filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
leixões sc.txt | Câu lạc bộ thể thao Leixões, thường được biết đến với tên gọi Leixões, là một câu lạc bộ thể thao ở Matosinhos, Bồ Đào Nha. Được tổ chức thành nhiều bộ phận chuyên biệt trong các lĩnh vực như bóng đá, quyền anh, karate, bóng chuyền, bơi lội, và bi-a (billiards). Đội tuyển bóng đá chuyên nghiệp của CLB là đội tuyển được biết đến nhiều nhất. Cầu thủ bóng đá nổi tiếng của Việt Nam là Lê Công Vinh đã tham gia tập huấn tại CLB bóng đá Leixões, theo hợp đồng cho mượn 4 tháng giữa Leixões SC và T&T Hà Nội FC.
== Lịch sử ==
Leixões Sport Club được thành lập vào năm 1907, trở thành một trong những câu lạc bộ thể thao đang hoạt động lâu đời nhất của Bồ Đào Nha. Mặc dù không nổi tiếng như nhiều CLB khác ở châu Âu nhưng trong thập niên 1960, CLB đã giành được Cúp Bồ Đào Nha (thắng CLB FC Porto năm 1961) và thường xuyên tranh tài tại các Cúp châu Âu. CLB sau đó không còn xuất hiện vào cuối thập niện 1970 theo trào lưu đi xuống của bóng đá Bồ Đào Nha và dường như hoàn toàn bị lãng quên. Tuy nhiên, vào năm 2002, CLB đã trở lại ngoạn mục bằng chiến tháng 3-1 trước CLB Sporting Braga để dành một chỗ trong trận chung kết Cúp QG và một suất dự Cúp UEFA mùa sau. Trong trận chung kết, họ để thua 1-0 trước Sporting Clube de Portugal, đội sau này trở thành vô địch quốc gia cùng năm. Mùa giải tiếp theo, CLB thua 5-3 cả hai lượt trận trước đại diện của Hy Lạp CLB PAOK sau chiến thắng 2-1 trong trận lượt đi trên sân nhà, và bị loại ngay vòng đầu tiên của Cúp UEFA. Cùng năm, CLB giành chức vô địch giải Segunda Divisão (Hạng Nhì) với 94 điểm và giành một suất lên chơi Hạng Nhất. Năm 2004, CLB thành công trong việc trụ hạng với vị trí thứ 14. Một năm sau đó, họ đứng thứ 7 sau khi kết thúc mùa giải. Vào năm 2006 họ cũng gần như đoạt được tham vọng lên chơi ở giải Ngoại Hạng, để thua CLB Desportivo das Aves trong cuộc đua tranh vé vớt, với vị trí thứ 3 cùng hai điểm ít hơn Aves. Cuối cùng, năm 2007, sau 18 năm bị rớt hạng, CLB đã có thể góp mặt ở giải đấu lớn nhất Bồ Đào Nha, Portuguese Liga.
== Đội hình hiện tại ==
Tính tới thời điểm 1 tháng 8 năm 2013.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== châu Âu ==
Cup Winners' Cup 1961-62
07/09 Chaux Fonds 6-2 Leixões
05/10 Leixões 5-0 Chaux Fonds
23/11 Leixões 1-1 Progresul Bucureşti
30/11 Progresul Bucureşti 0-1 Leixões
22/02 Motor Jena 1-1 Leixões
25/02 Leixões 1-3 Motor Jena
Inter-Cities Fairs Cup 1964/65
23/09 Leixões 1-1 Celtic
07/10 Celtic 3-0 Leixões
Inter-Cities Fairs Cup 1968/69
19/09 Leixões 1-1 Argeş Piteşti
02/10 Argeş Piteşti 0-0 Leixões
UEFA Cup 2002/03
15/08 Leixões 2-2 Belasica
29/08 Belasica 1-2 Leixões
17/09 Leixões 2-1 PAOK
03/10 PAOK 4-1 Leixões
== Các sự kiện chính ==
CLB được thành lập vào năm 1907 và ăn mừng kỷ niệm 100 năm thành lập bằng việc thăng hạng lên Portuguese Liga năm 2007
Vị thứ cao nhất CLB đạt được là thứ 5 tại mùa giải 1962-63
Vòng đấu họ đi sâu nhất ở cúp châu Âu là vòng tứ kết (UEFA Cup Winner's Cup) mùa giải 1961/62
== Danh hiệu ==
Cúp Bồ Đào Nha — 1961
Cúp Bồ Đào Nha — Thứ Nhì 2002
Siêu Cúp Bồ Đào Nha — Thứ Nhì
Liga de Honra — 2007
Portuguese Second Division — 2003
== Lịch sử các giải đấu và cúp ==
CLB có 22 lần góp mặt ở top trên của bóng đá Bồ Đào Nha, và lọt vào hai trận chung kết cúp, giành chiến thắng một lần, đánh bại CLB FC Porto trên sân khách (Estádio das Antas).
CL: Campeonato da Liga (đội chiến thắng không được xem là vô địch Bồ Đào Nha)
1D: Portuguese Liga và các tên gọi trước (Ngoại Hạng)
2H: Liga de Honra (Hạng Nhất)
2DN: Portuguese Second Division, Vùng phía Bắc (trước-1991: Hạng Nhì; sau 1991: Hạng Ba)
CWC: Cup Winners' Cup
FC: Fairs Cup
UC: UEFA Cup
== Các môn thể thao khác ==
Leixões SC tranh tài ở quyền anh, karate, bóng chuyền, bơi lội, và billiards.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Leixões SC (bóng chuyền)
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Leixões Sport Club
Tin tức về Leixões (Tiếng Anh)
Công Vinh chính thức gia nhập biên chế CLB Leixões
Công Vinh thi đấu cho Leixões |
fedora.txt | Fedora, trước đây gọi là Fedora Core, là một Bản phân phối Linux dựa trên RPM Package Manager, được phát triển dựa trên cộng đồng theo "Dự án Fedora (Fedora Project) và được bảo trợ bởi Red Hat.
Dự án Fedora nhắm tới mục đích tạo ra một hệ điều hành mã nguồn mở hoàn chỉnh để sử dụng cho các mục đích tổng quát. Fedora được thiết kế để có thể dễ dàng cài đặt với chương trình cài đặt mang giao diện đồ họa. Các gói phần mềm bổ sung có thể tải xuống và cài đặt một cách dễ dàng với công cụ yum. Các phiên bản mới hơn của Fedora có thể được phát hành mỗi 6 hoặc 8 tháng.
Tên gọi Fedora Core là nhằm mục đích phân biệt giữa gói phần mềm chính của Fedora với các gói phần mềm phụ trội, bổ sung cho Fedora.
Hỗ trợ kỹ thuật của Fedora đa số là đến từ cộng đồng (mặc dù Red Hat có hỗ trợ kỹ thuật cho Fedora nhưng không chính thức).
Fedora còn được gọi là Fedora Linux, nhưng đây không phải là tên gọi chính thức của nó.
== Các đặc điểm ==
Fedora Core sử dụng GNOME như là môi trường đồ hoạ mặc định. Bên cạnh đó người dùng cũng có thể lựa chọn các môi trường làm việc khác như KDE, XFCE, hay đơn giản hơn nữa với các trình quản lý cửa sổ như icewm, fluxbox,...
Một số công cụ quản trị của Fedora Core được viết bằng Python - một ngôn ngữ kịch bản hướng đối tượng. Ví dụ điển hình là công cụ yum, dùng để quản lý và cài đặt các gói phần mềm theo định dạng RPM.
== Các phiên bản ==
=== Hiện có ===
Hiện nay Fedora đã có phiên bản thứ 16 chính thức và có thể tải về tại website của dự án. Phiên bản 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 và 15 cũng đã được tung ra trước đó.
Từ phiên bản 7 trở đi, dự án chính thức mang tên Fedora.
Fedora Core 6 (FC6, tên phát hành là Zod), được phát hành vào ngày 24 tháng 10 năm 2006. Phiên bản này tích hợp GNOME 2.16, KDE 3.5.4, Xorg 7.1, GCC 4.1.1 và nhân Linux (Linux kernel) phiên bản 2.6.18.
Phiên bản mới này có cải thiện về giao diện (font DejaVu mới, "puplet" - một biểu tượng thông báo update ở góc màn hình...); các chương trình ứng dụng được áp dụng DT_GNU_HASH; trình cài đặt Anaconda cho phép tải xuống các gói phần mềm không có sẵn trong bộ cài bằng cách thêm vào các kho YUM khác nhau, hỗ trợ IPv6; nhân 2.6.18 dùng chung cho các bộ xử lý SMP và UP.
Fedora Core 5 (FC5, tên phát hành là Bordeaux), được phát hành vào ngày 20 tháng 3 năm 2006. Phiên bản này tích hợp GNOME 2.14, KDE 3.5.1, Xorg 7.0, GCC 4.1 và nhân Linux (Linux kernel) phiên bản 2.6.16
Fedora Core 4 (FC4, tên phát hành là Stentz), được phát hành vào ngày 13 tháng 6 năm 2005. Phiên bản này hỗ trợ các loại vi xử lý i386, AMD64 và PowerPC. Phiên bản này tích hợp GNOME 2.10, KDE 3.4, GCC 4.0 và nhân Linux (Linux kernel) 2.6.11
Fedora Core 3 (FC3, tên phát hành là Heidelberg), được phát hành vào ngày 8 tháng 11 năm 2004. Phiên bản này hỗ trợ các loại vi xử lý i386 và AMD64. Phiên bản này tích hợp GNOME 2.8, KDE 3.3.0, X.Org Server 6.8.1 và nhân Linux (Linux kernel) 2.6.9
Fedora Core 2 (FC2, tên phát hành là Tettnang), được phát hành và ngày 18 tháng 5 năm 2004. Phiên bản này tích hợp GNOME 2.6, KDE 3.2.1, SELinux và nhân Linux (Linux kernel) 2.6 Đây là phiên bản đầu tiên sử dụng X.Org Server thay thế cho XFree86. Phiên bản này đã bị phàn nàn khá nhiều vì các sự cố khi chạy song song với Windows XP.
Fedora Core 1 (FC1, tên mã là Cambridge, tên phát hành là Yarrow), được phát hành vào ngày 6 tháng 11 năm 2003. Phiên bản này được phát triển từ Red Hat Linux 9 và được tích hợp hệ thống cập nhật tự động Yum cùng với các hỗ trợ cho máy vi tính xách tay. Một phiên bản dành cho AMD64 đã xuất hiện vào tháng 3 năm 2004.
=== Bảng so sánh các phiên bản đã có ===
=== Các phiên bản dự kiến phát hành ===
== Fedora Core và Red Hat Enterprise Linux ==
Fedore Core là kết quả của một chiến lược kinh doanh mới của công ty Red Hat vào năm 2003. Red Hat đã tách dòng Red Hat Linux trước đó thành 2 dòng mới. Fedora Core là dòng sản phẩm được cung cấp miễn phí và Red Hat Enterprise Linux là dòng sản phẩm thương mại.
== Xem thêm ==
Linux
Red Hat Enterprise Linux
Danh sách các bản phân phối Linux
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.redhat.com/Fedora/
Cách cài đặt Fedora Core 6 & mọi thứ liên quan
Cách cài đặt Fedora Core 5 & mọi thứ liên quan
Tiến trình cài đặt Fedora Core 5 tại Wikibook
Tải xuống Fedora Core
Truy cập CVS của Fedora Core
Bản livecd dựa trên FC6 với hỗ trợ tiếng Việt |
2 tháng 1.txt | Ngày 2 tháng 1 là ngày thứ 2 trong lịch Gregory. Còn 363 ngày trong năm (364 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
366 – Một lượng lớn người Alemanni băng qua sông Rhine đang đóng băng, xâm nhập Đế quốc La Mã.
533 – Mercurius trở thành Giáo hoàng Gioan II, ông là vị giáo hoàng đầu tiên nhận tên mới khi trở thành giáo hoàng.
1076 – Liêm Châu thất thủ trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076 của quân Đại Việt.
1254 – Quân Mông Cổ dưới quyền Hốt Tất Liệt chiếm kinh thành của Đại Lý, Quốc vương Đoàn Hưng Trí đầu hàng, tức ngày 12 tháng 12 năm Quý Sửu.
1776 – Maria Theresia của Áo bãi bỏ tra tấn.
1788 – Georgia trở thành bang thứ tư phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ.
1861 – Wilhelm I trở thành quốc vương của Phổ, kế vị Friedrich Wilhelm IV.
1863 – Nội chiến Hoa Kỳ: Trận Stones River kết thúc với chiến thắng của quân miền Bắc.
1905 – Chiến tranh Nga-Nhật: Đội quân Nga đồn trú tại Lữ Thuận Khẩu đầu hàng, kết thúc trận chiến dài nhất và bạo lực nhất của cuộc chiến.
1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Nhật Bản chiếm được Manila, Philippines.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Đồng Minh oanh tạc ác liệt Nürnberg, Đức.
1963 – Trận Ấp Bắc, lần đầu tiên chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận được sử dụng tại Việt Nam.
1967 – Cựu diễn viên Ronald Reagan bắt đầu sự nghiệp trong chính phủ của mình khi tuyên thệ nhậm chức thống đốc thứ 33 của California.
1971 – 66 cổ động viên thiệt mạng trong một sự cố xô đẩy sau trận đấu bóng đá giữa hai câu lạc bộ Rangers và Celtic tại Glasgow, Scotland.
1982 – Hosni Mubarak thôi giữ chức thủ tướng của Ai Cập, song vẫn tiếp tục nắm giữ chức tổng thống.
1989 – Nguyên mẫu máy bay chở khách Tu-204 của Liên Xô tiến hành chuyến bay đầu tiên từ sân bay Ramenskoye.
2002 – Eduardo Duhalde được Quốc hội bầu làm tổng thống của Argentina.
2004 – Tàu vũ trụ Stardust bay thành công qua sao chổi 81P/Wild, thu thập các mẫu để đưa về Trái Đất.
2008 – Giá dầu mỏ tăng kỷ lục, đạt tới mức 100 đô la Mỹ một thùng dầu lần đầu tiên trong lịch sử.
== Sinh ==
869 – Thiên hoàng Yōzei của Nhật (m. 949)
1642 – Mehmed IV, sultan của Đế quốc Ottoman (m. 1693)
1656 – Franz Lefort, đô đốc gốc Thụy Sĩ của Nga, tức 23 tháng 12 năm 1655 theo lịch Julius (m. 1699)
1699 – Osman III, sultan của Đế quốc Ottoman (m. 1757)
1822 – Rudolf Clausius, nhà vật lý học người Đức (m. 1888)
1827 – Kraft Karl August zu Hohenlohe-Ingelfingen, tướng lĩnh và nhà văn người Đức (m. 1892)
1837 – Mily Alexeyevich Balakirev, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm người Nga, tức 21 tháng 12 năm 1836 theo lịch Julius (m. 1910)
1862 – Đường Thiệu Nghi, nhân vật chính trị, nhà ngoại giao người Trung Quốc, tức 3 tháng 12 năm Tân Dậu (m. 1938)
1873 – Têrêsa thành Lisieux, nữ tu sĩ người Pháp (m. 1897)
1919 – Đỗ Tất Lợi, nhà dược học người Việt Nam (m. 2008)
1920 – Isaac Asimov, nhà hóa sinh học, nhà văn người Mỹ (m. 1992)
1930 – Đặng Hữu, chính trị gia người Việt Nam
1935 – Nguyễn Thắng Vu, nhà quản lý xuất bản người Việt Nam (m. 2010)
1937 – Đức Hoàn, diễn viên và đạo diễn người Việt Nam (m. 2009)
1938 – Goh Kun, chính trị gia người Hàn Quốc, thủ tướng của Hàn Quốc
1944 – Norodom Ranariddh, chính trị gia và thành viên vương thất Campuchia, thủ tướng của Campuchia
1952 – Ngô Mạnh Đạt, diễn viên người Hồng Kông
1968 – Oleg Deripaska, doanh nhân người Nga
1960 – Urasawa Naoki, mangaka người Nhật Bản
1981 – Maxi Rodríguez, cầu thủ bóng đá người Argentina
1990 – Khởi My, ca sĩ người Việt Nam
1991 – Davide Santon, cầu thủ bóng đá người Ý
== Mất ==
1546 – Myōkyū, phu nhân người Nhật Bản, tức 30 tháng 11 năm Ất Tị (s. 1499)
1861 – Friedrich Wilhelm IV, quốc vương của Phổ (s. 1795)
1904 – James Longstreet, tướng lĩnh người Mỹ (s. 1821)
1913 – Léon Teisserenc de Bort, nhà khí tượng học người Pháp (s. 1855)
1953 – Guccio Gucci, nhà thiết kế thời trang người Ý (s. 1881)
2003 – Phạm Khuê, bác sĩ, chính trị gia người Việt Nam (m. 1925)
2008 – Galyani Vadhana, công chúa của Thái Lan (s. 1923)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
hmas quiberon (g81).txt | HMAS Quiberon (G81/D20/D281/F03) là một tàu khu trục lớp Q phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Australia. Cho dù được chế tạo như một phần của Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh cho Hải quân Hoàng gia Anh, và là tài sản của Anh Quốc cho đến năm 1950, Quiberon là một trong số hai tàu khu trục lớp Q được biên chế cùng Hải quân Australia trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó được chuyển thuộc quyền sở hữu của Australia năm 1950, và cải biến thành một tàu frigate chống tàu ngầm trước khi ngừng hoạt động năm 1964 và bị tháo dỡ năm 1972.
== Thiết kế và chế tạo ==
Quiberon là một trong số tám tàu khu trục lớp Q được chế tạo như Chi hạm đội Khẩn cấp 3 trong Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh. Các con tàu này có trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 1.692 tấn Anh (1.719 t), và lên đến 2.411 tấn Anh (2.450 t) khi đầy tải. Nó có chiều dài chung 358 foot 3 inch (109,19 m) và chiều dài ở mực nước là 339 foot 6 inch (103,48 m); mạn thuyền rộng 35 foot 9 inch (10,90 m). Động lực được cung cấp bởi hai nồi hơi Admiralty ba nồi gắn liền với hai turbine hơi nước Parsons, cung cấp một công suất 40.000 shp (30.000 kW) để dẫn động hai trục chân vịt. Quiberon có khả năng đạt tốc độ 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph); nó có tầm xa hoạt động 1.150 hải lý (2.130 km; 1.320 mi) ở tốc độ 32 hải lý một giờ (59 km/h; 37 mph) và 3.560 hải lý (6.590 km; 4.100 mi) ở tốc độ 8 hải lý một giờ (15 km/h; 9,2 mph). Thủy thủ đoàn của con tàu bao gồm 8 sĩ quan và 181 thủy thủ.
Dàn vũ khí chính của Quiberon bao gồm bốn khẩu pháo QF 4,7 in (120 mm) Mark XI** trên các bệ nòng đơn. Chúng được bổ sung bởi một khẩu đội QF 2 pounder Mk.VIII “pom-pom” phòng không bốn nòng và sáu khẩu Oerlikon 20 mm nòng đơn phòng không và hai dàn ống phóng ngư lôi bốn nòng dành cho ngư lôi 21 inch (530 mm) Mk. IX. Con tàu còn có bốn máy phóng mìn sâu, và mang theo cho đến 70 quả mìn.
Quiberon được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng J. Samuel White and Company ở Cowes thuộc đảo Wight vào ngày 10 tháng 10 năm 1940. Nó được hạ thủy vào ngày 31 tháng 1 năm 1942, được đỡ đầu bởi phu nhân Chuẩn đô đốc S. D. Tillard, tư lệnh hải quân Southampton; và được nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Australia vào ngày 6 tháng 7 năm 1942. Cho dù nhập biên chế như một tàu chiến Hải quân Australia, nó vẫn thuộc quyền sở hữu của Hải quân Anh. Tên con tàu được đặt theo Trận chiến vịnh Quiberon diễn ra năm 1759.
== Lịch sử hoạt động ==
=== Thế Chiến II ===
Quiberon thoạt tiên làm nhiệm vụ hộ tống vận tải tại Bắc Đại Tây Dương, hoạt động ngoài khơi Scapa Flow. Nó được điều động để hỗ trợ cho Chiến dịch Torch, cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên Bắc Phi vào tháng 10 năm 1942. Vào ngày 28 tháng 11, nó đã tấn công và đánh chìm tàu ngầm Ý Dessiè ngoài khơi bờ biển Tunisia. Sau đó chiếc tàu khu trục được phân về Lực lượng Q đặt căn cứ tại Bone, bao gồm ba tàu tuần dương và hai tàu khu trục chị em cùng lớp Q. Khoảng nữa đêm ngày 1 tháng 12, lực lượng đã phát hiện và tấn công một đoàn tàu vận tải Ý gồm bốn tàu buôn và các tàu khu trục hộ tống ngoài khơi Skerki Bank. Cả bốn chiếc tàu tiếp liệu đều bị đánh chìm trong khuôn khổ Trận Skerki Bank diễn ra sau đó, và đến 01 giờ 35 phút ngày 2 tháng 12, Quiberon bắn phát đạn cuối cùng vào chiếc tàu phóng lôi lớp Spica vốn nằm trong thành phần hộ tống của một đoàn tàu khác. Đang khi quay về cảng, tàu chị em HMS Quentin trúng ngư lôi do không kích của một máy bay Đức. Quiberon đã giúp di tản phần lớn thủy thủ đoàn của con tàu chị em. Đến ngày 21 tháng 12, nó cứu vớt những người sống sót từ chiếc tàu chở khách Strathallen.
Vào tháng 1 năm 1943, Quiberon hộ tống một đoàn tàu vận tải đi từ Anh đến Cape Town, rồi tiếp tục đi đến Victoria, Australia để tái trang bị. Sau khi công việc hoàn tất, nó được phân về Hạm đội Đông, chủ yếu làm nhiệm vụ hộ tống vận tải đi lại dọc Ấn Độ Dương. Vào tháng 4 năm 1944, nó nằm trong thành phần hộ tống tàu sân bay trong Chiến dịch Cockpit, rồi sang tháng 5 trong Chiến dịch Transom, những cuộc không kích nhắm vào lãnh thổ còn do Nhật Bản chiếm đóng tại Đông Ấn thuộc Hà Lan. Sau một đợt tái trang bị ngắn tại Melbourne, nó tiếp nối hoạt động cùng Hạm đội Đông vào tháng 8. Sang tháng 10, nó tham gia một loạt các cuộc bắn phá của hạm đội xuống quần đảo Nicobar do Nhật Bản chiếm đóng. Đến giữa tháng 12, chiếc tàu khu trục được điều về vùng biển Australia làm nhiệm vụ hộ tống vận tải và tuần tra chống tàu ngầm. Đến đầu năm 1945, nó được phối thuộc cùng Hạm đội Thái Bình Dương. Hoạt động từ đảo Manus, nó tham gia các hoạt động hỗ trợ cho việc chiếm đóng Okinawa và tấn công lên chính quốc Nhật Bản.
Khi xung đột kết thúc, Quiberon có mặt khi lực lượng Đồng Minh tái chiếm Singapore; và từ đó cho đến tháng 2 năm 1946, nó hoạt động tại Viễn Đông, giúp tái lập sự kiểm soát tại Đông Ấn thuộc Hà Lan, vận chuyển binh lính và giúp hồi hương những cựu tù binh chiến tranh. Con tàu được tặng thưởng tám Vinh dự Chiến trận cho những hoạt động trong Thế Chiến II. Từ năm 1946 đến năm 1948, nó được bố trí cùng Lực lượng Chiếm đóng Khối Thịnh vượng chung Anh trong ba lượt.
=== Cải biến thành tàu frigate ===
Vào đầu năm 1950, Hải quân Hoàng gia Australia quyết định cải biến tất cả năm tàu khu trục lớp Q đang trong biên chế (có thêm ba chiếc khác được chuyển giao sau Thế Chiến II) thành những tàu frigate nhanh chống tàu ngầm, tương tự như tàu frigate Kiểu 15 được cải biến từ những tàu khu trục Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh của Anh. Một đề nghị rằng Chính phủ Australia sẽ chi trả cho việc nâng cấp năm con tàu đang được cho mượn, với chi phí ước lượng 400.000 Bảng Australia mỗi chiếc. Thay vào đó, Bộ Hải quân Anh tặng những con tàu này cho Australia như một món quà vào ngày 1 tháng 6. Việc cải biến là một phần của chương trình nâng cấp toàn diện nhằm cải thiện khả năng chống tàu ngầm của Hải quân Australia, cho dù và các tàu lớp Q khác chỉ là giải pháp tạm thời cho đến khi chế tạo được những tàu frigate chống tàu ngầm thuần túy.
Quiberon bắt đầu được cải biến vào ngày 15 tháng 5 năm 1950 tại các Xưởng tàu Cockatoo Island và Garden Island ở Sydney. Nó nhập biên chế trở lại vào ngày 18 tháng 12 năm 1957. Nó phục vụ tại Viễn Đông cùng với Lực lượng Dự bị Chiến lược Khối Thịnh vượng chung, như một đơn vị của Hạm đội Australia. Nó thực hiện một chuyến viếng thăm đến Burma vào năm 1959; chuyến viếng thăm cuối cùng của một tàu chiến Australia đến đây trong vòng hơn 50 năm, cho đến khi HMAS Childers thực hiện việc tương tự năm 2014. Quiberon được đưa về lực lượng dự bị vào ngày 26 tháng 6 năm 1964; nó bị bán cho hãng Nhật Bản Fujita Salvage Company Limited ở Osaka để tháo dỡ vào ngày 15 tháng 2 năm 1972; và được kéo rời khỏi Sydney vào ngày 10 tháng 4 năm 1972.
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
Bastock, John (1975). Australia's Ships of War. Cremorne, NSW: Angus and Robertson. ISBN 0-207-12927-4. OCLC 2525523.
Cassells, Vic (2000). The Destroyers: their battles and their badges. East Roseville, NSW: Simon & Schuster. ISBN 0-7318-0893-2. OCLC 46829686.
Donohue, Hector (tháng 10 năm 1996). From Empire Defence to the Long Haul: post-war defence policy and its impact on naval force structure planning 1945-1955. Papers in Australian Maritime Affairs. No. 1. Canberra: Sea Power Centre. ISBN 0-642-25907-0. OCLC 36817771. .
Raven, Alan; Roberts, John (1978). War Built Destroyers O to Z Classes. London: Bivouac Books. ISBN 0-85680-010-4.
Stevens, David; Sears, Jason; Goldrick, James; Cooper, Alastair; Jones, Peter; Spurling, Kathryn, (2001). Stevens, David, biên tập. The Royal Australian Navy. The Australian Centenary History of Defence (vol III). South Melbourne, VIC: Oxford University Press. ISBN 0-19-554116-2. OCLC 50418095.
Cooper, Alastair. “The Korean War Era (pp 155-180)”. Trong Stevens, David. The Royal Australian Navy.
“HMAS Quiberon”. Ship Histories. Sea Power Centre Australia. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2008.
Whitley (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1.
== Liên kết ngoài == |
sức mạnh tổng hợp quốc gia.txt | Sức mạnh tổng hợp quốc gia hay còn gọi là Thực lực quốc gia là một khái niệm trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, dùng để chỉ toàn bộ thực lực đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một quốc gia bao gồm các nhân tố vật chất (phần cứng); tinh thần (phần mềm); ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế.
Khái niệm này được nghiên cứu một cách có hệ thống ở phương Tây từ cuối thế kỷ 19 nhưng chủ yếu mới theo phương pháp định tính. Những nghiên cứu định lượng mới được đưa ra trong thập niên 1960, thập niên 1970 và ngày càng trở nên quan trọng đối với các chính trị gia, chiến lược gia, các nhà nghiên cứu. Thời gian gần đây, Trung Quốc rất quan tâm tập trung nghiên cứu lĩnh vực này.
== Các nhân tố cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia ==
=== Lãnh thổ ===
Vị trí địa lý: là yếu tố trọng yếu của địa chính trị gồm các khía cạnh chính là vị trí địa lý tự nhiên, vị trí địa lý giao thông, vị trí địa lý quốc phòng. Vị trí địa lý, đặc biệt là vị trí giao thông và vị trí quốc phòng có ý nghĩa xác định tầm quan trọng của một quốc gia trong quan hệ với các nước khác và giữa các nước khác với nhau, đặc biệt là giữa các cường quốc.
Diện tích lãnh thổ là yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, quốc phòng, diện tích càng lớn thì nhìn chung càng có điều kiện để phát triển kinh tế, thực hiện các giải pháp đa dạng trong quốc phòng. Đương nhiên diện tích lãnh thổ phải tính đến các điều kiện về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên.
Địa hình, địa mạo cũng tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho phát triển kinh tế hoặc tổ chức quốc phòng (địa hình đồi núi hay bình nguyên, sa mạc, có biển hay không có biển...).Nước nào kiểm soát được biển thì nước đó sẽ kiểm soát được tất cả
=== Tài nguyên thiên nhiên ===
Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng trọng yếu và lâu dài đối với một quốc gia, nó bao gồm đất đai, khoáng sản, rừng, biển, nguồn nước, nguồn năng lượng tự nhiên. Tài nguyên thiên nhiên đã và đang là trung tâm của những cuộc tranh giành, thậm chí xung đột giữa các quốc gia đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt; khoáng sản kim loại; nước và những nguyên tố hiếm phục vụ kỹ thuật, quốc phòng. Do tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên vốn đang bị cạn kiệt mà nhiều lãnh thổ trước đây vốn ít được quan tâm như Bắc Cực, Nam Cực gần đây đã trở thành trung tâm chú ý của các quốc gia.
=== Dân số ===
Số lượng nhân khẩu: là nhân tố sản xuất cũng như cấu thành tầm quan trọng của một quốc gia, các quốc gia đông dân đều gây được sự chú ý trong quan hệ quốc tế như Trung Quốc, Ấn Độ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dân số phải đạt đến một mức nhất định mới có thể đảm bảo cho sự phát triển an toàn, bền vững của quốc gia.
Chất lượng và cấu trúc dân số: chất lượng dân số là nhân tố đảm bảo cho số lượng nhân khẩu phát huy tác dụng. Chất lượng dân số là tố chất công dân, trình độ giáo dục, tình trạng sức khỏe, nền tảng đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, quân sự... và tinh thần dân tộc. Cấu trúc dân số là các khía cạnh về giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc, tôn giáo. Cấu trúc dân số hợp lý, thuần nhất sẽ tạo thuận lợi cho quốc gia phát huy sức mạnh tổng hợp.
=== Kinh tế ===
Thực lực kinh tế được coi là yếu tố cấu thành cơ bản của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Ảnh hưởng của kinh tế đến sức mạnh tổng hợp quốc gia được xem xét trên hai yếu tố chính là quy mô kinh tế (GDP) và cơ cấu kinh tế.
Kinh tế hậu thuẫn cho xây dựng nền quốc phòng: quyết định quy mô và trang bị kỹ thuật, khí tài chiến tranh của quân đội. Chi tiêu cho quốc phòng của các quốc gia hầu hết đều rất tốn kém cả về quy mô lẫn tỷ trọng so với GDP. Chiến tranh hiện đại có sức phá hoại cũng như mức tiêu hao ngày càng lớn do vậy chỉ có thực lực kinh tế hùng mạnh mới đảm bảo cho tiến hành chiến tranh đạt kết quả.
Bản thân thực lực kinh tế là nhân tố đảm bảo vị trí quốc tế của một quốc gia. Trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử cận đại và hiện đại, các cường quốc có vai trò chi phối chính trị quốc tế đều là những nước có tiềm lực kinh tế hùng mạnh. Thực lực kinh tế cũng là biểu hiện đồng thời cũng là một nhân tố của năng lực cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
=== Giao thông, thông tin liên lạc ===
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc vừa là hạ tầng của nền kinh tế trong hòa bình vừa là hạ tầng để tiến hành chiến tranh trong thời chiến. Nó đảm bảo cho con người, hàng hóa và tin tức lưu thông thông suốt trong nền kinh tế, quân đội, khí tài chiến tranh, đảm bảo hậu cần trong chiến tranh cũng như thu thập các thông tin một cách đầy đủ, kịp thời để ra quyết định. Trong điều kiện hiện nay, vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng và nhiều khi quyết định thành bại trong cả kinh tế lẫn tiến hành chiến tranh.
=== Chất lượng của chính phủ ===
Bản chất chính trị của chính phủ: chính phủ đại diện cho giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội, có đại diện cho đông đảo người dân của quốc gia hay không. Bản chất chính trị của chính phủ cũng được xem xét trên hai mặt đối nội và đối ngoại, một chính phủ có hợp lòng dân, hợp với các giá trị, xu thế của thế giới hay không ảnh hưởng đến vị thế quốc gia và thành bại trong chiến tranh vì chiến tranh là một sự tiếp nối của chính trị.
Trình độ luật hóa, dân chủ hóa của chính phủ: yếu tố này thể hiện ở mức độ hoàn thiện của hệ thống luật pháp trên các mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp, mức độ công khai, dân chủ và quyền lợi chính trị của người dân trong các cuộc bầu cử.
Cơ cấu và hiệu quả điều hành của chính phủ: thể hiện ở việc sắp xếp tổ chức bộ máy chính phủ, cơ chế vận hành, hoạt động của chỉnh phủ. Bộ máy chính phủ quan liêu, cồng kềnh hay gọn nhẹ, nhạy bén, có hiệu quả quyết định hiệu lực quản lý của chính phủ.
=== Sức mạnh quân sự ===
Sức mạnh quân sự luôn là yếu tố cơ bản được tính đến trong chính sách quan hệ quốc tế và chính trị quốc tế. Sức mạnh quân sự là yếu tố then chốt trong chiến tranh và là yếu tố có tính chất răn đe khi không có chiến tranh. Sức mạnh quân sự thể hiện ở các mặt: số lượng và chất lượng quân đội; năng lực chi huy; trình độ lý luận quân sự và trang thiết bị, khí tài quân sự đặc biệt là những vũ khí có sức hủy diệt lớn.
=== Quan hệ đối ngoại ===
Quan hệ đối ngoại bao gồm nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng, văn hóa...Những nguyên tắc và kết quả của chính sách đối ngoại ảnh hưởng đến tương quan, vị thế của quốc gia đặc biệt là ngoại giao quốc phòng, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh tổng hợp quốc gia.
=== Khoa học công nghệ ===
Khoa học công nghệ thể hiện ở các khám phá, phát minh, sáng chế; trình độ ứng dụng. Nó là nhân tố có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển nhờ tăng năng suất lao động đồng thời ảnh hưởng đến việc chế tạo, sử dụng các vũ khí, khí tài chiến tranh công nghệ cao, hiệu suất lớn.
== Phương pháp tính sức mạnh tổng hợp quốc gia ==
=== Phương pháp của Ray Cline ===
Ray Cline (Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và Viện nghiên cứu quốc tế của Đại học Georgetown, Mỹ) đưa ra công thức tính sức mạnh tổng hợp quốc gia như sau:
Pp = (C+E+M) × (S+W), trong đó:
C (Country): thực thể cơ bản gồm dân số và lãnh thổ.
E (Economy): thực lực kinh tế gồm GDP và cơ cấu kinh tế.
M (Military): thực lực quân sự bao gồm lực lượng hạt nhân chiến lược và lực lượng chính quy.
S (Strategy): ý đồ chiến lược do lãnh đạo quốc gia vạch ra.
W (Will): ý chí của toàn dân đối với ý đồ chiến lược do lãnh đạo quốc gia vạch ra.
Mỗi tham số sẽ được tính điểm và giá trị cao nhất của Pp mà một quốc gia có thể đạt được là 1000 thì:
Pp/1000 = (C/100 + E/200 + M/200) × (S+W)
Cách tính điểm của mỗi tham số như sau:
C: tối đa 100 điểm, trong đó dân số 50 và diện tích lãnh thổ 50. Dân số có các mức 15, 50 và 200 triệu người, dưới 15 triệu không được tính điểm, 200 triệu được điểm tối đa 50 còn trên 200 triệu hoặc từ 15 đến dưới 200 triệu bị trừ điểm. Diện tích lãnh thổ từ 8 triệu km vuông trở lên được điểm tối đa 50, dưới 200 nghìn km vuông không được tính điểm, trong khoảng còn lại sẽ xếp theo các thang bậc.
E: tối đa 200 điểm trong đó GDP (thường tính theo sức mua tương đương) 100 điểm và cơ cấu kinh tế 100 điểm; Mỹ coi là đạt điểm tối đa 200, các quốc gia khác xếp sau theo thang bậc. Các nước có GDP từ 10 tỷ USD trở xuống không được tính điểm. Cơ cấu kinh tế chia ra 5 lĩnh vực: năng lượng, khai khoáng, công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, mỗi lĩnh vực 20 điểm; từng lĩnh vực nếu sản xuất đủ đáp ứng nhu cầu trong nước hoặc có thể xuất khẩu thì được 20 điểm, phải nhập khẩu bị trừ điểm (trừ tối đa 5 điểm).
M: gồm lực lượng hạt nhân chiến lược (100 điểm) và lực lượng quân đội chính quy (100 điểm). Mỹ cũng được coi là đạt điểm tối đa 200, các quốc gia khác xếp sau theo tương quan với Mỹ.
Như vậy tổng các nhân tố thuộc phần cứng tối đa là 500 điểm, các yếu tố phần mềm chính là hệ số để sức mạnh phần cứng được phát huy.
S: ý đồ chiến lược thể hiện tập trung nhất lợi ích cơ bản của quốc gia thì được hệ số tối đa (1), ý đồ chiến lược được chi thành hai phương diện phòng thủ và tấn công, mỗi thứ 0,5. Nếu yếu tố truyền thống (chiến thắng trong nhiều cuộc chiến tranh..), tinh thần dân tộc cao thì được cộng thêm vào hệ số, ngược lại sẽ bị trừ bớt đi.
W: sự ủng hộ của người dân tối đa là 1, được chia nhỏ thành mức độ đồng tâm nhất trí của cả dân tộc, trình độ và hiệu lực của chính phủ và mức độ quan tâm của số đông người dân đối với lợi ích và chiến lược quốc gia, mỗi tham số 0,33.
Ứng dụng phương pháp này và sử dụng số liệu năm 2006, thì sức mạnh tổng hợp quốc gia của Việt Nam là 88 (trên 1000 điểm).
=== Phương pháp của Nhật Bản ===
Phương pháp này cũng tương tự phương pháp của Cline nhưng có khác một vài tham số:
Pp = (C+E+M)(G+D), trong đó:
C: thực thể cơ bản ngoài dân số và lãnh thổ, tính thêm tài nguyên thiên nhiên.
E: thực lực kinh tế ngoài GDP và cơ cấu kinh tế, tính thêm GDP bình quân đầu người và mức tăng trưởng kinh tế.
M: thực lực quân sự giống như phương pháp của Cline.
G: năng lực chính trị đối nội.
D: năng lực chính trị đối ngoại.
Như vậy, các yếu tố phần cứng được bổ sung so với Cline còn hệ số phần mềm là ý đồ chiến lược cùng với sự ủng hộ của dân chúng được thay thế bằng năng lực chính trị đối nội và đối ngoại.
=== Các phương pháp khác ===
Sức mạnh tổng hợp quốc gia = N(L+P+I+M), trong đó:
N: năng lực vũ khí hạt nhân.
L: diện tích lãnh thổ.
I: quy mô công nghiệp.
M: quy mô quân đội.
Sức mạnh tổng hợp quốc gia =
P
3
Z
I
{\displaystyle {\sqrt {P^{3}}}ZI}
, trong đó:
P: dân số.
Z: sản xuất năng lượng.
I: sản xuất thép.
Công thức của Hoàng Thạc Phong và Đinh Phong Tuấn (Trung Quốc): Sức mạnh tổng hợp quốc gia = KHαSβ, trong đó:
K: hệ thống phối hợp quốc gia.
H: các yếu tố phần cứng.
α: hệ số phần cứng.
S: các yếu tố phần mềm.
β: hệ số phần mềm.
Các nhân tố phần cứng, phần mềm tính toán tương tự các phương pháp khác, hệ số α, β phụ thuộc hai yếu tố cơ bản: quốc gia thuộc loại phát triển hay đang phát triển và quốc gia có chiến tranh, mất ổn định hay hòa bình, ổn định.
== Các vấn đề phát sinh khi phân tích sức mạnh tổng hợp quốc gia ==
Quan niệm về các yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia cũng như tầm quan trọng của chúng tương đối khác nhau do vậy các phương pháp định lượng cho kết quả cũng khác, thậm chí rất khác nhau. Một số phương pháp tính nêu trên cho thấy có phương pháp coi trọng sức mạnh của vũ khí hạt nhân, có phương pháp coi trọng sản xuất thép và năng lượng...
Nhiều yếu tố thay đổi nhanh theo thời gian, ví dụ vị trí chiến lược của một quốc gia trong thời kỳ này có thể được đánh giá cao nhưng trong thời kỳ khác lại không còn được đánh giá cao nữa.
Các yếu tố phần mềm (tinh thần) mặc dù đã được xác định bằng các tiêu chí cụ thể để có thể định lượng được nhưng vẫn rất khó đo lường một cách chính xác và phụ thuộc nhiều vào quan điểm về giá trị.
== Xem thêm ==
Siêu cường
Quan hệ quốc tế
== Tham khảo ==
Lương Văn Kế, Thế giới đa chiều, Nhà xuất bản Thế giới (2007)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bằng sáng chế trong sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Tính toán sức mạnh địa chính trị (tiếng Anh) |
phân loại thực vật.txt | Phân loại học thực vật hay phân loại thực vật là ngành khoa học tìm kiếm, xác định, miêu tả, xếp loại và đặt tên cho thực vật. Ngành khoa học này là một trong những nhánh chính của phân loại học (khoa học về tìm kiếm, miêu tả, xếp loại, và đặt tên các sinh vật sống).
== Xác định và xếp loại ==
Hai mục tiêu chính của phân loại thực vật là xác định và xếp loại thực vật. Sự khác biệt giữa hai mục tiêu này là quan trọng và thường bị bỏ qua.
Xác định thực vật là việc xác định danh tính của một thực vật chưa biết bằng cách so sánh với mẫu vật thu thập được trước đó hoặc với sự trợ giúp của sách hoặc hướng dẫn nhận dạng. Quá trình xác định sẽ liên kết mẫu với một tên xuất bản. Khi một mẫu thực vật đã được xác định, tên và thuộc tính của nó được biết đến.
Xếp loại thực vật là việc đặt thực vật được biết đến vào nhóm hoặc thể loại để hiển thị một số mối quan hệ. Phân loại khoa học sau đó tuân theo một hệ thống các quy tắc được tiêu chuẩn hóa các kết quả, và tiếp tục gộp các thể loại đã được xếp vào một hệ thống phân cấp. Ví dụ, họ bao gồm các loài lili được xếp loại như sau:
Giới/Kingdom: Plantae
(Ngành)/Division: Magnoliophyta
Lớp/Class: Liliopsida
Bộ/Order: Liliales
Họ/Family: Liliaceae
Chi/Genus:......
Loài/Species:......
Sự phân loại thực vật tạo ra một hệ thống được cấu trúc để đặt tên và xếp danh mục cho các loài được phát hiện, và trong trường hợp lý tưởng nó phản ảnh các ý tưởng khoa học về mối quan hệ giữa các loài thực vật.
== Các hệ thống phân loại ==
Hệ thống APG
Hệ thống APG II
Hệ thống APG III
Hệ thống Bessey
Hệ thống Cronquist
Hệ thống Melchior
== Xem thêm ==
American Society of Plant Taxonomists
Botanical nomenclature
Herbarium
Lịch sử hệ thống hóa thực vật
IAPT
Phân loại học cây trồng
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
xiaomi.txt | Xiaomi Inc. (tiếng Trung: 小米科技; bính âm: Xiǎomĭ Kējì, nghĩa đen "Xiaomi Tech", hoặc "Tiểu Mễ khoa kỹ") là một công ty tư nhân sản xuất hàng điện tử Trung Quốc có trụ sở tại Bắc Kinh. Xiaomi là nhà sản xuất điện thoại thông minh lớn thứ 4 thế giới; trong năm 2015 Xiaomi đã bán 70,8 triệu đơn vị và chiếm gần 5% thị trường điện thoại thông minh thế giới. Xiaomi thiết kế, phát triển, và bán điện thoại thông minh, ứng dụng di động, theo Forbes. Công ty đã bán hơn 60 triệu chiếc điện thoại thông minh trong năm 2014.
Kể từ khi phát hành của điện thoại thông minh đầu tiên của mình vào tháng 8 năm 2011, Xiaomi đã giành được thị phần tại Trung Quốc đại lục và mở rộng sang phát triển một phạm vi rộng lớn hơn của thiết bị điện tử tiêu dùng, bao gồm cả một hệ sinh thái thiết bị nhà thông minh (IoT). Người sáng lập công ty và giám đốc điều hành là Lei Jun, người giàu có thứ 23 của Trung Quốc
Công ty có hơn 8.000 nhân viên, chủ yếu ở Trung Quốc đại lục, Ấn Độ, Malaysia, và Singapore, và đang mở rộng sang các quốc gia khác như Indonesia, Philippines và Brazil.
Theo IDC, vào tháng 10 năm 2014 Xiaomi là nhà sản xuất điện thoại thông minh lớn thứ ba thế giới, sau Samsung và Apple, và tiếp theo là Lenovo và LG. Xiaomi đã vượt qua Samsung vào năm 2014, trở thành nhà cung cấp điện thoại thông minh hàng đầu tại Trung Quốc, dựa theo một báo cáo của IDC.
Vào cuối tháng 12 năm 2014, Xiaomi đã trở thành công ty công nghệ mới khởi đầu thế giới có giá trị nhất công nghệ sau khi nó đã nhận được 1,1 tỷ Đô la Mỹ tài trợ từ các nhà đầu tư, làm cho giá trị của Xiaomi hơn 46 tỷ Đô la Mỹ. Xiaomi đã gia nhập thị trường Ấn Độ vào tháng 6 năm 2014 sau đó nhanh chóng mở rộng ở Ấn Độ. Trước đó, Xiaomi chỉ bán độc quyền trên Flipkart đến khi hợp tác với cả Amazon.com và Snapdeal vào ngày 7 tháng 4 năm 2015. Điều này được xem như là nỗ lực của các nhà sản xuất điện thoại thông minh để phát triển các địa điểm bán lẻ ở Ấn Độ. Họ cũng đã hợp tác với cửa hàng AriTel và cửa hàng The Mobile để bán một vài thiết bị họ đã chọn.
Sau đó, vào Q1 năm 2015, hãng đã bắt đầu có cửa hàng của riêng mình và đã ngừng bán các phụ kiện của hãng trên các cửa hàng trực tuyến. Vào ngày kỉ niệm đầu tiên ở Ấn Độ, hãng đã ra mắt Mi Store App của riêng mình. Vào ngày 11 tháng 8, năm 2015, hãng đã bắt đầu mở nhà máy đầu tiên của mình ở Sricity, Andhra Pradesh và cộng tác với Foxconn.
== Lịch sử ==
Xiaomi được đồng sáng lập bởi tám đối tác vào ngày 6 tháng 4 năm 2010. Trong vòng đầu tiên của tài trợ, các nhà đầu tư bao gồm Temasek Holdings, một công ty đầu tư của chính phủ nước Singapore, các quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Trung Quốc Capital và Qiming Venture Partners, và phát triển bộ vi xử lý di động Qualcomm. Vào ngày 16 tháng 8 năm 2010, Xiaomi chính thức ra mắt phần mềm MIUI dựa trên Android đầu tiên Điện thoại thông minh Xiaomi Mi1 được ra mắt vào tháng 8 năm 2011 Nó được chạy trên phần mềm MIUI của Xiaomi cơ bản dựa trên nền Android, TouchWiz của Samsung và iOS của Apple. Thiết bị này cũng được xuất xưởng với hệ điều hành Android.
Vào tháng 8 năm 2012, Xiaomi đã công bố điện thoại thông minh Xiaomi Mi2. Chiếc điện thoại này được trang bị vi xử lí Snapdragon S4 Pro APQ8064 của Qualcomm, chip Krait lõi tứ 1,5 GHz với 2 GB RAM và GPU Adreno 320. Vào ngày 24 tháng 9 năm 2013 công ty cho biết rằng công ty đã bán được hơn 10 triệu thiết bị Mi2 trong 11 tháng trước đó. Điện thoại thông minh Mi-2 được bán ra bởi nhà cung cấp điện thoại không dây Mobicity ở Úc, Châu Âu, New Zealand, Anh và Mỹ. Ngày 5 tháng 9 năm 2013, giám đốc điều hành Xiaomi Lei Jun đã công bố kế hoạch ra mắt dựa trên chiếc Android 47-inch 3D Smart TV, sẽ được lắp ráp bởi Sony TV nhà sản xuất Wistron Corporation của Đài Loan. Công ty giải thích sự lựa chọn như để tận dụng kỹ năng của Wistron khi là nhà cung cấp của Sony. Vào tháng 9 năm 2013, Xiaomi công bố điện thoại Mi3 của nó, với một phiên bản trang bị Snapdragon 800 (MSM8974AB) và một bằng vi xử lí Tegra 4 NVIDIA., Một chip Krait lõi tứ 2,3 GHz với 2 GB RAM và GPU Adreno 330. Vào ngày 25 tháng 9 năm 2013, Xiaomi đã công bố các kế hoạch để mở trung tâm dịch vụ của hãng ở Bắc Kinh. Tính đến tháng 10 năm 2013 Xiaomi đã được báo cáo là dòng smartphone được dùng nhiều thứ năm của Trung Quốc. Trong năm 2013 công ty đã bán được 18,7 triệu điện thoại thông minh, và 26,1 triệu USD trong nửa đầu năm 2014.
Trong năm 2014, Xiaomi công bố mở rộng khu vực bên ngoài Trung Quốc, với điểm dừng đầu tiên của họ là Singapore. Các trụ sở quốc tế sẽ phối hợp tất cả các hoạt động bao gồm giới thiệu sản phẩm trong tương lai trong khu vực, cũng sẽ được thiết lập ở đó. Điện thoại Redmi và Mi3 của Xiaomi đã được phát hành tại Singapore vào ngày 21 tháng 2 và 07 Tháng 3 2014. Ngày 07 tháng 3, lô Xiaomi Mi3 bán hết trong vòng 2 phút trong ngày mở bán đầu tiên ở Singapore. Sau Singapore, công ty đã mở tại Malaysia, Philippines và Ấn Độ, và đã có kế hoạch mở tiếp ở các thị trường Indonesia, Thái Lan, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil và Mexico trong những tháng tiếp theo. Ngày 17 tháng 3 năm 2014, phablet Redmi Note (được gọi là HongMi Note ở một số thị trường châu Á) đã được công bố bởi CEO Xiaomi Lei Jun. Các chiếc điện thoại Redmi Note có màn hình HD 5,5-inch với công nghệ OGS và một bộ xử lý lõi tứ từ MediaTek. Có hai biến thể của Redmi Note, một với 1 GB RAM và 8 GB bộ nhớ trong; và khác với 2 GB RAM và 16 GB bộ nhớ trong. Nó được làm sẵn để đặt hàng trước trên 19 tháng 3 độc quyền thông qua một ứng dụng điện thoại di động từ Tencent. Vào tháng 4 năm 2014 Xiaomi đã mua tên miền mi.com với một cái giá kỉ lục 3,6 triệu USD, là tên miền đắt nhất đã từng được mua tại Trung Quốc, thay thế xiaomi.com tên miền chính thức của Xiaomi. Trong quý 2 năm 2014, Xiaomi đã giao 15 triệu thiết bị, 14% của thị trường Trung Quốc, trong khi Samsung chỉ đạt khoảng hơn 13 triệu thiết bị. Vào tháng 7 năm 2014, hãng đã bán được 57, 36 triệu chiếc điện thoại. Trong tháng 11 năm 2014, Xiaomi cho biết sẽ đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ trong việc quảng cáo.
Trong tháng 12 năm 2014, Xiaomi hoàn thành một vòng vốn chủ sở hữu do quỹ công nghệ Hồng Kông All-Stars Investment Limited, một quỹ đầu tư thuộc cựu chuyên gia phân tích của Morgan Stanley Richard Ji quyên góp được hơn 1 tỷ Đô la Mỹ, với giá hơn 45 tỷ Đô la Mỹ làm nó trở thành một trong những công ty công nghệ thông tin có giá trị nhất trên thế giới.
Trong tháng 4 năm 2015, Xiaomi công bố nó sẽ làm cho thiết bị Mi của nó có sẵn thông qua hai trong số các trang web thương mại điện tử lớn của Ấn Độ, và thông qua các nhà bán lẻ offline cho lần đầu tiên.
Vào ngày 23 tháng 4 năm 2015, CEO của Xiaomi Lei Jun và VP Hugo Barra cùng nhau đến để công bố một điện thoại mới có tên là Mi 4i tại Ấn Độ, điện thoại đầu tiên được tung ra tại Ấn Độ trước khi tung ra bất kỳ nước nào khác. Mi Band đã được ra mắt trong cùng một sự kiện.
Ngày 30 Tháng 6 năm 2015, Xiaomi công bố mở rộng sang Brazil với sự ra mắt của thiết bị sản xuất trong nước Redmi 2, lần đầu tiên các công ty bán một điện thoại thông minh bên ngoài châu Á hoặc lắp ráp bên ngoài Trung Quốc.
Ngày 24 tháng 2 năm 2016, Xiaomi ra mắt Mi5, với bộ vi xử lí Qualcomm Snapdragon 820. Nó có một màn hình 5,15 inch độ phân giải HD 1080p với công nghệ đèn nền 16-LED có thể đưa ra một ảnh với độ sáng 600 nits. Có nhiều mẫu như màu đen, trắng và vàng, và các phiên bản bộ nhớ trong có dung lượng 32GB, 64GB và 128GB.
Vào ngày 10 tháng năm 2016, Xiaomi ra mắt Mi Max, với vi xử lý Qualcomm Snapdragon 650/652. Nó có một màn hình hiển thị 6,4 inch với độ phân giải FullHD 1080p với 342ppi. Với 4850 pin mAh, 4GB RAM, máy ảnh sau 16MP lại phải đối mặt với một máy ảnh phía trước 5MP, và bao gồm một cảm biến vân tay. Sau đó Xiaomi ra mắt Mi Max ở Ấn Độ vào ngày 30 tháng 6 năm 2016.
Trong tháng 7 năm 2016, những nghệ sĩ Trung Quốc - Liu Shishi, Wu Xiubo và Liu Haoran trở thành các đại sứ đầu tiên của dòng Xiaomi Redmi tại Trung Quốc.
== Mô hình kinh doanh ==
Trong việc bán điện thoại thông minh Xiaomi, Xiaomi sử dụng một chiến thuật rất khác với các nhà sản xuất điện thoại thông minh khác như Samsung và Apple. Lei Jun, Xiaomi Giám đốc điều hành, cho biết giá của công ty điện thoại gần như hóa đơn của vật giá, mà không ảnh hưởng đến chất lượng thành phần và hiệu suất so với điện thoại thông minh cao cấp khác. Nó cũng thu lợi nhuận bằng cách bán các thiết bị điện thoại liên quan đến ngoại vi, sản phẩm nhà thông minh, ứng dụng, video trực tuyến và chủ đề. Theo Hugo Barra Xiaomi vào cuối năm 2014, công ty nhận thấy doanh số bán phần cứng như là một phương tiện cung cấp phần mềm và dịch vụ trong thời gian dài, "Chúng tôi là một công ty Internet và một công ty phần mềm nhiều hơn... một công ty phần cứng." Tuy nhiên, dữ liệu tài chính sẵn có vào thời điểm đó chỉ ra rằng đây là một trong hai mơ tưởng hoặc kế hoạch cho tương lai xa: 94% doanh thu của công ty đến từ doanh số bán điện thoại di động, một tỷ lệ cao hơn cả Apple. Để giảm chi phí trên không, Xiaomi không sở hữu bất kỳ cửa hàng vật lý, bán độc quyền từ cửa hàng trực tuyến của nó. Nó cũng đã bỏ đi với quảng cáo truyền thống và dựa trên các dịch vụ mạng xã hội và phương thức truyền miệng (word-of-mouth) để công bố sản phẩm của mình.
Hơn nữa, bằng cách giữ một kiểm soát chặt chẽ hơn cổ phiếu của mình, Xiaomi có thể đặt hàng lô rẻ như mệnh lệnh yêu cầu. Hạn chế bán hàng sẵn đèn flash đảm bảo cung cấp mà không bao giờ vượt xa nhu cầu và giúp tạo các quảng bá sản phẩm của mình. Ngược lại các OEM truyền thống phải chịu chi phí sản xuất trả trước lớn, trong đó phải được bù đắp bởi giá bán, để điện thoại tàu, một số trong đó có thể không bán, ra đến các nhà bán lẻ trên toàn thế giới.
Xiaomi nói rằng họ nghe chặt chẽ với thông tin phản hồi của khách hàng, có họ kiểm tra các tính năng sắp tới mình, và xây dựng một cộng đồng trực tuyến rộng lớn. Lei Jun đã mô tả nó theo cách này, "Khi tôi còn với Kingsoft, tôi đã có cơ hội để làm việc với Nokia và Motorola, hai gã khổng lồ điện thoại di động thời gian của họ. Một ngày, tôi chỉ ra cho R & ông chủ D của họ, một số bất cập. Sau đó, họ chỉ thừa nhận đầu vào của tôi, nhưng không bao giờ hành động theo những gì tôi đã nói. Vì vậy, tôi nghĩ đến bản thân mình, nếu tôi làm cho một chiếc điện thoại, bạn có thể cho tôi biết bất cứ điều gì bạn muốn cho nó hoặc có gì sai. Nếu nó là chính đáng, chúng tôi sẽ làm việc trên nó ngay lập tức. Tôi sẽ cung cấp cho bạn một bản cập nhật mỗi tuần và bạn thậm chí có thể nhìn thấy mong muốn của bạn trở thành sự thật trong vòng một tuần. "Trong thực tế, các nhà quản lý sản phẩm Xiaomi của dành nhiều thời gian lướt qua các diễn đàn người sử dụng của công ty. Một khi một đề nghị được chọn, nó nhanh chóng chuyển giao cho các kỹ sư. Do đó, các tính năng có thể chuyển từ chỉ khái niệm để vận chuyển sản phẩm trong vòng một tuần. Sau đó,Công ty tàu một lô mới của điện thoại ra mỗi tuần vào thứ ba vào buổi trưa thời gian Bắc Kinh, có chứa các phần mềm mới được xây dựng và có thể điều chỉnh phần cứng nhỏ. Xiaomi gọi quá trình này "thiết kế như bạn xây dựng."
Cuối cùng, bằng cách làm cho hệ điều hành của Xiaomi MIUI mở để có thể tải về trên điện thoại Android khác, Xiaomi đã làm cho các ứng dụng và nội dung Xiaomi của dễ dàng tiếp cận hơn, mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ cho người sử dụng hơn. Linh vật Xiaomi là một con thỏ đội mũ Ushanka (một số địa phương gọi là "mũ Lei Feng") với một ngôi sao màu đỏ và một chiếc khăn màu đỏ xung quanh cổ của nó.
== Sản phẩm ==
Xiaomi thiết kế nhiều sản phẩm, nhưng sản phẩm cốt lõi của họ trong trong tương lai sẽ là điện thoại di động, TV và router, theo Giám đốc điều hành của họ
=== Điện thoại di động ===
==== Dòng Mi ====
Cho đến tháng 1 năm 2015 dòng flagship của Xiaomi là mẫu Xiaomi Mi. Điện thoại Xiaomi Mi 4 đã thành công sau chiếc Xiaomi Mi 3. Ban đầu nó được ra mắt tại Trung Quốc đại lục, sau đó là Singapore, Malaysia, Thái Lan và Ấn Độ vào tháng 3, tháng 5 và tháng 7 năm 2014 tương ứng với các nước trên. Mi 3 sử dụng vi xử lý Qualcomm Snapdragon 800 và nó đã được tìm thấy trong bài kiểm tra điện thoại thông minh Android nhanh nhất thế giới theo thử nghiệm benchmark ứng dụng AnTuTu, Quadrant và Geekbench.
Xiaomi công bố sản phẩm hàng năm tại Bắc Kinh vào ngày 22 tháng 7 năm 2014, phiên bản Mi 4 cao cấp nhất sở hữu vi xử lý Qualcomm Snapdragon 801, RAM 3GB và camera trước 8 megapixel.
Xiaomi trưng bày Mi 5 gốm sứ vào ngày 24 tháng 2 tại MWC 2016. Nó là một trong những điện thoại thông minh đầu tiên sở hữu bộ xử lý mới nhất của Qualcomm, Snapdragon 820. Nó được bán lẻ với giá 2699 RMB ở Trung Quốc. Nó có một camera cảm biến IMX298 với 4 trục OIS và ống kính sapphire. Nó cũng được trang bị NFC và một chức năng thanh toán di động Mi Pay được ra mắt vào tháng 4 năm 2016.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2016, Xiaomi ra mắt Mi 5s. Mi 5s được trang bị Snapdragon 821 SoC và được cung cấp hai phiên bản khác nhau, đi kèm với 3 GB RAM và phiên bản khác với RAM 4 GB. Biến thể 3GB RAM đi kèm với 64GB bộ nhớ trong. Trong khi phiên bản 4 GB đi kèm với 128GB bộ nhớ trong. Thiết bị này có tính năng quét vân tay siêu âm dựa trên công nghệ ID Sense của Qualcomm. Thông số kỹ thuật khác bao gồm màn hình hiển thị 5,15 inch FullHD, máy ảnh sau 12 MP với cảm biến Sony IMX378, camera phụ 4 MP ở mặt trước và viên pin có dung lượng 3200 mAh.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2016, Xiaomi cũng đã công bố một thiết bị khác là Mi 5s Plus. Mi 5s Plus là một thiết bị phablet có 5,7-inch hiển thị Full-HD. Nó đi kèm với vi xử lý Snapdragon 821 với RAM 4 hoặc 6 GB. Biến thể 4GB RAM đi kèm với 64GB bộ nhớ trong. Trong khi 6GB RAM biến thể cung cấp 128GB bộ nhớ trong. Mi 5s Plus đi kèm với camera kép 13 MP ở phía sau và một camera phụ 4 MP ở mặt trước. Cảm biến vân tay tương tự như Mi 5s, tuy nhiên, dung lượng pin của chiếc máy này lớn hơn: 3800 mAh.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
hamburg.txt | Thành phố Hansatic Hamburg tên đầy đủ là Freie und Hansestadt Hamburg (đọc như "Hăm-buốc") là một tiểu bang và là thành phố lớn thứ hai của Đức, có cảng Hamburg lớn thứ 2 trong Liên minh châu Âu.
Hamburg là thành phố thương mại quốc tế và cũng là trung tâm thương mại, văn hoá của phía bắc nước Đức, trung tâm của vùng đô thị Hamburg, một trong số tổng cộng là 11 vùng đô thị tại Đức.
== Thể thao ==
Nhắc đến thể thao Hamburg, có lẽ nổi tiếng nhất là câu lạc bộ bóng đá Hamburger SV. Hamburger SV đã vô địch châu Âu 1 lần, vô địch bóng đá Đức 6 lần cùng nhiều danh hiệu khác. Sân vận động của câu lạc bộ mang tên công ty truyền thông AOL (trước năm 2001 là sân vận động Volkspark). Đây cũng là nơi tổ chức 3 trận đấu thuộc giải vô địch bóng đá thế giới 1974 và 5 trận đấu thuộc giải vô địch bóng đá thế giới 2006.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của Hamburg (nhiều ngôn ngữ)
Hamburg City Panoramas - Hình ảnh từ Hamburg (tiếng Anh) (tiếng Đức)
Hamburg 2020
Thành phố Hafen
Hướng dẫn về Hamburg (Hamburg In Your Pocket) (cũng có thể tải xuống hướng dẫn (định dạng PDF [1])
Hướng dẫn về Hamburg (tiếng Anh)
Hamburg trên Dự án Danh bạ Mở DMOZ (Open Directory Project DMOZ)
Visite virtuelle * Hamburg * Virtual Tour |
tham nhũng tại việt nam.txt | Tham nhũng tại Việt Nam là một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Theo định nghĩa thì "tham nhũng" hay "tham ô" là hành vi "của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân". Trích tờ Vietnam Investment Review số 699 ngày 7/3/2005 viết thì tham nhũng tại Việt Nam đã gây "thiệt hại cho nguồn ngân sách chính phủ... ước lượng 30% đầu tư hạ tầng".
Về mặt chính quyền thì Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã phát biểu: "Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người".Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: "Hiện tượng hư hỏng, tham nhũng, tiêu cực đúng là lắm lúc nghĩ hết sức sốt ruột, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có..."
Theo xếp hạng mức độ tham nhũng thế giới năm 2015, Việt Nam xếp thứ 112/168 quốc gia được khảo sát.
== Bối cảnh ==
Trong cuộc điều tra năm 2005, Ban Nội chính Trung ương công bố danh sách liệt kê 10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất Việt Nam. Trong đó ba cơ quan dẫn đầu là:
Địa chính nhà đất,
Hải quan/quản lý xuất nhập khẩu
Cảnh sát giao thông.
Theo khảo sát của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Cảnh sát về ảnh hưởng của tham nhũng đến công chúng, ba cơ quan/tổ chức dẫn đầu là:
Công an
Giáo dục
Cán bộ, công chức
Ngoài ra trong số 10 cơ quan được "bầu chọn" có nhiều tham nhũng là cơ quan tài chính, thuế; cơ quan quản lý và các đơn vị trong ngành xây dựng; cơ quan cấp phép xây dựng; y tế; cơ quan kế hoạch đầu tư; cơ quan quản lý và các đơn vị trong ngành giao thông; cảnh sát kinh tế.
Các ý kiến phát biểu tại phiên thảo luận về tham nhũng trong Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ giữa kỳ (CG) ngày 9/6/2006 đều nhận định: "Tham nhũng ở Việt Nam đến mức báo động".
Khi nhắc đến tham nhũng trong khi tiếp xúc cử tri Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5-2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nói:"Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là 'chết' cả đất nước này."
== Nhận xét trong nước ==
=== 2016 ===
Ngày 12-7, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng. Phó thủ tướng chính phủ Trương Hòa Bình nhận định, công tác phòng chống tham nhũng chưa đạt được mục tiêu đã đề ra. Tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong quản lý sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng từ nguồn vốn Nhà nước, lĩnh vực tín dụng ngân hàng, công tác tổ chức cán bộ... “Một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên trong đó có những người được giao những chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các cấp có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo tiền tài, địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc."
Ông Nguyễn Đăng Quang một cựu đại tá ngành Công an cho biết ý kiến: “Theo tôi cơ chế này ở Việt Nam đẻ ra tệ nạn tham nhũng và bọn tham nhũng lại ra sức bảo vệ cơ chế này. Do vậy nếu giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền chống tham nhũng thì tham nhũng càng phát triển.” Ông Nguyễn Trung Dân cựu Phó Tổng Biên tập phụ trách báo Du lịch nhận định: “Ông Tổng Bí thư nói rồi, đánh con chuột ở trong bình sợ nó vỡ bình thì sao… cho nên con chuột nó phải ra khỏi bình thì ông ấy mới đánh thôi…chỉ khi nào ông Tổng Bí thư bật đèn xanh thì mới đánh, mấy ông không bật đèn xanh thì thôi…”
== Nhận xét của quốc tế ==
Theo cách xếp hạng Nhận thức về Tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (tức Transparency International), công bố năm 2010 thì Việt Nam được 2.7 trên 10 điểm (những nước có điểm số dưới 5 bị coi là có tình trạng tham nhũng cao).
Sang năm 2011 số điểm và vị trí xếp hạng của Việt Nam cho thấy tham nhũng vẫn là mối lo ngại chính đối với quốc gia này. So sánh hai năm 2010-2011 thì không có thay đổi đáng kể nào trong cuộc chiến chống tham nhũng của chính phủ.
Chỉ số của CPI sau năm 2011 thì dùng 0 đến 100 điểm. Số điểm thấp là nhiều tham nhũng. Con số cao là minh bạch, trong sạch. Theo cuộc khảo xét năm 2012 thì điểm số của Việt Nam tăng nhẹ từ 2,9 (thang 10) lên 31 (thang 100), nhưng vẫn bị tụt 11 bậc, không những so với các quốc gia tiên tiến mà cả với các nước lân bang trong khu vực.
Cuộc khảo sát 95 quốc gia trên thế giới của Tổ chức Minh bạch Quốc tế về nạn tham nhũng năm 2013 cho biết 30% dân Việt Nam đã phải đút lót nhân viên công quyền. 55% số người được hỏi cho rằng tham nhũng tăng lên. 38% số người tin rằng các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm chống tham nhũng là không có hiệu quả.
Theo Trace International, một cơ quan nghiên cứu và theo dõi nạn hối lộ thì cuộc khảo sát năm 2014 chấm điểm 197 quốc gia trên thế giới thì Việt Nam đứng hạng 188 với 82/100 điểm, thuộc nhóm 10 quốc gia tham nhũng nhất. Chia thành từng tiêu chí một thì Việt Nam có những nhược điểm vì chồng tréo giữa cơ quan nhà nước và doanh thương, dẫn đến vấn đề "lại quả" và quan liêu trong việc quản lý. Việt Nam cũng kém vì thiếu sự giám sát của các tổ chức dân sự. Kém nhất là tình trạng thiếu minh bạch trong hành chính.
== Biện pháp chống tham nhũng ==
Hệ thống phòng chống tham nhũng ở Việt Nam khá đồng bộ và phức tạp. Đứng đầu là Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên Chính phủ có Thanh tra Chính phủ do Tổng Thanh tra chính phủ đứng đầu. Hầu như tất cả các Bộ ngành, UBND đều có cơ quan phòng chống tham nhũng. Ông Vũ Tiến Chiến, Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương nói: "tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, hiệu quả của công tác phòng, chống vẫn chưa đạt được kết quả mong đợi."
Góp ý dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ĐBQH Nguyễn Đăng Trừng ví rằng: "Chống tham nhũng ở nước ta giống như dòng văn học cuối thế kỷ 19 - hiện thực phê phán - thấy hiện trạng nhưng không có giải pháp tháo gỡ." Phát biểu trong phiên thảo luận dự thảo văn kiện trên, ĐB Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) nói "Chống tham nhũng phải như quét cầu thang, quét từ trên quét xuống chứ không phải quét từ dưới quét lên".
Ngày 23 tháng 12, Quốc hội thông qua "Luật Phòng chống tham nhũng" trước kia do Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng của Thủ tướng điều hành thì nay sẽ giao cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam nắm giữ vì Ban Chỉ đạo đã không thi hành được đặc nhiệm.
== Số liệu và công luận ==
Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nhấn mạnh thực tế, trong tổng số bị can bị khởi tố về hành vi tham nhũng, cán bộ cấp xã, phường chiếm tỷ lệ 30,9% còn cấp Trung ương chỉ chiếm rất ít (0,3%).
Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2010 chỉ có 20 cán bộ nộp lại quà tặng. Trong khi con số của năm 2009 nhiều gấp 10 lần. Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền nói: "Có lần họ đã mang tới chỗ tôi cả trăm ngàn USD"
Theo thông tấn xã Reuters, tham nhũng là một yếu tố làm giảm hiệu năng hoạt động của chính quyền Việt Nam, bên cạnh các vấn đề như thiếu giải trình, thiếu minh bạch, và guồng máy hành chính quan liêu cồng kềnh. Hiện nay, tiến trình cải tổ kinh tế Việt Nam cũng như chính sách cải tạo các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu năng, có nguy cơ bị các nhóm bảo thủ và đặc quyền đặc lợi phá hoại nhất là khi chính quyền đặt trọng tâm nhiều hơn đến khía cạnh an ninh. Mặt khác, theo một số nhà phân tích chính trị, trong thời gian từ nay đến Đại hội Đảng Cộng sản vào đầu năm 2011, các cuộc đấu đá nội bộ có thể làm cho tiến trình cải tổ bị tê liệt phần nào.
Các đại biểu Quốc hội Nguyễn Tấn Trịnh (Quảng Nam), ĐB Nguyễn Thanh Tân (Hà Tĩnh) lo lắng khi người dân sụt giảm niềm tin "cứ thấy cán bộ chạy xe hơi là dân bảo ông này tham nhũng. Họ đồn đại đồng chí này có bao nhiêu tiền, đồng chí kia có con thăng tiến quá nhanh, người nhà đồng chí nọ nắm các ngành kinh tế chủ đạo".
Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu: "công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu ‘ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng’. Tình trạng tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước."
Tháng 12 năm 2012 Nguyễn Bá Thanh được bổ nhiệm làm chủ sự trong Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hầu tăng cường nỗ lực dẹp nạn tham nhũng nhưng thời gian tại chức không được lâu thì mất đầu năm 2015.
== Ảnh hưởng ==
=== Kinh tế ===
Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban cố vấn của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam thời các thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, nói trong buổi Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng ngày 8/8: “Một điều tra cho thấy, ở Việt Nam, trung bình cứ 1 đồng lợi nhuận thì DN phải mất 1,02 đồng cho “bôi trơn”. Có nghĩa, nếu tham nhũng ở nước ta giảm đi 50% thì đã làm tăng được 50% lợi nhuận của DN rồi. Đây là một trong những điều giải thích nhận xét của TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng DN Việt Nam hiện nay có xu hướng li ti hóa, tức là nhỏ đi so với trước!” Cho nên tuy đã tham gia ASEAN 20 năm, nhưng Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm 4 nước lạc hậu hơn của ASEAN (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar).
== Một số vụ tham nhũng nổi tiếng gần đây theo báo chí ==
Vụ EPCO - Minh Phụng
Vụ PMU18
Vụ tham nhũng PCI
Vụ tham nhũng Đề án 112
Vụ Nexus Technologies công ty Mỹ hối lộ quan chức Việt Nam
Vụ Công ty của Úc Securency hối lộ in tiền Polome ở Việt Nam
Vụ chia chác đất công ở An Hải, Hải Phòng
Vụ Vinashin
Vụ Vinalines, nhân vật chính là cục trưởng cục hàng hải Dương Chí Dũng
== Xem thêm ==
Tham nhũng
Vụ kỷ luật cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng
Những vụ đào tẩu của lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bảng xếp hạng minh bạch của Tổ chức Minh bạch Quốc tế Việt Nam xếp 116/178, 2010.
So sánh về luật pháp chống Tham Nhũng ở Việt Nam và Singapore
Cảnh sát đứng đầu bảng về tham nhũng
Tác động của tham nhũng ở Việt Nam
Chính sách phòng chống tham ô, tham nhũng dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497)
Chỉ số cảm nhận tham nhũng CPI |
canon eos 400d.txt | Máy ảnh Canon EOS 400D ở châu Âu, châu Á hay còn gọi là Digital Rebel XTi ở Bắc Mỹ và EOS Kiss Digital X ở Nhật Bản là một máy ảnh kỹ thuật số và là một máy ảnh SLR (máy ảnh kỹ thuật số ống kính đơn phản xạ). Máy ảnh này được Canon giới thiệu lần đầu tiên vào ngày 24 tháng 8 năm 2006 .
Máy ảnh này là sự kế thừa của dòng máy Canon EOS 350D Kit phổ biến, được cải tạo, nâng cấp cảm biến CMOS lên đến 10,1 megapixel, có khả năng chụp liên tục hơn và máy được tích hợp hệ thống rung tự làm sạch cảm biến (công nghệ này lần đầu tiên sử dụng trong một máy ảnh Canon EOS DSLR). Máy được nâng cấp với hệ thống lấy nét tự động với 9 điểm tương tự dòng máy EOS 30D và một màn hình 2,5 inch (64mm) với độ phân giải 230.000 pixel.
== Ảnh chụp bởi Canon EOS 400D ==
Ảnh Macro
Ảnh phong cảnh
Ảnh chân dung
== Thông số kỹ thuật ==
Thông tin chung
Hãng sản xuất:Canon Company
Độ lớn màn hình LCD: 2.5 inch
Màu sắc: Đen hoặc bạc
Trọng lượng Camera: 550g
Kích cỡ máy (Dimensions): 127 x 94 x 65 mm
Loại thẻ nhớ: • CompactFlash I (CF-I) hoặc CompactFlash II (CF-II)
Loại máy ảnh: SLR-like
Tốc độ chụp: 1/4000- 30 giây.
Hệ màu: sRGB, Adobe RGB
Cảm biến hình ảnh
Bộ cảm biến hình ảnh (Image Sensor): 22.2 x 14.8 mmCMOS
Số điểm ảnh hiệu dụng (Megapixel): 10.5 Megapixel
Độ nhạy sáng (ISO): 100, 200, 400, 800, 1600
Độ phân giải ảnh lớn nhất: 3888 x 2592
Thông tin về ống kính bán kèm (lens kit)
Tên ống kính: Lens Canon EF-S 18-55mm f/3.5-5.6
Độ dài tiêu cự: 18-55mm
Khẩu độ tối đa: f/3.5-5.6
Góc ống kính: 75° 20' - 27° 50'
Lấy nét tay: có. Lấy nét tự động: có
Ống kính tương
Canon EF-S lens mount
Canon EF lens mount
Và một số ống kính hãng khác dành cho Cannon (lens for Canon)
Thông số khác
Định dạng File ảnh: JPG; RAW
Chuẩn giao tiếp: USB. Video Out (NTSC/PAL)
Loại pin sử dụng: Canon 720mAh Li-Ion & Charger
In ấn
Có thể in bằng máy in PictBridge, máy in trực tiếp CP, máy in phun trực tiếp Bubble Jet tương thích với các ảnh định dạng JPEG (có thể in DPOF).
Môi trường vận hành
Phạm vi nhiệt độ làm việc:0 °C - 40 °C / 32 °F - 104 °F
Độ ẩm khi làm việc: 85% hoặc thấp hơn
Gói sản phẩm
Bộ hướng dẫn: CD Driver, phần mềm Digital Photo Professional, sách hướng dẫn
Cable kèm theo:cable USB, cable TV out, cable audio out
== Một số ống kính tương thích ==
== Xem thêm ==
Canon EOS
Ống kính Canon EF
Ống kính Canon EF-S
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Canon Vietnam. Truy cập 08:20, ngày 2 tháng 10 năm 2008 (UTC)
Canon EOS Digital Rebel XTi White paper. Canon U.S.A.
== Liên kết ngoài ==
Thử nghiệm ống kính bán kèm thân máy
Latest firmware
Canon
400D Review at dpreview.com
SLR Today's Canon EOS 400D Review
Hình ảnh chụp với Canon EOS 400D trên Flickr.com
[1] |
đại la.txt | Đại La (chữ Hán: 大羅), còn có các tên gọi khác là Đại La thành, Thành Đại La, La Thành (羅城) là một thành trì, thủ phủ của An Nam đô hộ phủ thời Nhà Đường trong hai thế kỷ 8 và thế kỷ 9. Thành nằm ở vị trí giữa Thành Hà Nội và sông Tô Lịch, thuộc quận Ba Đình của Hà Nội hiện nay.
Đại La ban đầu do Trương Bá Nghi cho đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông (767); Triệu Xương cho đắp thêm năm Trinh Nguyên thứ 7 đời Đường Đức Tông (791).
Đến năm Nguyên Hòa thứ 3 đời Đường Hiến Tông (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 đời Đường Mục Tông (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành, sau đó Cao Biền cho đắp lại to lớn hơn.
Theo sử cũ thì La Thành do Cao Biền cho đắp có chu vi 1.982,5 trượng (≈6,6 km); thành cao 2,6 trượng (≈8,67 m), chân thành rộng 2,5 trượng (≈8,33 m), nữ tường bốn mặt cao 5,5 thước (≈1,83 m), với 55 lầu vọng địch, 6 nơi úng môn[5], 3 hào nước, 34 đường đi. Ông còn cho đắp đê vòng quanh ngoài thành dài 2.125,8 trượng (≈7,09 km), đê cao 1,5 trượng (≈5,00 m), chân đê rộng 2 trượng (≈6,66 m) và làm hơn 400.000 gian nhà.
Theo truyền thuyết, do thành xây đi xây lại vẫn bị sụt ở vùng sông Tô Lịch, Cao Biền đã cho trấn yểm tại đây để làm cho đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này. Các di chỉ tìm được trong lòng sông tháng 9 năm 2001 được một số nhà nghiên cứu cho là di tích của bùa yểm này.
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ đổi tên phủ thành Đại La là thành Thăng Long.
== Xem thêm ==
Tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử
Hoàng thành Thăng Long
Thánh vật ở sông Tô Lịch
Cao Biền
Thủ đô Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
vàng hồng.txt | Vàng hồng là một hợp kim của vàng với đồng và được sử dụng rộng rãi trong ngành trang sức do có màu hồng đặc trưng. Đôi khi còn được gọi là vàng đỏ. Vàng hồng rất được ưa chuộng ở Nga ở thế kỷ 19, đôi khi chúng còn được gọi là vàng Nga, và chúng cũng khá hiếm.
== Tham khảo == |
hạt nghi lễ.txt | Hạt nghi lễ (tiếng Anh: Ceremonial county, Lieutenancy area) là một khu vực của nước Anh mà một Lord Lieutenant được bổ nhiệm. Về mặt pháp lý đó là các vùng ở Anh, cũng như ở xứ Wales và Scotland, được xác định bởi Luật Lieutenancies Act 1997, có mục đích là để tổ chức các nghi lễ hoàng gia, trái ngược với các khu vực được sử dụng cho chính quyền địa phương. Nó cũng được gọi thông tục là hạt địa lý, như thường đại diện cho tính năng lâu dài hơn về địa lý Anh, và để phân biệt với các hạt của Anh có một chức năng quản lý ngày nay.
== Tham khảo ==
== Ghi chú == |
công ước stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.txt | Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (tiếng Anh: Stockholm Convention on Persistent Organic Pollutants) là hiệp ước quốc tế về môi trường, được ký vào năm 2001 và có hiệu lực kể từ tháng 5 năm 2004. Công ước Stockholm có mục đích loại bỏ hoặc hạn chế sản xuất và sử dụng các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (persistent organic pollutant - POP).
== Lịch sử ==
Năm 1995, Hội đồng điều hành Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) lên tiếng kêu gọi hành động mang tính toàn cầu để đối phó với POP - những chất hóa học được định nghĩa là "khó phân hủy trong môi trường, tích tụ sinh học qua lưới thức ăn và gây nguy cơ tác động có hại cho sức khỏe con người và môi trường."
Sau lời kêu gọi này, Diễn đàn liên chính phủ về An toàn hóa chất (Intergovernmental Forum on Chemical Safety - IFCS) và Chương trình quốc tế về An toàn hóa chất (International Programme on Chemical Safety - IPCS) đã chuẩn bị một bản đánh giá 12 hóa chất được xem là gây hại nhiều nhất (12 chất này còn được gọi là "một tá bẩn thỉu").
Từ tháng 6 năm 1998 đến tháng 12 năm 2000, năm cuộc họp diễn ra để sửa soạn cho Công ước mới. Ngày 22-23 tháng 5 năm 2011, các phái đoàn đến dự hội nghị (tập hợp các đại diện toàn quyền) diễn ra ở Stockholm, Thụy Điển đã thông qua Công ước về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. Những cuộc thương thảo cũng hoàn tất vào ngày 23 tháng 5. Công ước có hiệu lực kể từ ngày 17 tháng 5 năm 2004 với sự phê chuẩn ban đầu của 151 bên ký kết. Họ tán thành loại bỏ chín trong số 12 hóa chất được đề xuất, giới hạn sử dụng chất DDT trong công tác kiểm soát sốt rét và cắt giảm việc vô ý tạo ra chất điôxin và furan.
Các bên tham gia cũng đồng ý với quy trình xem xét và bổ sung các hợp chất độc hại khó phân hủy khác vào Công ước nếu chúng thỏa các tiêu chí về mức độ khó phân hủy và mức gây hại đến nhiều quốc gia. Danh sách bổ sung lần đầu được tán thành tại cuộc họp diễn ra ở Genève, Thụy Sĩ vào ngày 8 tháng 5 năm 2009.
Tính đến tháng 5 năm 2013, có 179 bên đã tham gia Công ước Stockholm (gồm 178 quốc gia và Liên minh châu Âu). Một số nước vẫn chưa phê chuẩn Công ước, chẳng hạn Hoa Kỳ, Israel, Iraq, Italia và Malaysia.
== Tóm tắt các điều khoản ==
Nội dung chính của Công ước là việc yêu cầu các nước phát triển phải cung cấp mới cũng như bổ sung các nguồn tài chính và biện pháp nhằm xóa bỏ hoạt động sản xuất và sử dụng các POP, xóa bỏ việc vô ý tạo ra các POP nếu được, quản lý và tiêu hủy chất thải POP theo cách an toàn cho môi trường. Công ước cũng dự liệu việc bổ sung các chất mới vào danh sách thông qua việc ghi chú trong phần mở đầu.
== Ủy ban Xem xét Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy ==
Công ước có điều khoản về quy trình nhận diện các POP để bổ sung vào Công ước và tiêu chí để xem xét đánh giá theo. Lần họp thứ nhất của Hội nghị các bên (COP1) diễn ra ở Punta del Este, Uruguay từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 5 năm 2005 đã lập ra Ủy ban Xem xét Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (Persistent Organic Pollutants Review Committee - POPRC) với nhiệm vụ cân nhắc bổ sung các POP khác vào Công ước.
Thành phần Ủy ban này gồm 31 chuyên gia được các bên tham gia Công ước đề cử, lấy từ năm nhóm vùng thuộc Liên Hiệp Quốc. Ủy ban sẽ xem xét bổ sung chất mới theo ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, Ủy ban xác định xem liệu chất đó có thỏa các tiêu chí được ghi trong phụ lục D của Công ước hay không (gồm tính khó phân hủy, tính tích tụ sinh học, tiềm năng lan truyền quy mô rộng trong môi trường - LRET, và độc tính). Nếu thấy thỏa, Ủy ban sẽ thảo ra hồ sơ nháp về nguy cơ của chất đó theo phụ lục E nhằm đánh giá chất đó có nguy cơ gây tổn hại đáng kể đối với sức khỏe con người và/hoặc gây tác động môi trường hay không, từ đó cần hành động trên quy mô toàn cầu hay không. Cuối cùng, nếu Ủy ban nhận thấy cần thiết phải có hành động toàn cầu thì họ sẽ lập bản đánh giá quản lý rủi ro theo phụ lục F nhằm phản ánh các đánh giá về kinh tế - xã hội song hành cùng việc nêu ra các biện pháp có thể có để kiểm soát chất đó. Dựa trên bản đánh giá này, Ủy ban ra quyết định khuyến nghị liệt kê bổ sung chất đó vào một hay nhiều phụ lục của Công ước. Ủy ban này đều tổ chức họp hàng năm ở Genève tính từ khi thành lập đến nay.
== Danh sách POP được liệt kê ==
Ban đầu có 12 chất được liệt kê, chia làm ba thể loại. Trong số này, hai chất gồm hexaclorobenzen và PCB được liệt kê ở cả hai thể loại là A và C.
Được bổ sung tại hội nghị lần thứ tư (tháng 5 năm 2009)
các thay đổi này có hiệu lực từ 26 tháng 8 năm 2010, trừ các quốc gia đã nộp thông báo chiểu theo các điều khoản của đoạn 3(b), Điều 22.
Được bổ sung tại hội nghị lần thứ sáu (tháng 4-5 năm 2013)
các thay đổi này có hiệu lực từ 26 tháng 11 năm 2014, trừ các quốc gia đã nộp thông báo chiểu theo các điều khoản của đoạn 3(b), Điều 22.
== Các chất mới được đề nghị bổ sung vào các phụ lục A, B và C ==
POPRC-7 đã xem xét ba đề xuất về việc bổ sung chất mới vào các phụ lục A, B và C của Công ước. Đó là các chất: naphtalen (CN), hexaclobutađien (HCBD) và pentaclophenol (PCP), cùng với các hợp chất muối và este của nó. Lời đề xuất này là giai đoạn đầu tiên trong quy trình đánh giá một chất của POPRC, đòi hỏi POPRC phải đánh giá xem liệu chất đề đề xuất có thỏa các tiêu chí trong phụ lục D của Công ước hay không.
POPRC-8 đề xuất bổ sung hexabrômxiclododecan vào phụ lục A kèm các trường hợp miễn trừ được quy định cụ thể cho sản xuất và sử dụng EPS và XPS trong công trình xây dựng. Lời đề xuất này đã được hội nghị lần thứ sáu (28 tháng 4 - 10 tháng 5 năm 2013) thông qua.
== Tranh cãi ==
Có một số chỉ trích đối với Công ước này, rằng Công ước phải chịu trách nhiệm cho việc làm tiếp diễn các ca tử vong do sốt rét gây ra. Tuy nhiên trong thực tế, Công ước đã quy định cụ thể là cho phép dùng chất DDT để kiểm soát muỗi (trung gian truyền bệnh sốt rét) vì mục tiêu sức khỏe cộng đồng. Từ giác độ các quốc gia đang phát triển, việc thiếu dữ liệu và thông tin về nguồn gốc, sự thải cũng như các mức độ ảnh hưởng tới môi trường của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy chính là các nguyên nhân gây vướng mắc các cuộc đàm phán, từ đây cho thấy nhu cầu lớn về nghiên cứu.
== Các công ước và cuộc đàm phán có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường ==
Công ước Rotterdam về quy trình cho phép có báo trước đối với các hóa chất độc hại và thuốc trừ sâu trong thương mại quốc tế (Rotterdam Convention on the Prior Informed Consent Procedure for Certain Hazardous Chemicals and Pesticides in International Trade)
Công ước về ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa (Convention on Long-Range Transboundary Air Pollution - CLRTAP)
Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới đối với các chất thải độc hại và việc thải bỏ chúng (Basel Convention on the Control of Transboundary Movements of Hazardous Wastes and their Disposal)
=== Các cuộc đàm phán ===
Đàm phán liên chính phủ về văn kiện ràng buộc mang tính pháp lý đối với thủy ngân (Intergovernmental Negotiating Committee's work towards a Legally Binding Instrument on Mercury)
Diễn đàn liên chính phủ về an toàn hóa học (Intergovernmental Forum on Chemical Safety - IFCS)
Cách tiếp cận chiến lược đối với quản lý hóa chất ở tầm quốc tế (Strategic Approach to International Chemicals Management - SAICM)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Công ước Stockholm, pops.org.vn
Nguyễn Ngọc Hùng; Phan Thị Phi Phi. Ô nhiễm các chất hữu cơ khó phân huỷ (POPs), office33.gov.vn |
thép không gỉ.txt | Thép không gỉ hay còn gọi là inox (i-nốc, bắt nguồn từ tiếng Pháp: inox) là một dạng hợp kim của sắt chứa tối thiểu 10,5% crôm. Nó ít bị biến màu hay bị ăn mòn như thép thông thường khác.
== Lịch sử ==
Thép không gỉ gắn liền với tên tuổi của một chuyên gia ngành thép người Anh là ông Harry Brearley. Khi vào năm 1913, ông đã sáng chế ra một loại thép đặc biệt có khả năng chịu mài mòn cao, bằng việc giảm hàm lượng carbon xuống và cho crôm vào trong thành phần thép (0.24% C và 12.8% Cr).
Sau đó hãng thép Krupp ở Đức tiếp tục cải tiến loại thép này bằng việc cho thêm nguyên tố niken vào thép để tăng khả năng chống ăn mòn axit và làm mềm hơn để dễ gia công. Trên cơ sở hai phát minh này mà 2 loại mác thép 400 và 300 ra đời ngay trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Sau chiến tranh, những năm 20 của thế kỷ 20, một chuyên gia ngành thép người Anh là ông W. H Hatfield tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ý tưởng về thép không gỉ. Bằng việc kết hợp các tỉ lệ khác nhau giữa ni ken và crôm trong thành phần thép, ông đã cho ra đời một loại thép không gỉ mới 18/8 với tỉ lệ 8% Ni và 18% Cr, chính là mác thép 304 quen thuộc ngày nay. Ông cũng là người phát minh ra loại thép 321 bằng cách cho thêm thành phần titan vào thép có tỉ lệ 18/8 nói trên.
Trải qua gần một thế kỷ ra đời và phát triển, ngày nay thép không gỉ đã được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dân dụng và công nghiệp với hơn 100 mác thép khác nhau.
Trong ngành luyện kim, thuật ngữ thép không gỉ (inox) được dùng để chỉ một dạng hợp kim sắt chứa tối thiểu 10,5% crôm. Tên gọi là "thép không gỉ" nhưng thật ra nó chỉ là hợp kim của sắt không bị biến màu hay bị ăn mòn dễ dàng như là các loại thép thông thường khác. Vật liệu này cũng có thể gọi là thép chống ăn mòn. Thông thường, có nhiều cách khác nhau để ứng dụng inox cho những bề mặt khác nhau để tăng tuổi thọ của vật dụng. Trong đời sống, chúng xuất hiện ở khắp nơi như những lưỡi dao cắt hoặc dây đeo đồng hồ...
Thép không gỉ có khả năng chống sự ôxy hoá và ăn mòn rất cao, tuy nhiên sự lựa chọn đúng chủng loại và các thông số kỹ thuật của chúng để phù hợp vào từng trường hợp cụ thể là rất quan trọng.
Khả năng chống lại sự oxy hoá từ không khí xung quanh ở nhiệt độ thông thường của thép không gỉ có được nhờ vào tỷ lệ crôm có trong hợp kim (nhỏ nhất là 13% và có thể lên đến 26% trong trường hợp làm việc trong môi trường làm việc khắc nghiệt). Trạng thái bị oxy hoá của crôm thường là crôm ôxit(III). Khi crôm trong hợp kim thép tiếp xúc với không khí thì một lớp chrom III oxit rất mỏng xuất hiện trên bề mặt vật liệu; lớp này mỏng đến mức không thể thấy bằng mắt thường, có nghĩa là bề mặt kim loại vẫn sáng bóng. Tuy nhiên, chúng lại hoàn toàn không tác dụng với nước và không khí nên bảo vệ được lớp thép bên dưới. Hiện tượng này gọi là sự oxi hoá chống gỉ bằng kỹ thuật vật liệu. Có thể thấy hiện tượng này đối với một số kim loại khác như ở nhôm và kẽm.
Khi những vật thể làm bằng inox được liên kết lại với nhau với lực tác dụng như bu lông và đinh tán thì lớp ôxit của chúng có thể bị bay mất ngay tại các vị trí mà chúng liên kết với nhau. Khi tháo rời chúng ra thì có thể thấy các vị trí đó bị ăn mòn.
Niken cũng như mô-lip-đen và vanađi cũng có tính năng oxy hoá chống gỉ tương tự nhưng không được sử dụng rộng rãi.
Bên cạnh crôm, niken cũng như mô-lip-đen và ni tơ cũng có tính năng oxi hoá chống gỉ tương tự.
Niken (Ni) là thành phần thông dụng để tăng cường độ dẻo, dễ uốn, tính tạo hình của thép không gỉ. Mô-lip-đen (Mo) làm cho thép không gỉ có khả năng chịu ăn mòn cao trong môi trường axit. Ni tơ (N) tạo ra sự ổn định cho thép không gỉ ở nhiệt độ âm (môi trường lạnh).
Sự tham gia khác nhau của các thành phần crôm, niken, mô-lip-đen, ni tơ dẫn đến các cấu trúc tinh thể khác nhau tạo ra tính chất cơ lý khác nhau của thép không gỉ.
== Phân loại ==
Có bốn loại thép không gỉ chính: Austenitic, Ferritic,Austenitic-Ferritic (Duplex), và Martensitic.
Austenitic là loại thép không gỉ thông dụng nhất. Thuộc dòng này có thể kể ra các mác thép SUS 301, 304, 304L, 316, 316L, 321, 310s… Loại này có chứa tối thiểu 7% ni ken, 16% crôm, carbon (C) 0.08% max. Thành phần như vậy tạo ra cho loại thép này có khả năng chịu ăn mòn cao trong phạm vi nhiệt độ khá rộng, không bị nhiễm từ, mềm dẻo, dễ uốn, dễ hàn. Loai thép này được sử dụng nhiều để làm đồ gia dụng, bình chứa, ống công nghiệp, tàu thuyền công nghiệp, vỏ ngoài kiến trúc, các công trình xây dựng khác…
Ferritic là loại thép không gỉ có tính chất cơ lý tương tự thép mềm, nhưng có khả năng chịu ăn mòn cao hơn thép mềm (thép carbon thấp). Thuộc dòng này có thể kể ra các mác thép SUS 430, 410, 409... Loại này có chứa khoảng 12% - 17% crôm. Loại này, với 12%Cr thường được ứng dụng nhiều trong kiến trúc. Loại có chứa khoảng 17%Cr được sử dụng để làm đồ gia dụng, nồi hơi, máy giặt, các kiến trúc trong nhà...
Austenitic-Ferritic (Duplex) Đây là loại thép có tính chất "ở giữa" loại Ferritic và Austenitic có tên gọi chung là DUPLEX. Thuộc dòng này có thể kể ra LDX 2101, SAF 2304, 2205, 253MA. Loại thép duplex có chứa thành phần Ni ít hơn nhiều so với loại Austenitic. DUPLEX có đặc tính tiêu biểu là độ bền chịu lực cao và độ mềm dẻo được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp hoá dầu, sản xuất giấy, bột giấy, chế tạo tàu biển... Trong tình hình giá thép không gỉ leo thang do ni ken khan hiếm thì dòng DUPLEX đang ngày càng được ứng dụng nhiều hơn để thay thế cho một số mác thép thuộc dòng thép Austenitic như SUS 304, 304L, 316, 316L, 310s…
Martensitic Loại này chứa khoảng 11% đến 13% Cr, có độ bền chịu lực và độ cứng tốt, chịu ăn mòn ở mức độ tương đối. Được sử dụng nhiều để chế tạo cánh tuabin, lưỡi dao...
== Đặc tính của thép không gỉ ==
Các đặc tính của nhóm thép không gỉ có thể được nhìn dưới góc độ so sánh với họ thép carbon thấp. Về mặt chung nhất, thép không gỉ có:
Tốc độ hóa bền rèn cao
Độ dẻo cao hơn
Độ cứng và độ bền cao hơn
Độ bền nóng cao hơn
Chống chịu ăn mòn cao hơn
Độ dẻo dai ở nhiệt độ thấp tốt hơn
Phản ứng từ kém hơn (chỉ với thép austenit)
Các cơ tính đó thực ra đúng cho họ thép austenit và có thể thay đổi khá nhiều đối với các mác thép và họ thép khác.
Các cơ tính đó liên quan đến các lĩnh vực ứng dụng thép không gỉ, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của thiết bị và phương pháp chế tạo.
Bảng 1 (Phần A). Tính chất so sánh của họ thép không gỉ.
(1)- Sức hút của nam châm đối với thép. Chú ý, một số mác thép bị nam châm hút khi đã qua rèn nguội.
(2)- Biến động đáng kể giữa các mác thép trong mỗi nhóm, ví dụ, các mác không gia được có tính chịu ăn mòn thấp hơn, và khi có Mo cao hơn sẽ có tính kháng cao hơn.
Bảng 1 (Phàn B). Cơ tính so sánh của họ thép không gỉ.
(3)- Đo bằng độ dẻo dai hoặc độ dẻo ở gần 0 °C. Thép không gỉ Austenit giữ được độ dẻo ở nhiệt độ thấp.
== Phân loại theo tiêu chuẩn ==
Có nhiều biến thể về thép không gỉ và học viện gang thép Mỹ (AISI) trước đây quy định một số mác theo chuẩn thành phần, và vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi như ngày nay. Ngày nay, SAE và ASTM dựa theo chuẩn của AISI để quy định các mác thép của mình, được đánh chỉ số UNS là 1 ký tự + 5 chữ số đối với các mác thép mới. Phạm vi đánh chỉ đầy đủ nhất của những họ thép không gỉ được sử dụng trong Hiệp hội gang thép (ISS), và sổ tay SEA/ASTM về hệ chỉ số hợp nhất. Các mác thép nào đó khác không có chỉ số chuẩn, mà đang được sử dụng ở các quốc gia khác hoặc các quy định quốc tế, hoặc quy định đối với sản xuất chuyên biệt như các chuẩn về thép dây hàn.
== Tính chất vật lý ==
== Xem thêm ==
Khối lượng riêng
Độ đàn hồi
Độ dẫn điện
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
edo.txt | Edo (江戸 (Giang Hộ), Edo)(nghĩa là "cửa sông", phát âm tiếng Việt như là Ê-đô) còn được viết là Yedo hay Yeddo, là tên cũ của thủ đô nước Nhật, tức Tōkyō ngày nay.
Con người đã có mặt tại khu vực Vịnh Tōkyō hằng nhiều thế kỷ nhưng trong văn tịch thì mãi đến thế kỷ 15 Edo mới được nhắc đến kể từ khi Ōta Dōkan cho xây thành Edo vào năm 1457.
Đô thị trọng yếu nhất của Nhật trước đó là Kyōto nơi Thiên hoàng (nhà vua Nhật Bản) chọn làm kinh đô. Khi Mạc phủ Tokugawa lên nắm quyền và chuyển hành dinh đến Edo thì địa vị Kyōto bắt đầu lu mờ. Thiên hoàng tiếp tục ngự trị ở Kyōto nhưng Edo trở thành trung tâm quyền lực. Edo từ đó phát triển nhanh chóng từ làng chài nhỏ bé để trở thành đô thị đông đúc với hơn 1.000.000 dân vào năm 1721. Vào thời điểm đó Edo đã là một trong những thành phố lớn nhất thế giới.
Edo thường bị hỏa hoạn. Riêng cơn cháy Meireki no Taika năm 1657 đã giết hơn 100.000 người. Sử sách thời kỳ Edo đã ghi lại hơn 100 cơn hỏa hoạn lớn. Đám cháy thường lan rất nhanh vì nhà cửa hầu hết cất bằng gỗ mà lại dùng than để sưởi ấm. Tình hình nhiêm trọng đến nỗi các Shōgun lập ra chức Machi bugyo (町奉行: Đinh phụng hành) để đảm nhiệm việc bảo an. Chức vụ này dưới thời Tokugawa Yoshimune được củng cố mà hậu thân là machibikeshi tức hệ thống chữa cháy thành phố ngày nay. Có ước tính cho rằng từ năm 1600 đến 1945, mức phát triển của Edo/Tōkyō bị đẩy lùi 25-50 năm bởi chiến tranh, hỏa hoạn và các thiên tai như động đất, núi lửa và sóng thần.
Khi chế độ Mạc phủ bị lật đổ, Edo đổi tên thành Tōkyō (東京 (Đông kinh), Tōkyō), có nghĩa là "kinh đô ở miền Đông". Năm 1869, Thiên hoàng Minh Trị chính thức rời đô từ Kyōto ra Tōkyō và Tōkyō chính thức trở thành thủ đô nước Nhật Bản.
== Xem thêm ==
Thời kỳ Edo
Lịch sử Tōkyō
Hoàng cung Tōkyō
== Tham khảo ==
Từ ấn bản năm 1911 sách Encyclopædia Britannica
== Chú thích == |
mafia.txt | Mafia (còn có tên Cosa Nostra) là một tổ chức tội phạm bí mật của người Sicilia được hình thành vào giữa thế kỉ 19 tại vùng đảo Sicilia thuộc Ý. Một trong những bộ phận hậu duệ của nó xuất hiện ở vùng ven biển miền đông Hoa Kỳ và Úc, được du nhập cùng với làn sóng di cư của người Sicilia và các cư dân khác thuộc miền nam của Ý. Ở Bắc Mỹ, Mafia dùng để chỉ các tổ chức tội phạm của Ý nói chung, chứ không hẳn là chỉ giới tội phạm của riêng cộng đồng Sicilia. Theo nhà sử học Paolo Pezzino "Mafia là một tổ chức tội phạm không những chỉ hoạt động trong một số lĩnh vực bất hợp pháp; mà còn là một tổ chức đa chức năng như là một thế lực của một vùng, một khu vực nhất định...".
Cosa Nostra là một liên minh không chặt chẽ của hàng trăm nhóm Mafia, còn được gọi là nhánh hay gia đình. Mỗi tổ chức này có quyền kiểm soát một vùng lãnh thổ riêng, thường là một thị trấn, một làng hay một vùng của một thành phố lớn và thường không có nhiều các hoạt động xâm lấn hay bạo lực giữa các địa bàn hoạt động của nhau. Qua thời gian cơ cấu tổ chức của các gia đình hình thành nên dạng liên minh vừa giữ quyền lực trung tâm vừa có các tổ chức bộ phận và Cosa Nostra được hình thành từ cuối những năm 1950.
Một số nhà quan sát cho rằng, Mafia chỉ là những dấu hiệu đặc trưng có nguồn gốc văn hoá như là "lối sống". Khi giải thích về Mafia, nhà dân tộc học người Sicilia Giuseppe Pitrè cho rằng: "Mafia theo quan niệm thông thường nói rộng ra, đây là một lực lượng đứng ra phán xử những mâu thuẫn, xung đột, quyền lợi hay những quan điểm khác nhau".
Nhiều người Sicilia không nhất trí về quan niệm mang tính tội phạm của các nhân vật trên, nhưng đều nhất trí rằng đây là một tổ chức hình thành để bảo vệ những người nghèo hèn trong xã hội. Cuối những năm 1950, trên bia mộ của một thủ lĩnh huyền thoại Mafia là Villalba Calogero Vizzini có ghi hàng chữ: "Ông là một Mafia; tuy phạm tội nhưng ông cũng rất tôn trọng pháp luật, bảo vệ lẽ phải và là một nhân cách vĩ đại. Đó là con người đáng kính". Ở đây Mafia có nghĩa là niềm kiêu hảnh, niềm vinh dự hay thậm chí là trách nhiệm xã hội như: quan điểm, chứ không phải một tổ chức. Tương tự như vậy, vào năm 1925, chủ tịch hạ viện Ý, ngài Vittorio Emanuele Orlando xuất hiện trước quốc hội và ông rất hãnh diện với tên gọi mafioso (thành viên của Mafia), vì từ này có hàm ý là danh giá, quý phái và hào phóng.
== Từ nguyên ==
Có một số giả thuyết về nguồn gốc của từ này. Theo tiếng Sicilia, tính từ mafiusu có lẽ vay mượn từ gốc Arập là mahyas có nghĩa là " ba hoa, hiếu chiến" hay marfud có nghĩa là "đồ bỏ đi". Đại khái được dịch theo nghĩa chung là " thái độ nghênh ngang" hay cả nghĩa " tính gan dạ, anh hùng". Khi liên hệ với một người, theo ý kiến của nhà nghiên cứu Diego Gambetta, mafiusu vào thế kỉ 19 ở Sicilia được hiểu theo các nghĩa là: sự ức hiếp, tính kiêu ngạo, can đảm, mạnh dạn, kiêu hãnh.
