filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
thời kỳ cận đại.txt | Cận đại là thuật từ được dùng để chỉ thời kỳ lịch sử tiếp nối thời trung đại, có liên quan tới thời hiện đại. Trong tiếng Việt, thuật từ này theo nghĩa hẹp chỉ tương ứng với "hậu kỳ cận đại" (late modern period) bắt đầu vào giữa thế kỷ 18; theo nghĩa rộng thuật từ này còn bao gồm cả "sơ kỳ cận đại" (early modern period) bắt đầu vào khoảng năm 1500 hoặc trước đó vài thập kỷ, diễn ra những sự kiện như nghệ thuật Phục Hưng phổ biến rộng khắp châu Âu, Đế quốc Byzantine sụp đổ và Thời đại Khám phá. Thời kỳ cận đại gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những tiến bộ công nghệ và các cuộc cách mạng.
== Khái niệm ==
Dựa theo những tiêu chí chính trị và văn minh, lý giải về sự kiện khởi đầu cũng như sự kiện kết thúc của thời kỳ Cận đại không được đồng nhất:
Thời kỳ cận đại kéo dài từ năm 1453 khi Constantinopolis rơi vào tay đế quốc Ottoman đến khi Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789.
Từ khi Nội chiến Anh bùng nổ năm 1640 đến khi Cách mạng Tháng Mười diễn ra năm 1917 ở nước Nga.
Từ sau những cuộc phát kiến địa lý ở thế kỷ XV cho đến trước cuộc Cách mạng khoa học - kỹ thuật đương đại (diễn ra vào giữa thế kỷ XX).
Thời kỳ cận đại chứng kiến chủ nghĩa tư bản thế giới trên đà phát triển, các thể chế quốc gia dân chủ được thiết lập và củng cố, giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây xảy ra những cuộc xung đột, nhưng bên cạnh đó cũng có sự giao lưu. Cũng trong thời kỳ này, cuộc Cách mạng công nghiệp - cơ khí được thực hiện.
Đối với các quốc gia Đông phương, thời Cận đại thường được xem là khởi đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam, thời Cận đại ở các nước Đông phương gắn liền với quá trình xâm lược và chống xâm lược, sự chuyển biến hình thái kinh tế - xã hội theo chiều hướng tư bản chủ nghĩa, quá trình cải cách và cách mạng của những cơ cấu quyền lực chính trị.
Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng thời kỳ Cận đại bắt đầu từ khi cuộc xâm lược của thực dân Pháp khởi đầu năm 1858 cho đến Cách mạng Tháng Tám diễn ra năm 1945.
Trong lịch sử cận đại ở Nhật Bản, Thiên hoàng Minh Trị đã thực hiện cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân. Nhờ có cuộc cải cách của ông, Nhật từ một nước phong kiến trở thành một đất nước hiện đại, đứng trong hàng ngũ các cường quốc thế giới.
== Xem thêm ==
Họ Habsburg
Đế quốc Ottoman
Phục hưng
Nhà Safavid
Đế quốc Mogul
Cộng hòa Hà Lan
Minh Trị Duy Tân
Pháp thuộc
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
okayama.txt | Okayama (Nhật: 岡山県 (Cương Sơn Huyện), Okayama-ken) là một tỉnh của Nhật Bản nằm ở vùng Chūgoku trên đảo Honshū. Trung tâm hành chính là thành phố Okayama.
== Địa lý ==
Tỉnh Okayama giáp ranh với tỉnh Hyōgo, Tottori và Hiroshima. Nó nằm đối diện với tỉnh Kagawa tại đảo Shikoku qua bờ biển Seto Naikai và bao gồm cả 90 đảo trên biển.
Okayama có thị trấn cổ Kurashiki. Phần lớn dân số nằm tập trung ở Kurashiki and Okayama, trong khi dân số tại các ngọn núi phía Bắc đang ngày càng thưa dần.
== Lịch sử ==
Trong cuộc Minh Trị Duy tân, ba tỉnh là Bitchu, Bizen và Mimasaka được hợp thành tỉnh Okayama.
== Hành chính ==
Okayama có 15 thành phố:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Okayama
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật)
Một blog cá nhân về tỉnh Okayama (Tiếng Pháp) |
bộ (sinh học).txt | Trong phân loại sinh học, một bộ (tiếng La tinh: ordo, số nhiều ordines) là một cấp nằm giữa lớp và họ. Siêu bộ đôi khi cũng được sử dụng và nó nằm giữa lớp và bộ. Các chi tiết chính xác cho danh pháp chính thức phụ thuộc vào hệ quy tắc danh pháp được áp dụng.
== Lịch sử ==
Bộ là một cấp đặc biệt trong phân loại sinh học và nó có tên riêng đặc biệt để phân biệt của chính mình (chứ không phải chỉ là gọi chung cho cái gọi là chi cao hơn (genus summum)) lần đầu tiên được một nhà thực vật học người Đức là Augustus Quirinus Rivinus đề xuất trong phân loại của ông đối với thực vật (các chuyên luận trong thập niên 1690). Carolus Linnaeus là người đầu tiên áp dụng thuật ngữ này một cách ổn định trong sự phân chia của cả 3 giới trong tự nhiên (bao gồm khoáng vật, thực vật và động vật) trong cuốn Systema Naturae (1735, ấn bản lần thứ nhất) của ông.
=== Thực vật ===
Cần lưu ý rằng đối với thực vật của các bộ theo Linnaeus, trong Systema Naturae và trong Species Plantarum, một cách chặt chẽ là nhân tạo, được đưa ra để phân chia các lớp nhân tạo thành các nhóm nhỏ hơn mà có thể lĩnh hội được. Trong khi từ ordo lần đầu tiên được sử dụng một cách ổn định cho các đơn vị tự nhiên của thực vật, thì trong các công trình về phân loại trong thế kỷ 19, chẳng hạn như Prodromus của de Candolle và Genera Plantarum của Bentham & Hooker, nó lại thể hiện như là các đơn vị phân loại mà ngày nay người ta gán cho cấp họ (xem thêm Ordo naturalis).
Trong các ấn phẩm về thực vật của Pháp, từ Familles naturelles des plantes (1763) của Michel Adanson cho tới cuối thế kỷ 19 thì từ famille (số nhiều: familles) đã được sử dụng như là từ tương đương trong tiếng Pháp cho từ La tinh ordo. Sự tương đương này đã được thể hiện một cách rõ ràng trong Lois de la nomenclature botanique (1868) của Alphonse Louis Pierre Pyrame de Candolle, tiền thân của Quy tắc quốc tế cho danh pháp thực vật hiện nay đang được sử dụng.
Trong các quy tắc quốc tế đầu tiên của danh pháp thực vật năm 1906 thì từ họ (familia) đã được gán cho cấp mà người Pháp gọi là "famille", trong khi từ bộ (ordo) đã được dành cho cấp cao hơn, mà cấp này trong thế kỷ 19 thông thường hay được gọi là cohors (số nhiều: cohortes).
=== Động vật sống ===
Trong động vật học, các bộ theo Linnaeus đã dược sử dụng một cách ổn định hơn. Điều đó có nghĩa là các bộ trong phần động vật học của Systema Naturae là chỉ tới các nhóm tự nhiên của động vật. Một vài tên gọi các bộ của Linnaeus vẫn còn được sử dụng hiện nay (ví dụ Lepidoptera cho một bộ chứa các loài bướm đêm và bướm ngày, hay Diptera cho bộ chứa các loài ruồi, muỗi, ruồi nhuế, muỗi vằn v.v).
== Xem thêm ==
Cấp bậc (thực vật học)
Cấp bậc (động vật học)
Quy tắc quốc tế cho danh pháp động vật (ICZN)
Quy tắc quốc tế cho danh pháp thực vật (ICBN)
Miêu tả theo nhánh học
Phát sinh loài học
Hệ thống hóa
Phép phân loại
Phân loại khoa học
Phân loại virus
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
hypena deceptalis.txt | Hypena deceptalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Manitoba tới Quebec, phía nam đến Florida và Texas. It is absent from much of Coastal Plain though.
Sải cánh dài 28–35 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 4 đến tháng 8. Có hai lứa trưởng thành một năm.
Ấu trùng ăn các loài Tilia americana, but the is also found outside of the range của Tilia americana, so there must be at least one other host.
== Liên kết ngoài ==
Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae)
Bug Guide
Species info
Images
== Chú thích == |
chùa kim liên.txt | Chùa Kim Liên (Chữ Hán: 金蓮寺, Kim Liên tự) là ngôi chùa nằm trên một doi đất bằng phẳng trong làng Nghi Tàm, xã Quảng An, quận Tây Hồ (trước là phường Quảng An, huyện Từ Liêm), thành phố Hà Nội. Cuốn sách Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995 (do Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương xuất bản tại Hà Nội năm 1989) đánh giá: Chùa Kim Liên là một trong 10 di tích kiến trúc cổ đặc sắc nhất Việt Nam.
== Lịch sử ==
Vào thời Lý, vua Lý Thần Tông (1128-1138) cho lập ở vị trí này một cung điện mang tên cung Từ Hoa để công chúa Từ Hoa cùng các cung nữ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải nằm bên trong khu vực có tên là Trại Tằm Tang. Khi công chúa qua đời, trên nền cũ của cung điện dựng lên một ngôi chùa.
Sang thời Trần, trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên và chùa được mang tên Đống Long. Đến thời Lê chùa mang tên Đại Bi. Tấm bia trong chùa dựng thời vua Lê Nhân Tông ghi rõ: "năm Thái Hòa thứ nhất (tức năm 1443) dựng chùa, gọi là chùa Đại Bi".
Năm 1771 đời Lê Cảnh Hưng chùa được trùng tu, sửa chữa lớn và mang tên Kim Liên Tự (chùa Kim Liên).
Năm 1792, đời vua Quang Trung, chùa được xây dựng lớn, về diện mạo cơ bản giống như hiện nay.
Năm 1793 cũng đời vua Quang Trung chùa đã hoàn tất về diện mạo.
== Kiến trúc ==
Từ xa nhìn lại tam quan của chùa Kim Liên toát lên một vẻ đẹp thầm kín và kiêu hãnh với kiến trúc gỗ độc đáo: một hàng bốn cột gỗ tròn, bên trên có hệ con sơn đua rộng ra phía tầng dưới, thu hẹp dần ở tầng tên đỡ bộ vì mái với những tàu đao vút cong. Đôi cột cái ở giữa to cao nâng dải mái vươn lên tạo thành cổng lớn, cao rộng hơn hai cổng hai bên. Kiến trúc tam quan của chùa còn có những bức chạm nổi trên mặt gỗ với hình rồng, hình hoa lá tinh xảo, uyển chuyển.
Phong cách kiến trúc của chùa Kim Liên, có lẽ do ảnh hưởng từ nguồn cội là một vị trí cung điện và thờ một tôn thất nhà Lý, nên đượm dáng vẻ cung đình. Bố cục của chùa bao gồm một trục đối xứng từ tam quan đến nhà Tổ. Từ tam quan đi vào một khoảng sân dẫn vào ba nếp chùa xếp song song theo hình chữ "tam" (三), thứ tự từ chùa Hạ, chùa Trung quay mặt về hướng Tây đến chùa Thượng quay mặt về phía Đông. Ba lớp chùa được liên kết với nhau bằng tường gạch để trần có trổ cửa sổ tròn lồng chữ nhà Phật.
Mái chùa Kim Liên lợp ngói với cấu trúc hai tầng theo kiểu chồng diêm. Mỗi nếp 8 mái, có tám tàu đao hình rồng uốn cong. Chân cột kê trên đá tảng chạm hình hoa sen cách điệu.
== Hiện vật ==
Bên trong chùa Kim Liên có nhiều pho tượng rất đẹp, các pho tượng Phật được bày thành hai lớp, trên cùng là bộ Tam thế, tiếp theo là tượng A-di-đà, tượng Quan Thế Âm và tượng Đại thế chỉ ở hai bên cùng A Nan Đà, Ca diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật. Lớp dưới là Quân âm chuẩn đề, tượng Ngọc Hoàng, dưới cùng là tòa Cửu Long. Ngoài ra, chùa Kim Liên còn có tượng Uy vương Trịnh Giang, người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ 18-19.
Chùa còn lưu giữ được một tấm bia cổ hiện dựng phía bên phải cổng chùa trên bệ đá hình vuông, dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu: Thái Hòa tam niên Ất Sửu, tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông. Đây là tấm bia cổ nhất ở Hà Nội hiện nay.
== Chùa Kim Liên trong thi văn ==
Danh sĩ Phạm Đình Hổ đả ghi lại trong Tang thương ngẫu lục về cảnh đẹp chùa Kim Liên như sau: "...chùa xoay lương ra sông Nhị, hồ Tây quanh trước mắt, khói sóng man mác, trời nước một màu...", "... phía bên trái có mấy gò nổi, tháp gạch xây ở trên, khóm trúc, cội tùng phơ phất... ".
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Mục từ Chùa Kim Liên, trong cuốn Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995, Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, Hà Nội, 1989, trang 335-336.
== Xem thêm ==
Danh sách chùa Hà Nội
== Liên kết ngoài ==
Chùa Kim Liên
Chùa Kim Liên
Thăm các chùa nổi tiếng tại Hà Nội |
canoeing tại thế vận hội mùa hè 2016.txt | Bản mẫu:Canoeing tại Thế vận hội Mùa hè 2016 Đua thuyền canoeing tại Thế vận hội Mùa hè 2016 ở Rio de Janeiro diễn ra hai phân môn chính: vượt chướng ngại vật, từ 7 tới 11 tháng Tám, và nước rút, từ 15 tới 20 tháng Tám. Nội dung canoe vượt chướng ngại vật tại Sân vận động Whitewater Olympic; còn nơi diễn ra các nội dung nước rút là Lagoa Rodrigo de Freitas ở Copacabana. Địa điểm diễn ra các nội dung canoeing là nguồn gốc của sự lo ngại dành cho các vận đội viên kể từ khi một phòng thí nghiệm của chính phủ liên bang Brasil Oswaldo Cruz Foundation tìm thấy gen của siêu vi khuẩn kháng thuốc tại hồ Rodrigo de Freitas.
Khoảng 330 vận động viên tranh tài ở 16 nội dung.
== Vòng loại ==
Một hệ thống vòng loại mới được tạo ra dành cho cả hai nội dung vượt chướng ngại vật và nước rút tại Thế vận hội Mùa hè 2016. Các suất ở mỗi nội dung được Liên đoàn canoe quốc tế công bố vào tháng 8 năm 2014.
== Lịch thi đấu ==
== Tham dự ==
=== Các quốc gia tham dự ===
== Huy chương ==
=== Bảng xếp hạng huy chương ===
=== Vượt chướng ngại vật ===
=== Nước rút ===
Nam
Nữ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
International Canoe Federation
Bản mẫu:Canoeing và kayaking tại Thế vận hội Mùa hè |
côn minh.txt | Côn Minh (tiếng Trung: 昆明; bính âm: Kūnmíng; Wade-Giles: K'un-ming) là thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, dân số nội thị năm 2006 khoảng 1.055.000 người. Vị trí địa lý: nằm bờ phía nam của hồ Điền Trì (hồ Côn Minh). Thành phố thường được gọi là Xuân Thành (春城, tức "thành phố mùa xuân"). Thành phố ở độ cao trung bình khoảng 1.892 m so với mực nước biển. Thành phố có 2.400 năm lịch sử, là trung tâm văn hóa, kinh tế, giao thông của tỉnh Vân Nam.
== Kinh tế ==
Nền kinh tế của Côn Minh xếp thứ 14 trong các thành phố Trung Quốc năm 1992. Nhiều tuyến đường sắt, và đường bộ đã được xây dựng để nối Côn Minh với Thái Lan, Việt Nam và Lào nhằm giúp Côn Minh có đường ra cảng biển. Côn Minh tham gia tích cực vào Tiểu vùng Mekong mở rộng (bao gồm: Campuchia, Lào, Myanma (Miến Điện), Thái Lan và Việt Nam.
== Lịch sử ==
Thành phố có thể được xem có thời gian hình thành năm 279 trước Công nguyên. Năm 765, thành phố Thác Đông (拓东) được thành lập.
Vào thế kỷ 13, Marco Polo đã đến đây và đã viết về vùng đất này trong nhật ký. Thành phố được hoàng đế nhà Nguyên đổi tên thành Côn Minh vào năm 1276.
Vào thế kỷ 14, Côn Minh được nhà Minh chiếm lại và cho xây một bức tường bao quanh thành phố Côn Minh ngày nay.
Vào thế kỷ 19, Côn Minh chịu sự kiểm soát của quân nổi loạn dưới sự lãnh đạo của Đỗ Văn Tú (杜文秀) vua của Đại Lý quốc từ 1858 đến 1868. Nhiều thập kỷ sau, Côn Minh bắt đầu chịu ảnh hưởng của phương Tây.
== Khí hậu ==
== Phân chia hành chính ==
Quận: 6
Bàn Long
Ngũ Hoa
Quan Độ
Tây Sơn
Trình Cống
Đông Xuyên
Huyện cấp thị: 1
An Ninh
Huyện: 7 (3 huyện tự trị)
Tấn Ninh
Phú Dân
Nghi Lương
Tung Minh
Huyện tự trị dân tộc Di Thạch Lâm
Huyện tự trị dân tộc Di-Miêu Lộc Khuyến
Huyện tự trị dân tộc Hồi-Di Tầm Điện
== Các trường đại học ==
Đại học Vân Nam (Yunnan University, 云南大学) (thành lập năm 1923)
Đại học Khoa học Công nghệ Côn Minh (Kunming University of Science and Technology, 昆明理工大学)
Học viện Lâm nghiệp Tây Nam (Southwest Forestry College, 西南林学院)
Đại học Nông nghiệp Vân Nam (Yunnan Agricultural University, 云南农业大学)
Đại học Sư phạm Vân Nam (Yunnan Normal University, 云南师范大学)
Học viện Đông Y Vân Nam (Yunnan University of Traditional Chinese Medicine, 云南中医学院)
Học viện Tài chính Kinh tế Vân Nam (Yunnan University of Finance and Economics, 云南财贸学院)
Đại học Y khoa Côn Minh (Kunming Medical University, 昆明医科大学)
Đại học Côn Minh (Kunming University, 昆明大学)
Học viện Sư phạm Côn Minh (Kunming Teacher's College, 昆明学院)
== Giao thông ==
=== Hàng không ===
Sân bay quốc tế Vu Gia Bá (Kunming Wujiaba International Airport; 昆明巫家坝国际机场) nằm cách trung tâm thành phố 7,5 km về phía Nam, là một trong mười sân bay lớn nhất Trung Quốc. Sân bay Vu Gia Bá có các đường bay quốc tế đến nhiều thành phố thuộc châu Á, cũng như các đường bay nội địa và nội tỉnh.
Sân bay quốc tế mới hiện đang được xây dựng tại quận Quan Độ, cách trung tâm thành phố Côn Minh 24,5 km, dự kiến hoàn thành vào năm 2011. Nó sẽ là một trong 4 sân bay lớn nhất Trung Quốc và 80 sân bay lớn nhất thế giới.
== Ghi chú == |
đại học kyoto.txt | Đại học Kyoto (Kyodai), là một trường đại học quốc gia của Nhật Bản đặt tại thành phố Kyoto. Đây là một trong những trường đại học lâu đời nhất tại Nhật Bản.Trường có khoảng 22.000 học sinh theo học các chương trình khác nhau. Đại học Kyoto có khẩu hiệu "tinh thần tự do" trong các hoạt động của nhà trường. Đây là một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu của Nhật Bản, trường đã có 6 người đoạt giải Nobel và huy chương trong các lĩnh vực. |
guanacaste (tỉnh).txt | Guanacaste là một trong số bảy tỉnh của Costa Rica, với vị trí ở vùng tây bắc nước này. Phía tây giáp biển Thái Bình Dương; bắc giáp nước Nicaragua; đông là tỉnh Alajuela. Nam và đông nam giáp tỉnh Puntarenas. Với diện tích lớn nhưng dân số nhỏ nên đây là tỉnh thưa dân nhất của Costa Rica.
Diện tích Guanacaste là 10.141 km2 (3.915 sq mi) với tổng số dân cư năm 2010 là 326.953 người. Thủ phủ của Guanacaste là Liberia. Các thị trấn khác là Cañas và Nicoya.
== Phân chia hành chính ==
Guanacaste được chia thành 11 tổng (cantón). Danh mục sau đây liệt kê 11 tổng và lỵ sở (phần trong ngoặc).
Liberia (Liberia)
Nicoya (Nicoya)
Santa Cruz (Santa Cruz)
Bagaces (Bagaces)
Carrillo (Filadelfia)
Cañas (Cañas)
Abangares (Las Juntas)
Tilarán (Tilarán)
Nandayure (Carmona)
La Cruz (La Cruz)
Hojancha (Hojancha)
Về mặt địa lý, Guanacaste chiếm phầnn lớn bán đảo Nicoya.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
El Área de Conservación Guanacaste (tiếng Tây Ban Nha)
Conservation efforts and scientific work of biologist Daniel H. Hanzen in Guanacaste |
siêu tân tinh.txt | Siêu tân tinh, hay sao siêu mới, là một số loại vụ nổ của sao tạo nên các vật thể rất sáng chủ yếu gồm plasma bùng lên trong một thời gian ngắn, cấp sao biểu kiến tăng lên đột ngột hàng tỉ lần, rồi giảm dần trong vài tuần hay vài tháng. Tổng năng lượng thoát ra đạt tới 1044J. Cấp sao tuyệt đối có thể đạt đến -20m.
Có hai kiểu nổ. Trong kiểu thứ nhất, các sao khổng lồ cháy hết nhiên liệu nhiệt hạch, mất áp suất ánh sáng, và sụp đổ vào tâm dưới trọng trường của chính nó, cho đến lúc mật độ và áp suất tăng cao gây nên bùng nổ. Trong kiểu thứ hai, các sao lùn trắng hút lấy vật chất từ một sao bay quanh nó, cho đến khi đạt được khối lượng Chandrasekhar và bùng nổ nhiệt hạch. Trong cả hai kiểu này, một lượng lớn vật chất của sao bị đẩy bật ra không gian xung quanh.
Kiểu nổ thứ nhất kết thúc một quá trình sống của một ngôi sao, kết quả có thể là nhân ngôi sao trở thành sao lùn trắng, sao neutron (pulsar, sao từ, sao hyperon hay sao quark...) hay hố đen tùy thuộc chủ yếu vào khối lượng ngôi sao. Các vật chất lớp vỏ sao bị bắn vào khoảng không giữa các vì sao trở thành tàn tích siêu tân tinh.
== Ý nghĩa tên gọi ==
Tên gọi siêu tân tinh hay sao siêu mới xuất phát từ việc quan sát trong lịch sử những hiện tượng hiếm có, khi một ngôi sao đột ngột bùng sáng như thể vừa sinh ra. Dựa theo cường độ sáng chúng được ghi nhận là tân tinh hoặc siêu tân tinh. Tuy nhiên, bản chất của hiện tượng siêu tân tinh là điểm kết cục của một số loại sao của quá trình tiến hóa của chúng.
== Phân loại ==
Siêu tân tinh được phân làm hai loại dựa trên sự có mặt hay không của các vạch hydro trên biểu đồ ánh sáng. Siêu tân tinh không chứa các vạch hydro trong quang phổ thuộc siêu tân tinh loại I, ngược lại là siêu tân tinh loại II.
== Hình thành ==
=== Siêu tân tinh loại Ia ===
Siêu tân tinh loại I sáng cực đỉnh trong khoảng một tuần, trong 20- 30 ngày kế tiếp độ sáng của nó giảm đi khoảng 0,1m mỗi ngày, tiếp theo là 0,014m mỗi ngày. Cấp sao tuyệt đối trung bình ở điểm cực đại của các siêu tân tinh loại I là -19m, mức thay đổi cấp sao giữa các giá trị cực tiểu và cực đại khoảng 20m. Biểu đồ ánh sáng của tất cả các siêu tân tinh loại I gần giống nhau, chúng bao gồm các vạch quang phổ rộng và không có các vạch hydrô sáng. Các lớp vỏ bao quanh nhân ngôi sao bị bắn vào không gian giữa các vì sao với vận tốc 20.000 kms−1.
Theo lý thuyết được nhiều người chấp nhận nhất thì siêu tân tinh loại Ia có được do sao lùn trắng hút dần vật chất từ sao đồng hành trong sao đôi, cho đến khi đạt được khối lượng Chandrasekhar và bùng nổ nhiệt hạch. Siêu tân tinh loại Ia phát ra nhiều năng lượng nhất trong các loại siêu tân tinh đã biết đến. Thiên thể đơn xa nhất trong vũ trụ được tìm thấy chính là một siêu tân tinh loại Ia ở khoảng cách 11 tỉ năm ánh sáng (SN 1997ff).
=== Siêu tân tinh loại Ib và Ic ===
Các quang phổ sớm của siêu tân tinh loại Ib và Ic không chứa các vạch Hydrô hay Silic quanh vùng 615 nanomét. Tương tự như siêu tân tinh loại II, đây là các vụ nổ của các sao siêu lớn khi đã đốt hết nguyên liệu ở các vùng nhân. Khác với siêu tân tinh loại II, các sao nguồn gốc của siêu tân tinh loại Ia và Ib bị đánh mất phần lớn các lớp vỏ của mình vì gió sao mạnh hay do tương tác với sao đồng hành của mình. Các siêu tân tinh loại Ib được coi là kết quả của sự sụp đổ các sao Wolf-Rayet. Mặc dù siêu tân tinh loại nào cũng có thể gây nên chớp gamma nếu xét về hình dạng của vụ nổ, nhưng đã có những bằng chứng cho thấy các siêu tân tinh loại Ic là tác giả của chớp gamma.
=== Siêu tân tinh loại II ===
Các sao có khối lượng nhỏ hơn 10 khối lượng Mặt trời, ở giai đoạn kết thúc của quá trình tiến hóa sao chúng biến thành các sao lùn trắng và có thể tiếp tục hút dần vật chất từ sao đồng hành trong sao đôi rồi bùng nổ thành siêu tân tinh loại Ia như trên.
Các sao có khối lượng lớn hơn 10 khối lượng Mặt trời khi đốt hết nhiên liệu nhiệt hạch, nhân sao hầu như chỉ còn các nguyên tố từ các nguyên tố nặng đến các nguyên tố sắt (Fe), ngôi sao mất áp suất ánh sáng và sụp đổ vào tâm dưới trọng trường của chính nó, mật độ và áp suất tăng cao cho đến lúc gây nên bùng nổ. Các lớp vỏ bao quanh nhân ngôi sao bị bắn vào không gian với vận tốc 15.000 km/s.
== Siêu tân tinh ở đâu trong vũ trụ ==
Các siêu tân tinh loại I thường ở các quần thể sao hạng II trong các thiên hà elíp. Các siêu tân tinh loại II thường ở các quần thể sao hạng I trong các thiên hà xoắn ốc, đôi khi có ở các thiên hà không đều.
Cho đến nay chỉ có ba vụ nổ siêu tân tinh trong Ngân hà được quan sát vào các năm 1054, 1572 và 1604. Mặc dù vậy, có nhận định rằng có một đến ba siêu tân tinh bùng sáng trong Ngân hà mỗi thế kỉ, phần lớn chúng không được quan sát được do sự hấp thụ mạnh ánh sáng của vật chất giữa các sao. Đến nay có hơn 500 vụ nổ siêu tân tinh ở các thiên hà khác được ghi nhận.
== Cách đặt tên ==
Các phát hiện siêu tân tinh được thông báo đến Trung tâm Điện báo Thiên văn (CBAT) thuộc Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU) sẽ được IAU ghi nhận bằng tên có từ năm phát hiện và một hay hai chữ cái. 26 siêu tân tinh đầu trong năm sẽ được ký hiệu bằng các chữ A đến Z, sau đó là AA, AB,...
== Xem thêm ==
Tăng tốc giãn nở vũ trụ
Tàn tích siêu tân tinh
Tân tinh lùn (en:Dwarf nova)
Tân tinh quark (en:Quark-nova)
Suy sụp hấp dẫn
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Siêu tân tinh tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Sao mới tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Supernova produces cosmic rays - Siêu tân tinh sản sinh tia vũ trụ BBC 4 tháng 11 năm 2004, 13:00 GMT
List of Supernovae - Danh sách các siêu tân tinh và List of Recent Supernovae - Danh sách các siêu tân tinh gần đây, CBAT
Dự án SNEWS (SuperNova Early Warning System) dùng máy đo neutrino để phát hiện sớm về siêu tân tinh
Bài báo về siêu tân tinh loại Ia
Bài báo về cơ chế nổ của siêu tân tinh loại Ia
Bài báo về mối liên hệ giữa siêu tân tinh và neutrino
Siêu tân tinh tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Sao mới tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
hold me for a while.txt | "Hold Me for a While" là một bài hát thuộc thể loại Pop-ballad được sáng tác và trình bày bởi ban nhạc Thụy Điển Rednex, nằm trong Album thứ hai của họ là Farm Out.
Tại Việt Nam, bài hát này đã được viết lời Việt với tên gọi Bình minh sẽ mang em đi do ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng viết lời Việt và trình bày. Cùng với ca khúc Tình ơi xin ngủ yên, đây là cột mốc đáng nhớ tạo dư luận chú ý đến tên tuổi ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng.
== Danh sách ==
"Hold Me for a While" (Radio Edit) - 3:38
"Hold Me for a While" (Alternative Radio Edit) - 3:40
"Hold Me for a While" (Album Version) - 4:44
"Hold Me for a While (The Midnight Sun Remix)" - 5:52
== Xếp hạng ==
== Chú thích == |
giải vô địch bóng đá châu âu 1996.txt | Vòng chung kết Euro 1996 (Euro 1996) được tổ chức ở Anh từ ngày 8 đến ngày 30 tháng 6 năm 1996. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 10, được tổ chức 4 năm một lần bởi UEFA. Đức trở thành đội đầu tiên 3 lần đoạt chức vô địch châu Âu khi giành ngôi quán quân của giải. Còn Đan Mạch trở thành đội đương kim vô địch vô địch thứ 2 bị loại ngay từ vòng bảng (sau Tây Đức 1984).
Đây là kỳ Euro đầu tiên có 16 đội tham dự vòng chung kết. UEFA đưa ra quyết định này khi ở thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, việc vượt qua vòng loại World Cup đối với các đội bóng châu Âu còn dễ hơn vượt qua vòng loại của giải vô địch châu lục mình; 14 trên tổng số 24 đội tham dự World Cup 1982, 1986 và 1990 là các đội bóng thuộc Cựu lục địa, trong khi vòng chung kết Euro vẫn giữ nguyên thể thức 8 đội.
== Các sân vận động ==
== Vòng loại ==
== Danh sách cầu thủ ==
== Các đội tham dự ==
Các quốc gia tham dự vòng chung kết lần này gồm:
== Trọng tài ==
== Vòng chung kết ==
=== Vòng đấu bảng ===
==== Bảng A ====
==== Bảng B ====
==== Bảng C ====
==== Bảng D ====
=== Vòng đấu loại trực tiếp ===
==== Tứ kết ====
==== Bán kết ====
==== Chung kết ====
== Cầu thủ ghi bàn ==
5 bàn
Alan Shearer
3 bàn
2 bàn
1 bàn
== Đội hình tiêu biểu ==
== Bảng xếp hạng giải đấu ==
== Tham khảo == |
y học.txt | Y học là một lĩnh vực khoa học ứng dụng liên quan đến nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việc phòng ngừa và chữa bệnh.
Y học hiện đại ứng dụng các kiến thức khoa học sức khỏe, nghiên cứu về y sinh học và công nghệ y học để chẩn đoán và chữa trị bệnh tật thông qua thuốc men, phẫu thuật hoặc bằng nhiều phương pháp trị liệu phong phú khác. Từ "y học" trong tiếng Anh là "medicine" có nguồn gốc từ tiếng Latin là "ars medicina", nghĩa là "nghệ thuật chữa bệnh".
Dù công nghệ y học cũng như sự chuyên môn hóa ngành y đã phát triển thành trụ cột nền y học hiện đại nhưng vì phương pháp chữa trị trực tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân vẫn hiệu quả giúp giảm thiểu đau bệnh nên chúng cần tiếp tục thực hiện, thông qua việc quan tâm đến cảm xúc cũng như lòng trắc ẩn nói chung của con người.
== Lịch sử ==
Cho đến nay, nhiều tác giả cho rằng lịch sử y học có thể đã ra đời cùng với lịch sử phát sinh bệnh tật và lịch sử người thầy thuốc. Trong hang Ba anh em (La Grotte des Trois Frères) người ta đã tìm được bức vẽ cách đây khoảng 17 ngàn năm mô tả một phù thủy đầu hưu đang chữa bệnh. [1]
Y học thời tiền sử dùng thảo mộc, thể tạng động vật hay khoáng chất để chữa trị mà nhiều khi chúng được người chữa trị (như tu sĩ, thầy thuốc) mô tả như là những chất thần diệu. Ngành nhân y học (tiếng Anh: medical anthropology) nghiên cứu các hệ thống y học thời tiền sử cùng quan hệ của chúng với xã hội con người.
Y khoa sơ khởi được ghi nhận từ lâu trong nhiều nền văn minh cổ như Ấn Độ, Ai Cập, Trung Hoa hay Hy Lạp. Ông Hippocrates được xem là tổ sư của ngành y mà kế thừa ngày nay là y học phương Tây hay Tây y., còn ông Galen đã đặt nền tảng phát triển cho lý luận y khoa. Sau khi đế chế La Mã sụp đổ và bắt đầu thời Trung Cổ, các lương y trong thế giới đạo Hồi đã kế tục và tạo nên bước đột phá lớn cho ngành nhờ được hỗ trợ từ bản dịch sang tiếng A rập các công trình của Hippocrates và Galen. Nhiều lương y tiên phong nổi tiếng là người A Rập, như ông Avicenna được gọi là "tổ sư y học hiện đại", ông Abulcasislà tổ sư ngành phẫu thuật, ông Avenzoar là tổ sư ngành phẫu thuật thực nghiệm, ông Ibn al-Nafis là tổ sư ngành sinh lý học circulatory physiology, và ông Averroes. Còn ông Rhazes sáng lập ngành nhi khoa là người đầu tiên phản biện thuyết Grecian về humorism vẫn ảnh hưởng đến y học phương Tây thời Trung đại.
Ngành y sinh học hiện đại theo tiêu chuẩn khoa học (kết quả nghiên cứu có thể kiểm tra và tái lập) ra đời đã thay thế Tây y truyền thống vốn dựa vào thảo dược. Mốc thời gian đánh dấu ngành y hiện đại hình thành là khi Robert Koch phát hiện sự lây bệnh do vi khuẩn khoảng năm 1880 và sự ra đời của thuốc kháng sinh năm 1900. Thời kì hiện đại khởi đi từ cuối thế kỉ 18 tại châu Âu đã sinh ra nhiều tên tuổi có đóng góp nền tảng cho ngành y, chẳng hạn tại Đức và Áo có Rudolf Virchow, Wilhelm Conrad Röntgen, Karl Landsteiner, Otto Loewi; tại Anh có Alexander Fleming, Joseph Lister, Francis Crick; tại Hoa Kỳ có William Williams Keen, Harvey Cushing, William Coley, James D. Watson; tại Pháp có Jean-Martin Charcot, Claude Bernard, Paul Broca và nhiều người ở các nước khác.
Khi khoa học kĩ thuật phát triển thì ngành y ngày càng dựa vào dược phẩm nhiều hơn, ngành dược học bắt nguồn từ thảo dược ra đời và đến ngày nay nhiều loại thuốc vẫn được bào chế từ thực vật (như atropine, ephedrine, warfarin, aspirin, digoxin, vinca alkaloids, taxol, hyoscine...) mà loại đầu tiên tên arsphenamine/Salvarsan do ông Paul Ehrlich tìm ra năm 1908 khi ông nhận thấy vi khuẩn nhiễm độc chất nhuộm nhưng tế bào người lại không bị. Hai ông Edward Jenner và Louis Pasteur tìm ra vắc-xin (vaccine). Loại kháng sinh đầu tiên do người Pháp chế ra có tên gọi sulfa có nguồn gốc từ thuốc nhuộm azo. Nhiều rắc rối bắt đầu nảy sinh từ đấy. Khoa công nghệ sinh học hiện đại chấp nhận việc bào chế thuốc nhắm đến một quá trình sinh lý cụ thể nhưng đôi khi cũng bào chế thuốc sao cho thích ứng với cơ thể nhằm tránh tác dụng phụ của thuốc.
Y học thực chứng là một trào lưu hiện thời có mục đích thiết lập quy trình chẩn trị hiệu quả nhất bằng phương pháp "xét duyệt có hệ thống" (tiếng Anh: systematic review) và "phân tích lượng lớn" (meta-analysis) theo khoa thống kê. Nó phát triển nhờ tiến bộ của khoa học thông tin hiện đại giúp thu thập và phân tích khối lượng dữ liệu, bằng chứng rất lớn theo quy chuẩn, sau đó phổ biến cho các nơi làm dịch vụ chăm sóc sức khỏe hay phòng trị bệnh. Một nan đề cho phương pháp "tối ưu" này là nó có thể bị xem là cách tiếp cận có tính "tiểu thuyết", nghĩa là sẽ tạo ra nhiều đánh giá khác nhau. Báo cáo của chương trình hợp tác Cochrane là phong trào chủ trương ý kiến này năm 2001 cho biết trong 160 bản "xét duyệt có hệ thống" của Cochrane, căn cứ vào hai người nhận xét, thì có 21,3% bằng chứng không đầy đủ, 20% không công hiệu và 22,55% bằng chứng là dương tính.
== Thao tác lâm sàng ==
Những bước cơ bản nhất để thiết lập một chẩn đoán y khoa là Hỏi, Nhìn, Sờ, Gõ, Nghe trong Y học hiện đại (Tây y) hoặc Tứ chẩn là Vọng chẩn (nhìn), Văn chẩn (nghe), Vấn chẩn (hỏi) và Thiết chẩn (sờ nắn, bắt mạch) trong Y học cổ truyền. [2]. Một khi đã có chẩn đoán sơ bộ từ việc thăm khám lâm sàng nói trên, người thầy thuốc có thể quyết định điệu trị ngay hoặc đề nghị một số xét nghiệm cận lâm sàng khác để xác định chẩn đoán hoặc loại trừ chẩn đoán. Các xét nghiệm cận lâm sàng thường được dùng trong chẩn đoán là huyết học, sinh hóa, hình ảnh học, vi sinh vật học, tế bào học, giải phẫu bệnh, thăm dò chức năng và có thể là các xét nghiệm cao cấp hơn như di truyền học.
Trong kĩ thuật điều trị, bác sĩ tiếp xúc bệnh nhân và dùng phương pháp chẩn đoán gồm dự chẩn, ngăn ngừa, trị bệnh; hay còn được gọi bằng thuật ngữ "quan hệ người bệnh-thầy thuốc", nghĩa là bác sĩ làm việc với bệnh nhân dựa trên bệnh sử, bệnh án của họ bằng vấn chẩn rồi khám tổng quát bằng một số y cụ thông thường như ống nghe, thiết bị nội soi. Sau khi vấn chẩn tìm triệu chứng và khám để tìm dấu hiệu bệnh, bác sĩ thường đề nghị bệnh nhân làm vài xét nghiệm như thử máu, làm sinh thiết hoặc kê đơn thuốc hay là phép điều trị khác nữa.
Nhiều phương pháp chẩn đoán chuyên biệt được dùng phân tích bệnh tình trên cơ sở thông tin cung cấp. Trong buổi vấn chẩn điều rất quan trọng là thu thập được chi tiết nhất mọi dữ liệu liên quan đến bệnh nhân để có được thông tin trung thực nhất, sau đó kết quả vấn chẩn được ghi vào bệnh án. Các bước kế tiếp có thể ngắn hơn nhưng cũng tuân theo quy trình cơ bản như vậy.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
dân ca việt nam.txt | Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền của Việt Nam, hiện vẫn đang được sáng tác. Âm nhạc này có nhiều làn điệu từ khắp các miền cộng đồng người, thể hiện qua có nhạc hoặc không có của các dân tộc Việt Nam. Do chính người dân lao động tự sáng tác theo tập quán, phong tục. Trong sinh hoạt cộng đồng người quần cư trong vùng đất của họ, thường trong làng xóm hay rộng hơn cả một miền. Các làn điệu dân ca thể hiện phong cách bình dân, sát với cuộc sống lao động mọi người. Các dịp biểu diễn thường thường là lễ hội, hát làng nghề. Thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người.
Tuy Nhiên mỗi tỉnh thành của Việt Nam lại có âm giọng và ca từ khác nhau nên dân ca cũng có thể phân theo tỉnh nhưng gọi chung cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc, miền Trung và miền Nam.
== Phân định Dân ca theo vùng miền ==
Để phân định và gọi theo vùng miền hay từng tỉnh thì người ta phân định bằng "ca từ", bằng "âm giọng" bằng cách "nhấn nhá", "luyến lấy", "ngân nga", "rê giọng",... mà chỉ ở vùng miền này có thể hát hay từng tỉnh có thể hát được. Tuy chữ đọc thì giống nhau nhưng âm khi phát ra thì khác nhau chút đỉnh mà những nơi khác không dùng hay cách nhấn nhá, luyến láy của địa phương đó mà nơi khác không hát.
== Một số bài hát Dân ca ==
Dân ca Bắc bộ có những bài nổi tiếng như: "Bà Rằn bà Rí","Bèo dạt mây trôi", "Cây trúc xinh", "Trống cơm", "Đi Cấy",...
Dân ca Trung bộ có những bài nổi tiếng như: "Lý mười thương", "Đêm tàn bến Ngự", "Về quê"...Dân ca Nam bộ có những câu ca, bài nổi tiếng như: "Ru con", "Đất giồng",...
== Nội dung, ý nghĩa của Dân ca ==
Dân ca là câu hát cửa miệng nói về thế sự, câu ca thán, là lời nhắc nhở, là lời khuyên, lời cười nhạo, câu châm biếm, câu mỉa mai thói hư ở đời, hay một ai đó mà không chỉ đích danh hay đơn giản chỉ nói về sự việc nào đó,...
== Ranh giới của Dân ca ==
Người Kinh chia ra 3 vùng, Đồng bằng Bắc bộ; Trung bộ; Nam bộ: Bài chòi, Hò Huế, Ca trù, Cò lả, Cải lương, Chầu văn, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Hát bội, Hát chèo, Hát dô, Hát dặm, Hát đúm, Hát ghẹo, Hát phường vải, Hát sắc bùa, Hát trống quân, Hát ví, Hát xoan, Múa bóng rỗi, Hát vè, Hò, Lý, Lễ nhạc Phật giáo, Nhạc lễ Nam Bộ, Quan họ, Vọng cổ, Xẩm.
Các dân tộc khác chia theo địa lý nơi dân tộc đó ở, Tây bắc-Việt bắc; Tây Nguyên; Dân tộc Chăm; Dân tộc Khơ me; Dân tộc Hoa: Hát Ayray, Hát À day, Hát Ba sắc, Hát Bơk Weng non, Hát Cà lơi - Cha chấp, Hát cúng tìm vía, Hát dù kê, Hát duê, Hát đồng dao Kuh nrau, R’bàng nrau, Hát Êmê kha bá, Hát Khan, Hát khắp sên, Hát kưứt, Hát H'ri, Hát Lam leo, Hát lượn, Hát Lo khol, Hát sình ca, Hát sli, Hát soong hao, Hát Soọng-cô, Hát Thay mai, Hát tà oải, Hát then, Hát vèo ca, Hát xà nớt, Hát xiêng.
== Các thể loại nhạc ==
Nhạc khí: Họ hơi; Họ màng rung; Họ tự thân vang; Họ dây; Hòa tấu nhạc cụ.
Âm nhạc sân khấu: Chèo; tuồng; cải lương; tân cổ; bài chòi.
Âm nhạc nghi lễ: hát văn; Lễ nhạc Phật giáo.
Thể loại khác: Âm hưởng dân ca; Tiếng hát thành viên.
== Cách gọi nhạc dân ca ==
Dân ca là cách người Kinh gọi thể loại nhạc cổ truyền của mình, đối với các dân tộc thiểu số khác thì thường chỉ được gọi là "nhạc của người" + tên dân tộc.
== Xem thêm ==
Nhạc cổ truyền Việt Nam
Dân ca
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
bảng chữ cái tiếng gruzia.txt | Bảng chữ cái tiếng Gruzia là ba hệ thống văn bản được sử dụng để viết tiếng Gruzia: Asomtavruli, Nuskhuri và Mkhedruli. Các chữ cái của 3 hệ thống này là tương đương, có cùng tên và thứ tự chữ cái. Cả ba hệ thống này đều không phân biệt giữa chữ hoa và chữ thường. Mặc dù mỗi hệ thống vẫn tiếp tục được sử dụng, Mkhedruli (xem bên dưới) được lấy làm tiêu chuẩn cho tiếng Gruzia và các ngôn ngữ Kartvelia liên quan.
== Thư viện ảnh ==
Thư viện ảnh các văn bản Asomtavruli, Nuskhuri and Mkhedruli.
=== Thư viện ảnh Asomtavruli ===
=== Thư viện ảnh Nuskhuri ===
=== Thư viện ảnh Mkhedruli ===
== Tham khảo ==
== Sách tham khảo ==
Aronson, Howard I. (1990), Georgian: a reading grammar , Columbus, OH: Slavica
Shosted, Ryan K.; Chikovani, Vakhtang (2006), “Standard Georgian”, Journal of the International Phonetic Association 36 (2): 255–264, doi:10.1017/S0025100306002659
Javakhishvili, I. Georgian palaeography Tbilisi, 1949
Barnaveli, T. Inscriptions of Ateni Sioni Tbilisi, 1977
Pataridze, R. Georgian Asomtavruli Tbilisi, 1980
Machavariani, E. Georgian manuscripts Tbilisi, 2011
Gamkrelidze, T. Writing system and the old Georgian script Tbilisi, 1989
Kilanawa, B. Georgian script in the writing systems Tbilisi, 1990
Hewitt, B.G. (1995). Georgian: A Structural Reference Grammar. John Benjamins Publishing. ISBN 978-90-272-3802-3.
Mchedlidze, T. The restored Georgian alphabet, Fulda, Germany, 2013
== Liên kết ngoài ==
Georgian alphabet animation on YouTube, produced by the Ministry of Education and Science of Georgia. Gives the sound of each letter, illustrates several fonts, and shows the stroke order of each letter.
Live video of writing the letters on YouTube. Speaks the name of each letter, with some words that contain it, while writing them on ruled paper.
Lasha Kintsurashvili and Levan Chaganava, submissions to the 2014 International Exhibition of Calligraphy
Reference grammar of Georgian by Howard Aronson (SEELRC, Duke University)
Georgian transliteration + Georgian virtual keyboard
Unicode Code Chart (10A0–10FF) for Georgian scripts PDF (105 KB)
Transliteration of Georgian PDF (105 KB) |
nhà nước thất bại.txt | Chỉ số thất bại hay còn gọi là chỉ số FSI (đọc là Failed States Index) là do Quỹ vì Hòa Bình (Fund for Peace, một Think tank độc lập với tạp chí Foreign Policy) sáng lập ra với tổng hợp 90.000 nguồn dữ liệu định lượng khác nhau (được công khai từ đầu năm đến cuối năm) của 177 quốc gia trên thế giới, để gộp thành 12 thang điểm đo từ mức độ phát triển kinh tế cho đến chỉ số về sự công bằng trong xã hội. Sau đó, tạp chí Foreign Policy công bố Bảng Xếp hạng các quốc gia được khảo sát theo FSI.
Quỹ Vì hoà bình đưa ra khái niệm chỉ số FSI nhằm để từ đó dùng phương pháp định lượng tìm ra các quốc gia thất bại.
Sở dĩ phải xác định quốc gia thất bại chủ yếu là do các quốc gia đó đang trở nên mối lo ngại cho cộng đồng quốc tế, nhất là lo ngại khi vạch chính sách ngoại giao đối với các quốc gia đó. Quốc gia có chỉ số thất bại cao nhất là nơi có nền kinh tế yếu nhất, phát triển chậm nhất, nhiều bất công nhất, v.v.. Nói đơn giản, đó là nơi mà phần lớn dân có đời sống hàng ngày rất khó khăn, xã hội bất an; người dân phải phấn đấu để sống sót từng ngày, để được một chút tự do. Đó là những hoàn cảnh căn bản tạo nên một quốc gia có nhà cầm quyền thất bại.
== Các chỉ tiêu ==
Có 12 chỉ tiêu (Indicator) đánh giá, gồm 4 chỉ tiêu xã hội, 2 chỉ tiêu kinh tế, 6 chỉ tiêu chính trị. Mỗi chỉ tiêu được đánh giá theo thang điểm 10; điểm càng cao tức càng thất bại, điểm càng thấp thì càng thành công. Cộng điểm của 12 chỉ tiêu này lại được tổng số điểm đánh giá mức độ thất bại, tức FSI của quốc gia đó.
Chỉ tiêu xã hội gồm: (I-1) Áp lực gia tăng số dân; (I-2) Sự di chuyển lớn dân tị nạn hoặc thu xếp nội bộ nơi ở của dân, tạo ra nguy hiểm nhân đạo; (I-3) Hậu quả của sự tồn tại các nhóm thù địch nhau hoặc các nhóm cuồng tưởng (paranoia); (I-4) Dân bỏ trốn để thoát cảnh khổ sống trong nước mình.
Chỉ tiêu kinh tế gồm: (I-5) Trình độ phát triển kinh tế không đồng đều theo các nhóm dân; (I-6) Suy thoái kinh tế nặng.
Chỉ tiêu chính trị gồm: (I-7) Mức độ tham nhũng của chính quyền; (I-8) Tình trạng suy thoái của các dịch vụ công cộng; (I-9) Sự trì hoãn hoặc độc đoán trong quá trình chấp hành luật pháp và vi phạm nhân quyền một cách phổ biến; (I-10) Sự vận hành các cơ quan an ninh "nhà nước bên trong nhà nước"; (I-11) Tình trạng bỏ ra nước ngoài của những người tài; (I-12) Sự can thiệp của các nước ngoài hoặc thế lực chính trị bên ngoài.
Trong bảng này, các quốc gia chia làm 3 loại tùy theo tổng số điểm FSI: - loại Báo động (Alert), có FSI từ 90 điểm trở lên, là các nước thất bại nhất, kém ổn định nhất; - loại Cảnh giác (Warning), có FSI từ 60 đến dưới 90 điểm; - loại Vừa phải (Moderate) - 30 đến dưới 60 điểm; - loại Bền vững (Sustainable) - dưới 30 điểm, là các nước thành công, ổn định nhất. Nghĩa là tổng số điểm FSI càng nhỏ thì càng thành công, và ngược lại.
Theo thói quen, 60 quốc gia có tổng số điểm FSI cao nhất bị coi là nhóm quốc gia thất bại; các quốc gia còn lại không bị coi là thất bại.
Trong Bảng xếp hạng FSI năm 2010 có 37 nước thuộc loại Báo động. 92 nước thuộc loại Cảnh giác, 35 nước thuộc loại Vừa phải và 13 nước thuộc loại Bền vững.
Các quốc gia thất bại thường có một số đặc điểm chung, phổ biến nhất là mất sự kiểm soát thực tế lãnh thổ hoặc không thể hoàn toàn nắm được quyền lực hợp pháp sử dụng vũ lực. Tiếp theo là sự suy yếu khả năng quyết sách tập thể; không thể cung cấp cho nhân dân các dịch vụ công cộng thích hợp, không thể dùng tư cách thành viên chính thức của cộng đồng quốc tế để giao lưu với các quốc gia khác.
12 chỉ tiêu nói trên hàm chứa nhiều nhân tố của quốc gia thất bại như tham nhũng nặng; các hành vi phạm tội; không có khả năng thu thuế hoặc khả năng được nhân dân ủng hộ; có số lượng lớn người buộc phải bỏ quê nhà tha phương cầu thực; nền kinh tế suy thoái nặng; sự bất bình đẳng giữa các quần thể nhân dân; sự hãm hại nhân dân một cách có tổ chức hoặc phân biệt đối xử nghiêm trọng; sức ép dân số nặng; người tài bỏ ra nước ngoài; môi trường sống bị phá hoại nặng.
Chỉ số FSI đầu tiên được đưa ra vào năm 2005, hồi ấy chưa có ai thật sự nghiên cứu về các quốc gia thất bại một cách có phương pháp. Trong 5 năm qua, việc đưa ra FSI và bảng xếp hạng quốc gia thất bại đã tạo lập được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với nhóm quốc gia này và tăng cơ hội thảo luận giữa các nhà quyết sách ở Mỹ và trên thế giới. Chỉ số FSI khiến họ chú ý đến các quốc gia thất bại, cách đối phó với những thể chế ấy, và các "căn bệnh" đặc biệt của mỗi quốc gia có nhà cầm quyền thất bại.
== Các quốc gia ==
Đứng đầu các quốc gia có chỉ số thất bại cao lại luôn thuộc về các nước châu Phi, ngược lại với chỉ số thất bại thì các quốc gia thành công nhất vẫn thuộc về châu Âu, Bắc Mĩ, Úc rồi kế đến châu Á, Nam Mĩ và Trung Đông.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Foreign Policy số tháng 7-8/2010 đã công bố kết quả khảo sát các quốc gia thất bại năm 2010 cho thấy Việt Nam ít có khả năng liệt vào danh sách có chỉ số thất bại, đồng nghĩa với việc Việt Nam không nằm trong Top 50 về chỉ số thất bại mà ngược lại Việt Nam còn thành công về những chính sách cải cách kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô và chính trị, được xem là có địa vị thành công thứ 4 trong khối ASEAN. Tuy nhiên FSI cảnh báo Việt Nam rằng còn nằm trong tình trạng "Cảnh Giác" vì chỉ cần kinh tế tăng trưởng chậm hay bất ổn chính trị thì mọi thứ đó sẽ còn phụ thuộc vào chỉ số này lên hay xuống.
Năm 2011, quốc gia có số điểm thấp nhất tức quốc gia thành công nhất là Phần Lan với 19,7 điểm. Các quốc gia khác thuộc nhóm Bền vững là Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đan Mạch, New Zealand, Ireland, Australia, Canada... Còn Trung Quốc nằm ở nhóm Cảnh giác, với số điểm là 80,1 điểm .
Ngoài ra còn có 20 quốc gia thất bại nhất với những hình ảnh không mấy sáng sủa. Chúng chẳng khác gì những tấm bưu thiếp gửi từ địa ngục, phản ánh một năm đầy biến động và cảnh báo nguy cơ bất ổn toàn cầu:
Somalia
Tchad
Sudan
Cộng hòa Dân chủ Congo
Haiti
Zimbabwe
Afghanistan
Trung Phi
Iraq
Bờ Biển Ngà
Guinée
Pakistan
Yemen
Nigeria
Niger
Kenya
Burundi
Myanma
Guinea Xích Đạo
Ethiopia
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Chỉ số thất bại của nhà nước |
hổ hoa nam.txt | Hổ Hoa Nam (tiếng Trung: 华南虎) (danh pháp ba phần: Panthera tigris amoyensis, chữ amoyensis trong tên khoa học của nó xuất xứ từ tên địa danh Amoy, còn gọi là Xiamen - tức Hạ Môn), còn gọi là hổ Hạ Môn, là một phân loài hổ. Đây là nòi đang nằm trong tình trạng nguy hiểm nhất, và gần như sẽ trở thành tuyệt chủng. Có thể là con hổ hoang cuối cùng được biết đến ở miền nam Trung Quốc đã bị bắn hạ vào năm 1994, và trong hai mươi năm gần đây nhất người ta không nhìn thấy một con hổ còn sống nào trong khu vực sinh sống của chúng. Năm 1959, Mao Trạch Đông tuyên bố rằng hổ là một con vật có hại, và số lượng của chúng đã nhanh chóng giảm từ khoảng 4.000 con xuống còn khoảng 200 con năm 1976. Năm 1977 chính phủ Trung Quốc sửa đổi lại luật, và cấm chỉ việc giết hổ hoang, nhưng điều này có lẽ đã quá muộn để có thể bảo vệ nòi này. Hiện tại còn 59 con còn đang bị nuôi nhốt, tất cả đều tại Trung Quốc, nhưng chúng chỉ sinh được có 6 con. Vì thế, tính đa dạng di truyền không được duy trì, làm cho khả năng tuyệt chủng vĩnh viễn trở nên rõ nét.
== Xem thêm ==
Hổ
Hổ đấu với sư tử
Hổ trong văn hóa đại chúng
== Chú thích == |
gauteng.txt | Gauteng là một tỉnh của Nam Phi. Thủ phủ tỉnh này đóng ở Johannesburg. Tỉnh đã được lập từ các khu vực thuộc tỉnh cũ Transvaal sau cuộc bầu cử có sự tham gia của các dân tộc tại Nam Phi vào ngày 27 tháng 4 năm 1994. Ban đầu tỉnh có tên Pretoria-Witwatersrand-Vereeniging (hay PWV) và đã được đổi tên thành 'Gauteng' vào tháng 12 năm 1994.
Tỉnh nằm ở trung tâm Highveld, Gauteng là tỉnh nhỏ nhất ở Nam Phi, chỉ chiếm 1,4% diện tích Nam Phi nhưng lại đô thị hóa cao, có các thành phố Johannesburg và Pretoria. Dân số tỉnh năm 2007 là 10,5 triệu người, là tỉnh đông dân nhất trong các tỉnh của Nam Phi.
== Các đô thị ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Gauteng tại Wikimedia Commons |
thương mại.txt | Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter). Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ... cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó.
Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được. Dạng nguyên thủy của thương mại là hàng đổi hàng (barter), trong đó người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán. Ví dụ, một người A đổi một con bò lấy 5 tấn thóc của người B chẳng hạn. Hình thức này còn tồn tại đến ngày nay do nhiều nguyên nhân (chẳng hạn do bên bán không tin tưởng vào tỷ giá hối đoái của đồng tiền sử dụng để thanh toán). Trong hình thức này không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, do người bán mặt hàng A lại là người mua mặt hàng B đồng thời điểm.
Vì thế tiền được hình thành như một phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hóa thương mại. Nếu như trước kia tiền thường được liên kết với các phương tiện trao đổi hiện thực có giá trị ví dụ như đồng tiền bằng vàng thì tiền ngày nay thông thường là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (tiền giấy). Trong trao đổi quốc tế người ta gọi các loại tiền khác nhau là tiền tệ. Giá trị của tiền hình thành từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng. Ngày xưa vàng và bạc là các vật bảo đảm giá trị của tiền tại châu Âu. Ngày nay việc này không còn thông dụng nữa và tiền là tượng trưng cho giá trị của hàng hóa mà người ta có thể mua được. Chính vì thế mà khi đưa thêm tiền giấy hay tiền kim loại vào sử dụng thì tổng giá trị của tiền lưu thông trong một nền kinh tế không được nâng cao thêm mà chỉ dẫn đến lạm phát.
Thương mại tồn tại vì nhiều lý do. Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉ tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm người khác. Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kích thước của khu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng loạt. Vì thế, thương mại theo các giá cả thị trường đem lại lợi ích cho cả hai khu vực. "Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ."
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Nguyễn Đăng Hậu, "Kiến thức thương mại điện tử", VIỆN ĐÀO TẠO CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ QUỐC TẾ |
hai môn phối hợp.txt | Hai môn phối hợp (biathlon) là môn thể thao mùa đông gồm trượt tuyết băng đồng và bắn súng.
== Lịch sử ==
Theo Encyclopædia Britannica, hai môn phối hợp "bắt nguồn từ truyền thống trượt tuyết ở Scandinavia, nơi mà những cư dân thủa sơ khai tôn sùng thần Ullr làm thần trượt tuyết và thần săn bắn". Vào thời hiện đại, hoạt động về sau phát triển thành môn thể thao này thực ra là một bài tập của người Na Uy đồng thời cũng là bài tập dành cho quân đội. Các trung đoàn trượt tuyết Na Uy từng tổ chức các cuộc thi trượt tuyết quân sự trong thế kỷ 18, gồm bốn hạng mục: bắn vào mục tiêu khi đang trượt tuyết ở tốc độ cao, đua đổ đèo giữa rừng cây, đua đổ đèo trên đồi cao mà không ngã, và cuộc đua đường dài trên địa hình bằng phẳng mang theo súng trường và ba lô. Trong thuật ngữ hiện đại các cuộc thi trên tương ứng với trượt tuyết đổ đèo, vượt chướng ngại vật, hai môn phối hợp, và băng đồng. Câu lạc bộ trượt tuyết và súng trường Trysil, một trong những câu lạc bộ trượt tuyết đầu tiên trên thế giới, được thành lập ở Na Uy năm 1861 để khuyến khích hoạt động quốc phòng ở địa phương. Các biến thể xuất hiện trong thế kỷ 20 có thể kể đến Forsvarsrennet (cuộc thi quân sự) – một cuộc đua băng đồng dài 17 km kèm theo bắn súng, và cuộc đua băng đồng quân sự dài 30 km kèm theo bắn súng. Hai môn phối hợp hiện đại là biến thể dân sự của bài luyện tập quân sự hỗn hợp khi xưa. Ở Na Uy, tính tới năm 1984 thì hai môn phối hợp vẫn là một nhánh của Det frivillige Skyttervesen, một tổ chức do chính phủ thành lập với mục đích khuyến khích bắn súng trong dân chúng nhằm hỗ trợ cho hoạt động quốc phòng. Trong tiếng Na Uy, hai môn phối hợp được gọi là skiskyting (nghĩa là trượt tuyết bắn súng). Ở Na Uy ngày nay người ta vẫn tổ chức các cuộc thi skifeltskyting, cuộc đua trượt tuyết băng đồng dài 12 km kèm bắn súng trường nòng cỡ lớn vào các mục tiêu khác nhau ở khoảng cách bất kỳ.
Sự kết hợp giữa trượt tuyết và bắn súng dưới tên gọi tuần tra quân sự trở thành môn thể thao tại Thế vận hội Mùa đông năm 1924, và sau đó là môn thể thao biểu diễn vào các năm 1928, 1936, và 1948, tuy nhiên không được IOC công nhận do có sự bất đồng về luật lệ giữa một số nước. Trong khoảng giữa thập niên 50 của thế kỷ 20, hai môn phối hợp được đưa vào chương trình thể thao mùa đông ở Liên Xô và Thụy Điển và được đông đảo quần chúng đón nhận. Điều này góp phần không nhỏ vào việc đưa hai môn phối hợp vào Thế vận hội Mùa đông.
Giải vô địch hai môn phối hợp thế giới đầu tiên diễn ra vào năm 1958 tại Áo, và vào năm 1960 môn nằm trong chương trình Thế vận hội. Tại Albertville năm 1992, nội dung nữ lần đầu được đưa vào.
Các giải đấu diễn ra từ 1958 tới 1965 sử dụng các loại đạn kíp nổ chính giữa công suất cao, ví dụ như .30-06 Springfield và 7,62×51mm NATO, trước khi loại đạn kíp nổ rìa .22 Long Rifle trở thành loại đạn tiêu chuẩn vào năm 1978. Đạn được giữ ở trong thắt lưng quấn quanh eo của vận động viên. Nội dung duy nhất là 20 kilômét (12 mi) cá nhân của nam, bao gồm bốn cự ly 100 mét (330 ft), 150 mét (490 ft), 200 mét (660 ft), và 250 mét (820 ft). Cự ly được giảm xuống còn 150 mét (490 ft) khi nội dung tiếp sức được bổ sung vào năm 1966.
== Quản lý ==
Năm 1948, Union Internationale de Pentathlon Moderne et Biathlon (UIPMB) được thành lập để châunr hóa luật lệ cho hai môn phối hợp và năm môn phối hợp hiện đại. Vào năm 1993, chi nhánh hai môn phối hợp của UIPMB thành lập International Biathlon Union (IBU), và tách khỏi UIPMB vào năm 1998.
Các chủ tịch bao gồm
1947–1949: Tom Wiborn (Thụy Điển)
1949–1960: Gustaf Dyrssen (Thụy Điển)
1960–1988: Sven Thofelt, (Thụy Điển)
1988–1992: Igor Novikov (Liên Xô/Nga)
Từ 1992: Anders Besseberg (Na Uy)
== Các giải vô địch ==
Ngược lại với Thế vận hội và Giải vô địch thế giới (BWCH), World Cup (BWC) là một mùa giải với các cuộc đua diễn ra (gần như) đều đặn hàng tuần, trong đó những người có số điểm tổng cao nhất vào cuối mùa giải sẽ được nhận huy chương.
Hai môn phối hợp tại Thế vận hội Mùa đông
Giải vô địch hai môn phối hợp thế giới
Cúp thế giới hai môn phối hợp
Giải vô địch hai môn phối hợp trẻ thế giới
== Liên kết ngoài ==
Biathlonworld.Com – A cooperation between IBU and EBU; with race results/statistics, TV schedules, live competition results, and so on.
Belarusian Biathlon Union (tiếng Belarus)
Russian Biathlon Union (tiếng Nga)
Russian Biathlon Union (tiếng Anh)
Biathlon Canada
U.S. Biathlon Association
U.S. Archery Biathlon
History of Biathlon
Veltins Biathlon World Team Challenge
Biathlon on OLN TV
Biathlon on DVD
Biathlon Russia
Biathlon Ukraine (tiếng Nga)
Biathlon Ukraine (tiếng Anh)
BiathlonFrance.com
Biathlon history (tiếng Nga)
Popular Norwegian site (tiếng Na Uy)
^ Bergsland, Einar (1946): På ski. Oslo: Aschehoug.
^ Bø, Olav: Skiing throughout history, dịch bởi W. Edson Richmond. Oslo: Samlaget, 1993.
^ a ă Kunnskapsforlagets idrettsleksikon (Bách khoa toàn thư thể thao), Oslo: Kunnskapsforlaget, 1990
^ https://snl.no/skifeltskyting |
mai tiến thành.txt | Mai Tiến Thành (sinh 16 tháng 3 năm 1986 tại xã Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp đang thi đấu tại giải Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam trong mày áo FLC Thanh Hóa.
== Tiểu sử ==
Năm 2002, anh nổi lên là cầu thủ Việt Nam giành được suất học bổng 2 năm của câu lạc bộ Leeds United (người ta cũng phát hiện ra Phan Thanh Bình trong lần tuyển chọn này, Bình đứng thứ 2 sau Thành). Sau khi trở về nước, anh có được gọi vào tuyển U23 và tuyển quốc gia nhưng thành tích chưa nổi bật. Tháng 8 năm 2008, Tiến Thành cũng xuất hiện nhiều trên báo chí vì việc nhất định từ chối đá cho đội bóng quê nhà (Halida Thanh Hóa) để đến với câu lạc bộ bóng đá Ninh Bình. Lượt về giải V-league 2013 anh tuyên bố quay trở lại đầu quân cho Thanh Hóa vì tiếng gọi quê hương, tuy nhiên chỉ ba tháng sau thì anh lại quyết định chi tay Thanh Hóa để đầu quân cho B.Bình Dương vì giữa anh và lãnh đạo đội bóng quê hương anh không đạt được thỏa thuận về giá trị hợp đồng. Anh có biệt danh là Thành "rìu".
Tại vòng 10 của Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 2015 khi làm khách trên sân Thanh Hóa, Mai Tiến Thành đã có bàn thắng may mắn, từ pha đá phạt của anh có cự li hơn 47 m cách khung thành thủ môn Tô Vĩnh Lợi đã được hậu vệ Lê Đức Tuấn của Thanh Hóa đội đầu nối tiếp phản lưới nhà. Mai Tiến Thành đã có pha ăn mừng bàn thắng một cách hoan hỉ trước hàng vạn cổ động viên đội bóng quê hương anh, làm dấy lên dư luận không tốt từ các cổ động viên bóng đá Thanh Hóa (quê hương và là nơi khởi nghiệp nâng cánh ước mơ của anh).
== Danh hiệu ==
V-league 1
Vô địch (2): 2014, 2015
Cúp quốc gia Việt Nam
Vô địch (1): 2015
Huy chương bạc (1): 2014
Siêu cúp quốc gia Việt Nam
Vô địch (1): 2014
Hạng nhất quốc gia
Vô địch (1): 2009
Á quân (1): 2006
== Tham khảo == |
trang sức.txt | Trang sức (hay còn gọi là nữ trang, là những đồ dùng trang trí cá nhân, ví dụ như: vòng cổ, nhẫn, vòng đeo tay, khuyên, thường được làm từ đá quý, kim loại quý hoặc các chất liệu khác.
Từ Trang sức trong tiếng Anh là Jewellery bắt nguồn từ jewel được anh hóa từ tiếng Pháp cổ "jouel" vào khoảng thế kỷ 13. Nó cũng bắt nguồn từ tiếng Latinh "jocale", có nghĩa là đồ chơi. Đồ trang sức là một trong những hình thức trang trí cơ thể cổ xưa nhất. Gần đây người ta đã tìm thấy những chuỗi hạt 100.000 năm tuổi được tin là một trong những món đồ trang sức cổ nhất từng được biết đến.
== Tham khảo ==
Borel, F. 1994. The Splendor of Ethnic Jewelry: from the Colette and Jean-Pierre Ghysels Collection. New York: H.N. Abrams (ISBN 0-8109-2993-7).
Evans, J. 1989. A History of Jewellery 1100–1870 (ISBN 0-486-26122-0).
Nemet-Nejat, Karen Rhea 1998. Daily Life in Ancient Mesopotamia. Westport, CT: Greenwood Press (ISBN 0-313-29497-6).
Tait, H. 1986. Seven Thousand Years of Jewellery. London: British Museum Publications (ISBN 0-7141-2034-0).
== Liên kết ngoài == |
thời kỳ bắc thuộc lần thứ hai.txt | Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai (ngắn gọn: Bắc thuộc lần 2) trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 43 đến năm 543. Thời kỳ này bắt đầu khi Mã Viện theo lệnh Hán Quang Vũ Đế nhà Đông Hán đánh chiếm lại bộ Giao Chỉ từ tay Trưng Vương, kéo dài đến khi Lý Bí khởi binh đánh đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư năm 542 rồi lập ra nước Vạn Xuân năm 544.
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 2 kéo dài khoảng 500 năm.
== Biến động qua 7 triều đại ==
=== Cuối Đông Hán ===
Sau khi Hai Bà Trưng thất bại, nhà Đông Hán tiếp tục duy trì sự cai trị tại bộ Giao Chỉ. Cuối thế kỷ 2, nhà Đông Hán suy yếu, chiến tranh quân phiệt bùng nổ. Hán Hiến Đế bị các quyền thần thay nhau khống chế.
Trước tình hình đó, Thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp xin nhà Hán cho 3 người em là Sĩ Nhất, Sĩ Vĩ và Sĩ Vũ làm thái thú các quận: Sĩ Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Sĩ Vĩ làm Thái thú Cửu Chân, Sĩ Vũ làm Thái thú Nam Hải. Triều đình nhà Đông Hán do rối loạn trong nước không thể quản lý bộ Giao Chỉ xa xôi nên mặc nhiên thừa nhận. Từ đó thế lực họ Sĩ ở Giao Chỉ rất lớn.
Năm 192, người bản địa quận Nhật Nam theo Khu Liên khởi binh chống nhà Hán và thành lập nước Chăm Pa độc lập. Lực lượng nhà Đông Hán ở phía nam yếu ớt không chống nổi, bất lực trước sự ly khai của Khu Liên. Từ đó phía nam quận Nhật Nam trở thành nước Chăm Pa, tách hẳn sự cai trị của nhà Đông Hán và các triều đại Trung Quốc sau này.
Năm 200, Tào Tháo đang nắm vua Hiến Đế ở Hứa Xương đánh bại được đối thủ quân phiệt lớn nhất là Viên Thiệu trong trận quyết định ở Quan Độ. Nắm quyền chủ động ở Trung Nguyên, Tào Tháo bắt đầu quan tâm tới miền nam. Năm 201, Tào Tháo nhân danh Hiến Đế cử Trương Tân sang làm thứ sử bộ Giao Chỉ.
Năm 203, Trương Tân và Sĩ Nhiếp cùng nhau dâng biểu xin lập bộ Giao Chỉ làm châu, nhà Hán mới đặt bộ Giao Chỉ làm Giao Châu. Từ đó Giao Châu được ngang hàng với các châu khác ở Trung Quốc. Hiến Đế phong Trương Tân làm quan mục ở Giao Châu. Bắt đầu từ đấy có tên Giao Châu.
Năm 206, Trương Tân bị bộ tướng Khu Cảnh giết chết. Khi đó Lưu Biểu đã trấn giữ Kinh Châu không thần phục Tào Tháo, bèn sai thủ hạ là Lại Cung sang làm quan mục Giao Châu. Cùng lúc, thái thú quận Thương Ngô là Sử Hoàng cũng chết, Lưu Biểu vội sai Ngô Cự đi cùng Lại Cung sang làm thái thú Thương Ngô.
Năm 207, Tào Tháo can thiệp vào Giao Châu, sai người đưa thư phong Sĩ Nhiếp làm Tuy Nam trung lang tướng, cho quản lý cả 7 quận Giao Châu là Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam và kiêm thái thú quận Giao Chỉ như trước. Trong khi đó hai thủ hạ của Lưu Biểu là Ngô Cự và Lại Cung lại bất hòa. Hai người chưa tới nơi trấn trị đã trở mặt đánh nhau. Ngô Cự đánh đuổi Lại Cung khiến Lại Cung chạy về quận Linh Lăng (thuộc Kinh Châu), còn Ngô Cự tới được trị sở Thương Ngô.
=== Thời Tam Quốc ===
Năm 208, Lưu Biểu chết. Tào Tháo mang đại quân nam tiến đánh chiếm Kinh Châu. Cuối năm 208 xảy ra trận Xích Bích. Tào Tháo thất bại trong ý đồ thống nhất Trung Hoa, phải rút về trung nguyên. Tôn Quyền và Lưu Bị thắng trận, thừa cơ cùng nhau đánh chiếm đất Kinh Châu từ tay Tào Tháo để lại.
Đối với Giao Châu, Tôn Quyền cũng giành lấy quyền quản lý. Năm 210, Tôn Quyền sai thủ hạ là Bộ Chất sang làm thứ sử Giao châu. Sĩ Nhiếp tuy trước đã thần phục Tào Tháo nhưng biết không thể chống lại Tôn Quyền nên đành phải nghe theo, chấp nhận ngôi vị của Bộ Trắc. Từ đó Giao châu trên danh nghĩa thuộc về họ Tôn mà ít lâu sau thành lập nước Đông Ngô khi Trung Quốc chính thức chia làm 3 nước: Tào Ngụy, Thục Hán và Đông Ngô.
Tuy Bộ Chất làm thứ sử nhưng thế lực của họ Sĩ vẫn rất lớn và thực quyền cai quản trong tay họ Sĩ. Sĩ Nhiếp sai con là Sĩ Hâm sang làm con tin ở Kiến Nghiệp với Tôn Quyền và được phong làm Long Biên hầu.
Năm 226, Sĩ Nhiếp chết, con trai là Sĩ Huy tự mình lên thay chức thái thú quận Giao Chỉ không xin lệnh Tôn Quyền. Để tăng cường quản lý phía nam, Tôn Quyền chia Giao Châu cũ của nhà Hán làm hai: lấy 3 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô phía bắc hợp thành Quảng Châu, giao cho Lã Đại làm thứ sử; Giao Châu chỉ còn 4 quận phía nam là Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và một phần quận Nhật Nam, giao cho Trần Thì làm thứ sử. Tuy nhiên Sĩ Huy mang quân ngăn trở Trần Thì đến nhận chức. Tôn Quyền sai Lã Đại mang quân sang đánh để triệt bỏ họ Sĩ. Lã Đại lừa giết anh em Sĩ Huy và chiếm lấy Giao Châu. Từ đó Giao Châu hoàn toàn thuộc về Đông Ngô. Tôn Quyền lại bỏ Quảng Châu, khôi phục Giao Châu gồm 7 quận như cũ, cho Lã Đại làm Giao Châu mục.
Năm 248, cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh bị thứ sử Giao Châu là Lục Dận (Đông Ngô - cháu Lục Tốn) dập tắt.
Cuối năm 263, Tào Ngụy diệt Thục Hán. Cùng năm, viên quan ở quận Giao Chỉ là Lữ Hưng (Lã Hưng) giết chết thái thú Tôn Tư của Đông Ngô, mang quận về hàng Tào Ngụy.
Vua Ngô là Cảnh Đế Tôn Hưu vội chia lại Giao châu như ý định của Tôn Quyền năm 226: tách 3 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô phía bắc hợp thành Quảng Châu, đặt trị sở ở Phiên Ngung và Giao Châu gồm 4 quận phía nam là Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.
Quyền thần nhà Ngụy là Tư Mã Chiêu nhân danh Ngụy Nguyên Đế Tào Hoán phong cho Lã Hưng làm An Nam tướng quân kiêm Thái thú Giao chỉ, coi việc binh ở Giao Châu và Hoắc Dặc (tướng cũ Thục Hán) làm Thứ sử Giao châu (nhưng vẫn đóng quân ở Nam Trung, không trực tiếp sang Giao Châu). Cuối năm 264, Lã Hưng bị thủ hạ là công tào Lý Thống giết chết.
Năm 265, con Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm cướp ngôi nhà Ngụy, lập ra nhà Tấn. Hoắc Dặc tiến cử Dương Tắc sang thay cho Lã Hưng vừa bị giết, vua Tấn đồng ý. Dương Tắc làm thái thú Giao Chỉ, Đổng Nguyên làm thái thú Cửu Chân.
Từ đây, Giao Châu thuộc quyền nước Tấn. Nước Đông Ngô tiến hành chiến tranh với Tấn để tranh giành Giao Châu và Quảng Châu, gọi là Giao Quảng chi loạn. Năm 268, Ngô Mạt Đế Tôn Hạo phong Lưu Tuấn làm thứ sử Giao châu, sai đánh chiếm lại từ tay nhà Tấn, nhưng bị Dương Tắc đánh bại 3 lần. Quận Uất Lâm thuộc Quảng Châu của nhà Ngô cũng bị Dương Tắc chiếm đóng. Nhà Tấn theo tiến cử của Tắc, cho Mao Quế làm thái thú quận Uất Lâm.
Năm 271, Tôn Hạo lại sai Đào Hoàng sang đánh Giao châu. Lần này quân Ngô thắng trận, Đào Hoàng bắt được Dương Tắc và giết Mao Quế. Tuy nhiên Lý Tộ vẫn chiếm giữ quận Cửu Chân theo Tấn, không hàng Ngô. Sau đó Đào Hoàng đánh lâu ngày mới hạ được Cửu Chân. Toàn Giao châu trở về Đông Ngô, Đào Hoàng được phong làm Giao châu mục.
Năm 280, Tấn Vũ Đế diệt Ngô, bắt Tôn Hạo. Hạo viết thư khuyên Đào Hoàng hàng Tấn. Hoàng đầu hàng, được giữ chức cũ tới khi qua đời năm 300. Từ đó Giao châu thuộc nhà Tấn.
=== Thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều ===
Từ thời Lưỡng Tấn tới thời Nam Bắc triều, tuy có sự thay đổi triều đại và biến động nhiều ở trung nguyên nhưng Giao châu chỉ có những biến động quân sự, không có nhiều biến động về chính trị.
Tại miền bắc, các tộc Ngũ Hồ vào xâm chiếm và cai trị, các triều đại Đông Tấn (317-420), Lưu Tống (420-479), Nam Tề (479-502), Lương (502-557) nối nhau cai trị ở miền nam và giữ được quyền quản lý Giao châu không bị gián đoạn, thay đổi như cuối thời Đông Hán và Tam Quốc. Những cuộc nổi dậy của người Việt chỉ kéo dài một thời gian đều bị dẹp; những cuộc xâm lấn của Lâm Ấp từ phía nam cũng nhanh chóng bị đẩy lùi (xem chi tiết các mục #Chiến tranh với Lâm Ấp và #Sự chống đối của người bản địa bên dưới); một số lực lượng nổi dậy chống triều đình chạy sang Giao châu cũng nhanh chóng bị đánh bại.
== Hành chính ==
Bộ Giao Chỉ gồm có 9 quận: Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Đạm Nhĩ, Chu Nhai, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Trong 7 quận này, Giao Chỉ và Cửu Chân là nước Âu Lạc cũ; các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố vốn là đất do nhà Tần chiếm được của người Bách Việt ở Lĩnh Nam; quận Nhật Nam do nhà Hán mở rộng xuống phía nam quận Cửu Chân. Ba quận thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.
Quận Nam Hải gồm có 6 huyện, quận Uất Lâm gồm có 12 huyện, quận Thương Ngô gồm có 10 huyện, quận Hợp Phố gồm có 5 huyện, quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện, quận Cửu Chân gồm có 5 huyện và quận Nhật Nam gồm có 5 huyện.
Từ năm 203, theo đề nghị của thứ sử Trương Tân và Sĩ Nhiếp, bộ Giao Chỉ được lập thành Giao Châu, coi ngang hàng như các châu ở Trung Quốc.
Năm 264, nhà Đông Ngô chính thức cắt 3 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô phía bắc hợp thành Quảng Châu, Giao Châu gồn 4 quận còn lại phía nam là Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.
Sau khi đánh chiếm lại được Giao Châu từ tay nhà Tấn (271), Đào Hoàng đã xin với Tôn Hạo đặt thêm 2 quận Vĩnh Bình và Tân Xương trên cơ sở tách khỏi quận Giao Chỉ và đặt thêm quận Cửu Đức tách khỏi quận Cửu Chân. Như vậy Giao Châu cuối thời Ngô sang Tấn gồm có 7 quận, thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay gồm có 6 quận Giao Chỉ, Vĩnh Bình, Tân Xương, Cửu Chân, Cửu Đức và Nhật Nam. Còn quận Hợp Phố nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Thời Nam Bắc triều, về cơ bản địa giới hành chính Giao châu như thời Lưỡng Tấn, có điều chỉnh ít qua các triều đại:
Thời Lưu Tống (420-479): Đặt thêm quận Tống Bình tách từ quận Giao Chỉ và đặt quận Nghĩa Xương.
Thời Nam Tề (479-502): có sự thêm bớt một số huyện ở các quận.
Thời Lương: Lương Vũ Đế cải cách hành chính trong nước, chia đất đặt thêm nhiều châu nhỏ, trong đó tại Giao châu chia quận Giao Chỉ đặt ra Hoàng châu và quận Ninh Hải; lấy quận Cửu Chân lập ra Ái châu; lấy quận Nhật Nam đặt ra Đức châu, Lợi châu và Minh châu.
== Kinh tế ==
=== Nông nghiệp ===
Đồ sắt phát triển giúp cho năng suất trồng trọt tăng nhanh và đời sống tương đối no đủ. Các công trình thủy lợi như đắp đê sông và đê biển được tiến hành bên cạnh một số kênh ngòi được đào phục vụ cho nông nghiệp.
Người Việt bắt đầu biết áp dụng thâm canh tăng năng suất. Trải qua quá trình tăng vụ, chuyển vụ, người Việt đã biết trồng lúa 2 mùa trong 1 năm từ rất sớm. Các sách sử Trung Quốc thời kỳ này đều gọi lúa chín 2 mùa là lúa Giao Chỉ
Sản xuất nông nghiệp phát triển tốt nhưng đồng thời sản phẩm của người bản địa cũng bị các triều đình phương Bắc vơ vét qua tô thuế nặng nề. Lượng thuế nông nghiệp mà nhà Hán thu từ đây là 13,6 triệu hộc, nhiều hơn so với những vùng như Mân, Quảng, Điền, Kiềm.
=== Thủ công nghiệp ===
Các nghề chính thời kỳ này là rèn sắt, đúc đồng để làm dụng cụ lao động, đồ dùng gia đình (bình, đỉnh, chậu, bát, chén, đĩa…) và vũ khí (kiếm, dao, kích, lao, mũi tên...)
Nghề gốm phát triển trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật từ Trung Quốc. Sản phẩm có đồ dùng thường ngày như bát, chén, đĩa, nậm, mâm, khay, nồi, chõ… hay đồ thờ như đỉnh, đèn, bình hương, thìa, đũa sành) và tượng thú. Người Việt còn được tiếp thu nghề làm giấy của Trung Quốc và nghề làm chế tạo thủy tinh từ Ấn Độ và phương Nam truyền tới.
Nghề làm gạch ngói phục vụ các công trình kiến trúc như thành quách, chùa tháp, mộ táng. Hai nghề phụ phổ biến nhất là nghề dệt và đan lát. Các loại vải đều được nhuộm thành nhiều màu khác nhau.
Người Việt biết dùng mía nấu mật làm đường, gọi là thạch mật. Lúc đó người Trung Quốc chưa biết làm đường bằng mía nên thạch mật của Giao châu trở thành cống phẩm quý cho triều đình nhà Hán.
Bên cạnh đó, những ngành thủ công nghiệp khác cũng phát triển như mộc, sơn then, thuộc da, nấu rượu, làm đồ đá…
Sự phát triển thủ công nghiệp của Việt Nam thời kỳ này cũng bị kìm hãm do tác động của các triều đại cai trị phương Bắc. Họ bắt nhiều thợ thủ công giỏi về phục vụ xây dựng tại kinh đô khiến lực lượng sản xuất nghề này bị ảnh hưởng nhiều.
=== Thương mại ===
Ngoài hệ thống sông ngòi tự nhiên, hệ thống đường sá hình thành qua nhiều năm cũng góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại. Các thư tịch cổ Trung Quốc nói rằng các nước phương Nam và phương Tây muốn đến Trung Quốc đều phải đi theo con đường Giao Chỉ. Từ thời Nhà Hán, thuyền buôn các nước Java, Myanma, Ấn Độ, Parthia (Ba Tư), La Mã đều qua Giao Chỉ và coi đây là như một trạm dừng chân quan trọng để đến Trung Quốc. Sang thời Nam Bắc triều, thuyền các nước này và các tiểu quốc bờ biển Sumatra, Sri Lanka… đều qua lại buôn bán với các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
Theo ghi chép của Hậu Hán thư, Vương quốc Parthia mua tơ lụa từ đất nhà Hán bán lại cho La Mã lãi rất cao. Triều đình La Mã muốn sai sứ giao thương với triều đình nhà Hán nhưng Parthia cố ngăn trở không cho La Mã tiếp cận để mua hàng trực tiếp của Hán. Năm 166, dưới triều vua Hán Hoàn Đế, Hoàng đế La Mã là Marcus Aurelius Antoninus sai sứ theo đường từ Nhật Nam đến dâng ngà voi, sừng tê, đồi mồi cho nhà Hán để đặt quan hệ. Đó là lần đầu tiên La Mã thông với Trung Quốc, qua quận Nhật Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay.
Việc buôn bán ở Giao Châu hầu hết do người Hoa khống chế. Các triều đại Trung Quốc cũng có chính sách đánh thuế thương mại với các tàu thuyền buôn của nước ngoài rất nặng.
== Văn hóa xã hội ==
Trước khi bị đế chế phương Bắc chinh phục và biến thành quận huyện, xã hội Việt cổ hình thành trên nền tảng nghề trồng lúa nước phát triển ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hình thái nhà nước sơ khai dựa trên chế độ thủ lĩnh địa phương là Lạc tướng.
Từ đầu công nguyên trở đi, nền văn minh Đông Sơn bị giải thể về cấu trúc. Theo các sử gia hiện đại, các mảnh vụn của nền văn minh này tuy không bị mất đi nhưng một mặt đã hòa vào nền văn hóa dân gian và của các xóm làng Việt cổ và các thành phần tộc người khác ở Đông Dương và Đông Nam Á; mặt khác đã gá lắp với những thể chế văn hóa, văn minh ngoại lai từ Trung Quốc và Ấn Độ. Do đó, dần dần đã tạo nên một sắc thái văn hóa – văn minh mới là văn minh Hán-Việt và Việt-Hán.
Cùng chịu chung sự cai trị với người Trung Quốc nhưng người Việt bị xem là Man Di, chịu chính sách phân biệt Hoa – Di. Việc phân biệt đó tạo hố ngăn cách giữa người Việt và người Hoa, do đó các thủ lĩnh người Việt nổi dậy như Lương Thạc, Lý Trường Nhân đã giết nhiều quan lại và kiều dân người Hoa khi họ nổi dậy.
Các triều đại phương Bắc chỉ nắm được tới cấp huyện, không thể khống chế được hạ tầng cơ sở của xã hội Việt cổ là các làng. Chính sử Trung Quốc thừa nhận những thủ lĩnh (cừ súy) người Việt vẫn "hùng cứ hương thôn". Đó được xem là vùng trời riêng của người Việt. Trong khi văn hóa phương Bắc trọng nam khinh nữ thì văn hóa Việt cổ có sự tôn trọng vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Những người phụ nữ điển hình chính là Trưng Trắc, Trưng Nhị hay Triệu Thị Trinh.
Cùng những phong tục cổ truyền như dùng trống đồng, nhiều tục lệ cổ khác vẫn được giữ như cạo tóc hay búi tóc, xăm mình, chôn cất người chết trong quan tài hình thuyền, nhuộm răng, ăn trầu…
Một vài tập tục trong đời sống có sự thay đổi do Hán hóa như giã gạo bằng chày tay thay bằng giã cối đạp (theo hệ thống đòn bẩy); nhà ở từ nhà sàn sang nhà trên đất bằng…
Nền văn học nghệ thuật của Trung Quốc phát triển cũng có ảnh hưởng tới người Việt thời kỳ này. Nét đặc trưng của thời kỳ này là sự thay đổi văn hóa ngôn từ. Theo nhận định của các nhà sử học, văn hóa Đông Sơn và nghệ thuật Đông Sơn vẫn tồn tại tuy trên đà suy thoái mạnh.
== Tôn giáo tín ngưỡng ==
Các tông giáo truyền vào Việt Nam từ đầu công nguyên là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
=== Nho giáo ===
Từ thời Tây Hán, đạo Nho đã xâm nhập làm công cụ phục vụ cho sự cai trị của triều đình nhà Hán. Dần dần có những người Việt theo đường học vấn Nho giáo phục vụ cho chính quyền phương Bắc như Lý Tiến, Lý Cầm. Nhà Hán cho Lý Tiến trở lại Giao châu, không cho làm quan ở trung nguyên vì "hay chê bai, bắt bẻ triều đình".
Sang thời Tam quốc - Lục triều, loạn lạc nhiều, Nho giáo dần suy. Dù sau đó tiếp tục được truyền bá nhưng Nho giáo chưa bao giờ phát triển rực rỡ tại Giao châu.
=== Đạo giáo ===
Đạo giáo cũng được truyền từ Trung Quốc, tuy muộn hơn Nho giáo nhưng sâu rộng hơn. Thứ sử Giao châu Trương Tân là người chuộng Đạo giáo. Đạo giáo truyền vào Việt Nam thời kỳ này chỉ hạn chế ở tầng lớp trên trong xã hội và các quan lại đô hộ. Những hình tượng nguyên sơ của người Việt như Lạc Long Quân, Chử Đồng Tử, Tản Viên, Sơn Tinh, Phù Đổng Thiên Vương… đều dần dần bị Đạo giáo hóa và thần thánh hóa.
Đạo giáo phù thủy từ thế kỷ 2 được truyền vào Giao châu và hòa quyện với những đền miếu, tín ngưỡng dân gian cổ truyền.
=== Phật giáo ===
Phật giáo truyền vào Việt Nam theo hai con đường: từ Ấn Độ truyền bá vào Trung Quốc rồi từ đây sang Việt Nam và từ Ấn Độ qua con đường phía nam Đông Dương tới, được các nhà nghiên cứu xác định vào khoảng thế kỷ đầu công nguyên
Liên Lâu tại Giao châu chính là một trong 3 trung tâm Phật giáo thời Đông Hán cùng với Lạc Dương (kinh đô) và Bành Thành ở hạ lưu sông Trường Giang. Từ thế kỷ 2, Giao châu đã thành lập những tăng đoàn, dịch kinh Phật, xây dựng chùa và sáng tác sách nói về kinh Phật. Những kinh điển Phật giáo đầu tiên được phiên dịch tại Giao châu là Tứ thập nhị kinh và Lý hóa luận. Phật giáo có tinh thần hòa đồng với các tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo khác như Nho giáo và Đạo giáo.
== Chiến tranh với Lâm Ấp ==
Sau khi ly khai miền nam quận Nhật Nam ra khỏi lãnh thổ do nhà Hán quản lý từ năm 192, Chăm Pa - hay Lâm Ấp - trở thành nước độc lập. Do Trung Quốc nhiều biến cố, các triều đại cai trị Giao châu chỉ có thể duy trì sự quản lý tại đây, không thể đánh chiếm lại Chăm Pa.
Sang thế kỷ 4, Lâm Ấp lớn mạnh hơn trước. Tới giữa thế kỷ 4 thời Đông Tấn, các vua Lâm Ấp bắt đầu đánh ra bắc, tiến vào địa phận Giao châu. Vua Chăm Pa là Phạm Văn tiến đánh Nhật Nam và đòi lấy Hoành Sơn làm ranh giới.
Năm 351, thái thú quận Giao Chỉ là Dương Bình và thái thú quận Cửu Chân là Hoan Toại đánh thắng vua Lâm Ấp là Phạm Phật, đánh phá nước Lâm Ấp rồi rút về.
Năm 353, thứ sử Giao châu là Nguyễn Phu lại đánh Phạm Phật, phá hơn 50 lũy.
Sau đó Phạm Phật vẫn thường mang quân cướp phá biên giới. Năm 359, thứ sử Giao châu là Ôn Phóng Chi đánh đến kinh đô Lâm Ấp ở miền Quảng Nam.
Cuối thời Đông Tấn, vua An Đế nhu nhược, các quyền thần thao túng triều đình, tranh giành quyền bính. Sau đó quyền thần Lưu Dụ giành thắng lợi, tập trung đánh dẹp Ngũ Hồ ở trung nguyên để lập công trạng chuẩn bị cướp ngôi nhà Tấn. Nước Lâm Ấp lại mang quân đánh phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức và Cửu Chân.
Năm 399, con Phạm Phật là Phạm Hồ Đạt mang quân đánh quận Nhật Nam, bắt thái thú Quế Nguyên; sau đó đánh vào quận Cửu Đức, bắt sống thái thú Tào Bính. Thái thú quận Giao Chỉ là Đỗ Viện đem quân ra đánh tan được Phạm Hồ Đạt. Hồ Đạt bỏ chạy về nước. Đỗ Viện được phong làm thứ sử Giao châu.
Năm 413, Phạm Hồ Đạt lại tiến ra quận Cửu Chân. Con Đỗ Viện là Đỗ Tuệ Độ nối chức cha, mang quân phá được Lâm Ấp, giết con Hồ Đạt là Chân Tri và Phạm Kiện, bắt một hoàng tử khác là Na Năng.
