filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
david cameron.txt | David William Donald Cameron (sinh ngày 9 tháng 10 năm 1966) là nguyên thủ tướng của Vương quốc Anh và là lãnh đạo của Đảng Bảo thủ từ năm 2010 đến năm 2016.
David Cameron học liên ngành triết học, chính trị học và kinh tế học ở Đại học Oxford và được trao bằng sinh viên ưu tú hạng nhất. Sau đó ông tham gia Ban nghiên cứu Đảng Bảo thủ và trở thành cố vấn đặc biệt cho Norman Lamont, và sau đó là cho Michael Howard. Ông là Giám đốc Vụ doanh nghiệp của Carlton Communications trong bảy năm.
Sau đợt ứng cử Nghị viên lần đầu tại Stafford năm 1997 kết thúc trong thất bại nhưng David Cameron được bầu vào năm 2001 làm đân biểu Nghị viện Anh đại diện cho đơn vị bầu cử Witney của Oxfordshire. David Cameron được thăng chức frontbencher của Official opposition hai năm sau đó, và nhanh chóng thăng chức để trở thành người đứng đầu cục điều phối chính sách trong chiến dịch tổng tuyển cử năm 2005.
David Cameron đã được mọi người xem là một ứng cử già cả, ôn hòa, thu hút cử tri trẻ tuổi, và năm 2005 David Cameron đã đắc cử trong cuộc bầu cử lãnh đạo bảo thủ. Trong thời gian đầu ở cương vị lãnh đạo Đảng Bảo thủ đã chứng kiến việc đảng này thiết lập một vị trí dẫn đầu trong cuộc thăm do dư luận về Công Đảng của Tony Blair; lần đầu tiên trong hơn mười năm. Mặc dù vị trí sau đảng này ngay sau đó khi Gordon Brown trở thành Thủ tướng, dưới sự lãnh đạo Cameron, Đảng Bảo thủ đã được giành được ủng hộ dư luận trước Lao động trong các cuộc thăm dò. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010 tổ chức vào ngày 06 tháng 5, Đảng Bảo thủ giành được số ghế nhiều nhất, nhưng bị thiếu phiếu để giành được đa số phiếu cần thiết có thể lập chính phủ theo quy định của Hiến pháp. Sau Gordon Brown từ chức, David Cameron được bổ nhiệm làm Thủ tướng với mục đích hình thành một liên minh với Đảng Tự do Dân chủ.
Sau khi Vương quốc Anh và Bắc Ireland bỏ phiếu rời khởi Liên minh châu Âu trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 6 năm 2016, Cameron tuyên bố từ chức Thủ tướng và người kế nhiệm ông là Theresa May.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức |
đội tuyển bóng đá quốc gia anh.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh, còn có biệt danh là "tuyển Tam sư" (tiếng Anh: The Three Lions), là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Anh và đại diện cho Anh trên bình diện quốc tế.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Anh là trận gặp đội tuyển Scotland vào năm 1872. Đây cũng là trận đấu quốc tế đầu tiên của môn bóng đá được tổ chức.
Đội tuyển Anh là một trong tám đội bóng từng giành chức vô địch World Cup với danh hiệu năm 1966 khi giải được tổ chức trên sân nhà. Đến nay, đây vẫn là thành tích lớn nhất của đội.
Do là một trong bốn đội tuyển bóng đá quốc gia thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, đội tuyển Anh chưa bao giờ tham dự Olympic. Đến tận Thế vận hội Mùa hè 2012 diễn ra tại Luân Đôn thì lần đầu tiên mới có một đội tuyển đại diện cho Vương quốc Anh.
== Lịch sử ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh là đội bóng lâu đời trên thế giới, được thành lập cùng một lúc với đội tuyển bóng đá Scotland. Trận đấu giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Scotland đã diễn ra vào ngày 5 tháng 3 năm 1870 được tổ chức bởi Hiệp hội bóng đá Anh (FA). Một trận đấu giao hữu được tổ chức lại bởi Đội tuyển bóng đá Scotland vào ngày 30 tháng 11 năm 1872. Trận đấu này, diễn ra tại Crescent Hamilton ở Scotland, được xem như là trận đấu bóng đá quốc tế chính thức đầu tiên.
Đội tuyển bóng đá Anh gia nhập Liên đoàn bóng đá thế giới vào năm 1906 và thi đấu giao hữu với các đội bóng khắp châu Âu ngoài Vương quốc Anh vào năm 1908. Sân vận động Wembley được khai trương vào năm 1923 và trở thành sân nhà của đội. Mối quan hệ giữa FA và FIFA trở nên căng thẳng và đội bóng rời khỏi FIFA vào năm 1928, trước khi gia nhập lại vào năm 1946. Kết quả là, Anh không tham dự World Cup cho đến năm 1950.
World Cup năm 1966 được tổ chức tại Anh, Alf Ramsey dẫn dắt tuyển Anh giành chiến thắng với tỷ số 4-2, chiến thắng trước Tây Đức sau thời gian ở hiệp phụ trong trận chung kết, trong đó Geoff Hurst ghi một hat-trick. Đội tuyển Anh đủ điều kiện tham dự World Cup năm 1970 được tổ chức tại México với tư cách là nhà đương kim vô địch. Đội vào đến vòng tứ kết nhưng đã bị loại bởi Tây Đức. Anh tuy dẫn trước 2-0 nhưng cuối cùng đã bị đánh bại 3-2 sau hiệp phụ.
Tại World Cup 2010, Anh vượt qua vòng bảng nhưng để thua với tỷ số 4-1 trước Đức, thất bại nặng nề nhất của đội bóng trong một kỳ World Cup.
Vào tháng 2 năm 2012, Fabio Capello từ chức huấn luyện viên trưởng sau bất đồng với FA trong vụ việc loại bỏ đội trưởng John Terry sau cáo buộc phân biệt chủng tộc nhắm lên cầu thủ này. Vào ngày 1 tháng 5 năm 2012, Roy Hodgson được công bố làm huấn luyện viên mới, chỉ 6 tuần trước khi Euro 2012 khởi tranh. Đội tuyển Anh vượt qua vòng bảng nhưng để thua trong loạt sút luân lưu trước Ý.
Tại World Cup 2014, Anh thất bại hai trận liên tiếp trước Ý và Uruguay cùng với tỷ số 2-1. Đây là lần đầu tiên Anh thất bại hai trận đầu tiên kể từ World Cup 1950 (khi đó Anh thất bại khi đối đầu với Mỹ và Tây Ban Nha). và lần đầu tiên Anh bị loại ở vòng bảng kể từ World Cup 1958.
Tại Euro 2016, Anh cùng bảng với Nga, Wales và Slovakia, kết thúc vòng bảng, Anh đứng vị trí thứ hai với 5 điểm, kém xứ Wales 1 điểm, lọt vào vòng 16 đội nhưng thất bại chung cuộc trước Iceland. Sau Euro 2016, huấn luyện viên Roy Hodgson quyết định từ chức.
== Lịch sử áo thi đấu ==
Màu áo truyền thống của Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh là áo sơ mi trắng, quần ngắn màu xanh, tất màu trắng hoặc màu đen. Nhà tài trợ áo đấu đầu tiên là Umbro vào năm 1954. Các trường hợp ngoại lệ là giai đoạn 1959-1965 được tài trợ áo đấu bởi Bukta và giai đoạn 1974-1984 được tài trợ áo đấu bởi Admiral. Từ năm 2013 đến nay, trang phục được tài trợ bởi hãng Nike.
== Danh hiệu ==
Vô địch thế giới: 1
Vô địch: 1966
Hạng tư: 1990
Vô địch châu Âu: 0
Hạng ba: 1968
Bán kết: 1996
====== Sân vận động ======
Trong 50 năm đầu tiên tồn tại đội tuyển chơi các trận sân nhà của họ trên khắp nước Anh. Ban đầu đội sử dụng các sân cricket rồi mới sử dụng các sân của các câu lạc bộ bóng đá. Sân vận động Empire hay sau này là Sân vận động Wembley được xây tại Wembley, Luân Đôn để phục vụ cho Triển lãm Đế quốc Anh.
Anh thi đấu trận đấu đầu tiên tại sân vận động này vào năm 1924 với đội tuyển Scotland và trong khoảng 27 năm tiếp theo, sân Wembley được sử dụng chỉ để thi đấu giao hữu với Scotland. Sân vận động Wembley trở thành sân nhà của anh trong những năm 1950. Sân đóng cửa vào năm 2000 và bắt đầu xây dựng lại. Trong thời gian sau đó, đặc biệt là vòng loại World Cup 2006, đội tuyển Anh thi đấu tại các sân trung lập tại các địa điểm khác nhau trên khắp đất nước. Phần lớn các trận thi đấu diễn ra trên sân vận động Old Trafford của Manchester Untied và một số trận tại sân vận động St. James' Park của Newcastle United khi sân Old Trafford không thể đáp ứng. Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh trở lại thi đấu tại Sân vận động Wembley mới vào năm 2007.
== Ban huấn luyện ==
== Lịch thi đấu ==
=== 2017 ===
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Đây là đội hình tham dự trận giao hữu gặp Đức và vòng loại World Cup 2018 gặp Litva vào các ngày 22 và 26 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê tính đến ngày 26 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Litva.
=== Triệu tập gần đây ===
Chú thích:
RET = Cầu thủ đã giã từ đội tuyển quốc gia
== Kỷ lục ==
=== Các cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất ===
Cập nhật ngày 11 tháng 11 năm 2016.Những cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu cho đội tuyển quốc gia.
=== Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất ===
Cập nhật đến ngày 11 tháng 11 năm 2016
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
=== Giải vô địch châu Âu ===
== Huấn luyện viên ==
Số liệu tính đến ngày 27 tháng 9 năm 2016.
1: Huấn luyện viên tạm quyền
== Xem thêm ==
Đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Anh
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Hiệp hội bóng đá Anh (FA)
The England Fanzine
England AFC
Bóng đá Anh trực tuyến
englandstats.com - Thống kê về đội tuyển Anh từ năm 1872 |
nok air.txt | Nok Air (tiếng Thái: นกแอร์) là một hãng hàng không giá rẻ, có trụ sở tại Bangkok, Thái Lan. Trung tâm hoạt động chính của hãng tại Sân bay quốc tế Bangkok.
== Lịch sử ==
Hãng này được thành lập vào tháng 12 năm 2003 và bắt đầu hoạt động vào ngày 23 tháng 7 năm 2004. Đây là một liên danh của 10 công ty. Các cổ đông chính là:Thai Airways International (39%), Dhipaya Insurance (10%), Government Pension Fund (10%), Krung Thai bank (10%), Crown Property Bureau (6%), ING Funds (5%), King Power (5%), Patee Sarasin (5%), Siam Commercial Bank Securities (5%) and Supapong Asvinvichit (5%).
Nok Air bắt đầu phục vụ tuyến quốc tế đến Bengaluru ở Ấn Độ ngày 31 tháng 5 năm 2007, bay hàng ngày.
Sau đó, Nok Air đã có những chuyến bay đến Việt Nam (Hà Nội). Đến nay Nok Air đã mở đường bay tới hơn 40 điểm đến chủ yếu là nội địa và một số chặng quốc tế tới Lào, Myanmar, Trung Quốc và Việt Nam.
== Các điểm đến ==
=== Nội địa ===
Bangkok
Chiang Mai
Chiang Rai
Hat Yai
Krabi
Mae Hong Son
Nakhon Si Thammarat
Phuket
Trang
Udon Thani
Ubon Ratchathani
=== Điểm đến trước đây ===
==== Nội địa ====
Loei (Sân bay Loei)
Phitsanulok (Sân bay Phitsanulok)
==== Quốc tế ====
Ấn Độ
Bangalore (Sân bay quốc tế Bangalore)
Việt Nam
Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài)
Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)
== Đội tàu bay ==
2 Boeing 737-800
8 Boeing 737-400
2 ATR 72-200
== Tham khảo == |
25 tháng 3.txt | Ngày 25 tháng 3 là ngày thứ 84 trong mỗi năm thường (ngày thứ 85 trong mỗi năm nhuận). Còn 281 ngày nữa trong năm.
== Sự kiện ==
708 – Constantinô được tôn phong Giáo hoàng thứ 88 của Giáo hội Công giáo.
1655 – Nhà khoa học người Hà Lan Christiaan Huygens phát hiện Titan, vệ tinh lớn nhất của Thổ tinh.
1821 – Alexandros Papanastasiou tuyên bố thành lập Đệ nhị Cộng hòa Hy Lạp, nay được Hy Lạp xem là mốc khởi đầu cuộc Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp.
1924 – Hy Lạp tuyên bố trở thành một nước cộng hoà.
1957 – Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg ký kết hai hiệp ước tại Roma của Ý, thiết lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu.
1975 – Vua Faisal của Ả Rập Sauđi bị bắn bởi một cháu trai của ông có tiền sử về bệnh tâm thần.
1996 – Ủy ban về Thuốc Thú Y của Liên minh châu Âu cấm xuất khẩu thịt bò từ Anh và những sản phẩm phụ của nó vì bệnh bò điên (encefalopatía espongiforme).
== Sinh ==
1252 - Conradin, công tước Swabia (m. 1268)
1259 - Andronikos II Palaiologos, hoàng đế Byzantine (m. 1332)
1297 - Andronicus III Palaeologus, hoàng đế Byzantine (m. 1341)
1347 - Catherine of Siena, người được phong thánh người Ý (m. 1380)
1539 - Christopher Clavius, nhà toán học người Đức (m. 1612)
1593 - Jean de Brébeuf, thầy tu dòng Tên người truyền giáo người Pháp (m. 1649)
1661 - Paul de Rapin, sử gia người Pháp (m. 1725)
1699 - Johann Adolph Hasse, nhà soạn nhạc người Đức (m. 1783)
1767 - Joachim Murat, vua Naples (m. 1815)
1782 - Caroline Bonaparte, nữ hoàng Naples (m. 1839)
1800 - Heinrich von Dechsen, nhà địa chất người Đức (m. 1889)
1824 - Clinton L. Merriam, chính khách người Mỹ (m. 1900)
1863 - Simon Flexner, Pathologist người Mỹ (m. 1946)
1867 - Arturo Toscanini, người chỉ huy dàn nhạc người Ý (m. 1957)
1868 - William Lockwood, cầu thủ cricket người Anh (m. 1932)
1873 - Rudolf Rocker, người theo chủ nghĩa vô chính phủ người Đức (m. 1958)
1877 - Walter Little, chính khách người Canada (m. 1961)
1881 - Béla Bartók, nhà soạn nhạc người Hungary (m. 1945)
1881 - Mary Gladys Webb, nhà văn người Anh (m. 1927)
1892 - Andy Clyde, diễn viên người Mỹ (m. 1967)
1895 - Siegfried Handloser, thầy thuốc người Đức (m. 1954)
1897 - John Laurie, diễn viên người Scotland (m. 1980)
1901 - Ed Begley, diễn viên người Mỹ (m. 1970)
1903 - Frankie Carle, nghệ sĩ dương cầm, người chỉ huy dàn nhạc nhỏ người Mỹ (m. 2001)
1906 - A.J.P. Taylor, sử gia người Anh (m. 1990)
1906 - Jean Sablon, ca sĩ người Pháp (m. 1994)
1908 - Helmut Käutner, diễn viên, người đạo diễn người Đức (m. 1980)
1908 - David Lean, đạo diễn phim người Anh (m. 1991)
1910 - Magda Olivero, ca sĩ soprano người Ý
1918 - Howard Cosell, thể thao phóng viên người Mỹ (m. 1995)
1920 - Patrick Troughton, diễn viên người Anh (m. 1987)
1920 - Arthur Wint, người chạy đua người Jamaica (m. 1992)
1921 - Nancy Kelly, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1995)
1921 - Simone Signoret, nữ diễn viên người Pháp (m. 1985)
1923 - Bonnie Guitar, ca sĩ người Mỹ
1925 - Flannery O'Connor, tác gia người Mỹ (m. 1964)
1926 - László Papp, võ sĩ quyền Anh người Hungary (m. 2003)
1926 - Jaime Sabines, nhà thơ người México (m. 1999)
1928 - Jim Lovell, nhà du hành vũ trụ người Mỹ
1929 - Wim van Est, vận động viên xe đạp người Đức (m. 2003)
1931 - Paul Motian, nhạc Jazz nhạc công đánh trống, nhà soạn nhạc người Mỹ
1932 - Gene Shalit, nhà phê bình phim người Mỹ
1934 - Johnny Burnette, ca sĩ người Mỹ (m. 1964)
1934 - Gloria Steinem, người theo thuyết nam nữ bình quyền, nhà xuất bản người Mỹ
1938 - Fritz d'Orey, người đua xe người Brasil
1939 - Toni Cade Bambara, tác gia người Mỹ (m. 1995)
1940 - Anita Bryant, ca sĩ người Mỹ
1941 - Gudmund Hernes, chính khách người Na Uy
1942 - Aretha Franklin, ca sĩ người Mỹ
1942 - Richard O'Brien, diễn viên, nhà văn người Anh
1943 - Paul Michael Glaser, diễn viên người Mỹ
1946 - Cliff Balsam, cầu thủ bóng đá người Anh
1946 - Stephen Hunter, tác gia người Mỹ
1946 - Gerard John Schaefer, kẻ giết người hàng loạt người Mỹ (m. 1995)
1947 - Elton John, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Anh
1948 - Bonnie Bedelia, nữ diễn viên người Mỹ
1948 - Lynn Faulds Wood, người dẫn chương trình truyền hình người Scotland
1952 - Antanas Mockus, nhà toán học người Colombia
1955 - Daniel Boulud, Chef, Restaurateur người Pháp
1955 - Lee Mazzilli, vận động viên bóng chày người Mỹ
1956 - Matthew Garber, diễn viên người Anh (m. 1977)
1957 - Jim Uhls, người viết kịch bản phim người Mỹ
1958 - James McDaniel, diễn viên người Mỹ
1958 - Ray Tanner, trường đại học huấn luyện viên bóng chày người Mỹ
1958 - Åsa Torstensson, chính khách người Thụy Điển
1960 - Idy Chan Yuk-Lin, nữ diễn viên người Hồng Kông
1960 - Peter O'Brien, diễn viên người Úc
1960 - Haywood Nelson, diễn viên người Mỹ
1960 - Brenda Strong, nữ diễn viên người Mỹ
1961 - Fred Goss, diễn viên, diễn viên hài, nhà văn người Mỹ
1962 - Marcia Cross, nữ diễn viên người Mỹ
1964 - Lisa Gay Hamilton, nữ diễn viên người Mỹ
1964 - Alex Solis, vận động viên đua ngựa người Panama
1964 - Ken Wregget, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada
1965 - Sarah Jessica Parker, nữ diễn viên người Mỹ
1965 - Avery Johnson, cầu thủ bóng rổ, huấn luyện viên người Mỹ
1966 - Tom Glavine, vận động viên bóng chày người Mỹ
1966 - Jeff Healey, nghệ sĩ đàn ghita người Canada (m. 2008)
1966 - Tatjana Patitz, siêu người mẫu người Đức
1966 - Anton Rogan, cầu thủ bóng đá người Ireland
1967 - Debi Thomas, vận động viên trượt băng nghệ thuật người Mỹ
1967 - Doug Stanhope, diễn viên hài người Mỹ
1969 - Dale Davis, cầu thủ bóng rổ người Mỹ
1969 - Cathy Dennis, ca sĩ, người sáng tác bài hát, nữ diễn viên người Anh
1970 - Kari Matchett, nữ diễn viên người Canada
1971 - Cammi Granato, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Mỹ
1973 - Anthony Barness, cầu thủ bóng đá người Anh
1974 - Lark Voorhies, nữ diễn viên người Mỹ
1975 - Ladislav Benysek, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Séc
1976 - Cha Tae-hyun, diễn viên người Hàn Quốc
1976 - Juvenile, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ
1976 - Wladimir Klitschko, võ sĩ quyền Anh người Ukraina
1976 - Gigi Leung, ca sĩ, nữ diễn viên người Hồng Kông
1976 - Baek Ji Young, ca sĩ người Hàn Quốc
1979 - Lee Pace, diễn viên người Mỹ
1979 - Natasha Yi, siêu người mẫu người Mỹ
1980 - Carrie Lam, nữ diễn viên người Hồng Kông
1982 - Danica Patrick, người lái xe đua người Mỹ
1982 - Sean Faris, diễn viên, người mẫu, người Mỹ
1982 - Álvaro Saborío, cầu thủ bóng đá người Costa Rica
1984 - Katharine McPhee, ca sĩ, nữ diễn viên người Mỹ
1987 - Nobunari Oda, vận động viên trượt băng nghệ thuật người Nhật Bản
1989 - Alyson Michalka, nữ diễn viên, ca sĩ người Mỹ
1989 - Scott Sinclair, cầu thủ bóng đá người Anh
== Mất ==
752 - Giáo hoàng Stephen II
1458 - Marqués de Santillana, nhà thơ người Tây Ban Nha (s. 1398)
1620 - Johannes Nucius, nhà soạn nhạc người Đức
1625 - Giambattista Marini, nhà thơ người Ý (s. 1569)
1712 - Nehemiah Grew, nhà tự nhiên học người Anh (s. 1641)
1736 - Nicholas Hawksmoor, kiến trúc sư người Anh
1738 - Turlough O'Carolan, Harper, nhà soạn nhạc người Ireland (s. 1670)
1801 - Novalis, nhà thơ người Đức (s. 1772)
1818 - Caspar Wessel, nhà toán học người Đan Mạch (s. 1745)
1860 - James Braid, bác sĩ giải phẫu người Scotland (s. 1795)
1908 - Durham Stevens, nhà ngoại giao người Mỹ (s. 1851)
1914 - Frédéric Mistral, nhà thơ, giải thưởng Nobel người Pháp (s. 1830)
1917 - Elizabeth Storrs Mead, nhà sư phạm người Mỹ (s. 1832)
1917 - Spyros Samaras, nhà soạn nhạc người Hy Lạp (s. 1861)
1918 - Claude Debussy, nhà soạn nhạc người Pháp (s. 1862)
1951 - Eddie Collins, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1887)
1957 - Max Ophüls, người đạo diễn, nhà văn người Đức (s. 1902)
1958 - Tom Brown, nhạc sĩ người Mỹ (s. 1888)
1969 - Max Eastman, nhà văn người Mỹ (s. 1883)
1975 - Juan Gaudino, người đua xe người Argentina (s. 1893)
1975 - Vua Faisal của Ả Rập Saudi, (s. năm 1906)
1980 - Roland Barthes, nhà phê bình văn học, nhà văn người Pháp (s. 1915)
1980 - Milton H. Erickson, nhà tâm thần học người Mỹ (s. 1901)
1980 - Walter Susskind, người chỉ huy dàn nhạc người Séc (s. 1913)
1980 - James Wright, nhà thơ người Mỹ (s. 1927)
1983 - Bob Waterfield, cầu thủ bóng đá người Mỹ (s. 1920)
1988 - Robert Joffrey, diễn viên múa, biên đạo múa người Mỹ (s. 1930)
1991 - Marcel Lefebvre, giáo chủ thiên chúa giáo người Pháp (s. 1905)
1992 - Nancy Walker, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1922)
1994 - Max Petitpierre, chính khách, luật gia Thụy Sĩ (s. 1899)
1995 - James Coleman, nhà xã hội học người Mỹ (s. 1926)
1995 - Krešimir Ćosić, cầu thủ bóng rổ người Croatia (s. 1948)
1996 - John Snagge, nhân vật truyền thanh nổi tiếng người Anh (s. 1904)
1998 - Max Green, luật sư người Úc (s. 1952)
2000 - Helen Martin, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1909)
2002 - Kenneth Wolstenholme, bóng đá nhà bình luận người Anh (s. 1920)
2006 - Rocío Dúrcal, ca sĩ, nữ diễn viên người Tây Ban Nha (s. 1944)
2006 - Richard Fleischer, đạo diễn phim người Mỹ (s. 1916)
2007 - Andranik Margaryan, chính khách người Armenia (s. 1951)
2008 - Rafael Azcona, người viết kịch bản phim người Tây Ban Nha (s. 1926)
2008 - Ben Carnevale, bóng rổ huấn luyện viên người Mỹ (s. 1915)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Cách mạng tại Hy Lạp
Ngày của mẹ tại Slovenia.
Lễ truyền tin – 9 tháng trước Lễ Giáng sinh
== Tham khảo == |
j. k. rowling.txt | Joanne "Jo" Rowling, ( /ˈroʊlɪŋ/),, sinh ngày 31 tháng 7 năm 1965), bút danh là J. K. Rowling, và Robert Galbraith. Cư ngụ tại thủ đô Edinburgh,Scotland là tiểu thuyết gia người Anh, tác giả bộ truyện giả tưởng nổi tiếng Harry Potter với bút danh J. K. Rowling.
Bộ sách này được hàng triệu độc giả già trẻ trên thế giới yêu thích, nhận được nhiều giải thưởng liên tiếp và đến năm 2005 bán được 300 triệu bản trên toàn thế giới. Vào năm 2006, tạp chí Forbes xem bà là người phụ nữ giàu thứ hai trong lĩnh vực nghệ thuật giải trí chỉ sau Oprah Winfrey. Năm 2007, sau thành công vang dội của truyện Harry Potter 7 và phim Harry Potter 5, bà được tạp chí US Entertainment Weekly là một trong 25 nghệ sĩ của năm 2007. Bà đã được trao huân chương Bắc Đẩu Bội tinh vào ngày 3 tháng 2 năm 2009 vì tài năng xuất chúng về văn học thiếu nhi.. Năm 2010 bà được trao Giải Văn học Hans Christian Andersen.
== Tên ==
Mặc dù cô dùng bút danh là "J. K. Rowling" (phát âm như từ 'rolling'), tên của cô trước khi tái hôn chỉ đơn giản là Joanne Rowling. Vì lo ngại đối tượng độc giả là các chàng trai trẻ sẽ có thể không thích một tác phẩm được viết bởi một người phụ nữ nên các nhà xuất bản của cô đã yêu cầu cô có 2 chữ ở đầu. Vì không có tên lót, cô đã chọn chữ 'K' (từ 'Kathleen' tên bà nội cô) làm ký tự thứ 2 trong bút danh. Cô tự gọi mình là 'Jo'. Sau khi kết hôn, có một số lần cô sử dụng tên Joanne Murray khi quản lý công việc kinh doanh của cá nhân. Trong vụ thẩm vấn Leveson, cô trình bày các chứng cứ dưới cái tên Joanne Kathleen Rowling và mục của cô tại cơ sở dữ liệu Who's Who cũng lưu tên cô là Joanne Kathleen Rowling.
== Tiểu sử ==
Ngày sinh và gia đình
Rowling là con của Peter James Rowling, một kĩ sư máy bay của hãng Rolls-Royce, và Anne Rowling, một nhà khoa học kĩ thuật. Bà sinh ngày 31 tháng 7 năm 1965 tại Yate, Gloucestershire, Anh, 10 dặm (16 km) về phía đông bắc Bristol. Bố mẹ của cô ấy lần đầu gặp nhau tại sân ga King's Cross để đi tới Arbroath trong năm 1964. Họ cưới nhau vào ngày 14 tháng 3 năm 1965. Ông cố ngoại của cô Dugald Campbell, là một người Xcốt-len, sinh ra ở Lamlash trên hòn đảo nhỏ Arran. Ông nội của mẹ cô, Louis Volant, là người Pháp, được trao tặng giải thưởng Croix de Guerre về lòng can đảm trong việc bảo vệ làng Courcelles-le-Comte trong thế chiến thứ nhất. Rowling lúc đầu nghĩ ràng ông là người là được nhận giải Légìon d'hounneur trong chiến tranh, khi cô có nói đã nhận nó tận tay vào năm 2009. Sau này khi cô phát hiện ra sự thật và đã đính chính trong một tập về bảng phả hệ UK trong sê-ri Who Do You Think You Are?, trong đó cô phát hiện ra đó là một Louis Volant khác đã thắng giải Legion of Honour. Khi cô nghe nói về câu chuyện dũng cảm của ông ấy và nhận ra rằng giải Croix de guerre dành cho những người lính "thông thường" như ông của cô, một người phục vụ bàn, cô có nói giải Croix de guerre "tốt hơn" đối với cô ấy hơn là giải Legion of Honour.
Thời thơ ấu và giáo dục
Em gái của Rowling là Dianne được sinh ra khi Rowling mới 23 tháng tuổi. Gia đình cô phải chuyển tới một ngôi làng gần đó Winterbourne khi Rowling được 4 tuổi. Cô học tại trường tiểu học St Michael's, ngôi trường được thành lập bởi người theo chủ nghĩa bãi nô William Wilberforce và nhà cải cách giáo dục Hannah More. Hiệu trưởng trường St Michael's là Alfred Dunn, người được xem là nguồn cảm hứng cho nhân vật hiệu trưởng Albus Dumbledore trong Harry Potter.
Khi còn nhỏ, Rowling thường hay viết nhiều câu chuyện tưởng tượng và cô thường đọc cho chính em gái mình. Lúc 9 tuổi, Rowling chuyển đến Church Cottage ở làng Gloucestershire của Tutshill, gần với Chepstow, Wales. Cô theo học tại trường trung học Wyedean Shool and College, nơi mẹ của cô ấy làm việc trong khoa Khoa học. Lúc cô ấy còn là một thiếu nữ, dì của cô đã đưa cô một bản sao cuốn tự truyện của Jessica Milford, Hons and Rebels. Mitford đã trở thành nữa anh hùng trong cô và cô đã đọc hết bộ sách của Mitford.
Rowling từng nói rằng khoảng thời gian thời thiếu niên của cô không được vui. Cuộc sống của mẹ cô phức tạp hơn bởi bệnh tình và sự căng thẳng trong hôn nhân với ba cô. Rowling sau này có nói rằng nhân vật Hermione Granger được dựa trên chính bản thân cô khi cô 11 tuổi. Steve Eddy, là người dạy tiếng Anh cho cô khi cô mới chuyển đến, xếp cô vào dạng "không hiếm có" nhưng "lại có tố chất trong Tiếng Anh". Sean Harris, bạn thân của cô sống ở Upper Sixth. sở hữu một chiếc Ford Anglia màu ngọc lam, nó chính là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo về chiếc xe bay được xuất hiện trong Harry Potter và Phòng chứa bí mật. Vào thời gian này, có nghe nhạc của bạn nhạc the Smiths và the Clash. Rowling thi trình độ A tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức. Đạt được 2 điểm A vào 1 điểm B, cô trở thành Trưởng nữ trong trường.
Vào năm 1982, Rowling tham gia kì thi tuyển đầu vào của trường đại học Oxford, nhưng thất bại, và tìm kiếm bằng cử nhân trong Tiếng Pháp và ngôn ngữ cổ điển tại trường đại học Exeter. Martin Sorrell, một giáo sư người Pháp ở Exeter nhớ cô là một sinh viên "thạo giỏi thầm lặng với một chiếc áo khoác denim và có màu tóc đen, người mà chỉ xuất hiện trong năm học để hoàn thành những điều cần thiết". Rowling gợi nhớ lại lúc ít làm việc, cô thích nghe nhạc của the Smiths, đọc truyện Dickens và Tolkien. Sau một năm học tập tại Paris, Rowling tốt nghiệp Exeter vào năm 1985 và chuyển tới London để làm việc với tư cách là một nhà nghiên cứu và là thư ký song ngữ cho Amnesty International vào năm 1988. Rowling viết một bài luận ngắn về thời gian cô học Ngôn ngữ cổ có tiêu đề là " What was the name of that Nymph Again?" và nó đã được đăng trên báo của trường đại học Exeter.
Nguồn cảm hứng và cái chết của mẹ
Sau khi làm việc tại Amnesty International, London, Rowling và bạn trai quyết định chuyển tới Manchester, nơi cô làm việc tại phòng thương mại. Trong năm 1990, khi cô đang ở trên chuyến tàu khởi hành trễ 4 tiếng từ Manchester tới London, ý tưởng về một cậu bé tham gia học tại một trường pháp thuật đã được hình thành trong tâm trí của cô.
Khi cô tới căn hộ Clapham Junction, cô bắt tay vào viết câu chuyện ngay lập tức. Vào tháng 12, mẹ của Rowling, Anne, chết sau 10 năm chống chọi với bệnh Đa xơ cứng. Rowling đang viết Harry Potter trong thời gian này và chưa từng nói với mẹ cô về nó. Cái chết của mẹ đã gây ảnh hưởng tới tác phẩm của Rowling và cô ấy đã giới thiệu nhiều hơn về những chi tiết sự mất mát của Harry trong quyển sách đầu tiên, bởi cô biết cảm giác đó như thế nào.
Hôn nhân, li dị và bà mẹ đơn thân
Kể đến trong cuốn The Guardian đã dẫn Rowling tới Porto Portugal, để dạy tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ hai. Cô dạy ban đêm và bắt đầu viết lách vào ban ngày trong khi đang nghe Tchaikovsky's Violin Concerto. Sau 18 tháng ở Porto, cô gặp gỡ một phóng viên truyền hình người Bồ Đào Nha Jorge Arantes trong một quán bar và phát hiện họ có nhiều điểm chung về Jane Austen. Họ kết hôn vào ngày 16 tháng 10 năm 1992 và Jessica Isabel Rowling Arantes ra đời vào ngày 27 tháng 7 năm 1993 (được đặt tên theo Jessica Mitford). Rowling trước đây đã từng bị sảy thai. Cặp đôi chia tay vào 17 tháng 11 năm 1993. Những người viết tiểu sử đã đoán rằng Rowling đã trải qua bạo lực gia đình trong cuộc hôn nhân của cô, mặc dù sự thật vẫn chưa được phơi bày. Trong tháng 12/1993, Rowling và cô con gái nhỏ chuyển tới Edinburgh, Scotland, để ở gần với em gái Rowling với ba chương của Harry Potter trong vali.
Bảy năm sau khi tốt nghiệp đại học, Rowling cảm thấy bản thân mình thật thất bại. Hôn nhân tan vỡ, và cô đang bị thất nghiệp với một đứa trẻ đang phụ thuộc vào cô, nhưng cô miêu tả sự thất bại đó như một sự giải phóng và cho phép cô tập trung hơn vào việc viết sách. Trong khoảng thời gian này, Rowling được chẩn đoán với trầm cảm và dự tính muốn tự tử. Bệnh tật đã khơi nguồn cảm hứng cho nhân vật được biết đến là Kẻ giám Ngục, sinh vật hút linh hồn được giới thiệu trong cuốn Harry Potter và tên tù nhân Azkaban. Rowling đăng ký hưởng phúc lợi xã hội, và miêu tả trạng thái tài chính của cô là "nghèo như là người Anh hiện đại không bị vô gia cư".
Rowling sống trong nỗi tuyệt vọng sau khi người chồng cũ tới Scotland, để tìm cô và con gái. Cô bị quản thúc và Arantes trở về Bồ Đào Nha khi Rowling đã ký vào đơn li lị vào tháng 8 năm 1994. Cô bắt đầu làm giáo viên trong khóa đào tạo ở Moray House School and Education, đại học Edinburgh. Sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong khi sống dựa vào trợ cấp bang, Cô ấy viết sách trong nhiều quán cà phê, đặc biệt là quán cà phê Nicolson (sở hữu bởi em rể Roger Moore), và Nhà Voi nơi mà cô có thể để Jessica ngủ. Trong cuộc phỏng vấn với BBC, Rowling bác bỏ tin đồn về lý do cô viết sách trong quán cà phê vì cô muốn thoát khỏi căn hộ không đủ ấm, và chỉ ra rằng căn hộ đó vẵn có hệ thống sưởi. Một trong số lý do cô viết sách bên ngoài vì cô muốn dẫn con cô đi dạo, đó là cách để cho bé chìm vào giấc ngủ tốt nhất.
== Harry Potter ==
=== Bộ truyện Harry Potter ===
Sau đây là 7 tập truyện Harry Potter
Harry Potter và Hòn đá Phù thủy
Harry Potter và Phòng chứa Bí mật
Harry Potter và Tên tù nhân ngục Azkaban
Harry Potter và Chiếc cốc lửa
Harry Potter và Hội Phượng Hoàng
Harry Potter và Hoàng tử lai
Harry Potter và Bảo bối Tử thần
J.K. Rowling mất khoảng 1-2 năm để phát hành một cuốn truyện mới. Kể từ tập 3, trước mỗi tập bà luôn tiết lộ khéo léo nội dung cuốn truyện đang viết dở của mình.
=== Phim Harry Potter ===
Sau đây là 8 bộ phim điện ảnh Harry Potter (Tập 7 được chia làm 2 phần)
Harry Potter và Hòn đá Phù thủy (phim)
Harry Potter và Phòng chứa Bí mật (phim)
Harry Potter và Tên tù nhân ngục Azkaban
Harry Potter và Chiếc cốc lửa (phim)
Harry Potter và Hội Phượng Hoàng (phim)
Harry Potter và Hoàng tử lai (phim)
Harry Potter và Bảo bối Tử thần - Phần 1 (phim)
Harry Potter và Bảo bối Tử thần - Phần 2 (phim)
== Sau Harry Potter ==
Sau khi hoàn tất bộ truyện Harry Potter, bà Rowling tiếp tục cho ra mắt một cuốn tiểu thuyết mới với tựa đề The Tales of Beedle the Bard - được coi là một phần trong đoạn kết truyện Harry Potter.
== Liên kết ngoài ==
Bộ truyện The Tales of Beedle the Bard (tên một cuốn truyện cổ tích mà thầy Dumbledore để lại cho Hermione trong tập bảy)là năm câu chuyện cổ tích của Người hát rong Beedle viết cho các phù thủy trẻ con trong thế giới phù thủy (giống như truyện Lọ Lem hay Bạch Tuyết ở thế giới Muggle)
- Cậu phù thủy và cái nồi tưng tưng
- Nguồn suối vạn hạnh
- Thỏ Lách Chách và gốc cây Khanh Khách
- Trái tim lông xù của chàng chiến tướng
- Chuyện kể về ba anh em
Trong đó câu truyện cổ tích cuối cùng phần nào có liên quan tới Những Bảo Bối Tử Thần trong tập 7 Harry Potter
== Chú thích == |
rạp platinum cineplex the garden.txt | Rạp Platinum Cineplex The Garden là một rạp chiếu bóng nằm trên tầng 4 của khu chung cư cao cấp cùng tên, rạp phim The Garden có chất lượng âm thanh và hình ảnh, cơ sở hạ tầng tốt sánh ngang với cụm rạp Megastar trong nước.
Platinum Cineplex là tổ hợp rạp chiếu mới tại tòa nhà The Garden. Được xây dựng với trang thiết bị hiện đại nhất đạt tiêu chuẩn quốc tế, đây là một trong những phòng chiếu phim hiện đại, chất lượng nhất Việt Nam. Bên cạnh đó, Platinum Cineplex có không gian được thiết kế độc đáo, bắt mắt theo phong cách châu Âu với những mảng tường mang màu sắc tinh tế, sang trọng.
Poster và trailer bộ phim bạn yêu thích được trình chiếu ở khắp nơi: từ sảnh đến hành lang, hay dọc lối đi và sảnh chờ.
== Xem thêm ==
Rạp chiếu phim tại Việt Nam:
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Truyền thông Bạch Kim M.V.P
Rạp Platinum Cineplex The Garden
Lịch chiếu phim các rạp toàn quốc |
hierochloe odorata.txt | Hierochloe odorata là một loài thực vật có hoa trong họ Hòa thảo. Loài này được (L.) P.Beauv. mô tả khoa học đầu tiên năm 1812.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Hierochloe odorata tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Hierochloe odorata tại Wikispecies |
long thành cầm giả ca.txt | Long thành cầm giả ca (chữ Hán: 龍城琴者歌) hay Bài ca về người gảy đàn ở Thăng Long là bài thơ bằng chữ Hán do Nguyễn Du sáng tác trong quãng thời gian đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) từ năm 1813 đến năm 1814. Bài thơ này cùng với Truyện Kiều, Điếu La thành ca giả, Độc Tiểu Thanh ký... được giới chuyên môn đánh giá là một thi phẩm bộc lộ rõ nét nỗi thương xót chân thành của tác giả về những kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ khổ đau, bị vùi dập trong xã hội thời phong kiến ở Việt Nam.
== Tiểu dẫn ==
Long thành cầm giả ca được xếp đầu tiên trong Bắc hành tạp lục (北行雜錄), gồm 131 bài thơ
Trong tập thơ chỉ có thi phẩm này và bài "Thăng Long" (gồm hai bài thơ ngắn), mang đề tài trên đất nước Việt Nam. Tất cả số còn lại, Nguyễn Du đều lấy những đề tài lịch sử và những điều tai nghe mắt thấy trên con đường đi sứ sang Trung Quốc trong khoảng thời gian đã ghi trên.
Vô luận là người con hát La thành, Tiểu Thanh hay là người đánh đàn Nguyễn đất Long thành, họ đều là những người con gái có tài sắc và đều bị đánh vùi. Cũng như Thúy Kiều, những hình ảnh đó đều mang tính điển hình sâu sắc, phản ảnh hiện thực xã hội đương thời và đều đã tố cáo mạnh mẽ tính chất tàn nhẫn của xã hội đó.
Thi phẩm được viết theo thể thơ "ca" và "hành", hoặc gọi chung là "ca hành".Giáo trình Hán Nôm tập II giải thích:
Đây là một thể thơ cổ, có nguồn gốc từ thơ Nhạc phủ đời Hán (Trung Quốc). Cổ Nhạc phủ có những bài như "Đoản ca hành", Trường ca hành", "Phụ bệnh hành"...Thông thường thì nó tường thuật một cảnh ngộ mà nhà thơ bất chợt nhìn thấy hoặc nghe kể lại, đồng thời nó nói lên những cảm nghĩ của nhà thơ trước tình cảnh đó. Nói gọn, thể "ca hành" đều dài, không hạn chế câu chữ, không cần niêm, đối chặt chẽ; và đều có tính tự sự, tính trữ tình.
Ngoài Long thành cầm giả ca, Nguyễn Du còn viết Sở kiến hành theo thể thơ này.
== Nhận định ==
Trích trong sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du:
Trần Thị Tần (1740-1778), vợ quan Tư đồ Nguyễn Nghiễm (1708-1775), và là mẹ Nguyễn Du, sinh con trai đầu lòng lúc bà mới 17 tuổi. Sau bà còn có năm bà khác nữa, tuổi cũng xấp xỉ như nhau. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền tất nhiên không nói, nhưng rõ ràng các bà không phải xuất thân ca kỹ, thì cũng vì có chút nhan sắc mà trở thành nàng hầu của quan lớn họ Nguyễn trên.
Lại nữa, sau khi cha và mẹ đều mất, 13 tuổi, Nguyễn Du phải đến ở với người anh khác mẹ hơn mình 31 tuổi, đó là quan Tham Tụng Nguyễn Khản (1734-1786). Đời sống ông anh này có ảnh hưởng rất lớn đối với nhà thơ. Ông Khản thi đỗ sớm, làm quan to, lại là một con người tài hoa, phong lưu rất mực. Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ trung tùy bút, chép:
Ông Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở, cũng cứ cho nó tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc. Khi ông có tang quan Tư đồ (tức Nguyễn Nghiễm), ngày rỗi cũng vẫn sai con hát đồ khúc gọi là "ngâm thơ nôm". Bọn con em họ quý thích đều bắt chước chơi bời, hầu như thành thói quen.
Thuở nhỏ sống trong hoàn cảnh như vậy. Cái hoàn cảnh mà những người có chút nhan sắc hay có giọng hát hay, phải đem ra làm trò chơi cho kẻ quyền quý. Cho nên, trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Du, như: Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, Long thành cầm giả ca...khi nói về họ, ông đều có thái độ trìu mến, xót thương và xem họ như những người ruột thịt...
Trước 1975, trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam có đoạn:
Từ xưa, người ta cứ cho rằng Nguyễn Du u uất vì mang mối tình với nhà Lê...Nhưng trong suốt sự nghiệp thơ văn chữ Hán của ông không có một nét nào cho thấy ông ghét Nguyễn, thương Lê cả. Ngay đến nhà Tây Sơn, Nguyễn Du còn chẳng tỏ vẻ gì thù ghét...mà còn đi ăn yến dự tiệc với các quan Tây Sơn như ông đã mô tả trong Long Thành cầm giả ca. Hơn thế nữa, khi Tây Sơn thất bại, Nguyễn Du còn cảm thấy đau đớn, tiếc thương...nhất là khi nhìn thấy tất cả cái cơ nghiệp vĩ đại của nhà Tây Sơn chỉ còn lại có mỗi một cô ca sĩ già, nhà thơ đã đau lòng để nước mắt rơi ướt áo...
Như vậy cái tâm sự thầm kín, u uất mà Nguyễn Du không biết nói với ai, hẳn không phải tấm lòng hoài Lê, mà phải là cái gì thắm thiết, gắn liền với thân phận ông hơn...
Từ điển văn học (bộ mới), xuất bản năm 2004, nêu ý tương tự:
Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không còn ai chú ý đến nữa. Nhà thơ tỏ lòng xót thương ngậm ngùi của mình, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể...Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ý là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí gì gọi lả thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nhìn nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lý hơn?...
Ở bài Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông... còn nêu thêm một khía cạnh khác:
Trong Long thành cầm giả ca, Nguyễn Du đã kể lại hai lần gặp gỡ một cô đào hát tên Cầm. Và từ cái biến đổi "nhãn tiền" của cô, nước mắt nhà thơ đã ướt đẫm vạt áo:
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch,
Trong làng múa hát còn sót lại một người!
Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở một nháy mắt,
Cảm thương việc cũ lệ thấm áo...
Những giọt nước mắt kia, ngoài việc dành cho sự biến đổi chóng vánh của cuộc đời; nói rộng hơn và siêu hình hơn, theo giáo sư, nó còn dành cho nỗi buồn rầu về những gì "càng tài năng, càng thanh sắc" thì càng bị hủy diệt nhanh chóng. Và lúc bấy giờ, trong đầu Nguyễn Du, những lực lượng tàn phá mọi cái hay cái đẹp của xã hội chỉ có thể tổng quát thành "số mệnh", như số mệnh làm cho làm cho cơ nghiệp Tây Sơn sụp đổ... Sau này, ở bài Sở Bá Vương mộ, nhà thơ cũng đã đổ cho số mệnh:
Có sức mạnh dời núi nhắc vạc, nhưng trời không giúp thì làm thế nào?
Mối hận nghìn đời, đành gửi dưới lớp cát mỏng...
Và cũng chính số mệnh đã vùi dập cuộc đời của Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh ký), của Thúy Kiều - Từ Hải, hai nhân vật tiêu biểu nhất cho "tài và tình"...
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Nguyễn Du
Sở kiến hành
Văn chiêu hồn
== Liên kết ngoài ==
Long Thành cầm giả ca - Nguyên văn và một số bản dịch khác
Tư liệu liên quan đề tài |
international airlines group.txt | International Consolidated Airlines Group (IAG) là một công ty nắm giữ cổ phần đa quốc gia hàng không Anh-Tây Ban Nha có trụ sở tại London, Vương quốc Anh và có trụ sở tại Madrid, Tây Ban Nha. Tập đoàn được thành lập vào tháng 1 năm 2011 bởi sự sát nhập của British Airways và Iberia, các hãng hàng không quốc gia của Vương quốc Anh và Tây Ban Nha. Đây là hãng hànv không lớn thứ sáu trên thế giới (và lớn thứ ba có trụ sở tại châu Âu) tính theo doanh thu năm 2010.. IAG niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán London và đã được đưa vào FTSE 100 thành kể từ 24 tháng 1 năm 2011. Hãng xếp thứ hai sở giao dịch chứng khoán Madrid, Barcelona, Bilbao và Valencia, và đã được một thành phần của chỉ số IBEX 35 kể từ 01 tháng 4 năm 2011. British Airways, Iberia và Vueling hoạt động dưới thương hiệu riêng của họ.
== Tham khảo == |
sergi bruguera.txt | Sergi Bruguera i Torner (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1971) là cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp đến từ Catalunya, Tây Ban Nha. Anh giành được 2 danh hiệu Grand Slam Pháp mở rộng vào năm 1993 và 1994.
Bruguera là tay vợt duy nhất có thành tích đối đầu nhỉnh hơn khi gặp cả 2 huyền thoại Roger Federer và Pete Sampras. Anh thắng 3 trong 5 trận đấu với Sampras,và thắng 1 trận trong lần đối đầu duy nhất với Federer tại Barcelona năm 2000.
== Sự nghiệp ==
Bruguera giành được 14 danh hiệu đánh đơn và 3 danh hiệu đánh đôi trong sự nghiệp.Vị trí cao nhất của anh trên bảng xếp hạng ATP là số 3 thế giới.
== Các trận chung kết ==
=== Chung kết Grand Slam ===
==== Đơn: 3 (2–1) ====
=== Chung kết Olympic ===
==== Đơn: 1 (1 huy chương bạc) ====
=== Chung kết Masters ===
==== Đơn: 5 (2–3) ====
==== Đôi: 1 (1–0) ====
== Tổng kết ==
=== Đơn: 35 (14–21) ===
=== Đôi: 3 (3–0) ===
== Tham khảo == |
oliver cromwell.txt | Oliver Cromwell (25 tháng 4 năm 1599 - 3 tháng 9 năm 1658) là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự người Anh, người đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập nền cộng hòa ở Anh và sau đó là Huân tước bảo hộ của Anh, Scotland và Ireland. Ông là một trong những chỉ huy của lực lượng quân đội mới đánh bại những người bảo hoàng trong cuộc nội chiến Anh. Sau khi vua Charles I của Anh bị xử tử năm 1649, Cromwell chinh phục Ireland và Scotland rồi cai trị với tư cách huân tước bảo hộ từ năm 1653 cho tới khi ông qua đời năm 1658.
Cromwell sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ và cuộc đời ông hoàn toàn mờ nhạt cho tới đầu những năm 40 tuổi. Có lúc ông sống như một điền chủ nhỏ, rồi sau đó khấm khá hơn nhờ khoản thừa kế từ một người bác. Cũng vào những năm 40 tuổi, Cromwell cải đạo sang Thanh giáo. Ông được bầu vào hội đồng dân biểu ở Cambridge rồi tham gia cuộc nội chiến Anh bên phe những người nghị viên.
Là một chiến binh can đảm (biệt danh "Sắt thép"), ông bắt đầu được biết tới sau khi chỉ huy một đội kỵ binh chống lại toàn bộ quân đội hoàng gia. Cromwell là người thứ ba ký vào lệnh xử tử hình Charles I vào năm 1649 và là thành viên của nghị viện Rump từ 1649 đến 1653. Ông được giao chỉ huy chiến dịch đánh Scotland trong các năm 1650-1651. Ngày 20 tháng 4 năm 1653, Cromwell giải tán nghị viện Rump bằng vũ lực rồi thành lập nghị viện Barebone trước khi trở thành Huân tước bảo hộ của Anh, Scotland và Ireland vào ngày 16 tháng 12 năm 1653 cho tới khi ông qua đời. Khi những người bảo hoàng trở lại nắm quyền vào năm 1660, xác ông bị đào lên, bị treo và bị chặt đầu.
Cromwell là một nhân vật gây rất nhiều tranh cãi trong lịch sử nước Anh. Với những sử gia như David Hume hay Christopher Hill, ông là tên độc tài phạm tội giết vua, nhưng với những người khác như Thomas Carlyle hay Samuel Rawson Gardiner, ông là người anh hùng của tự do và dân chủ. Ở Anh, Cromwell được chọn vào danh sách 10 người vĩ đại nhất nước Anh mọi thời đại trong một cuộc bình chọn của BBC năm 2002. Những biện pháp của ông đối phó với người Thiên chúa giáo ở Ireland bị nhiều sử gia coi là rất gần với tội ác diệt chủng, và ở chính Ireland cho tới tận bây giờ, người ta vẫn rất căm thù Cromwell.
== Thời trẻ: 1599-1640 ==
Những tư liệu còn sót lại không cung cấp gì nhiều về 40 năm đầu tiên trong cuộc đời Cromwell. Ông sinh ở Huntingdon ngày 25 tháng 4 năm 1599,. Mẹ và cha ông là Elizabeth và Robert Cromwell (khoảng 1560-1617). Oliver Cromwell có tổ tiên là Catherine Cromwell (sinh khoảng 1482), chị của nhà chính trị thời kỳ Tudor Thomas Cromwell. Catherine kết hôn với Morgan Morgan ap Williams, con trai của William ap Yevan của Wales và Joan Tudor, tức là Cromwell là một người anh họ xa với những đối thủ dòng vua Stuart của ông. Gia tộc Cromwell tiếp nối với Richard Cromwell (khoảng 1500-1544), Henry Cromwell (khoảng 1524-6 tháng 1 năm 1603), rồi đến cha của Oliver, Robert Cromwell (khoảng 1560-1617). Robert kết hôn với Elizabeth Steward hay Stewart (1564-1654) và Oliver ra đời. Như vậy, Thomas là nội tổ bá của Oliver Cromwell.
Đẳng cấp xã hội của gia đình Cromwell khá thấp, thuộc tầng lớp quý tộc nhỏ, khi ông ra đời. Cha ông là con trai nhỏ trong gia đình và là một trong 10 người anh em sống sót qua thời thơ ấu. Hệ quả là Robert chỉ được thừa kế một ngôi nhà ở Huntingdon cùng một điền trang nhỏ bé. Điền trang đó mang tới thu nhập khoảng 300 bảng mỗi năm, thuộc vào loại thấp nhất trong số các quý tộc nhỏ thời bấy giờ. Sau này, vào năm 1654, chính Cromwell đã nói: "Tôi sinh ra như một người quý tộc, không nổi tiếng, cũng không vô danh". Lễ rửa tội của Cromwell diễn ra ngày 29 tháng 4 năm 1599 tại nhà thờ St. John, và thời thơ ấu ông có đi học ở trường Huntingdon Grammar School. Ông tiếp tục theo học đại học tại Đại học Sidney Sussex, Cambridge, thời bấy giờ mới được thành lập và là trường có khuynh hướng theo Thanh giáo mạnh mẽ. Ông rời trường năm 1617 sau cái chết của người cha mà chưa nhận bằng cấp gì. Sau đó, Cromwell trở về nhà ở Huntingdon và trở thành trụ cột của gia đình gồm mẹ và bảy cô chị em gái vẫn chưa lấy chồng.
Ngày 22 tháng 8 năm 1620, tại St.Giles, Cripplegate, London, Cromwell kết hôn với Elizabeth Bourchier (1598–1665). Họ có chín người con:
Robert (1621-1639), chết khi đi học xa nhà.
Oliver (1622-1644), chết vì bệnh sốt thương hàn khi đang là một sĩ quan quân đội.
Bridget (1624-1681), kết hôn với Henry Ireton, rồi Charles Fleetwood.
Richard (1626-1712), người thừa kế chức Huân tước bảo hộ của Cromwell.
Henry (1628-1674), sau này trở thành Toàn quyền Ireland.
Elizabeth (1629-1658), kết hôn với John Claypole.
James (sinh và mất 1632), chết khi vừa sinh.
Mary (1637-1713), kết hôn với Thomas Belasyse, Bá tước thứ nhất của Fauconberg.
Frances (1638-1720), kết hôn với Robert Rich, rồi Sir John Russell.
Cha của Elizabeth, Sir James Bourchier, là một nhà kinh doanh đồ thuộc da ở London sở hữu những mảnh đất lớn tại Essex và có liên hệ chặt chẽ với những gia đình quý tộc nhỏ theo Thanh giáo ở đó. Cuộc hôn nhân giúp Cromwell có những liên hệ đầu tiên với Oliver St John và với nhiều thành viên chủ chốt của cộng đồng giới buôn bán kinh doanh tại London, những người nhận sự che chở về chính trị từ các bá tước của Warwick và Henry Rich, bá tước thứ nhất của Hà Lan. Việc trở thành một người trong nhóm người sùng đạo này có vai trò cốt tử với sự nghiệp chính trị cũng như binh nghiệp của Cromwell. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, không có nhiều tài liệu cho thấy tôn giáo thực sự của Cromwell là gì. Lá thư đề năm 1626 của ông gửi Henry Donwhall, một bộ trưởng theo đạo Tin lành dòng Arminian cho thấy Cromwell chưa bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Thanh giáo. Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy Cromwell đã trải qua những dằn vặt nội tâm liên quan tới tôn giáo của ông từ cuối những năm 1620 đến đầu những năm 1630. Ông phải điều trị về tâm lý với một bác sĩ ở London, Theodore de Mayerne vào năm 1628. Ông cũng tham gia vào một cuộc ẩu đả giữa các quý tộc nhỏ ở Huntingdon về hương ước mới cho thị trấn và đã bị gọi ra trước hội đồng thị trấn vào năm 1630.
Năm 1631, Cromwell bán hầu hết các bất động sản của ông ở Huntingdon; có thể là hậu quả của cuộc va trạm trên, và chuyển tới một trang trại ở St Ives, Cambridgeshire. Sự kiện này là một bước thụt lùi về địa vị xã hội của Cromwell và có lẽ đã ảnh hưởng mạnh tới tinh thần, quan điểm về tôn giáo và cảm xúc của ông. Một lá thư Cromwell viết cho vợ của Oliver St John năm 1638 thể hiện điều đó.
Năm 1636, Cromwell được thừa kế nhiều bất động sản ở Ely từ một người chú bên họ mẹ, cũng như công việc của người chú, một nhân viên thu thuế của nhà thờ Ely. Nhờ đó, thu nhập của ông tăng khoảng 300-400 bảng một năm. Khoản thu nhập này giúp ông trở lại với tầng lớp địa chủ nhỏ vào cuối những năm 1630. Ông cũng trở thành một người theo Thanh giáo thành tâm và thiết lập những mối quan hệ gia đình với các gia đình lớn ở London và Essex.
== Thành viên nghị viện: 1628-1629 và 1640-1642 ==
Cromwell trở thành thành viên của Nghị viện Huntingdon trong nhiệm kỳ 1628-1629. Ông không tạo được nhiều ảnh hưởng ở đó. Những tài liệu lưu trữ của nghị viện chỉ cho thấy một bài phát biểu không được đón nhận lắm của ông. Sau khi giải tán nghị viện này, vua Charles I cai trị mà không có nghị viện trong 11 năm tiếp theo. Khi Charles phải đối mặt với cuộc nổi dậy của những người Scotland, do không có đủ tiền, ông buộc phải thành lập nghị viện trở lại vào năm 1640. Cromwell trở lại là một thành viên của nghị viện Cambridge, nhưng nghị viện này chỉ tồn tại được ba tuần.
Một nghị viện thứ hai được thành lập cũng trong năm đó. Cromwell lại là nghị viên đại diện cho Cambridge. Cũng giống như giai đoạn 1628-1629, có vẻ như Cromwell có được vị trí này là nhờ sự bảo trợ của những người khác. Trong tuần đầu tiên nghị viện họp, ông được đề cử đọc kiến nghị về việc thả John Lilburne, bị bắt vì mang bất hợp pháp những văn bản về tôn giáo vào Anh từ Hà Lan, một nhiệm vụ lẽ ra không được giao cho một người còn khá là vô danh và ít ảnh hưởng như Cromwell. Trong hai năm đầu ở nghị viện, Cromwell liên hệ về mặt chính trị với một nhóm các quý tộc sùng đạo ở Thượng viện và các thành viên ở Hạ viện mà ông đã có mối liên hệ với tư cách cá nhân, tôn giáo và gia đình từ những năm 1630, như các bá tước Robert Devereux của Essex, Robert Rich của Warwick và Francis Russell của Bedford, Oliver St John, và tử tước William Fiennes của Saye và Sele. Trong giai đoạn này, nhóm quý tộc nói trên đang có dự định về một cuộc cải cách: quyền hành pháp do những nghị viện thông thường kiểm tra và mở rộng một cách vừa phải quyền tự do tín ngưỡng. Cromwell có lẽ cũng có một vai trò nào đó trong những mưu toan chính trị của nhóm này. Tháng 5 năm 1641, Cromwell đã thúc đẩy lần đọc thứ hai của Bộ luật nghị viện thường niên và sau đó đóng vai trò trong việc soạn thảo đạo luật về việc loại bỏ quy chế giám mục quản lý nhà thờ.
== Chỉ huy quân đội: 1642-1646 ==
Do không thể thống nhất trong việc giải quyết vấn đề Scotland, xung đột vũ trang giữa nghị viện và vua Charles I bùng nổ vào mùa thu năm 1642. Trước khi gia nhập lực lượng của nghị viện, kinh nghiệm quân sự duy nhất của Cromwell là những đợt huấn luyện với lực lượng dân quân địa phương. Vào lúc đó, ở tuổi 43, ông chiêu mộ được một đơn vị kỵ binh ở Cambridgeshire sau khi ngăn một đoàn vận chuyển bạc từ các đoàn thể ở Cambridge cho nhà vua. Cromwell cùng đội quân của mình sau đó tham gia trận đánh quyết định vào tháng 10 năm 1642, trận Edgehill. Đơn vị của ông được tăng lên thành một trung đoàn đầy đủ vào mùa đông năm 1642 và là một phần của liên quân phía đông do Edward Montagu, tử tước Manchester, chỉ huy. Cromwell có thêm kinh nghiệm và giành được chiến thắng trong nhiều trận đánh ở phía đông đảo Anh trong năm 1643, đáng kể nhất là trận Gainsborough ngày 28 tháng 7. Sau trận đánh này, Cromwell được cử làm thống đốc Ely và được thăng hàm đại tá trong liên quân phía đông.
Vào thời gian diễn ra trận Marston Moor tháng 7 năm 1644, Cromwell được thăng hàm thiếu tướng kỵ binh trong quân đoàn Manchester. Thành công của đội kỵ binh do ông chỉ huy trong việc chọc thủng hàng rào kỵ binh của quân hoàng gia rồi tấn công bộ binh từ phía sau tại Marston Moor là một yếu tố quan trọng đóng góp vào thắng lợi của phe nghị viện trong trận đánh đó. Cromwell luôn dẫn đầu đội quân của mình và đã bị một vết thương ở đầu. Cháu trai của ông, Valentine Walton, tử trận ở Marston Moor, và Cromwell viết một bức thư rất nổi tiếng cho cha của anh, anh rể của ông, kể lại cái chết can đảm của người lính. Trận Marston Moor giúp phe nghị viện kiểm soát miền bắc nước Anh, nhưng phe hoàng gia vẫn còn kháng cự.
Trận Newbury lần thứ hai bất phân thắng bại diễn ra vào tháng 10 năm 1644 đồng nghĩa với việc cho tới cuối năm 1644, cuộc chiến vẫn chưa có dấu hiệu gì sẽ kết thúc. Trong trận Newbury, quân đoàn của tử tước Manchester đã để quân của nhà vua phá vây, dẫn đến bất đồng trong quan điểm của Cromwell với Manchester. Cromwell cho rằng ông này không có đủ nhiệt tình để chỉ huy cuộc chiến. Manchester thì kết tội Cromwell chiêu mộ những người "thuộc dòng dõi thấp hèn" làm sĩ quan quân đội. Cromwell đáp trả rằng: "Nếu chọn những người trung thực làm đội trưởng kỵ binh, những người trung thực khác sẽ theo họ… Tôi thà có một đội trưởng khoác áo vải thô biết rõ anh ta chiến đấu cho cái gì và yêu cái mà mình chiến đấu cho còn hơn là một người mà ông gọi là quý tộc, nhưng chỉ có mỗi thế thôi". Lúc đó, Cromwell cũng bất đồng quan điểm với thiếu tướng Lawrence Crawford, một nhân vật của giáo hội Scotland liên minh với quân nghị viện của Manchester, người phản đối việc Cromwell khuyến khích sự tham gia của những người độc lập không theo chính thống giáo vào quân đội. Những khác biệt của Cromwell với các đồng minh người Scotland biến thành tình trạng thù địch công khai vào năm 1648 và giai đoạn 1650-1651.
Đầu năm 1645, nghị viện Anh thông qua một sắc lệnh buộc các thành viên của cả Hạ viện và Thượng viện, bao gồm cả tử tước Manchester, phải lựa chọn giữa một vị trí quản lý nhà nước hoặc chỉ huy quân đội. Tất cả các nghị viên, trừ Cromwell, đang làm nhiệm vụ trên chiến trường, quyết định từ bỏ các vị trí của mình trong quân đội. Sắc lệnh nói trên còn quy định việc tổ chức lại quân đội trên cơ sở quốc gia, thay thế cho những liên quân mang tính địa phương. Tháng 4 năm 1645, quân đội mới được thành lập với tổng tư lệnh là Sir Thomas Fairfax và Cromwell là phó tổng tư lệnh, hàm trung tướng kỵ binh. Lúc đó, quân số chiến trường của phe nghị viên gần gấp đôi của nhà vua. Trong trận Naseby tháng 6 năm 1645, quân nghị viên giành một chiến thắng hủy diệt trước quân nhà vua. Cromwell đã chỉ huy cánh quân của ông một cách xuất sắc tại Naseby và lại một lần nữa hạ gục đội kỵ binh hoàng gia. Trong trận Langport ngày 10 tháng 7 năm 1645, Cromwell tham gia trong thất bại của đội quân đáng kể cuối cùng của lực lượng hoàng gia. Hai trận đánh đó đã kết thúc hy vọng chiến thắng của nhà vua và các chiến dịch của phe nghị viện sau đó chỉ còn là tấn công, bao vây và đánh chiếm các vị trí phòng thủ của quân hoàng gia ở phía tây nước Anh. Tháng 10 năm 1645, Cromwell bao vây và chiếm được Basing House, nơi ông đã giết hàng trăm quân đóng giữ của phe hoàng gia sau khi họ đã đầu hàng. Cromwell cũng tham gia các trận vây hãm ở Bridgwater, Sherborne, Bristol, Devizes, và Winchester, rồi sau đó trải qua nửa đầu năm 1646 trong việc dập tắt các kháng cự cuối cùng của quân đội hoàng gia ở Devon và Cornwall. Charles I đầu hàng những người Scotland ngày 5 tháng 5 năm 1646, cuộc nội chiến kết thúc. Cromwell và Fairfax chính thức chấp nhận sự đầu hàng của phe hoàng gia ở Oxford vào tháng 6 năm đó.
Cromwell không hề được huấn luyện bài bản về chiến lược quân sự và ông cũng chỉ sử dụng đội hình kỵ binh ba hàng rất phổ biến thời bấy giờ. Những điểm mạnh của ông nằm ở khả năng lãnh đạo, huấn luyện, kỷ luật và đạo đức của một người cầm quân với binh sĩ dưới quyền. Trong một trận đánh mà cả hai bên đều sử dụng chủ yếu là quân không chính quy, những phẩm chất này trở nên đặc biệt quan trọng và có lẽ đã đóng góp vào chiến thắng quyết định của Cromwell.
== Tham gia chính trường: 1647–1649 ==
Tháng 2 năm 1647, Cromwell bị ốm và ông phải xa đời sống chính trị hơn một tháng. Vào lúc ông hồi phục, những thành viên nghị viện đang bị chia rẽ vì vấn đề liên quan đến nhà vua. Phần lớn các thành viên ở cả hai viện hướng tới một giải pháp làm hài lòng quân đội liên minh Scotland, giải tán quân đội mới và khôi phục ngai vàng cho Charles I đổi lấy việc giành một vùng đất riêng cho giáo hội Scotland. Cromwell phản đối hệ thống giáo hội của những người Scotland mà ông cho rằng sẽ thay thế chế độ quân chủ bằng một hình thức chuyên chế khác. Quân đội mới, bị chọc giận vì không được nghị viện trả khoản tiền lương mà họ còn nợ, kiến nghị chống lại những thay đổi này, nhưng Hạ viện đã bác bỏ kiến nghị đó. Tháng 5 năm 1647, Cromwell được cử tới tổng hành dinh quân đội ở Saffron Walden để thương lượng, nhưng hai bên không đạt được thỏa thuận. Tháng 6 năm 1647, một toán kỵ binh do Cornet George Joyce chỉ huy cướp lấy nhà vua khỏi sự giam giữ của nghị viện. Dù Cromwell có gặp Joyce vào ngày 31 tháng 5, nhưng cứ liệu lịch sử chưa đủ để khẳng định ông có vai trò như thế nào trong sự kiện đó.
Cromwell và Henry Ireton sau đó soạn thảo một bản tuyên ngôn Heads of Proposals đề xuất kiểm tra quyền lực của nhánh hành pháp, thiết lập nên những định chế dân cử mới và phục hồi thể chế quản lý không bắt buộc với nhà thờ. Rất nhiều tướng lĩnh quân đội, như những người theo phong trào Levellers do John Lilburne đứng đầu, cho rằng như thế là chưa đủ để mang tới sự bình đẳng về chính trị cho tất cả mọi người, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt ở Putney trong mùa thu năm 1647 giữa một bên là Cromwell, Ireton và bên kia là quân đội. Vụ mâu thuẫn Putney đã không đi tới giải pháp nào. Cuộc tranh luận đó, cùng với việc Charles I trốn thoát khỏi Hampton Court ngày 12 tháng 11, đã khiến Cromwell có thái độ cứng rắn hơn đối với nhà vua.
Thất bại trong việc đạt được một thỏa thuận chính trị với nhà vua đã dẫn đến cuộc nội chiến Anh lần thứ hai vào năm 1648 khi nhà vua tìm cách trở lại ngai vàng bằng vũ lực. Cromwell đánh bại một cuộc nổi dậy của quân bảo hoàng ở miền nam xứ Wales rồi sau đó hành quân lên miền bắc đối phó với lực lượng Scotland có khuynh hướng bảo hoàng. Trong trận Preston, Cromwell, lần đầu tiên nắm toàn quyền chỉ huy tối cao quân đội, đã dẫn đầu một đội quân 9.000 người giành một chiến thắng vẻ vang trước quân địch có quân số đông gấp đôi.
Tháng 12 năm 1648, nhóm các nghị viên muốn tiếp tục thương lượng với nhà vua bị khai trừ khỏi nghị viện do sức ép từ nhóm lính vũ trang dưới sự chỉ huy của đại tá Thomas Pride, tức sự kiện Pride’s Purge. Những nghị viên còn lại, được biết tới với tên gọi Nghị viện Rump, nhất trí rằng Charles I sẽ bị xét xử dựa trên cáo buộc tội phản quốc. Cromwell lúc bấy giờ vẫn còn ở miền bắc nước Anh để đối phó với sự chống cự của quân đội bảo hoàng. Tuy nhiên, sau khi ông trở lại London, vào ngày diễn ra sự kiện Pride’s Purge, Cromwell nhanh chóng trở thành một người ủng hộ cương quyết những ai muốn đem nhà vua ra xét xử và tuyên án tử hình. Cromwell tin rằng giết Charles I sẽ là cách duy nhất chấm dứt cuộc nội chiến. Lệnh tử hình nhà vua được ký bởi 59 thành viên chủ tọa phiên tòa xét xử, bao gồm Cromwell (là người thứ ba ký vào bản án). Charles I bị tử hình ngày 30 tháng 1 năm 1649.
== Thành lập Khối Liên hiệp Anh: 1649 ==
Sau khi nhà vua bị xử tử, một nhà nước cộng hòa ra đời, Khối liên hiệp Anh. “Nghị viện Rump” nắm cả quyền hành pháp và lập pháp, và một Hội đồng nhà nước nhỏ hơn được chia sẻ một số chức năng hành pháp. Cromwell là một thành viên của Nghị viện Rump và cũng là thành viên Hội đồng nhà nước. Trong những tháng đầu sau vụ xử tử Charles I, Cromwell đã nỗ lực, nhưng thất bại, trong việc đoàn kết một nhóm “những người bảo hoàng độc lập”. Cromwell có liên hệ với nhóm này kể từ khi nổ ra cuộc nội chiến Anh năm 1642 và liên hệ chặt chẽ với họ trong những năm 1640. Tuy nhiên, trong nhóm chỉ có Oliver St John tiếp tục ở lại Nghị viện Rump. Những người bảo hoàng khác bỏ chạy sang Ireland, nơi họ ký hiệp ước thành lập Liên hiệp Ireland. Vào tháng 3, Cromwell được Nghị viện Rump chỉ định làm tư lệnh cho chiến dịch tấn công Ireland. Những chuẩn bị cho cuộc xâm lược Ireland chiếm hết thời gian của Cromwell mấy tháng sau đó. Vào cuối những năm 1640, trong quân đội do Cromwell lãnh đạo bắt đầu nảy sinh xung đột về tư tưởng. Phong trào của những người Agitator trong quân đội muốn nước Anh trở thành một quốc gia với chủ quyền được quy định rõ ràng hơn, mở rộng quyền bỏ phiếu, đòi sự bình đẳng trước pháp luật cho tất cả mọi người và hòa hợp tôn giáo. Những quan điểm của họ được trình bày trong tuyên ngôn “Thỏa ước của quần chúng” vào năm 1647. Cromwell và những nhân vật lớn khác của Nghị viện Rump không đồng ý với những quan điểm này vì cho rằng chúng sẽ trao quá nhiều quyền tự do cho người dân; họ tin rằng quyền bỏ phiếu chỉ nên hạn chế ở những người chủ đất. Trong “cuộc tranh luận Putney” năm 1647, hai nhóm này đã tranh cãi quyết liệt về các chủ đề trên với hy vọng viết một hiến pháp mới cho nước Anh. Bạo động và xung đột vũ trang đã xảy ra trong thời gian diễn ra những cuộc tranh luận. Năm 1649, vụ bạo động ở Banbury đã dẫn tới việc một người của nhóm Agitator, Robert Lockyer, bị xử tử. Cromwell là người chỉ huy đàn áp các cuộc bạo loạn. Sau khi dẹp tan cuộc bạo loạn ở Andover và Burford vào tháng 5 năm 1649, Cromwell lên đường tới Ireland để bắt đầu cuộc xâm lược Ireland từ Bristol vào cuối tháng 7.
== Chiến dịch Ireland: 1649–1650 ==
Cromwell chỉ huy cuộc xâm lược Ireland của nghị viện Anh diễn ra vào các năm 1649 và 1650. Đối thủ chính của quân đội cộng hòa do Cromwell chỉ huy là liên minh giữa Liên hiệp Ireland và những người bảo hoàng Anh, theo một hiệp ước ký năm 1649. Liên minh này được coi là mối đe dọa lớn nhất với nền cộng hòa non trẻ và với Liên hiệp Anh. Tuy nhiên, tình hình chính trị ở Ireland năm 1649 rất hỗn loạn: một lực lượng ly khai lớn của những người Ireland Công giáo La Mã phản đối liên minh với những người bảo hoàng Anh giáo, và lực lượng bảo hoàng theo đạo Tin lành lại ít nhiều có cảm tình với nghị viện Anh. Trong một bài phát biểu trước hội đồng quân sự Anh ngày 23 tháng 3 năm 1649, Cromwell nói “tôi thà bị bị một người bảo hoàng lật đổ còn hơn bị một người Scotland lật đổ; tôi thà bị một người Scotland lật đổ còn hơn bị một người Ireland lật đổ, và tôi nghĩ tất cả bọn chúng đều nguy hiểm như nhau”.
Thái độ thù địch của Cromwell với những người Ireland vừa có nguyên nhân tôn giáo, vừa có nguyên nhân chính trị. Ông là người phản đối cương quyết giáo hội Công giao La Mã, mà ông cho rằng đã hy sinh kinh thánh cho quyền hành của Giáo hoàng và giới tăng lữ cấp cao, đồng thời đã mạnh tay đàn áp những người Tin lành ở châu Âu. Sự thù địch của Cromwell với Công giáo La Mã thêm sâu sắc do cuộc nổi loạn Ireland 1641. Cuộc nổi loạn này, dù ban đầu được tính toán là sẽ không đổ máu, đã dẫn tới vụ thảm sát những người định cư Anh và Scotland theo đạo Tin lành ở Ireland. Những nhân tố này góp phần giải thích sự tàn bạo trong chiến dịch Ireland của Cromwell.
Nghị viện Anh đã định chinh phục Ireland từ năm 1641 và đã đưa quân vào Ireland từ năm 1647. Nhưng cuộc tấn công của Cromwell năm 1649 có quy mô lớn hơn nhiều, sau khi cuộc nội chiến Anh đã kết thúc và nguồn lực có thể tập trung cho cuộc chiến với Ireland. Chiến dịch quân sự chín tháng của ông diễn ra chóng vánh và hiệu quả, dù chưa thể chấm dứt chiến tranh ở Ireland. Trước khi Cromwell đưa quân vào, các lực lượng của nghị viện Anh chỉ chiếm các tiền đồn ở Dublin và Derry. Khi ông rời Ireland, quân Anh đã chiếm đóng phần lớn phía đông và bắc Ireland. Sau khi ông tới Dublin ngày 15 tháng 8 năm 1649, Cromwell thiết lập các cơ sở hậu cần cho quân Anh ở những cảng biển Drogheda và Wexford. Trong trận vây hãm Drogheda tháng 9 năm 1649, quân đội của Cromwell đã giết chết gần 3.500 người sau khi chiếm được thị trấn, bao gồm 2.700 lính của lực lượng bảo hoàng và tất cả những đàn ông cầm vũ khí trong thị trấn, bao gồm cả một số thường dân, tù nhân và tăng lữ Công giáo La Mã.
Cromwell viết sau đó:
"Tôi tin rằng đây là sự phán xét xứng đáng của Chúa trời lên bọn cặn bã mọi rợ này, những kẻ mà bàn tay đã nhuốm đầy máu người vô tội và điều này sẽ giúp ngăn máu đổ thêm trong tương lai, chỉ những lý do như thế mới có thể biện minh cho những hành động thế này mà không phải hối tiếc hay dằn vặt".
Sau khi chiếm Drogheda, Cromwell chia một cánh quân ra tiến về đánh Ulster ở miền bắc Ireland, còn ông tiếp tục dẫn quân chủ lực vây hãm Waterford, Kilkenny và Clonmel ở đông nam Ireland. Kilkenny, New Ross và Carlow đều đã đầu hàng có điều kiện, nhưng Cromwell không thể chiếm được Waterford và ở trận vây hãm Clonmel tháng 5 năm 1650, ông đã mất 2.000 quân trong những đợt công thành trước khi thị trấn này đầu hàng.
Một trong những chiến thắng lớn của ông ở Ireland là về mặt ngoại giao hơn là quân sự. Với sự trợ giúp của Roger Boyle, tử tước thứ nhất của Orrery, Cromwell thuyết phục được quân đội của những người bảo hoàng theo Tin lành ở Cork trở giáo và chiến đấu với quân nghị viện. Ở thời điểm này, Cromwell biết tin Charles II (con trai Charles I) đã từ Pháp cập bến đất liền đảo Anh tại Scotland và xưng là vua hợp pháp của nước Anh. Cromwell vì thể trở về Anh từ Youghal ngày 26 tháng 5 năm 1650 để đối phó với mối đe dọa mới.
Cuộc chinh phục Ireland của quân nghị viện tiếp tục trong gần ba năm sau khi Cromwell đã về Anh. Các chiến dịch do những người kế nhiệm Cromwell chỉ huy, Henry Ireton và Edmund Ludlow chủ yếu bao gồm việc vây hãm dài ngày các thành phố và thị trấn có tường bao cũng như đối phó với chiến tranh du kích ở vùng nông thôn. Đô thị cuối cùng do những người Công giáo La Mã chiếm giữ, Galway, thất thủ vào tháng 4 năm 1652 và những binh sĩ Công giáo La Mã cuối cùng đầu hàng vào tháng 4 năm sau, 1653.
Sau cuộc chinh phục Ireland của nghị viện Anh, việc hành lễ Công giáo La Mã công khai bị cấm ở đây và các linh mục Công giáo La Mã bị xử tử nếu bị bắt. Mọi đất đai của Giáo hội bị tịch thu theo đạo luật bình định Ireland 1652 và trao lại cho những người định cư Anh và Scotland, cũng như các chủ nợ của nghị viện và binh sĩ Anh chiến đấu trong cuộc chiến. Những chủ đất Công giáo La Mã còn lại bị buộc đổi lấy các vùng đất nghèo nàn hơn ở tỉnh Connacht. Dưới chế độ mới, sở hữu đất của những người Công giáo La Mã, bao gồm nhà thờ, giảm từ 60% diện tích đất canh tác ở Ireland xuống chỉ còn 8%.
== Tranh luận về ảnh hưởng của Cromwell ở Ireland ==
Sự tàn bạo trong chiến dịch tấn công Ireland của Cromwell là chủ đề gây tranh cãi dữ dội trong giới sử gia. Một số sử gia cho rằng Cromwell không bao giờ thừa nhận trách nhiệm việc sát hại thường dân ở Ireland, tuyên bố ông đã khắc nghiệt, nhưng chỉ là với những kẻ “có vũ trang”. Tuy nhiên, các sử gia khác dẫn những báo cáo mới được phát hiện gần đây của Cromwell với London đề ngày 27 tháng 9 năm 1649 trong đó ông đề cập tới việc sát hại 3.000 binh lính “và nhiều người dân”. Tháng 9 năm 1649, Cromwell cũng đã biện minh cho việc cướp bóc và giết chóc ở Drogheda như một cuộc trả thù cho những cuộc thảm sát người định cư Tin lành tại Ulster năm 1641. Ông gọi cuộc thảm sát Drogheda là “phán xét xứng đáng của Chúa trời cho bọn man rợ bẩn thỉu mà tay chúng đã nhuốm đầy máu người vô tội”. Tuy nhiên, Drogheda thật ra không hề thuộc quyền kiểm soát của quân nổi loạn vào năm 1641, mà nhiều người trong lực lượng đồn trú ở đây là những người bảo hoàng Anh. Mặt khác, những tội ác chiến tranh tồi tệ đã diễn ra ở Ireland, như việc cướp đoạt tài sản, sát hại và trục xuất hơn 50.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em là tù nhân chiến tranh và những người hầu trong các gia đình có tiền của sang Bermuda và Barbados, được tiến hành theo mệnh lệnh của những viên tướng chỉ huy khác sau khi Cromwell đã rời Ireland về Anh. Tuy nhiên, các sử gia khác lại cho rằng rốt cuộc Cromwell chính là chỉ huy tối cao của đạo quân đó. Từng có lúc trong chiến dịch Ireland, Cromwell yêu cầu quân đội không được cướp bóc của thường dân mà phải mua mọi thứ với giá sòng phẳng; “Tôi vì thế cảnh báo… tất cả sĩ quan, binh lĩnh và những người khác dưới quyền chỉ huy của tôi không được làm gì sai trái hay có hành động bạo lực với nông dân hay bất kỳ thường dân nào khác, trừ khi họ có vũ khí hay là sĩ quan của kẻ thù… bằng không họ sẽ phải trả lời cho những tội ác của họ”. Tuy nhiên cũng đáng nhắc rằng khi ông tới Dublin, thành phố này về cơ bản không còn người Công giáo La Mã nào do tất cả đã bị trục xuất trước đó.
Những vụ thảm sát như ở Drogheda và Wexford cũng không phải là hiếm gặp ở thời bấy giờ, trong bối cảnh chiến tranh Ba mươi năm vừa kết thúc, dù bản thân các sự kiện như thế ít gặp hơn trong những cuộc nội chiến ở Anh và Scotland, vốn chủ yếu diễn ra giữa chính những người Tin lành ở các phe phái khác nhau. Sự giống nhau về tôn giáo, vì thế, làm giảm mức độ tàn khốc. Một sự so sánh tương ứng có lẽ là trận vây hãm Basing House của Cromwell năm 1645, nơi đồn trú của một nhân vật Công giáo La Mã lớn, Hầu tước của Winchester, mà 100 trong 400 binh sĩ chiếm đóng đã bị xử tử. Các tài liệu mới đây cũng cho thấy có thiệt hại dân sự trong trận đánh đó, sáu linh mục Công giáo La Mã và một phụ nữ, dù rằng quy mô của thiệt hại nhân mạng tại Basing House thấp hơn nhiều so với ở Ireland. Bản thân Cromwell giải thích về cuộc thảm sát Drogheda trong lá thư đầu tiên của ông gửi cho Hội đồng nhà nước Anh: “Tôi tin rằng chúng tôi đã tiêu diệt toàn bộ những kẻ phòng thủ thị trấn. Tôi nghĩ toàn bộ số trốn thoát không vượt quá ba mươi người”. Mệnh lệnh của Cromwell, “giữa lúc nước sôi lửa bỏng, tôi cấm các binh sĩ không được tha cho kẻ nào có vũ trang trong thị trấn”, tiếp nối sau khi yêu cầu thị trấn đầu hàng trước đó của ông bị từ chối. Lệ thường của giới quân đội ngày đó là một thị trấn từ chối đầu hàng cũng coi như bỏ luôn quyền được bên thắng cuộc tha bổng. Việc Drogheda từ chối đầu hàng, dù quân công thành đã phá vỡ bức tường thành, là lý do để Cromwell biện minh cho vụ thảm sát. Những nơi mà Cromwell thương lượng được và các thị trấn bị vây hãm đầu hàng, như Carlow, New Ross và Clonmel, một số sử gia nói ông đã tôn trọng các điều khoản đầu hàng, bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân trong thị trấn. Riêng ở Wexford, Cromwell đã bắt đầu cuộc thương lượng cho quân đồn trú quy hàng. Tuy nhiên, trong khi viên chỉ huy ở Wexford đang chuẩn bị làm các thủ tục đầu hàng thì một số binh sĩ của Cromwell đã phá được tường thành, lọt vào thị trấn, bắt đầu giết chóc và cướp bóc. Vào cuối các chiến dịch của Cromwell, tình trạng cướp trắng đất đai của những chủ đất Công giáo La Mã diễn ra công khai, và dân số Ireland giảm mạnh.
Dù thời gian của Cromwell ở Ireland trong chiến dịch khá ngắn ngủi, và dù ông chỉ nắm quyền cai trị hòn đảo này tới năm 1653, ông thường là nhân vật tâm điểm trong những cuộc tranh luận về việc phải chăng Liên hiệp Anh đã thực hiện một chương trình diệt chủng có hệ thống ở Ireland. Đối mặt với nguy cơ một liên minh của Ireland với Charles II, Cromwell đã tiến hành hàng loạt vụ thảm sát để khuất phục những người Ireland. Sau này, khi ông trở lại Anh, tư lệnh quân Anh ở Ireland, tướng Henry Ireton, thực hiện một chính sách đàn áp tàn bạo khiến khoảng 600.000 người Ireland thiệt mạng trong tổng dân số 1,4 triệu người lúc bấy giờ.
Những cuộc vây hãm Drogheda và Wexford được đề cập rất nhiều trong lịch sử và văn học hiện đại. James Joyce chẳng hạn, nhắc tới Drogheda trong tiểu thuyết “Ulysses” của ông. Tương tự, Winston Churchill (viết năm 1957) tả lại ảnh hưởng của Cromwell tới quan hệ Anh-Ireland:
... những di sản Cromwell để lại đã đầu độc mối quan hệ (Anh-Ireland). Bằng tiến trình khủng bố, tịch thu đất đai bất hợp lý, đàn áp Công giáo La Mã, bằng những hành động đẫm máu đã được nêu trên, ông ta đã tạo ra hố ngăn cách không thể vãn hồi giữa các quốc gia và các tín ngưỡng. “Địa ngục hay Connaught” trở thành một thành ngữ của cư dân bản địa và sau hàng ba trăm năm, họ vẫn dùng những thành ngữ như “cầu cho Cromwell bắt mày đi” để nguyền rủa nhau… Còn với các quốc gia hiện đại chúng ta, chúng ta vẫn đang sống trong “lời nguyền Cromwell”
Cromwell ngày nay vẫn là một nhân vật bị căm ghét ở Ireland, tên ông gắn với những cuộc thảm sát, thanh trừng tôn giáo, sắc tộc và tước đoạt tài sản của người Công giáo La Mã ở đó.
Một nhận định rất quan trọng về quan điểm của chính Cromwell với cuộc chinh phục Ireland được nêu ra trong “Tuyên bố của tư lệnh lực lượng chinh phục Ireland với những người lầm lạc” đề tháng 1 năm 1650. Trong tuyên bố này, ông tuyên bố công khai mình không chấp nhận Công giáo La Mã, “Chừng nào tôi còn nắm quyền, tôi sẽ không chấp nhận được việc hành lễ kiểu Công giáo La Mã”. Tuy nhiên, ông cũng tuyên bố: “Với người dân, việc họ theo tôn giáo nào là việc của riêng họ và tôi không thể với tới; nhưng tôi sẽ suy nghĩ về điều đó theo trách nhiệm của mình, nếu họ trung thực và muốn hòa bình, thì tôi sẽ không khiến ai phải đau khổ”. Các binh lính đầu hàng buông vũ khí “và sống hòa bình và trung thực ở nhà của họ sẽ được phép tiếp tục làm như thế”. Giống như trong nhiều sự kiện khác suốt cuộc đời Cromwell, luôn nổ ra tranh luận về tính thành thật trong những tuyên bố của ông: Nghị viện Rump, thông qua đạo luật bình định Ireland năm 1652, thiết lập một chính sách khắc nghiệt hơn nhiều so với những tuyên bố có phần mềm mỏng đó của Cromwell.
Năm 1965, bộ trưởng phụ trách đất đai của Ireland vẫn còn nói những chính sách của ông là cần thiết vì để “đảo ngược những gì Cromwell đã làm”; tận năm 1997, Thủ tướng Ireland Bertie Ahern còn yêu cầu một bức hình chân dung Cromwell phải bị mang ra khỏi một căn phòng ở trụ sở quốc hội Anh, Cung điện Westminster trước khi ông bắt đầu một cuộc hội đàm với Thủ tướng Anh Tony Blair.
== Chiến dịch Scotland: 1650–51 ==
=== Charles II lên ngôi ở Scotland ===
Cromwell rời Ireland vào tháng 5 năm 1650 và vài tháng sau đó chỉ huy cuộc tấn công Scotland sau khi con trai của Charles I, Charles II lên ngôi vua tại đây. So với cuộc chinh phục Ireland, Cromwell tỏ ra ít khắc nghiệt hơn với những người Scotland, vốn bao gồm cả các đồng minh của ông trong cuộc nội chiến Anh lần thư nhất. Ông mô tả những người Scotland “lừa lọc, nhưng vẫn biết sợ hãi Chúa trời”. Ông đã kêu gọi giáo hội Scotland không đứng về phía những người bảo hoàng, “tôi khẩn thiết xin các ngài hiểu rằng, dưới ánh sáng của Chúa trời, các ngài có thể đã phạm sai lầm”. Nhưng những người Scotland đã từ chối từ bỏ Charles II và Cromwell cho rằng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi.
=== Trận Dunbar ===
Sau khi đề nghị của ông bị từ chối, Cromwell dẫn đạo quân dày dạn trận mạc của ông tấn công Scotland. Ban đầu, chiến dịch diễn ra không thuận lợi do quân đội của Cromwell thiếu chuẩn bị về hậu cần và quân Scotland dưới sự lãnh đạo của tướng David Leslie chiến đấu rất can đảm. Bệnh dịch cũng bắt đầu xảy ra trong quân đội Cromwell và ông đã định rút lui bằng đường biển từ Dunbar. Tuy nhiên, ngày 3 tháng 9 năm 1650, trong một trận chiến bất ngờ, Cromwell đè bẹp quân chủ lực của đối phương ở trận Dunbar, tiêu diệt 4.000 binh lính Scotland, cầm tù 10.000 quân nữa và rồi tiến thẳng lên chiếm thủ đô Scotland Edinburgh. Chiến thắng này lớn tới mức Cromwell gọi đó là “hành động của đấng tối cao và là bằng chứng về ân sủng của Chúa trời với người dân Anh”.
=== Trận Worcester ===
Năm 1651, Charles II và các đồng minh Scotland của ông lập kế hoạch tấn công Anh và chiếm London khi Cromwell đang bận rộn ở Scotland. Cromwell dẫn quân đuổi theo họ về miền nam và hai bên chạm trán ở Worcester ngày 3 tháng 9 năm 1651. Trọng trận Worcester, lực lượng của Cromwell tiêu diệt lực lượng lớn cuối cùng của quân đội bảo hoàng Scotland. Charles II suýt nữa thì bị bắt sống và sau đó lưu vong sang Pháp, rồi Hà Lan, nơi ông sẽ ở lại tới năm 1660. Nhiều tù binh Scotland bị bắt trong chiến dịch này chết vì dịch bệnh, những người khác bị gửi đi lao động khổ sai ở các thuộc địa.
=== Kết cuộc ===
Trong giai đoạn cuối cùng chiến dịch Scotland, binh lính của Cromwell, dưới quyền chỉ huy của George Monck, đã tàn phá Dundee, sát hại 1.000 đàn ông và 140 phụ nữ và trẻ em. Trong thời kỳ Liên hiệp Anh, Scotland bị Anh cai trị và chiếm đóng. Vùng cao nguyên đông bắc Scotland nổ ra một cuộc nổi dậy của những người bảo hoàng vào giai đoạn 1653–55, nhưng bị đàn áp thẳng tay sau khi Anh triển khai 6.000 binh sĩ ở đó. Người Scotland theo Tin lành vẫn được hành đạo như cũ, nhưng giáo hội Scotland không còn quyền lực với các phán quyết dân sự như trước kia.
Cuộc chinh phục của Cromwell với Scotland, dù không được chào đón, không để lại hậu quả nào trong quan hệ Anh-Scotland. Việc cai trị của Anh với Scotland và chế độ bảo hộ công diễn ra khá hòa bình. Cũng không diễn ra tình trạng tịch thu đất đai và tài sản hàng loạt. Ba trong bốn thành viên của Hội đồng hòa bình tối cao phụ trách Scotland trong khối Liên hiệp là người Scotland và vùng đất này được cai trị chung bởi các quan chức quân sự Anh và dân sự Scotland. Dù cũng không được yêu mến gì, tên tuổi Cromwell không bị thù ghét ở Scotland như Ireland.
== Trở lại Anh và giải tán Nghị viện Rump: 1651–53 ==
Từ giữa năm 1649 cho tới năm 1651, Cromwell bận rộn với các chiến dịch đánh Ireland và Scotland. Trong khi đó, không còn chế độ quân chủ, nhiều phe phái trong nghị viện bắt đầu đấu tranh nội bộ để giành giật quyền lực. Khi trở lại Anh, Cromwell cố gắng dàn xếp để Nghị viện Rump đồng ý về ngày tổ chức những cuộc tuyển cử mới, thống nhất cả ba vương quốc, Anh, Scotland và Ireland dưới một thực thể chính trị, thành lập một giáo hội “hiệp thương”, hòa hợp. Tuy nhiên, Nghị viện Rump không thể định được ngày bầu cử mới và dù có các nguyên tắc hoạt động cơ bản là tự do và dân chủ, nghị viện đã không thể đạt được những thỏa thuận về thuế khóa và không dàn xếp được vấn đề tôn giáo ở chế độ mới. Quá thất vọng, tháng 4 năm 1653, Cromwell yêu cầu Nghị viện Rump thành lập một chính quyền lâm thời gồm 40 thành viên (từ Nghị viện Rump và từ quân đội). Tuy nhiên, tranh luận về đạo luật cho chính quyền mới này lại lâm vào bế tắc. Cromwell quá giận dữ nên ngày 20 tháng 4 năm 1653, với sự hộ tống của bốn mươi tay súng hỏa mai, đã vào giải tán nghị viện bằng vũ lực. Còn lại một số tài liệu về sự kiện này: Cromwell đã nói “tôi phải nói rằng quý vị chẳng phải là nghị viên nữa, các vị bị giải tán”. Ít nhất hai tài liệu nói Cromwell đã chộp lấy chiếc búa điều khiển, biểu tượng của nghị viện và yêu cầu binh lính đưa “những gã hề” ra khỏi nghị viện. Chỉ huy quân đội của Cromwell là Charles Worsley, sau này trở thành một trong những người tin cẩn nhất của ông, và là người được Cromwell giao giữ chiếc búa.
== Thành lập Nghị viện Barebone: 1653 ==
Sau khi Nghị viện Rump bị giải tán, quyền lực được chuyển giao tạm thời cho một hội đồng tranh luận về hiến pháp mới. Họ tiếp nhận đề nghị của Thomas Harrison thành lập một nghị viện mới dựa trên cơ sở uy tín tôn giáo của những người sẽ trở thành nghị viên. Đề nghị nhận được sự ủng hộ của Cromwell. Trong bài phát biểu khai mạc nghị viện mới ngày 4 tháng 7 năm 1653, Cromwell nói ông cảm ơn ân điển của Chúa trời đưa nước Anh tới thời điểm này và xác định sứ mệnh của nghị viện mới. Đôi khi được gọi là Nghị viện của các thánh hay Nghị viện những người được đề cử, nghị viện mới còn có tên là Nghị viện Barebone, theo tên một thành viên trong nghị viện, Praise-God Barebone. Nghị viện mới được giao viết một hiến pháp lâu dài và xử lý các vấn đề tôn giáo (Cromwell được mời tham gia nhưng từ chối). Tuy nhiên, vì khuynh hướng tôn giáo cực đoan ngày càng thắng thế, nghị viện mới đã bỏ phiếu tự giải tán ngày 12 tháng 12 năm 1653, do lo ngại quyền lực rơi vào tay những người tôn giáo cực đoan.
== Bảo hộ công của Liên hiệp Anh: 1653–58 ==
Sau khi Nghị viện Barebone bị giải tán, John Lambert đề xuất một hiến pháp mới, hiến pháp 1653, biến Cromwell thành bảo hộ công suốt đời của Liên hiệp Anh, có trách nhiệm “là người đứng đầu tư pháp và hành pháp của chính quyền”. Cromwell tuyên thệ nhậm chức bảo hộ công ngày 16 tháng 12 năm 1653, trong một buổi lễ mà ông ăn mặc quần áo giản dị, thay vì các trang phục hoàng gia trang trọng. Tuy nhiên, từ đó trở đi, Cromwell ký tên ông là “Oliver P”, với chữ “P” là viết tắt của “Protector”, tức bảo hộ công, giống với việc các nhà quân chủ Anh vẫn ký tên mình với chữ “R” phía sau, viết tắt của “Rex” hay “Regina” tức tiếng Latin của “vua” và “nữ hoàng”, một thông lệ dành cho các nhà quân chủ khác là những người khác bắt đầu phải thưa “Your Highness” (tức “thưa thánh thượng”, “thưa bệ hạ”) khi nói chuyện với Cromwell. Là bảo hộ công, ông có quyền triệu tập và giải tán nghị viện, nhưng phải tuân theo hiến pháp và phải được Hội đồng nhà nước thông qua quyết định đó với đa số biểu quyết. Dẫu vậy, quyền lực của Cromwell là rất lớn nhờ vị thế độc tôn của ông ở quân đội. Là bảo hộ công, ông có mức lương 100.000 bảng mỗi năm.
Cromwell đặt ra hai mục tiêu chính trong thời gian làm bảo hộ công. Thứ nhất là “hàn gắn và ổn định” đất nước sau những hỗn loạn của các cuộc nội chiến và việc xử tử nhà vua, tức là phải thiết lập một hình thức chính quyền ổn định. Tuy nhiên, trong khi Cromwell muốn đảm bảo duy trì một chính thể cộng hòa, trên thực tế các ưu tiên cải cách xã hội vẫn quan trọng hơn là hình thái chính quyền. Thêm vào đó, dù chính quyền của Cromwell là một chính quyền cách mạng, trật tự xã hội Anh không thay đổi nhiều dưới chính quyền mới. Cromwell tuyên bố, “Một nhà quý tộc, một trí thức, một tiểu điền chủ: đó là những thành phần cơ bản của đất nước”, Những cải cách quy mô nhỏ trong hệ thống tư pháp không đáng kể so với các nỗ lực vãn hồi trật tự chính trị ở Anh. Thuế trực thu được giảm một chút và một hòa ước được ký với Hà Lan, kết thúc cuộc chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ nhất.
Các thuộc địa của Anh ở Mỹ trong giai đoạn này bao gồm New England, Providence, Virginia và Maryland. Cromwell nhanh chóng nhận được sự thừa nhận của các thuộc địa này và chủ yếu để cho các thuộc địa tự trị như trước kia, chỉ can thiệp khi những người Thanh giáo nổi loạn ở thuộc địa Maryland trong trận Severn. Trong tất cả các thuộc địa của Anh, Virginia là thuộc địa bất mãn nhất với sự cai trị của Cromwell.
Cromwell có bài phát biểu nổi tiếng nhấn mạnh sứ mệnh vãn hồi trật tự và ổn định chính trị tại Anh của ông với Nghị viện bảo hộ công thứ nhất trong cuộc họp ra mắt của nghị viện này ngày 3 tháng 9 năm 1654. Ông tuyên bố “hàn gắn và ổn định” là “mục tiêu tối thượng của cuộc họp của chúng ta ngày hôm nay”. Tuy nhiên, nghị viện nhanh chóng rơi vào tay những người có khuynh hướng cộng hòa cực đoan. Sau vài cử chỉ hòa giải hình thức thuận theo Cromwell, nghị viện này bắt đầu thúc đẩy các chương trình cực đoan cải cách hiến pháp theo hướng cộng hòa hóa triệt để nền chính trị Anh. Thay vì phản đối các đạo luật của nghị viện, Cromwell quyết định giải tán luôn nghị viện ngày 22 tháng 1 năm 1655.
Mục tiêu thứ hai của Cromwell là cải cách tôn giáo. Ông muốn khôi phục quyền tự do tín ngưỡng, nhưng đồng thời thanh lọc giới tăng lữ tôn giáo cấp cao ở Anh. Trong những tháng đầu của chính quyền bảo hộ công, hàng loạt các cơ chế “thanh tra viên” đã được thiết lập để đánh giá các tăng lữ tương lai cũng như loại bỏ những người được cho là không phù hợp với các địa vị lãnh đạo tôn giáo. Cũng trong bối cảnh đó, chính quyền Cromwell thử nghiệm hình thức chính quyền quân sự toàn trị sau khi nghị viện bảo hộ công lần thứ nhất bị giải tán. Sau cuộc nổi loạn của những người bảo hoàng vào tháng 3 năm 1655 do John Penruddock lãnh đạo, Cromwell (với ảnh hưởng của Lambert) đã chia nước Anh ra thành các “quân khu” do các tướng lĩnh quân đội cai trị và những người này trả lời trực tiếp với ông. Mười lăm viên tướng và phó tướng, trong cuộc cải cách mới, không chỉ cai quản quân đội và trị an, mà cả thu thuế và vận động người dân ủng hộ chính quyền ở các tỉnh Anh và xứ Wales. Các phái viên do chính quyền trung ương cử xuống sẽ hợp tác với họ trong việc bảo đảm hòa bình ở những quân khu do họ phụ trách. Tuy nhiên, hệ thống chính quyền quân quản này chỉ tồn tại được không tới một năm. Vào tháng 9 năm 1656, một nghị viện mới, Nghị viện bảo hộ công lần thứ hai, được thành lập, và chế độ quân quản chấm dứt.
Là bảo hộ công, Cromwell hiểu rất rõ tầm quan trọng của cộng đồng Do Thái trong các hoạt động kinh tế tại Hà Lan, giờ là đối thủ thương mại lớn nhất của Anh. Chính vì thế, cùng với việc Cromwell chấp nhận sự khác biệt về tôn giáo, miễn là những người không phải Thanh giáo như ông thờ phụng và hành lễ riêng tư, ông đã khuyến khích người Do Thái trở về Anh thông qua chương trình hỗ trợ định cư cho người Do Thái ở Anh năm 1657, hơn 350 năm sau khi họ bị vua Edward I trục xuất khỏi đất nước. Cromwell cũng hy vọng họ sẽ giúp nước Anh hồi phục kinh tế, đã bị tàn phá nặng nề vì cuộc nội chiến. Trong dài hạn, Cromwell còn muốn cải đạo những người Do Thái.
Năm 1657, nghị viện đề xuất Cromwell lên ngôi vua trong một chương trình cải cách hiến pháp mới, đẩy ông vào thế khó xử vì ông là nhân vật chính trong việc loại bỏ nền quân chủ trước kia. Cromwell đã cân nhắc đề nghị đó trong sáu tuần lễ và tỏ ra hứng thú nhờ vào sự ổn định mà việc đất nước có một vị vua chính thức mang lại, nhưng trong một bài phát biểu ngày 13 tháng 4 năm 1657, ông nói rõ rằng ý Chúa không chấp nhận một vị vua nữa ở Anh.
Thay vào đó, Cromwell được tái bổ nhiệm bảo hộ công trong một buổi lễ long trọng ngày 26 tháng 6 năm 1657 ở cung điện Westminster, và ông cũng ngồi lên chiếc ghế của vua Edward I, được chuyển tới từ Tu viện Westminster riêng cho dịp này. Buổi lễ không khác nhiều so với lễ đăng cơ của một hoàng đế, với các nghi thức và biểu tượng hoàng gia, như áo trùm màu tím, thanh gươm công lý và một cây quyền trượng (dù không có vương miệng). Nhưng điều đáng chú ý là tước vị bảo hộ công không phải cha truyền con nối, dù Cromwell có quyền chỉ định người kế nhiệm.
== Qua đời và bị quật xác lên xử tử ==
Cromwell được cho là bị bênh sốt rét và sỏi thận khi về già. Năm 1658, ông bị sốt nặng, kèm theo là những biến chứng bệnh thận. Sức khỏe của ông có thể đã suy sụp nhanh hơn bởi việc một trong những con gái của ông, Elizabeth Claypole, qua đời tháng 8 năm 1658. Cromwell qua đời ở tuổi 59 tại Whitehall ngày 3 tháng 9 năm 1658, cũng là ngày kỷ niệm các chiến thắng lớn của ông ở Dunbar và Worcester. Nguyên nhân khả dĩ nhất dẫn tới cái chết của ông là bị nhiễm trùng huyết do biến chứng sỏi thận. Ông được chôn cất trong một tang lễ long trọng, tương đương với các nghi lễ dành cho tang lễ của vua James I, tại Tu viện Westminster, con gái ông Elizabeth cũng được chôn cất ở đây.
Thay ông làm bảo hộ công của Liên hiệp Anh là con trai ông, Richard Cromwell. Dù không phải là kẻ bất tài, Richard không thể nào có được ảnh hưởng như bố ở cả quốc hội và trong quân đội. Ông buộc phải thoái vị tháng 5 năm 1659, chấm dứt chế độ bảo hộ công. Trong một thời gian, nước Anh không có một lãnh đạo rõ ràng vì những đấu đá quyền lực giữa các phe phái khác nhau cho tới khi George Monck, thống đốc Anh ở Scotland, đứng đầu quân đội mới tiến vào London và tái lập Nghị viện Dài. Dưới sự giám sát của Monck, hiến pháp Anh lại được điều chỉnh để năm 1660 Charles II được mời về khi đang lưu vong để tái lập nền quân chủ.
Ngày 30 tháng 1 năm 1661, (kỷ niệm 12 năm ngày xử tử Charles I), thi thể Cromwell bị quật lên từ Tu viện Westminster, và bị hành hình. Thi thể của Robert Blake, John Bradshaw và Henry Ireton cũng chịu chung số phận (thi thể con gái Cromwell vẫn được giữ nguyên ở Abbey). Thi thể của ông sau đó bị treo lên những sợi xích ở Tyburn, rồi bị ném vào một cái hố. Đầu của Cromwell bị bêu trên một cây cột bên ngoài Cung điện Westminster tới năm 1685. Sau đó đầu của Cromwell trở thành vật sở hữu của nhiều người khác nhau và được mang ra triển lãm vài lần, bao gồm việc bán cho Josiah Henry Wilkinson năm 1814, trước khi được chôn cất trở lại ở tiền sảnh giáo đường Đại học Sidney Sussex Cambridge, vào năm 1960. Vị trí chính xác của cái đầu lâu không bao giờ được công khai.
Tuy nhiên, nhiều người nghi ngờ thi thể bị hành hình tại Tyburn có thể không phải là của Cromwell. Sở dĩ xuất hiện những nghi ngờ này là vì từ khi ông qua đời tháng 9 năm 1658 tới khi bị quật lên vào tháng 1 năm 1661, thi thể của ông đã được chôn đi chôn lại vài lần để ngăn những người bảo hoàng đầy thù hận xâm phạm. Có những giả thuyết nói thi thể của ông được chôn ở London, Cambridgeshire, Northamptonshire hoặc Yorkshire. Và cho tới giờ, câu hỏi về việc thi thể bị hành hình ở Tyburn có phải của Oliver Cromwell không vẫn chưa có câu trả lời.
== Danh tiếng chính trị ==
Ngay khi ông còn sống, một số người đã mô tả Cromwell là kẻ đạo đức giả tham lam quyền lực. Chẳng hạn, trong các tác phẩm “The Machiavilian Cromwell” (Cromwell quỷ quyệt) và “The Juglers Discovered”, những người Công giáo La Mã ở Ireland đã chỉ trích Cromwell dữ dội, coi ông là một kẻ xảo quyệt. Một số đánh giá tích cực hơn về Cromwell đương thời, chẳng hạn như của John Spittlehouse trong “A Warning Piece Discharged”, so sánh ông với Moses, cho rằng Cromwell đã cứu nước Anh ra khỏi cuộc nội chiến. Một số tiểu sử về ông được xuất bản sau khi Cromwell qua đời. Một ví dụ là “The Perfect Politician” (Chính trị gia hoàn hảo), trong đó mô tả Cromwell “yêu mến con người hơn những cuốn sách” và đánh giá ông là một người tranh đấu đầy quyết tâm cho tự do bởi lương tâm, lòng kiêu hãnh và tham vọng của ông. Một đánh giá khác xuất bản năm 1667, của Edward Hyde, tử tước thứ nhất của Clarendon, trong cuốn sách của ông “History of the Rebellion and Civil Wars in England” (Lịch sử nổi loạn và nội chiến ở Anh). Clarendon có tuyên bố nổi tiếng nói Cromwell “sẽ được các thế hệ sau coi là một kẻ xấu xa can đảm”. Ông nói việc Cromwell vươn lên đỉnh cao quyền lực không chỉ nhờ vào tinh thần và năng lượng của ông, mà cả sự tàn nhẫn. Phải nói rằng Clarendon không phải là người gần gũi với Cromwell, và cuốn sách của ông được viết khi nền quân chủ đã tái lập ở Anh.
Vào đầu thế kỷ mười tám, hình ảnh Cromwell đã được giải thích lại bởi những người theo đảng Whigs ở Anh, một phần trong dự án lớn hơn nhằm tạo tính chính danh cho các mục tiêu chính trị của họ, trong đó coi Cromwell là người bảo vệ cho tự do và nền cộng hòa. Một phiên bản hồi ký của Edmund Ludlow, do John Toland chấp bút phản bác lại quan điểm đó, nói Cromwell với tư cách bảo hộ công là một nhà độc tài quân sự. Trong sách Toland mô tả Cromwell như một kẻ chuyên quyền đã đè nén nền dân chủ đang manh nha vào những năm 1640.
Trong thế kỷ mười chín, nhân vật Cromwell bắt đầu xuất hiện trong các tác phẩm thi ca, văn học và hội họa của trường phái lãng mạn. Thomas Carlyle tiếp tục đánh giá lại của ông về Cromwell vào những năm 1840 khi mô tả ông là một người hùng chiến trận bị giằng xé giữa cái thiện và cái ác và là một hình mẫu về sự đấu tranh luân lý ở một thời đại mà Carlyle tin rằng đã bị băng hoại trong các giá trị đạo đức. Những hành vi của Cromwell, bao gồm chiến dịch của ông ở Ireland và việc giải tán Nghị viện Dài, theo Carlyle, xét tổng thể cần phải được đánh giá cao.
Vào cuối thế kỷ 19, cách Carlyle đánh giá Cromwell, nhấn mạnh sự trung lập của tinh thần đạo đức và sự quyết liệt Thanh giáo, đã trở thành nền tảng quan trọng cho cách giải thích lịch sử của những người theo đảng Whig và Đảng Tự do Anh. Sử gia Oxford chuyên về lịch sử nội chiến Anh, Samuel Rawson Gardiner kết luận rằng “con người (Cromwell) lớn hơn những hành động của ông”. Gardiner nhấn mạnh cá tính năng động và quyết liệt của Cromwell, và vai trò của ông trong việc làm tan rã chế độ quân chủ chuyên chế, trong khi đánh giá thấp những hành động thanh trừng tôn giáo của Cromwell. Chính sách đối ngoại của Cromwell ở Anh tạo nền tảng quan trọng cho thời kỳ mở rộng thuộc địa sau này tại Anh trong thời Victoria, Gardiner đặc biệt nhấn mạnh “những nỗ lực không ngừng nghỉ của ông (Cromwell) để khiến nước Anh rộng lớn hơn cả trên biển và trên đất liền”.
Trong nửa đầu thế kỷ hai mươi, danh tiếng của Cromwell bị đánh giá qua một lăng kính mới, sự vươn lên của chủ nghĩa phát xít ở Đức và ở Ý. Wilbur Cortez Abbott, một sử gia ở Đại học Harvard, đã dành phần lớn sự nghiệp thu thập và hiệu đính rất nhiều tuyển tập các thư từ và bài phát biểu của Cromwell. Các tác phẩm của Abbott, được xuất bản giai đoạn từ 1937 tới 1947, cho rằng Cromwell đã dựng nên một chính quyền gần với chủ nghĩa phát-xít ở Anh. Tuy nhiên, những sử gia sau đó như John Morrill đã chỉ trích cách giải thích này của Abbott. Ernest Barker cũng từng so sánh chính quyền Cromwell với chế độ quốc xã.
Những sử gia cuối thế kỷ hai mươi tìm hiểu lại bản chất đức tin của Cromwell và chế độ toàn trị của ông. Austin Woolrych nghiên cứu rất sâu vấn đề thể chế độc tài cho rằng Cromwell bị giằng xé bởi hai mâu thuẫn cơ bản: nghĩa vụ của ông với quân đội và khát vọng của ông muốn đạt được sự ổn định bền vững ở Anh thông qua việc tạo dựng uy tín chính trị với nhiều thành phần trong cả nước. Woolrych cho rằng những yếu tố độc tài trong thời gian cai trị của Cromwell không bắt nguồn từ việc ông nắm quân đội hay sự tham gia của các sĩ quan quân đội vào chính quyền dân sự, mà từ những cam kết của ông về việc bảo vệ con dân của Chúa trời và lòng tin của ông rằng sứ mệnh tối cao cuối cùng của chính quyền là chống lại áp bức với những người dân thường đó.
Các sử gia như John Morrill, Blair Worden và J. C. Davis đã phát triển hơn nữa chủ đề này, trích lại nhiều bài viết và bài phát biểu của Cromwell mang đậm màu sắc tôn giáo mà ông trích dẫn Thánh kinh rất nhiều. Họ cũng tranh luận rằng những hành động cực đoan của ông được dẫn dắt bởi khát vọng muốn cải cách tôn giáo một cách triệt để.
== Tượng đài và vinh danh sau khi chết ==
Năm 1776, một trong những chiếc tàu đầu tiên ở Anh phục vụ trong Hải quân lục địa ở cuộc Cách mạng Mỹ được đặt tên là “Oliver Cromwell”.
Kiến trúc sư thế kỷ mười chín Richard Tangye là một người hâm mộ Cromwell nhiệt thành và là một nhà sưu tập dày công các bản thảo viết tay của ông. Bộ sưu tập của ông bao gồm nhiều bản thảo và sách in, các huy chương, tranh vẽ, đồ trang trí nghệ thuật và nhiều đồ vật lạ lùng hiếm có khác liên quan tới Cromwell. Bộ sưu tập có cả cuốn Thánh kinh của Cromwell, cúc áo, đĩa đặt trên quan tài ông, mặt nạ làm cho người chết và huy hiệu dùng trong tang lễ. Sau khi Tangye qua đời, toàn bộ bộ sưu tập được hiến tặng cho Bảo tàng London, nơi chúng được trưng bày tới ngày nay.
Năm 1875, một bức tượng Cromwell của điêu khắc gia Matthew Noble được dựng lên ở Manchester ngay bên ngoài nhà thờ chính của thành phố, là một món quà của bà Abel Heywood cho thành phố nhằm tưởng niệm người chồng đầu của bà. Đó là bức tượng lớn đầu tiên của Cromwell được dựng lên ở Anh và được coi là gần giống người thật, dựa trên tranh vẽ của Peter Lely. Bức tượng mô tả Cromwell trong bộ chiến phục với thanh gươm đã rút ra và bộ áo giáp da-sắt. Bức tượng không được lòng những người theo Đảng Bảo thủ Anh ở Manchester và cộng đồng người Ireland khá lớn ở đây. Khi Nữ hoàng Victoria được mời tới khai trương tòa thị chính mới của thành phố Manchester, bà đã đặt điều kiện phải dời bức tượng Cromwell đi nơi khác. Do bức tượng không bị dời đi, Victoria đã không tới dự lễ khai mạc và người cắt băng khánh thành tòa thị chính thay thế là thị trưởng thành phố. Trong những năm 1980, bức tượng được dời ra ngoài tòa nhà Wythenshawe Hall, nơi từng là trụ sở trú quân của bộ chỉ huy quân đội Cromwell.
Trong những năm 1890, các kế hoạch dựng tượng Cromwell bên ngoài trụ sở quốc hội Anh, Cung điện Westminster cũng đã gây nhiều tranh cãi. Áp lực từ Đảng dân tộc Ireland ở Anh đã khiến một đề xuất xin nguồn quỹ từ công chúng cho dự án dựng tượng bị hủy bỏ. Rốt cuộc, dự án này đành dùng nguồn quỹ tư nhân của Archibald Primrose, tử tước thứ nă của Rosebery.
Tranh cãi về Cromwell tiếp tục trong thế kỷ 20. Với tư cách là bộ trưởng hải quân Anh trong thế chiến thứ nhất, Winston Churchill đã hai lần đề xuất đặt tên một tàu chiến của hải quân hoàng gia Anh là “Oliver Cromwell”. Đề xuất của ông đã bị vua George V hai lần phủ quyết, không chỉ vì những tình cảm cá nhân. Nhà vua còn cảm thấy, sau những giận dữ với việc dựng tượng Cromwell bên ngoài tòa nhà quốc hội, sẽ là thiếu khôn ngoan khi đặt tên như thế cho những chiếc tàu chiến đắt tiền, nhất là trong bối cảnh tình hình chính trị Ireland lúc bấy giờ rất phức tạp. Sau đó, Tổng tư lệnh hải quân Anh đô đốc Battenberg đã khẳng định với Churchill quyết định của nhà vua là cuối cùng.
Xe tăng Cromwell, một xe tăng cỡ trung của quân đội Anh trong thế chiến thứ hai, được đưa ra chiến trường lần đầu năm 1944, một đầu mày xe lửa hơi nước của đường sắt Anh năm 1951 cũng được đặt tên là Cromwell.
Các bức tượng lớn khác của Cromwell còn được dựng lên ở St Ives, Cambridgeshire và Warrington, Cheshire.
Một tấm kim loại hình ô-van đặt ở bên ngoài Đại học Sidney Sussex, Cambridge, ghi dòng chữ:
Gần nơi này
đã chôn cất
vào ngày 25 tháng 3 năm 1960 cái đầu của
OLIVER CROMWELL
Bảo hộ công của Khối Thịnh vượng chung
Anh, Scotland &
Ireland, cựu sinh viên
của trường đại học này 1616-7
== Chú thích == |
sách khải huyền.txt | Khải Huyền (hoặc Khải Thị) là cuốn sách cuối cùng của Tân Ước, được viết theo thể văn Khải Huyền. Từ "Khải Huyền" do từ ghép Hy Lạp apokalupsis. "apo" nghĩa là lấy đi, cất đi; "kalupsis" nghĩa là tấm màn che. Vậy Khải Huyền có nghĩa là vén màn cho thấy điều bí mật che khuất bên trong.
== Nội dung ==
Sách Khải Huyền ghi lại những thị kiến và mặc khải được diễn tả theo ngôn ngữ hình tượng, biểu tượng. Những tín hữu Do Thái đã từng quen với thể văn này nên có thể hiểu dễ dàng, nhưng các độc giả hiện đại lại coi đó là chuỗi những điều huyền bí và khó hiểu.
=== Chương 1 ===
Bảy giáo hội ở Tiểu Á
Mạc khải của Chúa Giêsu Kitô được truyền đạt thông qua một thiên sứ dành cho Gioan, Tông đồ Thánh sử khi ông trên đảo Bát-mô (Patmos).
Gioan ghi chép lại những gì được thị kiến và được hướng dẫn gửi các tài liệu này đến bảy giáo hội ở Tiểu Á.
=== Chương 2 ===
Gioan viết cho giáo hội Êphêsô (Ephesus) kêu gọi hối cải và xa lánh bè phái Nicôla (Nicolaitans).