Theo nhà dân tộc học người Sicilia Giuseppe Pitrè, mối liên hệ của từ này với những băng đảng tội phạm bí mật mới hình thành ở Sicilia và Ý mới chỉ sau này. Vì thế nguồn gốc từ Mafia mang tính chất hoang đường, lỏng lẻo và rất khó giải thích cặn kẽ. Thuật ngữ "Mafia" sau này được dùng trong cộng đồng Ý như đã nêu trên quả là một hiện tượng kỳ lạ. Từ "Mafia" xuất hiện lần đầu tiên trên công luận vào năm 1865 trong bản báo cáo của quận trưởng thị trấn Palermo ngài Filippo Antonio Gualterio. Leopoldo Franchetti, một quan chức chính phủ Ý tới Sicilia và đã viết một báo cáo cặn kẽ nhất về Mafia vào năm 1876. Ông coi Mafia là "tổ chức bạo lực" và mô tả cấu trúc của Mafia như sau: "Mafia chắc chắn là một hệ thống bạo lực chỉ có điều gọi nó như thế nào và xem nó có ảnh hưởng tới tính chất xã hội cũng như vai trò của nó đối với Sicilia như thế nào thôi. Chúng còn có một số tên gọi biến tướng ở những vùng khác nhau nữa". Ông cho rằng, Mafia ăn sâu bén rễ vào đời sống xã hội của Sicilia và nếu không dập tắt được nó, thì những kiến trúc xã hội của vùng đảo phía nam này sẽ bị nó lấn át.
=== Tên đích thực: Cosa Nostra ===
Theo một số thành viên của Mafia thì tên đích thực của Mafia là Cosa Nostra (của chúng ta). Theo tên Mafia đào tẩu Tommaso Buscetta thì từ "Mafia" là sự hư cấu mang tính văn chương. Những tên Mafia đào tẩu khác như Antonio Calderone và Salvatore Contorno cũng nói tương tự. Theo họ, tên thật sự của tổ chức này là "Cosa Nostra". Đối với một người, niềm vinh hạnh đứng trong tổ chức này thì không cần đặt tên cho nó. Các thành viên của Mafia giới thiệu với nhau hay các thành viên khác thuộc về "Cosa Nostra" (việc của chúng ta) hay la stessa cosa (việc giống nhau). Có nghĩa là "anh ta cũng giống như thế, đều là thành viên của Mafia, như anh thôi". Chỉ có những người ngoài thế giới Mafia mới cần tên để gọi chúng, sau đó viết hoa thành "Cosa Nostra".
Cosa Nostra được dùng lần đầu tiên vào năm 1960 ở Mỹ, do một tên là thành viên của Mafia nhưng sau đó ra toà làm nhân chứng. Cũng trong thời gian đó, nó trở thành tên riêng được FBI sử dụng và được các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến rộng rãi. Sau đó thuật ngữ này được sử dụng khắp nơi thay thế cho tên gọi Mafia trước đây. Thậm chí FBI còn đề xướng một cách gọi là "La Cosa Nostra", trong tiếng Ý từ "la" được dùng như một mạo từ đứng trước danh từ Mafia, tương tự như "a, the" trong tiếng Anh.
==== Những tên khác ====
Trong lịch sử, Mafia mang nhiều tên khác nhau, như: xã hội danh giá. Các thành viên của Mafia cũng tự gọi họ là những con người danh giá.
== Nghi thức của Cosa Nostra Sicilia ==
Một nghi thức hướng tới hình thành của hầu hết mọi gia đình Mafia là khi thành viên tập hợp thành một hội và sau đó trở thành một đội quân. Theo sự mô tả của Tommaso Buscetta, người bị thẩm phán Giovanni Falcone chất vấn, thì một thành viên mới gia nhập phải có ít nhất "ba người bảo lãnh" (có uy tín) của gia đình Mafia và người già nhất cảnh báo với anh ta là vào "nhà này" tức là phải bảo vệ những người yếu chống lại những kẻ mạnh; sau đó anh ta được chọc kim vào đầu ngón tay cho máu nhỏ xuống một bức hình, thường là tượng thánh để làm lễ tuyên thệ. Bức hình này được đặt trong lòng bàn tay của người mới gia nhập và châm vào lửa; khi hình cháy hết anh ta bắt đầu lời thề sẽ trung thành với luật lệ của Cosa Nostra, với lời trang trọng "máu thịt tôi sẽ chảy như bức hình này nếu tôi không giữ trọn lời thề của mình". Joseph Valachi là người đầu tiên nói lên điều đó trước toà. Ở Sicilia cũng có một điều luật im lặng gọi là omertà, cấm tất cả mọi người đàn ông bình thường, phụ nữ, trẻ em hợp tác với bất cứ một cảnh sát hay quan chức chính quyền nào, bằng không sẽ chết.
== Lịch sử Cosa Nostra Sicilia ==
=== Nguồn gốc ===
Đã từ lâu, người ta đưa ra giả thuyết rằng Mafia ra đời vào thời trung cổ. Pentito Tommaso Buscetta quá cố(pentito- người cộng tác với pháp luật) cũng nghĩ như thế, nhưng các học giả đôi khi lại nghĩ khác. Có lẽ nguồn gốc của Mafia hình thành nên như một tổ chức xã hội bí mật nhằm bảo vệ người dân Sicilia chống lại mối đe doạ của quân xâm lược Catalan vào thế kỉ thứ 15. Tuy nhiên, có rất ít những chứng cứ ủng hộ những giả thuyết đó. Một khả năng khác có nguồn gốc từ "Robin Hood" gắn với xã hội ngoài pháp luật Sicilia, tồn tại lâu dài và được người dân nơi đây chấp nhận. Cách lý giải nữa về nguồn gốc này cho thấy rằng, Mafia là những kẻ phiến loạn chính đáng để bảo vệ người dân chống lại sự áp bức của quân xâm lược La Mã hay đội quân miền bắc nước Ý.
Sau cuộc cách mạng năm 1848 và năm 1860, Sicilia thất thủ và rơi vào hỗn loạn. Lúc đầu mafiosi(các hội hay thành viên mafia) biệt lập với nhau tạo thành những băng đảng ngoài pháp luật, chuẩn bị vũ khí để nổi dậy. Arthur John Dickie cho rằng, đây chỉ là cách biện hộ để đánh lừa và bắn giết cảnh sát mà thôi. Tuy nhiên khi chính phủ mới được hình thành ở Rome, thì rõ ràng là Mafia không có khả năng làm những việc ấy, chúng bắt đầu thay đổi phương pháp và chiến thuật trong suốt nửa cuối thế kỉ 19. Các khu rừng, các vùng đất của các quý tộc bắt đầu sinh lợi nhưng cũng rất nguy hiểm. Lúc đầu Palermo là địa bàn chính của những hoạt động này, nhưng sau đó Mafia Sicilia nhanh chóng ảnh hưởng sang miền tây của hòn đảo này. Để củng cố giao kèo giữa các băng đảng với nhau, nhằm tăng lợi nhuận và đảm bảo môi trường lao động an toàn, có thể Mafia đã được hình thành vào khoảng thời gian giữa thế kỉ 19.
=== Mafia sau khi thống nhất nước Ý ===
Năm 1860, nước Ý thống nhất các vùng lãnh thổ lần đầu tiên bao gồm cả Sicilia và Papal, Giáo hoàng phẫn nộ với chính phủ nước này. Từ năm 1870, Giáo hoàng cho rằng lãnh thổ bị bao vây bởi nước Ý và thúc giục nhà thờ không hợp tác với nước này. Nhìn chung nước Ý không khuyến khích bạo lực. Sicilia có tổ chức nhà thờ rất mạnh, nhưng lại đa dạng về sắc tộc chứ không mạnh về mặt tri thức và xã hội và lại có truyền thống đứng ngoài sự kiểm soát của chính quyền trung ương. Sự va chạm giữa chính quyền và nhà thờ tạo cho các băng đảng ở Sicilia đại diện cho những người dân nơi đây hợp tác với chính quyền trung tâm (chuẩn bị cho việc hình thành nước Ý thống nhất) chống lại các hoạt động của nhà thờ. Trải qua hai thập kỉ kể từ khi hình thành quốc gia thống nhất vào năm 1860, hoạt động của Mafia mới được công chúng chú ý tới, nhưng nó được quan niệm như một hệ thống giá trị và quan điểm hơn là một tổ chức.
Sự đề cập tới Mafia một cách chính thức bằng tư liệu bắt đầu từ những năm 1800, khi Galati đề cập tới vấn đề bạo lực của Mafia địa phương nhằm trục xuất Galati khỏi vùng rừng mà hắn chiếm cứ. Nhằm bảo vệ các đàn gia súc khỏi bị trộm cắp, mua chuộc các quan chức chính quyền là những nguồn thu nhập chính và bảo đảm cho hoạt động của Mafia giai đoạn đầu. Cosa Nostra cũng du nhập những nghi thức hoạt động từ Tam Điểm hội, như trong buổi lễ kết nạp thành viên mới nổi tiếng.
=== Giai đoạn Phát- xít ===
Trong suốt giai đoạn chủ nghĩa Phát- xít nắm quyền ở Ý, Cesare Mori là quận trưởng thành phố Palermo, ông đã dùng quyền lực của mình để chống Mafia. Ông đã buộc nhiều tên Mafia phải chạy ra nước ngoài hay ra toà. Nhiều tay Mafia chạy sang Mỹ, trong số đó có Joseph Bonanno với biệt danh là Joe Bananas, sau này thống lĩnh toàn bộ hệ thống Mafia ở Mỹ. Tuy nhiên khi bị Mori truy quét thì nhiều tên Mafia lại tìm cách chui vào hàng ngũ Phát- xít, chúng lại tiếp tục bị phá vỡ và chính quyền Phít- xít tuyên bố rằng Mafia đã bị xóa sổ. Mặc dù Mafia đã bị suy yếu, nhưng nó không bị đánh đổ hoàn toàn như báo cáo. Mặc dù tấn công vào các đạo hữu của chúng, nhưng giới Mafia ở New York vẫn hết sức khâm phục Mussolini, đặc biệt là Vito Genovese (mặc dù hắn đến Mỹ từ Naples, chứ không phải Sicilia).
=== Sự hồi sinh thời hậu chiến ===
Khi Phát-xít sụp đổ, Mafia không phát triển mạnh lên cho tới khi nước này đầu hàng đồng minh và bị Mỹ chiếm đóng. Quân đội Mỹ đã sử dụng Mafia Ý để liên lạc trong giai đoạn của cuộc chiến ở Ý và Sicilia năm 1943. Lucky Luciano và những tay Mafia khác bị giam cầm ở Mỹ đã được trưng dụng để cung cấp thông tin cho quân đội Mỹ và dùng uy tín của Luciano để chiến dịch quân sự được tiến hành thuận lợi hơn. Hơn nữa, Luciano còn có nhiệm vụ bảo vệ các cảng biển của Mỹ khỏi bị quân Phít- xít phá hoại.
CÓ một số ý kiến cho rằng, cục chiến lược Mỹ đã cảnh báo với CIA rằng nên cẩn nhắc kỹ khi cho phép Mafia hoạt động trở lại trong vai trũ chống chính quyền ở Sicilia. Ở Mỹ, Mafia được quân đội huấn luyện cho tới năm 1943, đây trở thành bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử Mafia và đã tạo nên hình thức hoạt động mới cho giai đoạn 60 năm sau. Hơn nữa nhà sử học Palermo Francesco Renda đã tranh luận rằng, không có sự liên minh như thế. Mafia đã lợi dụng tình trạng hỗn loạn của thời kì hậu Phát-xít để giành lại vị thế xã hội ở Sicilia. OSS (tiền thân của CIA) đã đưa ra một "báo cáo về tình hình Mafia" vào năm 1944, do W. E. Scotten đảm nhận, ông nhận định Mafia đã hồi sinh và cảnh báo về những hiểm hoạ của nó đối với trật tự xã hội và phát triển kinh tế. Ông còn viện dẫn thêm rằng, những lợi nhuận (nhìn từ góc độ của Mỹ) đã tạo ra lực lượng Mafia Sicilia chống lại ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản.
Chuyên gia nghiên cứu về buôn bán ma tuý, tiến sĩ Alfred W. McCoy cho rằng, Luciano đã được đánh đổi án ngồi tù để tại ngoại do những đóng góp của ông ta. Sau chiến tranh Luciano được phóng thích khỏi nhà tù và bị đày về Ý, tại đây hắn có điều kiện hoạt động phạm tội mà không bị cản trở. Hắn trở lại Sicilia năm 1946 để tiếp tục hoạt động, được McCoy đề cập tới trong cuốn "hoạt động buôn bán heroin ở Đông Nam Á" vào năm 1972. Luciano đó liên minh với Mafia đảo Coóc, phát triển mạng lưới buôn bán heroin toàn cầu; lúc đầu là nguồn cung cấp từ Thổ Nhĩ Kỳ nhập vào Mác-xây, trong cái gọi là "điểm trung chuyển Pháp". Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu loại trừ cây thuốc phiện, hắn lại liên hệ với giới Mafia đảo Coóc để lấy hàng từ miền nam Việt Nam. Trong khi liên kết với các thủ lĩnh ở Mỹ trong đó có Santo Trafficante Jr, Luciano và những người kế vị của hắn đã lợi dụng tình trạng hỗn loạn do cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam để phát triển nguồn cung ứng heroin tại "vùng tam giác vàng", nơi đây đã nhanh chóng trở thành địa điểm cung cấp heroin lớn nhất cho Mỹ, Úc và nhiều quốc gia khác.
=== Phiên toà Maxi và cuộc chiến chống lại chính quyền ===
Cuộc chiến Mafia lần thứ hai diễn ra vào đầu những năm 1980, đây là cuộc xung đột lớn nhất trong nội bộ Mafia dẫn tới việc ám sát một số nhà chính trị, cảnh sát trưởng và các vị chánh án.
Salvatore Riina và đồng bọn Corleonesi rốt cuộc đã chiến thắng. Các thế hệ Mafia mới hướng tới lao động chân tay hơn là mánh khoé gian lận theo kiểu truyền thống. Để đáp lại xu thế phát triển này, người Ý đưa ra tên gọi là Cosa Nuova (cái mới) để đối lại Cosa Nostra và thể hiện sự cách tân. Một trong những tay Mafia cộm cán đầu tiên(bị bắt và cộng tác với toà án) là Tommaso Buscetta bị mất hết đồng minh trong cuộc chiến và đã tiết lộ với chánh án Giovanni Falcone từ năm 1983. Điều này dẫn đến phiên toà Maxi (1986-1987) kết quả là hàng trăm tên Mafia đã bị lộ diện. Khi toà án tối cao Ý kết tội những tên này vào tháng 1 năm 1992 thì Riina tiến hành trả thù. Nhà chính trị Salvatore Lima đã bị giết vào tháng 3 năm 1992, ông đã nghi ngờ có sự liên kết giữa chính quyền với Mafia từ lâu(sau đó được Buscetta làm nhân chứng) và Mafia đã trút cơn tức gận lên ông. Falcone và người bạn chống Mafia của ông Paolo Borsellino cũng bị giết một vài tháng sau đó. Những điều đó dẫn đến sự phẫn nộ của công luận và đòi chính phủ phải trừng trị thích đáng, kết quả là Riina đó bị bắt vào tháng 1 năm 1993. Rất nhiều tên Mafia dần dần lộ diện. Rất nhiều tiền được trả cho các hoạt động liên quan tới giết người, ví dụ như vợ, anh chị em và cô dì, chú bác của kẻ đào tẩu Francesco Marino Mannoia đã bị giết.
Corleonesi đã trả thù bằng hàng loạt các vụ khủng bố đánh bom vào một số điểm du lịch trên lãnh thổ Ý. Các điểm Via dei Georgofili ở Florence, Via Palestro ở Milan, Piazza San Giovanni ở Laterano và Via San Teodoro ở Rome bị đánh bom làm cho 10 người bị thiệt mạng, 93 người bị thương và nhiều công trình bị phá huỷ, trong đó có khu triển lãm nghệ thuật Uffizi. Bernardo Provenzano lên thay Corleonesi, hắn tạm dừng chiến dịch khủng bố và thay vào đó là chiến dịch im lặng được gọi là pax mafiosi. Chiến dịch đó làm cho Mafia hồi phục dần dần như trước đây. Hắn đã bị bắt vào năm 2006 sau 43 năm hoạt động.
=== Mafia hiện đại ở Ý ===
Sự chia rẽ của Mafia ở Sicilia trong giai đoạn hiện nay là vì các ông chủ đang bị kết án và ở trong tù, trong đó có Riina và Bernardo Provenzano, nhưng cũng có kẻ chưa bị kết tội. Những ông chủ ở trong tù lâu năm rất khó chỉ đạo những hoạt động ở bên ngoài. Antonino Giuffrè, bạn thân của Provenzano đã nhanh chóng thay thế hắn ngay sau khi tên này vào tù năm 2002. Năm 1993, Cosa Nostra đã tiếp xúc trực tiếp với đại diện của thủ tướng Silvio Berlusconi. Ông đã gợi ý bãi bỏ một số điều chống Mafia trong đạo luật 41 bis và đã trao quyền bầu cử riêng đối với Sicilia.
Giuffrè cho rằng tuyên bố không được khẳng định. Quốc hội Ý được sự ủng hộ của đảng Dân chủ-Tự do thiên chúa giáo của Silvio Berlusconi đã phải phê chuẩn lại đạo luật 41 bis đã bị hết hạn vào năm 2002, nhưng vẫn còn hiệu lực 4 năm nữa để áp dụng cho các tội phạm khác như khủng bố. Tuy nhiên theo bài báo của L'Espresso đăng trên một tờ báo hàng đầu của Ý, thì có khoảng 1/5 trong số 119 tên Mafia bị ngồi tù vì đạo luật 41 bis được phóng thích. Tổ chức ân xá quốc tế đã khẩn trương xem xét lại đạo luật 41 bis có đề cập tới "tội ác vô nhân tính hay đối xử đê hèn" đối với tù nhân.
Hơn nữa, Salvatore Lima như đã đề cập ở trên, nhà chính trị Giulio Andreotti, chánh án toà án tối cao Corrado Carnevale bị nghi ngờ có dính líu với Mafia trong một giai đoạn dài.
Cuối những năm 1990, Cosa Nostra bị suy yếu, lợi tức chính là do buôn bán ma tuý từ Calabria tới Ndrangheta. Năm 2006 chúng kiểm soát theo ước tính tới khoảng 80% lượng cocaine bán vào châu Âu. Mafia còn tống tiền các công ty lớn, nhỏ khác nữa. Ước tính có tới khoảng 7% thu nhập của Ý do các tổ chức tội phạm mang lại. Mafia đã trở thành một hoạt động kinh doanh lớn nhất ở Ý, đem lại lợi tức hơn 120 tỷ đô la Mỹ hàng năm.
== Mười điều răn ==
Năm 2007, cảnh sát Sicilia đã tìm thấy 10 điều răn tại nơi ở của Salvatore Lo Piccolo (một trong những tay trùm Mafia). Cũng tương tự như 10 điều răn trong kinh thánh của thiên chúa giáo, nhằm khuyên răn những chiến hữu của chúng trở thành những thành viên trung thành. Mười điều răn đó như sau:
1. Không ai được phép giới thiệu trực tiếp mình với một thành viên khác của chúng ta. Phải có một người thứ ba làm trung gian.
2. Không bao giờ được nhòm ngó tới vợ của bạn bè.
3. Không được để bị nhìn thấy cùng cảnh sát.
4. Không được đến quán rượu hay hộp đêm.
5. Luôn sẵn sàng với Cosa Nostra, đó là một nghĩa vụ. Thậm chí vợ sắp đẻ.
6. Phải tuyệt đối tôn trọng các cuộc hẹn.
7. Phải tôn trọng với các bà vợ.
8. Khi được hỏi về bất kỳ thông tin nào, phải nói sự thật.
9. Không được chiếm đoạt tiền của người khác hay của gia đình khác.
10. Những người không được trở thành thành viên của Cosa Nostra: Nếu có họ hàng gần trong ngành cảnh sát, trong gia đình có người dối trá, cư xử tồi và không có phẩm hạnh.
Theo lời luật của Antonino Calderone về Mười điều răn vào năm 1987: Luật lệ là không được động đến vợ của những người danh giá, không được ăn cắp của những người đàn ông danh giá và nói chung của bất cứ ai; không được dính tới mại dâm; không được giết những người đàn ông danh giá, trừ khi thật cần thiết; tránh cung cấp thông tin cho cảnh sát; không được tranh chấp với những người đàn ông danh giá để duy trì hòa khí; giữ kín về nội bộ Cosa Nostra với người bên ngoài; tránh giới thiệu bản thân với những đàn ông danh giá.
== Những Mafia Sicilia nổi bật nhất ==
Vito Cascio Ferro bị Cesare Mori tống giam.
Calogero Vizzini (1877 – 1954): được coi là một trong những tên trùm Mafia có ảnh hưởng nhất ở Sicilia kể sau từ chiến tranh thế giới 2 cho tới khi hắn chết năm 1954.
Stefano Magaddino (1891 – 1974): được coi là "bố già uy quyền của Cosa Nostra", hoạt động ở các thành phố Buffalo và Detroit.
Giuseppe Genco Russo (1893 – 1976): sếp của Mussomeli, được coi là người kế thừa Calogero Vizzini.
Michele Navarra (1905 – 1958): đứng đầu gia đình Corleone từ năm 1930 tới 1958
Salvatore "Ciaschiteddu" Greco (1923 – 1978): đứng đầu gia đình Mafia ở Ciaculli, từng là thư ký đầu tiên của liên minh Mafia từ năm 1958.
Gaetano Badalamenti (1923 – 2004): sếp của gia đình Mafia ở Cinisi
Angelo La Barbera (1924 – 1975): chủ của gia đình Mafia ở Palermo
Michele Greco (1924 – 2008): chủ của gia đình Mafia ở Croceverde
Luciano Liggio (1925 – 1993 chủ của gia đình Mafia ở Corleone
Tommaso Buscetta (1928 – 2000): Mafia Sicilia trở thành nhân vật quan trọng năm 1984. Buscetta đứng ra làm chứng trong suốt phiên toà Maxi.
Salvatore Riina (sinh năm 1930): còn được gọi là Totũ Riina là một trong những thành viên khét tiếng của Mafia Sicilia. Hắn có biệt hiệu là "cục súc" hay được còn được gọi là "gã lùn"(U Curtu trong tiếng Sicilia) và hắn điều hành Mafia bằng bàn tay sắt trong giai đoạn từ những năm 1980 cho tới khi hắn bị bắt vào năm 1993.
Bernardo Provenzano(sinh năm 1933): người kế vị Riina là một trong những cánh tay phải của Corleonesi và là một trong những nhân vật có uy quyền nhất của Mafia Sicilia. Provenzano lẩn trốn pháp luật từ năm 1963. Hắn bị bắt vào ngày 11 tháng 4 năm 2006 tại Sicilia. Trước khi bị bắt, các nhà điều tra đã phải theo dõi hắn trong suốt 10 năm.
Stefano Bontade (1939 – 1981): sếp của gia đình Mafia ở Santa Maria di Gesu.
Leoluca Bagarella (sinh năm 1941): thành viên của gia đình Mafia Corleone bị bắt năm 1995
Salvatore Lo Piccolo (sinh năm 1942): được coi là một trong những người kế vị Provenzano.
Salvatore Inzerillo (1944 – 1981): sếp của gia đình Mafia ở Passo di Rigano
Giovanni 'Lo Scannacristiani' Brusca (sinh năm 1957): dính líu tới vụ ám sát chánh Giovanni Falcone.
Matteo Messina Denaro (sinh năm 1962): được coi là một trong những người kế vị Provenzano.
Michele Cavataio: bị chết do giao tranh giữa các băng Mafia năm 1969
Benedetto Santapaola (sinh 1938): nhân vật quan trọng nhất của Mafia ở Catania.
== Cấu trúc của Cosa Nostra Sicilia ==
Cosa Nostra được các thành viên của Mafia coi là một "tổ chức danh giá", chuỗi các mệnh lệnh được tổ chức theo dạng hình kim tự tháp, giống như mô hình của liên minh hiện đại.
=== Cấu trúc truyền thống ===
1.Capo di Tutti Capi: là "ông chủ của mọi ông chủ"
2. Capo di Capi Re: "Hoàng đế của các ông chủ", danh hiệu thể hiện sự kính trọng đối với những Mafia cao tuổi đã nghỉ hưu.
3. Capo Crimine: "ông chủ phạm tội", còn gọi là Don - Đứng đầu gia đình Mafia phạm tội ác. Sếp của gia đình Mafia.
4. Capo Bastone: "sếp của câu lạc bộ", còn gọi là "Underboss" nhận mệnh lệnh cấp hai từ Capo Crimine. Còn được gọi là sếp phó.
5. Consigliere: cố vấn
6. Caporegime: "đội trưởng", người nắm giữ một đội quân khoảng 10 người thi hành nhiệm vụ.
7. Sgarrista hay Soldato: "người lính", là thành viên của Mafia có nghĩa vụ phục vụ như một người lính.
8. Picciotto:"người đàn ông bé nhỏ": một số lượng nhỏ những người ép buộc làm việc cho Mafia.
9. Giovane D'Onore: một hội gồm các thành viên, thường không phải gốc Ý và Sicilia
=== Cấu trúc của Mafia Ý ===
1. Capofamiglia: Sếp
2. Consigliere: cố vấn
3. Sotto Capo: sếp phó
4. Capodecina: ban lãnh đạo
5. Uomini D'onore: thành viên danh dự
== Mafia Mỹ ==
Mafia Mỹ (hay còn được gọi là Cosa Nostra Mỹ), có nguồn gốc từ Mafia Sicilia nổi lên ở vùng ven biển miền đông nước Mỹ trong giai đoạn thế kỉ 19 theo làn sóng nhập cư của người Sicilia (hay còn được gọi là diaspora Ý). Mafia Mỹ gốc Ý thống trị các tổ chức tội phạm ở nước này. Nó duy trì các hoạt động phạm tội ở hầu hết các thành phố lớn như Chicago và New York; các thành phố ở vùng đông bắc và nhiều vùng khác, trong đó có: Philadelphia, Las Vegas, New Orleans và nhiều thành phố khác. Mafia nổi danh và đã đi vào nền văn hoá Mỹ; được dựng thành phim, truyền hình, quảng cáo thương mại và trò chơi game.
Mafia Mỹ gốc Ý, đặc biệt là 5 gia đình Mafia ở New York có nguồn gốc từ Mafia Sicilia và tồn tại biệt lập nhiều năm ở Mỹ. Ngày nay Mafia Mỹ liên kết với một số tổ chức tội phạm có nguồn gốc từ Ý, như Camorra có tổ chức đầu não ở Ý. Bị hiểu lầm là " Mafia gốc", nhưng cũng là một tổ chức tội phạm láng giềng lâu đời nhất không phải chỉ có hoạt động ở Mỹ. Năm 1986, theo báo cáo của chính phủ, ước tính có khoảng 1700 tổ chức Cosa Nostra với hàng ngàn thành viên của chúng. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, Mafia Mỹ gốc Ý là tổ chức tội phạm lớn nhất nước Mỹ và nó tiếp tục thống lĩnh nghiệp đoàn tội phạm Mỹ, cho dù tiếp tục xuất hiện nhiều băng nhóm đường phố khắc.
Cosa Nostra Mỹ hoạt động mạnh nhất ở vùng New York,, Philadelphia, New England, Detroit và Chicago; tổng cộng có tới 26 gia đình Cosa Nostra trên toàn nước Mỹ.
=== Lịch sử ===
==== Xuất xứ: "bàn tay đen" ====
Các nhóm Mafia xuất hiện và hoạt động đầu tiên là xung quanh khu vực thành phố New York, ban đầu từ các khu vực nghèo khó của người Do Thái láng giềng, dần dần biến thành những tổ chức tội phạm quốc tế. Mafia Mỹ gốc Ý bắt đầu từ La Mano Nera, "bàn tay đen", tức là tống tiền những người Ý(và các cộng đồng nhập cư khác) xung quanh thành phố New York. Các băng "bàn tay đen" có thể đe doạ họ bằng thư, nếu những đòi hỏi không được đáp ứng. Thư đe doạ này đôi khi được điểm chỉ bằng dấu tay dính mực đen ở cuối thư. Đặc biệt là khi những băng tội phạm Sicilia nhập cư vào Mỹ, chúng hoạt động phạm pháp dưới dạng cho vay nặng lãi, mại dâm, ma tuý, buôn rượu lậu, cướp giật, bắt cóc, giết người. Nhiều người Ý di cư nghèo phải bám vào Mafia để mong có được vị thế và thoát khỏi nghèo đói.
Giuseppe Esposito là tên Mafia Sicilia đầu tiên nhập cư vào Mỹ. Hắn cùng với 6 người bạn của hắn chuồn sang Mỹ sau khi đã giết 11 chủ đất giàu có, một số vị quan chức tỉnh Sicilia. Hắn đã bị bắt ở New Orleans năm 1881 và bị dẫn độ về Ý.
New Orleans cũng là nơi ẩn náu đầu tiên của Mafia ở Mỹ, tại đó chúng thu hút sự chú ý cả ở trong nước và quốc tế. Ngày 15 tháng 10 năm 1890, viên sĩ quan cảnh sát của New Orleans tên là David Hennessey đã bị bắn chết theo lệnh ám sát. Hàng trăm tên Mafia Sicilia bị bắt và 19 tên trong số đó đã bị kết án về tội giết người. Nhưng sau đó được tha bổng, theo tin đồn là hối lộ và đe doạ những người làm chứng. Quá bất bình, những người dân của New Orleans đã xông vào giết chết 11 tên trong số 19 tên này. Hai tên bị treo cổ, 9 tên bị bắn và 8 tên trốn thoát.
Giai đoạn từ những năm 1910 đến những năm 1920 có 5 cụm băng đảng Mafia Sicilia hình thành ở thành phố New York.
==== Sự nổi lên trong giai đoạn ban hành đạo luật cấm rượu ====
Charles "Lucky" Luciano là một trong những ông chủ nổi tiếng nhất của thế giới ngầm ở Mỹ. Sự hoạt động của Mafia bị giới hạn từ năm 1920, bị phá sản bởi đạo luật cấm sản xuất và buôn bán rượu. Hoạt động của băng đảng Al Capone những năm 1920 chỉ giới hạn trong phạm vi Chicago.
Cuối những năm 1920, có hai đảng phái tội phạm nổi lên, nguyên nhân căn bản là do cuộc chiến tranh Castellamarese nhằm giành quyền kiểm soát các tổ chức tội phạm giữa các băng đảng ở thành phố New York. Sau khi Joseph Masseria, một trong những thủ lĩnh của Mafia bị tiêu diệt, chiến tranh chấm dứt, hai băng đảng nhập lại thành một tổ chức thống nhất. Salvatore Maranzano, là thủ lĩnh đầu tiên của Mafia Mỹ; do tự ý giết người nên 6 tháng sau Charles "Lucky" Luciano trở thành thủ lĩnh mới. Maranzano ban hành ra một đạo luật chỉ đạo cho tổ chức này; hình thành nên cơ cấu các gia đình và giải quyết xung đột. Luciano thiết lập nên hội đồng để điều hành các hoạt động của tổ chức. Hội đồng bao gồm ông chủ của 6 hay 7 gia đình Mafia.
==== Sau chiến tranh thế giới thứ hai ====
Năm 1951, Estes Kefauver thượng nghị sĩ của bang Tennessee đưa ra một nhận định rằng: "các tổ chức tội phạm nguy hiểm còn được gọi là Mafia có liên hệ với Liên Xô đang hoạt động ráo riết ở Mỹ".
Năm 1957, cảnh sát New York đã không ngăn cản được cuộc họp của Mafia Mỹ ở thị trấn nhỏ Apalachin thuộc New York. Cuộc họp này được gọi là hội nghị Apalachin. Rất nhiều tên tham dự bị bắt và sự kiện này đó buộc các tổ chức tội phạm phải thay đổi luật lệ hoạt động.
Năm 1963, Joseph Valachi là người của Cosa Nostra Mỹ đầu tiên cung cấp những thông tin bên trong của tổ chức này. Được FBI trưng dụng, Valachi đó cung cấp tên tuổi, cấu trúc, quyền lực, luật lệ, lời thề và thành viên của tổ chức này. Tất cả mọi điều đó còn được giữ kín cho đến mãi sau này. Ngày nay, Cosa Nostra dính líu đến hầu hết các lĩnh vực hoạt động bất hợp pháp ở Mỹ. Nó bao gồm các lĩnh vực như giết người, tống tiền, buôn ma tuý, tham nhũng, đánh bạc, thâm nhập vào các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp, nhập cư lao động bất hợp pháp, cho vay nặng lãi, mại dâm, khiêu dâm, gian lận thuế và đặc biệt hiện nay là lĩnh vực cổ phiếu.
==== Thâm nhập vào các hiệp hội lao động ====
Vào giữa thế kỉ 20, Mafia nổi danh bởi sự thâm nhập vào nhiều nghiệp đoàn lao động ở Mỹ. Đặc biệt là khi vị chủ tịch nghiệp đoàn lái xe tải Jimmy Hoffa bị mất tích và được cho là đó bị ám sát. Những năm 1980, chính phủ liên bang Mỹ kiên quyết loại bỏ ảnh hưởng của Mafia ra khỏi liên đoàn lao động.
=== Cấu trúc ===
Mafia đá phát triển thành 26 tổ chức (gia đình) ở tất cả các thành phố trên toàn bộ lãnh thổ Mỹ, với trung tâm là New York. Sau nhiều cuộc chiến, 5 gia đình đã thiết lập được sự kiểm soát ở New York, đó là: gia đình Bonanno, gia đình Colombo, gia đình Gambino, gia đình Genovese và gia đình Lucchese. Các gia đình nay đã tổ chức một hội nghị ngầm với những băng đảng trứ danh khác như Joe Porrello ở Cleveland và Al Capone.
1. Sếp trưởng: Là ông chủ của các gia đình, thường nắm vai trò như một người điều hành chung cho toàn bộ một tổ chức Mafia, còn được gọi là Don hay "bố già". Những ông sếp này nắm giữ toàn bộ các hoạt động của mọi thành viên trong gia đình. Tuỳ theo từng gia đình, sếp có thể được bầu chọn trong hội nghị gia đình. Trong quá khứ, sếp phải được bầu qua hội nghị gia đình; nhưng từ những năm 1950 những cuộc tụ họp thường thu hút sự chú ý.
2. Sếp phó: Sếp phó thường được sếp trưởng chỉ định trực tiếp, là người có vai trò thứ hai trong một gia đình Mafia. Là người dưới quyền và thay thế sếp trưởng trong trường hợp sếp trưởng chết đột ngột. Sếp phó nắm toàn bộ việc điều hành các đội trưởng, nhưng đều dưới quyền sếp trưởng.
3. Cố vấn: Có vai trò tư vấn cho gia đình và được coi là cánh tay phải của sếp trưởng. Cánh này thường có vẻ ít găng-tơ và sếp có thể tin tưởng. Họ thường là trung gian cho những cuộc đụng độ, đại điện và ấn định cho những cuộc gặp gỡ giữa các gia đình. Họ còn đảm bảo cho các hoạt động của các gia đình tránh những rắc rối với luật pháp, như đánh bạc hay cho vay nặng lãi. Những người này đa số là luật sư hay môi giới chứng khoán có uy tín và có mối quan hệ gần với sếp. Cố vấn không có lực lượng trong tay, nhưng lại có quyền lực lớn trong gia đình, thương thuyết các vụ "mua" hay hối lộ cảnh sát hay quan toà.
4. Đội trưởng: Có nhiệm vụ điều hành một đội, mỗi đội thường từ 4 đến 6 nhóm trong gia đình, cũng có thể hơn. Mỗi nhóm khoảng 10 người. Đội trưởng điều hành trực tiếp công việc của đội mình, nhưng cũng có giới hạn và theo đường lối của sếp trưởng. Thưởng phạt cũng do sếp trưởng nắm quyền. Đội trưởng có thể do sếp phó đề nghị, nhưng thường được sếp trưởng chỉ định trực tiếp.
5. Lính trơn: Họ là những thành viên cấu thành nên gia đình Mafia và phải có nguồn gốc Ý (gồm cả Sicilia). Lính trơn bắt đầu hoạt động trong gia đình khi đã trải qua thử thách. Khi có sự mở rộng đội, thì đội trưởng có thể đề nghị tăng cường lính mới, nhưng quyết định là sếp trưởng. Lính mới dưới quyền chỉ đạo của đội trưởng và phải phục tùng mệnh lệnh của đội trưởng. Lính làm việc độc lập để tạo kinh phí cho gia đình Mafia. Lính là tầng lớp hèn kém nhất trong gia đình. Họ còn được gọi là " thợ", thường hay bị thí mạng trong những trường hợp các phi vụ bại lộ, phải thi hành những vụ giết người từ những sếp đứng trên họ. Những người lính được tín nhiệm không được tấn công một người mà người đó không chống lại mình. Bắt đầu khởi nghiệp là lính, nhưng không phải là lính cho đến khi kết thúc sự nghiệp.
6. Cộng tác viên: Cộng tác viên nhưng không phải gồm những thành viên tập hợp thành một đám đông, tương tự như những đám trẻ hư hỏng đường phố. Những người này thường làm môi giới ma tuý và thường tiếp xúc trực tiếp với những thành viên thực sự của gia đình. Họ là những thành viên của gia đình và thường làm những công việc như chủ nhà hàng. Cộng tác viên có thể là đại biểu của liên đoàn lao động hay thương gia. Họ cũng phải là những người Ý hay Sicilia. Đôi khi cộng tác viên cũng là những người có quyền lực với đối với gia đình riêng của họ, ví dụ Joe Watts rất thân cận với John Gotti(một trong những sếp của 5 gia đình quyền thế ở New York). Cấu trúc và hệ thống tổ chức của Mafia Mỹ được Salvatore Maranzano tạo ra (từng là ông chủ của mọi ông chủ của mạng lưới Mafia Mỹ, nhưng bị giết chết sau khi nắm chức này 6 tháng, Lucky Luciano lên thay và cũng là người có lẽ đó giết Salvatore Maranzano). Trong những năm gần đây, xuất hiện thêm hai vị trí trong hệ thống gia đình Mafia, đó là: sứ giả và sếp đường phố. Những vị trí này do Vincent Gigante đưa ra. Mỗi đội do một đội trưởng lãnh đạo và báo cáo với sếp trưởng. Khi sếp trưởng quyết định, anh ta không chỉ đạo trực tiếp xuống người lính mà phải theo một chuỗi mệnh lệnh. Trong trường hợp như thế, nếu có bị lộ thì chỉ có người bên dưới mới bị bắt. Cấu trúc này được Mario Puzo mô tả trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Bố già" phần II, trong mối liên hệ được gọi là " những cái đệm". Nó cung cấp cho hội đồng tình báo Mỹ một hình thức "cực kì hợp lý" để tham khảo.
=== Nghi thức ===
Ban đầu nghi thức được du nhập từ nhiều nguồn; như tình hữu ái của Thiên Chúa giáo, Tam Điểm hội giữa thế kỉ 19 ở Sicilia và cho đến nay cũng có ít biến đổi. Theo báo cáo của cảnh sát trưởng của Palermo năm 1875, trong buổi làm lễ gia nhập của một môn đồ mới thì phải có mặt của một nhóm sếp trưởng và các sếp phó. Một trong những vị này sẽ chọc vào ngón tay của người lính mới và nói với anh ta là phải bôi máu vào một bức hình thánh, thường là tượng thánh. Lời tuyên thệ phải được đọc sau khi bức tượng có máu cháy hết, đó là việc làm tượng trưng cho bản án dành cho những kẻ phản bội. Điều này được kẻ đào tẩu Tommaso Buscetta khẳng định lần đầu tiên. Việc xử lý một người lính nào đó phải do hội đồng lãnh đạo gia đình Mafia phê chuẩn, việc trả thù anh ta có thể kích thích chiến tranh. Trong trường hợp nếu có chiến tranh giữa các băng đảng thì căn hộ phải bỏ trống và có những người lính nằm trên đệm dưới sàn nhà, phải canh gác luân phiên và nhìn qua cửa sổ để sẵn sàng chiến đấu.
=== Các gia đình Mafia theo thành phố ở Mỹ ===
Lưu ý: Mafia gồm các thành viên, các cộng tác viên và gia đình ở các thành phố khác nhau. Nên các tổ chức này không chỉ giới hạn ở các thành phố này. Nhiều gia đình ở thành phố này, nhưng có ảnh hưởng tới thành phố khác.
Gia đình ở Buffalo
Gia đình ở Chicago
Gia đình ở Cleveland
Gia đình ở Kansas
Gia đình ở New England-Boston (gia đình Patriarca)
Gia đình ở New Jersey (gia đình DeCavalcante)
Gia đình ở New Orleans
5 gia đình ở New York (gia đình Genovese, gia đình Gambino, gia đình Lucchese, gia đình Bonanno, gia đình Colombo)
Đông bắc Pennsylvania (gia đình Bufalino)
Gia đình ở Omaha
Ở Philadelphia (gia đình Scarfo)
Gia đình ở Pittsburgh
== Những tên Mafia nổi tiếng ở Mỹ ==
Joe Bonanno Joe Bananas' (1905-2002): sếp đầu tiên của gia đình Bonanno.
Al Capone 'Scarface' (1899-1947): sếp nổi tiếng thời kì cấm rượu giai đoạn 1920-1930 ở Chicago.
Paul Castellano (1915-1985): sếp của gia đình Gambino, bị ám sát theo lệnh của John Gotti.
Charles Luciano 'Lucky Luciano' (1897-1962): sếp của các gia đình của thành phố New York, kiến tạo nên Mafia Mỹ hiện đại, sếp đầu tiên của gia đình Genovese.
Carlo Gambino 'Don Carlo' (1902-1976): sếp của gia đình Gambino mở rộng. Được xem như chủ tịch hiệp hội Mafia Mỹ từ năm 1957.
Gaetano Gagliano 'Tommy' (1884-1951): sếp đầu tiên của gia đình Lucchese
Sam Giancana: sếp của vùng Chicago giai đoạn 1956-1966.
John Gotti 'The Dapper Don' (1940-2002): sếp của gia đình Gambino. Nổi tiếng trong mối quan hệ với các phương tiện thông tin đại chúng.
Henry Hill (sinh năm 1943) Mob: phản bội và cuộc đời hắn được đưa lên phim Goodfellas nổi tiếng.
Vincent Mangano (1888-1951): sếp đầu tiên của gia đình Gambino.
Carlos Marcello: sếp của gia đình ở New Orleans những năm 1960.
Joe Profaci (1897-1962): sếp đầu tiên của gia đình Colombo.
Santo Trafficante, Jr.: người có quyền lực lớn nhất ở Florida và Cuba(trước năm 1959).
Joe Valachi 'Joe Cargo' (1903-1971): Mafia đầu tiên hợp tác với chính quyền làm chỉ điểm.
=== Luật bắt buộc ở Mỹ ===
==== Mối liên hệ giữa chính quyền Mỹ với Mafia ====
Không mấy khi chính phủ Mỹ hiệp lực với giới tội phạm để ám sát các nhà lãnh đạo nước ngoài. Tháng 8 năm 1960, Colonel Sheffield Edwards đề xuất phương án ám sát lãnh tụ Cuba Fidel Castro bằng cách dùng Mafia để ám sát. Từ tháng 8 năm 1960 đến tháng 4 năm 1961, Mafia đã lên kế hoạch dùng chất độc hay bắn để hạ sát Fidel (được đề cập trong cuốn báo cáo về nỗ lực ám sát Fidel Castro", trang 3 và 14 của CIA). Vụ việc có sự tham gia của các nhân vật của Mafia như Sam Giancana, Carlos Marcello, Santo Trafficante, Jr. và John Roselli.
==== Luật bắt buộc và Mafia ====
Trong một số gia đình Mafia, giết những người của chính quyền là điều bị cấm, vì có thể sẽ bị cảnh sát trả thù. Trong một số trường hợp, giết người thì bị hình phạt là cái chết. Tên Mafia Dutch Schultz người Do Thái được báo cáo là đã bị bắn chết bởi một Mafia Ý, vì hắn có kế hoạch ám sát ủy viên công tố Thomas Dewey của thành phố New York. Mafia có điều luật bắt buộc từ rất lâu. Viên cảnh sát thành phố New Orleans Joe Petrosino bị Mafia Sicilia bắn chết, sau người này được đúc tượng và bức tượng đó được đặt ở nơi đông người qua lại ở thành phố này.
Chương trình hành động RICO năm 1960 đã quy định hoạt động chống tội phạm và đưa ra kế hoạch bảo vệ nhân chứng. Đạo luật này mới bắt đầu thực hiện vào giai đoạn cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Chương trình này đã làm cho 2 bố già của thành phố New York là Anthony Corallo và Carmine Persico phải ra hầu toà vào năm 1985. Chương trình này vẫn còn hiệu lực cho tới cuối thế kỉ 20. Lực lượng phòng chống tội phạm Liên bang được thành lập tạo điều kiện cho việc loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Lực lượng phòng chống tội phạm Liên bang được thiết lập vào năm 1960 do nỗ lực của Robert Kennedy (em út của tổng thống Mỹ). Lực lượng này đặt dưới quyền lãnh đạo của ban thanh tra thuộc bộ lao động Mỹ. Nó đã bị giải tán ở cấp Liên bang, nhưng vẫn tồn tại ở các địa phương. Tổ chức này đã phá được một số băng đảng tội phạm lớn. Tuy nhiên Mafia vẫn còn hoạt động mạnh ở Mỹ, dù chương trình hành động RICO có những thành công nhất định. Theo Selwyn Raab, tác giả của cuốn: Năm gia đình: sự ra đời, suy yếu và hồi sinh của các đế chế Mafia hùng mạnh ở Mỹ, thì sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 FBI lại chú ý đặc biệt tới các tên khủng bố, điều này góp phần làm hồi sinh các hoạt động của Mafia ở Mỹ.
== Tham khảo ==
Mafioso. Lịch sử Mafia từ nguồn gốc của nó đến ngày nay (1976) Gaia Servadio, Secker & Warburg ISBN 436447002
' Mafia Sicili: Sự che chở bí mật (1993), Diego Gambetta, ĐH Harvard, ISBN 0674807421
Cosa Nostra. Một nhân vật lịch sử của Mafia (2004) John Dickie, Coronet, ISBN 0340824352
Organized Crime: An Inside Guide to the World's Most Successful Industry (2004) Paul Lunde, ISBN 0789496488
Cigar City Mafia: A Complete History of the Tampa Underworld (2004), Scott M. Deitche, Barricade Books ISBN 1569802661
Excellent Cadavers (1995) Alexander Stille, Vintage ISBN 0-679-76863-7
== Xem thêm ==
Bố già
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
kpmg.txt | KPMG là một trong những nhà cung cấp dịch vụ nghề nghiệp lớn nhất thế giới và là một trong Big Four ngành kiểm toán, cùng với PricewaterhouseCoopers (PwC), Ernst & Young (E&Y) and Deloitte Touche Tohmatsu (Deloitte). Trụ sở chính của công ty được đặt ở Amstelveen, Hà Lan.
KPMG có hơn 136.500 nhân viên trên toàn thế giới và cung cấp địch vụ nghề nghiệp tại hơn 140 quốc gia. KPMG có 3 kênh dịch vụ chính: Kiểm toán, Thuế, và Tư vấn quản lý.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu và sự sáp nhập ===
Công ty được thành lập năm 1870 khi William Barclay Peat mở một tổ chức kế toán tại London. Năm 1877 công ty kế toán Thomson McLintock mở một văn phòng tại Glasgow và vào năm 1911 William Barclay Peat & Co. và Marwick Mitchell & Co. sáp nhập thành Peat Marwick Mitchell & Co, sau này được gọi là Peat Marwick.
Trong lúc đó năm 1917 Piet Klynveld mở công ty kế toán tại Amsterdam. Sau đó được nhập với Kraayenhof thành Klynveld Kraayenhof & Co.
Năm 1979 Klynveld Kraayenhof & Co. (Hà Lan), Thomson McLintock (Hoa Kỳ) and Deutsche Treuhandgesellschaft (Đức) sáp nhập thành KMG (Klynveld Main Goerdeler) như một tổ chức nghề nghiệp phi chính phủ để tiến tới thành lập một công ty quốc tế trụ sở ở Châu Âu. Tiếp theo vào năm 1987 KMG và Peat Marwick tham gia vào vụ đại hợp nhất đầu tiên trong ngành kế toán và tạo nên công ty gọi là KPMG. Năm 1991 được đổi tên là KPMG Peat Marwick McClintock nhưng năm 1995 lại quay trở lại tên cũ KPMG
=== Những năm gần đây ===
In 2001 KPMG divested its U.S. consulting firm through an IPO of KPMG Consulting Inc, which is now called BearingPoint, Inc. In early 2009, BearingPoint filed for Chapter 11 bankruptcy protection and proceeded to sell portions of the firm to Deloitte, PricewaterhouseCoopers, and other parties.
The UK and Dutch consulting arms were sold to Atos Origin in 2002.
In 2003 KPMG divested itself of its legal arm, Klegal and KPMG LLP sold its Dispute Advisory Services to FTI Consulting.
KPMG's member firms in the UK, Đức, Thụy Sĩ và Liechtenstein merged to form KPMG Europe LLP in tháng 10 năm 2007. They appointed joint Chairmen, John Griffith-Jones and Ralf Nonnenmacher.
It was announced in tháng 12 năm 2008 that two of Tremont Group’s Rye Select funds, audited by KPMG, had $2.37 billion invested with the Madoff "Ponzi scheme." Class action suits were filed.
== Global structure ==
Each national KPMG firm is an independent legal entity and is a member of KPMG International, a Swiss cooperative registered in the Swiss Canton of Zug. KPMG International changed its legal structure from a Swiss Verein to a co-operative under Swiss law in 2003.
KPMG International is led by:
Timothy P. Flynn, Chairman, KPMG International
Michael Wareing, CEO, KPMG International
John Griffith-Jones, Chairman, Europe, Middle East, Africa and India Region
John B. Harrison, Deputy Chairman, KPMG International
John Veihmeyer, Chairman, Americas Region
Carlson Tong, Chairman, Asia Pacific Region
== Services ==
KPMG offers the following services:
Audit: Statutory Audit and Financial Statement Audit
Tax: Business and Personal Tax services
Advisory: KPMG's advisory services are organized into three themes (growth, governance and performance) and nine service lines:
Accounting Advisory Services
Business Performance Services
Corporate Finance
Financial Risk Management Services
Forensics
Internal Audit, Risk and Compliance Services (IARCS)
IT Advisory
Restructuring
Transaction Services (M&A)
== Chú thích == |
vi mạch.txt | Vi mạch, hay vi mạch tích hợp, hay mạch tích hợp (integrated circuit, gọi tắt IC, còn gọi là chip theo thuật ngữ tiếng Anh) là tập các mạch điện chứa các linh kiện bán dẫn (như transistor) và linh kiện điện tử thụ động (như điện trở) được kết nối với nhau, để thực hiện được một chức năng xác định. Tức là mạch tích hợp được thiết kế để đảm nhiệm một chức năng như một linh kiện phức hợp.
Các linh kiện kích thước cỡ micrômét (hoặc nhỏ hơn) chế tạo bởi công nghệ silicon.
Mạch tích hợp giúp giảm kích thước của mạch điện đi rất nhiều, bên cạnh đó là độ chính xác tăng lên. IC là một phần rất quan trọng của các mạch logic. Có nhiều loại IC, lập trình được và cố định chức năng, không lập trình được. Mỗi IC có tính chất riêng về nhiệt độ, điện thế giới hạn, công suất làm việc, được ghi trong bảng thông tin (datasheet) của nhà sản xuất.
Hiện nay, công nghệ silicon đang tính tới những giới hạn của vi mạch tích hợp và các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tìm ra một loại vật liệu mới có thể thay thế công nghệ silicon này.
== Lịch sử ==
Sự phát triển sớm nhất của mạch tích hợp quay trở lại năm 1949, khi kỹ sư người Đức Werner Jacobi (Siemens AG) nộp bằng sáng chế cho một thiết bị khuếch đại bán dẫn giống như mạch như tích hợp, có 5 transistor trên một bề mặt chung cho bộ khuếch đại 3 tầng, làm dụng cụ trợ thính.
Ngày 12 tháng 9 năm 1958, người Mỹ Jack Kilby ở Texas Instruments trình bày vi mạch đầu tiên. Kilby sau đó giành được giải thưởng Nobel Vật lý năm 2000.
Nửa năm sau sự kiện Kilby, Robert Noyce ở Fairchild Semiconductor phát triển ý tưởng của riêng mình về một mạch tích hợp giải quyết được nhiều vấn đề thực tế mà Kilby đã không làm được. Thiết kế Noyce được làm bằng silicon, trong khi chip Kilby làm bằng germanium. Noyce thông tin cho Kurt Lehovec ở Sprague Electric về các nguyên tắc của tiếp giáp p-n cô lập gây ra bởi tác động của một tiếp giáp p-n có thiên áp (diode), là một khái niệm quan trọng về IC.
Fairchild Semiconductor cũng là quê hương của công nghệ vi mạch silicon-gate đầu tiên với cổng tự liên kết (self-aligned gate), cơ sở của tất cả các chip CMOS của máy tính hiện đại. Công nghệ này được phát triển bởi nhà vật lý người Ý Federico Faggin vào năm 1968, người sau đó đã gia nhập Intel và phát triển các đơn chip Central Processing Unit (CPU) (Intel 4004) đầu tiên, và ông nhận Huy chương Quốc gia về Công nghệ và Đổi mới năm 2010.
== Phân loại ==
=== Phân loại theo tín hiệu được xử lý ===
Theo xử lý tín hiệu
IC digital xử lý hoặc lưu trữ các tín hiệu digital.
IC analog hay IC tuyến tính xử lý tín hiệu analog.
IC hỗn hợp, có cả analog và digital.
=== Phân loại theo mức độ tích hợp ===
IC (Integrated Circuit), tên chung. Từng còn chia ra SSI (small-scale integration) và MSI (medium-scale integration)
LSI (Large Scale Integrated)
VLSI (Very Large Scale Integrated) Các CPU, GPU, ROM, RAM, PLA, chipset, microcontroller,...
ULSI (ultra-large-scale integration) dự đặt cho mạch trên 1 triệu transistor.
=== Phân loại theo công nghệ ===
Theo công nghệ
Monolithic: tất cả các phần tử đặt trên một miếng nền vật liệu bán dẫn đơn tinh thể. Các linh kiện bán dẫn được tạo bằng pha tạp chất (doping), và theo thứ tự lớp thực hiện lai ghép điện trở, đường mạch dẫn, tụ điện, lớp cách điện, cực gate của MOSFET. Ví dụ công nghệ TTL, CMOS, CCD, BiCMOS, DMOS, BiFET-, transistor lưỡng cực.
Mạch màng mỏng hay mạch phim, là những phần tử được tạo bằng lắng đọng hơi trên nền thủy tinh. Nó thường là các mạng điện trở. Chúng có thể được chế tạo bằng cách cân bằng điện tử với độ chính xác cao, và được phủ nhúng bảo vệ. Trong nhóm này bao gồm cả các mạch của transistor màng mỏng (TFT), ví dụ trong ứng dụng màn hình phẳng.
Lai mạch màng dày kết hợp một số chip, vết mạch in đường dây dẫn, linh kiện điện tử thụ động (gần như chỉ có điện trở). Nền thường là gốm và thường được nhúng tráng.
=== Phân loại theo công dụng ===
Theo công dụng
CPU, vi xử lý trong máy tính.
Memory, bộ nhớ lưu trữ dữ liệu digital
Thu nhỏ chip trong công nghệ RFID để giám sát (Identification) không tiếp xúc của các đối tượng hay các sinh vật sống
IC logic tiêu chuẩn thuộc họ logic khác nhau
ASIC dành cho phát triển ứng dụng cụ thể, ví dụ cho điều khiển lò nướng bánh, xe hơi, máy giặt,...
ASSP là sản phẩm tiêu chuẩn cho ứng dụng cụ thể, tương tự như ASIC, nhưng có sẵn từ các nhà sản xuất và không được xây dựng theo yêu cầu của khách hàng
IC cảm biến quá trình vật lý, hoá, sinh hoá,... ví dụ gia tốc, ánh sáng, từ trường, chất độc,...
DSP (Digital signal processing) xử lý tín hiệu digital.
ADC và DAC, chuyển đổi analog ←→ digital
FPGA (Field-programmable gate array) được cấu hình bởi các IC digital của khách hàng, trong đó bao gồm một số lượng lớn các đơn vị chức năng kết nối được (interconnectable)
Vi điều khiển (microcontroller) chứa tất cả các bộ phận của một máy tính nhỏ (bộ nhớ chương trình, ALU, bộ nhớ và thanh ghi)
IC công suất có thể xử lý các dòng hay điện áp lớn (ví dụ khuếch đại công suất lớn, kiểm soát mạng điện lưới)
System-on-a-chip (SoC) là hệ thống trong một chip.
== Ứng dụng ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Các phần tử bán dẫn
Linh kiện điện tử
Ký hiệu điện tử
Sơ đồ mạch điện
== Liên kết ngoài == |
kiến trúc hiện đại.txt | Trào lưu kiến trúc Hiện đại (Modernism) là một khái niệm rất rộng được sử dụng để miêu tả các công trình khác nhau có các đặc điểm tương đồng về sự đơn giản trong bố cục hình khối không gian, tổ chức mặt bằng tự do phi đối xứng, mặt đứng loại bỏ việc sử dụng các họa tiết trang trí của trường phái cổ điển cũng như việc sử dụng vật liệu mới như kính, thép, bê tông. Kiến trúc hiện đại là một sự đoạn tuyệt mạnh mẽ với kiến trúc cổ điển, thể hiện một lối tư duy mới của sự phát triển bùng nổ của các xã hội châu Âu cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20.
Trường phái kiến trúc này, xuất phát ở châu Âu từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 và đã nhanh chóng phổ biến, trở thành một trường phái chủ đạo ra trên toàn thế giới đến thập niên 1970.
Hiện nay mặc dù một định nghĩa chuẩn xác về khái niệm kiến trúc hiện đại vẫn còn đang được tranh luận, nhưng người ta thống nhất rằng trào lưu kiến trúc Hiện đại của thế kỉ 20 đã được thay thế bằng trào lưu kiến trúc Hậu Hiện đại (Postmodernism).
== Lịch sử kiến trúc Hiện đại thế kỷ 20 ==
=== Khởi nguồn ===
Kiến trúc Hiện đại, bắt nguồn từ châu Âu, là một sự phản ứng lại ảnh hưởng của quá khứ kiến trúc từ cuối thế kỉ 19. Các kiến trúc sư cảm thấy trào lưu kiến trúc Cổ điển không còn đủ sức sống, vay mượn và lệ thuộc quá nhiều vào những gì có trong quá khứ, không phản ảnh trung thực lại bối cảnh của thời đại công nghiệp. Không những vậy, kiến trúc cổ điển còn trở thành vật cản, trói buộc con người với quá khứ hoặc đánh lừa thị hiếu kiến trúc bằng những yếu tố tranh trí diêm dúa và vô nghĩa. Vào nửa cuối của thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, trong trào lưu phát triển của phương Tây, chủ nghĩa Hiện đại nói chung có nguồn gốc từ thời kì Khai sáng (Enlightenment) đã ảnh hưởng xuống suy nghĩ của các kiến trúc sư, họ tin rằng cần phải tạo ra một trào lưu kiến trúc mới, phản ảnh được tinh thần của thời đại mới và phải vượt qua, rũ bỏ được cái bóng của quá khứ.
Đa số nhà nghiên cứu về lịch sử kiến trúc Hiện đại của thế kỉ 20 đều lấy mốc của khởi đầu từ sự ra đời của công trình Cung Thủy tinh (Crystal Palace) ở Hyde Park, (London, Anh) năm 1851 do Joseph Paxton thiết kế. Công trình đáng dấu một bước ngoặt về tư duy không gian kiến trúc, về phương pháp sử dụng vật liệu, biện pháp thi công cũng như báo hiệu một vẻ đẹp mới của thời kỳ công nghiệp hóa.
Bên cạnh đó là các kiến trúc sư của "Phong trào Nghệ thuật Thủ công" (Arts and Crafts movement) ở Anh do William Morris khởi xướng đã thúc đẩy sự đa dạng của kiến trúc. Đó là việc sử dụng vật liệu đa dạng, tính địa phương của kiến trúc, quay về với các khối hình học cơ bản. Tiêu biểu cho thời kì này có Philip Webb với công trình Biệt thự Gạch đỏ (The Red House) hay Charles Rennie Mackintosh ở Scotland với trường Nghệ thuật Glasgow. Ấn tượng trước Phong trào Nghệ thuật Thủ công, tùy viên văn hóa Đức tại Anh lúc đó Herman Muthesius đã viết tác phẩm "Văn hóa trang trí" (Dekorative Kunst) ca ngợi những ngôi nhà của Morris, Webb và các cộng sự.
Ở Áo có Otto Wagner và Adolf Loos. Về phần mình, Wagner tìm tòi vẻ đẹp tạo hình khối kiến trúc qua các yếu tố kỹ thuật và kết cấu. Tiêu biểu cho cách công trình của ông có Quỹ tiết kiệm bưu điện Wien và một loạt các ga tàu điện ở Viên. Các công trình và tư tưởng của Wagner đã có ảnh hưởng mạnh lên kiến trúc sư Antonio Sant'Elia. Sau này, trong số các học trò của Wagner có Joseph Maria Olbrich, một trong số những người sáng lập ra trường phái Ly khai Wien (Wiener Secession). Năm 1899, Olbrich tham dự Công xã Darmstadt (Darmstädter Künstlerkolonie) ở Đức cùng với Peter Behrens, Herman Muthesius. Công xã Darmstadt chính là tiền thân của Hiệp hội Công trình Đức (Deutscher Werkbund) sau này.
=== Sự thống trị của kiến trúc Hiện đại ===
Vào thập kỉ 20 của thế kỉ 20, những gương mặt chính của kiến trúc Hiện đại đã xác định được danh tiếng cũng như vị trí của họ. Ở châu Âu, ba khuôn mặt nổi tiếng nhất là Le Corbusier ở Pháp, Ludwig Mies van der Rohe và Walter Gropius ở Đức. Gropius là người sáng lập ra trường Bauhaus, và Mies là hiệu trưởng cuối cùng của trường Bauhaus trước khi bị giải thể.
== Đặc điểm ==
=== Ưu điểm ===
Dây chuyền công năng được đề cao, hợp lý.
Tiết kiệm được không gian giao thông, tiết kiệm vật liệu.
Không trang trí phù phiếm.
Áp dụng các thành tựu của khoa học và kỹ thuật.
Giao thoa cùng với thiên nhiên (ánh sáng, cây xanh, nước)
Tính thẩm mỹ gắn liền với sự hài hòa, hợp lý trong ngôn ngữ kiến trúc
== Các kiến trúc sư tiêu biểu ==
Le Corbusier
Ludwig Mies van der Rohe
Walter Gropius
Tange Kenzo
Richard Meier
Maki Fumihiko
Adolf Loos
== Liên kết ngoài ==
Modern architecture & design news
== Tham khảo == |
đảo ellis.txt | Đảo Ellis ở vịnh Thượng New York là cửa ngõ đón nhận hàng triệu người nhập cư vào Hoa Kỳ từ 1892 cho đến 1954, khiến nó từng là trạm kiểm soát nhập cư nhộn nhịp nhất nước Mỹ. Hòn đảo đã được mở rộng đáng kể nhờ lấn biển giữa những năm 1892 và 1934. Trước đó, hòn đảo nguyên thủy nhỏ hơn nhiều là nơi đặt pháo đài Gibson rồi sau đó là một kho chứa vũ khí của hải quân. Hòn đảo trở thành một phần của tượng đài Quốc gia Tượng Nữ thần Tự do năm 1965 rồi từ năm 1990 có một bảo tàng di dân được xây tại đây. Năm 1998 Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết rằng phần lớn hòn đảo thuộc về New Jersey. Mặt phía nam của hòn đảo, nơi có bệnh viện Nhập cư Đảo Ellis, bị đóng cửa với công chúng. Toàn bộ hòn đảo cũng bị đóng cửa từ tháng 10 năm 2012 vì bão Sandy mà chưa biết ngày mở cửa trở lại.
== Tham khảo == |
nhà tống.txt | Nhà Tống (tiếng Trung: 宋朝; bính âm: Sòng Cháo, Wade-Giles: Sung Ch'ao, Hán-Việt: Tống Triều, phát âm tiếng Trung: [sʊ̂ŋ tʂʰɑ̌ʊ̯]) là một triều đại cai trị ở Trung Quốc từ năm 960 đến 1279, họ đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, và được thay thế bởi nhà Nguyên. Nhà Tống là nhà nước đầu tiên trên thế giới phát hành ra tiền giấy, và nhà nước Trung Quốc đầu tiên đã thành lập nên lực lượng hải quân thường trực lâu dài. Triều đại này đã chứng kiến việc lần đầu tiên sử dụng thuốc súng, cũng như nhận thức về cách sử dụng la bàn.
Triều nhà Tống được chia thành hai giai đoạn riêng biệt: Bắc Tống và Nam Tống. Bắc Tống (tiếng Trung: 北宋, 960-1127) là giai đoạn khi thủ đô của họ ở thành phố Biện Kinh (nay là Khai Phong) ở miền bắc và triều đình kiểm soát toàn bộ Trung Hoa. Nam Tống (tiếng Trung: 南宋, 1127-1279) để chỉ khoảng thời gian khi nhà Tống đã mất quyền kiểm soát phía bắc cho người Nữ Chân nhà Kim, trong thời gian này triều đình nhà Tống lui về phía nam sông Dương Tử và lập kinh đô ở Lâm An (nay là Hàng Châu). Mặc dù nhà Tống đã mất quyền cai quản khu vực nền móng của nền nông nghiệp Trung Hoa quanh dòng sông Hoàng Hà, nhưng nền kinh tế nhà Tống không nằm trong đống đổ nát, dân số nhà Nam Tống chiếm gần 60% toàn bộ dân số Trung Hoa thời bấy giờ và nền nông nghiệp cũng trở nên hiệu quả nhất. Triều Nam Tống dành sự ủng hộ đáng kể cho nền hải quân, tạo nên sức mạnh bảo vệ vùng biển và biên giới đất liền cũng như tiến hành những nhiệm vụ hàng hải ra nước ngoài.
Để đẩy lùi những cuộc xâm lược của người Nữ Chân và sau đó là người Mông Cổ, nhà Tống đã phát triển quân đội tăng cường sử dụng thuốc súng. Nhà Kim bị người Mông Cổ chinh phục năm 1234, sau đó Mông Cổ kiểm soát toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra, khi Hốt Tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Ca (còn gọi là Mông Kha), vua cai trị Mông Cổ. Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ và được tôn lên làm Đại Hãn, mặc dù chỉ được công nhận bởi một số người Mông Cổ ở phía Tây. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tự xưng là hoàng đế Trung Hoa. Sau hai thập kỷ chiến tranh lẻ tẻ, quân đội Hốt Tất Liệt đã chinh phục nhà Tống năm 1279. Một lần nữa Trung Quốc được thống nhất, dưới triều đại nhà Nguyên Mông (1271-1368).
Dân số Trung Quốc tăng gấp đôi trong thế kỷ 10 và 11. Sự tăng trưởng này đã thông qua bằng việc mở rộng canh tác lúa ở miền trung và miền nam Trung Quốc, việc sử dụng lúa chín sớm từ phía Đông Nam và Nam Á, và sản xuất thặng dư lương thực dồi dào. Dưới triều Bắc Tống đã thực hiện một cuộc điều tra dân số và kết quả là 50 triệu người, giống như thời nhà Hán và nhà Đường. Con số này được kiểm chứng trong Tống sử. Tuy nhiên, người ta đã ước tính rằng thời kỳ Bắc Tống đã có hơn 100 triệu người, vào thời kỳ đầu nhà Minh đã có hơn 200 triệu người.
== Lịch sử Bắc Tống ==
=== Binh biến Trần Kiều ===
Quân chủ khai quốc của triều Tống là Triệu Khuông Dẫn, Triệu Khuông Dẫn nguyên là "Điện tiền đô điểm kiểm" (tức thống lĩnh cấm quân) của triều Hậu Chu, do có chiến công xuất chúng nên được Hậu Chu Thế Tông tín nhiệm, trở thành thân tín của hoàng đế. Năm Hiển Đức thứ 6 (959), Hậu Chu Thế Tông băng hà, Cung Đế kế vị khi còn nhỏ, Triệu Khuông Dẫn trong lòng có ý muốn thay thế. Tết năm Hiển Đức thứ 7 (960), bè đảng của Triệu Khuông Dẫn tạo tin tình báo giả rằng quân Liêu nam hạ, tể tướng Phạm Chất liền lệnh Triệu Khuông Dẫn suất quân khỏi kinh thành chống địch. Ngày ba tháng giêng, Triệu Khuông Dẫn đến đóng tại Trần Kiều dịch, tối hôm đó khi Triệu Khuông Dẫn đang ngủ say thì bị tướng sĩ dưới quyền khoác hoàng bào lên người (tức "Hoàng bào gia thân"), hô to "vạn tuế", được lập làm Thiên tử, tức Tống Thái Tổ. Triều thần Hậu Chu khi biết tin thì trong thành đã rỗng không, chỉ có thể thừa nhận hiện thực. Hậu Chu Cung Đế bị buộc phải tốn vị. Triệu Khuông Dẫn từng giữ chức Quy Đức tiết độ sứ, trú tại Tống châu, trong thời kỳ Xuân Thu thì Tống châu là lãnh địa của nước Tống, do vậy định quốc hiệu là "Tống", định đô tại Khai Phong, cải nguyên Kiến Long.
Năm Kiến Long thứ nhất, Tống Thái Tổ bình định hai cuộc nổi loạn của Lý Quân và Lý Trọng Tiến. Nghe theo ý kiến của Triệu Phổ, Tống Thái Tổ hai lần tiến hành "bôi tửu thích binh quyền" vào tháng 7 năm Kiến Long thứ 2 (961) và tháng 10 năm Khai Bảo thứ 2 (969), tước đoạt quyền chỉ huy quân sự của các tướng quân nắm giữ trọng binh: Thạch Thủ Tín, Vương Thẩm Cơ, Cao Hoài Đức, La Ngạn Côi và các võ tướng địa phương, giao cho hư chức, chuyển sang dùng quan văn trị quân đội, đồng thời đem toàn bộ đại quyền quân sự và tài chính tập trung vào trung ương. Lưỡng Tống do vậy tránh được cục diện phiên trấn cát cứ như thời Đường. Tuy nhiên, quốc sách này khiến năng lực quân sự địa phương giảm thiểu, khiến triều Tống cuối cùng ở thế yếu trong chiến tranh với bên ngoài.
=== Thu phục Trung Nguyên ===
Sau khi ổn định vững chắc chính quyền, Tống Thái Tổ bắt đầu diệt trừ tàn dư cát cứ Ngũ Đại Thập Quốc, thống nhất thiên hạ. Sau khi thương thảo với Triệu Phổ, Tống Thái Tổ quyết định tuân theo sách lược 'tiên nam hậu bắc', ban đầu chiếm lấy sáu nước phương nam có kinh tế thịnh vượng để củng cố quốc lực, sau đó chuyển sang Bắc phạt Bắc Hán nguyên được Khiết Đan hỗ trợ. Trước tiên Tống Thái Tổ dùng kế "giả Ngu diệt Quắc" để công diệt Kinh Nam và chính quyền cát cứ Hồ Nam, sau đó lại tiêu diệt ba nước Hậu Thục, Nam Hán, Nam Đường. Tống Thái Tổ một lòng hy vọng khôi phục lãnh thổ phương bắc như thời Đường, thiết lập 'phong thung khố' để trữ tiền tài vải vóc, nhằm sau này chuộc lại Yên Vân thập lục châu bị Thạch Kính Đường trao cho Khiết Đan khi xưa. Tháng tám năm Khai Bảo thứ 9 (976), Tống Thái Tổ một lần nữa tiến hành Bắc phạt, song đến ngày mười chín tháng mười cùng năm thì đột nhiên từ trần. sự nghiệp thống nhất Trung Nguyên tạm thời bị đình chỉ. Em trai Tống Thái Tổ là Triệu Quang Nghĩa kế vị, tức là Tống Thái Tông.
Sau khi ổn định vững chắc đế vị, Tống Thái Tông kế tục sự nghiệp thống nhất. Sau đó, chính quyền cát cứ Thanh Nguyên quân tại miền nam Phúc Kiến, cùng nước Ngô Việt lần lượt quy hàng. Tống Thái Tông khiển đại tướng Phan Mỹ đem quân về phía bắc công kích đô thành Thái Nguyên của Bắc Hán, đánh lui viện binh Liêu, tiêu diệt Bắc Hán, kết thúc cục diện phiên trấn cát cứ kéo dàu gần hai trăm năm.
Tháng năm năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (979), Tống Thái Tông bất chấp phản đối của triều thần, thừa thế chiếm được Bắc Hán, từ Thái Nguyên xuất phát triển khai Bắc phạt. Ban đầu, quân Tống từng thu phục được Dịch châu và Trác châu tại Hà Bắc. Tống Thái Tông đắc ý, hạ lệnh vây đánh Yên Kinh, quân Tống cùng quân Liêu triển khai kích chiến bên bờ sông Cao Lương Tống Thái Tông ra chiến trường, kiến quả trúng tên bị thương, buộc phải triệt thoái, Bắc phạt không đạt. Bảy năm sau, tức năm Ung Hy thứ 3 (986), Tống Thái Tông khiển năm vị đại tướng là Phan Mỹ, Dương Nghiệp, Điền Trọng Tiến, Tào Bân, Thôi Ngạn phân quân theo ba lộ đông trung tây, lấy đông lộ là chính để tiến hành Bắc phạt. Quân tây lộ và trung lộ tiên quân thuận lợi, song quân Đông lộ chủ lực nhiều lần chiến bại trước quân Liêu, đường tiếp lương bị cắt đứt, cuối cùng không thể tụ hợp với hai lộ trung tây, đại bại tại Kỳ Câu quan mà tan vỡ. Hai lộ trung và tây cũng chỉ có thể rút về nam. Sau đó, triều Tống nhiều lần thất bại trước người Đảng Hạng trong các chiến dịch Tam Xuyên Khẩu, Hảo Thủy Xuyên, Định Xuyên Trại, song do người Đảng Hạng chán chiến tranh nên nghị hòa với Tống. Tháng hai năm Thuần Hóa thứ 4 (993), tại Tứ Xuyên bùng phát khởi nghĩa nông dân dưới quyền Vương Tiểu Ba và Lý Tuân. Quân khởi nghĩa được nông dân ủng hộ, đến tháng 1 năm sau thì chiếm cứ Thành Đô, kiến lập chính quyền Đại Thục. Thái Tông khiển hai lộ đại quân đi thảo phạt, quân khởi nghĩa cuối cùng thất bại triệt để vào năm Chí Đại thứ 2 (996). Nhiều lần thất bại tại phòng tuyến biên thùy, cộng với bùng phát khởi nghĩa tại hậu phương cản trở Bắc Tống thu phục cương thổ, song chính sách của Tống Thái Tông vẫn không đổi là 'trọng nội hư ngoại'.
Bản thân Tống Thái Tông là người phong nhã, yêu thích thơ phú, chính phủ do vậy đặc biệt trọng thị sự nghiệp văn hóa, truyền thống trọng giáo của triều Tống do vậy được khởi đầu. Tống Thái Tông yêu thích thư pháp, giỏi sáu kiểu chữ thảo, lệ, hành, triện, bát phân, phi bạch, đặc biệt giỏi viết kiểu phi bạch, đồng tiền Thuần hóa nguyên bảo của triều Tống là do Tống Thái Tông tự thân đề tả
Sự kiện Tống Thái Tông tức vị hết sức kỳ lạ, là do sự kiện "Chúc ảnh phủ thanh", triều dã tương truyền Quang Nghĩa mưu sát Thái Tổ để đoạt vị, nhằm đảm bảo tính hợp pháp của chính quyền, Tống Thái Tông vứt bỏ lời di mệnh của mẹ là Đỗ thái hậu, tức "Kim quỹ chi minh". "Kim quỹ chi minh" khởi nguyên là lúc Đỗ thái hậu lâm chung có triệu Triệu Phổ nhập cung ghi lại di mệnh, muốn Tống Thái Tổ trước tiên truyền vị cho Quang Nghĩa, sau truyền lại cho Quang Mỹ (sau đổi tên thành Đình Mỹ), rồi truyền cho Đức Chiêu (trưởng tử của Tống Thái Tổ), và Thái Tổ đồng ý. Bức di thư này được cất trong hộp bằng vàng, do vật mà gọi là "Kim quỹ chi minh". Tuy nhiên, Tống Thái Tông liền trước sau bức tử hoàng tử của Thái Tổ là Đức Chiêu và Đức Phương, còn biếm truất Đình Mỹ đến Phòng châu, hai năm sau Đình Mỹ từ trần. Trưởng tử của Tống Thái Tông là Nguyên Tá do đồng tình với Đình Mỹ nên bị phế, hoàng tử Nguyên Hy đột ngột từ trần, cuối cùng một hoàng tử khác là Nguyên Khản được lập làm thái tử, đổi tên là Hằng Năm Chí Đạo thứ 3 (997), Tống Thái Tông băng hà, Lý hoàng hậu và đám hoạn quan Vương Kế Ân trù tính lập Nguyên Tá làm hoàng đế. Đương thời, tể tướng Lã Đoan xử trí thích đáng, Triệu Hằng thuận lợi kế vị, miếu hiệu là Chân Tông. Triều Tống bắt đầu bước vào thời kỳ yên ổn bảo tồn thành quả.
=== Bắc ngự Liêu hạ ===
Tống Chân Tông kế tục "Hoàng Lão chính trị, Vô sở tác vi" vào cuối thời Tống Thái Tông. Từ sau Bắc phạt thời niên hiệu Ung Hy, triều Liêu thường tấn công khu vực giao giới Tống-Liêu, đến năm Cảnh Đức thứ 1 (1004) cuối cùng diễn biến thành chiến tranh xâm chiếm đại quy mô. Tể tướng Khấu Chuẩn cực lực chủ trương kháng chiến, kết quả Tống Chân Tông thân chinh, sĩ khí quân Tống phấn chấn cao độ, giao chiến ác liệt với quân Liêu dưới thành Thiền châu, quân Liêu cầu hòa. Trải qua nhiều lần giao thiệp, hai triều đại nghị hòa thành công. Nội dung chủ yếu của hòa ước là: Mỗi năm Tống trao cho Liêu 20 vạn xấp lụa, mười vạn lượng bạc, hai bên là quốc gia huynh đệ, sử gọi hòa ước này là "Thiền Uyên chi minh". Qua các thời đại, quan điểm phê bình hòa ước là chủ đạo, nhận định mục đích chiến lược là thu hồi Yên Vân thập lục châu chưa đạt được, bên thắng lợi quân sự hàng năm phải dùng một lượng của cải lớn để đổi lấy hòa bình, là điều sỉ nhục. Những quan điểm đồng tình thì nhận định bản thân việc đánh lui quân Liêu nam xâm đã là thắng lợi, thời Tống kinh thế phát đạt, gánh nặng theo hòa ước không quá lớn, khó có thể nói là điều ước ép buộc..
Sau đó, Khẩu Chuẩn dần dần thất sủng, cuối cùng bị bãi chức tể tướng. Tống Chân Tông bắt đầu tin dùng nịnh thần Vương Khâm Nhược. Vương Khâm Nhược thường đón trước ý của Tống Chân Tông, biết rõ Tống Chân Tông hy vọng thiên hạ xuất hiện một cảnh tượng cát tường an lạc, do vậy cùng tể tướng Vương Đán liên thủ, chế tạo tượng "tường thụy" tại các địa phương, cực lực cổ xúy Tống Chân Tông phong thiền, rất trúng ý Chân Tông. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008), Tống Chân Tông lần lượt ba lần phong thiền trong một năm, làm tổn hạo nghiêm trọng dân lực Tống Chân Tông và Lưu hoàng hậu không có hoàng tử, Tống Chân Tông tình cờ một lần lâm hạnh thị nữ Lý thị của Lưu hoàng hậu, kết quả Lý thị vào năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (1010) sinh được một con trai tên là Triệu Thụ Ích. Sau đó, Lưu hoàng hậu và Dương Thục phi cùng nuôi dưỡng hài tử này. Trung thu năm Thiên Hi thứ 2 (1018), Tống Chân Tông chính thức phong Triệu Thụ Ích là Thái tử, đổi tên thành Triệu Trinh. Năm Càn Hưng thứ 1 (1022), Tống Chân Tông băng hà. Thái tử Triệu Trinh kế vị, Lưu hoàng hậu được tôn là Hoàng thái hậu và tạm thời quản lý đại sự quốc gia cho đến khi Tống Nhân Tông Triệu Trinh thành niên. Từ đây bắt đầu thời đại 11 năm Lưu Thái hậu "thùy liêm thính chính" (buông rèm nghe quốc sự). Giai đoạn đầu chấp chính, Tống Nhân Tông vẫn nằm dưới bóng của Lưu thị, đến khi Lưu thị từ trần thì Tống Nhân Tông mới thi hành lý tưởng của mình.
Lý Nguyên Hạo xưng đế vào năm Đại Khánh thứ 3 (1038), lập quốc Tây Hạ, sau đó giữa Tống và Hạ bùng phát chiến tranh liên tục nhiều năm, quân Tống nhiều lần chiến bại. Chiến tranh Tống-Hạ chủ yếu trải qua năm thời kỳ, tức thời kỳ Tống Nhân Tông-Hạ Cảnh Tông, thời kỳ Tống Anh Tông-Hạ Nghị Tông, thời kỳ Tống Thần Tông-Hạ Huệ Tông, thời kỳ Tống Triết Tông-Hạ Sùng Tông, thời kỳ Tống Huy Tông-Hạ Sùng Tông. Việc quân Tống bất lợi trong chiến tranh Tống-Hạ khiến triều Liêu thừa cơ tăng áp lực, dẫn đến phát sinh "Trọng Hy tăng tệ". Sau khi gặp bất lợi trong chiến tranh với Tây Hạ, Tống Nhân Tông bãi miễn tể tướng Lã Di Giản, nhiệm dụng các danh thần Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, Hàn Kì thi hành "Khánh Lịch tân chính", thu được hiệu quả tốt; nhiệm dụng Bao Chửng quản lý kinh thành và ngự sử đài. Trên biên cương, triều Tống bình định cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao ở phía nam và sự khiêu khích gây hấn của Tây Hạ. Bắc Tống tiến vào giai đoạn phồn vinh nhất kể từ khi lập quốc. Tuy nhiên, một vài nhân vật thuộc phái thủ cựu gọi những quan lại thuộc phái cải cách kéo bè kết cánh, bợ đỡ lẫn nhau, là bằng đảng. Tống Nhân Tông vẫn luôn chán ghét triều thần kết đảng mưu cầu tư lợi, những quan viên tân chính sau này có nhiều người bị biếm làm quan địa phương, "Khánh Lịch tân chính" ngắn ngủi đến đây kết thúc.
Sau khi Tống Nhân Tông từ trần vào đầu năm 1063, Triệu Thự kế vị, tức Tống Anh Tông. Anh Tông là cháu nội của Thương vương Triệu Nguyên Phần-em trai Tống Chân Tông. Năm Gia Hựu thứ 7 (1062), Triệu Thự được lập làm hoàng thái tử. Tống Anh Tông nhiều bệnh tật, triều chính ban đầu do Tào thái hậu quản lý, từ tháng 5 năm Trị Bình thứ 1 (1064) thì Tống Anh Tông mới bắt đầu thân chính. Anh Tông thân chính gần nửa tháng thì lại bùng phát "Bộc nghị", tranh luận đến 18 tháng. Sự kiện là do tể tướng Hàn Kỳ đề thỉnh thảo luận vấn đề danh phận của sinh phụ của Tống Anh Tông, trong triều do vậy phân thành hai phái, một phái nhận định cần phải gọi sinh phụ của Tống Anh Tông là "hoàng bá", phái kia nhận định nên gọi là "hoàng khảo". Cuối cùng, Tào thái hậu hạ chỉ gọi là "hoàng khảo" mới làm ngưng được tranh luận này. Về tổng thể, Tống Anh Tông là một vị quân chủ có thành tích, ông kế tục nhiệm dụng triều thần có năng lực của tiền triều, cũng mạnh dạn tìm kiếm người mới. Tống Anh Tống hết sức trọng thị biên soạn thư tịch, "Tư trị thông giám" cũng là do Tống Anh Tông phát động
=== Biến pháp và Đảng tranh ===
Sau khi Tống Anh Tông mất vào năm 1067, trưởng tử là Triệu Húc kế vị, tức Tống Thần Tông. Trong thời gian Tống Thần Tông tại vị, chế độ được chế định vào đầu thời Tống đã sản sinh nhiều tệ nạn, dân sinh xuất hiện thụt lùi, còn có nguy cơ từ Liêu và Tây Hạ. Do vậy, Tống Thần Tông kiên định ý chí cải cách. Tống Thần Tông bắt đầu sử dụng đại thần trứ danh thuộc phái cải cách là Vương An Thạch thi hành tân pháp, bổ nhiệm làm 'tham tri chính sự'. Tân pháp mà Vương An Thạch thi hành bao gồm "quân thâu", "thanh miêu", "miễn dịch", "thị dịch", "bảo giáp", "bảo mã", "phương điền quân thuế".. Tuy nhiên, việc thực hành tân pháp gặp phải trở ngại mãnh liệt của phái bảo thủ do Tư Mã Quang lãnh đạo. Cộng thêm thiên tai không ngừng, quyết tâm thực hành tân pháp của Tống Thần Tông có dao động Năm Hi Ninh thứ 7 (1074), phương bắc gặp hạn hán nghiêm trọng, quan viên Trịnh Hiệp trình lên Tống Thần Tông một tranh về lưu dân, cảnh tượng trong tranh rất bi thương, Tống Thần Tông bị tác động mạnh về tâm lý. Ngày hôm sau, Tống Thần Tông liền hạ lệnh bãi 18 khoản trong tân pháp như "thanh miêu", "phương điền", "miễn dịch". Mặc dù những pháp lệnh này được khôi phục không lâu sau đó, song giữa Tống Thần Tông và Vương An Thành bắt đầu không tín nhiệm nhau. Tháng tư năm Hi Ninh thứ 7, Vương An Thạch lần đầu tiên bị bãi chức tể tướng, đi cai quản Giang Ninh phủ. Sau đó, quan viên trong phái biến pháp là Lã Huệ Khanh tự ý làm bậy, Vương An Thạch do vậy được phục chức hồi kinh, song vẫn gặp trở ngại mãnh liệt từ phái bảo thủ. Tháng sáu năm Hi Ninh thứ 9 (1076), trưởng tử của Vương An Thạch từ trần, Vương An Thạch nhân việc này kiên quyết cầu thoái, Tống Thần Tông vào tháng mười lại bãi chức vị tể tướng của ông, về sau Vương An Thạch không luận chính sự
Hậu nhân có nhìn nhận khác nhau nhiều về "Hi Ninh tân pháp", song dù sao hiệu quả của việc thi hành tân pháp không như kỳ vọng. Mặc dù việc thi hành tân pháp làm tăng đáng kể thu nhập tài chính quốc gia và diện tích canh tác, song lại gia tăng nghiêm trọng gánh nặng của bình dân. Trên phương diện quân sự, cải cách của Hi Ninh tân pháp dừng tại giải quyết phần ngọn, lực chiến đấu của quân đội không được cải thiện rõ ràng. Cộng thêm quan niệm của Vương An Thạch mới lạ, cần thời gian rất dài mới có thể thi hành toàn diện hơn 10 hạng mục cải cách, khiến biến pháp rơi vào khốn cảnh muốn đẩy nhanh song không đạt Thời kỳ sau thi hành tân pháp, độ lệch giữa pháp lệnh và chấp hành ngày càng lớn, một số biện pháp từ làm lợi cho dân biến thành nhiễu dân. Trong quá trình chấp hành tân pháp, việc dùng người không thích hợp còn là nguyên nhân sau cùng làm mất lòng dân, thành viên phái biến pháp như Lã Khanh, Tăng Bố, Lý Định và Sái Kinh đều là người có phẩm cách và cá tính chịu nhiều tranh nghị, bị cho là tiểu nhân. Hoàng Nhân Vũ (1918-2000) từng bình luận về cải cách này: "Trước thời chúng ta chín trăm năm, Trung Quốc đã có trù tính sử dụng biện pháp quản chế tài chính nhằm thao túng quốc sự, phạm vi và bề sâu chưa từng được đề xuất tại các khu vực khác trên thế giới."
Sau khi Vương An Thạch bị bãi chức, Tống Thần Tông kế tục sự nghiệp cải cách, hiệu là "Nguyên Phong cải chế". "Nguyên Phong cải chế" dù cùng với "Hi Ninh biến pháp" được gọi chung là "Hi Phong tân pháp", song cường độ thì không sánh được với "Hi Ninh biến pháp". Sau cải chế, quốc lực dần mạnh lên, Tống Thần Tông đưa trọng điểm chuyển dịch sang đối ngoại, quyết tâm tiêu diệt Tây Hạ. Tháng năm năm Hi Ninh thứ 5 (1072), Tống Thần Tông bắt đầu tây chinh, giành được đại thắng, lòng tin của Thần Tông được cổ vũ rất nhiều. Chín năm sau, vào tháng 4 năm Nguyên Phong thứ 4 (1081), Tây Hạ phát sinh chính biến, Tống Thần Tông nhân cơ hội này tiến hành tái chinh phạt Tây Hạ, không ngờ lại thảm bại, Tống Thần Tông do vậy mắc bệnh không khỏi được. Tháng một năm Nguyên Phong thứ 8 (1085), Tống Thần Tông lập lục tử Triệu Dung (sau đổi thành Hú) làm thái tử. Mặc dù tân pháp do Tống Thần Tông ban bố tạm thời bị mẫu hậu là Cao thái hậu phế, song không lâu sau lại dần dần được khôi phục, trong đó không ít biện pháp vẫn duy trì đến thời kỳ Nam Tống Sau khi Tống Thần Tông băng hà, Cao thái hậu "thùy liêm thính chính", kiềm chế nghiêm khắc Tống Triết Tông Triệu Hú mới kế vị. Cao thái hậu tin dùng phái bảo thủ do Tư Mã Quang lãnh đạo, thờ ơ với Tống Triết Tông, kết quả dẫn đến phát sinh đối kháng nghiêm trọng giữa hai phe tân và cựu, đó là "Nguyên Hựu đảng tranh". Sau khi Tống Triết Tông thân chính, ông giáng chức thành viên cựu đảng, tin dùng tân đảng, sự nghiệp biến pháp do vậy có thể kế tục.
=== Sự biến Tĩnh Khang ===
Tống Triết Tông không có con trai kế tập, sau khi từ trần vào năm 1100 thì em là Triệu Cát kế vị, tức là Tống Huy Tông. Tống Huy Tông từ nhỏ đã yêu thích những việc bút mực, hội họa, cưỡi ngựa, thích hưởng lạc, không hứng thú với triều chính. Tống Huy Tông sinh hoạt xa xỉ mê say, ưa vào thanh lâu, tin lời đạo sĩ mà cho xây nhiều công trình kiến trúc, tại góc đông bắc của Khai Phong cho tạo Vạn Tuế Sơn, sau đổi thành Cấn Nhạc, chu vi hơn mười dặm, trong đó có Phù Dung trì, Từ khê, đình đài lầu các, có đủ loại chim thú. Tại khu vực Tô-Hàng của Lưỡng Chiết lộ, Tống Huy Tông cho lập Ứng phụng cục và Tạo tác cục, chuyên sưu tập kỳ hoa dị thạch tại phương nam, thổi bùng sự phẫn nộ của dân chúng, gây nên dân biến. Năm Trọng Hòa thứ 1 (1118), Hoàng Hà gây lụt, bốn lộ Hà Bắc, Kinh Đông chịu thủy tai, lưu dân mất nhà cửa, không thể mưu sinh, tại Hoài Nam Tống Giang phát động dân biến, quân khởi nghĩa từng chiếm cứ một số huyện Kinh Đông, Hoài Nam, Hà Bắc. Hai năm sau, tức năm Tuyên Hòa thứ 2 (1120), 36 thủ lĩnh khởi nghĩa bao gồm Tống Giang tiếp nhận chiêu an của triều đình, khởi nghĩa kết thúc. Ngày chín tháng mười cùng năm (1 tháng 11), Phương Lạp khởi nghĩa tại Thanh Khê (nay thuộc tây bắc Thuần An, Chiết Giang), nông dân các địa phương nghe tin thì hưởng ứng, không lâu sau phát triển đến vạn người. Tháng một năm sau, Tống Huy Tông phái Đồng Quán nam hạ chinh thảo, nhiều lần đánh bại nghĩa quân, cuối cùng bắt sống Phương Lạp trong tháng bảy.
Tống Huy Tông ít quản triều chính, chính vụ đều giao cho nhóm triều thần mà đứng đầu là Sái Kinh, họ bị gọi là "Lục tặc". Sái Kinh lấy danh nghĩa khôi phục tân pháp để áp chế phái khác, bài xích những người bất đồng. Sau khi Sái Kinh nắm quyền, ông ta tiến hành "Nguyên Hựu gian đảng án", các đại thần chính trị bị đưa ra khỏi vị trí chính trị trung tâm. Bản thân Tống Huy tham đại công, sau khi thấy triều Liêu bị triều Kim tiến công thì vào mùa xuân năm Trọng Hòa thứ 1 (1116), ông phái khiển sứ tiết Mã Chính từ Đăng châu vượt biển đến Kim. Hai bên thương nghị cùng tiến công Liêu, Tống phụ trách tiến công Nam Kinh và Tây Kinh của Liêu; sau khi diệt Liêu thì đất Yên Vân sẽ trao cho Tống; của cải mà Tống từng trao cho Liêu hàng năm trước đây chuyển sang trao cho Kim, tức là Hải thượng chi minh. Tuy nhiên, sau đó quân Kim thừa thắng đem nhân khẩu Yên Kinh về bắc, đồng thời cướp bóc ba châu Doanh, Bình, Loan. Năm Tuyên Hòa thứ 7 (1125), quân Kim phân thành hai lộ đông và tây nam hạ công Tống. Tống Huy Tông kinh sợ, sau đó theo kiến nghị của Lý Cương mà truyền vị cho con là Khâm Tông Triệu Hoàn. Tống Khâm Tông miễn cưỡng bước lên hoàng vị, thiếu quyết đoán chiến hay hòa, trong tình hình không còn cách nào bèn để Lý Cương bảo vệ Đông Kinh, Lý Cương tạm thời ngăn chặn quân Kim.
Năm Tĩnh Khang thứ 1 (1126), quân Kim nam hạ lần thứ hai, phân binh thành hai lộ tiến thẳng đến Khai Phong, thành Khai Phong bị quân Kim vây khốn. trong thành dịch bệnh lan truyền, không ít người chết đói và chết bệnh. Ngày Bính Thìn tháng 11 nhuận (9 tháng 1 năm 1127), Hoàn Nhan Tông Vọng, Hoàn Nhan Tông Hàn cùng chư tướng phá thành, bắt Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông. Ngày sáu tháng 2 năm Tĩnh Khang thứ 2 (20 tháng 3 năm 1127), quân Kim bắt các phi tần, công chúa, quý thích cùng tông phụ, tộc phụ, ca nữ tổng cộng vài nghìn người đến Ngũ Quốc thành (nay thuộc huyện Y Lan, Hắc Long Giang) của Kim, phế Huy Tông và Khâm Tông làm thứ nhân, sử gọi là Tĩnh Khang chi biến. Tại Ngũ Quốc thành, người Kim làm nhục Huy Tông và Khâm Tông, phong Huy Tông là "Hôn Đức công", Khâm Tông là "Trọng Hôn hầu", cả hai sau đó đều từ trần trên lãnh thổ Kim. Sau khi tiêu diệt Bắc Tống, Kim trước sau hỗ trợ Trương Bang Xương, Lưu Dự kiến lập hai chính quyền bù nhìn "Đại Sở" và "Đại Tề"..
== Lịch sử Nam Tống ==
=== Kiến Viêm nam độ ===
Trong Tĩnh Khang chi biến, triều Kim bắt được nhiều tông thất của triều Tống, song Khang vương Triệu Cấu may mắn tránh được. Năm Tĩnh Khang thứ 2 (1127), Triệu Cấu từ khu vực Hà Bắc ngày nay đến bồi đô Nam Kinh Quy Đức phủ (nay là Thương Khâu, Hà Nam), tức vị, tức Tống Cao Tông, cải nguyên Kiến Viêm. Sau đó, Tống Cao Tông dời về phía nam, vượt Hoài Hà và Trường Giang, đến năm Kiến Viêm thứ 3 thì đổi Giang Ninh phủ thành Kiến Khang phủ (nay là Nam Kinh), xem là hành đô, gọi là "Đông Đô". Năm Thiệu Hưng thứ 1 (1131), thăng Hàng châu thành Lâm An phủ (nay là Hàng Châu), xem là "hành tại", đến năm Thiệu Hưng thứ 8 thì chính thức định Lâm An là hành đô, Kiến Khang đổi thành lưu đô. Triều Kim tiến quân về phía nam, trực tiếp uy hiếp Lâm An, Cao Tông không còn đường thoát, chỉ có thể theo đường biển đào tị, phiêu bạt tới bốn tháng tại duyên hải Ôn châu. Do ở phương nam ẩm ướt sông ngòi dọc ngang, cộng thêm quân dân Nam Tống tích cực kháng chiến, chủ soái quân Kim là Ngột Truật quyết định triệt binh về bắc. Khi triệt thoái đến Trấn Giang, quân Kim bị tướng Tống Hàn Thế Trung cắt đứt đường lui, bị buộc phải tiến vào Hoàng Thiên Đãng. Quân Tống dùng binh lực chỉ tám nghìn mà vây khốn quân Kim đông tới mười vạn, sau 48 ngày bế tắc, cuối cùng quân Kim dùng hỏa công mới mở được lối thoát để triệt thoái, trên đường còn bị Nhạc Phi đả bại tại Kiến Khang, từ đó không dám vượt Trường Giang.
Trong "Trung Hưng tứ tướng" của Nam Tống, nổi danh nhất là Nhạc Phi. Thông qua Bắc phạt, Nam Tống chiếm lĩnh một phần lãnh thổ của chính quyền Đại Tề do Kim đứng sau. Tống Cao Tông do nhiều nguyên nhân nên một lòng nghị hòa, cuối cùng không hợp với ý tưởng Bắc phạt của Nhạc Phi. Năm 1138, Tống và Kim lần đầu nghị hòa, Nam Tống dùng đầu hàng ngoại giao để thu hồi Hà Nam và Thiểm Tây. Năm Thiệu Hưng thứ 10 (1140), triều Kim xé bỏ hòa nghị, nhanh chóng công hạ Hà Nam và Thiểm Tây, đồng thời thâm nhập về phía nam. Do quân dân triều Tống tích cực kháng chiến, quân Kim cuối cùng đều thất bại khi tiến công Xuyên Thiểm, Lưỡng Hoài. Tháng bảy, tướng Kim là Ngột Truật thấy bất lợi khi tiến công về phía nam, chuyển sang tiến công Yển Thành, bị Nhạc Phi đả bại, lại chuyển sang tiến công Dĩnh Xương song cũng bại trước Nhạc Phi. Nhạc gia quân thừa thắng truy kích, từng đánh tới trấn Chu Tiên cách Khai Phong gần 45 dặm, Ngột Truật đào thoát khỏi Khai Phong, nghĩa quân các địa phương phương bắc lần lượt hưởng ứng. Đúng lúc này, Tống Cao Tông liên tiếp hạ 12 đạo kim bài thôi thúc Nhạc Phi đem quân về. Tháng mười một năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), Tống và Kim thông qua thư tín đạt thành "Thiệu Hưng hòa nghị", hai bên lấy Hoài Thủy-Đại tán Quan (nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây) làm biên giới. Tống cắt nhượng Đường châu, Đặng châu và hơn một nửa Thương châu, Tần châu do Nhạc Phi chiếm lĩnh, mỗi năm Tống tiến cống Kim 25 vạn lượng bạc, 25 vạn xấp lụa. Đêm trừ tịch cuối tháng chạp (27 tháng 1 năm 1142), Tống Cao Tông và Tần Cối dùng tội danh "mạc thu hữu" để giết Nhạc Phi cùng con là Nhạc Vân và bộ tướng Trương Hiến tại Lâm An. Thực hiện "Thiệu Hưng hòa nghị", linh cữu của sinh phụ Tống Cao Tông là Tống Huy Tông và sinh mẫu được đưa về Nam Tống.
Tống Cao Tông nhiệm dụng Tần Cối làm thừa tướng, Tần Cối trong những năm Tĩnh Khang từng chủ trương kháng Kim, sau bị người Kim bắt. Tháng mười năm Kiến Viêm thứ 4 (1130), Tần Cối về nam, ông theo chính sách đầu hàng, rất hợp với ý của Cao Tông. Tần Cối về Nam Tống gần ba tháng thì được phong làm phó tể tướng, sau tám tháng thì trở thành hữu thừa tướng. Do Tần Cối hết sức đề xướng "nam tự nam, bắc tự bắc", mâu thuẫn với Cao Tông, nên sau một năm thì bị Cao Tông bãi miễn. Sau khi bị bãi chức tể tướng, Tần Cối ẩn mình, xem xét tình hình để hành động. Tháng năm năm Thiệu Hưng thứ 8 (1138), Tống Cao Tông lại bổ nhiệm Tần Cối làm hữu thừa tướng. Sau đó, Tần Cối bách hại các quan viên có ý kiến bất đồng với mình, liên hôn với ngoại thích, kết giao nội thần. Sau này, Tần Cối có quyền thế cực lớn, khiến Tống Cao Tông cảnh giác. Tống Cao Tông đích thân hạ lệnh, khiến cháu nội của Tần Cối mất chức trạng nguyên, quyền thế của Tần Cối dần giảm đi. Năm Thiệu Hưng thứ 25 (1155), Tần Cối bệnh trọng, trù tính để con kế thừa chức thừa tướng, song bị Tống Cao Tông phủ quyết, không lâu sau thì mất.
=== Thiên an Nam Giang ===
Sau khi Tần Cối từ trần, Tống Cao Tông một mặt đả kích dư đảng của Tần Cối, một mặt trọng dụng quan viên phái chủ hòa. Tống Cao Tông không có năng lực sinh dục, do vậy ông chọn tuyển chọn người kế thừa trong số hai hậu duệ nổi bật của Tống Thái Tổ là Triệu Viện và Triệu Cừ, Triệu Viện giành thắng lợi. Năm Thiệu Hưng thứ 32 (1162), Triệu Viện được lập làm thái tử, đồng thời đổi tên thành Triệu Thận. Năm Thiệu Hưng thứ 31 (1161), Hoàng Đế Hoàn Nhan Lượng của Kim tiến hành xâm chiếm phương nam, bị Ngu Doãn Văn đánh lui trong trận Thái Thạch. Lúc này triều Kim phát sinh nội loạn, Hoàn Nhan Lượng bị giết, quân Kim về bắc. Sự kiện này khiến Tống Cao Tông nảy sinh ý muốn thoái vị, đến tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 32, Tống Cao Tông hạ chiếu thoái vị, Thái tử Triệu Thận kế vị, tức là Tống Hiếu Tông. Tống Cao Tông tự xưng là Thái thượng hoàng, cư trú tại Đức Thọ cung, sau đó hết sức hưởng lạc, hoang phí. Ngày tám tháng 10 năm Thuần Hi thứ 12 (1187), Tống Cao Tông từ trần.
Sau khi Tống Hiếu Tông tức vị, ông tiến hành cải cách triều chính, hết lức nỗ lực khôi phục, triều Tống tiến vào thời kỳ tương đối phục hưng, Tống Hiếu Tống giải oan cho Nhạc Phi, bắt đầu sử dụng nhân sĩ phái chủ chiến, một lòng muốn chiếm lĩnh Trung Nguyên. Tháng tư năm Long Hưng thứ 1 (1163), Tống Hiếu Tông lệnh Lý Hiển Trung, Triệu Hoành Uyên xuất binh Bắc phạt, Bắc phạt từng thu được thắng lợi, song do tướng lĩnh bất hòa cộng thêm tư tưởng khinh địch, cuối cùng thất bại. Sau đó, Tống Hiếu Tông bất đắc dĩ hòa đàm với Kim, vào tháng 12 năm Long Hưng thứ 2 (1164) thì hai bên chính thức ký kết hòa nghị, sử gọi là "Long Hưng hòa nghị". Tuy nhiên, Tống Hiếu Tông không mất ý chí khôi phục Trung Nguyên, tiếp tục chỉnh đốn quân bị. Tuy nhiên, do nhóm tướng lĩnh chủ chiến bao gồm Ngu Doãn Văn từ trần, sự nghiệp Bắc phạt dang dở. Trên phương diện nội chính, Tống Hiếu Tông tích cực chỉnh đốn lại trị, trừ bỏ quan yếu kém, trừng trị tham ô, tăng cường tập quyền, trọng thị sản xuất nông nghiệp. Xét về tổng thể, tình hình nội chính triều Tống có sự thay đổi. Sau khi Tống Cao Tông mất, Tống Hiếu Tông ngày càng lãnh đạm với chính trị, cuối cùng quyết định nhượng vị cho con là Triệu Đôn vào năm 1189, tức là Tống Quang Tông. Tống Quang Tông kế vị không lâu thì mắc bệnh về tinh thần, hết sức bất kính với Hiếu Tông. Tháng bảy năm Thiệu Hi thứ 5 (1194), Hiếu Tông từ trần.
Quang Tông có tính hay nghi kị, hết sức không tín nhiệm đại thần dưới triều Hiếu Tông, do vậy hai năm sau khi kế vị ngày càng điên loạn. Sau khi Hiếu Tông từ trần vào tháng 7 năm Thiệu Hy thứ 2, Tống Quang Tông không phục táng. Trong thành Lâm An hết sức hỗn loạn, cục thế bất ổn. Thành viên hoàng thất Tống là Triệu Nhữ Ngu và Triệu Ngạn Du bí mật mưu tính lập quân chủ mới. Cuối cùng, Thái hoàng thái hậu hạ chiếu, Quang Tông được tôn làm Thái thượng hoàng. Năm 1195, con trai Quang Tông là Triệu Khoách kế vị, tức là Tống Ninh Tông, Quang Tông từ trần sáu năm sau đó. Sách sử viết rằng Tống Ninh Tông "bất tuệ", trí lực thấp kém. Triều đình của Tống Ninh Tông bị hai quyền thần là Hàn Thác Trụ và Sử Di Viễn khống chế.
