filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
họ cá nóc.txt
Họ Cá nóc (danh pháp khoa học: Tetraodontidae) là một họ thuộc bộ Cá nóc. Chúng vẫn được coi là động vật có xương sống độc thứ hai trên thế giới, chỉ sau ếch độc phi tiêu vàng. Các nội tạng như gan, và đôi khi cả da của chúng có chứa nhiều độc tố. Tuy nhiên thịt của một số loài trong họ Cá nóc được coi là cao lương mỹ vị tại Nhật Bản (河豚 nghĩa là "lợn sông"), Hàn Quốc (bok), Trung Quốc (河豚), Việt Nam gọi là cá đùi gà, thường được chế biến bởi những đầu bếp giàu kinh nghiệm, biết được bộ phận nào an toàn để ăn. Họ Cá nóc gồm ít nhất 120 loài thuộc 26 chi. Phần lớn các loài sinh sống ở vùng nhiệt đới, khá là hiếm gặp ở vùng ôn đới và hoàn toàn vắng bóng ở địa cực. Chúng có kích thước từ nhỏ đến vừa, mặc dù một vài loài có thể dài đến quá 100 cm. == Các chi == Amblyrhynchotes Arothron Auriglobus Canthigaster Carinotetraodon Chelonodon Chonerhinos (gồm cả Xenopterus) Colomesus Contusus Ephippion Feroxodon Guentheridia Javichthys Lagocephalus (gồm cả Gastrophysus) Marilyna Monotrete Omegaphora Pelagocephalus Polyspina Reicheltia Sphoeroides (gồm cả Liosaccus) Takifugu (gồm cả Fugu) Tetractenos Tetraodon Torquigener Tylerius == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Tetraodontidae tại Wikispecies
phụ gia thực phẩm.txt
Các phụ gia thực phẩm là các chất được bổ sung thêm vào thực phẩm để bảo quản hay cải thiện hương vị và bề ngoài của chúng. Một số phụ gia thực phẩm đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ; ví dụ bảo quản bằng làm dưa chua (với giấm), ướp muối- chẳng hạn như với thịt ướp muối xông khói, hay sử dụng điôxít lưu huỳnh như trong một số loại rượu vang. Với sự ra đời và phát triển của công nghiệp chế biến thực phẩm trong nửa sau thế kỷ 20 thì có thêm nhiều phụ gia thực phẩm đã được giới thiệu, cả tự nhiên lẫn nhân tạo. == Đánh số == Để quản lý các phụ gia này và thông tin về chúng cho người tiêu dùng thì mỗi loại phụ gia đều được gắn với một số duy nhất. Ban đầu các số này là các "số E" được sử dụng ở châu Âu cho tất cả các phụ gia đã được chấp nhận. Hệ thống đánh số này hiện đã được Ủy ban mã thực phẩm (Codex Alimentarius Committee) chấp nhận và mở rộng để xác định trên bình diện quốc tế tất cả các phụ gia thực phẩm mà không liên quan đến việc chúng có được chấp nhận sử dụng hay không. Tất cả các số E đều có tiền tố "E" đi kèm, nhưng các quốc gia ngoài châu Âu chỉ sử dụng các số mà không cần biết là các phụ gia đó có được chấp nhận sử dụng ở châu Âu hay không. Ví dụ, axít axêtic là phụ gia 260, vì thế nó được viết là E260 trên các sản phẩm được bày bán ở châu Âu. Phụ gia 103, alkanet, không được chấp nhận sử dụng ở châu Âu nên nó không có số E, mặc dù nó được chấp nhận sử dụng tại Úc và New Zealand. Xem thêm Danh sách các phụ gia thực phẩm để có danh sách đầy đủ tất cả các mã số. == Các thể loại == Các phụ gia thực phẩm có thể phân chia thành vài nhóm, mặc dù có một số phần chồng lấn giữa các thể loại này. Các axít Các axít thực phẩm được bổ sung vào để làm cho hương vị của thực phẩm "sắc hơn", và chúng cũng có tác dụng như là các chất bảo quản và chống ôxi hóa. Các axít thực phẩm phổ biến là giấm, axít citric, axít tartaric, axít malic, axít fumaric, axít lactic. Các chất điều chỉnh độ chua Các chất điều chỉnh độ chua được sử dụng để thay đổi hay kiểm soát độ chua và độ kiềm của thực phẩm. Các chất chống vón Các chất chống vón giữ cho các chất bột, chẳng hạn như sữa bột không bị vón cục. Các chất chống tạo bọt Các chất chống tạo bọt làm giảm hoặc ngăn chặn sự tạo bọt trong thực phẩm. Các chất chống ôxi hóa Các chất chống ôxi hóa như vitamin C có tác dụng như là chất bảo quản bằng cách kiềm chế các tác động của ôxy đối với thực phẩm và nói chung là có lợi cho sức khỏe. Các chất tạo lượng Các chất tạo khối lượng chẳng hạn như tinh bột được bổ sung để tăng số /khối lượng của thực phẩm mà không làm ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của nó. Các chất tạo màu thực phẩm Chất tạo màu thực phẩm được thêm vào thực phẩm để thay thế các màu sắc bị mất trong quá trình sản xuất hay làm cho thực phẩm trông bắt mắt hơn. Chất giữ màu Ngược lại với các chất tạo màu, các chất giữ màu được sử dụng để bảo quản màu hiện hữu của thực phẩm. Các chất chuyển thể sữa Các chất chuyển thể sữa cho phép nước và dầu ăn duy trì được thể hỗn hợp cùng nhau trong thể sữa, chẳng hạn trong maiônét, kem và sữa. Các chất tạo vị Các chất tạo vị là các phụ gia làm cho thực phẩm hương vị hay mùi cụ thể nào đó và có thể được tạo ra từ các chất tự nhiên hay nhân tạo. Các chất điều vị Các chất điều vị làm tăng hương vị sẵn có của thực phẩm. Các chất xử lý bột ngũ cốc Các chất xử lý bột ngũ cốc được thêm vào bột ngũ cốc (bột mì, bột mạch v.v) để cải thiện màu sắc của nó hay sử dụng khi nướng bánh. Các chất giữ ẩm Các chất giữ ẩm ngăn không cho thực phẩm bị khô đi. Các chất bảo quản Các chất bảo quản ngăn hoặc kiềm chế sự thối hỏng của thực phẩm bị gây ra bởi các hoạt động của nấm mốc, vi khuẩn hay các vi sinh vật khác. Các chất đẩy Các chất đẩy là các loại khí nén được sử dụng để đẩy thực phẩm ra khỏi đồ chứa đựng nó. Các chất ổn định Các chất ổn định, tạo đặc và tạo gel, chẳng hạn aga hay pectin (sử dụng trong một số loại mứt hoa quả) làm cho thực phẩm có kết cấu đặc và chắc. Trong khi chúng không phải là các chất chuyển thể sữa thực thụ, nhưng chúng giúp cho các chất thể sữa ổn định hơn. Các chất làm ngọt Các chất làm ngọt được bổ sung vào thực phẩm để tạo vị ngọt. Các chất làm ngọt không phải đường được thêm vào để giữ cho thực phẩm chứa ít năng lượng (calo) nhưng vẫn có vị ngọt của đường hay vì chúng có các tác động có lợi cho các bệnh nhân bị bệnh đái đường hay sâu răng. Các chất làm đặc Các chất làm đặc là các chất mà khi thêm vào thực phẩm sẽ làm tăng độ dẻo mà không làm thay đổi đáng kể các thuộc tính khác của thực phẩm. == Xem thêm == Chất bảo quản thực phẩm Hướng dẫn công bố phụ gia thực phẩm == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Quy định pháp lý của EU về phụ gia thực phẩm Hướng dẫn của CSPI về phụ gia thực phẩm Food Additives & Ỉngedients
hypena palpalis.txt
Hypena palpalis là một loài bướm đêm trong họ Erebidae. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Hypena palpalis tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Hypena palpalis tại Wikimedia Commons
nhóm (bảng tuần hoàn).txt
Nhóm tuần hoàn là khái niệm dùng để chỉ nhóm các nguyên tố được xếp thành 1 hàng dọc trong bảng tuần hoàn. Các nguyên tố thuộc 1 nhóm có cùng số electron hóa trị và vì thế có cùng tính chất hóa học. Hiện tại có tổng cộng 18 nhóm, trong đó có 8 nhóm chính (1 - 2 và 13 - 18), 10 nhóm phụ 3 - 12. Trong mỗi nhóm, từ trên xuống dưới: số nguyên tử tăng, độ âm điện giảm, tính kim loại tăng. === Các nhóm trong bảng tuần hoàn === Ngoài ra còn có các nhóm Actini và nhóm Lantan gồm các kim loại có tính chất hóa học giống nhau. Các nguyên tố chưa được tìm thấy có số thứ tự từ 121 đến 138 được xếp vào nhóm siêu Actini, chúng là những kim loại không bền và có tính phóng xạ. == Tham khảo ==
in ấn.txt
In ấn hay ấn loát là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy, bìa các tông, ni lông, vải... bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thường được thực hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong ngành xuất bản. Hình thức sớm nhất của in ấn là in bằng âm bản khắc gỗ, với các nghiên cứu hiện tại thì in ấn đã xuất hiện ở Trung Quốc có niên đại từ trước năm 220 trước Công nguyên và Ai Cập vào thế kỷ IV. Phát triển sau này trong in ấn được lan rộng, đầu tiên được phát triển ở Trung Quốc, đặc biệt trở thành một công cụ hiệu quả hơn cho các ngôn ngữ phương Tây với bảng chữ cái hạn chế của họ, được phát triển bởi Johannes Gutenberg vào thế kỷ XV. == Lịch sử ngành in thế giới == Năm 868, ở Trung Hoa (Trung Quốc ngày nay), sách đã được in bằng các bản khắc gỗ. Trong năm 1040, Bi Sheng (Tất Thăng) đã sáng chế chữ in. Những con chữ này được dùng để in không chỉ một cuốn sách. Những năm 1430, Johannes Gutenberg đã phát minh ra máy in. Khi phương pháp in hiện đại của ông ra đời tạo nên sự nhảy vọt về phát triển thông tin ở châu Âu, góp phần làm cho khu vực này phát triển nhanh hơn về khoa học kỹ thuật. Máy in cho phép chúng ta có thể đưa một lượng lớn thông tin đến thế giới với chi phí thấp và hiệu quả. Chiếc máy in là nền tảng của nhiều loại máy khác, tất nhiên, tinh xảo hơn chiếc bánh xe nhiều. Sự truyền bá kiến thức trong sách vở đã giúp những người khác có điều kiện tiếp cận các công nghệ mới và phát minh ra nhiều thứ hơn. == Lịch sử ngành in Việt Nam == == Kỹ thuật in ấn hiện đại == Sách báo ngày nay thường được in bằng kĩ thuật in ốp sét - offset. Các kĩ thuật in phổ biến khác gồm in nổi (dùng chủ yếu trong các cuốn ca ta lốc), in lụa, in quay, in phun và in la de. Nhà in thương mại và công nghiệp lớn nhất trên thế giới là Montréal, ở Quebec, Quebecor World. In kĩ thuật số phần lớn sử dụng hiện tượng tĩnh điện để chuyển đặt mực in lên trên chất nền. Công nghệ này phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây với các sản phẩm đa dạng từ các máy sao chép (copier) màu hay đen trắng cho tới các máy in màu hiện đại như Xerox iGen3, Kodak Nexpress, hay loạt máy HP Indigo. iGen3 và Nexpress sử dụng trống mực còn Indigo dùng mực lỏng. === In tẩy màu === In tẩy màu (Dischard printing) là kỹ thuật in được ứng dụng rộng rãi ngày nay, đặc biệt là in trên chất liệu vải, áo thun. Sự khác biệt giữa chính giữa in gốc nước và in tẩy là bước cuối cùng bao gồm một phụ gia tẩy màu được nhuộm nguyên thủy trên vải, và thay thế nó bằng màu sắc mong muốn. In tẩy Discharge là một sự lựa chọn tối ưu khi in trên chất liệu vải tối màu bởi khả năng loại bỏ màu nền của nó. Màu thay thế vùng bị tẩy sẽ trông rất nổi và không bị ám màu như khi in chồng lên màu nền của vải. In tẩy màu Dischard sẽ giúp mức độ chi tiết tăng lên rõ rệt hơn hẳn in sol dẻo. Bằng việc lựa chọn và thiết kế kỹ càng, in tẩy còn có thể giúp vải lụa nhân tạo trở nên rực rỡ hơn. Điểm yếu của in tẩy màu là kỹ thuật phức tạp hơn rất nhiều so với các loại in khác. === In gốc nước === In gốc nước (water-based printing) == Chú thích == == Xem thêm == Máy in In màu In lụa == Liên kết ngoài == Centre for the History of the Book Children of the Code - Online Video: The DNA of Science, The Alphabet and Printing. Planet Typography - history of printing - selection of international sites dedicated to the history of printing. Printwiki The development of book and printing. English website of the Gutenberg-Museum Mainz (Germany) BPSnet British Printing Society Taiwan Culture Portal: Ri Xing Type Foundry- preserving the true character of Chinese type International Printing Museum Web site
chiến tranh du kích.txt
Chiến tranh du kích là một loại hình chiến tranh không thông thường được phe, nhóm quân sự nhỏ và yếu hơn, cơ động hơn áp dụng đối với kẻ thù lớn mạnh hơn và kém cơ động hơn. Lối đánh du kích bao gồm các cuộc phục kích, phá hoại, đánh bất ngờ, chớp nhoáng và rút lui nhanh. Mục tiêu của các cuộc tấn công du kích là những yếu điểm của kẻ thù. Trong cuộc kháng chiến giữa quân đội 13 thuộc địa Mỹ chống lại quân đội Anh quốc, quân đội thuộc địa đã dùng chiến thuật này. Dù lực lượng yếu hơn nhưng dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Washington, họ phát triển chiến tranh du kích ở vùng rừng núi Bắc Mỹ và gây tổn thất lớn cho quân đội Anh, cùng những trận quyết định để giành lại độc lập. Tại cuộc chiến tranh Việt Nam, Nguyễn Chí Thanh hoàn thiện và phổ biến chiến tranh du kích. Khi mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng một lực lượng lớn bộ binh, thiết giáp với quy mô lên đến cấp quân đoàn để tiến hành các cuộc tấn công càn quét thì ngược lại, Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam dùng các đơn vị bộ binh nhỏ, linh hoạt, trang bị thô sơ để phản kích lại. Khi Mĩ mở các chiến dịch quy mô lớn như chiến dịch Khe Sanh thì Việt Nam cũng tiến hành giao chiến bằng những lực lượng với quy mô sư đoàn. Sau cuộc chiến năm 1968 Việt Cộng tiếp tục duy trì chiến tranh du kích và thế trận "chiến tranh nhân dân" của Võ Nguyên Giáp ở quy mô nhỏ hơn, chiến trường chính được thay thế bằng bộ đội chính quy. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Guerrilla warfare on Spartacus Schoolnet Encyclopaedia Britannica, Guerrilla warfare Mao on Guerrilla warfare The Theory and Practice of Insurgency and Counterinsurgency Relearning Counterinsurgency Warfare Guerrilla Warfare Che Guevara on Guerrilla WarfarePDF (254 KiB) Counter Insurgency Jungle Warfare School (CIJWS)India PKK and Counterinsurgency Warfare in Turkey{Turkish} Đặt bom đánh du kích tại Iraq
latvia.txt
Latvia (phiên âm tiếng Việt: Lát-vi-a, tiếng Latvia: Latvija [ˈlatvija]), tên chính thức là Cộng hòa Latvia (tiếng Latvia: Latvijas Republika) là một quốc gia theo thế chế cộng hòa tại khu vực châu Âu. Latvia giáp với Estonia về phía bắc, giáp với Litva về phía nam, giáp với Nga và Belarus về phía đông và giáp biển Baltic về phía tây. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số của Latvia là 2.259.810 người, mật độ dân số khoảng 36 người/km². Các dân tộc ở Latvia chủ yếu là người Latvia (chiếm 59%) và người Nga (chiếm 28,3%), ngoài ra còn có các dân tộc thiểu số khác. Latvia là một quốc gia có lịch sử lâu đời tại châu Âu. Trong lịch sử, nước này đã từng bị đô hộ bởi nhiều quốc gia láng giềng. Kể từ thế kỷ 18, Latvia trực thuộc nước Nga Sa hoàng. Ngày 18 tháng 11 năm 1918, nền cộng hòa của Latvia chính thức được thành lập. Nhưng đến năm 1940, sau hiệp ước Xô-Đức 1939, Latvia sáp nhập vào Liên Xô với tên gọi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia. Vào năm 1991, Liên Xô sụp đổ và Latvia lại trở thành một quốc gia độc lập. Ngày nay, Latvia là một thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, NATO. Ngày 1 tháng 5 năm 2004, Latvia chính thức trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu. Đất nước này đang phát triển hết sức nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Latvia trong năm 2006 đạt 11,9%, cao nhất châu Âu. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất Latvia là Riga, một địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới với rất nhiều những công trình lịch sử và văn hóa. == Lịch sử == === Thời tiền sử === Tổ tiên của người Latvia là những bộ lạc Baltic cổ đã sống ở phía đông bờ biển Baltic từ thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên. Từ thời đó, Latvia đã là một nơi giao thương quan trọng để người Viking đi từ bán đảo Scandinavia qua sông Daugava đến nước Nga và Đế quốc Byzantine. Bờ biển Latvia nổi tiếng toàn châu Âu bởi mặt hàng hổ phách quý hiếm của nó. Vào thế kỉ 10, các bộ lạc Baltic bắt đầu thành lập các vương quốc tại khu vực này. Bốn nền văn hóa phát triển tại khu vực là các vương quốc của người Couronia, Latgallia, Selonia và Semigallia. Trong đó, vương quốc của người Latgallia là phát triển nhất và có ảnh hưởng sâu rộng về chính trị và xã hội. Người Couronia thì vẫn tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược và cướp bóc trong một thời gian dài. Còn người Selonia và Semgallia lại là những nông dân thịnh vượng và ít có những xung đột hay chiến tranh. === Thời thuộc Đức === Do nằm ở một vị trí chiến lược, Latvia thường xuyên bị xâm chiếm bởi những quốc gia lớn hơn xung quanh. Vào cuối thế kỉ 12, Latvia được nhiều thương nhân Tây Âu ghé thăm do con sông dài nhất nước này, sông Daugava, là một cửa ngõ quan trọng để sang nước Nga. Các nhà buôn và nhà truyền đạo Cơ Đốc người Đức cũng nằm trong số này. Nhưng người Baltic ngoại đạo vẫn chưa sẵn sàng theo tôn giáo mới nên họ đã nổi dậy chống lại. Giáo hoàng ở Roma đã quyết định gửi một đạo quân viễn chinh đến Latvia để gây ảnh hưởng tại vùng đất này. Sự xuất hiện của quân viễn chinh Đức đã chấm dứt sự phát triển của những bộ lạc Baltic tại Latvia, thay vào đó là sự cải đạo của hàng loạt dân địa phương sang Kitô giáo. Người Đức đã thành lập thành phố Riga vào năm 1201, và Riga đã dần dần phát triển thành đô thị rộng lớn và xinh đẹp nhất trên bờ nam biển Baltic. Vào thế kỉ 13, Liên bang Livonia bao gồm Estonia là Latvia đã phát triển mạnh mẽ dưới quyền lực của người Đức. Năm 1282, Riga rồi sau đó là Cēsis, Limbaži, Koknese và Valmiera đã nằm trong Liên minh Hanse. Từ đó, Riga trở thành một địa điểm giao thương quan trọng giữa đông và tây, trở thành trung tâm thương mại lớn ở phía đông Baltic và có những mối liên hệ văn hóa ngày càng gần gũi với Tây Âu. Đầu thế kỉ 13, dòng Hiệp sĩ Porte-Glaive và dòng Hiệp sĩ Teuton sáp nhập tạo thành Dòng Livonia. Dòng này truyền đạo và cai trị lãnh thổ Latvia cho đến khi bị giải thể năm 1561. Đất nước bị chia cắt và thuộc quyền thống trị của Ba Lan và Thụy Điển. === Thời thuộc Ba Lan và Thụy Điển === Cuối thế kỉ 15, đầu thế kỉ 16, Liên bang Livonia bắt đầu suy tàn và tan rã. Sau cuộc chiến tranh Livonia (1558-1583), phần đất Latvia ngày nay bị đặt dưới sự cai trị của Ba Lan-Litva, trong đó có Riga. Vào thế kỉ 17, Lãnh địa Courtland, một phần của Livonia cũ đã đạt được sự phát triển kinh tế một cách nhanh chóng và thành lập hai thuộc địa, một ở hòn đảo cửa sông Gambia (châu Phi) và đảo Tobago ở biển Caribbean. Sau cuộc chiến tranh Ba Lan - Thụy Điển (1600-1629), Riga lại nằm dưới sự cai trị của Thụy Điển và trở thành thành phố rộng lớn và phát triển nhất trong các thành phố của đất nước này. Trong khi đó thì thành phố Vidzeme lại được biết đến với cái tên giỏ bánh mì của Thụy Điển vì nơi này cung cấp phần lớn lượng lúa mì cho vương quốc. Phần còn lại của Latvia nằm trong Ba Lan cho đến năm 1793. Đất nước Latvia trong thế kỉ 17 đã được củng cố vững chắc. Với sự hợp nhất của các dân tộc Couronia, Latgallia, Selonia, Semgallia và Livonia, một quốc gia với nền văn hóa thống nhất và ngôn ngữ chung đã được hình thành, với tên gọi Latvia. === Thời thuộc Nga === Năm 1700, cuộc Đại chiến Bắc Âu nổ ra, Thụy Điển thất bại và phải cắt Latvia cho Nga, và Latvia trở thành một bộ phận của Đế chế Nga. Sa hoàng đã nhanh chóng kiểm soát tất cả những thành phố giàu có của đất nước Latvia. Giai cấp nông nô chính thức được giải phóng tại Courland vào năm 1818 và Vidzeme vào năm 1819. Một bộ luật được thông qua vào năm 1849 là tiền đề công nhận sự sở hữu đất đai của nông dân. Công nghiệp phát triển mạnh mẽ đồng thời với việc dân số cũng tăng lên nhanh. Latvia trở thành một trong những vùng đất phát triển nhất của nước Nga. Vào thế kỉ 19, Phong trào Vận động Dân tộc Latvia đầu tiên xuất hiện trong tầng lớp trí thức. Phong trào được lãnh đạo bởi nhóm Người Latvia trẻ từ thập niên 1850 đến 1880 với những cuộc vận động ngôn ngữ và văn hóa. Tuy nhiên sự bần cùng hóa ở nông thôn vẫn tiếp tục diễn ra trong hoàn cảnh các đô thị ngày càng giàu có đã dẫn đến những cuộc vận động cánh tả vào khoảng những năm 1880, lãnh đạo bởi Rainis và Pēteris Stučka, mang màu sắc của chủ nghĩa Marx và dẫn đến sự thành lập Đảng Lao động Xã hội Dân chủ Latvia. === Thời cận và hiện đại === Năm 1918, Latvia tuyên bố độc lập, nhưng chỉ được Nga Xô Viết công nhận chủ quyền sau hòa ước Riga 1920. Đến năm 1940, sau hiệp ước Xô-Đức 1939, Liên Xô tiến quân vào nước này và Latvia sáp nhập vào Liên Xô sau một cuộc trưng cầu dân ý mà phương Tây cho là gian lận. Sau đó, năm 1941, Đức tấn công Liên Xô và chiếm Latvia trong Thế chiến thứ II (1941-1944). Sau này, chính phủ Latvia, Mỹ Nghị viện châu Âu Tòa án Nhân quyền châu Âu cho rằng ba nước này bị Liên Xô chiếm đóng trái phép và sát nhập vào Liên Xô. Ngược lại theo quan điểm của Nga, thì vào thời điểm đó, người dân và chính phủ hợp pháp của các nước Baltic đã tình nguyện gia nhập Liên Xô. Họ và người Nga đã có quan hệ lâu bền, cùng thuộc một đất nước là Đế quốc Nga kể từ thập niên 1720 trở đi (tức là cùng lúc với việc Scotland và Anh thống nhất để hình thành Vương quốc Anh). Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Ivanov đã tuyên bố: "Nói rằng Liên Xô đã chiếm đóng các quốc gia vùng Baltic là vô lý và vô nghĩa. Người ta không thể chiếm một cái gì đó vốn thuộc về anh ta." Đương thời, Quốc hội Mỹ yêu cầu tổng thống Mỹ và Ngoại trưởng Mỹ thúc giục chính phủ Nga phải nhận ra rằng việc Liên Xô chiếm đóng Estonia, Latvia và Litva theo Hiệp ước Molotov-Ribbentrop là bất hợp pháp: "Hoa Kỳ không bao giờ công nhận sự chiếm đóng bất hợp pháp và bạo lực và các đời Tổng thống Mỹ tiếp theo không gián đoạn việc duy trì quan hệ ngoại giao với các quốc gia này trong suốt sự chiếm đóng của Liên Xô, không bao giờ công nhận chúng như là nước cộng hòa thuộc Liên Xô." Cựu Đại sứ Mỹ tại Ukraine, ông William B. Taylor đã khẳng định trên tờ báo The New York Times khẳng định lập trường Hoa Kỳ không bao giờ công nhận sự sáp nhập của Liên Xô đối với Latvia, Estonia và Lithuania trong Thế chiến II. Tuy nhiên, tại Hội nghị Teheran 1943, Tổng thống Mỹ là Franklin Roosevelt trong trao đổi với Joseph Stalin ngày 01/12/1943, đã công nhận chủ quyền của Liên Xô ở vùng Baltic: "Tại Hoa Kỳ đang dấy lên nghi vấn về các nước cộng hòa Baltic thuộc Liên Xô, và tôi tin rằng công luận thế giới cho là các dân tộc của các nước cộng hòa này có một tương lai bấp bênh. Vì vậy, tôi hy vọng rằng Nguyên soái Stalin sẽ đi vào xem xét yêu cầu này. Cá nhân tôi không có nghi ngờ rằng người dân ở các nước này sẽ bỏ phiếu để gia nhập Liên Xô cũng như cùng nhau như họ đã làm vậy trong những năm 1940... Thực tế là dư luận không biết rõ lịch sử." Cuối năm 1989, hai năm trước sự sụp đổ của Liên Xô, Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô đã chính thức lên án nội dung trong Hiệp ước Molotov-Ribbentrop về việc sáp nhập các nước vùng Baltic (Estonia, Latvia, Litva) là bất hợp pháp,. còn chính phủ Nga hiện nay thì phủ nhận hành động của Liên Xô là chiếm đóng Trong thời gian này có khoảng 70.000 người Do Thái sống tại Latvia, 95% trong số họ bị sát hại trong thời gian Đức quốc xã chiếm đóng nước này. Năm 1944, Latvia tái sáp nhập vào Liên bang Xô Viết. Khoảng 120 cho tới 300 ngàn người Latvia gốc Đức đã bỏ sang Đức hoặc Thụy Điển. Vào tháng 3/1949, 43,000 người từng phục vụ cho Đức Quốc xã bị đưa sang Siberia trong chiến dịch Priboi được tiến hành tại cả ba nước Baltic, mà đã được hoạch định cẩn thận và được chấp thuận bởi Moskva vào tháng 1 năm 1949. Khoảng chừng 136,000 cho tới 190,000 người Latvia, tùy theo nguồn, đã bị bắt giam trong những năm sau chiến tranh, từ năm 1945 cho tới 1952 vì đã cộng tác với quân Đức Các vùng nông thôn ở Latvia bắt đầu tập thể hóa. Tiếng Latvia bị giới hạn trong những nơi công cộng, thay thế vào đó tiếng Nga được dùng làm ngôn ngữ chính. Vào khoảng năm 1959, chừng 400,000 người chuyển tới Litva sinh sống từ các nước cộng hòa Xô viết khác và dân địa phương Latvia giảm xuống chỉ còn 62% dân số cả nước. Năm 1991, Latvia trở thành nước cộng hòa. Bởi vì tính đồng nhất của dân tộc Latvia bị hủy bỏ trong thời kì lịch sử nhà cầm quyền nước ngoài cai trị, nên chính quyền Latvia đặt ra các luật lệ về quyền công dân rất chặt chẽ, hạn chế quyền công dân cho người Latvia và những người sống trong vùng này kể từ trước khi bị sáp nhập vào Liên Xô năm 1940. Chính điều đó đã làm cho khoảng 452.000 trong số 740.000 người Latvia gốc Nga không được thừa nhận có quyền công dân do di dân từ Nga sang trong thời kỳ Xô Viết dù họ đã sống tại Litva từ lâu. Năm 1995, Latvia đệ đơn xin gia nhập Liên hiệp châu Âu. Những cố gắng xin gia nhập Liên hiệp châu Âu không được chấp nhận trong các cuộc đàm phán bắt đầu từ năm 1997. Latvia đã cải thiện hệ thống quản lý hành chính, và gia tăng hợp pháp hóa vấn đề quốc tịch cho cộng đồng thiểu số các dân tộc khác đặc biệt là cộng đồng người Nga. Latvia đã phải đương đầu với cuộc suy thoái kinh tế xuất phát từ cuộc khủng hoảng của Nga năm 1998. Liên hiệp châu Âu bắt đầu các cuộc thương lượng việc xin gia nhập của Latvia từ năm 1999. Tháng 5 năm 2001, Latvia và 8 nước khác ở Trung Âu và Đông Âu xin gia nhập tổ chức NATO. Nhằm tạo điều kiện để được gia nhập vào NATO, Quốc hội Latvia năm 2002 đã thông qua luật không đòi hỏi các ứng cứ viên vào Quốc hội phải biết tiếng Latvia. Năm 2004, Latvia gia nhập Liên hiệp châu Âu. == Chính trị == Thể chế nhà nước: Cộng hoà nghị viện. Tổng thống: Tổng thống là công dân Latvia đủ 40 tuổi trở lên, không có quốc tịch khác, không giữ các chức vụ khác, được không ít hơn 51/100 đại biểu Quốc hội bầu nhiệm kỳ bốn năm (không quá 2 nhiệm kỳ liên tục). Tổng thống có thể bị miễn nhiệm theo đề nghị của không ít hơn 1/2 số đại biểu Quốc hội và trong bỏ phiếu kín với không ít hơn 2/3 số đại biểu. Trong trường hợp, Tổng thống đề nghị giải tán Quốc hội, mà trong trưng cầu dân ý hơn 1/2 số phiếu phản đối thì Tổng thống mặc nhiên bị phế truất. Tổng thống đại diện cho nhà nước trong quan hệ quốc tế, thực hiện các quyết định của Quốc hội về phê duyệt các điều ước quốc tế, là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Tổng thống có quyền sáng kiến lập pháp. Quốc hội (Saeima): Cơ quan lập pháp của Latvia là Quốc hội 1 viện với 100 đại biểu được bầu bởi phổ thông đầu phiếu nhiệm kỳ bốn năm. Quốc hội Latvia Khóa 10 được bầu ngày 2 tháng 10 năm 2010. Liên minh Thống nhất của đương kim Thủ tướng Valdis Dombrovskis (Đảng "Thời mới", Liên minh dân sự, Hội vì một chính sách khác) đứng đầu với 31.2% phiếu bầu, chiếm 33 ghế; "Trung tâm Hòa hợp" – 26%, chiếm 29 ghế; Liên minh xanh và Nông dân – 19,7%, chiếm 22 ghế; Liên minh " vì một nước Latvia tốt đẹp" và Khối "Tất cả vì Latvia "-"Tổ quốc và Tự do" đều đạt 7,6%, cùng chiếm 8 ghế. Liên minh Thống nhất cùng với Liên minh xanh và Nông dân, với 55 đại biểu đã thành lập phái đa số cầm quyền tại Quốc hội. Lực lượng cánh tả đối lập không ủng hộ Chính phủ tại Quốc hội, với 45 đại biểu, gồm "Trung tâm Hòa hợp", Liên minh " vì một nước Latvia tốt đẹp", Khối "Tất cả vì Latvia "-"Tổ quốc và Tự do". Chủ tịch Quốc hội do thành viên Quốc hội bầu. Chính phủ (Nội các) do Thủ tướng bổ nhiệm và được Quốc hội thông qua, đứng đầu là Thủ tướng thực hiện các chức năng và quyền hạn của cơ quan hành pháp. Chính phủ Latvia gồm Thủ tướng, Văn phòng Chính phủ và 13 Bộ. Thủ tướng do Tổng thống đề cử đứng ra thành lập Chính phủ (còn gọi là Nội các), được Quốc hội thông qua. Thủ tướng Latvia hiện nay là ông Valdis Dombrovskis. === Chính sách đối ngoại === Trở thành thành viên của EU và NATO là mục tiêu chính sách đối ngoại lớn của Latvia trong những năm 1990. Trong một cuộc trưng cầu toàn quốc vào ngày 20 tháng 9 năm 2003, trong số 100% cử tri tham gia bỏ phiếu, 66,9% cử tri Latvia ủng hộ gia nhập Liên minh châu Âu. Latvia trở thành thành viên của Liên minh châu Âu (EU) vào ngày 1 tháng 5 năm 2004. Latvia trở thành thành viên NATO kể từ ngày 29 tháng 3 năm 2004. Hiệp ước phân định biên giới với Nga đã được ký kết và phê chuẩn trong năm 2007. Theo hiệp ước, huyện Abrene thông qua Nga đàm phán về tranh chấp biên giới biển với Litva đang được tiến hành (các mối quan tâm chính là quyền thăm dò dầu khí). Gần đây, Latvia cũng bắt đầu quan tâm đến hợp tác với các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á. == Địa lý == Latvia nằm ở phía bắc châu Âu, giáp biển Baltic về phía tây, có vĩ tuyến từ 55° đến 58° B, kinh tuyến từ 21° đến 29° Đ. Latvia có tổng diện tích 64.559 km2 (24.926 sq mi) trong đó 62.157 km2 (23.999 sq mi) là đất liền, 18.159 km2 (7.011 sq mi) là đất nông nghiệp, 34.964 km2 (13.500 sq mi) là đất rừng và 2.402 km2 (927 sq mi) là vùng nước nội địa. Tổng chiều dài biên giới quốc gia là 1.866 km (1.159 mi). Tổng chiều dài biên giới đất liền là 1.368 km (850 mi), trong đó 343 km (213 mi) giáp với Estonia về phía bắc, 276 km (171 mi) với Nga về phía đông, 161 km (100 mi) với Belarus về phía đông nam và 588 km (365 mi) với Litva về phía nam. Tổng chiều dài biên giới được biến là 498 km (309 mi), giáp với Estonia, Thụy Điển và Litva. == Kinh tế == Latvia có nền kinh tế mở. Xuất khẩu đóng vai trò đáng kể vào GDP. Do vị trí địa lý, lĩnh vực dịch vụ chiếm phần lớn trong hoạt động kinh tế. Dịch vụ vận chuyển hàng quá cảnh được đánh giá phát triển cao. Ngành khai thác gỗ và chế biến gỗ, nông nghiệp và chế biến thực phẩm, và sản xuất các thiết bị máy móc và điện tử phát triển mạnh. Kinh tế Latvia có tăng trưởng GDP trên 10%/năm trong thời gian 2006-2007, nhưng từ năm 2008 bước vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng: thâm hụt ngân sách, nợ công lớn. GDP sụt giảm 18% trong năm 2009. Nhờ thực hiện chính sách tăng trưởng xuất khẩu mạnh, nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng trở lại: GDP hàng quý năm 2010 tăng 2,9%. IMF, EU, và các nhà tài trợ quốc tế khác có. Thỏa thuận hỗ trợ tài chính để Latvia gia nhập eurozone. Thỏa thuận này kêu gọi giảm thâm hụt tài chính của Latvia xuống dưới mức 3% GDP vào năm 2012 để đáp ứng tiêu chuẩn gia nhập eurozone. Chính phủ ban hành cắt giảm chi tiêu lớn nhằm giảm thâm hụt ngân sách tối đa 8,5% GDP năm 2010. Latvia đã thông qua ngân sách năm 2011 với mức thâm hụt ngân sách dự kiến là 5,4% GDP. Đa số các công ty, ngân hàng và bất động sản đã được tư nhân hóa, mặc dù nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần khá lớn trong một vài doanh nghiệp lớn. Latvia chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng 2 năm 1999. Tính đến năm 2016, GDP của Estonia đạt 27.945 USD, đứng thứ 101 thế giới và đứng thứ 33 châu Âu. Năm 2010, GDP: đạt 23,39 tỷ USD, trong đó nông nghiệp - 4,2%, công nghiệp - 20,6%, dịch vụ - 75,2%. Tỷ lệ thất nghiệp là 14,3%. Tỷ lệ lạm phát là 1,2%. Nợ công - 46,2% GDP. Ngân sách: thu: 8,028 tỷ USD, chi 9,863. Nợ nước ngoài: 3,728 tỷ USD. Thế mạnh của Latvia là nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng, điện tử, bưu điện, thiết bị giao thông vận tải, du lịch... Nông nghiệp sản phẩm: ngũ cốc, dầu hạt cải, khoai tây, rau, thịt lợn, gia cầm, sữa, trứng, cá. Công nghiệp: thực phẩm chế biến, gia công sản phẩm gỗ, dệt may, kim loại chế biến, dược phẩm, xe ô tô đường sắt, sợi tổng hợp, điện tử. === Thương mại === Xuất khẩu và công nghiệp là động lực chính của tăng trưởng kinh tế chủ yếu là xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, máy móc và thiết bị, kim loại, hàng dệt. Xuất khẩu: Năm 2010 đạt 7,894 tỷ USD. Mặt hàng chính: sản phẩm thực phẩm, gỗ và sản phẩm gỗ, kim loại, máy móc, thiết bị, dệt may. Đối tác: Litva - 15,19%, Estonia - 13,57%, Nga - 13,17%, Đức - 8,13%, Thụy Điển - 5,7% Nhập khẩu: Năm 2010 đạt 9,153 tỷ USD. Mặt hàng chính: máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng, hóa chất, nhiên liệu, xe ô tô. Đối tác: Litva 16,36%, Đức 11,34%, Nga 10,68%, Ba Lan 8,11%, Estonia 7,69%. === Đầu tư === Đầu tư trong nước: 15,7% GDP (2010). Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: 1,171 tỷ USD (2010). Đầu tư ra nước ngoài: 1,097 triệu USD năm 2010. == Tôn giáo == Tôn giáo lớn nhất ở Latvia là Kitô giáo, mặc dù chỉ có khoảng 7% dân số tham dự nghi lễ tôn giáo thường xuyên Các nhóm Kitô giáo lớn nhất tính đến năm 2011 là: Giáo hội Luther: 708,773 tín hữu Công giáo Rôma: 500.000 tín hữu Chính Thống giáo Đông phương: 370.000 tín hữu Trong cuộc phỏng vấn do tổ chức Eurobarometer bình chọn năm 2005, 37% công dân Latvia trả lời rằng "họ tin rằng có một vị thần", trong khi 49% trả lời rằng "họ tin rằng có một số loại tinh thần hay thế lực siêu nhiên" và 10% nói rằng "họ không tin rằng có bất kỳ loại tinh thần, thần, hay thế lực siêu nhiên" nào. Trước thời gian chiếm đóng của Liên Xô, Giáo hội Luther là tôn giáo nổi bật nhất, tôn giáo này được các nước Bắc Âu và dân chúng miền Bắc Đức tin theo. Kể từ sau sự sáp nhập của Liên Xô, Giáo hội Luther đã giảm số lượng tín hữu hơn một chút so với Công giáo La Mã ở cả ba quốc gia vùng Baltic trong đó có Latvia. Các tín hữu của Giáo hội Luther, với ước tính khoảng 600.000 thành viên vào năm 1956, đã bị ảnh hưởng nhất. Một tài liệu nội bộ được ban hành ngày 18 tháng 3 năm 1987, ở gần cuối của chế độ Xô viết tồn tại ở nước này, nói rằng các tín hữu tích cực đã bị thu hẹp chỉ còn 25.000 người ở Latvia, nhưng đức tin Kitô cũng đã trải qua một sự hồi sinh sau khi Liên Xô sụp đổ. Kitô hữu Chính Thống giáo của quốc gia này thuộc về Giáo hội Chính Thống giáo Latvia, một cơ quan bán tự trị trong Giáo hội Chính thống giáo Nga. Trong năm 2011, đã có 416 người Do Thái giáo và 319 người Hồi giáo sống ở Latvia. Ngoài ra còn các giáo phái Kitô giáo và các tôn giáo thiểu số khác như Phật giáo, Ấn giáo. == Xem thêm == Riga == Tham khảo == == Liên kết ngoài == http://www.lonelyplanet.com/maps/europe/latvia/ Bản đồ Latvia http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/europe/country_profiles/1106666.stm Thông tin Latvia trên BBC News http://www.latviatourism.lv/ Cổng du lịch Latvia http://www.lv/ Chào mừng đến Latvia
châu đức.txt
Châu Đức là một huyện nông nghiệp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. == Tổng quan == Châu Đức là một huyện nông nghiệp của tỉnh, phía bắc giáp huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, phía Nam giáp huyện Đất Đỏ và thành phố Bà Rịa, phía Tây giáp huyện Tân Thành, phía Đông giáp huyện Xuyên Mộc. Châu Đức là một huyện nông nghiệp của tỉnh, phía bắc giáp thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, phía Nam giáp huyện Đất Đỏ và thành phố Bà Rịa, phía Tây giáp huyện Tân Thành, phía Đông giáp huyện Xuyên Mộc. Tổng diện tích đất tự nhiên là 42.104 ha với trên 150 ngàn dân, trong đó khoảng 71 ngàn người trong độ tuổi lao động, mật độ dân số 325,4 người/km², có 16 đơn vị hành chính, gồm 15 xă và 1 thị trấn. == Hành chính == Có 16 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 1 thị trấn. Đó là thị trấn Ngãi Giao và các xã: Bàu Chinh, Bình Ba, Bình Giã, Bình Trung, Cù Bị, Đá Bạc, Kim Long, Láng Lớn, Nghĩa Thành, Quảng Thành, Sơn Bình, Suối Nghệ, Suối Rao, Xà Bang, Xuân Sơn. == Lịch sử == Huyện Châu Đức được thành lập ngày 2 tháng 6 năm 1994, trên cơ sở các xã Ngãi Giao, Nghĩa Thành, Bình Ba, Suối Nghệ, Xuân Sơn, Bình Giã, Kim Long, Xà Bang, Láng Lớn, khu kinh tế mới Suối Rao, Đá Bạc và 990 ha diện tích tự nhiên với 1.700 nhân khẩu của ấp Sông Cầu thuộc xã Hoà Long; 1.463 ha diện tích tự nhiên với 800 nhân khẩu của ấp Phước Trung của xã Long Phước thuộc huyện Châu Thành cũ; thành lập thị trấn Ngãi Giao trên cơ sở xã Ngãi Giao; thành lập xã Suối Rao trên cơ sở khu kinh tế mới Suối Rao; có diện tích tự nhiên: 2.938 ha, nhân khẩu: 1.381; thành lập xã Đá Bạc trên cơ sở khu kinh tế mới Đá Bạc; có diện tích tự nhiên: 4.710 ha, nhân khẩu 3.139; chia xã Kim Long thành xã Kim Long và xã Quảng Thành (huyện Châu Đức). Khi mới thành lập, huyện Châu Đức có 1 thị trấn Ngãi Giao và 11 xã: Bình Ba, Bình Giã, Đá Bạc, Kim Long, Láng Lớn, Nghĩa Thành, Quảng Thành, Suối Nghệ, Suối Rao, Xà Bang, Xuân Sơn. Ngày 23 tháng 7 năm 1999, thành lập xã Sơn Bình thuộc huyện Châu Đức trên cơ sở 2.289 ha diện tích tự nhiên và 9.313 nhân khẩu của xã Xuân Sơn; thành lập xã Bình Trung thuộc huyện Châu Đức trên cơ sở 1.662 ha diện tích tự nhiên và 6.376 nhân khẩu của xã Bình Giã. Ngày 22 tháng 10 năm 2002, chuyển toàn bộ ấp Liên Hiệp 2 (đội 1 nông trường cao su Cù Bị) của xã Xà Bang với 941 ha diện tích tự nhiên và 2.744 nhân khẩu, ấp Tân Giao của thị trấn Ngãi Giao với 627 ha diện tích tự nhiên và 875 nhân khẩu về xã Láng Lớn quản lý; thành lập xã Cù Bị trên cơ sở 4.671 ha diện tích tự nhiên và 8.642 nhân khẩu của xã Láng Lớn. Ngày 24 tháng 12 năm 2004, thành lập xã Bàu Chinh thuộc huyện Châu Đức trên cơ sở 1.134,46 ha diện tích tự nhiên và 3.544 nhân khẩu của thị trấn Ngãi Giao, 849,32 ha diện tích tự nhiên và 2.985 nhân khẩu của xã Kim Long. == Du lịch == Đến Châu Đức, du khách có thể ghé thăm Tượng đài chiến thắng Bình Giã; Địa đạo Kim Long ghi dấu chiến công vang dội trong kháng chiến chống Mỹ trên vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu; Thắng cảnh Bàu Sen với khu rừng mọc trên vùng sình lầy quanh năm ngập nước. Năm 1983 Ủy ban Nhân Tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định 1050/QĐ-UBT xếp hạng bảo vệ di tính lịch sử khu căn cứ Bàu Sen. Đặc biệt với thắng cảnh thác Xuân Sơn du khách sẽ được hòa mình trong không khí trong lành, cảnh thiên nhiên rất thích hợp cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. == Thổ nhưỡng == Hầu hết đất đai của huyện là đất đỏ, vàng và đen trên nền đất Bazan (chiếm tỷ lệ 85,8% tổng diện tích đất) thuộc loại đất rất tốt, có độ phì cao, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây lâu năm như: cao su, cà phê, tiêu, điều, cây ăn trái và các cây hàng năm như: bắp, khoai mì, đậu các loại, bông vải... Đây thực sự là một thế mạnh so với các huyện khác trong tỉnh. Một số cây trồng tuy không chiếm tỷ lệ cao, song có diện tích trồng khá lớn như cây điều khoảng 2.850 ha, cây ăn trái khoảng 1.080 ha, khoai mì khoảng 2.400 ha. == Chú thích ==
bellevue, washington.txt
Bellevue, Washington là một thành phố ở quận quận,, bang Washington, Hoa Kỳ. Theo điều tra dân số Hoa Kỳ 2010, thành phố có dân số 122.363 người. Đây là thành phố lớn thứ 205 Hoa Kỳ theo dân số. Thành phố có diện tích 32 dặm vuông Anh (83 km2), mật độ dân số 3823 người/dặm Anh vuông. == Tham khảo ==
edmund burke.txt
Edmund Burke (12 tháng 1 1729 - 9 tháng 7 1797) là một chính khách, nhà văn, nhà hùng, nhà lý thuyết học chính trị, và nhà triết học người Ireland. Sau khi chuyển tới Anh sinh sống, Edmund Burke đã phục vụ nhiều năm trong Viện Thứ dân Vương quốc Anh với tư cách là thành viên của đảng Whig. Ông được nhớ đến chủ yếu là người đã ủng hộ những nhà Cách mạng Hoa Kỳ, và sau đó là phản đối cuộc Cách mạng Pháp. Sự phản đối cuộc cách mạng Pháp của Burke đã khiến ông trở thành nhân vật đi đầu thuộc phái bảo thủ trong đảng Whig, bè phái mà ông gọi là "Old Whigs" (Đảng viên Whig già), đối lập với những người ủng hộ cuộc cách mạng Pháp "New Whigs" (Đảng viên Whig trẻ), đứng đầu bởi Charles James Fox. Edmund Burke được xem là nhà sáng lập tư tưởng của chủ nghĩa bảo thủ hiện đại, và là đại diện của chủ nghĩa tự do cổ điển. == Cuộc đời == === Thời ấu thơ và niên thiếu === Edmund Burke sinh ra tại Dublin, Ireland. Cha mẹ ông là những người có tôn giáo riêng của mình: cha ông là tín đồ của đạo Tin Lành, còn mẹ ông lại chọn Công giáo làm tôn giáo của mình. Cậu bé Burke được giáo dục như một tín hữu của đạo Tin Lành và học tại Học viện Chúa Ba ngôi, Dublin vào năm 1744. === Trưởng thành === Năm 1750, Edmund Burke bắt đầu học luật tại Middle Temple, Luân Đôn, Anh. Tuy nhiên, ngay sau đó, Burke quyết định chọn con đường khác khi du lịch khắp châu Âu lục địa. Năm 1757, ông xuất bản tác phẩm mỹ học Tìm hiểu nguồn gốc những ý tưởng của chúng ta về cái trác tuyệt và cái đẹp, và ngay lập tức ông đã gây chú ý cho nhiều bộ óc lớn đương thời như Denis Diderot, Immanuel Kant. Tại xứ sở sương mù, Burke kết bạn với nhiều người như Samuel Johnson, David Garrick, Oliver Goldsmith, Joshua Reynolds. == Tổng quan về sự nghiệp == Burke là một trong những nhà triết học quan trọng của thời kỳ Khai sáng và là một trong những nhà triết học lớn nhất của Ireland thời kỳ này. Ông là một trong những người đứng trên lập trường chủ nghĩa hoài nghi để đưa ra những tư tưởng triết học của mình. Ngoài ra, Burke còn là một chính trị gia gây nhiều tranh cãi. Thêm vào đó, ông còn viết những tác phẩm mỹ học, sáng lập tạp chí Annual Register. Người ta cũng có thể biết đến Burke như là một trong những nhà hùng biện xuất sắc nhất của Anh lúc đó. == Những nét chính == === Chính trị === Nếu như ông ủng hộ kiều dân Mỹ chống lại vua George III của Anh, từ đó dẫn đến Cách mạng Mỹ thì ở chiều ngược lại, cũng là ông nhưng lại là chống đối quyết liệt Cách mạng Pháp. Việc chống lại Cách mạng Pháp, một trong những sự kiện lớn nhất lịch sử thế giới, đã khiến Burke trở thành người đối lập với một nhóm có tên là Tân Whigs (đó là phe cấp tiến trong Đảng Whig, còn phe bảo thủ mà Burke ngả về được chính ông đặt tên là Cựu Whigs). Burke là người biện giải đầu tiên cho những quy ước hiến pháp lâu đời, tư tưởng của đảng. Đối với ông, vai trò của người nghị viên là người đại diện tự do chứ không phải là người được ủy nhiệm, tức là nếu Burke có đi bỏ phiếu thì ông chỉ cần bỏ phiếu theo suy nghĩ của bản thân. === Triết học === ==== Tổng quan tư tưởng ==== Chủ nghĩa hoài nghi bảo thủ có lẽ là điểm nổi bật nhất trong triết học của Burke. Nhà triết học Ireland này luôn tỏ rõ sự ngờ vực của mình đối với chủ nghĩa duy lý chính trị. Chẳng cần đến khi bàn về Cách mạng Pháp trong tác phẩm Suy nghĩ về Cách mạng Pháp (1790) mà ngay khi phái cấp tiến ở Anh đòi một cuộc cải cách dân chủ trong Nghị viện cách đó khoảng 9, 10 năm, Burke đã thể hiện rõ tính chất bảo thủ này của mình khi có ý kiến phản bác lại phái này. Burke nổi lên là nhà vô địch của chủ nghĩa hoài nghi khi ông chống lại chủ nghĩa duy lý của thời kỳ Khai sáng, thứ mà ông nghĩ "sự tự mãn siêu hình học giả mạo" của nó đã tạo ra "cuộc cách mạng của lý thuyết suông và giáo điều không thực tế". ==== Khế ước xã hội ==== Hệ quả rõ ràng mà chủ nghĩa hoài nghi bảo thủ của Burke đem lại đó là tôn sùng sự tự do do khế ước xã hội mang lại. Các khối thịnh vượng chung không được xây dựng và thay đổi theo các nguyên tắc tiên thiên. Khái niệm về một đạo luật nguyên thủy của khế ước chỉ là nguyên tắc chung. Khế ước duy nhất trong chính trị chính là cái đồng thuận cột chặt tất cả các thế hệ; "chỉ là một mệnh đề trong khế ước nguyên thủy vĩ đại của xã hội vĩnh cửu". Burke không chấp nhận tính duy ý chí trong khế ước tự do duy lý chủ nghĩa. Cá nhân không tự do sáng tạo thể chế chính trị. Xã hội, chính trị và luật lệ không "nằm dưới quyền kiểm soát của những người, mà vì bổn phận, và vì cực kỳ ưu việt, buộc ý chí mình tuân thủ luật lệ đó". Con người và các nhóm "không được tự do về mặt đạo đức, không được tùy ý" tiêu diệt các cộng đồng và gây nên "tình trạng hỗn loạn phi xã hội, thô lỗ, không liên lạc gì với nhau". ==== Trí tuệ của con người ==== Burke còn suy nghĩ rằng, trí tuệ của con người là hạn hẹp, nhưng họ cố vượt qua những giới hạn để đến với những ý thức hệ viển vông. Họ cho rằng, không có rào cản trong công việc đó và với sức mạnh của mình và thông qua chính trị, thực tế sẽ phù hợp với ảo tưởng của họ. Qua đó Burke muốn chúng ta đánh giá đúng khả năng của mình, "đẳng cấp lệ thuộc của mình trong tạo hoá". Lý luận của ông đó là Thượng đế chỉ cho chúng ta đứng ở một vị trí nhất định và chúng ta phải biết giới hạn khi đứng ở đó. Burke còn khuyên rằng các chính trị gia đừng dựa vào trí tuệ của mình mà hãy dựa vào "ngân hàng chung và vốn liếng của các quốc gia và của mọi thời đại". Ông cũng cho rằng vì mọi người quên mất điều này nên mới cố theo cải cách mang tính duy lý, những thứ vượt quá khả năng của bản thân. ==== Cách mạng Pháp ==== Burke đã không tiếc lời thậm tệ để chỉ trích Cách mạng Pháp. Nhiều ý kiến của ông chứng tỏ điều đó. Ông nói người Pháp có tội lỗi là bởi "sự tinh tế khó hiểu của siêu hình học chính trị của họ". "Niềm tin vào chủ nghĩa giáo điều của các triết gia" khiến họ lệ thuộc vào cái trừu tượng, sự tư biện và nguyên lý tiên thiên của tự nhiên, tự do và bình đẳng, coi đó là nền tảng của cải cách. Burke đã thực hiện một phép giữa người Pháp và người Anh khi ông có ý kiến rằng: "...không có những ảo tưởng như vậy; họ hiểu sự phức tạp và dễ vỡ của bản chất con người và những thiết chế do con người dựng lên..." ==== Tự nhiên và trật tự tư nhiên ==== Khi nhìn vào những tác phẩm Burke trình bày về nước Pháp, ta có thể thấy một điều: Ông đề cập nhiều đến các nguyên tắc bất biến. Ý kiến của Burke cho rằng, cảm xúc và tinh thần của con người phù hợp với sự sắp xếp vĩ đại của vũ trụ. Diễn giải cụ thể hơn, xung lực của tự nhiên cũng đã ẩn chứa sự tự kiềm chế và phê bình, đạo đức và tinh thần xuất phát từ nó và ủng hộ nó nếu xét về bản chất. Hệ luận là xã hội và nhà nước tạo điều kiện để con người phát huy hết tiềm năng của bản thân, hiện thân của sự thiện hảo phổ biến; đại diện cho thỏa thuận về quy phạm và cứu cánh. Cộng đồng chính trị hành động đúng như một khối thống nhất. Cách lý giải trên của Burke thể hiện sự kính trọng lịch sử, tục lệ và thành tựu xã hội. Do đó, theo nhà triết học Ireland, việc biến đổi xã hội là tất yếu khả hữu và đáng mơ ước. Nhưng phạm vi và vai trò của tư tưởng phải hoạt động như một công cụ của cải cách. Công cụ đó phải hoạt động với sức mạnh mà căng thẳng hay khả thể đặc biệt nào đó đem lại, sự tỉ mỉ trong những quá trình, chứ không phải với kế hoạch to tát đòi sự can thiệp rộng lớn. Hơn nữa, công cụ đó cũng không được nhấn mạnh đến cứu cánh khi đã gây tổn thất. Nói rõ ra, nó không để cho chủ nghĩa duy tâm đạo đức đối lập cực đoan với trật tự đương thời. Nếu để chuyện đó xảy ra, nó sẽ tác động đến sự phát triển tự nhiên của xã hội, kích hoạt những lực lượng không thể kiểm soát được và cả những phép biện chứng của những yếu tố bị loại trừ. Diễn giải như vậy, Burke đi đến một hy vọng đó là không cần phải thực hiện những cứu cánh cụ thể mà chỉ cần hòa giải những thành tố của cộng đồng là được. == Ảnh hưởng == Burke thể hiện rõ ảnh hưởng của mình đến với những người phản cách mạng ở Đức và Pháp. Ảnh hưởng của ông đến nước Anh còn lớn hơn, bền vững hơn, cân bằng hơn. == Tác phẩm == Tìm hiểu nguồn gốc những ý tưởng của chúng ta về cái trác tuyệt và cái đẹp (1757) Suy tưởng về nguyên nhân những bất bình hiện thời (1770) Suy nghĩ về Cách mạng Pháp (1790) == Chú thích ==
bắc thuộc.txt
