu từ xám thép đến trắng, rất cứng và nặng, volfram được tìm thấy ở nhiều quặng bao gồm wolframit và scheelit và đáng chú ý vì những đặc điểm lý tính mạnh mẽ, đặc biệt nó là kim loại không phải là hợp kim có điểm nóng chảy cao nhất và là nguyên tố có điểm nóng chảy cao thứ 2 sau cacbon. Dạng volfram tinh khiết được sử dụng chủ yếu trong ngành điện nhưng nhiều hợp chất và hợp kim của nó được ứng dụng nhiều (đáng kể nhất là làm dây tóc bóng đèn điện dây đốt), trong các ống X quang (dây tóc và tấm bia bắn phá của điện tử) và trong các siêu hợp kim. Volfram là kim loại duy nhất trong loạt chuyển tiếp thứ 3 có mặt trong các phân tử sinh học. == Lịch sử == Năm 1781, Carl Wilhelm Scheele phát hiện một axit mới là axit wolframic, có thể được chiết từ scheelite (lúc đó có tên là tungstenit). Scheele và Torbern Bergman cho rằng nó có thể tạo ra một kim loại mới bằng cách ôxy hóa axít này. Năm 1783, José và Fausto Elhuyar tìm thấy một axit được chế từ wolframit, được xác định là axit wolframic. Sau năm đó, ở Tây Ban Nha, họ đã thành công khi cô lập wolfram bằng cách ôxy hóa axít này với than củi, và họ được ghi công đã phát hiện ra nguyên tố này. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, wolfram đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch chính trị (background). Bồ Đào Nha, khi đó là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên tố này ở châu Âu, phải chịu áp lực từ cả hai phía do họ sở hữu các mỏ quặng wolframit. Wolfram chịu được các điều kiện nhiệt độ cao và độ bền của nó trong các hợp kim làm cho nó trở thành một nguyên liệu thô quan trọng trong công nghiệp vũ khí. === Từ nguyên === Trong thế kỷ 16, nhà khoáng vật học Georgius Agricola đã miêu tả Freiberger, khoáng vật có mặt trong quặng thiếc ở Saxon, gây khó khăn trong việc tuyển nổi thiếc khỏi quặng thiếc. Một phần của tên gọi "Wolf" có nguồn gốc từ đây. Ông gọi khoáng vật này là lupi spuma năm 1546, nghĩa Latin là "nước bọt sói". RAM trong tiếng Đức cổ (tương ứng khoảng năm 1050 đến 1350) nghĩa là "muội than, dơ", khi ở dạng khoáng vật màu đen xám có thể dễ nghiền và thường được gọi là cacbon đen. Tên gọi "wolfram" được dùng đa số ở châu Âu (đặc biệt là tiếng Đức và Slav), có nguồn gốc từ khoáng vật wolframit, và tên gọi này cũng được dùng làm ký hiệu nguyên tố hóa học này W. Tên gọi "wolframit" xuất phát từ tiếng Đức "wolf rahm" ("mồ hóng của chó sói" hay "kem của chó sói"), tên gọi này được Johan Gottschalk Wallerius đổi thành tungsten năm 1747. Tên gọi này, tới lượt mình, có nguồn gốc từ "Lupi spuma", một tên gọi được Georg Agricola sử dụng từ năm 1546 để chỉ nguyên tố này, có nghĩa là "váng bọt của chó sói" hay "kem của chó sói" (từ nguyên không chắc chắn hoàn toàn), và nó ám chỉ tới một lượng lớn thiếc được sử dụng để tách kim loại này ra khỏi khoáng vật chứa nó. Từ "tungsten" được sử dụng trong tiếng Anh, Pháp và một số ngôn ngữ khác để chỉ tên của nguyên tố. Tungsten là tên Thụy Điển cũ được dùng để chỉ khoáng vật scheelit. IUPAC đặt tên nguyên tố 74 là tungsten với ký hiệu W. Tên thay thế wolfram bị loại bỏ trong phiên bản mới nhất của sách Đỏ (Nomenclature of Inorganic Chemistry. IUPAC Recommendations 2005) mặc dù việc loại bỏ này đã được thảo luận chủ yếu bởi các thành viên IUPAC Tây Ban Nha. Tên Wolfram đã được IUPAC