=== Nội ưu ngoại hoạn ===
Đầu thời Tống Ninh Tông, Triệu Nhữ Ngu nhậm chức tể tướng, người này về chính trị vốn giữ gìn khí tiết tốt đẹp. Tuy nhiên, do thành viên hoàng thất nhậm chức tể tướng không hợp phép tắc từ trước, lại thêm Hàn Thác Trụ khích động, nên cuối cũng bị bãi chức tể tướng. Tuy nhiên, dân gian Nam Tống vẫn hết sức hoài niệm Triệu Ngữ Ngu, mỗi ngày trên cửa thành Lâm An đều có thơ văn điệu niệm. Nhằm triệt để thanh trừ ảnh hưởng của Triệu Nhữ Ngu, Hàn Thác Trụ mượn danh nghĩa học thuật, gây ra "Khánh Nguyên đảng cấm", đem lý học gọi là "ngụy học". Đương thời, đại thần lý học trong triều đại đa số phản đối Hàn Thác Trụ, Hàn Thác Trụ do đó tống khứ toàn bộ nhóm sĩ đại phu này khỏi triều đình. Khoảng năm Kháng Nguyên thứ 6 (1200), Hàn Thác Trụ thấy lý học đã không còn là mối uy hiếp, nên giải trừ đảng cấm. Đảng cấm không được lòng người, nhằm lung lạc sĩ nhân, Hàn Thác Trụ còn mượn danh nghĩa Bắc phạt để mê hoặc lòng người. Năm Khai Hy thứ 2 (1206), Hàn Thác Trụ thiếu thận trọng tiến hành "Khai Hy bắc phạt", kết quả nhanh chóng thất bại. Thất bại của Bắc phạt khiến Hàn Thác Trụ trở thành mục tiêu bị công kích, địch thủ chính trị của Hàn Thác Trụ là Sử Di Viễn nhân cơ hội này cùng phái chủ hòa và phái phản đối Hàn Thác Trụ kết thành liên minh, triều Kim cũng yêu cầu giết Hàn Thác Trụ làm một điều kiện hòa đàm. Ngày ba tháng 11 năm Khai Hy thứ 3 (1207), nhóm Sử Di Viễn ngụy tạo mật chỉ, giết chết Hàn Thác Trụ, từ đó bắt đầu thời kỳ Sử Di Viễn chuyên chính. Sử Di Viễn và Dương hoàng hậu câu kết nắm hết đại quyền.
Tống Ninh Tông vốn có tám hoàng tử, song đều chết yểu, do vậy lập Triệu Hoành-con của em họ là Nghi vương- làm thái tử. Triệu Hoành hết sức bất mãn trước việc Sử Di Viễn chuyên chính, do vậy Sử Di Viễn phế ngôi thái tử của Triệu Hoành, cải lập một thành viên xa trong hoàng tộc là Triệu Quân làm người kế thừa hoàng vị. Ngày ba tháng tám nhuận năm Gia Định thứ 11 (1224), Tống Ninh Tông từ trần, Triệu Quân kế vị, tức là Tống Lý Tông. Sau đó, Sử Di Viễn tiếp tục chuyên chính, Tống Lý Tông thi hành sách lược ẩn mình chờ thời. Tháng mười năm Thiệu Định thứ 6 (1233), Sử Di Viễn từ trần, Tống Lý Tông cuối cùng thoát khỏi bóng của Sử Di Viễn, sang năm sau cải niên hiệu thành Đoan Bình, thực thi một loạt cải cách, sử gọi là "Đoan Bình canh hóa". Tống Lý Tông bài xích triệt để cựu đảng của Sử Di Viễn, triều chính từng có biến đổi. Đương thời, triều Kim từng bước diệt vong trước đế quốc Mông Cổ, chính sách đối ngoại trong triều đình Tống phân thành hai phái, một phái nhận định nên liên Mông kháng Kim, phái còn lại lấy đạo lý môi hở răng lạnh và kinh nghiệm từ "Hải thượng chi minh", chủ trương viện Kim kháng Mông, biến Kim thành tường che chắn cho Nam Tống.
Tháng chạp năm Thiệu Định thứ 5 (1232), Mông Cổ khiển sử thương nghị về việc Tống và Mông hợp tác giáp kích triều Kim, do chủ lực của triều Kim đã bị Mông Cổ diệt hết trong trận Tam Phong Sơn, nguy cơ vong quốc hiện rõ, đại thần đương triều của Tống đại đa số tán đồng liên Mông kháng Kim, chỉ có Triệu Phạm phản đối. Tống Lý Tông đáp ứng yêu cầu của Mông Cổ, Mông Cổ bằng lòng rằng sau khi diệt Kim sẽ đem Hà Nam giao cho Tống. Tuy nhiên, đây chỉ là hiệp định bằng miệng chứ không lưu thành văn kiện, gây nên hậu hoạn. Kim Ai Tông biết tin, cũng phái sứ tiết đến Tống trình bày lợi hại, hy vọng liên hiệp kháng Mông, song bị Tống Lý Tông cự tuyệt. Tống Lý Tông nhiệm mệnh Sử Tung Chi chủ quản công việc diệt Kim. Năm Thiệu Định thứ 6 (1233), quân Tống đánh chiếm Đặng châu. Năm Đoan Bình thứ 1 (1234), Thái châu bị chiếm, triều Kim diệt vong. Tướng Tống là Mạnh Củng đem di cốt của Kim Ai Tông về Lâm An, Tống Lý Tông đem di cốt cung phụng tại Thái miếu.
=== Kháng cự quân Mông ===
Sau khi triều Kim diệt vong, quân Mông Cổ triệt thoái về phía bắc, Hà Nam trống không, Tống Lý Tông có ý đồ chiếm cứ Đồng Quan, Hoàng Hà, thu phục Tam Kinh (Đông Kinh Khai Phong, Tây Kinh Lạc Dương, Nam Kinh Quy Đức), quang phục Trung Nguyên. Tháng năm năm Đoan Bình thứ 1 (1234), Tống Lý Tông nhiệm mệnh Triệu Quỳ làm chủ soái, Toàn Tử Tài làm tiên phong, hạ chiếu xuất binh đến Hà Nam. Ngày mười hai tháng sáu, Toàn Tử Tài thu phục Nam Kinh. Ngày năm tháng bảy, quân Tống tiến trú Khai Phong. Tuy nhiên, do lương thảo không đủ nên lỡ thời cơ, khi tiến công Lạc Dương bị quân Mông Cổ phục kích, tổn thất nghiêm trọng. Các lộ quân Tống toàn tuyến chiến bại và triệt thoái. "Đoan Bình nhập Lạc" thất bại, Tống do chiến dịch này mà tổn thất nghiêm trọng, lãng phí một lượng lớn tinh binh và vật tư, tạo cớ cho Mông Cổ xâm chiếm Tống sau này. Sau "Đoan Bình nhập Lạc", Tống Lý Tông sao lãng chính sự, đắm chìm trong hưởng lạc, triều chính đại hoại.
Năm Đoan Bình thứ 2 (1235), ba lộ quân Mông Cổ phân biệt xâm nhập Xuyên Thiểm Tứ lộ, Kinh Hồ Bắc lộ và Hoài Nam Tây lộ, song đều bị đánh lui. Quân Mông không cam tâm, đến tháng 9 năm sau và năm tiếp đó lại phân thành ba lộ xâm nhập phương nam, quân tiền phong tiếp cận bờ bắc Trường Giang. Do quân Tống nỗ lực tác chiến, đả bại quân Mông, hơn một lần bẽ gẫy mưu tính của quân Mông là chiếm lĩnh Xuyên Thiểm Tứ lộ để vượt Trường Giang nam hạ. Sau đó, quân dân Tống dưới quyền chỉ huy của các tướng lĩnh kháng Mông như Vương Kiên, Mạnh Củng nhiều lần đánh bại quân Mông, khiến họ buộc phải đi đường vòng. Năm Khai Khánh thứ 1 (1259), Đại hãn của Mông Cổ là Mông Kha khi chinh chiến tại Hợp châu bị trúng tên của quân Tống rồi tử thương. Em trai Mông Kha là Hốt Tất Liệt đang giao chiến với quân Tống tại Ngạc châu, khi biết tin Mông Kha tử vong và em là A Lý Bất Ca chuẩn bị xưng hãn tại Hòa Lâm (Karakorum), quyết định chuẩn bị triệt quân để tranh ngôi đại hãn, quyền thần triều Tống là Giả Tự Đạo nhân cơ hội này cùng Hốt Tất Liệt nghị hòa, nhằm bảo đảm hòa bình. Hốt Tất Liệt trở về phương bắc tự lập làm hãn.
Hai hoàng tử của Tống Lý Tông chết yểu, do vậy chọn con của em trai tên Triệu Dữ Nhuế là Triệu Kỳ làm hoàng trữ. Do mẹ của Triệu Kỳ trong thời gian mang thai từng uống thảo dược phá thai, do vậy Triệu Kỳ sinh thiếu tháng. Tháng 6 năm Cảnh Định thứ 1 (1260), Tống Lý Tông hạ chiếu lập Triệu Kỳ làm thái tử. Ngày hai mươi sáu tháng 12 năm Cảnh Định thứ 5 (1264), Tống Lý Tông từ trần, Triệu Kỳ kế vị, tức là Tống Độ Tông. Sau khi kế vị, Tống Độ Tông không quản triều chính, Hữu thừa tướng Giả Tự Đạo do vậy chuyên quyền. Giả Tự Đạo kết đảng mưu tư lợi, bài xích những người bất đồng với mình, suốt ngày trong biệt thự tại Cát Lĩnh cùng thê thiếp nô đùa, do ông thích đấu dế, nên người đời gọi ông là "Tất suất tể tướng", tức tể tướng dế. Giả Tự Đạo cấm chỉ báo tin chiến sự cho Tống Độ Tông. Tương Dương, Phàn Thành sau ba năm bị vây thì Tống Độ Tông mới biết được. Năm Hàm Thuần thứ 7 (1271), Hốt Tất Liệt tại Đại Đô (nay là Bắc Kinh) kiến quốc, hiệu là "Đại Nguyên", kiến lập triều Nguyên. Ngày chín tháng 7 năm Hàm Thuần thứ 10 (12 tháng 8 năm 1274), Tống Độ Tông từ trần ở tuổi 35.
=== Hải chiến Nhai Môn và diệt vong ===
Sau khi Tống Độ Tông từ trần, hoàng tử Triệu Hiển kế vị khi mới 4 tuổi, tức là Tống Cung Đế, triều Tống đương thời đã tiến vào trạng thái bế tắc. Mùa xuân năm Đức Hựu thứ 1 (1275), quân Nguyên công chiếm các trọng trấn về quân sự là An Khánh và Trì Châu, uy hiếp Kiến Khang, phòng tuyến Trường Giang tan vỡ. Triều đình Tống hết sức kinh hãi, các giới đều hy vọng Giả Tự Đạo có thể xuất chinh, kết quả quân Tống đại bại, Giả Tự Đạo bị giáng chức, trên đường đi nhậm chức thì bị Trịnh Hổ Thần sát hại. Ngày hai mươi tháng 11 năm Đức Hựu thứ 1, Thường Châu bị chiếm, quân Nguyên tàn sát người trong thành. Không lâu sau, tin Bình Giang bị chiếm cũng đến, người Lâm An lo sợ. Tháng giêng năm Đức Hựu thứ 2 (1276), thành Lâm An cử hành nghi thức thụ hàng, Tống Cung Đế thoái vị, Nam Tống mất. Tuy nhiên, anh của Tống Cung Đế là Triệu Thị và em là Triệu Bính được đại thần bảo hộ đào thoát khỏi Lâm An.
Triệu Thị tức vị tại Phúc Châu, tức là Tống Đoan Tông, cải niên hiệu là Cảnh Viêm (1276). Tuy nhiên, nội bộ triều đình đấu tranh không ngừng, vào tháng 11 năm Cảnh Viêm thứ 1, quân Nguyên tới sát Phúc Châu, ngày mười lăm tháng mười một, quyền thần là Trần Nghi Trung, Trương Thế Kiệt hộ tống Triệu Thị và Triệu Bính đi thuyền về phía nam. Mùa xuân năm Cảnh Viêm thứ 3 (1278), tiểu triều đình đến Lôi Châu. Ngày mười lăm tháng tháng tư, Triệu Thị từ trần khi gần 11 tuổi, Lục Tú Phu và chúng thần tôn Triệu Bính làm hoàng đế, cải niên hiệu thành Tường Hưng (1278). Đến khi Lôi Châu thất thủ trước quân Nguyên, tiểu triều đình dời sang Nhai Sơn (nay thuộc Giang Môn, Quảng Đông). Tướng lĩnh quân Nguyên là Trương Hoằng Phạm lãnh quân truy kích, phát động tổng công kích Nhai Sơn, quân Tống không có năng lực chiến đấu, toàn tuyết thất bại, sử gọi là hải chiến Nhai Sơn. Triệu Bỉnh theo Lục Tú Phu và hơn tám trăm thành viên hoàng tộc Tống nhảy xuống biển tự vẫn, đến đây thế lực hoàng tộc triều Tống bị tiêu diệt triệt để.
== Chế độ chính trị ==
=== Quan chế trung ương ===
Vào sơ kỳ, thể chế Bắc Tống đại thể vẫn kế tục chế độ chính trị triều Đường. Tuy nhiên, tể tướng không còn do quan đứng đầu tam tỉnh đảm nhiệm, mà là Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, sung nhiệm thượng thư tả hữu thừa, thị lang lục bộ trở lên, thông thường đặt hai tể tướng, có khi đặt một hoặc ba tể tướng, tể tướng còn kiêm chức Quán, Điện đại học sĩ. Triều đình còn đặt thêm "tham tri chính sự" làm phó tể tướng, cho sung nhiệm "trung thư xá nhân" đến thượng thư lục bộ, thường thay đổi, thường đặt hai người, có khi đặt một người, ba hoặc bốn người. Các chức vụ: tể tướng và phó tể tướng, xu mật sứ, tri xu mật viện sự, xu mật phó sứ, đồng tri xu mật viện sự, thiêm thư xu mật viện sự, đồng thiêm thư xu mật viện sự được gọi chung là "tể chấp". Thời Tống, quyền của tể tướng bị thu hẹp mạnh, chỉ phụ trách chức năng hành chính. "Trung thư môn hạ" và "Xu mật viện" được gọi là "nhị phủ" đông, tây, quản lý đại quyền văn võ. Triều đình còn thiết lập tam ty: diêm thiết, hộ bộ, độ chi, chủ quản đại quyền tài chính, hiệu xưng "kế tỉnh". Quyền lực của "Tam ty", "tể chấp", "xu mật sứ" chế ngự lẫn nhau, do vậy giảm bớt quyền lực của tể tướng, tăng cường hoàng quyền. Ngoài "ngự sử đài", triều Tống còn đặt thêm "Gián viện" và "Trí gián quan", đều là các cơ cấu giám sát, phụ trách sự tình tra hỏi. Đầu thời Bắc Tống, tể tướng chủ quản dân chính, "xu mật sứ" chủ quản quân chính, "tam ty sứ" chủ quản tài chính. Sau "Nguyên Phong quan chế cải cách" thời Tống Thần Tông, tể tướng trên thực tế kiêm quản tài chính. Thời Nam Tống, tể tướng còn kiêm nhiệm xu mật sứ, kiêm quản quân chính. Điều này khiến tể tướng lại khống chế đại quyền dân chính, tài chính và quân chính. Tam tỉnh lục bộ của triều Tống một số được lập mới, một số được thay thế chức quyền. Như "Thẩm quan viện" thay thế thi hành chức quyền thi khảo quan chức triều đình trung ương vốn thuộc về Lại bộ; "Thái thường lễ viện" và "Lễ nghi viện" thay thế thi hành quyền lễ nghi của Lễ bộ; "tam ty" thay thế thi hành đại bộ phận chức quyền của Hộ bộ và Công bộ; "Thẩm hình viện" thay thế thi hành công việc của Hình bộ trong việc phúc thẩm án kiện do Đại lý tự xác định. Đến thời "Nguyên Phong quan chế cải cách", "Tam tỉnh" thay thế Trung thư môn hạ, tại lục bộ thiết lập thượng thư và thị lang, chủ quản sự vụ các bộ, tam tỉnh lục bộ chỉ thi hành chức quyền tương ứng.
"Trung thư môn hạ" đặt trong cung cấm, là cơ quan hành chính tối cao, tể tướng và phó tể tướng xử lý chính sự tập thể. Tể tướng gọi là "đồng trung thư môn hạ bình chương sự", phó tể tướng gọi là "tham tri chính sự". Việc đặt chức phó tể tướng là nhắm phân tán quyền lực của tể tướng, cũng như mở rộng năng lực xử lý chính vụ, đây là một đặc sắc trong chính trị thời Tống. Thời "Nguyên Phong quan chế cải cách", triều đình đem "Trung thư môn hạ" đổi thành Môn hạ tỉnh, Trung thư tỉnh và Thượng thư tỉnh; cho các Thượng thư tả, hữu bộc xạ kiêm Môn hạ, Trung thư thị lang làm tể tướng; đặt lại tại mỗi tỉnh các Môn hạ, Trung thư thị lang; các Thượng thư tả, hữu thừa làm phó tể tướng. Thời Tống Huy Tông, Sái Kinh xưng là thái sư, thống lĩnh sự vụ của tam tỉnh, đổi Thượng thư tả, hữu bộc xạ thành thái tể, thiếu tể, cho làm tể tướng. Thời Tống Cao Tông, nhằm tập trung chính vụ để ứng phó quân vụ cấp bách, triều đình đem tam tỉnh hợp làm một, đổi Tả, hữu bộc xạ thành Tả, hữu thừa tướng. Thời Tống Triết Tông, đặt chức "Bình chương quân quốc trọng sự" hoặc "Đồng Bình chương quân quốc sự", nhằm đặt "lão thần thạc đức" ở vị trí trên tể tướng, vài ngày đến chầu một lần. Thời Tống Ninh Tông, Hàn Thác Trụ nhậm chức "Bình chương quân quốc sự", ba ngày đến chầu một lần, tể tướng không còn chưởng quản ấn tín. Những năm cuối Nam Tống, Giả Tự Đạo chuyên quyền, nhậm chức "Bình chương quân quốc trọng sự", Tả, hữu thừa tướng trên thực tế có địa vị như phó tể tướng.。
Xu mật viện là cơ quan tối cao về quân chính toàn quốc, quan đứng đầu là "Xu mật sứ" hoặc "tri xu mật viện sự", sung nhiệm chức vụ từ "Gián nghị đại phu" đến thượng thư lục bộ; quan cấp phó là "Xu mật phó sư" hoặc "đồng tri xu mật viện sự", sung nhiệm chức vụ từ "Khởi cư xá nhân" đến Thượng thư tả, hữu thừa. Người ít thâm niên gọi là "Thiêm thư xu mật viện sự", "Đồng thiêm thư xu mật viện sự", không thường đặt. Nhằm đề phòng cục diện phiên trấn cát cứ thời Đường tái diễn, những chức vụ này đại đa số do quan văn đảm nhiệm. Xu mật viện chưởng quản quyền lực điều độ quân mã toàn quốc, và quản lý, huấn luyện, phòng ngự, thăng chức, thưởng phạt trong cấm quân toàn quốc đều do "tam nha" liên hiệp quản lý. "Tam nha" chính là "Điện tiền đô chỉ huy ty", "Thị vệ mã quân đốc chỉ huy sứ ty" và "Thị vệ bộ quân đốc chỉ huy sứ ty". Quan đứng đầu Xu mật viện cùng với "tham tri chính sự", "môn hạ thị lang", "trung thư thị lang", thượng thư tả, hữu thừa tướng gọi chung là quan chấp chính. Tể tướng và quan chấp chính gọi chung là "tể chấp".
Tam ty là cơ quan tối cao chủ quản tài chính, tức ba cơ quan là Diêm thiết bộ, Độ chi bộ, Hộ bộ. Quan đứng đầu gọi là "tam ty sứ", sung nhiệm chức vụ từ ngũ phẩm trở lên và tri chế cáo, tạp học sĩ, học sĩ. Người cấp phó gọi là "tam ty phó sứ", sung nhiệm chức vụ từ "viên ngoại lang" trở lên. Trong "Nguyên Phong quan chế cải cách" thời Tống Thần Tông, chức quyền của tam ti được quy về Hộ bộ và Công bộ. Nam Tống từng đặt thêm "tổng lĩnh sở", phụ trách cung ứng tiền lương các quân một số lộ hoặc một lộ, đồng thời tham dự quân chính. Người đứng đầu cơ quan này gọi là "Tổng lĩnh mỗ lộ tài phú quân mã tiền lương", giản xưng tổng lĩnh。
"Ngự sử đài" chuyên quản giám sát, quan đứng đầu gọi là "Ngự sử trung thừa", người cấp phó gọi là "Ngự sử tri tạp sự", chủ quản kiểm soát bá quan, chỉnh đốn kỷ cương. Quan của Ngự sử đài có quyền hạch hỏi, có thể trình tấu ngôn sự, bình luận triều chính, hạch hỏi quan viên, còn được phép luận sự "phong văn". Dưới Ngự sử đài đặt ba viện: Đài viện, Điện viện, Sát viện; bên dưới tiếp tục đặt Thị ngự sử, Điện trung thị ngự sử, Giám sát ngự sử. Gián viện là cơ cấu chuyên quản việc khuyến gián. Thời Tống Nhân Tông mới đặt riêng viện, quan đứng đầu gọi là "tri gián viện sự" hoặc "tả, hữu gián nghị đại phu", phàm là khuyết điểm triều chính, bất kể quyền thần nào, quan phủ các cấp làm việc sai trái, đều có thể gián chính. Quan của Đài viện và Gián viện đều có trách nhiệm là tiến gián, hạch hỏi, chức quyền vốn không có sai biệt nhiều, tình hình này khiến thời sau hợp nhất Đài viện và Gián viện.
Cuối cùng, cơ cấu khởi thảo chế cáo cho hoàng đế, quốc thư, hoặc văn thư sử dụng trong cung đình là Hàn lâm học sĩ viện, đặt các chức "Hàn lâm học sĩ". "Hàn lâm học sĩ thừa chỉ", hay "Hàn lâm thị độc học sĩ". Hàn lâm học sĩ và Trung thư xá nhân hoặc Tri chế cáo phân quản "nội chế" và "ngoại chế", gọi chung là "lưỡng chế", các Hàn lâm học sĩ còn thị phụng hoàng đế, đảm đương vai trò cố vấn. Đầu thời Tống, cơ cấu tư pháp tối cao là Đại lý tự và Hình bộ. Tống Thái Tông đặt "Thẩm hình viện", quan đứng đầu gọi là "Thẩm hình viện sự". Các địa phương tấu án trước tiên là qua Đại lý tự phán quyết, báo cáo Thẩm hình viện phức tra, viết ra bản thảo tấu, trình lên Trung thư. Trung thư đích thân tấu để hoàng đế luận quyết, đến khi Tống Thần Tông cải cách quan chế thì "Thẩm hình viện" nhập vào Hình bộ.。
=== Chế độ quản lý quan viên ===
Thời Tống, thực hành chế độ phân ly quan, chức và sai khiển. Đầu thời Tống, tận dụng các quan danh tam tỉnh lục bộ triều Đường tổ hợp thành cấp quan, chỉ dùng để định phẩm cấp, bổng lộc, chương phục và thăng cấp, do đó còn gọi là "giai quan" hoặc "ký lộc quan". Thời "Nguyên Phong quan chế cải cách" Tống Thần Tông, văn quan (kinh triều quan) định thành 25 bậc, thời Tống Huy Tông tăng thành 37 bậc (bao gồm tuyển nhân), còn cải định võ quan tổng cộng 52 bậc. Sai khiển là chỉ chức vụ thực tế mà quan viên đảm nhiệm, tức "chức vụ quan". Đầu thời Bắc Tống, quan phẩm kế tục chế độ triều Đường, văn quan tổng cộng có 9 phẩm, có chính, tòng; từ chính tứ phẩm trở xuống, lại phân thành thượng và hạ, tổng cộng có 30 đẳng. Tuy nhiên, nhiều quan phẩm và quan chức không tương xứng. "Nguyên Phong quan chế cải cách" chuyển đổi sang gắn chức danh với trách nhiệm thực, giảm thiểu đẳng cấp quan phẩm, cải thành cửu phẩm chính, tòng, tức 18 cấp. Triều đình đối với quan viên các cấp chế định các chế độ ma khám (khảo sát công lao lỗi lầm), tự thiên (thăng chức theo công lao), ấm bổ (bổ nhiệm theo công lao của tổ tiên). Đối với quan viên trung và thượng cấp, họ được đãi ngộ khá tốt, có bổng lộc, chức điền, từ lộc, ân thưởng. Sau thời Tống Thần Tông, một số quan viên hạ đài hoặc sắp hạ đài còn được trao cho hoặc tự thỉnh đảm nhiệm các chức vụ thanh nhàn như "cung quan quan", "giám nhạc miếu", ngồi lĩnh "từ lộc". Ngoài ra, các loại ban thưởng nhất thời của triều đình cũng trở thành một khoản thu nhập kinh tế trọng yếu của quan viên. Việc phân ly quan, chức và sai khiển khiến xuất hiện số lượng lớn quan viên dư thừa
== Quân sự ==
Những năm đầu, Bắc Tống kế tục chế độ thời Hậu Chu, đặt "Điện tiền ty" và "Thị vệ thân quân ty", gọi chung là lưỡng ty, với các quân chức cao cấp như "Điện tiền ty đô điểm kiểm", "Điện tiền ty phó đô điểm kiểm", "Thị vệ thân quân ty mã bộ quân đô chỉ huy sứ", "Thị vệ thân quân ty phó đô chỉ huy sứ". Nhằm tăng cường hoàng quyền và ổn định tầng lớp quân sự, Tống Thái Tổ quyết định tăng cường trung ương tập quyền, đề phòng võ tướng tước đoạt quyền lợi. Tháng ba năm Kiến Long thứ 2 (961), Tống Thái Tổ tước bỏ quân chức "điện tiền ty đô điểm kiểm" trọng yếu trong cấm quân. Tháng bảy cùng năm, Tống Thái Tổ thông qua "bôi tửu thích binh quyền" để giải trừ quân quyền của võ tướng, đồng thời phế trừ chức "điện tiền ty phó đô điểm kiểm", Thị vệ thân quân ty mã bộ quân đô chỉ huy sứ và phó đô chỉ huy sứ trong một thời gian dài không đặt,. Năm Cảnh Đức thứ 2 (1005) thời Tống Chân Tông, phế bỏ "thị vệ thân quân ty đô ngu hầu", "thị vệ thân quân ty" phân thành "thị vệ thân quân mã quân ty" và "thị vệ thân quân bộ quân ty", hai đơn vị này và "điện tiền ty" được gọi chung là "tam nha", đến đây hoàn thành diễn biến từ lưỡng ty đến tam nha môn, tam nha phân biệt do "điện tiền ty đô chỉ huy sứ", "thị vệ thân quân ty mã quân đô chỉ huy sứ" và "thị vệ thân quân ty bộ quân đô chỉ huy sứ" thống lĩnh. Tuy vậy, tam soái không có quyền phát binh. Thời Tống, tại trung ương thiết lập xu mật viện để phục trách quân vụ, xu mật viện do hoàng đế phụ trách trực tiếp, bất kỳ quan viên nào cũng không được can thiệp. Xu mật viện tuy có thể phát binh, song không thể trực tiếp thống quân, điều này dẫn đến phân ly quyền thống binh và quyền điều binh. Triều Tống thực hành "Canh Tuất pháp", thường tiến hành thay thế tướng lĩnh thống binh, nhằm khiến tướng không thể chuyên thống lĩnh một đơn vị, nhằm đề phòng trong quân đội xuất hiện thế lực cá nhân. Thời chiến tranh, tư lệnh chiến khu đều do văn quan hoặc thái giám đảm nhiệm, và cải biến chiến lược nhất thiết phải được hoàng đế đồng ý, điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến chiến lực của triều Tống. Triều Tống thực hành "sùng văn ức võ, dĩ văn chế võ", xu mật viện sứ và xu mật viện phó sứ phần nhiều là do văn quan đảm nhiệm, thiểu số võ thần từng nhậm chức tại xu mật viện, song đều chịu sự phản đối từ văn thần với lý do quy tắc của tổ tông, đều bị bãi truất. Sau thời Tống Chân Tông, triều đình sử dụng văn quan làm quan thống binh, đốc soái võ tướng, dần thành quán lệ; an phủ sứ, kinh lược an phủ sứ do văn quan đảm nhiệm, võ tướng đảm nhiệm đô bộ thư (đô tổng quản), phó đô bộ thự, bộ tự (tổng quản), phó bộ thự, kiềm hạt, tuần kiểm, đô giám, hiệu là tướng quan, lĩnh binh mã, thụ chỉ huy. Thời kiến quốc, Tống bố trí binh lực "thủ nội hư ngoại", song sau những năm Hi Ninh (1068-1077) thì quân đồn trú tại thủ đô giảm thiểu。
Triều Tống thi hành chế độ mộ binh mang tính tự nguyện, và trong năm có nạn thì chiêu mộ dân lưu tán, dân đói làm binh sĩ, như một loại quốc sách truyền thống, có tính chất phúc lợi xã hội, tạo tác dụng ổn định chính quyền Quân đội triều Tống phân thành bốn quân chủng là cấm quân, sương quân, hương binh, phiên binh. Cấm quân là quân chính quy, cũng là chủ lực trong quân đội triều Tống. Sương quân là trấn binh các châu, do quan đứng đầu địa phương khống chế. Hương binh gồm các tráng đinh được các cơ quan chọn ra. Phiên binh là quân đội dân tộc phi Hán phòng thủ tại biên cảnh.
Bắc Tống từ thời trung kỳ về sau tiến hành chiến tranh với các quốc gia Liêu và Tây Hạ, khiến phí tổn quân sự gia tăng, đối với tướng soái thống binh hạn chế quá nhiều "quyền nhiệm nhẹ song pháp chế mật", tướng không được chuyên binh, bị kiềm chế hành động; chủ tướng không biết bộ tướng có tài hay không, còn các tướng lĩnh thì không biết mạnh yếu của tam quân, mỗi người không quản hạt lẫn nhau, tự khiêm nhường. Ngoài ra, kỷ luật quân đội bất minh khiến quân Tống thiếu huấn luyện nghiêm trọng, suốt ngày "du hí giữa phố chợ". Trương Diễn Bình nói rằng triều Tống đối đãi với võ thần thì hậu về lộc song bạc về lễ. Chủ lực trong quân đội Nam Tống là đại binh đồn trú và tam nha. Đại binh đồn trú có sức chiến đấu khá mạnh, phần nhiều thuộc bộ đội do tư nhân triệu mộ, như "Nhạc gia quân". Đương thời, năng lực khống chế quân đội của triều đình đã yếu đi, quyền hạn của Xu mật viện cũng dần giảm thiểu. Năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), binh quyền của các tướng lĩnh như Hàn Thế Trung, Nhạc Phi lần lượt bị tước giảm。
Thời Tống, kỹ thuật quân sự rất tiến bộ, từ triều Tống về trước vẫn nằm trong thời đại lãnh binh khí, song từ triều Tống trở đi thì hỏa khí bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chiến tranh, sử dụng các vũ khí "phích lịch pháo", "chấn thiêu lôi", "dẫn hỏa cẩu", "thiết hỏa pháo", "hỏa tiễn", "hỏa cầu", "hỏa thương", "hỏa pháo", từng bước tiến vào thời đại sử dụng cả lãnh binh khí và hỏa khí. Về trang thiết bị thủy chiến, thủy quân vẫn phát triển tại khu vực Giang Hà, Tần Hải, thời Nam Tống còn có "xa thuyền". Về máy bắn đá thì có "xa hành pháo", "đơn sảo pháo", "toàn phong pháo" Trong các đời vua, tại trung ương và địa phương thiết lập nhiều cơ cấu chế tạo và quản lý binh khí, khống chế nghiêm ngặt chế tạo và phân phát binh khí, còn quy định chế độ kiểm tra, duy tu và trao binh khí.
Trong việc bảo vệ thành trì, phát triển các cách thức xuất thành chế, nỗ đài, địch lâu. Trong đó, có danh tiếng nhất là thể chế phòng ngự sơn thành, tướng Dư Giới của Nam Tống tại Tứ Xuyên phòng ngự quân Mông Cổ, nhằm củng cố khu vực Xuyên Tây đã sử dụng phương châm "thủ điểm bất thủ tuyến, liên điểm nhi thành tuyến", xây đắp thành Điếu Ngư, Đại Hoạch, Thanh Cư, Vân Đính, Thần Tí, Thiên Sinh, tổng cộng hơn 10 thành, hình thành một mạng lưới phòng ngự, đề kháng thành công sự công kích của quân Mông Cổ
== Ngoại giao ==
Triều Tống thường xuyên có ngoại địch, tính trọng yếu của ngoại giao ngày càng gia tăng. Đối với các đối tượng ngoại giao khác nhau, triều Tống lại có cách đối đãi khác biệt, đồng thời tiến hành chuyên môn hóa. Liêu và Kim đều cấu thành mối uy hiếp cực lớn đối với triều Tống, sự vụ ngoại giao với hai triều đại này chủ yếu do Lễ viện của Xu mật viện phụ tráchBản mẫu:备注, bao gồm văn thư qua lại, phái khiển và tiếp đãi sứ tiết. Năm Nguyên Phong thứ 1 (1078), Xu mật viện lập riêng Bắc diện phòng, quản lý quốc tín với phương bắc, Nam Tống kế tục. Ngoài ra, triều Tống còn lập riêng 'quốc tín sở' chủ quản quốc tín qua lại, là cơ cấu phụ trách cụ thể sự vụ qua lại với Liêu và Kim. Với các quốc gia Tây Hạ, Cao Ly, An Nam, do triều Tống nhìn nhận họ là nước phiên thuộc, do vậy văn thư và lễ vật ngoại giao phát ra đều gọi là "chế chiếu" hoặc "tứ", công nhận về ngoại giao với các quốc gia này được gọi là "sách phong". Tại kinh thành, triều Tống thiết lập nhiều quán dịch tiếp đãi ngoại giao, là nơi tiếp đãi các sứ tiết quốc gia. Sứ tiết Liêu tại Đô Đình dịch, sứ tiết Tây Hạ tại Đô Đình Tây dịch, sứ tiết Cao Ly tại Đồng Văn quán, sứ tiết Hồi Cốt và Vu Điền tại Lễ Tân viện, sứ tiết các quốc gia Tam Phật Tề, Chân Lạp, Đại Lý, Đại Thực tại Chiêm Vân quán hoặc Hoài Viễn dịch.。
Triều Tống thi hành thể chế triều cống, tuy nhiên đặt trọng tâm vào lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế, đó là "lai tắc bất cự, khứ tắc bất truy".Bản mẫu:备注 Chế độ triều cống của triều Tống hoàn thiện và phát triển, biểu hiện tại cơ cấu quản lý khá cố định, rõ ràng về quy định thời gian triều cống, chứng minh chính xác là cống sứ, chế độ hóa việc ban lại. Thời kỳ Nam Tống, còn đưa mậu dịch hải ngoại làm một nguồn ngân quỹ thu nhập tài chính của triều đình, đối với vật phẩm triểm cống không thu nhận toàn bộ mà chỉ tiếp nhận một bộ phận nhỏ trong đó, số còn lại dựa theo quy tắc mậu dịch để mua bán. Giảm thiểu cống vật vốn được miễn thuế, nghĩa là thuế thu gia tăng, điều này không chỉ có lợi cho qua lại ngoại giao, mà còn đem lại cho triều đình lợi ích thiết thực, về ngoại giao và kinh tế đều có lợi.
Những nhà ngoại giao có tiếng thời Tống có Phú Bật, Thẩm Quát và Hồng Hạo. Phú Bật trên phương diện ngoại giao nhiều lần lập công trước đại quân Liêu đến sát biên giới. Ông sử dụng lý lẽ để thắng Liêu sứ kiêu ngạo, buộc sứ giả của Liêu phải hành lễ tham bái, sau còn hai lần đi sứ sang Liêu, thắng trước yêu cầu cắt đất của Liêu. Phú Bật phân tích quan hệ ba bên Tống-Liêu-Tây Hạ, nhận định nguyên nhân Liêu và Tây Hạ cường thịnh là do đoạt được tài nguyên và nhân lực của Trung Quốc, đồng thời lại hiệp trợ triều đình chia rẽ đồng minh Liêu-Hạ, khiến thế chân vạc Tống-Liêu-Hạ dần ổn định. Thẩm Quát với thân phận Hàn lâm thị độc học sĩ từng đi sứ sang Liêu để giao thiệp về sự việc phân định biên giới, sau khi vạch xong thì về Tống. Trên đường đi sứ sang Liêu, ông ghi chép lại địa hình cùng phong tục nhân tình của quốc gia này để hoàn thành "Sứ lỗ đồ sao", trình cho triều đình. Hồng Hạo đi sứ sang Kim trong lúc Nam Tống nguy nan, bị cầm tù trong 15 năm, song không chịu đầu hàng Kim. Hồng Hạo từng nhiều lần phái người bí mật truyền tin tức cho Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông tại Ngũ Quốc thành và Tống Cao Tông tại Lâm An. Sau khi về Nam Tống, Tống Cao Tông nói rằng "dù Tô Vũ cũng không vượt được"
== Kinh tế ==
Tống Thái Tổ khi kiến quốc liền xác lập chế độ quyền tài sản tư hữu với thổ địa, mậu dịch tự do, đồng thời chọn chính sách không ngăn chặn thôn tính, kinh doanh tô điền trở thành hình thức kinh doanh thổ địa trọng yếu. Sau khi mãn hạn khế ước tô điền, điền nông có thể tự do quyết định đình chỉ hoặc kế tục. Tính lưu động nhân khẩu được tăng cường, kinh tế thương phẩm thành thị phát triển. Có học giả nhận định rằng thời Tống đã manh nha xuất hiện tư bản chủ nghĩa.。
Kinh tế thời Tống phồn vinh, đạt trình độ chưa từng có trước đó, nông nghiệp, in ấn, làm giấy, tơ lụa, đồ sứ đều có sự phát triển trọng đại. Các ngành hàng hải, đóng thuyền có thành tựu đột biến, mậu dịch hải ngoại phát đạt, tổng cộng thông thương với 58 quốc gia tại Nam Dương, Nam Á, Tây Á, châu Phi, châu Âu. Thời kỳ đầu Nam Tống, phương Nam phát triển toàn diện theo chiều sâu trên quy mô lớn, biến phương Nam trở thành trung tâm kinh tế-văn hóa của Trung Quốc, hoàn toàn thay thế phương bắc.
=== Nông nghiệp ===
Thời Tống, nông nghiệp dần chuyển biến theo hướng chuyên nghiệp hóa và thương nghiệp hóa. Sơ kỳ Bắc Tống, khai hoang được diện tích lớn, không bị hạn chế thôn tính, quy mô ruộng đồng được mở rộng, nhằm nâng cao năng suất canh tác người ta chú trọng xây mới thủy lợi, cải tiến nông cụ, đổi giống cây trồng, nông nghiệp phát triển nhanh chóng. Nhiều hình thức ruộng đồng mới xuất hiện vào thời Tống, chẳng hạn như ruộng bậc thang (xuất hiện tại vùng núi), ruộng ứ (lợi dụng bùn đọng hình thành do nước sông xói mòn), ruộng cát (đất pha cát tại ven biển), ruộng giá (trên mặt hồ làm bè gỗ, bên trên trải bùn thành đất). Điều này làm gia tăng mạnh diện tích đất canh tác của Tống. Đến năm Chí Đạo thứ 2 (996), triều đình Tống nắm trong tay diện tích đất ruộng là hơn 3.125.200 khoảnh. Đến năm Thiên Hy thứ 5 (1021) tăng lên đến trên 5.247.500 khoảnh. Đến năm những năm Nguyên Phong (1078-1085), đạt đến diện tích đất canh tác đỉnh điểm là 700 triệu mẫu. Các loại nông cụ mới xuất hiện vào thời Tống, như 'long cốt phiên xa' và 'đồng xa'. Có 'đạp lê' thay trâu cày, có 'ưởng mã' dùng trong cắm mạ. Sự xuất hiện của công cụ mới đã khiến cho sản lượng nông sản tăng trưởng mạnh. Thông thường, đất ruộng trồng mạch tại Hoa Bắc mỗi năm một mẫu có thể thu được hai thạch đến ba thạch rưỡi; còn các khu vực Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, Xuyên Kiểm, Kinh Hồ mỗi năm có thể đạt đến 3-7 thạch. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 5 (1012), giống lúa gạo chịu hạn, chín sớm được tiến cống từ Chiêm Thành, phân cấp cho Giang Hoài và Lưỡng Chiết, từ đó về sau gạo nhọn lúa sớm của phương nam còn được gọi là lúa Chiêm Thành, lúa Hoàng Tiên. Thời Lưỡng Tống, sản lượng lúa gạo khu vực Thái Hồ đứng đầu toàn quốc, đặc biệt là Bình Giang phủ (nay là Tô Châu), có câu "Tô Hồ thục, Thiên hạ túc" (chỉ Tô Châu và Hồ Châu) hoặc "Tô Thường thục, Thiên hạ túc" (chỉ Tô Châu và Thường Châu), tức là các khu vực này được mùa thì toàn quốc đầy đủ lương thực. Nông nghiệp triều Tống phát triển theo khuynh hướng chuyên nghiệp hóa, thương nghiệp hóa, ví dụ như lưu vực Trường Giang và lưu vực Châu Giang nông nghiệp phát triển nhanh chóng, một số loại nông sản của phương bắc như túc, mạch, thử, đậu được đưa đến phương nam. Diện tích cây trồng kinh tế được mở rộng, vào trung kỳ Nam Tống, bông được trồng phổ biến tại khu vực Xuyên Thiểm, Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ, Mân, Quảng, khu vực trồng dâu nuôi tằm và gai cũng tăng lên. Thời Tống, phân bố trà đạt đến các lộ Hoài Nam, Kinh Hồ và Tứ Xuyên, các khu vực này mỗi năm nộp 14-15 triệu cân cho cơ cấu chuyên mại của chính phủ, không chỉ cung ứng thị trường quốc nội, mà còn bán ra ngoại quốc. Đương thời, trà được sản xuất tại Phúc Kiến là nổi danh nhất, các loại danh trà khác còn có Nhật Kinh trà của Lưỡng Chiết, Song Tỉnh Bạch trà của Giang Tây, Trúc trà của Quảng Tây. Thời kỳ Nam Tống, đất trồng trà tại phương nam nhiều hơn thời Bắc Tống, Tử Doãn tại Ngô Hưng, Dương Tiện tại Thường Châu, Nhật Chú tại Thiệu Hưng, Hoàng Long tại Long Hưng đều được gọi là "tuyệt phẩm". Trồng mía phổ biến tại các tỉnh Tô, Chiết, Mân, Quảng Đường trở thành thực phẩm được sử dụng rộng rãi, xuất hiện tư liệu đầu tiên trên thế giới chuyên về thuật pháp chế biến đường: "Đường sương phổ" của Vương Chước
=== Thủ công nghiệp ===
Khoáng sản chủ yếu thời Bắc Tống bao gồm vàng, bạc, đồng, sắt, chì, thiếc, than đá. Thời Tống Nhân Tông tại vị, có đến hơn 270 mỏ khoáng sản kim loại, tăng hơn 100 điểm so với những năm thịnh Đường. Thời kỳ Nhân Tông, mỗi năm khai thác hơn 15 nghìn lạng vàng, hơn 29 nghìn lạng bạc, hơn 5 triệu cân đồng, 7,24 triệu cân sắt, hơn 90 nghìn cân chì, hơn 33 vạn cân thiếc.
Các ngành dệt sợi tơ, gai, lông đều rất phát đạt, và khu vực Tây Bắc phổ biến nghề đan len, còn tại các khu vực Tứ Xuyên, Sơn Tây, Quảng Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Hà Nam thì nghề dệt sợi gai hết sức hưng thịnh. Đến thời Nam Tống, Quản Nam Tây lộ (bao gồm cả bán đảo Lôi Châu) trở thành trung tâm nghề dệt sợi bông. Khu vực Lưỡng Chiết và Xuyên Thục thì có nghề dệt tơ, triều đình thiết lập Chức cẩm viện tại khu vực tập trung nghề dệt tơ. Khoảng năm 1295, Hoàng Đạo Bà đem kỹ thuật xe sợi dệt vải của người Lễ tại đảo Hải Nam đến Ô Nê kính tại Tùng Giang phủ, đồng thời cải tiến công cụ và kỹ thuật xe sợi dệt vải, có công lao đặc biệt trên phương diện mở rộng nghề dệt bông sợi.
Quan diêu, dân diêu thời Tống phân bố khắp toàn quốc, đương thời có bảy loại gốm sứ nổi tiếng là 'Định diêu' tại Khúc Dương Hà Bắc, 'nhữ diêu' tại Nhữ Châu Hà Nam, 'Quân diêu' Vũ huyện, 'Quan diêu' Khai Phong, 'Ca diêu' và 'Đệ diêu' tại Long Tuyền Chiết Giang, 'Cảnh Đức diêu' tại Cảnh Đức Trấn Giang Tây, 'Kiến diêu' tại Kiến Dương Phúc Kiến, cùng nhiều lò gốm lớn nhỏ phân bố tại các địa phương. Đồ sứ thời Tống thông qua con đường tơ lụa trên biển mà được bán ra hải ngoại, như Nhật Bản, Cao Ly, Đông Nam Á, Nam Á, Trung-Tây Á.
Thời Bắc Tống, nguyên liệu chủ yếu để làm giấy gồm tơ, tre, mây, gai, mạch can. Tứ Xuyên, An Huy, Chiết Giang là các khu vực sản xuất giấy chủ yếu, 'bố đầu tiên', 'lãnh kim tiên', 'ma chỉ', 'trúc chỉ' của Tứ Xuyên; 'ngưng sương', 'trừng tâm chỉ', 'túc chỉ' của An Huy; 'đằng chỉ' của Chiết Giang đều nổi tiếng đương thời, thậm chí còn có các chế phẩm chăn giấy, y phục giấy, áo giáp giấy. Sản xuất giấy với số lượng lớn cung cấp cơ sở cho sự phồn vinh của nghề in ấn, nghề in ấn thời Tống phân thành ba hệ thống lớn, hệ thống quan khắc do Quốc tử giám khắc sách được gọi là 'giám bản', thư phường dân gian khắc sách gọi là 'phường bản'; gia đình sĩ thân tự khắc in thư tịch thuộc hệ thống tư khắc. Đông Kinh, Lâm An, Mi Sơn, Kiến Dương, Quảng Đô đều là các trung tâm nghề in ấn vào đương thời. Đương thời, trong số các phường khắc sách thì Chiết Giang được cho là là tốt nhất, gọi là 'Chiết bản', Tứ Xuyên đứng thứ hai, gọi là 'Thục bản'. Ngành khắc sách tại Phúc Kiến lấy chất lượng để giành danh tiếng, gọi là 'Kiến bản', đặc biệt trong đó Ma Sa trấn tại Kiến Dương, gọi là 'Ma Sa bản'. Xã hội thượng lưu lưu hành tập tục khắc sách, lấy thư phẩm do Quốc Tử giám tại Lâm An khắc ra có chất lượng tốt nhất. Ngành khắc sách thời Tống dùng giấy mực tinh tế, bản khắc thưa rõ, thể chữ uyển chuyển, kỹ thuật chế tác tinh mỹ, truyền thế rất ít, hết sức giá trị và nổi danh tại hậu thế.
=== Giao thông ===
Trung tâm chính trị-kinh tế của triều Tống chuyển dịch theo hướng đông và hướng nam, khu vực đông nam có hệ thống đường sông phát triển, mạng lưới đường thủy dày đặc, là một mạng lưới giao thông tự nhiên. Triều Tống còn chú trọng khai thông đường sông, xây cầu, tạo ra điều kiện giao thông thuận lợi. Thời kỳ Nam Tống, giao thông đường biển cũng rất hưng vượng.
Trình độ kỹ thuật đóng thuyền thời Tống ở trong trạng thái hết sức tiên tiến so với thế giới đường thời. Năm Nguyên Phong thứ 1 (1078) thời Tống Thần Tông, Minh châu chế tạo được hai chiếc 'thần chu' vạn liệu (khoảng 600 tấn). Năm 1974, tại Tuyền Châu thuộc Phúc Kiến khai quật được một chiếc thuyền cổ thời Tống, có 13 khoang cách thủy, trong hành trình trên biển nếu một vài khoang bị thấm nước thì thuyền cũng không gặp nhiều nguy hiểm. Xưởng đóng tàu chủ yếu thời Tống phân bố tại các khu vực như Giang Tây, Chiết Giang, Hồ Nam, Thiểm Tây. Kiền châu, Cát châu, Ôn châu, Minh châu đều là các cơ sở đóng thuyền trọng yếu. Những năm Chí Đạo (995-997) thời Tống Thái Tông, lượng thuyền toàn quốc đều vượt quá 3300 chiếc. Sang thời Nam Tống, do phương nam có nhiều tuyến đường thủy cộng thêm mậu dịch hàng hải ngày càng phát đạt, nghề đóng thuyền phát triển nhanh chóng. Lâm An phủ (nay là Hàng Châu), Kiến Khang phủ (Giang Ninh phủ, nay là Nam Kinh), Bình Giang phủ (Tô Châu), Dương châu, Hồ châu, Tuyền châu, Quảng châu, Đàm châu, Hành châu và các khu vực khác trở thành các trung tâm đóng thuyền mới. Thuyền Mộc Lan đi biển đóng tại Quảng châu có thể "vượt Nam Hải đến phương nam, thuyền như nhà lớn, buồm xuôi theo mây trên trời, bánh lái dài vài trượng, một thuyền có vài trăm người, trong chứa lương thực cho một năm". Những năm đầu Nam Tống còn xuất hiện các chiến thuyền kiểu mới như xa thuyền, phi hổ chiến thuyền..
=== Thương nghiệp ===
=== Mậu dịch hải ngoại ===
=== Chế độ phú thuế ===
== Nghệ thuật, Văn hoá và Kinh tế ==
Người sáng lập ra nhà Tống, Triệu Khuông Dẫn đã xây dựng nên một hệ thống quan lại trung ương tập quyền có hiệu quả với các quan chức có học thức xuất phát từ bình dân. Các lãnh chúa quân phiệt địa phương và hệ thống quan lại riêng của họ bị thay thế bằng cách quan chức do trung ương chỉ định. Hệ thống cai trị dân sự này dẫn tới sự tập trung quyền lực to lớn trong tay hoàng đế và triều đình trung ương mạnh hơn nhiều so với các triều đại trước đó.
Nhà Tống đã phát triển nhiều thành phố lớn không chỉ với mục đích hành chính mà còn đóng vai trò trung tâm thương mại, công nghiệp và hàng hải. Tầng lớp quan lại học giả - còn được gọi chung là quân tử - sống tại các địa phương cùng với các chủ tiệm, thợ thủ công và nhà buôn. Một nhóm bình dân giàu có - tầng lớp buôn bán - bắt đầu nổi lên khi kỹ thuật in phát triển dẫn tới mở rộng giáo dục, tăng trưởng kinh tế tư nhân, và nền kinh tế thị trường bắt đầu kết nối các tỉnh ven biển với vùng trung tâm. Việc sở hữu đất đai và tiến thân bằng con đường quan lại không còn là những phương tiện duy nhất để làm giàu và tăng uy thế. Sự phát triển của tiền giấy và một hệ thống thuế thống nhất đồng nghĩa với sự phát triển của một hệ thống thị trường toàn quốc thực sự.
Cùng với nó là sự khởi đầu của cái có thể coi là cuộc cách mạng công nghiệp Trung Quốc. Ví dụ, nhà sử học Robert Hartwell đã ước tính rằng sản lượng thép trên đầu người đã tăng gấp 6 lần trong giai đoạn từ năm 806 tới năm 1078, có nghĩa, tới năm 1078 Trung Quốc sản xuất 125.000 tấn thép một năm, và lượng tiêu thụ trên đầu người đạt khoảng 1,5 kg một năm (so với 0,5 kg ở châu Âu). Thép được dùng để sản xuất cày, búa, kim, ghim, chũm choẹ v.v với số lượng lớn, cho thị trường nội địa và để buôn bán với thế giới bên ngoài, khi ấy cũng đang phát triển mạnh mẽ. Đồng thời Trung Quốc cũng phát minh ra thuốc súng, phát triển súng thần công, súng phun lửa (như kiểu người Byzantine đã phát minh ra), kỹ thuật in ấn khiến tăng số người biết đọc, viết cũng như các vật tư phục vụ ngành in. Điều này đồng nghĩa với việc các bậc cha mẹ khuyến khích con cái đi học để biết đọc, biết viết để có cơ hội tham dự các kỳ khoa cử (科舉) nhằm trở thành một quan chức trong hệ thống quan lại dân sự triều đình. Nhờ những phát minh và cải tiến đó (cùng với cuộc cách mạng nông nghiệp đang diễn ra) Trung Quốc đã phát triển một vài thành phố lớn nhất thế giới thời kỳ ấy. Ví dụ Hàng Châu từng có khoảng 500.000 người: lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ thành phố châu Âu nào - ở Tây Âu tới năm 1200, chỉ Paris và Venice có dân số trên 100.000 người, dù cho Constantinopolis đã có tới 300.000 dân.
Về mặt văn hoá, nhà Tống có mức phát triển cao hơn nhiều so với những thế kỷ trước đó, không chỉ gồm những phát triển đã có từ thời nhà Đường như quan niệm về người thông thạo bách nghệ, gồm cả tính chất học giả, nhà thơ, hoạ sĩ và quan lại, mà còn cả về việc ghi chép sử, hoạ, thư pháp, và cả sứ tráng men. Các học giả nhà Tống tìm cách giải nghĩa mọi vấn đề triết học và chính trị trong những tác phẩm Khổng giáo cổ điển. Việc này khiến sự quan tâm tới các tư tưởng Khổng giáo và xã hội thời cổ lại tăng lên, trùng khớp với giai đoạn giảm sút ảnh hưởng Phật giáo, mà giới lãnh đạo Trung Quốc coi là ngoại lai và không mang lại nhiều tư tưởng hành động thực tế chính trị cũng như cách giải quyết các vấn đề trần thế.
Các nhà lý học thời Tống đã phát hiện ra một số sự thuần khiết bên trong các văn bản kinh điển cổ, viết bình luận về chúng. Người nổi tiếng nhất trong số họ là Chu Hy (1130-1200), sự tổng hợp tư tưởng Khổng giáo với Phật giáo và Đạo giáo của ông cùng với các tư tưởng khác đã trở thành hệ tư tưởng chính thức của triều đình từ cuối thời nhà Tống tới cuối thế kỷ 19. Vì được kết hợp với khoa cử, triết lý Chu Hy liên quan tới tín điều chính thức cứng nhắc, bắt buộc sự tuân phục mù quáng từ một phía của dân chúng đối với nhà cai trị, con với cha, vợ với chồng, em với anh. Hậu quả làm kìm hãm sự phát triển xã hội của nước Trung Hoa tiền hiện đại, dẫn tới sự phát triển chậm chạp của nhiều thế hệ chính trị xá hội và sự ổn định tư tưởng dẫn tới sự trì trệ văn hoá cho tới tận thế kỷ 19. Học thuyết lý học Khổng giáo mới cũng đóng vai trò quyết định trong đời sống trí thức tại Triều Tiên, Việt Nam, và Nhật Bản.
== Cương vực ==
Năm 960, Triệu Khuông Dận phát động binh biến thay thế Hậu Chu, kiến lập triều Tống, vẫn kiến đô tại Khai Phong như cũ. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (979), Bắc Tống đánh diệt Bắc Hán, kết thúc cục diện phiên trấn cát cứ từ sau loạn An Sử và loạn Hoàng Sào. Tuy nhiên, cương giới triều Tống và triều Liêu là tuyến qua Hà Khúc, Khả Lam, Nguyên Bình, Đại, Phồn Trì thuộc Sơn Tây và Phụ Bình, Mãn Thành, Dung Thành, Bá Châu thuộc Hà Bắc, và Thiên Tân. Trong chiến tranh giữa Tống và Liêu, quân Liêu từng nhiều lần nam hạ, xa nhất tiến đến Thiền châu (trị sở nay thuộc Bộc Dương, Hà Nam); quân Tống từng tiến qua phía bắc tuyến này. Do không có vùng sơn địa phía bắc Hà Bắc làm bức tường chắn, triều đình Tống chỉ có thể trồng nhiều liễu trên biên giới để làm giới tuyến. Ở phía tây, Định Nan tiết độ sứ người Đảng Hạng Lý Kế Phủng từng một thời gian đầu hàng triều Tống, đồng thời dâng đất Ngân châu, Hạ châu, Tuy châu, Hựu châu. Tuy nhiên, Lý Kế Thiên ba năm sau lại chiếm cứ Ngân châu, sau đó không ngừng tiến công các châu như Hạ, Linh, Lân, chưa từng thực sự phục tùng sự thống trị của Tống. Năm Cảnh Hựu thứ 1 (1034), cháu của Lý Kế Thiên là Lý Nguyên Hạo chính thức kiến lập Đại Hạ, sử gọi là Tây Hạ. Sau đó, biên giới phía tây bắc của Tống đại thể ổn định tại tuyến qua Lan Châu, Tĩnh Viễn thuộc Cam Túc, Đồng Tâm thuộc Ninh Hạ và Bạch Can sơn tại bắc bộ Thiểm Tây. Tống Thần Tông hết sức nỗ lực khoách trương lãnh thổ, chiếm được các châu Tuy, Hy, Hà, Thao, Mân, Lan. Năm Tuyên Hòa thứ 3 (1121), Tây An châu, Hoài Đức quân bị Tây Hạ chiếm. Tại phía tây, nhằm đoạt lấy lãnh thổ Thổ Phồn chiếm lĩnh từ hậu kỳ triều Đường, năm Hi Ninh thứ 4 (1071), triều đình Tống nhiệm mệnh Vương Thiều làm Thao Hà an phủ sứ (mới thiết lập), bắt đầu dụng binh với khu vực Hà Hoàng. Cuối cùng, quân Tống thu phục lưu vực Hoàng Thủy, lưu vực sông Đại Hạ, lưu vực Thao Hà nay thuộc Thanh Hải. Ở phía tây nam, tại khu vực dân tộc thiểu số thoát ly sự thống trị của triều Đường, triều Tống có tiến triển trong việc thiết lập quyền khống chế. Trải qua nhiều lần chinh phạt quân sự và "chiêu phủ", khu vực nay là nam bộ Tứ Xuyên, tây nam bộ Hồ Bắc, tây bộ Hồ Nam, đông bắc bộ Quý Châu và tây bộ Quảng Tây nhập vào bản đồ triều Tống, đặt châu chính thức hoặc châu ki mi. Trong đó, lần nổi danh nhất là vào năm Hi Ninh thứ 5 (1072), triều đình Tống phái Chương Đôn khai "Mai Sơn man". Mai Sơn tức là khu vực nay là Tân Hóa, An Hoa thuộc trung bộ Hồ Nam, sau đó đặt huyện xây thành, lập hộ tịch, định phú thuế, đặt thành khu hành chính chính thức tương tự như khu vực của người Hán. Năm Tuyên Hòa thứ 4 (1122), trong thời kỳ cương vực cực thịnh, Bắc Tống tổng cộng có 26 lộ, 254 châu, 30 phủ, 55 quân, 4 giám.
Năm 1127, Triệu Cấu tại Nam Kinh tức vị, tức là Tống Cao Tông, sử gọi là Nam Tống. Do quân Kim tiến sát, Tống Cao Tông không ngừng dời về phía nam, đến năm 1129 thăng Hàng châu thành Lâm An phủ, lập nơi này là hành tại (thủ đô lâm thời). Đầu thời Nam Tống, quân Kim từng tiến đến khu vực nay là Hồ Nam, Giang Tây và Chiết Giang. Sau Thiệu Hưng hòa nghị, Tống và Kim xác định tạm thời lấy Hoàng Hà làm biên giới. Tuy nhiên, năm sau triều Kim hủy ước, xuất binh chiếm Hà Nam, Thiểm Tây. Năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), Tống và Kim xác định Hoài Hà là biên giới. Năm thứ hai lại điều chỉnh giới tuyến phía tây đến Đại tán quan (nay tại tây nam Bảo Kê, Thiểm Tây]] và nam Tần Lĩnh ngày nay. Sau đó, tuy có biến động cục bộ, song đường biên giới này vẫn cơ bản ổn định. Biên giới phía nam và tây nam của Nam Tống không có biến hóa nhiều, giao giới giữa Nam Tống và Đại Lý được thiết lập tại các châu như Lê, Tự, Lô, Kiềm, Ung. Theo ghi chép trong "Chư Phiên chí" của Triệu Quát năm 1226, quần đảo Bành Hồ đã lệ thuộc Tấn Giang huyện của Phúc Kiến lộ..
Cơ cấu chính phủ địa phương của triều Tống thi hành chế độ hai cấp châu (phủ, quân, giám) và huyện. Rút bài học từ phiên trấn cát cứ thời Đường, cấp hành chính thứ nhất của triều Tống đổi thành "lộ". Đầu thời lập quốc, Tống theo chế độ thời Đường, phân toàn quốc thành 10 đạo, đến năm Khai Bảo thứ 8 (975) thì đổi thành lộ. Đến năm Chí Đạo thứ 3 (997) bắt đầu định thành 15 lộ, bao gồm: Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, Hoài Nam, Giang Nam, Kinh Hồ Nam, Kinh Hồ Bắc, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, Tây Xuyên, Hiệp, Quảng Nam Đông, Quảng Nam Tây Năm Hàm Bình thứ 4 (1001), phân Tây Xuyên thành hai lộ là Lợi Châu và Ích Châu, phân Hiệp lộ thành hai lộ là Quỳ Châu, Tử Châu. Năm Thiên Hi thứ 4 (1020), phân Giang Nam lộ thành hai lộ Đông, Tây. Năm Hi Ninh thứ 5 (1072), phân Kinh Tây lộ thành hai lộ Nam, Bắc; phân Thiểm Tây thành hai lộ là Vĩnh Hưng quân, Tần Phụng. Sau đó, triều đình còn đem Hà Bắc lộ phân thành hai lộ Đông, Tây; phân Kinh Đông thành hai lộ Đông, Tây. Năm Sùng Ninh thứ 5 (1106), lại thăng Khai Phong phủ thành Kinh Kỳ lộ. Năm Tuyên Hòa thứ 4 (1122), Tống và Kim đạt minh ước, định sau khi diệt Liêu thì Tống sẽ có Yên Sơn Phủ lộ và Vân Trung Phủ lộ, song sau đó không đặt được. Sau Kiến Viêm nam độ, triều Tống thiết lập 16 lộ: Lưỡng Chiết Đông, Lưỡng Chiết Tây, Giang Nam Đông, Giang Nam Tây, Hoài Nam Đông, Hoài Nam Tây, Kinh hồ Nam, Kinh Hồ Bắc, Kinh Tây Nam, Thành Đô Phủ, Đồng Xuyên Phủ, Quý Châu, Lợi Châu, Phúc Kiến, Quảng Nam Đông, Quảng Nam Tây. Thiết lập phân chia hành chính và chế độ chính trị địa phương của triều Tống có thể nói là trọng nội khinh ngoại, trung ương tập quyền cao độ. Tuy tránh được cục diện phiên trấn cát cứ, song khiến khả năng phòng bị của địa phương yếu kém, cuối cùng khiến thời Tống ngoại hoạn không ngừng.
Đầu thời Bắc Tống, các lộ đều đặt chức "chuyển vận sứ" và "đề điểm hình ngục", một số lộ thường đặt "an phủ sứ". "An Phủ sứ ty" tục gọi là "soái ty", do quan đứng đầu châu/phủ trọng yếu nhất kiêm nhiệm, chủ quản quan chính một lộ, cũng kiêm quản tư pháp, tài chính và dân chính. "Chuyển vận sứ" tục gọi là "tào ti", chủ quản vận chuyển đường thủy và đường bộ, cùng thu thuế tài chính của châu huyện, kiêm quản tư pháp và dân chính. "Đề điểm hình ngục" tục gọi là "hiến ti", chủ quản tư pháp một lộ, kiêm quản tài chính. Thời Tống Thần Tông, từng thiết lập "Đề cử thường bình ti", tục gọi là "thường ti", chủ quản thường bình, nghĩa thương, miễn dịch, thị địch, phường tràng, hà độ, thủy lợi của lộ, thời Nam Tống hợp nhất với "Đề cử trà diêm ty". Ngoài ra, còn lập các ty đề cử khanh dã, trà mã, thị bạc; các ty tào, thương, hiến, gọi chung là giám ti. Giám ty hiệu xưng "ngoại thai", có chức năng giám sát, quyền lực khá cao.
== Nhân khẩu ==
Theo ghi chép trong "Thái bình hoàn vũ ký", năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980), toàn Đại Tống có 6.499.145 hộ với khoảng 32,5 triệu người. Theo ghi chép trong "Nguyên Phong cửu vực chí", vào những năm Nguyên Phong (1078-1085), toàn quốc có 16 triệu hộ. Căn cứ theo "Tống sử-Địa lý chí", năm Sùng Ninh thứ 1 (1102) thời Tống Huy Tông, toàn quốc có 17,3 triệu hộ. Năm Đại Quan thứ 5 (1110) thời Tống Huy Tông, Tống có 20.882.258 hộ, nhân khẩu khoảng 112,75 triệu. Ước tính vào năm Tuyên Hòa thứ 2 (1120), có 22 triệu hộ, nhân khẩu khoảng 118,8 triệu. Sau "họa Tĩnh Khang", lại xuất hiện hiện tượng cư dân Trung Nguyên dời về phương nam với số lượng lớn, có hai làn sóng: làn sóng thứ nhất là từ "Tĩnh Khang chi biến" (1125-1127) đến "Thiệu Hưng hòa nghị" (1141), làn sóng thứ hai là trong thời gian hoàng đế Kim Hoàn Nhan Lượng xâm chiếm phương nam. Nhân khẩu phương nam do vậy tăng thêm rất nhiều, theo ước tính, vào năm Gia Định thứ 11 (1218) tức thời điểm đỉnh cao của Nam Tống, toàn quốc có 13,6 triệu hộ. Năm Thiệu Hưng thứ 32 (1162) so với năm Sùng Ninh thứ 1, Lưỡng Chiết lộ tăng thêm thêm 26 vạn hộ, Giang Nam Tây lộ tăng thêm 42 vạn hộ, Phúc Kiến lộ tăng thêm 33 vạn hộ, Đồng Xuyên Phủ lộ tăng thêm 24 vạn hộ, Quỳ Châu Phủ lộ tăng thêm 14 vạn hộ. Thời Tống, nhân khẩu thành thị tăng mạnh, có 50 thành thị có trên 10 vạn hộ, trong đó nhân khẩu Lâm An vượt 1,2 triệu (1274), nhân khẩu Biện Lương trên 1,8 triệu (1125), đương thời là một trong số các thành thị đông nhất trên thế giới.
Trong những năm Nguyên Phong - Tuyên Hòa thời Tống Huy Tông, trong số các lộ ở phương bắc thì Kinh Kỳ lộ có nhân khẩu tập trung nhất, năm Nguyên Phong thứ 6 (1083) có 23 vạn hộ, năm Sùng Ninh thứ nhất có 26 vạn hộ. Vĩnh Hưng Quân lộ có 100 vạn hộ, Kinh Triệu phủ với trung tâm là Trường An có 23 vạn hộ, nguyên nhân do đây là tiền tuyến trong chiến tranh giữa Tống và Tây Hạ. Nhân khẩu phương nam tập trung chủ yếu tại các lộ: Lưỡng Chiết, Giang Nam Đông-Tây, Phúc Kiến, Xuyên Thiểm. Hộ khẩu của năm lộ này đạt 5,71 triệu hộ, tức một nửa số hộ của phương nam. Trong đó, Lưỡng Chiết lộ là đông nhất với 1,97 triệu hộ, tiếp đến là Giang Nam Tây lộ với 1,66 triệu hộ, Giang Nam Đông lộ với 1,01 triệu hộ, Phúc Kiến lộ với 1,06 triệu hộ, hai lộ Hoài Nam Đông-Tây có tổng cộng khoảng 1,3 triệu hộ, bốn lộ Xuyên-Hiệp có tổng cộng 2 triệu hộ (năm 1231 có 5 triệu hộ), hai lộ Kinh Hồ Nam-Bắc có tổng cộng 1,4-1,5 triệu hộ, hai lộ Quảng Nam Đông-Tây có tổng cộng hơn 80 vạn hộ, Kinh Tây Nam có tổng cộng 40 vạn hộ.。
Mặc dù người Hán đến định cư trên đảo Hải Nam từ Trước Công nguyên, song phải đến thời Tống thì mới có các nỗ lực nhằm đồng hóa người Lê sống trên vùng núi- những người này khi đó đang chiến đấu chống lại và đẩy lui người Hán nhập cư.
== Quân chủ nhà Tống ==
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Song Dynasty at China Heritage Quarterly
Song Dynasty at bcps.org
Song and Liao artwork
Paintings of Song, Liao and Jin dynasties
Song Dynasty art with video commentary |
giải thưởng fifa fair play.txt | Giải thưởng FIFA Fair Play là giải thưởng FIFA công nhận hành vi gương mẫu mà khuyến khích tinh thần fair play và nhân văn trong bóng đá trên khắp thế giới. Lần đầu giải được trao năm 1987, nó được trao cho cá nhân (bao gồm cả đã mất), các đội tuyển, cổ động viên, khán giải, liên đoàn/hiệp hội bóng đá và thậm chí toàn bộ cộng đồng bóng đá. Một hoặc nhiều giải thưởng được trao hàng năm, với việc có ít nhất một người nhận giải mỗi năm trừ năm 1994, khi không có giải thưởng được trao.
== Giành giải ==
Nguồn
=== Ghi chú ===
b – Cầu thủ của Werder Bremen tự nhận dùng tay chơi bóng bằng tay trong vòng cấm trước trọng tài trong trận đấu tại Giải Đức gặp 1. FC Köln ngày 7 tháng 5 năm 1988. Cologne trận đó giành chiến thắng 2–0. The following year, he moved to Cologne.
l – Caroline Hanlon nhận thay các cổ động viên.
Năm 2009 Liên đoàn bóng đá Ireland từ chối nhận giải Fair Play sau vụ tranh cãi dùng tay chơi bóng trong trận đấu Play-off World Cup 2010 giữa Pháp và Cộng hòa Ireland.
== Tham khảo ==
Thông tin về giải thưởng trên FIFA.com |
tiếng tây ban nha.txt | Bài này nói về ngôn ngữ được toàn thế giới gọi là tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Castilla. Để biết về các ngôn ngữ khác được nói ở nước Tây Ban Nha, xem các ngôn ngữ tại Tây Ban Nha.
Tiếng Tây Ban Nha ( /ˈspænᵻʃ/, español), cũng được gọi là tiếng Castile ( /kæˈstɪliən/, ) hay tiếng Y Pha Nho theo kiểu cũ, là một ngôn ngữ thuộc nhóm Iberia-Rôman của nhóm ngôn ngữ Rôman, và là tiếng phổ biến thứ 4 trên thế giới theo một số nguồn, trong khi có nguồn khác liệt kê nó là ngôn ngữ phổ biến thứ 2 hay thứ 3. Nó là tiếng mẹ đẻ của khoảng 352 triệu người, và được dùng bởi 417 triệu người khi tính thêm các người dùng nó như tiếng phụ (theo ước lượng năm 1999). Có người khẳng định rằng có thể nghĩ đến tiếng Tây Ban Nha là tiếng quan trọng thứ 2 trên thế giới, sau tiếng Anh, có thể quan trọng hơn cả tiếng Pháp, do càng ngày nó càng được sử dụng nhiều hơn ở Hoa Kỳ, do tỷ suất sinh cao ở những nước dùng tiếng Tây Ban Nha như ngôn ngữ chính thức, do sự mở mang của các kinh tế trong giới nói tiếng Tây Ban Nha, do sự ảnh hưởng của tiếng Tây Ban Nha trong thị trường âm nhạc toàn cầu, do tầm quan trọng của văn học Tây Ban Nha và do nó được sử dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Tiếng Tây Ban Nha được sử dụng phần lớn ở Tây Ban Nha, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Guinea Xích Đạo.
== Nhóm ngôn ngữ và các ngôn ngữ liên hệ ==
Tiếng Tây Ban Nha có quan hệ rất gần gũi với các ngôn ngữ ở Đông Iberia như: tiếng Asturian (asturianu), tiếng Ladino (Djudeo-espanyol, sefardí), tiếng Catalan (català) và tiếng Bồ Đào Nha (português). Tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có ngữ pháp và từ vựng rất giống nhau; số lượng từ vựng tương tự nhau của hai ngôn ngữ này lên đến 89%.
=== So sánh từ vựng ===
== Hệ chữ viết ==
Tiếng Tây Ban Nha được viết sử dụng ký tự Latin, với một chữ cái được thêm vào là "ñ" (eñe), được đọc là /ɲ/ ("nh" trong tiếng Việt) và được xem là xuất phát từ chữ "n", cho dù là được viết là một chữ "n" với một dấu ngã (~) bên trên. Những chữ ghép "ch" (che) và "ll" (elle) được xem như là những chữ cái đơn, có tên riêng và là một chữ cái trên bảng chữ cái, vì mỗi chữ đại diện cho một âm tiết khác nhau (/tʃ/ and /ʎ/) tương ứng. Tuy nhiên, chữ ghép "rr" (erre doble, chữ "r" đúp, hoặc chỉ là "erre" thay vì "ere"), cũng đại diện cho một âm đơn /r/, không được xem là một chữ đơn. Vì thế bảng chữ cái tiếng Tây Ban Nha có 28 chữ (sẽ là 29 nếu tính chữ "w", nhưng nó chỉ được sử dụng trong tên tiếng nước ngoài và từ mượn): a, b, c, ch, d, e, f, g, h, i, j, k, l, ll, m, n, ñ, o, p, q, r, s, t, u, v, (w), x, y, z.
Từ năm 1994, hai chữ ghép trên bị tách ra thành hai chữ cái riêng biệt để sắp xếp. Những từ có chữ "ch" bây giờ được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái giữa "ce" và "ci", thay vì ở giữa "cz" như trước đây, và chữ "ll" cũng thế. Tuy nhiên, những chữ "che" (ch), và "elle" (ll) vẫn còn được sử dụng như thông tục.
Trừ những từ địa phương như ở México, việc phát âm có thể được định rõ khi đánh vần. Một từ tiếng Tây Ban Nha tiêu biểu được nhấn giọng ở âm áp chót nếu như nó tận cùng bằng một nguyên âm (không phải "y") hoặc nếu như tận cùng bằng phụ âm "n" và "s"; trong các trường hợp khác thì nhấn giọng ở âm cuối cùng. Những trường hợp ngoại lệ được biểu thị bằng một dấu sắc trên nguyên âm. Khi đó thì nguyên âm có dấu sắc sẽ được nhấn giọng.
Dấu sắc còn được sử dụng để phân biệt những từ đồng âm, nhất là khi một trong số chúng là những từ có nhấn giọng và cái còn lại thì không. So sánh "el" (mạo từ xác định giống đực số ít) với "él" (đại từ "anh ấy" hoặc "nó"); hoặc "te" ("bạn", bổ ngữ đại từ), de (giới từ "của" hoặc "từ") và "se" (đại từ phản thân) với "té" ("trà"), dé ("cho") và sé ("Tôi biết", hoặc mệnh lệnh cách của động từ "ser"), ta thấy được sự khác nhau.
Những đại từ nghi vấn (qué, cuál, dónde, quién, v.v.) cũng có dấu sắc ở những câu hỏi gián tiếp hay trực tiếp, và một số đại từ chỉ định (ése, éste, aquél, v.v.) có thể có dấu khi được sử dụng như những đại từ. Liên từ "o" ("hoặc") được thêm vào một dấu huyền khi được viết ở giữa các số với nhau để không bị lẫn với số 0 (zero): Ví dụ, "10 ò 20" phải được đọc là diez o veinte ("mười hay hai mươi") thay vì diez mil veinte ("10 020 - mười ngàn không trăm hai mươi"). Những dấu này thường được bỏ đi khi viết hoa (thói quen trước đây khi khi sử dụng máy tính vì chỉ có những chữ viết thường mới có dấu được), cho dù Học viện Hoàng gia Tây Ban Nha phản đối.
Trong trường hợp hiếm, "u" được viết với một dấu tách âm ("ü") khi nó được viết giữa chữ "g" và một nguyên âm lưỡi trước ("e" hoặc "i"), để báo hiệu là nó phải được đọc thay vì câm như thường lệ. Ví dụ, cigüeña (con cò), được đọc là /θ̟iˈɰweɲa/; nếu như nó được viết là cigueña, nó sẽ được đọc là /θ̟iˈɰeɲa/.
Những mệnh đề nghi vấn và cảm thán được bắt đầu bằng dấu chấm hỏi ngược (¿) và dấu chấm than ngược (¡).
== Phân phối địa lý của tiếng Tây Ban Nha ==
Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ cơ bản của 20 quốc gia trên thế giới. Người ta ước tính tổng số người nói tiếng Tây Ban Nha là khoảng 470 đến 500 triệu, làm nó trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi thứ hai trên thế giới theo số lượng người bản ngữ.
Tiếng Tây ban Nha là tiếng được sử dụng nhiều thứ ba trên thế giới (sau tiếng Trung Quốc và tiếng Anh). Thống kê ngôn ngữ sử dụng trên Internet năm 2007 tiếng Tây Ban Nha cũng là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ ba trên Internet, sau tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.
=== Số người nói tiếng Tây Ban Nha theo quốc gia ===
Bản sau hiển thị số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha ở 79 quốc gia.
== Ngữ pháp ==
Tiếng Tây Ban Nha là một ngôn ngữ có nhiều biến tố, có hai giống cho danh từ (giống đực và giống cái) và khoảng 50 hình thái chia động từ cho một động từ, nhưng ít biến tố hơn cho danh từ, tính từ và từ hạn định.
Tiếng Tây Ban Nha có sử dụng giới từ, và thông thường (nhưng không phải luôn luôn) thì tính từ đứng sau danh từ. Cấu trúc câu là SVO (Subject Verb Object), tức là Chủ ngữ - Động từ - Bổ ngữ, cho dù những sự biến đổi thì cũng khá phổ biến. Có thể lược bỏ chủ ngữ đi khi ngữ cảnh trong câu đã rõ ràng. Động từ diễn tả hướng đi mà không cần phải có giới từ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính của RAE (tiếng Tây Ban Nha)
Bản tóm tắt về tiếng Tây Ban Nha của Ethnologue (Anh)
DRAE, Từ điển RAE (Tây Ban Nha ↔ Tây Ban Nha)
Diccionarios.com (nhiều thứ tiếng) |
samsung galaxy tab s 8.4.txt | Samsung Galaxy Tab S 8.4 là máy tính bảng 8.4-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics. Nó thuộc dòng "S" siêu cao cấp mới vượt qua giữa dòng Samsung Galaxy Tab và Samsung Galaxy S, nó còn bao gồm bản 10.5-inch, the Samsung Galaxy Tab S 10.5. Nó được công bố vào 12 tháng 6 năm 2014, và sẽ được phát hành vào tháng 7 năm 2014. Đây là máy tính bảng 8.4 inch thứ hai của Samsung với mục đích cạnh tranh trực tiếp với LG G Pad 8.3 và iPad Mini thế hệ 2.
== Lịch sử ==
Galaxy Tab S 8.4 được công bố vào 12 tháng 6 năm 2014. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab S 10.5 tại Samsung Galaxy Premier 2014 ở New York.
== Tính năng ==
Galaxy Tab S 8.4 được phát hành cùng với Android 4.4.2 Kitkat. Samsung tùy biến giao diện với TouchWiz UX. Cũng như bộ ứng dụng chuẩn của Google, nó có ứng dụng Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, S Translator, S Planner, WatchON, Smart Stay, Multi-Window, Group Play, All Share Play, Samsung Magazine, gói chuyên nghiệp, chế độ đa người dùng, SideSync 3.0, và quản lý Gear/Fit.
Galaxy Tab S 8.4 có bản WiFi và biến thể 4G/LTE & WiFi. Bộ nhớ trong từ 16 GB đến 32 GB tùy theo sản phẩm, với khe thẻ nhớ mở rộng microSDXC lên đến 64 GB. Nó có màn hình Full HD Super AMOLED 8.4-inch với độ phân giải 2.560x1.600 pixel và mật độ điểm ảnh là 359 ppi. Nó có máy ảnh trước 2.1 MP không flash và máy ảnh sau 8.0 MP AF với LED flash. Nó có thể quay HD video.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Tab series
Samsung Galaxy S series
Samsung Electronics
Samsung Galaxy Tab S 10.5
Samsung Galaxy Tab Pro 8.4
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
bán đảo nicoya.txt | Bán đảo Nicoya (Tiếng Tây Ban Nha: Península de Nicoya) là một bán đảo bên bờ Thái Bình Dương thuộc nước Costa Rica. về mặt hành chánh, miền bắc bán đảo thuộc tỉnh Guanacaste; góc đông nam là tỉnh Puntarenas. Với vị trí 10° Bắc và 85,4166667° Tây, bán đảo Nicoya có bề rộng từ 19-37 dặm (60 km) và dài khoảng 75 dặm (121 km). Đây là bán đảo lớn nhất Costa Rica.
Nicoya có nhiều bãi biển cát mịn, khí hậu điều hòa nên đã thu hút nhiều du khách đến nghỉ mát.
Thị trấn chính trên bán đảo này là Nicoya (thuộc tỉnh Guanacaste). Khu vực này cũng là vùng đất có những di chỉ khảo cổ lâu đời nhất được khai quật ở Costa Rica.
Các thị trấn khác là Tamarindo, Santa Cruz, Nosara, Sámara, Naranjo, Paquera, Curu, Tambor, Montezuma, Santa Teresa, Mal Pais.
Nicoya cũng được biết đến qua cuốn sách của Dan Buettner, ghi nhận một số không nhỏ dân cư đạt tuổi thọ cao.
== Thiên nhiên ==
Bán đảo Nicoya có tiếng là "vùng đất xanh" vì có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia như: Khu bảo tồn thiên nhiên Cabo Blanco, Khu bảo tồn cuộc sống hoang dã Camaronal, Cueva Murciélago, Curú, La Ceiba, Romelia và Vườn quốc gia Diria...
== Tham khảo == |
sông kim ngưu.txt | Sông Kim Ngưu là một dòng sông tại Hà Nội.
Kim Ngưu (chữ Hán Việt 金牛) có nghĩa là trâu vàng. Theo truyện cổ dân gian, trâu vàng ở bên Tàu khi nghe thấy tiếng chuông đồng đen của thiền sư Nguyễn Minh Không ở nước Nam thì tưởng là tiếng trâu mẹ gọi liền chạy sang. Đường nó chạy lún xuống thành sông Kim Ngưu. Đến phía Tây thành Thăng Long thì tiếng chuông dứt, Trâu Vàng liền xới đất tung lên để tìm mẹ làm đất chỗ đó thụt xuống, thành hồ Kim Ngưu, tức Hồ Tây.
Sông Kim Ngưu cổ, theo Trần Quốc Vượng, là một phân lưu của sông Tô Lịch. Nó lấy nước từ Tô Lịch ở ô Cầu Giấy, chảy theo hướng Tây-Đông tới Đội Cấn và lại lấy nước từ Tô Lịch khi tới ô Thụy Chương (Thụy Khê), chảy theo hướng Bắc-Nam (đoạn này còn gọi là sông Ngọc Hà), chảy qua Ngọc Khánh, Giảng Võ, Hào Nam, ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Kim Liên, ô Cầu Dền, ô Đông Mác, Yên Sở, rồi hợp lưu trở lại ở Văn Điển. Đến lượt mình, Kim Ngưu lại có các phân lưu là sông Trung Liệt (tách ra tại Hào Nam), sông Sét và sông Lừ (đều tách khỏi Kim Ngưu tại khu vực Kim Liên, Phương Liệt), v.v... Dân gian có câu:
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
để chỉ Tô Lịch ở phía Tây kinh thành, còn Kim Ngưu ở phía Nam.
Sông Kim Ngưu xưa là một tuyến giao thông đường thủy, nay chỉ có chức năng là một sông thoát nước cho nội thành Hà Nội.
Đoạn từ chỗ phân lưu với Tô Lịch đến Đông Mác đã bị lấp hoặc bị lấn bờ nhiều làm bề rộng của sông thu hẹp lại đáng kể, và được cống hóa (kè bờ và làm nắp bê tông) gần hết vào những thập niên 1980, 1990. Đoạn từ Ô Đông Mác tới Yên Sở còn rộng, được kè bờ, làm hàng rào từ cuối thập niên 1990, để chống lấn chiếm, và trồng nhiều liễu hai bên bờ. Hai bên bờ sông ở đoạn này còn được làm đường giao thông, đó là các đường Đông Kim Ngưu, Tây Kim Ngưu, Tam Trinh... Ngoài kè bờ, người ta còn tích cực nạo vét đoạn sông ở đây để tăng cường khả năng thoát nước và nắn dòng chảy của sông tại Yên Sở để cho hai phần ba lượng nước của sông Kim Ngưu đổ vào hồ điều hòa Yên Sở. Một phần ba lượng nước còn lại theo đoạn từ gần công viên Yên Sở tới Văn Điển mà đổ vào Tô Lịch (ở bên cạnh thôn Văn thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì). Đoạn cuối cùng này không được cải tạo, lượng nước lại còn ít, và bị lấn chiếm và đổ phế thải xuống lòng sông, nên đang mất dần.
== Tham khảo ==
Trần Quốc Vượng, Tô Lịch, như tôi hiểu.
Trần Quốc Vượng, Những vết tích của Hoàng thành Thăng Long trên mặt và dưới lòng đất
Sông Kim Ngưu "đứng bên bờ" san lấp
Tạp chí Văn hóa dân gian
Cần làm “sống lại” giá trị sông Kim Ngưu
== Xem thêm ==
Sông Tô Lịch
Sông Sét
Sông Lừ |
karachi.txt | Karachi (Urdu: كراچى, Sindhi: ڪراچي) là thủ phủ của tỉnh Sindh và là thành phố đông dân nhất của Pakistan, thỉnh thoảng còn được biết đến là City of Quaid (شہرِ قائد), theo tên của Muhammad Ali Jinnah - người thành lập quốc gia Pakistan. Thành phố có dân số ước tính 23,5 triệu người tính (2013), và có diện tích khoảng 3.527 km2 (1.362 sq mi), với mật độ dân số hơn 6.000 người/km2 (15.500 người/dặm vuông). Karachi là thành phố lớn thứ 3 trên thế giới theo dân số, vùng đô thị lớn thứ 7 trên thế giới và thành phố lớn nhất trong thế giới Hồi giáo. Thành phố tọa lạc bên bờ của Biển A Rập ở đông nam Pakistan, tây bắc của Đồng bằng châu thổ sông Indus. Karachi là trung tâm tài chính, thương mại và cảng lớn nhất của Pakistan. Khu vực thành phố hiện nay trước kia là một làng chài và được phát triển thành thành phố cảng bởi chính quyền Raj của Anh vào thế kỷ 19. Sau khi Pakistan được thành lập năm 1947, thành phố đã được chọn làm thủ đô và đã có một làn sóng người Ấn Độ di cư vào làm tăng dân số thành phố và làm thay đổi cơ cấu dân cư và nền kinh tế. Thành phố đã phải đối mặt với các thách thức về kinh tế và hạ tầng nhưng đã phát triển công nghiệp và kinh doanh và quy mô dân số tăng lên không ngừng ngay cả khi thủ đô đã được dời về Islamabad năm 1960. Karachi là một thành phố đa dạng về chủng tộc và tôn giáo của Pakistan. Trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, Karachi chứng kiến một làn sóng dân tị nạn từ Afghanistan bị Liên Xô chiếm đóng. Điều này đã dẫn đến sự bạo động giữa cộng đồng dân Punjabi và Sindhi và dân Mohajirs (đến từ Ấn Độ). Tình trạng thiết quân luật và sự can thiệp của quân đội Pakistan đã khiến thành phố là nỗi ám ảnh của thành phố tuy nhiên với sự bùng nổ kinh tế đầu thế kỷ 21 của đất nước đã khiến cho thành phố phát triển và thịnh vượng.
== Địa lý ==
Karachi nằm ở miền nam Pakistan, trên bờ biển Ả Rập. Nó có tọa độ địa lý 24°51′ B 67°02′ Đ. Hầu hết đất của thành phố là đồng bằng, với các ngọn đồi ở phía tây và đảo Manora và các vùng núi đá Oyster. Rừng ngập mặn và các lạch của đồng bằng châu thổ sông Ấn có thể được tìm thấy về phía đông nam của thành phố. Về phía tây và bắc là Cape Monze, đây là một khu vực đánh dấu bởi các vách đá cát kết. Một số bãi biển đẹp có thể có trong khu vực này. Khasa Hills nằm ở tây bắc và hình thành một ranh giới giữa North Nazimabad Town và Orangi Town. Manghopir Hills ở tây bắc Karachi, giữa sông Hub và Manghopir.
Các sông ở Karachi là sông Malir và sông Lyari. Đồng bằng sông Ấn nằm gần Karachi.
=== Khí hậu ===
== Kinh tế ==
Karachi đóng góp 64% thu nhập quốc dân của Pakistan. Thành phố này là thủ đô kinh tế, tài chính, thương mại của Pakistan. Thành phố có sở giao dịch chứng khoán. Cảng của Karachi là một trong hai cảng chính của đất nước. Sân bay Quốc tế Jinnah là sân bay lớn nhất Pakistan.
== Dân số ==
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Tham khảo ==
24°51′B 67°01′Đ |
antille thuộc hà lan.txt | Antille thuộc Hà Lan (tiếng Hà Lan: ; tiếng Papiamento: Antia Hulandes) từng là một quốc gia tự trị ở vùng Caribe hình thành một quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan, bao gồm hai nhóm đảo nằm trong quần đảo Tiểu Antille: Aruba, Curaçao, và Bonaire thuộc Antille Ngược gió phía bờ biển Venezuela; và Sint Eustatius, Saba, và Sint Maarten thuộc Antille Xuôi gió ở phía đông nam của quần đảo Virgin với diện tích 999 km². Ban đầu nó được biết đến với tên Tây Ấn Hà Lan hoặc Antilles/Tây Ấn thuộc Hà Lan. Aruba ly khai năm 1986 trở thành quốc gia riêng thuộc Vương quốc Hà Lan, và phần còn lại của Antille thuộc Hà Lan được giải tán ngày 10 tháng 10 năm 2010. Curaçao và Sint Maarten được trở thành quốc gia cấu thành, còn các đảo kia gia nhập Hà Lan là các đặc khu của Hà Lan tại Caribe.
Nền kinh tế của quần đảo chủ yếu dựa vào du lịch và dầu mỏ.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Wikimedia Atlas của Netherlands Antilles, có một số bản đồ liên quan đến Netherlands Antilles.
GOV.an/ Trang chính của chính phủ
Ngân hàng Trung ương của Netherlands Antilles
bản đồ
Antillenhuis - Văn phòng của Phủ toàn quyền Netherlands Antilles tại Hà Lan
CIA World Factbook: Netherlands Antilles
Cái nhìn cận cảnh Antilles
Aruba trên internet - Dành cho phần Aruba của Hà Lan |
g20 (nhóm các nền kinh tế lớn).txt | G-20 là diễn đàn của 20 nền kinh tế lớn gồm 19 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất (tính theo GDP (PPP)) và Liên minh châu Âu (EU).
Thành lập từ năm 1999 và hiện chiếm 85% nền kinh tế thế giới, G20 bao gồm nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) là Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Pháp, Anh, Ý và Canada cùng một số thành viên khác như Liên minh châu Âu (EU) và các nước Argentina, Úc, Brasil, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, México, Nga, Ả Rập Saudi, Nam Phi, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.
== Lịch sử ==
G20 đã manh nha trước cuộc họp thượng đỉnh Cologne của [G7] năm 1999, nhưng được thành lập chính thức ở hội nghị Bộ trưởng Tài chính G7 vào ngày 26-9-1999. Các hội nghị ra mắt diễn ra vào ngày 15-16 tháng 12-1999 ở Berlin. Năm 2008, Tây Ban Nha và Hà Lan được Pháp mời tham gia.
== Tổ chức ==
G-20 hoạt động mà không có ban thư ký hay nhân viên thường xuyên. Ghế chủ tịch luân chuyển hàng năm giữa các thành viên và được chọn từ nhóm các quốc gia khu vực khác nhau. Ghế chủ tịch là một phần của nhóm quản lý 3 thành viên xoay tròn gồm chủ tịch quá khứ, hiện tại và tương lai, được nói tới như là Troika. Chủ tịch đương nhiệm lập ra ban thư ký lâm thời trong suốt nhiệm kỳ của mình để phối hợp công việc của nhóm và tổ chức các cuộc họp của nhóm. Vai trò của Troika là đảm bảo sự liên tục trong công việc của G-20 và quản lý trong những năm làm chủ nhà.
== Vai trò ==
Cho đến giữa những năm 1990, [G7] (và sau đó là [G8]) vẫn là nơi bàn thảo các vấn đề quan trọng nhất của thế giới, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua và sự tan chảy của thị trường toàn cầu khiến hệ thống toàn cầu chấn động mạnh hơn bất cứ thứ gì theo sau sự sụp đổ của Liên Xô. Hồi tháng 9-2008, những lo ngại rằng nền kinh tế toàn cầu đang đứng trên bờ vực thảm họa đã thúc đẩy sự thay đổi đột ngột từ G8 sang G20, một cơ chế bao gồm các nền kinh tế phát triển nhất thế giới và các nước thị trường mới nổi quan trọng nhất, vốn là thành viên của G77. Vì vậy, G20 từng được ví von là kết tinh của G7 và G77. Những kỳ họp đầu tiên của cơ chế mới G20 ở Washington vào tháng 11-2008 và ở London hồi tháng 4-2009 cho ra đời một thỏa thuận mở rộng hợp tác tiền tệ và tài chính, tăng ngân sách cho Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và đưa ra những luật mới cho các định chế tài chính.
== Chỉ trích ==
Khi cuộc khủng hoảng hiện nay dần trôi qua, nhu cầu và mối quan tâm của nhóm các nước giàu và các nước mới nổi bắt đầu khác biệt,sự chia rẽ lợi ích giữa các nước và nhóm nước trong G20 ngày càng lộ rõ và làm giới chuyên môn lo ngại sẽ có một ngày G20 sẽ tiến đến chỗ "có cũng được, không có cũng không sao".
== Các thành viên ==
== Hội nghị ==
Hội nghị của G20 bao gồm các hội nghị thường niên cấp bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương và hội nghị thượng đỉnh của các nguyên thủ quốc gia G20 (tên chính thức là Hội nghị thượng đỉnh G20 về thị trường tài chính và kinh tế thế giới).
=== Hội nghị cấp bộ trưởng và thống đốc ===
=== Hội nghị thượng đỉnh ===
== Xem thêm ==
G0
G7
G8
Hội nghị thượng đỉnh G20 2008 tại Washington D.C.
Hội nghị thượng đỉnh G20 2009 tại Luân Đôn
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới G20 tại Wikimedia Commons |
con trai (mối quan hệ).txt | Con trai là đứa con mang giới tính nam, tức đứa bé trai hoặc người đàn ông trong mối quan hệ với cha mẹ của cậu ta hoặc anh ta. Ngược với con trai là con gái.
== Vấn đề xã hội liên quan ==
Trong các xã hội tiền công nghiệp và một số quốc gia hiện có nền kinh tế dựa trên nông nghiệp, người ta đánh giá con trai cao hơn so với con gái, nói cách khác là trao địa vị xã hội cao hơn cho con trai do họ có sức vóc tốt hơn và có thể làm việc đồng áng hiệu quả hơn.
Ở Trung Quốc, chính sách một con được thực hiện nhằm đối phó với tình trạng tăng dân số quá nhanh. Kể từ khi thi hành chính sách này, số liệu thống kê chính thức về số trẻ sinh ra cho thấy có sự gia tăng của tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái. Điều này là do nhiều yếu tố, bao gồm nạn phá thai chọn lựa giới tính bất hợp pháp và tình trạng giấu giếm thông tin về việc sinh con gái.
Trong các xã hội theo chế độ phụ hệ, theo lệ thường thì con trai sẽ được thừa hưởng gia sản trước con gái.
Trong một số nền văn hóa, người con trai cả có những đặc quyền. Chẳng hạn như vào thời Kinh thánh, đứa con trai đầu lòng sẽ được nhận hầu hết tài sản từ người cha. Một số quy phạm xã hội ở Nhật Bản liên quan đến người con trai cả là: "cha mẹ thường sống với người con trưởng nếu nó là con trai" và "cha mẹ thường sống với con trai lớn nhất ngay cả dù cho nó không phải là người con trưởng."
== Cách dùng riêng đối với thuật ngữ con trai ==
=== Biểu tượng Ki-tô giáo ===
Trong cộng đồng Kitô giáo, cụm từ "Con trai" hoặc Con trai của Chúa là để chỉ Giê-su. Những tín đồ theo thuyết Ba Ngôi xem Giê-su là hiện thân của người thứ hai trong Ba Ngôi đó, và ông được gọi là "Con trai của Chúa". Trong các sách Phúc Âm, Giê-su thỉnh thoảng tự gọi mình là Con trai của loài người.
=== Trong tên riêng Semit ===
Từ trong tiếng Ả Rập dùng để chỉ con trai là ibn.. Do gia đình và tổ tiên là những giá trị văn hóa quan trọng của thế giới Ả Rập nên người Ả Rập thường dùng từ bin - một dạng của ibn - trong tên đầy đủ của họ. Bin ở đây có nghĩa là "con trai của". Ví dụ, tên Ả Rập "Saleh bin Tarif bin Khaled Al-Fulani" có thể dịch thành "Saleh, con trai của Tarif, con trai của Khaled; của gia đình Al-Fulani". Ngược lại với ibn/bin là abu, nghĩa là "cha của". Đây là một retronym được đặt khi con trai của người đó mới ra đời và được dùng làm tên lóng để chỉ cương vị làm cha mà người đó mới đạt được, thay cho việc dùng họ. Ví dụ, nếu con trai đầu của Mahmoud được đặt tên là Abdullah thì có thể gọi Mahmoud là "Abu Abdullah".
Từ bin nêu trên có cùng nguồn gốc với từ ben trong tiếng Hebrew; ví dụ, "Judah ben Abram HaLevi" có nghĩa là "Judah, con trai của Abram, nhà Levite". Ben cũng có thể là một tên gọi đứng riêng rẽ.
== Tham khảo == |
giấy bìa cứng.txt | Giấy bìa cứng, các-tông, hay giấy bồi là một thuật ngữ chung để chỉ một loại giấy nặng với độ dày và cứng khác nhau, từ một sự sắp xếp đơn giản của một tấm giấy cứng duy nhất đến cấu hình phức tạp gồm nhiều lớp, có thể có nếp hay gợn sóng.
Thường là các-tông làm bằng bột giấy, bột giấy cơ học và giấy cũ, cùng với những thứ khác, trong kỹ thuật in và trong ngành công nghiệp bao bì để bảo vệ hàng hóa đóng gói, trong nghệ thuật đồ họa và thủ công mỹ nghệ làm nguyên liệu nghệ thuật và như một bề mặt thiết kế.
Mặc dù từ ngữ các-tông được sử dụng lan rộng nói chung trong tiếng Anh (Cardboard) hay tiếng Pháp (Carton), thuật ngữ này thường ít dùng trong các ngành kinh doanh và công nghiệp. Các ngành sản xuất vật liệu, các nhà sản xuất container, kỹ sư đóng gói, và các tổ chức định tiêu chuẩn, đã cố gắng sử dụng những thuật ngữ cụ thể hơn, thường là thuật ngữ "các-tông""giấy bồi" được tránh, bởi vì khái niệm mơ hồ và nó không xác định bất kỳ nguyên vật liệu đặc biệt. Tùy theo vật liệu và cấu tạo bề mặt, các tông khi đó được xác định bằng những thuật ngữ chính xác hơn.
== Hình ảnh ==
Một số ứng dụng của loại giấy cứng:
== Chú thích == |
đội tuyển bóng đá quốc gia hồng kông.txt | Đội tuyển bóng đá Hồng Kông (香港足球代表隊, Hương Cảng túc cầu đại biểu đội) là đội tuyển cấp quốc gia của Hồng Kông do Hiệp hội bóng đá Hồng Kông quản lý.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Hồng Kông là trận gặp đội tuyển Hàn Quốc vào năm 1954. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là hạng ba Cúp bóng đá châu Á 1956.
== Danh hiệu ==
Vô địch châu Á: 0
Hạng ba: 1956
Hạng tư: 1964
Vô địch Đông Á: 0
Hạng tư: 2003; 2010
== Thành tích tại các giải đấu ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
=== Cúp bóng đá châu Á ===
Hồng Kông từng 3 lần lọt vào vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á ở những giải đầu tiên, với một lần giành hạng ba năm 1956 khi là chủ nhà. Những năm gần đây đội tuyển Hồng Kông là đội bóng yếu và thường không vượt qua vòng loại.
=== Giải vô địch bóng đá Đông Á ===
2003 - Hạng tư
2005 - Không vượt qua vòng loại
2008 - Không vượt qua vòng loại
2010 - Hạng tư
2013 - Không vượt qua vòng loại
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
23 cầu thủ dưới đây được triệu tập tham dự trận giao hữu gặp Jordan và vòng loại Asian Cup 2019 gặp Liban vào các ngày 23 và 28 tháng 3 năm 2017.
Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017, sau trận gặp Liban.
=== Triệu tập gần đây ===
Chú thích
INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Hồng Kông trên trang chủ của FIFA |
mỹ tho.txt | Mỹ Tho là đô thị loại I và là tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang từ năm 1976 đến nay (trước đó là tỉnh Mỹ Tho), vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Vào thế kỷ 17, Mỹ Tho cùng với Cù Lao Phố, Biên Hòa là trong 2 trung tâm thương mại tấp nập nhất Nam Bộ. Dân số của thành phố Mỹ Tho vào khoảng 224.000 người (năm 2016). Dân tộc Kinh chiếm đa số, và có người dân tộc Hoa, Chăm và Khmer cùng chung sống. Mỹ Tho nổi tiếng với món ăn đặc sản Hủ tiếu Mỹ Tho. Du lịch Mỹ Tho với chèo thuyền ven sông Mỹ Tho, tham quan Chùa Vĩnh Tràng.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Có nhiều ý kiến về nguồn gốc địa danh Mỹ Tho. Đa số ý kiến cho rằng Mỹ Tho bắt nguồn từ phương ngữ gốc Khmer như Mi Sâr biến thể thành Mỹ và Tho, có nghĩa là xứ có người con gái da trắng, đẹp. Từ đó Mỹ, chữ Hán nghĩa là đẹp, nhưng từ Tho không có trong chữ Hán nên có lối viết khác nhau qua chữ Nôm, có hai lối viết, để chỉ vùng nước thơm hay cỏ thơm.
Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, "mỹ" và "tho", không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là "Srock Mỳ Xó" (xứ nàng trắng). Người Việt gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock, chỉ còn giữ lại Mỳ Xó.
Mỹ Tho trong lịch sử là một vùng đất quan trọng được sớm khai phá bởi người Hoa, là một thành phố có tổ chức… trích dẫn như sau:
Theo "Gia Định thành thông chí":
Mỹ Tho đồn: Đồn Mỹ Tho tại phía nam trấn, xưa là rừng hoang, hổ báo làm hang ổ…(Tại trấn Nam nhất lý hứa, cựu vi hoang lâm, hổ báo quần huyệt...).
Mỹ Tho sông ngòi: Sông Mỹ Tho ở trước mặt trấn, là con sông lớn của trấn, bắt nguồn từ nội địa tỉnh Vân Nam…(Tại trấn tiền, vi bản trấn đại giang, kỳ nguyên phát ư nội địa Vân Nam tỉnh...).
Theo "Đại Nam nhất thống chí":
Mỹ Tho phố lớn: chợ, quán: chợ Mỹ Tho tại huyện Kiến Hưng, thường gọi là chợ là phố lớn. Nhà ngói, rui chạm, đình cao, chùa rộng. Sông sâu tàu thuyền, buồm giong qua lại như dệt cửi…(Mỹ Tho thị tại Kiến Hưng huyện, tục danh đại phố thị, ngõa ốc, điêu manh, cao đình, quảng tự. Dương hà thuyền sưu phẩm tường, vãng lai như chức ty...)
Mỹ Tho quan thuế: Cửa ải Mỹ Tho ở huyện Kiến Hưng, năm thứ mười sáu Minh Mạng lập ra cửa ải thu thuế. Đến năm thứ ba Thiệu Trị thì bãi bỏ…(Tại Kiến Hưng huyện, Minh Mạng thập lục niên, thiết quan chinh thuế. Thiệu Trị tam niên đình...)
Theo "Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ" ("Histoire de la conquête de la Cochinchine") tác giả người Pháp viết:
Sài Gòn là trung tâm quân sự, Mỹ Tho là trung tâm thương mãi. Các ghe thuyền của người Nhật người Tàu, người An Nam, nười Xiêm có đáy cạn dễ di chuyển trên sông gần nơi sản xuất gạo, thêm vào truyền thống người dân địa phương từ bao thế kỷ, khiến cho Mỹ Tho trở thành trung tâm buôn bán lớn nhất của Nam kỳ, trước khi người Âu đến.
... Mỹ Tho là một vùng có nhà cửa rộng lớn, lợp bằng là dừa nước theo theo tập quán. Nhưng dọc theo bờ kinh Bưu điện (Arroyo de la Poste hay kinh Bảo Định) nhà cửa thanh nhã hơn nhiều, mái lợp ngói giữa những vườn dừa vườn cau, tất cả có vẻ trang nhã, phong lưu, đôi khi giàu có. Có thể so sánh với cảnh phồng hoa đô hội của Chợ Quán và kinh người Tàu ở Sài Gòn...
Theo "Địa phương chí Mỹ Tho 1902" (Monographie de Mỹ Tho 1902), tác giả người Pháp viết:
...Vị trí của Mỹ Tho thật tuyệt diệu. Nó chiếm một vị thế trung chuyển quan trọng vào bậc nhất cho các loại ghe chài to lớn từ miền Tây lên Chợ lớn (Sài Gòn) qua con kinh Bảo Định và con kinh Chợ Gạo. Mỹ Tho lại có con đường sắt đầu tiên của Đông Dương, con đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho và con đường thủy nối liền Sài Gòn và các tỉnh miền Tây lên tận Pnôm Penh qua bến Tàu Lục Tỉnh Mỹ Tho...
== Địa lý ==
Địa giới hành chính
Phía đông và bắc giáp huyện Chợ Gạo,
Phía tây giáp huyện Châu Thành,
Phía nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre.
Diện tích, dân số
Diện tích tự nhiên: 81.54 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,17 km2.
Dân số thường trú và tạm trú khoảng 270.700 người, khu vực nội thành là 201.687 người, mật độ dân số đô thị đạt 16.105 người/km2.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận – Cần Thơ đi qua đang được xây dựng.
== Lịch sử ==
=== Thời phong kiến ===
Vào năm 1679, một nhóm khoảng 3.000 người Minh Hương được Chúa Nguyễn cho định cư vùng đất mới này. Trong nhóm do Dương Ngạn Địch đứng đầu, lập Mỹ Tho đại phố (chữ Hán: 美萩大浦) ở làng Mỹ Chánh, huyện Kiến Hòa. Khu đại phố này kéo dài đến Cầu Vĩ, Gò Cát, tức khu vực xã Mỹ Phong hiện nay. Rất nhiều làng xã mọc lên xung quanh khu vực Mỹ Tho: Thái Trấn lập làng An Hoà (sau đổi là Thạnh Trị), Nguyễn Văn Trước lập làng Điều Hòa.