Từ Bắc thuộc (tên gọi khác: Nam chinh) chỉ thời kỳ Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình Trung Quốc, nghĩa là thuộc địa của Trung Quốc. Thông thường, các sách sử hiện đại Việt Nam hay dùng từ Bắc thuộc để chỉ giai đoạn hơn một nghìn năm từ khi Hán Vũ Đế thôn tính nước Nam Việt của nhà Triệu (111 TCN) cho đến khi Khúc Thừa Dụ giành lại quyền tự chủ từ tay nhà Đường (905); nghĩa là gộp ba lần Bắc thuộc. Theo tác giả Trần Trọng Dương, có ba giả thuyết về thời điểm kết thúc thời kỳ Bắc thuộc: 905, 938, 931. == Khái quát == Trong thời gian này Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình của phương Bắc như: Bắc thuộc lần thứ nhất (179 TCN hoặc 111 TCN - 39): nhà Triệu, nhà Hán nhà Hán lập quốc vào khoảng năm 206 TCN, đến 111 TCN chiếm Lĩnh Nam (bấy giờ là nước Nam Việt dưới thời nhà Triệu) Bắc thuộc lần thứ hai (43 - 541): nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, nhà Tấn, nhà Tề, nhà Lương Bắc thuộc lần thứ ba (602 - 905): nhà Tùy, nhà Đường. Trong giai đoạn Tự chủ từ 905-938 có một thời gian Việt Nam rơi vào tay Nam Hán. Bắc thuộc lần thứ tư (1407 - 1427): còn gọi là thời thuộc Minh. Chỉ có vài thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai Bà Trưng (40-43), thời kỳ nhà Tiền Lý với nước Vạn Xuân (541-602). Một số tài liệu khác chia thành ba thời kì. Cách chia này gộp hai thời kỳ đầu (với gián đoạn là khởi nghĩa Hai Bà Trưng) thành thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất. Bài này sử dụng cách chia làm bốn thời kì. Trong suốt các thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc không ngừng thực hiện đồng hóa người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu thuế cho triều đình phía bắc. Ngoài số thuế của nhà nước, một số quan cai trị địa phương vì ở xa nên cũng bòn vét thêm của dân. Cũng có một số quan cai trị nghiêm minh, đứng đắn, nhưng số này ít hơn. Nền văn minh Trung Quốc cũng du nhập vào Việt Nam thời kỳ này. Sĩ Nhiếp, thái thú nhà Hán (187-226) được các nhà nho thời phong kiến coi là có công truyền bá chữ nho và đạo Khổng vào Việt Nam, được coi là người mở đầu nền nho học của giới quan lại phong kiến ở Việt Nam. Nhiều người Trung Quốc đã di cư đến Việt Nam, họ ở lại, dần dần kết hôn với người Việt và hòa nhập vào xã hội Việt Nam, và con cháu trở thành người Việt Nam. == Bắc thuộc lần thứ nhất == Dấu mốc xác định thời Bắc thuộc đầu tiên chưa thống nhất giữa các sử gia, do quan niệm khác nhau về nước Nam Việt và nhà Triệu. Quan điểm thừa nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam xác định rằng khi nhà Triệu bị Hán Vũ Đế diệt năm 111 TCN là lúc bắt đầu thời Bắc thuộc. Quan điểm không thừa nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam xác định thời Bắc thuộc bắt đầu từ khi Triệu Đà diệt Âu Lạc của An Dương Vương. Sử cũ thường xác định An Dương Vương và nước Âu Lạc bị diệt năm 207 TCN Sử hiện đại căn cứ theo ghi chép của Sử ký Tư Mã Thiên là Triệu Đà diệt phía Tây nước Âu Lạc "sau khi Lã hậu mất", tức là khoảng năm 179 TCN. Triệu Đà sau khi diệt Âu Lạc chia làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Năm 111 TCN, nhà Hán diệt nhà Triệu, chiếm được Nam Việt và chia làm 6 quận là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, đồng thời lập thêm 3 quận mới là Chu Nhai, Đạm Nhĩ, Nhật Nam. Riêng đối với quận Nhật Nam, khi Lộ Bác Đức đánh bại nhà Triệu-Nam Việt, lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định). Quận Nhật Nam chỉ hình thành sau khi các quan cai trị bộ Giao Chỉ người Hán tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn Năm 39, thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định tàn ác, giết chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa và đã giành được 65 thành ở Lĩnh Nam. Hai Bà lên ngôi vua, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. == Bắc thuộc lần thứ hai == Năm 43, nhà Hán sai Phục ba tướng quân Mã Viện đem quân sang tái chiếm, Hai Bà Trưng chống không nổi phải rút về giữ Cấm Khê rồi tự vẫn ở sông Hát. Dân địa phương lập đền thờ ở Hát Giang. Sự cai trị của Đông Hán tại bộ Giao Chỉ tương đối ổn định đến cuối thế kỷ 2. Nhà Hán suy yếu, năm 192 dân huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam ở phía nam theo Khu Liên nổi dậy ly khai, lập ra nước Chăm Pa (Lâm Ấp). Trong lúc nhà Hán suy yếu, thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp dùng người nhà trấn trị các quận, trở thành người cai trị tại đây, dù sau đó trên danh nghĩa, họ Sĩ vẫn chấp nhận các thứ sử do nhà Hán rồi Đông Ngô cử sang. Một dấu mốc quan trọng thời kỳ này là việc bộ Giao Chỉ được đổi gọi là Giao Châu, trở thành 1 châu ngang hàng như các châu khác của Trung Quốc theo đề nghị của Sĩ Nhiếp và thứ sử Trương Tân. Năm 226, Sĩ Nhiếp qua đời, nhà Đông Ngô đánh chiếm Giao Châu và chính thức cai trị. Trong chiến tranh Tam Quốc, các nước thay nhau giành quyền quản lý Giao Châu. Năm 263, Lã Hưng giết quan cai trị Đông Ngô, theo về Tào Ngụy. Tại trung nguyên năm 265 nhà Tấn diệt Ngụy, Giao Châu lại thuộc Tấn. Năm 271 Đông Ngô chiếm lại Giao Châu. Năm 280 Tấn diệt Ngô, Giao Châu trở lại thuộc Tấn. Sau thời Tam Quốc, Giao Châu không có biến động về chủ quyền quản lý cho tới khi chấm dứt thời Bắc thuộc thứ hai. Một số cuộc nổi dậy của người Việt thời kỳ này đều bị thất bại. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất năm 248, ở quận Cửu Chân của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh, sau bị Lục Dận là thứ sử Giao Châu đàn áp phải chịu thất bại. Một số cuộc nổi dậy khác của các thủ lĩnh người Việt như Lương Thạc, Lý Trường Nhân duy trì được quyền cai quản của người Việt trong vài năm. Thời Bắc thuộc lần 2 chấm dứt năm 541 khi Lý Bí khởi binh chống nhà Lương và chính thức thành lập nhà Tiền Lý cùng nước Vạn Xuân năm 544. == Bắc thuộc lần thứ ba == === Thuộc Tùy - Đường === Năm 602, nhà Tùy cho quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Phật Tử chưa đánh đã hàng, bị bắt về phương bắc rồi chết ở đó. Năm 605, nhà Tùy đổi Giao châu thành quận Giao Chỉ và Phủ Đô hộ Giao Chỉ để cai trị Việt Nam. Nhà Đường thay nhà Tùy bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập ra, khôi phục lại chế độ các châu nhỏ thời Nam Bắc triều. Năm 622, nhà Đường lập Giao châu đô hộ phủ. Năm 679, nhà Đường đổi quận Giao Chỉ trở lại thành châu Giao, đặt ra Phủ Đô hộ Giao Châu. Sau đó, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ Giao Châu thành Phủ Đô hộ An Nam. Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thời điểm này. Chức quan đứng đầu Phủ Đô hộ An Nam lúc đầu gọi là kinh lược sứ, sau đổi thành Tiết độ sứ. Nhà Đường lại chia Giao Châu làm 12 châu: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Thang, Trường, Chi, Võ Nga, Võ An, Ái, Hoan, Diễn. Sau nhiều lần điều chỉnh, năm 866, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ An Nam thành Tĩnh Hải quân. Tên gọi này duy trì qua thời Tự chủ của Việt Nam. Do chính sách bóc lột nặng nề của nhà Đường, người Việt nhiều lần nổi dậy chống nhà Đường. Tiêu biểu nhất là các cuộc nổi dậy của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (776-791) và Dương Thanh (819-820), song đều thất bại. Đầu thế kỷ 10, nhà Đường suy yếu nghiêm trọng vì nạn phiên trấn cát cứ (kéo dài từ sau loạn An Sử giữa thế kỷ 8) và quyền thần. Nhân lúc Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị điều đi chưa có người thay năm 905, hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã vào làm chủ thủ phủ Đại La và xác lập quyền tự chủ cho người Việt. === Người Việt tự chủ chống sự xâm chiếm của Nam Hán === Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo lên thay tiếp tục làm Tiết độ sứ. Năm 917, Khúc Hạo chết, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Năm 923/930, vua Nam Hán sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Khúc Thừa Mỹ đem về nước, Lý Khắc Chính ở lại giữ Giao Châu. Năm 931, Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo đem quân đánh phủ thành Đại La, lại đánh tan quân Nam Hán do Trần Bảo dẫn sang cứu viện, giết Trần Bảo và tự xưng là Tiết độ sứ. Năm 937, bộ tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết ông để chiếm ngôi. Năm 938, bộ tướng khác, đồng thời là con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân giết Kiều Công Tiễn, rồi đánh tan đạo quân xâm lược Nam Hán do Hoằng Tháo dẫn đầu sang tiếp ứng cho Công Tiễn, lập ra nhà Ngô. Từ đó bắt đầu thời kỳ độc lập ổn định của Việt Nam. == Bắc thuộc lần thứ tư == Sau thời nhà Ngô đến thời nhà Đinh, Việt Nam chính thức có quốc hiệu sau ngàn năm Bắc thuộc là Đại Cồ Việt. Sang thời Lý, quốc hiệu được đổi là Đại Việt. Trong hơn 400 năm qua các triều đại Tiền Lê, Lý và Trần, Đại Việt đều đánh thắng các cuộc xâm lăng của các triều đại Trung Quốc. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm 1406, nhà Minh đem quân sang, lấy lý do là để khôi phục nhà Trần, nhưng thực chất đã sáp nhập Việt Nam thành quận huyện của Trung Quốc và cử quan lại người Hán sang cai trị. Năm 1407, Giản Định vương, con thứ của vua Trần Nghệ Tông xưng làm Giản Định Đế (1407-1409) để nối nghiệp nhà Trần (thành nhà Hậu Trần) và bắt đầu một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh, đến năm 1413 thì hoàn toàn thất bại. Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1427, cuộc khởi nghĩa thành công, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư, và mở đầu một triều đại mới của Việt Nam: nhà Hậu Lê. Theo truyền thuyết, Lê Lợi thắng do nhờ có kiếm thần của Long Quân. So với giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc, thời kỳ Bắc thuộc này tuy không dài bằng, nhưng chính sách đồng hóa và bóc lột được thực hiện mạnh mẽ hơn. Nhà Minh bắt người Việt phải theo kiểu người Trung Quốc, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Các tài sản quý như người tài, sách vở, báu vật đều bị đem về Trung Quốc. Trong số đó có các cuốn sách văn học, lịch sử, binh pháp,... có giá trị và đã được truyền lại từ nhiều đời, hầu hết đã trở thành thất truyền ở Đại Việt kể từ đó. Khoảng 7600 thương gia và nghệ nhân Đại Việt (trong đó có nghệ nhân chế tạo súng Hồ Nguyên Trừng, nghệ nhân kiến trúc Nguyễn An) đã bị bắt đưa sang Nam Kinh, thủ đô Trung Quốc thời bấy giờ. Ngoài ra, nhà Minh còn áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng (bao gồm cả thuế muối) cùng với việc đẩy mạnh khai thác các sản vật quý phục vụ việc cống nộp. == Xem thêm == Bắc thuộc lần 1 Bắc thuộc lần 2 Bắc thuộc lần 3 Bắc thuộc lần 4 Hai Bà Trưng Khởi nghĩa Lương Long Bà Triệu Nhà Tiền Lý Vạn Xuân Mai Hắc Đế Phùng Hưng Họ Khúc Đồng hóa thời Bắc thuộc Danh sách các quan lại cai trị Việt Nam thời Bắc Thuộc == Tham khảo == Đại Việt sử ký toàn thư Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Viện Sử học (1988), Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản điện tử. Annam, thu thập các đoạn tài liệu Minh Thực Lục (明實錄) của nhà Minh về Đại Việt, trong đó có phần về thời kỳ bắc thuộc lần cuối. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
từ điển bách khoa việt nam.txt
Từ điển bách khoa Việt Nam là tên của bộ từ điển bách khoa do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa in, được xuất bản lần đầu tiên năm 2005 và tái bản năm 2011, gồm bốn tập và mỗi tập dày trên dưới 1.000 trang, khổ 19×27, gồm khoảng 40 ngàn mục từ thuộc 40 ngành khoa học khác nhau. Đây là bộ từ điển bách khoa của Việt Nam đầu tiên được biên soạn với sự tổ chức và chỉ đạo của Nhà nước Việt Nam, với kinh phí 32 tỷ đồng và 1.200 nhà khoa học hàng đầu biên soạn trong 15 năm. == Lịch sử == Từ năm 1978, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương giao cho Ban Tuyên huấn Trung ương và Bộ Văn hóa-Thông tin chỉ đạo việc nghiên cứu, chuẩn bị biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam. Sau đó, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 20/4/1981 về "Xúc tiến việc biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam". Trên cơ sở Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1981, Ban Từ điển bách khoa được thành lập trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Ngày 10/10/1983, Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) ban hành Nghị định số 167/HĐBT thành lập Viện Từ điển bách khoa trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Năm 1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký quyết định số 163a/CT ngày 15 tháng 5 năm 1987 "Quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam". Ngày 28/12/1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) ra Quyết định số 321-CT giải thể Viện Từ điển bách khoa, thành lập Trung tâm Quốc gia biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam. Ngày 24/12/1997, Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam cho ý kiến đồng ý chuyển Trung tâm Quốc gia biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam thành Nhà xuất bản Từ điển bách khoa. Ngày 30/6/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/1998/QĐ-TTG "Thành lập Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện kế hoạch, nội dung biên soạn và xuất bản các loại bách khoa thư và từ điển bách khoa, thay cho Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam thành lập theo Quyết định số 163a/CT ngày 15 tháng 5 năm 1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng". do giáo sư Hà Học Trạc làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 30/6/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/1998/QĐ-TTg xác định cơ quan chủ quản của Nhà xuất bản là Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam. Ngày 8/12/1998 Nhà xuất bản Từ điển bách khoa được thành lập. Sau 15 năm biên soạn, bốn tập Từ điển bách khoa Việt Nam được hoàn thành vào ngày 13 tháng 9 năm 2005. Hiện tại, kế hoạch biên soạn một bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam đầu tiên cũng được dự định tiến hành. Dự kiến bộ sách này gồm 23 quyển và một quyển sách dẫn với số lượng trên dưới 30.000 mục từ và chi phí dự kiến cho toàn bộ công trình khoảng 50 tỷ đồng, thực hiện trong vòng 6-7 năm. Cuối tháng 9 năm 2006, Từ điển bách khoa Việt Nam bị tố cáo là có tham nhũng và tiêu cực. Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm yêu cầu Bộ công an điều tra về việc tham ô, làm thất thoát hơn 1,5 tỷ đồng và mất trộm 50 triệu đồng tiền công quỹ tại hội đồng chỉ đạo biên soạn. Một kết quả điều tra vào cuối tháng 11 năm 2006, cho thấy chủ tịch hội đồng đã cố ý làm trái quy định của nhà nước và hội đồng biên soạn đã tham ô hơn 471 triệu đồng. Ngày 27/7/2007, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 921/QĐ về việc kết thúc hoạt động của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam và chuyển Nhà xuất bản Từ điển bách khoa về Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Ngày 4/8/2008, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1055/QĐ-TTg quy định Nhà xuất bản Từ điển bách khoa là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Ngày 17/9/2008, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam có Quyết định số 1038/QĐ-KHXH thành lập Nhà xuất bản Từ điển bách khoa thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Quyết định số 1040/QĐ-KHXH quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Nhà xuất bản. Ngày 20/10/2008, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam ký Quyết định số 1173/QĐ-KHXH ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Nhà xuất bản. == Nét chính của từ điển == Từ điển có mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về đất nước, con người, lịch sử xã hội, văn hóa, khoa học, công nghệ Việt Nam xưa và nay và những tri thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật của thế giới. Từ điển do 1.200 nhà khoa học hàng đầu biên soạn trong 15 năm, với sự tổ chức và chỉ đạo của Nhà nước Việt Nam, với kinh phí 32 tỷ đồng. Bộ sách được xuất bản lần đầu tiên năm 2005 và tái bản năm 2011, gồm bốn tập và mỗi tập dày trên dưới 1.000 trang, khổ 19×27, gồm khoảng 40 ngàn mục từ thuộc 40 ngành khoa học khác nhau. == Các hạn chế == Theo ý kiến một số đọc giả, nhiều mục từ còn sơ lược, sắp xếp thiếu hệ thống, thiếu nhiều mục từ quan trọng, thông tin bị hạn chế, nhiều từ giải thích sai về sự kiện hoặc nội dung, những mục từ về danh nhân viết khá tuỳ tiện, phiên âm tiếng nước ngoài không thống nhất... nên chưa thỏa mãn người tra cứu. Nội dung trên web không được cập nhật thường xuyên, ít có hình minh họa. Giáo sư Hà Học Trạc, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng "những sai sót ấy là nhỏ và khó tránh khỏi do khối lượng công việc quá lớn". Giáo sư Hà Học Trạc giải thích việc từ điển có lỗi vì không đủ nhân lực và thời gian để viết từ điển nên quy trình biên soạn không được tuân thủ nghiêm túc. Các cuộc họp thường xuyên để thảo luận các mục từ không có nội dung gì đặc biệt, lần họp nào cũng khuyết vài thành viên, vì thế quy trình giơ tay biểu quyết từng mục từ được rút ngắn lại. Tuy nhiên, Giáo sư Phạm Như Cương, Uỷ viên Thường trực Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam phản đối ý kiến của Hà Học Trạc: "Chúng tôi luôn sẵn sàng tham gia mỗi khi triệu tập cuộc họp. Các ủy viên Ban Thường trực, ủy viên Hội đồng Quốc gia, và trưởng, phó các ban biên soạn chuyên ngành yêu cầu họp. Còn Giáo sư Trạc lại nhất nhất bác bỏ, đặc biệt là hai năm trở lại đây". Quan điểm của ông Trần Thọ Kim, nguyên Phó Ban Biên tập sách, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia là: "Giáo sư Hà Học Trạc có tổ chức họp đâu mà các ủy viên Hội đồng Quốc gia đến họp". Ông Kim cho rằng nguyên nhân khiến chất lượng Từ điển bách khoa Việt Nam không tốt là do "Việc biên soạn chẳng có ai đôn đốc, mạnh ai nấy làm, làm xong gần như chẳng có người đọc lại". == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chính của từ điển bách khoa Việt Nam Xuất bản trọn bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam Ts Phạm Văn Tình, báo Nhân dân, Cập nhật lúc 10:19, Thứ hai, 09/01/2006 (GMT+7) Bao giờ bắt đầu biên soạn Bách khoa toàn thư VN? Quốc Thanh, báo Tuổi Trẻ, 9/02/2004 08:38 (GMT + 7) Hoàn tất bộ Từ điển bách khoa VN Đ.Tr., báo Tuổi Trẻ, 14/09/2005 06:20 (GMT + 7) Quyết định số 1262/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam bản text Vũ Đức Đam ký 28/07/2014 Quyết định số 238/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Thành lập Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng ký 15/02/2015 bản text
tiếng românia.txt
Tiếng România hay tiếng Rumani (limba română, IPA: [[Help:IPA|['lim.ba ro'mɨ.nə]]]) là ngôn ngữ được khoảng 24 đến 28 triệu dân sử dụng, chủ yếu ở România và Moldova. Đây là ngôn ngữ chính thức ở România, Moldova và tỉnh tự trị Vojvodina của Serbia. Dạng chính thức của tiếng Moldova ở Moldova chính là dạng chính thức của tiếng România; trước thời điểm năm 2000, có một khác biệt nhỏ trong chính tả nhưng cuối cùng đã bị bãi bỏ. Tiếng România cũng là ngôn ngữ hành chính hay chính thức ở nhiều cộng đồng và tổ chức khác nhau (như Liên minh Latinh và Liên minh châu Âu). Ở nhiều quốc gia khác cũng có người nói tiếng România, đáng chú ý là Ý, Tây Ban Nha, Israel, Bồ Đào Nha, Anh Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Pháp và Đức. == Lịch sử == === Tiền sử === Tương tự các nhánh khác trong nhóm ngôn ngữ Rôman, các ngôn ngữ Đông Rôman cũng bắt nguồn từ tiếng Latinh bình dân (được Dacia chấp nhận sử dụng trong tiến trình Latinh hóa văn hóa diễn ra vào những thế kỷ đầu Công lịch). Năm 271-275, Đế quốc La Mã rút khỏi Dacia và bỏ lại miền đất này cho dân Goth. Hiện chưa rõ về lịch sử ngôn ngữ Đông Rôman trong giai đoạn giữa thế kỷ 3 cho đến trước thế kỷ 10 (khi vùng đất này rơi vào tầm ảnh hưởng của Đế quốc Đông La Mã). Người ta vẫn tranh cãi rằng liệu tiếng Tiền România đã phát triển trong cộng đồng dân Dacia-La Mã bị người La Mã bỏ lại Dacia sau khi rút đi hay thứ tiếng này đã phát triển trong lòng cộng đồng nói tiếng Latinh ở vùng Balkan, miền nam sông Donau. Vào thời Trung cổ, tiếng România bắt đầu chịu ảnh hưởng từ ngôn ngữ Slavơ và một phần từ tiếng Hy Lạp. Suốt thời Trung cổ, thứ tiếng này vẫn không được chứng thực, chỉ đến đầu thế kỷ 16 thì mới được lịch sử ghi nhận. === Lịch sử thời kỳ đầu === Văn bản cổ nhất (còn tồn tại) được viết bằng tiếng România là thư của Neacșu (1521) và được viết bằng chữ kirin (được dùng mãi đến cuối thế kỷ 19). Hiện chưa ghi nhận được bất kỳ văn bản nào được viết bằng tiếng România có niên đại trước 1521. Trong tác phẩm De neamul moldovenilor (1687), Miron Costin viết rằng người Moldavia, người Wallachia và người România sống ở Nước Hungary đều có cùng nguồn gốc, và người Moldavia thậm chí còn gọi ngôn ngữ của họ là "tiếng România" (românește) thay vì gọi là "tiếng Moldavia" (moldovenește). Trong tác phẩm Descriptio Moldaviae (Berlin, 1714), Dimitrie Cantemir chỉ ra rằng dân Moldavia, Wallachia và Transilvania đều nói cùng một ngôn ngữ, dù rằng có một số khác biệt trong giọng và từ vựng. Công trình của Cantemir cung cấp một trong những cái nhìn mang tính lịch sử đầu tiên về tiếng România, về sự phát triển từ tiếng Latinh và việc vay mượn từ vựng từ tiếng Hy Lạp, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Ba Lan. Ông còn cho rằng một số từ vựng chắc hẳn có gốc gác từ tiếng Dacia. Cantemir cho rằng, mặc dù đa số người ở thời đại của ông tin rằng tiếng România có nguồn gốc Latinh, song có những học giả cho rằng thứ tiếng này phát triển từ tiếng Ý. === Lịch sử thời hiện đại === Tác phẩm viết về ngữ pháp tiếng România đầu tiên được xuất bản tại Viên vào năm 1780. Sau khi Nga thôn tính Bessarabia (tức là sau năm 1812), người ta chọn tiếng Moldavia làm ngôn ngữ hành chính ở Bessarabia cùng với tiếng Nga Từ năm 1812 đến năm 1918, diễn ra quá trình phát triển song hành ở Bessarabia; trong khi tiếng Nga tiếp tục chiếm ưu thế thì tiếng România giữ vai trò là ngôn ngữ bản xứ chính. Từ năm 1905 đến năm 1917, xung đột ngôn ngữ ngày càng nóng hơn khi tinh thần dân tộc trỗi dậy ở Bessarabia. Trong các năm 1905-1906, zemstva của Bessarabia yêu sách đưa tiếng România vào giảng dạy trong nhà trường với tư cách "ngôn ngữ bắt buộc", đồng thời đòi "quyền tự do giảng dạy tiếng mẹ đẻ (tiếng România)". Cũng trong thời gian này, xuất hiện các tờ báo và tập san đầu tiên viết bằng tiếng România: Basarabia (1906), Viața Basarabiei (1907), Moldovanul (1907), Luminătorul (1908), Cuvînt moldovenesc (1913), Glasul Basarabiei (1913). Năm 1923, bản hiến pháp mới đánh dấu sự kiện tiếng România giành được địa vị ngôn ngữ chính thức. == Phân bố == Tiếng România là ngôn ngữ được nói nhiều nhất tại vùng trung bộ và vùng Balkan thuộc Nam Âu. Người nói tiếng România cũng phân tán khắp nơi trên thế giới do quá trình di cư. Số người nói tiếng România chiếm 0,5% dân số toàn cầu và 4% dân số nói ngôn ngữ Rôman trên thế giới. Tiếng România là ngôn ngữ chính thức và cũng là ngôn ngữ quốc gia tại România và Moldova. Ngôn ngữ này cũng là một trong năm ngôn ngữ chính thức của tỉnh tự trị Vojvodina thuộc Serbia. Tại Serbia (thung lũng Timok), Ukraina (các tỉnh Chernivtsi và Odessa), Hungary (Gyula) và Bulgaria (Vidin) cũng có thiểu số nói tiếng România. Nhiều cộng đồng dân nhập cư ở Ý, Tây Ban Nha, Pháp và Bồ Đào Nha cũng dùng tiếng România. Tính đến năm 1995, cộng đồng nói tiếng România đông đảo nhất ở Trung Đông là tại Israel - nơi người nói tiếng România chiếm 5% dân số. Tiếng România cũng là ngôn ngữ thứ hai của những người từ các quốc gia nói tiếng Ả Rập đến România học tập. Ước tính đã có nửa triệu người Ả Rập Trung Đông đến România học hành vào thập niên 1980. Ở Kazakhstan và Nga cũng có những cộng đồng nhỏ nói tiếng România. == Phân loại == Tiếng România là một ngôn ngữ Rôman thuộc nhánh ngôn ngữ gốc Ý của ngữ hệ Ấn-Âu, có nhiều điểm tương đồng với tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, trong đó thứ tiếng này gần với tiếng Ý nhất. Tuy nhiên, các ngôn ngữ gần gũi nhất với tiếng România là các ngôn ngữ Đông Rôman (được nói ở bờ nam sông Donau). Các nhà ngôn ngữ học còn gọi tiếng România là "tiếng România Dacia" để phân biệt nó với các thứ tiếng Đông Rôman khác. Một số người cho rằng tiếng România là ngôn ngữ (còn tồn tại) gần gũi nhất với tiếng Latinh, xét về mặt cấu trúc. Tuy vậy, ý kiến này bị người khác phản đối, dẫn chứng rằng tiếng România chịu ảnh hưởng ngoại lai nhiều hơn một số ngôn ngữ Rôman khác như tiếng Ý. Một trong số các nghiên cứu loại này là nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Mỹ gốc Ý Mario Pei vào năm 1949. Ông phân tích mức độ khác biệt của các ngôn ngữ so với ngôn ngữ mà chúng thừa hưởng, chẳng hạn trong trường hợp này là so sánh các ngôn ngữ Rôman với tiếng Latinh trong các khía cạnh: âm vị học, biến tố, cú pháp, từ vựng, ngữ điệu,...Sau đây là kết quả (số càng lớn thì tức là ngôn ngữ đó càng xa cách với tiếng Latinh) Tiếng Sardegna: 8%; Tiếng Ý: 12%; Tiếng Tây Ban Nha: 20%; Tiếng România: 23,5%; Tiếng Occitan: 25%; Tiếng Bồ Đào Nha: 31%; Tiếng Pháp: 44%. Mức độ giống nhau về từ vựng giữa tiếng România và tiếng Ý là 77%, kế đến là tiếng Pháp (75%). Từ vựng tiếng România hiện đại chịu ảnh hưởng mạnh từ tiếng Pháp, tiếng Ý và các ngôn ngữ khác. == Tham khảo ==
vietnamnet.txt
VietNamNet (viết tắt là VNN) là một báo điện tử tại Việt Nam trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam. == Lịch sử == VietNamNet được cấp giấy phép hoạt động trên mới nhất vào ngày 23 tháng 1 năm 2003 (số giấy phép: 27/GP-BVHTT). Báo điện tử ra hằng ngày bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tờ báo có các chuyên mục như: quốc tế, công nghệ thông tin, thể thao, âm nhạc, thời trang và trực tuyến phỏng vấn, nghe nhạc. Ngày 21 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản đồng ý tách các báo điện tử VietNamNet thành Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC) theo đề nghị của VNPT. Ngày 15 tháng 5 năm 2008, Bộ Thông tin & Truyền thông đề nghị với VNPT tách VietNamNet ra khỏi VNPT về trực thuộc Bộ Thông tin & Truyền thông Tổng Biên tập đầu tiên của VietNamNet là ông Nguyễn Anh Tuấn. Trụ sở Báo VietnamNet: Tòa nhà C’Land - 156 Xã Đàn 2, Phường Nam Đồng - Quận Đống Đa, Hà Nội Báo VietnamNet có những chuyên mục chính là Xã hội, Công nghệ, Kinh doanh, Chính trị, Sức khỏe, Giải trí, Thể thao, Đời sống, Xã hội, Quốc tế == Bị tin tặc tấn công == Thời gian gần đây, báo VietNamNet liên tục bị các tin tặc tấn công trên quy mô lớn. Điển hình là từ ngày 04/01/2011, máy chủ của Báo bị tin tặc điều khiển hàng trăm ngàn máy tính tấn công theo dạng thức DDos. Đây là vụ tấn công từ chối dịch vụ lớn chưa từng có tại Việt Nam, và về mức độ có thể tương đương với vụ các tin tặc tấn công website của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 2009. Google và McAfee cho biết có bằng chứng cho thấy các nhóm tin tặc hiện đang tấn công vào các website và blog chính trị có liên hệ với chính quyền Việt Nam. Tuy nhiên, tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn khẳng định "ông không tin rằng chính quyền đứng đằng sau vụ tấn công này". Đỉnh điểm là vào sáng ngày 27 tháng 01, 2011, báo VietNamNet bị hơn 1.5 triệu máy tính tấn công cùng lúc khiến hệ thống bị sập... == Liên kết ngoài == VietNamNet1 VietNamNet2 VietNamNet3 == Chú thích ==
chị em nhà brontë.txt
Chị em nhà Brontë gồm Charlotte (21-4-1816 – 31-3-1855), Emily (30-7-1818 – 19-12-1848) and Anne (17-1-1820 – 28-5-1849), là những nhà văn người Anh thập niên 1840, 1850. Tiểu thuyết của họ bị phản đối trong lần đầu xuất bản nhưng sau đó được xếp vào hàng kinh điển trong văn học Anh. == Nguồn gốc cái tên == Gia đình Brontë có thể là hậu duệ của những người nhập cư Ireland mac Aedh Ó Proinntigh, nghĩa đen "con trai Aedh, cháu trai Proinnteach". Aedh là tên nam giới, lấy từ Aodh, nghĩa là "lửa". "Proinnteach" ban đầu là tên người nói chung, nghĩa đen " đại yến sảnh ", lấy từ tiếng Xen-tơ: proinn ("đại yến"); prandium ("thức ăn") và teach ("nhà", "gian phòng"). Ó Proinntigh được Anh hoá thành Prunty và đôi khi Brunty. Trong một số tài liệu, bố của ba chị em, Patrick Brontë (cũng Brunty), đã chuyển các âm tiết trong tên sang tiếng Anh. Không thể biết chắc chắn lý do ông làm vậy, có khả năng là muốn xoá dấu vết về xuất thân hèn kém. Là người viết thư thuê, có thể ông thông thạo văn tự Hy Lạp cổ và đặt tên theo tên khổng lồ Cyclop Brontes (Nghĩa đen "tia sét"). == Ba chị em == Họ lớn lên tại Haworth, gần Keighley ở Tây Yorkshire (khu vực được biết đến như quê hương Brontë), cùng mẹ và hai chị gái cho đến khi trưởng thành. Năm 1824 bốn cô con gái lớn nhà Brontë ghi danh vào trường nữ sinh Clergy tại Cowan Bridge. Năm sau,Maria và Elizabeth, hai cô cả phát bệnh, rời trường rồi chết; Charlotte và Emily bị đưa về nhà. Họ đã viết suốt thời thơ ấu và xuất bản lần đầu trong một tập thơ chung năm 1846 dưới bút danh Currer, Ellis và Acton Bell. Cuốn sách ít gây chú ý, chỉ bán được hai bản. Họ đổi qua văn xuôi, mỗi người viết một tiểu thuyết vào năm sau. Jane Eyre của Charlotte, Đồi gió hú của Emily và Agnes Grey của Anna được xuất bản năm 1847 sau một thời gian dài tìm kiếm nhà xuất bản. Những cuốn tiểu thuyết thu hút được sự chú ý lớn và trở thành những cuốn sách bán chạy nhất bấy giờ, nhưng sự nghiệp của ba chị em bị gián đoạn bởi bệnh tật. Emily chết năm sau đó trước khi kịp hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới, và Anne xuất bản cuốn thứ hai, Người tá điền đồi Wildfell, năm 1848, một năm trước khi chết. Sau khi xuất bản Jane Eyre nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt và có doanh thu cao nhất trong các tác phẩm của ba chị em, cho đến tận ngày nay. Shirley của Charlotte ra mắt năm 1849 và tiếp theo là Villette năm 1853. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của bà, Giáo sư, được xuất bản sau khi bà chết năm 1857; bản thảo chưa hoàn thành Emma phát hành năm 1860; và những bút tích thời thơ ấu của bà không được xuất bản cho đến mãi cuối thế kỉ XX. Charlotte chết lúc 38 tuổi năm 1855 sau một thời gian ốm, có thể do thai nghén. Bà đã kết hôn với người phụ việc của cha mình, Arthur Bell Nicholls, gần một năm trước đó. Cuộc đời của Charlotte được viết lại bởi người bạn Elizabeth Gaskell và xuất bản năm 1857. Nó tạo nên một truyền thuyết về gia đình bất hạnh sống trong cảnh cô quạnh hoang đường. == Ảnh hưởng == Nhiều thể loại nghệ thuật thế kỉ XX đã dựa theo cuộc đời và những mối tương quan kì lạ giữa ba chị em Brontë, đáng chú ý là Cái chết và lối vào của Martha Graham (1943), đặt theo tên tập thơ của Dylan Thomas, và Chị em Brontë của Gillian Lynne (1995). == Chú thích == == Đọc thêm == Alexander, Christine và Sellars, J. (1995) The Art of the Brontës, Cambridge; New York: Đại học Cambridge ấn hành, ISBN 0-521-43248-0 Juliet Barker (1995) The Brontës, London: Nhà xuất bản Phoenix, ISBN 1-84212-587-7 == Liên kết ngoài == Brontë Parsonage Museum in Haworth Brontë Parsonage Blog The Brontës
fukui kenichi.txt
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Fukui. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Fukui Kenichi (福井 謙一, Fukui Kenichi, Phúc Tỉnh Khiêm Nhất) (phát âm như Phư-cưi Ken-i-chi; 4 tháng 10 năm 1918 tại Nara - 9 tháng 1 năm 1998) là một nhà hóa học người Nhật. Ông là con cả trong 3 người con trai của Fukui Ruokichi, một người buôn bán và giám đốc một xí nghiệp. Ông tốt nghiệp Đại học Tokyo và sau đó trở thành giáo sư của Đại học Kyoto vào năm 1951. Năm 1947, ông lập gia đình và có 2 con, con trai tên là Fetsuy, con gái tên là Miyako. Ông là viện trưởng của Học viện Kỹ thuật Kyoto từ 1982 đến 1988. Năm 1981, ông được trao giải Nobel Hóa học cùng với Roald Hoffman. == Tham khảo ==
giải quần vợt wimbledon 2014 - đôi nam nữ.txt
Daniel Nestor và Kristina Mladenovic là hai nhà đương kim vô địch, nhưng để thua Max Mirnyi và Chan Hao-ching ở bán kết. Nenad Zimonjić và Samantha Stosur chiến thắng ở nội dung này, đánh bại Mirnyi và Chan ở chung kết với tỷ số 6–4, 6–2. == Tỷ số == === Vòng chung kết === == Tham khảo ==
hồi giáo sunni.txt
Hồi giáo Sunni là nhánh lớn nhất của đạo Hồi, còn được gọi là Ahl as-Sunnah wa’l-Jamā‘ah (tiếng Ả Rập: أهل السنة والجماعة) hay ngắn hơn là Ahl as-Sunnah (tiếng Ả Rập: أهل السنة). Gần 9 trong 10 tín đồ Hồi giáo trên thế giới là Sunni và còn lại là Shia, Ahmadiyya và Kharijite. == Hình thành == Năm 632, Sau khi người sáng lập ra Hồi giáo là nhà tiên tri Muhammad tạ thế, đạo Hồi đã được truyền bá một cách nhanh chóng trên khắp bán đảo Ả Rập. Vào thời điểm đó, Hồi Giáo có hai lực lượng chính: một bên là chú trọng truyền thống của các trưởng lão của những bộ lạc phương Bắc nằm ở lưu vực sông Lưỡng Hà và các thương nhân Người Ba Tư, còn một bên chú trọng những di sản tôn giáo Muhammad của tín chúng phía Nam. == Xem thêm == Hồi giáo Shia == Chú thích == == Đọc thêm == Branon Wheeler, Applying the Canon in Islam: The Authorization and Maintenance of Interpretive Reasoning in Ḥanafī Scholarship, SUNY Press, 1996 == Liên kết ngoài == Urdu Islamic Books and Islamic Lectures Books in multiple languages related to belief of ahl as-Sunnat Translation and Detailed Commentary on Quran Sunni Forum Online Discussions Sufism - The Islamic Science of Spirituality SunniPath - Study Islam Online Sunni Articles Traditional Sunni Islam University of Southern California, Compendium of Muslim Texts
aderus hanoiensis.txt
Aderus hanoiensis là một loài bọ cánh cứng trong họ Aderidae. Loài này được Pic mô tả khoa học năm 1933. == Chú thích == == Tham khảo ==
south dakota.txt
South Dakota ( /ˌsaʊθ dəˈkoʊtə/; tiếng địa phương: [ˌsɑʊθ dəˈko̞ɾə]) hay Nam Dakota là một trong năm mươi tiểu bang của nước Mỹ, nằm ở trung bắc Mỹ, phía bắc giáp North Dakota, nam giáp Nebraska, tây giáp Wyoming, đông giáp Missouri. South Dakota còn có một tên gọi khác là "tiểu bang Đỉnh Rushmore". Thủ đô của South Dakota là thành phố Pierre. == Các thành phố lớn == Dân số đến năm 2000. Sioux Falls (123.975) Rapid City (59.607) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính thức của Nam Dakota
báo viết.txt
Báo viết là các ấn phẩm xuất bản và phát hành định kỳ đưa thông tin đến với công chúng. Báo viết cũng có thể hiểu là một thể loại của báo chí bên cạnh báo nói, báo hình và báo điện tử. So sánh với các thể loại đó, báo viết chính là hình thức truyền thống và lâu đời nhất của báo chí. Những tờ báo đã xuất hiện từ rất lâu ở cả phương Đông và phương Tây. Thời nhà Hán tại Trung Quốc có lệ các vị hoàng đế phát mỗi năm vài kỳ các thông báo cho những đơn vị hành chính về những sự kiện và chủ trương của triều đình, được gọi là Hán triều để báo. Tại châu Âu, thế kỷ 16, một số người ở Venice làm những bản thông tin hàng hoá có tên gọi là gazeta. Ban đầu không bán, nhưng về sau các gazeta được bán với giá 1 đồng tiền khi đó. Đến giữa thế kỷ 18, cách mạng công nghiệp đẩy mạnh kỹ thuật làm báo, các tờ báo trở thành công vụ truyền đạt thông tin, tri thức hiệu quả. Theo tổ chức UNESCO, đến năm 1993, toàn thế giới có 53 nghìn tờ báo, 830 triệu bản được phát hành hàng ngày. == Số lượng ấn phẩm báo, tạp chí == Tại Việt Nam, tính đến ngày 26/12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm, trong đó các cơ quan Trung ương có 86 báo, 507 tạp chí; địa phương có 113 báo, 132 tạp chí; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Newspapers tại Wikimedia Commons Newspaper Index: Các báo Ở tất cả các nước Historic newspaper archive, from Google Exhibition on the Occasion of the 400th Anniversary of the Newspaper in the Gutenberg Museum in Mainz, Germany Historical newspaper database, from NewspaperARCHIVE.com From the Newseum From Kiosko From info-news, Argentina From Newspaper Index
phân cấp hành chính cộng hòa nhân dân trung hoa.txt
Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định có 3 cấp hành chính: tỉnh, huyện và hương. Nhưng trên thực tế Trung Quốc được chia thành 5 cấp đơn vị hành chính là: tỉnh, địa khu, huyện, hương và thôn. Trong đó, địa khu được định nghĩa là chi nhánh của chính quyền tỉnh, còn cấp thôn không phải là cấp chính quyền chính thức. Tuy thôn chỉ là một tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư nhưng ở nhiều hương do địa bàn rộng lớn không thế quản lý hết được nên thôn đã được cho nhiều quyền lực hành chính. == Cấp tỉnh == Trung Quốc có 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh (省级, tỉnh cấp), không kể Đài Loan, gồm: Tỉnh (省): có 22 đơn vị. Đài Loan (Trung Hoa Dân quốc) được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa coi là tỉnh thứ 23 của mình. Khu tự trị (自治区, tự trị khu): có 5 đơn vị. Đặc khu hành chính (特別行政區, đặc biệt hành chính khu): có 2 đơn vị. Thành phố trực thuộc trung ương (直轄市, trực hạt thị, ở Trung Hoa Dân quốc còn gọi là 院轄市, viện hạt thị, hay 特別市, đặc biệt thị): có 4 đơn vị. Tuy là thành phố nhưng vẫn có khu vực nông thôn trực thuộc dưới dạng các huyện ngoại thành. Điển hình như thành phố Trùng Khánh là nơi khu vực nông thôn rộng lớn hơn khu vực thành thị rất nhiều. Cấp này tương đương cấp tỉnh tại Việt Nam. === Các tỉnh === === Tỉnh tuyên bố === Từ khi thành lập năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã coi đảo Đài Loan là một trong những tỉnh của mình và coi Trung Hoa Dân quốc là bất hợp pháp. Tuy nhiên hiện Trung Hoa Dân quốc kiểm soát tỉnh này bao gồm đảo Đài Loan và Bành Hồ (Pescadores). Trung Hoa Dân quốc cũng kiểm soát một huyện của tỉnh Phúc Kiến là Kim Môn; một phần của một huyện thứ hai là Liên Chương. Ngoài ra, Trung Hoa Dân quốc chính thức tuyên bố chủ quyền tất cả Trung Hoa Đại lục (bao gồm Tây Tạng), Ngoại Mông và Tuva. Dù tuyên bố này đã được bỏ một cách không chính thức bởi Tổng thống Trung Hoa Dân quốc lúc đó là Lý Đăng Huy năm 1991, tuyên bố chủ quyền này đã không được Quốc hội Đài Loan chấp thuận. Chính phủ Quốc Dân Đảng đã dời tỉnh lỵ Đài Loan từ Đài Bắc đến thôn Trung Hưng và nâng Đài Bắc và Cao Hùng lên thành thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) nhưng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không công nhận sự thay đổi này và vẫn coi Đài Bắc là tỉnh lỵ tỉnh Đài Loan. === Các khu tự trị === Khu tự trị (自治區/自治区 tự trị khu; tiếng Anh: autonomous region) là đơn vị hành chính cấp tỉnh được chỉ định cho một dân tộc thiểu số và được đảm bảo nhiều quyền hơn theo hiến pháp. Ví dụ, họ có người đứng đầu (tỉnh trưởng hay khu trưởng) phải là người dân tộc thiểu số đã được chỉ định cho khu như (Tạng, Duy ngô nhĩ, v.v...) Các khu tự trị được thành lập sau khi chính thể Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời theo mô hình của Liên bang Xô viết. Có tất cả 5 khu tự trị. === Đặc khu hành chính === Đặc khu hành chính (特別行政區/特别行政区 đặc biệt hành chính khu; tiếng Anh viết tắt SAR) là các đơn vị hành chính có quyền tự trị cao theo thể chế Một quốc gia hai chế độ, chịu sự quản lý trực tiếp của Chính quyền Nhân dân Trung ương như nêu trong Điều 12 của Bộ luật cơ bản của cả hai đặc khu hành chính. Hiện Trung Quốc có hai đặc khu hành chính sau: Xem thêm: Các quận Hồng Kông Đặc khu Macau == Cấp địa khu == Cấp địa khu (地区级, địa khu cấp hay 地级, địa cấp) là cấp hành chính dưới tỉnh và trên huyện, gồm có: Địa khu (地区). Hiện nay các địa khu đã được thay thế gần hết bằng thành phố trực thuộc tỉnh. Cả nước chỉ còn 14 địa khu, chủ yếu chỉ tồn tại ở Khu tự trị Tây Tạng (6 địa khu) và Khu tự trị Tân Cương (7 địa khu), ngoài ra tỉnh Hắc Long Giang có 1 địa khu. Châu tự trị (自治州, tự trị châu). Hiện có 30 châu tự trị. Địa cấp thị (地级市, địa cấp thị), bao gồm cả thành phố phó tỉnh (副省级城市, phó tỉnh cấp thành thị). Tính đến ngày 8 tháng 2 năm 2013, cả nước có 286 địa cấp thị. Minh (盟). Đơn vị hành chính này chỉ tồn tại ở Nội Mông Cổ: hiện chỉ có 3 minh, còn lại là địa cấp thị. Một địa khu lại bao gồm nhiều huyện, quận. Cấp hành chính này không có cấp tương đương ở Việt Nam hiện nay. Trong quá khứ nó tương đương với phủ ở Việt Nam thời Lê == Cấp huyện == Cấp huyện (县级, huyện cấp) gồm có: Huyện (县, huyện; tiếng Anh: county). Trong Wikipedia thống nhất dịch là county, còn các sách báo khác có khi dịch là district, thậm chí prefecture. Huyện tự trị (自治县, tự trị huyện; tiếng Anh: autonomous county). Đô thị cấp huyện, có thể dịch là thị xã (县级市, huyện cấp thị; tiếng Anh: county-level city), gồm cả đô thị cấp phó huyện (副地級市, phó địa cấp thị; tiếng Anh: sub-prefecture-level city). Quận nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã (市辖区, thị hạt khu hoặc ngắn gọn là 区, khu; tiếng Anh: district). Kỳ (旗; tiếng Anh: banner). Đơn vị hành chính này chỉ tồn tại ở Nội Mông Cổ. Kỳ tự trị (自治旗, tự trị kỳ; tiếng Anh: autonomous banner). Đơn vị hành chính này chỉ tồn tại ở Nội Mông Cổ và chỉ có 3 kỳ tự trị. Ngoài ra còn có 1 lâm khu (林区 línqū; tiếng Anh: forestry district/area) Thần Nông Giá ở tỉnh Hồ Bắc, và 1 đặc khu (特区 tèqū; tiếng Anh: special district) Lục Chi ở tỉnh Quý Châu cũng thuộc cấp này. Cấp này tương đương cấp huyện tại Việt Nam. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011, toàn bộ Trung Quốc đại lục có 2.853 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 857 quận, 369 thị xã (huyện cấp thị), 1.456 huyện, 117 huyện tự trị, 49 kỳ, 3 kỳ tự trị, 1 đặc khu và 1 lâm khu. == Cấp hương == Cấp hương (乡级, hương cấp) là cấp tương đương cấp xã, phường của Việt Nam. Khu vực nông thôn được chia thành: Hương, có thể dịch là xã (乡; tiếng Anh: township) Trấn, có thể dịch là thị trấn (鎮; tiếng Anh: town) Hương dân tộc (民族乡, dân tộc hương; tiếng Anh: ethnic township) Riêng ở Nội Mông được chia thành tô mộc (苏木, sūmù; tiếng Anh: sumu) và tô mộc dân tộc (民族苏木, dân tộc tô mộc; tiếng Anh: ethnic sumu) Khu vực thành thị được chia thành: Nhai đạo biện sự xứ (街道办事处) hay nhai đạo (街道, hoặc 街办 nhai biện; tiếng Anh: sub-district), có thể coi như cấp phường ở Việt Nam Ngoài ra, công sở khu (区公所, khu công sở; tiếng Anh: district public office) là tàn tích một cấp hành chính trước đây, giờ chỉ còn 2 công sở khu và loại đơn vị này đang dần dần mất đi Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011, toàn bộ Trung Quốc đại lục có 40466 đơn vị hành chính cấp hương, trong đó có 19683 trấn, 12395 hương, 1085 hương dân tộc, 106 tô mộc, 1 tô mộc dân tộc, 7194 nhai đạo và 2 công sở khu. == Cấp thôn == Cấp thôn (村级, cūnjí, thôn cấp) không phải là cấp hành chính chính thức, cũng giống như cấp thôn, ấp, tổ, khu phố ở Việt Nam. Ở thành thị có: Xã khu (社区 shèqū), hay tiểu khu (小区) hay khu cư trú (居住区, cư trú khu), tiếng Anh dịch là communities Khu dân cư (居民区 jūmínqū, cư dân khu), tiếng Anh dịch là neighborhoods Ở nông thôn có: Ủy hội thôn (村民委员会 cūnmínwěiyuánhùi, thôn dân ủy viên hội hoặc vắn tắt là 村委会 cūnwěihùithôn ủy hội), tiếng Anh dịch là village committees Tiểu tổ thôn (村民小组 cūnmínxiǎozǔ, thôn dân tiểu tổ), tiếng Anh dịch là villager groups == Chú thích == == Xem thêm == Danh sách các thành phố Trung Quốc
bulgaria.txt
Bulgaria (tiếng Bulgaria: България, Balgariya, Tiếng Việt: Bun-ga-ri), tên chính thức là Cộng hòa Bulgaria (Република България, Republika Balgariya) là một quốc gia nằm tại khu vực đông nam châu Âu. Bulgaria giáp với România về phía bắc, giáp với Serbia và Cộng hòa Macedonia về phía tây, giáp với Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ về phía nam và cuối cùng giáp với Biển Đen về phía đông. Dãy núi Balkan chạy từ đông sang tây phía bắc Bulgaria. Người Bulgaria gọi dãy núi này là "Núi Già" (Stara Planina). Sông Donau tạo thành phần lớn biên giới phía bắc Bulgaria. Giữa Sofia ở phía tây và Biển Đen là một vùng đồng bằng thấp gọi là thung lũng hoa hồng, trong 3 thế kỷ đã trồng ở khu vực này. Hoa hồng Kazanluk được ưa chuộng và được xuất khẩu do mùi hương riêng biệt của nó, dùng để sản xuất nước hoa. Về phía đông là bờ biển Hắc Hải với những mỏm đá phía bắc và các bãi cát phía nam thu hút du khách khắp thế giới. Vị trí của Bulgaria ở giao lộ quan trọng của hai châu lục khiến đây là nơi tranh giành quyền lực trong nhiều thế kỷ. Là một vương quốc độc lập trong nhiều thế kỷ, Bulgaria đã là một cường quốc lớn trong thời gian dài thời Trung cổ. Bulgaria là một nước có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời tại châu Âu. Đế quốc Bulgaria thứ nhất hùng mạnh đã từng mở rộng lãnh thổ ra khắp vùng Balkan và có những ảnh hưởng văn hóa của họ ra khắp các cộng đồng người Slav tại khu vực này. Vài thế kỉ sau đó, với sự sụp đổ của Đế quốc Bulgaria thứ hai, đất nước này bị Đế quốc Ottoman đô hộ trong gần 5 thế kỉ sau đó. Năm 1878, Bulgaria trở thành một nước quân chủ lập hiến tự trị nằm trong Đế quốc Ottoman. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), một chính phủ được Liên Xô ủng hộ đã được lập ở Bulgaria. Bulgaria đã thực hiện chương trình công nghiệp hóa trong thời kỳ những người cộng sản cầm quyền. Chính quyền Bulgaria đã cải cách dân chủ năm 1989. Năm 1990, Bulgaria đã tổ chức tổng tuyển cử nhiều đảng phái và đã đổi tên từ Cộng hòa Nhân dân Bulgaria thành Cộng hòa Bulgaria. Tiến trình chuyển đổi dân chủ và thể chế kinh tế của Bulgaria không dễ dàng do việc mất thị trường truyền thống Liên Xô. Điều này dẫn tới tình trạng đình đốn kinh tế, lạm phát và thất nghiệp gia tăng. Nhiều người Bulgaria đã rời bỏ đất nước. Quá trình cải cách vẫn tiếp tục và năm 2000, Bulgaria đã bắt đầu đàm phán xin gia nhập EU. Nước này là thành viên của NATO từ năm 2004 và thành viên Liên minh châu Âu từ năm 2007. Dân số Bulgaria là 7,7 triệu người với thủ đô là Sofia. == Địa lý == Về địa lý và khí hậu, Bulgaria có đặc trưng đáng chú ý ở sự đa dạng với các phong cảnh từ các đỉnh núi tuyết phủ tại Alpine ở Rila, Pirin và dãy núi Balkan cho tới bờ Biển Đen ôn hoà và nắng ấm; từ kiểu đặc trưng lục địa Đồng bằng Danub (Moesia cổ) ở phía bắc tới khí hậu ảnh hưởng Địa Trung Hải tại các thung lũng thuộc Macedonia và tại các vùng đất thấp phía cực nam Thrace. Về tổng thể Bulgaria có khí hậu ôn hoà, với mùa đông lạnh và mùa hè nóng. Hiệu ứng ngăn chặn của dãy núi Balkan có một số ảnh hưởng trên khí hậu ở khắp nước: bắc Bulgaria có nhiệt độ thấp hơn và có lượng mưa cao hơn các vùng đất thấp phía nam. Bulgaria gồm các phần của các vùng từng được biết tới ở thời cổ đại là Moesia, Thrace, và Macedonia. Vùng núi non phía tây nam đất nước có hai dãy núi thuộc Alpine — Rila và Pirin — và ở xa hơn về phía đông là Núi Rhodope thấp hơn nhưng dày đặc hơn. Rặng Rila có những đỉnh cao nhất trên Bán đảo Balkan, Musala, ở độ cao 2925m; dãy dài của dãy núi Balkan chạy hướng đông tây qua trung tâm đất nước, phía bắc của Thung lũng Hoa hồng nổi tiếng. Vùng đồi và đồng bằng nằm ở phía đông nam, dọc theo bờ Biển Đen, và dọc theo con sông chính của Bulgaria, sông Danube, ở phía bắc. Strandzha là núi cao nhất ở phía đông nam. Vùng đông bắc Dobrudzha ít có đồi núi. Bán đảo Balkan có tên từ dãy núi Balkan hay Stara planina chạy qua trung tâm Bulgaria và mở rộng tới vùng phía đông Serbia. Bulgaria có trữ lượng quặng mangan lớn ở phía đông bắc và uranium ở phía tây nam, cũng như một trữ lượng lớn than và các loại quặng đồng, chì, kẽm và vàng. Các loại quặng khác có trữ lượng nhỏ hơn gồm sắt, bạc, chromite, nickel, bismuth và các loại khác. Bulgaria có nhiều khoáng sản phi kim loại như đá muối, thạch cao, kaolin và marble. Nước này có mạng lưới sông dày đặc với khoảng 540 con sông, đa số chúng -ngoại trừ con sông Danube nổi tiếng— ngắn và có mực nước thấp. Đa số các con sông chảy qua các vùng núi non. Con sông lớn nhất nằm hoàn toàn bên trong lãnh thổ Bulgaria, sông Iskar, có chiều dài 368 km. Các con sông lớn khác gồm sông Struma và sông Maritsa ở phía nam. Các dãy núi Rila và Pirin có khoảng 260 hồ băng; nước này cũng có nhiều hồ nằm trên bò Biển Đen và hơn 2.200 hồ đập. Có nhiều suối nước khoáng, chủ yếu nằm ở phía tây nam và trung tâm đất nước dọc theo các đứt gãy giữa các dãy núi. Lượng mưa ở Bulgaria trong khoảng 630mm mỗi năm. Tại các vùng đất thấp lượng mưa trong khoảng từ 500mm và 800mm, và tại các vùng núi trong khoảng từ 1000mm và 1400mm mỗi năm. Các vùng khô hơn gồm Dobrudja và dải bờ biển phía bắc, trong khi các vùng cao hơn thuộc Rila, Pirin, Núi Rhodope, Stara Planina, Núi Osogovska và Vitosha có lượng mưa trung bình lớn hơn. == Lịch sử == === Tiền sử và cổ đại === Xem thêm thông tin: Châu Âu thời Đồ đá mới, Châu Âu thời Đồ đồng, Chế độ nô lệ, Vương quốc Odrysian, và Người Slavơ Các nền văn hóa tiền sử trên những vùng đất Bulgaria gồm văn hóa Hamangia và văn hóa Vinča thuộc thời kỳ đồ đá mới (6.000 tới 3.000 năm trước), văn hóa Varna eneolithic (5.000 năm trước Công Nguyên; xem thêm Nghĩa địa Varna), và văn hóa Ezero thời kỳ đồ đồng. Niên đại học Karanovo là một thước đo thời tiền sử cho toàn bộ cả vùng Balkan rộng lớn. Người Thracian, một trong ba tổ tiên chính của người Bulgaria hiện đại, đã để lại các dấu vết vẫn còn lại ở vùng Balkan dù đã trải qua nhiều thiên niên kỷ. Người Thracian sống trong những bộ tộc riêng rẽ cho tới khi Vua Teres thống nhất hầu hết các bộ lạc vào khoảng năm 500 trước Công Nguyên bên trong Vương quốc Odrysian, sau này phát triển lên tới đỉnh điểm dưới thời Vua Sitalces (cầm quyền 431-424 trước Công Nguyên) và Vua Cotys I (383–359 trước Công Nguyên). Sau đó Đế quốc Macedonia đã sáp nhập vương quốc Odrysian và Thracians trở thành một thành phần không thể chuyển nhượng trong các chuyến viễn chinh của cả Philip II và Alexander III (Đại đế). Năm 188 trước Công Nguyên người La Mã xâm lược Thrace, và chiến tranh tiếp tục tới năm 45 khi cuối cùng La Mã chinh phục cả vùng. Các nền văn hóa Thracian và La Mã đã hòa nhập ở một số mức độ, dù những truyền thống nền tảng của Thracian vẫn không thay đổi. Vì thế tới thế kỷ thứ 4 người Thracian có một bản sắc bản xứ hỗn hợp, như người Công giáo Rôma và vẫn duy trì được một số tín ngưỡng ngoại giáo cổ xưa của họ. Người Slavơ xuất hiện từ quê hương của họ ở đầu thế kỷ thứ 6 và tràn ra hầu hết Đông Trung Âu, Đông Âu và Balkans, trong quá trình này họ phân chia thành ba nhóm chính; Tây Slavơ, Đông Slavơ và Nam Slavơ. Một thành phần người Nam Slav ở phía đông đã bị người Thracian đồng hóa trước khi tầng lớp quý tộc Bulgaria tự sáp nhập mình vào Đế quốc Bulgaria đầu tiên. === Đế quốc Bulgaria đầu tiên === Năm 632 người Bulgar, có nguồn gốc từ Trung Á, đã hình thành, dưới sự lãnh đạo của Khan Kubrat, một nhà nước độc lập bắt đầu được gọi là Đại Bulgaria. Lãnh thổ của nó mở rộng tới hạ lưu sông Danube ở phía tây, Biển Đen và Biển Azov ở phía nam, Sông Kuban ở phía đông, và Sông Donets ở phía bắc. Áp lực từ Khazars đã dẫn tới sự chinh phục Đại Bulgaria ở nửa sau thế kỷ thứ 7. Người kế vị Kubrat, Khan Asparuh, đã cùng một số bộ tộc Bulgar đi về phía hạ lưu những con sông Danube, Dniester và Dniepr (được gọi là Ongal), và chinh phục Moesia và Tiểu Scythia (Dobrudzha) từ Đế quốc Byzantine, mở rộng hãn quốc mới của mình xa thêm nữa về phía Bán đảo Balkan. Một hiệp ước hòa bình với Byzantine năm 681 và việc thành lập thủ đô Bulgar tại Pliska phía nam Danube đánh dấu sự khởi đầu của Đế quốc Bulgaria đầu tiên. Cùng thời điểm đó, một trong những người anh em của Asparuh, Kuber, đã hòa giải với nhóm Bulgar tại Macedoniahiện nay. Trong cuộc bao vây Constantinople năm 717–718 vị Khan cai trị Bulgaria Tervel đã thực hiện hiệp ước của mình với những người Byzantine bằng cách gửi binh lính tới giúp dân chúng thành phố thủ đô đế chế này. Theo nhà viết sử Byzantine Theophanes, trong trận đánh quyết định người Bulgaria đã giết 22.000 quân Ả Rập, nhờ vậy loại bỏ được mối đe dọa về một cuộc tấn công tổng lực của Ả Rập vào Đông và Trung Âu. Ảnh hưởng và sự mở rộng lãnh thổ của Bulgaria gia tăng thêm nữa trong thời cầm quyền của Khan Krum, người vào năm 811 đã có một thắng lợi quyết định trước quân đội Byzantine dưới sự chỉ huy của Nicephorus I trong Trận Pliska. Thế kỷ thứ 8 và thứ 9 là thời gian số người Slavơ đông đảo dần đồng hoá những người Bulgar nói tiếng Turkic (hay Proto-Bulgarians). Năm 864, Bulgaria ở thời vua Boris I Người rửa tội chấp nhận Chính Thống giáo Đông phương. Bulgaria trở thành một cường quốc châu Âu lớn ở thế kỷ thứ 9 và thứ 10, trong khi vẫn đấu tranh với Đế quốc Byzantine để giành quyền kiểm soát Balkans. Việc này diễn ra dưới sự cai trị (852–889) của Boris I. Trong thời trị vì của ông, ký tự Cyrill đã phát triển tại Preslav và Ohrid, được sửa đổi từ ký tự Glagolitic do các giáo sĩ Saints Cyril và Methodius phát minh. Ký tự Cyrill trở thành căn bản cho sự phát triển thêm nữa của văn hoá. Những thế kỷ sau này, bảng chữ cái này, cùng với ngôn ngữ Bulgaria cổ, đã trở thành ngôn ngữ viết trí thức (lingua franca) cho Đông Âu, được gọi là chữ Slavơ Nhà thờ. Thời kỳ đỉnh cao mở rộng lãnh thổ của Đế quốc Bulgaria -bao phủ hầu hết Balkan— diễn ra dưới thời Hoàng đế Simeon I Vĩ đại, Sa hoàng (Hoàng đế) đầu tiên của Bulgaria, cầm quyền từ năm 893 tới năm 927. Trận Anchialos (917), một trong những trận đánh đẫm máu nhất thời Trung Cổ. đã đánh dấu một trong những thắng lợi quyết định nhất của Bulgaria trước Đế quốc Byzantine. Tuy nhiên, thành tựu lớn nhất của Simeon là việc phát triển Bulgaria trở thành một nền văn hoá Kitô giáo Slavơ duy nhất và giàu mạnh, trở thành một hình mẫu cho các dân tộc Slavơ khác ở châu Âu và cũng đảm bảo sự tiếp tục tồn tại của nhà nước Bulgaria dù có những lực lượng đe doạ chia rẽ nó thành nhiều mảnh trong suốt lịch sử dài và đầy các cuộc chiến tranh. Giữa thế kỷ thứ 10 Bulgaria rơi vào giai đoạn suy tàn, bị kiệt quệ bởi các cuộc chiến tranh với Croatia, những cuộc nổi dậy thường xuyên của người Serbia được Byzantine hậu thuẫn, và những cuộc xâm lược của người Magyar và Pecheneg. Vì những nguyên nhân này, Bulgaria sụp đổ trước cuộc tấn công trực diện của Rus' năm 969–971. Sau đó người Byzantine bắt đầu những chiến dịch chinh phục Bulgaria. Năm 971, họ chiếm thủ đô Preslav và bắt Hoàng đế Boris II. Cuộc kháng cự tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Sa hoàng Samuil ở các vùng đất phía tây Bulgaria trong vòng gần nửa thế kỷ. Nước này đã tìm cách hồi phục và đánh đuổi người Byzantine trong nhiều trận đánh lớn, giành được quyền kiểm soát hầu hết Balkan và vào năm 991 xâm lược nhà nước Serbia. Nhưng người Byzantine dưới sự lãnh đạo của Basil II ("Kẻ giết người Bulgar") đã tiêu diệt nhà nước Bulgaria năm 1018 sau thắng lợi tại Kleidion. Sau khi đã đánh bại người Bulgaria, Basil II đã làm mù mắt tới 15.000 tù nhân của trận đánh, trước khi thả họ. === Bulgaria Byzantine === Không có bằng chứng còn lại về bất kỳ một cuộc kháng cự hay nổi dậy lớn nào của người dân hay giới quý tộc Bulgaria trong thập kỷ đầu tiên sau sự thành lập quyền cai trị của Byzantine. Với sự tồn tại của các đối thủ không thể dung hoà với Byzantium như Krakra, Nikulitsa, Dragash và những người khác, sự im ắng này dường như rất khó giải thích. Một số nhà sử học đã giải thích đó là kết quả của một sự nhân nhượng mà Basil II đã trao cho giới quý tộc Bulgaria để giành được lòng trung thành của họ. Ở ngôi vị cao nhất, Basil II đảm bảo tính không thể chia cắt của Bulgaria trong các biên giới địa lý cũ của nó và không chính thức xoá bỏ quyền cai trị địa phương của giới quý tộc Bulgaria, những người đã trở thành một phần của tầng lớp quý tộc Byzantine như là các quan chấp chính hay chỉ huy quân sự. Thứ hai, các tuyên bố đặc biệt (nghị định hoàng gia) của Basil II công nhận tính độc lập của Địa phận Tổng giám mục Bulgaria Ohrid và đặt ra các biên giới của nó, đảm bảo sự tiếp nối của các giáo khu đã tồn tại dưới thời Samuel, tài sản và các quyền ưu tiên của họ. Người dân Bulgaria đã đứng lên chống lại sự cai trị của Byzantine nhiều lần trong thế kỷ 11 và một lần nữa ở đầu thế kỷ 12. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất diễn ra dưới sự lãnh đạo của Peter II Delyan (tuyên bố là Hoàng đế tại Belgrade năm 1040 - 1041) và Contantine Bodin (tức Peter III, 1072). Từ giữa thế kỷ XI tới những năm 1150, cả người Norman và người Hungary đều tìm cách xâm lược Bulgaria Byzantine, nhưng không thành công. Giới quý tộc Bulgaria cai trị các tỉnh dưới danh nghĩa Hoàng đế Byzantine cho tới khi Ivan Asen I và Peter IV của Bulgaria bắt đầu một cuộc nổi dậy năm 1185 dẫn tới việc thành lập Đế quốc Bulgaria thứ hai. === Đế quốc Bulgaria thứ hai === Từ năm 1185, Đế quốc Bulgaria thứ hai tái lập Bulgaria trở thành một cường quốc quan trọng ở Balkan trong hơn hai thế kỷ. Triều đình Asen lập ra thủ đô tại Veliko Tarnovo. Kaloyan, triều đại Asen thứ ba, mở rộng quyền cai trị tới Belgrade, Nish và Skopie (Uskub); ông thừa nhận quyền lực tinh thần tuyệt đối của Giáo hoàng, và nhận được vương miện hoàng gia từ một phái đoàn của Giáo hoàng. Trong trận Adrianople năm 1205, Kaloyan đánh bại các lực lượng của Đế quốc Latinh và vì thế hạn chế được quyền lực của nó ngay từ những năm đầu thành lập. Ivan Asen II (1218–1241) mở rộng sự thống trị tới Albania, Epirus, Macedonia và Thrace. Trong thời cầm quyền của ông, nhà nước đã có sự phát triển văn hoá, với những thành tựu nghệ thuật quan trọng của trường phái nghệ thuật Tarnovo. Triều đại Asen chấm dứt năm 1257, và vì những cuộc xâm lược của Tatar (bắt đầu từ cuối thế kỷ 13), các cuộc xung đột bên trong và những cuộc tấn công thường xuyên của người Byzantine và Hungary, sức mạnh quốc gia dần suy giảm. Hoàng đế Theodore Svetoslav (cầm quyền 1300–1322) tái lập sức mạnh của Bulgaria từ năm 1300 trở về sau, nhưng chỉ mang tính tạm thời. Sự bất ổn chính trị tiếp tục gia tăng, và Bulgaria dần mất lãnh thổ. Điều này dẫn tới một cuộc khởi nghĩa nông dân do người chăn lợn, Ivaylo lãnh đạo, cuối cùng ông đã đánh bại được các lực lượng của Hoàng đế và lên ngôi vua. Tới cuối thế kỷ 14, những sự chia rẽ phe phái giữa các lãnh chúa phong kiến Bulgaria (boyars) đã làm suy yếu đáng kể tính thống nhất của Đế quốc Bulgaria thứ hai. Nó tan rã thành ba nhà nước sa hoàng nhỏ và nhiều công quốc bán độc lập đánh lẫn nhau, và cả với người Byzantine, Hungary, Serb, Venetia, và Genoese. Trong những trận đánh này, người Bulgaria thường liên kết với người Thổ Ottoman. Tình hình tranh cãi và chiến đấu gây thiệt cho cả hai bên tương tự cũng diễn ra ở Byzantine và Seriba. Trong giai đoạn 1365–1370, người Ottoman chinh phục hầu hết các thị trấn và pháo đài của Bulgaria ở phía nam dãy Balkan. === Cai trị của Ottoman === Năm 1393, người Ottoman chiếm Tarnovo, thủ đô của Đế quốc Bulgaria thứ hai, sau một cuộc bao vây kéo dài 3 tháng. Năm 1396, Sa hoàng Vidin mất ngôi sau khi bị quân thập tự chinh Công giáo đánh bại tại Trận Nicopolis. Với sự kiện này, người Ottoman cuối cùng đã chinh phục và chiếm đóng Bulgaria. Một đội quân thập tự chinh Ba Lan–Hungary dưới sự chỉ huy của Władysław III của Ba Lan được lập ra để giải phóng Balkan năm 1444, nhưng người Thổ đã đánh bại họ trong trận Varna. Ottoman đã tàn sát người Bulgaria, và họ đã mất hầu hết các di vật văn hoá của mình. Chính quyền Thổ phá huỷ hầu hết các pháo đài trung cổ của Bulgaria để ngăn chặn những cuộc nổi dậy. Các thị trấn và khu vực lớn nơi quyền lực của Ottoman chiếm ưu thế có dân cư rất thưa thớt cho tới tận thế kỷ 19. Giới quý tộc Bulgaria bị tiêu diệt và tầng lớp nông dân trở thành nông nô cho những lãnh chúa Thổ Nhĩ Kỳ. Người Bulgaria phải trả thuế cao hơn rất nhiều so với dân cư Hồi giáo, và hoàn toàn không có sự bình đẳng về pháp lý với họ. Một sự đối phó từ phía người Bulgaria là việc tăng cường hajduk ('ngoài vòng pháp luật') truyền thống. Những người Bulgaria đã cải theo Hồi giáo, người Pomaks, vẫn giữ lại ngôn ngữ, y phục và một số phong tục thích hợp với Đạo Hồi.. Các nguồn gốc của người Pomaks là chủ đề của một cuộc tranh luận. Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 18 và những thập niên đầu tiên của thế kỷ 19 Bán đào Bankan tan rã vào tình trạng vô chính phủ. Người Bulgaria gọi giai đoạn này là kurdjaliistvo: các băng nhóm người Thổ có vũ trang được gọi là kurdjalii cướp bóc trong vùng. Tại nhiều khu vực, hàng nghìn nông dân bỏ chạy khỏi vùng nông thôn hoặc tới các thị trấn hoặc (thường xuyên hơn) tới các khu vực đồi núi và rừng rú; một số người thậm chí còn vượt qua Danube tới Moldova, Wallachia hay miền nam nước Nga. Trong suốt năm thế kỷ cai trị của Ottoman, người Bulgaria đã tổ chức nhiều nỗ lực để tái lập nhà nước của riêng mình. Sự thức tỉnh dân tộc của Bulgaria đã trở thành một trong những yếu tố chính trong cuộc đấu tranh giải phóng. Thế kỷ 19 chứng kiến sự thành lập Hội đồng Trung ương Cách mạng Bulgaria và Tổ chức Cách mạng Nội địa dưới sự lãnh đạo của các nhân vật giải phóng cách mạng như Vasil Levski, Hristo Botev, Lyuben Karavelov và những người khác. Năm 1876 cuộc khởi nghĩa tháng 4 nổ ra: một trong những cuộc nổi dậy chống Đế quốc Ottoman lớn nhất và được tổ chức tốt nhất của người Bulgaria. Dù bị chính quyền Ottoman đàn áp, người Thổ đã tàn sát khoảng 15.000 người Bulgaria — cuộc nổi dậy (cùng với cuộc nổi dậy tại Bosnia năm 1875) khiến các Cường quốc phải can thiệp trong Hội nghị Constantinople năm 1876, phân định các biên giới của sắc tộc Bulgaria như ở cuối thế kỷ 19, và tạo lập các thoả thuận pháp lý và chính trị cho việc thành lập hai tỉnh Bulgaria tự trị. Chính phủ Ottoman bác bỏ các quyết định của các Cường quốc. Điều này cho phép Nga tìm kiếm một giải pháp bằng vũ lực mà không có nguy cơ đối đầu quân sự với các Cường quốc khác trong cuộc Chiến tranh Crimea từ năm 1854 tới năm 1856. === Công quốc và Vương quốc === Trong cuộc Chiến tranh Nga-Thổ, 1877-1878, quân đội Nga cùng với một Binh đoàn România và quân tình nguyện Bulgaria đã đánh bại quân Thổ Ottoman. Hiệp ước San Stefano (3 tháng 3 năm 1878), tạo lập một công quốc Bulgaria tự trị. Nhưng các Cường quốc phương Tây nhanh chóng phản đối hiệp ước, lo ngại rằng một quốc gia Slavơ rộng lớn ở Balkan có thể phục vụ cho các lợi ích của Nga. Điều này dẫn tới Hiệp ước Berlin (1878), về một công quốc Bulgaria tự trị, gồm cả Moesia và vùng Sofia. Alexander, Vương công Battenberg, trở thành Vương công đầu tiên của Bulgaria. Hầu hết Thrace trở thành một phần của vùng tự trị Đông Rumelia, theo đó phần còn lại của Thrace và toàn bộ Macedonia quay trở về dưới chủ quyền của người Thổ Ottoman. Sau cuộc chiến tranh Serbia-Bulgaria và sự thống nhất với Đông Rumelia năm 1885, công quốc Bulgaria tuyên bố mình là một vương quốc hoàn toàn độc lập ngày 5 tháng 10 (22 tháng 9 theo Lịch cũ), 1908, dưới quyền cai trị của Ferdinand I của Bulgaria. Ferdinand, thuộc gia đình công tước Saxe-Coburg-Gotha, trở thành Vương công Bulgaria sau khi Alexander von Battenberg thoái vị năm 1886 sau một cuộc đảo chính do các sĩ quan ủng hộ Nga âm mưu. (Dù nỗ lực phản đảo chính của Stefan Stambolov thành công, Hoàng tử Alexander quyết định không giữ chức vị cai trị Bulgaria mà không có sự đồng thuận của Hoàng đế Aleksandr III của Nga.) Cuộc đấu tranh giải phóng người dân Bulgaria tại Adrianople Vilayet và tại Macedonia tiếp tục trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, lên tới đỉnh cao là cuộc Khởi nghĩa Ilinden-Preobrazhenie do Tổ chức Cách mạng Trong nước Macedonia tổ chức năm 1903. ==== Những cuộc Chiến tranh Balkan và Chiến tranh thế giới thứ nhất ==== Trong những năm sau khi hoàn toàn độc lập Bulgaria ngày càng trở nên quân sự hoá: Dillon năm 1920 gọi Bulgaria là "Nước Phổ của Balkan" Năm 1912 và 1913, Bulgaria tham gia vào các cuộc chiến tranh Balkan, đầu tiên tham chiến cùng phe với Hy Lạp, Serbia và Montenegro chống lại Đế quốc Ottoman. Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ nhất (1912–1913) là một thắng lợi quân sự của Bulgaria, nhưng một cuộc xung đột về việc phân chia Macedonia diễn ra giữa các đồng minh giành chiến thắng. Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ hai (1913) đẩy Bulgaria chống lại Hy Lạp và Serbia, cùng với Romania và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi bị đánh bại trong cuộc chiến này, Bulgaria mất nhiều vùng lãnh thổ đã có được trong cuộc chiến lần thứ nhất, cũng như Miền nam Dobrudzha và nhiều phần của vùng Macedonia. Trong Thế chiến I, Bulgaria tham chiến với tư cách đồng minh của Liên minh Trung tâm. Mặc dù bước vào cuộc chiến với 1.200.000 quân hùng mạnh (chiếm hơn 1/4 dân số đất nước) và giành thắng lợi quyết định tại Doiran và Dobrich, Bulgaria đầu hàng vào năm 1918. Quân đội Bulgaria phải chịu 300.000 thương vong, gồm 100.000 người chết. Thất bại năm 1918 khiến nước này thêm một lần mất thêm lãnh thổ (Western Outlands cho Serbia, Tây Thrace cho Hy Lạp và vùng Nam Dobrudzha mới tái chinh phục được cho România). Các cuộc chiến tranh Balkan và Thế chiến I dẫn tới một làn sóng tị nạn của hơn 250.000 người Bulgaria từ Macedonia, Đông và Tây Thrace và Nam Dobrudzha. ==== Thế chiến II ==== Trong những năm 1930 nước này gặp phải tình trạng bất ổn chính trị, dẫn tới sự thành lập chính quyền quân sự, cuối cùng biến thành một chế độ độc tài của Vua Boris III (cầm quyền 1918–1943). Sau khi giành lại được quyền kiểm soát Nam Dobrudzha năm 1940, Bulgaria liên minh với Phe Trục, dù họ không tham gia vào Chiến dịch Barbarossa (1941) và không bao giờ tuyên chiến với Liên bang Xô viết. Trong Thế chiến II Phát xít Đức đã cho phép Bulgaria chiếm nhiều vùng của Hy Lạp và của Nam Tư, dù quyền quản lý dân cư và lãnh thổ vẫn nằm trong tay người Đức. Bulgaria là một trong ba quốc gia duy nhất (cùng với Phần Lan và Đan Mạch) cứu được toàn bộ dân cư Do Thái (khoảng 50.000 người) khỏi các trại tập trung Phát xít qua những cách đưa ra lý lẽ và trì hoãn trước các yêu cầu của Đức. Tuy nhiên, Phát xít đã trục xuất hầu như toàn bộ dân Do Thái ở Nam Tư và các lãnh thổ Hy Lạp do Bulgaria chiếm đóng tới Trại tập trung Treblinka ở Ba Lan bị chiếm đóng. Mùa hè năm 1943, Boris III bất ngờ qua đời, và nước này rơi vào tình trạng hỗn loạn chính trị khi cuộc chiến đổi chiều với Phát xít Đức và phong trào Cộng sản giành được nhiều quyền lực. Đầu tháng 9 năm 1944, Liên Xô tuyên chiến với Bulgaria và xâm lược nước này, không gặp phải sự kháng cự nào. Điều này cho phép những người Cộng sản (Đảng Công nhân Bulgaria) lên nắm quyền lực và thành lập một nhà nước Cộng sản. Chế độ mới đưa Bulgaria quay sang chống lại Phát xít. === Cộng hoà Nhân dân Bulgaria === Mặt trận Tổ quốc, một liên minh chính trị do những người Cộng sản chiếm đa số, lên nắm chính phủ năm 1944 và Đảng Cộng sản tăng số thành viên từ 15.000 lên 250.000 người trong sáu tháng sau đó. Họ thiết lập quyền thống trị với cuộc cách mạng ngày 9 tháng 9 năm đó. Tuy nhiên, Bulgaria mãi tới năm 1946 mới trở thành một nhà nước cộng hoà nhân dân. Nước này rơi vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô, cùng với Georgi Dimitrov (Thủ tướng từ năm 1946 tới năm 1949) là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Bulgaria. Nước này thành lập nền kinh tế kế hoạch kiểu Liên Xô, dù một số chính sách theo hướng thị trường đã xuất hiện ở dạng thực nghiệm dưới thời Todor Zhivkov (Thư ký thứ nhất, 1954 tới năm 1989). Tới giữa những năm 1950 tiêu chuẩn sống tăng lên đáng kể, và vào năm 1957 các nông trang viên tập thể lần được hưởng hệ thống hưu bổng và an sinh xã hội nông nghiệp đầu tiên của Đông Âu. Todor Zhivkov là người nắm quyền thực tế ở nước này từ năm 1956 tới năm 1989, vì thế trở thành một trong những lãnh đạo cầm quyền lâu nhất ở Khối Đông Âu. Zhivkov biến Bulgaria trở thành một trong những đồng minh đáng tin cậy nhất của Liên Xô, và gia tăng tầm quan trọng của nó trong Comecon. Con gái ông Lyudmila Zhivkova trở thành nhân vật rất bật trong nước khi khuyến khích di sản, văn hoá và nghệ thuật quốc gia trên bình diện quốc tế. Mặt khác, một chiến dịch đồng hoá bắt buộc hồi cuối những năm 1980 với sắc tộc Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến khoảng 300.000 người Thổ Bulgaria di cư tới Thổ Nhĩ Kỳ. Nước Cộng hoà Nhân dân chấm dứt tồn tại năm 1989 như nhiều chế độ Cộng sản khác tại Đông Âu, cũng như chính Liên bang Xô viết, bắt đầu sụp đổ. Phe đối lập buộc Zhivkov và cánh tay phải của ông Milko Balev rời bỏ quyền lực ngày 10 tháng 11 năm 1989. === Cộng hoà Bulgaria === Tháng 2 năm 1990 Đảng Cộng sản tự nguyện dừng độc quyền quyền lực, và vào tháng 6 năm 1990 cuộc bầu cử tự do diễn ra, với chiến thắng thuộc phái ôn hoà của Đảng Cộng sản (đã đổi tên thành Đảng Xã hội Bulgaria — BSP). Tháng 7 năm 1991, nước này thông qua một hiến pháp mới quy định về một Tổng thống khá ít quyền lực và một Thủ tướng có trách nhiệm về lập pháp. Thập niên 1990 là giai đoạn nước này có tỷ lệ thất nghiệp cao, lạm phát cao và không ổn định cũng như sự bất bình của dân chúng. Từ năm 1989, Bulgaria đã tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng và tư nhân hoá nền kinh tế của mình, nhưng những khó khăn kinh tế và một làn sóng tham nhũng khiến hơn 800.000 người Bulgaria, hầu hết là các nhà chuyên môn có trình độ, di cư trong một cuộc "chảy máu chất xám". Gói cải cách được đưa ra năm 1997 đã khôi phục sự tăng trưởng kinh tế, nhưng dẫn tới sự gia tăng bất bình đẳng xã hội. Bulgaria trở thành một thành viên của NATO năm 2004 và của Liên minh châu Âu năm 2007, và US Library of Congress Federal Research Division đã thông báo trong năm 2006 rằng nước này nói chung có các thành tích tự do ngôn luận và nhân quyền tốt. Năm 2007 A.T. Kearney/Tạp chí Foreign Policy xuất bản Chỉ số Toàn cầu hoá xếp Bulgaria đứng hàng 36 (giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Iceland) trong số 122 quốc gia. == Chính trị == Từ năm 1991 Bulgaria đã là một quốc gia dân chủ, đơn nhất cộng hoà nghị viện hiến pháp. Nước này đã trở thành một thành viên của Liên hiệp quốc năm 1955, và là một thành viên sáng lập của OSCE năm 1995. Với tư cách một Đối tác Tham vấn của Hiệp ước Bắc Cực, Bulgaria đã tham gia vào ban quản lý các lãnh thổ nằm ở phía nam vĩ độ 60° nam. Quốc hội hay Narodno Sabranie (Народно събрание) gồm 240 đại biểu, với nhiệm kỳ 4 năm và được bầu lên bởi nhân dân. Một đảng hay liên minh phải giành tối thiểu 4% phiếu bầu để có đại diện trong nghị viện. Quốc hội có quyền ban hành pháp luật, thông qua ngân sách, lập kế hoạch bầu cử tổng thống, lựa chọn và bãi chức Thủ tướng và các bộ trưởng khác, tuyên chiến, triển khai quân đội ở nước ngoài và thông qua các hiệp ước và thoả thuận quốc tế. Một chính phủ thiểu số do đảng Các công dân vì sự phát triển châu Âu của Bulgaria cầm quyền từ sau cuộc bầu cử tháng 7 năm 2009. Hệ thống tư pháp gồm các toà án vùng, quận và phúc thẩm, cũng như một Toà Phá án Tối cao. Ngoài ra, Bulgaria có một Toà án Hành chính Tối cao và một hệ thống toà án quân sự. Tổng thống Bulgaria là nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Ông cũng là chủ tịch Hội đồng Tư vấn An ninh Quốc gia. Tuy không thể đưa ra bất kỳ điều luật nào ngoài việc đề xuất sửa đổi Hiến pháp, Tổng thống có thể từ chối một điều luật buộc nó phải quay lại trải qua quá trình tiếp tục tranh luận, dù nghị viện có thể bác bỏ sự phủ quyết của tổng thống bằng một đa số đại biểu. Nước này gia nhập NATO ngày 29 tháng 3 năm 2004 và đã ký kết Hiệ ước gia nhập Liên minh châu Âu ngày 25 tháng 4 năm 2005. Nước này trở thành một thành viên đầy đủ của Liên minh châu Âu ngày 1 tháng 1 năm 2007, và được bầu 17 thành viên vào trong Nghị viện châu Âu. == Quân đội == Quân đội Bulgaria gồm ba nhánh chính – lục quân, hải quân và không quân. Sau một loạt các cuộc cắt giảm năm 1989, quân đội thường trực nước này chưa tới 45.000 người hiện tại, giảm từ gần 200.000 năm 1988. Các lực lượng dự trữ gồm 303.000 binh lính và sĩ quan. Một số nhánh bán quân sự, như biên phòng và quân đội xây dựng đường sắt có tồn tại và có khoảng 34.000 người. Các lực lượng vũ trang có các thiết bị khá hiện đại của Liên Xô, như máy bay chiến đấu MiG-29, tên lửa đất đối không SA-6 Gainful và SA-10 Grumble và tên lửa đạn đạo tầm ngắn SS-21 Scarab. Quân đội Bulgaria đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, Bosna và Herzegovina, Kosovo, Afghanistan và Iraq. Bản mẫu:Ở thời điểm Bulgaria có hơn 700 nhân viên quân sự được triển khai ở nước ngoài, chủ yếu tại Afghanistan (610 người), tại Bosna và Herzegovina (khoảng 100 người) và tại Kosovo (khoảng 50 người). Năm 2008 Bulgaria đã bãi bỏ nghĩa vụ quân sự với các công dân của họ. Hải quân và không quân Bulgaria đã hoàn toàn chuyên nghiệp hoá năm 2006, và các lực lượng lục quân tiếp nối vào cuối năm 2008. Các lực lượng đặc biệt đã tiến hành các phi vụ với SAS, Delta Force, KSK, và Spetsnaz của Nga. Tháng 4 năm 2006 Bulgaria và Hoa Kỳ đã ký một thoả thuận hợp tác quốc phong theo đó đưa các căn cứ không quân tại Bezmer (gần Yambol) và Graf Ignatievo (gần Plovdiv), trại huấn luyện Novo Selo (gần Sliven), và một trung tâm hậu cần tại Aytos trở thành cơ sở quân sự chung. Tạp chí Foreign Policy magazine coi Căn cứ Không quân Bezmer là một trong sáu địa điểm hải ngoại quan trọng nhất do USAF sử dụng. Bản mẫu:Ở thời điểm chi tiêu quân sự chiếm khoảng 1.98% GDP. == Các tỉnh và khu đô thị == Từ năm 1987 tới năm 1999 Bulgaria gồm chín tỉnh (oblasti, số ít oblast); từ năm 1999, nước này có 29 tỉnh. Tất cả đều có tên theo thành phố thủ phủ: Các tỉnh được chia thành 264 khu đô thị. == Kinh tế == Bulgaria có một nền kinh tế thị trường tự do mở và đã công nghiệp hoá, với một khu vực tư nhân lớn và khá phát triển cùng một số doanh nghiệp chiến lược thuộc sở hữu nhà nước. Ngân hàng Thế giới xếp hạng nước này là một "nền kinh tế có thu nhập trên trung bình". Bulgaria đã có tăng trưởng kinh tế nhanh trong những năm gần đây, thậm chí dù nước này vẫn bị xếp hạng là quốc gia thành viên có thu nhập thấp nhất của EU. Theo dữ liệu của Eurostat, GDP theo sức mua tương đương trên đầu người của Bulgaria ở mức 40% mức trung bình của EU năm 2008. Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính GDP trên đầu người của Bulgaria ở mức $21,242 năm 2016, hay bằng một phần ba mức của Bỉ. Nền kinh tế dựa chủ yếu vào công nghiệp và nông nghiệp, dù khu vực dịch vụ đang đóng góp ngày càng nhiều hơn vào tăng trưởng GDP. Bulgaria sản xuất một lượng lớn hàng chế tạo và nguyên liệu thô như sắt, đồng, vàng, bismuth, than, điện, nhiên liệu dầu mỏ đã tinh lọc, các thiết bị xe hơi, vũ khí và vật liệu xây dựng. Tính đến năm 2016, GDP của Bulgaria đạt 50.446 USD, đứng thứ 81 trên thế giới và đứng thứ 26 châu Âu. Vì có tai tiếng về nạn tham nhũng cao, và rõ ràng thiếu sự kiên quyết đấu tranh với tình trạng tham nhũng ở các cấp độ cao, Liên minh châu Âu đã cho đóng băng một phần các khoản vốn khoảng €450 triệu và có thể đóng băng thêm nữa nếu chính quyền Bulgaria không thể hiện quyết tâm trong việc đấu tranh chống tham nhũng. Bulgaria đã chế ngự được tình trạng lạm phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế sâu năm 1996–1997, nhưng những con số mới nhất cho thấy tỷ lệ lạm phát đã gia tăng lên tới 12.5% trong năm 2007. Nạn thất nghiệp đã giảm từ hơn 17% hồi giữa thập niên 1990 xuống còn gần 7% năm 2007, nhưng ở một số vùng nông nghiệp tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao. Tình trạng lạm phát ở Bulgaria đồng nghĩa với việc nước này được chấp nhận vào eurozone sẽ không thể diễn ra cho tới năm 2013–2014. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức khá thấp khoảng 6.3% năm 2008, nhưng đã tăng lên tới 8% năm 2009. Tăng trưởng GDP năm 2008 vẫn ở mức cao (6%), nhưng đã hầu như xuống mức âm năm 2009. Cuộc khủng hoảng có dấu ấn tiêu cực chủ yếu trên ngành công nghiệp, giảm 10% trên chỉ số sản xuất công nghiệp quốc gia, 31% trong công nghiệp mỏ, và 60% trong ngành sản xuất thép và kim loại. Chính phủ dự đoán mức sụt giảm 2.2% của GDP trong năm 2010, với con số thâm hụt ngân sách 0.7%. === Nông nghiệp === Sản lượng nông nghiệp đã giảm về tổng thể kể từ năm 1989, nhưng sản xuất đã gia tăng trong những năm gần đây, và cùng với các ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm nó vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trồng cấy chiếm tỷ lệ lớn hơn chăn nuôi. Thiết bị nông nghiệp gồm hơn 150.000 máy cày và 10.000 máy gặt đập liên hợp, cùng một phi đội máy bay hạng nhẹ lớn. Bulgaria là một trong những nhà sản xuất sản phẩm nông nghiệp hàng đầu thế giới như hồi (thứ 6 thế giới), hạt hướng dương (11), mâm xôi (13), thuốc lá (15), hạt tiêu (18) và sợi lanh (19). === Năng lượng === Dù Bulgaria có trữ lượng nhiên liệu thiên nhiên như dầu mỏ và khí khá thấp, ngành công nghiệp năng lượng phát triển cao của nước này đóng một vai trò tối quan trọng tại vùng Balkan. Vị trí địa lý chiến lược của Bulgaria biến nó trở thành một cổng quá cảnh và phân phối dầu mỏ và khí tự nhiên chính từ Nga tới Tây Âu và các quốc gia vùng Balkan khác. Về sản xuất điện trên đầu người, nước này xếp hàng thứ tư tại Đông Âu. Ngoài ra, Bulgaria có một ngành công nghiệp hạt nhân mạnh vì các mục đích hoà bình. nhà máy điện hạt nhân duy nhất của Bulgaria nằm ở vùng phụ cận Kozloduy, và có tổng công suất 3.760 MW. Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân thứ hai đã được Bản mẫu:Vào gần Belene với công suất dự tính 2.000 MW. Các nhà máy nhiệt điện (TPPs) sản xuất một lượng điện khá lớn, với hầu hết tập trung tại Khu phức hợp Maritsa Iztok. Bản mẫu:Vào nước này có mức độ gia tăng sản xuất điện từ các nguồn có thể tái tạo như điện gió, điện mặt trời khá vững chắc, dù vẫn phải dựa chủ yếu vào các nhà máy nhiệt điện và điện hạt nhân. Vì sở hữu rất nhiều rừng và đất đai nông nghiệp, biomass có thể là một nguồn cung cấp điện lớn. Điện gió cũng có tiềm năng cao, với công suất tiềm năng lên tới 3.400 MW. Bản mẫu:Vào Bulgaria có hơn 70 turbine gió với tổng công suất 112.6 MW, và có những kế hoạch tăng gấp ba lần công suất lên 300 MW vào năm 2010. === Công nghiệp và mỏ === Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Dù Bulgaria không có trữ lượng lớn về dầu mỏ và khí tự nhiên, nước này sản xuất ra một số lượng đáng kể khoáng chất, kim loại và điện. Bulgaria là nhà sản xuất dầu mỏ hạng thấp (thứ 97 trên thế giới) với tổng sản lượng 3.520 bbl/ngày. Các nhà thăm dò phát hiện ra giếng dầu đầu tiên của Bulgaria gần Tyulenovo năm 1951. Trữ lượng được chứng minh khoảng 15.000.000 bbl. Sản xuất khí tự nhiên đã sụt giảm mạnh hồi cuối thập niên 1990. Trữ lượng khí tự nhiên được chứng minh khoảng 5.663 bln. cu m. Khai mỏ là một nguồn thu xuất khẩu chủ yếu, và đã trở thành yếu tố chủ chốt của nền kinh tế Bulgaria. Nước này là nhà sản xuất than đứng hạng 19 thế giới, đứng thứ 9 về sản xuất bismuth, đứng thứ 19 về sản xuất đồng, và 26 về kẽm. Luyện kim sắt cũng có tầm quan trọng lớn. Hầu hết sản lượng thép và gang có từ Kremikovtsi và Pernik, với một cơ sở luyện kim thứ ba tại Debelt. Về sản xuất thép và sản lượng thép trên đầu người nước này đứng đầu vùng Balkan. Các nhà máy tinh luyện chì và kẽm lớn nhất nằm tại Plovdiv (nhà máy tinh luyện lớn nhất giữa Ý và dãy núi Ural), Kardzhali và Novi Iskar; đồng tại Pirdop và Eliseina (defunct Bản mẫu:Vào); nhôm tại Shumen. Về sản lượng nhiều loại kim loại trên đầu người, như kẽm và sắt, Bulgaria đứng hạng nhất ở Đông Âu. Khoảng 14% tổng sản lượng công nghiệp liên quan tới chế tạo máy và 20% nhân lực trong lĩnh vực này. Tầm quan trọng của nó đã giảm bớt kể từ năm 1989. === Du lịch === Năm 2007 tổng số 5.200.000 du khách đã tới Bulgaria, biến nước này trở thành địa điểm thu hút du khách hàng thứ 39 thế giới. Du khách từ Hy Lạp, Romania và Đức chiếm 40%. Một số lượng lớn du khách Anh (+300.000), Nga (+200.000), Serbia (+150.000), Ba Lan (+130.000) và Đan Mạch (+100.000) tới thăm Bulgaria. Hầu hết trong số họ đều bị lôi cuốn bởi các phong cảnh tươi đẹp và đa dạng, các di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn tốt, và sự tĩnh lặng của các vùng nông thôn và miền núi. Các địa điểm du lịch chính gồm thủ đô Sofia, các khu resort ven biển như Albena, Sozopol, Bãi cát Vàng và Bãi biển Nắng; và các khu resort mùa đông như Pamporovo, Chepelare, Borovetz và Bansko. Các địa điểm du lịch vùng thôn quê như Arbanasi và Bozhentsi là nơi có các truyền thống sắc tộc được bảo tồn tốt. Các địa điểm thu hút du khách khác gồm Tu viện Rila từ thế kỷ thứ 10 và lâu đài Euxinograd thế kỷ 19. == Khoa học, công nghệ và viễn thông == Bulgaria chỉ chi 0.4% GDP cho nghiên cứu khoa học, hay khoảng $ 376 triệu năm 2008. Nước này có truyền thống mạnh trong toán học, thiên văn học, vật lý và công nghệ hạt nhân và giáo dục định hướng khoa học, và có kinh nghiệm khá lớn trong nghiên cứu dược. Viện Hàn lâm Khoa học Bulgaria (BAS), cơ quan khoa học hàng đầu của đất nước, tụ tập hầu hết các nhà nghiên cứu của Bulgaria làm việc trong rất nhiều cơ sở của nó. Các nhà khoa học Bulgaria đã có nhiều phát minh và sáng tạo quan trọng mang tính cách mạng trên bình diện thế giới. máy tính điện tử số đầu tiên của thế giới, do nhà khoa học người Bulgaria-Mỹ John Vincent Atanasoff thiết kế; đồng hồ điện tử số đầu tiên (Peter Petroff), chiếc máy bay ném bom đầu tiên (đại uý Simeon Petrov); lý thuyết động lực phân tử về hình thành tinh thể và phát triển tinh thể (của Ivan Stranski) và photoelectrets (Georgi Nadjakov), đây là một bước quan trọng trong việc phát triển máy photocopy đầu tiên. Bulgaria cũng là quốc gia thứ 6 trên thế giới có nhà du hành đi vào vũ trụ. Thiếu tướng Georgi Ivanov trên tàu Soyuz 33 (1979), tiếp đó là trung tá Alexander Alexandrov trên tàu Soyuz TM-5 (1988). Công nghệ thông tin là một trong số các nhánh khoa học phát triển nhất của Bulgaria, và vào những năm 1980 nước này đã được gọi là Thung lũng Silicon của Khối Đông Âu. Theo báo cáo của Brainbench Global IT, Bulgaria xếp thứ nhất ở châu Âu về số chuyên gia IT trên đầu người và đứng thứ 8 thế giới về tổng số chuyên gia ICT, vượt xa một số nước có quy mô dân số lớn hơn nhiều. Ngoài ra, Bulgaria cũng là nước có siêu máy tính mạnh nhất ở Đông Âu (một trong top 100 trên thế giới Bản mẫu:Vào), một IBM Blue Gene/P, đi vào hoạt động tháng 9 năm 2008 tại Cơ quan Công nghệ Thông tin Nhà nước. Những năm sau 2000 đã chứng kiến một sự gia tăng mạnh số lượng người sử dụng Internet: năm 2000, có 430.000 người, năm 2004 – 1.545.100, và năm 2006 – 2.2 triệu người. == Giáo dục == Giáo dục tại Bulgaria thuộc quyền quản lý của Bộ giáo dục và khoa học. Giáo dục toàn bộ thời gian là bắt buộc với mọi trẻ em trong độ tuổi 7 tới 16. Trẻ 16 tuổi có thể ghi tên vào các trường học theo định hướng của cha mẹ. Giáo dục tại các trường nhà nước là miễn phí, ngoại trừ tại các cơ sở cao học, trường cao đẳng và đại học. Chương trình dựa chủ yếu ở tám môn chính: tiếng Bulgaria và văn học, ngoại gnữ, toán học, công nghệ thông tin, hoa học xã hội và dân sự, khoa học tự nhiên và sinh thái, âm nhạc và nghệ thuật, giáo dục thể chất và thể thao. Năm 2003, tỷ lệ biết chữ ước tính ở mức 98.6%, xấp xỉ tương đương ở cả hai giới tính. Các tiêu chuẩn giáo dục truyền thống của Bulgaria rất cao. == Vận tải == Bulgaria có vị trí địa lý chiến lược có tầm quan trọng độc nhất. Từ những thời cổ đại, nước này đã là ngã tư đường chính giữa châu Âu, châu Á và châu Phi. Năm trong số mười Hành lang xuyên châu Âu chạy qua lãnh thổ nước này, tổng chiều dài đường bộ của Bulgaria là 102.016 km, trong đó có 93.855 km trải nhựa và 441 km là đường cao tốc. Nước này có nhiều kế hoạch xây dựng đường cao tốc, đang được tiến hành hay đã xây dựng một phần: Đường cao tốc Trakiya, đường cao tốc Hemus, đường cao tốc Cherno More, đường cao tốc Struma, đường cao tốc Maritza và đường cao tốc Lyulin. Bulgaria cũng có 6500 km đường sắt, hơn 60% đã được điện khí hoá. Có một dự án trị giá €360.000.000 triệu để hiện đại hoá và điện khí hoá tuyến đường sắt Plovdiv–Kapitan Andreevo. Tuyến đường sắt cao tốc duy nhất trong vùng, giữa Sofia và Vidin, sẽ đi vào hoạt động năm 2017, với chi phí €3.000.000.000. Giao thông đường không đá phát triển khá toàn diện. Bulgaria có sáu sân bay quốc tế chính — tại Sofia, Burgas, Varna, Plovdiv, Rousse và Gorna Oryahovitsa. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989, hầu hết các sân bay nội địa nhỏ đều bị bỏ hoang không sử dụng khi các chuyến bay nội địa giảm sút. Nước này duy trì nhiều sân bay quân sự và nông nghiệp. 128 trong tổng số 213 sân bay ở Bulgaria có đường băng cứng. Các cảng quan trọng nhất và có lượng vận tải hàng hoá lớn nhất là Varna và Burgas. Burgas, Sozopol, Nesebar và Pomorie là những cảng hỗ trợ cho các đội tàu đánh cá. Các cảng lớn trên sông Donau gồm Rousse và Lom (phục vụ cho thủ đô). == Nhân khẩu == Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, dân số Bulgaria gồm chủ yếu sắc tộc Bulgaria (83,9%), với hai cộng đồng thiểu số chính, người Thổ (9,4%) và Roma (4,7%). Trong số 2.0% còn lại, 0.9% gồm khoảng 40 cộng đồng thiểu số nhỏ hơn, chủ yếu là người Nga, người Armenia, người Ả Rập, người Vlach, người Do Thái, người Tatar Krym và Sarakatsani (về mặt lịch sử cũng được gọi là người Karakachan). 1,1% dân số không tuyên bố sắc tộc trong cuộc điều tra năm 2001. Cuộc điều tra năm 2001 định nghĩa một nhóm sắc tộc là một "cộng đồng người, liên quan tới nhau bởi nguồn gốc và ngôn ngữ, và giống nhau về cách thức sống và văn hoá"; và tiếng mẹ đẻ của một người là "tiếng một người nói tốt nhất và thường được sử dụng để trao đổi trong gia đình (hộ)". Trong những năm gần đây Bulgaria là một trong những nước có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất thế giới. Tăng trưởng dân số âm đã diễn ra từ đầu thập niên 1990, vì sụp đổ kinh tế và di cư cao. Năm 1989 dân số nước này có 9.009.018 người, giảm dần xuống còn 7.950.000 năm 2001 và 7.606.000 năm 2009. Tính đến năm 2009 Dân số có tỷ lệ sinh 1.48 trẻ em trên phụ nữ năm 2008. Tỷ lệ sinh cần đạt mức 2.2 để tái lập mức tăng dân số tự nhiên. Đa số người Bulgaria (82,6%) thuộc, ít nhất về danh nghĩa, Giáo hội Chính thống Bulgaria. Được thành lập năm 870 thuộc Tòa Thượng phụ Constantinople (nơi có Tổng giám mục, tăng lữ và các bản kinh từ đây), Giáo hội Chính thống này có vị thế độc lập từ năm 927. Các tôn giáo lớn khác gồm Hồi giáo (12,2%), các giáo phái Tin lành (0,8%) và Công giáo La Mã (0,5%); với các giáo phái khác, vô thần và không tuyên bố chiếm xấp xỉ 4,1%. Bulgaria chính thức là một nhà nước thế tục và Hiến pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng nhưng coi Chính thống là một tôn giáo chính thức. Trong cuộc điều tra dân số năm 2001, 82,6% người dân tuyên bố mình là tín đồ Chính Thống giáo, 12,2% Hồi giáo, 1.2% các giáo phái Kitô giáo khác, 4% các tôn giáo khác (Phật giáo, Đạo giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo). Hồi giáo tới nước này vào cuối thế kỷ 14 sau cuộc chinh phục của người Ottoman. Ở thế kỷ 16 và 17, các nhà truyền giáo từ Rôma đã truyền đạo tại Paulicians thuộc các quận Plovdiv và Svishtov khiến nơi này có thêm nhiều tín hữu Giáo hội Công giáo Rôma. Năm 2009, cộng đồng Do Thái tại Bulgaria, từng là một trong những cộng đồng lớn nhất châu Âu, có chưa tới 2.000 người. == Văn hoá == Một số nền văn minh cổ, đáng chú ý nhất là của người Thrace, Hy Lạp, La Mã, Slav, và Bulgar, đã để lại dấu ấn trong văn hoá, lịch sử và di sản của Bulgaria. Các đồ tạo tác Thrace gồm nhiều ngôi mộ và đồ vàng bạc, trong khi người Bulgar cổ để lại dấu vết của họ trong văn hoá và kiến trúc sơ kỳ. Cả đế chế Bulgaria thứ nhất và thứ hai đều là những đầu mối của châu Âu Slav trong hầu hết thời Trung Cổ, để lại ảnh hưởng đáng chú ý về văn hoá và văn học trong thế giới Slavơ Chính thống phía đông qua các trường phái Preslav và Trường phái Văn học Ohrid. Bảng chữ cái Cyrill, được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ Đông Âu và châu Á, có nguồn gốc từ hai trường phái này ở thế kỷ 10 Công Nguyên. Ngày nay Bulgaria có chín Địa điểm di sản thế giới của UNESCO – bức chạm nổi đá đầu thời kỳ Trung Cổ Madara Rider, hai lăng mộ Thrace (tại Sveshtari và Kazanlak), Nhà thờ Boyana, Tu viện Rila và Các Nhà thờ Đá Ivanovo, Vườn Quốc gia Pirin và Khu Dự trữ Thiên nhiên Srebarna, cũng như thành phố cổ Nesebar. Một đồ tạo tác lịch sử quan trọng khác là kho tàng vàng chế tác cổ nhất thế giới, có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, từ Nghĩa trang Varna. Nước này có một truyền thống âm nhạc lâu dài, bắt nguồn từ đầu thời kỳ Trung Cổ. Một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng sớm nhất được biết ở Châu Âu Trung Cổ là Yoan Kukuzel (khoảng 1280–1360). Âm nhạc dân gian quốc gia có đặc trưng riêng biệt và sử dụng nhiều nhạc cụ truyền thống, như gudulka (гъдулка), gaida (гайда) – kèn túi, kaval (кавал) và tupan (тъпан). Bulgaria cũng có một di sản nghệ thuật thị giác giàu có, đặc biệt trong tranh tường, mural và các biểu tượng, nhiều tác phẩm trong số này là tác phẩm của Trường phái nghệ thuật Tarnovo. Rượu Bulgaria được xuất khẩu đi khắp thế giới, và tới năm 1990 nước này vẫn đứng thứ hai thế giới về tổng lượng xuất khẩu rượu đóng chai. Ở thời điểm năm 2007, nước này sản xuất 200.000 tấn rượu hàng năm, xếp hạng 20 thế giới. Bulgaria cũng sản xuất một lượng lớn bia và rakia (chủ yếu sản xuất tại nhà). Lukanka, banitsa, shopska salad, lyutenitsa, sirene và kozunak và những món đặc trưng của ẩm thực Bulgaria. == Thể thao == Bulgaria có thành tích cao tại các môn thể thao như bóng chuyền, vật, cử tạ, bắn súng, thể dục, cờ vua, và gần đây là vật sumo và tennis. Đội tuyển bóng chuyền nam quốc gia Bulgaria là một trong những đội tuyền hàng đầu châu Âu và thế giới, xếp hạng 4 thế giới theo bảng xếp hạng năm 2009 của FIVB. Bóng đá là môn thể thao được ưa chuộng nhất trong nước. Dimitar Berbatov (Димитър Бербатов) là một trong những cầu thủ bóng đá Bulgaria nổi tiếng nhất thế kỷ 21. Các câu lạc bộ nổi tiếng trong nước gồm PFC CSKA Sofia (được coi là câu lạc bộ hàng đầu đất nước) và PFC Levski Sofia, là câu lạc bộ bóng đá Bulgaria đầu tiên tham gia UEFA Champions League hiện đại năm 2006/2007. Đội tuyển quốc gia thành công nhất tại kỳ World Cup là tại World Cup 94' khi họ vào tới bán kết và chỉ bị loại bởi đội tuyển Ý với một cú đúp của Roberto Baggio. Bulgaria thua trận với tỷ số 2-1 và cuối cùng giành vị trí thứ 4 sau trận thua 4-0 khi tranh giải 3, 4 trước Thuỵ Điển. Bulgaria tham gia vào cả Olympic mùa hè và mùa đông, và lần đầu tiên họ xuất hiện trong một kỳ Olympic hiện đại là vào năm 1896, khi vận động viên thể dục người Thuỵ Sĩ Charles Champaud đại diện cho nước này. Từ đó Bulgaria đã tham gia vào hầu hết các kỳ Olympic mùa hè, và tới năm 2008 họ đã giành được tổng cộng 212 huy chương: 51 vàng và 84 bạc cùng 77 đồng. == Xem thêm == Danh sách các thị trấn và thành phố kết nghĩa ở Bulgaria Danh sách vương triều Bulgaria Lịch sử Bulgaria Cộng sản Phong trào kháng chiến Bulgaria trong Thế chiến II == Ghi chú == == Đọc thêm == Jiriček, Constantin Josef (2008). History of the Bulgarians (Geschichte der Bulgaren) (bằng tiếng Đức). Frankfurt: Textor Verlag GmbH, digital facsimile of the book published in Prague, 1878. tr. 587 pages. ISBN 3-938402-11-3. Crampton, R. J. A Concise History of Bulgaria (2005) Cambridge, UK; New York: Cambridge University Press ISBN 978-0-521-61637-9 Detrez, Raymond Historical Dictionary of Bulgaria (2006) Second Edition lxiv + 638 pp. Maps, bibliography, appendix, chronology ISBN 978-0-8108-4901-3 Lampe, John R., and Marvin R. Jackson Balkan Economic History, 1550-1950: From Imperial Borderlands to Developing Nations (1982) Lampe, John R. The Bulgarian Economy in the Twentieth Century (1986) London: Croom Helm ISBN 0-7099-1644-2 === Trước năm 1939 === Monroe, W. S. "Bulgaria and her people, with an account of the Balkan wars, Macedonia, and the Macedonian Bulgars (1914)" Fox, Frank, Sir Bulgaria (1915) London: A. and C. Black, Ltd., book scanned by Project Gutenberg Hall, Richard C. Bulgaria's Road to the First World War (1996) New York: Columbia University Press ISBN 0-88033-357-X MacDermott, Mercia (1962). A History of Bulgaria, 1393-1885. London: Allen & Unwin. Perry, Duncan M. Stefan Stambolov and the Emergence of Modern Bulgaria, 1870-1895 (1993) Durham: Duke University Press ISBN 0-8223-1313-8 Runciman, Steven (1930). A History of the First Bulgarian Empire. G. Bell & Sons, London. Zlatarski, Vasil N. (1934). “Prof. Dr.”. Medieval History of the Bulgarian State (bằng tiếng Bulgarian). Royal Printing House, Sofia. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2007. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) (Васил Н. Златарски, История на българската държава през средните векове, Част II, II изд., Наука и изкуство, София 1970) === Thế chiến II === Bar-Zohar, Michael Beyond Hitler's Grasp: The Heroic Rescue of Bulgaria's Jews Groueff, Stephane Crown of Thorns: The Reign of King Boris III of Bulgaria, 1918–1943 Todorov, Tzvetan The fragility of goodness: why Bulgaria’s Jews survived the Holocaust: a collection of texts with commentary (2001) Princeton: Princeton University Press ISBN 0-691-08832-2 === Thời kỳ cộng sản === Todorov, Tzvetan Voices from the Gulag: Life and Death in Communist Bulgaria Dimitrova, Alexenia The Iron Fist — Inside the Bulgarian secret archives === Hiện tại === Bell, John D., ed. (1998). Bulgaria in Transition: Politics, Economics, Society, and Culture after Communism. Westview. ISBN 978-0-8133-9010-9 Ghodsee, Kristen. The Red Riviera: Gender, Tourism and Postsocialism on the Black Sea. Durham: Duke University Press. ISBN 978-0-8223-3662-4. Ghodsee, Kristen. Muslim Lives in Eastern Europe: Gender, Ethnicity and the Transformation of Islam in Postsocialist Bulgaria. Princeton: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-13955-5. === Sách hướng dẫn === Annie Kay Bradt Guide: Bulgaria Paul Greenway Lonely Planet World Guide: Bulgaria Pettifer, James Blue Guide: Bulgaria Timothy Rice Music of Bulgaria Jonathan Bousfield The Rough Guide To Bulgaria == Liên kết ngoài == Chính phủ Official governmental site President of The Republic of Bulgaria National Assembly of the Republic of Bulgaria Chief of State and Cabinet Members Thông tin chung Mục “Bulgaria” trên trang của CIA World Factbook. Bulgaria information from the United States Department of State Portals to the World from the United States Library of Congress Article Eco Friendly Bulgaria Bulgaria at UCB Libraries GovPubs Bulgaria tại DMOZ Wikimedia Atlas của Bulgaria, có một số bản đồ liên quan đến Bulgaria. Bulgaria Gazette Du lịch Bulgaria - video presentations from Bulgaria Tourism Authority All cities and villages The mountains of Bulgaria Image Gallery of Bulgaria Large Image Gallery of Bulgaria Nghệ thuật Bulgarian fine arts: online gallery Catalog of modern Bulgarian artists General sources A reference of all settlements in Bulgaria Transliteration of names in Bulgaria
celtic f.c..txt
Câu lạc bộ bóng đá Celtic (tiếng Anh: Celtic Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá Scotland đặt trụ sở ở thành phố Glasgow. Trước năm 1994, câu lạc bộ có tên là Công ty TNHH Bóng đá và Thể thao Celtic (The Celtic Football and Athletic Company Ltd). Năm 1967, Celtic trở thành câu lạc bộ đầu tiên của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vô địch châu Âu. == Các danh hiệu lớn == UEFA Champions League/Cúp C1 (1): 1967 (toàn bộ cầu thủ đều sinh ra và trưởng thành trong phạm vi bán kính mấy chục km với tâm là chính thủ đô Glassgow) Giải bóng đá ngoại hạng Scotland (47): 1893, 1894, 1896, 1898, 1905, 1906, 1907, 1908, 1909, 1910, 1914, 1915, 1916, 1917, 1919, 1922, 1926, 1936, 1938, 1954, *1966, 1967, 1968, 1969, 1970, 1971, 1972, 1973, 1974*, 1977, 1979, 1981, 1982, 1986, 1988, 1998, 2001, 2002, 2004, 2006, 2007, 2008, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 Cúp Scotland (36): 1892, 1899, 1900, 1904, 1907, 1908, 1911, 1912, 1914, 1923, 1925, 1927, 1931, 1933, 1937, 1951, 1954, 1965, 1967, 1969, 1971, 1972, 1974, 1975, 1977, 1980, 1985, 1988, 1989, 1995, 2001, 2004, 2005, 2007, 2011, 2013 Cúp Liên đoàn Scotland (15): 1957, 1958, 1966, 1967, 1968, 1969, 1970, 1975, 1983, 1998, 2000, 2001, 2006, 2009, 2015 == Cầu thủ == === Đội hình hiện tại === Số liệu thống kê chính xác tới 22 tháng 10 năm 2015 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Những đội trưởng của câu lạc bộ === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ
tranh hang động.txt
Tranh hang động là các bức tranh vẽ trong hang động hay trên các thành và trần đá, thường có niên đại thời tiền sử. Những bức tranh hang động sớm nhất mà người ta biết được có niên đại 40.000 năm trong khi các bức tranh hang động châu Âu sớm nhất có niên đại 32.000 năm về trước. Mục đích vẽ tranh lên hang động thì không rõ hoặc sẽ không bao giờ người ta rõ được để làm gì. Chứng cứ cho rằng các bức tranh này chỉ để trang trí các khu vực sinh sống do các hang động mà người ta phát hiện ra không có các dấu hiệu của cuộc sống đang tiếp diễn. Ngoài ra, các hang động nằm trong các khu vực không dễ vào được. Một số giả thuyết cho rằng tranh hang động có thể là thông điệp chuyển tải thông tin, còn các giả thuyết khác cho rằng tranh hang động phục vụ cho mục đích thờ cúng hoặc tôn giáo. == châu Âu == Có niên đại khoảng 30.000 năm. Vào năm 1879, khi cô bé Maria de Sautuola đi tham quan các hang động tại Altamira - Tây Ban Nha cùng với cha cô. Cô đã phát hiện ra những bức tranh vẽ thú vật to lớn nằm trên trần hang thật ấn tượng do con người sống cách đây trên 30.000 năm tạo ra. Từ đó, dù cho đã phát hiện được những bức tranh có từ trước tại Chauvet - Phát, nhưng các họa sĩ đã vẽ những bức tranh hang động ở Altamira vẫn được cho là: những nhà phát minh ra sơn, cọ vẽ, giàn giáo để vẽ trên cao, và cả ánh sáng nhân tạo để có thể vẽ những bức tranh như vậy. == Tham khảo ==
nhạc trẻ.txt
Nhạc trẻ (đôi khi còn được gọi là nhạc xanh) là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện ở miền Nam vào đầu thập niên 1960, ảnh hưởng bởi âm nhạc đương đại của châu Âu và Mỹ. Các bài hát nhạc trẻ thời đó thường là giai điệu đơn giản, dễ nhớ, điệu Chachacha, Disco, Twist, thậm chí Fox, Tango (các nhạc sĩ nhạc nhẹ trong nước thập niên 1980 cũng hay sử dụng các điệu này), rất ít rock và pop ballad khác với nhạc trẻ hiện đại ảnh hưởng nhiều của Pop và Rock == Khái niệm và ý nghĩa == Khái niệm "nhạc trẻ" xuất hiện đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết Tuổi Choai Choai của nhà báo Trường Kỳ và trở nên thông dụng sau cuốn phim Thế giới Nhạc Trẻ sản xuất bởi Jo Marcel, tuy nhiên chính tác giả cũng không giải thích rõ ý nghĩa rõ ràng khái niệm này. Danh từ "nhạc trẻ" có thể hiểu theo 3 cách: Thứ âm nhạc non trẻ, mới ra đời (tác giả Nguyễn Thuỷ trên tạp chí Âm nhạc và Thời đại). Thứ âm nhạc do những người trẻ tự sáng tác và biểu diễn (ý kiến Nhạc sĩ Thế Bảo). Thứ âm nhạc dành cho giới trẻ, mang phong cách pop/rock trẻ trung, sôi nổi. Cả 3 ý nghĩa này đều có thể áp dụng cho nhạc trẻ tuy nhiên lại không được chính xác. Trước khi nhạc trẻ ra đời thì đã có tên gọi dành cho thể loại âm nhạc mới du nhập từ phương Tây như twist hay rock'n roll với phong cách giật gân, sôi động là "nhạc kích động". Theo nhà báo Trường Kỳ, ông đưa ra khái niệm này để dành cho tất cả thứ âm nhạc "trẻ" cả về âm nhạc lẫn công chúng và nghệ sĩ biểu diễn, sáng tác, thứ âm nhạc trẻ trung, tươi mới, tự do. Thực tế, nhạc trẻ bao gồm âm nhạc từ loại pop/rock nhẹ nhàng của Bread và The Carpenters, cho đến những bài hát yéyé của Pháp, và rock nặng (heavy rock) của Mĩ. Nhạc trẻ cũng để phân biệt với nhạc tiền chiến, nhạc tình, nhạc sến... Sau 1975 khi Việt Nam thống nhất, dưới tác động của xã hội và công chúng, thì cái tên "nhạc trẻ" không còn được sử dụng nữa. Những nhạc sĩ nhạc trẻ như Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Quốc Dũng... và những nhạc sĩ khác như Nguyễn Ngọc Thiện, Từ Huy, Nguyễn Văn Hiên, Vy Nhật Tảo... với những sáng tác trẻ trung đã gia nhập phong trào Ca khúc chính trị và nhạc trẻ cũng phát triển dưới tên gọi "Ca khúc chính trị". Thời gian này nhạc trẻ bị cấm, Nhà nước cho nó là sản phẩm văn hóa thực dân mới, hướng người nghe đến cuộc sống hưởng thụ cá nhân không có lợi cho xây dựng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên xét về giai điệu vẫn có một số ca khúc có tính trẻ trung sôi nổi. Đến những năm 1985-1986, thì "nhạc trẻ" lại dần thay thế bằng khái niệm "nhạc nhẹ". Khái niệm này được sử dụng nhiều trong các báo chí, phương tiện đại chúng và cả trong các cuộc thi, liên hoan... và xuất hiện những danh từ như ca sĩ nhạc nhẹ, phong cách nhạc nhẹ, ban nhạc nhẹ. Danh từ "nhạc nhẹ", xuất hiện sau năm 1975, được dùng thay cho "nhạc hoà tấu" (ở tiếng Anh, light music được dùng để chỉ light orchestral music tức là hoà tấu nhẹ). Sau này nó dành để thay thế cho nhạc pop/rock, nhạc phổ thông dành cho đa số công chúng và cũng dần đồng hoá với nhạc trẻ. Sau thập niên 2000, xuất hiện những khái niệm mới như âm nhạc đương đại, nhạc thị trường, dân gian đương đại... Lúc này, nhạc trẻ (nhạc nhẹ) đã trở thành một khái niệm lớn, dành để chỉ âm nhạc quần chúng và là một trong 3 mảng lớn của thanh nhạc Việt Nam hiện nay (ca khúc thính phòng, nhạc mang âm hưởng dân gian, nhạc nhẹ). Âm nhạc hội nhập nhiều hơn với thế giới, ngoài Pop Ballad, Rock mang tính đại chúng, có cả nhạc Jazz/Blues,...Đôi khi nhạc trẻ dùng để phân biệt với nhạc nhẹ với giai điệu ít sôi động hơn (còn gọi nhạc xanh) xuất hiện từ các thập niên trước. == Trước năm 1975 == Những nhạc sĩ tiên phong: Lê Hựu Hà Nguyễn Trung Cang Nam Lộc Trường Kỳ Tùng Giang Jo Marcel == Sau 1975 == === Thập niên 1990 === Thập niên 1990, sau thời kỳ đổi mới, sự quản lý âm nhạc cũng được nới lỏng hơn, cùng với chương trình Làn sóng xanh, nhạc trữ tình và nhạc trẻ lại phổ biến tại Việt Nam tại Làn sóng xanh. Các nhạc sĩ đại diện: Đức Huy Bảo Chấn Dương Thụ Nguyễn Ngọc Thiện Một số nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ hai: Kim Tuấn Việt Anh Huỳnh Nhật Tân Hoài An Võ Thiện Thanh === Thế kỷ 21 === Cùng với sự lớn mạnh của những người nghe nhạc tuổi thiếu niên, nhạc trẻ ngày nay bao gồm nhiều thể loại mới, cho cả các cấp tuổi trẻ hơn và các ca khúc hài hước. Sự phổ cập Internet cũng xuất hiện một hình thức lưu truyền ca khúc và video qua mạng lưới Internet, qua các trang YouTube, Zing music, như các ca khúc: Bonjour Vietnam, Hòn đá cô đơn, Em của ngày hôm qua, Chắc ai đó sẽ về, Bống bống bang bang,... Một số ca sĩ trẻ: Hồ Quang Hiếu Minh Vương M4U Khởi My Bích Phương Noo Phước Thịnh Đan Trường Đông Nhi Lương Bích Hữu Thùy Chi Bảo Thi Thủy Tiên Miu Lê Sơn Tùng M-TP Isaac Minh Hằng Một số nhạc sĩ trẻ: Mew Amazing Only C == Chú thích == == Liên kết ngoài == Nhạc trẻ Việt trong cơn sóng gió Nhạc trẻ Việt: Bao giờ hết "xót xa"? Nhạc trẻ Việt đang về đâu?