chính thức thay thế bằng tungsten tại hội nghị lần thứ 15 của tổ chức này tại Amsterdam năm 1949. == Tính chất == === Tính chất vật lý === Ở dạng thô, volfram là kim loại có màu xám thép, thường giòn và cứng khi gia công, nhưng nếu tinh khiết nó rất dễ gia công. Nó được gia công bằng các phương pháp rèn, kéo, ép tạo hình. Trong tất cả kim loại nguyên chất, volfram có điểm nóng chảy cao nhất (3.422 °C, 6.192 °F), áp suất hơi thấp nhất, (ở nhiệt độ trên 1.650 °C, 3.000 °F) độ bền kéo lớn nhất. và hệ số giãn nở nhiệt thấp nhất. Độ giãn nở nhiệt thấp, điểm nóng chảy và độ bền cao của volfram là do các liên kết cộng hóa trị mạnh hình thành giữa các nguyên tử volfram bởi các electron lớp 5d. Hợp kim pha một lượng nhỏ volfram của thép làm tăng mạnh tính dẻo của nó. Volfram tồn tại ở hai dạng tinh thể chính: α và β. Dạng α có cấu trúc tinh thể lập phương tâm khối và là một dạng bền. cấu trúc của tinh thể dạng β được gọi là lập phương A15; là một dạng kích thích, nhưng có thể đồng tồn tại với pha α ở các điều kiện phòng do sự tổng hợp không cân bằng hoặc sự ổn định hóa bởi các tạp chất. Trái ngược với dạng α có các tinh thể là các hạt có kích thước bằng nhau theo mọi hướng còn dạng β có tập hợp dạng trụ. Dạng α có điện trở thấp hơn dạng β 3 lần và thấp hơn nhiều nếu nó ở nhiệt độ chuyển tiếp siêu dẫn TC so với dạng β: khoảng 0,015 K vs. 1–4 K; hỗn hợp của 2 dạng này cho phép tạo ra các giá trị TC trung gian. Giá trị TC cũng có thể được gia tăng bằng cách tạo hợp kim volfram với các kim loại khác (như 7,9 K đối với W-Tc). Các hợp kim wokfram này đôi khi được sử dụng trong các mạch siêu dẫn nhiệt độ thấp. === Đồng vị === Wolfram tự nhiên gồm 5 đồng vị với chu kỳ bán rã đủ lâu nên chúng được xem là các đồng vị bền. Về mặt lý thuyết, tất cả 5 đồng vị có thể phân rã thành các đồng vị của nguyên tố 72 (hafni) bằng phân rã anpha, nhưng chỉ có 180W là được quan sát là có chu kỳ bán rã (1,8 ± 0,2)×1018 yr; trung bình, nó có hai phân rã anpha của 180W trong một gram wolfram tự nhiên/năm. Các đồng vị tự nhiên khác chưa được quan sát phân rã, nhưng chu kỳ bán rã của các đồng vị được hạn chế ở mức như sau 182W, T1/2 > 8.3×1018 năm 183W, T1/2 > 29×1018 năm 184W, T1/2 > 13×1018 năm 186W, T1/2 > 27×1018 năm 30 đồng vị phóng xạ nhân tạo khác của wolfram đã được miêu tả, đồng vị bền nhất là 181W có chu kỳ bán rã 121,2 ngày, 185W là 75,1 ngày, 188W là 69,4 ngày, 178W là 21,6 ngày, và 187W là 23,72 giờ. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 3 giờ, và đá số trong đó có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 8 phút. Wolfram có 4 meta state, ổn định nhất là 179mW (T½ 6,4 phút). === Tính chất hóa học === Wolfram nguyên tố có khả năng chống ôxy hóa, axit, và kiềm. Trạng thái ôxy hóa phổ biến nhất của wolfram là +6, nhưng có thể thay đổi từ −2 đến +6. Wolfram đặc biệt kết hợp với ôxy tạo thành wolfram triôxit, WO3 màu vàng, hòa tan trong dung dịch kiềm tạo thành ion wolfram WO2−4. Wolfram cacbic (W2C và WC) được sản xuất bằng cách nung bột wolfram với cacbon và là những cacbic cứng nhất, WC có điểm nóng chảy 2.770 °C và 2.780 °C đối với W2C. WC là chất dẫn điện hiệu quả, nhưng W2C thì ít hơn. Wolfram cacbic có ứng xử tương tự wolfam không ở dạng hợp kim và có khả năng chống lại ăn mòn hóa học, mặc dù nó phản ứng