Vào thế kỷ 17, Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ (trung tâm còn lại là Cù lao Phố, Biên Hòa). Sự hưng thịnh của phố chợ Mỹ Tho cho thấy nền sản xuất nông - ngư nghiệp và kinh tế hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là đối với ngành thương mại.
Năm 1772, Mỹ Tho thuộc đạo Trường Đồn, đến năm 1779 đạo Trường Đồn được nâng lên thành dinh Trường Đồn. Năm 1781, dinh Trường đồn lại đổi tên thành dinh Trấn Định. Đến năm 1785, quân Xiêm đã tràn sang và biến nơi đây thành bãi chiến trường (Trận Rạch Gầm - Xoài Mút). Phố xá bị tàn phá, của cải bị cướp bóc nên Mỹ Tho đại phố trở nên tiêu điều. Thương nhân ở đây hầu hết đều chuyển lên làm ăn ở Sài Gòn - Bến Nghé. Năm 1788, mặc dù được khôi phục dần, nhưng không còn nhộn nhịp như trước. Đến năm Nhâm Tý (1792), Chúa Nguyễn cho dời lỵ sở dinh Trấn Định về chợ Mỹ Tho thuộc thôn Mỹ Chánh (khu vực Chợ Cũ thuộc phường 2, 3 và 8 ngày nay) và cũng tại đây chúa Nguyễn đã cho xây dựng thành Trấn Định. Thành được xây theo đồ họa kiến trúc của ông Trần Văn Học.
Năm 1826, vua Minh Mạng lại cho dời lỵ sở trấn Định Tường sang phía tây sông Bảo Định thuộc hai thôn Điều Hòa và Bình Tạo của huyện Kiến Hưng (nay thuộc các phường 1, 4 và 7), phủ Kiến An, tỉnh Định Tường. Cũng trong năm này, ông Dương Tấn Tuyên lập một ngôi chợ bên cạnh thành mới tại khu vực chợ Mỹ Tho ngày nay.
Mỹ Tho luôn luôn là trị sở, tỉnh lỵ tỉnh Định Tường và đến năm 1900 trở thành tỉnh lỵ tỉnh Mỹ Tho khi tỉnh này được thành lập.
Mỹ Tho từng có đường xe lửa nối với Sài Gòn dài 71 km, khánh thành ngày 20 tháng 7 năm 1885, bị phá hỏng thời chống Pháp.
=== Thời Pháp thuộc ===
==== Trước năm 1900 ====
Thời Pháp thuộc (1862-1945), theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, Định Tường cùng với Biên Hòa và Gia Định bị cắt nhượng cho Pháp. Lúc đầu địa bàn tỉnh Định Tường được chia làm 4 hạt Thanh tra, tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Đó là:
Hạt Thanh tra Kiến An hay Kiến Hưng, sau đổi là hạt Thanh tra Mỹ Tho.
Hạt Thanh tra Kiến Hòa sau đổi là hạt Thanh tra Chợ Gạo.
Hạt Thanh tra Kiến Đăng sau đổi là hạt Thanh tra Cai Lậy.
Hạt Thanh tra Kiến Tường sau đổi là hạt Thanh tra Cần Lố.
Ngày 5 tháng 12 năm 1868, giải thể hạt Thanh tra Cai Lậy nhập vào hạt Thanh tra Mỹ Tho, kể từ ngày 15 tháng 12 năm 1868. Tiếp theo, ngày 23 tháng 12 năm 1868, giải thể hạt Thanh tra Chợ Gạo nhập vào hạt Thanh tra Mỹ Tho. Nhưng đến ngày 20 tháng 10 năm 1869 hạt Thanh tra Cai Lậy được lập lại theo địa bàn cũ và đến ngày 8 tháng 9 năm 1870 dời trụ sở về Cái Bè, nên gọi là hạt Thanh tra Cái Bè. Ngày 20 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt Thanh tra Cần Lố, đưa hai tổng Phong Hòa và Phong Phú vào hạt Thanh tra Cái Bè, đồng thời đưa hai tổng Phong Nẫm và Phong Thạnh qua hạt Thanh tra Sa Đéc. Ngày 5 tháng 6 năm 1871, giải thể hạt Thanh tra Cái Bè nhập vào địa bàn hạt Thanh tra Mỹ Tho. Như vậy 4 hạt Thanh tra trên lần lượt bị giải thể và hợp nhất lại thành Hạt Thanh tra Mỹ Tho.
Từ ngày 5 tháng 1 năm 1876, các hạt Thanh tra được thay bằng hạt Tham biện. Năm 1876, tỉnh Định Tường bị Pháp giải thể và biến thành 2 tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) là Mỹ Tho và Gò Công, thuộc khu vực hành chính (circonscription) Mỹ Tho.
==== Sau năm 1900 ====
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Mỹ Tho trở thành tỉnh Mỹ Tho. Tỉnh lỵ Mỹ Tho đặt tại làng Điều Hòa thuộc tổng Thuận Trị, quận Châu Thành.
Năm 1912, chính quyền thực dân Pháp chia tỉnh lỵ Mỹ Tho ra hai vùng: vùng 1 thị tứ có 2 đại lý (délégation), vùng 2 có hai làng Điều Hòa và Bình Tạo. Ngày 1 tháng 1 năm 1933, mở rộng ranh giới tỉnh lỵ Mỹ Tho về phía tây, lấy thêm phần đất các làng Thạnh Trị, Đạo Ngạn và Bình Tạo.
Ngày 16 tháng 12 năm 1938, Mỹ Tho được công nhận là thị xã hỗn hợp (còn gọi là Hiệp xã). Ngày 29 tháng 7 năm 1942, chia Hiệp xã Mỹ Tho thành 4 khu hành chánh:
Khu hành chánh 1: tương đương các phường 1 và 7 hiện nay
Khu hành chánh 2: tương đương các phường 2, 3 và 8 hiện nay
Khu hành chánh 3: tương đương phường 4 và một phần phường 6 hiện nay
Khu hành chánh 4: tương đương phường 5 và một phần phường 6 hiện nay
Trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), về phía chính quyền Cách mạng, cho thành lập thị xã Mỹ Tho trực thuộc tỉnh Mỹ Tho. Địa bàn thị xã Mỹ Tho khi đó còn bao gồm luôn ba xã vùng ven: Trung An, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh.
=== Giai đoạn 1956-1976 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143-NV để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Định Tường được thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho (trừ vùng nằm phía nam sông Tiền Giang là quận An Hóa thì đổi tên thành quận Bình Đại và nhập vào tỉnh Kiến Hòa) và tỉnh Gò Công cũ. Tỉnh lỵ tỉnh Định Tường đặt tại Mỹ Tho và vẫn giữ nguyên tên là "Mỹ Tho", về mặt hành chánh thuộc xã Điều Hòa, quận Châu Thành.
Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể thị xã Mỹ Tho, nhập địa bàn vào xã Điều Hòa, quận Châu Thành. Trong giai đoạn 1956-1960, xã Điều Hòa vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Châu Thành và là tỉnh lỵ tỉnh Định Tường.
Ngày 08 tháng 11 năm 1960, quận Châu Thành đổi tên thành quận Long Định, đồng thời dời quận lỵ tới xã Long Định. Lúc này, về mặt hành chánh tỉnh lỵ Mỹ Tho thuộc địa bàn xã Điều Hòa, quận Long Định, tỉnh Định Tường. Ngày 23 tháng 05 năm 1964, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia quận Long Định thành quận Châu Thành và quận Long Định. Khi đó, xã Điều Hòa trở lại thuộc quận Châu Thành và tỉnh lỵ Mỹ Tho tiếp tục nằm trong địa bàn xã Điều Hòa, quận Châu Thành cho đến năm 1970. Ngoài ra, từ năm 1964 đến năm 1975 quận lỵ quận Châu Thành đặt tại xã Trung An.
Địa bàn xã Điều Hòa khi đó bao gồm 25 ấp trực thuộc: Lạc Hồng, Võ Tánh, Ngô Quyền, Nguyễn Huệ, Trương Vĩnh Ký, Thái Lập Thành, Nguyễn Trãi, Phan Văn Trị, Trịnh Hoài Đức, Đinh Bộ Lĩnh, Mỹ Chánh, Phan Thanh Giản, Học Lạc, Đốc Binh Kiều, Nguyễn Huỳnh Đức, Mỹ Phúc, Xóm Dầu, Cộng Hòa, Quyết Tiến, Cộng đồng, Đồng Tiến, Dân Chủ, Võ Thắng, Bình Thành, Bình Tạo.
Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 114/SL-NV cải biến xã Điều Hòa thành thị xã Mỹ Tho, là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Định Tường. Ngày 10 tháng 6 năm 1971, chia địa bàn thị xã Mỹ Tho thành 6 khu phố:
Khu phố 1: gồm các ấp Lạc Hồng, Võ Tánh, Ngô Quyền, Nguyễn Huệ, Trương Vĩnh Ký, Thái Lập Thành, Nguyễn Trãi (tương đương phường 1 và phường 7 hiện nay)
Khu phố 2: gồm các ấp Phan Văn Trị, Trịnh Hoài Đức, Đinh Bộ Lĩnh, Mỹ Chánh (tương đương phường 2 hiện nay)
Khu phố 3: gồm các ấp Phan Thanh Giản, Học Lạc, Đốc Binh Kiều, Nguyễn Huỳnh Đức, Mỹ Phúc, Xóm Dầu (tương đương phường 3 và phường 8 hiện nay)
Khu phố 4: gồm các ấp Cộng Hòa, Quyết Tiến, Cộng đồng, Đồng Tiến, Dân Chủ (tương đương phường 4 hiện nay)
Khu phố 5: gồm ấp Võ Thắng (tương đương phường 5 hiện nay)
Khu phố 6: gồm các ấp Bình Thành, Bình Tạo (tương đương phường 6 hiện nay)
Ngày 3 tháng 1 năm 1972, đổi tất cả các đơn vị ấp thành khóm trực thuộc khu phố; đồng thời khóm Bình Thành thuộc Khu phố 6 được chia làm 3 khóm: Bình Thành, Lý Thường Kiệt, Ngô Tùng Châu
==== Chính quyền Cách mạng ====
Tuy nhiên chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Định Tường và vẫn giữ tên tỉnh cũ là tỉnh Mỹ Tho. Đồng thời, chính quyền Cách mạng vẫn duy trì thị xã Mỹ Tho trực thuộc tỉnh Mỹ Tho trong giai đoạn 1956-1967.
Ngày 24 tháng 8 năm 1967, Trung ương cục miền Nam đã chuẩn y tách thị xã Mỹ Tho ra khỏi tỉnh Mỹ Tho, đồng thời nâng thị xã lên thành thành phố Mỹ Tho trực thuộc Khu 8 đã giúp nhân dân Mỹ Tho có thêm sức mạnh của ý chí và niềm tin, đã tạo ra biết bao kỳ tích cho phong trào cách mạng ở miền Tây Nam Bộ. Đây còn là bước ngoặt quan trọng mà quân dân Mỹ Tho dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đã tiến công nổi dậy Xuân Tết Mậu Thân 1968 và mùa xuân 1975 toàn thắng. Thành phố Mỹ Tho khi đó còn là trung tâm của Khu 8.
Lúc bấy giờ, chính quyền cách mạng chia thành phố Mỹ Tho thành 4 quận, 1 thị trấn, 6 phường và 5 xã ven như sau:
Quận 1: các phường 1 và 7 hiện nay
Quận 2: các phường 2, 3 và 8 hiện nay
Quận 3: các phường 4, 5 và 6 hiện nay
Quận 4: các phường 9, 10 và Tân Long; các xã Tân Mỹ Chánh, Đạo Thạnh, Mỹ Phong, Trung An hiện nay.
Như vậy cho đến năm 1976, tỉnh Mỹ Tho và thành phố Mỹ Tho là hai đơn vị hành chính ngang bằng nhau.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho cho đến đầu năm 1976.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Long An, tỉnh Bến Tre, tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho được tiến hành hợp nhất lại thành một tỉnh.
=== Từ năm 1976 đến nay ===
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh Tiền Giang (trừ huyện Bình Đại nằm phía nam sông Tiền Giang đã nhập vào tỉnh Bến Tre từ trước). Đồng thời, các quận cũ trực thuộc (quận 1, quận 2, quận 3 và quận 4) cũng bị giải thể, các phường xã trực thuộc thành phố do thành phố Mỹ Tho lúc này chuyển thành thành phố cấp huyện, trực thuộc tỉnh Tiền Giang. Thành phố Mỹ Tho đóng vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay.
Năm 1976, thành phố Mỹ Tho được Trung ương công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Tiền Giang. Thành phố Mỹ Tho khi đó gồm có 8 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 5 xã vùng ven: Tân Long, Tân Mỹ Chánh, Đạo Thạnh, Mỹ Phong, Trung An..
Ngày 9 tháng 12 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 154/2003/NĐ-CP về việc thành lập phường, xã thuộc thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Nội dung Nghị định về việc thành lập các phường mới thuộc thành phố Mỹ Tho như sau:
Thành lập phường Tân Long thuộc thành phố Mỹ Tho trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Tân Long.
Thành lập phường 9 thuộc thành phố Mỹ Tho trên cơ sở 274 ha diện tích tự nhiên và 9.270 nhân khẩu của xã Tân Mỹ Chánh.
Thành lập phường 10 thuộc thành phố Mỹ Tho trên cơ sở 69,32 ha diện tích tự nhiên và 3.323 nhân khẩu của xã Đạo Thạnh, 197,26 ha diện tích tự nhiên và 6.964 nhân khẩu của xã Trung An. Phường 10 có 266,58 ha diện tích tự nhiên và 10.287 nhân khẩu.
Ngày 7 tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 248/2005/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang là đô thị loại II.
Ngày 26 tháng 9 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo để mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho; điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang như sau:
1. Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo để mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho: Mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho trên cơ sở điều chỉnh 2.585,77 ha diện tích tự nhiên và 24.440 nhân khẩu của huyện Châu Thành (bao gồm toàn bộ 1.211,64 ha diện tích tự nhiên và 5.505 nhân khẩu của xã Thới Sơn; 329,90 ha diện tích tự nhiên và 4.174 nhân khẩu của xã Long An; 177,69 ha diện tích tự nhiên và 1.754 nhân khẩu của xã Thạnh Phú; 510,01 ha diện tích tự nhiên và 6.177 nhân khẩu của xã Phước Thạnh; 356,53 ha diện tích tự nhiên và 6.830 nhân khẩu của xã Bình Đức) và 709,51 ha diện tích tự nhiên và 6.917 nhân khẩu của huyện Chợ Gạo (bao gồm 502,33 ha diện tích tự nhiên và 4.986 nhân khẩu của xã Lương Hòa Lạc; 207,18 ha diện tích tự nhiên và 1.931 nhân khẩu của xã Song Bình) về thành phố Mỹ Tho quản lý.
Thành phố Mỹ Tho có 8.154,08 ha diện tích tự nhiên và 204.142 nhân khẩu.
2. Điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành và huyện Chợ Gạo.
Thành lập xã Phước Thạnh thuộc thành phố Mỹ Tho trên cơ sở điều chỉnh 329,90 ha diện tích tự nhiên và 4.174 nhân khẩu của xã Long An; 177,69 ha diện tích tự nhiên và 1.754 nhân khẩu của xã Thạnh Phú; 510,01 ha diện tích tự nhiên và 6.177 nhân khẩu của xã Phước Thạnh (phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Phước Thạnh thuộc huyện Châu Thành điều chỉnh về thành phố Mỹ Tho). Xã Phước Thạnh có 1.017,60 ha diện tích tự nhiên và 12.105 nhân khẩu.
Điều chỉnh 356,53 ha diện tích tự nhiên và 6.830 nhân khẩu của xã Bình Đức (phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu điều chỉnh về thành phố Mỹ Tho) về xã Trung An thuộc thành phố Mỹ Tho quản lý;
Điều chỉnh 502,33 ha diện tích tự nhiên và 4.986 nhân khẩu của xã Lương Hòa Lạc (phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu điều chỉnh về thành phố Mỹ Tho) về xã Đạo Thạnh thuộc thành phố Mỹ Tho quản lý;
Điều chỉnh 207,18 ha diện tích tự nhiên và 1.931 nhân khẩu của xã Song Bình (phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu điều chỉnh về thành phố Mỹ Tho) về xã Tân Mỹ Chánh thuộc thành phố Mỹ Tho quản lý;
Điều chỉnh 323,14 ha diện tích tự nhiên và 3.093 nhân khẩu còn lại của xã Phước Thạnh về xã Thạnh Phú thuộc huyện Châu Thành quản lý.
3. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo để mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho; điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo:
Xã Đạo Thạnh có 1.031,47 ha diện tích tự nhiên và 12.427 nhân khẩu.
Xã Tân Mỹ Chánh có 931,59 ha diện tích tự nhiên và 8.975 nhân khẩu.
Xã Trung An có 1.063,03 ha diện tích tự nhiên và 14.651 nhân khẩu.
Thành phố Mỹ Tho sau khi điều chỉnh, mở rộng có diện tích tự nhiên là 8.154,08 ha (tăng 3.295,28 ha), dân số 204.142 người (tăng 94.725 người), 17 đơn vị hành chính phường – xã (tăng 02 đơn vị). Diện tích và dân số tăng thêm để mở rộng TP được điều chỉnh từ một phần của các xã: Long An, Phước Thạnh, Thạnh Phú, Bình Đức và toàn bộ xã Thới Sơn (huyện Châu Thành) và một phần các xã: Song Bình – Lương Hoà Lạc (Chợ Gạo). 17 đơn vị hành chính cấp phường – xã của TP Mỹ Tho khi được điều chỉnh mở rộng bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, Tân Long và các xã: Phước Thạnh, Trung An, Thới Sơn, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh, Mỹ Phong .
Thành phố Mỹ Tho có 8.154,08 ha diện tích tự nhiên và 270.700 nhân khẩu, có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, Tân Long và các xã: Đạo Thạnh, Mỹ Phong, Phước Thạnh, Tân Mỹ Chánh, Thới Sơn, Trung An.
Ngày 05 tháng 02 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Tiền Giang. Như vậy, tính đến thời điểm này, thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I thứ hai của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sau thành phố Cần Thơ và là đô thị loại I thứ 17 của cả nước.
== Các đơn vị hành chính ==
Dữ liệu từ Trang thông tin điện tử Thành phố Mỹ Tho.
== Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển KT-XH TP. Mỹ Tho đến năm 2020 ==
UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định 1336/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) TP. Mỹ Tho đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Đến năm 2020, TP. Mỹ Tho có vai trò vị trí trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ của tỉnh và là trung tâm thương mại dịch vụ, công nghiệp, du lịch sinh thái của khu vực Bắc sông Tiền.
Hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị, KT-XH. Cơ cấu kinh tế là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; nâng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế; phát triển thêm các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh trật tự xã hội và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
=== Các chỉ tiêu phát triển cụ thể đến năm 2020: ===
Về KT-XH: Giá trị sản xuất tăng bình quân 11 - 12%; thu nhập bình quân đầu người đạt 208,4 - 221 triệu đồng; thu ngân sách dự kiến đạt 1.473 tỷ đồng; phấn đấu 100% xã đạt chuẩn quốc gia về xây dựng nông thôn mới; hình thành thêm 6 phường mới; phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 1%; 100% xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế xã; 100% trạm y tế có bác sĩ.
Về môi trường: Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch là 100%; tỷ lệ thu gom rác đo thị đạt 98%; phấn đấu trên 95% cơ sở sản xuất xây dựng mới đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
=== Quy hoạch đề ra phương hướng tổ chức không gian phát triển bao gồm: ===
Vùng nội thành, chia ra gồm 2 tiểu vùng: Tiểu vùng đô thị hiện trạng gồm các phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, Bình Tạo, Tân Long, Thạnh Mỹ có chức năng trung tâm về hành chính, chính trị cho đến 2020, đồng thời cũng là nơi tập trung dân cư đô thị, trung tâm thương mại, văn hóa… Tiểu vùng đô thị mở rộng gồm các phường (dự kiến): Trung An, Trung Lương, Đạo Thạnh có chức năng trung tâm phát triển đô thị mở rộng và dự kiến khu hành chính mới của tỉnh, thành phố sau năm 2020.
Vùng ngoại thành, bao gồm 2 tiểu vùng: tiểu vùng nội địa bao gồm các xã nội địa phát triển kinh tế vườn, hoa, rau màu, các khu dân cư nông thôn; tiểu vùng cù lao (xã Thới Sơn) phát triển kinh tế vườn kết hợp du lịch, nuôi cá lồng bè, các khu dân cư nông thôn.
== Các tuyến đường trên địa bàn ==
Ấp Bắc
Lê Văn Phẩm
Nguyễn Thị Thập ( hay Quốc lộ 60)
Lý Thường Kiệt
Trần Hưng Đạo
Yersin
Tết Mậu Thân
Lê Thị Hồng Gấm
30 tháng 4
Trưng Trắc
Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Trần Quốc Toản
Hùng Vương
Võ Nguyên Giáp (bờ kè tp)
Nguyễn Tri Phương
Nguyễn Trãi
Ngô Quyền
Lê Đại Hành
Rạch Gầm
Thủ Khoa Huân
Trương Định
Lê Lợi
Nguyễn Huệ
Học Lạc
Hoàng Hoa Thám
Nguyễn Văn Giác
Đinh Bộ Lĩnh
Nguyễn Huỳnh Đức
Nguyễn Trung Trực
Hoàng Việt (Thông qua Lý Thường Kiệt & Ấp Bắc)
Dương Khuy (Đối diện chi cục thuế có đường nhựa vô chùa Tịnh Xá)
Trần Ngọc Giải (Vô sân banh)
Phan Lương Thực (Chợ đêm quần áo)
Đống Đa
Nguyễn Quân (Chợ đạo thạnh qua quốc lộ 50)
Trần Thị Thơm (Trường cao đẳng Y tế đi vào)
Thái Sanh Hạnh (CAGT)
Trương Huyền
Phạm Thanh ( Lộ Tập Đoàn)
Nguyễn Tử Vân
Trừ Văn Thố
Thái Văn Đẩu
Phạm Hùng (Đường vào khu công nghiệp Mỹ Tho)
Phan Văn Trị
Cô Giang
Nguyễn An Ninh
Nguyễn Văn Nguyễn (Chợ Đêm)
Diệp Minh Tuyền (Đường vào trường THCS Học Lạc)
Nguyễn Văn Ba
Hồ Văn Ngà
Lê Văn Thạnh
Giồng Dứa
Huỳnh Tịnh Của
Phan Hiển Đạo
Trương Vĩnh Ký
Nguyễn Huỳnh Đức
Huyện Toại
Lãnh Binh Cẩn
Nguyễn Minh Đường
Phan Bội Châu
Nguyễn Văn Giác ( hay Anh Giác)
Xóm Dầu
Trịnh Hoài Đức
Ký Con
Đoàn Thị Nghiệp
Hồ Văn Nhánh
Võ Tánh
Lê Thị Phỉ (tiệm bánh mì Chín Ngón)
Lê Văn Duyệt
Thiên Hộ Dương
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đốc Binh Kiều
Phan Văn Khỏe
Nguyễn Sáng
Lê Việt Thắng
Tên đường thành phố Mỹ Tho xưa và nay
Đường Alexandre De Rhodes nay là đường Nguyễn Tri Phương
Đường Gia Long và Ngô Tùng Châu nay là đường 30 tháng 4
Đường Lý Thường Kiệt nay là đường Rạch Gầm
Đường Trần Văn Trần nay là đường Huyện Toại
Đường Albery Puissiers nay đường Lãnh Binh Cẩn
Đường Pasteur nay là đường Tết Mậu Thân
Đường Đỗ Hữu nay là đường Trương Định
Đường Thái Lập Thành nay là đường Giồng Dứa
Đường Nguyễn Tri Phương nay là đường Ấp Bắc
Đường Châu Văn Tiếp nay là đường Lê Thị Phỉ
Đường Pigneau de Behaine nay là đường Đốc Binh Kiều
Đường Delibes nay là đường Thiên Hộ Dương
== Mỹ Tho trong thơ ca ==
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ
Mỹ Tho cảnh đẹp người xinh
Quyện lòng du khách gợi tình nước non.
== Ẩm thực ==
Mỹ Tho có đặc sản nổi tiếng là Hủ tiếu Mỹ Tho. Khác với Hủ tiếu Nam Vang, Hủ tiếu Mỹ Tho có thêm tôm, mực, hải sản, ốc nên nước dùng ngọt. Sợi hủ tiếu Mỹ Tho làm từ gạo thơm, dẻo (nổi tiếng là thứ gạo Gò Cát của làng Mỹ Phong), phải dùng trong ngày, do vậy có mùi thơm của gạo, to và trong, trụng nước sôi thì mềm nhưng không bị bở, nhai dai dai, nên gọi là hủ tiếu dai, ăn không có mùi chua. Hủ tiếu Mỹ Tho thường ăn với phụ gia là giá sống, chanh, ớt, hẹ, nước tương, rau cải, (sau này còn có thêm cần tây, sườn heo và trứng cút), có thể ăn với thịt bò viên và tương ớt, tương đen . Nhắc đến hủ tiếu không thể bỏ qua hai món nổi tiếng khác của Mỹ Tho đó là Hủ tiếu sa tế và hủ tiếu bò viên. Đây là hai món ăn khoái khẩu của người dân thành phố có hương vị đậm đà, thơm ngon.
== Kinh tế ==
Thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh với cơ cấu công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng 36,9%, thương mại - dịch vụ chiếm 47,5% và nông, ngư nghiệp chiếm 15,6% (số liệu năm 2004), trong đó ngư nghiệp chiếm khoảng 20% với đoàn tàu đánh bắt 400 phương tiện, được trang bị khá hiện đại các thiết bị đánh bắt và phục vụ đánh bắt.
Về kinh tế: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ năm 1995 đến nay trên 10%; giá trị công nghiệp xây dựng trên địa bàn đến năm 2006 khoảng 1.000 tỷ đồng, thu ngân sách 150 tỷ đồng, đầu tư xây dựng trên 110 tỷ đồng.
Thành phố có thế mạnh về thương mại - dịch vụ và tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch xanh miệt vườn, sông nước. Số lượng khách tham quan du lịch hàng năm đều tăng (năm 2001: 350.000 khách, năm 2002: 400.000 khách đến tham quan du lịch thành phố Mỹ Tho).
Thành phố Mỹ Tho là đầu mối giao thông thủy - bộ rất thuận lợi đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, có sông Tiền là một trong hai nhánh của sông Cửu Long. Đây là tuyến giao thông quan trọng mang tính đối ngoại của thành phố Mỹ Tho, rất tiện lợi vận chuyển, lưu thông hàng thủy sản, nối liền Mỹ Tho với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra biển Đông về thành phố Hồ Chí Minh. Về đường bộ có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50, Quốc lộ 60 là những tuyến giao thông đối ngoại quan trọng của thành phố. Trong tương lai không xa sẽ có tuyến đường cao tốc Sài Gòn - Trung Lương và tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho.
Năm 2007 tốc độ tăng trưởng GDP của toàn thành phố là 32.8%, thu nhập bình quân đầu người đại 20,881 triệu đồng- mức cao nhất của toàn tỉnh. Nếu như năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố đạt trên 1.598 tỷ đồng (tăng 26,47% so với năm 2005), thì năm 2007 ước đạt trên 2.302 tỷ đồng (cao nhất so với các địa phương trong tỉnh), tăng 41,91% so với năm 2006.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của thành phố tiếp tục có những diễn biến tốt, kinh tế tăng trưởng ở mức cao 27,03%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 33,53%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng khoảng 29,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 55,45%, các khu vực kinh tế đều tăng cao so với năm 2007, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khá cao (trên 70%), vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên 81%.
Thu nhập bình quân đầu người: 1842 USD Tỉ lệ hộ nghèo: 1.3%
== Công nghiệp ==
Ước tính ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 33,84% trong tổng cơ cấu GDP của thành phố. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 40% giá trị của cả tỉnh.
Ngày nay, toàn thành phố có 1 khu công nghiệp quy mô và lớn là Khu Công nghiệp Mỹ Tho (79 ha) và 2 cụm Công nghiệp Tân Mỹ Chánh, Cụm công nghiệp Trung An... đều làm ăn có hiệu quả và luôn có mức tăng trưởng cao so với các KCN ở tỉnh lân cận và đang là nơi thu hút nguồn lao động lớn. Do có vị trí trung tâm, nơi đây còn là đầu mối chính chuyển hàng hoá từ TP. Hồ Chí Minh về toàn vùng đồng bằng và là đầu mối thu hút nhiều nguồn nông sản từ các tỉnh khác về. Dự kiến xây dựng mới cụm công nghiệp xã Mỹ Phong với diện tích 20 ha.
== Thương mại, Tài chính, Ngân hàng ==
Ngành thương mại – dịch vụ chiếm 57,68% trong tổng cơ cấu GDP của toàn thành phố với tốc độ phát triển nhanh, phân bố rộng khắp trong nội thị. Do đó thành phố được xem là đầu mối dịch vụ hàng đầu của toàn tỉnh. Hệ thống giao dịch, trao đổi hàng hóa phân bố rộng và ngày càng được nâng cao về quy mô lẫn chất lượng. Phía đông nam là Bến Xe Tiền Giang và đông bắc là Cảng Mỹ Tho có công suất 1500 tấn - một cảng quan trọng trong hệ thống cảng của toàn đồng bằng và cả nước, có thể đón tàu có trọng tải lớn và là nơi trung chuyển hàng hóa của vùng.
Hoạt động hội chợ thương mại diễn ra rất sôi nổi, dưới sự quản lý của Trung tâm xúc tiến thương mại (thuộc Sở Công Thương Tiền Giang). Từ năm 2008-2010, tại thành phố Mỹ Tho trung bình mỗi năm có 5 hội chợ triển lãm. Đặc biệt là hội chợ tổ chức vào dịp tết (mỗi năm một lần).
Trên địa bàn thành phố hiện đã có nhiều ngân hàng chọn nơi đây để mở các chi nhánh và phòng giao dịch của mình như: ACB (Ngân hàng TMCP Á Châu), Sacombank (Ngân hàng Sài Gòn Thương tín), Vietcombank (Ngân hàng ngoại thương Việt Nam), Vietinbank (Ngân hàng công thuong Việt Nam), BIDV (Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam), MB (Ngân hàng quân đội), MHB (Ngân hàng phát triển nhà ĐB Sông Cửu Long), SCB (Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Sài Gòn), Eximbank (Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Vịệt Nam), Ngân hàng Phương Nam, Đông Á Bank (Ngân hàng Đông Á), Agribank, ABBank (Ngân hàng An Bình), Kienlong Bank (Ngân hàng Kiên Long), Ngân hàng Đông Nam Á (Sea Bank),... cùng một hệ thống các máy rút tiền tự động (ATM) trên toàn địa bàn thành phố giúp cho việc giao dịch của người dân và du khách rất thuận lợi. Ngoài ra Thành phố Mỹ Tho còn có nhiều chuỗi siêu thị như: Coopmart - Mỹ Tho (thuộc hệ thống Sài Gòn Coop), siêu thị điện máy Chợ Lớn liền kề, siêu thị điện máy Nguyễn Kim, siêu thị văn hóa Tiền Giang (siêu thị sách Nguyễn Văn Cừ), siêu thị Vinatex (thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam), siêu thị Baby Mark, Đại lý đồng hồ CASIO... Ngoài ra, hệ thống Trung tâm Thương mại Mỹ Tho quy mô gồm 1 hầm thông và 5 tầng lầu ở vị trí Trung tâm thành phố.
== Du lịch ==
Các địa điểm tham quan: Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm, Bảo tàng Tiền Giang, cù lao Thới Sơn, Giếng Nước, Bến Tắm Ngựa...
Mỹ Tho đã và đang phát triển đa dạng nhiều loại hình du lịch theo tour liên kết và du lịch miệt vườn với nhiều chương trình tour đa dạng và mở rộng liên với Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Nhiều khu vui chơi du lịch trung tâm như: chùa Vĩnh Tràng, Trại rắn Đồng Tâm, khu vui chơi tổng hợp và du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long Cù Lao Thới Sơn với các cồn: Cồn Long, cồn Lân, cồn Quy, cồn Phụng hợp thành vùng đất tứ linh vô cùng độc đáo mà du khách không thể không ghé qua. Ngoài ra, du khách còn có thể đón tàu ở bến Lạc Hồng để tham quan các cù lao miền sông nước, ăn trái cây, thăm trại làm mật ong, nghe hát cải lương đặc sắc Nam Bộ.
== Thành phố kết nghĩa ==
Nam Định, Việt Nam
Changwon, Hàn Quốc
== Hình ảnh ==
== Chú thích == |
1271.txt | Năm 1271 là một năm trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
hướng đông bắc.txt | Hướng đông bắc là hướng nằm giữa hướng Bắc và hướng Đông theo chỉ dẫn của la bàn. Hướng đông bắc còn để chỉ góc phía trên bên phải khi trình bày về các sơ đồ, hình vẽ, đồ thị.
Hướng Bắc đông bắc nằm giữa hướng Bắc và hướng đông bắc. Và, hướng Đông đông bắc nằm giữa hướng Đông và hướng đông bắc.
== Xem thêm ==
Hướng Tây Bắc
Hướng Đông Nam
Hướng Tây Nam
== Tham khảo == |
nhà triều tiên.txt | Nhà Triều Tiên (chữ Hán: 朝鮮王朝; Hangul: 조선왕조; Romaji: Joseon dynasty; 1392 – 1910) hay còn gọi là Lý Thị Triều Tiên (李氏朝鲜), là một triều đại được thành lập bởi Triều Tiên Thái Tổ Lý Thành Quế và tồn tại hơn 5 thế kỷ. Triều đại này được thành lập sau khi Lý Thành Quế lật đổ nhà Cao Ly tại Khai Thành. Khi đó, tên của vương quốc cũng được đặt lại theo tên của vương triều và kinh đô được dời về Hán Thành (Seoul ngày nay) và các đường biên giới phía cực bắc của vương quốc được mở rộng đến các đường biên giới tự nhiên tại sông Áp Lục và sông Đồ Môn (sau cuộc chinh phục người Nữ Chân). Nhà Triều Tiên là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Triều Tiên. Đây cũng là vương triều theo Nho giáo tồn tại lâu dài nhất.
Trong thời kỳ trị vì của mình, nhà Triều Tiên củng cố sự thống trị của mình trên toàn lãnh thổ Triều Tiên, đề cao Nho học, du nhập văn hóa Trung Hoa và sau đó nhà Triều Tiên bước vào thời kỳ phát triển huy hoàng nhất của nền văn hóa cổ điển Triều Tiên, về thương mại, khoa học, văn học và kỹ thuật . Tuy nhiên, nhà Triều Tiên nhanh chóng suy yếu vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17 sau cuộc tấn công xâm lược của Nhật Bản và sau đó là nhà Mãn Thanh, điều này biến Triều Tiên thành một nước phiên thuộc của đế quốc Mãn Thanh và dẫn tới chính sách bế quan tỏa cảng, cô lập với thế giới bên ngoài. Sau khi trở thành một thuộc quốc của triều đình Mãn Thanh, nhà Triều Tiên có được một thời kỳ yên bình kéo dài gần 2 thế kỷ.
Tuy nhiên, mọi sự hồi phục mà vương quốc Triều Tiên có được trong thời gian hòa bình đã sớm tan biến vào cuối thế kỷ 18. Nhà Triều Tiên nhanh chóng phải đối mặt với những khó khăn ngày càng chồng chất: mâu thuẫn trong nước, tranh chấp quyền lực, áp lực quốc tế, khởi nghĩa và thế là nhà Triều Tiên suy sụp nhanh chóng vào cuối thế kỷ thứ 19. Năm 1895, nhà Triều Tiên buộc phải ký một hiệp định quy định việc độc lập hoàn toàn khỏi triều đình Mãn Thanh sau khi Nhật Bản chiến thắng trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, buộc Trung Quốc phải ký hòa ước Shimonoseki. Từ năm 1897 đến 1910, Triều Tiên mang quốc hiệu mới: Đại Hàn Đế quốc nhằm minh chứng cho nền độc lập của mình, chứng minh rằng từ nay Triều Tiên không còn phụ thuộc vào nhà Thanh nữa. Tuy nhiên, nhà Triều Tiên nhanh chóng cáo chung vào năm 1910 khi đế quốc Nhật Bản buộc người Triều Tiên ký Điều ước sáp nhập Triều Tiên vào Nhật Bản và biến Triều Tiên thành một phần của Nhật Bản.
Nhà Triều Tiên đã để lại một di sản khổng lồ cho nền văn hóa Triều Tiên: nhiều nghi thức xã giao, phong tục tập quán, các quan điểm về mặt xã hội lưu truyền đến các thế hệ con cháu ngày nay, và thậm chí ngôn ngữ Triều Tiên đương đại cùng những phương ngữ của nó bắt nguồn từ những suy nghĩ và quan điểm truyền thống hình thành từ thời nhà Triều Tiên.
== Lịch sửSửa đổi ==
=== Thành lậpSửa đổi ===
Vào cuối thế kỷ 13, nhà Cao Ly do Vương Kiến (Wang Kǒn, 왕건, 王建) thành lập năm 918 đang lung lay dữ dội, thật ra nền tảng của triều đại này đã sụp đổ ngay từ lúc Cao Ly bị nhà Nguyên chiếm đóng và biến thành một phiên quốc của họ. Nhưng vào cuối thế kỷ 14, nhà Nguyên bị nhà Minh đánh đuổi khỏi Trung Quốc; lúc này triều đình Cao Ly chia làm hai phe với hai đường lối đối ngoại trái ngược nhau: phe theo nhà Minh do tướng Lý Thành Quế đứng đầu và phe theo nhà Nguyên do Tể tướng Thôi Vinh (Ch'oe Yŏng, 최영, 崔榮) đứng đầu. Khi một sứ thần của nhà Minh đến Cao Ly năm 1388 (năm U Vương thứ 14) để đòi lại một phần quan trọng của lãnh thổ phía bắc Cao Ly, Thôi Vinh liền chớp lấy cơ hội này hạ lệnh tấn công cướp lấy bán đảo Liêu Đông (lâu nay Cao Ly luôn tự nhận mình có quyền thừa kế trực tiếp của vương quốc Cao Câu Ly xưa; vì vậy họ xem phần đất của Cao Câu Ly cũ tại Mãn Châu cũng là đất của Cao Ly).
Lý Thành Quế được chọn là người chỉ huy chiến dịch này; nhưng sau đó Lý nổi loạn, không phục tùng mệnh lệnh. Ông dẫn quân về kinh đô Khai Thành và thực hiện một cuộc đảo chính, lật đổ U Vương (U-wang, 우왕, 禑王) và người kế vị của ông ta là Dương Vương (Ch'ang wang, 창왕, 昌王) (1388) và dùng vũ lực đưa một nhân vật thuộc hoàng tộc tên là Vương Dao (Wang Yo, 왕요, 王搖) lên ngôi lấy hiệu là Cung Nhượng Vương (Kongyang wang, 공양왕, 恭讓王). Sau đó U Vương và cả Dương Vương đều bị giết chết sau một nỗ lực không thành nhằm giành lại quyền lực đã mất. Cuối cùng, năm 1392, Lý Thành Quế lật đổ Cung Nhượng Vương, đày ông ta đến Nguyên Châu (Wŏnju,원주, 原州) và tiếm lấy ngôi vua. Nhà Cao Ly chính thức cáo chung sau gần 5 thế kỷ cầm quyền.
Ban đầu, Lý Thành Quế (nay là vua Thái Tổ) vẫn tiếp tục dùng tên Cao Ly cho vương quốc của mình, ông dự tính rằng người chủ vương quốc này chỉ thay đổi từ dòng họ Vương vào tay dòng họ Lý, từ đó duy trì một vỏ bọc hoàn hảo về sự tiếp nối của truyền thống Cao Ly sau 5 thế kỷ. Tuy nhiên, Lý Thành Quế đã phải đối phó với quá nhiều cuộc nổi loạn của giới quý tộc Quyền môn (Gwonmun, 권문, 權門) - những kẻ dù thực lực đã suy yếu nhiều nhưng vẫn quyết tâm khôi phục lại địa vị hoàng tộc cho dòng họ Vương - cộng với việc triều đình mới do ông dựng nên đã tạo ra một không khí quá khác biệt so với triều đình Cao Ly cũ. Tất cả những điều này đủ để mọi người cảm thấy cần phải có một vương triều mới nhằm nhấn mạnh tất cả mọi sự thay đổi này. Vì vậy, năm 1393, Lý Thành Quế lập ra nhà Triều Tiên (với ý nghĩa hồi sinh lại nhà nước Cổ Triều Tiên 4000 năm trước) và đổi tên của quốc gia thành Đại Triều Tiên quốc. Ông cũng dời đô về Hán Thành, thủ đô hiện nay của Hàn Quốc.
Khi xin nhà Minh sắc phong vào năm 1393, Lý Thành Quế e nhà Minh phản đối việc Lý Thành Quế quyết tâm chọn quốc hiệu là Triều Tiên, nên đề xuất thêm một tên gọi khác là Hòa Ninh (lấy từ tên trang ấp của cha mình là Lý Tử Xuân). Minh Thái Tổ sau khi biết cái tên Triều Tiên có nguồn gốc từ chữ Triều Nhật Tiên Minh (nghĩa là "buổi sáng trong lành") liền quyết định chọn tên Triều Tiên, nhưng chỉ phong Lý Thành Quế là Quyền Tri Triều Tiên Quốc Sự. Mãi đến năm 1401, nhà Minh mới phong Lý Thái Tông là Triều Tiên Quốc Vương.
=== Xung độtSửa đổi ===
Ngay khi triều đình mới được tuyên bố thành lập và chính thức tồn tại, Thái Tổ đã gây tranh cãi trong vấn đề chọn người nối nghiệp. Mặc dù vương tử thứ năm, Tĩnh an Đại quân Lý Phương Viễn (I Pangwŏn, 이방원, 李芳遠), con của Thái Tổ với vương hậu Thần Ý (Sinul, 신의왕후, 神懿王后), là người có công nhiều nhất trong việc giúp đỡ cha mình gia tăng quyền lực, Phương Viễn luôn nuôi mối thâm thù với hai đồng minh chủ chốt của cha mình trong triều, Tể tướng Trịnh Đạo Truyền (Chŏng Tochŏn, 정도전, 鄭道傳) và Nam Ân (Nam Eun, 남은, 男恩). Cả hai phía đều nhận thức được một cách đầy đủ về sự thù địch lẫn nhau đang hiện diện giữa hai bên và luôn luôn cảm thấy bị đe dọa. Khi sự việc rõ ràng cho thấy Lý Phương Viễn sẽ được thừa kế ngai vàng, Trịnh Đạo Truyền đã dùng ảnh hưởng của mình với nhà vua để thuyết phục nhà vua nên chọn đứa con mà Thái Tổ yêu quý nhất thay vì đứa mà Thái Tổ cho rằng tốt nhất cho vương triều. Vào năm 1392, con trai thứ tám của Thái Tổ, tức con thứ hai của vương hậu Thần Đức (Sintŏk, 신덕왕후, 神德王后), Nghi an Đại quân Lý Phương Thạc (I Panggtŏk, 이방석, 李芳碩) được phong Thế Tử kế thừa ngai vàng. Sau cái chết bất ngờ của vương hậu Thần Đức, và trong khi vua Thái Tổ còn đang đau buồn vì cái chết của người vợ thứ hai này, Trịnh Đạo Truyền âm mưu giết chết Lý Phương Viễn và các anh em trai để đảm bảo địa vị của mình trong triều. Vào năm 1398, biết được âm mưu này, Lý Phương Viễn lập tức nổi loạn và đột kích vào hoàng cung, giết chết Trịnh Đạo Truyền, thuộc hạ của ông ta và cả hai đứa con trai của vương hậu Thần Đức quá cố. Vụ việc này được xem là Cuộc xung đột đầu tiên của các vương tử.
Kinh hoàng trước cảnh các con mình chém giết lẫn nhau vì ngai vàng, cộng với việc suy sụp sau cái chết của vương hậu Thần Đức, Thái Tổ nhanh chóng lập người con thứ là Vĩnh an Đại quân Lý Phương Quả (I Panggwa, 이방과, 李芳果) - tức vua Định Tông) làm người kế vị và Thái Tổ thoái vị sau đó. Khi mới lên ngôi, Định Tông dời đô về Khai Thành vì ông cho rằng đóng đô ở đây thuận tiện hơn. Trong khi đó, Lý Phương Viễn lại tiếp tục kế hoạch vận động để bản thân mình được trở thành thế tử kế vị ngai vàng của anh trai. Tuy nhiên, kế hoạch của Phương Viễn bị Hoài an Đại quân Lý Phương Cán (I Panggkan, 이방간, 李芳幹), con trai thứ tư của vua Thái Tổ chống đối, bản thân Phương Cán cũng mong muốn giành ngôi vị thế tử với em trai mình. Đến năm 1400, mâu thuẫn giữa hai anh em Lý Phương Viễn và Lý Phương Cán trở thành một cuộc xung đột vũ trang đẫm máu mang tên Cuộc xung đột thứ hai của các vương tử. Cuối cùng Phương Viễn chiến thắng còn Phương Cán bị đày đến Thố San (T'osan, 토산, 兎山), những người thuộc phe cánh của Phương Cán đều bị xử tử. Ngay sau đó, vua Định Tông nhanh chóng lập Phương Viễn làm Hoàng thế đệ và cùng năm ông thoái vị nhường ngôi cho Phương Viễn. Thế đệ Phương Viễn kế ngôi, trở thành vua Thái Tông của nhà Triều Tiên.
=== Củng cố vương quyềnSửa đổi ===
Trong thời kỳ đầu trị vì của vua Thái Tông, thượng vương Thái Tổ từ chối giao ngọc tỷ của vương gia Triều Tiên - bằng chứng của tính hợp pháp của quyền lực nhà vua - cho Định Tông lẫn Thái Tông. Thái Tông bèn bắt đầu thực thi những chính sách hòng chứng minh với mọi người rằng ông đủ tài năng và tư cách để trị vì Triều Tiên. Việc đầu tiên mà Thái Tông thực hiện là xóa bỏ những đặc quyền đặc lợi của những quan chức cao cấp trong triều đình cũng như xóa bỏ quân đội riêng của các quý tộc phong kiến. Việc này khiến các quý tộc Triều Tiên khó có cơ may làm loạn hơn đồng thời gia tăng đáng kể quân số của quân đội Triều Tiên. Tiếp theo Thái Tông lại sửa đổi những pháp chế hiện hành liên quan đến thuế má cùng với vấn đề sở hữu ruộng đất và sự ghi nhận địa vị xã hội của người dân. Cùng với sự khai phá thêm những vùng đất chưa được biết đến trước đó, thu nhập của quốc gia đã gia tăng gấp đôi.
Vào năm 1399, Thái Tông đã dùng quyền hạn của mình để loại bỏ Ty Đô Bình Nghị sử (Top'yŏng Uisasa, 도평의사사, 都评议使司), một hội đồng điều hành chính quyền cũ nắm giữ toàn bộ quyền lực của triều đình trong những năm cuối của triều đại Cao Ly nhờ sự ủng hộ của Phủ Nghị Chính (Ŭijŏngbu, 의정부, 議政), một nhánh mới của bộ máy điều hành trung ương bên cạnh nhà vua và các chỉ dụ của ông. Sau khi thông qua hệ thống văn kiện cai trị đất nước và luật thuế, Thái Tông ban hành một sắc lệnh mới trong đó tất cả các quyết định đã được Phủ Nghị Chính thông qua chỉ có thể có hiệu lực sau khi đã được nhà vua chuẩn y. Điều này đã chấm dứt lệ các vị đại thần và quân sư trong triều quyết định bằng cách tranh luận và đàm phán với nhau còn nhà vua chỉ là người quan sát và do đó, thông qua thâm ý của nhà vua trong việc giành quyền điều hành thực sự đất nước Triều Tiên, đã nâng quyền lực của hoàng gia lên những tầm cao mới. Ngay sau đó, Thái Tông cho thiết lập một cơ quan chính quyền gọi là Phủ Thần môn (Shinmun, 신문, 神門) để thụ lý các trường hợp dân chúng cho rằng họ bị bóc lột hay bị quan lại hoặc quý tộc hành xử không công bằng.
Tháng 8 năm 1418, hai tháng sau khi Thái Tông thoái vị, Thế Tông kế vị ngai vàng của cha mình. Tháng 5 năm 1419, Thế Tông, dưới sự hướng dẫn của phụ vương Thái Tông, tổ chức chiến dịch Kỷ Hợi đông chinh tấn công nhằm tiễu trừ lực lượng hải tặc Nhật Bản tại đảo Đối Mã (Tsushima, 対馬). Tháng 9 năm 1419, Sadamori (Biền Trinh Thịnh, 平貞盛), Đại danh (Damyo, 大名) của Đối Mã đầu hàng quân đội Triều Tiên. Đến năm 1443, Hòa ước Quý Hợi được ký kết, trong đó Đại danh của đảo Đối Mã được phép thông thương với Triều Tiên sáu mươi tàu thuyền mỗi năm, đổi lại ông ta phải tiến cống cho Triều Tiên và phải giúp đỡ quân Triều Tiên chống lại bọn hải tặc Nhật Bản đang cướp phá vùng bờ biển Triều Tiên khi đó.
Ở biên giới phía bắc, Thế Tông cho thiết lập bốn công sự và sáu khu đồn trú quân (tứ quận, lục trấn, 사군육진, 四郡六鎭) để bảo vệ thần dân chống lại người Trung Quốc và người du cư Mãn Châu thù địch sinh sống tại Mãn Châu. Năm 1433, Thế Tông cử danh tướng Kim Tông Thụy (Kim Chongsŏ, 김종서, 金宗瑞) lên miền bắc để tiêu diệt người Mãn Châu. Chiến dịch quân sự của tướng quân Kim Tông Thụy đã chiếm được nhiều thành trì, đẩy biên giới xa lên phía bắc và xác lập lại lãnh thổ Triều Tiên, xấp xỉ biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc ngày nay.
Dưới thời cai trị của Thế Tông, Triều Tiên có nhiều tiến bộ kỹ thuật về khoa học tự nhiên, nông nghiệp, văn học, y học cổ truyền... Vì những thành công của ông, Thế Tông được phong danh hiệu Đại Vương. Công trạng đáng ghi nhớ nhất của Thế Tông là sự xây dựng hệ thống mẫu tự cho tiếng Triều Tiên (gọi là Chosŏn'gŭl ở Bắc Triều Tiên và Hangul ở Hàn Quốc) vào năm 1443. Việc sử dụng kiểu mẫu tự Hanja và Hanmun trong văn tự hằng ngày cuối cùng cũng dần chấm dứt vào nữa cuối của thế kỷ 20.
=== Cuộc xâm lược của Nhật BảnSửa đổi ===
Xuyên suốt lịch sử của mình, Triều Tiên thường xuyên bị cướp biển tấn công cả trên biển và trên bộ. Lý do duy nhất để người Triều Tiên duy trì lực lượng hải quân là nhằm đảm bảo an toàn cho thông thương hàng hải chống lại quân cướp biển Oa Khấu (倭寇, wakō - tức cướp biển Nhật Bản). Hải quân Triều Tiên luôn vượt trội hơn so với quân cướp biển do sử dụng các dạng kỹ thuật tiên tiến dùng thuốc súng (ví dụ súng thần công, cung tên lửa kiểu thần cơ tiễn (Singijeon, 신기전, 神機箭) được triển khai trên hỏa xa (Hwach'a, 화차, 火車)...
Trong Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên (1592-1598), Tướng quân Nhật Bản Toyotomi Hideyoshi (Phong Thần Tú Cát), dự định sẽ chinh phục Trung Hoa (triều Minh) với những khẩu súng mua được của người Bồ Đào Nha; vì vậy ông tổ chức hai cuộc tấn công xâm lược Triều Tiên vào năm 1592 và 1597, nhằm biến Triều Tiên thành bàn đạp để tấn công vào Trung Quốc. Việc chia bè kết phái, đánh giá sai sức mạnh quân sự Nhật Bản cũng như nỗ lực không thành về mặt ngoại giao đã dẫn đến sự thiếu chuẩn bị về phía Triều Tiên. Những khẩu súng tân tiến của châu Âu đã giúp Nhật Bản đánh chiếm nam phần bán đảo Triều Tiên - bao gồm cả kinh đô Hán Thành chỉ trong vòng vài tháng. Theo Biên niên sử nhà Triều Tiên, có nhiều phần tử phiến loạn là nô lệ người Triều Tiên tham gia vào quân Nhật, những người này đã đốt cung Cảnh Phúc (Gyeongbokgung, 경복궁, 景福宮) và kho chứa tài liệu về nô lệ của nó.
Tuy nhiên sức kháng cự mạnh mẽ của nhân dân Triều Tiên đã làm chậm bước tiến của quân Nhật; và những chiến thắng quyết định của Đô đốc thủy quân Lý Thuấn Thần (Yi Sun-si, 이순신, 李舜臣) đã khiến Triều Tiên nắm quyền kiểm soát biển cả và cắt đứt đường tiếp tế của quân Nhật Bản. Thêm vào đó, nhà Minh đã gửi quân chi viện cho Triều Tiên từ năm 1593 và liên quân Trung-Triều cuối cùng đã đánh tan quân đội Nhật Bản - dù họ cũng phải chịu những tổn thất nặng nề. Chiến thắng Lộ Lương năm 1498, với 450/500 chiến thuyền Nhật Bản bị đánh chìm và 15000 thủy binh Nhật tử trận đã quyết định kết cục cuộc chiến. Và cũng sau cuộc chiến này, quan hệ Triều Tiên - Nhật Bản hoàn toàn bị đóng băng trong một thời gian.
Trong thời gian chiến tranh, người Triều Tiên đã phát triển nhiều loại vũ khí cầm tay mạnh mẽ và thuốc súng có chất lượng cao cùng với chiếc Thuyền chiến rùa (Quy bối thuyền - Kŏbuksŏn, 거북선, 龜背船) lừng danh.
=== Cuộc xâm lược của nhà ThanhSửa đổi ===
Sau chiến tranh, nhà Triều Tiên ngày càng trở nên cô lập. Giới cầm quyền đất nước đeo đuổi chính sách hạn chế tiếp xúc với nước ngoài. Thêm vào đó, nhà Minh đã bị suy yếu, một phần là vì cuộc chiến giữa Triều Tiên và Nhật Bản, điều này đã dẫn đến sự hình thành một triều đại mới, đó là nhà Thanh. Người Triều Tiên quyết định giữ chặt biên giới hơn, tăng cường kiểm soát giao thông xuyên biên giới và chờ đợi sự bắt đầu khuấy nhiễu của người Mãn Châu nhằm lật đổ Nhà Minh.
Vương quốc Triều Tiên phải gánh chịu hai cuộc xâm lăng của người Mãn Châu, vào năm 1627 (xem Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ nhất của người Mãn Châu) và 1637 (xem Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ hai của người Mãn Châu). Triều Tiên đã đầu hàng người Mãn Châu và đồng ý cống nạp cho các hoàng đế nhà Thanh để được sự bảo hộ của nhà Thanh, trong đó bao gồm cả mậu dịch song phương với Trung Quốc tại thời điểm này. Chính sách đối ngoại của vua quan nhà Thanh là ngăn ngừa sự hình thành các vùng đất do người nước ngoài kiểm soát trên đất đai của người Trung Quốc. Chính sách như trên đã hạn chế sự hiện diện của các thương điếm truyền thống của các hãng (tiếng Hoa: 行) nước ngoài đến Macau. Các thương điếm này nắm giữ đáng kể việc mua bán tơ lụa của Trung Quốc để đổi lấy bạc của nước ngoài. Với cách sắp xếp này, việc giao thương với người nước ngoài đã được chuyển xuống các tỉnh miền nam Trung Quốc, đặt vùng lãnh thổ chưa yên ổn ở phía bắc dưới các quy chế cẩn mật và hạn chế sự ảnh hưởng của người nước ngoài. Quyết định này đã ảnh hưởng đến Triều Tiên khi Trung Quốc là bạn hàng chính của Triều Tiên.
=== Giai đoạn cuối của nhà Triều TiênSửa đổi ===
Sau những cuộc xâm lăng của nhà Thanh, Triều Tiên trải qua một thời gian gần 200 năm trong hoà bình. Các vua Anh Tổ và Chính Tổ lãnh đạo công cuộc phục hưng mới của nhà Triều Tiên. Vua Túc Tông và con trai của ông ta, Anh Tổ cố gắng giải quyết các vấn đề bắt nguồn từ tệ bè phái chính trị. Chính sách Đãng bình - dẹp yên (T'angp'yŏng, 탕평책, 蕩平策) đã ngăn chặn một cách có hiệu quả nhiều cuộc tranh chấp của các phe phái. Cháu nội của vua Anh Tổ, Chính Tổ đã thực hiện nhiều cải cách trong suốt thời gian trị vì của ông, đặc biệt là việc thành lập thư viện hoàng gia mang tên Khuê chương các (Kyuchangkak, 규장각, 奎章閣). Tuy là một thư viện hoàng gia nhưng mục đích của nó là để cải thiện vị thế văn hóa và chính trị của Triều Tiên, đồng thời chiêu mộ được những quan lại có tài để điều hành đất nước. Vua Chính Tổ cũng chú trọng vào những sáng kiến táo bạo về mặt xã hội, mở nhiều chức vụ trong triều cho những người trước đây bị cấm vì địa vị xã hội của họ. Vua Chính Tổ ủng hộ nhiều nhà Nho Thực học (Sirhak, 실학, 實學), và đổi lại các nhà Nho Thực học ủng hộ vương quyền của nhà vua. Triều đại vua Chính Tổ còn chứng kiến sự trưởng thành và phát triển của nền văn hóa bình dân Triều Tiên.
Năm 1863, vua Cao Tông lên ngôi. Cha của vua là Nhiếp Chính Hưng tuyên Đại viện quân (Hŭngsŏn Taewŏnkun, 흥선대원군, 興宣大院君) cầm quyền thay ông cho đến khi Cao Tông đến tuổi trưởng thành. Vào giữa thập kỷ 1860, ông là người đề xướng chủ trương bế môn tỏa cảng và đàn áp đạo Thiên Chúa trong và ngoài nước, một chính sách đã dẫn đến chiến dịch quân sự của người Pháp chống lại Triều Tiên vào năm 1866. Những năm đầu dưới sự cai trị của ông cũng chứng kiến nỗ lực to lớn nhằm xây dựng lại đại quy mô cung Cảnh Phúc đổ nát, ngôi vị của vương quyền hoàng gia. Trong thời kỳ cầm quyền của Hưng tuyên Đại viện quân, nạn bè phái chính trị và quyền lực do phái Yên Đông Kim (安東) nắm giữ đã hoàn toàn phai nhạt.
Năm 1873, vua Cao Tông tuyên cáo quyền điều hành trực tiếp quốc gia của mình. Sau khi Hưng tuyên Đại viện quân lui về ẩn dật, Hoàng hậu tương lai Min (sau này được gọi là Minh Thành Hoàng Hậu - Myŏngsŏng Hwanghu, 명성 황후, 明成 皇后) đã giành hoàn toàn quyền kiểm soát triều chính, đặt người thân của mình vào những địa vị thế lực trong triều.
=== Suy yếuSửa đổi ===
Trong thế kỷ 19, căng thẳng giữa hai đế quốc Mãn Thanh và Nhật Bản ngày càng gia tăng mà đỉnh điểm là cuộc Chiến tranh Giáp Ngọ (1894–1895). Nhiều cuộc giao tranh đã diễn ra trên bán đảo Triều Tiên. Sau cuộc canh tân đất nước của Thiên hoàng Minh Trị, Nhật Bản tiếp thu được nhiều kỹ thuật quân sự Tây phương, đã ép buộc Triều Tiên ký Hiệp ước Giang Hoa (Giang Hoa đảo điều ước - Kanghwado Choyak, 강화도조약, 江華島條約) vào năm 1876.
Nhiều người dân Triều Tiên căm ghét người Nhật và những ảnh hưởng của ngoại bang lên đất nước họ cũng như sự cai trị áp bức và thối nát của nhà Triều Tiên. Vào ngày 11/01/1894, thủ lĩnh nông dân Toàn Bồng Chuẩn (Chôn Pong-chun, 전봉준, 全琫準) đã đánh bại quân triều đình tại trận chiến Go-bu (Tỉnh Ấp - Jeongeup, 정읍, 井邑). Sau trận chiến, Toàn Bồng Chuẩn đã phân phát toàn bộ của cải của mình cho những người nông dân. Trong lúc đó, quân triều đình nhà Triều Tiên tiến đánh Toàn Bồng Chuẩn và hai bên đã đi đến một thỏa thuận đình chiến. Tuy nhiên, nhà Triều Tiên đã cầu viện nhà Thanh để dập tắt cuộc khởi nghĩa. Sau khi thông báo với Nhật Bản theo đúng Hòa Ước Thiên Tân (天津条約), nhà Thanh đưa quân vào Triều Tiên. Đây là mồi lửa châm ngòi cuộc Chiến tranh Giáp Ngọ.
Hoàng Hậu Minh Thành đã cố gắng chống lại sự can thiệp của người Nhật vào Triều Tiên và có khuynh hướng dựa vào sự trợ giúp của Nga và Trung Quốc. Vào năm 1895, Hoàng Hậu Minh Thành (xem "Vương hậu Min") bị ám sát trực tiếp bởi các sát thủ người Nhật.. Công sứ Nhật Bản tại Triều Tiên Miura Gorō (Tam Phổ Ngô Lâu, tiếng Nhật: 三浦梧楼) đã dàn dựng âm mưu chống lại bà. Một nhóm sát thủ Nhật Bản cùng với lực lượng Huấn luyện Đội (Hunryŏntae, 훈련대, 訓鍊隊) đã đột nhập vào Hoàng cung tại Hán Thành - đang dưới quyền kiểm soát của người Nhật - ám sát Hoàng Hậu Minh Thành; và thi thể của bà đã bị nhóm thích khách thiêu cháy và chôn ở chái Bắc của Hoàng cung.
Thất bại của triều đình Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ đã buộc họ phải ký Điều ước Shimonoseki với Nhật Bản, qua đó chính thức thừa nhận Triều Tiên độc lập, thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Đây là một bước tiến trong kế hoạch giành lấy quyền thống trị Triều Tiên của đế quốc Nhật Bản. Triều đình Triều Tiên đã cảm thấy sức ép từ các thế lực lớn đang lăm le muốn nuốt trôi họ và vì vậy họ nhận thấy nhu cầu củng cố sự toàn vẹn và hợp pháp của toàn dân tộc Triều Tiên. Năm 1897 Triều Tiên chính thức đổi tên thành Đại Hàn Đế quốc và vua Cao Tông trở thành hoàng đế Quang Vũ của đế quốc Đại Hàn, một hành động nhấn mạnh nền độc lập của quốc gia này. Về nguyên tắc, 1897 là năm đánh dấu sự kết thúc của "thời kỳ Triều Tiên" trong lịch sử của Triều Tiên vì tên của quốc gia này đã thay đổi, tuy nhiên sự cai trị của nhà Triều Tiên vẫn tiếp tục cho đến năm 1910 khi Nhật Bản chính thức biến Triều Tiên thành lãnh thổ của mình.
Trong thời gian này, nhiều thế lực quốc gia khác cũng đang ra sức cải tiến quân đội - nhất là Nga - với mục tiêu hất cẳng thế lực của Nhật Bản. Trong một chuỗi phức tạp những thủ đoạn quân sự và phản quân sự, Nhật Bản đánh lui hạm đội Nga tại cảng Lữ Thuận vào năm 1905. Sau chiến thắng tại cuộc chiến năm 1904–1905 với Nga cùng với kết quả là Hòa ước Portsmouth, người Nhật đã rảnh tay trong việc tiến tới thống trị bán đảo Triều Tiên. Năm 1905, đế quốc Đại Hàn buộc phải ký Hòa ước Ất Tỵ trong đó quy định Triều Tiên sẽ là một xứ bảo hộ của Nhật Bản. Nguyên Thủ tướng Nhật Itō Hirobumi (Y Đằng Bác Văn) trở thành Toàn Quyền Triều Tiên đầu tiên, mặc dù ít lâu sau ông bị An Trọng Căn (An Chunggŭn, 안중근, 安重根) một thành viên của phong trào Kháng Nhật vận động ám sát tại nhà ga của thành phố Cáp Nhĩ Tân vào năm 1910. Cùng năm đó, bất chấp làn sóng phản kháng của nhân dân Triều Tiên, đế quốc Nhật chính thức sát nhập Triều Tiên vào lãnh thổ của mình. Nhà Triều Tiên chấm dứt từ đó.
== Địa giới hành chínhSửa đổi ==
Trong hầu hết thời gian dưới thời nhà Triều Tiên, nước Triều Tiên được chia làm tám đạo (do; 도; 道). Đường ranh giới giữa tám đạo được giữ cố định trong gần 5 thế kỷ từ năm 1413 đến 1895, và hình thành một hình mẫu về mặt địa lý vẫn còn được phản ánh cho đến tận ngày nay trong các phân khu hành chính, phương ngôn và sự phân biệt các vùng miền trên bán đảo Triều Tiên. Tên của tám đạo vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay, không ở dạng này thì cũng ở dạng khác.
== Cấu trúc xã hội và dân cưSửa đổi ==
Dân số của Triều Tiên thời nhà Lý còn nhiều tranh cãi. Các ghi nhận về số hộ gia đình của triều đình trong thời gian này được xem là không đáng tin cậy. Một ước đoán gần đây đưa ra giá trị 6 triệu vào thời điểm khởi đầu của triều đại vào năm 1392, tăng một cách bất thường đến giá trị đỉnh 18 triệu vào khoảng năm 1750. Giữa năm 1810 và 1850, dân số giảm xấp xỉ 10% và giữ ổn định.
Thoạt đầu Triều Tiên thiếu một tầng lớp quý tộc địa chủ theo cách hiểu thông thường. Tuy nhiên, một hệ thống điều hành trung ương tập quyền được thiết lập và điều hành bởi các nhà Nho được gọi là lưỡng bang (Yangbang, 양반 兩班). Đến cuối thế kỷ 18, lưỡng bang đã mang hầu hết các nét đặc trưng của một lớp quý tộc cha truyền con nối, bất kể vị thế đó là dựa trên sự pha trộn độc nhất của địa vị gia đình, kết quả của hệ thống thi cử kiểu Nho giáo hay hệ thống phục vụ dân sự. Lưỡng bang và nhà vua, trong một sự cân bằng mong manh, cai quản triều đình trung ương và các thể chế quân sự. Tỷ lệ của lưỡng bang có thể đạt đến 30% dân số vào khoảng năm 1800, mặc dù có sự biến động cục bộ rất đáng kể. Vì triều đình nhỏ, có rất nhiều lưỡng bang là giới quý tộc tỉnh lẻ có địa vị cao trong xã hội, nhưng không phải luôn luôn giàu có.
Phần 30-40% khác của dân số là nô lệ hay "bẩm sinh thấp hèn". Sự chiếm hữu nô lệ có tính cha truyền con nối, đồng thời là một hình thức trừng phạt của luật pháp. Tầng lớp nô lệ bao gồm nô lệ công hữu và tư hữu và triều đình thỉnh thoảng cũng cho phép nô lệ trở thành dân thường hay tầng lớp cao hơn. Nô lệ tư hữu có thể bị xem là vật thừa kế như tài sản cá nhân. Sau những vụ mùa thất bát, nhiều thường dân (sangmin, 상민, 常民) tự nguyện xin làm nô lệ để sinh nhai. Suốt thời nhà Triều Tiên khoảng 30 đến 40% dân số Triều Tiên có nô lệ. Tuy vậy, nô lệ thời nhà Triều Tiên có thể sở hữu tài sản và họ đôi khi thường làm như vậy.. Những người nô lệ tư hữu có thể mua tự do cho mình. Tất cả nô lệ công hữu đều được giải phóng vào năm 1801, và thể chế này dần chấm dứt ở thế kỷ sau. Đến cuối thế kỷ 19, chế độ nô lệ bị bãi bỏ hoàn toàn trong cuộc cải cách Giáp Ngọ (Kabo Kaehyŏk, 갑오 개혁, 甲午改革).
Chiếm đa số trong nhóm 40-50% dân số còn lại là nông dân, nhưng nhiều nghề mới phát sinh đã làm gia tăng sự xuất hiện quan trọng về quy mô của những nhóm khác: lái buôn và thương nhân, thư lại (trung nhân, - chungin, 중인, 中人), thợ thủ công và lao động phổ thông, thợ dệt... Dựa vào quy mô dân số, có thể thấy một cá nhân điển hình thường có nhiều vai trò. Ở mức độ nào đó, hầu hết các hoạt động nông nghiệp là để trao đổi mua bán chứ không phải để ăn. Thêm vào đó, để kiếm thêm thu nhập, một bộ phận lao động lành nghề bị bắt buộc phải tránh né những tác động tiêu cực của một hệ thống thuế thường nặng nề và đầy tham nhũng.
Trong suốt giai đoạn cuối của nhà Triều Tiên, những quan niệm về khuôn phép và "đạo làm con" kiểu Nho giáo dần trở nên đồng nghĩa với việc tuân thủ nghiêm ngặt một tôn ti trật tự xã hội phức tạp, với nhiều thứ bậc cầu kỳ. Vào đầu những năm 1700, nhà phê bình xã hội Lý Trọng Hoán (I Chunghwan, 이중환, 李重煥) (1690-1756) đã phàn nàn một cách mỉa mai rằng "Với quá nhiều những thứ bậc khác nhau phân cách người này với người khác, người ta khó lòng có được một vòng tay thân hữu quá rộng." Tuy nhiên, ngay như Lý Trọng Hoán đã viết, sự phân biệt trong xã hội đời thường của thời sơ Triều Tiên càng được củng cố bằng sự phân biệt đối xử được luật pháp công nhận, như luật cấm chi tiêu xa xỉ (Xa xỉ cấm chỉ luật - 奢侈禁止令) quy định trang phục của từng nhóm khác nhau trong xã hội và các luật ngăn cấm quyền sở hữu tài sản và thừa kế của phụ nữ.
Tuy nhiên, những luật lệ này có lẽ đã được công bố một cách chính xác như vậy là bởi vì sự biến động của xã hội đang đà gia tăng, đặc biệt là trong suốt thế kỷ phồn thịnh bắt đầu từ năm 1710. Đẳng cấp xã hội của nhà Triều Tiên được phát triển dựa trên đẳng cấp xã hội của thời Cao Ly. Từ thế kỷ thứ 14 đến 16, hệ thống đẳng cấp này hà khắc và bảo thủ. Một khi các cơ hội về mặt kinh tế nhằm thay đổi tình trạng này bị giới hạn thì luật pháp nếu có cũng không cần thiết.
Nhưng vào khoảng cuối các thế kỷ 17-19, những nhóm thương nhân mới xuất hiện và hệ thống giai cấp cũ suy yếu đi rất nhiều. Đặc biệt, dân số của giai cấp lưỡng bang thuộc khu vực Đại Khâu (Taeku, 대구, 大邱) được mong đợi đạt gần 70% trong năm 1858. Triều đình nhà Triều Tiên ra lệnh giải phóng số nô lệ công hữu vào năm 1801 (공노비 해방) và cuối cùng, hệ thống giai cấp của nhà Triều Tiên đã chính thức bị bãi bỏ hoàn toàn vào năm 1894 (사노비 해방).
== Văn hóaSửa đổi ==
Nhà Triều Tiên đã chủ xướng hai giai đoạn phát triển văn hóa rực rỡ. Trong đó phải kể đến việc xây dựng nghệ thuật trà lễ Triều Tiên, nghệ thuật làm vườn Triều Tiên và nhiều bộ sử bao quát. Hoàng gia Triều Tiên cũng cho xây dựng nhiều pháo đài và cung điện.
=== Trang phụcSửa đổi ===
Dưới thời nhà Triều Tiên, áo jeogori của phụ nữ đã dần dần trở nên bó chặt và rút ngắn lại. Vào thế kỷ 16, jeogori (저고리, có thể phiên âm Hanja là xích cổ lý- 赤古里) đã rộng lụng thụng và chỉ nằm ở dưới eo, nhưng vào khoảng cuối nhà Triều Tiên vào thế kỷ 19, jeogori đã được rút ngắn đến mức không thể trùm được hết ngực, vì vậy, một mảnh vải khác gọi là heoritti (허리띠) đã được sử dụng để che ngực. Vào cuối thế kỷ 19, Hưng Tuyên Đại Viện Quân đã giới thiệu Magoja (마고자, còn gọi là magwae - mã quái, 마괘, 馬褂), một loại áo choàng kiểu Mãn Châu, vào Triều Tiên, kiểu áo này thường được mặc cùng hanbok (Hàn phục - 한복, 韓服 hay Triều Tiên phục - 조선옷, 朝鮮옷) cho đến ngày nay.
Đến cuối thời nhà Triều Tiên, chima (치마, tên Hanja là thường - xiêm- 裳 hay quần - 裙) đã là váy phủ dài còn jeogori ngắn và bó sát người. Chiếc thùng rộng của váy được chít vòng quanh hông. Nhiều quần áo lót đã được mặc ở bên dưới chima như darisokgot, soksokgot, dansokgot, và gojengi để đạt được một hình dạng như mong muốn. Bởi vì jeogori ngắn như vậy nên nó đã trở nên tự nhiên để phơi bày heoritti hay còn gọi là heorimari, có chức năng như một áo nịt ngực.
Các tầng lớp trên mặc hanbok may bằng vải gai dệt chặt hoặc loại vải nhẹ cao cấp khác khi thời tiết ấm áp hoặc mặc lụa trơn có trang trí hoa văn vào thời gian còn lại của năm. Tầng lớp bình dân chỉ được pháp luật cho phép mặc quần áo làm bằng chất liệu sợi bông. Những tầng lớp trên mặc trang phục với màu sắc đa dạng hơn, tuy nhiên màu sắc tươi sáng nói chung dành cho trẻ em và các cô gái trẻ còn màu sắc dịu hơn thường dành cho đàn ông và phụ nữ ở tuổi trung niên. Tầng lớp bình dân còn bị luật pháp cấm mặc quần áo màu trắng hằng ngày, nhưng trong những dịp đặc biệt họ có thể mặc trang phục màu hồng ngả xám, xanh lá cây nhạt, xám, hoặc màu than chì. Theo đúng nghi lễ, khi những người đàn ông Triều Tiên đi ra ngoài, họ buộc phải mặc áo khoác ngoài gọi là durumagi dài chấm gối.
=== Hội họaSửa đổi ===
Các phong cách hội họa giữa thời nhà Triều Tiên dần chuyển sang trường phái hiện thực. Một phong cách tranh phong cảnh quốc gia gọi là "tả chân" - chuyển từ phong cách tranh phong cảnh tổng quát được lý tưởng hóa kiểu truyền thống Trung Hoa (tranh thủy mặc) sang những địa danh cụ thể được nêu ra một cách chính xác. Trong khi chưa có kỹ thuật chụp hình, phong cách này đủ tính chất học thuật để hình thành và khuyến khích một phong cách chuẩn cho nền hội họa Triều Tiên (ví dụ tác phẩm Đông Cung Đồ).
Từ giữa đến cuối thời nhà Triều Tiên là thời hoàng kim của nền hội họa Triều Tiên. Việc này diễn ra đồng thời với cú sốc của sự sụp đổ của nhà Minh liên hệ với sự kiện lên ngôi của các hoàng đế Mãn Châu tại Trung Hoa, và áp lực buộc các họa sĩ Triều Tiên phải xây dựng các mô hình nghệ thuật mới dựa trên chủ nghĩa dân tộc và sự tìm tòi ở trong nước cho những chủ đề cụ thể về Triều Tiên. Vào thời điểm này, Trung Hoa đã chấm dứt sự ảnh hưởng độc tôn, nền nghệ thuật Triều Tiên đã định được hướng đi riêng của nó và ngày càng trở nên tách biệt.
=== Kiến trúcSửa đổi ===
Lịch sử kiến trúc nhà Triều Tiên có thể được trình bày qua 3 giai đoạn: sơ, trung và hậu kỳ, tương ứng với sự phát triển văn hóa và kiến trúc. Vào giai đoạn sơ kỳ, kiến trúc phát triển từ sự kế thừa nền văn hóa của triều đại trước với những nguyên tắc định hướng chính trị mới của Nho giáo đã thế chỗ cho Phật giáo.
Thông qua sự ảnh hưởng của Nho giáo, thị hiếu quý phái tinh tế của triều đại cũ đã được thay thế bằng những nét đẹp chất phác, đơn giản và khiêm tốn với các đặc điểm bình dị và vững chắc. Hệ thống các bộ dầm chia liên kết hình trụ được sử dụng trong các khối kiến trúc chính tại các điền trang. Hệ thống các bộ dầm chia hình trụ và hệ thống dầm chia kiểu chiết trung, bao gồm các chi tiết kiến trúc từ cả hai hệ thống dầm chia hình trụ và hình trụ liên kết, cũng được sử dụng cho các đền đài và những công trình quan trọng khác. Dưới thời nhà Triều Tiên, nền kiến trúc Triều Tiên đã phát triển xa hơn với một ý chí vô song nhằm thể hiện biểu cảm về những quan niệm và giá trị của thời đại.
Hệ thống cụm dầm chia, kết cấu quan trọng của các tòa nhà về cấu trúc và mỹ quan, được phát triển tuân theo chức năng về kết cấu, đồng thời biểu thị vẻ đẹp trang trọng và độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Triều Tiên. Các đồ trang trí trong kiến trúc và ý nghĩa tượng trưng của nó đã đa dạng và phong phú hơn. Các kiến trúc sư ở thời kỳ này có ý định biểu lộ một ý chí mạnh mẽ để hình thành nên một phong cách bản địa trong kiến trúc và cố gắng dùng mọi kiểu vật dụng trang trí. Điều này đã đạt được một âm sắc giao hưởng với những phương pháp tổ hợp kiến trúc có độ tương phản cao giữa sáng và tối, giữa sự đơn giản và phức tạp và cuối cùng đã đạt đến đỉnh điểm của sự tinh tế trong kiến trúc. Khuynh hướng biểu cảm kiến trúc của thời hậu kỳ nhà Triều Tiên gợi nhớ lối biểu cảm tương tự của phong cách Baroque và Rococo ở phương tây.
== Khoa học kỹ thuậtSửa đổi ==
Nhà Triều Tiên dưới triều đại Thế Tông Đại Vương là giai đoạn phát triển rực rỡ của khoa học kỹ thuật. Dưới chính sách mới của Thế Tông cho phép tiện dân (cheonmin, 천민, 賤民) như Tưởng Anh Thực (Chang Yŏngsil, 장영실, 蔣英實) làm việc cho triều đình. Tưởng là một trong những nhà phát minh nổi tiếng nhất của Triều Tiên. Khi còn trẻ, ông đã chế tạo các loại máy móc giúp công việc của người thợ được dễ dàng hơn như cống và các đường ống thông nhau. Cuối cùng, Tưởng được cho phép cư ngụ trong hoàng cung để dẫn dắt một nhóm các nhà khoa học nghiên cứu phát triển khoa học cho Triều Tiên.
Một vài trong số các phát minh của ông là đồng hồ nước tự động (tự gõ) gọi là Jagyeokru (lậu hồ, 자격루, 漏壶)được phát minh vào năm 1434, vận hành bằng cách kích hoạt các chuyển động của các miếng gỗ để hiển thị trực quan thời gian. Tiếp theo đó, Tưởng Anh Thực phát triển một kiểu đồng hồ nước phức tạp hơn được gắn thêm nhiều thiết bị thiên văn, đồng thời ông cũng cải tiến kiểu máy in tự hành bằng kim loại được chế tạo trước đó dưới thời nhà Cao Ly. Kiểu máy in mới không chỉ có chất lượng tốt hơn mà còn nhanh gấp hai lần. Những phát minh khác gồm thủy kế và vũ lượng kế.
Cũng dưới thời nhà Triều Tiên, Hứa Tuấn (Hŏ Chun, 허준, 許浚), một vị thái y của triều đình đã sáng tạo nhiều bài thuốc, nhưng thành tựu đáng kể nhất của ông là tác phẩm Đông y bảo giám (Tongŭi pogam, 동의보감, 東醫寶鑑) thường được xem như là những bài thuốc cơ bản của y học cổ truyền Triều Tiên. Tác phẩm này được truyền bá sang Trung Quốc và Nhật Bản, những nơi mà cho đến ngày nay vẫn xem tác phẩm này như là một trong những tác phẩm kinh điển của nền y học phương Đông.
Điểm son của thiên văn học Triều Tiên dưới thời nhà Triều Tiên là sự sáng tạo ra các quả thiên cầu của những nhà khoa học như Tưởng Anh Thực, thiết bị này khi đặt cùng với nhau, bất kể ngày đêm, cho phép cập nhật vị trí của mặt trời, Mặt Trăng và các ngôi sao. Sau đó, với quả thiên cầu khuê biểu (Gyupyo, 규표, 圭表) còn có thể đo sự thay đổi thời gian theo sự biến đổi từng mùa.
Đỉnh cao của sự tiến bộ về thiên văn và lịch được thực hiện dưới thời vua Thế Tông là Thất chánh toán (Ch'ilchŏngsan, 칠정산, 七政算), chế tạo theo những phép tính đã được biên dịch dựa trên đường đi của 7 vật thể trên trời (5 hành tinh quan sát được, mặt trời và Mặt Trăng) được phát triển vào năm 1442. Công trình này giúp các nhà khoa học tính toán và dự đoán chính xác tất cả các hiện tượng cơ bản trên trời như nhật thực và các chuyển động tinh tú khác. Hỗn thiên thời kế (Honch'ŏnsikye, 혼천시계, 渾天時計) là một đồng hồ thiên văn do Tống Dĩ Dĩnh (Song I-yŏng, 송이영, 宋以穎) chế tạo vào năm 1669. Đồng hồ có một quả cầu nằm bên trong các vòng kim loại có đường kính 40 cm. Quả cầu được kích hoạt bởi một cơ cấu đồng hồ hoạt động, sẽ chỉ vị trí của vũ trụ cho ở bất cứ thời điểm nào.
Cương lý đồ (Kangrito, 강리도, 疆理圖) - tên đầy đủ: Hỗn nhất cương lý lịch đại quốc đô chi đồ - một bản đồ thế giới của Triều Tiên được thiết lập năm 1402 (năm thứ hai dưới triều đại vua Thái Tông) bởi Kim Sĩ Hành (Kim Sa-hyŏng, 김사형, 金士衡), Lý Mộ (I Mu, 이무, 李茂) và Lý Nạo (I Yo, 이회, 李撓). Bản đồ được thiết lập từ sự tổng hợp các bản đồ Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc.
Áo giáp mềm chống đạn đầu tiên, miên chế bội giáp (Myŏnje Paegap, 면제배갑, 綿製背甲), được phát minh vào những năm 1860 dưới thời nhà Triều Tiên, một thời gian ngắn sau chiến dịch quân sự của người Pháp chống Triều Tiên. Hưng Tuyên Đại Viện Quân ra lệnh phát triển áo giáp chống đạn vì những mối đe dọa ngày càng gia tăng từ quân đội các nước phương Tây. Kim Cơ Đẩu (Kim Ki-Tu (김기두, 金箕斗) và Khương Nhuận (Kang Ryun, 강윤, 姜潤) nhận thấy sợi bông nếu đủ dày có thể bảo vệ chống đạn và đã sáng chế ra những bộ áo giáp chống đạn được làm từ 30 lớp sợi bông. Loại áo giáp này được sử dụng tại chiến trường trong cuộc viễn chinh của Hoa Kỳ đến Triều Tiên, khi hải quân Hoa Kỳ tấn công đảo Giang Hoa vào năm 1871. Quân đội Hoa Kỳ đã lấy được một bộ áo giáp và đem về nước, tại đây nó được bảo tồn tại Bảo Tàng Smithsonian cho đến năm 2007. Bộ giáp sau đó được trả lại cho Triều Tiên và hiện nay được trưng bày công cộng.
== Kinh tếSửa đổi ==
=== Thương nghiệpSửa đổi ===
Vào thời nhà Cao Ly, Triều Tiên có một mối quan hệ thông thương vững chắc với người Ả Rập, Nhật Bản, Trung Quốc và Mãn Châu. Một ví dụ về hải cảng thương mại quốc tế phồn thịnh là Bình An Nam (P'yŏngannam, 평안남, 平安南). Người Triều Tiên trao đổi gấm thêu kim tuyến, đồ trang sức, sâm, tơ lụa và đồ gốm sứ vốn lừng danh khắp thế giới. Tuy nhiên, đến thời nhà Triều Tiên, Nho giáo được công nhận là quốc giáo và, trong tiến trình loại bỏ đức tin bền vững vào đạo Phật, gốm sứ xanh Cao Ly (Koryŏ Ch'ŏngcha, 고려청자, 高麗青瓷) được thay thế bằng gốm sứ trắng Bách Tế (Paekche, 백제, 百濟), loại này không được người Trung Hoa và Ả Rập ưa chuộng. Hơn nữa, việc mua bán trong thời gian này bị cấm đoán nhiều hơn nhằm phát triển nông nghiệp. Thêm vào đó, yêu cầu cống nạp thường xuyên của Trung Hoa đã đẩy chính sách của Triều Tiên đến chỗ ngừng sản xuất nhiều loại vật dụng xa xỉ (ví dụ như vàng, bạc...) và chỉ nhập khẩu lượng cần thiết từ Nhật Bản. Do bạc được dùng làm tiền ở Trung Hoa nên nó đóng vai trò quan trọng trong mậu dịch Triều - Trung.
== Hoàng gia cuối cùngSửa đổi ==
Sau cuộc xâm lăng và sự thôn tính "mặc nhiên" Triều Tiên của người Nhật vào năm 1910, các hoàng tử và công chúa của hoàng gia bị buộc phải đến Nhật để được cải tạo và lập gia đình. Người thừa kế ngai vàng, thái tử Anh Thân Vương Lý Ngân cưới Nashimoto-no-miya Masako (Lê Bổn Cung Phương Tử, 梨本宮方子; tên Triều Tiên: Lý Phương Tử - I Pangcha, 이방자, 李方子) và có hai người con trai, hoàng tử Lý Tấn (I Chin, 이진, 李晋) và Lý Cửu (I Ku, 이구, 李玖). Anh của Anh Thân Vương là hoàng tử Nghĩa Thân Vương Lý Cương có 12 người con trai và 9 người con gái từ nhiều thê thiếp khác nhau.
Thái tử Lý Ngân mất vị thế của mình tại Nhật vào cuối Thế chiến thứ 2 và trở về Triều Tiên vào năm 1963 theo lời mời của Chính phủ Cộng hòa. Ông bị đột quỵ khi máy bay đáp xuống Seoul và được đưa ngay vào bệnh viện. Ông đã không thể hồi phục và qua đời vào năm 1970. Anh trai của thái tử, hoàng tử Nghĩa Thân Vương Lý Cương mất vào năm 1955 và người dân Triều Tiên chính thức xem sự kiện này như là sự chấm hết của dòng dõi hoàng tộc.
Hiện nay, hoàng tử Lý Tích (I Sǒk, 이석, 李錫) là một trong hai người thừa tự ngôi vị nhà Triều Tiên. Ông là con trai thứ mười của Nghĩa Thân Vương Lý Cương (hoàng tử thứ năm của vua Cao Tông) và hiện là giáo sư dạy môn lịch sử tại Đại học Jeonju (Đại học tư thục Toàn Châu, 전주대학교, 全州大學校)- Hàn Quốc. Ngoài ra, còn nhiều con cháu dòng tộc sinh sống khắp Hoa Kỳ, Canada và Brasil hoặc đang lập nghiệp nơi khác bên ngoài Triều Tiên.
Ngày nay, nhiều ngôi mộ của con cháu hoàng tộc vẫn còn tồn tại trên đỉnh núi tại Dương Châu (Yangju, 양주, 楊州). Căn cứ theo phả hệ được khắc trên bia mộ, có thể cho rằng những người này thuộc dòng dõi vị vua vĩ đại của nhà Triều Tiên, vua Thành Tông (vị vua thứ 9 của nhà Triều Tiên). Ngọn núi này được phát hiện là sở hữu của một thành viên hoàng tộc tên là Lý Viên (I Won, 이원, 李圓) sinh năm 1958.
== Vương hiệu và danh xưngSửa đổi ==
=== Thời kỳ vương quốcSửa đổi ===
Vương (wang, 왕, 王) chỉ nhà vua, với danh xưng điện hạ (chŏnha, 전하, 殿下). Cách xưng hô tuy không đúng lắm nhưng vẫn thông dụng là mã mã (mama, 마마, 媽媽). Trước khi cách xưng hô điện hạ được sử dụng, có nhiều cách xưng hô khác nhau dành cho nhà vua. Các danh xưng theo tiếng địa phương như naratnim (나랏님) và imgeum (임금) cũng được dùng một cách thông dụng. Để ám chỉ các vị vua đời trước, người ta dùng các cách gọi tiên đại vương (sŏnt'aewang, 선대왕, 先大王) hay đại vương (t'aewang, 대왕, 大王); danh xưng quốc vương (kukwang, 국왕, 國王) được dùng với các công sứ nước ngoài; và quần thần trong triều cần nói về nhà vua lúc nhà vua không có mặt, nghĩa là cần phải trịnh trọng hơn, danh xưng được dùng là kim thượng (kŭm-sang, 금상, 今上), chúa thượng (chusang, 주상, 主上), thượng giám (sangkam, 상감, 上監), hay đại điện (t'aechŏn, 대전, 大殿). Vương hiệu giữ nguyên cho mọi cách xưng hô ngoại trừ một số bà vợ góa của các ông vua đã thoái vị chỉ được gọi hoặc đề cập đến nhà vua mà không được dùng vương hiệu của ông.
Vương phi (wangpi, 왕비, 王妃), vợ chính thức của nhà vua, được gọi là mã mã. Danh xưng theo cách gọi trong triều là trung cung điện (chungkungchŏn, 중궁전, 中宮殿) hay trung điện (jungchŏn, 중전, 中殿). Các bà vợ vẫn còn hôn ước với nhà vua đến khi qua đời có chung một tước hiệu gồm tiền tố là hai từ Hanja và hậu tố theo thông lệ là vương hậu (wanghu, 왕후, 王后), nếu bị phế truất thì không có tước hiệu mà chỉ được gọi là Phế phi.
Thượng vương (sangwang, 상왕, 上王), vua tự nguyện thoái vị nhường ngôi cho con trai mình. Họ thường còn nhiều ảnh hưởng và đôi khi đầy quyền lực trong suốt những năm còn lại của cuộc đời. Danh xưng được dùng là điện hạ (chŏnha, 전하, 殿下) hay ít thường xuyên hơn nhưng vẫn còn thông dụng là mã mã.
Thượng vương phi (sangwangpi, 상왕비, 上王妃), vương phi của nhà vua khi nhà vua đó thoái vị nhường ngôi chứ không phải qua đời, thì không được gọi là Vương Đại phi mà gọi là Thượng vương phi, nhưng trong lịch sử vương tước này chưa từng được sử dụng lần nào vì chỉ có một người được tôn vị Thượng vương nhưng lại chưa lập thất đó là Triều Tiên Đoan Tông.
Vương đại phi (wangt'aepi, 왕대비, 王大妃) hay gọi tắt Đại phi (t'aepi, 대비, 大妃), tước vị dành cho Vương phi của tiên vương, vương phi có thể là đích mẫu hoặc sinh mẫu của tân vương, cách xưng hô là mã mã, chỉ có chính thất Vương phi mới có thể nhận tước hiệu này, cho dù là Vương tử con trai của hậu cung kế vị, hậu cung đó cũng không thể được tôn làm Đại phi, mà chỉ thêm mỹ hiệu gồm hai từ vào hậu tố "cung", ví dụ Dực Tường Cung. Các bà đại phi thường nỗ lực tìm mọi cách gây ảnh hưởng đến nhà vua mang lợi ích về cho gia tộc ngoại thích của mình thông qua quyền nhiếp chính của họ, điều này thường xảy ra khi nhà vua còn quá nhỏ không thể tự mình cai trị đất nước hay đơn giản thông qua vai trò người mẹ hoặc ngay cả chỉ là vai trò của một nữ nhân trưởng thượng có quan hệ với nhà vua.
Thái thượng vương (t'aesangwang, 태상왕, 太上王), một vị vua thoái vị từ bỏ quyền lực trước đời thượng vương. Danh xưng được dùng là điện hạ (chŏnha, 전하, 殿下) hay ít thường xuyên hơn nhưng vẫn còn thông dụng là mã mã.
Đại vương đại phi (daewangdaebi, 대왕대비, 大王大妃), vợ cũ của vua trên vương đại phi một đời hay bà nội (tổ mẫu) hoặc bà cố của nhà vua đang trị vì, cách xưng hô là mã mã.
Đại viện quân (大院君 대원군 t'aewankun), cha của vua nhưng là người không thể lên ngôi vua vì không phải là người thuộc đời kế vị ngai vàng (các vị vua được vinh danh tại Tông Miếu Vương gia - chongmyo, 종묘, 宗廟 - phải là đời cao nhất của ngôi vị hiện tại được thờ tại đây). Có nhiều trường hợp các vương tử nắm quyền nhiếp chính cho con trai của mình, người cuối cùng làm điều này là nhiếp chính Hưng Tuyên Đại Viện Quân.
Phủ đại phu nhân (put'aepuin, 부대부인, 府大夫人), mẹ của nhà vua có cha không phải là vua, thường là phu nhân của Đại viện quân
Phủ viện quân (puwonkun, 부원군, 府院君), thân phụ của vương phi (nhạc phụ của nhà vua).
Phủ phu nhân (pupuin, 부부인, 府夫人), thân mẫu của vương phi (nhạc mẫu của nhà vua).
Quân (kun, 군, 君), con trai của nhà vua và nàng hầu hay con của một vương tử. Danh xưng được dùng là agissi (아기씨) - tiểu vương tử trước khi kết hôn và đại giám (t'aekam, 대감, 大監) sau khi kết hôn.
Quận phu nhân (kunpuin, 군부인, 郡夫人), vợ của quân.
Đại quân (t'aekun, 대군, 大君), vương tử con của nhà vua và các vương phi. Danh xưng được dùng là agissi (아기씨) - tiểu vương tử - trước khi kết hôn và đại giám (t'aekam, 대감, 大監) sau khi kết hôn. Tước hiệu của một vương tử không được truyền cho con cái.
Phủ phu nhân (府夫人 부부인 pupuin), vợ của đại quân.
Nguyên tử (wŏncha, 원자, 元子), con trai trưởng của nhà vua trước khi được tấn phong vương thế tử, cách xưng hô là mã mã. Nói chung, vương thế tử là con đầu của nhà vua và vương phi nhưng vẫn có nhiều ngoại lệ khi tước hiệu vương thế tử được trao cho con trai đầu của nhà vua với thiếp thất, trường hợp đáng chú ý nhất là vào thời vua Túc Tông.
Vương thế tử (wangsecha, 왕세자, 王世子) người kế vị ngai vàng, con trưởng của nhà vua thường được ưu tiên phong tước vị này so với các đứa con khác nếu hạnh kiểm của anh ta không có vấn đề gì lớn, cách xưng hô đơn giản là thế tử (secha, 世子, 세자) được dùng thường xuyên thay cho tên họ kèm theo danh xưng để hạ (chŏha, 저하, 邸下). Kém trịnh trọng hơn nhưng vẫn được dùng trong ngôn ngữ triều chính là danh xưng đông cung (dongkung, 동궁, 東宮) hay xuân cung (ch'unkung, 춘궁, 春宮) và cách xưng hô mã mã được sử dụng xen kẽ với danh xưng thế tử mặc dù danh xưng này thường được dùng vô tình bởi những thành viên lớn hơn trong hoàng tộc.
Vương thế tử tần (wangsechapin, 왕세자빈, 王世子嬪), vợ của vương thế tử, hay ngắn gọn hơn thế tử tần (sechapin, 세자빈, 世子嬪), với cách xưng hô manora (마노라) hay manura (마누라). Sau đó, cách gọi mã mã và manora hay manura trở nên không phân biệt rõ ràng vì sự ảnh hưởng của phái An Đông Kim, cách xưng hô mã mã cũng được dùng để gọi vương thế tử tần. Cách xưng hô mã mã cũng được dùng để chỉ đại quân, quân, công chúa hay ông chúa là vì cùng lý do như vậy.
Công chúa (kongchu, 공주, 公主), con gái của nhà vua với vương hậu, cách xưng hô là agissi (아기씨) - tiểu công chúa - trước khi lập gia đình và chaka (자가) - phu nhân - sau khi lập gia đình.
Ông chúa (ongchu, 옹주, 翁主), con gái của nhà vua với phi tần thuộc nội mệnh phụ, cách xưng hô là agissi (아기씨) - tiểu ông chúa - trước khi lập gia đình và chaka (자가) - phu nhân - sau khi lập gia đình.
Vương thế đệ (wangseche, 왕세제, 王世弟), em trai của nhà vua, người sẽ được thừa kế ngai vàng nếu nhà vua không có con nối dõi.
Vương thế tôn (wangseson, 왕세손, 王世孫), con trai của vương thế tử và vương thế tử tần và là cháu đích tôn của nhà vua, cách xưng hô là cáp hạ (hap-a, 합하, 閤下).
=== Thời kỳ đế quốcSửa đổi ===
Hoàng đế (hwangche, 황제, 皇帝), nhà vua, cách xưng hô là bệ hạ (pyeha, 폐하, 陛下).
Hoàng hậu (hwanghu, 황후, 皇后), chánh thất của hoàng đế.
Hoàng thái hậu (hwangt'aehu, 황태후, 皇太后), vợ góa của vua cha.
Thái hoàng thái hậu (t'aehwangt'aehu, 태황태후, 太皇太后), bà của nhà vua.
Hoàng thái tử (hwangt'aecha, 황태자, 皇太子), người kế vị ngai vàng, con trai cả của hoàng đế, cách xưng hô là điện hạ.
Hoàng thái tử phi (hwangt'aechapi, 황태자비, 皇太子妃), vợ chính thức của hoàng thái tử.
Thân vương (ch'inwang, 친왕, 親王), hoàng tử, con trai hoàng đế.
Thân vương phi (ch'inwangpi, 親王妃 친왕비), vợ của thân vương.
Công chúa, con gái của hoàng đế với hoàng hậu.
Ông chúa, con gái của hoàng đế với phi tần.
== Xem thêmSửa đổi ==
Biên niên sử nhà Triều Tiên
Lịch sử Triều Tiên
Phả hệ dòng họ Lý (Triều Tiên)
Nhật Bản xâm lăng Triều Tiên
Chính trị thời vương triều Lý (Triều Tiên)
Đế quốc Đại Hàn
Danh sách các quốc gia năm 1781
Danh sách các vua Triều Tiên
== Tham khảoSửa đổi ==
A Cultural History of Modern Korea, Wannae Joe, ed. with intro. by Hongkyu A. Choe, Elizabeth NY, and Seoul Korea: Hollym, 2000.
An Introduction to Korean Culture, ed. Koo & Nahm, Elizabeth NJ, and Seoul Korea: Hollym, 1998. 2nd edition.
Noon Eu Ro Bo Neun Han Gook Yuk Sa #7 by Jang Pyung Soon. Copyright 1998 Joong Ang Gyo Yook Yun Goo Won, Ltd, pp. 46–7.
== Liên kết ngoàiSửa đổi ==
Cultural Values of the Choson Dynasty – from Instrok.org, created by the East Rock Institute.
"Click into the Hermit Kingdom" (Written by Yang Sung-jin and published by Dongbang Media in Seoul, South Korea) – 100 articles in English on the Joseon Dynasty
Korean royal family website – currently available only in Korean.
Choson dynasty
"Japanese Document Sheds New Light on Korean Queen's Murder" – Ohmynews.com's uncovered document about murder of Queen Minbi
"E-Annals Bring Chosun History to Everyman", The Chosun Ilbo, ngày 27 tháng 1 năm 2006.
"Korean Lee (Yi) Dynasty Granite Sculptures.
Phương tiện liên quan tới Joseon Dynasty tại Wikimedia Commons |
mặt.txt | Mặt có thể là:
Mặt (sinh học): phần trước của đầu người, động vật
Mặt theo nghĩa là phần phẳng ở 1 phía nào đó của đồ vật
Mặt (toán học): đa tạp n-1 chiều trong không gian n chiều
== Tham khảo == |
kinh tế singapore.txt | Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản. Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế được giảm thiểu tối đa. Singapore có môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, giá cả ổn định, và là một trong những nước có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới. xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng điện tử và hóa chất và dịch vụ là nguồn cung cấp chính cho thu nhập kinh tế và mua được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hàng chưa gia công mà trong nước không có. Do vậy có thể nói Singapore dựa hoàn toàn vào nền kinh tế mở bằng việc mua các hàng hóa chưa gia công và chế biến chúng để xuất khẩu. Singapore cũng có một hải cảng chiến lược, có thể cạnh tranh với các nước láng giềng để thực hiện các hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu. Thành phố hải cảng của Singapore là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới, vượt xa Hong Kong và Thượng Hải. Thêm vào đó, thành phố hải cảng của Singapore có cơ sở hạ tầng tốt và lực lượng lao động có tay nghề cao nhờ các chính sách giáo dục của đất nước trong việc đào tạo kỹ nghề cho công nhân, nó cũng là nền tảng cho việc phát triển kinh tế của đất nước.
Ngày 14 tháng 2 năm 2007, chính phủ Singapore tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2006 là 7,9%, cao hơn ước ban đầu 7,7%.
== Xu hướng kinh tế vĩ mô ==
Đây là biểu đồ xu hướng GDP qua các năm của Singapore, tính theo giá thị trường ước tính bởi Quỹ Tiền tệ Thế giới.
Để tính toán và so sánh theo sức mua tương đương, có thể lấy 1 USD = 1,56 SGD (đô la Singapore).
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Bốn con hổ châu Á |
avaya.txt | Kể từ khi tách ra, Avaya đã bán các bộ phận sản xuất và kết nối và mua lại nhiều công ty khác để hỗ trợ cho các dòng sản phẩm hiện tại - Vista, VPNet. Quintus, Routescience, Nimcat Networks, Spectel, Ubiquity Software và Traverse Networks. Các kên phân phối đã tăng trưởng từ 98% bán trực tiếp thành 50% cho bán trực tiếp và 50% qua nhà phân phối. Donny Ward, (cựu AT&T từ Shreveport Works, thị trường bắc Louisiana) hiện là phó chủ tịch phụ trách kênh phân phối.
Avaya cũng mở rộng tại châu Âu qua việc mua lại công ty Tenovis và tại châu Á thông qua cổ phần kiểm soát trong Tata Telecom (nay là Avaya Global Connect).
Tính tới năm 2007, Avaya có khoảng 18.000 nhân viên, 40% làm việc ngoài nước Mỹ. Hội sở toàn cầu của Avaya đặt tại Basking Ridge, New Jersey được điều hành bởi Louis D'Ambrosio với cương vị Giám đốc điều hành. Ngày 9 tháng 6 năm 2008, vì lý do y tế, Louis D'Ambrosio đã rời bỏ cương vị này và vị trí tạm thời được Charlie Giancarlo đảm nhiệm. Công ty Heidrick & Struggles đã được thuê để tìm kiếm Giám đốc điều hành mới.
Avaya là nhà cung cấp Truyền thông hội tụ chính thức cho FIFA World Cup năm 2006. Avaya cũng cung cấp mạng truyền thông cho FIFA World Cup 2002 và FIFA Women's World Cup 2003.
Ngày 26 tháng 10 năm 2007 Avaya đã được hai công ty quản lý quỹ tư nhân - TPB Capital và Silver Lake Partners mua lại với giá $8.2 tỷ đô la Mỹ. Kết quả của giao dịch này biến Avaya thành công ty tư nhân và rút khỏi thị trường chứng khoán. Ngày 9 tháng 11 năm 2007, các công ty hoàn tất thương vụ mua bán và cổ đông Avaya được nhận 17,50 Đô la Mỹ cho mỗi cổ phiếu phổ thông.
== Nguồn gốc Western Electric ==
Kể từ khi tách ra khỏi Lucent Technologies, và Lucent Technologies trước đó là một công ty tách ra từ AT&T, Avaya tiếp tục bán và hỗ trợ các doanh nghiếp cho các dòng sản phẩm điện thoại nổi tiếng được sản xuất từ thời Bell System bao gồm điện thoại treo tường 2554, dòng điện thoại để bàn 2500.
Sản xuất điện thoại của Avaya diễn ra tại Shreveport Works, nhà máy sản xuất điện thoại công cộng cho Western Electric trước đây, ngừng vào năm 2001. Ngày nay, tất cả điện thoại của Avaya được sản xuất bên ngoài nước Mỹ thông qua các hợp đồng với các nhà sản xuất như Celestica.
Rất nhiều sản phẩm và khách hàng của Avaya ngày nay có nguồn gốc từ AT&T khi AT&T thành lập AT&T Network Systems. Là một phần của AT&T và ngày nay chính thức là LUCENT, Avaya được biết đến như một công ty sản xuất điện thoại với nguồn gốc lâu dài nhất cung cấp cho hơn một triệu khách hàng trên toàn cầu và hơn 90% của các công ty trong danh sách 500 công ty lớn nhất của Furtune.
== Các dòng sản phẩm hiện tại ==
Hiện tại, theo đánh giá của các công ty số liệu độc lập như IDG, Frost and Sullivan, Avaya là nhà cung cấp lớn nhất thế giới về hai mảng thị trường:Giải pháp thoại IP và Giải pháp Trung tâm dịch vụ khách hàng
Dòng sản phẩm thuộc Giải pháp thoại IP của Avaya có tên gọi là MultiVantage bao gồm các máy chủ thoại, các thiết bị kết nối thoại và các thiết bị đầu cuối. Máy chủ thoại của Avaya sử dụng phần mềm Communication Manager với phiên bản hiện tại là 5.1 với các phiên bản S8300, S8400, S8500 và S8720. Các thiết bị kết nối thoại bao gồm các thiết bị G650, G680, G700, G450, G350 và G250. Thiết bị đầu cuối có thể là các điên thoại IP, digital hoặc analog, softphone, wireless IP phone v.v. Avaya là nhà cung cấp giải pháp thoại doanh nghiệp đầu tiên chuyển phần mềm thoại từ nền Windows sang nền Linux.