windows 8.txt
Windows 8 là hệ điều hành được phát triển bởi Microsoft cho máy tính cá nhân, là một phần của họ hệ điều hành Windows NT. Quá trình phát triển của Windows 8 được bắt đầu trước ngày ra mắt của người tiền nhiệm của nó, Windows 7, vào năm 2009. Nó được công bố ở sự kiện CES 2011, và sau đó là sự ra mắt của 3 phiên bản thử nghiệm từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012. Được đưa ra hãng vào ngày 01-08-2012, và được ra mắt vào 26-10-2012. Vào 17-10-2013, Microsoft phát hành Windows 8.1. == Phát hành == Trong năm 2011, ra mắt các phiên bản beta của Windows 8, còn các bản RTM được phát hành trong năm 2012. Tuy nhiên vào lúc này, các bản sao chép không hợp pháp đã có mặt trên các mạng chia sẻ ngang hàng. Phần lớn các bản này là sao chép từ các bản xây dựng mà một số nhân viên Microsoft sở hữu. Microsoft đã phát triển Windows 8 Genuine Center để đối phó với sự phát tán các phiên bản lậu của Windows 8. Microsoft cho biết sẽ ra mắt Windows 8 vào cuối tháng 10/2012 và bản cho các nhà sản xuất phần cứng (RTM) sẽ được chuyển cho các đối tác vào đầu tháng 8/2012. RTM xác nhận hệ điều hành đã sẵn sàng để Microsoft cung cấp cho các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) - như Hewlett-Packard, Dell và Lenovo - để họ có thể bắt đầu cài đặt trên các máy tính mới. Windows 8 chính thức được phát hành vào ngày 26-11-2012 cùng với nhiều thay đổi so với các hệ điều hành Windows trước đó. == Lịch sử == Trong Triển lãm Điện tử Tiêu dùng quốc tế (CES) 2011 tại Las Vegas, Nevada, Microsoft thông báo rằng phiên bản Windows 8 sẽ hỗ trợ hệ thống trên một vi mạch (SoC) và bộ vi xử lý ARM cho nhu cầu di động. Một bản xây dựng 32-bit Milestone 1, build 7850, với ngày xây dựng là 22 tháng 9 năm 2010, đã rò rỉ trên BetaArchive, một cộng đồng trên mạng, và đã tiếp tục rò rỉ trên các mạng chia sẻ ngang hàng vào 12 tháng 4 năm 2011. Milestone 1 gồm có Windows Explorer với giao diện ribbon, một trình đọc PDF tên Modern Reader, một trình quản lý ứng dụng mới có tên Modern Task Manager, và một trình thiết lập ảnh ISO. Một bản xây dựng 32-bit Milestone 2, build 7955, rò rỉ trên BetaArchive vào 25 tháng 4 năm 2011. Các tính năng của phiên bản này gồm một giao diện đăng nhập mới và nhiều thứ khác. Một bản xây dựng 64-bit Milestone 3, build 7959, rò rỉ trên BetaArchive vào 1 tháng 5 năm 2011. Bản xây dựng này gây chú ý bởi là bản Windows Server 8 đầu tiên bị rò rỉ, cũng như là bản xây dựng 64-bit đầu tiên. Một bản xây dựng Milestone 3, build 7971, được phát hành cho một số bên thân cận với Microsoft vào 29 tháng 3 năm 2011 nhưng đã được giữ trong vòng bảo mật tối đa. Tuy nhiên, một vài hình ảnh cũng đã bị lộ. Lúc này, giao diện "Windows 7 Basic" đã có một nét hao hao với giao diện trong suốt (Aero) nhưng vẫn giữ được thiết kế không tăng tốc phần cứng, và đã hỗ trợ hình ảnh thu nhỏ trên thanh tác vụ. Những viền nút "đóng, phóng to, và thu nhỏ" đã bị bỏ đi, chỉ còn lại những biểu tượng này. Một bản xây dựng 64-bit Milestone 3, build 7989, bị lộ trên BetaArchive vào 18 tháng 6 năm 2011 sau khi các hình ảnh về bản này bị rò rỉ vào ngày trước đó. Tính năng SMS, bàn phím ảo mới, màn hình khởi động mới, hiệu ứng trong suốt trong giao diện cơ bản, dịch vụ định vị, Hyper-V 3.0, và Powershell 3.0 đã được thêm vào bản này. Một tính năng mới trong các bản rò rỉ là màn hình Welcome mới, một mẫu cài đặt đóng gói tên là AppX dựa theo Silverlight, và một thiết lập cho phép tự động điều chỉnh màu sắc giao diện tùy theo hình nền. Ngoài ra trong các bản rò rỉ còn bao gồm một phiên bản của Internet Explorer, có vẻ giống với phiên bản di động của trình duyệt này, nhưng dùng hệ thống render Trident và tùy chọn "Hybrid Boot" sử dụng "tính năng ngủ đông (hibernation) tiên tiến" khi tắt máy nhằm giảm thiểu thời gian khởi động. Một tính năng khác nữa là khả năng tạo một Nơi làm việc di động (Portable Workspace), cài đặt Windows 8 lên thiết bị lưu trữ USB. Tại Diễn đàn Người phát triển Windows ở Tokyo vào 23 tháng 5 năm 2011, CEO Microsoft Steve Ballmer tuyên bố rằng phiên bản tới của Windows sẽ ra mắt vào năm tới (năm 2012). "Và, với thế hệ mới của hệ thống Windows, ra đời vào năm tới, sẽ có nhiều thứ nữa xuất hiện." Tuy nhiên, công ty đã nhanh chóng sửa sai Ballmer vào buổi chiều hôm đó, trong một thông báo của công ty. "Chúng tôi đã tuyên bố không đúng. Chúng tôi đang háo hức mong chờ một thế hệ phần cứng mới của Windows 7 vốn sẽ có mặt vào năm tài chính kế tiếp. Lúc này, chúng tôi chưa chính thức công bố bất kỳ thời điểm phát hành hay tên gọi nào của phiên bản Windows sắp tới." Ngày 1 tháng 6 năm 2011, Microsoft chính thức vén màn Windows 8 và một trong các tính năng mới của nó ở Hội chợ công nghệ Computex 2011 ở Đài Bắc (Đài Loan) và tại Hội nghị D9 ở California (Hoa Kỳ). Tính năng chính được trình diễn và giới thiệu là giao diện người dùng mới. Microsoft sẽ giới thiệu nhiều cải tiến và tính năng của Windows 8 tại hội nghị người phát triển BUILD, dự định khai mạc ngày 13 tháng 9 năm 2011. == Tính năng == Windows 8 bổ sung thêm giao diện người dùng mới là Modern UI được thiết kế theo lối phẳng hóa và tối ưu cho các thao tác chạm bên cạnh giao diện Desktop truyền thống. Khi Windows mới được khởi động, màn hình Start sẽ hiện ra thay cho màn hình Desktop thường thấy. Trên màn hình bắt đầu là các Live Tile của ứng dụng Modern, Live Tile này sẽ liên tục chuyển động để cập nhật thông tin mà người dùng không cần phải mở ứng dụng. Khi nhấn chuột vào một ô Live Tile, ứng dụng Modern sẽ được mở ra dưới dạng toàn màn hình và thường có giao diện tối ưu cho cảm ứng. Để trở lại giao diện Desktop thông thường và truy cập các ứng dụng Desktop, người dùng cần chọn ô Desktop trên màn hình Start. Tuy nhiên, nút Start trên thanh Taskbar đã bị loại bỏ và không còn Start Menu như những phiên bản Windows trước. Để mở lại màn hình Start, người dùng cần di chuyển chuột vào phía dưới bên trái màn hình. Tuy nhiên, các ứng dụng Modern chỉ có thể hiển thị khi độ phân giải của màn hình có chiều ngang lớn hơn 1024 và chiều dọc lớn hơn 768 và hoạt động tốt nhất trên màn hình 16:9. Thấp hơn độ phân giải này, ví dụ màn hình có độ phân giải 1024×600 sẽ không thể mở bất cứ ứng dụng Modern nào và chỉ có thể mở được các ứng dụng Desktop truyền thống. Tính năng hiển thị song song hai ứng dụng Modern cũng chỉ hoạt động khi màn hình có độ phân giải 1366×768 trở lên. Mike Angiulo xác nhận tại Computex 2011 rằng Windows 8 sẽ sử dụng OEM Activation 3.0 thay vì Windows 7 OEM Activation 2.1, điều làm cho nó khó bị bẻ khóa hơn. Windows 8 có một nền tảng phát triển mới, theo Phó Giám đốc Microsoft Julie Larson-Green, người nhắc đến ứng dụng thời tiết và nói rằng ứng dụng này dùng "nền tảng phát triển mới của chúng tôi, nó dựa trên HTML5 và JavaScript." == Yêu cầu hệ thống == === Máy tính cá nhân === Yêu cầy phần cứng của Windows 8 cao hơn một it so với yêu cầu phần cứng của Windows 7. Bộ vi xử lý phải hỗ trợ PAE, NX bit, và SSE2. Ứng dụng trên Windows Store yêu cầu màn hình có đọ phân giải 1024x768; màn hình có độ phân giải 1366×768 hoặc cao hơn để sử dụng chức năng Snap. Để nhậnđược chứng chỉ tương thích với Windows 8, Microsoft yêu cầu hệ thống x86 có thể tiếp tục từ chế độ chờ trong vòng 2 giây trở xuống. === Máy tính bảng và thiết bị lai === Yêu cầu mới được áp dụng để phù hợp với sự ra mắt cua Windows 8.1. Vào năm 2014, tất cả thiết bị phải bao gồm webcam 720p (HD) và loa, microphone với chất lượng cao hơn, tất cả các thiết bị hỡ trợ Wi-fi thì cũng phải hỗ trợ Bluetooth. Vào năm 2015, tất cả cacthieest đã nhận được chứng chỉ phải bao gồm chip Trusted Platform Module 2.0. == Gói dịch vụ và cập nhật == Vào tháng 10 năm 2013, Windows 8.1 được ra mắt, là phiên bản nâng cấp của Windows 8 với sự trở lại của nút Start, bổ sung thêm ô Live Tile cỡ lớn, khả năng hiển thị song song 3 ứng dụng Modern một lúc và nhiều tính năng khác. == Xem thêm == Hệ điều hành Windows Server 2012 Windows 7 Windows XP Windows Vista Microsoft Windows 8.1 == Liên kết ngoài == Windows 8 Press Release Windows Newsroom: Video Gallery == Tham khảo ==
độc lập.txt
Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia bởi chính người dân sinh sống ở đó, có nghĩa là có chủ quyền tối cao. Khái niệm "độc lập" có ý nghĩa tương phản với "nô dịch" (sự khuất phục). Khái niệm nô dịch chỉ một vùng lãnh thổ chịu sự điều khiển về chính trị và quân sự của một chính quyền ở bên ngoài. Khái niệm độc lập đôi khi cũng được dùng với nghĩa là bị điều khiển gián tiếp của một quốc gia khác có sức mạnh hơn. Độc lập có thể là tình trạng ban đầu của một quốc gia mới xuất hiện, nhưng nó thường là một sự giải phóng từ sự thống trị. Độc lập cũng có thể nói theo nghĩa phủ định: là tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế quốc. Độc lập có thể giành được nhờ việc chống lại thực dân hóa (phi thực dân hóa) chống lại sự chia cắt. Mặc dù việc chống lại thực dân hóa (phi thực dân hóa) chống lại sự chia cắt thường trùng với việc giành độc lập, nhưng chúng không được lẫn lộn với cách mạng, khái niệm đề cập đến sự xung đột, bạo loạn lật đổ sự thống trị của chính quyền. Độc lập sẽ giúp cho nhân dân sống trong ấm no hạnh phúc,không sợ hãi về những gì chiến tranh,sự xung đột, bạo loạn gây ra. == Xem thêm == Chiến tranh giành độc lập Trưng cầu dân ý về độc lập == Tham khảo ==
sân bay birmingham, anh.txt
Sân bay Birmingham, Anh (mã sân bay IATA: BHX, mã sân bay ICAO: EGBB), trước đây là sân bay quốc tế Birmingham là một sân bay nằm 10,2 km về phía đông đông nam trung tâm thành phố Birmingham, Bickenhill ở Borough thành thị Solihull ở Tây Midlands, nước Anh. Sân bay này là một cơ sở cho các hãng hàng không Bmibaby, Flybe, Monarch, Ryanair, Thomas Cook và Thomson Airways. Sân bay này cung cấp cả các chuyến bay nội địa trong Vương quốc Anh, và các chuyến bay quốc tế tới các điểm đến ở châu Âu, Trung Đông, Pakistan, Bắc Mỹ và vùng Caribê. Sau khi thông qua kỷ lục 9,6 triệu hành khách trong năm 2008, số lượng hành khách giảm còn 8.572.398 vào năm 2010, làm cho Birmingham là sân bay bận rộn thứ bảy Vương quốc Anh. Birmingham có một Giấy phép sử dụng công cộng Aerodrome CAA (Số P451) cho phép các chuyến bay để vận chuyển hành khách công cộng hoặc bay để được hướng dẫn. == Hãng hàng không và tuyến bay == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
algérie.txt
Algérie (phiên âm tiếng Việt: An-giê-ri; tiếng Ả Rập: الجزائر Bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế [ɛlʤɛˈzɛːʔir], tiếng Berber (Tamazight): Lz̦ayer [ldzæjər]), tên chính thức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Algérie, là một nước tại Bắc Phi, và là nước lớn nhất trên lục địa Châu Phi (Sudan lớn hơn nhưng chia làm 2 nước Sudan và Nam Sudan). Nước này có chung biên giới với Tunisia ở phía đông bắc, Libya ở phía đông, Niger phía đông nam, Mali và Mauritanie phía tây nam, và Maroc cũng như một vài kilômét lãnh thổ phụ thuộc, Tây Sahara, ở phía tây. Theo hiến pháp, nước này được xác định là một quốc gia Hồi giáo, Ả Rập và Amazigh (Berber). Tên gọi "Algérie" xuất phát từ tên thành phố Algiers, và chính thức từ al-jazā’ir trong tiếng Ả Rập, có nghĩa là "hòn đảo", để chỉ bốn hòn đảo nằm ngoài khơi thành phố này trước khi chúng trở thành một phần lục địa năm 1525. Nhưng có lẽ chính xác nhất từ "Algiers" xuất phát từ Ziriya Bani Mazghana (được các nhà địa lý thời trung cổ như al-Idrisi và Yaqut al-Hamawi sử dụng) để chỉ người sáng lập ra nó vua Ziri Amazigh (thành phố của Ziri Amazigh), người thành lập thành phố Algiers thời trung cổ. Không may thay, để dấu nguồn gốc Amazigh của cái tên Algérie đi ngược lại với chính sách quốc gia Ả Rập của các chính phủ Algérie, nguồn gốc Amazigh này không được công nhận. == Lịch sử == Algérie từng là nơi sinh sống của người Berber (hay Imazighen) từ ít nhất năm 10.000 TCN. Từ năm 1000 TCN trở về sau, người Carthage bắt đầu tạo lập ảnh hưởng tại đây, thành lập nên những khu định cư dọc bờ biển. Các vương quốc Berber bắt đầu xuất hiện, nổi tiếng nhất là Numidia, lợi dụng cơ hội sau Các cuộc chiến tranh Punic để trở thành độc lập với Carthage nhưng ngay sau đó lại bị Cộng hòa La Mã chiếm năm 200 TCN. Khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ, người Berber một lần nữa giành lại độc lập trong khi người Vandals chiếm nhiều vùng khác cho tới khi bị các vị tướng của Hoàng đế Byzantine, Justinian I trục xuất khỏi nơi này. Sau đó, Đế chế Byzantinee tạm thời kiểm soát được vùng phía đông đất nước cho tới khi người Ả Rập xuất hiện vào thế kỷ thứ 8. Sau một số thập kỷ kháng chiến dữ dội dưới sự lãnh đạo của Kusayla và Kahina, người Berbers chấp nhận Hồi giáo en masse (theo số đông), nhưng hầu như ngay lập tức trục xuất umayyad Caliphate ra khỏi Algérie, thành lập nên một nhà nước Ibadi của những người Rustamid. Sau khi đã cải đạo Kutama của người Kabylie sang đạo của mình nhà Fatima Shia lật đổ Rustamids, và chinh phục Ai Cập. Họ để lại Algérie và Tunisia cho những kẻ chư hầu Zirid; sau này người Zirid nổi loạn và theo dòng Hồi giáo Sunni, họ đồng hóa với một bộ lạc Ả Rập đông dân, bộ lạc Banu Hilal, để làm yếu bộ lạc đó, nhưng điều đó bất ngờ lại dẫn tới quá trình Ả Rập hoá vùng nông thôn. Almoravid và Almohad, các triều đại của người Berber từ phía tây do những người cải cách tôn giáo lập nên đã mang lại một giai đoạn khá ổn định và phát triển; tuy nhiên với sự sụp đổ của Almohads, Algérie trở thành một chiến trường cho ba quốc gia tiếp theo, Zayyanid của Algérie, Hafsid của Tunisia, và Marinid của Maroc. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu, Tây Ban Nha bắt đầu tấn công chiếm giữ nhiều thành phố ven biển, tìm cách lôi kéo sự hỗ trợ từ Đế chế Ottoman. Algérie được gộp vào trong Đế chế Ottoman bởi Khair ad-Din và em trai ông là Aruj, người đã lập ra những biên giới hiện đại của Algérie ở phía bắc và biến bờ biển nước này thành cơ sở cho những tên cướp biển; cướp biển phát triển mạnh nhất tại trong những năm 1600. Việc cướp bóc các tàu buôn Hoa Kỳ trên Địa Trung Hải dẫn tới cuộc chiến Berber thứ nhất và thứ hai với Hoa Kỳ. Viện lý do coi thường Lãnh sự của mình, Pháp xâm chiếm Algiers năm 1830; tuy nhiên, nhiều cuộc kháng chiến do các cá nhân như Emir Abdelkader, Ahmed Bey và Fatma N'Soumer tiến hành khiến công cuộc chinh phục Algérie của Pháp diễn ra chậm chạp, về mặt kỹ thuật chỉ hoàn thành vào cuối những năm 1900 khi Tuareg cuối cùng bị chinh phục. Tuy nhiên, trong lúc ấy Pháp đã biến Algérie thành một phần lãnh thổ của mình, tình trạng này chỉ chấm dứt với sự sụp đổ của nền Đệ tứ Cộng hoà. Hàng chục nghìn người định cư từ Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Malta đã tới sống tại các trang trại trên đồng bằng ven biển Algérie và chiếm đa số những vùng ưu thế tại các thành phố ở Algérie, lợi dụng việc sung công các đất do các cộng đồng sở hữu của Pháp, và ứng dụng các công nghệ nông nghiệp mới để tăng diện tích đất canh tác. Hậu duệ của những người châu Âu tại Algérie (được gọi là "chân đen" - Pieds-Noirs), cũng như những người gốc Algérie theo Do Thái (thường có nguồn gốc Sephardic), trở thành các công dân Pháp thực sự bắt đầu từ cuối thế kỷ 19; trái lại, đa phần dân Hồi giáo Algérie (thậm chí cả những cựu chiến binh trong quân đội Pháp) không được nhận Pháp tịch cũng như quyền bầu cử. Kết cấu xã hội Algérie đã bị đẩy tới mức căng thẳng tột cùng trong giai đoạn này: tỷ lệ biết chữ giảm sút, trong khi việc quốc hữu hóa đất đai đã khiến nhiều người dân trở thành vô gia cư. Tuy nhiên, dân số vẫn tăng đều đặn. Năm 1954, Mặt trận Giải phóng Quốc gia (có lúc gọi là Mặt trận giải phóng Dân tộc Algérie(FLN) bắt đầu một cuộc chiến tranh giành độc lập cho Algérie; sau gần một thập kỷ chiến đấu cả tại thành thị và vùng nông thôn, họ đã thành công trong việc hất cẳng Pháp năm 1962. Đa phần trong số 1.025.000 người "chân đen", cũng như 91.000 người "harki" (người Hồi giáo Algérie ủng hộ Pháp trong quân đội Pháp), chiếm khoảng 10% dân số Algérie năm 1962, đã di cư sang Pháp trong vài tháng giữa năm đó. Tổng thống đầu tiên của Algérie, người lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Quốc gia Ahmed Ben Bella, bị cựu đồng minh cũ và là bộ trưởng quốc phòng Houari Boumédiènne lật đổ năm 1965. Dưới thời Ben Bella chính phủ ngày càng đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và độc tài, và chiều hướng này tiếp tục kéo dài tới thời chính phủ Boumedienne; tuy vậy, Boumedienne tiếp tục dựa nhiều vào quân đội, giảm bớt vai trò của đảng cầm quyền duy nhất chỉ còn mang tính tượng trưng. Nông nghiệp được hợp tác hoá, và một phong trào công nghiệp hóa rộng rãi được triển khai. Các cơ sở khai thác dầu khí được tư nhân hóa giúp tăng tài sản quốc gia, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nhưng nền kinh tế Algérie dần trở nên phụ thuộc vào dầu mỏ, khiến nó gặp khó khăn khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong thập kỷ 1980. Trong chính sách đối ngoại Algérie là một thành viên và lãnh đạo của phong trào các quốc gia "không liên kết". Sự tranh giành Tây Sahara với Maroc hầu như đã đưa hai nước tới bờ vực chiến tranh. Bất đồng chính trị ít được nhân nhượng và sự kiểm soát của nhà nước đối với phương tiện truyền thông cũng như việc đặt các đảng chính trị không phải Phong trào Giải phóng Quốc gia ra ngoài vòng pháp luật được thể chế hóa theo hiến pháp hà khắc năm 1976. Boumédienne chết năm 1978, nhưng thời cầm quyền của người kế vị, Chadli Bendjedid, cũng không mang lại nhiều cải cách hơn. Nhà nước mang nặng tính quan liêu và tham nhũng tràn lan. Hiện đại hóa đã mang lại những thay đổi lớn trong nhân khẩu Algérie. Các truyền thống làng xã trải qua những thay đổi lớn cùng với sự tăng lên của quá trình đô thị hoá, các ngành công nghiệp mới xuất hiện, nông nghiệp bị thu hẹp ai trò, và giáo dục, vốn không phát triển ở thời thuộc địa, đã được mở rộng ra khắp đất nước, nâng tỷ lệ biết chữ từ chưa tới 10% thành hơn 60%. Những cải thiện trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe gây ra sự tăng trưởng rất cao ở tỷ lệ sinh (7-8 trẻ trên mỗi phụ nữ) gây ra hai hậu quả: một dân số rất trẻ và sự khủng hoảng chỗ ở. Thế hệ mới đấu tranh để liên hệ với nỗi ám ảnh văn hóa những năm chiến tranh và hai phong trào phản kháng bắt đầu phát triển: những người cánh tả, gồm các phong trào của người Berber, và những người bảo vệ Hồi giáo. Cả hai đều chống lại sự cầm quyền độc đảng nhưng cũng xung đột với nhau cả trong các trường đại học và trên đường phố trong thập kỷ 1980. Những cuộc tuần hành đông đảo của hai phe trong mùa thu năm 1988 buộc Benjedid phải chấm dứt chế độ cầm quyền một đảng và cuộc bầu cử tự do được tuyên bố diễn ra năm 1991. Tháng 12 năm 1991, Mặt trận Bảo vệ Hồi giáo thắng lợi tại vòng một cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên của nước này. Quân đội sau đó đã hủy bỏ vòng hai, buộc tổng thống khi ấy là Bendjedid từ chức và cấm Mặt trận Bảo vệ Hồi giáo. Những cuộc xung đột tiếp sau nhận chìm Algérie vào vòng bạo lực với cuộc Nội chiến Algérie. Hơn 100.000 người đã thiệt mạng, thường là trong những cuộc thảm sát dân thường vô có. Câu hỏi về người chịu trách nhiệm cho những cuộc thảm sát đó vẫn gây tranh cãi trong những nhà quan sát trong quốc hội; nhiều vụ bị gán cho các Nhóm vũ trang Hồi giáo. Sau năm 1998, cuộc chiến tranh gần tàn lụi và tới năm 2002 các nhóm du kích chính hoặc đã bị tiêu diệt hoặc đầu hàng đưa lại cơ hội cho một chương trình ân xá quốc gia, dù những cuộc xung đột lẻ tẻ vẫn diễn ra ở một số vùng. Các cuộc bầu cử được tiến hành lại năm 1995, và vào ngày 27 tháng 4 năm 1999, sau thời kỳ cầm quyền ngắn của một loạt tướng lĩnh quân đội, Abdelaziz Bouteflika, vị tổng thống hiện nay được bầu lên. Vấn đề bản sắc và ngôn ngữ Berber ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt sau cuộc phản kháng Kabyle đông đảo năm 2001 và cuộc tẩy chay hầu như hoàn toàn cuộc tuyển cử tại Kabylie; chính phủ nhượng bộ và coi Tamazight (tiếng Berber) là ngôn ngữ quốc gia sử dụng trong các trường học. Đa phần các lĩnh vực Algérie hiện đã phục hồi, phát triển trở thành một nền kinh tế đang nổi. Giá dầu mỏ và khí gas cao là nhân tố giúp chính phủ cải thiện cơ sở hạ tầng đất nước và đặc biệt cải thiện công nghiệp và nông nghiệp. Những khoản đầu tư nước ngoài vào Algérie đã gia tăng gần đây. == Giáo dục == Giáo dục ở Algérie là bắt buộc và miễn phí 9 năm (bắt đầu từ năm 6 tuổi). Học sinh được giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Ả Rập (trước đây là tiếng Pháp). Algérie có một số trường đại học ở các thành phố lớn Alger, Oran và Qacentina (Constantine). === Cơ cấu hệ thống trường === Căn bản Kiểu trường cung cấp dịch vụ giáo dục này: Retared, Trường cơ sở Thời gian chương trình: 9 năm Độ tuổi: 6 tới 15 tuổi Chứng nhận/bằng được cấp: Bằng giáo dục cơ sở Trung học phổ thông Kiểu trường cung cấp dịch vụ giáo dục này: Trung học phổ thông, trung học đa ngành Thời gian chương trình: 3 năm Độ tuổi: 15 tới 18 Chứng nhận/bằng được cấp: Bằng trung học phổ thông Trung học kỹ thuật Kiểu trường cung cấp dịch vụ giáo dục này: Trung học kỹ thuật Thời gian chương trình: 3 năm Chứng nhận/bằng được cấp: Tú tài kỹ thuật == Chính trị == === Thể chế === Cộng hòa Tổng thống, dân chủ đa nguyên. Tổng thống được lựa chọn thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ của Tổng thống là 5 năm. Hiến pháp sửa đổi vào tháng 11 năm 2008 huỷ bỏ giới hạn mỗi người chỉ được 2 nhiệm kỳ Tổng thống liên tiếp. Tổng thống có quyền cao nhất, đứng đầu lực lượng vũ trang, chỉ định Thủ tướng và xét duyệt thành phần các bộ trưởng trong Chính phủ, giải tán Hạ viện (nếu cần), tổ chức bầu cử sớm, trưng cầu dân ý… === Cơ quan lập pháp === Gồm 2 Viện: Hội đồng Dân tộc (Thượng viện) và Đại hội đồng nhân dân (Hạ viện). Hạ viện có 389 ghế, đại biểu được bầu qua phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 144 ghế, 1/3 số đại biểu do Tổng thống chỉ định, 2/3 do bầu gián tiếp thông qua đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, tỉnh, nhiệm kỳ 6 năm, hiến pháp quy định cứ 3 năm phải bầu lại ½ số đại biểu Thượng viện. Cơ quan lập pháp làm luật, thông qua ngân sách, luật tài chính và kiểm soát hoạt động của Chính phủ. === Đảng phái chính trị === Mặt trận giải phóng dân tộc (FLN-Đảng cầm quyền), Tập hợp quốc gia dân chủ (RND), Phong trào xã hội vì hòa bình (MSP), Tập hợp vì văn hóa và dân chủ (RCD), Phong trào cải cách quốc gia (MRN), Mặt trận các lực lượng xã hội (FFS), Đảng lao động (PT), Mặt trận quốc gia Algérie (FNA). Trong suốt thập niên 1960, Algérie đã ủng hộ nhiều phong trào độc lập vùng Hạ Sahara tại châu Phi, nước này là một lãnh đạo Phong trào không liên kết. Trong khi cùng có nhiều di sản lịch sử và văn hóa chung với Maroc, hai nước lại có quan hệ thù địch với nhau kể từ khi Algérie giành lại độc lập. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân: những vùng đất tranh chấp tại tây Algéria của Maroc (dẫn tới Chiến tranh Sand năm 1963), và việc Algérie ủng hộ Polisario, một nhóm vũ trang của người tị nạn Sahrawi đang tìm cách đòi độc lập cho vùng Tây Sahara thuộc quyền quản lý của Maroc, bên trong biên giới nước này tại thành phố Tindouf. Căng thẳng giữa Algérie và Maroc, cũng như các vấn đề liên quan tới cuộc Nội chiến Algérie, đã đặt ra nhiều vật cản trên con đường củng cố Liên đoàn Maghreb Ả Rập, trên danh nghĩa được thành lập năm 1989 nhưng ít có vai trò thực tiễn, với các nước láng giềng dọc bờ biển. == Đối ngoại == Algérie là thành viên của Liên Hợp Quốc (UN), Liên minh châu Phi (AU), Phong trào không liên kết (NAM), Liên đoàn Ả Rập (ACL), Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Tổ chức các nước Ả Rập xuất khẩu dầu mỏ (OAPEC), Khối Maghreb (UMA)...vv. == Khu vực hành chính == Bản mẫu:Tindouf Province == Địa lý == Algérie nằm ở Bắc Phi, Bắc giáp Địa Trung Hải, Nam giáp Niger, Mali, Mauritanie, Đông giáp Tunisia và Libya, Tây giáp Maroc. Lãnh thổ được chia thành ba vùng địa lý tự nhiên nối tiếp nhau từ Bắc đến Nam: Những đồng bằng nhỏ hẹp ven biển không liên tục, xen kẽ với vùng đồi núi Atlas Tell, thích hợp cho việc phát triển lúa mì và các loại cây cận nhiệt đới. phía nam dãy Atlas Tell là những cao nguyên rộng lớn rải rác những hồ mặn, một khu vực thuận lợi cho việc chăn nuôi cừu, trồng ô liu. Vùng phía nam là bộ phận của sa mạc Sahara chiếm 80% diện tích đất nước, nơi có tiềm năng khổng lồ về dầu mỏ, khí đốt và nhiều khoáng sản giá trị khác. Đa phần vùng bờ biển có nhiều đồi, thỉnh thoảng thậm chí là các dãy núi, và có ít bến cảng tốt. Vùng ngay phía nam bờ biển, được gọi là Tell, khá màu mỡ. Xa hơn nữa về phía nam là dãy núi Atlas và sa mạc Sahara. Algiers, Oran và Constantine là các thành phố lớn. Khí hâu Algérie khô cằn và nóng, dù khí hậu vùng bờ biển khá dễ chịu, mùa đông tại các vùng núi có thể rất khắc nghiệt. Algérie có nhiều gió nóng ẩm, một loại gió nóng mang theo bụi và cát đặc biệt thường xảy ra vào mùa hè. == Kinh tế == Kinh tế Algeria gặp nhiều khó khăn, dân số tăng cao làm cho tình hình trở nên trầm trọng hơn. Cơ cấu nông nghiệp bị xáo trộn do chính sách tập thể hóa (1971) và tư nhân hóa (1990). Sản lượng lương thực không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước, phải nhập khẩu thực phẩm. Việc lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp nặng đã để lộ ra những nhược điểm tai hại: các sản phẩm của ngành công nghiệp luyện kim và công nghiệp hóa học không phù hợp với nhu cầu nội địa và xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Lợi nhuận thu được từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt đã làm giảm bớt những tác động của khủng hoảng. Lĩnh vực năng lượng hóa thạch là xương sống của nền kinh tế, chiếm khoảng 60% thu ngân sách, 30% GDP, và hơn 95% thu nhập xuất khẩu. Nước này xếp hạng 14 về trữ lượng dầu khí, với 11.8 tỷ thùng trữ lượng đã được chứng minh và ước tính số thực có thể vượt mức trên. Cơ quan Thông tin Năng lượng đã thông báo rằng năm 2005, Algérie có 160 tỷ feet khối (Tcf) trữ lượng khí tự nhiên đã được khảo sát, đứng hàng thứ 8 thế giới. Các chỉ số tài chính và kinh tế Algérie đã được cải thiện ở giữa thập niên 1990, một phần nhờ chính sách cải cách được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hỗ trợ và việc tái cơ cấu nợ của Câu lạc bộ Paris. Tình hình tài chính Algérie trong năm 2000 và 2001 có bước cải thiện nhờ giá dầu tăng và chính sách thuế chặt chẽ của chính phủ, dẫn tới tăng trưởng mạnh thặng dư thương mại, và đạt mức cao kỷ lục về dự trữ ngoại tệ, giảm mạnh nợ nước ngoài. Những nỗ lực tiếp theo của chính phủ nhằm đa dạng hóa nền kinh tế bằng cách thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài ra các lĩnh vực khác ngoài dầu khí mang lại ít thành công về mặt giảm mức độ thất nghiệp cao và cải thiện tiêu chuẩn sống. Năm 2001, chính phủ đã ký kết một thỏa ước liên hiệp với Liên minh châu Âu cho phép hạ thấp các mức thuế và tăng cường thương mại giữa hai bên. Tháng 3 năm 2006, Nga đã đồng ý xoá 4.74 tỷ dollar nợ của Algérie với Liên bang Xô viết cũ sau chuyến thăm viếng của Tổng thống Vladimir Putin tới nước này, lần đầu tiên của một nhà lãnh đạo Nga sau nửa thế kỷ. Đổi lại, tổng thống Abdelaziz Bouteflika đồng ý mua số máy bay chiến đấu, các hệ thống phòng không và các loại vũ khí khác của Nga trị giá 7.5 tỷ dollar, theo công ty xuất khẩu vũ khí nhà nước Nga Rosoboronexport. Năm 2006 Algérie cũng đá quyết định trả hết toàn bộ số nợ 8 tỷ dollar cho Câu lạc bộ Paris trước thời hạn. Điều này giúp giảm số nợ của Algérie xuống còn chưa tới 5 tỷ dollar vào cuối năm 2006. Câu lạc bộ Paris cho rằng động thái này phản ánh sự hồi phục kinh tế Algérie trong những năm gần đây. Nhờ nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí gas phong phú, họ được lợi nhờ tăng giá năng lương. == Nhân khẩu == Dân số hiện tại của Algérie là 32.930.091 người (ước tính tháng 7 năm 2006). Báo cáo từ các nguồn quốc tế và phi chính phủ về số dân hiện tại khoảng 40 tới 50 triệu người. Khoảng 70% người Algérie sống ở miền bắc, vùng ven biển; một bộ phận nhỏ sống tại sa mạc Sahara và chủ yếu tập trung tại các ốc đảo, có khoảng 1.5 triệu người vẫn sống kiểu du mục hay bán du mục. Chín chín phần trăm dân số được xếp hạng theo chủng tộc Ả Rập/Berber và là tín đồ Hồi giáo; các tôn giáo khác chỉ hạn chế trong những cộng đồng rất nhỏ, chủ yếu là người nước ngoài. Người châu Âu chiếm chưa tới 1% dân số. Trong thời thuộc địa, có một cộng đồng châu Âu lớn (chủ yếu là người Pháp) "chân đen" tại Algérie, tập trung ở ven biển và tạo thành một cộng đồng đa số trong nhiều thành phố. Hầu như toàn bộ số người này đã rời đi ngay sau khi nước này giành lại độc lập từ Pháp. Đa phần người dân Algérie là người Ả Rập theo ngôn ngữ và đặc tính, và có tổ tiên hòa trộn giữa Berber-Ả Rập. Người Berbers đã sống ở Algérie trước khi các bộ lạc Ả Rập tới đây trong thời đạo Hồi bành trướng ảnh hưởng ở thế kỷ thứ 7. Vấn đề chủng tộc và ngôn ngữ đã trở thành khá nhạy cảm sau nhiều năm hạn chế văn hóa Berber (hay Imazighen, như một số người muốn dùng) của chính phủ. Ngày nay, vấn đề Ả Rập-Berber thường là về việc tự đồng hóa hay đồng hóa thông qua ngôn ngữ và văn hoá, chứ không phải là vấn đề phân biệt nguồn gốc hay chủng tộc. Khoảng chừng 20% dân số tự cho mình là người Berbers, và chủ yếu sử dụng các ngôn ngữ Berber (cũng được gọi bằng thuật ngữ Tamazight), và được chia thành nhiều nhóm chủng tộc, đáng chú ý gồm Kabyle (lớn nhất) ở vùng núi phía bắc miền trung, Chaoui ở phía đông núi Atlas, Mozabite sống tại thung lũng M'zab, và Tuareg ở cực nam. == Ngôn ngữ == Ngôn ngữ lớn nhất đồng thời là ngôn ngữ chính thức của Algérie, tiếng Ả Rập, là tiếng mẹ đẻ ở hình thức thổ ngữ ("Darja") của 80% dân số, và giống như toàn bộ thế giới Ả Rập, được sử dụng như biến thể của tiếng Ả Rập tiêu chuẩn hiện đại trên các phương tiện truyền thông đại chúng và các dịp nghi lễ chính thức. Khoảng 20% dân số, tự coi mình là người Berber hay Imazighen, có tiếng mẹ đẻ không phải Ả Rập mà là một kiểu thổ ngữ Tamazight. Tuy nhiên, nhiều người Algérie sử dụng thành thạo cả hai ngôn ngữ trên. Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức duy nhất của Algérie, dù tiếng Tamazight gần đây cũng được công nhận là ngôn ngữ quốc gia cùng với nó. Nghiên cứu phong tục học cho thấy có 18 ngôn ngữ tại Algérie, chia thành hai nhóm chính là tiếng Ả Rập và Tamazight, ngoài ra còn có tiếng Korandje. Về mặt chính trị, vấn đề ngôn ngữ khá nhạy cảm, đặc biệt đối với cộng đồng thiểu số Berber, vốn đã trở nên yếu thế sau khi quốc gia chấp nhận Ả Rập hoá. Chính sách ngôn ngữ và sự Ả Rập hóa một phần là sự phản ứng trước sự thực rằng 130 năm thuộc địa hoá của Pháp đã để lại cho đất nước cả nền hành chính và giáo dục bậc cao đều hoàn toàn bằng tiếng Pháp, cũng như sự thúc đẩy của chủ nghĩa quốc gia Ả Rập do nhiều chính phủ liên tiếp tại Algérie tiến hành. Tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ được học nhiều nhất trong số các ngoại ngữ, và được sử dụng rộng rãi (vượt xa ngoại ngữ thứ hai là tiếng Anh), nhưng hiếm khi được coi là tiếng mẹ đẻ. Từ khi giành độc lập, chính phủ đã theo đuổi một chính sách Ả Rập hóa ngôn ngữ giáo dục và hành chính, đã mang lại một số thành công, dù nhiều giáo trình đại học vẫn được giảng dạy bằng tiếng Pháp. == Văn hoá == Văn học hiện đại Algérie, bị phân chia giữa Ả Rập và Pháp, bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lịch sử gần đây của đất nước. Các nhà văn nổi tiếng thế kỷ 20 gồm Mohammed Dib, Albert Camus và Kateb Yacine, còn Assia Djebar là nhà văn có số lượng tác phẩm được dịch khá lớn. Những nhà văn nổi bật thập niên 1980 gồm Rachid Mimouni, sau này là phó chủ tịch tổ chức Ân xá Quốc tế, và Tahar Djaout, bị một nhóm Hồi giáo giết hại năm 1993 vì các quan điểm thế tục của ông. Ngay từ thời La Mã, Apuleius, sinh tại Mdaourouch, đã có tư tưởng về một quốc gia Algérie. Trong triết học và nhân loại học, Malek Bennabi và Frantz Fanon được chú ý về các tư tưởng của họ với quá trình giải thực, trong khi Augustine thành Hippo sinh tại Tagaste (khoảng 60 dặm từ thành phố Annaba hiện nay), và Ibn Khaldun, dù sinh tại Tunis, đã viết ra Muqaddima khi đang sống ở Algérie. Văn hoá Algérie đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Hồi giáo, tôn giáo chính của quốc gia này. Các tác phẩm của gia đình Sanusi thời tiền thuộc địa và của Emir Abdelkader và Sheikh Ben Badis thời thuộc địa, rất đáng chú ý. Thể loại âm nhạc Algérie nổi tiếng nhất trên thế giới là raï, một loại nhạc có khuynh hướng pop, dựa trên âm nhạc dân gian, được các ngôi sao quốc tế như Khaled và Cheb Mami thể hiện. Tuy nhiên, tại chính Algérie kiểu âm nhạc cổ điển hơn, biểu diễn rõ từng chữ là chaabi lại phổ biến hơn, với các ngôi sao như El Hadj El Anka hay Dahmane El Harrachi, trong khi thể loại âm nhạc có các giai điệu du dương Kabyle, được Idir, Ait Menguellet, hay Lounès Matoub biểu diễn, thu hút được rất đông thính giả. Về các thị hiếu âm nhạc cổ điển hơn, âm nhạc cổ điển Andalusia, do những người tị nạn Morisco từ Al-Andalus đưa tới, vẫn được gìn giữ trong nhiều thị trấn cổ ven biển. Trong lĩnh vực hội hoạ, Mohammed Khadda và M'Hamed Issiakhem là hai khuôn mặt đáng chú ý trong những năm gần đây. == Tôn giáo == Hồi giáo là tôn giáo chiếm ưu thế với 99% dân số tin theo. Hầu như tất cả người Hồi giáo Algeria đều thuộc Hồi giáo Sunni, và một cộng đồng nhỏ 200.000 người theo giáo phái Ibadis trong thung lũng M'zab của Ghardaia. Ước tính có khoảng 10.000 tín hữu Kitô giáo tại Algeria vào năm 2008. Sau cuộc cách mạng dẫn đến sự độc lập của Algeria, có tất cả 6500 trong tổng số 140.000 người Do Thái của nước này rời khỏi đất nước, trong đó khoảng 90% chuyển sang Pháp và 10% chuyển đến Israel. == Các chủ đề khác == Khảo cổ học Algérie Viễn thông Algérie Quan hệ nước ngoài Algérie Danh sách các chủ đề liên quan tới Algérie Danh sách các thành phố tại Algérie Danh sách nhân vật Algérie Danh sách các quốc gia có chủ quyền Quân đội Algérie Vận tải Algérie Trận Algiers Chiến tranh giành độc lập Algérie (1954-1962) Nội chiến Algérie (1991-2002) Hướng đạo sinh Hồi giáo Algérie Algérie tại Thế vận hội == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chính phủ El Mouradia official presidential site (in French and Arabic) National People's Assembly official parliamentary site The Embassy of Algéria in Washington, DC Tin tức Algéria News & Events Algérian Press Service allAfrica.com - Algéria news headline links The North Africa Journal business news Tổng quan Mục “Algéria” trên trang của CIA World Factbook. Library of Congress - Country Study: Algéria data vào tháng 12 năm 1993 OECD DEV/AfDB - Country Study: Algéria Open Directory Project - Algéria directory category Algéria: The Psychos Will Inherit the Earth - an irreverent look at Algéria's military situation Du lịch Khác Algéria Watch human rights organization critical of widespread torture practiced by the régime (bằng tiếng Pháp) Algéria’s past needs opening, not closing Analysis on the public referendum held 29 September 2005 by Veerle Opgenhaffen and Hanny Megally all City of Algéria Algérian-English Online Dictionary Di sản văn hoá Fabio Maniscalco (ed.), Protection of cultural property in Algerie, monographic series "Mediterraneum. Protection and valorization of cultural heritage", vol 3, Naples 2003, ISBN 88-87835-41-1
japan airlines.txt
Japan Airlines Corporation (株式会社日本航空, Kabushiki-gaisha Nihon Kōkū) (TYO: 9205), hoặc JAL, là hãng hàng không lớn nhất ở châu Á. Hai công ty hoạt động dưới thương hiệu của JAL là: Japan Airlines International (日本航空インターナショナル, Nihon Kōkū Intānashonaru) và Japan Airlines Domestic (日本航空ジャパン, Nihon Kōkū Japan). Japan Airlines Domestic đầu tiên chịu trách nhiệm cho hệ thống rộng lớn của các chuyến bay nội địa Nhật Bản, còn JAL International hoạt động quốc tế và các chuyến bay chủ lực nội địa. Ngày 1/10/2006, Japan Airlines International và Japan Airlines Domestic đã sáp nhập thành một thương hiệu Japan Airlines International. JAL Corporation cũng có bảy hãng nhỏ hơn để thu gom cho hãng mẹ: Hokkaido Air System JAL Express JALways J-Air Japan Air Commuter Japan Asia Airways Japan Transocean Air JAL có đội tàu bay Boeing 747 nhiều nhất thế giới (khoảng 76, thời điểm tháng 3 2005). Đây là một trong 2 hãng hàng không châu Á bay đến Mỹ Latin (Malaysia Airlines bay đến Buenos Aires, JAL bay đến Ciudad de Mexico và São Paulo). Japan Airlines gia nhập liên minh Oneworld ngày 1 tháng 4 năm 2007. == Các điểm đến == == Đội bay == JAL có đội bay bao gồm các tàu bay sau (từ tháng 8/2006): == Tham khảo ==
xíu mại.txt
Xíu mại (chữ Hán: 燒賣 / Thiếu mại) là một trong những món ăn điểm tâm (Dim sum) của người Trung Quốc. Ở Việt Nam món xíu mại được chế biến theo phong cách đặc trưng của ẩm thực Việt Nam (với các công đoạn như vo viên, trộn gia vị và hấp), trông giống thịt viên, món này thường được dùng với cơm hoặc kẹp vào bánh mì. Đây là món ăn dễ làm mà chi phí lại khá rẻ. Đây là món có tính mềm, dễ ăn, dễ tiêu hoá, hợp cho cả người già và trẻ em. == Nguyên liệu và chế biến == === Nguyên liệu === Nguyên liệu chính của món xíu mại là thịt heo (đã xay hoặc băm nhuyễn, cần lưu ý nên dùng nạc heo có mỡ để làm, các phần thịt heo sau có thể dùng làm xíu mại và thịt thăn lưng là phần thịt ngon nhất, khi thịt thăn được pha ra thành thỏi dài luôn có một lớp mỡ mỏng bao quanh, giữ phần mỡ này lại, đối với thịt mông có lớp mỡ, pha thịt sao cho phần mỡ chỉ bằng 1/5 phần nạc, không lấy da), bột năng, nước sốt cà chua, dầu ăn, tỏi, bột nêm, tiêu, đường, cà chua... === Chế biến === Cách chế biến: Trộn đều thịt heo (đã xay hoặc băm nhuyễn) với các gia vị và ít bột năng (để cho thịt không bời rời sau khi làm xong), nêm thêm tiêu, bột nêm, dầu ăn, và ít nước tương, nhồi cho gia vị thấm đều. Sau đó vo thành từng viên vừa ăn sau khi vo viên thì hấp lên bếp, chờ sôi thì cho xíu mại vào hấp chín. Trong một chảo khác, cho ít dầu ăn và cà chua vào xào thơm. Sau đó, cho nước sốt cà vào. Nêm đường, bột nêm, nước tương cho vừa ăn. Cho xíu mại vào chảo. Nên làm nhiều nước sốt cà (hơi ngập xíu mại, lưu ý nếu cà chua chín đỏ thì nước sốt sẽ có màu đỏ đậm, còn cà chua chưa chín hẳn, nước sốt sẽ có màu vàng cam) để sau khi nước sốt thấm vào xíu mại thì vẫn còn nước chấm bánh mì hoặc chan với cơm. Có thể quậy ít bột năng với nước lạnh và cho vào chảo nếu muốn nước sốt sanh sánh, không quá lỏng. Ngoài xíu mại truyền thống, có thể dùng thịt gà làm món xíu mại gà, thịt nạc gà xay nhuyễn, trộn gia vị và đậu hấp chín. Món ăn dùng nóng với nước xốt. Ngoài ra còn có món xíu mại đặc trưng của vùng Cà Mau. == Xem thêm == Xí quách Bánh bao chỉ Nước cốt gà == Chú thích ==
thiết bị điện tử.txt
Thiết bị điện tử là các công cụ điện tử được tạo từ các vật Dẫn điện và Bán dẫn điện bao gồm: == Thiết bị điện tử tạo từ Dẫn điện == Điện trở:r rr Thiết bị điện có khả năng làm giảm dòng điện. Tụ điện: T ll exhiết bị điện có khả năng lưu trữ điện dưới dạng điện trường. Cuộn cảm (Cuộn từ): Thiết bị điện có khả năng lưu trữ điện dưới dạng từ trường. Công Tắc: Thiết bị điện có khả năng đóng mở mạch điện Cầu Chì: Thiết bị điện có khả năng hở (ngắt) mạch điện khi dòng điện đi qua cầu chì vượt quá mức dẫn điện của cầu chì. Biến điện: Thiết bị điện có khả năng tăng, giảm, dẫn điện. == Thiết bị điện tử tạo từ Bán dẫn điện == Điốt Tranzito FET, JFET, MOSFET IC == Tham khảo ==
dấu chấm phẩy.txt
Dấu chấm phẩy là một dấu câu thông dụng , có tác dụng ngắt quãng câu hoặc dùng để liệt kê. Một thợ in người Italia tên là Aldus Manutius the Elder đã tạo ra cách sử dụng dấu chấm phẩy để phân chia những từ có nghĩa đối lập, và để biểu thị những câu có liên quan đến nhau. Dấu chấm phẩy được sử dụng rộng rãi lần đầu tiên là tại Anh quốc năm 1591; Ben Jonson, một nhà văn nổi tiếng người Anh, là người đầu tiên dùng dấu chấm phẩy một cách có hệ thống. Cách sử dụng như hiện nay của dấu chấm phẩy được thảo luận dưới đây, liên quan đến cả sự liệt kê và sự liên kết các mệnh đề có liên hệ với nhau. == Sử dụng trong Tiếng Anh == Sau dấu chấm phẩy là một từ không viết hoa, trừ phi từ đó chỉ tên riêng. Trước dấu chấm phẩy thì không cách còn sau dấu chấm phẩy thì có thể cách tùy ý. Cách dùng của dấu chấm phẩy trong Tiếng Anh bao gồm: Dùng giữa hai mệnh đề độc lập có mối quan hệ với nhau nhưng không được nối bởi các từ nối tương ứng: "Tôi đi tới bể bơi; tôi được biết bể bơi phải đóng cửa để sửa chữa định kỳ." "Ông chủ ra lệnh; nô lệ tuân theo." Dùng giữa hai mệnh đề được liên kết với nhau bởi một cụm từ nối hoặc trạng từ nối: "Tôi thích ăn thịt bò; tuy nhiên, tôi không thích bị bò ăn" Dùng giữa một chuỗi hoặc một loạt các dấu câu được dùng bên trong, ví dụ như dấu phẩy, trong đó thì dấu chấm phẩy được dùng như một chuỗi các dấu phẩy: "Cô ấy đã thấy ba người: Hoàng, đến từ Việt Nam; Nam, con trai người bán sữa; Sữa, một cô gái tốt bụng." "Một vài nhà hàng ăn nhanh có thể được tìm thấy ở London, Anh quốc; Paris, Pháp; Hà Nội, Việt Nam." "Ví dụ về thứ tự là: a, b và c; một, hai và ba; nhất, nhì và ba." == Sử dụng trong ngôn ngữ khác == === Trong tiếng Ả-rập === === Trong tiếng Hy Lạp và tiếng Xla-vơ === == Sử dụng trong tin học == dấu chấm phẩy được sử dụng để ngăn cách các câu lệnh trong lập trình ví dụ trong lập trình pascal: write('n='); readln(n); sẽ ngăn cách câu lệnh write('n=') và câu lệnh readln(n) == Sử dụng trong toán học == Nếu liệt kê hai số, ví dụ 1 và 3, nếu viết (1,3) thì người Việt Nam và một số nước khác sẽ tưởng là một phẩy ba nên người ta mới dùng dấu chấm phẩy để ghi cho rõ, ví dụ(1;3)và nhất là trong tập hợp số, ta cũng dùng dấu chấm phẩy. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Celebrating the Semicolon in a Most Unlikely Location - New York Times, Feb. 18, 2008. Has modern life killed the semicolon? - Slate, ngày 20 tháng 6 năm 2008. The end of the line? - The Guardian, ngày 4 tháng 4 năm 2008. The Use of Semicolons in English Examples of how to use the Semicolon
lai châu.txt
Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, phía bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía tây và phía tây nam giáp tỉnh Điện Biên, phía đông giáp tỉnh Lào Cai, phía đông nam giáp tỉnh Yên Bái, và phía nam giáp tỉnh Sơn La. == Địa lý tự nhiên == Nằm ở phía tây bắc của Việt Nam, Lai Châu nằm cách thủ đô Hà Nội 450 km về phía tây bắc, có toạ độ địa lý từ 21o51 phút đến 22o49 phút vĩ độ Bắc và 102o19 phút đến 103o59 phút kinh độ Đông. phía bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc; phía đông giáp với tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La; phía tây và phía nam giáp với tỉnh Điện Biên. Lai Châu có 273 km đường biên giới với cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng và nhiều lối mở trên tuyến biên giới Việt – Trung trực tiếp giao lưu với các lục địa rộng lớn phía tây nam Trung Quốc; được gắn với khu vực tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh bằng các tuyến Quốc lộ 4D, Quốc lộ 70, Quốc lộ 32 và đường thuỷ sông Đà. Lai Châu có tiềm năng để phát triển dịch vụ – thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch, đồng thời, cũng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Lai Châu nằm trong khu vực đầu nguồn và phòng hộ đặc biệt xung yếu củasông Đà, sông Nậm Na và sông Nậm Mu, điều tiết nguồn nước trực tiếp cho các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà, đảm bảo sự phát triển bền vững cả vùng châu thổ sông Hồng. Địa hình được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - Đông Nam, có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Pu Sa Leng cao 3.096 m, đỉnh Bạch Mộc Lương Tử cao 3.046m. Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều cao nguyên, sông suối. Sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn. Lai Châu có đặc điểm địa hình là vùng lãnh thổ nhiều dãy núi và cao nguyên. phía đông khu vực này là dãy núi Hoàng Liên Sơn, phía tây là dãy núi Sông Mã (độ cao 1.800m). Giữa hai dãy núi đồ sộ trên là phần đất thuộc vùng núi thấp tương đối rộng lớn và lưu vực sông Đà với nhiều cao nguyên đá vôi (dài 400 km, rộng từ 1 – 25 km, cao 600 – 1.000m). Trên 60% diện tích có độ cao trên 1.000m, trên 90% diện tích có độ dốc trên 25o, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc – Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như: Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên… Có đỉnh núi Phan Xi Păng cao 3.143m, Pu Sam Cáp cao 1.700m… Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều sông suối, nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên có nhiều tiềm năng về thuỷ điện. Lai Châu có khí hậu cận nhiệt đới ẩm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21 °C-23 °C chia làm hai mùa theo độ ẩm là mùa mưa và mùa khô, chia làm 4 mùa theo nhiệt độ: xuân, hè, thu, đông. == Lịch sử == Xưa kia Lai Châu đặt dưới quyền điều hành của tù trưởng các dân tộc Thái, quy phục triều đình Việt Nam. Đây vốn là một châu thuộc phủ Điện Biên, tỉnh Hưng Hóa xưa. Tiểu quân khu phụ Lai Châu gồm châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ được thành lập theo Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1893 của Toàn quyền Đông Dương và trực thuộc tỉnh Vạn Bú từ ngày 10 tháng 10 năm 1895. Tỉnh Vạn Bú đổi tên thành tỉnh Sơn La năm 1904, do đó Lai Châu lại thuộc tỉnh Sơn La. Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị định ngày 28 tháng 6 năm 1909 của Toàn quyền Đông Dương. Lúc đó tỉnh Lai Châu gồm các châu Lai, châu Quỳnh Nhai, châu Điện Biên tách ra từ tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay thuộc tỉnh Điện Biên). Ngày 16 tháng 1 năm 1915 tỉnh Lai Châu bị thay thế bằng Đạo Quan binh 4 Lai Châu dưới sự cai trị quân sự. Năm 1948, Lai Châu thuộc Khu tự trị Thái trong Liên bang Đông Dương đến năm 1950 thì gộp và Hoàng triều Cương thổ của Quốc trưởng Bảo Đại. Thời kỳ 1953-1955, khi Việt Minh tiếp quản thì tỉnh Lai Châu thuộc Khu tây bắc, tách khỏi Liên khu Việt Bắc. Ngày 29 tháng 4 năm 1955, tỉnh Lai Châu giải thể, 6 châu của tỉnh Lai Châu cũ (Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo) trực thuộc Khu tự trị Thái Mèo. Ngày 18 tháng 10 năm 1955, thành lập châu Tủa Chùa gồm 8 xã, tách từ châu Mường Lay. Ngày 27 tháng 10 năm 1962, đổi tên Khu tự trị Thái Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc, đồng thời tái lập tỉnh Lai Châu, gồm 7 huyện: Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ (nay là Sìn Hồ), Điện Biên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Tủa Chùa. Đến cuối năm 1975, giải thể cấp Khu tự trị. Sau năm 1975, tỉnh Lai Châu có tỉnh lị là thị xã Lai Châu và 7 huyện: Điện Biên, Mường Lay, Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tủa Chùa, Tuần Giáo. Năm 1979, Trung Quốc đã xâm lăng, đánh chiếm tỉnh lỵ, phá hủy nhiều cơ sở trước khi rút quân về bên kia biên giới. Sau này tỉnh lỵ chuyển về thị xã Điện Biên Phủ, (nay là thành phố Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Điện Biên). Trước khi tách tỉnh, tỉnh Lai Châu có diện tích lớn nhất miền Bắc Việt Nam, thứ hai Việt Nam (sau tỉnh Đắk Lắk): 16.919 km², dân số 715.300 người (1999). Tháng 1 năm 2002, thành lập huyện Tam Đường trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Phong Thổ; thành lập huyện Mường Nhé trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè, Mường Lay. Ngày 26 tháng 9 năm 2003, thành lập thành phố Điện Biên Phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Điện Biên Phủ. Như vậy, đến đầu năm 2003, tỉnh Lai Châu có thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh lị), thị xã Lai Châu và 10 huyện: Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Lay, Mường Nhé, Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường, Tủa Chùa, Tuần Giáo. Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên, đồng thời chuyển huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai về tỉnh Lai Châu mới quản lý: Tỉnh Điện Biên gồm thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh lị), thị xã Lai Châu và 6 huyện: Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Lay, Mường Nhé, Tủa Chùa, Tuần Giáo. Tỉnh Lai Châu gồm 5 huyện: Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường, Than Uyên. Tỉnh Lai Châu mới có diện tích tự nhiên là 906.512,30 ha và dân số vào thời điểm 2003 là 313.511 người, bao gồm huyện Phong Thổ; huyện Tam Đường; huyện Mường Tè; huyện Sìn Hồ; xã Pú Đao, xã Chăn Nưa, xã Nậm Hàng, bản Thành Chử thuộc xã Xá Tổng của huyện Mường Lay; phường Lê Lợi của thị xã Lai Châu; huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai. Tỉnh lỵ có mặt tại thị trấn Phong Thổ (nay là thành phố Lai Châu) thuộc huyện Tam Đường. Tháng 1 năm 2004, địa giới các huyện Mường Tè và Sìn Hồ được điều chỉnh lại. Tháng 10 năm 2004, thành lập thị xã Lai Châu mới, thị trấn Phong Thổ mới và thị trấn Tam Đường. (Năm 2005, thị xã Lai Châu cũ (thuộc tỉnh Điện Biên) được đổi thành thị xã Mường Lay). Tháng 12 năm 2006, điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; thành lập xã thuộc các huyện Phong Thổ, Tam Đường, Sìn Hồ và Than Uyên. Tháng 4 năm 2008, thành lập một số xã, thị trấn thuộc huyện Than Uyên, huyện Tam Đường, huyện Mường Tè. Ngày 30 tháng 10 năm 2008, thành lập huyện Tân Uyên trên cơ sở tách thị trấn Tân Uyên và 9 xã: Mường Khoa, Phúc Khoa, Nậm Sỏ, Nậm Cần, Thân Thuộc, Trung Đồng, Hố Mít, Pắc Ta, Tà Mít thuộc huyện Than Uyên, đồng thời thành phố Vĩnh Yên chuyển từ tỉnh Vĩnh Phúc về tỉnh Lai Châu quản lý. Tháng 10 năm 2011, thành lập một số xã, thị trấn thuộc các huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Than Uyên. Tháng 11 năm 2012, thành lập huyện Nậm Nhùn theo nghị định số 71/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam trên cơ sở một phần của huyện Mường Tè cũ và một phần của huyện Sìn Hồ cũ. Nậm Nhùn rộng 1388,0839 km2 và có 24.165 nhân khẩu. Ngày 27 tháng 12 năm 2013, chuyển thị xã Lai Châu thành thành phố Lai Châu. == Các đơn vị hành chính == Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số tỉnh Lai Châu là 370.135 người, xếp thứ 62/63 tỉnh, thành phố cả nước, chỉ trên tỉnh Bắc Kạn. Lai Châu có 1 thành phố và 7 huyện: Tỉnh Lai Châu có 108 đơn vị cấp xã gồm 5 phường, 7 thị trấn và 96 xã. == Cơ sở hạ tầng == Lai Châu là một tỉnh vùng cao biên giới, núi đồi dốc, địa hình chia cắt, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, lại có nhiều cao nguyên, sông suối nên khó khăn cho việc phát triển giao thông. Nhưng Lai Châu lại có đường biên giới dài 273 km giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với cửa khẩu Quốc tế Ma Lù Thàng là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hoá và dịch vụ du lịch. Với mạng lưới giao thông chủ yếu là đường bộ. Tỉnh Lai Châu có quốc lộ 12 chạy qua nối từ thành phố Điện Biên Phủ tới Trung Quốc (qua cửa khẩu Ma Lù Thàng), có quốc lộ 4D nối tới thị trấn SaPa (Lào Cai), quốc lộ 32 nối với tỉnh Yên Bái, có đường thủy sông Đà giao lưu với các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình. Tính đến nay đã có 95/98 xã, phường có đường ô tô đến tận trung tâm các xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh và 3 xã đang trong giai đoạn xây dựng. Hạ tầng mạng lưới điện: Tính đến cuối năm 2009, 80/98 xã và 74% số hộ được sử dụng điện. Nhiều công trình thuỷ điện lớn đã và đang được xây dựng trên địa bàn như thủy điện Sơn La (2400MW), Huổi Quảng (520MW), Bản Chát (220MW), Nậm Nhùn (1.200MW), Nậm Na 3 (84MW) và đặc biệt là thủy điện Lai Châu (1.200MW) được khởi công vào cuối năm 2010, cùng với 60 dự án thuỷ điện vừa và nhỏ khác… Hạ tầng mạng lưới cấp thoát nước: Tính đến cuối năm 2009, 50% dân số đô thị trên địa bàn tỉnh được sử dụng nước sạch, 74% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh. Tính đến cuối năm 2009, Lai Châu có 11 bưu cục, 68/89 xã có điểm bưu điện văn hoá xã, 22 đại lý bưu điện và điểm chuyển phát; có 29/89 xã, 06 thị trấn, 03/03 phường có báo phát hàng ngày; có 221 trạm BTS, tăng 111 trạm so với năm trước; mật độ điện thoại cố định là 16,2 máy/100 dân, tăng 143% so với năm 2008; dịch vụ Internet tiếp tục phát triển nhanh, mật độ 1,21 thuê bao/ 100 dân, tăng 162% so với năm 2008 Năm học 2009-2010 có 392 trường với 5.759 lớp, tăng 27 trường, 306 lớp so với năm 2008-2009. Tổng số học sinh ra lớp là 104.209 học sinh, tăng 6.117 học sinh so với năm học trước. Tính đến cuối năm 2009, đã hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học cơ sở 23 xã, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. == Kinh tế == Sau khi tách tỉnh, Lai Châu là một trong những tỉnh khó khăn. Tuy nhiên, nền kinh tế Lai Châu đã phát triển và đạt được những kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân 13%/ năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 8 triệu đồng, tăng 2,4 lần so với năm 2005. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông, lâm nghiệp đạt 34% (giảm 11,3%); công nghiệp – xây dựng 35% (tăng 9,6%); dịch vụ 31% (tăng 1,7%). Các ngành, lĩnh vực kinh tế đều có sự phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Đã hình thành một số vùng sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung, có triển vọng về hiệu quả kinh tế và xã hội; Sản xuất lương thực tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 157 nghìn tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 400 kg/ người/ năm. Cây cao su được đầu tư trồng mới gần 7000 ha, tiếp tục thâm canh vùng chè và đưa thêm giống mới vào sản xuất. Kinh tế rừng phát triển với việc đã thu hút được một số doanh nghiệp đến đầu tư, phát triển rừng kinh tế. Trong 5 năm đã khoán bảo vệ 141 nghìn ha, khoanh nuôi tái sinh 117 nghìn ha, trồng mới trên 19 nghìn ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 41%, tăng 9,3% so với năm 2005; Văn hóa - xã hội tiếp tục có bước chuyển biến rõ nét, dân trí được nâng lên, công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tích cực; Quốc phòng - An ninh được đảm bảo, quan hệ đối ngoại được mở rộng; Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên… Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thuỷ sản: Xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, có những vùng đạt 30–50 triệu đồng/ha/năm tại các cánh đồng Mường So, Bình Lư, Mường Than. Duy trì và cải tạo, thâm canh và phát triển cây chè và cây thảo quả, đây là hai loại cây có thế mạnh trong việc xuất khẩu hàng hoá của tỉnh. Xã hội hoá nghề rừng, chuyển cơ bản từ lâm nghiệp truyền thống sang phát triển lâm nghiệp xã hội mang tính cộng đồng, phát triển rừng kinh tế để phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến. Tổ chức sản xuất nông thôn theo hướng phát triển kinh tế trang trại, lấy kinh tế hộ làm đơn vị tự chủ, các DN, hợp tác xã nông lâm nghiệp là đơn vị dịch vụ hai đầu cho kinh tế hộ phát triển. Công nghiệp: Đối với Lai Châu có thể coi đây là một ngành kinh tế mũi nhọn, kết hợp phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp. Tỉnh đã thông qua quy hoạch chi tiết các điểm có thể xây dựng nhà máy thuỷ điện, đặc biệt là công trình thủy điện Lai Châu. Công nghiệp chế biến nông lâm sản cũng cần được quan tâm đúng mức. Công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng tránh làm theo phương thức vụn vặt để dễ quản lý và khai thác có hiệu quả. Tiểu thủ công nghiệp với các ngành nghề truyền thống của địa phương như: mây tre đan, dệt thổ cẩm, lương thực thực phẩm… == Du lịch == === Du lịch văn hoá === Lai Châu có 20 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong đời sống văn hoá truyền thống. Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rất rõ những nét văn hoá đặc trư­ng đó. Dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ, là khu dinh thự của vị chúa Thái thời Chiến tranh Đông Dương. Dinh thự trở thành di tích lịch sử, giáo dục lòng tự hào dân tộc và là nơi tham quan tìm hiểu những nét kiến trúc đặc trưng, mang bản sắc văn hóa Thái. Bia Lê Lợi: được khắc trên vách đá bờ Bắc sông Đà, nay thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ. Di chỉ khảo cổ học nền văn minh của người Việt cổ như di tích Nậm Phé, Nậm Tun ở Phong Thổ; đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá; những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thời đại Hùng V­ương, như­ trống đồng === Cảnh quan thiên nhiên === Lai Châu có nhiều cao nguyên cao trên 1.500m, mây, sương phủ bốn mùa, khí hậu trong lành, mát lạnh quanh năm như: cao nguyên Sìn Hồ, hồ Thầu, Dào San... Lai Châu có nhiều đỉnh núi cao, sông suối nhiều thác ghềnh, như: đỉnh Phan Xi Păng (3.143m), dãy Pu Sam Cáp (cao trên 1.700 m), sông Đà, sông Nậm Na, sông Nậm Mu … Suối nước nóng, nước khoáng là sản vật thiên nhiên tặng cho Lai Châu như núi đá Ô, động Tiên (Sìn Hồ); động Tiên Sơn (Bình Lư - Tam Đường), thác Tắc Tình (TT Tam Đường), suối nước nóng Vàng Bó (Phong Thổ); suối nước nóng Nà Đông, Nà Đon (Tam Đường); suối nước khoáng (Than Uyên); … và các hồ thuỷ điện lớn khác. Pú Đao: Một bản người Mông nhỏ với 887 người dân ở tỉnh Lai Châu được khách hàng của một hãng lữ hành nước Anh bầu là một trong năm điểm đến hấp dẫn nhất ở Đông Nam Á. Xã Pú Đao (tiếng Mông có nghĩa là "điểm cao nhất") thuộc huyện Sìn Hồ, cách thị xã Mường Lay 13 km. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Lai Châu
carex.txt
Carex là một chi thực vật gồm khoảng 2.000 loài trong họ Cyperaceae, cói. == Mô tả == Tất cả các loài torng chi Carex là cây lâu hàng năm, mặc dù một vài loài như C. bebbii và C. viridula có thể cho trái năm đầu tiên, và không sống lâu hơn. == Phân bố == Các loài trong chi Carex được tìm thấy trên toàn cầu, mặc dù có vài loài ở đất thấp vùng nhiệt đới, và tương đối ít loài ở vùng cận Saharan châu Phi. Hầu hết chúng được tìm thấy ở các vùng đất ngập nước như đầm lầy, đất than bùn, bờ sông và hồ, thậm chí ở mương. Chúng là một trong những nhóm thực vật chiếm ưu thế ở vùng bắc Cực và alpine tundra, và các môi trường đất ngập nước với độ sâu lên đến 50 cm (20 in). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Jones, T. M. (2010) Interactive Visual Identification to Carices of North America @ LSU Herbarium Carex images on MorphBank, a biological image database eMonocot Cyperaceae, a portal to updated classification, images, species descriptions, and vetted specimen data for the entire sedge family, with a strong focus on Carex. Platt, Karen "Gold Fever" descriptions of gold or yellow-leaved Carex http://www.karenplatt.co.uk/garden-books/gold-fever.html
danh sách ngôn ngữ sử dụng bảng chữ cái latinh.txt
Dưới đây là danh sách các ngôn ngữ sử dụng bảng chữ cái Latin: Afrikaans Albani Aragon Asturi Aymara Azerbaijan Basque Belarus (cũ; hiện nay dùng Bảng chữ cái Cyrill) Tiếng Bislama Boholano (trước đây sử dụng bảng chữ cái Baybayin) Bosnia Breton Catalan Cebuano Chamorro Cornish Cors Croatia Czech Đan Mạch Hà Lan Anh Tiếng Esperanto Estonia Faroe Fiji Philippin (trước đây sử dụng bảng chữ cái Baybayin) Phần Lan Pháp Frisia Friulia Fula (Pulaar) Gaelic Scotland Galicia Đức Gikuyu Guaraní Haiti Hausa (trước đây sử dụng bảng chữ cái Ả Rập) Hawai Hiti Motu Tiếng HungaryHungary (sử dụng Ký tự Hungary cổ trước năm 1000) Iceland Ido Igbo Ilocano (trước đây sử dụng bảng chữ cái Baybayin) Indonesia Tiếng Interlingua Tiếng Innu-aimun Irish Italia Javanese – Cũng sử dụng bảng chữ cái "Hanacaraka" ở một số vùng Kikongo Kinyarwanda Kirundi Kurd (Kurmanji) Tiếng Latin Latvia Laz (sử dụng ở Thổ Nhĩ Kỳ và vùng Lazs thuộc châu Âu) León Lingala Litva Lombard Luganda Luxembourg Maori Malagasy Malay Malta Manx Marshall Moldova – cũng dùng Bảng chữ cái Cyrill Montenegro Tiếng Nahuatl (post Spanish Conquest) Nauru Navaho hoặc Navajo Ndebele Na Uy Occita Oromo (trước đây viết bằng ký tự Ge'ez) Palau Ba Lan Bồ Đào Nha Quechua Rumani (trước đây dùng bảng chữ cái Cyrill Rumani) Romansh Rundi Samoa Scots Serbia (Bảng chữ cái Cyrill là chính thức) Tiếng Seychellois creole Shona Slovakia Slovenia Somali (trước đây sử dụng bảng chữ cái Ả Rập và ký tự Osmanya) Sotho (Bắc) Sotho (Nam) Tây Ban Nha Swahili Thụy Điển Swati Tagalog (trước đây sử dụng bảng chữ cái Baybayin) Tahiti Tatar (trước đây sử dụng tiếng Arab, 1927-1938 dùng Janalif, một biến thể Latin, sau đó là Bảng chữ cái Cyrill và từ năm 2000 lại sử dụng bảng chữ cái Latin, nhưng nói chung chỉ trên internet) Tetum Tok Pisin Tonga Tsonga Tswana Thổ Nhĩ Kỳ (trước đây sử dụng bảng chữ cái Ả Rập) Turoyo (ký tự mới dựa trên ký tự Latin, ban đầu là bảng chữ cái Syri) Uzbek (chính thức, trước đây dùng bảng chữ cái Cyrill) Venda Việt (trước đây dùng chữ nho và chữ Nôm) Tiếng Volapük Võro Walloon Wale Wolof Xhosa Yoruba Zulu Tiếng Zazaki == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ theo hệ thống chữ viết (en:List of languages by writing system) == Tham khảo ==
wannarot sonthichai.txt
Wannarot Sonthichai (tiếng Thái: วรรณรท สนธิไชย, [phát âm: Goăn-na-rốt Sỏn-thí-chai], sinh ngày 10 tháng 4 năm 1989), còn được biết đến với nghệ danh Vill/View (tiếng Thái: วิว), là một nữ ca sĩ, diễn viên, người mẫu nổi tiếng tại Thái Lan. Cô được biết đến qua vai Nampetch trong Đêm định mệnh, Dao trong Vì sao lạc hay 2 chị em sinh đôi Kandaomani / Kandaowasi trong Bi tình song sinh... == Giáo dục == Wannarot Sonthichai từng theo học một trường trung học ở Hàn Quốc. Sau này, cô tốt nghiệp Đại học Silapakorn (khoa Khảo cổ học, chuyên ngành Nhân học). Ngoài ra, bên cạnh tiếng mẹ đẻ, cô còn có thể giao tiếp lưu loát bằng tiếng Anh và tiếng Nhật. == Danh sách phim == === Phim truyền hình === === Phim điện ảnh === The Way (2012) với Tono Pakin Kumwilaisuk. Jan Dara 2: The Finale (2013) - Mẹ kế 2 với New Chaiyapol Pupart. Take Me Home (2016) - Lời nguyền của quỷ với Mario Maurer vai Tubtim. == Video ca nhạc == Kwarm Poog Pun (Seu Kwarm Ruk) Mai Dai" Gaam The Star. Yoo Peur Ter" Ruj the star với Son Songpaisarn. Hug" Bie Sukrit Wisedkaew. Yood Tee Ter" Premmanat Suwannanon. "Ter Keu Tang Hua Jai" Gam Koonkornpach (แก้ม กุลกรณ์พัชร์) với Nike Nitidon Pomsuwan. Ngao Nai Hua Jai (A Shadow in My Heart) (2015) Duet by Pex Zeal & Nuengthida Sophon với Toomtam Yuthana Puengklarng. "Tee Ruk" (2015) by Ann Thitima. == Giải thưởng == 2008-2009: Son Songpaisarn & Vill Wannarot Sonthichai được đề cử giải Diễn viên triển vọng. 2014: Vill được đề cử giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất & Nữ diễn viên được yêu thích nhất cho vai diễn Gandawasee & Gandamanee trong phim Bi tình song sinh tại lễ trao giải Komchadluek. 2015: Vill được đề cử cho giải "Nữ diễn viên được yêu thích nhất " một lần nữa tại lễ trao giải Komchadluek, diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 2015. == Tham khảo ==
quốc lộ 3.txt
Quốc lộ 3, dài 351 km, chạy theo hướng Nam - Bắc, bắt đầu từ đầu Bắc cầu Đuống (Hà Nội) đi qua các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và kết thúc tại cửa khẩu Tà Lùng (Cao Bằng). Tháng 6 năm 2011, đã khởi công cải tạo, nâng cấp đoạn quốc lộ 3 qua địa bàn Thái Nguyên; theo đó đoạn đường này sẽ là đường cấp III đô thị chính thứ yếu 4 làn xe, với nền đường rộng 27m, mặt đường rộng 17,5m, dải phân cách giữa rộng 1,5m, rãnh dọc hai bên và vỉa hè mỗi bên 4m. == Các thông số chung == Trên đường có 84 cầu; Một số đèo dốc lớn như: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Ngân sơn, đèo Cao Bắc, đèo Tài Hồ Sìn, đèo Mã Phục; Đoạn từ cầu Đuống đến Nà Phặc, tỉnh Bắc Kạn dài 192 km, rộng phổ biến từ 5,5 m đến 7,5 m, rải đá nhựa hoặc bê tông nhựa, đường bằng phẳng. Đoạn Nà Phặc đến Tà Lùng, dài 158 km, mặt đường rộng 5,5 m đến 7,5 m, mặt đường bê tông nhựa, qua vùng núi cao, đường quanh co, vách ta luy cao, vực sâu; riêng đoạn Cao Bằng - Tà Lùng qua các thung lũng, dân cư thưa thớt, dễ bị ngập nước vào mùa mưa. == Tham khảo ==
giờ chuẩn nhật bản.txt
Giờ chuẩn Nhật Bản hay JST (Japan Standard Time) là múi giờ tiêu chuẩn của Nhật Bản và nhanh hơn UTC 9 tiếng. Ví dụ, khi UTC là 0h (00:00) thì ở Nhật là 9h sáng (09:00) theo giờ chuẩn của Nhật. Giờ tiêu chuẩn của Nhật không có giờ mùa hè. Giờ chuẩn Nhật Bản giống với giờ chuẩn Triều Tiên, giờ chuẩn Đông Indonesia và giờ Yakutsk. Trong thế chiến II, giờ tiêu chuẩn Nhật Bản thường được gọi là Giờ tiêu chuẩn Tokyo trong các văn bản của phương Tây. == Tham khảo ==
nhà nước palestine.txt
Nhà nước Palestine (tiếng Ả Rập: دولة فلسطين Dawlat Filasṭīn), gọi tắt là Palestine, là một quốc gia có chủ quyền về pháp lý tại Trung Đông, được đa số thành viên Liên Hiệp Quốc công nhận và kể từ năm 2012 có vị thế nhà nước quan sát viên phi thành viên tại Liên Hiệp Quốc. Nhà nước Palestine yêu sách chủ quyền đối với Bờ Tây (giáp Israel và Jordan) và Dải Gaza (giáp Israel và Ai Cập) cùng Đông Jerusalem là thủ đô được chỉ định. Hầu hết các khu vực mà Nhà nước Palestine yêu sách chủ quyền bị Israel chiếm đóng từ năm 1967 sau Chiến tranh Sáu ngày. Nền độc lập của Nhà nước Palestine được Tổ chức Giải phóng Palestine tuyên bố vào ngày 15 tháng 11 năm 1988 tại Algiers với vị thế là chính phủ lưu vong. == Từ nguyên == Từ thời kỳ Anh cai trị, thuật ngữ "Palestine" liên kết với khu vực địa lý mà nay bao gồm Nhà nước Israel, Bờ Tây và Dải Gaza. Sử dụng tổng thể thuật ngữ "Palestine" hoặc thuật ngữ liên quan cho khu vực tại góc đông nam của Địa Trung Hải nằm bên Syria có lịch sử từ thời Hy Lạp cổ đại, Herodotus viết "huyện của Syria, gọi là Palaistine" tại đó người Phoenicia tương tác với các cư dân hàng hải khác trong tác phẩm The Histories.Bản mẫu:Non-primary source needed == Lịch sử == Năm 1947, Liên Hiệp Quốc thông qua kế hoạch phân chia cho giải pháp hai nhà nước tại lãnh thổ uỷ trị Palestine. Kế hoạch được giới lãnh đạo Do Thái chấp thuận song các thủ lĩnh Ả Rập bác bỏ, còn Anh từ chối thi hành kế hoạch. Ngay trước khi Anh triệt thoái, Cơ quan Do Thái vì Israel tuyên bố thành lập Nhà nước Israel theo kế hoạch Liên Hiệp Quốc đề xuất. Ủy ban Cao cấp Ả Rập không tuyên bố một nhà nước của mình, thay vào đó họ cùng với Ngoại Jordan, Ai Cập và các thành viên khác của Liên đoàn Ả Rập bắt đầu hành động quân sự dẫn tới chiến tranh Ả Rập-Israel 1948. Trong chiến tranh, Israel giành được thêm các lãnh thổ vốn được kế hoạch của Liên Hiệp Quốc xác định là bộ phận của nhà nước Ả Rập. Ai Cập chiếm đóng Dải Gaza và Ngoại Jordan chiếm đóng Bờ Tây. Ai Cập ban đầu ủng hộ thành lập một chính phủ toàn Palestine, song từ bỏ vào năm 1959. Ngoại Jordan chưa từng công nhận chính phủ này, thay vào đó họ quyết định hợp nhất Bờ Tây vào lãnh thổ của mình để hình thành Jordan. Hành động sáp nhập được phê chuẩn vào năm 1950 song bị cộng đồng quốc tế bác bỏ. Trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, Ai Cập, Jordan, và Syria chiến đấu với Israel, kết quả là Israel chiếm đóng Bờ Tây và Dải Gaza, cùng các lãnh thổ khác. Năm 1964, khi Bờ Tây còn do Jordan kiểm soát, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) được thành lập với mục tiêu là đương đầu với Israel. Hiến chương Quốc gia Palestine của Tổ chức Giải phóng Palestine xác định biên giới của Palestine là toàn bộ lãnh thổ còn lại của lãnh thổ uỷ trị, kể cả Israel. Sau chiến tranh Sáu ngày, Tổ chức Giải phóng Palestine chuyển đến Jordan, song rời sang Liban sau sự kiện Tháng 9 Đen năm 1971. Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả Rập năm 1974 xác định Tổ chức Giải phóng Palestine là đại biểu hợp pháp duy nhất của nhân dân Palestine và tái xác nhận "quyền lợi của họ về thành lập cấp bách một nhà nước độc lập." Trong tháng 11 năm 1974, Tổ chức Giải phóng Palestine được công nhận là đủ thầm quyền trên mọi vấn đề liên quan đến vấn đề Palestine khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trao cho họ vị thế quan sát viên với tư cách một "thực thể phi quốc gia" tại Liên Hiệp Quốc. Sau Tuyên ngôn Độc lập năm 1988, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thừa nhận tuyên ngôn và quyết định sử dụng định danh "Palestine" thay vì "Tổ chức Giải phóng Palestine" trong Liên Hiệp Quốc. Mặc dù vậy, Tổ chức Giải phóng Palestine không tham gia Liên Hiệp Quốc với vai trò là chính phủ của Nhà nước Palestine. Năm 1979, thông qua Hiệp định Trại David, Ai Cập chấm dứt yêu sách của mình đối với Dải Gaza. Trong tháng 7 năm 1988, Jordan nhượng lại yêu sách chủ quyền của mình đối với Bờ Tây—với ngoại lệ là trách nhiệm giám hộ Haram al-Sharif—cho Tổ chức Giải phóng Palestine. Trong tháng 11 năm 1988, cơ quan lập pháp của Tổ chức Giải phóng Palestine tuyên bố thành lập "Nhà nước Palestine". Trong tháng sau, Nhà nước Palestine nhanh chóng được nhiều quốc gia công nhận, bao gồm Ai Cập và Jordan. Trong Tuyên ngôn Độc lập Palestine, Nhà nước Palestine được mô tả là được thành lập trên "lãnh thổ Palestine", song không nêu cụ thể hơn. Do đó, một số quốc gia công nhận Nhà nước Palestine trong tuyên bố công nhận của họ đề cập đến "biên giới năm 1967", do đó công nhận đó chỉ là lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng chứ không phải là Israel. Nhà nước Palestine khi trình đơn xin làm thành viên Liên Hiệp Quốc cũng ghi rõ rằng họ dựa trên "biên giới năm 1967". Trong các cuộc đàm phán Hiệp định Oslo, Tổ chức Giải phóng Palestine công nhận quyền tồn tại của Israel, và Israel công nhận Tổ chức Giải phóng Palestine là đại biểu của nhân dân Palestine. Từ năm 1993 đến năm 1998, Tổ chức Giải phóng Palestine cam kết thay đổi các điều khoản của Hiến chương Quốc gia Palestine không phù hợp với mục tiêu giải pháp hai nhà nước và cùng tồn tại hoà bình với Israel. Sau khi Israel giành quyền kiểm soát Bờ Tây từ Jordan và Dải Gaza từ Ai Cập, họ bắt đầu lập các khu định cư Israel tại đó. Các khu này được tổ chức thành quận Judea và Samaria (Bờ Tây) và Hội đồng khu vực Hof Aza (Dải Gaza). Quyền cai quản cư dân Ả Rập trong các lãnh thổ này thuộc Chính quyền Dân sự Israel và các hội đồng tự quản địa phương tồn tại từ trước khi Israel chiếm cứ. Năm 1980, Israel quyết định đóng băng bầu cử cho các hội đồng này và thay vào đó lập ra các liên minh làng có các công chức chịu ảnh hưởng của Israel. Sau đó mô hình này trở nên không hiệu quả đối với cả Israel và người Palestine, và các liên minh làng bắt đầu tan vỡ, liên minh làng cuối cùng mang tên liên minh Hebron giải thể vào năm 1988. Năm 1993, trong Hiệp định Oslo, Israel thừa nhận đoàn đàm phán của Tổ chức Giải phóng Palestine là "đại biểu của nhân dân Palestine", đổi lại Tổ chức Giải phóng Palestine công nhận quyền tồn tại hoà bình của Israel, chấp thuận các nghị quyết 242 và 338 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và từ bỏ "bạo lực và khủng bố". Do đó, vào năm 1994 Tổ chức Giải phóng Palestine thành lập Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA hoặc PA), thực thi một số chức năng chính phủ tại một số nơi của Bờ Tây và Dải Gaza. Theo hình dung trong Hiệp định Oslo, Israel cho phép Tổ chức Giải phóng Palestine thành lập các thể chế hành chính lâm thời trên các lãnh thổ Palestine, dưới hình thức PNA. Họ được giao quyền kiểm soát dân sự tại khu vực B và quyền kiểm soát dân sự và an ninh tại khu vực A, và duy trì không can thiệp vào khu vực C. Năm 2005, sau khi Israel thi hành rút quân đơn phương, Chính quyền Dân tộc Palestine giành quyền kiểm soát hoàn toàn Dải Gaza với ngoại lệ là biên giới, sân bay và lãnh hải. Năm 2007, Hamas chiếm Dải Gaza khiến người Palestine bị phân chia về chính trị và lãnh thổ, với phái Fatah của Abbas cai quản phần lớn Bờ Tây và được quốc tế công nhận là Chính quyền Palestine chính thức, trong khi Hamas đảm bảo quyền kiểm soát đối với Dải Gaza. Trong tháng 4 năm 2011, các đảng phái Palestine ký kết một thoả thuận hoà giải, song việc thực hiện bị đình trệ Ngày 29 tháng 11 năm 2012, với đa số phiếu tán thành, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết 67/19, nâng cấp Palestine từ một "thực thể quan sát viên" thành một "nhà nước quan sát viên phi thành viên" trong hệ thống Liên Hiệp Quốc, được mô tả là hành động công nhận chủ quyền của Tổ chức Giải phóng Palestine. == Địa lý == Dải Gaza có địa hình bằng phẳng hay gợn sóng, với các đụn cát gần bờ biển. Điểm cao nhất là Abu 'Awdah (Joz Abu 'Auda), với độ cao 105 mét trên mực nước biển. Địa hình Bờ Tây chủ yếu là vùng cao gồ ghề bị chia tách, có một số thực vật tại phía tây, song phía đông hơi khô cằn. Độ cao biến đổi từ bờ bắc của biển Chết là 429 m dưới mực nước biển, đến điểm cao nhất trên núi Nabi Yunis đạt 1.030 m trên mực nước biển. Khu vực Bờ Tây không giáp biển, là khu vực tiếp nước cho nước ngầm duyên hải của Israel. Đồng bằng duyên hải Gaza gồm các đụn cát và trầm tích pha cát màu mỡ. Ngoại trừ một cát kết đá vôi xốp gọi là kurkar trong tiếng Ả Rập, không có đá nào khác trong khu vực. Trong khi đó, các núi thấp chiếm ưu thế tại Bờ Tây: núi Gerizim (881m), Nabi Samwil (890m), và núi Scopus (826m). Các đá chủ yếu bao gồm trầm tích biển (đá vôi và dolomit). Tính xốp của đá cho phép nước ngấm xuống địa tầng không xốp, rồi cung cấp nước cho nhiều tầng ngậm nước trong khu vực. Thung lũng Jordan là một đứt đoạn của hệ thống đứt đoạn Biển Chết, một phần kéo dài của Thung lũng tách giãn Lớn phân tách mảng châu Phi khỏi mảng Ả Rập. Toàn bộ đứt đoạn được cho là từng gãy nhiều lần, chẳng hạn như trong động đất năm 749 và năm 1033. Hụt trượt do sự kiện năm 1033 đủ để gây ra một trận động đất khoảng 7,4 Mw. Sông Jordan là sông lớn nhất tại Palestine, tạo thành biên giới phía đông của Bờ Tây cho đến khi đổ vào biển Chết. Báo cáo cho hay có tới 96% nước sạch sông Jordan bị điều hướng bởi Israel, Jordan và Syria, mặt khác lượng lớn nước thải chưa xử lý được cho chảy ra sông. Một báo vào năm 2013 cho thấy rằng Israel thường từ chối để cư dân Palestine tại thung lũng Jordan tiếp cận sông. Biển Chết là thực thể nước lớn nhất tại Palestine, còn thung lũng Marj Sanur tạo thành một hồ theo mùa. Một số dòng chảy không thường xuyên, tiếng Ả Rập gọi là wadi, chảy vào sông Jordan hoặc biển Chết qua Bờ Tây, một số wadi chảy qua Israel vào Địa Trung Hải. Khí hậu tại Bờ Tây chủ yếu là khí hậu Địa Trung Hải, mát hơn một chút tại các khu vực cao phía tây so với bờ biển. Tại phía đông, Bờ Tây bao gồm phần lớn sa mạc Judea trong đó có bờ biển phía tây của biến Chết, có đặc trưng là khô nóng. Gaza có khí hậu bán khô hạn nóng với mùa đông ôn hoà và mùa hè khô nóng. Mùa xuân đến vào khoảng tháng 3-4, và tháng nóng nhất là tháng 6-7, với nhiệt độ trung bình là 33 °C. Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ thường là 7 °C. Mưa hiếm và thường xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3, với lượng mưa hàng năm là 116 mm. Tài nguyên tự nhiên của Palestine gồm có bùn lấy từ biển Chết, có chứa magie, cali cacbonat hay brom. Tuy nhiên, tài nguyên này là độc quyền của các khu định cư Israel; một báo cáo vào năm 2015 cho rằng giá trị gia tăng của việc tiếp cận các nguồn tài nguyên tự nhiên này có thể mang lại cho nền kinh tế 918 triệu USD mỗi năm. Palestine cũng có nhiều mỏ khí đốt với trữ lượng cao trong khu vực lãnh hải của Dải Gaza; tuy nhiên chúng chưa được khai thác do Israel hạn chế khu vực lãnh hải của Gaza từ 3 đến 6 hải lý trong hành động phong toả Gaza. Dải Gaza phải đối diện với hoang mạc hoá, mặn hoá nước ngọt, xử lý nước thải, dịch bệnh truyền qua nước, suy thoái đất, và cạn kiệt cùng ô nhiễm tài nguyên nước ngầm. Bờ Tây cũng có nhiều vấn đề tương tự, dù nước sạch sung túc hơn nhiều song việc tiếp cận bị hạn chế do Israel tiếp tục chiếm đóng. == Chính trị == === Chính phủ === Nhà nước Palestine gồm các thể chế sau có liên hệ với Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO): Tổng thống Nhà nước Palestine – do Hội đồng Trung ương Palestine bổ nhiệm Hội đồng Dân tộc Palestine – cơ quan lập pháp thành lập Nhà nước Palestine Hội đồng Hành pháp Tổ chức Giải phóng Palestine – có chức năng của một chính phủ lưu vong, duy trì một mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng lớn. Các thể chế này khác biệt với Chủ tịch Chính quyền Dân tộc Palestine, Hội đồng Lập pháp Palestine (PLC) và nội các, là những thể chế liên kết với Chính quyền Dân tộc Palestine. Văn kiện thành lập Nhà nước Palestine là Tuyên ngôn Độc lập Palestine, và nó cần được phân biệt với Hiến chương Dân tộc Palestine của PlO và Luật Cơ bản Palestine của PNA. === Hành chính === Nhà nước Palestine được chia thành 16 đơn vị hành chính. a. Dữ liệu từ Jerusalem bao gồm Đông Jerusalem bị chiếm đóng cùng cư dân Israel tại đó Các tỉnh tại Bờ Tây được gộp thành ba khu vực theo Hiệp định Oslo. Khu vực A chiếm 18% diện tích Bờ Tây và do chính phủ Palestine quản lý. Khu vực B chiếm 22% diện tích Bờ Tây và nằm dưới quyền kiểm soát dân sự của Palestine và Israel-Palestine cùng kiểm soát an ninh. Khu vực C, ngoại trừ Đông Jerusalem, chiếm 60% diện tích Bờ Tây và do Chính quyền Dân sự Israel cai quản, song chính phủ Palestine được cung cấp dịch vụ giáo dục và y tế cho 150.000 người Palestine trong khu vực. Đông Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của Palestine, song được quản lý như một phần của quận Jerusalem thuộc Israel, song Palestine yêu sách là bộ phận của tỉnh Jerusalem. Khu vực này bị Israel sáp nhập vào năm 1980, song hành động này không được quốc gia nào công nhận. Trong số 456.000 cư dân tại Đông Jerusalem, khoảng 60% là người Palestine và 40% là người Israel. === Quan hệ đối ngoại === Tổ chức Giải phóng Palestine đại diện cho Nhà nước Palestine trong đối ngoại, họ duy trì đại sứ quán tại các quốc gia công nhận Nhà nước Palestine. Tổ chức Giải phóng Palestine được quyền đại diện trong nhiều tổ chức quốc tế với vị thế là thành viên, liên kết hoặc quan sát viên. Do tính không xác định của nguồn, trong một số trường hợp không thể phân biệt đâu là đại biểu PLO nhân danh Nhà nước Palestine, và đâu là nhân danh thực thể phi quốc gia hoặc chính quyền. Ngày 15 tháng 12 năm 1988, tuyên ngôn độc lập của Nhà nước Palestine từ tháng 11 năm 1988 được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thừa nhận. Bản mẫu:Numrec (Bản mẫu:Numrec) trongsos Bản mẫu:UNnum thành viên Liên Hiệp Quốc đã công nhận Nhà nước Palestine, Nhiều quốc gia không công nhận Nhà nước Palestine song công nhận Tổ chức Giải phóng Palestine là "đại biểu của nhân dân Palestine". Ủy ban hành pháp của PLO được trao quyền thi hành các chức năng chính phủ của Nhà nước Palestine. Ngày 29 tháng 11 năm 2012, Nghị quyết số 67/19 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc được thông qua, nâng cấp Palestine lên vị thế "nhà nước quan sát viên phi thành viên" tại Liên Hiệp Quốc. Việc thay đổi vị thế này được mô tả là công nhận thực tế chủ quyền quốc gia của Palestine". == Nhân khẩu học == Theo cục Thống kế Trung ương Palestine, Palestine có khoảng 4.420.549 người vào năm 2013. Với diện tích 6.220 km2 (2.400 sq mi), có một mật độ dân số 731 người/km2. Với mật độ dân số trung bình của thế giới là 53 người/km2 dựa trên dữ liệu từ ngày 05 tháng 7 năm 2014 thì đây là khu vực có mật độ dân số cao. === Tôn giáo === 93% người Palestine theo đạo Hồi, đại đa số là những người tín đồ Hồi giáo Sunni, với một thiểu số là Ahmadiyya, và 15% là người Hồi giáo không giáo phái. Người Palestine theo Kitô hữu chiếm 6%, theo sau là nhỏ hơn nhiều tôn giáo cộng đồng, bao gồm Druze và Samaritan. Người Do Thái Palestine, người được quy định bởi Hiến chương Quốc gia Palestine và PLO như những "người Do Thái đã thường trú ở Palestine cho đến trước khi Do Thái xâm lược", hầu như quên nguồn gốc đó và đưa mình trở thành người Do Thái của Israel. == Tham khảo == == Thư mục == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == Status of Palestine in the United Nations (A/RES/67/19) Full Text Cross, Tony (24 September 2011). "After Abbas's UN Bid Are Palestinians Closer To Having a State?". Radio France Internationale. Retrieved 2011-9-28. Recognition of a Palestinian state Premature Legally Invalid and Undermining any Bona Fide Negotiation Process Political Statement accompanying Palestinian Declaration of Independence Permanent Observer Mission of Palestine to the United Nations The Historic Compromise: The Palestinian Declaration of Independence and the Twenty-Year Struggle for a Two-State Solution International Recognition of a Unilaterally Declared Palestinian State: Legal and Policy Dilemmas, by Tal Becker
z.txt
Z, z là chữ 26 và cuối cùng trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh nhưng thường không được sử dụng trong chữ cái tiếng Việt.