mạnh với clo tạo thành wolfram hexaclorua (WCl6). Dung dịch wolfram trong nước được ghi nhận là để tạo thành axit heteropoly và các anion polyoxometalat trong các môi trường trung hòa và axit. Khi wolfamat được xử lý từ từ bằng axit, đầu tiên nó hòa tan, anion "parawolfarmat A" metastable, W7O6–24, dần dần nó chuyển sang dạng anion ít hòa tan hơn "parawolframat B", H2W12O10–42. Quá trình axit hóa sau đó tạo ra các anion netawolframat hòa tan rất cao, H2W12O6–40, sau đó đạt đến trạng thái cân bằng. Ion metawolframat tồn tại ở dạng cụm hình học của hình bát diện 12 wolfram-oxy được gọi là anion Keggin. Các anion polyoxometalat khác tồn tại ở các nhóm metastable. Khi trong cấu trúc bao gồm một nguyên tử khác như phốt pho ở vị trí của hai hydro trung tâm của metawolframat tạo ra sự đa dạng của các axit heteropoly, như axit phosphowolframic H3PW12O40. == Vai trò sinh học == Wolfram số nguyên tử 74, là nguyên tố nặng nhất có mặt trong các cơ thể sống, nguyên tố nặng thứ 2 là iốt (Z = 53). Wolfram chưa được tìm thấy là chất cần thiết hoặc được sử dụng trong các sinh vật nhân điển hình, nhưng nó là chất dinh dưỡng thiết yếu đối với một số vi khuẩn. Ví dụ, các enzym oxidoreductase dùng wolfram tương tự như molypden bằng cách sử dụng nó trong phức chất wolfram-pterin với molybdopterin. Molybdopterin, mặc cho tên gọi của nó, không chứa molypden, nhưng có thể tạo phức chất với hoặc là molypden hoặc là wolfram để được sử dụng bởi các sinh vật. Các enzym mang wolfram thường khử các axít cacboxylic thành các aldehyt — một quá trình tổng hợp khó trong hóa và hóa sinh. Tuy nhiên, các oxidoreductase wolfram cũng có thể xúc tác quá trình ôxi hóa. Enzym cần wolfram đầu tiên được phát hiện cũng cần selen, và trong trường hợp này cặp đôi wolfram-selen có thể có chứa năng tương tự cặp đôi molypden-lưu huỳnh của các enzym cần phụ nhân tử molybden. Một trong những enzym trong họ oxidoreductase, thỉnh thoảng sử dụng dùng wolfram (các enzym formate dehydrogenase H của vi khuẩn) cũng được biết là sử dụng cặp selen-molypden của molybdopterin. Mặc dù xanthin dehydrogenase chứa wolfram từ vi khuẩn đã được tìm thấy là chứa molydopterin-wolfram và cũng như selen liên kết phi protein, nhưng phức chất molybdopterin wolfram-selen chưa được miêu tả rõ ràng. === Các hiệu ứng khác về sinh hóa === Trong đất, kim loại wolfram bị ôxi hóa thành anion wolframat. Nó có thể được nhập vào có chọn lọc hay không chọn lọc bởi một số sinh vật nhân sơ và có thể thay thế cho molybdat trong một số enzym nhất định. Tác động của nó tới phản ứng của các enzym này trong một trường hợp là kiềm chế còn trong một số trường hợp khác lại là tích cực.. Người ta cho rằng các enzym chứa tungstat trong sinh vật nhân chuẩn có thể là trơ. Tính chất hóa học của đất có thể xác định cách mà wolfram được polyme hóa như thế nào; các đất kiềm tạo ra các wolframat đơn phân (monome); các đất axit tạo ra các wolframat polyme. Natri wolframat và chì đã được nghiên cứu về ảnh hưởng của nó đến các loài giun đất. Chì được tìm thấy là gây tử vong chúng ở các liều lượng thấp còn natri wolframat thì ít độc hơn, nhưng wolframat ức chế hoàn toàn khả năng sinh sản của chúng. Wolfram đã được nghiên cứu là chất kìm hãm trao đổi chất đồng sinh học, với chức năng tương tự hoạt động của molypden. Người