Dòng sản phẩm Contact Center của Avaya gồm hai giải pháp Interaction Center cho các trung tâm chăm sóc khách hàng lớn và Contact Center Express cho các trung tâm có quy mô nhỏ hơn. Giải pháp tự phục vụ (self service) được cung cấp qua bộ sản phẩm Voice Portal và Interactive Response. Giao diện máy tính thoại (Computer Telephony Interface-CTI) được cung cấp qua bộ Application Enablement Service. Báo cáo và phân tích số liệu hoạt động được cung cấp qua sản phẩm Call Management System (CMS) và Operational Analyst (OA). Kết hợp với các giải pháp của các hãng thứ 3 như Nice, Verint, Witness, Avaya có thể cung cấp giải pháp trọn gói cho Trung tâm dịch vụ khách hàng
Avaya Data
Virtual Services Platform 9000 (VSP 9000) (en) VSP-9000
Ethernet Routing Switch (ERS) 8800
Ethernet Routing Switch (ERS) 8600 (en) ERS-8600
Ethernet Routing Switch (ERS) 8300
Ethernet Routing Switch (ERS) 5600 (en) ERS-5600
Ethernet Routing Switch (ERS) 5500
Ethernet Routing Switch (ERS) 4500
Ethernet Routing Switch (ERS) 2500
Secure Router 4134/2330
WLAN 8100
VPN Gateway
Identity Engines
== Kênh phân phối qua đối tác ==
Ngày nay, Avaya với tư cách là một công ty tư nhân lớn, cho phép các đối tác kinh doanh nhỏ hơn đáp ứng yêu cầu của các khách hàng là công ty vừa và nhỏ. All Business Communications http://abcna.com/ là một ví dụ về đối tác kinh doanh của Avaya. Lợi ích của giao dịch với đối tác kinh doanh là khách hàng có được các dịch vụ và hiểu biết về sản phẩm mà không phải giao dịch với công ty lớn như Avaya.
== Xem thêm ==
Phân chia Trunking đa liên kết
DSMLT
Định tuyến-SMLT
UNIStim
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Avaya |
hadrianus.txt | Hadrianus (tiếng Latinh: Publius Aelius Trajanus Hadrianus Augustus 24 tháng 1 năm 76 – 10 tháng 7 năm 138) là vị Hoàng đế của Đế quốc La Mã, trị vì từ năm 117 cho đến khi qua đời vào năm 138. Ông là một vị minh quân và là nhà lãnh đạo quân sự tàn nhẫn, có đầu óc tham vọng và làm việc không biết ngừng nghỉ. Tính cách và con người của ông luôn luôn cuốn hút hậu thế. Là một trong những quốc trưởng lừng danh nhất của La Mã, ông ngự trị trên một Đế quốc lớn hơn cả Liên minh châu Âu ngày nay. Ông trở nên nổi tiếng hơn cả về công cuộc gầy dựng Trường thành Hadrianus, đánh dấu biên giới phía Bắc của lãnh thổ La mã tại Anh. Tại kinh đô La Mã, ông tài gầy dựng đền Pantheon và xây cất Miếu thờ Vệ Nữ và La Mã.
Hadrian có tên khai sinh là Publius Aelius Hadrianus, chào đời ở Italica hay có lẽ tại kinh kỳ La Mã, từ một gia đình nguồn gốc ở Picenum tại Ý và sau đó đã định cư ở Italica, Hispania Baetica, gần với vị trí ngày nay của Sevilla, Tây Ban Nha. Tiên hoàng Traianus của Hadrianus là một người anh họ của cha ông. Do Traianus không có người kế vị chính thức nhưng theo Hoàng hậu Pompeia Plotina, Traianus đã chọn Hadrianus làm người thừa kế chính thức trước khi mất.
Trong suốt triều đại của ông, Hadrianus đã không ngừng đi thị sát, đến hầu như bất cứ tỉnh nào của đế quốc. Là một người ngưỡng mộ nồng nhiệt nền văn minh Hy Lạp, Hoàng đế Hadrianus đã nỗ lực đưa thành Athena trở thành kinh đô văn hóa của đế quốc và ra lệnh xây dựng đền miếu nguy nga trong khắp thành phố này. Một trong những nguyên nhân khiến cho ông hâm mộ văn minh Hy Lạp đến thế cũng là do ông yêu đương một mĩ nam người Hy Lạp là chàng Antinous. Sau khi Antinous chết đột ngột ở sông Nin, vị Hoàng đế đồng tính luyến ái đã phong thần cho chàng.
Hadrianus đã dành nhiều thời gian với các chiến binh của mình, bản thân ông thường mặc chiến bào và thậm chí còn ăn tối và ngủ cùng với những người lính. Ông chú tâm huấn luyện quân sự và rèn luyện vô cùng nghiêm ngặt, thậm chí ông đã giả vờ đưa tin rằng "quân địch đang tấn công" để khiến cho ba quân luôn luôn cảnh giác. Sau khi ông lên ngôi, tân Hoàng đế Hadrianus từ bỏ đất đai mà tiên hoàng Traianus ở vùng Lưỡng Hà và Armenia, và thậm chí được coi là từ bỏ Dacia. Trong những năm tháng cuối của triều đại mình, ông đã thẳng tay đàn áp các cuộc nổi dậy của Bar Kokhba ở Judaea, đổi tên thành tỉnh Syria Palaestina. Vào năm 136, thể lực của ông suy nhược, và ông chấp nhận Lucius Aelius sẽ là Hoàng đế kế tục của ông, nhưng ông này đột ngột qua đời hai năm sau đó. Vào năm 138, Hadrianus quyết định chấp nhận Antoninus Pius nếu ông ta ở sẽ lần lượt chấp nhận Marcus Aurelius và con trai của Aelius là Lucius Verus như là những người thừa kế riêng cuối cùng của mình. Antoninus đồng ý, và ngay sau đó Hadrianus đã mất tại Baiae.
== Thời niên thiếu ==
Mặc dù đã được chấp nhận một phần của tiểu sử của Hadrian, Hadrianus được sinh ra ở Italica thuộc một tỉnh được gọi là Hispania Baetica (tỉnh La mã nằm ở cực nam của bán đảo Iberia, bao gồm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha hiện đại). Tiểu sử của ông trong lịch sử quốc gia Augusta nói rằng ông được sinh ra ở Rome vào ngày 24 tháng 1 năm 76 trong một gia đình Italy, nhưng có gốc Tây Ban Nha qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, điều này có thể là một mưu mẹo để làm cho Hadrian nhìn giống như một người từ Rome, thay vì một người đến từ các tỉnh. Cha ông, một nghị viên Hispano-La Mã Publius Aelius Hadrianus Afer, một nghị viên xuất phát từ hàng ngũ vệ binh pháp quan. Ông dành phần lớn thời gian của mình ở Rome.
Tổ tiên của Hadrianus có nguồn gốc từ Hadria, Atri ngày nay, một thị trấn cổ xưa của vùng Picenum tại Ý, nhưng dòng họ ông đã định cư ở Italica tại Hispania Baetica ngay sau khi nó thành lập bởi Scipio Africanus. Afer là một người anh em họ nội của hoàng đế tương lai Trajan. Mẹ của ông, là Domitia Paulina đến từ thành phố Gades(Cadiz ngày nay). Paulina là một con gái của một gia đình nguyên lão Tây Ban Nha-La Mã ưu tú. Chị của Hadrianus và là người chị em ruột duy nhất Aelia Domitia Paulina, đã kết hôn với người giữ chức chấp chinh quan ba lần là Lucius Julius Ursus Servianus, cháu gái của ông là Julia Serviana Paulina và cháu trai lớn của ông là Gnaeus Pedanius Fuscus Salinator, từ Barcino. Cha mẹ ông qua đời năm 86 khi Hadrianus lên mười, và cậu bé sau đó đã nhận được sự trông nom của cả Traianus và Publius Acilius Attianus(người mà sau này là chỉ huy lực lượng cận vệ hoàng gia của Traianus). Hadrianus được dạy nhiều môn học khác nhau đặc biệt người quý tộc trẻ này, và rất thích học văn học Hy Lạp mà do đó ông có biệt danh Graeculus .
Hadrian đã đến thăm Italica (hoặc không bao giờ rời đi cho đến khi) ông được 14 tuổi, khi ông được Trajan triệu hồi, người sau đó đã trông nom sự phát triển của ông. Ông không bao giờ trở lại Italica mặc dù sau đó đã được biến thành một Colonia cho vinh quang của ông . Nhiệm vụ quân sự đầu tiên của ông là một quan bảo dân của Legio II Adiutrix. Sau đó, ông đã được chuyển tới Legio I Minervia ở Đức. Khi Nerva qua đời năm 98, Hadrianus đã vội vã thông báo cho cá nhân Trajan. Sau đó ông trở thành legate của một quân đoàn ở Thượng Pannonia và cuối cùng làm Thống đốc Tỉnh. Ông cũng là Archon tại Athen trong một thời gian ngắn, và được công nhận làm một công dân Athen.
Sự nghiệp của ông trước khi làm hoàng đế bao gồm:
decemvir stlitibus iudicandis
sevir turmae equitum Romanorum
praefectus Urbi feriarum Latinarum
tribunus militum legionis II Adiutricis Piae Fidelis (95, ở Pannonia Nhỏ)
tribunus militum legionis V Macedonicae (96, ở Moesia Nhỏ)
tribunus militum legionis XXII Primigeniae Piae Fidelis (97, ở Đại Germania)
Quan coi quốc khố (101)
ab actis senatus
tribunus plebis (105)
Pháp quan (106)
legatus legionis I Minerviae Piae Fidelis (106, ở Germania Nhỏ)
legatus Augusti pro praetore Pannoniae Inferioris (107)
consul suffectus (108)
septemvir epulonum (trước năm 112)
sodalis Augustalis (trước năm 112)
archon Athenis (112/13)
legatus Syriae (117).
Hadrianus đã tham gia vào cuộc chiến tranh chống lại người Dacia (là legate của V Macedonica) và nhận được một giải thưởng nổi tiếng từ Trajan cho thành công của mình. Kỹ năng quân sự của Hadrianus không được xác nhận do thiếu hành động quân sự trong suốt triều đại của ông, tuy nhiên, sự quan tâm và kiến thức của quân đội và kỹ năng thể hiện của nhà lãnh đạo cho thấy ông có thể có là một chiến lược gia tài năng.
Hadrianus đã tham gia chuyến viễn chinh của Trajan chống lại người Parthia là một legate trong ban tham mưu của Trajan Không phải trong giai đoạn chiến thắng đầu tiên, cũng không phải trong giai đoạn thứ hai của chiến tranh khi cuộc khởi nghĩa bùng phát ở Mesopotamia đã khiến Hadrianus làm bất cứ điều gì đáng chú ý. Tuy nhiên, khi thống đốc của Syria đã được phái đến giải quyết khó khăn mới ở Dacia, Hadrianus được bổ nhiệm để thay thế cho ông ta, điều này cho ông nắm một quyền chỉ huy độc lập . Trajan, bị bệnh nặng vào thời điểm đó, đã quyết định quay trở lại Rome trong khi Hadrian vẫn ở Syria để bảo vệ vùng biên La Mã. Trajan chỉ tới được Selinus trước khi trở nên quá yếu để đi xa hơn. Trong khi Hadrian có thể có được lựa chọn rõ ràng là người kế nhiệm, ông chưa bao giờ được chấp nhận là người thừa kế của Trajan. Khi Trajan nằm hấp hối, ông được người vợ chăm sóc, Plotina (một người ủng hộ Hadrian), ông cuối cùng chấp nhận Hadrian là người thừa kế. Kể từ khi văn kiện đã được ký bởi Plotina, nó đã cho thấy rằng Trajan có thể đã chết.
== Hoàng đế ==
=== Bảo vệ quyền lực ===
Hadrianus nhanh chóng bảo đảm sự ủng hộ của các quân đoàn - một đối thủ tiềm năng, Lusius Quietus đã nhanh chóng bị loại bỏ sự tán thành của viện nguyên lão sau đó khi những giấy tờ sai lệch việc chấp nhận của Trajan đã được trình bày. Tin đồn của một tài liệu giả mạo việc kế vị chỉ gây ra vấn đề không đáng kể.
Hadrianus đã không tới Rome đầu tiên- ông đang bận rộn với việc bố trí lại phía Đông và đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Do Thái đã nổ ra dưới thời Trajan, sau đó ông di chuyển đến biên giới Danube để bố trí lại nó. Thay vào đó, Attianus, người giám hộ cũ của Hadrian, đã được giao việc phụ trách Rome. Ở đó, ông "phát hiện" một âm mưu liên quan đến bốn vị nguyên lão quyền cao chức trọng bao gồm cả Lusius Quietus. Theo Elizabeth Speller, lý do thực sự cho cái chết của họ là do họ là người của Trajan.
=== Hadrian và quân đội ===
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Nguồn chính ===
Cassius Dio or Dio Cassius Roman History. Greek Text and Translation by Earnest Cary at internet archive
Scriptores Historiae Augustae, Augustan History. Latin Text Translated by David Magie
Aurelius Victor, Caesares, XIV. Latin “Caesares: text – IntraText CT”. Intratext.com. Ngày 4 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010.
Anon, Excerpta of Aurelius Victor: Epitome de Caesaribus, XIII. Latin “Epitome De Caesaribus: text – IntraText CT”. Intratext.com. Ngày 4 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010.
Inscriptions:
Smallwood, E.M, Documents Illustrating the Principates of Nerva Trajan and Hadrian, Cambridge, 1966.
=== Nguồn phụ ===
Barnes, T. D. (1967). “Hadrian and Lucius Verus”. Journal of Roman Studies 57 (1/2): 65–79. doi:10.2307/299345.
Birley, Anthony R. (1997). Hadrian. The restless emperor. London: Routledge. ISBN 0-415-16544-X.
Canto, Alicia M. (2004). “Itálica, patria y ciudad natal de Adriano (31 textos históricos y argumentos contra Vita Hadr. 1, 3”. Athenaeum 92.2: 367–408.
Dobson, Brian (2000). Hadrian's Wall. London: Penguin.
Gibbon, Edward, The Decline and Fall of the Roman Empire, vol. I, 1776. The Online Library of Liberty “Online Library of Liberty – The History of the Decline and Fall of the Roman Empire, vol. 1”. Oll.libertyfund.org. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010.
Lambert, Royston (1997). Beloved and God: the story of Hadrian and Antinous. London: Phoenix Giants. ISBN 1-85799-944-4.
Speller, Elizabeth (2003). Following Hadrian: a second-century journey through the Roman Empire. London: Review. ISBN 0-7472-6662-X.
Syme, Ronald (1997) [1958]. Tacitus. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-814327-3.
Syme, Ronald (1988). “Journeys of Hadrian” (PDF). Zeitschrift für Papyrologie und Epigraphik 73: 159–170. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2006. Reprinted in Syme, Ronald (1991). Roman Papers VI. Oxford: Clarendon Press. tr. 346–357. ISBN 0-19-814494-6.
Yourcenar, Marguerite (2005) [1951]. Memoirs of Hadrian. New York: Farrar, Straus and Giroux. ISBN 0-374-52926-4.
=== Đọc thêm ===
Boatwright, Mary T. (2003). Hadrian and the cities of the roman empire. Princeton: Princeton Univ Press. ISBN 0691094934.
Danziger, Danny; Purcell, Nicholas (2006). Hadrian's empire: when Rome ruled the world. London: Hodder & Stoughton. ISBN 0340833610.
Everitt, Anthony (2009). Hadrian and the triumph of Rome. New York: Random House. ISBN 9781400066629.
Gray, William Dodge (1919). “A Study of the life of Hadrian Prior to His Accession”. Smith College Studies in History 4: 151–209.
Gregorovius, Ferdinand (1898). The Emperor Hadrian: A Picture of the Greco-Roman World in His Time. Mary E. Robinson, trans. London: Macmillan.
Henderson, Bernard W. (1923). Life and Principate of the Emperor Hadrian. London: Methuen.
Ish-Kishor, Sulamith (1935). Magnificent Hadrian: A Biography of Hadrian, Emperor of Rome. New York: Minton, Balch and Co.
Perowne, Stewart (1960). Hadrian. London: Hodder and Stoughton.
== liên kết ngoài ==
Historia Augusta: Life of Hadrian
Hadrian coinage
Temple of Hadrian Quicktime VR, Rome
Catholic Encyclopedia article
A Bibliography
Major scultoric find at Sagalassos (Turkey), ngày 2 tháng 8 năm 2007 (between 13 and 16 feet in height, four to five meters), with some splendid photos courtesy of the Sagalassos Archaeological Research Project
Hadrian, in: De Imperatoribus Romanis, An Online Encyclopedia of Roman Emperors
Next exhibition on Hadrian in the British Museum, 24 July – ngày 26 tháng 10 năm 2008: "Hadrian, Empire and Conflict". Curator: Thorsten Opper
"Emperor Hadrian, YouTube hero": a review by Tom Holland of the Hadrian Exhibition at the British Museum, TLS, ngày 6 tháng 8 năm 2008.
Phương tiện liên quan tới Hadrianus tại Wikimedia Commons |
thuốc lắc.txt | Thuốc lắc hay ecstasy, tên khoa học là MethyleneDioxyl-MethamphetAmine (viết tắt: MDMA), là một dạng ma túy được chế tạo tổng hợp lần đầu tiên từ năm 1910, và 2 năm sau thuộc quyền sở hữu của công ty dược Merck (Đức) dưới dạng chất ức chế cảm giác thèm ăn.
Những tên hiệu khác của MDMA là viên lắc, thuốc điên, viên chúa, viên hoàng hậu, max, xì cọp, ecstasy, mecsydes, kẹo v.v.
== Lịch sử ==
Năm 1914 hãng thuốc Merck xin cầu chứng thuốc MDMA. Lúc đó, MDMA chỉ được dùng để bôi vào vết thương giúp cầm máu. Nửa thế kỷ sau đó mới có người thử uống thuốc lắc MDMA, lúc đầu để gây cảm giác chán ăn.
Trong thập niên 1950 quân đội Hoa Kỳ thí nghiệm liều độ gây tử của loạt thuốc tương tự như MDMA (ký hiệu EA-1475). Cho đến năm 1969 mới có tiết lộ về những thí nghiệm này. Cùng năm, bác sĩ Alexander Shulgin đề nghị dùng thuốc MDMA cho một vài căn bệnh tâm thần. Nhờ khả năng gây sảng khoái, thuốc MDMA dần dần trở nên thông dụng ở Hoa Kỳ cho đến thập niên 1985 thì bị cấm. Từ đó, dân chơi thuốc có thể mua lậu tại các câu lạc bộ tại Dallas, các hộp đêm đồng tính luyến ái và cho tới nay, thuốc MDMA rất phổ biến tại các sàn nhảy loại nhạc rave. Trong thập niên 1990, phong trào chơi thuốc lắc MDMA xâm nhập vào các trường đại học và trung học. Thuốc lắc là một trong các loại thuốc cấm ma túy phổ biến nhất, cùng hạng với cocaine, heroin và cần sa.
== Sự tiêu khiển ==
Thuốc lắc tạo ra cho người dùng những cảm giác đặc biệt. Khi thuốc có tác dụng cảm nhận đầu tiên là thấy các đầu ngón tay tê buồn. Các cảm giác và xúc giác trở nên " Ảo cảm " Hưng phấn cao độ, các động tác uyển chuyển nhẹ nhàng, chân tay mềm dẻo. Đặc biệt cảm thấy thích thú với loại nhạc mix, nhạc rap. Khi tác dụng của thuốc đã đạt đến cao trào thì người toát mồ hôi, sợ ánh sáng,tinh thần cởi mở, sảng khoái, thích yêu đương, dễ cảm thông với người chung quanh, nâng cao cảm giác trong cơ thể, và tự tin... Vì những tác dụng này mà thuốc lắc rất phổ biến tại các vũ trường. Dân xài thuốc có cảm tưởng mình gần giống như... siêu nhân,đang được bay lên cao có thể nhảy nhót nhiều và lâu hơn không thấy mệt mỏi, ăn nói hoạt bát hơn, thích thú hơn và nhạc nghe có vẻ hay hơn. Những người hay mắc cỡ, thiếu tự tin khi xài thuốc sẽ có cảm tưởng mình được đổi thành người tự tin, hoạt bát hơn.
=== Sử dụng trong y học ===
== Tính an toàn ==
Không đảm bảo sự an toàn khi dùng. Gây nghiện, suy nhược thể trạng nhanh chóng
== Xem thêm ==
=== Truyền thông đại chúng ===
Jennings, Peter. "Primetime Special: Peter Jennings - Ecstasy Rising." ABC News, April 1, 2004.
Conant, Eve. "Ecstasy: A Possible New Role for a Banned Club Drug." Newsweek, May 2, 2005.
Generation on X: An undercover look at the growing trend of teens using Ecstasy FOX News, April 26, 2005.
Weiss, Rick. "Use Studied to Ease Fear in Terminally Ill." The Washington Post, December 27, 2004.
Philipkoski, Kristen. "Long Trip for Psychedelic Drugs." Wired, September 27, 2004.
Philipkoski, Kristen. "DEA Approves Ecstasy Tests." Wired, March 2, 2004.
Darman, Jonathan. "Out of the Club, Onto the Couch Newsweek.com, December 5, 2003. - An interview with NYU's Dr. Julie Holland
Weiss, Rick. "Results Retracted on Ecstasy Study." The Washington Post, September 6, 2003.
Recer, Paul "Ecstasy-Parkinson's Connections?."CBS News, September 26, 2002.
Man found to have taken 40,000 tabs in 9 years - London.; The Guardian, April 4, 2006.
Wittlin, Maggie. "Hitting a High E: Italian scientists find loud music intensifies and extends the brain’s response to MDMA," Seed Magazine (02/15/2006)
=== Nghiên cứu khoa học ===
The Multidisciplinary Association for Psychedelic Studies (MAPS): MDMA project MAPS is at the forefront of human MDMA research, having obtained FDA permits for two studies administering MDMA to human volunteers in order to explore the drug's potential psychiatric benefits (one study is already underway.)
The DEA.org's extensive critique/review of the evidence against MDMA ('ecstasy') causing brain damage at common recreational doses.
This is your brain on Ecstasy - A slideshow that illustrates the neuropharmacokinetics of Ecstasy (how the drug affects the brain.) Some of the information on this page is at present (July 2005) outdated.
PiHKAL entry
The MAPS research library, containing downloadable copies of most of the MDMA and LSD research ever done.
=== Tổng quát ===
Multidisciplinary Association for Psychedelic Studies - A non-profit organization currently conducting FDA-approved studies with MDMA.
EcstasyData.org A database of photos and lab-test results of over 1500 pills of "Ecstasy".
Pillreports A similar database to EcstasyData, but with user-contributed photos of pills and subjective "pill reports" and ratings. Over 1600 listings (as of Jan. 2006).
DanceSafe - a risk reduction site with lots of information on Ecstasy. Includes a large database of photographs of different pill types, along with laboratory analysis of what was actually found in the pill.
Erowid's Ecstasy page - lots of information
UK National Drugs Line factsheet on Ecstasy
American Council for Drug Education factsheet on Ecstasy
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Ecstasy
http://www.ecstasy.org
Utopian Pharmacology. Detailed essay discussing the history and uses of MDMA
TheDEA.org An ecstasy user's guide with detailed discussions of risks and scientific research.
MDMA, Personality and Human Nature: The Power to Transform People. Essay by Bruce Eisner, author of Ecstasy: The MDMA Story
My Daughter's Good Death - Ecstasy as a Tool for End of Life (adult content)
Baggott, Matthew, and John Mendelson. "MDMA Neurotoxicity". Ecstasy: The Complete Guide. Ed. Julie Holland. Spring 2001 from www.erowid.com.
de la Torre, Rafael et al. (2000), Non-linear pharmacokinetics of MDMA (`ecstasy') in humans. Br J Clin Pharmacol, 2000; 49(2):104-9
de la Torre, Rafael & Farré, Magí (2004). Neurotoxicity of MDMA (ecstasy): the limitations of scaling from animals to humans. Trends in Pharmacological Sciences 25, 505-508.
Erowid, Earth. "Do Antioxidants Protect Against MDMA Hangover, Tolerance, and Neurotoxicity?" Erowid Extracts. Dec 2001; 2:6-11.
Jennings, Peter. Ecstasy Rising, ABC television documentary. 2004-01-04.
Jones, Douglas C. et al. (2004). Thioether Metabolites of 3,4-Methylenedioxyamphetamine and 3,4-Methylenedioxymethamphetamine Inhibit Human Serotonin Transporter (hSERT) Function and Simultaneously Stimulate Dopamine Uptake into hSERT-Expressing SK-N-MC Cells. J Pharmacol Exp Ther 311, 298-306.
Kalant H. (2001) The pharmacology and toxicology of "ecstasy" (MDMA) and related drugs. CMAJ. Oct 2;165(7):917-28. Review. PMID 11599334 Full Text
Miller, R.T. et al. (1997). 2,5-Bis-(glutathione-S-yl)-alpha-methyldopamine, a putative metabolite of (+/-)-3,4-methylenedioxyamphetamine, decreases brain serotonin concentrations. Eur J Pharmaco. 323(2-3), 173-80. Abstract retrieved ngày 17 tháng 4 năm 2005, from PubMed.
Monks, T.J. et al. (2004). The role of metabolism in 3,4-(+)-methylenedioxyamphetamine and 3,4-(+)-methylenedioxymethamphetamine (ecstasy) toxicity. Ther Drug Monit 26(2), 132-136.
Morgan, Michael John (2000). Ecstasy (MDMA): a review of its possible persistent psychological effects. Psychopharmacology 152, 230-248.
Shankaran, Mahalakshmi, Bryan K. Yamamoto, and Gary A. Gudelsky. "Ascorbic Acid Prevents 3,4,-Methylenedioxymethamphetamine (MDMA)- Induced Hydroxyl Radical Formation and the Behavioral and Neurochemical Consequences of the Depletion of Brain 5-HT". Synapse. 2001; 40:55-64.
Strote, Jared et al. (2002). Increasing MDMA use among college students: results of a national survey. Journal of Adolescent Health 30, 64-72.
Sumnall, Harry R. & Cole, Jon C. (2005). Self-reported depressive symptomatology in community samples of polysubstance misusers who report Ecstasy use: a meta-analysis. Journal of Psychopharmacology 19(1), 84-92.
Yeh, S. Y. "Effects of Salicylate on 3,4-Methylenedioxymethamphetamine (MDMA)-Induced Neurotoxicity in Rats". Pharmacology Biochemistry and Behavior. 1997; Vol. 58, No. 3: 701-708. |
phụ nữ việt nam.txt | Phụ nữ Việt Nam là nguồn nhân tố quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam. Lịch sử đã và luôn minh chứng sự hiện diện của phu nữ trong các vai trò quan trọng của xã hội. Quá trình xây dựng, lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên tai, địch họa, tề gia... Được khẳng định qua năng lực và phẩm hạnh trong các hoạt động xã hội, bao gồm cả trong lĩnh vực phi truyền thống nhất, góp phần không nhỏ công sức và trí tuệ cho nền hoà bình và văn minh nhân loại.
Chiếm 51% lực lượng lao động ở Việt Nam, phụ nữ ở nông thôn vẫn đóng vai trò chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Phụ nữ vẫn đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái. Trong số các đại biểu của Quốc hội Việt Nam, tổ chức quyền lực cao nhất, phụ nữ chiếm 27,3% và được Liên Hiệp Quốc đánh giá là: "Phụ nữ Việt Nam tham gia hoạt động chính trị cao nhất thế giới". Việt Nam có tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%, thạc sĩ 33,95%, tiến sĩ 25,96%.
== Đặc điểm ==
=== Phụ nữ thời xưa ===
Lịch sử Việt Nam luôn ghi nhận phụ nữ là nguồn hạnh phúc, chăm sóc chồng con, đỡ đần cha già mẹ yếu, là chỗ dựa trong các phương diện cuộc sống gia đình.
Phụ nữ có các vai trò là người yêu, người vợ, người mẹ, người phục tùng bền bỉ sự nghiệp của Quốc gia:
Quốc Mẫu Âu Cơ, gần 5000 năm trước kết duyên cùng vua Lạc Long sinh được 50 con trai 50 con gái; Trưng Vương (40-43), tuy triều đại này chỉ tồn tại 3 năm, nhưng đã chứng tỏ được tinh thần bất khuất của người phụ nữ trong thời kỳ đầu giữ nước; Triệu Thị Trinh (225-248) cùng anh Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa năm 248 chống quân Đông Ngô cai trị tàn ác; Thái Hậu Dương Vân Nga (942-1000) là người đàn bà quyền lực của 2 triều đại nhà Đinh và nhà Tiền Lê, bà được biết đến với vai trò là vợ của 2 vua; Nguyên phi Ỷ Lan (tên thật là Lê Thị Ỷ Lan) triều Lý, bà xuất thân từ gia đình nông dân nhưng sau trở thành Hoàng thái hậu; Công chúa Huyền Trân (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14) là con gái vua Trần Nhân Tông, bà được gả cho vua Chiêm Thành (Champa) để đổi lấy hai châu Ô và Lý cho nước Đại Việt; Công chúa An Tư (thời vua Trần Nhân Tông), là con gái út vua Trần Thánh Tông, bị gả cho Thoát Hoan nhằm trì hoãn cuộc xâm lăng của quân giặc, chờ thời cơ đánh thắng giặc; Công chúa Ngọc Hân (1770-1799) là con vua Lê Hiển Tông, bà có tài văn học nên được Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ phong làm Bắc cung Hoàng Hậu; Công chúa Ngọc Vạn (thế kỷ 17) giữ những chức vụ quan trọng trong triều Chân Lạp, bà đã có công mở đường cho người Việt trong cuộc Nam tiến mở rộng giang sơn; Bùi Thị Xuân (?-1802) là tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn, vợ của danh tướng Trần Quang Diệu...
Phụ nữ là nhà văn, nhà thơ có danh phận được nhiều đời truyền tụng, như: Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1746) người tỉnh Bắc Ninh, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ rất giỏi thơ văn; Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1780-1820) có tài thơ văn cả về chữ Nôm và chữ Hán; Bà Huyện Thanh Quan (Đầu thế kỷ 19) tên thật là Nguyễn Thị Hinh, bà được mời làm Cung Trung giáo tập, dạy cung phi và công chúa trong cung; Thái Hậu Từ Dũ (1810-1902) người tỉnh Gia Định, hiệu Từ Dũ Bát Huệ Thái hoàng Thái hậu, là quý phi của vua Thiệu Trị, sinh ra vua Tự Đức nên trở thành Tháí Hậu; Tú Xương (cuối thế kỷ 19) người tỉnh Hải Dương, là hiền thê nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương.
Ngoài ra có những phụ nữ là dân thường, lam lũ với cuộc sống, với những số phận và tâm tư hạn hẹp nhưng được lịch sử trân trọng lưu lại với nhiều hình ảnh và ghi chép từ những thời buổi đang còn Nho giáo độc tôn.
Hình ảnh phụ nữ thông qua văn thơ, ca dao, tục ngữ truyền tụng trong dân gian: "Thân cò lặn lội bờ ao - Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non". Phần nào minh chứng người phụ nữ xưa thường bị gạt ra lề cuộc sống thiết yếu nhưng chặt đầy tính gia phong cổ hủ. Bị dồn nén vào khuôn khổ chật hẹp của đời sống gia đình: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" (Ở nhà theo cha. Lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con trai). Khi lấy chồng, người con gái phải học hành để gánh vác nhiều công việc chính trong gia đình. Họ học không để thi cử, tiến thân, mà để chuẩn bị cho cuộc sống mới bên nhà chồng. Có quan niệm, hôn nhân đối với người phụ nữ là do số phận sắp đặt sẵn, may mắn thì gặp được người chồng tử tế, giỏi giang, lỡ lấy phải người chồng vũ phu hoặc nghèo khó thì phải gắng chịu. Người phụ nữ làm dâu có trách nhiệm và quán xuyến mọi việc gia đình, theo thời gian đã có được ý chí và nghị lực can trường, tuy nhiên thực tế cuộc sống vẫn đẩy họ đến cảnh cam chịu, gần như suốt cả cuộc đời phải gánh chịu những hậu quả không ra gì về cả thể xác và tinh thần.
Với quan niệm "Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng", người phụ nữ là nạn nhân của chế độ đa thê (bất kể là vợ cả hay vợ lẽ), luôn chìm đắm trong những mối mâu thuẫn, bất hòa, khổ đau. Khi người chồng chết người phụ nữ cũng mất quyền thừa kế tài sản và phải phục tòng người con trai của họ.
Phần lớn phụ nữ Việt Nam thời xưa không được coi trọng, không có được những địa vị xứng đáng trong gia đình, xã hội, phải chịu nhiều sự áp đặt, bất công, tư tưởng trọng nam khinh nữ (Nam trọng nữ khinh, nam ngoại nữ nội). Người phụ nữ không có được cơ hội phát triển ngang tầm với phát triển của xã hội, là hình bóng sau lưng người chồng trong các gia đình nhưng vẫn được xem là tác nhân trong sự thành công của người chồng.
=== Phụ nữ thời chiến tranh ===
Tính đề cao đối với người phụ nữ Việt Nam từ xưa vẫn là tinh thần làm việc và đấu tranh có lịch sử hàng nghìn năm. Phụ nữ Việt Nam cống hiến rất nhiều và mọi mặt cho nền độc lập, thống nhất dân tộc. Từ các cuộc chiến tranh đó đã sản sinh ra những phụ nữ đảm đang, bất khuất, để lại danh tiếng cho các đời sau như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Hoàng Ngân, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Chiên, Nguyễn Thị Lét, Tạ Thị Kiều, Kan Lịch, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Nhất Chi Mai, Nguyễn Thị Út (Út Tịch). Với sự mở đầu trang sử là cuộc chiến chống quân xâm lăng của Hai Bà Trưng bằng lời thề xuất quân, "Một xin rửa sạch nước thù, Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng, Ba kẻo oan ức lòng chồng, Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này". Vài thế kỷ sau người thiếu nữ Triệu Thị Trinh tự khẳng định là một nhi nữ hào kiệt, "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông."
Các cuộc chiến tranh sau này xuất hiện nhiều phụ nữ tiêu biểu trong khó khăn gian khổ. Họ là những con người gan dạ không quản ngày đêm và bom đạn, vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng cho chiến tranh. Tinh thần của họ là "Ruộng rẫy như chiến trường, cuốc cày như vũ khí", gồm có hàng vạn nữ nông dân và công nhân "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng" làm nên một hậu phương vững chắc, trên ruộng đồng, công trường, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ...
Người phụ nữ bước ra từ các cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc, được nhân dân và nhà nước Việt Nam tôn vinh là những nữ anh hùng và những bà mẹ Việt Nam anh hùng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng 8 chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".
=== Phụ nữ thời nay ===
Ngày nay tuy chưa phải đã hết những định kiến, nghi ngại, thậm chí là kỳ thị, nhưng xét toàn diện, thì người quan sát trong và ngoài Việt Nam đều có sự thống nhất nhận xét về phụ nữ Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng đóng góp đã gìn giữ và phát huy được vai trò đối với thực tiễn phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực thiết yếu.
Từ phải đảm đương vai trò "đối nội" trong khuôn khổ gia đình, phụ nữ ngày nay còn tài cán với các trọng trách "đối ngoại". Là một sự nghiệp không còn chỉ dành cho nam giới. Họ phải khẳng định giá trị, khả năng bằng sự nghiệp và tính vươn lên của bản thân. Khát vọng với sự nghiệp không đơn giản chỉ như thoát khỏi vòng cương tỏa từ khuôn khổ gia đình. Hơn thế nữa họ khẳng định vị thế như là những người đứng đầu tập đoàn, công ty doanh nghiệp, thậm chí là những lãnh đạo trong các tổ chức của chính phủ.
Những thành tích của họ được xã hội ghi nhận và đánh giá cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục. Không ít nữ học sinh, sinh viên đạt giải cao trong các kỳ thi cấp quốc gia và quốc tế. Tầng lớp nữ trí thức có những công trình khoa học giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao: Số nữ Giáo sư chiếm tỷ lệ 3,5%; Phó giáo sư 5,9%; Tiến sĩ 12,6%; Tiến sĩ khoa học 5,1%; 19 nữ Anh hùng lao động, và nhiều Giải thưởng Kovalépscaia, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. Tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội tăng qua các thời kỳ bầu cử (khóa I (1946- 1960) là 3%, đến khóa XII (2007 – 2012) tăng lên là 25,76%). Ngành Giáo dục và Đào tạo từng có nữ bộ trưởng, và đương nhiệm thứ trưởng, và nhiều phụ nữ làm cán bộ quản lý các cấp Vụ, Viện, Sở, Phòng, Ban, các trường và các đơn vị giáo dục: Có 11 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 1.011 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú...
Người phụ nữ Việt Nam tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng không nhỏ đối với giá trị và lợi ích của toàn xã hội. Được thể hiện thông qua các môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật...
Song, xét cho cùng thì cái gì cũng có hai mặt của nó, tuy có rất nhiều phụ nữ khẳng định được vị thế của mình trong xã hội thời nay nhưng không ít phụ nữ đòi quyền bình đẳng với nam giới bằng cách như bia bọt rượu chè, tình dục bừa bãi...
== Các nữ lãnh đạo nổi tiếng ==
Nữ vương: Trưng Trắc
Anh hùng dân tộc: Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh
Hoàng hậu: Dương Vân Nga, Linh Nhân Hoàng Hậu Ỷ Lan, Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung
Cung phi: Bà chúa Chè Đặng Thị Huệ
Nữ tướng: Lê Chân, Bát Nàn Công Chúa, Bùi Thị Xuân
Nữ quan: Bà Huyện Thanh Quan
Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Doan, Trịnh Thị Ngọc Thịnh
Uỷ biên Bộ Chính trị: Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Nguyễn Thị Kim Ngân, Tòng Thị Phóng, Trương Thị Mai
Bí thư Trung ương Đảng: Hà Thị Khiết
Phó Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Thị Thập
Bộ trưởng: Trần Thị Trung Chiến, Phạm Thị Hải Chuyền, Nguyễn Thị Kim Tiến, Nguyễn Thị Hằng, Lê Thị Nga
== Văn hóa truyền thống ==
Mặc dù bị ảnh hưởng không ít từ các nền văn hóa ngoại quốc trong suốt hàng nghìn năm bị đô hộ, phụ nữ Việt Nam vẫn giữ gìn được nét đẹp vốn rất riêng cho họ khi hiếm quốc gia nào có được. Xã hội càng ngày phát triển, con người càng văn minh nhưng những đức tính truyền thống của người phụ nữ từ nông thôn đến thành thị vẫn nguyên giá trị, đó chính là những vẻ đẹp trong gia đình, xã hội; vẻ đẹp người làm vợ, làm mẹ; vẻ đẹp nữ doanh nhân, ca sĩ, thi sĩ, diễn viên, hoa hậu, tri thức; vẻ đẹp ý nhị, lịch sự...
Những nét đẹp hiện đại kết hợp nhuần nhuyễn với những đức tính truyền thống tạo nên dáng vẻ và tính cách mang ý nghĩa với bản chất thuần Việt, tiêu biểu cho các tầng lớp phụ nữ Á Đông.
Tuy không thể đua với nam giới về sức vóc, tài trí, hay việc tranh đoạt trong thiên hạ nhưng vẫn nhiều công việc gia đình và xã hội cần đến người phụ nữ. Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ cổ truyền. "Sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu", người phụ nữ ngày xưa tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung từ thời Lý. Họ lập được những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm với một năm tám lứa. Tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nước ngoài chuộng mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của họ. Hình ảnh người phụ nữ "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", tần tảo làm lụng rất phổ biến ở các vùng làng quê Việt Nam là lực lượng lao động chính trong các mùa vụ sản xuất lương thực. Công việc của họ là làm đồng, làm gốm, chèo truyền, bán hàng, bật bông kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo, ngoài ra họ còn là những nghệ sĩ sáng tác và hát dân ca, múa dân tộc...
=== Tứ đức ===
Trở lại với sự khâm phục và ngưỡng mộ của toàn xã hội, người phụ nữ Việt Nam không bỏ quên những đức tính tốt đẹp sinh thành từ một dân tộc có cội nguồn Mẹ Âu Cơ, Tứ đức của họ được ví như "khuôn vàng thước ngọc". Theo quan niệm từ thuyết Khổng Tử thì Tứ đức phụ nữ là Công, Dung, Ngôn, Hạnh:
Công: là nữ công gia chánh, đề cao sự khéo léo và chu đáo của người phụ nữ đối với các công việc nội trợ trong gia đình.
Dung: là dung nhan, đề cao cái đẹp tâm hồn và hình thức bên ngoài (biểu hiện sự tươi tắn, không ủ dột trên nét mặt, chăm chút cho mái tóc, hàm răng và trang phục).
Ngôn: là lời nói, nhưng không bao giờ chỉ đơn thuần là lời nói, đề cao cả trí tuệ và tâm hồn người nói (biết cân nhắc lời ăn tiếng nói, không quá lời lúc nóng giận, không ba hoa khi hứng chí, giả dối khi giao tiếp).
Hạnh: là hạnh kiểm, đức hạnh (mực thước, nghiêm trang trong dáng đứng, bước đi; thủy chung, yêu chồng, thương con; giàu lòng nhân ái, hy sinh vì người khác).
Người phụ nữ ngày nay ngoài trách nhiệm tề gia nội trợ, nhưng với xã hội họ là những công dân bình đẳng trong cộng đồng xã hội đó. Sống có trách nhiệm với cộng đồng, có hoài bão và nỗ lực trong công việc, đã thể hiện phẩm chất đạo đức của chữ Công và chữ Hạnh. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, thước đo về chuẩn mực đạo đức đã có sự đổi khác, khi xét Tứ đức người phụ nữ cần có sự hiểu biết nhất định về hoàn cảnh lịch sử trong các giai đoạn để có ứng xử phù hợp, sự kế thừa và phát triển thêm những giá trị đạo đức ở người phụ nữ trong cuộc sống ngày nay cho phù hợp với thời đại, cũng là vấn đề mà xã hội đang quan tâm.
=== Tín ngưỡng ===
==== Thờ cha mẹ ====
Theo phong tục, tập quán và tín ngưỡng của người Việt Nam, nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thường có sự so sánh, phân biệt giữa nam giới với phụ nữ. Ngoài việc người đàn ông có trách nhiệm thờ cúng cha mẹ, tổ tiên thì người phụ nữ lấy chồng phải hoàn toàn theo chồng, phải có trách nhiệm thờ phụng tổ tiên nhà chồng. Họ không được thờ phụng cha mẹ đẻ tại nhà mình kể cả khi không có anh em trai, khi đó phải nhờ một người đàn ông khác, có thể là em hoặc cháu trong họ nội thờ cúng hộ. Tập tục này thường vô tình tạo ra tiêu cực trong đời sống văn hoá người phụ nữ. Muốn có được người thừa tự, nhiều gia đình chỉ có con gái đã nhận thêm con nuôi là trai. Người chồng cho vợ đi "xin" hoặc người vợ cho chồng đi "ở" với người phụ nữ khác để có con trai. Họ có tâm niệm "bế con chồng hơn bồng cháu ngoại" và không băn khoăn nhiều đến việc để lại hậu duệ, miễn là phải có người "hương khói" về sau.
==== Lễ chùa, đình và đền ====
Phật giáo (Tiểu thừa) được du nhập trực tiếp từ Ấn Độ qua đường biển vào Việt Nam khoảng thế kỉ 2 sau Công nguyên. Phật giáo Việt Nam không hẳn xuất thế mà thường nhập thế, gắn với phù chú, cầu xin tài lộc, phúc thọ hơn là tu hành thoát tục. Người phụ nữ đi chùa lễ Phật để cầu an, cầu sự may mắn cho bản thân và người thân trong gia đình. Bản chất phụ nữ yếu đuối (chân yếu, tay mềm), tâm nguyện họ luôn cần có sự che chở, giải thoát những nỗi khổ đau phát sinh từ cuộc sống. Ngoài nhờ cậy từ các yếu tố con người và xã hội giải quyết giúp đỡ thì họ thường tìm đến để cầu nguyện dưới các tượng Phật, các Thần và Tiên ở Chùa, Đền, miếu, phủ... Điều khác biệt trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam là từ các pho tượng như tượng Bà Man Nương, tượng Bà Trắng, Bà Đỏ đến tượng Kim đồng - Ngọc Nữ... đều mang dáng dấp và vẻ đẹp người phụ nữ, bên trong đó quy tụ nhiều nét nghệ thuật thế tục.
Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ các nữ thần (còn gọi là các Thánh Mẫu), các Thánh Mẫu có sự gắn bó với cuộc sống trần tục, gần gũi với dân gian. Tín ngưỡng này có từ lâu đời, hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, sấm, chớp. Khi trách nhiệm người đàn ông là công việc săn bắn, giữ đất, giữ làng thì công việc nông nghiệp do người phụ nữ hoàn toàn đảm nhiệm. Từ hình ảnh người phụ nữ cụ thể được dân gian nhân hoá thành một bà Mẫu cao cả tâm linh và quyền năng. Qua đó, Mẫu còn được hiểu như là đất, nước, cây lúa, là mọi thứ làm ra sự sống cho con người. Thờ các Thánh Mẫu được xem như một chỗ dựa tinh thần của người phụ nữ, thường mang đậm màu sắc tín ngưỡng của các vùng thuần nông nghiệp. Các đền đài, miếu, phủ thờ tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng và trung du như Phủ Giầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Đền Suối Mỡ (Bắc Giang), Chùa Bà Đức Sanh (Bình Thuận)...
=== Cưới hỏi ===
Trước đây người Việt gọi là lễ rước dâu, ngày nay trong ngôn từ của đời sống thường ngày được gọi là lễ cưới. Theo nghi thức truyền thống thì người phụ nữ được hưởng những quyền lợi đầu tiên khi bước chân đến nhà chồng, đồng thời xem đó như sự ràng buộc và tính pháp lý để người chồng phải có trách nhiệm với người vợ trong cuộc sống tiếp theo của hai người. Nghi lễ cưới hỏi thường tuân theo các trình tự như sau:
Chạm ngõ: là nghi thức gặp gỡ hai bên gia đình để biết nhau một cách công khai, chính thức;
Lễ ăn hỏi: nhà trai mang lễ vật sang nhà gái hỏi vợ, được đựng trong các tráp phủ vải điều màu đỏ gồm trầu, cau, rượu, chè, bánh cốm, bánh xu xê, mứt sen, xôi, thủ lợn, lợn sữa quay.
Lễ đính hôn: hay lễ cầu hôn, đối với phong tục phương Tây là lễ trao nhẫn đính hôn.
Lễ vấn danh: xem tuổi xung, hợp theo tín ngưỡng của đôi trai gái để chọn ngày giờ tốt cho các nghi thức trong lễ.
Lễ nạp tài: nhà trai mang sính lễ sang nhà gái, là trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho cô dâu. Nhà gái sẽ sử dụng một phần vào lễ ăn hỏi và một phần vào trong lễ cưới.
Lễ xin dâu: vào trước giờ đón dâu, mẹ chú rể hoặc một hai bà cô, bà dì sang nhà gái xin đón dâu.
Đón dâu: đoàn nhà trai sang nhà gái đón dâu về.
Lễ vu quy: tổ chức tại nhà gái để tiễn cô dâu đi lấy chồng.
Lễ thành hôn: được tổ chức chính thức bên nhà trai.
Lễ tơ hồng: lễ khấn ông Tơ bà Nguyệt và cao đường (cha mẹ), diễn ra tại nhà trai, chỉ gồm những người thân thích.
Lễ hợp cẩn: là buổi lễ kết thúc đám cưới, trước giường có bàn bày rượu và một đĩa bánh phu thê (xu xê). Một cụ già đứng lên rót rượu vào chén đưa đôi vợ chồng cùng uống cạn chén, cùng ăn hết cái bánh. Sau đó mọi người ra ngoài hết trừ lại hai vợ chồng mới cưới.
Lễ báo hỉ: là tiệc mặn hoặc ngọt tổ chức sau nghi lễ cưới chính thức tại quê quán của cô dâu hoặc chú rể.
Lễ lại mặt: do chú rể mang về nhà gái một món đồ lễ tạ sau ngày cưới như một lời cảm ơn bên thông gia.
Lễ cheo: lễ vật hoặc kinh phí nộp cho làng, xóm khi có người con trai mới lấy vợ, với dụng ý để xóm làng tiếp nhận thêm thành viên mới.
Tuần trăng mật: là thời điểm nghỉ ngơi cho cặp vợ chồng trẻ sau những ngày căng thẳng khi tiến hành hôn lễ.
=== Tình mẫu tử ===
Người phụ nữ mang nặng đẻ đau, là người chắp đôi cánh uớc mơ, là nguồn ánh sáng dẫn đường cho người con để bay đến chân trời hi vọng. Với người phụ nữ, con cái luôn là máu thịt, là điều đáng quý nhất trong cuộc đời họ. Tình mẫu tử thiêng liêng cũng chính là cội nguồn của mọi tình cảm.
Ngày nay, công việc chăm sóc con nhỏ không còn vất vả như xưa, tuy nhiên, người làm mẹ vẫn còn phải có trách nhiệm nặng nề trên đôi vai là hướng con cái mình đến tương lai một cuộc sống hoàn thiện cả về thể chất và tinh thần. Tình mẫu tử thiêng liêng thổi vào tâm thức người phụ nữ trong xã hội đang phát triển và hội nhập một sức sống mới mẻ, để dần có sự bứt phá về quan điểm, cách nuôi dạy con cái. Những gia đình có điều kiện kinh tế luôn có xu hướng cho con cái họ theo học trường nổi tiếng trong ngoài nước. Các gia đình vùng nông thôn, miền núi, kể cả những nơi đang phải đối mặt với nghèo khó cũng thấy được tính quan trọng việc học hành đối với tương lai con cái. Ngay cả khi lớn lên, người mẹ vẫn sát cánh cùng con cái trên con đường đời đầy gian lao và thử thách. Họ là những mẫu người "giản dị mà sâu sắc, kín đáo mà không tĩnh lặng", được thể hiện trong các câu hát, câu thơ sâu lắng. Có câu hát: "Tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào...", tình yêu thương của người phụ nữ làm mẹ được so sánh như biển Thái Bình rộng lớn.
Đại văn hào Nga Macxim Gorki đã viết: "Đời thiếu mẹ hiền, không phụ nữ/ Anh hùng, thi sĩ, hỏi còn đâu?".
Người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan vào ngày rằm tháng bảy (15-7) âm lịch. Đây là một đại lễ báo hiếu, là cơ hội quý báu để những người con hiếu thảo báo đáp công sinh thành của cha mẹ mình.
=== Hạn chế trong văn hóa ứng xử ===
==== Bạo lực vợ chồng ====
Nguyên nhân dẫn đến bạo lực vợ chồng trong gia đình chủ yếu do sự hiểu biết về bình đẳng giới và luật pháp còn hạn chế. Cũng không loại trừ việc chính người phụ nữ nhiều khi lại tạo ra "môi trường" để một số người chồng phát huy tính vũ phu của họ. Nghiên cứu của Tổng cục Thống kê và UNICEF về Đánh giá các mục tiêu Trẻ em và phụ nữ Việt Nam trong năm 2006, cho thấy có đến 64% phụ nữ độ tuổi từ 15-49 chấp nhận hành vi bạo lực của người chồng vì một trong 5 lý do sau: Người vợ đi chơi không nói cho chồng biết. Người vợ bỏ bê con cái. Người vợ cãi lại chồng. Người vợ từ chối quan hệ tình dục với chồng. Và người vợ nấu thức ăn bị cháy. Thông qua nhận định này, cứ 3 phụ nữ được hỏi thì có 2 người đồng ý với việc người chồng có quyền người đánh vợ khi người vợ phạm một trong 5 khuyết điểm nói trên.
Bạo lực vợ chồng xảy ra nhiều hay ít, thường xuyên hay không cũng phụ thuộc phần nhiều vào khu vực nơi cư trú. Công việc phổ cập văn hoá và đời sống gia đình tới vùng nông thôn vẫn đang còn hạn chế hơn những nơi đô thị, không những vậy, khi người phụ nữ có trình độ học vấn thấp thì cũng dễ chấp nhận việc bị người chồng đối xử bất công.
== Hoạt động xã hội ==
=== Tổ chức ===
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam được thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1930. Là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên Liên đoàn phụ nữ dân chủ Quốc tế, thành viên Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á).
Hệ thống tổ chức gồm 4 cấp:
Cấp trung ương
Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là cấp tỉnh)
Cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương (gọi là cấp huyện)
Cấp xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi là cấp xã)
Những tên gọi trong lịch sử: Hội Phụ nữ Giải phóng (1930 – 1935), Hội Phụ nữ Dân chủ (1936 – 1938); Hội Phụ nữ Phản đế (1939 – 1941); Đoàn Phụ nữ Cứu quốc (1941 – 1945).
Các ngày kỷ niệm: Ngày 20 tháng 10 và Ngày 8 tháng 3 hàng năm.
Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ phối hợp hoạt động của Chính phủ giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ.
Việt Nam đã ký Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) của Liên Hiệp Quốc.
=== Văn hoá nghệ thuật ===
Tính hoạt động nghệ thuật ở người phụ nữ Việt Nam có sự lồng ghép giữa các giai đoạn lịch sử, giữa dân tộc và thế giới mở hiện đại. Nghệ thuật có nguồn gốc từ nền văn hoá đa sắc tộc, phục vụ nhu cầu tinh thần cho chính dân tộc họ. Nghệ thuật thăng trầm cùng lịch sử vốn có nhiều giai đoạn chiến tranh và hoà bình. Người phụ nữ ở vào những hoàn cảnh xã hội nhất định đã đem đến những hiệu quả tinh thần, thông qua những hoạt động lao động nghệ thuật, bao gồm: Thể thao, Điện ảnh, ca múa nhạc, thời trang, điêu khắc, hội hoạ, ẩm thực, tiêu dùng, đối nhân xử thế...
==== Điện ảnh và sân khấu ====
Người Phụ nữ Việt Nam nổi bật trong các tác phẩm điện ảnh, được thể hiện đặc sắc theo suốt 3 thời kỳ:
Thời kỳ 1959 - 1975, tuy điện ảnh Việt Nam ra đời trong chiến tranh nhưng đã phát triển được nhiều tác phẩm nổi tiếng như Chung một dòng sông, Vợ chồng A Phủ, Con chim vành khuyên, Đường về quê mẹ, Nổi gió... Và là thời kỳ đầu của cả phim truyện, phim tài liệu và phim hoạt hình của Việt Nam, với nhiều tác phẩm giành giải thưởng tại liên hoan phim quốc tế.
Thời kỳ 1976 - 1986, có nhiều biến động về kinh tế, xã hội, xuất hiện những mâu thuẫn vì tồn đọng cái cũ trong cái mới. Những tác phẩm điện ảnh ra đời nhưng đã có sự biến đổi mạnh mẽ về phong cách tiếp cận và khai thác đề tài về người phụ nữ. Được thể hiện khá rõ nét qua những bộ phim Mùa gió chướng, Chom và Sa, Hòn đất, Đứng trước biển, Chuyến xe bão táp,...
Thời kỳ từ 1987 đến nay là thời kỳ xóa bỏ bao cấp và hội nhập quốc tế, điện ảnh đã và đang phản ánh thực tế cuộc sống người phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện tại. Một phần quay về với những số phận con người trong và sau chiến tranh như Anh chỉ có mình em, Bông hoa rừng Sác, Hà Nội 12 ngày đêm,... Phần khác là những người đàn bà trăn trở, vật lộn với cuộc sống mưu sinh trong phim "Giải hạn", "Hải Nguyệt"; sự sao nhãng cuộc sống bản thân, gia đình và xã hội để lao vào một kiếp đời phù du của những cô gái nhảy đáng thương trong phim Gái nhảy; là nhân vật Dần, một điển hình cho người phụ nữ chịu thương, chịu khó, đức hạnh và dịu dàng trong phim Áo lụa Hà Đông...
Bên cạnh ngành điện ảnh, phụ nữ Việt Nam còn là lực lượng diễn viên chủ lực trên các sàn diễn kịch trường, hát dân ca, hát chèo, hát bội (hát tuồng) và hát cải lương.
== Một số hình ảnh trong lao động sản xuất và nghệ thuật ==
== Vị thế xã hội ==
Trong xã hội Việt Nam hiện nay phụ nữ đóng góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động. Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Về chính trị: Với tỉ lệ nữ đại biểu trong Quốc hội là 27,31% của Khóa XI đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ nhất châu Á và thứ hai khu vực châu Á Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội không chỉ tăng dần số lượng qua từng khóa mà còn mạnh lên cả về chất lượng, hoạt động đại biểu và Việt Nam được đánh giá là nước có tỉ lệ phụ nữ tham gia hoạt động chính trị cao nhất thế giới. tỉ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) tăng lên tới 33,1%,số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp là trên 20%. Hiện đang có kế hoạch tăng lên hơn 35% nữ đại biểu có mặt trong Quốc hội bất chấp rào cản trong bất bình đẳng giới.
Về giáo dục: Cứ 100 cử nhân có 36 nữ, 100 thạc sĩ có 34 nữ, 100 tiến sĩ có 24 nữ. Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30%. Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như Giáo dục, Y tế, và Dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn Văn học, ngôn ngữ, y dược, Khoa học xã hội, Khoa học tự nhiên và Kinh tế. Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới.
Về luật pháp: Phụ nữ được luật pháp bảo vệ với Luật Bình đẳng giới cùng các luật, nghị định, quyết định và pháp lệnh khác trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước cũng như các chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, mại dâm, bạo hành trong gia đình và tuyên truyền nâng cao ý thức về quyền lợi của người phụ nữ trong các vấn đề này. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hình thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Đặc biệt, hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được thành lập ở 45 bộ, ngành và toàn bộ 64 tỉnh, thành phố. Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường. Bộ LĐTBXH cũng đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về tăng chính sách cho phụ nữ trong dự thảo Bộ luật Lao động tại Hà Nội.
Về kinh tế: Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004.Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, và tài sản. Hiện nay, số doanh nghiệp do phụ nữ điều hành hoặc làm chủ chiếm tới trên 20% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam. Những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ phần lớn thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông sản, thủy sản. Nhiều tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không những chỉ làm giàu cho bản thân mà còn đóng góp được nhiều cho xã hội,giúp đỡ nhiều người có hoàn cảnh khó khăn giống mình.
Phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay ngoài những điểm tích cực, tiến bộ thì vẫn đang đối mặt với một số vấn đề hạn chế, tiêu cực trong xã hội là:
Phân biệt đối xử trong xã hội - Bình đẳng giới: Ở Việt Nam, số nam giới làm cán bộ quản lý cao hơn năm lần so với nữ giới. Các gia đình mong muốn có con trai, đặc biệt là con đầu lòng, đây là một trong các nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ phá thai nữ rất cao ở Việt Nam, và sự mất cân bằng giới tính. Theo thống kê mới nhất, tỷ lệ trẻ em nam/nữ hiện tại là 120/100, dự báo đến năm 2030, sẽ mất cân bằng giới tính trong hôn nhân (thừa nam thiếu nữ). Còn nhiều phụ nữ phải làm trong các ngành nghề độc hại không phù hợp.
Bạo hành gia đình: Theo báo cáo của Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em, 30% số phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng cưỡng bức bằng nhiều hình thức do người chồng gây ra. Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc và Tổng cục Thống kê thì 58% phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhiều vụ bạo hành thương tâm diễn ra, để lại di chứng rất nặng nề cho người phụ nữ.
Buôn bán phụ nữ: hàng năm, có hàng nghìn phụ nữ Việt Nam bị buôn bán trái phép qua biên giới (theo số liệu Liên hợp quốc). Có các chương trình của các tổ chức quốc tế, cũng như của Liên hiệp Phụ nữ VN chống buôn bán phụ nữ. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều các trường hợp phụ nữ bị bán qua biên giới, qua Trung Quốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan. Rất nhiều phụ nữ và trẻ em Việt Nam sinh sống tại vùng biên đã bị bắt cóc bán sang Trung Quốc làm vợ hoặc phục vụ trong các động mại dâm. Tình trạng này thực sự trở lên đáng báo động khi số người bị buôn bán ngày càng gia tăng. Theo báo cáo Liên hợp quốc, năm 2004, có khoảng 50.000 phụ nữ bị đưa đi làm gái tại Campuchia, trong đó có nhiều cô gái Việt Nam. Unicef thống kế có khoảng một phần ba gái mại dâm ở Campuchia dưới 18 tuổi, và hầu hết là người Việt Nam. Ước tính có khoảng 10% số vụ hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Trung Quốc có thể là kết quả của nạn buôn người.
Sức khỏe phụ nữ và sức khỏe sinh sản: Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (20%) và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao (25%). Đóng góp của y tế công góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ và con, tuy nhiên tử vong mẹ vẫn còn ở mức cao (29,9/1.000), đặc biệt ở miền Trung, cao nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.
Tỷ lệ phá thai cao: Việt Nam có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, và người thua thiệt bao giờ cũng là phụ nữ. Một nguyên nhân là do tình hình quan hệ tình dục ở lứa tuổi vị thành niên, trước và ngoài hôn nhân của vị thành niên và thanh niên ngày càng nghiêm trọng, không chỉ phổ biến ở các thành phố lớn, các khu đô thị mà xuất hiện ngày càng nhiều ở các vùng nông thôn. Vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em nữ không được làm tốt và do sự du nhập của văn hóa sống tự do phương Tây qua các phương tiện truyền thông. Thanh niên nữ quan hệ tình dục lần đầu sớm hơn trước nhiều. Theo Điều tra Quốc gia về thanh niên và vị thành niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2) công bố (tháng 8-2010), tuổi có quan hệ tình dục lần đầu đã hạ xuống 18,1 tuổi, sớm hơn 1,5 tuổi so với thanh niên cùng lứa tuổi trong điều tra cách đây 5 năm (19,6 tuổi).
Mại dâm: Phụ nữ là nạn nhân chính của tệ nạn mại dâm tại Việt Nam. Hiên nay, do vấn đề kinh tế, đặc biệt tại các vùng khó khăn, tình trạng mại dâm nữ diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng tăng lên. đầu tư cho công tác phòng chống mại dâm và phòng chống buôn bán phụ nữ trẻ em hiện nay quá ít, không tương xứng với nhiệm vụ. Ngân sách chủ yếu là lấy từ kinh phí thường xuyên của các bộ, ngành và địa phương trong nguồn chi đảm bảo xã hội, nên nhiều nơi không bố trí kinh phí cho chương trình này, hoặc bố trí rất ít.
== Chính phủ Việt Nam giúp đỡ phụ nữ Việt Nam ==
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam "luôn tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển" và ngày 21 tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định phê duyệt "Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, vì sự Tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.
Các Hội Liên hiệp Phụ nữ có chi nhánh ở khắp các địa phương với rất nhiều quan chức, tuy nhiên đôi khi lại chậm chạp cứu trợ người phụ nữ trong những vụ bạo lực gia đình, lạm dụng tình dục và buôn bán phụ nữ.
== Trợ giúp của nước ngoài ==
Liên Hiệp Quốc xem bình đẳng giữa hai giới là góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) góp phần tạo thêm nhiều việc làm và việc làm tốt hơn cho nữ thanh niên Việt Nam, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) hiện đang hỗ trợ phát triển doanh nghiệp cho phụ nữ trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm. Theo bà Pascal Brudon, đại diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam: "Việc tăng cường bình đẳng, công bằng giới và tạo điều kiện cho phụ nữ được tham gia quyết định các vấn đề sinh đẻ, tài chính và gia đình của mình sẽ cải thiện sức khoẻ và cuộc sống của phụ nữ và nam giới ở Việt Nam".
Việt Nam nhận được nhiều sự trợ giúp của nước ngoài để phát triển an sinh xã hội cho phụ nữ, san bằng những bất bình đẳng xã hội và tăng cường bình đẳng giới tính. Như năm 2012, Liên Hiệp Quốc đạ tăng gấp đôi viện trợ và cấp cho Việt Nam 40 triệu đô la giúp phát huy bình đẳng giới tính và quyền của phụ nữ trong 5 năm từ 2012 tới 2016
== Xem thêm ==
Phụ nữ
Ngày Quốc tế Phụ nữ
Ngày Phụ nữ Việt Nam
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Hoa hậu phụ nữ Việt Nam qua ảnh
Đội quân tóc dài
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Hội liên hiệp Phụ nữ TP Hồ Chí Minh
Báo phụ nữ Việt Nam
Diễn đàn phụ nữ |
connectix virtual game station.txt | Virtual Game Station (VGS) là một trình giả lập của Connectix cho phép các trò chơi của Sony PlayStation chơi được trên máy vi tính. Lần đầu tiên nó ra mắt là cho máy Macintosh, năm 1999. VGS tạo ra bởi Aaron Giles. Trình giả lập CPU được biên dịch lại bởi Eric Traut.
Phát hành trong thời điểm Sony PlayStation đứng đầu về mức độ phổ biến, Virtual Game Station là trình giả lập PlayStation đầu tiên, cho bất kỳ nền tảng nào, cho phép các trò chơi chạy ở tốc độ tối đa ở các máy tính mạnh nhất, và trình giả lập này có thể chơi hầu hết các trò chơi cho PlayStation. Nó được quảng cáo là có thể chạy mức tối đa trên hệ thống iMac G3/233 MHz (dựa vào phần cứng đồ họa ATi), và trong một số trường hợp nó có thể chạy với tốc độ 200 MHz trên hệ thống 604el. Sự ra đời của sản phẩm này là một biến chuyển lớn về các trò chơi có mặt trên Macintosh từ rất ít, cho đến bộ sưu tập các trò chơi Playstation. Đồ họa có thể hiển thị toàn màn hình, ở tốc độ tối đa. Một vài tay cầm dạng Playstation có mặt trong VGS. Chức năng thiếu hụt duy nhất là không nhận được sức rung của DualShock hoặc súng ánh sáng.
VGS thực chất được thiết kế cho hệ NTSC nhưng sau này đã có thêm hệ PAL cho các trò chơi. Như PS1, chỉ có những trò chơi phát hành cho VGS mới chạy được, các đĩa sao cóp sẽ không chơi được, nhưng nó cũng không quá lâu để các tin tặc ra mắt phiên bản "Mod Chipped" cho phép chơi đĩa sao cóp. Phiên bản VGS 1.1 và 1.2 đã cố gắng làm cho việc chỉnh sửa để chơi đĩa sao cóp khó khăn hơn nhưng không thành, các phiên bản cho phép chơi đĩa cóp vẫn được ra mắt. VGS được phổ biến mạnh mẽ, và giá của nó chỉ bằng một nửa giá của PS1 và không đòi hỏi phần cứng đặc biệt nào. VGS sau này được phát triển cho Microsoft Windows. Nó trở nên kém phổ biến hơn bởi có sự cạnh tranh của các trình giả lập khác như Bleem!, mặc dù nó có tính tương thích cao hơn.
Sony thấy được VGS như một mối nguy hại, và đệ đơn kiện chống lại sự vi phạm bản quyền của Connectix. Trường hợp này đã kết thúc sự ân huệ đối với Connectix, Connectix đã không bán được sản phẩm trong thời gian chờ đợi vì Sony đã tuyên bố lệnh cấm của tòa [2]. Sau này, Sony mua lại VGS từ Connectix và kết thúc sự phát triển của nó. Nhưng trong thời gian này PS2 đã gần ra mắt và PlayStation đã không còn đứng đầu nữa, mọi người đã chuyển sang chờ hệ máy mới.
== Dẫn chứng ==
== Xem thêm ==
PlayStation
Connectix
Kỹ thuật phân tích ngược
Bleem
== Liên kết ngoài == |
kinh tế pakistan.txt | Pakistan là nước đang phát triển, có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đa dạng, gồm các ngành dệt sợi, hóa chất, chế biến thực phẩm, nông nghiệp và một số ngành công nghiệp khác.
Trong những thập kỷ trước, nền kinh tế đã chịu ảnh hưởng của những cuộc biến động, thay đổi về chính trị, dân số tăng nhanh, do sự đối đầu với Ấn Độ. Tuy nhiên, IMF- đã đồng ý với các chính sách của chính phủ, hỗ trợ bởi đầu tư nước ngoài, cho phép nền kinh tế gia nhập với thị trường thế giới, tạo động lực phục hồi kinh tế vĩ mô trong cuối thập kỷ. Nền kinh tế vĩ mô được sắp xếp lại từ năm 2000, nổi bật nhất là việc tư nhân hoá ngành ngân hàng đã giúp đỡ cho nền kinh tế. Tỉ lệ nghèo của Pakistan đã giảm được 10% kể từ năm 2001.
GDP tăng trưởng 6-8% từ năm 2004-06. Trong năm 2005, Ngân hàng thế giới xếp Pakistan là nước đứng đầu trong số các nền kinh tế cải cách ở khu vực và đứng trong top 10 các nền kinh tế cải cách của toàn cầu.
Lạm phát vẫn là mỗi đe doạ lớn nhất đối với nền kinh tế, lạm phát của Pakistan lên đến trên 9% trong năm 2005 và giảm xuống còn 7.9% trong năm 2006. Ngân hàng quốc gia đang theo đuổi chính sách thắt chặt tiền tệ trong khi vẫn cố gắng duy trì sự tăng trưởng kinh tế.
== Chú thích == |
đua ô tô.txt | Đua ô tô là môn thể thao tốc độ thi đấu bằng kỹ thuật điều khiển ô tô trên đường đua. Đường đua ô tô có thể là đường giao thông bình thường, đường chuyên dùng trong các trường đua hoặc những đường địa hình. Thành tích đua ô tô thường được tính bằng thời gian.
Trên thế giới ngày nay có rất nhiều kiểu đua ô tô. Một trong những kiểu nổi tiếng nhất là Công thức 1, tập trung các công nghệ và tay đua hàng đầu. Đua ô tô ngày nay là một trong những chương trình thể thao trên truyền hình thu hút nhiều người xem nhất. Đua ô tô cũng được những nhà sản xuất game đưa vào các trò chơi điện tử.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Motor Sports Association (MSA UK)
American Le Mans Series (ALMS)
Indy Racing League (IRL)
WRC.com - Official site of World Rally Championship
The FIA - The Fédération Internationale de l'Automobile
Grand American Road Racing Association
International Hot Rod Association
International Motor Sports Association (IMSA)
National Auto Sport Association
National Association for Stock Car Auto Racing (NASCAR)
National Hot Rod Association
SCORE International Off Road Racing
Sports Car Club of America
United States Auto Club
Formula 1 Official Website
Confederation of Australian Motorsport (CAMS) |
samsung galaxy note 10.1 2014 edition.txt | Samsung Galaxy Note 10.1 2014 Edition (Phiên bản 2014) là chiếc máy tính bảng có kích thước 10.1 inch, chạy hệ điều hành Android được nghiên cứu, thiết kế và phát triển bởi Samsung Electronics. Chiếc máy tính bảng này thuộc thế hệ mới của dòng Samsung Galaxy Note series, bao gồm phiên bản 8 inch, Samsung Galaxy Note 8.0. Được công bố vào ngày 04 tháng 09 năm 2013, và được ra mắt trên toàn thế giới vào tháng 10 năm 2013, đây là phiên bản tiếp theo của người tiền nhiệm Samsung Galaxy Note 10.1.
== Lịch sử ==
Galaxy Note 10.1 Phiên bản 2014 được giới thiệu vào ngày 4 tháng 9 năm 2013. Chiếc máy tính bảng này được giới thiệu cùng Galaxy Note 3 và Galaxy Gear tại IFA 2013, Berlin và Quảng trường New York Times. Vào ngày 26 tháng 9, Samsung công bố chiếc máy tính bảng này sẽ được ra mắt vào tháng 10, với mức giá khởi điểm từ $549, và bắt đầu giao hàng trên toàn nước Mỹ vào cùng tháng.
== Tính năng ==
ChatON có những tính năng cơ bản bao gồm tự động kết bạn, chat đa phương tiện, cũng như các tính năng mới như My Page, Voice/video chat, và phiên dịch.
Chức năng chính của ChatON được chia thành Multimedia, Group Chat, Trunk và Animation message. ChatON có thể gửi tin nhắn, hình ảnh, video và âm thanh thông qua chức năng Multimedia.
Người dùng thiết lập các thông tin cá nhân trong trang My Page. Họ có thể tạo ra các Chat Room bằng cách chọn nhiều hơn hai người bạn. Tất cả các nội dung được chia sẻ trong từng đoạn hội thoại sẽ được lưu vào Trunk. Animation message có thể biến các hình vẽ đơn giản thành những đoạn video sống động.
Galaxy Note 10.1 Phiên bản 2014 ra mắt với Android 4.3 Jelly Bean. Samsung thiết kế giao diện của chiếc máy tính bảng này với phần mềm TouchWiz UX. Ngoài các ứng dụng của Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, chiếc máy tính bảng này có thể truy cập các ứng dụng từ Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, Smart Remote (Peel) và All Share Play. Các tính năng và ứng dụng được tối ưu hóa cho việc sử dụng bút S-pen cũng được thêm vào Note 10.1 Phiên bản 2014, có thể kể đến menu Air Command bao gồm các shortcuts dẫn tới những chức năng đã được tối ưu cho bút S-pen như Action Memos (giấy nhớ trên màn hình sử dụng chức năng nhận diện chữ viết tay để xác định nội dung và cung cấp những hành động phù hợp chẳng hạn như tìm địa chỉ trên Google Maps và gọi cho các số điện thoại cần thiết), công cụ ghi chú Screen Write, Pen Window cho phép người dùng vẽ ra các cửa sổ để chạy một số ứng dụng bên trong, công cụ tìm kiếm S Finder, Scrapbook, My Magazine với ứng dụng cho phép kéo thanh công cụ từ bên dưới màn hình, và phiên bản cập nhật của S Note.
Galaxy Note 10.1 2014 Edition có bản Wi-Fi, 3G và Wi-Fi, cũng như 4G/LTE và Wi-Fi. Bộ nhớ trong dao động từ 16 GB đến 64 GB phụ thuộc vào từng phiên bản, với khe cắm thẻ nhớ microSDXC. Máy tính bảng này có kích thước màn hình 10.1-inch WQXGA TFT với độ phân giải 2.560x1.600 pixel. Galaxy Note 10.1 2014 Edition cũng được trang bị camera trước 2 MP và camera sau 8 MP cũng như khả năng quay video HD.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Website chính thức |
thánh, thánh, thánh.txt | Thánh, Thánh, Thánh! (Latinh: Sanctus) là tên một bài tụng ca quan trọng của nghi lễ Kitô giáo. Trong lễ nghi Kitô giáo Tây phương (Rôma), Thánh, Thánh, Thánh! là câu hát (hoặc nói tùy theo mùa phụng vụ) cuối cùng sau khi dâng lễ, với ý tưởng về câu hát của các thiên thần tán tụng Thiên Chúa:
Sanctus, Sanctus, Sanctus
Dominus Deus Sabaoth.
Pleni sunt caeli et terra gloria tua.
Hosanna in excelsis.
Benedictus qui venit in nomine Domini.
Hosanna in excelsis
Bản tiếng Việt dùng trong nghi thức:
Thánh, Thánh, Thánh
Chúa là Thiên Chúa các Đạo Binh
Trời đất đầy vinh quang Chúa
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.
Chúc tụng Đấng ngự đến nhân Danh Chúa
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.
Theo đó, những câu đầu tiên được trích và điểu chỉnh từ Sách Isaia 6:3, mô tả tiên tri Isaia được thị kiến Tòa Thiên Chúa, có các thần Xêraphim đứng chầu, mỗi thần có sáu cánh. Hình ảnh tương tự có thể thấy trong Sách Khải Huyền 4:8. Các câu phần sau, bắt đầu bằng chữ Benedictus được lấy từ Phúc âm Matthew 21:9, mô tả Chúa Giêsu vào Jerusalem vào ngày Lễ Lá.
== Tham khảo == |
quán bar.txt | Quầy bar là một loại bàn lớn và dài dùng trong việc phục vụ tại chỗ các thức uống chứa cồn (như bia, rượu...). Ngoài đồ uống, các quầy bar cũng phục vụ những bữa ăn nhẹ. Quán bar có thể hiểu là quán nước có quầy bar. Một số quán bar ngoài phục vụ thức uống và thức ăn còn có thêm các loại hình giải trí trên sân khấu, chẳng hạn như một ban nhạc sống, diễn viên hài, vũ công, hoặc vũ nữ thoát y. Các quán bar có nhiều mức độ, từ rất " bình dân " (dive bars) cho đến các quán bar thanh lịch cho giới thượng lưu (elite). Trong hầu hết các nước, các quầy bar được quy định và cấp phép bởi các chính phủ khu vực hoặc địa phương, trong đó thiết lập pháp luật về giờ mở cửa và phục vụ khách. Tại Canada và Hoa Kỳ, thuế rượu được áp dụng vào kinh doanh đồ uống có cồn tại các quầy bar.
Có thể phân tách Quầy Bar làm hai phần là bar (phần bàn lớn để phục vụ đồ uống) và back bar (kệ lớn phía sau nhân viên pha chế nơi các loại rượu và nguyên liệu được trưng bày. Tùy theo quán bar, "back bar" được trang trí cho phù hợp với chủ đề của quán.
== Lịch sử ==
Đã có rất nhiều tiếng lóng khác nhau trong tiếng Anh và các ngôn ngữ khác trong suốt lịch sử để gọi quầy bar, nơi mọi người tụ tập để uống đồ uống có cồn chằng hạn như "tavern", "speakeasies" hoặc lợn mù (blind pigs).
Có những luật cấm đồ uống có cồn trong nửa đầu của thế kỷ 20 ở một số nước, trong đó có Phần Lan, Iceland, Na Uy, và Hoa Kỳ. Tại Hoa Kỳ, các quán bar bất hợp pháp được gọi là "speakeasies" hoặc lợn mù (blind pigs).
== Hạn chế pháp lý ==
Luật pháp tại nhiều khu vực pháp lý cấm trẻ vị thành niên đi vào một quán bar.
Các thành phố, thị xã thường có những hạn chế pháp lý vào nơi các quán bar có thể được mở và trên các loại rượu mà họ có thể phục vụ cho khách hàng của họ.
Một số quốc gia Hồi giáo, bao gồm Brunei, Iran, Libya, Ả Rập Saudi và UAE, cấm quán bar vì lý do tôn giáo. Một số nước Hồi giáo khác, bao gồm Qatar và UAE, cho phép các quán bar dành riêng cho người không theo đạo Hồi.
== Các loại quầy bar ==
=== Phân loại theo tính chất ===
Một quầy cocktail là một quầy bar rộng quy mô thường nằm bên trong một khách sạn, nhà hàng, hoặc sân bay.
Một quầy rượu là một quầy bar mang tính thanh lịch chỉ phục vụ rượu vang (không có bia hay rượu). Khách quen của các quầy bar này có thể nếm rượu vang trước khi quyết định mua chúng. Một số quầy rượu cũng phục vụ đồ ăn nhẹ.
Một dive bars là một quầy bar rất" bình dân", và có thể mang nhiều tính chất thô tục.
=== Phân loại theo loại hình giải trí ===
Các quầy bar phân loại theo các loại hình giải trí mà họ cung cấp bao gồm:
Vũ thoát y, các quán bar có thể cung cấp các loại hình múa cột, và vũ nữ thoát y. Hầu hết các quán bar loại này kiểm soát chặt chẽ độ tuổi khách hàng
Quán bar thể thao, nơi mà người hâm mộ thể thao có thể xem các trò thể thao trên màn hình lớn ngay tại quán
Quán bar - vũ trường, (hay còn gọi là hộp đêm) nơi các khách hàng có thể nhảy trên một sàn nhảy lớn theo các điệu nhạc do một DJ điều khiển. Đây cũng là nguồn gốc của điệu nhảy Disco.
=== Phân loại theo khách hàng ===
Các quán bar phân loại theo các loại khách hàng quen thường đến quán như:
Quán bar dành cho người đi xe gắn máy và những người đam mê hay thành viên câu lạc bộ xe gắn máy. Loại hình này phổ biến tại Mỹ
Quán bar đồng tính, nơi mà đồng tính nam hay nữ có thể sinh hoạt xã hội với nhau.
Quán bar cho cảnh sát và những người làm công việc an ninh ngoài giờ làm.
Quán bar nơi những người chưa lập gia đình của cả hai giới có thể gặp nhau và giao tiếp
Quán bar sinh viên, thường nằm gần các trường đại học, nơi mà hầu hết các khách hàng quen là sinh viên.
== Nghĩa của từ "Bar" ==
Một quầy lớn nơi các loại rượu được phục vụ bởi một "bartender" gọi là quầy bar. Thuật ngữ này được áp dụng, như là một phép chuyển nghĩa với từ bar (nghĩa là Thanh cứng trong tiếng Anh). Các quầy bar thường trữ một loạt các loại bia, rượu vang, rượu, và nguyên liệu, và được tổ chức để tạo thuận lợi về điều kiện làm việc của các bartender.
Từ "bar" trong hoàn cảnh này đã sử dụng từ năm 1592 khi nhà soạn kịch Robert Greene đề cập trong A Noteable Discovery of Coosnage. Tuy nhiên cách phục vụ đồ uống kiểu này được cho là do Isambard Kingdom Brunel sáng chế nhằm phục vụ thật nhanh các khách hàng đang vội bắt tàu hỏa tại ga Swindon khi công ty Great Western Railway đổi tàu.Cũng có ý kiến cho rằng các bar đầu tiên để phục vụ rượu được lắp đặt tại các khách sạn Great Western trên trạm Paddington, London.
Quầy phục vụ các loại thực phẩm và đồ uống cũng có thể được gọi là quán bar. Ví dụ như quán bar salad, sushi bar, và sundae bar.
=== Hình ảnh ===
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
International Bar Database |
the amazing race vietnam | |
ánh sáng.txt | Ánh sáng là từ phổ thông dùng để chỉ các bức xạ điện từ có bước sóng nằm trong vùng quang phổ nhìn thấy được bằng mắt thường của con người (tức là từ khoảng 380 nm đến 700 nm). Giống như mọi bức xạ điện từ, ánh sáng có thể được mô tả như những đợt sóng hạt chuyển động gọi là photon. Ánh sáng do Mặt Trời tạo ra còn được gọi là ánh nắng (hay còn gọi là ánh sáng trắng bao gồm nhiều ánh sáng đơn sắc biến thiên liên tục từ đỏ đến tím); ánh sáng Mặt Trăng mà con người thấy được gọi là ánh trăng thực tế là ánh sáng do mặt trời chiếu tới Mặt Trăng phản xạ đi tới mắt người; do đèn tạo ra còn được gọi là ánh đèn; do các loài vật phát ra gọi là ánh sáng sinh học. Ánh sáng có tốc độ rất nhanh, điều này dễ hiểu khi trời mưa, ta thấy cái chớp xong rồi một lúc mới nghe tiếng rầm.
"Ánh sáng lạnh" là ánh sáng có bước sóng tập trung gần vùng quang phổ tím. "Ánh sáng nóng" là ánh sáng có bước sóng nằm gần vùng đỏ. Ánh sáng có quang phổ trải đều từ đỏ đến tím là ánh sáng trắng; còn ánh sáng có bước sóng tập trung tại vùng quang phổ rất hẹp gọi là "ánh sáng đơn sắc".
Môn học nghiên cứu sự lan truyền và các tính chất của ánh sáng trong và giữa các môi trường khác nhau gọi là quang học.
== Một số tính chất quan trọng ==
=== Vận tốc trong chân không ===
Trong chân không, các thí nghiệm đã chứng tỏ ánh sáng nói riêng, hay các bức xạ điện từ nói chung, đi với vận tốc không thay đổi, thường được ký hiệu là c = 299.792.458 m/s, thậm chí không phụ thuộc vào hệ quy chiếu. Hiện tượng này đã thay đổi nhiều quan điểm về cơ học cổ điển của Isaac Newton và thúc đẩy Albert Einstein tìm ra lý thuyết tương đối.
=== Năng lượng, động lượng và khối lượng ===
Năng lượng của một hạt photon có bước sóng λ là hc/λ, với h là hằng số Planck và c là tốc độ ánh sáng trong chân không. Photon không có khối lượng nghỉ, do đó động lượng của hạt photon bằng năng lượng của nó chia cho tốc độ ánh sáng, h/λ. Tính toán trên thu được từ công thức của thuyết tương đối:
E2-p2c2 = m02c4
với:
E là năng lượng của hạt
p là động lượng của hạt
m0 là khối lượng nghỉ
=== Tương tác với vật chất ===
==== Với mắt người ====
Các dao động của điện trường trong ánh sáng tác động mạnh đến các tế bào cảm thụ ánh sáng trong mắt người. Có 3 loại tế bào cảm thụ ánh sáng trong mắt người, cảm nhận 3 vùng quang phổ khác nhau (tức ba màu sắc khác nhau). Sự kết hợp cùng lúc 3 tín hiệu từ 3 loại tế bào này tạo nên những cảm giác màu sắc phong phú. Để tạo ra hình ảnh màu trên màn hình, người ta cũng sử dụng 3 loại đèn phát sáng ở 3 vùng quang phổ nhạy cảm của người (xem phối màu phát xạ).
Tế bào cảm giác màu đỏ và màu lục có phổ hấp thụ rất gần nhau, do vậy mắt người phân biệt được rất nhiều màu nằm giữa màu đỏ và lục (màu vàng, màu da cam, xanh nõn chuối,...). Tế bào cảm giác màu lục và màu lam có phổ hấp thụ nằm xa nhau, nên mắt người phân biệt về các màu xanh không tốt. Trong tiếng Việt, từ "xanh" đôi khi hơi mơ hồ - vừa mang nghĩa xanh lục vừa mang nghĩa xanh lam.
Võng mạc người được chia làm 2 lớp (xét về mặt chức năng) gồm lớp tế bào cảm nhận ánh sáng và lớp tế bào dẫn truyền xung thần kinh điện thế. Trong y học, người ta còn phân võng mạc thành 10 lớp theo cấu trúc giải phẫu mô học và hình thái của nó.
Về tế bào học, võng mạc người chỉ có 2 loại tế bào: tế bào gậy và tế bào nón. Tế bào gậy có chức năng xác định về cấu trúc, hình thể vật, những hình ảnh trong tối Tế bào nón có chức năng xác định rõ về màu sắc, độ sắc nét Trong đó, tế bào nón lại được phân thành 3 loại, nhận cảm màu sắc ánh sáng tương ứng với 3 vùng quang phổ khác nhau
==== Với mắt các sinh vật ====
Các sinh vật khác con người có thể cảm thụ được nhiều màu hơn (chim 4 màu gốc) hoặc ít màu hơn (bò 2 màu gốc) và ở những vùng quang phổ khác (ong cảm nhận được vùng tử ngoại).
Hầu hết mắt của các sinh vật nhạy cảm với bức xạ điện từ có bước sóng nằm trong khoảng từ 300 nm đến 1200 nm. Khoảng bước sóng này trùng khớp với vùng phát xạ có cường độ mạnh nhất của Mặt Trời. Như vậy có thể suy luận là việc các loài vật trên Trái Đất đã tiến hoá để thu nhận vùng bức xạ tự nhiên mạnh nhất đem lại lợi thế sinh tồn cho chúng. Không hề ngẫu nhiên mà bước sóng ánh sáng (vùng quang phổ mắt người nhìn được) cũng trùng vào khu vực bức xạ mạnh này.
== Các lý thuyết về ánh sáng ==
Trong lịch sử khám phá, đã có nhiều lý thuyết để giải thích các hiện tượng tự nhiên liên quan đến ánh sáng. Dưới đây trình bày các lý thuyết quan trọng, theo trình tự lịch sử.
=== Lý thuyết hạt ánh sáng ===
Lý thuyết hạt ánh sáng, được Isaac Newton đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là dòng di chuyển của các hạt vật chất. Lý thuyết này giải thích được hiện tượng phản xạ và một số tính chất khác của ánh sáng; tuy nhiên không giải thích được nhiều hiện tượng như giao thoa, nhiễu xạ mang tính chất sóng.
=== Lý thuyết sóng ánh sáng ===
Lý thuyết sóng ánh sáng, được Christiaan Huygens đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là sự lan truyền của sóng. Lý thuyết này giải thích được nhiều hiện tượng mang tính chất sóng của ánh sáng như giao thoa, nhiễu xạ; đồng thời giải thích tốt hiện tượng khúc xạ và phản xạ.
Lý thuyết sóng và lý thuyết hạt ánh sáng ra đời cùng thời điểm, thế kỷ 17 và đã gây ra cuộc tranh luận lớn giữa hai trường phái.
Năm 1817, Thomas Young đề xuất rằng sóng ánh sáng là sóng ngang, chứ không phải sóng dọc. Chúng dao động vuông góc với hướng truyền, chứ không theo hướng truyền, như đối với sóng âm.
=== Lý thuyết điện từ ===
Sau khi lý thuyết sóng và lý thuyết hạt ra đời, lý thuyết điện từ của James Clerk Maxwell năm 1865, khẳng định lại lần nữa tính chất sóng của ánh sáng. Đặc biệt, lý thuyết này kết nối các hiện tượng quang học với các hiện tượng điện từ học, cho thấy ánh sáng chỉ là một trường hợp riêng của sóng điện từ.
Các thí nghiệm sau này về sóng điện từ, như của Heinrich Rudolf Hertz năm 1887, đều khẳng định tính chính xác của lý thuyết của Maxwell.
=== Ête ===
Sau thành công của lý thuyết điện từ, khái niệm rằng ánh sáng lan truyền như các sóng đã được chấp nhận rộng rãi. Các hiểu biết về sóng cơ học, như âm thanh, của cơ học cổ điển, đã dẫn các nhà khoa học đến giả thuyết rằng sóng ánh sáng lan truyền như sóng cơ học trong môi trường giả định ête, tràn ngập khắp vũ trụ, nhưng có độ cứng cao hơn cả kim cương.
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nhiều thí nghiệm tìm kiếm sự tồn tại của ête, như thí nghiệm Michelson-Morley, đã thất bại, cùng lúc chúng cho thấy tốc độ ánh sáng là hằng số không phụ thuộc hệ quy chiếu; do đó không thể tồn tại môi trường lan truyền cố định kiểu ête.
=== Thuyết tương đối ===
Thuyết tương đối của Albert Einstein ra đời, 1905, với mục đích ban đầu là giải thích hiện tượng vận tốc ánh sáng không phụ thuộc hệ quy chiếu và sự không tồn tại của môi trường ête, bằng cách thay đổi ràng buộc của cơ học cổ điển.
Trong lý thuyết tương đối hẹp, các tiên đề của cơ học được thay đổi, để đảm bảo thông qua các phép biến đổi hệ quy chiếu, vận tốc ánh sáng luôn là hằng số. Lý thuyết này đã giải thích được chuyển động của các vật thể ở tốc độ cao và tiếp tục được mở rộng thành lý thuyết tương đối rộng, trong đó giải thích chuyển động của ánh sáng nói riêng và vật chất nói chung trong không gian bị bóp méo bởi vật chất.
Thí nghiệm đo sự bẻ cong đường đi ánh sáng của các ngôi sao khi đi qua gần Mặt Trời, lần đầu vào nhật thực năm 1919, đã khẳng định độ chính xác của lý thuyết tương đối rộng.
=== Lý thuyết lượng tử ánh sáng ===
Lý thuyết lượng tử của ánh sáng nói riêng và vật chất nói chung ra đời khi các thí nghiệm về bức xạ vật đen được giải thích bởi Max Planck và hiệu ứng quang điện được giải thích bởi Albert Einstein đều cần dùng đến giả thuyết rằng ánh sáng là dòng chuyển động của các hạt riêng lẻ, gọi là quang tử (photon).
Vì tính chất hạt và tính chất sóng cùng được quan sát ở ánh sáng, và cho mọi vật chất nói chung, lý thuyết lượng tử đi đến kết luận về lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng và vật chất; đúc kết ở công thức de Broglie, 1924, liên hệ giữa động lượng một hạt và bước sóng của nó.
== Biểu tượng ==
Ánh sáng được liên hệ với bóng tối, để tượng trưng cho những giá trị bổ sung hoặc thay phiên nhau trong một quá trình biến đổi. Quy luật này được xác minh trong những hình ảnh của Trung Hoa cổ xưa, cũng như của nhiều nền văn minh khác. Ý nghĩa của nó là, cũng như trong đời người ở mọi cấp độ, một thời đại đen tối sẽ được nối tiếp, trên mọi bình diện vũ trụ, bằng một thời đại sáng láng, trong sạch được phục hưng. Ý nghĩa của biểu trưng thoát ra khỏi bóng tối ấy được lập lại trong các nghi thức thụ pháp, cũng như trong các huyền thoại về cái chết, về tấn kịch sinh trưởng của thực vật (hạt giống được vùi, bóng tối mà từ đó thoát ra một cây mới, một tín đồ mới) hoặc trong quan niệm về các chu kỳ lịch sử. Thời đại đen tối Kali - Yuga, sẽ được tiếp nối sau một cuộc tiêu vong vũ trụ (mahâpralaya) bằng một thời đại mới được phục hưng. Mircea Eliade đã kết luận một cách sâu sắc rằng chính vì vậy mà ta có thể tăng giá trị cho các thời đại tăm tối, các thời đại suy thoái và tan rã: chúng thu nhận được một ý nghĩa siêu lịch sử, tuy rằng chính trong những thời điểm như vậy mà lịch sử tự phô bày một cách đầy đủ nhất, vì khi ấy các thế cân bằng trở nên bấp bênh, còn tự do thì được khích lệ do tình trạng suy sụp của mọi luật lệ va mọi khuôn khổ đã trở thành cổ lỗ.
Những thành ngữ như "ánh sáng thần thánh" hoặc "ánh sáng tinh thần" cho thấy một nội hàm biểu trưng rất phong phú ở Viễn Đông. Ánh sáng là nhận thức: ở Trung Quốc chữ ming (minh) cũng có nghĩa kép, tổng hợp ánh sáng của Mặt Trời và Mặt Trăng; đối với những người theo đạo Phật ở Trung Quốc, minh có nghĩa là giác ngộ; trong đạo Hồi, En - nûr, ánh sáng, về thực chất đống nhất với; Er - Rûh, Trí tuệ. Sự tòa rạng của ánh sán (Aor) từ điểm nguyên khởi đẻ ra không gian và thời gian, theo thuyết Kabbale. Đây là một lối diễn giải tượng trưng cho mệnh đề Fiat lux trong sách Sáng Thế. Cuộc sáng thế ở đây cũng là sự tỏa sáng, sự sắp đặc cái hỗn mang bằng những dao động, như Guénon viết: về mặt này chính lý thuyết vật lý về ánh sáng xem ra cũng có tính tượng trưng. Theo thánh Jean (1, 9), ánh sáng nguyên khởi đồng nhất với lời chúa; đây là cách biểu đạt sự tỏa sáng của Mặt Trời tinh thần là trái tim đích thực của thế gian.
Trong sách Sáng Thế, cúng như ở Ấn Độ và Trung Quốc, hoạt động tạo dựng vũ trụ là tách biệt bóng tối và ánh sáng, khởi thủy lẫn lộn. Việc trở về cội nguồn như vậy có thể được biểu đạt bằng khắc phục tính nhị nguyên, lập lại tính đơn nhất đầu tiên: Hãy theo tôi, Trang Tử viết (Chương II), sang phía bên kia hai căn nguyên (ánh sáng và bóng tối) đến cái đơn nhất. Theo cách nhìn của người thường, sư tổ Huệ Năng dạy, giác ngộ và vô minh (ánh sáng và bóng tối) là hai sự vật khác nhau. Các bậc hiền nhân do thực hiện được đến cùng bản nhiên của mình nên biết rằng chúng cùng một bản chất.
Ở Ai Cập thần Seth tượng trưng cho ánh sáng của bóng tối, hung ác và đáng sợ, còn thần Anubis tượng trưng cho ánh sáng làm sống động, thuận lợi và gây hứng khởi, từ ánh sáng ấy vũ trụ đã xuất hiện và cũng ánh sáng ấy dẫn linh hồn sang thế giới bên kia. Ánh sáng tượng trưng cho thế lực cho ta và lấy đi của ta sự sống; ánh sáng thế nào, cuộc đời thế ấy. Bản chất và trình độ cuộc sống phụ thuộc vào ánh sáng tiếp nhận được.
Các nhà tâm lý và các nhà phân tích đã nhận thấy những hình ảnh sáng láng gắn liền với những vận động đi lên kem theo là cảm giác sảng khoái, còn những cận động đi xuống, thì có những hình ảnh đen tối gắn với chúng, kèm theo là một cảm giác sợ hãi. Các nhận xét này khẳn định rằng ánh sáng tượng trưng cho sự phát triển của con người băng việc nâng mình lên - con người tìm thấy sự hài hòa ở các điểm cao - còn bóng tối, cái đen thì tượng trưng cho sự trâm uất và lo sợ.
Trong đạo Hồi, ánh sáng trước hết là biểu tượng của thánh thần. Kinh Koran tuyên bố: "Chúa là ánh sáng của trời và đất. Ánh sáng của ngài như là một cái hốc ở tường trong đó có một ngọn đèn; còn ngọn đèn ở trong một thông phong, còn thông phong thì tựa như một vì sao sáng. Đèn được thấp bằng dầu của một cây đã được ban phép lành, một cây olive không của phương Đông mà cũng chẳng phải phương Tây..."
Ý nghĩa tượng trưng của ánh sáng phát sinh từ chiêm ngưỡng thiên nhiên. Ba Tư, Ai Cập, tất cả các nền thần thoại đều gán cho thần thánh một bản chất sáng láng. Toàn bộ nền văn minh cổ đại thừa nhận điều này: Platon, những người theo học thuyết khắc kỷ, những người thuộc trường phái Alexandrie và cả những người theo thuyết ngộ đạo. Thánh Augustin hẳn đã truyền lại những ảnh hưởng của phái Tân Platon về vẻ đẹp của ánh sáng. Kinh thánh cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của ánh sáng. "người ta cũng chả gọi lời Chúa là Iumen de Iumine sao? (ibid. 159). Ánh sáng đó là Chúa trời (xem toàn bộ bức thư thứ nhất của thánh Jean)."
== Các hiện tượng quang học ==
Phản xạ
Khúc xạ
Tán xạ
Nhiễu xạ
Giao thoa Khuếch Xạ
Thấu kính hấp dẫn
Hiệu ứng quang điện
== Ứng dụng ==
== Tham khảo ==
Jean Chevalier, Alain Gheerbrant. Dictionnaire des symboles. Édition revue et augmentée. Robert Laffont, Paris 1992.
== Xem thêm ==
Vận tốc ánh sáng
== Liên kết ngoài == |
giải bóng đá vô địch thế giới 2006.txt | Giải bóng đá vô địch thế giới 2006 hay Cúp bóng đá thế giới 2006 (tên chính thức là 2006 FIFA World Cup Germany / FIFA Fußball-Weltmeisterschaft Deutschland 2006™) được tổ chức từ 9 tháng 6 đến 9 tháng 7 năm 2006 tại 12 thành phố của Đức. Đây là giải bóng đá vô địch thế giới lần thứ 18 và là lần thứ hai được tổ chức ở Đức (lần trước vào năm 1974 ở Tây Đức). Bài hát chính thức của giải là bài "The Time of Our Lives", của Il Divo. Bài hát chào mừng (anthem) của giải là bài "Celebrate the Day", của Herbert Groenmeyer.
Trong mùa giải này có tất cả 197 đội bóng tham gia các vòng loại (hầu hết các đội bóng này là thành viên của FIFA). Đây là giải đấu có số lượng đội bóng tham gia nhiều nhất trong lịch sử. Trong đó, 32 đội xuất sắc nhất tham gia vào vòng chung kết với các trận đấu: vòng bảng, vòng 16 đội, tứ kết, bán kết, chung kết. Trận chung kết giữa Pháp và Ý được tổ chức tại sân vận động Olympic ở Berlin. Ý là đội chiến thắng và lần thứ tư giành chức vô địch thế giới.
Việc bán bản quyền phát sóng và tài trợ đã góp phần thành công cho giải đấu. Trong thời kì diễn ra World Cup 2006, người ta ước tính rằng có khoảng 26,29 tỉ lượt người xem trực tuyến. Giải đấu đã thu hút được 715.1 triệu khán giả trên khắp thế giới. World Cup 2006 xếp hạng thứ bốn về số lượng người theo dõi, sau các giải vô địch bóng đá thế giới các năm 1990, 1994, 2002. World Cup 2006 đã diễn ra thành công ở Đức, nhờ đó nước chủ nhà đã quảng bá được hình ảnh của mình ra khắp thế giới. Với tư cách là đội chiến thắng, Ý giành quyền tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2009.
== Lựa chọn nước chủ nhà ==
Việc bỏ phiếu để lựa chọn nước chủ nhà tổ chức World Cup 2006 bắt đầu được tổ chức vào tháng 7 năm 2000 tại Zürich, Thụy Sĩ. Trong đó, bốn ứng viên sáng giá bao gồm: Đức, Nam Phi, Anh và Maroc. Ba vòng bỏ phiếu lần lượt diễn ra để loại ra quốc gia có số phiếu ít nhất của mỗi vòng. Vòng thứ ba được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 năm 2000 và Đức đã trở thành nước chủ nhà khi có nhiều phiếu hơn Nam Phi.
Sau đó, quyết định chọn Đức đăng cai tổ chức World Cup 2006 đã gây tranh cãi trong dư luận . Kết quả được trình bày trong bảng sau:
== Các sân vận động ==
== Vòng loại ==
Vòng loại World Cup 2006 bắt đầu từ tháng 9 năm 2003 và kết thúc ngày 17 tháng 11 năm 2005 với hơn 800 trận đấu và 2400 bàn thắng.
Bên cạnh đội chủ nhà Đức được vào thẳng vòng chung kết, 196 quốc gia và vùng lãnh thổ khác đã tham dự vòng loại để chọn ra 31 đội.
=== Các đội giành quyền tham dự ===
== Danh sách trọng tài ==
== Danh sách cầu thủ tham dự giải ==
Mỗi đội tuyển tham gia vòng chung kết có quyền đăng ký 23 cầu thủ, trong đó có tối thiểu ba thủ môn. Hạn cuối cùng để nộp danh sách là ngày 15 tháng 5 năm 2006. Trong trường hợp chấn thương vào phút chót, các đội tuyển có thể thay đổi danh sách chậm nhất là vào 24 giờ trước trận đấu khai mạc giải.
== Lễ bốc thăm và thể thức thi đấu ==
=== Các nhóm bốc thăm ===
Lễ bốc thăm để thành lập các bảng cho VCK World Cup 2006 đã diễn ra ngày 9 tháng 12 năm 2005 tại Trung tâm triển lãm Leipzig (Đức) với sự có mặt của khoảng 6720 khách mời. Người dẫn chương trình trong lễ bốc thăm là siêu mẫu Heidi Klum.
32 đội tuyển tham dự giải được chia ra làm năm nhóm tại lễ bốc thăm, mỗi bảng đấu sẽ có một đội thuộc mỗi nhóm. Nhóm một là nhóm hạt giống bao gồm các đội tuyển hạt giống. Nhóm hai là nhóm các đội tuyển châu Phi, Nam Mỹ và châu Úc. Nhóm thứ 3 là nhóm các đội tuyển châu Âu không phải là hạt giống. Nhóm thứ 4 gồm các đội châu Á và khu vực CONCACAF. Đội tuyển Serbia và Montenegro vào một nhóm riêng để không thể có ba đội châu Âu rơi vào cùng một bảng và chắc chắn sẽ phải gặp một trong ba đội hạt giống là Brasil, Argentina, México. Ở giải năm nay, các đội không may mắn khi rơi vào bảng được coi là tử thần là các bảng C và E .
== Vòng chung kết ==
=== Vòng bảng ===
Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương (GMT +2)
==== Bảng A ====
==== Bảng B ====
==== Bảng C ====
==== Bảng D ====
==== Bảng E ====
==== Bảng F ====
==== Bảng G ====
==== Bảng H ====
=== Vòng đấu loại trực tiếp ===
==== Sơ đồ tóm tắt ====
==== Vòng 16 đội ====
==== Tứ kết ====
==== Bán kết ====
==== Tranh hạng ba ====
==== Chung kết ====
=== Vô địch ===
== Các sự kiện liên quan ==
Cầu thủ đội tuyển Croatia Josip Šimunić trở thành cầu thủ đầu tiên (và có thể là duy nhất) bị phạt ba thẻ vàng trong một trận đấu. Josip Šimunić bị trọng tài người Anh Graham Poll phạt thẻ vàng vào các phút thứ 61, 90 (quên không rút thẻ đỏ) và 92 trong trận đấu Croatia – Úc ngày 22 tháng 6 .
Ronaldo lập kỷ lục ghi bàn mới tại các kỳ World Cup. Với ba bàn thắng có được tại World Cup 2006, tiền đạo người Brasil này đã có tổng cộng 15 bàn thắng (sau khi tham dự ba kỳ World Cup 1998, 2002, và 2006), vượt qua kỷ lục 14 bàn của Gerd Müller được xác lập cách đây 32 năm (sau khi tham dự hai kỳ World Cup 1970, 1974).
Quả bóng vàng được trao cho Zinedine Zidane (Pháp) – một quyết định gây tranh cãi. Bộ đôi tấn công của nước chủ nhà Đức chia nhau hai giải cá nhân: Chiếc giày vàng thuộc về Miroslav Klose (5 bàn), còn Lukas Podolski được bình chọn là Cầu thủ trẻ hay nhất (ghi 3 bàn). Gianluigi Buffon của Ý được bình chọn là thủ môn hay nhất (chỉ để thủng lưới hai bàn, trong đó có một bàn phản lưới nhà).
Thụy Sĩ đã xác lập được hai kỷ lục mới tại các kỳ World Cup sau trận gặp Ukraina. Lần đầu tiên trong 76 năm lịch sử của giải, có một đội tuyển không để thủng lưới trong tất cả các trận đấu tại một kỳ World Cup. Họ cũng trở thành đội tuyển đầu tiên không ghi được bàn nào trong một loạt sút luân lưu khi để thua trắng 0–3 trong trận tứ kết gặp Ukraina sau khi hòa 0–0 trong 120 phút thi đấu chính thức.
Với 8 thẻ vàng và bốn thẻ đỏ gián tiếp dành cho Costinha, Deco, Boulahrouz, van Bronckhorst, trận đấu Bồ Đào Nha – Hà Lan (1–0) đã trở thành trận đấu có nhiều thẻ đỏ nhất trong lịch sử các vòng chung kết bóng đá thế giới. Điều khiển trận đấu này là trọng tài Ivanov (Nga).
Đức đã vượt qua thành tích của México để trở thành đội tuyển đầu tiên được đá ở bốn trận khai mạc (năm 1938, 1978, 1994 và 2006).
Bàn thắng sớm nhất của giải được ghi ở giây 67, do công của Asamoah Gyan trong trận gặp Cộng hòa Séc (2-0). Bàn thắng sớm nhất trong lịch sử các vòng chung kết bóng đá thế giới vẫn thuộc về Hakan Sukur (Thổ Nhĩ Kỳ). Trong trận gặp Hàn Quốc ở World Cup 2002, anh đã ghi bàn ngay ở giây thứ 11 của trận đấu.
5 đội tuyển có huấn luyện viên trưởng là người Brasil: Brasil (Carlos Alberto Parreira), Costa Rica (Alexandre Guimaraes), Nhật Bản (Zico), Bồ Đào Nha (Luiz Felipe Scolari) và Ả Rập Saudi (Marcos Paqueta).
4 đội tuyển có huấn luyện viên trưởng là người Hà Lan: Hà Lan (Marco van Basten), Hàn Quốc (Dick Advocaat), Trinidad và Tobago (Leo Beenhakker) và Úc (Guus Hiddink).