bún bung.txt
Bún bung là một món ăn dân dã của người Hà Nội, Thái Bình. Món ăn này gồm "bún" (bún rối hoặc bún lá) và "bung" là một món nước dùng để chan. Nước dùng này được nấu bằng sườn lợn, dọc mùng, mỡ nước, hành hóa, mẻ và các gia vị mắm muối. Ở Thái Bình người ta nấu bún bung hoa chuối. == Cách làm == Nguyên liệu (2 người ăn) Sườn sụn hoặc giò heo hoặc sườn non 200gr Chuối xanh 2 trái nhỏ, lột vỏ thái vừa ăn Cà chua 2 trái, bỏ hột thái vừa ăn Tía tô, thái nhỏ Bạc hà 1 nhánh, lột vỏ, thái vừa ăn Bột Nghệ 1 muỗng nhỏ Dừa nạo 100gr, vắt lấy nước khoảng 800gr Hành tím phi vàng với 2 muỗng canh dầu ăn Mắm tôm Bún tươi 500gr Hầm 40 phút gồm: nước cốt dừa, sườn sụn/ giò heo/ sườn non, chuối xanh, cà chua, bột nghệ, dầu ăn phi hành tím, mắm tôm, đường, bột ngọt, muối, tiêu… Gần ăn cho tía tô và bạc hà. (Không cần mẻ vì đã có cà chua) == Chú thích == == Tham khảo ==
tân thế giới.txt
Tân thế giới là một tên gọi được sử dụng để chỉ châu Mỹ (bao gồm Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Mỹ và Caribe cũng như các đảo xung quanh một cách tổng thể) được sử dụng từ thế kỷ 16. châu Mỹ vào thời điểm đó là hoàn toàn mới đối với người châu Âu, là những người trước đó cho rằng thế giới chỉ bao gồm châu Âu, châu Á và châu Phi (hay Cựu thế giới). Thuật ngữ "Tân thế giới" không nên nhầm lẫn với các thuật ngữ "thế giới mới" hay "thế giới hiện đại" (mặc dù "tân" cũng có nghĩa là "mới") vì các cụm từ sau nói chung được dùng để chỉ thế giới theo dòng thời gian lịch sử, chứ không phải là để chỉ các vùng đất. Trong những thập niên gần đây, việc sử dụng thuật ngữ "Tân thế giới" đã bị một số người không chấp nhận, do nó hàm ý rằng chỉ có quan điểm của người châu Âu là duy nhất thích đáng hay hợp lý. Vì thế, thuật ngữ này nói chung hiện nay chỉ được sử dụng trong văn cảnh rất hạn chế của một vài giới xã hội. Thứ nhất là khi người ta nói "Tân thế giới" theo ngữ cảnh lịch sử, khi thảo luận đến chuyến đi của Christopher Columbus, sự xâm chiếm Yucatán của người Tây Ban Nha, v.v. Thứ hai là trong ngữ cảnh sinh học khi người ta nói về các loài động, thực vật của Cựu thế giới và Tân thế giới. Một diễn giải khác của thuật ngữ "Tân thế giới" là "mới" trong ngữ cảnh của loài người; do con người đã tồn tại và sinh sống tại Cựu thế giới một khoảng thời gian dài hơn nhiều so với tại châu Mỹ; vì thế người ta có thể nói là những cuộc di cư đầu tiên sang châu Mỹ đã tìm đến một "thế giới mới". Ngày nay có giả thuyết cho rằng chính Đô đốc Trịnh Hòa mới là người đầu tiên tìm ra châu Mỹ, bằng chứng của các nhà nghiên cứu lịch sử và bản đồ thế giới nhận định rằng vào năm 1417 khi Hoàng đế triều Minh ra lệnh cho Đô đốc Trịnh Hòa đi vòng quanh thế giới bằng thuyền để vẽ bản đồ thì khoảng giữa năm 1418 ông và đoàn tùy tùng gồm hàng trăm thuyền lớn nhỏ các loại đã đến được vùng biển Caribê và đã để lại ở đây nhiều đồ gốm và chén sứ các loại, điều này chứng tỏ rằng Đô đốc Trịnh Hòa đã đặt chân đến châu Mỹ sớm hơn Christopher Colombus 74 năm. (Nhưng khi đến châu Mỹ thì Đô đốc Trịnh Hòa cứ ngỡ rằng đó chính là cực nam của Ấn Độ.) Cũng có thuyết chứng minh rằng người Viking tới châu Mỹ trước nhà thám hiểm Christopher Columbus những 500 năm và đã lập những làng nhỏ dọc theo bờ biển Bắc Đại Tây Dương – một di tích của họ còn được bảo tồn tại L'Anse aux Meadows, thuộc tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada. == Sử dụng với châu Đại Dương == Trong khi châu Mỹ luôn luôn được miêu tả như là "Tân thế giới" thì châu Đại Dương có thể được miêu tả hoặc là "Cựu thế giới" hoặc là "Tân thế giới" phụ thuộc vào lĩnh vực của bài thuyết trình, đặc biệt là trong trường hợp của New Zealand do sự định cư đầu tiên của con người chỉ diễn ra trong vài thế hệ trước khi Colombus tìm ra châu Mỹ. Trong ngữ cảnh sinh học đôi khi người ta không dùng thuật ngữ này, do các loài của châu Đại Dương khác biệt đáng kể so với các loài của đại lục Á-Âu, châu Phi và các loài của châu Mỹ. == Xem thêm == Tây bán cầu Cựu thế giới == Tham khảo ==
molecular biology and evolution.txt
Molecular Biology and Evolution (Sinh học Phân tử và Tiến hóa) là tập san khoa học đánh giá xuất bản hàng tháng. Tập san do Hội Sinh học Phân tử và Tiến hóa Hoa Kỳ sở hữu và biên tập, và phát hành bởi Oxford University Press. Tập san xuất bản các công trình trong phân ngành sinh học phân tử và sinh học tiến hóa. Biên tập trưởng sáng lập là Walter Fitch và Masatoshi Nei, chủ bút hiện nay là Sudhir Kumar. Theo đánh giá của Journal Citation Reports tạp chí có chỉ số độ ảnh hưởng : == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == == Liên kết ngoài ==
thủ đô.txt
Thủ đô là trung tâm hành chính của 1 quốc gia. Thủ đô thường là nơi đặt phần lớn hoặc tất cả các cơ quan quyền lực chính của một quốc gia như: các cơ quan hành pháp, lập pháp, cơ quan tư pháp tối cao, ngân hàng trung ương. Trung tâm hành chính của một đơn vị nhỏ hơn quốc gia, ví dụ như 1 tỉnh hay 1 tiểu bang, được gọi là thủ phủ. Ở các nước phong kiến, thủ đô được gọi là kinh đô, kinh thành hay kinh kỳ. Ngày xưa, trung tâm kinh tế lớn của một quốc gia hoặc khu vực thường cũng trở thành trung tâm chính trị, và trở thành thủ đô thông qua sự chinh phục hoặc hợp nhất. Đây là trường hợp của Luân Đôn và Moskva. Một cách tự nhiên, thủ đô sẽ thu hút những người ham thích chính trị và những người mà tài năng của họ rất cần thiết để quản lý hiệu quả chính quyền như luật sư, nhà báo, và những nhà nghiên cứu chính sách công cộng. Thủ đô đôi khi được đặt ở nơi khác nhằm tránh sự phát triển quá lớn của một thành phố lớn hiện có. Brasília nằm bên trong Brasil vì thủ đô cũ, Rio de Janeiro, nằm ở phía đông nam, bị xem là quá đông người. Không nhất thiết các sức mạnh chính trị và kinh tế hay văn hóa phải tụ về một nơi. Các thủ đô truyền thống có thể bị mờ nhạt về mặt kinh tế so với các tỉnh khác, như Bắc Kinh so với Thượng Hải. Sự sụp đổ của một vương triều hoặc một nền văn hóa cũng có thể đồng nghĩa với sự diệt vong của kinh đô của nó, như đã xảy ra với thành Babylon và Cahokia. Nhiều thành phố thủ đô hiện nay, như New Delhi, Abuja, Brasília, Canberra, Islamabad, Ottawa và Washington, D.C. là những thành phố được quy hoạch, cố tình đặt xa những trung tâm dân số vì nhiều lý do khác nhau, và cũng được phát triển nhanh chóng thành trung tâm kinh tế hoặc thương mại mới. == Các thành phố thủ đô không chính thống == Có một số trường hợp trong đó quốc gia có nhiều thủ đô, và cũng có một số quốc gia không có thủ đô. Một số trường hợp khác, thủ đô chính thức không phải là thủ đô thực tế vì các lý do thực dụng. Có nghĩa là, thành phố được biết đến như thủ đô lại không đặt cơ quan chính quyền tại đó. Sau đây là danh sách một số từ các quốc gia độc lập. Bénin: Porto-Novo là thủ đô chính thức, nhưng Cotonou là nơi đặt bộ máy chính quyền. Bolivia: Sucre vẫn là thủ đô trong hiến pháp, nhưng phần lớn chính quyền quốc gia từ lâu đã từ bỏ khu vực này để đến La Paz. Chile: Santiago là thủ đô mặc dù Quốc hội Chile đặt tại Valparaíso. Côte d'Ivoire: Yamoussoukro được chỉ định làm thủ đô quốc gia vào năm 1983, nhưng phần lớn văn phòng chính phủ và đại sứ quán vẫn đặt tại Abidjan. Cộng hòa Séc: Praha là thủ đô hợp hiến duy nhất. Tuy nhiên, Brno là nơi đặt cả ba tòa án cao nhất đất nước, khiến nó trở thành thủ đô tư pháp của Séc trên thực tế. Pháp: Hiến pháp của Pháp không công nhận bất kỳ thủ đô nào tại Pháp. Paris là thủ đô trên thực tế của Pháp, nhưng nghị viện vẫn tổ chức hội nghị hỗn hợp tại Versailles. Đức: Thủ đô chính thức Berlin là nơi đặt nghị viện chính phủ. Tuy nhiên, nhiều bộ vẫn đặt tại thủ đô Bonn của Tây Đức cũ, giờ có tên là Thành phố Liên bang. Khối luật pháp được chia ra giữa Karlsruhe và Leipzig. Malaysia: Kuala Lumpur là thủ đô hợp hiến nhưng trung tâm hành chính liên bang được di chuyển sang 30 km về phía nam tại Putrajaya vào cuối thập niên 1990. Nghị viện vẫn đặt tại Kuala Lumpur. Myanma: Naypyidaw được chỉ định làm thủ đô quốc gia vào năm 2005, cùng năm mà nó thành lập, nhưng đa số văn phòng chính phủ và đại sứ quán vẫn đặt ở Rangoon. Hà Lan: Amsterdam là thủ đô quốc gia trong hiến pháp mặc dù chính phủ, nghị viện, tòa án tối cao đều đặt tại Den Haag. Sri Lanka: Sri Jayawardenapura Kotte là thủ đô chính thức và là nơi đặt nghị viện, trong khi thủ đô cũ, Colombo, hiện được chỉ định làm "thủ đô thương mại". Tuy nhiên, nhiều văn phòng chính phủ vẫn đặt tại Colombo. Cả hai thành phố đều thuộc Miền Colombo. Nam Phi: thủ đô hành chính là Pretoria, thủ đô lập pháp là Cape Town, và thủ đô tư pháp là Bloemfontein, hệ quả của một thỏa hiệp từ đó hình thành nên Liên minh Nam Phi năm 1910. Thụy Sĩ: Bern là Thành phố Liên bang của Thụy Sĩ và có chức năng như một thủ đô trên thực tế. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Thụy Sĩ đặt ở Lausanne. Tanzania: Dodoma được chỉ định làm thủ đô quốc gia vào năm 1973, nhưng phần lớn các văn phòng chính phủ và đại sứ quán vẫn nằm ở Dar es Salaam. === Các thực thể quốc tế === Liên minh châu Âu: Brussels, Bỉ nói chung được xem như thủ đô của Liên minh châu Âu do đó là nơi đặt các cơ quan của Liên minh, Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng (cũng là một nửa của nhánh lập pháp), cùng với phần lớn công việc của Nghị viện châu Âu (chính thức đặt và biểu quyết tại Strasbourg). EU không tuyên bố một "thủ đô" chính thức sử dụng thuật ngữ đó, mà việc đặt Brussels làm nơi đặt phần lớn các cơ quan chính trị được định nghĩa trong Hiệp ước Amsterdam; nó cũng đưa cơ quan pháp luật đến Luxembourg và Ngân hàng Trung ương đến Frankfurt. Cũng như vậy, có thể so sánh với bản chất thủ đô chia sẻ của Nam Phi. Tuy nhiên, tính áp dụng của thuật ngữ "thủ đô" đối với thực thể quốc tế còn là vấn đề gây tranh cãi, vì mặc nó đã có trên thực tế, thuật ngữ này đi kèm tốt nhất với các thực thể độc lập và nằm trong quốc gia do đó việc sử dụng nố mang nhiều đặc điểm ngoại giao. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN: Jakarta, Indonesia. Liên Hiệp Quốc: New York là nơi họp chính của cơ quan cao nhất của LHQ, nhưng những phần quan trọng trong cấu trúc của nó đặt tại thành phố khác, như Genève và Den Haag. == Xem thêm == Danh sách các thủ đô quốc gia == Tham khảo ==
kinh tế bahrain.txt
Bahrain có nền kinh tế tự do nhất ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi và thứ 98 trên toàn thế giới. Một chỉ số khác, được xuất bản bởi Viện Fraser, Bahrain đứng thứ 44 cùng với 7 quốc gia khác. Ở Bahrain, sản xuất và chế biến dấu mỏ đóng góp tới 60% vào kim ngạch xuất khẩu, 60% trong thu ngân sách nhà nước, và 30% GDP. Tuy nhiên phần lớn dầu xuất khẩu lại được chế biến từ dầu thô nhập khẩu. Vì thế, tình hình kinh tế biến động cùng với sự lên xuống của giá dầu. Nhờ có cơ sở hạ tầng giao thông và thông tin phát triển, Bahrain đã thu hút được rất nhiều công ty đa quốc gia hoạt động tại vịnh Persia tới đặt đại bản doanh khu vực. == Tham khảo == === Mục tham khảo === == Liên kết ngoài == Daily Star (Beirut), 6 January 2006, Bahrain's 'honesty' keeps its economy freest in region Gulf News, 7 January 2006, Bahrain ranked freest Arab economy Bahrain Economic Development tại DMOZ
phosphat.txt
Phosphat là một hợp chất vô cơ và là muối của axit phosphoric. Trong hóa hữu cơ, phosphat hay hợp chất cơ phospho là este của axit phosphoric. Phosphat hữu cơ có vai trò quan trọng trong ngành hóa sinh, hóa lý sinh, và sinh thái học. Phosphat vô cơ được khai thác để điều chế phospho phục vụ nông nghiệp và công nghiệp. == Tham khảo ==
iwate.txt
Iwate (Nhật: 岩手県 (Nham Thủ Huyện), Iwate-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở vùng Tohoku trên đảo Honshū. Thủ phủ là thành phố Morioka. == Địa lý == Iwate đối diện với biển Thái Bình Dương về phía Đông, giáp ranh với tỉnh Aomori ở phía Bắc, tỉnh Akita ở phía Tây và tỉnh Miyagi ở phía Nam. Iwate có núi ở phía Đông, Tây, Bắc, với lưu vực sông Kitakami chạy từ Bắc tới Nam qua trung tâm tỉnh, bao gồm cả thành phố thủ phủ. Bờ biển ở đây thô và nhỏ nằm giữa biển và các ngọn núi. == Lịch sử == Iwate trong lịch sử là một phần của tỉnh Mutsu. Nó chỉ thực sự trở thành một tỉnh riêng vào khoảng năm 800. Trong thời kỳ Jōmon, đây là một vùng rất phong phú cho việc săn bắn và đánh bắt cá. Cũng có một vài sự định cư của người Emishi tại lưu vực Kitakami cho đến cuối thế kỉ thứ 8 khi mà chính quyền Nara quyết định xâm nhập sâu vào Iwate, với pháo đài Shiwa, tới phía Bắc của Morioka ngày nay, được xây dựng năm 803. == Hành chính == === Các thành phố === Có 30 thành phố: === Làng và thị trấn === == Kinh tế == == Văn hóa == == Giáo dục == == Thể thao == == Du lịch == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh.
chu ân lai.txt
Chu Ân Lai (giản thể: 周恩来; phồn thể: 周恩來; bính âm: Zhōu Ēnlái; Wade-Giles: Chou En-lai) (5 tháng 3 năm 1898 – 8 tháng 1 năm 1976), là một lãnh đạo xuất chúng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, từng giữ chức Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ 1949 cho tới khi ông qua đời tháng 1 năm 1976, và Bộ trưởng ngoại giao từ năm 1949 tới năm 1958. Chu Ân Lai đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh giành quyền lực của Đảng Cộng sản, và sau này trong việc xây dựng nền kinh tế Trung Quốc cũng như tái cơ cấu xã hội Trung Quốc. Trên bình diện quốc tế, Chu Ân Lai là một nhà ngoại giao tài năng, là người ủng hộ sự sống chung hoà bình và từng tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954. Nhờ phẩm chất đạo đức của mình, ông rất được lòng dân chúng, và cái chết của Chu Ân Lai khiến sự ủng hộ của dân chúng tăng mạnh trở thành yếu tố then chốt trong cuộc chuyển giao quyền lực ở Trung Quốc từ Mao Trạch Đông sang Đặng Tiểu Bình. == Tuổi trẻ == Chu Ân Lai sinh tại huyện Sơn Dương, phủ Hoài An (nay là huyện Hoài An), tỉnh Giang Tô, Trung Quốc nhưng quê gốc ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Gia đình ông, dù thuộc tầng lớp trí thức, nhưng không phong lưu. Ông nội ông là một quan chức cấp thấp trong triều với mức lương ít ỏi. Cha ông liên tục trượt trong các kỳ thi, và trong suốt cuộc đời ông chỉ làm những chân thư ký cấp thấp. Chu Ân Lai là con trai lớn nhất và cháu đích tôn của họ Chu. Khi chưa tới một tuổi, ông được người em út của cha nhận làm con nuôi, ông này khi ấy đang mỏi mòn vì bệnh lao. Cha ông hy vọng rằng việc nhận con nuôi sẽ giúp người em trai không chết trẻ, nhưng đây là một vấn đề nghiêm trọng đối với một gia đình theo truyền thống Khổng giáo. Bà Trần, mẹ nuôi của ông, bắt đầu dạy chữ Hán cho ông khi ông mới chập chững. Khi lên bốn tuổi ông đã có thể đọc và viết hàng trăm chữ. Năm 1907, mẹ ruột của ông chết vì bệnh lao, và vào mùa hè năm 1908 bà Trần cũng qua đời. Chu Ân Lai mồ côi khi mới lên mười, vì thế mọi người thu xếp để ông rời Hoài An tới thành phố Thẩm Dương ở Mãn Châu sống với người cậu, Yikang. Khi mười hai tuổi, Chu Ân Lai theo học trường Đông Quan, nơi có cách "giáo dục mới," như toán học và khoa học tự nhiên, cũng như lịch sử Trung Quốc, địa lý và văn học. Các học sinh cũng được tiếp cận với những bản dịch các cuốn sách phương Tây, nơi Chu Ân Lai học được về tự do, dân chủ và các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp. Năm 1913, lúc mười lăm tuổi, Chu Ân Lai tốt nghiệp trường Đông Quan và vào tháng 9 năm ấy ông ghi tên theo học trường Nam Khai tại Thiên Tân. Trong bốn năm tiếp theo ông là một sinh viên siêng năng của ngôi trường truyền giáo Mỹ này. Trong cả thời gian học tập của ông Trung Quốc luôn ở trong tình trạng hỗn loạn. Năm 1911 cuộc Cách mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên lật đổ nhà Thanh thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Cuộc Đại chiến thế giới bùng nổ tại châu Âu khiến sức ép từ những kẻ xâm lược châu Âu có giảm bớt, nhưng mang lại cho Nhật Bản cơ hội mở rộng tầm ảnh hưởng của mình. Chu Ân Lai thấy rằng Trung Quốc đang bị phá hoại bởi những cuộc can thiệp từ bên ngoài. Ông tham gia các cuộc phản kháng và biểu tình cho đất nước. Tiếp đó Chu Ân Lai theo học đại học tại Tokyo. Mục tiêu của ông là trở thành một giáo viên để có thể gây ảnh hưởng tới giới trẻ Trung Quốc. Nhưng ông thấy mình không thể tập trung. Ông không thể học và tiếng Nhật của ông cũng kém, khiến ông không theo kịp bài giảng. Tại Nam Khai ông đã viết và phát biểu chống lại sức ép quân sự và chính trị của Nhật tại Trung Quốc và tình trạng rối loạn không thể tránh khỏi trong nước. Ông hô hào các bạn học hành động để cứu vãn Trung Quốc. Câu trả lời của họ là học tập, để trở thành các nhà khoa học và chuyên gia. Trung Quốc cần giới trí thức, cần các bác sĩ có trình độ, kỹ sư và các giáo viên. "Nhưng tại sao?" ông hỏi. "Nếu Trung Quốc đang biến mất, thì học để làm gì?" . Quyết định rời Nhật Bản Chu Ân Lai cũng một phần bị ảnh hưởng bởi quyết định rời Nhật Bản một người bạn học trong trường Nam Khai thời điểm đó, Đồng Quan Hiền (chữ Hoa giản thể: 童冠贤,chữ Hoa phồn thể: 童冠賢). Đầu tháng 5 năm 1919, thất vọng và không thể hoàn thành công việc học tập, ông rời Nhật Bản. Chu Ân Lai tới Thiên Tân ngày 9 tháng 5, vừa kịp để tham dự Phong trào mùng 4 tháng 5 năm 1919. == Các hoạt động cách mạng == Chu Ân Lai lần đầu tiên nổi tiếng là một nhà hoạt động trên phạm vi quốc gia trong Phong trào mùng 4 tháng 5. Ông đã ghi tên theo học khoa văn trường Đại học Nam Khai, khiến ông có cơ hội tới thăm các khoa trong trường, nhưng ông không bao giờ tới lớp học. Ông trở thành một trong những người tổ chức Hiệp hội Sinh viên Thiên Tân, với mục tiêu công khai là "đấu tranh chống các lãnh chúa và chống chủ nghĩa đế quốc, và cứu Trung Hoa khỏi diệt chủng." Chu Ân Lai trở thành chủ bút tờ báo của hiệp hội sinh viên, tờ Sinh viên Thiên Tân. Tháng 9, ông thành lập Hội cứu tế (Awareness Society) với mười hai nam giới và tám phụ nữ. Đặng Dĩnh Siêu, cô gái mười lăm tuổi, vợ của Chu Ân Lai sau này, cũng là một thành viên sáng lập. (Nhưng mãi tới ngày 8 tháng 8 năm 1925 họ mới lập gia đình). Chu Ân Lai đóng vai trò then chốt trong việc sáp nhập giữa Hiệp hội Sinh viên Thiên Tân toàn nam giới và Hội Phụ nữ Yêu nước toàn nữ giới. Tháng 1 năm 1920, cảnh sát bố ráp xưởng in và bắt giữ nhiều thành viên Hội cứu tế. Chu Ân Lai dẫn đầu một nhóm sinh viên phản đối các vụ bắt giữ, và chính ông cũng bị bắt với 28 người khác. Sau phiên toà vào tháng 7, họ chỉ bị kết án một tội nhỏ và được thả. Quốc tế Cộng sản III đã muốn thu nhập Chu Ân Lai vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng dù đang nghiên cứu Chủ nghĩa Marx ông vẫn chưa tham gia. Thay vì đi sang Moskva học tập, ông chọn sang Pháp với tư cách một nhà tổ chức sinh viên. Đặng Dĩnh Siêu ở lại chịu trách nhiệm điều hành Hội cứu tế khi ông vắng mặt. == Học tập tại Pháp và những năm tháng ở châu Âu == Ngày 7 tháng 11 năm 1920, Chu Ân Lai và 196 sinh viên Trung Quốc khác đi thuyền từ Thượng Hải tới Marseilles, Pháp. Tại Marseilles họ được một thành viên Uỷ ban Giáo dục Trung-Pháp tiếp đón và lên tàu hoả tới Paris. Hầu như ngay khi tới nơi, Chu Ân Lai đã rơi vào một cuộc tranh luận giữa các sinh viên và các cơ quan giáo dục đang điều hành chương trình "làm việc và học tập". Theo đó, các sinh viên sẽ được cho vào làm việc bán thời gian tại các nhà máy và theo học bán thời gian. Tuy nhiên, vì sự tham nhũng và mua chuộc trong Uỷ ban Giáo dục, các sinh viên không được trả tiền. Vì thế, họ đơn giản chỉ là những lao động rẻ tiền cho các ông chủ nhà máy Pháp và đổi lại nhận được rất ít sự giáo dục. Chu Ân Lai đã viết những bài báo gửi về Trung Quốc lên án uỷ ban và các quan chức chính phủ tham nhũng. Chu Ân Lai tới Anh Quốc vào tháng 1; ông xin và được chấp nhận làm sinh viên tại Đại học Edinburgh. Nhưng mãi tới tháng 10 chương trình học mới bắt đầu, vì thế ông quay lại Pháp, đến ở với Liu Tsingyang và Zhang Shenfu, những người đã thành lập một chi bộ Cộng sản. Chu Ân Lai gia nhập nhóm và được giao phó nhiệm vụ chính trị và tổ chức. Có một số tranh cãi về thời điểm Chu Ân Lai gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để giữ bí mật các thành viên không mang theo thẻ đảng. Chính Chu Ân Lai đã viết "mùa thu, 1922" trong một lần thẩm tra của Đại hội Đảng lần thứ 7 năm 1945. Có khoảng 2.000 sinh viên Trung Quốc tại Pháp, khoảng 200 tại Bỉ và Anh và khoảng 300 tới 400 tại Đức. Trong bốn năm tiếp sau, Chu Ân Lai là người phụ trách tuyển mộ, tổ chức và phối hợp các hoạt động của Liên đoàn Thanh niên Xã hội chủ nghĩa. Ông đi lại liên tục giữa Bỉ, Đức và Pháp, hộ tống các thành viên của Đảng qua Berlin đi tàu tới Mátxcơva, học cách tổ chức cách mạng. Ban đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc, được Trần Độc Tú thành lập tháng 7 năm 1921, từ chối đề xuất của Quốc tế Cộng sản III rằng họ sẽ thành lập một "mặt trận thống nhất" với Quốc Dân Đảng mới ra đời của Tôn Dật Tiên, nhưng vào năm 1923 Đảng Cộng sản đã thay đổi chính sách. Chu Ân Lai khi ấy chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động giữa hai phong trào khác biệt chính trị này ở châu Âu. Rõ ràng ông đã làm việc rất hiệu quả nên được ra lệnh quay trở lại Trung Quốc nhận nhiệm vụ thống nhất mặt trận ở cứ điểm mạnh của Quốc Dân Đảng tại Quảng Châu. Ông tới Hồng Kông tháng 7 năm 1924. == Mặt trận thống nhất thứ nhất == Tháng 1 năm 1924, Tôn Dật Tiên đã chính thức tuyên bố liên minh giữa Quốc Dân Đảng và những người Cộng sản, và một kế hoạch viễn chinh quân sự nhằm thống nhất Trung Quốc và tiêu diệt các lãnh chúa. Viện Hàn lâm Quân sự Whampoa được thành lập vào tháng 3 nhằm đào tạo các vị sĩ quan cho quân đội để đối đầu với các lãnh chúa. Tàu chiến Nga cung cấp vũ khí tại các cảng ở Quảng Châu. Các cố vấn của Quốc tế Cộng sản III từ Mátxcơva cũng có mặt. Tháng 10, một thời gian ngắn sau khi quay trở về từ châu Âu, Chu Ân Lai được chỉ định làm phó giám đốc ban chính trị Trường quân sự Hoàng Phố tại Quảng Châu. Chu Ân Lai nhanh chóng nhận ra Quốc Dân Đảng đang lo mưu đồ cho riêng mình. Phe hữu mạnh trong Quốc Dân Đảng phản đối kịch liệt liên minh với Cộng sản. Chu Ân Lai tin rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc, để tồn tại phải có một đội quân của riêng mình. "Quốc Dân Đảng là một liên minh của những lãnh chúa hay phản bội" ông đã nói với người bạn là Nhiếp Vinh Trăn, mới tới từ Moskva và được chỉ định làm phó giám đốc Học viện. Cùng nhau họ đã tổ chức một nhóm các sĩ quan nòng cốt là các thành viên Đảng Cộng sản và theo các nguyên tắc của Marx. Trong một thời gian họ không gặp cản trở nào, thậm chí từ phía cả Tưởng Giới Thạch, giám đốc Trường Hoàng Phố. Tôn Dật Tiên mất ngày 12 tháng 3 năm 1925. Ngay khi ông mất, rắc rối nảy sinh tại Quảng Châu. Một lãnh chúa tên là Trần Quýnh Minh Tổng trưởng nội chính kiêm Tổng trưởng lục quân, tổng tư lệnh và tỉnh trưởng Việt quân tìm cách chiếm giữ thành phố và tỉnh này. Cuộc Đông Chinh, do Chu Ân Lai lãnh đạo, được tổ chức như một chiến dịch quân sự chống lại Trần. Với những sĩ quan nòng cốt của Đảng Cộng sản họ đã thắng lợi lớn. Chu Ân Lai được thăng chức lãnh đạo phòng thiết quân luật của Trường Hoàng Phố. Ông nhanh chóng dẹp tan một âm mưu lật đổ của một vị lãnh chúa khác trong thành phố. Trần Quýnh Minh một lần nữa tổ chức hành quân vào tháng 10 năm 1925. Một lần nữa Chu Ân Lai lại đánh bại ông tà và lần này chiếm được thành phố Sán Đầu quan trọng trên bờ biển phía nam Trung Quốc. Chu Ân Lai được chỉ định làm uỷ viên đặc biệt của Sán Đầu và vùng xung quanh. Ông bắt đầu xây dựng một nhánh đảng tại Sán Đầu và giữ bí mật tên tuổi những người tham gia. Ngày 8 tháng 8 năm 1925, ông và Đặng Dĩnh Siêu tổ chức lễ cưới sau một thời gian yêu nhau dài tới năm năm. Họ chưa có con nhưng nhận đỡ đầu nhiều trẻ em mồ côi thuộc đội "cảm tử cách mạng"; một người trong số đó sau này trở thành vị thủ tướng nổi tiếng Lý Bằng. Sau cái chết của Tôn Dật Tiên, Quốc Dân Đảng nằm dưới sự quản lý của một chế độ tam đầu chế gồm Tưởng Giới Thạch, Liêu Trọng Khải và Uông Tinh Vệ, nhưng vào tháng 8 năm 1925 thành viên cánh tả, Liêu Trọng Khải, bị ám sát. Tưởng Giới Thạch lợi dụng vụ này để tuyên bố thiết quân luật và củng cố quyền kiểm soát của phe cánh hữu. Ngày 18 tháng 3 năm 1926, trong khi Mikhail Borodin, vị cố vấn Quốc tế Cộng sản III người Nga của Mặt trận Thống nhất, đang ở Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch đạo diễn một vụ việc mới để cướp quyền của những người Cộng sản. Vị chỉ huy và các thuỷ thủ một thuyền chiến của Quốc Dân Đảng bị bắt tại cảng Hoàng Phố, Xem Vụ việc tàu chiến Trung Sơn. Tiếp sau là những cuộc bố ráp vào Trụ sở Quân đoàn số 1 và Trường Quân sự Hoàng Phố. Tổng cộng 65 đảng viên Cộng sản bị bắt giữ, gồm cả Nhiếp Vinh Trăn. Tình trạng khẩn cấp quốc gia được ban hành và lệnh giới nghiêm được áp dụng. Chu Ân Lai vừa mới quay trở về từ Shantou và cũng bị giữ 48 giờ. Khi được thả ông đối đầu với Tưởng Giới Thạch và buộc tội ông ta phá hoại Mặt trận Thống nhất nhưng Tưởng cho rằng ông ta chỉ tiêu diệt một âm mưu của những người Cộng sản. Khi Borodin từ Thượng Hải quay về ông tin vào lời lẽ của Tưởng Giới Thạch và khiển trách Chu Ân Lai. Theo yêu cầu của Tưởng, Borodin đưa ra một danh sách các thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng là các thành viên Quốc Dân Đảng. Những thành viên duy nhất thoát khỏi danh sách này là những người mới được Chu Ân Lai tuyển mộ. Tưởng Giới Thạch cách chức tất cả các sĩ quan Đảng Cộng sản khỏi Quân đoàn thứ nhất. Uông Tinh Vệ, bị coi là có cảm tình với những người cộng sản, được thuyết phục ra đi theo một "chuyến nghiên cứu" tại châu Âu. Chu Ân Lai bị tước mọi trách nhiệm liên quan tới Mặt trận Thống nhất, trao lại quyền điều hành tuyệt đối cho Tưởng Giới Thạch. == Từ Thượng Hải tới Diên An == Sau khi cuộc Bắc phạt bắt đầu, ông trở thành người tuyên truyền tầng lớp lao động. Năm 1926, ông tổ chức một cuộc tổng đình công tại Thượng Hải, mở ngỏ thành phố cho Quốc Dân Đảng. Khi liên minh Quốc-Cộng tan vỡ, Chu Ân Lai phải bỏ trốn trước cuộc khủng bố trắng. Cuối cùng ông tới vùng căn cứ Giang Tây và dần chuyển từ hệ tư tưởng chính thống đô thị sang nhánh Mao ủng hộ cách mạng nông thôn bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, và trở thành một thành viên nổi bật của Đảng. Sự chuyển biến này đã hoàn thành ngay từ đầu cuộc Vạn lý Trường chinh, khi vào tháng 1 năm 1935 Chu Ân Lai hoàn toàn ủng hộ Mao trong cuộc đấu tranh với nhóm 28 người bolshevik. Những năm tại Diên An, Chu Ân Lai là người tích cực ủng hộ một mặt trận thống nhất chống Nhật Bản. Vì thế ông đóng vai trò quan trọng trong sự biến Tây An, giúp Tưởng Giới Thạch được thả, và đàm phán Mặt trận Thống nhất Quốc-Cộng thứ hai, và đưa ra câu nói nổi tiếng "Người Trung Quốc không nên đánh nhau với người Trung Quốc mà với một kẻ thù chung: quân xâm lược". Trong Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945) Chu Ân Lai đóng vai trò đại sứ trong chính phủ thời chiến của Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh và tham gia vào những cuộc đàm phán thất bại sau Thế chiến II. == Nắm quyền thủ tướng == Năm 1949, với sự thành lập nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Chu Ân Lai lên nắm quyền Thủ tướng và Bộ trưởng ngoại giao. Tháng 6 năm 1953, ông đưa ra năm tuyên bố hoà bình. Ông dẫn đầu phái đoàn Cộng sản Trung Quốc tham gia Hội nghị Geneva và Hội nghị Bandung (1955). Ông đã thoát nạn sau một âm mưu ám sát của phe Quốc Dân Đảng dưới quyền Tưởng Giới Thạch trên đường trở về từ Bandung. Một quả mìn MK7 đã được giấu trên chiếc máy bay thuê Kashmir Princess chở ông. Chu Ân Lai đã đổi máy bay nhưng tất cả 16 người trong đội đều thiệt mạng. Với thái độ ôn hoà và ảnh hưởng trong khối các nước không liên kết thời Chiến tranh Lạnh, chính sách ngoại giao của ông nhằm tăng cường quan hệ với các quốc gia trong vùng như Ấn Độ, Myanma và các nước Đông Nam Á, cũng như các quốc gia châu Phi. Năm 1958, chức Bộ trưởng ngoại giao được trao lại cho Trần Nghị Chu Ân Lai tiếp tục giữ chức vụ Thủ tướng cho tới khi ông qua đời năm 1976. Trọng tâm trong nước của ông sau khi trở thành Thủ tướng là nền kinh tế Trung Quốc, đang ở tình trạng lạc hậu sau nhiều thập kỷ chiến tranh. Ông đặt mục tiêu tăng trưởng sản xuất nông nghiệp thông qua việc tái phân phối ruộng đất. Phát triển công nghiệp cũng là một ưu tiên của ông. Ngoài ra ông còn đưa ra những sáng kiến cải cách môi trường đầu tiên ở Trung Quốc. Trong chính phủ, Mao là người vạch chính sách còn Chu Ân Lai là người thực thi. Năm 1958, Mao Trạch Đông bắt đầu chương trình Đại nhảy vọt, với mục tiêu tăng mức sản xuất công nghiệp và nông nghiệp của Trung Quốc lên những tầm không tưởng. Là nhà quản lý thực tế và được lòng dân, Chu Ân Lai vẫn giữ được chức vụ của mình trong thời gian này. Cách mạng Văn hoá (1966-1976) ảnh hưởng lớn tới ông. Ở những giai đoạn cuối cuộc cách mạng này năm 1975, ông đã đưa ra "bốn hiệu đại hoá" để sửa chữa những sai lầm do nó gây ra. Nổi tiếng là một nhà ngoại giao có tài, Chu Ân Lai chịu trách nhiệm chính trong việc tái lập các mối quan hệ với phương Tây hồi đầu thập niên 1970. Ông đã chào mừng Tổng thống Richard Nixon tới Trung Quốc tháng 2 năm 1972, và ký kết Thông cáo Thượng Hải. Sau khi biết mình bị ung thư, ông bắt đầu chuyển giao nhiều trách nhiệm của mình cho Đặng Tiểu Bình. Trong những giai đoạn cuối cuộc Cách mạng Văn hoá, Chu Ân Lai chính là mục tiêu mới của các chiến dịch chính trị của Bè lũ bốn tên của Chủ tịch Mao năm 1975 với khẩu hiệu "chỉ trích Tống Giang, đánh giá Thuỷ hử", ám chỉ tới một tác phẩm văn học Trung Quốc, coi Chu Ân Lai là một hình mẫu kẻ thất bại chính trị. Ngoài ra chiến dịch Chỉ trích Lâm, Chỉ trích Khổng (Phê Lâm phê Khổng vận động) cũng nhắm mục tiêu vào Thủ tướng Chu Ân Lai bởi ông bị coi là một trong những đối thủ chính trị của Bè lũ bốn tên. == Cái chết và các phản ứng == Năm 1974 Chu Ân Lai phải vào viện vì ung thư bàng quang, nhưng vẫn tiếp tục điều hành công việc từ bên trong bệnh viện, còn Đặng Tiểu Bình là Phó thủ tướng thứ nhất chịu trách nhiệm hầu hết các vấn đề quan trọng của Quốc vụ viện. Chu Ân Lai mất buổi sáng ngày 8 tháng 1 năm 1976, 8 tháng trước Mao Trạch Đông. Trong cuốn sách của mình, Mao: Câu chuyện chưa biết, Jung Chang (Trương Nhung) và Jon Halliday xác nhận rằng Mao cố tình không cho Chu Ân Lai chữa bệnh ung thư bởi ông không muốn Chu Ân Lai sống lâu hơn mình. Nhiều quốc gia trong Phong trào không liên kết đã gửi lời chia buồn trước cái chết của Chu Ân Lai một nhà ngoại giao và nhà thương thuyết nổi tiếng trên trường quốc tế, nhiều nước coi cái chết của ông là một mất mát to lớn. Thi thể ông được hoả thiêu và tro được rải từ máy bay xuống các ngọn đồi và thung lũng, theo đúng nguyện vọng của ông. Bên trong Trung Quốc, nhóm Bè lũ bốn tên (Giang Thanh và đồng bọn) coi cái chết của Chu là một thuận lợi lớn cho mưu đồ chính trị của họ, bởi vật cản lớn duy nhất còn lại trước ngôi báu quyền lực tuyệt đối ở Trung Quốc của họ đã mất. Sau đám tang Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình đã có bài ca ngợi chính thức, nhưng sau này ông đã bị buộc rời bỏ chính trị sau cái chết của Mao. Từ khi mất, một căn phòng tưởng niệm đã được dành riêng cho ông và người vợ yêu dấu tại Thiên Tân, được đặt tên là Phòng tưởng niệm Chu Ân Lai và vợ Thiên Tân (天津周恩來鄧穎超紀念館), và một bức tượng đã được dựng lên ở Thành phố Nam Kinh, nơi ông từng làm việc với Quốc Dân Đảng trong thập niên 1940. Một con tem quốc gia cũng được phát hành kỷ niệm một năm ngày mất của ông năm 1977, và một lần nữa năm 1998 kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của ông. == Di sản == Chu Ân Lai thường được coi là một nhà thương thuyết có tài, một bậc thầy về thực hiện chính sách, một nhà cách mạng toàn tâm, một chính khách thực tế với sự kiên nhẫn vô biên và sự chú trọng đặc biệt tới các chi tiết công việc. Ông cũng nổi tiếng về lao động không mệt mỏi và đạo đức. Ông được coi là vị chính khách cuối cùng của chủ nghĩa Khổng giáo truyền thống. Phong cách chính trị của Chu Ân Lai cần được xem xét theo triết lý chính trị và nhân cách của ông. Ở mức độ lớn hơn, Chu Ân Lai là một nhân vật kết hợp giữa chính khách cộng sản và nền giáo dục Trung Hoa truyền thống: từng có tư tưởng bảo thủ và cực đoan, thực dụng và có ý thức hệ, đồng thời có niềm tin vào trật tự và sự hoà hợp cũng như một lòng tin vào sự phản kháng và cách mạng. Dù là người có lòng tin tưởng nhiệt thành vào các lý tưởng Cộng sản, lý tưởng cơ bản của nhà nước Trung Hoa hiện đại, Chu Ân Lai thường được nhiều người cho là có ảnh hưởng ôn hoà trên một số tư tưởng thái quá của chế độ Mao, dù ông không có quyền lực cần thiết để có thể đưa lại những thay đổi trong chính sách. Có những ý kiến cho rằng ông đã sử dụng quyền lực của mình để bảo vệ một số địa điểm tôn giáo và hoàng gia cổ Trung Quốc khỏi những cuộc cướp phá của bọn Hồng Vệ Binh của Mao cũng như nhiều tướng lĩnh và lãnh đạo hàng đầu chính phủ khỏi các cuộc thanh trừng. Dù trong những năm gần đây việc chỉ trích cách lãnh đạo Trung Quốc cũng như các quyết định của họ đã thường xuất hiện hơn ở Trung Quốc, rất ít người Trung Quốc cũng như cộng đồng Trung Quốc ở nước ngoài chỉ trích ông. Nhiều thanh niên Trung Quốc coi ông là thần tượng chính trị của họ và một số học giả thậm chí còn coi ảnh hưởng của ông tới thanh niên Trung Quốc lớn hơn Mao. Ông là một trong số ít nhà lãnh đạo Trung Quốc thể hiện sự tôn trọng đúng mực đối với các nước nhỏ như Việt Nam. Chu Ân Lai đã từng nói: "Nếu các bạn không thích thì chúng tôi sẽ ra đi ngay" khi Việt Nam khéo léo phản ứng việc Hồng Vệ binh Trung Quốc hô hào các khẩu hiệu của Đại cách mạng văn hóa vô sản ở Hà Nội năm 1967. Và chính ông cũng nhận Hồ Chí Minh là "lão đại ca". = Gia đình = Phu nhân của ông là bà Đặng Dĩnh Siêu, cố Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XI, XII, Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc từ năm 1983 - 1988, Bí thư thứ hai Ủy ban Kiểm tra - Kỷ luật Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Phụ nữ Trung Quốc. Mặc dù Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu không có con cái nhưng hai người đã dành rất nhiều tình thương yêu cho những đứa con của các liệt sĩ, như: Tôn Duy Thế (con gái của liệt sĩ Tôn Bính Văn) và Lý My (con gái của liệt sĩ Lý Tiểu Thạch),... Thủ tướng thứ tư của Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng cũng là con nuôi của vợ chồng cố Thủ tướng Chu Ân Lai. == Chú thích == == Đọc thêm == Eldest Son (Con trai cả) của Hàn Tố Âm, một bản tiểu sử tổng thể. Có một cuốn sách mới xuất bản năm 2003 tại Hồng Kông, Zhou Enlai's Later Years (Những năm cuối của Chu Ân Lai) của Gao Wenqian cũng đáng chú ý. Chưa có bản dịch tiếng Anh. Một tiểu sử của Chu Ân Lai dự định ra mắt tháng 11 năm 2007, tác giả Gao Wenqian. Public Affairs chịu trách nhiệm xuất bản cuốn sách này. Xem thêm: Lịch sử Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa == Liên kết ngoài == Zhou Enlai Biography From Spartacus Educational
đước đôi.txt
Đước hay còn gọi đước đôi (danh pháp hai phần: Rhizophora apiculata) là loài thực vật thuộc họ Đước. Loài này phân bố ở Australia (Queensland và Northern Territory), Guam, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Micronesia, Nouvelle-Calédonie, Papua New Guinea, Philippines, Singapore, quần đảo Solomon, Sri Lanka, Đài Loan, Maldives, Thái Lan, Vanuatu và Việt Nam. == Cây lai == Cây đước có thể lai với cây đâng (Rhizophora stylosa), tạo thành cây lai Rhizophora x lamarckii,, được các nhà khoa học Philippines phát hiện vào tháng 4 năm 2008 tại Masinloc, Zambales. Tại đảo Panay thuộc Tây Visayas phát hiện được một cây duy nhất, còn tại Masinloc phát hiện thấy 12 cây, chúng có đường kính thân trung bình là 5,5 centimet và cao 6 mét. == Chú thích == == Tham khảo == World Conservation Monitoring Centre 1998. Rhizophora apiculata. *2006 IUCN Red List of Threatened Species. Downloaded on ngày 23 tháng 8 năm 2007. == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Đước đôi tại Wikispecies
nam-bắc triều (trung quốc).txt
Nam Bắc triều (tiếng Trung: 南北朝; bính âm: Nánběicháo, 420-589) là một giai đoạn trong lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ năm 420 khi Lưu Dụ soán Đông Tấn mà lập nên Lưu Tống, kéo dài đến năm 589 khi Tùy diệt Trần. Về trình tự, thời kỳ Nam Bắc triều nối tiếp thời kỳ Đông Tấn-Ngũ Hồ thập lục quốc, sau nó là triều Tùy. Do hai thế lực bắc-nam đối lập trong một thời gian dài, do vậy gọi là Nam Bắc triều. Nam triều (420-589) bao gồm bốn triều đại: Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần; Bắc triều (439-589) bao gồm năm triều đại: Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu. Hoàng tộc Nam triều chủ yếu xuất thân từ hàn môn hoặc thứ tộc, họ dần dần nắm giữ được quân quyền nên có thể soán ngôi đoạt hoàng vị. Vào sơ kỳ, kinh tế Nam triều dần được khôi phục, quân lực cường thịnh. Tuy nhiên, do sai lầm về chiến thuật và quân lực của Bắc triều cũng cường thịnh, khiến biên giới liên tục dời về phía nam. Hoàng đế cùng tông thất Nam triều thường đấu tranh đẫm máu để tranh hoàng vị. Đến thời Lương, Lương Vũ Đế hồi tâm hướng thiện, khiến quốc lực lại một lần nữa cường thịnh. Tuy nhiên, đến những năm cuối thời Lương Vũ Đế, quốc gia hủ bại suy sụp, loạn Hầu Cảnh khiến cho thực lực của Nam triều suy kém đi nhiều, đồng thời bị chia rẽ, chính cục "Kiều tính thế tộc" chi phối hoàn toàn tan vỡ. Mặc dù Trần Văn Đế thống nhất Nam triều, song quốc lực đã sút kém, chỉ có thể dựa vào thiên hiểm Trường Giang để chống cự Bắc triều. Bắc triều kế thừa Ngũ Hồ thập lục quốc, là triều đại tân hưng Hồ-Hán dung hợp. Hoàng thất Bắc Ngụy thuộc tộc Tiên Ti, quan viên tộc Hán chịu ảnh hưởng của văn hóa Ngũ Hồ, nhiều người thông hôn với người Hồ, trong khi hoàng thất Tiên Ti cũng chịu sự hun đúc của văn hóa Hán. Triều Bắc Ngụy bị Nhu Nhiên ở phương bắc trói buộc, cho đến sau khi Đột Quyết vốn khá hữu hảo thôn tính Nhu Nhiên thì mới có thể dốc toàn lực để đối phó với Nam triều. Hậu kỳ Bắc Ngụy, sau loạn Lục trấn và nông dân bạo động, thực lực suy yếu đi nhiều. Sau khi Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, không lâu sau lại phân biệt bị Bắc Tề và Bắc Chu thay thế. Bắc Tề chủ yếu do tập đoàn Lục trấn hợp thành, sơ kỳ quân lực cường thịnh. Bắc Chu có ít quân Tiên Ti hơn Bắc Tề, địa vị chính trị không được như Nam triều Trần. Cuối cùng, tập đoàn Quan-Lũng do Vũ Văn Thái khai sáng thôn tính chính quyền Bắc Tề đang ngày càng hủ bại. Sau khi Bắc Chu Vũ Đế qua đời, một người Hán là Dương Kiên nắm giữ chính quyền, thông qua thụ thiện từ Bắc Chu Tĩnh Đế mà kiến lập triều Tùy, sau 8 năm mưu tính thì phát binh diệt Trần, thống nhất Trung Quốc. Về tương đối, Bắc triều chiến tranh không dứt, các giai cấp đối lập; còn Nam triều khá ổn định, kinh tế tiếp tục phát triển ổn định, xuất hiện trị thế "Nguyên Gia chi trị" và "Vĩnh Minh chi trị". Nhân khẩu Trung Nguyên từ thời loạn Hoàng Cân và loạn Vĩnh Gia đã liên tục dời về phương nam, mang theo sức lao động và kỹ thuật sản xuất. Giang Nam phồn vinh, khiến cho kinh tế Trung Quốc chuyển dịch về phương nam, đến thời Tùy Dạng Đế thì triều đình cho kiến lập Đại Vận Hà. Về phương diện văn hóa, loạn thế tạo cho tư tưởng tự do có được một mảnh đất màu mỡ để phát triển, đề xuất quan điểm "vụ thực cầu trị" và "vô quân luận". Đối với văn học, nghệ thuật, khoa kỹ, có sự khai sáng ra các diễn giải và lý luận độc đáo. Về huyền học, Phật giáo và Đạo giáo đều rất hưng thịnh. Trong đó, phát triển các hang động Phật giáo như hang Mạc Cao, hang đá Mạch Tích Sơn, hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn. Về giao lưu đối ngoại cũng rất hưng vượng, đông đến Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên, tây đến vùng Tây Vực, Trung Á, Tây Á (đế quốc Sassanid), nam đến khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ. Sơ kỳ Nam Bắc triều vẫn tuân theo chính trị thế tộc, giai tầng xã hội phân thành "thế tộc", "tề dân biên hộ", "y phụ nhân" cùng nô lệ. Thế tộc nắm giữ một lượng lớn y phụ nhân không cần phải nộp thuế, những người này tiến hành sản xuất và tác chiến cho thế tộc, do đó ảnh hưởng đế số thuế thu được của triều đình. Tuy hoàng đế Nam triều vẫn cần đến sự ủng hộ của thế tộc chủ lưu, song cũng trợ giúp cho hàn môn để cân bằng thế lực chính trị, vào thời Lương còn manh nha xuất hiện chế độ khoa cử. Thế tộc Nam triều do được hưởng an nhàn trong một thời gian dài nên dần dần suy thoái, sau loạn Hầu Cảnh thì tan vỡ triệt để. Ở phương bắc, người Tiên Ti thiếu kinh nghiệm chính trị, do vậy cũng trọng dụng thế tộc người Hán, dẫn đến chọn lọc vay mượn giữa văn hóa hai bên, lâu dần hình thành kết hợp văn hóa, tối thịnh là phong trào Hán hóa dưới thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế. Quá trình kết hợp sản sinh xung đột tư tưởng, đấu tranh chính trị, xung đột chủng tộc kịch liệt, như loạn Lục trấn hay phong trào bài Hán của Bắc Tề. Bắc Chu thực hiện chính sách "Quan Trung bản vị", dung hợp văn hóa Tiên Ti và Hán nhằm loại bỏ rào cản Hồ-Hán. == Lịch sử Nam triều == Thời kỳ Nam triều bắt đầu từ năm 420, khi quyền thần Lưu Dụ của Đông Tấn soán vị, kết thúc khi Tùy diệt Trần vào năm 589. Nam triều trải qua bốn triều đại Tống, Tề, Lương, Trần, đều kiến đô ở Kiến Khang; chỉ có Lương từng thiên đô. Bốn triều đại này cùng những triều đại trước đó kiến đô ở Kiến Khang là Đông Ngô và Đông Tấn gọi chung là "Lục triều". === Lưu Tống === Lưu Tống Vũ Đế Lưu Dụ nguyên là thủ lĩnh Bắc phủ binh của Đông Tấn, sau loạn Hoàn Huyền thì nắm quyền kiểm soát triều đình. Để có được thanh thế nhằm soán Tấn, Lưu Dụ hai lần phát động Bắc phạt, thu phục các khu vực Sơn Đông, Hà Nam và Quan Trung (Quan Trung sau bị Hạ chiếm lĩnh). Sau đó, Lưu Dụ sát hại Tấn An Đế, cải lập Tấn Cung Đế, hai năm sau (420) thì soán vị giống như Tấn soán Ngụy khi trước, kiến quốc Lưu Tống, Đông Tấn diệt vong, phương nam tiến vào "thời kỳ Nam-Bắc triều". Năm 440, sau khi Bắc Ngụy thống nhất phương bắc, cùng với Lưu Tống hình thành thế đối lập Nam-Bắc. Tống Vũ Đế xuất thân từ quân đội, là người cương nghị kiệm phác, sau khi xưng đế vẫn nỗ lực thực hiện tiết kiệm, tạm thời cục thế chính trị rất tốt. Tuy nhiên, ông không xem trọng giáo dục hoàng thất, tin tưởng giao phó cho kẻ xấu, dẫn đến đại họa. Ông nhận thức được đương thời quyền thế của thế tộc rất lớn, uy quyền của quân chủ trở nên suy yếu, do vậy về chính trị thì trọng dụng những người xuất thân từ hàn tộc đáng tin tưởng để giao cho quyền hành, quân quyền ở trọng trấn thì phó thác cho tông thất hoàng tộc. Tông thất nắm giữ quân quyền và chính trị nên trong lòng sinh ra ý soán vị, do vậy giữa hoàng đế và tông thất nhiều lần xảy ra thảm kịch cốt nhục tương tàn. Sau khi Lưu Tống Vũ Đế qua đời, Lưu Tống Thiếu Đế kế lập, nhưng vì ham chơi thất đức, bị các phụ chính đại thần Từ Tiện Chi, Phó Lượng và Tạ Hối sát hại, cải lập Nghi Đô vương Nghĩa Long, tức Lưu Tống Văn Đế. Sau này, Văn Đế cùng danh tướng Bắc phủ binh trừ bỏ những kẻ muốn kiểm soát quốc chính, khiến chính cục ổn định. Lưu Tống Văn Đế đề xướng tiết kiệm, đồng thời thanh lọc đội ngũ quan lại, khai sáng "Nguyên Gia chi trị". Từ năm 430, Tống Văn Đế nhiều lần Bắc phạt, nhưng do chuẩn bị không đầy đủ, thêm vào đó là Văn Đế chỉ huy sai lầm, dùng sách lược "binh hoang tài đơn", quốc lực suy yếu đi nhiều. Danh tướng Đàn Đạo Tế do lập được quân công nên bị Tống Văn Đế nghi kỵ và loại trừ, do đó càng khiến Lưu Tống mất khả năng cân bằng thực lực với Bắc Ngụy. Đương thời, Bắc Ngụy xảy ra việc Cái Ngô khởi sự làm phản, song Lưu Tống không thể tức thời Bắc phạt. Đến năm 445, Bắc Ngụy nhân lúc kẻ địch mạnh là Nhu Nhiên tạm thời suy yếu, bắt đầu phát động nhiều lần Nam chinh, hai bên giao chiến qua lại ở vùng Hoài Nam, quân Bắc Ngụy thậm chí từng tiến sát đến Trường Giang. Lưu Tống sau đó không còn thực lực để lại phát động chiến tranh. Năm 453, Lưu Tống Văn Đế bị Thái tử Thiệu sát hại, tam tử Lưu Tuấn thừa cơ suất quân đoạt vị, tức Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế là người hoang dâm tàn bạo, gian dâm với cháu gái, khiến phát sinh hai lần chiến sự trong nội bộ tông thất, cuối cùng còn đồ sát tại thành Quảng Lăng. Đương thời, nhân dân lưu truyền câu nói: "Kiến Khang nhìn từ xa, thành nhỏ sông ngược nước chảy vòng quanh, trước thấy con giết cha, sau thấy em giết anh", biểu thị giai đoạn lịch sử này. Sau khi Lưu Tử Nghiệp kế vị, lại tiến hành đại sát tông thất, sau bị hoàng thúc Tương Đông vương Lưu Úc sát hại đoạt vị, tức Minh Đế. Tuy nhiên, Minh Đế cũng tiến hành đại sát tông thất, khiến tử tôn của Hiếu Vũ Đế bị tuyệt diệt. Sau khi Lưu Dục kế vị, chính cục biến động, xảy ra biến loạn, tướng quân Tiêu Đạo Thành dần dần kiểm soát quân quyền. Sau khi Lưu Dục qua đời, Tiêu Đạo Thành đưa Lưu Chuẩn lên ngôi, tức Tống Thuận Đế, Tiêu Đạo Thành một mình nắm hết triều chính. Sau khi tiêu diệt đối thủ chính trị là Viên Xán và Thẩm Du Chi, Tiêu Đạo Thành soán vị vào năm 479, kiến quốc Nam Tề, sử gọi là Tề Cao Đế, Lưu Tống mất. === Nam Tề === Nam Tề Cao Đế thuộc thế tộc Lan Lăng Tiêu thị, song địa vị không cao, do vậy bị thế tộc quyền quý xem thường. Cảnh tượng chính trị dưới thời Nam Tề Cao Đế cũng giống như Tống sơ, thực hiện cai trị tiết kiệm, tại vị được 4 năm thì qua đời, Thái tử Trách kế lập, tức Vũ Đế. Vũ Đế cai trị thanh minh, không có chiến sự với Bắc Ngụy, an dân bảo cảnh, sử gọi là "Vĩnh Minh chi trị". Đương thời, Hoàng đế lợi dụng "quan điểm thiên" làm tai mắt, giám sát chính sự các châu và chư vương tông thất. Sau khi Vũ Đế qua đời, Hoàng thái tôn Tiêu Chiêu Nghiệp kế lập, do Tiêu Tử Lương cùng Tiêu Loan phụ chính. Tuy nhiên, Hoàng đế xa xỉ chìm đắm trong vui đùa, quốc chính dần rơi vào tay Tiêu Loan. Tiêu Loan có ý soán vị, sau khi sát hại Tiêu Chiêu Nghiệp thì cải lập Tiêu Chiêu Văn, không lâu sau lại phế Tiêu Chiêu Văn, tự lập làm hoàng đế, tức Minh Đế. Sau khi kế vị, Minh Đế lợi dụng "quan điểm thiên" mà đại sát chư vương tông thất, tử tôn của Cao Đế và Vũ Dế đầu bị tận sát. Những năm cuối đời, Minh Đế bệnh trọng, khá tôn trọng Đạo giáo và pháp thuật, đem phục trang sở hữu đổi sang màu đỏ; Minh Đế còn đặc biệt hạ chiếu cho các quan phủ lệnh trưng thu "ngân ngư" để làm thuốc. Năm 498, Minh Đế bệnh mất, Thái tử Tiêu Bảo Quyển kế lập. Tiêu Bảo Quản