ta phát hiện rằng tetrathiowolframat có thể được dùng làm hóa chất tạo phức chất đồng sinh học, tương tự như tetrathiomolybdat. == Sản lượng == Wolfram được tìm thấy trong các khoáng vật wolframit (wolframat sắt-mangan FeWO4/MnWO4), scheelit (canxi wolframat, (CaWO4), ferberit (FeWO4) và hübnerit (MnWO4). Chúng được khai thác và dùng để sản xuất khoảng 37.400 tấn wolfram/năm trong năm 2000. Trung Quốc sản xuất hơn 75% tổng sản lượng thế giới, các nước còn lại gồm Úc, Bolivia, Bồ Đào Nha, Nga, và Colombia. Wolfram được tách từ các quặng của nó qua nhiều công đoạn. Quặng được chuyển đổi từ từ thành wolfram(VI) ôxit (WO3), sau đó được nung với hydro hoặc cacbon tạo ra wolfram bột. Nó có thể được dùng ở dạng bột hoặc ép thành các thỏi rắn. Wolfram cũng có thể được tách ra bằng cách khử hydro của WF6: WF6 + 3 H2 → W + 6 HF hoặc nhiệt phân: WF6 → W + 3 F2 (ΔHr = +) Wolfram không được mua bán theo kiểu hợp đồng tương lai và không được niêm yết trên các thị trường giao dịch như London Metal Exchange. Giá của wolfram (WO3) vào khoảng 18.975 USD/tấn vào tháng 8 năm 2010. == Ứng dụng == Do có chịu được nhiệt độ cao và có điểm nóng chảy cao nên wolfram được dùng trong các ứng dụng nhiệt độ cao, như dây tóc bóng đèn, ống đèn tia âm cực, và sợi ống chân không, thiết bị sưởi, và các vòi phun động cơ tên lửa. Do tính dẫn điện và tính trơ hóa hóa học tương đối của nó, wolfram cũng được dùng trong làm điện cực, và nguồn phát xạ trong các thiết bị chùm tia điện tử dùng súng phát xạ trường, như kính hiển vi điện tử. Trong điện tử, wolfram được dùng làm vật liệu kết nối trong các vi mạch, giữa vật liệu điện môi silic đôxít và transistor. Nó được dùng làm các màng kim (hoặc molypden) loại phủ trên miếng silicon thay thế dây dẫn được dùng trong điện tử thông thường. == Chỉ định == Do Volfram hiếm gặp trong tự nhiên và các hợp chất của nó nhìn chung là trơ nên những ảnh hưởng của nó tới môi trường là hạn chế. Một liều gây chết trung bình LD50 tùy thuộc phần lớn vào động vật và phương pháp điều khiển và nó thay đổi từ 59 mg/kg (tĩnh mạch, thỏ rừng) đến 5000 mg/kg (bột kim loại volfram, trong phúc mạc, chuột cống). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == WebElements.com – Tungsten Properties, Photos, History, MSDS Picture in the collection from Heinrich Pniok Elementymology & Elements Multidict by Peter van der Krogt – Tungsten Detection of the Natural Alpha Decay of Tungsten International Tungsten Industry Association http://www.tungsten.com/
codeplex.txt
CodePlex là một trang Web của Microsoft, được chuyên dùng lưu trữ các dự án mã nguồn mở. Tất cả các dự án tại CodePlex đều có một không gian Wiki, một phần mềm kiểm soát mã nguồn dựa trên Team Foundation Server, một diễn đàn, một phần mềm theo dõi lỗi v.v... Một số tác phẩm của các dự án tại CodePlex được phát hành với giấy phép mã nguồn mở trong khi đó một số tác phẩm khác được phát hành với các giấy phép hạn chế hơn. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính CodePlex
vương quốc đan mạch.txt