Gioan viết cho giáo hội Miếcna (Smyrna) cảnh báo rằng họ sẽ phải chịu mười ngày hoạn nạn như là một sự thử thách.
Gioan viết cho giáo hội Pegamô (Pergamum) kêu gọi ăn năn, xa lánh giáo lý của Binam (Balaam) và bè phái Nicôla.
Gioan viết cho giáo hội Thyatira kêu gọi ăn năn, xa lánh lời dạy của tiên tri giả Giêdaben (Jezebel).
=== Chương 3 ===
Gioan viết cho giáo hội Xácđê (Sardis) cảnh báo việc họ đã "chết" mà không biết vì những việc làm không hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa.
Gioan viết cho giáo hội Philadelphia để kiên trì với những gì họ đang làm, nhằm giữ vững mà không tuột mất vương miện dành cho họ.
Gioan viết cho giáo hội Laođikia (Laodicea) kêu gọi ăn năn, xa lánh việc thu lợi vật chất vốn làm cho họ đau khổ, thay vào đó hãy đầu tư vào kho tàng của Thiên Chúa.
=== Chương 4 ===
Mô tả Ngai Vàng của Thiên Chúa trên trời với cầu vồng bao quanh. Chung quanh lại có 24 ngai khác dành cho 24 vị Kỳ Mục mặc áo trắng, đầu đội triều thiên vàng.
Trước Ngai Vàng có bảy ngọn đuốc tượng trưng bảy thần khí của Thiên Chúa.
Bốn Con Vật xuất hiện, mỗi con có sáu cánh và đầy những mắt. Con Vật thứ nhất giống như sư tử, Con Vật thứ hai như con bò tơ, Con Vật thứ ba như người, và Con Vật cuối cùng như đại bàng.
=== Chương 5 ===
Bảy Niêm Ấn: Một cuốn sách được niêm bởi bảy con dấu do Người ngồi trên Ngai Vàng cầm bên tay phải. Chỉ có "Sư tử xuất thân từ chi tộc Giuđa" mới xứng đáng để mở cuốn sách này.
Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, đến lãnh cuốn sách từ tay Người ngồi trên Ngai Vàng.
Tất cả các 24 Kỳ Mục và Con Vật hát để ca ngợi và tôn vinh trước mặt Con Chiên.
=== Chương 6 ===
Con Chiên mở Niêm Ấn thứ nhất thì Con Vật thứ nhất hô lên: "Hãy đến!". Sau đó, một con ngựa trắng cùng người cưỡi ngựa có mang cung, tiến ra như kẻ thắng trận.
Con Chiên mở Niêm Ấn thứ hai thì Con Vật thứ hai hô lên: "Hãy đến!". Một con ngựa màu đỏ và người cưỡi cầm thanh gươm tiến ra.
Con Chiên mở Niêm Ấn thứ ba thì Con Vật thứ ba hô lên: "Hãy đến!". Một con ngựa ô cùng người cưỡi cầm cân tiến ra.
Con Chiên mở Niêm Ấn thứ tư thì Con Vật thứ tư hô lên: "Hãy đến!". Một con ngựa màu xanh nhạt cùng người cưỡi ngựa mang tên Tử Thần tiến ra, theo sau là Âm phủ.
Con Chiên mở Niêm Ấn thứ năm thì xuất hiện các linh hồn của những người đã bị giết chết vì rao giảng "Lời Chúa".
Con Chiên mở Niêm Ấn thứ sáu thì có một trận động đất lớn, Mặt Trời trở thành màu đen như vải sợi dệt bằng cây gai, và Mặt Trăng thì trở thành đỏ như máu; các ngôi sao trên bầu trời rơi xuống Trái Đất. Bầu trời được tách ra, núi và hải đảo di chuyển ra khỏi vị trí. Mọi vua chúa trần gian, vương hầu, khanh tướng phải trốn vào hang để khuất mắt khỏi Người ngồi trên ngai vàng và tránh cơn thịnh nộ của Con Chiên.
=== Chương 7 ===
Bốn thiên thần trấn giữ bốn phương trời. Một thiên thần khác đến đóng ấn trên trán những Tôi tớ Chúa. Số lượng được cho là một trăm bốn mươi bốn ngàn người từ mười hai chi tộc Israel.
=== Chương 8 ===
Niêm Ấn thứ bảy được mở ra và thiên đàng im lặng trong khoảng một nửa giờ. Một thiên thần dâng hương và đọc lời cầu nguyện các thánh trước ngai vàng, nơi có Thiên Nhan Chúa. Sau đó, thiên thần lấp đầy bình hương bằng lửa rồi ném xuống Trái Đất gây ra tiếng sấm, chớp, và động đất.
Thiên thần đầu tiên thổi kèn: mưa đá và lửa trộn lẫn với máu ném xuống Trái Đất, thiêu cháy 1/3 hệ thực vật bề mặt Trái Đất.
Thiên thần thứ hai thổi kèn: ngọn núi rực lửa ném vào biển cả, và một phần ba biển cả trở thành máu, thiêu hủy 1/3 những gì trong lòng đại dương, gồm cả tàu bè.
Thiên thần thứ ba thổi kèn: một ngôi sao lớn cháy như đuốc, ném xuống đất, mọi nguồn nước bị đầu độc khiến nhiều người chết.
Thiên thần thứ tư thổi kèn: 1/3 Mặt Trời, Mặt Trăng và các ngôi sao bị tấn công, do đó ánh sáng của chúng giảm đi 1/3.
Một con đại bàng kêu lớn tiếng "Khốn thay! Khốn thay!", cảnh báo ba tai ương tiếp theo.
=== Chương 9 ===
Thiên thần thứ năm thổi kèn: Xuất hiện những yếu tố gây khổ hình cho những người không được đóng dấu ấn của Thiên Chúa trong vòng năm tháng.
Thiên thần thứ sáu thổi kèn: bốn thiên thần đang bị trói ở sông Êuphơrát (Euphrates) được thả ra mang theo 200 triệu kỵ binh đi tàn sát 1/3 nhân loại.
=== Chương 10 ===
Một thiên thần dũng mạnh, đứng một chân trên biển và một chân trên đất liền, giữ một cuốn sách đang mở sẵn. Gioan được ra lệnh nuốt cuốn sách nhỏ, và tuyên lời sấm về nhiều nước, nhiều dân, nhiều ngôn ngữ.
=== Chương 11 ===
Gioan được đưa cho một cây sậy dùng làm que đo để đo Đền Thờ của Thiên Chúa, bàn thờ, cùng những người thờ phượng trong đó. Gioan thấy dân ngoại chà đạp Thành Thánh trong 42 tháng. Trong thời gian đó, hai nhân chứng mặc áo vải thô đến tuyên sấm về những tai ương. Một Con Thú sẽ giết hai người này. Nhân loại Trái Đất ăn mừng vì họ không còn gây tai ương nữa.
Thiên Chúa cho hai nhân chứng trỗi dậy khiến những ai chứng kiến phải khiếp sợ.
Trong giờ tiếp theo, một trận động đất lớn xảy ra và giết chết 7.000 người, phá hủy 1/10 thành phố.
Thiên thần thứ bảy thổi kèn: Trên trời vang tiếng chúc tụng vương quyền của Thiên Chúa. Đền Thờ của Thiên Chúa sẽ mở ra trời và Hòm Bia Giao Ước xuất hiện trong đền thờ của Ngài.
=== Chương 12 ===
Chiến tranh trên Thiên đàng
Người Phụ Nữ và Con Mãng Xà: một người phụ nữ xuất hiện với cảnh tượng: mình khoác Mặt Trời, chân đạp Mặt Trăng và đầu đội triều thiên Mười hai ngôi sao. Bà sinh một con trai để "dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân". Một Con Mãng Xà (có lẽ tượng trưng cho Satan) cố gắng để giết cậu bé, nhưng không làm được. Tổng lãnh thiên thần Micae và thiên binh giao chiến với Con Mãng Xà. Bại trận, Con Mãng Xà bị giáng xuống Trái Đất, nơi đó, nó tiếp tục gây chiến với những người con hậu duệ của Người Phụ Nữ này, là những người tuân giữ mười điều răn và lời của Chúa Giêsu.
=== Chương 13 ===
Một Con Thú được mô tả là có "mười sừng và bảy đầu" từ ngoài biển đi lên, được Con Mãng Xà trao quyền cai trị Trái Đất. Toàn cõi Trái Đất tôn thờ, ca tụng Con Thú này rằng: "Ai sánh được với Con Thú và ai giao chiến được với Con Thú?". Nó được ban cho cái mồm ăn nói huênh hoang, phạm thượng, và lộng hành trong vòng 42 tháng, chiến thắng các vị thánh. Mọi dân, mọi nước thờ lạy nó - đó là những người không có tên trong Sổ Trường Sinh của Con Chiên bị sát tế.
Một Con Thú khác từ đất đi lên cũng thi hành tất cả quyền bính của Con Thú thứ nhất. Nhờ những dấu lạ mà nó thực hiện, nhiều người tin và thờ lạy nó. Nó có những tiên tri giả phục vụ. Tên của nó là con số sáu trăm sáu mươi sáu (666).
=== Chương 14 ===
Trái Đất được thu hoạch, tượng trưng cho cuộc phán xét cuối cùng (Khải Huyền 14:14-20).
=== Chương 15 ===
Bảy thiên thần mang Bảy tai ương đến - đây là những tai ương cuối cùng trong cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.
=== Chương 16 ===
Bản chén tai ương được trút xuống mặt đất. Những bản án cuối cùng này sẽ hoàn tất cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.
=== Chương 17 ===
Con Điếm khét tiếng mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm, trang sức toàn bằng vàng, đá quý, ngọc trai, trên tay cầm chén đựng toàn những thứ ô uế.
Giải thích ý nghĩa của Con Thú và Con Điếm.
=== Chương 18 ===
Babylon sụp đổ.
=== Chương 19 ===
Bài ca khải hoàn trên thiên quốc. Sau khi chiến tranh đã hoàn tất, các Con Thú và tiên tri giả bị giam cầm và ném vào biển lửa, tất cả các chiến binh của nó bị giết và xác cho chim xẻ thịt.
=== Chương 20 ===
Con Mãng Xà bị quăng vào vực thẳm và niêm phong cho hết thời hạn một ngàn năm. Sau đó, nó sẽ được thả ra trong một thời gian ngắn.
Triều đại một ngàn năm.
Chúa Giêsu lại đến Trái Đất với thiên binh để xét xử. Người chết đứng trước ngai tòa của Ngài. Họ bị xét xử tùy theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã chép trong sổ sách.
=== Chương 21 ===
Viễn cảnh Thành Thánh Jerusalem mới chói lọi vinh quang Thiên Chúa.
=== Chương 22 ===
Lời bắt đầu của Khải Huyền.
== Các Bản Dịch Việt Ngữ ==
Sách Khải Huyền - Thư Viện Tin Lành.
== Tham khảo ==
Kinh Thánh Tin Lành (1926), United Bible Society
Herry, M. "Zondevan NIV Matthew Herry Commentary" (1992), Zondevan Publishing House
Halley, Henry H., "Thánh Kinh Lược Khảo" (1971), Nhà Xuất Bản Tin Lành, Sài Gòn |
múa đương đại.txt | Múa đương đại mô tả một loạt kỹ thuật và kiểu mẫu được dùng trong lớp học, buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm (workshop) và biểu diễn nghệ thuật múa.
Nghệ thuật múa mới được triển khai vào đầu thế kỷ 20 như là một phản ứng đối chọi với kỹ thuật của điệu múa ballet. Những người tiên phong như Isadora Duncan và Martha Graham đã tìm ra sự thoải mái của động tác dùng đường nét tự nhiên và sức mạnh của thân hình để tạo hàng loạt chuyển động tiếp nối tuyệt hơn là những kỹ thuật múa đã được công nhận trước đó.
Nghệ thuật múa mới được đặc phân theo tính đa dạng của nó: hình thức múa mới có thể múa với hầu hết bất cứ loại âm nhạc nào, hoặc kết hợp với các hình thức khác để sáng tạo chuyển động mới của động tác. Nghệ thuật múa mới nhắm vào đường nét tự nhiên của cơ thể vì thế mà an toàn và dễ thực hiện đối với người mới bắt đầu. Cùng một lúc, động tác thoải mái của kỹ thuật múa mới cho phép những nghệ sĩ có kinh nghiệm đặt ra những giới hạn của sự di chuyển thân hình.
== Các kỹ thuật của múa mới ==
Bốn kỹ thuật chính được sử dụng trong hình thức múa mới:
Cunningham: tên đặt theo giáo sư và nhà dạy nghệ thuật múa Merce Cunningham, chú trọng về nghệ thật tạo hình trong không gian, nhịp điệu và sự ăn khớp. Cunningham dùng quan điểm "đường nét năng động" riêng của thân hình để tăng thêm động tác tự nhiên, thoải mái. Richard Alton đă sử dụng kỹ thuật Cunningham trong nghệ thuật múa của ông ta.
Graham: tên đặt theo Martha Graham, chú trọng đến cách sử dụng qui ước, sự thả lỏng, ngă và phục hồi. Kỹ thuật của Graham chú trọng về mặt sàn và cách sứ dụng qui ước về bụng và hông (xương chậu). Kiểu múa thật sát đất và kỹ thuật rő ràng trái ngược với quan niệm yểu điệu, "nhẹ như hơi gió" của điệu múa ballet.
Limon: tên đặt theo José Limón, khám phá cách dùng sức mạnh liên quan đến trọng lực và làm việc với sức nặng trong lúc ngă, bật dậy, phục hồi và treo lửng.
Release (Thả lỏng) đặt trọng tâm về giảm thiểu căng thẳng để tìm sự nhẹ nhàng, trôi chảy và cách sử dụng hiệu quá của sức mạnh và hơi thở. Như nghĩa của nó, trong kỹ thuật thả lỏng vũ công buông lỏng các khớp và bắp thịt để tạo đông tác thoải mái, thả hơi thở ra để giúp cho sự thư giãn cơ thể. Một kỹ thuật thư giãn tốt cũng như là một cách múa.
== Múa ngẫu hứng ==
Múa ngẫu hứng là một loại tự diễn không chuẩn bị trước. Múa ngẫu hứng chú trọng vào sự tìm tòi động tác và sự liên quan của nó đến nội dung biểu diễn. Tìm tòi, sáng tạo và phát triển những chuyển động của cơ thể sao cho tự nhiên, thoải mái theo sự khác nhau của cơ thể mỗi người.
Tiếp cận tự diễn mô tả một hình thức múa từ 2 người trở lên, chú trọng bởi sự chuyển đổi trọng lượng, sự thả lỏng của cơ thể khi tiếp xúc và cảm nhận về cơ thể giữa những người đồng diễn. Kết hợp trong múa ngẫu hứng sử dụng động tác tự nhiên của cơ thể.
== Tham khảo == |
nike.txt | Nike, Inc. (phát âm như Nai-ki) (nai-ki}) là nhà cung cấp quần áo và dụng cụ thể thao thương mại công cộng lớn có trụ sở tại Hoa Kỳ. Đầu não của công ty đặt tại Beaverton, gần vùng đô thị Portland của Oregon. Công ty này là nhà cung cấp giày và áo quần thể thao hàng đầu trên thế giới và là nhà sản xuất dụng cụ thể thao lớn với tổng doanh thu hơn 18,6 tỷ đô la Mỹ trong năm tài chính 2008 (kết thúc tháng ngày 31 tháng 5 năm 2008). Tính đến năm 2008, công ty này có hơn 30.000 nhân viên trên khắp thế giới. Nike và Precision Castparts là các công ty duy nhất có trong danh sách Fortune 500 có trụ sở tại bang Oregon, theo The Oregonian.
Công ty được thành lập vào ngày 25 tháng 1 năm 1964 với tên Blue Ribbon Sports nhờ bàn tay Bill Bowerman và Philip Knight, và chính thức có tên Nike, Inc. vào năm 1971. Công ty này lấy tên theo Nike (tiếng Hy Lạp Νίκη phát âm: [níːkɛː]), nữ thần chiến thắng của Hy Lạp. Nike quảng bá sản phẩm dưới nhãn hiệu này cũng như các nhãn hiệu Nike Golf, Nike Pro, Nike+, Air Jordan, Nike Skateboarding và các công ty con bao gồm Cole Haan, Hurley International, Umbro và Converse. Nike cũng sở hữu Bauer Hockey (sau này đổi tên thành Nike Bauer) vào khoảng năm 1995 đến 2008. Ngoài sản xuất áo quần và dụng cụ thể thao, công ty còn điều hành các cửa hàng bán lẻ với tên Niketown. Nike tài trợ cho rất nhiều vận động viên và câu lạc bộ thể thao nổi tiếng trên khắp thế giới, với thương hiệu rất dễ nhận biết là "Just do it" và biểu trưng Swoosh.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Egan, Timothy. “The swoon of the swoosh”. New York Times Magazine; ngày 13 tháng 9 năm 1998.
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Nike, Inc. tại Wikimedia Commons
Nike.com - Official website
Nikebiz.com - Business Site
Criticism of Nike's labor practices
The NikeWatch Campaign
FairLabor.org annual report
Information on Kasky v. Nike
Making Nike Sweat - on the Sweatshop issue (circa 2001)
Boycott Nike Homepage - Most information from circa 2001 - Last updated in 2004
Dispute with Beaverton
How a land spat gets nasty, a September 2005 article from The Oregonian
The Recent Annexation Actions By The City of Beaverton, a December 2004 Nike press release
Oregon Senate Bill 887, as signed by Governor Ted Kulongoski
Counterfeiting Of Nikes
Interview With a Major Retailer of Fake Nike Shoes
Data
Company profile from Yahoo!
Company summary, from the New York Stock Exchange website |
orchid (ban nhạc screamo).txt | Về ban nhạc doom metal cùng tên, xem Orchid (ban nhạc metal)
Orchid là một ban nhạc screamo người Mỹ từ Amherst, Massachusetts. Ban nhạc được xem là một trong những nghệ sĩ tiên phong của "screamo", Orchid kết hợp kiểu âm nhạc này với mỹ học hậu hiện đại. Nhóm đã phát hành nhiều EP, split và ba LP. Ban nhạc gồm Jayson Green (vocal), Jeffrey Salane (trống), Will Killingsworth (guitar) và Geoff Garlock (bass).
Năm 1999, Orchid phát hành album đầu tay Chaos Is Me và một năm sau đó họ ra mắt Dance Tonight! Revolution Tomorrow!. Tháng 7, 2002, họ phát hành album phòng thu thứ ba Gatefold và tháng 9 cùng năm, Orchid phát hành một album tập hợp cả hai album đầu, gộp vào chung CD với tổng cộng 21 track. Ban nhạc tan ra sau đó. Năm 2005, Orchid công bố Totality, một album tổng hợp gồm 24 track từ các B-side và split EP mà trước đó chỉ có dưới dạng đĩa vinyl.
== Thành viên ==
Jayson Green - vocal, keyboard, bộ gõ (1997-2002)
Jeffrey Salane - trống, bộ gõ (1997-2002)
Will Killingsworth - guitar, keyboard (1997-2002)
Brad Wallace - bass (1998-1999)
Geoff Garlock - bass (1999-2002)
== Đĩa nhạc ==
=== Album phòng thu ===
Chaos Is Me LP (Ebullition, 1999)
Dance Tonight! Revolution Tomorrow! 10" (Ebullition, 2001)
Gatefold LP/CD (Ebullition, 9 tháng 7 năm 2002)
=== Album tổng hợp ===
Dance Tonight! Revolution Tomorrow! + Chaos Is Me CD (Ebullition, 10 tháng 9 năm 2002)
Totality CD (Clean Plate, 15 tháng 1 năm 2005)
=== EP và split ===
We Hate You (Demo Cassette) (Tự phát hành, 1997)
Orchid / Pig Destroyer Split 7" (Amendment, 1997)
Self-Titled 7" (Hand Held Heart, 1998)
Orchid / Encyclopedia Of American Traitors Split 7" (Witching Hour Records, 1998)
Orchid / Combat Wounded Veteran Split 6" (Clean Plate, 2000)
Orchid / The Red Scare Split 7" (Hand Held Heart, 2000)
Orchid / Jeromes Dream Skull Record (Witching Hour Records, 2000)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ebullition Records
Clean Plate Records
Danh sách đĩa nhạc của Orchid's trên Discogs |
những khu vườn bị lãng quên của heligan.txt | Những khu vườn bị lãng quên của Heligan (tiếng Cornwall: Lowarth Helygen, có nghĩa là " vườn cây liễu"), gần Mevagissey tại Cornwall, là một trong những vườn bách thảo nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh. Những khu vườn này điển hình của phong cách gardenesque trong thế kỷ 19 với các khu vực có đặc tính và phong cách thiết kế khác nhau.
Những khu vườn này được tạo ra bởi các thành viên của gia đình người Cornish Tremayne từ giữa thế kỷ 18 cho đến đầu thế kỷ 20, và vẫn còn là một phần bất động sản Heligan của gia đình Tremayne. Những khu vườn bị sao lãng sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và chỉ được phục hồi trong thập niên 1990, một sự phục hồi đã là một chủ đề của một số chương trình truyền hình và sách báo nổi tiếng.
Khu vườn bao gồm những cây đỗ quyên nhiều tuổi và khổng lồ và Sơn trà Nhật Bản, một loạt các hồ có trên 100 năm, được bơn nước vào, những vườn có nhiều bông hoa và rau quả, một khu vườn Ý, và một khu vực hoang dã đầy dương xỉ bán nhiệt đới được gọi là "The Jungle" (rừng rậm). Khu vườn cũng có hố trồng dứa duy nhất còn lại ở châu Âu, sưởi ấm bởi phân mục nát, và hai bức tượng của Susan Hill làm bằng đá và các cây được gọi là Mud Maid và the Giant's Head.
Tên địa điểm, phát âm đúng là 'h'LIG'n', chứ không phải thường được nghe là 'HEL-i-gun ", có nguồn gốc từ tiếng Cornish helygen, có nghĩa " cây liễu ".
== Địa lý ==
Những khu vườn bị lãng quên của Heligan hoàn toàn bao quanh Nhà Heligan và các vườn tư nhân của nó. Chúng nằm khoảng 1,5 mi (2,4 km) về phía tây bắc làng chài Mevagissey, và có độ cao hơn khoảng 250 ft (76 m). Những khu vườn cách thị trấn và nhà ga của St Austell 6 mi (9,7 km) bằng đường bộ và chủ yếu thuộc xã St Ewe, mặc dù các phần tử của các khu vườn phía đông nằm tại xã Mevagissey.
Phần phía bắc của khu vườn, Trong đó bao gồm các khu vườn kiểng và rau quả, cao hơn ngôi nhà một chút và thả dốc từ từ xuống. Các khu vực của các khu vườn ở phía tây, phía nam và phía đông của dốc nhà có dốc cao hơn dẫn xuống một loạt các thung lũng cuối cùng dẫn ra biển tại Mevagissey. Đây là những vùng hoang dại hơn và bao gồm the Jungle và thung lũng bị lãng quên (the Lost Valley).
== Lịch sử ==
Bất động sản Heligan ban đầu được mua bởi gia đình Tremayne trong thế kỷ 16, và các thành viên đầu tiên của gia đình chịu trách nhiệm cho Heligan House và (vẫn còn là tư nhân) các khu vườn bao quanh ngay nó.
Tuy nhiên, các khu vườn rộng lớn hơn bây giờ mở cửa cho công chúng, chủ yếu là kết quả của những nỗ lực của 4 người chủ kế tiếp nhau của Heligan. Đó là:
Henry Hawkins Tremayne
John Hearle Tremayne, con trai của Henry Hawkins Tremayne
John Tremayne, con trai của John Hearle Tremayne
John Claude Lewis Tremayne, con trai của John Tremayne
Hai kế hoạch bất động sản, có niên đại từ 1777 và trước năm 1810, cho thấy những thay đổi mang lại cho bất động sản Heligan trong lúc Henry Hawkins nắm quyền sở hữu. Kế hoạch đầu tiên cho thấy một bất động sản chủ yếu là đất công viên, với địa điểm mà ngày nay là các khu vườn phía bắc đã từng là một cánh đồng. Kế hoạch thứ hai cho thấy sự phát triển các vòng đai cây cối xung quanh các khu vườn, và hình dạng chính của các khu vườn phía bắc, the Mellon Yard và the Flower Garden có thể thấy rõ.
Các con cháu Henry Hawkins, mỗi người, có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của các khu vườn, bao gồm các cây cảnh trồng dọc theo Long Drive (con đường vào) của bất động sản, The Jungle, việc ghép giống các cây đỗ quyên và trồng của họ xung quanh Flora's Green, và sự hình thành Vườn Ý.
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, khu vườn cần dịch vụ của 22 người làm vườn để duy trì nó, nhưng chiến tranh dẫn đến cái chết của 16 người trong số những người làm vườn, và năm 1916, vườn chỉ được chăm sóc bởi 8 người đàn ông. Đến những năm 1920, tình yêu của Jack Tremayne đối với nước Ý, trước đó lấy cảm hứng từ vườn Ý, dẫn đến việc ông ta cho xây một căn nhà thường trú ở đó, và cho thuê Heligan. Ngôi nhà được cho mướn hầu như suốt thế kỷ 20, được sử dụng bởi quân đội Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai, và sau đó chuyển đổi thành các căn hộ và được bán ra, mà không có vườn, trong những năm 1970. Trong bối cảnh này, các khu vườn rơi vào trạng thái bị sao lãng nghiêm trọng, và bị quên lãng.
Sau cái chết của Jack Tremayne, người không có con cái, bất động Heligan thuộc sở hữu của một trust của một số thành viên trong đại gia đình Tremayne. Một trong những người này, John Willis, sống ở khu vực này, giới thiệu nhà sản xuất âm nhạc Tim Smit về khu vườn. Một nhóm người yêu thích và ông ta quyết định khôi phục lại khu vườn như thời huy hoàng trước đây của nó, và cuối cùng thuê chúng từ gia đình Tremayne.
Việc phục hồi, mà là chủ đề của một bộ phim tài liệu sáu phần của đài truyền hình Channel 4 được sản xuất bởi Bamboo Productions và Cicada Films vào năm 1996, chứng minh đó là một thành công rực rỡ, không chỉ làm sống lại các khu vườn mà còn cho nền kinh tế địa phương xung quanh Heligan bằng cách cung cấp việc làm. Những khu vườn hiện đang được thuê bởi một công ty thuộc sở hữu của các nhà phục hồi khu vườn, những người tiếp tục nuôi dưỡng chúng và chúng hoạt động như một điểm thu hút khách du lịch.
== Chú thích == |
tuồng.txt | Tuồng, tức hát bộ, còn gọi là hát bội hay luông tuồng là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam.
== Lịch sử ==
Hầu hết các học giả nghiên cứu kinh kịch Trung Quốc đều xác nhận kinh kịch là loại kịch của Thanh triều tại kinh thành Bắc Kinh, tức "Bắc Kinh kịch nghệ". Còn hát bộ của Việt Nam là hát diễn tương tự kinh kịch nhưng theo "Kinh điển kịch lệ". "Bộ" đây có nghĩa là diễn xuất của nghệ sĩ đều phải phân đúng từng bộ diễn. Vì vậy mới gọi là "hát bộ", "diễn bộ", "ra bộ". Gọi là "hát bội" bởi trong nghệ thuật hóa trang, đào kép phải đeo, phải giắt (bội) những cờ phướn, lông công, lông trĩ... lên người. Theo nhà nghiên cứu Vũ Khắc Khoan, cả hai tên gọi ấy đều đúng.
Lối hát tuồng du nhập vào Việt Nam vào thời điểm nào chưa được minh xác nhưng có truyền thuyết ghi rằng vào thời Tiền Lê năm 1005, một kép hát người Hoa tên là Liêu Thủ Tâm đến Hoa Lư và trình bày lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống và được vua Lê Long Đĩnh thâu dụng, bổ là phường trưởng để dạy cung nữ ca hát trong cung.
Sang thời nhà Trần, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bắt được một tên quân nhà Nguyên tên là Lý Nguyên Cát vốn là kép hát. Vương tha tội chết cho Cát và sai dạy lối hát đó cho binh sĩ. Cát cho diễn vở Vương mẫu hiến đào để vua ngự lãm cùng các triều thần xem. Ai cũng cho là hay.
Tuy nhiên người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam là Đào Duy Từ (1572-1634). Ở Miền Trung Việt Nam trở ra gọi Tuồng do chữ "Liên Trường" là kéo dài liên tiếp thành một vở tuồng tích có khởi đầu truyện, có hồi kết cuộc, phân biệt với các ca diễn từng bài ngắn, từng trích đoạn. Từ "liên trường" do ngôn ngữ địa phương mà thành "luông tuồng", "luôn tuồng"...
Sang thế kỷ 20 với sự ra đời của cải lương và kịch nói thu hút nhiều khán giả, nghệ thuật tuồng suy yếu nhiều tuy có cố gắng phục hưng với loại tuồng xuân nữ, tức là tuồng diễn theo đề tài xã hội tân thời và hát theo điệu "xuân nữ". Loại tuồng này pha phong cách cải lương, đánh võ Tàu... Dù vậy giới hâm mộ tuồng càng ngày càng ít..
Ba trường phái lớn trong hát bội là:
Tuồng cung đình Huế
Tuồng Quảng Nam
Tuồng Bình Định
Ở Hà Nội vào đầu thế kỷ 20 có một rạp hát riêng diễn tuồng hát bội, gọi là rạp Quảng Lạc. Lối diễn thì giống như lối tuồng miền Trung cả.
== Diễn xuất ==
Lối diễn xuất thường được khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán giả dễ cảm nhận. Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy. Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái "tâm" của nhân vật thiện, ác. Nhất nhất đều phân thành từng bộ riêng, không thể diễn bộ "Trung" cho vai đứa "Hèn" hay đứa "Nịnh". Thậm chí lên ngựa xuống ngựa còn phân biệt Bộ của trung tướng khác bộ dạng nịnh thần. Mọi động tác đã thành thông lệ hay ước lệ. Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưa thể kéo lại nhìn gần, không thể "trung cảnh", "cận cảnh", làm tăng cường độ các động tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần chiếu diễn (sân khấu) đều nhìn thấy.
Lối múa, đi và đứng có những động tác cách điệu, trong nghề gọi là bê, xiên, lỉa và lăn.
Nhân vật nào ra sân khấu từ cánh gà tay mặt (sinh môn) đều sống tới cuối tuồng, dẫu có bị kẻ gian hãm hại cũng không chết. Ngược lại, nhân vật nào ra sân khấu từ cánh gà bên trái (tử môn) cũng phải chết, dẫu làm tới Hoàng đế .
=== Điệu hát ===
Ngôn ngữ ca ngâm thì dùng giọng thật to, thật cao và rõ. Điệu hát quan trọng nhất trong hát bội là "nói lối", tức là nói một lúc rồi hát, thường để mở đầu cho các khúc hát khác. "Nói lối" có hai giọng chính là "Xuân" và "Ai". "Xuân" là giọng hát vui tươi, còn "Ai" là bi thương, ảo não. Nói lối giọng Ai còn được gọi là "lối rịn". Ngoài ra còn có những "lối hằng", "lối hường", "lối giậm". Hát thì có những điệu "Nam", "Khách", "thán", "oán", và "ngâm".
=== Hóa trang ===
Hát bộ là nghệ thuật mang nặng tính ước lệ. Các diễn viên hát bộ phân biệt từ mặt mũi, râu tóc, áo quần để rõ kẻ trung nịnh, người sang hèn, ai thô lậu, thanh tú, ai minh chánh, gian tà. Sắc đỏ được dùng dặm mặt để biểu hiện vai trung thần; màu xám là nịnh thần; màu đen là kẻ chân thật; màu lục là hồn ma.
Về y trang thì võ tướng khi ra trận mặc võ giáp có cắm cờ lịnh sau lưng. Vua mặc áo thêu rồng; hậu phi mặc áo thêu phượng. Đào mặc áo lụa trắng đóng vai tiểu thơ đài các còn lụa đỏ dành cho cô dâu, v.v...
== Dàn nhạc ==
Dàn nhạc dùng trong hát bội gồm có những nhạc cụ như: trống chiến, đồng la, kèn, đờn cò và có khi ống sáo. Dàn nhạc được đặt bên tay phải sân khấu (từ trong nhìn ra). Tay phải ứng với cửa "sinh" trong khi bên trái là cửa "tử".
Nếu là đám hát do tư nhân mướn để mua vui, khao vọng thì lại có một cỗ trống nhỏ gọi là trốnng lèo dành riêng cho các thân hào uy tín đến xem hát mà đánh chấm những câu hát hay. Người đánh trống lèo cũng phải đem theo tiền riêng để thưởng diễn viên.
== Tưởng thưởng ==
Ở miền Trung cho đến thập niên 1950 khi đám hát diễn thì người mướn gánh hát đến diễn, dù là tư nhân hay đền miếu, sẽ có sẵn những thẻ thưởng. Thẻ làm bằng tre gọt dẹp thành ba cỡ: lớn (dài ba gang tay, rộng bằng bề ngang hai ngón tay) giá trị một quan, nhỡ (dài hai gang, rộng một ngón rưỡi) giá trị một tiền, và nhỏ (dài gang rưỡi, rộng bề ngang một ngón) giá trị 30 đồng, tức nửa tiền.
Khi đến những màn diễn khéo, giọng hát hay thì chủ nhà ném thẻ lên tấm chiếu trước sân khấu, tiếng thẻ tre nghe lách cách vui tai. Gánh hát sau đó gom thẻ, tính ra giá trị tiền để lãnh tiền thưởng.
== Kịch bản và đề tài ==
Vở tuồng tức bài tuồng là một thể văn riêng trong văn học Việt Nam. Lối trình bày tuồng dùng nhiều thể văn học như Đường thi, phú, song thất lục bát và lục bát ghép với lễ nhạc và một số điệu múa. Lời văn thì nhiều khi có vần và có đối.
Khi một vai lên sân khấu thì mở bằng một câu xướng, còn gọi là câu bạch để tự giới thiệu mình. Câu này dùng thể thơ bảy chữ.
Khi kể chuyện thì gọi là câu nói từ bốn đến bảy chữ, có đối, gieo vần cước vận (chữ cuối cùng mỗi câu). Câu kết thì gieo vần trắc.
Khi muốn dứt ý thì hát câu vãn, dùng thể lục bát còn muốn nhấn mạnh ý cho quyết liệt thì hát câu loạn, dùng thể phú hay lục bát.
Khi buồn thì hát câu than, cũng dùng lục bát trong khi vui thì hát câu khách, thường là chữ Nho dùng thể phú.
Tuồng tích trong vở diễn của hát bộ thường là các cổ tích, kịch bản phóng tác từ kinh điển truyện cổ Trung Hoa như Tam Quốc Chí, Vạn Hoa Lầu, Ngũ Hổ Bình Tây... Tuồng tích đã sẵn trong sách nên người xem phần lớn đều biết rành kịch tình và đến rạp chỉ xem kịch tính của các nghệ sĩ và đạo diễn mà thôi. Loại này cũng được xem là tuồng pho. Tuồng pho thì theo sát đạo lý, có thể tóm tắt là:
Phụ tử đắc kỳ hiếu
Quân thần tận kỳ trung
Phu phụ đơn kỳ thuận
Bằng hữu chi kỳ tín
Huynh đệ toàn kỳ cung.
Ngoài ra thì có tuồng hài với cốt truyện tự do hơn, không nhất thiết đề cao đạo lý tam cương ngũ thường như tuồng pho
Thầy tuồng, tức đạo diễn, hay còn gọi là nhưng tuồng là người chọn vở tuồng cùng cách diễn cho kép đóng đúng vai. Thơ tuồng là người thuộc lời để nhắc tuồng khi các diễn viên lên sân khấu. Kép chính thì tên trong nghề gọi là biện tuồng.
=== Những vở tuồng nổi tiếng ===
Gia Long phục quốc (soạn giả: Hoàng Cao Khải, cuối thế kỷ 19)
Sơn Hậu
Triệu Đình Long cứu Chúa
Tam nữ đồ vương (thế kỷ 17)
Diễn Võ Đình (soạn giả: Đào Tấn, thế kỷ 19)
Ngoại tổ dâng đầu (soạn giả: Nguyễn Hiển Dĩnh, thế kỷ 19).
Phụng Nghi Đình
Đào Phi Phụng
Lý Thiên Luông
Trần Quốc Toản
Lý Phụng Đình
Đào Tam Xuân
Võ Tam Tư trảm Cáo (Hồ Nguyệt Cô)
Đề Thám
Huyền Trân Công Chúa
An Tư công chúa
== Những diễn viên Tuồng nổi tiếng ==
CÁC NGHỆ SĨ NHÂN DÂN
NSND Nguyễn Ngọc Phương (Nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nguyên Cục trưởng Cục NTBD, Nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Lê Tiến Thọ (Nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Nguyên Cục trưởng Cục NTBD, Nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam, Chủ tịch Hội NSSK Việt Nam)
NSND Mẫn Thu (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Đàm Liên (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Hoàng Khiềm (Nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Minh Ngọc (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Hoà Bình (Nhà hát Tuồng Đào Tấn)
NSND Trần Đình Sanh (Nhà hát Tuồng Đào Tấn)
NSND Gia Khoản (Phó Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Minh Gái (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Hồng Khiềm (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Ánh Dương (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Xuân Quý (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSND Xuân Hội (Nhà nhát tuồng Đào Tấn, Bình Định)
NSND Phương Thảo (Nhà nhát tuồng Đào Tấn, Bình Định)
2. CÁC NGHỆ SĨ ƯU TÚ
NSƯT Văn Quý (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Ngọc Khánh (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Đức Mười (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Văn Thuỷ (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Hải Vân (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Bích Tần (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Lê Trần Vinh (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Kiều Oanh (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Đức Lợi (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
NSƯT Chí Khánh (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
3. CÁC NGHỆ SĨ TÀI NĂNG TRẺ
NSTNT Lộc Huyền (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
== Những đạo diễn Tuồng nổi tiếng ==
NSND Ngọc Phương (Dàn dựng trên 200 vở Tuồng)
NSND Lê Tiến Thọ
NSND Hoàng Khiềm
NSUT Tạ Tạo
Đặng Bá Tài
Đoàn Anh Thắng
== Những soạn giả Tuồng nổi tiếng ==
Đào Tấn
Bùi Hữu Nghĩa
Hoàng Châu Ký
Nguyễn Hiển Dĩnh
Tống Phước Phổ
Xuân Yến
Sỹ Chức
== Các đoàn Tuồng chuyên nghiệp ==
Nghệ thuật sân khấu truyền thống Tuồng có 07 đơn vị phân bố ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, trong đó có 04 nhà hát, 01 Đoàn nghệ thuật và 02 đoàn nghệ thuật trực thuộc nhà hát gồm:
Nhà hát Tuồng Việt Nam;
Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế.
Nhà hát Tuồng Đào Tấn;
Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh;
Nhà hát Nghệ thuật Hát Bội Tp. HCM.
Đoàn Nghệ thuật Tuồng Thanh Hóa;
Đoàn Tuồng thuộc Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Tuồng Huế
Tuồng Quảng Nam
Hát chầu văn
Hát chèo
== Tham khảo và chú thích ==
Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Nhà xuất bản Trẻ, 2004.
Vũ Đức Sao Biển, "Hát bội Quảng Nam" in trong Quảng Nam hay cãi. Nhà xuất bản TRẻ, 2010.
== Liên kết ngoài ==
Tuồng tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
sheffield.txt | Sheffield là một thành phố và đô thị trung tâm của hạt Nam Yorkshire, nước Anh. Thành phố có tên là Sheffield vì nó từng nằm trên một cánh đồng dòng sông Sheaf chảy qua.
Sheffield từng là một trung tâm công nghiệp lớn của Anh thế kỉ 19, nổi tiếng với ngành công nghiệp sản xuất thép. Dân số thành phố ước tính có khoảng 530,300 người (2007), đây là một trong tám thành phố lớn nhất của Anh ngoài Luân Đôn. Trong khi đó nếu tính rộng hơn, khu vực đô thị Sheffield có dân số 640,720. Vùng đô thị lớn hơn của Sheffield có dân số 1,277,100 người trong khi Vùng thành phố Sheffield có số dân hơn 1,800,000 người.
== Tham khảo == |
gia đình việt nam.txt | Theo truyền thống Việt Nam, người chồng là người đứng đầu một gia đình và hộ gia đình (gia trưởng). Nhiều gia đình sống cùng nhau chung một huyết thống gọi là đại gia đình hay gia tộc, họ. Người đứng đầu trong đại gia đình gọi là tộc trưởng. Theo truyền thuyết, tất cả người Việt đều có chung nguồn gốc tổ tiên là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Hiện nay, chính sách của Nhà nước và xã hội Việt Nam rất coi trọng đơn vị gia đình, gia đình chính là tế bào của xã hội. Theo điều 18 của Luật bình đẳng giới thì vợ chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong quyết định các nguồn lực trong gia đình, trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp,... các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.
== Hệ thống quan hệ họ hàng ==
Gia đình Việt Nam có mối quan hệ họ hàng thân thiết, mỗi thế hệ (đời) bao gồm các tên gọi. Nếu lấy trọng tâm là bản thân mình (Ta/Tôi) thì có cách gọi các đời khác theo quan hệ thứ bậc như sau:
Thông thường một gia đình điển hình ở Việt Nam có 3 thế hệ: ông bà, cha mẹ và con cái hay còn gọi là "tam đại đồng đường". Cũng có bài trường hợp có gia đình có đến 4 thế hệ gọi là "tứ đại đồng đường" hay 5 thế hệ "ngũ đại đồng đường".
Nếu xét quan hệ ngang hàng với Ta/Tôi thì có "anh chị em ruột" (cùng cha mẹ) và "anh chị em họ" (cùng ông bà nhưng khác cha mẹ). Đôi khi cũng có trường hợp "anh chị em nuôi" do cha mẹ nhận nuôi nhưng không có chung huyết thống với cha mẹ. Cũng một vài trường hợp, cha mẹ nhận "anh chị em họ" làm con nuôi. Trường hợp anh chị em cùng cha nhưng khác mẹ gọi là "anh em dị bào" và anh chị em cùng mẹ nhưng khác cha gọi là "anh chị em đồng mẫu dị phụ". Chồng của chị gái/em gái gọi là "anh/em rể". Anh em chị của chồng gọi là "anh em chị chồng" và tương tự với vợ là "anh em chị vợ". Hai người đàn ông có vợ là chị em gọi là "anh em cọc chèo" hay "anh em đồng hao" (ở miền Bắc); và hai người phụ nữ có chồng là anh em gọi là "chị em dâu".
Nhìn chung quan hệ họ hàng trong gia đình ở Việt Nam nhìn chung rất phức tạp, người Việt có thuật ngữ dây mơ rễ má để hình dung những mối quan hệ nêu trên, trong đó thì những mối quan hệ cơ bản nhất thì nằm trong diện tứ thân phụ mẫu". (Bố mẹ chúng ta gọi là thân phụ và thân mẫu. Bố mẹ đẻ của vợ cũng gọi là thân phụ và thân mẫu. Bốn bậc đó các cụ gọi gọn lại là tứ thân phụ mẫu).
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành cũng quy định về quan hệ họ hàng, chủ yếu là trong Luật Hôn nhân và Gia đình (để xác định đối tượng kết hôn trong phạm vi ba đời, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình) và trong Bộ Luật dân sự (để xác định về diện thừa kế và hàng thừa kế).
== Cha mẹ ==
Cách gọi cha thông thường gồm cha đẻ (cha ruột của mình), cha dượng (chồng của mẹ đẻ) và cha nuôi (người nuôi dưỡng mình khi cha mẹ đẻ không có khả năng nuôi mình hoặc đã mất). Tương tự với cách gọi mẹ gồm mẹ đẻ (người sinh ra mình), mẹ kế (vợ của cha đẻ khi mẹ đẻ mất), mẹ nuôi (người nuôi dưỡng mình khi cha mẹ đẻ không có khả năng nuôi mình hoặc đã mất). Ngoài ra còn nhiều cách gọi cha mẹ khác nhau tùy thuộc theo hoàn cảnh và vai trò của họ với con cái.
== Cưới xin ==
Ở thời phong kiến, khi con cái cưới xin đều phải nghe theo ông bà, cha mẹ. Thời hiện đại, tư duy người Việt Nam đã thoáng hơn, con cái có thể tự do chọn người mình ưng ý và giới thiệu với cha mẹ. Hiện nay, nhà nước Việt Nam quy định chế độ hôn nhân "một vợ một chồng", vợ chồng bình đẳng.
== Đặt tên ==
Thông thường, gia đình Việt Nam theo chế độ phụ hệ tức là người cha làm chủ gia đình. Vì vậy, tên của con cái đa số mang họ cha, tuy nhiên cũng có một số trường hợp con cái mang họ mẹ. Tên của một người Việt Nam chia làm 3 phần:
Tên họ: họ của cha, đôi khi ghép họ của cha lẫn mẹ với nhau
Tên đệm hay tên lót, tên lót không bắt buộc phải có
Tên: tên của cá nhân mình
Một người đàn ông có tên "Nguyễn Minh Tâm" thì "Nguyễn" là họ (thông thường là họ của cha), "Minh" là tên đệm, và "Tâm" là tên gọi. Để gọi tên người này trong xã hội Việt Nam đơn giản chỉ gọi là Tâm. Một người phụ nữ có tên là "Nguyễn Lê Liên Tâm" thì "Nguyễn" là họ (thông thường là họ của cha), "Lê" có thể là tên lót hoặc họ của mẹ, "Liên" là tên đệm (lót), là Tâm là tên gọi.
Cá biệt có trường hợp tên của 3 chị em "Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân" dài đến 8 chữ, được xem là thuộc dạng tên "độc nhất vô nhị".
== Văn hóa ứng xử trong gia đình ==
=== Xưng hô ===
Việc xưng hô các thành viên trong gia đình tùy thuộc về nề nếp truyền thống gia đình và vùng miền nơi gia đình sinh sống. Có hơn 60 cách xưng hô khác nhau. Ở miền Bắc, bố đẻ gọi là cha, nhưng lại là ba nếu ở miền Nam, đôi khi là "tía".
Trong gia đình Việt Nam không gọi tên chức danh của các thành viên khi giao tiếp với nhau trong đời sống như xã hội Hàn Quốc. Chẳng hạn, như một người tên là Nguyễn Minh Tâm, cấp bậc Trung tá, ở xã hội người ta có thể gọi là Trung tá Nguyễn Minh Tâm nhưng trong gia đình thường chỉ gọi theo chức danh như cha, ông, cháu hoậc Tâm.
Ở miền Nam Việt Nam, khi người ta gọi tên các thành viên trong gia đình thường gọi tên kèm theo thứ tự sinh ra (nếu gia đình có nhiều con), ví dụ: Ông Lê Hoàng Quân là con đầu lòng được gọi là là Hai Quân, ông Nguyễn Văn Đua là con thứ hai nên gọi là Ba Đua, ông Nguyễn Văn Đời là con thứ chín (08) thì gọi là Tám Đời..... Có vài giả thuyết giải thích tại sao người miền Nam không gọi con đầu lòng hay con trưởng là cả như ở miền Bắc.
=== Bữa cơm gia đình ===
Người Việt thời phong kiến rất coi trọng bữa cơm gia đình, thông thường thì phải đủ các thành viên trong gia đình có mặt mới được dùng bữa. Ngày nay, nhiều gia đình vẫn còn giữ truyền thống đó tuy nhiên cũng nhiều gia đình dùng bữa mà không cần đợi đủ các thành viên, có lẽ một phần do đời sống hiện đại bận rộn hơn.
== Tụ họp ==
Hằng năm vào dịp Tết Nguyên Đán, theo phong tục thì các thành viên trong gia đình thường về tụ hội đông đủ. Ngoài ra các dịp đám cưới, đám tang, đám giỗ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình tập hợp lại.
== Nhà cửa ==
Gia đình Việt Nam được coi là một tế bào của xã hội. Gia đình có ý nghĩa quan trọng, thông thường các thế hệ sống cùng nhau. Khác với xã hội phương Tây, con cái trưởng thành có thể tự do sống tự lập và được khuyến khích. Một người trưởng thành hoặc đã kết hôn ở Việt Nam muốn sống độc lập tốt nhất phải có sự đồng ý của cha mẹ/ông bà.
== Các mâu thuẫn trong gia đình ==
Hiện nay có nhiều mâu thuẫn trong gia đình Việt, chủ yếu như vấn đề về bình đẳng giới, bạo lực gia đình, xung đột thế hệ, mâu thuẫn về kinh tế, về con chung-con riêng (con anh, con tôi và con của chúng ta). Để giải quyết mâu thuẫn người Việt thường thực hiện theo truyền thống "đóng cửa bảo nhau", theo hướng hòa giải, ít khi ra đến cơ quan tố tụng như phương Tây, tuy vậy việc kiện tụng, đã trở nên phổ biến hơn.
== Xem thêm ==
Văn hóa Việt Nam
Thượng thọ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Gia đình Việt Nam hiện nay: Truyền thống hay hiện đại?
Giáo dục văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh trong gia đình |
nguyễn hồng sơn.txt | Nguyễn Hồng Sơn (tên thật là Nguyễn Sỹ Sơn) (sinh ngày 9 tháng 10 năm 1970 tại Hà Nội) Tiền vệ thường mang áo số 8 là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất của đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam và câu lạc bộ Thể Công trong những năm từ 1995 đến 2001.
== Sự nghiệp ==
Nguyễn Hồng Sơn gia nhập đội Câu lạc bộ Quân đội (còn gọi là Thể Công) năm 1988 và bắt đầu khoác áo đội tuyển quốc gia năm 1993. Ban đầu Hồng Sơn thi đấu tại vị trí tiền đạo sau đó chuyển sang tiền vệ cánh. Năm 1990 Hồng Sơn giành danh hiệu vua phá lưới giải vô địch quốc gia. Anh đã từng giành được huy chương bạc tại SEA Games 18, 20 và Tiger Cup 1998, huy chương đồng tại Cúp Tiger 1996 và SEA Games 19. Năm 1998, sau khi nhận giải thưởng "Cầu thủ xuất sắc nhất Tiger Cup", Nguyễn Hồng Sơn đã từng được trao danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất tháng của châu Á đó là tháng 8 năm 1998 và "Quả bóng vàng Việt Nam" lần đầu tiên. Đến năm 1999 anh đứng thứ 2 tại giải đấu bóng đá biểu diễn do Pepsi tổ chức (Giải đấu này gồm nhiều danh thủ tham gia như David Beckham, Yorke, Ruis Cósta, Roberto Carlos,...) Đầu năm 2001, Anh giành danh hiệu "Quả bóng vàng Việt Nam" lần thứ hai. Cuối mùa giải V-League 2002 Hồng Sơn tuyên bố giải nghệ do chấn thương nhưng đến giai đoạn 2 mùa giải 2003 anh quay lại đội bóng Thể Công và sau đó thi đấu cho Công nhân Bia Đỏ. Anh cũng là sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, cấp bậc Trung tá.
Năm 2001 Trước khi rời Việt Nam, HLV Dido để lại câu nói bất hủ về tiền vệ của Thể Công: "Nếu Hồng Sơn được sinh ra ở Brazil, cậu ấy đủ khả năng trở thành huyền thoại của bóng đá thế giới".
Sau khi nghỉ thi đấu, Nguyễn Hồng Sơn trở thành huấn luyện viên bóng đá dẫn dắt Câu lạc bộ bóng đá Thành Nghĩa - Quảng Ngãi, sau đó là đội U15 của Thể Công. Tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2007, anh làm huấn luyện viên phó đội tuyển futsal quốc gia Việt Nam.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Huy chương bạc Tiger Cup năm 1998
Huy chương bạc SEA Games năm 1995 và 1999
Với Thể Công
Vô địch Việt Nam 1990 & 1998
Vô địch Siêu cúp bóng đá Việt Nam 1998
Á quân Cúp Quốc gia 1992
Danh hiệu cá nhân
Quả bóng vàng Việt Nam 1998 và 2000
Vua phá lưới giải vô địch bóng đá Việt Nam 1990
Cầu thủ xuất sắc nhất Tiger Cup 1998
Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của châu Á vào tháng 8 năm 1998
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nguyễn Hồng Sơn - ứng cử viên cho danh hiệu Cầu thủ vàng của bóng đá Việt Nam 13/03/2004
Hồng Sơn làm huấn luyện viên trưởng CLB hạng 3 Thành Nghĩa
Sơn "Công chúa" "tái xuất giang hồ" |
than đá.txt | Than đá là một loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành ở các hệ sinh thái đầm lầy nơi xác thực vật được nước và bùn lưu giữ không bị ôxi hóa và phân hủy bởi sinh vật (biodegradation) và cả ở những cánh rừng bị cháy được vùi lấp. Thành phần chính của than đá là cacbon, ngoài ra còn có các nguyên tố khác như lưu huỳnh. Than đá, là sản phẩm của quá trình biến chất, là các lớp đá có màu đen hoặc đen nâu có thể đốt cháy được. Than đá là nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng lớn nhất thế giới, cũng như là nguồn thải khí carbon dioxide lớn nhất, được xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu. Than đá được khai thác từ các mỏ than lộ thiên hoặc dưới lòng đất (hầm lò).
== Ứng dụng ==
Than đá sử dụng nhiều trong sản xuất và đời sống. Trước đây, than dùng làm nhiên liệu cho máy hơi nước, đầu máy xe lửa. Sau đó, than làm nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện, ngành luyện kim. Gần đây than còn dùng cho ngành hóa học tạo ra các sản phẩm như dược phẩm, chất dẻo, sợi nhân tạo. Than chì dùng làm điện cực. Ngoài ra than còn được dùng nhiều trong việc sưởi ấm từ xa xưa nhưng khi cháy chúng tỏa ra rất nhiều khí CO có thể gây ngộ độc nên cần sử dụng trong các lò sưởi chuyên dụng có ống khói dẫn ra ngoài cũng như có các biện pháp an toàn khi sử dụng chúng.
Than có tính chất hấp thụ các chất độc vì thế người ta gọi là than hấp thụ hoặc là than hoạt tính có khả năng giữ trên bề mặt các chất khí, chất hơi, chất tan trong dung dịch. Dùng nhiều trong việc máy lọc nước, làm trắng đường, mặt nạ phòng độc...
== Điêu khắc ==
Than đá không chỉ là sản phẩm dành cho việc phát triển kinh tế, nguyên liệu máy móc và nhà máy, chất đốt... mà còn dùng làm điêu khắc, vẽ tranh mỹ nghệ đó là tác phẩm do những nghệ nhân giỏi nghệ thuật.
== Phân bố và sản lượng ==
Trữ lượng than của cả thế giới vẫn còn cao so với các nguyên liệu năng lượng khác (dầu mỏ, khí đốt...). Được khai thác nhiều nhất ở Bắc bán cầu, trong đó 4/5 thuộc các nước sau: Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc, Đức, Ba Lan, Canada..., sản lượng than khai thác là 5 tỉ tấn/năm.
Tại Việt Nam, có rất nhiều mỏ than tập trung nhiều nhất ở các tỉnh phía Bắc nhất là tỉnh Quảng Ninh, mỗi năm khai thác khoảng 15 đến 20 triệu tấn. Than được khai thác lộ thiên là chính còn lại là khai thác hầm lò.
== Công nghệ ==
Than đá ngày nay được biến đổi, xử lý, để tạo ra than đá có hàm lượng CO2 thấp nhưng sinh nhiều năng lượng, góp phần hạn chế làm ấm Trái Đất lên sau một thời gian
== Chú thích == |
thâm quyến.txt | Thâm Quyến (Tiếng Hoa: 深圳; pinyin: Shēnzhèn) là thành phố trực thuộc tỉnh của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Thâm Quyến nghĩa là "con lạch sâu" nhưng tên địa danh này trong tiếng Việt thường phiên âm sai thành Thẩm Quyến. Hiện nay còn có sông Thâm Quyến (Thâm Quyến hà) là ranh giới giữa Thâm Quyến và Hồng Kông.
Đặc khu kinh tế Thâm Quyến có diện tích 2.050 km², dân số năm 2007 là 8,6 triệu người (kể cả vùng đô thị là 13 triệu), GDP 676,5 tỷ nhân dân tệ. Thành phố giáp biên giới với Hồng Kông, cách Quảng Châu 160 km về phía nam. Cảng Thâm Quyến là một trong những cảng tấp nập nhất Trung Quốc, chỉ sau cảng Thượng Hải. Trong 30 năm qua, Thâm Quyến đã thu hút trên 30 tỷ USD đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bên ngoài.
== Lịch sử hình thành ==
Trước khi trở thành đặc khu kinh tế, Thâm Quyến còn là một làng chài. Năm 1979, lãnh đạo tối cao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Đặng Tiểu Bình đã cho thành lập Đặc khu kinh tế tại Thâm Quyến. Đây là đặc khu đầu tiên của Trung Quốc do lợi thế nằm giáp Hồng Kông (lúc đó còn là một thuộc địa của Vương quốc Anh). Việc thành lập đặc khu này được coi như là thử nghiệm mô hình Cải cách kinh tế Trung Quốc. Địa điểm này được chọn vì cả dân Thâm Quyến và dân Hồng Kông cùng có chung ngôn ngữ (tiếng Quảng Đông), chung văn hóa và dân tộc nhưng lại có giá nhân công, đất đai rẻ hơn nhiều. Ý tưởng đã thành công rực rỡ, tạo tiền đề cho Trung Quốc đẩy nhanh quá trình cải cách mở cửa kinh tế. Thâm Quyến đã trở thành một trong những thành phố lớn nhất vùng đồng bằng châu thổ Châu Giang. Đồng bằng châu thổ Châu Giang đã trở thành trung tâm kinh tế của Trung Quốc và là phân xưởng sản xuất của thế giới. Thâm Quyến, tên gọi trước đây là huyện Bảo An (宝安县)- là huyện thuộc tỉnh Quảng Đông vào tháng 11 năm 1979. Tháng 5 năm 1980, Thâm Quyến chính thức được chuyển thành Đặc khu kinh tế. Năm 1988, Thâm Quyến được cho phép có thẩm quyền về kinh tế tương đương cấp tỉnh của Trung Quốc. Thâm Quyến là đặc khu đầu tiên trong 5 đặc khu kinh tế tại Trung Quốc.
Thành phố Thâm Quyến bao gồm 8 quận: La Hồ (罗湖), Phúc Điền (福田), Nam Sơn (南山), Diêm Điền (盐田), Bảo An (宝安), Long Cương (龙岗) và Quang Minh tân khu (光明新区) Bình Sơn tân khu (坪山新区). Các đặc khu kinh tế bao gồm La Hồ, Phúc Điền, Nam Sơn và Diêm Điền.
Nằm trong trung tâm của Đặc khu và sát bên Hồng Kông, La Hồ là trung tâm tài chính thương mại, diện tích 78,89 km². Phúc Điền là trung tâm hành chính của thành phố, là trái tim của Đặc khu, rộng 78,04 km². Nam Sơn rộng 164,29 km² là trung tâm của công nghệ cao, quận này nằm phía đông Đặc khu. Bên ngoài đặc khu, Bảo An rộng 712,92 km² nằm ở phía tây bắc và Long Cương rộng 844,07 km² nằm ở phía đông bắc của Thâm Quyến. Diêm Điền (75,68 km²) là cơ sở dịch vụ hậu cần hàng hải (logistics). Quang Minh Tân khu mới được tách ra từ quận Bảo An kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2007, có diện tích 79 km². Cảng Nhan Điền là cảng nước sâu container lớn thứ thứ hai của Trung Quốc và lớn thứ 4 thế giới.
== Kinh tế ==
Năm 2001, lực lượng lao động đạt 3,3 triệu người. GDP đạt 492,69 tỷ NDT năm 2005, tăng 15% so với 2004, GDP thời kỳ 2001-2005 tăng 16,3%/năm. GDP xếp thứ 4 trong các thành phố của Trung Quốc. Kim ngạch xuất nhập khẩu xếp thứ nhất trong chín năm liên tục vừa qua, xếp thứ 2 về sản lượng công nghiệp, thu ngân sách xếp thứ 3 trong 5 năm liên tục, xếp thứ 3 về sử dụng vốn đầu tư nước ngoài. Thâm Quyến là một trung tâm chế tạo lớn của Trung Quốc.
"Mỗi ngày một cao ốc, 3 ngày một đại lộ" là khẩu hiệu nổi tiếng của Thâm Quyến cuối thập niên 1990. Với 13 tòa cao ốc cao hơn 200 m (bao gồm tòa nhà Quảng trường Tôn Hinh cao thứ 8 thế giới), Thâm Quyến là một thành phố diệu kỳ lúc màn đêm buông xuống.
Thâm Quyến là nơi đặt trụ sở của nhiều công ty IT thành công như Huawei và ZTE. Foxconn có nhà máy tại đây, chế tạo phần lớn máy nghe nhạc số cá nhân (iPod) và máy tính xách tay cho hãng Apple. Thành phố có sự hiện diện của hơn 400 trong 500 công ty lớn nhất thế giới. Sở giao dịch chứng khoán của Thâm Quyến có 540 công ty niêm yết, 35 triệu nhà đầu tư đăng ký và 17.700 nhân viên môi giới chứng khoán, tổng vốn 122 tỷ USD, mỗi ngày có 600.000 giao dịch, giá trị 807 triệu USD.
== Giao thông vận tải ==
Cảng Thâm Quyến nằm kề cảng Hồng Kông (cách 20 hải lý). Năm 2005, cảng này xếp thứ 4 thế giới về khối lượng container (16,2 triệu TEU). Sân bay Thâm Quyến cách trung tâm thành phố 35 km có các chuyến bay quốc tế. Đường sắt và đường bộ hiện đại nối liền với Hồng Kông và các thành phố khác của Trung Quốc. Tàu điện ngầm bắt đầu vận hành từ ngày 27 tháng 12 năm 2004, có 2 tuyến. Từ Thâm Quyến có thể đi Châu Hải, Ma Cao, Hồng Kông, Sân bay Chek Lap Kok bằng tàu thủy cao tốc.
== Xem thêm ==
Đại học Thâm Quyến
Đại học Bách khoa Thâm Quyến
Sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Tham khảo == |
you'll never walk alone.txt | You'll Never Walk Alone (Bạn không bao giờ đơn độc) là một ca khúc ban đầu được viết cho vở kịch mang tên Carousel tại sân khấu kịch Broadway vào năm 1945.
== Tổng quan ==
Người soạn nhạc cho ca khúc là Richard Rodgers và phần lời là của Oscar Hammertein. Ngay khi xuất hiện, ca khúc đã tạo một âm hưởng đặc biệt, mà ý nghĩa của nó vượt qua khỏi khuôn khổ của vở kịch Carousel. Khi sân khấu Broadway đang diễn vở kịch, chiến tranh thế giới thứ hai vẫn chưa chấm dứt. Trong số những khán giả tới xem, nhiều người có chồng, cha, con trai hay người yêu ngoài mặt trận – ca khúc đó đã giúp họ khuây khoả được phần nào
Một ca khúc làm chấn động giới âm nhạc thời đó. You’ll never walk alone được trình diễn và thu băng đĩa bởi những ban nhạc, những ca sĩ nổi tiếng nhất thuộc đủ mọi thể loại pop, rock, nhạc Gospel, jazz, nhạc Country và cả nhạc Opera. Có thể kể ra đây những ngôi sao, những ban nhạc ít nhất một lần say sưa trình diễn ca khúc này: Gerry and the Pacemakers (Thành công nhất), Louis Armstrong, ChetAtkins, Shirley Bassey, Glen Campbell, Ray Charles, Perry Como, Michael Crawford, Placido Domingo, Aretha Franklin, Judy Garrland, Marilyn Horne, Mahalia Jackson, Patti Labelle, Cleo Laine, Mario Lanza, Darlene Love, Jim Nabors, Olivia Newton John, Pink Floyd, Evils Presley, The Righteous Brothers, Nina Simone, Frank Sinatra, Kiri TeKanawa, Conway Twitty và Dionne Warwick.
Trong một thế giới đầy những hiểm hoạ, sự bất hạnh có thể tới bất cứ lúc nào, ca khúc You’ll never walk alone như một lời động viên, khích lệ con người ta vững tâm tiến lên phía trước: "Khi bạn đi trong giông bão, hãy ngẩng cao đầu, đừng lo sợ trước màn đêm u tối, sau cơn bão sẽ là bầu trời rực rỡ, và tiếng hót ngọt ngào của con chim chiền chiện… Bước đi xuyên qua cơn gió, bước đi xuyên qua cơn mưa, vượt qua những ước mơ đã bị quẳng đi. Hãy bước đi, bước đi với niềm hy vọng, niềm hy vọng trong tim mình. Và bạn sẽ không bao giờ đơn độc..."
== Tại Liverpool ==
Và ca khúc đã trở thành bài hát truyền thống của câu lạc bộ Liverpool, khởi đầu bởi các fans khu vé đứng được mệnh danh là "The Kop", đã làm nó nổi tiếng khắp thế giới. Trong những ngày bi đát nhất là thảm họa Heysel và Hillsborough, những người còn sống sót hát You’ll never walk alone trong nước mắt, cầu cho linh hồn những người xấu số không đơn côi ở bên kia thế giới. Từ đó, trong những đám tang của người dân thành Liverpool, người ta thấy vang vọng khúc ca "You’ll never walk alone" – khúc ca làm những người thân nguôi đi nỗi buồn.
Với lời ca đầy lạc quan, "You'll Never Walk Alone" trở thành ca khúc số một trong những đợt quyên góp cho các nạn nhân của chiến tranh, thảm hoạ thiên nhiên hay bệnh tật. Năm 1985, một chương trình ca nhạc quyên tiền ủng hộ các nạn nhân của thảm hoạ tại sân vận động Bradford đã được mang tên "You’ll Never Walk Alone". Tại Mỹ, ca khúc này cũng xuất hiện trong những đợt vận động phòng chống bệnh AIDS.
Với mỗi người dân Liverpool, "You’ll Never Walk Alone" đã trở thành ca khúc không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật. Mỗi khi bước vào sân vận động Anfield, họ lại được chiêm ngưỡng dòng chữ "You’ll Never Walk Alone" trên cổng Shankly Gates và được đắm mình trong không khí âm nhạc tuyệt vời trên khán đài. Ca khúc thường được một người xướng và cả vạn người đồng thanh hát theo.
Những người không có duyên với Liverpool, phải rời sân Anfield để thi đấu ở một nơi nào đó, đều sẽ được chia tay bằng một câu: "Với niềm hy vọng trong tim mình. Và bạn sẽ không bao giờ đơn độc..."
== Tham khảo == |
giáo hoàng ađrianô iv.txt | Ađrianô IV (Latinh: Adrianus IV) là vị giáo hoàng thứ 169 của giáo hội công giáo.
Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử Giáo hoàng năm 1154 và ở ngôi Giáo hoàng trong 4 năm 8 tháng 29 ngày. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định ông đắc cử Giáo hoàng ngày 4 tháng 12 năm 1154, ngày khai mạc chức vụ mục tử đoàn chiên chúa là ngày 5 tháng 12 và ngày kết thúc triều đại của ông là ngày 1 tháng 9 năm 1159.
Adrianus IV sinh tại Langley, Anh thuộc tầng lớp thấp kém. Ðây là người Anh duy nhất làm Giáo hoàng người Anh. Đức Adrianus bất chấp mọi chuyện để bảo vệ quyền tối thượng của Giáo hội trên hoàng đế, nên đây là một thách thức đối với Frederick Barbarossa.
Trong suốt cuộc gặp với ông ở Sutri, hoàng đế không muốn giữ bàn đạp để cưỡi lên ngựa cho Đức Giáo hoàng và Adrianus từ chối hôn xin lỗi ông ấy. Những xích mích giữa Barbarossa và Hadrian đưa Đức Giáo hoàng một lần nữa xích lại gần với người Norman.
Là vị Giáo hoàng người Anglo Saxon, ông được coi là một vị Giáo hoàng cương trực. Giáo hoàng đem đảo Ái nhĩ lan tặng vua nước Anh, và cho phép vua nầy nhận lấy. Giáo hoàng kế tiếp, là Alexandre III, lại cho phép ấy, song đến năm 1171 mới thi hành.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
265 Đức Giáo hoàng, Thiên Hựu Nguyễn Thành Thống, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản tháng 5 năm 2009.
Các vị Giáo hoàng của giáo hội toàn cầu, hội đồng giám mục Việt Nam [1]
Tóm lược tiểu sử các Đức Giáo hoàng, Đà Nẵng 2003,Jos. TVT chuyển ngữ từ Tiếng Anh. |
phần mềm tự do nguồn mở.txt | Phần mềm tự do nguồn mở (tiếng Anh: Free and open-source software (Viết tắt là F/OSS, FOSS) hoặc free/libre/open-source software (viết tắt là FLOSS)) là phần mềm thỏa mãn cả 2 yếu tố: tự do và nguồn mở.
Ở Việt Nam, Phần mềm tự do nguồn mở là thuật ngữ được khuyến khích sử dụng gần đây, thay thế cho hai thuật ngữ là phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở, đặc biệt là thuật ngữ mã nguồn mở bởi vì sự bó hẹp của nó.
Phần mềm tự do nguồn mở cung cấp cho người sử dụng 4 quyền: quyền sử dụng (use), sao chép (copy), nghiên cứu (study), sửa đổi (change). Điều này đang được ngày càng nhiều người dùng cá nhân cũng như các doanh nghiệp thừa nhận.
Trong bối cảnh từ "free" trong tiếng Anh bị lẫn lộn giữa "miễn phí" và "tự do", tổ chức Free Software Foundation (Viết tắt là SFS) - một tổ chức ủng hộ sáng kiến phần mềm nguồn mở - lưu ý rằng free hiểu theo nghĩa "tự do" (theo kiểu "độc lập - tự do - hạnh phúc") chứ không phải "miễn phí" (theo kiểu "miễn phí không mất tiền"), bởi "tự do" giá trị hơn "miễn phí".
FOSS là một thuật ngữ bao gồm bao gồm cả phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở, mặc dù mô tả mô hình phát triển tương tự, nhưng khác nhau về văn hóa và triết lý sử dụng làm nền tảng. Phần mềm tự do tập trung vào triết lý về các quyền tự do mà nó mang lại cho người sử dụng, trong khi đó phần mềm nguồn mở tập trung vào các cảm nhận thế mạnh của mô hình phát triển ngang hàng của nó . FOSS là một thuật ngữ có thể được sử dụng mà không thiên vị đặc biệt đối với một trong hai cách tiếp cận chính.
== Lịch sử ==
=== Tên gọi ===
==== Phần mềm tự do (Free software) ====
==== Phần mềm nguồn mở (Open Source) ====
"Open Source" được hiểu là "nguồn mở" (Có nhiều dạng "nguồn mở", trong trường hợp này là Phần mềm), tuy nhiên ở Việt Nam đôi khi nó bị hiểu sai thành "mã nguồn mở" (nghĩa hẹp hơn rất nhiều).
==== Phần mềm tự do nguồn mở (FOSS) ====
==== FLOSS ====
== Tính hai mặt của FOSS ==
=== Vấn đề bản quyền ===
== Được các chính phủ thông qua ==
== Chú thích ==
== Nguồn tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
trường vector.txt | Trong toán học, trường vector là một kết cấu trong giải tích vector gán tương ứng mỗi vector cho mọi điểm trong một (phần) không gian Euclid.
Các trường vector thường được dùng trong vật lý để miêu tả, ví dụ, tốc độ và hướng của một chất lưu trong không gian, hoặc độ lớn và hướng của một lực nào đó, như lực từ hay lực hấp dẫn, khi nó thay đổi tùy thuộc vào vị trí.
== Xem thêm ==
Trường vô hướng
Giải tích vector
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Vector field -- Mathworld
Vector field -- PlanetMath
3D Magnetic field viewer
Vector Field Simulation Java applet illustrating vectors fields
Vector fields and field lines
Vector field simulation An interactive application to show the effects of vector fields
Trường vectơ trên Từ điển bách khoa Việt Nam |
samsung galaxy s iii.txt | Samsung Galaxy S III (hoặc là Galaxy S3) là mẫu điện thoại thông minh (smartphone) chạy nền hệ điều hành Android được thiết kế, phát triển và bán ra thị trường bởi tập đoàn Samsung. Galaxy S3 là sự kế thừa từ mẫu điện thoại di động Samsung Galaxy S II. Thiết bị được phát hành ở châu Âu vào ngày 29 tháng 05 năm 2012, và ở Mỹ vào tháng 6, ở Ấn Độ vào ngày 31 tháng 5 năm 2012 và ở Đài Loan vào ngày 1 tháng 6 năm 2012.
Galaxy S III sử dụng trợ lý ảo cá nhân (S Voice), khả năng theo dõi chuyển động mắt (eye-tracking), và tăng bộ nhớ lưu trữ. Mặc dù hãng có công bố là SIII sẽ có phiên bản có sạc không dây, điều đó đã không bao giờ trở thành hiện thực. Tùy thuộc vào quốc gia, với 4,8-inch (120 mm) điện thoại thông minh đi kèm với bộ xử lý khác nhau và khả năng bộ nhớ RAM, và hỗ trợ 4G LTE. Thiết bị được phát hành với Android 4.0.4 "Ice Cream Sandwich" cài sẵn, sau đó được cập nhật lên Android 4.3 "Jelly Bean", và cũng có thể được cập nhật lên Android 4.4 "KitKat" trên các biến thể có 2 GB RAM. Kế nhiệm nó, Samsung Galaxy S4, được công bố vào ngày 14 tháng 3 năm 2013 và được phát hành một tháng sau đó.
Sau giai đoạn phát triển kéo dài 18 tháng, Samsung ra mắt chiếc S III vào ngày 3 Tháng 5 năm 2012. Thiết bị này đã được phát hành tại 28 quốc gia Châu Âu và Trung Đông vào ngày 29 tháng 5 năm 2012, trước khi được dần dần phát hành tại các thị trường lớn khác trong tháng 6 năm 2012. Trước ngày phát hành chính thức, 9 triệu đơn đặt hàng trước đã được đặt bởi hơn 100 cửa hàng trên toàn cầu. S III được phát hành bởi khoảng 300 nhà phát hành tại gần 150 quốc gia vào cuối tháng 7 năm 2012. Chỉ trong vòng 100 ngày đầu tiên phát hành, đã có hơn 20 triệu chiếc S III đã được bán ra, và tới tháng 4 năm 2013, con số lên đến hơn 50 triệu chiếc.
Samsung Galaxy S III là thiết bị chính thức của Thế vận hội Mùa hè 2012. Một phiên bản đặc biệt của nó được trang bị ứng dụng thanh toán di động Visa payWare nhằm cung cấp đến các vận động viên và các nhà tài trợ bởi hai tập đoàn Visa Inc. và Samsung.
Vào tháng 4 năm 2014, sau khi phát hành flagship Galaxy S5, Samsung phát hành thêm một phiên bản làm mới của S III gọi là "Galaxy S3 Neo", phiên bản này sở hữu bộ vi xử lý lõi tứ Snapdragon 400 tốc độ 1,2 hoặc 1,4 GHz. Đi kèm là 1,5 GB RAM, 16 GB dung lượng bộ nhớ trong và được bán ra với Android 4.4.4 "KitKat".
== Lịch sử ==
Công việc thiết kế chiếc S III bắt đầu vào cuối năm 2010 dưới sự giám sát của Chang Dong-hoon (phó chủ tịch của Samsung và trưởng nhóm thiết kế Samsung Electronics). Ngay từ đầu, các nhóm thiết kế tập trung vào một xu hướng mà Samsung gọi là "Organic", thiết kế này muốn thiết kế điện thoại tiềm năng cần chứa đựng trong mình các yếu tố của tự nhiên như dòng chảy của nước và gió. Kết quả là chiếc SIII sở hữu những đường cong mềm mại và hiệu ứng "Water Lux" trên màn hình chủ: khi người dùng trượt hay chạm vào màn hình chủ, bọt nước và gợn sóng sẽ xuất hiện.
Trong suốt mười tám tháng thiết kế, Samsung thực hiện các biện pháp an ninh nghiêm ngặt và các thủ tục để duy trì tính bí mật của thiết kế cuối cùng cho đến khi ra mắt. Bộ phận thiết kế làm việc trên ba nguyên mẫu đồng thời và đều coi nó là thiết kế của nguyên mẫu cuối cùng trước khi ra mắt. Để làm được điều đó, họ đã phải nỗ lực thực sự, vì họ phải lặp lại một quy trình cho cả ba nguyên mẫu. Các nguyên mẫu này bị cấm chụp ảnh và được giữ trong một phòng thí nghiệm riêng biệt mà chỉ những nhà thiết kế cốt lõi mới có thể vào. Chúng đã được vận chuyển bởi các nhân viên đáng tin cậy của công ty, thay vì sử dụng dịch vụ của bên thứ ba. "Bởi vì chỉ chúng tôi được phép xem các sản phẩm còn những người khác thì không được," kỹ sư trưởng Lee Byung Joon giải thích. Ông cho biết thêm: "chúng tôi không thể gửi bức ảnh hoặc bản vẽ. Thật khó để mô tả chiếc SIII chỉ bằng từ ngữ." Mặc dù được bảo vệ bởi các biện pháp an ninh nghiêm ngặt như vậy, thông số kỹ thuật của một trong ba nguyên mẫu đã bị rò rỉ bởi trang web Tinhte đến từ Việt Nam, tuy nhiên cuối cùng nó không phải là thiết kế được chọn.
Các tin đồn trong các cửa hàng công cộng và phương tiện truyền thông nói chung liên quan đến thông số kỹ thuật của chiếc S III đã bắt đầu xuất hiện vào khoảng vài tháng trước khi ra mắt chính thức vào tháng 5 năm 2012. Trong tháng 2 năm 2012, trước sự kiện Mobile World Congress (MWC) ở Barcelona, có một tin đồn rằng chiếc SIII sẽ có bộ xử lý lõi tứ 1,5 GHz, màn hình độ phân giải Full HD 1080p (1080 × 1920 pixel), camera sau 12-megapixel và màn hình cảm ứng HD Super AMOLED Plus. Một tin đồn khác chính xác hơn cho rằng thông số kỹ thuật bao gồm 2 GB RAM, 64 GB bộ nhớ trong, 4G LTE, màn hình 4,8-inch (120 mm), với camera sau 8-megapixel, và máy dày 9 mm (0,35 in). Samsung xác nhận sự tồn tại của người kế nhiệm Galaxy S II vào ngày 5 Tháng 3 năm 2012, nhưng mãi đến cuối tháng 4 năm 2012 phó chủ tịch Robert Yi của Samsung mới khẳng định điện thoại đó được gọi là "Samsung Galaxy S III".
Sau khi mời các phóng viên vào giữa tháng tư, Samsung ra mắt Galaxy S III trong sự kiện Samsung Mobile Unpacked năm 2012 tại Trung tâm triển lãm Earls Court, London, Vương Quốc Anh, vào ngày 3 tháng 5 năm 2012, thay vì ra mắt sản phẩm trong hai sự kiện World Mobile Congress và Consumer Electronics Show (CES). Một cách giải thích cho quyết định này là vì Samsung muốn giảm thiểu thời gian trễ giữa lúc giới thiệu và thời điểm phát hành máy. Các bài phát biểu của sự kiện kéo dài một giờ được thực hiện bởi Loesje De Vriese, giám đốc Marketing của Samsung Bỉ.
Sau sự ra mắt của Galaxy S4 vào tháng 6 năm 2013, Samsung được báo cáo là đã kết thúc vòng đời của điện thoại sớm hơn so với dự kiến vì doanh số thấp và hợp lý hóa các hoạt động sản xuất.
== Tính năng ==
=== Phần cứng và thiết kế ===
S III sử dụng khung máy bằng nhựa với các số đo 136,6 mm (5.38 in) ở chiều cao, 70,7 mm (2,78 in) ở chiều rộng và 8,6 mm (0,34 in) bề dày. Với kích thước trên, thiết bị nặng 133 gam (4,7 oz). Samsung đã bỏ thiết kế hình chữ nhật của Galaxy S và Galaxy S II, và thay vào đó là sự kết hợp giữa các góc bo tròn và các cạnh cong, gợi nhớ tới chiếc Galaxy Nexus. Thiết bị này đã có sẵn trong một số tùy chọn màu sắc: màu trắng, đen, xám, xám xanh, đỏ và nâu. Model màu "Garnet Red" đã được phát hành chỉ dành riêng cho nhà mạng AT&T của Mỹ vào ngày 15 Tháng 7 năm 2012.
S III có hai biến thể khác nhau với sự khác biệt chủ yếu là ở phần cứng bên trong. Các phiên bản quốc tế của S III sử dụng hệ thống Exynos Quad 4 của Samsung trên một (SoC) có vi xử lý lõi tứ ARM Cortex-A9 1,4 GHz và GPU ARM Mali-400 MP. Theo Samsung, Exynos 4 lõi tứ tăng gấp đôi hiệu năng của Exynos 4 lõi đôi được sử dụng trên S II, mà lại tiết kiệm được 20% điện năng khi sử dụng. Samsung cũng đã phát hành một số phiên bản 4G LTE ở một vài quốc gia để tạo điều kiện kết nối di động tốc độ cao so với 3G để khai thác cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc tương ứng được hỗ trợ trong các thị trường này. Hầu hết các phiên bản sử dụng SoC Snapdragon S4 của Qualcomm với CPU lõi kép Krait 1,5 GHz và GPU Adreno 225. Các phiên bản Hàn Quốc và Úc là phiên bản lai của phiên bản quốc tế và phiên bản 4G.
S III có tối đa là 2 GB RAM, tùy thuộc vào model. Thiết bị đi kèm với 16 hoặc 32 GB dung lượng bộ nhớ trong, với một phiên bản 64 GB có sẵn trên toàn thế giới; thêm vào đó, máy có khả năng mở rộng bộ nhớ bằng thẻ microSDXC 64 GB để đạt tổng dung lượng 128 GB. Hơn nữa, người dùng còn được tặng 50 GB dung lượng miễn phí trong hai năm trên Dropbox, tăng gấp đôi so với khuyến mãi của HTC cùng kỳ (chỉ 25 GB).
Màn hình HD Super AMOLED của S III rộng 4,8 inch (120 mm). Với độ phân giải 720 × 1280 pixel (720p), 306 điểm ảnh trên mỗi inch (PPI, đơn vị đo mật độ điểm ảnh) là tương đối cao vào thời điểm đó. Màn hình hoạt động bằng loại bỏ một trong ba subpixels-đỏ, xanh lá cây và màu xanh trong mỗi điểm ảnh để tạo ra một ma trận hiển thị PenTile; do đó, nó không có hậu tố "Plus" trên màn hình Super AMOLED Plus của chiếc S II. Tấm kính dùng cho màn hình hiển thị là kính cường lực Gorilla Glass 2, ngoại trừ biến thể S3 Neo. Phần mềm của thiết bị bao gồm một tính năng gọi là "Smart Stay", trong đó sử dụng camera trước của thiết bị để phát hiện xem mắt của người dùng đang nhìn vào màn hình hay không, và ngăn màn hình tự động tắt nếu như người dùng vẫn nhìn vào màn hình. Tính năng này thực sự hữu ích với những người thường xuyên xem phim hoặc đọc báo.
Galaxy S III có camera sau 8-megapixel tương tự như camera trên chiếc Galaxy S II. Nó có thể chụp những ảnh ở độ phân giải 3264 × 2448 pixel và quay video ở độ phân giải 1920 x 1080 (1080p). Samsung đã rất cố gắng cải thiện phần mềm máy ảnh so với người tiền nhiệm của nó để bao gồm những tính năng chụp không trễ, thêm chế độ Burst và Best Shot, kết hợp với nhau để chụp một loạt ảnh trong thời gian cực ngắn để người dùng có thể chọn ra tấm ảnh họ ưng ý nhất. S III cũng cho phép người dùng chụp ảnh trong khi quay video. Ngoài ra, thiết bị cũng sở hữu camera trước 1.9-megapixel hỗ trợ quay video độ phân giải 720p. Camera của S III cũng có đèn flash LED và khả năng tự động lấy nét.
Ngoài màn hình cảm ứng 4.8-inch (120 mm), S III cũng sử dụng một số phím vật lý, bao gồm phím home nằm giữa bên dưới màn hình, cụm phím âm lượng ở cạnh trái và phím nguồn/khóa phía trên cạnh phải. Ở cạnh trên là jack cắm tai nghe 3,5 mm và một trong hai micro trên S III (micro còn lại nằm bên dưới phím home). S III được quảng cáo là có một cổng MHL có thể được sử dụng làm cổng micro-USB OTG, và để kết nối điện thoại với các thiết bị HDMI. Tuy nhiên, một nhà bán lẻ sau đó phát hiện ra rằng Samsung đã thực hiện một sửa đổi để chỉ các thiết bị điện tử làm riêng cho chiếc S III mới có thể sử dụng.
Pin Li-ion 2100 mAh trên Galaxy S III được cho là có thời gian chờ lên tới 790 giờ hoặc 11 giờ đàm thoại trên mạng 3G, còn với mạng 2G thì con số lên tới 900 giờ ở chế độ chờ và 21 giờ ở chế độ đàm thoại. Kết nối giao tiếp tầm gần (NFC) được tích hợp vào pin, cho phép người dùng chia sẻ các thông tin điều hướng trên bản đồ và video YouTube một cách nhanh chóng sử dụng Wi-Fi Direct (thông qua Android Beam), và thực hiện "thanh toán-không-chạm" tại các cửa hàng đặc biệt được trang bị máy tính tiền có sử dụng NFC. Pin có thể được sạc không dây sử dụng một pad sạc đặc biệt (được bán riêng) sử dụng cộng hưởng từ để tạo ra một từ trường có thể chuyển giao dòng điện.
CNET TV đã thử độ bên một chiếc S III bằng cách làm lạnh nó xuống 24 °F (-4 °C), đặt nó trong một hộp cách nhiệt và làm nóng đến 190 °F (88 °C), và nhấn chìm nó trong nước. Tuy điều kiện kiểm tra khắc nghiệt, chiếc S III sống sót qua cả ba bài kiểm tra. Chiếc điện thoại này cũng đã không thể hiện bất kỳ vết trầy xước nào khi người ta dùng chìa khóa để vạch nhiều lần lên màn hình. Tuy nhiên, Android Authority sau đó thực hiện một thử nghiệm thả rơi với mục đích so sánh S III và iPhone 5. Màn hình của S III vỡ trong thử nghiệm thả thứ hai, trong khi chiếc iPhone chỉ bị một vết rạn nhỏ và vết trầy xước trên khung hợp kim loại sau ba bài kiểm tra thả rơi.
=== Phần mềm và dịch vụ ===
{{Thông tin thêm: Android, TouchWiz, and S Voice}}
Galaxy S III chạy hệ điều hành Android, một hệ điều hành di động mã nguồn mở dựa trên Linux, phát triển bởi Google và giới thiệu thương mại vào năm 2008. Trong số các tính năng khác, phần mềm cho phép người sử dụng để duy trì màn hình chủ tùy biến có thể chứa các phím tắt cho các ứng dụng và widget để hiển thị thông tin. Bốn phím tắt của bốn ứng dụng thường xuyên sử dụng nhất có thể được ghim trên một dock ở dưới cùng của màn hình; nút ở trung tâm của dock là nút mở ngăn kéo ứng dụng (App Drawer), hiển thị một trình đơn chứa tất cả các ứng dụng được cài đặt trên thiết bị. Khu vực thông báo (Notifications) truy cập bằng cách kéo từ phía trên cùng của màn hình xuống cho phép người dùng xem các thông báo nhận được từ các ứng dụng khác, và có công tắc bật tắt cho các chức năng thường được sử dụng (thường là đèn pin, wifi, mạng di động, khóa xoay, độ sáng...). Ứng dụng cài sẵn cũng cung cấp các dịch vụ khác nhau của Google. S III sử dụng giao diện người dùng đồ họa (GUI) TouchWiz độc quyền của Samsung. Phiên bản "Nature" được sử dụng bởi S III mang nhiều tính "organic" hơn so với các phiên bản trước đó, và chứa các yếu tố tương tác nhiều hơn như là hiệu ứng gợn nước trên màn hình khóa. Để bổ sung cho các giao diện TouchWiz, và như là một phản ứng đáp trả với Siri của Apple, điện thoại cũng đi kèm với S Voice, trợ lý cá nhân thông minh của Samsung. S Voice có thể nhận ra tám ngôn ngữ bao gồm tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Ý và tiếng Pháp. Dựa trên Vlingo, S Voice cho phép người sử dụng điều khiển 20 chức năng bằng giọng nói như chơi một bài hát, thiết lập báo thức, hoặc kích hoạt chế độ lái xe; nó dựa trên Wolfram Alpha cho các tìm kiếm trực tuyến.
Ban đầu, S III xuất xưởng với Android 4.0.4, có tên là "Ice Cream Sandwich" (đã trở thương mại hóa vào tháng 3năm 2012 với Nexus S và Galaxy Nexus). Ice Cream Sandwich sở hữu giao diện người dùng tinh tế, và mở rộng khả năng của máy ảnh, tính năng bảo mật và kết nối. Vào giữa tháng 6 năm 2012, Google ra mắt Android 4.1 "Jelly Bean", trong đó sử dụng Google Now, một trợ lý ảo tương tự như S Voice, ngoài ra còn một số nâng cấp hoặc chỉnh sửa khác. Samsung tung ra bản Jelly Bean cho S III với một số thay đổi về phần cứng ở một số thị trường. Bản cập nhật Jelly Bean bắt đầu tung ra ở một số nước được lựa chọn châu Âu, và T-Mobile tại Mỹ vào tháng 11 năm 2012. Một tháng sau đó, Samsung bắt đầu tung ra Android 4.1.2 Jelly Bean cho phiên bản quốc tế. Trong tháng 12 năm 2013, Samsung đã bắt đầu tung ra Android 4.3 cho S III, bổ sung một vài tính năng từ giao diện người dùng của Galaxy S4, và hỗ trợ cho SmartWatch cũng như Samsung Galaxy Gear. Tháng 3 năm 2014, Samsung bắt đầu triển khai việc cập nhật Android 4.4.2 KitKat cho các biến thể của S III có RAM 2 GB.
Ngoài S Voice, Samsung đã thực hiện phần lớn các chiến dịch tiếp thị cho S III hướng đến các tính năng "thông minh", tạo điều kiện tương tác với con người của thiết bị. Các tính năng này bao gồm: "Direct Call (Gọi trực tiếp)", hoặc khả năng nhận ra việc người dùng muốn nói chuyện với ai đó thay vì gửi tin nhắn khi họ ốp điện thoại vào tai; "Social Tag", một chức năng giúp người dùng xác định và đánh dấu người quen trong một bức ảnh để chia sẻ hình ảnh với họ; và "Pop Up Play", cho phép người dùng chơi một video trong khi đang sử dụng một ứng dụng khác. Ngoài ra, S III có thể chiếu màn hình của nó với một màn hình lớn hoặc sử dụng như một bộ điều khiển từ xa (AllShare Cast and Play) và chia sẻ ảnh với những người được gắn thẻ (Buddy Photo Share).
Galaxy S III có thể mở và chơi các định dạng phương tiện truyền thông truyền thống như âm nhạc, phim ảnh, chương trình truyền hình, audiobook và podcast, và sắp xếp thư viện theo thứ tự alphabet của tên bài hát, nghệ sĩ, album, danh sách nhạc, thư mục, và thể loại. Một tính năng đáng chú ý của máy nghe nhạc trên S III là Music Square, trong đó phân tích cường độ của một bài hát và xếp hạng bài hát theo tâm trạng để người dùng có thể nghe các bài hát theo trạng thái cảm xúc hiện tại của họ. Trên thiết bị này, Samsung cũng giới thiệu Music Hub, một cửa hàng âm nhạc trực tuyến được cung cấp bởi 7Digital với một danh mục hơn 19 triệu bài hát.
S III là mẫu smartphone đầu tiên hỗ trợ Voice Over LTE với việc giới thiệu các dịch vụ HD Voice tại Hàn Quốc. Thiết bị cho phép gọi video sử dụng camera trước 1.9 MP, và với sự hỗ trợ codec APTX, cải thiện khả năng kết nối Bluetooth, tai nghe. Việc nhắn tin trên S III không có tính năng quan trọng mới nào so với S II. Tính năng Speech-to-text được hỗ trợ bởi Vlingo và phần công cụ hỗ trợ nhận dạng giọng nói của Google. Không giống như các thiết bị Android khác, có vô số các ứng dụng nhập liệu của bên thứ ba để bổ sung cho bàn phím gốc trên Galaxy S III.
Ngày 18 tháng 6 năm 2012, Samsung công bố rằng S III sẽ có một phiên bản với phần mềm tối ưu cho doanh nghiệp theo thỏa thuận của chương trình doanh nghiệp (SAFE), một sáng kiến tạo thuận lợi cho việc sử dụng các thiết bị của mình cho các trường hợp "mang thiết bị riêng của mình" vào môi trường làm việc. Các phiên bản doanh nghiệp của S III sẽ hỗ trợ mã hóa bit AES-256, VPN và chức năng quản lý thiết bị di động, và Microsoft Exchange ActiveSync. Nó được dự kiến được phát hành tại Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 2012. Phiên bản doanh nghiệp được dự kiến sẽ thâm nhập vào thị trường kinh doanh chủ yếu của BlackBerry, sau khi phát hành phiên bản doanh nghiệp tương tự của chiếc Galaxy Note, Galaxy S II và dòng máy tính bản Galaxy Tab.
Một phiên bản riêng "Developer Edition" của S III đã được làm sẵn từ cổng phát triển của Samsung. Nó đi kèm với một bộ nạp khởi động (bootloader) đã được mở khóa để cho phép người dùng chỉnh sửa phần mềm của điện thoại.
== Đón nhận ==
=== Trên góc nhìn thương mại ===
Theo một quan chức giấu tên của Samsung đề cập đến kinh tế Hàn Quốc hàng ngày, chiếc S III nhận được hơn 9 triệu đơn đặt hàng trước từ 100 nhà phân phối trong suốt hai tuần sau ngày ra mắt tại London, khiến nó trở thành thiết bị cầm tay bán chạy nhất trong lịch sử. Trong khi đó, iPhone 4S chỉ nhận được 4 triệu đơn đặt hàng trước trước khi ra mắt, trong khi flagship trước đây của Samsung, S II, có 10 triệu máy xuất xưởng trong vòng năm tháng. Trong vòng một tháng sau khi ra mắt, trang đấu giá và bán hàng eBay ghi nhận một sự gia tăng lên tới 119% trong doanh số bán điện thoại Android cũ. Theo một phát ngôn viên của eBay, đây là "lần đầu tiên một sản phẩm không phải của Apple làm dấy lên như một cơn sốt bán hàng."
S III được phát hành tại 28 quốc gia ở châu Âu và Trung Đông vào ngày 29 Tháng 5 năm 2012. Để giới thiệu flagship của mình, Samsung bắt tay với một tour du lịch kéo dài một tháng toàn cầu đưa S III đến 9 thành phố, bao gồm Sydney, New Delhi và các thành phố khác ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.
S III đã giúp Samsung củng cố thị phần tại một số nước như Ấn Độ, nơi mà Samsung dự kiến sẽ nắm bắt được 60% của thị trường điện thoại thông minh nước này, cải thiện hơn so với 46% như trước đó. Trong vòng một tháng phát hành, Samsung đã có 60% thị phần ở Pháp, và kiểm soát hơn 50% thị trường điện thoại thông minh của Đức và Ý. Trong khoảng thời gian tương tự, S III giúp tăng thị phần của Samsung tại Anh Quốc với hơn 40%, trong khi làm giảm của iPhone 4S 25% về còn 20% trong nước. S III được dự kiến sẽ được phát hành tại Bắc Mỹ vào ngày 20 tháng 6 năm 2012, nhưng do nhu cầu cao, một số nhà phân phối tại Mỹ và Canada đã phải trì hoãn việc phát hành một vài ngày, trong khi một số nhà phân phối khác hạn chế thị trường khi ra mắt. Sự kiện ra mắt S III tại Mỹ S đã diễn ra tại thành phố New York, được tổ chức bởi nữ diễn viên Chạng vạng là Ashley Greene và có sự tham dự của nghệ sĩ dubstep Skrillex, người đã biểu diễn tại Skylight Studios.
Samsung dự kiến đến cuối tháng 7 năm 2012, S III sẽ được phát hành bởi 296 nhà phân phối lớn tại 145 quốc gia, và họ sẽ bán được hơn 10 triệu máy. Shin Jong-kyun, chủ tịch mảng truyền thông di động của Samsung, công bố vào ngày 22 tháng 7 rằng doanh số đã vượt quá 10 triệu. Theo đánh giá của công ty dịch vụ tài chính ngân hàng Thụy Sĩ UBS, Samsung đã bán được 5-6 triệu đơn vị điện thoại trong quý thứ hai của năm 2012 và sẽ xuất xưởng 10-12 triệu điện thoại di động mỗi quý trong suốt phần còn lại của năm. Một dự báo thậm chí còn cao hơn bởi nhóm ngân hàng tại Paris BNP Paribas cho biết 15 triệu đơn vị sẽ được xuất xưởng trong quý thứ ba của năm 2012, trong khi công ty tư vấn tài chính Nhật Bản Nomura nghĩ rằng vào quý đó daonh số cao nhất là lên tới khoảng 18 triệu. Doanh số của S III được ước tính là đầu 40 triệu vào cuối năm ấy. Để đáp ứng nhu cầu, Samsung đã thuê 75.000 công nhân, và nhà máy tại Hàn Quốc được vận hành ở công suất đỉnh của nó là 5 triệu đơn vị điện thoại mỗi tháng.
Vào ngày 6 Tháng 9 năm 2012, Samsung đã tiết lộ rằng doanh số của S III đã đạt mốc 20 triệu trong ngày, khiến nó bán chạy gấp ba lần S II và sáu lần so với Galaxy S. Châu Âu chiếm hơn 25 phần trăm trong con số này với khoảng 6 triệu máy bán ra, tiếp theo là châu Á (4,5 triệu) và châu Mỹ (4 triệu). Tại Hàn Quốc, sân nhà của Samsung, 2,5 triệu chiếc S III đã được tiêu thụ. Trong suốt khoảng thời gian công bố của Samsung, doanh số của S III đã vượt xa iPhone 4S tại thị trường Mỹ.
Trong quý thứ ba của năm 2012, thành công lớn đã đến với Samsung: hơn 18 triệu đơn vị S III được xuất xưởng, khiến nó trở thành điện thoại thông minh phổ biến nhất vào thời điểm đó (Apple chỉ bán được 16,2 triệu chiếc iPhone 4s). Dẫu vậy, một số nhà phân tích suy luận rằng sự sụt giảm trong doanh số bán iPhone chỉ là tâm lý muốn đợi iPhone 5 của người dùng.
Tính đến tháng 5 năm 2014, Samsung đã bán được khoảng 60 triệu chiếc S III. Vào tháng 4 năm 2015, tổng số lượng bán ra được báo cáo là khoảng 70 triệu.
Ngày 11 tháng 10 năm 2012, Samsung công bố Galaxy S III Mini, một chiếc phiên bản S III với cấu hình thấp hơn tuy nhiên vẫn sở hữu toàn bộ tính năng trên S III.
=== Những đón nhận quan trọng ===
Sau khi phát hành, một số nhà phê bình và các ấn phẩm đã thực hiện đề cập đến S III, gọi nó là "iPhone killer", đáp ứng với nhận thức của khách hàng Apple. Sử dụng tên hiệu riêng của mình để sử dụng hệ điều hành Android - đối thủ chính của Apple iOS - cũng như thiết kế của S III và những tính năng mà đối thủ iPhone 4S không có, như Smart Stay, màn hình lớn, vi xử lý lõi tứ, tùy biến Android, và vô số các lựa chọn kết nối.
S III là chiếc điện thoại Android đầu tiên có giá khởi điểm cao hơn so với iPhone 4S tính từ lúc sản phẩm của Apple được phát hành vào năm 2011. Tim Weber, biên tập viên kinh doanh của BBC nhận xét về S III: "Với chiếc Galaxy S3 mới, họ (Samsung) đã sắp xếp rõ ràng để tiến lên phía trước trong lĩnh vực điện thoại thông minh, đi trước Apple hùng mạnh."
== Tố tụng ==
Vào ngày 5 tháng 6 năm 2012, Apple đã đệ đơn xin lệnh cấm sơ bộ tại Tòa án Quận Bắc California tại Hoa Kỳ để chống lại Samsung Electronics, tuyên bố rằng S III đã vi phạm ít nhất hai trong số các bằng sáng chế của công ty. Apple đã yêu cầu tòa án bao gồm điện thoại trong cuộc chiến pháp lý hiện có của họ đối với Samsung, và yêu cầu lệnh cấm bán hàng cho S III trước kế hoạch ra mắt 21 tháng 6 năm 2012tại Mỹ. Apple đã cáo buộc là "sẽ gây ra tác hại trước mắt và không thể khắc phục" để phục vụ lợi ích thương mại của họ. Samsung phản ứng bằng cách tuyên bố sẽ "mạnh mẽ phản đối các yêu cầu và chứng minh với tòa rằng Galaxy S3 là sự sáng tạo và khác biệt", và trấn an công chúng rằng ngày 21 tháng 6 buổi phát hành sẽ tiến hành theo đúng kế hoạch. Vào ngày 11 tháng 6, thẩm phán Lucy Koh nói rằng tuyên bố của Apple lịch trình làm việc của cô bị quá tải, vì cô ấy cũng sẽ giám sát việc thử nghiệm các thiết bị khác của Samsung; do đó, Apple đã phải từ bỏ yêu cầu của mình trong việc ngăn chặn buổi phát hành S III ngày 21 tháng 6.
Tháng bảy năm 2012, Samsung xóa bỏ các tính năng tìm kiếm phổ quát trên các model Sprint và AT & T S với bản cập nhật over-the-air (OTA) như là một "biện pháp phòng ngừa" trước khi xét xử tòa án bằng sáng chế với Apple, bắt đầu vào ngày 30 tháng 7 năm 2012. Mặc dù Apple đã thắng phiên tòa, S III lại có được một doanh số bán hàng ấn tượng vì công chúng tin rằng điện thoại sẽ bị cấm. Ngày 31 Tháng 8 năm 2012, Apple tiếp tục yêu cầu tòa án liên bang tương tự thêm S III vào đơn khiếu nại, cho rằng S III đã vi phạm bằng sáng chế của họ. Samsung phản bác với tuyên bố: "Apple tiếp tục phải nghỉ ngơi để tranh chấp trên thị trường cạnh tranh trong nỗ lực hạn chế sự lựa chọn của người tiêu dùng".
== Xem thêm ==
Dòng Samsung Galaxy
Danh sách các thiết bị Android
So sánh các điện thoại thông minh
So sánh thiết bị Android
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Samsung Galaxy S III tại Việt Nam |
coreldraw.txt | CorelDRAW là một phần mềm biên tập đồ họa vectơ được phát triển và tiếp thị bởi Corel Corporation ở Ottawa, Canada. Đây cũng là tên của Bộ công cụ đồ họa Corel. Phiên bản mới nhất có tên là X8 (thực chất là phiên bản 18), được xuất xưởng năm 2016.
== Các hệ thống được hỗ trợ ==
Ngay từ lúc đầu, CorelDRAW được thiết kế cho Windows của Microsoft và hiện nay cũng chỉ khả dụng trên hệ điều hành Windows. Phiên bản mới nhất có tên là X8 (thực chất là phiên bản 18), được xuất xưởng năm 2016. Phiên bản này có những điểm mới là tương thích với Windows 10, hỗ trợ độ phân giải 4K và có tính năng Font Management (quản lý Font)
Các phiên bản cho Macintosh (Mac OS Classic và Mac OS X) và Linux cũng đã từng một lần được xuất xưởng, nhưng những sản phẩm này hiện thời không còn được tiếp tục phát triển. Phiên bản cuối cùng cho Linux là phiên bản 9, ra đời năm 2000. Phiên bản cuối cùng cho Macintosh là phiên bản 11, ra đời năm 2001.
Cho đến phiên bản 5, CorelDraw cũng được thiết kế cho OS/2.
== Lịch sử phát triển ==
Năm 1985, Tiến sĩ Michael Cowpland thành lập hãng Corel để bán các hệ thống desktop publishing dựa trên các phần cứng của Intel.
Năm 1987, Corel thuê hai kỹ sư phần mềm Michel Boullion và Pat Beirne để phát triển một chương trình minh họa dựa trên vectơ để đóng gói với các hệ thống xuất bản desktop. Chương trình này - CorelDRAW - được xuất bản lần đầu tiên năm 1989 và được đón nhận một cách nồng nhiệt; với lý do này, Corel sau đó đã chỉ tập trung vào việc phát triển CorelDRAW.
== Các đặc điểm ==
Có rất nhiều sự sáng tạo trong thiết kế của CorelDRAW: một công cụ biên tập nút hoạt động trên nhiều đối tượng khác nhau, căn lề chữ, stroke-before-fill, fill/stroke nhanh, các palette chọn màu, các phép chiếu và các phép điền gradient phức tạp.
CorelDRAW đã tự phân biệt mình với các đối thủ cạnh tranh bằng nhiều cách. Điều đầu tiên đó là định hình một bộ công cụ đồ họa hơn chỉ là một chương trình đồ họa vectơ. Thứ hai, gói phần mềm này luôn luôn chứa một bộ sưu tập lớn các loại phông chữ và các hình vẽ thiết kế sẵn.
Đối thủ cạnh tranh chính của CorelDRAW là Adobe Illustrator. Mặc dù đây đều là những chương trình minh họa dựa trên vectơ, nhưng người sử dụng đều có cảm nhận khác nhau về hai chương trình này. Ví dụ, CorelDRAW có thể làm việc với tài liệu nhiều trang; Illustrator chỉ làm việc đơn trang nhưng cho phép chia trang thành theo nhiều lựa chọn in khác nhau nên có thể in trên nhiều trang. Thêm nữa, trong khi Illustrator có thể đọc được định dạng tập tin của CorelDRAW và ngược lại, việc chuyển đổi này không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đặc điểm này làm cho người sử dụng khó khăn trong việc chuyển đổi giữa hai chương trình này.
== Bộ công cụ đồ họa CorelDRAW ==
Thời gian trôi đi, có thêm nhiều thành phần bổ trợ được thiết kế để đóng gói cùng với CorelDRAW. Danh sách các gói phần mềm được đóng gói thường thay đổi theo từng phiên cản. Có nhiều chức năng chính vẫn còn được giữ nguyên từ phiên bản này đến phiên bản khác, ngoài một số chức năng như: PowerTRACE (bộ chuyển đổi từ ảnh bitmap sang đồ họa vectơ), PHOTO-PAINT (bộ biên tập đồ họa bitmap), và CAPTURE (tiện ích chụp màn hình).
Phiên bản hiện thời của CorelDRAW Graphics Suite X8 chứa các gói sau:
CorelDRAW® X8: Phần mềm biên tập đồ họa vectơ và chỉnh sửa trang.
Corel® PHOTO-PAINT™ X8: Phần mềm chỉnh sửa ảnh.
Corel® CAPTURE™ X8: Cho phép nhiều chế độ thu nhận hình ảnh.
Corel® CONNECT™: Công cụ tìm kiếm nội dung.
Corel® PowerTRACE™ X8: Chuyển đổi ảnh raster sang đồ họa vectơ.
Corel® Website Creator™*: Công cụ thiết kế Website.
PhotoZoom Pro 4†: Công cụ cho việc mở rộng hình ảnh kỹ thuật số.
ConceptShare™: Công cụ tương tác trực tuyến.
Corel cũng xuất bản một số các phần mềm đồ họa dưới tên Corel Painter.
== Xem thêm ==
Danh sách các phần mềm đồ họa vectơ
So sánh các phân mềm đồ họa vectơ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Corel
Giới thiệu Giáo trình Corel |
the economist.txt | The Economist là một ấn bản tin tức và các vấn đề quốc tế bằng tiếng Anh được phát hành hàng tuần, The Economist được sở hữu bởi The Economist Newspaper Ltd. và được biên tập tại City of Westminster, London, Anh. Ấn bản này được thành lập vào năm 1843 bởi James Wilson. Dù The Economist tự nhận là một tờ báo nhưng các ẩn bản của tờ báo này thường dùng giấy bóng giống như các tờ tạp chí. Năm 2009, ấn bản này đạt lượng lưu hành trên 1,6 triệu bản, trên một nửa là được bán ở Bắc Mỹ và các quốc gia nói tiếng Anh.
Ấn bản này dành sự ủng hộ cho thương mại tự do, toàn cầu hóa, sức mạnh của chính phủ và chi tiêu cho giáo dục, ngoài ra còn có các phương thức hạn chế của sự can thiệp chính phủ. The Economist nhắm tới đối tượng độc giả tri thức và tự nhận một lượng độc giả bao gồm nhiều giám đốc điều hành danh tiếng và các nhà làm chính sách.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Edwards, Ruth Dudley (1993) The Pursuit of Reason: The Economist 1843–1993, London: Hamish Hamilton, ISBN 0-241-12939-7
Mark Tungate (2004). “The Economist”. Media Monoliths. Kogan Page Publishers. tr. 194–206. ISBN 9780749441081.
== Liên kết ==
Website chính thức
The Economist Group website providing group information and links to all group publications such as CFO, Roll Call and European Voice
ebusinessforum Part of the Economist Intelligence Unit. Has free articles from The Economist
Preliminary number and prospectus, 5 Aug. 1843
Capital, currency, and banking; a series of articles published in The Economist – By James Wilson (Published 1847)
The Economist's Innovation Awards
EconomistMagazine YouTube channel
The Economist Conferences in Latin America |
đông hà.txt | Đông Hà là một thành phố trung tâm của tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Đây là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị, nằm ở ngã ba Quốc lộ 1 A và Quốc lộ 9. Đô thị này nằm ở tọa độ 1600’53" - 16052’22" vĩ độ Bắc, 107004’24" kinh độ Đông. Đông Hà là trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế và thương mại của tỉnh Quảng Trị.
Đông Hà có một vị trí quan trọng, nằm ở trung độ giao thông của cả nước, trên giao lộ 1A nối thủ đô Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh và quốc lộ 9 trong hệ thống đường xuyên Á, là điểm khởi đầu ở phía Đông của trục Hành lang kinh tế Đông - Tây giữa đông bắc Thái Lan, Lào, Myanma và miền Trung Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và các nước trong khu vực biển Đông qua cảng Cửa Việt, kết thúc ở thành phố Đà Nẵng. Từ thuận lợi về giao lưu đối ngoại, Đông Hà có khả năng thu hút, hội tụ để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và trở thành trung tâm phát luồng các mối quan hệ kinh tế trong khu vực và quốc tế.
Đông Hà gồm 9 phường, Theo Niên giám thống kê thành phố Đông Hà năm 2011, diện tích tự nhiên toàn thành phố là 72,95 km2 (7.295,87 ha), dân số có 84.157 nhân khẩu. Mật độ dân số: 1153 người/km2. Đông Hà cách Huế 66 km, cách Đồng Hới 100 km, cách thị xã Quảng Trị 12 km.
== Lịch sử ==
Khởi thủy của Đông Hà được bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVIII, vào đầu thế kỷ XX, thành phố Đông Hà là một xóm nhỏ vắng vẻ và chỉ là một trạm trung chuyển nhỏ cho những chuyến hoả xa Bắc - Nam ghé lại chở hàng của những nhà tư bản ngươì Pháp trong đó có Manpouech, vốn là công sứ ở Xavanakhẹt, đã từ chức để theo nghiệp kinh doanh.
Khi người Pháp vận động phu phen đi mở đường nối Đông Hà lên tận sông Mêkông và đường 9 thì ông Manpouech đã lập một đoàn xe chuyên chạy tuyến này chở tài nguyên khai thác từ Lào về Đông Hà theo đường 9, xuống ga Đông Hà rồi theo tàu hoả chở hàng đến cảng Hải Phòng.
Những năm chiến tranh với Pháp, Đông Hà cũng chỉ là một thị trấn nhỏ với khoảng hơn ngàn dân. Khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải thành giới tuyến quân sự tạm thời thì Đông Hà mới trở thành vị trí tiền đồn cho Việt Nam Cộng hòa và Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Thị xã lúc này đặc trưng như một khu quân sự với ngổn ngang sắc lính, xe cộ, tiếng ồn, bụi bặm, những khu vực sống xen kẽ giữa người dân và trại lính.
Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thị trấn Đông Hà là một đô thị quan trọng đối với khu vực Khe Sanh, Lao Bảo. Sau năm 1975, Tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế, Đông Hà trở thành thị xã, 5 phường: 1, 2, 3, 4, 5 và xã Quảng Tân.
Trong thời gian này, địa giới Đông Hà có những biến đổi theo hướng mở rộng. Ngày 18 tháng 5 năm 1981, giải thể xã Quảng Tân để sáp nhập xã này vào xã Gio Phong thuộc huyện Bến Hải. Theo Quyết định số 64/HĐBT ngày 11 tháng 9 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã Đông Hà được sáp nhập thêm 8 xã: Cam Giang, Cam Thanh, Cam Thành, Cam Thủy, Cam Hiếu, Cam Tuyền, Cam Chính, Cam Nghĩa (thuộc huyện Bến Hải) và 2 xã: Triệu Lương, Triệu Lễ (thuộc huyện Triệu Hải). Thị xã Đông Hà sau khi được mở rộng bao gồm các phường I, phường II, phường III, phường IV, phường V và các xã Cam Giang, Cam Thanh, Cam Thành, Cam Thủy, Cam Hiếu, Cam Tuyền, Cam Chính, Cam Nghĩa, Triệu Lương, Triệu Lễ.
Sau khi tỉnh Bình Trị Thiên được tách thành ba tỉnh như trước vào ngày 30 tháng 6 năm 1989, thị xã Đông Hà trở thành tỉnh lỵ Quảng Trị. đồng thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và khoa học kỹ thuật của tỉnh này.
Ngày 23 tháng 2 năm 1991, thành lập 2 phường: Đông Thanh (tách từ xã Cam Thanh), Đông Giang (tách từ xã Cam Giang).
Ngày 19 tháng 8 năm 1991, tách 8 xã: Cam Thanh, Cam Thành, Cam Thủy, Cam Hiếu, Cam Tuyền, Cam Chính, Cam Nghĩa để tái lập huyện Cam Lộ.
Qua 20 năm xây dựng và phát triển, Đông Hà đã đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh và đồng bộ, diện mạo đô thị ngày một khang trang.
Ngày 1 tháng 3 năm 1999, chuyển xã Triệu Lương thành phường Đông Lương; chuyển xã Triệu Lễ thành phường Đông Lễ.
Vào năm 2005, Bộ Xây dựng đã công nhận Đông Hà là đô thị loại 3 kể từ ngày 13 tháng 12 năm 2005 theo Quyết định số 2285/QĐ-BXD. Đây là sự ghi nhận những bước phát triển quan trọng của thị xã này.
Thị xã Đông Hà được nâng lên thành thành phố theo Nghị quyết số: 33/NQ-CP ngày 11 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời với việc đón nhận quyết định thành lập thành phố, thành phố Đông Hà còn vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng nhất của Chủ tịch nước. Buổi lễ công bố Nghị quyết và đón nhận huân chương được tổ chức vào ngày 1 tháng 9 năm 2009 nhân kỉ niệm 64 năm ngày Quốc khách 2/9 đã diễn ra long trọng, đầy màu sắc, thu hút hàng ngàn người dân Đông Hà tham dự. Đây được coi là mốc son và là bước ngoặt đánh dấu quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của đô thị này.
Dù vậy trên bước đường phát triển, thành phố Đông Hà không thể tránh khỏi những khó khăn, thách thức về kinh tế, xã hội và vấn đề môi trường. Một trong số những vấn đề xã hội nảy sinh là vấn nạn ma túy., ô nhiễm môi trường. và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác.
== Địa giới và đơn vị hành chính ==
Địa giới hành chính thành phố Đông Hà gồm phía Đông và Nam giáp huyện Triệu Phong, phía Tây giáp huyện Cam Lộ, phía Bắc giáp huyện Gio Linh và huyện Cam Lộ, cách cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 83 km về phía Tây.
Đơn vị hành chính của Thành phố Đông Hà bao gồm 9 phường: 1, 2, 3, 4, 5, Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương, Đông Thanh.
== Địa hình ==
Địa hình của Đông Hà có đặc trưng về mặt hình thể như là một mặt cầu mở rộng ra hai phía Nam, Bắc của quốc lộ 9, địa hình hơi nghiêng và thấp dần từ Tây sang Đông. Các vùng đất đồi bị chia cắt bởi nhiều đồi bát úp xen giữa là các khe.
Nhìn chung, lãnh thổ Đông Hà có gồm hai dạng địa hình cơ bản sau:
Địa hình gò đồi bát úp ở phía Tây và Tây Nam, chiếm 44,1% diện tích tự nhiên với hơn 3.000 ha, có độ cao trung bình 5- 100m. Về thổ nhưỡng, mặt đất ở đây được phủ trên nền phiếm thạch và sa phiến cùng với địa hình gò đồi bát úp nối dài. Với địa hình này sẽ thích hợp cho việc sản xuất canh tác, trồng cây lâm nghiệp, xây dựng và phát triển các mô hình kinh tế trang trại, sinh thái vườn đồi, vườn rừng. Xen kẻ giữa những gò đồi là những hồ đập có tác dụng điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường, đồng thời tạo ra những cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển các cụm điểm dịch vụ vui chơi, giải trí, tạo ra một cảnh quan đô thị đẹp, đa dạng.
Địa hình đồng bằng có độ cao trung bình 3m so với mực nước biển, chiếm 55,9% diện tích tự nhiên. Về thổn nhưỡng, đất ở đây được phủ lên mặt lớp phù sa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp (trồng lúa, hoa, rau màu...). Địa hình này tập trung ở các phường: 2, phường 3, phường Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương. Do địa hình thấp trũng, nên thường hay bị ngập lụt về mùa mưa bão đồng thời hạn hán, thiếu nước về mùa hè, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
== Khí hậu ==
Khí hậu của Đông Hà thuộc hệ khí hậu nhiệt đới ẩm với đặc trưng là gió Lào (gió Phơn Tây Nam) ở Quảng Trị nói chung và ở Đông Hà nói riêng.
Thành phố Đông Hà nằm ở khu vực đất hẹp của Bắc Trung Bộ, mang đặc điểm của khí hậu gió mùa và có những biểu hiện đặc thù so với các vùng khí hậu khu vực phía Đông dãy núi Trường Sơn. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió phơn Tây Nam nên tạo thành một vùng khí hậu khô, nóng. Chế độ khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô nóng.
Về mùa Đông, do chịu ảnh hưởng của không khí lạnh cực đới tràn về đến tận đèo Hải Vân vì vậy ở khu vực Đông Hà có mùa đông tương đối lạnh so với các vùng phía nam. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất từ 9 đến 100C. Đây cũng là khu vực có lượng mưa tương đối lớn nhưng tập trung chủ yếu trong 4 tháng mùa mưa (khoảng 80%).
Tuy nhiên số ngày mưa phân bố không đều, trong các tháng cao điểm trung bình mỗi tháng có từ 17 đến 20 ngày mưa làm ảnh hưởng đến bố trí thời vụ của một số cây trồng và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của người dân ở địa phương.
Khu vực Đông Hà còn chịu ảnh hưởng của bão. Mùa bão ở đây tập trung từ tháng 9 đến tháng 11. Các cơn bão đổ bộ vào đất liền thường tập trung vào các cơn bão số 7,8,9,10.
Bão thường kèm theo mưa to kết hợp với nước biển dâng cao và lượng mưa lớn từ trên nguồn đổ về gây lũ lụt và ngập úng trên diện rộng làm thiệt hại đến cơ sở hạ tầng và phá hoại mùa màng.
Đông Hà chịu ảnh hưởng sâu sắc của 2 loại gió mùa: gió mùa đông bắc hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và gió mùa tây nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 9.
Nói chung, khí hậu của khu vực có nhiều nét biến động mạnh, thể hiện qua sự biến động mùa: mùa đông và mùa hè, mùa mưa và mùa khô. Thời tiết của Đông Hà thường gây úng vào đầu vụ đối với vụ đông xuân; hạn đầu vụ, úng cuối vụ đối với vụ hè.
== Tài nguyên ==
=== Thổ nhưỡng ===
Đất đai của Đông Hà bao gồm các loại đất chủ yếu như:
Đất Feralit vàng trên sa phiến (Ps): là loại đất Feralít vàng phát triển trên phiến sét (Fs), đây là loại đất chiếm tỷ lệ lớn và có giá trị kinh tế, phân bố tập trung ở vùng đồi phía tây và phía tây nam thị xã. Diện tích đất này chiếm khoảng 3.500ha, chủ yếu thích hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển đồng cỏ chăn nuôi.