là hôn quân tàn bạo, sát hại cố mệnh đại thần, khiến các phương trấn nổ ra bạo loạn. Sau khi bình xong loạn, Tiêu Bảo Quyển lại sát hại những người có công bình loạn như Ung châu thứ sử Tiêu Ý. Năm 501, em của Tiêu Ý là Tiêu Diễn tuyên bố khởi binh, lập Tiêu Bảo Dung làm hoàng đế tại Giang Lăng, tức Hòa Đế. Sau khi Tiêu Diễn đánh vào Kiến Khang, Tiêu Bảo Quyển bị tướng quân Vương Trân Quốc sát hại. Năm sau, Tiêu Diễn soán vị, kiến quốc Lương, sử gọi là Lương Vũ Đế, Nam Tề mất. === Lương và loạn Hầu Cảnh === Lương Vũ Đế thuộc nhánh phụ của Lan Lăng Tiêu thị, là người tiết kiệm, cần chính, yêu dân; khai sáng "Thiên Giám chi trị" vào tiền kỳ triều Lương, quốc lực vượt qua Bắc Ngụy đang dần hỗn loạn. Rút kinh nghiệm từ việc đồ sát tông thất của triều Tống-Tề, Lương Vũ Đế đối với tông thất hết sức khoan dung, ngay cả khi họ phạm tội thì ông cũng không truy cứu. Lương Vũ Đế có học vấn uyên bác, đề xướng phát triển học thuật, khiến lĩnh vực giáo dục của Lương phát đạt, văn hóa Nam triều phát triển tới cực điểm. Song đến hậu kỳ, Lương Vũ Đến thích nghe lời xu nịnh, lại mê tín Phật giáo, ba lần xá thân chùa Đồng Thái. Do tăng lữ-đạo sĩ không phải nộp thuế, có gần một nửa hộ khẩu ghi danh làm bề dưới, tài chính quốc gia chịu tổn thất to lớn. Đương thời, tông thất và quan viên ham tiền, xa xỉ, họ chìm đắm trong rượu hay vàng bạc, không thể tự vượt lên được. Sơ kỳ Lương Vũ Đế, Bắc Ngụy sau vận động Hán hóa thì phát sinh mâu thuẫn, quốc lực dần thua kém so với Lương. Từ năm 503 trở đi, Bắc Ngụy và Lương hội chiến ở khu vực Hoài Nam, cuối cùng Cương Nghĩa Chi, Tào Cảnh Tông, Vi Duệ đại thắng quân Bắc Ngụy trong trận Chung Li. Lương Vũ Đế đến lúc này tích cực Bắc phạt, song phạm vi không vượt ra khỏi khu vực Hoài Nam. Năm 516, quân Lương đánh tan quân Bắc Ngụy trong trận Thọ Dương, song vì tổn thất quá lớn nên tạm đình chỉ Bắc phạt, 10 năm sau mới đoạt được Thọ Dương. Ngoài ra, Lương Vũ Đế thích dùng hàng tướng, trao cho họ danh lợi trong khi họ vẫn chưa lập được công lao. Đến khi Bắc Ngụy phát sinh loạn Lục trấn, vào mùa đông năm 528, Lương Vũ Đế phái Trần Khánh Chi hộ tống Bắc Hải vương Nguyên Hạo của Bắc Ngụy về bắc kế vị. Trần Khánh Chi mặc dù có thể đem 7.000 kị binh đánh đến Lạc Dương, song cô độc không có viện binh nên cuối cùng thất bại. Thời kỳ Đông Ngụy-Tây Ngụy, tướng Hầu Cảnh của Đông Ngụy chịu áp lực từ cả Đông Ngụy và Tây Ngụy nên chạy sang Lương. Lương Vũ Đế dùng Hầu Cảnh bắc phạt Đông Ngụy. Tuy nhiên, sau khi quân Lương chiến bại, Lương Vũ Đế có ý đồ đưa Hầu Cảnh về Đông Ngụy để cầu hòa. Hầu Cảnh biết được việc này liền khởi binh làm phản, tiến về phía nam công Kiến Khang, sử gọi là "loạn Hầu Cảnh". Tướng Lương là Tiêu Chính Đức dẫn Hầu Cảnh vượt Trường Giang, Hầu Cảnh tiến vào Kiến Khang, Lương Vũ Đế rút vào Đài Thành. Sau đó, mặc dù các địa phương phái quân cần vương song đều giữ thái độ dò xét tình hình. Hầu Cảnh nghe tin quân cần vương tiến đến thì từng tiến hành hòa đàm, song cuói cùng bội ước và đánh chiếm Đài Thành. Sau khi Kiến Khang thất thủ, Hầu Cảnh đồ sát thế tộc Giang Nam, là sự đả kích mang tính hủy diệt đối với chính trị Nam triều. Lương Vũ Đế cuối cùng chết đói, Hầu Cảnh trước sau lập rồi sát hại Tiêu Cương và Tiêu Đống, cuối cùng soán vị kiến quốc "Hán". Tuy nhiên, thế lực của Hầu Cảnh chỉ giới hạn trong phạm vi Giang Đông và bình nguyên Giang Hán, khu vực Lương châu và Ích châu vẫn do Lương thất khống chế, song các đội quân này lo kiềm chế lẫn nhau, không chịu hợp tác với nhau. Cuối cùng, liên quân của Phiên Ngung quận thái thú Trần Bá Tiên cùng với Vương Tăng Biện được Tương Đông vương Tiêu Dịch phái đi diệt trừ được Hầu Cảnh. Tương Đông vương Tiêu Dịch kế vị ở Giang Lăng, tức Lương Nguyên Đế. Vũ Lăng vương Tiêu Kỷ cứ thủ Ích châu cũng tuyên bố xưng đế, đồng thời tiến đánh Giang Lăng. Lương Nguyên Đế cầu cứu Tây Ngụy, Tây Ngụy diệt Tiêu Kỷ rồi chiếm lĩnh Ích châu. Năm sau, cháu nội của Lương Vũ Đế là Tiêu Sát dẫn quân Tây Ngụy thừa cơ tiến công Giang Lăng, Lương Nguyên Đế bị giết, Tây Ngụy lập Tiêu Sát làm hoàng đế, sử gọi là Tây Lương. Sau khi Lương Nguyên Đế bị sát hại, Trần Bá Tiên và Vương Tăng Biện lập Tấn An Vương Tiêu Phương Trí làm hoàng đế, tức Lương Kính Đế. Sau đó, Bắc Tề đưa Tiêu Uyên Minh về nam, quân Lương bị đánh bại, Vương Tăng Biện khuất phục và nghênh lập Tiêu Uyên Minh làm Lương đế. Trần Bá Tiên phản đối và suất quân giết Vương Tăng Biện, phục lập Lương Kính Đế. Sau đó, Trần Bá Tiên đánh bại cuộc xâm lược của Bắc Tề và dư đảng của Vương Tăng Biện, chuyên chính triều đình Lương. Cuối cùng, Trần Bá Tiên soán vị vào năm 557, kiến quốc Trần, sử gọi là Trần Vũ Đế, Lương mất. === Trần === Trần Vũ Đế là người Ngô Hưng, là người Ngô phương nam. Đương thời "Kiều tính thế tộc" và "Ngô tính thế tộc" đều do loạn Hầu Cảnh mà chịu thương tổn nghiêm trọng, rất nhiều địa phương có thế lực cát cứ. Do Trần Vũ Đế không có cách nào bình định hết nên đành chọn phương thức an phủ. Sau khi Trần Vũ Đế qua đời vào năm 559, cháu là Trần Thiến kế vị, tức Trần Văn Đế. Vương Lâm cát cứ ở Lương Hồ tiến hành nổi dậy, liên hiệp với Bắc Tề và Bắc Chu để đông chinh Kiến Khang. Trần Văn Đế trước tiên đánh tan liên quân Vương Lâm-Bắc Tề, kế tiếp phong tỏa Ba Khâu để cản trở Bắc Chu xuôi theo Trường Giang đông tiến. Trong thời gian Trần Văn Đế tại vị, chính trị tốt đẹp, phục hồi kinh tế Giang Nam, khiến quốc thế Nam triều khôi phục. Năm 566, sau khi Trần Văn Đế qua đời, Thái tử Bá Tông kế vị, tức Trần Phế Đế. Không lâu sau, An Thành Vương Trần Húc phế hoàng đế tự lập, tức Trần Tuyên Đế. Đương thời, Bắc Chu có ý đồ diệt Bắc Tề, do vậy yêu cầu Trần cùng phạt Bắc Tề. Trần Tuyên Đế do nghĩ có thể thu phục được khu vực Hoài Nam nên quyết định đồng ý, năm 573 phái Ngô Minh Triệt Bắc phạt, hai năm sau thu phục Hoài Nam. Đương thời, Bắc Tề suy lạc, Trần Tuyên Đế bản thân có khả năng thừa cơ mà đánh diệt, song lại chỉ muốn cố thủ khu vực Lưỡng Hoài. Sau khi Bắc Chu thừa cơ đánh diệt Bắc Tề, đến năm 577 thì nam chinh đoạt Lưỡng Hoài, quân Trần thảm bại, Trần lâm vào thế nguy hiểm. Tuy nhiên, Bắc Chu Vũ Đế đột nhiên qua đời, quyền thần Dương Kiên chuẩn bị soán vị, Bắc Chu rốt cuộc không còn ý nam chinh. Sau khi Dương Kiên kiến lập triều Tùy, Trần Tuyên Đế qua đời, Thái tử Thúc Bảo kế vị, tức Trần Hậu Chủ. Trần Hậu Chủ hoang dâm xa xỉ, khiến quốc chính đại loạn, triều chính hủ bại cực độ. Quan lại bóc lột nghiêm trọng, nhân dân cực khổ. Tùy Văn Đế nghe theo sách lược của Cao Quýnh, cứ đến mùa phương nam thu hoạch thì đốt phá đất ruộng, khiến quốc lực của Trần suy thoái. Năm 588, Tùy Văn Đế cho Dương Quảng làm chủ tướng, phát động chiến tranh nhằm diệt Trần. Trần Hậu Chủ ỷ thế có Trường Giang là thiên hiểm nên vẫn ca vũ như thường lệ. Năm sau, quân Tùy đánh vào Kiến Khang, Trần Hậu Chủ cùng ái phi Trương Lệ Hoa và Khổng quý nhân chui xuống giếng trốn, song sau vẫn bị quân Tùy bắt, Trần mất. == Lịch sử Bắc triều == === Bắc Ngụy hưng khởi và phong trào Hán hóa === Bắc Ngụy do bộ tộc Thác Bạt của người Tiên Ti kiến lập, tiền thân là nước Đại. Sau khi Tiền Tần sụp đổ, cháu của Đại vương Thác Bạt Thập Dực Kiền là Thác Bạt Khuê khởi binh phục quốc, định đô ở Thịnh Lạc năm 386, cải quốc hiệu thành "Ngụy", sử gọi là Bắc Ngụy. Trong thời gian trị vì của Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê, Minh Nguyên Đế Thác Bạt Tự, Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo, Bắc Ngụy từng bước hùng mạnh. Thác Bạt Khuê và Tiền Yên kết thù, nhiều lần xảy ra chiến tranh, cuối cùng đánh tan quân Hậu Yên trong trận Tham Hợp Pha năm 395. Không lâu sau, Thác Bạt Khuê suất quân công phá thủ đô Hậu Yên, thiên đô đến Bình Thành, năm sau thì xưng đế, tức Đạo Vũ Đế. Đạo Vũ Đế có tính tàn nhẫn, sau bị con là Thác Bạt Thiệu sát hại năm 409. Cùng năm, trưởng tử của Đạo Vũ Đế là Thác Bạt Tự bình loạn kế vị, tức Minh Nguyên Đế. Minh Nguyên Đế chiếm được khu vực Hà Nam của Lưu Tống, song đến năm 423 thì mất, con là Thác Bạt Đảo kế vị, tức Thái Vũ Đế. Thái Vũ Đế cai trị tốt đẹp, quốc lực đại thịnh, đồng thời nhiều lần tiến hành đánh chiếm lãnh thổ của Lưu Tống. Sau khi giải trừ được sự uy hiếp của Nhu Nhiên ở phương bắc, Bắc Ngụy triển khai chiến tranh thống nhất Hoa Bắc. Năm 439, Bắc Ngụy tiêu diệt Bắc Lương, kết thúc thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc, cùng Lưu Tống hình thành thế đối lập bắc-nam. Phương bắc đến đây chính thức bước vào thời kỳ Nam Bắc triều, song vẫn còn lại Hậu Cừu Trì, tồn tại đến năm 443 mới bị Bắc Ngụy diệt. Vào sơ kỳ, việc kiến lập tổ chức và kinh tế quốc gia của Bắc Ngụy đều dựa vào phụ tử Thôi Hoành và Thôi Hạo. Mặc dù quân lực lên đến đỉnh cao, song phía bắc còn có cường định là Nhu Nhiên, do vậy Bắc Ngụy không thể dốc toàn lực để nam chinh. Sau khi Thái Vũ Đế thống nhất Hoa Bắc, Bắc Ngụy lại diệt Thiện Thiện- một trong ngũ đại cường quốc Tây Vực, khống chế khu vực này. Năm 450, Bắc Ngụy nam chinh Lưu Tống, tiến thẳng đến uy hiếp Qua Bộ, đồng thời tuyên truyền rằng sẽ vượt Trường Giang. Sau đó, Bắc Ngụy bắt 5 vạn hộ rồi đem theo về bắc, đến lúc này quân lực Bắc triều áp đảo Nam triều, song quân lực cũng chịu tổn thất lớn. Năm 445, Cái Ngô cùng bách tính các tộc khởi sự chống lại triều đình Bắc Ngụy, Sau khi Thái Vũ Đế bình định được cuộc nổi dậy này, ông tiến hành đả kích Phật giáo, sự kiện này trở thành một trong "Tam Vũ diệt Phật" của lịch sử Trung Quốc. Đến hậu kỳ, Thái Vũ Đế do áp dụng hình phạt tàn khốc, cuối cùng bị hoạn quan Tông Ái sát hại vào năm 452, loạn Tông Ái đến thời Văn Thành Đế mới được bình định. Năm 471, Hiến Văn Đế nhường lại hoàng vị cho con là Thác Bạt Hoành, tức Hiếu Văn Đế, bản thân trở thành Thái thượng hoàng đầu tiên trong lịch sử. Thái thượng hoàng bị mẹ là Phùng thái hậu hạ độc sát hại vào năm 476. Phùng thái hậu nắm giữ quyền hành triều đình, là người đa nghi, đa trí, lạm hình, song lại khiến quốc chính bình ổn. Hiếu Văn Đế có khả năng do chịu ảnh hưởng từ Phùng thái hậu nên ngưỡng mộ văn hóa Hán, cho rằng người Tiên Ti cần phải Hán hóa sâu sắc. Hiếu Văn Đế là người anh minh hiếu học, sau khi thân chính ông cho xây dựng mở rộng kinh đô Bình Thành. Căn cứ vào việc Lạc Dương phồn hoa hơn Bình Thành, về vị trí địa lý có thể khống chế được toàn quốc và dễ dàng phát binh tiến công Giang Nam, có thể thoát khỏi thế lực bảo thủ; Hiếu Văn Đế vào năm 493 lấy danh nghĩa nam chinh Nam Tề, suất chúng nam thiên Lạc Dương. Hiếu Văn Đế sau khi thiên đô thì tiến hành vận động Hán hóa, toàn bộ đều dùng quan chế của người Hán, cấm trang phục và ngôn ngữ Hồ, mở rộng giáo dục, cải họ (trong đó họ Thác Bạt của hoàng tộc cải thành họ Nguyên) đồng thời thông hôn với thế tộc người Hán, cấm chỉ quy táng. Vận động Hán hóa khiến nâng cao tố chất văn hóa của những người Tiên Ti đã dời về nam, mang lại sự phát triển về kinh tế và chính trị cho Bắc Ngụy, song lại khiến quý tộc Tiên Ti vốn có tinh thần thượng võ trở nên xa xỉ và nhu nhược. Sau đó, Hiếu Văn Đế nhiều lần tiến hành nam chinh, quân Nam Tề đều thua trận. Những quý tộc Tiên Ti còn lưu lại vùng biên thùy phương bắc-Lục trấn- không muốn dời về phía nam, dần dần không còn được triều đình Lạc Dương xem trọng và thất thế, nội bộ Bắc Ngụy do vậy phân liệt thành hai đại tập đoàn Hán hóa và Tiên Ti hóa, là một trong những nguyên nhân gây nên khởi nghĩa Lục trấn sau này. Năm 494, Thái tử Nguyên Tuân có ý đồ dời về Bình Thành ở phương bắc, Hiếu Văn Đế sau khi biết được thì phế Thái tử đồng thời ban chết. Phái bảo thủ Mục Thái, Lục Duệ ở Bình Thành tập hợp tiến hành binh biến, Hiếu Văn Đế sau khi trấn áp thì tự thân đi tuần phía bắc để an phủ. Sau khi Hiếu Văn Đế qua đời, Bắc Ngụy bắt đầu suy yếu. === Khởi nghĩa Lục trấn và Bắc Ngụy phân liệt === Sau khi Hiếu Văn Đế qua đời vào năm 499, Tuyên Vũ Đế kế nhiệm. Hoàng đế ham mê Phật giáo, quốc chính đại loạn, quý tộc ganh đua xa xỉ với nhau. Sau khi Hiếu Minh Đế kế nhiệm năm 515, Hồ thái hậu trở thành người chấp chính. Hồ thái hậu xa xỉ, tư thông với Thanh Hà vương Nguyên Dịch, đồng thời sủng tín Nguyên Xoa, Lưu Đằng. Nguyên Xoa và Lưu Đằng do mâu thuẫn với Nguyên Dịch nên tiến hành chính biến, đồng thời khống chế triều đình. Sau khi Lưu Đằng qua đời, đến năm 525 thì thế lực của Hiếu Minh Đế và Hồ thái hậu bình định được loạn đảng. Tuy nhiên, Hồ thái hậu vẫn như xưa, đồng thời lại xảy ra mâu thuẫn với Hiếu Minh Đế. Sau đó ở phương bắc của Bắc Ngụy xảy ra khởi nghĩa Lục trấn, Bắc Ngụy tiến gần đến chỗ diệt vong. Ngay từ những năm đầu của Bắc Ngụy, để đối phó với nguy cơ Nhu Nhiên từ phương bắc xâm nhập bắc đô Bình Thành, Bắc Ngụy cho thiết lập ở khu vực Âm Sơn-Hoàng Hà sáu trấn: Ốc Dã, Hoài Sóc, Vũ Xuyên, Phủ Minh, Nhu Huyền, Hoài Hoang ở xung quanh Bình Thành để bảo vệ. Quý tộc Tiên Ti đảm nhiệm làm tướng lĩnh Lục trấn, binh sĩ chủ yếu thuộc tộc Tiên Ti hoặc con em nhà có tiền bạc quyền thế người Hán. Họ được xem là "quốc chi phế phủ", có thể tùy thời mà trở về kinh thành nhậm chức. Tuy nhiên, sau khi triều đình thiên đô đến Lạc Dương, địa vị của Lục trấn giảm xuống. Họ vẫn bảo tồn tập tính Tiên Ti nguyên thủy, bị quý tộc Tiên Ti đã Hán hóa kỳ thị là "Đại Bắc hàn nhân", tướng lĩnh Lục trấn khi được thăng quan lên triều đình thì chịu áp bức, do vậy trong lòng bất mãn. Cuối cùng, vào năm 523, quý tộc và đồn binh phương bắc tiến hành khởi nghĩa Lục trấn; nhân dân các tộc ở Tần Lũng, Quan Đông cũng nối tiếp mà khởi sự. Triều đình Bắc Ngụy phải mất ba năm để bình định, đồng thời hình thành rất nhiều quân phiệt. Trong đó, người trấn thủ Tấn Dương là Nhĩ Chu Vinh có thế lực lớn nhất, từng công diệt Cát Vinh- thế lực mạnh nhất Quan Đông. Hiếu Minh Đế có ý đồ liên hiệp với Nhĩ Chu Vinh để đối phó với Hồ thái hậu, song bị Hồ thái hậu hạ độc sát hại năm 528. Hồ thái hậu tuyên bố người con gái duy nhất của Hiếu Minh Đế là nam và đưa lên ngôi, sau đó lại tuyên bố đứa bé là nữ và phế bỏ, lập cháu họ là Nguyên Chiêu làm hoàng đế. Cùng năm, Nhĩ Chu Vinh lấy cớ báo thù cho Hiếu Minh Đế, suất quân đánh chiếm Lạc Dương, khống chế triều chính, sử gọi là "sự biến Hà Âm". Nhĩ Chu Vinh cho ném Hồ thái hậu và Ấu Chủ Nguyên Chiêu xuống Hoàng Hà cho chết đuối, sát hại hơn 2000 đại thần, cải lập Hiếu Trang Đế, rồi trở về Tấn Dương song khống chế triều đình từ xa. Hiếu Trang Đế phẫn nộ trước việc bị kẻ khác thao túng, đến năm 530 thì phục kích sát hại Nhĩ Chu Vinh nhân lúc người này vào cung tấn kiến. Sau đó, con Nhĩ Chu Triệu và em họ Nhĩ Chu Thế Long của Nhĩ Chu Vinh tôn Trường Quảng vương Nguyên Diệp làm hoàng đế, tức Tiết Mẫn Đế, sau khi đánh hạ Lạc Dương thì sát hại Hiếu Trang Đế. Cùng năm, quân phiệt Cao Hoan ở Tín Đô tôn Nguyên Lãng làm hoàng đế, đến năm 532 thì Cao Hoan đánh hạ Lạc Dương, lại cải lập Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế trước tình thế bị khống chế, có ý đồ liên hiệp với tướng Hạ Bạt Nhạc ở Quan Trung để đối phó với Cao Hoan. Cao Hoan biết trước về sự việc, đến năm 534 thì giết Hạ Bạt Nhạc. Hiếu Vũ Đế lại liên hiệp với Vũ Văn Thái, đoạn tuyệt với Cao Hoan, chạy đến chỗ Vũ Văn Thái. Cao Hoan truy đuổi nhưng không kịp, bèn cải lập Thanh Hà vương thế tử Nguyên Thiện Kiến, tức Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế, thiên đô tới Nghiệp Thành. Năm 535, Hiếu Vũ Đế bị Vũ Văn Thái sát hại, Vũ Văn Thái cải lập Nam Dương vương Nguyên Bảo Cự làm hoàng đế, định đô tại Trường An. Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. === Đối lập Đông Ngụy-Tây Ngụy === Đông Ngụy và Tây Ngụy bề ngoài thì là do hậu duệ của hoàng tộc Thác Bạt kế thừa, song trên thực tế thì tương ứng do Cao Hoan và Vũ Văn Thái khống chế. Do vậy, sau một thời gian sau cũng phân biệt soán ngôi đoạt vị, hình thành nên Bắc Tề và Bắc Chu. Về cơ bản, Đông Ngụy và Tây Ngụy có biên giới là đoạn Hoàng Hà tạo thành ranh giới giữa Sơn Tây và Thiểm Tây hiện nay. Đông Ngụy kế thừa khá nhiều quốc lực của Bắc Ngụy, do vậy bất luận là về quân lực, kinh tế hoặc văn hóa đều vượt qua Tây Ngụy, nhưng Đông Ngụy nhiều lần tiến công song đều chịu thất bại, thế đối lập hai bên được hình thành. Đông Ngụy do Cao Hoan khống chế, do lưu dân Lục trấn và thế tộc Hà Bắc Tiên Ti hóa tổ thành, bản thân Cao Hoan là người Hán bị Hồ hóa, về mặt chính trị thì dựa vào tộc Tiên Ti. Sau đó, hoàng đế Bắc Tề đều có ý bảo tồn tập tục Tiên Ti, đề xướng ngôn ngữ Tiên Ti và võ sự. Cao Hoan dùng người xét theo tài năng, trong triều có không ít danh thần đều là bạn của ông, đây là nền tảng kiên cố của Bắc Tề sau này. Tuy nhiên, chiến thuật của Cao Hoan không theo kịp Vũ Văn Thái, do vậy mà ba lần chiến dịch đều thất bại. Năm 536, Cao Hoan suất Đậu Thái và những người khác cùng tây chinh Tây Ngụy, song chiến bại ở Đồng Quan, Đậu Thái tự sát. Năm tiếp theo, Cao Hoan thừa cơ Quan Trung mất mùa đói kém nghiêm trọng, lại suất quân tây chinh, song lại thất bại trước Vũ Văn Thái trong trận Sa Uyển. Đến lúc này, cục thế phân liệt được định, chiến trường chuyển hướng sang khu vực Hà Đông. Năm 546, Cao Hoan lại suất 10 vạn đại quân tây chinh, giao chiến với thủ tướng Vi Hiếu Khoan của Tây Ngụy trong trận Ngọc Bích. Cuối cùng, Cao Hoan chiến bại, hơn 7 vạn lính tử thương, năm sau thì bệnh mất ở Tấn Dương. Sau khi Cao Hoan qua đời, con là Cao Trừng kế vị. Cao Trừng là người bạo lực, gian dâm với thê tử của đại thần, sau bị gia nô sát hại. Cao Dương kế vị, đến năm 550 thì phế sát Hiếu Tĩnh Đế, đồng thời đồ sát hoàng thất Đông Ngụy, Đông Ngụy mất. Cao Trừng kiến quốc Bắc Tề, tức Bắc Tề Văn Tuyên Đế. Tây Ngụy do Vũ Văn Thái khống chế, bên dưới có "bát trụ quốc" hiệp trợ, đánh bại nhiều lần xâm lăng của Đông Ngụy, củng cố cục thế Tây Ngụy. Đương thời, Tây Ngụy về kinh tế, văn hóa và quân sự không được như Đông Ngụy và Lương, từng bại trước Đông Ngụy trong trận Mang Sơn. Vũ Văn Thái cho thi hành "Lục điều chiếu thư", đặt ra:chính sách "Quan Trung bản vị", khiến tướng lĩnh Hồ Hán đồng tâm hiệp lực, thiết lập phủ binh chế nhằm chia sẻ nhiệm vụ đi lính của nam giới, duy trì tinh thần thượng võ. Những điều này khiến cho quốc lực Tây Ngụy cường thịnh, còn ảnh hưởng đến sự phân bố chế độ và tập đoàn chính trị thời Tùy-Đường. Thừa cơ Lương có loạn Hầu Cảnh, chư vương đấu tranh nội bộ, Vũ Văn Thái trước sau đánh hạ đất Thục và Giang Lăng, đồng thời lập ra nước Tây Lương làm chư hầu. Tây Ngụy còn trải qua các đời quân chủ Phế Đế Nguyên Khâm và Cung Đế Nguyên Khuếch. Năm 556, Vũ Văn Thái qua đời, cháu là Vũ Văn Hộ chuyên chính. Vũ Văn Hộ vào năm sau thì phế Cung Đế, kiến quốc Bắc Chu, lập con của Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác làm hoàng đế, tức Bắc Chu Hiếu Mẫn Đế, Tây Ngụy mất. === Đối lập Bắc Chu-Bắc Tề === Bắc Tề kế thừa cương vực của Đông Ngụy, do Văn Tuyên Đế kiến quốc vào năm 550. Văn Tuyên Đế trước sau đánh bại các tộc Khố Mặc Hề, Khiết Đan, Nhu Nhiên, Sơn Hồ (thuộc Hung Nô), đồng thời đánh hạ khu vực Hoài Nam của Lương. Trên phương diện kinh tế, nông nghiệp, diêm-thiết nghiệp, từ khí nghiệp đều tương đối phát đạt. Bắc Tề gần như tương đồng với Bắc Ngụy, tiếp tục thi hành quân điền chế. Vào sơ kỳ, quốc lực của Bắc Tề vượt qua Bắc Chu và Trần. Tuy nhiên, Văn Tuyên Đế vào hậu kỳ lại hoang dâm tàn bạo, đồng thời giữ gìn che chở cho quý tộc Tiên Ti, đồ sát thế tộc người Hán. Văn Tuyên Đế áp bức nhân dân nặng nề, khiến cho quốc thế Bắc Tề suy lạc. Sau khi Cao Ân kế lập năm 559, do hoàng thúc là Cao Diễn phụ chính, song sang năm sau thì Cao Diễn soán sát đế, đăng cơ trở thành Hiếu Chiêu Đế. Trong thời gian Hiếu Chiêu Đế tại vị, quốc lực dần dần khôi phục như trước, Hoàng đế còn thân chinh Khố Mặc Hề. Tuy nhiên, năm 561 thì Hiếu Chiêu Đế mất, hoàng đệ là Trường Quảng vương Cao Đam/Trạm kế lập, tức Vũ Thành Đế. Vũ Thành Đế là hôn quân háo sắc, quốc lực Bắc Tề đại suy, đến năm 565 thì thiện vị cho Thái tử Cao Vĩ nhỏ tuổi, trở thành Thái thượng hoàng. Trong thời gian Cao Vĩ trị vì, quốc chính Bắc Tề hỗn loạn, Hoàng đế sát hại danh tướng Hộc Luật Quang. Sau đó, Bắc Tề bị Trần chiếm mất Hoài Nam, đến năm 577 thì bị Bắc Chu tiêu diệt. Bắc Chu kế thừa cương vực Tây Ngụy, do Hiếu Mẫn Đế lập quốc vào năm 556, song triều chính do anh họ là Vũ Văn Hộ nắm giữ. Hiếu Mẫn Đế có ý đồ liên hiệp với Triệu Quý, Độc Cô Tín để lật đổ Vũ Văn Hộ. Tuy nhiên, sự việc bị Vũ Văn Hộ phát hiện, Triệu Quý và Độc Cô Tín bị giết, Hiếu Mẫn Đế bị phế rồi bị sát hại vào năm 557. Vũ Văn Hộ cải lập Vũ Văn Dục làm hoàng đế, tức Chu Minh Đế, song đến năm 560 thì lại hạ độc sát hại Chu Minh Đế, cải lập Vũ Văn Ung làm hoàng đế, tức Vũ Đế. Vũ Đế chọn kế sách ẩn thân, 12 năm sau thì sát hại Vũ Văn Hộ và tự mình nắm quyền cai quản. Vũ Đế là người anh minh oai nghiêm, tiến hành nhiều cải cách trong thời gian nắm quyền, khiến cho quốc lực Bắc Chu càng thịnh. Năm 577, Vũ Đế đông chinh Bắc Tề, năm sau thì tiến vào kinh đô Nghiệp của Bắc Tề. Chu Vũ Đế sau khi thống nhất Hoa Bắc thì nhận được sự quy phục của các thế tộc Quan Đông như Lý Đức Lâm, thanh thế rất lớn. Vũ Đế lập tức nam chinh Trần song cùng năm thì mất. === Triều Tùy kiến lập và thống nhất === Dương Kiên là con của Dương Trung- đại thần khai quốc của Bắc Chu, con gái của Dương Kiên trở thành Thái tử phi của Vũ Văn Uân. Năm 578, Vũ Đế qua đời, Thái tử Vũ Văn Uân kế lập, tức Tuyên Đế. Tuyên Đế là hôn quân hoang dâm, mê tín Phật giáo và Đạo giáo, cùng một thời điểm có đến 5 vị hoàng hậu, đồng thời đoạt thê tử của người khác. Tuyên Đế sát hại tông thất-công thần Vũ Văn Hiến, đồng thời thu hồi đất phong của chư vương, tạo thuận lợi cho Dương Kiên đang muốn soán vị. Dương Kiên ban đầu tập hợp văn võ chư thần trong triều đình Bắc Chu, hình thành một tập đoàn lớn. Trước khi Tuyên Đế qua đời một năm, hoàng vị Bắc Chu được trao cho Thái tử Vũ Văn Xiển, tức Tĩnh Đế, ngoại thích Dương Kiên chuyên chính. Uất Trì Huýnh, Tư Mã Tiêu Nan bất mãn trước việc Dương Kiên chuyên quyền nên khởi sự phản Dương. Dương Kiên làm theo kế hoạch của Lý Đức Lâm, cho Vi Hiếu Khoan và những người khác đem quân đi bình định. Năm 581, Dương Kiên soán vị, tức Tùy Văn Đế, kiến quốc Tùy, cải nguyên Khai Hoàng, Bắc Chu mất. Năm 587, Tùy Văn Đế phế Tây Lương Hậu Chủ Tiêu Tông, Tây Lương mất. Năm 588, Tùy Văn Đế phát động chiến tranh diệt Trần, cho Dương Quảng làm chủ tướng, cùng các danh tướng như Hạ Nhược Bật và Hàn Cầm Hổ phát binh đánh Trần. Năm sau, quân Tùy đánh chiếm kinh đô Kiến Khang của Trần, Trần mất, Trung Quốc lại một lần nữa thống nhất. == Cương vực và phân chia hành chính == Về mặt hành chính, Nam triều kế thừa Đông Tấn, thi hành chế độ 3 cấp: châu, quận, huyện. Tuy nhiên, "kiều châu quận huyện" và "song đầu quận huyện" do tiến hành "thổ đoạn" nên biến thành châu quận thông thường. Từ năm Trung Bình thứ 5 (188) thời Hán Linh Đế trở đi Trung Quốc bắt đầu thực thi chế độ hành chính ba cấp: châu, quận, huyện; đến sau khi Tùy diệt Trần, triều đình đổi thành chế độ hai cấp: châu, huyện. Ở Nam triều, cấp châu đặt chức thứ sử, cấp quận đặt chức thái thú, chỉ có Đan Dương quận vì có địa vị thủ đô nên được dặt chức "doãn"; ở cấp huyện đặt ra chức lệnh, trưởng; từ thời Lưu Tống trở đi thì "lệnh" nhiều hơn "trưởng". Đồng cấp với quận là "vương quốc" và "công quốc", đặt chức "nội sử" và "tướng". Ở các khu vực dân tộc thiểu số, như dân Man, tộc Liêu, tộc Lý thì lập ra "tả quận", "tả huyện" và "liêu quận", "lý huyện", ví dụ như Nam Trần tả quận, Đông Đãng Cừ liêu quận. Đương thời, châu, quận, huyện có đẳng cấp phân biệt; nói chung dựa vào cự ly với thủ đô mà phân phẩm cấp cao thấp, những viên chức trợ giúp ở cấp châu được xét theo đẳng cấp của châu mà phong chức quan; hai châu Dương và Kinh còn được gọi là "nhị Thiểm". Về mặt cương vực, Lưu Tống kế thừa cương vực của Đông Tấn, cơ bản có trên dưới 22 châu. Thời đại Lưu Tống Vũ Đế là đỉnh cao, song không lâu sau, sau năm Vĩnh Sơ thứ 3 (422) thì vùng Hà Nam dần bị Bắc Ngụy thôn tính, sau đó biên giới lui về Hoài Thủy. Thời Nam Tề, về cơ bản tương đồng với Lưu Tống, có trên dưới 22 châu, song sau bị mất đất Miện Bắc Ung châu và Dự châu Hoài Nam. Thời Lương, việc thiết lập châu huyện cũng như cương vực có biến đổi rất lớn, vì Bắc phạt nên đoạt được đất Hoài Bắc, từng tiến đến đất Hà Nam. Ngoài ra, triều đình còn mở mang đất Mân-Việt; bình định tộc Lý Động, đánh bại tộc Tang Kha. Năm 539, Lương tổng cộng có 107 châu lớn nhỏ khác nhau. Trong và sau loạn Hầu Cảnh, Bắc Tề thừa cơ chiếm lĩnh đất Hoài Nam-Giang Bắc, Tây Ngụy thừa cơ chiếm đất Hán Trung-Ba Thục. Tây Ngụy suất quân đoạt lấy vùng đất ở phía bắc Giang Lăng của Lương, giao cho Tiêu Sát kiến lập Tây Lương để làm nước phụ dung. Sau khi Trần thành lập, cương vực không rộng, từ năm 569 thì bắt đầu dần thu phục đất Hoài Nam cùng một bộ phận Hoài Bắc, cùng từng đoạt được vùng đất phía bắc Trường Giang của Bắc Tề (573-577). Đến năm Thái Kiến thứ 11 (579) thời Trần Tuyên Đế, Trần bị Bắc Chu Vũ Đế chiếm lĩnh vùng Hoài Nam-Giang Bắc, khiến quốc thổ giảm thiểu, chỉ còn lại vùng đất ở phía nam Trường Giang đến khu vực Giao-Quảng. Bắc triều về mặt phân chia hành chính kế thừa Thập Lục Quốc, phân thành 3 cấp châu, quận, huyện như Nam triều. Tuy nhiên, lãnh thổ của một châu không lớn, thứ sử của châu có thể vượt qua cấp quận mà trực tiếp quản lý huyện, khiến cấp quận dần bị "hư cấp hóa", đến triều Tùy thì chính thức rút lại còn hai cấp: châu, huyện. Bắc Ngụy cũng thiết lập "kiều châu quận huyện" và "song đầu châu quận", như Nam Ung châu, đồng thời chiếu theo số nhân khẩu mà phân đẳng cấp của các châu, quận, huyện. Nhằm ngăn chặn những người mới quy phụ hoặc khác họ tiến hành phản loạn, vào năm 406, Bắc Ngụy đem trưởng quan các cấp hành chính phân lập tam vị, trong đó chức thứ sử của châu cần có một vị là tông thất. Bắc Ngụy ban đầu đặt chức "hành đài" để phụ trách quân chính địa phương, đặt chức đô đốc để quản lý quân sự một số châu. Đến thời Bắc Tề thì định "hành đài chế", Bắc Chu định "tổng quản chế", đều phụ trách quân sự và hành chính của một số châu quận. Ở Bắc Tề, do lãnh địa của một châu càng phân càng nhỏ, do vậy đặt chức "hành đài" kiêm quản dân chính và quân sự của một số châu. Tây Ngụy lại đổi "đô đốc" thành "tổng quản", tính chấyt tương tự như "hành đài" của Bắc Tề. Thời Bắc Chu, tổng quản thường kiêm nhiệm thứ sử tại châu trú chân, đồng thời lấy châu trú chân làm danh. Bắc Ngụy đối với bản tộc Tiên Ti hoặc các tộc khác (ngoài tộc Hán) đặt chức "lĩnh dân tù trưởng" để quản lý tộc đó, địa vị chỉ đứng sau thứ sử các châu. Đồng thời, Bắc Ngụy cũng kế tục Thập Lục Quốc, đặt thêm "hộ quân" để quản lý các dân tộc khác trong địa phận châu, địa vị tương đồng với quận thủ, đến năm 457 thì phế trừ. Bắc Ngụy còn có "trấn thú chế", thiết trấn ở các yếu địa về quân sự. Trấn do trấn tướng quản lý, bên dưới phân thành "thú" do "thú chủ" quản lý. Trong số đó, quan trọng nhất là Lục trấn có nhiệm vụ củng cố thủ đô Bình Thành, sau khi Hiếu Văn Đế thiên đô thì Lục trấn thế suy. Sau khởi nghĩa Lục trấn, trấn thú Bắc triều chỉ chuyên quản quân sự, không còn có tính chất đơn vị hành chính. Về mặt cương vực, Bắc Ngụy nổi lên từ đất Đại Bắc (nay là bắc bộ Sơn Tây), đến năm 439 thống nhất Hoa Bắc, kết thúc thời kỳ Ngũ Hồ loạn Hoa. Bắc Ngụy nhiều lần xâm nhập Lưu Tống, chiếm lĩnh đất Sơn Đông, Hà Nam và Hoài Bắc. Ngoài ra, Bắc Ngụy còn đoạt được đất Hoài Nam của Nam Tề và khu vực Hán Trung-Kiếm Các của Lương. Đến lúc này, lãnh thổ Bắc Ngụy bắc đến thảo nguyên Mạc Nam, tây đến Tây Vực, đông đạt Liêu Tây, nam đạt lưu vực Giang-Hán. Trong quá trình mở rộng lãnh thổ, châu quận phần nhiều được thiết lập khi cần, đến năm 487 thì bắt đầu chỉnh đốn. Đến sau thời Hiếu Minh Đế, lãnh thổ Bắc Ngụy giảm thiểu, châu quận được đặt quá nhiều. Sau khi Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, Đông Ngụy có 80 châu, Tây Ngụy có 33 châu. Sau khi Bắc Tề kiến lập, bắt đầu tiến hành chỉnh đốn phân chia hành chính, phế bỏ ba châu, 153 quận, 589 huyện. Vùng Giang Hoài của Bắc Tề sau bị Trần chiếm lĩnh. Tây Ngụy nhiều lần công chiếm đất Ba Thục và Giang Hán của Lương. Những năm đầu Bắc Chu, triều đại này chiêu lại đất Nam Trung, đặt Ninh châu (tức Nam Ninh châu). Bắc Chu Vũ Đế diệt Bắc Tề, lấy đất Giang Hoài của Trần, khuếch trương đáng kể về mặt lãnh thổ. == Thể chế chính trị == Mặc dù vào thời Nam bắc triều, quyền lực của thế tộc cực thịnh, song thế tộc Nam triều theo thời gian có xu thế trở nên cứng nhắc, hàn môn bắt đầu nổi lên; thế tộc Bắc triều chịu ảnh hưởng rất lớn của Hoàng đế, khiến cho quyền lực của họ bất ổn định. Hoàng đế Nam triều chủ yếu xuất thân từ hàn môn hoặc thứ tộc, song đặc quyền của thế tộc không bị lung lay ngay tức khắc. Nam triều quy định con em thế tộc được 20 tuổi thì vào làm quan, con em hàn môn 30 tuổi có tài năng thì được dùng làm tiểu lại, khiến địa vị của thế tộc được nâng cao. Người có xuất thân hàn môn phải gia nhập vào thế tộc, thay đổi tịch trạng, giả trang danh môn thì bản thân mới có thể tiến xa trong nghiệp quan trường. Thế tộc duy trì được địa vị xã hội, đồng thời cũng thịnh hành việc lập "tổ phả", như tổ tôn Giả Bật ba đời chuyên tinh về tổ phả học, soạn "Thập thất châu sĩ tộc phả" với tổng cộng hơn 700 quyển. Lưu Đam của Lưu Tống, Vương Kiệm của Nam Tề, Vương Tăng Nhụ của Lương đều có tác phẩm chuyên về tổ phả học. Tổ phả học là căn cứ trọng yếu để Lại bộ tuyển quan, là công cụ duy trì nền chính trị thế tộc. Thế tộc và hàn môn duy trì giới hạn nghiêm ngặt, hai tầng lớp không thông hôn ngay ngồi cùng nhau, song đến trung hậu kỳ thì dần dần biến mất. Thế tộc Nam triều không dẫn binh đánh trận, lại không có khả năng quản lý chính sự, sau loạn Hầu Cảnh thì sụp đổ toàn diện, không còn khả năng nổi lên. Hàn môn chủ yếu là chỉ địa chủ và thương nhân không có đặc quyền, họ không can tâm chịu chèn ép, thông qua các phương tiện như khảo thí mà bước lên vũ đài chính trị, chế độ khoa cử manh nha xuất hiện trong thời kỳ Lương Vũ Đế. Các hoàng đế khai quốc của Nam triều đều xuất thân từ hàn môn, trải qua việc cầm binh đánh trận, khống chế binh quyền rồi đăng cơ. Do quân chủ Hồ tộc của Bắc triều cần có nhân tài quen thuộc với chế độ hay quy chế của Trung Nguyên, cũng nhằm lung lạc một số thế lực thế tộc phương bắc, quân chủ Hồ tộc hợp tác với thế tộc Hán tộc để trị lý quốc gia. Mặc dù thế tộc phương bắc tiếp tục có ý nguyện phối hợp, song giữa hai bên vẫn có bất đồng về phong tục tập quán hay quan điểm chính trị nên có lúc nảy sinh việc muốn sát hại đối phương. Sau khi Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy vận động Hán hóa, đưa quý tộc Tiên Ti dung hợp vào trong thế tộc phương bắc, định rõ đẳng cấp và địa vị của thế tộc Hán và Tiên Ti phân thành 6 bậc: cao lương, hoa du, giáp, ất, bính, đinh. Đồng thời, tiến một bước nữa trong việc thực hành Hán và Tiên Ti kết thông gia, khiến trở ngại giữa hai bên dần giảm thiểu. Sau khởi nghĩa Lục trấn, thế tộc Tiên Ti ở Lạc Dương chịu tổn thất nghiêm trọng. Sau đó, Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, lại phân biệt do Bắc Tề và Bắc Chu kế thừa. Quân chủ Bắc Tề không hoàn toàn trọng dụng thế tộc người Hán, song lại đặc biệt xem trọng việc đề xướng văn hóa và võ công Tiên Ti; trong khi đó Bắc Chu lựa chọn chính sách "Quan Trung bản vị", dung hợp văn hóa Hồ-Hán, trọng dụng các thế tộc như Tô Xước hay Lô Biện. Sau khi giành thắng lợi trước Bắc Tề và Trần, những vị trí chính trị chủ yếu đều do thế tộc Hồ-Hán Quan Trung lũng đoạn, thế tộc Quan Đông và thế tộc Giang Nam đều khó mà đối đầu, ảnh hưởng tới hoàn cảnh chính trị của triều Tùy và Đường sau này. Tại Lưu Tống và Bắc Ngụy đều xuất hiện nguyên mẫu của chế độ tam tỉnh dưới triều Tùy sau này. Bắc Chu dựa theo Chu Lễ mà đặt ra lục quan, tức 6 phủ: thiên quan, địa quan, xuân quan, hạ quan, thu quan, đông quan; là nguồn gốc của chế độ lục bộ dưới triều Tùy-Đường. Tuy nhiên, xét về toàn thể thời kỳ Nam Bắc triều, tam tỉnh lục bộ chế vẫn cùng tồn tại với tam công cửu khanh chế, cho đến sau khi triều Tùy được kiến lập thì mới phế bỏ tam công cửu khanh chế. Môn hạ tỉnh phụ trách hiến kế sách và khuyến gián hoàng đế, tham dự vào việc cơ mật, trở thành cơ cấu nắm giữ đại quyền. Để tránh bị thế tộc khống chế, hoàng đế Nam triều để cho người xuất thân từ hàn môn đảm nhiệm các chức vụ cơ yếu bên cạnh mình, như "thông sự xá nhân" không những thay Hoàng đế khởi thảo chiếu lệnh, mà còn quản lý chính lệnh, trở thành một chức vụ có thực quyền bên cạnh Thiên tử. Một chức vụ trọng yếu khác là "điển thiêm" phụ trách khống chế những việc quan trọng của châu trấn, mỗi năm họ đều về kinh thành để báo cáo với Hoàng đế về những điều tốt xấu của thứ sử, do vậy chư vương thứ sử đều cực kỳ e sợ điển thiêm. Quân chủ Nam triều thấy được tình trạng phương trấn thế cường, uy hiếp trung ương vào thời Đông Tấn, do vậy thường cho con em trong tông thất đi làm trưởng quan quân chính ở châu trấn, đây là sách lược "nghĩ Chu chi phân Thiểm". == Ngoại giao và các dân tộc khác == Hai triều Nam-Bắc luôn duy trì trạng thái đối địch, Nam triều gọi Bắc triều là "tác lỗ" (giặc có bím tóc), Bắc triều gọi Nam triều là "đảo di" (mọi đảo). Hai bên thường xuyên xảy ra chiến tranh, song vẫn mở cửa để mậu dịch với nhau. Đương thời, dân tộc bản địa ở phương nam thường được gọi là "Nam Man". Ở lưu vực Trường Giang, các tộc "Bản Tuần Man", "Bàn Hồ Man", "Lẫm Quân Man" có thực lực lớn nhất. ở Lĩnh Nam thì tộc Lý là chủ yếu. Các dân tộc này cùng người Hán tạp cư, tiến hành hoạt động nông nghiệp, chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, dùng họ của người Hán, đến hậu kỳ Nam triều thì dần dung hợp với người Hán. Bản Tuần Man còn gọi là "người Tung", vốn cư trú ở khu vực Lãng Trung thuộc Ba quận của Ích châu, sau thiên di về phía bắc đến Hán Trung, Quan Trung. Lẫm Quân Man nguyên cư trú tại khu vực Ba quận của Ích châu và Giang Lăng của Kinh châu, về sau mở rộng đến khu vực Trường Giang-Hán Thủy và Hoài Tây. Trong sách sử có chép về Ba Đông Man, Nghi Đô Kiến Bình Man đều là chỉ Lẫm Quân Man. Bàn Hồ Man cũng được gọi là "người Khê", đất phát dương là Thìn châu. phân bố ở khu vực nay là Hồ Nam và Giang Tây. Lý tộc có phạm vi cư trú tại Nam Lĩnh, nay là khu vực nam bộ Quý Châu đến đảo Hải Nam, bắc bộ Việt Nam. Người dân Lý tộc nổi danh có Trân Pha, bà an định đất Giao-Quảng trong loạn Hầu Cảnh và loạn Âu Dương Hột, bảo hộ cho nhân dân Lý-Hán địa phương, được tôn là "Thánh Mẫu". Ở phía nam của Giao châu có nước Lâm Ấp, Lâm Ấp vương Phạm Dương Mại nhiều lần xâm phạm các quận Nhật Nam, Cửu Đức của Nam triều, đến hậu kỳ Nam triều thì Lâm Ấp chiếm lĩnh thành công quận Nhật Nam. Giao châu của Nam triều từng nhiều lần phát sinh sự kiện cát cứ kháng mệnh, bắt đầu từ năm 468 với việc huynh đệ Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến chiếm hữu Giao châu chống lại triều đình Lưu Tống, Nam Tề Cao Đế nghe theo kiến nghị của Lưu Thiện Minh, an phủ Lý Thúc Hiến làm Giao châu thứ sử. Thời kỳ Nam Tề Vũ Đế, Lý Thúc Hiến ngăn chặn ngoại quốc dâng biếu cho triều đình, Vũ Đế thừa cơ phái binh công chiếm Giao châu. Thời Lương, năm 505, Giao châu thứ sử Lý Khải cát cứ châu làm phản, triều đình Lương phái Lý Tháo đi bình định, đồng thời trảm thủ lĩnh nổi dậy địa phương là Nguyễn Tông Hiếu. Năm 541, Lý Bí khởi sự, đánh chiếm châu thành Long Biên, đến năm 544 thì kiến quốc Vạn Xuân. Năm sau, triều đình Lương khiển Dương Phiếu, Trần Bá Tiên suất binh đánh bại quân đội của Lý Bí. Năm 546, Lý Bí thoái lui về động Khuất Lão rồi qua đời, bộ hạ của ông là Triệu Quang Phục vẫn chiếm Long Biên, huynh trưởng của ông là Lý Thiên Bảo chiếm động Khuất Lão. Lý Phật Tử sau khi kế thừa Lý Thiên Bảo vào năm 571 thì đem quân đánh diệt Triệu Quang Phục. Đến thời Tùy, triều đình phái Lưu Phương nam chinh, Lý Phật Tử xin hàng triều đình Tùy. Từ những năm cuối Đông Hán đến thời Đông Tấn, triều đình Trung Nguyên không có sức để tâm đến khu vực Nam Trung ở Tây Nam, do vậy hào tộc Thoán thị hình thành cát cứ tại đó. Vào thời Lưu Tống, Tề, Lương, tuy Nam Trung vẫn còn là thuộc địa, triều đình đặt chức Ninh châu thứ sử, song đại đa số đều "diêu lĩnh", không thể đến nhậm chức, thành viên Thoán thị trở thành những người khống chế khu vực này trên thực tế. Ninh châu thứ sử Từ Văn Thịnh của triều Lương từng có hoạt động tại nơi này, song do loạn Hầu Cảnh bùng phát nên ông phải dời đi. Năm 553, Tây Ngụy thừa cơ đánh chiếm đất Ba Thục, đặt chức Ích châu thứ sử, sang thời Bắc Chu, triều đình từng lệnh cho Ích châu thứ sử Uất Trì Huýnh kiêm lo việc quân sự của Ninh châu, chiêu lại khu vực Nam Trung, bổ nhiệm Thoán Toản làm Ninh châu thứ sử, Nam Trung trở thành thuộc địa của Bắc Chu. Nhu Nhiên từng là bộ tộc lệ thuộc vào Thác Bạt Tiên Ti, có mối quan hệ gần gũi với Thác Bạt bộ (tiền thân của Bắc Ngụy), là cường quốc số một ở khu vực Mạc Nam và Mạc Bắc. Từ thời kỳ Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế, Nhu Nhiên thường tiến đánh Bắc Ngụy, đồng thời cướp phá hành lang Hà Tây, biến Đột Quyết, Cao Xa thành những thuộc quốc. Thời kỳ Đông Ngụy-Tây Ngụy, năm 552, thủ lĩnh Đột Quyết là Thổ Môn khả hãn kiến lập Đột Quyết hãn quốc, hai năm sau thì dánh diệt Nhu Nhiên. Đột Quyết thôn tính dư chúng của Cao Xa, cùng vương triều Sassanid diệt Bạch Hung Nô vào năm 558, cương vực khuếch trương về phía đông đến sông Bureya, bắc đến hồ Baikal và dãy núi Stanovoy, nam đến sát Trung Nguyên và sông Amu Darya, tây đến biển Aral. Đột Quyết sau lấy dãy núi Altay làm ranh giới, hình thành Đông Đột Quyết thuộc Thổ Môn hệ và Tây Đột Quyết thuộc Thất Điểm Mật hệ. Đương thời, các dân tộc ở phía đông bắc của Trung Nguyên có thể phân thành hai ngữ tộc lớn: ngữ tộc Phù Dư gồm Phù Dư Quốc, Khố Mạc Hề, Khiết Đan và Thất Vi; ngữ tộc Vật Cát (Mạt Hạt) phân thành 7 bộ tộc. Phù Dư Quốc có kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và súc mục nghiệp, có nhiều ngựa tốt, ngọc đỏ, ngọc trai lớn, da chồn. Trong xã hội thịnh hành vu thuật, trong thời chiến tranh thường tiến hành tế thiên xem bói để biết trước cát hung. Người Vật Cát thì "hai người cày cùng nhau, đất trồng nhiều dẻ, mạch, tế, rau, lại có cả quỳ", có cả nghề săn bắn. Sơ kỳ Đông Hán, Phù Dư Quốc cường thịnh, thần phục được các nước Vật Cát, người Phù Dư Quốc và Cao Câu Ly và Bách Tế có quan hệ. Đến thời kỳ Bắc Ngụy, từ năm Diên Hưng thứ 6 (475) thời Hiếu Văn Đế, Vật Cát dần hưng thịnh, không lâu sau các nước ở phía đông bắc như Vật Cát, Phù Dư, Cao Câu Ly khiển sứ sang triều cống Bắc Ngụy. Bắc Ngụy sau khi an định khu vực này, cho khai thị tại khu vực giữa Hòa Long và Mật Vân để liên hệ mậu dịch và sứ thần với các nước ở phía đông bắc. Năm 478, Vật Cát thỉnh cầu Bắc Ngụy cùng Bách Tế nam bắc giáp công Cao Câu Ly, Bắc Ngụy ngăn chặn chiến tranh phát sinh. Sau khi Bắc Ngụy suy thoái, Vật Cát diệt Phù Dư Quốc vào năm 493, lãnh thổ khuếch trương ra toàn bộ bình nguyên Tùng Liêu, trở thành một bộ lạc lớn mạnh ở khu vực đông bắc. Trên báo đảo Triều Tiên có Tam Quốc: Cao Câu Ly, Bách Tế và Tân La, cùng với Oa Quốc tại Nhật Bản. Cao Câu Ly là cường quốc, uy phục Bách Tế và Tân La, thôn tính di dân Phù Dư, thụ sách phong quốc vương của các Nam Bắc triều, sau năm 550 vì tranh đấu nội bộ mà dần suy thoái. Bách Tế chịu sự chèn ép của Cao Câu Ly và Tân La, do vậy nỗ lực duy trì quan hệ với Lương, Oa Quốc, về mặt mậu dịch và triều cống đều phát triển sôi nổi. Tân La chịu sự uy hiếp của Cao Câu Ly, do vậy kết minh với Bách Tế, đến thế kỷ 6 bắt đầu cường thịnh, đồng thời thôn tính Nhâm Na. Vào thời Tấn mạt và Nam triều, Oa ngũ vương nhiều lần khiển sứ đến Kiến Khang. yêu cầu được hoàng đế Nam triều sách phong. Trong đó, Oa vương từng đề cập với Lưu Tống Thuận Đế về việc muốn tiến quân vào bán đảo Triều Tiên. Oa Quốc dựa vào sách phong của hoàng đế Nam triều, củng cố thế lực tại Nhâm Na. Nam triều cũng dần gia tăng sách phong với Oa vương, thừa nhận Oa Quốc thống trị một bộ phận nam bộ bán đảo Triều Tiên. Sau khi Cừu Trì Quốc mất vào tay Bắc Ngụy, phân biệt kiến lập Vũ Hưng Quốc và Âm Bình Quốc. Năm 472, Dương Văn Độ kiến quốc Vũ Hưng, chu toàn và giao chiến với hai triều Nam Bắc. Năm 505, Dương Thiệu Tiên xưng đế, năm sau bại trận trước Bắc Ngụy và bị bắt. Năm 534, Dương Thiệu Tiên thừa cơ Bắc Ngụy phân liệt mà phục hưng Vũ Hưng, đến năm 553 thì mất về tay Tây Ngụy. Năm 477, Dương Quảng Hương kiến quốc Âm Bình, chịu sự chi phối của Bắc Ngụy, hữu hảo với Nam Tề và Lương. Năm 580, Dương Vĩnh An ở Sa châu hưởng ứng Ích châu tổng quản Vương Khiêm, khởi binh phản kháng, cuối cùng chiến bại và nước mất. Tây Vực vào thời Nam Bắc triều có tiến bộ về mặt kinh tế và văn hóa, đương thời con đường tơ lụa có ba tuyến: từ Cao Xương về phía tây, hợp cùng trung đạo hợp tại Quy Từ tạo thành tân bắc đạo; nam đạo từ Thiện Thiện đến Vu Lãng. Quốc gia hay thành thị nổi danh có Cao Xa, Cao Xương, Thiện Thiện, Quy Từ và Vu Điền. Cao Xa nguyên là Phục La bộ Thiết Lặc, thần phục Nhu Nhiên. Năm 487, lĩnh chủ A Phục Chí La suất bộ tây thiên đến khu vực nay là tây bắc Thổ Lỗ Phiên, kiến quốc Cao Xa. Cao Xa từng uy thịnh Tây Vực, cũng từng tạm khống chế Cao Xương trong một thời gian ngắn. Về sau, Cao Xa liên tục bị Áp Đạt và Nhu Nhiên giáp công, đến năm 541 thì bị Nhu Nhiên đánh diệt, dư chúng vào năm 546 hợp vào Đột Quyết hãn quốc. Thời Bắc Ngụy Thái Vũ Đế, Bắc Ngụy có hai cứ điểm tại Tây Vực, một là ở Cao Xương quận, một được thiết lập sau khi phái Vạn Độ Quy đánh hạ, tương đương với Thiện Thiện. Thời kỳ Bắc Ngụy Văn Thành Đế, Nhu Nhiên phù trợ Khám Bá Chu làm vương, Cao Xương Quốc chính thức kiến lập. Trải qua nhiều năm phải đương đầu với việc các nước xung quanh tranh đoạt, đến năm 499, Khúc Gia kiến lập Khúc thị Cao Xương. Quy Từ giàu tài nguyên than đá, sắt, giỏi nghề đúc. Ngoài ra, Quy Từ còn có các sản phẩm đồng, chì, ngựa tốt, hồ phấn, An Tức hương, là trung tâm kinh tế của Tây Vực. Vu Điền quốc vương và bách tính đều tôn kính Phật pháp, trong nước có rất nhiều tăng lữ và tu viện. Rất nhiều danh tăng Trung Nguyên đến Vu Điền để lấy kinh thư, bách tính đều sẵn lòng dâng tăng phòng cho tăng lữ viễn phương, khiến Vu Điền trở thành trung tâm Phật giáo. == Chế độ quân sự == Thời kỳ Nam Bắc triều, do quân quyền của các triều đại nằm trong tay quyền thần nên thường phát sinh việc đoạt vị. Chế độ quân sự của Nam triều phần lớn kế tục binh chế Lưỡng Tấn, tuy nhiên "thế binh chế" suy lạc, do vậy lấy "mộ binh chế" làm chủ yếu. Vào sơ kỳ Bắc Ngụy, Bắc Ngụy thi hành chính sách quân sự "bộ tộc binh chế", tức binh dân hợp nhất, sau khi thống nhất Hoa Bắc thì dần chuyển sang "thế binh chế". Hậu kỳ Bắc triều, xuất hiện "phủ binh chế", trở thành cơ sở binh chế thời Tùy-Đường sau đó. Tuy nhiên, "phủ binh chế" của Tây Ngụy-Bắc Ngụy đều không như "phủ binh chế" thời Tùy-Đường: thời bình là dân, thời chiến là binh; binh không biết tướng, tướng không biết binh, mà là binh chế Tiên Ti, là chế độ bộ tù phân thuộc, là chế độ binh nông phân ly chế, là chế độ quý tộc đặc thù. Binh chủng Nam triều lấy bộ binh và thủy binh là chính, kị binh khá ít, binh lấy theo "thế binh chế". Tuy nhiên, do tiêu hao trong chiến tranh, sĩ binh chạy trốn và bị tư gia phân cát, một bộ phận "binh hộ" biến thành "dân hộ", nguồn binh trở nên cạn kiệt, do vậy phải lấy "mộ binh chế" là chính. Quân đội Nam triều phân thành Trung quân (còn gọi là Đài quân) và ngoại quân; Trung quân trực thuộc trung ương, thời bình trú thủ kinh thành, khi có biến cố thì xuất chinh. Thời Lưu Tống, Vũ Đế Lưu Dụ cho tăng cường binh lực hoàng cung, nhằm đảo ngược cục diện "ngoại cường nội nhược" kéo dài từ thời Đông Tấn. Tuy nhiên, do tông thất tự tàn sát lẫn nhau nên mong muốn này thất bại, nhiều lần phát sinh sự việc soán vị. Ngoại quân quy thuộc quyền quản chế của đô đốc các địa phương, đô đốc phần nhiều kiêm nhiệm thứ sử, thường kháng lại triều đình trung ương. Vào sơ kỳ, quân đội Bắc Ngụy lấy kị binh Tiên Ti là chính, các bộ tự đoạt lấy sản vật để tiếp tế cho quân đội. Trong quá trình thống nhất Hoa Bắc, người Hán dần gia nhập vào quân đội Bắc Ngụy. Sau khi chiến tranh công thành gia tăng, quân đội Bắc Ngụy biến thành bộ-kị binh hỗn hợp, sau đó bộ binh trở thành binh chủng chủ lực trong quân đội Bắc Ngụy. Sau khi Bắc Ngụy thống nhất Hoa Bắc, quân đội phân thành "trung quân", "trấn thú binh" và "châu quận binh". Trung quân vào thời bình thì bảo vệ kinh thành, khi có biến cố bên ngoài thì trở thành đơn vị tác chiến chủ lực. Trấn thú binh là những đội quân được thiết lập để bảo vệ biên phòng; "trấn" tương đương với châu, "thú" tương đương với quận. Ban đầu, "trấn thú binh" chỉ đặt ở biên cảnh phía bắc, về sau lan ra biên cảnh phía nam. Châu quận binh là đội quân duy trì trị an các châu, có khi được sung trấn thú binh hoặc theo quân đi tác chiến. Bắc Ngụy vào hậu kỳ dần hình thành "binh hộ" cố định. Quân đội Đông Ngụy và Bắc Tề chủ yếu do dân Lục trấn và binh sĩ Tiên Ti tại Lạc Dương tổ thành, vào thời Bắc Tề biên thành "bách bảo Tiên Ti". Ngoài ra, cũng tuyển dũng sĩ người Hán đi phòng bị biên giới. Tây Ngụy và Bắc Chu chịu ảnh hưởng của truyền thống Tiên Ti và văn hóa Hán, vào năm 550 thì sáng lập "phủ binh chế". Chế độ này đem quân dân Lục trấn dời đến Quan Trung phân thành Lục quân, đồng thời đặt ra tám vị "Thượng trụ quốc đại tướng quân". Quyền thần Tây Ngụy là Vũ Văn Thái là thống soái tối cao, Quảng Lăng vương Nguyên Hân không có thực quyền, sáu thượng trụ quốc khác phân lĩnh phủ binh. Thời Bắc Chu, triều đình gia tăng số lượng thượng trụ quốc, đồng thời tập trung binh quyền vào trong tay hoàng đế. Tuy nhiên, "phủ binh chế" vào thời kỳ này không giống với "phủ binh chế" thời Tùy-Đường, họ vẫn là những binh sĩ chuyên nghiệp, Vũ Văn Thái đem tướng lĩnh phủ binh (cùng sĩ tốt của họ) cải sang họ Tiên Ti, kết hợp với việc cấp cho đất đai. hợp thành một nhóm người ở Quan Trung có nghề nghiệp là quân nhân, dân tộc là người Hồ, được tổ chức thành một đội quân lớn mạnh theo quy cách bộ lạc. Mặc dù phủ binh là chủ lực song vẫn có trung quân bảo vệ kinh sư, trấn thú binh cùng châu quận binh và các đội quân khác. Thế gia hào tộc có thế lực lớn mạnh, phần lớn họ đều có tư binh với thực lực không hế yếu kém. == Xã hội và nhân khẩu == Tình hình xã hội và nhân khẩu vào thời Nam-Bắc triều rất phức tạp, nhìn chung có thể phân thành 4 tầng lớp: thứ nhất là thế tộc danh môn hào tộc; thứ hai là "biên hộ tề dân" tự làm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay thương nghiệp; thứ ba là "y phụ nhân" phụ thuộc thế tộc cường hào như "bộ khúc" "điền khách" hay "y thực khách", những người chịu sự cai quản của chính quyền thuộc tạp hộ-bách công hộ-binh hộ-doanh hộ cũng được định là "y phụ nhân"; cuối cùng là các nô lệ như "nô tì", "sinh khẩu", "lệ hộ" và các thành dân bị bắt làm tù binh rồi bị buộc phải thiên di. Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều là thời kỳ chính trị thế tộc, mặc dù hào tộc ở phương bắc có địa vị và quyền lực thấp hơn ở Nam triều, song vẫn ở địa vị rất cao. Số nhân khẩu do thế tộc khống chế gồm "bộ khúc", "điền khách" và "nô lệ" nếu không thể "tự thục" (tự chuộc thân) hoặc "phóng khiển" (phóng thích) thì không thể có được tự do. "Bộ khúc" chủ yếu được sử dụng vào việc tác chiến, do chiến sự giảm thiểu nên tham gia vào hoạt động sản xuất. Do tại Nam triều, "đại gia tộc chế" suy vong khiến "bộ khúc" dần chịu sự khống chế của quốc gia. Nô lệ chủ yếu bắt nguồn từ các nông dân phá sản hoặc là lưu dân, họ là tài sản của địa chủ, do vậy có thể bị địa chủ dùng làm vật thế chấp hoặc để giao dịch. Để ngăn chặn nô lệ chạy trốn, các nô lệ đều bị "kình diện" (Thích chữ bôi mực vào mặt). Nhờ các phương thức như "mi nam vi khách" hay " phát nô vi binh" mà nô lệ có thể chuyển thành điền khách của địa chủ hoặc binh sĩ của quốc gia. Những người tự cày cấy trồng trọt là lực lượng trọng yếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đương thời. Họ phải thực hiện các nghĩa vụ tô điều, tạp thuế, lao dịch và binh dịch cho triều đình; vì thế mà nhiều nông dân tự canh đã phá sản và phải lưu vong, trở thành bộ khúc hoặc điền khách của thế tộc. Thời Nam-Bắc triều vẫn tiếp tục thi hành "thế binh chế" có từ thời Tam Quốc, các "binh hộ" truyền đời đảm nhiệm việc binh, thời bình cũng phải nộp tô điều. Do thợ thủ công nghiệp rất ít, cho nên quan phủ khống chế hết sức nghiêm ngặt với "tạp hộ" hoặc "bách công hộ", "bách công hộ" sau khi chuyển sang khu vực sản xuất của quan phủ thì hình thành nên các phố xưởng, truyền nghề cho thế hệ sau. Nếu như quý tộc và quan lại tự chiếm bách công hộ thì thường sẽ bị trừng trị. Tại Bắc triều còn có "tân dân" và "thành dân"; "tân dân" là những người dân hoặc thợ thủ công thuộc các dân tộc di dời quy mô lớn đến khu vực thủ đô dưới thời Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế nhằm tăng cường quốc lực, xét theo số khẩu mà được nhận ruộng; "thành dân" là những người dân bị chinh phục, bị buộc phải thiên di, được bố trí đến sống tại các châu và có thân phận giống như nô lệ; thành dân có cấu trúc dân tộc phức tạp và phân bố trên quy mô rộng. Ở phương nam, vào khoảng thời Tấn mạt-Tống sơ, mô hình đại gia đình chuyển thành tiểu gia đình, người trong cùng một gia tộc không làm chung nghề phải lên đến bảy phần, lạnh nhạt với nhau. Điều này là do sau khi tông tộc phát triển, các gia đình giàu nghèo khác biệt, nếu như không cùng chung hoạn nạn từ bên ngoài thì sẽ dễ dàng phân ly; do đó phương thức đánh thuế dựa trên đại gia tộc trở nên vô dụng. Ở phương bắc, do ngoại tộc cần đoàn kết hợp tác nên vẫn duy trì được chế độ đại gia tộc. Do người Hán có cơ hội được tham gia chính quyền của người Hồ, truyền thống văn hóa và thể chế của Trung Quốc dần dần tiếp nhận các yếu tố ngoại tộc, song vẫn còn thịnh hành các phong tục như "tài hôn". Thời Nam-Bắc triều, các dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp diễn ra Hồ-Hán dung hợp văn hóa, các dân tộc du mục trên thảo nguyên phương bắc không ngừng Hán hóa trong quá trình tiến vào Trung Nguyên, trong khi các thế tộc người Hán do muốn tránh chiến loạn nên đem gia đình dời đến phương nam, xúc tiến việc người Hán và các dân tộc khác ở phương nam tiến hành tiếp xúc và dung hợp. Do đó, người Hán vào thời Tùy-Đường không giống như người Hán vào thời Tần-Hán, các dân tộc ở hai lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang lấy người Hán làm chủ thể mà dụng hợp và hình thành nên "tân Hán tộc". Loạn Vĩnh Gia từ thời Tấn khiến một lượng lớn người Hán dời đến Giang Nam, vào sơ kỳ Đông Tấn người ta dùng phương thức thiết lập kiều châu, quận, huyện nhằm an phủ lưu dân phương bắc, đồng thời cho hưởng mức thuế thấp. Tuy nhiên, do kiều dân và cư dân bản địa hỗn tạp, ảnh hưởng đến việc thu thuế của triều đình. Do vậy vào trung hậu kỳ thời Đông Tấn, chính quyền thực thi "thổ đoạn", cho kiều dân phương bắc nhập hoàng tịch tại địa phương, cùng gánh vác trách nhiệm phú dịch với nhân dân địa phương. Thời Nam triều, chính quyền 5 lần lần tiến hành "thổ đoạn", trong đó "Nghĩa Hy thổ đoạn" do Tống Vũ Đế Lưu Dụ tiến hành vào năm 413 là đáng kể nhất, khiến cho các châu huyện của kiều dân dần dần biến mất. Loạn Vĩnh Gia khiến người Hán phương bắc dời đến phương nam, song vẫn còn một bộ phận lưu lại phương bắc sống cùng với các dân tộc du mục. Do người Hồ thiếu kinh nghiệm thống trị Trung Nguyên, do vậy họ trọng dụng thế tộc người Hán để trị lý quốc gia, khiến văn hóa hai bên vay mượn của nhau, dần dần hình thành dung hợp văn hóa. Ví dụ như vào thời Ngũ Hồ thập lục quốc, quân chủ các nước hợp tác với người Hán, cuối cùng khiến một bộ phận người Hồ ở Trung Nguyên chuyển hóa thành người Hán.; Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa, dung hợp hoàng tộc Tiên Ti với thế tộc người Hán, đổi họ của hoàng tộc từ "Thác Bạt" sang "Nguyên", cấm dùng tiếng Tiên Ti; Thượng trụ Tây Ngụy là Vũ Văn Thái nghe theo kiến nghị của Tô Xước mà lập chính sách Quan Trung bản vị. Tuy nhiên, quá trình dung hợp không thể tránh khỏi sản sinh xung đột tư tưởng, đấu tranh chính trị hoặc xung đột chủng tộc. Ví dụ như Bắc Ngụy Thái Vũ Đế nhân "sự kiện tu quốc sử" mà diệt tông tộc của trọng thần Thôi Hạo và các họ khác có liên hệ. Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa khiến cho quý tộc Tiên Ti ở Lạc Dương và người Tiên Ti ở Lục trấn xảy ra mâu thuẫn, phát sinh phong trào Tiên Ti hóa để phản kháng văn hóa Hán, cuộc cùng dẫn đến loạn Lục trấn. Đông Ngụy và Bắc Tề do người Tiên Ti Lục trấn và người Hán bị Tiên Ti hóa làm chủ, duy trì tinh thần thượng võ, đề xướng văn hóa Tiên Ti, cực lực bài xích văn hóa Hán. Cuối cùng triều Bắc Chu dung hợp văn hóa Hồ-Hán và triều Tùy Hán hóa tiêu diệt triều Bắc Chu và Trần, khởi đầu cho đế quốc Tùy-Đường mang tính chất "Thiên hạ một nhà". == Kinh tế == Nam Bắc triều chủ yếu là kinh tế trang viên. Trang viên của thế tộc và tự viện đại bộ phận đều là sản xuất nhiều mặt hàng, có tính chất tự cấp tự túc. Đất ruộng có hệ thống thủy lợi tốt, với các loại cây trồng như lúa, dâu, gai dầu hay rau, ngoài ra còn trồng các loại cây ăn quả, nuôi cá, chăn nuôi gia súc. Về thủ công nghiệp, có nghề như dệt sợi, nấu rượu, sản xuất công cụ. Hoạt động sản xuất trong trang viên của thế tộc chủ yếu giao cho "điền khách", "bộ khúc" và "nô lệ"; trang viên của tự viện thường do tăng lữ và dân hộ sản xuất. Địa chủ tập trung khai khẩn, việc này có tác dụng nhất định đối với sự phát triển của khu vực. Do thế tộc dược hưởng đặc quyền, còn Phật giáo thì thịnh hành, do vậy trang viên địa chủ và tự viên tăng lên, đồng thời lại tạo thành một lượng lớn nông hộ ẩn núp. Cùng với đó là việc chiến tranh diễn ra thường xuyên, khiến cho lực lượng lao động tráng kiện của xã hội bị tổn thất rất lớn, khiến cho quốc gia cùng địa chủ và tự viện tranh đoạt với nhau về thổ địa và lực lượng lao động, bùng phát xung đột đổ máu, như "Bắc Ngụy Thái Vũ Đế diệt Phật" hay "Bắc Chu Vũ Đế diệt Phật". Cuối cùng, do các dân tộc tăng cường giao lưu kinh tế, đồng thời dung hợp thành nhất thể, xuất hiện nhiều tiềm năng mới cho sự phát triển kinh tế xã hội. Khu vực Giang Nam tiến vào một giai đoạn phát triển toàn diện, khiến trọng tâm kinh tế của Trung Quốc dời về phía nam, cuối cùng thúc đẩy việc hình thành Đại Vận Hà. === Nông nghiệp === Nông nghiệp là trọng tâm trong kinh tế trang viên, được triều đình và thế tộc quan tâm sâu sắc. Tình trạng chiếm lĩnh đất đai vẫn còn hết sức nghiêm trọng tại Nam triều, triều đình không thể cấm chỉ thế tộc chiếm lĩnh đất đai, năm Đại Minh thứ 1 (457) thời Lưu Tống Hiếu Vũ Đế, triều đình ra pháp lệnh thừa nhận chiếm lĩnh rừng núi sông đầm để hạn chế phạm vi chiếm đoạt của thế tộc. Tuy nhiên, sau khi ban bố pháp lệnh lại kích thích hào môn quyền quý tiến hành hoạt động chiếm lĩnh đất đai núi đầm. Nam triều tương đối an định so với Bắc triều, di dân vẫn khồng ngừng dời về phương nam, sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển. Hai châu Kinh và Dương có tăng trưởng đột xuất, còn Ích châu xếp sau. Dương châu là khu vực phát đạt nhất của Nam triều, trong đó Kiến Khang cùng vùng xung quanh là nơi phát triển nhất. Khu vực Tam Ngô (Ngô quận, Ngô Hưng, Cối Kê) là nguồn cung cấp cho các khoản chi tiêu của Nam triều. Khu vực Kinh-Tương ở quanh hồ Động Đình phát triển rất nhanh chóng. Ngoài ra, khu vực Hoài Nam nguyên là một trong những trọng trấn lương thực, song đến năm 451 thì chịu sự phá hoại trong chiến tranh Ngụy-Tống. Trải qua hai triều Tề và Lương, tình hình sản xuất mới được phục hồi. Các triều đại Nam triều cho xây dựng sửa chữa không ít các công trình thủy lợi, như các triều Tống, Tề, Lương cho sửa chữa Thược Bi ở Thọ Dương (nay là phía nam Thọ huyện, An Huy). Nam Tề tại Tề quận (trị sở nay là Lâm Truy, Sơn Đông) cho khai khẩn 200 khoảnh ruộng hoang, dùng nước của Thẩm Hồ để tưới ruộng. Tiền kỳ của Bắc triều, do ảnh hưởng từ hậu quả của chiến tranh từ thời Ngũ Hồ thập lục quốc, phát triển nông nghiệp tụt hậu so với Nam triều. Năm Thái Hòa thứ 9 (485), Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế nghe theo kiến nghị của Lý An Thế mà thi hành quân điền chế, đem một lượng lớn đất hoang (do hậu quả chiến tranh) chiếu theo chế độ mà phân cấp cho nông dân. Chế độ này sau đó cũng được Tây Ngụy, Đông Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu và Tùy-Đường thi hành, đất ruộng được phân phối chủ yếu là "lộ điền" (trồng ngũ cốc) và "tang điền" (trồng dâu). Lộ điền chủ yếu là đất quốc hữu, có thể cấp cho nam nữ nô tì, song không thể mua bán, sau khi người được cấp qua đời thì đất bị thu hồi. Tang điền là đất tư hữu, cấp cho nam giới, có thể mua bán. Cuối cùng, quan lại địa phương có thể chiếu theo phẩm cấp mà nhận công điền. Bắc Ngụy thi hành phối hợp các chế độ "quân điền chế" và "tam trưởng chế", "tô dung điều chế", thúc đẩy nông dân sản xuất. Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thi hành vận động Hán hóa đã cải thiện được việc cai trị của quan lại, khiến nông nghiệp có thể phát triển đến mức trưởng thành. Đến năm Thần Quy thứ 3 (520), chính trị dần hủ bại, song kho lương của quan phủ vẫn tương đối đầy đủ. "Quân điền chế" và "tô điều chế" của Bắc Tề có nhiều hạn chế so với Bắc Ngụy, đồng thời làm gia tăng thuế tô của nô tì. Ở Đông Ngụy-Bắc Tề, việc tham ô cực kỳ nhiều, đến thời Nam Tề Hậu Chủ, hoang dâm hủ hoại, cho xây dựng nhiều cung điện và tự viện, hết sức xa hoa. Ở Tây Ngụy-Bắc Chu, Vũ Văn Thái làm theo kiến nghị của Tô Xước, lập chế độ dự toán thu thuế và hộ tịch, bảo đảm thu nhập cho triều đình. Do thế tộc Bắc Chu có lực lượng không lớn, lại thêm việc cai trị trong sạch hơn, nên tương đối dễ thi hành "quân điền chế". Do Tiên Ti là một dân tộc du mục, nghề chăn nuôi gia súc của họ vốn phát triển rất tốt, khu vực sản xuất chủ yếu tại vùng Mạc Nam (nay là Hà Sáo). Thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, lại thiết lập bãi chăn thả tại Hà Nam để nuôi 10 vạn con ngựa. Cha của Nhĩ Chu Vinh là Nhĩ Chu Tân Hưng có nuôi bò, dê, lạc đà, ngựa. === Thủ công nghiệp === Do triều đình thúc đẩy trồng dâu, đánh thuế lụa mộc và vải phù hợp, góp phần thúc đẩy sản xuất xe sợi dệt vải. Ngành dệt và nuôi tằm ở Nam triều tương đối phát triển, vùng sản xuất chủ yếu là hai châu: Kinh, Dương. Do tơ, bông, lụa, vải là các hạng mục thuế chủ yếu của Nam triều; do vậy ngành xe sợi và dệt là nghề phụ phổ biến trong dân gian Nam triều. Nghề dệt gấm chiếm ưu thế tại Ích châu, Lưu Dụ sau diệt nước Hậu Tần đã cho đưa các hộ dệt gấm từ Quan Trung dời đến Giang Nam, đến thời Nam Tề và Lương thì trở nên phồn vinh. Đương thời, người nhà phú hào mặc quần thêu, đi giày gấm, dùng lụa màu để tạo hoa văn hỗn hợp, dùng lụa mỏng để làm phục trang, dùng gấm làm màn che. Triều đình Nam triều đặt ra chức quan chuyên quản lý khai mỏ và luyện kim. Luyện thép sử dụng "quán cương pháp"- một cách tạp luyện gang thỏi và sắt rèn. Phương pháp này có thể luyện ra thép chất lượng tốt, được dùng để chế tạo bảo kiếm và đao. Kỹ thuật nung đồ sứ ngay từ thời Tam Quốc và Tấn đã thành thục. Thời Nam triều, thanh từ là chủ yếu, sản xuất tập trung tại Cối Kê quận (nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang), loại sứ này có độ cứng cao, men đều, toàn bộ có màu lục và có cảm giác trong suốt. Các khu vực khác ở Giang Nam có những đặc điểm riêng về kỹ thuật làm đồ sứ. Giấy Nam triều trắng sạch và cân xứng, hoàn toàn thay thế thẻ tre gỗ. Giấy làm từ cây mây và giấy làm từ cây gai đều rất phổ biến. Nghề đóng tàu cũng rất phát triển, có thể đóng tàu có tải trọng lên tới hai vạn hộc. Nghề xe sợi và dệt ở Bắc triều chủ yếu là dệt tơ và xe sợi đan len, là một trong những nghề thủ công phát đạt nhất, với các trung tâm dệt tơ như Kính châu (nay là Kính Xuyên, Thiểm Tây), Ung châu (nay là Tây An, Thiểm Tây), Định châu (nay là Định Châu, Hà Bắc). Sản lượng lụa vải gia tăng khiến giá lụa hạ xuống, vào sơ kỳ, mỗi thất lụa có giá 1000 tiền, đến sau thời Hiếu Văn Đế thì giảm xuống còn 200-300 tiền. Lĩnh vực dệt tơ công có quy mô to lớn, có công xưởng trong cung hoặc trong kinh thành, là nơi sản xuất ra sản phẩm dệt tơ quý đẹp cho triều đình. Trong dân gian có "lăng la hộ", "tế kiển la hộc hộ", phân tán tại khu vực nay là Hà Bắc và Sơn Đông; họ có sản lượng lớn và chất lượng đẹp tốt. Sản phẩm của ngành xe sợi đan len chủ yếu là len, được dùng rất phổ biến, lợi nhuận rất lớn. Triều đình Bắc triều cũng đặt chức quan chuyên quản khai thác khoáng sản và luyện kim, nghề luyện sắt phát triển nhất. Sắt có sản lượng rất cao, vào năm 450 quân đội Nam triều khi chiếm được Nghiêu Ngao thú (nay là phía đông Liêu Thành, Sơn Đông) của Bắc Ngụy đã thu được một lượng lớn đồ sắt. Đao rèn ở Tương châu đứng đầu toàn quốc, cuối cùng được đưa vào võ khó ở kinh sư. Kỳ Vô Hoài Văn thời Bắc Tề sáng chế ra "túc thiết đao", có độ cứng phi thường, song lại có tính mềm dai, chém được qua 30 lớp trát (lớp bằng da hoặc kim loại để lót áo giáp). === Thương nghiệp === Nông nghiệp và thủ công nghiệp của Nam triều phát đạt, lại thêm giao thông đường sông tiện lợi, khiến thương nghiệp cũng phát đạt. Do nền chính trị suy yếu, tệ chế lỏng lẻo, chất lượng sản phẩm không tinh xảo. Trên thị trường có các mặt hàng dụng cụ sản xuất, dụng cụ sinh hoạt và xa xỉ phẩm. Tiểu thương buôn bán ở hàng quán, đại thương vận chuyển hàng hóa đi tứ phương. Thuế thương là thu nhập chính của triều đình, song do thế tộc có đặc quyền được miễn quan thuế, từ lúc tại nhiệm đến lúc mãn nhiệm có được một lượng lớn hóa vật, sau chuyển đến bán ở các nơi. Các trọng trấn thương nghiệp có Kiến Khang, Giang Lăng, Thành Đô, Quảng Châu, Quảng Lăng; trong đó Kiến Khang là trung tâm kinh tế của Tam Ngô. Thời Lương Vũ Đế, trong thành Kiến Khang có 28 vạn cư dân, cộng thêm một vạn cống sứ, thương nhân lữ khách, dân đi thuyền. Cối Kê, Ngô quận, Dư Hàng đứng ở vị trí tiếp theo. Quảng Châu là trọng trấn mậu dịch bằng đường biển, đối tượng mậu dịch có các nước ở Đông Nam Á, Thiên Trúc, Sư Tử Quốc, Ba Tư. Giang Lăng là trạm chuyển vận giữa Quan Trung, Dự châu, Ích châu, Kinh châu, Giao châu, Lương châu. Thành Đô không chỉ có thương nghiệp phồn thịnh, mà còn là nơi sản xuất chủ yếu của gấm Thục. Sau vận động Hán Hóa, thương nghiệp Bắc Ngụy dần trưởng thành. Về mặt hóa tệ, ban đầu lấy lụa sống, vải và ngũ cốc làm phương tiện trao đổi trung gian, sau khi Hiếu Văn Đế cải chế đã cho đúc tiền 5 thù để cải thiện, song vẫn còn khó khăn trong lưu thông. Trọng trấn thương nghiệp có Lạc Dương, Nghiệp và Trường An. Lạc Dương là trung tâm mậu dịch phương bắc, ngoài Tây Dương Môn có chợ lớn, chu vi tám lý, hết sức phồn vinh. Đương thời, trừ người bán lẻ và đại thương nhân ra, rất nhiều quý tộc, quan liêu cũng tham gia vào thương mại. Đối tượng mậu dịch có các nước ở Trung Á và Tây Á., Cao Câu Ly, Bách Tế, Tân La, Già Da, Nhật Bản. Thương nhân Tây Vực chủ yếu kinh doanh vàng, ngọc trai, ngọc thạch, đồ quý; đem hàng dệt tơ, hàng công nghệ của Trung Quốc về nước. Mặc dù hai triều Nam bắc giao chiến liên miên, song đến khi đình chiến thì mậu dịch lại nổi lên. Hai bên thường lấy ngũ cốc, lụa vải để thay thế tiền tệ. Phương thức mậu dịch chủ yếu có quan phương mua bán với nhau và cá nhân buôn lậu; trong đó trong dân gian, quan viên và quân đội đều có hoạt động buôn lậu. Về nhu cầu mặt hàng, Bắc triều cần mía, vải, xoài, chuối, dứa, dương mai, quýt, bưởi; cùng với các xa xỉ phẩm để quan viên và quý tộc hưởng thụ. Nam triều cần ngựa, lạc đà, sản phẩm đan len. Tuy nhiên, về tổng thể thì thương nghiệp Bắc triều không bằng được Nam triều. == Văn hóa == === Tư tưởng học thuật === Sau khi địa vị độc tôn của Nho học bị phá vỡ dưới thời Tấn, đến thời nam Bắc triều đã hình thành đa nguyên hóa tư tưởng. Trong nhiều lưu phái tư tưởng, xuất hiện các quan điểm có giá trị như việc dùng pháp trị quốc, chủ trương vụ thực cầu trị (theo Tào Tháo và Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, Vương Đạo thời Đông Tấn) và "vô quân luận" (theo Bào Kính Ngôn thời Đông Tấn), "thần diệt luận" (Phạm Chẩn thời Lương), đề xướng "người chết thì thần hết" (Hình Thiệu của Bắc Ngụy và Phiền Tốn của Bắc Tề); song cũng sản sinh ra suy đồi tiêu cực, thoát khỏi tư tưởng trước đó. Tư tưởng huyền học có ảnh hưởng lớn nhất, huyền học rất hưng thịnh tại Nam triều, thời Lưu Tống Văn Đế đặt ra "huyền học quán", huyền học với sử, văn, nho cùng được liệt vào tứ học, "thanh đàm" thêm thịnh. Đến thời kỳ Lương Vũ Đế, cổ vũ đề xướng kinh học, song kinh học vào thời kỳ này chịu ảnh hưởng của thanh đàm, chỉ chú trọng vào giảng giải biện luận. Sau khi triều Tùy thống nhất Trung Quốc, "thanh đàm" dần dần suy thoái, đến trung kỳ triều Đường thì kết thúc. Do ở vào thời kỳ Phật giáo quá độ giữa phát triển và suy sụp, suất hiện không ít nhà tư tưởng phản đối quá độ sùng Phật như Phạm Chẩn của Lương, Hình Thiệu của Bắc Ngụy và Phiền Tốn của Bắc Tề, tư tưởng của họ sản sinh ra vô thần luận. Phạm Chẩn là nhân sĩ Nam Tề-Lương, vào năm 489 trong yến tịch của Cánh Lăng vương Tiêu Tử Lương, ông phát biểu phản đối thuyết nhân quả báo ứng của Phật giáo, nhận định rằng linh hồn không tồn tại. Quan điểm của ông chủ yếu là "biến hóa đích hình nhất nguyên luận" theo thuyết duy vật, nhận định thân thể và tinh thần đều là vật chất, toàn thể vũ trụ là một chuyển động biến hóa vật chất. "Thần diệt luận" xử lý các chủ đề "thể", "dụng", "biến hóa", "quan hệ"; hoàn chỉnh khái quát "duy vật bản thể luận" nhằm xử lý phạm trù chủ yếu. Tác phẩm nổi tiếng của Phạm Chẩn có "Thần diệt luận", hay "Đáp tào xá nhân" để trả lời phái phản đối Tào Tư Văn. Luận điểm của ông rút ra từ triều dã, Tào Tư Văn sáng tác "Nan thần diệt luận", Tiêu Sâm dẫn cố sự "Đỗ bá quan cung" và "Bá hữu bị giới" để bác lại. Lương Vũ Đế là người tin theo Phật giáo, ông triển khai luận chiến, sáng tác "Sắc đáp thần hạ thần diệt luận", lệnh cho Phạm Chẩn phải từ bỏ quan điểm. Lương Vũ Đế tổ chức hơn 60 tăng tục công bố văn chương nhằm tiến hành vây đánh Phạm Chẩn, gây ra đại chiến lý luận về "thần" diệt hay bất diệt trong giới tư tưởng, cuối cùng Phạm Chẩn bị phán là "dị đoan" và bị lưu đày. Các nhà tư tưởng Hình Thiệu hay Phiền Tốn ở Bắc triều chủ trương "vô thần luận". Hình Thiệu là nhân sĩ hậu kỳ Bắc Ngụy và sơ kỳ Đông Ngụy, đương thời Phật giáo được hoàng thất Tiên Ti đề xướng mà trở nên hưng thịnh. Ông phản đối "thần bất diệt luận", chủ chương người chết thì linh hồn sẽ biến mất, phủ định lý luận người chết là quỷ; ông còn chủ trương "loại hóa luận", chỉ có sự vật đồng lỗi mới có thể chuyển hóa; sự vật bất đồng loại thì không thể chuyển hóa. "Loại hóa thuyết" cho thấy tính đa nguyên và tính sai khác của các loài. Tư tưởng của Hình Thiệu và các cuộc tranh luận giữa ông với Đỗ Bật về các vấn đề như luân hồi đều được ghi chép trong "Bắc sử- quyển 55- Đỗ Bật truyện" và "Bắc Tề thư-Đỗ Bật truyện". Phiền Tốn là người Bắc Tề, năm 554 Bắc Tề Văn Tuyên Đế muốn lập đàn tế trời ở Thiện Thái Sơn, Phiền Tốn khuyến gián với Hoàng đế, nói rằng Đạo giáo, thần tiên đều là do bịa ra. Nhan Chi Thôi là người Lương, sau bị buộc phải làm quan cho Bắc triều. Ông chủ trương tảo giáo, nhận định "con người khi còn nhỏ, tinh thần chuyên nhất; sau khi lớn lên, tư tưởng phân tán, không dễ dàng mà học tập". Ông soạn "Nhan thị gia huấn", có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Trung Quốc vào sau này, hậu thế xem đây là tác phẩm khuôn mẫu đối với gia huấn, được học giả Nho gia và môn đệ Phật giáo xem trọng. === Văn học === Văn học thời kỳ Nam Bắc triều phát triển nhanh chóng, trong đó phong cách Nam triều mang thiên hướng hoa lệ tinh tế, còn phong cách Bắc triều mang thiên hướng hào phóng thô khoáng. Các nhân vật đại biểu của văn học Bắc triều là "Bắc địa tam tài": Hình Phóng, Ngụy Thu, Ôn Tử Thăng. Ở Nam triều, đại biểu văn học là Biền Văn, quan tâm tới cách luật, văn chương, sử dụng điển cố. Nội dung phần nhiều thoát ly sinh hoạt thực tế, biểu đạt một chút phú quý nhàn sầu, văn chương của Dữu Tín là đại biểu. Phong cách thơ thịnh hành là Nguyên Gia thể và Vĩnh Minh thể, Nguyên Gia thể là dại biểu cho phong cách thơ những năm Nguyên Gia (424-453) thời Lưu Tống, các nhân vật đại biểu là "Nguyên Gia tam đại gia": Tạ Linh Vận, Nhan Diên Chi và Bào Chiếu. Thành tựu chung của họ là đưa thơ cổ thể phát triển đến giai đoạn hoàn toàn thành thục, đồng thời chú ý đến vận dụng thanh luật và đối ngẫu, cũng đồng thời dần phát triển đến thơ cận thể. Vinh Minh thể còn được gọi là thơ tân thể, là một loại thể thơ hình thành vào những năm Vĩnh Minh (483-493) thời Nam Tề Vũ Đế, được truyền cảm hứng từ âm học Phạn, đặc biệt là tiếng tụng đọc kinh Phật. Chu Di phát hiện ra rằng tiếng Hán có bốn loại thanh điệu: bình, thượng, khứ, nhập; soạn ra "tứ thanh thiết vận vận". Thi nhân Thẩm Ước lại căn cứ theo cách lý giải của mình đối với bốn thanh điệu, soạn ra "tứ thanh phổ". Những người như Vương Dung là những người thúc đẩy, đồng thời tiến hành thử nghiệm trong sáng tác, "Vĩnh Minh thanh luật luận" cực thịnh một thời. Thi nhân Vĩnh Minh trong thơ cố gắng đạt đến "nhất giản chi nội, âm vận tận thù; lưỡng câu chi trung, khinh trọng tất dị", tránh những điều gọi là bát bệnh (bình đầu, thượng vĩ, phong yêu, hạc tất, đại vận, tiểu vận, bàng nữu, chính nữu), do vậy sản sinh ra Vĩnh Minh thể, là nguồn gốc của cách luật thi thời Đường. "Từ-Dữu thể" của Từ Si và Từ Lăng của Nam triều Trần và Dữu Tín của Bắc Chu có văn chương diễm lệ, cũng rất nổi tiếng. Giang Yêm và Bào Chiếu đều được gọi là đại gia từ phú Nam triều; "Hận phú" và "Biệt phú" của Giang Yêm, "Vu thành phú" và "Vũ hạc phú" của Bào Chiếu đều được gọi là tuyệt xướng từ phú Nam triều. Giang Yêm trong ngục đã viết "nghệ Kiến Bình vương thư" mang phong cách phấn chấn mạnh mẽ, không cao không thấp, trong đó thể hiện tình cảm chân thực. "Giang Lăng tài tận" là chỉ tình hình Giang Yêm giảm thiểu sáng tác vào những năm cuối. Về mặt trường thi tự sự thì "Mộc Lan thi" của Bắc triều và "Khổng tước đông nam phi" của Nam triều là đại biểu. Về dân ca, do văn hóa Nam Bắc triều bất đồng, nên thể hiện sắc thái và tình điệu không giống nhau. "Nhạc phủ thi tập" có thuyết pháp "diễm khúc hưng vu Nam triều, Hồ âm sinh ư Bắc tục". Tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của danh sĩ thanh đàm, thúc đẩy sự xuất hiện của tiểu thuyết dật sự, có thể phân thành "tiểu thuyết chí quái" và "tiểu thuyết chí nhân". "Thế thuyết tân ngữ" của Lưu Nghĩa Khánh khá nổi tiếng, cung cấp một lượng lớn điển cố và thành ngữ cho các tác phẩm văn học hậu thế. Đạo giáo có ảnh hưởng đến nghệ thuật và khoa học của Trung Quốc, như văn học "du tiên thi", miêu tả sự huyền nhiệm thần tiên phiêu dật hoặc dựa vào đàm luận về thần tiên để biểu đạt cảm xúc. Danh sĩ Đạo giáo Đào Hoằng Cảnh, Lục Tu Tĩnh đều những bậc anh tài trong văn học thần tiên. "Ngọc đài tân vịnh" là do Trương Lệ Hoa (phi tử của Trần Hậu Chủ) biên soạn và ghi chép, chủ yếu ghi lại những sáng tác khuê tình nam nữ. Về mặt nghiên cứu văn học, "Văn tâm điêu long" của Lưu Hiệp trở thành kiệt tác lý luận văn nghệ có hệ thống đầu tiên của Trung Quốc, chủ trương văn phong thực dụng, phản đối văn phong hoa mỹ không thực dụng. Trưởng tử Tiêu Thống của Lương Vũ Đế tổ chức văn nhân biên tuyển "Chiêu Minh văn tuyển", là một bộ thơ văn tổng hợp cổ nhất còn lưu trữ được của Trung Quốc, vào thời Đường ngang với Ngũ Kinh, một thời cực thịnh. Hai bộ kiệt tác này có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển của văn học Trung Quốc sau này. "Thi phẩm" của Chung Vanh cũng là một tác phẩm chuyên khảo trọng yếu, khai sáng thể chế thi luận, thi bình của Trung Quốc cổ đại. Tác phẩm này tập trung vào thơ ngũ ngôn từ thời Hán đến Lương, xác định nguồn gốc phong cách văn chương, một phái học "Thi Kinh", một phái học "Sở Từ". Tuy nhiên việc bình phán tam phẩm quá khiên cưỡng, như hạ phẩm Tào Tháo, trung phẩm Đào Tiềm, Kê Khang, Tào Phi ngày nay lại được đánh giá khá cao. === Sử học === Nam Bắc triều kế thừa chế độ đặt chức quan viết sử từ thời Hán. Lưu Tống đặt ra "trứ tác quan" (quan danh và phân chức của Nam triều nhiều lần cải biến), phụ trách soạn viết quốc sử và ghi chép về cuộc sống hàng ngày của đế vương. Nam triều bắt đầu có phân chia giữa quốc sử và sử của tiền triều. Bắc Ngụy cũng đặt "trứ tác quan" và "khởi cư lệnh sử", khiến quan viết sử và quan viết về đới sống hàng ngày dần phân chức. Bắc Tề bắt đầu lập "sử quán" (hay gọi là sử các), là cơ cấu chuyên môn viết sử, ảnh hưởng đến chế độ viết sử công quyền của Trung Quốc sau này. Tây Ngụy và Bắc Chu cũng đặt "trứ tác quan". Các triều Nam Bắc cũng có đại thần giám sát việc viết sử. Ngoài ra, thời Lương bắt đầu soạn viết "thực lục" Vũ Đế, Nguyên Đế; sang thời Đường thì bắt đầu việc các triều đại kế tiếp nhau cho viết thực lục. Sách sử phân đại theo "kỷ truyện thể" chiếm vị trí đứng đầu trong sử học Nam Bắc triều. Tác phẩm do quan lại biên soạn có "Tống thư" của Thẩm Ước, "Nam Tề thư" của Tiêu Tử Hiển, "Ngụy thư" của Ngụy Thâu. do cá nhân biên soạn có "Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Sách sử phán ánh các loại tình cảnh trong xã hội cũng thịnh hành vào thời Nam Bắc triều, như trong "Hậu Hán thư" của Phạm Diệp, "Tống thư" của Thẩm Ước có thêm các loại truyện ký "độc hành", "dật dân" (hoặc "ẩn dật"), "liệt nữ" với các loại diện mạo nhân vật; sử tịch tôn giáo có "Cao tăng truyện" của Huệ Kiểu, thuật về kiến trúc tự viện có "Lạc Dương Già lam ký" của Dương Huyễn Chi; về địa lý có "Thủy kinh chú" của Lịch Đạo Nguyên, là tác phẩm kết hợp từ những kiến thức vào thời Nam Bắc triều. Lịch sử dân tộc phi Hán do các tộc Ngũ Hồ kiến lập chính quyền mà được xem trọng, thành tựu khá cao có "Thập lục quốc Xuân Thu" của Thôi Hồng, "Tam thập quốc Xuân Thu" của Tiêu Phương. Phả học do ảnh hưởng của chính trị môn phiệt thời Nam Bắc triều nên mội thời rất thịnh. Các hào tộc muốn củng cố địa vị xã hội và quyền lực chính trị nên soạn viết gia phả, nhằm thể hiện huyết thống, môn đệ, hôn nhân và làm quan. Sau khi xuất hiện gia phả, lại có nghiên cứu gia phả học, đương thời xuất hiện các thư tịch như "Thống phả" hay "Bách gia phả". Ngành chú sử thời Nam Bắc triều có đại biểu là "Tam quốc chí chú" của Bùi Tùng Chi, chú trọng vào tư liệu sưu tập được để bổ sung vào sử sự, không còn giới hạn trong việc chú giải chỉnh âm và giải thích sử văn, có ảnh hưởng tương đối với phương pháp chú sử Trung Quốc. Bùi Tùng Chi khảo đính tương đồng và khác biệt giữa các sử liệu để tìm ra sự thực, các sử gia sau này kế thừa, như Tư Mã Quang soạn "Tư trị thông giám khảo dị". Bùi Tùng Chi cũng bình luận về sử gia đời trước, điều này thúc đẩy sự phát triển của ngành phê bình sử học Trung Quốc. === Tôn giáo === Trong thời kỳ này, Phật giáo-Đạo giáo dần dần trở thành tôn giáo chủ lưu, đồng thời cạnh tranh với huyền học. Phật giáo vào thời Nam Bắc triều có sự phát triển sôi nổi, thoát khỏi cảnh gian khó phải phụ thuộc vào Nho giáo và Đạo giáo ở tiền triều, thời kỳ Bắc Ngụy-Lưu Tống bắt đầu thịnh hành, đồng thời dần dần Trung Quốc hóa, tín ngưỡng Bồ Tát đương thời hết sức phổ biến trong dân chúng. Đương thời, Phật giáo dần sản sinh ra các tông phái, trong đó nổi danh là Tam luận tông, Niết bàn tông, Thiên Thai tông, Luật tông và Thiền tông. Nến tảng của Tam luận tông được xây dựng nên bởi Tăng Triệu, Liêu Dông Tăng Lãng, Hưng Hoàng Pháp Lãng, Mao Sơn Đại Minh, Cát Tạng đại sư thời Nam Bắc triều. Tông phái này dựa vào tam luận: "Trung luận", "Thập nhị môn luận", "bách luận" do Cưu-ma-la-thập dịch để lập tông, do vậy có tên là Tam luận tông. Tư tưởng của Tịnh độ tông chủ yếu dựa vào "Vãng sinh luận", đại biểu của phái này là Đàm Loan đề xướng tư tưởng "tha lực", "dịch hành". Đối với Niết bàn tông, "Thập địa kinh luận" do Lặc-na-ma-đề và Huệ Quang hình thành, cùng với "Đại bàn niết bàn kinh" (bắc thể) do Đàm-vô-sấm phiên dịch, sau khi truyền đến Nam triều thì được phát triển rộng rãi. Luật tông bắt nguồn từ việc Pháp Hiển, Huệ Quang ở Bắc triều tập trung nghiên cứu và truyền lại giới luật Phật giáo, nghiêm túc thi hành giới quy Phật giáo mà mang tên như vậy. Thiên thai tông là tông phái Phật giáo Trung Quốc được sáng lập sớm nhất, thủy tổ Trí Nghĩ chủ yếu dựa theo Diệu pháp liên hoa kinh, do vậy còn được gọi là "Pháp Hoa tông". Tông phái này chủ trương "thực tướng" và "chỉ quan", lấy "thực tướng" xiển minh lý luận, dùng "chỉ quan" chỉ đạo thực tu. Thiền tông Đạt-ma chủ trương "giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự", đề xướng dùng tâm tu thiện, sau khi xuất thế cần phải độ hóa người khác. Thiện pháp của Đạt-ma giản minh thâm nhập. Cùng với Bảo Chí thiền sư, Phó đại sĩ gọi chung là "Lương tam đại sĩ". Sự phát triển cao độ của Phật giáo cũng dẫn đến việc chính phủ ức chế, Nho giáo và Đạo giáo kịch liệt đả kích. Do có nhiều tự viện và tăng lữ, khiến triều đình bị giảm số thuế và nguồn binh thu được, các nước bắt đầu hạn chế số người theo tín ngưỡng Phật giáo và đánh diệt Phật giáo. Trong đó, phong trào diệt pháp thời Bắc Ngụy Thái Vũ Đế và Bắc Chu Vũ Đế là nổi danh nhất, cùng với phong trào tương tự dưới thời Đường Vũ Tông được gọi chung là "Tam Vũ diệt Phật". Phật giáo sang thời Lưu Tống càng được nhân sĩ sùng tín, dẫn đến việc tranh luận với Nho giáo và Đạo giáo trên nhiều vấn đề khác nhau, như "chân ngụy của tam thế nhân quả", "tinh thần diệt hay bất diệt", "Phật còn sống hay không". Cùng với sự truyền bá của Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo phát triển chưa từng thấy, với các tượng Phật, bích họa, tự viện hang đá. Trong đó, hang Mạc Cao, hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn, hang đá Mạch Tích Sơn trở thành những báu vật trong kho tàng nghệ thuật tạo tượng Trung Quốc. Đạo giáo cải cách đạt được nhiều thành tựu, Khấu Khiêm Chi vào cuối thời Ngũ Hồ thập lục quốc chịu ảnh hưởng của Linh Bảo ở Đông Tấn, chế tác các kinh như "Vân Trung âm tụng tân khoa chi giới", với hơn 80 quyển. Khấu Khiêm Chi đối với Đạo giáo tiến hành cải cách với nguyên tắc chung "lấy lễ độ làm đầu", trừ bỏ ngụy pháp Ngũ Đấu Mễ Đạo Tam Trương (Trương Lăng, Trương Hành, Trương Lỗ), các loại "thu tiền gạo" và "nam nữ hợp khí". Nghiêm ngặt thực hiện trai giới lễ bái, khiến tổ chức của Đạo giáo thêm chặt chẽ, khuôn phép và lễ tiết thêm hoàn thiện, khiến Đạo giáo "chuyên lấy lễ độ làm đầu, và còn lấy phục thực bế luyện". Do cải cách của Khấu Khiêm Chi, không chỉ sáng lập ra quy mô cơ bản mới cho Đạo giáo trên các mặt tôn chỉ, tổ chức, kinh đạo, trai nghi; mà còn khiến quân chủ Bắc triều và sĩ tộc Hán cùng Tiên Ti gia nhập Đạo giáo. Đạo giáo phát triển đến các tầng lớp xã hội, từng trở thành quốc giáo của Bắc triều. Lư Sơn đạo sĩ Lục Tu Tĩnh thời Lưu Tống lại thu thập các điển tịch Đạo giáo trước đó, tham khảo nghi lễ đương thời của Phật giáo, cải cách Thiên Sư đạo ở Nam triều, chủ yếu thể hiện trong "Lục tiên sinh đọa môn khoa lược" của ông. Cải cách của Khấu Khiêm Chi và Lục Tu Tĩnh khiến cho giáo quy và nghi phạm của Đạo giáo dần định hình. Sau đó, Đào Hoằng Cảnh kế tục hấp thu tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo, bổ sung thêm nội dung cho Đạo giáo, xây dựng phả hệ thần tiên Đạo giáo, tự thuật Đạo giáo truyền thụ lịch sử, chủ trương Tam giáo hợp lưu, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển sau đó của Đạo giáo. Ông dung hợp Kim Đan đạo giáo của Cát Hồng, Thượng Thanh kinh đạo của Dương Hy, và Nam Thiên sư đạo của Lục Tu Tĩnh, khai sáng ra Mao Sơn tông. Tại Bắc Ngụy, còn có Hiên giáo, tức Hỏa giáo, là quốc giáo của đế quốc Ba Tư cổ đại. Tư tưởng của Hiên giáo thuộc nhị nguyên luận (có thần quang minh và thần hắc ám), chủ thần được gọi là "Hồ Thiên", kinh điển chủ yếu là "Avesta". Hiên giáo chủ yếu do người Túc Đặc đến từ Tây Vực truyền bá, đương thời các nước Tây Vực đều tin theo Hiên giáo, một bộ phận hoàng thất Bắc triều cũng tin theo, Linh thái hậu của Bắc Ngụy cúng tế thần "Hồ Thiên". === Nghệ thuật === Thời kỳ Nam Bắc triều, nghệ thuật hưng thịnh, Nam triều lấy hội họa là chính, Bắc triều lấy điêu khắc tạc tượng làm chính. Sự thịnh hành của điêu khắc ở Bắc triều có quan hệ với sự phổ biến của Phật giáo. Một lượng lớn chùa được xây dựng, bất luận là làm từ gỗ, gạch, hay kiến tạo trong hang đá đều có các tượng Phật điêu khắc lớn nhỏ. Về điêu khắc tượng Phật trong hang đá, trứ danh có hang Mạc Cao Đôn Hoàng bắt đầu được tạo vào năm 366 dưới thời Tiền Tần, hang đá Mạch Tích Sơn bắt đầu được tạc vào năm 384 thời Hậu Tần, trong thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế lại bắt đầu tạc hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn; thời Bắc Tề Văn Tuyên Đế thì bắt đầu tạc hang đá Thiên Long Sơn. Nghệ thuật hang đá thể hiện tính hùng vĩ nhất là tại 20 hang tượng của quần thể hang đá Vân Cương. Dung mạo của tượng Phật phong mãn, hai vai khoan hậu, đường nếp gấp áo quần được khắc có cảm giác ôm khít thân hình, trong trang nghiêm có vẻ thân ái, biểu hiện cho tấm lòng bao dung của Phật. Công nghệ điêu khắc tốt nhất được thể hiện ở 259 hang tượng của quần thể hang Mạc Cao, thể hiện thần thái đang mỉm cười, tạo ra mĩ cảm điềm tĩnh. Các tàn tượng đắp bằng bùn được khai quật từ nền tháp chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương là tinh tế nhất, diện mạo đầy sức sống. Hang đá Thiên Long Sơn lại là đại biểu cho văn hóa Phật giáo Bắc Tề, với "Mạn Sơn các" và "Cửu Liên động" nổi danh. Tập hợp tháp Phật Ấn Độ và lầu tháp triều Hán làm cơ sở để dựng nên các mộc tháp, đương thời đó là sự phát triển kiến trúc quan trọng. Tư tưởng Nho giáo và Đạo giáo Trung Quốc bản địa cũng cung cấp cho nghệ thuật các chủ đề mới, phong cách mới. Tư tưởng Nho giáo phần nhiều là kết hợp hiếu đạo, nhà nghệ thuật Đạo giáo lại thiên về cảnh tự nhiên sơn thủy và truyền thuyết dân gian. Nghệ thuật thế tục truyền thống cũng xuất hiện biến hóa, đặc biệt thể hiện trên phương diện hội họa. Công nghệ làm đồ gốm ở phương nam có tiến triển đáng kể, nổi danh nhất là "Việt từ" men lục của "Việt điêu". "Việt điêu" (tức gốm sứ vùng Quảng Đông) dùng rất bền, thậm chí còn được bán ra hải ngoại, xa đến Ai Cập, Philippines. Lục triều cũng là thời kỳ Trung Quốc xuất hiện việc văn nhân họa gia, thư pháp gia, những nhân vật quan trọng tiến hành thu thập tác phẩm nghệ thuật, phê bình văn học nghệ thuật cũng có sự phát triển. Về đá khắc lăng mộ Nam triều, lăng mộ các đời đế vương, quý tộc ở phía trước có cột đá, bia đá, thú đá. Thú đá còn gọi là "tị tà" (避邪), do tạo hình sư tử diễn biến mà thành, mang hàm ý trừ tà, cầu phúc hoặc thăng thiên. Trong đó, thiên lộc trước lăng Nam Tề Vũ Đế và kỳ lân trước lăng Nam Tề Cảnh Đế là những đại biểu mang tính đại diện nhất Phong cách của chúng kế thừa điêu khắc thú đá thời Hán, giỏi về việc tận dụng chỉnh sửa khối đá, dùng thủ pháp tẩy luyện để biểu hiện khí thế hùng vĩ. Về hội họa, tranh sơn thủy Trung Quốc cổ đại nổi lên vào thời Nam Bắc triều. Do ảnh hưởng kết hợp từ huyền học, tự nhiên quan Lão Tử-Trang Tử và cảnh sơn thủy Giang Nam tú lệ, khiến hội hoa thoát ly hạn chế của Nho học, phát triển theo phương hướng thuần nghệ thuật, họa gia nổi danh có Lục Tham Vi thời Lưu Tống và Trương Tăng Do thời Lương. Rồng do Trương Tăng Do vẽ được đánh giá là phi thường thần diệu, câu "họa long điểm tình" bằng nguồn từ họa công của ông. Trương Tăng Do một đời khắc khổ học tập, vẽ nên các danh tác như "Ngũ tinh nhị thập bát túc thần hình đồ", "Tuyết sơn hồng thụ đồ". Do sự xuất hiện của thơ sơn thủy, khiến truyền thống lấy biểu hiện nhân vật làm chính trong một thời gian dài này chuyển biến thành cảnh sắc sơn thủy. Tông Bỉnh thời Lưu Tống là nhà sáng tác lý luận tranh sơn thủy sớm nhất của Trung Quốc, tác phẩm "Họa sơn thủy tự" của ông là nổi danh nhất, ngoài tinh thông địa lý "sơn thủy lấy hình mị đạo" ra, trong khi quan sát sơn thủy tự nhiên, quy nạp ra phương pháp hội họa thể hiện vật thể xa gần. Họa gia tranh sơn thủy Vương Vi thời Lưu Tống, với tác phẩm "Tự họa", nhấn mạnh quan sát tự nhiên cùng chủ động biểu hiện quan điểm và cảm tình của cá nhân. Tiêu Bí thời Lương thể hiện ra cảm nhận cự ly không gian xa gần. Lý luận hội họa vào thời kỳ này đã thành thục, như Tạ Hách thời Nam Tề soạn ra tác phẩm kinh điển quan trọng "Cổ họa phẩm lục", đề ra "lục pháp luận" hội họa- sáu phép căn bản của hội họa cổ điển Trung Hoa- cùng hai bộ phận họa phẩm. Ông đề xuất tác phẩm hội họa chiếu theo sáu pháp, không chỉ giới hạn ở vẽ nhân vật, có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế. Trong đó, lý luận "khí vận sinh động" (sắc thái và không khí sống động như thật) được các bình gia hội họa tôn là trình độ cao nhất. Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều là thời kỳ phát triển thanh xuân của khải thư, trong đó bia khắc là kho tàng về khải thư. Bia khắc Bắc triều có chữ khắc được gọi là thư pháp "Ngụy bi", có dũng khí hùng hồn, phong cách chất phác mộc mạc, thể thái nhiều biến đổi. "Long Môn nhị thập phẩm" là chỉ việc trong hang đá Long Môn phát hiện được 20 văn tự ghi chép ở nơi tạo tượng, các tác phẩm này được nhận định là đại biểu của thư pháp "Ngụy bi" thời Bắc Ngụy. "Trương Mãnh Long thiếp" được những nhà thư pháp tôn sùng, thành tựu vượt quá các tác phẩm thời Đường. "Trịnh Văn Công bi" là tác phẩm của nhà thư pháp Trịnh Đạo Chiêu thời Bắc Ngụy, các nhà thư pháp Âu Dương Tuân và Ngu Thế Nam thời Đường đều chịu ảnh hưởng sâu sắc. Ngoài ra còn có nhiều minh văn được ghi trên mộ như "Thạch môn minh". Ở Nam triều có các bia nổi danh như "Thoán long nhan bi", "Ế hạc minh". == Khoa học kỹ thuật == Trong suốt thời kỳ Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều, do các dân tộc ở biên cương thiên di vào Trung Nguyên, từng nhóm người Hán phương bắc dời xuống phương nam, khiến văn hóa có sự giao lưu và pha trộn. Do cục diện thống nhất của Nho họ bị phá vỡ, trong khi Huyền-Đạo-Phật lại nổi lên, khiến nghiên cứu học thuật phát triển theo triều hướng đa nguyên hóa. Để sinh tồn và chiến tranh, các triều đại không ít lần thi hành một số cải cách phương sách nhằm đảm bảo sự phát triển của các khu vực nông nghiệp và thủ công nghiệp. Chúng đều khiến cho khoa học kỹ thuật tăng tiến đáng kể. Lịch Đạo Nguyên từ nhỏ đã nghiên cứu địa lý học, do đương thời các tác phẩm địa lý không đầy đủ, vì vậy ông nhân lúc được cử làm quan ở các địa phương mà tiến hành khảo sát thực địa, cuối cùng dựa theo "Thủy Kinh" mà hoàn thành "Thủy Kinh chú". "Thủy Kinh chú" viết về địa lý thủy văn lục địa, lấy thủy đạo làm chính, miêu tả chi tiết tính chất và môi trường xung quanh, có cống hiến kiệt xuất cho địa lý học Trung Quốc cổ đại. "Thủy Kinh chú" không chỉ nói về dòng sông, mà còn ghi lại chi tiết địa mạo, địa chất, khoáng vật và động thực vật nơi sông chảy qua. Trong "Thủy Kinh chú" có ghi lại rất nhiều hóa thạch của sinh vật cổ, ở huyện Thành Kỷ trên thượng du Vị Thủy (nay thuộc huyện Trang Lãng, Cam Túc) còn có hóa thạch loài người. Trong tác phẩm này, hậu thế có thể tìm hiểu chế độ canh tác cổ đại, chủng loại và phân bổ thực vật cổ đại, khu vực phân bố của động vật và hoạt động theo mùa của chúng, cùng với việc người xưa lợi dụng chúng để thu được lợi ích kinh tế ra sao. Giả Tư Hiệp là nhà nông học Bắc Ngụy, gia cảnh tương đối giàu có, đối diện với thiên tai nhân họa và mất mùa đói kém kéo dài vào đương thời, ông chủ trương xem trọng nông nghiệp, đồng thời tự xem trách nhiệm "tề dân mưu sinh" là của mình, vì thế quyết định dốc hết sức lực để viết nông thư. Tấc phẩm "Tề dân yếu thuật" của ông có địa vị quan trọng trong lịch sử nông học Trung Quốc cũng như thế giới. "Tề dân yếu thuật" lấy khu vực trung hạ du Hoàng Hà, đặc biệt là khu vực Sơn Đông làm trọng điểm, miêu tả diện mạo của sản xuất nông nghiệp đương thời, đồng thời giới thiệu truyền thống nông nghiệp canh tác tế canh và đa chủng của Trung Quốc, bao quát kỹ thuật chế biến thực phẩm. Tác phẩm được phân thành 10 quyển, 92 thiên, ghi lại các phương pháp làm ruộng, làm vườn, trồng rừng, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi gia súc, thú y, phối giống, nấu rượu, nấu ăn, dự trữ, cùng trị hoang của Trung Quốc trong lịch sử 1500 năm tính đến thời điểm đó. Tác phẩm viện dẫn gần 200 cổ tịch, trong đó có các nông thư quan trọng thời Hán-Tấn như "Phiếm thắng chi thư", "Tứ dân nguyệt lệnh" song hiện đã thất truyền, người đời sau có thể dựa vào thư tịch này để hiểu rõ hoạt động nông nghiệp thời Hán-Tấn. Tác phẩm chứa các tri thức cần thiết đối với địa chủ và nông dân, cũng là chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển kỹ thuật nông nghiệp thời Bắc Ngụy. Tổ Xung Chi là người thời Lưu Tống, từ nhỏ đã có hứng thú với thiên văn toán thuật, có nhiều tác phẩm phong phú, về thiên văn có "Thượng 'Đại Minh lịch' biểu", "Bác nghị"; về số học có "Xuyết thuật", "Cửu chương thuật nghĩa chú", "Trùng sai thuật". Ông viết "An nhân luận", kiến nghị triều đình khai khẩn đất hoang, phát triển nông nghiệp, an định dân sinh, củng cố quốc phòng. Thành tựu chủ yếu của Tổ Xung Chi là trên ba lĩnh vực: số học, lịch pháp thiên văn và chế tạo cơ giới, dựa trên cơ sở Trương Hành và Lưu Huy, Tổ Xung Chi xác định được chính xác bảy chữ số sau dấu thập phân của số Pi. Ông là người đầu tiên trên thế giới đưa số trị tuế sai vào trong tính toán lịch pháp, ông còn tu chỉnh quy tắc tháng nhuận, là phương pháp chính xác nhất trước thời Đường. Tổ Xung Chi và con là Tổ Hằng cùng đề xuất công thức tính thể tích khối cầu, gọi là "Tổ thị định lý", sớm hơn phương Tây trên 1000 năm. Về cơ giới, Tổ Xung Chi chế tác ra Chỉ Nam xa, Mộc ngưu lưu mã (trâu gỗ dùng để vận chuyển), "Thiên lý thuyền" (thuyền có bàn đạp dùng chân), "Thủy đối mô" chạy bằng thủy lực. Trương Tử Tín ở Bắc triều sơ bộ phát hiện ra quy luật độ dài ngắn của thời gian Mặt Trời chiếu sáng. Những năm cuối Bắc Ngụy, Trương Tử Tín tránh loạn Cát Vinh nên ẩn cư ở hải đảo, dùng công cụ đo hình tròn để đo chiều dài ngày trong vòng 30 năm. Khoảng năm 565, ông phát hiện ra Mặt Trời di chuyển không mang tính thống nhất, Ngũ Tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) cũng di chuyển không mang tính thống nhất, thị sai Mặt Trăng ảnh hưởng đến Nhật thực, đồng thời đề xuất phương pháp tính toán, có ý nghĩa bước ngoặt đói với lịch sử thiên văn học Trung Quốc. Trải qua nỗ lực của các học sinh của Trương Tử Tín như Trương Mạnh Tân và Lưu Hiếu Tông, ba phát hiện lớn này cùng phương pháp tính vào năm 576 được Mạnh Tôn lịch và Hiếu Tông lịch ứng dụng. Y học Nam triều phát triển, nổi danh phải kể đến Từ Chi Tài và Diêu Tăng Viên của Lương. Từ Chi Tài thuộc thế gia về y học, ông theo Dự Chương vương Tiêu Tông chạy sang Bắc Ngụy, được hoàng đế Bắc Ngụy trọng dụng. Ông nghiên cứu sâu về thảo dược và điều chế thuốc, soạn ra "Dược đối" và "Tiểu nhi phương". Ông có hiểu biết nhất định về phụ khoa, "Trục nguyệt dưỡng thai pháp" dựa trên "Thanh sử tử" từ thời Tiên Tần, có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của phụ nữ có thai cũng như thai nhi. Nhà Từ thị là người Nam sang làm quan ở Bắc, khiến ngành y dược hai nơi có sự giao lưu, có ý nghĩa tích cực. Diêu Tăng Viên từng nhiều lần trị bệnh cho Lương Vũ Đế, Lương Nguyên Đế, sau đó vì chiến loạn nên chạy sang Bắc Chu, trở thành thần y nổi danh của Bắc Chu. phương thuốc trị bệnh của ông lưu truyền đến thời Đường. Ngoài ra, học giả y học quan trọng còn có Đào Hoằng Cảnh, soạn ra các y tịch "Bản thảo kinh tập chú" phản ánh sự phát triển của y dược từ thời Hán mạt đến đương thời, "Danh y biệt lục" (phụ vào Bản thảo kinh tập chú) "Hàn thực tán" có thể khiến con người trúng độc, thậm chỉ gây ra tử vong, song thường được vương thất và đại thần Nam Bắc triều sử dụng như thuốc. == Quân chủ == == Chú thích == == Tham khảo ==
danh sách các ứng dụng google cho android.txt
Danh sách các ứng dụng Google cho Android liệt kê các ứng dụng di động được phát triển bởi Google cho hệ điều hành Android của hãng. Tất cả các ứng dụng này đều có thể tải về miễn phí từ Google Play Store. Một số các thiết bị này có thể được cài đặt sẵn trên một số thiết bị, tùy theo hãng sản xuất và phiên bản Android. Một số ứng dụng, như Google Keyboard, không được hỗ trợ trên các thiết bị Android phiên bản cũ hơn. == Đã ngừng == Google Voice (xem Hangouts Dialer) Google Body Google Currents Google Maps Navigation Google Voice Search (hợp nhất với Google Now) Quickoffice Google Listen Google Reader == Xem thêm == Danh sách các sản phẩm Google Google Mobile Services == Ghi chú ==
copyleft.txt