Khi Serbia và Montenegro tuyên bố độc lập thành Serbia và Montenegro vào ngày 5 tháng 6 năm 2006, đây là lần đầu tiên tại giải có một đội tuyển tham dự cho một quốc gia không còn tồn tại.
Nếu không kể giải vô địch lần thứ nhất năm 1930, đây là lần có nhiều đội tuyển tham dự lần đầu tiên nhất (8 đội).
Trọng tài người Argentina Horacio Elizondo trở thành trọng tài đầu tiên được bắt chính cả hai trận đấu khai mạc và chung kết trong cùng một vòng chung kết. Ngoài ra, ông còn lập kỷ lục bắt chính năm trận trong cùng một vòng chung kết.
== Các giải thưởng ==
Cầu thủ xuất sắc nhất (giải Quả bóng vàng): Zinédine Zidane
Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất (giải Chiếc giày vàng): Miroslav Klose (5 bàn)
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất: Lukas Podolski
Thủ môn xuất sắc nhất (giải Yashin): Gianluigi Buffon
Đội bóng chiếm giải phong cách (fair play): Brasil và Tây Ban Nha
Đội bóng gây nhiều hào hứng nhất: Bồ Đào Nha
== Đội hình toàn sao ==
== Danh sách cầu thủ ghi bàn ==
5 bàn
3 bàn
2 bàn
1 bàn
phản lưới nhà
Cristian Zaccardo (trận gặp Hoa Kỳ)
Carlos Gamarra (trận gặp Anh)
Petit (trận gặp Đức)
Brent Sancho (trận gặp Paraguay)
== Xếp hạng ==
32 đội bóng lọt vào vòng chung kết được xếp hạng dựa theo tiêu chuẩn của FIFA và kết quả các trận đấu vừa qua .
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Linh vật các giải vô địch bóng đá thế giới
== Liên kết ngoài ==
2006 FIFA World Cup Germany ™, FIFA.com
FIFA Technical Report (Phần 1) và (Phần 2)
RSSSF
Trang chính thức của World Cup 2006 tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2007) |
e-mail client.txt | Email client (từ kỹ thuật là Mail User Agent (MUA), trong tiếng Việt là trình duyệt mail) là một phần mềm máy tính được dùng để truy cập và quản lý email của người dùng.
Các mail client phổ biến bao gồm Microsoft Outlook, IBM Lotus Notes, Mozilla Thunderbird,, Evolution và Apple Inc.'s Mail.
Một ứng dụng web cung cấp các dịch vụ quản lý tin nhắn, các thành phần, và các tính năng nhận mail đôi khi cũng được em là một trình duyệt mail, nhưng thường được gọi là webmail. Các webmail phổ biến gồm Gmail, Lycos Mail, Mail.com, Outlook.com và Yahoo! Mail.
== Giao thức ==
Trong khi các giao thức phổ biến để lấy email bao gồm POP3 và IMAP4, gửi mail thường được thực hiện bằng cách sử dụng giao thức SMTP.
Một tiêu chuẩn quan trọng được hỗ trợ bởi hầu hết các email clients là MIME, được sử dụng để gửi email đính kèm tập tin nhị phân. File đính kèm là các tập tin không phải là một phần của email, nhưng được gửi đi với email.
Hầu hết các email clients sử dụng một User-Agent.
=== Số cổng ===
Email servers và clients theo quy ước sử dụng các số cổng TCP trong bảng sau. Đối với MSA, IMAP and POP3, các bảng báo cáo cũng lầcc nhãn mà một mail client sử dụng để truy vấn các bản ghi SRV và khám phá cả các tên máy chủ và số cổng của các dịch vụ tương ứng.
== Xem thêm ==
SMTP
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Best Email Clients for Windows
Email Clients for MAC OS X |
người si la.txt | Người Si La, còn gọi là Cú Dé Xử, Khà Pé, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Người Si La nói tiếng Si La, là một ngôn ngữ của thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong hệ ngôn ngữ Hán-Tạng.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Sắc tộc Si La hiện có khoảng 840 người sống chủ yếu tại tỉnh Lai Châu (khoảng 65%), thuộc miền bắc Việt Nam. Đa số những người này sống tại ba bản Seo Hay, Sì Thâu Chải, Nậm Xin thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Ngoài ra, có khoảng 1.800 người Si La sống tại Lào.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Si La ở Việt Nam có dân số 709 người, có mặt tại 17 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Si La cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (530 người, chiếm 74,75% tổng số người Si La tại Việt Nam), Điện Biên (148 người, chiếm 20,87% tổng số người Si La tại Việt Nam), các tỉnh khác mỗi tỉnh có không quá 10 người...
== Ngôn ngữ ==
Người Si La nói tiếng Si La, là một ngôn ngữ của thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong hệ ngôn ngữ Hán-Tạng. Tiếng Si La có quan hệ gần gũi với tiếng Hà Nhì
== Sinh hoạt ==
Người Si La sống bằng nghề trồng lúa, làm nương ngô. Họ vỡ đất ở sườn núi và bìa rừng để trồng trọt.
Khoảng vài thập niên gần đây, người Si La học trồng thêm lúa nước. Mặc dầu nông nghiệp đóng vai trò chính nhưng săn bắn và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống.
Nhìn chung, mức sống của người Si La còn thấp. Tình trạng thiếu ăn khá phổ biến. Bệnh thường gặp là bướu cổ và sốt rét. Do tử xuất cao nên tổng dân số thấp.
== Phong tục ==
Cộng đồng
Người Si La có nhiều dòng họ. Quan hệ họ hàng rất khắng khít. Trưởng tộc của một chi họ là người đàn ông cao tuổi nhất. Người này giữ vai trò lãnh đạo, có trách nhiệm tổ chức các sinh hoạt chung cho họ mình. Ngoài trưởng tộc, người Si La có thầy mo.
Hôn nhân
Người Si La có phong tục làm lễ cưới hai lần. Lần cưới thứ hai sau lần đầu khoảng một năm. Nhà trai phải trình một khoản tiền cưới cho nhà gái để được rước dâu.
An táng
Theo phong tục Si La, khi có người chết, người trong bản tổ chức vui chơi, ca hát, nhưng không khóc.
Người chết được chôn tại nghĩa trang nằm phía dưới khu cư trú của dân bản. Quan tài làm bằng gỗ độc mộc. Tại nghĩa trang, mộ của những người cùng họ được quây quần bên nhau. Người Si La dựng nhà mồ xong mới đào huyệt bên trong. Con cái để tang cho cha mẹ 3 năm.
Nhuộm răng
Người Si La có phong tục đàn ông nhuộm răng đỏ, đàn bà nhuộm răng đen. Tuy nhiên, hiện nay đa số người Si La để răng trắng.
Kiêng cữ
Người Si La kiêng ăn thịt mèo.
Nhà cửa
Người Si La ở nhà trệt, có bếp lửa đặt giữa nhà.
Trang phục
Trang phục của phụ nữ Si La khá cầu kỳ. Mảng áo trước ngực áo may bằng vải khác màu với áo và được gắn đầy những đồng xu bạc, xu nhôm. Khăn đội đầu của phụ nữ khác nhau theo lứa tuổi. Các cô thường đeo chiếc túi bằng dây rừng, được trang trí những tơ chỉ đỏ sặc sỡ.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài == |
charter communications.txt | Charter Communications là một công ty cáp viễn thông của Mỹ. Cung cấp dịch vụ cho 5,9 triệu khách hàng tại 29 bang, đây là nhà điều cáp hành lớn thứ tư tại Hoa Kỳ tính doanh thu, sau Comcast, Time Warner Cable và Cox Communications, và tính theo số thuê bao đăng ký đường dây khu dân cư hãng này là hãng cung cấp điện thoại lớn thứ mười. Vào cuối năm 2012, công ty đã công bố kế hoạch di dời trụ sở từ St. Louis, Missouri, tới Stamford, Connecticut.
== Lịch sử ==
Charter Communications được thành lập vào năm 1993 bởi Barry Babcock, Jerald Kent và Howard Wood, người đã làm giám đốc điều hành trước đây tại Cencom Truyền hình cáp tại St Louis, Missouri. Nó cũng đã được thành lập tại St. Louis, Missouri, vào năm 1993.
== Mua bán, sáp nhập ==
Tháng 5 năm 2015, Hãng truyền hình cáp Charter Communications thâu tóm hãng Time Warner Cable với giá khoảng 55 tỉ đô-la Mỹ.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Charter.com — Charter Communications
Charter.net — Charter Internet services
"Charter Phone" — VoIP voice communications services
CharterBusiness.com — for Charter Business customers
Chartertv.com — Charter Communications Information Network (CCIN)
CharterMedia.com — for Charter Media customers
Charter Español — Charter site content in Spanish
Live It With Charter — rewards program
support.charter.com — Charter services basic support
Associated Press, ngày 23 tháng 4 năm 2005, "Charter Communications executives sentenced in accounting schemes", detnews.com
BusinessWeek, ngày 29 tháng 5 năm 2006: "Charter: Cable's Sucker Stock", businessweek.com
Charter Filing for Chapter 11 Bankruptcy Protection, finance.yahoo.com |
motion control subsystem.txt | Tạm dịch là hệ thống con kiểm soát chuyển động, hệ thống này đảm nhiệm việc điều khiển tư thế của trạm ISS. Công việc này được đảm nhiệm bởi cả phần của Nga và Mỹ trên trạm. Khi phần của Nga đảm nhận trách nhiệm, nó sử dụng các vòi đẩy, còn khi phần của Mỹ đảm nhận, nó sử dụng các con quay hồi chuyển điều khiển moment (Control Moment Gyroscope – CMG). Các con quay hồi chuyển này được lắp đặt phía trên giàn Z1.
== Lịch sử ==
Việc điều khiển tư thế của trạm không gian quốc tế ban đầu được thực hiện bởi các module của Nga trên trạm không gian (Zarya, Zvezda). Công việc này được chuyển sang cho Mỹ khi phòng thí nghiệm Destiny được lắp ráp vào trạm có chứa đầy đủ các thiết bị điều khiển cần thiết để kiểm soát các con quay hồi chuyển.
== Tham khảo ==
Chú giải 1: Motion Control Subsystem |
steffi graf.txt | Stefanie Maria Graf, (sinh ngày 14 tháng 6 năm 1969) tại Mannheim, Đức, là một vận động viên quần vợt người Đức, từng là nữ vận động viên quần vợt hàng đầu của thế giới. Năm 1999, cô được bình chọn là nữ vận động viên quần vợt vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Năm 1988, cô giành được huy chương vàng đánh đơn Olympic cùng 4 giải Grand Slam, trở thành người đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đạt được giải Golden Slam.
== Chung kết đơn Grand Slam ==
=== Thắng (22) ===
=== Về nhì (9) ===
== Chung kết đôi nữ Grand Slam ==
=== Thắng (1) ===
=== Về nhì (3) ===
== Chung kết đơn WTA Tour ==
=== Thắng (107) ===
=== Về nhì (31) ===
== Chung kết WTA Tour Đôi (18) ==
==== Thắng (11) ====
==== Về nhì (7) ====
== Biểu thời gian đánh đơn chính ==
== Chú thích == |
đảo giáng sinh.txt | 10°29′N 105°38′Đ
Lãnh thổ Đảo Christmas hay Lãnh thổ Đảo Giáng Sinh là một lãnh thổ của Úc nằm ở Ấn Độ Dương, 2600 kilômét (1600 mi) về phía tây bắc của Perth ở Tây Úc và 500 kilômét (300 mi) về phía nam của Jakarta, Indonesia.
Có 1.600 cư dân sống trong một số "vùng định cư" ở đỉnh bắc của đảo: Flying Fish Cove (còn gọi là Kampong), Settlement, Silver City, Poon Saan và Drumsite.
Nó có địa thế độc đáo và là điểm đến yêu thích của nhiều nhà khoa học và nhà tự nhiên học do số chủng loại động thực vật đặc hữu sống tách biệt và không bị quấy nhiễu bởi sự sinh sống của con người.
Trong khi đã có những hoạt động khai thác mỏ trên đảo trong nhiều năm, 65% trong 135 km² (52 sq mi) hiện là Công viên Quốc gia và có những khu vực lớn là rừng nhiệt đới hoang sơ và cổ đại.
== Lịch sử ==
Hòn đảo được ghi nhận lần đầu bởi những nhà thám hiểm người Anh và Hà Lan vào đầu thế kỷ XVII, và được thuyền trưởng William Mynors đặt tên khi ông đặt chân lên đảo vào ngày Giáng sinh 25 tháng 12 năm 1643 trên chiếc tàu Royal Mary của công ty Đông Ấn. Tấm bản đồ đầu tiên xuất hiện Đảo Christmas được phát hành năm 1666 bởi Pieter Goos, trong đó Goos đặt tên cho đảo là Mony. Chuyến viếng thăm sớm nhất được ghi lại là 3/1688 bởi William Dampier trên chiếc tàu Anh mang tên Cygnet. Ông đã phát hiện ra là không có cư dân của hòn đảo. An account of the visit can be found in Dampier's Voyages, which describes how, when trying to reach Cocos from New Holland, his ship was pulled off course in an easterly direction and after 28 days arrived at Christmas Island. Dampier đặt chân tại Dales (ven biển phía đông) và hai thuy thủ của ông là những ngưòi đầu tiên đặt chân lên đảo.
Chuyến viếng thăm kế tiếp là của Daniel Beekman, ông đã mô tả nó trong cuốn sách của ông viết 1718, A Voyage to and from the Island of Borneo, in the East Indies.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tổng quát
Christmas Island Shire official website
Christmas Island Act 1958
Christmas Island tại DMOZ
Christmas Island in the CIA World Factbook
Du lịch
Christmas Island Travel Guide from Unearth Travel a creative commons travel wiki |
15 tháng 5.txt | Ngày 15 tháng 5 là ngày thứ 135 (136 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 230 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
221 - Hán Trung Vương Lưu Bị tức hoàng đế vị tại Thành Đô, cải niên hiệu, khởi đầu Thục Hán, tức ngày Bính Ngọ 6 tháng 4 năm Tân Sửu.
604 – Thái tử Shōtoku nhậm chức quan nhiếp chính cho nữ Thiên hoàng Suiko.
926 - Hậu Đường Trang Tông bị trọng thương và thiệt mạng trong một cuộc binh biến tại kinh thành Lạc Dương.
1636 - Hoàng Thái Cực cải quốc hiệu từ "Đại Kim" sang "Đại Thanh", trở thành hoàng đế khai quốc trên thực tế của triều Thanh.
1905 – Chiến tranh Nga-Nhật: Hai thiết giáp hạm Hatsuse và Yashima của Nhật Bản trúng thủy lôi của Nga và chìm ở ngoài khơi cảng Lữ Thuận.
1910 - Tại Milano, Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý giành chiến thắng 6 - 2 trước đội tuyển Pháp trong trận đấu quốc tế đầu tiên của họ.
1919 - Khoa thi cuối cùng của nền thi cử truyền thống Việt Nam đã diễn ra và kết thúc với 7 đệ tam giáp đồng tiến sĩ và 16 phó bảng.
1941 - Thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai: Các lực lượng thân phát xít người Croatia và người Serbia đầu hàng quân đội Anh, chính thức chấm dứt Mặt trận Nam Tư.
1946 - Ngày thành lập trường Đại học Công Đoàn.
1972 - Hoa Kỳ trao trả quyền quản trị Okinawa cho Nhật Bản.
1975 - 70 vạn người ở Hà Nội và hàng triệu người tại Sài Gòn, Gia Định xuống đường tham gia cuộc mít tinh, diễu hành mừng Việt Nam thống nhất sau chiến thắng 30 tháng 4.
1988 - Chiến tranh Liên Xô tại Afghanistan: Sau hơn tám năm chiến đấu, Hồng quân Liên Xô bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan.
1991 - Việt Nam gia nhập Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (gọi tắt là Interpol).
== Sinh ==
1970 - Frank de Boer, cầu thủ bóng đá Hà Lan.
1970 - Ronald de Boer, cầu thủ bóng đá Hà Lan.
1981 - Patrice Evra, cầu thủ bóng đá Pháp.
1986 - Matías Fernández, cầu thủ bóng đá Chile.
1989 - Sunny (ca sĩ), ban nhạc Girls' Generation, Hàn Quốc.
1990 - Lee Jong Hyun (ca sĩ), ban nhạc CNBLUE, Hàn Quốc.
== Mất ==
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
đế quốc gupta.txt | Vương triều Gupta tồn tại từ năm 320 tới 550 ở phần lớn Bắc Ấn Độ, Đông Nam Pakistan, một phần của Gujarat và Rajasthan mà ngày nay là Tây Ấn Độ và Bangladesh. Thủ đô của vương triều này ở Pataliputra, ngày nay là Patna, thuộc nhà nước Ấn hóa ở Bihar.
Dười thời Gupta, đất nước được thái bình thịnh trị, đồng thời nền khoa học và mỹ thuật phát triển không ngừng. Các nhà sử học xếp triều Gupta ngang hàng với nhà Hán, nhà Đường và Đế quốc La Mã như là những nền văn minh tiên tiến thời cổ. Các nhà sử học xem thời Gupta là Thời kì hoàng kim của Ấn Độ về mặt khoa học, toán học, thiên văn học, tôn giáo và triết học Ấn Độ. Chandra Gupta I, Samudra Gupta Đại đế và Chandra Gupta II Đại đế chính là các vị vua đáng chú ý nhất của triều đại Gupta. Vào thế kỷ thứ 4 CN, nhà thơ Kalidasa, tin rằng nhà Gupta đã chinh phục khoảng 21 vương quốc, cả trong và ngoài Ấn Độ, bao gồm các vương quốc của người Parasika (Ba Tư), người Huna, các bộ lạc Kamboja nằm ở phía tây và phía đông thung lũng sông Oxus, người Kinnara, Kirata.
Đỉnh cao của sáng tạo văn hóa thời kì này là các tuyệt tác kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Thời kì Gupta đã sản sinh ra các học giả như Kalidasa, Aryabhata, Varahamihira, Vishnu Sharma và Vatsyayana, những người đã tạo ra những tiến bộ lớn trong nhiều lĩnh vực học thuật.
Những thiên sử thi đầu tiên của Ấn Độ cũng được cho là đã được viết khoảng thời gian này. Đế chế dần dần suy yếu do nhiều nguyên nhân như mất dần các vùng lãnh thổ và quyền lực hoàng đế gây ra bởi các chư hầu thuở trước của họ và cuộc xâm lược của dân tộc Huna từ Trung Á Sau khi đế quốc Gupta sụp đổ vào thế kỷ thứ 6, Ấn Độ, một lần nữa được cai trị bởi rất nhiều vương quốc trong khu vực. Một dòng nhỏ của gia tộc Gupta tiếp tục cai trị xứ Magadha sau khi đế quốc tan rã. Triều đại Gupta này cuối cùng bị lật đổ bởi vị vua Vardhana Harsha Vardhana, người thành lập một đế chế trong nửa đầu của thế kỷ thứ 7.
== Nguồn gốc của nhà Gupta ==
Theo nhiều sử gia, Đế quốc Gupta là nhà Vaishya. Sử gia Ram Sharan Sharma khẳng định rằng Vaishya Guptas "xuất hiện như một hành động nhằm chống lại sự áp bức của nhà cầm quyền". A.S. Altekar, một sử gia và nhà khảo cổ học, ông đã viết nhiều quyển sách về tiền đúc Gupta, cũng như đã đề cập đến đẳng cấp của Guptas như là Vaishya dựa trên cơ sở của các văn bản Ấn Độ cổ theo luận, trong đó quy định các tên cuối cùng với Gupta cho các thành viên của dòng dõi Vaishya. Theo sử gia Michael C. Brannigan, sự lớn mạnh của đế quốc Gupta là một trong những sự phá rối nổi bật nhất trong hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ cổ đại.
Có nhiều giả thuyết trái ngược nhau về nơi phát sinh ra đế quốc Gupta. Theo HC Raychoudhuri, Gupta bắt nguồn từ vùng Varendri, hiện là một phần của Rangpur và Rajshahi thuộc Bangladesh. DC Ganguly thì cho rằng đó là nơi xung quanh khu vực Murshidabad.
== Srigupta và Ghatotkacha ==
Thời gian có thể nhất về triều đại của Sri Gupta vào khoảng 240–280. Nhiều nhà sử học hiện đại trong đó có Rakhaldas Bandyopadhyay và K. P. Jayaswal, cho rằng ông và con trai ông có thể là chư hầu của Kushan. Con trai ông và là người kế nhiệm Ghatotkacha có lẽ đã lên ngôi vào khoảng 280–319. Trái ngược với người kế nhiệm của họ Chandragupta I, ông được xem là một Maharajadhiraja, ông và con trai ông Ghatotkacha được đề cập trong câu khắc là Maharaja Vào đầu thế kỷ 5, nhà Gupta đã thành lập và cai quản một vài vương quốc Hindu nhỏ ở Magadha và xung quanh vùng mà ngày nay là Bihar.
== Sự suy sụp của đế chế ==
Sau Skandagupta là một loại các nhà cầm quyền yếu kém như Purugupta (467–473), Kumaragupta II (473–476), Budhagupta (476–495?), Narasimhagupta, Kumaragupta III, Vishnugupta, Vainyagupta và Bhanugupta. Vào thập niên 480, Hephthalites đã phá vỡ các hàng phòng thủ của Gupta ở phía tây bắc, và phần lớm đế chế ở tây bắc bị tràn ngập người Hung vào năm 500. Đế chế tan rã dưới sự tấn công của Toramana và hậu duệ của ông là Mihirakula. Xuất hiện trong các văn liệu rằng Gupta, mặc dù quyền lực của họ bị giảm đi nhiều, nhưng vẫn tiếp tục chống lại người Hung. Kẻ xâm lược người Hungg Toramana bị Bhanugupta đánh bại vào năm 510. Người Hung đã bị đánh bại và bị đuổi ra khỏi Ấn Độ vào năm 528 bởi một liên minh bao gồm hoàng đế Gupta Narasimhagupta và vua Yashodharman ở Malwa. Sự kế thừa của Gupta trong thế kỷ 6 thì không hoàn toàn rõ ràng, nhưng sự kết thúc của dòng chính đế chế này là vua Vishnugupta, trị vì từ 540 đến 550. Ngoài sự xâm chiếm của người Hung, các yếu tố khác cũng góp phần làm suy sụp chế chế như sự canh tranh giữa các Vakatakas và sự nổi dậy của Yashodharman ở Malwa.
== Chú thích ==
== Thư mục ==
Harle, J.C., The Art and Architecture of the Indian Subcontinent, 2nd edn. 1994, Yale University Press Pelican History of Art, ISBN 0300062176
Majumdar, R.C. (1977). Ancient India, New Delhi:Motilal Banarsidass, ISBN 81-208-0436-8
Raychaudhuri, H.C. (1972). Political History of Ancient India, Calcutta: University of Calcutta ISBN 1-4400-5272-7
Shiv Chhatrapati ngày 14 tháng 2 năm 2013 @ 5:43 pm
== Đọc thêm ==
Andrea Berens Karls & Mounir A. Farah. World History The Human Experience.
== Liên kết ngoài ==
Frontline Article on Gupta Period Art
Regents Prep:Global History:Golden Ages:Gupta Empire
Inscriptions of the Guptas and their contemporaries
Coins of Gupta Empire
Photo Feature on Gupta Period Art |
nước biển.txt | Nước biển là nước từ các biển hay đại dương. Về trung bình, nước biển của các đại dương trên thế giới có độ mặn khoảng 3,5%. Điều này có nghĩa là cứ mỗi lít (1.000 mL) nước biển chứa khoảng 35 gam muối, phần lớn (nhưng không phải toàn bộ) là clorua natri (NaCl) hòa tan trong đó dưới dạng các ion Na+ và Cl-. Nó có thể được biểu diễn như là 0,6 M NaCl. Nước với mức độ thẩm thấu như thế tất nhiên không thể uống được.
== Độ mặn và các tính chất khác của nước biển ==
Nước biển có độ mặn không đồng đều trên toàn thế giới mặc dù phần lớn có độ mặn nằm trong khoảng từ 3,1% tới 3,8%. Khi sự pha trộn với nước ngọt đổ ra từ các con sông hay gần các sông băng đang tan chảy thì nước biển nhạt hơn một cách đáng kể. Nước biển nhạt nhất có tại vịnh Phần Lan, một phần của biển Baltic. Biển hở mặn nhất (nồng độ muối cao nhất) là biển Đỏ (Hồng Hải), do nhiệt độ cao và sự tuần hoàn bị hạn chế đã tạo ra tỷ lệ bốc hơi cao của nước bề mặt cũng như có rất ít nước ngọt từ các cửa sông đổ vào và lượng giáng thủy nhỏ. Độ mặn cao nhất của nước biển trong các biển cô lập (biển kín) như biển Chết cao hơn một cách đáng kể.
Tỷ trọng của nước biển nằm trong khoảng 1.020 tới 1.030 kg/m³ tại bề mặt còn sâu trong lòng đại dương, dưới áp suất cao, nước biển có thể đạt tỷ trọng riêng tới 1.050 kg/m³hay cao hơn. Như thế nước biển nặng hơn nước ngọt (nước ngọt tinh khiết đạt tỷ trọng riêng tối đa là 1.000 g/ml ở nhiệt độ 4 °C) do trọng lượng bổ sung của các muối và hiện tượng điện giảo. Điểm đóng băng của nước biển giảm xuống khi độ mặn tăng lên và nó là khoảng -2 °C (28,4 °F) ở nồng độ 35‰. Do đệm hóa học, độ pH của nước biển bị giới hạn trong khoảng 7,5 tới 8,4. Vận tốc âm thanh trong nước biển là khoảng 1.500 m•s−1 và dao động theo nhiệt độ của nước cùng áp suất.
== Khác biệt thành phần ==
Nước biển giàu các ion hơn so với nước ngọt. Tuy nhiên, tỷ lệ các chất hòa tan khác nhau rất lớn. Chẳng hạn, mặc dầu nước biển khoảng 2,8 lần nhiều các bicacbonat hơn so với nước sông dựa trên nồng độ phân tử gam, nhưng tỷ lệ phần trăm của bicacbonat trong nước biển trên tỷ lệ toàn bộ các ion lại thấp hơn so với tỷ lệ phần trăm tương ứng của nước sông do các ion bicacbonat chiếm tới 48% các ion có trong nước sông trong khi chỉ chiếm khoảng 0,41% các ion của nước biển. Các khác biệt như vậy là do thời gian cư trú khác nhau của các chất hòa tan trong nước biển; các ion natri và clorua có thời gian cư trú lâu hơn, trong khi các ion canxi (thiết yếu cho sự hình thành cacbonat) có xu hướng trầm lắng nhanh hơn.
== Giải thích địa hóa học ==
Các giả thuyết khoa học về nguồn gốc của muối trong nước biển đã bắt đầu có từ thời Edmond Halley vào năm 1715, người cho rằng muối và các khoáng chất khác đã được đưa ra biển bởi các con sông, do chúng được lọc qua các lớp đất nhờ mưa. Khi ra tới biển, các muối này có thể được giữ lại và cô đặc hơn nhờ quá trình bay hơi của nước (xem Chu trình thủy học). Halley cũng lưu ý rằng một lượng nhỏ các hồ trên thế giới mà không có các lối thoát ra đại dương (như biển Chết và biển Caspi) phần lớn đều có độ chứa muối cao. Halley đặt tên cho quá trình này là "phong hóa lục địa".
Giả thuyết của Halley là đúng một phần. Ngoài ra, natri cũng đã được lọc qua lớp đáy của các đại dương khi chúng được hình thành. Sự hiện diện của nguyên tố còn lại chiếm đa số trong muối (clo) được tạo ra nhờ quá trình "thải khí" của clo (như axít clohiđric) với các khí khác từ lớp vỏ Trái Đất thông qua các núi lửa và các miệng phun thủy nhiệt. Natri và clo do đó trở thành các thành phần phổ biến nhất của muối biển.
Độ mặn của nước biển đã ổn định trong nhiều triệu năm, phần lớn có lẽ là do hệ quả của các hệ thống hóa học/kiến tạo làm cho muối bị trầm lắng, chẳng hạn các trầm lắng natri và clorua bao gồm các trầm tích evaporit và các phản ứng với bazan đáy biển. Kể từ khi các đại dương hình thành thì natri không còn được lọc ra từ đáy đại dương mà nó bị giữ lại trong các lớp trầm tích che phủ lên trên đáy đại dương. Một giả thuyết khác cho rằng các mảng kiến tạo đã làm cho muối bị giam hãm phía dưới các khối đất của lục địa và ở đó nó một lần nữa lại được thấm lọc dần tới bề mặt.
== Tiêu thụ nước biển của con người ==
Tiêu thụ ngẫu nhiên một lượng nhỏ nước biển sạch thì không nguy hại, nếu như nó được sử dụng cùng một lượng lớn nước ngọt. Tuy nhiên, tiêu thụ nước biển để duy trì sự hydrat hóa là phản tác dụng; khi sử dụng dài lâu hơn thì phải tiêu tốn nhiều nước hơn để loại bỏ muối có trong nước biển (thông qua bài tiết dưới dạng nước tiểu hay mồ hôi) so với lượng nước thu được từ việc uống nước biển.
Điều này xảy ra do lượng clorua natri trong máu người luôn được thận điều tiết và duy trì trong một khoảng hẹp chỉ khoảng 9 g/L (0,9% theo trọng lượng). Uống nước biển với nồng độ khoảng 3,5% các ion clorua và natri hòa tan) nhất thời gia tăng nồng độ các ion này trong máu. Điều này kích thích thận gia tăng hoạt động bài tiết natri, nhưng nồng độ natri của nước biển là cao hơn khả năng cô tối đa của thận. Cuối cùng, với lượng gia tăng thêm nữa của nước biển thì nồng độ natri trong máu sẽ vượt ngưỡng gây ngộ độc, nó loại bỏ nước từ mọi tế bào và gây trở ngại cho truyền dẫn tín hiệu thần kinh; gây ra ngập máu và loạn nhịp tim, có thể gây tử vong.
Cũng cần lưu ý là một số loài động vật thích nghi được với các điều kiện sống khắc nghiệt. Chẳng hạn, thận của chuột sa mạc có khả năng cô natri hiệu quả hơn so với thận người và vì thế chúng có thể sống sót kể cả khi buộc phải uống nước biển.
Các cẩm nang sinh tồn đều đưa ra các tư vấn chống lại việc uống nước biển một cách kiên quyết. Chẳng hạn, sách "Medical Aspects of Harsh Environments" (Chương 29 - Shipboard Medicine) đưa ra tổng quan của 163 trường hợp phải sống trên bè mảng trên biển. Rủi ro tử vong ở những người uống nước biển là 39% so với rủi ro 3% ở những người không uống nước biển. Tác động của uống nước biển cũng được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên chuột. Nghiên cứu này xác nhận các tác động tiêu cực của uống nước biển khi khử hydrat.
=== Nước biển để rửa nhà vệ sinh ===
Hồng Kông đang sử dụng một cách tích cực nước biển để dội rửa nhà vệ sinh trên phạm vi cả thành phố. Hơn 90% các nhà vệ sinh ở Hồng Kông được dội rửa bằng nước biển, như là một biện pháp để bảo tồn các nguồn nước ngọt. Sự phát triển của ý tưởng này đã bắt đầu từ những năm thập niên 1960 và 1970 khi sự thiếu nước ngọt đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng do dân số của thuộc địa này của Anh (thời điểm đó) tăng lên. Một khía cạnh thú vị của ý tưởng này là xử lý nước thải như thế nào. Nước mặn không thể xử lý (trong các xí nghiệp xử lý nước thải) bằng các phương pháp thông thường.
== Khía cạnh văn hóa ==
Thậm chí trên tàu thuyền hay đảo ở giữa đại dương vẫn có hiện tượng "thiếu nước", Tất nhiên, ở đây là thiếu nước ngọt. Nước biển chỉ có thể trở thành nước uống được nhờ các quy trình khử muối như sử dụng các công nghệ của thiết bị bốc hơi chân không, thiết bị bốc hơi flash hay công nghệ thẩm thấu ngược. Tuy nhiên, các công nghệ đó rất tiêu tốn năng lượng và nó gần như không thực tế và không thể trong thời đại thuyền buồm trong giai đoạn thế kỷ 16 tới thế kỷ 19. Ngoài ra, nó không thể dùng để uống do nồng độ của các khoáng chất hòa tan trong nó là rất cao.
Sự quyến rũ của việc uống nước biển luôn là lớn nhất đối với các thủy thủ khi đã cạn nước ngọt dự phòng trong khi lại hoàn toàn không có mưa để lấy nước uống. Sự thất vọng này được miêu tả trong các dòng trong trường ca The Rime of the Ancient Mariner của Samuel Taylor Coleridge (1772-1834):
"Water, water, every where,
Nor any drop to drink."
Mặc dù một điều rõ ràng là con người không thể sống sót chỉ dựa vào mỗi nước biển, nhưng một số người lại tuyên bố rằng người ta có thể uống tới 2 cốc mỗi ngày, nếu trộn nó với nước ngọt theo tỷ lệ 2:3, mà không thấy xuất hiện các triệu chứng bệnh tật. Bác sĩ người Pháp Alain Bombard (1924-2005) tuyên bố rằng ông đã sống sót sau chuyến vượt đại dương trên một bè mảng nhỏ chỉ sử dụng nước biển và các sản vật khác thu được từ đại dương, nhưng tính chân thực trong các khám phá của ông là đáng ngờ. Trên bè Kon-Tiki năm 1947, Thor Heyerdahl (1914-2002) thông báo rằng việc uống nước biển trộn lẫn với nước ngọt theo tỷ lệ 40/60%. Năm 1954, một nhà thám hiểm khác là William Willis (1897-1968) đã tuyên bố rằng ông đã uống 2 cốc nước biển và một cốc nước ngọt mỗi ngày trong vòng 70 ngày mà không thấy các triệu chứng bệnh tật khi ông mất nguồn cung cấp nước ngọt.
== Xem thêm ==
Nước ngọt
== Liên kết ngoài ==
Kiểm soát nước biển
Nước biển
== Ghi chú == |
hệ tọa độ địa lý.txt | Hệ tọa độ địa lý là một hệ tọa độ cho phép tất cả mọi điểm trên Trái Đất đều có thể xác định được bằng một tập hợp các số có thể kèm ký hiệu. Các tọa độ thường gồm số biểu diễn vị trí thẳng đứng, và hai hoặc ba số biểu diễn vị trí nằm ngang. Hệ tọa độ phổ biến hiện dùng là hệ hệ tọa độ cầu tương ứng với tâm Trái Đất với các tọa độ là vĩ độ, kinh độ và cao độ.
== Chiều thứ nhất và thứ hai: vĩ độ và kinh độ ==
Dựa theo lý thuyết của những người Babylon cổ đại, rồi được nhà hiền triết và địa lý học nổi tiếng người Hy Lạp Ptolemy mở rộng, một đường tròn đầy đủ sẽ được chia thành 360 độ (360°).
Vĩ độ (ký hiệu: φ) của một điểm bất kỳ trên mặt Trái Đất là góc tạo thành giữa đường thẳng đứng (phương của dây dọi, có đỉnh nằm ở tâm hệ tọa độ-chính là trọng tâm của địa cầu) tại điểm đó và mặt phẳng tạo bởi xích đạo. Đường tạo bởi các điểm có cùng vĩ độ gọi là vĩ tuyến, và chúng là những đường tròn đồng tâm trên bề mặt Trái Đất. Mỗi cực là 90 độ: cực bắc là 90° B; cực nam là 90° N. Vĩ tuyến 0° được chỉ định là đường xích đạo, một đường thẳng tưởng tượng chia địa cầu thành Bán cầu bắc và Bán cầu nam.
Kinh độ (ký hiệu: λ) của một điểm trên bề mặt Trái Đất là góc tạo ra giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc. Kinh độ có thể là kinh độ đông hoặc tây, có đỉnh tại tâm hệ tọa độ, tạo thành từ một điểm trên bề mặt Trái Đất và mặt phẳng tạo bởi đường thẳng ngẫu nhiên nối hai cực bắc nam địa lý. Những đường thẳng tạo bởi các điểm có cùng kinh độ gọi là kinh tuyến. Tất cả các kinh tuyến đều là nửa đường tròn, và không song song với nhau: theo định nghĩa, chúng hội tụ tại hai cực bắc và nam. Đường thẳng đi qua Đài Thiên văn Hoàng gia Greenwich (gần London ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland) là đường tham chiếu có kinh độ 0° trên toàn thế giới hay còn gọi là kinh tuyến gốc. Kinh tuyến đối cực của Greenwich có kinh độ là 180°T hay 180°Đ.
Bằng cách phối hợp hai góc này, ta có thể xác định được vị trí nằm ngang của bất kỳ điểm nào trên Trái Đất.
Ví dụ, Baltimore, Maryland (ở Hoa Kỳ) có vĩ độ 39,3° Bắc, và kinh độ là 76,6° Tây (39.3°B 76.6°T / 39.3; -76.6). Do đó, một vector vẽ từ tâm Trái Đất đến điểm 39,3° phía bắc xích đạo và 76,6° phía tây đường Greenwich sẽ đi qua Baltimore.
"Mạng" vĩ độ/kinh độ này gọi là lưới địa lý. Cũng có một lưới ngang bổ sung (có nghĩa là bộ lưới được dịch chuyển một góc 90°, sao cho địa cực trở thành đường xích đạo ngang), trên đó tất cả các lượng giác cầu đều dựa vào.
Từ trước đến nay, độ được chia thành phút (1 phần 60 độ, ký hiệu là ′ hoặc "m") và giây (1 phần 60 phút, ký hiệu là ″ hoặc "s"). Có nhiều các viết độ, tất cả chúng đều xuất hiện theo cùng thứ tự Vĩ độ - Kinh độ:
DMS (Degree:Minute:Second) Độ:Phút:Giây (Ví dụ: 49°30'00"-123d30m00s)
DM (Degree:Minute) Độ:Phút (Ví dụ: 49°30.0'-123d30.0m)
DD (Decimal Degree) Độ thập phân (Ví dụ: 49.5000°-123.5000d), thường với 4 số thập phân.
Để chuyển từ DM hoặc DMS sang DD, độ thập phân = số độ cộng với số phút chia cho 60, cộng với số giây chia cho 3600. DMS là định dạng phổ biến nhất, và là tiêu chuẩn trên tất cả các biểu đồ và bản đồ, cũng như hệ định vị toàn cầu và hệ thông tin địa lý.
Trên mặt cầu tại mực nước biển, một giây vĩ độ bằng 30.82 mét và một phút vĩ độ bằng 1849 mét. Các vĩ tuyến cách nhau 110,9 kilômét. Các kinh tuyến gặp nhau tại cực địa lý, với độ rộng một giây về phía đông-tây phụ thuộc vào vĩ độ. Trên bề mặt cầu tại mực nước biển, một giây kinh độ bằng 30,92 mét trên xích đạo, 26,76 mét trên vĩ tuyến thứ 30, 19,22 mét tại Greenwich (51° 28' 38" B) và 15,42 mét trên vĩ tuyến thứ 60.
Chiều rộng của một độ kinh độ tại vĩ độ
ϕ
{\displaystyle \scriptstyle {\phi }\,\!}
có thể được tính toán bằng công thức sau (để có được chiều rộng theo phút và giây, lần lượt chia cho 60 và 3600):
π
180
∘
cos
(
ϕ
)
M
r
,
{\displaystyle {\frac {\pi }{180^{\circ }}}\cos(\phi )M_{r},\,\!}
trong đó bán kính độ kinh trung bình của Trái Đất
M
r
{\displaystyle \scriptstyle {M_{r}}\,\!}
xấp xỉ bằng 6.367.449 m. Do sử dụng giá trị bán kính trung bình, công thức này dĩ nhiên không chính xác do độ dẹt của Trái Đất. Bạn có thể có được độ rộng thực của một độ kinh độ tại vĩ độ
ϕ
{\displaystyle \scriptstyle {\phi }\,\!}
bằng:
π
180
∘
cos
(
ϕ
)
a
4
cos
(
ϕ
)
2
+
b
4
sin
(
ϕ
)
2
(
a
cos
(
ϕ
)
)
2
+
(
b
sin
(
ϕ
)
)
2
,
{\displaystyle {\frac {\pi }{180^{\circ }}}\cos(\phi ){\sqrt {\frac {a^{4}\cos(\phi )^{2}+b^{4}\sin(\phi )^{2}}{(a\cos(\phi ))^{2}+(b\sin(\phi ))^{2}}}},\,\!}
trong đó các bán kính xích đạo và cực của Trái Đất,
a
,
b
{\displaystyle \scriptstyle {a,b}\,\!}
lần lượt bằng 6.378.137 m, 6.356.752,3 m.
Xích đạo là mặt phẳng cơ bản của tất cả các hệ tọa độ địa lý. Tất cả các hệ tọa độ cầu đều định nghĩa một mặt phẳng cơ bản như vậy.
Giá trị vĩ độ và kinh độ có thể dựa trên vài hệ đo đạc hoặc mốc tính toán khác nhau, phương pháp phổ biến nhất là WGS 84 mà tất cả các thiết bị GPS đều dùng. Nói một cách nôm na, một điểm trên bề mặt Trái Đất có thể được mô tả bởi nhiều giá trị vĩ độ và kinh độ khác nhau tùy thuộc vào mốc tính toán đang dùng.
Trong phần mềm GIS phổ biến, mốc được chiếu theo vĩ độ/kinh độ thường được xác định thông qua 'Hệ tọa độ địa lý'. Ví dụ, mốc theo vĩ độ/kinh độ theo như Mốc Bắc Mỹ năm 1983 được chỉ ra trong 'GCS_North_American_1983'.
== Chiều thứ ba: độ cao, chiều cao, chiều sâu ==
Để xác định hoàn toàn một vị trí nằm trên, ở trong hoặc ở phía trên Trái Đất, ta cần phải xác định độ cao của điểm, được định nghĩa bằng vị trí của điểm theo chiều thẳng đứng so với trung tâm của hệ thống tham chiếu hoặc một vài định nghĩa bề mặt Trái Đất. Điều này được mô tả theo thuật ngữ khoảng cách theo chiều thẳng đứng đến Trái Đất bên dưới, nhưng, do sự nhập nhằng của chữ "bề mặt" và "chiều thẳng đứng", nó thường được mô tả phổ biến hơn bằng cách so sánh với những mốc được định nghĩa chính xác hơn như mặt nước biển trung bình (chính xác hơn nữa là geoid, một mặt có thế năng trọng trường không đổi). Khoảng cách đến trung tâm Trái Đất có thể được dùng cho cả vị trí rất sâu hoặc một nơi nào đó trên không gian.
Những thuật ngữ khác được dùng tương ứng với khoảng của một điểm từ mặt đất hoặc một cột mốc khác là độ cao, chiều cao, và độ sâu.
== Tọa độ địa tĩnh ==
Vệ tinh địa tĩnh (như vệ tinh truyền hình) nằm ở phía trên xích đạo. Do đó, vị trí của nó so với Trái Đất được biểu diễn bằng độ vĩ. Độ vĩ của chúng không thay đổi, và luôn luôn là zero đối với xích đạo.
== Xem thêm ==
Hệ thống dẫn đường tự động
Hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Chuyển đổi tọa độ địa lý
Mã địa lý
Thẻ địa lý
Hệ thống định vị toàn cầu (GPS).
Khoảng cách toàn vòng tròn khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm trên mặt cầu, và giải thích cách tìm khoảng cách nếu đã biết hai vĩ độ và kinh độ.
Phép chiếu bản đồ
Hạ chí tuyến
Đông chí tuyến
Hệ tọa độ Mercator ngang toàn cầu
Cực hiệu dụng#Tọa độ trên các nhãn cực
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mathematics Topics-Coordinate Systems
Geographic coordinates of countries (CIA World Factbook) |
cửa hàng bán lẻ.txt | Cửa hàng bán lẻ hay đôi khi gọi gọn là cửa hàng, cửa hiệu, tiệm là một công trình (thường là một ngôi nhà hoặc dãy nhà) được dùng trong việc mua bán hàng hóa với quy mô nhỏ phục vụ trực tiếp cho các cá nhân trực tiếp tiêu thụ bằng cách mua sắm tại chỗ, thoả thuận và trả tiền, nhận hàng tại chỗ đối với các mặt hàng gọn nhẹ giá cả bình dân (thường là các mặt hàng gia dụng, dân dụng). Cửa hàng bán lẻ có thể bao gồm các dịch vụ kèm theo chẳng hạn như giao hàng tận nơi, bao hàng.
Người mua có thể là cá nhân hoặc các doanh nghiệp (tuy nhiên những cửa hàng bán lẻ có quy mô nhỏ do cá nhân, hộ gia đình đầu tư mở ra thì không có tư cách pháp nhân nên không có con dấu và không thể xuất được hóa đơn). Cửa hàng bán lẻ có thể được đặt trên đường phố đông dân cư, đường phố mua sắm hoặc trong những ngôi nhà nhỏ hoặc đặt trong một trung tâm mua sắm. Đường phố mua sắm có thể được chỉ dành cho người đi bộ.
== Trong kinh tế ==
Mua sắm thường là hành vi mua sản phẩm được thực hiện để có được các nhu cầu thiết yếu trong đời sống cá nhân như thực phẩm và quần áo, đôi khi nó được thực hiện như một hoạt động giải trí. Trong hoạt động thương mại, một nhà bán lẻ thường mua hàng hoá, sản phẩm với số lượng lớn từ các nhà sản xuất hoặc nhập khẩu, mua trực tiếp (trực tiếp đi gom hay thu mua) hoặc thông qua một người bán buôn, và sau đó bán số lượng nhỏ hơn hay bỏ cho người trung gian để bán đến tay người tiêu dùng và như vậy các cửa hàng chính là một khâu và là mắt xích quan trọng trong chuỗi tiêu thụ này.
Cơ sở bán lẻ thường được gọi là cửa hàng bán lẻ, cửa hàng mua sắm (shop) nơi chuyên bày bán các loại áo quần, hàng mỹ phẩm, dày dép..., cửa hàng bách hóa (cửa hàng mậu dịch), tiệm tạp hóa, chợ, hệ thống siêu thị.... Các nhà bán lẻ nằm ở phần cuối của chuỗi cung ứng. Ngày nay các nhà tiếp thị xem quá trình bán lẻ như là một phần cần thiết của chiến lược phân phối tổng thể của họ. Thuật ngữ "nhà bán lẻ" cũng được áp dụng cho các dịch vụ cung cấp theo nhu cầu của nhiều cá nhân.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
thành phố.txt | Thành phố chính yếu được dùng để chỉ một khu định cư đô thị có dân số lớn. Mặc dù không có thỏa thuận nào về cách phân biệt một thành phố với một thị trấn trong phạm vi ý nghĩa ngôn ngữ, nhiều thành phố đều có một cơ chế hành chính, pháp lý và vị thế lịch sử cụ thể dựa trên luật pháp địa phương.
Thường thì thành phố có những khu nhà ở, khu công nghiệp, và khu thương mại cùng với những trách nhiệm quản lý có thể có liên quan đến một vùng rộng hơn. Phần nhiều diện tích của một thành phố là nhà ở dựa vào cơ sở hạ tầng như là đường sá và hệ thống giao thông công cộng. Mật độ phát triển rất nhiều tạo điều kiện cho sự tương tác giữa con người và các doanh nghiệp, mang lại lợi ích cho cả hai bên trong quá trình này, nhưng nó cũng trình bày những thách thức trong việc quản lý phát triển đô thị. Một thành phố lớn thường có liên quan đến các vùng ngoại ô và đi lại giữa các vùng này. Thành phố như vậy thường liên quan đến các vùng đô thị và các khu vực nội ô, tạo ra nhiều dịch vụ kinh doanh trong việc đi lại giữa các vùng này để làm việc. Khi một thành phố mở rộng đủ xa để đến một thành phố khác, khu vực này có thể được coi là một siêu đô thị.
Về dân số, thành phố lớn nhất thế giới là Thượng Hải, trong khi thành phố phát triển nhanh nhất là Dubai.
== Nguồn gốc ==
Không có đủ bằng chứng để khẳng định những điều kiện nào đã dẫn đến những thành phố đầu tiên. Một số lý thuyết gia đã suy đoán về những gì mà họ cho là phù hợp với điều kiện tiên quyết, và các cơ chế cơ bản mà có thể là động lực quan trọng để tạo thành thành phố.
Quan điểm truyền thống cho rằng thành phố đầu tiên được thành lập sau cách mạng đồ đá mới. Cách mạng đồ đá mới đã phát triển nông nghiệp, khiến dân số loài người có thể sống trên một diện tích dày đặc hơn, qua đó hỗ trợ phát triển thành phố. Sự xuất hiện của nông nghiệp khuyến khích người săn bắn hái lượm từ bỏ lối sống du canh du cư và định cư gần những người sống bằng sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng dân số, mật độ khuyến khích nông nghiệp và tăng sản lượng lương thực trên một đơn vị đất tạo điều kiện phù hợp hơn cho các hoạt động của thành phố. Trong cuốn sách của mình, Thành phố và Phát triển kinh tế, Paul Bairoch đã dùng ý này để lập luận rằng hoạt động nông nghiệp là cần thiết trước khi thành phố thực sự có thể hình thành.
Theo Vere Gordon Childe, để một quần thể dân cư đủ điều kiện là một thành phố, nó phải có đủ thặng dư nguyên liệu thô để hỗ trợ thương mại và dân số tương đối lớn. Bairoch chỉ ra rằng, do mật độ dân số thưa thớt của dân cư trước kỳ đồ đá mới, các xã hội săn bắn hái lượm với diện tích đất nếu để sản xuất đủ lương thực cho sinh hoạt và thương mại cho một số lượng lớn dân cư sẽ làm cho các dòng chảy thương mại không thể kiểm soát. Để minh họa điểm này, Bairoch cung cấp một ví dụ:. "Tây Âu trong thời gian trước thời kỳ đồ đá mới, nơi mật độ chắc chắn ít hơn 0,1 người trên mỗi km vuông" Sử dụng mật độ dân số này như là một cơ sở cho việc tính toán, sử dụng 10% thực phẩm thặng dư để dùng vào thương mại và giả định rằng người dân thành phố không làm nông nghiệp, ông tính toán rằng "... để duy trì một thành phố với dân số 1000, chưa tính đến chi phí vận chuyển, thì thành phố đó phải có diện tích 100.000 km vuông mới đủ. Khi chi phí vận chuyển được tính đến, con số này tăng lên đến 200.000 km vuông... ". Bairoch lưu ý rằng đây là kích thước xấp xỉ của Vương quốc Anh.
Nhà lý luận đô thị Jane Jacobs cho rằng thành phố hình thành trước sự ra đời của sản xuất nông nghiệp, nhưng quan điểm này không được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuốn sách Kinh tế thành phố, Brendan O'Flaherty khẳng định "Các thành phố có thể tồn tại hàng ngàn năm nay, chỉ khi lợi thế của họ bù đắp những bất lợi". O'Flaherty minh họa hai lợi thế thu hút tương tự được biết đến như là tăng lãi theo quy mô và nền kinh tế quy mô lớn, vốn là những khái niệm thường được nhắc đến ở các công ty. Ứng dụng của các lý thuyết này cũng được áp dụng trong các hệ thống kinh tế cơ bản. Tăng lợi nhuận theo quy mô xảy ra khi "tăng gấp đôi tất cả đầu vào làm tăng gấp đôi sản lượng [và] một hoạt động có quy mô kinh tế nếu tăng gấp đôi sản lượng mà chi phí tăng chưa đến mức gấp đôi" . Để cung cấp một ví dụ về những khái niệm này, O'Flaherty tận dụng "một trong những lý do tại sao thành phố lâu đời nhất được xây dựng: bảo vệ chống tấn công quân sự". Trong ví dụ này, các yếu tố đầu vào là bất cứ điều gì mà có thể được sử dụng để bảo vệ (ví dụ, một bức tường) và yếu tố đầu ra là khu vực được bảo vệ và tất cả mọi thứ có giá trị chứa trong nó. O'Flaherty sau đó yêu cầu chúng tôi cho rằng khu vực được bảo vệ là hình vuông, và mỗi hecta bên trong nó có cùng giá trị của bảo vệ. Lợi thế được thể hiện như:
== Địa lý ==
Quy hoạch thành phố cho thấy được những cái nhình khác nhau về diện mạo của thành phố. Phổ biến nhất là nhìn thấy mô hình là dạng bàn cờ, được sử dụng hàng ngàn năm ở Trung Quốc, độc lập phát minh bởi nhà quy hoạch thành phố Dinocrates Rhodes của Alexander Đại đế và được những người La Mã ưa chuộng, trong khi gần như một quy luật ở các bộ phận của Derry thời kỳ tiền Columbus bắt đầu từ năm 1613, là thành phố đầu tiên được quy hoạch ở Ireland, với các bức tường được hoàn thành năm năm sau đó. Viên kim cương trung tâm trong một thành phố có tường bao quanh với bốn cửa được coi là một thiết kế tốt cho quốc phòng. Mô hình bàn cờ đã được nhân rộng trong các thuộc địa của Bắc Mỹ thuộc Anh.
== Việt Nam ==
Thành phố là khu đô thị khác với thị xã, thị trấn, hay làng về cỡ, mật độ dân số, độ quan trọng. Thể chế thành phố được xác định theo quyết định của Chính phủ dựa trên một số tiêu chí nhất định như kích thước, dân số, tình trạng cơ sở hạ tầng hay mức độ quan trọng mà xếp loại đô thị loại mấy. Thành phố có 2 loại: Thành phố trực thuộc tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương
== Hoa Kỳ ==
Tại Hoa Kỳ, "thành phố" chính yếu chỉ là một thuật từ pháp lý để chỉ một khu định cư có mức độ tự quản cao hơn là có ý nghĩa chỉ toàn bộ một khu vực định cư rộng lớn (vùng đô thị). Các khu định cư sẽ trở thành thành phố hay thị trấn sau khi cư dân trong khu định cư này bỏ phiếu để tổ chức khu tự quản riêng cho mình mà theo tiếng Anh gọi là "incorporated" hay nghĩa tiếng Việt là "hợp nhất". Những khu định cư nào chưa được "hợp nhất" thường được gọi là khu chưa hợp nhất. Ngoài ra, để tiện cho việc thống kê, Cục điều tra dân số Hoa Kỳ có thể liệt kê các khu định cư chưa hợp nhất này thành các khu gọi là các nơi ấn định cho điều tra dân số.
== Đức ==
Đức có một từ ngữ để gọi chung thị trấn và thành phố là Stadt, và nơi nào có trên 1 triệu dân gọi là Millionenstadt hay Metropole, trên 100.000 dân số thì gọi là Großstadt (thành phố lớn), dưới 100 ngàn thành phố trung (Mittelstadt), dưới 20 ngàn thành phố nhỏ (Kleinstadt) và dưới 5 ngàn thị xã (Landstadt), trên 10 triệu thì gọi là siêu đô thị (Megastadt).
== Thụy Sĩ ==
Chỉ những khu vực hoặc là có trên 10.000 dân hoặc đã được trao thể chế thành phố từ Thời Trung cổ mới được gọi là thành phố.
== Vương quốc Anh ==
Người ta phân biệt giữa thành phố (city) và thị trấn (town). Một địa điểm chỉ có thể được gọi là thành phố, nếu được nhà vua cấp cho thể chế đó. Thông thường, nhà vua chỉ cấp thể chế thành phố, khi một khu dân cư đã có một nhà thờ lớn. Như vậy thành phố lớn Stockport lại không phải là thành phố (city), mà chỉ là thị trấn (town), trong khi Sunderland lại là thành phố. Khu vực hành chính Greater London không phải là thành phố, mà bao gồm các thành phố "City of London" và "City of Westminster".
== Thụy Điển ==
Người ta lại đi theo một hướng hoàn toàn khác từ sau cuộc cải cách hành chính địa phương năm 1975. Các khái niệm thành phố (stad) và thị trấn (köping) bị loại bỏ hoàn toàn khỏi ngôn ngữ hành chính và thay thế bởi khu dân cư (tätort). Tuy nhiên, trong ngôn ngữ phổ thông thì thành phố vẫn được dùng để gọi những khu dân cư lớn.
== Xem thêm ==
Thành phố trực thuộc Trung ương
Đô thị
Đại đô thị
Vùng đô thị
== Chú thích ==
=== Sách tham khảo ===
Bairoch, Paul (1988). Cities and Economic Development: From the Dawn of History to the Present. Chicago: University of Chicago Press. ISBN 0-226-03465-8.
Chandler, T. Four Thousand Years of Urban Growth: An Historical Census. Lewiston, NY: Edwin Mellen Press, 1987.
Geddes, Patrick, City Development (1904)
Jacobs, Jane (1969). “The Economy of Cities”. New York: Random House Inc.
Paul James, Meg Holden, Mary Lewin, Lyndsay Neilson, Christine Oakley, Art Truter, and David Wilmoth (2013). “Managing Metropolises by Negotiating Mega-Urban Growth”. Trong Harald Mieg and Klaus Töpfer. Institutional and Social Innovation for Sustainable Urban Development. Routledge.
Kemp, Roger L. Managing America's Cities: A Handbook for Local Government Productivity, McFarland and Company, Inc., Publisher, Jefferson, North Carolina, USA, and London, England, UK, 2007. (ISBN 978-0-7864-3151-9).
Kemp, Roger L. How American Governments Work: A Handbook of City, County, Regional, State, and Federal Operations, McFarland and Company, Inc., Publisher, Jefferson, North Carolina, USA, and London, England, UK. (ISBN 978-0-7864-3152-6).
Kemp, Roger L. "City and Gown Relations: A Handbook of Best Practices," McFarland and Copmpany, Inc., Publisher, Jefferson, North Carolina, USA, and London, England, UK, (2013). (ISBN 978-0-7864-6399-2).
Monti, Daniel J., Jr., The American City: A Social and Cultural History. Oxford, England and Malden, Massachusetts: Blackwell Publishers, 1999. 391 pp. ISBN 978-1-55786-918-0.
Mumford, Lewis, The City in History (1961)
O'Flaherty, Brendan (2005). City Economics. Cambridge Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 0-674-01918-0.
Pacione, Michael (2001). The City: Critical Concepts in The Social Sciences. New York: Routledge. ISBN 0-415-25270-9.
Reader, John (2005) Cities. Vintage, New York.
Robson, W.A., and Regan, D.E., ed., Great Cities of the World, (3d ed., 2 vol., 1972)
Rybczynski, W., City Life: Urban Expectations in a New World, (1995)
Smith, Michael E. (2002) The Earliest Cities. In Urban Life: Readings in Urban Anthropology, edited by George Gmelch and Walter Zenner, pp. 3–19. 4th ed. Waveland Press, Prospect Heights, IL.
Thernstrom, S., and Sennett, R., ed., Nineteenth-Century Cities (1969)
Toynbee, Arnold J. (ed), Cities of Destiny, New York: McGraw-Hill, 1967. Pan historical/geographical essays, many images. Starts with "Athens", ends with "The Coming World City-Ecumenopolis".
Weber, Max, The City, 1921. (tr. 1958)
=== Sách đọc thêm ===
Berger, Alan S., The City: Urban Communities and Their Problems, Dubuque, Iowa: William C. Brown, 1978.
Glaeser, Edward, Triumph of the City, Penguin, 2011
== Liên kết ngoài ==
World Urbanization Prospects, the 2011 Revision, Website of the United Nations Population Division
Human Geography tại DMOZ
Urban and Regional Planning tại DMOZ
Geopolis - research group that studies the world's urbanization, Université Paris Diderot, France |
danh sách các tu chính án hiến pháp hoa kỳ.txt | Đây là danh sách toàn bộ các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ đã được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, có cả các tu chính án được và chưa được phê chuẩn (phải được hai phần ba các nghị viện tiểu bang phê chuẩn sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua và giới thiệu đến các tiểu bang). Tiến trình tu chính Hiến pháp được hướng dẫn trong Điều khoản V Hiến pháp Hoa Kỳ. Có nhiều đề nghị tu chính Hiến pháp Hoa Kỳ khác nữa được trình lên Quốc hội Hoa Kỳ nhưng chưa được trình lên các tiểu bang.
== Các tu chính án ==
== Các tu chính án được đề nghị nhưng chưa được thông qua ==
Trước khi một tu chính án có hiệu lực, nó phải được hai phần ba số phiếu bầu của cả hạ viện và thượng viện chấp thuận trước khi giới thiệu đến các tiểu bang. Sau đó nó phải được ba phần tư số tiểu bang của Hoa Kỳ thông qua. Sáu tu chính án, do Quốc hội Hoa Kỳ đề nghị, đã bị thất bại vì không được đủ số phiếu cần thiết hai phần ba số nghị viện tiểu bang chấp thuận. Bốn trong các tu chính án này vẫn còn đang chờ đợi các nghị viện tiểu bang chấp thuận - hai tu chính án khác đã hết hạn chờ đợi.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
Congressional Research Service. (1992). The Constitution of the United States of America: Analysis and Interpretation. (Senate Document No. 103–6). (Johnny H. Killian and George A. Costello, Eds.). Washington, DC: U.S. Government Printing Office.
== Liên kết ngoài ==
The Constitution of the United States of America: Analysis and Interpretation is available at:
GPO Access - Official version of the document at the U.S. Government Printing Office.
FindLaw – FindLaw's version of the official document; incorporates 1996 and 1998 supplements into text, but does not include prefatory material included in official version. |
william oughtred.txt | William Oughtred (5 tháng Ba 1575 - 20 tháng Sáu 1660) là một nhà toán học người Anh. Ông là người đầu tiên sử dụng thước logarit để thực hiện các phép nhân và chia trực tiếp, trong một thiết bị có thể xem là một máy tính cơ đơn giản, thước trượt, vào năm 1622. Ông cũng là người đưa ra ký hiệu "×" và cách viết tắt "sin", "cos" cho các từ "sine", "cosine". Ông cũng có mối đam mê dành cho thuật chiêm tinh và giả kim.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Florian Cajori (1916), William Oughtred, a great seventeenth-century teacher of mathematics online text
Jacqueline Anne Stedall, Ariadne's Thread: The Life and Times of Oughtred's Clavis, Annals of Science, Volume 57, Issue ngày 1 tháng 1 năm 2000, pp. 27–60.
== Liên kết ngoài ==
O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., “William Oughtred”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor
Galileo Project page
The Oughtred Society inspired by Oughtred and dedicated to the history and preservation of slide rules.
Answers.com article with additional material on Oughtred.
Account of Oughtred by John Aubrey |
phương trình bậc hai.txt | Trong đại số sơ cấp, phương trình bậc hai là phương trình có dạng:
a
x
2
+
b
x
+
c
=
0
{\displaystyle ax^{2}+bx+c=0}
với x là ẩn số chưa biết và a, b, c là các số đã biết sao cho a khác 0. Nếu a = 0 thì phương trình sẽ chuyển về dạng bậc nhất, không còn là bậc hai. Các số a, b, và c là những hệ số của phương trình và có thể phân biệt bằng cách gọi tương ứng hệ số bậc hai, hệ số bậc một, và hằng số hay số hạng tự do.
Vì phương trình bậc hai chỉ có một ẩn nên nó được gọi là phương trình "đơn biến". Phương trình bậc hai chỉ chứa lũy thừa của x là các số tự nhiên, bởi vậy chúng là một dạng phương trình đa thức, cụ thể là phương trình đa thức bậc hai do bậc cao nhất là hai.
Các cách giải phương trình bậc hai phổ biến là nhân tử hóa (phân tích thành nhân tử), phương pháp phần bù bình phương, sử dụng công thức nghiệm, hoặc đồ thị. Giải pháp cho các vấn đề tương tự phương trình bậc hai đã được con người biết đến từ năm 2000 trước Công Nguyên.
== Giải phương trình bậc hai ==
Một phương trình bậc hai với các hệ số thực hoặc phức có hai đáp số, gọi là các nghiệm. Hai nghiệm này có thế phân biệt hoặc không, và có thể là thực hoặc không.
=== Phân tích thành nhân tử bằng cách kiểm tra ===
Phương trình bậc hai ax2 + bx + c = 0 có thể viết được thành (px + q)(rx + s) = 0. Trong một vài trường hợp, điều này có thể thực hiện bằng một bước xem xét đơn giản để xác định các giá trị p, q, r, và s sao cho phù hợp với phương trình đầu. Sau khi đã viết được thành dạng này thì phương trình bậc hai sẽ thỏa mãn nếu px + q = 0 hoặc rx + s = 0. Giải hai phương trình bậc nhất này ta sẽ tìm ra được nghiệm.
Với hầu hết học sinh, phân tích thành nhân tử bằng cách kiểm tra là phương pháp giải phương trình bậc hai đầu tiên mà họ được tiếp cận. Nếu phương trình bậc hai ở dạng x2 + bx + c = 0 (a = 1) thì có thể tìm cách phân tích vế trái thành (x + q)(x + s), trong đó q và s có tổng là b và tích là c (đây đôi khi được gọi là "quy tắc Viet") Ví dụ, x2 + 5x + 6 viết thành (x + 3)(x + 2). Trường hợp tổng quát hơn khi a ≠ 1 đòi hỏi nỗ lực lớn hơn trong việc đoán, thử và kiểm tra; giả định rằng hoàn toàn có thể làm được như vậy.
Trừ những trường hợp đặc biệt như khi b = 0 hay c = 0, phân tích bằng kiểm tra chỉ thực hiện được đối với những phương trình bậc hai có nghiệm hữu tỉ. Điều này có nghĩa là đa phần các phương trình bậc hai phát sinh trong ứng dụng thực tiễn không thể giải được bằng phương pháp này.
=== Phần bù bình phương ===
Trong quá trình hoàn thành bình phương ta sử dụng hằng đẳng thức:
x
2
+
2
h
x
+
h
2
=
(
x
+
h
)
2
,
{\displaystyle x^{2}+2hx+h^{2}=(x+h)^{2},}
một thuật toán rạch ròi có thể áp dụng để giải bất kỳ phương trình bậc hai nào. Bắt đầu với phương trình bậc hai dạng tổng quát ax2 + bx + c = 0
Chia hai vế cho a, hệ số của ẩn bình phương.
Trừ c/a mỗi vế.
Thêm bình phương của một nửa b/a, hệ số của x, vào hai vế, vế trái sẽ trở thành bình phương đầy đủ.
Viết vế trái thành bình phương của một tổng và đơn giản hóa vế phải nếu cần thiết.
Khai căn hai vế thu được hai phương trình bậc nhất.
Giải hai phương trình bậc nhất.
Tiếp theo là ví dụ minh họa việc sử dụng thuật toán này. Giải phương trình 2x2 + 4x − 4 = 0
1
)
x
2
+
2
x
−
2
=
0
{\displaystyle 1)\ x^{2}+2x-2=0}
2
)
x
2
+
2
x
=
2
{\displaystyle 2)\ x^{2}+2x=2}
3
)
x
2
+
2
x
+
1
=
2
+
1
{\displaystyle 3)\ x^{2}+2x+1=2+1}
4
)
(
x
+
1
)
2
=
3
{\displaystyle 4)\ \left(x+1\right)^{2}=3}
5
)
x
+
1
=
±
3
{\displaystyle 5)\ x+1=\pm {\sqrt {3}}}
6
)
x
=
−
1
±
3
{\displaystyle 6)\ x=-1\pm {\sqrt {3}}}
Dấu cộng-trừ "±" biểu thị rằng cả x = −1 + √3 và x = −1 − √3 đều là nghiệm của phương trình.
=== Công thức nghiệm ===
Có thể áp dụng phương pháp phần bù bình phương để rút ra một công thức tổng quát cho việc giải phương trình bậc hai, được gọi là công thức nghiệm của phương trình bậc hai. Giờ là phần chứng minh tóm tắt. Bằng khai triển đa thức, dễ thấy phương trình dưới đây tương đương với phương trình đầu:
(
x
+
b
2
a
)
2
=
b
2
−
4
a
c
4
a
2
.
{\displaystyle \left(x+{\frac {b}{2a}}\right)^{2}={\frac {b^{2}-4ac}{4a^{2}}}.}
Lấy căn bậc hai của hai vế rồi chuyển x về một bên, ta được:
x
=
−
b
±
b
2
−
4
a
c
2
a
.
{\displaystyle x={\frac {-b\pm {\sqrt {b^{2}-4ac\ }}}{2a}}.}
Một số nguồn tài liệu, đặc biệt là tài liệu cũ, sử dụng tham số hóa phương trình bậc hai thay thế như ax2 + 2bx + c = 0 hoặc ax2 − 2bx + c = 0 , ở đây b có độ lớn bằng một nửa và có thể mang dấu ngược lại. Các dạng nghiệm là hơi khác, còn lại thì tương đương.
Còn một số cách rút ra công thức nghiệm có thể tìm thấy trong tài liệu. Các cách chứng minh này là đơn giản hơn phương pháp phần bù bình phương tiêu chuẩn.
Một công thức ít phổ biến hơn, như dùng trong phương pháp Muller và có thể tìm được từ công thức Viet:
x
=
−
2
c
b
±
b
2
−
4
a
c
.
{\displaystyle x={\frac {-2c}{b\pm {\sqrt {b^{2}-4ac}}}}.}
Một tính chất của công thức này là khi a = 0 nó sẽ cho ra một nghiệm hợp lệ, trong khi nghiệm còn lại có chứa phép chia cho 0, bởi khi a = 0 thì phương trình bậc hai sẽ chuyển về bậc nhất có một nghiệm. Ngược lại, công thức phổ biến chứa phép chia cho 0 ở cả hai trường hợp.
=== Phương trình bậc hai rút gọn ===
Việc rút gọn phương trình bậc hai để cho hệ số lớn nhất bằng một đôi khi là tiện lợi. Cách làm là chia cả hai vế cho a, điều này luôn thực hiện được bởi a khác 0, ta được phương trình bậc hai rút gọn:
x
2
+
p
x
+
q
=
0
,
{\displaystyle x^{2}+px+q=0,}
trong đó p = b/a và q = c/a. Công thức nghiệm của phương trình này là:
x
=
1
2
(
−
p
±
p
2
−
4
q
)
.
{\displaystyle x={\frac {1}{2}}\left(-p\pm {\sqrt {p^{2}-4q}}\right).}
=== Biệt thức ===
Trong công thức nghiệm của phương trình bậc hai, biểu thức dưới dấu căn được gọi là biệt thức và thường được biểu diễn bằng chữ D hoa hoặc chữ delta hoa (Δ) trong bảng chữ cái Hy Lạp:
Δ
=
b
2
−
4
a
c
.
{\displaystyle \Delta =b^{2}-4ac.}
Phương trình bậc hai với các hệ số thực có thể có một hoặc hai nghiệm thực phân biệt, hoặc hai nghiệm phức phân biệt. Trong trường hợp này biệt thức quyết định số lượng và bản chất của nghiệm. Có ba trường hợp:
Nếu Δ dương (Δ > 0), phương trình có hai nghiệm phân biệt:
−
b
+
Δ
2
a
và
−
b
−
Δ
2
a
,
{\displaystyle {\frac {-b+{\sqrt {\Delta }}}{2a}}\quad {\text{và}}\quad {\frac {-b-{\sqrt {\Delta }}}{2a}},}
cả hai đều là nghiệm thực. Đối với những phương trình bậc hai có hệ số hữu tỉ, nếu Δ là một số chính phương thì nghiệm là hữu tỉ; còn với những trường hợp khác chúng có thể là các số vô tỉ.
Nếu Δ = 0, phương trình có một nghiệm thực:
−
b
2
a
,
{\displaystyle -{\frac {b}{2a}},}
hay đôi khi còn gọi là nghiệm kép.
Nếu Δ âm (Δ < 0), phương trình không có nghiệm thực, thay vào đó là hai nghiệm phức phân biệt
−
b
2
a
+
i
−
Δ
2
a
và
−
b
2
a
−
i
−
Δ
2
a
{\displaystyle {\frac {-b}{2a}}+i{\frac {\sqrt {-\Delta }}{2a}}\quad {\text{và}}\quad {\frac {-b}{2a}}-i{\frac {\sqrt {-\Delta }}{2a}}}
là những số phức liên hợp, còn i là đơn vị ảo.
Vậy phương trình có nghiệm phân biệt khi và chỉ khi Δ khác 0, có nghiệm thực khi và chỉ khi Δ không âm (Δ ≥ 0) .
=== Diễn giải bằng hình học ===
Hàm số f(x) = ax2 + bx + c là hàm số bậc hai. Đồ thị của bất kỳ hàm bậc hai nào cũng đều có một dạng chung được gọi là parabol. Vị trí, hình dạng, kích cỡ của parabol phụ thuộc vào giá trị của a, b, và c. Nếu a > 0, prabol có một điểm cực tiểu và bề lõm hướng lên trên; nếu a < 0, parabol có một điểm cực đại và bề lõm hướng xuống dưới (xem hình 1, a). Cực điểm của parabol ứng với đỉnh của nó; điểm này có hoành độ
x
=
−
b
2
a
{\displaystyle \scriptstyle x={\tfrac {-b}{2a}}}
, tính x rồi thế vào hàm số ta sẽ tìm được giá trị tung độ. Đồ thị giao trục tung tại điểm có tọa độ (0, c).
Các nghiệm của phương trình bậc hai ax2 + bx + c = 0 tương ứng là các nghiệm của hàm số f(x) = ax2 + bx + c bởi chúng là những giá trị của x để cho f(x) = 0. Nếu a, b, và c là những số thực và miền xác định của hàm f là tập hợp số thực thì nghiệm của f là hoành độ của giao/tiếp điểm của đồ thị với trục hoành (xem hình 3).
=== Nhân tử hóa đa thức bậc hai ===
Biểu thức
x
−
r
{\displaystyle x-r}
là nhân tử của đa thức
a
x
2
+
b
x
+
c
{\displaystyle ax^{2}+bx+c}
khi và chỉ khi r là một nghiệm của phương trình bậc hai
a
x
2
+
b
x
+
c
=
0.
{\displaystyle ax^{2}+bx+c=0.}
Từ công thức nghiệm ta có
a
x
2
+
b
x
+
c
=
a
(
x
−
−
b
+
b
2
−
4
a
c
2
a
)
(
x
−
−
b
−
b
2
−
4
a
c
2
a
)
.
{\displaystyle ax^{2}+bx+c=a\left(x-{\frac {-b+{\sqrt {b^{2}-4ac}}}{2a}}\right)\left(x-{\frac {-b-{\sqrt {b^{2}-4ac}}}{2a}}\right).}
Trong trường hợp đặc biệt b2 = 4ac (hay Δ = 0) phương trình chỉ có một nghiệm phân biệt, có thể nhân tử hóa đa thức bậc hai thành
a
x
2
+
b
x
+
c
=
a
(
x
+
b
2
a
)
2
.
{\displaystyle ax^{2}+bx+c=a\left(x+{\frac {b}{2a}}\right)^{2}.}
== Lịch sử ==
Ngay từ năm 2000 trước Công Nguyên, các nhà toán học Babylon đã có thể giải những bài toán liên quan đến diện tích và các cạnh của hình chữ nhật. Có bằng chứng chỉ ra thuật toán này xuất hiện từ triều đại Ur thứ ba. Theo ký hiệu hiện đại, các bài toán này thường liên quan đến việc giải hệ gồm hai phương trình:
x
+
y
=
p
,
x
y
=
q
{\displaystyle x+y=p,\ \ xy=q}
tương đương với phương trình:
x
2
+
q
=
p
x
{\displaystyle x^{2}+q=px}
Các bước giải được người Babylon đưa ra như sau:
Tính p/2.
Bình phương kết quả tìm được.
Trừ đi q.
Tính căn bậc hai bằng bảng căn bậc hai.
Cộng kết quả của bước (1) và (4) để tìm x. Điều này về cơ bản là tương đương với việc tính
x
=
p
2
+
(
p
2
)
2
−
q
{\displaystyle x={\frac {p}{2}}+{\sqrt {\left({\frac {p}{2}}\right)^{2}-q}}}
Ở Babylon, Ai Cập, Hy Lạp, Trung Quốc, và Ấn Độ, phương pháp hình học được sử dụng để giải phương trình bậc hai. Tài liệu Berlin Papyrus của người Ai Cập có từ thời Trung vương quốc (từ năm 2050 đến 1650 trước CN) có chứa lời giải của phương trình bậc hai hai số hạng. Trong nguyên bản kinh Sulba Sutras, khoảng thế kỷ 8 trước CN, phương trình bậc hai dạng ax2 = c và ax2 + bx = c được khảo sát bằng phương pháp hình học. Các nhà toán học Babylon từ khoản năm 400 trước CN và các nhà toán học Trung Quốc từ khoảng năm 200 trước CN đã sử dụng phương pháp phân chia hình học để giải các phương trình bậc hai với nghiệm dương. Cuốn Cửu chương toán thuật của người Trung Quốc có ghi những quy tắc của phương trình bậc hai. Trong những phương pháp hình học thuở đầu này không xuất hiện một công thức tổng quát. Tới khoảng năm 300 trước CN, nhà toán học Hy Lạp Euclid đã cho ra một phương pháp hình học trừu tượng hơn. Với cách tiếp cận hoàn toàn bằng hình học, Pythagoras và Euclid đã tạo dựng một phương pháp tổng quan để tìm nghiệm của phương trình bậc hai. Trong tác phẩm Arithmetica của mình, nhà toán học Hy Lạp Diophantus đã giải phương trình bậc hai, tuy nhiên chỉ cho ra một nghiệm, kể cả khi cả hai nghiệm đều là dương.
Vào năm 628 CN, Brahmagupta, một nhà toán học Ấn Độ đưa ra lời giải rõ ràng đầu tiên (dù vẫn chưa hoàn toàn tổng quát) cho phương trình bậc hai ax2 + bx = c như sau: "Nhân số tuyệt đối (c) với bốn lần hệ số bình phương, cộng với bình phương hệ số số hạng ở giữa; căn bậc hai toàn bộ, trừ đi hệ số số hạng ở giữa, rồi chia cho hai lần hệ số bình phương là giá trị." (Brahmasphutasiddhanta, Colebrook translation, 1817, tr 346) Điều này tương đương:
x
=
4
a
c
+
b
2
−
b
2
a
.
{\displaystyle x={\frac {{\sqrt {4ac+b^{2}}}-b}{2a}}.}
Thủ bản Bakhshali ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ 7 CN có chứa một công thức đại số cho việc giải phương trình bậc hai, cũng như những phương trình vô định. Muhammad ibn Musa al-Khwarizmi đi xa hơn trong việc cung cấp một lời giải đầy đủ cho phương trình bậc hai dạng tổng quát, ông cũng đã mô tả phương pháp phần bù bình phương và thừa nhận rằng biệt thức phải dương, điều đã được 'Abd al-Hamīd ibn Turk (Trung Á, thế kỷ 9) chứng minh. Turk là người đưa ra những biểu đồ hình học chứng minh rằng nếu biệt thức âm thì phương trình bậc hai vô nghiệm. Trong khi bản thân al-Khwarizmi không chấp nhận nghiệm âm, các nhà toán học Hồi giáo kế tục ông sau này đã chấp nhận nghiệm âm cũng như nghiệm vô tỉ. Cá biệt Abū Kāmil Shujā ibn Aslam (Ai Cập, thế kỷ 10) là người đầu tiên chấp nhận các số vô tỉ (thường ở dạng căn bậc hai, căn bậc ba hay căn bậc bốn) là nghiệm hay là hệ số của phương trình bậc hai. Nhà toán học Ấn Độ thế kỷ thứ 9 Sridhara đã viết ra các quy tắc giải phương trình bậc hai.
Nhà toán học người Do Thái Abraham bar Hiyya Ha-Nasi (thế kỷ 12, Tây Ban Nha) là tác giả cuốn sách đầu tiên của người châu Âu có chứa lời giải đầy đủ cho phương trình bậc hai dạng tổng quát. Giải pháp của Ha-Nasi dựa nhiều vào tác phẩm của Al-Khwarizmi. Lần đầu tiên hệ số âm của 'x' xuất hiện trong tác phẩm của nhà toán học người Trung Quốc Yang Hui (1238–1298 CN), dù vậy ông cho điều này là từ nhà toán học Liu Yi ở thời trước đó. Vào năm 1545 Gerolamo Cardano biên soạn các tác phẩm liên quan đến phương trình bậc hai. Công thức nghiệm cho mọi trường hợp lần đầu đạt được bởi Simon Stevin vào năm 1594. Năm 1637 René Descartes công bố tác phẩm La Géométrie trong đó có chứa công thức nghiệm mà chúng ta biết ngày nay. Lời giải tổng quát xuất hiện lần đầu trong tài liệu toán học hiện đại vào năm 1896, bởi Henry Heaton.
== Công thức Viète ==
Công thức Viète cho ta thấy quan hệ đơn giản giữa các nghiệm của đa thức với các hệ số của nó. Trong trường hợp phương trình bậc hai một ẩn, chúng được phát biểu như sau:
Nếu
x
1
{\displaystyle x_{1}}
và
x
2
{\displaystyle x_{2}}
là hai nghiệm của phương trình
a
x
2
+
b
x
+
c
=
0
(
a
≠
0
)
{\displaystyle ax^{2}+bx+c=0\,(a\neq 0)}
thì:
{
x
1
+
x
2
=
S
=
−
b
a
x
1
x
2
=
P
=
c
a
{\displaystyle {\begin{cases}x_{1}+x_{2}=S=-{\frac {b}{a}}\\\\x_{1}x_{2}=P={\frac {c}{a}}\\\end{cases}}}
== Các trường hợp nhận biết đặc biệt ==
Khi phương trình bậc hai đã cho có dấu hiệu sau:
a
+
b
+
c
=
0
{\displaystyle a+b+c=0}
(với a,b và c là các hệ số của phương trình bậc 2, a khác 0) thì lúc đó nghiệm của phương trình là:
x
1
=
1
;
x
2
=
c
a
{\displaystyle x_{1}=1;\,x_{2}={\frac {c}{a}}}
.
a
−
b
+
c
=
0
{\displaystyle a-b+c=0}
(với a,b và c là các hệ số của phương trình bậc 2, a khác 0) thì lúc đó nghiệm của phương trình là:
x
1
=
−
1
;
x
2
=
−
c
a
{\displaystyle x_{1}=-1;\,x_{2}=-{\frac {c}{a}}}
Nếu
a
c
<
0
{\displaystyle ac<0}
(tức a và c trái dấu nhau) thì phương trình luôn luôn có 2 nghiệm phân biệt.
== Chủ đề liên quan ==
Phương trình
Phương trình tuyến tính
Phương trình bậc ba
Phương trình bậc bốn
Phương trình bậc năm
Lý thuyết cơ bản của đại số
Hàm số bậc hai
Đường cong bậc hai
Mặt bậc hai
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Quadratic Equation Solver
Solve Quadratic equations, see work shown and draw graphs
Bài giảng về mặt bậc hai trong không gian |
samsung focus 2.txt | Samsung Focus 2 (được biết đến như SGH-i667 và Samsung Mandel) là điện thoại thông minh dạng thanh chạy hệ điều hành Windows Phone của Microsoft. Gồm vi xử lý 1.4 GHz Qualcomm® Snapdragon™, màn hình 4.0-inch Super AMOLED ma trận Pentile, và 8GB bộ nhớ trong.
== Xem thêm ==
Samsung Focus
Samsung Focus S
Windows Phone
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
[1]
[2] |
nikon.txt | Nikon Corporation (株式会社ニコン, Kabushiki-gaisha Nikon) (TYO: 7731), cũng gọi là Nikon hay Nikon Corp., là một công ty đa quốc gia đóng trụ sở ở Tokyo, Nhật Bản chuyên sản xuất máy ảnh và thiết bị quang. Nikon là hãng sản xuất máy ảnh nổi tiếng của Nhật Bản. Nikon là công ty con của tập đoàn Mitsubishi. Nikon vốn từ lâu là hãng máy ảnh cơ danh tiếng trên thế giới với ống kính Nikkor rất tốt. Hiện nay, Nikon đã dừng sản xuất máy cơ để chuyển sang sản xuất máy ảnh kỹ thuật số và máy DSLR.
Nikon không sản xuất được bộ cảm biến hình ảnh(sensor) mà phải mua từ các công ty khác như Sony, Kodak
== Lịch sử ==
Công ty được lập năm 1917 với tên gọi Nippon Kōgaku Kōgyō (日本光学工業株式会社 "Japan Optical Industries"); sau đó đổi tên thành Nikon Corporation năm 1988.
Nippon Kogaku K.K bắt đầu sản xuất loại ống nhòm lăng trụ siêu nhỏ, và sau đó mở rộng ra kính hiển vi, kính thiên văn, những dụng cụ nghiên cứu, dụng cụ đo lường và ống kính camera. Năm 1932, Nikkor được công nhận là thương hiệu của ống kính camera, và ngày nay, thương hiệu sản phẩm Nikkor Optics vẫn đồng nghĩa với chất lượng hàng đầu. Tên Nikon được dùng đầu tiên vào năm 1946 cho máy camera cỡ nhỏ của công ty. Chỉ có một số camera loại này đến được Mỹ, nhưng nó trở thành công nghệ mới nhất trong ngành camera chuyên nghiệp. Năm 1950, Thời báo New Yorks đăng tải hình ảnh Nikon camera và ống kính Nikkor, và cuối thập kỉ đó, hệ thống SLR camera đầu tiên, nền móng của sản phẩm Nikon F, bắt đầu sự thống trị 15 năm trong ngành công nghiệp sản xuất này.
Giữa năm 1970 và cuối những năm 1980, công ty giới thiệu những sản phẩm cải tiến ở rất nhiều lĩnh vực như camera, ống kính ngắm, mắt kính, máy đo lường, kính thiên văn, dụng cụ nghiên cứu v.v… Trong suốt thời gian này, công ty đã giới thiệu loại camera tự động đầu tiên. Năm 1988, tên thương hiệu tập đoàn được chuyển thành Tập đoàn Nikon (Nikon Corporation).
Thập kỉ 90 mở đầu bằng sự trình làng sản phẩm camera F5, ống kính tầm ngắm rộng và giải thưởng dành cho máy ảnh kỹ thuật số Coolpix. Năm 1999, Nikon giới thiệu camera kĩ thuật số megapixel SLR chất lượng cao: Nikon D1. Sản phẩm này được cải tiến với dáng vẻ thể thao, thời trang và có thể chụp được những hình ảnh cực nét cho nhà báo. Giá bán hấp dẫn của sản phẩm đã trở thành bước đệm đầu tiên cho cả một thị trường máy ảnh kĩ thuật số.
=== Sản phẩm nổi bật của Nikon ===
Nikon trình làng rất nhiều dòng sản phẩm cao cấp từ công nghệ sản xuấn linh kiện máy rửa hình cho đến camera chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp, từ kính hiển vi và các sản phẩm phục vụ khoa học, thiết bị đo lường, ống nhòm, mắt kính, máy scan v.v… Thực tế là tất cả những dòng sản phẩm của Nikon đều dựa trên tiêu chuẩn: kính Nikon được làm với công nghệ cao và chính xác. Nikon là một trong những nhà sản xuất ống kính hàng đầu, Nikon chỉ đạo trong từng phần sản xuất ống kính từ cải tiến kiểu dáng đến chọn lựa vật liệu thô, từ dây chuyền công nghệ hiện đại nhất đến tiêu chuẩn sản xuất chính xác nhất. Nikon đã phát triển hơn 200 loại ống kính và là người đi đầu trong sáng tạo kiểu mẫu và sản xuất kính hội tụ nhằm giảm bớt độ sai của thị giác.
==== Những phát triển gần đây ====
Nikon đã cố gắng duy trì sự tương hợp giữa sự phát triển công nghệ và hình ảnh thương hiệu Nikon. Hệ thống hình ảnh toàn diện (Total Imaging System) của Nikon - một hệ thống hợp nhất máy camera, thấu kính, máy scan, phụ tùng kèm theo - đảm bảo chất lượng và tính chính xác. Nikon tiếp tục mở rộng dòng sản phẩm và hoàn thiện sản phẩm với nhiều tính năng mới, tiện lợi hơn và cải tiến hơn.
"LBCAST" – máy ảnh siêu nhạy, nâng cao chất lượng hình ảnh và tốc độ chụp
WT-1A không dây giúp người chụp hình chuyển hình ảnh thẳng vào hệ thống máy tính nội bộ.
Chức năng giảm run trong ống kính VR giúp hình ảnh rõ nét hơn với tốc độ chụp chậm hơn
Sản phẩm mới nhất iTTL với hệ thống Speedlight tự động giúp Nikon Speedlights được kiểm soát bởi camera mà không cần sự kết nối. Hoàn thành thông qua hệ thống vi tính phức tạp, công nghệ này đã thổi một luồn cách mạng hoá cho máy ảnh kĩ thuật số LSR
Sản phẩm 1,005-pixel Sensor 3D Color Matrix Meter của Nikon đưa ra tính chất chụp tự động
Scene Assist™, In-Camera Red-Eye Fix và One-Touch Red-Eye Fix™ cho phép nhiếp ảnh gia không chuyên cũng có thể chụp được những bức ảnh xuất sắc.
Phần mềm cải tiến của Nikon rất dễ sử dụng, giúp tiến độ công việc đi nhanh và dễ dàng hơn
Camera kĩ thuật số SLR thế hệ mới giúp khả năng tạo hình cực kì rõ nét
Hệ thống chụp ảnh sóng vi phân của Nikon có thể giúp bạn nhìn thấy được từ gene và phân tử protein trong từng tế bào sống, một cú đột phá quan trọng cho ngành khoa học nghiên cứu đời sống
Sự kết hợp giữa công nghệ của kính hiển vi khoa học, camera kĩ thuật số và công nghệ rửa ảnh, Nikon đã giới thiệu loại kính hiển vi kĩ thuật số có thể thay thế loại thấu kính truyền thống với hình ảnh kỹ thuật hiện trên màn hình. Kiểu thiết kế "tất cả trong một" này bao gồm những điểm đặc biệt của quan sát, chụp ảnh, và mạng lưới truyền tin.
Công nghệ mới "Fly Eye" và Hình ảnh kĩ thuật mang đến chất lượng cao nhất cho kĩ thuật Epi Flourescence và khả năng chụp ảnh
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
I am Nikon blog
List of Nikon lenses
Nikon Metrology
CMM-Manager
Phương tiện liên quan tới Nikon tại Wikimedia Commons |
tân hoa xã.txt | Tân Hoa Xã (tiếng Hán: 新华社, tiếng Anh: Xinhua News Agency) là hãng thông tấn chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là trung tâm thu thập thông tin lớn nhất, cơ quan ngôn luận lớn nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đây là một trong hai cơ quan ngôn luận lớn của Trung Quốc, cơ quan kia là Trung Quốc Tân Hoa Xã
Tân Hoa Xã là một cơ quan của Quốc vụ viện. Dù bị chỉ trích, việc xếp hạng chỉ số tự do báo chí toàn thế giới của tờ báo này đã được cải thiện trong những năm qua. Tân Hoa báo cáo trực tiếp lên Ban Thông tin công cộng của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Tân Hoa xã |
hà tây.txt | Bài này nói về một tỉnh cũ ở Việt Nam. Các nghĩa khác xem tại Hà Tây (định hướng).
Hà Tây là một tỉnh cũ Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, đã từng tồn tại trong hai giai đoạn: 1965-1975 và 1991-2008. Tỉnh nằm bên bờ phải (bờ Nam) sông Hồng và bờ trái (bờ Đông) sông Đà. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hà Đông nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội cũ 10 km về phía tây nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài 35 km. Trước tháng 8 năm 2008, Hà Tây có địa giới phía đông giáp thủ đô Hà Nội cũ, phía đông-nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Nam Hà, phía tây giáp tỉnh Hòa Bình, phía bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ địa giới của Hà Tây được sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội, và như vậy tỉnh này không còn tồn tại nữa.
== Điều kiện tự nhiên ==
Vị trí: 20°31'B - 21°17′B và 105°17′Đ - 106°00′Đ
Diện tích: 2,193 km²
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1,900 mm
Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C, chênh lệch khá cao giữa các vùng. Mùa hè ở đồng bằng lên tới 36 - 37 °C, cá biệt tới 41 °C, mùa đông ở vùng cao có thể xuống tới 3 °C.
Số giờ nắng trong năm: 1,399 giờ
Độ ẩm tương đối trung bình: 70 - 85%
Địa hình Hà Tây có thể chia làm ba khu vực là vùng núi (Ba Vì), vùng gò đồi phía Tây (Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức) và vùng đồng bằng phía Đông.
== Dân cư ==
Hà Tây có khoảng 2,47 triệu người với mật độ dân số 1,126 người/km² (2003).
Thành phần dân số: Nông thôn: 91%, Thành thị: 9%
Thành phần dân tộc: Kinh, Mường, trong đó người kinh chiếm đa số
== Lịch sử ==
Tỉnh Hà Tây được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1965 theo Quyết định số 103-NQ-TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 21 tháng 4 năm 1965 trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông. Khi hợp nhất, tỉnh Hà Tây gồm 2 thị xã: Hà Đông (tỉnh lị), Sơn Tây và 14 huyện: Bất Bạt, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quảng Oai, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Tùng Thiện, Ứng Hòa.
Ngày 26 tháng 7 năm 1968, hợp nhất 3 huyện Bất Bạt, Quảng Oai và Tùng Thiện thành huyện Ba Vì.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975 hợp nhất với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Năm 1978 hai thị xã Sơn Tây và Hà Đông, 5 huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức của tỉnh Hà Sơn Bình cùng một số xã của các huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường Tín được chuyển về Hà Nội. Tuy nhiên thị xã Hà Đông vẫn tạm thời là tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn Bình. Theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9 ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Tây được tái lập và 5 huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức cùng 2 thị xã Sơn Tây và Hà Đông được trả về cho Hà Tây, tổng cộng có 2 thị xã: Hà Đông (tỉnh lị), Sơn Tây và 12 huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa. Khi đó tỉnh có diện tích là 2.169 km², với dân số 2.086.926 người.
Tháng 12 năm 2006, Thủ tướng chính phủ ký nghị định thành lập thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây với diện tích tự nhiên là 4,791.7ha, 228,715 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính gồm bảy phường và tám xã.
Tháng 8 năm 2007, Thủ tướng chính phủ ký nghị định thành lập thành phố Sơn Tây thuộc tỉnh Hà Tây có 15 đơn vị hành chính gồm 6 phường và 9 xã.
Cuối tháng 7 năm 2008, tỉnh Hà Tây có 2 thành phố: Hà Đông (tỉnh lị), Sơn Tây và 12 huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa.
Từ 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ diện tích, dân số của tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội (riêng xã Tân Đức được tách ra khỏi Ba Vì, sáp nhập vào thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 14 tháng 7 năm 2008).
== Kinh tế ==
=== Thu nhập ===
Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh năm 2001 ước đạt 14,900 tỷ đồng. Theo tài liệu [1] thì năm 2001 dân số toàn tỉnh Hà Tây là 2,432,000 người, do đó GDP/người là 434 USD, tương đương với 6,157,300 đồng.
Cơ cấu kinh tế:
Tỷ trọng nông - lâm nghiệp: 36%
Công nghiệp, xây dựng: 30%
Dịch vụ là: 34%.
=== Làng nghề ===
Hà Tây có trên 200 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều người ưa chuộng như lụa Vạn Phúc, sơn mài - Duyên Thái, tiện gỗ - Nhị Khê, thêu - Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, hàng mây tre Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, Sơn Đồng, may Trạch Xá, đàn Đào Xá, mộc Đại Nghiệp, tơ lưới Hà Thao, tò he Xuân La...
== Văn hóa-xã hội ==
=== Bài hát ===
Bài hát Hà Tây quê lụa của Nhật Lai ra đời khi Không quân Hoa Kỳ tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam với ca từ đẹp, giai điệu mượt mà đã trở nên nổi tiếng.
=== Lễ hội ===
Lễ hội chùa Hương (huyện Mỹ Đức) - một lễ hội dài nhất và vui nhất Việt Nam (3 tháng, bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch) thu hút khoảng nửa triệu khách mỗi năm.
Lễ hội hát du tại huyện Quốc Oai cứ 36 năm mới được tổ chức một lần.
Các lễ hội khác là hội chùa Thầy (huyện Quốc Oai) liên quan đến pháp sư Từ Đạo Hạnh, hội thả diều ở Bá Giang - Đan Phượng, hội chùa Tây Phương, hội chùa Đậu, hội chùa Và, hội đền Hát Môn, chùa Bối Khê, chùa Trăm gian, chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự), hội đền Thánh Tản Viên.
Lễ hội đền Lộ (huyện Thường Tín) - lễ hội dài 10 ngày (bắt đầu từ mồng 1 tháng 2 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch) thu hút hàng vạn khách mỗi năm.
Lễ hội đền Vân Trai (huyện Thường Tín)-từ mồng 9 đến 12 tháng 3 âm lịch tưởng nhớ các vua Hùng và vị thần hoàng làng, có nghi thức rước kiệu đẹp nhất cả vùng.
Lễ hội Chử Đồng Tử (một trong 4 vị thánh của Việt Nam) được tổ chức từ ngày 30 đến 1 tháng 4 (âm lịch) hàng năm tại xã Tự Nhiên huyện Thường Tín.
Lễ hội hát Chèo tàu được tổ chức trong 7 ngày từ Rằm tháng giếng đến 21 thắng Giêng.tại xã Tân Hội huyện Đan Phượng.
== Danh Nhân ==
=== Đế vương ===
Phùng Hưng: Bố Cái Đại Vương
Ngô Quyền: Tiền Ngô Vương
=== Quan chức Cao cấp ===
=== Danh Y: ===
Hoàng Đôn Hòa: Phò mã
Nguyễn Gia Phan
Nguyễn Tài Thu
== Du lịch ==
Hà Tây là tỉnh giàu tiềm năng du lịch. Với địa hình giao thoa giữa miền núi và đồng bằng, Hà Tây có nhiều hồ, suối và hang động. Hà Tây là tỉnh có 2 trong số 21 khu du lịch quốc gia đó là Chùa Hương và Khu du lịch Ba Vì. Về số di tích lịch sử được công nhận Hà Tây chỉ đứng sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Các địa chỉ du lịch có: Vườn quốc gia Ba Vì, ao Vua, Khoang xanh, suối Hai, Đồng Mô, Thiên Sơn - Suối Ngà (suối Ổi), Suối Ngọc - Vua Bà, Bằng Tạ, Đầm Long, hồ Quan Sơn, Đồng Xương, Văn Sơn, làng cổ Đường Lâm, lăng Ngô Quyền, lăng Phùng Hưng, thành cổ Sơn Tây, lễ hội Chử Đồng Tử (ngày 30/3 - 1/4 (âm lịch) hàng năm, tại xã Tự Nhiên, Thường Tín, Hà Tây).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hà Tây tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Bản lưu trang web tỉnh Hà Tây cũ
Địa giới Hà Nội chính thức mở rộng từ 1/8
Một số thông tin cơ bản tỉnh Hà Tây cập nhật 6/5/2009 trên trang tin điện tử Ủy ban Dân tộc |
trận el alamein thứ hai.txt | Trận El Alamein thứ hai diễn ra trong vòng 20 ngày từ 23 tháng 10 đến 11 tháng 11 năm 1942 ở gần thành phố duyên hải El Alamein của Ai Cập, và chiến thắng của Đồng Minh tại đây đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của Chiến dịch Sa mạc Tây trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận này nối tiếp trận El Alamein thứ nhất trước đó đã chặn đứng đà tiến quân của phe Trục vào lãnh thổ Ai Cập, và đến tháng 8 năm 1942, trung tướng Bernard Montgomery đã tiếp nhận quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Anh của tướng Claude Auchinleck.
Có thể coi chiến thắng của quân Đồng Minh trong trận này là một trong những thắng lợi quyết định của cuộc chiến, góp phần xoay chuyển thế trận sang chiều hướng có lợi cho họ. Nó đã làm thay đổi toàn diện tình hình chiến sự tại Mặt trận Bắc Phi và chấm dứt mối đe dọa đối với Ai Cập, kênh đào Suez, cũng như khả năng các mỏ dầu ở Trung Đông và Ba Tư của quân đội phe Trục qua ngả Bắc Phi. Từ góc độ tâm lý, El Alamein đã vực dậy tinh thần phe Đồng Minh, vì đây là chiến dịch tấn công lớn đầu tiên chống lại quân Đức mà quân Đồng Minh phương Tây giành được một thắng lợi quyết định kể từ khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu năm 1939.
== Bối cảnh ==
Cho đến ngày 12 tháng 7 năm 1942, sau thắng lợi trong trận Gazala, Tập đoàn Panzer châu Phi (Panzerarmee Afrika) bao gồm các đơn vị bộ binh và cơ giới của Đức và Ý dưới sự chỉ huy của Thống chế Erwin Rommel đã tiến sâu vào đất Ai Cập, đe dọa quyền kiểm soát kênh đào Suez của Đế quốc Anh. Tướng Claude Auchinleck chỉ huy Tập đoàn quân 8 của Anh phải rút lui về phạm vi quanh thành phố Alexandria 80 km, đến một vị trí mà có vùng Đất trũng Qattara trải đến trong vòng 64 km quanh El Alamein bên bờ biển. Vị trí này dễ phòng thủ vì có độ dài mặt trận tương đối ngắn và giúp đảm bảo bên sườn do xe tăng không thể đi qua được vùng Đất trũng. Tại đây, vào đầu tháng 7, đà tiến công của phe Trục đã bị chặn lại trong Trận El Alamein thứ nhất.
Trong tháng 7, Tập đoàn quân 8 nhiều lần phản công nhưng đều thất bại vì Rommel đã tiến hành chấn chỉnh giúp đội quân kiệt sức của ông ta tập hợp lại được. Đến cuối tháng 7, Auchinleck cho hủy bỏ mọi hoạt động tấn công nhằm xây lại lực lượng. Qua đầu tháng 8, thủ tướng Anh Winston Churchill và Đại tướng Sir Alan Brooke —tổng tham mưu trưởng Đế quốc Anh— ghé thăm Cairo và đã đưa đại tướng Sir Harold Alexander lên thay chức vụ Tổng tư lệnh Trung Đông của Auchinleck. Trung tướng William Gott được chọn làm chỉ huy Tập đoàn quân 8, nhưng ông đã chết trước khi nhận nhiệm vụ do máy bay chở ông bị không quân Đức bắn rơi. Trung tướng Bernard Montgomery do đó được cử làm tư lệnh Tập đoàn quân 8.
Trong lúc này quân Đức đang phải đối mặt với vấn đề các tuyến đường tiếp tế bị kéo xa quá mức. Đồng thời, nhận thức được nguồn lực tiếp viện hùng hậu cả về người và phương tiện của quân Đồng Minh đang trên đường đến ặt trận, Rommel đã quyết định tấn công quân Đồng Minh trước khi họ kịp hoàn thành việc tăng cương lực lượng. Hai sư đoàn thiết giáp thuộc Quân đoàn châu Phi cùng một lực lượng tạo thành từ các đơn vị trinh sát thuộc Tập đoàn Panzer châu Phi làm mũi nhọn tiên phong tấn công, nhưng đến ngày 30 tháng 8 năm 1942, quân Đồng Minh đã chặn đứng họ tại đỉnh Alam el Halfa và Điểm 102. Đây là trận chiến thứ hai diễn ra tại tuyến Alamein, Trận Alam el Halfa (thường bị gọi nhầm thành Alam Halfa). Cuộc tấn công bị thất bại, Tập đoàn Panzer châu Phi quay sang củng cố để chờ đợi một đòn phản công từ Tập đoàn quân 8 của Montgomery.
Những yếu tố thuận lợi cho kế hoạch phòng ngự của Tập đoàn quân 8 trong trận El Alamein thứ nhất -trận tuyến ngắn và bảo đảm bên sườn- bây giờ trở thành có lợi cho quân phòng thủ phe Trục. Hơn nữa, Rommel có nhiều thời gian để chuẩn bị các vị trí phòng ngự và bố trí các bãi mìn dày đặc (xấp xỉ 500.000 quả mìn) cùng dây kẽm gai. Alexander và Montgomery quyết tâm tạo cho được ưu thế áp đảo về lực lượng, không chỉ nhằm tạo được một bước đột phá mà còn để khai thác nó và tiêu diệt Tập đoàn Panzer châu Phi. Trong tất cả các trận đụng độ trước đó tại Sa mạc Tây kể từ năm 1941, chưa bao giờ bên thắng trận có đủ lực lượng để phát huy chiến quả nhằm một cách triệt để: bên thua vẫn luôn có thể rút lui và tái tập hợp lại gần các căn cứ tiếp tế chính của mình.
Sau 6 tuần lễ tập hợp lực lượng, Tập đoàn quân 8 của Anh đã sẵn sàng tấn công. Quân của Montgomery gồm 220.000 lính, 1.100 xe tăng đã mở cuộc tấn công vào quân của Rommel gồm 115.000 lính và 559 xe tăng thuộc Tập đoàn Panzer châu Phi.
== Trước trận đánh ==
=== Kế hoạch của quân Đồng Minh ===
==== Chiến dịch Lightfoot ====
Với chiến dịch Lightfoot (nhẹ chân), Montgomery hy vọng sẽ tạo được hai hành lang xuyên qua bãi mìn của quân phe Trục ở phía bắc mặt trận. Một hành lang chạy theo hướng tây-nam băng qua quân khu của Sư đoàn New Zealand hướng về phía trung tâm Đỉnh Miteirya, hành lang còn lại chạy theo hướng tây, băng qua nơi cách phần cuối phía tây của Đỉnh Miteirya 2 dặm về phía bắc, nằm giữa quân khu của hai Sư đoàn 9 và 51 của Úc. Sau đó lực lượng thiết giáp sẽ tiến qua hai hành lang đó và đánh bại quân thiết giáp Đức. Những cuộc tấn công nghi binh tại Đỉnh Ruweisat ở trung tâm và cả ở phía nam trận tuyến sẽ giữ chân phần còn lại của lực lượng Đức không cho tiến xuống phía nam. Montgomery dự tính chỉ đánh 12 ngày trong 3 giai đoạn: đột nhập, không chiến và cuối cùng đánh gục đối phương.
Montgomery đã lên kế hoạch cho đêm đầu tiên của cuộc tấn công là sẽ đưa 4 sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn XXX của Oliver Leese tiến binh trên một mặt trận dài 26 km hướng đến một mục tiêu có mật danh là Tuyến Oxalic, đánh tan quân phòng thủ tiền tiêu Đức. Trong khi đó công binh sẽ rà phá mìn và đánh dấu hai ngả đường tấn công xuyên qua bãi mìn, để qua đó các sư đoàn thiết giáp thuộc quân đoàn X do Herbert Lumsden chỉ huy sẽ tiến sang chiếm lấy tuyến Pierson. Họ sẽ tập hợp lại và tạm thời củng cố tại ngay sát phía tây vị trí của bộ binh, ngăn không cho quân thiết giáp can thiệp vào cuộc chiến của bộ binh. Sau đó họ sẽ tiến đến khu vực Skinflint nằm sâu trong tuyến phòng thủ của Đức và chắn ngang con đường xe lửa bên quan trọng Rahman để thách thức lực lượng thiết giáp địch.