Đất phù sa bồi (Pb): Là loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đây là loại đất chiếm tỷ lệ lớn nhất và có ý nghĩa kinh tế phân bố chủ yếu ở các vùng khu vực triền sông Hiếu, sông Vĩnh Phước. Tổng diện tích khoảng 500 ha. Đây là loại đất thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp trong vùng.
Đất phù sa không được bồi
Đất phù sa Glây (Pg):Phân bố rãi rác ở các khu vực trồng lúa (thuộc các phường Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương) có diện tích 1.000ha, chuyên trồng lúa và hoa màu. Đặc điểm chung của các loại đất trên là bị chua phèn, độ PH dao động từ 4,5 đến 6,5 nên độ phì kém.
Đất cát...
=== Khoáng sản ===
Nguồn khoáng sản ở Đông Hà nhìn chung nghèo, chủ yếu gồm có đất sét làm gạch ngói nhưng trữ lượng không lớn lại phân bố rãi rác ở các phường Đông Giang, Đông Thanh, Đông Lương và phường 2. Việc khai thác không thể thực hiện trên diện rộng và có quy mô lớn.
Một số cuộc nghiên cứu và khảo sát cho biết trên đất Đông Hà có quặng sắt ở đồi Quai Vạc (km 6 và km7), sắt ở đường 9 (gần trung tâm thành phố).
=== Nguồn nước ===
Nguồn nước mặt:
Thành phố Đông Hà có tổng trữ lượng nguồn nước mặt lớn, phân bố khá đều trên thành phố.
Ngoài nguồn nước từ sông Hiếu, Vĩnh Phước, Thạch Hãn, Hói Sòng và hàng chục khe suối, các hồ chứa, Đông Hà còn có một số hồ đập nhân tạo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường và nuôi trồng thuỷ sản như: hồ Trung Chỉ, hồ Khe Mây, hồ Đại An, hồ Đại An, hồ Khe Sắn. Đông Hà còn là nơi có sông Cam Lộ chảy qua.
Hệ thống hồ đập ở thị xã là tiềm năng lợi thế để đầu tư xây dựng hình thành các cụm điểm vui chơi, nghỉ ngơi giải trí theo hướng hệ lâm viên dịch vụ sinh thái.
Nguồn nước ngầm:
Nước dưới đất vùng Đông Hà tồn tại dưới 2 dạng chính: Trong các lỗ hổng và các tầng chứa nước khe nứt của đất đá chứa nước gọi là các tầng chứa nước lỗ hổng và các tầng chứa nước khe nứt.
Vùng trung tâm thành phố và khu vực đất đồi tầng ngầm nghèo. Nguồn nước mạch nông tồn tại ở vùng đất trũng thuộc khu vực trầm tích phù sa.
Không có nguồn nước ngầm mạch sâu ở khu vực nội thị nhưng có thể khai thác nguồn nước ngầm mạch sâu cách trung tâm thị xã 12 km về phía đông bắc, với công suất 15.000m3/ngày (tại huyện Gio Linh), trữ lượng nước tương ứng với cấp C1 là 19.046m3/ngày, cấp C2= 98.493m3/ngày. Lưu lượng giếng khoan từ 15 đến 191/s, tổng độ khoáng hoá 80 đến 280 mg/l.
=== Thuỷ sản ===
Thành phố Đông Hà không tiếp giáp với bờ biển, các con sông có lưu vực nhỏ nên tiềm năng đánh bắt tự nhiên không đáng kể. Hiện tại, thành phố đang phát triển chuyển đổi cơ cấu đất đai một số vùng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đây cũng là một trong những định hướng có khả năng phát triển kinh tế trên địa bàn. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 151,7 ha với bình quân tổng sản lượng thuỷ sản khai thác hàng năm là 471 tấn.
=== Rừng ===
Trước đây diện tích rừng tự nhiên của Đông Hà khá lớn với nhiều chủng loại gỗ quý và động vật cũng tương đối phong phú. Nhưng do hậu quả chiến tranh, chất độc hoá học đã tàn phá và nạn khai khai thác rừng bừa bãi đã cạn kiệt tài nguyên rừng.
Hệ thống rừng ở Đông Hà chủ yếu hiện nay là rừng trồng và rừng tái sinh. Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa về kinh tế còn là góp phần tích cực vào việc điều hoà khí hậu, giữ gìn nguồn nước chống xói mòn và tạo cảnh quan du lịch sinh thái.
== Cảnh quan môi trường ==
Vùng đất Đông Hà được có nhiều cảnh quan đẹp với những đồi núi, sông ngòi, rừng cây và địa hình đa dạng. Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển thành một đô thị có một nét đặc trưng riêng vừa mang tính lịch sử truyền thống vừa có tính hiện đại theo xu thế hội nhập, giao lưu, hợp tác, phát triển với cả nước, khu vực và quốc tế.
Môi trường hiện tại của thành phố Đông Hà là cơ bản trong lành. Ô nhiễm môi trường chưa gây ảnh hưởng đáng kể trên phạm vi rộng và đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ của cộng đồng.
Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, với tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, hoạt động sản xuất ngày càng phát triển, trong khi cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, chưa được xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh nên tình trạng ô nhiễm cục bộ đã xuất hiện ở một số nơi như: điểm nút các tuyến giao thông, các trung tâm thương mại, vùng phụ cận, các xí nghiệp, nhà máy bắt đầu có những dấu hiệu đáng quan ngại, nhất là vấn đề nước thải, rác thải.
Hệ thống cống rãnh thoát nước đô thị chưa được hoàn thiện, nước thải sinh hoạt và nước thải từ các hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn tình trạng thoát tự do qua các khe mương tự nhiên và dẫn ra các con sông, khe suối, hồ đập tự nhiên... gây ô nhiễm cục bộ ở các khu dân cư, nồng độ BOD, COD, các chỉ tiêu vi sinh ở các cống thoát, ao hồ nội thị đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 100 đến 500 lần.
==== Cá chết hàng loạt ở hồ Đại An ====
Từ tháng 6 năm 2016, người dân sống quanh khu vực cầu Đại An phát hiện cá dưới hồ bỗng nhiên chết hàng loạt và nổi lên trắng mặt hồ. Tình hình nghiêm trọng hơn khi số cá chết mỗi ngày lên đến hàng chục ký. Ngày 5-8, Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) Quảng Trị cho biết kết quả phân tích mẫu nước tại hồ Đại An, thuộc phường 5, TP Đông Hà cho thấy nguồn nước ở hồ Đại An đã bị ô nhiễm nghiêm trọng từ việc xả thải của khu dân cư và các cơ sở sản xuất kinh doanh đóng quanh khu vực hồ là nguyên nhân chính gây ra tình trạng cá chết hàng loạt.
== Giao thông ==
Đông Hà nằm ở nơi giao cắt của đường 9 và quốc lộ 1A. Tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua thành phố, ga Đông Hà là một trong những ga chính trên tuyến đường ray này. Dự án sân bay Quảng Trị dự kiến sẽ được xây ở huyện Gio Linh, cách Đông Hà 7 km về phía bắc.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Quảng Trị – Đà Nẵng đi qua đang được xây dựng.
== Giao thương ==
Chợ Đông Hà có quy mô lớn nhất ở tỉnh Quảng Trị và là trung tâm đầu mối, nơi diễn ra những hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền tệ hoặc hiện vật của cả tỉnh.
== Tiềm năng du lịch ==
Đông Hà là một đầu mối cho các tuyến du lịch bằng đường bộ của du khách Lào và Thái Lan qua tham quan miền Trung Việt Nam. Đông Hà là nơi lưu trú của du khách thăm các chiến trường cũ như: đường 9 Khe Sanh, cầu Hiền Lương, địa đạo Vịnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị. Các bãi biển nằm ở bãi biển Cửa Tùng, bãi biển Mỹ Thủy.
== Thông tin khác ==
Đông Hà là quê của Như Quỳnh, một ca sĩ người Mỹ gốc Việt đã nổi danh ở hải ngoại.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Văn bản lớn |
tiếng igbo.txt | Tiếng Igbo (Igbo [iɡ͡boː] (); tiếng Anh /ˈɪɡboʊ/; tiếng Igbo: Asụsụ Igbo) là ngôn ngữ bản địa chính của người Igbo, một dân tộc ở đông nam Nigeria. Có chừng 24 triệu người nói, đa số sống ở Nigeria và có nguồn gốc Igbo. Tiếng Igbo được viết bằng bản chữ cái Latinh, do thực dân Anh đưa đến. Có hơn 20 phương ngữ tiếng Igbo. Một dạng tiếng Igbo chuẩn được phát triển năm 1972 dựa trên phương ngữ Owerri (Isuama) và Umuahia (như Ohuhu), tuy nhiên, ngôn ngữ chuẩn này bỏ đi sự mũi hóa và bật hơi trong các phương ngữ kia. Những ngôn ngữ Igboid như tiếng Ika, Ikwerre và Ogba đôi khi được xem là phương ngữ tiếng Igbo. Tiếng Igbo cũng là ngôn ngữ thiểu số được công nhận ở Guinea Xích Đạo.
== Lịch sử ==
Quyển sách đầu tiên có tiếng Igbo được xuất bản là History of the Mission of the Evangelical Brothers in the Caribbean (tiếng Đức: Geschichte der Mission der Evangelischen Brüder auf den Carabischen Inseln), phát hành năm 1777. Năm 1789, tác phẩm The Interesting Narrative of the Life of Olaudah Equiano của Olaudah Equiano, một cựu nô lệ, được phát hành tại London, Anh, trong đó có 79 từ tiếng Igbo. Quyển sách cũng thể hiện chi tiết nhiều khía cạnh trong cuộc sống người Igbo, dựa trên những trải nghiệm của Olaudah Equiano tại quê nhà Essaka.
Trung Igbo là dạng phương ngữ được chấp nhận rộng rãi nhất, dựa trên phương ngữ của hai người thuộc tộc Igbo Ezinihitte tại tỉnh Trung Owerri giữa đô thị Owerri và Umuahia, Đông Nigeria. Ida C. Ward đề xuất Trung Igbo làm ngôn ngữ viết năm 1939, và nó dần được các nhà truyền giáo, nhà văn, và nhà xuất bản khắp vùng nói Igbo chấp nhận. Năm 1972, Society for Promoting Igbo Language and Culture (SPILC), một tổ chức xem Trung Igbo như một dấu vết của chủ nghĩa đế quốc, thành lập một Hội đồng Chuẩn hóa tiếng Igbo để biến Trung Igbo thành một ngôn ngữ "chung" hơn. Trung Igbo được thêm vào từ vựng từ nhiều phương ngữ nằm ngoài vùng "Trung tâm", kết hợp với cả những từ mượn, để tạo nên tiếng Igbo chuẩn.
== Từ vựng ==
Tiếng Igbo có số lượng tính từ lớp đóng cực kỳ ít. Emenanjo (1978) chỉ xác định tám tínht từ: ukwu 'lớn', nta 'nhỏ'; oji 'tối', ọcha 'sáng'; ọhụrụ 'mới', ochie 'cũ'; ọma 'tốt'; ọjọọ 'xấu'. (Payne 1990)
Tiếng Igbo là kết hợp những từ sẵn có để tạo ra từ mới. Ví dụ, một từ cho lá rau là akwụkwọ nri, nghĩa đen là "lá để ăn". Lá xanh là akwụkwọ ndụ, ndụ nghĩa là "sống". Một ví dụ khác là tàu lửa (ụgbọ igwe), ghép từ ụgbọ (xe cộ, vật di chuyển) và igwe (sắt, kim loại), tức một vật di chuyển bằng đường sắt. Tương tự, xe ô tô là ụgbọ ala; vật di chuyển trên đất và máy bay là ụgbọ elu; vật di chuyển đường hàng không. Akwụkwọ nghĩa gốc là "lá", nhưng trong và sau thời kì thuộc địa, akwụkwọ cũng được gắn kết với các nghĩa "giấy" (akwụkwọ édémédé), "sách" (akwụkwọ ọgụgụ), "trường học" (ụlọ akwụkwọ), và "giáo dục" (mmụta akwụkwọ).
== Âm vị học ==
Tiếng Igbo là một ngôn ngữ thanh điệu với hai thanh riêng biệt, cao và thấp. Một vài trường hợp một thanh xuống thấp hiện diện. Ví dụ về việc nghĩa của từ thay đổi theo thanh là ákwá "khóc", àkwà "gường", àkwá "trứng", và ákwà "vải". Do thanh điệu thường không được viết ra, nên tất cả các từ trên đa phần được viết thành ⟨akwa⟩.
Trong vài phương ngữ, như Enu-Onitsha, /ɡ͡b/ và /k͡p/ biến thành âm khép. Âm tiếp cận /ɹ/ biến thành âm vỗ chân răng [ɾ] giữa những nguyên âm (như ở từ árá).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử tiếng Igbo
Từ điển tiếng Igbo kasahorow |
quyền tác giả.txt | Quyền tác giả hay tác quyền hoặc bản quyền (tiếng Anh: copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) không bị vi phạm bản quyền, ví dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này. Một phần người ta cũng nói đó là sở hữu trí tuệ (intellectual property) và vì thế là đặt việc bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữu trí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái niệm này đang được tranh cãi gay gắt. Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phương tiện lưu trữ. Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất.
Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau khi qua đời. Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ công ước được phép nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn
== Lịch sử phát triển của quyền tác giả ==
Trong Thời kỳ Cổ đại và Thời kỳ Trung Cổ người ta chưa biết đến quyền cho một tác phẩm trí tuệ. Các quy định luật pháp chỉ có cho những vật mang tác phẩm trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu. Ví dụ như là không được phép trộm cắp một quyển sách nhưng lại được phép chép lại từ quyển sách đó. Việc nhiều nghệ sĩ và tác giả cùng làm việc trong một đề tài là một trường hợp bình thường, cũng như việc các nhạc sĩ khác lấy hay thay đổi các bài hát và tác phẩm âm nhạc. Khi không muốn bài viết bị thay đổi tác giả chỉ còn có cách gắn một lời nguyền rủa vào quyển sách của mình như Eike von Repgow, tác giả của Sachsenspiegel, một quyển sách ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị chết.
Cùng với phát minh in (khoảng 1440), các bản sao chép lại của một tác phẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn. Nhưng tác giả vẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải vui mừng là chẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một số tiền cho bản viết tay. Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu tiên bị các nhà in khác in lại. Việc này làm cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên khó khăn đi vì người này đã đầu tư lao động nhiều hơn và có thể cũng đã trả tiền cho tác giả, những người in lại tự nhiên là có thể mời chào sản phẩm của họ rẻ tiền hơn. Tác giả cũng có thể không bằng lòng với các bản in lại vì những bản in lại này thường được sản xuất ít kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay thậm chí bài viết còn bị cố ý sửa đổi.
Vì thế, để chống lại tệ in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định. Lợi ích của nhà in trùng với lợi ích của nhà cầm quyền vì những người này muốn có ảnh hưởng đến những tác phẩm được phát hành trong lãnh địa của họ. Đặc biệt là nước Pháp do có chế độ chuyên chế sớm nên đã thực hiện được điều này, ít thành công hơn là ở Đức. Tại Đức một số hầu tước còn cố tình không quan tâm đến việc các nhà xuất bản vi phạm các đặc quyền từ hoàng đế nhằm để giúp đỡ các nhà xuất bản này về kinh tế và để mang vào lãnh thổ văn học đang được ưa chuộng một cách rẻ tiền. Những ý tưởng của Phong trào Khai sáng phần lớn là đã được truyền bá bằng các bản in lậu.
Khi Thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ. Tại nước Đức ví dụ như là Albrecht Dürer (1511) đã được công nhận một đặc quyền như vậy. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho người sáng tạo như là một cá nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào. Giữa thế kỷ 16 các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng nhất định trong một thời gian nhất định.
Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với việc này họ có được một độc quyền kinh doanh (thuyết về sở hữu của nhà xuất bản), ngay cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này. Vì thế mà việc in lại bị cấm khi các quyền từ tác giả được mua lại.
Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như sở hữu cho các lao động trí óc (và hiện tượng của sở hữu phi vật chất). Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, Statue of Anne, lần đầu tiên một độc quyền sao chép của tác giả được công nhận. Tác giả sau đó nhượng quyền này lại cho nhà xuất bản. Sau một thời gian được thỏa thuận trước tất cả các quyền lại thuộc về tác giả. Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của nghiệp hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú copyright để được bảo vệ. Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Mỹ vào năm 1795 (yêu cầu phải ghi vào danh mục được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và tại Hoa Kỳ vào năm 1978). Ý tưởng về sở hữu trí tuệ phần lớn được giải thích bằng thuyết về quyền tự nhiên (tiếng Anh: natural law). Tại Pháp một Propriété littéraire et artistique (Sở hữu văn học và nghệ thuật) được đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và 1793. Tại nước Phổ một bảo vệ tương tự cũng được đưa ra vào năm 1837. Cũng vào năm 1837 Hội đồng liên bang của Liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời (post mortem auctoris) vào năm 1845. Trong Liên minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào năm 1857 và được Đế chế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó. Trong Đệ tam Đế chế các tác giả chỉ là "người được ủy thác trong nom tác phẩm" cho cộng đồng nhân dân.
== Phát triển hiện tại của quyền tác giả ==
Những lý lẽ được đưa ra trong các cuộc thảo luận về việc quyền tác giả phải phản ứng như thế nào trước các phát triển kỹ thuật hiện tại đều tương tự như nhau trên toàn thế giới. Một vài quốc gia chỉ còn có một phạm vi tự do hạn hẹp trong việc định hình cho quyền tác giả vì những quy định khác thường có thể được coi là lợi thế không công bằng, không được các đối tác thương mại thế giới chấp nhận mà không có phản ứng chống lại. Trong tương quan về thế mạnh hiện tại Mỹ là quốc gia có phạm vi tự do rộng lớn nhất và với Digital Millennium Copyright Act (DMCA) là quốc gia đã định sẵn chiều hướng chung của quyền tác giả, đi đến việc bảo vệ quyền tác giả một cách nghiêm ngặt hơn. Định luật tương tự ở châu Âu là European Union Copyright Directive (EUCD- Chỉ thị Copyright Liên minh châu Âu).
Việc hoàn toàn hủy bỏ quyền được phép có bản sao dùng cho mục đích cá nhân đang được Hiệp hội Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) yêu cầu và sau đó là việc truy tìm cứng rắn hơn các vi phạm về quyền tác giả. Ngoài những nguyên nhân khác đây cũng là một phản ứng chống lại việc sử dụng ngày càng phổ biến các nơi trao đổi trong Internet và các công nghệ khác của "thời đại số". Ngày nay chương trình phát thanh hay truyền hình có thể nghe hay xem được qua Internet, sách điện tử (e-book) được coi như là một cạnh tranh của sách in. Những thay đổi này là lý lẽ của những người kinh doanh trong giới truyền thông nhằm để thông qua luật lệ mà trở về lại thời kỳ trước khi các máy quay video, máy thâu băng và máy thu thanh được phổ biến rộng rãi: Vào năm 1900, khi muốn nghe nhạc (không phải là live) thì tất cả mọi người đều phải mua một đĩa hát.
Mỗi một phát minh mới, ví dụ như máy thu thanh, đều được coi như là sẽ làm suy tàn công nghiệp âm nhạc, nhưng thật ra điều trái ngược lại đã xảy ra.
== Bản quyền ==
Bản quyền (tiếng Anh: copyright) là thuật ngữ được các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (án lệ) dùng chỉ cho quyền phi vật thể đối với các tác phẩm trí tuệ. Quyền này tương tự như quyền tác giả (tiếng Pháp: droit d'auteur; tiếng Đức: Urheberrecht) ở Việt Nam nói riêng và các quốc gia theo hệ thống luật lục địa châu Âu như Đức hoặc một số quốc gia châu Âu khác nhưng khác nhau ở nhiều điểm cơ bản.
Chủ thể được bảo hộ là tương đối khác nhau. Trong khi quyền tác giả đặt tác giả như là người sáng tạo và các quan hệ tinh thần của tác giả đối với tác phẩm làm trung tâm thì copyright lại bảo vệ quyền lợi kinh tế của người sở hữu quyền tác giả (copyright owner) hơn là chính tác giả. Copyright trước nhất là dùng để bảo vệ các đầu tư về kinh tế. Chính từ nền tảng này mà luật của các vùng nói tiếng Anh và luật của châu Âu lục địa đã đi đến kết quả khác nhau cho nhiều vấn đề về luật pháp.
Trong copyright của hệ thống luật Anh-Mỹ, trái ngược với luật về quyền tác giả của hệ thống luật châu Âu lục địa, các quyền sử dụng và quyền định đoạt về một tác phẩm thường không dành cho tác giả (Ví dụ cho một nghệ sĩ) mà lại dành cho những người khai thác các quyền này về mặt kinh tế (Ví dụ như nhà xuất bản). Tác giả chỉ giữ lại các quyền phủ quyết có giới hạn nhằm để ngăn cản việc lạm dụng của copyright từ phía những người khác thác các quyền này.
Một điểm khác biệt cơ bản nữa giữa Bản quyền và quyền tác giả là luật về quyền tác giả bảo vệ cả những quyền nhân thân của tác giả (moral rights) trong khi các quốc gia như Anh, Úc, Mỹ hầu như không hề có những quy định này cho đến thời gian gần đây. Cụ thể như pháp luật về quyền tác giả Việt Nam từ lâu đã bảo vệ những quyền nhân thân của tác giả như Quyền bảo đảm được trích dẫn khi tác được sử dụng hoặc quyền bảo dẳm tác phẩm không bị sửa đổi, bổ sung, thay đổi, chuyển thể dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của (các) tác giả.
Cho đến những năn gần đây copyright tại Mỹ vẫn phải đăng ký một cách rõ ràng và chấm dứt 75 năm sau khi được ghi vào trong danh mục copyright trung tâm. Hiện nay các tác phẩm mới tại Mỹ được bảo vệ cho đến 70 năm sau khi tác giả qua đời hay 95 năm dành cho các doanh nghiệp. Việc đăng ký copyright tại Thư viện Quốc hội Mỹ (Library of Congress) không còn là cần thiết bắt buộc nữa nhưng vẫn được khuyên nhủ.
Ghi chú copyright – ký hiệu © hay (c), sau đó thường là người sở hữu quyền và năm – hay cũng được gọi là thông báo quyền tác giả có nguồn gốc từ luật Mỹ. Lý do là theo các luật lệ cũ của Mỹ thì có thể mất các quyền về một tác phẩm nếu như không có ghi chú copyright. Sau khi Mỹ gia nhập Công ước Bern về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật vào năm 1989 thì ghi chú copyright không cần thiết nữa nhưng vẫn có thể được đính kèm tùy theo ý muốn. Trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thì ngược lại, quyền tác giả phát sinh tại thời điểm tác giả tạo ra tác phẩm.
== Quyền tác giả trong Liên minh châu Âu ==
Liên minh châu Âu đã đưa ra nhiều chỉ thị để thống nhất quyền tác giả trong toàn Liên minh châu Âu. Theo Chỉ thị phần mềm (91/259/EWG) ra đời vào năm 1991 thì các chương trình máy tính được bảo vệ như là các tác phẩm văn học theo ý nghĩa về quyền tác giả. Trong năm 1993, thông qua Chỉ thị về hòa hợp thời gian bảo vệ quyền tác giả và một số quyền bảo vệ có liên quan (còn gọi là Chỉ thị về thời gian bảo vệ), thời gian bảo vệ của các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ấn định thống nhất là cho đến 70 năm sau khi tác giả qua đời. Các quyền lợi của những nhà nghệ thuật biểu diễn chấm dứt 50 năm sau khi biểu diễn.
Với Chỉ thị quyền tác giả của Liên minh châu Âu (Chỉ thị 2001/29/EG) các quy định luật pháp châu Âu về quyền tác giả được nâng lên cùng với thời đại số và các định ước quốc tế được thực hiện thông qua các hiệp định của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
== Quyền tác giả trong các nước nói tiếng Đức ==
Đọc bài chính về:
Quyền tác giả Áo
Quyền tác giả Đức
Quyền tác giả Thụy Sĩ
== Quyền tác giả tại Việt Nam ==
Quyền tác giả tại Việt Nam đã được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị Định 100/NĐ*CP/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan. Theo đó, Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu, bao gồm các quyền sau đây:
1. Quyền Nhân thân
Đặt tên cho tác phẩm
Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
2. Quyền tài sản
Làm tác phẩm phái sinh;
Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
Sao chép tác phẩm;
Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Tác phẩm được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả là các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật.
== Phong trào chống đối ==
Bên cạnh những người tiêu dùng vì đã quen thuộc với các vi phạm về quyền tác giả trong các nơi trao đổi âm nhạc trong Internet nên đang tự nhận thấy bị hạn chế các quyền tự do bởi luật pháp ngày càng nghiêm ngặt hơn cũng có những tác giả mong muốn đưa các tác phẩm của họ cho cộng đồng sử dụng tự do.
Để thực hiện điều này đơn giản nhất là từ bỏ quyền tác giả. Nhưng điều này không phải là trong bất cứ một hệ thống luật pháp nào cũng có thể được và vẫn tiếp tục dẫn đến tình trạng là các phiên bản được cải biến không phải là tự động được tự do sử dụng vì tác giả của những sửa đổi này không bắt buộc phải từ bỏ quyền tác giả của họ. Một khả năng để tránh tình trạng này là không từ bỏ quyền tác giả mà thông qua một hợp đồng bản quyền công nhận các quyền sử dụng đơn giản cho tất cả mọi người. Trong đó, các cái gọi là bản quyền copyleft yêu cầu các phiên bản được biến đổi chỉ được phép phổ biến theo cùng các điều kiện tự do.
Đặc biệt đáng được nêu ra trong phạm vi phần mềm tự do là các bản quyền của dự án GNU, ví dụ như các bản quyền GPL cho các chương trình máy tính và GFDL cho sách giáo khoa và các quyển hướng dẫn. Dự án Creative Commons đưa ra những bản quyền khác được cho là phù hợp tốt hơn với các nhu cầu đặc biệt của nghệ sĩ, đặc biệt là những bản quyền này không bị giới hạn trong một loại tác phẩm nhất định nào. Một mặt đó là những bản quyền nội dung mở (open-content) bảo đảm các quyền tự do tương tự như các bản quyền của phần mềm tự do và về mặt khác là những bản quyền có nhiều hạn chế hơn.
== Xem thêm ==
Sở hữu trí tuệ
Vi phạm bản quyền
Công ước Berne
== Tham khảo ==
Jochen Haller, Urheberrechtsschutz in der Musikindustrie: Eine ökonomische Analyse (Bảo vệ quyền tác giả trong công nghiệp âm nhạc: Một phân tích về kinh tế), Verlag Josef Eul, 2005.
Thomas Dreier, Gernot Schulze: Urheberrechtsgesetz - Urheberrechtswahrnehmungsgesetz - Kunsturhebergesetz. (Luật quyền tác giả - Luật về nhận thức quyền tác giả - Luật về quyền tác giả trong nghệ thuật), C. H. Beck
Ulrich Löwenheim: Urheberrecht im Informationszeitalter (Quyền tác giả trong thời đại thông tin), Becksche
Dietrich Harke: Urheberrecht - Fragen und Antworten (Hỏi đáp về quyền tác giả), Carl Heymanns
Brunhilde Steckler: Urheber-, Medien- und Werberecht. Grundlagen. Rechtsicherheit im Internet. (Quyền tác giả, Luật truyền thông đại chúng và Luật quảng cáo. Đại cương. Độ tin cậy luật pháp trong Internet), Cornelsen/Scriptor
Volker Ilzhöfer: Patent-, Marken- und Urheberrecht (Quyền bằng phát minh, Quyền thương hiệu và Quyền tác giả), Vahlen
Manfred Rehbinder: Urheberrecht (Quyền tác giả), C. H. Beck
Cyrill P. Rigamonti: Geistiges Eigentum als Begriff und Theorie des Urheberrechts (Sở hữu trí tuệ như là khái niệm và lý thuyết của quyền tác giả), Nomos
Gernot Schulze: Meine Rechte als Urheber (Những quyền của tôi như là tác giả), DTV-Beck
Sabine Zentek, Thomas Meinke: Das neue Urheberrecht (Quyền tác giả mới), Haufe
Theodor Enders: Anwaltspraxis, Beratung im Urheberrecht und Medienrecht (Tư vấn trong quyền tác giả và quyền truyền thông đại chúng), Deutscher Anwaltverlag
Thomas Hoeren: Urheberrecht und Verbraucherschutz (Quyền tác giả và bảo vệ người tiêu dùng), LIT
Astrid von Schoenebeck: Moderne Kunst und Urheberrecht (Nghệ thuật hiện đại và quyền tác giả), Berliner Wissenschafts-Verlag
Daniel Gutman: Urheberrecht im Internet in Österreich, Deutschland und der EU (Quyền tác giả trong Internet tại Áo, Đức và Liên minh châu Âu), Berliner Wissenschafts-Verlag
== Đọc thêm ==
Công ước Bern
TRIPS (Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ)
Copyright
Quản lý quyền kỹ thuật số
Wikipedia:Quyền tác giả
== Liên kết ngoài ==
Tôi phải làm gì để đòi lại quyền tác giả? |
28 tháng 10.txt | Ngày 28 tháng 10 là ngày thứ 301 (302 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 64 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
312 – Constantinus Đại đế giành thắng lợi trước Maxentius trong trận chiến trên cầu Milvian bắc qua sông Tevere ở phía bắc thành La Mã, trở thành Hoàng đế La Mã duy nhất.
1459 – Lê Nghi Dân tiến hành binh biến, sát hại Lê Nhân Tông.
1707 – Trận động đất Hōei được ước tính mạnh trên 8 độ Mw làm hơn 5.000 người thiệt mạng ở ba đảo lớn Honshu, Shikoku và Kyūshū của Nhật Bản.
1636 - Một cuộc bỏ phiếu của Đại phán của Thuộc địa Vịnh Massachusetts đã thành lập đại học đầu tiên trên lãnh thổ sau này trở thành một phần của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, ngày nay được biết đến là Đại học Harvard.
1762 – Chiến tranh Bảy năm: Quân Phổ đánh tan Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh trong trận đánh tại Freiberg.
1886 – Tổng thống Grover Cleveland chủ tọa buổi lễ khánh thành Tượng Nữ thần Tự do tại thành phố New York.
1868 – Thomas Alva Edison xin cấp bằng sáng chế đầu tiên.
1918 – Hội đồng Quốc gia Tiệp Khắc tuyên bố tại Praha rằng Tiệp Khắc trở thành một quốc gia độc lập từ Đế quốc Áo-Hung.
1940 – Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Ý bắt đầu tiến vào Hy Lạp, sau khi Hy Lạp bác bỏ tối hậu thư yêu sách về việc chiếm đóng lãnh thổ Hy Lạp của Ý.
1962 – Khủng hoảng Tên lửa Cuba kết thúc với việc Nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev ra lệnh rút các tên lửa của Liên Xô khỏi Cuba.
1966 – Ngày thành lập Học viện Kỹ thuật Quân sự Việt Nam
1998 - Một máy bay phản lực trở khách của Air China đã bị không tặc bởi phi công bất mãn Yuan Bin và bay tới Đài Loan.
2014 - Phi thuyền Cygnus CRS Orb-3 nổ sau 6 giây rời bệ phóng tại Virginia
== Sinh ==
1955 – Bill Gates, giám đốc và người sáng lập Microsoft
1967 – Julia Roberts, nữ diễn viên nổi tiếng người Mỹ, biết đến nhiều nhất qua vai chính trong phim Pretty Woman.
== Mất ==
1976 - Luật sư Trần Văn Tuyên, bí thư Việt Nam Quốc dân Đảng và phó thủ tướng Việt Nam Cộng hòa mất khi bị giam trong trại cải tạo lao động ở Việt Nam.
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
chiến tranh việt nam.txt | Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (1945–1979). Đây là cuộc chiến giữa hai bên, một bên là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam cùng một số đồng minh khác của Hoa Kỳ như Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines tham chiến trực tiếp; một bên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại miền Nam Việt Nam phối hợp cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được sự viện trợ vũ khí và chuyên gia từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc. Cuộc chiến này tuy được Hoa Kỳ và các đồng minh gọi là "Chiến tranh Việt Nam" do chiến sự diễn ra chủ yếu tại Việt Nam, nhưng đã lan ra toàn cõi Đông Dương, lôi cuốn vào vòng chiến cả hai nước lân cận là Lào và Campuchia ở các mức độ khác nhau. Do đó cuộc chiến còn được gọi là Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai và do đổi thủ chính là Hoa Kỳ nên cuộc chiến thường được gọi là Kháng chiến chống Mỹ tại ba nước Đông Dương. Cuộc chiến này chính thức kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa đầu hàng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, trao chính quyền lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Quân Mỹ cũng rút toàn bộ lực lượng quân sự và di tản người Mỹ khỏi ba nước Đông Dương sau sự kiện này.
Cho tới nay, chiến tranh Việt Nam vẫn giữ kỷ lục là cuộc chiến có số lượng bom được ném nhiều nhất trong lịch sử thế giới. Tổng số bom mà Mỹ ném xuống Việt Nam là 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima. Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg bom của Mỹ.
== Tên gọi ==
Tại Việt Nam, truyền thông đại chúng dùng tên Kháng chiến chống Mỹ hoặc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước để chỉ cuộc chiến tranh này, cũng là để phân biệt với các cuộc kháng chiến khác đã xảy ra ở Việt Nam như chống Pháp, chống Nhật, chống Mông Cổ, chống Trung Quốc. Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam khẳng định rằng bản chất của cuộc chiến là kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của Hoa Kỳ cũng như mô tả chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một chính thể tay sai của các thế lực ngoại bang. Các nguồn tài liệu chính thống còn khẳng định rằng đó không phải là một cuộc nội chiến hay chiến tranh ủy nhiệm hoặc là chiến tranh vì ý thức hệ mà là kháng chiến giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tuyên bố:
Ngoại trưởng Xuân Thủy, trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:
Ngày 20-09-1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:
Một số người cảm thấy tên Kháng chiến chống Mỹ không trung lập do trong cuộc chiến còn có những người Việt tham chiến cùng Hoa Kỳ, tuy nhiên trong rất nhiều cuộc kháng chiến chống nước ngoài xâm lược của dân tộc Việt Nam cũng có những người Việt là đồng minh của các lực lượng xâm lược như Trần Ích Tắc cùng Nguyên Mông, Trần Thiêm Bình cùng nhà Minh, Lê Chiêu Thống cùng nhà Thanh, Hoàng Văn Hoan ủng hộ Trung Quốc năm 1979...Điều này cũng giống như trong Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ, cũng có những người Hoa Kỳ ủng hộ quân Anh (lực lượng nước ngoài xâm lược) như lực lượng Những người Mỹ tình nguyện (American Volunteers), Lực lượng biệt động người Mỹ của Nhà vua (King’s American Rangers), lực lượng những người Mỹ trung thành với Nhà vua (King’s Loyal Americans), Hiệp hội những người Mỹ trung thành (Loyal American Association)... Đây được gọi là lực lượng Những người Trung thành với Đế chế Anh. Lịch sử Hoa Kỳ ước tính có từ 15-20% trong số 2 triệu người da trắng tại Hoa Kỳ ủng hộ lực lượng Anh quốc.
Một số khác thì lại cho rằng tên Chiến tranh Việt Nam thể hiện cách nhìn của người phương Tây hơn là của người sống tại Việt Nam. Tuy nhiên về mặt học thuật, hiện nay các học giả và sách báo ngoài Việt Nam thường sử dụng tên "Chiến tranh Việt Nam" vì tính chất quốc tế của nó.
Tên gọi ít được sử dụng hơn là Chiến tranh Đông Dương lần 2, được dùng để phân biệt với Chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-1955), Chiến tranh Đông Dương lần 3 (1975-1989, gồm 3 cuộc xung đột ở Campuchia và biên giới phía Bắc Việt Nam).
Theo tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, Chiến tranh Việt Nam được Mỹ coi là bắt đầu từ ngày 1/11/1955 khi Nhóm chuyên gia hỗ trợ quân sự Mỹ (U.S. Military Assistance Advisory Group - MAAG) tại Việt Nam được thành lập.
Cuộc chiến này chính thức kết thúc với sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa đầu hàng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, tiếp quản miền Nam cho đến khi đất nước thống nhất khi Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc Tổng tuyển cử 1976 để tiến hành bầu ra Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ thống nhất cho cả hai miền vào ngày 25 tháng 04 năm 1976. Nhà nước thống nhất với quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội Việt Nam khóa VI vào ngày 2 tháng 7 năm 1976.
== Mục tiêu của các bên trong Chiến tranh Việt Nam ==
Mục tiêu của các bên trong Chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và đa diện tùy theo lập trường của các bên, nhưng có thể rút ra một số đặc điểm.
=== Mục tiêu ===
Đối với các nhà lãnh đạo của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thì đây là cuộc chiến tranh giữa hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa chống Cộng. Chính phủ Mỹ muốn ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á (Xem Thuyết Domino), và đã đứng ra cáng đáng chi phí cho cả cuộc chiến, và trong giai đoạn 1965-1973 quân đội Mỹ đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường. Theo quan điểm của những người ủng hộ chính sách của Hoa Kỳ, cuộc chiến này là cuộc chiến để giữ miền Nam Việt Nam và Đông Nam Á không thuộc về những người cộng sản.
Về quan điểm của người dân và học giả Hoa Kỳ, có hai chiều hướng chính. Một phía tin vào chính phủ Mỹ và ủng hộ cuộc chiến chống Cộng của quân đội Hoa Kỳ. Phía kia cho rằng đây còn là cuộc chiến tranh xâm lược theo kiểu thực dân mới, còn Việt Nam Cộng hòa chỉ là một dạng chính phủ bù nhìn mà Hoa Kỳ kế thừa từ Pháp. Về chính sách chống Cộng sản của chính phủ Mỹ, theo Jonathan Neale, chỉ là cái cớ để phục vụ cho quyền lợi của những tập đoàn tư bản Mỹ.
Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam thì đây là cuộc chiến tranh nhằm thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, các mục tiêu giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho đất nước, cải thiện dân sinh, dân chủ tạo tiền đề cả nước tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mục tiêu vẫn còn dang dở sau 9 năm kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ. Họ nhìn nhận cuộc chiến này là một cuộc chiến chống ngoại xâm, phong kiến, chống lại chủ nghĩa thực dân mới mà Mỹ áp đặt tại miền Nam Việt Nam.. Theo quan điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, họ là chính thể hợp pháp duy nhất có chủ quyền trên toàn Việt Nam từ năm 1945, và lãnh đạo hai miền kháng chiến, trong khi Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tiền thân là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam) là tổ chức đại diện cho nhân dân Miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống lại kế hoạch chia cắt đất nước Việt Nam của Hoa Kỳ.. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến chính nghĩa nhằm bảo vệ thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám và thống nhất non sông. Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến này đã huy động sức mạnh của thời đại, sự giúp đỡ, ủng hộ to lớn của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới, không phân biệt ý thức hệ, chế độ chính trị, trong đó có cả nhân dân Mỹ. Do đó, đây cũng không phải là cuộc chiến vì ý thức hệ mà là cuộc chiến giải phóng dân tộc. Về mặt pháp lý quốc tế, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt nam đã làm rõ thêm quyền dân tộc tự quyết. Nếu như quyền dân tộc tự quyết trong pháp luật quốc tế trước đây chỉ nói đến quyền tự quyết về chế độ chính trị, quyền quyết định về thể chế kinh tế… thì với Hiệp định Paris, đó còn là quyền về sự “thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”. Việc Hoa Kỳ chỉ đạo ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm, một người không muốn Quân đội Hoa Kỳ hiện diện ở Việt Nam, nhằm dựng lên một chế độ mới không thông qua bầu cử mà thông qua đảo chính nhưng ủng hộ sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam đã cho thấy bản chất của việc Hoa Kỳ đưa quân tới Việt Nam là hành vi xâm lược. Do đó, bản chất của cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến chống lại sự xâm lược có sự hỗ trợ của các lực lượng phản quốc bản địa do các thế lực ngoại bang tiến hành.
Đối với đa số người Việt Nam, theo một số học giả, sau 2000 năm chiến đấu chống các lực lượng ngoại xâm, người Mỹ đơn giản là sự hiện diện mới nhất của ngoại bang trên đất nước Việt Nam. Họ xem cuộc chiến chống Mỹ là giai đoạn mới nhất của cuộc đấu tranh trường kỳ giành độc lập từ cuối thế kỷ 19 Những người này đã góp nên sức mạnh cho phong trào dân tộc mãnh liệt do Hồ Chí Minh lãnh đạo.. Phong trào do Đảng Lao động Việt Nam, với uy tín trong nhân dân đạt được từ việc đã tổ chức Mặt trận Việt Minh giành độc lập cho đất nước và kiên trì chiến đấu chống thực dân Pháp, và tổ chức do đảng này thành lập là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đi tiên phong, đã đạt được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân. Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa thì ngày càng phụ thuộc vào Hoa Kỳ và không duy trì được vai trò độc lập của họ trong con mắt người dân (nhất là sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại trong vụ đảo chính được cho là do Mỹ giật dây) – nhất là khi đa số lãnh đạo của họ là những người trong chính phủ Trần Trọng Kim, hình thành dưới chế độ bảo hộ của phát xít Nhật, hay đã từng làm việc cho Quốc gia Việt Nam, một chính thể bị người cộng sản xem là tay sai của Pháp. Tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Quân đội Quốc gia Việt Nam cũng được thành lập dựa trên một hiệp ước giữa Quốc gia Việt Nam với Pháp, sau đó được Việt Nam Cộng hòa tổ chức lại theo kiểu Mỹ. Theo quan điểm của nhiều sử gia, cuộc chiến này, do đó, mang tính dân tộc rất cao: nguyện vọng độc lập và thống nhất đất nước, sự ủng hộ của đa số nhân dân đã trở thành yếu tố quyết định giúp những người Cộng sản thắng lợi dù họ là bên yếu thế hơn nhiều về trang bị quân sự. Hoa Kỳ đã thất bại vì không nhận ra đó là một cuộc "chiến tranh nhân dân", và người Việt Nam gắn bó với cách mạng bởi vì họ coi đó như là một cuộc chiến để bảo vệ gia đình, đất đai và tổ quốc mình.
Trên cục diện quốc tế đây là cuộc "chiến tranh nóng" trong lòng Chiến tranh Lạnh đang diễn ra quyết liệt lúc đó trên thế giới. Việc Liên Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuy được nhiều người đánh giá là quan trọng nhưng không có tính quyết định. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, yếu tố quyết định tới thắng lợi của họ là lòng dân, lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng tuyên bố với Thủ tướng Liên Xô Alexei Kosygin rằng Việt Nam sẽ đánh Mỹ theo cách của Việt Nam chứ không theo sự chỉ đạo của Liên Xô. Tổng bí thư Lê Duẩn sẵn sàng từ chối viện trợ của Trung Quốc khi nước này có ý định áp đặt ý chí đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Do đó, theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam cuộc chiến này đối với nhân dân Việt Nam là cuộc chiến giải phóng dân tộc giữa một bên là nhân dân Việt Nam, bên kia là đội quân xâm lược và tay sai người bản địa. Cuộc chiến này chỉ là chiến tranh ủy nhiệm đối với Mỹ và tay sai là Việt Nam Cộng hòa. Việc Mỹ toàn quyền chỉ đạo và Việt Nam Cộng hòa phải thực hiện đúng ý đồ của Mỹ cũng được tướng Nguyễn Hữu Hạnh và Cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ của Việt Nam Cộng hòa thừa nhận.
=== Mốc thời gian ===
Cuộc chiến tranh này được nhiều người phân đoạn theo các cách khác nhau: Người Mỹ thường quan niệm "Chiến tranh Việt Nam" được tính từ khi họ trực tiếp tham chiến trên bộ đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng (từ 1965 (nhiều nguồn cho là 1964) đến 1975). Có nhiều nguồn khác lại coi cuộc chiến bắt đầu từ 1960 đến 1975, tính từ khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu công khai ủng hộ đấu tranh vũ trang tại miền Nam. Nhưng quan điểm chung và chính thống hiện nay của chính phủ Việt Nam vẫn coi Chiến tranh Việt Nam được tính từ 1954 hoặc 1955 đến 1975, vì theo họ nguồn gốc của chiến tranh bắt nguồn từ các kế hoạch can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vốn bắt đầu diễn ra ngay từ năm 1954 (ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, năm kết thúc chiến tranh Đông Dương). Chiến tranh bắt đầu vào tháng 11 năm 1955.
Dưới đây là diễn biến theo thời gian của chiến tranh. Sự phân đoạn như sau cốt chỉ để tiện tham chiếu cho các diễn biến chính trên chiến trường. Trong báo chí và các diễn đàn về Chiến tranh Việt Nam còn rất nhiều cách phân đoạn khác nhau tùy theo trọng điểm phân tích.
== Những di sản của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất ==
=== Chính sách chống Cộng sản của Hoa Kỳ ===
Theo chính phủ Mỹ, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm dân tộc tự quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố đế quốc đối với các thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa được bù lại bằng mối quan tâm của họ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại châu Âu. Một số đồng minh NATO khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành phẩm của họ, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu.
Từ năm 1943, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á nhằm chống lại quân Nhật đóng ở đây. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho Hoa Kỳ, tuyên truyền chống Nhật. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp để ủng hộ nền độc lập non trẻ của Việt Nam, nhưng không được hồi đáp vì Mỹ xem Hồ Chí Minh là "tay sai của Quốc tế cộng sản" nên phớt lờ lời kêu gọi hỗ trợ nền độc lập của Việt Nam. Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Hơn nữa, ngay từ năm 1949, sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc, tiếp đó là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khuynh hướng thân Liên Xô tại nhiều nước Ả Rập, giới chính khách Mỹ cảm thấy lo sợ về làn sóng ủng hộ chủ nghĩa Cộng sản tại các nước thế giới thứ ba. Mỹ cần có quan hệ đồng minh với Pháp để thiết lập sự cân bằng với sức mạnh của Xô Viết ở châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chính phủ Mỹ đưa ra Thuyết domino, theo đó Mỹ cho rằng nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ "bị đe dọa". Từ lập luận đó, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Minh (chỉ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), một tổ chức/chính quyền họ cho là có liên hệ với Liên Xô và Trung Quốc. Tuy nhiên trước năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không được Liên Xô và Trung Quốc công nhận và cũng không nhận được sự hỗ trợ nào từ hai nước này.
Sự cạnh tranh chiến tranh lạnh với Liên Xô là mối quan tâm lớn nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ trong những năm 1940 và 1950, chính phủ Truman và Eisenhower ngày càng trở nên lo ngại rằng khi các cường quốc châu Âu bị mất các thuộc địa của họ, các đảng cộng sản được Liên Xô ủng hộ sẽ giành được quyền lực trong những quốc gia mới. Điều này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực quốc tế theo hướng có lợi cho Liên Xô và loại bỏ quyền truy cập vào nguồn lực kinh tế từ đồng minh của Mỹ. Các sự kiện như cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia (1945-1950), cuộc chiến tranh của Việt Nam chống Pháp (1945-1954), và chủ nghĩa xã hội dân tộc công khai của Ai Cập (1952) và Iran (1951) đã khiến Hoa Kỳ lo lắng rằng các nước mới giành độc lập sẽ ủng hộ Liên Xô, ngay cả khi chính phủ mới không trực tiếp liên hệ với Liên Xô. Do vậy, Hoa Kỳ đã sử dụng các gói cứu trợ, hỗ trợ kỹ thuật và đôi khi là cả can thiệp quân sự trực tiếp để hỗ trợ các lực lượng chống Cộng thân phương Tây tại các quốc gia mới độc lập ở thế giới thứ ba.
Về đối nội, tại Mỹ đầu thập niên 1950, các thế lực chống cộng cực đoan nắm quyền, McCarthy và Hoover thực hiện các chiến dịch chống cộng gồm theo dõi, phân biệt đối xử, sa thải, khởi tố và bắt giam nhiều người bị xem là đảng viên cộng sản hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản. Một bộ phận trong số những nạn nhân bị mất việc, bị bắt giam hoặc bị điều tra quả thật có quan hệ trong hiện tại hoặc trong quá khứ với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Nhưng đại bộ phận còn lại có rất ít khả năng gây nguy hại cho nhà nước và sự liên quan của họ với người cộng sản là rất mờ nhạt. Chính phủ Mỹ khiến công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.
Để thi hành chính sách chống Cộng, Hoa Kỳ lập ra nhiều tổ chức quân sự liên quốc gia như (NATO, CENTO, SEATO), các tổ chức và hiệp ước phòng thủ song phương và khu vực. Bên cạnh đó là một hệ thống căn cứ quân sự dày đặc để bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa. Tại những khu vực có tính địa chiến lược cao, Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự, thâm chí khi chưa có sự đồng ý của Liên hợp quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia (1954-1975), Cuba (1961), Dominica (1965). Mặc dù thất bại tại nhiều nơi đặc biệt là ở Việt Nam, Lào, Cuba nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách này nhưng với những hình thức khác. Từ thập niên 1980, Hoa Kỳ chuyển sang chính sách "Vượt lên ngăn chặn", có nghĩa là can thiệp trực tiếp vào nội bộ các nước Xã hội chủ nghĩa.
=== Mỹ can dự vào Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất ===
Hoa Kỳ đã có kế hoạch can thiệp vào Việt Nam ngay từ năm 1946 nhưng do quân đội Tưởng Giới Thạch đang bận rộn trong cuộc chiến chống lại quân đội Mao Trạch Đông, Anh còn đang lo lấy lại các thuộc địa cũ khác trên thế giới nên Mỹ chưa can thiệp được. Tới tháng 5 năm 1950, Pháp thật sự trở nên thất thế trước Việt Minh thì cơ hội để Mỹ can thiệp mới thực sự tới. Mỹ muốn lợi dụng Pháp để tiêu thụ bớt số vũ khí còn dư bởi năng lực sản xuất vũ khí của Mỹ chưa kịp hạ xuống sau Chiến tranh Thế giới thứ hai cũng như để tránh tổn thất nhân mạng Mỹ. Hỗ trợ Pháp tại Đông Dương và kế hoạch Marshall tại Pháp cũng chính là cách Mỹ lôi kéo Pháp vào liên minh toàn diện do Mỹ đứng đầu Theo tài liệu Lầu Năm góc, chính phủ Mỹ "ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á" trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới không ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi Cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ các đồng minh tại Đông Nam Á để chống lại các phong trào mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam, nhưng mặt khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng minh trước những mối lo lớn hơn tại châu Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2 mặt không tương thích: một mặt hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh - tốt nhất là dưới sự chỉ đạo của Mỹ, mặt khác Mỹ dự kiến sau khi chiến thắng, người Pháp sẽ - một cách cao cả - rút khỏi Đông Dương.
Theo Félix Green, mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á, vì đây là "một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào". Một số người khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ sự tồn tại của các chính phủ thân Mỹ tại Đông Nam Á, không chỉ nhằm làm "tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản", mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu dài của "Quyền lực tư bản" Mỹ lên thị trường vùng Đông Nam Á (xem thêm Chủ nghĩa thực dân mới).
Bản thân người Pháp cũng cố gắng hết sức để chí ít cũng có một "lối thoát danh dự". Sau thất bại của chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh", để giảm bớt áp lực chính trị-quân sự, Pháp đàm phán với Bảo Đại và những chính trị gia Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc có lập trường chống Chính phủ kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thành lập Quốc gia Việt Nam thuộc Liên Hiệp Pháp. Tới cuối chiến tranh, Quân đội Quốc gia Việt Nam đã phát triển lên tới 230.000 quân, chiếm 60% lực lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Văn Hinh. Quân đội này sẽ trở thành nòng cốt của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sau này.
Người Pháp tỏ ra ít có nhiệt tình với chính phủ mới này còn người Mỹ chế giễu Pháp là "thực dân tuyệt vọng". Đáp lại, phía Pháp nhận định là Mỹ quá ngây thơ, và một người Pháp đã nói thẳng là "những người Mỹ ưa lo chuyện người khác, ngây thơ vô phương cứu chữa, tin tưởng rằng khi quân đội Pháp rút lui, mọi người sẽ thấy nền độc lập của người Việt xuất hiện." Rõ ràng đây là một câu nói chế giễu nhưng nó lại chính xác vì những người Mỹ khá ngây thơ và ấu trĩ khi họ mới đến Việt Nam.
Năm 1953, mỗi tháng, Mỹ viện trợ cho Pháp 20.000 tấn vũ khí và quân nhu mỗi tháng, sau đó Mỹ đồng ý tăng lên 100.000 tấn/tháng, đổi lại chính phủ Mỹ yêu cầu Pháp phải có kết quả cụ thể. Khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1954, Mỹ đã trả 78% chiến phí cho Pháp, thậm chí phi công Mỹ cũng tham gia chiến đấu cùng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ đâu kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Việc Mỹ trực tiếp tham chiến tại chiến tranh Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian 1-2 năm. Thậm chí khi Điện Biên Phủ nguy cấp, Mỹ đã tính tới chuyện dùng bom nguyên tử để cứu nguy cho Pháp.
Tuy nhiên công thức "Viện trợ Mỹ, viễn chinh Pháp, quân bản xứ" vẫn không cứu vãn được thất bại. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu tại Đông Dương.
=== Việt Nam bị tạm thời chia cắt ===
Hiệp định Genève quy định các bên tham gia chiến tranh Đông Dương phải ngừng bắn, giải giáp vũ khí. Theo sự dàn xếp của các cường quốc, Việt Nam chia ra thành hai khu vực tập kết tạm thời cho hai bên đối địch. Miền Bắc dành cho các lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, miền Nam dành cho tất cả các lực lượng thuộc Liên hiệp Pháp. Vĩ tuyến 17 (nay đi qua tỉnh Quảng Trị) được xem là ranh giới, và một khu phi quân sự tạm thời được lập dọc theo hai bờ sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị. Quân đội hai bên phải rút về khu vực được quy định trong vòng 300 ngày. Trong thời gian chuyển tiếp đó, người dân hai miền được quyền lựa chọn nơi sinh sống là khu vực mà mình muốn và sẽ được hỗ trợ trong việc di chuyển.
Đồng thời, trong thời gian sau đó, ý thức được chính phủ Hồ Chí Minh đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, phía Pháp cũng có những bước đi nhằm đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị ghi rõ: tình trạng chia cắt này chỉ là tạm thời cho đến khi cuộc tổng tuyển cử tự do thống nhất Việt Nam sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956, dưới sự kiểm soát của Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Đồng thời Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève cũng công nhận chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Campuchia, Lào, và ghi nhận bản Tuyên bố của chính phủ Pháp về việc sẵn sàng rút quân đội Pháp khỏi lãnh thổ các nước này theo yêu cầu và thỏa thuận với chính quyền sở tại. Tuyên bố này còn nói rằng các chính quyền tại hai khu vực quân sự tại Việt Nam không được trả thù đối với những người đã từng cộng tác với phía bên kia cùng gia đình họ. Bản Tuyên bố không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào tham dự Hội nghị tuy nhiên vẫn được các nước cam kết chấp thuận chính thức.
Trước khi Hiệp ước Genève được ký kết 6 tuần, ngày 4/6/1954, Pháp đã đàm phán với Quốc gia Việt Nam bản dự thảo Hiệp ước Matignon (1954), nếu được ký chính thức thì Quốc gia Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập khỏi Liên hiệp Pháp. Chính phủ này sẽ không còn bị ràng buộc bởi những hiệp ước do Pháp ký kết. Nhưng cũng có những lập luận cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Hiệp định Geneva, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng. Tuy nhiên, Hiệp ước Genève đã diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn thành. Quốc gia Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên hiệp Pháp và do đó vẫn phải tuân thủ những Hiệp định do Liên hiệp Pháp ký kết.
Tuy nhiên, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã từ chối ký và không công nhận Hiệp định Genève, đồng thời ra Tuyên bố Hiệp định Genève chứa "những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam" và "không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt", bởi Bộ Tư lệnh Pháp đã "nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ" và "tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam". Tuyên bố cũng cho biết Quốc gia Việt Nam sẽ "tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở". Phái đoàn Hoa Kỳ cũng từ chối ký Hiệp định và tuyên bố không bị ràng buộc vào những quy định ấy, nhưng nói thêm nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Trong Tuyên bố của mình, đối với vấn đề tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, chính phủ Mỹ nêu rõ quan điểm "tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng". Theo Hồ Chí Minh, do Quốc gia Việt Nam vẫn chưa độc lập khỏi Liên hiệp Pháp nên không thể tham gia Hội nghị và ký kết Hiệp định với tư cách một quốc gia và Quốc gia Việt Nam vẫn phải chịu ràng buộc bởi những thỏa thuận giữa Việt Minh và Pháp.
Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết chỉ vài ngày, trả lời Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: "Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á."
Kết quả Hiệp định: Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng đã giành thắng lợi sau cuộc chiến, tập kết về miền Bắc. Lực lượng Quốc gia Việt Nam cùng với quân đội Pháp tập kết về miền Nam, tập kết dân sự và chính trị theo nguyên tắc tự nguyện. Theo thống kê của Ủy ban Quốc tế Giám sát Đình chiến có 892.876 dân thường di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam., trong khi 140.000 người khác từ miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp dần dần rút khỏi miền Nam và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam.
Chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Thủ tướng Ngô Đình Diệm đưa ra là "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông "nghi ngờ về việc có thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Khi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Ngô Đình Diệm còn ra nhiều tuyên bố công kích chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đáp lại những cáo buộc này, Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng: "Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam."
Bên cạnh đó, những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh thay vì bầu cho Bảo Đại nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành. Nhà sử học Mortimer T. Cohen cho rằng: Thực tâm Ngô Đình Diệm không muốn Tổng Tuyển cử, vì biết rằng mình sẽ thua. Không ai có thể thắng cử trước Hồ Chí Minh, vì ông là một George Washington của Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không bao giờ được tổ chức.
Hoa Kỳ hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm thành lập một chính thể riêng biệt ở phía Nam vĩ tuyến 17 và không thực hiện tuyển cử thống nhất Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi đây là hành động phá hoại Hiệp định Genève. Ngày 18 tháng 6 năm 1954, hơn 4.000 người Huế biểu tình chống Pháp - Mỹ.. Ngày 1 tháng 8 năm 1954, Ủy ban Liên Việt Sài Gòn - Chợ Lớn thông báo cho biết chính quyền Ngô Đình Diệm bắn vào đoàn 5.000 người biểu tình ở Sài Gòn - Chợ Lớn cầm cờ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và cờ Pháp hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ và đòi Pháp thi hành Hiệp định
Như vậy, xét về quá trình tham gia của các bên tham chiến, chiến tranh Việt Nam là bước tiếp nối để giải quyết những mục tiêu mà cả hai bên chưa làm được trong chiến tranh Đông Dương. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam muốn giành độc lập, thống nhất cho Việt Nam. Mục tiêu của Việt Nam Cộng hoà - theo tuyên bố trước đó của Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm - là "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ"; họ từ chối đàm phán hoặc tổng tuyển cử với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Còn Hoa Kỳ thì muốn tiếp tục thi hành chính sách chống Cộng ở Đông Nam Á, bất kể sự thất bại của nước Pháp.
Ngay từ tháng 3/1961, khi Chủ tịch Quốc hội Pháp Jacques Chaban-Delmas có chuyến sang Mỹ, Thống chế Pháp Charles de Gaulle nhờ ông này nhắn lại với Tổng thống Mỹ “đừng để sa lầy trong vấn đề Việt Nam, ở đó Mỹ có thể mất cả lực lượng lẫn linh hồn của mình”. Ngày 31/5/1961, tiếp Tổng thống Mỹ John F. Kennedy tại Paris, Thống chế Pháp Charles de Gaulle cảnh báo:
“Người Pháp chúng tôi có kinh nghiệm về chuyện đó. Người Mỹ các ông trước đây [chỉ các tổng thống Mỹ tiền nhiệm] từng muốn thay chỗ chúng tôi ở Đông Dương. Và hôm nay ông muốn nối gót chúng tôi để nhen lại ngọn lửa chiến tranh mà chúng tôi đã kết thúc. Tôi xin báo trước cho ông biết: các ông sẽ từ từ sa vào vũng lầy quân sự và chính trị không đáy, bất chấp những tổn thất [nhân mạng] và chi tiêu [tiền của] mà các ông có thể phung phí ở đó”
Nhiều nhà sử học coi 2 cuộc chiến thực chất chỉ là 1 và gọi đó là "Cuộc chiến mười ngàn ngày", giai đoạn hòa bình 1955-1959 thực chất chỉ là chặng nghỉ tạm thời. Theo Daniel Ellsberg, ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: Ban đầu là Pháp và Mỹ, sau đó Mỹ nắm hoàn toàn. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam - dù không phải là tất cả người Việt - nhưng cũng đủ để duy trì cuộc chiến đấu chống lại vũ khí, cố vấn cho tới quân viễn chinh của Mỹ. Theo Alfred McCoy, nhìn lại những chính sách của Mỹ sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, những tài liệu Ngũ Giác Đài đã kết luận rằng "Nam Việt Nam về cơ bản là một sáng tạo của Hoa Kỳ": "Không có Mỹ hỗ trợ thì Diệm hầu như chắc chắn không thể củng cố quyền lực ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1956. Không có Mỹ đe dọa can thiệp, Nam Việt Nam không thể từ chối thậm chí cả việc thảo luận về cuộc Tổng tuyển cử năm 1956 theo Hiệp định Geneva mà không bị lực lượng vũ trang của Việt Minh lật đổ. Không có viện trợ Mỹ trong những năm tiếp theo thì chế độ Diệm và nền độc lập của Nam Việt Nam hầu như cũng không thể nào tồn tại được." Thượng nghị sĩ (sau là Tổng thống Mỹ) John F. Kennedy thì tuyên bố: "Nó (Việt Nam Cộng Hòa) là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó".
== Giai đoạn 1954-1959 ==
=== Việt Nam Cộng hòa cự tuyệt Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam ===
Mỹ không công nhận kết quả Hiệp định Genève, tuy nhiên Mỹ vẫn tuyên bố "ủng hộ nền hòa bình tại Việt Nam do Hiệp định Genève mang lại và thúc đẩy sự thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam bằng các cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc". Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên nhân chính mà Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ cương quyết không cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử vì họ biết chắc rằng mình không thể thắng và không muốn Việt Nam thống nhất.
Mỹ coi miền Nam Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chống chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á nên bắt đầu các hoạt động can thiệp tại Việt Nam. Đúng 20 ngày sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đô đốc Sabin đến Hà Nội, họp với phái đoàn quân sự Mỹ tại đây. Năm 1955, phái đoàn quân sự này của Mỹ do Edward Lansdale chỉ huy, người của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến để kêu gọi dân chúng miền Bắc di cư vào Nam; giúp huấn luyện sĩ quan người Việt và các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam tại các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối". Trong 2 năm 1955-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho các lực lượng thường trực quân đội Việt Nam Cộng hòa, gồm 170.000 quân và lực lượng cảnh sát 75.000 quân, chiếm 80% ngân sách quân sự của chế độ Ngô Đình Diệm. Số viện trợ này giúp Việt Nam Cộng hòa đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Việt Nam Cộng hòa dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chính sách của Quốc gia Việt Nam là từ chối hiệp thương tổng tuyển cử với lý do mà Ngô Đình Diệm phát biểu là "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Lý do này tương tự như trong cuộc bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I năm 1946, khi một số đảng phái đối lập với Việt Minh không ra ứng cử và cho rằng chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được. Có tài liệu cho rằng lá phiếu không bí mật, vì Sắc lệnh 51 cho phép những cử tri không biết chữ được nhờ người viết hộ. Theo ông Trần Trọng Kim (nguyên là Cựu Thủ tướng Đế quốc Việt Nam được Nhật Bản bảo hộ) thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh. Nhưng theo báo Đại đoàn kết (Cơ quan trung ương của Mặt trận tổ quốc Việt Nam) thì nhiều trí thức, đại biểu có uy tín của các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc đã trúng cử tại Quốc hội khóa I, họ hầu hết không hay chưa phải là đảng viên cộng sản. Có đến 43% đại biểu trúng cử không tham gia đảng phái nào, trong đó có Ngô Tử Hạ, một nhân sĩ công giáo và là chủ của các xưởng in lớn.
Đồng thời với việc từ chối tuyển cử, chế độ Việt Nam Cộng hòa ra sức củng cố quyền lực, đàn áp khốc liệt những người người kháng chiến cũ (Việt Minh), Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, những người không chịu quy phục Việt Nam Cộng hòa. Ngô Đình Diệm hiểu rõ những chiến sĩ Việt Minh là đối thủ lớn nhất đe dọa quyền lực của ông ta. Theo lời khuyên của Edward Lansdale, chính phủ Ngô Đình Diệm không gọi họ là Việt Minh nữa mà gọi là Việt Cộng. Nhằm triệt để tiêu diệt ảnh hưởng của Việt Minh trong nhân dân, Ngô Đình Diệm còn ra lệnh đập phá các tượng đài kháng chiến và san bằng nghĩa trang của những liệt sĩ Việt Minh trong Chiến tranh Đông Dương, một hành vi xúc phạm nghiêm trọng tục lệ thờ cúng của người Việt. Việt Nam Cộng hòa cũng đưa ra một loạt các chính sách "Tố Cộng Diệt Cộng", ban hành đạo luật 10-59 công khai hành quyết những người cộng sản bằng máy chém.
Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève thì tổng tuyển cử ở hai miền được dự trù vào tháng 7 năm 1956 nhưng Tổng thống Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi cuộc thảo luận sơ khởi, hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. Theo nhận xét của phương Tây thì Ngô Đình Diệm là kẻ ngoan cố và khao khát quyền lực chuyên chế, nhưng theo Duncanson thì mọi việc còn phức tạp hơn. Theo Ducanson, Miền Bắc có dân số đông hơn miền Nam 2 triệu người (tính cả gần 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam), vào thời điểm 1955 – 1956, trước sự hỗn loạn gây ra bởi sự tranh giành của các giáo phái và do hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam, cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam tạo ra bầu không khí căng thẳng dẫn đến cuộc nổi dậy của nông dân tại các vùng lân cận Vinh, những tình hình diễn ra ở cả hai miền khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương không có hy vọng đảm bảo một cuộc bầu cử tự do theo tinh thần của bản Tuyên bố cuối cùng trong đó cử tri có thể bỏ phiếu theo ý muốn mà không sợ bị trả thù chính trị. Theo Mark Woodruff, Quốc gia Việt Nam tuyên bố không tin bầu cử ở miền Bắc Việt Nam sẽ diễn ra công bằng, những quan sát viên của các nước Ấn Độ, Ba Lan và Canada thuộc Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đồng ý quan điểm này và báo cáo rằng cả 2 miền đều không thi hành nghiêm chỉnh thỏa thuận ngừng chiến. Tuy nhiên, trái với các nhận định trên, Clark Clifford đã dẫn các báo cáo của Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến cho biết trong giai đoạn 1954-1956, họ chỉ nhận được 19 đơn khiếu nại về việc trả thù chính trị trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam.
Báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, và không ai có thể thắng Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển cử tự do. Do vậy Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra. Năm 1956, Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo dự đoán nếu bầu cử diễn ra thì khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh, và "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không
Trong khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chuẩn bị cho tổng tuyển cử và cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình. Tại hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, tháng 8 năm 1955, bản báo cáo của Trường Chinh đã đề xuất: "sau tổng tuyển cử nước Việt Nam sẽ có một Quốc hội chung cho toàn quốc, bao gồm đại biểu các đảng phái, các giai cấp, không phân biệt dân tộc, xu hướng chính trị và tôn giáo. Quốc hội ấy sẽ thông qua hiến pháp chung của toàn quốc và bầu ra Chính phủ liên hợp của toàn dân, chịu trách nhiệm trước Quốc hội... Quân đội miền Nam hay quân đội miền Bắc đều phải là bộ phận của quân đội quốc phòng thống nhất của nước Việt Nam, đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của Chính phủ trung ương... Chính phủ trung ương và cơ quan chính quyền của mỗi miền sẽ đảm bảo thi hành những quyền tự do dân chủ rộng rãi (tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do đi lại, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, v.v.); thực hiện nam nữ bình đẳng, dân tộc bình đẳng, đảm bảo trật tự của xã hội, an toàn của quốc gia và sinh mệnh tài sản của nhân dân; thực hiện người cày có ruộng một cách có từng bước, có phân biệt và chiếu cố những đặc điểm của từng miền... nước Việt Nam sau khi tổng tuyển cử mới thống nhất bước đầu hoặc thống nhất một phần, chưa hoàn toàn thống nhất. Miền Bắc sẽ giữ nguyên chế độ dân chủ mới (song nội dung dân chủ mới mà hình thức thì về một mặt nào đó còn áp dụng chủ nghĩa dân chủ cũ). Còn ở miền Nam thì không những hình thức mà nội dung của chế độ chính trị trong thời kỳ đầu còn nhiều tính chất dân chủ cũ; thành phần dân chủ mới sẽ phát triển dần dần" .
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố đồng ý tổ chức tổng tuyển cử phù hợp với hoàn cảnh của mỗi miền. Hà Nội tìm kiếm hỗ trợ quốc tế, kêu gọi các đồng chủ tịch hội nghị Genève, nhắc nhở Pháp về trách nhiệm đối với việc thống nhất hai miền Việt Nam thông qua Tổng tuyển cử tự do theo đúng tinh thần của Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định "Quốc hội do toàn dân từ Bắc chí Nam bầu ra tiêu biểu cho ý chí thống nhất sắt đá của toàn dân", tuyên bố chống tuyển cử riêng ở miền Nam mà họ xem là phi pháp. Ngày 20 tháng 7 năm 1955, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Sài Gòn để đàm phán, tạm lưu tại Khách sạn Majestic nhưng bị Hội đồng Nhân dân Cách mạng ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức biểu tình chống đối dữ dội; khách sạn bị bao vây và phóng hỏa khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương phải can thiệp để phái đoàn thoát ra và bay trở về an toàn.
Về mặt ngoại giao, theo giáo sư Ilya Gaiduk của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, vào ngày 25/01/1956, Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhắc lại đề nghị tái triệu tập Hội nghị Geneva để tổ chức Tổng tuyển cử. Tới 18/02/1956, phía Liên Xô đạt được thống nhất với Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tái triệu tập Hội nghị Geneva. Sau đó, Trường Chinh khi sang Moskva họp đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956 đã nói với Vasilii Kuznetzov, thứ trưởng ngoại giao Liên Xô rằng miền Bắc chưa hội tụ đủ tất cả điều kiện nhưng đã có đủ các điều kiện chủ chốt để tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước và đề nghị Liên Xô giúp đỡ do việc Hội nghị Cố vấn của ICC vẫn chưa diễn ra đã gây cản trở cho việc tổ chức Tổng tuyển cử như kế hoạch. Trường Chinh đề nghị tổ chức cuộc họp giữa 9 bên tham gia Hội nghị và 3 bên tham gia ICC để thúc đẩy Tổng tuyển cử. Đáp lại, phía Liên Xô khẳng định chỉ có thể tác động tới phái đoàn Ấn Độ và cũng cảnh báo với Trường Chinh rằng sẽ không có việc tái triệu tập Hội nghị, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận rằng không có Tổng tuyển cử và Việt Nam phải tự chuẩn bị phương án cho chính mình. Theo cuốn Việt Nam - Liên Xô, 30 năm quan hệ 1950-1980, thì Trường Chinh khẳng định với Vasilii Kuznetzov rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chắc chắn đủ khả năng tổ chức Tổng tuyển cử ở khu vực đồng bằng và các thành phố lớn nhưng đối với một số khu vực miền núi phía bắc thì thực sự gặp những khó khăn nhất định nhưng đây là lại là khu vực chắc chắn cho Việt Nam Dân chủ nhiều ủng hộ bất chấp việc ít dân nhưng những người dân này lại có truyền thống ủng hộ Việt Minh từ thời kháng chiến chống Pháp. Do đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Liên Xô có những trợ giúp về mặt hậu cần và kỹ thuật tại các khu vực đó cũng như gây áp lực quốc tế để cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức theo đúng như Hiệp định (vào tháng 7 năm 1956). Các cường quốc đã không ủng hộ lời kêu gọi tổ chức tuyển cử của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà muốn hiện trạng chia cắt Việt Nam được giữ nguyên. Vào tháng 1 năm 1957, khi Liên Xô đề nghị Liên Hiệp Quốc thừa nhận miền Bắc và miền Nam Việt Nam như 2 quốc gia riêng biệt, Hồ Chí Minh đã không đồng ý. Tháng 5 năm 1956, một nhà ngoại giao Hungary tên József Száll đã nói chuyện với một trợ lý thứ trưởng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, rằng theo ý kiến của Chính phủ Trung Quốc thì "các nghị quyết của hiệp định Genève, tức là, việc tổ chức bầu cử tự do và thống nhất Việt Nam, không thể được thực hiện trong thời gian này... với tình trạng hiện nay tại miền Nam Việt Nam cần một thời gian dài để đạt được những mục tiêu này do đó thật vô lý nếu những nước từng tham gia Hội nghị Geneva như Liên Xô hoặc Trung Quốc đòi triệu tập một hội nghị quốc tế về giải pháp đã được thông qua năm 1954". Nói cách khác, những cường quốc của khối Xã hội chủ nghĩa đã không cung cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sự hỗ trợ quốc tế mà họ kêu gọi.
Trong khi tiến trình yêu cầu và từ chối đàm phán vẫn tiếp diễn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cố tái lập quan hệ thương mại giữa 2 miền, để giúp "nhân dân hai vùng trao đổi kinh tế, văn hóa và xã hội, nhằm tạo thuận lợi cho việc khôi phục cuộc sống bình thường của người dân." Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá II) dự kiến: "Muốn thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, cần phải tiến hành thống nhất từng bước; từ chỗ tạm thời chia làm hai miền tiến đến chỗ thống nhất chưa hoàn toàn, từ chỗ thống nhất chưa hoàn toàn sẽ tiến đến chỗ thống nhất hoàn toàn." Nhưng cũng như vấn đề bầu cử, Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn từ chối cả việc thảo luận, và Tổng thống Ngô Đình Diệm đã công khai tuyên bố "Bắc tiến" từ vài năm trước đó.
Về quân sự, miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp định Genève, tồn tại ba lực lượng quân sự chủ yếu là: Bình Xuyên, các giáo phái (Cao Đài, Hoà Hảo), các đảng phái quốc gia (Đại Việt Quốc dân Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng); Việt Nam Cộng hòa và những thành viên được xem là Việt Minh còn lại ở miền Nam Việt Nam. Theo ước tính của Pháp trong năm 1954, Việt Minh kiểm soát hơn 60-90% nông thôn miền Nam Việt Nam ngoài các khu vực của các giáo phái .
Nhìn chung, trong giai đoạn 1955-1959, quân đội Việt Nam Cộng hòa giữ ưu thế trên chiến trường miền Nam. Nhiều cuộc xung đột vũ trang giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với Bình Xuyên, một bộ phận thân Pháp trong các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo được sự giúp đỡ của người cộng sản, lực lượng quân sự của các đảng phái quốc gia... diễn ra quyết liệt, với kết quả là các lực lượng này thất bại và phải giải thể hoặc gia nhập vào quân đội Việt Nam Cộng hoà. Còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt là: Việt Nam Cộng hòa và lực lượng các cựu thành viên Việt Minh còn ở lại miền Nam.
Trong giai đoạn này, lực lượng được xem là Việt Minh còn ở lại miền Nam theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 người lui vào bí mật với chủ trương phát động nhân dân đấu tranh chính trị đòi thực hiện Tổng tuyển cử, chống lại các chương trình xã hội của chính quyền Ngô Đình Diệm như "Cải cách điền địa", "Cải tiến nông thôn" và bảo vệ cán bộ cộng sản, nhưng họ vẫn sẵn sàng tái hoạt động vũ trang nếu tình thế yêu cầu với số vũ khí được chôn giấu từ trước. Tình hình chính trị trở nên xấu đi vì đường lối cứng rắn của Việt Nam Cộng hòa cũng như sự bất hợp tác của Việt Minh, vốn không công nhận tính hợp pháp của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Từ cuối năm 1955, đã xuất hiện những vụ ám sát quan chức Việt Nam Cộng hòa với tên gọi "diệt bọn ác ôn và bọn do thám chỉ điểm". Những hoạt động vũ trang của Việt Minh ngày càng gia tăng về quy mô, lan rộng khắp miền Nam. Đến cuối năm 1959 tình hình miền Nam thật sự bất ổn, Việt Minh ở miền Nam đã phát động chiến tranh du kích khắp nơi với quy mô trung đội hoặc đại đội nhưng lấy phiên hiệu đến cấp tiểu đoàn.
Tháng 9 năm 1960, sau khi đấu tranh chính trị hoà bình để thống nhất đất nước theo tinh thần của Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève không có kết quả, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ủng hộ các hoạt động đấu tranh vũ trang và chính trị của lực lượng Việt Minh miền Nam. Đến thời điểm này, sự căng thẳng của lực lượng Việt Minh ở miền Nam đã lên đến mức mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ủng hộ đấu tranh vũ trang ở phía Nam vĩ tuyến 17. Hội nghị Trung ương Đảng Lao động lần thứ 15 (tháng 1-1959) quyết định: "Phải qua con đường đấu tranh cách mạng bằng bạo lực, mà cụ thể là dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ và tập đoàn quân sự tay sai của Mỹ."
Như vậy năm 1960 trở thành một năm có biến động lớn, mở ra một giai đoạn mới của Chiến tranh Việt Nam. Các nỗ lực đàm phán chính trị nhằm thống nhất Việt Nam đã không có kết quả, từ nay đấu tranh vũ trang sẽ là phương hướng chủ yếu.
=== Tình hình tại miền Bắc ===
Để phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội và chuẩn bị cho cuộc chiến dự kiến có thể sắp xảy ra, tại miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam tái tổ chức lại xã hội (bao gồm cả lực lượng vũ trang) theo mô hình xã hội chủ nghĩa như ở các nước Liên Xô, Trung Quốc, ít nhiều kết hợp với các nguyên tắc của một xã hội thời chiến.
Về nông nghiệp, ngay từ năm 1953, Đảng Lao động tổ chức các chiến dịch cải cách ruộng đất để thực hiện mục tiêu người cày có ruộng, nhưng phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng. Trong 3.563 xã thuộc 22 tỉnh và những vùng ngoại thành ở miền Bắc đã thực hiện cải cách ruộng đất, các đội cải cách ruộng đất đã chỉ ra 47.890 địa chủ, chiếm 1,87% tổng số hộ và 2,25% tổng số nhân khẩu ở nông thôn. Trong số địa chủ đó, có 6.220 hộ là cường hào gian ác, chiếm 13% tổng số hộ địa chủ. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 14 về tổng kết cải cách ruộng đất đã nêu rõ: "Những tên địa chủ có nhiều tội ác với nông dân và là phản động đầu sỏ cùng một số tổ chức của chúng đã bị quần chúng tố cáo và bị trừng trị theo pháp luật". Số địa chủ bị tuyên án tử hình trong chương trình Cải cách ruộng đất không được thống kê chính xác và gây tranh cãi. Các nhà nghiên cứu phương Tây đưa ra các số liệu rất khác nhau và không thống nhất, theo Gareth Porter: từ 800 đến 2.500 người bị tử hình; theo Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5.000; theo giáo sư sử học James P. Harrison: vào khoảng 1.500 người bị tử hình cộng với 1.500 bị giam giữ. Do tiến hành vội vã, nhiều địa chủ bị kết án oan sai, nên từ năm 1956, các chiến dịch sửa sai được tiến hành, các địa chủ bị kết án oan được trả tự do, minh oan, trả lại danh dự và được tạo điều kiện sinh sống. Qua cải cách ruộng đất ở miền Bắc, trên 810.000 hecta ruộng đất của đế quốc và địa chủ, ruộng đất tôn giáo, ruộng đất công và nửa công nửa tư đã bị tịch thu, trưng thu, trưng mua để chia cho 2.220.000 hộ nông dân lao động và dân nghèo ở nông thôn, bao gồm trên 9.000.000 nhân khẩu. Như vậy là 72,8% số hộ ở nông thôn miền Bắc đã được chia ruộng đất. Tính đến tháng 4 năm 1953, số ruộng đất trực tiếp tịch thu của địa chủ chia cho nông dân bằng 67,67% tổng số ruộng đất mà địa chủ chiếm hữu nǎm 1945.
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố: Thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Tháng 11/1958, Đảng Lao động quyết định đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa trong 3 năm 1958-1960 và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa (bao gồm hợp tác hoá nông nghiệp và cải tạo tư bản tư doanh), kế hoạch phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 1958. Đến cuối năm 1960, ở miền Bắc có 84,8% số hộ nông dân đã gia nhập hợp tác xã, chiếm 76% tổng diện tích canh tác, 520 hợp tác xã ngư nghiệp chiếm 77,2% tổng số hộ đánh cá, có 269 hợp tác xã nghề muối chiếm 85% tổng số hộ làm muối. Ở thành thị, 100% số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, 1.553 doanh nhân thành người lao động. Có 90% tổng số thợ thủ công trong diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp, trong đó hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực thương nghiệp, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ, kinh doanh ngành ăn uống thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang sản xuất.
Về văn hóa, những sai lầm của cải cách ruộng đất đã gây tác động đến một số giới văn nghệ sĩ. Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam do Lê Mậu Hãn chủ biên, trong bối cảnh phương Tây đang tiến hành gây rối loạn ở hệ thống xã hội chủ nghĩa, từ đầu năm 1955 lực lượng tình báo nước ngoài đã kích động một bộ phận văn nghệ sĩ có chính kiến đối lập tạo nên phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Ban đầu, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ phê phán những sai lầm, nhưng về sau dần phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Lao động Việt Nam về Chính trị và Nhà nước thậm chí kích động kêu gọi nhân dân xuống đường biểu tình. Cuối năm 1956, sau các biến động trên thế giới, chính quyền quyết định chấm dứt phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.
Về xã hội, chính sách về kinh tế khiến mô hình xã hội cũ thay đổi: giai cấp địa chủ hầu như bị xóa bỏ, giai cấp tư sản thì được đưa vào các cơ sở công tư hợp doanh, được nhà nước mua lại tài sản để trở về làm lao động. Quốc hội, cơ quan công quyền tối cao của người dân, sau cuộc bầu cử năm 1946 thì tới năm 1960 mới tuyển cử Khóa II. Do không họp thường xuyên, vai trò của Quốc hội bị hạn chế và không thực thi đầy đủ trách nhiệm lập pháp mà thường chỉ thông qua sắc lệnh và đạo luật mà Chính phủ đưa ra, các vấn đề đột xuất đã có ban Thường vụ Quốc hội đặc quyền đảm nhiệm. Trong thời kỳ này, xã hội Miền Bắc hoàn toàn bị chi phối bởi sự điều khiển của chính quyền, các quyền dân sự bị thu hẹp, các quyền tự do chính trị, tự do ngôn luận, xuất bản báo chí bị hạn chế tối đa, quyền làm việc, cư ngụ, đi lại, giao thiệp, cưới hỏi đều phải có sự cho phép của Nhà nước. Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hóa cao độ với sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Lao động Việt Nam. Xã hội nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc sống quân sự hóa cao độ "Toàn dân - Toàn diện" theo phương châm "Mỗi người dân đều là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài". Tóm lại, cả xã hội Miền Bắc hoạt động vì một mục tiêu chung: làm hậu cần cho chiến trường ở Miền Nam.
Việc hiện đại hóa quân đội được tiến hành nhưng chậm và không đồng bộ, nhiều sư đoàn bộ binh được thành lập thêm nhưng vẫn mang tính bộ binh đơn thuần, hỏa lực hạng nặng thiếu và chắp vá. Quân đội chưa có các quân binh chủng kỹ thuật cao như không quân, radar, hải quân, tăng thiết giáp... còn đang trong quá trình sơ khai; phương tiện vận tải, thông tin liên lạc còn yếu kém. Nguyên nhân là do nền công nghiệp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa lớn mạnh, đồng thời dựa nhiều nguồn viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc có phần hạn chế trong giai đoạn này. Vào cuối năm 1959, miền Bắc đã bí mật cho tiến hành thăm dò, phát triển tuyến đường tiếp vận chiến lược: Đường Trường Sơn – còn được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh. Đây sẽ là một tuyến vận chuyển chiến lược đảm bảo nhu cầu chiến tranh sẽ được mở rộng tại miền Nam sau này. Mặc dù vào lúc đó, tuyến đường này vẫn chỉ là các lối mòn trong rừng cho giao liên và các toán cán bộ vào Nam.
Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Nghị quyết ngày 20-9-1955 tuyên bố: Dựa trên bản cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ đã vạch rõ đường lối đại đoàn kết toàn dân để cùng nhau đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình. Cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước nhà sẽ tiến hành trong toàn quốc theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bí mật. Mục đích của cuộc tổng tuyển cử tự do này là bầu một Quốc hội thống nhất để cử một Chính phủ Liên hợp duy nhất cho toàn nước Việt Nam. Việc thành lập Chính phủ Liên hợp sẽ tăng cường đoàn kết giữa các đảng phái, các tầng lớp, các dân tộc, các miền trên toàn cõi Việt Nam... Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kêu gọi đồng bào miền Nam hãy đoàn kết đấu tranh chặt chẽ và rộng rãi trong Mặt trận Tổ quốc nhằm giữ gìn quyền lợi hàng ngày của mình và giành hoà bình, thống nhất cho Tổ quốc. Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam hãy đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hăng hái đấu tranh thực hiện cương lĩnh của Mặt trận, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, do đó mà hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
=== Tình hình tại miền Nam ===
Ở miền Nam, nhờ những nỗ lực chính trị của bản thân cộng với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm – được bổ nhiệm làm thủ tướng và trở thành tổng thống sau một cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 23 tháng 10 năm 1955. Cuộc trưng cầu dân ý này bị tố cáo là gian lận rõ ràng, như tại Sài Gòn, Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu trong khi cả khu vực này chỉ có 450.000 cử tri.
Ngô Đình Diệm nhanh chóng thi hành các chính sách về chính trị, xã hội. Chính phủ Hoa Kỳ đã viện trợ lớn cho Việt Nam Cộng hòa thực hiện những chương trình cải cách và phát triển xã hội trên nhiều lĩnh vực như xóa mù chữ, tái định cư, cải cách điền địa, phát triển nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, cải cách hành chính, xây dựng hệ thống luật pháp... Việt Nam Cộng hoà đã đạt được một số thành quả quan trọng: kinh tế phục hồi và phát triển, hệ thống y tế và giáo dục các cấp được xây dựng, văn hoá phát triển, đời sống dân chúng được cải thiện. Trong chiến dịch Cải cách điền địa, Ngô Đình Diệm tránh dùng các biện pháp mà ông coi là cướp đoạt như phong trào Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, ông chỉ thị cho các quan chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn chứ không tịch thu. Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi trong kỳ hạn 6 năm để mua.
Tuy vậy, đường lối Cải cách điền địa mà Ngô Đình Diệm đề ra đã bị nông dân miền Nam phản đối dữ dội. Trong khi Việt Minh đã giảm thuế, xóa nợ và tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân nghèo, thì Ngô Đình Diệm đã đưa giai cấp địa chủ trở lại. Đến cuối thời Ngô Đình Diệm, 2% đại điền chủ sở hữu 45% tổng số ruộng trong khi 73% tiểu nông chỉ nắm giữ 15%, khoảng một nửa số người cày không có ruộng. Hạn mức đất được quy định rất lớn (100 hecta), nên hiếm có địa chủ nào phải bán đất cho nhà nước, số đất thu được cũng chủ yếu là chia cho người Công giáo di cư vào từ miền Bắc. Đất của các Giáo xứ Công giáo thì còn được Ngô Đình Diệm thiên vị, cho miễn thuế và hạn mức. Nông dân phải trả lại đất Việt Minh đã cấp cho họ cho địa chủ rồi phải trả tiền thuê đất và phải nộp thuế đất cho quân đội. Khế ước quy định mức tô tối đa là 25% nhưng trong thực tế thì mức nộp tô phổ biến là 40% hoa lợi. Điều này tạo ra một cơn giận dữ ở nông thôn, quân đội của Ngô Đình Diệm bị mắng chửi là "tàn nhẫn hệt như bọn Pháp". Kết quả là tại nông thôn, 75% người dân ủng hộ quân Giải phóng, 20% trung lập trong khi chỉ có 5% ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm.
Mỹ cho rằng Hiệp định Genève, 1954 là một tai họa đối với "thế giới tự do" vì nó mang lại cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa căn cứ để khai thác tại Đông Nam Á. Mỹ muốn ngăn chặn điều này bằng cách ký kết Hiệp ước SEATO ngày 8/9/1954 và mong muốn biến miền Nam Việt Nam thành một pháo đài chống cộng. Để làm được điều này Mỹ cần sự ủng hộ của Quốc gia Việt Nam. Kế hoạch của Mỹ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập một chính quyền đoàn kết đảng phái đại diện cho những xu hướng chính trị chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Cuối cùng, công thức này đòi hỏi một sự hợp tác từ cả Pháp và Mỹ để hỗ trợ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Pháp không có thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Faure cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị tâm thần... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta", hơn nữa Pháp đang bị chia rẽ chính trị nội bộ và gặp khó khăn tại Algérie nên rất miễn cưỡng trong việc giúp đỡ Quốc gia Việt Nam do đó Mỹ đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản đối Hiệp ước SEATO đặt miền Nam Việt Nam, Campuchia, Lào vào "khu vực bảo hộ" của nó vì như thế là vi phạm Hiệp định Genève. Hiệp định Genève không cấm những người cộng sản và Việt Minh và các đồng minh của họ hoạt động chính trị ở miền Nam Việt Nam cũng như ở Lào và Campuchia; do đó Hiệp ước SEATO là sự can thiệp vào nội bộ các nước Đông Dương, và Mỹ có cớ đưa trang bị vũ khí và huấn luyện quân sự cho quân đội các "lãnh thổ bảo hộ" này.
Đánh giá về chế độ Việt Nam Cộng hòa, giáo sư Mỹ Noam Chomsky đã nói rằng: "Chính phủ Nam Việt Nam đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ. Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp". Ngay cả Lầu Năm Góc cũng nhận xét: "Không có Mỹ giúp đỡ thì Diệm hầu như chắc chắn không thể củng cố quyền lực ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1956... Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ".
Chính phủ Ngô Đình Diệm nhanh chóng thanh lọc bộ máy cầm quyền, đưa những người trung thành với ông vào các vị trí quan trọng. Nhà nước Việt Nam Cộng hòa, lúc đó mang biểu hiện của hình thức tập quyền, chính trị của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào các đặc tính cá nhân của Ngô Đình Diệm và gia đình ông. Quân đội Việt Nam Cộng hòa được cấp tốc trang bị và huấn luyện với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa, vào thời điểm đó xét về trang bị được xem là đứng đầu khu vực Đông Nam Á, vượt trội hơn Quân đội Nhân dân Việt Nam - đang là đối thủ tiềm tàng ở miền Bắc.
Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định "Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp". Việt Nam Cộng hòa "kêu gọi" những người cộng sản đang hoạt động bí mật ly khai tổ chức, ra "hợp tác" với chế độ mới đồng thời cưỡng ép những người bị bắt từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Dù vậy hệ thống tổ chức bí mật của Việt Minh vẫn tiếp tục tồn tại và phản kháng bằng cách tuyên truyền chống chính phủ, tổ chức những cuộc biểu tình chính trị gây sức ép lên chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... một cách quyết liệt không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như hoàn cảnh lịch sử Việt Nam. Những biện pháp cứng rắn nhất được áp dụng, ví dụ ngày 16-8-1954, quân Việt Nam Cộng hoà đã nổ súng trấn áp đoàn biểu tình ở thị xã Gò Công, bắn chết 8 người và 162 người bị thương. Trong thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà có 48.250 người bị tống giam, theo một nguồn khác có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung. Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội, suy giảm niềm tin của dân chúng vào chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến (Việt Minh) vào rừng lập chiến khu.
Về mặt tôn giáo, chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm được lực lượng Công giáo ủng hộ mạnh ở thành thị (gia đình Ngô Đình Diệm cũng đều là người Công giáo) và bị chỉ trích thiên vị Công giáo trên phương diện pháp lý và tinh thần cũng như trong các lãnh vực hành chánh, xã hội và kinh tế. Đảng Lao động Việt Nam nhận định chế độ Ngô Đình Diệm "dựa vào công an và quân đội, dựa vào địa chủ và tư sản mại bản, dựa vào dân công giáo di cư để củng cố quyền thống trị". Tổng thống Ngô Đình Diệm coi những người Công giáo là thành phần đáng tin cậy về mặt chính trị, không có quan hệ hoặc chịu ảnh hưởng của những người cộng sản. Mặc dù vậy, phần lớn người Việt ở miền Nam vẫn giữ truyền thống theo đạo Phật và Tam giáo đồng nguyên. Mâu thuẫn vì tôn giáo sau này cũng trở thành một trong những động lực khởi phát cuộc đảo chính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa chống lại Tổng thống Ngô Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa ngoài binh lính nghĩa vụ theo lệnh tổng động viên còn có một lực lượng sĩ quan chuyên nghiệp, binh lính tình nguyện làm nòng cốt. Trong số lính tình nguyện, Quân đội Việt Nam Cộng hòa chú trọng cất nhắc những sĩ quan thường trực tốt nghiệp Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt nắm giữ những chức vụ then chốt để chỉ huy lính quân dịch, hầu hết số này đều xuất thân từ tầng lớp trung lưu, được xuất ngoại du học, thích lối sống phương Tây. Ngoài ra, trong các đơn vị từ cấp trung đoàn trở lên đều có Tuyên úy. Có tài liệu cho rằng tổ chức này nhằm khai thác triệt để số quân nhân theo các tôn giáo, lợi dụng lòng sùng đạo của họ để tuyên truyền, xây dựng số này trở thành những lực lượng cốt cán chống cộng sản. Một nguyên nhân khác để Việt Nam Cộng hòa thu hút được thanh niên gia nhập quân đội còn là nhờ vào những khoản viện trợ của Mỹ. Chính các khoản viện trợ này đã bảo đảm cho quân nhân trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa có một đời sống vật chất tương đối ổn định, ngoài ra khiến họ tin tưởng vì có được nước Mỹ siêu cường hỗ trợ. Nhưng mặt trái của chính sách này là: khi Mỹ giảm viện trợ, khi các phong trào đấu tranh phản chiến nổi lên, phần lớn binh sĩ mất lòng tin vào chế độ Việt Nam Cộng hòa.
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 do chính Ngô Đình Diệm tham gia soạn thảo đã trao cho ông quyền lực rất lớn, có thể toàn quyền khống chế bộ máy nhà nước. Ngô Đình Diệm có đầy đủ quyền lực để triệt tiêu hoặc làm tê liệt các đạo luật nào mà ông không vừa ý, cũng như dễ dàng ban hành và thi hành các đạo luật nào có lợi cho mình Chính sách này của Ngô Đình Diệm cũng tạo mầm mống cho hậu quả nghiêm trọng trong nền chính trị, nó gây chia rẽ sâu sắc ngay trong nội bộ của Việt Nam Cộng hòa. Sự chia rẽ nội bộ này tích tụ âm ỉ rồi bùng phát thành hàng loạt những cuộc đảo chính nhắm vào Ngô Đình Diệm. Thomas D. Boettcher nhận xét về những hoạt động tiêu diệt các nhóm đối lập của Ngô Đình Diệm:
Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống những người du kích Cộng sản hay cải cách ruộng đất. Diệm lo lắng về những cuộc đảo chính hơn là những người Cộng sản...Như là hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của Diệm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội. Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với Diệm. Không lạ gì, hoạt động của những người Cộng sản gia tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng. Và những biện pháp đàn áp của Diệm cũng gia tăng theo cùng nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt vào tù.
==== Những người cộng sản ở miền Nam ====
===== Giai đoạn 1954 - 1956 =====
Theo Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng chính quy của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17, lực lượng bán vũ trang và chính trị được ở lại. Nhưng theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại. Đồng thời một số cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng, thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của đối phương hoặc nắm lực lượng vũ trang giáo phái để dự phòng cho việc phải chiến đấu vũ trang trở lại. Việt Minh cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần. Bên cạnh đó Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương.
Trong giai đoạn này, Việt Minh chủ trương dùng nhiều hình thức tuyên truyền chống chính quyền Ngô Đình Diệm và lợi dụng các tổ chức hợp pháp (hội đồng hương, công đoàn, vạn cấy...) tập hợp quần chúng đấu tranh chính trị đòi Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ cán bộ - đảng viên. Hoạt động vũ trang bị hạn chế nên thời kỳ này chưa có những xung đột quân sự lớn và công khai giữa hai bên. Các vụ bạo lực chỉ giới hạn ở mức tổ chức các vụ ám sát dưới tên gọi diệt ác trừ gian, hỗ trợ các giáo phái chống chính quyền Ngô Đình Diệm hoặc thành lập các đại đội dưới danh nghĩa giáo phái, hoặc dưới hình thức các tổ chức quần chúng (dân canh, chống cướp...) để đấu tranh chính trị.
Chính quyền Ngô Đình Diệm đối phó với những cuộc đấu tranh chính trị bằng cách thực hiện chiến dịch "tố cộng, diệt cộng" nhằm loại bỏ những cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật. Từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956, Ngô Đình Diệm phát động "chiến dịch tố cộng" giai đoạn 1 trên quy mô toàn miền Nam; tháng 6-1955, mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Việt Minh đáp trả bằng những cuộc biểu tình đòi thả cán bộ của họ hoặc tổ chức các cuộc diệt ác trừ gian - tiêu diệt nhân viên và cộng tác viên của chính quyền Ngô Đình Diệm được gọi là "bọn ác ôn và bọn do thám chỉ điểm".
===== Giai đoạn 1956 - 1959 =====
Tháng 6/1956, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam họp và ra Nghị quyết "Về tình hình, nhiệm vụ và công tác miền Nam" khẳng định "nhiệm vụ cách mạng của ta ở miền Nam là phản đế và phản phong kiến" và "Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang. Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của các giáo phái chống Diệm" đồng thời "Cần củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa. Đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang. Tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết".
Tháng 8/1956, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn soạn "Đề cương cách mạng miền Nam" nhưng đến Hội nghị TW 15 năm 1959 mới được thông qua. Đề cương xác định rõ: "Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ để cùng với miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân."
Tháng 12/1956, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị ở Phnompenh (Campuchia) nghiên cứu nghị quyết Bộ Chính trị và "Đề cương cách mạng miền Nam". Hội nghị ra quyết định "Con đường tiến lên của Cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực, tổng khởi nghĩa giành chính quyền... Hiện nay, trong chừng mực nào đó phải có lực lượng vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng nó đánh đổ Mỹ Diệm... cần tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập đội vũ trang bí mật, tranh thủ vận động cải tạo lực lượng giáo phái bị Mỹ Diệm đánh tan đứng vào hàng ngũ nhân dân, lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn."
Để thực hiện đường lối mà Bộ Chính trị và Xứ ủy Nam Bộ đã xác định, lực lượng cộng sản toàn miền Nam đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, tổ chức biểu tình, chống cải cách điền địa, ám sát và đấu tranh vũ trang (ở mức độ nhỏ) chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tổ chức các cuộc biểu tình chống việc thi hành nghĩa vụ quân sự cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tổ chức nông dân chống địa chủ thu tiền thuê đất; ám sát, tiêu diệt lực lượng bảo an, chỉ điểm, "tay sai ác ôn", các đội biệt kích; tổ chức nhân dân vây đồn, vây quận lị; tiêu diệt các khu dinh điền, khu trù mật...
Cứ như vậy, sự đối đầu giữa hai bên ngày càng mạnh, hoạt động bạo lực ngày càng gia tăng, chính trị miền Nam - đặc biệt ở nông thôn - ngày càng bất ổn. Để đối phó với sự gia tăng hoạt động của những người cộng sản, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đẩy mạnh hoạt động chống Cộng. Những biện pháp càn quét của Việt Nam Cộng hoà thu được kết quả khiến những người cộng sản bị thiệt hại nặng.
Trước tình hình đó, cuối năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo cho các Liên tỉnh ủy không được hoạt động vũ trang, cho phần lớn cán bộ đảng viên tạm ngừng hoạt động hoặc đổi địa bàn hoạt động để giữ gìn lực lượng, một bộ phận ra hoạt động hợp pháp lâu dài. Lực lượng vũ trang vẫn được duy trì nhưng không còn hoạt động mà rút vào căn cứ Đồng Tháp hoặc biên giới Campuchia sinh sống. Những người đổi địa bàn hoạt động bị bắt hơn phân nửa, một số khác mất tinh thần, bỏ công tác, lo làm ăn. Số còn hoạt động nhiều người bị mất tinh thần, giảm liên hệ với quần chúng, giảm hoạt động tuyên truyền. Nhìn chung đến cuối năm 1958, sau 2 năm thực hiện chủ trương dùng đấu tranh chính trị, dùng bạo lực, tổng khởi nghĩa giành chính quyền, lực lượng cộng sản miền Nam thiệt hại nặng, phong trào đấu tranh của họ tại miền Nam đi xuống.
Ngày 6/5/1959, Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10-59 quy định việc tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt với lý do "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa". Theo luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai, xét xử kéo dài 3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ tử hình có cả máy chém. Sau khi luật này được ban hành, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, nên lực lượng cộng sản bị thiệt hại nặng nề.
Ngày 13/1/1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15 ra Nghị quyết 15 "Về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà" chính thức phát động đấu tranh vũ trang kèm đấu tranh chính trị. Nghị quyết 15 xác định "Vì chế độ miền Nam là một chế độ thực dân và nửa phong kiến cực kỳ phản động và tàn bạo, vì chính quyền miền Nam là chính quyền đế quốc và phong kiến độc tài, hiếu chiến, cho nên ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ... Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. Đó là mục tiêu phấn đấu của nhân dân miền Nam hiện nay."
Tháng 2/1959, sau khi nhận được thông báo nội dung cơ bản Nghị quyết 15, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo các tỉnh tăng cường hoạt động vũ trang hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở nông thôn. Trên toàn miền Nam, lực lượng cộng sản miền Nam thực hiện một số cuộc tấn công vũ trang quy mô trung đội hoặc đại đội (được phiên hiệu thành tiểu đoàn) vào các đơn vị lực lượng quân sự của Việt Nam Cộng hoà.
Nhìn chung trong năm 1959, lực lượng cộng sản miền Nam vẫn cố gắng tái hoạt động vũ trang dù đang gặp nhiều khó khăn. Hàng chục đơn vị vũ trang đầu tiên ở miền Nam của người cộng sản trong những năm 1956-1959 có quân số thất thường, nơi nào cũng có hiện tượng "đào súng lên" rồi lại phải cất giấu súng. Không phải lúc ấy người cộng sản thiếu lực lượng hay bộ đội địa phương không có khả năng chiến đấu, hoặc lo rằng các sư đoàn chủ lực của địch sẽ tiêu diệt các đơn vị vũ trang nhỏ bé của họ, mà vấn đề là phải chờ chủ trương của cấp trên. Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh chính trị và hệ thống tổ chức Đảng dần phục hồi, nhiều cơ sở quần chúng được xây dựng. Tuy nhiên đến lúc này, những người cộng sản miền Nam đã rất suy yếu so với năm 1955 nên rất cần sự hỗ trợ lớn từ miền Bắc. Các đoàn cán bộ từ miền Bắc (trong đó có nhiều cán bộ người miền Nam từng tập kết ra Bắc năm 1955) bắt đầu được cử vào để chi viện, tăng cường cho miền Nam.
== Giai đoạn 1960–1965 ==
Giai đoạn 1960–1965 là giai đoạn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công khai hậu thuẫn những người Cộng sản miền Nam và bắt đầu đem quân thâm nhập miền Nam. Những người Cộng sản miền Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam. Trong khi đó, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hòa tiến hành chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Tuy nhiên, quân Giải phóng vẫn thắng thế trên chiến trường, đánh những chiến dịch lớn sát các đô thị. Tổng thống Ngô Đình Diệm không kiểm soát nổi khủng hoảng chính trị và bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng đảo chính. Việt Nam Cộng hòa sau đó tiếp tục khủng hoảng cho đến khi Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống.
=== Bối cảnh miền Bắc ===
Thập niên 1960 là thời kỳ nở rộ của khối Xã hội Chủ nghĩa và đã xuất hiện mầm mống chia rẽ giữa hai cường quốc hàng đầu trong khối là Liên Xô và Trung Quốc về các vấn đề tư tưởng, đường lối cách mạng. Nhất là từ khi Liên Xô rút hết các cố vấn khỏi Trung Quốc sau năm 1960.
Tại Liên Xô và Đông Âu hình thức kinh tế tập trung và kế hoạch hóa đang phát huy các mặt tích cực của nó. Liên Xô tập trung mọi nguồn lực, bất chấp hậu quả sau này, cố đạt cho bằng được những chỉ tiêu kinh tế, chính trị được cho là ưu thế của hệ thống xã hội chủ nghĩa để tranh đua với Hoa Kỳ vai trò lãnh đạo thế giới. Việc phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người (Sputnik 1) và đưa người đầu tiên vào vũ trụ (Yuri Gagarin) là biểu tượng của một siêu cường đang thắng thế. Liên Xô và Hoa Kỳ - hai kẻ thù tư tưởng - sẵn sàng đối chọi nhau ở mọi vấn đề quốc tế. Việt Nam là một trong những nơi mà hai bên muốn thể hiện điều đó.
Liên Xô tuy đã có vũ khí nguyên tử từ năm 1949 nhưng ưu thế quân sự của Hoa Kỳ vẫn áp đảo. Do đó Liên Xô vẫn e ngại sự quá căng thẳng với Hoa Kỳ và chỉ viện trợ cho miền Bắc ở mức đủ để xây dựng một "chủ nghĩa xã hội" cho đến thời điểm này.
Trong thập niên 1960 quan điểm của Liên Xô về chiến tranh Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Từ quan điểm cùng chung sống hòa bình của Nikita Khrushchev trong chính trị quốc tế, nghĩa là phía Liên Xô muốn có sự chung sống giữa hai nhà nước Việt Nam và thống nhất thông qua trưng cầu dân ý với sự giúp đỡ quân sự hạn chế đến ủng hộ đấu tranh vũ trang làm cách mạng bằng bạo lực của Leonid Brezhnev với viện trợ quân sự to lớn cho miền Bắc Việt Nam. Khi Khrushchev bị hạ bệ, Leonid Brezhnev lên thay, ban đầu chính sách của Liên Xô vẫn giữ nguyên nhưng đến đầu năm 1965, tân thủ tướng Liên Xô, Kosygin, thăm Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng nhằm hai mục đích hàn gắn quan hệ Xô – Trung và ngăn chặn hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.
Trong chuyến thăm Hà Nội, tháp tùng Kosygin có các chuyên viên tên lửa. Và ngày 10 tháng 2 năm 1965, Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp ước hỗ trợ kinh tế và quân sự Việt - Xô. Từ đây sự giúp đỡ quân sự của Liên Xô cho miền Bắc ngày càng tăng và đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.
Đến thời điểm này cách tiếp cận của họ đã khác: viện trợ cho miền Bắc Việt Nam nhiều hơn. Đây cũng là thời kỳ Quân đội Nhân dân Việt Nam được hiện đại hóa mạnh mẽ, trang bị lại với vũ khí mới kể cả các vũ khí hạng nặng, các binh chủng kỹ thuật ra đời để đáp ứng chiến tranh hiện đại: không quân, radar, tên lửa phòng không... Quân đội Nhân dân Việt Nam liên tiếp tiến hành các cuộc tập trận lớn với giả định đánh quân đổ bộ đường không và chống xe tăng Mỹ.
Thập niên này đang có tranh cãi trong phe xã hội chủ nghĩa giữa những người thuộc "phe xét lại" (Nikita Sergeyevich Khrushchyov và Liên Xô) và những người tự nhận là "Marxist-Leninist chân chính" (Mao Trạch Đông và Trung Quốc) và các biện pháp cách mạng ở thế giới thứ ba bằng hòa bình hay bằng bạo lực cách mạng, gọi là Trung-Xô chia rẽ. Trung Quốc, lúc đó đang cạnh tranh vai trò lãnh đạo phe Xã hội chủ nghĩa với Liên Xô, cũng không muốn vai trò của mình kém hơn đối thủ cùng tư tưởng. Họ viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong giai đoạn này, còn nhiều hơn Liên Xô. Họ khuyến khích Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến đấu giải phóng miền Nam mà không sợ quân đội Mỹ tham chiến.
Mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Quốc đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tính từ 1956 đến 1963, Trung Quốc đã chuyển cho miền Bắc số lượng vũ khí trị giá khoảng 320 triệu nhân dân tệ. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc thăm Hà Nội và ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác quân sự Việt-Trung.
Về phía mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương giữ quan hệ tốt với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô để tranh thủ càng nhiều viện trợ vũ khí càng tốt. Tuy nhiên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận mọi sự can thiệp vào đường lối chiến lược của họ. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho rằng vì cả hai bên Liên Xô và Trung Quốc chống nhau nên không bên nào có thể ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo đường lối của họ vì làm như vậy sẽ tạo cơ hội cho đối phương. Trên thực tế, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự điều khiển cuộc chiến, tự quyết định đường lối của mình, khi nào đánh, khi nào đàm phán. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận vũ khí do các đồng minh viện trợ, nhưng sẽ tự chiến đấu bằng đường lối và nhân lực của đất nước mình.
Đầu năm 1961, Tổng thống Mỹ John F Kennedy ký lệnh triển khai “chiến dịch chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam”, với mục đích phá hoại miền Bắc Việt Nam. Chiến dịch này nằm dưới sự chỉ đạo của CIA, sau được Lầu Năm Góc tiếp quản năm 1964, đã đề ra các biện pháp chủ yếu là sử dụng lực lượng đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa (gián điệp biệt kích) còn gọi là “Liên đội quan sát số 1”, gồm phần đông là lính Việt Nam Cộng hòa có gốc là dân miền Bắc di cư. CIA và lực lượng đặc biệt Mỹ trực tiếp chỉ đạo, huấn luyện, trang bị để các nhóm biệt kích này đột nhập vào phá hoại miền Bắc, hình thức chủ yếu là sử dụng các tiểu đội biệt kích dù.
Đến năm 1968 thì các chiến dịch này dừng lại do đã thất bại nặng nề: gần 500 lính biệt kích bị tử trận, bị bắt hoặc trở thành điệp viên hai mang, trong khi gần như không gây thiệt hại được gì cho đối phương. Riêng ngành công an Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với 19 chuyên án đã câu nhử, bắt sống hoặc tiêu diệt được 121 lính biệt kích. Các đội biệt kích phần lớn bị bắt ngay sau khi nhảy dù, một số thoát được nhưng không bao lâu cũng bị bắt do bị dân địa phương chỉ điểm cho công an truy bắt. Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara và cựu Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam, tướng William C. Westmoreland, đã bị chỉ trích nặng nề vì chiến dịch trên. Chương trình này được giữ kín suốt nhiều năm, về sau được tiết lộ trong cuốn sách của Sedgwick Tourison nhan đề "Secret Army, Secret War: Washington's Tragic Spy Operation in North Vietnam" (Naval Institute Special Warfare) viết tháng 9 năm 1995.
=== Chiến trường miền Nam ===
Từ năm 1960, với chủ trương "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội" của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, quân Giải phóng ở chiến trường miền Nam phát động liên tiếp các đợt tiến công quy mô kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang mà cao trào là phong trào Đồng khởi. Phong trào này gây cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm lúng túng trong việc lập lại trật tự, dẫn đến một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát (cuối năm 1960). Tới cuối năm 1960, quân Giải phóng Miền nam đã kiểm soát 600/1298 xã ở Nam Bộ, 904/3829 thôn ở đồng bằng ven biển Trung bộ và 320/5721 thôn ở Tây Nguyên. Trong 2.627 xã toàn miền Nam, quân Giải phóng đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã.
Nhân đà thắng lợi, ngày 20 tháng 12 năm 1960 những người cộng sản và các xu hướng chính trị khác tại miền Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam gồm nhiều đại diện các thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội, dân tộc khác nhau do những người cộng sản lãnh đạo. Quân Giải phóng Miền Nam cũng được thành lập ngay sau đó, ngày 15 tháng 2 năm 1961, theo nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân ủy Trung ương.
Đứng trước tình hình trên, tướng Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam để hỗ trợ gấp cho Việt Nam Cộng hòa. Kế hoạch Staley-Taylor (hay chiến tranh đặc biệt) với việc sử dụng chủ yếu quân lực Việt Nam Cộng hòa đã được trang bị bằng vũ khí tối tân do Mỹ cung cấp và thực hiện các kế hoạch quân sự do cố vấn Mỹ hoạch định. Nhà nước Hoa Kỳ cũng tăng thêm nguồn viện trợ kinh tế cho chính phủ Ngô Đình Diệm nhằm tăng quân số và tiêu dùng cho các chi phí quân sự. Với khả năng cơ động cao, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giành được những thắng lợi nhất định. Đồng thời, chính phủ Việt Nam Cộng hòa thắt chặt chính sách Ấp chiến lược nhằm cách ly quân Giải phóng với dân chúng.
Hoa Kỳ quyết tâm không bỏ cuộc tại Nam Việt Nam. Năm 1964, Mỹ bắt đầu chuyển hướng sự chú ý từ miền Nam hướng ra miền Bắc và tuyên bố sẽ không chấp nhận việc tăng chuyển quân và vũ khí từ miền Bắc vào Nam. Hoa Kỳ tăng cường can thiệp vào chiến tranh Việt Nam và tháng 2 năm 1965, không quân Mỹ oanh kích miền Bắc. Để đối phó với sự gia tăng chiến tranh của Mặt trận Giải phóng miền Nam, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hòa tiến hành chiến tranh đặc biệt và tăng cường viện trợ kinh tế cũng như quân sự.
Về phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong thời điểm này không còn đủ mạnh để tận dụng sự khó khăn của Việt Nam Cộng hòa để mở các chiến dịch lớn, tiến tới kết thúc chiến tranh. Việc Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam suy yếu được nhận định là do sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như không nhận được sự trợ giúp về quân sự của miền Bắc mà mới chủ yếu là hỗ trợ bằng chính trị do cả Mặt trận và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn hy vọng vào giải pháp Tổng tuyển cử. Vì vậy, lính tình nguyện ở miền Bắc đã hành quân vào Nam theo đường mòn Trường Sơn để tăng cường cho Quân Giải phóng. Thí dụ họ đã thành lập trung đoàn 22 gồm phần lớn các chiến sĩ tập kết ra bắc, đưa nhiều cán bộ và lính tập kết lẫn lính mới vào miền nam. Tuy nhiên, trong thời kỳ 1960-1965 các đơn vị tình nguyện từ miền Bắc vào chủ yếu đứng chân vòng ngoài tại tuyến đường Trường Sơn, Tây Nguyên để xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ chiến sự sau này.
Sau gần hai năm đối phó với chiến tranh đặc biệt, Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Điều này đã tạo ra thắng lợi cho họ trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang). Ngoài ra những người cộng sản cũng tiếp tục đánh phá cơ cấu hành chính của Việt Nam Cộng hòa. Tính đến năm 1963 lực lượng du kích đã ám sát 6.700 người và thực hiện 18.200 vụ bắt cóc. Quân đội Việt Nam Cộng hòa trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn. Trong các năm 1963 và 1964 Quân Giải phóng miền Nam thắng thế tiến công trên toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Rất nhiều chiến thắng tại các địa bàn khác: Ba Gia, An Lão, Võ Su...
=== Khủng hoảng chính trị tại miền Nam ===
Ngày 8 tháng 5 năm 1963 xảy ra sự kiện Phật đản tại Huế làm chấn động trên toàn thế giới, cũng như đã tạo ra phong trào phản đối "sự kỳ thị tôn giáo" của chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Cuộc khủng hoảng này đã làm chính phủ Ngô Đình Diệm mất hết uy tín trong và ngoài nước. Chính phủ Ngô Đình Diệm đã có những cố gắng xoa dịu sự bất mãn, giải quyết những nguyện vọng của Phật giáo nhưng vẫn không thể ổn định nổi tình hình trước quyết tâm đấu tranh cao độ của các lãnh đạo Phật giáo. Phật giáo không hề tin tưởng vào thiện chí của chính quyền. Mỗi hành động của chính quyền đều bị lãnh đạo Phật giáo xem là một âm mưu chống lại tôn giáo của họ. Chính vì thế hai bên không tìm được tiếng nói chung để giải quyết cuộc khủng hoảng.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự chỉ huy của tướng Dương Văn Minh đã đảo chính lật đổ, giết chết hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và xử bắn ông Ngô Đình Cẩn. Theo nhiều tài liệu và loạt bài "Hồ sơ mới giải mật: CIA và nhà họ Ngô" đăng trên Báo An ninh Thế giới, do Trương Hùng lược dịch từ tài liệu "CIA and the House of Ngo" của Thomas L. Ahern Jr, một cựu điệp viên CIA từng nhiều năm hoạt động tại chiến trường miền Nam Việt Nam, thì Hoa Kỳ đã đứng sau, can thiệp sau hậu trường vào cuộc đảo chính này và gọi điều này là việc "thay ngựa giữa dòng".
Theo Thomas Ahern Jr., bắt đầu từ tháng 10 năm 1960 CIA bắt đầu nhận thấy mầm mống nổi loạn chống Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn ngày càng tăng, CIA tập hợp thông tin về thành phần bất mãn trong quân đội đồng thời cố gắng khai thác tướng Trần Văn Minh và các nguồn khác nhằm tìm kiếm thành phần tham gia đảo chính. Nhân viên CIA Miller được lệnh của Trạm CIA tránh can dự "cố vấn" cho phe đảo chính mà chỉ việc lặng lẽ theo dõi diễn biến rồi báo cáo về Trạm.
Bùi Diễm (sau năm 1963 là Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ) đã viết trong hồi ký của mình rằng: Tướng Lê Văn Kim đã yêu cầu hỗ trợ nhằm thực hiện điều mà chính phủ Hoa Kỳ cũng muốn làm với chính quyền của Ngô Đình Diệm (tức gạt bỏ chính quyền của Ngô Đình Diệm). Diễm đã liên lạc với cả đại sứ và các nhà báo thạo tin của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, như David Halberstam (New York Times), Neil Sheehan (United Press International) và Malcolm Browne (Associated Press). Lucien Conein đặc vụ của CIA đã trở thành đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính, do Trần Văn Đôn đứng đầu. Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công. Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn Michael Maclear, các tướng lĩnh của Ngô Đình Diệm cho biết họ sẽ tiến hành đảo chính nếu chính phủ Mỹ ủng hộ, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông báo về ý định đảo chính ông ta nói: "Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.". Sau đó Conein bí mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất cứ hành động ám sát nào. Tướng Đôn trả lời "Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa."
Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính được lên kế hoạch bởi các tướng lĩnh sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, do tướng Dương Văn Minh cầm đầu đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ xin ý kiến. Biên bản cuộc họp ngày 29/10/1963 giữa Tổng thống Mỹ và các cố vấn cho thấy Tổng thống Mỹ sau khi họp với 15 cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến. Sau đó, Lucien Conein, một đặc vụ CIA, đã cung cấp 40.000 USD cho nhóm sĩ quan Việt Nam Cộng hòa để tiến hành cuộc đảo chính với lời hứa hẹn rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ không bảo vệ tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm đầu hàng lực lượng đảo chính và bị họ giết chết. Khi biết Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính và giết chết, Tổng thống Mỹ Kenedy bị choáng váng và ưu tư thoáng buồn. Ngay sau đó chính quyền Việt Nam Cộng hòa rơi vào khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng với 14 cuộc đảo chính liên tiếp trong một năm rưỡi, và chỉ ổn định lại khi Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, đứng đầu bởi hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, lên chấp chính (tháng 6 năm 1965). Tháng 6 năm 1965, trước các thất bại liên tiếp trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn của Việt Nam Cộng hòa, chính phủ Hoa Kỳ quyết định hủy bỏ kế hoạch Staley-Taylor và đưa quân đội Hoa Kỳ sang trực tiếp tham chiến để giữ miền Nam khỏi rơi vào tay lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
Trong giai đoạn khủng hoảng đó, nhiều lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa vẫn nói rằng họ có tham vọng Bắc tiến để thống nhất Việt Nam. Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch Bắc tiến, tiêu diệt nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thống nhất Việt Nam. Ngày 14 tháng 7 năm 1964, người đứng đầu chính phủ là tướng Nguyễn Khánh công khai tuyên bố sẵn sàng Bắc tiến. Hai ngày sau, tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng khẳng định Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sẵn sàng. Nhưng kế hoạch này đã bị Washington từ chối ủng hộ nên nó không bao giờ trở thành sự thật, một phần bởi Hoa Kỳ lo ngại sẽ lôi kéo Trung Quốc vào vòng chiến, châm ngòi cho một cuộc chiến tranh quy mô trên toàn châu Á.