Năm 415, quân Lâm Ấp lại bắc tiến một lần nữa nhưng lại bị đẩy lui. Đến năm 420, khi Lưu Dụ mới cướp ngôi nhà Tấn lập ra nhà Lưu Tống, Đỗ Tuệ Độ nhân lúc Lâm Ấp suy yếu bèn nam tiến, đánh giết quá nửa quân Lâm Ấp. Nước Lâm Ấp phải xin hàng và nộp cống. Sau này con Tuệ Độ là Đỗ Hoằng Văn tiếp tục được nối cha và ông làm thứ sử Giao châu.
Nhưng chỉ 4 năm sau, vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại lại tiến đánh hai quận Nhật Nam và Cửu Chân. Đỗ Hoằng Văn định mang quân ra đối phó, nhưng nghe tin nhà Tống sắp cử người sang thay mình nên án binh không ra nữa. Vì vậy từ đó quân Lâm Ấp thường xuyên ra cướp phá Giao châu.
Sau khi Đỗ Hoằng Văn chết (426), Tống Văn Đế phong Vương Huy làm thứ sử Giao châu. Năm 431, Phạm Dương Mại lại mang thủy quân tiến ra quận Cửu Chân. Thứ sử Giao châu mới là Nguyễn Di Chi ra chống cự bị bại trận.
Năm 433, Phạm Dương Mại sai sứ sang Kiến Khang xin Tống Văn Đế cho quản lý Giao châu nhưng không được chấp nhận. Sau đó Dương Mại vẫn sai sứ đi lại nhưng mặt khác vẫn cướp phá các quận phía nam Giao châu.
Khoảng năm 445-446, Tống Văn Đế sai Đàn Hòa Chi mang quân đánh Lâm Ấp. Phạm Dương Mại sai sứ giảng hòa và xin trả những hộ dân lấy của Giao châu. Đàn Hòa Chi sai sứ đi dụ Dương Mại thì bị Dương Mại bắt giữ. Hòa Chi bèn tiến binh. Tháng 5 năm đó, quân Tống đánh hạ thành Khu Lật, tiến vào Tượng Phố. Dương Mại dốc quân cả nước ra đánh nhưng bị thua to, cùng con bỏ chạy thoát thân.
Sau trận thua nặng, thế lực của Lâm Ấp suy yếu hẳn. Từ đó tới hết thời Bắc thuộc lần 2 gần 100 năm, Lâm Ấp không xâm phạm vào Giao châu nữa.
== Sự chống đối của người bản địa ==
=== Thời Đông Hán ===
Năm 100, hơn 2.000 dân huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam nổi dậy nhưng nhanh chóng bị đánh dẹp.
Năm 137, người huyện Tượng Lâm lại nổi dậy đánh phá trị sở nhà Hán, giết trưởng lại rồi đánh rộng ra toàn quận Nhật Nam. Thứ sử bộ Giao Chỉ là Phàn Diễn mang 2 vạn quân đi đánh nhưng binh lính ngại đi xa bèn làm loạn, đánh phá 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Năm 138, nhà Hán theo kế của Lý Cố, thay hai thái thú ở Cửu Chân và Nhật Nam, đồng thời dùng kế lấy vàng lụa mua chuộc và ly gián các thủ lĩnh quận Nhật Nam đánh lẫn nhau. Cuối cùng quân nổi dậy bị dẹp.
Năm 144, dân Nhật Nam lại cùng Cửu Chân nổi lên chống lại nhà Hán nhưng nhanh chóng bị dẹp.
Năm 157, Chu Đạt nổi dậy giết huyện lệnh Cư Phong rồi tiến đánh quận Cửu Chân, giết chết thái thú. Nhà Hán cử binh sang đánh, quân Chu Đạt rút về quận Nhật Nam. Năm 160 thì Chu Đạt bị dẹp hẳn.
Năm 178, Lương Long ở quận Giao Chỉ nổi dậy, lôi kéo thêm dân các quận Hợp Phố, Cửu Chân và Nhật Nam hưởng ứng. Năm 181 Nhà Hán điều quân sang dẹp, giết chết Lương Long.
Năm 192, Khu Liên nổi dậy ở huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, giết huyện lệnh rồi thành lập nước Chăm Pa.
=== Thời Tam Quốc ===
Sang thời Đông Ngô cai trị, Giao châu có cuộc khởi nghĩa lớn nhất của người Việt nổ ra năm 248. Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi binh chống Tôn Quyền khiến "toàn thể Giao châu chấn động". Tôn Quyền sai Lục Dận mang 8.000 quân sang đánh và dẹp được cuộc nổi dậy này.
=== Thời nhà Tấn và Nam Bắc triều ===
Năm 299, thú binh ở quận Cửu Chân do Triệu Chỉ cầm đầu nổi dậy giết thái thú nhà Tấn và vây quận thành. Không lâu sau lực lượng này bị dẹp.
Năm 317, đốc quân người Việt là Lương Thạc giết thứ sử Cố Thọ, lập con Đào Hoàng là Đào Tuy (hoặc Uy) lên thay. Nhà Tấn cử Vương Cơ sang làm thứ sử, bị Lương Thạc ngăn trở và giết các kiều dân người Hoa ở Giao châu. Nhà Tấn lại cử Vương Lượng sang làm thứ sử. Lương Thạc lại chống cự, mang quân vây hãm thủ thành Long Biên và giết chết Lượng. Năm 323, Tấn Nguyên Đế phải cử danh tướng Đào Khản sang Giao châu mới đánh được Lương Thạc. Thạc bị giết.
Năm 468, tướng lĩnh bản địa là Lý Trường Nhân nổi dậy giết thuộc hạ người phương Bắc của thứ sử Lưu Mục mới qua đời và tự lập làm thứ sử. Nhà Lưu Tống cử Lưu Bột sang nhưng Trường Nhân chống lại, ngăn không cho Lưu Bột sang. Nhà Tống phải công nhận Trường Nhân làm thứ sử. Vài năm sau Trường Nhân chết, em họ là Lý Thúc Hiến, nguyên thái thú quận Vũ Bình lên thay. Nhà Tống lại sai Thẩm Hoán sang làm thứ sử nhưng Thúc Hiến không nghe, ngăn cản Hoán. Hoán chết ở quận Uất Lâm. Nhà Tống lại phải công nhận Thúc Hiến.
Năm 479, Tiêu Đạo Thành diệt Lưu Tống lập ra Nam Tề. Năm 485, Nam Tề Vũ Đế Tiêu Trách sai Lưu Khải điều binh 3 quận sang đánh. Lý Thúc Hiến liệu thế không chống nổi bèn sang đầu hàng nhà Tề.
Năm 541, Lý Bí khởi binh chống nhà Lương. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về bắc. Qua năm 542 và 543, nhà Lương cử binh sang dẹp đều bị đánh bại. Năm 544, Lý Bí thành lập nước Vạn Xuân và tự xưng đế. Với sự kiện thành lập nước Vạn Xuân, người Việt giành lại quyền tự chủ, thời Bắc thuộc lần 2 chấm dứt.
== Các triều đại và quan đô hộ ==
=== Triều đại ===
Trong gần 500 năm Bắc thuộc lần 2, Việt Nam trải qua sự cai trị của các triều đại phương Bắc:
Đông Hán (167 năm: 43-210)
Đông Ngô (62 năm: 210-263 và 271-280)
Tào Ngụy (2 năm: 263-265)
Tấn (146 năm: 265-271, 280-420) (Tây Tấn (43 năm: 265-271, 280-317), Đông Tấn (103 năm: 317-420))
Lưu Tống (59 năm: 420-479)
Nam Tề (23 năm: 479-502)
Lương (39 năm: 502-541)
=== Các quan đô hộ ===
Sử sách ghi lại các quan đô hộ đã sang Việt Nam trong thời kỳ này, gồm một danh sách không đầy đủ, như sau:
== Xem thêm ==
Bắc thuộc
Nhà Hán
Nam Bắc triều (Trung Quốc)
Lâm Ấp
Lý Trường Nhân
Bà Triệu
Nhà Tiền Lý
Bắc thuộc lần 1
Bắc thuộc lần 3
Văn hóa Đông Sơn
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Viện Sử học (1988), Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản điện tử.
== Chú thích == |
tham nhũng fifa 2015.txt | Trong năm 2015, các công tố viên liên bang Mỹ đã tiết lộ các vụ tham nhũng của các quan chức và các cộng sự có liên quan với FIFA, cơ quan chủ quản của hiệp hội bóng đá, futsal và bóng đá bãi biển.
Gần cuối tháng 5 năm 2015, mười bốn người bị truy tố liên quan tới một cuộc điều tra của Cục Hoa Kỳ Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) và Vụ Điều tra vụ án hình sự Thu nhập nội bộ (IRS-CI) với các tội danh lừa đảo, gian lận, và rửa tiền. Tổng chưởng lý Hoa Kỳ đồng thời công bố các bản cáo trạng và nhận tội trước của bốn giám đốc và hai công ty điều hành bóng đá.
Việc điều tra phần lớn xoay quanh việc thông đồng giữa các quan chức của cơ quan bóng đá lục địa CONMEBOL (Nam Mỹ) và CONCACAF (Caribbe, Trung và Bắc Mỹ), và giám đốc điều hành tiếp thị thể thao. Các giám đốc điều hành tiếp thị thể thao là người nắm giữ các phương tiện truyền thông và quyền tiếp thị cho các cuộc thi quốc tế cao cấp bao gồm các giải đấu vòng loại FIFA World Cup châu Mỹ, và các giải đấu kiểu mẫu CONCACAF Gold Cup và Copa América. Chủ tịch CONCACAF Jeffrey Webb, cũng là chủ tịch Liên đoàn bóng đá quần đảo Cayman, đã bị bắt trong quá trình điều tra, ngoài ra hai ứng viên Ban chấp hành FIFA: Eduardo Li của Costa Rica Liên đoàn bóng đá và Eugenio Figueredo, cựu thành viên của Liên đoàn bóng đá Uruguay và cựu Chủ tịch CONMEBOL Nicolás Leoz cũng bị bắt. Cuộc điều tra kéo dài nhiều năm, với người bị bắt giữ đầu tiên, con trai Daryll Warner, bị bắt vào tháng 7 năm 2013.
Tổng cộng, bảy quan chức đương chức của FIFA đã bị bắt giữ tại khách sạn Baur au Lac ở Zürich ngày 27 tháng 5 năm 2015. Họ đang chuẩn bị tham dự Hội nghị FIFA lần thứ 65, theo lịch sẽ chốt lại việc bầu chọn chức chủ tịch FIFA. Họ sẽ bị dẫn độ sang Hoa Kỳ vì nghi ngờ nhận 150 triệu đô la Mỹ tiền hối lộ. Cũng đã có một cuộc truy bắt đồng thời ở trụ sở CONCACAF tại Miami, và sau đó, thêm hai người nữa tiếp tục bị cảnh sát bắt giữ. Cựu chủ tịch CONCACAF Jack Warner và giám đốc marketing Alejandro Burzaco. Hai vụ bắt giữ thêm các quan chức FIFA tại khách sạn xảy ra vào tháng 12 năm 2015.
Vụ bắt giữ đã khiến Australia, Colombia, Costa Rica, Đức và Thụy Sĩ mở hoặc tăng cường các điều tra tội phạm riêng đối với các quan chức cấp cao FIFA về tội tham nhũng. Tháng 12 năm 2015, Chủ tịch FIFA Sepp Blatter và Chủ tịch UEFA Michel Platini bị cấm hoạt động bóng đá dài hạn sau cuộc điều tra của Ủy ban đạo đức FIFA. FIFA bác kháng cáo của Blatter, Platini và Blatter thừa nhận Nga thắng đăng cai trước khi bỏ phiếu. Hai quan chức quyền lực nhất của bóng đá thế giới bị kết tội trong vụ giao dịch hai triệu đô "bất minh" vào năm 2011. Đây là số tiền mà Blatter đã đưa cho Platini mà không có sự giải thích thỏa đáng.
== Chú thích == |
phó đức phương.txt | Phó Đức Phương là một nhạc sĩ sáng tác ca khúc quần chúng dòng nhạc trữ tình Việt Nam. Quê ông ở Đa Ngưu -Tân Tiến (Văn giang -Hưng Yên). Ông hiện là Giám đốc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), phó chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội.
== Tiểu sử ==
Sinh năm 1944, tuổi Giáp Thân
1962, học khoa Toán trường Đại học Sư phạm
1965, làm nông trường viên chăn nuôi thuộc nông trường Cửu Long (Hòa Bình)
1966, trở về thi vào trường Âm nhạc Việt Nam
2002, làm giám đốc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam do chính ông cùng 200 nhạc sĩ khác kiến nghị lên Quốc hội, Trung ương Đảng, Chính phủ.
2015 đòi thu tiền quốc ca
== Nhạc phẩm ==
== Giải thưởng ==
Ông đã được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học - nghệ thuật đợt 1-2001. Cùng nhiều huân huy chương khác.
== Album đã phát hành ==
Trên đỉnh Phù Vân Phó Đức Phương I Saigon Audio (1996)
Một thoáng Tây Hồ Phó Đức Phương II Saigon Audio (1997)
Chảy đi sông ơi Phó Đức Phương III Saigon Audio (1998)
Khúc hát Phiêu ly (với ca sĩ Minh Thu) Dihavina (2006)
Minh Thu hát Phó Đức Phương (với ca sĩ Minh Thu) Hồ Gươm Audio (2015)
== Liveshow trong sự nghiệp ==
Con đường âm nhạc Phó Đức Phương Những giấc mơ trên sóng (9/2005)
Trên đỉnh Phù Vân Phó Đức Phương Trên đỉnh Phù Vân (12/2016)
== Tham khảo == |
hertz.txt | Hertz hay héc, ký hiệu Hz, là đơn vị đo tần số(thường ký hiệu là f) trong hệ SI, lấy tên theo nhà vật lý người Đức Heinrich Rudolf Hertz. Đơn vị đo Hertz cho biết số lần dao động thực hiện được trong 1 giây.
Thứ nguyên(đơn vị đo): Hz = 1/s Các đơn vị đo tần số thông dụng khác như: KHz-kilo-héc (1KHz=1000 Hz),MHz-mega-héc (1 MHz=1000000 Hz),GHz-Giga-héc (1 GHz=1000000000 Hz),THz-terahertz (1THz=1000000000000 Hz).
=== Các ước số-bội số trong SI ===
== Tham khảo == |
cúp quốc gia scotland 1882–83.txt | Cúp quốc gia Scotland 1882–83 là mùa giải thứ 10 của giải đấu bóng đá loại trực tiếp uy tín nhất Scotland. Chức vô địch thuộc về Dumbarton khi đánh bại Vale of Leven 2-1 trong trận Chung kết sau trận đá lại.
== Vòng Một ==
Trận đấu tuyên bố bỏ trống
Trận đấu tuyên bố bỏ trống vì nguồn không dẫn kết quả gốc.
Apsley, Edinburgh University, Glasgow University, Aberdeen, King's Park, Queen of the South Wanderers và Vale of Leven đi thẳng vào vòng tiếp theo.
=== Đá lại ===
Strathmore bị loại.
=== Đá lại ===
Cả hai đội đều được vào vòng tiếp theo.
== Vòng Hai ==
Trận đấu tuyên bố bỏ trống.
Falkirk, Edinburgh University và Glasgow University đi thẳng vào vòng tiếp theo.
=== Đá lại ===
Cả hai đội đều được vào vòng tiếp theo.
== Vòng Ba ==
Hurlford, Hibernian, Edinburgh University và Glasgow University đi thẳng vào Tứ kết.
=== Đá lại ===
=== Đá lại ===
Cả hai đội đều được vào vòng tiếp theo.
== Vòng Bốn ==
=== Đá lại ===
== Vòng Năm ==
Trận đấu bị hủy bỏ
Dumbarton, Kilmarnock Athletic, Partick Thistle, Pollokshields Athletic và Third Lanark đi thẳng vào Tứ kết.
=== Đá lại ===
== Tứ kết ==
=== Đá lại ===
Trận đấu tuyên bố bỏ trống
=== Đá lại lần 2 ===
=== Đá lại lần 3 ===
== Bán kết ==
Trận đấu tuyên bố bỏ trống
=== Đá lại ===
== Chung kết ==
=== Đá lại ===
== Xem thêm ==
Bóng đá Scotland 1882–83
== Tham khảo ==
RSSF Scottish Cup 82-83
IFFHS
London Hearts Scottish Cup Results |
megabyte.txt | Megabyte là một đơn vị thông tin hoặc dung lượng tin học bằng với 10002 byte hoặc 10242 byte, tùy vào ngữ cảnh. Trong vài trường hợp hiếm, nó dùng để chỉ 1000×1024 bytes. Megabyte thường được viết tắt là MB (không nhầm lẫn với Mb, dùng để chỉ megabit). Thuật ngữ này được đặt ra vào năm 1970.
== Định nghĩa ==
Thuật ngữ "megabyte" dễ nhầm lẫn vì nó thường được dùng để chỉ 10002 byte lẫn 10242 byte. Sự rắc rối này xuất phát từ sự thỏa hiệp của biệt ngữ kỹ thuật của các bội số của byte cho nhu cầu thể hiện các số ở dạng lũy thừa của 2 nhưng chưa có tên. Vì 1024 (210) gần bằng 1000 (103), những bội số SI tương ứng gần bằng số đó bắt đầu được sử dụng như bội số nhị phân "xấp xỉ". Vài năm trước, các tiêu chuẩn và cơ quan chính phủ bao gồm IEC, IEEE, EU, và NIST, đã nhắc đến sự nhập nhằng này bằng cách khuyến khích sử dụng megabyte để mô tả bằng đúng 10002 byte và "mebibyte" để mô tả 10242 byte. Sự thay thế này được phản ánh trong các dự án phần mềm ngày càng nhiều, nhưng phần lớn các chương trình quản lý tập tin vẫn biểu thị kích thước bằng "megabyte" ("MB").
Thuật ngữ này vẫn còn nhập nhằng và nó có thể theo bất kỳ một trong các "định nghĩa" dưới đây:
1.000.000 byte (10002, 106): Đây là định nghĩa được đề nghị bởi SI (Hệ thống đo lường quốc tế) và IEC. Định nghĩa này được dùng trong ngữ cảnh mạng máy tính và phần lớn đơn vị lưu trữ, cụ thể là ổ cứng, bộ nhớ flash, và DVD, và cũng đường dùng chính xác với những cách sử dụng khác của tiền tố SI trong tính toán, như Megahertz trong tốc độ xung CPU hay Đo lường hiệu suất.
1.048.576 byte (10242, 220): Định nghĩa này được dùng khi đề cập đến bộ nhớ máy tính, nhưng phần lớn phần mềm hiển thị kích thước tập tin hoặc dung lượng đĩa, bao gồm chương trình quản lý tập tin cũng sử dụng định nghĩa này.
1.024.000 byte (1000×1024): Định nghĩa này được dùng để mô tả dung lượng được định dạng của đĩa mềm "1,44 MB" 3,5 inch, thực ra có dung lượng 1,44 kKiB (kilo-kibibytes), tức là 1.440×1.024 byte, hay 1.474.560 byte.
== Ví dụ về Megabyte ==
Dựa trên những phương pháp nén và định dạng tập tin, một megabyte dữ liệu có thể bằng:
1000×1000 điểm ảnh của ảnh bitmap với độ sâu màu 8 bit (1 byte).
1 phút nhạc nén MP3 128 kilobit trên giây kbps kylobyte per second.
5,7 giây của âm thanh CD không nén
100 trang chỉ gồm ký tự khoảng trắng (space) ở phông chữ 12 trong OpenOffice.org
1 quyển sách đặc trưng ở dạng chữ (500 trang × 2000 ký tự)
3 giây phim ở chất lượng DVD
== Xem thêm ==
Tiền tố nhị phân
kilobyte
gigabyte
mebibyte
megabit
orders of magnitude (data)
== Liên kết ngoài ==
Historical Notes About The Cost Of Hard Drive Storage Space
the megabyte (established definition in Networking and Storage industries; from whatis.com)
International Electrotechnical Commission definitions
IEC prefixes and symbols for binary multiples
== Tham khảo == |
bánh tráng.txt | Bánh tráng hay Bánh đa là một dạng bánh sử dụng nguyên liệu chính là tinh bột tráng mỏng phơi khô, khi ăn có thể nướng giòn (miền Bắc Việt Nam gọi là bánh đa nướng, miền Nam gọi là bánh tráng nướng) hoặc nhúng qua nước để làm nem cuốn. Nó còn là nguyên liệu để làm một món ăn rất Việt là nem hay bánh đa nem.
== Tên gọi ==
Tên gọi bánh tráng có xuất xứ từ miền Nam , gọi là bánh tráng vì công đoạn chủ yếu khi làm bánh là phải tráng mỏng. Đôi khi được gọi là bánh đa (xem thêm Bánh đa).
Tại một số vùng ở Thanh Hóa, người ta dùng cả hai từ bánh tráng và bánh đa, ngoài ra còn dùng từ bánh khô, để chỉ loại bánh tráng dùng để nướng và ăn trực tiếp. Loại bánh tráng dùng để gói nem (bánh đa nem) thì được gọi là bánh chả, do món nem rán ở đây gọi là chả.
Ở miền Bắc trước đây cũng gọi là bánh tráng do cách làm là bánh được tráng mỏng, đến thời chúa Trịnh Tráng ở đàng Ngoài thì phải đổi gọi là bánh đa để kiêng húy chúa Trịnh Tráng . Ở đàng Trong không chịu ảnh hưởng của các chúa Trịnh nên tiếp tục gọi loại bánh này là bánh tráng.
== Nguyên liệu ==
Nguyên liệu chính thường là bột gạo (nhiều nơi dùng sắn, ngô, đậu xanh... hoặc pha trộn chung) pha lỏng vừa phải với nước. Có cho vào đó một ít bột sắn với một tỷ lệ hợp lý để bánh có thêm độ dẻo, ít bị bể và dễ tráng mỏng, nếu pha nhiều bột sắn (khoai mì) sẽ làm cho bánh có vị chua. Ngoài ra còn có các phụ gia khác như mè, muối, tiêu, tỏi, dừa, hành, đường... tùy loại bánh tráng các miền.
== Cách làm ==
Dùng một cái gáo múc bột đổ lên trên một tấm vải được căng sẵn trên một cái miệng nồi to có nước đang sôi bên trong. Sau đó dùng gáo dừa trải đều một lớp bột thật mỏng theo hình tròn (tráng bánh), động tác này phải khéo léo, nhanh nhẹn diễn ra chỉ trong vài giây (có thể rắc thêm mè lên trên). Bánh chín, dùng một nan tre mỏng hoặc một chiếc ống luồn dưới bánh gỡ ra, trải trên một cái vỉ được đan bằng tre rồi đem phơi nắng.
Độ dày, mỏng của bánh được quy định tùy theo cách sử dụng. Nếu để nướng sẽ dày nhất, cuốn ướt thì dày vửa và làm nem thì phải mỏng như tờ giấy. Chính vì lý do này mà trong tiếng Anh bánh tráng được gọi là rice paper (giấy gạo).
== Thưởng thức ==
Sau khi phơi khô, khi sử dụng, tùy cách ăn có thể đem bánh đi nướng giòn trên than hồng hay nhúng qua nước cho mềm (có thể sau khi nướng hoặc không nướng), cuốn Nem rán (chả giò). Bánh tráng nướng giòn có thể ăn kèm cùi dừa rất ngon. Bánh tráng có thể được ăn kèm với nhiều món ăn như: mắm ruốc, gỏi... không nhất thiết phải qua công đoạn nướng giòn.
== Các loại bánh đa nổi tiếng ==
Bánh đa Kế: xã Dĩnh Kế, huyện Lạng Giang, Bắc Giang
Bánh đa nem Thổ Hà: xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Bài chi tiết: Bánh đa nem Thổ Hà
Bánh đa Đô Lương: xã Đà Sơn, thị trấn Đô Lương, xã Tràng Sơn, Đông Sơn, huyện Đô Lương
Bánh đa Cầu Bố: phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa
Bánh đa làng chòm: xã Thiệu Châu, Thiệu Hóa, Thanh Hóa
Bánh đa Hải Bình: xã Hải Bình, Tĩnh Gia, Thanh Hóa
Bánh tráng Hòa Đa, Phú Yên
Bài chi tiết: Bánh tráng Hòa Đa
Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng: Tây Ninh
== Các biến thể ==
=== Bánh tráng trộn ===
Bánh tráng trộn là một món ăn nhẹ có xuất xứ từ Tây Ninh (Việt Nam). Món ăn này là một trong những món ăn vặt phổ biến của giới học sinh, sinh viên.
Món ăn này có thành phần chính là bánh tráng cắt sợi, thông thường, món bánh tráng trộn ở khắp nơi ăn phổ biến chủ yếu là ăn chung với muối tôm, chanh tắc, bò khô, trứng cút, rau lá,... trộn với tôm khô chiên mỡ, các thành phần còn lại thay đổi theo người bán, các thành phần thường thấy là phổi bò cháy, rau răm, đu đủ chua sợi, sốt tương, đậu phộng,... Chúng thường được đóng gói và bán trong từng túi ni lông nhỏ với giá rẻ.
=== Bánh tráng nướng ===
Bánh tráng nướng là một món ăn nhẹ có xuất xứ từ Phan Rang (Ninh Thuận), sau đó rộng rãi ở Đà Lạt, Phan Thiết và phổ biến tại Sài Gòn. Nó được làm từ loại bánh tráng mỏng nướng giòn với phần nhân bánh phong phú như xúc xích, gà xé, thập cẩm, hải sản, khô bò, phô mai, trứng gà..., tương tự như kiểu bánh pizza của Ý và rưới kèm nước sốt (tương ớt và sốt me).
Bánh tráng nướng thường hay ăn chung với các món ăn vặt như bạch tuộc nướng, hồ lô nướng và trà chanh.
== Xem thêm ==
Bánh đa
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Chộn rộn như bánh tráng trộn Sài Gòn
4 quán bánh tráng trộn hút khách ở Hà Nội
Tự làm bánh tráng trộn ăn ứa nước miếng |
châu phong hòa.txt | Châu Phong Hòa (sinh năm 1985 tại Đồng Tháp) là tuyển thủ trong đội tuyển bóng đá Olympic Việt Nam, cùng với Phan Thanh Bình, Nguyễn Quý Sửu, Lương Văn Được Em, Đoàn Việt Cường... Năm 2003, Châu Phong Hòa đoạt chức vô địch và danh hiệu "Cầu thủ xuất sắc nhất" Giải vô địch bóng đá U18 Việt Nam trong màu áo Đồng Tháp. Từ năm 2004 đến nay, anh liên tục có mặt trong đội hình 1 Đồng Tháp. Hiện tại, anh đang thi đấu cho câu lạc bộ bóng đá Xi măng The Vissai Ninh Bình. Châu Phong Hòa là một cầu thủ đa năng, có nền tảng kỹ thuật và tốc độ khá tốt, anh có thể chơi tốt ở tất cả các vị trí trên sân (trừ Thủ môn). Khi còn thi đấu cho các đội trẻ Đồng Tháp, anh chơi ở vị trí tiền vệ tấn công hoặc tiền đạo. Lúc tham gia đội tuyển U20 Việt Nam, anh được xếp đá vị trí tiền vệ trung tâm. Ở Đồng Tháp anh thường thi đấu ở vị trí tiền vệ hoặc hậu vệ trái mặc dù thuận chân phải. Xem Phong Hòa thi đấu, chúng ta thấy lại hình ảnh của Trần Công Minh của thập niên 90.Năm 2014 anh trở về thi đấu cho TĐCS Đồng Tháp sau nhiều năm xa quê hương, ở đây anh sẽ mang chiếc áo số 21.
== Thành tích ==
V-League:
Giải vô địch bóng đá hạng nhất Việt Nam: 1 lần vô địch
2006
Giải bóng đá Đại hội TDTT Toàn quốc:
Huy chương bạc 2006
Giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam
Hạng 3 2003 và 2004
Cúp Tiger
SEA Games
Quả bóng vàng Việt Nam:
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
goodluck jonathan.txt | Goodluck Ebele Azikiwe Jonathan, GCFR, BNER, GCON (sinh ngày 20 tháng 11 năm 1957) là một chính khách Nigeria, ông là tổng thống thứ 14 và là đương kim tổng thống Nigeria. Trong cuộc bầu cử tháng 4 năm 2011, ông được bầu làm Tổng thống Nigeria.
== Tham khảo == |
đinh nguyên.txt | Đinh Nguyên (chữ Hán: 丁原; ?-189), tự Kiến Dương (建陽), là tướng nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông tham gia cuộc chiến quân phiệt đầu thời Tam Quốc và thất bại dưới tay Đổng Trác.
== Xuất thân ==
Đinh Nguyên xuất thân nhà nghèo, tuy vụng về nhưng rất gan dạ. Ông theo học cưỡi ngựa bắn cung. Ông được cất nhắc làm quan ở địa phương, đi trấn áp quân cướp, thường không ngại khó khăn nguy hiểm.
Dần dần ông được thăng tiến làm Thứ sử Tinh châu. Thủ hạ dưới trướng ông có 2 người nổi tiếng là Lã Bố và Trương Dương.
Trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, La Quán Trung kể rằng Đinh Nguyên nhận Lã Bố làm con nuôi
== Chống Đổng Trác ==
Đầu năm 189, Hán Linh Đế mất, thái tử Biện lên nối ngôi, tức là Hán Thiếu Đế. Ngoại thích Đại tướng quân Hà Tiến nắm quyền phụ chính, mâu thuẫn với các hoạn quan. Do không thuyết phục được em gái là Hà thái hậu trừ bỏ hoạn quan, Hà Tiến sai người ra nói với Đinh Nguyên và tướng Đổng Trác đang đóng quân ở Hà Đông hãy mang quân vào Lạc Dương "giả làm phản đòi dẹp hoạn quan", với mục đích là dọa thái hậu phải bằng lòng bãi chức các hoạn quan.
Đinh Nguyên nhận lệnh, mang quân đến Lạc Dương trước, mang theo Lã Bố và Trương Dương. Hà Tiến điều động Trương Dương lên Thượng Đảng dẹp quân khởi nghĩa tại đây.
Tháng 8 năm 189, Hà Tiến theo ý kiến của thủ hạ là Viên Thiệu, vào cung Trường Lạc gặp Hà thái hậu đề nghị giết hết các hoạn quan. Tin lộ ra, hoạn quan Trương Nhượng cùng Đoàn Khuê vội huy động vài mươi quân lính cầm binh khí phục sẵn, đợi lúc Hà Tiến ra cửa cung bèn đổ ra bắt sống và giết chết.
Viên Thiệu mang quân đánh vào cung diệt từ các hoạn quan. Không lâu sau Đổng Trác kéo quân vào Lạc Dương, dùng vũ lực thao túng triều đình. Viên Thiệu phải bỏ chạy lên Bột Hải.
Đổng Trác thu luôn quân đội của Hà Tiến. Đinh Nguyên bất bình với Đổng Trác bèn mang quân bản bộ chống lại. Hai bên giao chiến, Đổng Trác gặp bất lợi, bèn dùng vàng bạc mua chuộc Lã Bố, xui Bố phản lại ông. Lã Bố nghe theo Đổng Trác, liền nhân lúc Đinh Nguyên không phòng bị, bất ngờ sát hại ông rồi mang quân về hàng Đổng Trác.
Sau này bộ tướng của ông là Trương Dương làm Thái thú quận Hà Nội, còn Lã Bố lại theo Vương Doãn, trở mặt giết Đổng Trác.
== Trong Tam Quốc diễn nghĩa ==
Trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Đinh Nguyên xuất hiện trong hồi thứ 3 trong cuộc đối địch với Đổng Trác. Ông bị Lã Bố sát hại khi đang xem sách ban đêm.
== Xem thêm ==
Hà Tiến
Lã Bố
Trương Dương
Đổng Trác
== Tham khảo ==
Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Lê Đông Phương, (2007), Kể chuyện Tam Quốc, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân (2006), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh niên.
Vương Xuân Du (1996), Truyện các hoạn quan Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
== Chú thích == |
bắc sơn, sóc sơn.txt | Bắc Sơn là một xã thuộc huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội, Việt Nam.
== Địa lý - Hành chính ==
Xã có địa giới phía Nam giáp 3 xã Hồng Kỳ, Nam Sơn và Minh Trí, phía Bắc, Tây Bắc và phía Đông giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Tây Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
chính quyền liên bang hoa kỳ.txt | Chính quyền Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ (hoặc Chính quyền Liên bang Hoa Kỳ, chính quyền Mỹ) được thiết lập bởi Hiến pháp Hoa Kỳ, là một nước cộng hoà liên bang được cấu thành bởi các tiểu bang khác nhau. Hệ thống Luật pháp Hoa Kỳ được thiết lập bởi các Đạo luật của Quốc hội (đặc biệt là Luật Hoa Kỳ và Luật Pháp chế Quân đội); những quy định hành chánh, và những tiền lệ tư pháp giải thích các bộ luật và các quy định. Chính quyền liên bang có ba nhánh: hành pháp, lập pháp và tư pháp. Lập nền trên nguyên tắc tam quyền phân lập, mỗi nhánh có thẩm quyền để hành xử các sự vụ trong lĩnh vực riêng, với một số thẩm quyền ảnh hưởng trên hai nhánh còn lại, và ngược lại, có một số thẩm quyền bị ảnh hưởng bởi một hoặc cả hai nhánh kia.
== Lập pháp ==
Quốc hội Hoa Kỳ là nhánh lập pháp của Chính quyền liên bang Hoa Kỳ. Theo chế độ lưỡng viện, Quốc hội gồm có Hạ viện (còn gọi là Viện dân biểu), và Thượng viện (còn gọi là Viện nghị sĩ). Hạ viện có 435 thành viên, đại diện cho các hạt bầu cử với nhiệm kỳ hai năm, phân bổ theo tỷ lệ dân số; ngược lại, mỗi tiểu bang có hai đại biểu tại Thượng viện mà không tính đến dân số. Có tổng cộng 100 thượng nghị sĩ (đại diện cho 50 tiểu bang), phục vụ trong nhiệm kỳ sáu năm (một phần ba Thượng viện được bầu lại mỗi hai năm). Mỗi viện đều có quyền lực riêng biệt - Thượng viện có nhiệm vụ cố vấn và phê chuẩn các bổ nhiệm của tổng thống, trong khi Hạ viện có trách nhiệm đệ trình các dự luật từ dân biểu và nâng cao thu nhập quốc gia. Tuy nhiên, cần có sự đồng thuận của cả hai viện để có thể thông qua các dự luật rồi trở thành đạo luật. Quyền lực của quốc hội được quy định trong những điều khoản của Hiến pháp; tất cả quyền còn lại dành cho các tiểu bang và nhân dân. Trong hiến pháp có "điều khoản cần thiết và thích đáng" cho phép quốc hội "làm tất cả luật cần thiết và thích đáng để bảo đảm sự vận hành của quyền lực hiện hành."
Thành viên Hạ viện và Thượng viện được tuyển chọn theo thể thức một hạt bầu cử chọn một người là người có số phiếu cao nhất (first-past-the-post voting), ngoại trừ hai tiểu bang Louisiana và Washington theo thể thức bầu cử hai vòng (runoffs) – vòng đầu chọn hai người có số phiếu cao nhất để vào tiếp vòng sau.
Hiến pháp không có quy định nào về việc thiết lập các ủy ban của quốc hội, nhưng theo đà tăng trưởng của đất nước, do nhu cầu thẩm định các dự luật mà các ủy ban lần lượt ra đời. Quốc hội khoá 108 (2003-2005) có 19 uỷ ban thường trực ở Hạ viện và 17 uỷ ban ở Thượng viện, chưa kể bốn uỷ ban lưỡng viện có nhiệm vụ giám sát Thư viện Quốc hội, ấn loát, thuế và kinh tế. Mỗi viện còn có quyền bổ nhiệm, hoặc tuyển chọn các uỷ ban nghiên cứu các vấn đề đặc biệt. Vì khối lượng công việc gia tăng, các uỷ ban thường trực sản sinh thêm 150 tiểu ban trực thuộc.
Quốc hội có trách nhiệm giám sát và tác động đến các mặt điều hành của nhánh hành pháp. Quy trình giám sát của quốc hội nhắm vào các mục tiêu như ngăn chặn sự lãng phí, các hành vi dối trá, bảo vệ các quyền tự do dân sự cũng như các quyền cá nhân, bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của nhánh hành pháp, thu thập thông tin để làm luật và giáo dục quần chúng, cũng như thẩm định những thành quả của hành pháp. Quyền giám sát này được thực thi đối với các bộ của chính phủ, các cơ quan hành pháp, các uỷ ban pháp chế, và chức vụ tổng thống. Chức năng giám sát của Quốc hội được thể hiện trong nhiều hình thức:
Uỷ ban thẩm tra và điều trần;
Xem xét các tường trình của tổng thống và cho ý kiến;
Hạ viện tiến hành luận tội và đưa ra Thượng viện xét xử;
Hạ viện và Thượng viện tiến hành các thủ tục cần thiết chiếu theo Tu chính án thứ 25 trong trường hợp tổng thống không thể thi hành nhiệm vụ, hoặc khi chức vụ phó tổng thống bị khuyết;
Tổ chức những buổi họp không chính thức giữa các nhà lập pháp và các viên chức hành pháp;
Thông qua các uỷ ban quốc hội và các cơ quan hỗ trợ như Văn phòng Ngân sách Quốc hội, Văn phòng Giải trình Chính phủ tiến hành các cuộc nghiên cứu.
=== Chức trách của Nghị sĩ Quốc hội ===
Mỗi nghị sĩ quốc hội phải đảm nhiệm năm chức trách: nhà lập pháp, thành viên uỷ ban, đại diện hạt bầu cử, người phục vụ cử tri, và chính trị gia.
=== Quyền lực của Quốc hội ===
Hiến pháp quy định nhiều quyền khác nhau cho Quốc hội: quyền đánh thuế và thu thuế để trả nợ, cung ứng phương tiện quốc phòng và phúc lợi chung cho nước Mỹ; vay mượn tiền; lập ra các quy định thương mại với các nước khác và giữa các tiểu bang; thiết lập những quy định thống nhất về nhập tịch; phát hành tiền và quy định mệnh giá; trừng phạt các hình thức lừa đảo; thiết lập bưu điện và công lộ, cổ xuý sự tiến bộ khoa học, thiết lập các toà án trực thuộc Tối cao Pháp viện, định nghĩa và trừng phạt tội vi phạm bản quyền và các trọng tội, tuyên chiến, tổ chức và hỗ trợ quân đội, cung ứng và duy trì hải quân, làm luật lãnh thổ và lực lượng hải quân, cung ứng lực lượng dân quân, trang bị vũ khí và duy trì kỷ luật các lực lượng dân quân, thi hành hệ thống luật đặc biệt ở Washington, D. C., và ban hành những luật lệ cần thiết để thực thi quyền lực của Quốc hội.
== Hành pháp ==
Nhánh Hành pháp gồm có Tổng thống Hoa Kỳ và các viên chức được tổng thống ủy nhiệm để cấu thành Chính phủ Hoa Kỳ. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu nhà nước, đứng đầu chính phủ và là tổng tư lệnh quân lực, cũng là nhà ngoại giao trưởng. Tổng thống, theo Hiến pháp, có trách nhiệm đôn đốc việc tuân thủ luật pháp. Để thực thi chức trách này, tổng thống điều hành ngành hành pháp của Chính phủ liên bang, một guồng máy khổng lồ với khoảng 4 triệu nhân viên, kể cả 1 triệu binh sĩ đang phục vụ trong quân đội. Tổng thống còn có quyền lực đáng kể trong các lĩnh vực tư pháp và lập pháp. Bên trong nhánh hành pháp, tổng thống được Hiến pháp dành cho nhiều quyền lực để điều hành công việc quốc gia cũng như bộ máy chính quyền liên bang, cũng có quyền ban hành sắc lệnh về các sự vụ quốc nội.
Tổng thống có quyền phủ quyết các đạo luật đã được Quốc hội thông qua. Tổng thống có thể bị luận tội bởi đa số dân biểu ở Hạ viện và bị dời bỏ khỏi chức vụ bởi đa số hai phần ba tại Thượng viện vì những cáo buộc như "phản quốc, hối lộ hoặc những trọng tội và hành vi bất chính khác". Tổng thống không thể giải tán quốc hội hoặc tổ chức các cuộc bầu cử đặc biệt, nhưng có quyền ân xá những người bị buộc tội theo luật liên bang, ban hành sắc lệnh hành pháp và bổ nhiệm (với sự chuẩn thuận của Thượng viện) thẩm phán Tối cao Pháp viện và thẩm phán liên bang.
Phó Tổng thống là viên chức hành pháp đứng hàng thứ nhì trong chính quyền. Là nhân vật số một theo thứ tự kế nhiệm tổng thống, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ tổng thống trong trường hợp tổng thống qua đời, từ nhiệm hoặc bị bãi nhiệm. Cho đến nay đã có chín trường hợp phó tổng thống thay thế tổng thống theo thể thức kế nhiệm. Chức trách hiến định của phó tổng thống là phục vụ trong cương vị Chủ tịch Thượng viện với quyền biểu quyết hầu phá thế bế tắc khi số phiếu của các thượng nghị sĩ rơi vào vị trí cân bằng, nhưng theo dòng thời gian phó tổng thống dần trở thành cố vấn chính cho tổng thống.
Tất cả quyền lực hành pháp trong Chính phủ liên bang đều được uỷ nhiệm cho tổng thống, như vậy các viên chức chính phủ phải chịu trách nhiệm trước tổng thống. Tổng thống và phó tổng thống được tuyển chọn theo thể thức liên danh bởi Cử tri đoàn đại diện cho các tiểu bang và Đặc khu Columbia, có số thành viên ngang bằng số ghế ở Thượng viện và Hạ viện cộng thêm các đại biểu của Washington, D. C.. Hiện nay, số thành viên của cử tri đoàn là 538 theo công thức 100 + 435 + 3. Như vậy, muốn chiếm được ghế tổng thống, một liên danh phải giành được 270 phiếu của cử tri đoàn.
Mối quan hệ giữa Tổng thống và Quốc hội Hoa Kỳ phản ảnh mối quan hệ giữa Vương quyền và Quốc hội Vương quốc Anh vào thời điểm hình thành Hiến pháp Hoa Kỳ. Quốc hội có quyền làm luật để hạn chế quyền hành pháp của tổng thống, ngay cả đối với quyền tư lệnh các lực lượng vũ trang của tổng thống mặc dù trường hợp này là hiếm hoi - một thí dụ là những giới hạn quốc hội đã áp đặt trên Tổng thống Richard Nixon khi ông ra lệnh oanh tạc Campuchia trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Dù tổng thống có quyền đệ trình các dự luật (như ngân sách liên bang), thường thì tổng thống phải dựa vào sự hỗ trợ của các nghị sĩ để vận động cho các dự luật. Sau khi các dự luật được thông qua ở hai viện Quốc hội, cần có chữ ký của tổng thống để trở thành luật, đó là lúc tổng thống có thể sử dụng quyền phủ quyết – dù không thường xuyên - để bác bỏ chúng. Quốc hội có thể vượt qua phủ quyết của tổng thống nếu có được đa số hai phần ba ở cả hai viện. Quyền lực tối hậu của quốc hội đối với tổng thống là quyền luận tội và bãi nhiệm tổng thống qua quy trình biểu quyết ở Hạ viện và xét xử ở Thượng viện (với đa số hai phần ba). Đã có sự phân hoá chính trị nghiêm trọng khi quy trình này được áp dụng cho các tổng thống Andrew Johnson, Richard Nixon và Bill Clinton.
Tổng thống bổ nhiệm khoảng 2.000 chức danh hành pháp, trong đó có các thành viên Nội các và các đại sứ (cần có sự phê chuẩn của Thượng viện); tổng thống có quyền ban hành sắc lệnh và lệnh ân xá và thi hành các chức trách hiến định khác như đọc Diễn văn Liên bang trước Quốc hội (theo thông lệ mỗi năm một lần). Hiến pháp không buộc tổng thống phải đích thân đọc diễn văn, nhưng có thể gởi thông điệp cho quốc hội, theo cách các tổng thống Hoa Kỳ thường làm trong thế kỷ 19. Dù vai trò hiến định của tổng thống có thể bị hạn chế, trong thực tế, với những đặc quyền to lớn, chức danh này thường chiếm ưu thế đối với quyền lực quốc hội; có thể nói Tổng thống Hoa Kỳ là nhân vật nhiều quyền lực nhất thế giới. Phó Tổng thống là nhân vật đứng đầu trong thứ tự kế nhiệm tổng thống và đương nhiên là Chủ tịch Thượng viện. Các thành viên Nội các chịu trách nhiệm điều hành những bộ ngành khác nhau của chính phủ như Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao.
=== Nội các, Bộ ngành và các Cơ quan ===
Chức trách điều hành thực thi luật pháp liên bang được đặt vào tay các bộ ngành hành pháp liên bang, được thiết lập bởi Quốc hội nhằm giải quyết các sự vụ quốc nội và quốc tế. Các bộ trưởng của 15 bộ khác nhau, được chọn bởi tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện, cấu thành một hội đồng cố vấn cho tổng thống gọi là "Nội các". Ngoài ra, còn có một số tổ chức được xếp vào nhóm Văn phòng Hành pháp của Tổng thống gồm có ban nhân viên Toà Bạch Ốc, Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Văn phòng Chính sách Kiểm soát Ma tuý Quốc gia và Văn phòng Chính sách Khoa học Kỹ thuật. Cũng có các cơ quan độc lập khác như Cơ quan Tình báo Quốc gia, Cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm, và Cơ quan Bảo vệ Môi trường. Ngoài ra, còn có các tập đoàn quốc doanh như Amtrak.
== Tư pháp ==
Thiết chế đứng đầu nhánh tư pháp là Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, gồm có chín thẩm phán. Toà tối cao xét xử các sự vụ liên quan đến Chính phủ liên bang và những vụ tranh tụng giữa các tiểu bang, có quyền giải thích Hiến pháp và tuyên bố các hoạt động lập pháp và hành pháp ở mọi cấp chính quyền là vi hiến, cũng như có quyền vô hiệu hoá các luật lệ và tạo tiền lệ cho luật pháp và các phán quyết sau này. Dưới Toà án Tối cao là các Toà Kháng án, dưới nữa là toà án cấp quận, đây là cấp toà án thực hiện nhiều vụ xét xử nhất theo luật liên bang.
Tách khỏi, nhưng không hoàn toàn độc lập, với hệ thống toà án liên bang là các hệ thống toà án riêng lẻ thuộc tiểu bang, có thẩm quyền xét xử các vụ án theo luật tiểu bang với trình tự riêng của mình. Tối cao pháp viện của mỗi tiểu bang là thẩm quyền tối hậu giải thích hiến pháp và luật tiểu bang. Có thể kháng án lên toà liên bang sau khi chịu xét xử bởi toà tiểu bang nếu vụ án có liên quan đến các vấn đề liên bang.
Nhánh lập pháp liên bang gồm có Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, thẩm phán phục vụ ở toà này được bổ nhiệm trọn đời bởi Tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện, cùng với các toà án trực thuộc, trong đó có Toà Kháng án Liên bang và Toà án Liên bang cấp quận.
Theo cách này, Quốc hội khoá đầu tiên đã phân chia quốc gia thành nhiều quận tư pháp và thiết lập các toà án liên bang cấp quận. Từ đó hình thành cấu trúc hiện nay với Toà tối cao, 13 toà kháng án, 94 toà án quận và 2 toà án đặc biệt. Cho đến nay quốc hội vẫn giữ cho mình quyền thiết lập và huỷ bỏ các toà án liên bang, cũng như quyền quyết định số lượng thẩm phán trong hệ thống tư pháp liên bang. Dù vậy, Quốc hội không có quyền hủy bỏ Tối cao Pháp viện.
Hiện có ba cấp toà án liên bang với quyền xét xử các vụ án hình sự và dân sự giữa các cá nhân. Những toà khác như toà phá sản hoặc toà thuế vụ, là những toà án được thiết lập để giải quyết những vụ án thuộc một vài lãnh vực đặc biệt. Toà phá sản trực thuộc toà án quận nhưng không được xếp vào toà "Điều III" vì thẩm phán toà này không được bổ nhiệm trọn đời. Tương tự, toà án thuế vụ cũng không thuộc hệ thống toà án "Điều III".
Toà án liên bang cấp quận là nơi các vụ án được đem ra xét xử và phán quyết. Toà kháng án là nơi xử lại các vụ án đã được quyết định ở toà án quận, một số vụ kháng án này là do các cơ quan hành chánh. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ xem xét các vụ kháng án từ toà kháng án và từ toà tối cao tiểu bang (liên quan đến các vấn đề hiến pháp), cũng như tổ chức xét xử một số vụ việc khác.
Quyền tài phán liên bang có hiệu lực trên các vụ án dưới thẩm quyền Hiến pháp, các đạo luật của Quốc hội, hiệp ước của quốc gia, những vụ án liên quan đến các đại sứ, bộ trưởng và lãnh sự của nước ngoài tại Hoa Kỳ; những tranh tụng trong đó Chính phủ Hoa Kỳ là một bên; những tranh tụng giữa các tiểu bang (hoặc công dân tiểu bang) và nước ngoài (hoặc công dân nước ngoài); và những vụ án phá sản. Tu chính án thứ mười một dời bỏ khỏi quyền tài phán liên bang những vụ án, trong đó công dân của một tiểu bang là nguyên đơn và chính quyền của một tiểu bang khác là bị đơn. Cũng không thuộc quyền tài phán liên bang là những vụ án trong đó chính quyền một tiểu bang là nguyên đơn và công dân một tiểu bang khác là bị cáo.
Hiến pháp bảo đảm tính độc lập của nhánh tư pháp bằng cách quy định các thẩm phán liên bang được duy trì chức vụ "miễn là đạo đức tốt". Điều này có nghĩa là các thẩm phán phục vụ cho đến khi qua đời, về hưu hoặc từ nhiệm. Thẩm phán phạm tội khi đương chức sẽ bị luận tội theo thể thức áp dụng cho tổng thống hoặc các viên chức Chính phủ liên bang. Thẩm phán liên bang được bổ nhiệm bởi tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện. Một điều khoản khác của Hiến pháp ngăn cấm Quốc hội cắt giảm lương thẩm phán - Quốc hội có thể làm luật để ấn định mức lương thấp hơn cho các thẩm phán tương lai nhưng không thể cắt giảm lương các thẩm phán đương nhiệm.
== Bầu cử ==
Theo thời gian, thể thức bầu cử đã thay đổi đáng kể. Trong thời kỳ lập quốc, bầu cử là một vấn đề thuộc thẩm quyền tiểu bang, và chỉ hạn chế cho nam giới da trắng là chủ sở hữu đất. Các cuộc bầu cử trực tiếp được tổ chức để bầu thành viên của Viện Dân biểu (Hạ viện) và viện lập pháp các tiểu bang, mặc dù thể thức của chúng là khác nhau tại mỗi tiểu bang, trong khi hai thượng nghị sĩ đại diện cho mỗi tiểu bang tại thượng viện được chọn bởi đa số phiếu của viện lập pháp tiểu bang. Sau khi Tu chính án thứ mười bảy được phê chuẩn năm 1913, thành viên của cả hai viện Quốc hội mới được bầu trực tiếp.
Ngày nay, một phần là do Tu chính án thứ hai mươi sáu, công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc tài sản có quyền bầu phiếu phổ thông, và lưỡng viện quốc hội cũng được bầu trực tiếp.
Quyền đại diện tại Quốc hội của các lãnh thổ và quận liên bang Washington, D. C. bị giới hạn: cư dân Đặc khu Columbia được đặt dưới thẩm quyền luật liên bang và hệ thống thuế liên bang nhưng đại diện của họ tại quốc hội chỉ có quyền đại biểu không bỏ phiếu.
== Chính quyền tiểu bang, bộ tộc và địa phương ==
Chính quyền tiểu bang là định chế có ảnh hưởng lớn nhất trên đời sống thường nhật của người dân Mỹ. Mỗi tiểu bang đều có hiến pháp, chính quyền và luật lệ riêng. Đôi khi có những khác biệt lớn trong luật và thủ tục hành chính giữa các tiểu bang liên quan đến những vấn đề như quyền sở hữu, tội phạm, y tế và giáo dục. Chức danh dân cử đứng đầu tiểu bang là Thống đốc. Mỗi tiểu bang đều có một viện lập pháp (theo thể chế lưỡng viện ngoại trừ tiểu bang Nebraska chỉ có một viện), và hệ thống tòa án riêng. Tại một số tiểu bang, thẩm phán tòa tối cao và các tòa dưới được bầu chọn bởi người dân, trong khi ở những bang khác, các thẩm phán được bổ nhiệm theo thể thức áp dụng cho liên bang.
Sau phán quyết của Tối cao Pháp viện về vụ án Worcester chống Georgia, các bộ tộc người da đỏ được xem là "các dân tộc độc lập bên trong một quốc gia" được hưởng quyền tự trị dưới thẩm quyền liên bang, nhưng không hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của tiểu bang. Hàng trăm luật lệ, sắc lệnh hành pháp và vụ án đã làm thay đổi vị trí của các bộ tộc đối với chính quyền tiểu bang, nhưng vẫn giữ hai bên tách biệt nhau. Khả năng điều hành chính quyền của các bộ tộc là khác nhau, từ một hội đồng gọn nhẹ quản lý tất cả sự vụ của bộ tộc cho đến một bộ máy hành chính cồng kềnh và phức tạp với các ban ngành khác nhau. Các bộ tộc có quyền tự thành lập chính quyền với thẩm quyền đặt vào tay các hội đồng bộ tộc, chủ tịch hội đồng được dân bầu, hoặc những thủ lĩnh tôn giáo. Quyền công dân (và quyền bầu cử) thường được giới hạn chặt chẽ trong vòng những người có nguồn gốc da đỏ.
Những thiết chế chịu trách nhiệm điều hành chính quyền địa phương như thị trấn, thành phố hoặc quận, được quyền ban hành luật trong một số lĩnh vực như giao thông, giấy phép bán rượu và chăn giữ súc vật. Chức vụ dân cử cao cấp nhất của thị trấn hoặc thành phố thường là thị trưởng. Ở vùng Tân Anh, các thị trấn được điều hành theo thể thức dân chủ trực tiếp trong khi ở một vài tiểu bang như Đảo Rhode và Connecticut, chính quyền cấp quận không có hoặc có rất ít quyền lực, chỉ hiện hữu như một sự phân định địa giới. Tại các tiểu bang khác, chính quyền quận được ban cho nhiều thẩm quyền hơn như quyền thu thuế và duy trì các cơ quan thi hành pháp luật.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Các tác phẩm của the Federal government of the United States tại Dự án Gutenberg |
john milton.txt | John Milton (9 tháng 12, 1608 – 8 tháng 11, 1674) là một nhà thơ, soạn giả, nhà bình luận văn học người Anh, một công chức của Khối thịnh vượng chung Anh. Ông nổi tiếng với bài thơ "Thiên đường đã mất" (Paradise Lost), "Thiên đường trở lại" (Paradise Regained) và Areopagitica - bài luận lên án sự kiểm duyệt.
== Cuộc đời ==
John Milton sinh ngày 9 tháng 12 năm 1608 tại London trong một gia đình khá giả. Milton có được sự giáo dục rất tốt – đầu tiên là của gia đình, sau đó là ở Đại học Cambridge. Năm 1625 Milton vào học Đại học Cambridge và tốt nghiệp năm 1632 với bằng thạc sĩ văn chương (Master of Arts degree). Tiếp đó là thời gian 6 năm sống ở trang trại Horton (gần London) với quá trình tự học và hoàn thiện kiến thức về mọi mặt. Các năm 1637 – 1638 Milton đi du lịch Pháp, Ý, gặp gỡ, làm quen với Galileo Galilei, Hugo Grotius và những người nổi tiếng khác thời bấy giờ.
Năm 1639 Milton trở về London. Thời kỳ từ 1639 – 1660 ông viết nhiều tác phẩm về chính trị, triết học và tôn giáo: Về cải cách ở Anh (Of Reformation in England), Suy nghĩ về sự lãnh đạo của nhà thờ (The Reason of Church Government, 1641-1642), Về chế độ giám mục quản lý nhà thờ (Of Prelatical Episcopacy), Về giáo dục (Tractate of Education,1644). Năm 1641 ông cưới vợ và người vợ này đã bỏ ông ra đi chưa đầy một năm sau đó. Thất bại trong hôn nhân đã giúp ông viết tác phẩm Về sự ly hôn (The Doctrine and Discipline of Divorce, 1643)… Ngoài các tác phẩm chính trị triết học và tôn giáo, thời kỳ này ông viết các tác phẩm thơ kịch như: L'Allegro (1631), Il Penseroso (1631), Comus (1634), Lycidas (1638)…
Thời kỳ những năm 1660 – 1674 là những năm tháng tuổi già của Milton. Ông bị mù từ năm 1652 nên sự nghiệp chính trị cũng như tiền bạc đều gặp khó khăn. Thời kỳ này ông sống với người vợ thứ hai và hai cô con gái (người vợ đầu chỉ quay lại với ông một thời gian rồi chết sớm). Đối với Milton – đây là thời kỳ ông vô cùng cô đơn nhưng đồng thời cũng là thời kỳ mà tài năng văn học của ông phát triển rực rỡ nhất. Những tác phẩm lưu danh ông muôn thuở được viết ra ở thời kỳ này: Thiên đường đã mất (Paradise Lost), Thiên đường trở lại (Paradise Regained), Samson đấu sĩ (Samson Agonistes).
John Milton mất ngày 8 tháng 11 năm 1674 tại London. Là cây đại thụ của văn học Anh và thế giới nhưng tác phẩm của John Milton hầu như chưa hề được dịch ra tiếng Việt. Chỉ gần đây, tác phẩm Thiên đường đã mất mới được Hồ Thượng Tuy chuyển ra tiếng Việt (chưa in thành sách).
== Thiên đường đã mất ==
Thiên đường đã mất in năm 1667, Thiên đường trở lại và Samson đấu sĩ in năm 1670, 1671.
Thiên đường đã mất là thiên sử thi tôn giáo về sự phẫn nộ của những thiên sứ bị đày và về sự sa ngã của con người. Không như những thiên anh hùng ca của Homer, các thiên sử thi thời trung cổ hay Thần khúc của Dante, Thiên đường đã mất không có sự sáng tạo tự do về ý tưởng của tác giả. Milton dựa theo cốt truyện của Kinh Thánh, ngoài ra các nhân vật trong tác phẩm, phần lớn, là những nhân vật thần thánh, không cho phép mô tả một cách hiện thực. Mặt khác, thiên thần và quỷ Satan, Adam và Eve cũng như các nhân vật khác của tác phẩm này đã có hình ảnh bất di bất dịch trong sự hình dung của đại chúng cùng như trong sự giáo dục theo Kinh Thánh – Milton lại là nhà thơ tuân thủ theo những luật lệ của Thanh giáo khắt khe. Những đặc điểm này thể hiện ở sự có ít những hình tượng, còn những nhân vật từ Kinh Thánh chỉ có vẻ như mô phỏng lại.
Ý nghĩa vĩ đại của Thiên đường đã mất là ở bức tranh tâm lý của cuộc đấu tranh giữa trời và địa ngục. Dục vọng chính trị sục sôi trong con người Milton đã giúp cho ông tạo nên một hình ảnh quỷ Satan mà sự khát khao tự do của nó đã dẫn đến cái ác. Phần đầu của Thiên đường đã mất, nơi mà kẻ thù của Đấng sáng tạo tự hào về sự sa ngã của mình và xây dựng lên tòa lâu đài Pandemonium rồi đe dọa bầu trời – đấy là nguồn cảm hứng bất tận cho Lord Byron cũng như tất cả các nhà thơ lãng mạn khác về ma quỷ và lòng tin. Vẻ hùng tráng của Thanh giáo được thể hiện trong hình ảnh những linh hồn khao khát tự do, nguồn cảm xúc về một "thiên đường đã mất", bức tranh vẽ thiên đường bằng thơ, tình yêu của những con người đầu tiên và việc họ bị đuổi khỏi thiên đàng cùng với chất nhạc trong thơ đã mang lại sự bất tử cho Thiên đường đã mất. Bạn đọc có thể xem nội dung tóm tắt của Thiên đường đã mất và phần trích dẫn ở mục từ Thiên đường đã mất.
== Thiên đường trở lại và Samson đấu sĩ ==
Có nhiều người coi Thiên đường trở lại là phần kế tiếp của Thiên đường đã mất. Thực ra đây là một tác phẩm độc lập không hề có mối liên hệ gì với Thiên đường đã mất. Nếu Thiên đường đã mất là một thiên sử thi có độ lớn về không gian thì, ngược lại, Thiên đàng trở lại là một tác phẩm cô đặc trong một không gian hẹp hơn nhiều. Thiên đường trở lại mô tả câu chuyện những linh hồn ác cám dỗ Jesus Christ nhưng sự mô tả không thành công bằng Thiên đường đã mất.
Samson đấu sĩ cũng giống như như Comus, là một thử nghiệm nữa của Milton trong thể loại kịch thơ, mặc dù đây là tác phẩm để đọc hơn là tác phẩm để dàn dựng trên sân khấu. Dù sao, Samson đấu sĩ là tác phẩm xứng đáng khép lại con đường văn học đầy vinh quang của John Milton.
== Tác phẩm thơ và kịch ==
L'Allegro (1631)
Il Penseroso (1631)
Comus (a masque)(1634)
Lycidas (1638)
Poems of Mr John Milton, Both English and Latin (1645)
Paradise Lost (1667)
Paradise Regained (1671)
Samson Agonistes (1671)
Poems, &c, Upon Several Occasions (1673)
== Tác phẩm chính trị, triết học và tôn giáo ==
Of Reformation (1641)
Of Prelatical Episcopacy (1641)
Animadversions (1641)
The Reason of Church-Government Urged against Prelaty (1642)
Apology for Smectymnuus (1642)
Doctrine and Discipline of Divorce (1643)
Judgement of Martin Bucer Concerning Divorce (1644)
Of Education (1644)
Areopagitica (1644)
Tetrachordon (1645)
Colasterion (1645)
The Tenure of Kings and Magistrates (1649)
Eikonoklastes (1649)
Defensio pro Populo Anglicano [First Defense] (1651)
Defensio Secunda [Second Defense] (1654)
A treatise of Civil Power (1659)
The Likeliest Means to Remove Hirelings from the Church (1659)
The Ready and Easy Way to Establish a Free Commonwealth (1660)
Brief Notes Upon a Late Sermon (1660)
Accedence Commenced Grammar (1669)
History of Britain (1670)
Artis logicae plenior institutio [Art of Logic] (1672)
Of True Religion (1673)
Epistolae Familiaries (1674)
Prolusiones (1674)
A brief History of Moscovia, and other less known Countries lying Eastward of Russia as far as Cathay, gathered from the writings of several Eye-witnesses (1682) [1]
De Doctrina Christiana (1823)
== Trích Thiên đường đã mất ==
== Chú thích ==
Con người vĩ đại – tức là Giê-su Christ. Đề tài "Thiên đường trở lại" thông qua một cuộc sống ngoan đạo được Milton thể hiện ở tác phẩm sau.
Nàng thơ hãy hát lên – đây là lối xưng hô truyền thống trong các thiên sử thi thời Phục hưng, dựa theo những hình tượng thời cổ đại.
Người chăn chiên – tức Mô-sê, ông là tác giả của 5 cuốn trong Kinh Cựu Ước.
Sinai và Oreb – những miền đất thánh trong Kinh Thánh. Oreb là nơi Mô-sê chăn chiên, còn Sinai là nơi ông nhận được bộ luật.
- Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. 2 Thiên sứ của Ðức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi (Cựu Ước_Xuất hành. III)
- Tháng thứ ba kể từ khi ra khỏi đất Ai-cập, chính ngày đó con cái Ít-ra-en tới sa mạc Xi-nai. 2 Họ đã nhổ trại rời Rơ-phi-đim tới sa mạc Xi-nai, và dựng trại trong sa mạc. Ít-ra-en đóng trại ở đó, đối diện với núi (Cựu Ước_Xuất hành. XIX).
Đồi Sion và suối Siloa ở Jerusalem những nơi này gắn với tên tuổi của vua David – tác giả của các bản Thánh ca trong Cựu Ước.
Bay trên miền Aonia – nghĩa là trên núi Helicon ở miền Aonia. Theo truyền thuyết Hy Lạp thì trên núi Helicon có những dòng suối thiêng của thơ ca, nơi cư ngụ của các Nàng Thơ. Đây cũng là nơi có dòng suối mà Narcissus đã say sưa tự ngắm mình.
Nguyên vẹn trong văn và cả trong thơ – là câu trích từ tác phẩm Orlando furioso, trường ca của Ludovico Ariosto có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn học châu Âu Thời Mới.
Những con tim liêm khiết cho đền – là câu xuất phát từ lời của thánh Phao-lô: "Anh em không biết sao: anh em là Ðền thờ của Thiên Chúa, và Thần khí Thiên Chúa ngự trong anh em?" (Thư thứ nhất của thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rinh-tô III,16).
Người giống như chim bồ câu muôn thuở… - Là hình tượng Chúa Trời trong Cựu Ước và Chúa Giê-su trong Tân Ước sau khi chịu phép rửa xong:
- Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. 2 Ðất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. (Cựu Ước_Sáng Thế Ký 1, 2.)
- Khi Ðức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì kìa các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. (Tân Ước _Ma-thi-ơ II, 16).
== Liên kết ngoài ==
Many 17th century digital facsimiles of Milton's works by John Geraghty
"The masque in Milton's Arcades and Comus" by Gilbert McInnis
Milton's cottage
Các tác phẩm của John Milton tại Dự án Gutenberg
Famous quotations
Milton's Paradise: exhibit review: marking the poet's 400th 2008 ArtsEditor.com article
Site dedicated to Milton
Books on Milton's life and works |
29 tháng 1.txt | Ngày 29 tháng 1 là ngày thứ 29 trong lịch Gregory. Còn 336 ngày trong năm (337 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
757 – An Khánh Tự hợp mưu cùng những người khác sát hại cha là Hoàng đế Đại Yên-Thủ lĩnh loạn An Sử An Lộc Sơn nhằm kế vị, tức ngày 5 tháng 1 năm Đinh Dậu.
863 - Quân Nam Chiếu đánh chiếm Giao Chỉ, An Nam đô hộ Sái Tập của triều Đường nhảy xuống biển tự tử, tức ngày Canh Ngọ (7) tháng 1 năm Quý Mùi.
904 – Giáo hoàng Sergiô III ngưng nghỉ hưu để đoạt lấy quyền vị từ Giáo hoàng đối lập Christopher bị phế truất.
1258 – Quân Mông Cổ bị quân Đại Việt tập kích, bị thiệt hại nặng, rút lui khỏi Đông Bộ Đầu và Thăng Long (24 tháng 12 năm Đinh Tỵ).
1616 – Hai người Hà Lan Jacob le Maire và Willem Schouten đi thuyền vòng qua mũi Sừng ở cực nam quần đảo Tierra del Fuego tại Nam Mỹ
1856 – Nữ vương Victoria của Anh Quốc thành lập Huân chương Chữ thập Victoria.
1861 – Kansas được nhận làm tiểu bang thứ 34 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
1871 – Chiến tranh Pháp-Phổ: Trận Pontarlier bắt đầu.
1877 – Chiến tranh Tây Nam bắt đầu tại Nhật Bản giữa triều đình trung ương và phiên Satsuma.
1886 – Karl Benz có bằng sáng chế cho ô tô chạy bằng xăng thành công đầu tiên.
1929 – Tiểu thuyết phản chiến Phía Tây không có gì lạ của cựu binh Đức Erich Maria Remarque được phát hành.
1943 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trong ngày đầu tiên của Trận chiến đảo Rennell ở Quần đảo Solomon, lực lượng Nhật Bản phóng ngư lôi vào tàu tuần dương hạng nặng USS Chicago của Hoa Kỳ, khiến nó hư hại nặng.
1959 – Bộ phim Người đẹp ngủ trong rừng của Walt Disney lần đầu được công chiếu.
1964 – Thế vận hội Mùa đông IX được khai mạc tại thành phố Innsbruck của Áo.
1989 – Hungary trở thành quốc gia đầu tiên thuộc phe cộng sản thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc.
2002 – Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush mô tả "các chính thể tài trợ cho khủng bố" là một Trục ma quỷ, ông liệt kê ba nước Iraq, Iran và Triều Tiên.
2010 – Nguyên mẫu Chiến đấu cơ phản lực PAK FA của hãng Sukhoi Nga tiến hành chuyến bay đầu tiên từ sân bay Dzemgi ở vùng Khabarovsk tại Nga.
== Sinh ==
919 – Da Luật Nguyễn, tức Liêu Thế Tông, hoàng đế triều Liêu, tức ngày Giáp Tý (25) tháng 12 năm Mậu Dần (m. 951)
1737 – Thomas Paine, tác gia, nhà hoạt động, nhà lý luận người Anh-Mỹ (m. 1809)
1824 – Oktavio Philipp von Boehn, tướng lĩnh Phổ (m. 1899)
1838 – Edward Morley, nhà khoa học người Mỹ (m. 1923)
1843 – William McKinley, Tổng thống Hoa Kỳ (m. 1901)
1847 – Hermann von Randow, tướng lĩnh Phổ (m. 1911)
1853 – Kitasato Shibasaburo, nhà vi khuẩn học người Nhật Bản, tức 20 tháng 12 năm Nhâm Tý (m. 1931)
1860 – Anton Pavlovich Chekhov, thầy thuốc và tác gia người Nga, tức 17 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1904)
1866 – Romain Rolland, tác gia người Pháp, đoạt giải Nobel (m. 1944)
1877 – Georges Catroux, tướng lĩnh và nhà ngoại giao người Pháp (m. 1969)
1899 – Cù Thu Bạch, nhà hoạt động chính trị người Trung Quốc (m. 1935)
1945 – Ibrahim Boubacar Keïta, Thủ tướng Mali
1947 – Linda B. Buck, nhà sinh vật học người Mỹ, đoạt giải Nobel
1953 – Đặng Lệ Quân, ca sĩ người Đài Loan (m. 1995)
1953 – Hwang U-seok, nhà sinh vật học người Hàn Quốc
1954 – Oprah Winfrey, dẫn chương tình truyền hình, diễn viên, nhà sản xuất người Mỹ
1960 – Gia Carangi, người mẫu người Mỹ (m. 1986)
1961 – Mochizuki Minetarō, mangaka người Nhật Bản
1966 – Romário, cầu thủ bóng đá người Brasil
1970 – Heather Graham, diễn viên người Mỹ
1970 – Paul Ryan, chính trị gia người Mỹ
1982 – Adam Lambert, ca sĩ và diễn viên người Mỹ
1984 – Natalie du Toit, vận động viên bơi người Nam Phi
1985 – Isabel Lucas, diễn viên người Úc
1986 – Sotaro, diễn viên, người mẫu người Mỹ-Nhật
1988 – Jessica Iskandar, diễn viên người Indonesia
== Mất ==
1119 – Giáo hoàng Gêlasiô II (s. 1060)
1820 – George III, quốc vương của Anh Quốc (s. 1738)
1899 – Alfred Sisley, họa sĩ người Pháp-Anh Quốc (s. 1839)
1907 – Trần Tế Xương, tác gia người Việt Nam (s. 1870)
1912 – Herman Bang, tác gia người Đan Mạch (s. 1857)
1933 – Sara Teasdale, thi nhân người Mỹ (s. 1884)
1934 – Fritz Haber, nhà hóa học người Đức, đoạt giải Nobel (s. 1868)
1944 – Nguyễn Thị Quang Thái, nhà hoạt động người Việt Nam (s. 1915)
1962 – Fritz Kreisler, nghệ sĩ violon và nhà soạn nhạc người Áo-Mỹ (s. 1875)
1963 – Robert Frost, thi nhân người Mỹ (s. 1874)
1992 – Đỗ Thế Chấp, quân nhân người Việt Nam (s. 1922)
2001 – Lê Dung, ca sĩ người Việt Nam (s. 1951)
2005 – Hoàng Phê, nhà ngôn ngữ học người Việt Nam (s. 1919)
2009 – Hélio Gracie, võ sư người Brasil (s. 1913)
2011 – Vũ Đình Hòe, luật sư, nhà báo, chính trị gia người Việt Nam (s. 1912)
2012 – Oscar Luigi Scalfaro, chính trị gia và quan toàn người Ý (s. 1918)
2014 – Trần Chung Ngọc, nhà vật lý học, tác gia người Việt Nam-Mỹ (s. 1931)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
học viện kỹ thuật quân sự.txt | Học viện Kỹ thuật Quân sự, tên gọi khác: Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, là một viện đại học kỹ thuật tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, một trong những trường đại học kỹ thuật hàng đầu Việt Nam, trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam, là đại học nghiên cứu- ứng dụng và đào tạo kỹ sư quân sự, kỹ sư dân sự, cán bộ chỉ huy và quản lý trình độ Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ trong các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ quân sự, công nghiệp quốc phòng và công nghệ cao phục vụ sự nghiệp hiện đại hoá quân đội và các ngành kinh tế quốc dân..
== Trụ sở và các chi nhánh ==
Tổng diện tích mặt bằng các chi nhánh và trụ sở chính của Học viện Kỹ thuật Quân sự là hơn 50ha
Trụ sở chính (khu A): Số 236, Đường Hoàng Quốc Việt, Phường Cổ Nhuế 1, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội (7 ha); điện thoại: (+ 84) (4) 37544949; (069) 515 226; (069) 515.205; (069) 698 260; (069) 698 259.
Cơ sở 2: Số 71 Cộng Hòa, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; điện thoại: 069 662 644, trụ sở của Trung tâm Khoa học và Đào tạo phía Nam
Các chi nhánh khác:
Khu 125, đường Chu Văn An, phường Liên Bảo, Thành phố Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc, (10 ha): Trụ sở của Trung tâm Huấn luyện 125.
Khu Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội, (6ha): Ký túc xá hiện đại 15 tầng cho sinh viên; Trung tâm Công nghệ; Trung tâm dạy nghề lái xe.
Cơ sở ở Nha Trang: Trụ sở của Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu miền Trung.
Khu công nghệ cao Hòa Lạc, (23ha).
Khu 361, Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, (3ha): Khu nhà công vụ, chung cư, văn phòng các Công ty và
Khu 212, Tân Xuân, Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội, (2ha): Khu Nhà công vụ và chung cư cho cán bộ, giảng viên Học viện (đối diện cổng khu đô thị Ciputra);
== Tầm nhìn, sứ mệnh ==
Đề án xây dựng và phát triển Học viện Kỹ thuật Quân sự đến 2020 tầm nhìn 2030 xác định mục tiêu: "Xây dựng Học viện thành trường đại học nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực hàng đầu của Quân đội và Nhà nước, đạt trình độ và chất lượng quốc tế; đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao cho quốc phòng - an ninh và kinh tế - xã hội, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và xây dựng Việt Nam thành nước công nghiệp phát triển.
Học viện là nhà trường có uy tín cao, là địa chỉ hợp tác, đầu tư tin cậy của các cơ quan đào tạo, nghiên cứu và các doạnh nghiệp trong và ngoài quân đội và quốc tế. Phấn đấu đến năm 2030, Học viện là một trong 10 trường đại học hàng đầu của đất nước và nằm trong top 300 trường đại học hàng đầu thế giới"
== Tiềm lực ==
Học viện Kỹ thuật quân sự là đại học nghiên cứu (Research University) quốc gia, được tổ chức theo mô hình trường đại học kỹ thuật tổng hợp, vừa đào tạo và nghiên cứu ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào thiết kế, chế tạo, sản xuất và khai thác sử dụng các phương tiện kỹ thuật quân sự, vũ khí cũng như phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
=== Đội ngũ cán bộ ===
Hơn 1300 cán bộ với gần 900 giảng viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, trong đó:
40 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và Nhà giáo Ưu tú;
160 giảng viên được phong học hàm Giáo sư, Phó giáo sư;
400 cán bộ đạt học vị Tiến sĩ Khoa học và Tiến sĩ chuyên ngành.
=== Cơ sở vật chất ===
Tổng diện tích mặt bằng của Trụ sở chính tại 236-Hoàng Quốc Việt và các chi nhánh khác: hơn 50 hecta.
Hệ thống các giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm,khu giáo dục thể chất, ký túc xá...; các trang thiết bị nghiên cứu và giảng dạy hiện đại, đồng bộ phù hợp với chương trình đào tạo Học viện đang áp dụng, cụ thể: hơn 200 giảng đường, phòng đào tạo từ xa, phòng thí nghiệm, sân vận động, bể bơi... Thư viện với trên 2000m2 sử dụng với 76.000 đầu sách, cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng thông tin trang bị đồng bộ, có hệ thống phòng đọc, phòng tra cứu Internet. Hệ thống thư viện điện tử với nhiều cơ sở dữ liệu giáo trình,tài liệu, máy chủ và máy trạm khai thác dữ liệu trực tuyến trên Internet…
=== Hợp tác ===
Trong gần 50 năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã khẳng định chất lượng đào tạo và thương hiệu của mình. Từ năm 2002, Nhà trường được Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ đào tạo hệ kỹ sư Dân sự phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trường đã tổ chức đào tạo liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước: Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Hà Nội, Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Bauman, Đại học Kỹ thuật Hàng không Matxcơva (Liên bang Nga); Đại học Khoa học và công nghệ Thanh Hoa, Đại học Khoa học và công nghệ Nam Kinh (Trung Quốc), đồng thời Trường còn gửi cán bộ đi đào tạo tại Anh, Ôtraylia, Nhật Bản, Séc, Đức,...
Hiện nay (2015), Học viện có quan hệ hợp tác với trên 50 trường đại học trên thế giới.
== Lịch sử hình thành và phát triển ==
Ngày 08/08/1966 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 146/CP thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa
Ngày 28/10/1966, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Phân Hiệu II Đại học Bách Khoa đồng thời khai giảng khóa đào tạo 1 tại Thủ đô Hà Nội. Từ đó tới nay, ngày 28/10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Nhà trường.
Ngày 18/6/1968, Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển "Phân hiệu II Đại học Bách khoa" thuộc Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp thành "Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự" thuộc Bộ Quốc phòng.
Ngày 15/12/1981, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện Kỹ thuật Quân sự trên cơ sở trường Đại học Kỹ thuật Quân sự.
Ngày 06/5/1991: Thủ tướng Chính phủ quyết định cho Học viện Kỹ thuật Quân sự được sử dụng tên dân sự Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn với 2 nhiệm vụ đào tạo quân sự và dân sự.
== Lãnh đạo hiện nay ==
== Cơ cấu tổ chức ==
=== Khoa, Viện đào tạo ===
Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt (đào tạo Kỹ sư: Công trình quân sự; Công trình biển, đảo; Xây dựng dân dụng và công nghiệp; Cầu đường; Sân bay; Địa Tin học; Trắc địa-bản đồ; Viễn thám và GIS)
Khoa Hàng không Vũ trụ (đào tạo Kỹ sư: Thiết kế chế tạo tên lửa; Kỹ thuật hàng không; Thiết bị và Công nghệ vũ trụ; Động cơ phản lực; Cơ điện tử và Rô-bốt; Hệ thống sản xuất tự động hóa)
Khoa Công nghệ Thông tin (đào tạo Kỹ sư: Tin học; Công nghệ thông tin; Khoa học máy tính; Công nghệ trò chơi và đa phương tiện; Hệ thống thông tin; Hệ thống thông tin di động; Mạng máy tính và truyền thông; Công nghệ phần mềm; An ninh thông tin)
Khoa Vô tuyến Điện tử (đào tạo Kỹ sư: Đo lường; Thông tin; Radar; Tác chiến điện tử; Thiết kế điện tử; Thiết kế-chế tạo thiết bị thông tin; Thiết kế-chế tạo Radar; Điện tử-Viễn thông; Vô tuyến điện tử hàng không; Vô tuyến điện tử hải quân; Công nghệ điện tử)
Khoa Kỹ thuật Điều khiển (đào tạo Kỹ sư: Tên lửa phòng không; Tên lửa hải quân; Ngư lôi; Thủy lôi; Điện tử y sinh; Thiết kế chế tạo hệ thống điều khiển; Thiết bị điện tàu; Pháo tàu; Thiết bị điện trên xe; Trạm nguồn điện quân sự; Thiết bị hàng không; Vũ khí hàng không; Kỹ thuật các hệ thống điều khiển; Tự động hóa; Kỹ thuật máy tính)
Khoa Cơ khí (đào tạo Kỹ sư: Cơ học kỹ thuật; Kỹ thuật thủy khí; Kỹ thuật nhiệt-lạnh; Kỹ thuật Thiết kế; Công nghệ chế tạo máy; Công nghệ chế tạo vũ khí; Gia công áp lực; Công nghệ chế tạo đạn; Công nghệ vật liệu; Đúc, Nhiệt luyện và Xử lý bề mặt; Quản lý công nghiệp)
Khoa Động lực (đào tạo Kỹ sư: Xe quân sự; Kỹ thuật ô-tô; Tăng-Thiết giáp; Xe máy công binh; Động cơ nhiệt; Máy tàu thủy; Máy xây dựng)
Khoa Vũ khí (đào tạo Kỹ sư: Vũ khí (Súng & Pháo); Thiết kế vũ khí; Đạn dược; Thiết kế đạn-ngòi-mìn; Khí tài quang và Quang điện tử; Thuốc phóng-Thuốc nổ)
Khoa Kỹ thuật Hóa học (đào tạo Kỹ sư: Hóa phóng xạ; Phòng hóa; Công nghệ hóa học; Thiết bị và khí tài hóa học; Kỹ thuật môi trường)
Khoa Toán-Lý kỹ thuật: đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ Toán, Vật lý và kiến thức khoa học toán-lý;
Khoa Chỉ huy, Tham mưu kỹ thuật: đào tạo cán bộ chỉ huy, quản lý kỹ thuật;
Khoa Khoa học Quân sự: đào đạo kiến thức quân sự cơ bản, cơ sở;
Khoa Công tác Đảng và Chính trị: đào tạo khối kiến thức về xây dựng đảng và chính quyền nhà nước
Khoa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: đào tạo khối kiến thức lý luận
Khoa Ngoại ngữ: đào tạo tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Việt thực hành
=== Viện, Trung tâm nghiên cứu ===
Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến
Viện Công nghệ Mô phỏng
Viện Tích hợp hệ thống
Trung tâm Công nghệ thông tin
Trung tâm Công nghệ Cơ khí và Tự động hóa
Trung tâm R&D Điện tử viễn thông
Trung tâm R&D Kỹ thuật máy tính
Trung tâm R&D Hệ thống điều khiển thiết bị bay
Trung tâm R&D Tên lửa
Trung tâm R&D Vũ khí
Trung tâm R&D Hóa Lý kỹ thuật
Trung tâm Huấn luyện 125
Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phía Nam
Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo miền Trung
=== Các Học viện, Trường, Viện, Trung tâm hợp tác quốc tế ===
Viện Đào tạo và Nghiên cứu Việt-Nga: đào tạo và chuyển giao 2 chương trình tiên tiến: Hệ thống điều khiển các thiết bị bay; Điều khiển và Tin học trong các hệ thống kỹ thuật
Học viện LABVIEW (LABVIEW Academy) Việt Nam - Hoa Kỳ
Trung tâm KH & CN Việt-Nhật:
Trung tâm Công nghệ Việt-Hàn
=== Cơ quan trực thuộc ===
Hội đồng Khoa học và Đào tạo
Phòng Chính trị
Phòng Đào tạo
Phòng Sau đại học
Phòng Khoa học quân sự
Phòng Thông tin Khoa học
Phòng Kỹ thuật
Phòng Hậu cần
Phòng Hợp tác Quốc tế và Quản lý lưu học sinh
Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo
Văn phòng
Phòng Tài chính
Ban quản lý các dự án xây dựng cơ bản
Ban quản lý dự án "Đầu tư hiện đại hóa các PTN"
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật
=== Hệ quản lý học viên ===
Hệ quân sự: (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4)
Hệ dân sự
Hệ QLHV Sau đại học
Hệ Quốc tế
Hệ Tại chức
=== Đơn vị trực thuộc khác ===
Trung tâm ngoại ngữ
Trung tâm Cơ khí động lực và dạy nghề xe cơ giới
Công ty đầu tư và phát triển công nghệ AIC
== Tổ chức Đảng ==
=== Tổ chức chung ===
Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Học viện Kỹ thuật quân sự bao gồm:
Đảng bộ Học viện Kỹ thuật quân sự là cao nhất.
Đảng bộ các Hệ quản lý học viện, Viện nghiên cứu, Trung tâm trực thuộc Học viện Kỹ thuật quân sự
Đảng bộ các Tiểu đoàn quản lý học viên, các Khoa
Chi bộ thuộc các Phòng, Ban, Bộ môn, các đơn vị cơ sở.
=== Đảng ủy Học viện ===
Ban Thường vụ
Bí thư: Chính ủy Học viện
Phó Bí thư: Giám đốc Học viện
Ủy viên Thường vụ: Phó Giám đốc Học viện
Ủy viên Thường vụ: Phó Giám đốc Học viện
Ủy viên Thường vụ: Phó Giám đốc Học viện
Ban Chấp hành Đảng bộ
Đảng ủy viên: Phó Giám đốc Học viện
Đảng ủy viên: Phó Chính ủy Học viện
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Chính trị
Đảng ủy viên: Chánh Văn phòng
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Đào tạo
Đảng ủy viên: Viện trưởng Viện nghiên cứu (một trong 5 Viện)
Đảng ủy viên: Viện trưởng Viện nghiên cứu (một trong 5 Viện)
Đảng ủy viên: Chủ nhiệm Khoa
Đảng ủy viên: Chủ nhiệm Khoa
Đảng ủy viên: Tiểu đoàn trưởng (một trong các Tiểu đoàn)
Đảng ủy viên: Tiểu đoàn trưởng (một trong các Tiểu đoàn)
Đảng ủy viên: Giám đốc Trung tâm
Đảng ủy viên: Giám đốc Trung tâm
Đảng ủy viên: Giám đốc Trung tâm
== Thành tích ==
Huân chương Hồ Chí Minh (2011)
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2005)
Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001), hạng Ba (1991), hạng Nhì (2016)
Huân chương Quân công hạng Nhất (1984, 1996)
Huân chương Quân công hạng Nhì (1976)
Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Ba (1969)
Huân chương Chiến công hạng Nhất (2003), hạng Nhì (1979), hạng Ba (1974).
Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2004)
Huân chương Ăng co hạng Nhì của Nhà nước Campuchia (1982)
Huân chương Độc lập hạng Nhất của Nhà nước Lào (2004)
== Đào tạo ==
=== Đại học ===
Thời gian đào tạo là 5 năm, mỗi năm 2 học kỳ. Đào tạo về Các môn học khối kiến thức cơ bản, Các môn học khối cơ sở ngành và chuyên ngành, Các môn học khối kiến thức chuyên ngành theo hướng đào tạo, Khối kiến thức về Khoa học xã hội-Nhân văn và Giáo dục quốc phòng.
Hệ kỹ sư quân sự: đào tạo kỹ sư phục vụ trong quân đội. Học viên đào tạo hệ kỹ sư quân sự được bảo đảm mọi mặt trong sinh hoạt và học tập,được Bộ Quốc phòng phân công ngành học, nơi công tác khi tốt nghiệp ra trường. Hiện nay, Học viện đào tạo 42 chuyên ngành kỹ sư quân sự;
Hệ kỹ sư dân sự: đào tạo kỹ sư cho nền kinh tế quốc dân phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sinh viên dân sự được hưởng mọi quyền lợi, thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và đóng học phí theo quy định chung của Nhà nước đối với sinh viên các trường đại học công lập. Hiện nay, Học viện đào tạo 26 chuyên ngành kỹ sư dân sự: công nghệ thông tin; khoa học máy tính; hệ thống thông tin; công nghệ phần mềm; truyền thông và mạng máy tính; an toàn thông tin; công nghệ hóa học, kỹ thuật môi trường; kỹ thuật điện-điện tử; điều khiển công nghiệp; tự động hóa; điện tử viễn thông; điện tử y sinh; cơ điện tử; kỹ thuật hàng không; kỹ thuật hệ thống sản xuất; cơ kỹ thuật; kỹ thuật thủy khí; kỹ thuật nhiệt lạnh; kỹ thuật thiết kế; chế tạo máy; gia công áp lực; kỹ thuật ô-tô; máy xây dựng; xây dựng dân dụng và công nghiệp; cầu đường bộ;...
=== Thạc sĩ ===
Đào tạo các chuyên ngành [2]:
Kỹ thuật cơ khí (Công nghệ chế tạo máy, gia công áp lực);
Cơ khí động lực (Động cơ nhiệt; Kỹ thuật ô tô; Máy xây dựng; Tăng-thiết giáp);
Kỹ thuật Cơ điện tử (Cơ điện tử và rô-bốt, các hệ thống quang và quang điện tử);
Cơ học kỹ thuật (cơ học ứng dụng, cơ học máy, vũ khí, đạn dược);
Cơ học vật thể rắn;
Quản lý khoa học và công nghệ;
Quản lý kinh tế- kỹ thuật;
Chỉ huy, tham mưu kỹ thuật;
Tự động hóa;
Điều khiển các thiết bị bay;
Kỹ thuật điện tử;
Kỹ thuật rađa & dẫn đường;
Xây dựng sân bay;
Xây dựng đường ô tô và đường thành phố;
Xây dựng công trình ngầm, mỏ và các công trình đặc biệt;
xây dựng dân dụng và công nghiệp;
Khoa học máy tính;
Hệ thống thông tin;
Kỹ thuật phần mềm;
Kỹ thuật vật liệu;
Kỹ thuật hoá học;
Toán-Tin ứng dụng.
=== Tiến sĩ ===
Đào tạo các chuyên ngành: Khoa học máy tính; Hệ thống thông tin; Kỹ thuật xe máy; Kỹ thuật động cơ nhiệt; Tự động hoá; Lý thuyết điều khiển và điều khiển tối ưu; Điều khiển các thiết bị bay; Cơ sở toán của tin học; Kỹ thuật điện tử; Kỹ thuật rada - dẫn đường; Xây dựng sân bay; Xây dựng các công trình đặc biệt; Toán ứng dụng; Tổ chức, chỉ huy kỹ thuật; Cơ học vật thể rắn; Công nghệ chế tạo máy; Cơ học kỹ thuật; Cơ điện tử.
== Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu ==
Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, Học viện đã được Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ tổ chức dự khoá cho lưu học sinh trước khi gửi đi đào tạo ở Liên Xô và Đông Âu. Nhiều lưu học sinh sau khi dự khóa tại Học viện đi đào tạo ở nước ngoài, đến nay đã trở thành các tướng lĩnh trong Quân đội, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước: Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Thứ trưởng Trần Việt Thanh, Thứ trưởng Lê Nam Thắng, Thượng tướng Trương Quang Khánh, Thượng tướng Nguyễn Văn Hiến, Trung tướng Hoàng Anh Xuân, Trung tướng Phạm Thế Long, Trương Gia Bình- FPT, Bùi Quang Ngọc- FPT, Nguyễn Thành Nam- FPT, Nguyễn Mạnh Hùng- Viettel, Tống Viết Trung- Viettel, Giáo sư Nguyễn Đình Công, Giáo sư Lê Tuấn Hoa...[3] Bên cạnh việc tuyển chọn học viên hệ quân sự đi đào tạo ở nước ngoài, Học viện Kỹ thuật Quân sự còn tuyển chọn, tạo điều kiện, hỗ trợ các thủ tục cho các sinh viên, thanh niên ưu tú có kết quả trúng tuyển cao vào hệ dân sự của Học viện (có nguyện vọng) đi đào tạo ở một số nước như: Liên bang Nga, Ukraina, Đức, Nhật, Úc, Séc, Trung Quốc
Ngày 27/02/2014, Học viện KTQS phối hợp với Cục Đối ngoại đã long trọng tiếp đón và làm việc với GS. Ryosei Kokubun - Hiệu trưởng Trường Đại học Phòng vệ Nhật Bản.
Ngày 06/03/2014 Giáo sư Chang Nien Yin thuộc Trường Đại học Colorado (Hoa Kỳ), đến giảng dạy, trao đổi chuyên môn trong lĩnh vực địa kỹ thuật công trình và đề xuất mô hình đào tạo sau đại học đồng hướng dẫn của Học viện Kỹ thuật Quân sự và Trường Đại học Colorado (University of Colorado Denver).
Ngày 02/4/2014, Viện Tích hợp hệ thống đã long trọng tiếp đón và làm việc với Đoàn đại diện của công ty Zien Solutions và các giảng viên của Trường San Jose State University – Hoa kỳ
Hiện nay, Học viện Kỹ thuật Quân sự (Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn) có quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học trong và ngoài nước, đặc biệt là với các trường đại học nổi tiếng của các quốc gia khác nhau và một số Học viện Quân sự của Liên bang Nga, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Ba Lan, Australia, Cộng hòa Séc, Hoa Kỳ...
Từ năm 2010, Chính phủ đã chọn Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn và đưa trường đại học này thành trung tâm nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu làm chủ và phát triển của khoa học công nghệ của Việt Nam. Trong những năm sắp tới, Đại học Lê Quý Đôn tập trung đào tạo những ngành mũi nhọn và có thế mạnh như: tên lửa, hàng không,đóng tàu, điện tử, chế tạo máy, toán ứng dụng, tin học, tự động hoá, công trình ngầm, công trình biển, đảo, … Ngôn ngữ giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Nga. Bằng cấp, tín chỉ của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn được Liên bang Nga và Việt Nam công nhận.
Ngày 18/4/2013, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã làm việc với Bộ GD-ĐT Việt Nam và Bộ Giáo dục và Khoa học LB Nga để thống nhất việc ký kết thành lập Trường ĐH Công nghệ Việt – Nga trên cơ sở nâng cấp Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn. Phía Nga sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng chương trình đào tạo về các ngành khoa học kỹ thuật mũi nhọn hiện đại. Chương trình học sẽ giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Nga; LB Nga sẽ cử giáo viên sang Việt Nam giảng dạy tại Trường ĐH Kỹ thuật Lê Quý Đôn và ngược lại Trường ĐH Kỹ thuật Lê Quý Đôn sẽ cử giáo viên, sinh viên sang Nga thực tập và nâng cao trình độ nghiệp vụ,... Mục tiêu là xây dựng Trường Đại học Công nghệ Việt - Nga thành đại học Xuất sắc. Theo kế hoạch, giai đoạn 2020-2025, trường sẽ trở thành đại học nghiên cứu đa ngành có uy tín trong khu vực và quốc tế.