Vương quốc Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Kongeriget Danmark, là một nước quân chủ lập hiến và là một cộng đồng gồm bản thân Đan Mạch ở Bắc Âu và hai quốc gia tự trị cấu thành là Faroe ở Bắc Đại Tây Dương và Greenland ở Bắc Mỹ. Đan Mạch có vai trò chủ yếu trong hành pháp, lập pháp và tư pháp . Quan hệ giữa các quốc gia thành viên được nói đến trong Rigsfællesskabet. Theo đạo luật nội địa của Faroe, quần đảo Faroe tạo thành một cộng đồng dân tộc trong lòng vương quốc. Đạo luật tự trị của Greenland không ghi tương tự nhưng mô tả quốc gia Greenland như là một quốc gia được định nghĩa bởi luật pháp quốc tế với quyền tự quyết. Trong ba nước, chỉ có Đan Mạch là thành viên của Liên minh châu Âu. == Chính quyền và chính trị == Folketing là cơ quan lập pháp quốc gia. Nghị viện bao gồm 175 thành viên được bầu với phần đông đến từ Đan Mạch tương ứng với tỷ lệ dân số áp đảo, cộng thêm 4 thành viên chia đều cho Greenland và Faroe. Các cuộc bầu cử nghị viện được tổ chức ít nhất 4 năm một lần. == Địa lý == Về mặt thực vật học, Đan Mạch cũng như Greenland và Quần đảo Faroe thuộc kiểu phương Bắc, gồm Bắc Cực, Đại Tây Dương kiểu châu Âu, vùng Trung Âu. Theo WWF, lãnh thổ Đan Mạch có thể phân làm hai vùng: Đại Tây Dương pha trộn với rừng và Baltic pha trộn với rừng. Quần đảo Faroe bao trùm bởi các đồng cỏ phương Bắc, trong khi Greenland có lãnh nguyên hạ Bắc Cực Kalaallit Nunaat và lãnh nguyên thượng Bắc Cực Kalaallit Nunaat nơi các tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu. Vương quốc Đan Mạch là nước duy nhất trên thế giới có phần lớn lãnh thổ ở phía trên vòng cực == Lịch sử == Vào thế kỷ 8-11, người Na Uy đã phát hiện và định cư ở Hebrides, Shetlands, Orkney, Quần đảo Faroe, Iceland, Greenland và đã cố gắng thiết lập các khu định cư ở Vínland, được cho là L'Anse aux Meadows ở Newfounland, Canada ngày nay. Họ cũng đã chinh phục và định cư nhiều nơi ở Anh (Danelaw), Ireland, và Normandy và cũng đã tới Kievian Rus' ở phía đông, nơi mà sau này là nước Nga Sa Hoàng. Người Na Uy đã buôn bán hàng hóa theo các tuyến đường từ Greenland ở phía bắc đến Constantinopolis ở phía nam qua các con sông của nước Nga. Đan Mạch-Na Uy đã hợp nhất thành một nhà nước vào năm 1536. Liên hiệp Đan Mạch- Na Uy tan rã theo Hiệp ước Kiel năm 1814, Đan Mạch theo đó được giữ các lãnh thổ phụ thuộc của Na Uy là Iceland, Quần đảo Faroe và Greenland. Đan Mạch cũng đã cai trị Ấn Độ thuộc Đan Mạch (Tranquebar nay là Tharangambadi, Tamil Nadu, Ấn Độ) từ năm 1620 đến năm 1869, Bờ biển Vàng thuộc Đan Mạch (nay là Ghana) từ năm 1658 đến năm 1850, Tây Ấn thuộc Đan Mạch (nay là Quần đảo Virgin thuộc Mỹ ở vùng Caribbean) từ năm 1671 đến năm 1917. Iceland đã giành được quyền tự quản năm 1874, và trở thành một nhà nước với đấy đủ chủ quyền năm 1918, liên minh với Đan Mạch trong cùng một vương quốc.Người Iceland hủy bỏ chế độ quân chủ năm 1944, và năm 1948, người dân Faroe cũng giành được quyền tự trị. Vương quốc gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (nay là Liên minh châu Âu mà không gồm Faroe năm 1973, còn Greenland rút lui năm 1985, cả hai trường hợp đều vì các chính sách về ngư trường. Greenland giành quyền tự trị năm 1979 và đề nghị được tự trị hơn nữa năm 2009 theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý năm 2008. Người dân Greenland sẽ nghĩ đến vấn đề độc lập nếu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên được phát hiện hơn nữa và tạo ra một nền kinh tế có nhiều triển vọng. == Các quốc gia cấu thành Vương quốc Đan Mạch == == Chú thích ==