== Giai đoạn 1965-1968 ==
Đây là giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam, được gọi với cái tên Chiến tranh cục bộ. Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức tạp rất dễ bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson phải giải quyết. Một mặt quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang nhằm quét sạch lực lượng Quân Giải phóng; mặt khác, họ phải kiềm chế chiến tranh trong phạm vi Việt Nam, không để nó lan ra ngoài vòng kiểm soát, đụng chạm đến khối Xã hội Chủ nghĩa để có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh như Chiến tranh Triều Tiên. Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc kiềm chế, nhưng họ đã thất bại trong mục tiêu đánh bại lực lượng Quân Giải phóng. Các đồng minh lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Liên Xô, Trung Quốc cũng quyết tâm viện trợ giúp nước này chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ hội rất tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam để các cường quốc này vươn lên giành vị thế đứng đầu thế giới.
Việt Nam Cộng hòa hoan nghênh việc quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam vì điều này đã phần nào đẩy lui quân Giải phóng và mở ra một hy vọng chiến thắng. Nhưng đồng thời, từ đó chính phủ Việt Nam Cộng hòa luôn phải tham khảo ý kiến của Hoa Kỳ trước khi ra quyết định. Craig A. Lockard nhận xét rằng "trong sự khinh thường của những người Mỹ mà họ phục vụ, Việt Nam Cộng hòa chỉ là công cụ thực hiện việc phê chuẩn, nếu không phải là thường bị loại ra khỏi sự chỉ đạo của Mỹ. Việt Nam Cộng hòa hiếm khi đưa ra chính sách lớn, họ thậm chí còn không được tham khảo ý kiến về quyết định của Mỹ năm 1965 đưa một lực lượng lớn quân vào tham chiến trên bộ."
Theo tuyên bố của chính phủ Mỹ, Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công quân sự là trái với Hiệp định Genève, và chính phủ Mỹ tuyên bố lý do việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam là để bảo vệ Việt Nam Cộng hòa theo những điều khoản của Hiệp ước SEATO do Việt Nam Cộng hòa được đặt dưới sự bảo hộ quân sự của SEATO. Tổng thống Mỹ có quyền đưa quân trợ giúp Việt Nam Cộng hòa theo quy định của Hiến pháp Mỹ và theo Hiệp ước SEATO đã được Thượng viện Mỹ chấp thuận. Hơn nữa Quốc hội Mỹ đã ban hành nghị quyết ngày 10/8/1964 cho phép quân đội Mỹ được hoạt động tại Việt Nam và ủng hộ những hành động của Tổng thống Mỹ đối với Việt Nam. Chính vì thế Tổng thống Mỹ có quyền điều quân đến Việt Nam mà không cần tuyên bố chiến tranh của Quốc hội Mỹ. (sau này, để tránh việc tổng thống Mỹ lạm dụng đưa quân ra nước ngoài theo ý bản thân, luật này được sửa lại và việc đưa quân nhất thiết phải được Quốc hội Mỹ thông qua)
Trong Kế hoạch hành động đối với Việt Nam viết vào ngày 24 tháng 5 năm 1965, trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Mỹ John McNaughton đã lên danh sách những mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến:
70% - Để tránh một sự thất bại đáng xấu hổ của Mỹ (đối với uy tín của chúng ta là kẻ bảo vệ)
20% - Để bảo vệ [miền Nam Việt Nam] (và vùng lân cận) khỏi tay Trung Quốc
10% - Để cho người dân Nam Việt Nam có cuộc sống tốt đẹp hơn
CŨNG LÀ ĐỂ - Thoát khỏi cuộc khủng hoảng (đối với chính quyền Mỹ) mà không có vết nhơ không thể chấp nhận được do những phương thức đã sử dụng
KHÔNG PHẢI ĐỂ - 'giúp một người bạn', mặc dù sẽ rất khó khăn để ở lại nếu bị buộc phải rời đi.
=== Hoa Kỳ ném bom miền Bắc Việt Nam ===
Chính vì những tế nhị chính trị như vậy nên sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã diễn ra theo cách leo thang dần. Đầu tiên họ cho rằng không cần tham chiến vẫn có thể giải quyết chiến tranh nếu ngăn chặn được nguồn tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hoa Kỳ đe dọa nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấm dứt tiếp tế cho Quân Giải phóng miền Nam thì sẽ phải đối mặt với việc bị ném bom. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bất chấp sức ép của Hoa Kỳ và tiếp tục tiếp tế vào miền Nam. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 tạo ra lý do khiến Quốc hội Hoa Kỳ ủy nhiệm cho chính phủ Hoa Kỳ tiến hành mọi hoạt động chiến tranh nếu thấy cần thiết mà không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội. Trong một cuốn băng thu âm được giải mật năm 2001, tổng thống Lyndon B. Johnson thừa nhận rằng vụ tấn công của tàu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tàu Hoa Kỳ trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 chưa hề xảy ra. Thực chất, sự kiện Vịnh Bắc Bộ được Hoa Kỳ dựng lên để có một cái cớ ném bom miền Bắc Việt Nam.
Ngay sau đó, Hoa Kỳ bắt đầu các cuộc ném bom miền Bắc. Để duy trì việc ném bom, Hoa Kỳ phải đưa máy bay và lính không quân vào các sân bay tại miền Nam, lập các căn cứ tại đó. Điều này dẫn đến việc Quân Giải phóng tiến công các sân bay. Để bảo vệ các căn cứ trong sân bay, Hoa Kỳ cần gửi thêm thủy quân lục chiến. Sau đó lại xuất hiện vấn đề phải phòng thủ từ xa và, cuối cùng, là phải tìm-diệt đối phương sâu trong các căn cứ của họ. Thế là quân Mỹ đã dần dần trực tiếp đánh thay cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, và quân đội này dần dần chỉ còn là lực lượng thứ yếu, chủ yếu để giữ an ninh tại các vùng họ kiểm soát.
=== Chiến tranh không quân tại miền Bắc Việt Nam ===
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Hòn Gai).
Tại Bãi Cháy, bộ đội cao xạ phòng không đã chủ động đánh trước khi máy bay Mỹ oanh kích. Hai máy bay Mỹ loại A-4 Skyhawk bị bắn rơi. Phi công Mỹ Everett Alvarez nhảy dù xuống biển đã bị dân chài bắt sống, trở thành người tù binh Mỹ đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến Hải - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận với Trung Quốc đưa một bộ phận quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam đóng ở một số vị trí quan trọng như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường Quốc lộ 1, nhưng không được vượt quá phía nam Hà Nội. Sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc, bắt đầu từ tháng 6 năm 1965. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người. Tại thời điểm đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lửa đất đối không, pháo phòng không, các đơn vị công binh làm đường, dò mìn, và vận tải. Lực lượng này không được phép tham chiến mà chỉ để giúp Việt Nam sửa chữa cầu, đường bị bom Mỹ phá. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải thích quân Trung Quốc sang Việt Nam do lo ngại việc Mỹ có thể đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Ông Barry Zorthian, phát ngôn viên sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, cho biết Mỹ không mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam vì sợ Trung Quốc sẽ tham chiến. Sách "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc" thì khẳng định mục tiêu của Trung Quốc "thâm hiểm" hơn: đó là tạo tiếng tốt "viện trợ Việt Nam", tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô; cũng là để gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng viện trợ khối xã hội chủ nghĩa quá cảnh Trung Quốc nhằm hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, qua đó khiến Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc. Trung Quốc ngoài mặt muốn giúp Việt Nam tu sửa thiệt hại do không quân Mỹ, nhưng năm 1968 họ lại khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu (năm 1965) còn có sự tham chiến của các binh lính, sĩ quan tên lửa Liên Xô trực tiếp tác chiến đồng thời huấn luyện binh sĩ Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa phòng không và đội đặc nhiệm GRU thuộc Tổng cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Việt Nam và tham gia thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương.
Cuộc sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và bệnh tật.
Về xã hội, chính quyền địa phương cố gắng tạo điều kiện cho thanh niên lập gia đình trước khi nhập ngũ. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng Lao động Việt Nam. Các tổ chức quần chúng trên có vai trò nhất định trong việc giữ vững tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên nhập ngũ. Nhân dân miền Bắc được phổ biến đời sống kinh tế tại miền Nam rất bấp bênh, nhân dân miền Nam (nhất là ở vùng nông thôn) bị khốn khổ bởi những cuộc bắn phá, càn quét, rải chất độc hóa học phá hoại mùa màng và chính sách Ấp Chiến lược - "thực tế là trại tập trung" của Mỹ Ngụy.
Xã hội xuất hiện nhiều tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Các nguồn lực được huy động tối đa và có hiệu quả để phục vụ mục tiêu giải phóng miền Nam. Các nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cùng xây dựng một cố gắng tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống nhất và quy củ". Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc rất cao, họ vẫn có thể chấp nhận hy sinh cao hơn nữa để giành được thắng lợi cuối cùng.
Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Hoa Kỳ nên dồn sức bảo vệ các mục tiêu thật quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại được phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. Đến năm 1965, lực lượng phòng không tại miền Bắc có một số trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp, gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ (có loại điều khiển bằng radar), hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân, hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu khá sáng tạo, vô hiệu hóa được các ưu thế công nghệ của đối phương, chống trả quyết liệt và gây thiệt hại đáng kể cho Không quân và Hải quân Hoa Kỳ.
=== Các chiến dịch Tìm-diệt tại miền Nam Việt Nam ===
Ngay sau khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. Cố vấn Edward Lansdale đề xuất ý kiến, cho rằng nếu như có thể chiếm được lòng dân miền Nam thì du kích sẽ không có chỗ để trốn, nhưng kế hoạch đã thất bại và dẫn đến việc dùng chất độc da cam và chính sách tìm-diệt.
Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận đánh rất ác liệt tại vùng thung lũng sông Ia Drang, gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kon Tum. Hai trung đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany, diễn ra trong bốn ngày đêm. Hai bên đều bị thương vong lớn, và tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng gờm.
Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ. Phía Mỹ có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B-52, bom napal và trực thăng vũ trang. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương, và vũ khí của họ cũng không phát huy hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.
Quân Mỹ và đồng minh mở các "chiến dịch tìm-diệt" để truy lùng và tiêu diệt các đơn vị quân Giải phóng, nhưng chẳng thấy đối phương đâu trong khi bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị tấn công. Các chiến dịch tìm diệt thường gây thương vong cho dân thường vì nhầm lẫn người dân là quân Giải phóng, thậm chí gây ra các vụ thảm sát thường dân tại các khu vực quân Giải phóng thường hoạt động hoặc do người dân ở khu vực đó che giấu và cung cấp nhân lực, vật lực, tài chính cho quân Giải phóng.
Lực lượng du kích quân Giải phóng cũng mở rộng tầm tấn công, không những với mục tiêu quân sự mà còn tấn công vào cơ cấu tổ chức hành chính địa phương của Việt Nam Cộng hòa bằng việc thuyết phục, đe dọa, đôi khi là ám sát những viên chức hành chính, sĩ quan quân đội và chỉ điểm viên chuyên lùng bắt du kích. Chủ trương này ngoài hiệu quả triệt hạ nguồn nhân sự điều hành chính quyền địa phương mà còn tác động đến tâm lý đại chúng ở Miền Nam. Ngoài ra họ còn sử dụng lực lượng biệt động hoạt động tại các thành phố lớn chuyên ném lựu đạn vào quân Mỹ tại nơi công cộng, ám sát các chính trị gia của Việt Nam Cộng hòa và tấn công gây thương vong các sĩ quan, quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để tạo tiếng vang. Để chống lại, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đưa vào hoạt động Chiến dịch Phụng Hoàng nhằm phá hoại tổ chức và du kích địa phương của quân Giải phóng. Chiến dịch này đạt cao điểm sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 khi nhiều tổ cán bộ Mặt trận Giải phóng đã lộ diện và bị chỉ điểm.
Trong hai năm 1966 và 1967 chiến sự giữa hai bên diễn ra chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ, nơi có các căn cứ và kho tàng lớn của quân Giải phóng. Bộ chỉ huy chiến trường của Mỹ đã tung ra ba chiến dịch lớn để đánh vào các căn cứ này, đó là các chiến dịch:
Chiến dịch Cedar Falls – đánh vào khu Tam giác sắt Củ Chi, nơi có hệ thống địa đạo mà Quân Giải phóng dùng làm bàn đạp thâm nhập Sài Gòn;
Chiến dịch Attleboro – đánh vào chiến khu Dương Minh Châu
Chiến dịch Junction City – đánh vào chiến khu C nơi đặt Bộ chỉ huy của Quân Giải phóng miền Nam.
Đặc biệt là chiến dịch Junction City, khi Mỹ huy động tới 45.000 quân và hàng trăm trực thăng với ý định bao vây để diệt gọn cơ cấu lãnh đạo chiến tranh của Mặt trận Giải phóng miền Nam, phá hủy khu căn cứ đầu não của Trung ương cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Các cuộc tiến công tuy đã huy động rất lớn các lực lượng của Mỹ nhưng không đem lại kết quả: các cơ cấu lãnh đạo, kho tàng, căn cứ của Quân Giải phóng vẫn an toàn. Trong khi đó, quân Mỹ bị tiến công liên tục trong thế trận đối phương đã bày sẵn ở địa bàn quen thuộc, lực lượng Mỹ bị tiêu hao liên tục mà không thu được kết quả gì nên phải bỏ dở các cuộc hành quân.
Bất chấp các chiến dịch Tìm - Diệt của quân Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tiếp tục mở rộng vùng kiểm soát tại nông thôn. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam . Đầu năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã quản lý 4 triệu dân sống trong vùng giải phóng, 6 triệu rưỡi dân nữa sống trong vùng có cơ sở hoạt động bí mật của Mặt trận, Mỹ và chính phủ Sài Gòn chỉ kiểm soát được khoảng 4 triệu dân sống ở vùng đô thị
Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
=== Đấu tranh ngoại giao và tiếp xúc bí mật ===
Ngày 28 tháng 1 năm 1967, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh tuyên bố lập trường và điều kiện cho việc đối thoại Việt-Mỹ là:
Ngày 8/2/1967 tổng thống Mỹ Johnson gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong đó có ghi:
Đại ý của Johnson là người Mỹ nhiều lần chuyển đến chính phủ Hồ Chí Minh mong muốn hoà bình bằng những kênh khác nhau nhưng không đạt kết quả nào và đề nghị chấm dứt cuộc xung đột tại Việt Nam để không tiếp tục gây đau khổ cho nhân dân hai miền Việt Nam cũng như nhân dân Mỹ. Tổng thống Mỹ cam kết sẽ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và ngừng tăng thêm quân tại miền Nam Việt Nam ngay khi miền Bắc chấm dứt đưa quân và hàng chi viện cho quân Giải phóng miền Nam. Hai bên cùng kiềm chế leo thang chiến tranh để đối thoại song phương một cách nghiêm túc hướng đến hoà bình. Việc tiếp xúc có thể diễn ra ở Moskva, Miến Điện hay bất cứ nơi nào Bắc Việt Nam muốn.
Ngày 15/2/1967 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư trả lời tổng thống Johnson tố cáo Mỹ đã xâm lược Việt Nam, vi phạm những cam kết của đại diện Mỹ tại Hội nghị Geneva, phạm nhiều tội ác chiến tranh tại cả hai miền Nam Bắc Việt Nam. Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh thắng Mỹ bằng mọi giá. Nếu Mỹ muốn trực tiếp đối thoại với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì trước tiên phải ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Chỉ có thể đạt được hoà bình nếu Mỹ chấm dứt những hoạt động quân sự, rút quân Mỹ và đồng minh khỏi miền Nam để người Việt Nam tự giải quyết vấn đề của mình, đồng thời công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.
Cả hai phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ không có tiếng nói chung để giảm cường độ chiến tranh. Phía Mỹ bác bỏ tất cả những điều kiện mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra (Mỹ phải ngừng ném bom phía bắc vĩ tuyến 17) và tiếp tục leo thang chiến tranh, ngược lại phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng bác bỏ mọi điều kiện của Mỹ là chấm dứt chi viện cho quân Giải phóng miền Nam. Phải đến khi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân nổ ra vào năm 1968 thì Mỹ mới đơn phương nhượng bộ và chấp nhận những điều kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra.
=== Sự kiện Tết Mậu Thân ===
Với mục đích buộc Hoa Kỳ ngồi vào bàn đàm phán và tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, quân Giải phóng tung ra trận Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương. Đây là một sự kiện gây chấn động trên thế giới và có một vai trò bước ngoặt trong cuộc chiến tranh này.
Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh khi mà quân đội Mỹ tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam hoạch định một chiến dịch nhằm gây tiếng vang lớn ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị") – Lê Duẩn nhằm buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
Trong thực tế, vào tháng 1 năm 1968, tình báo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã thu thập được các tài liệu nói về cuộc tổng tấn công sắp tới của Quân Giải phóng. Tuy vậy, họ cho rằng đây chỉ là tài liệu do đối phương tung ra để làm nghi binh và không đáng tin cậy. William Westmoreland, tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam, nhận định Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tấn công vào mùa khô với các trọng điểm là Thừa Thiên, Quảng Trị và Khe Sanh. Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này.
Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân, tức ngày 30 tháng 1 năm 1968, trên khắp các đô thị miền Nam. Cuộc tấn công và nổi dậy diễn ra sau khi phía Việt Nam Cộng hòa hủy lệnh ngừng bắn của họ. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn và làm tổn thất đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cũng như gây chấn động dư luận thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Trong việc lập kế hoạch cho cuộc tổng tiến công, họ đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí. Kế hoạch trên dựa trên nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của họ, nên Quân Giải phóng đã phải chịu thương vong lớn. Một số tướng lĩnh của Hoa Kỳ dự đoán trước đó rằng cuộc tấn công của Quân Giải phóng sẽ không nhận được sự ủng hộ của người dân. Tuy nhiên, theo quan sát của giới báo chí trên chiến trường, diễn biến của các đợt tấn công đã chứng minh điều ngược lại. Trong việc lập kế hoạch tiến công Mậu Thân 1968, các cấp chỉ huy chiến đấu của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch đâu là mục tiêu chính trị thực chất của cuộc tiến công và đâu là mục tiêu được phổ biến rộng rãi trong quân để cổ vũ khí thế chiến đấu. Mục tiêu thực chất là đánh lớn gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán. Còn mục tiêu được phổ biến tuyên truyền trong cán bộ binh sĩ để nâng cao sĩ khí là trận cuối cùng "đánh dứt điểm" đối phương. Các cán bộ chiến trường khi lập kế hoạch tác chiến cũng tin tưởng vào quyết tâm đánh dứt điểm của cấp trên nên họ lập kế hoạch và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối cùng. Điều sai lầm nữa cho Quân Giải phóng là họ đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Khi thấy chưa đạt được mục tiêu trong đợt tấn công đầu tiên họ đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của họ càng lớn.
Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị: Các đơn vị quân sự chịu thương vong lớn, nhiều lực lượng chính trị nằm vùng ở đô thị bị bộc lộ và bị triệt phá, thương vong cao hơn hẳn những năm trước. Thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng là cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống. Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được. Tình thế chiến trường yên tĩnh hơn giúp Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thời gian bổ sung lại những thiệt hại lớn trong năm 1968, đồng thời tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng hoàng nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ở nông thôn và thành thị. Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại.
Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang với Việt Nam Cộng hòa (tình trạng miền Nam tồn tại song song hai chính quyền), bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Lực lượng quân Giải phóng suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại được.
Cuộc tổng tiến công đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao đã gây căng thẳng quá mức trong xã hội Mỹ, kinh tế giảm sút, gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội... mà vẫn không dứt điểm được đối phương. Chiến tranh kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc. Điều này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến này. Các chính trị gia trong Quốc hội Mỹ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi hủy bỏ ủy quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng.
Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên TV đánh vào lương tâm công chúng. Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu.
Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Các cố vấn hàng đầu của tổng thống và ngay Tổng thống Johnson thoái chí đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân sự mà phải xuống thang, đàm phán. Johnson cách chức Bộ trưởng quốc phòng McNamara và tướng Westmoreland, tổng chỉ huy quân Mỹ tại Việt Nam, bản thân ông cũng tuyên bố sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo.
Kết quả ngày 31 tháng 3 năm 1968, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải xuống thang chiến tranh. Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến trường, và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. Tân tổng thống Richard M. Nixon, thắng cử vì hứa chấm dứt chiến tranh, tuyên bố sẽ dần rút quân về nước và đàm phán với Quân Giải phóng. Chiến lược Chiến tranh cục bộ được kỳ vọng sẽ đem lại chiến thắng cho Mỹ giờ bị loại bỏ. Vấn đề của Mỹ bây giờ không còn là chiến thắng cuộc chiến nữa mà là rút ra như thế nào.
Tất cả những điều trên tạo cơ sở cho Quân Giải phóng thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu đề ra của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù phải hy sinh nhiều lực lượng. Thất bại về chiến thuật đã được bù đắp bằng thắng lợi quan trọng hơn ở tầm chiến lược, bởi nó tác động toàn diện đến tình hình quân sự, chính trị, tâm lý xã hội, chiến lược chiến tranh của cả nước Mỹ.
Sự rút quân Mỹ về nước là không thể đảo ngược và như vậy cũng có nghĩa chiến lược Chiến tranh cục bộ với các cuộc hành quân Tìm-diệt coi như phá sản. Chiến lược mới của chính phủ Mỹ để thay thế chiến lược cũ - Việt Nam hóa chiến tranh là không thể tránh khỏi. Chiến tranh Việt Nam đi vào giai đoạn mới mà chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình chiến đấu mà không còn lính viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến cùng (dù vẫn được Mỹ cung cấp yểm trợ hỏa lực và cố vấn quân sự). Về mặt chiến lược lâu dài, đây là bất lợi lớn vì quân đội Việt Nam Cộng hòa, dù trang bị hiện đại vẫn không thể so sánh về chất lượng so với quân viễn chinh Mỹ.
== Giai đoạn 1969-1972 ==
Đây là giai đoạn "sau Mậu Thân" hay giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh", giai đoạn Hoa Kỳ rút dần khỏi chiến trường Việt Nam tùy theo khả năng tự mình đảm nhận cuộc chiến của quân đội Việt Nam Cộng hòa nhưng vẫn tiếp tục đẩy mạnh viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa để họ chống lại lực lượng quân Giải phóng. Để đồng minh của họ đứng vững, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hòa xây dựng quân đội theo hình mẫu của quân đội Hoa Kỳ, với các loại vũ khí chiến tranh tối tân mà Hoa Kỳ để lại và với cơ sở hậu cần chiến tranh mà quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng. Hoa Kỳ sẽ yểm trợ về không lực tối đa cho quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các giao tranh với Quân Giải phóng.
Mùa hè năm 1969, tại quần đảo Hawaii, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard Nixon gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Người Mỹ muốn gọi tiến trình đó là "Phi Mỹ hóa chiến tranh" nhưng phía Việt Nam Cộng hòa phản đối vì gọi như vậy chẳng khác gì thừa nhận rằng đây là cuộc chiến của người Mỹ. Cuối cùng hai bên đồng ý gọi việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam là Việt Nam hóa chiến tranh. Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, tướng Nguyễn Cao Kỳ, thừa nhận có những đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa chiến đấu không tốt vì trước kia họ ỷ lại vào quân Mỹ quá lâu nhưng nếu để cho họ tự lực, họ sẽ phải chiến đấu vì sự tồn vong của họ.
Tình hình miền Nam tương đối yên lặng trong các năm 1969–1971. Quân Giải phóng tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với tới được. Quân Giải phóng sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, được xem là vùng trung lập, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh mở Chiến dịch Campuchia để chấm dứt tình trạng đó.
=== Chiến dịch Campuchia ===
Một sự kiện quan trọng đã xảy ra trong thời kỳ này và có hậu quả to lớn cho Đông Dương sau này là việc Hoa Kỳ ủng hộ Lon Nol, thủ tướng chính phủ Campuchia, triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất hoàng thân Norodom Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng và trao quyền lực khẩn cấp cho Lon Nol vào tháng 3 năm 1970, sau đó phát động chiến tranh chống cộng tại Campuchia theo yêu cầu của Lon Nol.
Ưu thế tạm thời trên chiến trường sau Mậu Thân đã dẫn Hoa Kỳ đến hành động leo thang này, làm cho Campuchia rơi vào một thời kỳ tồi tệ trong lịch sử. Khi Quân Giải phóng mất đất, lui về các căn cứ bên kia biên giới Campuchia, Hoa Kỳ muốn triệt hạ những căn cứ của đối phương tại đây. Trước đây Quân Giải phóng chỉ đóng trên đất Campuchia ở một số vùng sát biên giới với Việt Nam, họ cố gắng lôi kéo, chiều lòng chính quyền Sihanouk và tự kiềm chế để không mất lòng chủ nhà. Chính quyền Sihanouk thỏa thuận với Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép sự hiện diện của các căn cứ Việt Nam ở sát biên giới Campuchia - Việt Nam, đồng thời cho phép viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam thông qua các cảng Campuchia. Đổi lại Campuchia được đền bù bằng cách Trung Quốc mua gạo của Campuchia với giá cao. Nay với diễn biến chính trị như trên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quay ra lên tiếng ủng hộ Sihanouk và phong trào Khmer Đỏ chống lại Lon Nol.
Tháng 4 năm 1970, khoảng 40.000 lính Việt Nam Cộng hòa và 31.000 lính Mỹ được huy động tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Campuchia giáp Tây Ninh, tuy nhiên ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và phần lớn lực lượng Quân Giải phóng đã di chuyển sâu vào lãnh thổ Campuchia và tiến hành các trận phản công. Hoa Kỳ tuyên bố cuộc tấn công này tiêu diệt khoảng 2.000 quân Giải phóng, nhưng họ đã không tiêu diệt được ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Do bị phong trào sinh viên phản chiến Mỹ biểu tình phản đối nên ngày 30 tháng 6 năm 1970, Tổng thống Nixon phải ra lệnh cho quân Mỹ rút về. Quân chính phủ Lon Nol và quân đồn trú của Việt Nam Cộng hòa ở Campuchia sau chiến dịch không thể đương đầu với Quân Giải phóng. Các sư đoàn 5, 7, 9 của Quân Giải phóng cùng quân Khmer Đỏ đánh lui quân chính phủ Lon Nol, giành kiểm soát các tỉnh Đông và Đông Bắc Campuchia để mở rộng căn cứ nối thông với Lào. Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng cung cấp vũ khí, quân trang quân dụng giúp Khmer Đỏ xây dựng nhiều đơn vị quân sự mới. Vùng lãnh thổ do Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Khmer Đỏ kiểm soát tại Campuchia trở thành hậu cứ rộng lớn cho cuộc chiến của Quân Giải phóng tại miền Nam Việt Nam.
Chiến dịch Campuchia đã trở thành một sai lầm lớn về chiến lược của Mỹ. Họ không tiêu diệt được đối phương, mà ngược lại còn tạo điều kiện cho đối phương phát triển. Quân Giải phóng đã có thể thu mua nhu yếu phẩm, thuốc men ngay trên đất Campuchia trang bị cho quân đội của mình một cách hiệu quả mà trước đó nguồn này phải chờ vào chi viện của miền Bắc cách xa hàng ngàn cây số. Địa bàn do họ kiểm soát trở thành hành lang, hậu cứ, điểm xuất phát để trở về chiến đấu ở Nam bộ (B2) kể từ đầu năm 1971.
=== Việt Nam hóa chiến tranh ===
Tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn vì Quân Giải phóng trong thời kỳ này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Cũng có thể Quân Giải phóng hạn chế hoạt động để việc rút quân của Mỹ diễn ra nhanh hơn.
Sự yên tĩnh trên chiến trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức tiến hành bình định nông thôn. Rút kinh nghiệm từ năm 1968, lãnh đạo Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã hiểu rõ tầm quan trọng của việc chống lại cơ cấu đấu tranh chính trị của quân Giải phóng ở vùng nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Hoa Kỳ. Theo tuyên bố của Mỹ, trong thời kỳ này, chỉ riêng năm 1969, khoảng 6.000 người đã chết và 15.000 người bị thương bởi hoạt động của lực lượng du kích. Trong số những người thiệt mạng có 90 quan chức xã và xã trưởng, 240 quan chức ấp và ấp trưởng, 229 người tản cư và 4.350 thường dân. Với lý do "bảo vệ dân thường chống lại những hoạt động đe dọa và khủng bố của cộng sản", Chiến dịch Phượng hoàng với sự giúp đỡ của CIA, đã được triển khai nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tính tới năm 1972, Hoa Kỳ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ quân Giải phóng, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết.
Các nỗ lực của chiến dịch Phượng hoàng chủ yếu diễn ra bằng các biện pháp khủng bố, ám sát, thủ tiêu. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen được tình báo Mỹ huấn luyện và được phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản, tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì thủ tiêu. Những người cộng sản hoặc thân cộng sản nếu không tiện bắt thì ám sát. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Trong ngắn hạn, các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn rõ rệt cho phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên về dài hạn, những vụ xử tử, ám sát dân thường lại khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa càng bị người dân xa lánh, khiến chương trình bình định dần dần bị chặn lại.
Bên cạnh đấu tranh vũ trang, Mặt trận dân tộc Giải phóng còn phát triển phong trào chính trị để chống lại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đối phương. Mặt trận nhận thức rằng "hòa bình là vấn đề sống còn, là nguyện vọng tha thiết nhất của mọi tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn" nên xem "hòa bình là một khẩu hiệu tiến công cách mạng, gắn liền với những mục tiêu cơ bản trước mắt của cách mạng miền Nam... gắn liền với khẩu hiệu độc lập dân tộc, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai". Ngoài ra "Hòa bình còn gắn liền với khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ nhằm chống lại mọi chính sách độc tài phát xít, buộc ngụy quyền phải bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân... Hòa bình, độc lập, dân chủ còn gắn liền với khẩu hiệu hòa hợp dân tộc... tập hợp các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình nhằm mở rộng hơn nữa Mặt trận của ta, phân hóa các thế lực phản động, cô lập bọn tay sai ngoan cố nhất, hiếu chiến nhất, đại biểu quyền lực cho giai cấp phong kiến, tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt... Đảng ta nêu cao ngọn cờ cứu nước, ngọn cờ hòa hợp dân tộc là để cô lập Mỹ và tay sai, đoàn kết toàn dân rộng rãi nhất, đánh đuổi bọn cướp nước, trừng trị bọn bán nước, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hòa hợp dân tộc là một chính sách lớn thể hiện lập trường giai cấp đúng đắn của Đảng ta.". Để thực hiện điều này họ chủ trương "Phải kịp thời tập hợp các phe nhóm tán thành hòa bình, độc lập, dân chủ, hòa hợp dân tộc, hình thành lực lượng thứ ba để phân hóa hơn nữa các thế lực phản động, cô lập và chĩa mũi nhọn vào Thiệu cùng các phần tử thân Mỹ hiếu chiến nhất."
Trong thời kỳ này, viện trợ của Hoa Kỳ dồi dào nên đời sống của dân chúng trong các thành phố lớn trở nên tốt hơn và nó làm cho dân nông thôn đổ về thành phố để kiếm sống dễ hơn. Tuy nhiên, viện trợ dồi dào khiến tình trạng tham nhũng trong chính quyền và quân đội lên cao. Trong quân đội rất phổ biến kiểu "lính ma": khai khống quân số đơn vị để sĩ quan lĩnh phần lương dôi ra nhưng thực tế không có quân chiến đấu. Đây là giai đoạn mà nạn tham nhũng hoành hành trong giới lãnh đạo quân đội Việt Nam Cộng hòa với những tai tiếng về buôn lậu, ăn cắp quân nhu và tiền viện trợ quân sự. Sau hàng loạt cuộc điều tra tham nhũng, mà đặc biệt là cuộc điều tra tại Quỹ tiết kiệm Quân đội do tướng Nguyễn Văn Hiếu thực hiện trong 5 tháng và được công bố trên truyền hình ngày 14/7/1972, hàng loạt sĩ quan, trong đó có 2 tướng lĩnh là Tổng trưởng Quốc phòng Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ và Trung tướng Lê Văn Kim cùng với 7 đại tá bị cách chức. Quỹ tiết kiệm Quân đội bị buộc phải giải tán. Vì vụ án này, ông Hiếu đã làm mếch lòng các tướng lĩnh tham nhũng, tổng thống Thiệu cũng ra lệnh hạn chế điều tra khiến ông Hiếu nản lòng và xin chuyển sang công tác chỉ huy tác chiến. Nhiều người cũng cho rằng đây là lý do cái chết bí ẩn của tướng Hiếu vào tháng 4/1975.
Những điều trên đã gây ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bị nhiều người chỉ trích vì không thể kiểm soát nổi tình trạng tham nhũng và lạm quyền kinh tế. Tình trạng tham nhũng trong quân đội phổ biến đến nỗi các sĩ quan, binh lính còn đem cả quân trang quân dụng, vũ khí và lương thực bán cho Quân Giải phóng, và thậm chí "tặng" luôn cả xe tải cho "đối tác" sau mỗi lần giao dịch.
Một vấn đề lớn nữa của Việt Nam hóa chiến tranh là khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhất nhất theo các tiêu chuẩn Mỹ thì họ cũng quen kiểu đánh nhau tốn tiền như quân Mỹ, và sức chiến đấu của quân đội phụ thuộc lớn vào viện trợ của Mỹ. Viện trợ mà giảm thì ảnh hưởng rõ rệt đến sức chiến đấu của quân đội, điều này góp phần giải thích tại sao quân đội này mau chóng sụp đổ trong năm cuối cùng của cuộc chiến.
=== Chiến dịch Lam Sơn 719 ===
Sau khi quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thất bại trong việc đánh phá căn cứ của Quân Giải phóng tại biên giới Việt Nam - Campuchia, tiếp tế từ miền Bắc đã nối thông từ Lào đến Đông Bắc Campuchia và đổ vào các khu căn cứ Tây Ninh. Do đó, nếu không tiêu diệt được đầu não Quân Giải phóng đã ở sâu trong nội địa Campuchia thì phải tìm cách cắt tiếp tế từ Lào. Tháng 2 năm 1971, 21.000 binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới sự yểm trợ của 10.000 lính Mỹ và không quân Hoa Kỳ, tiến hành chiến dịch Lam Sơn 719: đánh từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị cắt ngang sang Hạ Lào nhằm phá hủy hệ thống kho tàng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Cuộc hành quân này ngay từ đầu đã mang tính phiêu lưu, phô trương chính trị và cuối cùng đã thất bại vì những lý do sau:
Cuộc hành quân không bảo đảm tính bất ngờ. Quân Giải phóng đã dự đoán và chuẩn bị đón đánh từ trước.
Các căn cứ của Quân Giải phóng là những nơi họ đã lâu năm thông thuộc địa bàn và có bố phòng rất kỹ lưỡng. Ngay quân đội Hoa Kỳ với sức mạnh tổng lực, ném bom đánh phá khốc liệt suốt nhiều năm vẫn không thể làm gì nổi. Trong thời kỳ tìm-diệt, các chiến dịch Attleboro và Junction City đều đã thất bại do đưa quân sa vào thế trận đã bày sẵn. Hơn nữa vùng Hạ Lào là nơi tập trung rất nhiều binh lực hiện đại của Quân Giải phóng, còn mạnh hơn rất nhiều so với các khu căn cứ khác mà quân Việt Nam Cộng hòa chưa có đủ sức mạnh, kinh nghiệm và bản lĩnh để đương đầu.
Khi hoạch định kế hoạch người ta chú ý nhiều đến khía cạnh phô trương sức mạnh của quân Việt Nam Cộng hòa đánh được vào "đất thánh Cộng sản" chứ ý nghĩa quân sự thì ít. ("Chỉ cốt sao đến được Sê Pôn rồi về" – Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.) Chính vì để phô trương nên khi gặp khó khăn rất lớn vẫn không chấm dứt chiến dịch mà cố gắng tiến nhọc nhằn đến Sê Pôn, rồi phải cố sức mở đường máu với thiệt hại lớn mới về thoát dù chỉ là vài chục km cách biên giới.
Sự phối hợp của quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa không tốt. Không quân Mỹ chỉ ném bom B-52 dọn đường theo yêu cầu, còn nhiệm vụ phối hợp hỏa lực chiến thuật cho bộ binh tác chiến thì thực hiện không hiệu quả.
Lực lượng máy bay trực thăng của Mỹ bị lọt vào khu vực dày đặc vũ khí phòng không đã chờ sẵn của đường mòn Hồ Chí Minh nên bị thiệt hại quá nặng, không thể hoàn thành nhiệm vụ yểm trợ cho bộ binh.
Kết quả cuộc hành quân bị thiệt hại nặng nề, hơn nữa các lực lượng bị tiêu diệt là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cuộc hành quân còn thất bại ở chỗ tuy có phá được một số kho tàng hậu cần nhưng về cơ bản đã không làm hại gì được cho hệ thống tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho Quân Giải phóng miền Nam. Tướng Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, nhận định quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đánh vào điểm mạnh nhất của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam. Theo tướng Alexander Haig, lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, đó là một thảm họa do đánh giá sai lầm đối phương. Vào thời điểm đó quá trình Việt Nam hóa chiến tranh đang diễn ra thuận lợi nên người Mỹ ép Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải ra trận để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh mà thiếu sự yểm trợ không quân của Hoa Kỳ. Người Mỹ "đã ném Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuống nước lạnh và họ đã chết chìm ở đó". Đáng lẽ phải khắc phục sai lầm thì người Mỹ tiếp tục rút quân do sức ép chính trị mà Tổng thống Nixon chịu đựng quá lớn.
Sau các cuộc hành quân bất thành của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh vào Campuchia và Hạ Lào, đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã hồi phục sau Mậu Thân và lại tung ra một đợt tổng tiến công lớn nữa.
=== Chiến dịch Xuân-Hè 1972 ===
Tháng 3 năm 1972 quân Giải phóng đã tung ra một cuộc tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa xuân năm 1972. Đây là đòn đánh để kết hợp với nỗ lực ngoại giao, nhằm làm thoái chí Hoa Kỳ, buộc họ rút hẳn ra khỏi cuộc chiến. Tuy rằng tên và kế hoạch như vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt tại những nơi chủ lực Quân Giải phóng đã kiểm soát vững chắc. Điều đó cho thấy các nỗ lực bình định của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trong thời gian 1969-1971 đã có những hiệu quả nhất định.
Đây là cuộc tiến công chiến lược gồm các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa trên ba hướng chiến lược quan trọng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Trong suốt quá trình diễn ra cuộc chiến tranh, chưa bao giờ quân Giải phóng lại phát động một cuộc tiến công ồ ạt dưới sự hỗ trợ của các lực lượng được trang bị tốt đến như vậy, cuộc tiến công này mạnh hơn bất cứ những gì mà Việt Nam Cộng hòa có thể tập trung lại được vào mùa xuân năm 1972.
Cuộc tấn công năm 1972 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã không nhận được sự ủng hộ từ 2 đồng minh chủ chốt là Trung Quốc và Liên Xô do 2 quốc gia chỉ mong muốn kết thúc nhanh 1 thỏa ước hòa bình với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tại Paris. Liên Xô đã cắt giảm viện trợ, còn Trung Quốc thì thậm chí còn gây sức ép lên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để buộc họ ngừng chiến đấu. Tuy thế các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn quyết tâm khởi động một chiến dịch quy mô nhằm đánh bại triệt để Việt Nam hóa chiến tranh, giành lợi thế trên bàn đàm phán ở Paris.
Trong 2 tháng đầu, quân Giải phóng liên tiếp chọc thủng cả 3 tuyến phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh ngạc cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ phải gấp rút điều động lực lượng không quân và hải quân tới chi viện để ngăn đà tiến của quân Giải phóng, đồng thời viện trợ khẩn cấp nhiều vũ khí cho Việt Nam Cộng hòa để bổ sung cho thiệt hại trước đó.
Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của Quân Giải phóng tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh, chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum.
Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, Quân Giải phóng tiến công theo đường 13 để đánh chiếm thị xã An Lộc trong trận An Lộc, dùng xe tăng và pháo binh tấn công dữ dội. Quân lực Việt Nam Cộng hòa quyết tâm cố thủ thị xã và đưa quân lên ứng cứu. Không quân Mỹ dùng B-52 đánh phá ác liệt các khu vực tập kết của Quân Giải phóng và gây thiệt hại lớn. Chiến trận xảy ra rất dữ dội tại thị xã, thương vong của hai bên và của dân chúng rất cao. Cuối cùng, Quân Giải phóng không thể lấy nổi thị xã phải rút đi và sau 3 tháng chiến sự đi vào ổn định. Lần đầu tiên tại vùng Đông Nam Bộ, xe tăng T-54 và PT-76 của Quân Giải phóng đã xuất hiện, cho thấy hệ thống tiếp tế của Quân Giải phóng đã hoàn chỉnh vì đã có thể đưa được xe tăng vào đến tận chiến trường phía nam.
Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của Quân Giải phóng tại Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân Việt Nam Cộng hòa phòng ngự tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã đầu hàng mà không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công, Quân Giải phóng đã chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.
Đến lúc đó, việc giữ vững vùng chiếm được và tái chiếm vùng đã mất tại Quảng Trị đã thành vấn đề chính trị thể hiện ý chí và bản lĩnh của cả hai bên và là thế mạnh để đàm phán tại Hội nghị Paris. Hoa Kỳ để tỏ rõ ý chí của mình bằng cách từ ngày 16 tháng 4 năm 1972 ném bom trở lại miền Bắc với cường độ rất ác liệt: dùng máy bay B-52 rải thảm bom xuống Hải Phòng, đem hải quân thả thủy lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.
Tại chiến trường Quảng Trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đem hết quân dự bị ra quyết tái chiếm thị xã Quảng Trị với sự hỗ trợ tối đa bằng máy bay B-52 của Hoa Kỳ. Quân Giải phóng quyết tâm giữ vững khu vực thành cổ Quảng Trị của thị xã. Chiến sự cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để tranh chấp một mẩu đất rất nhỏ không dân đã bị tàn phá hoàn toàn. Sau gần 3 tháng đánh nhau quyết liệt, Quân Giải phóng không giữ nổi và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chiếm được thành cổ và thị xã Quảng Trị. Nhưng, dù có hỗ trợ của không quân Mỹ, Việt Nam Cộng hòa không thể tái chiếm thị xã Đông Hà và các vùng đã mất khác.
Sau chiến dịch, Quân Giải phóng nắm giữ thêm 10% lãnh thổ miền Nam, có thêm các bàn đạp quân sự, và thị xã quan trọng Lộc Ninh đã trở thành thủ đô mới của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Đến cuối năm 1972, chiến trường đi đến bình ổn vì hai bên đã kiệt sức không thể phát triển chiến sự được nữa.
Mặc dù chiến dịch không đem đến lợi thế rõ rệt về quân sự nhưng đã làm xã hội Hoa Kỳ quá mệt mỏi. Dư luận Mỹ và thế giới thúc ép chính quyền phải đạt được một nền hòa bình bằng thương lượng theo đúng cam kết giải quyết chiến tranh trong nhiệm kỳ tổng thống của họ. Đến cuối năm 1972, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đạt được thỏa hiệp cơ bản những ý chính của Hiệp định Paris, và đầu năm 1973, Hoa Kỳ rút hẳn quân viễn chinh khỏi cuộc chiến, chỉ để lại cố vấn quân sự.
=== Vừa đánh vừa đàm ===
Việc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Sau Mậu Thân, các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Việc thương lượng đã diễn ra rất phức tạp vì, một mặt, các bên chưa thật sự thấy cần nhượng bộ và mặt khác, Liên Xô và Trung Quốc muốn can thiệp vào đàm phán – đặc biệt là Trung Quốc. Nước này không muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự đàm phán mà muốn thông qua Trung Quốc giống như hiệp định Geneva năm 1955. Nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cự tuyệt dù bị áp lực bởi hai đồng minh.
Hội đàm được chọn tại Paris kéo dài từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973. Ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ; sau mở rộng ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Về mặt công khai có 4 bên tham gia đàm phán, nhưng thực chất chỉ có 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ tiến hành đàm phán bí mật với nhau để giải quyết các bất đồng giữa hai bên..
Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và điều đó đúng với Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ năm 1968 đến năm 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mang tính tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Hoa Kỳ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thỏa hiệp.
Mục đích của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi tham gia đàm phán là buộc Mỹ rút quân về nước và buộc chính phủ Việt Nam Cộng hòa dù do bất kỳ ai lãnh đạo cũng phải giải tán vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho rằng chính phủ Việt Nam Cộng hòa không muốn độc lập và hòa bình mà chỉ muốn nắm quyền vì lợi ích của họ. Phía Mỹ cho rằng phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm ra vẻ muốn thành lập chính quyền liên hiệp nhưng thực tế chẳng khác nào ép Mỹ phải làm mọi cách khiến lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa từ chức rồi để cho những người này đám phán với người cộng sản và kết quả là một liên minh mà người cộng sản nắm toàn quyền.
Đến giữa năm 1972, khi Chiến dịch Nguyễn Huệ đã kết thúc và Hoa Kỳ đã quá mệt mỏi bởi chiến tranh kéo dài và thực sự muốn đi đến kết thúc, thì đàm phán mới đi vào thực chất thỏa hiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, từ sau thất bại trong Chiến dịch Lam Sơn 719, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã hiểu rằng Việt Nam hóa chiến tranh chính thức thất bại, lợi thế trên bàn đàm phán bắt đầu nghiêng về liên minh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ bắt đầu hạ giọng và sẵn sàng hợp tác với đối phương.
Lập trường ban đầu của Hoa Kỳ: quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc rút Quân đội Nhân dân Việt Nam khỏi miền Nam Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hòa bình. Tổng tuyển cử trước, ngừng bắn sau.
Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam: quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam, không đả động tới sự có mặt tại miền Nam của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hòa bình. Thành lập Chính phủ liên hiệp tại miền Nam thông qua Tổng tuyển cử. Ngừng bắn trước, Tổng tuyển cử sau.
Trong đó, vấn đề quy chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam và thứ tự ngừng bắn-tổng tuyển cử là điểm mâu thuẫn chính giữa các bên. Cuối năm 1972 chính phủ Hoa Kỳ, dưới áp lực dư luận và việc Trận Thành cổ Quảng Trị kéo dài hơn dự kiến, chính quyền Hoa Kỳ đã nhận ra họ không thể khuất phục đối phương bằng vũ lực cũng như không đủ nguồn lực để duy trì chiến tranh nên buộc phải chấp nhận xuống thang trên bàn đàm phán. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng thỏa hiệp về quy chế của chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên đi đến thỏa hiệp chung: Quân Mỹ và các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp quân sự vào vấn đề Việt Nam; không đả động tới việc có hay không Quân đội Nhân dân Việt Nam ở chiến trường Nam Việt Nam; và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được phép tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hòa bình.
Sau khi văn kiện hiệp định đã được ký tắt, Henry Kissinger đi Sài Gòn để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu văn bản đã đạt được. Phía Việt Nam Cộng hòa phản đối dự thảo này và tuyên bố sẽ không ký kết hiệp định như dự thảo. Sau đó, chính phủ Mỹ tuyên bố chưa thể ký được hiệp định và đòi thay đổi lại nội dung chính liên quan đến vấn đề cốt lõi: quy chế về Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sửa đổi của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ tiến hành ném bom lại miền Bắc Việt Nam để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị.
=== Chiến dịch Linebacker II ===
Đồng thời với việc ném bom miền Bắc Việt Nam, tổng thống Mỹ Nixon thăm Liên Xô và Trung Quốc. Cả Liên Xô và Trung Quốc đều lo sợ Mỹ liên minh với bên này hoặc bên kia vì thế họ muốn giải quyết dứt điểm vấn đề Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ trích việc Liên Xô và Trung Quốc gặp Tổng thống Mỹ.
Tháng 12 năm 1972, Hoa Kỳ mở Chiến dịch Linebacker II cho máy bay ném bom chiến lược B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12). Không khuất phục được Hà Nội, lực lượng không quân bị thiệt hại nặng nề và nhất là bị dư luận quốc tế và trong nước phản đối mạnh mẽ, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải chấm dứt ném bom quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt, dù có một vài sửa đổi nhỏ có tính kỹ thuật. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì áp lực nếu không chấp nhận thì Hoa Kỳ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa nên nhà nước này phải chấp nhận ký.
Trong chiến dịch này, Hoa Kỳ đã huy động cả không quân chiến lược với gần 200 chiếc máy bay B-52 (chiếm một nửa số B-52 của cả nước Mỹ) để ném bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong 12 ngày đêm. Về lý do quân sự, chính trị thì cuộc ném bom này không cần thiết và có hại vì khi đó Hoa Kỳ đã quyết tâm rút khỏi chiến tranh. Hoa Kỳ biết rất rõ rằng chỉ bằng một cuộc ném bom dù ác liệt đến đâu Hoa Kỳ không thể nào bắt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhượng bộ một vấn đề cốt lõi mà vì nó họ đã chiến đấu gần 20 năm. Nó chỉ làm dư luận Mỹ và thế giới thêm bất bình với chính phủ Hoa Kỳ. Đây chỉ là cách để Mỹ thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đồng minh (không chỉ đối với Việt Nam Cộng hòa mà còn cả các đồng minh khác nữa). Khi dự thảo hiệp định đã được ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Hoa Kỳ quyết định dùng bước này để chứng tỏ họ đã cố gắng đến mức cuối cùng cho quyền lợi của Việt Nam Cộng hòa rồi.
Mục tiêu mà Hoa Kỳ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, trong đó phá hủy đến mức tối đa những mục tiêu quân sự chọn lọc tại vùng lân cận của Hà Nội/Hải Phòng. Linebacker II cũng loại bỏ các rất nhiều các hạn chế trong các chiến dịch trước đó ở Bắc Việt Nam, ngoại trừ cố gắng để "giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả" và "tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo".
Hoa Kỳ đã dùng một biện pháp rất cực đoan, tàn bạo mà các chuẩn mực chiến tranh thông thường không cho phép: dùng máy bay B-52 rải thảm bom hủy diệt vào một loạt các khu vực dân cư của các thành phố lớn để đánh vào ý chí của dân chúng và đã gây ra thương vong lớn cho dân thường. Hoa Kỳ đã dùng máy bay B-52 tiến hành ném bom rải thảm vào các mục tiêu như sân bay Kép, Phúc Yên, Hòa Lạc, hệ thống đường sắt, nhà kho, nhà máy điện Thái Nguyên, trạm trung chuyển đường sắt Bắc Giang, kho xăng dầu tại Hà Nội... Ở Hà Nội, tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố và sát hại hàng trăm dân thường. Tại bệnh viện Bạch Mai, nhiều tòa nhà quan trọng đã bị phá hủy, cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Chiến dịch này đã phá hoại nặng nề nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng đã không làm thay đổi được lập trường của Hà Nội.
Về mặt quân sự, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp lực lượng phòng không của đối phương. Không lực Hoa Kỳ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để vô hiệu hóa radar và tên lửa phòng không của đối phương. Để đáp lại, các lực lượng tên lửa phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo và hợp lý, họ đã bắn các máy bay B-52 theo các chiến thuật mới và đã thành công vượt xa mức trông đợi, hàng chục chiếc pháo đài bay B-52 đã bị bắn hạ. Cũng trong chiến dịch này, lần đầu pháo đài bay B-52 bị hạ bởi một máy bay tiêm kích, do Phạm Tuân điều khiển. Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch này là Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.
Dưới áp lực của dư luận thế giới và trong nước, thất bại trong việc buộc Hà Nội nhượng bộ, Tổng thống Nixon ra lệnh chấm dứt ném bom vào ngày 30 tháng 12 năm 1972 và hội đàm lại để ký kết hiệp định. Hiệp định Paris có phương án cuối cùng về cơ bản không khác mấy so với dự thảo mà Hoa Kỳ trước đó đã từ chối ký, cũng có nghĩa rằng mục tiêu chiến lược của Chiến dịch Linebacker II đã thất bại. Chiến dịch Linebacker II cũng là chiến dịch quân sự cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.
=== Hiệp định Paris ===
Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, được coi là một thắng lợi quan trọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 29 tháng 3 năm 1973 quân nhân Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam. Từ nay chỉ còn quân đội Việt Nam Cộng hòa đơn độc chống lại Quân Giải phóng đang ngày càng mạnh.
Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Theo các nội dung chính như sau:
Các quân đội nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Quân Giải phóng miền Nam đóng nguyên tại chỗ và ngừng bắn tại chỗ.
Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng.
Thành lập Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tuyển cử thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc của miền Nam Việt Nam và tiến tới thống nhất hai miền.
Ngoài ra còn nhiều các điều khoản khác như lập ủy ban kiểm soát và giám sát và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên, điều khoản Hoa Kỳ đóng góp tài chính tái thiết sau chiến tranh, điều khoản Hoa Kỳ gỡ mìn đã phong tỏa các hải cảng Bắc Việt Nam, điều khoản trao trả tù binh...
Giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền không được coi là biên giới quốc gia
Mặt khác, Hiệp định Paris là hiệp định được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ soạn thảo dựa trên cơ sở Tuyên bố 10 điểm ngày 08-05-1969 của phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đảm bảo cho việc Hoa Kỳ ra khỏi chiến tranh là mục đích trước mắt và làm suy yếu trước khi buộc Việt Nam Cộng hòa phải đầu hàng là mục tiêu lâu dài. Đối với Hoa Kỳ, đây là cách họ ra khỏi cuộc chiến mệt mỏi này một cách chính đáng. Đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì hiệp định này là bước thứ nhất trong hai bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Đối với Việt Nam Cộng hòa thì hiệp định này là một tai ương lớn đối với chính thể của họ và đặt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa trước một nguy hiểm trong một tương lai gần.
Để trấn an Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nixon đã hứa riêng với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp quân Giải phóng phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ sẽ phản ứng một cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Lời hứa này về sau không có giá trị thực tiễn vì sau đó Quốc hội Hoa Kỳ đã ra nghị quyết không cho phép đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương mà không được phép của Quốc hội và quy định khuôn khổ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa một cách hữu hiệu được. Đối với người Mỹ, họ thực sự muốn đóng lại cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới.
Để hoàn thành nốt các điều khoản trong Hiệp định Paris liên quan đến Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 để thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đối với vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris, giải thích "Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân... Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc. Lúc đầu mình tính chính phủ liên hiệp nhưng sau sự kiện Mậu Thân 1968 và sau đó năm 1972, ta không có những thắng lợi quyết định... Năm 1972 ta mới đề ra đường lối tìm cách mở đường cho Mỹ rút. Ta mới đưa ra khẩu hiệu là "Mỹ rút, Sài Gòn còn, miền Nam giữ nguyên trạng". Để liên kết các lực lượng miền Nam thì đặt ra vấn đề hòa hợp dân tộc. Vấn đề ấy được đặt ra trong lúc ta tính tới phương án giữ nguyên trạng miền Nam. Vì vậy ta đưa vào dự thảo Hiệp định và bàn kỹ vấn đề hòa hợp dân tộc. Lúc đầu ta gọi là chính phủ liên hiệp ba thành phần. Chính phủ Mỹ không chấp nhận được vì chính phủ mới có nghĩa là thủ tiêu Sài Gòn. Ta mới hạ thấp xuống là "một chính quyền hòa hợp dân tộc", gần gần với lập trường của Mỹ. Mỹ đề xuất một "body" - một tổ chức để tổng tuyển cử. Mỹ dùng chữ "body" thì mình cũng dịu bớt đi, đề xuất là trong lúc chính quyền hai bên tồn tại, thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc để tiến tới tổ chức tổng tuyển cử thành lập chính quyền (đưa thêm khái niệm hòa giải, vì là hai kẻ địch.) Nhưng Mỹ không chấp nhận chữ "chính quyền". Chữ "chính quyền" có gì đó mang ý nghĩa thủ tiêu Sài Gòn. Vì thắng lợi của mình năm 1972 cũng có mức độ thôi, chưa thể lấn át Mỹ được, nên ta lấy yêu cầu Mỹ rút là chính. Mỹ nhận rút và quân miền Nam ở lại là đạt yêu cầu cao nhất rồi, ta mới chấp nhận thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc. Hiệp định có điều khoản thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử và đôn đốc thi hành Hiệp định. Lúc đó hình thành khái niệm hòa giải hòa hợp dân tộc... Dù lập chính phủ hai thành phần, ba thành phần hay giữ nguyên trạng thì cũng vẫn phải có hòa giải, hòa hợp. Không có cách nào khác. Không có bên nào thắng bên nào. Thực tế miền Nam có ba lực lượng, hai chính quyền thì phải giải quyết với nhau như vậy. Nhờ những sách lược mềm dẻo của ta, mà trong đó có việc tạm gác vấn đề xóa Sài Gòn, thực hiện một hình thức hòa giải, hòa hợp dân tộc mà tổ chức ấy chỉ là hội đồng thôi chứ không phải chính quyền, chính phủ gì nên Mỹ chấp nhận."
Sau này, các tài liệu vừa giải mật cho thấy chính hai ông Nixon và Kissinger đều đã tin tưởng rằng ngay cả một lực lượng quân sự lớn mạnh hơn những gì họ đã điều động, cũng không có khả năng thắng được.
== Giai đoạn 1973–1975 ==
Đây là giai đoạn kết thúc chiến tranh vì với sự ra đi của quân viễn chinh Hoa Kỳ cùng với việc Hoa Kỳ từng bước cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa thì kết cục cho Chiến tranh Việt Nam đã rõ ràng. Hoa Kỳ chưa hẳn đã rút khỏi cuộc chiến, họ vẫn tiếp tục duy trì viện trợ và cố vấn quân sự, nhưng việc quân Mỹ trực tiếp tham chiến sẽ không còn nữa. Tuy nhiên, viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa trong tài khóa 1974-1975 dù được Tổng thống Nixon đề xuất 1 tỷ dolar nhưng khi đưa ra Quốc hội Mỹ xét duyệt, khoản viện trợ này bị cắt giảm chỉ còn 700 triệu. Quốc hội Mỹ còn đưa ra điều kiện Việt Nam Cộng hòa không được dùng Quỹ đối giá (số tiền thu được khi tiền Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) được đổi ra tiền Việt Nam từng bù cho 75% khoản ngân sách bị thiếu hụt trước kia) chi cho ngân sách Quốc phòng.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục các hoạt động vận động chính trị nhằm khiến Việt Nam Cộng hòa tuân thủ Hiệp định, ngừng bắn trước khi tổ chức Tổng tuyển cử. Tuy nhiên, phía Việt Nam Cộng hòa không có thiện chí thực thi Hiệp định, liên tục có các hoạt động vũ trang nhằm chiếm đất lấn dân. Tới tháng 10/1973, sau khi nhận thấy các nỗ lực chính trị không có hiệu quả Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chuyển sang chiến lược kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, sẵn sàng đáp trả các hoạt động vi phạm Hiệp định của Việt Nam Cộng hòa.
Từ cuối năm 1974, tương quan lực lượng bắt đầu nghiêng hẳn về phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhận thấy tương quan lực lượng có sự thay đổi theo hướng có lợi cho mình, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 nhằm buộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần. Tuy nhiên, tới cuối Chiến dịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định chuyển mục tiêu sang buộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng để tránh đổ máu không cần thiết. Phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng nhanh chóng chấp nhận để loại bỏ nguy cơ tiến trình tái thống nhất thông qua Tổng tuyển cử bị các cường quốc lợi dụng.
=== Hiệp định Paris bị vi phạm ===
Về nguyên tắc thì các bên ký kết phải thừa nhận miền Nam Việt Nam tạm thời có hai chính quyền (tuy nhiên không có định nghĩa về hai chính quyền đó), nhưng sẽ nhanh chóng được thay thế bằng một chính quyền mới. Số quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường lúc đó, số quân của họ trên đường mòn Hồ Chí Minh, số vũ khí họ mang vào và mang ra là những dữ liệu không thể kiểm chứng được nhưng theo số liệu cung cấp của Hoa Kỳ là 219.000 người (thấp hơn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa với 920.000 người). Lượng viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn có thể kiểm soát tại các cửa khẩu trên bộ, cảng hàng không và cảng biển (Trong hiệp định không cấm nước ngoài viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà chỉ cấm cung cấp vũ khí cho các bên ở miền Nam Việt Nam). Tương tự, vũ khí Mỹ vào Việt Nam qua các cảng và cầu hàng không cũng dễ dàng được quản lý. Tuy vậy việc Hoa Kỳ tiếp tục cung cấp vũ khí và 23.000 cố vấn quân sự cho Việt Nam Cộng hòa là một sự vi phạm các điều khoản liên quan tới việc cấm Hoa Kỳ can dự vào miền Nam Việt Nam trong Hiệp định Paris và khiến cho phía Việt Nam Cộng hòa có thêm động lực để tiến hành các hoạt động quân sự chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó, điều khoản về ngăn cấm các bên lập căn cứ quân sự trên đất Lào trung lập là nhượng bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng phía Vương quốc Lào lại vi phạm lệnh ngừng bắn trong Hiệp ước Viêng Chăn, tạo điều kiện để Pathet Lào tương trợ lẫn nhau với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại Campuchia, điều tương tự cũng xảy ra khi quân đội của Lon Nol tấn công quân đội của Pol Pot, tuy nhiên, Pol Pot đã không nhận được sự hỗ trợ từ phía Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngay khi Hiệp định Paris được ký kết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chủ trương "tràn ngập lãnh thổ" bằng cờ Việt Nam Cộng hòa để lấn thêm lãnh thổ và giành thêm dân. Chỉ trong đêm 27/01 rạng ngày 28/01/1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên và 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu. Vào 7 giờ sáng 28/1/1973, đúng lúc phải thực hiện ngừng bắn, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho bộ binh và xe tăng tấn công Cửa Việt (tỉnh Quảng Trị), Sa Huỳnh và nhiều nơi ở miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn vùng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam tại đây bị lấn chiếm. Lấn được xã nào, ấp nào, Việt Nam Cộng hòa đều cho vẽ cờ trên tường nhà dân, mặt tiền đình chợ, quán xá, trên cả mái tôn với kích thước to dị thường để "đánh dấu" vùng "quốc gia kiểm soát"
Về phía Mỹ, tuy rút hết quân viễn chinh về nước song các cố vấn quân sự của họ vẫn hiện diện ở Việt Nam dưới vỏ bọc là Sư đoàn quản lý dịch vụ (Management Services Division). Các cố vấn này tiếp tục tham gia chỉ huy và điều phối các chiến dịch quân sự cho tới khi chiến tranh kết thúc Theo nhà sử học Gabriel Kolko, đội ngũ cố vấn quân sự Mỹ hiện diện tại miền Nam lên tới 23.000 người vào năm 1974
Trong các năm từ 1973 đến tháng 2 năm 1975 là thời gian hai phía đối địch chuẩn bị vào các trận đánh lớn sắp tới. Năm này chỉ được 1–2 tháng đầu là có các tiếp xúc giữa hai bên: binh sĩ hai bên được phép gặp mặt với nhau, nhưng sau đó là thời gian hai bên liên tục lên án nhau phá hoại hiệp định và đánh lấn chiếm vùng kiểm soát của nhau, dù ở quy mô nhỏ. Quân đội Việt Nam Cộng hòa không đủ sức để đánh lớn và quân Giải phóng cũng không có chủ trương đánh lớn vào lúc đó.
Thời kỳ này có một sự kiện bất ngờ với Việt Nam Cộng hòa và ngỡ ngàng cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là việc Trung Quốc tấn công chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Sau trận hải chiến ngắn, Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, trong khi lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa hủy bỏ kế hoạch huy động không quân phản công nhằm chiếm lại đảo. Hoa Kỳ và Hạm đội 7 của họ cũng không giúp đỡ Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa khi được đề nghị. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy phản đối các động thái của Trung Quốc một cách nhẹ nhàng, nhưng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc vào ngày 20/1/1974. Sau hải chiến Hoàng Sa 1974, Trung Quốc đã thay thế Việt Nam Cộng hòa kiểm soát quần đảo này; nhưng Việt Nam Cộng hòa và nước Việt Nam thống nhất sau này vẫn tuyên bố chủ quyền tại đây. Sự việc cũng làm căng thẳng thêm quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Trung Quốc (vốn đã xấu đi từ sau năm 1972), và gây mối nghi ngờ giữa Việt Nam Cộng hòa với Hoa Kỳ: nó cho thấy Hoa Kỳ sẽ không còn đem quân đội bảo vệ họ như trước nữa.
Thời kỳ 1974–1975 trước trận Ban Mê Thuột có hai trận đánh lớn có vai trò đáng chú ý: Trận Thượng Đức (1974) thuộc tỉnh Quảng Nam bắt đầu khoảng tháng 7 năm 1974 và trận Phước Long tháng 12 năm 1974. Đây là hai trận của giai đoạn này mà Quân giải phóng phát động với một mục tiêu duy nhất là thăm dò lực lượng đối phương.
Đầu năm 1974, chính quyền Việt Nam Cộng hòa liên tục vi phạm Hiệp định tại khu vực Quảng Đà khi liên tục tấn công vùng giải phóng, lấn đất, chiếm dân. Tới tháng 5 năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa một sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Đúng theo tính toán của quân Giải phóng, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liền điều sư đoàn dù tổng trù bị chiến lược đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng; kết quả quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức và Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui. Sau trận đánh, các chỉ huy của Quân Giải phóng đã kết luận là sức chiến đấu, nhất là sức mạnh tấn công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa so với 1972 đã suy giảm đi nhiều khi không còn có yểm trợ của không quân Mỹ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng không đủ lực lượng dự bị cơ động để chiến đấu lâu dài: Một quận lỵ quan trọng ở quân khu 1 Việt Nam Cộng hòa, nằm gần các căn cứ quân sự lớn mà cả quân đoàn và quân khu 1 cũng không đủ lực lượng cơ động đến giải vây, mà phải dùng đến sư đoàn dù là lực lượng mạnh nhất tổng dự bị chiến lược. Điều này là một luận cứ góp vào kế hoạch tác chiến cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 đánh dứt điểm Việt Nam Cộng hòa.
Sau những nố lực chính trị được thực hiện từ tháng 10/1974 nhằm đòi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tôn trọng Hiệp định không có hiệu quả, tới giữa tháng 12 năm 1974, tại mặt trận miền Đông Nam Bộ, quân Giải phóng phát động chiến dịch Đường 14 - Phước Long tiến đánh và sau 3 tuần chiếm hoàn toàn tỉnh này. Tuy mất một tỉnh ngay tại đồng bằng Nam Bộ cách Sài Gòn chỉ khoảng 100 km nhưng Việt Nam Cộng hòa không có phản ứng thích đáng nào để khôi phục lại. Họ không còn quân dự bị cơ động để phản kích nữa. Và quan trọng nhất là Hoa Kỳ chỉ phản ứng ở mức không có dấu hiệu là sẽ can thiệp mạnh. Chiến dịch này đã củng cố tin tưởng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là Hoa Kỳ sẽ ít có khả năng can thiệp trở lại.
Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ, thống nhất Việt Nam thông qua phương thức chính trị. Hoa Kỳ thực sự muốn rút quân đội khỏi cuộc chiến và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.
=== Tương quan lực lượng ===
Trong giai đoạn 1973–1975, sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc cho Quân Giải phóng giảm rõ rệt, tổng khối lượng vũ khí và thiết bị quân sự được viện trợ giảm từ khoảng 171.166 tấn/năm trong thời kì 1969-72 giảm xuống còn khoảng 16.415 tấn/năm trong thời kỳ 1973-75. Quân số của Quân Giải phóng cũng thấp hơn rất nhiều nếu so với Quân lực Việt Nam Cộng hòa (219.000 người so với 920.000 người). Tuy nhiên, với việc Hiệp định Paris không cho phép Hoa Kỳ không kích đường mòn Hồ Chí Minh cũng như việc Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam triển khai thành công hệ thống phòng không và nghi binh tại đây, năng suất chiến đấu của lực lượng không quân đối phương giảm hẳn Lúc này tuyến đường chi viện từ Bắc vào Nam đã thông cả ngày lẫn đêm. Hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh cũng đã được mở rộng hơn nhưng lượng trang bị của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn thấp hơn rất nhiều so với Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt Quân Giải phóng vẫn không có lực lượng không quân nên ưu thế trên không vẫn thuộc về Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ở miền Bắc, mặc dù ác cơ sở sản xuất được khôi phục và năng lực sản xuất vũ khí tăng lên đáng kể so với trước năm 1972. Hệ thống đường ống bảo đảm vận chuyển xăng dầu cũng có bước phát triển. Hệ thống kho chứa của Quân Giải phóng đạt mức 40 triệu lít xăng-dầu. Tới tháng 3/1975, hệ thống đường ống đã vươn tới Bù Gia Mập (Phước Long) với tổng chiều dài đạt 1399 km.
Đặc biệt ưu thế quan trọng nhất tạo nên tính áp đảo đối phương là tinh thần chiến đấu. Sau 15 năm kiên trì chiến đấu và đã buộc kẻ thù mạnh nhất là quân viễn chinh Mỹ phải rời khỏi Việt Nam, binh sĩ quân Giải phóng nhận thức được cơ hội giành chiến thắng hoàn toàn đã rất gần nên khí thế lên rất cao và sẵn sàng xung trận.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa thì ngày càng gặp khó khăn, tuy phương tiện chiến tranh vẫn còn nhiều trong kho, nhưng họ bị hạn chế về tài chính vì viện trợ của Hoa Kỳ đã bị cắt giảm từ hơn 1 tỷ USD trong những năm trước xuống chỉ còn 700 triệu USD. Con số 700 triệu USD vẫn cao hơn 3 lần số viện trợ mà Quân Giải phóng nhận từ Liên Xô, nhưng với một đội quân được tổ chức rập khuôn theo mô hình Mỹ (tác chiến không chú trọng tiết kiệm bom đạn) thì số tiền này vẫn là thiếu. Các nguồn viện trợ kinh tế (Quỹ đối giá) thì bị Hoa Kỳ cấm sử dụng vào mục đích quân sự. Điều này khiến Việt Nam Cộng hòa khó khăn trong việc trả lương binh lính và nhất là khó khăn trong việc duy trì trang bị. Tuy hơn hẳn đối phương về không quân, nhưng quân chủng này đòi hỏi rất nhiều tài chính khi hoạt động, vì thiếu kinh phí nên không quân chỉ phát huy non nửa uy lực. Các khu dự trữ xăng dầu của Việt Nam Cộng hòa luôn là nơi bị đặc công của Quân Giải phóng đánh phá nên vấn đề thiếu hụt nhiên liệu ngày càng trở nên gay gắt.
Nhưng điều khó khăn lớn nhất cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa là tinh thần chiến đấu của binh sĩ xuống thấp. Sau Hiệp định Paris, các sĩ quan và binh lính đã thấy tương lai mờ mịt cho họ, tâm trạng bi quan chán nản và tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng dẫn đến tình trạng đào ngũ, trốn lính rất nhiều, bổ sung không kịp. Trong quân đội phổ biến tình trạng "lính ma": quân số, khí tài thực tế thì bị thiếu hụt nhưng trên giấy tờ thì vẫn có đủ. Số tiền chênh lệch rơi vào túi sĩ quan chỉ huy, trong khi chỉ huy cấp cao thì vẫn đánh giá quá cao sức mạnh thực tế của các đơn vị, dẫn tới các sai lầm trong việc chỉ huy.
Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp tục sống nhờ viện trợ Mỹ. Nền công nghiệp miền Nam nhỏ bé, nông nghiệp bị chiến tranh tàn phá, hàng triệu người di cư vào thành phố tránh chiến sự. Lạm phát phi mã xảy ra cùng với tệ tham nhũng, lợi dụng chức quyền càng làm cho nền kinh tế thêm tồi tệ. Ông Bùi Diễm, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, nhận định tình hình kinh tế và quân sự của miền Nam Việt Nam rất xấu khiến người dân không hài lòng với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tiền lương quân nhân không đủ sống do đó tình hình chính trị cũng xấu theo.
Nhà sử học Gabriel Kolko nhận định: "Những người Cộng sản bị tụt xa về số lượng và trang thiết bị so với lực lượng của ông Thiệu, vốn được nhận dòng cung ứng khổng lồ các thiết bị quân sự từ Hoa Kỳ... Một đợt vũ khí, và khoảng 23.000 cố vấn Mỹ và nước ngoài tới dạy cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cách sử dụng và duy trì những vũ khí đó đã khiến ông Thiệu thêm tự tin, và ngày càng tự tin hơn nhờ cam kết bí mật của Nixon rằng không lực Mỹ có thể trở lại tham gia cuộc chiến nếu phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa quân trở lại vào miền Nam... Ông Thiệu sử dụng nguồn cung ứng dồi dào về vũ khí mà Mỹ đã gửi cho ông, đặc biệt là pháo, và đến năm 1974, các cuộc pháo kích được tiếp tục với quy mô tổng lực (nhưng không có sự tham gia của lực lượng Mỹ), với việc Quân Lực Việt Nam Cộng hòa bắn một lượng đạn lớn hơn nhiều so với phía những người Cộng sản... ông Thiệu tưởng rằng sức mạnh vượt trội về vũ khí sẽ cho phép ông hoàn toàn giành chiến thắng. Ông đã rất sai lầm, và kết cục là phải sống lưu vong khi quân đội của ông tan rã vào mùa xuân năm 1975".
James M. Carter, giáo sư Đại học Drew nhận xét như sau:
Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ... Từ trước đó, giới chức Mỹ đã thôi nói về xây dựng quốc gia, cải cách ruộng đất, dân chủ, minh bạch. Thay vào đó, họ bàn về một cuộc chiến phải thắng trước những kẻ thù của nhà nước hư cấu "miền Nam Việt Nam" (fictive state).
Quỹ đạo này của chính sách Mỹ khiến người ta gần như không thể nói thực về thành công, thất bại, đặc biệt là với các nhà hoạch định chính sách. Chưa bao giờ Hoa Kỳ đạt tới mục tiêu là chính thể Sài Gòn có thể tự mình tồn tại mà không cần dựa vào viện trợ Mỹ.
Theo các số liệu thống kê về cán cân lực lượng trên chiến trường (quân số, trang bị hạng nặng như xe tăng, máy bay...), dù không còn quân viễn chinh Mỹ yểm trợ thì Việt Nam Cộng hòa vẫn có ưu thế hơn nhiều. Theo đánh giá về số lượng trang bị và quân số, Quân lực Việt Nam Cộng hòa có Lục quân đứng thứ 4, Không quân đứng thứ 5 và Hải quân đứng thứ 9 thế giới. So với đối thủ là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, họ có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và pháo binh, hơn hàng chục lần về Không quân và Hải quân. Nhưng với những thuận lợi và khó khăn thực chất của hai bên, ưu thế trên chiến trường đã nghiêng dần sang phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Việc họ nhanh chóng đè bẹp quân đội Việt Nam Cộng hòa trong chiến dịch mùa xuân năm 1975 là phản ánh đúng cán cân lực lượng trên chiến trường.
=== Cuộc tấn công cuối cùng ===
Cuộc tấn công cuối cùng của Quân Giải Phóng Miền Nam diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện. Nó còn được gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Cơ quan tham mưu của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa lập kế hoạch tiến công đã phân cuộc tiến công này thành các chiến dịch nối tiếp nhau họ gọi là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng và, cuối cùng, chiến dịch Hồ Chí Minh.
Chiến dịch Tây Nguyên: với mục tiêu là chiếm Tây Nguyên mà trận mở đầu then chốt là thị xã Ban Mê Thuột tại Nam Tây Nguyên. Tại đây có hậu cứ của sư đoàn 23 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành công trong việc làm cho đối phương tin rằng mục tiêu tiến công sẽ ở Bắc Tây Nguyên ở hướng thị xã Kon Tum hoặc thị xã Pleiku. Ngày 10 tháng 3 quân Giải Phóng tiến công Ban Mê Thuột. Sau hơn một ngày tiến công rất ác liệt, quân đồn trú đã kháng cự rất quyết liệt nhưng với ưu thế áp đảo quân Giải Phóng đã đánh chiếm được thị xã. Liên tiếp trong các ngày sau đó họ đã chủ động tiến công quân phản kích, quân phản kích của Nam Việt Nam vừa đổ xuống chưa kịp đứng chân cũng đã bị đánh tiêu diệt. Mất Ban Mê Thuột và không có đủ lực lượng cơ động dự bị khả dĩ có thể phản kích tái chiếm, lại cùng với việc các lực lượng phòng thủ Bắc Tây Nguyên cũng đang bị uy hiếp nặng nề, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ giải đồng bằng ven biển miền trung. Đường rút lui sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi xuống phía nam sau đó đi vào đường số 7 đã bị bỏ từ lâu không sử dụng, mục tiêu là thoát xuống thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Đây là một thảm họa chết người cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Cuộc rút lui đã không bảo toàn được số quân mà trái lại nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan khắp các vùng lại còn làm rệu rã hết tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hòa trên toàn quốc. Việc rút một số lượng quân lớn như thế trong một thời gian chuẩn bị gấp gáp 2–3 ngày đã diễn ra trên đoạn đường dài hàng trăm km không có kế hoạch, trong khi tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã xuống rất thấp và, quan trọng hơn cả, binh sĩ mang gia đình và người chạy nạn theo cùng. Tất cả những cái đó đã biến dòng người cùng xe cộ khổng lồ ùn tắc thành một dòng náo loạn không thể chỉ huy và chiến đấu. Bị đối phương chặn tại Cheo Reo - Phú Bổn, đoàn quân này đã bị tan tác không còn tập hợp lại được nữa. Tây Nguyên thất thủ vào tay quân Giải phóng, hơn 12 vạn quân đồn trú bị tan rã. Tiêu biểu như toàn bộ sư đoàn 23 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa hơn 1 vạn quân về đến Tuy Hòa tập hợp đếm lại được còn 36 người.
Chiến dịch Huế-Đà Nẵng: Kể từ sau cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên tin thất bại đã bay khắp miền Nam, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa mất hết tinh thần, quân đội gần như không chiến đấu mà bỏ chạy. Các nhà lãnh đạo chiến tranh của Mặt Trận Giải Phóng nhận định ra quân đội Cộng hòa đã không còn chiến đấu có tổ chức chặt chẽ được nữa; họ liền tiến hành phương án thời cơ tung ngay quân đoàn 2 (hay Binh đoàn Hương Giang được thành lập từ các đơn vị của quân khu Trị – Thiên và khu 5) nhanh chóng tiến công đánh chiếm cố đô Huế và thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Cộng hòa, Đà Nẵng. Quân đội Việt Nam Cộng hòa vội vã rút lui khỏi Quảng Trị về Huế và trước sức ép của đối phương quyết định rút chạy bỏ Huế nhưng đường núi về phía nam đã bị đối phương cắt mất, họ chỉ còn một con đường chạy ra biển để chờ tàu hải quân vào cứu. Cũng giống như cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy này đã trở thành hỗn loạn và cướp bóc. Số nào được cứu lên tàu hải quân thì khi lên đến bờ cũng không thể tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu được nữa, số còn lại bỏ vũ khí tự tan vỡ. Ngày 26 tháng 3 quân Giải Phóng vào Huế. Đà Nẵng cũng không tránh được bị chiếm. Khi quân đoàn 2 của Quân Giải phóng tiến đến Đà Nẵng, cảnh hỗn loạn đang diễn ra, quân lính Việt Nam Cộng hòa đang cướp bóc. Quân lính và dân cố gắng thoát khỏi thành phố bằng tàu hải quân, các đơn vị vòng ngoài không còn tinh thần chiến đấu nữa; quân Quân Giải phóng bỏ qua vòng ngoài thọc sâu đánh chiếm thành phố mà không có kháng cự đáng kể. Tại đây 10 vạn binh lính và sĩ quan đã ra hàng (ngày 29 tháng 3). Quân khu 1 Việt Nam Cộng hòa đã bị xoá bỏ.
Trong hai tuần đầu tháng 4 các tỉnh thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng. Họ từ phía Bắc tràn vào (với Quân đoàn 2) và từ Tây nguyên tràn xuống (với Quân đoàn 3 – hay Binh đoàn Tây Nguyên – được thành lập từ các đơn vị của mặt trận Tây Nguyên). Bây giờ thì không còn sức mạnh nào có thể ngăn nổi sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa dồn hết các toán quân còn sót lại của Quân đoàn 2 của họ chuyển sang cho Quân đoàn 3 chỉ huy để cố lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang nhưng cũng không chặn được quân Giải phóng mà tư lệnh chiến trường cũng bị bắt. Quân khu 1 và 2 của Việt Nam Cộng hòa đã bị xoá bỏ. Bây giờ quân Giải phóng đã tấn công xuống đồng bằng Đông Nam Bộ của quân đoàn và quân khu 3 Việt Nam Cộng hòa, chỉ còn hơn 100 km là đến Sài Gòn.
Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ từ xa của Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Quân đoàn 4 (hay Binh đoàn Cửu Long) của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập từ các sư đoàn và đơn vị tại miền Đông Nam Bộ dự định chiếm Xuân Lộc trong hành tiến. Nhưng sư đoàn 18 đã chống cự có tổ chức, đây là nỗ lực chiến đấu có tổ chức dài ngày cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Quân đoàn 4 của quân Giải phóng không chiếm được Xuân Lộc trong hành tiến bắt buộc phải dừng lại tổ chức lại trận địa tiến công. Mặt khác họ không để mất thì giờ với Xuân Lộc mà đi vòng qua vòng vây tiến về phía Biên Hòa. Sau 12 ngày cầm cự, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4, Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn.
Chiến dịch Hồ Chí Minh: Sau khi tập hợp đủ lực lượng gồm 15 sư đoàn và rất nhiều trung đoàn, lữ đoàn độc lập khác để đảm bảo áp đảo chắc thắng, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu tiến công Sài Gòn để chấm dứt chiến tranh trong một chiến dịch được gọi tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh, bắt đầu từ ngày 26 tháng 4. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức theo 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 tương đương quân đoàn đánh 5 mũi từ 5 hướng vào Sài Gòn. Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn còn hơn 400.000 quân và đã kháng cự ác liệt trên một số hướng, nhưng rốt cục không thể kháng cự lâu dài được nữa.
Ngày 21/4/1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, sau đó ông rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. Trong diễn văn từ chức ông chỉ trích nước Mỹ là "một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm". Trong thời điểm Quốc hội Mỹ đang xem xét lại việc viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa, ông từ chức với hy vọng Mỹ tăng viện trợ. Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay làm tổng thống với tuyên bố sẽ ở lại Việt Nam chiến đấu chống cộng sản đến cùng. Trong lúc đó, sĩ quan, binh lính, quan chức, chính trị gia Việt Nam Cộng hòa cùng dân chúng tranh nhau di tản ra nước ngoài trong hoảng loạn. Mỹ đã giúp di tản khoảng gần 130.000 người Việt sang Mỹ và một số nước khác.
Quân Giải phóng đánh từ ngày 26 đến cuối ngày 28 tháng 4 thì họ đến được cửa ngõ Sài Gòn và có thể đi thẳng vào thành phố. Để tránh mọi rắc rối với Hoa Kỳ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để người Mỹ tổ chức di tản xong họ mới tiến vào. Từ ngày 28 tháng 4, các dàn xếp của các lực lượng thứ ba đã đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng thống. 8 giờ sáng 30 tháng 4, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố Sài Gòn bỏ ngỏ và ra lệnh cho quân đội đơn phương ngừng chiến chờ đối phương vào bàn giao chính quyền. Bộ tổng tham mưu ra mệnh lệnh chấm dứt kháng cự. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến nhanh vào thành phố và chỉ gặp những kháng cự lẻ tẻ, vô tổ chức. Đến 11 giờ 30 phút Dương Văn Minh lên đài phát thanh đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh chính thức chấm dứt.
=== Chiến tranh kết thúc ===
Ngày 26/4/1975, Tổng thống Trần Văn Hương trao quyền cho Đại tướng Dương Văn Minh đứng ra thương thuyết trên căn bản vãn hối hòa bình, trên tinh thần hiệp định Paris để tránh việc Sài Gòn sẽ bị tàn phá. Tướng Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống với tuyên bố không thể lấy hận thù đáp trả lại hận thù, ông chủ trương hòa giải với đối phương, đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tạo cơ hội tránh được nguy cơ sụp đổ, thực hiện ngưng bắn, mở lại đàm phán nhằm đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định Paris.
Việc làm chủ Sài Gòn kết thúc chiến tranh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá ôn hòa, không có đổ máu và thành phố nguyên lành. Tất nhiên sự đầu hàng của Việt Nam Cộng hòa là kết quả của sức mạnh quân sự áp đảo của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng việc kết thúc chiến tranh ôn hòa không đổ máu dân chúng, có đóng góp nhiều của lực lượng thứ ba và vai trò không nhỏ của Dương Văn Minh và các phụ tá. Trong bối cảnh đó, với cách nhìn thực tế và không cực đoan, ông Dương Văn Minh được các lực lượng chính trị thứ ba đưa lên làm tổng thống để đảm bảo một cuộc chuyển giao chế độ êm thấm và không đổ máu, không trả thù. Ông đã làm việc này bằng cách tuyên bố "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào." Đối với hoàn cảnh chiến sự và chính trị lúc đó có lẽ đây là một giải pháp đúng đắn. Cùng với việc ra mệnh lệnh đơn phương ngừng chiến, thực tế từ sáng sớm 30 tháng 4, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ngừng kháng cự và Quân Giải Phóng Miền Nam vào Sài Gòn mà không gặp kháng cự có tổ chức. Tuy nhiên, những sĩ quan Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và giải tán hoàn toàn chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương, trao quyền lực lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam. Việc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam buộc Việt Nam Cộng hòa đầu hàng thay vì phương án thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần do họ đã quá mất lòng tin với chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã từng từ chối Tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva, vi phạm các quy định của Hiệp định Paris khiến Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam lo ngại rằng nếu một lần nữa nhượng bộ Việt Nam Cộng hòa và đối phương lại từ chối thực thi cam kết sẽ khiến đất nước lại tiếp tục bị chia cắt.
Ngay sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam làm chủ thành phố và giải phóng hoàn toàn miền Nam, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân quản Sài Gòn, đã nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh "giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ".
Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại nhận xét của mình ngày hôm ấy:
== Viện trợ nước ngoài ==
Chiến tranh Việt Nam là một trong những cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại. Hoa Kỳ đã viện trợ ồ ạt cho Việt Nam Cộng hòa cũng như trực tiếp đem quân tham chiến, tiến hành đàm phán (tại Paris, ngoài vòng đàm phán công khai 4 bên chủ yếu mang tính nghi thức, tại các vòng đàm phán bí mật, chỉ có 2 đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đàm phán trực tiếp với nhau về hiệp định nhưng 2 đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam liên tục trao đổi với nhau trước khi đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gặp riêng đoàn Hoa Kỳ, nơi 2 đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam thảo luận bí mật được gọi với mật danh "căn phòng hạnh phúc" do nơi này không bị nghe lén), Hoa Kỳ cũng trực tiếp tham gia hoạch định và điều khiển các chiến lược chiến tranh và kinh tế của Việt Nam Cộng hòa (Kế hoạch Staley-Taylor, Chiến tranh Cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, ném bom miền Bắc Việt Nam...), với tổng chiến phí lên tới hơn 950 tỷ đôla (thời giá năm 2011). 5 nước đồng minh của Mỹ cũng gửi quân tới trực tiếp tham chiến tại Việt Nam gồm Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Thái Lan, Philipines.
Tuy không thể sánh về số lượng với Mỹ, song Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nhận được sự giúp đỡ vật chất khá lớn (khoảng 7 tỷ đôla) từ Liên Xô, Trung Quốc, và khối các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng khác với Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận cho nước ngoài đem quân tới tham chiến trực tiếp (nhằm giữ vững tính tự quyết của mình). Lực lượng quân đội và chuyên gia quân sự khối Xã hội Chủ nghĩa chỉ được phép đóng từ Thanh Hóa trở ra và chỉ hỗ trợ trong các hoạt động gián tiếp như phòng không, xây dựng, kỹ thuật và huấn luyện, và chịu sự điều động của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi cần. Các đường lối lãnh đạo và việc tham chiến chỉ do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự hoạch định và tiến hành, không chịu điều khiển từ bên ngoài. Thực tế dù cả Liên Xô và Trung Quốc gây sức ép cũng không thể làm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thay đổi các sách lược của mình.
Có thể nói viện trợ nước ngoài có vai trò và tác động to lớn đến quy mô, cường độ và hình thái chiến tranh Việt Nam.
== Phong trào phản chiến ==
Cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã bị phản đối từ đầu thập niên 1960, nhưng không được chú ý và phải cho đến khi 1 người Mỹ là Norman Morrison tự thiêu vào năm 1965 thì dư luận thế giới mới biết đến.
Phong trào phản chiến bước sang một bước ngoặt mới khi cuộc biểu tình của sinh viên Đại học Tiểu bang Kent (tiểu bang Ohio) ngày 4-5-1970 đã bị Vệ binh quốc gia Mỹ đàn áp làm 4 sinh viên bị chết và 9 người khác bị thương.
Đã có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh ở trên khắp các bang ở Mỹ, 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 2 triệu người Mỹ "gây thiệt hại bất hợp pháp" vì chống chiến tranh Việt Nam, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam, trong đó có cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton.
Trong suốt cuộc chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận kiên trì tranh thủ phong trào hòa bình ở Mỹ. Theo đánh giá của giám đốc CIA - William Colby, thì họ được dư luận ủng hộ mạnh mẽ do việc giới thông tin đại chúng của Mỹ dễ dàng vào được miền Nam Việt Nam trong khi nếu muốn vào miền Bắc Việt Nam lại rất khó, và do đó, tin tức về những khiếm khuyết của quân đội Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng hoà thì công chúng Mỹ được biết trong khi thế giới chẳng biết gì về chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vì phóng viên nước ngoài không thể tiếp cận.
Phong trào này đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận trong cuộc chiến tranh này. Rút kinh nghiệm từ bài học này, trong chiến tranh vùng Vịnh và các cuộc chiến khác sau này, chính phủ và quân đội Mỹ đã đặt ra những quy định giới hạn về tác nghiệp và đưa tin đối với các phóng viên chiến tranh (không được đưa những tin tức gì, ở đâu, lúc nào...), nhất là ở những vùng đang diễn ra giao tranh.
== Hậu quả chiến tranh ==
Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến gây nhiều tàn phá nhất, thiệt hại nhân mạng nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam và gây chia rẽ sâu sắc về chính trị cũng như tác động xấu đến kinh tế đối với cả Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Tùy theo các thống kê khác nhau, số người Việt Nam bị thiệt mạng trong chiến tranh Việt Nam là từ 2 đến 5 triệu, hàng triệu người khác tàn tật và bị thương. Những người sống sót tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng và lâu dài về kinh tế, xã hội, môi trường, sức khỏe và tâm lý mà cuộc chiến đã gây ra, trong đó có tỷ lệ dị dạng bẩm sinh cao nhất thế giới. Các vụ hãm hiếp phụ nữ do lính Mỹ và đồng minh thực hiện diễn ra rất thường xuyên trong chiến tranh Việt Nam và ít khi bị trừng phạt, nếu bị xử thì cũng rất nhẹ. Hàng vạn nạn nhân chất độc hóa học tại Việt Nam hiện nay (Xem Chất độc da cam). Một nửa diện tích rừng mưa của Việt Nam bị phá hủy. Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam 45.260 tấn (khoảng 75 triệu lít) chất độc hóa học, sự tàn phá môi trường do Mỹ gây ra lớn đến mức đã làm phát sinh một từ tiếng Anh mới, ecocide. Việt Nam đã trở thành đất nước bị ném nhiều bom nhất trong lịch sử thế giới. Số bom ném xuống Việt Nam là 7,85 triệu tấn (theo nguồn khác là trên 15 triệu tấn), tổng số bom mà Mỹ ném xuống Việt Nam là 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg bom của Mỹ, trong cái gọi là "chính sách lunarization" (Mặt Trăng hóa). Cơ sở hạ tầng ở cả hai miền Việt Nam bị phá hủy nặng nề. Sau chiến tranh, Việt Nam là một trong những nước có tình trạng ô nhiễm bom, mìn nặng nề nhất trên thế giới. Hàng triệu tấn bom mìn chưa phát nổ còn sót lại trong lòng đất làm hơn 42.000 người chết, 62.000 người bị thương từ 1975 đến 2014, gây ô nhiễm 6,6 triệu ha đất (chiếm 20% diện tích Việt Nam), khiến chính phủ Việt Nam phải chi mỗi năm khoảng 100 triệu USD để khắc phục hậu quả bom mìn.
Tổng cộng trong 20 năm, Hoa Kỳ đã huy động vào cuộc chiến tranh này 6,6 triệu lượt quân nhân Mỹ (chiếm 15% nam thanh niên toàn nước Mỹ) – vào thời điểm cao nhất (năm 1968–1969) có tới 628.000 quân Mỹ hiện diện trên chiến trường – bằng tổng số lục quân của cả 5 nước Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Canada, Australia và chiếm 70% tổng số lực lượng lục quân Mỹ lúc bấy giờ, với những sư đoàn thiện chiến nhất như Kỵ binh bay, Tia chớp nhiệt đới, Anh cả đỏ, Thuỷ quân lục chiến… Cùng với lục quân, Mỹ huy động 60% không quân chiến lược, chiến thuật với 2.300 máy bay, trong đó có 46% pháo đài bay B-52 với hơn 200 chiếc, 42% lực lượng hải quân với hàng trăm tàu chiến trong đó có 15/18 hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, 3.000 xe tăng thiết giáp; 2.000 khẩu pháo hạng nặng từ 120 đến 175mm. Ngoài ra, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng Quân lực Việt Nam Cộng hòa với trang bị 1.800 máy bay, 2.000 xe tăng – thiết giáp, 1.500 khẩu pháo, 2 triệu khẩu súng các loại, 50.000 xe cơ giới quân sự, hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu.
Cuộc chiến ở Việt Nam đã gây tổn thất nặng cho lực lượng không quân Hoa Kỳ. Tổng cộng đã có khoảng 11.000 máy bay các loại của Mỹ đã bị bắn rơi hoặc phá hủy tại Việt Nam, 877 máy bay khác bị Quân đội Nhân dân Việt Nam thu giữ Tổn thất chi tiết theo binh chủng và theo chủng loại máy bay bao gồm:
Không quân Hoa Kỳ: 2.251 máy bay và 110 trực thăng bị phá hủy
Không quân hải quân Hoa Kỳ: 859 máy bay và 32 trực thăng bị phá hủy;
Không quân thủy quân lục chiến Hoa Kỳ: 193 máy bay và 270 trực thăng bị phá hủy;
Không quân lục quân Hoa Kỳ: 362 máy bay và 5.086 trực thăng bị phá hủy;
Không quân Việt Nam Cộng hòa (toàn bộ trang bị do Mỹ cung cấp): ~2.500 máy bay và trực thăng bị phá hủy hoặc thu giữ (bao gồm 877 máy bay bị Quân đội Nhân dân Việt Nam thu giữ vào năm 1975)
Ngoài ra, 578 máy bay không người lái các loại của Mỹ bị phá hủy
Đối với Hoa Kỳ, Chiến tranh Việt Nam đã thành một chương buồn trong lịch sử của họ. 5 đời Tổng thống Mỹ với 4 chiến lược chiến tranh tại Việt Nam lần lượt phá sản. Quân đội Mỹ giảm hẳn hoạt động tại nước ngoài trong suốt 15 năm, cho tới khi Chiến tranh Vùng vịnh nổ ra. 58.220 lính Mỹ đã chết và 305.000 thương tật (trong đó 153.303 bị tàn phế nặng, trong đó 23.114 bị tàn phế hoàn toàn). Ngoài số thương tích về thể xác, khoảng 700.000 lính Mỹ trong số 2,7 triệu lính từng tham chiến tại Việt Nam bị mắc các chứng rối loạn tâm thần, thông thường được gọi là "Hội chứng Việt Nam", thêm vào đó là khoảng 10% số lính Mỹ khi trở về nước đã nghiện ma túy trong những ngày ở Việt Nam. Khoảng 70.000 tới 300.000 cựu binh Mỹ đã tự sát sau khi trở về từ Việt Nam. Sự cay đắng của các cựu binh tuổi thanh niên này góp phần tạo nên Hippie, một trào lưu đầy nổi loạn, phủ nhận xã hội công nghiệp phương Tây, quay trở về với thiên nhiên, chống chiến tranh, cổ vũ tự do tình dục và những giá trị như bình đẳng, hòa bình và tình yêu... trong thanh niên Mỹ trong suốt 20 năm. Nhiều năm sau chiến tranh, hàng trăm ngàn quân nhân và cố vấn Mỹ đã bị ung thư hoặc sinh con bị dị tật do đã tiếp xúc với chất độc da cam.
Sau thất bại ở Việt Nam, Tổng thống Richard Nixon nhìn nhận:
Đại tướng Maxwell D. Taylor, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson, từng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam đã khái quát:
== Việt Nam và Hoa Kỳ sau cuộc chiến ==
=== Việt Nam ===
Bước ra sau chiến tranh, cùng với niềm tự hào đã chiến thắng "siêu cường số một" thế giới, Việt Nam đã có được thống nhất và độc lập - mục tiêu mà vì nó nhiều thế hệ người Việt đã đấu tranh suốt từ thời Pháp thuộc. Chiến thắng của họ cũng góp phần đưa đến chiến thắng của những người cộng sản ở Lào và Campuchia, thành lập Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Campuchia Dân chủ, mở rộng phe xã hội chủ nghĩa do các đảng cộng sản lãnh đạo.
Sau chiến tranh, Việt Nam phải tiếp quản những di sản nặng nề mà Hoa Kỳ để lại, không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa - xã hội. Nhà văn đoạt giải Nobel Gabriel Garcia Marquez đã đến thăm Việt Nam vào giữa tháng 7/1979 mô tả:
Dưới thời Mỹ chiếm đóng, Sài Gòn không còn giữ được bản sắc văn hóa của mình, trở thành một "thiên đường nhân tạo" được bao bọc bởi quân đội và sự viện trợ của Mỹ, của hàng tấn đồ tiếp tế. Người dân thành phố ảo tưởng rằng đó là đời sống thực của họ. Vì thế, chiến tranh kết thúc khiến người dân trở nên lạc lõng và xa rời thực tế, để rồi 4 năm sau khi người Mỹ cuối cùng rút đi, họ không thể gượng dậy được.
Cái giá cho sự cuồng nhiệt này là hết sức kinh ngạc: toàn miền Nam có 360.000 người tàn tật, 1 triệu quả phụ, 500.000 gái điếm, 500.000 con nghiện ma túy, 1 triệu người mắc bệnh lao và hơn 1 triệu lính thuộc chế độ cũ, tất cả đều lạc lõng trong xã hội mới. Khoảng 10% dân số Sài Gòn bị mắc bệnh hoa liễu nặng (do lây từ gái điếm) và có 4 triệu người mù chữ trên khắp miền nam. Không có gì lạ nếu tìm thấy trên những con phố nhiều trẻ em lang thang phạm tội, và cũng không lạ nếu xuất hiện những trẻ em với mái tóc nâu vàng, mắt xanh mũi lõ, da đen, những đứa trẻ đã bị cha của chúng bỏ rơi.
Những nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh của Việt Nam bắt đầu ngay sau ngày giải phóng. Hệ thống nông nghiệp và giao thông được xây dựng lại nhanh nhất có thể. Một hệ thống trường cấp tốc được thành lập. Y tế xã hội hóa phòng bệnh được tổ chức và quá trình giáo dục gái mại dâm hoàn lương (phục hồi nhân phẩm), trẻ mồ côi và người nghiện bắt đầu diễn ra. Không có cuộc tắm máu nào cả như phía Mỹ dự đoán. Trái lại, Việt Nam đã nỗ lực giúp quân nhân chế độ cũ và giới tư sản không kinh doanh hòa nhập với xã hội mới. Nhiều việc làm mới được tạo ra để giải quyết công việc cho hơn 3 triệu người thất nghiệp.
Mặc dù thế, nhiều khó khăn lớn và cấp bách vẫn tồn tại, bất chấp mọi nỗ lực, sự kiên nhẫn và hy sinh của họ. Sự thật là Việt Nam thiếu nguồn lực để có thể giải quyết một thảm họa lớn và nhiều vấn đề như vậy. Chiến dịch Phượng Hoàng của CIA đã sát hại nhiều nhân tài và thay thế bằng một bộ máy tham nhũng của chế độ cũ. Hơn nữa, tổng thống lúc đó, Gerald Ford, đã không thực hiện lời hứa của nước Mỹ đưa ra trong các thỏa thuận Paris năm 1973 là bồi thường chiến tranh cho Việt Nam hơn 3 tỷ USD trong vòng hơn 5 năm. Chưa kể chính quyền Jimmy Carter cản trở những nỗ lực của Việt Nam nhằm nhận được cứu trợ của quốc tế.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã phải chịu mối đe dọa mới từ quân Khmer Đỏ tại Campuchia. Tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi Sài Gòn thất thủ. Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu. Bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc tấn công quy mô lớn vào Việt Nam trong giai đoạn 1975-1978. Đến năm 1978, sau khi Khmer Đỏ huy động lực lượng lớn tấn công vào Tây Nam Bộ, Việt Nam quyết định phản công bằng một chiến dịch lớn, tấn công cả vào Campuchia để xử lý dứt điểm mối nguy từ Khmer Đỏ. Ngay lập tức, Trung Quốc (đồng minh của Khmer Đỏ) huy động hàng chục vạn quân tấn công vào miền Bắc Việt Nam, gây ra Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979. Hai cuộc chiến này kéo dài tới năm 1989 mới chấm dứt.
Ngoài ra, các tài liệu của Mỹ được tiết lộ gần đây cho hay, trước năm 1975, họ đã hỗ trợ phong trào ly khai của các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên thành lập 5 trại huấn luyện, chiêu mộ 3.000 thanh niên người dân tộc tổ chức thành Mặt trận FULRO với mục tiêu đòi độc lập cho vùng này. Năm 1965, cuộc nổi dậy của FULRO thất bại và bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa đàn áp, 4 lãnh đạo bị tòa án xử tội chết và bị hành hình công khai, 15 người khác bị án tù, nhưng phong trào vẫn chưa bị triệt hạ hẳn. Tháng 4/1975, một nhóm ủng hộ FULRO điều đình và thỏa thuận với các quan chức Mỹ sẽ tiếp tục chiến đấu chống lại chính phủ Việt Nam. Kể từ đó, sau năm 1975, những thành viên FULRO chạy trốn sang Campuchia đã liên kết với Khmer Đỏ để tiến hành chiến tranh du kích chống chính phủ Việt Nam. Hai cuộc chiến tranh liên tiếp và các vụ đột kích của FULRO đã buộc Việt Nam phải tiếp tục duy trì một đội quân thường trực đông đảo để đối phó với những mối nguy hiểm vẫn tiếp tục hiện hữu, cùng với đó là một lượng lớn ngân sách phải dành cho quốc phòng thay vì đầu tư cho kinh tế, khiến nền kinh tế Việt Nam chịu hao tổn nặng nề.
Về kinh tế, sau chiến tranh, Việt Nam gặp phải nhiều khó khăn. Sự rập khuôn cứng nhắc mô hình kinh tế - chính trị Liên Xô và Trung Quốc chậm thay đổi; thiên tai, lệnh cấm vận của Mỹ; và sự tàn phá của chiến tranh; 2 cuộc chiến tranh biên giới nổ ra; tất cả đều góp phần vào các vấn đề thời hậu chiến của đất nước. Những điểm yếu về kinh tế, xã hội do rập khuôn theo mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô đã nhanh chóng phát tác trầm trọng (những điểm mà trong thời chiến dân chúng còn tạm chấp nhận).
Ngày 04/9/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản miền Nam lần I. Ngày 15/7/1976, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết 254/NQ/TW về những công tác trước mắt ở miền Nam, hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản, tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Tháng 12 năm 1976, chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần 2. Tiếp theo, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 3 năm 1977 quyết định hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh miền Nam trong 2 năm 1977-1978. Nhà nước đã quốc hữu hoá và chuyển thành xí nghiệp quốc doanh đối với các xí nghiệp công quản và xí nghiệp "tư sản mại bản", tư sản bỏ chạy ra nước ngoài. Có 1.354 cơ sở với 130.000 công nhân được quốc hữu hoá, bằng 34% số cơ sở và 55% số công nhân. Thành lập xí nghiệp hợp tác xã, gia công, đặt hàng: 1.600 cơ sở với trên 70.000 công nhân, chiếm 45% số cơ sở và khoảng 30% số công nhân trên toàn miền Nam. Số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh còn lại chiếm khoảng 6% về cơ sở và 5% về công nhân, trong tổng số xí nghiệp công nghiệp tư doanh. Trong năm 1976, "tư sản mại bản" và tư sản lớn trong công nghiệp miền Nam bị xoá bỏ. Năm 1978, nhà nước hoàn thành căn bản cải tạo tư sản công nghiệp loại vừa và nhỏ ở miền Nam, xoá bỏ việc người Hoa kiểm soát nhiều ngành công nghiệp. Đến tháng 5 năm 1979, tất cả các xí nghiệp công quản lúc đầu ở miền Nam đều đã được chuyển thành xí nghiệp quốc doanh. Trong những năm 1977-1978, việc cải tạo các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp miền Nam được thực hiện. Tiểu thủ công nghiệp được tổ chức lại và đưa vào hợp tác xã. Tới cuối năm 1985, số cơ sở tiểu thủ công nghiệp miền Nam đã có 2.937 hợp tác xã chuyên nghiệp, 10.124 tổ sản xuất chuyên nghiệp, 3.162 hợp tác xã nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 529 hợp tác xã và 920 hộ tư nhân cá thể.
Sau khi thống nhất, chính quyền Việt Nam cũng tiến hành cải tạo văn hóa. Có những đợt thanh lọc, tiêu hủy các sách báo bị xếp loại văn hóa phẩm đồi trụy tại miền Nam. Từ tháng 9 năm 1975, nhà chức trách đã ấn định danh mục sách bị cấm, có nơi sách báo trong danh mục cấm bị gom lại và đốt ngoài đường. Theo tường trình của Tạp chí Cộng sản, tháng 6 năm 1981, trong cuộc càn quét khác, chính quyền tịch thu ba triệu ấn phẩm, trong đó có hơn 300.000 đầu sách và tạp chí. Riêng ở Sài Gòn thu được 60 tấn sách vở các loại. Bên cạnh đó, chính quyền tổ chức các lớp học miễn phí nhằm xóa mù chữ cho người dân, lập các trạm y tế, đồng thời thành lập các hội phụ nữ, hội công nhân, công đoàn...
Ngày 18/4/1975, Ban Bí thư Đảng Lao động Việt Nam ra Chỉ thị 218/CT-TW: "Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật (kể cả lính và sĩ quan) mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau này tuỳ theo yêu cầu của ta và tuỳ theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ".
Sau ngày 30/4/1975, chính quyền mới yêu cầu sĩ quan quân đội và viên chức Việt Nam Cộng hòa phải ra trình diện. Tuy nhiên, số tàn quân của quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã tại chỗ khá đông, một số vẫn tiếp tục lẩn trốn và tìm cách chống lại chính quyền mới (ném lựu đạn, ném đá vào rạp hát, cắm cờ Việt Nam Cộng hòa, dán khẩu hiệu ở thị xã, thị trấn, đặt chướng ngại vật gây tai nạn trên đường, lập các nhóm gây rối trật tự trị an...). Một số còn thu thập nhân lực, chôn giấu vũ khí, xây dựng kế hoạch hoạt động vũ trang để lập vùng ly khai. Để giải quyết lo ngại về an ninh, tháng 6/1975, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra thông cáo bắt buộc sĩ quan quân đội và viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa đi học tập cải tạo với thời hạn từ vài ngày đến vài năm (thời hạn thường tăng theo cấp bậc, sĩ quan bậc thấp như thiếu úy thường là vài ngày, trong khi các viên chức cấp cao nhất có người bị giam giữ hơn 10 năm). Để phân định và có chính sách đối xử thỏa đáng, Chính phủ cũng phân biệt rõ "những công chức làm việc cho địch vì hoàn cảnh, vì đồng lương thì không coi là ngụy quyền". Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo Phạm Văn Đồng, con số người phải trải qua học tập cải tạo là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện. Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại, tuy nhiên một số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ngược lại, một số quan chức Việt Nam Cộng hòa đã cộng tác với chính phủ Cách mạng lâm thời được giữ chức vụ trong chính phủ mới như Nguyễn Hữu Hạnh... Khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, một số cựu binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã được Quân đội Nhân dân Việt Nam gọi tái ngũ để giúp vận hành các loại vũ khí thu được do Mỹ sản xuất.
Mặt khác, căng thẳng ngoại giao với Trung Quốc và các sự kiện liên quan (như vụ việc treo ảnh Mao Trạch Đông và cờ Trung Quốc tại Chợ Lớn) khiến chính phủ Việt Nam tập trung vào một đối tượng khác là người gốc Hoa. Chính phủ đưa ra thời hạn để người gốc Hoa đăng ký nhập tịch Việt Nam, những người gốc Hoa không chịu đăng ký quốc tịch Việt Nam bị mất việc và giảm tiêu chuẩn lương thực, tất cả các tờ báo tiếng Trung Quốc, trường học dành riêng cho người Hoa bị đóng cửa. Các vấn đề về tù binh và Hoa kiều đã được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản.
Những biến cố cả khách quan lẫn chủ quan về chính trị và kinh tế đã tạo nên làn sóng những người vượt biên. Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ. Nhiều người trong số trong đã chết dọc đường do thiếu ăn, bệnh tật, cướp biển hoặc bão tố. Trong số những người vượt biên, một tỷ lệ lớn là người Hoa, họ vượt biên khỏi Việt Nam do lo sợ chiến tranh nổ ra giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong những năm 1978-1989, 2/3 trong số những người vượt biên bằng đường biển từ Việt Nam là người gốc Hoa, thêm vào đó là khoảng 250.000 người Hoa vượt biên sang Trung Quốc qua biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979.
Thêm vào đó, nền kinh tế Việt Nam còn chịu hao tổn nặng nề do cuộc xung đột kéo dài tại biên giới với Trung Quốc, do các cuộc tấn công vào Tây Nam Bộ của quân Khmer Đỏ và do việc đóng quân quá lâu (hơn 10 năm) ở Campuchia sau chiến tranh biên giới Tây Nam. Sau 10 năm thống nhất, tiến hành đổi mới cho Việt Nam là tất yếu và sống còn.
=== Hoa Kỳ ===
Nền chính trị và mối liên kết giữa chính phủ Mỹ và người dân bị cuộc chiến làm chia rẽ nghiêm trọng. Hoa Kỳ đã tốn 676 tỷ đô la cho cuộc chiến (tính theo giá trị đô la của năm 2004, chưa tính các khoản chi tiêu gián tiếp khác), mức hao tổn này chỉ đứng sau chi phí của Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1.200 tỷ đô la, tính theo thời giá năm 2007). Một tính toán khác cho thấy Chính phủ Mỹ đã phải tiêu tốn 950 tỷ USD (thời giá 2011) chiến phí, nếu tính cả chi phí cho cựu chiến binh thì nước Mỹ đã tốn kém tới 1.200-1.800 tỷ USD cho cuộc chiến tại Việt Nam. Nếu đem so sánh độ tốn kém của chiến tranh Việt Nam với các chương trình có tính chất tiêu biểu mà chính phủ nước Mỹ đã thực hiện, thì Việt Nam vẫn nổi lên một lần nữa là một trong những công cuộc đắt tiền nhất trong lịch sử nước Mỹ. Toàn bộ hệ thống đường sá giữa các bang chỉ tiêu tốn 53 tỷ USD (năm 1972), chương trình vũ trụ đưa người lên Mặt Trăng của Mỹ cũng chỉ tốn 25 tỷ USD.
Việc Hoa Kỳ phải liên tục in tiền để trả chiến phí cho Chiến tranh Việt Nam đã góp phần khiến đôla mất giá và tăng lạm phát, kéo theo sự sụp đổ của Hệ thống Bretton Woods (hệ thống tỷ giá cố định mà Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ ấn định cho đôla Mỹ). Trong cuộc chiến tranh, nhằm đáp ứng yêu cầu của các nỗ lực chiến tranh, các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng được chuyển đổi để sản xuất thiết bị quân sự, gây ra sự sụt giảm hàng hóa, do đó làm tổn thương nền kinh tế. Sự hao tổn chiến phí đã làm thâm hụt ngân sách tăng cao, góp phần đẩy nền kinh tế Mỹ vào một thập niên 1970 suy thoái kinh tế đầy u ám.
41 năm sau chiến tranh, tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát biểu về bài học mà Mỹ rút ra trong chiến tranh Việt Nam:
== Nguyên nhân chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ==
Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ít binh sĩ và vũ khí hơn, trong khi đó Quân đội Hoa Kỳ được trang bị vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới. Ở thời kỳ cao điểm năm 1968, quân Mỹ và đồng minh có số lượng quân sĩ gấp bốn lần và gấp hàng chục lần về thiết bị vũ khí. Ngay cả ở thời điểm cuối, năm 1975, khi Mỹ đã rút quân về nước, họ vẫn trang bị cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa mạnh gấp 2 lần về quân số và gấp vài lần về trang bị so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến thắng chung cuộc lại thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, bên yếu thế hơn nhiều về quân sự. Đây là điều để lại nhiều bài học về chiến lược chính trị và quân sự cho các nhà nghiên cứu, các tướng lĩnh quân sự sau này.
=== Sự ủng hộ của người dân ===
Với mục tiêu thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã kêu gọi được sự ủng hộ to lớn của nhân dân hai miền. Tiêu biểu là sự hy sinh của người dân, chiến sĩ miền Nam trên tiền tuyến và sự chi viện hết lòng của nhân dân miền Bắc với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Chính sự ủng hộ lớn mạnh được chính Đảng Lao động Việt Nam thừa nhận là yếu tố chính, có tính quyết định tới sự thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Phía Cộng hòa Miền Nam Việt Nam sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết chỉ giành được chính quyền cấp cơ sở, từ cấp quận trở xuống. Do đó, sự ủng hộ và cuộc tấn công năm 1975 là yếu tố quyết định tới thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đóng vai trò chính trong việc đánh thắng khối chủ lực Quân đoàn 3 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, còn lực lượng dự bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa chủ yếu bị đánh bại bởi lực lượng dân quân và người dân địa phương ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Chính vì vậy, yếu tố chính và quan trọng trong chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính là sự ủng hộ của nhân dân. Chính chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong Lễ kỷ niệm 35 Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại Thành phố Hồ Chí Minh đã phát biểu
"Trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ vì miền Nam ruột thịt, quân và dân miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời sẵn sàng chi viện, đáp ứng mọi nhu cầu của tiền tuyến. Ở miền Nam – Thành đồng Tổ quốc, dù phải chịu sự đàn áp dã man, tàn bạo của địch, nhưng với ý chí quật cường, bất khuất, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo miền Nam một lòng, một dạ đi theo cách mạng, tin tưởng sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng, của Hồ Chủ tịch, vào sự nghiệp thống nhất đất nước, anh dũng chiến đấu, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác"
Sự ủng hộ của người dân được coi là yếu tố then chốt khi mục tiêu của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn có nguồn gốc là những người dân bình thường, là bảo vệ nhân dân, vì nhân dân để chiến đấu. Mối quan hệ quân-dân thường được so sánh với quan hệ cá-nước. Tại nhiều mặt trận, đặc biệt là phòng không tầm thấp, lực lượng dân quân chiếm đa số và đã lập được nhiều chiến công
Nhà sử học đương thời Nguyễn Hiến Lê viết trong hồi ký:
"Khắp thế giới ngạc nhiên và phục "Việt cộng" tổ chức cách nào mà Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng hòa không hay biết gì cả. Họ đã lén chở khí giới, đưa cán bộ vào Sài Gòn, Huế... từ hồi nào, chôn giấu, ẩn núp ở đâu? Chắc chắn dân chúng đã che chở họ, tiếp tay với họ, không ai tố cáo cho nhà cầm quyền biết. Trái lại mỗi cuộc hành quân lớn nhỏ nào của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa họ đều biết trước ngày và giờ để kịp thời đối phó. Nội điểm đó thôi cũng đủ cho thế giới biết họ được lòng dân miền Nam ra sao và tại sao Mỹ thất bại hoài."
=== Tinh thần độc lập dân tộc ===
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nguồn gốc là một phong trào dân tộc mãnh liệt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, chính phủ này đã lãnh đạo người Việt Nam kháng chiến chống Pháp trong giai đoạn 1945-1954 để giành độc lập cho đất nước. Với uy tín trong nhân dân đạt được từ việc đã tổ chức Mặt trận Việt Minh giành độc lập cho đất nước và kiên trì chiến đấu chống thực dân Pháp, và tổ chức do đảng này thành lập là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đi tiên phong, đã đạt được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân Việt Nam Nguyện vọng giành độc lập và thống nhất đất nước, sự ủng hộ của đa số nhân dân đã trở thành yếu tố quyết định giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thắng lợi dù họ là bên yếu thế hơn nhiều về trang bị quân sự. Hoa Kỳ đã thất bại vì không nhận ra đó là một cuộc "chiến tranh nhân dân", và người Việt Nam gắn bó với cách mạng bởi vì họ coi đó như là một cuộc chiến để bảo vệ gia đình, đất đai và tổ quốc mình
Sự thất bại chung cuộc của Mỹ có hai nguyên nhân: Trước hết, không ai trong chính phủ Mỹ có thể dự đoán được rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ chịu đựng được sự tàn phá ghê gớm mà quân đội Mỹ gây ra. Thứ hai, lãnh đạo quân sự Mỹ ngay từ đầu đã không đề ra và phát triển được một chiến lược thích hợp với cuộc xung đột, cũng như về sau đã không điều chỉnh được nó. Năng lực biến các điểm yếu thành thế mạnh, sức chịu đựng của nhân dân cùng với sự hi sinh cá nhân cho tập thể, và quyết tâm của quân đội đã biến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành một địch thủ ghê gớm đối với Mỹ.
Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để cống hiến cho mục tiêu chung là giành độc lập cho đất nước. Trong khi đó, quân nhân Mỹ và đồng minh dù trang bị tốt nhưng lại thường mơ hồ về lý tưởng chiến đấu, phần lớn họ cảm thấy vô lý khi phải sang chiến đấu tại một đất nước xa lạ. Chiến tranh càng kéo dài thì càng hao tổn tiền bạc, thương vong ngày càng tăng thì tinh thần chiến đấu của lính Mỹ càng xuống thấp, tâm lý phản chiến trong quân đội và dân chúng Mỹ càng tăng lên. Khi tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng, chính phủ Mỹ sẽ đánh mất sự ủng hộ của đa số người dân Mỹ, khi đó chính phủ Mỹ cũng không còn khả năng tiếp tục cuộc chiến tranh được nữa. Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận ra và khai thác tối đa điểm yếu này của Mỹ để đánh bại họ. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc đấu về sự bền bỉ trong việc chịu đựng gánh nặng chiến tranh và động viên sự ủng hộ của người dân. Mỹ đã thất bại vì sức bền của họ không bằng được đối thủ và chính phủ Mỹ đã đánh mất sự ủng hộ của người dân, cũng giống như cách mà Pháp đã thất bại trước đó.
Trung tướng Bernard Trainor, từng phục vụ ở Việt Nam hai lần, của cả hai loại hình Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ, so sánh cuộc chiến ở Việt Nam với cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ:
Để trả lời câu hỏi "vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ", Pino Tagliazucchi, nhà nghiên cứu người Ý, cố tìm "một điều gì đó không liên quan đến khoa học quân sự cổ điển..." rồi kết luận rằng đó chính là: "lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt Nam, và cuộc đấu tranh vì độc lập là của tất cả mọi người." Nhà sử học Stanley Karnow nhận xét:
=== Tinh thần đại đoàn kết dân tộc ===
Đại đoàn kết dân tộc là một chủ trương lớn của Đảng Lao động Việt Nam. Sự thành lập của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một bước đi quan trọng để thực hiện chủ trương ấy. Thắng lợi của Phong trào Đồng khởi (sự kiện đã giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời) được tạo nên bởi sự ủng hộ của người dân miền Nam vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Thực tế khách quan đã đỏi hỏi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam phải có được sự đoàn kết dân tộc để giành chiến thắng.