Hiện nay (tháng 9/2013), Học viện Kỹ thuật sự đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo 02 chương trình tiên tiến (CTTT): "Hệ thống điều khiển các thiết bị bay" hợp tác với trường Đại học Kỹ thuật Quốc gia Moskva Bauman và "Điều khiển và Tin học trong các hệ thống kỹ thuật" hợp tác với trường Đại học Bách khoa Saint Petersburg
Những năm tiếp theo, sẽ tiếp tục triển khai các chương trình tiên tiến: toán ứng dụng; xây dựng hầm và công trình ngầm; xây dựng công trình đặc biệt (biển, đảo,..); kỹ thuật vô tuyến và viễn thông; kỹ thuật điện tử và công nghệ máy tính; kỹ thuật hàng không và vũ trụ; công nghệ chế tạo thiết bị bay; Kinh tế và Quản trị kỹ thuật; cầu- đường; ô-tô; xe máy công trình... hợp tác các trường: Đại học vật lý kỹ thuật Moskva, Đại học Bách khoa Saint Petersburg; Đại học Công nghệ Hoá học Moskva Mendeleev; Đại học Tổng hợp Quốc gia Tula; Đại học Hàng không Moskva; Đại học Giao thông Đường bộ Moskva; Đại học Kỹ thuật Biển Saint Petersburg; Đại học Cơ khí, Quang học và Công nghệ thông tin; Đại học Kỹ thuật điện Saint Peterburg;Đại học Xây dựng Moskva; Đại học Mỏ Moskva; Đại học Tổng hợp Minsk;...
Chiều 13/12/2016, PGS. TS Lê Kỳ Nam - Phó Hiệu trưởng Đại học Kỹ thuật (ĐHKT) Lê Quý Đôn đã có buổi đón tiếp và làm việc với Đoàn công tác của Công ty Media Gain, Nhật Bản do Ngài Yoshito Sengoku - nguyên Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản, cố vấn cao cấp Công ty Media Gain làm Trưởng đoàn.
Sáng 13/12/2016, PGS. TS Lê Kỳ Nam - Phó Hiệu trưởng Đại học Kỹ thuật (ĐHKT) Lê Quý Đôn đã đón tiếp Đoàn công tác của Trường Đại học Bang Indiana (ISU), Hoa Kỳ do TS Chris MacGrew - Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế/ISU làm Trưởng đoàn, đến thăm và làm việc với Trường.
== Hiệu trưởng, Giám đốc qua các thời kỳ ==
== Chính ủy qua các thời kỳ ==
1968-1976, Đặng Quốc Bảo, Thiếu tướng (1974)
1976-1977, Trần Đình Cửu, Thiếu tướng (1980)
1977-1979, Hoàng Phương, Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982)
Trịnh Đình Thắng, Thiếu tướng
Nguyễn Văn Tốn, Thiếu tướng
-2008, Hoàng Khánh Hưng, Trung tướng (2007), nguyên Chính ủy Binh chủng Công binh (1995-2002)
2008-2012, Vũ Văn Luận, Thiếu tướng (2007), Trung tướng (2011), nguyên Cục trưởng Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị
2012-nay, Trần Tấn Hùng, Thiếu tướng (2010), Trung tướng (2014), nguyên Phó CN Khoa Lý luận Mac-Lenin, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy Học viện KTQS
== Phó Giám đốc qua các thời kỳ ==
1966-1979, Lê Văn Chiểu: Thiếu tướng (1984), PGS. TS., Phó chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng
Phạm Huy Chương: Đại tá, GS. TS, Nhà giáo nhân dân, nguyên Chủ nhiệm Khoa Vũ khí
Vũ Nhật Minh: Thiếu tướng (2008), PGS. TS, Nhà giáo ưu tú
Mai Ngọc Tác: Thiếu tướng (2008)
2008-2015, Vũ Thanh Hải: Thiếu tướng (2009), PGS.TS, nguyên Chủ nhiệm Khoa Vô tuyến Điện tử
2012-nay, Nguyễn Ngọc Sơn: Thiếu tướng (2013), nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 1
2012-nay, Nguyễn Lạc Hồng: Thiếu tướng (2014), PGS.TS, nguyên Chủ nhiệm Khoa Vũ khí, Trưởng phòng Đào tạo Học viện KTQS
2014-nay, Lê Kỳ Nam: Thiếu tướng (6.2015), PGS.TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Động lực, Trưởng phòng KHQS Học viện KTQS
2014-nay, Lê Minh Thái: Đại tá, PGS.TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Vũ khí, Trưởng phòng Đào tạo Học viện KTQS
== Phó Chính ủy qua các thời kỳ ==
2012-nay, Nguyễn Thiện Chất, Thiếu tướng (2012), nguyên Phó Chính ủy Quân đoàn 1
6.2015-nay, Cao Minh Tiến, Đại tá, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Học viện Kỹ thuật Quân sự
== Các giảng viên nổi tiếng ==
Lê Văn Chiểu- Thiếu tướng, Phó giáo sư - nguyên giảng viên, nguyên Phó hiệu trưởng, cựu sinh viên khóa 1951-1957 Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Moskva mang tên Bauman, người Việt Nam đầu tiên sang Liên bang Nga học về chế tạo vũ khí, Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ;
Đoàn Mạnh Giao- Đại tá, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nguyên giảng viên;
Vũ Quốc Hùng- Đại tá, Tiến sĩ, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa IX, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương Đảng, nguyên giảng viên, bí thư Đảng ủy Khoa;
Lê Quang Tiến: nguyên Phó Chủ tịch Tập đoàn FPT, nguyên giảng viên Vật lý;
Bùi Việt Hà: Tổng giám đốc Công ty Tin học nhà trường, nguyên giảng viên Toán tin học;
Nguyễn Nhật Quang: Tiến sĩ, Phó Chủ tịch VINASA. Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ VINASA. Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Hài Hòa, nguyên giảng viên cơ khí;
Nguyễn Xuân Liêu: Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Việt Nam (MIREX), nguyên giảng viên Khoa Cơ khí;
Nguyễn Quỳ: Giáo sư, Tiến sĩ hóa học- nguyên giảng viên, Giám đốc Học viện KTQS
Lâm Ngọc Thiềm: Giáo sư, Tiến sĩ hóa học, nguyên giảng viên, chủ nhiệm Bộ môn Hóa học đại cương HVKTQS, nguyên Chủ nhiệm khoa Tại chức (ĐHTHHN), Phó giám đốc Trung tâm ứng dụng Tin học trong Hoá học, Chủ nhiệm hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng ngành Hoá trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN.
Phan Quốc Khánh: Đại tá, Giáo sư, TSKH Toán học, Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học các nước thế giới thứ ba, Phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Quốc tế ĐHQG-HCM (2004-2007), nguyên giảng viên, chủ nhiệm bộ môn Toán- Học viện KTQS (1968-1993);
Hà Huy Cương- Đại tá, Giáo sư, TSKH - nguyên giảng viên cao cấp, nguyên Chủ nhiệm khoa Công trình quân sự (nay là Viện Kỹ thuật CTĐB), giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012 [4];
Nguyễn Văn Hợi- Đại tá, Giáo sư, TSKH Cơ học kết cấu, nguyên Chủ nhiệm khoa Công trình quân sự(nay là Viện Kỹ thuật CTĐB), giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012;
Nguyễn Hoa Thịnh: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Sức bền vật liệu, nguyên giảng viên Khoa Cơ khí, nguyên Giám đốc Học viện KTQS
Lê Khánh Châu: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Cơ học tính toán, nguyên giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự, giảng viên Trường Đại học Bochum (CHLB Đức)
Nguyễn Đức Cương: Đại tá, Giáo sư, TSKH Khí động học, nguyên giảng viên (1973-1978), Chủ tịch Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam (Vietnam Aerospace Association -VASA), Phó Chủ tịch Hội Cơ- điện tử Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Cơ học thủy khí Việt Nam;
Nguyễn Viễn Thọ- Đại tá, Giáo sư, TSKH Vật lý, Giám đốc Đại học Huế (1997 - 2006), nguyên giảng viên, phó chủ nhiệm khoa Hóa Lý kỹ thuật, nay chuyển ra làm giảng viên vật lý tại Đại học Bách khoa Hà Nội;
Nguyễn Xuân Anh- Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ kỹ thuật, giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2005, nguyên giảng viên, chủ nhiệm khoa Vũ khí;
Phan Nguyên Di - Giáo sư, Tiến sĩ Cơ học lý thuyết - nguyên giảng viên cao cấp Khoa Cơ khí;
Hoàng Xuân Lượng - Giáo sư, Tiến sĩ Sức bền vật liệu, NGND - nguyên giảng viên cao cấp, nguyên Phó Chủ nhiệm khoa Cơ khí;
Nguyễn Đình Chiến- Giáo sư, Tiến sĩ kỹ thuật điện tử, nguyên giảng viên, Phó Giám đốc HVKTQS, Trung tướng, Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng.
Nguyễn Bình - Giáo sư, Tiến sĩ kỹ thuật điện tử, nguyên giảng viên HVKTQS, nguyên Trưởng khoa Điện tử-Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông.
Phạm Thế Long- Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Toán-Tin học - giảng viên Khoa Công nghệ Thông tin, Giám đốc Học viện KTQS
Đỗ Như Tráng - Giáo sư, Tiến sĩ Công trình ngầm - giảng viên Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt;
Vũ Đình Lợi - Giáo sư, Tiến sĩ Công trình ngầm - giảng viên Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt;
Phạm Cao Thăng - Giáo sư, Tiến sĩ Cầu đường - giảng viên Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt;
Đào Văn Hiệp - Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí - giảng viên Khoa Hàng không vũ trụ;
Nguyễn Công Định - Giáo sư, TSKH Tự động hóa - giảng viên Khoa Kỹ thuật Điều khiển và Tự động hoá;
Vũ Đức Lập - Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí động lực - giảng viên Khoa Động lực.
Chu Văn Đạt - Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí động lực - giảng viên Khoa Động lực
Nguyễn Hồng Lanh - Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí - Giảng viên Khoa Vũ khí
Phạm Huy Chương-Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí- giảng viên Khoa Vũ khí, nguyên Phó Giám đốc Học viện
Nguyễn Quốc Bảo-Giáo sư, Tiến sĩ Xây dựng- giảng viên Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt
Nguyễn Lạc Hồng-Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí- giảng viên Khoa Vũ khí, Phó Giám đốc Học viện (2015)
Hướng Xuân Thạch- Giáo sư, Tiến sĩ KHQS- giảng viên Khoa Chỉ huy tham mưu kỹ thuật (2015)
Đào Trọng Thắng-Giáo sư, Tiến sĩ Cơ khí- giảng viên Khoa Động lực (2016)
== Cựu Học viên thành đạt tiêu biểu ==
== Cựu Sinh viên tiêu biểu ==
== Xem thêm ==
Danh sách các trường đại học, cao đẳng quân sự Việt Nam
Danh sách các trường đại học và cao đẳng của Việt Nam
Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội
Danh sách các Trường Đại học ở Việt Nam có đào tạo Kỹ sư Cơ khí
Danh sách các trường đại học trọng điểm đào tạo nhân lực an toàn thông tin ở Việt Nam
Kỹ sư xây dựng
Bộ Quốc phòng Việt Nam
== Chú thích == |
từ học.txt | Từ học (tiếng Anh: magnetism) là một ngành khoa học thuộc Vật lý học nghiên cứu về hiện tượng hút và đẩy của các chất và hợp chất gây ra bởi từ tính của chúng. Mặc dù tất cả các chất và hợp chất đều bị ảnh hưởng của từ trường tạo ra bởi một nam châm với một mức độ nào đó nhưng một số trong chúng có phản ứng rất dễ nhận thấy là sắt, thép, ô-xít sắt. Những chất và hợp chất có từ tính đặc biệt là đối tượng của từ học dùng để chế tạo những sản phẩm phục vụ con người được gọi là vật liệu từ.
Từ tính gây ra bởi lực từ, lực từ là một dạng lực điện từ, một trong những lực cơ bản của tự nhiên, nó được sinh ra do chuyển động của các hạt có điện tích. Phương trình Maxwell cho biết nguồn gốc và mối liên hệ của các từ trường và điện trường gây ra lực từ. Mối quan hệ giữa lực từ và lực điện rất mật thiết, môn khoa học nghiên cứu về vấn đề này được gọi là điện từ học.
== Từ tính của vật chất ==
=== Mô tả vĩ mô ===
==== Cảm ứng từ và từ trường ====
Vì từ trường được tạo ra khi có chuyển động của các điện tích nên nếu ta có một dây điện có dòng điện '"`UNIQ--postMath-00000001-QINU`"' chạy qua thì nó sẽ tạo ra một cảm ứng từ '"`UNIQ--postMath-00000002-QINU`"' xung quanh. Cảm ứng từ là một đại lượng véc tơ, chiều của nó phụ thuộc vào chiều chuyển động của dòng điện và được xác định bằng quy tắc bàn tay phải. Bây giờ nếu ta thay dây điện trên bằng một ống dây điện thì cảm ứng từ tạo ra trong lòng ống dây đó cũng được xác định bằng quy tắc trên. Nếu xung quanh cuộn dây là chân không thì chúng ta định nghĩa từ trường '"`UNIQ--postMath-00000003-QINU`"' như sau: '"`UNIQ--postMath-00000004-QINU`"', với '"`UNIQ--postMath-00000005-QINU`"' là từ thẩm chân không.
Như vậy thì véc tơ từ trường '"`UNIQ--postMath-00000006-QINU`"' chỉ phụ thuộc vào dòng điện '"`UNIQ--postMath-00000007-QINU`"' và hình dạng của dây chứ không phụ thuộc vào môi trường bên trong ống dây.
==== Từ thẩm và từ cảm ====
Bây giờ trong lòng ống dây không phải là chân không mà là một vật nào đó thì sự có mặt của vật đó sẽ làm thay đổi cảm ứng từ trong ống dây. Cảm ứng từ này tỷ lệ với từ trường với hệ số tỷ lệ được gọi là từ thẩm '"`UNIQ--postMath-00000008-QINU`"' thì cảm ứng từ trong lòng vật đó là:
'"`UNIQ--postMath-00000009-QINU`"'
Ta định nghĩa '"`UNIQ--postMath-0000000A-QINU`"' là véc tơ từ độ xuất hiện bên trong vật
'"`UNIQ--postMath-0000000B-QINU`"' với '"`UNIQ--postMath-0000000C-QINU`"' là từ cảm của vật liệu
với:'"`UNIQ--postMath-0000000D-QINU`"'
Người ta còn định nghĩa:
'"`UNIQ--postMath-0000000E-QINU`"' với '"`UNIQ--postMath-0000000F-QINU`"': từ thẩm tương đối của vật so với chân không.
==== Phân loại vật liệu ====
Từ cảm của vật liệu là một đại lượng đặc trưng cho sự cảm ứng của vật liệu dưới tác động của từ trường ngoài. Người ta dựa vào đại lượng này để phân chia các vật liệu thành 5 loại như sau:
Nghịch từ: là vật liệu có '"`UNIQ--postMath-00000010-QINU`"' nhỏ hơn không (âm) và có giá trị tuyệt đối rất nhỏ, chỉ cỡ khoảng 10- 5.
Thuận từ: là vật liệu có '"`UNIQ--postMath-00000011-QINU`"' lớn hơn không (dương) và có giá trị tuyệt đối nhỏ cỡ 10- 3.
Sắt từ: là vật liệu có '"`UNIQ--postMath-00000012-QINU`"' dương và rất lớn, có thể đạt đến 10 5.
Feri từ: là vật liệu có '"`UNIQ--postMath-00000013-QINU`"' dương và lớn (tuy nhỏ hơn sắt từ).
Phản sắt từ: là vật liệu có '"`UNIQ--postMath-00000014-QINU`"' dương nhưng rất nhỏ.
=== Mô tả vi mô ===
==== Chuyển động của các điện tử ====
Chuyển động của các điện tử trong nguyên tử tạo nên các đám mây điện tích. Chính chuyển động quỹ đạo đó là một trong những nguyên nhân gây ra từ tính của nguyên tử làm cho nguyên tử có một mô men từ. Một nguyên nhân khác là spin, có thể được hình dung thô thiển như sự tự quay của điện tử, mặc dù về bản chất, spin là một khái niệm chỉ có trong cơ học lượng tử. Như vậy từ tính của nguyên tử có hai nguồn gốc: spin và quỹ đạo, mô men từ tương ứng với hai nguồn gốc này được gọi là mô men từ spin và mô men từ quỹ đạo.
==== Tính nghịch từ của vật chất ====
Nghịch từ là một hiện tượng cố hữu của vật chất, tồn tại ở mọi loại vật liệu theo quy tắc chung về cảm ứng điện từ. Khi có mặt của từ trường ngoài, các điện tử sẽ hưởng ứng với từ trường bằng cách tạo ra một mô men từ cảm ứng. Mô men từ này có xu hướng chống lại từ trường ngoài, nó tỷ lệ nhưng ngược hướng với từ trường áp dụng. Đó chính là nguyên nhân gây ra hiện tượng nghịch từ trong một số chất.
=== Vi từ học ===
Một cách tổng quát, tính chất của các vật liệu từ tuân theo các quy luật về vi từ học mà ở đó tính chất từ bị quy định bởi cấu trúc từ học vi mô và cấu trúc này được quy định bởi sự cực tiểu hóa năng lượng vi từ, có thể quy thành 5 dạng năng lượng:
Năng lượng trao đổi
Năng lượng dị hướng
Năng lượng tĩnh từ
Năng lượng Zeeman
Năng lượng từ giảo
(xem chi tiết bài Năng lượng vi từ)
== Lịch sử từ học ==
Từ học là một ngành được ứng dụng trong cuộc sống con người từ rất sớm mà đầu tiên là ở Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại. Ở Hy Lạp, lịch sử ghi nhận những đối thoại về từ học giữa Aristotle và Thales từ những năm 625 đến 545 trước công nguyên song song với việc sử dụng nam châm vĩnh cửu (là những đá thiên nhiên) cho một số mục đích khác nhau Ở phương Đông, Trung Hoa là nơi sớm nhất sử dụng các đá nam châm làm kim chỉ nam để chỉ phương Nam-Bắc từ thời đại của Chu Công (thời đại nhà Chu, 1122 - 256 trước Công nguyên), và cuốn sách chính thức ghi lại việc sử dụng các đá nam châm là cuốn Quỷ Cốc tử (thầy dạy của Tôn Tẫn) vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên,.
Alexander Neckham là người châu Âu đầu tiên mô tả về la bàn và việc sử dụng la bàn cho việc định hướng vào năm 1187. Vào năm 1269, Peter Peregrinus de Maricourt viết cuốn Epistola de magnete, được coi là một trong những luận thuyết đầu tiên về nam châm và la bàn. Năm 1282, các tính chất của các nam châm và la bàn khô được thảo luận bởi Al-Ashraf, một nhà vật lý, thiên văn, địa lý người Yemeni .
Cuốn sách khảo cứu chi tiết đầu tiên về các hiện tượng là cuốn De Magnete, Magneticisque Corporibus, et de Magno Magnete Tellure (On the Magnet and Magnetic Bodies, and on the Great Magnet the Earth) của William Gilbert xuất bản năm 1600 ở Anh Quốc. Cuốn sách thảo luận về nhiều thí nghiệm điện từ do ông xây dựng, đồng thời giả thiết về từ trường của Trái Đất, nguyên nhân gây ra sự định hướng Nam-Bắc của các la bàn.
Tương tác giữa dòng điện và từ trường lần đầu tiên được phát hiện và mô tả bởi Hans Christian Oersted, một giáo sư Đại học Copenhagen (Đan Mạch). Ông đã phát hiện ra việc kim la bàn bị lệch hướng khi đặt gần một dây dẫn mang dòng điện. Thí nghiệm này được coi là bước ngoặt trong lịch sử ngành từ học, và được đặt tên là Thí nghiệm Oersted. Sau Oersted, hàng loạt các nhà khoa học đã tiến hành các thí nghiệm và các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa điện và từ trường như André-Marie Ampère, Carl Friedrich Gauss, Michael Faraday dẫn đến việc hình thành những kiến thức cơ bản về từ học cũng như từ trường.
James Clerk Maxwell đã tổng hợp các lý thuyết về từ trường, điện trường, và quang học để phát triển thành lý thuyết tổng quát về trường điện từ. Vào năm 1905, Albert Einstein đã sử dụng những định luật này để xây dựng lý thuyết tương đối hẹp.
Thế kỷ 20 cũng là thế kỷ mà từ học được phát triển mạnh mẽ từ việc tạo ra các vật liệu từ đa chức năng, xây dựng các lý thuyết vi mô về hiện tượng từ dựa trên các lý thuyết của cơ học lượng tử và vật lý chất rắn như lý thuyết vi từ học, lý thuyết về đômen từ, vách đômen, vật liệu sắt từ, tương tác trao đổi, phản sắt từ,... Đi kèm với nó là sự phát triển của nhiều kỹ thuật chụp ảnh cấu trúc từ và đo đạc các tính chất từ của vật liệu. Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, ngành mới spintronics ra đời dựa trên những thành tựu của từ học và điện tử học.
== Đơn vị điện từ ==
=== Các đơn vị chuẩn SI ===
=== Các đơn vị khác ===
gauss — Viết tắt là G là đơn vị của cảm ứng từ B trong hệ CGS
Oersted — viết tắt là Oe là đơn vị của cường độ từ trường H trong hệ CGS.
Maxwell — là đơn vị của từ thông trong hệ CGS.
gamma là đơn vị của mật độ từ thông (trong hệ SI là Tesla - T), 1 gamma = 1 nT.
μ0 — là ký hiệu viết tắt quen thuộc của độ từ thẩm tuyệt đối của chân không, có giá trị 4πx10−7 N/(ampere-vòng)².
== Từ học và spintronics ==
Những thành tựu về từ học cuối thế kỷ 20, đã dẫn đến việc hình thành một lĩnh vực mới gọi là spintronics, ngành nghiên cứu tạo ra các linh kiện điện tử mới khai thác cả thuộc tính spin cũng như điện tích của điện tử, thay thế các linh kiện điện tử truyền thống đã lỗi thời. Sự hấp dẫn của spintronics cũng dấn đến việc thúc đẩy việc nghiên cứu về từ học để tìm hiểu về bản chất từ tính, đồng thời nghiên cứu tạo ra nhiều vật liệu từ đặc biệt ứng dụng trong các linh kiện từ tính.
Mục tiêu quan trọng của spintronics là hiểu về cơ chế tương tác giữa spin của các hạt và môi trường chất rắn, từ đó có thể điều khiển cả về mật độ cũng như sự chuyển vận (transportation) của dòng spin trong vật liệu. Những câu hỏi lớn được đặt ra cho ngành spintronics là:
Cách nào hiệu quả nhất để phân cực một hệ spin?
Một hệ spin có thể nhớ trạng thái định hướng trong bao lâu?
Làm thế nào để ghi nhận spin?
Spintronics hứa hẹn là một thế hệ linh kiện mới trong thế kỷ 21 với mục tiêu tăng tốc độ xử lý, giảm năng lượng hao tốn và giá thành mà từ học là một nền tảng của spintronics.
Xem bài chi tiết Spintronics
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Vi từ học
Sắt từ
Năng lượng vi từ
Nam châm vĩnh cửu
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử của từ học
Sơ lược về từ học và vật liệu từ
Magnetism flash
Electricity and Magnetism: Video lectures
P10D Electricity and Magnetism P10D Electricity and Magnetism, online lectures
Exploring magnetism lesson series |
vi điều khiển pic.txt | PIC là một họ vi điều khiển RISC được sản xuất bởi công ty Microchip Technology. Dòng PIC đầu tiên là PIC1650 được phát triển bởi Microelectronics Division thuộc General Instrument.
PIC bắt nguồn là chữ viết tắt của "Programmable Intelligent Computer" (Máy tính khả trình thông minh) là một sản phẩm của hãng General Instrument đặt cho dòng sản phẩm đầu tiên của họ là PIC1650. Lúc này, PIC1650 được dùng để giao tiếp với các thiết bị ngoại vi cho máy chủ 16bit CP1600, vì vậy, người ta cũng gọi PIC với cái tên "Peripheral Interface Controller" (Bộ điều khiển giao tiếp ngoại vi). CP1600 là một CPU tốt, nhưng lại kém về các hoạt động xuất nhập, và vì vậy PIC 8-bit được phát triển vào khoảng năm 1975 để hỗ trợ hoạt động xuất nhập cho CP1600. PIC sử dụng microcode đơn giản đặt trong ROM, và mặc dù, cụm từ RISC chưa được sử dụng thời bây giờ, nhưng PIC thực sự là một vi điều khiển với kiến trúc RISC, chạy một lệnh một chu kỳ máy (4 chu kỳ của bộ dao động).
Năm 1985 General Instrument bán bộ phận vi điện tử của họ, và chủ sở hữu mới hủy bỏ hầu hết các dự án - lúc đó đã quá lỗi thời. Tuy nhiên PIC được bổ sung EEPROM để tạo thành 1 bộ điều khiển vào ra khả trình. Ngày nay rất nhiều dòng PIC được xuất xưởng với hàng loạt các module ngoại vi tích hợp sẵn (như USART, PWM, ADC...), với bộ nhớ chương trình từ 512 Word đến 32K Word.
Hiện nay, tại Việt Nam, đã có một cộng đồng nghiên cứu và phát triển PIC, dsPIC và PIC32.
== Lập trình cho PIC ==
PIC sử dụng tập lệnh RISC, với dòng PIC low-end (độ dài mã lệnh 12 bit, ví dụ: PIC12Cxxx) và mid-range (độ dài mã lệnh 14 bit, ví dụ: PIC16Fxxxx), tập lệnh bao gồm khoảng 35 lệnh, và 70 lệnh đối với các dòng PIC high-end (độ dài mã lệnh 16 bit, ví dụ: PIC18Fxxxx). Tập lệnh bao gồm các lệnh tính toán trên các thanh ghi, với các hằng số, hoặc các vị trí bộ nhớ, cũng như có các lệnh điều kiện, lệnh nhảy/gọi hàm, và các lệnh để quay trở về, nó cũng có các tính năng phần cứng khác như ngắt hoặc sleep (chế độ hoạt động tiết kiện điện). Microchip cung cấp môi trường lập trình MPLAB, nó bao gồm phần mềm mô phỏng và trình dịch ASM.
Một số công ty khác xây dựng các trình dịch C, Basic, Pascal cho PIC. Microchip cũng bán trình dịch "C18" (cho dòng PIC high-end) và "C30" (cho dòng dsPIC30Fxxx). Họ cũng cung cấp các bản "student edition/demo" dành cho sinh viên hoặc người dùng thử, những version này không có chức năng tối ưu hoá code và có thời hạn sử dụng giới hạn. Những trình dịch mã nguồn mở cho C, Pascal, JAL, và Forth, cũng được cung cấp bởi PicForth.
GPUTILS là một kho mã nguồn mở các công cụ, được cung cấp theo công ước về bản quyền của GNU General Public License. GPUTILS bao gồm các trình dịch, trình liên kết, chạy trên nền Linux, Mac OS X, OS/2 và Microsoft Windows. GPSIM cũng là một trình mô phỏng dành cho vi điều khiển PIC thiết kế ứng với từng module phần cứng, cho phép giả lập các thiết bị đặc biệt được kết nối với PIC, ví dụ như LCD, LED...
== Một vài đặc tính ==
Hiện nay có khá nhiều dòng PIC và có rất nhiều khác biệt về phần cứng, nhưng chúng ta có thể điểm qua một vài nét như sau:
8/16 bit CPU, xây dựng theo kiến trúc Harvard có sửa đổi
FLASH và ROM có thể tuỳ chọn từ 256 byte đến 256 Kbyte
Các cổng Xuất/Nhập (I/O ports) (mức logic thường từ 0V đến 5.5V, ứng với logic 0 và logic 1)
8/16 Bit Timer
Công nghệ Nanowatt
Các chuẩn Giao Tiếp Ngoại Vi Nối tiếp Đồng bộ/Không đồng bộ USART, AUSART, EUSARTs
Bộ chuyển đổi ADC Analog-to-digital converters, 10/12 bit
Bộ so sánh điện áp (Voltage Comparators)
Các module Capture/Compare/PWM
LCD
MSSP Peripheral dùng cho các giao tiếp I²C, SPI, và I²S
Bộ nhớ nội EEPROM - có thể ghi/xoá lên tới 1 triệu lần
FLASH (dùng cho bộ nhớ chương trình) có thể ghi/xóa 10.000 lần (tiêu biểu)
Module Điều khiển động cơ, đọc encoder
Hỗ trợ giao tiếp USB
Hỗ trợ điều khiển Ethernet
Hỗ trợ giao tiếp CAN
Hỗ trợ giao tiếp LIN
Hỗ trợ giao tiếp IrDA
Một số dòng có tích hợp bộ RF (PIC16F639, và rfPIC)
KEELOQ Mã hoá và giải mã
DSP những tính năng xử lý tín hiệu số (dsPIC)
== Họ vi điều khiển PIC 8/16-bit ==
Các link này được lấy từ trang chủ www.microchip.com, tuy nhiên hiện nay trang này đang rất thường bị chết, có thể do lượng truy cập quá nhiều, và các đường dẫn luôn thay đổi, vì vậy, có thể link sẽ bị chết.
Vi điều khiển 8-bit
PIC10
PIC12
PIC14
PIC16
PIC17
PIC18
Vi điều khiển 16-bit
PIC24
Bộ điều khiển xử lý tín hiệu số 16-bit (dsPIC)
dsPIC30
dsPIC33F
Bộ điều khiển xử lý tín hiệu số 32-bit (PIC32)
PIC32 (công bố ngày 05/11/2007)
== Liên kết ngoài ==
== Tham khảo == |
cán cân thương mại.txt | Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
== Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại ==
Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên. Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 115.000 VND và một bộ ấm chén tương đương của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ). Với tỷ giá hối đoái 3400 VND = 1 CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 112.200 VND trong khi bộ ấm chén tương đương của Việt Nam là 115.000 VND. Trong trường hợp này ấm chén nhập khẩu từ Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu VND mất giá và tỷ giá hối đoái thay đổi thành 3600 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán với giá 118.800 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chén sản xuất tại Việt Nam.
== Tác động của cán cân thương mại đến GDP ==
Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan trọng: xuất khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu tư tư nhân và số nhân chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị "rò rỉ" qua thương mại quốc tế.
=== Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng ===
Bảng dưới đây trình bày một nền kinh tế với các bộ phận cấu thành ban đầu như một nền kinh tế đóng, sau đó bổ sung xuất khẩu, nhập khẩu cho nền kinh tế mở. Cột 1 là mức GDP ban đầu trong nền kinh tế đóng. Cột 2 là cầu trong nước bao gồm tổng tiêu dùng (C), đầu tư (I) và mua hàng hóa, dịch vụ của chính phủ (G). Cột 3 là xuất khẩu và vì xuất khẩu phụ thuộc tình hình kinh tế của các nước bạn hàng nên giả định nó không thay đổi. Cột 4 là nhập khẩu, nhập khẩu chủ yếu phụ thuộc GDP nên giả định nó luôn bằng 10% GDP. Giá trị xuất khẩu ròng tại cột 5 bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu, nó mang giá trị dương nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và ngược lại, sẽ mang giá trị âm. Sau khi cộng giá trị đóng góp của xuất khẩu ròng vào cầu nội địa để tạo thành tổng chi tiêu và chính là tổng cầu ta được giá trị ghi tại cột 6. Nền kinh tế mở đạt mức cân bằng khi tổng chi tiêu bằng GDP nghĩa là đường tổng chi tiêu cắt đường phân giác OO'(ứng với mức GDP ban đầu là 35 tỷ USD). Đó chính là điểm E trên đồ thị bên phải. Ở điểm này cầu nội địa chỉ có 31,5 tỷ USD nhưng cầu về xuất khẩu ròng (khoảng cách giữa đường C+G+I+X và đường C+G+I) là 3,5 nên tổng chi tiêu là 35 tỷ USD và đúng bằng GDP. Như vậy nền kinh tế mở có thể đạt mức sản lượng cân bằng ở mức xuất khẩu ròng khác 0. Tại điểm có mức xuất khẩu ròng bằng 0 (đường C+G+I cắt đường C+G+I+X), tổng cầu trong nước bằng với tổng cầu và đều bằng 63 tỷ USD. Về phía bên trái điểm này, cầu xuất khẩu ròng luôn dương, tổng cầu nội địa nhỏ hơn tổng chi tiêu và ở bên phải, cầu xuất khẩu ròng luôn âm, tổng cầu nội địa lớn hơn tổng chi tiêu.
=== Số nhân trong nền kinh tế mở ===
Trong đồ thị trên, độ dốc của đường tổng chi tiêu C+I+G+X nhỏ hơn độ dốc của đường cầu nội địa C+G+I, điều đó là do sự "rò rỉ" qua nhập khẩu. Giả sử nền kinh tế có xu hướng tiêu dùng cận biên MPC là 0,75 thì khi GDP tăng 100 USD, chi cho tiêu dùng tăng 75 USD. Nhưng cũng theo giả định trong ví dụ này, xu hướng nhập khẩu biên MPZ là 0,10 (nhập khẩu luôn bằng 10% GDP) nên chi tiêu cho nhập khẩu cũng tăng 10 USD. Do đó chi tiêu cho hàng hóa sản xuất trong nước chỉ còn tăng 65 USD mà thôi. Chính vì thế độ dốc của đường chi tiêu giảm từ 0,75 xuống còn có 0,65. Tác động của "rò rỉ" qua nhập khẩu có tác động mạnh đến số nhân của nền kinh tế. Trong nền kinh tế đóng, số nhân là 1/(1-MPC) còn trong nền kinh tế mở, do sự rò rỉ qua nhập khẩu, số nhân chỉ còn 1/(1-(MPC-MPZ)). Khi không có ngoại thương, với MPC bằng 0,75 thì số nhân là 1/(1-0,75) = 4; khi có ngoại thương số nhân chỉ còn 1/(1-(0,75-0,10)) = 2.857. Những nền kinh tế nhỏ hầu hết đều rất mở, do vậy tác động của nhập khẩu đến số nhân của nền kinh tế đặc biệt quan trọng. Từ ví dụ trên có thể dễ dàng suy ra nếu xu hướng nhập khẩu biên là 0,75 thì số nhân là 1 nghĩa là hiệu ứng số nhân đã bị triệt tiêu hoàn toàn bởi rò rỉ qua nhập khẩu.
== Xem thêm ==
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tài khoản vãng lai
Nhập siêu
== Tham khảo ==
Samuelson Paul A.; Kinh tế học; Nhà xuất bản Tài chính, 2007
Begg David, Fischer Stanley, Dornbusch Rudiger; Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê, 2007 |
tên lửa chống vệ tinh.txt | Tên lửa chống vệ tinh là loại vũ khí không gian được thiết kế để tiêu diệt các vệ tinh cho các mục đích quân sự chiến lược. Hiện tại chỉ có Hoa Kỳ, Liên Xô trước đây và Trung Quốc được coi là đã phát triển loại vũ khí này. Ấn Độ tuyên bố hoàn toàn có khả năng kỹ thuật để phát triển loại vũ khí như vậy . Những cuộc thử nghiệm đầu tiên loại vũ khí này đã bắt đầu từ những năm 1980. Vào 11 tháng 01 năm 2007, Trung Quốc đã phá hủy một vệ tinh cũ trên quỹ đạo.
== Lịch sử ==
Sự thiết kế và phát triển của vũ khí chống vệ tinh đã có một số hướng đi. Những nỗ lực đầu tiên của Hoa Kỳ và Liên Xô là việc sử dụng các tên lửa phóng từ không trung vào những năm 1950; nhiều kế hoạch đã đến sau đó.
== Thử nghiệm tên lửa của Trung Quốc năm 2007 ==
Bản mẫu:Recentism
Vào 17 giờ 28 phút ngày 11 tháng 1 năm 2007 (giờ địa phương), Trung Quốc đã phá hủy thành công một vệ tinh thời tiết (FY-1C) không còn hoạt động của họ. Sự phá hủy được thực hiện bởi một loại tên lửa đạn đạo tầm trung có trang bị đầu đạn.[1] FY-1C là một vệ tinh thời tiết chuyển động ở độ cao khoảng 537 dặm (865 km), có khối lượng khoảng 750 kg. Nó là vệ tinh thứ tư trong số series Feng Yun phóng vào năm 1999. Cuộc thử nghiệm làm tăng sự lo ngại của nhiều nuóc khác, phần vì chính phủ Trung Quốc đã từ chối xác nhận trên các phưong tiện thông tin tận đến 23 tháng 1 năm 2007 nhưng nguyên nhân chủ yếu là khả năng phá hủy của cuộc thử nghiệm và sự không công khai nó có thể vì sự chạy đua vũ trang không gian vũ trụ. EU đã đưa ra tuyên bố "Một cuộc thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh là trái với nỗ lực của quốc tế ngăn chặn một cuộc chạy đua ngoài không gian vũ trụ, châm ngòi cho nền an ninh vũ trụ." [2]
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Vụ nổ hạt nhân ở độ cao
Hiệp ước không gian
Tên lửa
Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia Hoa Kỳ |
phillip allen sharp.txt | Phillip Allen Sharp (sinh ngày 6 tháng 6 năm 1944) là một nhà di truyền học, nhà sinh học phân tử người Mỹ, đã khám phá ra kỹ thuật di truyền. Ông đã đoạt giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1993 chung với Richard J. Roberts cho công trình khám phá ra là "các gien trong những sinh vật nhân chuẩn không phải là các chuỗi tiếp giáp, nhưng gồm các intron, và rằng sự biến đổi một RNA sau phiên mã của RNA thông tin để xóa các intron này có thể diễn ra bằng nhiều cách, sản xuất ra các protein từ cùng một chuỗi DNA".
== Cuộc đời và Sự nghiệp ==
Sharp sinh tại Falmouth, Kentucky. Ông học trường Union College ở Kentucky chuyên về hóa học và toán học. Năm 1969 ông đậu bằng tiến sĩ hóa học ở Đại học Illinois tại Urbana-Champaign. Sau đó ông tới làm việc ở Học viện Công nghệ California cho tới năm 1971, nơi ông nghiên cứu các plasmid, và sau đó là Biểu hiện gien trong tế bào con người tại Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor dưới sự hướng dẫn của James Dewey Watson.
Năm 1974, ông được nhà sinh học Salvador Luria mời đến làm việc ở Học viện Công nghệ Massachusetts. Ông làm giám đốc Trung tâm nghiên cứu Ung thư của Học viện này (nay là Koch Institute for Integrative Cancer Research) từ năm 1985 tới 1991; lãnh đạo phân ban Sinh học từ năm 1991 tới 1999; và giám đốc Viện Mc Govern nghiên cứu Não (McGovern Institute for Brain Research) từ năm 2000 tới 2004. Hiện nay ông làm giáo sư sinh học và là một Institute Professor từ năm 1999; ông cũng là thành viên của Viện Koch nói trên. Sharp là người đồng sáng lập các công ty Biogen (nay là thành phần của Biogen Idec), Alnylam Pharmaceuticals, Magen Biosciences, và có chân trong ban giám đốc của cả 3 công ty trên. Ông là một cố vấn biên tập của Xconomy, và là ủy viên Hội đồng quản trị Khoa học ở Viện nghiên cứu The Scripps.
Năm 1988 ông được Đại học Columbia trao giải Louisa Gross Horwitz chung với Thomas R. Cech.
== Gia đình ==
Sharp kết hôn với Ann Holcombe năm 1964. Họ có 3 người con gái.
== Tác phẩm chọn lọc ==
Cheng C., Yaffe M.B., Sharp P.A. (ngày 1 tháng 7 năm 2006). “A Positive Feedback Loop Couples Ras Activation and CD44 Alternative Splicing”. Genes Dev. 20 (13): 1715–20. doi:10.1101/gad.1430906. PMID 16818603.
Petersen C.P., Bordeleau M.E., Pelletier J., Sharp P.A. (ngày 17 tháng 2 năm 2006). “Short RNAs Repress Translation after Initiation in Mammalian Cells”. Mol Cell. 21 (4): 533–42. doi:10.1016/j.molcel.2006.01.031. PMID 16483934.
Cheng C., Sharp P.A. (tháng 1 năm 2006). “Regulation of CD44 Alternative Splicing by SRm160 and its Potential Role in Tumor Cell Invasion”. Mol Cell Biol. 26 (1): 362–70. doi:10.1128/MCB.26.1.362-370.2006. PMID 16354706.
Tantin D., Schild-Poulter C., Wang V., Hache R.J., Sharp P.A. (ngày 1 tháng 12 năm 2005). “The Octamer Binding Transcription Factor Oct-1 is a Stress Sensor”. Cancer Res. 65 (23): 10750–8. doi:10.1158/0008-5472.CAN-05-2399. PMID 16322220.
Grishok A., Sharp P.A. (ngày 29 tháng 11 năm 2005). “Negative Regulation of Nuclear Divisions in Caenorhabditis Elegans by Retinoblastoma and RNA Interference-related Genes”. Proc Natl Acad Sci U S A. 102 (48): 17360–5. doi:10.1073/pnas.0508989102. PMID 16287966.
Sharp P.A. (ngày 7 tháng 10 năm 2005). “1918 Flu and Responsible Science”. Science 310 (5745): 17. doi:10.1126/science.310.5745.17. PMID 16210500.
Miskevich F., Doench J.G., Townsend M.T., Sharp P.A., Constantine-Paton M. (ngày 15 tháng 4 năm 2006). “RNA Interference of Xenopus NMDAR NR1 in vitro and in vivo”. J Neurosci Methods 152 (1-2): 65–73. doi:10.1016/j.jneumeth.2005.08.010. PMID 16182372.
Hong J.H., Hwang E.S., McManus M.T., Amsterdam A., Tian Y., Kalmukova R., Mueller E., Benjamin T., Spiegelman B.M., Sharp P.A., Hopkins N., Yaffe M.B. (ngày 12 tháng 8 năm 2005). “TAZ, a Transcriptional Modulator of Mesenchymal Stem Cell Differentiation”. Science 309 (5737): 1074–8. doi:10.1126/science.1110955. PMID 16099986.
Houbaviy H.B., Dennis L., Jaenisch R., Sharp P.A. (tháng 8 năm 2005). “Characterization of a Highly Variable Eutherian microRNA Gene”. RNA 11 (8): 1245–57. doi:10.1261/rna.2890305. PMID 15987809.
Sharp P.A. (tháng 6 năm 2005). “The Discovery of Split Genes and RNA Splicing”. Trends Biochem Sci. 30 (6): 279–81. doi:10.1016/j.tibs.2005.04.002. PMID 15950867.
Johnson D.M., Yamaji S., Tennant J., Srai S.K., Sharp P.A. (ngày 28 tháng 3 năm 2005). “Regulation of Divalent Metal Transporter Expression in Human Intestinal Epithelial Cells Following Exposure to Non-haem Iron”. FEBS Lett. 579 (9): 1923–9. doi:10.1016/j.febslet.2005.02.035. PMID 15792797.
Neilson J.R., Sharp P.A. (tháng 4 năm 2005). “Herpesviruses Throw a Curve Ball: New Insights into microRNA Biogenesis and Evolution”. Nat Methods 2 (4): 252–4. doi:10.1038/nmeth0405-252. PMID 15782215.
Grishok A., Sinskey J.L., Sharp P.A. (ngày 15 tháng 3 năm 2005). “Transcriptional Silencing of a Transgene by RNAi in the Soma of C. elegans”. Genes Dev. 19 (6): 683–96. doi:10.1101/gad.1247705. PMID 15741313.
Sharp P.A. (ngày 1 tháng 1 năm 2005). “Phillip Sharp Discusses RNAi, Nobel Prizes and Entrepreneurial Science”. Drug Discov Today 10 (1): 7–10. doi:10.1016/S1359-6446(04)03329-X. PMID 15676292.
Lee K.B., Sharp P.A. (ngày 7 tháng 12 năm 2004). “Transcription-dependent Polyubiquitination of RNA Polymerase II Requires Lysine 63 of Ubiquitin”. Biochemistry 43 (48): 15223–9. doi:10.1021/bi048719x. PMID 15568815.
Mansfield J.H., Harfe B.D., Nissen R., Obenauer J., Srineel J., Chaudhuri A., Farzan-Kashani R., Zuker M., Pasquinelli A.E., Ruvkun G., Sharp P.A., Tabin C.J., McManus M.T. (tháng 10 năm 2004). “MicroRNA-responsive 'Sensor' Transgenes Uncover Hox-like and Other Developmentally Regulated Patterns of Vertebrate MicroRNA Expression”. Nat Genet. 36 (10): 1079–83. doi:10.1038/ng1421. PMID 15361871.
Fairbrother W.G., Holste D., Burge C.B., Sharp P.A. (tháng 9 năm 2004). “Single Nucleotide Polymorphism-based Validation of Exonic Splicing Enhancers”. PLoS Biol. 2 (9): E268. doi:10.1371/journal.pbio.0020268. PMID 15340491.
Novina C.D., Sharp P.A. (ngày 8 tháng 7 năm 2004). “The RNAi Revolution”. Nature 430 (6996): 161–4. doi:10.1038/430161a. PMID 15241403.
Ventura A., Meissner A., Dillon C.P., McManus M., Sharp P.A., Van Parijs L., Jaenisch R., Jacks T. (ngày 13 tháng 7 năm 2004). “Cre-lox-regulated Conditional RNA Interference from Transgenes”. Proc Natl Acad Sci U S A. 101 (28): 10380–5. doi:10.1073/pnas.0403954101. PMID 15240889.
== Chú thích và Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nobelprize.org, Giải Nobel Sinh lý và Y khoa 1993
Autobiography at the Nobel site
Sharp's Research at MIT
The Phil Sharp Lab
The Official Site of Louisa Gross Horwitz Prize |
bộ văn hóa, thể thao và du lịch (việt nam).txt | Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là một bộ thuộc Chính phủ Việt Nam. Ngày 31 tháng 7 năm 2007, Quốc hội khóa 12 ra Nghị quyết quyết định thành lập Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam trên cơ sở sáp nhập Ủy ban Thể dục Thể thao, Tổng cục Du lịch và mảng văn hóa của Bộ Văn hóa và Thông tin Việt Nam.
== Lịch sử ==
=== Bộ Thông tin, Tuyên truyền ===
Bộ Thông tin, Tuyên truyền là một trong 12 bộ nội các đầu tiên được thành lập trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bộ trưởng đầu tiên là ông Trần Huy Liệu, đại diện cho Bộ ra mắt trước quốc dân tại Lễ Độc lập.
=== Bộ Tuyên truyền và Cổ động ===
Ngày 1 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập trên cơ sở cải tổ từ Chính phủ lâm thời (chỉ gồm các thành viên Việt Minh), có thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách. Một Bộ mới được thành lập với tên gọi Bộ Tuyên truyền và Cổ động và ông Trần Huy Liệu vẫn tiếp tục giữ chức Bộ trưởng của Bộ này.
=== Nha Tổng giám đốc Thông tin, Tuyên truyền ===
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập dựa trên kết quả của kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa I tại Hà Nội, là sự mở rộng thành phần nội các của Chính phủ liên hiệp lâm thời. Tuy vậy, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến không thành lập một bộ có chức năng như Bộ Tuyên truyền và Cổ động trước kia. Thay vào đó, ngày 13 tháng 5 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ra Nghị định ấn định hệ thống tổ chức thông tin, tuyên truyền trong cả nước là Nha Tổng giám đốc Thông tin, Tuyên truyền, dưới quyền chỉ huy và kiểm soát trực tiếp của Bộ Nội vụ.. Ông Nguyễn Tấn Gi Trọng được cử làm Tổng giám đốc Nha.
=== Nha Thông tin ===
Ngày 27 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 224/SL, đổi tên Nha Tổng giám đốc Thông tin, Tuyên truyền thành Nha Thông tin. Ông Nguyễn Tấn Gi Trọng vẫn được lưu nhiệm làm làm Giám đốc Nha.
Ngày 10 tháng 7 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 36/SL, chuyển Nha Thông tin từ Bộ Nội vụ sang Thủ tướng phủ quản lý. Ông Trần Văn Giàu được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha.
=== Nha Tuyên truyền và Văn nghệ ===
Bảy tháng sau, ngày 24 tháng 2 năm 1952, Sắc lệnh số 83/SL đã sáp nhập Nha Thông tin thuộc Thủ tướng phủ và Vụ Văn học, nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục thành Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ. Tân Giám đốc Nha là ông Tố Hữu.
=== Bộ Tuyên truyền ===
Sau Hiệp định Genève, 1954, để chuẩn bị cho việc tiếp quản miền Bắc, tháng 8 năm 1954, Hội đồng Chính phủ họp kỳ trung tuần tháng 8 năm 1954, và ra Thông cáo thành Bộ Tuyên truyền. Ông Hoàng Minh Giám được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và ông Tố Hữu làm Thứ trưởng.
=== Bộ Văn hóa (miền Bắc) và Bộ Thông tin - Văn hóa (miền Nam) ===
Ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa thứ V đã thông qua việc đổi tên Bộ Tuyên truyền thành Bộ Văn hóa. Ông Hoàng Minh Giám tiếp tục được lưu nhiệm làm Bộ trưởng và giữ chức vụ này trong gần 22 năm.
Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Bộ Thông tin - Văn hóa là một trong 8 bộ nội các Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Ông Lưu Hữu Phước được bổ nhiệm làm Bộ trưởng.
=== Bộ Văn hóa và Thông tin ===
Ngày 13 tháng 7 năm 1977, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa VI ra Quyết định số 96 NQ/QHK6 phê chuẩn việc hợp nhất Tổng cục Thông tin và Bộ Văn hóa thành Bộ Văn hóa và Thông tin. Ông Nguyễn Văn Hiếu được bổ nhiệm làm Bộ trưởng.
=== Bộ Văn hóa (lần 2) ===
Ngày 24 tháng 6 năm 1981, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VII kỳ họp thứ Nhất từ ngày 24 tháng 6 đến 4 tháng 7 năm 1981 tách Bộ Văn hóa và Thông tin thành Bộ Văn hóavà Bộ Thông tin.. Ông Nguyễn Văn Hiếu tiếp tục được lưu nhiệm làm Bộ trưởng.
=== Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch ===
Ngày 31 tháng 3 năm 1990, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết số 244 NQ/NN thành lập Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch, trên cơ sở sáp nhập Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục Thể thao, Tổng cục Du lịch. Ông Trần Hoàn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng.
=== Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao ===
Ngày 27 tháng 7 năm 1991, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 9 đổi thành Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao.
=== Bộ Văn hóa - Thông tin ===
Đến ngày 30 tháng 9 năm 1992, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ Nhất lại quyết định đổi thành Bộ Văn hóa - Thông tin. Hai Tổng cục Thể dục Thể thao và Tổng cục Du lịch cũng được tái thành lập trực thuộc Chính phủ.
=== Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ===
Ngày 31 tháng 7 năm 2007, Quốc hội khóa 12 ra Nghị quyết quyết định thành lập Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam trên cơ sở sáp nhập Ủy ban Thể dục Thể thao, Tổng cục Du lịch và mảng văn hóa của Bộ Văn hóa và Thông tin Việt Nam. Bộ trưởng đầu tiên là Hoàng Tuấn Anh.
=== Các đời lãnh đạo ===
== Tổ chức bộ máy ==
=== Lãnh đạo đương nhiệm ===
Bộ trưởng: Nguyễn Ngọc Thiện
Các thứ trưởng
Huỳnh Vĩnh Ái: nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Tỉnh Kiên Giang
Lê Khánh Hải: nguyên Chánh Văn phòng Cục TTDL
Vương Duy Biên: nguyên Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Đặng Thị Bích Liên: nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương
=== Tổ chức ===
Vụ Thư viện.
Vụ Văn hóa dân tộc.
Vụ Gia đình.
Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Vụ Kế hoạch, Tài chính.
Vụ Tổ chức cán bộ.
Vụ Thi đua, Khen thưởng.
Vụ Đào tạo.
Vụ Pháp chế.
Thanh tra Bộ.
Văn phòng Bộ (có đại diện của Văn phòng Bộ tại thành phố Đà Nẵng).
Cục Công tác phía Nam.
Cục Di sản văn hóa.
Cục Nghệ thuật biểu diễn.
Cục Điện ảnh.
Cục Bản quyền tác giả.
Cục Văn hóa cơ sở.
Cục Hợp tác quốc tế.
Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm.
Tổng cục Thể dục Thể thao
Tổng cục Du lịch.
Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
Báo Văn hóa.
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.
Trung tâm Công nghệ thông tin.
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.
Viện bảo tồn di tích
== Cựu Lãnh đạo Bộ ==
Lê Tiến Thọ - nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 06 năm 2011
Trần Chiến Thắng hiện là Phó Tổng Biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam
Nguyễn Danh Thái
Nguyễn Trọng Hỷ
Phan Khắc Hải
Hồ Anh Tuấn
Vi Trọng Toán
Lưu Trần Tiêu
Đinh Quang Ngữ hiện là Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo.
Đình Quang
Lê Thành Công
Nguyễn Trung Kiên
Phan Hiền
Mai Vy
Nguyễn Đức Quỳ
Nông Quốc Chấn
Hà Huy Giáp
Lê Liêm
== Xem thêm ==
Bộ Thông tin và Truyền thông (Việt Nam)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nghị định 09/NĐ-CP về việc chuyển Tổng cục Du lịch vào Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang thông tin điện tử
Trang điện tử khối trụ sở cơ quan Bộ |
shikoku.txt | Shikoku (tiếng Nhật: 四国; Hán-Việt: Tứ Quốc) là một trong chín vùng địa lý và cũng là một trong bốn đảo chính của Nhật Bản.
== Hành chính ==
Vùng Shikoku (tiếng Nhật:四国, Hán Việt: Tứ Quốc) thực ra bao trùm toàn bộ đảo Shikoku và cả một số đảo nhỏ xung quanh. Shikoku trong tiếng Nhật nghĩa là "bốn xứ", chỉ bốn tỉnh trước đây ở vùng này. Nay gồm bốn tỉnh mới là Ehime, Kagawa, Kochi và Tokushima.
== Địa lý ==
== Tham khảo == |
vua arthur.txt | Vua Arthur (tiếng Anh: King Arthur, tiếng Wales: Brenin Arthur, tiếng Latin: Rex Arturus) là một nhân vật huyền ảo tại Âu châu trung đại, được cho là người bảo hộ Anh quốc chống lại sự xâm lăng của người Saxon đầu thế kỷ VI. Những tri thức về nhân vật Arthur phần lớn được tổng hợp từ văn học dân gian, và việc ông có thực sự tồn tại trong lịch sử hay không vẫn là một vấn đề gây tranh cãi bởi các sử gia hiện đại. Nguồn gốc xuất xứ của vua Arthur được lượm lặt từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các cuốn Annales Cambriae, Historia Brittonum, và các bản biên chép của linh mục Gildas. Tên vua Arthur cũng xuất hiện trong các tập thơ như Y Gododdin.
== Huyền tích ==
Một số tài liệu cho rằng nhân vật Arthur Pendragon thực sự đã tồn tại ở khoảng cuối thế kỉ thứ V đầu thế kỉ thứ VI, truyền thuyết kể rằng sau khi vua Uther Pendragon mất, toàn bộ nước Anh trở nên loạn lạc, các hiệp sĩ trong vương quốc cấu xé lẩn nhau tranh giành quyền lực do nhà vua không có con nối dõi, rồi pháp sư Merlin xuất hiện và bàn bạc với các giám mục vùng Canterbury xem ai rút được thanh gươm mà vị thần ban tặng trên phiến đá trước nhà thờ thì người đó sẽ là vua nước Anh... Tất cả các hiệp sĩ được mời đến đều không rút được thanh gươm trên phiến đá ra. Arthur lúc bấy giờ chỉ là một chàng trai trẻ - được Hầu tước Ector nhận làm con nuôi. Trước đó khi chưa ai rút được thanh gươm báu ra khỏi đá thì các hiệp sĩ đã nhất trí rằng vào ngày đầu năm họ sẽ tổ chức một cuộc tranh tài và hiệp sĩ nào cũng có quyền được đăng kí dự thi. Kay - con đẻ của hầu tước Ector cũng đến dự và anh nhận ra là mình đã bỏ quên kiếm ở nhà. Anh nhờ Arthur về nhà lấy thanh kiếm cho mình, do cửa nhà đã bị khóa nên Arthur đành "mượn tạm" thanh kiếm cắm ở tảng đá nhà thờ để đưa cho Kay và tình cờ Arthur đã trở thành vua, khi lên ngôi vua, ông đã thống nhất nước Anh. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông quyết định trả lại cây kiếm bằng cách ném xuống hồ, nhưng được thần hồ ban tặng cây kiếm khác.
=== Đứa con hoang ===
Uther Pendragon, vua của nước Anh, yêu say đắm Igrayne, phu nhân của công tước Gorlois xứ Cornwall nhưng nàng đã từ chối tình cảm này do lo sợ tới vận sự của hai nước. Uther thẫn thờ khi bị từ chối đâm đổ bệnh một thời gian dài... Khắp vương quốc Anh chỉ có một người có thể giải trừ được điều này là Merlin, bậc thầy phù thủy với quyền năng phép thuật siêu phàm không ai có thể sánh được lúc đó. Ngài đã được triệu tập tới lâu đài nơi trị vì của Uther để chữa bệnh cho nhà vua.
Merlin giúp Uther hóa thân thành chính Gorlois (phu quân của Igrayne) và ăn nằm với nàng. Chẳng bao lâu sau Igrayne sinh hạ ra một đứa con vua "bất hợp pháp". Lo sợ trước sự việc này sẽ gây mối thù hằn giữa các vương quốc và đứa con không chính thức của mình sẽ bị sát hại, Uther đã lệnh cho phù thủy Merlin đưa đứa bé vừa hạ sinh và giao cho vợ chồng Ector chăm sóc. Đứa bé đó được đặt tên là Arthur.
=== Thanh gươm trong đá ===
Thời gian trôi đi, vị vua Uther đầy quyền lực của nước Anh bắt đầu già yếu và bệnh tật. Đã đến lúc Anh quốc cần một vi vua trẻ hơn, tài giỏi hơn và có tâm huyết hơn Trước khi ngài băng hà, Uther để lại di chỉ với các nam tước đang tề tựu xung quanh mình rằng Arthur, con trai của người sẽ kẻ kế vị ngôi vua. Arthur là ai, sao chưa từng ai biết hay nghe thấy cái tên đó bao giờ... Rất nhiều câu hỏi ngổn ngang trong đầu mọi người khi chỉ vừa kịp nói xong cái tên kẻ kế vị, Uther buông thõng hai tay xuống. Ngài đã về nước chúa.
Một ngày nọ, người ta phát hiện thấy có một thanh kiếm bí ẩn xuất hiện ở ngay gần nhà thờ, cắm sâu trên một tảng đá khắc hàng chữ:
Thanh gươm lạ này đã làm dấy lên lòng tham về quyền lực của rất nhiều người. Các người quý tộc từ khắp nơi quy tụ về với tham vọng có thể trở thành vua của vương quốc Anh hùng mạnh. Họ dùng hết sức mạnh của mình để nhấc được thanh gươm lên, không từ bỏ mọi thủ đoạn, sức người, sức vật... Nhưng không một ai có thể khiến thanh gươm di chuyển dù chỉ một tấc.
Rồi chàng trẻ đó xuất hiện. Một con người bình dị, sống dưới sự che trở yêu thương của Ector. Artorigus trẻ tuổi của chúng ta, trong mắt các quý tộc chỉ là một thằng nhóc thường dân không hơn không kém, hoàn toàn không có huyết thống hoàng gia. Chàng cũng đến thử "vận may" như bao người bình dị khác. Và Arthur đã rút được thanh gươm ra khỏi tảng đá trong sự bàng hoàng, nghi ngờ và đố kị của tất cả người xung quanh.
Mọi người bán tin bán nghi về Arthur cũng như nguồn gốc thanh kiếm, thậm chí còn có kẻ phỉ báng, cáo buộc rằng Artorigus sử dụng tà phép nào đó yểm bùa lên thanh kiếm. Bầu không khí trở nên căng thẳng tột độ... Có những kẻ đã sẵn sàng lăm le ám sát Arthur, và chỉ với người cha dượng Ector và một vài toán lính thì khó có thể bảo vệ Arthur lúc này. Bỗng từ giữa khoảng không bước ra phù thủy Merlin. Xuất hiện giữa đám đông, Merlin - con người được tin tưởng bậc nhất bấy lâu nay tại nước Anh, liền trấn an mọi người và tiết lộ thân phận thật của chàng trẻ:
Mọi thần dân mới thở phào nhẹ nhõm và mừng rỡ an tâm vì nước Anh đã tìm được một vị vua trẻ tuổi xứng đáng. Sir Ector, người chăm dưỡng Arthur bấy lâu cùng con trai của mình, Sir Kay, họ vui mừng sung sướng tột độ và thề trung thành với tân vương Arthur.
Nhưng không phải ai cũng vui mừng trước sự kiện này. Còn đó 11 vị vua vì đố kị thù ghét mà không chấp nhận Arthur là lãnh tụ hợp pháp của Anh quốc, họ sắp sẵn một kế hoạch động loạn. Biết được tin này, Arthur gửi lời mời giúp đỡ tới King Ban và King Bors the Elder (cần phân biệt Bors the Elder để ám chỉ cha của Borz, người về sau cũng trở thành một trong những hiệp sĩ Bàn Tròn). Không một chút ngần ngại, King Bors, King Ban (anh trai của King Bors) và con trai của ông - Launcelot - hợp sức Arthur đánh bại được bọn tạo phản. Kể từ đó, Arthur trở thành vua chính thức của Anh quốc.
=== Mầm tai ách ===
Morgana có một lai lịch khá phức tạp. Bà là ái nữ của công tước Gorlois và Igrayne (người đã bị Uther Pendragon hiếp dâm và sinh hạ Arthur). Bà kết hôn với vua Lot và sinh được bốn đứa con: Gawayn, Agravain, Gaheris và Gareth. Vì thế, bà là chị cùng mẹ khác cha của Arthur.
Sau cái chết của phu quân trong cuộc tranh đấu tạo phản Arthur, Morgana xin kiến diện nhà vua để đưa tin, nhưng thực ra để dò thám cung điện của ông. Sau đêm ái ân cùng nhau, Arthur đã có một đứa con trai với Morgana, tên nó là Medraut.
Sự ra đời của Medraut không qua mắt được lão phù thủy Merlin. Ông đã nhìn thấy trước được tương lai u ám của vua Arthur bao quanh sự hiện diện của đứa bé này. Ông tiên tri rằng vua đã có con với chính chị mình, và khi lớn lên đứa bé đó sẽ hủy diệt Anh quốc. Arthur dần cảm thấy kinh hãi. Theo lời khuyên của Merlin, Arthur hạ lệnh giết tất cả trẻ con được sinh ngày 1 tháng 5 trong cương vực của mình với hi vọng có thể giết được Medraut. Tất cả đều chết vì đắm thuyền, trừ Medraut.
=== Excalibur ===
Sau một cuộc chiến quyết liệt với Sir Pellynore, vua Arthur chịu thua và bị đánh gãy thanh gươm trong đá. Ông vô cùng đau khổ và thất vọng. Một lần nữa, Merlin lại ra tay yểm trợ. Merlin dẫn Arthur đi đến một khu rừng, càng đi quang cảnh càng tĩnh lặng và đầy sương mù. Arthur không biết rằng mình được dẫn đi đâu, chỉ cảm giác được rằng mình đang đi dần xuống, cho đến khi nước bắt đầu dâng lên từ từ, trước mắt Arthur thấy là một hồ nước - hay biển cả - không biết được, chỉ thấy nó dài vô tận.
Arthur hỏi Merlin: "Đây là chốn nào ?". "Đây là hồ nước vô tận", Merlin nói: "Ngài sẽ đến nơi này thêm lần nữa, khi ngài chết". Nói xong, Merlin chỉ tay ra mặt hồ. Arthur nhìn theo và thấy một bàn tay, mặc gấm trắng, cầm một thanh gươm đẹp rực rỡ đang trôi giữa dòng. Bỗng có một ả với khuôn mặt yêu kiều mà đầy sầu bi đã trong chiếc bè xuất hiện tự lúc nào. Merlin nói rằng đó là nữ thần hồ, hãy hỏi thẳng thắn, bà sẽ trao cho ngài thanh gươm kia. Arthur thật thà hỏi bà rằng mình có thể xin thanh gươm không, thần đáp:
Arthur ưng và đón lấy gươm báu. "Tên nó là Excalibur", nói xong nữ thần khuất dần sau làn sương.
=== Hội bàn tròn ===
Khi du hành tới Camylard, Arthur lần đầu tiên gặp Gwenhwyfar - ái nữ của vua Lodegrean. Gwenhwyfar là công chúa có nhan sắc tuyệt trần tựa nữ thần vậy. Arthur và Gwenhwyfar yêu nhau đắm đuối ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng thêm lần nữa, Merlin nhìn thấy những điểm tối quanh số phận Arthur và cảnh báo rằng sau này chính Gwenhwyfar là nguyên nhân gây nên sự suy vong của vương quốc, cũng như y thị rồi sẽ phản bội vua. Nhưng tình yêu của họ quá sâu đậm và mù quáng lúc đó khiến Arthur bỏ ngoài tai những lời răn đe của thầy phù thủy, quyết định cưới Gwenhwyfar và phong làm vương hậu của Anh quốc.
Không còn cách nào khác, Merlin đành chấp thuận và sắp xếp đám cưới cho họ. Trong cái ngày trọng đại, Lodegrean tặng quà cưới cho Arthur và vương hậu là chiếc bàn tròn có 150 chỗ và thêm 100 hiệp sĩ để trợ giúp nhà vua. Chiếc bàn tròn đó được xem là biểu tượng cho sự đoàn kết, toàn vẹn và trường cửu của Arthur cùng các hiệp sĩ của mình.
== Xem thêm ==
Tristan và Iseult
Chúa tể những chiếc nhẫn
Lam Sơn thực lục
Văn bản trên Wikisource:
“Arthur (king)”. New International Encyclopedia. 1905.
“Arthur (king)”. Encyclopedia Americana. 1920.
“Arthur”. Collier's New Encyclopedia. 1921.
Heroes Every Child Should Know: King Arthur
"Arthur and Gorlagon", translated by Frank A. Milne, notes by Alfred Nutt. Folk-Lore. Volume 15, 1904.
== Tham khảo ==
Anderson, Graham (2004), King Arthur in Antiquity, London: Routledge, ISBN 978-0-415-31714-6 .
Ashe, Geoffrey (1985), The Discovery of King Arthur, Garden City, NY: Anchor Press/Doubleday, ISBN 978-0-385-19032-9 .
Ashe, Geoffrey (1996), “Geoffrey of Monmouth”, trong Lacy, Norris, The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 179–82, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Ashe, Geoffrey (1968), “The Visionary Kingdom”, trong Ashe, Geoffrey, The Quest for Arthur's Britain, London: Granada, ISBN 0-586-08044-9 .
Ashley, Michael (2005), The Mammoth Book of King Arthur, London: Robinson, ISBN 978-1-84119-249-9 .
Barber, Richard (1986), King Arthur: Hero and Legend, Woodbridge, UK: Boydell Press, ISBN 0-85115-254-6 .
Barber, Richard (2004), The Holy Grail: Imagination and Belief, London: Allen Lane, ISBN 978-0-7139-9206-9 .
Bibliothèque nationale de France [French National Library] (tháng 5 năm 1475), Français 116: Lancelot en prose [French MS 116: The Prose Lancelot] (bằng tiếng Pháp), Illuminated by Évrard d'Espinques. Originally commissioned for Jacques d'Armagnac, now held by the BNF Department of Manuscripts (Paris)
Binyon, Laurence (1923), Arthur: A Tragedy, London: Heinemann, OCLC 17768778 .
Bradley, Marion Zimmer (1982), The Mists of Avalon, New York: Knopf, ISBN 978-0-394-52406-1 .
Bromwich, Rachel (1978), Trioedd Ynys Prydein: The Welsh Triads, Cardiff: University of Wales Press, ISBN 978-0-7083-0690-1 . 2nd ed.
Bromwich, Rachel (1983), “Celtic Elements in Arthurian Romance: A General Survey”, trong Grout, P. B.; Diverres, Armel Hugh, The Legend of Arthur in the Middle Ages, Woodbridge: Boydell and Brewer, tr. 41–55, ISBN 978-0-85991-132-0 .
Bromwich, Rachel (1991), “First Transmission to England and France”, trong Bromwich, Rachel; Jarman, A. O. H.; Roberts, Brynley F., The Arthur of the Welsh, Cardiff: University of Wales Press, tr. 273–98, ISBN 978-0-7083-1107-3 .
Bromwich, Rachel; Evans, D. Simon (1992), Culhwch and Olwen. An Edition and Study of the Oldest Arthurian Tale, Cardiff: University of Wales Press, ISBN 978-0-7083-1127-1 .
Brooke, Christopher N. L. (1986), The Church and the Welsh Border in the Central Middle Ages, Woodbridge: Boydell, ISBN 978-0-85115-175-5 .
Budgey, A. (1992), “'Preiddeu Annwn' and the Welsh Tradition of Arthur”, trong Byrne, Cyril J.; Harry, Margaret Rose; Ó Siadhail, Padraig, Celtic Languages and Celtic People: Proceedings of the Second North American Congress of Celtic Studies, held in Halifax, August 16–19, 1989, Halifax, Nova Scotia: D'Arcy McGee Chair of Irish Studies, Saint Mary's University, tr. 391–404, ISBN 978-0-9696252-0-9 .
Bullock-Davies, C. (1982), “Exspectare Arthurum, Arthur and the Messianic Hope”, Bulletin of the Board of Celtic Studies (29): 432–40 .
Burgess, Glyn S.; Busby, Keith biên tập (1999), The Lais of Marie de France, London: Penguin, ISBN 978-0-14-044759-0 . 2nd. ed.
Burns, E. Jane (1985), Arthurian Fictions: Re-reading the Vulgate Cycle, Columbus: Ohio State University Press, ISBN 978-0-8142-0387-3 .
Carey, John (1999), “The Finding of Arthur's Grave: A Story from Clonmacnoise?”, trong Carey, John; Koch, John T.; Lambert, Pierre-Yves, Ildánach Ildírech. A Festschrift for Proinsias Mac Cana, Andover: Celtic Studies Publications, tr. 1–14, ISBN 978-1-891271-01-4 .
Carley, J. P. (1984), “Polydore Vergil and John Leland on King Arthur: The Battle of the Books”, Arthurian Interpretations (15): 86–100 .
Chambers, Edmund Kerchever (1964), Arthur of Britain, Speculum Historiale .
Charles-Edwards, Thomas M. (1991), “The Arthur of History”, trong Bromwich, Rachel; Jarman, A. O. H.; Roberts, Brynley F., The Arthur of the Welsh, Cardiff: University of Wales Press, tr. 15–32, ISBN 978-0-7083-1107-3 .
Coe, John B.; Young, Simon (1995), The Celtic Sources for the Arthurian Legend, Felinfach, Lampeter: Llanerch, ISBN 978-1-897853-83-2 .
Crick, Julia C. (1989), The "Historia regum Britanniae" of Geoffrey of Monmouth. 3: A Summary Catalogue of the Manuscripts, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-85991-213-6 .
Dumville, D. N. (1977), “Sub-Roman Britain: History and Legend”, History 62 (62): 173–92, doi:10.1111/j.1468-229X.1977.tb02335.x .
Dumville, D. N. (1986), “The Historical Value of the Historia Brittonum”, Arthurian Literature (6): 1–26 .
Eliot, Thomas Stearns (1949), The Waste Land and Other Poems, London: Faber and Faber, OCLC 56866661 .
Field, P. J. C. (1993), The Life and Times of Sir Thomas Malory, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-585-16570-7 .
Field, P. J. C. (1998), Malory: Texts and Sources, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-85991-536-6 .
Ford, P. K. (1983), “On the Significance of some Arthurian Names in Welsh”, Bulletin of the Board of Celtic Studies (30): 268–73 .
Forbush, William Byron; Forbush, Dascomb (1915), The Knights of King Arthur: How To Begin and What To Do, The Camelot Project at the University of Rochester, truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008 .
Gamerschlag, K. (1983), “Tom Thumb und König Arthur; oder: Der Däumling als Maßstab der Welt. Beobachtungen zu dreihundertfünfzig Jahren gemeinsamer Geschichte”, Anglia (bằng tiếng German) (101): 361–91 Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link).
Gilbert, Adrian; Wilson, Alan; Blackett, Baram (1998), The Holy Kingdom, London: Corgi, ISBN 978-0-552-14489-6 .
Green, Thomas (1998), “The Historicity and Historicisation of Arthur”, Thomas Green's Arthurian Resources, truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008 .
Green, Thomas (31 tháng 7 năm 2007), “Tom Thumb and Jack the Giant Killer: Two Arthurian Fairytales?”, Folklore 118 (2): 123–40, doi:10.1080/00155870701337296 . (EBSCO subscription required.)
Green, Thomas (9 tháng 5 năm 2017), Concepts of Arthur, Stroud: Tempus, ISBN 978-0-7524-4461-1 .
Haycock, M. (1983–84), “Preiddeu Annwn and the Figure of Taliesin”, Studia Celtica' (18/19): 52–78 .
Haycock, M. (2007), Legendary Poems from the Book of Taliesin, Aberystwyth: CMCS, ISBN 978-0-9527478-9-5 .
Hardy, Thomas (1923), The Famous Tragedy of the Queen of Cornwall at Tintagel in Lyonnesse: A New Version of an Old Story Arranged as a Play for Mummers, in One Act, Requiring No Theatre or Scenery, London: Macmillan, OCLC 1124753 .
Harty, Kevin J. (1996), “Films”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 152–155, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Harty, Kevin J. (1997), “Arthurian Film”, Arthuriana/Camelot Project Bibliography, truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008 .
Heroic Age (Spring–Summer 1999), “Early Medieval Tintagel: An Interview with Archaeologists Rachel Harry and Kevin Brady”, The Heroic Age (1) .
Higham, N. J. (2002), King Arthur, Myth-Making and History, London: Routledge, ISBN 978-0-415-21305-9 .
Jones, Gwyn; Jones, Thomas biên tập (1949), The Mabinogion, London: Dent, OCLC 17884380 .
Johnson, Flint (2002), The British Sources of the Abduction and Grail Romances, University Press of America .
Kibler, William; Carroll, Carleton W. biên tập (1991), Chrétien de Troyes: Arthurian Romances, London: Penguin, ISBN 978-0-14-044521-3 .
Koch, John T. (1996), “The Celtic Lands”, trong Lacy, Norris J., Medieval Arthurian Literature: A Guide to Recent Research, New York: Garland, tr. 239–322, ISBN 978-0-8153-2160-6 .
Koch, John T.; Carey, John (1994), The Celtic Heroic Age: Literary Sources for Ancient Celtic Europe and Early Ireland and Wales, Malden, MA: Celtic Studies Publications, ISBN 978-0-9642446-2-7 .
Lacy, Norris J. (1992–96), Lancelot-Grail: The Old French Arthurian Vulgate and Post-Vulgate in Translation, New York: Garland, ISBN 978-0-8153-0757-0 . 5 vols.
Lacy, Norris J. (9 tháng 5 năm 1996), “Character of Arthur”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 16–17, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Lacy, Norris J. (9 tháng 5 năm 1996), “Chrétien de Troyes”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 88–91, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Lacy, Norris J. (9 tháng 5 năm 1996), “Nine Worthies”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 344, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Lacy, Norris J. (9 tháng 5 năm 1996), “Popular Culture”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 363–64, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Lagorio, V. M. (1996), “Bradley, Marion Zimmer”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 57, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Lanier, Sidney biên tập (1881), The Boy's Mabinogion: being the earliest Welsh tales of King Arthur in the famous Red Book of Hergest, Illustrated by Alfred Fredericks, New York: Charles Scribner's Sons .
Lanier, Sidney biên tập (1922), The Boy's King Arthur: Sir Thomas Malory's History of King Arthur and His Knights of the Round Table, Illustrated by N.C. Wyeth, New York: Charles Scribner's Sons .
Littleton, C. Scott; Malcor, Linda A. (1994), From Scythia to Camelot: A Radical Reassessment of the Legends of King Arthur, the Knights of the Round Table and the Holy Grail, New York: Garland, ISBN 978-0-8153-1496-7 .
Loomis, Roger Sherman (1956), “The Arthurian Legend before 1139”, trong Loomis, Roger Sherman, Wales and the Arthurian Legend, Cardiff: University of Wales Press, tr. 179–220, OCLC 2792376 .
Lupack, Alan; Lupack, Barbara (1991), King Arthur in America, Cambridge: D. S. Brewer, ISBN 978-0-85991-543-4 .
Lupack, Alan (2002), “Preface”, trong Sklar, Elizabeth Sherr; Hoffman, Donald L., King Arthur in Popular Culture, Jefferson, NC: McFarland, tr. 1–3, ISBN 978-0-7864-1257-0 .
Malone, Kemp (tháng 5 năm 1925), “Artorius”, Modern Philology 22 (4): 367–74, doi:10.1086/387553, JSTOR 433555 . (JSTOR subscription required.)
Mancoff, Debra N. (1990), The Arthurian Revival in Victorian Art, New York: Garland, ISBN 978-0-8240-7040-3 .
Masefield, John (1927), Tristan and Isolt: A Play in Verse, London: Heinemann, OCLC 4787138 .
Merriman, James Douglas (1973), The Flower of Kings: A Study of the Arthurian Legend in England Between 1485 and 1835, Lawrence: University of Kansas Press, ISBN 978-0-7006-0102-8 .
Morris, John (1973), The Age of Arthur: A History of the British Isles from 350 to 650, New York: Scribner, ISBN 978-0-684-13313-3 .
Morris, Rosemary (1982), The Character of King Arthur in Medieval Literature, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-8476-7118-2 .
Myres, J. N. L. (1986), The English Settlements, Oxford: Oxford University Press, ISBN 978-0-19-282235-2 .
Neubecker, Ottfried (1998–2002), Wappenkunde (bằng tiếng German), Munich: Orbis Verlag, tr. 170, ISBN 3-572-01336-4 Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link).
Padel, O. J. (1994), “The Nature of Arthur”, Cambrian Medieval Celtic Studies (27): 1–31 .
Padel, O. J. (Fall 1995), “Recent Work on the Origins of the Arthurian Legend: A Comment”, Arthuriana 5 (3): 103–14 .
Padel, O. J. (2000), Arthur in Medieval Welsh Literature, Cardiff: University of Wales Press, ISBN 978-0-7083-1682-5 .
Parins, Marylyn Jackson (1995), Sir Thomas Malory: The Critical Heritage, London: Routledge, ISBN 978-0-415-13400-2 .
Phillips, Graham; Keatman, Martin (1992), King Arthur: The True Story, London: Century, ISBN 978-0-7126-5580-4 .
Potwin, L. S. (1902), “The Source of Tennyson's 'The Lady of Shalott'”, Modern Language Notes (Modern Language Notes, Vol. 17, No. 8) 17 (8): 237–239, doi:10.2307/2917812, JSTOR 2917812 .
Pryor, Francis (2004), Britain AD: A Quest for England, Arthur, and the Anglo-Saxons, London: HarperCollins, ISBN 978-0-00-718186-5 .
Pyle, Howard (1903), The Story of King Arthur and His Knights, Illustrated by Howard Pyle, New York: Charles Scribner's Sons
Rahtz, Philip (1993), English Heritage Book of Glastonbury, London: Batsford, ISBN 978-0-7134-6865-6 .
Reno, Frank D. (1996), The Historic King Arthur: Authenticating the Celtic Hero of Post-Roman Britain, Jefferson, NC: McFarland, ISBN 978-0-7864-0266-3 .
Roach, William biên tập (1949–83), The Continuations of the Old French 'Perceval' of Chrétien de Troyes, Philadelphia: University of Pennsylvania Press, OCLC 67476613 . 5 vols.
Roberts, Brynley F. (1980), Brut Tysilio: darlith agoriadol gan Athro y Gymraeg a'i Llenyddiaeth (bằng tiếng Welsh), Abertawe: Coleg Prifysgol Abertawe, ISBN 978-0-86076-020-7 Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link).
Roberts, Brynley F. (9 tháng 5 năm 1991), “Culhwch ac Olwen, The Triads, Saints' Lives”, trong Bromwich, Rachel; Jarman, A. O. H.; Roberts, Brynley F., The Arthur of the Welsh, Cardiff: University of Wales Press, tr. 73–95, ISBN 978-0-7083-1107-3 .
Roberts, Brynley F. (9 tháng 5 năm 1991), “Geoffrey of Monmouth, Historia Regum Britanniae and Brut Y Brenhinedd”, trong Bromwich, Rachel; Jarman, A. O. H.; Roberts, Brynley F., The Arthur of the Welsh, Cardiff: University of Wales Press, tr. 98–116, ISBN 978-0-7083-1107-3 .
Rosenberg, John D. (1973), The Fall of Camelot: A Study of Tennyson's 'Idylls of the King', Cambridge, MA: Harvard University Press, ISBN 978-0-674-29175-1 .
Simpson, Roger (1990), Camelot Regained: The Arthurian Revival and Tennyson, 1800–1849, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-85991-300-3 .
Sims-Williams, Patrick (1991), “The Early Welsh Arthurian Poems”, trong Bromwich, Rachel; Jarman, A. O. H.; Roberts, Brynley F., The Arthur of the Welsh, Cardiff: University of Wales Press, tr. 33–71, ISBN 978-0-7083-1107-3 .
Smith, C.; Thompson, R. H. (1996), “Twain, Mark”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 478, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Staines, D. (1996), “Tennyson, Alfred Lord”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 446–449, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Stokstad, M. (1996), “Modena Archivolt”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 324–326, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Sweet, Rosemary (2004), Antiquaries: The Discovery of the Past in Eighteenth-century Britain, London: Continuum, ISBN 1-85285-309-3 .
Taylor, Beverly; Brewer, Elisabeth (1983), The Return of King Arthur: British and American Arthurian Literature Since 1800, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-389-20278-3 .
Tennyson, Alfred (1868), Enid, Illustrated by Gustave Doré, London: Edward Moxon & Co. .
Thomas, Charles (1993), Book of Tintagel: Arthur and Archaeology, London: Batsford, ISBN 978-0-7134-6689-8 .
Thompson, R. H. (1996), “English, Arthurian Literature in (Modern)”, trong Lacy, Norris J., The New Arthurian Encyclopedia, New York: Garland, tr. 136–144, ISBN 978-1-56865-432-4 .
Thorpe, Lewis biên tập (1966), Geoffrey of Monmouth, The History of the Kings of Britain, Harmondsworth: Penguin, OCLC 3370598 .
Tondro, Jason (2002), “Camelot in Comics”, trong Sklar, Elizabeth Sherr; Hoffman, Donald L., King Arthur in Popular Culture, Jefferson, NC: McFarland, tr. 169–181, ISBN 978-0-7864-1257-0 .
Twain, Mark (1889), A Connecticut Yankee in King Arthur's Court, New York: Webster, OCLC 11267671 .
Ulrich von Zatzikhoven (2005) [c. 1194], Lanzelet, Translated by Thomas Kerth, New York: Columbia University Press, ISBN 978-0-231-12869-8 .
Vinaver, Sir Eugène biên tập (1990), The Works of Sir Thomas Malory, Oxford: Oxford University Press, ISBN 978-0-19-812346-0 . 3rd ed., revised.
Watson, Derek (2002), “Wagner: Tristan und Isolde and Parsifal”, trong Barber, Richard, King Arthur in Music, Cambridge: D. S. Brewer, tr. 23–34, ISBN 978-0-85991-767-4 .
Walter, Philippe (2005) [2002], Artù. L'orso e il re [Original French title: Arthur: l'ours et le roi; English: Arthur: The Bear and the King] (bằng tiếng Italian), Translated by M. Faccia, Edizioni Arkeios (Original French publisher: Imago) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link).
White, Terence Hanbury (1958), The Once and Future King, London: Collins, OCLC 547840 .
Williams, Sir Ifor biên tập (1937), Canu Aneirin (bằng tiếng Welsh), Caerdydd [Cardiff]: Gwasg Prifysgol Cymru [University of Wales Press], OCLC 13163081 Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link).
Wordsworth, William (1835), “The Egyptian Maid, or, The Romance of the Water-Lily”, The Camelot Project, The University of Rochester, truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008 .
Workman, L. J. (1994), “Medievalism and Romanticism”, Poetica (39–40): 1–44 .
Wright, Neil biên tập (1985), The Historia Regum Britanniae of Geoffrey of Monmouth, 1: Bern, Burgerbibliothek, MS. 568, Cambridge: Brewer, ISBN 978-0-85991-211-2 .
Zimmer, Stefan (2006), Die keltischen Wurzeln der Artussage: mit einer vollständigen Übersetzung der ältesten Artuserzählung Culhwch und Olwen .
Zimmer, Stefan (2009), “The Name of Arthur — A New Etymology”, Journal of Celtic Linguistics (University of Wales Press) 13 (1): 131–136 .
Halsall, Guy (2013). Worlds of Arthur: Facts & Fictions of the Dark Ages. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-870084-5.
Breeze, Andrew (tháng 9 năm 2015). “The Historical Arthur and Sixth-Century Scotland”. Northern History LII (2): 158–81.
Breeze, Andrew (tháng 9 năm 2016). “Arthur's Battles and the Volcanic Winter of 536-7”. Northern History LIII (2): 161–72.
“Arthurian Gwent”. Blaenau Gwent Borough County Council. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. . An excellent site detailing Welsh Arthurian folklore.
Green, Caitlin. “Arthuriana: Studies in Early Medieval History and Legend”. . A detailed and comprehensive academic site, which includes numerous scholarly articles.
Arthuriana: The Journal of Arthurian Studies, published by Scriptorium Press for Purdue University, US. The only academic journal solely concerned with the Arthurian Legend; a good selection of resources and links.
“Celtic Literature Collective”. . Provides texts and translations (of varying quality) of Welsh medieval sources, many of which mention Arthur.
“Faces of Arthur”. . An interesting collection of articles on King Arthur by various Arthurian enthusiasts.
Green, Thomas (tháng 10 năm 2012). “John Dee, King Arthur, and the Conquest of the Arctic”. The Heroic Age (15). .
The Camelot Project, The University of Rochester. Provides valuable bibliographies and freely downloadable versions of Arthurian texts.
The Heroic Age: A Journal of Early Medieval Northwestern Europe. An online peer-reviewed journal that includes regular Arthurian articles; see especially the first issue. |
denon.txt | Denon (株式会社デノン, Kabushiki Kaisha Denon) là tên gọi của một công ty điện tử Nhật Bản chuyên về thiết bị âm thanh cao cấp đã có hơn 100 năm tuổi. DENON đã tham gia vào giai đoạn đầu của sự phát triển của công nghệ âm thanh kỹ thuật số, đặc biệt chuyên sản xuất các thiết bị âm thanh có độ trung thực cao cho chuyên nghiệp và người dùng nghiệp dư, như các máy nghe đĩa CD và các thiết bị chuyển đổi, máy thu âm băng AM/FM, bộ cân bằng đồ họa, bộ khuếch đại, và loa. Trong nhiều thập kỷ, Denon là một tên thương hiệu của Nippon Columbia, bao gồm cả hãng thu âm Nippon Columbia. Năm 2001, Denon được tách ra như là một công ty riêng biệt với tổ chức gồm 98% của Ripplewood Holdings và 2% của Hitachi. Năm 2002 Denon sáp nhập với Marantz để trở thành D&M Holdings. Tên thương hiệu Denon là sự kết hợp của DENki ONkyo, được sử dụng từ năm 1939.
== Lịch sử ==
Thương hiệu này đã trải qua hơn 100 năm lịch sử. Được thành lập vào năm 1910 bởi Frederick Whitney Horn với cái tên ban đầu Nippon Columbia Co (tiền thân là tập đoàn thu âm Nhật Bản mang tên Nippon Chikuonki Shokai). Hai năm sau, Nippon Columbia Co chính thức sát nhập với Japan –U.S Recorders Manufacturig để cùng sản xuất và bán hàng
Năm 1930 thương hiệu Denon chính thức ra đời cùng với sự hợp nhất của Japan Denki Onkyo. Bắt đầu từ đây thương hiệu Denon mới chính thức gắn liền với các thiết bị âm thanh, và được biết đến là nhà sản xuất đầu đĩa than, cartridge và băng ghi âm cho một số đài truyền hình.
Năm 1947 công ty chính thức mua lại toàn bộ tập đoàn Japan Denki Onkyo và bắt đầu xây dựng tên tuổi của một nhà sản xuất Hi-End lừng lẫy sau này.
Những năm 60-70 của thế kỷ XX là thời kỳ phát triển nhất của Denon. Sự nở rộ của các dòng sản phẩm máy ghi âm, đầu đọc băng cassette, máy ghi âm chuyên nghiệp, dàn nghe nhạc stereo, radio, nhạc cụ và máy tính chạy điện… đã giúp cho tên tuổi của Denon trở nên phổ biến hơn.
Những năm thập niên 70, Denon tiếp tục đưa vào sản xuất hàng loạt các dòng thiết bị âm thanh chất lượng cao như bộ khếch đại âm thanh, bộ chỉnh âm, loa, mâm đĩa than… Đây cũng là thời mốc đánh dấu Denon là nhà sản xuất đi đầu trong việc cung cấp các thiết bị ghi âm cho các phòng thu và là thương hiệu đầu tiên bán các bản ghi LP được thu theo công nghệ kỹ thuật số.
Mặc dù không phải là một trong những thương hiệu Hi-End thuộc "hàng khủng", nhưng các kỹ sư cũng như thiết kế của Denon đã rất cố gắng để có thể duy trì và phát triển thương hiệu này trở thành một thương hiệu Hi-End của số đông. Triết lý này đã được duy trì qua nhiều thập kỷ và nhờ đó Denon hiện được biết đến là nhà sản xuất thiết bị audo và home theater có chủng loại sản phẩm đa dạng nhất trên thế giới cùng mạng lưới phân phối rộng khắp toàn cầu.
== Các sản phẩm với mốc thời gian ==
1910 sản xuất ghi đĩa một mặt và máy hát
1939 Ra mắt máy ghi đĩa chuyên nghiệp đầu tiên sử dụng cho ngành truyền hình và máy cắt-tiện đĩa từ.
1951 Bắt đầu bán bản ghi LP thế hệ 1 - bản cartride phono MC stereo đầu tiên, và tiếp tục phát triển dòng sản phẩm băng ghi âm chuyên nghiệp
1953 Ra mắt máy ghi âm chuyên nghiệp sử dụng cho ngành truyền hình.
1958 giới thiệu bán các bản ghi âm thanh hai kênh.
1959 Bắt đầu sản xuất băng âm thanh cuộn-hở.
1962 Giới thiệu đàn piano điện tử dòng Elepian.
1963 Phát triển cartridge phono DL-103.
1964 Bắt đầu bán băng cát-xét âm thanh.
1971 Bắt đầu sản xuất các thành phần âm thanh hi-fi, bao gồm cả bàn xoay đĩa than, bộ khuếch đại, bộ chỉnh âm và loa.
1972 Giới thiệu máy ghi âm kỹ thuật số có 8 kênh đầu tiên trên thế giới.
1977 Được giải thưởng "Trend-Setter giải thưởng cho các đóng góp nổi bật cho ngành công nghiệp" của tạp chí Billboard của Mỹ.
1980 Được giải thưởng Diplome Quốc tế Montreux lần thứ 13 với giải thưởng công nghệ được tôn vinh.
1981 phát triển máy nghe nhạc CD cho người sử dụng chuyên nghiệp.
1982 dẫn đầu ngành công nghiệp âm thanh trong việc giới thiệu máy nghe đĩa CD cho người tiêu dùng sử dụng.
1988 Giới thiệu một loạt các bộ khuếch đại AV vào hệ thống sản phẩm.
1990 được trao tặng ba giải thưởng thiết bị trong triển lãm Hi-fi tại Paris.
1993 Phát triển bản kép máy chơi nhạc CD cho DJ loại DN-200F. Các mẫu sơ khai khác là DN1000F, DN2000F và DN2500F. Denon cũng chế tạo cho máy chơi nhạc 2 đĩa Mini của thế giới, thiết kế cho các DJ sử dụng.
1994 Được giải thưởng "Sáng tạo âm thanh của châu Âu của năm".
1995 tạo ra hệ thống rạp hát tại nhà chuẩn Dolby AC-3 và THX 5.1 đầu tiên trên thế giới.
1997 Giới thiệu thêm đầu đĩa DVD vào trong hệ thống sản phẩm.
1999 tạo ra hệ thống rạp hát tại nhà chuẩn THX-EX đầu tiên trên thế giới(THX - bản nâng cấp để cung cấp đầy đủ âm thanh vòm).
2001 hệ thống âm thanh Mini đầu tiên được sản xuất với âm thanh vòm 5.1.
2002 Denon liên kết phát triển công nghệ để cải thiện kết nối công nghệ số.
2004 ra đời của sản phẩm tiêu dùng đầu tiên của thế giới có tính năng HQV .
2006 Denon giới thiệu cáp Ethernet loại CAT5 AK-DL1 dài 1,5 m. Cho đến giữa năm 2008, nó vẫn gây ra tranh cãi vì giá cao của nó ($499) trong khi công ty tuyên bố rằng cáp được "thiết kế riêng cho những người đam mê âm thanh" và sẽ "mang lại nguyên vẹn tất cả các sắc thái" trong tín hiệu âm thanh kỹ thuật số truyền trên nó, tuy vậy thực tế lại cho thấy rằng ngay cả những cáp ethernet tồi nhất cũng cung cấp chất lượng tương tự cho các thiết bị âm thanh kỹ thuật số trên một chiều dài tương tự
2007 Denon phát hành bộ tiền khuếch đại AVP-A1HDCI và ghép với bộ khuếch đại công suất POA-A1HDCI - đánh dấu bổ sung đầu tiên của công ty một dòng thiết bị mới hiệu suất cao tập trung vào đa số khách hàng thông thường.
2008 Denon công bố thiết bị phát lại DVD-Audio và SA-CD có khả năng chơi đĩa Blu-ray phổ dụng (Universal Blu-ray) đầu tiên trên thế giới
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
DENON - A Legacy of Firsts - 100th anniversary,(tiếng Anh), 2010 |
frankfurt am main.txt | Bài này viết về thành phố Frankfurt am Main. Về các địa danh Frankfurt khác xin xem tại Frankfurt (định hướng).
Frankfurt am Main, thường chỉ được viết là Frankfurt, với dân số hơn 670.000 người là thành phố lớn nhất của bang Hessen (Đức) và là thành phố lớn thứ năm của Đức sau Berlin, Hamburg, München (Munich) và Köln (Cologne). Vùng đô thị Frankfurt có khoảng 2,26 triệu dân cư năm 2001, toàn bộ vùng đô thị Frankfurt Rhein-Main với trên 5 triệu dân cư là vùng đô thị Đức lớn thứ nhì sau Rhein-Ruhr.