Máy dò mìn Ba Lan được trung úy Józef Kosacki thiết kế ở Scotland năm 1941, lần đầu tiên đã được đưa vào sử dụng trên thực địa. 500 máy trong số đó được cấp cho Tập đoàn quân 8. Chúng đã giúp nhân đôi tốc độ rà phá những bãi cát rải mìn dày đặc, từ 100 mét lên đến 200 mét mỗi giờ.
==== Chiến dịch Bertram ====
Trong vòng vài tháng trước trận chiến, các lực lượng Khối Thịnh vượng chung Anh đã thực hiện một số mánh khóe nhằm gây nhầm lẫn cho bộ chỉ huy phe Trục, không chỉ tại nơi sẽ diễn ra trận đánh sắp tới, mà ở cả những nơi mà chiến sự có thể sẽ nổ ra. Hoạt động này mang mật danh Chiến dịch Bertram. Vào tháng 9, họ cho chất đống phế liệu (chẳng hạn như vỏ bao vứt đi) xuống dưới các tấm lưới ngụy trang ở quân khu phía bắc, khiến chúng trông như những kho đạn dược hoặc thực phẩm. Hiển nhiên phe Trục có nhận thấy chúng nhưng do không có chiến dịch tấn công nào diễn ra ngay sau đó và các "kho" này không có thay đổi gì về bề ngoài, nên sau này họ không để ý đến chúng nữa. Điều này cho phép Tập đoàn quân 8 dựng các kho quân nhu tại khu vực tiền tiêu bằng cách thay thế đồ phế thải bằng đạn dược, nhiên liệu hoặc thực phẩm trong đêm mà không bị phe Trục nhận ra. Đồng thời, một đường ống dẫn giả được xây dựng với hy vọng khiến cho phe Trục tin rằng cuộc tấn công sẽ diễn ra muộn hơn nhiều so với thực tế và ở xa hơn nhiều về phía nam. Để đánh lạc hướng hơn nữa, các xe tăng giả làm từ khung gỗ dán đặt trên xe jeep được dựng lên và bố trí ở khu vực phía nam. Trái lại, xe tăng thật dành cho cuộc chiến ở phía bắc đã được cải trang giống như xe tải chở đồ tiếp tế bằng cách đặt những tầng gỗ dán có thể tháo được lên trên.
=== Kế hoạch của quân phe Trục ===
Sau thất bại trong cuộc tấn công tại Alam el Halfa, lực lượng phe Trục quay sang thế phòng ngự nhưng chịu thiệt hại không quá mức. Các tuyến tiếp tế của Đức-Ý bị kéo dài và họ phải phụ thuộc vào những đồ tiếp tế và trang bị bắt được của phe Đồng Minh vốn từ lâu đã được tiêu thụ. Cả bộ tham mưu Đức lẫn Ý đều báo với Rommel rằng đội quân của ông không thể được tiếp tế một cách đầy đủ từ những bến cảng ở xa như Tripoli và Benghazi. Bất chấp những lời cảnh báo này, Rommel vẫn thúc quân tiến đến Alamein và đúng như dự đoán, hệ thống tiếp tế không thể phân phối các vật tư thiết yếu từ các bến cảng đến được mặt trận. Trong khi đó thì các lực lượng Khối Thịnh vượng chung Anh đang được tái tiếp tế bằng nhân lực và nguyên vật liệu từ Anh, Ấn Độ, Úc và New Zealand, cùng với xe vận tải và xe tăng Sherman của Hoa Kỳ. Rommel tiếp tục yêu cầu trang thiết bị, đồ tiếp tế và nhiên liệu, nhưng lúc này trọng tâm của cỗ máy chiến tranh Đức đang đặt tại chiến trường Xô-Đức, nên chỉ có một lượng rất hạn chế đồ tiếp tế đến được Bắc Phi.
Thêm vào đó, Rommel lại ngã bệnh. Đầu tháng 9, người ta sắp đặt để ông về Đức nghỉ bệnh, và tướng Georg Stumme được triệu từ mặt trận Xô-Đức sang châu Phi thay thế Rommel. Trước khi về Đức vào ngày 23 tháng 9, Rommel đã tổ chức hệ thống phòng ngự theo kế hoạch và viết một bản đánh giá tình hình dài cho Bộ Tư lệnh Tối cao Đức, một lần nữa nêu ra những nhu cầu thiết yếu của Tập đoàn quân Thiết giáp..
Rommel biết rõ là lực lượng Khối Thịnh vượng chung Anh sẽ sớm có đầy đủ lực lượng để sẽ mở cuộc tổng tấn công. Niềm hy vọng duy nhất của ông bây giờ phụ thuộc vào việc quân Đức đang chiến đấu tại trận Stalingrad nhanh chóng đánh bại Hồng quân Liên Xô và tiến xuống phía nam qua vùng Kavkaz để uy hiếp Ba Tư (Iran) và Trung Đông. Điều này sẽ khiến một lực lượng lớn quân Khối Thịnh vượng chung bị điều khỏi mặt trận Ai Cập để tăng viện cho quân Anh tại Ba Tư, dẫn đến việc trì hoãn cuộc tấn công chống lại đội quân của ông. Nếu tận dụng sự chậm trễ đó, Rommel hy vọng sẽ thuyết phục được Bộ tư lệnh Tối cao Đức tăng cường cho lực lượng của ông để nhằm thực hiện việc nối liền có thể xảy ra giữa Tập đoàn Panzer châu Phi và các tập đoàn quân Đức chiến đấu trên đường tiến qua miền nam Liên Xô, giúp cho họ có thể đánh bại hoàn toàn các đội quân Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Bắc Phi và Trung Đông.
Trong tình hình hiện thời, quân Đức dưới tay ông chỉ còn cách bố trí phòng ngự và chờ đợi hoặc là cuộc tấn công của quân Anh, hoặc là thất bại của Liên Xô tại Stalingrad. Rommel đã tăng cường chiều sâu của hệ thống phòng thủ bằng cách đặt ít nhất hai vành đai mìn được nối cách quãng với nhau để tạo nên những hộp phòng thủ nhằm hạn chế quân địch thâm nhập và tước đi khả năng cơ động của quân thiết giáp Anh. Mặt trước của mỗi hộp được phòng giữ bố trí những đội tiền tiêu còn phần còn lại bỏ ngỏ nhưng bù lại có rải mìn và bẫy nổ. Những hộp này được gọi là Vườn Quỷ (tiếng Anh: "Devil's Gardens"). Các vị trí phòng thủ chính được xây dựng sâu ít nhất 2 km phía sau vành đai mìn thứ hai. Phe Trục đã đặt khoảng nửa triệu quả mìn, phần lớn là loại mìn chống tăng Teller, còn lại là mìn chống lính (một số lớn là mìn của Anh bị Đức tịch thu trong trận đánh tại Tobruk trước đó). Để dụ các phương tiện địch tiến vào bãi mìn, quân Ý đã dùng thủ thuật dùng dây thừng dài kéo một trục xe và lốp xe chạy ngang các bãi đất nhằm tạo dấu vết giống như là thường xuyên có xe cô qua lại.
Rommel lo ngại không muốn để cho quân thiết giáp Anh đột phá vào khoảng mở vì ông không có đủ cả quân số và nhiên liệu để đối đầu với họ trong một trận chiến cơ động. Do đó ông phải cố gắng giới hạn trận đánh tại các khu phòng thủ của mình và phản đối mọi cuộc đột phá nhanh chóng lẫn mạnh mẽ. Do đó Rommel củng cố trận tuyến đầu bằng cách bố trí xen kẽ đội hình bộ binh Đức và Ý. Do các biện pháp đánh lừa của Đồng Minh làm phe Trục nhầm lẫn về khả năng vị trí tấn công, nên Rommel đã rời bỏ thói quan thường thấy của ông là tổ chức quân thiết giáp thành một lực lượng dự bị tập trung duy nhất để mà phân chia nó thành một cụm ở phía bắc (các sư đoàn Panzer số 15 và Littorio), một cụm ở phía nam (các sư đoàn Panzer số 21 và Ariete), mỗi cụm được tổ chức thành những nhóm tác chiến để có thể nhanh chóng can thiệp bằng thiết giáp tại bất cứ nơi nào bị tiến công và như vậy sẽ ngăn được những cuộc đột phá hẹp không thể mở rộng ra. Tuy nhiên, việc làm này đã làm cho một tỷ lệ đáng kể quân thiết giáp dự bị của ông bị phân tán và bị tổ chức quá xa một cách khác thường lên phía trước. Ngược lại, xa hơn về phía sau, Rommel đã đặt Sư đoàn Khinh binh 90 và Sư đoàn Cơ giới Trieste làm lực lượng dự bị ở gần bờ biển. Rommel tin rằng khi mũi tấn công chính xảy ra, ông đã có thể vận động quân của mình nhanh hơn quân Đồng Minh để tập trung lực lượng phòng thủ tại trọng điểm của trận chiến. Thế nhưng, sau khi đã tập trung quân phòng thủ, ông không thể di chuyện lực lượng của mình được nữa vì thiếu nhiên liệu.
== Diễn tiến trận El Alamein thứ hai ==
Trận đánh vẫn thường được chia thành 5 giai đoạn: đột nhập (23 - 24 tháng 10), đập vụn (24 - 25 tháng 10), phản công (26 - 28 tháng 10), Chiến dịch Supercharge (1 - 2 tháng 11), và vượt thoát (3 - 7 tháng 11). Trong 3 ngày 29 - 31 tháng 10, cuộc chiến lâm vào bế tắc và thời gian này không được đặt tên.
=== Giai đoạn 1: Cuộc đột nhập ===
Trước khi thực sự giao chiến, lữ đoàn 24 Úc đánh lạc hướng địch bằng cuộc công phá dữ dội vào sư đoàn 15 thiết giáp Đức. Sau đó, vào lúc 9 giờ 40 phút tối ngày 23 tháng 10 trong đêm sáng trăng yên tĩnh, Chiến dịch Lightfoot bắt đầu. Đồng loạt 882 súng lớn nã pháo bắn 40 dặm sang chiến tuyến của địch quân. Sau 20 phút pháo kích liên tục, đại bác bắt đầu được cho nhắm kỹ vào các mục tiêu chiến thuật để hỗ trợ đoàn lục quân tiến sang. Cuốc công pháo tiếp tục trong 5 tiến rưỡi đồng hồ, với mỗi đại bác bắn ra trên dưới 600 viên.
Chiến dịch Lightfoot mang tên nhẹ chân là vì chiến thuật cho quân lính chạy bộ tràn sang bãi mìn trước. Mìn chống tăng khi bị đạp lên thường sẽ không nổ vì trọng lượng của người lính quá nhẹ. Sau đợt lính bộ là đợt kỹ sư công binh chạy sang rà và tháo gỡ mìn, mở những lối đi bề ngang khoảng 7.3 mét vừa đủ rộng cho xe tăng chạy qua. Các toán công binh phải tháo mìn cho tuyến đường dài 8 km băng qua các ô đất Vườn Quỷ. Công tác này quá khó khăn và không hoàn thành được vì bãi mìn của Đức quá sâu rộng.
Lúc 10 giờ tối, 4 sư đoàn lục quân của quân đoàn XXX bắt đầu tiến sang nhắm vào trung tâm của lực lượng phòng thủ của quân phe Trục. Khi đến bãi mìn đầu tiên, xe rà mìn và toán thám thính công binh kéo sang tháo mìn và lập đường đi cho xe tăng. Tuy chậm hơn dự tính, đến 2 giờ sáng, 500 xe tăng đầu tiên chuyển xích tiến sang. Đến 4 giờ sáng, xe tăng đầu tiên chạy vào bãi min làm tung cát bụi lên mờ mịt và những đơn vị đi sau không thể thấy đường đi - làm trị trệ cuộc hành quân.
Cùng lúc, sư đoàn xe tăng 7 Anh và một lữ đoàn Lực lượng Pháp Tự do thuộc quân đoàn XIII mở cuộc tấn công dụ địch ở phía nam chiến trường với mục đích kềm hãm sư đoàn 21 Đức và sư đoàn Ariete Ý tại Jebel Kalak. Trong khi đó, bên trái có quân Pháp Tự do chiếm Qaret el Himeimat và đồng bằng el Taqa. Bên phải có lữ đoàn 131 thuộc sư đoàn lục quân 44 phòng vệ. Cuộc tấn công này bị lính dù phe Trục (sư đoàn 185 dù, lữ đoàn dù của Hermann-Bernhard Ramcke và toán quân Keil) phản kích dữ dội. Công tác tháo mìn và tạo đường đi cho xe tăng bị trì hoãn vì bãi mìn quá sâu rộng và quân phe Trục bắn trả liên tục. Rạng sáng ngày 24, đường đi qua bãi mìn vẫn chưa làm xong. Hai lữ đoàn 22 và 4 thiết giáp nhẹ do đó không thể tiến sang Deir el Munassib ở phía bắc như dự tính.
Xa hơn về phía bắc, sư đoàn 50 lục quân Anh bị hai sư đoàn Pavia và Brescia và lữ đoàn lính dù 185 Đức cầm chân. Sư đoàn 4 lục quân Ấn Độ hai lần tấn công sườn đồi Ruweisat để phân tán lực lượng đối phương.
=== Giai đoạn 2: Cuộc đập vụn ===
Sáng thứ bảy 24 tháng 10 bộ chỉ huy Đức được tin báo cáo quân địch đánh sang trên chiến tuyến rất rộng nhưng các đơn vị phòng thủ còn đủ sức cầm cự. Tướng Stumme ra mặt trận dò xét nhưng khi căn cứ ông đang tham quan bị pháo kích của đối phương, Stumme căng thẳng quá nên chết vì nhồi máu cơ tim. Trung tướng Ritter von Thoma phải tạm thời lên nắm chỉ huy quân Đức. Hitler truyền lệnh cho Rommel phải ra khỏi giường bệnh trở về Bắc Phi. Rommel trên đường sang Phi ghé Roma đòi hỏi tư lệnh Ý phải cho tiếp viện thêm nhiên liệu cho chiến trường Bắc Phi. Lực lượng thiết giáp Đức từ ngày 25 tháng 11 đó kết hợp đồng nhất với quân Ý (với tên gọi Deutsch-Italienische Panzerarmee).
Rạng sáng Montgomery nghe máy bay thám thính báo cáo đội hình quân phe Trục không có thay đổi gì mới. Ông liền ra lệnh sư đoàn New Zealand cùng sư đoàn 10 thiết giáp tiến xa hơn rồi vòng về phía nam tấn công rặng đồi Miteirya. Sư đoàn 9 Úc phải dồn hết sức đập vụn lực lượng Đức-Ý trong vòng một đêm. Ở phía nam sư đoàn 7 thiết giáp phải tiếp tục công kích và tiến vào bãi mìn, và nếu cần có thể kéo thêm hỗ trợ của sư đoàn 44..
Trong khi chờ đợi toán công binh phá mìn làm đường, cuộc tấn công ngừng lại. Thiết giáp nằm yên trên chiến tuyến Oxalic nhường cho không quân Đồng Minh oanh tạc địch quân, nội trong một ngày có hơn 1000 phi đoàn bay sang bắn phá quân Đức-Ý.
Quân thiết giáp Đức phản kích đánh sư đoàn 51 Lục quân Anh mờ sáng hôm sau nhưng bị cầm chân. Đến 4 giờ chiều chẳng bên nào tiến thoái gì được. Lúc hoàng hôn, quân phe Trục gồm sư đoàn 15 thiết giáp Đức và sư đoàn Littorio lục quân Ý quay trở iại tấn công sư đoàn 1 thiết giáp Anh. Đây là cuộc so tài xe tăng quy mô đầu tiên của trận El Alamein thứ hai. Hơn 100 chiếc xe tăng tham chiến, một nửa bị bắn hỏng, nhưng sau cùng không bên nào chiếm được thế thắng.
Tối đến, sư đoàn 10 thiết giáp tấn công rặng đồi Miteirya nhưng thất bại. Công tác gỡ mìn tại đây chậm quá mức dự tính của kế hoạch. Lữ đoàn 8 thiết giáp đi đầu đang chờ đội gỡ mìn dọn đường thì bị máy bay phe Trục oanh tạc, phải bỏ đội ngũ chạy tán loạn. Khi chấn chỉnh được hàng ngũ thì bị trễ kế hoạch và mất liên hệ với pháo binh. Do đó khi sáng ra thì lữ đoàn xe tăng này nằm phơi lộ liễu, bị địch quân dễ dàng phát hiện và nhắm bắn tơi bời. Trong khi đó, lữ đoàn 24 thiết giáp kéo đi được khá xa, tưởng rằng đã đến mục tiêu là tuyến Pierson - báo cáo thành công với chỉ huy nhưng sau đó mới biết chưa hẳn đến mục tiêu.
Ở phía nam chiến trường, quân đoàn XIII cũng không khá gì hơn. Lữ đoàn 131 lục quân thuộc Sư đoàn 44 mở đường qua bãi mìn cho Lữ đoàn 22 Thiết giáp tiến sang nhưng bị địch quân bắn phá dữ quá phải bỏ chạy, thiệt mất 31 xe tăng.
Tối đến không quân Đồng Minh thả 300 tấn bom vào đoàn thiết giáp phía bắc của Rommel. Để tránh không cho máy bay Đức phản kích, các phi đạo của quân Đức cũng bị dội bom dữ dội hơn.
==== Ngày D + 2: Chủ nhật, 25 tháng 10 ====
Cuộc tấn công đầu tiên ngưng lại vào ngày Chủ Nhật. Quân Đồng Minh mở được lối vào bãi mình rộng 10 km sâu 8 km, chiếm được phía đông nam rặng đồi Miteirya. Bên kia quân Đức-Ý đào hào chiến lược nằm cố thủ giữ vững vị trí. Trận đánh lúc này coi như bất phân thắng bại. Montgomery kiểm soát tình hình và nhận thấy nếu tiếp tục theo kế hoạch cho quân New Zealand đánh từ đồi Miteirya về phía nam sẽ đem lại nhiều tổn thất. Ông quyết định đổi chiến thuật ra lệnh Quân đoàn XXX một mặt giữ đồi Miteirya một mặt cho Sư đoàn 9 Lục quân Úc đánh lên phía bắc. Đồng thời, Sư đoàn 1 Thiết giáp kè theo bên trái của quân Úc đánh về phía tây-bắc. Phần còn lại của mặt trận tiếp tục canh phòng và giữ vững vị trí. Thay đổi của thế trận chú trọng vào vùng thung lũng cát hình quả thận và Tel el Eisa cho đến khi chọc thủng được phòng thủ của Đức.
Sáng hôm sau Sư đoàn 15 thiết giáp Đức và Sư đoàn Littorio Ý mở cuộc tấn công cố gắng tìm sơ hở của quân Đồng Minh nhưng thất bại. Đến chiều thì Đồng Minh tấn công. Sư đoàn 51 Anh mở 3 đợt công kích vào thung lũng quả thận nhưng do đêm tối quá không ai biết rõ vị trí của mình như thế nào. Trong tình thế hỗn loạn, hơn 500 lính Đồng Minh tử trận. Trong khi đó quân Úc tấn công cứ điểm 29, một đài quan sát pháo binh của Đức nằm trên ngọn đồi cao 6 thước phía nam Tel el Eisa. Mục đích của cuộc tấn công này là bao vây quân Đức (Sư đoàn 164 khinh binh) và một số đơn vị lục quân Ý đang dồn quân gần bờ biển. Lữ đoàn 26 Úc tấn công vào giữa khuya dưới hỗ trợ của pháo binh và 30 xe tăng của Sư đoàn 40 Thiết giáp Hoàng gia Anh. Tuy quân phe Trục phản công kịch liệt, quân Úc chiếm được cứ điểm này và bắt được 240 tù binh. Trong nhiều ngày sau đó, quân phe Trục ráo riết đến đánh để chiếm lại cứ điểm quan trọng này nhưng thất bại.
Không quân Đồng Minh tiếp tục thả bom khắp nơi và phá hủy nhiều căn cứ cơ sở của Đức, trong đó có 14 tấn máy bay Stuka tại Sidi Haneish. Các chỗ đáp của máy bay Đức cũng bị không quân Đồng Minh tuần tra và khống chế.
=== Giai đoạn 3: Phản công ===
==== Ngày D + 3: Thứ Hai, 26 tháng 10 ====
Rommel vừa trở lại đất Phi lập tức kiểm điểm tình hình chiến cuộc. Ở phía bắc, quân Đức bị Đồng Minh pháo kích và oanh tạc gây tổn thất rất nặng nề. Sư đoàn Trento Ý mất phân nửa lực lượng, binh lính và súng pháo, sư đoàn 164 Khinh binh mất hai tiểu đoàn. Hai sư đoàn 15 Panzer và Littorio tuy cầm cự được với lực lượng thiết giáp Đồng Minh, cũng phải chịu nhiều thiệt hại đáng kể.. Những đơn vị khàc cũng không khá gì hơn, lính tráng chỉ lãnh được nửa phần lương thực và tiếp tế. Xăng thì chỉ còn đủ xài cho 3 ngày.
Rommel dự đoán hướng tấn công duy nhất là phía bắc mặt trận và quyết chí phải giành cho được cứ điểm Point 29. Ông cho sư đoàn 15 Thiết giáp và sư đoàn Khinh kỵ 164 cùng một số đơn vị của quân đoàn XX Ý tấn công cứ điểm này lúc 3 giờ chiều nhưng thất bại vì Đồng minh bắn pháo dữ dội quá. Cùng ngày, Rommel quyết định đẩy hết lực lượng còn lại ra trận. Đây là một mốc ngoặt quan trọng của trận El Alamein. Sư đoàn 21 Panzer và một phần của sư đoàn Ariete tiến lên phía bắc yểm trợ Panzer 15 và Littorio. Sư đoàn 90 Khinh binh đang đóng tại El Daba phải tiến lên. Sư đoàn 101 Trieste Cơ động kéo từ Fuka lên thay sư đoàn 90. Sư đoàn 21 và Ariete tiến quân chậm chạp vì bị pháo kích liên tục.
Tại thung lũng quả thận, quân Anh không giành được thế chủ động mặc dù quân địch thiếu xe tăng. Mỗi đợt tấn công đều bị Đức dùng súng chống tăng đẩy lui. Thế trận giằng co khá lâu. Churchill nghe được phải gào lên: "Is it really impossible to find a general who can win a battle?" (Tìm một vị tướng có khả năng đánh thắng trận có thật là chuyện không thể làm được?)
Tình hình ở vùng biển có vẻ khả quan hơn cho quân Anh. Phi đội 42 Không quân Anh bắn chìm thuyền chở dầu Proserpina của Đức tại Tobruk - cắt đứt đường tiếp tế nhiên liệu của Rommel.
Montgomery lúc này lo ngại vì thế chủ động của cuộc tấn công đang bị sa sút. Ông quyết định dàn mỏng quân trên chiến tuyến, đem nhiều đơn vị về củng cố lực lượng đi sau để chuẩn bị mở cuộc tấn công tiếp theo mạnh hơn. Sư đoàn New Zealand (trong đó có lữ đoàn 9 bọc thép), Sư đoàn thiết giáp 10 và 7 được cho về thủ phía sau chiến tuyến.
==== Ngày D + 4: Thứ Ba, 27 tháng 10 ====
Trận chiến tập trung tại Tel el Aqqaqir và thung lũng quả thận, đầu mũi tấn công của Sư đoàn 1 Thiết giáp. Quân Đức thiết lập căn cứ phòng thủ tại vùng đất cách đó 1,5 km về phía tây bắc (gọi là "Woodcock") và về phía tây nam (gọi là "Snipe"). Lúc 11 giờ khuya ngày 26 tháng 10 quân Anh đẩy hai tiểu đoàn của Lữ đoàn 7 Cơ động tấn công hai cứ điểm này. Kế hoạch dự tính đưa Lữ đoàn 2 thiết giáp băng qua phía bắc Woodcock và Lữ đoàn 24 thiết giáp tiến về phía nam Snipe, tạo thế gọng kìm kẹp lại sáng ngày hôm sau. Cuộc tấn công này có pháo binh của quân đoàn X và XXX yểm trợ.
Cả hai tiểu đoàn lò mò trong đêm tối không định rõ được vị trí và đến sáng thì một tiểu đoàn không đến kịp mục tiêu, phải đào hào nằm ụ cách Woodcock khá xa. Tiểu đoàn tấn công Snipe may mắn hơn, đến được mục tiêu và chỉ gặp phản kháng yếu ớt của địch quân.
Lúc 6 giờ sáng Lữ đoàn 2 thiết giáp bắt đầu tiến lên và gặp phải lực lượng phòng thủ khá mạnh của Đức, không thể nào liên kết được với lực lượng đang nằm ụ bên ngoài Woodcock. Lữ đoàn 24 thiết giáp gặp ít cản trở và thiết lập liên lạc với tiểu đoàn tại Snipe (sau một trận pháo kích nhầm vào quân bạn một thời gian!). Nhân dịp quân Đồng Minh lúng túng vì nhầm lẫn và đội ngũ lộn xộn, thiết giáp của Littorio và súng chống tăng của 15 Panzer được dịp cầm chân quân Đồng Minh - Lữ đoàn Súng trường kéo súng chống tăng đến tiếp ứng nhưng cũng không làm sao phá được tuyến phòng thủ của quân phe Trục.
Rommel nhân lúc này quyết định đẩy đoàn quân hậu thuẫn ra trận. Sư đoàn Khinh binh 90 tấn công tái chiếm cứ điểm Point 29, trong khi Sư đoàn 21 Panzer tấn công vùng Snipe. Quâ Đồng Minh bắn pháo vào Snipe suốt buổi. Đến 4 giờ chiều Rommel mở cuộc tấn công quy mô. Xe tăng Đức và Ý tiến lên. Bên kia, Lữ đoàn Súng trường đem 19 súng chống tăng 6 cân ra chống cự. Tuy nhiều lần bị xe tăng địch công phá, lực lượng Đồng Minh phá hủy được 22 xe tăng Đức và 10 xe tăng Ý. Quân Trục rút lui. Quân Anh cũng rút nhưng phạm lỗi lầm là không cho quân lên thay thế tối hôm đó. Thiếu tá Anh Victor Buller Turner được trao huy chương Victoria Cross cho chiến công tại Snipe. Trong số 6 súng chống tăng của Tiểu đội 239 đưa đến tiếp ứng trận đánh này, chỉ có một còn hoạt động được.
Trận đụng độ tại Snipe làm một cuộc tranh chấp rất kịch liệt và được coi là quan trọng nhất của Trung đoàn Sussex trong toàn trận El Alamein. Lucas-Phillips, trong hồi ký Alamein ghi nhận:
"Khí hậu sa mạc nóng quay cuồng. Các toán lính canh ụ súng và tiểu đội nằm bẹp trong những chiến hào và giếng cạn, mồ hôi chảy như suối trên những khuôn mặt đóng đầy bụi. Mùi hôi thối xông lên ghê khiếp. Ruồi bay từng đàn như mây đen đến bu quanh các xác chết, hố xí, và làm phiền các vết thương của binh sĩ. Rải rác toàn khu vực là các xác xe tăng và vận tải đang cháy, khắp nơi là một làn khói mù mịt và bụi tung lên theo chất nổ và tiếng gào của súng lớn."
Khi phát hiện được hai cứ điểm Woodcock va Snipe vẫn chưa lọt vào tay quân nhà, Tập đoàn quân 8 đưa Lữ đoàn Lục quân Vận tải ra chiếm đóng. Lúc 1 giờ rưỡi sáng, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn Sussex Hoàng gia đến đóng tại vùng đất tưởng là Woodcock. Mồ sáng, Lữ đoàn 2 Thiết giáp kéo đến tiếp ứng nhưng chưa kịp liên lạc với Tiểu đoàn 4 thì bị quân địch đột kích, chịu thiệt hại rất cao. Trong khi đó, hai tiểu đoàn khác của Lữ đoàn Lục quân Vận tải đến đóng tại Snipe nhưng đến hôm sau mới phát giác là đã đóng nhầm chỗ, khá xa mục tiêu.
Sư đoàn Khinh binh 90 Đức tấn công cừ điểm Point 29 ngày 27 tháng 10 nhưng chưa kịp giao chiến với quân Úc thì đã phải lui quân vì bị pháo kích quá mãnh liệt.
==== Ngày D + 5-6: Thứ Tư - Thứ Năm, 28-29 tháng 10 ====
Ngày 28 tháng 10, sư đoàn 15 và 21 Panzer cố sức tấn công chiến tuyến của Quân đoàn 10 nhưng bị bắn phá kịch liệt và đẩy lui. Chiều đến, hai sư đoàn này lại chấn chỉnh đội ngũ tấn công nữa nhưng bị dội bom tơi bời không còn sức thiết lập đội hình được nữa. Montgomery ra lệnh cho các đơn vị tại hai cứ điểm Woodcock-Snipe lập căn cứ phòng thủ. Toàn quân còn lại dồn lên phía bắc. Tối 28 sáng 29 tháng 10 Sư đoàn 9 Úc được giao kế hoạch xuất quân. Lữ đoàn 20 Lục quân và Trung đoàn 40 Úc từ cứ điểm Point 29 sẽ tiến về phía tây bắc tạo căn cứ cho Lữ đoàn 26 Lục quân và Trung đoàn 46 Úc đánh về phái đông bắc, tấn công một trọng điểm của Đức tại vùng đất phía nam tuyến đường sắt mang tên "Thompson's Post" - sau đó sẽ phải vượt qua đường sắt ra con lộ gần biển và theo kế hoạch tiến về hướng đông nam ra phía sau lực lượng Đức đang đóng gần bờ biển nhô vào trong chiến tuyến của Đồng Minh. Một mũi tấn công khác do lữ đoàn thứ ba của sư đoàn Úc sẽ đánh quân Đức từ phía đông nam.
Lữ đoàn 20 đạt mục tiêu dễ dàng nhưng Lữ đoàn 26 gặp khó khăn. Vì đường hành quân xa, lính phải ngồi ké xe thiết giáp Valentine của Trung đoàn 46. Nhưng sau đó đụng phải mìn và súng chống tăng dữ quá, lính phải nhảy xuống đi bộ. Xe tăng chạy nhanh hơn lính và sau đợt công kích của Trung đoàn 125 Panzer Đức và Trung đoàn 7 Bersaglieri Ý hai đơn vị Úc bị mất liên lạc. Quân Úc thiệt mất 200 lính trong trận đánh này. Nhận thấy tình hình bất lợi để kịp chấn chỉnh hàng ngũ, bộ chỉ huy ra lệnh ngưng cuộc tấn công.
Các toán lính chống tăng Ý chiến đấu anh dũng và hầu hết đều bị thương hay chết, 20 thương binh Ý bị bắt làm tù binh ngày hôm sau. Rommel viết trên bảng ghi công quân Ý thuộc trung đoàn Bersaglieri: Binh sĩ Đức tại ấn tượng cho thế giới, nhưng trung đoàn Ý Bersagliere tạo ấn tượng cho binh sĩ Đức.
Chiều hôm đó, quân Anh còn 800 xe tăng, trong quân Đức chỉ còn 148 chiếc và quân Ý 187 chiếc. Đã thế, tàu chở dầu Luisiano tiếp viện nhiên liệu cho quân Đức-Ý tại châu Phi bị máy bay Wellington của quân Đồng Minh đánh bom chìm ngoài khơi Hy Lạp. Rommel nghe tin bàn với các tham mưu của ông: "Chúng ta không thể nào tránh né địch quân được nữa. Không còn đủ xăng để xoay xở. Chỉ còn cách duy nhất là chiến đấu cho đến cùng tại El Alamein."
Nhờ cuộc hành quân ra bờ biển của quân Úc, Montgomery biết được Rommel đã đẩy lực lượng hậu thuẫn là Sư đoàn Khinh binh 90 ra trận, và ông nghĩ Rommel sẽ tiên đoán Tập đoàn quân 8 sẽ đánh tại vùng này. Montgomery liền đặt kế hoạch đánh chỗ khác, xa hơn về phía nam - cách Point 29 khoảng 4 km. Theo kế hoạch cuộc tấn công sẽ bắt đầu tối 31 tháng 10 sáng 1 tháng 11. Ông cũng vẫn tạo nghi binh bằng cách ra lệnh cho quân Úc tiếp tục tăng cường và hành quân ở khu bờ biển phía bắc.
==== Ngày D + 7-9: Thứ Sáu-Chủ Nhật, 30 tháng 10 - 1 tháng 11 ====
Tối 30 tháng 10 quân úc tiếp tục kế hoạch, tấn công lần thứ 3 để ra đến đường lộ. Tuy đụng phải nhiều phản kích của Đức, lực lượng Úc chiếm được kiểm soát của đường lộ và đường sắt, đưa địch quân vào thế cô lập. Rommel thấy vậy liền đưa các đơn vị thuộc Sư đoàn 21 Panzer đến đánh liên tiếp nhiều đợt tại "Thompson's Post". Cuộc đụng đố rất kịch liệt và nhiều phen đánh giáp lá cà giữa quân Đức và Úc. Quân Đức đánh tuy mạnh nhưng không giành được lợi thế. Trung sĩ Úc William Henry Kibby lập chiến công sau cùng: ông một mình len lõi vào trận tuyến địch và ném 3 quả lựu đạn phá được một ổ súng máy của Đức. Ông bị trúng đạn chết khi vừa hoàn thành nhiệm vụ. Kirby được tưởng niệm bằng huân chương Victoria Cross. Chủ Nhật 1 tháng 11 Rommel tấn công quân Úc lần nữa nhưng sau một cuộc chiến đấu tàn khốc và đẫm máu, cả hai bên thiệt hại nặng nề nhưng không tạo được thay đổi gì cho chiến lược của mặt trận. Tuy nhiên Rommel tạo được liên lạc với Đơn vị 125 Panzer tại đầu mũi dùi.
Rommel lúc này biết ông đang thua trận. Nhiên liệu càng ngày càng khan hiếm vì cả hai tàu Tripolino và Ostia chở dầu và đạn dược tiếp viện cho quân Đức đều bị bắn chìm ngoài khơi Tobruk. Rommel phải nhờ Kesselring cho không quân Đức chở xăng từ Crete. Không quân Đồng Minh theo đó bắn phá liên tục các phi đoàn chở dầu và các phi cảng tại Crete.
Rommel lúc này đang dự tính mở cuộc rút lui 81 km về phía tây cho nghỉ quân tại Fuka. Trớ trêu là khi quân Đức vừa bỏ chạy xong thì nhiên liệu lại được máy bay của Kesselring đem đến Benghazi.
=== Giai đoạn 4: Chiến dịch Supercharge ===
==== Ngày D + 10: Thứ Hai, 2 tháng 11 ====
Chiến dịch Supercharge (tấn công siêu cường) mở màng lúc 1 giờ sáng ngày 2 tháng 11 với mục địch phá hủy lực lượng thiết giáp, buộc địch quân phải tiến ra chiến đấu trực diện, đồng thời phá kho xăng, chận tiếp viện - tạo rối loạn trong quân phe Trục. Chiến dịch Supercharge quy mô nhất trong trận El Alamein. Mục tiêu chiến lược là cứ điểm Tel el Aqqaqir, căn cứ của quân Đức, cách thung lũng quả thận khoảng 3 dặm (4,8 km) về phía tây bắc và nằm trên tuyến đường Rahman.
Lực lượng tiên phong của chiến dịch là Sư đoàn 2 New Zealand do Bernard Freyberg chỉ huy. Freyberg trước đó không muốn nhận nhiệm vụ này vì quân của ông vẫn còn hồi phục sau nhiều thiệt hại chiến trường. Nhưng bộ tư lệnh Đồng Minh tăng cường cho ông 4 đơn vị tác chiến quân đội Anh là Lữ đoàn 151 Lục quân (Durham), Lữ đoàn 152 (Seaforth and Camerons) và Lữ đoàn 133 (Sussex Lorried). Ngoài ra Lữ đoàn 9 Thiết giáp Anh cũng theo đi hỗ trợ. Tương tự như chiến dịch Lightfoot, kế hoạch đặt ra gồm 2 lữ đoàn lính bộ (151 bên phài, 152 bên trái) với yểm trợ của xe tăng của trung đoàn 8 và 50 Hoang gia Anh tiến lên rà và vô hiệu hóa bãi mìn. Sau khi lấn sâu vào được 4.000 thước Anh (3.700 m), Lữ đoàn 9 Thiết giáp sẽ tiến qua bãi mìn dưới loạt pháo kích phủ đầu, đâm sau 2 km nữa để chọc thủng phòng tuyến của Đức trên tuyến đường Rahman. Sư đoàn 1 Thiết giáp sẽ theo sau tấn công lực lượng hậu thuẫn của Rommel.
Supercharge bắt đầu bằng cuộc oanh tạc kéo dài 7 tiếng đồng hồ vào hai thành phố Tel el Aqqaqir và Sidi Abd el Rahman, tiếp theo là một cuộc pháo kích dài 4 tiếmg rưỡi - 360 đại bác bắn 15.000 quả đạn. Hai lữ đoàn bộ binh tấn công lúc 1 giờ 5 phút sáng ngày 2 tháng 11 và đạt được mục tiêu quân sự nhưng chịu tổn thất đáng kể. Tiểu đoàn 28 Maori NZ chiếm được vị trí bảo vệ sườn phải của mũi dùi tấn công, bên trái tiểu đoàn 133 Lorried cũng thành công. Quân công binh New Zealand rà và gỡ phá mìn tạo 5 tuyến đường cho xe tăng và xe bọc thép chạy qua và phá rối đường dây liên lạc của quân Đức-Ý.
Lữ đoàn 9 Thiết giáp gồm 130 xe tăng xuất phát từ El Alamein từ 8 giờ chiều ngày 1 tháng 11 - khi đến trận tiền thì chỉ còn 94 chiếc còn đủ sức chiến đấu Theo kế hoạch thì lữ đoàn này phải tấn công Tel el Aqqaqir lúc 5 giờ 45 phút chiều, sau cuộc pháo kích phủ đầu, nhưng vì chưa kịp chấn chỉnh hàng ngũ nên phải đình hoãn lại 30 phút.. Lúc 6 giờ 15 chiều ngày 2 tháng 11, nửa tiếng trước khi mặt trời lặn, 3 trung đoàn xe tăng tiến vào tầm đạn của địch quân.
Chuẩn tướng Currie trước đó đã có ý e ngại không muốn cho lữ đoàn của mình tấn công với trận tuyến quá rộng mà lại không có đủ tiếp vận và hậu thuẫn và có thể thiệt hại 50% lực lượng. Freyberg trả lời rằng: "Bernard Montgomery sẵn biết sẽ có nguy hiểm và chấp nhận trường hợp mất hết 100% lực lượng của Lữ đoàn 9 Thiết giáp Anh để chọc thủng địch quân, nhưng với sức yểm trợ phía sau của Sư đoàn 1 Thiết giáp Anh, xét lại mức độ hiểm nghèo thì không đến nỗi quá cao như thế".
Quân Đức và Ý đem súng chống tăng PaK 38 và Cannone da 47/32 M35 cùng 24 súng cừ khôi 88 ly Flak ra bắn và đội xe tăng tiến đến từ phía đông khi mặt trời đang lên. Xe tăng Đức chen vào giữa hai trung đoàn Warwickshire Yeomanry và Royal Wiltshire Yeomanry bắn phá gây nhiều tổn thất cho quân Anh. Quân Anh đến tấn công khu vực Folgore phải rút lui vì bị địch quân dùng bom Molotov, moọc-chê và loại súng cổ lỗ sĩ 47 ly của Ý bắn túi bụi.
Tuy bị súng và pháo của quân phe Trục gây nhiều thiệt hại, đoàn xe tăng của quân Đồng Minh cứ từ từ tiến tới. Trong khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, quân Anh hạ được 35 ụ súng và bắt hàng trăm tù binh. Lữ đoàn 9 Thiết giáp đem 94 xe tăng ra tấn công và sau cuộc công phá chỉ còn 24 chiếc còn chạy được (tuy một số lớn sau đó sửa chữa được) và trong 400 lính xe tăng, 230 chết, bị thương hay bị bắt.
Lữ đoàn 9 chịu hy sinh tổn thất nặng nề như thế nhưng vẫn không thực hiện được trọng trách đục thủng lỗ lớn trong phòng tuyến địch để Sư đoàn 1 Thiết giáp có thể chạy qua. Tối đó, Sư đoàn 1 kéo đến và tàn quân của Lữ đoàn 9 nhập đoàn hành quân. Lữ đoàn 2 Thiết giáp theo sau và đến sáng ngày 2 tháng 11 Lữ đoàn 8 kéo đến tăng cượng lực lượng - cả đoàn kéo về phía tây nam.
Lúc 11 giờ sáng ngày 2 tháng 11 quân còn lại của hai Sư đoàn 15 và 21 Panzer cùng Sư đoàn Littorio Thiết giáp Ý mở cuộc phản công đánh Sư đoàn 1 và Lữ đoàn 9 của Anh. Quân Anh đào hào cầm cự, đem pháo và súng chống tăng ra bắn trả. Quân phe Trục thua chạy, thiệt mất 100 xe tăng.
Quân đoàn X Anh không đạt được mục tiêu chọc thủng phòng tuyến địch nhưng tiêu diệt được khá nhiều xe tăng của phe Trục. Tuy số xe tăng bị phá hủy của hai bên gần như tương đương, nhưng so tỉ số thì quân Anh chỉ mất một phần, trong khi quân của Rommel hầu như mất gần hết. Afrika Korps mất 70 chiếc trong khi quân Anh thiệt mất khoảng 64 - chưa kể thiệt hại của Lữ đoàn 9. Trận đánh này sau đó được mang biệt danh "Đập nát thiết giáp Đức" ("Hammering of the Panzers").
Chiều hôm đó, Lữ đoàn 133 Lorried và Lữ đoàn 151 Lục quân dưới chỉ huy của Sư đoàn 51 Lục quân Anh đánh vào Snipe và Skinflint để tạo căn cứ cho các cuộc tấn công tiếp theo sau. Quân ý thuộc Sư đoàn Trieste bị pháo phủ đầu dữ quá không đủ sức chống cự và quân Anh chiếm được hai cứ điểm khá dễ dàng và tổn thất không nhiều.
Tối ngày 2 tháng 11, Montgomery lại thay đổi đội hình chiến lược - đem các lữ đoàn lục quân 151, 154, 5 (Ấn Độ) và 5 (New Zealand) vào hậu thuẫn cho Quân đoàn XXX chuẩn bị cho cuộc tấn công kế tiếp. Sư đoàn 7 Thiết giáp được cho tăng cường vào Quân đoàn X. Lữ đoàn 4 Thiết giáp Nhẹ của Quân đoàn XXX được đẩy về phía nam.
Bên kia, tướng Đức von Thoma báo cáo với Rommel rằng ông chỉ còn 30 chiếc xe tăng đủ sức chiến đấu, lực lượng súng pháo chỉ còn một phần ba. Rommel quyết định lui quân về Fuka để bảo toàn lực lượng. Ông gọi Sư đoàn 132 Ariete Thiết giáp Ý từ phía nam lên tiếp ứng cho Quân đoàn XX Cơ động Ý tại Tel el Aqqaqir. Các đơn vị cơ động của Rommel (Quân đoàn XX, Afrika Korps, Sư đoàn Khinh binh 90 và Sư đoàn 19 Flak) phải bắt đầu chiến thuật vừa đánh vừa rút lui, các đơn vị khác thì tùy cơ ứng biến rút lui để không bị địch quân gây tổn thất.
==== Ngày D + 11: Thứ Ba, 3 tháng 11 ====
Lúc 1 giờ sáng ngày 3 tháng 11 Lữ đoàn 7 Cơ động Anh mở cuộc tấn công đường Rahman nhưng vì nghe lệnh quá trễ không kịp thăm dò tình trước lại gặp địch quân phản kích dữ dội nên phải bỏ cuộc. Chỉ huy Anh ra lệnh cho Lữ đoàn 2 Thiết giáp cùng Lữ đoàn 133 Vận tải và Lữ đoàn 8 Thiết giáp tiến ra đánh về phía tây nam. Hai bên đánh nhau suốt buổi. Lữ đoàn 2 Thiết giáp bị Afrika Korps và Sư đoàn Littorio cầm chân không tiến lên được. Lữ đoàn 8 Thiết giáp cũng gặp khó khăn khi đụng phải các ụ súng chống tăng và xe tăng của Sư đoàn Ariete Ý.
=== Giai đoạn 5: Vượt thoát ===
Ngày 2 tháng 11 Rommel báo cáo với Hitler: "Sau 10 ngày chiến đấu lực lượng đoàn quân đã kiệt quệ đến độ không còn khả năng chống cự hữu hiệu đợt tấn công sắp tới của quân địch. Vì xe cộ khan hiếm, cuộc di tản thứ tự của các đơn vị không cơ giới hầu như không thể thi hành được. Trong hoàn cành như thế này, chúng ta phải, ít nhất, nghĩ đến việc sa thải dần dần đoàn quân." Lúc 1 giờc rưỡi chiếu ngày 3 thán g11 Rommel nhận được thư trả lời của Hitler:
"Gửi đến Thống chế Rommel. Với lòng tin yêu vào khả năng chỉ huy của ông và sự can đảm của quân đội Đức-Ý dưới chỉ huy của ông, nhân dân Đức và cá nhân tôi vẫn luôn theo dõi cuộc đấu tranh and dũng tại Ai Cập. Trong hoàn cảnh ông đang thấy mình lâm vào ở đó, chẳng còn suy nghĩ nào khác hơn là phải cố giữ, không nhường một tấc đất và ném hết tất cả súng ống và nhân lực vào cuộc chiến. Lực lượng không quân sẽ được Bộ Tư lệnh Miền Nam gửi đến tiếp ứng. Duce (Lãnh tụ Ý - Mussolini) và Tư lệnh Ý cũng đang cố gắng hết sức tiếp ứng để ông tiếp tục chiến đấu. Địch quân của ông chắc cũng gần cạn hết lực lượng. Đây không phải là lần đầu trong lịch sử lòng kiên quyết sẽ chiến thắng đại quân thù địch. Đối với lính của ông, hãy cho họ thấy chẳng còn con đường nào hơn chiến thắng hay chết. Adolf Hitler"
Mussolini cũng gửi một thư tương tự cho chỉ huy quân lực Ý tại Bắc Phi. Rommel nhận biết cấp trên đòi hỏi chuyện không thể làm được. Nhưng sau đó ông liền nghĩ cách xoay xở tình hình. Quân đoàn X và XXI Ý và Sư đoàn 90 khinh binh Đức được trọng trách giữ vững vị trí trong khi Afrika Korps rút lui 6 dặm về phía tây trong đêm 3 tháng 11. Quân đoàn XX Ý và Sư đoàn Ariete kéo vào thay thế. Sau đó Rommel điện cho Hitler, hứa sẽ giữ vững chiến tuyến.
Trong lúc này không quân Anh liên tục đánh phá quân phe Trục. Trong vòng 24 tiếng đồng hồ ngày 3 tháng 11, 1.208 phi vụ ném 396 tấn bom vào quân địch. Tối ngày 3 tháng 11 Montgomery ra lệnh đánh tuyến đường Rahman. Lữ đoàn 152 và trung đoàn 8 RTR đánh vào địa điểm 2 dặm về phía nam Tel el Aqqaqir. Lữ đoàn 5 Ấn Độ đánh vào vùng đất 4 dặm về phía nam. Sáng hôm sau thì tới lượt Lữ đoàn 154 đánh thẳng vào Tel el Aqqaqir. Đợt tấn công của Lữ đoàn 152 gặp trở ngại vì thiếu thông tin, không rõ tình hình địch quân nên bị đánh lui, không đạt được mục tiêu chiến thuật. Hai lữ đoàn kia thành công dễ dàng vì phần lớn địch quân đã rút lui.
==== Ngày D + 12, Thứ Tư 4 tháng 11 ====
Ngày 4 tháng 11 Tập đoàn quân 8 Anh bắt đầu đặt kế hoạch truy đuổi quân phe Trục. Sư đoàn 1 và 7 Thiết giáp được lệnh tiến về phía bắc trong khi Sư đoàn 2 New Zealand cùng 2 lữ đoàn lục quân vận tải, Lữ đoàn 9 Thiết giáp, Lữ đoàn 4 Thiết giáp Nhẹ tiến về phía tây, tạo thế gọng kìm đánh dồn quân địch đang chạy về hướng Fuka. Quân New Zealand mệt mỏi không kịp chấn chỉnh hàng ngũ, lại gặp bãi mìn của quân Đức gài sẵn làm chậm bước hành quân. Đến chiều mới chỉ tiến được 15 dặm. Lữ đoàn 9 Thiết giáp thụt lại ra sau, và Lữ đoàn 6 còn đi sau xa hơn nữa.
Sư đoàn 1 và 7 Thiết giáp Anh theo lệnh đánh Sư đoàn Khinh binh Đức nhưng gặp trở ngại. Sư đoàn 1 đụng phải Sư đoàn 21 Panzer Đức và phải chiến đấu suốt ngày mới đẩy lui thiết giáp Đức được 8 dặm. Sư đoàn 7 thì đụng phải Sư đoàn Thiết giáp Ariete Ý. Quân Ý cầm cự dũng cảm cho đến khi bị tiêu diệt. Hai sư đoàn Littorio và Trieste của Ý cố sức chiến đấu đến viện đạn cuối nhưng cũng bị tiêu diệt trong ngày 4 tháng 11.
Gần trưa, Rommel biết quân mình lâm nguy: "Tình hình xế trưa ngày 4 như sau: quân thiết giáp hùng hậu của địch... chọc thủng một lỗ lớn rộng 12 dặm trên phòng tuyến của quân ta, những đơn vị thiết giáp tiếp tục tràn qua đó kéo về phía tây. Hậu quả là quân ta ở phía bắc bị quân địch tạo thế vòng cung bao vây với số xe tăng gấp 20 lần. Chúng ta không còn quân hậu thuẫn, tất cả nhân lực và súng đạn đã được ném hết ra trận tiền. Và giờ đây sự thật đã đến, sự việc chúng ta lâu nay cố gắng hết sức tránh né đã xảy ra, trận tuyến đã vỡ và lực lượng cơ giới của địch quân chạy thả cửa vào đánh hậu quân của ta. Lệnh trên ban xuống không còn hữu hiệu. Chúng ta phải cứu lấy những gì có thể cứu vãng được".
Rommel đánh điện cho Hitler biết sự thể và trình bày kế hoạch tháo chạy về Fuka. Quân phe Trục thua tơi bời. Tướng von Thoma bị bắt làm tù binh, hai sư đoàn Ý Ariete và Trento bị vây khốn. Đến 5 giờ rưỡi chiếu, Rommel không còn thời giờ chờ hồi âm của Hitler, bèn ra lệnh rút lui. Vì thiếu khả năng vận tải, các đơn vị Ý bị bỏ rơi, mặc cho số phận của họ. Cơ hội cứu thoát các toán quân Ý đã mất vì Hitler không cho lui quân trước đó.
Bên kia, Sư đoàn 1 Thiết giáp Anh đẩy một mũi dùi tấn công sâu vào lòng địch thẳng vào El Daba tiến quân được khoảng 15 dặm dọc bờ biển. Sư đoàn 7 tấn công Galal thêm 15 km xa hơn về phía tây của tuyến đường xe lửa. Trong lúc này quân New Zealand vẫn còn loay hoay qua các bãi mìn "giả" và tranh sức với Sư đoàn 15 Panzer Đức.
==== Ngày D + 13, Thứ Năm 5 tháng 11 ====
Montgomery lúc này muốn dứt điểm tàn quân của Rommel. Ông cho Sư đoàn 7 chạy băng qua vùng đất trống chận đánh đường chuyên chở ở cửa biển tại Sidi Haneish, khoảng 65 dặm (105 km) về phía tây đường Rahman. Sư đoàn 1 đang đóng ờ phía tây El Daba được lệnh quẹo lại, băng qua sa mạc đến chiếm Bir Khalda, cách đường Rahman 80 dặm (130 km) về phía tây, cắt đứt đường rút lui của địch quân tại Mersa Matruh.. Nhưng cả hai công tác đều thất bại. Sư đoàn 7 chạy hết ga nhưng tối đến mà vẫn cách mục tiêu 20 dặm. Sư đoàn 1 ráng chạy nguyên đêm để đạt mục tiêu. Nhưng do trời tối quá, quân ngũ tách rẽ và hết xăng phải nằm ụ cách mục tiêu BirKhalda 16 dặm (26 km) vào sáng ngày 6 tháng 11.
Vì trận tuyến thay đổi lung tung, không quân Anh muốn tấn công lục quân Đức cũng không dễ vì luôn sợ oanh tạc nhầm vào quân của mình.
==== Ngày D + 14, Thứ Sáu 6 tháng 11 ====
Ngày 6 tháng 11 lúc 11 giờ sáng, loạt xe tiếp xăng "B" Echelon liên hệ kịp với Sư đoàn 1 Thiết giáp Anh nhưng chỉ thêm xăng được cho hai trung đoàn để tiếp tục truy đuổi đánh chặn đường lui của quân Đức. Chẳng may hai trung đoàn lại hết xăng dọc đường, cách Mersa Matruh 30 dặm (48 km) về phía tây nam. Một đoàn xe tiếp dầu khởi hành từ El Alamein tối hôm trước nhưng bị trễ vì trở ngại đường sá. Đã thế trời lại đổ mưa ngày 6 tháng 11 làm đoàn xe bị lún sình 40 dặm cách chỗ hẹn và không tiếp tế được cho Sư đoàn 1.
Trong buổi sáng ngày tháng 11, Sư đoàn 2 New Zealand tiến đến Sidi Haneish và Lữ đoàn 8 của Sư đoàn 10 Thiết giáp tiến từ Galal về phía tây chiếm phi trường của Fuka. Sư đoàn 7 lúc đó đang bọc hậu cách Sidi Haneish 15 dặm thì đụng phải Sư đoàn 21 Panzer và toán trinh sát Voss của Đức. Hai bên bắn phá qua lại đến tối. Quân Đức thiệt mất 16 xe tăng và một số súng lớn nhưng chạy thoát khỏi vòng vây và kéo về Mersa Matruh.
Tuy vẫn gặp khó khăn nhận rõ mục tiêu, không quân Hoa Kỳ tham chiến bằng những cuộc oanh tạc vào Tobruk, bắn chìm tàu dầu Etopia (2.153 tấn), tấn công Benghazi, bắn chìm tàu Mars và bắn cháy tàu dầu Portofino (6.424 tấn).
==== Ngày D + 15-18, Thứ Bảy-Thứ Tư 7-11 tháng 11 ====
Mưa tiếp tục đổ vào ngày 7 tháng 11 làm lầy lội và Sư đoàn 7 không di chuyển gì được. Sư đoàn 10 Thiết giáp lợi dụng đường gần bờ biển còn tốt và nhiều xăng, kéo đến đánh Mersa Matruh trong khi lục quân dọn dẹp đường đi phía tây Galal.
Rommel dự tính sẽ chống cự tại Sidi Barrani cách Matruh 80 dặm về phía tây, để tàn quân đủ thì giờ chạy qua con đèo hẹp xuyên qua giốc cao ở khu vực Halfya và Sollum. Quân Đức chạy ra khỏi Matruh tối ngày 7 sáng ngày 8 tháng 11 nhưng chỉ có thể cầm cự tại Sidi Barrani đến tối ngày 9 tháng 11 thì lại bỏ chạy. Tối ngày 10 tháng 11 quân New Zealand tiến đến Sollum, đẩy Lữ đoàn 4 Thiết giáp Nhẹ vào chân đèo Halfya. Sư đoàn 7 trong khi đó quay lại phía nam tấn công Đồn Capuzzo và Sidi Azeiz. Sáng ngày 11 quân New Zealand tràn lên con đèo, bắt được 600 tù binh Ý.
Hết ngày 11 tháng 11, toàn thể biên giới Ai cập thuộc về Đồng Minh, nhưng Montgomery bị thiếu tiếp tế nên chỉ ra lệnh cho các đơn vị pháo binh, cơ giới và bọc thép tiếp tục truy đuổi trong khi các đơn vị còn lại phải nghỉ mệt chờ trang bị hạ tầng cơ sở và tiếp vận.
== Bản đồ diễn tiến của trận đánh ==
== Hậu quả ==
Có thể nói rằng "Trước Alamein chúng ta không có một chiến thắng nào. Sau Alamein, chúng ta không có một chiến bại nào."
– Winston Churchill.
Sau trận El Alamein, quân Trục bỏ El Agheila chạy về phía tây. Quân Anh cũng đã từng đánh đến đây hai lần trước (đầu năm 1941 và đầu năm 1942) nhưng chưa tiến xa hơn được vì thiếu tiếp vận và phải chia quân cho các mặt trận khác. Lần này, trong khi quân Đức thì thiếu thốn kiệt quệ đủ mặt thì quân Anh có đầy đủ tiếp vận, lực lượng tăng cường liên tục. Chiến thắng này của quân Anh được xem là có tầm vóc trọng đại như một trong những thắng lợi quyết định của cuộc chiến và lịch sử Anh Quốc, mở đường cho toàn thắng của khối Đồng Minh trong chiến tranh. Đây cũng được xem là thắng lợi quyết định nhất của khối Đồng Minh trên bộ cho đến thời điểm ấy. Thất bại ở El Alamein cùng với thảm bại Stalingrad trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức đã giết chết cái huyền thoại về Quân đội Đức "bất khả chiến bại". Mặc dù quân Đức dưới quyền Rommel đã chiến đấu anh dũng và gây tổn hại nặng nề cho quân Anh, đại bại tại El Alamein khiến cho ông chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là rút quân, dù Adolf Hitler ban lệnh cho ông phải cố giữ. Sau chiến thắng ở El Alamein, người Anh không bao giờ bị người Đức đánh thua một trận nhục nhã, bi đát nữa.
Lực lượng công binh Đồng Minh tham gia tu sửa lại các tuyến chuyên chở vận tải và lập dựng lại hạ tầng cơ sở từng bị quân Đức phá hủy trên đường rút lui. Tuyến xe lửa từ El Alamein đến Fort Capuzzo bị phá 200 chỗ nhưng đều được sửa chữa và có thể đem 133.000 tấn tiếp vận cho Tập đoàn quân 8 của Montgomery. Hải cảng ở Benghasi có thể nhận 3000 tấn hàng sau khi được tu sửa. Trước đó, vì bị tàn phá, ước tính chỉ có thể nhận 800 tấn. Montgomery từng biết Rommel có đòn chiến thuật đánh ngược nên dừng quân 3 tuần lễ tại El Agheila để chấn chỉnh hàng ngũ.
Ngày 11 tháng 12 Sư đoàn 51 và Sư đoàn 7 tiến theo bờ biển. Ngày 12 tháng 12 Sư đoàn New Zealand mở cuộc tấn công hông sườn của quân đoàn địch với mục đích cắt đường chạy ra biển của địch quân. Quân Trục tiếp tục phản công dữ dội và quân Đồng Minh chịu tổn thất khá nặng nề.
Quân Rommel chịu thiệt hại thê thảm trong trận El Alamein lần thứ hai: ông mất 75.000 lính, nhiền nghìn súng lớn và 500 xe tăng. Ông phải đặt chiến thuật tinh vi rút lui để bảo toàn lực lượng tàn quân. Ngày 15 tháng 12, quân New Zealand ra tới bờ biển. Rommel chia quân thành nhiều toán nhỏ và rút lui từng đợt qua các kẽ hở giữa các đơn vị của New Zealand.
Rommel mở cuộc rút lui cổ điển, dùng chiến thuật tiêu thổ phá hủy mọi dụng cụ và hạ tầng cơ sở trước khi lui quân và gài mìn, bẫy nổ khắp nơi tạo khó khăn cho địch quân khi đuổi theo. Tập đoàn quân 8 đến Sirte ngày 25 tháng 12 và lại phải nghỉ quân vì đội hình bị kéo giãn quá mỏng. Rommel lúc này đã cài đặt được dàn phòng thủ tại Wadi Zemzem gần Buerat cách Tripoli 230 dặm (370 km) về phía đông. Rommel cùng chỉ huy quân Ý gửi thư xin tư lệnh tối cao cho phép lui quân về tận Tunisia để củng cố thêm lực lượng nhưng Mussolini từ chối, buộc đoàn Thiết giáp quân Trục phải đánh cho đến hơi thở cuối cùng tại Buerat.
Chiến thắng ở El Alamein này đã khiến cho Montgomery được xem là một trong những vĩ nhân trong nền quân sử nước Anh. Để đạt được thắng lợi ấy, Montgomery đã diễn tập, chuẩn bị chu đáo, lập kế hoạch và hợp đồng kỹ lưỡng. Đó được coi là dấu ấn sâu sắc của Montgomery trong mọi trận đánh của ông sau đó.
Xem thêm thông tin: Mặt trận Bắc Phi
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Barr, Niall (2004). Pendulum of War: The Three Battles of El Alamein. Woodstock, NY: Overlook Press. ISBN 978-1585677382.
Bauer, Eddy; Young, Peter (general editor) (1979). The History of World War II . London, UK: Orbis Publishing. ISBN 1-85605-552-3. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Bierman, John; Smith, Colin (2002). War without hate: the desert campaign of 1940-1943 . New York: Penguin Books. ISBN 978-0142003947.
Buffetaut, Yves(1995);Operation Supercharge-La seconde bataille d'El Alamein; Histoire Et Collections
Carver, Field Marshal Lord (1962). El Alamein . Ware, Herts. UK: Wordsworth Editions. ISBN 978-1840222203.
Clifford, Alexander (1943). Three against Rommel. London: George G. Harrap.
Dear, I. C. B. (ed) (1995). The Oxford Companion to World War II. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-280666-6.
Robert C. Grogin, Natural Enemies: The United States and the Soviet Union in the Cold War, 1917-1991, Lexington Books, 2001. ISBN 0-7391-0160-9.
Spencer Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, ABC-CLIO, 11-11-2010. ISBN 1-59884-429-6.
Keith D. Dickson, World War II For Dummies, John Wiley & Sons, 18-04-2011. ISBN 1-118-06956-0.
Latimer, Jon (2002). Alamein. London: John Murray. ISBN 978-0719562037.
Lucas-Phillips, C.E. (1962). Alamein. London: Heinemann. OCLC 3510044.
Lucas, James Sydney (1983). War in the Desert: The Eighth Army at El Alamein. Beaufort Books.
Mead, Richard (2007). Churchill's Lions: A biographical guide to the key British generals of World War II. Stroud (UK): Spellmount. tr. 544 pages. ISBN 978-1-86227-431-0.
Playfair, Major-General I.S.O.; and Molony, Brigadier C.J.C.; with Flynn R.N., Captain F.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO 1966]. Butler, J.R.M, biên tập. The Mediterranean and Middle East, Volume IV: The Destruction of the Axis Forces in Africa. History of the Second World War United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-84574-068-8.
Rommel, Erwin; with Basil Liddell-Hart (1982) [1953]. The Rommel Papers. New York: Da Capo Press. ISBN 978-0306801570.
Vivian, Cassandra (2000). The Western Desert of Egypt: An Explorer's Handbook. Cairo: American University in Cairo Press. ISBN 977424527X.
John Frederick Charles Fuller, The Second World War, 1939-45: a strategical and tactical history, Meredith Press, 1968.
Walker, Ian W. (2006). Iron Hulls, Iron Hearts; Mussolini's Elite Armoured Divisions in North Africa. Ramsbury: The Crowood Press. ISBN 1-86126-646-4.
Walker, Ronald (1967). The Official History of New Zealand in the Second World War 1939–1945: Alam Halfa and Alamein. Wellington, NZ: Historical Publications Branch.
Watson, Bruce Allen (1999). Exit Rommel: The Tunisian Campaign, 1942-43. Mechanicsburg PA: Stackpole. ISBN 0-81173-381-5.
== Liên kết ngoài ==
Bản đồ diễn biến cuộc phản công của Liên quân Anh - Hoa Kỳ tại Bắc Phi và cuộc đổ bộ của quân đồng minh lên phía Nam bán đảo Apenil từ tháng 10 năm 1942 đến tháng 12 năm 1943 |
phong trào không liên kết.txt | Phong trào không liên kết là một tổ chức quốc tế gồm các quốc gia tự xem mình là không thuộc hoặc chống lại bất kỳ khối cường quốc lớn nào. Phong trào này chủ yếu là đứa con tinh thần của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, cựu tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser và chủ tịch Nam Tư Josip Broz Tito. Tổ chức được thành lập tháng 4 năm 1955; đến năm 2007, nó có 118 thành viên. Mục đích của tổ chức như đã ghi trong Tuyên bố La Habana năm 1979 là đảm bảo "sự độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia không liên kết" trong "cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và tất cả những hình thức xâm lược ra nước ngoài, chiếm đóng, chi phối, can thiệp hoặc bá quyền cũng như chống lại các đại cường quốc và chính sách của các khối". Họ đại diện cho gần hai phần ba thành viên Liên Hiệp Quốc và 55 phần trăm dân số thế giới, đặc biệt là những quốc gia được xem là đang phát triển hoặc thuộc thế giới thứ ba.
Tuy phong trào này mong muốn các quốc gia có liên kết chặt chẽ với nhau giống như NATO hay Khối Warszawa, nó có liên kết khá lỏng lẻo và nhiều thành viên của tổ chức thực sự có quan hệ gần gũi với siêu cường này hoặc siêu cường khác. Ngoài ra, một số thành viên còn mâu thuẫn nghiêm trọng với các thành viên khác (như Ấn Độ và Pakistan, Iran và Iraq). Phong trào rạn nứt do mâu thuẫn ngay bên trong khi Liên Xô xâm lược Afghanistan năm 1979. Trong khi những đồng minh của Liên Xô ủng hộ cuộc tấn công, các thành viên khác (đặc biệt là các quốc gia Hồi giáo) của phong trào lại lên án.
Vì Phong trào không liên kết được hình thành với nỗ lực chống lại Chiến tranh lạnh, tổ chức đã cố gắng tìm phương hướng hoạt động mới từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Sau khi Nam Tư, một thành viên sáng lập, tan rã, các quốc gia mới thành lập từ Nam Tư cũ tỏ ra không còn quan tâm tới việc tham dự Phong trào, tuy một số nước là quan sát viên. Vào năm 2004, Malta và Síp rút khỏi tổ chức để gia nhập Liên minh châu Âu.
== Nguồn gốc ==
Các quốc gia độc lập nào quyết định không tham gia các khối trong Chiến tranh lạnh còn được gọi là các quốc gia không liên kết.
Thuật ngữ "Không liên kết" được Thủ tướng Ấn Độ Nehru sử dụng trong bài diễn văn của ông vào năm 1954 tại Colombo, Sri Lanka. Trong bài diễn văn này, Nehru đã mô tả năm cột trụ làm kim chỉ nam cho quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ, được Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đề xướng. Được gọi là Panchsheel (năm ràng buộc), các nguyên tắc này sau này đóng vai trò là nền tảng của Phong trào không liên kết. Năm nguyên tắc này bao gồm:
Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
Không xâm lược lẫn nhau;
Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
Bình đẳng và hai bên cùng có lợi;
Cùng tồn tại hoà bình.
Cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Phong trào không liên kết là Hội nghị Bandung năm 1955, một hội nghị gồm các quốc gia châu Á và châu Phi được tổng thống Sukarno của Indonesia làm chủ nhà. Các quốc gia tham dự đã tuyên bố nguyện vọng không muốn dính líu đến Chiến tranh lạnh và thông qua "tuyên bố ủng hộ hòa bình và hợp tác thế giới", bao gồm năm nguyên tắc của Nehru. Sáu năm sau Hội nghị Bandung, sáng kiến của Chủ tịch Nam Tư Tito đã dẫn đến Hội nghị Phong trào không liên kết chính thức lần đầu tiên, tổ chức tháng 9 năm 1961 tại Belgrade.
Tại Hội nghị Lusaka tháng 9 năm 1970, các quốc gia thành viên đã bổ sung nghị quyết hòa bình cho các tranh chấp và ảnh hưởng từ các đồng minh quân sự và hiệp ước của các cường quốc vài mục tiêu của phong trào. Sự phản đối thiết lập các căn cứ quân sự ở nước ngoài cũng được thêm vào mục tiêu của phong trào.
Những người sáng lập nên Phong trào không liên kết gồm: Nehru của Ấn Độ, Sukarno của Indonesia và Josip Broz Tito của Nam Tư, Gamal Abdel Nasser của Ai Cập và Kwame Nkrumah của Ghana. Những việc làm của họ được gọi là 'Nhóm năm khởi đầu'.
== Cấu trúc tổ chức và kết nạp thành viên ==
Tuy Phong trào không liên kết là một tổ chức liên minh các quốc gia, giống như Liên Hiệp Quốc hay NATO, nó vẫn có những điểm đặc biệt so với các tổ chức này về tổ chức và cấu trúc. Đầu tiên, nó tự nhận là mang bản chất không phân cấp, có nghĩa là không có quốc gia nào có quyền phủ quyết hoặc có sự ưu tiên đặc biệt trong bất cứ lĩnh vực nào. Ghế chủ tịch được xoay vòng một cách chính thức tại mỗi hội nghị. Quốc gia điều hành tổ chức được xoay vòng (hiện nay là Ai Cập) và việc xoay vòng này là nhất quán và bình đẳng. Thứ hai, tổ chức không có bất kỳ một hiến chương nào như các tổ chức tương tự khác. Đây là do xét đến việc với quá nhiều quốc gia với nhiều quan điểm và ưu tiên khác nhau, bất kỳ một cấu trúc quản lý hình thức nào cũng có thể tăng sự chia rẽ và cuối cùng có thể dẫn đến sự sụp đổ của tổ chức.
Quyền kết nạp thành viên cũng đã thay đổi so với các tiêu chí ban đầu. Khi tổ chức dần lớn mạnh và tình thế chính trị quốc tế thay đổi, các tiêu chí cũng thay đổi theo. Đang có một nỗ lực tích hợp các tiêu chí của Phong trào với các quan điểm chính yếu của Liên Hiệp Quốc. Các tiêu chí mới nhất đó là quốc gia ứng viên phải tuân theo các nguyên tắc sau:
Tôn trọng quyền cơ bản của con người và tôn trọng mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia.
Công nhận sự bình đẳng của tất cả chủng tộc và sự bình đẳng của tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ.
Tránh can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.
Tôn trọng quyền tự vệ một cách đơn độc hoặc tập thể của mỗi quốc gia, thể theo Hiến chương của Liên Hiệp Quốc.
Tránh các hành động hoặc đe dọa tấn công hoặc sử dụng vũ lực nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự độc lập chính trị của quốc gia khác.
Giải quyết tất cả các tranh chấp quốc tế bằng con đường hòa bình, phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Tăng cường sự hợp tác và đôi bên cùng có lợi.
Tôn trọng công lý và các nghĩa vụ quốc tế.
== Chính sách và lý tưởng ==
Tổng thư ký Phong trào không liên kết bao gồm nhiều nhân vật như Suharto, một nhà độc tài chống cộng sản, và Nelson Mandela, người dân chủ xã hội và là nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid nổi tiếng. Bao gồm nhiều chính phủ với lý tưởng khác nhau rất nhiều, Phong trào không biên giới thống nhất được các thành viên vì sự gắn kết của nó với hòa bình và an ninh thế giới. Tại hội nghị lần thứ 7 tại New Delhi tháng 3 năm 1983, phong trào đã tự mô tả mình là "phong trào hòa bình lớn nhất trong lịch sử". Phong trào cũng nhấn mạnh việc giải trừ quân bị. Sự theo đuổi hòa bình của Phong trào không liên kết có từ khi được thành lập chính thức năm 1961. Cuộc gặp Brioni giữa những người đứng đầu chính phủ Ấn Độ, Ai Cập và Nam Tư năm 1956 đã thừa nhận rằng tồn tại một mối liên kết sống còn giữa cuộc đấu tranh vì hòa bình và nỗ lực giải trừ quân bị.
Phong trào không liên kết tin tưởng vào các chính sách và thực tiễn hợp tác, đặc biệt là những gì đa phương và cùng có lợi cho những bên liên quan. Nhiều thành viên của Phong trào cũng là thành viên của Liên Hiệp Quốc và cả hai tổ chức này đều tuyên bố các chính sách hợp tác hợp tác hòa bình, tuy những thành công mà Phong trào này có được trong các thỏa thuận đa phương dường như bị các nước phát triển lớn hơn ở phương Tây đang thống trị Liên Hiệp Quốc bỏ qua. Sự lo ngại của châu Phi về chủ nghĩa apartheid được liên kết với những lo ngại của Ả Rập-châu Á về Palestine và sự thành công của sự hợp tác đa phương tại các khu vực này là một dấu ấn thành công của Phong trào không liên kết. Phong trào cũng đóng một vai trò quan trọng trong các mâu thuẫn về lý tưởng khác nhau trong khi tồn tại, trong đó có việc phản đối kịch liệt các chế độ apartheid và sự hỗ trợ cho phong trào giải phóng tại nhiều nơi như Zimbabwe và Nam Phi. Sự hỗ trợ những loại phong trào như thế này xuất phát từ niềm tin rằng mọi quốc gia đều có quyền đặt nền tảng chính sách và thực hành theo quyền lợi của quốc gia chứ không phải là kết quả có được từ mối liên hệ với một khối cường quốc cụ thể nào. Phong trào không liên kết đã trở thành tiếng nói hỗ trợ cho các vấn đề mà quốc gia đang phát triển gặp phải và vẫn chứa đựng những lý tưởng phù hợp với bối cảnh này.
== Sự phù hợp với thời đại ==
Từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh và sự kết thúc chính thức chủ nghĩa thực dân, Phong trào không liên kết đã buộc phải tự điều chỉnh mình và đề ra mục tiêu mới trong hệ thống thế giới hiện tại. Một câu hỏi lớn đó là liệu các lý tưởng khi thành lập của nó, sự độc lập quốc gia về nguyên tắc, sự toàn vẹn lãnh thổ, và cuộc chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, có còn áp dụng được cho tình hình hiện nay hay không. Phong trào đã nhấn mạnh nguyên tắc đa phương, bình đẳng, và không can thiệp lẫn nhau trong nỗ lực có được tiếng nói mạnh mẽ hơn cho Nam bán cầu, và là một phương tiện có thể dùng để tăng cường đòi hỏi của các quốc gia thành viên ở mức độ quốc tế và tăng sức mạnh chính trị của họ khi đàm phán với các nước phát triển. Trong nỗ lực tăng cường lợi ích Nam bán cầu, phong trào đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác và thống nhất giữa các quốc gia thành viên, nhưng cũng như trong quá khứ, sự gắn kết vẫn là một vấn đề do kích thước của tổ chức và sự phân tán lịch làm việc và lòng trung thành cho thấy nguy cơ rạn nứt vẫn còn đó. Tuy sự thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản là khá dễ dàng, thực hiện những hành động dứt khoát tương ứng với những vấn đề cụ thể của thế giới còn hiếm hoi, với việc phong trào thường đưa ra sự chỉ trích hoặc ủng hộ chứ không thích thông qua những nghị quyết cứng rắn. Phong trào tiếp tục chứng kiến vai trò của nó, như quan điểm của tổ chức, các quốc gia nghèo nhất thế giới vẫn bị bóc lột và đặt ra rìa, không phải từ những siêu cường đối lập nhau, mà từ một thế giới đơn cực, và phong trào đang thực sự chống lại chủ nghĩa bá quyền phương Tây và chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Phong trào đối lập với sự chiếm đóng nước ngoài, can thiệp vào công việc nôi bộ, và các biện pháp xâm lăng đơn phương, nhưng nó cũng chuyển sang tập trung cho các thách thức kinh tế-xã hội mà các quốc gia thành viên đang đối mặt, đặc biệt là sự bất bình đẳng do toàn cầu hóa tạo nên và việc thực thi các chính sách tân tự do. Phong trào không liên kết đã xác định kém phát triển về kinh tế, đói nghèo, và bất công xã hội là những nguy cơ đang lên đối với hòa bình và an ninh.
== Các tổng thư ký ==
Giữa mỗi hội nghị, Phong trào không liên kết do một Tổng thư ký được bầu tại cuối kỳ họp trước vận hành. Vì một phần đáng kể công việc của phong trào được thực hiện tại Liên Hiệp Quốc ở New York, đại sứ tại Liên Hiệp Quốc của quốc gia chủ tịch được mong đợi sẽ bỏ thời gian và nỗ lực cho các vấn đề liên quan đến Phong trào không liên kết. Một Ủy ban Phối hợp, cũng đặt tại Liên Hiệp Quốc, là cơ quan chính chỉ đạo công việc của các đơn vị sự nghiệp, ủy ban và nhóm làm việc của phong trào.
== Các hội nghị ==
Belgrade, 1-6 tháng 9 năm 1961
Cairo, 5-10 tháng 10 năm 1964
Lusaka, 8-10 tháng 9 năm 1970
Algiers, 5-9 tháng 9 năm 1973
Colombo, 16-19 tháng 8 năm 1976
La Habana, 3-9 tháng 9 năm 1979
New Delhi (ban đầu dự tính tổ chức tại Bagdad), 7-12 tháng 3 năm 1983
Harare, 1-6 tháng 9 năm 1986
Belgrade, 4-7 tháng 9 năm 1989
Jakarta, 1-7 tháng 9 năm 1992
Cartagena de Indias, 18-20 tháng 10 năm 1995
Durban, 2-3 tháng 9 năm 1998
Kuala Lumpur, 20-25 tháng 2 năm 2003
La Habana, 15-16 tháng 9 năm 2006
Sharm El Sheikh, 11-16 tháng 7 năm 2009
Iran Thủ đô Tehran - Iran, 28 tháng 8 năm 2012
Venezuela đảo Margarita, 17/09/2016
== Các quốc gia thành viên và đại diện ==
Các quốc gia có hệ thống chính trị đa đảng được đánh bằng dấu sao
== Các quan sát viên ==
Các quốc gia sau đây là quan sát viên:
== Khách mời ==
Không có vị trí khách mời cố định, nhưng thông thường sẽ có một vài quốc gia không thành viên cử đại diện làm khách mời tại hội nghị. Ngoài ra, một số lượng lớn tổ chức, cả thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc hoặc bên ngoài, cũng luôn được mời làm khách.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Việt:
Thông tin cơ bản về phong trào không liên kết tại trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam
Tiếng Nga:
Официальный сайт 14-й конференции (Куба, 2006)
История ДН на сайте 12-й конференции (ЮАР, 1998)
Tiếng Anh:
New relevance for the NAM - Members of the NAM attempt to redefine the movement as a struggle against US imperialism
Non-Aligned Movement Online (Current Secretariat)
Official Site: 14th Summit - Fourteenth Non Aligned Movement Summit, (Havana, September 11-16, 2006)
Non-Aligned Movement - Resource site
Virtual newspaper "TerraViva" on the 14th summit of the Non-Aligned Movement IPS Inter Press Service reports from the summit in Havana (11 - 16 September, 2006) |
cộng hòa texas.txt | Cộng hòa Texas là một cựu quốc gia có chủ quyền tại Bắc Mỹ, nằm giữa Hoa Kỳ và México. Cộng hòa Texas tồn tại từ năm 1836 đến năm 1845. Nó được thành lập như là một nước cộng hòa ly khai khỏi Mexico bằng cuộc Cách mạng Texas. Quốc gia này đã tuyên bố chủ quyền trên một vùng đất bao gồm tất cả tiểu bang Texas ngày nay của Hoa Kỳ cũng như một phần của các tiểu bang ngày nay là New Mexico, Oklahoma, Kansas, Colorado, và Wyoming dựa theo Các hiệp ước Velasco giữa nước cộng hòa Texas mới được thành lập và Mexico. Biên giới phía đông của nó và Hoa Kỳ đã được xác định qua Hiệp ước Adams-Onís giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha vào năm 1819. Biên giới cận tây nhất và biên giới miền nam với Mexico lúc đó vẫn đang trong vòng tranh chấp trong suốt thời gian tồn tại của cộng hòa này. Texas tuyên bố rằng biên giới là Rio Grande nhưng Mexico thì cho rằng Sông Nueces là biên giới. Cuộc tranh chấp này sau đó trở thành ngòi nổ cho Chiến tranh Mexico-Mỹ sau khi Hoa Kỳ sáp nhập Texas.
== Lịch sử ==
Texas không phải là tiểu bang duy nhất của Mexico ly khai khỏi México và tuyên bố độc lập. Các tiểu bang khác của Mexico gồm có Coahuila, Nuevo Leon, và Tamaulipas cùng ly khai khỏi Mexico và thành lập cộng hòa liên bang ngắn ngủi cho họ có tên gọi là Cộng hòa Rio Grande với Laredo là thủ đô - thành phố này ngày nay thuộc tiểu bang Texas. Tiểu bang Yucatán của Mexico cũng đã tách ra và thành lập Cộng hòa Yucatán. Một số tiểu bang khác của Mexico cũng xảy ra nổi loạn trong đó có San Luis Potosí, Querétaro, Durango, Guanajuato, Michoacán, Jalisco và Zacatecas. Tuy nhiên, phạm vi nổi loạn của Texas thì khác biệt với các tỉnh/tiểu bang khác của Mexico tìm cách tuyên bố độc lập.
Cuộc nổi dậy Texas được tiến hành bởi các di dân người Mỹ da trắng, không phải tất cả đều là di dân hợp pháp. Chính vì sự thật này mà Texas là cựu tiểu bang duy nhất của Mexico nuôi dưỡng ý định gia nhập vào Hoa Kỳ hoàn toàn theo ý muốn của mình. Texas cũng là tiểu bang duy nhất của Mexico ly khai để giành độc lập từ Mexico.
Tất cả các tiểu bang nổi loạn của Mexico bao gồm cả Texas tỏ ra khó chịu với Tổng thống Antonio López de Santa Anna về việc bãi bỏ Hiến pháp Mexico 1824, giải tán quốc hội và thay đổi cấu trúc chính phủ Mexico từ một chính phủ liên bang sang một chính phủ trung ương tập quyền. Thực tế, Yucatán, đã tuyên bố độc lập, cho biết là có ý nguyện tái gia nhập liên bang Mexico nếu chính phủ liên bang được tái lập.
Các cử tri Texas đã bầu lên một quốc hội gồm 14 thượng nghị sĩ và 29 dân biểu vào tháng 9 năm 1836. Hiến pháp Cộng hòa Texas cho phép tổng thống đầu tiên phục vụ chỉ hai năm. Nó cũng ấn định nhiệm kỳ 3 năm cho tất cả các tổng thống kế tiếp.
== Trở thành tiểu bang Hoa Kỳ ==
Ngày 28 tháng 2 năm 1845, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua một đạo luật cho phép Hoa Kỳ sáp nhập Cộng hòa Texas. Ngày 1 tháng 3, Tổng thống Hoa Kỳ John Tyler ký đạo luật này. Lập pháp Hoa Kỳ định ngày sáp nhập là 29 tháng 12 cùng năm. Đối diện với việc Hoa Kỳ sáp nhập Texas, Charles Elliot và Alphonse de Saliny là hai bộ trưởng Pháp và Vương quốc Anh đặc trách liên lạc với Texas được chính phủ của họ phái đến Mexico City. Cùng họp chung với bộ trưởng ngoại giao Mexico, họ đã ký một "Đạo luật Ngoại giao" trong đó Mexico đồng ý công nhận một Texas độc lập với biên giới được ấn định qua sự trung gian của Anh và Pháp. Tổng thống Texas là Anson Jones đã trình lên cả lời đề nghị từ phía Mexico và từ phía Hoa Kỳ trong một cuộc họp đặc biệt tại Austin. Lời đề nghị của Hoa Kỳ được chấp thuận với chỉ một phiếu chống. Lời đề nghị của Mexico không được đưa ra biểu quyết. Theo sắc lệnh trước của Tổng thống Jones, lời đề nghị của Hoa Kỳ sau đó được đưa ra trưng cầu trên toàn quốc.
Ngày 13 tháng 10 năm 1845, phần đông cử tri của cộng hòa chấp thuận cả lời đề nghị của Hoa Kỳ và bản hiến pháp sắp tới đặc biệt tán thành chủ nghĩa nô lệ và mua bán nô lệ. Bản hiến pháp này sau đó được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, biến Texas thành một tiểu bang của Hoa Kỳ trong ngày mà việc sáp nhập có hiệu quả, ngày 29 tháng 12 năm 1845 (vì vậy bỏ qua giai đoạn làm lãnh thổ trước khi trở thành tiểu bang). Một trong những động cơ thúc đẩy cho việc sáp nhập (ngoài động cơ chính muốn được hợp quần với người anh em Hoa Kỳ cùng chung văn hóa-chủng tộc Anglo-Mỹ) là vì chính phủ Texas bị mắc nợ khổng lồ và Hoa Kỳ đồng ý gánh vác nợ sau khi sáp nhập. Năm 1852, để trả lại nợ cho Hoa Kỳ, một phần lớn lãnh thổ mà Texas tuyên bố chủ quyền (hiện nay là một phần của Colorado, Kansas, Oklahoma, New Mexico, và Wyoming) bị cắt nhường cho chính phủ liên bang.
== Các tổng thống và phó tổng thống ==
== Những nhân vật nổi bật ==
== Xem thêm ==
Tiểu bang thứ 51
Chiến tranh Hoa Kỳ-México
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The Texas Declaration Of Independence TexasBob.com. |
tiếng nahuatl.txt | Nahuatl (Phát âm Nahuatl: [ˈnaːwatɬ] ()) là một ngôn ngữ thuộc nhánh Nahua của hệ ngôn ngữ Ute-Aztec. Các biến thể của tiếng Nahuatl được 1,5 triệu người Nahua sử dụng; phần lớn số người này sống tại miền trung México, một số sống ở El Salvador và được gọi là người Pipil. Tất cả các ngôn ngữ Nahua đều là ngôn ngữ bản địa của Trung Bộ châu Mỹ.
Tiếng Nahuatl đã được dùng ở Trung México ít nhất là từ thế kỷ 7. Nó là ngôn ngữ của người Aztec - những người sống phổ biến ở miền trung México ở giai đoạn Hậu Cổ điển Muộn trong lịch sử Trung Bộ châu Mỹ. Trong các thế kỷ trước khi bị Tây Ban Nha xâm lược, Đế quốc Aztec đã mở rộng phạm vi của mình trên một vùng rộng lớn ở miền trung México. Tầm ảnh hưởng của đế quốc đã khiến loại biến thể tiếng Nahuatl mà cư dân Tenochtitlan sử dụng trở thành phương ngữ uy tín (prestige dialect) ở Trung Bộ châu Mỹ. Khi thực dân phương Tây mang đến bảng chữ cái Latinh, tiếng Nahuatl trở thành một ngôn ngữ văn học; thời kỳ thế kỷ 16-17, có nhiều tác phẩm thi ca, biên niên sử, văn bản hành chính,... được viết bằng tiếng Nahuatl. Loại ngôn ngữ viết dựa trên phương ngữ Tenochtitlan này được gọi là tiếng Nahuatl cổ điển, là một trong những ngôn ngữ được nghiên cứu nhiều nhất và được ghi chép lại trong tài liệu một cách tốt nhất ở châu Mỹ.
Ngày nay, các biến thể của tiếng Nahuatl vẫn còn được sử dụng trong một số cộng đồng sống rải rác ở vùng nông thôn suốt miền trung México và dọc bờ biển. Giữa các biến thể này có sự khác biệt đáng kể; một số không thể hiểu được lẫn nhau khi giao tiếp. Tiếng Nahuatl Huasteca - với hơn một triệu người nói - là biến thể tiếng Nahuatl được nói nhiều nhất. Tất cả các biến thể Nahuatl đều chịu ảnh hưởng của tiếng Tây Ban Nha ở các mức độ khác nhau. Dù không có biến thể hiện đại nào còn giống với tiếng Nahuatl cổ điển nữa, song nói chung thứ tiếng Nahuatl dùng ở trong và ven thung lũng México là gần giống nhất với Nahuatl cổ điển. Theo Luật tổng quát về quyền ngôn ngữ của người bản địa (tiếng Tây Ban Nha: Ley General de Derechos Lingüísticos de los Pueblos Indígenas) do México ban hành năm 2003 thì tiếng Nahuatl cùng với 63 thứ tiếng bản địa khác đều được công nhận là ngôn ngữ quốc gia (lenguas nacionales) ở những vùng sử dụng thứ tiếng đó, đồng thời có quyền bình đẳng với tiếng Tây Ban Nha ở địa phương đó.
Các thứ tiếng Nahuatl có hình thái học phức tạp, đặc trưng bởi tính hỗn nhập và chắp dính. Qua hàng thế kỷ cùng tồn tại song song với các ngôn ngữ bản địa khác của Trung Bộ châu Mỹ, tiếng Nahuatl chịu nhiều ảnh hưởng và trở thành một phần của Khu vực ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ.
Nhiều từ trong tiếng Nahuatl đã được tiếng Tây Ban Nha vay mượn, từ đó tiếp tục được hàng trăm ngôn ngữ khác vay mượn. Nhiều từ mượn có nội dung về những thứ bản địa của miền trung México do người Tây Ban Nha lần đầu tiên nghe thấy chúng qua tiếng Nahuatl, chẳng hạn "aguacate" (quả bơ), "chayote" (cây su su), "jitomate" (cà chua),...
== Phân loại các phương ngữ ==
=== Thuật ngữ ===
Không có sự nhất quán về thuật ngữ dùng để mô tả các biến thể của tiếng Nahuatl nói. Từ Nahuatl thực chất là một từ trong tiếng Nahuatl, có lẽ xuất phát từ nāwatlaʔtōlli [naːwat͡laʔˈtoːlli] (tạm dịch: "ngôn ngữ rõ ràng"). Trước đây có thời người ta gọi tiếng Nahuatl là tiếng Aztec do người Aztec dùng tiếng này; tuy nhiên, bản thân người Aztec không gọi mình là "Aztec" mà là mēxihcah [meːˈʃiʔkaʔ] và gọi ngôn ngữ mà họ nói là mēxihcacopa [meːʃiʔkaˈkopa] hay mēxihcatlahtolli. Ngày nay hiếm khi còn thấy từ "Aztec" trong các biến thể Nahuatl hiện đại, song tên gọi truyền thống do các nhà ngôn ngữ học đặt do một nhánh của hệ ngôn ngữ Ute-Aztec vẫn là "Aztec", dù rằng một vài nhà ngôn ngữ thích gọi là "Nahua" hơn. Từ năm 1978, thuật ngữ "Aztec tổng quát" được dùng để chỉ nhánh ngôn ngữ Aztec, trừ Pochutec.
Bản thân người nói tiếng Nahuatl lại gọi tiếng này là Mexicano hoặc một cái tên nào đó bắt nguồn từ từ mācēhualli (trong tiếng Nahuatl có nghĩa là "dân thường"), chẳng hạn dân ở vùng Tetelcingo, Morelos gọi tiếng Nahuatl là mösiehuali. Người Pipil ở El Sanvador không gọi ngôn ngữ của họ là "Pipil" như đa số các nhà ngôn ngữ mà gọi là nawat. Các nhà ngôn ngữ thường định danh cho một phương ngữ Nahuatl bằng cách lấy tên của ngôi làng hay khu vực có nói thứ phương ngữ đó để đặt tên.
=== Phương ngữ học ===
Hiện tại cách phân loại các phương ngữ Nahuatl dựa trên nghiên cứu của Una Canger (1980, 1988) và Lastra de Suárez (1986). Dưới đây là cách phân loại dựa theo Lastra de Suarez, có kết hợp với cách phân loại hệ ngôn ngữ Ute-Aztec của Lyle Campbell (1997).
*Thời điểm chia tách được ước lượng theo ngữ thời học (BP = số năm so với hiện tại).
== Chú thích ==
=== Sách ===
Campbell, Lyle (1985). The Pipil Language of El Salvador. Mouton Grammar Library, no. 1. Berlin: Mouton de Gruyter. ISBN 978-3-11-010344-1. OCLC 13433705. (tiếng Anh)
Suárez, Jorge A. (1983). The Mesoamerian Indian Languages. Cambridge Language Surveys. Cambridge and New York: Cambridge University Press. ISBN 0-521-22834-4. OCLC 8034800. (tiếng Anh)
Canger, Una (1980). Five Studies Inspired by Náhuatl Verbs in -oa. Travaux du Cercle Linguistique de Copenhague, Vol. XIX. Copenhagen: The Linguistic Circle of Copenhagen; C.A. Reitzels Boghandel phân phối. ISBN 87-7421-254-0. OCLC 7276374. (tiếng Anh)
Canger, Una (2001). Mexicanero de la Sierra Madre Occidental. Archivo de Lenguas Indígenas de México, #24. México D.F.: El Colegio de México. ISBN 968-12-1041-7. OCLC 49212643. (tiếng Tây Ban Nha)
Canger, Una (2002). “An interactive dictionary and text corpus”. Trong William Frawley, Pamela Munro, Kenneth C. Hill (biên tập). Making dictionaries: Preserving Indigenous Languages of the Americas. Berkeley, CA: University of California Press. tr. 195–218. ISBN 0-520-22995-9. OCLC 47863283. (tiếng Anh)
Launey, Michel (1992). Introducción a la lengua y a la literatura náhuatl. México D.F.: Đại học Tự trị Quốc gia Mexico, Instituto de Investigaciones Antropológicas. ISBN 968-36-1944-4. OCLC 29376295. (tiếng Tây Ban Nha)
== Liên kết ngoài ==
Các phương ngữ Náhuatl, Ethnologue
Họ Nahuatl (Aztec) family
Sách bằng tiếng Nahuatl, Project Gutenberg
Một số ghi chú ngắn gọn về tiếng Nahuatl cổ điển
Từ điển Tây Ban Nha-Nahuatl, AULEX
Một số đoạn ghi âm bằng tiếng Nahuatl |
mười ba thuộc địa.txt | Mười ba thuộc địa là các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ chống lại sự cai trị của Anh năm 1775, tuyên bố sự độc lập của mình vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, và sau đó là 13 tiểu bang đầu tiên của Hoa Kỳ. Chúng được thành lập giữa năm 1607 (Virginia), và năm 1733 (Georgia), dù Đế quốc Anh vẫn giữ nhiều thuộc địa khác ở Bắc Mỹ và Tây Ấn.
== Các thuộc địa ==
Các tài liệu đương thời thường liệu kê danh sách các thuộc địa Bắc Mỹ thuộc Anh theo thứ tự địa lý từ Bắc về Nam.
Tân Anh
Tỉnh New Hampshire, sau này là New Hampshire
Tỉnh Vịnh Massachusetts, sau này là Massachusetts và Maine
Thuộc địa Rhode Island và Providence Plantations, sau này là Rhode Island
Thuộc địa Connecticut, sau này là Connecticut.
Các thuộc địa trung tâm
Tỉnh New York, sau này là tiểu bang New York và Vermont
Tỉnh New Jersey, sau này là New Jersey
Tỉnh Pennsylvania, sau này là Pennsylvania
Thuộc địa Delaware (trước năm 1776, Lower Counties on Delaware), sau này là Delaware
Các thuộc địa phía nam (tùy thuộc và chủ đề đang thảo luận, Virginia và Maryland có thể được tách ra làm Chesapeake Colonies)
Tỉnh Maryland, sau này là Maryland
Thuộc địa và Dominion Virginia, sau này là Virginia, Kentucky và Tây Virginia
Tỉnh Bắc Carolina, sau này là Bắc Carolina và Tennessee
Tỉnh Nam Carolina, sau này là nam Carolina
Tỉnh Georgia, sau này là Georgia
== Tham khảo == |
nhà hát opéra garnier.txt | Palais Garnier, cũng gọi là Opéra de Paris hay Opéra Garnier hay Grand Opera House, nhưng thông thường được gọi là Paris Opéra, là một nhà hát opera 2200 chỗ tại Paris, Pháp. Là một công trình nổi bật được Charles Garnier thiết kế theo phong các Tân Baroque, nhà hát này được xem là một trong những kiệt tác kiến trúc thời đó.
Lúc khánh thành năm 1875, nhà hát opera này đã được chính thức mang tên Académie Nationale de Musique - Théâtre de l'Opéra. Nó đã giữ tên này cho đến năm 1978 khi nó được đổi tên thành Théâtre National de l'Opéra de Paris. Sau khi công ty opera chọn Opéra Bastille làm nhà hát chính của họ khi nó hoàn thành năm 1989, nhà hát này đã được đổi tên thành Palais Garnier, dù tên chính thức hơn của nó là Académie Nationale de Musique, vẫn còn nằm trên các cột của mặt tiền nhà hát. Dù được đổi tên và công ty đã dời đi chỗ khác đến Opéra Bastille, Palais Garnier vẫn được nhiều người biết đến với tên là Paris Opéra.
== Tham khảo == |
di động xã hội.txt | Di động xã hội (tiếng Anh: Social mobility), còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội. Di động xã hội liên quan đến sự vận động của con người từ một vị trí xã hội này đến một vị trí xã hội khác trong hệ thống phân tầng xã hội. Thực chất di động xã hội là sự thay đổi vị trí trong hệ thống phân tầng xã hội. Vấn đề di động xã hội liên quan tới việc các cá nhân giành vị trí, địa vị xã hội, liên quan tới điều kiện ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu xã hội. Nội hàm của di động xã hội: Là sự vận động của cá nhân hay một nhóm người từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác; là sự di chuyển của một con người, một tập thể, từ một địa vị, tầng lớp xã hội hay một giai cấp sang một địa vị, tầng lớp, giai cấp khác. Di động xã hội có thể định nghĩa như sự chuyển dịch từ một địa vị này qua một địa vị khác trong cơ cấu tổ chức.
== Hình thức di động xã hội ==
Thế hệ
Có thể phân biệt di động xã hội theo hai khía cạnh khác nhau:
Di động giữa các thế hệ: thế hệ con cái có địa vị cao hơn hoặc thấp hơn so với địa vị của cha mẹ;
Di động trong thế hệ: là một người thay đổi vị trí nghề nghiệp, nơi ở trong cuộc đời làm việc của mình, có thể cao hơn hoặc kém hơn so với người cùng thế hệ.
Ngang dọc
Di động xã hội được xác định như là sự vận động của các cá nhân hay một nhóm xã hội từ vị trí, địa vị xã hội này sang vị trí, địa vị xã hội khác. Bởi vậy, khi nghiên cứu di động xã hộ các nhà lý luận còn chú ý tới hình thức:
Di động theo chiều ngang: chỉ sự vận động cá nhân giữa các nhóm xã hội, giai cấp xã hội tới một vị trí ngang bằng về mặt xã hội. Trong xã hội hiện đại, di động theo chiều ngang cũng rất phổ biến, nó liên quan đến sự di chuyển địa lý giữa các khu vực, các thị trấn, thành phố hoặc các vùng địa phương;
Di động theo chiều dọc: chỉ sự vận động của các cá nhân giữa các nhóm xã hội, giai cấp xã hội tới vị trí, địa vị xã hội có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn. Biểu hiện của hình thức này di động là sự thăng tiến, đề bạt - di động lên; và miễn nhiệm, rút lui, lùi xuống, thất bại - di động xuống.
Địa vị xã hội
Di động xã hội còn chủ yếu quan tâm tới địa vị đạt được - giành được, chứ không phải là địa vị gán cho - có sẵn; và phân biệt hai loại di động sau:
Di động được sự bảo trợ: đạt được địa vị cao bởi nguyên nhân hoàn cảnh gia đình hoặc yếu tố khác không trực tiếp liên quan đến khả năng hoặc nỗ lực, cố gắng của bản thân;
Di động do tranh tài: đạt được địa vị cao trên cơ sở của nỗ lực và tài năng bản thân.
Cơ cấu xã hội
Ngoài các hình thức di động trên, có thể đưa ra hai loại sau:
Di động cơ cấu: là sự di động xã hội với tư cách là kết quả của sự thay đổi trong quá trình phân phối các địa vị trong xã hội. Di động cơ cấu diễn ra bất chấp quy tắc thống trị của địa vị;
Di động trao động: trong di động này một số người thăng tiến thay vào vị trí của một số người khác di động xuống, kết quả tạo nên sự cân bằng cơ cấu xã hội.
== Yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội ==
Điều kiện kinh tế, xã hội;
Trình độ học thức;
Giới tính;
Cư trú;
Xuất thân;
Lứa tuổi;
Tín ngưỡng;
...
== Xem thêm ==
Giai cấp xã hội
Trật tự xã hội
Bất bình đẳng xã hội
Phân tầng xã hội
== Tham khảo ==
Nguyễn Đình Tấn, Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 1999.
Đào Duy Tính, Cơ cấu xã hội và giai cấp ở Việt Nam. Nhà xuất bản Thông tin lý luận - Hà Nội, 1996.
Harold R. Kerbo, Social Stratification and Inequality, New York: McGraw-Hill, Inc. 1991.
== Chú thích == |
bơi (thể thao).txt | Bơi là một môn thể thao cá nhân và đồng đội. Bơi là một trong 4 môn thi đấu cơ bản của mọi kỳ Thế vận hội mùa hè bên cạnh điền kinh, đấu kiếm và thể dục dụng cụ. Các nội dung thi đấu chính của bơi bao gồm bơi bướm, bơi ếch, bơi tự do (bơi sải) và bơi cá nhân hỗn hợp. Bên cạnh những nội dung thi đấu cá nhân, các vận động viên tại Thế vận hội mùa hè còn được bổ sung nội dung bơi tiếp sức. Nhiều nội dung còn được thi đấu ngoài trời (ví dụ như bơi tại biển).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
International Swimming Federation - Liên đoàn bơi lội quốc tế. |
giải vô địch bóng đá nữ u-17 bắc, trung mỹ và caribe.txt | Giải vô địch bóng đá nữ U-17 Bắc, Trung Mỹ và Caribe (tiếng Anh: CONCACAF Women's Under-17 Championship) là giải bóng đá nữ do Liên đoàn bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF) tổ chức dành cho các đội tuyển U-17 nữ quốc gia tại khu vực này. Giải cũng là vòng loại cho Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới với ba suất được trao cho các đội thuộc khu vực CONCACAF.
== Kết quả ==
== Thành tích ==
== Xem thêm ==
Giải vô địch bóng đá nữ U-20 Bắc, Trung Mỹ và Caribe
Giải vô địch bóng đá U-17 Bắc, Trung Mỹ và Caribe
Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
CONCACAF Women's U-17 Championship
Thông tin trên soccerway.com |
temari (đồ chơi).txt | Temari (手まり, Temari) (手まり) cũng còn được gọi là "gotenmari." là một quả bóng đồ chơi ở Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Về mặt lịch sử, temari là tác phẩm được hình thành lại từ các nguyên liệu để may kimono cũ. Từng mảnh lụa được đan thành hình quả bóng, and then the wad would be wrapped with strips of fabric. Thời gian trôi qua, bóng temari truyền thống lại trở thành các tác phẩm mang tính chất nghệ thuật, được may và trang trí thêm rất nhiều họa tiết, đến khi trái bóng bị rối lên embroidery. Với sự giới thiệu chất liệu cao su đến Nhật Bản, bóng từ một món đồ chơi lại trở thành một đối tượng nghệ thuật, mặc dù chúng vẫn chỉ là quà từ các bà mẹ dành tặng cho con cái của họ. Temari became an art and craft of the Japanese upper class and aristocracy, and noble women competed in creating increasingly beautiful and intricate objects.
== Truyền thống ==
Temari là những món quà có giá trị cao và dễ thương, tượng trưng cho tình bạn và sự trung thành. Cũng thế, màu sắc chói chang và những đường chỉ được dùng là biều tượng của mong ước người được tặng sẽ có một cuộc sống sáng sủa và hạnh phúc. Tính truyền thống, trờ thành 1 nghệ nhân ở Nhật Bản là một quá trình tẻ nhạt. Để trở thành nghệ nhân Temari ở Nhật Bản hôm nay đòi hỏi phải được huấn luyện đặc biệt, và người đó sẽ được kiểm tra về kỹ năng, kỹ thuật trước khi được biết đến là một nghệ nhân làm Temari.
Theo truyền thống Temari là món quà được cha mẹ gửi tặng cho con cái của họ trong dịp năm mới. Bên trong lớp phủ quấn chặt quả bóng đó, người mẹ sẽ đặt một mảnh giấy nhỏ với những lời chúc tốt lành đến cho con của cô ta. Đứa trẻ đó sẻ không bao giờ được mẹ kể về những mong ước của cô ta trong suốt quá trình làm nên quả bóng. Một và quả bóng có chứa vật liệu "phát ra âm thanh" gồm có hạt gạo hoặc chuông để có thể chơi được. Như đã nói trước đó Temari truyền thống được quện chặt và có khả năng đàn hồi.
== Tham khảo == |
cincinnati masters.txt |
== Giới thiệu ==
Cincinnati Masters tên chính thức, The Western & Southern Open (được đặt tên theo nhà tài trợ Western & Southern Financial Group) là giải quần vợt ngoài trời được tổ chức hằng năm tại Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ. Giải đấu lần đầu tiên diễn ra từ ngày 18 tháng 8 năm 1899 và là giải đấu lâu đời nhất tại Mỹ
Giải đấu là sự kiện quần vợt mùa hè lớn nhất ở Mỹ nằm trong hệ thống 9 giải Masters 1000 thuộc ATP World Tour Masters 1000. Năm 2014 giải đấu được diễn ra từ ngày 10 đến ngày 18 tháng 8 với chức vô địch đơn nam thuộc về Roger Federer và vô địch đơn nữ thuộc về Serena Williams
== Danh sách vô địch đơn nam ==
== Danh sách vô địch đơn nữ ==
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
đoàn giỏi.txt | Đoàn Giỏi (17 tháng 5 năm 1925 - 2 tháng 4 năm 1989), là một nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Ông có những bút danh khác như: Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư.
Các tác phẩm của Đoàn Giỏi thường viết về cuộc sống, thiên nhiên và con người ở Nam Bộ. Tác phẩm "Đất rừng phương Nam" là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Đoàn Giỏi.
== Tiểu sử ==
Đoàn Giỏi sinh ở quê tại xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (ngày nay là thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình địa chủ lớn, có hàng trăm mẫu ruộng màu mỡ ven sông Tiền. Nhà ông xưa tòa ngang dãy dọc, nơi mà bây giờ trở thành trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành. Tất cả nhà và đất gia đình ông đã tự nguyện hiến cho kháng chiến ngay từ đầu. Ông từng theo học tại trường Mỹ thuật Gia Định trong những năm 1939-1940. Khi Cách mạng tháng Tám thành công và toàn quốc kháng chiến bùng nổ, gia đình ông đã tự nguyện hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính quyền Việt Minh.
Trong những năm Việt Nam chống Pháp, Đoàn Giỏi công tác trong ngành an ninh, rồi làm công tác thông tin, văn nghệ, từng giữ chức Phó trưởng Ty thông tin Rạch Giá (1949). Từ năm 1949 đến năm 1954, ông công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ, viết bài cho tạp chí Lá Lúa, rồi tạp chí Văn nghệ Miền Nam
Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, đến năm 1955 ông chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông là viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đoàn Giỏi còn có các bút danh khác: Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư.