Trong mọi chiến dịch, hành động quân sự của mình, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam đều nhận được sự trợ giúp của nhân dân miền Nam, đặc biệt là người dân vùng nông thôn. Tại thành thị, lực lượng Biệt động thành cũng nhận được sự che chở của người dân. Sức mạnh từ sự ủng hộ của nhân dân được Đảng Lao động Việt Nam dày công xây dựng và phát huy cao độ có nguồn gốc từ tư tưởng "lấy dân làm gốc" và "đường lối cách mạng độc lập, tự chủ". Để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, Đảng Lao động Việt Nam đã nêu cao tinh thần, truyền thống yêu nước của nhân dân hai miền. Đảng Lao động Việt Nam chủ trương “Đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được". Ở miền Nam, việc đặt ra mục tiêu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là: “Thực hiện một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà” nên đã tập hợp được mọi lực lượng, mọi người dân yêu nước ở miền Nam tham gia vào cuộc đấu tranh chống Mỹ - Việt Nam Cộng hòa, thực hiện mục tiêu chung là giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
=== Chiến lược chiến tranh nhân dân ===
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã động viên được nhân dân cả nước không chỉ đóng góp sức người, sức của cho hoạt động chiến đấu của các lực lượng vũ trang, mà còn trực tiếp tham gia chiến đấu. Ở miền Bắc, đó là những hoạt động phòng thủ dân sự, phục vụ chiến đấu và vũ trang chiến đấu, tạo lưới lửa phòng không nhiều tầng và rộng khắp chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Ở miền Nam, đó là sự che chở, nuôi giấu lực lượng du kích, những đội biệt động thành thị của mọi tầng lớp nhân dân.
Về nghệ thuật quân sự, ở miền Bắc là thế trận phòng không nhân dân được xây dựng nhiều tầng và rộng khắp, có phương án hiệp đồng và bảo đảm chu đáo chuẩn bị kỹ cả thế phòng tránh (phòng không nhân dân) và thế đánh trả (các trận địa); phân công các binh chủng hoả lực hợp với sở trường và tính năng vũ khí; kết hợp vừa chiến đấu, vừa duy trì sản xuất, vừa bảo đảm chi viện cho chiến trường… Ở miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thực hiện thế trận "toàn dân đánh giặc, "kết hợp hai chân, ba mũi, ba vùng", nối thông giữa vùng tự do, căn cứ địa và vùng địch hậu.
Năm 1973, trước phiên điều trần về lý do quân đội Hoa Kỳ thất bại ở Việt Nam, các giáo sư Mỹ đã đánh giá: Ở Việt Nam, Mỹ đã gặp phải một đối phương không chịu chấp nhận chế độ thực dân mới, không chịu quỳ gối trước sức mạnh quân sự Mỹ. Ngoài ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, người Việt Nam còn sáng tạo ra một đường lối, chiến lược và biện pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh để phát huy sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Giáo sư Noam Chomsky nhận định: "Đối phương đã tìm ra "một chiến lược khôn khéo đến mức nguy hiểm để đánh bại Mỹ". Giám đốc Phân tích Hệ thống đã cảnh báo: "Trừ khi chúng ta nhận ra và chống lại nó ngay bây giờ nếu không chiến lược đó sẽ trở thành phổ biến trong tương lai. Chiến lược đó là tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dựa trên nguyện vọng của nông dân Việt Nam muốn độc lập và công bằng xã hội. Nước ngoài không bao giờ có thể địch nổi chiến lược đó"
Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng đã nói:
"Cuộc chiến tranh này không phải chỉ là sự đối chọi giữa những thiết bị tối tân nhiều hay tối tân ít. Nó còn là sự đối chọi giữa những khối óc. Mỹ đã huy động những trí tuệ thông thái nhất, những nhân vật có năng lực nhất trong quân đội, trong bộ máy hành chính và các trường đại học. Họ có những bộ óc rất cừ, nhưng những bộ óc đó không được sử dụng tốt bởi vì bị đưa vào một cuộc chiến tranh mà người ta thấy trước là họ sẽ thua. Họ đã dựng lên một bộ máy hùng mạnh, nhưng bộ máy ấy thế nào cũng thất bại...
Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh này với tất cả những phương tiện khoa học mà họ có thể có trong tay. Nhưng với phương tiện mà chúng tôi có, chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh này một cách khoa học, ngay cả khi trang bị của chúng tôi chỉ ở mức trung bình... Không phải chỉ cần có trong tay những phương tiện tiên tiến về kỹ thuật là đủ để cho chiến tranh được tiến hành một cách khoa học. Nhận thức của chúng tôi về chiến tranh là khoa học bởi vì chúng tôi chiến đấu trên mảnh đất của chúng tôi, vì những mục tiêu của chính chúng tôi và những phương pháp của riêng chúng tôi. Vì lẽ đó mà mặc dù có cả một bộ máy khoa học, kẻ địch đã bị thua chạy. Chính chúng tôi là những người nắm quyền chủ động".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mô tả chiến lược giành chiến thắng của quân dân Việt Nam trước kẻ thù mạnh hơn hẳn về trang bị:
=== Tâm lý phản chiến của nhân dân và quân nhân Mỹ ===
Tại Việt Nam, Mỹ đã huy động một lực lượng hùng hậu, tướng William Westmoreland "tin tưởng rằng nước Mỹ chưa hề cho ra trận một lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến hơn lực lượng ở Việt Nam trong những năm 1966-1969".. Nhưng không giống với những cuộc chiến trước đó, tại Việt Nam, lính Mỹ ra trận mà hoàn toàn mơ hồ về lý tưởng chiến đấu. Sau khi chứng kiến tận mắt những gì diễn ra ở Việt Nam và cảm thấy cuộc chiến của Mỹ là sai trái, nhiều lính Mỹ trở nên bất mãn và phản đối chiến tranh, tinh thần và sức chiến đấu của quân đội Mỹ ở Việt Nam dần sa sút nghiêm trọng.
Sĩ quan đặc nhiệm Mỹ, Donald W. Duncan, sau 1 năm tham chiến ở Việt Nam, khi về nước đã xuất bản một bản cáo trạng về cuộc chiến tranh đăng Tạp chí Ramparts (tháng 02-1965). Trong đó, có đoạn: “Tôi đã phải chấp nhận rằng… đại đa số người dân Việt Nam ủng hộ Việt Cộng và chống lại chính phủ Sài Gòn. Tôi cũng phải chấp nhận rằng quan điểm: “Chúng ta (lính Mỹ) ở Việt Nam bởi vì chúng ta thông cảm với những khát vọng và ước muốn của người dân Việt Nam” - là một lời dối trá”
Người Mỹ sẵn sàng hy sinh máu và tài nguyên đất nước trong các cuộc chiến tranh khác, nhưng họ phải được nhìn thấy sự tiến triển và biết khi nào thì chiến tranh chấm dứt. Trong Thế chiến thứ 2, họ có thể dùng bản đồ để theo dõi bước tiến của quân đội Mỹ trên khắp Âu châu; ở Việt Nam – nơi cuộc chiến không có một mặt trận cụ thể, một giới tuyến cụ thể nào – họ chỉ được hứa hẹn và được cung cấp những con số vô nghĩa về “tổn thất của đối phương”. Nước Mỹ đã sử dụng sức mạnh quân sự lớn chưa từng thấy để bẻ gãy ý chí của đối phương, nhưng cuối cùng thì chính Mỹ lại bị tơi tả dưới sức nặng của một cuộc chiến dường như không bao giờ kết thúc.
Đối với Mỹ, chiến tranh tại Việt Nam gây hao tổn ngân sách và thương vong ít nghiêm trọng hơn so với thế chiến thứ hai. Nhưng trong thế chiến thứ 2, Mỹ là bên bị gây hấn trước, và người dân Mỹ hiểu rằng nước Mỹ tham chiến vì một sự nghiệp tốt đẹp là đánh bại chủ nghĩa phát xít, nên họ có thể chấp nhận những tổn thất lớn về người và của. Trong khi đó, người Việt Nam chưa từng gây ra đe dọa nào cho nước Mỹ và người dân Mỹ cũng chẳng có lý do gì thù ghét gì dân tộc này, việc quân Mỹ tham chiến tại đây chỉ đơn giản là do Chính phủ Mỹ muốn như vậy. Do đó, khi mức hao tổn ngân sách và thương vong ngày càng tăng, thì tâm lý phản chiến của người dân Mỹ cũng ngày càng tăng lên. Họ thấy thật vô lý khi chính phủ Mỹ lãng phí của cải và sinh mạng binh lính để tấn công một đất nước chưa từng đe dọa họ, trong khi chính nước Mỹ còn đầy rẫy sự bất công về dân quyền, kinh tế và chủng tộc. Công chúng Mỹ, đau buồn vì số thương vong ngày càng nhiều, thuế má tăng vọt và không thấy có triển vọng về một giải pháp, đã quay sang chống chiến tranh.
Ngày 4 tháng 4 năm 1967, luật sư Martin Luther King đã phát biểu công khai phê phán mạnh mẽ vai trò của nước Mỹ trong cuộc chiến, mở đầu cho phong trào phản chiến rộng khắp của người dân toàn nước Mỹ
Ngày 13 Tháng 1 năm 1968, Martin Luther King tham gia một cuộc tuần hành lớn tại Washington chống lại thứ mà ông gọi là "một trong những cuộc chiến tranh tàn bạo và vô nghĩa nhất trong lịch sử". Ông nói:.
"Chúng ta cần phải làm rõ trong năm chính trị này, cho các dân biểu lưỡng viện và tổng thống của Hoa Kỳ thấy, rằng chúng ta sẽ không chịu đựng nữa, chúng ta sẽ không bỏ phiếu cho những kẻ nghĩ rằng giết chóc người Việt Nam và người Mỹ là cách tốt nhất để thúc đẩy sự tự do và quyền tự quyết tại khu vực Đông Nam Á"
Một cuộc khảo sát trong các sinh viên đại học ở Mỹ vào tháng 4-1970 cho thấy, 41% đồng ý với tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam hoàn toàn là phục vụ chủ nghĩa đế quốc”. Ở Mỹ, sự bất mãn về cuộc chiến không ngừng tăng lên trong dân chúng nói chung, người trẻ tuổi nói riêng. Theo điều tra của viện Gallup, tháng 8/1965, vẫn có 52% người Mỹ ủng hộ cuộc chiến, nhưng đến tháng 8/1968, con số này sụt còn 35%, và đến tháng 5/1971 thì sụt còn 28%. Sau tháng 5/1971, viện Gallup dừng điều tra vì thấy không còn cần thiết (tỷ lệ người dân Mỹ chống chiến tranh đã trở nên quá áp đảo).
Quân nhân Mỹ thì thể hiện sự bất mãn với cuộc chiến tranh bằng nhiều cách, từ bất tuân lệnh, hút ma túy tới giết chết chỉ huy. Tờ Armed Forces Journal đã đăng bài viết của Đại tá Robert Heinl (tháng 7-1971) có tên là “Sự sụp đổ của lực lượng quân sự”, trong đó viết:
“Tinh thần, kỷ luật và tính chiến đấu của Quân đội Mỹ thấp kém hơn và tồi tệ hơn bất kỳ lúc nào trong thế kỷ này và có thể trong lịch sử nước Mỹ. Quân đội của chúng ta lúc này vẫn còn ở Việt Nam đang trong một tình trạng suy sụp, với mỗi đơn vị đều từ chối chiến đấu, giết các sĩ quan chỉ huy và các hạ sĩ quan, còn những nơi không có sự chống đối thì đầy sự nghiện ngập và mất tinh thần”
Đến giữa năm 1972, Lầu Năm Góc công nhận “có 551 vụ ám sát bằng các thiết bị gây nổ, gây ra 86 trường hợp thiệt mạng, hơn 700 trường hợp bị thương. Đây là một sự đánh giá thấp về số sĩ quan Mỹ bị binh lính của họ ám sát”. Đến năm 1971, tình trạng suy sụp của Quân đội Mỹ ở Việt Nam có thể nhìn thấy rõ ràng. Đại tướng Creighton Abrams sau khi tới Việt Nam đã phê phán: “Đây có phải là đội quân dưới địa ngục hay một bệnh viện tâm thần? Các sĩ quan sợ chỉ huy quân đi chiến đấu, và các binh sĩ thì không tuân lệnh. Lạy Chúa Jesus! Điều gì đang xảy ra?”. Cùng với đó, quân đội Mỹ gia tăng đào ngũ. Bộ Quốc phòng Mỹ đã ghi lại 503.927 trường hợp đào ngũ từ ngày 01-7-1966 đến 31-12-1973, chỉ riêng năm 1971 đã có 98.324 binh sĩ đào ngũ.
Sự phản đối cuộc chiến Việt Nam không chỉ có ở các quân nhân tại ngũ mà còn của cả cựu chiến binh Mỹ. Jan Barry đã đưa ra một danh sách gồm 16 yêu cầu của cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam chống lại chiến tranh (VVAW) tới Quốc hội Mỹ. Trong đó nêu rõ: “Rút ngay lập tức, đơn phương và không điều kiện tất cả lực lượng quân Mỹ khỏi Đông Dương; ân xá cho tất cả những người đã từ chối đi chiến đấu ở Việt Nam; yêu cầu mở cuộc điều tra chính thức các tội ác chiến tranh; và cải thiện trợ cấp cho các cựu chiến binh”
Võ sĩ quyền Anh huyền thoại Muhammad Ali từng bị đi tù vì không chịu nhập ngũ tham gia chiến tranh tại Việt Nam. Ông đã công khai phỉ báng và từ chối vào quân đội Mỹ, và kêu gọi người dân Mỹ cùng phản đối chiến tranh Việt Nam. Ông nói: "Tôi không có gì bất mãn với Việt Cộng... không có Việt Cộng nào gọi tôi là "thằng mọi đen" cả", "Không, tôi sẽ không đi xa nhà 10.000 dặm để tàn sát, giết, thiêu cháy người khác nhằm duy trì sự thống trị của các ông chủ da trắng lên những người da màu trên toàn thế giới. Đây là lúc mà một thời đại tàn ác như vậy phải kết thúc"., và:
=== Các nhà lãnh đạo của hai bên ===
Tại một nước có truyền thống Nho giáo như Việt Nam, các nhà lãnh đạo phải thể hiện được lối sống đạo đức và tài năng của bản thân trong một tập thể chung đoàn kết. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các nhà lãnh đạo của họ thể hiện được lý tưởng hết sức quan trọng này. Nhân vật chính yếu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với nhiều người Việt Nam, ông là một nhà yêu nước đã vận dụng chủ nghĩa Marx-Lenin vào công cuộc giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thực dân và đế quốc. Tính giản dị và kiên cường của ông được nhiều người kính mến, người dân Việt Nam coi ông là anh hùng dân tộc. Giáo sư David Thomas cho rằng "Chính viễn kiến của ông, sự hy sinh, tính bền bỉ và sự lãnh đạo của ông trong một nước nghèo nàn, lạc hậu đã thúc đẩy người Việt Nam đứng dậy, đánh thắng thực dân Pháp và quân đội Mỹ." Giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thể hiện một sự cao độ về tinh thần đoàn kết trong suốt thời gian chiến tranh xảy ra.
Ngược lại, Chính phủ Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về quan điểm chiến tranh, các tướng lĩnh Mỹ khi áp dụng các chiến lược không hiệu quả thì cũng thường quay sang đổ lỗi cho giới chính trị gia. Giáo sư Noam Chomsky trả lời trước Thượng viện Mỹ, chính phủ Việt Nam Cộng hòa "đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến chống lại nền độc lập của chính đất nước họ”, và chính phủ này "không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp". Các chính khách, tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa thì không ngừng tham gia vào các âm mưu chính trị, tham nhũng quá nhiều, và liên tục diễn ra đảo chính, do đó càng làm suy sụp tinh thần của binh sĩ. Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh, trong tất cả các lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị lật đổ, người Mỹ chỉ huy trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao Sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ gần như hoàn toàn, cả về vật chất lẫn tâm lý đã là yếu tố quyết định cho sự thất bại của Việt Nam Cộng hoà: Khi Hoa Kỳ dần rút lui thì Việt Nam Cộng hoà cũng bắt đầu sa sút, tới lúc Hoa Kỳ bỏ cuộc thật thì Việt Nam Cộng hoà cũng sụp đổ theo
Năm 2005, khi về Việt Nam và trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống kiêm tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa nhận định rằng:
"Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những tên lính đánh thuê.
Tôi biết rất rõ ràng về cái gọi là những người chỉ huy, những ông tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khi ấy. Từ ông Thiệu đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi, toàn là những vị ăn chơi phè phỡn, tài không có mà đức cũng không. Trước đây có "ông" Mỹ đứng sau thì không có chuyện gì, nhưng khi phải một mình trực tiếp đối diện với khó khăn thì bản chất cũng như tài năng lộ ra ngay.
Trong một cuộc chiến, nói gì thì nói, theo tôi quan trọng nhất vẫn là Lực lượng, là Quân đội. Quân đội Việt Nam Cộng hòa, không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh - trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết! Trong khi đó, các chỉ huy ở miền Bắc lại có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường, được cấp dưới tin cậy và kính trọng về nhân cách, đó là sự hơn hẳn.
=== Chiến thuật quân sự ===
Tướng Lindsey Kiang, nhà sử học Mỹ đã nhận xét: Trong mắt nhiều lính Mỹ, bộ đội Việt Nam là những người có kỷ luật, chiến đấu thông minh và rất gan dạ. Ông nói:
Đã gần 50 năm kể từ khi những người lính Mỹ đặt chân đến Việt Nam. Đối với nước Mỹ, đó là khởi đầu của một cuộc chiến dài, cay đắng và không nhận được nhiều sự ủng hộ. Đối với người dân Việt Nam, cuộc chiến còn tàn phá khủng khiếp hơn, nhưng cuối cùng họ đã thắng và giành được độc lập, thống nhất, điều mà họ khao khát đã quá lâu rồi.
Tất cả những điều tôi đọc, tôi nghe được từ các cựu binh Mỹ đều toát lên một sự tôn trọng dành cho các cựu chiến binh Việt Nam... Những nhận xét đó thường là: Bộ đội Việt Nam thông minh, tiết tháo, có kỹ năng và lòng quyết tâm. Họ cũng là những người dũng cảm tuyệt vời trước hỏa lực khủng khiếp của pháo binh và không quân Mỹ. Nhiều cựu chiến binh Mỹ thường nhắc lại với niềm cảm phục sâu sắc khả năng chống đỡ của đối thủ dưới làn đạn mà những trận rải thảm B-52 là ví dụ điển hình.
Ở miền Nam, lính Mỹ cũng đánh giá cao bộ đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mặc dù có số lượng và hỏa lực áp đảo, có nguồn lực dồi dào và khả năng di chuyển cao nhưng lính Mỹ và đồng minh luôn vấp phải những khó khăn khi đối đầu với đối thủ, những người được quyết định đánh khi nào. Có thể thấy rằng, những người lính dũng cảm này đã tận dụng được yếu tố bất ngờ để giành chiến thắng trong những tình thế ngặt nghèo nhất
Miền Trung Việt Nam là nơi những đội quân tinh nhuệ nhất của quân đội Mỹ đối đầu với quân chính quy Bắc Việt Nam... một trung sĩ lính thủy đánh bộ nói với bạn tôi rằng: “Thưa ngài, lính Bắc Việt Nam đánh giỏi như chúng ta". Nên biết rằng, lính thủy đánh bộ Mỹ là những chiến binh ưu tú nhất, được chọn từ bộ binh sang. Đó quả là một lời khen ngợi đối thủ. “Họ rất dũng cảm, rèn luyện tốt và có tinh thần chiến đấu cao" - Anh ấy nói.
Quân đội Mỹ và đồng minh của họ chủ yếu chiến đấu theo hình thức chiến tranh quy ước, hình thức này rất tốn kém nhưng lại tỏ ra không hiệu quả tại chiến trường Việt Nam (do điều kiện khí hậu, địa hình cũng như lối đánh du kích của đối phương). Ngược lại, do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn vũ khí, Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tập trung phát triển các chiến thuật bộ binh phù hợp với số vũ khí hạn chế có trong tay và đúc kết kinh nghiệm thu được trong quá trình chiến đấu. Kết quả là Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có lực lượng bộ binh hạng nhẹ được coi là một trong những lực lượng thiện chiến hàng đầu trên thế giới, với những hình thức chiến thuật phù hợp với thực địa. Chủ tịch Ủy ban Quân lực, Thượng nghị viện Mỹ R. Russel đã nhận xét: “Chúng ta phải đương đầu với quân du kích tài tình nhất chưa từng thấy trong lịch sử loài người”
Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sĩ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá liên quân Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là "thiện chiến và gan góc". Một sĩ quan nhận xét "Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử".
Trong cuộc chiến Việt Nam, khả năng tác chiến công nghệ cao của không quân và hải quân là ưu thế chính của Mỹ, ở thời kỳ cao điểm Mỹ đã huy động 60% không quân và 40% hải quân để tham chiến ở Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô viện trợ cho một số vũ khí như MiG-21 và SAM-2 để chống lại, nhưng số lượng khá ít và đây cũng không phải là những vũ khí hiện đại nhất của Liên Xô khi đó. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáng tạo ra những chiến thuật mới, phát huy hiệu quả số lượng trang bị ít ỏi của mình. Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Conwell viết: “Lực lượng phòng không của Việt Nam là thứ đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những phi công Mỹ đã từng gặp” Đại tá James G. Zumwalt nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam, cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo để đáp trả”
Ví dụ tiêu biểu là Chiến dịch Linebacker II, lực lượng phòng không Việt Nam đã sử dụng tên lửa SAM-2 bắn hạ hàng chục máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ, dù tên lửa SAM-2 đã bị coi là lạc hậu ở thời điểm 1972. Không quân Nhân dân Việt Nam thì đã bắn hạ hàng trăm máy bay Mỹ (16 phi công đã hạ từ 5 máy bay trở lên), ngay cả khi họ chỉ có máy bay đời cũ là MiG-17 và MiG-21. Việc sử dụng hiệu quả trang bị cùng chiến thuật sáng tạo cũng là một trong những nguyên nhân tạo nên chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc chiến
== Vũ khí sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam ==
Chiến tranh Việt Nam là một chiến tranh ác liệt với quy mô lớn kéo dài gần 20 năm. Đây cũng là lần đầu tiên hậu quả tàn khốc của vũ khí được xuất hiện trên TV của các nước tiên tiến.
Hoa Kỳ đã áp dụng hầu hết các vũ khí tân tiến nhất thời đó (chỉ trừ vũ khí hạt nhân). Một loạt các loại vũ khí đã được sử dụng bởi các quân đội khác nhau hoạt động trong chiến tranh Việt Nam, bao gồm các đội quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Quân giải phóng miền Nam); tất cả các đơn vị của quân đội Mỹ; các đồng minh của họ là Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH), Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Thái Lan và quân đội Philippines.
Gần như tất cả các lực lượng liên minh bao gồm Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Úc được trang bị vũ khí của Mỹ, một số trong đó, chẳng hạn như M16, đã được dùng để thay thế các loại vũ khí có niên đại từ Chiến tranh thế giới thứ 2. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, thì thừa kế một bộ sưu tập vũ khí của Mỹ, Pháp, và Nhật Bản từ Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Đông Dương (ví dụ như Arisaka 99 của Nhật), nhưng phần lớn được vũ trang và cung cấp bởi Trung Quốc, Liên Xô, và của các nước Xã hội chủ nghĩa khác. Một số vũ khí, như K-50M (một biến thể PPsh-41), và phiên bản "tự chế" của RPG-2 đã được Quân đội Nhân dân Việt Nam tự sản xuất tại Việt Nam. Ngoài ra, do thiếu vũ khí, lực lượng du kích và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam còn sử dụng một số vũ khí tự chế từ xưa như cung, nỏ, bẫy chông... Thậm chí tài liệu Hoa Kỳ đã ghi nhận những trường hợp trực thăng của họ bị bắn rơi bởi cung nỏ của du kích Việt Nam
Năm 1969, quân đội Mỹ đã xác định được 40 loại súng trường, 22 loại súng máy, 17 loại súng cối, 20 súng trường không giật hoặc các loại ống phóng tên lửa, 9 loại vũ khí chống tăng, và 14 vũ khí phòng không được sử dụng bởi quân đội mặt đất của tất cả các bên. Ngoài ra lực lượng của Mỹ có 24 loại xe bọc thép và pháo tự hành, và 26 loại pháo và ống phóng tên lửa
Qua 20 năm, tổng lượng vũ khí mà Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam sử dụng nếu quy đổi thành tiền là khoảng 3,5 tỉ USD Trong khi đó, tổng lượng vũ khí mà quân đội Mỹ sử dụng có giá trị khoảng 141 tỷ USD, cùng với 16 tỷ USD vũ khí được Mỹ viện trợ cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tổng cộng là 157 tỷ USD (chưa kể khoản chiến phí của Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Thái Lan cũng do Mỹ chi trả)
== Chiến tranh Việt Nam trong văn hoá đại chúng ==
Chiến tranh Việt Nam là đề tài cho rất nhiều sách, phim ảnh, trò chơi từ nhiều năm qua từ khi nó kết thúc.
=== Sách ===
Trong bộ truyện tranh Watchmen, tổng thống Richard Nixon đã mời tiến sĩ siêu nhân Manhattan can thiệp vào chiến tranh Việt Nam và giúp quân đội Mỹ giành chiến thắng. Việt Nam sau đó trở thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ.
=== Phim ===
Trong bộ phim Forrest Gump, nhân vật chính là một người thiểu năng trí tuệ. Tuy vậy, khi sang Việt Nam chiến đấu anh lại trở thành anh hùng khi cứu được trung đội trưởng thoát chết sau một trận đánh. Khi trở về, anh lại tham gia phong trào chống Chiến tranh Việt Nam cùng người yêu. Bộ phim đã kể lại một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử nước Mỹ qua góc nhìn ngây thơ và trong sáng của một người chỉ có IQ bằng 75.
Phim Sinh ngày 4 tháng 7, nhân vật chính là một cựu binh Mỹ bị thương và liệt nửa người. Khi về nước, anh trở thành một người dẫn đầu phong trào phản đối chiến tranh của cựu binh Mỹ.
=== Trò chơi điện tử ===
Conflict Vietnam
Battlefield Vietnam
Battlefield Bad Company 2: Vietnam
Men Of War: Vietnam
=== Ca nhạc ===
== Xem thêm ==
Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam (1948-1975)
Chiến tranh Đông Dương
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Lịch sử Việt Nam
Viện trợ nước ngoài trong Chiến tranh Việt Nam
Các loại vũ khí trong Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh đặc biệt
Chiến tranh cục bộ
Việt Nam hóa chiến tranh
Phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe
Phong trào phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam
Đội quân tóc dài
Tội ác của Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh trong chiến tranh Việt Nam
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Trận lụt đồng bằng sông Hồng năm 1971
== Chú thích ==
== Thư mục ==
=== Tiếng Việt ===
Chung một bóng cờ (nhiều tác giả), Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995.
Hồi ký, hoành Linh Đỗ Mậu - Tâm sự tướng lưu vong, Hà Nội: Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2001.
Hồ Khang, Tết Mậu Thân 1968: Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2005.
Những nguồn viện trợ cho Cách mạng VN từ các nước Xã hội Chủ nghĩa
Nguyễn Đức Phương, Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập, Toronto, Ontario: Nhà xuất bản Làng Văn, 2001.
Kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam Ngày 10/6/2003. Cập nhật lúc 20h 34'
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà
Tăng cường đoàn kết nhất trí, tiến tới những thắng lợi mới! (Báo cáo của đồng chí Lê Duẩn về Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân ở Mạc Tư Khoa, đọc trước Hội nghị Trung ương lần thứ ba) Ngày 23/12/2003. Cập nhật lúc 23h 31'
=== Tiếng Anh ===
Craig A. Lockard, "Meeting Yesterday Head-on:The Vietnam War in Vietnamese, American, and World History", Journal of World History, Vol. 5, No. 2, 1994, University of Hawaii Press, pp. 227–270.
Carter, Jimmy. By The President Of The United States Of America, A Proclamation Granting Pardon For Violations Of The Selective Service Act, 4 tháng 8 năm 1964 To 28 tháng 3 năm 1973 (21 tháng 1 năm 1977)
Central Intelligence Agency. "Laos," CIA World Factbook
Eisenhower, Dwight D. Mandate for Change. (1963) a presidential political memoir
Ho, Chi Minh. "Vietnam Declaration of Independence," Selected Works. (1960-1962) selected writings
Inaugural Address of John F. Kennedy. (1961)
International Agreement on the Neutrality of Laos. (1962)
LeMay, General Curtis E. and Kantor, MacKinley. Mission with LeMay (1965) autobiography of controversial former Chief of Staff of the United States Air Force
Kissinger, United States Secretary of State Henry A. "Lessons on Vietnam," (1975) secret memoranda to U.S. President Ford
McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook
Kim A. O'Connell, ed. Primary Source Accounts of the Vietnam War (2006)
McCain, John. Faith of My Fathers: A Family Memoir (1999) the Senator was a POW
Marshall, Kathryn. In the Combat Zone: An Oral History of American Women in Vietnam, 1966–1975 (1987)
Martin, John Bartlow. Was Kennedy Planning to Pull out of Vietnam? (1964) oral history for the John F. Kennedy Library, tape V, reel 1.
Myers, Thomas. Walking Point: American Narratives of Vietnam (1988)
Major General Spurgeon Neel. Medical Support of the U.S. Army in Vietnam 1965–1970 (Department of the Army 1991) official medical history online complete text
Roosevelt, Franklin D. "Franklin Roosevelt Memorandum to Cordell Hull." (1995) in Major Problems in American Foreign Policy
Public Papers of the Presidents, 1965 (1966) official documents of U.S. presidents.
Schlesinger, Arthur M. Jr.Robert Kennedy and His Times. (1978) a first hand account of the Kennedy administration by one of his principle advisors
Sinhanouk, Prince Norodom. "Cambodia Neutral: The Dictates of Necessity." Foreign Affairs. (1958) describes the geopolitical situation of Cambodia
Sun Tzu. The Art of War. (1963), ancient military treatise
Tang, Truong Nhu. A Vietcong Memoir (1985), revealing account by senior NLF official
Terry, Wallace, ed. Bloods: An Oral History of the Vietnam War by Black Veterans (1984)
The Pentagon Papers (Gravel ed. 5 vol 1971); combination of narrative and secret documents compiled by Pentagon. excerpts
U.S. Department of State. Foreign Relations of the United States (multivolume collection of official secret documents) vol 1: 1964; vol 2: 1965; vol 3: 1965; vol 4: 1966;
U.S. Department of Defense and the House Committee on Armed Services.U.S.-Vietnam Relations, 1945–1967. Washington, DC. Department of Defense and the House Committee on Armed Services, 1971, 12 volumes.
Vann, John Paul Quotes from Answers.com Lt. Colonel, U.S. Army, DFC, DSC, advisor to the ARVN 7th Division, early critic of the conduct of the war.
Anderson, David L. Columbia Guide to the Vietnam War (2004).
Baker, Kevin. "Stabbed in the Back! The past and future of a right-wing myth," Harper's Magazine (June, 2006)
Angio, Joe. Nixon a Presidency Revealed (2007) The History Channel television documentary
Berman, Larry. Lyndon Johnson's War: The Road to Stalemate (1991).
Blaufarb, Douglas. The Counterinsurgency Era (1977) a history of the Kennedy Administration's involvement in South Vietnam.
Brigham, Robert K. Battlefield Vietnam: A Brief History a PBS interactive website
Buzzanco, Bob. "25 Years After End of Vietnam War: Myths Keep Us From Coming To Terms With Vietnam," The Baltimore Sun (17 tháng 4 năm 2000)
Church, Peter ed. A Short History of South-East Asia (2006).
Cooper, Chester L. The Lost Crusade: America in Vietnam (1970) a Washington insider's memoir of events.
Demma, Vincent H. "The U.S. Army in Vietnam." American Military History (1989) the official history of the United States Army. Available online
Duiker, William J. The Communist Road to Power in Vietnam (1996).
Duncanson, Dennis J. Government and Revolution in Vietnam (1968).
Fincher, Ernest Barksdale, The Vietnam War (1980).
Ford, Harold P. CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes, 1962–1968. (1998).
Gerdes, Louise I. ed. Examining Issues Through Political Cartoons: The Vietnam War (2005).
Hammond, William. Public Affairs: The Military and the Media, 1962–1968 (1987); Public Affairs: The Military and the Media, 1068–1973 (1995). full-scale history of the war by U.S. Army; much broader than title suggests.
Herring, George C. America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950–1975 (4th ed 2001), most widely used short history.
Hitchens, Christopher. The Vietnam Syndrome.
Karnow, Stanley. Vietnam: A History (1983), popular history by a former foreign correspondent; strong on Saigon's plans.
Kutler, Stanley ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1996).
Lewy, Guenter. America in Vietnam (1978), defends U.S. actions.
McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook.
McNamara, Robert, James Blight, Robert Brigham, Thomas Biersteker, Herbert Schandler, Argument Without End: In Search of Answers to the Vietnam Tragedy, (Public Affairs, 1999).
Moise, Edwin E. Historical Dictionary of the Vietnam War (2002).
Moss, George D. Vietnam (4th ed 2002) textbook.
Moyar, Mark. Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1955–1965, (Cambridge University Press; 412 pages; 2006). A revisionist history that challenges the notion that U.S. involvement in Vietnam was misguided; defends the validity of the domino theory and disputes the notion that Ho Chi Minh was, at heart, a nationalist who would eventually turn against his Communist Chinese allies.
Palmer, Bruce, Jr. The Twenty-Five Year War (1984), narrative military history by a senior U.S. general.
Schell, Jonathan. The Time of Illusion (1976).
Schulzinger, Robert D. A Time for War: The United States and Vietnam, 1941–1975 (1997).
Spector, Ronald. After Tet: The Bloodiest Year in Vietnam (1992), very broad coverage of 1968.
Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgement (2001).
Witz, James J. The Tet Offensive: Intelligence Failure in War (1991).
Young, Marilyn, B. The Vietnam Wars: 1945–1990. (1991).
Xiaoming, Zhang. "China's 1979 War With Vietnam: A Reassessment," China Quarterly. Issue no. 184, (December, 2005)
Vietnam bulletin - a weekly publication of the Embassy of Vietnam in United States. The Reunification of Vietnam, Special issue No.16, Available online
Bosmajian, Haig. Burning Books. Jefferson, NC: McFarland & Company, 2006.
== Liên kết ngoài ==
Kháng chiến chống Mĩ 1954 - 75 tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Vietnam War (1954–1975) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Mỹ của chủ tịch Hồ Chí Minh
Văn khố Chiến tranh Việt Nam - Đại học Công nghệ Texas
Chiến tranh, Tuyên truyền, và Báo chí: vấn đề Việt Nam
Tài liệu của CIA đã được giải mật
Hình về Chiến tranh Việt Nam
Các lực lượng Hoa Kỳ ở Việt Nam
Quân đội Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh
Việt Nam - Chiến tranh và Lịch sử, 1955-75
Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?: Bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa đăng trên BBC Vietnamese.
"Gọi tên cuộc chiến" hay xuyên tạc sự thật?: Ông Nguyễn Hòa đã viết bài này sau khi đọc bài của ông Lê Xuân Khoa, 16:36 ngày 15-03-2005.
Ảnh Mậu Thân gây chấn động, BBC Vietnamese
Sự cạnh tranh Liên Xô - Trung Quốc trong cuộc chiến VN BBC Vietnamese
UC Berkeley Library Social Activism Sound Recording Project: Anti-Vietnam War Protests Dự án Tài liệu bằng âm thanh đã được dự trữ, về các phong trào đã nổi lên ở Hoa Kỳ chống chiến tranh Mỹ ở Việt Nam trong thời kỳ 1960-1975.
Đài CNN phỏng vấn tiến sĩ Daniel Ellsberg Một đoạn phỏng vấn của sĩ quan Lầu Năm Góc Daniel Ellsberg với đài CNN Hoa Kỳ liên quan đến chiến tranh Việt Nam.
Sinh viên Mỹ nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam Đoạn phim giáo dục về chiến tranh Việt Nam được đưa lên trang Youtube.
Merle L. Pribbenow, "Sự kết thúc chiến lược vô song". kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3
Harrell Fletcher, Ảnh chụp tại Bảo tàng Tội ác chiến tranh, Thành phố Hồ Chí Minh
Stanley Karnow, Lost Inside the Machine, TIME.
L.V. Kotov, Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam (Bản tiếng Anh: American Aggression in Vietnam) |
saint helena.txt | 15°57′N 5°42′T
Saint Helena (cách phát âm: xanh hê-li-na), đặt theo tên của Helena thành Constantinopolis, là đảo núi lửa nằm ở phía Nam Đại Tây Dương, lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh. Vùng đất này bao gồm đảo Saint Helena và thuộc địa Đảo Ascension và Tristan da Cunha trải dài trên diện tích 425 km².
Saint Helena nổi tiếng bởi nơi đây từng là chốn lưu đày của hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte từ 1815 cho đến những năm tháng cuối đời (1821). Ngôi nhà Longwood chính là nơi sinh sống của ông và Sane Valley trên đảo sau thất bại cuối cùng trong trận Waterloo. Năm 1858, nơi đây đã được trao tặng cho Chính phủ Pháp.
Ngày nay, Saint Helena là một thành viên của Hiệp hội Thể thao Các đảo Thế giới (International Island Games Association).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Saint Helena tại Wikimedia Commons
The first website on St Helena — since 1995
The Official Government Website of Saint Helena
The Official Government Website of Ascension Island
The Official Tristan da Cunha Website
Open Directory Project — Saint Helena directory category |
784.txt | Năm 784 là một năm trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
trại david.txt | Cơ sở Hỗ trợ Hải quân Thurmont (Naval Support Facility Thurmont), thường được biết đến với cái tên Trại David, là một trại quân sự trên núi ở Quận Frederick, tiểu bang Maryland. Trại được sử dụng làm một nơi nghỉ ngơi miền quê của Tổng thống Hoa Kỳ và những khách mời của mình.
Ban đầu mang tên Hi-Catoctin, Trại David được xây dựng làm doanh trại cho các viên chức liên bang và gia đình của họ. Nó bắt đầu được xây dựng vào năm 1935 và mở cửa vào năm 1938. Năm 1942 nó được sửa sang thành một nơi nghỉ ngơi của tổng thống Franklin D. Roosevelt và được đổi tên thành U.S.S. Shangri-La. Trại David có được cái tên hiện nay là do Tổng thống Dwight D. Eisenhower đặt theo tên cháu nội của ông là David Eisenhower.
== Các hoạt động của Hải quân ==
Trại David là một cơ sở của Hải quân Hoa Kỳ. Đa số các thủy thủ ở đây là thuộc Công binh Hải quân Hoa Kỳ và đa số các sĩ quan là thuộc ngành kỹ sư công chánh. Phân đội Công binh Hải quân Hoa Kỳ thực hiện việc bảo trì và làm đẹp cho trại. Các thủy thủ ở đây phải trải qua một cuộc kiểm tra lý lịch gắt gao của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Họ cũng là những người được chỉ định đến làm việc tại đây, và là trong số các thủy thủ ưu tú nhất của Hải quân Hoa Kỳ. Cũng có một số thủy thủ như sau: nhân sự bảo trì, thợ điện, thợ mộc, quân y hải quân, và đầu bếp cho Tổng thống Hoa Kỳ.
== Tổng thống sử dụng ==
Mỗi tổng thống từ thời Franklin Roosevelt đến nay đều có sử dụng đến Trại David. Roosevelt tiếp đón thủ tướng Anh Winston Churchill vào tháng 5 năm 1943. Harry S. Truman hiếm khi viếng thăm Trại David vì phu nhân của ông Bess Truman thấy nơi này rất buồn chán. Dwight Eisenhower có buổi họp nội các đầu tiên tại đây. John F. Kennedy và gia đình của ông thường hay cưỡi ngựa và thưởng thức các hoạt động giải trí khác ở đây. Kennedy thường cho phép các nhân viên Nhà Trắng và thành viên nội các của mình sử dụng khu nghỉ ngơi khi ông và gia đình không có ở đây. Lyndon B. Johnson thường họp với các cố vấn quan trọng tại khu nghỉ ngơi và tiếp đón Thủ tướng Úc Harold Holt. Richard Nixon là khách thường xuyên và đã hiện đại hóa hay nới rộng thêm các cơ sở tiện ích. Gerald Ford thường cưỡi xe trượt tuyết có động cơ quanh trại và tiếp đón Tổng thống Indonesia Suharto. Jimmy Carter làm trung gian cho Hòa ước Trại David tại đây vào tháng 9 năm 1978 giữa Tổng thống Ai Cập Anwar al-Sadat và Thủ tướng Israel Menachem Begin. Ronald Reagan viếng thăm trại nhiều hơn bất cứ tổng thống nào khác. Dorothy Bush Koch, con gái của Tổng thống George H.W. Bush kết hôn ở đây vào năm 1992. Bill Clinton tiếp đón Thủ tướng Anh Tony Blair vài lần, chưa kể đến vô số cuộc gặp các người nổi tiếng. George W. Bush tiếp đón nhiều nhân vật quan trọng, trong đó có Thủ tướng Anh Gordon Brown năm 2007. Barack Obama biến Nhà thờ Evergreen của trại thành nơi cầu nguyện chính của mình như George W. Bush đã từng làm trước ông.
== Các cơ sở của nước ngoài giống như Trại David ==
Các giống như Trại David gồm có:
Nơi cư ngụ của Nữ hoàng Elizabeth II:
Lâu đài Windsor, nơi cư ngụ miền quê chính thức và cuối tuần.
Tòa nhà Sandringham, nơi cư ngụ miền quê riêng tư.
Lâu đài Balmoral, nơi cư ngụ miền quê riêng tư tại Scotland.
Chequers, nơi cư ngụ miền quê của Thủ tướng Vương quốc Anh
Granja do Torto, nơi cư ngụ miền quê Tổng thống Brazil
The Retreat Building, nơi cư ngụ yên tỉnh chính thức của Tổng thống Ấn Độ.
Harpsund, nơi cư ngụ miền quê của Thủ tướng Thụy Điển
Harrington Lake, nơi cư ngụ miền quê của Thủ tướng Canada
Marienborg, nơi cư ngụ mùa hè của Thủ tướng Đan Mạch
Kultaranta, nơi cư ngụ mùa hè của Tổng thống Phần Lan
Lohn, điền sản miền quê của Hội đồng Liên bang Thụy Sĩ ngoài Bern.
Mansion House, nơi cư ngụ mùa hè của Tổng thống Philippines
Palacio de Marivent, nơi cư ngụ mùa hè của Vua Tây Ban Nha tại Palma de Mallorca.
Hacienda Hato Grande, nơi cư ngụ miền quê của Tổng thống Colombia
Pavillon de la Lanterne, nơi cư ngụ miền quê của Tổng thống Pháp, Fort de Brégançon, nơi cư ngụ mùa hè, Chateau de Rambouillet, nơi cư ngụ tiếp khách, Domaine National de Marly và Domaine de Souzy-la-Biche, những nơi cư ngụ cuối tuần
Isla La Orchila, Cơ sở Hải quân có nơi cư ngụ của Tổng thống Venezuela
Novo-Ogaryovo và Zavidovo, những nơi cư ngụ miền quê của Tổng thống Nga.
The Lodge là nơi cư ngụ chính thức của Thủ tướng Úc tại Canberra và Kirribilli House là nơi cư ngụ bên bến cảng tại Sydney.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Nhà Trắng, nơi cư ngụ và làm việc chính thức của Tổng thống Hoa Kỳ
Blair House, một nơi nghỉ ngơi chính thức khác của Nhà Trắng dành cho khách
Site R, trung tâm thông tin và hầm trú ẩn lân cận
Trại Rapidan, tiền nhiệm của Trại David
== Tham khảo ==
Prodell, Nathan M. USMC. Former Corporal of the Guard at Camp David during the Clinton Administration
== Liên kết ngoài ==
Camp David official White House page
Camp David from the Federation of American Scientists
Digital documents regarding Camp David, Dwight D. Eisenhower Presidential Library |
danh sách vô địch đơn nam wimbledon.txt |
== Xem thêm ==
Giải Vô địch Wimbledon
Danh sách vô địch đơn nữ Wimbledon
Danh sách vô địch đôi Wimbledon
Danh sách vô địch đôi nam nữ Wimbledon
== Tham khảo == |
văn học nhật bản.txt | Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới nảy sinh trong môi trường nhân dân rộng lớn từ thuở bình minh của các bộ tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập. Những cội rễ của nền văn học này có từ thời tối cổ, và những kiệt tác thành văn đầu tiên có thể được xác định vào thế kỷ thứ 7 thậm chí sớm hơn.
Lịch sử văn học Nhật Bản có thể được chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với cách phân kỳ lịch sử thường gặp trong nhiều nền văn học thế giới nói chung. Tuy nhiên, trong cuốn Nhật Bản văn học toàn sử do Tokyo Kodanshā xuất bản, văn học Nhật Bản được chia làm 6 thời kỳ ứng với 6 tập của cuốn sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại.
== Phân kỳ lịch sử ==
=== Thượng đại ===
Thời thượng đại Nhật Bản có thể tính từ Thiên hoàng Jimmu lập quốc theo huyền sử năm 660TCN tới hết thời Nara năm 794, thậm chí xa hơn tới năm 807 (chồng lấn vài năm sang thời kỳ Heian). Đây là thời đại trải suốt từ thời kỳ Jomon (Thằng Văn, 14.000TCN-400TCN), thời kỳ Yayoi (Di Sinh, 400TCN-250), thời kỳ Kofun (Cổ Phần, 250-538), thời kỳ Asuka (Phi Điểu, 538-710) trong đó thời Kofun và Asuka sau gộp lại là thời kỳ Yamato (Đại Hòa 大和, Nụy 倭) nói chung, thời kỳ Nara (Nại Lương, 710-794), tuy nhiên văn học Nhật Bản chỉ thực sự rõ nét từ thế kỷ 7 trở đi. Đây là thời đại của dân ca, huyền thoại và cổ tích. Những sáng tác đầu tiên trong nền văn học khởi thủy của Nhật Bản là văn học truyền miệng, do trong thời kỳ sớm của sự phát triển lịch sử dân tộc Nhật Bản chưa hề có chữ viết. Khởi điểm là những câu chú, bài chú đọc trong lễ tế thần, về sau là văn học truyền miệng với thần thoại, ca dao, truyện cổ tích, truyền thuyết. Khi chữ viết mới xuất hiện đã trở thành đặc quyền của những đẳng cấp cao của bộ tộc Nhật Bản, lúc đầu là quý tộc thị tộc và bộ lạc, sau đó là giới quý tộc phong kiến. Những sáng tác thượng đại được biết đến ngày nay không phải là những biểu hiện sớm nhất mà có lẽ thuộc thời kỳ muộn hơn. Chúng được thực hiện bởi những đại biểu của đẳng cấp quý tộc, những người đã không chỉ sưu tầm mà còn biên tập tư liệu, và họ đã để dấu ấn của chính mình trên sản phẩm thông qua việc quyết định chất liệu và hình thức văn học cũng như lựa chọn những nội dung mà họ cho rằng có giá trị và cần thiết.
Những dấu vết của sáng tác dân gian thời kỳ sớm có thể tìm thấy trong những công trình chữ viết thời cổ, đó là Kojiki (古事記, Cổ sự ký, 712), Nihon Shoki (日本書紀, Nhật Bản thư kỷ, 720) với những bài ca, thần thoại, truyền thuyết; Manyōshū (万葉集, khoảng 760) với các thi phẩm về tình yêu, thiên nhiên và cái chết; Fudoki (風土記, Phong thổ ký, 713) với những truyền thuyết và truyện hoang đường v.v. và tất cả đều thuộc thế kỷ 7. Chất liệu của các công trình này xuất xứ từ thời kỳ xa xưa, thậm chí từ thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyên thủy, hoặc có nguồn gốc từ thời kỳ đó. Tất cả đều cho thấy một bức tranh văn học Nhật Bản thời cổ là văn học dân gian theo đúng nghĩa đầy đủ của từ này, tuy chúng đã ít nhiều được tư liệu hóa và biên soạn theo chủ quan của các tác giả.
=== Trung cổ ===
Thời Trung cổ Nhật Bản kéo dài chừng 4 thế kỷ từ khi vương triều Nhật Bản thiên đô về Heian (nay là Kyoto) và lập kinh đô (Heian kyo) theo mô hình kinh đô Trường An thời nhà Đường Trung Hoa năm 794, cho đến khi Mạc phủ Kamakura được thiết lập năm 1183. Đây là giai đoạn đỉnh cao của vương triều Nhật Bản, sau đó quyền lực chuyển dần sang dòng họ Fujiwara (từ năm 898). Sự phổ biến của chữ viết kana và sự thành lập các tông phái Phật giáo như Thiên Thai tông (năm 805), Chân ngôn tông (năm 806), Tịnh độ tông (1175). Đóng vai trò chủ yếu trong nền văn học trung cổ là quí tộc triều đình Heian quây quần chung quanh dòng họ Fujiwara (Đằng Nguyên) nắm quyền bính thời bấy giờ.
Sự tiếp xúc lâu dài với nền văn hóa Trung Hoa thời tiền Heian là tiền đề cho sự ra đời của chữ viết và người Nhật Bản lần đầu tiên biết khái niệm "văn học" đến từ các nước lân cận. Họ biết có một loại văn học viết, văn học như một bộ môn riêng biệt. Điều này làm thay đổi toàn bộ bức tranh sáng tạo văn học của Nhật Bản: bên cạnh nhân dân và văn học truyền miệng sản phẩm của họ, đã xuất hiện một lớp người không hát những bài ca mà sáng tác thơ, không sáng tạo ra các thần thoại mà soạn những truyện ngắn.
Văn học Heian trong các thế kỷ 9-12 cho thấy hai hệ thống riêng biệt: thứ nhất, đó là những sáng tác dân gian vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ tuy ngày nay giới nghiên cứu hầu như chỉ còn biết đến diện mạo của chúng qua cái mà giới quý tộc Heian quan tâm, với các bài ca Sabara và Kagura-uta; là những truyện cổ tích và truyền thuyết dân gian trong Konjaku Monogatari (今昔物語集, Kim tích vật ngữ, khoảng năm 1120) và Kokon Chomonshū (古今著聞集, Cổ kim trứ văn tập). Thứ hai, xuất hiện nền văn học của một đẳng cấp hạn hẹp: thơ và văn xuôi Heian, tách biệt khỏi văn học dân gian bởi chất liệu là thế giới sinh hoạt và tư tưởng của quý tộc Heian.
Về phương diện hình thức, thi pháp của thơ waka được hình thành với hợp tuyển Kokin Wakashū (古今和歌集, Cổ kim Hòa ca tập, năm 905 hay 914 niên đại Engi) hay còn gọi là Kokinshū (Cổ kim tập); hình thức tiểu thuyết đã xuất hiện cùng với những sáng tạo khởi đầu là Taketori Monogatari (竹取物語, Trúc thủ vật ngữ, tức "chuyện ông già đốn trúc", cuối thế kỷ 9), đi được một nửa chặng đường đến Ise Monogatari (伊勢物語, Y Thế vật ngữ, "truyện Ise" đầu thế kỷ 10) và đạt đỉnh cao với Genji Monogatari (源氏物語, Nguyên Thị vật ngữ, khoảng 1004-1011, nhưng thường được lấy mốc 1010); nhật ký với Tosa Nikki (土佐日記, Thổ Tá nhật ký, 935) và tùy bút với Makura no Soshi (枕草子, Chẩm thảo tử, "sách gối đầu" 936 hay 1001?).
=== Trung thế ===
Thời kỳ mới trải suốt thời kỳ Kamakura (1185-1333), Tân chính Kemmu (1333-1336), thời kỳ Muromachi (1336-1573 [gồm Nanbokucho 1336-1392, Sengoku 1392-1467 và 1467-1573]) và thời kỳ Azuchi-Momoyama (1568-1603), bắt đầu với sự xuất hiện đẳng cấp samurai ghi dấu vào lịch sử bằng những cuộc nội chiến đẫm máu bao trùm toàn bộ nước Nhật giữa hai dòng họ lớn Taira và Minamoto kéo dài đến khi Minamoto Yorimoto trở thành tướng quân (Shogun), thiết lập chế độ Mạc phủ ở Kamakura miền Đông nước Nhật, mở đầu thời đại võ gia. Đây cũng là giai đoạn các võ sĩ Nhật Bản đương đầu với thủy binh Mông Cổ trong hai lần chống ngoại xâm (năm 1274/1275 và 1281). Năm 1333 tướng phủ Kamakura bị lật đổ và năm 1338 Ashikaga lập tướng phủ ở Kyoto. Năm 1500 nội chiến lan ra cả nước với nhiều phong trào nông dân nổi dậy và phải tới tận giai đoạn 1568-1598 đất nước mới thống nhất dưới thời Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi.
Những cuộc chiến đã làm nảy sinh dạng thức sử thi dân gian mới với không gian không còn là thần thoại về các vị thần mà là truyền thuyết về những anh hùng, những gunki (quân ký) hay genki (chiến ký). Nhân vật trung tâm của tác phẩm chuyển hướng từ nhân vật thần thoại trở thành cá nhân lịch sử, những người tham dự và những anh hùng của sử ca dân gian. Dấu ấn văn chương trung thế là sự ra đời của những anh hùng ca phong kiến Nhật Bản, như tác phẩm Heike Monogatari (平家物語, Bình Gia vật ngữ, 1220-1371), mô tả những võ sĩ đạo và bóng trăng mờ ảo sau những trận mưa máu, mà cảm quan về sự phù du của cõi người còn in đậm ngay từ những dòng thơ mở đầu tác phẩm.
Văn học của tầng lớp samurai tồn tại không ít hơn bốn thế kỷ, từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15 và đã trải qua những hưng thịnh và suy vong. Các tác phẩm như Hogen Monogatari (Bảo Nguyên vật ngữ), Heiji monogatari (Bình Trị vật ngữ) và Heike monogatari của thế kỷ 13 gắn bó chặt chẽ với thực tế lịch sử của thời kỳ này: lịch sử cuộc chiến giữa hai tập đoàn quý tộc phong kiến Nhật Bản, dòng họ Minamoto (源, Nguyên) và dòng họ Taira (平, Bình). Những tác phẩm này thể hiện sự khốc liệt của cuộc chiến, và những người tham gia vào nó được diễn tả trọn vẹn cả lý tưởng và lối sống. Về sau những anh hùng ca này thay đổi tính chất và được tiểu thuyết hóa, tạo nên những truyện phiêu lưu hiệp sĩ vốn rất quen thuộc với phương Tây đương thời, mà tác phẩm anh hùng ca về nhân vật Yoshitsune, cuốn Gikeiki (義経記, Nghĩa kinh ký) là một điển hình.
Nền văn học của các võ sĩ đạo đương thời cho thấy một bức tranh rộng lớn hơn nhiều so với văn học quý tộc thời Heian: văn học Heian được sáng tạo trong phạm vi hạn hẹp, thuộc tầng lớp cao của giai cấp quý tộc, trong khi đó văn học samurai mở rộng phạm vi giữa các chiến binh phong kiến, tầng lớp đông đảo đã thoát khỏi giai cấp nông dân còn chưa lâu hoặc về thực chất họ vẫn còn thuộc tầng lớp đó.
Những sáng tác văn xuôi của thời trung thế cho thấy chất liệu gắn bó chặt chẽ với văn học dân gian truyền miệng và mang đậm đặc tính dân gian hơn giai đoạn trước.
Trong văn học trung thế, bên cạnh tiến trình văn xuôi samurai, thi ca cũng tương tự. Những sáng tác dân gian đã xuất hiện những hình thức mới, như các bài ca imayo, được ghi lại bằng chữ viết từ mạt kỳ Heian nhưng phổ biến trước hết trong giới võ sĩ đạo. Trên mảnh đất của thi ca dân gian vui nhộn, bông lơn, hình thành nên thể loại thơ trào lộng haikai (俳諧, bài hài) mà những hình thức xa xưa hơn của chúng được hát tại các chùa chiền và ở các gia đình samurai tu hành, về sau đã được chú ý bởi các nhóm rộng rãi thuộc tầng lớp chiến binh, thương nhân và thợ thủ công nơi đô thị.
=== Cận thế ===
Thời kỳ cận thế Nhật Bản nằm trọn trong thời kỳ Tokugawa (1603-1868). Năm 1600 Tokugawa Ieyasu đập tan các cuộc nổi loạn ở Sekigahara và tới 1603 Tokugawa Ieyasu thống nhất đất nước, thiết lập Mạc phủ ở Edo (nay là Tokyo). Trong 200 năm tỏa quốc sau đó (kéo dài cho tới tận 1853 khi Đô đốc Matthew C. Perry (1794-1858, người Mỹ) buộc Nhật Bản phải mở cửa thông thương với nước ngoài) đất nước thanh bình, kinh tế tiền tệ phát triển, giáo dục nâng cao và hầu hết người dân thành thị biết đọc biết viết. Người dân thành thị trở thành trung tâm của xã hội và cuộc sống của họ phản ánh rõ nét trong văn học nghệ thuật.
Trong những năm cuối của thời kỳ Ashikaga, thế kỷ 15-16, những sáng tạo dân gian mà giai đoạn Kamakura được giới samurai quan tâm, đã không ngừng lại và được thẩm thấu tới một tầng lớp mới, hình thành một nền văn học khá đặc biệt so với giai đoạn trước đó: văn học của tầng lớp thị dân, nền văn học mất đi vẻ thanh tao nhưng tràn đầy sức sống của hiện thực với tất cả mọi khía cạnh như con người, cái đẹp, thiên nhiên, sắc dục. Đẳng cấp samurai giai đoạn đầu còn liên hệ chặt chẽ với nông dân, sau đó đã tách biệt trở thành quý tộc phong kiến và đóng kín trong phạm vi của mình. Ngược lại, giới thương nhân và thợ thủ công ngày càng liên hệ nhiều với đông đảo cư dân rộng lớn, với nông dân. Kết quả là sự ra đời của một loạt các thể tài sân khấu của giai cấp tư sản Nhật Bản thời phong kiến, những tác phẩm kịch nō (能) và kabuki (歌舞伎) thành thị thoát thai từ lối kể chuyện joruri (浄瑠璃, tĩnh lưu ly, một dạng múa rối). Loại truyện dân gian otogi zoshi (お伽草子) và những lối kể chuyện dân gian khác là khởi nguyên của các truyện ngắn theo thể kana zoshi (仮名草子). Rồi từ ngọn nguồn này nhiều thể loại khác của văn xuôi tự sự thời đại Tokugawa đã phát triển.
Cùng với điều đó, những nhà hoạt động văn học, tức tầng lớp thị dân, đã góp phần mình vào folklore, nghĩa là vào ngọn nguồn của nền văn học viết mới với các truyện kể được gọi là kodan và rokugo. Hai hình thức truyền miệng này dần được ghi chép lại và tạo thành một bộ phận hoàn chỉnh của văn học thành thị đương thời, thêm vào đó chúng còn cung cấp chất liệu cho các bộ phận khác của nền văn học này.
Về thơ, những thể loại thơ của quý tộc thời Heian được phổ cập rộng rãi trong cộng đồng đã dẫn đến sự sáng tạo ra thơ thành thị riêng của thời kỳ Tokugawa khi nó được kết hợp với folklore dân gian. Đó là các thể tài haikai (俳諧, bài hài) và senryu (川柳, xuyên liễu).
Những tác gia tiêu biểu của thời đại có thể kể đến Matsuo Basho (1644-1694) với thơ haiku, Chikamatsu Monzaemon (1653-1725) với kịch và Ihara Saikaku (1642-1693) với tiểu thuyết.
=== Cận đại ===
Thời kỳ cận đại trong văn học Nhật Bản bắt đầu từ Minh Trị Duy Tân năm 1868 tới kết thúc thời kỳ Đại Chính năm 1926. Năm 1867 Mutsuhito lên ngôi, hiệu là Meiji (Minh Trị) và năm 1868 dời đô về Edo đặt tên là Tokyo, bắt đầu kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước theo mô hình phương Tây, thay đổi chính sách trục xuất người nước ngoài bằng chính sách khai hóa văn minh, phú quốc cường binh, văn minh phương Đông kỹ nghệ phương Tây, khiến quốc gia hưng thịnh và trở thành một mẫu hình hiện đại hóa đất nước thành công độc nhất vô nhị tại Đông Á đương thời. Bên cạnh việc đưa trí thức sang châu Âu học hỏi, Nhật Bản đã bắt đầu đưa quân vào lục địa như tiến đánh Đài Loan năm 1874; buộc Triều Tiên mở cửa năm 1875; chiến tranh Thanh-Nhật năm 1894-1895; chiến tranh Nga Nhật năm 1904-1905, và chiến thắng nước da trắng đầu tiên đã khiến Nhật manh nha ý thức đại đế quốc.
Sự hình thành văn học viết của các đẳng cấp thị dân đã đưa kết quả là nó dần xa rời những cội nguồn dân gian ban đầu của mình và chuyển thành văn học của một giai cấp, văn học của tư sản Nhật Bản, văn học hậu kỳ phong kiến Nhật Bản. Với sự nối tiếp truyền thống của văn học đô thị Tokugawa và nhờ ảnh hưởng của cách mạng Duy Tân Minh Trị, văn học tư sản của thời đại mới ra đời.
Trong khoảng những năm từ giữa thế kỷ 19 tới thời điểm kết thúc kỷ nguyên dân chủ Đại Chính, văn học Nhật Bản khởi phát bằng những vận động mạnh mẽ chưa từng có trong suốt 12 thế kỷ văn chương quá khứ. Hàng loạt những trào lưu đương thời của phương Tây, thông qua sách dịch tràn lan trong suốt cuộc Duy tân Meiji (Minh Trị, 1868-1912) và đầu thời Taishō (Đại Chính, 1912-1926), đã phân hóa giới cầm bút trong nước thành nhiều dòng phái nhiều khi đối đầu quyết liệt.
Có thể nhận thấy trong thời Meiji văn học đặc trưng bởi 5 khuynh hướng rất khác xa nhau: Phái truyền thống với Kōda Rohan (1867-1947), Ozaki Kōyō (1867-1903), Izumi Kyōka (1873-1939) viết về đề tài lịch sử và đương đại bằng lối văn truyền thống trang nhã, hoàn toàn thoát khỏi bức xạ của tư tưởng phương Tây đương thời, các giá trị thẩm mỹ là sự tiếp nối hoàn hảo văn chương thị dân thời Edo (1603-1868). Phái theo truyền thống một cách khách quan phản ứng lại những định kiến hay tán dương thái quá của người nước ngoài về Nhật Bản với đại diện Okakura Kakuzō (1862-1913), thiền sư Suzuki Daisetsu Teitaro (1870-1966); Phái sáng tạo từ cuộc đối đầu văn hóa là sự hòa trộn ưu thế văn minh Đông-Tây, tạo ra một lối văn xuôi mới cho tiếng Nhật với các đại diện Nagai Kafū (1879-1959), Kinoshita Mokutarō (1885-1945), Ishikawa Jun (1899-1987), Nakano Shigeharu (1902-1979), Natsume Sōseki (1867-1916); Phái Cơ đốc giáo và phái xã hội chủ nghĩa với các lãnh tụ Niijima Jō (1843-1890), Uchimura Kanzō (1861-1930); Phái trẻ địa phương và chủ nghĩa tự nhiên với phong cách thông tục thuần túy, quy tụ những tiểu thuyết gia như Tsubouchi Shōyō (1859-1935), Tayama Katai (1871-1930) và Masamune Hakuchō (1879-1962).
Đầu thế kỷ 20 những sáng tác theo khuynh hướng tự nhiên dần chiếm ưu thế trên văn đàn. Nhưng sau giai đoạn cực thịnh vào khoảng những năm 1909-1910, bước vào thời Taishō chủ nghĩa tự nhiên mất hẳn động lực sáng tạo trước những thành công của các nhà văn theo khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa bao gồm Dư dụ phái (yoyūha) với các đại biểu Natsume Sōseki (1867-1916), Mori Ōgai (1862-1922), Masaoka Shiki (1867-1902); Chủ nghĩa duy mỹ (Yuibishugi) với Kitahara Hakushū (1885-1942), Kinoshita Mokutarō, Yoshi Isamu (1886-1960), Nagai Kafū, Tanizaki Jun’ichirō (1886-1965), Bạch hoa phái (Shirakaba) của Arishima Takeo (1878-1923), Arishima Ikuma (1882-1974), Nagayo Yoshirō (1888-1961) và Chủ nghĩa tân hiện thực (Shingenjitsushugi) với Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) cùng những đồng sự. Trào lưu tiểu thuyết tự thuật, hậu duệ của chủ nghĩa tự nhiên lên ngôi trong sự đối trọng với các cây bút tân hiện thực.
Về thơ, năm 1882 đánh dấu một mốc lớn đầu tiên của tiến trình hiện đại hóa thơ ca Nhật Bản khi Toyama Seiichi (1848-1900), Yatabe Ryokichi (1851-1899) và Inoue Tetsujiro (1855-1944) ba giáo sư Đại học Tokyo, trong khi dịch thơ Tây phương, đã thử sáng tác một số bài thơ theo phong cách châu Âu đương thời và cho in thành tập mang tên Shintaishi-sho (Tân thể thi sao). Shintaishi (tân thể thi, hay "thơ mới"), trong sự đối trọng với truyền thống Waka và haiku cổ xưa, đã không mất nhiều sức thuyết phục để được những cây bút trẻ nồng nhiệt đón nhận và thể nghiệm. Dần được thừa nhận về sau, đặc biệt với sự ra đời của thơ tự do vào những năm cuối của thời Meiji, thơ mới đã nở rộ cùng sự nở rộ của một loạt trào lưu văn học như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, khuynh hướng ấn tượng, thơ duy hiện đại vào nửa cuối của thời Taishō cho đến hết sơ kỳ Shōwa.
=== Hiện đại ===
Thời kỳ hiện đại trong văn học Nhật Bản xuyên suốt Thời kỳ Chiêu Hòa (1926-1989) và cũng có thể được chia làm ba giai đoạn chính: Chiêu Hòa sơ kỳ (1926-1945), trung kỳ (1945-1952) và hậu kỳ (1952-1989). Giai đoạn Thế chiến đầu thời Shōwa (Chiêu Hòa, 1927-1985) đến năm kết thúc chiến tranh 1945 chứng kiến sự đụng độ của hai dòng văn học chính: văn học vô sản (Puroretaria bungaku) "vị nhân sinh" với các đại diện Tokunaga Shunaō (1899-1958), Kobayashi Takiji (1903-1933), và trường phái tân cảm giác (Shinkankaku-ha) "vị nghệ thuật" với đại diện Yokomitsu Riichi (1898-1947), Kataoka Tetsubei (1894-1944), Kawabata Yasunari (1899-1972), Nakagawa Yoichi (1897-1994).
Giai đoạn hậu chiến 1945-1952 với chính sách chiếm đóng quản thúc của Liên hiệp quốc đại diện là Mỹ kết thúc nhờ Hiệp ước giảng hòa San Francisco năm 1951. Từ 1955 nước Nhật bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao độ, và những thành tựu ghi dấu sự phát triển vượt bậc của kinh tế quốc gia có thể kể đến trong giai đoạn này là sự kiện Olympic Tokyo năm 1964 khi đường sắt cao tốc với tàu Shinkansen được giới thiệu, và triển lãm Quốc tế Osaka năm 1970. Năm 1973 cú sốc dầu lửa khiến tăng trưởng nóng chững lại nhưng sau đó sự tăng trưởng kinh tế trở nên đều đặn và ổn định. Cùng với vị thế nâng lên trên trường quốc tế về kinh tế, văn hóa và văn học Nhật Bản lan tỏa, được quan tâm tìm hiểu và và được giới thiệu tại nhiều quốc gia, châu lục. Về văn học, các sự kiện đáng chú ý nhất giai đoạn này có thể kể đến là giải Nobel văn học đầu tiên của Nhật Bản (và thứ ba của châu Á) do Hội đồng Nobel Na Uy trao cho văn hào Kawabata Yasunari năm 1968, đúng dịp kỷ niệm 100 năm hiện đại hóa nước Nhật nói chung và hiện đại hóa văn học Nhật Bản nói riêng tính từ cuộc cải cách Minh Trị; và sự kiện nhà văn Mishima Yukio tổ chức chiếm cơ quan Cục phòng vệ Nhật Bản thất bại, tự sát bằng nghi thức seppuku năm 1970.
=== Đương đại ===
Văn học đương đại Nhật Bản có thể tính từ kỷ nguyên Bình Thành (từ 1989 tới nay). Đây là giai đoạn tại Nhật Bản tăng trưởng kinh tế chững lại, bong bóng tài chính bị vỡ và bắt đầu kỷ nguyên trì trệ và suy thoái kinh tế. Nhà văn Ōe Kenzaburo (1935-) mang về cho nước Nhật giải Nobel văn chương thứ hai vào năm 1994.
Trong giai đoạn này cũng chứng kiến sự nổi lên của "hai Murakami và một Banana": Murakami Haruki (1949-), Murakami Ryu (1952-), và Banana Yoshimoto (1964-).
== Đặc điểm ==
=== Vai trò của văn học trong nền văn hóa Nhật Bản ===
Vai trò của văn học và các nghệ thuật tạo hình trong nền văn hóa Nhật Bản có tầm quan trọng đặc biệt. Trong mọi thời đại lịch sử văn hóa Nhật Bản thể hiện khuynh hướng phi logic, phi hệ thống và phi trừu tượng hóa, và người Nhật đã thể hiện tư tưởng của mình không nhiều lắm trong các hệ thống triết học và tôn giáo trừu tượng như người châu Âu thời Trung Cổ nhưng lại biểu hiện trong các tác phẩm văn học cụ thể. Thi tuyển Vạn diệp tập là tác phẩm thể hiện tư tưởng và thái độ của người Nhật thời đại Nara (710-794) rõ ràng hơn tất cả các tác phẩm của học thuyết Phật giáo cùng thời đại. Thời đại Nara cũng điển hình cho sự sản sinh những kiệt tác văn chương nhưng không xuất hiện bất kỳ một hệ thống triết học nào.
Trong lịch sử văn học Nhật Bản vẫn cho thấy đôi khi quy luật trên có ngoại lệ nhỏ, đó là sự trỗi dậy của hệ thống tư tưởng Phật giáo thời đại Kamakura (1185-1333) và Khổng giáo thời Tokugawa. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp Phật giáo của thời kỳ Kamakura, triết lý tôn giáo của những thiền sư Honen và Dōgen cũng không được hệ thống hóa một cách đầy đủ bởi những người kế tục họ, và việc tiếp thu các nhà Khổng giáo thời Edo như Ito Jinsai và Ogyu Sorai có thể có ảnh hưởng đến thời kỳ sau nhưng vẫn không dẫn tới tư duy trừu tượng hơn và tính chất suy đoán rộng lớn hơn. Thực tế cho thấy văn học và nghệ thuật luôn là những lĩnh vực trung tâm của nền văn hóa Nhật Bản, lịch sử văn học Nhật Bản chính là lịch sử tư tưởng và tình cảm Nhật Bản. So sánh với Trung Quốc lại cho thấy một khác biệt, có thể nói một cách ẩn dụ rằng nếu văn học Nhật Bản chuyên trở vai trò của triết học thì văn học Trung Quốc lại được xem như triết học.
Trong mối quan hệ giữa văn chương Nhật Bản và các bộ môn nghệ thuật khác, các nhà nghiên cứu nhận thấy sự gắn kết tương hỗ của chúng rất rõ rệt, khi những bài ca và chuyện kể của các pháp sư mù gẩy đàn tì bà (biwa) là nội dung của những cuốn truyện như Ise monogatari, những bức tranh cuộn emakimono hỗ trợ đắc lực cho việc truyền tải tư tưởng của Genji monogatari thời Heian hay những bản nhạc được sáng tác cho kịch Nō thời đại Muromachi (1392-1568) và kịch joruri thời Edo.
=== Mô hình phát triển của lịch sử ===
Văn học Nhật Bản có chiều dài lịch sử đứng thứ nhì thế giới sau văn học Trung Quốc, và những cội nguồn xa xưa nhất của nó có thể tìm thấy từ những tác phẩm được viết vào giai đoạn sớm hơn thế kỷ thứ 8. Nhiều nền văn học khác trên thế giới có nguồn gốc xa hơn, nhưng ít nền văn học có truyền thống lâu đời, không thể phá vỡ về cách viết bằng cùng một ngôn ngữ kéo dài cho tới ngày nay. Chẳng hạn, không có nền văn học bằng ngôn ngữ Sanskrit được viết đến thời hiện đại, và các nền văn học nở rộ tại châu Âu như văn học Anh, văn học Pháp, văn học Đức, văn học Italia không thể vạch ra nguồn gốc của chúng xa hơn thời Phục Hưng.
Lịch sử văn học Nhật Bản không chỉ là lâu dài mà còn bao gồm một số đặc điểm riêng biệt trong mô hình phát triển của nó: trong lịch sử văn học Nhật Bản chưa bao giờ có trường hợp một hình thức, phong cách hay một quan niệm thẩm mỹ có ảnh hưởng trong một thời kỳ lại không được kế tục bởi một hình thích mới hơn ở thời kỳ tiếp theo. Cái mới không thay thế mà bổ sung cho cái cũ thay vì loại bỏ cái cũ, rất khác với nền văn học Trung Quốc khi mà tính kế tục truyền thống và tính thống nhất về văn hóa sẽ bị đe dọa nếu một hình thức mới xuất hiện, và cuộc xung đột dữ dội buộc một trong hai cái (thường là cái mới) phải bị loại bỏ khỏi mô hình phát triển của lịch sử. Điều này chưa từng xảy ra ở Nhật Bản, ví dụ, thể thơ trữ tình waka của Nhật Bản tồn tại từ thế kỷ thứ 8 nhưng đến thế kỷ 17 một hình thức mới, thơ haiku, xuất hiện, và hiện nay thơ tự do được thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên cả ba loại thơ trên đều vẫn song hành tới thời hiện đại và chưa thể loại nào mất đi vai trò của chúng trong nền văn học Nhật Bản.
Bởi vì mô hình phát triển lịch sử cơ bản theo nghĩa cái cũ không mất đi, nên có tính thống nhất và tính kế tục đáng kể trong lịch sử văn học Nhật Bản, đồng thời bởi cái mới luôn được bổ sung từ cái cũ, nên với mỗi thời đại mới các hình thức văn học và các giá trị thẩm mỹ trở thành khác biệt và đa dạng hơn.
=== Ngôn ngữ và hệ thống chữ viết ===
Trong khoảng thế kỷ thứ 5, vì người Nhật chưa có hệ thống chữ viết của chính mình khi lần đầu tiếp xúc với văn hóa của lục địa châu Á, nên hệ thống chữ viết Trung Quốc đưa vào lập tức được thừa nhận. Tuy nhiên, do tính chất đơn âm, tiếng Trung thích nghi ở Nhật Bản chỉ bằng hai phương pháp mô phỏng: hoặc giữ lại nghĩa của chữ và bỏ âm thanh, hoặc giữ lại âm thanh và bỏ nghĩa chữ, và trong thực tế cả hai dạng thức này đều được áp dụng. Âm thanh của tiếng Trung Quốc được giữ lại nhiều trong ba tuyệt tác văn chương cổ điển: Cổ sự ký và Vạn diệp tập là cách phát âm của miền Nam Trung Quốc thế kỷ 5 và 6, và một số từ trong Nhật Bản thư kỷ là cách phát âm của miền Bắc Trung Quốc thế kỷ 7. Việc dùng chữ Trung Quốc của người Nhật để viết ngôn ngữ của chính mình cũng sáng tạo ra một phương pháp đọc thơ và văn xuôi gốc Trung Quốc theo kiểu cách của Nhật.
Khoảng cuối thế kỷ 8 hệ tiếng Nhật Bản xứ kana được sáng tạo và thừa nhận khiến thời đại tiền Heian đánh dấu bước ngoặt trong chữ viết của ngôn ngữ Nhật Bản. Văn học từ thế kỷ 7 đến thế kỷ thứ 9 của Nhật được viết song song bằng hai ngôn ngữ: Nhật Bản và Trung Quốc (hay chí ít là cách chuyển đổi tiếng Trung Quốc thành tiếng Nhật). Thế kỷ thứ 10 và 11 đánh dấu sự nở rộ của dòng văn chương trữ tình ngọt ngào nữ tính của các nữ sĩ cung đình, những người sử dụng thành thạo hệ văn tự kana nhưng không mấy mặn mà với những sáng tác theo dạng kanbun (Hán văn) rất thịnh hành đối với nam giới trí thức. Tất nhiên, văn học bản xứ được sáng tác bằng tiếng Trung (Kanbun, Hán văn) đã ảnh hưởng đến hệ thống từ vựng của văn học Nhật Bản bản xứ, đổi lại, cũng có sự ảnh hưởng của Nhật Bản được in dấu tương tự đối với loại tác phẩm được viết bằng tiếng Trung. Ví dụ tiêu biểu cho hai hiện tượng này có thể kể đến hai tác phẩm Konjaku monogatari và Meigetsu-ki, nó cho thấy sự ra đời sau đó của hai phong cách văn học, một với ảnh hưởng của cách phát âm Trung Hoa, và phong cách kia với hầu như không có ảnh hưởng gần gũi lắm với ngôn ngữ thông tục vốn gắn với cuộc sống hàng ngày của người Nhật khi người này nói với người kia, đã làm giàu đáng kể cho văn học Nhật Bản.
Trong thơ lại cho thấy một bức tranh đặc biệt, người Nhật thể hiện tình cảm của mình trong thơ ca một cách bình thường với thể loại waka (和歌, Hòa ca) viết bằng ngôn ngữ bản xứ, một hình thức thơ phong phú hơn và tinh tế hơn thơ Đường. Tuy nhiên, qua thời gian việc dùng ngôn ngữ Trung Hoa ngày càng nhiều trong thơ và thế giới tình cảm của những thời đại hậu Heian, như Muromachi chẳng hạn, được thể hiện tiêu biểu không chỉ bởi thơ Renga (liên ca) bằng ngôn ngữ bản xứ mà còn bởi thơ Trung Quốc của các thiền sư Gozan.
Trong thời kỳ Minh Trị và cả sau đó, sự hữu ích của từ vựng Trung Quốc được sử dụng lâu dài trong ngôn ngữ Nhật Bản, ngay cả khi người Nhật chịu sức ép phải đưa các khái niệm phương Tây vào ngôn ngữ của họ. Bằng cách sử dụng Hán tự, người Nhật đã thành công trong việc chuyển nghĩa các thuật ngữ, khái niệm có gốc Âu châu, tạo nên sự khác biệt rõ ràng với hoàn cảnh của hầu hết các nền văn hóa không mang tính chất phương Tây khác vẫn còn sử dụng nguyên bản không dịch. Việc lưu tâm đến bản địa hóa các khái niệm ngoại lai từ rất sớm, đã đóng góp phần quan trọng cho tiến trình hiện đại hóa toàn diện nước Nhật, trong đó có văn học, sau cuộc Duy tân Minh Trị.
=== Cơ sở xã hội ===
==== Khuynh hướng hướng tâm ====
Đặc điểm nổi bật của văn học Nhật Bản chính là khuynh hướng hướng tâm của nó. Hầu như tất cả các tác giả và phần đông độc giả sống ở các thành phố và cuộc sống đô thị cung cấp phần lớn chất liệu cho các tác phẩm văn học. Ở khắp mọi nơi trên đất nước Nhật Bản có thể gặp những bài ca ballad truyền miệng và những câu chuyện dân gian, nhưng chỉ ở thành phố thì các tác phẩm mới được sưu tầm, biên soạn và văn bản hóa lần đầu tiên. Ở Nhật Bản trong bất kỳ thời đại nào, mỗi thành phố đều có xu hướng trở thành trung tâm văn hóa của đất nước và khuynh hướng văn học tập trung vào một xã hội đô thị lớn là nổi bật nhất ở Kyoto từ thế kỷ thứ 9, Osaka vào thế kỷ thứ 17 và Tokyo sau Duy tân Minh Trị 1868, và kể từ thời đại của thi hào Hitomaro đến thời đại Sito Mokichi, không còn một nhà thơ nào còn dùng tiếng địa phương trong tác phẩm của mình. Điều này khá khác biệt với khuynh hướng ly tâm trong văn học Trung Quốc, khi mà các nhà thơ đời Đường không phải bao giờ cũng lấy tư liệu từ kinh đô Trường An mà thường đi qua các tỉnh viết về đặc điểm mỗi vùng. Ở phương Tây khuynh hướng ly tâm trong văn học còn thể hiện rõ ràng hơn ở Trung Quốc: thời Trung cổ của châu Âu là thời đại của người hát rong và của các nhà thông thái đi từ trường đại học này đến đại học khác và viết ra những bài thơ bằng tiếng Latin. Ngay cả trong thời hiện đại ở châu Âu cũng hầu như không có một trường hợp cá biệt nào về hoạt động văn học của Đức hay Ý được tập trung tại các thành phố riêng lẻ, ngoại trừ Paris của Pháp.
==== Tầng lớp văn học ====
Sự quy tụ giới học giả uyên bác tại những đô thị tạo thành những trung tâm văn học của Nhật Bản và hệ quả của nó là sự hình thành tầng lớp văn học khá giống với hoàn cảnh phương Tây nhưng lại khác biệt với Trung Quốc, thay đổi từ thời đại này sang thời đại khác khi trung tâm chính trị dịch chuyển. Tầng lớp sáng tác văn học Nhật Bản, có thể coi là giới trí thức tinh hoa về văn hóa, thay đổi đã cung cấp nhiều cách viết mới cho văn học, những giá trị thẩm mỹ và tư liệu cho nó.
Không hoàn toàn hình thành từ thời Nara khi ngọn hải đăng của thi ca Nhật Bản, Vạn diệp tập, là sự quy tụ của mọi tầng lớp từ vua chúa, công nương, tướng lĩnh cho đến người binh sĩ, đốn củi, kẻ ăn mày, nhưng Cổ kim tập (Kokinshu) được biên soạn khoảng 100 năm sau Vạn diệp tập, và 20 thi tập khác ứng với mỗi giai đoạn trị vì của một Thiên hoàng sau đó, đã quy tụ các tác giả hầu như là giai cấp quý tộc từ thế kỷ 9 bao gồm cả tầng lớp quý tộc cấp thấp, nữ sĩ cung đình và các nhà sư, tạo nên một tầng lớp văn học độc quyền.
Khi trung tâm chính trị của Nhật Bản dịch chuyển từ Kyoto sang Kamakura thì giai cấp quý tộc như những nhà thống trị văn đàn Nhật Bản dần bị lấn át bằng tầng lớp quân sự, hình thành các tác phẩm văn chương theo thể loại quân ký (gunki) và thuyết thoại (setsuwa). Tuy vậy, các quý tộc cung đình vẫn chưa kết thúc vai trò lịch sử của họ, dù sự ly gián khỏi xã hội quân sự đã hình thành những trí thức từ bỏ thế giới để sống trong các lều cỏ và đền miếu và một hệ thống văn chương ẩn dật đầu tiên trong lịch sử văn học Nhật Bản.
Ở thời đại Tokugawa tầng lớp quân sự đã bắt đầu học, viết và sáng tạo văn chương như những tác giả của thơ và văn xuôi theo Khổng giáo. Nhưng đồng thời xã hội xuất hiện tầng lớp độc giả mới là dân thành thị (chonin, thị dân). Đầu thời đại Tokugawa tác gia văn học là bộ phận chính của tầng lớp samurai nhưng mạt kỳ Tokugawa không chỉ samurai mà có cả các chonin và thậm chí cả nông dân.
Sau cuộc Duy Tân Minh Trị 1868 tầng lớp văn học Nhật Bản chủ yếu là giới trung lưu đô thị và các nhà văn thường bao gồm các nhóm: tầng lớp samurai, chonin, và những người xuất thân từ địa chủ nhỏ và trung lưu địa phương nhưng thành đạt sự nghiệp của họ tại Tokyo.
==== Tổ chức văn học ====
Các nhà văn Nhật Bản điển hình cho sự liên kết chặt chẽ trong tổ chức của họ và thể hiện thái độ đóng cửa đối với các tổ chức khác. Tuy nhiên, vấn đề này thể hiện hai hệ quả rõ rệt: 1. sự liên kết hoàn toàn của văn học trong nền văn hóa của giai cấp thống trị (ví dụ văn học thời đại Heian chiếm vị trí trong giới quý tộc cung đình, trong khi đó văn học thời Tokugawa được hưởng sự giúp đỡ trực tiếp từ xã hội quân sự tập trung và xã hội thị dân), và 2. không có sự hội tụ của các nhà văn Nhật Bản trong các tầng lớp thống trị, văn học không thu hút các tầng lớp thống trị hay nói cách khác nó chưa hề chứng tỏ tầm quan trọng đặc biệt của nó đối với chế độ, thậm chí thể hiện thái độ ẩn dật rõ rệt đối với mọi thể chế chính trị. Sự xa lánh của văn học và sự hình thành các tổ chức bundan (văn đàn) khép kín sau cuộc cải cách Minh Trị thường được xem là hiện tượng đặc biệt: cuộc chiến tranh Thái Bình Dương không ảnh hưởng đến văn học và hầu như không hề có tác phẩm nào phản ánh điều đó ngoại trừ một vài bút ký của các phi công, thủy thủ.
Khuynh hướng các nhà văn thống nhất thành những nhóm đã ít nhiều khiến nguồn tư liệu trong văn học Nhật Bản bị hạn chế. Các nhà văn chuyên nghiệp trở nên rất thống nhất trong nhóm của họ đến nỗi họ dường như không biết gì về thế giới bên ngoài. Những ví dụ về thi ca cho thấy có sự giống nhau đến ngạc nhiên về các chủ đề trong các bài thơ của các hợp tuyển lớn từ tập Cổ kim tập đến Tân cổ kim tập (Shinkokinshu) với những điển tích về hoa anh đào, lá momizi, nhiều bài thơ về trăng nhưng hầu như không có bài thơ về sao. Khuynh hướng đóng chặt này cũng ảnh hưởng lớn với những tiểu thuyết theo thể loại monogatari hậu Truyện kể Genji khi những monogatari này thường liên kết riêng với đời sống quý tộc và không quan tâm đến những bộ phận khác của xã hội. Về cơ bản tình trạng này không thay đổi từ thời đại Kamakura đến thời Muromachi, khi mà thơ renga và kịch nō kế thừa văn hóa cung đình, gunki (quân ký) bắt nguồn từ Heike monogatari, và có lẽ chỉ có thể loại kịch Kyogen thể hiện ít nhiều ngoại lệ: các nhân vật là người phục vụ thuộc tầng lớp samurai, thợ thủ công và vợ của họ, những người mù, kẻ cắp, kẻ lừa đảo v.v. Những ví dụ về thơ viết theo lối chữ Hán (kanshi, Hán thi) trong suốt lịch sử văn học Nhật thời Trung cổ và tiểu thuyết tự thuật (watakushi shosetsu) đầu thế kỷ 20 cũng phản ánh rõ rệt sự hạn chế về mặt đề tài do tác giả của chúng vốn thuộc một bundan.
=== Thế giới quan ===
Thế giới quan của người Nhật chuyển biến bởi sự thâm nhập của các hệ thống tư tưởng nước ngoài khác nhau không nhiều bằng sự bám chặt dai dẳng vào thế giới quan bản xứ và vào sự tích hợp bản sắc Nhật Bản đến các hệ thống ngoại nhập. Những ví dụ tiêu biểu về các hệ thống tư tưởng nước ngoài đã ảnh hưởng đến người Nhật có thể tìm thấy trong Phật giáo, Khổng giáo, Cơ đốc giáo và chủ nghĩa Mác. Trong khi đó, thế giới quan bản địa nổi lên ở Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 4 và thế kỷ thứ 5 tạo thành từ một hệ thống tín ngưỡng đa thần phức tạp, bao gồm các yếu tố thờ cúng tổ tiên, đạo Shaman và thuyết vật linh, và có nhiều khu biệt tùy theo địa phương. Lịch sử Nhật Bản cho thấy sự đối đầu giữa hai khuynh hướng này, trong một số trường hợp thế giới quan của nước ngoài được chấp nhận, một số trường hợp khác nó bị phản bác, nhưng phần lớn hệ thống tư tưởng ngoại lai được thích nghi với những nhu cầu của người Nhật. Thế kỷ 7 đến thế kỷ 16 Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong nền tảng văn hóa Nhật Bản, Khổng giáo ảnh hưởng mạnh mẽ giai đoạn từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15. Cơ đốc giáo chỉ có ảnh hưởng từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 và từ cuối thế kỷ 19 trở đi. Cuối cùng, chủ nghĩa Mác bắt đầu ảnh hưởng đến Nhật Bản từ giai đoạn mạt kỳ Minh Trị đến giữa thế kỷ 20 mà khởi điểm với Kōtoku Shūsui (1871-1911) và người kế tục xuất sắc của ông là Kawakami Hajime (1897-1946).
Nền tảng thế giới quan của văn học Nhật Bản có thể được chia thành 3 loại: một mặt là các hệ thống tư tưởng từ nước ngoài dưới hình thức nguyên gốc của chúng, khác nhau trong thời đại khác nhau, trong khi mặt khác là tư tưởng Nhật Bản bản xứ còn lại không thay đổi qua lịch sử. Ở giữa hai cực đối trọng nói trên là các hệ thống tư tưởng khác nhau của nước ngoài bị ảnh hưởng hoàn toàn của Nhật. Lịch sử văn học Nhật Bản hiện đại cũng có thể giải thích theo những phản ứng lại ba loại thế giới quan đáng lưu ý này: văn học thời Minh Trị có thể quy vào ba nhóm: phái theo truyền thống một cách khách quan, phái Tây học, phái sáng tạo từ cuộc đối đầu văn hóa Đông-Tây. Tới giữa thế kỷ 20 vẫn có nhiều văn sĩ minh chứng cho đối trọng các thế giới quan khác nhau: Kawabata Yasunari và Miyamoto Yuriko là hai cực, trong khi Kobayashi Hideo và Ishikawa Jun (1899-1987) lại ở giữa hai cực.
== Truyện tranh ==
Manga (tiếng Nhật: kanji: 漫画, hiragana: まんが, katakana: マンガ, Hán-Việt: mạn họa) là một cụm từ trong tiếng Nhật để chỉ các loại truyện tranh và tranh biếm họa. Manga được xem là từ đặc biệt để chỉ riêng truyện tranh xuất phát từ Nhật Bản. Vào năm 2007, manga chiếm lĩnh một thị trường toàn cầu nhiều tỷ đôla. Manga phát triển từ ukiyo-e theo kiểu vẽ tranh. Nó phát triển nhanh chóng sau thế chiến thứ 2. Manga được hầu hết các hạng người đọc ở Nhật. Từ Manga-ka tương ứng với Họa sĩ truyện tranh, người chuyên về viết vẽ manga. Do hầu hết các danh từ trong tiếng Nhật không ở dạng số nhiều nên manga có thể dùng để chỉ nhiều loại truyện tranh, đôi khi trong tiếng Anh cũng được viết là mangas.
== Ảnh hưởng ngoại quốc ==
Văn học Nhật Bản ban đầu chịu ảnh hưởng sâu sắc của chữ Hán cổ. Nhưng trải qua một thời gian, văn học Nhật Bản đã phát triển theo phong cách riêng của mình. Văn học Nhật Bản dù thế vẫn chịu ảnh hưởng của văn học và văn hóa Trung Hoa cho đến cuối thời kỳ Edo.
Sau khi Nhật Bản bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng và thiết lập ngoại giao với các nước phương Tây (cuối thế kỷ 19), văn học Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây và cho đến nay vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn học này.
== Tác gia và tác phẩm chính ==
=== Tác gia ===
Các tác giả và tác phẩm văn học nổi tiếng của Nhật Bản được xếp theo thứ tự thời gian như dưới đây. Để có một danh sách đầy đủ về các tác gia Nhật Bản, xin xem Danh sách các tác gia Nhật Bản:
Ōtomo no Yakamochi (c.717–785)
Sei Shonagon (c.~966–c.10??)
Murasaki Shikibu (c.973–c.1025)
Yoshida Kenkō (c.1283–1352)
Ihara Saikaku (1642–1693)
Matsuo Bashō (1644–1694)
Chikamatsu Monzaemon (1653–1725)
Ueda Akinari (1734–1809)
Santo Kyoden (1761–1816)
Jippensha Ikku (1765–1831)
Kyokutei Bakin (1767–1848)
Mori Ōgai (1862–1922)
Ozaki Koyo (1867–1903)
Natsume Sōseki (1867–1916)
Izumi Kyoka (1873–1939)
Noguchi Yonejiro (1875-1947)
Shiga Naoya (1883–1971)
Ishikawa Takuboku (1886–1912)
Tanizaki Jun'ichiro (1886–1965)
Akutagawa Ryūnosuke (1892–1927)
Eiji Yoshikawa (1892–1962)
Kaneko Mitsuharu (1895–1975)
Miyazawa Kenji (1896–1933)
Kuroshima Denji (1898–1943)
Tsuboi Shigeji (1898–1975)
Ishikawa Jun (1899–1987)
Kawabata Yasunari (1899–1972)
Miyamoto Yuriko (1899–1951)
Tsuboi Sakae (1900–1967)
Oguma Hideo (1901–1940)
Kobayashi Takiji (1903–1933)
Ishikawa Tatsuzo (1905-1985)
Dazai Osamu (1909–1948)
Endo Shusaku (1923–1996)
Abe Kōbō (1924–1993)
Mishima Yukio (1925–1970)
Inoue Hisashi (1933–)
Ōe Kenzaburo (1935–)
Michiko Yamamoto (1936–)
Nakagami Kenji (1946–1992)
Murakami Haruki (1949–)
Murakami Ryu (1952–)
Yoshimoto Banana (1964–)
Trong danh sách này, Mori Ōgai, Natsume Soseki, Tanizaki Jun’ichirō, Akutagawa Ryūnosuke, Dazai Osamu, Kawabata Yasunari, Mishima Yukio, Abe Kōbō, Ōe Kenzaburo và Murakami Haruki hợp thành "10 tác gia trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại".
=== Tác phẩm chính ===
Kojiki
Nihon Shoki
Man'yōshū
Makura no Sōshi (của Sei Shonagon)
Tsurezure Gusa (của Yoshida Kenkō)
Genji monogatari (của Murasaki Shikibu)
Kokin Wakashū
Shin Kokin Wakashū
Heike Monogatari
Nihon Ryōiki (của Keikai, còn được gọi là Kyokai)
Oku no Hosomichi (của Matsuo Bashō)
Kōshoku Ichidai Otoko (của Ihara Saikaku)
Botchan (của Natsume Sōseki)
Sasameyuki (của Tanizaki Jun'ichiro)
Yukiguni (của Kawabata Yasunari)
Kinkakuji (của Mishima Yukio)
Noruwei no mori (của Murakami Haruki)
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Thuật ngữ văn học Nhật Bản
== Tham khảo ==
Aston W.G, A history of Japanese Literature, tiếng Anh.
Nhật Bản văn học toàn sử, 6 tập, nhiều tác giả (tiếng Nhật), Kodansha, Tokyo xuất bản vào năm thứ 53 thời Showa.
Shuichi Kato, History of Japanese Literature, Vol. 1, 2, 3, Kodansha International, Tokyo, 1979.
N. I. Konrat, Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại, Trịnh Bá Đĩnh dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, ĐN.1999.
Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Văn học Nhật Bản, sách chuyên đề nhiều tác giả viết và dịch, Hà Nội 1998.
Nhật Chiêu, Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003.
Nhật Chiêu, Thơ ca Nhật Bản, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998.
Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi, phần Tiểu thuyết Nhật Bản, trang 141 và phần Basho trang 165, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999
Ngô Tự Lập, Nhật Bản đất nước con người và văn học, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2003.
== Liên kết ngoài ==
Nghiên cứu Nhật Bản Giới thiệu Tổng quan Lịch sử Văn học Nhật Bản từ Thượng Cổ đến Cận Đại; Từ Cận Kim đến Hiện Kim |
1832.txt | Năm 1832 (MDCCCXXXII) là một năm nhuận bắt đầu vào ngày Chủ Nhật của lịch Gregory (hay một năm nhuận bắt đầu vào thứ Sáu, chậm hơn 12 ngày của lịch Julius). Năm 1832 là năm 2376 trong Phật Lịch, năm Tân Mão và Nhâm Thìn trong Âm Lịch.
== Sinh ==
Horatio Alger
Bjørnstjerne Bjørnson
José Echegaray
Gustave Eiffel
Édouard Manet
Ngô Quang Bích
Nikolaus Otto
Narcisa de Jesús
== Mất ==
Évariste Galois
Johann Wolfgang von Goethe
Lê Văn Duyệt
Lê Văn Khôi
Walter Scott
== Tham khảo == |
động vật.txt | Động vật là một nhóm sinh vật đa bào, nhân chuẩn, được phân loại là giới Động vật (Animalia, đồng nghĩa: Metazoa) trong hệ thống phân loại 5 giới. Cơ thể của chúng lớn lên khi phát triển. Hầu hết động vật có khả năng di chuyển một cách tự nhiên và độc lập.
Hầu hết các ngành động vật được biết đến nhiều nhất đã xuất hiện hóa thạch vào thời kỳ Bùng nổ kỷ Cambri, khoảng 542 triệu năm trước. Động vật được chia thành nhiều nhóm nhỏ, một vài trong số đó là động vật có xương sống (chim, động vật có vú, lưỡng cư, bò sát, cá); động vật thân mềm (trai, hàu, bạch tuộc, mực, và ốc sên); động vật Chân khớp (cuốn chiếu, rết, côn trùng, nhện, bọ cạp, tôm hùm, tôm); giun đốt (giun đất, đỉa); bọt biển và sứa.
== Từ nguyên (tên gọi) ==
Từ "animal" xuất phát từ tiếng Latin animalis, có nghĩa là "có thở". Trong sử dụng ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, từ "động vật" thường bị sử dụng sai - từ "động vật" đó dùng để chỉ tất cả các thành viên của giới Animalia trừ con người. Theo nghĩa sinh học, "động vật" dùng để chỉ tất cả các thành viên của giới Animalia, bao gồm cả con người.
== Đặc điểm ==
Động vật có vài đặc điểm riêng tách chúng ra khỏi các sinh vật sống khác. Động vật là sinh vật nhân chuẩn và đa bào, phân biệt chúng với vi khuẩn và hầu hết sinh vật đơn bào. Động vật sống dị dưỡng, tiêu hóa thức ăn trong cơ thể, phân biệt với thực vật và tảo. Chúng cũng khác biệt với thực vật ở chỗ thiếu thành tế bào cứng (thành cellulose). Tất cả động vật có thể di chuyển, ít nhất là trong một giai đoạn sống. Ở hầu hết động vật, phôi trải qua giai đoạn phôi nang (blastula), một giai đoạn riêng biệt đặc trưng ở động vật.
=== Cấu trúc ===
Trừ vài ngoại lệ, như là bọt biển (ngành Porifera) và Placozoa, động vật có cơ thể được chia thành các mô. Chúng bao gồm cơ bắp, dùng để thực hiện và kiểm soát vận động, các mô thần kinh, dùng để gửi và xử lý tín hiệu. Thông thường, cơ thể có một hệ tiêu hóa, với một miệng (như thủy tức) hay cả miệng và hậu môn (như cá). Tất cả động vật có tế bào nhân chuẩn.
=== Sinh sản và phát triển ===
Gần như tất cả động vật trải qua một số hình thức sinh sản hữu tính. Chúng có những tế bào sinh sản nhỏ, di chuyển được như tinh trùng hay lớn hơn, không di chuyển được như trứng. Tình trùng và trứng sẽ kết hợp để tạo thành hợp tử, hợp tử phát triển để tạo thành cá thể mới.
Nhiều loài động vật cũng có khả năng sinh sản vô tính. Việc này có thể xảy ra thông qua trinh sản, trứng được tạo ra mà không cần giao phối, phân chồi, hay phân mảnh.
Hợp tử ban đầu phát triển thành một khối tế bào hình cầu rỗng, được gọi là phôi nang, sau sẽ được sắp xếp lại. Ở bọt biển, ấu trùng phôi nang bơi đến một vị trí mới và phát triển thành một con bọt biển mới. Trong các nhóm khác, phôi nang trải qua những sắp xếp phức tạp hơn.
== Nguồn gốc và hóa thạch ==
Động vật thường được coi là tiến hóa từ một loại trùng roi có tế bào nhân chuẩn. Họ hàng gần gũi nhất được biết đến của chúng là Choanoflagellatea. Nghiên cứu phân tử đặt động vật trong một siêu nhóm được gọi là opisthokonta (sinh vật lông roi sau), cùng với choanoflagellate, nấm và một số sinh vật nguyên sinh ký sinh nhỏ. Tên này đến từ vị trí của roi trong tế bào có thể chuyển động, như tinh trùng ở hầu hết động vật, trong khi các sinh vật nhân chuẩn khác có lông roi trước.
Những hóa thạch đầu tiên được cho có thể là động vật xuất hiện ở thành hệ Trezona, tây Central Flinders, Nam Úc. Những hóa thạch này được xem là loài bọt biển đầu tiên. Chúng được tìm thấy trong lớp đá 665 triệu năm tuổi.
Hóa thạch tiếp theo có thể là động vật cổ nhất được tìm thấy vào thời kỳ Tiền Cambri, khoảng 610 triệu năm trước. Hóa thạch này khó mà liên quan đến các hóa thạch sau nó. Tuy nhiên, hóa thạch này có thể đại diện cho động vật tiền thân của động vật ngày nay, nhưng chúng cũng có thể là một nhóm tách biệt hoặc thậm chí không phải động vật thực sự.
== Lịch sử phân loại ==
Aristotle chia sinh vật sống ra làm động vật và thực vật, Carolus Linnaeus (Carl von Linné) cũng làm theo cách này trong lần phân loại thứ bậc đầu tiên. Kể từ đó các nhà sinh học đã bắt đầu nhấn mạnh mối quan hệ tiến hóa, ví dụ sinh vật đơn bào ban đầu được xem là động vật bởi khả năng di chuyển của chúng, nhưng nay được tách riêng.
Trong sơ đồ ban đầu của Linnaeus, động vật là một trong ba giới, phân chia thành các lớp Vermes, Insecta, Pisces, Amphibia, Aves, và Mammalia. Kể từ đó, bốn lớp cuối được gộp thành một ngành duy nhất, Chordata, trong khi hai lớp còn lại bị tách ra.
== Xem thêm ==
Phân loại khoa học
Hệ thống phân loại Động vật
Cách phân loại Động vật
Động vật học
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Động vật tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Animal tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Metazoa tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI).
Animalia (TSN 202423) tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
Động vật tại Encyclopedia of Life
Những nhà vô địch trong thế giới động vật |
somatogyrus.txt | Somatogyrus là một chi ốc nước ngọt và nước lợ rất nhỏ, động vật thân mềm chân bụng có mài sống trong môi trường nước ngọt trong họ Hydrobiidae.
== Các loài ==
Các loài trong chi Somatogyrus gồm có:
Reverse pebblesnail, Somatogyrus alcoviensis
Oachita pebblesnail, Somatogyrus amnicoloides
Goldend pebblesnail, Somatogyrus aureus
Angular pebblesnail, Somatogyrus biangulatus
Knotty pebblesnail, Somatogyrus constrictus
Coosa pebblesnail, Somatogyrus coosaensis
Thick-lipped pebblesnail, Somatogyrus crassilabris
Stocky pebblesnail, Somatogyrus crassus
Tennessee pebblesnail, Somatogyrus currierianus
Hidden pebblesnail, Somatogyrus decipiens
Ovate pebblesnail, Somatogyrus excavatus
Fluted pebblesnail, Somatogyrus hendersoni
Granite pebblesnail, Somatogyrus hinkleyi
Atlas pebblesnail, Somatogyrus humerosus
Dwarf pebblesnail, Somatogyrus nanus
Moom pebblesnail, Somatogyrus obtusus
Sparrow pebblesnail, Somatogyrus parvulus
Tallapoosa pebblesnail, Somatogyrus pilsbryanus
Pygmy pebblesnail, Somatogyrus pygmaeus
Quadrate pebblesnail, Somatogyrus quadratus
Mud pebblesnail, Somatogyrus sargenti
Rolling pebblesnail, Somatogyrus strengi
Savannah pebblesnail, Somatogyrus tenax
Opaque pebblesnail, Somatogyrus tennesseensis
Panhandle pebblesnail, Somatogyrus virginicus
Channeled pebblesnail, Somatogyrus wheeleri
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
cuộc thi sắc đẹp.txt | Cuộc thi sắc đẹp là cuộc thi tập trung đánh giá về vẻ đẹp hình thể của thí sinh, song đồng thời cũng chú ý đến các yếu tố khác như thể chất, trí tuệ và nhân cách của người tham dự. Hầu hết các cuộc thi sắc đẹp là dành cho nữ giới chưa lập gia đình, với người chiến thắng thường được gọi là hoa hậu. Ngoài ra, còn có một số cuộc thi với hình thức tương tự dành cho nam giới, phụ nữ đã kết hôn, người chuyển giới và trẻ em.
== Lịch sử ==
Đầu thế kỉ 20, các cuộc thi sắc đẹp hiện đại bắt đầu được tổ chức với sự ra đời của các cuộc thi hoa hậu cấp quốc gia uy tín như Hoa hậu Pháp (1920), Miss America – Hoa hậu Mỹ (1921) hay Hoa hậu Đức (1927).
Đến năm 1926, "Cuộc thi Sắc đẹp Quốc tế" (International Pageant of Pulchritude) trở thành cuộc thi sắc đẹp cấp quốc tế đầu tiên, với sự tham dự của thí sinh nhiều nước trên thế giới. Cuộc thi này được tổ chức lần cuối vào năm 1935 và sau đó dừng lại do ảnh hưởng từ cuộc Đại khủng hoảng. Tuy thời gian tồn tại ngắn ngủi, cuộc thi này đã trở thành hình mẫu cho các cuộc thi nhan sắc quốc tế hiện đại sau này.
Năm 1951, ông Eric Morley tổ chức một cuộc thi bikini tại Luân Đôn, Anh với mục đích quảng bá các mẫu áo tắm mới. Tuy quy mô nhỏ bé và chỉ có sự tham dự của các thí sinh đến từ 6 nước, cuộc thi vẫn được giới truyền thông lúc đó gọi là Hoa hậu Thế giới (Miss World). Ngày nay, Hoa hậu Thế giới đề cao khẩu hiệu "Sắc đẹp vì mục đích cao cả" (Beauty with a purpose) với phần thi Hoa hậu Nhân ái, trong đó các thí sinh phải trình bày một dự án từ thiện do họ thực hiện.
Sang năm 1952, do người chiến thắng cuộc thi Miss America là Yolande Betbeze từ chối mặc áo tắm của hãng tài trợ Catalina Swimwear, nhà sản xuất của thương hiệu này là Pacific Mills tuyên bố rút khỏi cuộc thi này. Họ nhanh chóng thành lập ra một cuộc thi Hoa hậu Mỹ khác với tên gọi Miss USA và đồng thời một cuộc thi sắc đẹp cấp quốc tế là Hoa hậu Hoàn vũ (Miss Universe). Hoa hậu Hoàn vũ lần đầu tiên được tổ chức tại thành phố Long Beach, California. Ngày nay, các Hoa hậu Hoàn vũ đương nhiệm sống tại thành phố New York và tiến hành các công việc thiện nguyện, trong đó có nâng cao nhận thức về bệnh AIDS.
Đến năm 1960, cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ chuyển sang tổ chức ở thành phố Miami, Florida. Long Beach lại trở thành nơi khai sinh một cuộc thi sắc đẹp tầm cỡ khác với tên gọi Hoa hậu Quốc tế (Miss International). Về sau, cuộc thi chuyển trụ sở về Tokyo, Nhật Bản. Hoa hậu Quốc tế đề cao sứ mệnh tuyên truyền cho hoà bình và sự hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới.
Năm 2001, Hoa hậu Trái đất (Miss Earth) ra đời tại Manila, Philippines. Khác với các cuộc thi sắc đẹp khác, các á hậu 1, 2 và 3 của cuộc thi được gọi là Hoa hậu Không khí, Hoa hậu Nước và Hoa hậu Lửa. Hoa hậu Trái đất và các á hậu có trách nhiệm tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường.
Năm 2009, Hoa hậu Siêu Quốc gia (Miss Supranational) được tổ chức lần đầu tiên tại Ba Lan.
Theo Missosology, một trang web chuyên về các cuộc thi sắc đẹp, 5 cuộc thi kể trên được gọi chung là Big 5, tập hợp những cuộc thi có uy tín và tầm ảnh hưởng nhất trên thế giới, vượt xa các cuộc thi khác.
Trong khi đó, các cuộc thi sắc đẹp dành cho nam giới ra đời muộn hơn. Năm 1993, Manhunt International trở thành cuộc thi sắc đẹp quốc tế đầu tiên dành cho nam giới do Singapore tổ chức. Đến năm 1996, cuộc thi Mister World ra đời như một người anh em của cuộc thi Hoa hậu Thế giới bởi cả hai đều cùng thuộc Tổ chức Hoa hậu Thế giới. Mười năm sau, cuộc thi Mister International được tổ chức lần đầu tại Singapore.
Các cuộc thi sắc đẹp dành cho nữ giới đều yêu cầu thí sinh tham dự phải là người chưa lập gia đình. Tuy nhiên, cũng tồn tại những cuộc thi chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn, tiêu biểu như Hoa hậu Quý bà Thế giới (Mrs. World).
Các cuộc thi sắc đẹp cho nữ giới thường yêu cầu thí sinh tham dự phải thuộc giới tính nữ từ khi mới sinh ra. Quy định này khiến các thí sinh chuyển giới không có cơ hội tham dự những cuộc thi này. Năm 2012, thí sinh Jenna Talackova bị loại khỏi cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Canada do bị phát hiện là người chuyển giới. Sau khi cô tuyên bố sẽ đưa vấn đề này ra trước pháp luật, chủ tịch Donald Trump của cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ tuyên bố cho phép cô Talackova trở lại thi và cho phép người chuyển giới tham gia Hoa hậu Hoàn vũ. Cuộc thi sắc đẹp nổi bật nhất chỉ dành cho phụ nữ chuyển giới là "Hoa hậu Nữ hoàng Quốc tế" (Miss International Queen), diễn ra tại Pattaya, Thái Lan từ năm 2004.
== Chỉ trích ==
Tại một số quốc gia trên thế giới, việc tổ chức các cuộc thi sắc đẹp không được khuyến khích, thậm chí bị cấm vì nhiều lý do khác nhau.
Sự phát triển của các phong trào nữ quyền tại châu Âu và Bắc Mỹ cũng dẫn đến sự thoái trào của các cuộc thi nhan sắc. Họ cho rằng các cuộc thi sắc đẹp là sự xem thường giá trị của người phụ nữ. Cuộc thi Hoa hậu Thế giới 1970 tổ chức ở Luân Đôn, Anh bị gián đoạn khi những người biểu tình tấn công sân khấu bằng bột mì.
Tại các quốc gia theo Hồi giáo, việc phô bày thân thể của phụ nữ trong phần thi áo tắm là điều cấm kị. Vì vậy, chỉ có một số rất ít các nước Hồi giáo tham dự các cuộc thi sắc đẹp quốc tế. Năm 2013, cuộc thi Hoa hậu Thế giới tổ chức tại Indonesia, một nước có đa phần dân theo đạo Hồi. Cuộc thi bị nhiều người dân địa phương biểu tình phản đối và thay đổi phần thi áo tắm thành trang phục sarong đi biển kín đáo hơn. Cuộc thi "Hoa hậu Hồi giáo" (World Muslimah) được người theo đạo Hồi tổ chức như một sự đối lập với các cuộc thi sắc đẹp thông thường. Trong cuộc thi này, các thí sinh đều đội khăn trùm đầu và thể hiện sự hiểu biết và lòng trung thành của mình về tôn giáo.
Bên cạnh đó, các cuộc thi sắc đẹp dành cho thiếu nhi cũng bị chỉ trích gay gắt. Những người phản đối cho rằng những cuộc thi như vậy sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của các bé gái khi vai trò của nhan sắc quá được đề cao trong cuộc sống của các em. Năm 2013, Pháp trở thành nước đầu tiên trên thế giới cấm tất cả các cuộc thi sắc đẹp dành cho thiếu nhi.
== Cường quốc sắc đẹp ==
Khái niệm cường quốc sắc đẹp chỉ những nước thường xuyên đạt thành tích cao tại các cuộc thi sắc đẹp quốc tế, như nhiều lần đoạt vương miện và thường xuyên được gọi tên vào các top bán kết, chung kết qua nhiều năm.
Chuyên trang về hoa hậu Missosology tổng hợp thành tích của các quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự 5 cuộc thi sắc đẹp lớn nhất là Hoa hậu Thế giới, Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu Quốc tế, Hoa hậu Trái đất và Hoa hậu Siêu Quốc gia trong một bảng điểm. Bảng điểm này phần nào giúp đánh giá và so sánh sự thành công của các nước khi tham dự các cuộc thi nói trên:
== Danh sách cuộc thi sắc đẹp quốc tế ==
=== Các cuộc thi dành cho nữ giới ===
Hoa hậu Thế giới
Hoa hậu Hoàn vũ
Hoa hậu Quốc tế
Hoa hậu Trái Đất
Hoa hậu Siêu Quốc gia
=== Các cuộc thi dành cho nam giới ===
Manhunt International
Mister World
Mister International
== Danh sách cuộc thi sắc đẹp quốc gia ==
=== Châu Á ===
Hoa hậu Hoàn vũ Nhật Bản
Hoa hậu Việt Nam
Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam
Hoa khôi Áo dài Việt Nam
Hoa hậu biển Việt Nam
Hoa hậu bản sắc Việt Nam
Hoa hậu Thái Lan
Hoa hậu malaysia
Hoa hậu indonesia
=== Châu Mỹ ===
Hoa hậu Brasil
Hoa hậu Hoàn vũ Canada
Hoa hậu Colombia
Hoa hậu Mexico
Miss USA
Hoa hậu Venezuela
Hoa hậu Ecuador
Hoa hậu công hòa Dominican
=== Châu Âu ===
Hoa hậu Séc
Hoa hậu Iceland
Hoa hậu Nga
Hoa hậu Pháp
Hoa hậu Tây Ban Nha
Hoa hậu Đức
== Tham khảo == |
thu nhập bình quân đầu người.txt | Thu nhập bình quân đầu người của một nhóm người có thể nghĩa là tổng thu nhập cá nhân chia tổng dân số. Thường tính thu nhập trên đầu người dùng đơn vị tiền tệ hàng năm.
== Xem thêm ==
Sức mua tương đương (PPP)
== Tham khảo == |
nhà hát cải lương trung ương.txt | Nhà hát Cải lương Trung ương, đúng như tên của nó, chuyên dành cho môn cải lương, ở số 164 Hồng Mai, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đoàn Cải lương trung ương được thành lập ở Chiến khu Việt Bắc năm 1951. Tới năm 1978, Hà Nội xây dựng Nhà hát Cải lương Trung ương để nghiên cứu, lưu giữ, biểu diễn, phát triển nghệ thuật cải lương, đặc biệt là cải lương theo phong cách miền Bắc. Còn ở miền Nam có Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, trước là Đoàn Cải lương Nam bộ.
Nhà hát Cải lương Trung ương ngày nay có 76 nghệ sĩ và nhân viên, thuộc Cục Nghệ thuật Biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
== Chú thích == |
hiệp hội công nghiệp ghi âm úc.txt | Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (tiếng Anh: Australian Recording Industry Association, viết tắt ARIA) là một tổ chức đại diện cho ngành công nghiệp ghi âm Úc được thành lập bởi sáu công ty ghi âm lớn khác là EMI, Festival Records, CBS, RCA Records, WEA và Universal Music. Hiệp hội này cung cấp chứng nhận doanh số đĩa thu âm và quản lý bảng xếp hạng ARIA Charts.
== Xem thêm ==
ARIA Charts - Bảng xếp hạng ghi âm Úc.
== Tham khảo == |
trần hữu trang.txt | Trần Hữu Trang hay Tư Trang (1906 - 1 tháng 10 năm 1966) là một trong những soạn giả lớn của nghệ thuật cải lương. Ông đã ghi dấu ấn trên sân khấu cải lương với những sáng tác nổi tiếng đã như Tô Ánh Nguyệt, Lan và Điệp, Đời cô Lựu...
Trần Hữu Trang đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996).
== Tiểu sử ==
Ông sinh năm 1906 tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình nông dân. Ngay từ nhỏ ông đã say mê đàn hát. Lúc đầu ông đi theo các gánh hát làm thư ký chép vở, sau đó được Mười Giảng (tức Đặng Công Danh) hướng dẫn dạy dỗ. Ông cho ra mắt kịch bản đầu tay Lửa đỏ lòng son vào năm 1928.
Những năm 30 của thế kỷ XX, ông nổi tiếng với hàng loạt sáng tác như Tô Ánh Nguyệt (1934), Lan và Điệp (1936), nhất là Đời cô Lựu (1937). Ông cộng tác với các gánh hát Trần Đắc, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Năm Châu. Những sáng tác sau đó Tìm hạnh phúc, Mộng hoa vương, Chị chồng tôi, Tình lụy... hay Khi người điên biết yêu - cộng tác với Năm Châu, Lê Hoài Nở - tiếp tục gây tiếng vang lớn.
Sau Cách mạng tháng 8, ông hăng hái tham gia kháng chiến, làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến xã Phú Kiết. Năm 1947, ông trở lại hoạt động tại Sài Gòn. Năm 1954, ông lại hoạt động trong phong trào hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1960, ông tham gia Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng. Ông mất vào ngày 1 tháng 10 năm 1966, tại suối Cây vùng Sa Mát trong một trận bom oanh tạc của Mỹ.
Trần Hữu Trang đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Thành đồng và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996). Tên ông còn được đặt tên cho một con đường, một ngôi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tên của ông còn được đặt cho tên Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang và giải thưởng Trần Hữu Trang - một giải thưởng lớn trong lĩnh vực cải lương.
== Sự nghiệp sáng tác ==
Ông khởi đầu bằng kịch bản Lửa đỏ lòng son năm 1928, tiếp theo đó là vở Tâm hồn nghệ sĩ. Những sáng tác này tuy còn nhiều non nớt nhưng đã có sự mới mẻ về hình thức lẫn nội dung, đặc biệt đưa cuộc sống đương thời vào trong sân khấu cải lương.
Thời kì thập niên 1930, tài năng nghệ thuật của ông đã đạt được nhiều thành tựu. Những vở như Đời cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt hay Lan và Điệp không chỉ thành công ăn khách mà còn là những sáng tác xuất sắc của sân khấu cải lương trước Cách mạng. Những sáng tác của Trần Hữu Trang không thiên về tình yêu đôi lứa uớt át hay cảm hứng lãng mạn mà xoáy sâu trực diện vào hiện thực xã hội. Những sáng tác này đã phơi bày số phận những người dân bất hạnh hay đề cập đến những bi kịch của tình yêu và hôn nhân trong hoàn cảnh xã hội đương thời, do đó nó "thấm đượm giá trị tố cáo, vạch trần những tệ nạn và sự thối nát của xã hội thuộc địa, lên tiếng bênh vực những khát vọng giải phóng con người thoát khỏi mọi dây trói của lễ giáo, hủ tục, cũng như những bất công ngang trái" . Với gần 30 kịch bản mang nội dung tư tưởng tiến bộ và giá trị nhân văn sâu sắc, Trần Hữu Trang là một trong những soạn giả lớn của nghệ thuật cải lương Nam Bộ.
Sau Cách mạng tháng 8, do hoàn cảnh công việc nên ông không sáng tác nhiều. Năm 1946, ông cho ra vở Hậu chiến trường và đến tận 20 năm sau, ông mới bắt tay viết kịch bản mới về người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Văn Trỗi. Thế nhưng kịch bản đã không thể hoàn thành được.