Từ năm 1875 Frankfurt am Main là thành phố lớn với hơn 100.000 dân cư. Việc xây dựng thành phố đã vượt xa khỏi ranh giới chật hẹp của thành phố. Từ Thời kỳ Trung cổ thành phố Frankfurt am Main liên tục thuộc về một trong những trung tâm quan trọng nhất trong nước Đức.
Đã từ lâu, Frankfurt đã trở thành trung tâm thương mại của Đức. Trụ sở chính của Ngân hàng Trung ương châu Âu và các ngân hàng lớn như Deutsche Bank, Dresdner Bank và Commerzbank đều tập trung tại đây. Thị trường chứng khoán Frankfurt là một trong những thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới. Frankfurt cũng là thành phố hội chợ quan trọng trên toàn thế giới. Ngoài ra Frankfurt còn là điểm nút giao thông quan trọng của Đức và châu Âu.
== Địa lý ==
Thành phố nằm trên hai bên bờ sông Main, về phía đông nam của vùng đồi núi Taunus, trong vùng tây nam nước Đức, chính giữa những khu kinh tế quan trọng nhất của nước Đức. Về phía Nam Frankfurt có diện tích rừng trong thành phố lớn nhất Đức. Frankfurt có điểm tự nhiên cao nhất ở Berger Warte trong khu Frankfurt-Seckback với 221 m trên mực nước biển. Điểm thấp nhất của thành phố nằm trên bờ sông Main trong Sindlingen, có độ cao 88 m trên mực nước biển. Thành phố nằm trong vùng ranh giới cực bắc của đồng bằng thượng lưu sông Rhein chạy dài từ Basel đến vùng Rhein-Main
== Phân chia hành chánh ==
Thành phố được chia thành 46 khu vực thành phố (Ortsteil) và những khu vực này lại được chia thành 118 Stadtbezirk. Khu vực có diện tích lớn nhất là Sachsenhausen-Süd. Phần lớn các khu vực thành phố là những làng mạc ngoại ô hay đã từng là thành phố (Ví dụ như Frankfurt-Höchst) được sát nhập vào Frankfurt. Một số, như Frankfurt-Nordend, hình thành khi thành phố tăng trưởng nhanh chóng trong Thời kỳ Thành lập (Gründerzeit). Các khu vực khác lại hình thành từ những khu dân cư mà đã từng thuộc về những khu vực khác, ví dụ như Frankfurt-Dornbusch và Frankfurter Berg. 46 khu vực này được gom lại thành 16 quận (Ortsbezirk), mỗi quận có một Hội đồng quận (Ortsbeirat) với một quận trưởng là trưởng hội đồng.
== Quang cảnh thành phố ==
=== Khu phố cổ và khu trung tâm ===
Cũng như nhiều thành phố lớn khác của Đức, quang cảnh thành phố Frankfurt đã thay đổi toàn bộ sau Chiến tranh thế giới thứ hai vì những thiệt hai nặng nề do bom đạn của cuộc chiến và công cuộc tái xây dựng "hiện đại" sau đó mà nhờ vào đó thành phố có một mạng lưới đường giao thông "phù hợp cho ô tô" và một phố cổ được xây dựng hiện đại nhưng không còn đặc trưng trong trung tâm thành phố. Từ nguyên là một khu phố cổ liên kết lớn nhất Đức hiện nay chỉ còn lại rất ít, trong số hơn 4.000 nhà cổ chỉ có một căn nhà là tồn tại gần như nguyên vẹn, căn nhà Wertheym ở Fahrtor. Phần còn sót lại của khu phố cổ lịch sử nằm chung quanh Römerberg, một trong những quảng trường nổi tiếng nhất của Cộng hòa Liên bang. "Khu phố cổ" chính thức là khu vực phía Nam của Zeil, có ranh giới về phía Tây là Neue Mainzer Strasse (đường Mainz mới), về phía Đông là Fischerfeld. Trong khu phố cổ là Nhà thờ lớn Frankfurt (Kaiserdom) và Nhà thờ thánh Phaolô (Frankfurter Paulkirche) nổi tiếng.
Trung tâm thành phố ngày nay, được thành lập năm 1333 như là Phố Mới (Neustadt), đã trải qua nhiều biến đổi lớn trong đầu thế kỷ 19. Thành lũy bảo vệ thành phố theo kiểu kiến trúc Baroque với những pháo đài lớn bao bọc Phố Cũ và Phố Mới từ thế kỷ 17 bị phá đi, thay vào đó là vành đai công viên (Wallanlage) bao bọc quanh khu phố cổ. Georg Hess, một nhà kế hoạch đô thị, đã đưa ra một tiêu chuẩn quy định hình dáng các kiến trúc mới. Ông yêu cầu là các nhà xây dựng phải tuân theo phong cách của trường phái Cổ điển. Một ví dụ cho trường phái Cổ điển Frankfurt là Thư viện Thành phố cũ, hình thành trong thời gian 1820-1825 và bị tàn phá vào năm 1944, được tái xây dựng như là "Nhà văn học" giống như nguyên thủy. Từ năm 1827 đã được quy định là không được phép xây dựng trên những phần của vành đai công viên đã được biến đổi thành đường đi dạo. Quy định này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay mặc dầu là thành phố đã cho phép một vài trường hợp ngoại lệ (Nhà hát Opera Cũ, Kịch Trường, khách sạn Hilton).
Cuối thế kỷ 19 Hauptwache phát triển thành trung tâm của thành phố. Zeil trở thành đường phố mua sắm chính. Nhà thờ thánh Katharina (Katharinenkirche), được xây dựng trong thời gian 1678-1681 đầu lối vào Zeil, là nhà thờ Tin Lành lớn nhất Frankfurt, có quan hệ mật thiết với gia đình của đại thi hào Goethe.
Từ những năm 1950 Frankfurt trở thành thành phố nhà cao tầng. Năm 1960 Tháp Henninge trong khu phố Sachsenhausen là căn nhà Frankfurt đầu tiên vượt qua tháp tây của Nhà thờ lớn Frankfurt về chiều cao (120 mét). Các nhà cao nhất của những năm 1970 (Plaza Büro Center/Khách sạn Marriott, DG-Bank (Ngân hàng Hợp tác xã Đức), Dresdner Bank) là những tòa nhà cao nhất nước Đức với chiều cao tròn 150 m, Tháp Hội chợ (Messeturm) 1990 đạt chiều cao 257 m và đã là tòa nhà cao nhất châu Âu cho đến 7 năm sau đó bị vượt qua bởi tòa nhà cao 300 m là trụ sở chính của Commerzbank.
Bên cạnh các nhà cao tầng vẫn còn có thể nhìn thấy các tòa nhà đẹp là chi nhánh của các ngân hàng từ đầu thế kỷ 20. Các nhà thờ vẫn còn có thể nhận ra giữa các nhà văn phòng cao tầng. Thông qua Kế hoạch khung cho nhà cao tầng người ta đã cố gắng tránh việc "mọc hoang dại". Thế nhưng trường hợp ngoại lệ đã và vẫn có thể có ví dụ như việc xây dựng Ngân hàng Trung ương châu Âu ở Ostend.
Frankfurt hiện nay đang hoàn thành thay đổi lớn nhất ngoài kế hoạch khung tại con đường mua sắm Zeil. Tại đó, trên công trường xây dựng đắt tiền nhất châu Âu bên cạnh Hauptwache đang thành hình một trung tâm mua sắm hạng sang với một tòa nhà cao tầng trên khu đất nguyên là của Công ty Viễn thông Đức (Deutsche Telekom). "FrankfurtHochVier" được tiến hành bởi công ty phát triển dự án Hà Lan MAB. Trong đó lâu đài Thurn và Taxis (được xây dựng trong khoảng thời gian 1727-1741, bị tàn phá năm 1944), sẽ được xây dựng lại tương tự như nguyên thủy và được tích hợp vào trong trung tâm mua sắm hiện đại này.
=== Các khu phố của Thời kỳ Thành lập ===
Khu vực thành phố bên ngoài vòng trung tâm được mở rộng liên tục và vì thế từ khoảng năm 1830 đã hình thành các khu Frankfurt-Westend, Frankfurt-Nordend và Frankfurt-Ostend. Sau khi xây dựng nhà ga trung tâm Frankfurt (Main), khu nhà ga Frankfurt cũng hình thành trong những năm 1890 trên khu đất của 3 nhà ga phía Tây trước đó nằm cạnh ngay vòng đai công viên về phía Tây.
Đặc biệt là 3 khu vực được nhắc đến đầu tiên phát triển trở thành khu dân cư rất nhanh. Công dân thành phố Frankfurt muốn ra nơi có không khí trong lành. Ngày nay chỉ có khoảng 1% dân số sống trong khu vực thành trì ngày xưa. Việc xây dựng được tiến hành dọc theo những đường lớn như Eschersheimer Landstraße hay Bockenheimer Landstraße. Thông thường nhà được xây 4 tầng theo kiểu của thời kỳ Thành lập Wilhelm, các tòa nhà của trường phái Cổ điển phần lớn được san bằng và thay thế. Các khu vực được sát nhập vào thành phố trong khoảng năm 1890 ví dụ như Frankfurt-Bockenheim và Frankfurt-Bornheim được hòa nhập vào quang cảnh này của thành phố, có thêm đường giao thông mới và kết nối với mạng lưới tàu điện Frankfurt, nhưng đã có thể giữ được đặc tính riêng. Để miêu tả ranh giới của thành phố, một vòng đai giao thông thứ nhì được xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Allenring ngày nay trở thành đường vòng đai có mật độ giao thông cao.
Bên cạnh công viên vành đai thành phố nhận được thêm nhiều công viên xanh khác trong thế kỷ 19, trong khu Frankfurt-Nordend ví dụ như là công viên Bethmann, công viên Holzhausen và công viên Günthersburg. Về phía Tây trong khu Frankfurt-Westend là công viên Grüneburg, trong khu Frankfurt-Westend là công viên Đông (Ostpark)..
=== Höchst và các khu vực phía ngoài ===
Kế tiếp theo đó trong những năm 1920 là những khu dân cư lớn của Ernst May bên ngoài Allenring, tượng trưng cho Frankfurt mới: Römerstadt ở phía Bắc gần Frankfurt-Heddernheim, khu dân cư rộng lớn Bormnheimer Hang ở phía Đông, khu dân cư gần Riedhof và Heimatsiedlung ở phía Nam là một vài ví dụ.
Vùng đô thị tiếp tục được mở rộng trong năm 1928 thông qua việc sát nhập. Thành phố Höchst am Main làm giàu cho Frankfurt thêm một khu phố cổ mà ngày nay vẫn còn được duy trì tốt. Tòa nhà lâu đời nhất Frankfurt cũng ở đó, nhà thờ Justinus (Justinuskirche). Các lần sát nhập cuối cùng là vào những năm 1972 và 1978 ở phía Tây-Bắc. Các khu vực này tất nhiên là có ít điểm chung nhất với vùng trung tâm Frankfurt.
== Lịch sử ==
Frankfurt am Main được nhắc đến lần đầu tiên vào ngày 22 tháng 2 năm 794 trong một văn kiện của vua Charlemagne (Karl der Große) gửi đến Tu viện Sankt Emmeram ở Regensburg. Trong văn kiện viết bằng tiếng La Tinh này có ghi là: "...actum super fluvium Moin in loco nuncupante Franconofurd" (...cấp ở sông Main tại một nơi được gọi là Frankfurt). Thật ra việc dân cư liên tục đến khu đồi này từ thời kỳ Đồ Đá mới đã được chứng minh. Cũng tại nơi này sau đó đã hình thành một doanh trại quân sự La Mã cổ xưa và trong triều đại Merowinger là triều đình của vua Vương quốc Frank. Vào năm 843, Frankfurt có thời gian đã trở thành nơi ngự trị quan trọng nhất của các vua thuộc vương quốc Frank Đông và là nơi tổ chức Hội nghị Đế chế (Reichstag) của Đế quốc La Mã Thần thánh. Vào năm 1220, Frankfurt trở thành thành phố đế chế tự do (Freie Reichsstadt).
Vào năm 1356, Sắc lệnh vàng (tiếng Ta tinh: aurea bulla) tuyên bố Frankfurt trở thành nơi bầu cử chính thức của các vị vua của người La Mã sau khi một số cuộc bầu cử nhà vua đã được tiến hành tại đây. Bắt đầu từ năm 1562 các vị Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh cũng được làm lễ đăng quan tại đây, mà vị Hoàng đế cuối cùng là Franz II của Vương triều Habsburg.
Vào thế kỷ 18, thành phố Frankfurt am Main là quê hương của đại thi hào Đức Johann Wolfgang von Goethe. Sau khi Đế quốc La Mã Thần thánh bị tan rã, Frankfurt gia nhập Liên minh Rhein và trở thành kinh đô của Đại Công quốc Frankfurt ngắn ngủi (1810-1813) dưới thời của hầu tước Karl Theodor von Dalberg.
Sau đó Frankfurt trở thành thành phố tự do, lần này thì trong Liên minh Đức. Quốc hội liên bang (Liên minh Đức) được tổ chức tại thành phố này. Vào năm 1848 trong các quốc gia Đức xảy ra cuộc Cách mạng tháng 3. Đại hội Quốc gia Frankfurt được triệu tập đã họp trong Nhà thờ Thánh Phaolô (Frankfurt).
Trong cuộc chiến tranh Phổ-Áo 1866 Frankfurt trung thành với liên minh. Ý kiến công chúng nghiên về phía của Áo và hoàng đế nhiều hơn mặc dầu tại Frankfurt cũng đã có nhiều ý kiến kêu gọi cho một liên minh tự nguyện với vương quốc Phổ vì những lý do kinh tế và ngoại giao. Vào ngày 18 tháng 7 thành phố bị đạo quân Rhein của Phổ chiếm đóng và phải chịu trả tiền đền bù chiến tranh nặng nề. Ngày 2 tháng 10 nước Phổ chính thức chiếm cứ thành phố và vì thế mà thành phố cuối cùng đã mất đi thể chế như là một nhà nước độc lập của mình. Frankfurt được chia về cho quận Wiesbaden của tỉnh Hessen-Nassau.
Việc xâm chiếm này thật ra đã có lợi cho sự phát triển kinh tế của thành phố để trở thành một trung tâm công nghiệp với dân cư tăng trưởng nhanh chóng. Frankfurt sáp nhập nhiều địa phương lân cận trong những thập niên tiếp theo và mở rộng diện tích thành gấp hai lần so với thời gian trước năm 1866. Đầu thế kỷ 20 Frankfurt vì thế là thành phố có diện tích lớn nhất của Đức trong một thời gian ngắn.
Trong thời gian của Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia 9.000 người Do Thái từ Frankfurt đã bị chở đi trại tập trung. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai các cuộc bỏ bom của quân đội đồng minh đã phá hủy gần như toàn bộ khu phố cổ và khu phố trung tâm. Nhưng quang cảnh thành phố mà cho đến năm 1944 là gần như vẫn thuộc về thời kỳ Trung cổ - ngay từ thời gian đấy đã là độc nhất vô nhị cho một thành phố lớn của Đức – cũng đã bị mất đi trong thời kỳ xây dựng hiện đại. Nhiều phần rộng lớn của khu phố cổ ngày xưa mang quang cảnh của những công trình xây dựng bê tông từ những năm 50, tại những nơi mà ngày xưa là một hệ thống nhằng nhịt những đường phố nhỏ giữa những ngôi nhà cổ đứng sát cạnh nhau.
Sau khi chiến tranh chấm dứt quân đội Mỹ đặt trụ sở chính tại Frankfurt. Tiếp theo đó Frankfurt trở thành trụ sở hành chánh cho ba vùng do quân đội Mỹ, Anh và Pháp chiếm đóng. Trong cuộc bầu cử chọn thủ đô liên bang, Frankfurt đã thất bại sít sao trước Bonn là thành phố được ưa chuộng của Konrad Adenauer. Một tòa nhà quốc hội đã được xây dựng ở Frankfurt và ngày nay là trụ sở của Đài truyền thanh Hessen. Trong thời gian sau chiến tranh thành phố đã phát triển trở thành một vùng đô thị kinh tế và trở thành trụ sở của Ngân hàng Trung ương châu Âu năm 1999.
== Tôn giáo ==
Đọc bài chính về tôn giáo tại Frankfurt amMain.
Là một thành phố có nhiều dân tộc và văn hóa, Franfurt có nhiều nhóm tôn giáo khác nhau mà trong đó không phải là tất cả đã đăng ký công khai.
Các tôn giáo chính có truyền thống ở Frankfurt là đạo Tin Lành Luther và đạo Do Thái. Mặc dầu thành phố đế chế tự do này đã tham gia phong trào Cải cách vào năm 1522 nhưng do quan hệ mật thiết với hoàng đế (công giáo) nên giáo khu Công giáo vẫn có hoàn toàn tự do tín ngưỡng. Giáo khu đã dùng Nhà thờ lớn Frankfurt như là nhà thờ xứ đạo. Năm 1786 giáo khu Cải cách cũng được cho phép. Nhờ vào cuộc di dân rộng lớn trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20, con số những người theo Công giáo đã lại gần bằng những người theo đạo Tin Lành.
Xứ đạo Do Thái Frankfurt với khoảng 7.200 thành viên là một trong 4 xứ đạo lớn trong nước Đức bên cạnh xứ đạo tại Berlin.
== Chính trị ==
Đọc bài chính về chính trị tại Frankfurt am Main
Trong thời gian hiện nay một liên minh bốn bên (CDU, SPD, Đảng Xanh và FDP) đang cầm quyền tại Frankfurt.
Đề tài thời sự mà ủy ban hành chánh thành phố và các nghị sĩ thành phố đang quan tâm ngoài những đề tài khác là việc xây dựng mở rộng Cảng hàng không Rhein-Main sắp được tiến hành hay cái gọi là Kế hoạch khung cho nhà cao tầng.
Frankfurt kết nghĩa với các thành phố sau đây:
Hiệp định hữu nghị được ký kết với các thành phố sau đây:
== Kinh tế và hạ tầng cơ sở ==
Theo một danh sách xếp hạng của trường Đại học Tổng hợp Liverpool Frankfurt có thể là thành phố giàu nhất châu Âu (theo tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người), tiếp theo sau đó là Karlsruhe, Paris và München.
Với 922 việc làm trên 1.000 người dân cư Frankfurt có mật độ việc làm cao nhất Đức. Con số khoảng 600.000 việc làm với chỉ khoảng 650.000 dân số xuất phát từ những người hằng ngày từ bên ngoài vào thành phố Frankfurt để làm việc, vì thế mà tổng sản phẩm quốc nội của dân cư tại chỗ được nâng cao rất nhiều. Do đó thật ra chỉ vào lúc ban ngày thì mới có thể gọi Frankfurt là thành phố có hơn 1 triệu dân, mặt khác sự giàu có theo thống kê nói trên có thể nhìn thấy tại các thành phố và làng mạc lân cận như Bad Homburg, Königsstein hay Kronberg hưởng lợi nhờ vào tiền thuế đóng góp của những người có việc làm tại Frankfurt. Chính thành phố Frankfurt là thành phố có nợ trên đầu người cao nhất Đức (không kể các thành phố đồng thời cũng là một tiểu bang) do chính sách xây dựng công cộng rộng rãi trong những năm của thập niên 1980 dưới thời của các thị trưởng thuộc CDU là Walter Wallmann và Wolfram Brück.
Trong một danh sách xếp hạng thành phố lớn với chất lượng sống cao nhất, Frankfurt đứng thứ năm trên toàn thế giới. Mặc dầu vậy năm 2003 thành phố đã có tội phạm hình sự cao nhất Đức. Thế nhưng thống kê này bị bóp méo vì trong thời điểm ban ngày Frankfurt là một thành phố có hơn 1 triệu dân do có nhiều người vào thành phố để làm việc nhưng tỷ lệ tội phạm hình sự chỉ được tính với dân số là 650.000 người. Thêm vào đó toàn bộ vi phạm tại phi trường (Ví dụ như buôn lậu) cũng được mang vào thống kê này.
=== Giao thông ===
Nhờ vào vị trí trung tâm mà thành phố Frankfurt am Main là một trong những đầu mối giao thông quan trọng nhất trong châu Âu.
Về một mặt, xa lộ liên bang số 5 (A 5) và xa lộ liên bang số 3 (A 3) giao nhau tại Ngã tư xa lộ Frankfurt (Frankfurter Kreuz), là ngã tư xa lộ có lượng lưu thông xe nhiều nhất châu Âu, về mặt khác thành phố có Cảng hàng không Frankfurt, một trong những phi trường lớn nhất thế giới với 52,9 triệu lượt khách hàng không trong năm 2005.
Về giao thông đường sắt, với nhà ga trung tâm Frankfurt (Main) thành phố cũng có nhà ga lớn nhất châu Âu tính theo lượt hành khách (khoảng 350.000 lượt hành khách hằng ngày). Thế nhưng tầm quan trọng về vận tải hàng hóa trên đường sắt lại giảm đi: trong 2 nhà ga hàng hóa thì chỉ có nhà ga nhỏ hơn là còn hoạt động trong khi nhà ga lớn đã ngưng hoạt động và một phần khu đất này được sử dụng bởi Hội chợ Frankfurt.
Trong giao thông đường thủy Frankfurt được kết nối với những vùng công nghiệp quan trọng trong Nordrhein-Westfalen và Hà Lan bằng sông Rhein và được liên kết với tây nam của Trung Âu bằng Kênh đào Main-Donau.
Giao thông trong thành phố và vùng phụ cận bao gồm mạng lưới tàu nhanh Rhein-Main (S-Bahn), tàu điện ngầm Frankfurt, tàu điện Frankfurt, xe buýt và nhiều đường tàu hỏa ngoại ô và khu vực. Có thể đến nhà ga trung tâm Frankfurt bằng tất cả các tuyến tàu nhanh, gần như toàn bộ các tuyến tàu điện và bằng 2 tuyến trong số 7 tuyến đường tàu điện ngầm. Các điểm giao thông quan trọng khác là Hauptwache, nơi 8 tuyến tàu nhanh và 5 tuyến tàu điện ngầm giao nhau, và Konstablerwache (8 tuyến tàu nhanh, 4 tàu điện ngần và 1 tàu điện). Đây là hai bến tàu nằm dưới con đường mua sắm Zeil.
=== Hội chợ ===
Hội chợ thương mại có một truyền thống lâu đời tại Frankfurt. Theo những nhận biết mới nhất, với Hội chợ Frankfurt thành phố Frankfurt là thành phố hội chợ đầu tiên của thế giới. Ngay từ thời kỳ Trung cổ những người chuyên mua bán hàng hóa từ thành phố này sang thành phố khác đã có thể chào mời hàng của họ tại đây. Frankfurt được kết nối với Leipzig, địa điểm hội chợ lớn thứ nhì trong Thánh chế La Mã dân tộc Đức (Hội chợ Leipzig), bằng con đường Via Regia.
Các hội chợ quan trọng ở Frankfurt là Hội chợ sách Frankfurt, Triển lãm Ô tô Quốc tế (IAA), Achema và Ambiente Frankfurt, là hội chợ hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới.
=== Doanh nghiệp ===
Trái với quan niệm phổ biến, tại Frankfurt không những chỉ có doanh nghiệp tài chính. Gần như không ở trong thành phố Đức nào khác lại có nhiều doanh nghiệp hàng đầu trên quốc tế từ nhiều ngành khác nhau như ở Frankfurt, ngoài những doanh nghiệp khác là các tập đoàn hóa học, công ty quảng cáo, doanh nghiệp phần mềm và Call-Center. Bộ phận phát triển và nhiều bộ phận quan trọng khác của Công ty Đường sắt Đức (Deutsche Bahn) nằm trong trung tâm của công ty tại Gallus. Nhờ vào Hoechst AG, thành phố Frankfurt nhiều năm đã là "nhà thuốc thế giới". Khu công nghiệp Höchst là một trong 3 địa điểm lớn nhất của công nghiệp dược phẩm và hóa. Nhiều hiệp hội như Hiệp hội công nghiệp hóa học (Đức), Hiệp hội chế tạo máy và thiết bị Đức, Hiệp hội kỹ thuật điện và công nghệ thông tin cùng với Ủy ban tiêu chuẩn kỹ thuật điện tử và Hiệp hội doanh nghiệp sản xuất ô tô Đức. Thêm vào đó, Hiệp hội thương mại sách Đức là hiệp hội tổ chức Hội chợ sách Frankfurt cũng có trụ sở tại Frankfurt. Phía người lao động được đại diện tại Frankfurt với trụ sở chính của các công đoàn IG Metall và IG BAU.
Nhưng đặc biệt Frankfurt am Main là một trung tâm tài chính và chứng khoán được biết đến trên toàn thế giới. Trong khu vực trung tâm Frankfurt là trụ sở chính của ba trong số các ngân hàng lớn nhất Đức: Deutsche Bank AG, Commerzbank AG và Dresdner Bank AG. Thêm vào đó là nhiều ngân hàng tư nhân quan trọng cũng có trụ sở tại Frankfurt như Bankhaus Metzler, Hauck & Aufhäuser Privatbankiers, Delbrück-Bethmann-Maffei, BHF Bank, DZ BANK, Deka, Frankfurter Sparkasse von 1822 và Ngân hàng bang Hessen-Thüringen. Phần lớn trong số gần 300 ngân hàng khác không phải là doanh nghiệp nội địa. Frankfurt là thị trường cổ phiếu lớn thứ nhì châu Âu với thị trường chứng khoán Frankfurt và hệ thống giao dịch điện tử XETRA do Deutsche Börse AG vận hành.
=== Công sở và tổ chức nhà nước ===
Bên cạnh Ngân hàng Liên bang Đức, ngân hàng KfW và Ngân hàng Trung ương châu Âu, văn phòng của Công ty Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation) tại Đức cũng đặt trụ sở tại Frankfurt.
Ngoài ra Frankfurt là trụ sở của Thư viện Đức, của Tòa trung thẩm Hessen cũng như là của Tòa án Lao động Hessen và có Sở chỉ huy cảnh sát riêng.
Frankfurt là nơi đặt trụ sở của 88 lãnh sự. Chỉ có New York và Hamburg là có nhiều đại diện ngoại giao hơn mà không phải là thủ đô của một nước. Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Frankfurt-Eckenheim là tổng lãnh sự Mỹ lớn nhất trên thế giới.
=== Truyền thông đại chúng ===
Frankfurt, một trong những thành phố báo chí lâu đời nhất thế giới, là nơi đặt trụ sở của hai tờ nhật báo phát hành trên toàn nước Đức có khuynh hướng chính trị khác nhau: Frankfurter Allgemeine Zeitung tự do bảo thủ và Frankfurter Rundschau tự do cánh tả. Ngoài ra được phát hành tại Frankfurt là tờ báo địa phương (bảo thủ) Frankfurter Neue Presse.
Bên cạnh các nhật báo, trong giới truyền thông đại chúng tại Frankfurt còn có một vài tạp chí đáng chú ý. Journal Frankfurt là tờ báo nổi tiếng nhất thành phố về các buổi biểu diễn, lễ hội và những cái gọi là insider tipps. Nhà xuất bản Öko-Test trong Frankfurt-Bockenheim chuyên về các tạp chí chung quanh đề tài sinh thái học mà được biết nhiều nhất là tờ tạp chí có cùng tên. Cũng ở tại Frankfurt-Bockenheim là tòa soạn của tạp chí trào phúng Titanic.
Đài truyền thanh lâu đời nhất Frankfurt là đài tư nhân Südwestdeutsche Rundfunkdienst AG được thành lập năm 1924, tiền thân của đài truyền hình và phát thanh nhà nước Hessische Rundfunk ngày nay. Tập đoàn truyền thông Mỹ Bloomberg TV cũng có studio trong trung tâm thành phố. Nhiều đài phát thanh phát sóng từ Frankfurt, ví dụ như Main FM, Radio X và Hit Radio FFH. Trụ sở thông tấn xã Reuters tại Đức cũng đặt tại Frankfurt.
== Đào tạo và nghiên cứu ==
Tại Frankfurt có nhiều trường đại học và đại học thực hành (Fachhochschule). Trường đại học nổi tiếng nhất và lâu đời nhất của thành phố là Trường Đại học Tổng hợp Johann Wolfgang Goethe được thành lập năm 1914 với 4 cơ sở tại Frankfurt-Bockheim, Frankfurt-Westend, Frankfurt-Riedberg và Bệnh viện trường Đại học Frankfurt. Bên cạnh đó có trường Hfb – Business School of Finance & Management, nguyên là Trường Đại học Kinh tế Ngân hàng.
Trong lãnh vực nghệ thuật Frankfurt một mặt có Trường Đại học Quốc gia về Nghệ thuật tạo hình (Staatliche Hochschule für bildende Künste), do Johann Friedrich Städel thành lập năm 1817, về mặt khác là Trường Đại học Âm nhạc và Nghệ thuật biểu diễn Frankfurt am Main (Hochschule für Musik und Darstellende Kunst Frankfurt am Main).
Trường Đại học thực hành Frankfurt am Main, được thành lập năm 1971 từ nhiều cơ sở khác nhau, có nhiều ngành học với trọng điểm trong các bộ môn về kinh tế và kỹ thuật ứng dụng.
Ngoài ra trong thành phố còn có các Viện Max Planck về Lịch sử luật pháp châu Âu, lý sinh học và nghiên cứu não (brain research). Có quan hệ mật thiết với Trường Đại học Tổng hợp là Frankfurt Institute for Advanced Studies, một cơ sở liên ngành nghiên cứu lý thuyết cơ sở trong vật lý, hóa học, sinh học, thần kinh học và tin học, được tài trợ từ nhiều nguồn khác nhau.
== Thắng cảnh ==
Đọc bài chính về thắng cảnh tại Frankfurt am Main.
=== Phố cổ ===
Ba trong số những thắng cảnh quan trọng nhất của thành phố nằm trong Khu phố cổ Frankfurt: Nhà thờ lớn Frankfurt, quảng trường Römerberg và Nhà thờ thánh Phaolô (Frankfurter Paulskirche)
Nhà thờ lớn (Kaiserdom St. Bartholomäus) với ngọn tháp phía tây thuộc thời Hậu Gothic đã là nơi bầu và thăng quan của hoàng đế Đức. Dẫn từ Nhà thờ lớn đến quảng trường Römerberg là Königsweg (hoàng lộ), đoạn đường của hoàng đế vừa thăng quang đi đến tiệc mừng trong tòa nhà đô chính ngày nay. Trước Nhà thờ lớn Frankfurt là Vườn lịch sử (Historische Garten) với các khai quật khảo cổ thời La Mã và triều đại Franken.
Quảng trường Römerberg là quảng trường trung tâm của khu phố cổ với tòa nhà đô chính (Römer) từ thế kỷ 14, Nhà thờ thánh Nicholas cũ (Alte Nikolaikirche) thuộc đầu thời kỳ kiến trúc Gotic và loạt nhà về phía Đông của quảng trường được tái xây dựng lại sau khi bị tàn phá trong chiến tranh. Giữa Römerberg và Zeil là Nhà thờ Đức Mẹ được xây dựng trong thế kỷ 14. Nhà thờ thánh Phaolô là một công trình xây dựng theo lối kiến trúc Cổ điển, được khánh thành vào năm 1789, đã là nơi tụ họp của Hội nghị Quốc gia 1848/1849. Quảng trường trước nhà thờ là một nơi sống động với nhiều quán cà phê.
=== Bờ sông Main và cầu sông Main ===
Cả hai bờ sông Main ngày càng phát triển trở thành không gian hấp dẫn nhất của thành phố, điều này một phần cũng nhờ vào đóng góp của dự án "Bờ sông bảo tàng", việc thiết kế lại bờ sông và các cầu qua sông Main có kiến trúc đẹp. Chiếc Cầu cũ (Alte Brücke) được nhắc đến lầu đầu tiên trong văn kiện vào năm 1222 và hằng trăm năm đã từng là công trình xây dựng quan trọng nhất của thành phố. Eiserner Steg, một cây cầu sắt dành cho người đi bộ được khánh thành vào năm 1869 là một trong những biểu tượng của thành phố Frankfurt.
=== Nhà cao tầng ===
Đọc bài chính về nhà cao tầng tại Frankfurt am Main.
Bên cạnh Mátxcơva và Luân Đôn, Frankfurt là thành phố châu Âu có nhiều nhà cao tầng ngay trong trung tâm thành phố. Nổi tiếng là Tháp Hội chợ (Messeturm), Commerzbank-Tower là tòa nhà chọc trời cao thứ nhì châu Âu hiện nay, các tòa nhà là trụ sở chính của Dresdner Bank (Silver Tower), của Deutsche Bank hay của Ngân hàng Trung tâm châu Âu. Tòa nhà cao tầng duy nhất mà công chúng có thể vào tự do là Maintower với chỗ nhìn toàn cảnh ở độ cao 200 m.
=== Sachsenhausen ===
Khu phố Frankfurt-Sachsenhausen, được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1192, trên bờ Nam sông Main là một khu phố vui chơi và có nhiều quán được ưa thích mà trong đó vẫn còn một vài quán bán rượu vang táo (Apfelwein) có truyền thống và một phần là cũng rất lâu đời. Công trình xây dựng lớn ở bờ sông Main của khu phố này là Nhà thờ ba Vua (Dreikönigskirche), ngoài ra là Tháp Goethe (Goetheturm), một trong những công trình xây dựng bằng gỗ cao nhất Đức.
=== Nhà ga trung tâm và khu nhà ga ===
Nhà ga trung tâm Frankfurt, khánh thành năm 1888, là nhà ga lớn nhất châu Âu tính theo số lượng đường ray và khách đi tàu. Khu nhà ga Frankfurt là nơi hòa hợp của các nền văn hóa khác nhau. Tại đây có một sự pha trộn đặc biệt của rất nhiều cửa hàng và quán ăn nhiều loại khác nhau từ nhiều vùng văn hóa khác nhau. Khu nhà ga Frankfurt sống động suốt 24 tiếng trong ngày không những chỉ vì khu phố đèn đỏ của những người mại dâm. Khu phố nhà ga này cũng có thể được coi là ví dụ điển hình cho những mâu thuẫn thành thị của một thành phố là nơi đến có tính quốc tế. Người ăn xin, nghiện rượu và nghiện ma túy hiện diện tại đó bên cạnh dòng người đi vào thành phố làm việc cũng như là bên cạnh những nhân viên ngân hàng trong bộ vét tông sang trọng, khách hội chợ quốc tế và khách du lịch. Kaiserstraße, đường mà du khách nhìn thấy khi đứng ngay trước cổng chính của nhà ga trung tâm, là một đại lộ thành phố mà trên đó có thể quan sát được sự giàu có, khốn khổ, mua bán đa văn hóa, nhà ngân hàng cao tầng và mại dâm trong các nhà cũ của Thời kỳ Thành lập đứng ngay bên cạnh nhau.
== Văn hóa ==
=== Viện bảo tàng ===
Thành phố có một chương trình văn hóa đa dạng, trong đó là một hệ thống viện bảo tàng với hơn 60 viện bảo tàng lớn nhỏ và nhiều nhà triển lãm ở hai bên bờ sông Main.
Trên bờ sông Main thuộc về khu Sachsenhausen là các viện triển lãm Städel (tranh), Liebieghaus (tượng), Viện Bảo tàng Viễn thông, Viện Bảo tàng Kiến trúc Đức, Viện Bảo tàng Phim Đức, Viện Bảo tàng Văn hóa thế giới và Viện Bảo tàng Nghệ thuật ứng dụng Frankfurt. Lễ hội Bảo tàng (Frankfurt) (Museumsuferfest) được tổ chức hằng năm trên bờ sông.
Trên bờ sông Main của khu phố cổ là Viện Bảo tàng Do thái Frankfurt, Viện bảo tàng khảo cổ trong Tu viện dòng Camelite, Viện Bảo tàng Lịch sử Frankfurt (lịch sử thành phố), nhà triển lãm Kunsthalle Schirn và Viện Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại nổi tiếng thế giới.
Ngoài ra trong khu Frankfurt-Westend còn có Viện Bảo tàng Tự nhiên Senckenberg, trong đó ngoài những hiện vật khác là các khai quật hóa thạch. Trong Frankfurt-Nordend là EXPLORA, một viện bảo tàng về các ảo ảnh.
=== Nhà hát opera, nhà hòa nhạc và sân khấu ===
Bên cạnh nhiền viện bảo tàng, Frankfurt có một nhà hát opera, Nhà hát opera và kịch nghệ Frankfurt (Opern- und Schauspielhaus Frankfurt) ngày nay thuộc về một trong những nhà hát hàng đầu thế giới và đã nhiều lần được trao tặng giải thưởng Nhà hát opera trong năm. Nhà hát opera cũ (Alte Oper), khánh thành năm 1881 đã bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ hai và được tái khánh thành vào năm 1981 như nhà hòa nhạc. Nhà hát opera cũ có một trong những gian phòng hòa nhạc đẹp nhất trên thế giới và ngày nay có tầm quan trọng như là một trong những viện bảo tàng âm nhạc tại châu Âu. Các nhà hòa nhạc quan trọng khác là Hội trường thế kỷ (Jahrhunderhalle) tại Frankfurt-Unterliederbach và Festhalle tại Frankfurt-Bockenheim. Frankfurt có một nhà hát đặc biệt dành cho trẻ em, đó là nhà hát múa rối Klappmaul.
=== Hội chợ sách ===
Hội chợ sách Frankfurt với đỉnh cao là buổi trao Giải thưởng Hòa bình của Hiệp hội Thương mại sách Đức trong nhà thờ thánh Pha lô được tổ chức từ thế kỷ 15 là một sự kiện quan trọng không chỉ về kinh tế (hội chợ sách lớn nhất thế giới) mà còn là một sự kiện văn hóa quan trọng.
=== Lễ hội ===
Thuộc vào trong những lễ hội quan trọng nhất là Dippemess, được tổ chức mỗi năm 2 lần, một lần trong mùa xuân, thông thường là từ tháng 4 đến tháng 5 và thêm một lần nữa trong mùa thu, chính xác hơn là trong tháng 9. Cũng nổi tiếng là Wäldchentag, bao giờ cũng được tổ chức vào ngày thứ Ba sau Lễ Hiện Xuống trong khu rừng thành phố của Frankfurt. Lễ hội âm nhạc Sound of Frankfurt hằng năm cũng rất được ưa thích đặc biệt là những người trẻ tuổi. Năm 2003 buổi biểu diễn âm nhạc ngoài trời này đã đạt kỷ lục mới với 500.000 người đến dự. Một sự kiện đặc biệt tại Frankfurt là Lễ hội bảo tàng (Museumsuferfest). Với cách pha trộn đặc biệt từ âm nhạc và văn hóa lễ hội đã thu hút cho đến 3 triệu người yêu thích văn hóa hằng năm trong mùa Thu vào những cuối tuần. Thêm vào đó "Đêm viện bảo tàng" và "Đêm của Clubs" cũng được ưa thích. Cộng với những lễ hội đã kể trên còn có các lễ hội riêng của từng khu vực của thành phố như Lễ hội lâu đài Höchst.
Trong những năm 2003, 2004 và 2005 Down-Sportlerfrestival, lễ hội của các nhà thể thao mang Hội chứng Down được tổ chức tại Frankfurt. Năm 2006 lễ hội cũng được dự tính sẽ tổ chức tại Frankfurt (ngày 13 tháng 5 năm 2006).
== Thể thao ==
Frankfurt am Main là quê hương của nhiều hội thể thao có tiếng:
Eintracht Frankfurt (Bóng đá nam, Bundesliga)
FSV Frankfurt (Bóng đá nam, Oberliga Hessen và Bóng đá nữ, Bundesliga)
1. FFC Frankfurt (Bóng đá nữ, Bundesliga)
Frankfurt Lions (Khúc côn cầu trên băng, DEL)
Frankfurt Galaxy (Bóng bầu dục Mỹ, NFL Europe)
Skyliners Frankfurt (Bóng rổ, Bundesliga)
SG Wallau-Massenheim (Bóng ném)
Turngemeinde Bornheim (Câu lạc bộ thể thao lớn nhất của bang Hessen)
FTG-Frankfurt
TSG Nordwest 1898 Frankfurt/M e.V.
Frankfurter Äpplers
Các sự kiện thể thao quan trọng được tổ chức hằng năm bao gồm
EuroCity-Marathon (Chạy việt dã)
Rund um den Henninger-Turm (Đua xe đạp trên đường phố)
Ironman Germany (Ba môn phối hợp)
JPMorgan Chase Corporate Challenge (Chạy đua dành cho các đội của doanh nghiệp)
Các sân vận động quan trọng nhất của thành phố là:
Commerzbank-Arena (bóng đá), nơi thi đấu của Giải bóng đá vô địch thế giới 2006 nhưng lúc đấy sẽ ở dưới tên là FIFA WM-Stadion Frakfurt am Main, vì Commerzbank không phải là nhà tài trợ chính thức của FIFA.
Sân vận động tại Bornheimer Hang (bóng đá và điền kinh)
Nhà thể thao Ballsporthalle Frankfurt am Main (bóng rổ, bóng ném)
Nhà chơi thể thao trên băng (Eissporthalle) Frankfurt (khúc côn cầu trên băng)
Trường đua Niederred (đua ngựa)
Ngoài ra tại Frankfurt là trụ sở của các hiệp hội thể thao quan trọng nhất:
Liên đoàn Thể thao Đức (DSB)
Ủy ban Olympia Quốc gia
Liên đoàn Bóng đá Đức (DFB)
Liên đoàn Thể dục dụng cụ Đức (DTB)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Lịch sử ===
Hessisches Städtebuch; Band IV 1. Teilband aus "Deutsches Städtebuch. Handbuch städtischer Geschichte" - (Sách thành phố Hessen; Tập IV, Phần 1 từ "Sách thành phố Đức. Sổ tay lịch sử thành phố"), Stuttgart, 1957
Ludwig Börne, Juden in der freien Stadt Frankfurt (Người Do Thái trong thành phố tự do Frankfurt), 1820, Sämtliche Schriften, Bd. II, Düsseldorf 1964
Lothar Gall (Hg.), FFM 1200. Traditionen und Perspektiven einer Stadt (FFM 1200. Truyền thống và triển vọng của một thành phố), Sigmaringen 1994
Waldemar Kramer (Hg.), Frankfurt Chronik (Biên niên sử Frankfurt), Frankfurt am Main 1964
Walter Gerteis, Das unbekannte Frankfurt (Frankfurt chưa được biết đến), 3 Bde. Frankfurt am Main 1960-1963
Ernst Mack, Von der Steinzeit zur Stauferstadt. Die frühe Geschichte von Frankfurt am Main (Lịch sử ban đầu của Frankfurt am Main), Frankfurt am Main 1994
Armin Schmid, Frankfurt im Feuersturm. Die Geschichte der Stadt im Zweiten Weltkrieg (Frankfurt trong con bão lửa. Lịch sử thành phố trong Chiến tranh thế giới thứ hai), Societäts Verlag Frankfurt am Main 1984, ISBN 3-7973-0420-X
Hans-Otto Schembs, Spaziergang durch die Frankfurter Geschichte (Dạo xuyên qua lịch sử thành phố), Frankfurt am Main 2002, ISBN 3-7829-0530-X
=== Kiến trúc ===
Heinz Ulrich Krauß, Frankfurt am Main. Daten, Schlaglichter, Baugeschehen, Frankfurt am Main 1997 (Biên niên sử với trọng điểm về kiến trúc và lịch sử xây dựng)
Dieter Bartetzko, Frankfurts hohe Häuser (Nhà cao tầng của Frankfurt), Frankfurt am Main und Leipzig 2001 (Mô tả việc xây dựng nhà cao tầng tại Frankfurt)
Ulf Jonak, Die Frankfurter Skyline, Frankfurt am Main und New York 1997 (Quan điểm có tính cách phê bình về việc xây dựng nhà cao tầng)
Heinz Schohmann, Frankfurt am Main und Umgebung. Von der Pfalzsiedlung zum Bankenzentrum (Frankfurt am Main. Từ một ngôi làng cho đến trung tâm ngân hàng), Köln 2003 (Hướng dẫn du lịch văn hóa Dumont với trọng điểm về kiến trúc)
Hugo Müller-Vogg, Hochhäuser in Frankfurt (Nhà cao tầng tại Frankfurt), Frankfurt am Main 1999 (Giới thiệu về tất cả các nhà cao tầng tại Frankfurt)
=== Linh tinh ===
Marco Polo-Führer Frankfurt, Mairs Geographischer Verlag, 5. Auflage, Ostfildern 2001 (Hướng dẫn du lịch)
Barbara M. Henke, Thomas Kirn u. Ruth Rieger, Edition Die deutschen Städte - Frankfurt. Verlag C. J. Bucher, München 1994 ISBN 3-7658-0873-3
Elisabeth Ehrhorn, Carmen Sorgler u. Renate Schildheuer, (S)Turmspitzen, Societätsverlag ISBN 3-7973-0618-0
Christian Setzepfandt, Geheimnisvolles Frankfurt am Main (Frankfurt am Main bí ẩn). Wartberg Verlag ISBN 3-8313-1347-4
Martin Mosebach: Mein Frankfurt (Frankfurt của tôi). Frankfurt am Main: Insel 2002. (Insel-Taschenbuch, 2871) ISBN 3-458-34571-X
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của thành phố
Ảnh Frạnkfurt |
tonegawa susumu.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Tonegawa. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Tonegawa Susumu (利根川 進, Tonegawa Susumu, Lợi Căn Xuyên Tiến), sinh ngày 6/9/1939, là một nhà khoa học Nhật Bản, đã đoạt giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1987.
== Cuộc đời và Sự nghiệp ==
Tonegawa sinh tại Nagoya, Nhật Bản và học trường Hibiya High School tại Tokyo. Sau đó ông học ở Đại học Kyoto và đậu bằng cử nhân năm 1963. Ông đậu bằng tiến sĩ ở Đại học California tại San Diego nơi ông làm việc cùng với tiến sĩ Masaki Hayashi. Ông nghiên cứu hậu tiến sĩ ở Viện Salk tại San Diego trong phòng thí nghiệm của Renato Dulbecco, rồi làm việc ở Viện miễn dịch học Basel (Basel Institute for Immunology) ở Basel, Thụy Sĩ, nơi ông trình diễn các thí nghiệm miễn dịch nổi tiếng của mình.
Năm 1981, ông trở thành giáo sư ở Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), và thành lập cùng điều khiển cái mà nay gọi là Picower Institute for Learning and Memory ở MIT. Năm 1982, ông được Đại học Columbia trao giải Louisa Gross Horwitz chung với Barbara McClintock, người đoạt giải Nobel năm 1983. Ông là ủy viên Hội đồng quản trị Khoa học ở The Scripps Research Institute. Hiện nay ông là giám đốc của RIKEN-MIT Center for Neural Circuit Genetics tại MIT. Ngày 1 tháng 4 năm 2009, ông làm giám đốc của RIKEN Brain Science Institute (BSI) ở Wako-shi, Nhật Bản.
Năm 1987, ông đoạt giải Nobel Sinh lý và Y khoa cho công trình phát hiện nguyên tắc di truyền cho các thế hệ của sự đa dạng kháng thể.
Mặc dù đoạt giải Nobel cho công trình nghiên cứu trong lãnh vực miễn dịch học, nhưng Tonegawa được đào tạo thành một nhà sinh học phân tử. Những năm sau này, ông đã hướng sự quan tâm của mình vào nền tảng tế bào và phân tử của sự tạo thành trí nhớ (memory).
Tonegawa nổi tiếng về việc làm sáng tỏ cơ cấu di truyền trong hệ miễn dịch thích ứng. Để hoàn tất sự đa dạng của các kháng thể cần thiết để bảo vệ chống lại bất cứ loại kháng nguyên (antigen) nào, thì hệ miễn dịch sẽ đòi hỏi hàng triệu gien mã hóa cho các kháng thể khác nhau, nếu mỗi kháng thể được mã hóa bởi một gien. Thay vì, như Tonegawa đã chỉ ra trong một loạt các thí nghiệm nổi tiếng bắt đầu năm 1976, chất liệu gien có thể tự sắp xếp lại để tạo thành dãy lớn các kháng thể khả dụng. So sánh DNA của các tế bào B(một loại của bạch cầu) trong chuột phôi thai và trưởng thành, ông đã quan sát thấy các gien trong các tế bào B chín muồi của các chuột trưởng thành di chuyển khắp nơi, tái phối hợp, và xóa đi để tạo thành sự đa dạng của vùng thay đổi của các kháng thể.
== Giải thưởng ==
Giải Louisa Gross Horwitz (1982)
Giải quốc tế Quỹ Gairdner (1983)
Giải Robert Koch (1986)
Giải Albert Lasker cho nghiên cứu Y học cơ bản (1987)
Giải Nobel Sinh lý và Y khoa (1987)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nobelprize.org, Giải Nobel Y học năm 1987
Autobiography on Nobel official website</
Faculty Webpage at MIT Biology
Description of research at the Picower Institute for Learning and Memory
Website chính thức của Giải Louisa Gross Horwitz. |
bảng xếp hạng bóng đá nữ fifa.txt | Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA (tiếng Anh: FIFA Women's World Rankings) ra đời vào năm 2003 với lần công bố đầu tiên vào tháng 3 năm đó để tiếp nối sự ra đời của bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA 10 năm trước đó. Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA được ra đời nằm so sánh trình độ của các đội bóng quốc tế ở bất kì thời điểm nào.
== Chi tiết hệ thống xếp hạng ==
Bảng xếp hạng bóng đá nữ thế giới của FIFA được tính dựa trên tất cả các trận đấu quốc tế mà một đội tuyển từng tham gia từ năm 1971, khi trận đấu bóng đá nữ đầu tiên được FIFA công nhận diễn ra giữa Pháp và Hà Lan. (Trong khi bảng xếp hạng bóng đá nam chỉ xét các trận trong bốn năm gần nhất.)
Bảng xếp hạng bóng đá nữ thế giới của FIFA được đưa ra một cách ngầm định để phản ánh các kết quả thi đấu gần nhất. (Bảng xếp hạng của nam được đưa ra một cách rõ ràng theo một thang đối chiếu.)
Bảng xếp hạng bóng đá nữ thế giới của FIFA chỉ được cập nhật bốn lần một năm. Thông thường, thứ hạng được công bố vào tháng ba, sáu, chín và mười hai. (Trong các năm diễn ra World Cup, lịch công bố có thể được điều chỉnh để phản ánh kết quả các trận đấu của World Cup.)
Hệ thống xếp hạng bóng đá nữ thế giới của FIFA gần như tương tự hệ thống tính điểm bóng đá Elo. FIFA coi thành tích của các đội với ít hơn năm trận đấu là tạm thời và để các đội này ở cuối bảng xếp hạng. Bất kì đội nào không thi đấu một trận nào trong 18 tháng thì không được xếp hạng.
== Các đội tuyển dẫn đầu ==
Tới nay Đức và Hoa Kỳ là hai đội duy nhất từng dẫn đầu. Hai đội bóng thay phiên giữ hai vị trí đầu bảng kể từ lần cập nhật thứ ba vào tháng 10 năm 2003, ngay sau Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2003, cho tới 12 năm 2008. Đức đứng ở vị trí thứ ba sau Na Uy trong hai đợt xếp hạng đầu tiên, và bị đánh bật khỏi top hai lần nữa vào tháng 3 năm 2009 bởi Brasil. Mặc dù vậy việc bảo vê thành công ngôi vô địch châu Âu tại vòng chung kết Euro 2009 đưa họ trở lại top 2 vào tháng 9 năm 2009 và giữ vị trí này cho đến nay.
Trong lần cập nhật nhật của FIFA vào tháng 7 năm 2015, đội tuyển Mỹ trở lại ngôi đầu bảng sau chức vô địch World Cup 2015. Tuy nhiên sau tấm huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 2016 và nhiều kết quả tốt, tới tháng 3 năm 2017, Đức giành lại ngôi đầu sau hơn một năm rưỡi ở vị trí thứ hai.
== Công thức tính toán ==
Bảng xếp hạng được tính toán dựa trên công thức sau:
R
b
e
f
=
R
a
f
t
+
K
(
S
a
c
t
−
S
e
x
p
)
{\displaystyle R_{bef}=R_{aft}+K(S_{act}-S_{exp})}
S
e
x
p
=
1
1
+
10
−
x
/
2
{\displaystyle S_{exp}={\frac {1}{1+10^{-x/2}}}}
x
=
R
b
e
f
−
O
b
e
f
±
H
c
{\displaystyle x={\frac {R_{bef}-O_{bef}\pm H}{c}}}
Với
Các công thức được xây dựng như vậy để các đội mới gia nhập có thể có khoảng 1000 điểm, còn các đội hàng đầu có thể vượt con số 2000 điểm. Để được xếp hạng, một đội phải thi đấu ít nhất 5 trận với các đội xếp hạng, và không được vắng bóng quá 18 tháng. Ngay cả khi không được chính thức xếp hạng, số điểm của các đội vẫn được giữ nguyên.
=== Kết quả thực tế của trận đấu ===
Đặc điểm chính của kết quả thực tế là dù thắng, thua hay hòa thì hiệu số bàn thắng bại vẫn được tính đến.
Nếu trận đấu kết thúc có đội thắng người thua, đội thua được trao một lượng % như bảng bên dưới, với kết quả luôn nhỏ hơn hoặc bằng 20% (vì hiệu số bàn thắng bại luôn lớn hơn 0). Kết quả thực tế của trận đấu dựa trên hiệu số bàn thắng bại và số bàn thắng hai đội ghi được. Lượng phần trăm còn lại được trao cho đội thắng. Ví dụ, tỉ số 2–1 sẽ có kết quả lần lượt của đội thắng và đội thua là 84%–16%, tỉ số 4–3 cho kết quả 82%–18%, và tỉ số 8–3 có kết quả được chia là 96.2%–3.8%. Như vậy, một đội vẫn có thể mất điểm ngay cả khi chiến thắng nếu họ không "thắng với tỉ số đủ lớn".
Nếu hai đội hòa hai đội sẽ được trao cùng số %, nhưng con số đó dựa trên số bàn ghi được nên tổng số % sẽ không nhất thiết phải là 100%. Ví dụ tỉ số 0–0 sẽ mang về cho mỗi đội 47%, tỉ số 1–1 là 50%, và 4–4 là 52.5%.
==== Bảng kết quả thực tế (tính cho đội không thắng) ====
=== Sân trung lập hay sân nhà–sân khách ===
Trước đây, các đội chủ nhà có sẵn 66% số điểm, các đội khách nhận 34% còn lại. Để làm rõ điều này, khi hai đội không thi đấu trên sân trung lập, tham số
R
b
e
f
{\displaystyle R_{bef}}
của đội chủ nhà tăng thêm 100 điểm. Tức là, nếu hai đội đồng thứ hạng chơi trên sân của một trong hai đội, đội chủ là sẽ được dự đoán là thắng ở một tỉ lệ bằng với một đội thi đấu trên sân trung lập với lợi thế 100 điểm. Cách biệt 100 điểm này tương ứng với lợi thế 64%–36% của kết quả được mong đợi.
Điều này cũng giúp việc xác định hằng số tỉ lệ
c
{\displaystyle c}
có giá trị 200. Cùng với việc cách biệt 100 điểm tạo ra kết quả được mong đợi ở tỉ lệ 64%–36%, thì cách biệt 300 điểm tạo ra kết quả được mong đợi ở tỉ lệ 85%–15%.
=== Mức độ quan trọng của trận đấu ===
== Lịch công bố bảng xếp hạng ==
Bảng xếp hạng được công bố bốn lần một năm, thường vào ngày thứ sáu.
== Xem thêm ==
Hệ số Elo bóng đá thế giới
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA
Bóng đá nữ trên thế giới
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bảng xếp hạng hiện tại - FIFA.com
Bảng xếp hạng bóng đá nữ của Ziaian
Cách xếp hạng - FIFA.com |
macro photography.txt | Thuật ngữ Macro (trong nhiếp ảnh) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: ακρός — to, lớn. Nếu hiểu theo tiếng Việt thì Macro photography chính là việc chụp cận cảnh. Ảnh Macro thu được từ đối tượng chụp thường có tỉ lệ từ 1:2 (nhỏ hơn đối tượng 2 lần), 1:1 đến 10:1 (lớn hơn đối tượng 10 lần), đôi khi lên đến 20:1.
Đối với việc chụp các chủ thế nhỏ, người ta thường sử dụng khái niệm micrograph hay photomicrograph.
Ngày nay, các hãng máy ảnh lớn như Canon, Nikon v.v. đều sản xuất những ống kính chuyên dụng cho việc chụp Macro như:
AF Micro-Nikkor 60mm f/2.8D
AF Micro-Nikkor 105mm f/2.8D
AF Micro-Nikkor 200mm f/4D IF-ED
AF Zoom-Micro Nikkor 70-180mm f/4.5-5.6D ED
Canon EF 100mm f/2.8 L IS USM Macro Lens
Canon EF 100mm f/2.8 USM Macro Lens
Canon EF 180mm f/3.5 L USM Macro Lens
Sigma 150mm f/2.8 EX DG HSM Macro Lens
v.v.
== Macro và Close-up ==
Đây là 2 khái niệm gây ra tương đối nhiều nhầm lẫn trong nhiếp ảnh khi cùng đề cập tới khía cạnh là chụp cận cảnh. Ranh giới rõ ràng giữa 2 khái niệm này đôi khi rất mơ hồ nhưng có một số điểm khác biệt giữa Macro photography và Close-up photography như sau:
Đa số các hình chụp Macro thường có độ phóng đại nhất định, còn các hình Close-up thì tỉ lệ này là 1:1;
Với các máy ảnh kĩ thuật số du lịch thường có 1 chế độ chụp Macro cho phép người chụp ở cự ly rất gần khoảng 2–5 cm. Với các máy SLR thì khoảng cách chụp Macro thường được ghi cụ thể trên từng ống kính (Lens Canon 50 mm f1.8 cho phép khoảng cách chụp gần tối thiểu là 0,45 m hay 1,5 ft; Lens Canon 18-55 mm f3.5-5.6 thì khoảng cách đó vào khoảng 0,25 m hay 0,8 ft). Ngoài ra còn có các ống kính chuyên dụng dành cho Macro. Ngược lại Close-up thì có thể chụp với bất kì ống kính nào khi chụp ở khoảng cách gần, cận cảnh, chỉ bắt lấy đối tượng mà không lấy toàn bộ khung cảnh.
Do việc chụp Macro đòi hỏi người chụp phải đưa máy ảnh đến khoảng cách rất gần đối tượng nên người chụp không thể chụp ảnh Macro trong một thời gian dài nếu không có sự hỗ trợ của các thiết bị chuyên dụng. Ảnh Close-up không đòi hỏi việc này.
Tóm lại ảnh Macro sẽ thu được khi chúng ta chụp trong khoảng cách gần hơn rất nhiều so với ảnh Close-up.
Để dễ hình dung hơn, có thể mô tả một số hệ thống quang học (hay có thể hiểu là các cách khác nhau) giúp chụp Macro và Close-up.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.the-digital-picture.com/canon-lenses/Canon-Macro-Lens.aspx
Macro photography with Nikon&Tamron
http://www.stoneheadstudio.com/vn/TapChiDienTu/TatCaBaiViet/35mauMacroPhotographytuyetdep.aspx |
putrajaya.txt | Putrajaya là thành phố được quy hoạch nhân tạo và được thành lập năm 1995 tại Malaysia. Tọa lạc khoảng 30 km về phía Nam của Kuala Lumpur, Putrajaya là trung tâm hành chính mới của liên bang Malaysia. Nhiều tòa nhà chính phủ và văn phòng đã dời về đây để tránh vấn đề giao thông và môi trường đông đúc tại Kuala Lumpur. Putrajaya là một lãnh thổ Liên bang giống như Kuala Lumpur hay đảo Labuan ở Đông Malaysia.
Phía Tây của thành phố là Cyberjaya, một thành phố hiện đại và được coi như Thung lũng Silicon của Malaysia, cùng nằm trên "Siêu hành lang Truyền thông đa phương tiện" của đất nước này.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official Site of Putrajaya
State Development Office - State Development Office Wilayah Persekutuan
Intelligent City Online
Master Developer
Collection of Putrajaya maps |
thần thoại la mã.txt | Thần thoại La Mã là các đức tin của người La Mã cổ đại, chịu ảnh hưởng lớn của thần thoại Hy Lạp và các nền tôn giáo khác như Ai Cập, Ba Tư.
== Một số vị thần La Mã ==
== Tham khảo == |
liên minh latinh.txt | Liên minh Latin (tiếng Anh: Latin Union) là một tổ chức quốc tế của các nước sử dụng ngôn ngữ Roman. Tiêu chí của tổ chức này giữ gìn, phát huy cũng như giới thiệu di sản văn hóa chung này và các chỉnh thể đồng nhất của cộng đồng các nước nói và ảnh hưởng của tiếng Latin. Liên minh Latin được thành lập năm 1954 tại Madrid, Tây Ban Nha và tồn tại như một thể chế chức năng cho đến năm 1983. Sau đó, số lượng thành viên của tổ chức này từ 12 tăng lên 37 thành viên bao gồm các quốc gia châu Mĩ, châu Âu, châu Phi và một số ít các nước ở khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Những tên gọi chính thức của Liên minh Latin (được đề nghị bởi các quốc gia thành viên) là: Unión Latina trong tiếng Tây Ban Nha, União Latina trong tiếng Bồ Đào Nha, Union latine trong tiếng Pháp, Unione Latina trong tiếng Ý, Uniunea Latină trong tiếng România, và Unió Llatina trong tiếng Catalan.
== Tiêu chuẩn thành viên ==
Theo website chính thức của Liên minh Latin, việc kết nạp thành viên tuân theo các tiêu chuẩn sau:
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ chính thức có nguồn gốc từ tiếng Latin
Latin-derived language used in education
Latin-derived language commonly used in the mass media or in daily life
Ngôn ngữ/Văn hóa:
Existence of significant literature in a Latin-derived language
Press và publication in Latin-derived language
Television with a strong proportion of the programming in a Latin-derived language
Radio widely broadcast in a Latin-derived language
Văn hóa:
Direct or indirect inheritance of the legacy of Ancient Rome, to which the state remains faithful and which it perpetuates mainly through the education of Latin
Cultural education of Latin-derived foreign languages
Exchange programmes with other Latin countries
Societal organization, particularly in the legal plane, based on respect for fundamental liberties, the general principles of human rights và democracy, tolerance and freedom of religion
== Quốc gia thành viên ==
Các quốc gia thành viên của Liên minh Latin bao gồm các nước ở cả 5 châu lục
=== Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Español) ===
=== Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: Português) ===
=== Pháp (tiếng Pháp: Français) ===
=== Ý (tiếng Ý: Italiano) ===
=== România (tiếng România: Română) ===
=== Catalan (tiếng Catalunya: Català) ===
Andorra
== Quan sát viên thường trực ==
Argentina
Tòa Thánh
Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Malta
== Ngôn ngữ chính thức ==
Ngôn ngữ chính thức của Liên minh Latin bao gồm tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng România và nhóm ngôn ngữ Catalan. Tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Pháp, tiếng Ý được sử dụng khi làm việc. Tất cả văn bản được công bố đều được dịch ra 4 thứ tiếng nói trên.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức (tiếng Catalan) (tiếng Tây Ban Nha) (tiếng Pháp) (tiếng Ý) (tiếng Bồ Đào Nha) (tiếng România) |
làng lụa hà đông.txt | Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km) là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước. Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Lụa Hà Đông từng được chọn may trang phục cho triều đình.
Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình. "Lụa Hà Đông" cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại.
== Lịch sử ==
Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng hơn 1100 năm, bà A Lã Thị Nương là vợ của Cao Biền, thái thú Giao Chỉ, từng sống ở trang Vạn Bảo. Trong thời gian ở đây, bà đã dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng.
Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho Việt Nam.
Năm 2009, làng Vạn Phúc có khoảng 1000 khung dệt, sản xuất nhiều loại lụa cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước, trong đó có các loại lụa cao cấp như lụa vân quế hồng diệp và lụa vân lưỡng long song phượng.
Năm 2010, để kỉ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, đã thiết kế mẫu lụa Long Vân với hoa văn mang hình tượng lưỡng long chầu Khuê Văn Các được cách điệu trong hình ảnh hoa sen.
Trong nhiều cửa hàng lụa ở Hà Nội và cả ở làng Vạn Phúc, lụa Trung Quốc chất lượng kém hơn được trà trộn vào bán với danh nghĩa lụa Vạn Phúc, làm giảm uy tín của lụa Vạn Phúc.
== Đặc điểm ==
Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc có nhiều loại: lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, kỳ, cầu, đũi. Khổ vải thường là 90–97 cm. Theo ca dao truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc có lẽ là lụa vân - loại lụa mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt.
The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.
Lụa vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung có đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song Hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý...
== Lụa Hà Đông trong văn hóa đại chúng ==
Bài hát Áo lụa Hà Đông thuộc thể loại Tình khúc 54-75 là một tác phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa. Bài thơ của Nguyên Sa có đoạn:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
Năm 2007, bộ phim cùng tên của đạo diễn Lưu Huỳnh ra mắt, bộ phim này đạt được giải thưởng tại một số liên hoan phim danh tiếng của châu Á.
== Đình làng Vạn Phúc ==
Đình Vạn Phúc nằm ở giữa làng Vạn Phúc, là nơi thờ Thành Hoàng làng. Ả Lã Đê Nương Ngài là người "Sinh vị dân – Tử vị Quốc". Ngài được phong "Thượng đẳng thần" và thần hiệu là "Đương cảnh Thành Hoàng – Quốc vương thiên tử - Nga Hoàng đại vương" Theo Lịch sử truyền lại. Khi đất nước gặp ngoại xâm, các triều Lý – Trần – Lê về đây xin Ngài hiển linh phù trợ. Thành Hoàng được các triều vua ban tặng 11 sắc phong, tôn Thành Hoàng làng Vạn Phúc có công "Hộ nước – Giúp dân". Vào thời Lê trung Hưng, khi đánh đuổi nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, Vua Lê đóng đô ở Thăng Long (Khoảng những năm 1593) đã cấp tiền cho dân Vạn Phúc dựng đình để thờ Thành Hoàng làng. Rất có thể đó là vua Lê Kính Tông niên hiệu Hoằng Định (1601 - 1619). Như vậy có thể thấy Đình Vạn Phúc khả năng được dựng vào những năm đầu tiên của thế kỷ 17, chắc chắn không phải là Tranh tre nứa lá,vì đến thời hiện đại vẫn còn 1 chân tảng tròn đường kính khoảng ngoài 40 cm ở phía sau tường Hậu Cung, có thể chính là chân tảng cột quân của Đình.Dấu vết rõ nhất của kiến trúc đời Lê hiện nằm trong tòa Hậu cung đình với sàn thờ gác lửng, là đặc trưng kiến trúc đình làng giai đoạn Tk 17. Các cụ trong làng vẫn khẳng định Hậu cung có trước, sau mới dựng Phương Đình.Sau này nhiều khả năng do biến loạn thời cuộc hay hỏa hoạn, hoặc xuống cấp mà Phương đình được dựng mới trong thời gian vua Tự Đức (1878) trị vì.Hiện ở Phương đình có 1 dòng chữ ghi niên đại là Hoàng triều Tự Đức vạn vạn niên chi tam thập tuế thứ Đinh Sửu...nguyệt, cốc nhật... nghĩa là năm Tự đức thứ 30 - 1878 dựng.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Áo lụa Hà Đông
== Liên kết ngoài == |
đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (trung quốc).txt | Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (tiếng Trung giản thể: 全国人民代表大会, tiếng Trung phồn thể: 全國人民代表大會 bính âm: Quánguó Rénmín Dàibiǎo Dàhuì, âm Hán-Việt: Toàn quốc Nhân dân đại biểu đại hội, viết tắt là Nhân đại (chữ Hán: 人大; bính âm: Réndà), trên danh nghĩa là cơ quan quyền lục tối cao và là cơ quan lập pháp duy nhất ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tương đương với Quốc hội ở các nước khác. Dù đại biểu phần lớn vẫn do Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định, kể từ đầu thập niên 1990, cơ quan này đã bớt là cơ quan hình thức và không có quyền lực và đã trở thành một diễn đàn dàn xếp các khác biệt về chính sách giữa các bộ phận khác nhau của đảng và chính quyền. Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc cũng là diễn đàn để các dự luật được tranh luận trước khi được thông qua. Người đứng đầu cơ quan này được gọi là Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, tức Chủ tịch Quốc hội.
== Bầu cử ==
Đại biểu của Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc được bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm thông qua một hệ thống bầu cử nhiều cấp. Các đại biểu của Đại hội được các Đại hội đại biểu cấp tỉnh bầu ra, các đại hội cấp tỉnh này lại được cấp dưới tỉnh bầu ra, cứ như thế cho đến cấp hành chính thấp nhất do người dân bầu cử trực tiếp.
Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng lãnh đạo giữ quyền kiểm soát thực tế về thành phần đại biểu của Đại hội đại biểu Nhân dân các cấp, đặc biệt là Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc thông qua hệ thống bầu cử này. Ở cấp thấp nhất thì sự chi phối này ít hơn và có ít sự dàn xếp trước kết quả đại biểu trước bầu cử và có một số đại biểu ngoài đảng. Tuy nhiên, cơ cấu của hệ thống bầu cử khiến cho việc một ứng cử viên cấp cao hơn được bầu vào Đại hội đại biểu cấp trên mà không có sự chấp thuận của đảng là khó xảy ra.
Một trong những cơ chế như thế là sự hạn chế số ứng cử viên tương ứng với số ghế. Ở cấp quốc gia, tối đa là có 110 ứng cử viên cho 100 ghế còn cấp tỉnh là 120 ứng cử viên cho 100 ghế. Tỷ lệ này tăng lên đối với cấp thấp hơn cho đến cấp hương, cấp thấp nhất, nơi không có giới hạn về số ứng cử viên cho mỗi ghế.
Ngoài ra, Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc điều hành công việc hàng ngày của Đại hội. Do đảng viên chiếm đa số áp đảo nền kiểm soát hoạt động của Đại hội.
Dù trên thực tế Đảng Cộng sản Trung Quốc phê duyệt đại biểu Đại hội, khoảng 1/3 số đại biểu của Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc vẫn được chọn thông qua hội nghị chính trị dành cho các đại biểu ngoài đảng. Các ghế này dành cho các chuyên gia kỹ thuật và các đại biểu của các bên liên hiệp nhỏ hơn. Dù các đại biểu này đóng góp chuyên môn và tạo ra sự đa dạng hơn về quan điểm nhưng không có chức năng là một phái đối lập chính trị.
=== Đại biểu của Hồng Kông, Macau và Đài Loan ===
Một số đại biểu của Đại hội Đại biểu Nhân dân đại diện cho các Đặc khu Hành chính Hồng Kông, Macau và lãnh thổ Đài Loan. Các đại biểu từ Hồng Kông và Macau được bầu thông qua một tuyển cử đoàn chứ không phải là bầu cử phổ thông, nhưng bao gồm các nhân vật chính trị sống trong các khu vực đó. Các tuyển cử đoàn bầu các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân phần lớn giống như thành phần của các cơ quan bầu cử nên các trưởng đặc khu. Cách thức bầu cử đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân các đặc khu đã bắt đầu sau các cuộc chuyển giao chủ quyền các lãnh thổ này cho Trung Quốc. Giữa năm 1975 cho đến khi chuyển giao chủ quyền, cả Hồng Kông và Macau đều được đại diện bởi các đại biểu do Đại hội Đại biểu tỉnh Quảng Đông bầu ra.
Đoàn đại biểu Đài Loan trong Đại hội Đại biểu Nhân dân chỉ nhằm làm biểu tượng tuyên bố chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với hòn đảo này nhưng không bao gồm ai hiện đang sống ở Đài Loan mà chỉ là những người đang sống ở Đại lục với một số mối liên hệ với Đài Loan, như trước đây đã sống ở Đài Loan hay có gốc gác ở đó. Số lượng các nhà kinh doanh Đài Loan sống ở Đại lục và hải ngoại trở về Đại lục làm đại biểu Đại hội ngày càng tăng. Các đại biểu đại diện cho Đài Loan được bầu cử thông qua một đơn vị bầu cử bao gồm các cư dân Trung Hoa Dân Quốc đang hoặc trước đó đã cư trú ở Đài Loan hoặc có tổ tiên ở Đài Loan.
== Danh sách Chủ tịch (Ủy viên trưởng) Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa ==
Lưu Thiếu Kỳ (1954-1959)
Chu Đức (1959 - 6 tháng 7 năm 1976)
Diệp Kiếm Anh (5 tháng 3 năm 1978 - 18 tháng 6 năm 1983)
Bành Chân (1983-1988)
Vạn Lý (1988-1993)
Kiều Thạch (1993-1998)
Lý Bằng (1998-2003)
Ngô Bang Quốc (2003-2013)
Trương Đức Giang (từ 2013)
== Tham khảo == |
đội tuyển bóng đá quốc gia iraq.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Iraq là đội tuyển cấp quốc gia của Iraq do Hiệp hội bóng đá Iraq quản lý. Đội đã 1 lần dự World Cup vào năm 1986. Tại giải năm đó, đội để thua cả 3 trận trước Mexico, Paraguay, Bỉ và bị loại ở vòng 1.
Sau khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ, đội đã có những bước trở lại đấu trường quốc tế vô cùng ấn tượng với tuyển Olympic. Đội bóng trẻ của Iraq đã đứng hạng tư tại Thế vận hội Athens 2004 và giành huy chương bạc Á vận hội 2006, cùng với chức vô địch châu Á 2007
== Danh hiệu ==
Vô địch châu Á: 1
Vô địch: 2007
Hạng tư: 1976; 2015
Vô địch Tây Á: 1
Vô địch: 2002
Á quân: 2007; 2012
Hạng ba: 2000
Hạng tư: 2004; 2010
Vô địch cúp vùng Vịnh: 3
Vô địch: 1979; 1984; 1988
Á quân: 1976; 2013
Vô địch cúp Ả Rập: 3
Vô địch: 1964; 1966; 1985; 1988
Hạng ba: 2012
Bóng đá nam tại Asiad:
1982
2006
2014
Hạng tư: 1978
Bóng đá nam tại Olympic:
Hạng tư: 2004
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
Đội tuyển Iraq mới có 1 lần tham dự vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới và dừng bước ngay ở vòng bảng.
Chú giải 1: Thứ hạng ngoài bốn hạng đầu là không chính thức, dựa trên so sánh giữa các đội tuyển lọt vào cùng một vòng đấu
=== Cúp bóng đá châu Á ===
=== Cúp Liên đoàn các châu lục === |
nihoni.txt | Nihoni là tên gọi của nguyên tố hóa học với ký hiệu là Nh và số hiệu nguyên tử 113.
Nó nằm ở vị trí nguyên tố nặng nhất của nhóm 13 (IIIA) mặc dù đồng vị ổn định đầy đủ chưa được xác định để cho phép thực hiện các thí nghiệm xác định vị trí của nó. Nó là nguyên tố hoá học tổng hợp trong phòng thí nghiệm và chưa được tìm thấy tồn tại ở tự nhiên.
Được phát hiện lần đầu vào năm 2003 trong phân rã của ununpenti (thực hiện bởi một viện nghiên cứu hạt nhân ở Dubna, Nga), và được tổng hợp trực tiếp năm 2004 bởi viện nghiên cứu RIKEN. Chỉ có 14 nguyên tử nihoni đã được quan sát cho đến ngày nay. Đồng vị tồn tại lâu nhất đã được biết là 286Uut có chu kỳ bán rã vào khoảng 20 giây, cho phép tiến hành các thí nghiệm hóa đầu tiên để nghiên cứu các tính chất hóa học của nó. Vào tháng 12 năm 2015, IUPAC và Liên đoàn Quốc tế về Vật lý Thuần túy và Ứng dụng (IUPAP) đã công nhận các yếu tố của nguyên tố này và phân công cho viện nghiên cứu RIKEN ưu tiên nghiên cứu cho khám phá này.
== Tên gọi ==
Nihonium là tên gọi được IUPAC đề xuất cho nguyên tố có số hiệu 113, thay thế cho tên gọi tạm thời là ununtri.
Ngày 12 tháng 8 năm 2012, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nishina RIKEN vì khoa học máy gia tốc tại Nhật Bản đã tuyên bố tổng hợp nguyên tố 113 bằng cách va chạm các hạt nhân kẽm (mỗi hạt nhân có 30 proton) vào một lớp bitmut mỏng (có 83 proton). Tháng 12 năm 2015, IUPAC công nhận nguyên tố này và công cho RIKEN là nhà khám phá đầu tiên. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nhóm nhà vật lý học châu Á sẽ đặt tên nguyên tố mới.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách nguyên tố hóa học
Danh sách đồng vị tự nhiên
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com: Ununtrium
Uut and Uup Add Their Atomic Mass to Periodic Table
Apsidium: Ununtrium 113 Uut
Discovery of Elements 113 and 115
Superheavy elements |
ngài cáo tuyệt vời.txt | Ngài cáo tuyệt vời là phim điện ảnh Mỹ 2009 dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Roald Dahl. Phim được công chiếu vào ngày 13 tháng 11 năm 2009 tại Hoa Kỳ.
== Phân vai ==
George Clooney vai Mr. Jack Fox
Meryl Streep vai Mrs. Felicity Fox
Jason Schwartzman vai Ash Fox
Eric Chase Anderson vai Kristofferson Silverfox
Wallace Wolodarsky vai Kylie Sven Opossum
Bill Murray vai Clive Badger
Willem Dafoe vai Rat
Owen Wilson vai Coach Skip
Michael Gambon vai Franklin Bean
Robin Hurlstone vai Walter Boggis
Hugo Guinness vai Nathan Bunce
Helen McCrory vai Mrs. Bean
Jarvis Cocker vai Petey
Brian Cox vai Dan Peabody - Action 12 Reporter
Adrien Brody vai Rickity
Garth Jennings vai Anak Bean
Wes Anderson vai Weasel
Roman Coppola vai Squirrel Contractor
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Fantastic Mr. Fox tại Internet Movie Database
Fantastic Mr. Fox tại Rotten Tomatoes
Fantastic Mr. Fox tại Allmovie
George Clooney, Bill Murray and Wes Anderson Interview for Fantastic Mr. Fox |
apple maps.txt | Apple Maps là một dịch vụ ứng dụng và công nghệ bản đồ trực tuyến trên web miễn phí do Apple Inc. cung cấp. Ứng dụng này được cài mặt định trên các thiết bị chạy hệ điều hành iOS, OS X và watchOS. Apple Maps có thể hướng dẫn đường đi và thời gian lái xe dự kiến cho ô tô, người đi bộ, hướng dẫn chuyển hướng giao thông công cộng.. Ngoài ra, ứng dụng còn có tính năng 3D Flyover xem dạng vệ tinh, cho phép người sử dụng có thể xoay bản đồ dạng 3D và xem ở các góc độ khác nhau.
Ngày 19 tháng 9 năm 2012, Apple ra mắt Apple Maps và cài đặt mặt định trên hệ điều hành iOS, thay thế cho Google Maps, ứng dụng được Apple cài đặt mặt định trên hệ điều hành trước đó.
== Xem thêm ==
Comparison of web map services
MapQuest
HERE Maps
Google Maps
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Design comparison between Apple Maps and Google Maps |
bohri.txt | Bohri (phát âm như "bô-ri") là nguyên tố hóa học với ký hiệu Bh và số nguyên tử 107, và là nguyên tố nặng nhất trong nhóm 7 (VIIB). Bohri là nguyên tố tổng hợp, đồng vị bền nhất của nó là 270Bh, có chu kỳ bán rã 61 giây. Các thí nghiệm hóa học xác nhận vị trí dự đoán của bohri là đồng đẳng nặng hơn đối với rheni với trạng thài ôxi hóa +7.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện ===
Việc tổng hợp đầu tiên được chấp nhận được nhóm nghiên cứu người Đức Peter Armbruster và Gottfried Münzenberg thực hiện năm 1981 tại Gesellschaft für Schwerionenforschung (Viện nghiên cứu ion nặng, GSI) ở Darmstadt từ phản ứng Dubna.
20983Bi + 5424Cr → 262107Bh + n
Năm 1989, nhóm GSI đã làm lại thí nghiệm phản ứng trong khi đang cố gắng đo đạc chức năng kích thích. Trong thí nghiệm này, 261Bh cũng đã được xác định trong kênh bốc hơi 2n và nó được xác nhận rằng 262Bh tồn tại ở 2 trạng thái - trạng thái cơ bản và trạng thái đồng phân.
IUPAC/IUPAP Transfermium Working Group (TWG) thông báo năm 1992 công nhận chính thức nhóm GSI đã phát hiện ra nguyên tố 107.
=== Đặt tên ===
Về mặt lịch sử, nguyên tố 107 được đề cập là eka-rheni.
Nhóm nghiên cứu người Đức đề xuất đặt tên nó là "nielsbohri" (nielsbohrium) với ký hiệu Ns để vinh danh nhà vật lý Đan Mạch Niels Bohr. Các nhà khoa học Liên Xô đã đề xuất tên gọi này cho nguyên tố 105 (mà cuối cùng được gọi là dubni).
Cuộc tranh cãi về tên gọi cho nguyên tố 104 đến 106 nổ ra; IUPAC thông qua tạm thời tên gọi "unnilsepti" (unnilseptium, ký hiệu Uns), là tên theo hệ thống cho nguyên tố này. Năm 1994, hội đồng IUPAC bác bỏ tên "nielsbohri" vì không có ưu tiên cho việc sử dụng tên đầy đủ của một nhà khoa học để đặt cho nguyên tố và do đó nguyên tố 107 được đề xuất đặt tên là "bohri". Điều này bị phản đối bởi những người phát hiện, họ cho rằng họ có quyền đặt tên cho nguyên tố. Vần đề được chuyển về chi nhánh của IUPAC tại Đan Mạch, và họ đã biểu quyết thông qua tên "bohri". Cũng có những lo ngại rằng tên gọi này có thể gây hiểu nhầm với boron và đặc biệt trong việc phân biệt các tên gọi của các oxo-ion bohrat và borat. Dù vậy, tên gọi "bohri" đối với nguyên tố 107 đã được chấp nhận trên trường quốc tế vào năm 1997. IUPAC đề nghị đặt tên các muối bohri là bohriat.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com - Bohrium
Los Alamos National Laboratory - Bohrium
Properties of BhO3Cl |
essex.txt | Essex là một hạt lễ nghi của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở.
== Tham khảo == |
chi cú mèo.txt | Chi Cú mèo (Otus) là một chi chim điển hình trong họ Họ Cú mèo.. Chúng gồm khoảng 45 loài cú có kích thước từ nhỏ tới trung bình (chiều dài 16–35 cm, cân nặng 60-350 gram), nhanh nhẹn, cánh tròn ngắn. Hầu hết trong số chúng có túm lông kiểu "tai" đặc trưng của các loài Cú mèo.
== Các loài ==
Cú mèo lớn Otus gurneyi
Cú mèo trán trắng Otus sagittatus
Cú mèo Andaman Otus balli
Cú mèo đỏ Otus rufescens
Cú mèo cát Otus icterorhynchus
Cú mèo Sokoke Otus ireneae
Cú mèo Flores Otus alfredi
Cú mèo núi Otus spilocephalus
Cú mèo Rajah Otus brookii
Cú mèo Java Otus angelinae
Cú mèo Mentawai Otus mentawi
Cú mèo khoang cổ Otus lettia
Cú mèo Ấn Độ Otus bakkamoena
Cú mèo Sunda Otus lempiji
Cú mèo Nhật Bản Otus semitorques
Cú mèo Wallace Otus silvicola
Cú mèo Palawan Otus fuliginosus
Cú mèo Philippine Otus megalotis
Cú mèo Everett Otus everetti
Cú mèo Negros Otus nigrorum
Cú mèo Mindanao Otus mirus
Cú mèo Luzon Otus longicornis
Cú mèo Mindoro Otus mindorensis
Cú mèo sọc Otus brucei
Cú mèo châu Phi Otus senegalensis
Cú mèo Á-Âu Otus scops
Cú mèo phương Đông Otus sunia
Cú mèo Moluccan Otus magicus
Cú mèo Rinjani Otus jolandae
Cú mèo Mantanani Otus mantananensis
Cú mèo Ryūkyū Otus elegans
Cú mèo Sulawesi Otus manadensis
Cú mèo Sangihe Otus collari
Cú mèo Biak Otus beccarii
Cú mèo Seychelles Otus insularis
Cú mèo Simeulue Otus umbra
Cú mèo Enggano Otus enganensis
Cú mèo Nicobar Otus alius
Cú mèo Pemba Otus pembaensis
Cú mèo Karthala Otus pauliani
Cú mèo Anjouan Otus capnodes
Cú mèo Moheli Otus moheliensis
Cú mèo rừng mưa Otus rutilus
Cú mèo Mayotte Otus mayottensis
Cú mèo Torotoroka Otus madagascariensis
Cú mèo Serendib Otus thilohoffmanni
Cú mèo São Tomé Otus hartlaubi
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
vi phạm bản quyền.txt | Vi phạm bản quyền là
Sao chép nguyên văn (không chỉnh sửa, biên tập, tóm lược) hay là lưu truyền tác phẩm của người khác mà không xin phép (trái phép) dù có ghi rõ nguồn, trích dẫn hoặc không ghi rõ nguồn và tên tác giả chính thức
Thậm chí trầm trọng là có thể công bố thêm hay gây hiểu lầm là các công trình đó là của mình sáng tạo ra (đạo văn, đạo nhạc)
Đây được xem là vi phạm quyền tác giả sở hữu trí tuệ.
== Các tác phẩm được bảo hộ bản quyền ==
Theo Điều 2(viii) của Công ước Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ (intellectual property) được định nghĩa là các quyền liên quan tới:
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học,
Sự thể hiện của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm (thu âm), bản ghi hình (thu hình),
Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của loài người,
Phát minh khoa học,
Kiểu dáng công nghiệp,
Nhãn hiệu (hàng hoá), nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại, thương hiệu, biểu trưng
Quyền (bảo vệ) chống cạnh tranh không lành mạnh,
Và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp/kỹ thuật, khoa học, văn học hay nghệ thuật.
Thí dự như: các bằng sáng chế, thương hiệu, các văn bản, đoạn văn, báo cáo, luận án, dự án, các hình ảnh, tranh, phần mềm, chương trình ứng dụng, các sản phẩm nghệ thuật như sản phẩm ghi hình và thu âm, video, phim (phim điện ảnh, phim truyền hình), âm nhạc, game,....
Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó. Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ công ước được phép nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn.
Tùy theo luật của từng quốc gia mà các tác phẩm có thể được quy định là sở hữu trí tuệ và bảo hộ khác nhau.
== Các dạng vi phạm bản quyền ==
=== Vi phạm về bản quyền một tác phẩm ===
Sao chép nguyên văn một phần hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không có giấy cho phép của người hay giới có bản quyền.
Lưu truyền trái phép một phần hay toàn bộ tác phẩm không thuộc về quyền tác giả của mình
Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng toàn bộ ý tưởng chi tiết cũng như thứ tự trình bày của một tác phẩm bị sao chép. Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưng vẫn có thể cho là một dạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là "bản sao" bắt chước theo nguyên mẫu. Có thể thấy ví dụ ở những luận án cao học không ghi rõ nguồn và tác giả chính.
Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng bị thông dịch lại các ý tưởng sáng tạo (thành ngôn ngữ khác hay thành các dạng khác).
Lưu ý:
Một tác phẩm sẽ không bị xem là vi phạm bản quyền nếu nó là sự tổng hợp có tính sáng tạo riêng từ nhiều hệ thống tác phẩm khác về ý (ý văn, ý nhạc, ý tưởng) và có thông tin rõ ràng về nguồn và tác giả chính. Tuy nhiên, để kết luận rằng một tác phẩm là không hay có vi phạm bản quyền, trường hợp này, thường rất phức tạp và đôi khi phải có sự can thiệp của các luật sư và toà án.
=== Vi phạm bản quyền của một sáng chế ===
Sử dụng lại ý tưởng đã được công bố là sáng chế và bằng sáng chế nguyên thủy vẫn còn đang trong vòng hiệu lực của luật pháp. Ở đây cần lưu ý, một bằng sáng chế tại một quốc gia hay địa phương này, sẽ khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứng dụng nào đó (dựa trên sáng chế đó) tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền, trừ khi bằng sáng chế đó có sự công nhận của quốc tế.
Mô phỏng lại, hay viết lại (bằng một ngôn ngữ khác hay cách viết khác) miêu tả của một ý kiến sáng tạo đã được công nhận là một sáng chế còn trong thời hạn định nghĩa bởi chủ quyền cũng là một dạng vi phạm bản quyền. Dạng này tương đối khó phát hiện nhưng những dấu tích về cấu trúc ý tưởng hay phương cách dàn dựng kỹ thuật sẽ có thể là những dấu tích chứng minh rằng một sáng chế đã bị đánh cắp hay không. Ví dụ: việc sao chép lại các sáng chế trong phần mềm bằng cách dùng ngôn ngữ lập trình khác hơn ngôn ngữ của sáng chế nguyên thủy vẫn thường bị xem là vi phạm bản quyền nếu người viết lại đó mô phỏng theo ý tưởng đã được cấp bằng sáng chế.
Lưu ý:
Có rất nhiều trường hợp hai sáng chế có thể tương tự nhau và không thể xem là ăn cắp của nhau. Việc chứng minh rằng hai sáng chế là từ các ý tưởng độc lập thường được dựa vào các chi tiết như là ngày tháng, người chứng kiến (làm chứng) và, quan trọng hơn, các chi tiết chứng tỏ có sự khác nhau về nguồn gốc, động lực, hay cách cấu trúc của sáng chế.
Tuỳ theo quốc gia, các bằng sáng chế sẽ chỉ có hiệu lực trong một thời gian pháp định nào đó. Các bằng sáng chế có tính quốc tế thường chỉ có hiệu lực tối đa là 20 năm. Sau thời hạn pháp định này, thì các ý tưởng sáng tạo sẽ mặc nhiên được xem là kiến thức chung của nhân loại và mọi người sẽ được sử dụng nó mà không phải xin phép tác quyền.
=== Các dạng vi phạm khác ===
Các dạng vi phạm bản quyền khác có thể bao gồm từ việc sao chép, mô phỏng lại các thương hiệu (trade mark) hay các biểu hiệu (logo) của một tổ chức, cho đến việc sao chép các chi tiết có tính hệ thống mà phải qua một trình tự thời gian dài mới chứng minh được. Những vi phạm này thường rất khó phân định và nhiều lúc phải tốn nhiều thời gian cũng như tài lực để chứng minh trước toà án rằng có hay không có sự vi phạm về bản quyền.
Trong tiếng Việt còn có từ đạo văn chỉ việc ăn cắp bản quyền các văn bản. Một từ tương tự là đạo nhạc, ăn cắp các giai điệu nhạc sáng tác bởi người khác, đạo hình, ăn cắp hoặc chỉnh sửa hình ảnh trái phép hoặc không thuộc về mình.
Ngoại trừ trường hợp ngoại lệ trong các Tôn-giáo: Việc sao chép Tam tạng Kinh điển thì không thể gọi là đạo văn trong kinh điển. Ví dụ: Bạn sao chép kinh, Luật, Luận của Thầy, tổ xuất thế gian hay của các cố Tăng Ni, hoặc bạn được quyền sao chép nội dung kinh của Tác-giả (Là không chép văn Tác-giả) hiện nay .
Ngoại lệ 2: Có những bài văn của các Tăng sĩ viết ra là để truyền bá về văn hóa tâm linh thì đa số là tự do sao chép, Hoặc chính những Tác-giả, soạn-giả Tăng sĩ đó còn khuyến khích sẵn trên bài văn của họ. Xem thử Ví dụ này: Của soạn-giả Thiện Nhật. Nếu việc sao chép của bạn, có viết rõ nơi xuất xứ, ấn phẩm, và tên của soạn-giả hay Tác-giả đó.
== Ví dụ và chiến thuật ==
Ở Việt Nam, tình trạng đạo văn và đạo nhạc những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 đã xảy ra trong nhiều trường hợp. Vụ được biết nhiều trong công chúng là vụ nhạc sĩ Bảo Chấn đạo nhạc khi viết bài Tình thôi xót xa, vụ nhạc sĩ Quốc Bảo đạo nhạc khi viết bài Tuổi 16. Truyện ngắn "Máu của lá" của nhà văn Võ Thị Hảo được cho là bị đạo đến 99% bởi tác giả Phạm Minh Phong
Ở Hoa Kỳ, năm 1993 Microsoft đã bị kiện vị tội ăn cắp bản quyền phát minh của một hãng nhỏ hơn nhiều là hãng Stac Electronics. Các kỹ sư của Microsoft đã dùng kỹ thuật phân tích ngược (reverse engineering) để mô phỏng lại phát minh của Stac Electronic về kỹ thuật phần mềm làm ổ đĩa nén (compressed drive) tên là Stacker từ 1991 mà không trả phí tổn cho Stac. Kết quả vụ kiện là Microsoft phải hủy bỏ các phiên bản MS-DOS 6.0 và 6.2 của mình thay vào đó là phiên bản 6.21 không hỗ trợ ổ đĩa nén và bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, một điều đáng nêu lên là cho tới khi tòa án phán quyết rằng Microsoft có vi phạm bản quyền thì hãng Stac Electronic đã bị phá sản vì không thể bán được sản phẩm mà mình đã phát minh; hãng nhỏ này cũng bị loại khỏi thương trường. Trong thời gian vụ kiện được xử lý, thì Microsoft cũng đã có đủ thì giờ để phát triển một kỹ thuật nén ổ dĩa mới không vi phạm bản quyền cho các phiên bản MS-DOS 7.0 và Windows 95. Đây cũng là một chiến thuật mà các hãng lớn có thể dùng để tiêu diệt các đối thủ nhỏ. Tuy nhiên, phương cách này chỉ được ít hãng lớn áp dụng được vì nó có một số giới hạn (về tài chính và đạo đức chẳng hạn) và quan trọng hơn là điều kiện về vòng phát triển của sản phẩm phải thay đổi rất nhanh (như là trường hợp của kỹ nghệ phần mềm).