Đất rừng phương Nam là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Tháng 2 năm 1957, Đoàn Giỏi nhận được đặt hàng của Hội văn nghệ Việt Nam viết một tác phẩm về thiếu nhi Nam Bộ, thời gian viết trong 4 tháng. Tuy nhiên, mãi đến tháng 5, khi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nhắc lại yêu cầu này và nhấn mạnh thời điểm ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng, Đoàn Giỏi mới bắt đầu chấp bút. Chỉ trong một tháng, ông đã kịp hoàn tất tác phẩm đúng thời gian dự kiến. Tác phẩm được xuất bản ngay thời điểm ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng và đã thành công vượt mức mong đợi. Đất rừng phương Nam được tái bản rất nhiều lần và được dịch và xuất bản ở Liên Xô, Hungari, Trung Quốc, Đức, Cuba...
Ông mất ngày 2 tháng 4 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh ung thư. Ngày 7 tháng 4 năm 2000, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đặt tên ông cho một phố thuộc Quận Tân Phú.
Gia đình Đoàn Giỏi đã hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính phủ - trụ sở của Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang hiện nay chính là nhà của gia đình ông. Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975 Đoàn Giỏi đi lại rất nhiều giữa hai miền Nam, Bắc nhưng không có nhà riêng, khi ở Hà Nội ông thường ở Hội nhà văn Việt Nam và khi vào Nam ở nhờ nhà bạn bè.
== Tác phẩm ==
=== Truyện dài ===
Đường về gia hương (1948)
Cá bống mú (1956)
Đất rừng phương Nam (1957)
Cuộc truy tầm kho vũ khí (1962)
=== Truyện ngắn ===
Hoa hướng dương (1960)
=== Truyện ký ===
Ngọn tầm vông (1956)
Trần Văn Ơn (1955)
Từ đất Tiền Giang
Người thủy thủ già trên hòn đảo lưu đày
Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh
Đất rừng phương Nam
=== Ký ===
Khí hùng đất nước (1948)
Những dòng chữ máu Nam Kỳ 1976 (1975)
Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ
Cây đước Cà Mau
Tết Nguyên Đán ở Nam Bộ
=== Kịch thơ ===
Người Nam thà chết không hàng (1947)
Chiến sĩ Tháp Mười (1949)
=== Thơ ===
Bến nước mười hai
Truyện thằng Cồi
Giữ vững niềm tin (1954)
=== Biên khảo ===
Những chuyện lạ về cá (1981)
Tê giác giữa ngàn xanh (1982)
== Thành tựu nghệ thuật ==
Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng yêu đối với độc giả, không chỉ là độc giả nhỏ tuổi. Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện cả thực cả kỳ bí của thiên nhiên Nam bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấy cho độc giả. Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông đối với miền đất Nam bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỷ mỷ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trong tác phẩm của mình.
== Câu đối Tào Ngu - Đoàn Giỏi ==
Đoàn Giỏi cộng tác với buổi phát thanh Hướng theo ngọn cờ cứu nước của Đài Tiếng nói Việt Nam. Sau chiến thắng đường 9 - Nam Lào, Đoàn Giỏi viết một bài cho đài, đúng hơn là một câu chuyện tâm tình giữa Đoàn Giỏi với một người bạn cũ, thời học chung với nhau ở trường trung học Mỹ Tho, được thể hiện dưới dạng một lá thư dài, chia ra nhiều đoạn và phát thanh liên tiếp nhiều lần... Người bạn ấy lúc bấy giờ là đại tá, tư lệnh một sư đoàn của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó, vị đại tá này cũng "đáp trả" bằng câu đối bất hủ:
Trung Quốc có Tào Ngu mà giỏi, Việt Nam có Đoàn Giỏi mà ngu.
== Chú thích == |
bệnh phụ khoa.txt | Bản mẫu:Infobox medical speciality
Bệnh phụ khoa là một cách nói chung về các bệnh liên quan tới các cơ quan sinh dục nữ, bao gồm các bệnh viêm nhiễm cơ quan sinh dục dưới (âm hộ, âm đạo, cổ tử cung) và cơ quan sinh dục trên (tử cung, tai vòi và buồng trứng)...
== Phân loại ==
Các bệnh phụ khoa phổ biến gồm:
Rối loạn kinh nguyệt
Viêm âm hộ
Viêm âm đạo
Viêm cổ tử cung
Viêm tử cung
Viêm buồng trứng
Ung thư tử cung
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
== Tác hại ==
Phụ nữ mang thai mắc bệnh phụ khoa, hệ lụy là sinh khó, dễ xảy thai, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, nặng nề nhất có thể dẫn tới tử vong.
Ung thư cổ tử cung thường tấn công vào phụ nữ 35 - 40 tuổi trở đi. Đây là một trong những bệnh ung thư phụ khoa rất phổ biến và gây tử vong cao hàng đầu ở phụ nữ hiện nay.
Các bệnh phụ khoa như viêm nhiễm, u nang buồng trứng, u xơ tử cung… ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
== Nguyên nhân ==
Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh phụ khoa.
Vệ sinh kém. không giữ gìn vệ sinh cơ quan sinh dục thật tốt sẽ khiến cho vi khuẩn, nấm phát triển nhanh và mạnh tấn công và gây nhiễm khuẩn âm hộ - âm đạo. Hoặc do vệ sinh quá sạch sẽ, nhiều lần trong ngày, vệ sinh quá sâu bên trong, dẫn đến mất cân bằng môi trường, vi khuẩn có nhiều cơ hội tấn công.
Lây nhiễm qua sinh hoạt tình dục. Nam giới có thể lây cho nữ giới qua quan hệ tình dục. Các loại nấm, vi khuẩn, virut lây truyền qua đường tình dục như Chlamydia, Trichomonas, trùng roi, lậu cầu khuẩn, trực khuẩn, xoắn khuẩn, các vi khuẩn kị khí, virut herpes sinh dục… xâm nhập vào tử cung gây phá hủy sự cân bằng hệ vi sinh vật, giảm chức năng tuyến phòng thủ của âm đạo.
Các nguyên nhân khác như: stress (do stress đã làm suy yếu hệ miễn dịch), thay đổi môi trường đột ngột, các thủ thuật phụ khoa không an toàn (dụng cụ đặt tránh thai, nạo hút thai…), phụ nữ ở tuổi mãn kinh…
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bệnh phụ khoa do đâu mà mắc?
Bệnh phụ khoa - Chớ coi thường
Tránh bệnh phụ khoa cho nữ giới
Mắc bệnh phụ khoa vì dung dịch vệ sinh
Vệ sinh vùng kín không đúng cách, bệnh rình rập |
đất sét.txt | Đất sét hay sét là một thuật ngữ được dùng để miêu tả một nhóm các khoáng vật phyllosilicat nhôm ngậm nước (xem khoáng vật sét), thông thường có đường kính hạt nhỏ hơn 2 μm (micromét). Đất sét bao gồm các loại khoáng chất phyllosilicat giàu các ôxít và hiđrôxít của silic và nhôm cũng như bao gồm một lượng lớn nước tham gia vào việc tạo cấu trúc và thay đổi theo từng loại đất sét. Đất sét nói chung được tạo ra do sự phong hóa hóa học của các loại đá chứa silicat dưới tác động của axít cacbonic nhưng một số loại đất sét lại được hình thành do các hoạt động thủy nhiệt. Đất sét được phân biệt với các loại hạt đất đá nhỏ khác có trong đất, chẳng hạn như bùn nhờ kích thước nhỏ của chúng, hình dạng tạo bông hay tạo lớp, khả năng hút nước cũng như chỉ số độ dẻo cao.
Trong các nguồn tài liệu khác nhau, người ta chia đất sét ra thành ba hay bốn nhóm chính như sau: kaolinit, montmorillonit-smectit, illit và chlorit (nhóm cuối cùng không phải lúc nào cũng được coi là một phần của đất sét và đôi khi được phân loại như là một nhóm riêng, trong phạm vi phyllosilicat). Có khoảng 30 loại đất sét 'nguyên chất' khác nhau trong các nhóm này, nhưng phần lớn đất sét 'tự nhiên' là các hỗn hợp của các loại khác nhau này, cùng với các khoáng chất đã phong hóa khác.
Montmorillonit, với công thức hóa học (Na,Ca)0,33(Al,Mg)2Si4O10(OH)2·nH2O, thông thường là sản phẩm được tạo ra từ phong hóa của các loại đá nghèo silica. Montmorillonit là thành viên của nhóm smectit và là thành phần chính trong bentonit.
Đất sét phiến hàng năm là loại đất sét với các lớp tạo ra hàng năm thấy rõ được, được hình thành bởi sự khác biệt theo mùa trong sự xói mòn và hàm lượng chất hữu cơ. Dạng này của trầm tích là phổ biến trong các hồ băng cũ từ thời kỳ kỷ băng hà.
Đất sét Leda là loại duy nhất của đất sét vùng biển, thuộc loại bản địa của địa hình bị băng hà xói mòn thuộc Na Uy, Canada và Thụy Điển. Nó là loại đất sét có độ nhạy cao, dễ chuyển thành thể nhão, là nguyên nhân gây ra một vài vụ lở đất nguy hiểm.
== Sử dụng đất sét ==
Đất sét là chất mềm dẻo khi ẩm, điều này có nghĩa là rất dễ tạo dạng cho nó bằng tay. Khi khô nó trở nên rắn chắc hơn và khi bị "nung" hay làm cứng bằng nhiệt độ cao, đất sét trở thành rắn vĩnh cửu. Thuộc tính này làm cho đất sét trở thành một chất lý tưởng để làm các đồ gốm sứ có độ bền cao, được sử dụng cả trong những mục đích thực tế cũng như dùng để làm đồ trang trí. Với các dạng đất sét khác nhau và các điều kiện nung khác nhau, người ta thu được đất nung, gốm và sứ. Loài người đã phát hiện ra các thuộc tính hữu ích của đất sét từ thời tiền sử và một trong những đồ tạo tác sớm nhất mà người ta đã biết đến là các bình đựng nước làm từ đất sét được làm khô dưới ánh nắng mặt trời. Phụ thuộc vào các hợp chất có trong đất, đất sét có thể có nhiều màu khác nhau, từ màu trắng, xám xịt tới màu đỏ-da cam sẫm.
Đất sét được nung kết trong lửa đã tạo ra những đồ gốm sứ đầu tiên và hiện nay nó vẫn là một trong những vật liệu rẻ tiền nhất để sản xuất và sử dụng rộng rãi nhất. Gạch, ngói, các xoong nồi từ đất, các đồ tạo tác nghệ thuật từ đất, bát đĩa, thân bugi và thậm chí cả các nhạc cụ như đàn ocarina đều được làm từ đất sét. Đất sét cũng được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp, chẳng hạn trong sản xuất giấy, xi măng, gốm sứ và các bộ lọc hóa học.
Đất sét còn được sử dụng làm vật liệu chống thấm nước cho các công trình thủy lợi: Cống rãnh, đập ngăn nước....
== Xem thêm ==
Gốm sứ
Khoáng vật sét
Kích thước hạt
Danh sách khoáng vật
Plastixin, chất dẻo thay thế cho đất sét nặn.
== Tham khảo ==
Danh pháp khoáng chất đất sét trong American Mineralogist.
== Liên kết ngoài ==
WHO (2005), Bentonite, kaolin, and selected clay minerals, số 231 trong ‘Environmental Health Criteria’, WHO. Có sẵn tại đây
Sử dụng đất sét làm vật liệu xây dựng. Xây dựng bằng đất sét
Đất Sét nghệ thuật Clartz - Đất sét được sử dụng để làm nên những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. |
danh pháp đồng nghĩa (phân loại học).txt | Trong danh pháp khoa học, danh pháp đồng nghĩa là các danh pháp khoa học khác của một đơn vị phân loại. Thuật ngữ và cách sử dụng khác nhau đối với động vật học và thực vật học.
== Xem thêm ==
Từ đồng nghĩa
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Blackwelder, R. A. (1966). Taxonomy: A text and reference book. New York: Wiley. |
ngôn ngữ học châu âu.txt | Ngôn ngữ học châu Âu là ngành ngôn ngữ học khá mới mẻ, nghiên cứu về các ngôn ngữ tại châu Âu. Tuy nhiên, ở đây châu Âu không được hiểu theo nghĩa nhất định. Có ba cách định nghĩa về châu Âu, dựa trên:
Chính trị (ngôn ngữ của Cộng đồng châu Âu)
Địa lý (từ Đại Tây Dương đến sông Ural)
Nhân loại học (ngôn ngữ của những quốc gia đặc trưng bởi di sản tiểu Hy Lạp và Latin (gồm những quy tắc luật pháp), (sự đa dạng về Thiên chúa Giáo La Mã (phương Tây) (và sự phát triển của nó trong giai đoạn Phong trào Cải cách Giáo hội La Mã đến Phong trào Phản đối cải cách Giáo hội Tin Lành), việc sử dụng mẫu tự Latin, sự tách biệt tôn giáo và phi tôn giáo, chủ nghĩa đa nguyên và cá nhân, lịch sử chung về nghệ thuật (theo nghĩa rộng) và lịch sử chung về giáo dục)
== Lịch sử ra đời ==
Thuật ngữ Eurolinguistics (ngôn ngữ học châu Âu) lần đầu tiên được Norbert Reiter đưa ra vào năm 1991 (từ Eurolinguistik của tiếng Đức). Ngoài những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ châu Âu, thì công trình của Harald Haarmann đã bao quát những vấn đề cần nghiên cứu; vấn đề này vốn cũng đã được Maio Wandruszka theo đuổi. Tuy nhiên thực tế cho thấy Wandruszka muốn các công trình khoa học (kể cả một số từ điển bách khoa) nghiên cứu một số ngôn ngữ lớn tại châu Âu: tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Ngoài ra tiếng Đức được hiểu là tiếng Đức của người Đức, tiếng Pháp của người Pháp, v.v. Việc nhận biết sự đa dạng dân tộc cũng mới chỉ bắt đầu góp một phần nào đó trong ngôn ngữ học châu Âu. Trong những năm gần đây một số vấn đề được giải quyết chủ yếu bởi Hội Ngôn ngữ học châu Âu (Eurolinguistischer Arbeitskreis Mannheim - ELAMA). Cổng Internet Euro LinguistiX (EliX) cung cấp từ điển, diễn đàn thảo luận và tạp chí online nhằm giải quyết một số vấn đề "lịch sử văn hóa ngôn ngữ", 'xã hội học ngôn ngữ", "chính trị ngôn ngữ" và "giao tiếp xuyên văn hóa". Những khái niệm cơ bản vền ngôn ngữ châu Âu đã được Joachim Grzega giới thiệu và cho xuất bản.
== Đặc điểm chung ==
Những kết quả nghiên cứu sau đây dựa vào định nghĩa văn hóa nhân loại học châu Âu.
=== Lịch sử về hệ thống chữ viết ===
Hệ thống chữ viết sử dụng ở châu Âu dựa vào nguyên tắc âm thanh-ký tự, bắt nguồn từ phía Bắc Semitic (thuộc hệ ngôn ngữ Semit – Do Thái và Ả Rập) (2000-1700 TCN), được người Hy Lạp sử dụng và từ đó truyền cho người La Mã (thế kỷ thứ 6 TCN). Chữ cái Latin được phát triển thành những dạng chữ viết khác. Trước đây ở châu Âu, dưới triều đại Frank (Carolingian), nét chữ La Tinh rất đa dạng. Và từ đây chữ viết được phát triển thành hai nhánh, Gothic/Fracture/German truyền thống, vốn được người Đức sử dụng ở thế kỷ 20, và nhánh thứ hai là tiếng Ý/Italic/Antiqua/Latin truyền thống vẫn được sử dụng. (Loại đặc biệt về chữ cái Latin trong tiếng Gaeilge (tiếng Ireland) vẫn được sử dụng trong rất nhiều cuốn sách viết bằng tiếng này).
Đối với một số quốc gia thì việc hội nhập châu Âu nghĩa là loại bỏ chữ viết cổ, ví dụ như những quốc gia sử dụng tiếng Germanic đã không còn chữ viết run (hay futhrk) (giữa thế kỷ thứ 3 đến 17), và những người sử dụng tiếng Ireland đã bỏ đi chữ viết Ogham (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 7).
=== Đặc điểm âm thanh ===
Hệ thống âm thanh giữa các ngôn ngữ rất khác biệt. Ngôn ngữ châu Âu khá đặc trưng về sự thiếu vắng những âm "click". Người ta có thể nghĩ tới những đặc điểm âm thanh ngôn ngữ cụ thể nào đó chẳng hạn như thanh điệu hầu hết người châu Âu biết đến trong tiếng Trung Quốc hay tiếng Việt. Nhưng ở châu Âu cũng có ngôn ngữ sử dụng thanh điệu: tiếng Croatia (ví dụ: léta là "anh ta bay, đang bay" nhưng lèta là "năm" (lịch), và tiếng Slovenia (ví dụ: sùda là "của chiếc tàu" trong khi súda là "của tòa án". Đối với tiếng Slovenia việc sử dụng thanh điệu tuy nhiên cũng đang giảm dần, nhưng hầu như ở ngữ cảnh nào người ta cũng có thể hiểu được. Ở Thụy Điển, tiếng Thụy Điển (không phải tiếng Thụy Điển của người Phần Lan) thanh điệu cũng tìm thấy ở một số từ chẳng hạn như anden "con vịt" trái lại với àden "ma quỷ".
=== Đặc điểm ngữ pháp ===
Như đã được đề cập ở phần dẫn nhập tổng quát, chúng ta có thể phân biệt 3 loại hình ngôn ngữ cấu trúc:
Phân tích (nghĩa là chức năng ngữ pháp /câu được diễn đặt qua hình thức phân tích và tuân theo quy luật trật tự từ khá nghiêm ngặt, ví dụ nguyên tắc trật tự từ theo chủ ngữ và động từ trong tiềng Anh),
Kết dính (nghĩa là chức năng ngữ pháp/câu được diễn đạt qua tiếp vị ngữ, mỗi tiếp vị ngữ diễn đặt chính xác một chức năng) và
Biến hình (nghĩa là chức năng ngữ pháp/câu được diễn đạt qua tiếp vị ngữ, mỗi tiếp vị ngữ diễn đạt nhiều chức năng).
Ngôn ngữ châu Âu hiếm khi đơn thuần chỉ là một trong những loại hình trên. Đối với loại hình thứ nhất (phân tích), tiếng Anh hiện đại là một ví dụ tiêu biểu; đối với loại hình thứ ba (biến hình) thì tiếng Anh cổ và tiếng Đức hiện đại là những đại diện tiêu biểu; đại diện cho loại hình thứ hai (kết dính) là tiếng Phần Lan và Hungary. Nếu một ngôn ngữ không thuộc loại hình phân tích thì cũng không có nghĩa là nó không có quy luật về trật tự từ. Tiếng Latin, Phần Lan và những ngôn ngữ thuộc nhóm Slavic có trật từ từ khá tự do, trong khi nhiều ngôn nhữ khác cho thấy những quy luật nghiêm ngặt hơn. Ví dụ tiếng Đức và tiếng Hà Lan cho thấy trật tự từ theo nguyên tắc động từ đứng ở vị trí thứ hai trong những mạnh đề chính và động từ đứng cuối trong những mạnh đề phụ. Tiếng Anh có trật tự từ S-V (chủ từ-động từ), điều này cho thấy tiếng Anh nghiêng về ngôn ngữ Roman. Tiếng Ireland có trật tự từ cơ bản là động từ đứng đầu.
Chúng ta có thể phân biệt những cấu trúc phân tích (với những hình vị ngữ pháp tự do, nghĩa là những yếu tố ngữ pháp là những từ tách biệt) và cấu trúc tổng hợp (với những hình vị kết nối, nghĩa là những yếu tố ngữ pháp được kết nối hoặc có sẵn trong một từ), ví dụ the house of the man và the man’s house (ngôi nhà của người đàn ông).
Ngoài những điểm đã nêu trên, loại hình "dạng" động từ (không phải luôn dễ dàng tách ra khỏi hệ thống "thì" trong ngôn ngữ và "giống" là điều cũng cần quan tâm. Đối với thể động từ các nhà ngữ học đưa ra sự khác biệt giữa những hành động đã hoàn thành (những hành động đã kết thúc và dẫn tới kết quả, sự kiện đơn lẻ) và những hành động chưa hoàn thành (hành động chưa được kết thúc, có hoặc chưa có thông tin về sự kết thúc, kéo dài, lặp đi lặp lại). Những ngôn ngữ trong hệ thống Slavic có hệ thống dạng động từ cứng ngắc; trong tiếng Anh có sự phân biệt giữa tiếp diễn và không tiếp diễn (thể đơn giản) và cũng có sự phân biệt giữa hiện tại hoàn thành và quá khứ; đối với ngôn ngữ Romanic thì dạng chưa hoàn thành dùng để chỉ những hành động mang tính chất bối cảnh.
Hệ thống "giống" trong ngôn ngữ hiện tại ở châu Âu là nhị phân (giống đực và giống cái chẳng hạn đối với hệ ngôn ngữ Romanic, hoặc "uter" và giống trung đối với hệ ngôn ngữ Scandinavian; nhưng cũng có những ngôn ngữ có tới ba giống (như tiếng Đức) hoặc không có giống trong danh từ (như tiếng Anh, Hungary, Phần Lan). Vấn đề giống trong ngôn ngữ liên quan tới hệ thống đại từ nhân xưng. Chúng ta thường phân biệt ba đại từ nhân xưng số ít và ba đại từ nhân xưng số nhiều, nhưng có một số ngôn ngữ có một số từ cụ thể dùng cho số đôi (như tiếng Sorbic, ở ngôi thứ ba số ít chúng ta thường phân biệt tùy theo giống văn phạm; tuy nhiên trong tiếng Anh, sự lựa chọn được quyết định bởi giống tự nhiên; Đối với tiếng Hungary và Phần Lan không có sự phân biệt, trái lại đối với những ngôn ngữ Scandinavian thì lại có sự phân biệt mà nó kết hợp cả giống văn phạm và tự nhiên. Ở một số ngôn ngữ, giống văn phạm cũng liên quan tới ngôi thứ hai số nhiều (ví dụ những ngôn ngữ thuộc nhóm Romanic).
Trong khi đó theo phương pháp truyền thống chúng ta thường nhóm ngôn ngữ theo những hệ ngôn ngữ mang tính chất lịch sử (như indo-European, Finno-ugric), có một phương pháp hiện đại hơn để xem xét những đặc điểm ngữ pháp theo quan điểm đồng đại. Một số đặc điểm cấu trúc chung có thể hình thành một sprachbund (nhóm ngôn ngữ). Đối với châu Âu, nhóm ngôn ngữ đặc trưng nhất chúng ta có thể khẳng định được đề cập tới như là SAE (Standard Average European) hoặc là nhóm Charlemagne. Những ngôn ngữ chính của nhóm này là Tiếng Đức, tiếng Hà Lan, Tiếng Pháp, tiếng Occitan, tiếng bắc Ý. Những đặc điểm quan trọng là:
Sự khác biệt giữa mạo từ xác định và không xác định.
Sự hình thành mệnh đề liên hệ đặt sau đại từ hoặc danh từ liên quan và được giới thiệu bởi những đại từ liên hệ có thể thay đổi.
Cấu trúc thì quá khứ với động từ "to have".
Cấu trúc bị động cho thấy túc từ của hành động ở vị trí cấu trúc của chủ từ và sử dụng quá khứ phân từ tươnng ứng với một trợ động từ.
Tiếp vị ngữ cụ thể biểu
Chốt Lại Em Không Biết
=== Đặc điểm về từ vựng ===
Tiếng Latin, Pháp, Anh không những đã và đang được sử dụng để làm ngôn ngữ chung mà còn ảnh hưởng tới những ngôn ngữ quốc gia/phương ngữ vì danh tiếng của những ngôn ngữ này. Vì vậy không những có những sự vay mượn cần thiết, mà còn vay mượn theo kiểu dùng cho sang và vay mượn bắt chước. Sự vay mượn từ ba ngôn ngữ này (đặc biệt là Neo-Latin có những yếu tố Hy Lạp) có thể được xem như là những từ quốc tế, cho dù đôi khi có sự khác biệt về ngữ nghĩa từ ngôn ngữ này đến ngôn ngữ kia mà có thể gây sự hiểu nhầm. Ví dụ:
Latin forma: e.g. Pháp forme; Ý, Tây Ban Nha, Cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenian, Hungary, Phần Lan, Croatia, Latvia. Forma; Đan Mạch, Thụy Điển, Anh, form; Romansh furma, Đức Form, Ireland foirm),
Tiếng Pháp restaurant, e.g. Anh, Na Uy, Romansh restaurant; Đức Restaurant; Thụy Điển restaurang; Bồ Đào Nha restaurante; Tây Ban Nha restaurante; Ý ristorante; Séc restaurace; Slovakia, Slovenian reštaurácia, Latvia restorâns; Ba Lan restauracja
Tiếng Anh manager, e.g. Na Uy, Iceland, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Phần Lan; Romansh manager; tiếng Đức Manager, Ba Lan menadżer; Croatia menedžer; Hungary menedzser
Ba ngôn ngữ phụ dùng cho việc vay mượn trong ngôn ngữ châu Âu là tiếng Ả Rập (đặc biệt là trong toán học và khoa học, thực vật và trái cây nước ngoài; tiếng Ý (đặc biệt là trong nghệ thuật, từ giai đoạn thế kỷ thứ 15 đến 17); tiếng Đức (đặc biệt trong nghệ thuật, giáo dục, hầm mỏ, thương mại từ thế kỷ 12 đến 20).
Như chúng ta biết, vì cấu trúc hay cách diễn đạt ngôn ngữ trên thế giới, nên sự thay đổi diễn ra khá nhanh do sự phát triển tri thức, sự thay đổi chính trị xã hội, v.v…Những ngữ vựng vốn cứng ngắc là những thành ngữ hay những thành ngữ mang tính ẩn dụ. Nhiều thành ngữ ở châu Âu liên quan tới những kinh nghiệm xưa hay kinh thánh, một số xuất phát từ những câu truyện quốc gia hay được nhân rộng vào những ngôn ngữ khác bằng tiếng Latin. Một câu thành ngữ châu Âu tiêu biểu với nghĩa ‘Tay làm hàm nhai’ (Nguyên văn: Không có lợi nhuận nếu không làm việc) được dịch là: "Roasted pigeons/larks/sparrows/geese/chickens/birds don’t fly into one’s mouth". Ví dụ, tiếng Séc dịch là Pečeni ptáci nelítají do huby (birds!); Đan Mạch. Stegte duer flyve ingen i munden (Tauben!); tiếng Hà Lan: De gebraden duiven vliegen je niet in de mond (pigeons!) dịch ra tiếng Anh: He thinks that larks will fall into his mouth roasted; Phần Lan:. Ei paistetut varpuset suuhun lennä (sparrows!); Pháp: Les alouettes ne vous tombent pas toutes rôties dans le bec (larks!). Đức: Gebratene Tauben fliegen einem nicht ins Maul; Hungary: Senkinek nem repül a szájába a sült galamb (pigeon!);Latvia; Cepts zvirbulis no jumta mutē nekrīt (sparrow!); Na Uy: Dat kjem inkje steikte fuglar fljugande i munnen (bird!); Ba Lan: Pieczone gołąbki nie przydą same do gąbki (pigeons!); Slovakia: Nech nik nečaká, že mu pečené holuby budú padať do úst (pigeons!); Slovenian: Pečeni golobje ne lete nobenemu v usta [pigeons!]; Thủy Điển: Spekta sparvar flyga ingen i munnen (sparrows!).
=== Chiến lược giao tiếp tiêu biểu ===
Theo cách hiểu của Geert Hofstede thì châu Âu nếu được hiểu theo nghĩa rộng thì sẽ được xem là một nền văn minh riêng lẻ (nghĩa là phong cách thẳng thắng và mang tính phân tích khá ưa chuộng, những vấn đề quan trọng được đề cập trước khi giải thích hay minh họa trong buổi tranh luận hay thảo luận dựa vào sự thỏa thuận hay đa số ý kiến nhất trí); trái lại, đối với những nền văn minh như châu Á, Nhật, Ả Rập và Hindu thì lại mang tính tập thể (nghĩa là theo phong cách gián tiếp và tổng hợp, sự giải thích và minh họa được đưa ra trước khi những điểm quan trọng trong buổi tranh luận hay thảo luận được chấp nhận qua sự hài lòng). Chúng ta có thể hiểu sự khác biệt mà Edward Hall đã đưa ra giữa việc giao tiếp có "ngữ cảnh thấp" (nghĩa là theo phong cách trực tiếp, hướng tới con người, cởi mở, nói nhiều) và giao tiếp với "ngữ cảnh cao" (nghĩa là theo phong cách gián tiếp, hướng tới chức vụ, kín đáo, im lặng). Hầu hết những quốc gia châu Âu giao tiếp theo "ngữ cảnh thấp":
Đặc điểm tiêu biểu về chiến lược giao tiếp ở châu Âu như thế nào?
Một trong những đặc điểm đó là việc sử dụng hỗ tương về cách xưng hô (vấn đề này rất khác biệt ở Giáo hội Chính thống Slavic và văn minh phương đông). Ở châu Âu chức vụ đóng vai trò kém quan trọng hơn ở những nền văn minh châu Á và Nhật. Sự giao tiếp giữa hai giới hoàn toàn bình thường ở châu Âu, trong khi đó theo truyền thống thi vấn đề nà rất khó đạt tới đối với nền văn minh Ả Rập. Về đại từ nhân xưng, chúng ta có thể thấy rằng ở hầu hết những ngôn ngữ châu Âu thường dùng đại từ chung cho cà hai giới (vấn đề này cũng đang tồn tại ở những quốc gia châu Mỹ Latin. Một số nước Bắc Mỹ, và một số quốc gia theo Chính thống giáo Slavic). Có nhiều xu hướng trong việc sử dụng cách xưng hô nhằm phân biệt châu Âu từ những nền văn minh khác. Ở những tình huống thân mật thì ngày nay những người châu Âu thích gọi nhau bằng tên; trong giao tiếp thương mại, trước hết nên dùng tước hiệu chính xác, và sau đó có thể thay đổi cách xưng hô khá nhanh. Tước hiệu dĩ nhiên là quan trọng hơn ở những quốc gia châu Á, Hindu, Ả Rập, Nhật Bản; nền văn minh Chính Thống giáo Slavic có thể được đặc trưng bởi việc thường xuyên sử dụng biệt danh đối với tất cả những cuộc nói chuyện riêng tư và thân mật.
Về những thuật ngữ chào hỏi ở châu Âu, chúng ta có thể thấy nhiều câu chào hỏi mong muốn có thời gian tốt đẹp trong ngày, sức khỏe (hoặc hỏi xem có khỏe không), mong ước sự thành công hay may mắn). Người châu Á và Ả Rập thì thường ước muốn hòa bình và điều này không thấy ở những quốc gia châu Âu. Điều thú vị là nhiều câu chào hỏi của người châu Âu thường (ít ra ở những tình huống thân mật) cắt giảm ở mức độ ngữ âm, điều này khó thấy ở những quốc gia châu Á, Ả Rập, Hindu, Nhật.
Đề tài những cuộc nói chuyện ngắn thường là du dịch, bóng đá (và những luật thể thao quốc tế), sở thích, công nghiệp giải trí Mỹ và thời tiết. Trái lại, tình dục, tôn giáo và chính trị (và chửi thề) thường là những điều cấm kị. Ở các nước châu Á, Hindu, Ả Rập, Nhật Bản, người ta thường được hỏi về gia đình (ở Ả Rập, tuy nhiên không được hỏi về vợ). Vì thiên về địa vị nên những nền văn minh Viễn Đông thường hỏi về những thông tin về hình thức quản lý.
Đối với những người châu Âu, cụm từ "cảm ơn" thường được mong đợi và thích được sử dụng ở một số tình huống, trong khi đó những người Hindu thì lại tiết kiệm sử dụng cụm từ này và thường hài lòng với những cái nhìn mang nghĩa cảm ơn; mặt khác những nền văn minh khác không thuộc phương Tây thì lại mở rộng hình thức cảm ơn.
Với những lời yêu cầu, thể cầu khiến đơn giản thường không được sử dụng thay vào đó là những câu hỏi, những trợ động từ đặc biệt, bàng thái cách, câu điều kiện, những động từ đặc biệt. Sự thay đổi hình thức động từ được sử dụng trong tiếng Nhật và một số ngôn ngữ châu Á, không phải là một phần ở những ngôn ngữ (Indo-) châu Âu.
Khi người ta nói "không", thường thì hình thức xin lỗi hay giải thích được sử dụng. Ở một số nước châu Á, từ "không" ở những tình huống trang trọng thường thì không được hoan nghênh.
Những lời xin lỗi thì cần thiết sau khi ai đó xâm phạm chỗ riêng tư của người khác (điều này quan trọng hơn và dễ bị vi phạm ở Mỹ và những quốc gia châu Á hơn là ở châu Âu, và quan trọng hơn ở châu Âu hơn là châu Mỹ Latin và những quốc gia Ả Rập.
Ở châu Âu, để an toàn thì người ta thường khen ngợi quần áo và diện mạo bên ngoài (ở những quốc gia Ả Rập điều này bị cấm ở những người khác phái), bữa ăn, trang bị trong phòng ngủ (thậm chí những vật cứng vốn nên tránh ở những nước Ả Rập).
=== Ngôn ngữ chung (lingua franca)– quá khứ và hiện tại ===
Lịch sử châu Âu được đánh dấu bởi ba ngôn ngữ chung:
Latin (Trung cổ và Cận đại) (đến 1867, và Hungary là quốc gia sau cùng từ bỏ tiếng Latin như là một ngôn ngữ chính thức ngoài Vatican), cùng với xu thế đi xuống dần của ngôn ngữ chung từ cuối thời kỳ Trung Cổ, khi những phương ngữ trở trên ngày càng quan trọng hơn (Viện ngôn ngữ đầu tiên ở Italy vào năm 1582/83), vào thế kỷ thứ 17 thậm chí ở những trường đại học.
Tiếng Pháp (từ những triều đại Cardinal Richelieu và Louis XIV, khoảng 1648 (nghĩa là sau Cuộc chiến 30 năm, vốn chẳng ảnh hưởng gì tới nước Pháp, và do đó mà trở nên hưng thịnh), đến cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khoảng 1918)
Tiếng Anh (từ chiến tranh Thế giới lần thứ nhất và đặc biệt sau chiến tranh thế giới lần thứ 2).
Những ngôn ngữ chung khác thường ít phổ biến, nhưng cũng đã đóng vai trò khá quan trọng trong lịch sử châu Âu gồm:
Provencal (= Occitan) (thế kỷ 12-14, vì thi ca Troubadour)
Hạ Đức (thế kỷ 14-16, trong suốt thời hoàng kim của Liên minh Hanse)
Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là ở giai đoạn Đế chế La Mã Phương Đông(Đế chế Byzantine).
=== Những cuốn từ điển và văn phạm đầu tiên ===
Loại từ điển đầu tiên là glossary (chú thích những thuật ngữ khó), nghĩa là liệt kê theo những cặp từ vựng (theo trật tự chữ cái hoặc theo những khái niệm). Cuốn the Latin-German (Latin-Bavarian) Abrogans là một trong những cuốn đầu tiên. Có thể thấy một làn sóng làm từ điển từ thế kỷ thứ 15 trở đi (sau khi máy in ra đời, với sự quan tâm về việc chuẩn hóa các ngôn ngữ.
=== Ngôn ngữ và bản sắc, tiến trình chuẩn hóa ===
Ở thời kỳ Trung Cổ, hai yếu tố định nghĩa châu Âu là Christianitas và Latinitas. Do đó ngôn ngữ- ít nhất ngôn ngữ vượt ra ngoài phạm vi quốc gia - đóng vai trò cơ bản. Vấn đề này đã thay đổi sự phát triển của những ngôn ngữ dân tộc ở những bối cảnh chính thức và khơi dậy tình cảm dân tộc. Ngoài ra, vấn đền này cũng đã dẫn đến việc chuẩn hóa các ngôn ngữ dân tộc và sự ra đời của những viện ngôn ngữ (ví dụ 1582 có viện Accademia della Crusca ở Florence; 1617 Fruchtbringende Gesellschaft; 1635 Academie francaise; 1713 Real Academia de la Lengua in Madrid). "Ngôn ngữ" sau đó (và ngày nay) có sự kết nối nhiều đến vấn đề "dân tộc" và "văn minh" (cụ thể là ở Pháp). "Ngôn ngữ" cũng được sử dụng để tạo ra cảm giác về "bản sắc tôn giáo và đạo đức" (ví dụ những bản dịch kinh thánh khác nhau bởi những người thiên chúa giáo và tin lành có cùng một ngôn ngữ).
Trong nhữg buổi thảo luận và những tiến trình chuẩn hóa đầu tiên liên quan tới tiếng Ý ("quesione della lingua": Mordern Tuscan/Florentine và Old Tuscan/Florentine và Venetian > Modern Florentine + archaic Tuscan + Upper Italian), tiếng Pháp (chuẩn dựa trên Parisian), tiếng Anh (chuẩn dựa vào tiếng London) và tiếng Đức (High) (dựa vào chancellery of Meßen/Saony + Middle German + chancellary of Praguee/Bohemia ("Common German). Và một số những quốc gia khác cũng đã bắt đầu tìm kiếm và phát triền về chuần hóa vào thế kỷ 16.
=== Về vấn đề ngôn ngữ thiểu số ===
Cho dù tiếng Anh rất quan trọng, nhưng châu Âu luôn kết hợp lại với nhau với sự đa dạng ngôn ngữ, vấn đề này cho thấy việc bảo vệ các ngôn ngữ được xem là không quan trọng, ví dụ như tổ chức the European Charta of Regional and Minority Languages. Điều này cho thấy quan điểm cho rằng "một dân tộc một ngôn ngữ" là sai (cho dù những nỗ lực đồng nhất ngôn ngữ dân tộc ở Pháp trong cuộc cách mạng hoặc ở Tây Ban Nha của Franco). Một ngôn ngữ thiểu số có thể được định nghĩa là một ngôn ngữ được sử dụng bởi một nhóm người như là một dân tộc thiểu số và ngôn ngữ của nhóm người này thường khác biệt và nó không phải tiếng địa phương của ngôn ngữ chuẩn mực. Ở châu Âu một số ngôn ngữ có vị trí khá mạnh theo nghĩa chúng có một vị trí khá đặc biệt, (ví dụ: Basque, Irish, Welsh(Cymric, Catalan, Rhaeto-Romance/Romansh), trái lại những ngôn ngữ khác chiếm vị trị khá yếu (ví dụ như tiếng Frisian, Scottish Gaelic, Thổ Nhĩ Kỳ) - đặc biệt là có những ngôn ngữ thiểu số không có được vị trí chính thức trong Cộng đồng châu Âu (có thể do chúng không phải là một phần trong di sản văn hóa của một nền văn minh). Một số ngôn ngữ thiểu số chưa có chuẩn mực, nghĩa là chúng chưa đạt tới mức độ của một nhóm ngôn ngữ, và chúng có thể thay đổi nếu những ngôn ngữ này được đưa cho vị trí chính thức.
=== Những vấn đề về chính trị ngôn ngữ ===
Pháp là nước có nguồn gốc hai luật hay sắc lệnh liên quan tới ngôn ngữ: the Ordonnance de Villers-Cotterêts (1239) quy định rằng mỗi văn bản ở nước Pháp nên viết bằng tiếng Pháp (nghĩa là không viết bằng tiếng Latin hoặc Occitan) và the French Loi Toubon hướng tới loại bỏ những từ tiếng Anh từ những văn bản chính thức. Nhưng đặc điểm cụ thể tiêu biểu của châu Âu là tính đa dạng và sự tiếp nhận về ngôn ngữ. Bằng chứng minh họa về sự khuyến khích sự đa dạng ngôn ngữ là trường dịch thuật ở Toledo hình thành vào thế kỷ thứ 12 (Vào thời kỳ Toledo trung cổ thì người thiên chúa giáo, người Do thái và người Ả Rập sống với nhau khá yên bình.
Thái độ ngôn ngữ khá tiếp nhận này cũng là lý do tại sao quy luật chung của khối EU rằng mỗi ngôn ngữ dân tộc chính thức cũng là ngôn ngữ chính thức của ngôn ngữ EU. Tuy nhiên, ngôn ngữ Flemish và Letzebuergish/ Luxemburgish không phải là ngôn ngữ chính thức EU bởi lẽ cũng còn có nhiều ngôn ngữ chính thức khác mạnh hơn có vị trí trong khối EU ở những quốc gia được coi trọng. Nhiều khái niệm về chính sách ngôn ngữ EU cũng đang được bàn cãi:
Một ngôn ngữ chính thức (ví dụ như tiếng Anh hay Quốc tế ngữ)
Nhiều ngôn ngữ chính thức (ví dụ như tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha + chủ đề khác-ngôn ngữ lệ thuộc)
Tất cả những ngôn ngữ dân tộc đều là những ngôn ngữ chính thức, nhưng với một số ngôn ngữ khác dùng cho việc dịch thuật (như tiếng Anh hoặc Quốc tế ngữ).
== Tham khảo ==
Joachim Grzega: EuroLinguistischer Parcours: Kernwissen zur europäischen Sprachkultur, IKO, Frankfurt 2006, ISBN 3-88939-796-4
== Liên kết ngoài == |
lord lieutenant.txt | Lord Lieutenant là tên gọi cho người đại diện cá nhân của quốc vương Anh tại các đơn vị hành chính của Vương quốc Anh. Nhiệm vụ chính của họ bao gồm việc đón tiếp chính thức một thành viên của gia đình hoàng gia khi họ tới thăm.
Trước đây, cứ mỗi hạt truyền thống đều có một Lord Lieutenant. Ở Anh và xứ Wales khu vực có một Lord Lieutenant, được gọi là hạt nghi lễ (ceremonial county). Ở Scotland, chúng được gọi là lieutenancy areas.
Tại Ireland, Lord Lieutenant of Ireland là người đứng đầu chính quyền Anh cho đến năm 1922, khi Ireland tuyên bố độc lập, mà ngày nay là nước Cộng hòa Ireland.
Deputy Lieutenant (DL) i là tên chính thức của Anh cho một cấp dưới của Lord Lieutenant.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Bài viết này có sử dụng văn bản nay đã thuộc phạm vi công cộng, được lấy từ: Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Lieutenant”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge.
== Liên kết ngoài ==
Royal.gov.uk: Official Royal Lord-Lieutenants website |
kenwood corporation.txt | Kenwood Corporation (株式会社ケンウッド, Kabushiki-Gaisha Ken'uddo) là một tập đoàn Nhật Bản hoạt động trong lĩnh vực thiết kế, phát triển hệ thống âm thanh xe hơi, gia đình, và các thiết bị liên lạc hai chiều vô tuyến.
== Lịch sử ==
Kenwood được thành lập năm 1946 với tên Kasuga Radio Co. Ltd. tại thành phố Komagane, tỉnh Nagano, Nhật Bản, và đổi tên thành Trio Corporation vào năm 1960. Năm 1963, công ty thành lập văn phòng đại diện đầu tiên tại nước ngoài, đặt tại Los Angeles, California, USA.
Vào những năm đầu thập niên 60, các sản phẩm của Trio tập trung vào lĩnh vực liên lạc vô tuyến và được bán dưới thương hiệu Lafayette Radio.
William "Bill" Kasuga, một quản lý thuộc công ty Hoa Kỳ A&A Trading Co., (chuyên nhập khẩu hàng điện tử Nhật Bản) hợp tác với George Aratani và Yoichi Nakase để thành lập một công ty độc quyền nhập khẩu và phân phối các sản phẩm của Trio. Tên công ty hiện nay (Kenwood) được Kasuga nghĩ ra bằng cách ghép "Ken", một cái tên quen thuộc với Nhật Bản và Bắc Mỹ, và "Wood", với ý nghĩa bền bỉ, và cũng liên quan tới Hollywood, California. Thương hiệu này nhanh chóng trở nên phổ biến hơn hẳn Trio, dẫn đến việc Trio mua lại và đổi tên thành Kenwood vào năm 1986. George Aratani là chủ tích đầu tiên của Kenwood Hoa Kỳ, và được kế nhiệm bởi Kasuga. Kenwood sáp nhập với JVC vào năm 2008, trở thành công ty JVC Kenwood.
Kenwood giới thiệu dòng sản phẩm Sovereign vào năm 2001.
Ngày nay, sản phẩm của công ty chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực hệ thống âm thanh gia đình, xe hơi, liên lạc vô tuyến hai chiều, và thiết bị viễn thông kỹ thuật số không dây.
Kenwood là thương hiệu thuộc tập đoàn JVCKENWOOD.
== Sản phẩm ==
=== Thiết bị thu nhận vô tuyến không chuyên ===
Kenwood sản xuất nhiều dòng sản phẩm thu nhận vô tuyến, bao gồm HF, VHF/UHF, và thiết bị cầm tay phổ thông. Dòng sản phẩm thu phát "TS" hoạt động trên dãy cao tần HF, từ 1.8 đến 50 MHz.
Ngoài ra còn có các dòng khách như 100, 500, và 2000. Kenwood cũng sản xuất các thiết bị "B" model, cho phép truyền phát mà không có màn hình hiển thị hay phím điều khiểu, mà được điều khiển thông qua máy tính hoặc thiết bị chuyên dụng từ xa.
=== Dòng sản phẩm hi-fi KA ===
Dòng âm-ly tích hợp 2 kênh của Kenwood được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1977 và được sản xuất đến cuối những năm 80.
Các model âm-ly trong trong dòng này bao gồm:
KA-1000 (11/1980)
KA-2000
KA-2002 (09/1970)
KA-2200 (10/1982)
KA-7002 (1971)
KA-7100 (10/1976)
KA-7300 (10/1975)
KA-8100 / KA-8150 (06/1977)
KA-900 (11/1980)
KA-907 / KA-9900 (10/1978)
KA-9100 / KA-9150 (1977)
KA-6100 / (1978/9)
=== Hệ thống hi-fi NV ===
Dòng sản phẩm hi-fi NV được giới thiệu vào năm 2000, với lối thiết kế khá hiện đại vào thời điểm đó. NV-301/701 là hai sản phẩm cao cấp thuộc dòng NV series.
=== Hệ thống hi-fi dòng K ===
Bắt đầu từ năm 1994, Kenwood bắt đầu ra mắt các dòng máy hi-fi nhỏ gọn, bắt đầu với model K's CORE 1000, CORE 7000. Những sản phẩm này hiện nay vẫn còn phổ biến tại Việt Nam, cùng với những model mới hơn như K521/531, K731, vv.
=== Các thiết bị liên lạc ===
Kenwood cũng sản xuất các hệ thống liên lạc vô tuyến hai chiều, bao gồm DECT intercom, PMR446, dPMR446, dPMR, P25, DMR và NXDN. Dòng sản phẩm này có cả các thiết bị cầm tay (ATEX / IECEx), thiết bị khuyếch đại, và ứng dụng phần mềm.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
www.kenwood.com — Kenwood Global
www.kenwoodcommunications.co.uk —Kenwood Communications UK
www.jvckenwood.com —JVCKENWOOD Corporation
Kenwood Transceivers by date of manufacture |
anh chị em họ.txt | Anh chị em họ là một thuật ngữ chỉ quan hệ họ hàng và đề cập đến những người thân thích với người trong một gia tộc hoặc có tổ tiên chung. Nói một cách khác, anh chị em họ tức là người con của cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột đối với đối tượng đang đề cập. Nếu người con trai sinh trước con người con gái thì gọi là anh em họ, người con gái sinh trước con trai được gọi là chị em họ. Con của chú bác gọi là anh chị em chú bác (anh chị em con chú con bác), con của dì gọi là anh chị em bạn dì (anh chị em con dì), con của cô cậu gọi là anh chị em cô cậu (anh chị em con cô con cậu).
== Đặc điểm ==
Anh chị em chú bác ruột, cô cậu ruột, bạn dì ruột là mối quan hệ có thứ bậc thân thiết thấp hơn một bậc so với anh chị em ruột. Anh chị em họ nêu trên có mối quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời. Chính vì vậy theo tục lệ cổ xưa hay quy định của Luật hôn nhân gia đình ở hầu hết các nước đều nghiêm cấm anh chị em họ 3 đời lấy nhau.
Tuy vậy trên thực tế vấn xảy ra nhiều trường hợp anh chị em họ yêu nhau và cưới nhau. Mặt khác tục lệ ở một số nước vẫn cho phép anh chị em họ lấy nhau như Trung Quốc (anh chị em họ gọi là biểu ca, biểu muội. Biểu ca, biểu muội có thể yêu nhau và kết hôn với nhau. Trong tác phẩm Thiên long bát bộ của nhà văn Kim Dung có miêu tả việc Vương Ngữ Yên yêu biểu ca của mình là Mộ Dung Phục). Hôn nhân giữa những người là anh em họ từ lâu vẫn là điều cấm kỵ và được coi là trái pháp luật tại 30 bang của Mỹ và một số nước châu Âu, nhưng lại không hoàn toàn bị cấm ở những nơi khác, nhất là Trung Đông, châu Á và châu Phi.
Một nghiên cứu cho thấy nguy cơ sinh con dị tật, chậm phát triển tinh thần hoặc bị bệnh di truyền nặng nề ở những cặp vợ chồng là anh em họ thế hệ một chỉ cao hơn 2-3% so với những cặp vợ chồng khác. Nếu xét về khía cạnh sinh học, con cái của những cặp vợ chồng cùng huyết thống có nhiều nguy cơ bị rối loạn di truyền hơn, vì các anh em họ thế hệ một (con chú con bác, con cô con cậu) có 12,5% gene giống nhau, và khả năng nhận được bản sao giống nhau của một gene bệnh mang tính lặn là khá cao (6,25%). Người mang một gene lặn không có biểu hiện bệnh nhưng những đứa con nhận được cả hai gene này từ bố mẹ sẽ bị bệnh.
== Luật Việt Nam ==
Theo Điều 8, Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000 thì những người có quan hệ trong phạm vi 3 đời là những người có cùng một nguồn gốc sinh ra: Cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha (anh chị em ruột) là đời thứ 2. Anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ 3. Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 cũng quy định: Những trường hợp cấm kết hôn gồm giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
Nghị Quyết 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 tại Mục 1 điểm C.3 quy định: giữa những người có dòng máu về trực hệ là cha mẹ với con, giữa ông bà với cháu nội cháu ngoại. Giữa những người có họ trong phạm vi 3 đời là những người có cùng một gốc sinh ra: Cha mẹ là đời thứ nhất, anh em cùng cha cùng mẹ hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha là đời thứ 2, anh chị em con chú con bác con cô con cậu con dì là đời thứ 3.
== Vai vế ==
Anh chị em họ người Việt căn cứ vai về theo thứ tự lớn nhỏ của cha mẹ chứ không phải theo tuổi của mấy anh chị em họ. Về khía cạnh này người Việt khác hẳn người Hoa vốn cứ theo tuổi mà gọi; ai lớn là anh, nhỏ là em.
=== Con chú con bác ===
"Đinh" con ông Ất và bà Kim, đối với "Mậu" con ông Bính và bà Xuân là hai anh em họ, con chú con bác. Mậu gọi Đinh là "anh", xưng "em" vì Đinh là ngành ông Ất, anh ông Bính, bất kể tuổi thật của Đinh và Mậu.
=== Con cô con cậu ===
"Mộc" con ông Kim và bà Sửu, đối với "Bính" con ông Ất và bà Xuân là hai anh em họ, con cô con cậu. Bính gọi Mộc là "anh", xưng "em" vì Mộc là ngành bà Sửu, chị ông Ất, bất kể tuổi thật của Bính và Mộc.
=== Con dì con dà ===
"Mộc" con ông Kim và bà Sửu, đối với "Hạ" con bà Dần và ông Xuân là hai anh em họ, đôi con dì, hay còn gọi là con dì con dà. Hạ gọi Mộc là "anh", xưng "em" vì Mộc là ngành bà Sửu, chị bà Dần, bất kể tuổi thật của Mộc và Hạ.
=== Cháu chú cháu bác, cháu cô cháu cậu, đôi cháu dì ===
Ngoài hàng con của thế hệ anh em nhau, hàng cháu cũng gọi nhau là anh em họ. Như trường hợp trong biểu đồ sau đây. Ông Tây và bà Thìn là đôi cháu cô (bà Sửu) cháu cậu (ông Ất). Bà Thìn gọi ông Tây là anh, bất kể tuổi tác của hai người, vì ông Ất là anh bà Sửu.
Xã hội cổ truyền người Việt không hạn chế hôn nhân ở thế hệ cháu cô cháu cậu hoặc đôi cháu dì, nhất là khi một nhánh đã thành họ ngoại nên có câu dân gian:
Cháu bá, cháu dì, tù tì lấy nhau
hoặc
Cháu cậu mà lấy cháu cô
Thóc giống đầy bồ, lúa má nhà ta.
Tuy nhiên có nơi nếu là họ nội cháu chú cháu bác thì luật luân thường vẫn cho là trái phép nên ngăn cấm không được lấy nhau.
== Chú thích == |
thời bao cấp.txt | Thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản. Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy. Mặc dù chế độ bao cấp đã tồn tại ở miền Bắc dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ trước năm 1975, song thời kỳ bao cấp thường được dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai đoạn từ đầu năm 1976 đến cuối năm 1986 trên toàn quốc, tức là trước thời kỳ Đổi mới.
Với kinh tế kế hoạch dần loại bỏ tiểu thương, hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền điều hành, hạn chế đến thủ tiêu việc mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác. Nhà nước có độc quyền phân phối hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng tiền mặt. Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người, tiêu biểu nhất là sổ gạo ấn định số lượng và mặt hàng được phép mua.
== Kinh tế ==
Giáo sư Trần Văn Thọ viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh: "Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam. Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976. Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sông của người dân vô cùng khốn khó. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam... Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương. Nhưng phải đợi đến đổi mới (tháng 12/1986) mới có biến chuyển thực sự. Do tình trạng đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam trong 10 năm trước đổi mới chỉ tăng 35%, trong thời gian đó dân số tăng 22%. Như vậy, GDP đầu người trung bình tăng chỉ độ 1% (mỗi năm)"
=== Cơ chế quản lý kinh tế ===
Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hoá tập trung với những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương... đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định không gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh.
Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát - giao nộp". Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động, vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động.
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch. Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh, và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân. Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
=== Các hình thức bao cấp ===
Bao cấp qua giá và số lượng hàng hóa:
Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường. Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
Công nhân lao động nặng được cấp 20 kg gạo mỗi tháng, trong khi cán bộ công chức chỉ được có 13 kg. Do gạo ít nên thường độn thêm ngô, khoai, sắn, bo bo, phần gạo do trung ương cấp còn phần độn do địa phương phụ trách tăng gia thêm vào, như 13 kg gạo thì có 10 kg là độn khoai, sắn...
Cho dù có tiền, hàng hóa rất khan hiếm, mà dù có tem phiếu người mua có thể sắp hàng vào mua nhưng đến lượt mình thì không còn hàng, đành về tay không. Hàng hóa thì ngoài phẩm chất kém, lượng hàng rất hạn chế, chỉ đủ dùng một thời gian ngắn, đến cuối tháng thì đã cạn kiệt, phải mua ở chợ đen.
Người ngoại quốc ở Việt Nam thì có quyền mua sắm một số mặt hàng ở cửa hiệu quốc doanh riêng biệt như Intershop ở Hà Nội, cung cấp một số mặt hàng đặc biệt như đồ hộp, rượu vang.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu:
Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực tích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu áp dụng sổ gạo vào khoảng năm 1960, lúc đầu là lương thực, sau thêm tem phiếu cho tất cả càng mặt hàng nhu yếu. Trọng tâm của thời bao cấp là tem phiếu quy định loại hàng và số lượng người dân được phép mua, chiếu theo một số tiêu chuẩn như cấp bậc và niên hạn. Có diện được ưu đãi, cho phép ưu tiên mua dùng; diện khác thì không. Ví dụ như thịt lợn, người dân thường chỉ được mua 1,5 kg/tháng nhưng cán bộ cao cấp có quyền mua 6 kg/tháng. Pin, Vải vóc, phụ tùng xe đạp, đường cát, sữa đặc, chất đốt, nước mắm, mỡ, muối, tất cả đều có tem phiếu.
Tùy thuộc vào vị trí công việc, đặc thù nghề nghiệp mà cán bộ, công chức nhà nước cũng như người dân lao động được phát tem phiếu mua lương thực, thực phẩm với chế độ riêng.
Cán bộ cao cấp hưởng tiêu chuẩn đặc biệt A1; phiếu A dành cho bộ trưởng; thứ trưởng phiếu B; trưởng các cục, vụ, viện được hưởng phiếu C và có các cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tông Đản, Nhà thờ, Vân Hồ (Hà Nội)... Lúc bấy giờ dân gian có câu Tông Đản là của vua quan/ Nhà thờ là của trung gian nịnh thần/ Đồng Xuân là của thương nhân/ Vỉa hè là của nhân dân anh hùng.
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách:
Không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn. Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin - cho".
=== Địa vị đồng tiền ===
Dưới thời bao cấp, tem phiếu chiếm địa vị quan trọng hơn tiền vì có tiền mà không có tem phiếu cũng không được phép mua hàng. Mua hàng gì thì có tem phiếu hàng đó. Một phần tiêu biểu của thời kỳ bao cấp là đồng tiền Việt Nam bị mất giá. Lương công nhân đôi khi cũng được trả bằng hiện vật vì giá trị đồng tiền cứ sụt dần. Nếu lấy đồng lương năm 1978 làm chuẩn thì số tiền đó năm 1980 chỉ là 51,1%. Đến năm 1984 thì còn 32,7%.
Hàng hóa lưu hành ngoài thị trường ít nên nạn đầu cơ hay gây giá cả tăng vọt. Tem phiếu có thể bị "mua bán" (chính xác là đổi chác, mua hộ xong đổi hàng ở ngoài) dù là không được phép.
== Nhà ở ==
Ngoài hàng tiêu dùng, dưới thời bao cấp nhà nước còn nắm cả việc phân phối nhà cửa. Tiêu chuẩn là mỗi người được 4 mét vuông. Những khu nhà tập thể giống như ở Liên Xô được xây lên trong thành phố và cấp cho cán bộ trung cấp và công nhân nhưng quản lý kém khiến khu đất công cộng bị lấn chiếm khiến khó nhận ra đâu là của chung, đâu là của riêng. Nhà cửa hư hỏng thì có Sở nhà đất lo sửa. Đời sống trong những khu tập thể này càng tồi tệ với việc chăn nuôi gia súc trong những căn hộ chật hẹp, mất vệ sinh. Đây cũng là một khía cạnh của thời bao cấp trong thành phố. Giá cả nhà cửa ở các thành phố rất rẻ, nhưng lại rất khó mua vì không có tự do thị trường bất động sản, mà thay vào đó quản lý rất chặt.
== Xã hội ==
Ngoài hậu quả kinh tế, thời bao cấp tại Việt Nam cũng là thời kỳ khép kín và nghi kỵ về mặt xã hội và chính trị. Mặc dù không có luật chính thức, nhưng thận trọng với người phương Tây, người nước ngoài khác biệt tư tưởng và các vấn đề an ninh nên người Việt phần lớn không được tiếp xúc với người ngoại quốc. Ai vi phạm sẽ bị công an tra hỏi. Du lịch không được quan tâm, xuất nhập cảnh rất gắt gao. Sự thiếu thốn thời bao cấp khiến nạn ăn cắp vặt nảy sinh. Phân hóa giàu nghèo rất thấp. Giáo dục, y tế được bao cấp dù khá nghèo nàn về trang thiết bị. Sinh viên ra trường đều có việc làm nhưng chịu sự phân công của nhà nước, không được tự lựa chọn công việc, không bị thất nghiệp. Thi đại học rất khó, đòi hỏi tiêu chuẩn cao. Tính cộng đồng trong xã hội cao. Không có nhiều trò tiêu khiển nhưng con người sống vẫn vui vẻ.
== Nông nghiệp ==
Sau năm 1975, với tiêu chuẩn phân phối trung bình 9kg gạo mỗi người thì 4 triệu dân phải cần 530.000 tấn gạo. Nhưng số lượng này không được đảm bảo khi Nhà nước chỉ có thể huy động nổi hơn 1 triệu tấn mỗi năm trên toàn quốc.
Năm 1976, sản lượng lúa bình quân trên một người dân là 211kg thì đến năm 1980 chỉ còn 157kg. Kế hoạch năm năm 1976-1980 nâng tổng sản lượng lúa lên gần gấp đôi vào khoảng 21 triệu tấn, nhưng đến năm 1980 chỉ đạt được khoảng một nửa, chưa bằng mức 11,827 triệu tấn của năm 1976. Còn sản lượng của cả vựa lúa miền Nam từ mức 1,9 triệu tấn năm 1976 cứ tụt dần xuống còn 0,99 triệu tấn năm 1977 và 0,64 triệu tấn năm 1979.
== Văn hóa ==
Người dân ít được tiếp xúc văn hóa phương Tây, văn học, phim, nhạc... đều được kiểm soát, được xem là "trong sạch", gần gũi quần chúng và có giá trị nghệ thuật. Văn học được lưu hành chủ yếu là văn học cổ điển, văn học Nga, văn học xã hội chủ nghĩa, văn học cánh tả, văn học hiện thực phê phán, hiện thực xã hội chủ nghĩa và lãng mạn tích cực; các trường phái được xem là "tiêu cực", "rẻ tiền" không được phép lưu hành. Phim chỉ có phim nhựa (kể cả phim tài liệu), chưa có phim truyền hình, chủ yếu chiếu rạp, lưu động và phát một số buổi nhất định trên truyền hình. Phim thương mại được chấp nhận ở mức độ nhất định. Các phim nước ngoài được trình chiếu chủ yếu là phim Liên Xô và các phim các nước xã hội chủ nghĩa (phim Trung Quốc bị cấm sau sự kiện 1979), ngoài ra còn có phim các nước Pháp (Fanfan la tulipe, Người nông dân nổi dậy), Mỹ, Anh, Ấn Độ,...Nhà nước chú trọng chống mê tín dị đoan, phổ biến khoa học. Báo chí không có quảng cáo thương mại. Các tờ báo rất giống nhau về quan điểm, tư tưởng, chỉ khác là phục vụ cho các đối tượng khác nhau, không chạy theo lợi nhuận, được bao cấp. Các văn nghệ sĩ sinh hoạt trong các cơ quan tổ chức của nhà nước.
== Y tế ==
Thời bao cấp, người dân đi khám chữa bệnh hay mua thuốc rồi mang hóa đơn về cơ quan hay bệnh viện thanh toán mà không mất tiền, song điều kiện chữa trị vô cùng thiếu thốn.
Bao cấp nhưng trong bối cảnh tiền Nhà nước không nhiều, sản xuất không phát triển nên bệnh viện gặp vô vàn khó khăn. Các loại thuốc men, trang thiết bị y tế… chủ yếu được viện trợ. Bộ Y tế có cả Vụ kế hoạch, Cục Vật tư làm nhiệm vụ phân chỉ tiêu cho các bệnh viện. Ví dụ Bệnh viện Bạch Mai một năm được cấp bao nhiêu cái chiếu, chăn, đường, sữa, xăng dầu, thuốc men… Các bệnh viện ngày xưa bé, chủ yếu kiểu nhà một tầng, chỗ gọi là "xịn" nhất là 3 tầng. Phòng ốc đơn giản nhưng rất ít có chuyện nằm ghép. Bác sĩ khám cũng mặc áo blouse, đeo tai nghe, máy đo huyết áp… Đèn phẫu thuật thì có đèn măng xông sáng choang, dĩ nhiên là không bằng đèn điện, cũng gây tê gây mê, sát trùng cồn, đốt, luộc; dao mổ được viện trợ cả bộ tiểu phẫu, bộ đại phẫu.
== Giáo dục ==
Trong thời kỳ này là phát triển giáo dục phổ thông đại trà đến tận các cụm dân cư thôn, làng; mỗi xã, phường đều có trường phổ thông cấp I hoặc trường phổ thông cấp I-II, kể cả giáo dục mầm non; tập trung cho công tác bổ túc văn hóa và xóa mù chữ trong độ tuổi; mỗi huyện, thị xã có trường bổ túc văn hóa cho cán bộ cơ sở;
== Thời kỳ khủng hoảng ==
Trước năm 1975, mỗi năm kinh tế Miền Nam được Mỹ viện trợ khoảng một tỷ USD. Miền Bắc cũng được chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa một lượng xấp xỉ như thế. Sau ngày thống nhất không lâu, Mỹ bao vây cấm vận, đặc biệt là miền Nam vốn đã sử dụng phương tiện sản xuất của Mỹ và phương Tây nên không có phụ tùng để tiếp tục hoạt động. Quy mô viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm đi nhanh chóng, Liên Xô và Đông Âu dù vẫn còn giúp đỡ vài năm nữa, nhưng do trượt giá đồng tiền của họ nên lượng hàng hóa, nguyên liệu thực về nước chỉ còn phân nửa trước đây. Tất cả đã tác động rất mạnh vào nền kinh tế của đất nước. Quy mô xuất khẩu của miền Bắc (than, thiếc, đồ thủ công…) lúc này chỉ độ 200 triệu rúp mỗi năm. Lúc đó, trao đổi thương mại chủ yếu là với các nước trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế (cắt hẳn với Trung Quốc từ chiến tranh biên giới Việt–Trung năm 1979), Nhà nước độc quyền, do chú trọng kinh tế tự lập tự cường nên quan hệ với bên ngoài bị hạn chế (Liên Xô và Đông Âu lúc đó cũng gặp khó khăn). Chú trọng công nghiệp nặng để xây dựng kinh tế tự chủ nên lãng phí rất lớn các nguồn lực đầu tư. Chính sách chú trọng cào bằng và tự chủ các địa phương dẫn đến lưu thông sản phẩm rất bất cập. Chú trọng bảo đảm việc làm, nhưng lại vượt quá khả năng kinh tế, vì thế về sau phải có chính sách xuất khẩu lao động đi Đông Âu .
Giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục khó khăn gay gắt. Cuộc khủng hoảng kinh tế nảy sinh từ cuối thập niên 1970, do cải tạo tư sản ở miền Nam quá mức, do chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc kéo dài gần 10 năm, và càng gay gắt hơn khi xảy ra sự cố đổi tiền năm 1985.
Cảnh cấm chợ ngăn sông khiến tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng trở nên nặng nề. Có câu chuyện kể về mẹ già mang 5–10 kg gạo đi thăm con ở tỉnh khác, khi đến ranh giới tỉnh bị tịch thu, khóc lóc, van xin cũng không được.
Những phiên chợ quê, khi đội quản lý thị trường đeo băng đỏ đến tịch thu thịt lợn do tư nhân mổ chui bán, chính những người dân quanh đó lại bảo vệ người bán thịt lợn, không ủng hộ đội quản lý thị trường của nhà nước. Thật trớ trêu, bởi tư nhân mổ lợn bán thì giá thịt rẻ hợp túi tiền người dân, thịt bị tịch thu giá lại tăng vọt, người dân bình thường không thể mua nổi. Trong khi, nhà nước chỉ phân phối tem phiếu thịt giá thấp riêng cho cán bộ, công nhân viên (số lượng thật ra rất ít, khoảng 0,3-0,5 kg/người/tháng) và người dân ở thành phố (mỗi người 0,1 kg/tháng).
Nạn đói hàng tiêu dùng kéo dài triền miên, thiếu cả cây kim sợi chỉ, thiếu từng hạt muối thiếu đi, vật giá tăng mạnh.
Nhiều người ki cóp tiền gửi tiết kiệm lâm vào cảnh bi đát do đồng tiền mất giá nặng so với trước khi đổi tiền. Có người bán một con bò lấy tiền gửi tiết kiệm, sau khi đổi tiền chỉ mua được vài con gà.
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học — công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
== Thời kỳ Đổi Mới ==
Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Dưới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chúng ta đã có những bước cải tiến nền kinh tế theo hướng thị trường, tuy nhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để. Đó là khoán sản phẩm trong nông nghiệp theo Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV; bù giá vào lương ở Long An; Nghị quyết Trung ương 8 khóa V (năm 1985) về giá - lương — tiền; thực hiện Nghị định số 25 - CP và Nghị định số 26 - CP của Chinh phủ... Đó là những căn cứ thực tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi về cơ bản cơ chế quản lý kinh tế.
Đề cập sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định "Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng, và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội". Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Giá - lương - tiền
Đổi mới
Hợp tác xã
Cải tạo tư sản
Nguyễn Văn Linh
Kinh tế Việt Nam, 1976-1986
== Hình ảnh ==
== Liên kết ngoài ==
Chế độ bao cấp tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Thời bao cấp và tác động của nó lên con người trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Con người và tư tưởng thời bao cấp
Loạt bài về "Đêm trước đổi mới" trên báo Tuổi trẻ điện tử
Những hình ảnh Việt Nam thời bao cấp
Chùm ảnh: Leng keng tàu điện Hà Nội thời bao cấp, Giáo dục Việt Nam, 31/08/12 |
người anh.txt | Người Anh (tiếng Anh cổ: Englisc) là một dân tộc và nhóm dân tộc bản địa Anh, với ngôn ngữ chính là tiếng Anh. Danh tính của người Anh bắt nguồn từ thời đầu Trung Cổ, khi họ đã được biết đến trong tiếng Anh cổ là Anglecynn. Anh bây giờ là một quốc gia thuộc Vương quốc Anh, và đa số người dân Anh ở Anh là công dân của Vương quốc Anh. Tên dân tộc England bắt nguồn từ người Angles, một nhóm người German đến từ miền Bắc Đức.
Trong lịch sử, dân số Anh có nguồn gốc từ một số nhóm người gần giống nhau về mặt di truyền - ban đầu là người Briton (hoặc Brython), các bộ tộc German tới định cư tại khu vực, bao gồm cả người Angles, người Saxon và người Jute, gọi chung là người Anglo-Saxon, những người đã sáng lập ra nước Anh (từ tiếng Anh cổ: Englaland), và sau này là người Đan Mạch, người Norman và các nhóm dân tộc khác. Theo Đạo luật Liên minh năm 1707, trong đó Vương quốc Anh đã trở thành một phần của Vương quốc Great Britain.
Người Anh đóng vai trò trung tâm trong sự hình thành của Đế quốc Anh, nguồn gốc của tiếng Anh, người Anh có những ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của thế giới hiện đại với những phát minh, sáng kiến đóng góp cho thế giới. Nước Anh là khởi nguồn của cuộc Cách mạng Công nghiệp đã thay đổi lịch sử thế giới hiện đại.
== Chú thích ==
Expert Links: English Family History and Genealogy Great for tracking down historical inhabitants of England.
Condor, Susan; Gibson, Stephen; Abell, Jackie (2006). “English identity and ethnic diversity in the context of UK constitutional change” (PDF). Ethnicities 6 (2): 123–158. doi:10.1177/1468796806063748.
Kate Fox (2004). Watching the English. Hodder & Stoughton. ISBN 0340818867.
Kumar, Krishan (2003). The Making of English National Identity. Cambridge University Press. ISBN 0521777364.
Kumar, Krishan (2010). “Negotiating English identity: Englishness, Britishness and the future of the United Kingdom”. Nations and Nationalism 16 (3): 469–487. doi:10.1111/j.1469-8129.2010.00442.x.
Paxman, Jeremy (1999). The English. Penguin Books Ltd. ISBN 0140267239.
== Tham khảo ==
Robert J.C. Young (2008). The Idea of English Ethnicity. Blackwell Publishers. ISBN 1-4051-0129-6.
BBC Nations Articles on England and the English
The British Isles Information on England
Mercator's Atlas Map of England ("Anglia") circa 1564.
Viking blood still flowing; BBC; ngày 3 tháng 12 năm 2001.
UK 2001 Census showing 49,138,831 people from all ethnic groups living in England.
Tory MP leads English protest over census; The Telegraph; ngày 23 tháng 4 năm 2001.
On St. George's Day, What's Become Of England?; CNSNews.com; ngày 23 tháng 4 năm 2001.
Watching the English – an anthropologist's look at the hidden rules of English behaviour.
The True-Born Englishman, by Daniel Defoe.
The Effect of 1066 on the English Language Geoff Boxell
BBC "English and Welsh are races apart"
New York Times, When English Eyes Are Smiling Article on the common English and Irish ethnicity
Y Chromosome Evidence for Anglo-Saxon Mass Migration
Origins of Britons - Brian Sykes |
asen.txt | Asen hoặc arsen là một nguyên tố hóa học có ký hiệu As và số nguyên tử 33. Asen lần đầu tiên được Albertus Magnus (Đức) viết về nó vào năm 1250. Khối lượng nguyên tử của nó bằng 74,92. Vị trí của nó trong bảng tuần hoàn được đề cập ở bảng mé bên phải. Asen là một á kim gây ngộ độc và có nhiều dạng thù hình: màu vàng (phân tử phi kim) và một vài dạng màu đen và xám (á kim) chỉ là số ít mà người ta có thể nhìn thấy. Ba dạng có tính kim loại của asen với cấu trúc tinh thể khác nhau cũng được tìm thấy trong tự nhiên (các khoáng vật asen sensu stricto và hiếm hơn là asenolamprit cùng parasenolamprit), nhưng nói chung nó hay tồn tại dưới dạng các hợp chất asenua và asenat. Vài trăm loại khoáng vật như thế đã được biết tới. Asen và các hợp chất của nó được sử dụng như là thuốc trừ dịch hại, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu và trong một loạt các hợp kim.
Trong tiếng Việt, asen thường bị gọi nhầm là thạch tín (chữ Hán: 石信)- vốn là từ chỉ quặng oxit của nó - asen trioxit (As2O3), cũng là chất độc như asen. Nhưng thạch tín là Arsenolit, một dạng khác của asen và có độc, hình thành thứ cấp như là sản phẩm phong hóa (oxi hóa) của các khoáng vật sulfua chứa asen trong các mạch nhiệt dịch.
Trạng thái ôxi hóa phổ biến nhất của nó là -3 (asenua: thông thường trong các hợp chất liên kim loại tương tự như hợp kim), +3 (asenat (III) hay asenit và phần lớn các hợp chất asen hữu cơ), +5 (asenat (V): phần lớn các hợp chất vô cơ chứa ôxy của asen ổn định). Asen cũng dễ tự liên kết với chính nó, chẳng hạn tạo thành các cặp As-As trong sulfua đỏ hùng hoàng (α-As4S4) và các ion As43- vuông trong khoáng coban asenua có tên skutterudit. Ở trạng thái ôxi hóa +3, tính chất hóa học lập thể của asen chịu ảnh hưởng bởi sự có mặt của cặp electron không liên kết.
Cần phân biệt giữa asen vô cơ và asen hữu cơ, trong khi arsen vô cơ có độc tính mạnh, arsen hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên từ sự phân hủy các loài cá, hải sản, không có độc tính và đào thải nhanh chóng khỏi cơ thể con người.
== Đặc trưng đáng chú ý ==
Asen về tính chất hóa học rất giống với nguyên tố đứng trên nó là phốtpho. Tương tự như phốtpho, nó tạo thành các ôxít kết tinh, không màu, không mùi như As2O3 và As2O5 là những chất hút ẩm và dễ dàng hòa tan trong nước để tạo thành các dung dịch có tính axít. Axít asenic (V), tương tự như axít phốtphoric, là một axít yếu. Tương tự như phốtpho, asen tạo thành hiđrua dạng khí và không ổn định, đó là arsin (AsH3). Sự tương tự lớn đến mức asen sẽ thay thế phần nào cho phốtpho trong các phản ứng hóa sinh học và vì thế nó gây ra ngộ độc. Tuy nhiên, ở các liều thấp hơn mức gây ngộ độc thì các hợp chất asen hòa tan lại đóng vai trò của các chất kích thích và đã từng phổ biến với các liều nhỏ như là các loại thuốc chữa bệnh cho con người vào giữa thế kỷ 18.
Khi bị nung nóng trong không khí, nó bị ôxi hóa để tạo ra triôxít asen; hơi từ phản ứng này có mùi như mùi tỏi. Mùi này cũng có thể phát hiện bằng cách đập các khoáng vật asenua như asenopyrit bằng búa. Asen (và một số hợp chất của asen) thăng hoa khi bị nung nóng ở áp suất tiêu chuẩn, chuyển hóa trực tiếp thành dạng khí mà không chuyển qua trạng thái lỏng. Trạng thái lỏng xuất hiện ở áp suất 20 átmốtphe trở lên, điều này giải thích tại sao điểm nóng chảy lại cao hơn điểm sôi. Asen nguyên tố được tìm thấy ở nhiều dạng thù hình rắn: dạng màu vàng thì mềm, dẻo như sáp và không ổn định, và nó làm cho các phân tử dạng tứ diện As4 tương tự như các phân tử của phốtpho trắng. Các dạng màu đen, xám hay 'kim loại' hơi có cấu trúc kết tinh thành lớp với các liên kết trải rộng khắp tinh thể. Chúng là các chất bán dẫn cứng với ánh kim. Tỷ trọng riêng của dạng màu vàng là 1,97 g/cm³; dạng 'asen xám' hình hộp mặt thoi nặng hơn nhiều với tỷ trọng riêng 5,73 g/cm³; các dạng á kim khác có tỷ trọng tương tự.
== Lịch sử ==
Từ asen là vay mượn từ tiếng Ba Tư زرنيخ Zarnikh nghĩa là "opiment vàng" (tức thư hoàng). Zarnikh được vay mượn sang tiếng Hy Lạp thành arsenikon, nghĩa là đàn ông hay hiệu nghiệm. Asen đã được biết đến và sử dụng tại Ba Tư và một vài nơi khác từ thời cổ đại. Do các triệu chứng ngộ độc asen là hơi mập mờ, nên nó thường được sử dụng để giết người cho tới tận khi phát hiện ra thử nghiệm Marsh, một thử nghiệm hóa học rất nhạy để phát hiện sự tồn tại của nó. Thử nghiệm ít nhạy hơn nhưng phổ biến hơn là thử nghiệm Reinsch. Do việc sử dụng nó bởi giai cấp cầm quyền để sát hại lẫn nhau cũng như hiệu lực và tính kín đáo của nó, nên asen được gọi là thuốc độc của các vị vua và vua của các thuốc độc.
Trong thời kỳ đồ đồng, asen thường được đưa vào trong đồng thiếc để làm cho hợp kim trở thành cứng hơn (gọi là "đồng thiếc asen").
Albertus Magnus (1193-1280) được coi là người đầu tiên cô lập được asen nguyên tố vào năm 1250. Năm 1649, Johann Schröder công bố hai cách điều chế asen.
Ở Anh, trong thời đại Victoria, 'asen' ('asen trắng' không màu, kết tinh, hòa tan) được trộn lẫn với dấm và đá phấn và phụ nữ ăn nó để cải thiện nước da mặt của họ, làm cho da mặt của họ trở thành nhạt màu hơn để thể hiện họ không làm việc ngoài đồng. Asen cũng được cọ xát vào mặt và tay phụ nữ để 'cải thiện nước da'. Việc sử dụng ngẫu nhiên asen trong làm giả thực phẩm đã dẫn tới ngộ độc kẹo Bradford năm 1858, gây ra cái chết của khoảng 20 người và làm khoảng 200 người khác bị bệnh do ngộ độc asen.
Một tên Hán Việt của asen đó là thạch tín (石信), hay còn gọi là nhân ngôn, do chữ tín 信 bao gồm bộ nhân đứng 亻 ghép với chữ ngôn 言. Tuy nhiên, chữ thạch tín thường được dùng để chỉ khoáng vật có thành phần chủ yếu là asen trioxit (As2O3).
== Phổ biến ==
Năm 2005, Trung Quốc là nhà sản xuất asen trắng hàng đầu, chiếm gần 50% sản lượng thế giới. Sau đó là Chile và Peru, theo báo cáo của Khảo sát Địa chất Vương quốc Anh.
Asenopyrit một cách không chính thức gọi là mispickel (FeAsS) là khoáng vật chứa asen phổ biến nhất. Khi bị nung nóng trong không khí, asen thăng hoa ở dạng ôxít asen (III) để lại các ôxít sắt.
Các hợp chất quan trọng nhất của asen là ôxít asen (III), As2O3, ('asen trắng'), opiment sulfua vàng (hay thư hoàng) (As2S3) và hùng hoàng đỏ (As4S4), lục Paris, asenat canxi, asenat hiđrô chì. Ba hợp chất cuối cùng từng được sử dụng trong nông nghiệp làm thuốc trừ sâu và thuốc độc. Thư hoàng và hùng hoàng trước đây được dùng làm thuốc màu trong hội họa, hiện nay đã bị bỏ do độc tính và khả năng phản ứng của chúng. Mặc dù asen đôi khi được tìm thấy như là asen tự nhiên trong thiên nhiên nhưng nguồn kinh tế chính của nó là khoáng vật asenopyrit nói trên đây; nó cũng tìm thấy trong các asenua kim loại như bạc, côban (cobaltit: CoAsS và skutterudit: CoAs3) hay niken, hay như là các sulfua, và ôxi hóa như là các khoáng vật asenat như mimetit, Pb5(AsO4)3Cl và erythrit, Co3(AsO4)2. 8H2O, và hiếm hơn là các asenit ('arsenit' = asenat (III), AsO33- chứ không phải asenat (V), AsO43-).
Ngoài các dạng vô cơ như nói trên, asen cũng tồn tại trong nhiều dạng hữu cơ trong môi trường. Asen vô cơ và các hợp chất của nó, khi đi vào chuỗi thức ăn, được trao đổi tích cực thành dạng ít độc hơn của asen thông qua quá trình methyl hóa. Ví dụ, Scopulariopsis brevicaulis, một loài nấm mốc sinh ra một lượng đáng kể trimethylarsin nếu asen vô cơ tồn tại. Hợp chất hữu cơ asenobetain tìm thấy trong một số hải sản như cá và tảo, cũng như trong nấm ăn với hàm lượng lớn. Trung bình một người tiếp nhận khoảng 10-50 µg/ngày. Giá trị khoảng 1.000 µg không phải là bất thường sau khi tiêu thụ cá và nấm nhưng ở đây có rất ít nguy hiểm trong việc ăn cá do hợp chất asen trong cá là gần như không độc hại.
Xem thêm: Hóa sinh học asen và Thể loại:Hợp chất asen, Khoáng vật asenua, Khoáng vật asenat.
== Ứng dụng ==
Asenat hiđrô chì đã từng được sử dụng nhiều trong thế kỷ 20 làm thuốc trừ sâu cho các loại cây ăn quả. Việc sử dụng nó đôi khi tạo ra các tổn thương não đối với những người phun thuốc này. Ở nửa cuối thế kỷ 20, asenat methyl mononatri (MSMA), một dạng hợp chất hữu cơ ít độc hại hơn của asen đã thay thế cho vai trò của asenat hiđrô chì trong nông nghiệp.
Lục Scheele hay asenat đồng, được sử dụng trong thế kỷ 19 như là tác nhân tạo màu trong các loại bánh kẹo ngọt.
Ứng dụng có nhiều e ngại nhất đối với cộng đồng có lẽ là trong xử lý gỗ bằng asenat đồng crôm hóa, còn gọi là CCA hay tanalith. Gỗ xẻ xử lý bằng CCA vẫn còn phổ biến ở nhiều quốc gia và nó được sử dụng nhiều trong nửa cuối thế kỷ 20 như là vật liệu kết cấu và xây dựng ngoài trời. Nó được sử dụng khi khả năng mục nát hay phá hoại của côn trùng là cao. Mặc dù việc sử dụng gỗ xẻ xử lý bằng CCA đã bị cấm tại nhiều khu vực sau khi các nghiên cứu chỉ ra rằng asen có thể rò rỉ từ gỗ vào trong đất cận kề đó, một rủi ro khác là việc đốt các loại gỗ cũ đã xử lý bằng CCA. Việc hấp thụ trực tiếp hay gián tiếp tro do việc đốt cháy gỗ xử lý bằng CCA có thể gây ra tử vong ở động vật cũng như gây ra ngộ độc nghiêm trọng ở người; liều gây tử vong ở người là khoảng 20 gam tro. Các mẩu thừa của gỗ xử lý bằng CCA từ các khu vực xây dựng hay bị phá huỷ cũng có thể bị sử dụng một cách vô ý tại các lò sưởi thương mại hay tại nhà ở.
Trong các thế kỷ 18, 19 và 20, một lượng lớn các hợp chất của asen đã được sử dụng như là thuốc chữa bệnh, như arsphenamin (bởi Paul Ehrlich) và triôxít asen (bởi Thomas Fowler). Arsphenamin cũng như neosalvarsan được chỉ định trong điều trị giang mai và bệnh trùng mũi khoan, nhưng đã bị loại bỏ bởi các thuốc kháng sinh hiện đại. Triôxít asen đã được sử dụng theo nhiều cách khác nhau trong suốt 200 năm qua, nhưng phần lớn là trong điều trị ung thư. Cục Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào năm 2000 đã cho phép dùng hợp chất này trong điều trị cho các bệnh nhân với bệnh bạch cầu cấp tính tiền myelin và kháng lại ATRA. Nó cũng được sử dụng như là dung dịch Fowler trong bệnh vẩy nến.
Axetoasenit đồng được sử dụng như là thuốc nhuộm màu xanh lục dưới nhiều tên gọi khác nhau, như 'Lục Paris' hay 'lục ngọc bảo'. Nó gây ra nhiều dạng ngộ độc asen.
Các ứng dụng khác:
Nhiều loại thuốc trừ sâu, chất độc trong nông nghiệp.
Sử dụng trong nuôi dưỡng động vật, cụ thể là tại Hoa Kỳ như là phương pháp ngăn ngừa bệnh và kích thích phát triển.
Asenua gali là một vật liệu bán dẫn quan trong, sử dụng trong các mạch tích hợp (IC). Các mạch tích hợp này nhanh hơn (nhưng cũng đắt tiền hơn) so với các mạch dùng silic. Không giống như silic, nó là khe hở năng lượng trực tiếp, và vì thế có thể sử dụng trong các điốt laze và LED để trực tiếp chuyển hóa điện thành ánh sáng.
Cũng được sử dụng trong kỹ thuật mạ đồng và pháo hoa.
== Độc tính ==
Asen và nhiều hợp chất của nó là những chất độc cực kỳ độc. Asen phá vỡ việc sản xuất ATP thông qua vài cơ chế. Ở cấp độ của chu trình axít citric, asen ức chế pyruvat dehydrogenaza và bằng cách cạnh tranh với phốtphat nó tháo bỏ phốtphorylat hóa ôxi hóa, vì thế ức chế quá trình khử NAD+ có liên quan tới năng lượng, hô hấp của ti thể và tổng hợp ATP. Sản sinh của perôxít hiđrô cũng tăng lên, điều này có thể tạo thành các dạng ôxy hoạt hóa và sức căng ôxi hóa. Các can thiệp trao đổi chất này dẫn tới cái chết từ hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan (xem ngộ độc asen) có lẽ từ cái chết tế bào do chết hoại, chứ không phải do chết tự nhiên của tế bào. Khám nghiệm tử thi phát hiện màng nhầy màu đỏ gạch, do xuất huyết nghiêm trọng. Mặc dù asen gây ngộ độc nhưng nó cũng có vai trò là một chất bảo vệ..
Asen nguyên tố và các hợp chất của asen được phân loại là "độc" và "nguy hiểm cho môi trường" tại Liên minh châu Âu theo chỉ dẫn 67/548/EEC.
IARC công nhận asen nguyên tố và các hợp chất của asen như là các chất gây ung thư nhóm 1, còn EU liệt kê triôxít asen, pentôxít asen và các muối asenat như là các chất gây ung thư loại 1.
Asen gây ra ngộ độc asen do sự hiện diện của nó trong nước uống, "chất phổ biến nhất là asenat [HAsO42-; As(V)] và asenit [H3AsO3; As(III)]". Khả năng của asen tham gia phản ứng ôxi hóa-khử để chuyển hóa giữa As (III) và As (V) làm cho khả năng nó có mặt trong môi trường là hoàn toàn có thể. Theo Croal và ctv thì "việc hiểu về điều gì kích thích ôxi hóa As (III) và/hoặc hạn chế khử As (V) có liên quan tới xử lý sinh học các khu vực ô nhiễm. Nghiên cứu các tác nhân ôxi hóa As (III) tự dưỡng thạch hóa học và các tác nhân khử As (V) dị dưỡng có thể giúp hiểu về ôxi hóa và/hoặc khử asen.
=== Phơi nhiễm nghề nghiệp ===
Phơi nhiễm asen ở mức cao hơn trung bình có thể diễn ra ở một số nghề nghiệp. Các ngành công nghiệp sử dụng asen vô cơ và các hợp chất của nó bao gồm bảo quản gỗ, sản xuất thủy tinh, các hợp kim phi sắt và sản xuất bán dẫn điện tử. Asen vô cơ cũng tìm thấy trong khói tỏa ra từ các lò cốc gắn liền với công nghiệp nấu kim loại.
=== Asen trong nước uống ===
Nhiễm bẩn asen trong nước ngầm đã dẫn tới đại dịch ngộ độc asen tại Bangladesh và các nước láng giềng. Người ta ước tính khoảng 57 triệu người đang sử dụng nước uống là nước ngầm có hàm lượng asen cao hơn tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới là 10 phần tỷ. Asen trong nước ngầm có nguồn gốc tự nhiên và nó được giải phóng ra từ trầm tích vào nước ngầm do các điều kiện thiếu ôxy của lớp đất gần bề mặt. Nước ngầm này bắt đầu được sử dụng sau khi các tổ chức phi chính phủ (NGO) phương Tây hỗ trợ chương trình làm các giếng nước lớn để lấy nước uống vào cuối thế kỷ 20. Chương trình này được đề ra nhằm ngăn ngừa việc uống nước từ nước bề mặt bị nhiễm khuẩn, nhưng lại không chú trọng tới kiểm định asen trong nước ngầm. Nhiều quốc gia và khu vực khác ở Đông Nam Á, như Việt Nam, Campuchia, Tây Tạng, Trung Quốc, được coi là có các điều kiện địa chất tương tự giúp cho quá trình tạo nước ngầm giàu asen. Ngộ độc asen đã được báo cáo tại Nakhon Si Thammarat, Thái Lan năm 1987, và asen hòa tan trong sông Chao Phraya bị nghi là chứa hàm lượng cao asen nguồn gốc tự nhiên, nhưng đã không có vấn đề gì với sức khỏe công cộng do việc sử dụng nước đóng chai.
Miền bắc Hoa Kỳ, bao gồm các phần thuộc Michigan, Wisconsin, Minnesota và Dakota cũng có hàm lượng asen trong nước ngầm khá cao. Mức độ ung thư da cao hơn gắn liền với phơi nhiễm asen tại Wisconsin, mặc dù ở mức thấp hơn tiêu chuẩn 10 phần tỷ của nước uống.
Chứng cứ dịch tễ học từ Chile chỉ ra mối liên hệ phụ thuộc liều lượng giữa phơi nhiễm asen kinh niên và các dạng ung thư khác nhau, cụ thể là khi các yếu tố rủi ro khác, như hút thuốc, cũng tồn tại. Các hiệu ứng này được chứng minh là tồn tại dưới 50 phần tỷ.
Nghiên cứu về tỷ lệ ung thư tại Đài Loan gợi ý rằng sự gia tăng đáng kể trong tử suất do ung thư dường như chỉ ở mức trên 150 phần tỷ.
Phân tích các nghiên cứu dịch tễ học nhiều nguồn về phơi nhiễm asen vô cơ gợi ý rằng rủi ro nhỏ nhưng có thể đo được tăng lên đối với ung thư bàng quang ở mức 10 phần tỷ. Theo Peter Ravenscroft từ khoa Địa trường Đại học Cambridge khoảng 80 triệu người trên khắp thế giới tiêu thụ khoảng 10 tới 50 phần tỷ asen trong nước uống của họ. Nếu họ tiêu thụ chính xác 10 phần tỷ asen trong nước uống của mình thì phân tích dịch tễ học đa nguồn trích dẫn trên đây phải dự báo 2.000 trường hợp bổ sung về ung thư bàng quang. Điều này thể hiện sự ước tính quá thấp rõ nét về ảnh hưởng tổng thể, do nó không tính tới ung thư phổi và da. Những người chịu phơi nhiễm asen ở mức cao hơn tiêu chuẩn hiện tại của WHO nên cân nhắc tới chi phí và lợi ích của các biện pháp giải trừ asen.
Asen có thể được loại bỏ ra khỏi nước uống thông qua đồng ngưng kết các khoáng vật sắt bằng ôxi hóa và lọc nước. Khi cách xử lý này không đem lại kết quả mong muốn thì các biện pháp hút bám để loại bỏ asen có thể cần phải sử dụng. Một vài hệ thống hút bám đã được chấp thuận cho các điểm dịch vụ sử dụng trong nghiên cứu do Cục Bảo vệ Môi trường (EPA) và Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) Hoa Kỳ tài trợ.
Việc tách asen ra bằng từ trường ở các gradient từ trường cực thấp đã được chứng minh ở các máy lọc nước tại điểm sử dụng với diện tích bề mặt lớn và các tinh thể nano manhếtit đồng nhất kích thước (Fe3O4). Sử dụng diện tích bề mặt riêng lớn của các tinh thể nano Fe3O4 thì khối lượng chất thải gắn liền với loại bỏ asen từ nước đã giảm đáng kể.
== Hợp chất ==
Axít asenic (H3AsO4)
Axít asenơ (H3AsO3)
Triôxít asen (As2O3)
Arsin (Trihiđrua asen AsH3)
Asenua cadmi (Cd3As2)
Asenua gali (GaAs)
Asenat hiđrô chì (PbHAsO4)
Asen cũng xuất hiện trong trạng thái ôxi hóa II, nhưng chỉ trong cation As24+, As (II) không tìm thấy ở dạng khác.
== Đồng vị ==
Asen được đề xuất như là vật liệu làm giàu uranium cho vũ khí hạt nhân (côban là vật liệu khác được biết đến nhiều hơn). Một bìa As75, được rọi bằng luồng nơtron mãnh liệt có năng lượng cao từ vũ khí nhiệt hạch đang nổ, có thể chuyển hóa thành đồng vị phóng xạ As76 với chu kỳ bán rã 1,0778 ngày và sinh ra khoảng 1,13 MeV bức xạ gama, làm gia tăng đáng kể năng lực phóng xạ của bụi phóng xạ của vũ khí trong vài giờ.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Hóa sinh học asen
Hợp chất asen
Aqua Tofana
Ngộ độc asen
Dung dịch Fowler
Thách thức Grainger
Asen đen
Asen trắng
== Liên kết ngoài ==
Asen tại www.asmalldoseof.org
ATSDR: Độc tính học của asen
Contaminant Focus: Asen của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA).
Tiêu chuẩn sức khỏe môi trường cho asen và các hợp chất asen, 2001 của WHO.
Lượng giá khả năng gây ung thư của asen và các hợp chất asen của IARC.
NIOSH – Trang về asen
NPI - Asen
origen.net – Gỗ CCA và asen: các hiệu ứng độc hại của asen
WebElements.com – Asen
Viện Hóa Karl Franzens Đại học Austria |
nguyễn hòa bình.txt | Nguyễn Hòa Bình sinh ngày 24 tháng 5 năm 1958; Quê quán: Xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi; là Phó Giáo sư, Tiến sĩ luật, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, XII, Bí thư Trung ương Đảng khóa XII; đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Việt Nam; nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Ông từng là Thiếu tướng Công an nhân dân trước khi chuyển sang ngạch dân sự.
== Chức vụ từng đảm nhiệm ==
Trước 2007: Đại tá, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, kiêm nhiệm Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm về trật tự QL Kinh tế và chức vụ, Phó Thủ trưởng cơ quan CSĐT.
Từ 5/1/2007: Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, kiêm nhiệm chức Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm tham nhũng.
Tháng 4 năm 2007: Thiếu tướng Công an nhân dân.
Từ tháng 5/2008, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
Từ 15/4/2010, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi khóa XVII (2005-2010).
Tháng 9 năm 2010: Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2010-2015 đã bỏ phiếu bầu trực tiếp bí thư và bầu ông Nguyễn Hòa Bình giữ vị trí Bí thư Tỉnh ủy, với số phiếu tán thành đạt 100%.
Tháng 1 năm 2011: tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 7 năm 2011: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Tháng 1 năm 2016: tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư.
Ngày 8/4/2016, với tỷ lệ số phiếu tán thành 95%, ông trúng cử chức vụ Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Thông tin đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII Nguyễn Hòa Bình |
25 tháng 8.txt | Ngày 25 tháng 8 là ngày thứ 237 (238 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 128 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
896 – Do Lý Mậu Trinh đem binh uy hiếp kinh sư Trường An, Đường Chiêu Tông chạy sang bờ bắc sông Vị, Lý Mậu Trinh sau đó tiến vào Trường An và cho đốt các cung điện cùng thị tứ.
1609 – Galileo Galilei trưng bày chiếc kính viễn vọng đầu tiên của mình trước những nhà lập pháp Venice.
1667 – Khang Hy Đế chính thức thân chính, song quyền lực thực tế vẫn do Ngao Bái khống chế.
1758 - Chiến tranh Bảy năm: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế chạm trán với quân Nga trong trận đánh khốc liệt tại Zorndorf.
1825 - Uruguay tuyên bố độc lập từ Brasil.
1883 – Hòa ước Quý Mùi, 1883, được ký ở kinh thành Huế giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn
1944 - Paris được quân Đồng Minh giải phóng khỏi quân Đức Quốc xã
1945 – Cách mạng tháng Tám: thành công tại Sài Gòn, tại Huế Bảo Đại đọc chiếu thoái vị kết thúc nhà Nguyễn.
== Sinh ==
1442- Lê Thánh Tông - vua Việt Nam (m. 1497)
1530 - Ivan IV, Nga hoàng (m. 1584)
1841 - Emil Theodor Kocher, nhà nghiên cứu Y khoa người Thụy Sĩ, được nhận giải Nobel (m. 1917)
1911 - Võ Nguyên Giáp, chính khách và danh tướng Việt Nam
1931 - Regis Philbin, nhà truyền thông truyền hình người Mỹ.
1947 - Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo, họa sĩ Việt Nam.
1961 - Billy Ray Cyrus, ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, nhà sản xuất phim
1964 - Maxim Kontsevich, nhà toán học người Nga, Huy chương Fields 1998
1987 - Lưu Diệc Phi, nữ diễn viên người Hoa.
== Mất ==
1776 – David Hume, triết gia, nhà kinh tế học và nhà sử học Scotland (s. 1711)
1822 - William Herschel, nhà thiên văn học Anh gốc Đức (s. 1738)
1867 - Michael Faraday, nhà vật lý và hóa học người Anh
1908 - Henri Becquerel, nhà vật lý người Pháp
1963 – Quách Thị Trang, một Phật tử, nữ sinh Sài Gòn, bị cảnh sát Việt Nam Cộng hòa bắn chết (s. 1948)
1969 – Harry Hammond Hess, nhà địa chất học đã đưa ra học thuyết tách giãn đáy đại dương (s. 1906)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Quốc khánh Uruguay.
== Tham khảo == |
triều tiên nhân tông.txt | Triều Tiên Nhân Tông (1515 – 1545, trị vì 1544–1545) là vị vua thứ mười hai của nhà Triều Tiên.
== Tiểu sử ==
Ông là con trai của Triều Tiên Trung Tông với người vợ thứ hai, em gái của Doãn Nhâm (윤임, 尹任). Ngay sau khi ông được sinh ra vài ngày, mẹ ông đã mất do bệnh hậu sản. Năm ông lên 2, Văn Định vương hậu nhập cung đích để nuôi dưỡng nguyên tử còn nhỏ tuổi. Ông đã được phong làm Thế tử vào năm 1520, nạp Thế tử tần (sau là Nhân Thánh vương hậu) năm 1524 và thừa kế ngai vàng vào năm 1544.
Nhà vua có tham vọng và mong muốn cải tổ triều chính đã hủ hoá dù trong thời thời trị vì của cha mình là Triều Tiên Trung Tông đã cố cải cách nhưng không được. Tuy nhiên sau khi lên ngôi ông đã nhanh chóng cho điều tra lại vụ án của Triệu Quang Tổ (Jo Gwang Jo) thời vua cha Trung Tông và đã minh oan cho Triệu Quang Tổ.
Triều Tiên Nhân Tông liên tục đau ốm và qua đời năm 1545. Ông được an táng tại Hiếu lăng (孝陵)
== Gia đình ==
Cha: Triều Tiên Trung Tông
Mẹ:Chương Kính vương hậu họ Doãn,(章敬王后 尹氏, 1491~1515)
Mẹ kế: Văn Định vương hậu họ Doãn
=== Vợ ===
Nhân Thánh vương hậu họ Phác ở Phan Nam (仁聖王后 朴氏, Inseong Wanghu Parkssi, 1514-1577). Bà là con gái của Cẩm Thành phủ viện quân Phác Đông (錦城府院君朴墉), và Văn Thiều phủ phu nhân họ Kim ở Nghĩa Thành (聞韶府夫人義城金氏).
Thục tần họ Doãn ở Pha Bình (淑嬪 尹氏, Sukbin Yunssi): cháu gái của Chương Kính vương hậu, tư sắc diễm lệ, nhập cung làm thiếp của Nhân Tông lúc còn tại vị Thế tử. Khi lên ngôi vương, Nhân Tông tấn phong vị Quý nhân rồi thăng lên Thục tần
Huệ tần họ Trịnh ở Khánh Châu (惠嬪 鄭氏, Hyebin Jeongssi):sơ phong vị Quý nhân, sau tấn phong thành Huệ tần
Quý nhân họ Trịnh ở Diên Nhật (貴人 鄭氏):sơ phong vị "Thục nghi".Dưới thời Minh Tông, được tấn tôn vị "Chiêu nghi", "Quý nhân"
Lương đệ họ Doãn (良娣 尹氏) thê thiếp của Nhân Tông lúc còn ở Đông cung, mất sớm
== Thụy hiệu ==
Văn Tĩnh Hiến Văn Ý Vũ Chương Túc Khâm Hiếu Đại Vương
榮靖獻文懿武章肅欽孝大王.
Munjeong Heonmun Yimu Changsuk Geumhyo Daewang
== Cái chết ==
Các sử gia tin rằng vua Nhân Tông bị đầu độc bởi phái tiểu Doãn
== Tham khảo == |
tín ngưỡng.txt | Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống. mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người. Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững. đôi khi được hiểu là tôn giáo.
== Sự khác biệt ==
Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian. Tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.
Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" hay gọi là "cái thiêng" cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm...
Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa Trời, của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo Mẫu... Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc... thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng chung của con người.
Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng. Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới (phổ quát).
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển... được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện... có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường..., nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ...
== Tham khảo ==
Ngô Đức Thịnh chủ biên, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001.
== Xem thêm ==
Tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam |
saga.txt | Saga (Nhật: 佐賀県 (Tá Hạ Huyện), Saga-ken) là một tỉnh của Nhật Bản nằm ở phần phía Tây Bắc của đảo Kyūshū. Phần phía Tây của tỉnh là vùng nổi tiếng với nghệ thuật làm gốm và sứ, đặc biệt là các thị trấn Karatsu, Imari và Arita. Trung tâm hành chính là thành phố Saga.
== Địa lý ==
Là tỉnh nhỏ nhất của đảo Kyūshū, Saga nằm ở góc phía Tây Bắc của hòn đảo, giáp với biển Genkai và eo biển Tsushima ở phía Bắc và biển Ariake ở phía Nam. Vị trí địa lý gần với đại lục châu Á đã biến Saga trở thành cổng giao lưu văn hóa và buôn bán quan trọng trong lịch sử Nhật Bản. Ngoài 2 thành phố lớn là thành phố Saga và thành phố Karatsu, nông nghiệp và rừng chiếm đến 68% tổng diện tích vùng.
Hình thái địa lý chủ yếu:
Đồng bằng Saga
Bán đảo Higashimatsuura
Các ngọn núi:
Núi Sefuri
Núi Tara
Núi Kyōga (1.076 m), ngọn cao nhất tại Saga
Núi Sefuri (1.056 m)
Núi Tenzan (1.046 m)
== Lịch sử ==
== Hành chính ==
=== Các thành phố ===
Có 10 thành phố ở tỉnh Saga:
=== Thị trấn và làng ===
Thị trấn và làng mạc ở mỗi quận:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Saga
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật)
Trang chủ Saga JET
Hagakure |
iphone se.txt | iPhone SE là một smartphone do Apple Inc. thiết kế và sản xuất như một phần của chuỗi thiết bị iPhone. Nó đã được công bố vào ngày 21 tháng 3 năm 2016 tại trụ sở Cupertino của Apple và được đưa ra thị trường vào ngày 31 tháng 3 năm 2016. iPhone SE được coi là sản phẩm thay thế cho iPhone 5S như một sản phẩm với chi phí thấp hơn trong các dòng sản phẩm iPhone; chứa bộ vi xử lý, máy ảnh, và các tính năng khác được cập nhật từ iPhone 6S cao cấp với màn hình 4-inch nhỏ hơn và kiểu dáng gần giống với iPhone 5S.
Thiết bị này có các màu bạc, xám, vàng và hồng vàng, và sẽ được bán với giá 399USD cho bản 16GB, và 499USD cho bản 64GB tại Hoa Kỳ.
== Cấu hình ==
Thiết kế bên ngoài của iPhone SE là gần như giống hệt iPhone 5S, với ngoại lệ của các cạnh vát, và logo Apple bằng thép không gỉ phía sau. Nó có các màu xám, bạc, vàng, và hồng vàng. Apple nói rằng các vỏ bọc được thiết kế để vừa với 5S sẽ vừa với một chiếc iPhone SE. Như với máy 6S, nó kết hợp các hệ thống trên chip của Apple A9, bộ xử lý chuyển động M9, và đã hỗ trợ cho near field communication (NFC). IPhone SE có màn hình 4-inch Retina với độ phân giải 326 ppi. Bộ nhớ RAM có 16 hoặc 64 GB dung lượng. Máy có máy ảnh 12 megapixel phía sau như iPhone 6S, tuy nhiên nó có camera phía trước 1.2 megapixel của 5S. iPhone SE không bao gồm 3D Touch, và không cảm biến cảm ứng ID của 6S.
iPhone SE đi kèm với phiên bản iOS 9.3, hỗ trợ các tính năng độc quyền của iPhone 6 và 6S như Apple Pay, Live Photos, và được bật Siri tự động.
== Danh sách các đời sản phẩm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
gustavo kuerten.txt | Gustavo Kuerten (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [ɡusˈtavu ˈkiɾtẽ]; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1976 tại Florianópolis, Santa Catarina là cựu tay vợt số 1 thế giới người Brasil. Anh từng giành 3 danh hiệu Pháp Mở rộng vào các năm 1997,2000, 2001 và danh hiệu Tennis Masters Cup năm 2000. Sau 12 năm thi đấu quốc tế, anh giải nghệ khi đang ở vị trí cao trong bảng xếp hạng ATP vào tháng 5 năm 2008.
== Thành tích ==
=== Grand Slam ===
==== Vô địch: 3 (3-0) ====
=== Tennis Masters Cup ===
==== Vô địch: 1 (1-0) ====
=== Masters Series ===
==== Vô địch (5) ====
==== Á quân (5) ====
== Toàn bộ sự nghiệp ==
=== Đơn: 29 (20-9) ===
Vô địch (20)
Á quân(9)
=== Đôi: 10 (8-2) ===
Vô địch (8)
Á quân(2)
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.