== Tác phẩm chính ==
Tô Ánh Nguyệt (1934)
Lan và Điệp (1936)
Đời cô Lựu (1937)
Tìm hạnh phúc
Mộng hoa vương
Chị chồng tôi
Tình lụy
Khi người điên biết yêu (cùng với Năm Châu, Lê Hoài Nở)
Hậu chiến trường (1946)
== Xem thêm ==
Giải thưởng Trần Hữu Trang
Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
TRẦN HỮU TRANG - Nghệ sĩ cải lương của cách mạng
Trần Hữu Trang: Nghệ sĩ cách mạng tiêu biểu |
doi.txt | DOI (viết tắt từ digital object identifier trong tiếng Anh, có nghĩa là "số chứng minh vật thể") là một số chứng minh vĩnh cửu (permalink) cho một tập tin World Wide Web. Nếu địa chỉ mạng của tập tin thay đổi, người truy cập bằng DOI vẫn được đổi hướng tự động đến địa chỉ mới. Các nhà xuất bản cung cấp DOI đến một thư mục được quản lý tập trung và sử dụng địa chỉ thư mục này cộng với DOI thay cho địa chỉ mạng thông thường. Hệ thống DOI được hình thành bởi Hiệp hội các Nhà xuất bản Mỹ với sự cộng tác của Hãng Thúc đẩy Nghiên cứu Quốc gia của Hoa Kỳ (CNRI), và hiện nay được quản lý bởi Tổ chức DOI Quốc tế. Về mặt cơ bản, hệ thống DOI là một quy trình đổi hướng các trang mạng nhờ sự quản lý tập trung.
Ban đầu, chỉ có một thư mục tập trung duy nhất được quản lý bởi Tổ chức DOI Quốc tế. Tuy nhiên, có ý tưởng cho rằng các thư mục khác có thể sẽ được tạo thêm và quản lý bởi các ngành công nghiệp lớn. Một DOI có thể được viết như sau:
doi:10.1002/ISBNJ0-471-58064-3
Ở đây, "10.1002" chỉ thư mục và phần đằng sau "/" là phần còn lại của DOI - trong trường hợp này, số ISBN của quyền sách đã được xuất bản. Số "-3" chỉ chương hoặc phần của quyển sách.
Số DOI có thể được giải nghĩa khi nó nằm trong URL. Để liên kết đến tập tin trên mạng, có thể viết số DOI đằng sau địa chỉ URL dx.doi.org. Ví dụ:
http://dx.doi.org/10.1000/182
Địa chỉ "dx.doi.org" là thư mục quản lý duy nhất. Người truy cập vào địa chỉ trên sẽ vào thư mục quản lý, và nhận được URL của DOI, để đến URL này. Nếu thư mục quản lý luôn được cập nhật, cả người truy cập và người sở hữu tập tin đều luôn được đảm bảo DOI dẫn đến phiên bản mới nhất của tập tin.
Các người dùng ban đầu của hệ thống DOI là các nhà xuất bản lớn, phải theo dõi hàng ngàn xuất bản phẩm, nhiều trong số đó có trên mạng. Thay đổi thư mục cho một số lượng lớn các tập tin khiến công việc thay đổi liên kết trên mạng và tạo ra các trang đổi hướng cho người dùng trở nên phức tạp. Với hệ thống DOI, mọi thay đổi chỉ cần cập nhật vào thư mục được quản lý tập trung và không ảnh hưởng đến liên kết trên mạng nếu các liên kết này dùng DOI.
Hệ thống DOI ứng dụng công nghệ Handle System của Hãng Thúc đẩy Nghiên cứu Quốc gia (CNRI).
== Xem thêm ==
URL
permalink
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tổ chức DOI Quốc tế
Tổ chức CrossRef |
đội tuyển bóng chày quốc gia trung hoa đài bắc.txt | Đội tuyển bóng chày Trung Hoa Đài Bắc (chữ Hán: 中華臺北棒球代表隊; bính âm: Zhōnghuá Táiběi Bàngqiú Dàibiǎoduì; Hán-Việt: Trung Hoa Đài Bắc bổng cầu đại biểu đội) là đội tuyển cấp quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Đội bóng do Hiệp hội bóng chày Trung Hoa Đài Bắc quản lý. Họ được công nhận là một trong những đội tuyển bóng chày cấp quốc gia mạnh nhất. Hiện tại họ đứng thứ tư trên thế giới theo báo cáo của Liên đoàn bóng chày quốc tế, chỉ sau Cuba, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Họ cũng liên tục duy trì vị trí hàng đầu trong các cuộc thi bóng chày quốc tế. Đội bóng thường do các vận động viên chuyên nghiệp đến từ Giải bóng chày chuyên nghiệp Trung Hoa của Đài Loan, bóng chày chuyên nghiệp Nippon của Nhật Bản và Major League Baseball hay Minor League Baseball từ Hoa Kỳ.
Do áp lực chính trị thù địch từ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trong các tổ chức thể thao quốc tế, đoàn phải tiếp nhận một cái tên thoả hiệp, từ Đội tuyển bóng chày quốc gia Trung Hoa Dân Quốc (chữ Hán: 中華民國棒球國家隊; bính âm: Zhōnghuá Mínguó Bàngqiú Guójiāduì; Hán-Việt: Trung Hoa Dân Quốc bổng cầu quốc gia đội) đổi thành Đội tuyển bóng chày Trung Hoa Đài Bắc.
Đội bóng tham gia vào nhiều giải đấu khu vực và quốc tế và đã đạt được nhiều thành công. Họ dành sáu danh hiệu trong Giải vô địch bóng chày châu Á, một huy chương đồng tại Thế vận hội 1984 tổ chức ở Los Angeles và một huy chương bạc tại Thế vận hội 1992 ở Barcelona. Thành công gần đây của họ là dành huy chương vàng tại Á vận hội 2006 tổ chức ở Doha trong ột chiến thắng càn quét đánh bại các đội tuyển Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Philippines và cuối cùng đánh bại đối thủ Nhật Bản. Họ cũng dành vị trí thứ 8 trong Giải bóng chày cổ điển thế giới 2013 gần đây.
== Đồng phục ==
== Tranh cãi tên gọi ==
Năm 1954, khi đội tuyển lần đầu tiên tham dự Giải vô địch Bóng chày châu Á đã thi đấu với tên gọi United Team of Taiwan. Kể từ khi Trung Hoa Dân Quốc bị trục xuất khỏi Liên Hợp Quốc vào năm 1971, Đội tuyển bóng chày quốc gia Trung Hoa Dân Quốc bị buộc phải thi đấu quốc tế dưới cái tên Trung Hoa Đài Bắc do áp lực ngoại giao của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thông qua Chính sách một Trung Quốc. Ở Đài Loan thì được gọi với cả hai cái tên là 中華隊 (bính âm: Zhōnghuá Duì; Hán-Việt: Trung Hoa đội; nghĩa là đội Trung Hoa) hay 台灣隊 (bính âm: Táiwān Duì; Hán-Việt: Đài Loan đội; nghĩa là đội Đài Loan).
== Tham khảo == |
thánh hóa.txt | Thánh hóa theo nguyên nghĩa là biệt riêng ra cho một mục đích đặc biệt, đó là làm nên thánh hoặc trở nên thiêng liêng. Vì vậy Thánh hóa ngụ ý một tình trạng hoặc một tiến trình được biệt riêng ra để được nên thánh.
== Từ nguyên ==
Tính từ "Thánh" trong tiếng Hebrew (quados) theo nghĩa đen là "phân rẽ", vì nó bắt nguồn từ động từ mang nghĩa "tách biệt" hay "tách ra", được dùng để miêu tả những nơi đặc biệt (Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh trong Đền thờ), những vật đặc biệt (trang phục của Aaron, ngày Sa-bát), và những người đặc biệt (thầy tế lễ và người Lê-vi) được biệt riêng ra cách đặc biệt hay được làm nên thánh cho Chúa. Như thế, sự Thánh khiết của Thiên Chúa chỉ về sự tách biệt của Ngài khỏi mọi sự bất khiết
Trong bốn lần xuất hiện trong Tân Ước, thuật từ Thánh hóa có từ nguyên trong Hi văn αγιασμος (hagiasmos) nghĩa là "Thánh hóa" bắt nguồn từ hagios (άγιος) nghĩa là "Thánh khiết" hoặc "thiêng liêng".
== Cơ Đốc giáo ==
Khái niệm Thánh hóa được sử dụng rộng rãi trong các tôn giáo, nhưng phổ biến nhất có lẽ là trong vòng các giáo hội thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo. Thánh hóa là hành động của Thiên Chúa thể hiện một sự thay đổi triệt để trong đời sống của tín hữu, khởi đầu với thời điểm người ấy được cứu rỗi hay được xưng công chính và tiếp tục kéo dài suốt cuộc đời.
Ở đây, "Thánh khiết" nên được hiểu là "thật sự giống Thiên Chúa". Sự nên thánh là một quá trình mà trong đó tình trạng đạo đức được làm cho phù hợp với tình trạng pháp lý của người đó trước mặt Thiên Chúa. Đó là sự tiếp nối cho những gì đã được bắt đầu bằng sự tái sanh, là lúc một sự sống mới được trao cho và đổ vào lòng tín hữu. Nói cụ thể hơn, sự nên thánh là việc Chúa Thánh Linh áp dụng công tác được Chúa Giê-xu Cơ Đốc làm trọn vào đời sống của tín hữu.
Nhiều truyền thống Cơ Đốc giáo tin rằng tiến trình Thánh hóa chỉ kết thúc tại Thiên đàng, nhưng có nhiều người cho rằng một sự Thánh khiết trọn vẹn là khả dĩ ngay trong đời này.
=== Công giáo Rôma ===
Thánh hoá một trong hai kiểu ơn ban của Thiên Chúa dành cho loài người (kiểu còn lại là Trợ giúp). Thánh hóa là sự sống siêu nhiên của Chúa Ba Ngôi thông ban cho con người, làm cho con người nên giống Chúa Kitô, và đáng được hưởng gia nghiệp Nước Trời. Ơn này được ban khi tín hữu nhận phép Thanh Tẩy và bị mất khi ta phạm tội trọng.
Về việc Thánh hóa qua hình thức phong Thánh, Giáo lý Công giáo giải thích rõ trong số 828: "Bằng cách phong Thánh một số tín hữu, nghĩa là bằng cách long trọng tuyên bố rằng họ đã thực hiện các nhân đức một cách anh dũng và sống trung thành với Ơn Chúa, Giáo hội nhận biết quyền năng Thánh Thần của sự Thánh thiện nơi Giáo hội và duy trì niềm hy vọng của các tín hữu bằng cách đề xuất các vị Thánh là những tấm gương sáng và la những người cầu thay nguyện giúp. Các vị Thánh luôn là nguồn canh tân trong những hoàn cảnh khó khăn nhất trong lịch sử Giáo hội".
Đối với các vật thể được làm phép, chúng không mang nghĩa là Thánh hóa (thần Thánh hóa) nhưng mang nghĩa là chúng được tuyển chọn, tách riêng ra để mang mục đích sử dụng trong các nghi lễ phụng vụ (chén Thánh, bàn Thánh, khăn Thánh, tượng Thánh...).
=== Kháng Cách ===
Trong các giáo hội khác nhau thuộc Cơ Đốc giáo, thuật ngữ này có thể được hiểu theo từng ý nghĩa riêng như đối với tín hữu Kháng Cách, khái niệm Thánh hóa được gắn kết chặt chẽ với ân điển của Thiên Chúa và chỉ được dùng riêng cho con người.
Theo Phong trào Thánh khiết hiện đại, cách diễn giải cho rằng sự Thánh khiết có tính hỗ tương (relational) đang trở nên phổ biến. Cốt lõi của sự thánh khiết hỗ tương là tình yêu thương. Có những ý nghĩa khác của sự Thánh khiết như thanh sạch, biệt riêng, toàn hảo, vâng phục luật pháp, tận hiến. Nhưng những đức hạnh này chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa chân chính tối hậu của mình khi đặt tình yêu vào vị trí cốt lõi của chúng.
John Wesley, người khởi phát Phong trào Giám Lý, phát triển giáo thuyết nên thánh trọn vẹn (trong các giáo hội thuộc Phong trào Thánh khiết như Church of the Nazarene, Cứu Thế Quân...) hoặc Toàn hảo Cơ Đốc (trong các giáo phái Giám Lý như Giáo hội Giám Lý Hiệp nhất...) Wesley dạy rằng bởi quyền năng của ân điển thánh hóa từ Thiên Chúa và các phương tiện ân điển, tín hữu Cơ Đốc ngay trong đời này có thể được thanh tẩy khỏi ảnh hưởng ô uế của nguyên tội, mặc dù không phải tất cả tín hữu đều có thể có trải nghiệm này.
Thánh hóa tức là bản thể sa ngã của chúng ta được làm mới lại bởi Chúa Thánh Linh, bởi đức tin vào Chúa Giê-xu Cơ Đốc, huyết của Ngài thanh tẩy mọi tội lỗi; nhân đó chúng ta không chỉ được giải thoát khỏi tội lỗi mà còn được thanh tẩy khỏi sự ô uế của tội lỗi, được cứu khỏi quyền lực tội lỗi, và được ban cho sức mạnh, qua ân điển, để có thể hết lòng yêu kính Thiên Chúa và bước đi trọn vẹn theo các điều răn Thánh của Ngài.
== Trích dẫn Kinh Thánh ==
Lê vi ký 11: 44 "....Các ngươi phải nên Thánh, vì ta (Thiên Chúa) là Thánh..."
Matthew 5: 48 "Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn".
Giăng 3: 30 "Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống".
La Mã 6: 22 "Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Thiên Chúa rồi thì anh em được lấy sự nên Thánh làm kết quả".
1 Corinthians 6: 11 "... Nhưng anh em được rửa sạch, được nên Thánh, được xưng công bình trong danh của Chúa Giê-xu Cơ Đốc và trong Thánh Linh của Thiên Chúa chúng ta".
2 Corinthians 7: 1 "hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Thiên Chúa mà làm cho trọn việc nên Thánh của chúng ta".
1 Thessalonians 4: 3 "Vì ý muốn của Thiên Chúa, ấy là khiến anh em nên Thánh...".
1 Thessalonians 4: 7 "Bởi chưng Thiên Chúa chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là sự nên Thánh vậy".
1 Thessalonians 5: 23 "Nguyền xin chính Thiên Chúa bình an khiến anh em nên Thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Chúa Giê-xu Cơ Đốc chúng ta đến".
Hebrew 6: 1 "Ấy vậy, chúng ta phải bỏ qua các điều sơ học về Tin Lành của Chúa Cơ Đốc mà tiến tới sự trọn lành...".
Hebrew 12: 14 "Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên Thánh, vì nếu không nên Thánh thì chẳng ai được thấy Thiên Chúa".
James 1: 4 "Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào".
1 Peter 1: 15 –16 "Nhưng, như Đấng gọi anh em là Thánh, thì anh em phải Thánh trong mọi cách ăn ở của mình, bởi có chép rằng: Hãy nên Thánh, vì ta là Thánh".
1 Giăng 4: 18 "Quyết chẳng có điều sợ hãi trong tình yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cắt bỏ sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ đã sợ hãi thì không trọn vẹn trong sự yêu thương".
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Greathouse, Willam M. Wholeness in Christ. Kansas City: Beacon Hill Press, 1998 Grider, J. Kenneth. Entire Sanctification. Kansas City: Beacon Hill Press, 1980 Verbrugge, Verlyn D. New International Dictionary of New Testament Theology. Grand Rapids: Zondervan, 2000
== Đọc thêm ==
Alexander, Donald L., ed. Christian Spirituality: Five Views of Sanctification. (ISBN 0-8308-1278-4)
Grider, J. Kenneth. A Wesleyan-Holiness Theology. Kansas City:Beacon Hill Press, 1994
Gundry, Stanley, ed. Five Views on Sanctification. (ISBN 0-310-21269-3)
Tracy, Wes., Gary Cockerill, Donald Demaray, and Steve Harper. Reflecting God. Kansas City: Beacon Hill Press, 2000
Wesley, John. A Plain Account of Christian Perfection. Kansas City: Beacon Hill Press, reprinted 1968
== Liên kết ngoài ==
Article on sanctification
Sanctification
Sanctified through marriage partner
Study material on Justification and Sanctification Vineyard Ministries
Justification Vs Sanctification Let Us Reason Ministries
Sanctification in Lutheran Theology by David P. Scaer |
kinh tế maldives.txt | Ngày nay, Maldives có một nền kinh tế hỗn hợp, dựa vào các ngành du lịch, ngư nghiệp và tàu biển.
Du lịch là ngành kinh tế lớn nhất của Maldives, chiếm 20% GDP và hơn 60% lượng ngoại tệ thu được của quốc gia này. Ngành này đã giúp Maldives đạt mức tăng trưởng GDP đầu người 265% trong thập niên 1980 và 115% trong thập niên 1990. Hơn 90% thuế chính phủ thu được là từ thuế nhập khẩu và các loại thuế thu được từ du lịch.
Ngư nghiệp là ngành lớn thứ hai ở Maldives. Chương trình cải cách kinh tế chủ chính phủ năm 1989 đã bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu và mở cửa một số ngành xuất khẩu cho lĩnh vực tư nhân. Do đó, chính sách này đã tự do hóa quy định để cho phép nhiều đầu tư nước ngoài hơn. Nông nghiệp và chế tạo đóng vai trò nhỏ trong nền kinh tế quốc gia này do quỹ đất hẹn hẹp và thiếu hụt lao động. Phần lớn các sản phẩm chủ yếu được nhập khẩu.
Công nghiệp ở Maldives chủ yếu gồm ngành may mặc, đóng thuyền, thủ công. Các ngành này chiếm 18% GDP của Maldives. Chính phủ Maldives đang lo ngại ảnh hưởng của hiện tượng xâm thực và sự nóng lên toàn cầu đối với quốc gia có độ cao so với mực nước biển thấp này.
== Tham khảo == |
wat phra kaew.txt | 13°45′5″B 100°29′34″Đ
Chùa Phật Ngọc ở Bangkok được xem là một chùa linh thiêng nhất ở Thái Lan. Chùa tọa lạc tại trung tâm lịch sử Bangkok (quận Phra Nakhon), bên trong khuôn viên của Cung điện Hoàng gia Thái. Việc xây dựng ngôi chùa này bắt đầu khi vua Phật Yodfa Chulaloke (Rama I) dời kinh đô từ Thonburi đến Bangkok năm 1785. Wat Phra Keo nằm cạnh Cung điện Lớn và có tầm quan trọng bậc nhất trong các ngôi chùa nổi tiếng của Thái Lan, được xem như nhà chùa của Hoàng gia, với diện tích rộng đến 945.000 m², bao gồm hơn 100 tòa nhà cao tầng, và là ngôi chùa duy nhất không có sư sãi. Chùa nổi tiếng không chỉ vì vẻ đẹp của nhiều kiểu kiến trúc, mà còn vì bức tượng Phật bằng ngọc bích thiêng liêng nhất trong hằng hà sa số tượng Phật trên vương quốc. Không giống các ngôi chùa khác, chùa này không có khu nhà ở cho các vị sư mà chỉ có các tòa nhà được trang trí các cảnh linh thiêng, các bức tượng.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Wat Phra Keo được đặt theo tên của chùa Hoàng Hôn bên Ấn Độ, xưa kia là một ngôi đền được xây dựng vào thế kỷ 17, sau được vua Tak Sin chọn làm chùa của hoàng gia, đồng thời cũng là cung điện. Tên chính thức và đẩy đủ của chùa này là Chùa Phrạc -Srỉ -Rách-ta-na-Sả-đa-ram (tiếng Thái: วัดพระศรีรัตนศาสดาราม, chuyển tự Latinh thành Phra Si Rattana Satsadaram), nhưng hay được gọi tắt là Chùa Phra Kaew (วัดพระแก้ว). Người nước ngoài thường gọi là chùa Phật Ngọc.
== Các công trình tham quan chính theo bản đồ ==
Tên các công trình tham quan được mô tả dưới đây theo tiếng Anh và tiếng Thái ไทย: แผนผังอย่างคร่าวๆของวัดพระแก้ว
The Ubosot containig the Emerald Buddha - พระอุโบสถ
Twelve small open Pavilions - ศาลาราย
Viharn of the Gandhara Buddha image - หอพระคันธารราษฏร์
Belfry - หอระฆัง
Hor Racha Pongsanusorn - หอราชพงศานุสรณ์
Phra Photithat Piman - พระโพธิ์ธาตุพิมาน
Ho Racha Koramanusorn - หอราชกรมานุสรณ์
Figure of the seated hermit - พระฤๅษี
The Royal Pantheon - ปราสาทพระเทพบิดร
Two gilt chedis - พระสุวรรณเจดีย์
Phra Mondop (the Library) - พระมณฑป
Phra Si Rattana Chedi - พระศรีรัตนเจดีย์
Model of Angkor Wat - นครวัดจำลอง
Monument of Kings Rama I, II and III - พระบรมราชสัญลักษณ์ 9 รัชกาล
Monument of King Rama IV - พระบรมราชสัญลักษณ์ 9 รัชกาล
Monument of King Rama V - พระบรมราชสัญลักษณ์ 9 รัชกาล
Monument of Kings Rama VI, VII, VIII and IX - พระบรมราชสัญลักษณ์ 9 รัชกาล
Ho Phra Monthien Tham (the Supplementary Library) - หอมณเฑียรธรรม
Viharn Yod - พระเศวตกุฏาคารวิหารยอด
Viharn Phra Nak - หอพระนาก
Eight prang - พระปรางค์
Galleries - พระระเบียง
Twelve statues of Giants - ยักษ์ทวารบาล
== Miêu tả chi tiết ==
Điện chính là ubosoth trung tâm có bức tượng Phật ngọc. Dù bức tượng này có kích thước nhỏ nhưng đây lại là tượng Phật quan trọng nhất đối với người Thái Lan. Các truyền thuyết cho rằng bức tượng này xứ từ Ấn Độ, nhưng tượng đã xuất hiện lần đầu ở Vương quốc Campuchia chư hầu và được tặng cho vua của Vương quốc Ayutthaya vào thế kỷ 15. Bức tượng đã biến mất khi quân Miến Điện đánh bại Ayuttaya và người ta lo sợ tượng đã biến mất. Một thế kỷ sau, tượng Phật ngọc lại xuất hiện ở Chiang Saen, sau một trận mưa dông đã xói lớp đất phủ xung quanh tượng. Sau đó tượng đã được đưa đến Chiang Rai, sau đó là Chiang Mai, nơi đó tượng được hoàng tử Setatiratt đưa đến Luang Prabang, khi bố của ông mất và ông đã lên ngôi của quốc gia chư hầu đó của Xiêm La. Trong những năm sau tượng được chuyển đến quốc gia Viêng Chăn, chư hầu của Xiêm La. Trong thời gian Haw từ phía Bắc xâm lược, Luang Prabang đã thỉnh cầu sự giúp đỡ của Xiêm La chống lại quân xâm lược. Vua Viêng Chăn đã tấn công quân Xiêm từ phía sau, do đó Phật ngọc đã quay trở về Xiêm khi vua Taksin đánh nhau với Lào và tướng của ông Chakri (sau này là vua Rama I) đã lấy bức tượng từ Viêng Chăn. Đầu tiên tượng được đưa đến Thonburi và năm 1784 tượng được đưa đến địa điểm hiện nay. Wat Preah Keo, ở Phnom Penh, ngày nay được nhiều người Campuchia xem là nơi bức tượng phải ở đúng chỗ của nó còn người Lào lại cho rằng Haw Phra Kaew ở Viêng Chăn mới là địa điểm đúng của bức tượng. Chùa cũng có một mô hình Angkor Wat, được bổ sung theo lệnh vua Nangklao (Rama III), do Đế quốc Khmer của Campuchia và Xiêm La có chung nguồn gốc văn hóa và tôn giáo.
== Nét đặc sắc của chùa ==
Hiện thời, viên ngọc Lục Bảo đức Phật đặt trên án thờ có chiều cao 11 mét rất vẻ tôn kính, do cây dù được xếp chín tầng bảo toàn yên tĩnh. Những quả bóng bằng thủy tinh ở hai bên tượng trưng cho nhật nguyệt. Mỗi năm có 3 lần, lúc khởi đầu năm mới, nhà vua chủ tọa việc thay đổi chiếc áo khoác bên ngoài Phật Lục Bảo: Áo thụng không tay khoác ngoài thắt long bằng vàng, có nhiều hạt kim cương đắt giá dùng cho mùa hạ, chiếc áo điểm lốm đốm kim cương trông có vẻ giàu sang dùng cho mùa mưa và chiếc áo tráng lớp men bằng vàng nguyên chất dùng cho mùa mát. Những bức tường hành lang bao quanh sân của chùa được sơn phết với những tấm bích họa tường thuật hoạt động mang tính chất anh hùng thời Ramakien. Những tấm bích họa được vẽ đều căn cứ vào nguồn gốc suốt triều đại hoàng đế Rama III (1824-1850), nhưng được phục hồi nhiều lần. Những bức họa tiêu biểu cho câu chuyện khởi đầu bên tay trái, khi du khách rảo bước quanh hành lang mới lĩnh hội được ý nghĩa. Những trận chiến đấu mang tính cách anh hùng, những đám diễu hành, v.v. đều được thể hiện tất cả trên những bức vẽ. Những phiến đá cẩm thạch được dựng lên những cây cột đứng trước những họa phẩm, được khắc lên những bài thơ hay có liên quan đến mỗi tình tiết của câu chuyện.
== Quy định tham quan ==
Chùa mở cửa đón khách hàng ngày, từ 8 giờ 30 đến 11 giờ 30, và từ 13 giờ 30 đến 15 giờ 30, giá vé vào tham quan cho mỗi khách là 200 baht. Bất chấp thời tiết nóng quanh năm ở Bangkok, khách vào chùa phải mặc quần dài. Nếu khách không có quần dài mang theo thì có dịch vụ cho thuê quần dài phù hợp.
== Các hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trên trang quảng bá du lịch Thái Lan
Vị trí chùa |
nguyễn đỗ cung.txt | Nguyễn Đỗ Cung (1912 - 22 tháng 9 năm 1977) là một họa sĩ của Việt Nam, ông đã để lại nhiều tác phẩm rất nổi tiếng trong nghệ thuật Việt Nam thế kỷ 20. Hiện nay, ông được mệnh danh là "Người con của Hà Nội".
== Tiểu sử ==
Nguyễn Đỗ Cung sinh năm 1912 tại làng Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm (nay là phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm), Hà Nội. Năm 1934, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông tìm kiếm các trào lưu nghệ thuật phương Tây đầu thế kỉ 20, thể nghiệm khuynh hướng lập thể với mong muốn tạo sắc thái mới cho hội hoạ. Ông ham mê sáng tác nên sớm có danh khoảng 1935-1937 với nhiều minh họa độc đáo trên Phong hóa, Ngày nay, nhất là Trung Bắc chủ nhật, hiện nay vẫn còn rất nhiều bộ sưu tập tranh của ông.
Năm 1940, ông đi tìm nghệ thuật sơn mài nghệ thuật tại Nhật Bản. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông đã có mặt một cách nhanh chóng trong những ngày Hà Nội chào mừng ngày lễ độc lập - tự do.
Ông đã tham gia đoàn quân Nam tiến khi toàn quốc tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 ở Việt Nam. Ông đã mở nhiều lớp đào tạo nhằm mục đích đào tạo, bồi dưỡng các họa sĩ trẻ tại miền Trung và để lại nhiều tác phẩm.
Sau hòa bình lập lại năm 1954, Nguyễn Đỗ Cung nhận trách nhiệm lãnh đạo Viện Mỹ thuật Việt Nam và xây dựng Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Những cán bộ chủ chốt hiện nay ở Bảo tàng vẫn nhận một cách tự hào rằng mình đã trưởng thành từ "lò Nguyễn Đỗ Cung" dựa trên thư tịch và thực tế đã hoạch định được một hệ thống trưng bày mà cho đến nay vẫn được bảo lưu. Hệ thống trưng bày đó xác định một cách khoa học sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam từ tiền sử qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn đến giai đoạn nghệ thuật tạo hình cận hiện đại.
Ông từng là Đại biểu Quốc hội khóa I. Năm 1947, ông là Chủ tịch Liên đoàn Văn hóa kháng chiến Liên khu V. Ông cũng từng trải các nhiệm vụ như Ủy viên ban thường vụ Hội mỹ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp Văn học- nghệ thuật Việt Nam.
== Giải thưởng ==
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 1996.
Huân chương Lao động hạng nhất
Huân chương Kháng chiến hạng ba
== Tác phẩm ==
Du kích La Hay tập bắn (1947)
Làm kíp lựu đạn
Bài ca Nam tiến (1947)
Khai hội
Học hỏi lẫn nhau (1960)
Công nhân cơ khí (1962)
Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi
Cổng thành Huế
Cổng làng (bột màu)
Từ Hải (khắc gỗ màu)
Vẽ tranh bìa cho tập "Xuân thu nhã tập".
Cây chuối
== Đánh giá ==
Bàng Thực Dân - Giảng viên Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội viết:
Nguyễn Đỗ Cung vẫn không khỏi băn khoăn, day dứt trong việc chứng minh cho vị trí nền nghệ thuật cổ Việt Nam đang bị đánh giá sai lệch dưới con mắt của người Pháp. Ông không ngần ngại bút chiến với Badaxie - một học giả trường Viễn đông Bác Cổ - khi ông này có những nhận xét thiên kiến về người An Nam trong cuốn "Nghệ thuật An Nam" của mình. Những người bạn đồng tâm của Nguyễn Đỗ Cung trong ý muốn đề cao nền nghệ thuật nước nhà như Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Giang, không khỏi xúc động khi đọc bài viết "Nhân đọc cuốn Nghệ thuật An Nam, Mỹ thuật Đại La hay mỹ thuật Lý, công bố trên báo Thanh Nghị năm 1938 của ông. Bằng những dẫn chứng cụ thể, chuẩn mực Nguyễn Đỗ Cung đã chứng minh niên đại chính xác nền nghệ thuật Lý thế kỷ 11 do chính các nghệ nhân Việt Nam sáng tạo chứ không phải là "nghệ thuật Đại La" được mang lại bởi sự đô hộ của viên thái thú Cao Biền vào thế kỷ 9 như Badaxie nhận định. Sau cuộc bút chiến ấy, đến cuộc đấu tranh công khai của Nguyễn Đỗ Cung và các họa sĩ Lưu Văn Sin, Trần Văn Cẩn, Hoàng Lập Ngôn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Khang với giám đốc trường mỹ thuật là Giông-se, người thay thế cho Vícto Tác-đi-ơ khi ông này mất vào năm 1938. Ông Cung đã buộc Giông-se phải chịu thua bằng lý luận và thực tiễn khi Giông-se tuyên bố ý định "chỉ muốn đào tạo những thợ mỹ nghệ chứ không phải nghệ sĩ.
Nguyễn Văn Tỵ - họa sĩ Việt Nam viết:
Trong bão táp của sáng tạo nghệ thuật, trong cái phức tạp và gian khổ của công tác cách mạng, Nguyễn Đỗ Cung là một mũi thép sắc nhọn, một cây thông vút ngọn lên cao. Vô tư, liêm khiết, vì mọi người. Nguyễn Đỗ Cung vẫn giữ được trên tranh và trong tâm hồn tính dân tộc đó.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nguyễn Đỗ Cung tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
cộng hòa síp.txt | Síp (tiếng Hy Lạp: Κύπρος, chuyển tự: Kýpros, IPA: [ˈcipɾo̞s]; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Kıbrıs), tên chính thức Cộng hòa Síp (tiếng Hy Lạp: Κυπριακή Δημοκρατία, Kypriakī́ Dīmokratía, [cipɾiaˈci ðimo̞kɾaˈtia]; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Kıbrıs Cumhuriyeti), là một quốc đảo Âu Á nằm ở phía đông Địa Trung Hải, phía nam Thổ Nhĩ Kỳ và phía tây Syria và Liban.
Síp là hòn đảo lớn thứ ba ở Địa Trung Hải, và là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch nhất, với hơn 2.4 triệu du khách mỗi năm. Là một cựu thuộc địa Anh, nước này trở thành một nền cộng hoà độc lập năm 1960 và một thành viên của Khối thịnh vượng chung năm 1961. Cộng hoà Síp là một trong những nền kinh tế phát triển nhất trong vùng, và đã là một thành viên của Liên minh châu Âu từ ngày 1 tháng 5 năm 2004.
Năm 1964, Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm cách xâm lược Síp nhưng đã bị Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson mạnh mẽ lên án trong một bức thư ngày 5 tháng 6 năm 1964.
Năm 1974, Thổ Nhĩ Kỳ lợi dụng một âm mưu đảo chính của những người Síp Hy Lạp theo chủ nghĩa quốc gia, như một cơ hội để xâm lược và chiếm đóng vùng phía bắc hòn đảo. Cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ đã dẫn tới cuộc di tản của hàng nghìn người Síp và sự thành lập một thực thể chính trị Síp thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ly khai ở miền bắc và chỉ được Thổ Nhĩ Kỳ công nhận. Sự kiện này và tình hình chính trị kéo theo nó là các vấn đề vẫn còn đang gây tranh cãi.
Cộng hoà Síp, về pháp lý có chủ quyền với toàn bộ hòn đảo Síp và những vùng biển xung quanh ngoại trừ các phần nhỏ theo một hiệp ước với Anh Quốc là những căn cứ quân sự có chủ quyền. Cộng hoà Síp trên thực tế bị phân chia thành bốn phần chính:
Vùng dưới quyền kiểm soát thực tế của Cộng hoà Síp, gồm khoảng 59% diện tích hòn đảo ở phía nam;
Vùng chiếm đóng của Thổ Nhĩ Kỳ ở phía bắc, tự gọi mình là Cộng hoà Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ, với khoảng 37% diện tích hòn đảo và chỉ được công nhận bởi Thổ Nhĩ Kỳ;
Green Line do Liên hiệp quốc kiểm soát, phân chia hai vùng trên, chiếm khoảng 3% diện tích hòn đảo; và
Hai Vùng Căn cứ có Chủ quyền (Akrotiri và Dhekelia) của Anh, với khoảng 3% diện tích hòn đảo.
== Từ nguyên ==
Cái tên "Síp" trong tiếng Việt có lẽ có nguồn gốc từ tên quốc gia này trong tiếng Pháp là "Chypre". Còn trong tiếng Anh, từ Cyprus có từ nguyên hơi khó xác định. Một lời giải thích có thể là từ tiếng Hy Lạp chỉ cây bách Địa Trung Hải (Cupressus sempervirens), κυπάρισσος (kypárissos), hay thậm chí cái tên Hy Lạp của cây lá móng (Lawsonia alba), κύπρος (kýpros). Một lời giải thích khác cho rằng nó xuất phát từ từ Eteocypriot cho đồng. Ví dụ, Georges Dossin, cho rằng nó có nguồn gốc từ tiếng Sumer cho đồng đỏ (zubar) hay đồng thiếc (kubar), bởi trữ lượng đồng lớn được tìm thấy trên hòn đảo. Thông qua thương mại xuyên biển hòn đảo này được đặt tên theo từ tiếng La tinh cổ cho loại kim loại này thông qua câu aes Cyprium, "kim loại của Síp", sau này viết gọn thành Cuprum. Síp cũng được gọi là "hoàn đảo của Aphrodite hay tình yêu", bởi trong thần thoại Hy Lạp, vị nữ thần Aphrodite, của sắc đẹp và tình yêu được sinh ra tại Síp.
Các biểu lộ của Assyrian Cổ cho "hòn đảo nhiều nắng xa xôi" là kypeř-až ṇ-itiṣ, đã nhiều lần được chuyển nghĩa sang tiếng Hy Lạp là kyperus nytis, hay kyprezu-nytys có nghĩa (trong thổ ngữ Cretan Cổ) "hòn đảo nhiều nắng phía nam". Sau đó nó liên quan tới việc người Cretan đặt tên cho nó như vậy, và kết quả là "hòn đảo nhiều nắng phía nam", "Kipriuznyt". Một khả năng khác là người Phoenician đã gọi nó là "Kỹiprii Uűzta" (Đảo Cam), cái tên xuất hiện trong thời La Mã và họ nghĩ nó được đặt theo tên một trong những vị hoàng đế của họ, và gọi nó là "Ciprea Augusta". Cùng với thời gian, Augusta bị bỏ đi và chỉ còn lại Ciprea.
== Địa lý ==
Đảo quốc thuộc Tây Á, nằm ở vùng phía Địa Trung Hải, cách bờ biển Nam Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 80 km. Vị trí bao quát và thuận lợi trên các đường dẫn đến kênh đào Suez đã nâng cao tầm quan trọng về chiến lược của đảo quốc này. Hai dãy núi Kyrenias trải dài ở bờ biển phía Bắc và dãy Troodhos phía Tây Nam chiếm phần lớn đất đai trên đảo, bị phân cách bởi đồng bằng trũng trải dài ở giữa.
== Lịch sử Síp ==
=== Thời cổ đại ===
Tương truyền, Síp là nơi sinh của Aphrodite, Adonis và là nơi ở của Vua Cinyras, Teucer và Pygmalion. Địa điểm có hoạt động của con người sớm nhất được xác định là Aetokremnos, nằm ở bờ biển phía nam, cho thấy những người săn bắn hái lượm đã có mặt trên hòn đảo từ khoảng năm 10.000 trước Công Nguyên, với những cộng đồng làng định cư từ khoảng năm 8200 trước Công Nguyên. Sự xuất hiện của những người đầu tiên trùng khớp với cuộc tuyệt chủng của những chú hà mã lùn và voi lùn, các xương sọ của chúng là khởi nguồn cho truyền thuyết Cyclops. Các giếng nước được phát hiện bởi các nhà khảo cổ học ở phía tây Síp được cho là thuộc số những giếng cổ nhất Trái Đất, có niên đại từ 9,000 tới 10.500 năm. Chúng được cho là bằng chứng về sự phức tạp của các cộng đồng định cư đầu tiên. Những di tích của một chú mèo tám tháng tuổi được tìm thấy được chôn cất với người chủ của nó tại một địa điểm Đồ đá mới riêng biệt tại Síp. Ngôi mộ được ước tính có 9.500 năm tuổi, trước cả nền văn minh Ai Cập cổ đại và đẩy lùi thời điểm diễn ra sự thuần hoá thú nuôi của loài người lên sớm rất nhiều.
Có nhiều đợt con người và người định cư tới đây cũng như những người mới nhập cư tới hòn đảo trong thời kỳ Đồ đá mới, dù những trận động đất đã phá huỷ các cơ sở hạ tầng từ khoảng năm 3800 trước Công nguyên. Nhiều làn sóng người nhập cư tiếp nối, gồm cả một số bộ tộc từ tiểu Á giúp tăng cường nghề thủ công chế tác kim loại trên hòn đảo, dù những đồ tạo tác được phát hiện từ thời này rất hiếm khi có chất lượng cao. Thời kỳ đồ Đồng được báo trước với sự xuất hiện của những người Tiểu Á đến hòn đảo này từ khoảng năm 2400 trước Công Nguyên.
Người Hy Lạp Mycenae lần đầu tiên tới Síp khoảng năm 1600 trước Công Nguyên, với những khu định cư thuộc thời kỳ này nằm rải rác trên khắp hòn đảo. Một làn sóng người định cư Hy Lạp khác được cho là đã diễn ra trong giai đoạn 1100-1050 trước Công Nguyên, và đặc điểm Hy Lạp nổi bật trên đảo cũng bắt đầu từ giai đoạn này. Nhiều thuộc địa Phoenicia đã được tìm thấy từ thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên, như Kart-Hadasht có nghĩa 'Thị trấn Mới', gần Larnaca và Salamis hiện nay.
Síp bị Assyria chinh phục năm 709 trước Công Nguyên, trước một giai đoạn ngắn dưới sự cai trị của Ai Cập và cuối cùng là Ba Tư năm 545 trước Công Nguyên. Người Síp, dưới sự lãnh đạo của Onesilos, gia nhập cùng với những người anh em Hy Lạp tại các thành bang Ionia trong cuộc Nổi dậy Ionia không thành công năm 499 trước Công Nguyên chống lại Đế quốc Ba Tư Achaemenes. Hòn đảo bị đưa lại dưới quyền cai trị liên tục của Hy Lạp bởi Alexandros Đại Đế và nhà Ptolemaios của Ai Cập sau cái chết của ông. Sự Hy Lạp hoá toàn bộ diễn ra trong thời kỳ Ptolemaios, chỉ chấm dứt khi Síp bị Cộng hoà La Mã sáp nhập năm 58 trước Công Nguyên. Síp là một trong những điểm dừng đầu tiên trong chuyến hành trình truyền giáo của Sứ đồ Phaolô.
=== Trung Cổ ===
Năm 395, Síp trở thành một phần của Đế chế Byzantine, đế chế này mất quyền kiểm soát hòn đảo vào tay người Ả Rập năm 649 trước khi tái giành lại năm 966. Trong Cuộc Thập tự chinh thứ Ba, năm 1191, Richard I của Anh đã chiếm hòn đảo từ Isaac Komnenos. Ông dùng nó như một căn cứ hậu cần chính khá an toàn khỏi Saracens. Một năm sau Guy của Lusignan mua lại hòn đảo từ Templars để bù cho những thiệt hại của vương quốc của ông.
Cộng hoà Venice nắm quyền kiểm soát đảo năm 1489 sau sự thoái vị của Nữ hoàng Catherine Cornaro. Bà là vợ goá của James II người là Lusignan Vua Síp cuối cùng. Sử dụng nó như một cổng thương mại quan trọng, người Venice nhanh chóng củng cố Nicosia; thành phố thủ đô hiện tại của Síp, với những Bức tường Venice nổi tiếng. Trong suốt thời cai trị của Venice, Đế chế Osman thường tiến hành những cuộc cướp phá Síp. Năm 1539 quân Osman phá huỷ Limassol và vì lo ngại điều xấu nhất có thể xảy ra, người Venice cũng củng cố Famagusta và Kyrenia.
=== Thời cai trị Ottoman và Anh ===
Năm 1570, một cuộc tấn công quy mô lớn dưới sự chỉ huy của Piyale Pasha với 60.000 quân đã đưa hòn đảo này về dưới sự thống trị của Đế quốc Thổ Ottoman, dù có sự kháng cự kiên quyết của những người dân Nicosia và Famagusta. 20.000 người Nicosia bị giết hại, và mỗi nhà thờ, mỗi công trình công cộng và cung điện đều bị cướp phá. Người Thổ áp đặt hệ thống millet và cho phép các cơ quan tôn giáo được quản lý các cộng đồng phi Hồi giáo của mình, nhưng cùng lúc ấy đầu tư cho Nhà thờ Chính thống phía Đông như một lực lượng môi giới giữa người Síp Thiên chúa giáo và các cơ quan được trao không chỉ quyền tôn giáo mà cả kinh tế và chính trị.Thuế khoá nặng nề đã dẫn tới những cuộc nổi loạn, với xấp xỉ hai mươi tám cuộc khởi nghĩa đẫm máu diễn ra trong giai đoạn 1572 và 1668, buộc các Sultan phải can thiệp. Cuộc tổng điều tra dân số lớn của Đế quốc Ottoman năm 1831, chỉ tính số đàn ông, cho biết có 14.983 tín đồ Hồi giáo và 29.190 tín đồ Thiên chúa giáo. Tới năm 1872, dân số của hòn đảo đã tăng lên 144.000 gồm 44.000 người Hồi giáo và 100.000 tín đồ Thiên chúa giáo.
Bộ máy hành chính, nhưng không có chủ quyền, của hòn đảo bị nhượng lại cho Đế quốc Anh năm 1878 với hậu quả của cuộc Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878). Hòn đảo tiếp tục là một căn cứ quân sự quan trọng của người Anh trên những con đường thuộc địa của họ. Tới năm 1906, khi cảng Famagusta được hoàn thành, Síp là một địa điểm hải quân quan trọng giám sát kênh đào Suez, con đường chính chiến lược dẫn tới Ấn Độ khi ấy là thuộc địa quan trọng nhất của Anh. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự liên minh của Thổ Nhĩ Kỳ với khối Liên minh Trung tâm, Anh Quốc sáp nhập hòn đảo. Năm 1923, theo Hiệp ước Lausanne, nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ mới thành lập từ bỏ bất kỳ yêu sách nào với Síp và vào năm 1925 hòn đảo được tuyên bố là một Thuộc địa Hoàng gia Anh. Nhiều người Síp Hy Lạp chiến đấu trong Quân đội Anh trong cả hai cuộc thế chiến, với hy vọng rằng cuối cùng Síp sẽ được thống nhất với Hy Lạp.
Tháng 1 năm 1950 Nhà thờ Chính thống phương Đông tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, bị cộng đồng người Síp Thổ Nhĩ Kỳ tẩy chay, theo đó 90% người bỏ phiếu ủng hộ "enosis", có nghĩa là một liên minh với Hy Lạp; tất nhiên cũng có những người Síp Hy Lạp không đồng ý với enosis. Quyền tự trị giới hạn theo một hiến pháp được cơ quan hành chính Anh đưa ra nhưng cuối cùng bị bác bỏ. Năm 1955 tổ chức EOKA được thành lập, tìm kiếm độc lập và liên minh với Hy Lạp thông qua đấu tranh vũ trang. Cùng lúc ấy Tổ chức Kháng chiến Thổ Nhĩ Kỳ (TMT), kêu gọi Taksim, hay sự ly khai, được thành lập bởi những người Síp Thổ Nhĩ Kỳ như một tổ chức đối trọng. Sự hỗn loạn trên hòn đảo bị người Anh dùng vũ lực đàn áp.
=== Độc lập ===
Ngày 16 tháng 8 năm 1960, Síp giành được độc lập sau một thoả thuận tại Zürich và London giữa Anh Quốc, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Người Anh giữ lại hai Vùng Căn cứ quân sự có chủ quyền tại Akrotiri và Dhekelia trong khi các cơ sở chính phủ các văn phòng công cộng được trao theo tỷ lệ thành phần sắc tộc khiến cộng đồng thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ có quyền phủ quyết thường trực, 30% trong nghị viện và bộ máy hành chính, và trao cho ba quốc gia bảo lãnh các quyền đảm bảo thực hiện.
Năm 1963 bạo lực giữa các cộng đồng bùng phát, một phần được sự bảo trợ của cả hai "nước mẹ" với việc người Síp Thổ Nhĩ Kỳ bị buộc vào sống trong các vùng đất nội địa và lãnh đạo người Síp Hy Lạp Tổng giám mục Makarios III kêu gọi một sự đơn phương thay đổi hiến pháp coi đó là cách thức để giảm căng thẳng và giúp người Hy Lạp có quyền kiểm soát toàn bộ hòn đảo. Liên hiệp quốc tham gia giải quyết vấn đề và các lực lượng Liên hiệp quốc tại Síp (UNICYP) đã được triển khai tại các điểm nhạy cảm.
=== Phân chia ===
Chính phủ quân sự Hy Lạp nắm quyền ở Hy Lạp đầu thập niên 1970 trở nên bất bình với chính sách của Makarios tại Síp và sự thiếu vắng một quá trình hướng tới "Enosis" ('Liên minh' trong tiếng Hy Lạp) với Hy Lạp. Một phần vì lý do này, và một phần bởi sự bối rối với sự chống đối trong nước, hội đồng quân sự đã tổ chức một cuộc đảo chính bại Síp ngày 15 tháng 7 năm 1974. Nikos Sampson được hội đồng quân sự Hy Lạp đưa lên làm tổng thống Síp. Dù là một người theo chủ nghĩa quốc gia, ông đã không tuyên bố liên minh với Hy Lạp và tuyên bố rằng Síp sẽ tiếp tục giữ độc lập và không liên kết. Nhưng chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ không thấy dễ chịu với tình hình thực tế, vì thế họ đã phản ứng và tìm kiếm sự can thiệp của Anh, vốn chưa bao giờ là cụ thể. Bảy ngày sau, ngày 20 tháng 7 năm 1974,Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược Síp tuyên bố một quyền, theo các thoả thuận Zurich và London, để can thiệp và tái lập trật tự hiến pháp. Không quân Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu ném bom các vị trí tại Síp, hàng trăm lính dù đổ bộ xuống khu vực giữa Nicosia và Kyrenia, nơi người Síp Thổ Nhĩ Kỳ được trang bị tốt từ lâu đã có mặt, trong khi ngoài bờ biển Kyrenia 30 tàu Thổ Nhĩ Kỳ được bảo vệ bởi các tàu khu trục cho đổ bộ 6,000 lính và một lực lượng xe tăng, xe tải và các phương tiện bọc thép. Ba ngày sau, khi một thoả thuận ngừng bắn đã được đồng thuận, Thổ Nhĩ Kỳ đã cho đổ bộ 30.000 lính trên hòn đảo và chiếm Kyrenia, hành lang nối Kyrenia với Nicosia và quận Síp Thổ Nhĩ Kỳ của Nicosia. Hội đồng quân sự tại Athens và sau đó là Sampson Síp mất quyền lực. Tại Nicosia, Glafkos Clerides nắm quyền tổng thống và trật tự hiến pháp được tái lập; bề ngoài là loại bỏ nguyên nhân người Thổ Nhĩ Kỳ đặt ra cho cuộc xâm lược, dù người Thổ dù đã có nhiều thắng lợi ban đầu như vậy khi đó đã cam kết áp dụng chính sách từ lâu của họ là chia rẽ hòn đảo và sáp nhập miền bắc Síp. Người Thổ sử dụng một giai đoạn với các cuộc đàm phán vờ vĩnh - trong đó Thổ Nhĩ Kỳ được Mỹ ủng hộ về ngoại giao, tình báo - để tăng cường khu vực Kyrenia và chuẩn bị cho giai đoạn thứ hai của cuộc xâm lược, bắt đầu ngày 14 tháng 8 và dẫn tới việc chiếm đóng Morphou, Karpasia, Ammochostos và Mesaoria. Sự can thiệp quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ được Hoa Kỳ bí mật ủng hộ và NATO. Người Hy Lạp thông báo sự thành lập của một nhóm bán quân sự EOKA mới nhằm chống lại những kẻ xâm lược nhưng điều này đã cho thấy sự phản tác dụng, khiến việc trục xuất người Hy Lạp khỏi các vùng do Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng càng diễn ra nhanh hơn. Với số lượng thua kém hoàn toàn, các lực lượng Hy Lạp không thể chống lại sự tiến quân của Thổ Nhĩ Kỳ. Vùng Ayia Napa chỉ thoát khỏi sự chiếm đóng nhờ nó nằm sau khu vực Căn cứ có Chủ quyền Anh, nơi người Thổ vì cần thận đã không xâm chiếm.
Một quan điểm khác cho rằng cuộc đảo chính đơn giản chỉ có mục đích hạ bệ Tổng giám mục Makarios và chính phủ của ông vì thế các kế hoạch của Henry Kissinger về Síp có thể được thực hiện.
Ioannides [lãnh đạo hội đồng quân sự Hy Lạp] đã nói rằng... ông không chắc liệu mình chỉ đơn giản có thể rút quân Hy Lạp khỏi Síp... hay dứt khoát lật đổ Makarios và để Hy Lạp thoả thuận trực tiếp với Thổ Nhĩ Kỳ về tương lai của Síp. (The trial of Henry Kissinger By Christopher Hitchens, 2002, p.82.)
Áp lực quốc tế dẫn tới một cuộc ngừng bắn và ở thời điểm đó 37% đất đai đã thuộc trong vùng chiếm đóng Thổ Nhĩ Kỳ, 170.000 người Síp Hy Lạp bị đuổi khỏi nhà cửa ở miền bắc và 50.000 người Síp Thổ Nhĩ Kỳ phải ra đi theo hướng ngược lại. Năm 1983 người Síp Thổ Nhĩ Kỳ đơn phương tuyên bố độc lập, và chỉ được mỗi Thổ Nhĩ Kỳ công nhận. Tới thời điểm hiện tại, có 1,534 người Síp Hy Lạp và 502 người Síp Thổ Nhĩ Kỳ mất tích vì cuộc xung đột. Các sự kiện trong mùa hè năm 1974 là trọng tâm chính trị trên hòn đảo, cũng như quan hệ Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ. Khoảng 150.000 người định cư từ Thổ Nhĩ Kỳ được cho là đang sống trên miền bắc vi phạm vào Hiệp ước Geneva và nhiều nghị quyết của Liên hiệp quốc. Sau cuộc xâm lược và chiếm đóng lãnh thổ miền bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hoà Síp thông báo toàn bộ cảng vào ở miền bắc bị đóng cửa, bởi thực tế chúngkhông nằm trong quyền quản lý của họ.
=== Lịch sử gần đây ===
Bởi sự phân chia của nền Cộng hoà diễn ra trên thực tế, chứ không phải về mặt pháp lý, miền bắc và miền nam đã đi theo những con đường khác nhau. Cộng hoà Síp là một chế độ dân chủ lập hiến đã đạt tới mức độ giàu có cao, với nền kinh tế bùng nổ và cơ sở hạ tầng tốt. Nó là một thành viên của Liên hiệp quốc, Liên minh châu Âu và nhiều tổ chức quốc tế khác và được các tổ chức này công nhận như chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ hòn đảo. Vùng không thuộc quyền quản lý của Cộng hoà Síp, Bắc Síp, phụ thuộc vào sự giúp đỡ từ Thổ Nhĩ Kỳ. Nỗ lực lớn cuối cùng nhằm giải quyết cuộc tranh cãi Síp là Kế hoạch Annan. Nó được người Síp Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ nhưng nó bị phản đối bởi người Síp gốc Hy Lạp.
Tháng 7 năm 2006, hòn đảo trở thành một thiên đường an toàn cho những người Liban tị nạn vì cuộc xung đột giữa Israel và Hezbollah.
Tháng 3 năm 2008, một bức tường từng đứng hàng thập kỷ như biên giới giữa vùng do người Síp Hy Lạp quản lý và vùng đệm của Liên hiệp quốc đã bị phá bỏ. Bức tường từng cắt ngang qua Phố Ledra tại trung tâm Nicosia và được coi như một biểu tượng mạnh mẽ của sự phân chia hòn đảo kéo dài 32 năm. Ngày 3 tháng 4 năm 2008, Phố Ledra được mở cửa với sự hiện diện của các quan chức Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp.
== Chính phủ ==
Bản mẫu:Chính trị Síp Síp là một nền cộng hoà Tổng thống. Lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo chính phủ là Tổng thống, tổng thống được bầu qua một quá trình phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ năm năm. Quyền hành pháp do chính phủ đảm nhiệm và quyền lập pháp thuộc Nghị viện trong khi nhánh Tư pháp độc lập với cả nhánh lập pháp và hành pháp.
Hiến pháp năm 1960 quy định một hệ thống chính phủ tổng thống với các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp riêng biệt, cũng như một hệ thống kiểm tra và cân bằng phức tạp, gồm một tỷ lệ chia sẻ quyền lực đã được tính trước để bảo vệ các quyền lợi của người Síp Thổ Nhĩ Kỳ. Nhánh hành pháp, do một Tổng thống Síp Hy Lạp và một Phó tổng thống Síp Thổ Nhĩ Kỳ đứng đầu. Hai người này được các cộng đồng của mình bầu lên với nhiệm kỳ năm năm và mỗi người đều có quyền phủ quyết với một số kiểu quyết định hành pháp và lập pháp. Quyền lập pháp thuộc Nghị viện, với các đại biểu cũng được bầu lên trên căn bản đầu phiếu. Từ năm 1964, sau những cuộc xung đột giữa hai cộng đồng, các ghế của người Síp Thổ Nhĩ Kỳ trong nghị viện bị bỏ trống. Người Síp Thổ Nhĩ Kỳ từ chối thành lập bộ nội vụ trước cuộc xâm lược Síp trong nỗ lực nhằm phân chia Cộng hoà Síp về pháp lý. Điều này là rõ ràng trong báo cáo của Tổng thư ký Liên hiệp quốc ở thời điểm ấy. Các lãnh đạo người Síp Thổ Nhĩ Kỳ đã gia nhập vào một lập trường cứng rắn chống lại mọi biện pháp có thể khiến các thành viên của hai cộng đồng sống và làm việc cùng nhau, hay có thể đặt người Síp Thổ Nhĩ Kỳ vào các tình huống theo đó họ sẽ phải chấp nhận quyền lực của các cơ quan chính phủ. Quả thực, bởi giới lãnh đạo người Síp Thổ Nhĩ Kỳ cam kết coi sự chia rẽ về địa lý và tự nhiên giữa các cộng đồng như một mục tiêu chính trị, dường như các hành động được người Síp Thổ Nhĩ Kỳ khuyến khích khó có thể được coi là sự thể hiện các dấu hiệu của một chính sách mới. Kết quả dường như là một chính sách tự chia rẽ một cách thận trọng của người Síp Thổ Nhĩ Kỳ
Năm 1974 Síp bị phân chia trên thực tế thành Síp do người Hy Lạp kiểm soát ở hai phần ba hòn đảo ở phía nam và một phần ba diện tích do Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát ở phía bắc. Người Síp Thổ Nhĩ Kỳ cuối cùng đã tuyên bố độc lập năm 1983 trở thành Cộng hoà Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng chỉ được mỗi Thổ Nhĩ Kỳ công nhận. Năm 1985, Cộng hoà Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ đưa ra một hiến pháp và tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên. Liên hiệp quốc công nhận chủ quyền của Cộng hoà Síp với toàn bộ hòn đảo Síp.
Nghị viện hiện có 59 thành viên được bầu với nhiệm kỳ năm năm, 56 thành viên theo đại diện tỷ lệ và ba thành viên quan sát viên đại diện cho các cộng đồng người Maronite, Latin và Armenia. 24 ghế được chia cho cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ nhưng vẫn bị để trống từ năm 1964. Môi trường chính trị chủ yếu là cuộc tranh giành giữa Đảng Tiến bộ của Tầng lớp Lao động (AKEL) cộng sản và Đảng Tự do dân chủ bảo thủ vàphái trung dung Đảng Dân chủ, Dân chủ Xã hội Phong trào Dân chủ Xã hội (EDEK) và EURO.KO trung dung.
Ngày 17 tháng 2 năm 2008 Dimitris Christofias thuộc Đảng Tiến bộ của Tầng lớp Lao động được bầu làm Tổng thống Síp và đây là thắng lợi bầu cử đầu tiên không phải thuộc một liên minh lớn. Điều này khiến Síp trở thành một trong ba quốc gia duy nhất trên thế giới hiện có một chính phủ cộng sản được bầu cử dân chủ, hai nước kia là Moldova và Nepal, và là quốc gia thành viên Liên minh châu Âu duy nhất hiện nằm dưới sự lãnh đạo của phái cộng sản. Christofias tiếp nhận chính phủ từ Tassos Papadopoulos thuộc Đảng Dân chủ ông đã nắm chức vụ này từ tháng 2 năm 2003.
=== Quận ===
Cộng hoà Síp được chia thành sáu quận: Nicosia, Famagusta, Kyrenia, Larnaca, Limassol và Paphos.
=== Lãnh thổ phụ thuộc ở bên ngoài và vùng đất thuộc nước ngoài ===
Síp có bốn vùng đất phụ thuộc ở bên ngoài, và toàn bộ lãnh thổ thuộc Khu vực Căn cứ có Chủ quyền Anh Dhekelia. Hai vùng đầu tiên là các làng Ormidhia và Xylotymvou. Vùng thứ ba là Trạm điện Dhekelia, bị ngăn cách bởi một con đường của Anh làm hai phần. Phần phía bắc là một vùng phụ thuộc ở bên ngoài, giống như hai làng trên, trong khi vùng phía nam nằm cạnh biển và vì thế không phải là một vùng đất phụ thuộc ở bên ngoài, dù nó không có lãnh hải riêng. Vùng đệm Liên hiệp quốc chạy ngược hướng Dhekelia và quay trở lại từ cạnh phía đông của nó bên ngoài Ayios Nikolaos, nối với phần còn lại của Dhekelia bằng một hành lang đất, và theo hướng này vùng đệm quay về góc phía đông nam của hòn đảo, vùng Paralimni, là vùng phụ thuộc ở bên ngoài trên thực tế chứ không phải theo pháp lý.
Pyrgos là một vùng đất phụ thuộc nước ngoài trên thực tế của vùng do chính phủ kiểm soát trên hòn đảo. Đây là thị trấn Hy Lạp Síp nằm trên Vịnh Morphou do Chính phủ Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát.
=== Nhân quyền ===
Sự lưu ý thường xuyên trên sự phân chia hòn đảo thỉnh thoảng đội lốt những vấn đề nhân quyền. Mại dâm lan tràn trên cả vùng do Hy Lạp và vùng do Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát, và vùng phía nam do Hy Lạp kiểm soát đã bị chỉ trích vì vai trò của nó trong ngành thương mại sex như một trong những con đường buôn người từ Đông Âu. Chế độ ở phía bắc thỉnh thoảng bị chỉ trích về vấn đề tự do ngôn luận liên quan tới việc đối xử nghiêm khắc với các tổng biên tập báo. Luật pháp về bạo lực gia đình tại nước Cộng hoà vẫn hầu như không được áp dụng, và nó vẫn chưa được thông qua thành luận ở phía Bắc. Các báo cáo về sự đối xử không thích đáng với nhân viên nội địa, chủ yếu là những công nhân nhập cơ từ các nước đang phát triển, thỉnh thoảng được thông báo trên báo chí Síp Hy Lạp, và là chủ đề của nhiều chiến dịch của các tổ chức từ thiện chống phát xít KISA.
== Quân đội ==
Vệ binh Quốc gia Síp là lực lượng quân sự chính của Cộng hoà Síp ở phía Nam. Đây là lực lượng quân đội hỗn hợp gồm toàn bộ người Hy Lạp, với các nhánh bộ binh, không quân và hải quân.
Các lực lượng trên bộ của Vệ binh Quốc gia Síp gồm các đơn vị sau:
Sư đoàn Bộ binh số 1 (Ιη Μεραρχία ΠΖ)
Sư đoàn Bộ binh số 2 (ΙΙα Μεραρχία ΠΖ)
Lữ đoàn Bộ binh số 4 (ΙVη Ταξιαρχία ΠΖ)
Lữ đoàn Thiết giáp số 20 (ΧΧη ΤΘ Ταξιαρχία)
Lữ đoàn Hỗ trợ số 3 (ΙΙΙη Ταξιαρχία ΥΠ)
Lữ đoàn Hỗ trợ số 8 (VIIIη Ταξιαρχία ΥΠ)
Lực lượng không quân gồm Phi đội Trực thăng Tấn công số 449 (449 ΜΑΕ) - với những chiếc SA-342L và Bell 206 và Phi đội Trực thăng Tấn công số 450 (450 ME/P) - với những chiếc Mi-35P, BN-2B và PC-9. Các sĩ quan cao cấp hiện tại gồm Tư lệnh Tối cao, Vệ binh Quốc gia Síp: Trung tướng Konstantinos Bisbikas, Phó tư lệnh, Vệ binh Quốc gia Síp: Trung tướng Savvas Argyrou và Tham mưu trưởng, Vệ binh Quốc gia Síp: Thiếu tướng Gregory Stamoulis.
== Kinh tế ==
Síp thực hiện nền kinh tế thị trường tự do dựa chủ yếu vào các ngành dịch vụ đặc biệt là du lịch. Trước đây nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, thu hút 1/3 lực lượng lao động, nông sản xuất khẩu chiếm 1/3 giá trị xuất khẩu của Síp, nhưng những năm gần đây du lịch và dịch vụ dần dần chiếm vị trí quan trọng hơn, đóng góp đến 78% GDP và thu hút hơn 70% lực lượng lao động của Síp. Nền công nghiệp Síp nhỏ bé, chủ yếu là công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng như dệt, giày dép, may mặc xuất khẩu, chế biến nông lâm sản...Năm 2007, Síp đã thu hút nhiều vốn đầu tư chiếm hơn 20,8% GDPlàm tăng thêm nguồn ngân sách đến 9,996 tỷ USD.
Năm 2016, Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của Síp là 19.931 tỷ USD tính theo qui đổi, với tỷ lệ tăng trưởng GDP thực 3,6%, thu nhập tính theo đầu người là 35,750 USD (2016). Tỷ lệ lạm phát là 5,1% (2008); tỷ lệ thất nghiệp là 3.8% (2008), nợ nước ngoài 26,12 tỷ USD (31/12/2007). Síp có quan hệ kinh tế – thương mại chủ yếu với các nước EU, Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản).
Kinh tế Síp khá thịnh vượng và đã được đa dạng hoá trong những năm gần đây. Theo các ước tính mới nhất của IMF, GDP trên đầu người của nước này (đã được điều chỉnh theo sức mua) ở mức $28.381, ở trên mức trung bình của Liên minh châu Âu. Síp đã được lựa chọn là một cơ sở cho nhiều doanh nghiệp nước ngoài bởi cơ sở hạ tầng phát triển cao. Chính sách kinh tế của Chính phủ Síp chú trọng tới việc đạt các tiêu chí cho việc gia nhập Liên minh châu Âu. Chấp nhận đồng euro làm tiền tệ quốc gia như yêu cầu với mọi quốc gia mới gia nhập Liên minh châu Âu, và chính phủ Síp đã chấp nhận đồng tiền tệ mới ngày 1 tháng 1 năm 2008. Dầu mỏ gần đây đã được phát hiện trên thềm lục địa giữa Síp và Ai Cập, và những cuộc đàm phán đang được tiến hành giữa Liban và Ai Cập để đạt tới một thoả thuận khai thác các nguồn tài nguyên đó. Thềm lục địa chia tách Liban và Síp được cho là có trưc lượng dầu thô và khí tự nhiên lớn. Tuy nhiên, Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ không cho phép việc khai thác dầu khí trong vùng.
Kinh tế khu vực do Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng (thực tế là Quận Mersin) chủ yếu gồm các lĩnh vực dịch vụ, gồm lĩnh vực công, thương mại, du lịch và giáo dục với các khu vực nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhỏ. Kính tế hoạt động trên cơ sở thị trường tự do, dù nó tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự cô lập chính trị của người Síp Thổ Nhĩ Kỳ, sự thiếu hụt đầu tư tư nhân và chính phủ, chi phí vận chuyển cao, và thiếu hụt nguồn lao động có tay nghề. Dù có những trở ngại như vậy, nền kinh tế đã hoạt động tốt trong giai đoạn 2003 và 2004, với các tỷ lệ phát triển cao 9.6% và 11.4%. Thu nhập trung bình trong khu vực đạt $15.984 năm 2008. Sự tăng trưởng được hỗ trợ một phần bởi sự ổn định vững chắc của đồng lira mới Thổ Nhĩ Kỳ và bởi sự tăng trưởng mạnh trong lĩnh vực giáo dục và xây dựng. Hòn đảo đã chứng kiến một cuộc bùng nổ du lịch trong nhiều năm và cùng với đó là sự thịnh vượng của thị trường cho thuê của Síp. Ngoài ra sự tăng trưởng tư bản trong mức độ thịnh vượng được tạo ra do nhu cầu của các nhà đầu tư tới đây và những người dân ngày càng giàu lên trên hòn đảo.
== Nhân khẩu ==
Theo cuộc điều tra dân số đầu tiên sau khi tuyên bố độc lập, được tiến hành tháng 12 năm 1960 và ở trên phạm vi toàn bộ hòn đảo, Síp có tổng dân số 573.566 người, với người Síp gốc Hy Lạp chiếm 77% dân số và người Síp Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 18% (người sắc tộc khác chiếm 5% còn lại). Theo cuộc điều tra dân số gần nhất tiến hành trên toàn bộ hòn đảo (tháng 4 năm 1973), dân số Síp là 631.778 với ước tính người Síp Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 19% tổng số (khoảng 120.000).
Các cuộc điều tra dân số sau này tiến hành trong giai đoạn 1976-2001 sau sự phân chia trên thực tế của hòn đảo với chỉ số người sống trong vùng thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ Cộng hoà Síp, số người Síp Thổ Nhĩ Kỳ sống ở miền Bắc Síp theo ước tính của Sở Thống kê Cộng hoà Síp theo các tỷ lệ tăng trưởng dân số và dữ liệu nhập cư. Trong cuộc điều tra dân số cuối cùng năm 2001 do Cộng hoà Síp tiến hành, dân số tại vùng chính phủ kiểm soát là 703.529 người. Số người Síp Thổ Nhĩ Kỳ ở miền Bắc Síp được Sở Thống kê Cộng hoà Síp đưa ra là 87.600 người, hay 11% tổng dân số được công bố.
Những ước tính gần nhất của Sở Thống kê Síp cho rằng dân số hòn đảo này ở thời điểm cuối năm 2006 là 867.600 người, với 89.8% (778.700) ở vùng do chính phủ kiểm soát và 10.2% (88.900) người Síp Thổ Nhĩ Kỳ ở miền Bắc Síp. Tuy nhiên, ước tính của Cộng hoà Síp về số người Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ không phản ánh tổng số dân của miền Bắc Síp. Ngoài ra, Sở Thống kê Cộng hoà Síp cũng ước tính rằng 150.000-160.000 người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ (được gọi là "người định cư trái phép" trong Bản tóm tắt thống kê năm 2007 của Cộng hoà Síp, Ghi chú tại tr. 72) đang sống ở miền Bắc Síp, đưa số dân trên thực tế của miền Bắc Síp lên khoảng 250.000 người. Ước tính do Cộng hoà Síp đưa ra khớp với các kết quả cuộc điều tra dân số năm 2006 do 'chính phủ' Bắc Síp tiến hành, theo đó tổng dân số Cộng hoà Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ là 265.100 người. Vì thế tổng dân số Síp hơi lớn hơn 1 triệu người, gồm 778.700 người ở vùng lãnh thổ do chính phủ Cộng hoà Síp kiểm soát và 265.100 người tại vùng lãnh thổ do chính phủ Cộng hoà Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ quản lý.
Síp đã chứng kiến một làn sóng lớn người lao động nhập cư từ các quốc gia như Thái Lan, Philippines, và Sri Lanka, cũng như số lượng lớn người cư trú thường xuyên thuộc các quốc tịch Nga, Anh và các quốc gia Liên minh châu Âu khác. Các cộng đồng người Nga và Ukraina khá lớn (chủ yếu là người Hy Lạp Hắc Hải, nhập cư sau sự sụp đổ của Khối Đông Âu), Bulgaria, România, và các quốc gia Đông Âu. Tới cuối năm 2007, khoảng 124.000 người nhập cư định cư tại Síp, ba nhóm người nhập cư lớn nhất là 37.000 người Hy Lạp, 27.000 người Anh, và 10.000 người Nga. Hòn đảo cũng là nơi sinh sống của một cộng đồng thiểu số người Maronite 6.000 người, một cộng đồng người Armenia khoảng 2.000 người, và những người tị nạn chủ yếu đến từ Serbia, Palestine, và Liban. Cũng có một cộng đồng thiểu số người Kurd tại Síp.
Bên ngoài Síp có một cộng đồng khá lớn và thịnh vượng người Síp gốc Do thái tại các quốc gia khác. Hoa Kỳ, Anh Quốc, Hy Lạp và Australia là những nước tiếp đón đa số người di cư rời bỏ hòn đảo sau khi nó bị phân chia trên thực tế năm 1974. Đặc biệt tại Anh Quốc ước tính có 150.000 người Síp.
== Tôn giáo ==
Đa số người Síp gốc Hy Lạp là thành viên của Giáo hội Chính thống Hy Lạp, trong khi hầu hết người Síp Thổ Nhĩ Kỳ là tín đồ Hồi giáo. Theo Eurobarometer 2005, Síp là một trong những quốc gia có số dân theo tôn giáo đông nhất tại Liên minh châu Âu, cùng với Malta, Romania, Hy Lạp và Ba Lan. Thậm chí Tổng thống đầu tiên của Síp, Makarios III, còn là một tổng giám mục. Đây cũng là một trong năm nước duy nhất của Liên minh châu Âu có tôn giáo chính thức của nhà nước, (Giáo hội Chính thống Síp, bốn quốc gia kia là Malta, Hy Lạp, Đan Mạch và Anh Quốc Anh giáo. Ngoài các cộng đồng Chính thống giáo và Hồi giáo, còn có các cộng đồng Bahá'í, Do Thái, Tin lành (gồm cả Pentecostal), Công giáo Rôma, Giáo hội nghi thức Maronite (Nghi thức Kitô giáo phía Đông) và Tông truyền Armenia nhỏ tại Síp.
== Giáo dục ==
Síp có hệ thống giáo dục tiểu học và trung học phát triển cao với cả hệ thống giáo dụng công và tư nhân. Chất lượng cao của nền giáo dục có được nhờ trình độ trên mức trung bình của các giáo viên những cũng bởi thực tế gần 7% GDP được chi cho giáo dục khiến Síp là một trong ba nước chi tiêu nhiều nhất cho giáo dục trong EU cùng Đan Mạch và Thuỵ Điển. Các trường công nói chung được xem có cùng chất lượng như các cơ sở giáo dục tư nhân. Tuy nhiên, giá trị của bằng cấp trung học nhà nước bị hạn chế bởi thực tế các bằng cấp có được chỉ chiếm khoảng 25% điểm số cuối cùng của mỗi môn, 75% còn lại do giáo viên quyết định trong học kỳ, theo một cách ít công khai nhất. Các trường đại học Síp (giống như các trường đại học Hy Lạp) hầu như bỏ qua toàn bộ giá trị bằng cấp trung học trong việc tiếp nhận. Tuy một bằng trung học chỉ là bắt buộc khi vào trường đại học, việc tiếp nhận được quyết định hầu như chỉ trên cơ sở điểm số tại các cuộc thi đầu vào trường đại học mà mọi ứng cử viên đều bị bắt buộc phải tham gia. Đa số người Síp theo học trung học tại Hy Lạp, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, các trường đại học châu Âu và Bắc Mỹ. Cần lưu ý rằng hiện tại Síp có tỷ lệ phần trăm công dân ở tuổi lao động có trình độ trung học cao ở EU với 30% trước cả Phần Lan 29.5%. Ngoài ra 47% dân số trong độ tuổi 25–34 có bằng cấp ba, cao nhất tại EU. Sinh viên Síp rất chịu khó di chuyển, với 78.7% đang học tại một trường đai học bên ngoài Síp.
Các trường cao đẳng tư và các trường đại học được nhà nước hỗ trợ đã được phát triển.
Đại học Síp: thành lập năm 1989
Đại học Kỹ thuật Síp: bắt đầu năm 2007
Đại học châu Âu - Síp: thành lập năm 1961 với tên gọi Trường cao đẳng Síp và đổi tên năm 2007
Đại học Nicosia: thành lập năm 1981 trước kia gọi là Intercollege; nó đổi thành tên hiện tại năm 2007. Tổng cộng có 5,000 sinh viên tại các cơ sở ở Nicosia, Limassol và Larnaca
Đại học Frederick
Viện hành lâm nghệ thuật Síp: thành lập năm 1995.
Cao đẳng nghệ thuật Síp: thành lập năm 1969.
Con số sinh viên từ nước ngoài cũng gia tăng.
== Văn hoá ==
=== Nghệ thuật ===
Lịch sử nghệ thuật Síp có thể được truy nguồn gốc từ 10.000 năm trước, sau sự phát hiện một loạt hình ảnh khắc thời Chalcolithic tại các làng ở Khoirokoitia và Lempa,[4], và hòn đảo này cũng là quê hương của nhiều tranh thần tượng nghệ thuật cao từ thời Trung Cổ.
=== Âm nhạc ===
Âm nhạc dân gian truyền thống Síp có nhiều điểm chung với âm nhạc dân gian Hy Lạp, gồm các điệu nhảy như sousta, syrtos, zeibekikos, tatsia, và kartsilamas. Các nhạc cụ gắn liền với âm nhạc dân gian Síp là violin ["fkiolin"], đàn luýt ["laouto"], accordion, và sáo Síp "pithkiavlin". Cũng có một hình thức thơ âm nhạc được gọi là "chattista", thường được trình diễn tại các lễ hội và sự kiện truyền thống. Các nhà soạn nhạc gắn liền với âm nhạc truyền thống Síp gồm Evagoras Karageorgis, Marios Tokas, Solon Michaelides, Savvas Salides. Nhạc Pop tại Síp nói chung bị ảnh hưởng bởi nhạc pop "Laïka" Hy Lạp, với nhiều nghệ sĩ như Anna Vissi và Evridiki nổi tiếng rộng rãi. Nhạc rock Síp và nhạc rock "Éntekhno" thường gắn liền với các nghệ sĩ như Michalis Hatzigiannis và Alkinoos Ioannidis. Metal cũng có nhiều khán giả tại Síp, được thể hiện bởi các ban nhạc như Armageddon, Winter's Verge, RUST and Blynd Rev. 16:16.
=== Văn học ===
Các tác phẩm văn học thời cổ gồm Cypria, một loại thơ sử thi có lẽ được sáng tác ở cuối thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên và gắn với tên tuổi Stasinus.
=== Ẩm thực ===
Phó mát Halloumi hay Hellim có nguồn gốc ở Síp và lần đầu tiên được sản xuất thời Trung Cổ Byzantine, sau đó trở nên nổi tiếng ở toàn bộ Trung Đông. Halloumi thường được ăn với các miếng mỏng, tươi hay nước, như một món khai vị.
Hải sản và các món cá của Síp gồm mực ống, bạc tuộc, cá đối đỏ, và cá vược biển. Dưa chuột và cà chua được sử dụng nhiều làm salad. Các món rau thông thường gồm khoai tây với dầu olive và mùi tây, súp lơ ngâm rượu và củ cải đường, măng tây và kolokassi. Các đồ đặc sản khác của hòn đảo là thịt ướp trong rau mùi khô, các loại hạt và rượu, và cuối cùng là các loại thực phẩm khô và hun khói, như lountza (thăn lợn hun khói), thịt cừu nướng than, souvlaki (thịt lợn và thịt gà nướng than), và sheftalia / seftali (thịt băm gói trong màng treo ruột). Pourgouri (bulgur, lúa mì xay) là món ăn carbohydrate truyền thống cùng bánh mì.
Các loại rau củ tươi là sản phẩm thường thấy trong ẩm thực Síp. Các loại rau thường được sử dụng là bí xanh, hạt tiêu xanh, okra, đậu xanh, artichoke, cà rốt, khoai tây, dưa chuột, lá rau diếp và lá nho, và bột đậu, đậu hà lan, black-eyed bean, đậu xanh và đậu lăng. Các loại trái cây và quả thường gặp nhất là lê, táo, nho, cam, quýt, xuân đào, sơn trà, mâm xôi, anh đào, dâu tây, vả, dưa hấu, dưa, lê tàu, chanh, hồ trăn, quả hạnh, hạt dẻ, óc chó, hazelnut.
=== Thể thao ===
Các cơ quan quản lý thể thao tại Síp gồm Hiệp hội Ô tô Síp, Liên đoàn Bóng bàn Síp, Liên đoàn Bóng rổ Síp, Liên đoàn Cricket Síp, Liên đoàn Bóng đá Síp, Liên đoàn Rugby Síp và Liên đoàn Bóng chuyền Síp. Marcos Baghdatis là một trong những vận động viên tennis thành công nhất của Síp trên đấu trường quốc tế. Ông là người có mặt trong trận chung kết Australian Open năm 2006, và đã vào tới vòng bán kết Wimbledon cùng năm ấy. Tương tự Kyriakos Ioannou là một vận động viên nhảy cao người Síp sinh tại Limassol và đã đạt thành tích 2.35 m tại IAAF World Championships in Athletics lần thứ 11 được tổ chức tại Osaka, Nhật Bản, năm 2007 đoạt huy chương đồng.
Bóng đá là môn thể thao được ưa chuộng nhất. Các đội bóng nổi tiếng gồm AEL Limassol, APOLLON FC, Anorthosis Famagusta FC, AC Omonia, Apollon Ladies, Nea Salamina Famagusta, AEK Larnaca và APOEL Nicosia FC. Các sân vận động hay các địa điểm thi đấu thể thao tại Síp gồm Sân vận động GSP (lớn nhất tại Síp), Sân vận động Makario, Sân vận động Neo GSZ, Sân vận động Antonis Papadopoulos, Sân vận động Ammochostos và Sân vận động Tsirion. Cyprus Rally cũng là sự kiện xuất hiện trên lịch thi đấu của World Rally Championship.
=== Truyền thông ===
Các tờ báo gồm Phileleftheros, Politis (Síp), Simerini, Cyprus Mail, Cyprus Observer, Famagusta Gazette, Cyprus Today, Cyprus Weekly, Financial Mirror, Haravgi, Makhi và Kathimerini (trong một ấn bản đặc biệt Síp). Các kênh TV gồm ANT1 Cyprus, Alfa TV, CNC Plus TV, Cyprus Broadcasting Corporation, Lumiere TV, Middle East Television, Mega Channel Cyprus và Sigma TV.
== Tiền đúc ==
Tại Síp, đồng euro được giới thiệu năm 2008. Ba thiết kế khác nhau đã được lựa chọn cho các đồng xu của Síp. Để kỷ niệm sự kiện này, một đồng tiền xu €5 cho mục đích sưu tập đã được phát hành. Đông xu này là một di sản của đồng tiền xu kỷ niệm vàng và bạc quốc gia cũ từng được lưu hành. Không giống những lần phát hành bình thường, các đồng xu này không được sử dụng hợp pháp tại eurozone; vì nó không thể sử dụng ở bất kỳ quốc gia nào khác ngoài Síp.
== Hạ tầng ==
=== Vận tải ===
Công ty Đường sắt Chính phủ Síp đã ngừng hoạt động ngày 31 tháng 12 năm 1951, các phương thức vận tải khác là đường bộ, đường sắt và đường không. Trong số 10.663 km (6.626 mi) đường bộ tại vùng Síp Hy Lạp năm 1998, 6.249 km (3.883 mi) được trải nhựa, và 4.414 km (2.743 mi) không trải nhựa. Ở thời điểm năm 1996 vùng Síp Thổ Nhĩ Kỳ có tỷ lệ đường trải nhựa và không trải nhựa tương tự, với xấp xỉ 1.370 km (850 mi) đường trải nhựa và 980 km (610 mi) chưa trải nhựa. Síp là một trong bốn quốc gia Liên minh châu Âu duy nhất theo đó các phương tiện lưu thông theo phía bên trái đường, một tàn tích của sự thuộc địa hoá Anh, các quốc gia kia là Ireland, Malta và Anh Quốc.
Đường cao tốc
A1 Nicosia tới Limassol
A2 nối A1 gần Pera Chorio với A3 ở Larnaca
A3 Larnaca tới Agia Napa
A5 nối A1 gần Kofinou với A3 ở Larnaca
A6 Pafos tới Limassol
A9 Nicosia tới Astromeritis
Năm 1999, Síp có sáu sân bay trực thăng và hai sân bay quốc tế: Sân bay Quốc tế Larnaca và Sân bay Quốc tế Paphos. Sân bay Quốc tế Nicosia đã bị đóng cửa từ năm 1974 và dù sân bay Ercan vẫn hoạt động nó chỉ đón những chuyến bay từ Thổ Nhĩ Kỳ. Từ năm 2006 Sân bay Quốc tế Ercan đã được đề cập tới trong những cuộc đàm phán giữa Anh, Hoa Kỳ và EU cho những đường bay thẳng, với việc mở cửa trừng phát của EU, tuy nhiên những chuyến bay thẳng quốc tế trực tiếp vẫn chưa thể diễn ra.
Vận tải công cộng tại Síp bị hạn chế bởi các dịch vụ bus tư nhân (ngoại trừ Nicosia), taxi, và dịch vụ taxi 'chia sẻ' (ở địa phương được gọi là taxi dịch vụ). Sở hữu xe tư nhân trên đầu người đứng thứ 5 thế giới. Năm 2006 những kế hoạch lớn đã được thông báo nhằm cải thiện và mở rộng dịch vụ xe bus và tái cấu trúc vận tải công cộng trên khắp Síp, với sự hỗ trợ tài chính của Ngân hàng Phát triển Liên minh châu Âu. Các cảng chính của hòn đảo là Cảng Limassol và cảng Larnaca, với hoạt động vận chuyển hàng hoá, hành khách, và tàu du lịch.
=== Chăm sóc y tế ===
Các bệnh viện đô thị gồm:
Nicosia New General Hospital
Nicosia Old General Hospital
Makario Hospital (Nicosia)
Limassol New General Hospital
Limassol Old General Hospital
Larnaca New General Hospital
Larnaca Old General Hospital
Paphos General Hospital
Famagusta New General Hospital Deryneia
=== Viễn thông ===
Cyta, công ty viễn thông thuộc sở hữu nhà nước, điều hành hầu hết các kết nối viễn thông và Internet trên hòn đảo. Tuy nhiên, cùng với sự tự do hoá gần đây trong lĩnh vực này, một vài công ty viễn thông tư nhân đã xuất hiện gồm MTN, Cablenet, TelePassport, OTEnet Telecom và PrimeTel.
== Thành viên tổ chức quốc tế ==
Đảo quốc Síp là thành viên của: Australia Group, Khối thịnh vượng chung, Hội đồng châu Âu, CFSP, EBRD, Ngân hàng Đầu tư châu Âu, EU, FAO, IAEA, IBRD, ICAO, Phòng Thương mại Quốc tế, Tòa án Hình sự Quốc tế, Liên minh Thương mại Quốc tế, Hiệp hội Phát triển Quốc tế, IFAD, Hội đồng Tài chính Quốc tế, IHO, Tổ chức Lao động Quốc tế, IMF, Tổ chức Thời tiết Quốc tế, Interpol, IOC, Tổ chức Nhập cư Quốc tế, Liên minh Nghị viện, ITU, MIGA, Phong trào Không liên kết, NSG, OPCW, OSCE, PCA, UN, UNCTAD, UNESCO, UNHCR, UNIDO, UPU, WCL, WCO, WFTU, WHO, WIPO, WMO, WToO, WTO.
== Xếp hạng quốc tế ==
== Xem thêm ==
Bản mẫu:Cyprus topics
Cộng hoà Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ
Danh sách xếp hạng quốc tế
== Đọc thêm ==
Hitchens, Christopher (1997). Hostage to History: Cyprus from the Ottomans to Kissinger. Verso. ISBN 1-85984-189-9.
Brewin, Christopher (2000). European Union and Cyprus. Eothen Press. ISBN 0-906719-24-0.
Dods, Clement (ed.) (1999). Cyprus: The Need for New Perspectives. The Eothen Press. ISBN 0-906719-23-2.
Durrell, Lawrence (1957). Bitter Lemons. Faber and Faber. ISBN 0-571201-55-5.
Faustmann, Hubert and Nicos Peristianis (2006). Britain and Cyprus: Colonialism and Post-Colonialism, 1878-2006. Bibliopolis. ISBN 978-3-93392-536-7.
Gibbons, Harry Scott (1997). The Genocide Files. Charles Bravos Publishers. ISBN 0-9514464-2-8.
Hannay, David (2005). Cyprus: The Search for a Solution. I.B. Tauris. ISBN 1-85043-665-7.
Ker-Lindsay, James (2005). EU Accession and UN Peacemaking in Cyprus. Palgrave Macmillan. ISBN 1-4039-9690-3.
Ker-Lindsay, James and Hubert Faustmann (2009). The Government and Politics of Cyprus. Peter Lang. ISBN 978-3-03911-096-4.
Leventis Yiorghos, (2002). Cyprus: The Struggle for Self-Determination in the 1940s. Peter Lang. ISBN 3-631-38411-4.
Leventis Yiorghos, Murata Sawayanagi Nanako, Hazama Yasushi (2008). Crossing Over Cyprus. Research Institute for Languages and Cultures of Asia and Africa (ILCAA) Tokyo University of Foreign Studies (TUFS). ISBN 978-4-86337-003-6.
Mirbagheri, Farid (1989). Cyprus and International Peacemaking. Hurst. ISBN 1-85065-354-2.
Nicolet, Claude (2001). United States Policy Towards Cyprus, 1954-1974. Bibliopolis. ISBN 3-933925-20-7.
Oberling, Pierre (1982). The Road to Bellapais. Columbia University Press. ISBN 0-88033-000-7.
O'Malley, Brendan and Ian Craig (1999). The Cyprus Conspiracy. I.B. Tauris. ISBN 1-86064-737-5.
Palley, Claire (2005). An International Relations Debacle: The UN Secretary-General's Mission of Good Offices in Cyprus, 1999-2004. Hart Publishing. ISBN 1-84113-578-X.
Papadakis, Yiannis (2005). Echoes from the Dead Zone: Across the Cyprus Divide. I.B. Tauris. ISBN 1-85043-428-X.
Plumer, Aytug (2003). Cyprus, 1963-64: The Fateful Years. Cyrep (Lefkosa). ISBN 975-6912-18-9.
Richmond, Oliver (1998). Mediating in Cyprus. Frank Cass. ISBN 0-7146-4431-5.
Richmond, Oliver and James Ker-Lindsay (eds.) (2001). The Work of the UN in Cyprus: Promoting Peace and Development. Palgrave Macmillan. ISBN 0-333-91271-3.
Tocci, Nathalie (2004). EU Accession Dynamics and Conflict Resolution: Catalysing Peace or Consolidating Partition in Cyprus?. Ashgate. ISBN 0-7546-4310-7.
Anastasiou, Harry (2008). Broken Olive Branch: Nationalism Ethnic Conflict and the Quest for Peace in Cyprus. Syracuse University Press. ISBN 0815631960.
== Tham khảo ==
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies.
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc CIA World Factbook.
Official Cyprus Government Web Site
Embassy of Greece, USA – Cyprus: Geographical and Historical Background
== Liên kết ngoài ==
Wikimedia Atlas của Cyprus, có một số bản đồ liên quan đến Cyprus.
Chính phủ
Cyprus High Commission Trade Centre - London
Cypriot Diaspora Project
Republic of Cyprus - English Language
Constitution of the Republic of Cyprus
Press and Information Office
Annan Plan at annanplan.com
Chief of State and Cabinet Members
Cyprus Elections to European Parliament
Thông tin chung
Mục “Cyprus” trên trang của CIA World Factbook.
Cyprus from UCB Libraries GovPubs
Cyprus information from the United States Department of State includes Background Notes, Country Study and major reports
Cộng hòa Síp tại DMOZ
The UN in Cyprus
Xuất bản chính thức
The British government's Foreign Affairs Committee report on Cyprus.
Letter by the President of the Republic, Mr Tassos Papadopoulos, to the U.N. Secretary-General, Mr Kofi Annan, dated 7 June, which circulated as an official document of the U.N. Security Council
Legal Issues arising from certain population transfers and displacements on the territory of the Republic of Cyprus in the period since 20 tháng 7 năm 1974
Address to Cypriots by President Papadopoulos (FULL TEXT)
The Republic of Cyprus Press and Information Office, Aspects of the Cyprus Problem
www, By (ngày 6 tháng 1 năm 2009). “Noitiki Antistasis”. Noitikiantistasis.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009. Non-affiliated news website focusing mainly on the effect of globalisation and foreign interests on the Cyprus problem
European Court of Human Rights Case of Cyprus v. Turkey (Application no. 25781/94)
Bản mẫu:First Journey of Paul of Tarsus |
chỉ số tự do kinh tế.txt | Chỉ số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom) đo lường chính sách tự do kinh doanh ở các quốc gia trên thế giới. Chỉ số tự do kinh tế đánh giá 10 yếu tố cơ bản của mỗi nền kinh tế, được công bố thường niên bởi tạp chí The Wall Street Journal và Quỹ Di sản (The Heritage Foundation) có ảnh hưởng gián tiếp đến nguyên tắc luật lệ, chính sách thuế cũng như các chính quyền.
== Lịch sử ==
Milton Friedman và Michael Walker đến từ Viện Fraser đã tổ chức một loạt các hội nghị từ năm 1986 đến 1994 nhằm sáng tạo một định nghĩa rõ ràng về tự do kinh tế và phương pháp đánh giá. Đó là những báo cáo đầu tiên về tự do kinh tế thế giới. Gần đây hơn, Quỹ Di Sản và The Wall Street Journal đã tạo ra một chỉ số khác, tức chỉ số tự do kinh tế.
== Phương pháp tính điểm ==
Định nghĩa chỉ số tự do kinh tế như sau: "Môi trường tự do kinh tế cao nhất cho người ta quyền tư hữu tuyệt đối, hoàn toàn tự do hoạt động về lao động, tiền bạc, hàng hóa, và hoàn toàn không có chèn ép hay giới hạn tự do kinh tế ngoại trừ những giới hạn tối thiểu cần thiết để bảo đảm người dân được tự do".
Chỉ số cho điểm dựa trên 10 yếu tố tổng quát sau đây về tự do kinh tế từ thống kê của các tổ chức như Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Đơn vị Tình báo Economist (The Economist Intelligence Unit):
Tự do buôn bán (Business Freedom)
Tự do thương mại (Trade Freedom)
Tự do tiền tệ (Monetary Freedom)
Độ lớn của nhà nước (Government Size)
Tự do công khố (Fiscal Freedom)
Quyền tư hữu (Property Rights)
Tự do đầu tư (Investment Freedom)
Tự do tài chánh (Financial Freedom)
Tự do không bị tham nhũng (Freedom from Corruption)
Tự do lao động (Labor Freedom)
Mỗi tự do trên được cho điểm từ 0 đến 100, mà 100 là tượng trưng cho nhiều tự do nhất. Điểm 100 có nghĩa là có một môi trường kinh tế hay chính sách kinh tế có ích lợi nhất dẫn đến tự do kinh tế. Tổng số điểm được tính trung bình bằng cách cộng 10 số điểm của mỗi tự do và chia cho 10.
== Xếp hạng ==
Chú giải: ██ Tự do (80-100), ██ Gần như tự do (70.0-79.9), ██ Tự do trung bình (60.0-69.9), ██ Hầu như không tự do (50.0-59.9), ██ Đàn áp (0-49.9).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Index of Economic Freedom
Free, Free at Last critique from Dollars & Sense magazine
Laissez-Faire Olympics (critique by Doug Henwood).
Index of Economic Freedom [1]
Economic Freedom of the World [2] |
mê linh.txt | Mê Linh là một huyện nằm ở phía bắc thành phố Hà Nội, giáp sân bay quốc tế Nội Bài. Đây là địa danh gắn với tên tuổi của Hai Bà Trưng. Huyện đã từng là một huyện cực bắc của thành phố từ năm 1979 đến năm 1991.
== Lịch sử ==
Huyện Mê Linh được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1977 trên cơ sở hợp nhất 2 huyện Bình Xuyên và Yên Lãng, ngoài ra còn có 4 xã Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh Tân và Bình Định của huyện Yên Lạc, 2 xã Kim Hoa và Quang Minh của huyện Kim Anh.. Khi mới thành lập, huyện Mê Linh có 38 đơn vị hành chính gồm thị trấn Phúc Yên, thị trấn nông trường Tam Đảo và 36 xã: Bá Hiến, Bình Định, Chu Phan, Đại Thịnh, Đạo Đức, Gia Khánh, Hoàng Kim, Hương Sơn, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Minh Quang, Minh Tân, Nguyệt Đức, Phú Xuân, Quang Minh, Quất Lưu, Sơn Lôi, Tam Canh, Tam Đồng, Tam Hợp, Tân Phong, Thạch Đà, Thanh Lâm, Thanh Lãng, Thiện Kế, Tiền Châu, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tráng Việt, Trung Mỹ, Tự Lập, Văn Khê, Văn Tiến, Vạn Yên.
Một năm sau, ngày 29 tháng 12 năm 1978, Mê Linh (gồm thị trấn Phúc Yên và 18 xã: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Quang Minh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Châu, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tráng Việt, Tự Lập, Văn Khê, Vạn Yên) được sáp nhập vào Hà Nội. Đến ngày 17 tháng 2 năm 1979, sáp nhập thêm các xã Nam Viêm, Ngọc Thanh, Phúc Thắng, Cao Minh và thị trấn Xuân Hòa của huyện Sóc Sơn vào huyện Mê Linh, nâng tổng số đơn vị hành chính huyện Mê Linh lên thành 22 xã và 2 thị trấn:
2 thị trấn: Phúc Yên, Xuân Hòa.
22 xã: Cao Minh, Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Nam Viêm, Ngọc Thanh, Phúc Thắng, Quang Minh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Châu, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tự Lập, Tràng Việt, Văn Khê, Vạn Yên.
Còn 14 xã: Bá Hiến, Đạo Đức, Gia Khánh, Hương Sơn, Minh Quang, Phú Xuân, Quất Lưu, Sơn Lôi, Tam Canh, Tam Hợp, Tân Phong, Thanh Lãng, Thiện Kế, Trung Mỹ và thị trấn Nông Trường Tam Đảo (vốn thuộc huyện Bình Xuyên cũ) chuyển sang trực thuộc huyện Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phú); 4 xã Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh Tân và Bình Định nhập vào huyện Vĩnh Lạc (tỉnh Vĩnh Phú).
Đến ngày 12 tháng 8 năm 1991, Mê Linh tách khỏi Hà Nội và trở về tỉnh Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc).
Sau khi thành lập thị xã Phúc Yên, tách khỏi huyện Mê Linh ngày 9 tháng 12 năm 2004, thị trấn Xuân Hòa trở thành một phường của thị xã Phúc Yên, thì huyện Mê Linh còn lại 17 xã: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Quang Minh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tự Lập, Tràng Việt, Văn Khê, Vạn Yên.
Ngày 4 tháng 4 năm 2008, chia xã Quang Minh thành 2 thị trấn: Quang Minh và Chi Đông. Tuy nhiên, thị trấn Quang Minh không phải là huyện lị huyện Mê Linh, các cơ quan hành chính của huyện đóng tại xã Đại Thịnh. Từ đó, huyện Mê Linh có 2 thị trấn: Chi Đông, Quang Minh và 16 xã: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tự Lập, Tràng Việt, Văn Khê, Vạn Yên.
Tháng 3 năm 2008, chính quyền trung ương của Việt Nam tuyên bố chủ trương sáp nhập Mê Linh vào Hà Nội. Ngày 22 tháng 3 năm 2008, Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã nhất trí chủ trương trên.
Từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, huyện Mê Linh được tách ra khỏi Vĩnh Phúc và sáp nhập vào thành phố Hà Nội.
Ngày 16 tháng 7 năm 2014, chuyển xã Mê Linh thành thị trấn Mê Linh. Như vậy, huyện Mê Linh có 3 thị trấn và 15 xã, giữ ổn định cho đến nay.
== Hành chính ==
Mê Linh có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn: Chi Đông, Quang Minh và 16 xã: Chu Phan, Đại Thịnh(huyện lị), Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tráng Việt, Tự Lập, Văn Khê, Vạn Yên.
== Đường phố ==
Chi Đông
Quang Minh
Võ Văn Kiệt
== Hạ tầng ==
Hiện nay, trên địa bàn huyện Mê Linh đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như khu đô thị Mê Linh - Thanh Lâm - Đại Thịnh, khu đô thị Tiền Phong, khu đô thị Rose Valley, khu đô thị AIC Mê Linh, khu đô thị Cienco 5 Mê Linh, khu đô thị Tùng Phương, khu đô thị Diamond Park New, khu đô thị CEO Mê Linh, khu đô thị Hà Phong...
Dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện (dự kiến) là tuyến số 7 (Mê Linh - Ngọc Hồi).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
UBND HUYỆN MÊ LINH
Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của huyện Mê Linh |
đua thuyền buồm tại đại hội thể thao đông nam á 2007.txt | Giải đua thuyền buồm tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2007 diễn ra từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 12 năm 2007 với 17 nội dung thi đấu (đua thuyền buồm (12), lướt ván buồm (5)).
== Xếp hạng theo quốc gia ==
== Bảng huy chương ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kết quả môn đua thuyền buồm tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2007 |
đại khủng hoảng.txt | Đại khủng hoảng (tiếng Anh: The Great Depression), hay còn gọi là "Đại suy thoái", là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29 tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối). Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển. Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân, thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái. Xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước. Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giảm từ 40 đến 60 phần trăm. Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnh hưởng lớn nhất. Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước. Nó bị coi là "đêm trước" của Chiến tranh thế giới thứ hai
== Nguyên nhân ==
Chu kỳ kinh tế là một phần bình thường của đời sống thế giới do sự thiếu cân bằng giữa cung và cầu.
Theo trường phái Áo, nguyên nhân bắt nguồn từ sự can thiệp của Chính phủ vào thập kỷ 1920. Sự dễ dãi trong tăng tín dụng đẩy các ngân hàng dễ dàng cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng, đẩy thị trường chứng khoán bùng nổ quá mức, ngân hàng cho vay quá nhiều, rủi ro quá mức không được quản lý. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp đổ dây chuyền của các thể chế tài chính do các khoản nợ xấu không đòi được.
Theo trường phái Keynes, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường tự do không hoạt động được. Dù lãi suất giảm nhưng đầu tư không tăng được do kỳ vọng về tương lai quá bi quan.
Theo trường phái của kinh tế tiền tệ (monetarist), khủng hoảng là do sự xiết chặt quá mức của cung tiền năm 1930, và rằng Cục dự trữ Liên Bang đã sử dụng sai chính sách tiền tệ, đáng lẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm cung tiền.
Một số lý thuyết riêng rẽ khác giải thích Đại Khủng hoảng:
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn (Deft Deflation): Khi nợ bị đánh giá khó đòi, việc bán ra số lượng lớn với giá rẻ, làm cho tài sản nhìn chung lại càng mất giá, khiến các khoản nợ còn tồn lại càng giảm chất lượng (do tài sản thế chấp bị giảm giá). Vòng xoáy này như quả bóng tuyết càng ngày càng to, đẩy cả thị trường nợ và tài sản xuống, làm cho các thể chế tài chính và cá nhân trên thị trường vỡ nợ. Khi vỡ nợ nhiều quá, đẩy sản xuất và lợi nhuận xuống thấp, đầu tư đình trệ, việc làm mất và dẫn tới bẫy đói nghèo.
Sự bất công bằng trong giàu nghèo và thu nhập: Sự bất công bằng trong giàu nghèo được Waddill Catchings và William Trufant Foster cho là nguyên nhân của Đại Khủng Hoảng. Sản xuất ra quá nhiều hơn khả năng mua của thị trường (vốn đa số là người nghèo). Lương tăng chậm hơn so với mức tăng năng suất, dẫn tới lợi nhuận cao, nhưng lợi nhuận lại bị rót vào thị trường chứng khoán, mà không phải đưa tới cho người tiêu dùng. Do thị trường chứng khoán tăng nhanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, FED lại để mức lãi xuất cho vay rất thấp, làm đẩy mạnh đầu tư quá mức. Nền kinh tế tăng nóng trong một thập kỷ, đến mức khả năng sản xuất quá cao so với mức hiệu quả và so với mức cầu. Như vậy, nguyên nhân của khủng hoảng là do đầu tư quá mức vào các ngành công nghiệp nặng thay vì vào lương và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nền kinh tế tăng quá mức hiệu quả và lạm phát quá cao.
Cấu trúc thể chế tài chính: Các ngân hàng bị cho là quá rủi ro, khi dự trữ quá ít, đầu tư quá nhiều vào thị trường chứng khoán và các tài sản rủi ro. Khối nông nghiệp thì quá rủi ro khi giá đất tăng quá cao, hiệu suất nông nghiệp thấp, trong khi nông dân đi vay quá nhiều để sản xuất, khi lãi suất đột ngột tăng cao thì họ lâm vào phá sản vì không thể sản xuất để trả lãi vay cao. Một số nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân có thể là từ Bẫy Thanh khoản (khi các chính sách tiền tệ như giảm lãi suất và tăng cung tiền không thể thúc đẩy nền kinh tế).
Chế độ bản vị Vàng: Để chống lạm phát, các nước sau Thế chiến Thứ nhất áp dụng bản vị vàng (đồng tiền gắn chặt với một lượng vàng nhất định). Sốc bắt đầu từ vụ Sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng vì chế độ bản vị vàng mà khủng hoảng từ Mỹ lan rộng ra khắp thế giới. Chính vì các chính phủ tiếp tục giữ chế độ bản vị vàng, họ không thể đưa ra các chính sách tiền tệ nới lỏng để chữa khủng hoảng. Những nước nào thoát khỏi bản vị vàng sớm chính là những nước khôi phục kinh tế sớm.
Sụp đổ thương mại quốc tế: Do các nước châu Âu sau Thế chiến Thứ nhất nợ Mỹ nhiều, họ phải trả nợ hàng năm. Họ cũng xuất khẩu sang Mỹ để lấy ngoại hối trả nợ, đồng thời họ cũng nhập khẩu hàng từ Mỹ cho nhu cầu. Đến cuối thập kỷ 1920, nhu cầu nhập hàng Mỹ giảm do khủng hoảng và do thiếu tiền để trả nợ. Đồng thời khi hàng rào thuế quan của Mỹ tăng cao theo Luật Thuế quan Smoot–Hawley, xuất khẩu vào Mỹ giảm, dẫn tới các nước trên thế giới càng gặp khó khăn. thương mại quốc tế đình trệ càng làm cho khủng hoảng kinh tế năm 1930 thêm tồi tệ.
Chủ nghĩa bảo hộ
Dân số giảm, công dân nghèo không có tiền để mua hàng hóa
== Các tác động ==
Cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 là một cuộc đại khủng hoảng có quy mô lớn nhất, mức độ trầm trọng nhất của thế giới tư bản chủ nghĩa. Nó là một cuộc khủng hoảng cơ cấu, người Mỹ nhắc đến nó như là một nỗi kinh hoàng, sự đau đớn. Mỹ khi đó là nước tư bản phát triển nhất, nhưng hệ thống phân phối xã hội của Mỹ lúc đó rất bất công, phần lớn thu nhập quốc dân chỉ tập trung trong tay một số ít người, lợi nhuận tăng từ 1922 – 1929 là 76% thì lương công nhân chỉ tăng 33%, viên chức tăng 42%. Trong lúc đó, lợi tức của các cổ đông tăng trên 100%. Người lao động không được hưởng phần xứng đáng của họ trong chỉ số tăng của nền kinh tế. Tất cả đưa đến một cuộc khủng hoảng thừa, đưa đến hiện tượng các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt, họ tự tay phá nhà máy, đánh đắm tàu, đổ của cải xuống biển… để giữ giá.
Từ thị trường chứng khoán, cuộc khủng hoảng lan rộng ra tất cả các lĩnh vực khác trở thành cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội… Hàng triệu người thất nghiệp, hàng triệu người bị mất nhà cửa. Đỉnh cao của cuộc khủng hoảng này là năm 1932, sản xuất than bị đẩy lùi xuống mức năm 1904; sản xuất gang bị đẩy lùi xuống mức năm 1876. Có những chỉ số bị đẩy lùi xuống những năm cuối thế kỷ 19, thu nhập quốc dân giảm xuống 1/2.
Do thu nhập giảm đột ngột trong khi vật giá không giảm, nuôi sống một gia đình với vài miệng ăn tại thời điểm Đại suy thoái những năm 1930 là gánh nặng cực kỳ lớn đối với cặp vợ chồng nông dân ở Tennessee.
Nhà nghiên cứu Boris Borisov, trong bài viết có tựa đề "The American Famine" ước tính số nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ là hơn 7 triệu người. Trong bài viết, Borisov sử dụng các số liệu chính thức của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ. Sau khi điều chỉnh số lượng tỷ lệ dân số, và tỷ lệ sinh của Mỹ, xuất nhập cảnh, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng Hoa Kỳ đã mất hơn 7 triệu sinh mạng trong nạn đói 1932-1933 gây ra bởi cuộc khủng hoảng.
Boris Borisov lưu ý rằng: ngày nay, "có rất ít người biết về 5 triệu nông dân nước Mỹ (khoảng một triệu gia đình) đã bị các ngân hàng đuổi khỏi nhà vì các khoản nợ. Chính phủ Mỹ đã không cung cấp cho họ đất đai, lao động, trợ cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp - không có gì cả. Cứ 6 nông dân Mỹ thì có 1 bị ảnh hưởng bởi nạn đói. Những người này đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ và đi lang thang mà không có tiền hay tài sản nào." Có những người chết đói trong các đường phố, trước thềm các cửa hàng bán nhiều loại thực phẩm mà không có tiền để mua. Trong khi đó, thực phẩm du thừa (do người dân không có tiền để mua) lại được chính phủ Mỹ tiêu hủy, chúng không được cấp phát cho dân nghèo bởi vì nó có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Một loạt các phương pháp được sử dụng để phá hủy thức ăn thừa: đốt cây, dìm xuống biển hoặc cày nát 10 triệu ha ruộng sắp thu hoạch. Khoảng 6,5 triệu con lợn bị giết tại thời điểm đó rồi vứt đi không sử dụng.
Mục đích của hành động này là nhằm tăng giá thực phẩm lên hơn 2 lần và làm lợi cho các doanh nghiệp nông nghiệp lớn, tất nhiên là nó đi kèm với việc người sắp chết đói sẽ không được cứu tế. Trong suốt thời gian này, "tuần hành đói" đã trở nên phổ biến tại hầu hết các thành phố và thường bị cảnh sát đàn áp bằng bạo lực.
Do số lượng lớn người dân không có thu nhập và sự vắng mặt của các trợ giúp xã hội, nạn đói lan nhanh ở Mỹ. Khi người nghèo bắt đầu ồ ạt chết tại thành phố giàu có nhất của đất nước, New York, chính quyền thành phố đã buộc phải bắt đầu trợ cấp súp miễn phí trên các đường phố. Tuy nhiên, nhiều bang thậm chí còn không có đủ ngân sách cho súp miễn phí.
== Cách thức giải quyết của các chính phủ ==
=== Những giải pháp đã được đưa ra ===
Ban đầu, các nhà hoạch định chính sách cố gắng khôi phục lòng tin cho thị trường bằng các bài phát biểu trấn an người dân, tổng thống Herbert Hoover làm yên lòng người Mỹ rằng kinh tế nước này vẫn tiến triển tốt.
Mọi thứ chỉ thay đổi sau khi tổng thống Franklin D Roosevelt lên làm tổng thống năm 1932, chính phủ can thiệp vào để khởi động lại chương trình trợ cấp thất nghiệp cho người dân, ổn định thị trường bằng cách hạn chế sản xuất, khuyến khích phát triển chương trình an sinh xã hội.
Tuy nhiên, chính quyền của ông không có nhiều thành công trong hồi phục tăng trưởng kinh tế và lòng tin người tiêu dùng vẫn ở mức thấp.
=== Giải pháp đã giải quyết vấn đề ===
Cuộc Đại Khủng Hoảng kéo dài bất chấp một loạt các biện pháp mới nhằm giảm nhẹ thiệt hại cho người dân, cụ thể là cung cấp thêm việc làm mới, hỗ trợ hay bảo vệ các khoản thế chấp.
Mãi đến đầu Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi chính phủ Mỹ áp dụng lý thuyết kinh tế học Keynes với trọng tâm chính là nêu bật vai trò tăng trưởng tiền lương (để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế, nền kinh tế mới hồi phục.
Sản lượng sản xuất tăng gấp đôi trong chiến tranh, tình trạng thất nghiệp biến mất khi phụ nữ và người da đen được kêu gọi tham gia vào lực lượng lao động thay cho hàng triệu người đã tham gia vào quân ngũ.
Vào lúc đỉnh cao, chính phủ Mỹ đã vay nợ một nửa tiền cần thiết để có tiền chi trả cho chiến tranh.
== Xem thêm ==
Chu kỳ kinh tế
== Liên kết ngoài ==
Recession? Depression? What's the difference? (About.com)
An Overview of the Great Depression from EH.NET by Randall Parker.
Great Myths of the Great Depression by Lawrence Reed
Franklin D. Roosevelt Library & Museum for copyright-free photos of the period
Economic Depressions: Their Cause and Cure by Murray Rothbard (1969)
The Prophet of the Great Depression by Frank Shostak (October 4 2006)
The Impact of the Great Depression in NI, on the Second World War online resource for NI
== Tham khảo == |
vương triều anh tổ.txt | Vương triều Anh Tổ (英祖王統 (Anh Tổ vương thống), Vương triều Anh Tổ 1187 – 1259), có nhiều khả năng là đã tồn tại trong lịch sử hòn đảo Okinawa. Vương triều gồm 5 đời và kéo dài trong 90 năm.
Căn cứ theo Trung Sơn thế giám (中山世鑑, chūzan seikan):
Đời 1 Eiso (英祖, Anh Tổ, 1259? - 1299?)
Đời 2 Taisei (大成, Đại Thành, 1299? - 1308?)
Đời 3 Eiji (英慈, Anh Từ, 1308? - 1313?)
Đời 4 Tamagusuku (玉城, Ngọc Thành, 1313? - 1336?)
Đời 5 Seii (西威, Tây Uy, 1336? - 1349)
Căn cứ theo Omoro Sōshi, một bộ sưu tầm các bài hát và bài thơ cổ trên hòn đảo Okinawa, trung tâm của vương triều Anh Tổ nằm tại thành Phổ Thiêm (Urasoe), trung nam bộ hòn đảo và thống trị phần lớn hòn đảo chính. Về sau, quốc vương vương quốc Bắc Sơn cũng nhận mình có tổ tiên là con thứ của vua Eiso, còn vua của vương quốc Nam Sơn cũng nhận mình có tổ tiên là con trai thứ năm của Eiso.
== Tham khảo == |
miu lê.txt | Miu Lê tên thật Lê Ánh Nhật (sinh ngày 5 tháng 7 năm 1991) là một nữ ca sĩ, diễn viên Việt Nam.
== Tiểu sử và sự nghiệp ==
Miu Lê tên khai sinh là Lê Ánh Nhật, sinh ngày 5 tháng 7 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh, từng học tại Trường Trung học phổ thông Võ Thị Sáu, Thành phố Hồ Chí Minh.
=== 2009 - 2010: Bén duyên với điện ảnh và chuyển hướng sang ca hát ===
Miu Lê chia sẻ mẹ của Miu bắt cô đi học lớp người mẫu để giảm cân và sửa dáng cho đẹp hơn. Tại lớp học này, Miu Lê được đạo diễn Lê Hoàng chọn để tham gia phim Thủ tướng nhưng tiếc là bộ phim không được công chiếu. Sau đó, cô tiếp tục hợp tác với đạo diễn Lê Hoàng trong phim Những thiên thần áo trắng, và đó là lần đầu tiên cô xuất hiện trước công chúng.
Sau một thời gian, cô chuyển hướng sang ca hát dưới sự quản lý của công ty NewGen Entertainment (cũng là công ty quản lý Khổng Tú Quỳnh) với nghệ danh Miu Lê được ghép từ vai diễn July Miu và họ của cô, sau đó Miu Lê ra mắt những ca khúc như Không gian vắng, Riêng mình em,... nhưng lúc này cô vẫn chưa gây ấn tượng nhiều với khán giả.
=== 2011 - 2013: Thay đổi và được đón nhận ===
Năm 2011, Miu Lê tham gia bốn bộ phim là Thiên sứ 99, Oan gia đại chiến, Gia đình dấu yêu và Tối nay, 8 giờ!.
Cuối năm 2011, Miu Lê chính thức tách ra khỏi công ty NewGen và gia nhập vào công ty khác là Avatar Entertainment. Miu Lê thay đổi phong cách khác hoàn toàn so với trước kia, cô cho ra mắt single Ngày Anh Xa và single này khá thành công khi đứng đầu nhiều BXH như Zing, Yan,.. Những sản phẩm tiếp theo của cô cũng nằm trong các BXH âm nhạc.
Năm 2012, Miu Lê lồng tiếng phim Kỷ băng hà 4 với nghệ sĩ Chí Tài, sau dự án này, cô tham gia chương trình thực tế 12 Cá Tính lên đường xuyên Việt với những trải nghiệm thú vị.
Năm 2013, Miu Lê ra mắt bộ ba MV Lặng thầm yêu, Giả vờ nhưng em yêu anh, Em vẫn hy vọng, đặc biệt là ca khúc Giả vờ nhưng em yêu anh chiếm được nhiều cảm tình của khán giả và ca khúc này lọt top, đứng đầu nhiều bảng xếp hạng âm nhạc. Sau dự án này, Miu Lê tham gia hai phim Tết là Yêu anh! Em dám không? và Nhà có 5 nàng tiên. Vào tháng 7, cô lồng tiếng cho phim Xì Trum 2 với NSƯT Thành Lộc.
=== 2014: Phát hành hai single, một album và liveshow đầu tiên ===
Đầu năm 2014, Miu Lê đã cùng nhạc sĩ Only C phát hành single Ta là cho nhau nhân dịp Valentine, sau đó cô cùng nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung ra mắt album Quên như chưa từng yêu. Và khoảng cuối năm 2014, cô tiếp tục cho ra mắt single Mình từng yêu nhau.
Tháng 11 năm 2014, Miu Lê cùng Ngô Kiến Huy tham gia liveshow Tôi tỏa sáng, đây là liveshow lớn đầu tiên của cô. Sau liveshow này, Miu Lê phát hành MV Vụt tan đi và sau MV này cô im ắng suốt một thời gian dài.
=== 2015 - nay: Trở lại showbiz với Em là bà nội của anh ===
Năm 2015, Miu Lê được chọn để lồng tiếng nhân vật Joy trong phim Inside Out. Sau đó, cô tham gia phim Em là bà nội của anh, diễn xuất của Miu Lê và những ca khúc Miu Lê thể hiện trong phim nhận được nhiều đánh giá tích cực.
Năm 2016, Miu Lê trở lại với âm nhạc và làm việc với ekip của nhạc sĩ Only C cho ra mắt ca khúc Yêu một người có lẽ. Sau đó vào ngày 12 tháng 4, cô ra mắt MV Anh đang nơi đâu và chính thức gia nhập vào công ty BPro Entertainment của ca sĩ Trịnh Thăng Bình. Trong năm này, Miu Lê cùng nghệ sĩ Chí Tài tham gia lồng tiếng phim Kỷ băng hà 5 và tham gia hai bộ phim là Bạn gái tôi là sếp và Cô gái đến từ hôm qua.
Đầu năm 2017, Miu Lê tham gia phim Nắng 2 với diễn viên Thu Trang, Hoàng Phi,...
== Sản phẩm âm nhạc ==
== Phim đã tham gia ==
=== Phim điện ảnh ===
=== Phim truyền hình ===
== Thành tích ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Miu Lê tại Internet Movie Database
Miu Lê trên Facebook |
ateles.txt | Ateles là một chi động vật có vú trong họ Atelidae, bộ Linh trưởng. Chi này được É. Geoffroy miêu tả năm 1806. Loài điển hình của chi này là Simia paniscus Linnaeus, 1758.
== Các loài ==
Chi này gồm các loài:
Ateles belzebuth
Ateles chamek
Ateles hybridus
Ateles marginatus
Ateles fusciceps
Ateles geoffroyi
Ateles arachnoides
Ateles paniscus
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Ateles tại Wikimedia Commons |
danh sách thiên hoàng (nhật bản).txt | Sau đây là danh sách truyền thống các Thiên hoàng Nhật Bản. Ngày tháng của 28 vị Thiên hoàng đầu tiên, đặc biệt là 16 người đầu, là dựa trên hệ thống lịch Nhật Bản. Dường như quốc gia Nhật Bản không phải thực sự được sáng lập vào năm 660 TCN, xem thêm bài thời kỳ Yamato và Himiko. Danh sách những người tự xưng hay được gọi là Thiên hoàng (追尊天皇, 尊称天皇, 異説に天皇とされる者, 天皇に準ずる者, 自称天皇) có thể xem tại wikipedia tiếng Nhật 天皇の一覧.
== Danh sách Thiên hoàng Nhật Bản ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Ackroyd, Joyce. (1982). [ Arai Hakuseki, 1712] Tokushi yoron; "Lessons from History: the Tokushi yoron" translated by Joynce Ackroyd. Brisbane: University of Queensland Press. 10-ISBN 0-7022-1485-X; 13-ISBN 978-0-702-2148-5
Brown, Delmer and Ichiro Ishida, eds. (1979). [ Jien, kh.1220], Gukanshō; "The Future and the Past: a translation and study of the 'Gukanshō,' an interpretive history of Japan written in 1219" translated from the Japanese and edited by Delmer M. Brown & Ichirō Ishida. Berkeley: University of California Press. ISBN 0-520-03460-0
Titsingh, Isaac. (1834). [Siyun-sai Rin-siyo/Hayashi Gahō, 1652]. Nipon o daï itsi ran; ou, Annales des empereurs du Japon, tr. par M. Isaac Titsingh avec l'aide de plusieurs interprètes attachés au comptoir hollandais de Nangasaki; ouvrage re., complété et cor. sur l'original japonais-chinois, accompagné de notes et précédé d'un Aperçu d'histoire mythologique du Japon, par M. J. Klaproth. Paris: Oriental Translation Society of Great Britain and Ireland.Download bản đầy đủ (bằng tiếng Pháp)
Varley, H. Paul, ed. (1980). [ Kitabatake Chikafusa, 1359], Jinnō Shōtōki ("A Chronicle of Gods and Sovereigns: Jinnō Shōtōki of Kitabatake Chikafusa" translated by H. Paul Varley). New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-04940-4
== Xem thêm ==
Nhật hoàng
Danh sách cố vấn Hoàng gia Nhật Bản
== Link liên quan ==
Nhật Bản mở cửa lăng mộ hoàng gia để nghiên cứu
Cung Nội Sảnh |
u.txt | U, u là chữ thứ 21 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 25 trong chữ cái tiếng Việt.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ U hoa có giá trị 85 và chữ u thường có giá trị 117.