Một chiến thuật khác khá phổ biến ở thị trường cạnh tranh là mua lại toàn bộ hãng nhỏ hơn đang có các phát triển mạnh về những kỹ thuật mà mình chưa có. Với chiến thuật này thì các hãng kỹ nghệ sẽ tránh được mọi kiện tụng gây ra do vi phạm bản quyền. Sau khi nắm được các yếu tố kỹ thuật hay công nghệ cần thiết thì họ sẽ tiến hành tái cấu trúc và sa thải bớt các nhân sự nào không cần thiết hay không có tính cạnh tranh. Chiến thuật này có khi dẫn đến thành công nhưng có khi cũng đem lại thất bại. Như trường hợp của hãng Compaq đã mua lại hãng DEC nhưng sau đó không thể tái cấu trúc để tự đứng vững và cuối cùng dẫn tới việc sáp nhập vào hãng HP. Về phần HP, với khả năng quản lý tốt, sau nhiều cuộc tái cấu trúc, tự nó đã đúng vững dần và lấy lại vị trí hàng đầu trong kỹ nghệ máy tính.
Sau đây lại là một phản ví dụ: Ở thị trường Hoa Kỳ hiện rất phổ biến tình trạng hàng hóa Thái Lan nhưng mang nhãn hiệu cầu chứng có tên hoàn toàn Việt Nam. Vì nhiều công ty và hiệp hội ngành nghề tại Việt Nam không chú ý và chậm trễ trong việc đăng ký thương hiệu, các cơ quan quản lý cũng không có hướng dẫn pháp lý kịp thời nên nhiều thương hiệu của Việt Nam đã bị đăng ký và được sử dụng hợp pháp (đối với quốc gia sở tại) bởi những công ty nước ngoài. Điển hình như: Nước mắm Phan Thiết, nước mắm Phú Quốc, cà phê Trung Nguyên, thuốc lá VINATABA, Petro Vietnam, bánh phồng tôm Sa Giang, kẹo dừa Bến Tre, võng xếp Duy Lợi, cà phê Buôn Ma Thuật... Nhà nước Việt Nam cũng rất chậm trễ trong việc luật hóa bản quyền và bảo hộ quyền tác giả, đến năm 2005 mới có Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam chính thức .
== Tại Việt Nam ==
=== Các quy định pháp lý ===
Tại Việt Nam, việc bảo hộ quyền tác giả được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp lý. Một số văn bản pháp quy được liệt kê dưới đây:
Nghị định 76/CP ngày 29 tháng 11 năm 1996 về quyền tác giả
Nghị định 63/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Văn hóa thông tin.
Thông tư 27/2001/TT-BVHTT ngày 10 tháng 5 năm 2001 về thực thi các điểm của nghị định 76/CP.
Thông tư liên tịch 58/TTLT/BVHTT-BTC ngày 17 tháng 10 năm 2003.
Công văn 2209/TM-QLTT ngày 7 tháng 6 năm 2002 về nhiệm vụ của quản lý thị trường trong việc chống hàng giả xâm phạm sở hữu trí tuệ.
Một số điều trong Luật Hải quan, Pháp lệnh An ninh nhân dân, Pháp lệnh Bộ đội biên phòng.
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam số: 50/2005/QH11, ban hành ngày 21 tháng 12 năm 2005: http://www.cov.org.vn/Vietnam/viewNew.asp?newId=155&rd=20051223pu1116
=== Công ước Berne ===
Việt Nam gia nhập Công ước Berne tháng 10 năm 2004. Việc xuất bản của các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam kể từ ngày này trở đi sẽ được điều chỉnh theo các quy định trên đây với ưu tiên áp dụng các quy định của Công ước Berne nếu các quy định pháp luật hiện hành mâu thuẫn với quy định của Công ước.
=== Bùi Minh Tuấn, VTV & YouTube ===
Ngày 28/2/2016, Một tài khoản YouTube của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) bị đóng vì cáo buộc vi phạm bản quyền trên mạng. Bùi Minh Tuấn, chủ tài khoản YouTube tên Yamaha Trung tá cáo buộc: “Bên VTV vi phạm của tôi, phát hiện ra được là gần 20 vụ”. Tuấn cho biết, VTV đã “xóa luôn logo” và xóa luôn dòng chữ “Copyright by Yamaha Trung Tá" của ông.
Chương trình BBC Trending, chuyên giải thích các hiện tượng được bàn tới nhiều trên mạng xã hội trên toàn cầu, cũng đang tìm hiểu vụ việc này.
=== Đăng ký quyền tác giả ===
Xem thêm: Quyền tác giả
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bằng tiếng Việt:
Vụ đạo văn của Viện trưởng viện văn hóa thông tin Nguyễn Chí Bền [2], [3]
Bằng tiếng Anh:
STAC ELECTRONICS, a California corporation, Plaintiff, v. MICROSOFT CORPORATION, a Delaware corporation, Defendant.
== Xem thêm ==
Quyền tác giả và Công ước Berne
Quy định về Vi phạm bản quyền tại Wikipedia.
Quy định vế Quyền tác giả tại Wikipedia
== Liên kết ngoài == |
nam hán.txt | Nam Hán (giản thể: 南汉; phồn thể: 南漢; bính âm: Nánhàn) là một vương quốc tồn tại từ năm 917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960), nằm dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc. Vương quốc này mở rộng kinh đô ở Hưng Vương Phủ (興王府), ngày nay là thành phố Quảng Châu. Nam Hán có quan hệ không chỉ với các vương quốc khác của Trung Quốc mà còn với người Việt (越) phương nam.
== Thành lập ==
Lưu Ẩn (劉隱) được triều đình nhà Đường phong làm tiết độ sứ Thanh Hải quân (Lĩnh Nam Đông đạo) năm 905. Dù nhà Đường sụp đổ hai năm sau đó (907), nhưng Lưu Ẩn không tự phong mình làm vua một vương quốc mới như các vị quan ở phương nam khác đã làm như Tiền Lưu ở Ngô Việt, Dương Hành Mật ở Ngô hoặc Mã Ân ở Sở. Ông được vua nhà Hậu Lương là Chu Ôn phong thêm làm kiểm giáo thái úy kiêm thị trung năm 907. Năm 908 kiêm thêm tiết độ sứ Tĩnh Hải quân và An Nam đô hộ phủ. Năm 909 gia thêm kiểm giáo thái sư, kiêm trung thư lệnh và phong làm Nam Bình vương. Năm 911, đổi thành Nam Hải vương.
Cùng năm này (911) Lưu Ẩn mất, em trai cùng cha khác mẹ là Lưu Nham lên thay. Tới năm 917, Lưu Nham tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt (大越), nhưng chỉ qua năm sau (918) đổi tên thành Đại Hán (大漢). Vì họ của ông là Lưu (劉) là họ của dòng dõi nhà Hán và ông tự tuyên bố là hậu duệ nhà Hán. Vương quốc này thường được sử Trung Hoa gọi là Nam Hán để phân biệt với nước Bắc Hán của Lưu Sùng (951-979) cũng trong thời Ngũ Đại.
== Phạm vi lãnh thổ ==
Với kinh đô ở nơi ngày nay là Quảng Châu, lãnh địa của vương quốc này trải dài dọc theo vùng ven biển của các khu vực mà ngày nay là Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam. Nam Hán đương thời giáp giới với các vương quốc: Mân, Sở và Nam Đường, nước Đại Lý và Tĩnh Hải quân (Đại Việt sau này). Trong một thời gian ngắn (từ khoảng 930-931), Nam Hán chiếm được Tĩnh Hải quân (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay) nhưng không giữ được.
Sau đó Nam Đường lần lượt thôn tính Mân (945) và Sở (951) nên có thêm biên giới chung với Nam Hán.
== Quan hệ với Việt Nam ==
Việt Nam thời thuộc Đường gọi là An Nam đô hộ phủ rồi Tĩnh Hải quân. Trong thời kỳ nhà Đường còn mạnh, khu vực ngày nay là miền Bắc Việt Nam vẫn là một lãnh thổ ổn định và bền vững của người Việt. Tuy nhiên, khi nhà Đường suy yếu cuối thế kỷ 9 thì khu vực này liên tục bị Nam Chiếu xâm lăng.
Sang thời Ngũ Đại, Nam Hán nhân lúc trung nguyên mải đối phó với Khiết Đan và các nước phía bắc nên tranh thủ mở rộng về phía nam. Sau khi đánh bại quân nước Sở năm 928, ổn định biên giới phía bắc, vua Nam Hán là Lưu Nham mang quân đánh chiếm Tĩnh Hải quân (930).
Dù thời kỳ này lãnh thổ của người Việt vẫn chưa có hệ thống chính trị có tổ chức bài bản, các cuộc xâm lăng của Nam Hán phần lớn bị quân dân nước Việt đánh bại. Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của Nam Hán và phá tan quân cứu viện, giết tướng Trần Bảo.
Năm 938, con rể Đình Nghệ là Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán tại trận Bạch Đằng và đã tuyên bố thành lập một quốc gia độc lập. Nam Hán từ đó không dám sang đánh Tĩnh Hải quân nữa.
== Sự sụp đổ của Nam Hán ==
Ngũ Đại kết thúc năm 960 khi nhà Tống được thành lập để thay thế nhà Hậu Chu. Từ thời điểm này, các vua Tống tiếp tục quá trình thống nhất mà các vua nhà Hậu Chu đã tiến hành. Từ thập niên 960 đến 970, nhà Tống tăng cường ảnh hưởng về phía nam.
Năm 971, Tống Thái Tổ sai Phan Mỹ đi đánh và cuối cùng đã buộc vua Nam Hán là Hậu Chủ Lưu Sưởng phải đầu hàng. Nước Nam Hán truyền nối được 4 đời vua, kéo dài 55 năm.
== Các vị vua ==
== Tham khảo ==
Mote F.W. (1999). Imperial China (900-1800). Nhà in Đại học Harvard. tr. 11, 15. ISBN 0-674-01212-7.
Tarling Nicholas biên tập (1999). The Cambridge History of Southeast Asia (Volume One, Part One): From early times to c. 1500. Nhà in Đại học Cambridge. tr. 139. ISBN 0-521-66369-5.
== Xem thêm ==
Ngũ Đại Thập Quốc
Thời kỳ tự chủ Việt Nam
Họ Khúc
Dương Đình Nghệ
Nhà Ngô
Nhà Tống
== Liên kết ngoài ==
chinaknowledge.de: Southern Han |
kinh tế bồ đào nha.txt | Kinh tế Bồ Đào Nha là một nền kinh tế thị trường. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2005, được xuất bản bởi Diễn đàn kinh tế thế giới, xếp Bồ Đào Nha đứng thứ 22, đứng trước nhiều nước như Tây Ban Nha, Ireland, Pháp, Bỉ, Hồng Kông và Thổ Nhĩ Kỳ. Về chỉ số công nghệ, Bồ Đào Nha xếp thứ 20 và chỉ số Thể chế công cộng xếp thứ 15.
Các lĩnh vực công nghiệp chính là: dầu tái chế, hóa dầu, xi măng, ô tô và đóng tàu, điện và điện tử, máy móc, giấy, sợi dệt, quần áo, lông, đồ đạc, gốm, thực phẩm. Ngành chế tạo chiếm 33% xuất khẩu. Bồ Đào Nha là nước đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất Vonfam và đứng thứ 8 về sản xuất rượu vang.
Lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng nhanh, tạo ra 66% GDP và cung cấp việc làm cho 52% dân số lao động. Tỉ lệ tăng trưởng đáng kể nhất là lĩnh vực thương mại, do đưa vào các phương tiện hiện đại phục vụ cho vận chuyển, phân phối và viễn thông. Dịch vụ tài chính cũng có nhiều ích lợi nhờ việc tư nhân hóa, đóng góp có hiệu quả. Du lịch được phát triển, tạo ra khoảng 5% tổng sản phẩm.
Các nghiên cứu về mức sống của các Cơ quan tình báo kinh tế (EIU) [1] xếp Bồ Đào Nha là nước đứng thứ 19 trên thế giới về chất lượng cuộc sống, xếp trên nhiều nền kinh tế phát triển khác như Pháp, Đức, Anh và Hàn Quốc.
== Chú thích == |
16 tháng 6.txt | Ngày 16 tháng 6 là ngày thứ 167 (168 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 198 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
907 – Hậu Lương Thái Tổ phong cho Tiết độ sứ Tiền Lưu tước hiệu Ngô Việt vương, được xem là mốc nước Ngô Việt thành lập.
1407 – Chiến tranh Minh - Đại Ngu: Quân Minh bắt được Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly.
1846 – Piô IX được bầu làm Giáo hoàng, ông là giáo hoàng tại vị trong thời gian lâu nhất của Giáo hội Công giáo Rôma.
1868 – Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tập kích đồn Kiên Giang.
1911 – Công ty tiền thân của IBM được thành lập tại tiểu bang New York, Hoa Kỳ.
1924 – Trường quân sự Hoàng Phố được thành lập tại Quảng Châu, Trung Quốc.
1948 – Đảng Cộng sản Malaya hạ sát ba người Anh quản lý đồn điền tại Perak, khởi đầu một cuộc chiến tranh du kích kéo dài 12 năm tại Malaya.
1963 – Nhà du hành vũ trụ Liên Xô Valentina Tereshkova trở thành người phụ nữ đầu tiên trong không gian.
2012 – Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu 9 nhằm lắp ghép với modul Thiên Cung 1.
== Sinh ==
1943 - Joan Van Ark, diễn viên Mỹ
== Mất ==
1855 - John Gorrie, nhà vật lý Mỹ (s. 1803)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
canada.txt | Canada (phiên âm tiếng Việt: Ca-na-đa; phát âm tiếng Anh: /ˈkænədə/), là quốc gia có diện tích lớn thứ hai trên thế giới, và nằm ở cực bắc của Bắc Mỹ. Lãnh thổ Canada trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông sang Thái Bình Dương ở phía tây, và giáp Bắc Băng Dương ở phía bắc. Về phía nam, Canada giáp với Hoa Kỳ liền kề; về phía tây bắc, Canada giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ. Ở phía đông bắc của Canada là đảo Greenland thuộc Vương quốc Đan Mạch. Ở ngoài khơi phía nam đảo Newfoundland của Canada có quần đảo Saint-Pierre và Miquelon thuộc Pháp. Biên giới chung của Canada với Hoa Kỳ về phía nam và phía tây bắc là đường biên giới dài nhất thế giới.
Nhiều dân tộc Thổ dân cư trú tại lãnh thổ nay là Canada trong hàng thiên niên kỷ. Bắt đầu từ cuối thế kỷ 15, người Anh và người Pháp thành lập các thuộc địa trên vùng duyên hải Đại Tây Dương của khu vực. Sau các xung đột khác nhau, Anh Quốc giành được rồi để mất nhiều lãnh thổ tại Bắc Mỹ, và đến cuối thế kỷ 18 thì còn lại lãnh thổ chủ yếu thuộc Canada ngày nay. Căn cứ theo Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh vào ngày 1 tháng 7 năm 1867, ba thuộc địa hợp thành thuộc địa liên bang tự trị Canada. Sau đó thuộc địa tự trị dần sáp nhập thêm các tỉnh và lãnh thổ. Năm 1931, theo Quy chế Westminster 1931, Anh Quốc trao cho Canada tình trạng độc lập hoàn toàn trên hầu hết các vấn đề. Các quan hệ cuối cùng giữa hai bên bị đoạn tuyệt vào năm 1982 theo Đạo luật Canada 1982.
Canada là một nền dân chủ đại nghị liên bang và một quốc gia quân chủ lập hiến, Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Canada là một thành viên của Thịnh vượng chung các quốc gia. Canada là quốc gia song ngữ chính thức (tiếng Anh và tiếng Pháp) tại cấp liên bang. Do tiếp nhận người nhập cư quy mô lớn từ nhiều quốc gia, Canada là một trong các quốc gia đa dạng sắc tộc và đa nguyên văn hóa nhất trên thế giới, với dân số xấp xỉ 35 triệu người vào tháng 12 năm 2012. Canada có nền kinh tế rất phát triển và đứng vào nhóm hàng đầu thế giới, kinh tế Canada dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú và hệ thống thương mại phát triển cao. Canada có quan hệ lâu dài và phức tạp với Hoa Kỳ, mối quan hệ này có tác động đáng kể đến kinh tế và văn hóa của quốc gia.
Canada là một quốc gia phát triển và nằm trong số các quốc gia giàu có nhất trên thế giới, với thu nhập bình quân đầu người cao thứ tám toàn cầu, và chỉ số phát triển con người cao thứ 11. Canada được xếp vào hàng cao nhất trong các so sánh quốc tế về giáo dục, độ minh bạch của chính phủ, tự do dân sự, chất lượng sinh hoạt, và tự do kinh tế. Canada tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và liên chính phủ về kinh tế: G8, G20, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. Canada là một thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
== Từ nguyên ==
Tên gọi Canada bắt nguồn từ kanata trong ngôn ngữ của người Iroquois Saint Lawrence, nghĩa là "làng" hay "khu định cư". Năm 1535, các cư dân bản địa của khu vực nay là thành phố Québec sử dụng từ này để chỉ đường cho nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier đến làng Stadacona. Cartier sau đó sử dụng từ Canada để nói đến không chỉ riêng ngôi làng, mà là toàn bộ khu vực lệ thuộc vào Donnacona (tù trưởng tại Stadacona); đến khoảng năm 1545, các sách và bản đồ tại châu Âu bắt đầu gọi khu vực này là Canada.
Trong thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, "Canada" nói đến phần lãnh thổ nằm dọc theo sông Saint-Laurent thuộc Tân Pháp. Nhằm trừng phạt việc Mười ba thuộc địa kháng cự, Anh Quốc mở rộng trên quy mô rất lớn lãnh thổ Canada theo Đạo luật Quebec 1774, bao gồm cả lãnh thổ chưa được định cư tại khu vực Ngũ Đại hồ kéo xuống sông Ohio. Một phần lãnh thổ đơn phương thêm vào này được chuyển giao cho Hoa Kỳ vào năm 1783, song Canada thuộc Anh vẫn giữ lại toàn bộ vùng đất phía bắc của Ngũ Đại Hồ (tạo thành phần lớn Ontario hiện nay). Năm 1791, người Anh định danh khu vực này là Thượng Canada và khu vực có truyền thống nói tiếng Pháp là Hạ Canada, chúng tái thống nhất thành tỉnh Canada vào năm 1841.
Đến khi liên bang hóa vào năm 1867, Canada được chọn làm tên gọi pháp lý của quốc gia mới, và từ Dominion (lãnh thổ tự trị) được ban để làm danh hiệu của quốc gia. Tuy nhiên, khi Canada khẳng định quyền tự chủ của mình khỏi Anh Quốc, chính phủ liên bang ngày càng chỉ sử dụng Canada trong các tài liệu nhà nước và hiệp định, sự thay đổi này được phản ánh thông qua việc đổi tên ngày lễ quốc gia từ Ngày Lãnh thổ tự trị sang Ngày Canada vào năm 1982.
== Lịch sử ==
=== Các dân tộc Thổ dân ===
Các nghiên cứu khảo cổ học và phân tích di truyền học cho biết có một sự hiện diện của loài người tại bắc bộ khu vực Yukon từ 24.500 TCN, và tại nam bộ Ontario từ 7500 TCN. Những người này đến khu vực nay là Canada thông qua Beringia theo đường cầu lục địa Bering. Các di chỉ khảo cổ học người Da đỏ cổ đại (Paleo-Indian) tại bình nguyên Old Crow và các động Bluefish là hai trong số các di chỉ cổ nhất về sự cư trú của loài người tại Canada. Các đặc trưng của các xã hội Thổ dân Canada gồm có các khu định cư thường xuyên, nông nghiệp, kết cấu phân tầng xã hội phức tạp, và các mạng lưới mậu dịch. Một số trong các nền văn hóa này đã bị sụp đổ vào lúc những nhà thám hiểm người châu Âu đến vào cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, và chỉ khám phá ra nhờ các điều tra nghiên cứu khảo cổ học.
Vào thời điểm người châu Âu thiết lập các khu định cư đầu tiên, dân số thổ dân Canada được ước tính là từ 200.000 đến hai triệu, còn Uỷ ban Hoàng gia Canada về Sức khỏe Thổ dân chấp nhận con số 500.000. Do hậu quả từ quá trình thực dân hóa của người châu Âu, các dân tộc Thổ dân Canada phải chịu tổn thất do các dịch bệnh truyền nhiễm mới được đưa đến bùng phát lặp lại nhiều lần, như dịch cúm, dịch sởi, dịch đầu mùa (do Thổ dân không có miễn dịch tự nhiên), kết quả là dân số của họ giảm từ 40-80% trong các thế kỷ sau khi người châu Âu đến. Các dân tộc Thổ dân tại Canada ngày nay gồm có Các dân tộc Trước tiên (First Nations), Inuit, và Métis. Người Métis là một dân tộc hỗn huyết, họ hình thành từ thế kỷ 17 khi những người Dân tộc Trước tiên và người Inuit kết hôn với dân định cư người châu Âu. Nhìn chung, người Inuit có ảnh hưởng tương hỗ hạn chế hơn với người châu Âu định cư trong thời kỳ thuộc địa hóa.
=== Người châu Âu thuộc địa hóa ===
Nỗ lực đầu tiên được biết đến nhằm thuộc địa hóa lãnh thổ nay là Canada của người châu Âu bắt đầu khi người Norse định cư trong một thời gian ngắn tại L'Anse aux Meadows thuộc Newfoundland vào khoảng năm 1000 CN. Không có thêm hành động thám hiểm của người châu Âu cho đến năm 1497, khi đó thủy thủ người Ý John Cabot khám phá ra vùng duyên hải Đại Tây Dương của Canada cho Vương quốc Anh. Các thủy thủ người Basque và người Bồ Đào Nha thiết lập các tiền đồn săn bắt cá voi và cá dọc theo vùng duyên hải Đại Tây Dương của Canada vào đầu thế kỷ 16. Năm 1534, nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier khám phá ra sông St. Lawrence, vào ngày 24 tháng 7 ông cắm một thánh giá cao 10 mét (33 ft) mang dòng chữ "Pháp quốc quốc vương vạn tuế", và đoạt quyền chiếm hữu lãnh thổ nhân danh Quốc vương François I.
Năm 1583, nhà thám hiểm người Anh Humphrey Gilbert tuyên bố chủ quyền đối với St. John's, Newfoundland, nơi này trở thành thuộc địa đầu tiên của Anh tại Bắc Mỹ theo đặc quyền vương thất của Nữ vương Elizabeth I. Nhà thám hiểm người Pháp Samuel de Champlain đến vào năm 1603, và thiết lập các khu định cư thường xuyên đầu tiên của người châu Âu tại Port Royal vào năm 1605 và thành phố Québec vào năm 1608. Trong số những người Pháp thực dân tại Tân Pháp, người Canada định cư rộng rãi tại thung lũng sông St. Lawrence và người Acadia định cư tại các tỉnh Hàng hải (Maritimes) ngày nay, trong khi các thương nhân da lông thú và các nhà truyền giáo Cơ Đốc thăm dò Ngũ Đại Hồ, vịnh Hudson, và lưu vực sông Mississippi đến Louisiana. Các cuộc chiến tranh Hải ly bùng nổ vào giữa thế kỷ 17 do tranh chấp quyền kiểm soát đối với mậu dịch da lông thú tại Bắc Mỹ.
Người Anh thiết lập thêm các thuộc địa tại Cupids và Ferryland trên đảo Newfoundland, bắt đầu vào năm 1610. Mười ba thuộc địa ở phía nam được thành lập ngay sau đó. Một loạt bốn cuộc chiến bùng nổ tại Bắc Mỹ thuộc địa hóa từ năm 1689 đến năm 1763; các cuộc chiến sau của giai đoạn này tạo thành Mặt trận Bắc Mỹ trong Chiến tranh Bảy năm. Nova Scotia đại lục nằm dưới quyền cai trị của người Anh theo Hiệp định Utrecht 1713; Hiệp định Paris (1763) nhượng lại Canada và hầu hết Tân Pháp cho Đế quốc Anh sau Chiến tranh Bảy năm.
Tuyên ngôn Vương thất 1763 tạo nên tỉnh Quebec từ Tân Pháp, và sáp nhập đảo Cape Breton vào Nova Scotia. Đảo St. John's (nay là đảo Prince Edward) trở thành một thuộc địa riêng biệt vào năm 1769. Nhằm ngăn ngừa xung đột tại Québec, Anh Quốc thông qua đạo luật Québec vào năm 1774, mở rộng lãnh thổ của Québec đến Ngũ Đại Hồ và thung lũng sông Ohio. Anh Quốc cũng tái lập ngôn ngữ Pháp, đức tin Công giáo La Mã, và dân luật Pháp tại đây. Điều này khiến cho nhiều cư dân Mười ba Thuộc địa thức giận, kích động tình cảm chống Anh trong những năm trước khi bùng nổ Cách mạng Mỹ.
Theo Hiệp định Paris 1783, Anh Quốc công nhận tình trạng độc lập của Hoa Kỳ và nhượng lại các lãnh thổ ở phía nam của Ngũ Đại Hồ cho Hoa Kỳ. New Brunswick tách khỏi Nova Scotia trong một chiến dịch tái tổ chức các khu định cư trung thành tại The Maritime. Nhằm hòa giải những người nói tiếng Anh trung thành tại Quebec, Đạo luật Hiến pháp 1791 chia tỉnh này thành Hạ Canada (sau là Québec) Pháp ngữ và Thượng Canada (sau là Ontario) Anh ngữ, trao cho mỗi nơi quyền có riêng hội đồng lập pháp được bầu cử.
Hai thuộc địa là chiến trường chính trong Chiến tranh năm 1812 giữa Hoa Kỳ và Anh Quốc. Sau chiến tranh là hiện tượng nhập cư quy mô lớn từ đảo Anh và đảo Ireland bắt đầu vào năm 1815. Từ năm 1825 đến năm 1846, 626.628 người nhập cư châu Âu được ghi chép là đã đặt chân lên các cảng tại Canada. Họ gồm có những người Ireland chạy trốn Nạn đói lớn Ireland cũng như ngững người Scot nói tiếng Gael phải dời đi theo Thanh trừ Cao địa (Highland Clearances). Khoảng từ một phần tư đến một phần ba tổng số người châu Âu nhập cư đến Canada trước năm 1891 đã thiệt mạng do các bệnh truyền nhiễm.
Nguyện vọng của người Canada về việc có chính phủ chịu trách nhiệm dẫn đến các cuộc Nổi dậy năm 1837 song kết quả là nhanh chóng thất bại. Báo cáo Durham sau đó đề xuất về chính phủ chịu trách nhiệm và đồng hóa người Canada gốc Pháp vào văn hóa Anh. Đạo luật Liên minh 1840 hợp nhất Thượng và Hạ Canada thành tỉnh Canada thống nhất. Chính phủ chịu trách nhiệm được thành lập cho toàn bộ các tỉnh Bắc Mỹ thuộc Anh từ năm 1849. Anh Quốc và Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Oregon vào năm 1846, qua đó kết thúc tranh chấp biên giới Oregon, kéo dài biên giới về phía tây dọc theo vĩ độ 49° Bắc. Hiệp định này mở đường cho việc hình thành các thuộc địa đảo Vancouver (1849) và British Columbia (1858).
=== Liên bang và khuếch trương ===
Sau một vài hội nghị hiến pháp, Đạo luật Hiến pháp 1867 chính thức tuyên bố thành lập Liên minh Canada vào ngày 1 tháng 7 năm 1867, ban đầu gồm có bốn tỉnh – Ontario, Québec, Nova Scotia, và New Brunswick. Canada đảm nhận quyền kiểm soát Đất Rupert và Lãnh thổ Tây-Bắc để hình thành nên các Lãnh thổ Tây Bắc, tại lãnh thổ này sự bất bình của người Métis bùng phát thành Nổi dậy Red River và hình thành tỉnh Manitoba vào tháng 7 năm 1870. British Columbia và Đảo Vancouver (được hợp nhất vào năm 1866) gia nhập Liên minh vào năm 1871, còn đảo Prince Edward gia nhập vào năm 1873.
Thủ tướng John A. Macdonald và chính phủ Bảo thủ của ông lập ra một chính sách quốc gia về thuế quan nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp chế tạo còn non trẻ của Canada. Để khai thông phía Tây, chính phủ tài trợ việc xây dựng ba tuyến đường sắt xuyên lục địa, mở cửa các thảo nguyên cho hoạt động định cư theo Đạo luật Thổ địa Lãnh thổ tự trị, và thiết lập Kị cảnh Tây-Bắc để khẳng định quyền lực trên lãnh thổ này. Năm 1898, trong Cơn sốt vàng Klondike tại các Lãnh thổ Tây Bắc, chính phủ Canada lập ra Lãnh thổ Yukon. Dưới thời Chính phủ Tự do của Thủ tướng Wilfrid Laurier, những người nhập cư đến từ lục địa châu Âu đến định cư trên các thảo nguyên, rồi Alberta và Saskatchewan trở thành các tỉnh vào năm 1905.
=== Đầu thế kỷ 20 ===
Anh Quốc vẫn duy trì quyền kiểm soát trên lĩnh vực đối ngoại của Canada theo Đạo luật Liên minh, do vậy việc cường quốc này tuyên chiến vào năm 1914 tự động đưa Canada vào Chiến tranh thế giới thứ nhất. Các quân nhân tình nguyện được đưa đến Mặt trận phía Tây và sau đó trở thành một phần của Quân đoàn Canada. Quân đoàn đóng một vai trò quan trọng trong trận cao điểm Vimy và các hoạt động giao chiến khác trong cuộc chiến. Trong số xấp xỉ 625.000 người Canada phục vụ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, có khoảng 60.000 bị giết và 173.000 bị thương. Khủng hoảng Tòng quân năm 1917 nổ ra khi Thủ tướng Bảo thủ Robert Borden cho tiến hành nghĩa vụ quân sự cưỡng bách bất chấp sự phản đối dữ dội của người Québec Pháp ngữ. Cuộc khủng hoảng này, cùng với các tranh chấp về các trường tiếng Pháp bên ngoài Quebec, tạo ra hố ngăn cách sâu sắc với người Canada Pháp ngữ và chia rẽ tạm thời Đảng Tự do. Chính phủ Liên minh của Robert Borden bao gồm cả nhiều người Tự do Anh ngữ, đã giành được chiến thắng lớn trong cuộc bầu cử năm 1917. Năm 1919, Canada gia nhập Hội Quốc Liên với tư cách độc lập với Anh, Quy chế Westminster 1931 xác nhận tình trạng độc lập của Canada.
Trong Đại khủng hoảng tại Canada vào đầu thập kỷ 1930, kinh tế bị suy thoái, khiến toàn quốc gặp cảnh gian khổ. Ba ngày sau khi Anh Quốc tuyên chiến với Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Tự do của Thủ tướng William Lyon Mackenzie King tuyên chiến với Đức một cách độc lập. Các đơn vị lục quân Canada đầu tiên đến Anh Quốc vào tháng 12 năm 1939. Quân Canada đóng vai trò quan trọng trong nhiều trận chiến then chốt của đại chiến, gồm có Trận Dieppe năm 1942, Đồng Minh xâm chiếm Ý, đổ bộ Normandie, trận Normandie, và trận Scheldt vào năm 1944. Canada cung cấp nơi tị nạn cho quân chủ Hà Lan khi quốc gia này bị Đức chiếm đóng, và được người Hà Lan tín nhiệm vì có đóng góp lớn vào việc giải phóng quốc gia này khỏi Đức Quốc xã. Kinh tế Canada bùng nổ trong chiến tranh khi mà các ngành công nghiệp của quốc gia sản xuất các trang thiết bị quân sự cho Canada, Anh Quốc, Trung Quốc và Liên Xô. Mặc dù có một cuộc khủng hoảng tòng quân khác tại Québec vào năm 1944, song Canada kết thúc chiến tranh với một quân đội lớn và kinh tế mạnh.
=== Thời hiện đại ===
Khủng hoảng tài chính trong đại suy thoái khiến cho Quốc gia tự trị Newfoundland từ bỏ chính phủ chịu trách nhiệm vào năm 1934 và trở thành một thuộc địa vương thất do một Thống đốc Anh cai trị. Sau hai cuộc trưng cầu dân ý gay cấn vào năm năm 1948, người dân Newfoundland bỏ phiếu chấp thuận gia nhập Canada vào năm 1949 với địa vị một tỉnh.
Tăng trưởng kinh tế thời hậu chiến của Canada là sự kết hợp các chính sách của các chính phủ Tự do kế tiếp nhau, dẫn đến hình thành một bản sắc Canada mới, biểu thị thông qua việc chấp thuận quốc kỳ lá phong hiện nay vào năm 1965, thi hành song ngữ chính thức (tiếng Anh và tiếng Pháp) vào năm 1969, và lập thể chế đa nguyên văn hóa chính thức vào năm 1971. Các chương trình dân chủ xã hội cũng được tiến hành, chẳng hạn như Medicare (bảo hiểm y tế), Kế hoạch Trợ cấp Canada, và Cho vay sinh viên Canada, song chính phủ các tỉnh, đặc biệt là tại Quebec và Alberta, phản đối nhiều chương trình trong số đó vì nó xâm phạm đến phạm vi quyền hạn của họ.
Một loạt các hội nghị hiến pháp khác dẫn đến kết quả là hiến pháp Canada đoạn tuyệt với Anh Quốc vào năm 1982, đồng thời với việc tạo thành Hiến chương Canada về Quyền lợi và tự do. Năm 1999, Nunavut trở thành lãnh thổ thứ ba của Canada sau một loạt đàm phán với chính phủ liên bang.
Đồng thời, Quebec trải qua các biến đổi xã hội và kinh tế sâu sắc do Cách mạng Yên tĩnh trong thập niên 1960, sản sinh ra một phong trào dân tộc chủ nghĩa hiện đại. Mặt trận giải phóng Québec (FLQ) cấp tiến kích động Khủng thoảng Tháng Mười với một loạt vụ đánh bom và bắt cóc vào năm 1970, Đảng Người Québec ủng hộ chủ quyền đã đắc cử trong cuộc tuyển cử tại Québec năm 1976, họ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý thất bại về chủ quyền-liên kết vào năm 1980. Các nỗ lực nhằm hòa giải với chủ nghĩa dân tộc Québec bằng hiến pháp thông qua Hòa ước Hồ Meech đã thất bại vào năm 1990. Điều này dẫn đến việc hình thành khối Người Québec tại Québec và cổ vũ Đảng Cải cách Canada tại Tây bộ Canada. Một cuộc trưng cầu dân ý thứ nhì được tiến hành vào năm 1995, kết quả là chủ quyền bị từ chối với đa số mỏng manh. Năm 1997, Tối cao pháp viện phán quyết rằng ly khai đơn phương của một tỉnh là điều vi hiến, và Nghị viện Canada thông qua Đạo luật Rõ ràng (Clarity Act), phác thảo các điều khoản về một xuất phát điểm đàm phán từ Liên minh.
Ngoài vấn đề chủ quyền của Québec, một số cuộc khủng hoảng làm náo động xã hội Canada vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1960. Chúng gồm có Chuyến bay 182 của Air India phát nổ vào năm 1985, vụ mưu sát hàng loạt lớn nhất trong lịch sử Canada; Thảm sát trường Bách khoa École vào năm 1989, một vụ xả súng đại học với mục tiêu là các nữ sinh; và Khủng hoảng Oka năm 1990, là diễn biến đầu tiên trong một loạt các xung đột bạo lực giữa chính phủ và các nhóm Thổ dân. Canada tham gia trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990 với vị thế là một phần trong lực lượng liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo, và hoạt động trong một số sứ mệnh gin giữ hòa bình trong thập kỷ 1990, bao gồm sứ mệnh UNPROFOR tại Nam Tư cũ. Canada cử quân đến Afghanistan vào năm 2001, song từ chối tham gia cuộc xâm chiếm Iraq do Hoa Kỳ dẫn đầu vào năm 2003. Năm 2009, kinh tế Canada chịu tổn thất trong Đại suy thoái toàn cầu, song đã phục hồi một cách khiêm tốn. Năm 2011, các lực lượng của Canada tham gia vào cuộc can thiệp do NATO dẫn đầu trong Nội chiến Libya.
== Địa lý ==
Canada chiếm phần lớn phía bắc của Bắc Mỹ, có biên giới trên bộ với Hoa Kỳ liền kề ở phía nam và bang Alaska của Hoa Kỳ ở phía tây bắc. Canada trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông đến Thái Bình Dương ở phía tây, phía bắc là Bắc Băng Dương. Greenland thuộc Vương quốc Đan Mạch nằm ở phía đông bắc, còn Saint Pierre và Miquelon thuộc Pháp thì nằm ở phía nam đảo Newfoundland của Canada. Theo tổng diện tích, Canada là quốc gia lớn thứ hai trên thế giới, sau Nga. Theo diện tích đất, Canada xếp thứ tư. Quốc gia nằm giữa các vĩ độ 41°B và 84°B, và giữa các kinh độ 52° T và 141°T.
Kể từ năm 1925, Canada tuyên bố chủ quyền với phần thuộc vùng Bắc Cực nằm giữa 60°T và 141°T, song yêu sách này không được công nhận phổ biến. Canada là nơi có khu định cư viễn bắc nhất của thế giới, đó là trạm Alert của Quân đội Canada, nằm ở mũi phía bắc của đảo Ellesmere – vĩ độ 82,5°B – cách Bắc Cực 817 kilômét (508 mi). Phần lớn vùng Bắc Cực thuộc Canada bị băng và tầng đất đóng băng vĩnh cửu bao phủ. Canada có đường bờ biển dài nhất trên thế giới, với tổng chiều dài là 202.080 kilômét (125.570 mi); thêm vào đó, biên giới Canada-Hoa Kỳ là biên giới trên bộ dài nhất thế giới, trải dài 8.891 kilômét (5.525 mi).
Từ khi kỷ băng hà cuối cùng kết thúc, Canada gồm có tám miền rừng riêng biệt, gồm có rừng phương Bắc rộng lớn trên khiên Canada. Canada có khoảng 31.700 hồ lớn hơn 3 kilômét vuông (300 ha), nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác, và chứa nhiều nước ngọt của thế giới. Cũng có một số sông băng nước ngọt trên Dãy núi Rocky của Canada và Dãy núi Coast. Canada là khu vực hoạt động về mặt địa chất, có nhiều động đất và núi lửa hoạt động tiềm năng, đáng chú ý là núi Meager, núi Garibaldi, núi Cayley, và tổ hợp núi lửa núi Edziza. Vụ Tseax Cone phun trào núi lửa vào năm 1775 nằm trong số các thảm họa tự nhiên tệ nhất tại Canada, sát hại 2.000 người Nisga'a và hủy diệt làng của họ tại thung lũng sông Nass ở bắc bộ British Columbia. Vụ phun trào tạo ra dòng chảy nham thạch dài 22,5 kilômét (14,0 mi), và theo truyền thuyết của người Nisga'a thì nó chặn dòng chảy của sông Nass. Mật độ dân số của Canada là 3,3 người trên kilômét vuông (8,5 /sq mi), nằm vào hàng thấp nhất trên thế giới. Phần có mật độ dân số đông đúc nhất của quốc gia là hành lang Thành phố Québec – Windsor, nằm tại Nam bộ Québec và Nam bộ Ontario dọc theo Ngũ Đại Hồ và sông St. Lawrence.
Nhiệt độ tối cao trung bình mùa đông và mùa hè tại Canada khác biệt giữa các khu vực. Mùa đông có thể khắc nghiệt tại nhiều nơi của quốc gia, đặc biệt là trong vùng nội địa và các tỉnh thảo nguyên, là những nơi có khí hậu lục địa với nhiệt độ trung bình ngày là gần −15 °C (5 °F), song có thể xuống dưới −40 °C (−40 °F) với các cơn gió lạnh dữ dội. Tại các vùng không nằm ven biển, tuyết có thể bao phủ mặt đất gần sáu tháng mỗi năm, trong khi các phần ở phía bắc có thể dai dẳng quanh năm. British Columbia Duyên hải có một khí hậu ôn hòa, với một mùa đông ôn hòa và mưa nhiều. Ở các vùng bờ biển phía đông và phía tây, nhiệt độ tối cao trung bình thường là dưới hai mươi mấy độ C, trong khi tại lãnh thổ giữa các vùng bờ biển thì nhiệt độ tối cao vào mùa hạ biến động từ 25 đến 30 °C (77 đến 86 °F), nhiệt độ tại một số nơi ở nội địa thỉnh thoảng vượt quá 40 °C (104 °F).
== Kinh tế ==
Ngân hàng Canada là ngân hàng trung ương của quốc gia. Ngoài ra, Bộ trưởng Tài chính và Bộ trưởng Công nghiệp sử dụng hệ thống cục Thống kê Canada để lập kế hoạch tài chính. Sở giao dịch chứng khoán Toronto là sở giao dịch chứng khoán lớn thứ bảy trên thế giới với 1.577 công ty niêm yết vào năm 2012. Canada là nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, với GDP danh nghĩa năm 2012 là khoảng 1.532.340 tỷ đô la Mỹ. Đây là một thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và G8, và là một trong mười quốc gia mậu dịch đứng đầu thế giới, với một nền kinh tế toàn cầu hóa cao độ. Canada có một nền kinh tế hỗn hợp, xếp hạng trên Hoa Kỳ và hầu hết các quốc gia Tây Âu về chỉ số tự do kinh tế của Heritage Foundation (Tổ chức Di sản), và trải qua bất bình đẳng thu nhập ở mức tương đối thấp. Năm 2008, lượng hàng hóa nhập khẩu của Canada có giá trị trên 442,9 tỷ CAD, trong đó 280,8 tỷ CAD bắt nguồn từ Hoa Kỳ, 11,7 tỷ CAD bắt nguồn từ Nhật Bản, và 11,3 tỷ CAD bắt nguồn từ Anh Quốc. Tổng thâm hụt thương mại của Canada vào năm 2009 là 4,8 tỷ CAD, trong khi vào năm 2008 quốc gia này thặng dư 46,9 tỷ CAD.
Kể từ đầu thế kỷ 20, sự phát triển của các ngành chế tạo, khai mỏ, và các lĩnh vực dịch vụ đã chuyển đổi Canada từ một nền kinh tế nông thôn mức độ lớn sang nền kinh tế đô thị hóa, công nghiệp. Giống như nhiều quốc gia phát triển khác, ngành công nghiệp dịch vụ chi phối kinh tế Canada, cung cấp việc làm cho khoảng ba phần tư lực lượng lao động toàn quốc. Tuy nhiên, Canada có sự khác biệt về tầm quan trọng của khu vực sơ khai, mà trong đó các ngành đốn gỗ và dầu mỏ là hai trong số các thành phần nổi bật nhất.
Canada là một trong vài quốc gia phát triển xuất khẩu ròng năng lượng. Canada Đại Tây Dương có các mỏ khí đốt ngoài khơi rộng lớn, và Alberta cũng có các tài nguyên dầu khí lớn. Các mỏ cát dầu Athabasca và các tài sản khác khiến Canada sở hữu 13% trữ lượng dầu toàn cầu, và lớn thứ ba trên thế giới, sau Venezuela và Ả Rập Saudi. Canada cũng là một trong các quốc gia lớn nhất về cung cấp nông sản trên thế giới; Các thảo nguyên Canada là một trong những nơi sản xuất có tầm quan trọng toàn cầu nhất về lúa mì, cải dầu, và các loại hạt khác. Các mặt hàng tài nguyên tự nhiên xuất khẩu chính của nước Canada là thiếc và urani, và quốc gia này cũng là nhà xuất khẩu hàng đầu về nhiều loại khoáng sản khác như vàng, niken, nhôm, thép, quặng sắt, than cốc, và chì. Tại nhiều thị trấn tại bắc bộ Canada, nơi mà nông nghiệp gặp khó khăn, kinh tế của họ dựa vào các mỏ khoáng sản lân cận hoặc các nguồn gỗ. Canada cũng có một ngành chế tạo tương đối lớn tập trung tại nam bộ Ontario và Québec, các ngành công nghiệp quan trọng đặc biệt gồm có ô tô và hàng không.
Sự hội nhập của kinh tế Canada với Hoa Kỳ tăng lên đáng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiệp định Mậu dịch các sản phẩm ô tô (APTA) năm 1965 mở cửa biên giới cho mậu dịch trong ngành sản xuất ô tô. Trong thập niên 1970, các mối quan tâm về sự độc lập năng lượng và sở hữu ngoại quốc trong lĩnh vực chế tạo thúc đẩy chính phủ Tự do của Thủ tướng Pierre Trudeau ban hành Chương trình Năng lượng quốc gia (NEP) và Cơ quan Đánh giá đầu tư nước ngoài (FIRA). Trong thập niên 1980, Thủ tướng Brian Mulroney thuộc Đảng Cấp tiến Bảo thủ đã bãi bỏ NEP và đổi tên FIRA thành cơ quan "Đầu tư Canada", nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài. Hiệp định Thương mại tự do Canada – Hoa Kỳ (FTA) năm 1988 đã loại trừ thuế quan giữa hai quốc gia, trong khi Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) mở rộng thành một khu vực bao gồm cả México vào năm 1994. Vào giữa thập niên 1990, chính phủ Tự do của Jean Chrétien bắt đầu thông báo thặng dư ngân sách hàng năm, và dần trả bớt nợ quốc gia.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 gây ra đại suy thoái, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng đáng kể tại Canada. Năm 2013, phần lớn kinh tế Canada đã ổn định, song quốc gia vẫn gặp khó khăn do tăng trưởng thấp, tính nhạy cảm với cuộc khủng hoảng Eurozone và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn bình thường.
=== Khoa học và công nghệ ===
Năm 2011, Canada chi khoảng 29,9 tỷ CAD cho nghiên cứu và phát triển nội địa. Tính đến năm 2012, quốc gia có 14 giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực vật lý học, hóa học, y học, và xếp hạng tư toàn cầu về chất lượng nghiên cứu khoa học trong một nghiên cứu năm 2012 của các nhà khoa học quốc tế. Năm 2012, Canada có trên 28,4 triệu người sử dụng Internet, tức khoảng 83% tổng dân số.
Cơ quan Vũ trụ Canada thực hiện một chương trình không gian hoạt động cao độ, chỉ đạo nghiên cứu không gian sâu, hành tinh, và hàng không; và phát triển các tên lửa và vệ tinh. Bằng việc phóng Alouette 1 vào năm 1962, Canada trở thành quốc gia thứ ba phóng một vệ tinh vào không gian sau Liên Xô và Hoa Kỳ. Năm 1984, Marc Garneau trở thành phi hành gia đầu tiên của Canada. Tính đến năm 2013, có chín người Canada từng bay vào không gian, với 15 sứ mệnh có người lái.
Canada là một bên tham gia trong trạm vũ trụ quốc tế (ISS), và là một nước tiên phong trong người máy không gian, chế tạo ra các tay máy robot Canadarm, Canadarm2 và Dextre cho ISS và cho tàu con thoi của NASA. Từ thập niên 1960, ngành công nghiệp không gian vũ trụ của Canada đã thiết kế và xây dựng nhiều nhãn hiệu vệ tinh, gồm có Radarsat-1 và 2, ISIS và MOST. Canada cũng sản xuất thành công và sử dụng rộng rãi tên lửa thám không Black Brant; trên 1.000 tên lửa Black Brants được phóng kể từ khi nó được giới thiệu vào năm 1961.
== Chính phủ và chính trị ==
Canada có một hệ thống nghị viện trong khuôn khổ chế độ quân chủ lập hiến, chế độ quân chủ của Canada là nền tảng của các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Quân chủ của Canada là Nữ vương Elizabeth II, bà cũng đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia của 15 quốc gia khác và là nguyên thủ của mỗi tỉnh tại Canada. Đại diện cho Nữ vương là Toàn quyền Canada, người này thực hiện hầu hết các chức trách của quân chủ liên bang tại Canada.
Các nhân vật quân chủ và phó quân chủ bị hạn chế trong việc tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực cai trị. Trong thực tiễn, họ sử dụng các quyền hành pháp theo chỉ dẫn của Nội các, đây là một hội đồng gồm các bộ trưởng của Vương quốc chịu trách nhiệm trước Chúng nghị viện, do Thủ tướng Canada lựa chọn và đứng đầu, thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Trong các tình thế khủng hoảng nhất định, Toàn quyền hay quân chủ có thể thực thi quyền lực của họ mà không phải dựa theo cố vấn của các bộ trưởng. Nhằm đảm bảo tính ổn định của chính phủ, toàn quyền theo thường lệ sẽ bổ nhiệm thủ tướng là người đang giữ chức lãnh tụ của chính đảng có thể đạt được một đa số tại Chúng nghị viện. Văn phòng Thủ tướng (PMO) do đó là một trong những cơ quan quyền lực nhất trong chính phủ, đề xuất hầu hết các pháp luật để nghị viện phê chuẩn và lựa chọn chức vụ được Quân chủ bổ nhiệm. Các chức vụ này, ngoài đã được nhắc đến ở trên, còn có toàn quyền, phó tổng đốc, tham nghị sĩ, thẩm phán tòa án liên bang, và người đứng đầu các công ty quốc doanh (Crown corporations), và các cơ quan của chính phủ. Lãnh tụ của chính đảng có số ghế nhiều thứ hai thường trở thành 'Lãnh tụ phe đối lập trung thành của Bệ hạ' và là một phần trong một hệ thống nghị viện đối kháng nhằm duy trì sự kiểm tra đối với chính phủ.
Mỗi một trong số 308 nghị sĩ tại Chúng nghị viện được bầu theo đa số giản đơn trong một khu vực tuyển cử. Tổng tuyển cử phải do toàn quyền yêu cầu, theo cố vấn của thủ tướng trong vòng bốn năm tính từ cuộc bầu cử trước đó, hoặc nếu chính phủ thất bại trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại nghị viện. 105 thành viên của Tham nghị viện, với số ghế được phân chia theo một cơ sở vùng miền, họ phục vụ cho đến tuổi 75. Năm chính đảng có đại biểu được bầu vào nghị viện liên bang trong cuộc bầu cử năm 2011: Đảng Bảo thủ (đảng cầm quyèn), Đảng Tân Dân chủ (đối lập chính thức), Đảng Tự do, Khối Người Québec, và Đảng Xanh.
Cấu trúc liên bang của Canada phân chia các trách nhiệm của chính phủ giữa chính phủ liên bang và 10 tỉnh. Các cơ quan lập pháp cấp tỉnh theo đơn viện chế và hoạt động theo kiểu cách nghị viện tương tự như Chúng nghị viện. Ba lãnh thổ của Canada cũng có các cơ quan lập pháp, song chúng không có chủ quyền và có ít trách nhiệm hiến pháp hơn so với các tỉnh. Cơ quan lập pháp của các lãnh thổ cũng có cấu trúc khác biệt so với cơ quan tương đương của các tỉnh.
=== Pháp luật ===
Hiến pháp Canada là pháp luật tối cao của quốc gia, và gồm có các bản văn bằng văn bản và các quy ước bất thành văn. Đạo luật Hiến pháp 1867 (trước năm 1982 gọi là Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh), khẳng định sự cai trị dựa trên tiền lệ nghị viện và phân chia quyền lực giữa các chính phủ liên bang và cấp tỉnh. Quy chế Westminster 1931 trao đầy đủ quyền tự trị và Đạo luật Hiến pháp 1982 kết thúc toàn bộ liên kết lập pháp giữa Canada với Anh Quốc, cũng như thêm một thể thức tu chính hiến pháp và Hiến chương Canada về Quyền lợi và Tự do. Hiến chương đảm bảo các quyền lợi và quyền tự do mà theo thường lệ không thể bị chà đạp bởi bất kỳ chính phủ nào-tuy thế một điều khoản tuy nhiên cho phép nghị liên bang và các cơ quan lập pháp cấp tỉnh được phủ quyết một số điều khoản nhất định của Hiến chương trong một giai đoạn 5 năm.
Mặc dù không phải là không có xung đột, các ảnh hưởng tương hỗ ban đầu giữa người Canada gốc châu Âu với người Dân tộc Trước tiên và người Inuit tương đối hòa bình. Đạo luật người Da đỏ (Indian Act), các hiệp định khác nhau và các án lệ pháp được lập ra để điều đình các quan hệ giữa người châu Âu và các dân tộc bản địa. Đảng chú ý nhất là một loạt 11 hiệp định được gọi là Các hiệp định Được đánh số, chúng được ký giữa các dân tộc Thổ dân tại Canada và Quân chủ tại vị của Canada từ năm 1871 đến năm 1921. Các hiệp định này là những thỏa thuận với Hội đồng Xu mật viện quân chủ Canada, được quản lý theo luật Thổ dân Canada, và do Bộ trưởng Sự vụ dân nguyên trú và Phát triển phương Bắc giám sát. Vai trò của các hiệp định và các quyền lợi họ được cấp được tác khẳng định qua Điều 35 của Đạo luật Hiến pháp 1982. Các quyền lợi này có thể bao gồm cung cấp các dịch vụ như y tế, và miễn thuế.
Bộ máy tư pháp của Canada đóng một vai trò quan trọng trong giải thích các pháp luật và có quyền phủ định các đạo luật của nghị viện nếu chúng vi hiến. Tối cao pháp viện Canada là tòa án cao nhất và nơi phân xử cuối cùng, từ năm 2000 đứng đầu tòa là Chánh án Beverley McLachlin. Chín thành viên của Tối cao pháp viện do toàn quyền bổ nhiệm theo cố vấn của thủ tướng và bộ trưởng tư pháp. Tất cả thẩm phán ở cấp cao và cấp phúc thẩm đều được bổ nhiệm sau khi hội ý với các cơ cấu pháp luật phi chính phủ. Nội các liên bang cũng bổ nhiệm các thẩm phán cho các tòa cấp cao có quyền hạn cấp tỉnh và lãnh thổ.
Thông luật phổ biến tại hầu hết các khu vực, ngoại trừ tại Québec, trong tỉnh này dân luật chiếm ưu thế. Luật hình sự là trách nhiệm của liên bang và thống nhất trên toàn Canada. Thực thi pháp luật, trong đó có các tòa án hình sự, về chính thức là một trách nhiệm của cấp tỉnh, do lực lượng cảnh sát cấp tỉnh và thành phố thực hiện. Tuy nhiên, tại hầu hết các khu vực nông thôn và một số khu vực thành thị, trách nhiệm được giao ước cho Kị cảnh vương thất Canada cấp liên bang.
=== Quan hệ đối ngoại và quân sự ===
Canada đang sử dụng một lực lượng quân sự chuyên nghiệp, tình nguyện gồm 68.250 nhân viên và khoảng 47.081 quân dự bị. Quân đội Canada (CF) gồm có Lục quân Canada, Hải quân Hoàng gia Canada, và Không quân Hoàng gia Canada. Năm 2011, tổng chi tiêu quân sự của Canada là khoảng 24,5 tỷ đô la Canada.
Canada và Hoa Kỳ chia sẻ đường biên giới không được bảo vệ dài nhất thế giới, hợp tác trong các chiến dịch và tập luyện quân sự, và là đối tác thương mại lớn nhất của nhau. Canada tuy vậy vẫn có một chính sách đối ngoại độc lập, đáng chú ý nhất là việc duy trì quan hệ đầy đủ với Cuba và từ chối chính thức tham gia trong Cuộc xâm chiếm Iraq năm 2013. Canada cũng duy trì các quan hệ mang tính lịch sử với Anh Quốc và Pháp và với các cựu thuộc địa của Anh và Pháp thông qua tư cách viên của minh trong Thịnh vượng chung các quốc gia và Cộng đồng Pháp ngữ. Canada có quan hệ tích cực với Hà Lan, một phần là do Canada từng góp phần giải phóng Hà Lan trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Canada gắn bó chặt chẽ với Đế quốc Anh và Thịnh vượng chung, do vậy quốc gia này tham gia nhiều trong các nỗ lực quân sự của Anh Quốc trong Chiến tranh Boer lần thứ hai, Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ đó, Canada chủ trương đa phương hóa, tiến hành các nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu bằng cách cộng tác với các quốc gia khác. Canada là một thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc vào năm 1945 và của NATO vào năm 1949. Trong Chiến tranh Lạnh, Canada là một nước đóng góp lớn cho lực lượng của Liên Hiệp Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và cùng với Hoa Kỳ thành lập Bộ Tư lệnh phòng thủ hành không vũ trụ Bắc Mỹ NORAD nhằm hợp tác để phòng thủ chống lại các cuộc tấn công trên không tiềm tàng của Liên Xô.
Trong Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956, Thủ tướng tương lai Lester B. Pearson làm giảm căng thẳng bằng đề xuất triển khai Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, do hành động này mà ông nhận được Giải Nobel Hòa bình năm 1957. Đây là sứ mệnh gìn giữ hòa bình đầu tiên của Liên Hiệp Quốc, do vậy Lester B. Pearson thường được công nhận là người sáng tạo ra khái niệm này. Kể từ đó, Canada tham gia trong 50 sứ mệnh gìn giữ hòa bình, bao gồm mọi nỗ lực gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc cho đến năm 1989, và từ đó duy trì lực lượng trong các sứ mệnh quốc tế tại Rwanda, Nam Tư cũ, và những nơi khác; Canada thỉnh thoảng phải đối mặt với các tranh luận về sự dính líu của họ đến các quốc gia khác, đáng chú ý là trong Vụ việc Somalia năm 1993.
Canada gia nhập Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) vào năm 1990 và tổ chức hội nghị Đại hội đồng OAS tại Windsor, Ontario vào tháng 6 năm 2000 và Hội nghị thượng đỉnh thứ ba của OAS tại thành phố Québec vào tháng 4 năm 2001. Canada mưu cầu mở rộng các quan hệ của mình với các nền kinh tế trong vành đai Thái Bình Dương thông qua tư cách thành viên trong diễn đàn Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC).
Năm 2001, Canada triển khai quân nhân đến Afghanistan với tư cách là một phần của lực lượng ôn định Mỹ và Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) do NATO lãnh đạo và được Liên Hiệp Quốc cho phép. Trong cuộc chiến này, Canada mất 158 binh sĩ, với chi phí khoảng 11,3 tỷ đô la Canada.
Vào tháng 2 năm 2007, Canada, Ý, Anh Quốc, Na Uy, và Nga tuyên bố cam kết chung của họ cho một dự án 1,5 tỷ đô la Mỹ nhằm giúp đỡ phát triển vắc-xin cho các quốc gia đang phát triển, và kêu gọi các quốc gia khác cùng tham gia. Vào tháng 8 năm 2007, tuyên bố chủ quyền đối với vùng Bắc Cực của Canada bị thử thách sau khi Nga tiến hành chiếm thám hiểm dưới nước đến Bắc Cực; kể từ năm 1925 thì Canada nhìn nhận khu vực này thuộc chủ quyền lãnh thổ của mình. Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2011, quân đội Canada tham gia vào cuộc can thiệp của NATO do Liên Hiệp Quốc ủy thác trong Nội chiến Libya.
Canada được công nhận là một cường quốc bậc trung do vai trò của quốc gia này trong các quan hệ quốc tế với một xu hướng theo đuổi các giải pháp đa phương. Ngoài việc là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Canada còn là một thành viên của các tổ chức và diễn đàn khu vực và quốc tế khác trên các vấn đề kinh tế và văn hóa. Canada tham gia vào Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1976.
=== Các tỉnh và lãnh thổ ===
Canada là một liên bang gồm có mười tỉnh và ba lãnh thổ. Các đơn vị hành chính này có thể được nhóm thành bốn vùng chính: Tây bộ Canada, Trung bộ Canada, Canada Đại Tây Dương, và Bắc bộ Canada ("Đông bộ Canada" nói chung Trung bộ Canada và Canada Đại Tây Dương). Các tỉnh có quyền tự trị lớn hơn các lãnh thổ, chịu trách nhiệm đối với các chương trình xã hội như chăm sóc y tế, giáo dục, và phúc lợi. Tổng thu nhập của các tỉnh nhiều hơn của chính phủ liên bang. Sử dụng quyền hạn chi tiêu của mình, chính phủ liên bang có thể bắt đầu các chính sách quốc gia tại các tỉnh, như Đạo luật Y tế Canada; các tỉnh có thể chọn ở ngoài chúng, song hiếm khi làm vậy trên thực tế. Chính phủ liên bang thực thi thanh toán cân bằng nhằm bảo đảm các tiêu chuẩn thống nhất hợp lý về các dịch vụ và thuế được thi hành giữa các tỉnh giàu hơn và nghèo hơn.
== Nhân khẩu ==
Điều tra dân số Canada năm 2011 đưa ra số liệu tổng dân số 33.476.688, tăng khoảng 5,9% so với số liệu năm 2006. Tháng 12 năm 2012, Cơ quan Thống kê Canada báo cáo dân số trên 35 triệu.
Khoảng bốn phần năm dân số Canada sống cách với biên giới Hoa Kỳ dưới 150 kilômét (93 mi). Xấp xỉ 80% người Canada sống tại các khu vực đô thị tập trung tại hành lang thành phố Québec –Windsor, Lower Mainland tại British Columbia, và hành lang Calgary–Edmonton tại Alberta. Canada trải dài từ 83°B đến 41°B, và xấp xỉ 95% dân số sống bên dưới 55°B. Giống như các quốc gia phát triển khác, Canada đang trải qua biến đổi nhân khẩu học theo hướng dân số già hơn, với nhiều người nghỉ hưu hơn và ít người trong độ tuổi lao động hơn. Năm 2006, tuổi trung bình của cư dân Canada là 39,5; năm 2011, con số này tăng lên xấp xỉ 39,9. Năm 2013, tuổi thọ bình quân của người Canada là 81.
Theo điều tra dân số năm 2006, nguồn gốc dân tộc tự thuật lớn nhất là người Canada (chiếm 32% dân số), tiếp theo là người Anh (21%), người Pháp (15,8%), người Scoltand (15,1%), người Ireland (13,9%), người Đức (10,2%), người Ý (4,6%), người Hoa (4,3%), người Dân tộc Trước tiên (4,0%), người Ukraina (3,9%), và người Hà Lan (3,3%). Có 600 nhóm Dân tộc Trước tiên được công nhận, với tổng số 1.172.790 người.
Dân số thổ dân của Canada đang tăng trưởng gần gấp hai lần tỷ lệ bình quân toàn quốc, và 4% dân số Canada tuyên bố họ có đặc tính thổ dân trong năm 2006. 16,2% dân số khác thuộc một nhóm thiểu số hữu hình (visible minority) phi thổ dân. Năm 2006, các nhóm thiểu số hữu hình lớn nhất là người Nam Á (4,0%), người Hoa (3,9%) và người Da đen (2,5%). Từ năm 2001 đến năm 2006, dân số dân tộc thiểu số hữu hình tăng trưởng 27,2%. Năm 1961, dưới 2% dân số Canada (khoảng 300.000 người) có thể được phân loại thuộc một nhóm dân tộc thiểu số hữu hình, và dưới 1% là thổ dân. Năm 2007, gần một phần năm (19,8%) người Canada sinh ra tại nước ngoài, với gần 60% tân di dân đến từ châu Á (gồm cả Trung Đông). Các nguồn nhập cư dẫn đầu đến Canada hiện là Trung Quốc, Philippines và Ấn Độ. Theo cục Thống kê Canada, các nhóm thiểu số hữu hình có thể chiếm một phần ba dân số Canada vào năm 2031.
Canada là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhập cư bình quân trên người cao nhất thế giới, được thúc đẩy từ chính sách kinh tế và đoàn tụ gia đình. Một tường thuật nói có 280.636 người nhập cư đến Canada trong năm 2010. Chính phủ Canada dự tính có từ 240.000 đến 265.000 cư dân thường trú mới vào năm 2013, một con số người nhập cư tương tự như trong những năm gần đây. Những người mới nhập cư chủ yếu định cư tại các khu vực đô thị lớn như Toronto và Vancouver. Canada cũng chấp nhận một lượng lớn người tị nạn, chiếm hơn 10% tái định cư người tị nạn toàn cầu mỗi năm.
Canada là quốc gia có tôn giáo đa dạng, bao gồm nhiều tín ngưỡng và phong tục. Theo điều tra năm 2011, 67,3% người Canada nhận là tín đồ Ki-tô giáo; trong đó Công giáo La Mã là nhóm lớn nhất với 38,7% dân số. Các giáo phái Tin Lành lớn nhất là Giáo hội Hiệp đồng Canada (6,1% người Canada), tiếp theo là Anh giáo (5,0%), và Báp-tít (1,9%). Năm 2011, khoảng 23,9% cư dân Canada tuyên bố không theo tôn giáo, so với 16,5% vào năm 2001. 8,8% dân số còn lại là tín đồ của các tôn giáo phi Ki-tô, lớn nhất trong đó là Hồi giáo (3,2%) và Ấn Độ giáo (1,5%).
=== Giáo dục ===
Các tỉnh và lãnh thổ của Canada chịu trách nhiệm về giáo dục. Độ tuổi bắt buộc đến trường có phạm vi từ 5–7 đến 16–18 tuổi, đóng góp vào tỷ lệ người trưởng thành biết chữ là 99%. Năm 2011, 88% người trưởng thành có tuổi từ 25 đến 64 đã đạt được trình độ tương đương tốt nghiệp trung học, trong khi tỷ lệ chung của OECD là 74%. Năm 2002, 43% người Canada từ 25 đến 64 tuổi sở hữu một nền giáo dục sau trung học; trong độ tuổi từ 25 đến 34, tỷ lệ giáo dục sau trung học đạt 51%. Theo một tường thuật của NBC năm 2012, Canada là quốc gia có giáo dục nhất trên thế giới. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) chỉ ra rằng học sinh Canada biểu hiện tốt hơn mức trung bình của OECD, đặc biệt là trong toán học, khoa học, và đọc.
=== Ngôn ngữ ===
Canada có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh và tiếng Pháp, theo điều 16 của Hiến chương Canada về Quyền lợi và Tự do và Đạo luật ngôn ngữ chính thức của Liên bang. Chính phủ Canada thực hiện song ngữ chính thức, do Uỷ viên hội đồng các ngôn ngữ chính thức chấp hành. Tiếng Anh và tiếng Pháp có địa vị ngang nhau trong các tòa án liên bang, Nghị viện, và trong toàn bộ các cơ quan liên bang. Các công dân có quyền, ở nơi đủ nhu cầu, nhận các dịch vụ của chính phủ liên bang bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, và các ngôn ngữ thiểu số có địa vị chính thức được đảm bảo có trường học sử dụng chúng tại tất cả các tỉnh và lãnh thổ.
Tiếng Anh và tiếng Pháp là ngôn ngữ thứ nhất của lần lượt 59,7 và 23,2 phần trăm dân số Canada. Xấp xỉ 98% người Canada có thể nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp: 57,8% chỉ nói tiếng Anh, 22,1% chỉ nói tiếng Pháp, và 17,4% nói cả hai ngôn ngữ. Các cộng đồng ngôn ngữ chính thức tiếng Anh và tiếng Pháp, được xác định bằng ngôn ngữ chính thức thứ nhất được nói, tương ứng chiếm 73% và 23,6% dân số.
Hiến chương Pháp ngữ 1977 xác định tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của Québec. Mặc dù hơn 85% số người Canada nói tiếng Pháp sống tại Québec, song cũng có dân số Pháp ngữ đáng kể tại Ontario, Alberta, và nam bộ Manitoba; Ontario là tỉnh có nhiều dân số Pháp ngữ nhất bên ngoài Québec. New Brunswick là tỉnh chính thức song ngữ duy nhất, có cộng đồng thiểu số Acadia nói tiếng Pháp chiếm 33% dân số. Cũng có các nhóm người Acadia tại tây nam bộ Nova Scotia, trên đảo Cape Breton, và qua trung bộ và tây bộ đảo Prince Edward.
Các tỉnh khác không có ngôn ngữ chính thức như vậy, song tiếng Pháp được sử dụng như một ngôn ngữ trong giảng dạy, trong tòa án, và cho các dịch vụ chính quyền khác, cùng với tiếng Anh. Manitoba, Ontario, và Québec cho phép nói cả tiếng Anh và tiếng Pháp tại các cơ quan lập pháp cấp tỉnh, và các đạo luật được ban hành bằng cả hai ngôn ngữ. Tại Ontario, tiếng Pháp có một số địa vị pháp lý, song không hoàn toàn là ngôn ngữ đồng chính thức. Có 11 nhóm ngôn ngữ Thổ dân, bao gồm hơn 65 phương ngôn riêng biệt. Trong số đó, chỉ có Cree, Inuktitut và Ojibway là có số người nói thành thạo đủ lớn để được xem là có thể sinh tồn trường kỳ. Một vài ngôn ngữ thổ dân có địa vị chính thức tại Các Lãnh thổ Tây Bắc. Inuktitut là ngôn ngữ chính tại Nunavut, và là một trong ba ngôn ngữ chính thức tại lãnh thổ này.
Năm 2011, gần 6,8 triệu người Canada kê khai ngôn ngữ mẹ đẻ của họ là một ngôn ngữ phi chính thức. Một số ngôn ngữ thứ nhất phi chính thức thông dụng nhất là tiếng Trung Quốc (chủ yếu là tiếng Quảng Đông; 1.072.555 người), Punjab (430.705), Tây Ban Nha (410.670), Đức (409.200), và Ý (407.490).
== Văn hóa ==
Văn hóa Canada rút ra từ những ảnh hưởng của các dân tộc thành phần, và các chính sách nhằm thúc đẩy đa nguyên văn hóa được bảo vệ theo hiến pháp. Québec là nơi có bản sắc mạnh hóa mạnh, và nhiều nhà bình luận nói tiếng Pháp nói về một văn hóa Québec khác biệt với văn hóa Canada Anh ngữ. Tuy nhiên, về tổng thể, Canada ở trong thuyết một khảm văn hóa- một tập hợp của vài tiểu văn hóa vùng miền, thổ dân, và dân tộc. Các chính sách của chính phủ như tài trợ công khai chăm sóc sức khỏe, áp thuế cao hơn để tái phân phối của cải, xóa bỏ tử hình, những nôc lự mạnh mẽ nhằm loại trừ nghèo khổ, kiểm soát súng nghiêm ngặt, và hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính là những chỉ thị xã hội hơn nữa của các giá trị chính trị và văn hóa Canada.
Về mặt lịch sử, Canada chịu ảnh hưởng của các văn hóa và truyền thống Anh Quốc, Pháp, và thổ dân. Thông qua ngôn ngữ, nghệ thuật và âm nhạc, các dân tộc thổ dân tiếp tục có ảnh hưởng đến bản sắc Canada. Nhiều người Canada xem trọng đa nguyên văn hóa và nhìn nhận Canada vốn đã đa nguyên văn hóa. Truyền thông và giải trí Mỹ phổ biến, nếu không nói là chi phối, tại Canada Anh ngữ; ngược lại, nhiều văn hóa phẩm và nghệ sĩ giải trí của Canada thành công tại Hoa Kỳ và toàn cầu. Việc duy trì một văn hóa Canada riêng biệt được chính phủ ủng hộ thông qua các chương trình, các đạo luật, và các thể chế như Công ty Phát thanh-Truyền hình Canada (CBC), Cục Điện ảnh Quốc gia Canada (NFB), và Ủy ban Phát thanh-Truyền hình và Viễn thông Canada (CRTC).
Nghệ thuật thị giác Canada chịu sự chi phối của các cá nhân như Tom Thomson – họa sĩ nổi tiếng nhất của quốc gia – hay Group of Seven (nhóm 7 họa sĩ). Sự nghiệp hội họa phong cảnh Canada của Tom Thomson kéo dài một thập kỷ cho đến khi ông mất vào năm 1917 ở tuổi 39. Group of Seven là các họa sĩ mang một tiêu điểm dân tộc chủ nghĩa và duy tâm chủ nghĩa, họ trưng bày các tác phẩm đặc biệt của mình lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1920. Mặc dù theo tên gọi thì có nghĩa là có bảy thành viên, song năm họa sĩ – Lawren Harris, A. Y. Jackson, Arthur Lismer, J. E. H. MacDonald, và Frederick Varley – chịu trách nhiệm về khớp nối các ý tưởng của Nhóm. Frank Johnston, và Franklin Carmichael cũng từng tham gia Nhóm. A. J. Casson trở thành một phần của Nhóm vào năm 1926. Một nghệ sĩ Canada nổi tiếng khác cũng liên kết với Group of Seven, đó là Emily Carr, bà được biết đến với các bức họa phong cảnh và chân dung về những người bản địa tại vùng Duyên hải Tây Bắc Thái Bình Dương. Kể từ thập niên 1950, các tác phẩm nghệ thuật Inuit được chính phủ Canada dùng làm quà tặng cho giới chức ngoại quốc cấp cao.
Ngành công nghiệp âm nhạc của Canada sản sinh ra những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, ban nhạc nổi tiếng ở tầm quốc tế. Ủy ban Phát thanh-Truyền hình và Viễn thông Canada quy định về âm nhạc phát sóng trong nước. Viện Hàn lâm Canada về Nghệ thuật và Khoa học Ghi âm trao giải thưởng Juno cho các thành tựu trong ngành công nghiệp âm nhạc Canada, giải được trao thưởng lần đầu tiên vào năm 1970. Âm nhạc ái quốc tại Canada đã có từ trên 200 năm, khi đó là một thể loại riêng biệt với chủ nghĩa ái quốc Anh Quốc, trên 50 năm trước khi có các bước pháp lý đầu tiên hướng đến độc lập. Tác phẩm ái quốc sớm nhất là The Bold Canadian (người Canada Dũng cảm), được viết vào năm 1812. Quốc ca của Canada là "O Canada" ban đầu do Phó tổng đốc Québec Théodore Robitaille đặt sáng tác cho ngày lễ Thánh Jean-Baptiste năm 1880, và được chấp thuận chính thức vào năm 1980. Calixa Lavallée là người viết nhạc, phổ theo một bài thơ ái quốc do Adolphe-Basile Routhier sáng tác. Nguyên bản lời bài chỉ viết bằng tiếng Pháp, rồi được dịch sang tiếng Anh vào năm 1906.
Các môn thể thao có tổ chức tại Canada khởi đầu từ thập niên 1770. Các môn thể thao quốc gia chính thức của Canada là khúc côn cầu trên băng và bóng vợt. Bảy trong số tám vùng đô thị lớn nhất của Canada – Toronto, Montréal, Vancouver, Ottawa, Calgary, Edmonton và Winnipeg – có câu lạc bộ có tư cách tham gia Giải khúc côn cầu Quốc gia (NHL). Các môn thể thao đông khán giả khác tại Canada gồm có bi đá trên băng và bóng đá Canada; giải vô địch bóng đá [kiểu Canada] Canada (CFL) là giải đấu chuyên nghiệp. Golf, quần vợt, bóng chày, trượt tuyết, cricket, bóng chuyền, bóng bầu dục kiểu liên hiệp, bóng đá và bóng rổ được chơi nhiều trong giới thanh thiếu niên và ở mức nghiệp dư, song các giải đấu chuyên nghiệp không phổ biến. Canada có một đội tuyển bóng chày chuyên nghiệp là Toronto Blue Jays, và một đội tuyển bóng rổ chuyên nghiệp là Toronto Raptors. Canada tham gia vào hầu như mọi kỳ Thế vận hội kể từ lần đầu tham gia vào năm 1900, và từng tổ chức một số sự kiện thể thao quốc tế cao cấp, bao gồm Thế vận hội Mùa hè 1976 tại Montréal, Thế vận hội Mùa đông 1988 tại Calgary, Thế vận hội Mùa đông 2010 tại Vancouver và Giải vô địch bóng chày thế giới 1994 và Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2007.
Các biểu tượng quốc gia của Canada chịu ảnh hưởng từ các nguồn tự nhiên, lịch sử, và Thổ dân. Việc sử dụng lá phong làm một biểu tượng của Canada bắt đầu từ đầu thế kỷ 18. Lá phong được mô tả trên các quốc kỳ hiện nay và trước đây, trên tiền xu, và trên quốc huy. Các biểu tượng đáng chú ý khác gồm có hải ly, ngỗng Canada, chim lặn mỏ đen, vương vị, Kị cảnh vương thất Canada, và gần đây hơn là 'cột vật tổ' và cột hay ụ đá nhân tạo Inuksuk.
== Ghi chú ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Canada tại DMOZ
Canada từ BBC News
Canada từ CIA World Factbook
sơ lược Canada từ OECD
Canadiana: The National Bibliography of Canada
Key Development Forecasts for Canada từ International Futures
Trang tin điện tử chính thức của Chính phủ Canada
Trang tin điện tử chính thức của Toàn quyền Canada
Trang thông tin du lịch chính thức của Canada |
samsung galaxy mini.txt | Samsung Galaxy Mini (GT-S5570[B/L/i]) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung chạy hệ điều hành Android. Nó được công bố và phát hành bởi Samsung vào mùa xuân năm 2011. Trên một số thị trường khác nó được gọi là Samsung Galaxy Next/Pop. Nó hiện có sẵn 4 màu; xám thép, trắng, xanh và cam. Các thiết bị tương tự khác bán tại Mỹ là Samsung Dart dành riêng cho T-Mobile. Các phần nút đã được thay đổi để phù hợp với dòng điện thoại Galaxy. Các chức năng FM radio đã được bỏ đi.
Bản kế thừa Samsung Galaxy Mini 2, đã được phát hành bởi Samsung cải tiến bộ xử lý so với bản gốc.
== Tính năng ==
Galaxy Mini là smartphone 3.5G cung cấp bốn băng tần GSM và được công bố với hai băng tần HSDPA (900/2100 MHz) với 7.2 Mbit/s. Màn hình 3,14 in (80 mm)-đường chéo TFT LCD với độ phân giải QVGA 240×320 pixels hỗ trợ lên đến 256,000 màu.
Galaxy Mini được giới thiệu như một điện thoại thông minh, và nó (tính đến ngày 13 tháng 5 năm 2011) là một trong những điện thoại Android rẻ nhất thị trường.
Galaxy Mini ban đầu chạy Android 2.2 Froyo, nhưng tháng 5 năm 2011, Samsung công bố rằng Galaxy Mini (cùng với sản phẩm Galaxy khác) sẽ chính thức nâng cấp lên Android 2.3 Gingerbread. Bản nâng cấp chính thức lên Android 2.3.6 (Gingerbread) được phát hành thông qua Samsung Kies vào 9 tháng 12 năm 2011 đối với một số nhà mạng di động. Galaxy Mini cũng có thể flash một số ROM tuỳ chọn như CyanogenMod phát hành (mặc dù không chính thức hỗ trợ từ Samsung) nơi mà tên mã là tass. Phiên bản chính thức hỗ trợ của CyanogenMod trên Galaxy Mini vào tháng 8 năm 2012 là CyanogenMod 7.2. Nó chạy CyanogenMod 10 nhưng nó không chính thức hỗ trợ do vấn đề ổn định. Nó có thể ép xung lên 800 MHz với SetCPU.
=== Các tính năng chính ===
Chạm 2 ngón (2 ngón tay)
Hỗ trợ bốn băng thông GSM và hai băng thông 3G
7.2 Mbit/s HSDPA
WiFi 802.11 (b/g/n)
Bluetooth công nghệ v 2.1
USB 2.0 (Tốc độ cao)
3,14 in (80 mm) 256K-màu QVGA TFT cảm ứng
Vi xử lý ARMv6 600 MHz, 384 MB RAM (có sẵn 279 MB RAM)
Adreno 200 GPU
Android OS v2.2 (Froyo) với TouchWiz v3.0 UI, nâng cấp lên v2.3.6 (Gingerbread) có sẵn tại một số vùng.
160 MB bộ nhớ trong, khe cắm MicroSD, bao gồm thẻ 2 GB
3.15 Mpixel máy ảnh tiêu cự với nhãn địa điểm
GPS thu với A-GPS
FM radio với RDS và Radio Text (không có sẵn trên bản "Dart".)
3.5 mm audio jack
Chỉnh sửa tài liệu
Gia tốc và cảm biến tiệm cận
Swype virtual keyboard
Cổng MicroUSB (sạc và chuyển dữ liệu) và stereo Bluetooth 2.1
SNS (Social networking service) integration
Chỉnh sửa ảnh/Video
== Xem thêm ==
Android
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
loveless (album).txt | Loveless là album phòng thu thứ hai của ban nhạc shoegaze My Bloody Valentine. Phát hành ngày 4 tháng 11 năm 1991, Loveless được phu âm trong khoảng thời gian hai năm từ 1989 tới 1991 tại mười chín phòng thu khác nhau. Kevin Shields (hát chính/guitar) kiểm soát tiến trình thu âm; ông tìm cách tạo nên một âm thanh đặc thù cho album, sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau như gảy guitar với thanh reo dây (tremolo bar), các đoạn trống được lấy mẫu, và giọng hát chìm dưới nhạc. Một số lớn kỹ thuật viên được sử dụng trong tiến trình này, mặc dù ban nhạc ghi nhận tất cả những người có mặt có quá trình thu lên bìa ghi chú album, "thậm chí nếu tất cả những gì họ làm chỉ là châm trà", theo Shields. Tổng số tiền thu âm Loveless được đồn rằng đã tốn tới 250,000 £, điều này được cho là đã góp phần làm hãng đĩa của ban nhạc, Creation Records, phá sản.
Mối quan hệ của My Bloody Valentine với Creation Records ngày một xấu đi trong khi thu âm album, và ban nhạc bị đuổi khỏi sau khi phát hành album do sự khó khăn và tốn kém khi làm việc với Shields. Dù Loveless không nhận được thành công thương mại lớn, album được các nhà phê bình ca ngợi. Thường được xem là một cột mốc của shoegazing, ảnh hưởng lên nhiều nghệ sĩ, và được cho là một trong những album hay nhất thập kỷ 1990.
== Thu âm và sản xuất ==
My Bloody Valentine được cho thu âm tại Blackwing Studios ở Southwark, London vào tháng 2 năm 1989, và có ý định dùng thời gian này để tạo ý tưởng cho album thứ hai của họ. Shields nói Creation ban đầu tin rằng ablum sẽ được thu "trong năm ngày", và "khi điều đó rõ ràng sẽ không xảy ra, họ [Creation] tức giận." Sau nhiều tháng không làm được gì, tháng 9 cùng năm, ban nhạc chuyển đến phòng thu The Elephant and Wapping, nơi họ tiếp tục dùng tám tuần không làm gì. Kỹ thuật viên Nick Robbins nói Shields làm rõ rằng ông (Robbins) "ở đây chỉ để ấn nút." Robbins nhanh chóng bị thay thế bởi Harold Burgon, nhưng theo Shields, đóng góp chính của Burgon chỉ là chỉ cho ban nhạc cách dùng máy tính trong phòng thu. Burgon và Shields dành ba tuần tại phòng thu Woodcray ở Berkshire làm EP Glider, Shields và giám đốc Creation Alan McGee đồng ý rằng EP này sẽ được phát hành để kiếm tiền cho album. Alan Moulder được thuê để phối khi cho bài hát "Soon" tại phòng thu Trident 2 ở Victoria (bài hát này sau đó có mặt trong Loveless). Shields nói về Moulder, "Ngay khi chúng tôi làm với anh ta chúng tôi nhận ra mình muốn làm thêm!" Khi nhóm trở về tiếp tục làm album, Moulder là kỹ thuật viên duy nhất Shields đủ tin cậy để cho phép sử dụng những dụng cụ như máy khuếch đại; tất cả những kỹ thuật viên khác bị nói rằng "...các người không cần tới làm việc đâu." Shields phát biểu rằng "đám kỹ thuật viên này—với ngoại lệ Alan Moulder và sau đó Anjali Dutt—chỉ là những người thích đến phòng thu...theo họ, tất cả những gì chúng tôi muốn làm đều sai."
Vào mùa xuân năm 1990, Anjali Dutt được thuê để thay thế Moulder, người khi đó đang làm việc với Shakespears Sister và Ride. Dutt giúp thu âm tiếng hát và guitar của nhiều track. Trong thời kỳ này, ban nhạc thu âm ở nhiều phòng thu, thường dành cả một ngày trong phòng thu trước khi quyết định nó có thích hợp hay không. Tháng 5, 1990, My Bloody Valentine đến Protocol ở Holloway, và bắt đầu làm việc bằng tiền đặt cọc cho album, cũng như một EP thứ hai, Tremolo. Như Glider, Tremolo gồm một bài hát—"To Here Knows When"—mà sau đó sẽ có mặt trong Loveless. Ban nhạc ngừng thu âm vào cuối mùa hè 1990 để lưu diễn quảng bá cho việc phát hành Glider. Khi Moulder trở lại với dự án vào tháng 8, ông ngạc nhiên rằng sao mới có một ít công việc được hoàn thành. Vì điều đó, Creation Records lo rằng không biết album sẽ tốn hết bao nhiêu tiền. Moulder rời đi lần nữa vào tháng 1991 để làm việc cho ban nhạc noise pop The Jesus and Mary Chain.
Trong bài phỏng vấn với tạp chí Select, Shields nói về quá trình thu âm đứt đoạn, và dùng 'When You Sleep' như một ví dụ:
"Chúng tôi thu âm phần trống vào tháng 9, '89. Guitar làm xong vào tháng 12. Bass hoàn tất vào… ờ… tháng 4. Giờ tới 1990. Rồi chẳng có gì sảy ra trong một năm." Thế nó không có hát à? "Không." Nó có lời không? "Không." Nó có tiêu đề không? "Không. Nó chỉ có số thứ tự. Nó được gọi là 'Bài 12'. Và… Tôi đang cố nhớ lại… dòng giai điệu xong năm '91. Hát cũng '91. Có một khoảng gián đoạn lớn. Tháng này qua tháng nọ không đụng vào bài hát nào. Hàng năm. Tôi quên cả cách lên dây mà tôi dùng."
Giọng hát được thâu băng ở phòng thu Britannia Row và Protocol vào giữa tháng 5 và tháng 6 năm 1991. Shields và Bilinda Butcher treo rèm trên cửa sổ giữa phòng điều khiển và buồng hát, và chỉ giao tiếp với các kỹ thuật viên khi họ hoàn thành một lần hát tốt bằng cách kéo rèm lên và vẫy tay. Theo kỹ thuật viên Guy Fixsen, "Chúng tôi không được phép nghe khi họ đang hát. Bạn phải xem máy đo của máy băng ghi âm để biết liệu có ai đang hát không. Nếu nó dừng, bạn biết rằng mình cũng phải dừng băng." Trong hầu hết các ngày, bộ đôi đến phòng thu mà không viết lời cho bài hát mà họ thu. Dutt nhớ lại: "Kevin hát xong một bài, và rồi Bilinda lấy băng xuống và viết ra những từ mà cô ấy nghĩ anh ta đã hát".
Tháng 5, 1991, Creation đồng ý chuyển việc sản xuất đến Eastcoate studio, sau những than phiền không được giải thích của Shields. Tuy nhiên, do Creation Records thiếu tiền đến nổi không đủ tiền trả cho khoảng thời gian tại Britannia Row, và phòng thu từ chối trả lại các thiết bị của ban nhạc. Các hành vi bất ngờ và bừa bãi của Shields, những lần trì hoãn, và thay đổi phòng thu liên tục đã tác động mạnh lên tài chính của Creation. Dutt sau đó thừa nhận rằng từng rất muốn rời dự án, trong khi phó trưởng Creation là Dick Green có nhiều lo lắng trong thời gian này. Trong thời gian này, cả Shields và Butcher đều bị ù tai, và phải dời việc thu âm nhiều tuần nữa để chữa trị. Bạn bè và các thành viên ban nhạc cho rằng đây là kết quả của âm lượng quá to khi nhóm biểu diễn. Shields cho rằng cách lý giải này là "chứng kích động thông tin nghèo nàn". Dù Alan McGee vẫn lạc quan và tích cực về cuộc đầu tư này, Green khi đó mới 29 tuổi, người vào thời gian đó mở cửa hãng đĩa buổi sáng sau khi "run rẩy với sợ hãi", trở nên lo lắng cùng các đồng nghiệp. Nhà báo Laurence Verfaillie, nhận thấy sự bất lực của hãng đĩa trong việc chi tiền cho các phòng thu, nhớ lại rằng tóc Green đã bạc đi chỉ sau một đêm. "Anh ấy sẽ không trở nên như vậy nếu không vì album đó", Verfaillie nói.
Với phần hát đã hoàn thành, lần phối khí cuối cùng của album được đảm nhận bởi kỹ thuật viên Dick Meaney tại Nhà thờ ở Crouch End vào mùa thu, 1991; đây là phòng thu thứ mười chín trong quá trình làm việc cho Loveless. Album được chỉnh sửa trên một cái máy cũ từng được dùng để cắt các đoạn hội thoại trong các bộ phim từ thập niên 1970. Máy tính của nó làm cả album bị lỗi. Shields sửa nó lại bằng trí nhớ, khi master album, do sự mất tinh thần của Creation, cần tới 13 ngày, chứ không phải một ngày như bình thường.
Melody Maker tính rằng toàn bộ tiền dành cho album là gần 250,000 £; tuy nhiên, Green, và Shields không đồng ý với điều này. Shields cho rằng số tiền ước tính đã bị phóng đại cường điệu bởi McGee vì giám đốc Creation "nghĩ rằng có sẽ thật ngầu." Theo Shields, "Số tiền chúng tôi tiêu không ai biết được vì chúng tôi không đếm. Nhưng chúng tôi tính ra bởi chính mình bằng cách tính ra phòng thu cần bao nhiêu và các kỹ thuật viên cần bao nhiêu. 160 nghìn bảng là số tiền lớn nhất mà chúng tôi cho rằng mình đã tiêu." Theo ý kiến của Green, ước tính của Melody Maker hụt mất khoảng 20,000 £. Trong bài phỏng vấn tháng 12 năm 1991, Shields nói rằng hầu hết số tiền được cho rằng được dùng cho album thực ra là "tiền để sống" trong hơn ba năm, và chính album chỉ tốn "vài nghìn". Ông cũng nói là album thực ra chỉ được làm trong vòng bốn tháng trong suốt hai năm. Shields phát biểu rằng hầu hết tiền được dùng là của ban nhạc, và rằng "Creation có lẽ chỉ dành mười lăm tới hai mười nghìn bản cho album, và chỉ có thế thôi. Họ không bao giờ cho chúng tôi xem tài khoản của họ, và rồi họ được Sony mua lại."
== Danh sách bài hát ==
Toàn bộ phần lời và nhạc sáng tác bởi Kevin Shields, trừ khi được ghi chú.
== Thành phần tham gia ==
Đội ngũ tham gia sản xuất Loveless dựa trên phần bìa ghi chú.
== Bảng xếp hạng ==
== Chứng nhận ==
== Tham khảo ==
Văn kiện
Cavanagh, David (2000). The Creation Records Story: My Magpie Eyes Are Hungry for the Prize. London: Virgin Books. ISBN 0-7535-0645-9.
DeRogatis, Jim (2003). Turn On Your Mind: Four Decades of Great Psychedelic Rock. Milwaukee: Hal Leonard Corporation. ISBN 0-634-05548-8.
McGonigal, Mike (2007). Loveless. New York: The Continuum International Publishing Group Inc. ISBN 0-8264-1548-2.
== Liên kết ngoài ==
Analysis of the importance of Loveless in music history
Loveless trên Discogs (danh sách phát hành) |
ngân hàng anh.txt | Thống đốc và Đồng sự của Ngân hàng Anh (Governor and Company of Bank of England) là tên gọi đầy đủ của Ngân hàng Anh – ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh. Được thành lập năm 1694 với tư cách là ngân hàng chính phủ, Ngân hàng Anh bao gồm cả Ủy ban Chính sách tiền tệ (Monetary Policy Committee) chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ của Vương quốc Anh. Trụ sở của Ngân hàng Anh tọa lạc tại London, trên phố Threadneedle. Thống đốc hiện tại là Mervyn King, người tiếp quản vị trí của Ngài Edward George ngày 30 tháng 06 năm 2003.
== Chức năng ==
Ngân hàng Anh thực hiện tất cả các chức năng của ngân hàng trung ương. Quan trọng hơn cả trong các chức năng đó là duy trì ổn đinh giá cả và hỗ trợ các chính sách kinh tế của Chính phủ Vương quốc Anh. Hai lĩnh vực chính được Ngân hàng đảm nhiệm là:
Ổn định tiền tệ: duy trì giá cả ổn định và lòng tin vào đồng bảng Anh. Giá cả ổn định được duy trì tuân thủ mục tiêu lạm phát của Chính phủ. Ngân hàng thực hiện chức năng này thông qua tỷ lệ lãi suất được ấn định bởi Ủy ban Chính sách tiền tệ.
Ổn định tài chính: duy trì sự ổn định tài chính trước các nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính. Những nguy cơ này được phát hiện bằng quan sát, theo dõi. Các nguy cơ phát sinh sẽ được ngăn chặn bằng các hành động tài chính và các biện pháp khác ở trong nước và ngoài nước. Trong những trường hợp hãn hữu, Ngân hàng Anh là ngân hàng cung cấp tín dụng cuối cùng.
Các định chế khác cùng Ngân hàng Anh đảm bảo sự ổn định tài chính và tiền tệ như:
Ngân khố Chính phủ (Her Majesty’s Treasury), cơ quan của Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế và tài chính
Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính (Financial Services Authority – FSA), tổ chức độc lập quản lý lĩnh vực dịch vụ tài chính.
Các ngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế khác với mức đích cải thiện hệ thống tài chính quốc tế.
Bản ghi nhớ năm 1997 quy định những nguyên tắc mà Ngân hàng Anh, Ngân khố chính phủ và FSA phối hợp để tăng cường sự ổn định tài chính.
Với vai trò là ngân hàng của Chính phủ Anh, Ngân hành Anh quản lý tài khoản quỹ chung của chính phủ. Ngân hàng cũng quản lý thị trường ngoại hối và dự trữ vàng. Nó là ngân hàng của các ngân hàng, có nghĩa là cho vay sau cùng. Để duy trì năng lực nghiệp vụ, nó cũng cung cấp các dịch vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng bán lẻ cho một số lượng hạn chế các cá nhân và tổ chức.
Ngân hàng Anh có độc quyền phát hành giấy bạc tại Anh (England) và Wales. Các ngân hàng Scotland và Bắc Ireland vẫn giữ quyền phát hành giấy bạc ở địa phương nhưng họ phải ký quỹ đảm bảo toàn bộ tại Ngân hàng Anh trừ khoản vài triệu bảng giấy bạc phát hành năm 1845. Sau tháng 12 năm 2002, việc in ấn giấy bạc được giao cho công ty De La Rue theo tư vấn của Công ty tài chính Close Brothers (Close Brothers Corporate Finance Ltd).
Từ năm 1997, Ủy ban Chính sách tiền tệ chịu trách nhiệm ấn định tỷ lệ lãi suất. Với quyết định cho phép Ngân hàng hoạt động độc lập, trách nhiệm quản lý nợ của chính phủ được chuyển cho Văn phòng Quản lý nợ nước Anh (UK Debt Management Office) năm 1998. Đến năm 2000, chức năng quản lý tiền mặt của chính phủ cũng chuyển giao cho văn phòng này. Và cuối năm 2004, công ty Computershare giành quyền cung cấp dịch vụ quản lý trái phiếu cho Chính phủ Anh.
Ngân hàng Anh từng chịu trách nhiệm quản lý và giám sát ngành ngân hàng. Chức năng này được chuyển giao cho Cơ quan giám sát dịch vụ tài chính (FSA) tháng 06 năm 1998.
Bank of England được thành lập năm 1694 do Perteson lập ra, và nó là ngân hàng tư nhân,không thuộc quyền quản lý của chính phủ Anh.và một phần ngân hàng này thuộc quyền kiểm soát của gia tộc Rothchild,gia tộc này cũng đồng thời cùng vài gia tộc khác đang kiểm soát việc phát hành tiền tệ của các quốc gia Đức, Pháp,Ý,Áo và Mỹ....
== Lịch sử ==
Thành lập năm 1694 do doanh nhân Scotland William Paterson, Ngân hành Anh là ngân hàng cho chính phủ Anh. William Paterson cho chính phủ vay £1,2 triệu, đổi lại ông có quyền thành lập Ngân hàng Anh với những đặc quyền ngân hàng của chính phủ bao gồm phát hành giấy bạc. Sắc lệnh hoàng gia hợp thức các quyền này ngày 27 tháng 07 năm 1694. Thị trường tài chính lúc đó rất nghèo nàn nên khoản vay bị tính lãi suất tới 8% một năm cộng thêm phí quản lý của khoản vay là £4.000 mỗi năm. Thống đốc của Ngân hàng đầu tiên là ngài John Houblon - người có chân dung trên tờ bạc £50 phát hành năm 1990. Sắc lệnh được gia hạn tiếp vào các năm 1742, 1764 và 1781. Ban đầu, trụ sở Ngân hàng được xây trên nền ngôi đền Mithras ở London, khu Walbrook. Ngôi đền có từ thời ra đời thành phố London cổ (Londinium) trên nền những trại lính La Mã. Mithras được coi là vị thần của cam kết, phù hợp với hình ảnh của Ngân hàng. Ngài Herbert Bakers xây dựng lại trụ sở của Ngân hàng Anh thay thế tòa nhà được xây bởi Ngài John Soane. Trụ sở mới này từng bị Pevsner – sử gia nghệ thuật nổi tiếng đồng thời là kiến trúc sư, mô tả là "tội ác kiến trúc lớn nhất ở thành phố London thế kỷ 20".
Ngân hàng đảm nhiệm chức năng quản lý "nợ quốc gia" từ khi ý tưởng này ra đời và thực hiện thế kỉ 18. Cho đến Sắc lệnh hoàng gia gia hạn vai trò của Ngân hàng năm 1781, Ngân hàng Anh trở thành ngân hàng của các ngân hàng, tức là dự trữ vàng bảo đảm cho lượng giấy bạc phát hành. Ngày 26 tháng 02 năm 1797, nguy cơ chiến tranh với nước Pháp cách mạng tư sản khiến dự trữ vàng sụt giảm nghiêm trọng, Chính phủ đã cấm Ngân hàng xuất vàng chi trả cho giấy bạc thu về. Lệnh cấm này bãi bỏ năm 1821. Thực chất của lệnh cấm này là Ngân hàng không đảm bảo nội dung vàng cho giấy bạc nó phát hành nữa.
Luật ngân hàng năm 1844 quy định việc phát hành giấy bạc phải có vàng bảo đảm và trao cho Ngân hàng Anh độc quyền phát hành giấy bạc. Các ngân hàng lúc đó phát hành giấy bạc có quyền tiếp tục phát hành giấy bạc nhưng phải chuyển trụ sở ra khỏi London và phải lưu trữ vàng để đảm bảo chi trả giấy bạc phát hành. Một vài ngân hàng của Anh (England) tiếp tục phát hành giấy bạc của riêng cho đến khi ngân hàng cuối cùng loại này bị thôn tính vào thập kỷ 1930. Các ngân hàng tư nhân Scotland và Bắc Ireland vẫn có các quyền này. Nước Anh duy trì bản vị vàng đến năm 1931 khi dự trữ vàng và ngoại hối được chuyển giao cho Ngân khố Chính phủ, nhưng quyền quản lý các nguồn dự trữ này vẫn do Ngân hàng Anh đảm trách. Từ năm 1870, Ngân hàng Anh chịu trách nhiệm về chính sách lãi suất.
Trong thời gian 1920 đến 1944 dưới quyền Montagu Norman, Ngân hàng Anh từ bỏ các chức năng ngân hàng thương mại và trở thành ngân hàng trung ương. Năm 1946, nó được quốc hữu hóa.
Năm 1997, Ủy ban Chính sách tiền tệ được thành lập để ấn định lãi suất, phục vụ chỉ tiêu lạm phát 2,5% của chính phủ. Quyết định này là của Bộ trưởng Tài chính Gordon Brown có hỏi ý kiến của Tony Blair trước cuộc bầu cử 1997, dù vậy thông báo thành lập chỉ được đưa ra sau cuộc bầu cử. Nếu mức lạm phát dao động vượt ngoài 1% biên, Thống đốc phải viết thư giải trình với Bộ trưởng Tài chính và đệ trình biện pháp điều chỉnh. Điều này được coi là một thay đổi tích cực bởi những lý do sau:
từ bỏ vai trò của chính phủ vốn gây tranh cãi trong thực hiện chính sách lạm phát
khẳng định với giới tài chính mong muốn của chính phủ về một nền kinh tế mạnh mẽ
các học thuyết kinh tế học về "sự không nhất quán" phát triển bởi hai nhà kinh tế học giải Nobel Edward C. Prescott và Finn E. Kydland cùng thống kê ở New Zealand và một số nước khác cho thấy rằng ngân hàng trung ương độc lập có thể thành công hơn trong việc giảm lạm phát mà không gia tăng thất nghiệp.
Ngay sau tuyên bố trên, chỉ số chứng khoán FTSE 100 đã tăng vọt và đồng bảng Anh đạt mức tỷ giá cao nhất so với đồng Mác Đức kể từ khi đồng bảng Anh không tham gia Cơ chế tỷ giá chung của EU (European Exchange Rate Mechanism - ERM).
Mục tiêu lạm phát hiện nay là 2%, chỉ số giá tiêu dùng thay cho chỉ số giá bán lẻ được sử dụng làm chỉ số lạm phát. Các chỉ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán lẻ được tính toán bởi Cơ quan Thống kê quốc gia, độc lập với các sức ép chính trị.
== Phát hành giấy bạc ==
Ngân hàng Anh bắt đầu phát hành giấy bạc (tiền giấy) từ năm 1694. Những tờ bạc thời đó được viết tay, dù từ năm 1725 chúng được in nhưng các nhân viên xuất quỹ vẫn phải ký lên mỗi tờ bạc để cho chúng khả năng thanh toán. Các tờ bạc được in cùng chữ ký của trưởng quỹ từ năm 1855. Tới năm 1928, chúng vẫn là "Tiền giấy trắng" (White Notes), tức là chỉ được in đen trắng một mặt và mặt kia để trắng. Trong thế kỷ 20, "Tiền giấy trắng" được phát hành với mệnh giá từ £5 đến £1.000; thế kỷ 18 và 19, có cả "Tiền giấy trắng" £1 và £2. Ngân khố chính phủ Anh (Treasury) đã phát hành những tờ tiền 10 shilling và £1 chỉ vài ngày sau khi nổ ra Chiến tranh thế giới thứ nhất với mục đích rút tiền xu bằng vàng ra khỏi lưu thông tiền tệ. Đến ngày 22/11/1928, Ngân hàng Anh tiếp quản chức năng phát hành loại giấy bạc này.
Trong thế chiến thứ hai, nước Đức làm giả những tờ bạc mệnh giá từ £5 đến £50, lên đến 500 ngàn tờ tiền mỗi tháng trong năm 1943. Kế hoạch ban đầu là thả những tờ tiền giả này xuống nước Anh với mục đích làm mất ổn định kinh tế Anh, tuy vậy việc này không hiệu quả bằng sử dụng tiền giả chi trả cho mật vụ Đức trên toàn Châu Âu. Mặc dù phần lớn số tiền này rơi vào tay phe đồng minh sau chiến tranh nhưng tiền giả vẫn xuất hiện nhiều năm sau đó. Những tờ tiền mệnh giá trên £5 sau đó buộc phải rút ra khỏi lưu thông.
Tất cả giấy bạc cũ của Ngân hàng Anh vẫn được đổi sang giấy bạc lưu hành ngày nay. Những tờ giấy bạc giả được thu lại và tiêu hủy, Ngân hàng không khuyến khích việc gửi tiền giấy đến để kiểm tra tính thật giả, tuy nhiên nếu tờ tiền là giả, khoản hoàn lại sẽ được trả bằng séc. Lưu thông tiền giả là tội hình sự.
=== Tờ bạc 10 shilling ===
Tờ bạc 10 shilling đầu tiên phát hành bởi Ngân hàng Anh ngày 22/11/1928 (trước đó do Ngân khố chính phủ phát hành). Tờ bạc này có họa tiết biểu tượng "Britania", vốn là họa tiết của giấy bạc ngân hàng từ 1694. Nền cơ bản là nâu đỏ (hình mặt trước tờ 10 shilling, hình mặt sau tờ 10 shilling).. Khác với những tờ bạc trước đó và những tờ bạc £1 tạm thời, tờ bạc mới không ghi ngày phát hành nhưng được phân biệt bởi chữ ký của trưởng quỹ đương thời. Năm 1940, sợi dây kim loại được đưa vào sử dụng lần đầu tiên và màu sắc của tờ bạc được thay đổi sang màu hoa cà trong thời gian chiến tranh (xem hình).
Đến năm 1960, thiết kế mới mang tên "Series C" được lưu thông khi Nữ hoàng Elizabeth II cho phép sử dụng chân dung của bà trên tờ bạc (xem hình). Khi tiền xu 50 penny phát hành năm 1969, tờ bạc này được thu hồi.
=== Tờ bạc £1 ===
Tờ bạc £1 của Ngân hàng Anh phát hành lần đầu ngày 26/02/1797 dưới thời thống đốc Thomas Raikes và theo yêu cầu của chính phủ William Pitt trẻ để đáp ứng nhu cầu về tờ bạc mệnh giá nhỏ hơn thay thế tiền xu bằng vàng, khi đó là thời kỳ chiến tranh với nước Pháp cách mạng tư sản.
Việc phát hành mới tờ bạc này dừng lại năm 1845 và tiếp tục phát hành mới vào ngày 22/11/1928. Tờ bạc có họa tiết biểu tượng Britania, vốn là họa tiết của giấy bạc ngân hàng từ 1694. Nền cơ bản là xanh lá cây. Khác với những tờ tiền trước đó và những tờ tiền £1 tạm thời, tờ bạc mới không ghi ngày phát hành nhưng được phân biệt bởi chữ ký của trưởng quỹ đương thời. Năm 1940, sợi dây kim loại được đưa vào sử dụng lần đầu tiên và màu sắc của tờ bạc được thay đổi sang màu hồng trong thời gian chiến tranh (hình mặt trước tờ £1, hình mặt sau tờ £1). Thiết kế ban đầu được thay thế bằng mẫu "Series C" năm 1960 khi Nữ hoàng Elizabeth II cho phép sử dụng chân dung của bà trên tờ bạc. Năm 1977 thiết kế "Series D" sử dụng hình chân dung Isaac Newton ở mặt trái, sau khi đồng xu £1 được phát hành năm 1983, tờ bạc này rút ra khỏi lưu thông năm 1988 (hình tờ bạc £1 "Series D").
=== Tờ bạc £2 ===
Tờ bạc £2 đầu tiên của Ngân hàng Anh phát hành ngày 26/02/1797 dưới thời thống đốc Thomas Raikes và theo yêu cầu của chính phủ William Pitt trẻ để đáp ứng nhu cầu về tờ bạc mệnh giá nhỏ hơn thay thế tiền xu bằng vàng, khi đó là thời kỳ chiến tranh với nước Pháp cách mạng tư sản. Tờ bạc này sau đó bị đình chỉ.
=== Tờ bạc £5 ===
Tờ bạc £5 đầu tiên của Ngân hàng Anh phát hành năm 1793 do nhu cầu giấy bạc có mệnh giá nhỏ và rút tiền xu bằng vàng ra khỏi lưu thông trong thời gian chiến tranh với nước Pháp cách mạng tư sản (trước đó tờ tiền mệnh giá nhỏ nhất là £10). Thiết kế năm 1793 gọi là tờ "White Fiver" (in đen trắng một mặt, mặt kia để trắng – (xem hình), tồn tại đến năm 1957 khi mẫu "Series B" với hoạt tiết Britania đội mũ được sử dụng. Tờ bạc này sau đó được thay bằng thiết kế "Series C". Tờ tiền mới có chân dung Nữ hoàng Elizabeth II. Năm 1971, "Series D" đưa vào lưu thông với chân dung Nữ hoàng nhiều tuổi hơn ở mặt trước và hình Công tước Wellington ở mặt sau. Ngày 07/06/1990, "Series E" của tờ bạc £5 – lúc này là tờ bạc mệnh giá nhỏ nhất, được phát hành. Mẫu này có màu ngọc lam và các yếu tố thiết kế khác làm cho việc sao chụp trở nên khó hơn trước. Đầu tiên, mặt trái mẫu "Series E" £5 có hình kỹ sư đường sắt George Stephenson, sau đó mẫu đổi mới của "Series E" có hình Elizabeth Fry – người cải cách điều kiện nhà tù ở Anh. Vài triệu tờ bạc in hình Stephenson bị hủy khi được thông báo là in sai năm ông qua đời. Lần đầu phát hành tờ giấy bạc £5 Fry cũng phải rút lại khi phát hiện mực ở số phát hành có thể bị phai. Những tờ bạc £5 Stephenson rút ra khỏi lưu thông ngày 21/10/2003, lúc đó loại này chiếm khoảng 54 triệu trong tổng số 211 triệu tờ tiền loại £5 đang được sử dụng.
=== Tờ bạc £10 ===
Tờ bạc £10 đầu tiên được lưu thông năm 1759 khi cuộc chiến tranh Bảy năm khiến vàng thiếu trầm trọng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tờ bạc này rút ra khỏi lưu thông. Giữa thập kỷ 1960, loại mệnh giá này tiếp tục được phát hành với mẫu "Series C" có màu nâu. "Series D" xuất hiện đầu những năm 1970 có hình nữ y tá Florence Nightingale (1820-1910) ở mặt sau cùng với cảnh công việc của bà tại quân y viện ở Scutari (Thổ Nhĩ Kỳ) trong cuộc chiến tranh Crime. Tờ tiền này sau đó được thay thế trong những năm 1990 bởi "Series E" có màu vàng cam. Mặt trái của nó có hình nhà văn Charles Dickens và một cảnh trong tiểu thuyết Pickwick Papers (mẫu tờ bạc này rút khỏi lưu thông tháng 07/2003). Thiết kế thứ hai của "Series E" năm 2000 có hình nhà bác học Charles Darwin, chiến hạm HMS Beagle, con chim sâu và những bông hoa nhìn qua kính lúp tượng trưng cho cuốn sách nổi tiếng "Nguồn gốc các loài".
=== Tờ bạc £20 ===
Mãi đến những năm đầu thập kỷ 1970, tờ bạc mệnh giá £20 mới xuất hiện với mẫu "Series D". Màu chủ đạo là màu tím. Mặt sau của tờ bạc có hình William Shakespeare và cảnh chiếc ban công trong tác phẩm "Romeo và Juliet". Năm 1992, tờ bạc này được thay thế bằng mẫu "Series E" mang hình nhà vật lý Michael Faraday và những chương trong Hiến pháp. Cho đến 1999, tờ bạc này bị sao chụp quá nhiều nên nó được thay thế bằng thiết kế thứ hai của "Series E" với con số ghi tiền đậm hơn ở góc tên bên phải mặt trước, mặt sau có hình nhà soạn nhạc Edward Elgar và Thánh đường Worcester. Tháng 02/2006, Ngân hàng Anh thông báo mẫu thiết kế mới của tờ bạc. Mẫu mới phát hành ngày 13/03/2007 có hình nhà kinh tế học Adam Smith với hình vẽ nhà máy sản xuất đinh ghim – hình ảnh được cho là giúp đưa đến học thuyết kinh tế học của ông. Adam Smith là người Scotland đầu tiền xuất hiện trên giấy bạc của Ngân hàng Anh. Hình nhà kinh tế học này cũng trên tờ bạc £50 của Scotland.
=== Tờ bạc £50 ===
Tờ bạc £50 xuất hiện năm 1981 với mẫu "Series D", hình kiến trúc sư Christopher Wren và bản bản vẽ Nhà thờ Saint Paul trên mặt sau. Năm 1990 tờ bạc mệnh giá này đổi sang mẫu "Series E" kỷ niệm 300 năm hoạt động của Ngân hàng Anh. Hình thống đốc đầu tiên John Houblon in ở mặt sau.
=== Tờ bạc £100 ===
Ngân hàng Anh không phát hành tờ bạc mệnh giá £100, tuy vậy Bank of Scotland (Ngân hàng Scotland), Royal Bank of Scotland (Ngân hàng hoàng gia Scotland) và Clydesdale Bank (Ngân hàng Clydesdale) có phát hành ở Scotland.
=== Tờ bạc một triệu pound ===
Phần lớn giấy bạc phát hành bởi các ngân hàng ở Scotland và Bắc Ireland phải đặt bảo đảm tại Ngân hàng Anh. Bởi số lượng lớn những tờ bạc được phát hành, sẽ thật nặng nề và tốn kém nếu lưu giữ những tờ bạc của Ngân hàng Anh để đảm bảo tính thanh khoản. Những tờ bạc mệnh giá cực lớn được dùng với mục đích lưu trữ này và chỉ sử dụng trong nội bộ ngân hàng.
== Các Thống đốc Ngân hàng Anh ==
Sir John Houblon (1694–1697)
Sir William Scawen (1697–1699)
Nathaniel Tench (1699–1701)
John Ward (1701–1703)
Abraham Houblon (1703–1705)
Sir James Bateman (1705–1707)
Francis Eyles (1707–1709)
Sir Gilbert Heathcote (1709–1711)
Nathaniel Gould (1711–1713)
John Rudge (1713–1715)
Sir Peter Delme (1715–1717)
Sir Gerard Conyers (1717–1719)
John Hanger (1719–1721)
Sir Thomas Scawen (1721–1723)
Sir Gilbert Heathcote (1723–1725)
William Thompson (1725–1727)
Humphry Morice (1727–1729)
Samuel Holden (1729–1731)
Sir Edward Bellamy (1731–1733)
Horatio Townshend (1733–1735)
Bryan Benson (1735–1737)
Thomas Cooke (1737–1740)
Delillers Carbonnel (1740–1741)
Stamp Brooksbank (1741–1743)
William Fawkener (1743–1745)
Charles Savage (1745–1747)
Benjamin Longuet (1747–1749)
William Hunt (1749–1752)
Alexander Sheafe (1752–1754)
Charles Palmer (1754–1756)
Matthews Beachcroft (1756–1758)
Merrick Burrell (1758–1760)
Bartholomew Burton (1760–1762)
Robert Marsh (1762–1764)
John Weyland (1764–1766)
Matthew Clarmont (1766–1769)
William Cooper (1769–1771)
Edward Payne (1771–1773)
James Sperling (1773–1775)
Samuel Beachcroft (1775–1777)
Peter Gaussen (1777–1779)
Daniel Booth (1779–1781)
William Ewer (1781–1783)
Richard Neave (1783–1785)
George Peters (1785–1787)
Edward Darell (1787–1789)
Mark Weyland (1789–1791)
Samuel Bosanquet (1791–1793)
Godfrey Thornton (1793–1795)
Daniel Giles (1795–1797)
Thomas Raikes (1797–1799)
Samuel Thornton (1799–1801)
Job Mathew (1801–1802)
Joseph Nutt (1802–1804)
Benjamin Winthrop (1804–1806)
Beeston Long (1806–1808)
John Whitmore (1808–1810)
John Pearse (1810–1812)
William Manning (1812–1814)
William Mellish (1814–1816)
Jeremiah Harman (1816–1818)
George Dorrien (1818–1820)
Charles Pole (1820–1822)
John Bowden (1822–1824)
Cornelius Buller (1824–1826)
John Baker Richards (1826–1828)
Samuel Drewe (1828–1830)
John Horsley Palmer (1830–1833)
Richard Mee Raikes (1833–1834)
James Pattison (1834–1837)
Timothy Abraham Curtis (1837–1839)
Sir John Rae Reid (1839–1841)
Sir John Henry Pelly (1841–1842)
William Cotton (1842–1845)
John Benjamin Heath (1845–1847)
William Robinson Robinson (April 1847-August 1847)
James Morris (1847–1849)
Henry James Prescot (1849–1851)
Thomson Hankey (1851–1853)
John Gellibrand Hubbard (1853–1855)
Thomas Matthias Weguelin (1855–1857)
Sheffield Neave (1857–1859)
Bonamy Dobree (1859–1861)
Alfred Latham (1861–1863)
Kirkman Daniel Hodgson (1863–1865)
Henry Lancelot Holland (1865–1867)
Thomas Newman Hunt (1867–1869)
Robert Wigram Crawford (1869–1871)
George Lyall (1871–1873)
Benjamin Buck Greene (1873–1875)
Henry Hucks Gibbs (1875–1877)
Edward Howley Palmer (1877–1879)
John William Birch (1879–1881)
Henry Riversdale Grenfell (1881–1883)
John Saunders Gilliat (1883–1885)
James Pattison Currie (1885–1887)
Mark Wilks Collet (1887–1889)
William Lidderdale (1889–1892)
David Powell (1892–1895)
Albert George Sandeman (1895–1897)
Hugh Colin Smith (1897–1899)
Samuel Steuart Gladstone (1899–1901)
Augustus Prevost (1901–1903)
Samuel Hope Morley (1903–1905)
Alexander Falconer Wallace (1905–1907)
William Middleton Campbell (1907–1909)
Reginald Eden Johnston (1909–1911)
Alfred Clayton Cole (1911–1913)
Sir Walter Cunliffe (1913–1918) (Lord Cunliffe from 1914)
Sir Brien Cokayne (1918–1920)
Sir Montagu Collet Norman (1920–1944)
Thomas Sivewright Catto, 1st Baron Catto (1944–1949)
Cameron Cobbold (March 1949-30 June 1961) (Lord Cobbold from 1960)
George Rowland Stanley Baring, 3rd Earl of Cromer (1 July 1961–1966)
Sir Leslie O'Brien (1966–1973)
Gordon Richardson (1973–1983)
Robin Leigh-Pemberton (1983–1993)
Sir Edward George (1993-30 June 2003)
Mervyn King (1 July 2003-)
== Tham khảo == |
địa lý trung quốc.txt | 35°00′B 105°00′Đ Trung Quốc có diện tích 9.571.300 km², có diện tích gấp 29 lần Việt Nam. Từ Bắc sang Nam có chiều dài là 4000 km, từ Tây sang Đông là 5000 km, có đường biên giới với 14 quốc gia và lãnh thổ bao gồm: Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanma, Lào và Việt Nam.
== Đặc điểm chính ==
=== Địa hình chung ===
Cao và hiểm trở, 60% diện tích là núi cao trên 1000 m. Địa hình cao về phía Tây và thấp dần về phía Đông.
Địa lý Trung Quốc kéo dài khoảng 5.026 km ngang qua theo khối lục địa Đông Á giáp với biển Đông Trung Hoa, vịnh Triều Tiên, Hoàng Hải, và biển Đông, giữa Bắc Triều Tiên và Việt Nam trong một hình dạng thay đổi của các đồng bằng rộng lớn, các sa mạc mênh mông và các dãy núi cao chót vót, bao gồm các khu vực rộng lớn đất không thể ở được. Nửa phía Đông của quốc gia này là các vùng duyên hải rìa các đảo là một vùng bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa mạc và các thảo nguyên và các khu vực cận nhiệt đới. Nửa phía Tây của Trung Quốc là một vùng các lưu vực chìm trong các cao nguyên, các khối núi, bao gồm phần cao nguyên cao nhất trên trái đất.
Sự rộng lớn của quốc gia này và sự cằn cỗi của vùng nội địa phía tây kéo theo những vấn đề quan trọng trong chiến lược phòng thủ. Dù có nhiều bến cảng tốt dọc theo chiều dài bờ biển khoảng 18000 km nhưng định hướng truyền thống của đất nước không phải ra biển mà hướng về đất liền, để phát triển thành một quốc gia hùng mạnh với trung tâm ở Hoa Trung và Hoa Nam, vươn tới tận vùng đồng bằng bắc Hoàng Hà. Trung Quốc cũng có cao nguyên Tây Tạng về phía Nam. Cao nguyên Tây Tạng là một cao nguyên rộng lớn với cao độ cao. Về phía Bắc của cao nguyên Tây Tạng là các Sa mạc Gobi và Taklamakan, trải ra từ Cực Tây Bắc về phía Đông qua Mông Cổ.
Trung Quốc là quốc gia lớn thứ 4 thế giới về tổng diện tích (sau Nga, Canada và Hoa Kỳ). Số liệu về diện tích của Trung Quốc hơi khác nhau, tùy theo việc người ta lấy số liệu từ các biên giới mập mờ. Con số chính thức do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa ra là 9,6 triệu km², khiến cho quốc gia này chỉ hơi nhỏ hơn một chút so với Hoa Kỳ. Trung Hoa Dân Quốc đóng ở Đài Loan đưa ra con số là 11 triệu km², nhưng số liệu này bao gồm cả Mông Cổ, một quốc gia có chủ quyền độc lập. Trung Quốc có đường viền khá giống với Hoa Kỳ và phần lớn có cùng vĩ độ của Hoa Kỳ. Tổng diện tích Trung Quốc ước tính là 9.596.960 km², trong đó diện tích đất là 9.326.410 km² và nước là 270.550 km².
== Các quốc gia giáp giới ==
Biên giới đất liền: tổng cộng: 22.143,34 km
Mông Cổ 4.673 km
Nga (đông bắc) 3.605 km, (tây bắc) 40 km, (tổng cộng) 3.645 km
Ấn Độ 3.380 km
Myanma 2.185 km
Kazakhstan 1.533 km
Bắc Triều Tiên 1.416 km
Việt Nam 1.281 km
Nepal 1.236 km
Kyrgyzstan 858 km
Pakistan 523 km
Bhutan 470 km
Lào 423 km
Tajikistan 414 km
Afghanistan 76 km
Bờ biển: 14.500 km
Tuyên bố hàng hải:
Vùng tiếp giáp lãnh hải: 24 hải lý (44 km)
Thềm lục địa: 200 hải lý (370 km) hoặc tới rìa của mép lục địa
Lãnh hải: 12 hải lý (22 km)
== Các vùng địa hình ==
==== Địa hình phía Tây ====
Là vùng núi cao và hiểm trở nhất thế giới với độ khô cằn rất nhiều. Có nhiều cao nguyên và bồn địa tiêu biểu như: cao nguyên Tân Cương (phía Tây Bắc) với những dãy núi cao và hiểm trở như Côn Lôn, Thiên Sơn, và rất nhiều đỉnh núi cao (từ 600 m đến 7000 m) xen kẽ là những bồn địa rộng lớn như bồn địa Uigua và Lòng chảo Ta Rim.
===== Cao nguyên Thanh Tạng =====
Là tên ghép giữa 2 chữ Thanh Hải và Tây Tạng, nằm về phía Tây (thủ phủ là Lasa) có diện tích chiếm 1/4 Trung Quốc có độ cao tiêu biểu là 4500 m, và là được xem là nóc nhà của thế giới và là nơi xuất phát của nhiều con sông quan trọng nhất Châu Á. Về phía nam cao nguyên là dãy Hymalaya dài 2500 cây số, ngang 200 – 300 cây số.
===== Everest =====
Độ cao trung bình của cao nguyên này là 6000 mét, có nhiều đỉnh cao trên 7000 m. Riêng lãnh thổ Trung Quốc có đến 10 đỉnh núi cao trên 8000 mét, nổi tiếng nhất là Jumalangma cao 8.840 mét (chính là Everest) nằm ngay biên giới Trung Quốc và Nepal. Hình thái núi này giống như một hình tháo khổng lồ có 3 mặt: Bắc, Tây, Đông là những sườn dốc đứng với các lưỡi băng hà theo thung lũng tràn xuống 200–300 m. Theo tiếng Tây Tạng, núi có nghĩa là "Nữ Thần địa phương"; Trung Quốc gọi đỉnh núi này là "Thánh Mẫu" hay "Nữ Thần".
==== Phía Đông ====
Là dạng địa hình chuyển tiếp thấp dần từ Tây sang Đông với dãy núi thấp và Tây Bắc như Thái Hoàng Sơn, Hoành Đoạn Sơn và xen lẫn là các cao nguyên và các bình nguyên và các bồn địa.
===== Bình nguyên Đông Bắc =====
Là nước Mãn Thanh cũ thuộc 3 tỉnh: Cát Lâm, Liêu Ninh, Hắc Long Giang. Thủ phủ là Thường Xuân, Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dương. Có độ dài 3000 km nằm trên các con sông Từ Hoa, Liêu Hà, Hắc Long Giang.
===== Bình nguyên Hoa Bắc =====
Là lưu vực sông Hoàng Hà có diện tích 700.000 km². Nông nghiệp trù phú, tập trung dân cư đông đúc và là nôi xuất phát nền văn minh Trung Quốc và là nơi xảy ra thiên tai trong mấy nghìn năm lịch sử.
===== Cao nguyên Hoàng Thổ =====
Khu vực trung lưu Hoàng Hà và Vị Hà thuộc tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, đất tơi xốp như bụi bay nổi tiếng là trồng cao lương.
===== Bồn địa Tứ Xuyên =====
Cách biển 400 km, thuộc phụ lưu sông Trường Giang và các phụ lưu: Gia Lâm Giang, Mân Giang. Diện tích: 300.000 km² (đây chính là đất của nước Thục xưa) thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Ở đây có địa hình lòng chảo trũng, thấp ở giữa và có độ cao 300–700 m so với mực nước biển. Bốn phía bao quanh biển là những dãy núi cao 1000–4000 m. Thủ phủ chính là Thành Đô.
===== Cao nguyên Vân-Quý =====
Tây Nam quá độ từ giữa cao nguyên Thanh Tạng và Hoa Nam có nhiều đỉnh núi cao trên 3000 m. Quý Châu có nhiều đỉnh núi cao trên 1000 m. Từ cao nguyên các dãy Lĩnh Nam kéo dài từ Tây sang Đông và đi qua các phần phía Bắc của các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.
===== Đồng bằng Hoa Nam (Giang Nam) =====
Trải dọc theo Trường Giang. Là đồng bằng phì nhiêu và màu mỡ nhất Trung Quốc: đây chính là trung tâm lương thực chính của Trung Quốc, bề mặt bằng phẳng và trũng có những hồ lớn và có tiềm năng về du lịch.
===== Đồng bằng Châu Giang =====
Là những sông nhỏ và tương đối thuộc Quảng Đông và Quảng Tây.
===== Đảo =====
Hải Nam
== Tham khảo ==
Một phần từ Địa lý du lịch thế giới - Địa lý Trung Quốc - Tiến sĩ Đỗ Quốc Thông-Đại học Hùng Vương - T.p Hồ Chí Minh. |
tokusou sentai dekaranger.txt | Tokusou Sentai Dekaranger (特捜戦隊デカレンジャー, Tokusō Sentai Dekarenjā), dịch ra là Chiến đội Đặc nhiệm Dekaranger, là seri truyền hình Super Sentai thứ 28. Bản Mĩ hóa: Power Rangers: S.P.D..
Loạt phim do hãng phim Phương Nam lồng thuyết minh và phát hành với tên gọi Anh em Siêu nhân Deka-Lực lượng đặc nhiệm S.P.D .
== Câu chuyệnSửa đổi ==
Câu chuyện bắt đầu khi Akaza Banban đến trên Trái đất và tới thành phố Megalopolis. Anh được hội đồng cảnh sát liên hành tinh đưa tới S.P.D (Special Police DekaRanger) - Đội cảnh sát đặc nhiệm Dekaranger phân khu Trái đất sẽ do anh làm đội trưởng. Trong thời gian đó, Agent Abrella, một Alienizer Arms Dealer đã quay lại phá hoại Trái đất và giúp đỡ những tên tội phạm. Chính là lúc Dekaranger xuất hiện để ngăn chặn và mang chúng tới công lý.
== Nhân vậtSửa đổi ==
=== Special Police Dekaranger:Sửa đổi ===
Ban (バン, Ban) - Deka Red (デカレッド, Dekareddo)
Tên đầy đủ: Akaza Banban (赤座 伴番, Akaza Banban (あかざ ばんばん)). Thành viên số 1. Đội trưởng của đội, nóng tính và ngày đầu tiên được chuyển tới Trái Đất khi tốt nghiệp huấn luyện, do quá hăng nên bắn tan tành đội quân người máy. Rất giỏi bắn súng (nhưng vẫn kém Hoji 1 bậc), vũ khí của anh ta là D-Magnum. Vì quá hăng hái nên khi về Trái Đất đã chạy ngay đến nơi mà Dekaranger đang chiến đấu. Ban thường gọi Hoji là "aibo" (chiến hữu) và Tetsu là "kouhai" (hậu bối). Trong "10 Years after", Ban rời Trái Đất và gia nhập SPD - Fire Squard.
Hōjī (ホージー, Hōjī) - Deka Blue (デカブルー, Dekaburū)
Tên đầy đủ: Tomasu Hōji (戸増 宝児, Tomasu Hōji (とます ほうじ)). Thành viên số 2. Là người thuộc tuýp "cool" của đội, trầm tĩnh và rất thông minh, rất quyết đoán. Vũ khí của anh là D-Sniper. Không thích cách gọi "aibo" của Ban đối với mình (Trong tiếng Nhật, aibo là đồng nghiệp hoặc là bạn tốt). "Nhiều fan nữ đổ xô vào thích Hoji đấy. Giỏi bắn tỉa và phá án. Nhưng cuối cùng Hoji đã nói rằng: "Ban là người đồng đội tốt nhất của tôi, tôi cố gắng dành huy hiệu vàng là để không thua kém cậu".
Sen (セン, Sen) - Deka Green (デカグリーン, Dekagurīn)
Tên đầy đủ: Enari Sen'ichi (江成 仙一, Enari Sen'ichi (えなり せんいち)). Thành viên số 3. Là con trong 1 gia đính có 7 thành viên. Từ nhỏ, Sen được 1 cảnh sát cứu sau khi bị lọt xuống giếng nên anh ta đã quyết định gia nhập cảnh sát luôn. Anh ta rất hiền lành, điềm tĩnh và thương yêu quan tâm mọi người xung quanh, đặc biệt là mỗi khi suy nghĩ, anh ta phải làm 1 động tác "trồng cây chuối", anh ta nói là có làm thế sự tập trung mới chảy xuống đầu được. Giỏi về máy tính. Thích Umeko và thường được mô tả "rất đáng sợ khi tức giận". Sen-chan thường sử dụng chân để hạ gục đối thủ.
Jasmine (ジャスミン, Jasumin) - Deka Yellow (デカイエロー, Dekaierō):
Tên thật: Reimon Marika (礼紋 茉莉花, Reimon Marika (れいもん まりか)). Thành viên số 4. Là 1 nhà ngoại cảm (Esper) nên cô có vai trò khá quan trọng trong việc tìm kiếm các tội phạm. Lúc nhỏ đã có khả năng chạm vào vật gì là có thể suy ra chuyện gì đã xảy ra với vật đó (kể cả xác chết) nên từ nhỏ đã sống trong áp lực tinh thần. Jasmine đã được Doggie thu nạp trong lúc cô đang bị 1 tên Alienazer bắt giữ. Thân với Umeko và hai thành viên nữ này gọi mình là TwinCam Angels. Có thói quen đặt nickname cho các tội phạm Alienazer trước khi giao đấu.
Umeko (ウメコ, Umeko) - Deka Pink (デカピンク, Dekapinku)
Tên thật: Kodō Ko'ume (胡堂 小梅, Kodō Ko'ume (こどう こうめ)). Thành viên số 5. Vui tính, tràn đầy nhiệt huyết có lúc rất dữ. Cô và Jasmine phối hợp thành 1 đội và gọi là TwinCam Angels. Doggie cho phép cô quyền chăm sóc con chó robot Murphy K-9.Cô và chú chó Murphy lúc đầu mới gặp thì rất hay cãi nhau, nhưng sau khi bị một Alienazer hình dạng người thách thức, cô và Murphy đã cùng nhau thực hiện nhiệm vụ và từ đó thân nhau. Ngoài ra, cô còn là 1 bậc thầy cải trang,thay đồ cực nhanh và luôn là người tắm đầu tiên (sau này bị Tetsu giành phòng tắm nữa). Umeko và Sen là 1 cặp rất dễ thương, họ yêu nhau khi Umeko bị 1 tên Alienazer-Mathew lừa dối tình cảm. Là 1 người sẵn sàng hi sinh mình trong các cuộc chiến.
Tetsu (テツ, Tetsu) - Deka Break (デカブレイク, Dekabureiku)
Tên thật: Aira Tekkan (姶良 鉄幹, Aira Tekkan (あいら てっかん)), Thành viên số 6 (VI). Được huấn luyện đặc biệt và có cái Badge vàng. Gia nhập đội trễ nhất, lúc đầu có hơi coi thường Dekaranger nhưng được Ban và mọi người dạy cho 1 bài học. Sau này, anh ta gọi Ban là "Senpai" (tiền bối). Cha mẹ anh ta bị 1 Alienazer giết nên anh rắt hận bọn tội phạm. Anh ta thường nói "nonsense" khi có ai nói gì vô lý. Thường hay giả gái trong các nhiệm vụ. Trong "10 Year after", Tetsu kế thừa vị trí của Doggie.
Doggie Kruger (ドギー・クルーガー, Dogī Kurūgā) - Deka Master (デカマスター, Dekamasutā)
Là Sếp (ボス, Bosu) của đội, chỉ huy trưởng Phân khu S.P.D Trái đất. Ông ta là người hành tinh Anubis, 1 Alienazer dạng khuyển nhân, rất giỏi đấu kiếm. Vũ khí là 1 thanh kiếm rất mạnh được gọi là D-Sword Vega. Sẵn sàng làm bất cứ việc gì để cứu những người mà ông quan tâm. Đặc biệt, ông ta thích người phụ trách máy móc Swan. Số áo của ông là 100. Trong cuộc chiến cuối cùng (tập 48 đến 50), ông đối đầu với Agent Abrella và phải chống lại 4 tên kẻ thù cũ của mình. Tuy nhiên, do Swan bị bắt, ông đã không quyết trong hành động và bị bắn. Khi các Dekaranger gọi điện nhờ ông trợ giúp, ông đã từ chối với lý do "Tôi sắp chết rồi" và ông đã ngã xuống bất tỉnh, mục đích để các Dekaranger tự thân vận động. Cuối phim ông vẫn còn sống và được Swan San cứu.
Shiratori Swan (白鳥(しらとり)スワン, Shiratori Suwan) - Deka Swan (デカスワン, DekaSuwan):
Swan-san là người điều hành DekaBase, bảo trì DekaMachine, cực kì thông minh. Đến từ hành tinh Cigno, bà sống ở Trái Đất. Được biến hình thành DekaSwan 4 năm 1 lần. Số của Swan là 99, nhưng DekaSuit của bà lại có hình heptagon thay số. Bà đã từng được mời về làm người phụ trách cho tổng thiên hà nhưng cô đã từ chối vì bà đã yêu Trái Đất, quý những người xung quanh bà. Bà cũng có tình cảm với Kruger
Murphy (Murphy K-9)
Murphy K-9 hay Murphy, một chú chó Robot thông minh.
Lisa Teagle (リサ・ティーゲル, Risa Tīgeru) - Deka Bright (デカブライト, Dekaburaito)
Là sếp trước của Tetsu, bà được quyền huấn luyện cậu. Bà sở hữu Gold Badge giống Tetsu, muốn cậu phải "không có cảm xúc" và không quan tâm tới cái gì hết. Bà có quyền đem Tetsu về hành tinh khác huấn luyện lại nhưng từ chối ở cuối phim vì bà đã thấy được cách chiến đấu của Dekaranger Trái đất. Số của bà trên áo là 7 (VII) (nhưng 1 chữ I đem sang trái V thành IVI nên dễ lầm sang M là 1000 theo số La Mã).
Mari Gold (マリー・ゴールド, Marī Gōrudo) - Deka Gold (デカゴールド, Dekagōrudo)
Nhân vật xuất hiện trong movie. Cô là Chiến binh đến từ phân khu Leslie. Cô có cảm tình với Ban. Số áo của cô là 10 (X). Trong phim và Movie Dekaranger vs Magiranger, Ban đã nói rằng rất yêu cô. Là chiến binh vàng kim lấp lánh đầu tiên của Super Sentai.
Tổng tư lệnh Hành tinh Horus - Numa O (ホルス星人ヌマ· O長官, Horusu Seijin Numa O-chōkan)
Ông là Tổng tư lệnh - chỉ huy của toàn bộ Special Police Dekaranger. Ông từ hành tinh Horus và là một trong những người được phân công Deka Break đến phân khu Trái Đất.Ông dẫn đầu một đội tàu toàn bộ để Trái đất khi hành tinh DekaBase bị xâm phạm và quay lưng lại với Dekaranger, biết rằng họ không có khả năng giành lại quyền kiểm soát của Deka base, và điều tốt hơn phải được thực hiện bất kể những hy sinh được thực hiện như là một kết quả. Tuy nhiên một khi Dekaranger giành lại quyền kiểm soát của Deka base Banban Akaza cảnh báo về những cái bẫy được thành lập bởi Rainian Agent Abrella, suýt tiêu diệt cả ông và đội tàu trong thời gian.Trước đó ông chỉ biến thân một lần thành Deka Orange. Số của ông trên áo là số 0.
=== KhácSửa đổi ===
Hikaru (7-8).
Flora (15-16).
Zoinaian Bettonin (, Zoinaseijin Bettonin, 18).
Shinnooian Hakutaku (, Shinnooseijin Hakutaku, 25, 34, 48).
Slorpean Faraway (, Surōpu Seijin Farawei, 30).
Chanbenarian Gin (, Chanberaseijin Gin, 34, 48).
Thám tử Cho (35).
Bakuryuu Sentai Abaranger: đội Sentai 2003. Xuất hiện trong Tokusou Sentai Dekaranger vs. Abaranger.
Mahou Sentai Magiranger: Xuất hiện trong Magiranger vs. Dekaranger.
== Tội phạm không gian AlienizerSửa đổi ==
== Các tậpSửa đổi ==
Các tập phim đều được đặt bằng tiếng Anh.
Quả cầu lửa mới đến (ファイヤーボール・ニューカマー, Faiyābōru Nyūkamā, Fireball Newcomer)
Robo chấn động (ロボ・インパクト, Robo Inpakuto, Robo Impact)
Xanh lam hoàn hảo (パーフェクト・ブルー, Pāfekuto Burū, Perfect Blue)
Mạng sinh tồn (サイバー・ダイブ, Saibā Daibu, Cyber Dive)
Bạn thân Murphy (バディ・マーフィー, Badi Māfī, Buddy Murphy)
Xanh lục huyền bí (グリーン・ミステリー, Gurīn Misuterī, Green Mystery)
Thần giao cách cảm lặng lẽ (サイレント・テレパシー, Sairento Terepashī, Silent Telepathy)
Ánh cầu vồng (レインボー・ビジョン, Reinbō Bijon, Rainbow Vision)
Cuộc theo dõi đầy khó khăn (ステイクアウト・トラブル, Suteikuauto Toraburu, Stakeout Trouble)
Hãy tin tôi (トラスト・ミー, Torasuto Mī, Trust Me)
Thợ bắn tỉa kiêu hãnh (プライド・スナイパー, Puraido Sunaipā, Pride Sniper)
Hội chứng giữ trẻ (ベビーシッター・シンドローム, Bebīshittā Shindorōmu, Babysitter Syndrome)
Cuộc chiến của Doggy (ハイヌーン・ドッグファイト, Hai Nūn Doggufaito, High Noon Dogfight)
Sếp! Xin hãy giúp (プリーズ・ボス, Purīzu Bosu, Please, Boss)
Cô gái người máy (アンドロイド・ガール, Andoroido Gāru, Android Girl)
Kẻ huỷ diệt khổng lồ (ジャイアント・デストロイヤー, Jaianto Desutoroiyā, Giant Destroyer)
Thiên thần song sinh (ツインカム・エンジェル, Tsuin Kamu Enjeru, Twin Cam Angel)
Samurai đi về hướng tây (サムライ・ゴーウエスト, Samurai Gō Uesuto, Samurai Go West)
Xanh lam giả mạo (フェイク・ブルー, Feiku Burū, Fake Blue)
Anh hùng chạy nhanh (ランニング・ヒーロー, Ranningu Hīrō, Running Hero)
Hai anh em điên (マッド・ブラザーズ, Maddo Burazāzu, Mad Brothers)
Tăng hết ga kẻ ưu tú (フルスロットル・エリート, Furu Surottoru Erīto, Full Throttle Elite)
Cảm xúc dũng cảm (ブレイブ・エモーション, Bureibu Emōshon, Brave Emotion)
Nhà thương thuyết dễ thương (キューティー・ネゴシエイター, Cutie Negotiator )
Bà lão nhân chứng (ウィットネス・グランマ, Wittonesu Guranma, Witness Grandma)
Sức mạnh của sự giận dữ (クール・パッション, Kūru Passhon, Cool Passion)
Tên tội phạm vui tính (ファンキー・プリズナー, Fankī Purizunā, Funky Prisoner)
Alienizer quay lại (アリエナイザー・リターンズ, Arienaizā Ritānzu, Alienizer Returns)
Kẻ báo thù qua gương (ミラー・リベンジャー, Mirā Ribenjā, Mirror Revenger)
Cô gái nguy hiểm (ギャル・ハザード, Gyaru Hazādo, Gal Hazard)
Công chúa tập sự (プリンセス・トレーニング, Purinsesu Torēningu, Princess Training)
Khổ luyện (ディシプリン・マーチ, Dishipurin Māchi, Discipline March)
Bật chế độ giải cứu con tin (スワットモード・オン, Suwatto Mōdo On, SWAT Mode On)
Mục tiêu trò chơi (セレブ・ゲーム, Serebu Gēmu, Celeb Game)
Trường hợp khó giải quyết (アンソルブド・ケース, Ansorubudo Kēsu, Unsolved Case)
Người mẹ vũ trụ (マザー・ユニバース, Mazā Yunibāsu, Mother Universe)
Bằng cấp khó xơi (ハードボイルド・ライセンス, Hādo Boirudo Raisensu, Hard Boiled License)
Bom Cycling (サイクリング・ボム, Saikuringu Bomu, Cycling Bomb)
Thế giới cầu hôn (レクイエム・ワールド, Rekuiemu Wārudo, Requiem World)
Huấn luyện huy hiệu vàng kim (ゴールドバッヂ・エデュケーション, Gōrudo Baddji Edyukēshon, Gold Badge Education)
Căn phòng lừa dối (トリック・ルーム, Torikku Rūmu, Trick Room)
Bài giải về họp sọ (スカル・トーキング, Sukaru Tōkingu, Skull Talking)
Thảm hoạ thiên thạch (メテオ・カタストロフ, Meteo Katasutorofu, Meteor Catastrophe)
Kẻ chuyên giết cảnh sát (モータル・キャンペーン, Mōtaru Kyanpēn, Mortal Campaign)
Món quà ngẫu nhiên (アクシデンタル・プレゼント, Akushidentaru Purezento, Accidental Present)
Nỗi sợ báo trước (プロポーズ・パニック, Puropōzu Panikku, Propose Panic)
Cái đầu lạnh, trái tim nóng (ワイルドハート・クールブレイン, Wairudo Hāto Kūru Burein, Wild Heart, Cool Brain)
Quả cầu lửa hoàn thành (ファイヤーボール・サクセション, Faiyābōru Sakuseshon, Fireball Succession)
Dekabase trong tay kẻ xấu (デビルズ・デカベース, Debiruzu Dekabēsu, Devil's Deka Base)
Mãi mãi Dekaranger (フォーエバー・デカレンジャー, Fōebā Dekarenjā, Forever Dekaranger)
=== Phim điện ảnhSửa đổi ===
Tokusou Sentai Dekaranger the Movie: Full Blast Action
Tokusou Sentai Dekaranger vs. Abaranger
Tokusou Sentai Dekaranger: DekaRed vs. DekaBreak
Mahou Sentai Magiranger vs. Dekaranger
Tokusou Sentai Dekaranger - 10 years after (2015)
== Diễn viênSửa đổi ==
=== ChínhSửa đổi ===
Furukawa Toshio (古川 登志夫): Narrator
Sainei Ryūji (載寧 龍二): Ban (Banban Akaza)/Deka Red, Banoshin Akaza (18)
Hayashi Tsuyoshi (林 剛史): Hoji (Houji Tomasu)/Deka Blue
Itō Yōsuke (伊藤 陽佑): Sen-Chan (Senichi Enari)/Deka Green
Kinoshita Ayumi (木下 あゆ美): Jasmine (Marika Reimon)/Deka Yellow, Riruru (35)
Kikuchi Mika (菊地 美香): Umeko (Koume Kodou)/Deka Pink, Princess Io (31)
Yoshida Tomokazu (吉田 友一): Tetsu (Tekkan Aira)/Deka Break
Inada Tetsu (稲田 徹): Doggy Krugger/Deka Master (voice)
Ishino Mako (石野 真子): Swan-San (Swan Shiratori)/Deka Swan
Nanamori Mie (七森 美江): Lisa Teagle/Deka Bright (40)
Niiyama Chiharu (新山 千春): Marie Gold/Deka Gold (Movie)
Kishino Kazuhiko (岸野 一彦): Numa O (Voice)
Nakao Ryūsei (中尾 隆聖): Abrella (Voice)
=== Trang phụcSửa đổi ===
Fukuzawa Hirofumi (福沢 博文): Deka Red, Deka-Base-Robo, Gyoku Rou (47,50)
Imai Yasuhiko (今井 靖彦): Deka Blue, Deka-Wing-Robo, Chou San (35)
Mimura Kōji (三村 幸司): Deka Green
Hashimoto Keiko (橋本 恵子): Deka Yellow
Kojima Miho (小島 美穂) và Nakagawa Motokuni (中川 素州): Deka Pink
Ōiwa Hisanori (大岩 永徳): Deka Break
Kusaka Hideaki (日下 秀昭): Doggy Krugger/Deka Master, Deka Ranger-Robo, Shake (9-10, cũng lồng tiếng)
Ono Yūki (小野 友紀): DekaSwan, Mime (39)
Okamoto Yoshinori (岡本 美登): Abrella, Ganjaba (38, Also Voice), Winsky (Movie, cũng lồng tiếng)
Okamoto Jirō (岡元 次郎): Igaroid, Uniga (49-50)
=== KhácSửa đổi ===
Futamata Issei (二又 一成): Porupo (Voice) (1)
Ishiyama Yūdai (石山 雄大): Miyauchi (Detective) (1)
Kikuchi Takanori (菊池 隆則): Don Moyaida (1-2)
Yoshiki Risa (吉木 りさ): Erika (3-4)
Yamaguchi Edo (エド 山口): Toshiro (bố Erika) (3-4)
Fujii Kayoko (藤井 佳代子): Kyoko (mẹ Erika) (3-4)
Sakai Keikō (酒井 敬幸): Hell Heaven (Voice) (3)
Tobe Kōji (戸部 公璽): Kebakia (Voice) (3-4)
Minosuke (みのすけ): Iwaki / Mano Mark (5)
Miyake Kenta (三宅 健太): Bayldon (Voice)(5)
Hayashi Tomoka (林 知花): Karsus (6)
Fukuda Mineko (福田 峰子): Yoshimi / Karmia (6)
Numata Yūsuke (沼田 祐介): Bridy (Voice) (6)
Uemura Yuto (上村 祐翔): Hikaru (7-8)
Takato Yasuhiro (高戸 靖広): Dagonail (Voice) (7-8)
Nakai Kazuya (中井 和哉): Igaroid (Voice), Uniga (Voice) (49-50)
Nakamoto Nana (中本 奈奈): Maira (9-10)
Kashiwa Yukina (柏 幸奈): Tiara (Girl) (9-10)
Gōmoto Naoya (郷本 直也): Vino / Gigantes (Voice) (11)
Nakayama Sara (中山 さら): Amy (Voice) (12)
Hiyama Nobuyuki (檜山 修之): Ben G (Voice) (13, Dekaranger vs. Abaranger)
Egawa Hisao (江川 央生): Pherlee (Voice) (14)
Ayatsuki Takaō (彩月 貴央): Flora (15-16)
Koyatsu Hisanori (小谷津 央典): Meteus (Voice) (15-16)
Sakano Dandy (ダンディ 坂野): Wang / Yie-Ar (17)
Iwao Mantaro (岩尾 万太郎): Beetonin (Voice) (18)
Hori Yukitoshi (堀 之紀): Ginche / Fake Hoji (Voice) (19)
Seki Tomokazu (関 智一): Bizgore (Voice) (20)
Sakurai Toshiharu (桜井 敏治): Bon Goblin (Voice) (21-22)
Tsuchida Hiroshi (土田 大): Blitz (Voice) (21-23)
Gamō Mayu (蒲生 麻由): Succubus (21-23, Dekaranger vs. Abaranger)
Shimada Bin (島田 敏): Alpaci (Voice) (24), Korachek (Voice) (40)
Matsumoto Sachi (松本 さち): Alpaci Jr. (Voice) (24)
Kuroda Takaya (黒田 崇矢): Goldom (Voice) (24)
Suzuki Reiko (鈴木 れい子): Hakutaku (Voice of Alien-Form) (25,34,49)
Konno Narumi (近野 成美): Hakutaku (Girl Form) (25)
Siono Katsumi (塩野 勝美): Byooi (Voice) (25)
Takashina Toshitsugu (高階 俊嗣): Jilva (Voice) (26,45)
Sato Masaharu (佐藤 正治): Durden (Voice) (26)
Simoyama Yoshimitsu (下山 吉光): Biering (Voice) (26)
Tsukui Kyōsei (津久井 教生): Niwande (Voice) (27)
Ōbayashi Masaru (大林 勝): Millibal (27), DekaBright (Stunt) (40)
Makino Haru (牧野 晴): Kenta (28)
Sakaguchi Kōichi (坂口 候一): Borapeno (Voice) (28)
Noda Keiichi (野田 圭一): Genio (Voice) (28-29)
Aja (あじゃ): Faraway (30)
Ueguchi Kōhei (上口 耕平): Piroji (30)
Ōtomo Ryūzaburō (大友 龍三郎): Kazakku (Voice) (Dekaranger vs. Abaranger)
Kosugi Yuji (小杉 勇二): Gocha (31)
Kawano Shizuka (河野 しずか): Machika (31)
Tōchika Kōichi (遠近 孝一): Jackill (Voice) (31)
Kusumi Naomi (楠見 尚己): Buntar (Voice) (32,33,36)
Tanaka Sōichirou (田中 総一郎): Sanoa (Voice) (32-33)
Kawazu Yasuhiko (川津 泰彦): Zootaku (Voice) (32-33)
Teppōzuka Yōko (鉄炮塚 葉子: Gin (Voice) (34,49)
Yamaguchi Kappei (山口 勝平): Ginerca (Voice) (34)
Takase Akimitsu (高瀬 右光): Deecho (Voice) (34)
Kitajima Junji (北島 淳司): Shirogar (Voice) (34)
Kato Seizō (加藤 精三): Chou San (Voice) (35)
Tanaka Ryōichi (田中 亮一): Raja Namnern (Voice) (35)
Fujita Seiji (藤田 清二): Goreng Yasi (Voice) (35)
Nanaeda Minoru (七枝 実): Yum Tomkung (Voice) (35)
Tatsuta Naoki (龍田 直樹): Haimaru (Voice) (36)
Tanaka Chie (田中 千絵): Teresa (37)
Tsujimoto Yūki (辻本 祐樹): Claud (37)
Nakagawa Shoko (中川 翔子): Yaako (38)
Tomizawa Michie (富沢 美智恵): Mime (Voice) (39)
Tajima Kengo (田島 健吾): Sen-Chan (Boyhood) (41)
Takayama Minami (高山 みなみ): Jingi (Voice) (41)
Egawa Daisuke (江川 大輔): Don Bianco (Voice) (41)
Sōya Shigenori (宗矢 樹頼): Don Burako (Voice) (41)
Ikeda Kaori (池田 香織): Miwa (em gái Hoji) (42-43)
Shibamoto Hiroyuki (柴本 浩行): Nikareda (42) (Voice)
Kiyokawa Motomu (清川 元夢): Dr. Monteen (Voice) (42)
Kusao Takeshi (草尾 毅): Biscus (Voice) (44)
Shibata Hidekatsu (柴田 秀勝): Doggy's master (Voice) (44)
Matsuno Taiki (松野 太紀): Barcho (Voice) (26,45)
Matsumoto Hiroyuki (松本 博之): Hironobu (46)
Hosoi Osamu (細井 治): Mashu (Voice) (46)
Hamada Kenji (浜田 賢二): Terry-X (Voice) (47)
Namikawa Daisuke (浪川 大輔): Gyoku Rou (Voice) (47,50)
Shioya Kōzō (塩屋 浩三): Jellyfis (Voice) (48)
Sonobe Keiichi (園部 啓一): Angol (Voice) (49-50)
Kishi Yūji (岸 祐二) từ Gekisou Sentai Carranger: Ganymede (Voice) (49-50)
Shinohara Emi (篠原 恵美): Sukira (Voice) (49-50)
Endo Kenichi (遠藤 憲一) từ Ninja Sentai Kakuranger: Volgar (Movie)
Tamura Maroshi (田村 円) từ Gosei Sentai Dairanger: Brandel (Voice) (Movie)
Amamatsuri Akiko (天祭 揚子) từ Gosei Sentai Dairanger: Geen (Voice) (Movie)
Sasaki Isao (ささき いさお): Michael Micson (Voice) (Movie and Ending Clip) Also singing the ending theme, "Midnight Dekaranger"
Yamamoto Azusa (山本 梓) từ Ninpuu Sentai Hurricaneger: A Student (Movie)
Fukuzumi Mio (福澄 美緒) từ Ninpuu Sentai Hurricaneger: A Student (Movie)
Nagasako Takashi (長嶝 高士): Babon (Voice) (Magiranger vs. Dekaranger)
== Bài hátSửa đổi ==
Đầu
"Tokusou Sentai Dekaranger" (特捜戦隊デカレンジャー, Tokusō Sentai Dekarenjā)
Lời: Yoshimoto Yumi
Sãng tác: Miyazaki Ayumi
Sắp xếp: Kyōda Seiichi
Nghệ sĩ: Psychic Lover
Kết
"Midnight Dekaranger" (ミッドナイト デカレンジャー, Middonaito Dekarenjā)
Lời: Fujibayashi Shoko
Sáng tác: Takatori Hideaki
Sắp xếp: Kameyama Kōichi
Nghệ sĩ: Sasaki Isao
"girls in trouble! DEKARANGER" (gāruzu in toraburu! Dekarenjā, "girls in trouble! DEKARANGER")
Lời: Fujibayashi Shoko
Sáng tác: Yūmao
Sắp xếp: Nishihata Sachiko (西端 幸彦, Nishihata Sachiko Tây Đoan Hạnh Ngạn)
Nghệ sĩ: Kinoshita Ayumi & Kikuchi Mika với the Dekaren Boys
Xen kẽ
"Buddy Murphy ~ Murphy wa Tomodachi" (Buddy Murphy~マーフィーはともだち, Badī Māfī ~ Māfī wa Tomodachi) thể hiện bởi Horie Mitsuko và SP Junior Chorus
"Build Up! Dekaranger Robo" (ビルドアップ!デカレンジャーロボ, Birudo Appu! Dekarenjā Robo) thể hiện bởi Takatori Hideaki
"DekaBreak Full Throttle!!" (デカブレイク全開!!, DekaBureiku Zenkai!!) thể hiện bởi Endo Masaaki
"DekaMaster NEVER STOP" (デカマスターNEVER STOP, DekaMasutā Nebā Sutoppu) thể hiện bởi Sasaki Isao
"Dekaranger Action" (デカレンジャーアクション, Dekarenjā Akushon) thể hiện bởi Psychic Lover
"Dekaranger Gymnastics" (デカレンジャーたいそう, Dekarenjā Taisō) thể hiện bởi Ban (Sainei Ryuuji) và SP Junior Chorus
"SWAT ON Dekaranger" (SWAT ON デカレンジャー, Suwatto On Dekarenjā) thể hiện bởi Psychic Lover
"Fly DekaWing Robo!" (飛べよデカウイングロボ!, Tobe yo DekaUingu Robo!) thể hiện bởi Takatori Hideaki
Bài hát nhân vật
"BANG! BANG!" thể hiện bởi Ban (Sainei Ryuuji)
"BLUE is the SKY" thể hiện bởi Hoji (Hayashi Tsuyoshi)
"railway to happiness ~ Like I'm Always Smiling" (railway to happiness~いつも笑っていられるように, rēruwei tsu happinesu ~ Itsumo Waratte Irareru Yō ni) thể hiện bởi Sen-chan (Ito Yousuke)
"hard Rain ~ There's No Rain That Doesn't Stop" (hard rain~止まない雨はない, hādo rein ~Yamanai Ame wa Nai) thể hiện bởi Jasmine (Kinoshita Ayumi)
"Honest ~ Believing in the Now" (すなお~今を信じて, Sunao ~ Ima o Shinjite) thể hiện bởi Umeko (Kikuchi Mika)
"With a 'Tetsu' Will!" ("TETSU"の意志で!, "Tetsu" no Ishi de!) thể hiện bởi Tetsu (Yoshida Tomokazu)
"Mother Universe" thể hiện bởi Swan (Ishino Mako)
== Tham khảoSửa đổi ==
== Liên kết ngoàiSửa đổi ==
Trang chính thức
Vシネマ『特捜戦隊デカレンジャー 10 YEARS AFTER』 Official Site TOP - Trang chính thức Tokusou Sentai Dekaranger - 10 Years After (tiếng Nhật) |
phép trừ.txt | Trong số học, phép trừ là một trong bốn phép toán hai ngôi; nó là đảo ngược của phép cộng, nghĩa là nếu chúng ta bắt đầu với một số bất kỳ, thêm một số bất kỳ khác, và rồi bớt đi đúng số mà chúng ta thêm vào, chúng ta được con số chúng ta đã bắt đầu. Phép trừ được thể hiện bằng dấu trừ, đối lập với việc dùng dấu cộng cho phép cộng.
Bởi vì phép trừ không có tính chất giao hoán, có hai toán hạng được đặt tên. Những tên thường dùng trong biểu thức
c − b = a
là số bị trừ (c) − số trừ (b) = hiệu (a).
Phép trừ thường được dùng trong bốn quá trình liên quan đến nhau:
Từ một bộ cho trước, lấy đi (trừ) một số vật. Ví dụ, 5 quả táo trừ đi 2 quả thì còn 3 quả.
Từ một phép đo lường cho trước, lấy đi một số lượng tính trong cùng một đơn vị đo. Nếu tôi nặng 200 pound, và mất đi 10 pound, vậy thì tôi nặng 200 − 10 = 190 pound.
So sánh hai vật có lượng như nhau để tìm điểm khác biệt giữa chúng. Ví dụ, sự khác nhau giữa 800 đô la và 600 đô la là 800 đô la − 600 đô la = 200 đô la. Còn được biết đến là so sánh trừ.
Để tìm khoảng cách giữa hai nơi ở một khoảng cách cố định tính từ điểm bắt đầu. Ví dụ, nếu, trên đường cao tốc, bạn thấy một người soát vé nói rằng 150 dặm và sau đó bạn thấy người soát vé khác nói 160 dặm, bạn đã đi 160 − 150 = 10 dặm.
Ở trong toán học, thường là tiện khi coi hay quy định phép trừ như một phép cộng, phép cộng của phép nghịch đảo bổ sung. Chúng ta có thể coi 7 − 3 = 4 như là tổng của hai số hạng: 7 và -3. Theo cách này, có thể cho phép chúng ta áp dụng phép trừ với tất cả những quy tắc quen thuộc và thuật ngữ của phép cộng. Phép trừ không có tính chất kết hợp hoặc giao hoán, trong khi phép cộng của hai số hạng thì lại có cả hai tính chất này.
== Trừ số nguyên ==
a
−
0
=
a
{\displaystyle a-0=a}
a
−
a
=
0
{\displaystyle a-a=0}
a
−
(
−
a
)
=
2
a
{\displaystyle a-(-a)=2a}
== Trừ phân số ==
a
−
b
c
=
a
c
−
b
c
{\displaystyle a-{\frac {b}{c}}={\frac {ac-b}{c}}}
== Trừ hỗn số ==
a
−
b
c
d
=
a
−
b
d
+
c
d
{\displaystyle a-b{\frac {c}{d}}=a-{\frac {bd+c}{d}}}
a
−
b
c
d
=
a
d
−
b
d
−
c
d
{\displaystyle a-b{\frac {c}{d}}={\frac {ad-bd-c}{d}}}
== Tham khảo == |
khoa học kỹ thuật.txt | Khoa học kỹ thuật là các ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹ thuật và thiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa học tự nhiên. Các ngành khoa học kỹ thuật cổ điển bao gồm khoa học kỹ thuật xây dựng (bao gồm cả khoa học trắc địa), khoa học chế tạo máy và khoa học điện tử. Các ngành khoa học kỹ thuật mới bao gồm kỹ thuật an toàn, kỹ thuật công trình nhà, hóa kỹ thuật và vi kỹ thuật.
Việc tin học có được coi là một ngành khoa học kỹ thuật hay không vẫn còn được tranh cãi.
== Nền tảng của các ngành khoa học kỹ thuật ==
Các cơ sở khoa học (kỹ thuật) nền tảng cho các khoa học kỹ thuật bao gồm đặc biệt là toán học, vật lý học, cũng có thể là hóa học (ví dụ trong lĩnh vự khoa học vật liệu và khoa học vật liệu xây dựng) hoặc là địa chất học (trong phạm vi ngành khoa học kỹ thuật xây dựng). Trong ngành này cơ học (với các phân ngành tĩnh học, động lực học và động học) đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Cho ngành chế tạo máy là động lực học và cho ngành điện tử là kỹ thuật điện tử. Ngoài các cơ sở kể trên thì các ngành cơ sở hướng-phương-pháp như lý thuyết thiết kế hoặc các cơ sở bổ sung khác như kinh tế quản trị và tin học hoàn thiện nền tảng cho các khoa học kỹ thuật.
== Phân loại các ngành khoa học kỹ thuật ==
=== Khoa học kỹ thuật xây dựng ===
Các ngành cơ bản: cơ học, cơ học thủy, lý thuyết độ bền cơ học (sức bền vật liệu), khoa học vật liệu xây dựng
Các chuyên ngành (theo lĩnh vực làm việc):
xây dựng cao tầng
xây dựng hạ tầng
xây dựng công trình thủy
kinh tế thủy (cấp, thoát nước)
chuyên ngành giao thông vận tải
Các chuyên ngành (theo nguyên lý):
Cơ sở khoa học kỹ thuật xây dựng
Tin học xây dựng
Trắc đạc kỹ thuật
Vật lý học công trình
Hóa học công trình
Lý thuyết cấu kiện
Độ bền cấu kiện
Kinh tế xây dựng và vận hành, quản lý xây dựng
Lý thuyết kinh doanh xây dựng
Quản trị kinh doanh xây dựng
Quản lý bất động sản và cơ sở hạ tầng
Luật xây dựng dân dụng (tư nhân)
Quản lý xây dựng
Kỹ thuật phương pháp xây dựng và sử dụng máy xây dựng
Xây dựng kỹ thuật và xây dựng cao tầng
Vật liệu xây dựng
Kết cấu xây dựng cao tầng
Xây dựng khối
Xây dựng thép
Xây dựng liên kết
Xây dựng gạch
Xây dựng gỗ
Xây dựng thủy tinh
Kỹ thuật liên kết
Tác động qua lại nền móng và cấu kiện
Địa kỹ thuật
Cơ học đất và đá
Động học nền móng
Xây dựng nền móng, đào móng xây dựng, và kết cấu móng
Kỹ thuật địa môi trường
Xây dựng hầm mày với máy đào hầm
Xây dựng công trình thủy, kinh tế thủy, kỹ thuật rác thải
Cơ học thuỷ (thủy lực) kỹ thuật
Thủy văn và kinh tế thủy
Xây dựng thủy
Cấp nước
Kỹ thuật thoát nước
Kỹ thuật rác
Quy hoạch không gian và xây dựng đô thị, luật xây dựng nhà nước
Quy hoạch không gian, quy hoạch quốc gia và khu vực
Xây dựng đô thị
Luật xây dựng đô thị
Luật quy hoạch xây dựng
Luật thiết kế cho công trình giao thông
Hệ thống giao thông và thiết bị giao thông
Hệ thống giao thông công cộng
Giao thông cá nhân - Thiết kế đường bộ và xây dựng đường bộ
Xây dựng giao thông thủy - Đường thủy và bến cảng
Thiết kế, xây dựng và vận hành sân bay
Mạng đường dẫn (điện cao thế, thông tin tín hiệu, ga, dầu, v.v.)
=== Khoa học kỹ thuật cơ khí ===
Các ngành cơ bản: toán cao cấp, vật lý đại cương, cơ học lý thuyết; sức bền vật liệu, vật liệu học, động lực học, cơ học chất lưu, lý thuyết thiết kế, kỹ thuật điều chỉnh (bao gồm cả kỹ thuật điều khiển), kỹ thuật đo lường, tin học ứng dụng, kỹ thuật điện, điện tử công nghiệp, hình họa và vẽ kỹ thuật
Các ngành cơ sở chuyên ngành: Nguyên lý máy, Chi tiết máy, máy thủy khí, máy nhiệt, công nghệ kim loại, phát động dòng;
Các chuyên ngành:
Kỹ thuật Chế tạo máy công cụ và dụng cụ công nghiệp;
Kỹ thuật máy động lực(ô tô, xe máy, máy xây dựng, máy nâng chuyển, máy mỏ v.v.);
Kỹ thuật hàng không và vũ trụ (tên lửa, máy bay, tàu vũ trụ,...);
Công nghệ chế tạo vũ khí và trang bị quân sự;
Kỹ thuật tàu thủy và tàu biển;
Công nghệ gia công kim loại bằng áp lực: cán, kéo, rèn, dập;
Công nghệ hàn và chẩn đoán kỹ thuật;
Chế tạo thiết bị, kỹ thuật môi trường;
Chế tạo máy năng lượng, kỹ thuật khí hậu;
Kỹ thuật đóng gói;
Kỹ thuật vận chuyền;
=== Kỹ thuật điện-điện tử ===
Các ngành cơ bản: toán học, vật lý học, hóa học, phần tử chế tạo, lý thuyết mạch, lý thuyết trường và sóng, lý thuyết thiết kế, tin học
Các chuyên ngành:
Điện tử
Kỹ thuật tương tự (analog)
Kỹ thuật số (digital)
Phần tử chế tạo điện tử
Điện tử điện thế
Kỹ thuật năng lượng
Kỹ thuật điện cao thế
Điện - Điện thế
Sản sinh năng lượng
Kỹ thuật phát động
Kỹ thuật truyền tin
Tin kỹ thuật
Kỹ thuật máy tính
Lý thuyết tín hiệu và xử lý tín hiệu
Lý thuyết thông tin
Mã hóa
Kỹ thuật sóng cao tần
Kỹ thuật truyền phát
Kỹ thuật radio và tivi
Telematik
Kỹ thuật tự động hóa
Kỹ thuật điều khiển và kỹ thuật điều tiết
Điều khiển học
Sensorik
Kỹ thuật môi trường và kỹ thuật đo lường
Kỹ thuật dẫn mạng
Rôbô học
=== Kỹ thuật Hóa học ===
== Tham khảo ==
K. Zilch, C. J. Diderichs, R. Katzenbach (Hrsg.): Handbuch für Bauingenieure. Springer, Berlin u.A. 2002, ISBN 3-540-65760-6
== Liên kết ngoài == |
kimi ga yo.txt | Kimi Ga Yo (君が代, Quân Chi Đại) là quốc ca của Nhật Bản. Lời của bản quốc ca này dựa trên một bài Hòa ca cổ trong thi tập Cổ kim Hòa ca tập được viết vào thời kỳ Heian (khoảng thế kỉ 10).
== Lịch sử ==
Tác giả bản nhạc là Hiromori Hayashi, trưởng ban nhạc trong Cung nội sảnh, viết năm 1880. Sau đó phần ký âm theo nhạc lý Tây phương được Franz Ecker, một giáo viên âm nhạc người Đức soạn ra.
Năm 1893 (niên hiệu Minh Trị thứ 26), bài Kimi Ga Yo được bộ Giáo dục Nhật Bản chọn là bản nhạc học sinh phải hát ở trường, nhất là trong những ngày lễ. Theo đó bản nhạc phổ biến dần và ngẫu nhiên trở thành quốc ca của Nhật. Dù vậy mãi đến 22 Tháng 7 năm 1999 bản nhạc này mới được chính thức công nhận.
Nội dung của bài hát nhằm tôn vinh Thiên hoàng và cầu chúc cho Triều đại của các vua Nhật bền vững mãi mãi. Cũng vì nội dung đề cao chế độ quân chủ, Kimi Ga Yo bị đảng Cộng sản Nhật Bản cực lực đả kích.
Đây cũng là một trong những bài quốc ca ngắn nhất trên thế giới.
=== Lời ===
=== Nghĩa tiếng Việt ===
Hoàng triều hạnh phúc vạn tuế của Người
Xin Hoàng đế hãy trị vì cho đến khi
những viên sỏi bây giờ
qua thời gian kết thành những tảng đá
Với bề mặt cổ kính đầy rêu phong.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tải xuống bài Kimi Ga Yo (có lời)
Tải xuống bài Kimi Ga Yo (không lời) |
miyazaki.txt | Miyazaki (Nhật: 宮崎県 (Cung Khi Huyện), Miyazaki-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, ở đảo Kyūshū, Nhật Bản. Trung tâm hành chính là thành phố Miyazaki.
== Địa lý ==
Miyazaki nằm ở eo biển phía Đông của đảo Kyūshū, được bao quanh bởi Thái Bình Dương ở phía Nam và phía Đông, tỉnh Ōita ở hướng Bắc, tỉnh Kumamoto và Kagoshima phía Tây.
== Lịch sử ==
Trong lịch sử, sau cách mạng Minh Trị, tỉnh Hyūga được đổi tên thành Miyazaki.
== Hành chính ==
Miyazaki có 9 thành phố:
Miyazaki có 18 thị trấn và 3 làng:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Miyazaki
== Thể thao ==
CLB bóng đá
Honda Lock S.C. (thành phố Miyazaki)
== Du lịch ==
Đền Ama no Iwato.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật)
Thông tin của JNTO về Miyazaki và Vicinity. |
arpanet.txt | Mạng lưới Advanced Research Projects Agency Network - viết tắt là ARPANET (dịch là Mạng lưới cơ quan với các đề án nghiên cứu tân tiến.) do ARPA (Defense Advanced Research Projects Agency - dịch là Cơ quan với các đề án nghiên cứu tân tiến của Bộ Quốc phòng) Mỹ xây dựng. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ là cơ quan có mạng lưới dùng công nghệ chuyển mạch gói đầu tiên hoạt động, và là cha đẻ của mạng lưới Internet toàn cầu hiện nay.
Thời kỳ đó công nghệ chuyển mạch gói (Packet switching), bây giờ là nền tảng cơ bản cho cả truyền thông dữ liệu và âm thanh trên toàn thế giới, là một quan niệm mới, quan trọng trong công nghệ truyền thông dữ liệu. Trước đó, công nghệ truyền thông dữ liệu dựa trên công nghệ chuyển mạch kênh (circuit switching), tương tự như trong hệ thống điện thoại cũ, một mạch chuyên dụng được sử dụng trong toàn bộ thời gian của cuộc gọi, và chỉ có thể truyền thông được với một người duy nhất ở bên kia đầu dây.
Với công nghệ chuyển mạch gói, một hệ thống truyền thông có thể kết nối với nhiều máy, trên cùng một đường dây, bằng cách nhóm dữ liệu lại thành các gói. Không những đường dây kết nối có thể được dùng chung (như một lá thư có thể cùng một lúc được gửi đến nhiều nơi), song mỗi một gói dữ liệu còn có thể được định tuyến biệt lập với những gói dữ liệu khác. Đây chính là ưu điểm lớn nhất.
== Lịch sử của ARPANET ==
Ý tưởng đầu tiên về một mạng lưới máy tính cho phép truyền thông giữa nhiều người dùng được J.C.R. Licklider, hồi đó làm việc tại công ty Bolt, Beranek and Newman (BBN), phát biểu trong một loạt những bản ghi nhớ, bàn luận về quan niệm một "Mạng lưới ngân hà". Ý tưởng này bao gồm hầu hết tất cả những gì là Internet hiện nay.
Vào tháng 10 năm 1962, Licklider được đề bạt là chủ nhiệm chương trình "Khoa học hành vi, mệnh lệnh và điều khiển" tại ARPA của bộ quốc phòng Mỹ (tên gọi lúc đó). Ông thuyết phục Ivan Sutherland và Bob Taylor rằng đây là một ý tưởng quan trọng, mặc dù ông đã rời ARPA trước khi những công việc thi hành ảo mộng của ông được thực hiện.
ARPA và Taylor tiếp tục quan tâm đến việc kiến tạo một mạng lưới truyền thông vi tính, một phần vì muốn cho phép những nhà nghiên cứu mà ARPA tài trợ, trên nhiều địa điểm khác nhau, tiếp tục được dùng các máy tính mà ARPA cung cấp, phần khác nhanh chóng sản xuất các phần mềm, cùng những kết quả nghiên cứu, được công bố và sử dụng rộng rãi. Taylor có ba thiết bị cuối (terminals) trong văn phòng của mình, kết nối với ba máy vi tính khác nhau do DARPA tài trợ: một cái dành cho SDC (System Development Corporation| - tạm dịch là Công ty xây dựng hệ thống) Q-32 tại Santa Monica, một cái dành cho Project Genie (tạm dịch là "Đề án thần đồng") tại Trường đại học California (University of California, Berkeley) và một cái dành cho Multics tại MIT (Massachusetts Institute of Technology - tạm dịch là "Học viện khoa học và kỹ thuật Massachusetts"). Taylor sau này nhớ lại:
"Với mỗi một thiết bị đầu cuối, tôi có một bộ lệnh người dùng riêng. Nếu tôi đang nói chuyện với một người ở S.D.C trên mạng, mà tôi muốn nói chuyện với một người mà tôi biết ở M.I.T về cuộc hội thoại tôi đang có, tôi phải đứng dậy, rời khỏi thiết bị cuối với người ở S.D.C, sang bên thiết bị đầu cuối kia, nối máy để liên lạc với họ.
Tôi nói, "thật là phiền hà!", hiển nhiên là chúng ta biết nên phải làm gì. Trong khi anh có ba thiết bị cuối, đáng ra, anh chỉ cần có một thiết bị cuối, mắc nối với bất cứ nơi nào mà anh muốn, nơi anh có thể tương tác dùng máy tính, mà thôi. Ý tưởng đấy chính là mạng ARPAnet." [1].
Hầu như trong cùng một thời điểm, một số người đã (tự bản thân) tìm ra những khía cạnh khác nhau của cái mà về sau này được gọi là "chuyển mạch gói"; Những người làm nên ARPANET sau này, đã tổng hợp ý kiến từ những nguồn sáng tạo khác nhau trên đây, mà thiết kế nên mạng lưới của mình.
== Nguồn gốc của ARPANET ==
Cuối năm 1966, Taylor mời Larry Roberts từ MIT, đang làm việc tại Phòng thí nghiệm Lincoln (Lincoln Laboratory), đến ARMA làm chủ nhiệm đề án kiến tạo một mạng lưới truyền thông. Roberts đã từng trải và có ít nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này: hai năm trước đó, đầu năm 1965, trong khi đang làm việc tại MIT ở Phòng thí nghiệm Linh-côn, ông đã kết nối TX-2 với Q-32 của Công ty xây dựng hệ thống (System Development Corporation), dùng đường dây điện thoại, chỉ đạo một số những thí nghiệm đầu tiên về việc kết nối truyền thông hai máy vi tính theo phương pháp trên. Ý tưởng đầu tiên của Roberts về mạng lưới của ARPA là kết nối các máy tính phân hưởng thời gian (time-sharing) trực tiếp vào với nhau, dùng đường dây điện thoại.
Tại một cuộc họp ở Trường đại học Michigan (University of Michigan), thuộc Ann Arbor, Michigan, vào đầu năm 1967, nhiều người tham dự đã biểu lộ thái độ lạnh nhạt với ý kiến muốn họ gánh vác trách nhiệm quản lý đường dây kết nối trực tiếp vào máy vi tính của họ. Một trong những người tham dự, Wesley Clark nảy ra sáng kiến dùng một số máy vi tính nhỏ biệt lập, quản lý các mạch truyền thông; những máy vi tính nhỏ này sẽ được gắn vào một máy vi tính phân hưởng thời gian lớn mainframe, là những máy chủ yếu được gắn vào mạng ARPANET. Khái niệm này cho phép đại bộ phận những công việc tỉ mỉ điều hành mạng lưới được loại bỏ khỏi các máy mainframe; việc này đồng thời còn có nghĩa là những thất thường trong thực thi của mỗi cá nhân máy chủ, không gây ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn trên tổng thể của mạng lưới, và DARPA hoàn toàn làm chủ mạng lưới của chính mình.
Kế hoạch ban đầu của ARPANET bắt nguồn từ nền tảng căn bản trên, với một số nhóm nghiên cứu (working group) làm việc trên một khía cạnh kỹ thuật cụ thể, và họ thường nhóm họp trong thời gian cuối mùa xuân và mùa hè năm 1967.
Roberts lúc đó tiến hành viết bản "Kế hoạch dành cho ARPANET" ("a plan for the ARPANET") và đệ trình nó tại hội nghị chuyên đề ở Gatlinburg, Tennessee hồi tháng 10 năm 1967. Đồng thời Roger Scantlebury, làm việc với nhóm Donald Davies tại NPL, cũng đệ trình trong hội nghị lúc đó. (Roberts trước đó đã từng chạm trán với Davies trong một hội nghị ở Anh Quốc, về phân hưởng thời gian (time-sharing), hồi tháng 11 năm 1965.) Ông (Roger) bàn luật về ý tưởng chuyển mạch gói của Davies với Roberts, và giới thiệu với Roberts các tìm tòi của Paul Baran.
Ảnh hưởng của tất cả những sự kiện trên vẫn chưa được tỏ tường, và có một vài điểm đáng tranh cãi; các bản ghi nhớ của những người tham gia trong tiến trình để lại những thông tin đối lập, lắm lúc chúng còn đối lập với chính những thông tin họ viết trước đó. Ý kiến chung của các nhà lịch sử cho rằng cả bốn người (Baran, Kleinrock, Davies và Roberts) đều có những đóng góp một cách đáng kể:
Davies là công cụ truyền đạt hiểu biết về chuyển mạch gói, mà ông và Baran đã sáng tạo, cho Lawrence Roberts 1
Ý tưởng về mạng lưới truyền thông của Roberts đã bị thay đổi trong cuộc bàn luận với Scantlebury... Theo sự diễn tả của ông sau này, sau cuộc họp ở Gatlinburg và trở về Hoa-Thịnh-Đốn, bản báo cáo của Baran đã gây ảnh hưởng đến [Roberts]2
Kleinrock là người, mà người ta cho rằng, gây ảnh hưởng tới những suy nghĩ trước đây của Roberts, về mạng lưới truyền thông vi tính.... Sự am hiểu về truyền thông dữ liệu của Baran đã làm cho [Roberts] phải suy nghĩ.... Văn bản mà Scantlebury đệ trình tại Gatlinburg, thay mặt cho cống hiến của Anh Quốc, quả nhiên cũng có gây ảnh hưởng ít nhiều. 3
== Sự nảy sinh của ARPANET ==
Vào mùa hè năm 1968, một kế hoạch kỹ lưỡng đã hoàn thành, và sau khi được ARPA chấp thuận, một bản Phác thảo về đề xuất nhận thầu (Request For Quotation - viết tắt là RFQ) đã được gửi đến 140 nhà thầu khoán, là những người có khả năng tham gia đấu giá. Đa số các nhà thầu khoán cho rằng bản đề xuất thầu khoán này là một bản kỳ dị, ngoài sức tưởng tượng. Chỉ có 12 công ty gửi giá đấu lên, trong đó, 4 giá đấu được coi là khả quan. Đến cuối năm, số chủ thầu khoán được thanh lọc xuống chỉ còn hai, và sau nhiều cuộc đàm phán, cuối cùng vào ngày mùng 7 tháng 4 năm 1969, người ta đã chọn BBN là người đứng chủ thầu.
Đề xuất của BBN theo rất sát dự án của Roberts. Bản đề xuất kiến nghị một mạng lưới các máy vi tính nhỏ, được gọi là Bộ xử lý thông điệp giao diện (Interface Message Processor) (thường được gọi là IMP). Các máy IMP, tại mỗi cơ sở, thực hiện chức năng "lưu trữ và tiếp tới" chuyển mạch gói. Chúng được liên kết với nhau bằng các bộ điều giải modem. Các bộ điều giải này được nối vào các đường dây thuê bao (với tốc độ ban đầu là 50 kbit/giây). Các máy chủ (host computers) được nối với các máy IMP thông qua một giao diện nối chuỗi bit (bit-serial interfaces) tùy biến, để kết nối với HEO.
Lúc đầu BBN chọn một phiên bản vững chắc máy vi tính DDP-516, của Honeywell, để tạo nên thế hệ máy IMP đầu tiên. Máy 516 nguyên chỉ được cài đặt với 24 Kilo byte dung lượng đơn vị bộ nhớ (nhưng có khả năng khuếch trương, tăng dung lượng bộ nhớ lên cao hơn), và 16 kênh đơn vị truy cập trực tiếp bộ nhớ điều khiển nén kênh trực tiếp (Direct Multiplex Control - viết tắt là DMC). Họ dùng các giao diện tùy biến để kết nối chúng với mỗi máy chủ và bộ điều giải (modem) dùng DMC. Ngoài những đèn hiệu đã có sẵn trên bảng đằng trước máy 516, người ta còn gắn thêm 24 đèn hiệu, trình báo hiện trạng của các kênh truyền thông trong máy IMP. Mỗi máy IMP có thể hỗ trợ được bốn máy chủ (hosts) và đồng thời có thể truyền thông với tới sáu máy IMP khác ở xa, thông qua các đường dây thuê bao.
Một đội (đầu tiên chỉ có bảy người) tại BBN, với sự giúp đỡ rất nhiều của những chi tiết trong cố gắng đưa ra giải pháp đối với đề xuất khoán thầu RFQ mà họ đã làm, đã nhanh chóng kiến tạo được những bộ máy làm việc đầu tiên. Toàn bộ hệ thống, bao gồm cả phần cứng và một phân mềm đầu tiên trên thế giới về chuyển mạch gói, đã được thiết kế và lắp ráp trong vòng chín tháng.
== Sự triển khai đầu tiên của ARPANET ==
Mạng ARPANET đầu tiên chỉ có bốn máy IMP. Những máy này được sắp đặt tại:
Trường đại học California (UCLA), nơi Leonard Kleinrock thành lập một Trung tâm đo lường mạng lưới truyền thông (Network Measurement Center) (với máy SDS Sigma 7 là máy tính đầu tiên được gắn vào tại đó).
Trung tâm nghiên cứu phát triển (Augmentation Research Center) tại Học viện nghiên cứu Stanford (Stanford Research Institute - viết tắt là SRI) nơi Douglas Engelbart hệ thống NLS nổi tiếng, một phiên bản quan trọng của hệ thống siêu văn bản (hypertext) trước đây (với máy tính SDS 940 điều hành NLS, được đặt tên là "Genie", là máy chủ đầu tiên được gắn vào).
Trường đại học California (University of California) tại Santa Barbara, với máy IBM 360/75 của Trung tâm toán học tương tác (Culler-Fried Interactive Mathematics Centre) gắn vào.
Chi nhánh đồ thị (Graphics Department) của Trường đại học Utah (University of Utah), nơi Ivan Sutherland đã chuyển đi (vì máy PDP-10, dùng hệ điều hành TENEX, của công ty DEC (Digital Equipment Corporation|)).
Kết nối đầu tiên với ARPANET được thực hiện vào ngày 29 tháng 10 năm 1969, giữa IMP tại UCLA và IMP tại SRI. Toàn bộ 4 nút của mạng lưới đã được kết nối vào ngày 5 tháng 12 năm 1969 [2].
== Sự phát triển giao thức và phần mềm ==
Giao thức 1822 là giao thức dùng kết nối các máy chủ với nhau trong mạng ARPANET, cho phép chúng truyền thông qua lại, giữa máy nọ và máy kia. Đây là giao thức các máy chủ dùng, để gửi thông điệp sang các IMP của mạng ARPANET. Giao thức này được thiết kế hầu cho sự giao thông giữa các máy trở nên mạch lạc, không có sự nhập nhằng, và đồng thời ủng hộ nhiều cấu trúc máy khác nhau. Trên cơ bản mà nói, một thông điệp của giao thức 1822 sẽ bao gồm một định vị về thể loại của thông điệp đang gửi, một con số địa chỉ của máy chủ, và một trường dữ liệu. Để gửi một thông điệp sang một máy chủ khác, máy gửi thông điệp phải khuôn thức một thông điệp dữ liệu, ghép địa chỉ của máy chủ và dữ liệu mà nó cần gửi vào thông điệp, sau đó, truyền thông điệp qua giao diện phần cứng của giao thức 1822. Máy IMP quản lý việc đảm bảo một thông điệp được gửi tới đích, bằng cách truyền thông điệp sang một máy chủ, kết nối với mình tại cơ sở, hoặc truyền sang một máy IMP khác. Khi thông điệp đã được phân phát đến đích, máy IMP gửi một thông điệp chứng nhận (còn được gọi là sẵn sàng nhận thông điệp mới - tiếng Anh là "Ready for Next Message", viết tắt là RFNM).
Khác với gram dữ liệu (datagrams) trong Internet hiện đại, ARPANET được thiết kế để truyền thông điệp 1822 một cách đáng tin cậy, và trong trường hợp xấu nhất, nó có thể báo cho một máy chủ biết, nếu một thông điệp đã bị thất lạc. Tuy vậy, giao thức 1822 đã không chứng minh được tính thích hợp của nó, đối với việc cân nhắc và xử lý nhiều tổ hợp kết nối, giữa nhiều chương trình ứng dụng khác nhau, trên cùng một máy chủ. Vấn đề này đã được giải quyết trong giao thức Chương trình ứng dụng xử lý mạng lưới truyền thông (Network Control Program - viết tắt là NCP). NCP cung cấp phương tiện tiêu chuẩn để thiết lập một kết nối truyền thông đảm bảo, có khả năng khống chế điều khiển luồng dữ liệu, truyền thông dữ liệu hai chiều, giữa các quy trình xử lý khác nhau, trên những máy chủ khác nhau. Giao thức NCP cho phép chương trình ứng dụng phần mềm kết nối liên thông với nhau trên mạng ARPANET, thực thi những giao thức truyền thông ở tầng cấp cao hơn. Đây chính là một ví dụ điển hình của "giao thức tầng cấp" mà sau này được áp dụng vào mô hình OSI.
Vào năm 1983, giao thức TCP/IP thay thế NCP, trở thành giao thức chủ yếu của mạng ARPANET, và ARPANET trở nên một phần của Internet mới ra đời.
=== Các chương trình ứng dụng ===
Năm 1971, Ray Tomlinson, lúc đó đang làm việc tại BBN, đã gửi một bức thư điện tử (email) đầu tiên [3]. Đến năm 1973, bản quy định giao thức truyền tập tin đã được hoàn thành và thực thi, cho phép việc truyền tập tin qua ARPANET xảy ra. Tại thời điểm này, 75% lượng giao thông trên mạng ARPANET là giao thông của thư điện tử.
Quy định về giao thức truyền âm thanh trên mạng (Network Voice Protocol) cũng đã được hoàn thành (RFC 741), và sau đó đã được thực thi, song những cuộc gọi hội thảo (conference calls) trên mạng ARPANET không cho kết quả mĩ mãn, vì những lý do về kỹ thuật. Phải mất mấy chục năm sau việc truyền âm thanh dùng giao thức IP (Voice over Internet Protocol - viết tắt là VoIP) mới thực hiện được.
Một ứng dụng điển hình của mạng truyền thông này đối với quân sự, trong cuộc "Chiến tranh lạnh", là khả năng cho phép các chi nhánh của chính phủ, tiếp tục giữ liên lạc và kết nối với nhau, trong hoàn cảnh bị tấn công bằng hạt nhân nguyên tử từ phía Liên bang Xô Viết, là lúc toàn bộ mạng lưới truyền thông trực tiếp bị phá hủy hoàn toàn. Đây là một thế lợi lớn trong trường hợp tại họa về hạt nhân nguyên tử xảy ra, đặc biệt là khả năng cho phép lực lượng quân đội tiếp tục phối hợp để tấn công hoặc tự vệ.
== Sự phát triển của mạng lưới ==
Tháng 3 năm 1970, ARPANET đã lan đến bờ biển phía Đông Hoa Kỳ, và một máy IMP của chính công ty BBN cũng được lắp nối vào mạng lưới này. Từ đó trở đi, mạng lưới lan rộng nhanh chóng: tại thời điểm tháng 6 năm 1970, mạng lưới đã có đến 9 IMP, rồi nhân lên thành 13 máy vào tháng 12 năm 18 máy vào tháng 9 năm 1971 (lúc này đã có đến 23 máy chủ được kết nối vào mạng lưới ARPANET. Các máy này được đặt tại các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của chính phủ), 29 máy IMP vào hồi tháng 8 năm 1972, và 40 máy vào tháng 9 năm 1973.
Lúc đó, hai liên kết nối với vệ tinh nhân tạo đã được cộng thêm vào mạng lưới, một cái ngang qua biển Thái Bình dương đến Hawaii, và một cái ngang qua Đại Tây dương đến Na Uy (Norwegian Seismic Array). Từ Na Uy, một mạng lưới trên mặt đất đã cho phép một máy IMP ở Luân Đôn được gắn vào mạng lưới đang trên đà phát triển.
Đến tháng 6 năm 1974, mạng lưới đã có 46 máy IMP tất cả, và tăng lên 57 IMP vào tháng 7 năm 1975. Vào năm 1981, số lượng các máy chủ trong mạng lưới đã tăng lên đến 213, cứ sau khoảng chừng 20 ngày là có một máy mới được thêm vào mạng lưới.