Trong hóa sinh học, U là biểu tượng cho uracil.
Trong hóa học, U là ký hiệu cho urani.
Trong toán học, U là biểu tượng cho nhóm đơn vị.
U được gọi là Uniform trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, U tương đương với
Υ
{\displaystyle \Upsilon }
và u tương đương với
υ
{\displaystyle \upsilon }
.
Trong bảng chữ cái Cyrill, U tương đương với У và u tương đương với у.
== Tham khảo == |
độ bền nén.txt | Độ bền nén là sức chịu đựng của vật liệu khi chịu tác động của lực ép đơn.
== Mô tả ==
Hướng ứng suất ngược chiều hướng vào khối rắn vật liệu sẽ sinh ra ứng lực để chống lại và vật liệu có thể bền vững hay bị nứt vỡ (bị phá huỷ) được mô tả như hình vẽ dưới:
== Tham khảo == |
facebook.txt | Facebook là một website truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành. Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác. Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng. Tên của website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của cộng đồng campus mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh viên mới vào trường, phòng ban, và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại khuôn viên trường.
Mark Zuckerberg thành lập Facebook cùng với bạn bè là sinh viên khoa khoa học máy tính và bạn cùng phòng Eduardo Saverin, Dustin Moskovitz và Chris Hughes khi Mark còn là sinh viên tại Đại học Harvard.
Việc đăng ký thành viên website ban đầu chỉ giới hạn cho những sinh viên Harvard, nhưng đã được mở rộng sang các trường đại học khác tại khu vực Boston, Ivy League, và Đại học Stanford. Sau đó nó được mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, rồi đến học sinh phổ thông và cuối cùng là bất cứ ai trên 13 tuổi.
Tính đến tháng 9 năm 2012, Facebook hiện có hơn một tỷ thành viên tích cực trên khắp thế giới. Với con số ấy, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất, tiếp theo sau là MySpace và Twitter.. Hiện tại, Facebook có số lượt truy cập đứng thứ hai của thế giới sau Google.
Facebook đã gặp phải một số tranh cãi trong những năm qua. Nó đã bị cấm một thời gian tại một số quốc gia, trong đó có Syria, Trung Quốc, Việt Nam và Iran.
Facebook cũng đã bị cấm tại nhiều công sở để hạn chế nhân viên tốn thời gian sử dụng dịch vụ. Quyền riêng tư trên Facebook cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trang này cũng đang đối mặt với một số vụ kiện từ một số bạn cùng lớp của Zuckerberg, những người cho rằng Facebook đã ăn cắp mã nguồn và các tài sản trí tuệ khác của họ.
== Lịch sử ==
Facebook mở đầu là một phiên bản Hot or Not của Đại học Harvard với tên gọi Facemash. Mark Zuckerberg, khi đang học năm thứ hai tại Harvard, đã dựng nên Facemash vào ngày 28 tháng 10 năm 2003. Zuckerberg đang viết blog về một cô gái và cố gắng nghĩ ra một thứ gì đó để bớt nghĩ về cô ấy.
Theo tờ Harvard Crimson, Facemash "đã dùng những bức ảnh lấy từ cuốn lưu bút trực tuyến của chín Nhà, đặt hai cái kế bên nhau và yêu cầu người dùng chọn ai là người là "hot" nhất". Trang này nhanh chóng được chuyển đến vài máy chủ danh sách của nhóm campus nhưng bị những người quản lý Harvard tắt vài ngày sau đó. Zuckerberg bị ban quản lý phạt vì vi phạm an ninh, xâm phạm bản quyền và xâm phạm quyền tự do cá nhân và phải đối mặt với việc đuổi học, nhưng sau đó đã được hủy bỏ các cáo buộc. Học kỳ tiếp theo, Zuckerberg thành lập "The Facebook", ban đầu đặt tại thefacebook.com, vào ngày 4 tháng 2 năm 2004.
"Mọi người đã nói nhiều về một cuốn sách đăng ảnh trong Harvard", Zuckerberg nói với The Harvard Crimson. "Tôi cho rằng hơi bị ngu xuẩn khi trường đã phải mất vài năm để bỏ nó. Tôi có thể làm tốt hơn những gì họ có thể, và tôi có thể làm nó trong vòng một tuần".
Việc đăng ký thành viên ban đầu giới hạn trong những sinh viên của Đại học Harvard, và trong vòng một tháng đầu tiên, hơn một nửa số sinh viên đại học tại Harvard đã đăng ký dịch vụ này. Eduardo Saverin (lĩnh vực kinh doanh), Dustin Moskovitz (lập trình viên), Andrew McCollum (nghệ sĩ đồ họa), và Chris Hughes nhanh chóng tham gia cùng với Zuckerberg để giúp quảng bá website. Vào tháng 3 năm 2004, Facebook mở rộng sang Stanford, Columbia, và Yale. Việc mở rộng tiếp tục khi nó mở cửa cho tất cả các trường thuộc Ivy League và khu vực Boston, rồi nhanh chóng đến hầu hết đại học ở Canada và Hoa Kỳ. Vào tháng 6 năm 2004, Facebook chuyển cơ sở điều hành đến Palo Alto, California. Công ty đã bỏ chữ The ra khỏi tên sau khi mua được tên miền facebook.com vào năm 2005 với giá 200.000 USD.
Facebook ra mắt phiên bản trung học vào tháng 9 năm 2005, Zuckerberg gọi nó là một bước logic tiếp theo. Vào thời gian đó, các mạng của trường trung học bắt buộc phải được mời mới được gia nhập. Facebook sau đó mở rộng quyền đăng ký thành viên cho nhân viên của một vài công ty, trong đó có Apple Inc. và Microsoft Corp.. Tiếp đó vào ngày 26 tháng 9 năm 2006, Facebook mở cửa cho mọi người trên 13 tuổi với một địa chỉ email hợp lệ.
Ngày 24 tháng 10 năm 2007, Microsoft thông báo đã mua được 1,6% cổ phần (240 triệu $) của Facebook, nâng giá trị tài sản của Facebook lên khoảng 15 tỷ $. Microsoft cũng mua bản quyền cho phép đặt các quảng cáo quốc tế của công ty lên Facebook. Tháng 10 2008, Facebook tuyên bố nó đã thiết lập một trụ sở quốc tế tại Dublin, Ireland. Tháng 9 năm 2009, Facebook tuyên bố lần đầu tiên công ty đã đạt lợi nhuận. Tháng 11 năm 2010, dựa trên thống kê của SecondMarket Inc., một sàn giao dịch chứng khoán của các công ty tư nhân, tổng tài sản của Facebook là 41 tỷ $ (vượt qua một chút so với eBay) và trở thành công ty dịch vụ web lớn thứ ba ở Hoa Kỳ sau Google và Amazon. Có khả năng Facebook sẽ phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu IPO vào 2013.
Lượng người truy cập Facebook tăng ổn định từ 2009. Trong ngày 13 tháng 3 năm 2010 số người truy cập Facebook đã vượt qua lượng người truy cập vào Google.
Năm 2010, Microsoft và Facebook đã ký kết một hợp đồng quảng cáo lớn sau thời gian thương thuyết rất dài. Trong khoảng thời gian đó, Steve Ballmer (CEO của Microsoft lúc đó không ít lần muốn ngỏ ý mua lại Facebook với giá khủng 15 tỷ USD nhưng Mark Zuckerberg đã từ chối).
Vào ngày 09 tháng 04 năm 2012, Facebook mua lại Instagram với giá 1 tỉ USD, bao gồm cả tiền mặt lẫn cổ phiếu. Vào ngày 5 tháng 10 năm 2012 Facebook đạt 1 tỷ người dùng. Vào ngày 14 tháng 02 năm 2014, Facebook mua lại Whatsapp với giá 16 tỉ USD, được thanh toán bằng 12 tỷ USD cổ phiếu Facebook, 4 tỷ USD tiền mặt và thêm 3 tỷ USD cổ phiếu hạn chế chuyển nhượng dành cho các sáng lập viên WhatsApp cũng như nhân viên trong vòng 4 năm tới..
== Ứng dụng liên hệ với Facebook ==
Facebook Messenger
Instagram (6tag trên Windows Phone)
== Công ty ==
Phần lớn doanh thu của Facebook đến từ quảng cáo. Microsoft là một đối tác đặc biệt của Facebook về các dịch vụ banner quảng cáo, và Facebook chỉ đăng các quảng cáo thuộc mạng lưới quảng cáo của Microsoft. Theo comScore, một công ty nghiên cứu thị trường internet, Facebook thu thập rất nhiều dữ liệu từ những người viếng thăm tương đương như Google và Microsoft, nhưng ít hơn so với Yahoo!. Năm 2010, đội an ninh mạng của công ty đã bắt đầu mở rộng các nỗ lực nhằm ngăn chặn những nguy hiểm và phá hoại từ phía người sử dụng. Ngày 6 tháng 11 năm 2007, Facebook triển khai Facebook Beacon nhằm ngăn chặn những cố gắng quảng cáo đến bạn bè của các thành viên nhờ sử dụng những thông tin cá nhân của thành viên đó.
Facebook nói chung có tỉ lệ nhấp chuột (clickthrough rate) (CTR) vào các nội dung quảng cáo nhỏ so với nhiều website lớn. Đối với các banner quảng cáo, CTR của banner chỉ bằng một phần năm so với CTR của toàn bộ các nội dung (đường link) trên FB. Điều này có nghĩa là tỉ lệ người dùng FB nhấp chuột vào nội dung quảng cáo nhỏ hơn so với các website lớn khác. Ví dụ, trong khi số người click vào quảng cáo đầu tiên cho kết quả tìm được trên Google trung bình là 8% thời gian (80.000 click cho 1 triệu tìm kiếm), thì người dùng Facebook click vào quảng cáo trung bình 0,04% thời gian (400 click cho 1 triệu trang).
Sarah Smith, giám đốc hoạt động bán hàng trực tuyến của Facebook, xác nhận rằng các chiến dịch quảng cáo thành công trên FB có tỉ lệ nhấp chuột CTR là 0,05% tới 0,04%, và rằng CTR cho các quảng cáo có xu hướng giảm xuống trong vòng hai tuần. So với CTR của mạng xã hội MySpace, tỉ lệ này là 0,1%, cao hơn 2,5 lần của Facebook nhưng vẫn thấp hơn so với nhiều website. Giá trị CTR của Facebook khá thấp có thể giải thích do FB bao gồm những thành viên là những người hiểu biết về công nghệ hơn và họ sử dụng các phần mềm chặn quảng cáo để ẩn đi những quảng cáo trên FB, có nhiều thành viên trẻ tuổi hơn tham gia FB do vậy họ cũng bỏ qua những thông tin quảng cáo; và trên Myspace, các thành viên dành nhiều thời gian để duyệt nội dung trong khi trên Facebook các thành viên lại sử dụng nhiều thời gian để trao đổi với bạn bè và do vậy họ bỏ qua sự chú ý tới nội dung quảng cáo.
Bản mẫu:Facebook revenue Trên các trang cho các thương hiệu và sản phẩm, tuy nhiên, một số công ty đã báo cáo CTR cao tới 6,49% cho bài viết ở Wall (một tính năng của Facebook). Involver, một nền tảng tiếp thị xã hội, công bố vào tháng 7 năm 2008 rằng nó quản lý để đạt được CTR là 0,7% trên Facebook (hơn 10 lần so với kết quả CTR từ các chiến dịch quảng cáo tiêu biểu trên Facebook) cho khách hàng đầu tiên của Involver, công ty phần mềm Serena, quản lý để chuyển đổi 1.100.000 lượt xem vào 8.000 khách truy cập vào trang web của họ. Một nghiên cứu cho thấy rằng đối với quảng cáo video trên Facebook, kết quả là đối với những người sử dụng đã xem những video này thì hơn 40% họ xem chúng toàn bộ, trong khi trung bình ngành công nghiệp là 25% đối với quảng cáo video trong banner.
Facebook có hơn 1.750 nhân viên và cộng tác viên ở 12 nước. Về quyền sở hữu Facebook, Mark Zuckerberg sở hữu 24% công ty, Accel Partners là 10%, Digital Sky Technologies là 10%, Dustin Moskovitz sơ hữu 6%, Eduardo Saverin là 5%, Sean Parker là 4%, Peter Thiel là 3%, Greylock Partners và Meritech Capital Partners mỗi bên sở hữu 1 tới 2%, Microsoft sở hữu 1,3%, Lý Gia Thành sở hữu 0,75%,Interpublic Group sở hữu ít hơn 0,5%, một nhóm nhỏ các nhân viên hiện tại và cựu nhân viên cũng như nhân vật nổi tiếng sở hữu ít hơn 1%, bao gồm Matt Cohler, Jeff Rothschild, thượng nghị sĩ bang California Barbara Boxer, Chris Hughes, và Owen Van Natta; Reid Hoffman và Mark Pincus có cổ phần khá lớn trong công ty, và 30% còn lại hoặc do nhân viên sở hữu, hoặc do những người muốn giấu tên hoặc từ những nhà đầu tư bên ngoài. Adam D'Angelo, giám đốc công nghệ và bạn của Zuckerberg, đã rút khỏi công ty vào tháng 5 năm 2008. Báo chí cho rằng ông và Zuckerberg đã tranh cãi, và rằng Adam không còn quan tâm đến việc sở hữu cổ phần công ty nữa.
== Website ==
Thành viên đã đăng ký có thể tạo hồ sơ với các hình ảnh, danh sách sở thích cá nhân, thông tin liên lạc, và những thông tin cá nhân khác. Người dùng có thể trao đổi với bạn bè và những người khác thông qua tin nhắn cá nhân hoặc công cộng và tính năng chat của Facebook. Họ cũng có thể tạo và gia nhập nhóm ưa thích hay "trang yêu thích" (trước đây gọi là "trang các fans", cho đến tận 19 tháng4, 2010), một số trang được duy trì bởi các tổ chức và có banner quảng cáo.
Để xoa dịu những lo ngại về sự riêng tư, Facebook cho phép người dùng lựa chọn cài đặt bảo mật của riêng mình và lựa chọn những người có thể nhìn thấy phần cụ thể của tiểu sử của họ. Website là miễn phí đăng nhập, và nó phát sinh lợi nhuận từ quảng cáo, chẳng hạn thông qua banner quảng cáo. Facebook đòi hỏi tên thành viên và hình ảnh (nếu có) để mọi người có thể đăng nhập vào trang web. Người dùng có thể kiểm soát những ai nhìn thấy các thông tin mà họ đã chia sẻ, cũng như những người có thể tìm thấy chúng trong tìm kiếm, thông qua các thiết lập bảo mật của họ.
Các phương tiện truyền thông thường so sánh Facebook với MySpace, nhưng có một ý nghĩa khác biệt giữa hai trang web là mức độ tuỳ biến. Một khác biệt nữa là sự yêu cầu của Facebook rằng người dùng sử dụng danh tính thực sự của họ, một đòi hỏi mà không có ở MySpace. MySpace cho phép người dùng trang trí hồ sơ của họ bằng cách sử dụng HTML và Cascading Style Sheets (CSS), trong khi Facebook chỉ cho phép bằng văn bản (plain text). Facebook có một số tính năng mà người dùng có thể tương tác. Chúng bao gồm Wall, một không gian trên trang hồ sơ của mỗi thành viên cho phép bạn bè họ đăng các tin nhắn cho thành viên để xem; Pokes(cú hích), cho phép người dùng gửi một "cái hích" ảo với nhau (một thông báo cho thành viên là họ đã bị chọc); Hình ảnh, nơi người dùng có thể upload album và hình ảnh; và Trạng thái, cho phép thành viên thông báo cho bạn bè họ đang ở đâu và làm gì. Tùy thuộc vào cài đặt riêng tư, bất cứ ai có thể xem hồ sơ của người dùng cũng có thể xem tính năng Wall của người dùng đó. Tháng 7 năm 2007, Facebook bắt đầu cho phép người dùng gửi file đính kèm với Wall, trong khi trước đây Wall chỉ giới hạn nội dung văn bản.
Theo thời gian, Facebook đã thêm các tính năng mới vào website. Ngày 6 tháng 9 năm 2006, tính năng News Feed được ra, nó xuất hiện trên trang chủ của thành viên sử dụng và làm nổi bật thông tin bao gồm thay đổi hồ sơ, các sự kiện sắp tới, và ngày sinh nhật của bạn bè của thành viên đó. Điều này cho phép những người gửi thư rác (spammer) và người dùng khác thao tác với những tính năng này bằng cách tạo ra sự kiện bất hợp pháp hoặc đăng ngày sinh nhật giả để thu hút sự chú ý đến hồ sơ của họ. Ban đầu, News Feed không làm hài lòng đối với những người sử dụng Facebook; một số người phàn nàn là nó quá lộn xộn và đầy những thông tin không mong muốn, trong khi những người khác đề cập đến nó quá dễ dàng cho những người khác có thể theo dõi các hoạt động cá nhân của họ (chẳng hạn như thay đổi tình trạng quan hệ, sự kiện, và các cuộc hội thoại với thành viên khác).
Để đáp lại, Zuckerberg đã đưa ra một lời xin lỗi cho lỗ hổng của trang web và đưa vào các tính năng bảo mật thích hợp tùy biến được. Kể từ đó, người dùng đã có thể kiểm soát những loại thông tin được chia sẻ một cách tự động với bạn bè. Thành viên FB hiện nay có thể ngăn chặn những người trong danh sách bạn bè mà thành viên đó không muốn họ nhìn thấy thông tin cập nhật về một số loại hoạt động, bao gồm thay đổi hồ sơ, bài trên Wall, và bạn bè mới thêm vào.
Ngày 23 tháng 2 năm 2010, Facebook được cấp bằng sáng chế US patent 7669123 về những khía cạnh của News Feed. Bằng sáng chế bảo vệ News Feeds trong đó các liên kết được cung cấp để một người dùng có thể tham gia vào các hoạt động tương tự của một người dùng khác. Bằng sáng chế có thể khuyến khích Facebook theo đuổi hành động chống lại các trang web vi phạm bằng sáng chế của họ, mà có khả năng có thể bao gồm các trang web như Twitter.
Một trong những ứng dụng phổ biến nhất trên Facebook là ứng dụng Hình ảnh (Photos), nơi thành viên có thể upload album và hình ảnh. Facebook cho phép người dùng tải lên không giới hạn số hình ảnh, so với các dịch vụ lưu trữ hình ảnh khác như Photobucket và Flickr, trong đó áp dụng giới hạn số lượng các bức ảnh mà người dùng được phép tải lên. Trong những năm đầu tiên, người dùng Facebook được giới hạn đến 60 hình ảnh cho mỗi album. Tính đến tháng 5 năm 2009, giới hạn này đã được tăng lên đến 200 bức ảnh mỗi album.
Các thiết lập bảo mật có thể được đặt cho các album cá nhân, hạn chế các nhóm người sử dụng có thể xem một album. Ví dụ, tính riêng tư của một album có thể được thiết lập để chỉ những bạn bè của thành viên có thể xem album, trong khi tính riêng tư của album khác có thể được thiết lập để tất cả người dùng Facebook có thể nhìn thấy nó. Một tính năng của ứng dụng hình ảnh là khả năng "tag", hay đánh nhãn một thành viên trong một bức ảnh. Ví dụ, nếu một bức ảnh có một người bạn của thành viên, sau đó thành viên này có thể "tag" người bạn trong bức ảnh. Điều này sẽ gửi một thông báo cho người bạn rằng họ đã được gắn thẻ, và cung cấp cho họ một liên kết để xem bức ảnh.
Facebook Notes được giới thiệu vào ngày 22 tháng 8 năm 2006, một tính năng viết blog cho phép nhúng các thẻ và hình ảnh. Thành viên sau đó có thể nhập blog từ Xanga, LiveJournal, Blogger, và các dịch vụ blog khác. Trong tuần lễ từ ngày 7 tháng 4 năm 2008, Facebook đưa ra ứng dụng nhắn tin tức thời dựa trên ngôn ngữ lập trình Comet gọi là "Chat" cho một vài mạng, cho phép người dùng giao tiếp với bạn bè và nó có chức năng tương tự ứng dụng tin nhắn tức thời của máy tính để bàn.
Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Facebook ra mắt tính năng Quà tặng, cho phép người dùng gửi quà tặng ảo cho bạn bè của họ xuất hiện trên hồ sơ của người nhận. Mỗi quà tặng chi phí 1,00 $ để mua hàng, và một tin nhắn cá nhân hoá có thể được đính kèm với từng món quà. Ngày 14 tháng 5 năm 2007, Facebook khai trương Marketplace, cho phép người sử dụng đăng quảng cáo miễn phí có tính phân loại. Marketplace đã từng được so sánh với Craigslist bởi CNET, trong đó chỉ ra rằng sự khác biệt lớn giữa hai tính năng là danh sách được đăng bởi một người sử dụng trên Marketplace chỉ nhìn thấy bởi những người dùng đang ở trong cùng một mạng với người dùng đó, trong khi danh sách được đăng trên Craigslist có thể được xem bởi bất cứ ai.
Ngày 20 tháng 7 năm 2008, Facebook giới thiệu "Facebook Beta", một thiết kế lại đáng kể giao diện người dùng trên các mạng đã chọn. Tính năng Mini-Feed và Wall được hợp nhất, hồ sơ đã được tách thành nhiều phần theo thẻ, và một nỗ lực đã được thực hiện để tạo ra một cái nhìn "sạch". Sau khi ban đầu cho người dùng một sự lựa chọn để chuyển đổi, Facebook đã bắt đầu di chuyển tất cả thành viên vào phiên bản mới trong tháng 9 năm 2008. Ngày 11 tháng 12 năm 2008, người ta thông báo rằng Facebook đã thử nghiệm một quá trình đăng ký đơn giản hơn.
Ngày 13 tháng 6 năm 2009, Facebook đã giới thiệu tính năng "Tên người dùng" (Usernames), nhờ đó mà các trang có thể được liên kết với URL đơn giản hơn như http://www.facebook.com/facebook so với http://www.facebook.com/profile.php?id=20531316728. Nhiều điện thoại thông minh mới cung cấp truy cập vào các dịch vụ của Facebook hoặc thông qua trình duyệt web hoặc các ứng dụng của điện thoại. Ứng dụng Facebook chính thức có sẵn cho hệ điều hành iPhone, hệ điều hành Android, và WebOS. Nokia và Research In Motion đều cung cấp ứng dụng Facebook cho các dòng di động của họ. Hơn 150 triệu người dùng truy cập vào Facebook thông qua thiết bị di động trên 200 nhà khai thác dịch vụ di động ở 60 quốc gia.
Facebook đưa ra dịch vụ "Facebook Messages" mới vào ngày 15 tháng 11 năm 2010. Trong sự kiện truyền thông ngày hôm đó, Giám đốc điều hành Mark Zuckerberg cho biết, "Sự thật là mọi người sẽ có thể có địa chỉ email an@facebook.com, nhưng nó không phải email." Việc ra mắt tính năng như vậy đã được dự đoán trước khi công bố nó, với một số người gọi nó là "sát thủ của Gmail." Hệ thống này có sẵn cho tất cả người sử dụng trang web, kết hợp tin nhắn văn bản, tin nhắn tức thời, email, và tin nhắn thông thường, và sẽ bao gồm các thiết lập bảo mật tương tự như của các dịch vụ khác của Facebook. Với mã hiện "Project Titan," Facebook Messages mất 15 tháng để phát triển.
== Xem thêm ==
Blog
Yahoo 360
MySpace
Windows Live Space
Kiểm duyệt Internet tại Việt Nam
Skype
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang của Facebook
Ảnh trụ sở FACEBOOK |
bóng mềm.txt | Bóng mềm là một biến thể của bóng chày được chơi với bóng to hơn trên sân nhỏ hơn. Được phát minh năm 1887 ở Chicago, bóng mềm còn được gọi là bóng chày trong nhà, bóng chày nữ. Tên bóng mềm được ấn định năm 1926. Có hai lối chơi là chậm (slow pitch) và nhanh (fast pitch). Mỗi lần chơi hai đội, mỗi đội chín đến mười người. Tuy tên bóng mềm nhưng bóng lại không mềm.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
ASA Softball
NCAA Softball
NPF Softball
Softball Injury Protection ortho.ufl.edu |
họ cói.txt | Họ Cói (danh pháp khoa học: Cyperaceae) là một họ thực vật thuộc lớp thực vật một lá mầm. Đây là họ lớn trong bộ Hòa thảo (Poales) với khoảng 70-98 chi và khoảng 4.000-4.350 loài. Họ này phân bố rộng khắp thế giới, với trung tâm đa dạng là miền nhiệt đới châu Á và Nam Mỹ. Cói, lác phát triển tốt trong mọi điều kiện, nhiều loài có thể như các nơi đầm lầy, đất ít dinh dưỡng, các vùng đất ướt, vùng đất phù sa bồi lấp gần các cửa sông ven biển..
Họ này mặc dù đa số là cỏ dại nhưng vẫn hiện diện một số loài có ích cho đời sống con người: được dùng làm cảnh như cây cói giấy (Cyperus papyrus). Ở Việt Nam các cây cói bông trắng (Cyperus tegetiformis) hay lác voi được dùng để đan chiếu, làm dây.., củ năng (Eleocharis dulcis thứ tuberosa) ăn được, cỏ cú (Cyperus rotundus) để làm thuốc.
== Đặc điểm chung ==
Thân thảo, thường mọc lan thành đám rộng, có căn hành. Phần thân trên không có hình tam giác, đặc bên trong, không có đốt.
Lá thường tam đứng (tại một điểm có ba lá). Lá dạng phiến, hẹp, dài, có bẹ, không có thìa.
Rễ đôi khi phù to tạo thành củ.
Phác hoa dạng gié, nhiều gié tụ tập tạo thành chùm hay tụ tán.
Ở chi Carex (kiết, cói túi), các gié hoa đực tạo thành gié đơn và hoa nằm trên trục gié, nách lá bắc. Hoa cái là hoa trần, không có bao hoa, không có tiền điệp, không còn dấu vết của nhụy đực.
Ở một vài chi như Cyperus, có hai lá bắc ở gốc gié hoa không mang hoa. Các lá bắc phía trên có mang hoa.
Hoa lưỡng tính hay đơn tính, không có tiền diệp.
Quả là dạng quả bế (quả mà khi khô vỏ không tự tách ra).
== Phân loại ==
Theo APG II, họ này có thể được chia ra thành 2 nhóm gọi là Mapanioideae và Cyperoideae. Nhóm thứ nhất chứa 6 chi và khoảng 140 loài (chi Mapania khoảng 80 loài, chi Hypolytrum khoảng 50 loài), chủ yếu sống trong vùng nhiệt đới. Nhóm thứ hai chứa 92 chi với 4.210 loài (các chi đa dạng nhất có Carex với 1.776 loài, Cyperus với 300 loài, Fimbristylis với 250 loài, Rhynchospora với 250 loài, Scirpus với 200 loài, Scleria với 200 loài, Eleocharis với 120 loài, Bulbostylis với 100 loài, Schoenus với 100 loài, Isolepis với 70 loài), phân bố rộng khắp thế giới.
== Các chi ==
Dưới đây liệt kê 102 danh pháp cho các chi hiện tại được APG cho là hợp lệ (bao gồm cả đồng nghĩa).
== Phát sinh chủng loài ==
Cây phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo APG III.
== Việt Nam ==
Họ Cói có 28 chi với gần 400 loài ở Việt Nam, chiếm một phần khá nhiều trong các loại cỏ thường gặp, việc phân biệt các loài này có nhiều khó khăn bởi vì chúng rất giống nhau, các tài liệu mô tả cũng không đồng nhất.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Interactive Key to Carex
Danh sách các loài thuộc Chi Cói |
con nghê.txt | Nghê (hay ngao) là một động vật thần thoại trong văn hóa Việt Nam, là biến thể từ sư tử và chó dữ, thường được dùng làm linh vật trước cổng đình chùa, đền miếu Việt Nam.
== Những giả thuyết hình thành ==
Trong đời sống của người dân Việt cổ, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cày ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Chó đã có mặt rất nhiều trong các câu ca dao, thành ngữ. Chó là người bạn với người đàn ông trong các cuộc đi săn, là người đày tớ trung thành trong việc giữ nhà. Trong đời sống tinh thần, ông cha xưa cần một linh vật để trấn yểm, chống lại các thế lực hắc ám như tà ma ác quỷ. Chó đá được dựng lên là vì thế. Từ hình ảnh một con vật có thật (chó), qua sáng tạo và sự thổi hồn nó trở thành một con vật thiêng mà gần gũi: Ngao đá- Nghê đá...
Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con Ngao đá lớn để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có Ngao đá, và trước cổng mỗi nhà thường có chó đá nhỏ bé ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này có đẳng cấp, thân phận khác nhau ở sự thay đổi về hình dáng bên ngoài. Chó đá nhà quan quyền quý đeo chuông lục lạc, trang trí hoa văn, thắt dải yếm. Chó đá nhà bình dân thấp nhỏ, trước ngực không đeo chuông mà có một lỗ vuông làm chốt cái cửa, thân mình đẽo gọt đơn giản. Chó đá cao khoảng từ 0,25m tới 1m, bao giờ cũng trong tư thế ngồi trầm tư canh giữ. (Truyện cổ cũng thường nhắc đến chó đá, như chuyện, chuyện - Xin đọc:)
Trước cổng lăng mộ đền thờ điện thờ ở các đình chùa, đền miếu, chó đá được chạm khắc trang trí với những chi tiết đường bệ, oai vệ nhưng rất gần gũi. Lâu dần nó trở thành vật linh nên được gọi là con nghê.
== Hiện vật hình con nghê ==
=== Các cổ vật có hình con nghê của Bảo tàng Guimet (Paris) ===
1. Chân đèn có tượng Nghê, với ký hiệu cho biết được chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng.
2. Đĩa vẽ hình Nghê, được sản xuất cho thị trường Trung Đông và những nước theo Hồi giáo.
=== Các hiện vật hình con nghê của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) ===
1. Đỉnh có nắp, men trắng xám rạn. Triều Lê Trung Hưng, tháng 4 năm Vĩnh Hựu 2 (1736). Đỉnh có nắp hình vòm, chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, xung quanh trổ thủng bát quái, gờ miệng phẳng, thân phình, 3 chân thú chạm nổi hổ phù, 2 quai hình rồng. Trang trí nổi các băng văn dây lá lật, hồi văn chữ T, lá đề và rồng trong mây. Minh văn khắc dưới đế. Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi nhị, tứ nguyệt nhật cung tác). Men rạn trắng xám.
2. Nậm rượu, men nhiều màu. Triều Mạc – Lê Trung Hưng, thế kỷ 16 – 17. Nậm có cổ cao hình trụ, miệng đứng, thân chia 6 múi nổi hình cánh hoa, chạm nổi hình Nghê và hoa, viền đế tô nâu. Men trắng ngà và xanh rêu.
3. Tượng Nghê, men trắng ngà và xanh rêu. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 17. Tượng Nghê trên bệ chữ nhật, tư thế ngồi chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau khuỵu gập lại, đầu ngẩng, cổ đeo chuỗi nhạc nổi. Xung quanh thân và chân chạm mây. Ðế chữ nhật chạm mây, hoa sen và hồi văn. Men trắng ngà và xanh rêu.
4. Hũ có nắp, men rạn và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802–1819). Nắp hũ hình vòm có chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, vẽ mây xung quanh. Hũ có gờ miệng uốn, cổ ngắn, vai phình, thân cao, đế rộng. Vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng tròn. Vẽ lam đề tài phong cảnh sơn thuỷ, nhà cửa, cây lá, người đội ô, người chèo thuyền. Minh văn viết bằng men lam dưới đế. "Gia Long niên chế" (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long).
5. Hũ có nắp, men nâu trắng và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802–1819). Nắp có chỏm hình Nghê vờn ngọc, vẽ hoa lá men lam. Hũ có gờ miệng phẳng, cổ ngắn, vai phình, đáy lõm. Trên vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng. Xung quanh thân vẽ lam tiêu – tượng, mã – liễu, tùng – lộc. Minh văn viết 4 chữ. "Gia Long niên tạo" (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). Men nâu, trắng và lam.
6. Đài thờ có nắp, men rạn, ngà. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 18. Đài thờ có 2 phần, miệng hình ô van, nắp trang trí nổi núm hình Nghê, băng lá lật, mai – trúc – cúc – tùng, chữ "vạn", hổ phù. Men rạn ngà.
7. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê đứng trên bệ chữ nhật, quanh thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.
8. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê quỳ trên bệ chữ nhật, đuôi xoắn, thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.
Tham khảo
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Con Nghê - Một biểu tượng tạo hình thuần Việt
Trần Hậu Yên Thế: Nghê thuần Việt đi suốt chiều dài lịch sử
Nghê gốm thế kỷ XIII-XIV
Mẫu linh vật của Việt Nam, VnExpress, 19/8/2014 |
duy mạnh.txt | Duy Mạnh (sinh năm 1975) tại Hải Phòng, là một ca sĩ và nhạc sĩ tại Việt Nam. Anh từng học tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh khoa Piano.
Duy Mạnh thành công sau các bài hát do chính anh sáng tác như: Hãy về đây bên anh, Kiếp đỏ đen, Ta đâu có say, Tình em là đại dương, Biết tìm đâu, Dĩ vãng cuộc tình, Lời xin lỗi của một dân chơi.
== Album đã phát hành ==
Tình Em Là Đại Dương (2005) - Vol 1
Lời Sám Hối (2006) - Vol 2
Dĩ vãng Cuộc Tình (2006) - Vol 3
Em Còn Yêu Tôi Không - Kẻ Hoàn Lương (2006) - Vol 4
Nước Mắt Kẻ Đa Tình (2007) - Vol 5
Bài Hát Cho Người Thủy Thủ (2008) - Vol 6
Trái Tim Khóc (2009) - Vol 7
Còn Mãi Đam Mê (2010) - Vol 8
Mãi Chỉ Là Người Tình (2011) - Vol 9
Kẻ Thất Tình (2012) - Vol 10
Một Gã Say Si Tình (2014) - Vol 11
Lời Xin Lỗi Của Một Dân Chơi (2015) - Vol 12
Việt Nam Miền Đất Tôi Yêu (2016) - Vol 13
Một điểm đáng chú ý album Tình Em Là Đại Dương bán chạy nhất khi ra mắt qua 3 lần tái bản số lượng tiêu thụ 20.000 bản.
== Sáng tác ==
Anh Đã Yêu Em
Anh Mong Em Sẽ Có Một Hạnh Phúc
Anh Mong Được Bên Em
Anh Nhớ Em Vô Cùng
Anh Sẽ Cố Gắng Hơn
Anh Sẽ Bước Đi Cùng Em
Anh Vẫn Yêu Em
Bài Hát Cho Người Thủy Thủ
Biết Làm Sao Quên
Biết Tìm Đâu
Bóng Trăng Đang Dần Trôi
Buồn Tả Tơi
Cám Ơn Em Về Những Ngày Hôm Qua
Chỉ Còn Ánh Mắt
Chỉ Một Lần Em Đến
Con Sẽ Không Quên
Còn Gì Đâu Em
Còn Mãi Đam Mê
Cuộc Tình Đã Qua
Cũng Hết Tin Em Rồi
Dạo Phố
Dĩ vãng Cuộc Tình
Dối Trá
Dòng Sông Mùa Đông
Dù Ta Biết Không Còn Nhau
Dù Tình Phôi Pha
Để Ngày Mai Lại Thấy Có Em
Đêm Buồn
Đêm Lang Thang
Đêm Nguyện Cầu
Điều Anh Muốn Nói
Đón Xuân Trong Tình Yêu
Đời Ai Biết Trước
Đợi Em
Đời Thua Bạc
Đừng Vội Tin Lời Ong Bướm
Đừng Yêu Vì Tiền
Đường Về Hai Lối
Em
Em Còn Yêu Tôi Không
Em Sẽ Đến Bên Anh
Giấc Mơ Bên Anh
Giây Phút Chia Xa
Giây Phút Chia Xa 2
Giọt Nước Mắt Vô Vọng
Giọt Tình Cay Đắng
Hạnh Phúc
Hạnh Phúc Khi Ta Mỉm Cười
Hãy Nhìn Lại Mình Đi
Hãy Quên
Hãy Về Đây Bên Anh
Hãy Yêu Tôi Đi
Hết Yêu Hãy Nói Với Nhau Một Lời
Hình Bóng Em Còn Trong Tôi
Kẻ Tham Tiền
Kẻ Thất Tình
Kiếp Ăn Chơi
Kiếp Bán Độ
Kiếp Đỏ Đen
Khóc Cho Người Đi
Lẽ Tại Sao
Lời Của Trái Tim
Lời Hẹn Người Đã Quên
Lời ru Của Cha
Lời Sám Hối Của Kẻ Hấp Hối
Lời Sám Hối Của Kẻ Hoàn Lương
Lời Xin Lỗi Của Một Dân Chơi
Mãi Chỉ La Người Tình
Mong Đời Thứ Lỗi
Mong Manh
Mong Một Lần Tạ Lỗi Với Em
Mong Ngày Gặp Lại
Mong Sao Người Đừng Ra Đi
Một Lần Vui Bên Nhau
Mùa Đông Xứ Lạ
Những sáng tác của Duy Mạnh hầu hết viết về tình yêu nam nữ và tệ nạn xã hội chủ yếu như: Biết tìm đâu, Dĩ vãng cuộc tình, Giây phút chia xa, Kiếp đỏ đen, Kiếp bán độ, Lời xin lỗi của dân chơi, Mãi mãi chỉ là người tình,...
== Đời tư ==
Vợ Duy Mạnh tên là Huyền Cầm sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng. Cô lấy Duy Mạnh ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học. Hai người đã có 2 con, 1 trai 1 gái.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
tháng hai.txt | Tháng hai là tháng thứ hai và tháng có ít ngày nhất theo lịch Gregorius: 28 ngày hoặc 29 ngày (năm nhuận).
== Những sự kiện trong tháng 2 ==
Ngày Valentine (ngày 14 tháng 2).
Quốc khánh Kuwait (ngày 25 tháng 2)
Ngày thầy thuốc Việt Nam (ngày 27 tháng 2)
== Xem thêm ==
Những ngày kỷ niệm
== Tham khảo == |
giao diện người dùng.txt | Tương tác người-máy hay giao tiếp người-máy là một phân ngành của công nghệ thông tin nghiên cứu về tương tác giữa người sử dụng và máy tính. Đây là một bộ môn liên ngành giữa khoa học máy tính và các lĩnh vực khác. Tương tác giữa người và máy thực hiện thông qua giao diện người dùng bao gồm phần cứng (v.d. các thiết bị xuất và nhập) và phần mềm (v.d. thông tin chuyển đến người dùng thế nào và ra làm sao). Người sử dụng truyền đến máy tính câu hỏi, mục tiêu hay yêu cầu thực của mình. Trong khi đó, máy tính chuyển ngược trở lại người sử dụng thông tin về trạng thái của máy tính, trả lời cho những câu hỏi người sử dụng đặt ra hay đáp ứng yêu cầu của người sử dụng.
== Tham khảo == |
giọng hát việt nhí (mùa 1).txt | Giọng hát Việt nhí (mùa 1) là cuộc thi ca hát tương tác truyền hình thực tế, bắt đầu từ ngày 2 tháng 2 năm 2013 trên sóng VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam. Chương trình được mua bản quyền và sản xuất theo khuôn mẫu chương trình truyền hình Hà Lan The Voice Kids of Holland theo giấy phép độc quyền của Talpa dành cho các bạn nhỏ trong độ tuổi từ 9 đến 15. Chương trình là sản phẩm phối hợp giữa Đài truyền hình Việt Nam và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đầu tư và Quảng cáo Cát Tiên Sa.
Vào ngày 2 tháng 2 năm 2013, bốn giám khảo cho mùa đầu tiên đã được chọn, gồm 3 đội (có 2 giám khảo 1 đội). Đó là Hồ Hoài Anh, Lưu Hương Giang, Thanh Bùi và Hiền Thục. Hồ Hoài Anh và Lưu Hương Giang là hai huấn luyện viên ở cùng một đội. Họ sẽ dẫn dắt một nhóm gồm 15 người.
Thí sinh Quang Anh giành giải quán quân của mùa thi, nhận được giải thưởng 500 triệu đồng Việt Nam và một hợp đồng thu âm với hãng ghi âm Universal Republic cùng nhiều giải thưởng phụ khác.
== Vòng Blind Audition (Giấu mặt) ==
Trong vòng giấu mặt, các huấn luyện viên sẽ tiến hành "tuyển quân" để tìm cho mình một đội 15 người. Các huấn luyện viên sẽ ngồi quay lưng lại với thí sinh và không được biết bất cứ thông tin gì của thí sinh trừ giọng hát. Khi họ thấy muốn "tuyển" thí sinh đó vào đội thì phải nhấn nút "TÔI CHỌN BẠN" trong khi phần thi của thí sinh chưa kết thúc. Nếu chỉ một huấn luyện viên quay lại, thí sinh sẽ về đội người đó. Nếu có nhiều huấn luyện viên quay lại, thí sinh được phép chọn lựa huấn luyện viên mình thích và huấn luyện viên cũng được phép dùng mọi cách để "chiêu mộ nhân tài" cho đội của mình. Huấn luyện viên đã đầy chỗ sẽ dừng tuyển trong khi các huấn luyện viên khác tiếp tục. Vòng giấu mặt kết thúc ngay khi tất cả các huấn luyện viên dừng tuyển vì đủ chỗ.
Vòng giấu mặt được phát sóng từ 02/02/2013 đến ngày 16/03/2013.
Chú thích
=== Tập 1 (02/02/2013) ===
=== Tập 2 (23/02/2013) ===
=== Tập 3 (02/03/2013) ===
=== Tập 4 (09/03/2013) ===
=== Tập 5 (16/03/2013) ===
== Vòng Battle (Đối đầu) ==
15 thí sinh trong mỗi đội sẽ được chia ra thành 5 trận đấu đối đầu, mỗi trận đối đầu có 3 đối thủ. Mỗi nhóm sẽ trình bày một ca khúc được tập luyện từ trước trên sân khấu dưới sự huấn luyện của huấn luyện viên chủ quản và cố vấn của huấn luyện viên đó. Sau khi lên sân khấu thể hiện xong bài hát đối đầu đã được tập luyện cùng huấn luyện viên và cố vấn, huấn luyện viên chủ quản sẽ xứng danh 1 thí sinh xuất sắc nhất trong 3 đối thủ của mỗi nhóm là người chiến thắng và có quyền đi tiếp vào vòng trong. Như vậy, sau khi vòng Đối đầu kết thúc, thì thà mỗi đội sẽ còn lại 5 thí sinh.
Chú thích
– Thắng đối đầu trực tiếp do được HLV chọn
– Thua đối đầu trực tiếp do không được HLV chọn
Danh sách cố vấn âm nhạc của các đội trong vòng đối đầu
=== Đội Thanh Bùi ===
=== Đội Hồ Hoài Anh & Lưu Hương Giang ===
=== Đội Hiền Thục ===
== Vòng Liveshow (Biểu diễn trực tiếp) ==
=== Liveshow 1 (13/04/2013) + Liveshow 2 (14/04/2013) ===
Ở hai liveshow này, mỗi thí sinh thể hiện một bài hát đơn ca trên sân khấu với 9 thí sinh ở liveshow 1 và 6 thí sinh của liveshow 2. Cổng bình chọn được mở cho cả 15 thí sinh sau khi liveshow 1 kết thúc. Khán giả có 2 tuần để bình chọn. Kết quả được công bố tại liveshow 3. 1 thí sinh được khán giải bình chọn nhiều nhất và 1 thí sinh do huấn luyện viên chọn sẽ đi tiếp vào liveshow 4. 3 thí sinh còn lại của mỗi đội sẽ phải biểu diễn một lần nữa trên sân khấu (hát sing off) và chỉ một thí sinh được lọt vào vòng tiếp theo.
=== Tập phát sóng đặc biệt (20/04/2013) ===
Sau đêm liveshow 2, chương trình đã phát sóng một tập đặc biệt. Đây không phải là một đêm thi mà là tập để khán giả có thể thấy được cuộc sống đời thường cũng như những tâm tư tình cảm, suy nghĩ và cảm xúc của các thí sinh lọt vào vòng hát trực tiếp.
=== Liveshow 3 (27/04/2013) ===
Sau khi công bố kết quả người được khán giả bình chọn nhiều nhất và người được huấn luyện viên chọn đi tiếp vào Liveshow 4 của mỗi đội ở đầu chương trình, 3 thí sinh còn lại của 3 đội (9 thí sinh tổng cộng) sẽ hát Sing-off để giành 1 chiếc vé cuối cùng của mỗi huấn luyện viên để bước tiếp vào Liveshow 4.
=== Liveshow 4 (28/04/2013) ===
3 thí sinh của mỗi đội (tổng cộng 9 thí sinh) vượt qua đêm liveshow 3 sẽ trình diễn ở liveshow 4 và trình diễn thêm một ca khúc nữa ở liveshow 5. Cuối đêm liveshow 5 sẽ công bố kết quả 1 người duy nhất trong 3 thành viên của mỗi đội lọt tiếp vào đêm thi chung kết năm nhờ tổng số phiếu bình chọn của khán giả và điểm thi của huấn luyện viên cộng lại (tổng số điểm huấn luyện viên cộng cho mỗi thí sinh phải bằng 100, ví dụ: 33 - 33 - 34, 40 - 30 - 30,...). Liveshow 4 là show không loại.
=== Liveshow 5 (04/05/2013) ===
Tại đêm Liveshow 5, các thí sinh sẽ trình bày thêm 1 bài hát nữa. Kết quả được đánh giá qua 2 bài hát ở Liveshow 4 và Liveshow 5 được xác định bởi tổng điểm % khán giả bình chọn cộng với % điểm huấn luyện viên cho mỗi thí sinh, thí sinh có tổng điểm cao nhất mỗi đội sẽ đi thẳng vào chung kết năm, hai thí sinh còn lại phải dừng cuộc chơi ở vòng bán kết.
=== Liveshow 6 (11/05/2013) ===
Mỗi đội có 1 thí sinh xuất sắc nhất trình diễn trong đêm chung kết năm với 3 phần thi: Hát đơn ca, hát song ca với Huấn luyện viên của mình, hát tốp ca với top 5 thí sinh cuối cùng của đội. Thí sinh chiến thắng là người nhận được bình chọn cao nhất từ phía khán giả và được vinh danh là Giọng hát Việt nhí mùa đầu tiên.
== Thứ tự bị loại ==
== Tham khảo == |
vườn quốc gia sundarbans.txt | Vườn quốc gia Sundarbans (tiếng Bengal: সুন্দরবন জাতীয় উদ্দ্যান) là một vườn quốc gia, khu bảo tồn hổ, khu dự trữ sinh quyển của Ấn Độ. Đây là một trong những khu rừng và rừng ngập mặn lớn nhất trên thế giới (140.000 ha), nằm trên vùng đồng bằng của sông Hằng, sông Brahmaputra và Meghna đổ ra vịnh Bengal, thuộc lãnh thổ của Ấn Độ và Bangladesh. Phần lớn của Sundarbans nằm ở Bangladesh (ở các phía Đông, Nam, Bắc) trong khi phần còn lại thuộc Tây Bengal, Ấn Độ) nằm ở phía Tây. Khu vực bao gồm một mạng lưới các kênh rạch, đảo nhỏ, bãi bùn với hệ thực vật rừng ngập mặn, là khu vực sinh thái điển hình có sự đa dạng sinh học cao và là một trong những khu vực lớn nhất về bảo tồn loài hổ Bengal cùng rất nhiều các loài các loài bò sát và động vật không xương sống như cá sấu nước mặn, trăn Ấn Độ cùng 260 loài chim. Hiện tại, vườn quốc gia Sundarbans được tuyên bố là vùng lõi của khu bảo tồn hổ Sundarbans trong năm 1973 và một khu bảo tồn động vật hoang dã vào năm 1977. Ngày 4 tháng 5 năm 1984, nó được công nhận là một vườn quốc gia.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sundarbans National Park Bangladesh
Official UNESCO website entry
UNESCO Periodic Report |
benjamin britten.txt | Benjamin Britten (1913-1976) là nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nghệ sĩ piano người Anh. Ông là nhà soạn nhạc thuộc thời kỳ Hiện đại. Ông có công với opera Anh khi là người phục hưng lại nền nghệ thuật này sau 200 năm kể từ sự ra đi của Henry Purcell và George Frideric Handel (sau sự ra đi của nhà soạn nhạc lớn này, nền opera Anh bị quên lãng suốt thời gian dài). Ngoài ra, Britten còn là nghệ sĩ piano, nhạc trưởng xuất sắc.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1913 tại Lowestoft, Benjamin Britten học nhạc tại trường Đại học Hoàng gia London. Năm 19 tuổi, Britten biểu diễn tác phẩm lớn cho dàn nhạc đầu tiên của mình, bản Sinfonietta. Trong khoảng thời gian từ năm 1935 đến năm 1939, ông chủ yếu sáng tác cho sân khấu, phim và đài phát thanh. Những năm 1939-1942, nhà soạn nhạc người Anh sống ở Mỹ, sau trở nước đinh cư tại Aldeburg. Ông trở thành một trong những người sáng lập Hôi opera thính phòng Anh (1947). Britten còn là người có những sáng kiến tổ chức những Liên hoan âm nhạc của nhiều thời đại tại nơi ông qua đời. Năm 1965, ông được trao giải thưởng mang tên Jean Sibelius. Ngoài sáng tác, ông còn nghiên cứu, cải biên dân ca Anh.
Ông qua đời ngày 4 tháng 12 năm 1976 tại Aldeburg.
== Phong cách sáng tác ==
Benjamin Britten là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc của thế kỷ XX. Ông là người kế tục những giá trị truyền thống hiện thực của âm nhạc.
== Các tác phẩm ==
Bẹnamin Britten đã sáng tác các vở opera Peter Grimes (1945), Lăng nhục Lucretia (1946), Albert Herring (1947), Billy Budd (1951), Gloriana (1953), Vặn đinh ốc (1954), Giấc mộng đêm hè (1960), Đứa con hoang toàng (1968), Owen Wingrave (1971), Cái chết ở Venice (1973); vở operetta Paul Bunyan (1941); vở ballet Ông hoàng của các ngôi chùa (1956); bản cantata Bản ballad về những anh hùng cho giọng tenor, hơp xướng và dàn nhạc, để tặng những chiến sĩ Binh đoàn Quốc tế chiến đấu chống phát xít tại Tây Ban Nha (1939); Giao hưởng mùa xuân cho đơn ca, hợp xướng và dàn nhạc (1949), Giao hưởng Requiem (1940); các bản overture Xây nhà (1967); 2 bản tứ tấu (1941, 1945); những tác phẩm dành cho piano, violin, viola, oboe và organ; những bản romance 7 sonnnets của Michelangelo (1940); những bản hơp xướng, nổi bật có bản Ballad cho hợp xướng trẻ em và dàn nhạc; 3 tuyển tập cải biên dân ca.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Vũ Tự Lân, Từ điển tác giả, tác phẩm âm nhạc phổ thông, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2007
Banfield, Stephen; Geoffrey Holden Block (2006). Jerome Kern. New Haven, Connecticut: Yale University Press. ISBN 0300138342.
Banks, Paul (2000). The Making of Peter Grimes: Essays and Studies. Woodbridge: Boydell Press. ISBN 0851157912.
Begbie, Jeremy; Steven R Guthrie (2011). Resonant Witness: Conversations between Music and Theology. Grand Rapids, Michigan: W B Eerdmans. ISBN 0802862772.
Bridcut, John (2006). Britten's Children. London: Faber and Faber. ISBN 0571228399.
Brett, Philip (ed.) (1983). Benjamin Britten: Peter Grimes. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 9780521297165.
Britten, Benjamin; Donald Mitchell (ed) (1991). Letters From a Life: The Selected Letters of Benjamin Britten, Volume I, 1923–1939. London: Faber and Faber. ISBN 057115221X.
Britten, Benjamin; Philip Reed, Mervyn Cooke and Donald Mitchell (eds) (1998). Letters from a Life: The Selected Letters of Benjamin Britten, Volume IV, 1952–1957. London: Faber and Faber. ISBN 0571194001.
Carpenter, Humphrey (1992). Benjamin Britten: A Biography. London: Faber and Faber. ISBN 0571143245.
Craggs, Stewart R (2002). Benjamin Britten: A Bio-bibliography. Westport, Conn: Greenwood Publishing. ISBN 031329531X.
Culshaw, John (1981). Putting the Record Straight. London: Secker & Warburg. ISBN 0436118025.
Evans, John (2009). Journeying Boy: The Diaries of the Young Benjamin Britten 1928–1938. London: Faber and Faber. ISBN 0571238831.
Evans, Peter (1979). The Music of Benjamin Britten. London: J M Dent. ISBN 0460043501.
Ford, Andrew (2011). Illegal Harmonies: Music in the Modern Age . Collingwood, Vic: Black. ISBN 1863955283.
Gilbert, Susie (2009). Opera for Everybody. London: Faber and Faber. ISBN 0571224938.
Headington, Christopher (1996). Britten. Illustrated Lives of the Great Composers. London: Omnibus Press. ISBN 0711948127.
Headington, Christopher (1993) [1992]. Peter Pears: A Biography. London: Faber and Faber. ISBN 0571170722.
Herbert, David (ed) (1989) [1979]. The Operas of Benjamin Britten. London: Herbert Press. ISBN 1871569087.
Graham, Colin. “Staging first productions”. Trong Herbert. tr. 44–58.
Piper, Myfanwy. “Writing for Britten”. Trong Herbert. tr. 8–21.
Kennedy, Michael (1983). Britten. London: J M Dent. ISBN 0460022016.
Matthews, David (2013). Britten. London: Haus Publishing. ISBN 1908323388.
Moore, Gerald (1974) [1962]. Am I Too Loud? – Memoirs of an Accompanist. Harmondsworth: Penguin. ISBN 0140024808.
Oliver, Michael (1996). Benjamin Britten. London: Phaidon Press. ISBN 0714832774.
Ray, John (2000). The Night Blitz: 1940–1941. London: Cassell. ISBN 030435676X.
Schafer, Murray (1963). British Composers in Interview. London: Faber and Faber. OCLC 460298065.
Seymour, Claire Karen (2007). The operas of Benjamin Britten – Expression and Evasion. Woodbridge: Boydell Press. ISBN 184383314X.
Weibe, Heather (2012). Britten's Unquiet Pasts – Sound and Memory in Postwar Reconstruction. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521194679.
Weeks, Jeffrey (1989). Sex, Politics and Society. London: Longman. ISBN 0582483336.
White, Eric Walker (1954). Benjamin Britten: His Life and Operas. New York: Boosey & Hawkes. ISBN 0520016793.
Whittall, Arnold (1982). The Music of Britten and Tippett. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521235235.
== Liên kết ngoài ==
Gresham College. 'Britten and Bridge', lecture and performance investigating the relation between the two composers, ngày 5 tháng 2 năm 2008 (available for download as text, audio or video file).
Aldeburgh Music (The organisation founded by Benjamin Britten in 1948, originally as Aldeburgh Festival): the living legacy of Britten's vision for a festival and creative campus
Boosey & Hawkes (Britten's publishers up to 1963): biographies, work lists and descriptions, recordings, performance schedules
Faber Music (Publishers set up by Britten for his works after 1963): biography, work lists, recordings, performance schedules
BBC. Audio (.ram files) of 1957 and 1963 interviews
MusicWeb International. Benjamin Britten (1913–1976), by Rob Barnett
National Portrait Gallery. Benjamin Britten, Baron Britten (1913–1976), 109 portraits.
On An Overgrown Path (blog). Photo essay on Britten's childhood home, November 2008. |
appletalk.txt | AppleTalk là một bộ các giao thức độc quyền phát triển bởi Apple Inc cho các máy tính kết nối mạng. Nó được bao gồm trong Macintosh ban đầu phát hành vào năm 1984, nhưng bây giờ là không được hỗ trợ của việc phát hành Mac OS X v10.6 trong năm 2009 [1] trong lợi của mạng TCP / IP. Datagram Protocol Giao hàng tận nơi AppleTalk tương ứng chặt chẽ với các lớp mạng của mô hình hệ thống thông tin liên lạc nối mở (OSI).
== Tham khảo == |
kuraki mai.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kuraki. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Kuraki Mai (倉木 麻衣, Kuraki Mai, Thương Mộc Ma Y) sinh ngày 28 tháng 10 năm 1982 tại Funabashi, Chiba, là một nữ ca sĩ, người viết lời nhạc Nhật Bản nổi tiếng. Tên thật của cô là Mai Aono. Cha cô là nhà đạo diễn Isomi Yamasaki. Nghệ danh cô thường sử dụng là Mai-K.
== Sự nghiệp âm nhạc ==
Mai từ nhỏ đã ảnh hưởng bởi giọng hát của Whitney Houston và những điệu nhảy cực đỉnh của "Vua nhạc pop Michael Jackson". Vào năm thứ 2 trung học, Mai gửi bản demo có thu giọng hát của mình đến GIZA Studio và đã được họ mời ký hợp đồng. Mai xuất hiện lần đầu tại Mỹ với bài hát "Baby I like " được xuất bản dưới cái tên Mai-k. Single đầu tiên của Mai hát bằng tiếng Nhật là Single "Love, day after tomorrow" được xuất bản sau đó 1 năm. Nó đã trở thành 1 hit lớn và bán được 1.385.190 bản. Sự thành công của Mai càng tiến triển hơn sau Single "Stay by my side", Single này đã nắm giữ vị trí no.1 và bán được 922.140 bản. Single thứ 3 -"Secret of my heart" của Mai cũng đã giành vị trí no.2 trong bảng xếp hạng Oricon Weekly Ranking và bán được 968.980 bản. Chỉ một vài tuần sau khi cô phát hành Single thứ 4 "Never gonna give you up" đã bán được tới 434.250 bản. Mai Kuraki hiện nay đang giữ kỉ lục khi 23 Single của cô đều nằm trong top ten kể từ Single đầu tiên theo bảng xếp hạng các nghệ sĩ nữ đang giữ kỉ lục của Oricon.
Sự nghiệp của Mai Kuraki có phần nào bị lu mờ đi so với nghệ sĩ cũng thời với cô - Utada Hikaru. Họ đều được xếp vào hàng các nữ nghệ sĩ R&B và hát những bài hát do chính họ sáng tác. Mặc dù Mai-k được nhìn nhận là người có phần vũ đạo tốt hơn và đôi khi là cả giọng hát tốt hơn Utada Hikaru. Utada xuất hiện sớm hơn Mai, sống từ nhỏ tại Mỹ, có khả năng sáng tác, có thể hát thành thạo 2 thứ tiếng và nhờ được sự nâng đỡ của công ty Toshiba-EMI nên nhiều fan luôn nhìn nhận Mai có vị trí thấp kém hơn Utada, mặc dù khả năng của Mai Kuraki so với Utada Hikaru ngang nhau hoặc có thể là hơn.
Tuy vậy album Delicious Way của Mai vẫn bán được hơn 4 triệu bản và đã trở thành album bán chạy nhất tại Nhật Bản năm 2000 và là album đứng thứ 9 trong Top 10 album bán chạy nhất Nhật Bản qua mọi thời đại, Album này đã khẳng định vị trí của cô so với những ca sĩ khác như Ayumi Hamasaki hay Utada Hikaru.
Album thứ hai của Mai-Perfect Crime đã bán được hơn 2 triệu bản năm 2001. Những Ekip làm việc chung với cô là những người Phi - Mỹ cũng đã góp mặt trong Clip "Stand Up" Dự định của Mai muốn hát bằng tiếng Anh đã không thành công khi Single Baby I Like và album Secret of My Heart đều rơi vào yên lặng.
Năm 2002 là 1 năm rất thành công của Mai Kuraki khi tháng 1 năm đó, "Winter Bells"- bài hát chủ đề thứ 10 của bộ phim hoạt hình nổi tiếng Thám tử lừng danh Conan, đã leo lên vị trí dẫn đầu của bảng xếp hạng Oricon charts. FT Shiseido đã chọn "Feel fine!" là bài hát chủ đề của chiến dịch kỉ niệm 100 năm của hãng. Tháng 10 năm 2003, Mai Kuraki xuất bản 1 bản rock cover lại của Momoe Yamaguchi,là thần tượng của những năm 70, bài hát "Imitation Gold" như là một phần của Tak Matsumoto's HIT PARADE project đã leo lên vị trí dẫn đầu của bảng xếp hạng Oricon mặc dù chỉ bán được ít hơn 50.000 bản trong tuần đầu tiên. Vào những ngày đầu tiên của năm 2004, Mai xuất bản album tổng hợp Wish You The Best. Và nó đã trở thành album bán chạy nhất tháng 1, đứng thứ 7 trong tổng số các album phát hành năm 2004. Tháng 3 năm 2005, cô tốt nghiệp trường đại học Ritsumeikan tại Kyoto.
Phần lớn các Album của Mai đều được người xem đánh là rất hay nhưng ít được nhiều người biết đến. Lý do là hãng GIZA Studio không đầu tư nhiều cho việc quảng cáo cho Single hay Album mới như những hãng khác khiến Mai có thua thiệt hơn nhiều so với các ca sĩ cùng thời với cô. Thậm chí khi cô ra Single mới cũng không thấy xuất hiện ở TV Show nào, GIZA Studio cho quảng cáo trên tạp chí thì cũng chỉ trên vài bài báo của những tên tuổi không nổi tíếng, PV thì lại ra đúng ngày phát hành CD,... Các ca sĩ của GIZA hầu hết đều rất tài năng, nhưng các CDs của họ lúc nào cũng ngoi ngóp trên bảng xếp hạng. Không chỉ Mai-k mà còn rất nhiều ca sĩ khác như GARNET CROW, Aya Kamiki, Shiori Takei, Sayuri Iwata, Sparkling*Point,...giọng rất tốt, hát rất hay, phong cách rất lạ,... nhưng đều bị nhấn chìm bởi phương pháp quảng cáo của GIZA Studio. GIZA Studio là một công ty chuyên nghiệp thực, các nhạc sĩ - DJ – tracker của họ phải nói là rất giỏi, nhưng công ty có phần bỏ qua khâu marketing. Dẫn đến Mai-k và các ca sĩ khác trong công ty đều ít được chú ý mặc dù họ đều tài năng, đều có giọng hát rất tuyệt.
Hiện nay, album "DIAMOND WAVE" của Mai đã ra mắt vào ngày 2 tháng 8 năm 2006. Đây là lần đầu tiên cô sử dụng tựa đề của Single là tựa đề cho album và cũng là lần đầu tiên khi album chỉ có 3 hit chứ không phải là 4 hit như thường lệ.Hiện tại, Mai đang chuẩn bị cho tour diễn vòng quanh Nhật Bản "DIAMOND WAVE TOUR 2006".
Cho đến nay thì Mai Kuraki đã sở hữu 7 album studio, trong đó 5 album đã lên đến vị trí no.1> 23 Singles <3 trong số đó ở vị trí no.1> 1 album tổng hợp 8 DVD Và cô vẫn tiếp tục giữ vị trí là một trong những nghệ sĩ lớn nhất J-pop.
Đầu năm 2009, sau tua diễn "touch Me!" rất thành công, cô đã phát hành Album cùng tên và "touch Me!" cũng chính là hit mở màn cho chiến dịch kỷ niệm 10 năm hoạt động âm nhạc của cô. Album "touch Me!" đã trở lại với vị trí No.1 của Oricon Chart sau sự xuống hạng của 2 Album trước là "DIAMOND WAVE" và "ONE LIFE" mặc dù 2 Album này được giới chuyên môn đánh giá rất cao về chất lượng.
Ngày 1 tháng 4 năm 2009, Mai Kuraki đã phát hành Single PUZZLE/Revive. Thực tế ngay tên của Single này cũng đã gây ra một sự tranh luận rất sôi nổi trong cộng đồng các fan của Mai, đó là chọn tên Puzzle/Revive hay Revive/Puzzle. Cả hai ca khúc này của cô đều được sử dụng làm nhạc trong Anime nổi tiếng Thám tử lừng danh Conan, một bài cho movie, còn một bài cho TV anime). Và cuối cùng phần thắng áp đảo nghiêng về PUZZLE/Revive.
Trong những thời gian gần đây, Mai-k đã thực hiện và cho ra đời Single mới mang tên "Beautiful",đang chiếm được rất nhiều cảm tình của người nghe qua giọng hát ngọt ngào và khả năng sáng tác của chính cô ca sĩ Nhật Bản này.
Sắp tới đây, Mai Kuraki sẽ phát hành Album tổng hợp có tên là "ALL MY BEST", gồm tất cả những bài hát của Mai-K được các fan cho là hay nhất. Album này sẽ chính thứ lên kệ đĩa vào ngày 9 tháng 9 năm 2009 và hy vọng sẽ gặt hái được nhiều thành công từ Album này. Và không phụ lòng mong mỏi của các fan, album này đã tiếp tục nắm giữ vị trí No.1 như mong đợi.
== Ban nhạc cộng tác chung với Kuraki Mai ==
Oga Yoshinobu – đạo diễn âm nhạc, ghita
Marvin Lenoar – trống
Big Boyy T – keyboards
Mori Tamon – ghita bass
== Tác phẩm ==
=== Compilation Albums ===
=== Ca khúc ===
=== Videos ===
FIRST CUT (ngày 8 tháng 11 2000 DVD/VHS)
Mai Kuraki & Experience First Live 2001 in Zepp Osaka (VHS ngày 19 tháng 9 năm 2001)
Mai Kuraki & Experience First Live Tour 2001 ETERNAL MOMENT (DVD/VHS ngày 21 tháng 11 năm 2001)
Mai Kuraki "Loving You..." Tour 2002 Final 2.27 in YOKOHAMA ARENA (VHS ngày 3 tháng 4 năm 2002)
Mai Kuraki "Loving You..." Tour 2002 Complete Edition (DVD ngày 15 tháng 5năm2002)
My Reflection (DVD ngày 17 tháng 1 năm 2004)
Mai Kuraki 5th Anniversary Edition Grow, Step by Step (DVD ngày 5 tháng 1 2005)
Mai Kuraki Live Tour 2005 LIKE A FUSE OF LIVE and Tour Documentary of "chance for you" (DVD ngày 22 tháng 2 năm2006)
Brilliant Cut ~Mai Kuraki Live & Document~ (DVD ngày 22 tháng 8 năm 2007)
Mai Kuraki Live Tour 2008 "touch Me!" (DVD ngày 6 tháng 5 năm 2009)
10TH ANNIVERSARY MAI KURAKI LIVE TOUR "BEST" (DVD ngày 23 tháng 12 năm 2009)
== Sales ==
=== Sales By Year ===
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủKuraki Mai trên MySpace |
tây hoa kỳ.txt | Tây Hoa Kỳ (tiếng Anh: Western United States, thường được gọi là American West hay đơn giản là "the West"), theo truyền thống là vùng bao gồm các tiểu bang cận tây nhất của Hoa Kỳ. Vì Hoa Kỳ bành trướng về phía tây sau khi thành lập nên ý nghĩa về Miền Tây hay Miền Viễn Tây cứ thay đổi theo thời gian. Trước năm 1800, sống lưng của Dãy núi Appalachian được xem là biên cương phía tây của Hoa Kỳ. Kể từ đó, biên cương di chuyển xa hơn về hướng tây và rồi sau đó Sông Mississippi được dùng làm mốc biên cương cận đông nhất của miền Tây.
Trong thế kỷ 21, các tiểu bang nằm trong Rặng Thạch Sơn và vùng cao nguyên thuộc Đại Bình nguyên cho đến Tây Duyên hải thường được xem là tạo nên American West. Denver, Colorado đôi khi được xem là phần đất trải rộng thuộc phía đông của miền Tây như trong phim Dumb and Dumber bắt đầu với miền Trung Tây ngay phía đông của Aurora, Colorado nơi mà Đại Bình nguyên Hoa Kỳ bắt đầu.
Ngoài việc được định hình theo vị trí địa lý, "miền Tây" cũng có ý nghĩa theo nhân chủng học. Trong lúc miền này có sự đa dạng riêng bên trong của chính nó nhưng tổng quan vùng này có cùng một lịch sử, văn hoá (âm nhạc, ẩm thực), quan điểm về thế giới, lối suy nghĩ và giọng Anh gần như tương đồng. Tuy nhiên, một vài tiểu vùng và tiểu bang như Utah và miền nam California có một số điều khác biệt với phần còn lại của miền Tây.
"Miền Tây" đã và đang đóng một vai trò quan trọng trọng trong lịch sử Hoa Kỳ; Cựu miền Tây hay Old West được lồng vào trong các chuyện đời xưa của người Mỹ.
== Địa lý ==
Trong ý nghĩa rộng lớn nhất, miền Tây Hoa Kỳ là vùng rộng lớn nhất bao phủ hơn phân nửa diện tích đất của Hoa Kỳ. Nó cũng là nơi đa dạng về địa lý nhất, kết hợp các vùng địa lý như Duyên hải Thái Bình Dương, những khu rừng mưa nhiệt đới ôn hoà của Tây Bắc, Rặng Thạch Sơn, Đại Bình nguyên, phần lớn vùng đồng cỏ cao trải dài về phía đông đến tận Tây Wisconsin, Illinois, tây cao nguyên Ozark, các phần phía tây của những khu rừng phía nam, Duyên hải Vịnh Mexico và tất cả các vùng hoang mạc nằm trong Hoa Kỳ (các hoang mạc Mojave, Sonoran, Đại Bồn địa và Chihuahua).
Vùng này bao phủ một phần Vùng đất mua Louisiana, phần lớn vùng đất của Vương quốc Anh nhượng lại vào năm 1818, một số phần đất lấy được khi Cộng hoà Texas gia nhập vào Hoa Kỳ, tất cả các vùng đất Vương quốc Anh nhượng lại vào năm 1846, tất cả những vùng đất México nhương lại vào năm 1848 và tất cả phần đất của Vùng đất mua Gadsden.
Arizona và New Mexico luôn được xem là thuộc Tây Nam trong khi những phần đất của California, Colorado, Nevada, Oklahoma, Texas, và Utah đôi khi được xem là phần đất của Tây Nam trong khi đó tất cả hoặc một phần của Idaho, Montana, Oregon, Washington, và Wyoming có thể được xem là thuộc Tây Bắc. Gần như vậy gồm một phần hay tất cả các tiểu bang vừa nói (Tây Bắc), trừ Wyoming và phần phía đông của hai tiểu bang Montana và Idaho, và cộng thêm tỉnh bang của Canada là British Columbia hợp thành Tây Bắc Thái Bình Dương.
Miền Tây có thể được chia thành thứ nhất các tiểu bang Thái Bình Dương: Alaska, California, Hawaii, Oregon, và Washington với thuật ngữ Tây Duyên hải thường hạn chế chỉ kể đến California, Oregon, và Washington và thứ hai là Các tiểu bang miền Núi luôn là Arizona, Colorado, Idaho, Montana, Nevada, New Mexico, Utah, và Wyoming. Alaska và Hawaii bị tách ra khỏi những tiểu bang miền Tây khác vì có ít tương đồng với các tiểu bang đó nhưng luôn luôn được xếp vào danh sách miền Tây Hoa Kỳ. Tây Texas nằm trong Hoang mạc Chihuahuan trong lịch sử cũng thường được xem là thuộc miền Tây Hoa Kỳ.
Một số tiểu bang miền Tây được xếp vào các vùng của các tiểu bang miền đông. Kansas, Nebraska, Bắc và Nam Dakota thường được tính vào miền Trung Tây mà cũng bao gồm các tiểu bang như Iowa, Illinois và Wisconsin.
Hiếm khi có một tiểu bang nằm ở phía đông Sông Mississippi được xem là thuộc miền Tây hiện đại. Tuy nhiên trong lịch sử, Lãnh thổ Tây Bắc là một lãnh thổ xưa quan trọng của Hoa Kỳ, bao gồm các tiểu bang hiện đại là Ohio, Indiana, Illinois, Michigan và Wisconsin cũng như phần phía đông bắc của Minnesota.
=== Thế kỷ hai mươi ===
Các đường biên giới ngăn cách có vẻ đã được xoá kể từ sau 1980. Sự xuất hiện của các phương tiện như ô tô đã giúp tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ tiếp cận miền Tây dễ dàng hơn. Thêm vào đó các thương gia miền Tây đã cải tạo và nâng cấp đường U.S. Route 66 cũng đã góp phần rất lớn trong việc mang khách du hành đến miền Tây. Vào những năm 50, nhờ sự xuất hiện của các công trình như Cowboy Hall of Fame và Western Heritage Center để góp phần quảng bá cho văn hóa miền Tây cũng như chào đón khách thập phương từ miền Đông đã tỏ ra có hiệu quả. Mặt khác trong suốt những năm sau của thế kỷ hai mươi, với sự xuất hiện của ngày càng nhiều các con đường "xuyên lục địa" đã càng góp phần mang miền Tây và miền Đông lại gần nhau hơn. Mặc dù vậy tình trạng vô chính phủ vẫn còn tồn tại trong thời gian này, đặc biệt ở những vùng giàu tài nguyên như dầu lửa hay các mỏ vàng tại Texas và Oklahoma vô hình trung đã đẩy những người khai hoang đi xa hơn nữa về phía tây. Trong thời gian này cũng đã có vài tác phẩm điện ảnh phỏng theo các quyển tiểu thuyết ba xu giúp cư dân vùng khác mường tượng về vùng đất giàu có này.
Mặc dù tình trạng phân biệt chủng tộc cũng như các cáo buộc về các hình thức lạm quyền của cảnh sát luôn diễn ra day dẳng đối với các sắc dân thiểu số vùng này do ở đây khá phức tạp về tình trạng nhập cư trái phép, thậm chí có thể dẫn đến bạo động sắc tộc, miền Tây vẫn luôn được người Mỹ biết đến như một vùng đất khá cởi mở, thân thiện và mến khách do bản thân là nơi có nhiều cư dân đa sắc tộc sinh sống nhất trên Hoa Kỳ.
== Các trung tâm chính ==
=== Vùng thống kê kết hợp ===
=== Vùng thống kê đô thị ===
Thành phố El Paso, Texas, mặc dù thuộc một tiểu bang được xem là thuộc Nam Hoa Kỳ, luôn được xem là thuộc miền Tây Hoa Kỳ.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Beck, Warren A., Haase, Ynez D.; Historical Atlas of the American West. University of Oklahoma Press, Oklahoma, 1989. ISBN 0-8061-2193-9
Lamar, Howard. The New Encyclopedia of the American West. Yale University Press, 1998. ISBN 0-300-07088-8
Milner II, Clyde A; O'Connor, Carol A.; Sandweiss, Martha A. The Oxford History of the American West. Oxford University Press; Reprint edition, 1996. ISBN 0-19-511212-1
Phillips, Charles; Axlerod, Alan; editor. The Encyclopedia of the American West. Simon & Schuster, New York, 1996. ISBN 0-02-897495-6
White, Richard. "It's Your Misfortune and None of My Own": A New History of the American West. University of Oklahoma Press; Reprint edition, 1993. ISBN 0-8061-2567-5
== Liên kết ngoài ==
History of the American West Library of Congress
Photographs of the American West: 1861-1912 US National Archives & Records Administration
US Census Bureau Briefs
Western Region Labor Statistics Bureau of Labor Statistics
WWW-VL: History: American West
Guide to the American West
The American West
Institute for the Study of the American West
High Plains Western Heritage Center
National Cowboy & Western Heritage Museum
Museum of the American West
Center of the American West
WWW-VL: History: American West |
wiltshire.txt | Wiltshire là một hạt của Anh.
== Tham khảo == |
toni morrison.txt | Toni Morrison (tên khai sinh Chloe Anthony Wofford; 18 tháng 2 năm 1931) là nhà văn nữ Mỹ đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1988 và giải Nobel Văn học năm 1993.
== Tiểu sử ==
Morrison sinh ở Lorain, Ohio, là con thứ hai trong một gia đình công nhân da đen có bốn người con. Morrison lớn lên cùng cuộc Đại Suy thoái trong thập niên 1930 ở nước Mỹ và bộc lộ niềm yêu thích văn học từ rất sớm. Thuở nhỏ, bà học tiếng Latin, đọc các tác phẩm của văn học Nga, Anh và Pháp. Trong số các tác giả cô yêu thích có Austen và Tolstoy. Năm 1945 tốt nghiệp trung học loại ưu, Morrison học ngành khoa học xã hội tại Đại học Howard và hoàn thành chương trình cao học tại Đại học Cornell, sau đó làm giảng viên tại Đại học Texas, Đại học Howard và Đại học Yale. Biệt danh Toni có từ những ngày còn học ở đại học. Năm 1958 bà lấy chồng là Harold Morrison, có hai con là Harold và Slade. Năm 1964 hai người ly dị, Morrison làm trợ lý biên tập của nhà xuất bản Random House chuyên sách giáo khoa tiểu bang New York. Đến năm 1967 bà trở thành biên tập viên chính, biên tập sách của nhiều nhà văn nổi tiếng. Năm 1970, Morrison cho xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay The Bluest Eye (Mắt biếc) thu hút sự chú ý của các nhà phê bình và công chúng nhờ việc mô tả sâu sắc cuộc sống và số phận những người Mỹ gốc Phi. Tác phẩm nói về tác động của những thành kiến chủng tộc đến một cô gái da đen mơ ước mình có đôi mắt xanh biếc, biểu tượng cái đẹp của người Mỹ da trắng.
Năm 1973, tiểu thuyết Sula của Toni Morrison trở thành sách best-seller và được trao Giải thưởng sách Quốc gia. Hai năm 1976, 1977 bà giảng dạy ở Đại học Yale và viết tiểu thuyết Song of Solomon (Bài ca Solomon), được trao Giải thưởng phê bình sách Quốc gia và Giải thưởng của Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Mỹ. Từ năm 1989 Morrison giữ chức giáo sư Đại học Princeton, chuyên gia văn học Mỹ - Phi, viết phê bình và đi thỉnh giảng. Kể từ năm 1981, bà là thành viên Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Mỹ, Viện Hàn lâm các Khoa học xã hội và Khoa học chính xác Mỹ. Toni Morrison đã nhận được nhiều giải thưởng văn học có uy tín, trong đó có giải Pulitzer năm 1988 cho tiểu thuyết Beloved (Người yêu dấu). Trong tác phẩm này, trở lại khai thác đề tài nô lệ, bà đã chỉ ra tác động kinh hoàng của kiếp nô lệ đến tình cảm của người làm mẹ. Sự việc xảy ra ở tiểu bang Ohio sau khi kết thúc nội chiến, câu chuyện một phụ nữ da đen cho rằng thà tự tay giết chết con gái mình còn hơn phải đưa con đi làm nô lệ. Tiểu thuyết Beloved được đánh giá là tác phẩm thành công nhất của Morrison. Năm 1993 bà được nhận giải Nobel, trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên được trao giả thưởng cao quý này. Tiểu thuyết mới nhất của bà là Love (Tình yêu) xuất bản năm 2003.
Toni Morrison tích cực tham gia các phong trào đòi bình quyền phụ nữ, bà thường phát biểu trong những đại hội của phụ nữ da đen. Tác phẩm của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng và là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu.
Morrison gây xôn xao dư luận khi gọi Bill Clinton là "Tổng thống da đen đầu tiên", bà giải thích "Clinton phô bày hầu hết những nét đặc trưng của dân da đen: Một cậu bé gốc Arkansas, sinh ra trong một gia đình nghèo không cha, thuộc tầng lớp lao động, chơi kèn saxophone, và mê thức ăn McDonald".
== Tác phẩm ==
The Bluest Eye (Mắt biếc, 1970), tiểu thuyết
Sula (1973), tiểu thuyết
Song of Solomon (Bài ca Solomon, 1977), tiểu thuyết
Tar Baby (Chú nhóc thủy thủ, 1981), tiểu thuyết
Dreaming Emmett (Emmett mơ mộng, 1986), kịch
Beloved (Người yêu dấu, 1987), tiểu thuyết
Jazz (Nhạc Jazz, 1992), tiểu thuyết
Playing in the Dark: Whiteness and The Literary Imagination (Chơi trong bóng tối: sắc trắng và tưởng tượng văn học, 1992), tiểu luận
Racing Justice (Công bằng nơi trường đua, 1992), tiểu luận
Paradise (Thiên đàng, 1998), tiểu thuyết
The Big Box (Chiếc hộp lớn, 2000), truyện thiếu nhi
The Book of Mean People (Sách của những người không tốt, 2001), truyện thiếu nhi
Love (Tình yêu, 2003), tiểu thuyết
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Literary Encyclopedia biography
Voices from the Gaps biography
The Nobel Prize in Literature 1993
1987 audio interview by Don Swaim of CBS Radio, 31 min 2 s, RealAudio
Toni Morrison biography and video interview excerpts by The National Visionary Leadership Project |
mitsubishi.txt | Mitsubishi là một tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Công ty Mitsubishi đầu tiên là một công ty chuyển hàng thành lập bởi Yataro Iwasaki (1834–1885) năm 1870. Năm 1873, tên công ty được đổi thành Mitsubishi Shokai (三菱商会: Tam Lăng thương hội). Tên Mitsubishi (三菱) có hai phần: "mitsu" tức tam có nghĩa là "ba" và "hishi" tức lăng (âm "bishi" khi ở giữa chữ) có nghĩa là "củ ấu", loại củ có hai đầu nhọn. Từ nguồn gốc đó mà Mitsubishi xếp ba củ ấu cách điệu làm biểu tượng (logo) cho hãng.
Công ty chuyển sang lĩnh vực khai thác than năm 1881 sau khi mua mỏ than Takashima và đảo Hashima năm 1890, sử dụng sản phẩm làm nguyên liệu cho đội tàu thủy hơi nước. Công ty cũng bắt đầu đa dạng hóa kinh doanh sang các lĩnh vực đóng tàu, bảo hiểm, xếp gỡ hàng và thương mại. Sau này sự đa dạng hóa được tiếp tục với việc Mitsubishi xâm nhập thêm vào các lĩnh vực khác như sản xuất giấy, thép, thủy tinh, hàng điện tử, tàu sân bay, khai thác dầu mỏ và bất động sản. Khi Mitsubishi xây dựng thành một nghiệp đoàn lớn, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa công nghiệp Nhật Bản.
Vì quá trình đa dạng hóa, Mitsubishi sau đó đã thành lập ba công ty con:
Mitsubishi Bank (giờ là một phần Mitsubishi UFJ Financial Group) thành lập năm 1919. Sau khi sáp nhập với ngân hàng Tokyo năm 1996, và UFJ Holdings năm 2004, đây trở thành ngân hàng lớn nhất Nhật Bản.
Mitsubishi Corporation, thành lập năm 1950, công ty thương mại lớn nhất Nhật Bản.
Mitsubishi Heavy Industries, bao gồm ba công ty công nghiệp.
Mitsubishi Motors, nhà sản xuất ô tô lớn thứ sáu của Nhật Bản.
Mitsubishi Atomic Industry, một công ty năng lượng nguyên tử.
Mitsubishi Chemical Holdings, công ty hóa chất lớn nhất Nhật Bản.
== Thế chiến II ==
Trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, Mitsubishi sản xuất tàu sân bay và máy bay chiến đấu, dưới sự chỉ đạo của Jiro Horikoshi. Mitsubishi Zero là máy bay tiêm kích chủ lực hoạt động trên tàu sân bay. Nó được các phi công của Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong trận đánh Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 và trong rất nhiều lần khác, bao gồm cả trong các cuộc tấn công cảm tử Thần phong.
== Thời kì mới ==
Mitsubishi tham gia vào quá trình phát triển kinh tế chưa từng có của Nhật trong thập niên 1950 và 1960. Khi Nhật Bản phát triển những ngành công nghiệp năng lượng và nguyên liệu. Mitsubishi đã lập ra các công ty Mitsubishi Petrochemical, Mitsubishi Atomic Power Industries, Mitsubishi Liquefied Petroleum Gas, và Mitsubishi Petroleum Development.
Mitsubishi tiếp tục phát triển các công nghệ mới trong các lĩnh vực khác như phát triển không gian, hàng không, phát triển đại dương, công nghệ thông tin, máy tính và chất bán dẫn. Các công ty của Mitsubishi cũng tham gia vào các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ.
Năm 1970, Các công ty của Mitsubishi thành lập Mitsubishi Foundation để kỉ niệm 100 năm ngày thành lập của công ty. Tính đến năm 2007, Mitsubishi Corporation, một thành viên của tập đoàn Mitsubishi, là công ty thương mại lớn nhất Nhật Bản với hơn 200 cơ sở hoạt động tại khoảng 80 quốc gia trên thế giới. Cùng với hơn 500 công ty con, Mitsubishi có khoảng 54,000 nhân công trên khắp thế giới.
== Các công ty của Mitsubishi ==
=== Các thành viên chủ chốt ===
3 Diamonds Seafood Co.
Asahi Glass Co.
The Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, Ltd.
Kirin Brewery Co., Ltd.
Meiji Yasuda Life Insurance Company
Mitsubishi Electric Corporation
Mitsubishi Estate Co.
Mitsubishi Motors (Automobile manufacturing and sales)
Mitsubishi Paper Mills, Ltd.
Mitsubishi Plastics, Inc.
Mitsubishi Rayon Co., Ltd.
Mitsubishi Research Institute, Inc.
Mitsubishi Shindoh Co., Ltd.
Mitsubishi Steel Mfg. Co., Ltd.
Mitsubishi UFJ Trust and Banking Corporation (part of Mitsubishi UFJ Financial Group)
Mitsubishi UFJ Securities
Nikon Corporation
Nippon Oil Corporation
NYK Line (Nippon Yusen Kabushiki Kaisha)
P.S. Mitsubishi Construction Co., Ltd.
Tokio Marine & Nichido Fire Insurance Co., Ltd.
=== Các tổ chức liên quan ===
Atami Yowado
Chitose Kosan Co., Ltd.
Dai Nippon Toryo Co., Ltd.
The Dia Foundation for Research on Ageing Societies
Diamond Family Club
Kaitokaku
Koiwai Noboku Kaisha, Ltd.
LEOC JAPAN Co., Ltd.
Marunouchi Yorozu Corp.
Meiwa Corporation
Mitsubishi C&C Research Association
Mitsubishi Club
Mitsubishi Corporate Name and Trademark Committee
Mitsubishi Economic Research Institute
The Mitsubishi Foundation
Mitsubishi Kinyokai
Mitsubishi Marketing Association
Mitsubishi Motors North America
Mitsubishi Public Affairs Committee
The Mitsubishi Yowakai Foundation
MT Insurance Service Co., Ltd.
Seikado Bunko Art Museum
Shonan Country Club
Sotsu Corporation
The Toyo Bunko
Seikei University
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Danh mục website các công ty của Mitsubishi
Ủy ban vấn đề đại chúng Mitsubishi
Công ty TNHH Thang Máy Mitsubishi Việt Nam
MITSUBISHI ELECTRIC VIET NAM
Mitsubishi Elevator Vietnam |
đạo giáo.txt | Đạo giáo (tiếng Trung: 道教) (Đạo nghĩa là con đường, đường đi, giáo là sự dạy dỗ) hay gọi là tiên đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này. Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia (道家).
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc. Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lý này đã hoà hợp thành một truyền thống. Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lý.
Vì xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm được số người theo Đạo giáo. Đặc biệt có nhiều người theo Đạo giáo sinh sống tại Đài Loan, nơi nhiều trường phái Đạo gia đã lánh nạn Cách mạng văn hoá tại Trung Quốc lục địa. Hiện nay, Đạo giáo có khoảng 400 triệu tín đồ tập trung tại các nước Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Đài Loan và cộng đồng người Hoa hải ngoại.
== Sự hình thành Đạo giáo ==
Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là tôn giáo này hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác. Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (1040-256 trước CN). Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về năng lượng, chân khí), thuyết âm dương và Kinh Dịch. Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Nam Hoa chân kinh của Trang Tử, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CN thì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính là Hoàng Đế và Tây Vương Mẫu, những hình tượng đã có trong thời nhà Thương, thiên niên kỉ 2 trước CN.
Đạo trong sự trình bày của Lão Tử là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: "Người ta bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên". Nó là nguồn gốc của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ
Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần biện chứng âm dương. Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lý, công bằng, chu đáo, và do vậy mà mầu nhiệm. Hợp lý, vì theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên. Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù vào chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Bởi vậy mà nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh mà chiến thẳng, không cần nói mà ứng nghiệm. Mọi sự bất cập hay thái quá đều trái với lẽ tự nhiên, và do vậy sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: "vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt".
Từ đây, Lão Tử suy ra triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập, phải vô vi (không làm). Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hòa nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá. Vì làm thái quá thì theo luật âm dương "vật cực tắc phản", kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàn toàn không làm gì. Triết lý vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là "chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình". Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải "giống như kho một nồi cá nhỏ": cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không quấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát. Đạo chẳng phải cái gì khác ngoài sự phạm trù hóa triết lý tôn trọng tự nhiên; còn Đức chính là sự phạm trù hóa luật âm dương biến đổi. Khổng thì "nhập thế", "hữu vi", còn Lão thì "xuất thế", "vô vi". Hegel từng nhận xét rằng tư tưởng của đạo Khổng thì nghèo nàn, còn Lão Tử mới xứng đáng là người đại diện cho tinh thần phương Đông cổ đại.
Trong khi đạo của Khổng Tử hết sức thực tế vẫn không được dùng thì dễ hiểu là triết lý của Lão Tử càng không thể được sử dụng. Lão Tử phàn nàn: "Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm".
Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý.
Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận.
Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm lớn).
Nhưng Trang Tử đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ yếm thoát thế tục, trở về xã hội nguyên thủy: "Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật sống chung, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú".
Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ thứ 2), tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành Đạo giáo. Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng của Lão – Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa.
Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là "Thái Thượng Lão Quân", coi ông là hóa thân của "Đạo" giáng sinh xuống cõi trần. Nếu mục đích của việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo có hai phái: Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh; Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử. Kinh điển của Đạo giáo gọi là Đạo tạng kinh; ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút ký… tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển.
Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử. Tu tiên có hai cách: nội tu và ngoại dưỡng. Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh, gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng). Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công… lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (Đạo). Con người cũng như vạn vật là từ "Đạo" mà sinh ra; cho nên tu luyện là trở về với "Đạo".
=== Lão Tử và Đạo Đức kinh ===
Các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được là đã thật có một triết gia tên Lão Tử hay không. Các Đạo gia cho rằng, chính ông là tác giả của bộ Đạo Đức kinh. Tiểu sử của ông bị huyền thoại vây phủ và vì vậy gây nhiều tranh luận trong giới học thuật. Tương truyền ông sống thời Chiến Quốc, thế kỉ thứ 6 trước CN, một thời kì được đánh dấu bằng chiến tranh và loạn li. Nhưng thời này cũng được xem là thời vàng son của triết học Trung Quốc vì nhiều nhà tư tưởng đã tìm cách giải hoá vấn đề làm sao để an dân lập quốc. Do đó mà người sau cũng gọi thời kì này là thời của Bách gia chư tử—"hàng trăm trường phái". Đạo Đức kinh hàm dung những tư tưởng này, hướng đến những nhà cầm quyền và cách tạo hoà bình.
Đạo Đức kinh cũng được gọi dưới tên của tác giả, là Lão Tử. Trong dạng được truyền ngày nay thì nó bao gồm hai quyển với tổng cộng 81 chương. Phần thứ nhất nói về Đạo, phần hai nói về Đức. Tuy nhiên, Đạo Đức kinh không là một bộ kinh có một kết cấu lôgic của một thế giới quan, mà chỉ là một tập hợp của những ngạn ngữ huyền bí, tối nghĩa, dường như nó muốn người đọc phải tự lý giải một cách chủ quan. Chính vì vậy mà người ta tìm thấy hàng trăm bản chú giải, hàng trăm bản dịch của bộ Đạo Đức kinh này.
=== Trang Tử và Nam Hoa chân kinh ===
Bộ Nam Hoa chân kinh thì được viết với một phong cách hoàn toàn khác. Tác phẩm này được biên soạn ở thế kỉ thứ 4 trước CN và tương truyền tác giả là Trang Tử (vì vậy mà tên ngắn của tác phẩm này cũng là Trang Tử, tên tác giả). Trong Nam Hoa kinh, thể tính của Đạo được miêu hoạ qua những ngụ ngôn, những mẩu chuyện hàm dung những cuộc đàm thoại triết học. Trang Tử lấy nhiều điểm được nhắc đến trong Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng lại bài bác những điểm khác một cách rõ ràng. Ví dụ như Trang Tử không hề nhắc đến việc nhắc nhở những nhà cầm quyền an quốc trị dân. Một chân nhân vô sự, lìa thế gian là người lý tưởng trong tác phẩm này. Như trường hợp Đạo Đức kinh, việc xác nhận tác giả của tác phẩm này cũng là một điểm tranh luận lớn. Mặc dù Trang Tử được xem là một nhân vật lịch sử nhưng theo những nhà nghiên cứu sau này thì tác phẩm Nam Hoa chân kinh phần lớn có lẽ được các đệ tử sau này biên tập.
Trong thời Lão Trang, người ta không thấy dấu tích của một tổ chức hay cơ cấu triết học hoặc tôn giáo nào có thể được gọi là Đạo giáo. Chỉ còn một vài tác phẩm hàm dung tư tưởng Đạo giáo được lưu lại, tôn vinh là Thánh điển khi Đạo giáo dần dần hình thành. Tuy nhiên, tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là những tác phẩm này đã được phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với những phương pháp tu tập tôn giáo và tín ngưỡng.
== Đạo giáo như một hệ thống triết học ==
=== Ngoài đề: triết học Đạo giáo so với tín ngưỡng Đạo giáo ===
Sự phân biệt triết học Đạo giáo và tín ngưỡng Đạo giáo là một cách nhìn từ phương Tây và về mặt khái niệm thì nó cũng không đủ rõ ràng. Nó có vẻ như là một phương tiện của nền Hán học châu Âu, được áp dụng để có thể nắm bắt và miêu tả được những khía cạnh lịch sử Đạo giáo lâu dài một cách dễ dàng hơn. Nhìn kĩ thì người Trung Quốc cũng đã có sự phân biệt vi tế trong cách gọi tên trào lưu này. Khi dùng từ Lão Trang (老莊) hoặc Đạo gia (道家) người ta liên tưởng đến khía cạnh triết học và từ Đạo giáo (道教) hoặc Hoàng Lão (黃老) được dùng để chỉ đến khía cạnh tín ngưỡng tôn giáo. Tuy vậy, Đạo giáo cũng là một hiện tượng nhiều khía cạnh như những tôn giáo khác. Trong dòng thời gian hơn hai nghìn năm qua, nhiều hệ thống và chi phái rất khác nhau đã được hình thành. Do vậy mà sự phân biệt giữa triết học và tôn giáo ở đây là một sự giản hoá quá mức và trong giới học thuật người ta cũng không nhất trí có nên phân biệt như vậy nữa hay không, bởi vì nó không tương thích với sự phức tạp của đối tượng nghiên cứu.
Mặc dù vậy, hai khái niệm đối xứng bên trên cũng mang đến một ích lợi nhất định vì chúng hỗ trợ bước đầu phân tích Đạo giáo. Nhưng ta nên nhớ là sự việc phức tạp hơn là sự phân biệt đơn giản trên có thể lột toát được hết.
=== Khái niệm Đạo ===
Tên Đạo giáo xuất phát từ chữ Đạo, một danh từ triết học Trung Hoa đã được dùng rất lâu trước khi bộ Đạo Đức kinh xuất hiện, nhưng chỉ đạt được tầm quan trọng đặc biệt, phổ cập trong văn bản này. Đạo ban đầu có nghĩa là "con đường", những ngay trong tiếng Hán cổ đã có nghĩa "phương tiện", "nguyên lý", "con đường chân chính". Nơi Lão Tử, danh từ này được hiểu như một nguyên lý cơ sở của thế gian, xuyên suốt vạn vật. Theo kinh văn, Đạo là hiện thật tối cao, là sự huyền bí tuyệt đỉnh (chương IV):
道沖,而用之或不盈 。淵兮,似萬物之宗
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề, tự vạn vật chi tông.
Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy. Đạo sâu thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật.
Đạo là đơn vị tối sơ, nguyên lý của vũ trụ và là cái tuyệt đối. Vạn vật xuất phát từ Đạo, nghĩa là cả vũ trụ và như vậy, trật tự vũ trụ cũng từ Đạo mà ra, tương tự như nguyên tắc tự nhiên, nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng, mà là nguồn gốc và sự dung hoà tất cả những cặp đối đãi và như thế, không thể định nghĩa được. Đạo là Vô danh, như câu đầu của bộ kinh này cho thấy:
道可道,非常道 。名可名,非常名 。
無名天地之始,有名萬物之母 。
Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh.
Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu.
Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường còn. Danh mà ta có thể gọi được, không phải là Danh thật sự.
Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật.
Về mặt triết học thì Đạo có thể được xem là siêu việt mọi khái niệm vì nó là cơ sở của tồn tại, là nguyên nhân siêu việt và như vậy, là tất cả, bao gồm tồn tại và phi tồn tại. Trên cơ sở này thì ta không thể luận đàm, định nghĩa được Đạo vì mỗi định nghĩa đều có bản chất hạn chế. Nhưng Đạo lại là cả hai, là sự siêu việt mọi hạn lượng mà cũng là nguyên lý bên trong vũ trụ. Cái Dụng (用) của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hoá, chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng.
== Luân lý Đạo giáo ==
=== Quan niệm về vũ trụ và vạn vật ===
Đối với Đức Lão Tử, nguyên thủy của vũ trụ và vạn vật là Đạo.
Đạo là thể vô hình vô tướng, không sinh không diệt, hằng hữu đời đời. Sở dĩ người ta không thấy được Đạo là vì nó là những nguyên tố rời rạc, chưa kết thành hình tượng.
Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Một đó là Thái cực, Hai đó là Âm Dương, Ba đó là Tam Thiên Vị (Ba ngôi: Thái cực, Dương và Âm). Âm và Dương thu nhận Sinh từ ngôi Thái cực, rồi vừa xung đột vừa hòa hiệp, để tạo thành trời đất, vũ trụ và vạn vật. Cho nên theo ông, trong vạn vật đều có Âm Dương: Vạn vật đều cõng một Âm và bồng một Dương.
Vì vậy theo Đạo giáo, trước khi vũ trụ thành hình, trong khoảng không gian hư vô bao la, có một chất sinh rất huyền diệu, gọi là ĐẠO. Đạo biến hóa ra Âm Dương. Âm Dương xô đẩy và hòa hiệp tạo ra vũ trụ và vạn vật.
Vạn vật được hóa sinh ra, tác động với nhau, phồn thịnh với nhau, rồi cuối cùng tan rã để trở về trạng thái không vật không hình, tức là trở về nguồn gốc của nó là Đạo.
=== Quan niệm về nhân sinh ===
Đức Lão Tử quan niệm rằng: Đạo Trời không thân ai, không sợ ai. Trời Đất sinh ra muôn vật, cây cỏ, chim muông, nhân loại, không phải cốt để chúng ăn thịt nhau mà các sinh vật đều khắc chế lẫn nhau, nuôi dưỡng nhau, bổ trợ nhau để cùng tồn tại.
Đức Lão Tử không lấy cuộc đời làm lạc thú, xem việc sống như một nghĩa vụ, không yếm thế, không lạc quan, và xem cái chết là một việc phục tùng theo lẽ tự nhiên nhứt định.
Lão Tử ghét những người ham mê danh lợi, quá coi trọng cái xác thịt của mình. Cái xác thịt này là một cái không đáng quý, vì nó thường là mối lo cho người ta; đáng quý nhất là khi người ta biết đem thân ra phụng sự thiên hạ.
Đức Lão Tử khuyên người đời không nên quá tôn trọng và thiên về đời sống vật chất, phải tiết chế lòng ham muốn, nên chú trọng tinh thần, lấy cái tâm đè nén cái khí, thà bỏ cái thân này mà giữ được Đạo và Đức.
Lão Tử không bàn đến Thượng đế, Linh hồn, Thiên đàng, Địa ngục, mà chỉ nói một cách tổng quát về nguồn gốc của con người và vạn vật là từ Đạo mà ra, và cuối cùng thì trở về Đạo, hòa vào Đạo.
=== Lý vô vi ===
Muốn hòa vào Đạo, Lão Tử nói về Lý Vô Vi. Vô Vi nghĩa là không làm, tức là không can thiệp và tự nhiên, để con người sống theo tự nhiên và cùng với tự nhiên tiến hóa.
Lý Vô Vi gồm: Vô cầu, Vô tranh, Vô đoạt, Vô chấp.
Vô cầu, giúp ta vô vọng, xa lìa vọng tưởng điên đảo.
Vô tranh, giúp ta vô đại, xa lìa ý tưởng hơn thua, cao thấp.
Vô đoạt, giúp ta vô thủ, xa lìa ý tưởng có, không, còn, mất.
Vô chấp, giúp ta vô ngại, xa lìa ý tưởng trược thanh.
Vô Vi tức Đạo. Đạo thường vô vi nhi vô bất vi (không làm tức là Đạo. Đạo thường không làm, mà không gì không làm được).
Từ chỗ không làm mà làm được tất cả. Làm được tất cả mà như không làm gì cả. Đó là bí quyết của Đạo.
Lý Vô Vi quá sức huyền diệu cao viễn, ít ai thấu triệt nổi, thành ra bị thất truyền hay bị hiểu sai lạc đi.
Thực hiện theo lý Đạo thì phải Luyện Kim đơn, để gom Tam Bửu: Tinh, Khí, Thần, về một, tức là Tinh Khí Thần hiệp nhứt. Ta phải thanh luyện tiếp để xả hết, hòa vào hư không, tức là trở về hiệp nhứt với Đạo.
Luyện Kim đơn là luyện cho thành Thánh thai (Anh nhi, Xá lợi), chớ không phải luyện thuốc Tiên, trường sanh bất tử. Luyện cho cái Tánh trở thành Kim cang bất hoại, gặp động không loạn, nhập trần không nhiễm, định mà không chết cứng, đi đứng nằm ngồi mà như không đi đứng nằm ngồi, thuyết giảng đạo pháp mà như không thuyết giảng, vv … tức như thế là nhập vào Lý Vô Vi vậy.
== Đạo giáo như một tôn giáo ==
Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lý tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định, trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết tưởng hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học để tạo một thế giới vi quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - và qua đó đạt được sự hợp nhất với vũ trụ.
Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn giáo.
Nhiều trường phái Đạo giáo tìm cách tu tập đạt trường sinh bất tử. Chúng có lẽ xuất phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo và sự sùng bái trường sinh bất tử và được hoà nhập với nhánh Đạo giáo triết học sau này.
Tất cả các trường phái Đạo giáo đều nỗ lực tu tập để trở về nguồn, được miêu tả bằng những thuật ngữ Đạo giáo như
=== Quan hệ với Phật giáo ===
Phật giáo đến Trung Hoa trong thế kỉ thứ nhất sau CN, trong một thời đoạn mà giới tri thức ở đây khát khao tiếp nhận, nhưng lại mang theo những điểm khó dung hoà. Với tư cách của một tôn giáo đề cao sự giải thoát một cách khắt khe, Phật giáo chủ trương triết học siêu hình và nhận thức học, xem thêm Lượng) với những điểm trung tâm là chân lý, kinh nghiệm bản thân, kiến thức cần có trước, một tín tâm được thể hiện rõ ràng, một cơ sở tâm lý học chuyên chú đến niềm tin đặt nền tảng trên lý giải (sa. hetu, en. reasoning) như một khả năng tự nhiên của loài người - và dĩ nhiên, một tấm lòng tin tưởng. Những điểm này không thu hút được giới tri thức Trung Hoa và cơ sở luận bàn duy nhất có thể "thuần hoá" hệ thống ngoại lai này là huyền học được các Tân Đạo gia (sau thế kỉ thứ 2) đề xướng. Huyền học chuyên chú vào ý nghĩa siêu hình của tồn tại và phi tồn tại (hữu vô), và hệ thống này lại tương quan mật thiết với khái niệm Niết-bàn trong Phật giáo. Nếu Niết-bàn đối lập Luân hồi thì nó là một trạng thái phi tồn tại hay tồn tại? Niết-bàn là thành tựu tối cao của một vị Phật, là biểu thị của Phật tính.
Tuy nhiên, Phật giáo được trang bị với một nghịch thuyết rất có thể đã gây cảm hứng đến các Đạo gia, đó là sự nghịch lý của lòng tham ái. Luân hồi - hay nói cụ thể hơn - sự tái sinh làm người được xem như là kết quả của tham ái và Niết-bàn chỉ có thể được thực hiện khi hành giả đã buông xả tham ái. Nhưng như vậy có nghĩa là, để thành tựu Niết-bàn, hành giả cũng phải lìa bỏ lòng ham muốn thành tựu nó. Cách lập luận này cho thấy ý nghĩa tinh tế của hình tượng tiêu biểu trong Phật giáo Đại thừa là Bồ Tát, một người đã đạt những điều kiện tiên quyết để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng vẫn lưu lại Luân hồi để cứu độ chúng sinh. Nhánh Đại thừa của Phật giáo được phổ biến rất thành công tại Trung Hoa vì giáo lý của trường phái này - mặc dù chỉ được thể hiện một cách ám thị - hàm dung một cái nhìn bình đẳng: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, tương tự trường hợp ai cũng có thể thành một Đạo gia hoặc một Nho gia.
Nhánh triết học Phật giáo gây ảnh hưởng lớn nhất tại Trung Hoa là Trung quán tông), giải đáp vấn đề bản chất của Niết-bàn hoặc Phật tính bằng cách không giải đáp. Niết-bàn được thực hiện bằng một loại trí huệ đặc biệt, bất khả thuyết, bất khả tư nghị (Bát-nhã, Bát-nhã-ba-la-mật-đa). Và đây cũng là điểm thúc đẩy sự hoà nhập của khái niệm Đạo và Niết-bàn cũng như sự kết luận "Niết-bàn và Đạo là một".
Hai trường phái Phật giáo quan trọng với vũ trụ quan có điểm tương đồng với Tân Đạo gia là Thiên Thai tông và Hoa Nghiêm tông. Thiên Thai tông chủ trương "một niệm phát sinh tam thiên đại thiên thế giới xuất hiện và Hoa Nghiêm tông nhấn mạnh đến khía cạnh "Lý sự vô ngại" và "Sự sự vô ngại". Sự tương tác, xuyên suốt của vạn vật chính là sự thể hiện của Phật tính.
Tông phái có nhiều điểm tương đồng với Đạo giáo nhất là Thiền tông. Thành phần Đạo giáo của Thiền có thể được hiểu rõ hơn khi tham chiếu lại nghịch lý "tham ái". Lão tử nói: Ai thường không có ham muốn (dục) thì thấy được cái huyền diệu (của Đạo), ai ham muốn thì chỉ thấy những cái nhỏ nhặt Đạo Đức kinh I). Nếu hành giả Phật giáo lìa bỏ tham ái để đạt Niết-bàn thì phải quên cả hai, Niết-bàn và Luân hồi. Và sự kiện này lại tương ứng câu giải đáp bí ẩn dành cho bản chất Niết-bàn cũng như nhấn mạnh lần nữa sự đề cao cách thực hành của Thiền tông "ngay lúc này, ngay đây", sự trực nhận "tất cả chúng sinh bản lai là Phật".
Việc từ khước lý thuyết Phật giáo của các Đạo gia được tiếp nối bởi một đặc điểm khác: Nhấn mạnh sự hấp thụ hoàn toàn vào thực hành trên một cấp bậc cao. Thiền tông Trung Hoa lập cơ sở chủ yếu trên quan điểm Đốn ngộ, nghĩa là "giác ngộ ngay lập tức", và như thế, Thiền tông phản bác tất cả những quá trình tu tập: "Bạn không thể đến gần hơn - chính vì Bạn đang ở ngay trong Đạo".
Điểm tương đồng giữa Đạo giáo và Thiền tông được minh hoạ rất hay trong Công án thứ 19 của tác phẩm Vô môn quan và Triệu Châu Chân Tế Thiền sư ngữ lục. Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi Nam Tuyền Phổ Nguyện:
Sư hỏi Nam Tuyền: "Thế nào là Đạo?"
Nam Tuyền đáp: "Tâm bình thường là Đạo."
Sư hỏi: "Có thể hướng đến được không?"
Nam Tuyền đáp: "Nghĩ tìm đến là trái."
Sư lại hỏi: "Chẳng nghĩ suy thì làm sao biết Đạo?"
Nam Tuyền đáp: "Đạo chẳng thuộc về hiểu biết hay không hiểu biết. Biết là vọng giác (khái niệm), không biết là vô ký (vô minh). Nếu thật đạt Đạo thì không còn nghi ngờ, [Đạo] như hư không thênh thang rộng rãi, đâu thể cưỡng nói là phải là quấy."
Sư nhân nghe lời này lập tức ngộ được huyền chỉ, tâm sư sáng như trăng tròn.
=== Thiên sư đạo ===
Tổ chức Đạo giáo đầu tiên xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các thành phần của Toả-la-á-tư-đức giáo (zh. en. Zoroastrianism). Trong phái mang tên Ngũ Đẩu Mễ Đạo - gọi theo số gạo đồ đệ phải nộp để gia nhập - người ta tìm thấy những yếu tố, tư tưởng cứu thế chủ và cách mạng: Vương triều Hán nên bị lật đổ để Thiên sư Trương Đạo Lăng cai trị và thời đoạn cuối của thế giới bắt đầu.
=== Sự phát triển thành một tôn giáo quần chúng ===
=== Các tông phái chính ===
Nhìn chung, Đạo giáo có 3 trường phái:
Đạo học chủ trương tu tánh thiên về vấn đề giác ngộ, quay về với nội tâm tìm sự thanh tĩnh để đạt Đạo, tương đương phương pháp Đốn ngộ của Phật giáo. Đại diện cho trường phái này là Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử (khoảng thế kỷ thứ 4 trước CN) viết Xung Hư chân kinh, Quan Doãn Tử viết Văn Thủy Chân Kinh, Trần Hi Di tức Trần Đoàn Lão Tổ (khoảng 900, đầu thời Tống) là người đã sáng lập khoa Tử vi.
Tiên học (còn gọi là Đơn Đạo) khác với Đạo học, là phương pháp tiệm tu, đi từ thấp đến cao, từ thô tới tinh, từ hữu vi đến vô vi; có mục tiêu tu hành phản lão hoàn đồng, trường sinh bất lão tức là chủ trương tu tạo nên một xác thân tráng kiện, dần dần tiến đến thân tâm an lạc và cuối cùng mở được tuệ giác và chung cuộc vẫn đi đến chỗ Thiên Nhân hiệp nhất, huyền đồng cùng Trời Đất. Phái Tiên Học cũng thờ Lão Tử nhưng có 3 vị đứng đầu là Đông Hoa Đế Quân Lý Thiết Quải (sống vào thời nhà Hán) tu ở núi Côn Lôn; Chung Ly Quyền (cuối thời Đông Hán), đứng đầu Bát Tiên; Lữ Đồng Tân là đồ đệ của Hán Chung Ly.
Tiên Học có các tông phái:
- Nam Tông: gồm có Lưu Thao được Chung Ly Quyền truyền Đạo năm 911; Trương Bá Đoan (đời Tống) sáng lập ra Nam Tông.
- Bắc Tông: còn gọi là Toàn Chân Phái, giáo chủ là Vương Trùng Dương, người Hàm Dương, có 7 đệ tử: Khưu Xứ Cơ, Lưu Xứ Huyền, Đàm Xứ Đoan, Mã Ngọc, Hách Đại Thông, Vương Xứ Nhất, Tôn Bất Nhị. Doãn Chân Nhân, người giảng Hoàng Cực hợp Tích Chứng Đạo Tiên Kinh và Liêu Dương Điện Vấn Đáp sau tập hợp thành Tính Mệnh Khuê Chỉ là học trò của Khưu Xứ Cơ
- Đông phái: do Lục Tiềm Hư sáng lập năm 1567 đời Minh Mục Tông.
- Tây phái: do Lý Hàm Hư đời ThanhHàm Phong sáng lập (1851)
- Trung phái: do Lý Đạo Thuần sáng lập đời Nguyên, đề cao chữ Trung.
- Trương Tam Phong phái: (cuối nhà Nguyên, đầu triều Minh).
Ngoài ra, dưới thời nhà Tấn, có Kim Đan Đạo do một ông quan là Cát Hồng khởi xướng chủ trương tu Tiên bằng hai cách: nội tu và ngoại dưỡng. Ngoại dưỡng là dùng kim đan gọi là thuốc trường sinh luyện bằng các khoáng chất như thần sa, vàng…. Nội tu là rèn luyện thân thể bằng phép dưỡng sinh, tịnh luyện tinh – khí – thần để "hườn Hư".
Đạo giáo nhân gian hay Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng, người nước Bái đến núi Tứ Xuyên tu luyện, là cháu 8 đời của Trương Lương thời Tam Quốc (đời Hán – 206 trước CN và 220 sau CN) sáng lập "Đạo 5 đấu gạo" (Ngũ đấu mễ đạo: ai muốn vào Đạo thì phải nộp 5 đấu gạo), thờ Lão Tử tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân dùng kinh kệ, bùa chú, phương thuật, tế lễ… để thu hút tín đồ, được hậu thế phong là Trương Thiên Sư.
Như vậy, Đạo giáo cũng giống như Nho giáo và Phật giáo, ngày càng đi xa chân truyền của vị Giáo Tổ khai sáng. Ngày nay tại Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông, Đạo giáo vẫn còn rất thịnh hành. Riêng Đài Loan, có tất cả 86 giáo phái hoặc tổ chức Đạo giáo được chính quyền hỗ trợ, nhưng có 6 môn phái nổi bật:
- Phái Chính Nhất hay phái Thiên Sư thuộc Long Hổ Sơn.
- Phái Mao Sơn với 2 loại pháp môn: nội luyện theo kinh Huỳnh Đình và võ công theo Kỳ Môn Độn giáp.
- Phái Thái Cực với pháp môn tu luyện theo truyền thống Trương Tam Phong và pháp môn võ thuật trừ tà ma.
- Phái Toàn Chân theo đường lối của Vương Trùng Dương.
- Phái Thần Tiên: chuyên về biểu diễn bán thuốc hoặc kiếm tiền.
- Phái Lư Sơn thiên về bí thuật.
=== Đạo gia khí công ===
=== Nguồn gốc khí công của các phái đạo gia khí công ===
Trước thời Đông Hán (58) bộ môn khí công được chia làm hai loại và phương pháp luyện tập hầu như chưa nhuốm màu sắc tôn giáo như vào những thời đại sau này. Một loại được các môn đồ của Lão giáo và Khổng giáo thường xuyên luyện tập nhằm mục đích dưỡng sinh, bảo tồn sức khỏe; loại khác được sử dụng bởi Y-gia trong việc điều trị dưới những hình thức như châm, cứu, án, ma, kết hợp với nhiều động tác để điều chỉnh, quân bình khí huyết hoặc để chữa trị bệnh tật. Sau này khi Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc, một số những kỹ thuật khí công từng được luyện tập bên Ấn Ðộ cũng bắt đầu được lưu truyền tại Trung Quốc. Ðặc biệt vì vua chúa nhà Hán đa số là những Phật tử thuần thành, nên Phật giáo nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo chính, nhờ thế nên các chư tăng đã có cơ hội học hỏi một số phương pháp luyện tâm, định thần. Tuy nhiên vì trở ngại về giao thông và truyền thống nên họ đã không thu thập được toàn bộ các phương pháp nói trên.
Hơn nữa, trong khoảng gần năm thế kỷ Phật giáo được phổ biến ở Trung Quốc, chỉ có hai vị cao tăng của Phật giáo Ấn Ðộ được mời sang thuyết giảng về Phật học. Theo sử sách, vị thứ nhất là Pao Jaco (Mỹ-Lệ Phật) và vị thứ nhì là Bồ-đề-đạt-ma. Tình trạng này đưa đến hậu quả là các tăng ni Trung Quốc hoàn toàn học hỏi, nghiên cứu triết học, giáo lý Phật giáo qua kinh điển, chứ không được trực tiếp truyền thụ bởi những bậc thầy uyên thâm về kiến thức cũng như về kinh nghiệm tu tập. Nên từ đó những cách thức tu luyện của các giáo sĩ Phật giáo Trung Quốc đã hoàn toàn khác biệt với giáo sĩ Phật giáo Ấn Độ. Họ quan niệm rằng phần tâm linh là chính, xác thân là phụ, nên chỉ chú trọng vào việc tôi luyện tinh thần, mà sao lãng phần thể xác. Thêm vào đó, vì chế độ dinh dưỡng thiếu quân bình nên đa số các sư sãi Trung Quốc thời bấy giờ nếu không bệnh hoạn thì cũng yếu kém về thể lực. Tình trạng bi đát này tiếp tục kéo dài mãi cho đến khi Ðạt Ma đặt chân lên đất Trung-hoa vào năm 527 dưới triều nhà Lương.
Bồ Đề Ðạt Ma ra đời vào khoảng năm 483, ông nguyên là hoàng tử của một tiểu quốc thuộc miền nam Ấn Ðộ, sau thoát tục trở thành tăng sĩ thuộc hệ phái Mahayana, thường được xem là một vị Bồ Tát chuyên cứu độ chúng sanh. Theo sự thỉnh cầu của Lương Vũ Đế năm 527, ông đến Trung Hoa để thuyết pháp. Về sau khi thấy nhà vua và triều đình không đồng ý với những tư tưởng ông truyền bá, ông đã lui về ẩn thân ở Thiếu Lâm tự. Tại đây, nhận thấy đa số chư tăng đều ốm yếu và bệnh hoạn, ông đã trao tặng họ hai bộ Dịch Cân kinh và Tẩy Tủy kinh, là những phương pháp tu luyện khả dĩ giúp họ thăng tiến trên đường tu tập. Dịch Cân kinh hướng dẫn các sư tăng làm cách nào để gia tăng thể lực, thay đổi bản chất từ yếu đuối suy nhược đến chỗ tráng kiện. Phương pháp này đã giúp học sau một thời gian luyện tập không những sức khỏe được hồi phục, còn tăng cường thể lực. Hơn nữa khi phối hợp những kỹ thuật của Dịch-Cân kinh với võ thuật, những chiêu thức cũ bỗng trở nên vô cùng dũng mãnh và lợi hại. Riêng môn Tẩy-Tủy công là một phương pháp "rửa" sạch chất tủy, gia tăng số lượng hồng huyết cầu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, đồng thời trì hoãn lại sự già nua của các tế bào, nhưng quan trọng nhất là những ảnh hưởng trực tiếp đến não bộ, giúp họ trong việc an định tinh thần, là phần tối quan trọng trong tiến trình tu tập để đạt đến sự giác ngộ. Vì những môn công phu này rất cao về phần lý thuyết và khó luyện tập, nên mỗi thế hệ sư tăng chỉ có một số ít cao đồ được bí mật truyền dạy và thành đạt.
Cũng vào thời gian này, một tôn giáo khác được khai sinh lấy danh xưng là Ðạo giáo. Người khai sáng ra tôn giáo này là đạo sĩ Trương Đạo Lăng. Ông học được phép trường sinh bất lão, vào đất Thục ngụ ở núi Hạc Minh soạn ra bộ Ðạo thư gồm 24 chương và chuyên làm bùa để trị bệnh. Ông đã kết hợp nền triết học cổ truyền của Lão giáo với giáo lý Phật giáo như những thuyết về kiếp số, những luật khai độ để lập thành Ðạo giáo. Chúng ta cũng đừng quên rằng: trước khi Ðạo-giáo ra đời, các đạo sĩ Lão giáo đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ về trước, vì thế phương thuật thiền định khí công của họ đã đạt đến trình độ thượng thừa, nên dù sau này khi Phật-giáo đã được dung hòa với Ðạo giáo, chỉ có một số ít những phương pháp tập luyện được biến cải. Còn về mặt thể lực, vì đồng quan điểm với Phật-gia, nên Ðạo-gia cũng không mấy quan tâm và chú trọng.
Vào giai đoạn này, sự liên hệ giữa hai giáo phái trở nên rất mật thiết, nên sau khi Bồ-đề-đạt-ma qua đời, Ðạo gia dần dà cũng nắm được những bí kiếp luyện khí công của Phật gia. Chỉ vài trăm năm sau, môn Dịch-Cân Kinh hầu như đã được truyền bá rất rộng rãi trong giới Ðạo-gia. Ðến đời nhà Tống (960), Thái Cực quyền, một môn nội đan khí công chú trọng đến việc luyện khí được sáng tác bởi Ðạo-sĩ Trương-Tam-Phong trên núi Võ Ðang, đã biến địa danh này trở thành trung tâm điểm của Ðạo-giáo và phái Nội-Ðan khí công. Trong khi đó Thiếu-Lâm tự thường được coi là nơi có nhiều thẩm quyền hơn về môn Ngoại-Ðan khí công.