Sau khi ARPANET đã khởi công và hoạt động được vài năm, ARPA lùng tìm một cơ quan hòng giao phó việc điều hành mạng lưới cho họ. Nhiệm vụ chính của ARPA là cung cấp hỗ trợ tài chính cho những nghiên cứu tân tiến nhất, và phát triển mở mang, chứ không phải là điều hành một phương tiện truyền thông. Cuối cùng, vào tháng 7 năm 1975, mạng lưới đã được trao cho Cơ quan truyền thông quân đội (Defense Communications Agency), một bộ phận của Bộ Quốc phòng Mỹ.
Vào năm 1984, bộ phận mạng lưới ARPANet của quân đội Mỹ đã được phân tách ra thành một mạng lưới riêng, gọi là MILNET.
== Những phát triển của phần cứng sau này ==
Năm 1970, các mạch điện nối các máy IMP đã được cải tiến, nâng tốc độ truyền thông cao nhất lên đến 230.4 kbit/giây, song do những cân nhắc giữa giá thành và sức điều hành của các máy IMP, những khả năng mới này hầu như chẳng bao giờ được dùng đến.
Năm 1971 được chứng kiến việc sử dụng những máy H-316, kém sức chịu đựng hơn và do vậy nhẹ hơn rất nhiều, làm các máy IMP. Những máy này còn có thể được cài đặt như một thiết bị đầu cuối IMP (Terminal IMP, viết tắt là TIP), và mỗi máy có thể hỗ trợ nhiều nhất là 63 thiết bị cuối nối tiếp dùng hệ mã ASCII (ASCII serial terminals), thông qua bộ điều khiển đa tuyến (multi-line controller), thay thế cho một máy chủ. Máy 316 có khả năng hoà hợp cao hơn so với máy 516, và vì vậy việc duy trì sự hoạt động của máy đỡ tốn kém hơn, dễ dàng hơn. Vào thời điểm năm 1973, các máy 316 được dùng làm TIP, mỗi máy được cài đặt 40 Kbyte dung lượng bộ nhớ. Dung lượng này có thể được tăng lên đến 32KByte, nếu máy là một IMP, và 56KByte nếu máy là một TIP.
Trong năm 1975, những máy IMP làm bằng Honeywell (DDP-516) cuối cùng được thay thế bằng những máy Pluribus đa xử lý (multi-processor) của BBN. Những máy ấy cuối cùng cũng bị thay thế bới các máy C/30, là những máy được ưa chuộng hơn, do BBN kiến tạo.
Sau sự xuất hiện của NSFNet, những máy IMP và TIP dần dần bị rút lui trong khi ARPANET bắt đầu ngưng hoạt động. Đến cuối năm 1989, một số những máy IMP trước đây, vẫn còn được giữ lại và phục vụ.
== Mạng lưới ARPANET và những tấn công hạt nhân nguyên tử ==
Có một lời đồn, nửa hư nửa thực, được lan truyền về mạng lưới ARPANET, rằng mạng lưới này được thiết kế để phòng chống các cuộc tấn công hạt nhân nguyên tử. Hiệp hội Internet đã có một bài viết về sự hội nhập các sáng kiến trong kỹ thuật, để tạo nên mạng lưới ARPANET, nhan đề: Lược tả lịch sử của Internet (A Brief History of the Internet), trong đó có câu:
Thông qua một nghiên cứu của Research AND Development (RAND), một lời đồn giả dối đã được truyền tụng, rằng ARPANET, ở một mức độ nào đấy, được xây dựng như một mạng lưới có sức chịu đựng cuộc chiến tranh vũ khí hạt nhân. Đối với ARPANET, đây là một lời truyền tụng hoàn toàn sai sự thật. Tuy trong nội dung những bản thiết kế sau này về Internet, những người thiết kế có nhấn mạnh đến tính bền bỉ, khả năng sống còn, bao gồm cả khả năng chịu đựng được những mất mát lớn trong cấu trúc của mạng lưới, nhưng chỉ có bản nghiên cứu của RAND về kỹ thuật truyền âm bảo an (secure voice) - hoàn toàn không có liên quan đến ARPANET - là cân nhắc đến chiến tranh hạt nhân mà thôi.
Huyền thoại về việc ARPANET được xây dựng, để có thể chịu đựng nổi những cuộc tấn công hạt nhân nguyên tử, vẫn còn ghi một dấu ấn mạnh mẽ, và hình như còn là một ý tưởng lôi cuốn - đương nhiên còn là một câu chuyện "hấp dẫn" nữa - đến độ mọi người từ chối việc tin nó là một câu chuyện hoang đường. Dù có thế nào đi chăng nữa, lời đồn ấy là một lời đồn không có sự thật, trừ phi ai đó cho rằng bản nghiên cứu của RAND có những ý kiến ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng ARPANET. ARPANET được thiết kế nhằm mục đích chống đỡ những tổn thất trong mạng lưới truyền thông, song nguyên nhân chính lại thực ra là, các nút chuyển mạch và những đường dây liên kết mạng, không được đảm bảo cho lắm, ngay cả khi không có những cuộc tấn công hạt nhân nguyên tử.
Ông Charles Herzfeld, giám đốc của ARPA từ năm 1965 đến năm 1967, đã từng nói đến sự hữu hạn của các tài nguyên trong máy vi tính, và từ đó nảy sinh ra việc kiến tạo ARPANET.
Sự khởi công xây dựng mạng lưới ARPANET không phải là để xây dựng một hệ thống khống chế và mệnh lệnh có thể chịu đựng được những tấn công hạt nhân nguyên tử, như nhiều người lầm tưởng. Đương nhiên một hệ thống như vậy là một quan tâm lớn của quân đội, song nhiệm vụ của ARPA không phải là xây dựng một hệ thống như vậy. Thực tế cho thấy rằng chúng tôi sẽ bị khiển trách nghiêm trọng, nếu chúng tôi làm như vậy. ARPAnet được xây dựng trên nên tảng của sự trăn trở về số lượng hữu hạn những máy tính có năng lực cao trong nước, dùng trong việc nghiên cứu. Nhiều quan sát nghiên cứu viên đáng được phép truy cập vào những máy như vậy lại không thể làm được, vì sự ngăn cách về địa lý.
== Chuyện vặt ==
Vào ngày 26 tháng 3 năm 1976 Nữ hoàng Elizabeth đệ nhị của Anh quốc gửi lá thư Hoàng gia đầu tiên từ Tổ chức ra-da và hiệu lệnh của Hoàng gia (Royal Signals and Radar Establishment).
== Hồi tưởng ==
Sự hộ trợ và phong cách quản lý của ARPA là chủ chốt trong sự thành công của ARPANET. Bản "Báo cáo hoàn thành công trình ARPANET", được công bố dưới sự liên kết của BBN and ARPA, có viết như sau trong phần kết luận:
.. lời thích hợp để kết thúc bản báo cáo này là "chương trình ARPANET cho chúng ta những kinh nghiệm quý giá, cống hiến trực tiếp vào sự hỗ trợ và vững mạnh của khoa học điện toán, để từ đó mạng lưới truyền thông này có thể đâm chồi nảy lộc". 4
== Tham chiếu trong phim ảnh và báo chí ==
Trong trò chơi điện tử Metal Gear Solid 3: Snake Eater, một nhân vật với cái tên là Sigint tham dự vào việc xây dựng mạng lưới ARPANET sau những sự việc được diễn tả trong trò chơi.
Trong tiểu thuyết Doctor Who Past Doctor Adventures - Blue Box - sáng tác năm 2003 nhưng cốt truyện đặt trong thời điểm năm 1981, có một nhân vật tiên đoán rằng, đến năm 2000 sẽ có bốn trăm máy được gắn vào mạng ARPANET.
== Xem thêm ==
Lịch sử của Internet (History of the Internet)
Mạng lưới máy tính: Sứ giả của sự chia sẻ tài nguyên (Computer Networks: The Heralds of Resource Sharing) - 1972 Tài liệu.
== Ghi chú ==
Chú giải 1: Abbate, Inventing the Internet (Sáng tạo Internet), trang 8
Chú giải 2: Norberg, O'Neill, Transforming Computer Technology (Biến đổi kỹ thuật điện toán), trang 166
Chú giải 3: Hafner, Where Wizards Stay Up Late, (Nơi các thiên tài thức khuya) trang 69, 77
Chú giải 4: A History of the ARPANET (Lịch sử của ARPANET), Chương III, trang 132, Phần 2.3.4
== Đọc thêm ==
Arthur Norberg, Judy E. O'Neill, Transforming Computer Technology: Information Processing for the Pentagon, 1962-1982 (Johns Hopkins University, 1996) pp. 153–196
Biến đổi kỹ thuật điện toán: Xử lý tin học trong Lầu Năm Góc, 1962-1982 (Trường đại học Johns Hopkins, 1996) trang 153-196.
Tác giả: Arthur Norberg và Judy E. O'Neill
A History of the ARPANET: The First Decade (Bolt, Beranek and Newman, 1981)
Lịch sử của mạng ARPANET: Thập kỷ niên đầu tiên (Công ty BBN, 1981)
Katie Hafner, Where Wizards Stay Up Late: The Origins of the Internet (Simon and Schuster, 1996)
Nơi các thiên tài thức khuya: nguồn gốc của Internet (Nhà xuất bản 'Simon and Schuster', 1996)
Tác giả: Katie Hafner
Janet Abbate, Inventing the Internet (MIT Press, Cambridge, 1999) pp. 36–111
Sáng tạo Internet (Báo của trường đại học MIT tại thành phố Cambridge, 1999) trang 36-111.
Tác giả: Janet Abbate
Peter H. Salus, Casting the Net: from ARPANET to Internet and Beyond (Addison-Wesley, 1995)
Quăng lưới: từ ARPANET đến Internet và hơn thế nữa (Nhà xuất bản Addison-Wesley, 1995)
Tác giả: Peter H. Salus
M. Mitchell Waldrop, The Dream Machine: J. C. R. Licklider and the Revolution That Made Computing Personal (Viking, New York, 2001)
Cái máy của mơ tưởng: J. C. R. Licklider và cuộc cách mạng làm ra máy tính cá nhân (Nhà xuất bản Viking, thành phố Nữu Ước, 2001).
Tác giả: M. Mitchell Waldrop
=== Nhưng công trình tham chiếu kỹ thuật chi tiết ===
Larry Roberts and Tom Merrill, Toward a Cooperative Network of Time-Shared Computers (Fall AFIPS Conference, October 1966)
Tiến đến một mạng lưới cộng tác các máy tính phân thì (Hội nghị Fall AFIPS, tháng 10 năm 1966).
Tác giả: Larry Roberts và Tom Merrill
Larry Roberts, Multiple computer networks and intercomputer communication (ACM Symposium on Operating System Principles. October 1967)
Tổ hợp của nhiều mạng lưới vi tính và sự truyền thông liên kết giữa các máy vi tính (Hội nghị chuyên đề về Nguyên tắc hệ điều hành của ACM, tháng 10 năm 1967).
Tác giả: Larry Roberts
D. W. Davies, K. A. Bartlett, R. A. Scantlebury, and P. T. Wilkinson. A digital communications network for computers giving rapid response at remote terminals (ACM Symposium on Operating Systems Principles. October 1967)
Mạng lưới truyền thông dùng kỹ thuật số cho những máy tính có độ phản ứng nhanh biểu hiện tại các thiết bị cuối (Hội nghị chuyên đề về Nguyên tắc hệ điều hành của ACM, tháng 10 năm 1967).
Tác giả: D. W. Davies, K. A. Bartlett, R. A. Scantlebury, và P. T. Wilkinson.
Frank Heart, Robert Kahn, Severo Ornstein, William Crowther, David Walden, The Interface Message Processor for the ARPA Computer Network (1970 Spring Joint Computer Conference, AFIPS Proc. Vol. 36, pp. 551–567, 1970)
Bộ điều hành thông điệp giao diện cho mạng lưới vi tính của ARPA (Hội nghị của Spring Joint Computer, biên bản lưu của AFIPS, tập 36, trang 551-567, năm 1970).
Tác giả: Frank Heart, Robert Kahn, Severo Ornstein, William Crowther và David Walden
Stephen Carr, Stephen Crocker, Vinton Cerf. Host-Host Communication Protocol in the ARPA Network (1970 Spring Joint Computer Conference, AFIPS Proc. Vol 36, pp. 589–598, 1970)
Giao thức truyền thông từ máy chủ đến máy chủ trong mạng lưới ARPA (Hội nghị của Spring Joint Computer, biên bản lưu của AFIPS tập 36, trang 589-598, năm 1970).
Tác giả: Stephen Carr, Stephen Crocker và Vinton Cerf
Severo Ornstein, Frank Heart, William Crowther, S. B. Russell, H. K. Rising, and A. Michel, The Terminal IMP for the ARPA Computer Network (1972 Spring Joint Computer Conference, AFIPS Proc. Vol. 40, pp. 243–254, 1972)
Thiết bị cuối IMP trong mạng lưới vi tính của ARPA (Hội nghị của Spring Joint Computer, biên bản lưu của AFIPS, tập 40, trang 243-254, năm 1972).
Tác giả: Severo Ornstein, Frank Heart, William Crowther, S. B. Russell, H. K. Rising, và A. Michel
John McQuillan, William Crowther, Bernard Cosell, David Walden, and Frank Heart, Improvements in the Design and Performance of the ARPA Network (1972 Fall Joint Computer Conference, AFIPS Proc. Vol. 41, Pt. 2, pp. 741–754, 1972)
Những cải tiến trong thiết kế và hiệu xuất của mạng lưới do ARPA xây dựng (Hội nghị của Fall Joint Computer, biên bản lưu của AFIPS tập 41, phần 2, trang 741-754, năm 1972).
Tác giả: John McQuillan, William Crowther, Bernard Cosell, David Walden, và Frank Heart
Feinler, E.; Postel, Jon B. ARPANET Protocol Handbook (Network Information Center, Menlo Park, 1978)
Sổ tay giao thức của ARPANET (Trung tâm tin tức về mạng lưới truyền thông, Menlo Park, năm 1978).
Tác giả: Feinler, E.; Postel và Jon B.
Lawrence Roberts, The Evolution of Packet Switching (Proceedings of the IEEE, November, 1978)
Sự tiến hóa của chuyển mạch gói dữ liệu (Biên bản lưu của IEEE, tháng 11 năm 1978)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
ARPANET Maps 1967 to 1977
Looking back at the ARPANET effort
The Computer History Museum Images of ARPANET from 1964 onwards.
A Brief History of the Internet
Paul Baran and the Origins of the Internet
Leonard Kleinrock's Personal History/Biography
Personal anecdote of the first message ever sent over the ARPANET
Len Kleinrock on the Origins (subscribers only)
Internet Chronology by Larry Roberts
The Faces in Front of the Monitors
Computer Networks: The Heralds of Resource Sharing (1972 ARPANET documentary film viewable online at Google Video) |
đồng hồ thông minh.txt | Đồng hồ thông minh hay còn gọi là smartwatch là đồng hồ đeo tay vi tính hóa với chức năng như tăng cường thời gian duy trì và thường được so sánh với thiết bị kỹ thuật số cá nhân (PDA). Trong khi những phiên bản đầu tiên có thể thực hiện những công việc cơ bản như tính toán, dịch hay chơi trò chơi thì đồng hồ thông minh hiện đại là một chiếc "máy tính đeo tay" hiệu quả. Rất nhiều đồng hồ thông minh chạy các ứng dụng điện thoại di động, trong khi đó một số lượng nhỏ chạy hệ điều hành của điện thoại di động hoạt động như các máy nghe nhạc hiện đại, cung cấp khả năng nghe đài, nghe nhạc và thu hình các tập tin cho người dùng thông qua một tai nghe Bluetooth. Một số dòng đồng hồ thông minh, còn được gọi là điện thoại đồng hồ, trang bị đầy đủ tính năng điện thoại di động có thể thực hiện hoặc trả lời các cuộc gọi điện thoại.
Đồng hồ thông minh có thể bao gồm các tính năng như một máy ảnh, dụng cụ đo gia tốc, nhiệt kế, máy đo độ cao, thước đo, la bàn, đồng hồ bấm giờ, máy tính, điện thoại di động, màn hình cảm ứng, định vị GPS, bản đồ, đồ họa, loa, lịch, đồng hồ, SDcard, đồng hồ thông minh được công nhận là một thiết bị lưu trữ bằng máy tính và có chức năng sạc pin. Đồng hồ thông minh có thể được điều khiển thông qua tai nghe không dây, màn hình điều khiển, tia hồng ngoại, tai nghe, bộ điều biến, hoặc các thiết bị khác.
Một số loại đồng hồ thông minh có chức năng "đồng hồ thể thao" với các tính năng theo dõi hoạt động như trong đồng hồ GPS (loại đồng hồ thể thao đặc biệt được thiết kế cho một loại thể thao) với môn lặn, thể thao ngoài trời. Chức năng có thể bao gồm các chương trình đào tạo (khoảng thời gian), thời gian một vòng, hiển thị tốc độ, đơn vị GPS theo dõi, thời gian lặn, theo dõi nhịp tim, khả năng tương thích cảm biến Cadence, và khả năng tương thích với các chuyển động thể dục thể thao.
Giống như các loại máy tính khác, một chiếc đồng hồ thông minh có thể thu thập thông tin từ các cảm biến bên trong hoặc bên ngoài. Nó có thể kiểm soát, hoặc lấy dữ liệu từ dụng cụ hoặc các máy tính khác. Nó có thể hỗ trợ công nghệ không dây như Bluetooth, Wi-Fi và GPS.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu ===
Chiếc đồng hồ kỹ thuật số đầu tiên Pulsar ra mắt vào năm 1972 được sản xuất bởi Hamilton Watch Company. Thương hiệu "Pulsar" được mua lại bởi Seiko năm 1978. Năm 1982, đồng hồ Pulsar (NL C01) được phát hành có thể lưu trữ 24 số, đây là chiếc đồng hồ đầu tiên với bộ nhớ có thể lập trình. Với sự ra đời của máy tính cá nhân vào những năm 1980, Seiko bắt đầu phát triển đồng hồ với khả năng tính toán. Đồng hồ Data 2.000 đi kèm với một bàn phím bên ngoài để nhập dữ liệu. Dữ liệu được đồng bộ hóa từ bàn phím đến đồng hồ thông qua khớp nối điện từ (nối không dây). Cái tên bắt nguồn từ khả năng lưu trữ 2000 ký tự. D409 là dòng Seiko đầu tiên với khả năng nhập dữ liệu trên bề mặt (thông qua một bàn phím nhỏ) và màn hình ma trận điểm. Bộ nhớ nhỏ với 112 chữ số. Được phát hành lần đầu vào năm 1984 với màu vàng, màu bạc và màu đen. Những mô hình này được tiếp nối bởi nhiều người khác trong những năm 1980, đáng chú ý nhất là "RC Series":
Trong những năm 1980, Casio đã bắt đầu thành công khi đưa ra thị trường dòng sản phẩm "đồng hồ máy tính", khi thêm vào khả năng tính toán. Đáng chú ý nhất là ngân hàng hệ thống dữ liệu Casio. Tân phẩm "đồng hồ trò chơi", chẳng hạn như đồng hồ trò chơi Nelsonic, cũng đã được sản xuất bởi Casio và các công ty khác.
=== Dòng Seiko RC ===
RC-1000 Wrist Terminal là mô hình Seiko đầu tiên giao tiếp được với một máy tính và được phát hành vào năm 1984. Nó tương thích với hầu hết các máy tính cá nhân phổ biến của thời gian đó, bao gồm cả Apple II, II + và IIe, Commodore 64, máy tính IBM, NEC 8201, máy tính màu Tandy, Model 1000, 1200, 2000 và TRS-80 Model I, III, 4 và 4p.
RC-20 Wrist Computer được phát hành vào năm 1985 dưới tên thương hiệu chung "Seiko Epson". Nó có bộ vi xử lý SMC84C00 8-bit Z-80; 8 KB ROM và 2 KB bộ nhớ RAM. Ứng dụng cho lập kế hoạch, ghi nhớ, thời gian trên thế giới và 4 tính năng của máy tính(cộng, trừ, nhân, chia). Màn hình đa tiết điểm LCD hiển thị 42 × 32 điểm ảnh, và quan trọng hơn là màn hình cảm ứng. Giống như RC-1000, nó có thể được kết nối với một máy tính cá nhân thông qua dây cáp phù hợp. Điểm đáng chú ý ở chỗ nó có thể được lập trình, mặc dù màn hình nhỏ và lưu trữ có hạn đã hạn chế nghiêm trọng phát triển ứng dụng của nó.
Biểu đồ RC-4000 Data phát hành vào năm 1985, được mệnh danh là "thiết bị đầu cuối máy tính nhỏ nhất thế giới". Nó có 2 KB dung lượng lưu trữ. RC-4500 (1985), còn được gọi là Wrist Mac, có các tính năng giống như RC-4000, nhưng sáng hơn, màu sắc sặc sỡ hơn.
=== Đồng hồ Linux ===
Đồng hồ thông minh Linux đầu tiên được trình bày tại IEEE ISSCC2000, 07 tháng 2 năm 2000, Steve Mann đã được đặt tên là "cha đẻ của máy tính có thể đeo". Đồng hồ thông minh Linux cũng xuất hiện trên trang bìa và bài viết chính của trang LJ Issue 75.
Tháng 6 năm 2000, IBM trưng bày mẫu thử nghiệm đồng hồ đeo tay chạy Linux. Phiên bản ban đầu chỉ pin chỉ có 6 tiếng, mà sau này được mở rộng đến 12 tiếng. Nó gồm 8MB bộ nhớ và chạy Linux 2.2. Thiết bị này sau đó đã được nâng cấp với dụng cụ đo gia tốc, cơ cấu rung, vân tay cảm ứng. IBM bắt đầu cộng tác với Citizen Watch Co để tạo ra các "WatchPad". Các tính năng WatchPad 1,5 là 320 × 240 màn hình QVGA và chạy Linux 2.4. Nó cũng có phần mềm lịch, Bluetooth, 8 MB RAM và 16 MB bộ nhớ flash. Citizen hy vọng tiếp thị đến sinh viên và doanh nhân, với giá bán lẻ khoảng 399 USD. Tuy nhiên, dự án này đã bị dừng lại vào khoảng năm 2001-2002.
=== 2003 ===
Công ty đồng hồ Fossil, Inc. phát hành Fossil Wrist PDA chạy Palm OS.
=== 2004 ===
Microsoft phát hành đồng hồ thông minh SPOT. SPOT là viết tắt của Smart Personal Objects Technology, một sáng kiến của Microsoft để cá nhân hoá các thiết bị điện tử gia dụng và các thiết bị khác. Chiếc đồng hồ này được kỳ vọng có thể cung cấp thông tin trong nháy mắt, nơi các thiết bị khác sẽ phải cần nhúng và thao tác nhiều hơn. SPOT Watch có độ phân giải đơn sắc 90 × 126 điểm ảnh màn hình.
=== 2013 ===
Thiết bị phân tích người dùng Avi Greengart, từ công ty nghiên cứu Current Analysis, cho rằng năm 2013 có thể là "năm của đồng hồ thông minh", "thiết bị đủ nhỏ và đủ rẻ" và nhiều người tiêu dùng sở hữu điện thoại thông minh muốn tương thích với thiết bị đeo. Google Glass một dạng công nghệ đeo, có thể phát triển thành một ngành kinh doanh trị giá 6 tỷ USD hàng năm và theo các báo cáo của truyền thông tháng 7 năm 2013 cho thấy rằng phần lớn nhà sản xuất thiết bị điện tử lớn đã đánh giá thấp công dụng đồng hồ thông minh tại thời điểm công bố. Giá bán lẻ của một chiếc đồng hồ thông minh có thể là hơn 300 USD, cộng thêm chi phí dữ liệu, trong khi chi phí tối thiểu của các thiết bị điện thoại thông minh liên kết có thể là 100USD.
Tính đến 05 tháng 7 năm 2013, danh sách các công ty được tham gia vào các hoạt động phát triển đồng hồ thông minh bao gồm Acer, Apple, BlackBerry, Foxconn / Hon Hai, Google, LG, Microsoft, Qualcomm, Samsung, Sony và Toshiba. Một số thiếu sót đáng chú ý trong danh sách này bao gồm HP, HTC, Lenovo, và Nokia. Nhà báo khoa học và công nghệ Christopher Mims xác định các điểm sau đây liên quan đến tương lai của smartwatches:
Kích thước vật lý của đồng hồ thông minh có thể sẽ lớn.
Tuổi thọ pin không đủ là một vấn đề đang diễn ra cho các nhà phát triển đồng hồ thông minh. Tuổi thọ pin của thiết bị tại thời điểm công bố là 3-4 ngày và tuổi thọ sẽ giảm bớt nếu chức năng được bổ sung thêm.
Công nghệ màn hình mới sẽ được phát minh là kết quả của nghiên cứu về đồng hồ thông minh.
Mức độ thành công của đồng hồ thông minh là không thể đoán trước.
S.T. của Acer Liew cho biết trong một cuộc phỏng vấn với trang web tiện ích Anh Pocket-Lint, "... Tôi nghĩ rằng tất cả các công ty tiêu dùng nên nhìn vào thiết bị đeo. Thiết bị đeo không phải là mới... nó chỉ đã không phát nổ theo cách mà nó cần. Nhưng cơ hội của hàng tỷ đô la xứng đáng cho ngành công nghiệp".
Tính đến 04 tháng 9 năm 2013, ba loại đồng hồ thông minh mới đã được đưa ra: Samsung Galaxy Gear, Sony SmartWatch 2, và Qualcomm Toq PHTL.
Trong một cuộc phỏng vấn tháng 9 năm 2013, người sáng lập Pebble, Eric Migicovsky nói rằng công ty của ông không quan tâm đến bất kỳ sự chào hàng nào nhưng tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn tháng 11 năm 2013 rằng công ty của ông đã bán được 190.000 mô hình đồng hồ thông minh, phần lớn trong số đó đã được bán sau chiến dịch Kickstarter.
== So sánh phần cứng đồng hồ thông minh ==
== Danh sách đồng hồ thông minh đã sản xuất ==
== So sánh đồng hồ thông minh ==
== Xem thêm ==
Moto 360
Samsung Gear S
== Tham khảo == |
ninh hạ.txt | Ninh Hạ (giản thể: 宁夏; phồn thể: 寧夏; bính âm: Níngxià; Wade-Giles: Ning-hsia), tên đầy đủ Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ (giản thể: 宁夏回族自治区, phồn thể: 寧夏回族自治區; bính âm: Níngxià Huízú Zìzhìqū), là một khu tự trị của người Hồi của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nằm ở cao nguyên Hoàng Thổ Tây Bắc, sông Hoàng Hà chảy qua một khu vực rộng lớn của khu vực này. Thủ phủ của Ninh Hạ là Ngân Xuyên.
== Lịch sử ==
Ninh Hạ và những vùng phụ cận đã bị sáp nhập vào nhà Tần từ thế kỷ thứ ba TCN. Trải qua các triều đại nhà Hán và nhà Đường đã có thêm nhiều cư dân nơi khác đến đây định cư. Đến thế kỉ 11 tộc Đảng Hạng lập ra nhà Tây Hạ ở nơi sau này là phần rìa lãnh thổ của nhà Tống. Về sau vùng này nằm dưới sự thống trị của người Mông Cổ sau khi Thành Cát Tư Hãn đánh chiếm Ngân Xuyên đầu thế kỷ 13. Từ lúc người Mông Cổ bị đánh đuổi, ảnh hưởng của họ nhạt dần, người Đột Quyết theo đạo Hồi bắt đầu di chuyển dần vào Ninh Hạ từ phía tây. Điều này tạo nên sự căng thẳng không thể tránh khỏi giữa Hán và Hồi trong những thế kỷ sau.
Vào năm 1914, Ninh Hạ hợp nhất với tỉnh Cam Túc; tuy nhiên, đến năm 1928, lại bị tách ra và trở thành một tỉnh riêng. Trong những năm 1914 đến 1918, anh em Tây Bắc Tam Mã thống trị Ninh Hạ (ngoài ra còn có tỉnh Thanh Hải và Cam Túc). Năm 1958, Ninh Hạ chính thức trở thành khu tự trị Trung Quốc. Năm 1969, biên giới Ninh Hạ được mở rộng về phía Bắc chiếm một phần của khu tự trị Nội Mông, nhưng đã dời về như cũ vào năm 1979.
== Địa lý ==
Ninh Hạ giáp các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và Khu Tự trị Nội Mông.
Sông Hoàng Hà chảy qua Ninh Hạ. Tuy nhiên, Ninh Hạ là một khu vực khá khô khan và giống sa mạc, nên tưới tiêu đóng vai trò rất quan trọng trong nghề trồng củ khởi (một loài cây được trồng chủ yếu trong vùng).
Sa mạc Tengger ở Shapotou nằm ở Ninh Hạ.
Vào ngày 16 tháng 12 năm 1920, trận động đất Haiyuan, mạnh 8.6 độ rích-te, có tâm 36.6°B 105.32°Đ / 36.6; 105.32, đã gây nên 1 chuỗi những vụ sụt lở đất, gây thiệt mạng cho khoảng 200.000 người. Trên 600 vụ sụt lở đất hoàng thổ đã tạo ra hơn 40 hồ nước mới.
Vào năm 2006, những bức ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy có một sa bàn bên trong Ninh Hạ, cách Ngân Xuyên 35 km về phía tây bắc, gần làng Huangyangtan là sự mô phỏng chính xác vùng Aksai Chin của Ấn Độ. Nó có đầy đủ các ngọn núi, ngọn đồi, những thung lũng, các hồ nước. Mục đích của sa bàn này được Trung Quốc dùng làm gì cho đến nay vẫn chưa biết được.
== Khí hậu ==
Ninh Hạ cách biển 1200 cây số (km) nên có khí hậu lục địa với nhiệt độ mùa hè trung bình nằm trong khoảng 17 và 24°C trong tháng 7 và nhiệt độ mùa đông trung bình giữa -7 và -10 °C vào tháng giêng. Nhiệt độ tuyệt đối theo mùa có thể đạt 39 °C vào mùa hè và -30 °C trong mùa đông. Nhiệt độ chênh lệch trong một ngày hè có thể lên đến 17 °C. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 190 đến 700 millimet, tập trung ở phía nam vùng.
== Các đơn vị hành chính ==
Ninh Hạ được chia ra thành 5 thành phố cấp địa khu:
== Dân tộc ==
Ninh Hạ là nơi sinh sống của người Hồi, một trong những dân tộc thiểu số Trung Quốc được chính quyền công nhận. Trong khi một số người có diện mạo khó phân biệt được với Hán (tộc người chính của Trung Quốc), những người Hồi khác vẫn còn những đặt điểm của cư dân vùng Trung Á như da sạm, mắt nhạt màu, thêm vào đó là những bộ đồ thụng đặc trưng của đạo Hồi. Do là một điểm dừng trên con đường tơ lụa, cư dân Ninh Hạ chịu nhiều ảnh hưởng của những thương nhân đi qua dây, trong đó có cả đạo Hồi họ mang theo.
== Kinh tế ==
Ninh Hạ là tỉnh có GDP thấp thứ 3 (Tây Tạng xếp chót) ở Trung Hoa đại lục. GDP danh nghĩa của tỉnh trong năm 2004 chỉ có 46.04 tỷ Nhân dân tệ (US$5.71 tỷ) và thu nhập bình quân đầu người là 6.640 Nhân dân tệ (US$801), đóng góp 0.3% vào nền kinh tế quốc gia.
Ninh Hạ là vùng chính ở Trung Quốc trồng cây củ khởi.
== Du lịch ==
Một trong những điểm du lịch chính ở Ninh Hạ là khu mộ Tây Hạ nổi tiếng, tọa lạc 30 km về phía tây Ngân Xuyên. Di tích 9 ngôi mộ của các vị hoàng đế Tây Hạ và 200 ngôi mộ khác năm trong khu vực 50-km². Những điểm đến nổi tiếng khác ở Ninh Hạ còn có Hạ Lan Sơn, 108 dagoba bí ẩn, chùa đôi of Baisikou và trạm nghiên cứu xa mạc ở Shapatou.
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Ningxia regional government website (simplified Chinese)
Large map of Ningxia
(tiếng Trung) Ningxia-Hui Autonomous Region statistics for 2005 at China.com.cn
Article on Wolfberries, with image of fruit from Ningxia being dried in the sun after picking |
hypena obsitalis.txt | Hypena obsitalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Địa Trung Hải Basin và ở Cận Đông và Trung Đông, phía nam tới Sahara.
Sải cánh dài 28–36 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 7 đến tháng 8 và từ tháng 9 đến tháng 10 in Europe. Có từ 2 lứa trở lên trong năm.
Ấu trùng ăn các loài Parietaria và Urtica.
== Hình ảnh ==
== Liên kết ngoài ==
The Acronictinae, Bryophilinae, Hypenodinae và Hypeninae of Israel
UKmoths
Phương tiện liên quan tới Hypena obsitalis tại Wikimedia Commons
== Chú thích == |
francis bacon.txt | Francis Bacon, Tử tước St Alban thứ nhất (22 tháng 1 năm 1561 - 9 tháng 4 năm 1626) là một nhà triết học, chính khách và tiểu luận người Anh. Bacon được phong tước hiệp sĩ năm 1603. Ông được biết đến là một nhân vật quan trọng của Cách mạng khoa học và được xem là cha của chủ nghĩa duy nghiệm và phương pháp khoa học. Mặc dù sự nghiệp chính trị của ông bị tiêu tan trong nỗi ô nhục, sức ảnh hưởng của ông vẫn còn mãi theo thời gian cùng với các tác phẩm của ông. Đáng chú ý nhất với vai trò một người ủng hộ triết học và một người thực hành phương pháp khoa học trong cuộc cách mạng khoa học.
Bacon được gọi là cha đẻ của chủ nghĩa kinh nghiệm. Những tác phẩm của ông đã hình thành và phổ biến hóa phương pháp luật quy nạp đáp ứng cho yêu cầu khoa học, và thường được gọi là "Phương pháp Bacon", hay đơn giản là "phương pháp khoa học".
Yêu cầu của ông về một phương pháp nghiên cứu sự vật hiện tượng tự nhiên một cách có kế hoạch đã đánh dấu một bước chuyển mới trong khuôn khổ mỹ từ và lý thuyết cho khoa học, phần lớn phương pháp mà ông phát minh ra vẫn còn tồn tại bao hàm trong những quan niệm về phương pháp luận đúng đắn ngày nay.
Bacon được phong tước hiệp sĩ năm 1603, ông được phong tước Nam Tước Verulam năm 1618 và Tử Tước St. Alban năm 1621. Vì ông không có người thừa kế, sau khi ông qua đời cả hai tước hiệu đó đều bị xóa sổ. Ông chết vì mắc chứng bệnh viêm phổi trong khi đang nghiên cứu sự ảnh hưởng của đông lạnh đối với quá trình bảo quản thịt.
== Cuộc đời ==
=== Thời thơ ấu và niên thiếu ===
Francis Bacon sinh ra tại York House Strand, Luân Đôn, Anh. Francis là con út trong gia đình có 5 người con của quan đại thủ ấn Nicholas Bacon. Mẹ của Francis là vợ thứ hai của Nicholas, bà là Ann Cooke Bacon, con gái của Anthony Cooke.
Các nhà viết tiểu sử đều có ý kiến rằng Francis được giáo dục tại nhà từ rất sớm. Cũng theo họ, sức khỏe của Francis cả trong và sau giai đoạn này đều không được tốt. Cậu bé Francis bước vào Học viện Chúa Ba ngôi, Cambridge khi được 12 tuổi, tức năm 1573. Cậu ở cùng với người anh trai có tên là Anthony Bacon trong vòng 3 năm liền.
Và cũng tại nơi này, một sự kiện quan trọng đã xảy ra đối với Francis. Cậu được gặp Nữ hoàng đầy quyền uy lúc đó là Elizabeth Đệ nhất, người khâm phục chất thần đồng của Francis và gọi cậu là "quan thủ ấn trẻ".
=== Trưởng thành ===
Vào tháng 2 năm 1579, ông Nicholas Bacon qua đời. Điều này có ảnh hưởng rất xấu đến người con trai Francis. Trước khi ra đi, ông Nicholas cố gắng dành dụm ra một số tiền lớn để từ đó, con trai út của ông có thể được cha mua một điền trang. Nhưng rất tiếc là ông đã qua đời khi làm công việc đó và hậu quả là Francis chỉ nhận được một phần năm số tiền đó mà thôi. Và càng đáng nói hơn, đây không phải là hậu quả mang tính ngắn hạn. Bước vào cuộc đời trong sự thiếu thốn, việc đi vay tiền đối với Francis là chuyện như cơm bữa vậy.
Francis Bacon trở thành một nghị viên khi 23 tuổi, trải qua nhiều chức vụ như là phó trưởng lý, tổng trưởng lý, quan đại thủ ấn và đại pháp quan. Tháng 3 năm 1626, Bacon đến Luân Đôn.
=== Qua đời ===
Francis Bacon qua đời theo cái cách mà không ai có thể ngờ tới. Trong một ngày tuyết rơi, Bacon bỗng nghĩ ra cách bảo quản thịt và thế là ông bắt tay bằng thử nghiệm nhồi tuyết vào một con gà. Tuy nhiên, đang giữa chừng của cuộc thử nghiệm này, ông đã bị nhiễm trùng và hệ quả là ông đã bị sưng phổi; ông qua đời vào ngày 9 tháng 4 tại Highgate, Anh. Gia sản mà Francis Bacon để lại không hề nhỏ và khó cho ai đó muốn thanh toán hộ: 22 nghìn bảng Anh.
== Sự nghiệp ==
=== Tóm tắt chung ===
==== Bối cảnh lịch sử ====
Francis Bacon sống trong hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt của Anh và cả thế giới: thời kỳ Phục hưng, thời kỳ mà những giá trị của nhà thờ đang phải chống chọi với những giá trị mới đang nổi lên của rất nhiều tri thức.
Vị trí của Bacon trong lịch sử triết học Anh lúc đó cũng rất đặc biệt: Nước Anh có khoảng trống về thời gian không hề nhỏ. Đã khoảng hai thế kỷ đến khi Bacon sinh ra kể từ khi nhà triết học nổi tiếng John Wycliffe qua đời vào năm 1384 và gần hai thế kỷ và 50 năm đến Bacon cho xuắt bản tác phẩm Sự Thăng tiến của Kiến thức kể từ khi William xứ Ockham qua đời vào năm 1347. Không chỉ đặc biệt về vị trí thời gian, Bacon còn đặc biệt về vị trí tư tưởng. Nước Anh nói chung và Bacon nói riêng chứng kiến sự tồn tại ba luồn tư tưởng:
Chủ nghĩa kinh viện của Aristotle: Cho đến thời đại Bacon, luồng tư tưởng này đã trở thành nguồn cung cấp sức sống triết học Anh. Dù có sự phản đối logic học của Aristotle của một nhóm người ở Cambridge vào khoảng thời gian mà Bacon còn là một sinh viên, nhưng sự phản bác đó, như lời Bacon nói, chỉ tìm cái đơn giản nhân danh tu từ học chứ không hề nhắm đến cái trọng yếu của thực hành tự nhiên.
Chủ nghĩa nhân văn Cơ Đốc: Đây là một lực lượng tích cực, nó biểu hiện ra sự đối nghịch với chủ nghĩa khổ hạnh truyền thống của nhà thờ. Những người theo trào lưu này đều ủng hộ cái đẹp của nghệ thuật, ngôn ngữ và tự nhiên và tỏ ra khá thờ ơ với suy sư của tôn giác.
Chủ nghĩa bí truyền: Nói một cách đơn giản đây chỉ là những nghiên cứu về sự huyền bí. Đối tượng nghiên cứu của những nhà triết học theo trường phái này đó là sự tương đồng thần bí giữa vũ trụ và con người và các lực lượng siêu nhiên chi phối các quy luật tự nhiên.
==== Nét khái quát về nghiên cứu ====
Có một sự mâu thuẫn ở Francis Bacon, đó là: Ông ngưỡng mộ con người của Aristotle, nhưng lại phản bác tư tưởng của nhà triết học người Hy Lạp. Ông cho rằng nó vô ích, sai lầm và quá nhiều điều gây tranh cãi. Sự tường trình triết lý nhân văn và công dân của ông chỉ là kỹ nghệ thực hành hơn là lý thuyết đặc điểm chủ yếu của nghiên cứu lịch sử và luật.
=== Những nghiên cứu chính ===
==== Triết học ====
===== Ngẫu tượng =====
Đây là một trong những vấn đề mà Bacon muốn nhìn lại về triết học Aristotle. Ông có bàn về những sai lầm của ocn người khi truy tìm tri thức. Trước đó hàng thế kỷ, Aristotle có bàn đến về ảo tưởng logic, thường thấy trong các suy luận, nhưng Bacon tìm thấy những nguyên nhân tâm lý đằng sau những suy luận. Những sai lầm như thế này cũng được Bacon sáng tạo ra một thuật ngữ dành cho chúng: sự ngẫu tượng.
Bacon phân loại các ngẫu tượng thành bốn xu hướng chính:
Ngẫu tượng bộ lạc: Đó là những khiếm khuyết trí tuệ, nhân loại thường mắc phải ngẫu tượng này.
Ngẫu tượng hang động: Đó là lập dị trí tuệ của cá nhân.
Ngẫu tượng chợ búa: Đó là những sai lầm thông qua ngôn ngữ. Bacon đặc biệt quan tâm đến sự hời hợt của những dị biệt xuất phát từ ngôn ngữ ăn nói hàng ngày, qua đó ông xếp những vật khác nhau về căn bản vào một nhóm và tách những vật giống nhau về bản chất thành nhiều nhóm. Ông còn quan tâm đến sức mạnh của ngôn ngữ khi lôi kéo con người vào những cuộc tranh luận vô nghĩa.
Ngẫu tượng sân khấu: Bacon muốn nhắc đến những hệ thống triết học sai lầm, biết rằng trong các hệ thống này luôn có sự thừa nhận tất cả tín điều của bất kỳ cập độ khái quát. Luận điểm phê phán của Bacon ở đây sống động như đời sống nghệ thuật nhưng không sâu sắc như một triết học thực sự. Bacon có điều muón nói về chủ nghĩa hoài nghi mà những người theo chủ nghĩa nhân văn viện tới. Tuy nhiên, ông không bàn đến việc những người theo chủ nghĩa hoài nghi dính dáng đến ngờ vực suy luận diễn dịch. Ông không ngần ngại bỏ qua việc tư tưởng mà họ theo chỉ áp dụng cho khả năng của các giác quan chứ không áp dụng cho suy luận.
Bacon nghĩ rằng khi những ngẫu tượng bị xóa bỏ, trí tuệ sẽ tự do tìm kiếm những tri thực thông qua thực nghiệm. Ông cho rằng không có gì tồn tại, ngoài các sự vật, hoạt động theo quy luật. Quy luật đó được ông gọi là "những hình thái".
===== Quy nạp khoa học =====
Bacon có nêu ra tiến trình của quy nạp khoa học như sau:
Đầu tiên con người sẽ tìm kiếm những trường hợp mà ở đó có những sự thay đổi, biết rằng với những sự thay đổi đó dẫn đến những sự thay đổi khác. Lúc này, ta cần cố tìm ra những bằng chứng tích cực, những bằng chứng có thể dẫn đến kết quả của hình thái trên.
Tiếp theo, chúng ta xem xét những bằng chứng tiêu cực, tức là những thứ mà khi vắng mặt hình thái, sự thay đổi về chất không xảy ra. Trong khi tiến hành các phương pháp này, đièu cốt yếu là tìm ta "những bằng chứng thực quyền" về mặt thực nghiệm, những ví dụ đặc biệt nổi bậ và tiêu biểu của hiện tượng đang nghiên cứu.
Cuối cùng, có thể sẽ hiện diện thứ biến hóa kiểu "lúc đậm lúc nhạt", nhiệm vụ của chúng ta lúc này đó là tìm ra lý do của sự biến hóa đó.
===== Kinh viện-không cần thiết =====
Cuộc luận chiến của Bacon với chủ nghĩa kinh viện đầy phép tu từ. Ông cho rằng, vì gây hoài nghi dai dẳng, chủ nghĩa này đã mất đi uy tín của mình. Dưới con mắt của Bacon, chủ nghĩa kinh viện hiện lên như kỹ thuật ngôn từ duy trì những lý lẽ lơ lửng bằng những dị biệt giả tạo được rút ra. Sự yếu đuối của triết học Aristotle là quá tin vào sự bền vững và hiển nhiên của chân lý vốn là những kết luận xuất phát từ trực giác. Bacon có thành công lớn khi cho rằng tri thức là thứ được tích lũy, khác hẳn ý kiến của nhà thờ cho rằng tri thức được lưu giữ. Như vậy, ông dần xa quan điểm rằng mọi thứ con người cần biết đã được Kinh thánh hay Aristotle nói ra hết cả rồi.
===== Huyền bí-cũng không cần thiết =====
Bacon cho rằng, những tường trình cá nhân là không đủ, đặc biệt vì con người dễ bị hấp dẫn bởi những thứ kỳ lạ. Những quan sát củng cố lý thuyết phải lặp đi lặp lại. Ông lên tiếng ủng hộ việc nghiên cứu tự nhiên, đồng thời ủng hộ cả sự hợp tác và làm việc có phương pháp.
==== Chính trị ====
Bacon muốn tách nhà nước ra khỏi tôn giáo như tách khoa học với tôn giáo với tầm lòng nhiệt tình. Ông ủng hộ chế độ quân chủ mà Nhà Tudor đang xây dựng và chống lại những ngăn trở mang tính pháp lý của nó. Và, với tâm lý không chuộng tôn giáo lắm, thật không ngạc nhiên khi ông không đủ sức để nhìn thấy sự tồn tại của quyền hành thần thánh mà vua James I của Anh yêu thích.
==== Luật học ====
Những nghiên cứu của Bacon về luật là những nghiên cứu thực về lĩnh vực này, khác hẳn với kiểu chú giải ra vẻ am hiểu của nhiều nhà triết học đương thời.
==== Giáo dục ====
Bacon viết rất ít về giáo dục, chủ yếu là ông công kích căn bệnh ám ảnh với từ ngữ của chủ nghĩa kinh viện.
=== Ảnh hưởng ===
Phương pháp khoa học của Bacon đã gây chú ý cho nhiều người hậu bối, tiêu biểu là John Herschel và Johnn Stuart Mill, những người cách ông đến hơn hai thế kỷ, những người sẽ khái quát các kết quả của ông và sử dụng chúng như là nền tảng của phương pháp khoa học mới.
John Amos Comenius đã thừa nhận ảnh hưởng của Bacon trong luận điểm của mình. Ông cho rằng, trẻ em nên học những điều thực tế và những cuốn sách thực tế.
== Sách chuyên khảo ==
A complete chronological Bibliography of Francis Bacon. Many of Bacon's writings were only published after his death in 1626.
Notes on the State of Christendom (1582)
Letter of Advice to the Queen (1585–6)
An Advertisement Touching the Controversies of the Church of England (1586–9)
Dumb show in the Gray's Inn Christmas Revels (1587–8)
Misfortunes of Arthur (1588)
A Conference of Pleasure: In Praise of Knowledge, In Praise of Fortitude, In Praise of Love, In Praise of Truth (1592)
Certain Observations made upon a Libel (1592)
Temporis Partus Maximus ('The Greatest Birth of Time'; 1593)
A True Report of the Detestable Treason intended by Dr Roderigo Lopez (1594)
The Device of the Indian Prince: Squire, Hermit, Soldier, Statesman (1594)
Gray's Inn Christmas/New Year Revels: The High and Mighty Prince Henry, Prince of Purpoole (1594–5; see Gesta Grayorum)
The Honourable Order of the Knights of the Helmet (1595; see Gesta Grayorum)
The Sussex Speech (1595)
The Philautia Device (1595)
Maxims of the Law (1596)
Essays (1st ed., 1597)
The Colours of Good and Evil (1597)
Meditationes Sacrae (1597)
Declaration of the Practices and Treasons attempted and Committed by the late Earl of Essex (1601)
Valerius Terminus of the Interpretation of Nature (1603)
A Brief Discourse touching the Happy Union of the Kingdoms of England and Scotland (1603)
Cogitations de Natura Rerum ('Thoughts on the Nature of Things', 1604)
Apologie concerning the late Earl of Essex (1604)
Certain Considerations touching the better pacification and Edification of the Church of England (1604)
The Advancement and Proficience of Learning Divine and Human (1605)
Temporis Masculus Partus ('The Masculine Birth of Time', 1605)
Filium Labyrinthi sive Formula Inquisitionis (1606)
In Felicem Memoriam Elizabethae ('In Happy Memory of Queen Elizabeth', (1606)
Cogitata et Visa de Interpetatione Naturae ('Thoughts and Conclusions on the Interpretation of Nature', 1607)
Redargiutio Philosophiarum ('The Refutation of Philosophies') (1608)
The Plantation of Ireland (1608–9)
De Sapientia Veterum ('Wisdom of the Ancients', 1609)
Descriptio Globi Intellectualis ('A Description of the Intellectual Globe') (1612)
Thema Coeli ('Theory of the Heavens', 1612)
Essays (2nd edition – 38 essays, 1612)
Marriage of the River Thames to the Rhine (masque performed by Gray's Inn and Inner Temple lawyers on the river and in Westminster Hall in celebration of the marriage of Princess Elizabeth to Prince Frederick, Elector Palatine, 1613)
Charge… touching Duels (1614)
The Masque of Flowers (performed by Gray's Inn before the King at Whitehall to honour the marriage of the Earl of Somerset to Frances Howard, Countess of Essex, 1614)
Instauratio Magna ('Great Instauration', 1620)
Novum Organum Scientiarum ('New Method', 1620)
Historia Naturalis ('Natural History', 1622)
Introduction to six Natural Histories (1622)
Historia Ventorum ('History of Winds', 1622)
History of the Reign of King Henry VII (1622)
Abcedarium Naturae (1622)
De Augmentis Scientiarum (1623)
Historia Vitae et Mortis ('History of Life and Death', 1623)
Historia Densi et Rari ('History of Density and Rarity', 1623)
Historia Gravis et Levis ('History of Gravity and Levity', 1623)
History of the Sympathy and Antipathy of Things (1623)
History of Sulphur, Salt and Mercury (1623)
A Discourse of a War with Spain (1623)
An Advertisement touching an Holy War (1623)
A Digest of the Laws of England (1623)
Cogitationes de Natura Rerum ('Thoughts on the Nature of Things', 1624)
De Fluxu et Refluxu Maris ('Of the Ebb and Flow of the Sea', 1624)
Essays, or Counsels Civil and Moral (3rd/final edition – 58 essays, 1625)
Apothegms New and Old (1625)
Translation of Certain Psalms into English Verse (1625)
Revision of De Sapientia Veterum ('Wisdom of the Ancients', 1625)
Inquisitio de Magnete ('Enquiries into Magnetism', 1625)
Topica Inquisitionis de Luce et Lumine ('Topical Inquisitions into Light and Luminosity', 1625)
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Andreae, Johann Valentin (1619). “Christianopolis”. Description of the Republic of Christianopolis.
Farrell, John (2006). “Chapter 6: The Science of Suspicion.”. =Paranoia and Modernity: Cervantes to Rousseau. Cornell University Press. ISBN 978-0801474064.
Farrington, Benjamin (1964). The Philosophy of Francis Bacon. University of Chicago Press. Contains English translations of
Temporis Partus Masculus
Cogitata et Visa
Redargutio Philosphiarum
Heese, Mary (1968). “Francis Bacon's Philosophy of Science”. Trong Vickers, Brian. Essential Articles for the Study of Francis Bacon. Hamden, CT: Archon Books. tr. 114–139.
Roselle, Daniel; Young, Anne P. “Chapter 5: The 'Scientific Revolution' and the 'Intellectual Revolution'”. Our Western Heritage.
Spedding, James; Ellis, Robert Leslie; Heath, Douglas Denon (1857–1874). The Works of Francis Bacon, Baron of Verulam, Viscount St Albans and Lord High Chancellor of England (15 volumes). London.
Rossi, Paolo (1978). Francis Bacon: from Magic to Science. Taylor & Francis.
== Liên kết ngoài ==
Tài liệu lưu trữ liên quan đến Francis Bacon liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh
Bacon by Thomas Fowler (1881) public domain @GoogleBooks
Francis Bacon - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy ngày Juergen Klein
Các tác phẩm của Francis Bacon tại Dự án Gutenberg
The Francis Bacon Society
Contains the New Organon, slightly modified for easier reading
Francis Bacon of Verulam. Realistic Philosophy and its Age (1857) by Kuno Fischer và John Oxenford in English |
puntarenas.txt | Puntarenas là thủ phủ và là thành phố lớn nhất trong tỉnh Puntarenas, Costa Rica, bên bờ Thái Bình Dương. Puntarenas là một trong những vùng du lịch quan trọng của Costa Rica với bờ biển có nhiều đảo và vịnh, các bãi biển, hoạt động du lịch của thành phố này mang lại 2,111 tỷ USD ngoại hối trong năm 2010.
Thành phố này được kết nối với San José bằng đường bộ và đường sắt với chiều dài khoảng 99–120 km.
Cảng chính của nó đồng thời là cảnh quan trọng của quốc gia này là Caldera. Các mặt hàng quan trọng xuất qua cảng này như chuối, cà phê và các sản phẩm chế biến khác. Từ đây có những chuyến phà từ Puntarenas đến bán đảo Nicoya,
== Khí hậu ==
Puntarenas nhìn chung có khí hậu nóng hơn thung lũng trung tâm Costa Rica, với nhiệt độ ca trong ngày từ 30 °C đến 35 °C trong các tháng lạnh nhất và nóng nhất.
== Liên kết ngoài ==
Puntarenas Province | Costa Rica | Beaches, sun, resorts, lodging, service, events and lifestyle
Sitio Oficial Comercial de Puntarenas - Costa Rica
www.radiopuntarenas.net La Radio Digital de Puntarenas
Ankita
== Tham khảo == |
thăng long thành hoài cổ.txt | Thăng Long thành hoài cổ là bài thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan, một nữ sĩ ở thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.
== Nguyên tác ==
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường .
== Xuất xứ & chủ đề ==
Bà Huyện Thanh Quan làm bài thơ này, sau năm 1802, khi mà Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long mất địa vị trung tâm của đất nước về chính trị và văn hóa.
Chủ đề: Bài thơ tả cảnh ngụ tình. Cảnh thì tang thương. Tình thì hoài cổ. GS. Phạm Thế Ngũ viết: Bài này nói lên nỗi đoạn trường của tác giả trước cảnh hoang tàn của cố đô đất Bắc.
== Giải thích từ khó hiểu ==
Hí trường: Cảnh loạn lạc trong thời chiến
Tinh sương: Tinh là sao, sương là sương giá. Mấy tinh sương là mấy năm.
Thu thảo: Cỏ mùa thu.
Tịch dương: Mặt trời lúc chiều tối.
Đoạn trường: Đứt ruột, ý nói đau đớn.
== Nhận xét ==
Trích:
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy:
Bà Huyện Thanh Quan sống trong một thời đại (lớn) đầy biến động. Nhà Lê/Mạc, chúa Trịnh/Nguyễn, Tây Sơn/Nguyễn Ánh liên tiếp xuất hiện và liên tiếp sụp đổ...Bởi vậy thi nhân trách con tạo (gây chi) biến cuộc đời thành sàn diễn của những đổi thay. Thoạt tiên vẫn những đối lập xưa/nay ấy: Xưa là lối xe ngựa đi về nhộn nhịp thì nay chỉ có cỏ thu phủ dày; xưa là lâu đài đường bệ mà nay chỉ còn trơ lại nền cũ dưới ánh chiều tà. Rồi xuất hiện thêm một đối lập khác nữa tự nhiên/nhân tạo. Ngày tháng (tuế nguyệt) trôi đi kéo theo những đổi thay (tang thương), nhưng đó là những đổi thay của thế giới nhân tạo, thế giới người, còn tự nhiên (đá, nước) thì vẫn bất biến (trơ gan, cau mặt). Soi vào tấm gương vĩnh hằng của tự nhiên, đời sống nhân tạo từ xưa đến nay (kim cổ) càng trở nên giả tạm và thoáng chốc. Con người đối diện với cảnh tượng này (cảnh đấy, người đây) được thức nhận, tỉnh táo hơn so với con người ảo giác ở chùa Trấn Bắc (xem bài "Qua chùa Trấn Bắc"). Nhưng, vì thế, cũng đau khổ hơn. Và cô đơn hơn.
GS. Phạm Thế Ngũ:
Nhìn chung, thơ Bà Huyện Thanh Quan, đều có vô số những cái hay: chữ dùng khéo, chọn lọc, thích đáng, đối rất chỉnh, rất thần tình, ý hàm súc, lời trau chuốt, gọn, đẹp...Riêng bài thơ Thăng Long thành hoài cổ", cổ kính mà thanh thoát nhẹ nhàng; ước lệ mà có hồn, có cảm. Sự phối hợp của ý tưởng với thanh âm đã gây nên một thi điệu tự nhiên, uyển chuyển, hấp dẫn; khác xa những dòng chữ chắp nối công phu mà vẫn lủng củng, không hồn của đa số các bài thơ tiền Nguyễn.
== Chú thích ==
== Sách tham khảo ==
Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển Hai). Quốc học tùng thư xuất bản, không ghi năm xuất bản.
Nhiều tác giả, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
Nhiều tác giả, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (thế kỷ 13-nửa đầu thế kỷ 19). Nhà xuất bản Văn học, 1978. |
kofi annan.txt | Kofi Atta Annan [kofi ænən] phát âm như "Khô-phi A-tha A-nân"; sinh vào năm 1938, là nhà ngoại giao Ghana và là Tổng Thư ký thứ 7 của Liên Hiệp Quốc từ năm 1997 đến cuối năm 2006.
== Thời thơ ấu ==
Annan sinh ngày 8 tháng 4 năm 1938 tại Kusami, Ghana, con của Reginald và Victoria Annan. Kofi nghĩa là "cậu bé sinh vào ngày thứ Sáu". Annan là con song sinh, một sự kiện được xem là đặc biệt trong văn hoá Ghana. Người em song sinh của ông được đặt tên Efua Atta, qua đời năm 1991. Trong tiếng Akan, Efua có nghĩa là "cô bé sinh vào ngày thứ Sáu" và Atta có nghĩa là "sinh đôi".
Gia đình Annan thuộc thành phần ưu tú của đất nước; ông nội, ông ngoại và bác của Annan là tù trưởng bộ tộc. Cha của Annan mang hai dòng máu Asante và Fante; mẹ ông thuộc bộ tộc Fante. Cha của Annan trong một thời gian dài là giám đốc xuất khẩu cho công ty cacao Lever Brothers.
== Gia đình ==
Annan kết hôn với Nane Maria Annan, một luật sư và hoạ sĩ người Thụy Điển, bà là cháu họ của Raoul Wallenberg (nhà ngoại giao thuộc gia tộc Wallenberg danh giá tại Thụy Điển). Hai trong số ba người con của họ, Kojo Annan và Ama Annan, là con của Titi Alakija, người vợ trước của Annan. Annan và Alakija ly hôn vào cuối thập niên 1970. Người con thứ ba, Nina Cronstedt de Groot, là con của người chồng trước của Nane Annan. Kojo Annan là tâm điểm của dư luận vào năm 2005 vì dính líu vào vụ tai tiếng đổi dầu lấy lương thực của Iraq.
== Học vấn ==
Từ năm 1954 đến năm 1957, Annan theo học tại trường Mfansipim, một trường nội trú thuộc giáo hội Giám Lý, thành lập vào thập niên 1870 tại Cape Coast. Năm 1957, khi Annan tốt nghiệp, Ghana là thuộc địa đầu tiên của Anh thuộc châu Phi hạ Sahara giành được độc lập.
Năm 1958, Annan bắt đầu học chuyên ngành kinh tế tại trường đại học khoa học và kỹ thuật Kumasi. Annan giành được học bổng của Tổ chức Ford để hoàn thành chương trình cử nhân vào năm 1961 tại Đại học Macalester tại St. Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Trong thời gian 1961–1962, Annan theo học tại Học viện Cao học Quan hệ quốc tế tại Geneva, Thụy Sĩ, về sau ông đến học tại trường Quản lý Sloan thuộc Viện Công nghệ Massachusetts và được cấp bằng thạc sĩ.
Annan thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Fante, các phương ngữ thuộc ngôn ngữ Akan và các ngôn ngữ Phi châu khác.
== Sự nghiệp ==
Annan bắt đầu làm việc cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một tổ chức của Liên Hiệp Quốc, vào năm 1962. Từ 1974 đến 1976 ông về Ghana làm giám đốc du lịch.
Sau đó, ông trở lại Liên Hiệp Quốc đảm trách chức vụ Phụ tá Tổng Thư ký chuyên trách các lãnh vực quản lý nhân lực và phối hợp an ninh từ 1987 đến 1990; Hoạch định chương trình, ngân quỹ và tài chính từ 1990 đến 1992; và phụ trách các chiến dịch gìn giữ hoà bình từ tháng 3 năm 1993 đến tháng 2 năm 1994.
Trong tác phẩm Shake Hands with the Devil: The Failure of Humanity in Rwanda (Bắt tay với quỷ dữ: Sự thất bại của nhân loại tại Rwanda), tướng Roméo Dallaire cho rằng Annan đã tỏ ra thụ động đối với cuộc diệt chủng năm 1994 tại Rwanda. Ông nói rằng Annan, lúc ấy là phụ tá tổng thư ký đặc trách các chiến dịch gìn giữ hoà bình, không chịu gởi quân Liên Hiệp Quốc đến can thiệp hầu giải quyết cuộc tranh chấp, cũng như không chịu cung cấp thêm viện trợ.
Đến tháng 10 năm 1995, Annan được bổ nhiệm làm đặc phái viên cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tại Nam Tư cũ, phục vụ trong thời gian 5 tháng, rồi trở về đảm trách chức vụ phụ tá tổng thư ký vào tháng 4 năm 1996.
== Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc ==
Ngày 13 tháng 12 năm 1996, Annan đắc cử tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, bốn ngày sau ông được phê chuẩn bởi Đại hội đồng, và bắt đầu nhiệm kỳ của mình ngày 1 tháng 1 năm 1997. Annan thế chỗ tổng thư ký người Ai Cập Boutros Boutros-Ghali vừa mãn nhiệm và trở nên nhân vật da màu đầu tiên đến từ một quốc gia châu Phi đảm nhận vị trí lãnh đạo Liên Hiệp Quốc.
Annan tái đắc cử và bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai ngày 1 tháng 1 năm 2002. Sự kiện này được xem như là một ngoại lệ. Theo thông lệ, đại diện từ các châu lục tuần tự đảm nhận chức vụ này trong hai nhiệm kỳ. Vì người tiền nhiệm của Annan, Ghali, đến từ châu Phi, nên theo lệ thường, Annan chỉ nên phục vụ một nhiệm kỳ. Dù vậy, Annan đã có thể bảo đảm cho mình được tái bổ nhiệm cho nhiệm kỳ thứ hai.
Tháng 4 năm 2001, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đưa ra lời hiệu triệu năm điểm "Tiến tới hành động" nhắm vào đại dịch HIV/AIDS. Ông xem việc chống lại đại dịch này là một ưu tiên cá nhân, như là tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và là một người thường. Ông đưa ra sáng kiến thành lập Quỹ Y tế và AIDS toàn cầu, nhằm khuyến khích gia tăng mức chi tiêu cho mặt trận đối đầu với cuộc khủng hoảng HIV/AIDS tại các quốc gia đang phát triển.
Ngày 10 tháng 12 năm 2001, Annan và Liên Hiệp Quốc được trao giải Nobel Hoà bình, "vì những nỗ lực giúp kiến tạo một thế giới an bình hơn và được tổ chức tốt hơn".
Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng Thư ký Annan chứng kiến các diễn biến của cuộc chiến Iraq, ông kêu gọi Hoa Kỳ và Anh không nên hành động mà không có sự hậu thuẫn của Liên Hiệp Quốc. Năm 2004, Annan gọi cuộc chiếm đóng Iraq là bất hợp pháp.
Tháng 5 năm 2004, Annan nhận một bản báo cáo từ Ban Nội chính Văn phòng Liên Hiệp Quốc (OIOS), xác nhận Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc Ruud Lubbers có trách nhiệm về những cáo buộc quấy rối tình dục đối với một nữ viên chức thuộc quyền. Tuy nhiên, ngày 15 tháng 7 năm 2004, Annan tuyên bố Lubbers vô tội, mặc dù Lubbers viết một bức thư cho người phụ nữ này có nội dung, theo nhận xét của nhiều người, được hiểu là một lời đe doạ.
Tháng 12 năm 2004, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ thuộc đảng Cộng hoà Norm Coleman kêu gọi Annan từ chức sau khi xuất hiện các bản báo cáo cho rằng con trai của ông, Kojo Annan, nhận những khoản tiền từ một công ty Thụy Sĩ, Cotecna Inspection SA. Công ty này đã giành được những hợp đồng béo bở từ chương trình đổi dầu lấy lương thực của Liên Hiệp Quốc. Annan cho mở cuộc điều tra về cáo giác này. Uỷ ban điều tra, dưới quyền của Paul Volcker, trong bản báo cáo tháng 3 năm 2005, không đưa ra kết luận rõ ràng nào, chỉ nhận xét rằng lẽ ra cuộc điều tra nên được tiến hành sớm hơn. A. Yakolev, viên chức phụ trách đấu thầu của Liên Hiệp Quốc, vào ngày 8 tháng 8 năm 2005, ra đầu thú với FBI; sau đó, tại toà án Manhattan, New York, Yakolev thú nhận đã nhận "hàng trăm ngàn đô la" từ các công ty làm ăn với chương trình đổi dầu lấy lương thực, ông chấp nhận ba tội danh: nhận hối lộ, gian lận tài chính và rửa tiền. Vụ án này gợi lại những nghi vấn liệu ông tổng thư ký Liên Hiệp Quốc có biết những việc làm của con trai mình hay không [1].
Tuy nhiên, bên ngoài Hoa Kỳ, Annan ít gặp chống đối hơn; ông có được sự ủng hộ của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Ngày 21 tháng 3 năm 2005, Annan đệ trình Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bản báo cáo về sự tiến bộ "Tự do hơn nữa" (In Larger Freedom). Annan ủng hộ sáng kiến mở rộng hội đồng bảo an cùng với một loạt các kế hoạch cải tổ Liên Hiệp Quốc khác.
== Đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc ==
Kofi Annan ủng hộ Phó Tổng Thư ký Mark Malloch Brown, người đã công khai chỉ trích các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ trong bài diễn văn đọc ngày 6 tháng 6 năm 2006: "Hiện nay đang thịnh hành chủ trương ngấm ngầm sử dụng Liên Hiệp Quốc như là một công cụ ngoại giao thay vì ủng hộ tổ chức này chống lại những chỉ trích từ bên trong...Bằng cách này hay cách khác, chúng ta có thể đánh mất LHQ". Người ta nói rằng Đại sứ Mỹ tại LHQ vào lúc ấy, John R. Bolton, đã nói với Annan trên điện thoại: "Tôi đã biết ông từ năm 1989 cho đến nay, tôi muốn bảo cho ông biết đây là sai lầm tệ hại nhất của một viên chức cao cấp LHQ mà tôi từng thấy suốt trong thời gian này."
== Đề xuất cải cách Liên Hiệp Quốc ==
Ngày 21 tháng 3 năm 2005, Annan đệ trình Đại hội đồng LHQ bản báo cáo In Larger Freedom. Ông đề nghị mở rộng Hội đồng Bảo an và thêm những cải cách cho LHQ. Ngày 7 tháng 3 năm 2006, Annan đệ trình Đại hội đồng đề án kiểm tra toàn bộ Ban Thư ký LHQ. Bản báo cáo cải cách có tựa đề: "Đầu tư vào LHQ để có một tổ chức toàn cầu hiệu quả hơn".
== Diễn văn từ biệt ==
Ngày 19 tháng 9 năm 2006, trước nhiều nhà lãnh đạo từ các quốc gia trên thế giới qui tụ về trụ sở LHQ ở New York, Annan đọc diễn văn từ biệt chuẩn bị cho ngày chấm dứt nhiệm kỳ thứ hai của ông vào 31 tháng 12 năm 2006, trong đó ông nhắc đến ba vấn nạn lớn của thế giới, "nền kinh tế không công bằng, tình trạng hỗn loạn, và sự phát triển khuynh hướng xem thường nhân quyền và thể chế pháp trị", những vấn đề mà ông tin là "không những không được giải quyết mà ngày càng tồi tệ hơn" suốt trong thời gian ông đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký LHQ. Ông xem tình hình bạo loạn tại châu Phi và sự đối đầu giữa Israel và khối Ả Rập là những vấn đề cần quan tâm.
Ngày 11 tháng 12 năm 2006, trong bài diễn văn cuối cùng trong cương vị Tổng Thư ký LHQ đọc tại Thư viện Tổng thống Harry S. Truman tại Independence, Missouri, Annan nhắc đến vai trò lãnh đạo của Truman trong tiến trình thành lập LHQ. Annan kêu gọi Hoa Kỳ trở về với chính sách ngoại giao đa phương của Tổng thống Truman và đi theo cương lĩnh của Truman: "trách nhiệm của các cường quốc là phục vụ chứ không phải thống trị các dân tộc khác trên thế giới", rõ ràng là nhắm vào chính sách đơn phương của chính phủ George W. Bush. Ông cũng nói rằng Hoa Kỳ cần duy trì những cam kết của mình đối với nhân quyền, "ngay cả trong cuộc chiến chống khủng bố".
Ông là hội viên danh dự của Câu lạc bộ Madrid. Năm 2007, ông được trao Giải Bruno Kreisky.
== Trích dẫn ==
Hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, chúng ta đang chia sẻ với nhau cùng một số phận. Chúng ta chỉ có thể làm chủ số phận của mình khi nào chúng ta cùng nhau đối diện với nó. Đó là lý do tại sao chúng ta có Liên Hiệp Quốc.
–Ngày 31 tháng 12 năm 1999, thông điệp cho thiên niên kỷ mới.
Quý vị có thể làm nhiều điều qua các biện pháp ngoại giao, nhưng quý vị có thể làm nhiều điều hơn nữa nếu các biện pháp ngoại giao được hỗ trợ bởi vũ lực.
–Ngày 24 tháng 2 năm 1998, nói về khả năng sử dụng vũ lực để buộc Saddam Hussein tuân thủ các nghị quyết Liên Hiệp Quốc.
== Xem thêm ==
Liên Hiệp Quốc
Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh; cũng có sẵn bằng tiếng Ả Rập, Hoa, Pháp, Nga, và Tây Ban Nha)
Tiểu sử chính thức của LHQ (tiếng Anh; cũng có sẵn bằng tiếng Ả Rập, Hoa, Pháp, Nga, và Tây Ban Nha)
Tiểu sử chính thức của Quỹ Hỗ trợ Nobel
Annan Kofi (1938 -) Tổng thư ký Liên Hiệp quốc, Sagant Phan, tiếng Việt |
vương quốc anh.txt | Vương quốc Anh (tiếng Anh: Kingdom of England) là quốc gia có chủ quyền đã từng tồn tại từ năm 927 đến năm 1707 ở phía tây bắc lục địa châu Âu. Ở thời đỉnh cao, Vương quốc Anh đã từng kéo dài tới hai phần ba phía nam Đảo Anh (bao gồm cả Anh và xứ Wales ngày nay) và một vài hòn đảo nhỏ xa trung tâm; hiện nay thuộc thẩm quyền pháp lý của Anh và xứ Wales. Vương quốc này có biên giới đất liền với Vương quốc Scotland ở phía bắc.
Hoàng cung lúc đầu đặt ở Winchester, Hampshire, nhưng từ thế kỉ 12 trở đi, Luân Đôn thực tế đã trở thành thủ đô của quốc gia này.
== Tên gọi ==
Người Anglo-Saxons tự gọi mình là Engle hoặc Angelcynn, tên gốc của người Angles. Vùng đất họ sinh sống được gọi là vùng đất Engla, có nghĩa là "vùng đất của người Anh" bởi Æthelweard Latin hóa Anglia, từ gốc chỉ vùng Anglia vetus, quê hương của các Angles (được Bede gọi là Angulus). Từ vùng đất Engle được đọc chệch thành England bởi âm tiết trùng thời trung cổ (Engle-land, Engelond). Tên Latin là Anglia hoặc đất Anglorum, Pháp cổ và Anglo-Norman gọi là Angleterre. Từ thế kỷ 14 England được sử dụng trong các tài liệu ám chỉ toàn bộ đảo Anh.
Tước hiệu chung cho tất cả các quân vương từ Æthelstan tới vua John là Rex Anglorum (tiếng Anh: King of the English, "vua của người Anh"). Canute Đại đế, vua Đan Mạch đã xưng ngôi là vua Anh (tiếng Anh: King of England). Trong thời gian người Norman kiểm soát (1066-1154) vẫn sử dụng tước hiệu là Rex Anglorum, và sử dụng thường xuyên là Rex Anglie (tiếng Anh: King of England, vua Anh). Trong triều đại nữ vương Matilda sử dụng tước hiệu Domina Anglorum (tiếng Anh: Lady of the English, Quý bà Anh). Từ triều đại vua John trở đi các tước hiệu khác được sử dụng tránh tước hiệu Rex hoặc Regina Anglie. Năm 1604 vua James I, người thừa kế ngai vàng đã thông qua tước hiệu vua Anh Quốc (tiếng Anh: King of Great Britain), sử dụng tiếng Anh thay vì tiếng Latin). Nghị viện Anh và Scotland không công nhận tước hiệu tới Đạo luật Liên hiệp năm 1707.
== Lịch sử ==
=== Anh Anglo-Saxon ===
Vương quốc Anh nổi lên sau sự thống nhất của vương quốc Anglo-Saxon gọi là Thất quốc Triều đại (tiếng Anh: Heptarchy) gồm: Đông Anglia, Mercia, Northumbria, Kent, Essex, Sussex, và Wessex. Cuộc xâm lược của người Viking thế kỷ IX phá vỡ sự thống nhất của vương quốc Anh và nơi ở của người Anglo-Saxon. Tới thế kỷ thứ X các vùng đất Anh được tái thống nhất bởi vua Æthelstan năm 927.
Trong thời kỳ thất quốc, vị vua mạnh nhất trong số các vương quốc Anglo-Saxon là Bretwalda, được công nhận thượng vương so với các vua khác. Sự suy yếu của Mercia khiến Wessex mạnh lên. Wessex thu phục Kent và Sussex năm 825. Vua của Wessex chiếm quyền lực cao hơn so với các vương quốc khác trong thế kỷ thứ IX. Năm 827, Northumbria quy phục Egbert của Wessex tại Dore. Như vậy Egbert trong thời gian ngắn đã trở thành vị vua đầu tiên để cai trị quốc gia liên hiệp Anh.
Năm 886, Alfred Đại đế tái chiếm London, được coi là bước ngoặt trong triều đại của ông. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi rằng "tất cả mọi người Anh (tất cả Angelcyn) không chịu sự làm thần dân của Danes quy thuận dưới vua Alfred". Asser ghi rằng "Alfred, vua của Anglo-Saxons, khôi phục thành phố London huy hoàng... và làm nó thành nơi sinh sống lần nữa". Alfred "phục hồi" thành phố vừa được tái chiếm và được bao quanh bởi các bức tường La Mã, xây dựng cảng trên sông Thames, và xây dựng thành phố mới. Trong thời gian này Alfred tự phong tước hiệu "vua của Anglo-Saxon" cho mình.
Trong những năm sau Northumbria nhiều lần thuộc quyền kiểm soát của vua Anh và quân xâm lược Na Uy, nhưng sau đó được kiểm soát bởi người Anh Eadred năm 954, hoàn thành việc thống nhất nước Anh. Vào khoảng thời gian này, Lothian, phần phía bắc của Northumbria (Roman Bernicia), đã được nhượng lại cho Vương quốc Scotland. Ngày 12/7/927 các quốc vương của Anh đã tập trung tại Eamont, Cumbria công nhận Æthelstan là vua của người Anh. Đây có thể được coi là nước Anh "ngày thành lập" của Anh, mặc dù quá trình thống nhất đất nước đã thực hiện gần 100 năm.
Trong triều đại của Æthelred Bất tài (978-1016), Sweyn I của Đan Mạch tấn công xâm lược nhiều lần, đặc biệt năm 1013. Nhưng khi Sweyn I qua đời năm 1014, Æthelred Bất tài phục vị. Năm 1015 con của Sweyn I là Cnut Đại đế đã phát động cuộc xâm lược mới. Cuộc chiến kết thúc khi con của Æthelred Bất tài là Edmund Phi thường và Cnut ký hiệp ước trong đó tất cả xứ Anh trừ vùng Wessex sẽ được kiểm soát bởi Cnut. Sau cái chết của Edmund ngày 30/11/1016, Cnut cai trị vương quốc Anh như vị vua duy nhất. Sự cai trị của vương triều Đan Mạch kéo dài tới 6/1042 khi Harthacnut qua đời, ông là con của Cnut và Emma của Normandy (vợ của Æthelred Bất tài) và ông không có người thừa kế. Người thừa kế là Edward, Xưng tội là con của Æthelred Bất tài và Emma của Normandy. Vương quốc Anh độc lập khỏi người Đan Mạch.
=== Norman chinh phạt ===
Thời gian hòa bình kéo dài tới khi vua Edward, Xưng tội qua đời tháng 1/1066. Harold II là em rể đã lên ngôi, nhưng người em họ là William Chinh phạt, Công tước xứ Normandy cũng tuyên bố kế vị. William đã phát động cuộc chiến xâm lược Anh và đưa quân đổ bộ vào vùng Sussex ngày 28/9/1066. Tin tức được truyền tới Harold, khi ông và quân của mình đóng tại York sau chiến thắng chống lại quân Na Uy trận Stamford Bridge (25/9/1066). Ông quyết định tấn công quân Norman ở Sussex và đã hành quân về phía nam, mặc dù quân đội không được nghỉ sau trận chiến với quân Na Uy. Quân của Harold và William đã giao tranh tại trận đánh Hastings (14/10/1066), trong đó quân đội Anh hoặc Fyrd đã bị đánh bại. Harold và 2 người em của mình bị giết, William nổi lên là người chiến thắng. William sau đó chinh phục Anh với rất ít sự phản kháng. Ông đã không sát nhập nước Anh vào Công quốc Normandy. Vì tại Pháp ông chỉ là công tước, nên buộc phải trung thành với Philip I của Pháp, trong khi tại Anh độc lập, ông có thể cai trị mà không bị can thiệp. Ông lên ngôi vào ngày 25/12/1066 tại Westminster Abbey, London.
=== Tiền Trung Cổ ===
Trong năm 1092, William II đã lãnh đạo cuộc xâm lược vương quốc Strathclyde, của người Celtic, bây giờ là phía tây nam Scotland và Cumbria. Ông đã chiếm được khu vực hiện tại thuộc hạt Cumbria đến Anh; sáp nhập và trở thành vùng biên giới truyền thống của Anh (trừ những thay đổi thường xuyên và tạm thời).
Trong 1124, Henry I nhượng lại khu vực hiện tại là đông nam Scotland (còn được gọi Lothian) vào Vương quốc Scotland, bù lại vua của Scotland phải trung thành với ông. Khu vực này của đất của người Anh kể từ năm 927, và trước đó từng là một phần của người Anglia thuộc Vương quốc Northumbria. Lothian sau này trở thành thủ đô của Scotland, Edinburgh. Sự sắp xếp này sau đó đã được hoàn tất năm 1237 bởi Hiệp ước York.
Công quốc Aquitaine đã liên minh với Vương quốc Anh bởi Henry II, khi đã kết hôn với Eleanor, nữ công tước xứ Aquitaine. Vương quốc Anh và Công quốc Normandy vẫn trong liên minh cá nhân cho đến khi vua John Lackland, con trai vua Henry II và hậu duệ thứ năm của William I, mất lãnh thổ Công quốc vào tay Philip II của Pháp năm 1204. Một vài khu vực còn lại của Normandy, bao gồm các quần đảo Channel cùng với hầu hết công quốc Aquitaine vẫn do vua John kiểm soát.
Cho đến cuộc chinh phạt vương quốc Anh của người Norman, xứ Wales là phần độc lập của vương quốc Anglo-Saxon, mặc dù một số vị vua xứ Wales đã công nhận Bretwalda (biên niên sử của Anglo-Saxon). Ngay sau cuộc chinh phạt nước Anh của Norman, một số lãnh chúa Norman bắt đầu tấn công xứ Wales. Và họ đã chinh phạt, cai trị một số khu vực và công nhận tước vị vua của lãnh chúa Norman vua của Anh, nhưng với sự độc lập tại địa phương. Trong nhiều năm các "lãnh chúa biên giới" chinh phạt nhiều lần hơn nữa vào xứ Wales, chống lại sự phản kháng bởi các ông Hoàng xứ Wales khác nhau, người cũng công nhận tước vị vua của lãnh chúa Norman của nước Anh.
Edward I đánh bại Llywelyn ap Gruffudd, chinh phạt thực sự xứ Wales năm 1282. Ông đã lập tước hiệu Thân vương xứ Wales cho con trai cả của ông, vị vua tương lai Edward II, trong cuộc chinh phạt năm 1301. Edward I đã tấn công và phá hủy các lâu đài tráng lệ của xứ Wales như Conwy, Harlech, và Caernarfon; nhưng sự kiện này đã tái thống nhất dưới một người cai trị duy nhất các vùng đất Anh thuộc La Mã lần đầu tiên kể từ khi thành lập Vương quốc Jutes ở Kent vào thế kỷ thứ 5, khoảng 700 năm trước đó. Theo đó, đây là thời điểm rất quan trọng trong lịch sử của nước Anh thời trung cổ, khi nó tái lập liên kết với các tiền Saxon. Những liên kết này được khai thác cho mục đích chính trị để đoàn kết các dân tộc của vương quốc, bao gồm cả Anglo-Norman, dân chúng xứ Wales.
Ngôn ngữ Xứ Wales - xuất phát từ ngôn ngữ Anh, với ảnh hưởng Latin đáng kể - tiếp tục được phần lớn dân số của Xứ Wales nói trong ít nhất 500 năm sau đó, và vẫn là ngôn ngữ được sử dụng ở nhiều vùng.
=== Cuối Trung Cổ ===
Edward III là vị vua Anh đầu tiên tuyên bố lên ngôi vua Pháp. Sự tuyên bố của ông đã dẫn tới cuộc chiến trăm năm (1337-1453), cuộc tranh chấp giữu 5 vị vua của nước Anh thuộc dòng họ Plantagenet chống 5 vị vua Pháp thuộc dòng họ Capetian của Valois. Mặc dù quân Anh giành được nhiều chiến thắng, đã không thể vượt qua được sự vượt trội của quân Pháp về quân số, khả năng sử dụng chiến lược và súng đạn. Anh đã bị đánh bại tại trận Formigny năm 1450 và cuối cùng là tại trận Castillon năm 1453, mất hết lãnh thổ tại Pháp và chỉ giữ lại được thị trấn Calais.
Trong chiến tranh trăm năm đồng nhất Anh bắt đầu phát triển thay cho phân chia trước đây giữa lãnh chúa Norman và cá thể Anglo-Saxon. Đây là hậu quả của sự thù địch kéo dài trong dân tộc Pháp, trong đó các vị vua và các nhà lãnh đạo khác (đáng chú ý là sự uy tín của Joan of Arc) sử dụng phát triển ý thức văn hóa Pháp để giúp thu hút người dân đến với sự cai trị của họ. Người Anglo-Norman trở nên khác biệt với những người chủ yếu ở Pháp, họ chế giễu tính cổ xưa và ngôn ngữ pha tạp tiếng Pháp. Tiếng Anh cũng trở thành ngôn ngữ của các tòa án pháp luật trong thời gian này.
Vương quốc có ít thời gian để hồi phục trước cuộc chiến tranh của Hoa Hồng (1455-1487), một loạt các cuộc chiến dân sự tranh chấp ngôi vị giữa dòng họ Lancaster (biểu tượng là bông hồng đỏ) và dòng họ York (biểu tượng là hoa hồng trắng), là các chi khác nhau của vua Edward III. Cuộc chiến kết thúc khi Henry VII kết hôn Elizabeth xứ York, con gái của Edward IV, qua đó thống nhất các dòng Lancaster và York.
=== Thời kỳ Tudor ===
Xứ Wales được thiết lập hệ thống pháp lý và hành chính riêng biệt được thiết lập bởi vua Edward I vào cuối thế kỷ thứ 13. Đất nước bị chia cắt giữa lãnh chúa biên giới do lòng trung thành phong kiến với ngôi vua và ông Hoàng xứ Wales. Dưới chế độ quân chủ Tudor, Henry VIII thay thế luật pháp của xứ Wales tương đương của Anh (dưới Đạo Luật tại Wales 1535-1542). Wales bị sáp nhập vào Vương quốc Anh, và từ đó trở thành đại diện trong Nghị viện của Anh.
Trong 1530, Henry VIII đã chia cắt quyền lực của Giáo hội Công giáo La Mã trong vương quốc, thay thế các Giáo hoàng bằng người đứng đầu Giáo hội Anh và chiếm đất đai của giáo hội, tạo điều kiện cho việc thành lập Tin lành. Tác động của Anh lên Scotland, cũng chấp nhận Tin lành, trong khi các cường quốc lục địa khác, Pháp và Tây Ban Nha, sử dụng Công giáo La Mã.
Trong năm 1541, dưới thời trị vì của vua Henry VIII, Quốc hội Ireland tuyên bố ông là vua của Ireland, đưa Vương quốc Ireland vào liên hiệp chủ thể với Vương quốc Anh.
Calais, lãnh thổ còn lại cuối cùng của Vương quốc ở lục địa, đã bị chiếm năm 1558, dưới thời trị vì của Philip và Mary I. Kế vị của họ, Elizabeth I, củng cố Giáo hội Tin Lành mới của nước Anh. Bà cũng bắt đầu xây dựng sức mạnh hải quân của nước mình, trên cơ sở Henry VIII đã đặt ra. Năm 1588, hải quân mới của bà đã đủ đánh bại Armada của Tây Ban Nha, đang tìm cách xâm lược nước Anh để đưa một quốc vương Công giáo lên ngai vàng.
=== Trước giai đoạn hiện đại ===
Dòng họ Tudor kết thúc khi Elizabeth I qua đời ngày 24/3/1603. James I lên ngôi vua Anh và đưa liên minh Anh với Vương quốc Scotland. Mặc dù thống nhất ngôi vua, nhưng các vương quốc vẫn riêng biệt và độc lập: tình trạng này kéo dài trong hơn một thế kỷ.
==== Nội chiến và đứt quãng ====
Các vị vua dòng họ Stuart đã đánh giá cao sức mạnh của chế độ quân chủ Anh, và đã bị Nghị viện truất phế năm 1645 và 1688. Trong lần đầu tiên, Charles I đưa ra các hình thức thuế mới thách thức Nghị viện dẫn tới cuộc nội chiến Anh (1641-45), kết thúc nhà vua đã bị đánh bại, và chế độ quân chủ bị Oliver Cromwell bãi bỏ trong thời gian từ 1649-1660. Từ sau trở đi, quân chủ cai trị duy nhất theo nguyện vọng của Nghị viện.
Sau khi xét xử Charles I vào tháng 1/1649, các Nghị viện Rump đã thông qua một hành động tuyên bố nước Anh là một nước Cộng hòa này 19/5/1649. Các chế độ quân chủ và viện Quý tộc đã bị bãi bỏ, và vì vậy viện Thứ dân trở thành cơ quan lập pháp duy nhất trong chế độ mới, Hội đồng Nhà nước trở thành cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, quân đội vẫn tổ chức chi phối trong nước cộng hòa mới và nổi bật nhất là Oliver Cromwell. Chế độ Cộng hòa đã chiến đấu tại các cuộc chiến ở Ireland và Scotland để thiết lập sự chiếm đóng quân sự trong khối Cộng hòa.
Trong tháng 4/1653 Cromwell và các Grandees của quân đội kiểu mới thất vọng với các thành viên của Nghị viện Rump vi cho rằng họ sẽ không thông qua đạo luật để giải tán nghị viện Rump và để nghị viện đại diện mới được bầu. Nhóm của Cromwell đã quyết định dừng phiên họp của Rump bằng quân đội và giải tán nghị viện Rump.
Sau cuộc thử nghiệm với Hội đồng đề cử (Nghị viện Barebone), các Grandees trong quân đội, Hội đồng Nhà nước thông qua sự sắp xếp hiến pháp mới được gọi là văn kiện Chính quyền. Theo Văn kiện Chính quyền quyền hành do 1 Bảo hộ công (chức vụ được nắm giữ tới hết đời) và Quốc hội kéo dài tới 3 năm, với mỗi ghế có ít nhất 5 tháng. Điều 23 của văn kiện chính quyền nói rằng Oliver Cromwell là Bảo hộ công đầu tiên. Văn kiện chính quyền được thay thế bằng hiến pháp thứ hai (Khiêm nhường kiến nghị và Tư vấn) theo đó Bảo hộ công có thể đề cử người kế nhiệm ông. Cromwell đề cử con trai ông Richard và đã trở thành Bảo hộ công sau cái chết của ông vào ngày 3/9/1658.
==== Phục vị và cách mạng vinh quang ====
Richard tỏ ra bất lực và không thể duy trì quyền lực của mình. Ông từ chức tước hiệu của mình và về hưu vào thời kỳ khủng hoảng. Nghị viện Rump đã được tái lập và đã có thời kỳ thứ hai, nơi các quyền hành pháp vẫn thuộc Hội đồng của nhà nước. Nhưng lần phục hồi này của nền Cộng hòa cai trị tương tự như trước chế độ bảo hộ, được chứng minh là không ổn định, người đề xuất bị trục xuất, Charles II được phục vị năm 1660.
Sau khi phục vị nền quân chủ vào năm 1660, một nỗ lực của James II lại đưa Công giáo La Mã sau 1 thế kỷ bị dòng họ Tudors xóa bỏ, dẫn đến Cách mạng Vinh quang của năm 1688, trong đó ông đã bị Nghị viện phế truất. Ngôi vị sau đó đã được Nghị viện trao cho người kế vị theo giáo hội Anh con gái và cháu ngoại của James II là Mary II và William III.
==== Liên minh với Scotland ====
Tại Scotland, sự thu hút tài chính và một phần tháo gỡ lệnh trừng phạt thương mại Anh thông qua Đạo luật Alien 1705. Người Anh lo lắng về sự kế vị hoàng gia. William III qua đời năm 1702 đã dẫn đến sự lên ngôi của Anne em vợ của William III. Nhưng đứa con duy nhất của William III đã qua đời năm 1700 và đạo luật kế vị 1701 đã trao ngôi vị cho dòng họ Hanover theo tin lành. Tại Scotland việc kế vị cũng được áp dụng như tại Anh. Trước năm 1704 tại Scotland khủng hoảng Liên hiệp Ngôi vua diễn ra, với Đạo luật Scotland về an ninh cho phép Quốc hội Scotland lựa chọn ngôi vua khác, có thể với lần lượt chính sách độc lập trong chiến tranh châu Âu. Người Anh không muốn dòng họ Stuart lên ngôi của Scotland, cũng không muốn Scotland liên minh với quốc gia khác.
Một Hiệp ước Liên minh được chấp thuận ngày 22 tháng 7 năm 1706, và sau đó là Đạo luật Liên minh năm 1707 thành lập Vương quốc Liên hiệp Anh, sự độc lập của Anh và Scotland kết thúc tháng 1/1707. Luật Liên minh tạo ra hệ thống thuế quan và đồng tiền chung với điều kiện phù hợp với Đạo luật, mọi luật và các hành động vi phạm đều không có giá trị.
Nghị viện Anh và Scotland hợp nhất thành Nghị viện Liên hiệp Vương quốc Anh tại Westminster, Luân Đôn. Trong thời gian này Anh không hoạt động là quốc gia độc lập vì vậy không có chính phủ quốc gia. Luật pháp của Anh không bị ảnh hưởng, với thẩm quyền pháp lý Anh, xứ Wales, và Scotland tiếp tục có các luật và tòa án riêng của mình. Điều này tiếp tục tới năm 1801 kết hợp giữa Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland, hình thành các Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Năm 1922, Nhà nước tự do Irish ly khai khỏi Anh, dẫn đến sự đổi tên sau này thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len.
== Tham khảo == |
andrew jackson.txt | Andrew Jackson (15 tháng 3 năm 1767 - 8 tháng 6 năm 1845) là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 7(1829-1837) và đã thoát khỏi vụ ám sát năm 1835. Ông là tổng thống đầu tiên của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ. Trước khi đắc cử, Jackson từng là 1 nhà lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ ở Florida và đã chỉ huy quân đội Mỹ năm (1815) trong trận chiến New Orleans. Ông đánh bại John Quincy Adams trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1828. Trong nhiệm kỳ tổng thống cuối của Jackson, Chiến tranh Toledo (1835-1836) nổ ra, ông và quốc hội đã ép khiến bang Michigan bị khủng hoảng tài chính và phải đầu hàng bang Ohio (1836).
== Tham khảo ==
=== Tiểu sử ===
Brands, H. W. Andrew Jackson: His Life and Times (2005), scholarly biography emphasizing military career excerpt and text search
Brustein, Andrew. The Passions of Andrew Jackson. (2003). online review by Donald B. Cole
Hofstadter, Richard. The American Political Tradition (1948), chapter on Jackson. online in ACLS e-books
James, Marquis. The Life of Andrew Jackson Combines two books: The Border Captain and Andrew Jackson: Portrait of a President, 1933, 1937; winner of the Pulitzer Prize for Biography in 1938.
Meacham, Jon. American Lion: Andrew Jackson in the White House (2009), excerpt and text search
Parton, James. Life of Andrew Jackson (1860). Volume I, Volume III.
Remini, Robert V. The Life of Andrew Jackson. Abridgment of Remini's 3-volume monumental biography, (1988).
Andrew Jackson and the Course of American Empire, 1767–1821 (1977); Andrew Jackson and the Course of American Freedom, 1822–1832 (1981); Andrew Jackson and the Course of American Democracy, 1833–1845 (1984).
Remini, Robert V. The Legacy of Andrew Jackson: Essays on Democracy, Indian Removal, and Slavery (1988).
Remini, Robert V. Andrew Jackson and his Indian Wars (2001).
Remini, Robert V. "Andrew Jackson", American National Biography (2000).
Wilentz, Sean. Andrew Jackson (2005), short biography, stressing Indian removal and slavery issues excerpt and text search
=== Biên soạn lịch sử ===
Bugg Jr. James L. ed. Jacksonian Democracy: Myth or Reality? (1952), excerpts from scholars.
Mabry, Donald J., Short Book Bibliography on Andrew Jackson, Historical Text Archive.