Riêng về môn Tẩy-Tủy công tưởng đã bị thất truyền, cơ may xảy ra dưới thời nhà Thanh (1644-1912) khi cả Phật-gia lẫn Ðạo-gia đều góp phần vào công cuộc lật đổ triều đại này. Ðể đàn áp và trả thù, rất nhiều đạo sĩ, tăng sĩ đã bị bắt bớ, tù đầy, giam cầm, khủng bố và sát hại; số lượng chùa chiền, đạo quán bị quan quân nhà Thanh đốt phá cũng không ít (điển hình là trường hợp chùa Thiếu Lâm, núi La Phù). Một số đạo sĩ, cao tăng may mắn đào thoát được, và để tiếp tục kháng chiến họ bắt đầu truyền dạy những tuyệt kỹ của môn Dịch-Cân kinh và Tẩy-Tủy công cho dân gian. Nhờ vậy cả hai bí kiếp này vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay.
=== Ðạo Gia Khí Công ===
Cùng quan niệm như Phật-gia, Ðạo-gia tin rằng căn nguyên của những phiền não thế tục là do thất tình, lục dục mang đến. Muốn chế ngự được những cảm xúc này chúng ta phải tu tập và tôi luyện để thần khí đạt đến được trạng thái an định, độc lập. Từ đó không những giác ngộ, trường sinh bất lão còn có thể làm chủ được định mệnh của mình sau khi lìa thế. Tiến trình luyện tập của Ðạo-gia được chia làm 3 giai đoạn như sau:
=== Luyện tinh hóa khí ===
Giai đoạn này liên quan đến việc gia tăng và kết tụ nguyên tinh (original essence). Sau đó chuyển hóa tinh thành khí bằng những phương pháp thiền định hay những kỹ thuật nội công theo đúng một chu kỳ là 100 ngày.
=== Luyện khí hóa thần ===
Sau một thời gian luyện tập, khó được luân chuyển theo đại chu thiên hay chính là pháp giới hậu thiên. Qua giai đoạn này đã đủ nằm ngoài tam giới không thuộc luân hồi.
=== Luyện thần phản hư ===
Giai đoạn tu luyện đưa thần trở về với hư không (vô-cực).
Dịch-Cân kinh và Tẩy-Tủy công cũng được Ðạo-gia coi là những phương pháp giúp chống lại sự già nua, kéo dài tuổi thọ. Trong khi Dịch-Cân kinh tôi luyện phần thân xác, thì Tẩy-Tủy công giúp khí lưu chuyển trong tủy sống, giúp tủy sạch sẽ tươi nhuận. Tủy sống là nơi sản xuất phần lớn số lượng hồng huyết cầu và bạch huyết cầu. Chúng có nhiệm vụ mang những dưỡng chất cần thiết cho việc nuôi dưỡng các tế bào cùng các cơ quan trong cơ thể của chúng ta, đồng thời tẩy trừ, thanh lọc các chất cặn bã và độc tố. Khi hồng huyết cầu tươi tốt hoạt động bình thường, cơ thể chúng ta khỏe mạnh hữu hiệu trong việc chống lại bệnh tật, đình trệ sự già nua. Vì thế đối với Ðạo-gia trên 100 tuổi vẫn chưa được coi là thọ. Tục truyền Lão tử thọ đến 250 tuổi.
Nhằm mục đích tôi luyện Thân, Tâm. Ðạo-gia đề ra 3 đường lối để luyện tập:
Kim Ðơn Ðại Ðạo: Ðường lối này hướng dẫn cách luyện tập tự bản thân vì cho rằng chúng ta có thể đạt được sự trường sinh bất lão hay giác ngộ tự bản thể của mỗi cá nhân.
Tính Mệnh Song Tu: Cũng chính là phép tu chủ yếu của đạo gia, bao gồm kim đơn như trên và 4 đại phái khác là thái cực, phù lục, kiếm tiên và huyền chân. Mục đích đều là hoàn đến vô cực dù trời đất có hư hoại vẫn không bị ảnh hưởng, có thể tái lập thiên địa, pháp lực vô biên. Các công phu này vẫn là cực bí mật ít người biết.
Ðạo Ngoại Dược Giáo: Cách này chuyên dùng dược liệu để vận hành và kiểm soát khí lực trong khi luyện tập. Những vị như sâm, nhung thường được sử dụng để bào chế phương dược. Theo một số đông Ðạo-sĩ, dược liệu cũng có nghĩa là khí. Có thể trao đổi hoặc tiếp nhận do đó họ chủ trương lối sống khoáng dật.
Qua những cách thức luyện tập kể trên, sau đời nhà Tống (960-1367) Ðạo-gia lại chia làm hai phái rõ rệt:
=== Chính Diêu Phái ===
Phái này cực lực lên án việc luyện khí công với đối tượng cùng phái hoặc khác phái tính là trái với luân thường, đạo lý. Họ chủ trương như Phật-gia: phương thức dẫn dắt đến sự giác ngộ là tôi luyện chính bản thân mình. Nếu tập luyện với người khác bất kể phái tính nào, cũng sẽ làm tâm trí mất đi nét thanh tịnh gây trở ngại cho việc tu tập.
=== Thái Dược Phái ===
Phái này chủ trương tu luyện cho thân xác khỏe mạnh và trường thọ để tiêu dao trên cõi trần hoàn chứ không đặt nặng phần tâm linh, nên họ lý luận rằng: nếu kết hợp cả 3 đường lối kể trên, không những đạt được kết quả mau chóng, còn rất thực tế và hữu dụng. Phái này còn được mệnh danh là phái "Thần Tiên Ðan Ðỉnh".
== Đạo giáo tại Trung Quốc ==
Đạo giáo là tôn giáo sinh trưởng tại địa phương Trung Quốc, bắt đầu từ thế kỷ thứ 6 TCN, đến nay đã có hơn 2500 năm lịch sử. Đạo giáo kế thừa sự sùng bái thiên nhiên và sùng bái tổ tiên của thời cổ Trung Quốc, trong lịch sử có rất nhiều giáo phái, sau này dần dần diễn biến thành hai giáo phái lớn Toàn Chân Đạo và Chính Nhất Đạo, có ảnh hưởng nhất định trong dân tộc Hán. Do Đạo giáo không có nghi thức và quy định nhập giáo nghiêm khắc, số người theo đạo rất khó thống kê. Trung Quốc hiện có hơn 1500 ngôi Đạo quán, hơn 25 nghìn đạo sĩ nam, nữ, với khoảng 360 triệu tín đồ.
Không chỉ là một tôn giáo, dạy con người trở về với gốc Đạo, huyền đồng cùng vũ trụ, Đạo giáo còn đóng góp rất nhiều cho nền văn minh Trung Quốc. Rất nhiều sinh hoạt độc đáo của người Trung Quốc đã lan truyền khắp thế giới có nguồn gốc xuất phát từ Đạo giáo như:
- Khuynh hướng hội họa của dòng tranh "Thủy mặc" hay "tranh sơn thủy" thể hiện sự cân bằng tuyệt hảo giữa Âm - Dương.
- Thuật Phong thủy chỉ rõ cách chọn hướng, cách thiết kế môi trường xây dựng theo một hệ thống phối hợp các yếu tố quan trọng của không gian và thời gian nhằm mang lại sự hài hòa tối đa trong mọi tương tác giữa con người và thiên nhiên.
- Võ thuật với nguyên tắc "mềm như nước" nhưng hết sức hiệu quả, giúp cho con người giải tỏa những tắt nghẽn sinh lực, đưa thân thể trở về trạng thái cân bằng, vừa hài hòa thể lý lẫn tinh thần mà ngày nay rất phổ biến. Đó là môn Thái cực quyền.
- Về y học, phương pháp châm cứu và bấm huyệt được xem là cách trị bệnh rất hiệu quả.
- Về tư tưởng, Đạo giáo đã chủ trương bất tử, tức là quan niệm lúc chết, sự sống con người được thay đổi chứ không bị mất đi, cho nên con người có một thái độ tích cực đối với thân phận chính mình.
== Đạo giáo tại phương Tây ==
== Xem thêm ==
Lão Tử
Nguyên Thủy Thiên Tôn
Bàn Cổ
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Balfour, Frederic Henry, tr. The Divine Classic of Nan-Hua; Being the Works of Chuang Tsze, Taoist Philosopher (Kelly & Walsh, 1881).
Barrett, Rick. Taijiquan: Through the Western Gate (Blue Snake Books, 2006). ISBN 1-58394-139-8.
Cane, Eulalio Paul. Harmony: Radical Taoism Gently Applied (Trafford Publishing, 2002). ISBN 1-4122-4778-0.
Carr, Michael. "Whence the Pronunciation of Taoism?". Dictionaries (1990) 12:55-74.
Carr, David T. & Zhang, Canhui. Space, Time, and Culture (Springer, 2004). ISBN 1-4020-2823-7.
Chan Wing-tsit. A Source Book in Chinese Philosophy (Princeton, 1963). ISBN 0-691-01964-9.
Chang, Stephen T. The Great Tao (Tao Longevity LLC, 1985). ISBN 0-942196-01-5.
Demerath, Nicholas J. Crossing the Gods: World Religions and Worldly Politics (Rutgers University Press, 2003). ISBN 0-8135-3207-8.
Dumoulin, Heinrich, Heisig, James W. & Knitter, Paul. Zen Buddhism: A History (India and China) (World Wisdom, Inc, 2005). ISBN 0-941532-89-5.
Eliade, Mircea. A History of Religious Ideas, Volume 2. Translated by Willard R. Trask. Chicago: University of Chicago Press, 1984.
Fasching, Darrell J. & deChant, Dell. Comparative Religious Ethics: a narrative approach (Blackwell Publishing, 2001). ISBN 0-631-20125-4.
Fisher, Mary Pat. Living Religions: An Encyclopaedia of the World's Faiths (I.B. Tauris, 1997). ISBN 1-86064-148-2.
Goodspeed, Bennett W. The Tao Jones Averages: A Guide to Whole-Brained Investing (E. P. Dutton, 1983).
Graham, Angus. Disputers of the Tao (Open Court, 1989) ISBN 0-8126-9087-7.
Hansen, Chad D. A Daoist Theory of Chinese Thought: A Philosophical Interpretation (Oxford University Press, 2000). ISBN 0-19-513419-2.
Hucker, Charles O. China's Imperial Past: An Introduction to Chinese History and Culture (Stanford University Press, 1995). ISBN 0-8047-2353-2.
Jones, Richard H. Mysticism and Morality: a new look at old questions (Lexington Books, 2004). ISBN 0-7391-0784-4.
Keller, Catherine. The Face of the Deep: A Theology of Becoming (Routledge, 2003). ISBN 0-415-25648-8.
Kim, Ha Poong. Reading Lao Tzu: A Companion to the Tao Te Ching With a New Translation (Xlibris Corporation, 2003). ISBN 1-4010-8316-1.
Kirkland, Russel. Taoism: The Enduring Tradition (Routledge, 2004). ISBN 0-415-26322-0.
Kohn, Livia, ed. Daoism Handbook (Leiden: Brill, 2000).
Kohn, Livia. The Daoist Monastic Manual: A Translation of the Fengdao Kejie (New York: Oxford University Press 2004)
Kohn, Livia & LaFargue, Michael, ed. Lao-Tzu and the Tao-Te-Ching (SUNY Press, 1998). ISBN 0-7914-3599-7.
Kraemer, Kenneth. World Scriptures: An Introduction to Comparative Religions (Paulist Press, 1986). ISBN 0-8091-2781-4.
LaFargue, Michael. Tao and Method: A Reasoned Approach to the Tao Te Ching (SUNY Press. 1994) ISBN 0-7914-1601-1.
Little, Stephen and Shawn Eichman, et al. Taoism and the Arts of China (Chicago: Art Institute of Chicago, 2000). ISBN 0-520-22784-0
Mặc, Hạnh 'Đạo Gia Khí Công' (Nội San Hồng Gia Việt Nam, 2005)
Mair, Victor H. The Columbia History of Chinese Literature (Columbia University Press, 2001). ISBN 0-231-10984-9
Mair, Victor H. Experimental Essays on Chuang-tzu (Hawaii, 1983) ISBN 0-88706-967-3.
Markham, Ian S. & Ruparell, Tinu. Encountering Religion: an introduction to the religions of the world (Blackwell Publishing, 2001). ISBN 0-631-20674-4.
Martin, William. A Path And A Practice: Using Lao Tzu's Tao Te Ching as a Guide to an Awakened Spiritual Life (Marlowe & Company, 2005). ISBN 1-56924-390-5.
Martinson, Paul Varo. A theology of world religions: Interpreting God, self, and world in Semitic, Indian, and Chinese thought (Augsburg Publishing House, 1987). ISBN 0-8066-2253-9.
Maspero, Henri. Translated by Frank A. Kierman, Jr. Taoism and Chinese Religion (University of Massachusetts Press, 1981). ISBN 0-87023-308-4
Miller, James. Daoism: A Short Introduction (Oxford: Oneworld Publications, 2003). ISBN 1-85168-315-1
Mollier, Christine. Buddhism and Taoism Face to Face: Scripture, Ritual, and Iconographic Exchange in Medieval China. (University of Hawai'i Press, 2008). ISBN 0-8248-3169-1.
Moore, Charles Alexander. The Chinese Mind: Essentials of Chinese Philosophy and Culture (University of Hawaii Press, 1967). ISBN 0-8248-0075-3.
Occhiogrosso, Peter. The Joy of Sects (Doubleday, 1994). ISBN 0-385-42564-3
Pas, Julian F. & Leung, Man Kam. Historical Dictionary of Taoism (Scarecrow Press, 1998). ISBN 0-8108-3369-7.
Prebish, Charles. Buddhism: A Modern Perspective (Penn State Press, 1975). ISBN 0-271-01195-5.
Robinet, Isabelle. Taoist Meditation: The Mao-shan Tradition of Great Purity (Albany: SUNY Press, 1993 [original French 1989]).
Robinet, Isabelle. Taoism: Growth of a Religion (Stanford: Stanford University Press, 1997 [original French 1992]). ISBN 0-8047-2839-9
Segal, Robert Alan. The Blackwell Companion to the Study of Religion (Blackwell Publishing, 2006). ISBN 0-631-23216-8.
Schipper, Kristopher. The Taoist Body (Berkeley: University of California Press, 1993 [original French version 1982]).
Schipper, Kristopher and Franciscus Verellen. The Taoist Canon: A Historical Companion to the Daozang (Chicago: University of Chicago, 2004).
Sharot, Stephen. A Comparative Sociology of World Religions: virtuosos, priests, and popular religion (New York: NYU Press, 2001). ISBN 0-8147-9805-5.
Silvers, Brock. The Taoist Manual (Honolulu: Sacred Mountain Press, 2005).
Slingerland, Edward Gilman. Effortless Action: Wu-Wei as Conceptual Metaphor and Spiritual Ideal in Early China (Oxford University Press, 2003). ISBN 0-19-513899-6.
Van Voorst, Robert E. Anthology of World Scriptures (Thomson Wadsworth, 2005). ISBN 0-534-52099-5.
Waley, Arthur. The Way and Its Power: A Study of the Tao Te Ching and Its Place in Chinese Thought (Grove Press, 1958). ISBN 0-8021-5085-3.Mặc, Hạnh 'Đạo Gia Khí Công' (Nội San Hồng Gia Việt Nam, 2005)
== Đọc thêm ==
Kohn, Livia. The Taoist Experience: An Anthology (Albany: SUNY Press, 1993).
Miller, James. Daoism: A Short Introduction (Oxford: Oneworld Publications, 2003). ISBN 1-85168-315-1
Saso, Michael R. Taoism and the Rite of Cosmic Renewal (2nd ed., Washington State University Press, 1990). ISBN 978-0-87422-054-4
Sivin, Nathan. Chinese Alchemy: Preliminary Studies (Cambridge: Harvard University Press, 1968)
Sommer, Deborah. Chinese Religion: An Anthology of Sources (Oxford University Press, 1995) ISBN 0-19-508895-6
Welch, H. and Seidel, A., Facets of Taoism (Yale University Press, 1979)
Cách hiểu phổ thông (không hàn lâm) về Đạo giáo
Dyer, Wayne. Change Your Thoughts, Change Your Life: Living the Wisdom of the Tao (Hay House, 2007). ISBN 978-1-4019-1750-0
Hoff, Benjamin. The Tao of Pooh (Penguin, 1983). ISBN 978-0-14-006747-7
Wilde, Stuart. Infinite Self: 33 Steps to Reclaiming Your Inner Power (Hay House, 1995). ISBN 978-1-56170-349-4
== Liên kết ngoài ==
Taoism Virtual Library
Taoist Texts at the Internet Sacred Text Archive
Patheos Library - Taoism
Tư tưởng Đạo gia |
đại hội đảng cộng sản việt nam x.txt | Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam X, được gọi chính thức là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X là đại hội lần thứ mười của Đảng Cộng sản Việt Nam, được tổ chức từ ngày 18 đến 25 tháng 4 năm 2006 tại Hà Nội. 1.176 đại biểu, đại diện cho 3,1 triệu đảng viên đã tham dự lễ khai mạc.
Chủ đề của Đại hội là: "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển".
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết, với Bộ Chính trị gồm 14 thành viên.
== Diễn biến trước Đại hội ==
Ngày 3 tháng 2, 2006, lãnh đạo Đảng Cộng sản đã phát động phong trào xin ý kiến nhân dân về Dự thảo Báo cáo của Đảng. Trong thời hạn một tháng Văn phòng trung ương Đảng đã nhận trên 1.400 lá thư góp ý về đường lối đảng. Ngoài ra người dân cũng gửi ý kiến của mình (thư viết tay, thư điện tử) đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Nhiều báo chí Việt Nam đã mở các diễn đàn, đưa ý kiến của các trí thức về định hướng của Đảng. Những ý kiến đề nghị chỉnh sửa đáng chú ý nhất gồm có: việc đảng viên làm kinh tế tư nhân, địa vị của Đảng Cộng sản trong Điều 4 của Hiến pháp, và việc bầu ủy viên Trung ương dự khuyết.
Vụ PMU 18 đã gây xôn xao dư luận tại Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư gửi Đảng Cộng sản yêu cầu chính thức đưa vụ PMU18 vào nghị trình họp của Đại hội Đảng. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đào Đình Bình xin từ chức, Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến bị bắt tạm giam. Cùng với hai quan chức này, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Cao Ngọc Oánh đã rút tên ra khỏi danh sách dự đại hội vì có liên quan đến vụ này.
== Diễn biến trong đại hội ==
Trừ lễ khai mạc và bế mạc, diễn biến trong đại hội không công khai cho báo chí. Lần đầu tiên, các đại biểu được quyền đề cử Tổng Bí thư. Các nhà quan sát dự đoán Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch nước Trần Đức Lương sẽ về hưu.
Đại hội đã bầu một Ban Chấp hành trung ương với 160 thành viên chính thức và 21 thành viên dự khuyết. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh được bầu lại nhiệm kỳ thứ nhì. Bộ Chính trị mới gồm có 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên.
== Quan điểm mới ==
Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô - Việc Đại hội ra Nghị quyết cho phép Đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong thay đổi tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam.
== Danh sách Bộ Chính trị và Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa X ==
Thành viên Ban Bí thư: Nông Đức Mạnh, Trương Tấn Sang, Nguyễn Văn Chi, Tô Huy Rứa, Hồ Đức Việt, Trương Vĩnh Trọng, Lê Văn Dũng, Tòng Thị Phóng, Ngô Văn Dụ, Hà Thị Khiết
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hướng dẫn của Ban Bí thư về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân
Dự thảo báo cáo
Nhiều ý kiến đóng góp xây dựng Đảng
Hướng tới Đại hội lần thứ X của Đảng: từ báo Nhân dân
Chuyên trang Đại hội X- báo Tuổi Trẻ
Chuyên trang của BBC Việt ngữ
Chuyên trang tại Talawas (có thể không truy cập được từ Việt Nam)
Võ Nguyên Giáp: Kiểm điểm vụ PMU18 và báo cáo Đại hội X
Chuyên trang Đại hội X- báo vietnamnet
Đánh giá khái quát 20 năm đổi mới
Bộ Ba Nguyễn Minh Triết – Nguyễn Tấn Dũng – Trương Tấn Sang |
1981.txt | Theo lịch Gregory, năm 1981 (số La Mã: MCMLXXXI) là một năm bắt đầu từ ngày thứ năm.
Bản mẫu:Tháng trong năm 1981
== Sự kiện ==
Tháng 1 - Căn hầm bí mật Sarawak được phát hiện ở Borneo.
1 tháng 1: Hy Lạp gia nhập Cộng đồng chung châu Âu, sau này trở thành Liên minh châu Âu.
1 tháng 1: Palau trở thành xứ tự trị.
5 tháng 1: Margaret Thatcher tiến hành cải tổ nội bộ, cách chức Norman St. John-Stevas.
20 tháng 1: Ronald Reagan thắng Jimmy Carter, trở thành Tổng thống thứ 40 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
25 tháng 1: Giang Thanh ('Phu nhân Chủ tịch Mao') bị tuyên án tử hình tại Trung Quốc.
27 tháng 1: Chìm phà Tamponas 2 (Indonesia) về phía bắc của Java (Indonesia) chết 512 người
29 tháng 1: Tây Ban Nha: Thủ tướng Adolfo Suárez từ chức
9 tháng 2: Józef Pińkowski từ chức thủ tướng Ba Lan, người kế nhiệm là tướng Wojciech Jaruzelski.
21 tháng 2: Đánh bom các đài phát thanh "Radio Free Europe" và "Radio Liberty" (München, Đức) của Hoa Kỳ.
25 tháng 2: Tây Ban Nha. Leopoldo Calvo-Sotelo Bustelo trở thành thủ tướng mới
5 tháng 3: Hai nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ bị ám sát chết trong Paris.
8 tháng 3: Tai nạn tàu hỏa phía bắc Buenos Aires, 50 người chết.
19 tháng 3: Cộng hòa Liên bang Đức trả tự do cho nhiều điệp viên của Đông Đức, trong đó là Christel Guillaume, để chuộc lại nhiều tù nhân của Đông Đức.
20 tháng 3: Maria Estela Peron, cựu nữ tổng thống Argentina, bị kết án 8 năm tù giam.
30 tháng 3: Mưu sát tổng thống Ronald Reagan trong Washington, D. C., người mưu sát John Hinckley bị bắt.
3 tháng 4: Samoa trở thành thành viên trong UNESCO.
8 tháng 4: Đánh bom trong một tàu điện ngầm ở Köln, Đức.
12 tháng 4: Tàu con thoi khởi hành lần đầu tiên.
23 tháng 4: Bahamas trở thành thành viên trong UNESCO.
7 tháng 5: Madrid: 3 quân nhân bị giết chết trong một vụ khủng bố
10 tháng 5: François Mitterrand trở thành tổng thống Pháp.
13 tháng 5: Mưu sát Giáo hoàng Johannes Paul II
11 tháng 6: Động đất trong Iran, khoảng 3.000 người chết
28 tháng 7: Động đất trong Iran, khoảng 1.500 người chết
3 tháng 8: Biểu tình trong Ba Lan.
11 tháng 8: Bồ Đào Nha: Thủ tướng Francisco Pinto Balsemao từ chức.
12 tháng 8: Tập đoàn IBM giới thiệu chiếc máy tính cá nhân (PC).
31 tháng 8: Đánh bom sở chỉ huy không quân Hoa Kỳ tại Ramstein, Đức. 2 người Đức và 18 người Mỹ bị thương.
15 tháng 9: Vanuatu trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
21 tháng 9: Belize độc lập
25 tháng 9: Belize trở thành thành viên Liên Hiệp Quốc.
6 tháng 10: Ai Cập: Tổng thống Anwar as-Sadat bị giết chết.
1 tháng 11: Antigua và Barbuda độc lập
11 tháng 11: Antigua và Barbuda trở thành thành viên Liên Hiệp Quốc
== Sinh ==
1 tháng 1: Hüzeyfe Dogan, cầu thủ bóng đá Đức
1 tháng 1: Mladen Petrić, cầu thủ bóng đá
2 tháng 1: Maximiliano Rodríguez, cầu thủ bóng đá Argentina
2 tháng 1: Hanno Balitsch, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 1: Marielle Bohm, nữ vận động viên bóng ném Đức
3 tháng 1: Eli Manning, cầu thủ football Mỹ
3 tháng 1: Cristian Deville, vận động viên chạy ski Ý
4 tháng 1: Silvy de Bie, nữ ca sĩ Bỉ
6 tháng 1: Markus Bollmann, cầu thủ bóng đá Đức
6 tháng 1: Rinko Kikuchi, nữ diễn viên Nhật Bản
6 tháng 1: Jérémie Renier, diễn viên
7 tháng 1: Ania Dąbrowska, nữ nhạc sĩ nhạc pop Ba Lan
7 tháng 1: Edison Miranda, võ sĩ quyền Anh
7 tháng 1: Alex Auld, vận động viên khúc côn cầu trên băng
8 tháng 1: Andrea Capone, cầu thủ bóng đá Ý
8 tháng 1: Michael Creed, tay đua xe đạp Mỹ
9 tháng 1: Euzebiusz Smolarek, cầu thủ bóng đá Ba Lan
9 tháng 1: Emanuele Sella, tay đua xe đạp Ý
11 tháng 1: Benjamin Auer, cầu thủ bóng đá Đức
15 tháng 1: El Hadji Diouf, cầu thủ bóng đá
15 tháng 1: Howie Day, nam ca sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc
16 tháng 1: Phan Thị Mỹ Tâm, nữ ca sĩ Việt Nam
18 tháng 1: Alicia Molik, nữ vận động viên quần vợt Úc
19 tháng 1: Asier Del Horno, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
20 tháng 1: Owen Hargreaves, cầu thủ bóng đá
21 tháng 1: Dany Heatley, vận động viên khúc côn cầu trên băng
21 tháng 1: Marko Babić, cầu thủ bóng đá Croatia
22 tháng 1: Denise la Bouche, nữ diễn viên phim khiêu dâm
22 tháng 1: Beverley Mitchell, nữ diễn viên Mỹ
22 tháng 1: Ben Moody, nhà soạn nhạc Mỹ, nhà sản xuất, người chơi đàn ghita
24 tháng 1: Quang Lê, ca sĩ tân nhạc Việt Nam.
25 tháng 1: Alicia Keys, nữ ca sĩ nhạc soul Mỹ
26 tháng 1: Nina Ritter, nữ vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức
28 tháng 1: André Muff, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
28 tháng 1: Elijah Wood, diễn viên Mỹ
31 tháng 1: Justin Timberlake, ngôi sao nhạc pop Mỹ
1 tháng 2: Gustaf Norén, nam ca sĩ ban nhạc rock Thụy Điển Mando Diao
4 tháng 2: Marcus Steegmann, cầu thủ bóng đá Đức
16 tháng 2: Susanna Kallur, nữ vận động viên điền kinh Thụy Điển
16 tháng 2: Jenny Kallur, nữ vận động viên điền kinh Thụy Điển
17 tháng 2: Paris Hilton, người mẫu, nữ doanh nhân
17 tháng 2: Bernhard Eisel, tay đua xe đạp Áo
22 tháng 2: Jeanette Biedermann, nữ ca sĩ Đức, nữ diễn viên
24 tháng 2: Lleyton Hewitt, vận động viên quần vợt Úc
25 tháng 2: Maik Wagefeld, cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Đức
2 tháng 3: Bryce Dallas Howard, nữ diễn viên Mỹ
4 tháng 3: Maike von Bremen, nữ diễn viên Đức
5 tháng 3: Christian Knees, tay đua xe đạp Đức
8 tháng 3: Timo Boll, vận động viên bóng bàn Đức
8 tháng 3: Joost Posthuma, tay đua xe đạp Hà Lan
9 tháng 3: Nikki Blond, nữ diễn viên phim khiêu dâm Hungary
10 tháng 3: Samuel Eto'o Fils, cầu thủ bóng đá
11 tháng 3: Matthias Schweighöfer, diễn viên Đức
14 tháng 3: Judith Lefeber, nữ ca sĩ Đức
15 tháng 3: Mikael Forssell, cầu thủ bóng đá
18 tháng 3: Tom Starke, cầu thủ bóng đá Đức
18 tháng 3: Fabian Cancellara, tay đua xe đạp Thụy Sĩ
20 tháng 3: Celso Esquivel, cầu thủ bóng đá Paraguay
22 tháng 3: Imre Szabics, cầu thủ bóng đá Hungary
24 tháng 3: Gary Paffet, đua xe Anh
26 tháng 3: Maxi Arland, nhạc sĩ Đức
27 tháng 3: Claudemir Jeronimo Barreto, cầu thủ bóng đá Brasil
28 tháng 3: Julia Stiles, nữ diễn viên Mỹ
31 tháng 3: Pa Dembo Tourray, cầu thủ bóng đá
1 tháng 4: Hannah Spearritt, nữ diễn viên Anh
4 tháng 4: Hạ Đạt, họa sĩ truyện tranh Trung Quốc
11 tháng 4: Alessandra Ambrosio, người mẫu Brasil
13 tháng 4: Martin Pohl, cầu thủ bóng đá Đức
17 tháng 4: Luca Denicola, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
18 tháng 4: Maxim Iglinski, tay đua xe đạp
19 tháng 4: Hayden Christensen, diễn viên Canada
19 tháng 4: Catalina Sandino Moreno, nữ diễn viên
25 tháng 4: Anja Pärson, nữ vận động viên chạy ski Thụy Điển
26 tháng 4: Matthieu Delpierre, cầu thủ bóng đá Pháp
27 tháng 4: Sandy Mölling, nữ ca sĩ nhạc pop Đức
28 tháng 4: Jessica Alba, nữ diễn viên Mỹ
1 tháng 5: Alexander Hleb, cầu thủ bóng đá Belarus
2 tháng 5: Tiago, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
10 tháng 5: Arkadiusz Gołaś, vận động viên bóng chuyền Ba Lan (mất 2005)
11 tháng 5: Austin O'Brien, diễn viên Mỹ
14 tháng 5: Júlia Sebestyén, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Hungary
15 tháng 5: Ben (Sänger), nam ca sĩ Đức
15 tháng 5: Patrice Evra, cầu thủ bóng đá Pháp
17 tháng 5: Cosma Shiva Hagen, nữ diễn viên Đức
17 tháng 5: Shiri Maimon, nữ ca sĩ Israel
19 tháng 5: Luciano Figueroa, cầu thủ bóng đá Argentina
19 tháng 5: Sina Schielke, nữ vận động viên điền kinh Đức
20 tháng 5: Iker Casillas, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
21 tháng 5: Maximilian Mutzke, nam ca sĩ Đức
21 tháng 5: Anna Rogowska, nữ vận động viên điền kinh Ba Lan
22 tháng 5: Jürgen Melzer, vận động viên quần vợt Áo
24 tháng 5: Thomas Vulivuli, cầu thủ bóng đá
26 tháng 5: Eda-Ines Etti, nữ ca sĩ Estonia
27 tháng 5: Stefan Heythausen, vận động viên chạy đua trên băng Đức
28 tháng 5: Adam Green, nam ca sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc
31 tháng 5: Marlies Schild, nữ vận động viên chạy ski Áo
1 tháng 6: Thorben Marx, cầu thủ bóng đá Đức
6 tháng 6: Anja Juliette Laval, nữ diễn viên phim khiêu dâm
9 tháng 6: Natalie Portman, nữ diễn viên Mỹ
12 tháng 6: Nora Tschirner, nữ diễn viên Đức
12 tháng 6: Klemen Lavrič, cầu thủ bóng đá Slovenia
13 tháng 6: Chris Evans, diễn viên Mỹ
15 tháng 6: Berthold Zimmer, diễn viên Đức
18 tháng 6: Marco Streller, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
18 tháng 6: Trần Gia Hoa, ca sĩ, diễn viên, MC Đài Loan
21 tháng 6: Michael Hackert, vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức
23 tháng 6: Björn Schlicke, cầu thủ bóng đá Đức
3 tháng 7: Silvia Fuhrmann, nữ chính trị gia Áo
4 tháng 7: Christoph Preuß, cầu thủ bóng đá Đức
7 tháng 7: Omar Naber, ca sĩ nhạc pop Slovenia
8 tháng 7: Anastasia Andreyevna Myskina, nữ vận động viên quần vợt Nga
9 tháng 7: Marco Stark, cầu thủ bóng đá Đức
9 tháng 7: Rutger Smith, vận động viên điền kinh Hà Lan
21 tháng 7: Joaquín Sánchez Rodríguez, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
22 tháng 7: Fritzi Eichhorn, nữ diễn viên Đức
22 tháng 7: Floriane Eichhorn, nữ diễn viên Đức
23 tháng 7: Jarkko Nieminen, vận động viên quần vợt Phần Lan
1 tháng 8: Christofer Heimeroth, thủ môn bóng đá Đức (Schalke 04)
3 tháng 8: Pablo Ibáñez, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
4 tháng 8: Benjamin Lauth, cầu thủ bóng đá Đức
8 tháng 8: Vanessa Amorosi, nữ ca sĩ nhạc pop Úc
8 tháng 8: Roger Federer, vận động viên quần vợt Thụy Sĩ
9 tháng 8: Li Jia Wei, nữ vận động viên bóng bàn Singapore
12 tháng 8: Djibril Cissé, cầu thủ bóng đá Pháp
16 tháng 8: Roque Santa Cruz, cầu thủ bóng đá Paraguay
18 tháng 8: César Delgado, cầu thủ bóng đá Argentina
22 tháng 8: Christina Obergföll, nữ vận động viên điền kinh Đức
23 tháng 8: Stephan Loboué, cầu thủ bóng đá
24 tháng 8: Chad Michael Murray, diễn viên Mỹ
25 tháng 8: Rachel Bilson, nữ diễn viên Mỹ
26 tháng 8: Ratu Veresa Toma, cầu thủ bóng đá
28 tháng 8: Agata Wróbel, nữ vận động viên cử tạ Ba Lan
28 tháng 8: Martin Erat, vận động viên khúc côn cầu trên băng Séc
30 tháng 8: André Niklaus, vận động viên điền kinh Đức
1 tháng 9: Michael Maze, vận động viên bóng bàn Đan Mạch
4 tháng 9: Beyoncé Knowles, nữ ca sĩ Mỹ
6 tháng 9: Søren Larsen, cầu thủ bóng đá Đan Mạch
8 tháng 9: Jonathan Taylor Thomas, diễn viên Mỹ
9 tháng 9: Filippo Pozzato, tay đua xe đạp Ý
12 tháng 9: Dirk Reichl, tay đua xe đạp Đức (mất 2005)
14 tháng 9: Stefan Reisinger, cầu thủ bóng đá Đức
14 tháng 9: Miyavi, nhạc sĩ Nhật Bản
16 tháng 9: Alexis Bledel, nữ diễn viên Mỹ, người mẫu
16 tháng 9: Phạm Băng Băng, nữ diễn viên Trung Quốc
18 tháng 9: Andrea Caracciolo, cầu thủ bóng đá Ý
19 tháng 9: Damiano Cunego, tay đua xe đạp Ý
22 tháng 9: Janne Drücker, nữ diễn viên Đức
26 tháng 9: Otar Chisaneischwili, cầu thủ bóng đá
26 tháng 9: Akira Sasaki, vận động viên chạy ski Nhật Bản
26 tháng 9: Christina Milian, nữ ca sĩ Mỹ, nữ diễn viên
3 tháng 10: Zlatan Ibrahimović, cầu thủ bóng đá Thụy Điển
5 tháng 10: Zhang Yining, nữ vận động viên bóng bàn Trung Hoa
6 tháng 10: Udomporn Polsak, nữ vận động viên cử tạ Thái Lan
9 tháng 10: Zachery Ty Bryan, diễn viên Mỹ
15 tháng 10: Elena Vyacheslavovna Dementieva, nữ vận động viên quần vợt Nga
17 tháng 10: Burcu Dal, nữ diễn viên Đức
17 tháng 10: Timo Ochs, cầu thủ bóng đá Đức
25 tháng 10: Shaun Wright-Phillips, cầu thủ bóng đá Anh
28 tháng 10: Milan Baroš, cầu thủ bóng đá Séc
29 tháng 10: Amanda Beard, nữ vận động viên bơi lội Mỹ
30 tháng 10: Muna Lee, nữ vận động viên điền kinh Mỹ
2 tháng 11: Tatjana Iwanowna Totmjanina, vận động viên trượt băng nghệ thuật
3 tháng 11: Navina Omilade, nữ cầu thủ bóng đá Đức
8 tháng 11: Joe Cole, cầu thủ bóng đá Anh
12 tháng 11: Annika Becker, nữ vận động viên điền kinh Đức
15 tháng 11: Xabi Alonso, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
22 tháng 11: Ben Adams, nam ca sĩ Anh
22 tháng 11: Stefan Mücke, đua xe Đức
26 tháng 11: Natasha Bedingfield, nữ ca sĩ Anh
26 tháng 11: Aurora Snow, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ
27 tháng 11: Theo Eltink, tay đua xe đạp Hà Lan
30 tháng 11: Eduardo Goncalves, cầu thủ bóng đá Brasil
2 tháng 12: Britney Spears, nữ ca sĩ nhạc pop Mỹ
2 tháng 12: Thomas Pöck, vận động viên khúc côn cầu trên băng Áo
3 tháng 12: Ioannis Amanatidis, cầu thủ bóng đá Hy Lạp
3 tháng 12: Jesse Jane, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ
11 tháng 12: Mohamed Zidan, cầu thủ bóng đá
11 tháng 12: Javier Saviola, cầu thủ bóng đá Argentina
13 tháng 12: Johann Grugger, vận động viên chạy ski Áo
13 tháng 12: Amy Lee, nữ ca sĩ Mỹ
15 tháng 12: Thomas Herrion, cầu thủ football Mỹ (mất 2005)
16 tháng 12: Reanna Solomon, nữ vận động viên cử tạ
17 tháng 12: Tim Wiese, thủ môn bóng đá Đức
25 tháng 12: Mario Santana, cầu thủ bóng đá đội tuyển quốc gia Argentina
27 tháng 12: Lise Darly, nữ ca sĩ Pháp
27 tháng 12: Emilie de Ravin, nữ diễn viên
28 tháng 12: Sienna Miller, nữ diễn viên Mỹ
29 tháng 12: Shizuka Arakawa, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Nhật Bản
31 tháng 12: Tobias Rau, cầu thủ bóng đá Đức
31 tháng 12: Margaret Simpson, nữ vận động viên điền kinh
== Mất ==
4 tháng 1: Friedrich Werber, chính trị gia Đức (sinh 1901)
5 tháng 1: Lanza del Vasto, triết gia Ý, thi sĩ (sinh 1901)
6 tháng 1: A. J. Cronin, bác sĩ Scotland, nhà văn (sinh 1896)
8 tháng 1: Alexander Kotov, người đánh cờ Nga, tác giả (sinh 1913)
9 tháng 1: José Ardévol, nhà soạn nhạc Cuba gốc Tây Ban Nha (sinh 1911)
9 tháng 1: Kazimierz Serocki, nhà soạn nhạc Ba Lan (sinh 1922)
16 tháng 1: Bernard Lee, diễn viên Anh (sinh 1908)
17 tháng 1: Hugo Aufderbeck, nhà thần học, giám mục (sinh 1909)
19 tháng 1: Francesca Woodman, nữ nhiếp ảnh gia (sinh 1958)
23 tháng 1: Liselott Baumgarten, nữ diễn viên Đức (sinh 1906)
23 tháng 1: Roland Hampe, nhà khảo cổ học Đức, dịch giả (sinh 1908)
23 tháng 1: Samuel Barber, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1910)
24 tháng 1: Hans Lauscher, chính trị gia Đức (sinh 1904)
27 tháng 1: Helmut Bertram, chính trị gia Đức (sinh 1910)
1 tháng 2: Ernst Pepping, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1901)
1 tháng 2: Geirr Tveitt, nhà soạn nhạc Na Uy, nghệ sĩ dương cầm (sinh 1908)
1 tháng 2: Donald Wills Douglas, người chế tạo máy bay Mỹ (sinh 1892)
2 tháng 2: Richard Muckermann, chính trị gia Đức
3 tháng 2: Gisela Praetorius, nữ chính trị gia Đức (sinh 1902)
6 tháng 2: Heinz Benthien, vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1917)
8 tháng 2: Jakob Bender, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1910)
8 tháng 2: Konrad Wittmann, chính trị gia Đức
9 tháng 2: Bill Haley, nhạc sĩ nhạc rock Mỹ (sinh 1925)
14 tháng 2: Esteban Canal, kiện tướng cờ vua Peru (sinh 1896)
14 tháng 2: Hilde Sperling, nữ vận động viên quần vợt Đức (sinh 1908)
21 tháng 2: Ron Grainer, nhà soạn nhạc Úc (sinh 1922)
22 tháng 2: Guy Butler, vận động viên điền kinh Anh, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (sinh 1899)
26 tháng 2: Howard Hanson, nghệ sĩ dương cầm Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1896)
1 tháng 3: Roberto Francisco Chiari Remón, tổng thống thứ 31 của Panama (sinh 1905)
5 tháng 3: Paul Hörbiger, diễn viên Áo (sinh 1894)
15 tháng 3: René Clair, đạo diễn phim Pháp (sinh 1898)
19 tháng 3: Tampa Red, nam ca sĩ Mỹ, người chơi đàn ghita (sinh 1904)
20 tháng 3: Edith Schultze-Westrum, nữ diễn viên Đức (sinh 1904)
23 tháng 3: Mike Hailwood, người đua mô tô Anh, (sinh 1940)
24 tháng 3: Walther Bringolf, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1895)
27 tháng 3: Margarete Berger-Heise, nữ chính trị gia Đức (sinh 1911)
2 tháng 4: Karl Bechert, chính trị gia Đức (sinh 1901)
4 tháng 4: Carl Ludwig Siegel, nhà toán học Đức (sinh 1896)
7 tháng 4: Norman Taurog, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1899)
8 tháng 4: Omar Bradley, tướng Mỹ (sinh 1893)
10 tháng 4: Christa Johannsen, nhà văn nữ Đức (sinh 1914)
12 tháng 4: Joe Louis, võ sĩ quyền Anh (sinh 1914)
12 tháng 4: Hendrik Andriessen, nhà soạn nhạc Hà Lan, giáo sư (sinh 1892)
12 tháng 4: Hans Chemin-Petit, nhà soạn nhạc Đức, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1902)
30 tháng 4: Jan Filip, nhà khảo cổ học (sinh 1900)
30 tháng 4: Peter Huchel, nhà thơ trữ tình Đức (sinh 1903)
1 tháng 5: Heinz Nittel, chính trị gia Áo (sinh 1930)
1 tháng 5: Robert Stauch, chính trị gia Đức (sinh 1898)
2 tháng 5: David Wechsler, nhà tâm lý học Mỹ (sinh 1896)
8 tháng 5: Wolfgang Kunkel, luật gia Đức (sinh 1902)
9 tháng 5: Nelson Algren, nhà văn Mỹ (sinh 1909)
9 tháng 5: Fritz Umgelter đạo diễn (sinh 1922)
12 tháng 5: HAP Grieshaber, họa sĩ Đức, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1909)
18 tháng 5: William Saroyan, nhà văn Mỹ (sinh 1908)
20 tháng 5: Noboru Nakamura, đạo diễn phim Nhật Bản, tác giả kịch bản (sinh 1913)
24 tháng 5: Herb Lubalin, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1918)
25 tháng 5: Roy Brown, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1925)
25 tháng 5: Georg Malmstén, nam ca sĩ Phần Lan, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, diễn viên (sinh 1902)
29 tháng 5: Song Qingling, nữ chính trị gia Trung Hoa (sinh 1893)
31 tháng 5: Gyula Lóránt, cầu thủ bóng đá Hungary, huấn luyện viên bóng đá (sinh 1923)
1 tháng 6: Carl Vinson, chính trị gia Mỹ (sinh 1883)
1 tháng 6: Jan Zdeněk Bartoš, nhà soạn nhạc (sinh 1908)
4 tháng 6: Fritz Steuben, nhà văn Đức (sinh 1898)
12 tháng 6: Anton Freiherr von Aretin, chính trị gia Đức (sinh 1918)
12 tháng 6: Mahmoud Fawzi, chính trị gia, thủ tướng Ai Cập (sinh 1900)
12 tháng 6: Harri Bading, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1901)
12 tháng 6: Harry Harlow, nhà tâm lý học Mỹ (sinh 1905)
16 tháng 6: Jule Gregory Charney, nhà khí tượng học Mỹ (sinh 1917)
23 tháng 6: Zarah Leander, nữ diễn viên Thụy Điển (sinh 1907)
28 tháng 6: Peter Kreuder, nhà soạn nhạc Đức, nghệ sĩ dương cầm, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1905)
28 tháng 6: Terry Fox, vận động viên thể thao Canada (sinh 1958)
1 tháng 7: Zdeněk Burian, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1905)
1 tháng 7: Marcel Breuer, kiến trúc sư Hungary, nhà thiết kế (sinh 1902)
5 tháng 7: Jorge Urrutia Blondel, nhà soạn nhạc Chile (sinh 1905)
9 tháng 7: Willi Beuster, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1908)
10 tháng 7: Elimar Freiherr von Fürstenberg, chính trị gia Đức (sinh 1910)
11 tháng 7: August Berlin, chính trị gia Đức (sinh 1910)
12 tháng 7: Boris Polewoi, tác giả, nhà báo (sinh 1908)
14 tháng 7: Peter von Tramin, nhà văn Áo (sinh 1932)
17 tháng 7: Karl Hoffmann (FDP), chính trị gia Đức (sinh 1901)
25 tháng 7: Conrad Fink, chính trị gia Đức (sinh 1900)
27 tháng 7: William Wyler, đạo diễn phim (sinh 1902)
1 tháng 8: Paddy Chayefsky, tác giả Mỹ (sinh 1923)
4 tháng 8: Melvyn Douglas, diễn viên Mỹ (sinh 1901)
8 tháng 8: Lazar Wechsler, nhà sản xuất phim Thụy Sĩ (sinh 1896)
18 tháng 8: Robert Russell Bennett, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1894)
22 tháng 8: Glauber Rocha, đạo diễn phim Brasil (sinh 1938)
23 tháng 8: Rolf Herricht, diễn viên Đức (sinh 1927)
1 tháng 9: Paul Bausch, chính trị gia Đức (sinh 1895)
1 tháng 9: Ann Harding, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1901)
2 tháng 9: Tadeusz Baird, nhà soạn nhạc Ba Lan (sinh 1928)
6 tháng 9: Christy Brown, họa sĩ Ireland, tác giả (sinh 1932)
7 tháng 9: Werner Berg, họa sĩ Đức (sinh 1904)
8 tháng 9: Hideki Yukawa, nhà vật lý học Nhật Bản (sinh 1907)
11 tháng 9: Gregory Breit, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1899)
12 tháng 9: Eugenio Montale, nhà văn Ý (sinh 1896)
15 tháng 9: Robert Sidney Cahn, nhà hóa học Anh (sinh 1899)
21 tháng 9: Tony Aubin, nhà soạn nhạc Pháp (sinh 1907)
26 tháng 9: Ludwig Goldbrunner, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1908)
27 tháng 9: Bronisław Malinowski (Leichtathlet), vận động viên điền kinh Ba Lan, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1951)
3 tháng 10: Tadeusz Kotarbiński, triết gia Ba Lan (sinh 1886)
4 tháng 10: Franz Amrehn, chính trị gia Đức (sinh 1912)
6 tháng 10: Jean Robic, tay đua xe đạp Pháp (sinh 1921)
9 tháng 10: Karl Lütgendorf, chính trị gia Áo (sinh 1914)
9 tháng 10: Peter Steinforth, nghệ nhân Đức (sinh 1923)
16 tháng 10: Mosche Dajan, tướng Israel, chính trị gia (sinh 1915)
17 tháng 10: Albert Cohen, nhà văn Thụy Sĩ (sinh 1895)
22 tháng 10: David Burghley, vận động viên điền kinh Anh, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1905)
25 tháng 10: Ariel Durant, nhà văn nữ Mỹ (sinh 1898)
30 tháng 10: Georges Brassens, thi sĩ Pháp, tác giả (sinh 1921)
31 tháng 10: Bernhard Günther, chính trị gia Đức (sinh 1906)
3 tháng 11: Edvard Kocbek, nhà văn Slovenia, nhà xuất bản (sinh 1904)
4 tháng 11: Jean Eustache, đạo diễn phim Pháp (sinh 1938)
7 tháng 11: William James Durant, triết gia Mỹ, nhà văn (sinh 1885)
13 tháng 11: Gerhard Marcks, nhà điêu khắc (sinh 1889)
15 tháng 11: Walter Heitler, nhà vật lý học Đức (sinh 1904)
16 tháng 11: William Holden, diễn viên Mỹ (sinh 1918)
20 tháng 11: Herbert Behrens-Hangeler, họa sĩ Đức, nghệ sĩ tạo hình, nhà văn (sinh 1898)
22 tháng 11: Hans Adolf Krebs, nhà y học Anh, nhà hóa sinh (sinh 1900)
22 tháng 11: Dieter Bäumle, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ (sinh 1935)
25 tháng 11: Morris Kirksey, vận động viên điền kinh Mỹ, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1895)
25 tháng 11: Margot Kalinke, nữ chính trị gia Đức (sinh 1909)
26 tháng 11: Max Euwe, người đánh cờ Hà Lan (sinh 1901)
27 tháng 11: Lotte Lenya, nữ diễn viên, nữ ca sĩ (sinh 1898)
29 tháng 11: Natalie Wood, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1938)
2 tháng 12: Rudolf Prack, diễn viên Áo (sinh 1905)
4 tháng 12: Karl Gilg, người đánh cờ Đức (sinh 1901)
8 tháng 12: Big Walter Horton, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1918)
15 tháng 12: Max Steenbeck, nhà vật lý học Đức (sinh 1904)
17 tháng 12: Mehmet Shehu, chính trị gia Albania, thủ tướng (sinh 1913)
17 tháng 12: Edwin Erich Dwinger, nhà văn (sinh 1898)
23 tháng 12: Luther H. Evans, nhà chính trị học Mỹ (sinh 1902)
24 tháng 12: René Barbier, nhà soạn nhạc Bỉ, giáo sư (sinh 1890)
26 tháng 12: Günther Serres, chính trị gia Đức (sinh 1910)
27 tháng 12: Hoagy Carmichael, nhà soạn nhạc Mỹ, nghệ sĩ dương cầm, diễn viên, nam ca sĩ (sinh 1899)
28 tháng 12: Allan Dwan, đạo diễn phim Mỹ, nhà sản xuất, tác giả kịch bản (sinh 1885)
30 tháng 12: Franjo Šeper, Hồng y Giáo chủ (sinh 1905)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Kenichi Fukui, Roald Hoffmann
Văn học - Elias Canetti
Hòa bình - Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (Office of the United Nations High Commissioner for Refugees - UNHCR)
Vật lý - Nicolaas Bloembergen, Arthur Leonard Schawlow, Kai Siegbahn
Y học - Roger Wolcott Sperry, David H. Hubel, Torsten Wiesel
Kinh tế - James Tobin
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1981, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
ms-dos.txt | MS-DOS /ˌɛmɛsˈdɒs/ EM-es-DOSS-' (viết tắt của Microsoft Disk Operating System, Hệ điều hành đĩa từ Microsoft) là hệ điều hành của hãng phần mềm Microsoft. Đây là một hệ điều hành có giao diện dòng lệnh (command-line interface) được thiết kế cho các máy tính họ PC (Personal Computer). MS-DOS đã từng rất phổ biến trong suốt thập niên 1980, và đầu thập niên 1990, cho đến khi Windows 95 ra đời.
== Lịch sử ==
Phiên bản DOS đầu tiên ra đời vào tháng 8 năm 1981, với tên chính thức là PC DOS 1.0. Tên gọi MS-DOS chỉ được biết đến kể từ tháng 5 năm 1982 (MS-DOS 1.25). Sau đó, Microsoft lần lượt cho ra đời các phiên bản tiếp theo của MS-DOS song song cùng với PC-DOS.
MS-DOS 5.0 ra đời vào tháng 6 năm 1991. MS- DOS 6.22 ra đời tháng 6 năm 1994 là bản cuối cùng được chạy như một hệ điều hành độc lập (standalone version). Sau khi Windows 95 ra đời vào năm 1995, các phiên bản MS-DOS tiếp theo đều được phát hành đi kèm với Windows, chẳng hạn như MS-DOS 7.0 (8/1995) là nền để cho Windows 95 khởi động, và MS-DOS 8.0 đi kèm với Windows ME. Đây cũng là phiên bản cuối cùng của hệ điều hành này.
== Đặc điểm ==
MS-DOS là hệ điều hành đơn nhiệm. Tại mỗi thời điểm chỉ thực hiện một thao tác duy nhất. Nói một cách khác, MS-DOS chỉ cho phép chạy một ứng dụng duy nhất tại mỗi thời điểm. Điều này khác hẳn với Windows, vốn là một hệ điều hành đa nhiệm (multi-tasking) - người dùng có thể thi hành nhiều ứng dụng cùng một lúc. Mặc dù vậy, về sau người ta đã thiết kế một số ứng dụng chạy thường trú (TSR, Terminate and Stay Resident) cho MS-DOS. Các ứng dụng này có thể chạy trên nền của các ứng dụng khác, khiến người sử dụng có thể thực hiện nhiều thao tác cùng lúc. Ở Việt Nam, phần mềm chạy thường trú trên MS-DOS rất phổ biến là một chương trình hỗ trợ gõ tiếng Việt, VietRes.
Một số môi trường làm việc đa nhiệm (multi-tasking environment) như Deskmate hay Desqview đã được thiết kế để chạy trên DOS. Những phiên bản Windows đầu tiên cũng đều phải khởi động từ dấu nhắc DOS. Tuy nhiên, ngày nay, MS-DOS đã trở nên ít phổ biến hơn. Nó chỉ còn tồn tại trong các phiên bản Windows sau này (2000, XP) dưới dạng một ứng dụng cho phép người dùng kích hoạt chế độ dòng lệnh (command prompt), và thường chỉ được dùng để thực hiện những tác vụ liên quan mật thiết đến hệ thống mà giao diện đồ họa của Windows không làm được.
== Quản lý ổ cứng ==
Quá trình định dạng đĩa từ (Đĩa mềm hay đĩa cứng logic) trong MS-DOS sẽ chia không gian đĩa đó ra làm 2 phần cơ bản là: Vùng hệ thống (System Area) và vùng dữ liệu (Data Area). Đồng thời hệ thống ghi các thông tin cần thiết vào vùng hệ thống để chuẩn bị cho việc lưu trữ và quản lý dữ liệu sau này.
Vùng dữ liệu: gồm các block (cluster) có kích thước bằng nhau và được đánh địa chỉ (12 hay 16 bit)để phân biệt. Đây chính là các cluster trên đĩa.
Vùng hệ thống: Bao gồm các thành phần như Boot Sector; bảng FAT1; bảng FAT2; Root Directory(RD). chứa các chương trình, các thông tin liên quan đến file, directory để giúp hệ điều hành quản lý các file và directory sau này.
== Tham khảo == |
juan carlos ferrero.txt | Juan Carlos Ferrero Donat (sinh ngày 12 tháng 2 năm 1980) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Tây Ban Nha.Anh là cựu tay vợt số 1 thế giới
== Cuộc đời ==
Ferrero bắt đầu chơi tennis từ năm 7 tuổi với bố của mình,ông Eduardo.Anh có 2 em gái là Ana và Laura.
== Sự nghiệp ==
Sinh ở Onteniente anh được biết đến nhiều từ năm 1998 khi anh lọt vào trận chung kết giải trẻ Pháp mở rộng và thua Fernando González.Thành tích tốt nhất của anh là chức vô địch Pháp Mở rộng năm 2003 sau khi đánh bại Martin Verkerk sau 3 sec với tỷ số 6-1,6-3,6-2
== Danh hiệu ==
== Chung kết Major ==
=== Chung kết Grand Slam ===
==== Singles: 3 (1 title, 2 runner-ups) ====
=== Masters Series finals ===
==== Singles: 6 (4 titles, 2 runner-ups) ====
=== Masters Cup final ===
==== Singles: 1 (0 titles, 1 runner-ups) ====
== ATP career finals ==
=== Đơn: 34 (16-18) ===
== Tham khảo == |
phát âm.txt | Phát âm là:
Cách đọc một từ hay một ngôn ngữ nào đó.
Cách ai đó thốt ra một từ nào đó.
== Khái quát ==
Một từ có thể được đọc theo các cách khác nhau tùy thuộc vào chính nó hay nhóm từ chứa nó, tùy thuộc vào nhân tố con người như:
Nơi họ đã lớn lên
Nơi họ đang sống
Họ có thiếu sót trong khả năng nói hay không
Dân tộc của họ
Tầng lớp xã hội của họ
Trình độ văn hóa của họ
== Xem thêm ==
Ngôn ngữ học
Phát âm tiếng Anh
== Tham khảo == |
trèo cây đốm ấn độ.txt | Trèo cây đốm Ấn Độ, tên khoa học Salpornis spilonotus là một loài chim trong họ Certhiidae.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Mead, Christopher J. (2003). “Holarctic Treecreepers”. Trong Perrins, Christopher. The Firefly Encyclopedia of Birds. Firefly Books. tr. 538–540. ISBN 1-55297-777-3.
Trèo cây đốm Ấn Độ tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
Tham khảo Animal Diversity Web : Salpornis spilonotus (tiếng Anh)
Salpornis spilonotus tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI).
Spotted Creeper - Species text in The Atlas of Southern African Birds.
Spotted Creeper at The Internet Bird Collection.
BirdLife Species Factsheet. |
maximilian i của đế quốc la mã thần thánh.txt | Maximilian I của nhà Habsburg (22 tháng 3 năm 1459 - 12 tháng 1 năm 1519) là Hoàng đế La Mã Thần thánh từ năm 1508 đến khi qua đời, và đã đồng trị vì với vua cha Friedrich III trong 10 năm cuối đời của ông này, vào khoảng năm 1483. Ông mở mang cho nhà Habsburg bằng chiến tranh và hôn nhân, nhưng ông cũng đã bị mất lãnh thổ ở Thụy Sĩ sau trận Dornach vào ngày 22 tháng 7 năm 1499. Vào ngày 22 tháng 9 năm 1499, Maximilian I đã đồng ý ký hiệp định Basel và sau đó Thụy Sĩ trên thực tế đã độc lập thoát khỏi ách thống trị Habsburg. Ông thường được xem là "Hiệp sĩ cuối cùng".
== Chú thích == |
bogotá.txt | Bogotá, tên chính thức Bogotá, D.C. (D.C. viết tắt của Distrito Capital, "quận thủ đô" hay "đặc khu") là thủ đô của Colombia, và cũng là thành phố lớn nhất quốc gia này với dân số 7,363,782 (năm 2010). Từ năm 1991 đến 2000, thành phố còn có tên gọi khác là Santafé de Bogotá. Bên cạnh vai trò thủ đô, Bogotá còn là thủ phủ của khu hành chính Cundinamarca. Nếu tính cả các khu vực đô thị lân cận, thành phố Bogotá lên đến gần 11 triệu người.
Về diện tích, Bogotá là thành phố lớn nhất ở Colombia, và là một trong số các thành phố lớn nhất Mỹ Latinh. Nằm ở độ cao 2.625 mét (8.612 ft), Bogotá là thủ đô cao thứ ba của Nam Mỹ sau Quito (Ecuador) và La Paz (Bolivia). Với nhiều trường đại học và thư viện, Bogotá còn được xem là "Athens của Nam Mỹ". Bogotá cũng sở hữu vùng đất moorland lớn nhất thế giới, nằm ở khu Sumapaz. Thành phố xếp hạng 54 theo Chỉ số các thành phố toàn cầu năm 2010, và nằm trong hạng Beta+ trong danh sách thành phố toàn cầu theo GaWC.
== Lịch sử ==
== Địa lý ==
Bogotá nằm ở phía tây của Sabana de Bogotá, ở độ cao 2640 m trên mực nước biển. Nó nằm trên một cao nguyên của dãy Andes.
Bogotá có khí hậu cao nguyên cận nhiệt đới theo phân loại của Köppen (ký hiệu Cwb). Nhiệt độ trung bình là 14,5 °C (58 °F), và nó dao động từ 4 đến 19 °C (39 đến 66 °F) trong những ngày có tuyết nhiều, đến 10 đến 18 °C (50 đến 64 °F) trong những ngày có mưa lớn. Các mùa mưa và khô xen kẽ quanh năm. Các tháng khô nhất là 12, 1, 7 và 8. Tháng ấm nhất là tháng 3 với nhiệt độ cao nhất 19,7 °C (67,5 °F). Đêm lạnh nhất trong tháng 1 với nhiệt độ trung bình 7,6 °C (45,7 °F) trong thành phố; sương giá xuất hiện rất thường xuyên vào sáng sớm, xảy ra 220 trong năm, trong khi các ngày nắng khá bất thường.
Nhiệt độ cao nhất chính thức được ghi nhận trong thành phố là 24,5 °C (76 °F), và thấp nhất là −7,1 °C (19 °F).
Các tháng mùa mưa là tháng 4, 5, 9, 10 và 11 trong đó nhiều ngày có mây, với nhiệt độ tốt đa 18 °C (64 °F) và thấp là 7 °C (45 °F).
=== Không gian đô thị ===
Bogotá có 20 khu, những khu vực có kinh tế phát triển nằm về phía bắc và đông bắc, gần các chân đồi của Eastern Cordillera. Các khu vực nghèo hơn nằm về phía nam và đông nam.
== Nhân chủng học ==
Là thành phố lớn nhất và đông dân nhất Colombia, Bogotá có 6.778.691 cư dân (thống kê 2005), với mật độ dân số khoảng 4.310 người/km2. Chỉ có 15.810 người sống trong các vùng nông thôn của thủ đô. 47,5% dân số là nam và 52,5% nữ.
=== Tội phạm ===
Bogotá có những bước cải tiến lớn trong việc thay đổi tỷ lệ tội phạm, với hình ảnh là thành phố có tỷ lệ tội phạm được xếp trong nhóm cao nhất thế giới trong thập niên 1990. Năm 1993 có 4.352 vụ giết người có chủ ý chiếm tỷ lệ 81/100.000 dân; năm 2007, Bogotá có 1.401 vụ ám sát với tỷ lệ 19/100.000 dân, và đã giảm xuống còn 16,9/100.000 dân năm 2012 (thấp nhất kể từ năm 1983) Thành công này là kết quả của một chính sách an ninh tích hợp được gọi là "Comunidad Segura", lần đầu tiên được thông qua vào năm 1995 và tiếp tục được thực thi.
== Giao thông ==
=== Hàng không ===
Sân bay chính của Bogotá là sân bay quốc tế El Dorado, nằm ở phía tây của trung tâm thành phố, ở cuối đại lộ El Dorado. Do vị trí gần trung tâm ở Colombia và Mỹ Latin, nó là một trung tâm vận chuyển của các chuyến bay quốc tế và nội địa.
== Tham khảo == |
nguyên tố hóa học.txt | Nguyên tố hóa học, thường được gọi đơn giản là nguyên tố, là một chất hóa học tinh khiết, bao gồm một kiểu nguyên tử, được phân biệt bởi số hiệu nguyên tử, là số lượng proton có trong mỗi hạt nhân.
== Giới thiệu chung ==
Tại thời điểm năm 2011, có tất cả 118 nguyên tố hóa học đã được tìm thấy, trong đó 94 nguyên tố có nguồn gốc tự nhiên (trong đó có 88 nguyên tố dễ kiếm trên Trái Đất còn 6 nguyên tố còn lại rất là hiếm), 24 nguyên tố còn lại là nhân tạo. Nguyên tố nhân tạo đầu tiên là Tecneti tìm thấy năm 1937. Tất cả các nguyên tố nhân tạo đều có tính phóng xạ với chu kỳ bán rã ngắn vì vậy chúng không thể tồn tại tự nhiên trên Trái Đất ngày nay do sự phóng xạ đã diễn ra ngay từ khi hình thành Trái Đất.
Các nguyên tố nhẹ nhất là Hidro (có 3 loại nguyên tử là Hidro, Đơteri và Triti), là những nguyên tố đầu tiên xuất hiện trong Vụ Nổ Lớn (the Big Bang). Tất cả các nguyên tố nặng hơn được tìm thấy hay sản xuất một cách tự nhiên hay nhân tạo thông qua hàng loạt phương thức khác nhau của tổng hợp hạt nhân.
Mỗi nguyên tố hóa học đều có một tên và ký hiệu riêng để dễ nhận biết. Tên gọi chính thức của các nguyên tố hóa học được quy định bởi Liên đoàn Quốc tế về Hoá học Thuần túy và Ứng dụng (tiếng Anh: International Union of Pure and Applied Chemistry) (viết tắt: IUPAC). Tổ chức này nói chung chấp nhận tên gọi mà người (hay tổ chức) phát hiện ra nguyên tố đã lựa chọn. Điều này có thể dẫn đến tranh luận là nhóm nghiên cứu nào thực sự tìm ra nguyên tố, là câu hỏi từng làm chậm trễ việc đặt tên cho các nguyên tố với số nguyên tử từ 104 trở lên trong một thời gian dài (Xem thêm Tranh luận về đặt tên nguyên tố). Các nguyên tố hóa học cũng được cấp cho một ký hiệu hóa học thống nhất, dựa trên cơ sở tên gọi của nguyên tố, phần lớn là viết tắt theo tên gọi La tinh. (Ví dụ, cacbon có ký hiệu hóa học 'C', natri có ký hiệu hóa học 'Na' từ tên gọi La tinh natrium). Ký hiệu hóa học của nguyên tố được thống nhất và hiểu trên toàn thế giới trong khi tên gọi thông thường của nó khi chuyển sang một ngôn ngữ khác thì phần lớn không giống nhau.
Nguyên tử của các nguyên tố có thể kết hợp với nhau để tạo thành các đơn chất hay hợp chất hóa học dưới các trạng thái các khối đơn nguyên tử hay hai nguyên tử hoặc đa nguyên tử. Điều này được gọi là tính đa hình. Ví dụ nguyên tố ôxy có thể tồn tại dưới các trạng thái sau: ôxy nguyên tử (O), ôxy phân tử (O2), ôzôn (O3).Hợp chất vô cơ (như nước, muối, ôxít v.v) và hợp chất hữu cơ. Trong phần lớn các trường hợp các hợp chất này có thành phần, cấu trúc và thuộc tính đặc trưng cố định.
Một vài nguyên tố, phần lớn là các kim loại kết hợp với nhau để tạo thành một cấu trúc mới với các thành phần có thể thay đổi (như hợp kim). Trong trường hợp này có lẽ tốt nhất là nói về trạng thái liên kết hơn là hợp chất. Nói chung, trên thực tế thì một chất hóa học nào đó có thể là hỗn hợp của cả hai dạng kể trên.
Các nguyên tố hóa học được sắp xếp và liệt kê trong một bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học theo thứ tự tăng dần của số nguyên tử, Z. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học cho biết những thông tin về các tính chất cơ bản của một nguyên tố. Ví dụ như dạng thể, độ bay hơi, độ đông đặc v.v. Xem thêm danh sách các nguyên tố theo tên, theo ký hiệu và theo số nguyên tử. Phương thức thuận tiện nhất để tra cứu các nguyên tố là trình bày chúng trong bảng tuần hoàn các nguyên tố, bảng này nhóm các nguyên tố với những thuộc tính hóa học tương tự nhau trong cùng một nhóm.
== Bảng tuần hoàn ==
== Danh sách nguyên tố hóa học ==
on]]
== Xem thêm ==
Tên các nguyên tố
Hóa học
Lịch sử phát hiện các nguyên tố hóa học
Sự phổ biến của các nguyên tố hóa học
Tên gọi hệ thống của các nguyên tố
Các nguyên tố hư cấu
Các nguyên tố đặt tên theo danh nhân
Các nguyên tố đặt tên theo địa danh
Hợp chất
== chú thích ==
== Liên kết bên ngoài ==
Elementymology & Elements Multidict word history and language dictionary
Một bài hát vui về các nguyên tố
=== Thông tin về hóa học ===
ChemGlobe
Phòng thí nghiệm quốc gia LosAlamos
Nguyên tố hóa học |
amar sonar bangla.txt | Amar Sonar Bangla (tiếng Bengal: আমার সোনার বাংলা, pronounced: [amar ʃonar baŋla]) là quốc ca của Bangladesh. Đây là một Ode cho Bangamata ("đất mẹ Bengal"), với phần lời được viết bởi nhà thơ-nhà văn Rabindranath Tagore vào nằm 1905. Giai điệu của bài ca xuất phát từ bài hát "Ami Kothay Pabo Tare" (আমি কোথায় পাবো তারে) của ca sĩ Gagan Harkara.
Từ sonar có nghĩa là 'làm từ vàng' hay 'yêu dấu', trong trường hợp này sonar Bangla có thể chỉ về sự quý giá của Bengal hay màu của ruộng lúa trước thu hoạch.
== Chú thích == |
românia.txt | România (tiếng România: România, trong tiếng Việt thường được gọi là Rumani theo tiếng Pháp: Roumanie), là một quốc gia tại đông nam châu Âu. România giáp với Ukraina và Moldova về phía bắc và đông bắc; giáp với Hungary về phía tây bắc; giáp với Serbia về phía tây nam; giáp với Bulgaria về phía nam và giáp với Biển Đen về phía đông. Nước này nằm trên phần lớn diện tích của đồng bằng sông Danube. Tính đến tháng 7 năm 2007, dân số của nước này là 22.276.057 người. [1]. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất România là Bucharest.
Lãnh thổ România ngày nay được hình thành do sự hợp nhất của nhiều công quốc România thời trung cổ, trong đó quan trọng nhất là Moldavia, Wallachia và Transilvania. România giành được độc lập từ tay Đế chế Ottoman và được cộng đồng quốc tế công nhận vào năm 1878. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, România trở thành một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa có quan hệ gắn bó với Liên Xô. Năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại România và nước này quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa. Ngày 1 tháng 1 năm 2007, România đã chính thức trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ tiền sử ===
Vùng đất România ngày nay đã có những nhóm người khác nhau đến sinh sống từ thời tiền sử. Một mẫu hóa thạch xương hàm của người đàn ông đã được tìm thấy tại România và được xác định có niên đại khoảng 34.000 đến 36.000 năm. Đây được coi là mẫu hóa thạch người cổ nhất tại châu Âu. Bên cạnh đó, một hộp sọ có niên đại khoảng 35.000 đến 40.000 năm cũng được tìm thấy tại một hang động gần Anina đã khẳng định con người đã xuất hiện tại vùng đất România từ rất sớm.
=== Vương quốc Dacia ===
Những người Dacia đã xuất hiện tại România ít nhất vào khoảng năm 513 trước công nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Burebista, Dacia trở thành một quốc gia hùng mạnh và thậm chí còn đe dọa cả một số vùng của Đế quốc La Mã. Trước tình cảnh đó, hoàng đế Julius Caesar dự định mở một chiến dịch lớn chống lại người Dacia nhưng ông đã bị ám sát vào năm 44 trước công nguyên. Không lâu sau đó, Burebista cũng bị ám sát bởi một trong những quý tộc của ông ta. Vương quốc Dacia bị phân thành những quốc gia nhỏ hơn rồi tái thống nhất lại vào năm 95 sau công nguyên dưới sự cai trị của vua Decebalus. Sau đó Dacia lại phải trải qua một giai đoạn đầy biến động cho đến khi hoàng đế La Mã là Marcus Ulpius Nerva Traianus đánh bại Decebalus vào năm 106 sau công nguyên và Dacia trở thành một phần của đế quốc. Nhưng đến năm 271, người La Mã đã phải rút lui do sự xâm lược của người Goth và người Carpi đối với vùng đất này.
=== Trung cổ ===
Khoảng năm 271, La Mã rút khỏi Daica. Dân du mục Goth vào chiếm và sinh sống với dân địa phương cho đến thề kỷ 4, khi dân du mục Hung tiến vào. Khu vực Transilvania do dân Gepid và Avar chiếm đóng cho đến thế kỷ 8. Sau đó bị sát nhập vào đế quốc Bulgaria đến năm 1018. Trong thế kỷ 10 - 11, Transilvania thuộc vương quốc Hungary cho đến thế kỉ 16 khi Tỉnh độc lập Transilvania được thành lập. Do sự tàn phá và các gánh nặng về kinh tế, dân địa phương không bị ảnh hưởng bởi dân nhập cư về văn hóa và lối sống. Người Pechenegs, người Cumans và người Uzes cũng được nhắc đến trong quá trình lịch sử trên vùng lãnh thổ România, cho đến sự thành lập của các tỉnh România mang tên gọi Wallachia bởi Basarab I, và Moldavia bởi Dragoş vào thế kỉ thứ 13 và thứ 14 theo thứ tự được kể.
Vào thời Trung Cổ, người Romani sống trong hai tỉnh độc lập chính: Wallachia (tiếng Romani: Ţara Românească - "Đất của người Romani"), Moldavia (tiếng Romani: Moldova) cũng như tỉnh Transilvania được cai quản bởi Hungary.
Vào năm 1475, Stefan III Đại đế xứ Moldavia đã đại thắng trước quân Ottoman trong trận Vaslui. Tuy nhiên, về sau Wallachia và Moldavia lại dần chịu sự bá chủ của Đế quốc Ottoman trong suốt thế kỉ 15 và thế kỉ 16 (năm 1476 đối với Wallachia, Moldavia vào năm 1514), như là những nước chư hầu phải nộp triều cống với quyền tự trị hoàn toàn và sự độc lập đối với bên ngoài cuối cùng mất hẳn vào thế kỉ thứ 18.
Một trong những vị vua kiệt xuất của Hungary, Mátyás Corvin (được biết đến trong tiếng România như là Matei Corvin), người trị vì từ 1458-1490, được sinh ra ở Transilvania. Ông tự nhận là người România bởi vì cha ông là người România, Iancu de Hunedoara (Hunyadi János trong tiếng Hungary), và bởi người Hungary vì mẹ ông là người Hungary. Sau này, vào năm 1541, Transilvania trở thành một bang gồm nhiều chủng tộc dưới quyền cai quản của triều đình Ottoman sau trận Mohács.
=== Cận đại ===
Mihail Viteazal (1558-9 tháng 8 năm 1601) là Công tước xứ Wallachia (1593-1601), xứ Transilvania (1599-1600), và xứ Moldavia (1600). Trong suốt triều đại ông 3 tỉnh này được cư ngụ đa số bởi người România lần đầu tiên sống dưới cùng một chế độ cai trị.
Vào năm 1812 đế quốc Nga sát nhập Bessarabia, phân nửa phần phía đông của Moldavia (một phần bị mất do Hòa ước Paris (1856)); vào năm 1775 các hoàng đế nhà Habsburg đã sát nhập phần phía bắc, Bukovina, và Đế quốc Ottoman phần đông-nam, Budjak.
Vào cuối thế kỉ 18, triều đình Habsburg đã sát nhập Transilvania vào phần mà sau này trở thành Đế quốc Áo. Trong suốt thời gian thống trị của đế quốc Áo-Hung (1867-1918), người dân România ở vùng Transilvania đã trải qua một sự đàn áp tệ hại nhất dưới hình thức các chính sách Hungary hóa của nhà nước Hungary.
=== Vương quốc România ===
Nước România hiện đại được thành lập với sự sát nhập của hai bang Moldavia và Wallachia vào năm 1859 dưới thời Công tước Alexandru Ioan Cuza xứ Moldavia. Ông ta bị thay thế bởi Công tước Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen vào năm 1866. Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, 1877-78, România chiến đấu ủng hộ phía Nga; trong Hiệp định Berlin, 1878 România được công nhận như là một nước độc lập bởi các nước đế quốc. Để đổi lại việc nhượng cho Nga ba quận phía nam của Bessarabia mà sau này được lấy lại bởi Moldavia sau Chiến tranh Krym vào năm 1852, Vương quốc România đoạt lấy Dobruja. Vào năm 1881 bang này được nâng lên thành một vương quốc và Công tước Carol I trở thành vua Carol I.
România tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất cùng phe với Đồng minh ba bên. Chiến dịch quân sự của România đã kết thúc thảm hại khi quân Liên minh Trung tâm chinh phục phần lớn đất nước và bắt hoặc giết phần lớn quân đội România chỉ trong vòng 4 tháng. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, đế quốc Nga hoàng sụp đổ năm 1917 với cuộc Cách mạng Tháng Hai, còn đế quốc Áo-Hung thì tan rã năm 1918. Những sự kiện này cho phép Bessarabia, Bukovina và Transilvania tái gia nhập với Vương quốc România vào năm 1918. Nước Hungary khôi phục sau cuộc chiến đã bãi bỏ các đặc quyền và danh hiệu của Hoàng gia Habsburg trong Hiệp ước Trianon vào năm 1920.
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
Năm 1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Bắc Bukovina và Bessarabia, Bắc Transilvania và phía nam Dobruja bị chiếm bởi Liên Xô, Hungary và Bulgaria theo thứ tự kể trên. Vua Carol II độc đoán đã thoái vị vào năm 1940 và những năm sau đó România bước vào cuộc chiến tham gia lực lượng của Phe Trục. Sau sự chiếm đóng của Liên Xô, România lấy lại được Bessarabia và phía bắc Bukovina từ nước Nga Xô-viết, dưới sự lãnh đạo của tướng Ion Antonescu. Đức tặng thưởng lãnh thổ Transnistria cho România. Trong suốt cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Antonescu, liên minh với phát xít Đức, đã đóng một vai trò trong Holocaust, với các chính sách đàn áp và tàn sát người Do Thái, và ở mức độ thấp hơn là người România. Theo một báo cáo phát hành năm 2004 bởi một cơ quan do cựu Tổng thống Ion Iliescu bổ nhiệm và điều hành bởi Elie Wiesel (người đã từng đoạt giải Nobel), các nhà cầm quyền România là thủ phạm trong việc lên kế hoạch và thực hiện việc giết từ 280.000 đến 380.000 người Do Thái, nguyên trong miền đông România thu lại hay chiếm của Liên Xô, dù trong một số tài liệu ước lượng thương vong trong thế chiến II thậm chí còn cao hơn.
Vào tháng 8 năm 1944 chính quyền Antonescu bị lật đổ, và România gia nhập phe Đồng Minh chống lại phát xít Đức, nhưng vai trò của nước này trong việc đánh bại Đức không được công nhận bởi Hiệp định Hòa bình Paris, 1947.
=== Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa România ===
Vào năm 1947, vua Michael I bị những người Xã hội Chủ nghĩa bắt phải từ bỏ quyền lực và rời khỏi đất nước. Sau đó, România tuyên bố là một nhà nước Cộng hòa và đặt dưới sự quản trị của quân đội Liên Xô cùng nền kinh tế phụ thuộc Liên Xô cho đến thập niên 50 của thế kỉ 20.
Sau cuộc thương thảo về việc rút lui của Liên Xô tại đây vào năm 1958, România - dưới sự lãnh đạo của Nicolae Ceauşescu - bắt đầu theo đuổi những chính sách độc lập hơn với Liên Xô như việc chỉ trích Khối Warszawa can thiệp quân sự vào Tiệp Khắc, tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Israel sau Cuộc chiến 6 ngày năm 1967, thiết lập các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với Cộng hòa Liên bang Đức. Ngoài ra, sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia Ả Rập cho phép România đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình đối thoại Israel-Ai Cập và Israel-PLO. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của România gia tăng không ngừng, từ năm 1977-1981, nợ nước ngoài tăng từ 3 lên 10 tỷ USD, ảnh hưởng của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và Ngân hàng thế giới tăng lên, mâu thuẫn với đường lối chính trị của Nicolae Ceauşescu. Ông đề xướng một dự án cuối cùng để hoàn trả nợ nước ngoài của România bởi các đường lối chính trị trên đã làm nghèo và kiệt quệ România, trong khi mở rộng quyền lực của công an và tệ sùng bái cá nhân. Việc đó đã làm giảm uy tín của Nicolae Ceauşescu và Chính phủ của ông bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự tháng 12 năm 1989. Ông và vợ bị bắn bỏ sau một phiên xử chiếu lệ chỉ diễn ra hai giờ và không có luật sư bào chữa Tháng 12 năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa ở România do Nicolae Ceausescu đứng đầu bị sụp đổ, România chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng.
=== Hậu Cộng sản ===
Năm 1990, Ion Iliescu được bầu làm Tổng thống và lấy tên chính thức của nước là Cộng hòa România. Hiến pháp mới được phê chuẩn qua cuộc trưng cầu ý dân năm 1991. Sau khi thay đổi thể chế chính trị, cánh tả đã cầm quyền tại România cho tới cuối 1996. Tháng 11 năm 1996, cánh hữu thắng cử nhưng đã thất bại trong việc phục hồi và quản lý kinh tế - xã hội nên cánh tả trở lại nắm quyền cuối năm 2000. Năm 1995, România đệ đơn xin gia nhập Liên hiệp châu Âu. Năm 1996, România và Hungary ký một hiệp định chung tuyên bố bãi bỏ những tranh chấp (không xâm phạm biên giới và bảo đảm quyền của thiểu số người Hungary sống trong lãnh thổ România). Đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lập pháp, Emil Constantinescu trở thành Tổng thống. Năm 2000, Ion Iliescu tái đắc cử và trở lại lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, do đời sống nhân dân chậm được cải thiện nên tháng 12 năm 2004 cánh hữu lại thắng cử và cầm quyền cho tới nay. România đã gia nhập NATO từ 29 tháng 3 năm 2004 và EU từ 1 tháng 1 năm 2007.
== Đơn vị hành chính ==
Hệ thống phân cấp đơn vị hành chính của România khá đơn giản, chỉ gồm 2 cấp:
Cấp hạt (județ): Gồm 41 hạt và một đô thị đặc biệt là thủ đô (capitală) Bucharest
Cấp xã (comună): Phân loại thành 103 thành phố (municipiu), 217 thị trấn (oraş) và 2856 xã nông thôn (comună)
== Kinh tế ==
România cũng là một đất nước sử dụng hiệu quả đồng tiền với chất liệu polyme.
Hiện tại (2016), nền kinh tế của România lớn thứ 51 trên thế giới và lớn thứ 21 châu Âu. Tổng sản phẩm nội địa đạt 186.514 USD.
== Tôn giáo ==
România là một nhà nước thế tục và không có tôn giáo nào được công nhận quốc giáo. Tuy nhiên, đại đa số công dân của nước này tự nhận mình là Kitô hữu. 86,7% dân số của đất nước được xác định là Chính Thống giáo theo điều tra dân số năm 2002, phần lớn trong số đó thuộc về Giáo hội Chính thống România. Các giáo phái Kitô giáo khác là Tin Lành (5,2%), Công giáo Rôma (4,7%) và Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp (0,9%). Đây cũng là hai tổ chức tôn giáo phải chịu đựng sự đàn áp nặng nề nhất dưới chế độ Cộng sản. Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp vẫn bị cấm bởi chính quyền cộng sản vào năm 1948, sau đó, dưới chế độ Ceauşescu, một số nhà thờ ở Transilvania đã bị phá hủy. Tin Lành và Công giáo cũng tập trung ở Transilvania.
România cũng có một cộng đồng Hồi giáo tập trung ở Dobruja, chủ yếu là người Thổ Nhĩ Kỳ và Tatar với dân số 67.500 người. Theo kết quả điều tra dân số năm 2002, có 66.846 công dân România theo đức tin Unitarian (0,3% tổng dân số). Trong tổng số các dân tộc thiểu số nói tiếng Hungary ở România, giáo phái Unitarians đại diện cho 4,55% dân số, là nhóm giáo phái Kitô lớn thứ ba sau Giáo hội Cải cách ở România (47,10%) và Công giáo (41,20%). Từ năm 1700, Giáo hội Unitarian đã có 125 giáo xứ, trong năm 2006, có 110 mục sư Unitarian và 141 nơi thờ tự ở România.
Ngày 27 tháng 12 năm 2006, một Luật mới về tôn giáo đã được phê duyệt, theo đó các giáo phái tôn giáo chỉ có thể nhận được sự công nhận chính thức của nhà nước nếu họ có ít nhất 20.000 thành viên, chiếm khoảng 0,1% tổng dân số của România.
== Thắng cảnh du lịch ==
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Thành viên Liên minh châu Âu (EU) |
lưu cường đông.txt | Lưu Cường Đông (sinh ngày 14 tháng 2 năm 1974) là tỷ phú thương mại điện tử của Trung Quốc, người đồng sáng lập trang thương mại điện tử JD.com (Trung tâm mua sắm Jingdong). Ông là một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu trong ngành công nghiệp thương mại điện tử tại Trung Quốc.
Theo danh sách những người giàu nhất Trung Quốc của tờ Hồ Nhuận năm 2013, ông xếp thứ 27 với tổng giá trị tài sản là US$1.06 tỉ.
Trong lần phát hành cổ phiếu lần đầu của JD.com tại Mỹ vào ngày 22 tháng 5 năm 2014, giá trị tài sản lên tới $6.1 tỉ.
== Tiểu sử ==
Lưu Cường Đông sinh ra tại tỉnh Giang Tô trong gia đình làm nghề vận chuyển than từ phía bắc đến phía nam Trung Quốc.
Khi còn thanh niên, ông có đam mê về chính trị. Ông đã theo học khoa xã hội học tại Đại học Nhân dân Trung Hoa, nổi tiếng có mối liên hệ với tầng lớp chính trị Trung Quốc. Tuy nhiên, nhận thấy bằng cấp không đảm bảo được cơ hội việc làm tốt nên ông đã dành toàn bộ thời gian vào việc học lập trình máy tính. Ông tốt nghiệp bằng cử nhân ngành xã hội học năm năm 1996.
Sau này, ông nhận được bằng EMBA tại trường Kinh doanh China Europe International Business School.
== Sự nghiệp ==
Khi còn là sinh viên, ông từng đầu tư mạo hiểm vào một nhà hàng bằng khoản tiền kiếm được từ công việc lập trình và vay từ gia đình. Công việc kinh doanh thất bại sau vài tháng và để lại cho ông khoản nợ.
Sau khi tốt nghiệp, ông làm nhân viên tại Japan Life, một công ty chuyên về sản phẩm chăm sóc sức khỏe của Nhật Bản và liên tục đảm nhiệm các chức vụ giám đốc máy tính, giám đốc kinh doanh, giám sát hậu cần. Hai năm sau, tháng 6 năm 1998, ông bắt đầu với công ty riêng Jingdong tại khu công nghiệp công nghệ cao Trung Quan Thôn (中关村) ở Bắc Kinh với vai trò là nhà phân phối các sản phẩm từ-quang. Tính đến 2003, ông đã mở 12 chuỗi cửa hàng.
Dịch SARS bùng phát năm 2003 khiến các nhân viên và khách hàng của Jingdong phải hạn chế ra đường. Điều này buộc Lưu Cường Đông phải suy nghĩ lại về mô hình kinh doanh và chuyển sang kinh doanh trực tuyến. Ông thiết lập trang web bán lẻ trực tuyến đầu tiên của mình trong năm 2004 và thành lập công ty JD.com (viết tắt của Jingdong) vào năm sau. Năm 2005, Lưu Cường Đông cho đóng cửa tất cả các cửa hàng kinh doanh bên ngoài và trở thành công ty thương mại điện tử.
Công ty đã trở thành một trong những doanh nghiệp thương mại điện tử hàng đầu Trung Quốc. JD.com có mặt tại thị trường Mỹ vào tháng 1 năm 2014.
Ngày 22 tháng 5 năm 2014 là ngày phát hành cổ phiếu lần đầu của JD.com, giá cổ phiếu đã tăng khoảng 15%.
== Đời tư ==
Cung Tiểu Kinh là bạn gái đầu tiên của Lưu Cường Đông khi cả hai còn là sinh viên ở Đại học Nhân dân Trung Hoa. Tập đoàn Jingdong Mall của Lưu Cường Đông được đặt theo tên Jing (chữ cuối trong tên Cung Tiểu Kinh) và Dong (chữ cuối trong tên Lưu Cường Đông). Cặp đôi hẹn hò được vài năm nhưng sau đó chia tay vì những khác biệt trong quan điểm điều hành doanh nghiệp của Lưu Cường Đông. Cô Cung từ bỏ công việc kinh doanh và trở thành nhân viên chính phủ.
Mối tình tiếp theo của ông là Trang Gia, một nhân viên cấp cao của JD.com phụ trách việc mua bán các sản phẩm gia dụng nhỏ. Ngày 15 tháng 7 năm 2012, những người theo dõi trang Weibo của cặp đôi nhận thấy cả hai cùng đăng những bức ảnh về vườn cà chua trồng tại nhà cách nhau 11 phút. Bức ảnh đó giống với những quả cà chua chụp tại nhà của Lưu Cường Đông vào kì nghỉ, từ đó những tin đồn cho rằng hai người đang có mối tình công sở. JD.com đã xác nhận hai người đã hẹn hò được ba năm. Sự việc được biết đến với tên gọi Cánh cổng cà chua.Trang Gia sau đó đã rời khỏi JD.com không lâu sau khi ra mắt thành công cửa hàng thiết bị gia dụng.
Tháng 8 năm 2015, Lưu Cường Đông đã kết hôn với Chương Trạch Thiên sinh năm 1993, kém ông 19 tuổi. Chương Trạch Thiên từng là học sinh trường Ngoại ngữ Nam Kinh nổi tiếng trên mạng với biệt danh "Em gái trà sữa" do bức ảnh cô cầm cốc trà sữa trên tay được chia sẻ trên mạng xã hội Weibo và thành tích học tập xuất sắc khi được tuyển thẳng vào Đại học Thanh Hoa. Mối quan hệ bắt đầu từ đầu năm 2014 khi Chương Trạch Thiên là sinh viên trao đổi của Barnard College liên kết với Đại học Columbia. Những hình ảnh hẹn hò thân mật của hai người tại New York bị đăng tải trên mạng. Sự khác biệt về khoảng cách tuổi tác và kinh nghiệm sống khiến mối quan hệ thu hút sự chú ý của công chúng và nhiều lời đồn đoán. Ngày 10 tháng 4 năm 2014, Lưu Cường Đông xác nhận hai người đang hẹn hò thông qua tài khoản Weibo cá nhân.
Ngày 8 tháng 8 năm 2015, Lưu Cường Đông và Chương Trạch Thiên đã đăng ký kết hôn tại Bắc Kinh. Họ tổ chức đám cưới vào ngày 1 tháng 10 năm 2015 tại Australia.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
JD.com Trang web chính thức
Lưu Cường Đông trên Baidu Baike (tiếng Trung)
Những bài học từ một khởi đầu thất bại (Truy cập tại FT.com)
Danh sách công bố của IPO Mỹ nhà bán lẻ lớn thứ hai của Trung Quốc
Tencent, JD.com Ally, E-business Change Expected |
quyền hành pháp.txt | Quyền hành pháp là một trong ba quyền trong cơ cấu quyền lực Nhà nước, bên cạnh quyền lập pháp và quyền tư pháp. Quyền hành pháp do các cơ quan hành chính Nhà nước thực thi để đảm bảo hoàn thành chức năng và nhiệm vụ của mình.
Quyền hành pháp bao gồm hai quyền: quyền lập quy và quyền hành chính.
Quyền lập quy là quyền ban hành những văn bản pháp quy dưới luật, để cụ thể hoá luật pháp do các cơ quan lập pháp ban hành trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quyền hành chính là quyền tổ chức quản lý tất cả các mặt, các quan hệ xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước. Quyền hành chính bao gồm các quyền về tổ chức nhân sự trong cơ quan hành chính, quyền tổ chức thực thi và áp dụng pháp luật trong các mối quan hệ giữa tổ chức với cá nhân, tổ chức với tổ chức và giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội.
== Cơ quan hành pháp ==
Bộ máy hành pháp bao gồm các chính phủ (nội các) và các cơ quan hành chính công (hành chính), nơi đầu tiên đảm nhiệm trách nhiệm thi hành pháp luật. Bộ máy hành pháp ngoài việc hành chính còn có quyền lập quy, quy phạm pháp luật, ví dụ, có quyền ban hành các quy định, các văn bản dưới luật, không được xem là tương đương với luật, và thay vào đó phải có nguồn gốc dẫn nhập từ pháp luật hiện hành.
== Xem thêm ==
Quyền lập pháp
Tư pháp
Cơ quan lập pháp
== Chú thích == |
bagdad.txt | Bagdad (tiếng Ả Rập:بغداد Baġdād) (đọc như "Bát-đa") là thủ đô của Iraq và là thủ phủ của tỉnh Bagdad.
Dân số năm 2003 là 5.772.000, và năm 2011 vào khoảng 7.216.040. Đến năm 2016, dân số xấp xỉ khoảng 8,765,000, là thành phố lớn nhất Iraq và là thành phố lớn thứ 2 vùng Tây Nam Á sau Tehran và cũng là thành phố lớn thứ hai của thế giới Ả Rập, chỉ sau Cairo. Nằm trên bờ sông Tigris tại vị trí 33°20′ độ vĩ Bắc và 44°26′ độ kinh Đông. Đây là một trong những trung tâm của đạo Hồi.
Thành phố đã được thành lập vào thế kỉ thứ 8 và trở thành thủ đô của Abbasid Caliphate. Trong khoảng thời gian ngắn khởi đầu, Baghdad đã phát triển thành một trung tâm văn hoá, thương mại, và trung tâm trí tuệ của thế giới Hồi Giáo. Ngoài ra, việc xây dựng một số cơ sở giáo dục chủ chốt (ví dụ như: House of Wisdom), đã mang lại danh tiếng cho thành phố trên toàn thế giới như một "Trung Tâm của Học Tập".
Suốt thời kỳ Trung kỳ Trung Cổ, Bagdad được xem là thành phố lớn nhất thế giới với dân số ước tính là 1,200,000 người. Phần lớn thành phố đã bị phá huỷ dưới tay của Đế quốc Mông Cổ vào năm 1258, dẫn đến sự suy giảm kéo dài qua nhiều thế kỷ do các bệnh dịch thường gặp và các đế quốc nối tiếp nhau. Với sự công nhận Iraq là một quốc gia độc lập, Baghdad dần lấy lại được một số điểm nổi bật trước đây như là một trung tâm quan trọng của Văn hoá Ả Rập.
== Lịch sử ==
=== Nguồn gốc ===
Ngày 30 tháng 7, 762, khalip Al'Mamun xây dựng thành phố. Mansur tin rằng Baghdad là một thành phố lý tưởng để trở thành thủ phủ đế chế Hồi giáo dưới thời Abbasids. Mansur yêu thành phố này đến mức ông đã từng nói: "Đây thực sự là thành phố mà ta phải tìm ra, nơi ta phải sống và nơi mà con cháu ta sẽ ngự trị sau này." Sự phát triển của thành phố được tạo điều kiện bởi vị trí địa lý thuận lợi cả về quân sự lẫn kinh tế (dọc sông Tigris tới biển và đông tây Địa Trung Hải tới phần còn lại của Châu Á. Hội chợ thương mại hàng tháng được tổ chức tại vùng này. Một lý do nữa lý giải vì sao Baghdad lại có địa thế thuận lợi là do sự dồi dào về nguồn nước và khí hậu khô. Nguồn nước, thứ rất khan hiếm trong thời kì này, có mặt ở cả phía bắc và phía nam cổng thành phố, cung cấp đầy đủ nhu cầu của người dân.
Baghdad đã làm lu mờ Ctesiphon, thủ phủ trước đây của đế chế Ba Tư, 30 km về phía Đông Nam. Thành phố này đã được những người Hồi Giáo cai quản từ năm 637 nhưng lại nhanh chóng bị bỏ hoang sau khi Baghdad được tìm ra. Babylon bị bỏ hoang từ thế kỉ thứ 2 trước công nguyên, nằm 90 km về phía Nam.
=== Xây dựng ===
Từ những năm đầu tiên thành phố đã được coi như Thiên đường trong kinh Qu'ran. Bốn năm trước khi Baghdad được xây dựng, vào năm 758, Mansur đã tập hợp những nhà kĩ sư, những người chuyên vẽ bản đồ, những thợ xây dựng từ khắp nơi trên thế giới đến để thiết kế thành phố. Hơn 100.000 thợ xây dựng đã đến thiết kế thành phố; rất nhiều người đã chia sẻ tiền lương của mình để bắt đầu xây dựng thành phố vĩ đại này. Khung thành phố là 2 hình bán nguyệt lớn đường kính khoảng 19 km (12 dặm). Tháng 7 được lựa chọn để bắt đầu thi công vì 2 nhà thiên văn học, Naubakht Ahvaz và Mashallah tin rằng thành phố nên được xây dựng theo cung Sử tử. Cung Sư Tử rất quan trọng vì nó là thành phần của lửa, biểu tưởng cho năng suất, sự kiêu hãnh và sự phát triển. Những viên gạch dùng để xây dựng thành phố đều 18 inches cả 4 mặt.
=== Những bức tường bao quanh ===
Bốn bức tường xung quanh Baghdad được đặt tên Kufa, Basra, Khurasan, và Damascus. Những tên này được đặt theo địa danh mà mỗi cánh cổng hướng về. Khoảng cách giữa mỗi cánh cổng này đều ít hơn 1.5 dặm. Mỗi cổng có 2 cửa làm bằng sắt. Vì những cánh cổng này rất nặng nên cần vài người đế đóng hoặc mở chúng.
=== Cung điện Cổng vàng ===
Ở chính giữa quảng trường trung tâm là cung điện cổng vàng. Cung điện là nơi ở của khalip và gia đình của ông. Ở chính giữa của tòa nhà là một mái vòm xanh cao 39m. Xung quanh cung điện là nơi dạo mát, tòa nhà bên bờ sông nơi chỉ có khalip là có thể cưỡi ngựa tới. Thêm vào đó, cung điện ở gần những lâu đài và dinh thự của những người có quyền thế khác. Gần cổng Syria là nơi ở của những người gác cổng. Tòa nhà đó được xây dựng bởi gạch và cẩm thạch. Quản gia của cung điện sống ở phía sau của tòa nhà còn người chỉ huy lính gác lại sống ở phía trước. Vào năm 813, sau cái chết của khalip Amin, cung điện không còn được dùng làm nơi sống của khalip và gia đình.
Dạng tròn là theo kiểu Ả rập. Hai nhà thiết kế được thuê bởi Al-Mansur là Naubakht, một tín đồ đạo thờ lửa, người đã đặt ngày khởi công thành phố dựa theo thiên văn học, và Mashllah, một người Do thái đến từ Khorasan, Iran.
=== Đế quốc Ottoman đô hộ ===
Vào thế kỷ 16, Đế chế Ottoman thôn tính vùng đất này và Bagdad trở thành một thành phố thương mại quan trọng trong đế chế. Bagdad được giải phóng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi quân Đồng Minh tràn vào Bagdad và Đế chế Ottoman bại trận.
=== Thời gian gần đây ===
Nơi đây được biết đến với cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 do tổng thống Hoa Kỳ Bush (cha) phát động nhằm lật đổ chế độ Saddam Hussein nhưng không thành. Năm 2003, một lần nữa lại nổ ra cuộc Chiến tranh Iraq, lần này là do tổng thống Bush (con) phát động và đã lật đổ được Saddam Hussein.
== Địa lý ==
Thành phố nằm trên đồng bằng rộng lớn hai bên bờ sông Tigris. Tigris chia Baghdad thành hai nửa, nửa phía đông được gọi là 'Risafa' và nửa phía tây được gọi là ' Karkh'. Vùng đất của thành phố hầu hết là bằng phẳng và thấp trên các bồi tích được lấp đầy theo chu kỳ lũ của sông.
=== Khí hậu ===
Baghdad có khí hậu khô hạn cận nhiệt đới (phân loại khí hậu Köppen BWh) và là thành phố nóng nhất thế giới theo nghĩa nhiệt độ cao nhất. Mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8, nhiệt độ cao trung bình 44 °C (111 °F) kèm với nắng rực lửa: thực tế lượng mưa được ghi nhận là rất ít vào thời điểm này trong năm và không bao giờ vượt quá 1mm.
Lượng mưa hàng năm, chủ yếu rơi từ tháng 11 đến tháng 3, trung bình khoảng 150 mm, cao nhất là 338 mm (13,31 in) và thấp nhất là 37 mm (1,46 in). Vào 11 tháng 1 năm 2008, có tuyết rơi nhẹ ở Baghdad lần đầu tiên trong lịch sử.
== Giáo dục ==
Đại học Mustansiriya được Abbasid Caliph al-Mustansir thành lập năm 1227. Tên trường được đổi thành Đại học Al-Mustansiriya năm 1963. Đại học Baghdad là trường đại học lớn nhất Iraq và lớn thứ 2 trong thế giới Ả Rập.
=== Đại học ===
Đại học Mustansiriya
Đại học Iraqi
Đại học Nahrain
Đại học Baghdad
Đại học Kỹ thuật, Iraq
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bản đồ Baghdad
Ảnh Iraq - Ảnh vệ tinh về Baghdad |
cá ngừ ồ.txt | Cá ngừ ồ hay còn gọi là cá ồ (danh pháp hai phần: Auxis rochei) là một loài cá trong họ Cá thu ngừ. Cá ngừ ồ thường được tìm thấy ở toàn cầu trong vùng nước mặt mở đại dương đến độ sâu 50 m. Cá ngừ ồ có chiều dài tối đa của nó là 50 cm.
Cá ngừ ồ là một loài cá tương đối nhỏ và mảnh mai. Nó có một vây lưng hình tam giác được tách ra từ các vây lưng thứ hai, trong đó, giống như hậu môn và vây ngực, là tương đối nhỏ. Cá ngừ viên ồ ăn cá nhỏ, mực, sinh vật phù du giáp xác, ấu trùng stomatopoda.
== Phân loài ==
Auxis rochei eudorax Collette & Aadland, 1996
Auxis rochei rochei (Rafinesque, 1810)
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Auxis rochei tại Wikispecies |
thời kỳ jōmon.txt | Thời kỳ Jōmon (縄文時代 Jōmon-jidai "Thằng Văn thời đại"), hay còn gọi là thời kỳ đồ đá mới ở Nhật Bản, là thời tiền sử ở Nhật Bản, từ khoảng năm 14.000 TCN đến năm 400 TCN.
Hầu hết các học giả đều nhất trí rằng vào khoảng 40.000 năm TCN, băng hà đã nối các hòn đảo của Nhật Bản với lục địa châu Á. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, từ khoảng 35.000 đến 30.000 năm TCN loài người đã di cư đến các hòn đảo Nhật Bản từ phía đông và phía đông nam châu Á và đã có những cộng đồng dân cư ổn định trên đảo với các hoạt động săn bắn và chế tác đồ đá. Các dụng cụ bằng đá, những khu dân cư và hóa thạch người trong giai đoạn này đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên các đảo Nhật Bản. Ngoài ra, một nghiên cứu di truyền học vào năm 1988 đã chỉ ra mối liên hệ về nguồn gốc giữa người Nhật Bản và các cư dân Đông Á.
Từ "Jomon" trong tiếng Nhật có nghĩa là "đánh dấu bằng dây thừng" chỉ những họa tiết trên các bình bằng đất sét và những hình ảnh sử dụng các que gỗ được cột dây thừng xung quanh.
== Sơ kỳ Jomon (10000 – 4000 TCN) ==
Vào khoảng thời gian cách đây hơn 10.000 năm lãnh thổ Nhật Bản và đất liền nối nhau ở phía nam qua Hàn Quốc và phía bắc qua Hokkaido và Sakhalin, tạo thành một biển nội địa ở giữa. Những khu định cư ổn định xuất hiện vào khoảng năm 10.000 TCN tương ứng với nền văn hóa đồ đá giữa hoặc, theo một số tranh cãi, văn hóa đồ đá mới, nhưng mang những đặc điểm của cả hai nền văn hóa đó. Những tổ tiên xa của tộc người Ainu của Nhật Bản hiện đại, những thành viên đa dạng của nền văn hóa Jomon (10.000 – 300 TCN) để lại những di chỉ khảo cổ rõ ràng nhất. Nền văn hóa này cùng thời với các nền văn minh Lưỡng Hà, văn minh sông Nil, và văn minh thung lũng Indus. Trong thời gian này, không có dấu hiệu rõ ràng của việc trồng trọt, mãi cho đến giữa thiên niên kỷ 1 TCN như kê, kiều mạch, cây gai dầu.
=== Sơ kỳ đồ gốm ===
Theo các bằng chứng khảo cổ học, người Jomon có thể là người đã tạo ra những chiếc bình gốm đầu tiên trên thế giới, vào khoảng thiên niên kỷ 14 TCN, cũng như những dụng cụ bằng đá sớm nhất. Những di tích cổ này được phát hiện lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai bằng phương pháp phóng xạ carbon. Tuy nhiên, một số học giả Nhật Bản cũng tin rằng kỹ thuật sản xuất đồ gốm được phát minh đầu tiên ở lục địa châu Á vì ở những khu vực nay là Trung Quốc và Nga đã sản xuất ra đồ gốm lâu đời ngang với, nếu không là lâu đời hơn đồ gốm ở hang Fukui. Người thời Jomon đã chế tác ra những vật dụng và các bình gốm được trang trí bởi những họa tiết tinh vi làm bằng cách ép đất sét ướt với các sợi dây hoặc các que gỗ được tết lại hoặc không được tết lại.
=== Những đặc điểm của văn hóa đồ đá mới ===
Việc chế tác đồ gốm cho thấy một đời sống ổn định hơn bởi lẽ đồ gốm rất dễ vỡ và do đó nói chung là vô ích với các hoạt động săn bắt hái lượm vốn phải di chuyển liên tục. Do đó, người Jomon có thể là những người đầu tiên sống định cư, hoặc ít ra là bán định cư, trên thế giới. Họ dùng các công cụ bằng đá mài, bẫy và cung tên, và có lẽ là những người sống nửa theo kiểu săn bắt hái lượm, nửa theo kiểu định cư, đồng thời là những tay đánh bắt cá ở bờ biển và lặn sâu khéo léo. Người Jomon có tiến hành một số hoạt động nông nghiệp sơ khai và sống trong những hố đất nhỏ hoặc những ngôi nhà dựng trên mặt đất, để lại nhiều bằng chứng quan trọng cho nghiên cứu khảo cổ học. Vì vậy, những hình thức canh tác đầu tiên của loài người có thể đã xuất hiện ở Nhật Bản vào năm 10.000 TCN, hai nghìn năm trước khi nó lan rộng và trở nên phổ biến ở Trung Cận Đông. Tuy nhiên, một số bằng chứng khảo cổ học khác cũng cho thấy đã có hoạt động nông nghiệp diễn ra trên những ngọn đối và thung lũng ở vùng Fertile Crescent ở vùng nay là Syria, Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq vào khoảng 11.000 năm TCN.
=== Dân số gia tăng ===
Nền văn hóa bán định cư đã dẫn đến việc gia tăng dân số nhanh chóng khiến Jomon trở thành một trong những khu vực có mật độ dân số cao nhất thế giới vào thời bấy giờ. Một nghiên cứu di truyền học của Cavalli – Sforza đã cho thấy sự mở rộng của một mẫu di truyền điển hình từ vùng biển Nhật Bản sang vùng còn lại của Đông Á. Đây là sự di chuyển gene quan trọng thứ ba của vùng Đông Á (xếp sau "Cuộc di chuyển lớn" từ lục địa châu Phi và cuộc di chuyển gene thứ hai từ vùng bắc Siberia). Sự di chuyển này cũng đã dẫn đến sự mở rộng về mặt địa lý của loài người trong thời Jomon. Nghiên cứu này còn đi xa hơn trong việc đưa ra giả thuyết rằng sự mở rộng của loài người trong thời Jomon thậm chí đã vươn đến châu Mỹ theo con đường dọc bờ biển Thái Bình Dương. Các tính toán cho thấy rằng vào khoảng thời gian cách đây 10.000-4.500 năm, dân số Nhật Bản tăng ổn định khoảng 1% mỗi năm và đạt mức cực đại khoảng 260.000 người cách đây 4.000 năm, các khu vực tập trung đông dân cư nhất là Kanto và Chubu. Sau đó là thời kỳ khí hậu lạnh đi làm tốc độ tăng dân số giảm.
=== Những giai đoạn chính ===
Tiền Jomon (10000 – 7500 TCN)
Các đường vẽ trên vách đá;
Các dấu vết vẽ bằng móng tay;
Các đường trang ký hình xoắn thừng;
Muroya hạ.
Sơ kỳ Jōmon (7500 - 4000 TCN)
Igusa;
Inaridai;
Mito;
Hạ Tado;
Thượng Tado;
Shiboguchi;
Kayama.
== Từ đầu đến cuối thời Jomon (4000 – 400 TCN) ==
Nhiều di tích khai quật được trong giai đoạn này cho thấy thời kỳ đầu và trung kỳ Jomon đã diễn ra một sự bùng nổ về dân số. Hai thời kỳ này tương ứng với thời tiền sử Holocene Climatic Optimum (từ 4000 đến 2000 TCN) khi nhiệt độ cao hơn bây giờ vài độ C và mực nước biển cao hơn từ 2 đến 3 mét. Những di chỉ đồ gốm mang tính nghệ thuật cao, như các bình gốm nung lửa có trang trí, được tìm thấy trong gian đoạn này. Sau năm 1500 TCN, thời tiết trở nên lạnh hơn và dân số có lẽ đã giảm xuống nhanh chóng bởi lẽ người ta tìm thấy ít di chỉ khảo cổ tương ứng với giai đoạn 1500 năm TCN hơn nhiều so với trước đó.
Vào cuối thời Jomon, theo nghiên cứu khảo cổ học, một thay đổi quan trọng đã diễn ra. Các hình thức nông nghiệp sơ khai đã phát triển thành việc canh tác trên các ruộng lúa và xuất hiện sự kiểm soát của chính quyền. Rất nhiều nhân tố văn hóa Nhật Bản có thể khởi nguồn từ thời kỳ này và phản ánh lại những cuộc di cư từ phía nam lục địa châu Á và phía nam Thái Bình Dương. Trong những nhân tố này có các truyền thuyết về Thần đạo, các tục lệ hôn nhân, các phong cách kiến trúc và những phát triển về kỹ thuật như đồ sơn mài, những cây cung được kéo mỏng, kỹ thuật chế tác đồ kim loại và đồ thủy tinh.
=== Những giai đoạn chính ===
Jomon thời kỳ đầu (4000 – 3000 TCN)
Hạ Hanazumi;
Sekiyama;
Kurohama;
Morois;
Juusanbodai.
Trung kỳ Jomon (3000 – 2000 TCN)
Katsusaka/Otamadai;
Kasori E1;
Kasori E2.
Hậu kỳ Jomon (2000 – 1000 TCN)
Shyomyouji;
Horinouchi;
Kasori B1;
Kasori B2;
Angyo 1.
Cuối thời Jomon (1000 – 400 TCN)
Angyo 2;
Angyo 3.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
The Prehistoric Archaeology of Japan
Tạp chí quốc tế về văn hóa thời kỳ Jomon |
fujifilm.txt | Fujifilm Holdings Corporation (富士フイルム株式会社, Fujifirumu Kabushiki-kaisha), hay còn được biết đến với tên thông dụng là Fujifilm hay Fuji (cách điệu: FUJiFILM) là một tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng với các sản phẩm nhiếp ảnh. Hãng có trụ sở chính tại Tokyo, Nhật Bản.
Các hoạt động kinh doanh chính của tập đoàn bao gồm: nghiên cứu, phát triển, sản xuất và phân phối các thiết bị xử lý hình ảnh điện tử, thiết bị hoàn thiện ảnh, hệ thống y tế, sinh học, nghệ thuật đồ họa, vật liệu màn hình phẳng và các sản phẩm văn phòng, dựa trên một danh mục lớn các công nghệ kỹ thuật số, quang, hóa học tinh và tráng phủ lớp phim mỏng.
== Mối quan hệ giữa các nhánh ==
Fujifilm Holdings
Fujifilm
Fujifilm Imaging Systems
Fujifilm Medical
Fujifilm Pharma
Fujifilm RI Pharma
Fujifilm Photo Manufacturing
Fujifilm Fine Chemicals
Fujifilm Electronics Materials
Fujifilm Engineering
Fujifilm Optics
Fujifilm Opto Materials
Fujifilm Global Graphic Systems
Fujifilm Computer Systems
Fujifilm Software
Fujifilm Techno Services
Fujifilm Techno Products
Fujifilm Business Supply
Fujifilm Digital Press
Fujifilm Media Crest
Fujifilm Sonosite, Inc.
Fujifilm Shizuoka
Fujifilm Kyushu
Fujifilm Logistics
Fuji Xerox
Fuji Xerox Printing Systems Sales
Fuji Xerox Information Systems
Fuji Xerox System Service
Fuji Xerox Interfield
Fuji Xerox Advanced Technologies
Fuji Xerox Manufacturing
Fuji Xerox Service Creative
Fuji Xerox Service Link
Fuji Xerox Learning Institute
Toyama Chemical
Taisho Toyama Pharmaceutical
Fujifilm Business Expert
== Products ==
=== Film máy ảnh ===
Fujifilm photographic films
Motion picture film stock.
Phim màu dương bản Fujichrome
Velvia: phim có độ bảo hòa tốt, hạt mịn, được đánh giá cao bởi các nhiếp ảnh gia thiên nhiên và phong cảnh.
Provia: phim cho màu sắc chân thực hơn loại Velvia.
Astia: phim có hạt khá mịn, độ tương phản thấp, thường dùng trong studio hoặc chụp phong cảnh.
Sensia
Fortia
Film âm bản Fujicolor
Fujicolor Pro 160S, 160C, 400H, and 800Z (formerly NPS, NPC, NPH, and NPZ): phim chụp chuyên nghiệp, có độ tương phản khác nhau.
Reala
Superia
Press
Fuji Neopan: Phim trắng đen âm bản chuyên nghiệp.
Neopan SS: film có ISO 100, dễ tìm và rẻ nhất trong dòng Neopan.
Neopan ACROS: ISO 100, hạt mịn hơn dòng SS, nhưng thường đắt hơn.
Neopan Presto: ISO 400, dùng chụp tốc độ cao
Neopan Super Presto: ISO 1600, dùng cho chụp thiếu sáng hay hành động
=== Máy ảnh và ống kính ===
Fujifilm FinePix - dòng máy ảnh kĩ thuật số:
Dòng máy ảnh Mirrorless thay được ống kính ngàm Fujifilm X (X-Pro 2, X-T2, X-E2S)
Dòng máy dSLR dùng ngàm Nikon F (FinePix S5 Pro)
Dòng máy compact (FinePix F-series và FinePix Z-Series, Fujifilm X100, X100S)
Dòng máy chống nước và chống va đập (FinePix XP-Series)
Fujifilm GFX 50S, máy ảnh medium format dùng ngàm Fujifim G
Dòng máy Clear Shot: máy compact dùng phim 35mm.
Dòng máy ảnh chụp lấy ngay Instax.
Dòng máy ảnh chụp lấy ngay Fotorama.
Nhiều máy ảnh kiểu rangefinder, và các máy ảnh film Fujica
Dòng máy chuyên nghiệp (GA645, GW670, GW690, GF670, GF670W và Fuji GX680 6x8cm medium format)
Ống kính và ống nhòm Fujinon, bao gồm cả những ống kính truyền hình thông dụng nhất thế giới.
=== Other ===
Giấy ảnh
Giấy in
Đĩa tư, đĩa mềm,...
Đĩa quang (CD, VCD, DVD,...)
Thẻ nhớ flash
Film X quang
Vật liệu nền cho màn hình LCD
Giấy film Instax.
Microfilm
Thiết bị Minilab
== Chú thích == |
quỹ nhi đồng liên hiệp quốc.txt | Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc viết tắt là UNICEF (tiếng Anh: United Nations Children's Fund) là một quỹ cứu tế được thành lập bởi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 12 năm 1946.
Năm 1953, Liên Hiệp Quốc thay tên của nó từ Quỹ Khẩn cấp Nhi đồng Quốc tế Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations International Children's Emergency Fund) mà được biết dưới tên tiếng Việt là Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc, nhưng nó vẫn được gọi tắt theo từ chữ đầu UNICEF bắt nguồn từ tên cũ.
== Lịch sử ==
== Hoạt động ==
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc đã thực hiện một số hoạt động sau:
== Các ngày lễ quốc tế về trẻ em ==
Các ngày lễ quốc tế và năm hành động về trẻ em, trong đó phần lớn do Liên Hiệp Quốc ban hành trong các Nghị quyết được Đại hội đồng thông qua.
== Ban điều hành ==
Hàng năm vào tháng Tư hoặc tháng Năm, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC) bầu từ các thành viên Liên Hiệp Quốc từ năm khu vực, để chọn ra các thành viên của Ban điều hành UNICEF.
Thành viên mới được bầu bắt phục vụ từ đầu năm dương lịch với nhiệm kỳ ba năm. Mỗi năm chỉ bầu một số lượng nhất định thành viên mới vào Ban chấp hành, để đảm bảo tính liên tục của kinh nghiệm điều hành. Phân phối lượng ủy viên cho 5 khu vực, nêu trong bảng.
Các thành viên Ban điều hành UNICEF gần đây:
== Giám đốc điều hành ==
== Đại sứ thiện chí quốc tế ==
Đại sứ thiện chí quốc tế đang còn hoạt động
== Các nước và vùng có cơ quan UNICEF ==
Các nước và vùng lãnh thổ có cơ quan UNICEF
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Việt Nam
Roger Federer trở thành Đại sứ thiện chí của UNICEF (2006)
Đại sứ thiện chí của UNICEF |
atama yama.txt | Atama yama (頭山, đầu sơn), tạm dịch là "núi đầu", là một vở diễn kịch Rakugo. Tại vùng Edo, vở diễn này có tên là "Atama yama" nhưng tại các xứ miền Tây Nhật Bản như Kyōto hay Ōsaka thì nó còn có tên là "Sakurambo" (quả Anh đào). Đây là một trong những vở diễn nổi tiếng của soạn giả Rakugo miền Tây là Katsura Jakujaku. Với đề tài về một người đàn ông keo kiệt, Atama yama là một kiệt tác có nội dung phi hiện thực nhất trong số các tác phẩm Rakugu nhưng lại khiến người nghe có cảm giác hiện thực nhất. Năm 2002, Atama yama đã được đạo diễn Anime là Yamamura Kōji dựng thành Anime đoản biên và tác phẩm này đã nhận được giải thưởng trong liên hoan phim Nhật Bản lần thứ 23. Tác phẩm Anime này được dàn dựng theo phong cách Rakugo với tài dẫn dắt của Kunimoto Takeharu, một nghệ nhân hát với đàn Shamisen. Trước mỗi câu dẫn truyện của Kunimoto đều có tiếng đàn Shamisen. Có thuyết cho rằng nội dung của Atama yama dựa trên chương "tăng chính đào ao" (Horiike Sōjō) trong tập sách Tsurezuregusa của nhà sư Yoshida Kenkō.
== Nội dung ==
Có một gã đàn ông keo kiệt nuốt luôn cả hạt Anh đào sau khi ăn. Sau đó trên đầu gã mọc ra một cây Anh đào. Theo năm tháng, cây Anh đào nở hoa lộng lẫy khiến những người trong vùng vui mừng, lũ lượt kéo đến ngắm hoa. Khách ngắm hoa ăn uống nhộn nhạo trên đầu khiến gã đàn ông tức giận, với tay nhổ luôn gốc cây trên đầu. Nhưng rồi nước mưa đọng vào trong cái lỗ sau khi nhổ cây Anh đào ra khỏi đầu, biến nó thành cái ao câu cá của những người chung quanh. Lần này gã đàn ông tức giận, gieo mình xuống cái ao trên đầu mình rồi chết.
== Truyện tương tự ==
Trong tiểu thuyết "Cuộc mạo hiểm của Nam tước thổi tù và" của Gottfried August Brger cũng có đoạn tương tự. Nhân vật chính là Nam tước Münchhause trong lần đi săn, đuổi theo con nai nhưng súng đã hết đạn đành lấy hạt Anh đào thay đạn. Hạt Anh đào bắn vào giữa trán con nai khiến nó hoảng sợ bỏ chạy. Mấy năm sau, khi trở lại săn cùng địa điểm cũ thì Nam tước phát hiện ra một con nai, giữa trán có cây Anh đào 10 foot. Nam tước giết chết con nai và có được món thịt nai ngon tuyệt cùng nước sốt Anh đào.
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.