Sellers, Charles Grier, Jr. "Andrew Jackson versus the Historians", The Mississippi Valley Historical Review, Vol. 44, No. 4. (March 1958), pp. 615–634. in JSTOR.
Taylor, George Rogers, ed. Jackson Versus Biddle: The Struggle over the Second Bank of the United States (1949), excerpts from primary and secondary sources.
Ward, John William. Andrew Jackson, Symbol for an Age (1962) how writers saw him.
=== Chuyên ngành nghiên cứu ===
Cave, Alfred A.. Abuse of Power: Andrew Jackson and the Indian Removal Act of 1830 (2003).
Gammon, Samuel Rhea. The Presidential Campaign of 1832 (1922).
Hammond, Bray. Andrew Jackson's Battle with the "Money Power" (1958) ch 8, of his Banks and Politics in America: From the Revolution to the Civil War (1954); Pulitzer prize.
Meacham, Jon (2008). American Lion. Random House, Inc. ISBN 978-1-4000-6325-3.
Latner Richard B. The Presidency of Andrew Jackson: White House Politics, 1820–1837 (1979), standard survey.
Ogg, Frederic Austin; The Reign of Andrew Jackson: A Chronicle of the Frontier in Politics 1919. Short popular survey online at Gutenberg.
Parsons, Lynn H. The Birth of Modern Politics: Andrew Jackson, John Quincy Adams, and the Election of 1828 (2009) excerpt and text search
Ratner, Lorman A. Andrew Jackson and His Tennessee Lieutenants: A Study in Political Culture (1997).
Rowland, Dunbar. Andrew Jackson's Campaign against the British, or, the Mississippi Territory in the War of 1812, concerning the Military Operations of the Americans, Creek Indians, British, and Spanish, 1813–1815 (1926).
Schama, Simon. The American Future: A History (2008).
Schlesinger, Arthur M. Jr. The Age of Jackson. (1945). Winner of the Pulitzer Prize for History. history of ideas of the era.
Syrett, Harold C. Andrew Jackson: His Contribution to the American Tradition (1953). on Jacksonian democracy
=== Liên kết ngoài ===
Andrew Jackson: A Resource Guide at the Library of Congress
United States Congress. “Andrew Jackson (id: J000005)”. Biographical Directory of the United States Congress.
Andrew Jackson tại Find a Grave
Andrew Jackson at the White House
Andrew Jackson (1767–1845) at the Miller Center of Public Affairs, University of Virginia
The Papers of Andrew Jackson at the Avalon Project
The Hermitage, home of President Andrew Jackson
Andrew Jackson at C-SPAN's American Presidents: Life Portraits
Jackson letters to Richard K. Call at the "The Call Family and Brevard Family Papers" of the Florida Memory Project
Jackson's 1.400 lb (640 kg) Cheddar at the National Archives and Records Administration
"The 1828 Campaign of Andrew Jackson and the Growth of Party Politics", lesson plan at the National Endowment for the Humanities
Andrew Jackson at Jensen's American Political History On-Line
Andrew Jackson on the Web, resource directory edited by Tim Spalding
Các tác phẩm của Andrew Jackson tại Dự án Gutenberg
== Đọc thêm ==
Vụ ám sát Tổng thống Andrew Jackson |
người lô lô.txt | Người Lô Lô (theo cách gọi ở Việt Nam và Thái Lan) hay người Di theo cách gọi ở Trung Quốc (tiếng Trung: 彝族, bính âm: Yìzú, âm Hán Việt: Di tộc), Mùn Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn, là một sắc tộc có vùng cư trú truyền thống là tiểu vùng nam Trung Quốc - bắc bán đảo Đông Dương.
Người Lô Lô là một trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, cũng là một trong số các dân tộc thiểu số ở Thái Lan, Lào và Trung Quốc. Tên gọi Lô Lô (Lolo) ở Trung Quốc có khi được coi là mang sắc thái không hay, nhưng lại là tên tự gọi ở Việt Nam và Thái Lan.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Nguồn sống chủ yếu của người Lô Lô là trồng ngô hoặc lúa nương. Người Lô Lô có nhiều dòng họ. Người trong dòng họ thường cộng cư với nhau thành một làng. Có hai nhóm: Lô Lô hoa hay Di trắng (bình dân) và Lô Lô đen hay Di đen (quý tộc).
=== Tại Trung Quốc ===
Ở Trung Quốc, với số dân 7.762.286 người, người Di (tên tự gọi theo phiên tự: Nuosu) là dân tộc đông thứ 7 trong số 56 dân tộc được công nhận chính thức của Trung Quốc. Họ sống chủ yếu ở các vùng nông thôn, vùng núi thuộc các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.
=== Tại Việt Nam ===
Ở Việt Nam, năm 1999 có 3.307 người Lô Lô, cư trú chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai).
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Lô Lô ở Việt Nam có dân số 4.541 người, cư trú tại 30 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Lô Lô cư trú tập trung tại các tỉnh: Cao Bằng (2.373 người, chiếm 52,3% tổng số người Lô Lô tại Việt Nam), Hà Giang (1.426 người), Lai Châu (617 người).
== Ngôn ngữ ==
Người Lô Lô nói tiếng Lô Lô (hay tiếng Di), là một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạng. Tiếng Lô Lô có chữ viết riêng theo vần (âm tiết). Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay không dùng nữa. Theo Ethnologue, nhóm các ngôn ngữ Di tại Trung Quốc bao gồm 29 ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với nhau.
Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
== Lịch sử ==
Truyền thuyết nói rằng người Di bắt nguốn từ tộc người Khương cổ (古羌) ở miền Tây Trung Quốc. Người Khương cổ được coi là thủy tổ của các dân tộc Tạng, Nạp Tây và Khương (羌 Qiang) ở Trung Quốc ngày nay. Người Di đã di cư từ vùng đông nam Tây Tạng qua Tứ Xuyên xuống Vân Nam, là nơi ngày nay họ tập trung đông nhất. Người Lô Lô còn có tên là Di có lẽ là do họ sống ở nam Trung Quốc.
== Hôn nhân gia đình ==
Hôn nhân theo tục Lô Lô là hôn nhân một vợ một chồng, cư trú nhà chồng.
Phong tục cưới xin của người Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao (bạc trắng, rượu, thịt...). Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên chồng. Con trai cô có thể lấy con gái cậu song không được ngược lại.
== Văn hóa ==
Văn hóa dân gian Lô Lô đa dạng, đặc sắc thể hiện qua các điệu nhảy múa, hát ca, truyện cổ... Cách bố trí hoa văn trên khăn áo, váy, quần có nét riêng biệt rất sặc sỡ.
Lịch của người Lô Lô chia một năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với tên một con vật.
Người Lô Lô có trống đồng, được bảo quản bằng cách chôn xuống đất và chỉ khi nào sử dụng mới đào lên. Tộc trưởng của mỗi họ là người được giữ trống. Trống chỉ được dùng trong các đám tang hoặc đánh để giữ nhịp cho các điệu nhảy múa. Họ là một trong số ít các dân tộc ở Việt Nam hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Theo huyền thoại thì ngày xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.
Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.
Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên.
Nhiều người Di ở tây bắc Vân Nam còn giữ một hình thức phức tạp của chế độ nô lệ. Người Di trắng và một vài nhóm tộc khác còn bị giữ làm nô lệ. Những nô lệ "đẳng cấp cao" thì được phép canh tác trên ruộng đất của họ, lại có nô lệ của mình và dần dần có thể "mua" tự do cho mình.
== Tín ngưỡng ==
Người Lô Lô thờ tổ tiên là chính. Họ theo tín ngưỡng coi mọi vật đều có linh hồn. Đứng đầu dòng họ là Thầu chú (Bimaw). Ông này phụ trách việc cúng bái và duy trì tục lệ của dòng họ. Họ vẫn còn giữ được một vài văn bản tôn giáo cổ viết bằng một thứ chữ tượng hình của họ. Tôn giáo của họ cũng mang nhiều yếu tố của Đạo giáo và đạo Phật.
Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.
== Cộng đồng, nhà cửa ==
Người Lô Lô có nhiều dòng họ. Người trong dòng họ thường cộng cư với nhau thành một làng. Người Lô Lô thường lập làng ở lưng chừng núi, nhưng gần nguồn nước. Nhà cửa ở khá tập trung, mỗi làng từ 20 đến 25 nóc nhà. Người Lô Lô có 3 loại nhà khác nhau: nhà đất, nhà sàn nửa đất và nhà sàn.
== Trang phục ==
Phong phú về chủng loại, kỹ thuật tạo dáng áo và độc đáo về phong cách mỹ thuật, khó lẫn lộn với bất cứ tộc người nào. Có nhiều nhóm địa phương.
=== Trang phục nam ===
Nam giới Lô Lô thường mặc áo xẻ nách năm thân dài tới gối, màu chàm. Quần cũng là loại xẻ dùng màu chàm. Trong đám tang mặc áo dài xẻ nách, trang trí hoa văn sặc sỡ theo từng chi và dòng họ.
=== Trang phục nữ ===
Phụ nữ Lô Lô để tóc dài quấn ngang đầu. Bên cạnh đó họ còn dùng khăn quấn thành nhiều lớp trên đầu hoặc đội. Khăn cũng được trang trí các mô típ hoa văn và các tua vải màu sắc sặc sỡ. Ngoài ra còn có loại mũ khăn trang trí hoa văn theo lối ghép vải - một phong cách mỹ thuật khá điển hình của cư dân Tạng - Miến (mà Lô Lô là tộc biểdo nguuhiện khá tập trung và điển hình). Các nhóm Lô Lô ăn mặc khác nhau. Xưa người Lô Lô phổ biến loại áo dài cổ vuông, tay dài, chui đầu (vùng Bảo Lạc, Cao Bằng), hoặc loại áo ngắn thân cổ vuông, ống tay áo nối vào thân, có thể tháo ra. Cạnh đó còn có loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, cổ cao, tròn cài cúc. Nhóm Lô Lô trắng có áo dài lửng ống tay rộng, xẻ nách cao, theo kiểu đuôi tôm, cổ áo gấu áo trước và sau được trang trí hoa văn trên nền sáng; hoặc còn có loại tương tự màu chàm nhưng ít trang trí hoa văn. Váy là loại kín (hình ống). Cạp váy chỉ dùng để dắt váy, dưới cạp được chiết ly, thân váy được thêu, ghép hoa sặc sỡ. Bên ngoài còn có tấm choàng váy, hai mép và phía dưới được trang trí hoa văn. Có nhóm mặc quần, đi giày vải.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Dân tộc Lô Lô trên trang mạng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Dân tộc Lô Lô trên trang mạng của Ủy ban Dân tộc Việt Nam
Dân tộc Lô Lô trên trang mạng của Ủy ban Dân tộc Việt Nam |
người phù lá.txt | Người Phù Lá, còn có tên gọi khác là Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Dí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang, là một dân tộc thiểu số cư trú tại bắc Việt Nam và nam Trung Quốc.
Người Phù Lá nói tiếng Phù Lá, một ngôn ngữ của ngữ chi Lolo (Yi), thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong hệ ngôn ngữ Hán-Tạng.
== Cư trú ==
Người Phù Lá tại Việt Nam có dân số năm 1999 là 9.046 người, đông nhất là ở Lào Cai, ngoài ra họ sống ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hà Giang.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Phù Lá ở Việt Nam có dân số 10.944 người, có mặt tại 23 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Phù Lá cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai (8.926 người, chiếm 81,6% tổng số người Phù Lá tại Việt Nam), Yên Bái (942 người), Hà Giang (785 người), Điện Biên (206 người), Hà Nội (28 người)...
Có khoảng 4.200 người Phù Lá sống tại Trung Quốc, nhưng tại đây họ được phân loại như là thành viên của nhóm sắc tộc Di (Yi).
== Đặc điểm kinh tế ==
Đời sống kinh tế của dân tộc Phù Lá dựa vào việc làm nương và ruộng bậc thang. Chăn nuôi gồm có trâu để kéo cày, ngựa để thồ, gà, lợn để lấy thịt. Nghề thủ công nổi tiếng của người Phù Lá là đan mây, tre làm gùi và các dụng cụ để chứa đựng... với nhiều hoa văn đẹp. Những sản phẩm này, họ còn mang bán hoặc đổi hàng, được nhiều dân tộc khác ưa dùng.
== Tổ chức cộng đồng ==
Dân tộc Phù Lá sống thành bản riêng, xen kẽ trong vùng có nhiều dân tộc như Mông, Dao, Tày. Mỗi bản thường có từ 10 đến 5 nóc nhà. Các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ có vai trò rất lớn trong iệc điều hành các công việc ở làng bản.
== Hôn nhân gia đình ==
Thanh niên nam nữ không bị ép buộc trong hôn nhân. Khi yêu nhau, trai gái nói cho bố mẹ biết, hai gia đình sẽ tổ chức bữa cơm thân mật. Từ đó đôi trai gái coi như đã đính hôn. Đám cưới có thể tổ chức sau một, hai năm. Theo tập quán Phù Lá, cô dâu về ở nhà chồng.
== Nhà cửa ==
Người Phù Lá có cả nhà sàn và nhà đất. Người Phù Lá ở Bắc Hà, Mường Khương, Sin Ma Cai ở nhà đất. Phu Lá Hoa, Phù Lá Bô Khố Pạ ở nhà sàn.
Nhà đất: vì kèo đơn giản chỉ có một bộ kèo tam giác gồm hai kèo và một quá giang gác lên dầu tường. Hoặc có thêm một cột hiên.
Nhà sàn: nhà thường ba gian hai chái. Vì kèo ba cột giống nhà người Hà Nhì. Gian chính giữa, giáp vách tiền là chạn bát, ở giữa nhà là bếp, giáp vách hậu là bàn thờ.
== Trang phục ==
Trang phục Phù Lá độc đáo trong lối tạo dáng và phong cách thẩm mỹ, khó lẫn lộn với bất cứ tộc người nào trong hệ ngôn ngữ và khu vực vừa mang nét đẹp cổ truyền và cũng khá "hiện đại".
=== Trang phục nam ===
Thường nhật, nam giới mặc áo loại xẻ ngực (Bảo thắng, Lào Cai). Aáo được may từ 6 miếng vải, cổ thấp, không cài cúc nẹp ngực viền vải đỏ, ống tay hẹp, cổ tay thêu hoa văn như áo phụ nữ.
=== Trang phục nữ ===
Phụ nữ Phù Lá chưa chồng thường để tóc dài quấn quanh đầu. Đầu thường khăn vuông đen hoặc chàm, bốn góc và giữa khăn có đính hạt cườm. Người Phù Lá không có tục mặc hai áo như một số dân tộc (Tày, Dao đỏ...). Họ thường mặc áo ngắn 5 thân, dài tay, cổ vuông, thấp, chui đầu. Trên nền chàm của áo, thân được chia thành các khu vực trang trí (2 phần gần như chia đôi giữa thân, vai, và ống tay cũng như gấu áo). Cổ áo vuông và mô típ hoa văn trang trí cũng như lối bố cục dùng màu khó làm cho áo phụ nữ Phù Lá lẫn lộn với các tộc người khác. Vay màu chàm đen, đầu và chân váy được trang trí hoa văn màu đỏ, trắng vàng (giống áo) với diện tích 2/3 trên nền chàm. Đầu vấn khăn, hoặc đội mũ thêu ghép hoa văn theo lối chữ nhất (-). Chị em còn có loại áo dài 5 thân cài nách phải, hoặc loại tứ thân cổ cao, tròn cài cúc vải.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài == |
mary bentinck.txt | Mary Bentinck nữ bá tước vùng Essex (1679-1726) là con gái của William Bentinck một nhà quý tộc người Hà Lan, bà là một trong những người phụ nữ đẹp của nước Anh đương thời và được chọn vào trong bộ sưu tập những bức hình có tên Hampton Court được vẽ bởi họa sĩ Godfrey Kneller dâng tặng cho nữ hoàng Mary II. Mary là dì của Villiers Barbara cũng là bạn thân nhất của cô. Trong đời mình, Mary đã có hai lần kết hôn, lần thứ nhất, cô kết hôn với Trung úy Gen. Algernon Capel (1670–1710) vào ngày 28 tháng 3 năm 1698, hai người đã có 04 đứa con, trong đó có 3 nữ và 01 nam. Lần thứ 2 Mary kết hôn với Rt. Hon. Sir Conyers Darcy (chết năm 1758)-con trai của Hon. John Darcy (1659–1688) và Bridget Sutton. Do ông chồng này không sinh được con nên cuộc hôn nhân này khai người không có thêm người con nào.
== Phả hệ ==
== Tham khảo == |
microsoft mobile.txt | Microsoft Mobile là một công ty sản xuất điện thoại di động và thiết bị điện toán di động đa quốc gia có trụ sở tại Espoo, Phần Lan, và hoàn toàn thuộc về công ty mẹ Microsoft. Nó là cơ quan về mặt pháp lý giám sát và là đại diện hợp pháp cho các hoạt động trong việc thiết kế, phát triển, sản xuất và phân phối điện thoại di động, điện thoại thông minh, máy tính bảng, phụ kiện và các dịch vụ liên quan. Microsoft Mobile được thành lập theo thương vụ mua lại mảng Thiết bị và Dịch vụ của Nokia bởi Microsoft, được hoàn thành vào tháng 4 năm 2014.
Microsoft Mobile có quyền bán điện thoại di động bằng nhãn hiệu Nokia như một phần của thỏa thuận 10 năm, miễn là các điện thoại đó được dựa trên nền tảng S30+ bao gồm các "điện thoại tính năng". Vào tháng 10 năm 2014, công ty thông báo rằng các điện thoại thông minh Lumia trong tương lai sẽ mang tên và logo của Microsoft thay thế cho "Nokia". Vào tháng 5 năm 2016, phần kinh doanh điện thoại tính năng nhãn hiệu Nokia còn lại của công ty được bán lại cho HMD global và Foxconn, giữ lại phần kinh doanh thương hiệu Lumia.
Microsoft Mobile là một trong nhiều bộ phận con của Microsoft, các số khác bao gồm Surface, Band, HoloLens và Xbox.
== Xem thêm ==
Nokia
Microsoft Kin
HMD global
Zune HD
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Blog chính thức
Blog chính thức (UK)
"Microsoft Mobile Oy – tässä on nokialaisten uusi koti" (Microsoft Mobile – this is the kind of Nokia new home), Talouselämä, ngày 12 tháng 12 năm 2013 (Finnish)
Bản mẫu:Nokia |
phi.txt | Phi có thể là:
Phi (chữ cái)
Cấp bậc của một hoặc một số người vợ của quốc vương hay hoàng đế trong triều đình phong kiến phương Đông.
Khẩu ngữ, chỉ Philippines hoặc châu phi.
Tên một số loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ thuộc họ Ngao vỏ tím, như Sanguinolaria diphos, Sanguinolaria planculata...
== Tham khảo == |
phố wall.txt | Phố Wall (tiếng Anh: Wall Street) là một tuyến phố ở hạ Manhattan, thành phố New York, tiểu bang New York, Hoa Kỳ. Tuyến phố này chạy từ Broadway đến South Street bên sông East, qua trung tâm lịch sử Financial District. Wall Street là nơi đóng trụ sở của Sở giao dịch chứng khoán New York; qua thời gian, thuật ngữ Wall Street đã trở thành tên của khu phố xung quanh nó. Wall Street cũng là cách nói tắt để đề cập đến các tầm quan trọng tài chính có ảnh hưởng của ngành tài chính Mỹ, tập trung ở khu vực thành phố New York.
Nhiều sàn giao dịch lớn của Mỹ vẫn đóng trụ sở ở phố Wall và quận tài chính, gồm NYSE, NASDAQ, AMEX, NYMEX và NYBOT.
== Lịch sử ==
Tên gọi của phố này xuất phát từ thực tế là vào thế kỷ 17, phố này là ranh giới phía bắc của khu định cư New Amsterdam. Trong những năm 1640, các khoanh đất và cư xá trong khu định cư được đánh dấu bằng cọc và hàng rào phiến gỗ thô sơ. Về sau, Peter Stuyvesant thay mặt Công ty Tây Ấn Hà Lan chỉ đạo nô lệ châu Phi và di dân da trắng, cộng tác với chính quyền thành phố để xây nên lớp tường cao 4 m vững chắc hơn.
== Chú thích ==
Frontline: The Wall Street Fix - PBS
== Liên kết ngoài == |
sách xuất hành.txt | Sách Xuất hành hay Xuất Ê-díp-tô là quyển sách thứ hai trong Cựu Ước kể lại cuộc ra khỏi Ai Cập (Ê-díp-tô) của dân Israel. Các tín đồ Ki-tô giáo cho rằng đây là một kinh nghiệm về quyền năng giải phóng của Thiên Chúa và Giao ước Sinai như một kinh nghiệm cộng đồng về sự gặp gỡ Thiên Chúa.
== Tên gọi ==
Từ "Xuất hành" trong tiếng Việt được Công giáo Rôma dịch từ tiếng Hy Lạp Ἔξοδος, Exodos, nghĩa là "ra đi"; Tin Lành dịch phiên âm là "Xuất Ê-díp-tô", nghĩa là "Rời khỏi Ai Cập".
== Tóm tắt ==
=== Cuộc sống của Israel ở Ai Cập ===
Khi người Do Thái (Híp-ri) làm nô lệ ở Ai Cập, sự lớn mạnh về quân số của họ khiến cho Pharaoh lo ngại, ông ra sắc lệnh giết chết tất cả trẻ sơ sinh Do Thái rồi vứt xuống sông Nile. Một người phụ nữ Do Thái thuộc dòng Lê-vi, vì không muốn mất đứa con vừa mới sinh, bà ấy đặt đứa trẻ vào nôi rồi giấu vào bụi sậy bờ sông Nile. Vô tình, công chúa Ai Cập phát hiện chiếc nôi và đem đứa trẻ về nuôi và đặt tên là Moses (Môi-sê). Moses, về chính danh là hoàng tử Ai Cập, nhưng ông luôn ý thức nguồn gốc của mình. Một lần, ông thấy một người Ai Cập đang đánh một người Do Thái, ông liền giết người Ai Cập, rồi vùi dưới cát. Sự việc vỡ lẽ khiến Pharaoh ra lệnh giết ông. Ông trốn khỏi cung điện vào Midian (Ma-đi-an).
=== Ông Moses được chọn ===
"Bấy giờ ông Moses đang chăn chiên cho cha vợ là Jethro (Gít-rô), tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Moses nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ông tự bảo: "Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được: vì sao bụi cây lại không cháy rụi?" Đức Chúa thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông: "Moses! Moses!" Ông thưa: "Dạ, tôi đây!" Người phán: "Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là Đất Thánh." Người lại phán: "Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham (Áp-ra-ham), Thiên Chúa của Isaac (I-xa-ác), Thiên Chúa của Jacob (Gia-cóp)." Ông Moses che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa" (Xuất hành 3:1-6).
=== Yêu sách đòi tự do ===
Thiên Chúa đặt Moses làm thủ lĩnh Israel, để đưa dân tộc này ra khỏi Ai Cập, vào Đất Hứa. Trong những lần tiếp kiến Pharaoh đòi tự do, ông đều bị Pharaoh bác bỏ. Thiên Chúa trừng phạt người Ai Cập bằng nhiều tai ương mà đỉnh điểm là việc giết tất cả các con trai đầu lòng mới sinh. Pharaoh buộc phải đồng ý cho Israel ra đi.
=== Cuộc Vượt qua và Xuất hành ===
Đêm diễn ra tai ương cuối cùng, tất cả con đầu lòng mới sinh của người Ai Cập, từ con vua đến con dân thường đều bị giết chết. Theo chỉ dẫn của Thiên Chúa, Israel không bị thiệt hại gì và họ gọi đó là "vượt qua". Israel, gồm 600.000 người kể cả phụ nữ và trẻ em ra đi với tất cả hành lý, chiên, bò...
Hiện tại nhìn lại, nhiều điểm nghi ngờ lẫn giả thuyết xuất hiện từ đây. Khi Israel vượt qua Sinai, hệ sinh thái sa mạc của bán đảo Sinai có thể không cung cấp đủ thức ăn và nước uống để duy trì sự sống cho một lượng người lớn như thế. Thật vậy, dân số hiện nay của Sinai ước lượng chỉ khoảng hơn 38.000.
Pharaoh cho quân đội đuổi theo Irael đến tận Biển Đỏ. Israel đi giữa lòng biển khô ráo. Khi Israel đã đi được qua bờ bên kia thì quân đội Ai Cập vẫn đang đi giữa lòng biển.
Kinh Thánh ghi lại rằng: "Ông Moses giơ tay trên mặt biển, và biển ập lại như cũ, vào lúc tảng sáng. Quân Ai Cập đang chạy trốn thì gặp nước biển, Đức Chúa xô ngã quân Ai Cập giữa lòng biển. Nước ập xuống, vùi lấp chiến xa và kỵ binh, vùi lấp toàn thể quân lực của Pharaoh đã theo dân Israel vào lòng biển. Không một tên nào sống sót." (Xuất hành 14:27-28). Thế nhưng, ngày nay, người ta đặt giả thuyết có một cuộc thủy triều lớn xảy ra vào thời ấy.
=== Hành trình tại Sinai ===
Israel tiếp tục hành trình của mình, nhưng ngay lập tức, họ bắt đầu kêu ca về các khó khăn gian khổ, không thức ăn, nước uống. Thiên Chúa ban cho họ một thứ bánh để ăn, họ gọi là "Manna" và nước uống chảy từ hòn đá của Meribah.
Thuật ngữ "núi của Thiên Chúa" xuất hiện nhiều từ các chương này và là vấn đề gây tranh cãi. Người ta cho rằng, núi này có hai tên gọi: Horeb và Sinai. Các học giả không đồng ý về việc liệu trong thực tế có hai ngọn núi hay không? vì nó chẳng tương quan đến địa lý hiện đại.
== Giao ước ==
Irael đến chân "núi của Đức Chúa". Thiên Chúa và họ lập một giao ước: Thiên Chúa sẽ bảo trợ trên dân tộc họ, và họ sẽ là dân riêng của Thiên Chúa, phải phụng thờ Người thông qua Mười điều răn.
Cùng với Mười điều răn của Chúa, sách Xuất hành còn ghi một số luật về phụng tự. Nhưng ngay sau đó dân đã vi phạm giao ước, đúc bò vàng mà thờ theo kiểu dân Canaan. Nhờ ông Mô-sê cầu khẩn, Chúa đã tha thứ và ban lại Luật Giao ước cho ông Mô-sê.
== Liên Kết ==
Sách Xuất hành (Nhóm Phiên dịch CGKPV) - Ủy ban Kinh Thánh, Hội đồng Giám mục Việt Nam
Xuất Ê-díp-tô Ký - Thư Viện Tin Lành.
== Tham khảo == |
lực lượng phòng vệ mặt đất nhật bản.txt | Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF-陸上自衛隊 Rikujō Jieitai; Hán-Việt: Lục thượng tự vệ đội, thường được gọi tắt là lục tự) là lực lượng Lục quân thuộc Bộ Phòng vệ Nhật Bản. Tham mưu trưởng lực lượng này là tướng Kiyofumi Iwata; Bộ tham mưu có trụ sở đặt tại Ichigaya, Tokyo. Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có quân số vào năm 2008 là khoảng 150.000 quân và năm 2010 tiếp tục xấp xỉ 150.000 người.
== Lịch sử ==
Sau năm 1945, theo Hiệp ước Potsdam do Lực lượng Đồng Minh ban hành, Lục quân Đế quốc Nhật Bản và Hải quân Đế quốc Nhật Bản bị giải thể, thay thế cho cả 2 lực lượng quân sự bảo vệ Nhật Bản này là các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ gồm 450.000 quân đặt dưới quyền của Thống tướng Douglas MacArthur.
Khi nổ ra Chiến tranh Triều Tiên vào năm 1950, rất nhiều đơn vị quân sự Hoa Kỳ được đưa đến Nam Triều Tiên tham chiến và điều đó khiến cho Nhật Bản hoàn toàn mất đi khả năng phòng vệ. Theo sự gợi ý từ chính phủ Hoa Kỳ, vào tháng 7/1950, chính quyền Nhật Bản đồng ý và thành lập Lực lượng Cảnh sát Trừ bị Quốc gia gồm 75.000 người được trang bị vũ khí bộ binh hạng nhẹ, huấn luyện bởi các cố vấn Mỹ.
Dựa trên cơ sở của Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ (Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan) được ký vào đầu năm 1952, nước Mỹ sẽ đảm nhận vai trò tác chiến và hỗ trợ nếu có bất kì sự đe dọa nào chống lại Nhật Bản trong khi các lực lượng Nhật Bản gồm cả Hải quân và Lục quân sẽ đảm nhận vai trò hậu cần và đối phó với các thảm họa thiên nhiên hoặc dịch bệnh. Giữa năm 1952, Lực lượng Cảnh sát Trừ bị Quốc gia gia tăng quân số lên 110.000 người và đổi tên thành Lực lượng Bảo an Quốc gia.
Nhật Bản tiếp tục tăng cường khả năng phòng vệ của mình. Vào ngày 1/7/1954, Cục Bảo an Quốc gia thông báo tái tổ chức thành Cục Phòng vệ Nhật Bản và Lực lượng Bảo an Quốc gia tái tổ chức thành Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (Lục quân), Lực lượng Phòng vệ Duyên hải Nhật Bản (Hải quân), Lực lượng Phòng vệ Không phận Nhật Bản (Không lực). Cả 3 lực lượng được đặt dưới quyền của tướng Keizõ Hayashi - chỉ huy trưởng đầu tiên của Hội đồng Tham mưu Phòng vệ Nhật Bản.
Một bộ phận tổ chức lớn nhất là cấp sư đoàn và được coi như một đơn vị cơ bản. Là các đơn vị chủ chốt trong quân đội, nó có trách nhiệm bảo vệ một khu vực cụ thể. Quân đội nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của Chỉ huy Trưởng Cơ quan Quốc phòng. Dưới sự chỉ huy của các Bộ Chỉ Huy Quân khu, các Sư đoàn tác chiến và các đơn vị hỗ trợ có trách nhiệm bảo vệ khu vực của mình và chống lại những kẻ thù trực tiếp hoặc gián tiếp xâm lăng Nhật Bản.
Khi Nhật Bản vươn lên trở thành một trong những quốc gia phồn thịnh nhất hành tinh, khi tình hình an ninh - quân sự thế giới có nhiều biến chuyển phức tạp, đặc biệt là sự trỗi dậy về mặt quân sự của các quốc gia khác trong khu vực, thì Cục Phòng vệ Nhật Bản không còn đáp ứng được các yêu cầu trong hoàn cảnh mới. Trong đó, Nhật đặc biệt nhấn mạnh mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên cùng cuộc tranh chấp với Nga tại quần đảo Kuril ở phương Bắc, cuộc tranh chấp với Hàn Quốc tại nhóm đảo đá Takeshima, các tranh chấp về khu vực đặc quyền kinh tế biển với Trung Quốc ở khu vực quần đảo Senkaku.
Cuộc chạy đua vũ trang trong nhiều năm qua đã dẫn tới kết quả là nước Nhật nằm giữa một loạt nước có vũ khí hạt nhân gồm Nga, Trung Quốc, có thể là cả Bắc Triều Tiên, chưa kể đồng minh Mỹ đòi hỏi phải có quân đội chính thức. Năm 2006, Thủ tướng Shinzo Abe đã đẩy mạnh tiến trình thành lập Bộ Quốc phòng. Cục Phòng vệ Nhật Bản được nâng cấp thành Bộ Quốc phòng vào ngày 9 tháng 1 năm 2007 dưới thời Thủ tướng Nhật Shinzo Abe. Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản được đặt trong Bộ Quốc phòng. Ngân sách quốc phòng năm tài khóa 2016 là 4859 tỉ Yên Nhật tương đương với 41 tỷ USD trong đó Lục quân nhận 17 tỷ USD (chiếm hơn 40%), chiếm 1% tổng GDP.
Hiện nay có khoảng trên 50.000 quân Mỹ đóng tại Nhật Bản, chủ yếu tại Okinawa. Lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản chủ yếu là Không lực, Hải quân và Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Viễn chinh số 3 Hoa Kỳ gồm Sư đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ đoàn 3 Viễn chinh, Không đoàn 1 Không lực Viễn chinh và Liên đoàn 3 Hậu cần Thủy Quân Lục Chiến.
== Cấu trúc ==
Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có khoảng 150.000 người (bao gồm cả đặc nhiệm). Tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản được gọi là Mạc Liêu Trưởng Lục tướng (tương đương cấp Đại tướng) là chỉ huy cao nhất Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản.
Dưới sự quản lý của Tham mưu trưởng là 5 quân khu. Các quân đoàn Nhật Bản được gọi là Phương Diện Quân (Hōmentai (方面隊)), có quy mô từ 20.000 đến 30.000 người, được chỉ huy bởi một Lục tướng.
Mỗi Phương Diện Quân có trách nhiệm phòng vệ tại một quân khu cụ thể. Dưới Phương Diện Quân là các Sư đoàn quy mô từ 6.000 đến 9.000 người và các Lữ đoàn có quy mô từ 3.000 đến 4.000 người và một số đơn vị hỗ trợ khác.
Trong khi đó, khác với cấp Lữ đoàn, cấp Trung đoàn nằm trong cơ cấu của các Sư đoàn có quy mô tương đương cấp Tiểu đoàn của các quốc gia khác, còn cấp Tiểu đoàn có quy mô tương đương cấp Đại đội. Sư đoàn và Lữ đoàn ở Nhật được xem cấp cơ bản, quan trọng nhất, do có cấu tạo hỗn hợp và có khả năng ứng chiến linh hoạt cao.
Hệ thống chỉ huy từ cao xuống thấp trong quân đội Nhật Bản:
• Chỉ huy trưởng cấp Quân đoàn-Quân khu là Lục tướng (tương đương cấp Trung tướng).
• Chỉ huy trưởng cấp Sư đoàn là Lục tướng hổ (tương đương cấp Thiếu tướng).
• Chỉ huy trưởng cấp Lữ đoàn là Nhất đẳng lục tá (tương đương cấp Đại tá).
• Chỉ huy trưởng cấp Tiểu đoàn là Nhị đẳng lục tá (tương đương cấp Trung tá).
• Chỉ huy trưởng cấp Đại đội là Nhất đẳng lục úy (tương đương cấp Đại úy).
• Chỉ huy trưởng cấp Trung đội là Nhị đẳng lục úy (tương đương cấp Trung úy).
• Ngoài ra, ở cấp tiểu đội trưởng do Nhị đẳng lục tào hoặc Tam đẳng lục tào chỉ huy (tương đương với Trung sĩ nhất hoặc Trung sĩ). Ở cấp Trung đội, hỗ trợ huấn luyện cho các binh sĩ có các Nhất đẳng lục tào (tương đương Thượng sĩ) và các Lục tào trưởng (tương đương với Thượng sĩ tham mưu) sẽ cố vấn chiến thuật để hỗ trợ cho các chỉ huy trưởng tiểu đoàn, có quyền hạn và trách nhiệm đứng thứ 3 trong tiểu đoàn sau Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó.
Hiện tại Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có các đơn vị như sau:
• 8 Sư đoàn Bộ binh (1, 2, 3, 4, 6, 8, 9, 10).
• Sư đoàn 7 Thiết giáp.
• 5 Lữ đoàn Bộ binh (5, 11, 13, 14, 15) (được chuyển đổi từ Sư đoàn 5, 11, 13, 14, 15 Bộ binh).
• Lữ đoàn 12 Đột kích không vận (trước đây là Lữ đoàn 12 Bộ binh, được chuyển đổi từ Sư đoàn 12 Bộ binh).
• Lữ đoàn 1 Dù phản ứng nhanh.
• 5 Lữ đoàn Huấn luyện.
• 1 Lữ đoàn Pháo Dã chiến.
• 2 Lữ đoàn Phòng không.
• 4 Lữ đoàn Công binh.
• Lữ đoàn 1 Trực thăng Không vận (gồm 24 phi đoàn trực thăng và 2 trung đội trực thăng chống tăng).
• Lực lượng Tác chiến Phản ứng nhanh Trung tâm Quốc gia Nhật Bản.
Lực lượng Tác chiến Phản ứng nhanh Trung tâm Quốc gia Nhật Bản có quân số hiện tại là 5.400 người gồm có các đơn vị như sau:
Bộ Chỉ Huy đặt tại trại Asaka, Nerima, Tokyo có 230 người.
• Lữ đoàn 1 Dù đóng ở trại Narashino, Funabashi, Chiba có 1.900 người.
• Lữ đoàn 1 Trực thăng Không vận (được huấn luyện bởi Trung đoàn 160 Không vận Chiến dịch Đặc Biệt Hoa Kỳ) đóng tại trại Kisarazu, Kisarazu, Chiba có 900 người.
• Trung đoàn Tìm kiếm và Cứu nạn đóng tại trai Utsunomiya, Utsunomiya, Tochigi có 700 người.
• Liên đoàn Lực lượng Đặc Biệt Nhật Bản (được huấn luyện bởi Lực lượng Đặc Biệt và Lực lượng Delta Hoa Kỳ) đóng tại trại Narashino, Funabashi, Chiba có 600 người.
• Trung tâm Phòng vệ Vũ khí Hạt nhân, Sinh học, Hóa học đóng tại trại Ōmiya, Kita-ku, Saitama có 155 người.
• Đơn vị Quân y Phòng chống Vũ khí Hạt nhân, Sinh học, Hóa học đóng tại trại Asaka, Nerima, Tokyo có 70 người.
• Đơn vị Huấn luyện các hoạt động giữ gìn hòa bình Liên Hiệp Quốc đóng tại trại Komakado, Gotemba, Shizuoka có 80 người.
• Trung đoàn Bộ binh phía Tây (Thủy Quân Lục Chiến) đóng tại trại Sasebo, Nagasaki có 765 người, đơn vị bộ binh hạng nhẹ, phản ứng nhanh, được huấn luyện tác chiến thủy bộ bởi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Các lực lượng quân sự này có nhiệm vụ phòng vệ khắp nơi trên nước Nhật (xem Sơ đồ phân bố các Sư đoàn, Lữ đoàn của quân đội Nhật). Cơ cấu các cấp của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có quy mô rất nhỏ nhưng bù lại tổ chức linh hoạt và trang bị vô cùng tinh vi, hiện đại nhất châu Á.
Ngoài ra, còn có các tổ chức và đơn vị khác:
• Bộ Chỉ Huy Điều phối Nhiên liệu và Nguyên vật liệu Nhật Bản.
• Bộ Chỉ Huy Tìm kiếm và Triển khai trên bộ Nhật Bản.
• Bộ Chỉ Huy Lực lượng Truyền tin Nhật Bản.
• Lực lượng Quân cảnh Nhật Bản.
• Bộ Chỉ Huy Tình báo Quân sự Nhật Bản.
• Bộ Chỉ Huy Phòng vệ Tình báo Nhật Bản (bảo vệ và phản gián).
• Trường Cao đẳng đào tạo sĩ quan tham mưu Lục quân Nhật Bản.
• Trường tuyển chọn và đào tạo sĩ quan Lục quân Nhật Bản.
Phân bố của 5 quân đoàn Nhật Bản, tương ứng với 5 quân khu
Quân khu Phương Bắc, tổng hành dinh ở Sapporo, Hokkaidō, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Hokkaidō
Sư đoàn 2 Bộ binh, đóng tại trại Asahikawa, Asahikawa; chịu trách nhiệm phòng thủ Tây Bắc Hokkaido.
Lữ đoàn 5 Bộ binh, đóng tại trại Obihiro, Obihiro; chịu trách nhiệm phòng thủ Đông Bắc Hokkaido.
Sư đoàn 7 Thiết giáp, đóng tại trại Higashi Chitose, Chitose; chịu trách nhiệm phòng thủ Nam Hokkaido.
Lữ đoàn 11 Bộ binh, đóng tại trại Makomanai, Sapporo; chịu trách nhiệm phòng thủ Tây Nam Hokkaido.
• Lữ đoàn 1 Pháo binh, đóng tại trại Kita Chitose ở Chitose.
• Lữ đoàn 1 Phòng không, đóng tại trại Higashi Chitose gồm Liên đoàn 1 đóng tại trại Higashi Chitose và Liên đoàn 4 đóng tại trại Nayoro ở Nayoro (trang bị Hệ thống tên lửa MIM-23 Hawk).
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Higashi Chitose.
• Trung đội Công binh, đóng tại trại Minami Eniwa, Eniwa.
• Đơn vị tác chiến điện tử số 1, đóng tại Higashi Chitose.
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Sapporo.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Okadama, Sapporo.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Shimamatsu, Eniwa.
• Phân đội Tài chính Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Sapporo.
• Phân đội Quân y Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Makomanai.
• Cục Tình báo Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Sapporo.
• Ban quân nhạc Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Makomanai.
• Bộ chỉ huy công tác huấn luyện hỗ trợ Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Higashi Chitose.
• Đại đội Đất đối Hạm và Chống Chiến Xa Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Kutchan, Kutchan (trang bị Hệ thống tên lửa đa năng Type 96).
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Hokkaidõ, đặt ở trại Shimamatsu, chứa hơn 100.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Phương Bắc.
Quân khu Đông Bắc Nhật Bản, tổng hành dinh ở Sendai, Miyagi, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Tōhoku.
Sư đoàn 6 Bộ binh, đóng tại Higashine, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Fukushima, Miyagi, Yamagata.
Sư đoàn 9 Bộ binh, đóng tại Aomori, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Akita, Aomori, Iwate.
• Lữ đoàn 2 Công binh, đóng tại Shibata.
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Đơn vị Pháo binh Đông Bắc gồm Trung đoàn 4 Tên lửa Mặt đất, đóng tại Hachinohe (trang bị Tên lửa Đất đối Hạm Type-88) và Tiểu đoàn 130 Pháo binh, đóng tại Sendai (trang bị Hệ thống pháo phản lực đa năng M270).
• Liên đoàn 5 Phòng không, đóng ở trại Hachinohe (trang bị Hệ thống Tên lửa MIM-23 Hawk).
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Phân đội Tài chính Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Phân đội Quân y Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Cục Tình báo Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Ban quân nhạc Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Bộ chỉ huy công tác huấn luyện hỗ trợ Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Tõhoku, đóng tại Sendai, có chứa hơn 70.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Đông Bắc.
Quân khu Phương Đông Nhật Bản, tổng hành dinh ở Nerima, Tokyo, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Kantō và bắc khu vực Chūbu.
Sư đoàn 1 Bộ binh, đóng tại trại Nerima, Nerima, chịu trách nhiệm phòng thủ Thủ đô Tokyo và các tỉnh: Chiba, Ibaraki, Kanagawa, Saitama, Shizuoka và Yamanashi.
Lữ đoàn 12 Bộ binh (Đột kích không vận), đóng tại trại Soumagahara, Shintō, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Gunma, Nagano, Niigata và Tochigi.
• Lữ đoàn 1 Công binh, đóng tại trại Koga, Koga.
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Takeyama, Yokosuka.
• Liên đoàn 2 Phòng không, đóng tại trại Matsudo, Matsudo (trang bị Hệ thống tên lửa Type 3 Chũ-SAMs).
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Tachikawa, Tachikawa.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Phân đội Tài chính Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Phân đội Quân y Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Cục Tình báo Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Ban quân nhạc Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Bộ chỉ huy công tác huấn luyện hỗ trợ Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Kantõ, đóng tại trại Kasumigaura, Tsuchiura, có chứa hơn 150.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Phương Đông.
Quân khu Trung tâm Nhật Bản, tổng hành dinh ở Itami, Hyōgo, chịu trách nhiệm phòng thủ các khu vực: Chūgoku, Kansai, Shikoku và nam khu vực Chūbu.
Sư đoàn 3 Bộ binh, đóng tại Itami, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Hyōgo, Kyōto, Nara, Ōsaka, Shiga và Wakayama.
Sư đoàn 10 Bộ binh, đóng tại Nagoya, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Aichi, Fukui, Gifu, Ishikawa, Mie và Toyama.
Lữ đoàn 13 Bộ binh, đóng tại Kaita, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Chūgoku.
Lữ đoàn 14 Bộ binh, đóng tại Zentsūji, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Shikoku.
• Lữ đoàn 4 Công binh, đóng tại Uji.
• Liên đoàn 8 Phòng không, đóng tại Ono (trang bị Hệ thống tên lửa Type 3 Chũ-SAMs).
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Trung tâm, đóng tại Ostu.
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Trung tâm, đóng tại Itami.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Trung tâm, đóng tại Yao.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Trung tâm, đóng tại Kyoto.
• Phân đội Quân y Quân khu Trung tâm đóng tại trại Itami.
• Tiểu đoàn Tình báo Quân khu Trung tâm, đóng tại trại Itami.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Kansai, đóng tại Uji, có chứa hơn 80.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Trung tâm.
Quân khu Phương Tây Nhật Bản, tổng hành dinh ở thành phố Kumamoto, Kumamoto, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Kyūshū và khu vực Okinawa.
Sư đoàn 4 Bộ binh, đóng tại Kasuga, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Fukuoka, Nagasaki, Ōita và Saga.
Sư đoàn 8 Bộ binh, đóng tại Kumamoto, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Kagoshima, Kumamoto và Miyazaki.
Lữ đoàn 15 Bộ binh, đóng tại Naha, chịu trách nhiệm phòng thủ tỉnh Okinawa.
• Trung đoàn Bộ binh Phía Tây (Thủy Quân Lục Chiến Nhật Bản), đóng tại Sasebo.
• Lữ đoàn 5 Công binh, đóng tại Ogõri.
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Phương Tây, đóng tại Sasebo.
• Lữ đoàn 2 Phòng không, đóng tại Iizuka gồm Liên đoàn 3 đóng tại Iizuka và Liên đoàn 7 đóng tại Õmura (trang bị Hệ thống tên lửa MIM-23 Hawk).
• Lực lượng Pháo binh Quân khu Phương Tây gồm Trung đoàn 5 Tên lửa chống Hạm, đóng tại Kumamoto (trang bị Hệ thống tên lửa đối hạm Type 88) và Tiểu đoàn 112 Pháo tự hành (trang bị pháo tự hành M110), Tiểu đoàn 132 Pháo phản lực (trang bị Hệ thống pháo phản lực đa năng M270), cả 2 đều đóng ở Yufu.
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Phương Tây, đóng tại Kumamoto.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Phương Tây, đóng tại Mashiki.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Phương Tây, đóng tại Yoshinogari.
• Phân đội Quân y Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Kumamoto.
• Tiểu đoàn Tình báo Quân khu Phương Tây, đóng tại trại Kumamoto.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Kyũshũ, đóng tại Yoshinogari, có chứa hơn 200.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Phương Tây.
== Cấp bậc ==
Trưởng lục tướng hay đầy đủ là Thống hiệp Lục thượng Mạc liêu Trưởng lục tướng (統合・陸上幕僚・長陸将) là danh xưng cấp bậc dành riêng cho Tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản, không phải quân hàm chính thức, nhưng được sử dụng như cấp hiệu riêng phân biệt, tương đương cấp bậc Đại tướng 4 sao của Mỹ. Chính thức, thì cấp bậc Lục tướng là quân hàm cao nhất của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản, tương đương cấp bậc Trung tướng ở các quốc gia khác. Dưới cấp Lục tướng là cấp bậc Lục tướng hổ, được chia thành Nhất đẳng Lục tướng hổ (tương đương Thiếu tướng) và Nhị đẳng Lục tướng hổ (tương đương Chuẩn tướng), nhưng sử dụng cùng một cấp hiệu.
Chuẩn lục úy là cũng là cấp bậc không chính thức, dành cho Học viên sĩ quan, tương đương cấp bậc Chuẩn úy.
== Ngân sách Quốc phòng ==
Tính đến tháng 10 năm 2016, Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có 150.000 người trong tổng số 250.000 quân. Với ngân sách Quốc phòng khoảng 41 tỷ USD vào năm 2016 chưa tính chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật, chi phí quân sự của Nhật đứng hàng thứ 7 thế giới, dưới các đồng minh phương Tây như Mỹ - 577 tỷ USD và Anh - 65 tỷ USD hay thấp hơn cả các quốc gia đang có tranh chấp như Nga - 65.6 tỷ USD và Trung Quốc - 146 tỷ USD. Từ năm tài khoá 2002, ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP, vươn lên là 1 trong 10 quốc gia có chi tiêu cho quân sự nhiều nhất trên thế giới.
Hướng phát triển quân đội Nhật chủ yếu tập trung vào giảm quân số nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, tăng cường hợp tác với Mỹ đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh, phòng ngừa bị tấn công, đe dọa, công khai về quốc phòng qua các hoạt động, diễn đàn chung về an ninh, giải trừ quân bị, trao đổi quân sự với các nước trong và ngoài khu vực.
Nhật Bản là 1 quần đảo nên việc phòng thủ có nhiều thuận tiện. Từ sau thập niên 90, khi Liên Bang Xô viết sụp đổ thì nguy cơ nước Nhật bị tấn công từ phía Bắc là không còn nhưng tình hình trong vùng vẫn không có gì thay đổi khi họ phải chịu sự đe dọa thường trực của Bắc Hàn và nhất là sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây đã tạo điều kiện cho chính quyền Bắc Kinh gia tăng năng lực quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Gần đây qua sự mở rộng quân sự công khai của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, Lục quân Nhật Bản đã thay đổi chiến lược chuyển sang tấn công chứ không còn giữ thế phòng thủ như trước. Lục quân Nhật được đánh giá là có thực lực hàng đầu trên thế giới.
== Huấn luyện ==
Quân đội Nhật được huấn luyện tốt và có lực lượng huấn luyện hiện đại và tiên tiến. Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có các trại huấn luyện như Narashino, Nihonbara...
== Trang bị ==
=== Máy bay ===
Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF) sử dụng 532 máy bay, gồm 528 chiếc trực thăng.
=== Chiến Xa ===
395 chiến xa Type 90 Nhật Bản
418 chiến xa Type 74 Nhật Bản
59 chiến xa Type 10 Nhật Bản
M24 Chaffee Hoa Kỳ
=== Thiết Quân Vận Bộ Binh ===
Xe chiến đấu bộ binh hạng nhẹ Mitsubishi kiểu 89 Nhật Bản
Xe thiết giáp bọc thép trinh sát Komatsu kiểu 87 Nhật Bản
Xe thiết giáp bọc thép chở quân Komatsu kiểu 96 Nhật Bản
=== Xe các loại khác ===
Hitachi Type 73 Nhật Bản
Mitsubishi Type 73 jeeps Nhật Bản
=== Pháo mặt đất ===
Pháo tự hành Type 74 105mm Nhật Bản
Pháo tự hành Type 75 155mm (140) Nhật Bản
M110 howitzer (90 khẩu) Hoa Kỳ
MLRS (90 khẩu) Hoa Kỳ
Pháo tự hành Type 99 155mm Nhật Bản
FH70 (492 khẩu) Đức Anh Quốc Ý
=== Thiết bị Phòng không ===
Improved-HAWK Hoa Kỳ
FIM-92A Stinger (80) Hoa Kỳ
M270 MLRS (99) Hoa Kỳ
Type 81 Short-Range Surface-to-Air Missile (57) Nhật Bản
Type 91 Portable Surface-to-Air Missile (210) Nhật Bản
Type 93 Short-Range Surface-to-Air Missile (90) Nhật Bản
Type 03 Medium-Range Surface-to-Air Missile Nhật Bản
Pháo phòng không tự hành Mitsubishi mẫu 87 Nhật Bản
=== Vũ khí cá nhân ===
Howa 84RR Nhật Bản
Howa Type 89 Nhật Bản
Howa Type 64 Nhật Bản
Minebea PM-9 Nhật Bản
New Nambu M60 Nhật Bản
Howa Type 96 Nhật Bản
M4 Carbine Hoa Kỳ (Only Special Operations Group.)
M16 Hoa Kỳ (Only Special Operations Group.)
Sumitomo NTK-62 Nhật Bản
SIG P220 Thụy Sĩ
SIG P226 Thụy Sĩ
M24 Sniper Weapon System Hoa Kỳ
Howa 84RR Thụy Điển
Isuzu 110mm Đức
FN Minimi Bỉ
Sunimoto M2 12.7mm Heavy machine gun Nhật Bản
M14 Hoa Kỳ
=== Vũ khí chống tăng ===
Type 01 Light Anti-Tank Missile Nhật Bản
Type 64 Anti-Tank Missile Nhật Bản
Type 79 Anti-Landing craft and Anti-Tank Missile Nhật Bản
Type 87 Anti-Tank Missile Nhật Bản
Type 88 Surface-to-Ship Missile Nhật Bản
Type 96 Multi-Purpose Missile System Nhật Bản
L16 81mm Anh Quốc Canada
== Xem thêm ==
Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Cấp bậc và phù hiệu quân đội của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Japan
Globalsecurity.org JGSDF section
Number of Tanks and Major Artillery and Performance Specifications
Number of Major Aircraft and Performance Specifications
Guided Missile Specifications |
viêm khớp dạng thấp.txt | Viêm khớp dạng thấp là một bệnh viêm đặc hiệu xảy ra ở các khớp gây tổn thương màng hoạt dịch, sụn khớp và đầu xương dưới sụn, diễn biến mạn tính dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Viêm khớp dạng thấp không có biểu hiện viêm khớp và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong máu. Đây là một trong các bệnh khớp viêm mạn tính thường gặp nhất ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chiếm khoảng 0,5-2 % dân số. Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài ra, còn có các biểu hiện toàn thân (mệt mỏi, xanh xao, sốt gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác trên cơ thể.
== Nguyên nhân ==
Nguyên nhân của bệnh vẫn còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Gần đây người ta cho rằng VKDT là một bệnh tự miễn, với sự tham gia của các yếu tố sau:
Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
Yếu tố di truyền: VKDT có tính gia đình, có liên quan với kháng nguyên hóa hợp tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.
== Triệu chứng ==
=== Giai đoạn khởi phát ===
Bệnh thường khởi phát từ từ, tăng dần, chỉ khoảng 10-15% bệnh bắt đầu đột ngột và cấp tính. Trước khi có triệu chứng của khớp, bệnh nhân có thể có biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, ra nhiều mồ hôi, tê các đầu chi. Giai đoạn này kéo dài vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát.
=== Giai đoạn toàn phát ===
Thường xuất hiện viêm đau nhiều khớp (nên còn gọi là bệnh viêm đa khớp dạng thấp). Trong đó hay gặp nhất là các khớp cổ tay (90%), khớp ngón gần bàn tay (80%), khớp bàn ngón (70%), khớp gối (90%), khớp cổ chân (70%), khớp ngón chân (60%), khớp khuỷu (60%). Các khớp ít gặp như: khớp háng, cột sống, khớp vai, khớp ức đòn, nếu có viêm các khớp này cũng thường là ở giai đoạn muộn.
== Chẩn đoán ==
=== Tiêu chuẩn của hội thấp khớp Mỹ ACR (American College of Rheumatology) - 1958 ===
Gồm 11 tiêu chuẩn, trong đó có 6 tiêu chuẩn lâm sàng và 5 tiêu chuẩn cận lâm sàng:
Có cứng khớp buổi sáng.
Đau khi khám hoặc khi vận động từ 1 khớp trở lên.
Sưng tối thiểu 1 khớp trở lên.
Sưng nhiều khớp thì khớp sưng sau cách khớp sưng trước dưới 3 tháng.
Sưng khớp có tính chất đối xứng 2 bên.
Có hạt dưới da.
X quang có khuyết đầu xương, hẹp khe khớp.
Phản ứng Waaler Rose hoặc gama latex (+) ít nhất 2 lần.
Lượng mucin trong dịch khớp giảm rõ.
Sinh thiết hạt dưới da thấy tổn thương điển hình.
Sinh thiết màng hoạt dịch thấy 3 tổn thương trở lên.
Chẩn đoán chắc chắn khi có 7 tiểu chuẩn trở lên và thời gian bị bệnh trên 6 tuần. Chẩn đoán xác định khi có 5 tiểu chuẩn trở lên và thời gian bị bệnh trên 6 tuần. Chẩn đoán nghi ngờ khi có 4 tiểu chuẩn và thời gian bị bệnh 4 tuần.
=== Tiêu chuẩn ACR - 1987 ===
Có 7 tiêu chuẩn:
Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ.
Sưng đau kéo dài tối thiểu 3 khớp trong số 14 khớp sau: ngón tay gần (2), bàn ngón (2), cổ tay (2), khuỷu (2), gối (2), cổ chân (2), bàn ngón chân (2).
Sưng đau một trong 3 vị trí: khớp ngón tay gần, khớp bàn ngón, khớp cổ tay.
Sưng khớp đối xứng.
Có hạt dưới da.
Phản ứng tìm yếu tố dạng thấp (+).
Hình ảnh X quang điển hình.
Chẩn đoán xác định khi có 4 tiêu chuẩn trở lên.
=== Trong điều kiện ở Việt Nam ===
Do thiếu các phương tiện chẩn đoán cần thiết, nên chẩn đoán xác định dựa vào các yếu tố sau:
Nữ tuổi trung niên.
Viêm các khớp nhỏ ở hai bàn tay, phối hợp với các khớp gối, cổ chân, khuỷu.
Đối xứng.
Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng.
Diễn biến trên 2 tháng.
== Điều trị ==
=== Nguyên tắc chung ===
VKDT là bệnh mạn tính kéo dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi đến hết cả đời.
Điều trị phải kết hợp chặt chẽ giữa nội khoa, lý liệu phục hồi chức năng và ngoại khoa.
Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn nội trú, ngoại trú và điều dưỡng.
Trong quá trình điều trị cần theo dõi chặt chễ diễn biến của bệnh và các tai biến biến chứng có thể xảy ra.
== Chú thích == |
pin mặt trời.txt | Pin năng lượng Mặt trời hay pin mặt trời hay pin quang điện (Solar panel) bao gồm nhiều tế bào quang điện (solar cells) - là phần tử bán dẫn có chứa trên bề mặt một số lượng lớn các cảm biến ánh sáng là điốt quang, thực hiện biến đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng điện. Cường độ dòng điện, hiệu điện thế hoặc điện trở của pin mặt trời thay đổi phụ thuộc bởi lượng ánh sáng chiếu lên chúng. Tế bào quang điện được ghép lại thành khối để trở thành pin mặt trời (thông thường 60 hoặc 72 tế bào quang điện trên một tấm pin mặt trời). Tế bào quang điện có khả năng hoạt động dưới ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng nhân tạo. Chúng có thể được dùng như cảm biến ánh sáng (vd cảm biến hồng ngoại), hoặc các phát xạ điện từ gần ngưỡng ánh sáng nhìn thấy hoặc đo cường độ ánh sáng.
Sự chuyển đổi này thực hiện theo hiệu ứng quang điện. Hoạt động của pin mặt trời được chia làm ba giai đoạn:
Đầu tiên năng lượng từ các photon ánh sáng được hấp thụ và hình thành các cặp electron-hole trong chất bán dẫn.
Các cặp electron-hole sau đó bị phân chia bởi ngăn cách tạo bởi các loại chất bán dẫn khác nhau (p-n junction). Hiệu ứng này tạo nên hiệu điện thế của pin mặt trời.
Pin mặt trời sau đó được nối trực tiếp vào mạch ngoài và tạo nên dòng điện.
Các pin năng lượng Mặt trời có nhiều ứng dụng trong thực tế. Do giá thành còn đắt, chúng đặc biệt thích hợp cho các vùng mà điện lưới khó vươn tới như núi cao, ngoài đảo xa, hoặc phục vụ các hoạt động trên không gian; cụ thể như các vệ tinh quay xung quanh quỹ đạo trái đất, máy tính cầm tay, các máy điện thoại cầm tay từ xa, thiết bị bơm nước... Các Pin năng lượng Mặt trời được thiết kế như những modul thành phần, được ghép lại với nhau tạo thành các tấm năng lượng Mặt trời có diện tích lớn, thường được đặt trên nóc các tòa nhà nơi chúng có thể có thể đó ánh sáng nhiều nhất, và kết nối với bộ chuyển đổi của mạng lưới điện. Các tấm pin Mặt Trời lớn ngày nay được lắp thêm bộ phận tự động điều khiển để có thể xoay theo hướng ánh sáng, giống như loài hoa hướng dương hướng về ánh sáng Mặt Trời.
== Lịch sử của pin mặt trời ==
Hiệu ứng quang điện được phát hiện đầu tiên năm 1839 bởi nhà vật lý Pháp Alexandre Edmond Becquerel lúc ông 19 tuổi khi đang làm thí nghiệm tại phòng nghiên cứu của cha. Willoughby Smith nhắc đến phát minh này trong một bài báo xuất bản ngày 20 tháng 2 năm 1873 trên tạp chí Nature. Tuy nhiên cho đến 1883 một pin năng lượng mới được tạo thành, bởi Charles Fritts, ông phủ lên mạch bán dẫn selen một lớp cực mỏng vàng để tạo nên mạch nối, thiết bị chỉ có hiệu suất 1%. Năm 1888, nhà vật lý học người Nga Aleksandr Stoletov tạo ra tấm pin đầu tiên dựa vào hiệu ứng quang điện được phát hiện bởi Heinrich Hertz trước đó vào năm 1887.
Albert Einstein đã giải thích được hiệu ứng quang điện vào năm 1905, công trình đã giúp ông giành giải Nobel vật lý năm 1921.
Vadim Lashkaryov phát hiện ra phân lớp p-n trong CuO và bạc sul-phát vào năm 1941.
Russell Ohl được xem là người tạo ra pin năng lượng Mặt trời đầu tiên năm 1946. Sven Ason Berglund đã có phương pháp liên quan đến việc tăng khả năng cảm nhận ánh sáng của pin.
Pin mặt trời đầu tiên có khả năng ứng dụng được ra mắt vào 25/4/1954 tại Bell Laboratories bởi Daryl Chapin, Calvin Souther Fuller và Gerald Pearson.
Pin mặt trời bắt đầu được quan tâm đặc biệt khi kết hợp với vệ tinh Vanguard I năm 1958.
== Nền tảng ==
Tìm hiểu về pin Mặt trời, thì cần một chút lý thuyết nền tảng về vật lý chất bán dẫn. Để đơn giản, miêu tả sau đây chỉ giới hạn hoạt động của một pin năng lượng tinh thể silic.
Nguyên tố Silic thuộc nhóm IVA trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, tức là có 4 electron lớp ngoài cùng. Silic nguyên tố không tìm thấy trong tự nhiên mà tồn tại dạng hợp chất phân tử ở thể rắn. Cơ bản có 2 loại chất rắn silicon, là đa thù hình (không có trật tự sắp xếp) và tinh thể (các nguyên tử sắp xếp theo thứ tự dãy không gian 3 chiều). Pin năng lượng Mặt trời phổ biến nhất là dạng đa tinh thể silicon.
Silic là vật liệu bán dẫn. Nghĩa là trong thể rắn của silic, tại một tầng năng lượng nhất định, electron có thể đạt được, và một số tầng năng lượng khác thì không được. Đơn giản hiểu là có lúc dẫn điện, có lúc không dẫn điện. Lý thuyết này căn cứ theo thuyết cơ học lượng tử.
Ở nhiệt độ phòng thí nghiệm (khoảng 28 °C), Silic nguyên chất có tính dẫn điện kém (cơ học lượng tử giải thích mức năng lượng Fermi trong tầng trống). Trong thực tế, để tạo ra các phân tử silic có tính dẫn điện tốt hơn, chúng được thêm vào một lượng nhỏ các nguyên tử nhóm III hay V trong bảng tuần hoàn hóa học. Các nguyên tử này chiếm vị trí của nguyên tử silic trong mạng tinh thể, và liên kết với các nguyên tử silic bên cạnh tương tự tạo thành một mạng silic (mạng tinh thể). Tuy nhiên các phân tử nhóm III có 3 electron ngoài cùng và nguyên tử nhóm V có 5 electron ngoài cùng, vì thế nên có chỗ trong mạng tinh thể có dư electron còn có chỗ thì thiếu electron. Vì thế các electron thừa hay thiếu electron (gọi là lỗ trống) không tham gia vào các kết nối mạng tinh thể. Chúng có thể tự do di chuyển trong khối tinh thể. Silic kết hợp với nguyên tử nhóm III (nhôm hay gali) được gọi là loại bán dẫn p bởi vì năng lượng chủ yếu mang điện tích dương (positive), trong khi phần kết hợp với các nguyên tử nhóm V (phốt pho, asen) gọi là bán dẫn n vì mang năng lượng âm (negative). Lưu ý rằng cả hai loại n và p có năng lượng trung hòa, tức là chúng có cùng năng lượng dương và âm, loại bán dẫn n, loại âm có thể di chuyển xung quanh, tương tự ngược lại với loại p.
== Vật liệu và hiệu suất ==
Đã có nhiều loại vật liệu khác nhau được thử nghiệm chế tạo pin Mặt trời. Có hai tiêu chuẩn đánh giá, là hiệu suất và giá cả.
Hiệu suất là tỉ số giữa năng lượng điện từ và năng lượng ánh sáng Mặt trời. Vào buổi trưa một ngày trời trong, ánh Mặt trời tỏa nhiệt khoảng 1000 W/m². trong đó 10% hiệu suất của 1 module 1 m² cung cấp năng lượng khoảng 100 W. hiệu suất của pin Mặt trời thay đổi từ 6% từ pin Mặt trời làm từ silic không thù hình, và có thể lên đến 30% hay cao hơn nữa.
Có nhiều cách để nói đến giá cả của hệ thống cung cấp điện (chính xác là phát điện), là tính toán cụ thể giá thành sản xuất trên từng kilo Watt giờ điện (kWh). Hiệu năng của pin Mặt trời tạo dòng điện với sự bức xạ của Mặt trời là 1 yếu tố quyết định trong giá thành. Nói chung, với toàn hệ thống, là tổ hợp các tấm pin Mặt trời, thì hiệu suất là rất quan trọng. Và để tạo nên ứng dụng thực tế cho pin năng lượng, điện năng tạo nên có thể nối với mạng lưới điện sử dụng dạng chuyển đổi trung gian; trong các phương tiện di chuyển, thường sử dụng hệ thống ắc quy để lưu trữ nguồn năng lượng chưa sử dụng đến. Các pin năng lượng thương mại và hệ thống công nghệ cho nó có hiệu suất từ 5% đến 15%. Giá của 1 đơn vị điện từ 50 Eurocent/kWh (Trung Âu) giảm xuống tới 25 eurocent/kWh trong vùng có ánh Mặt trời nhiều.
Ngày nay thì vật liệu chủ yếu chế tạo pin Mặt trời (và cho các thiết bị bán dẫn) là silic dạng tinh thể. Pin Mặt trời từ tinh thể silic chia ra thành 3 loại:
Một tinh thể hay tinh thể đơn (module) sản xuất dựa trên quá trình Czochralski. Đơn tinh thể loại này có hiệu suất tới 16%. Chúng thường rất đắt tiền do được cắt từ các thỏi silic hình ống, các tấm đơn thể này có các mặt trống ở góc nối các module.
Đa tinh thể làm từ các thỏi đúc - đúc từ silic nung chảy cẩn thận được làm nguội và làm rắn. Các pin này thường rẻ hơn các đơn tinh thể, tuy nhiên hiệu suất kém hơn. Tuy nhiên chúng có thể tạo thành các tấm vuông che phủ bề mặt nhiều hơn đơn tinh thể bù lại cho hiệu suất thấp của nó.
Dải silic tạo từ các miếng phim mỏng từ silic nóng chảy và có cấu trúc đa tinh thể. Loại này thường có hiệu suất thấp nhất, tuy nhiên loại này rẻ nhất trong các loại vì không cần phải cắt từ thỏi silicon.
Nền tảng chế tạo dựa trên Công nghệ sản suất tấm mỏng, có độ dày 300 μm và xếp lại để tạo nên các module tạo thành các loại pin trên.
== Sự chuyển đổi ánh sáng ==
Khi một photon chạm vào một mảnh silic, một trong hai điều sau sẽ xảy ra:
Photon truyền trực xuyên qua mảnh silic. Điều này thường xảy ra khi năng lượng của photon thấp hơn năng lượng đủ để đưa các hạt electron lên mức năng lượng cao hơn.
Năng lượng của photon được hấp thụ bởi silic. Điều này thường xảy ra khi năng lượng của photon lớn hơn năng lượng để đưa electron lên mức năng lượng cao hơn.
Khi photon được hấp thụ, năng lượng của nó được truyền đến các hạt electron trong mạng tinh thể. Thông thường các electron này lớp ngoài cùng, và thường được kết dính với các nguyên tử lân cận vì thế không thể di chuyển xa. Khi electron được kích thích, trở thành dẫn điện, các electron này có thể tự do di chuyển trong bán dẫn. Khi đó nguyên tử sẽ thiếu 1 electron và đó gọi là "lỗ trống". Lỗ trống này tạo điều kiện cho các electron của nguyên tử bên cạnh di chuyển đến điền vào "lỗ trống", và điều này tạo ra lỗ trống cho nguyên tử lân cận có "lỗ trống". Cứ tiếp tục như vậy "lỗ trống" di chuyển xuyên suốt mạch bán dẫn.
Một photon chỉ cần có năng lượng lớn hơn năng lượng đủ để kích thích electron lớp ngoài cùng dẫn điện. Tuy nhiên, tần số của Mặt trời thường tương đương 6000°K, vì thế nên phần lớn năng lượng Mặt trời đều được hấp thụ bởi silic. Tuy nhiên hầu hết năng lượng Mặt trời có tác dụng nhiệt nhiều hơn là năng lượng điện sử dụng được.
== Xem thêm ==
Tấm năng lượng Mặt trời
Điốt quang
Công nghệ thân thiện môi trường
Năng lượng Mặt trời
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Pin mặt trời tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Solar cell tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Việt Nam khuyến khích đầu tư điện Mặt trời |
ba tầm.txt | Ba tầm (Nôm: 𥶄𠀧尋) là cách gọi một loại nón của người Việt Nam, nay chưa rõ thời điểm xuất hiện. Đây là vật dụng tránh nắng mưa rất phổ biến của đàn bà Bắc Kỳ hồi trung đại, được chứng thực bởi nhiều sử ký và họa phẩm. Ở hậu kỳ hiện đại, ba tầm được sử dụng hiếm hơn và thường chỉ hiện diện trong các lễ hội.
== Nguồn gốc ==
Tên gọi ba tầm dựa theo đặc trưng của thứ nón này, trong các tư liệu của người Pháp cuối thế kỷ XIX, ba tầm được chuyển ngữ là Le chapeau de trois tầm (3 fois 8 pouces: 1m20), trong đó, tầm là đơn vị đo chiều dài của người Á Đông. Cứ theo sách Vũ trung tùy bút, nón ba tầm vốn được cách tân từ nón ngoan xác đã thất truyền hồi cuối thế kỷ XVIII, là sự kết hợp kiểu dáng của các thứ nón dâu, ngoan xác và viên cơ.
Ngoan xác (hoặc nôm na là nón mền giải, nón tam giang) nay không còn biết kiểu dáng ra sao, vốn là thứ nón dành cho người già thời Lê trung hưng về trước.
Toan bì (hoặc nón vỏ bứa) là thứ nón cách tân theo hướng giản lược từ nón ngoan xác.
Dâu (hoặc Giâu; Les chapeaux des brus) là thứ nón chỉ dành cho đàn bà, đỉnh nhọn và có vành phẳng đính đôi chùm chỉ thao.
Viên cơ là thứ nón được cho là xuất hiện ở miền Thanh Nghệ (nên còn có tên là nón nghệ, le chapeau de Nghệ-an), khi cuộc Loạn kiêu binh dấy lên thì đã thấy nhiều binh sĩ đội nón này.
== Đặc điểm ==
Nón ba tầm được lợp bằng lá cọ hoặc gồi, có hình dạng như cái lọng hoặc tai nấm, đỉnh phẳng, đường kính nón khoảng 70–80 cm, vành cao 10–12 cm hoặc hơn. Lòng nón đính một cái vành hình phễu gọi là khùa hoặc khua (Nôm: 摳) để gia cố nón trên đầu người sử dụng. Ngoài ra, người ta thường kết vào vành nón đôi chùm chỉ thao sặc sỡ để làm duyên, nên thảng hoặc được gọi là nón quai thao (Nôm: 𥶄乖絛).
== Nghệ thuật hóa ==
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Nón tơi
Lọng
== Tham khảo ==
Nón ba tầm, em xoay tròn tháng Giêng |
alexandria.txt | Alexandria (Tiếng Ả Rập, giọng Ai Cập: اسكندريه Eskendereyya; tiếng Hy Lạp: Aλεξάνδρεια), tiếng Copt: Rakota, với dân số 4,1 triệu, là thành phố lớn thứ nhì của Ai Cập, và là hải cảng lớn nhất xứ này, là nơi khoảng 80% hàng xuất khẩu và nhập khẩu của cả nước phải đi qua. Alexandria cũng là một trung tâm du lịch lớn.
Thành phố Alexandria dài khoảng 32 km (20 miles) dọc theo bờ Địa Trung Hải. Thành phố này là một trung tâm kỹ nghệ lớn nhờ có khí đốt và ống dẫn dầu đến từ kênh Suez. Các kỹ nghệ tại Alexandria gồm có nhà máy lọc dầu, nhà máy xi-măng, xưởng đóng tàu, dệt vải, thuộc da, làm giấy, kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất và cơ khí. Alexandria cũng là một trung tâm mậu dịch quan trọng giữa châu Âu và châu Á, nhờ vị trí gần kênh Suez.
Alexandria có trụ sở của giáo hội Chính thống giáo Coptic. Hơn 95% người Copt trên khắp thế giới là thành viên của giáo hội này. Số người Copt trên thế giới được ước lượng - với nhiều tranh cãi - từ 8 đến 18 triệu người.
Trước thời huy hoàng của thành Roma, Alexandria là thành phố đông dân nhất của khu vực Địa Trung Hải. Alexandria cũng nổi tiếng nhờ ngọn hải đăng Alexandria, một trong 7 kỳ quan của thế giới thời thượng cổ, khu văn hoá Museion nơi tập trung tinh hoa của giới trí thức Cổ Hy Lạp, thư viện Alexandria (lớn nhất thế giới phương tây thời thượng cổ), và nhiều toà kiến trúc nổi tiếng khác.
Alexandria ngày nay cũng là nơi nhiều di chỉ khảo cổ được tiếp tục khám phá, đặc biệt là những di chỉ khảo cổ dưới lòng biển kể từ năm 1994.
== Lịch sử ==
Năm 334 TCN, vua xứ Macedonia là Alexandros III (sau đó nổi tiếng với danh hiệu Alexandros Đại Đế) thống lĩnh liên quân Macedonia - Hy Lạp xâm lăng đế quốc Ba Tư. Cuối năm 332 TCN Alexandros Đại Đế chiếm được Ai Cập trong tay Ba Tư. Ngày 7 tháng 4 năm 331 TCN Alexandros ra lệnh xây một thành phố mới, mang tên ông: Alexandria, tại địa điểm của một thành phố xưa, đã có từ thời các pharaon, là thành Rhakotis. Vì vậy, người Copt, con cháu của người Ai Cập nguyên thủy, vẫn gọi Alexandria là Rakota.
Trong thời gian đầu, người ta thường gọi Alexandria của Ai Cập (và ngày nay tiếng Ý vẫn còn gọi Alessandria d'Egitto) vì Alexandros Đại Đế đã ra lệnh xây rất nhiều thành phố mang tên ông. Thành phố được quy hoạch bởi kỹ sư Dinocrates , với những con đường thẳng tắp, ngăn ra những khu phố hình vuông hoặc chữ nhật. Lúc bấy giờ chu vi của thành phố đã đo được khoảng 14 đến 16 km!
Alexandros Đại Đế qua đời năm 323 TCN. Một viên cận thần của ông là Ptolemaios hùng cứ Ai Cập và lập nhà Ptolemaios, lấy Alexandria làm thủ đô. Nhà Ptolemaios đã xây cho Alexandria khu văn hóa, thư viện, ngọn hải đăng, lăng Alexandros Đại Đế và nhiều kiến trúc khác. Dân số Alexandria lên đến 1 triệu người vào khoảng năm 230 TCN và được coi là thành phố đông dân nhất thế giới mà người Âu biết được lúc bấy giờ.
Ai Cập bị La Mã chiếm năm 30 TCN, và Alexandria trở thành thủ phủ của tỉnh Ai Cập trong đế quốc La Mã. Năm 115, có nội chiến giữa người Hy Lạp và Do Thái, khiến Alexandria bị tàn phá. Hoàng đế La Mã là Hadrian ra lệnh cho kiến trúc sư Decriannus chỉ huy xây lại thành phố. Ngày 21 tháng 7 năm 365, Alexandria bị sóng thần tàn phá (Vụ động đất năm 365 tại đảo Crete),
Ngày 8 tháng 11 năm 641, tướng Ả Rập là Amr ibn al-As ký hoà ước tiếp thu Alexandria trong tay đế quốc Đông La Mã. Từ đó Alexandria nằm trong vùng kiểm soát của người Ả Rập. Tên Alexandros vốn được Ả Rập hóa là Iskandar và Alexandria được người Ả Rập gọi là Iskandariya. Các chính quyền Ả Rập đặt thủ phủ ở Fustat và Cairo . Alexandria lùi về vị trí thành phố thứ nhì của Ai Cập, và đại khái giữ ngôi vị này cho đến ngày nay.
Quân Pháp của Napoléon chiếm Alexandria ngày 2 tháng 7 năm 1798. Quân Anh bao vây gần 6 tháng và chiếm Alexandria ngày 2 tháng 9 năm 1801. Tiếp theo đó Alexandria về tay tổng đốc Muhammad Ali của đế quốc Ottoman, người dựng lên một nước Ai Cập tự trị. Muhammad Ali cho xây lại thành phố khoảng năm 1810 và đến năm 1850 thì Alexandria lại có được vẻ huy hoàng của thời xưa.
Từ năm 1869, khi kênh Suez được khánh thành, Alexandria lại trở thành trung tâm buôn bán quan trọng nhất Ai Cập, với nhiều sắc dân nước ngoài đến định cư: người Hy Lạp, người Ý, người Pháp...
Năm 1882, Anh quốc đưa quân vào chiếm Ai Cập và Sudan. Trong cuộc xâm lăng này Alexandria bị hải quân Anh bắn phá vào tháng 7 năm 1882, trước khi bị người Anh chiếm lấy.
== Giao thông ==
Alexandria nằm về phía tây châu thổ sông Nile, giữa hồ Mareotis và đảo Pharos. Một con đường đê, có tên là Heptastade, nối liền thành phố với đảo Pharos, làm thành phố rộng thêm, và cũng ngăn bến cảng Alexandria thành hai bến đông và tây.
Alexandria có Sân bay El Nouzha, nằm cách thành phố 7 km về hướng đông nam, và Sân bay Borg al Arab cách trung tâm thành phố 25 km.
Các đường xa lộ dẫn đến Alexandria có:
Đường duyên hải quốc tế. (Alexandria - Port Said)
Đường sa mạc Alexandria - Cairo dài 220 km, rộng 6-8 hàng.
Đường "nông nghiệp" Alexandria - Cairo.
Đường Vòng quanh
Đường Ta'ameer "Mehwar El-Ta'ameer" - (Alexandria - bờ biển phía bắc)
Alexandria cũng có đường xe lửa, tramway (có từ năm 1860, xưa nhất châu Phi) và dĩ nhiên xe buýt.
== Khí hậu ==
Alexandria thuộc vùng khí hậu Địa Trung Hải, mùa đông ít lạnh mà nhiều mưa, hè nóng và ẩm. Tháng giêng và tháng hai lạnh nhất, nhiệt độ từ 12 °C (53 °F) đến 18 °C (64 °F). Alexandria hay có bão, mưa to gió lớn và đôi khi mưa đá. Tháng bảy và tháng tám nóng nhất, nhiệt độ trung bình lên đến 31 °C (87 °F). Hai mùa xuân thu là thời gian lý tưởng để tham quan Alexandria với nhiệt độ trung bình 22 °C (71 °F).
== Những nơi để tham quan ==
Phần lớn kiến trúc của thành phố cổ đại không còn tồn tại đến ngày nay. Chẳng hạn như kỳ quan hải đăng Alexandria đã bị phá hủy do một trận động đất. Tuy nhiên danh sách những nơi có thể viếng ở Alexandria cũng không ngắn:
=== Cột trụ Pompey ===
Cột trụ Pompey không có liên quan gì đến tướng Pompey người đã cùng Julius Caesar lập ra Tam Đầu Chế thứ nhất. Trụ này chỉ được dựng năm 293 thời hoàng đế Diocletian. Trụ cao 30 mét (99 ft), đường kính khoảng 3 mét ở chân và 2 mét 50 trên đỉnh, thân làm bằng đá hoa cương đỏ được đánh bóng. Nơi này xưa có đền Serapeum, cũng là nơi chứa một số sách của thư viện Alexandria.
=== Địa đạo Kom al-Soqqafa ===
Địa đạo lăng mộ Kom al-Soqqafa nằm không xa cột trụ Pompey, phía tây nam, trong có mê hồn trận nhiều tầng. Trong địa đạo còn nhiều cột trụ, tượng, quan tài, phòng tiếp tân... thời Ai Cập thuộc La Mã. Địa đạo này được kiến trúc vào cuối thế kỷ 1, sử dụng cho đến thế kỷ 4, và tái khám phá ngày 28 tháng 9 năm 1900.
=== Đồn Qayt Bay ===
Ở cổng vào bến cảng đông, đồn này do sultan Qayt Bey cho xây vào thập niên 1480. Đồn ở ngay vị trí của ngọn hải đăng Alexandria ngày trước. Ngọn hải đăng vốn bị động đất phá hủy khoảng năm 1100. Xây theo kiểu trung cổ, đồn Qayt Bey đã được hoàn toàn tái thiết năm 2001/2002; bên trong có viện bảo tàng Hải quân, trưng bày nhiều cổ vật của những trận hải chiến thời La Mã và thời Napoléon. Bên cạnh đồn có viện thủy sinh học nuôi rất nhiều giống cá hiếm.
=== Đấu trường Kom-el-Dick ===
Đấy chỉ là một đấu trường nhỏ, nhưng trong nước chỉ có một. Những cuộc khai quật vẫn được tiếp tục tiến hành ở đấy từ thập niên 1970. Đấu trường nằm trong khu vườn du ngoạn thời nhà Ptolemaios, có khoảng 800 chỗ ngồi, gồm 13 hàng ghế bằng đá hoa trắng, loại đá đem từ châu Âu sang. Những hàng cột làm bằng đá hoa màu lục, đem từ Tiểu Á sang, và đá hoa màu đỏ đem từ Aswan ở miền nam Ai Cập.
Bên ngoài, còn những mái vòm và tường bằng đá, các nhà tắm La Mã làm bằng gạch và phế tích của những căn nhà thời La Mã.
Trong khuôn viên đấu trường này vừa được xây dựng một viện bảo tàng mới, lộ thiên, để trưng bày những thành quả của môn khảo cổ dưới lòng biển đem lên được từ thềm lục địa Alexandria. Đáng chú ý nhất là những tượng nhân sư, cột trụ obelisk, cột trụ hình chỉ thảo (papyriform) và mảnh của những pho tượng khổng lồ.
=== Viện bảo tàng Hy - La ===
Thành lập năm 1892, viện bảo tàng Hy Lạp - La Mã của Alexandria được dời về địa điểm ngày nay - gần lộ Gamal Abdul Nasser - năm 1895. Nơi đây trưng bày hàng nghìn cổ vật từ thế kỷ 3 TCN về sau, phản ánh khá nhiều về đời sống và văn minh Hy - La tại Ai Cập.
=== Viện bảo tàng châu báu hoàng gia ===
Nằm trong một cung điện của vua Farouk ngày trước, viện bảo tàng này quy tụ nhiều đồ trang sức và báu vật đã thuộc về gia đình nhà Muhammad Ali (1805 - 1952). Khi ngắm nhìn bàn cờ vua có cẩn nhiều đá quý của lãnh tụ Muhammad Ali của Ai Cập hoặc vương miện có 1506 viên kim cương của hoàng hậu Farida, nhiều người tưởng mình đang sống trong truyện thần tiên.
=== Viện bảo tàng quốc gia Alexandria ===
Trưng bày các cổ vật xuất xứ từ tất cả các thời đại của lịch sử Ai Cập. Dưới hầm là một toà lô-cốt xưa, dành cho những cổ vật thời các pharaon.
=== Những vườn thượng uyển của Montaza ===
Những ngôi vườn này được bao quanh bởi những bức tường cao phía nam, đông và tây, và bãi biển phía bắc. Khu vực này là đất của hoàng gia nhà Muhammad Ali. Trong khu này có cung Salamlek, do khedive Abbas II cho xây năm 1892; và cung Haramlik do vua Fuad I cho xây năm 1932.
=== Bibliotheca Alexandrina ===
Đề án làm tái sinh thư viện Alexandria để trở thành thư viện lớn nhất thế giới được tiến hành từ cuối thế kỷ 20 do sự cộng tác của cơ quan UNESCO và nhà nước Ai Cập. Thư viện tái sinh Bibliotheca Alexandrina đã được khánh thành ngày 16 tháng 10 năm 2002.
Bibliotheca Alexandrina có những phòng đọc sách chứa được đến 2000 người đọc, 3 viện bảo tàng, 5 viện nghiên cứu, và nhiều phòng triển lãm. Có đến 7 tầng phòng đọc sách, mà 4 tầng nằm dưới mực nước biển.
Một viện bảo tàng dành triển lãm hàng ngàn tài liệu viết tay, trong đó có 2 quyển Kinh Thánh do toà thánh Vatican biếu tặng. Ngoài ra còn có một bản sao y phiến đá thành Rosetta, tài liệu đã giúp nhà khảo cổ Jean-François Champollion giải mã được văn tự Cổ Ai Cập.
=== Các nơi khác ===
Điện Montaza, ở khu Montaza
Điện Ras el-Tin, ở khu Ras el-Tin
Phủ tổng thống, ở khu Maamoura
Viện bảo tàng mỹ nghệ (The Museum of Fine Arts)
Viện bảo tàng Cavafy
Vườn Antoniades
Những vườn Shallalat
Sở thú Alexandria
Green Plaza
Fantazy Land
Bãi biển Maamoura Beach, Alexandria
Làng Marina
== Ngôn ngữ địa phương ==
Tiếng Ả Rập, khi nói đến Alexandria một cách trang trọng thì người ta thêm chữ al phía trước: al-Iskandareyya(h) (الإسكندرية), chẳng hạn trong các sách vở hoặc bài diễn văn. Chữ h sau chót luôn luôn được viết, nhưng khi thì được phát âm, khi thì không, vì không bắt buộc.
Các khẩu âm khác nhau ở Ai Cập có thể phát âm là Eskenderreya hoặc Iskindereyya(h), nhưng viết thì y như nhau. Tiếng Ả Rập tiêu chuẩn thì phát âm là Iskandariyya(h).
Những người sinh trưởng tại Alexandria và tại thủ đô Cairo thì gọi Alexandria là "Alex" khi nói chuyện thông thường hàng ngày.
Tiếng Ả Rập, phương ngữ Ai Cập gọi người sinh trưởng ở Alexandria, hoặc người từ Alexandria đến là Esakandarani (اسكندراني).
== Giáo dục ==
=== Đại học ===
Những trường đại học nổi tiếng ở Alexandria có:
Alexandria University
Arab Academy for Science and Technology and Maritime Transport
Alexandria Institute of Technology (AIT)
High Institute For Computers & Information Systems - HICIS Abo Qir
Pharos University in Alexandria
Université Senghor, trường đại học với ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Pháp, khánh thành năm 1990.
=== Trung học ===
Alexandria có khá nhiều trường ngoại quốc (Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ), và nhất là Pháp, với đến 4 trường mang tên "École Soeurs Franciscaines". Những trường trung học nổi tiếng ở Alexandria có:
Abbas Helmy High School
Al Abaseya High School
Al-Madina Al-Monawara High School
Alexandria House of English
British School of Alexandria
Collège Saint Marc
Deutsche Schule der Borromärinnen DSB A "Saint Charles Borromé"
École Champollion
École Sainte Catherine
Egyptian American School
Egypt Modern School
El Nasr Boys' School
El Nasr Girls' College
Gamal Abdel Nasser High School
Lycée Al-Horreya
Manar English Girls School
Mubarak Technological School (MTS)
Moharram Bey Schools
Modern American School
Pioneers American sporting school
Riada Language School (RLS)
Sacred Heart Girls' School (SHS)
Schutz American School
Sidi Gaber Language School {SLS}
Taymour English School (TES)
Victoria College
Zahran Language School (Z.L.S)
== Danh nhân ==
Nhiều nhân vật nổi tiếng xưa nay là người sinh trưởng tại Alexandria hoặc đã chọn Alexandria làm quê hương thứ hai, như:
Kleopatra VII (Nữ hoàng Ai Cập)
Eratosthenes (Nhà bác học)
Euclid (Nhà toán học, mệnh danh "cha đẻ của môn hình học")
Gamal Abdel Nasser (Tổng thống Ai Cập)
Haim Saban (Nhà tỉ phú Hoa Kỳ)
Omar Sharif (Diễn viên người Ai Cập)
Tawfiq al-Hakeem (Nhà văn Ai Cập)
Youssef Chahine (Nhà đạo diễn người Ai Cập)
== Sự ngưỡng vọng ==
Sự ngưỡng vọng, yêu mến Alexandria đã khiến nhiều người Âu Mỹ viết lên nhiều công trình, tác phẩm về thành phố này, cộng với những công trình của người địa phương:
=== Nhạc phẩm ===
==== Tiếng Anh ====
Alexandria do Kamelot
==== Tiếng Ả Rập ====
Ahsan Nas do Dalida.
Leil Eskendereya do Moustafa Amar.
Shat Eskendereya do Fairouz.
Ya Eskendereya do Mohamed Mounir.
Ya Wad Ya Eskandarany do Moustafa Amar.
==== Tiếng Hy Lạp ====
Alexandrinos do Yannis Kotsiras.
==== Tiếng Pháp ====
Alexandrie do Georges Moustaki.
Alexandrie, Alexandra do Claude François.
=== Tiểu thuyết ===
Academic Year (1955, khởi biên vào cuối thập niên 1940) do D.J. Enright.
The Alexandria Semaphore do Robert Sole
The Alexandria Quartet (1957-60, khởi biên vào cuối thập niên 1930) do Lawrence Durrell.
The Bat (trong bộ ba Drifting Cities) (1965, khởi biên 1943-44) do Stratis Tsirkas.
The Beacon at Alexandria (1986) do Gillian Bradshaw.
City of Saffron (dịch năm 1989, khởi biên vào thập niên 1930) do Edwar Al-Kharrat.
The Danger Tree (1977, khởi biên 1942) do Olivia Manning.
Girls of Alexandria (dịch năm 1993, khởi biên vào thập niên 1930) do Edwar Al-Kharrat.
Miramar (1967) do Naguib Mahfouz.
No One Sleeps in Alexandria (1996, khởi biên thời Đệ Nhị Thế Chiến) do Ibrahim Abdel Meguid.
Pashazade (2001, quyển đầu của bộ ba Arabesk trilogy do Jon Courtenay Grimwood.
== Xem thêm ==
Thư viện Alexandria
Hải đăng Alexandria
Ai Cập thuộc Hy Lạp
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
De Graauw, Arthur, "Port engineering aspects of the Magnus Portus in Alexandria", tạp chí PIANC Bulletin số 103, trang 31-41, Brussels 2000.
Fraser, P.M.: "Ptolemaic Alexandria", Clarendon Press, Oxford 1972.
Goddio, Frank: "Alexandrie, les quartiers royaux submergés", Periplus Publishing Ltd., London 1998, isbn = 1-902699-00-7.
Haag, Michael: "Alexandria: City of Memory" (London and New Haven, 2004). A social, political and literary portrait of cosmopolitan Alexandria during the nineteenth and twentieth centuries.
Jouguet, Pierre: "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Editions "La Renaissance du Livre" 1926 - Ré-Edition par Albin Michel 1972, Paris.
Von Hagen, Victor W.: The Roads that led to Rome The World Publishing Company, Cleveland and New York. 1967.
== Liên kết ngoài ==
Official website
Expatriates in Alexandria
British Council's Lawrence Durrell Celebration in Alexandria
Read more and see photo galleries about Alexandria (tiếng Anh)
Richard Stillwell, ed. Princeton Encyclopedia of Classical Sites, 1976: "Alexandria, Egypt"
Landmarks in Alexandria (tiếng Anh)
Centre d'Études Alexandrines
Détails sur le port antique et pdf de l'ouvrage de Gaston Jondet, 1916
=== Bản đồ Alexandria ===
Bản đồ từ from Multimap hoặc GlobalGuide hoặc Google Maps
Hình ảnh từ trên không trung lấy từ TerraServer
Hình ảnh chụp từ vệ tinh lấy từ WikiMapia |
juti.txt | Juti là một đô thị thuộc bang Mato Grosso do Sul, Brasil. Đô thị này có diện tích 1584,599 km², dân số năm 2007 là 5358 người, mật độ 3,38 người/km².
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cơ sở dữ liệu các đô thị của Brasil
Inwonertallen 2009 |
tuyên ngôn quốc tế nhân quyền.txt | Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ. Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân, được hưởng, không phân biệt chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác (điều 2). Nó bao gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia. Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II. Năm 1966, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn.
Điều khoản cuối cùng thuộc về bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".
== Toàn văn ==
Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc
Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.
Xét rằng: Nhân quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.
Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.
Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.
Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.
Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.
Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.
Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.
Ðiều 1:
Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.
Ðiều 2:
Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.
Ðiều 3:
Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.
Ðiều 4:
Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.
Ðiều 5:
Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.
Ðiều 6:
Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.
Ðiều 7:
Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.
Ðiều 8:
Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến pháp và Luật Pháp quy định.
Ðiều 9:
Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.
Ðiều 10:
Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.
Ðiều 11:
Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.
Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không quy định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.
Ðiều 12:
Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.
Ðiều 13:
Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở.
Ðiều 14:
Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.
Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Ðiều 15:
Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.
Ðiều 16:
Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.
Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.
Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.
Ðiều 17:
Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.
Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.
Ðiều 18:
Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.
Ðiều 19:
Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.
Ðiều 20:
Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa.
Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.
Ðiều 21:
Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.
Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.
Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.
Ðiều 22:
Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.
Ðiều 23:
Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.
Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.
Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.
Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.
Ðiều 24:
Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.
Ðiều 25:
Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.
Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.
Ðiều 26:
Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.
Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.
Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.
Ðiều 27:
Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia sẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.
Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.
Ðiều 28:
Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.
Ðiều 29:
Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.
Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
Ðiều 30:
Không một điều nào trong Bản Tuyên ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên ngôn này.
Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948
== Xem thêm ==
Liên Hiệp Quốc
Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc
Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế
Các văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực
Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị
Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
Magna Carta, Đại hiến chương thời Trung cổ
== Liên kết ngoài ==
The Universal Declaration of Human Rights
(tiếng Việt) Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.
(tiếng Anh) Ảnh tư liệu về Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
(tiếng Anh) Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.