Copyleft (còn gọi là bản quyền bên trái) là một cách chơi chữ đúp từ chữ copyright trong tiếng Anh có nghĩa là bản quyền, trong đó chữ left (bên trái) phản nghĩa với nghĩa của từ right (bên phải), mặc dù chữ "right" copyright có nghĩa là "quyền lợi" chứ không mang nghĩa "bên phải". Đồng thời copyleft còn có thể hiểu là copy left (nghĩa là bản sao cho dùng, bản sao được phép dùng). Copyleft mô tả cách sử dụng luật bản quyền để loại bỏ tất cả các hạn chế về phân phối bản sao và các phiên bản tác phẩm đã được chỉnh sửa cho mọi người và yêu cầu phải bảo lưu quyền tự do như vậy trong các phiên bản chỉnh sửa. Copyleft là một dạng cấp phép và có thể dùng để thay đổi bản quyền của những tác phẩm như phần mềm máy tính, tài liệu, âm nhạc, và nghệ thuật. Nói chung, luật bản quyền cho phép tác giả cấm người khác tái tạo, phái sinh, hoặc phân phối các bản sao tác phẩm của tác giả đó. Ngược lại, một tác giả, nhờ mô hình cấp phép copyleft, sẽ trao cho tất cả những ai nhận được bản sao tác phẩm quyền tái tạo, phái sinh hoặc phân phối tác phẩm miễn là tất cả những bản sao hoặc bản phái sinh mới đó cũng phải bị ràng buộc bởi cùng mô hình cấp phép copyleft. Giấy phép được sử dụng rộng rãi và là nguồn gốc của copyleft là Giấy phép Công cộng GNU. Cũng có những giấy phép Creative Commons tương tự như vậy với tên Chia sẻ tương tự (Share-alike). Copyleft cũng có thể được xem là một mô hình cấp phép bản quyền, trong đó tác giả từ bỏ một số, chứ không phải tất cả, các quyền lợi mà luật bản quyền đã trao. Thay vì cho phép tác phẩm thuộc hoàn toàn phạm vi công cộng (trong đó hoàn toàn không có bất kỳ hạn chế bản quyền nào), copyleft cho phép tác giả đặt ra một số, nhưng không phải tất cả, hạn chế bản quyền đối với những ai muốn tham gia vào hoạt động đó, nếu không sẽ bị xem là vi phạm bản quyền. Dưới sự bảo hộ của copyleft, có thể tránh được vi phạm bản quyền nếu người có khả năng vi phạm bản quyền biến mô hình copyleft của mình trở nên vĩnh viễn. Vì lý do này những giấy phép copyleft còn được gọi là giấy phép thuận nghịch. Trong khi luật bản quyền bảo vệ các quyền lợi của người tạo ra tác phẩm bằng cách quản lý sự phân phối và chỉnh sửa, ý tưởng copyleft là trao quyền tự do libre chủ quan cho những người dùng cuối. Giấy phép copyleft có những điều khoản công khai từ bỏ những hạn chế nào mà người tạo ra cho rằng nó không cung cấp quyền tự do libre cho người dùng cuối. Trong phần mềm, các giấy phép copyleft Mã nguồn mở đưa ra một hạn chế cơ bản đó là những thông tin có ích trong việc hỗ trợ chỉnh sửa (ví dụ như mã nguồn) phải được người dùng truy xuất dễ dàng cùng với một bản sao của phần mềm đã được cấp phép và cho phép ghi công tác giả gốc. == Lịch sử == Một đơn cử sử dụng copyleft sớm nhất là dự án Tiny BASIC được khởi nguồn trong một bản tin của People's Computer Company vào năm 1975. Dennis Allison đã viết một bản mô tả chi tiết cho phiên bản đơn giản của ngôn ngữ lập trình BASIC. Thiết kế này không hỗ trợ các chuỗi ký tự và chỉ dùng số học đại số. Mục tiêu của chương trình là chỉ phải tốn từ 2 đến 3 kilobyte bộ nhớ. Nội dung của Tiny BASIC sau đó nhanh chóng được đưa vào bản tin riêng cho nó với tên gọi Dr. Dobb's Journal of Tiny BASIC và lời tựa Calisthenics & Orthodontia, Running Light Without Overbyte (một cách chơi chữ vì thể dục mềm dẻo giúp chạy nhanh, còn thuật chỉnh răng giúp không cắn chìa - overbite đồng âm với overbyte - quá nhiều byte). Những người xem nó là thú tiêu khiển bắt đầu viết trình thông dịch ngôn ngữ BASIC cho những máy tính gia đình chạy trên vi xử lý của họ và gửi mã nguồn cho Dr. Dobb's Journal và những tạp chí khác để xuất bản. Đến giữa năm 1976, trình thông dịch Tine BASIC đã có mặt trong các vi xử lý Intel 8080, Motorola 6800 và MOS Technology 6502. Đây là một dự án mã nguồn mở avant la lettre (nghĩa là đây có thể coi là dự án mã nguồn mở trước khi có tên gọi mã nguồn mở) rất thành công. Trong tạp chí Dr. Dobb's Journal số tháng 5 năm 1976 đã đăng Tiny BASIC Palo Alto của Li-Chen Wang dành cho vi xử lý Intel 8080. Danh sách liệt kê bắt đầu với tiêu đề, tên tác giả và ngày tháng bình thường nhưng nó còn có "@COPYLEFT ALL WRONGS RESERVED" (@COPYLEFT BẢO LƯU MỌI SAI SÓT). Một thành viên của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew có tên Roger Rauskolb đã chỉnh sửa và phát triển chương trình của Li-Chen Wang và chương trình này được xuất bản trong tháng 12 năm 1976 của tạp chí Interface Age. Roger đã ghi thêm của ông vào và giữ nguyên Thông báo COPYLEFT. Thí dụ mới hơn về copyleft là khi Richard Stallman làm việc với trình thông dịch Lisp. Symbolics yêu cầu sử dụng trình thông dịch Lisp, và Stallman đồng ý cung cấp chúng cùng với phiên bản phạm vi công cộng công trình của ông. Symbolics đã mở rộng và cải tiến trình thông dịch Lisp, nhưng khi Stallman muốn truy cập vào những bản cải tiến mà Symbolics đã thực hiện với trình thông dịch của ông, Symbolics từ chối. Khi đó, vào năm 1984, Stallman theo đuổi công việc tiệt trừ những hành vi kiểu này cùng với văn hóa phần mềm thương mại, mà ông gọi là đầu cơ phần mềm. Khi Stallman cho rằng việc loại trừ luật bản quyền hiện tại cùng những sai lầm mà ông lĩnh hội được là không khả thi trong thời gian ngắn, ông quyết định làm việc trong khuôn khổ pháp luật hiện tại; ông đã tạo ra giấy phép bản quyền của riêng mình, Giấy phép Công cộng Emacs, giấy phép copyleft đầu tiên. Giấy phép này sau đó được chuyển thành Giấy phép Công cộng GNU, hiện là một trong những giấy phép Phần mềm Tự do phổ biến nhất. Lần đầu tiên một người sở hữu bản quyền đã tiến hành những bước đi để đảm bảo rằng người dùng chương trình sẽ được chuyển giao số lượng quyền lợi tối đa một cách vĩnh viễn, bất kể phiên bản nào do ai thực hiện chỉnh sửa dựa trên chương trình gốc sau đó. Giấy phép GPL gốc này không trao quyền cho quảng đại cao công chúng, mà chỉ cho những ai đã nhận được chương trình; nhưng đó là điều tốt nhất có thể làm được với luật pháp khi đó. Giấy phép mới khi đó không được ghi nhãn copyleft. Richard Stallman đã nói rằng ý tưởng đầu tiên là từ Don Hopkins, người mà ông gọi là một đồng nghiệp giàu tính tưởng tượng, đã gửi thư cho ông vào năm 1984 hay 1985 gì đó, trong đó có ghi: "Copyleft—bảo lưu mọi quyền". Thuật ngữ "kopyleft" (trại từ "copyleft") cùng với chú thích "All Rites Reversed" (trại từ "All Rights Reserved" - Bảo lưu mọi quyền) cũng được dùng vào đầu thập niên 1970 trong Principia Discordia, có lẽ lấy cảm hứng từ Hopkins hoặc ảnh hưởng từ các cách dùng khác. Và trong lĩnh vực nghệ thuật Ray Johnson đã đặt ra thuật ngữ này một cách độc lập từ sớm khi nó thích hợp với việc tạo ra và phân phối các hình ảnh phương tiện hỗ hợp của ông trong mail art và những món quà nhỏ, từ đó ông khích lệ việc tạo ra các tác phẩm phái sinh (dù cụm từ này xuất hiện chốc lát trong một trong những tác phẩm của ông trong bộ phim tài liệu năm 2002 How to Draw a Bunny, bản thân Johnson không được đề cập đến trong bộ phim tài liệu 2001 Revolution OS.) Một số người cho rằng copyleft trở thành một vấn đề gây chia rẽ trong xung đột ý tưởng giữa Sáng kiến Mã nguồn Mở (OSI) và phong trào phần mềm tự do. Tuy nhiên, có bằng chứng rằng copyleft được chấp nhận và đề xuất bởi cả hai bên: Cả OSI và FSF (Quỹ hỗ trợ Phần mềm Tự do) đều có những giấy phép copyleft lẫn không phải copyleft trong danh sách các giấy phép được chấp nhận của họ. Luật sư Pháp lý ban đầu của OSI Laurence Rosen đã viết một giấy phép copyleft, Giấy phép Phần mềm Mở. Hướng dẫn cấp phép của OSI đã công nhận GPL là giấy phép "thực tế nhất". Một số chương trình phần mềm của Dự án GNU được phát hành theo giấy phép không copyleft Bản thân Stallman đã xác nhận việc sử dụng các giấy phép không copyleft trong một số tình huống cụ thể, gần đây nhất là trường hợp thay đổi giấy phép của Ogg Vorbis. == Áp dụng copyleft == Trên thực tế cách sử dụng copyleft thông thường là hệ thống hóa các điều khoản được sao chép lại cho một tác phẩm bằng một giấy phép. Một giấy phép như vậy thường trao cho mỗi người hiện sở hữu một bản sao tác phẩm những quyền tự do giống như tác giả đang có, bao gồm (từ Định nghĩa Phần mềm Tự do): quyền tự do sử dụng và nghiên cứu tác phẩm, quyền tự do sao chép và chia sẻ tác phẩm với người khác, quyền tự do thay đổi tác phẩm, và quyền tự do phân phối các tác phẩm đã chỉnh sửa tức là các tác phẩm phái sinh. Những quyền tự do này không đảm bảo rằng tác phẩm phái sinh sẽ được phân phối theo cùng điều khoản tự do. Để tác phẩm thực sự là copyleft, giấy phép phải đảm bảo rằng tác giả của tác phẩm phái sinh chỉ có thể phân phối những tác phẩm như vậy theo một giấy phép y hệt hoặc tương đương. Ngoài những hạn chế về sao chép, các giấy phép copyleft còn nhắc đến những trở ngại có thể có. Đó là việc đảm bảo các quyền sau đó không thể bị thu hồi và đòi hỏi tác phẩm và các phái sinh của nó phải được cung cấp ở dạng có thể giúp chỉnh sửa dễ dàng. Trong phần mềm, giấy phép đòi hỏi mã nguồn của tác phẩm phái sinh phải luôn có sẵn cùng với bản thân phần mềm. Các giấy phép copyleft cũng sử dụng các quy định và luật pháp tương ứng một cách sáng tạo cần thiết. Ví dụ, khi sử dụng luật bản quyền, những ai đóng góp vào tác phẩm dưới copyleft thường phải bổ sung, trì hoãn hoặc ấn định trạng thái người giữ bản quyền. Bằng cách đưa bản quyền các đóng góp của họ vào một giấy phép copyleft, họ được tự do từ bỏ một số quyền lợi thông thường có được từ bản quyền, trong đó có quyền trở thành người phân phối duy nhất những bản sao tác phẩm. Một số bộ luật được sử dụng cho các giấy phép copyleft thì khác nhau tùy theo từng quốc gia, và cũng có thể được trao theo những điều khoản khác nhau theo từng quốc gia. Ví dụ, ở một số nước việc bán một sản phẩm phần mềm mà không có đảm bảo, theo kiểu GNU GPL chuẩn (xem điều 11 và 12 của GNU GPL phiên bản 2) hoàn toàn có thể chấp nhận, trong khi ở đa số quốc gia châu Âu, người phân phối phần mềm không được phép khước từ mọi sự đảm bảo liên quan đến sản phẩm được bán. Vì lý do này phạm vi của những bảo đảm như vậy được ghi ra ở đa số các giấy phép copyleft châu Âu. Liên quan đến vấn đề này, mời xem giấy phép CeCILL, một giấy phép cho phép một người sử dụng GNU GPL (xem điều 5.3.4 của CeCILL) phối hợp với một sự đảm bảo có giới hạn (xem điều 9 của CeCILL). == Các loại copyleft và quan hệ với các giấy phép khác == Copyleft là một đặc tính để phân biệt của một số giấy phép phần mềm tự do. Nhiều giấy phép phần mềm tự do không phải là giấy phép copyleft vì chúng không yêu cầu người được cấp phép phân phối tác phẩm phái sinh dưới cùng một giấy phép. Hiện vẫn có những tranh cãi về loại giấy phép nào có độ tự do cao hơn. Tranh cãi này xoay các vấn đề phức tạp như định nghĩa quyền tự do và quyền tự do của ai là quan trọng hơn, hoặc có nên tối đa hóa quyền tự do của tất cả những người có khả năng nhận được tác phẩm trong tương lai hay không (quyền tự do từ việc tạo ra phần mềm thương mại). Các giấy phép phần mềm tự do không phải copyleft tối đa hóa quyền tự do của người nhận đầu tiên (quyền tự do để tạo ra phần mềm thương mại). Cũng giống như hệ thống cấp phép chia sẻ tương tự của Creative Commons, Giấy phép Tài liệu Tự do của GNU cho phép tác giả đưa vào những hạn chế đối với một số tiết doạn nào đó của tác phẩm, đặt ngoại lệ cho một số phần trong tác phẩm sáng tạo của họ ra khỏi cơ chế copyleft. Trong trường hợp của GFDL, những hạn chế này bao gồm việc sử dụng những tiết đoạn bất biến, mà những soạn giả trong tương lai không được phép thay đổi. Dự tính ban đầu của GFDL là để làm một công cụ để hỗ trợ tài liệu hóa các phần mềm được copyleft. Tuy nhiên, kết quả là nó lại có thể dùng cho bất kỳ loại tài liệu nào. === Copyleft mạnh và copyleft yếu === Copyleft điều chỉnh một tác phẩm được xem là "mạnh hơn", với ý nghĩa là các điều khoản copyleft có thể được áp dụng một cách hiệu quả cho tất cả các loại tác phẩm phái sinh. "Copyleft yếu" là để nói đến các giấy phép trong đó không phải tất cả các tác phẩm phái sinh đều thừa kế giấy phép copyleft; dù tác phẩm phái sinh có thừa kế hay không thì nó thông thường vẫn dựa vào kiểu mà nó đã phát sinh. Các giấy phép "copyleft yếu" nói chung thường được sử dụng trong việc tạo ra các thư viện phần mềm, cho phép các phần mềm khác liên kết đến thư viện, và sau đó được tái phân phối mà không bắt buộc về mặt luật pháp là công trình đó phải được phân phối theo giấy phép copyleft của thư viện. Chỉ có những thay đổi thực hiện trên chính phần mềm được copyleft yếu mới là đối tượng được giấy phép điều chỉnh, chứ không phải những thay đổi trên phần mềm liên kết tới nó. Điều này cho phép các chương trình với bất kỳ giấy phép nào có thể được dịch và liên kết với các thư viện được cấp phép copyleft như glibc (bổ sung của dự án GNU cho thư viện chuẩn C), rồi sau đó tái phân phối mà không cần phải cấp phép khác đi. Giấy phép phần mềm tự do nổi tiếng nhất sử dụng copyleft mạnh là Giấy phép Công cộng GNU. Các giấy phép phần mềm tự do sử dụng copyleft "yếu" bao gồm Giấy phép Công cộng GNU Hạn chế và Giấy phép Công cộng Mozilla. Những ví dụ về giấy phép phần mềm tự do không copyleft gồm có giấy phép X11, giấy phép Apache và các giấy phép BSD. Giấy phép Khoa học Thiết kế là một giấy phép mạnh có thể áp dụng cho bất kỳ tác phẩm nào không phải là phần mềm, tài liệu, hoặc nghệ thuật, như âm nhạc, nhiếp ảnh thể thao, và video. Nó được lưu trữ trong danh sách giấy phép của trang web của Quỹ hỗ trợ Phần mềm Tự do, nhưng người ta không xem nó tương thích với GPL của Quỹ hỗ trợ Phần mềm Tự do. === Copyleft đầy đủ và copyleft bán phần === Copyleft "đầy đủ" và "bán phần" liên quan đến một vấn đề khác: Copyleft đầy đủ tồn tại khi tất cả mọi phần của tác phẩm (ngoại trừ bản thân giấy phép) chỉ có thể được chỉnh sửa và phân phối theo các điều khoản của giấy phép copyleft của tác phẩm. Copyleft bán phần loại trừ một số phần của tác phẩm ra khỏi sự điều chỉnh của copyleft, hoặc bằng một cách nào đó không áp dụng mọi nguyên tắc copyleft cho tác phẩm. Ví dụ, có một số ngoại lệ liên kết GPL đối với vài gói phần mềm (xem ở dưới). === Chia sẻ tương tự === Chia sẻ tương tự đưa đòi hỏi rằng bất kỳ quyền tự do nào được gán cho tác phẩm gốc cũng phải được gán cùng điều khoản chính xác hoặc điều khoản tương thích trên tác phẩm phái sinh: nó cho thấy bất kỳ giấy phép copyleft nào cũng mặc nhiên là một giấy phép chia sẻ tương tự, nhưng không có chiều ngược lại, vì một số giấy phép chia sẻ tương tự có thêm những hạn chế khác, như cấm sử dụng với mục đích thương mại. Một số hoán vị của các giấy phép Creative Commons là ví dụ cho chia sẻ tương tự. == Copyleft có "như virus"? == Các giấy phép copyleft đôi khi được xem là "giấy phép bản quyền như virus", vì bất kì tác phẩm nào phát sinh từ một tác phẩm copyleft đến phiên chúng cũng phải là copyleft khi phân phối. Thuật ngữ Virus Công cộng hoặc Virus Công cộng GNU (GPV) có lịch sử lâu đời trên Internet, xuất hiện chỉ thời gian ngắn sau khi GPL lần đầu tiên ra mắt. Nhiều người ủng hộ giấy phép BSD sử dụng thuật ngữ này một cách chế giễu khi nói về khuynh hướng hấp thu những đoạn mã được cấp phép theo BSD mà không cho phép tác phẩm BSD gốc hưởng lợi từ nó của GPL, trong khi cũng đồng thời tự quảng bá mình là "tự do hơn" những giấy phép khác. Gần đây, Microsoft đã sử dụng thuật ngữ này. Thuật ngữ như virus nghe giống như với nghĩa của virus máy tính. Theo kĩ sư David Turner thuộc FSF, nó tạo ra một sự hiểu lầm và sợ hãi khi sử dụng phần mềm tự do theo copyleft. Những giấy phép copyleft phổ biến như GPL có một điều khoản cho phép các thành phần tương tác với những thành phần không phải copyleft miễn là mối liên hệ đó mang tính trừu tượng, như việc thực thi một công cụ dòng lệnh bằng một tập các lệnh lựa chọn rẽ nhánh hoặc tương tác với một máy chủ phục vụ Web. Do đó, thậm chí nếu một bộ phận (module) của một sản phẩm không copyleft được đặt vào GPL, nó vẫn hợp pháp khi các thành phần khác giao tiếp với nó một cách bình thường. Điều này cho phép sự giao tiếp có hoặc không bao gồm việc tái sử dụng các thư viện hoặc các thủ tục thông qua liên kết động — một số nhà bình luận nói rằng nó có bao gồm, còn FSF cho rằng nó không bao gồm và đã công khai thêm vào một ngoại lệ để cho phép nó trong giấy phép dành cho việc tái hoàn thiện thư viện Java theo GNU Classpath. == Xem thêm == Bảo lưu mọi quyền Phản bản quyền Việc sử dụng thương mại các tác phẩm copyleft Giấy phép Creative Commons Chia sẻ tương tự Nội dung tự do Phong trào Văn hóa Tự do Quỹ hỗ trợ Phần mềm Tự do Giấy phép Công cộng GNU Giấy phép phần mềm tự do tùy ý Phạm vi công cộng == Ghi chú và tham khảo == == Liên kết ngoài == What is copyleft?—by Richard Stallman GNU's Bulletin, vol. 1 no. 4—First appearance of article on What is copyleft? Freedom or Power by Richard Stallman and Bradley Kuhn Copyleft: Pragmatic Idealism—by Richard Stallman October 2004 interview with Linus Torvalds on commercial potential of Linux software MEHGLOBAL—Linux and Communism Eye Magazine—Copyleft and Copyright article Two explanations of copyleft and its history by Richard Stallman: one in April 2006, and one in June 2006 Article: Working Without Copyleft by Bjørn Reese and Daniel Stenberg, 12/19/2001
giải vô địch bóng đá đông nam á 2004.txt
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2004 hay Cúp Tiger 2004 là giải vô địch bóng đá Đông Nam Á lần thứ 5 được tổ chức từ 19 tháng 12 năm 2004 đến 16 tháng 1 năm 2005. Giải được chia làm 2 giai đoạn: vòng đấu bảng với 10 đội tuyển (Đông Timor lần đầu tham dự, còn Brunei vắng mặt) được chia vào 2 bảng diễn ra tại Việt Nam (bảng A) và Malaysia (bảng B). Các đội đấu vòng tròn 1 lượt, chọn 2 đội đứng đầu vào bán kết. Từ vòng bán kết, các trận đấu diễn ra 2 lượt, sân nhà, sân khách. Đây là lần cuối cùng hãng bia Tiger tài trợ nên từ giải sau sẽ không mang tên Cúp Tiger. Singapore đã giành chức vô địch AFF Cup lần thứ 4 trong lịch sử sau khi đánh bại Indonesia với tổng tỉ số 5–2 sau 2 lượt trận chung kết và trở thành đội thứ hai của Đông Nam Á 2 lần đăng quang, còn Thái Lan trở thành đội đương kim vô địch đầu tiên của AFF Cup bị loại ngay từ vòng bảng. == Danh sách tham dự == == Vòng bảng == === Bảng A === Giờ thi đấu tính theo giờ Việt Nam – UTC+7 Tất cả các trận đấu diễn ra ở Việt Nam. Tóm tắt các trận đấu === Bảng B === Giờ thi đấu tính theo giờ chuẩn Malaysia (MST) – UTC+8 Tất cả các trận đấu diễn ra ở Malaysia. Tóm tắt các trận đấu == Vòng đấu loại trực tiếp == == Bán kết == Lượt đi Lượt về Singapore thắng với tổng tỉ số 8–5. Indonesia thắng với tổng tỉ số 5–3. == Tranh hạng ba == == Chung kết == Lượt đi Lượt về Singapore thắng với tổng tỷ số 5–2. == Vô địch == == Giải thưởng == == Danh sách cầu thủ ghi bàn == 7 bàn Ilham Jaya Kesuma 6 bàn 5 bàn Kurniawan Dwi Yulianto 4 bàn 3 bàn Chalana Luang-Amath Emelio Caligdong 2 bàn 1 bàn phản lưới nhà Sun Sampratna (trận gặp Việt Nam) Sengphet Thongphachan (trận gặp Singapore) == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Cúp Tiger 2004 Cúp Tiger 2004 trên trang web của RSSSF.
thời kỳ bắc thuộc lần thứ nhất.txt
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (ngắn gọn: Bắc thuộc lần 1) trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 218 TCN hoặc 179 TCN hoặc 111 TCN đến năm 39, dưới sự cai trị của phong kiến Trung Quốc. == Thời điểm bắt đầu == Dấu mốc xác định thời kỳ này đầu tiên chưa thống nhất giữa các sử gia, do quan niệm khác nhau về nước Nam Việt và nhà Triệu. Quan điểm thừa nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam (Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược) xác định rằng khi nhà Triệu bị Hán Vũ Đế diệt năm 111 TCN lúc bắt đầu thời Bắc thuộc. Theo mốc thời gian này, thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 150 năm. Theo quan điểm này, thời Bắc thuộc lần 1 thực chất là thời thuộc Hán. Quan điểm không thừa nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam (Việt sử tiêu án, các sách Lịch sử Việt Nam của các sử gia hiện đại) xác định thời Bắc thuộc bắt đầu từ khi Triệu Đà diệt An Dương Vương: Sử cũ thường xác định An Dương Vương và nước Âu Lạc bị tiêu diệt năm 207 TCN. Theo mốc thời gian này, thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 246 năm. Sử hiện đại căn cứ theo ghi chép của Sử ký Tư Mã Thiên là Triệu Đà diệt phía Tây nước Âu Lạc "sau khi Lã Hậu mất", tức là khoảng năm 179 TCN. Theo mốc thời gian này, thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 218 năm. == Sự cai trị của nhà Triệu và nhà Hán == Sau khi sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt, Triệu Đà chia lãnh thổ làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Trông coi 2 quận này là hai viên quan Sứ (đại diện cho triều đình Phiên Ngung), bao gồm: Điển sứ coi việc hành chính và Tả tướng coi việc quân sự. Sử cũ ghi nhận Tả tướng cuối cùng thời Triệu là Hoàng Đồng. Một chiếc ấn khối vuông bằng đồng khắc chữ "Tư Phố hầu ấn" (Ấn dành cho thủ lĩnh huyện Tư Phố) được phát hiện ở Thanh Hoá thuộc miền bắc Việt Nam trong thập niên 1930, được cho là của viên Điển sứ tước Hầu ở quận Cửu Chân thời Triệu do có sự tương đồng với những chiếc ấn được tìm thấy ở lăng mộ Triệu Văn Đế. Theo ý kiến các sử gia, điều này chứng tỏ nhà Triệu không trực tiếp cai trị Giao Chỉ và Cửu Chân, người Âu Lạc cũ chỉ mất một triều đình độc lập do người bản địa đứng đầu, chế độ Lạc tướng cha truyền con nối vẫn được duy trì và tổ chức vùng (bộ) của người Việt vẫn chưa bị xóa bỏ. Thậm chí, trong vùng đất Cổ Loa cũ của An Dương Vương còn có vương hiệu là Tây Vu Vương. Các sử gia cũng đánh giá: việc tiếp tục chế độ Lạc tướng của người Việt là chính sách cai trị tốt của nhà Triệu, vì triều đình Nam Việt sở dĩ tồn tại được, ngoài sự phù trợ của một số người Hán còn có sự ủng hộ của các tộc trưởng địa phương người Việt. Các tộc trưởng người Việt, Lạc tướng vẫn cai trị, hàng năm cống nộp cho vua Triệu thông qua hai quan Sứ. Giúp việc cho hai quan Sứ có một số quan chức cả người Nam Việt lẫn người Việt Giao Chỉ. Ở quận Quế Lâm, nhà Triệu đặt một viên quan Giám để trông coi. Sử cũ ghi nhận vị quan Giám cuối cùng của quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁). Nhà Triệu phong cho họ hàng tông thất được tước Vương ở đất Thương Ngô, hiệu là Thương Ngô Vương. Sử cũ cho biết Triệu Quang là Thương Ngô Vương cuối cùng. Riêng quận Nam Hải do triều đình nhà Triệu trực tiếp cai trị và là nơi đặt kinh đô Phiên Ngung. Dưới đơn vị cấp quận là cấp huyện. Sử cũ ghi nhận vào giai đoạn cuối thời Triệu, Sử Định là quan Huyện lệnh huyện Yết Dương thuộc quận Nam Hải. Biến cố đáng kể nhất của thời kỳ này là cuộc chiến giữa nhà Hán và nhà Triệu cuối thế kỷ 2 TCN, dẫn tới sự thay đổi chủ quyền cai trị lãnh thổ miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam cùng đất Lưỡng Quảng từ tay nhà Triệu sang tay nhà Tây Hán. Nhân lúc nhà Triệu suy yếu, Hán Vũ Đế định dùng phương pháp ngoại giao để thu phục đất Nam Việt nhưng không thành công vì gặp sự chống đối của Thừa tướng Lữ Gia. Hán Vũ Đế quyết định sử dụng quân sự và mở cuộc tấn công quy mô vào năm 111 TCN. Nhà Triệu đã thất bại sau khi tướng Hán là Lộ Bác Đức hạ được kinh thành Phiên Ngung của Nam Việt nhưng chưa tiến vào lãnh thổ Giao Chỉ và Cửu Chân. Thủ lĩnh người Việt ở đất Cổ Loa là Tây Vu Vương định nổi dậy chống Hán nhưng bị Tả tướng Hoàng Đồng giết chết để hàng Hán. Nước Nam Việt, trong đó bao gồm lãnh thổ miền Bắc Việt Nam bây giờ, từ đó thuộc quyền cai quản của nhà Hán. Nhà Hán xác lập bộ máy cai trị chặt chẽ hơn so với nhà Triệu, thiết lập đơn vị cai trị cấp châu và quận. Tại các huyện, chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt vẫn được duy trì, nhà Hán "dùng tục cũ để cai trị". Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán lập nhà Tân (năm 8), thứ sử Giao Châu là Đặng Nhượng và thái thú Tích Quang theo các thái thú ở Giang Nam, cùng nhau cát cứ chống nhà Tân. Năm 29, Hán Quang Vũ Đế cơ bản thống nhất trung nguyên. Theo lời dụ của tướng Đông Hán là Sầm Bành, Tích Quang và Đặng Nhượng cùng hàng Đông Hán. == Hành chính và dân số == === Thời Triệu === Triệu Đà chia lãnh thổ Âu Lạc cũ làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Bên dưới cấp quận không có đơn vị hành chính khác. Sử sách ghi nhận tại hai quận này có 40 vạn dân thời Triệu. Hai quận Nam Hải và Quế Lâm về cơ bản vẫn kế thừa cương vực và hành chính thời Tần. Bên dưới cấp quận là cấp huyện. Riêng Phiên Ngung nằm dưới quận Nam Hải nhưng là kinh đô của nước Nam Việt. === Thời Hán === Nhà Hán đánh chiếm Nam Việt năm 111 TCN, chia lãnh thổ Nam Việt làm sáu quận là Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Thương Ngô, Uất Lâm (Quảng Tây), Giao Chỉ, Cửu Chân (miền Bắc Việt Nam) và lập thêm 3 quận mới là Chu Nhai, Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam), Nhật Nam. Riêng đối với quận Nhật Nam, khi Lộ Bác Đức đánh bại nhà Triệu, lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định). Vùng đất này được nhập vào lãnh thổ chung với miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay lần đầu tiên sau khi các quan cai trị Giao Chỉ tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn trong thời thuộc Hán và hình thành quận Nhật Nam. Năm 106 TCN, Hán Vũ Đế đặt cử Thạch Đái làm thái thú 7 quận ở lục địa, 2 quận ở đảo (tức đảo Hải Nam), trụ sở đặt tại Long Uyên, quận Giao Chỉ là quận lớn và quan trọng nhất. Hán thư ghi nhận quận Nam Hải gồm có 6 huyện: Phiên Ngung, Trung Túc, Bác La, Long Xuyên, Tứ Hội, Yết Dương. Quận trị Nam Hải đặt tại huyện Phiên Ngung. Quận Nam Hải thời Hán có 19.613 hộ - 94.253 người. Quận Uất Lâm gồm có 12 huyện: Bố Sơn, An Quảng, Hà Lâm, Quảng Đô, Trung Lưu, Quế Lâm, Đàm Trung, Lâm Trần, Định Chu, Lĩnh Phương, Tăng Thực, Ung Kê. Quận trị Uất Lâm đặt tại huyện Bố Sơn. Quận Uất Lâm thời Hán có 12.415 hộ - 71.162 người. Quận Thương Ngô gồm có 10 huyện: Quảng Tín, Tạ Mộc, Cao Yếu, Phong Dương, Lâm Hạ, Đoan Khê, Phùng Thừa, Phú Xuyên, Lệ Phổ, Mãnh Lăng. Quận trị Thương Ngô đặt tại huyện Quảng Tín. Quận Thương Ngô thời Hán có 24.379 hộ - 146.160 người. Quận Hợp Phố thời Tây Hán gồm có 5 huyện: Từ Văn, Cao Lương, Hợp Phố, Lâm Doãn, Chu Lô với 15.398 hộ - 78.980 người. Thời Đông Hán gồm 5 huyện: Hợp Phố, Từ Văn, Cao Lương, Lâm Nguyên, Chu Nhai với 23.121 hộ - 86.617 người. Quận trị Hợp Phố đặt tại huyện Từ Văn. Quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Tử, Tây Vu, Long Uyên, Chu Diên. Theo Hán thư, quận Giao Chỉ thời Hán có 92.440 hộ - 746.237 người. Về trị sở của quận Giao Chỉ, các sách sử cũ của Trung Quốc ghi không thống nhất. Hán thư ghi huyện Liên Lâu đứng đầu, về nguyên tắc đó là quận trị. Sách Giao châu ngoại vực ký cũng chép tương tự. Sách Thủy kinh chú lại xác định quận trị Giao Chỉ là huyện Mê Linh. Quận Cửu Chân gồm có 7 huyện: Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết (hay Vô Biên), Vô Biên. Quận trị Cửu Chân đặt tại huyện Tư Phố, thời Vương Mãng đổi gọi Tư Phố là Hoan Thành. Quận Cửu Chân thời Hán có 35.743 hộ - 166.013 người. Như vậy tổng số hộ tại 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân là 128.183 với 912.250 người. So với thời Triệu, dân số tăng gấp khoảng 2,3 lần. Còn quận Nhật Nam do nhà Hán mới đặt sau khi đánh chiếm Nam Việt, gồm có 5 huyện: Chu Ngô, Tây Quyển, Lô Dung, Ty Ảnh và Tượng Lâm. Quận trị của Nhật Nam tại Tây Quyển. Thời nhà Tân, Vương Mãng đổi gọi là Nhật Nam đình. Nhật Nam thời thuộc Hán có 15.460 hộ và 69.485 người. === Thời Đông Ngô === Năm 210, Ngô vương Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu. Chất đến, Vương Sĩ đem thân thuộc đến chầu Ngô Vương, và có công dụ hàng các quận ở xa phụ thuộc Ngô Vương nên được thăng tới chức Vệ Tướng Quân, tước Long Biên hầu. Đến năm 226 thì Vương Sĩ mất. Ngô Vương sai Trần Thì sang làm Thái thú, đến Hợp Phố thì nghe tin con Sĩ là Huy đã tự làm Thái thú và đem quân ra chống cự. Lữ Đại nhận chiếu vua Ngô đánh Huy. Lữ Đại dụ hàng được Huy, rồi lừa trong buổi tiệc bắt trói cả 6 anh em nhà Huy đem ra chém, lấy đầu mang về Vũ Xương. Tháng 3 năm 263, nhà Ngô sai Đặng Tuân đến quận làm Thái thú thay cho Tôn Tư. Đặng Tuân lại bắt dân cống tiến 30 con Công đem về Kiến Nghiệp. Đến tháng 4 năm đó, quận lại là Lữ Hưng giết cả Đặng Tuân lẫn Tôn Tư, tự xin nhà Tấn đặt làm Thái thú (do bấy giờ Ngô đã phụ thuộc vào Tấn). Nhà Tấn cho Lữ Hưng làm An Nam tướng quân đô đốc Giao Châu, cho Nam Trung giáp quân là Hoắc Dặc lãnh chức Thứ sử Giao Châu, cho được tùy nghi tuyển dụng trưởng lại. Năm 265, vua Tấn sai Mã Dung người Ba Tây thay Lữ Hưng. Mã Dung ốm chết. Hoắc Dặc lại sai Dương Tắc người Kiện Vi làm Thái thú. Năm 268, nhà Ngô lấy Lưu Tuấn làm Thứ sử. Lưu Tuấn giao chiến cùng với Đại đô đốc Tu Tắc và Tướng quân Cố Dung trước sau 3 lần đánh Giao Châu. Cố Dung, Tu Tắc đều chống cự và đánh tan được cả. Các quận Uất Lâm, Cửu Chân đều theo về Tu Tắc. Tu Tắc sai tướng quân là Mao Cảnh và Đổng Nguyên đánh quận Hợp Phố, giao chiến ở Cổ Thành (tức là thành quận Hợp Phố), đánh tan quân Ngô, giết Lưu Tuấn. Tu Tắc nhân đó dâng biểu cử Mao Linh làm thái thú quận Uất Lâm, Đổng Nguyên làm Thái thú quận Cửu Chân. Tháng 10 năm 269, vua Ngô là Tôn Hạo sai Giám quân Nhu Phiếm, Uy Nam tướng quân Tiết Hủ và Thái thú quận Thương Ngô người Đan Dương là Đào Hoàng theo đường Kinh Châu sang; Giám quân Lý Đỉnh, Đốc quân Từ Tồn theo đường biển Kiến An sang, đều hội ở Hợp Phố để đánh Tu Tắc. Cuối cùng thì giết được các tướng do nhà Tấn đặt ra, quận Cửu Chân lại thuộc về Đông Ngô cho đến lúc nước Ngô mất. == Kinh tế == === Nông nghiệp === Cơ sở kinh tế thời kỳ này là nông nghiệp với nông cụ đá (rìu, cuốc đá), gỗ (mai, vồ...), nhiều công cụ đồng thau (lưỡi cuốc, cày, xẻng, rìu, hái...) và một số nông cụ sắt (có rìu sắt lưỡi xéo phỏng chế rìu đồng Đông Sơn).. Lúa nước vẫn là cây trồng chủ đạo. Bên cạnh đó, có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, đay, gai để có cái mặc và có nhiều hoa quả như nhãn, vải, quýt, chuối.... Trong chăn nuôi, người Việt có 5 giống gia súc là trâu, lợn, gà, dê, chó. === Thủ công nghiệp === Nền sản xuất thủ công nghiệp Giao Chỉ tiếp tục có những bước phát triển, trên cơ sở thủ công nghiệp truyền thống của Âu Lạc kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa của dân Nam Việt. Đồ đồng Đông Sơn vẫn được sản xuất bên cạnh đồ đồng vùng Lưỡng Quảng (đỉnh, biển hồ, gươm, qua, gương đồng...). Các sản phẩm gốm gồm gốm cổ truyền còn có những sản phẩm chịu ảnh hưởng của phong cách Nam Việt (như gốm văn in hình học, bình 4-5 thân dính liền nhau) và Hán (đỉnh, bình, vò...). Người Việt có nghề dệt cửi làm vải, nổi tiếng là vải cát bá (vải bông) nhỏ sợi và rất mịn. === Thương mại === Từ khi nhà Hán chinh phục Nam Việt, người Việt tham gia hoạt động thương mại nhiều hơn so với trước, do tác động của các thương nhân người Hán. Điểm xuất phát của các thương nhân người Hán từ phương Bắc, khi đi và về đều qua Nhật Nam mua bán thổ sản sau khi vòng qua trao đổi hàng ở các quốc gia ngoài biển. Nhiều lái buôn người Hán đến buôn bán và trở nên giàu có. Sản vật địa phương buôn bán trao đổi bao gồm vải cát bá, đồi mồi, ngọc, voi, tê giác, vàng bạc, hoa quả.... Việc buôn bán ở phương Đông thời Tây Hán đã phát triển. Do có vị trí thuận lợi và phong phú sản phẩm nhiệt đới, Giao Chỉ trở thành một trạm quan trọng về giao thông biển với các nước phía nam ngoài biển. Hán thư ghi lại tên một số quốc gia có thông thường thời kỳ đó, được xác định ở Nam Á và Đông Nam Á như Hoàng Chi, Đô Nguyên, Âp Lô Một, Sâm Ly, Phù Cam Đô Lô, Bì Tông.... == Văn hóa và xã hội == Đến thời Bắc thuộc lần 1 là thời sơ kỳ đồ sắt Việt Nam, vẫn tồn tại cơ cấu của nền văn minh Đông Sơn với mô hình văn hóa nông nghiệp lúa nước cổ truyền. Người Việt đã chịu ảnh hưởng lối sống, văn minh – văn hóa Hán được truyền bá theo 2 cách: Truyền bá một cách ôn hòa qua giao lưu kinh tế - văn hóa, qua di dân Trung Quốc. Truyền bá một cách cưỡng bức thông qua đô hộ hành chính quân sự. Sự tồn tại của văn hóa Đông Sơn được các sử gia hiện đại đánh giá là sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt trước sự đồng hóa của phương Bắc. Có sự tồn tại song song của hai nền văn hóa được các nhà nghiên cứu xác nhận: Trong cư trú: kiểu Đông Sơn với nhà sàn và kiểu Hán với thành quách mô hình nhà bằng đất, mô hình giếng nước, bếp lò, chuồng trại. Trong mộ táng: kiểu Đông Sơn với mộ táng hình thuyền và đồ tùy táng kiểu Đông Sơn; kiểu Hán với mộ đất, quách gỗ và hiện vật tùy táng kiểu Trung Quốc Trong sinh hoạt: vừa có đồ gốm kiểu Đường Cồ, gốm Đông Sơn, rìu lưỡi xéo, trống đồng của người Việt truyền thống bên cạnh bình, đỉnh miệng vuông, đao sắt, kiếm, gương đồng, móc đai lưng. Đầu thế kỷ 1, Nhâm Diên được Hán Quang Vũ Đế cử sang làm thái thú quận Cửu Chân đã áp dụng lối sống Hán cải biến phong hóa người Việt từ năm 29. Những việc cưới xin tới trang phục, giáo dục nhất thiết phải theo lễ nghĩa Trung Quốc. Các sử gia hiện đại cho rằng: sự pha trộn văn hóa, đời sống giữa Hán và Việt dẫn tới sự hỗn dung văn hóa cưỡng bức, theo đó quá trình năng động trên cơ tầng Việt đã vận hành theo cơ chế Hán. Đời sống văn hóa – xã hội Việt chuyển từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang mô hình mới: Hán - Việt. == Sự phản kháng của người Việt == Thời Bắc thuộc lần 1, trong vòng hơn 200 năm không ghi nhận một cuộc nổi dậy chống đối đáng kể nào của người Việt. Chỉ có những việc chống đối quy mô tương đối nhỏ, giết quan lại nhà Hán, dù trong nhiều năm đã khiến nhà Hán phải điều động quân đội từ Kinh Sở (Hoa Nam) xuống trấn áp nhưng không đủ mạnh để đuổi người Hán. Năm 40, do sự tàn bạo của thái thú Tô Định (trấn trị từ năm 34), hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã nổi dậy chống sự cai trị của nhà Hán. Tô Định bỏ chạy về Trung Quốc, Hai Bà Trưng xưng vương, xác lập quyền tự chủ của người Việt. Thời Bắc thuộc lần 1 chấm dứt. == Các quan đô hộ == Sử sách ghi lại các quan đô hộ đã sang Việt Nam trong thời kỳ này, gồm một danh sách không đầy đủ, như sau: Thạch Đái (111 - 86 TCN) Chu Chương (86 - 75 TCN) Ngụy Lãng Đặng Huân Ích Cư Xương (? - 54 TCN) Đặng Nhượng (8-23) Nhâm Diên (29-33) Tô Định (34-40) == Xem thêm == Vấn đề chính thống của nhà Triệu Nhà Triệu Nhà Hán Hai Bà Trưng Bắc thuộc lần 2 == Tham khảo == Đại Việt sử ký toàn thư Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Viện Sử học (1988), Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Đào Duy Anh (2005), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục == Chú thích ==
báo điện tử.txt
Báo trực tuyến, báo điện tử, báo mạng hay tin tức trực tuyến là loại hình báo chí được xây dựng theo hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet. Báo điện tử được tòa soạn điện tử xuất bản, còn người đọc báo dựa trên máy tính, thiết bị cá nhân như máy tính bảng, điện thoại di động trung cao cấp,... có kết nối internet. Khác với một trang web nói chung hay trang thông tin điện tử, báo trực tuyến cập nhật thường xuyên tin tức, đặc biệt là đăng "tin tức thời" hay "tin giật gân" (Breaking news). Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian. Sự phát triển của Báo điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống . Về thuật ngữ báo trực tuyến trong tiếng Anh gọi là "Online newspaper". Sự phổ biến và thuận tiện của việc dùng từ "Online" dẫn đến trên thế giới và trong nước từ này được gắn thẳng vào tên báo, ví dụ "Báo Tin Tức Online", "Tuổi Trẻ Online",... để chỉ phiên bản trực tuyến. == Phân loại == Hiện nay có nhiều cách phân loại Báo điện tử khác nhau, tùy theo tiêu chí phân loại và việc để ý đến quy định riêng của mỗi nước. Theo cách thức biên tập và phát hành có thể chia ra: Báo lai (hybrid), là bản báo trực tuyến phát hành song song với bản báo in. Ngày nay tất cả các báo in đều có bản phát hành trực tuyến. Các báo có đội ngũ phóng viên hùng hậu thì cập nhật tin liên tục và phiên bản trực tuyến có thể khác hẳn bản in. Khái niệm kỳ phát hành như "báo ngày", "báo tuần" cũng không còn. Ví dụ trong nước là "Báo Lao động điện tử", "Báo Nhân Dân điện tử",... ví dụ nước ngoài là "Spiegel Online",... Chỉ trực tuyến (online-only), phát hành gần như không có bản in tương ứng. Đây là báo do các hãng thông tấn, phát thanh, truyền hình lập ra. Trường hợp đơn giản là một báo mới ra đời mà việc phát hành bản in không có khả năng cạnh tranh và không hiệu quả về kinh tế. Ví dụ Hãng CNN, BBC,... hay báo trong nước như Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam,... Báo tổng hợp tin tức từ các báo khác (News Aggregators), hoặc đơn giản là quét các dữ liệu, thông tin từ các trang khác. Người ta gọi chung các báo điện tử dạng này, theo một cách khác là "Báo tự động cập nhật tin tức". Ví dụ trang "Very Quiet tổng hợp tin quốc tế, hay trang Báo Mới ở Việt Nam. Thể khởi nghiệp, là một trang web hay trang thông tin điện tử nhảy vào lãnh vực biên tập tin tức mọi mặt. Nó có thể là đoạn khởi nghiệp của một nhóm nào đó, và sau đó có thể thành công hay thất bại. Tại Việt Nam là trường hợp "Báo Năng lượng Mới (PetroTimes)" đã nhảy vào biên tập thời sự chính trị, nhưng có vẻ là thất bại. Theo tính chính thống, thường xem trọng ở các nước có truyền thống kiểm soát truyền thông, thì chia ra: Chính thống, hay hợp pháp, là loại được cấp phép bởi một cơ quan chức năng của nước sở tại. Giấy phép có thể quy định cả những chủ đề nội dung được phép biên tập. Ngược lại, những báo điện tử hoạt động không phép tại nước sở tại (hoặc được cấp bởi một nước thứ 2, nhưng chưa được phép của nước sở tại) thường khó được chấp nhận. Theo chất lượng nội dung thì chia ra: Chính thống, đưa các tin xác thực do phóng viên điều tra thu thập. Báo lá cải (tabloid), đưa tin vịt hoặc phóng tác. Loại trung gian là đưa lẫn lộn tin xác thực, tin thiếu điều tra xác thực và tin phóng tác. Có những báo định rõ trang lá cải để người đọc biết rõ và đọc cho vui. Tuy nhiên có những báo không chỉ rõ là đưa tin vịt, như một số báo ở Trung Quốc, Liên bang Nga ,... mà báo trực tuyến ở Việt Nam thường dịch và đăng tải. Một hình thức phân loại khác cũng được một số nước sử dụng, trong đó có Việt Nam, khi muốn phân biệt các trang mạng với nhau. Cách phân loại này dựa trên hình thức thể hiện trên phiên bản online. Cụ thể, gồm: trang tin điện tử và báo điện tử. Trong khi báo điện tử hội đủ các yếu tố được cấp phép hoạt động của một tờ báo điện tử, thì trang tin điện tử đa phần được lấy thông tin từ báo in đăng lại. Báo giúp người đọc và tìm kiếm tin tức theo cách hoàn toàn mới. Mỗi mẩu tin được hiển thị kèm với các nguồn tin khác nhau đưa cùng tin hoặc tin tương tự. Báo giúp bạn tiếp cận các báo điện tử của Việt Nam một cách hiệu quả nhất. Báo được thiết kế đơn giản, tập trung vào tin tức, không có các banner quảng cáo. Báo rất tiện lợi và tiết kiệm thời gian hơn khi đọc tin tức. Báo tổng hợp tin tức theo phong cách Google News cập nhật. Tin tức mới của báo được tự động cập nhật 2 phút/lần, ước khoảng 1200-1500 tin mới/ngày. Hiện nay số tin tức được cập nhật trong ngày ngày càng lớn do sự phát triển của các báo điện tử Việt Nam. Nguồn tin chủ yếu được lấy từ các báo điện tử khác nhau nhưng có tiếng tại Việt Nam: Google News (Google Tin tức) Yahoo News Very Quiet World News Vietbao Baomoi == Bản quyền và những tranh cãi == Tại các nước có luật báo chí rõ ràng thì báo trực tuyến phải tuân thủ pháp luật, chẳng hạn như luật về tội phỉ báng, sự riêng tư, bản quyền,.... Tại Việt Nam luật còn thiếu các điểm cụ thể, nên xuất hiện vi phạm bản quyền tràn lan, tung nội dung độc hại, và các tranh cãi, đên mức trong vụ "Nước mắm chứa asen 2016" có người đã phải dùng đến từ "truyền thông bất lương" . Một tranh cãi bản quyền đáng chú ý là ngày 7/3/2013, báo Năng lượng Mới và trang tin điện tử petrotimes.vn đã có công văn yêu cầu Baomoi chấm dứt vi phạm bản quyền, qua việc sử dụng tin bài không xin phép. Theo thông báo của báo Năng lượng Mới, hiện nay có một số website công khai lấy tin bài của báo điện tử khác, trong đó có Baomoi, và việc tự động lấy lại tin bài và kinh doanh là "ăn cắp" chất xám của các cơ quan báo chí, vi phạm nghiêm trọng về bản quyền. Bản thân Năng lượng Mới đã bị Baomoi khai thác khoảng 10.000 tin bài (trên phiên bản điện tử Petrotimes). Do đó, tờ báo này đã có văn bản yêu cầu Baomoi từ ngày 7/03/2013 phải chấm dứt việc lấy thông tin và kinh doanh bằng thông tin của tờ báo này dưới bất kỳ hình thức nào. Baomoi là một website tổng hợp thông tin tiếng Việt thuộc Công ty cổ phần công nghệ EPI, được cấp phép hoạt động theo giấy phép số 46/GP-TTĐT ngày 13/01/2012. Mỗi ngày trang này tổng hợp, phân loại khoảng 3.500 tin tức từ 60 nguồn chính thức của các báo điện tử và trang tin điện tử VN. Theo quy định của Bộ Thông tin - truyền thông, giấy phép này cho phép tổng hợp thông tin từ các báo nhưng với điều kiện phải được sự đồng ý bằng văn bản của các báo. Tuy nhiên trên thực tế, VnExpress, Dân Trí, Năng lượng Mới... chưa có bất cứ một văn bản nào đồng ý cho phép trang này khai thác lại thông tin . == Báo điện tử ở Việt Nam == Tại Việt Nam, tờ báo trực tuyến đầu tiên là tờ tạp chí Quê hương điện tử ra đời vào năm 1997. Đây là tờ tạp chí của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao, phát hành số đầu tiên vào ngày 6/2/1997, chính thức khai trương ngày 3/12/1997. Năm 1998, báo điện tử Vietnamnet ra đời; năm 1999, báo Lao động, báo Nhân dân điện tử ra đời. Dưới đây là một số báo điện tử thông dụng ở Việt Nam: Một số tờ báo chuyên đề về pháp luật gồm: Báo Pháp luật Việt Nam (Website chính thức): Cơ quan chủ quản: Bộ Tư pháp Việt Nam Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh (Website chính thức): Cơ quan chủ quản: Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh Báo Pháp luật và Xã hội (Website chính thức): Cơ quan chủ quản: Sở Tư pháp Hà Nội Báo Pháp luật và Đời sống hay Báo Đời sống và Pháp luật (www.doisongphapluat.com.vn): Cơ quan chủ quản: Hội Luật gia Việt Nam Báo Pháp luật đời sống (chính thức): Cơ quan chủ quản: Báo Pháp Luật Đời Sống Báo Pháp luật Plus-truyền thông pháp luật (chính thức) Báo Pháp luật số - Trang tin tức pháp luật điện tử (chính thức) Báo Bảo vệ pháp luật điện tử (Website chính thức): Cơ quan chủ quản: Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao Việt Nam Báo Công lý (Website chính thức): Cơ quan chủ quản: Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam Báo Người đưa tin (Website chính thức): Cơ quan chủ quản: Hội Luật gia Việt Nam == Tin tức tiếng Anh từ các hãng tin lớn == Hãng thông tấn: AFP Associated Press (AP) Reuters Tổ hợp truyền thông: BBC CNN VOA == Báo quốc tế có phiên bản tiếng Việt == Báo VOA tiếng Việt của Hoa Kỳ:. Báo BBC tiếng Việt của Anh:. Báo RFA tiếng Việt của Hoa Kỳ:. Báo KBS tiếng Việt của Đài truyền hình Hàn Quốc: KBS website. Báo RFI tiếng Việt của Pháp: RFI website. Báo CRI tiếng Việt của Trung Quốc: CRI website. Báo RTI tiếng Việt của Đài phát thanh Đài Loan: RTI website. Báo Sputnik tiếng Việt của Liên bang Nga: Sputnik website. == Báo/web người Việt hải ngoại == == Tham khảo == == Xem thêm == Báo hình Báo viết Báo điện tử Tòa soạn báo Tòa soạn điện tử == Liên kết ngoài ==
bán đảo iberia.txt
Bán đảo Iberia (hay chỉ Iberia) hay còn gọi là Bán đảo Tây-Bồ nằm ở cực Tây Nam châu Âu, được bao quanh bởi Địa Trung Hải về hướng Đông và Nam, và bởi Đại Tây Dương về hướng Tây và Bắc. Dãy núi Pyrenees làm thành biên giới Đông Bắc của bán đảo. Gibraltar, điểm cực Nam của bán đảo, được ngăn cách với châu Phi bởi eo biển cùng tên. Đây là bán đảo lớn nhất châu Âu với diện tích 582 860 km². == Các quốc gia và vùng lãnh thổ == Trên bán đảo Iberia gồm có các quốc gia và vùng lãnh thổ dưới đây: Tây Ban Nha, chiếm một phần rất lớn của bán đảo Bồ Đào Nha, nằm ở rìa Tây Andorra, một nước nhỏ nằm giữa Tây Ban Nha và Pháp trong dãy Pyrenees Gibraltar, vùng lãnh thổ thuộc nước Anh, nằm ở cực Nam == Chú thích ==
ủy hội châu âu.txt
Ủy hội châu Âu (tiếng Anh: Council of Europe, tiếng Pháp: Conseil de l'Europe) là một tổ chức quốc tế làm việc hướng tới việc hội nhập châu Âu. Ủy hội được thành lập năm 1949 và có một sự nhấn mạnh đặc biệt trên các tiêu chuẩn pháp lý, nhân quyền, sự phát triển dân chủ, pháp quyền và việc hợp tác văn hoá. Ủy hội có 47 quốc gia thành viên với khoảng 800 triệu công dân. Ủy hội khác biệt với Liên minh châu Âu (EU) nơi có các chính sách chung, các luật ràng buộc và chỉ có 27 nước thành viên. Tuy nhiên 2 tổ chức cùng chia sẻ một số biểu tượng của châu Âu chẳng hạn như Cờ châu Âu. Các thiết chế theo luật định của Ủy hội là Uỷ ban Bộ trưởng bao gồm các bộ trưởng ngoại giao của mỗi nước thành viên, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu gồm các nghị sĩ từ Quốc hội của mỗi quốc gia thành viên, và Tổng thư ký đứng đầu nha thư ký của Ủy hội châu Âu. Ủy viên Nhân quyền là một thiết chế độc lập trong Ủy hội châu Âu, được ủy nhiệm để thúc đẩy việc nhận thức và tôn trọng nhân quyền trong các quốc gia thành viên. Các cơ quan nổi tiếng nhất của Ủy hội châu Âu là Tòa án Nhân quyền châu Âu, nơi thực thi Công ước châu Âu về Nhân quyền, và Ủy ban Dược điển châu Âu, cơ quan thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng cho dược phẩm ở châu Âu. Việc làm của Ủy hội châu Âu đã dẫn tới việc lập ra các tiêu chuẩn, điều lệ và quy ước để tạo thuận lợi cho việc hợp tác giữa các quốc gia châu Âu và việc hội nhập nhiều hơn nữa. Trụ sở của Ủy hội châu Âu đặt tại thành phố Strasbourg, Pháp. Ngôn ngữ chính thức của Ủy hội là tiếng Anh và tiếng Pháp. Uỷ ban Bộ trưởng, Hội đồng Nghị viện và Hội nghị Ủy hội châu Âu cũng sử dụng tiếng Đức, tiếng Ý, và tiếng Nga cho một số công việc của họ. == Lịch sử == Năm 1945, vào cuối thế chiến thứ hai, châu Âu mang dấu vết của sự tàn phá chưa từng có và nỗi đau khổ của con người. Nó phải đối mặt với những thách thức mới về chính trị, đặc biệt là việc hoà giải giữa các dân tộc của châu Âu. Tình trạng này thuận lợi cho ý tưởng lâu nay về việc hội nhập châu Âu thông qua việc lập ra các thiết chế chung. Trong bài diễn văn nổi tiếng ở Đại học Zürich ngày 19.9.1946, Sir Winston Churchill đã đòi có một Hiệp chúng quốc châu Âu (United States of Europe) và việc lập ra một Ủy hội châu Âu. Ông ta đã nói tới một Ủy hội châu Âu ngay từ năm 1943 trong một buổi nói chuyện truyền thanh với quốc dân. Cấu trúc tương lai của Ủy hội châu Âu đã được thảo luận tại một hội nghị chuyên biệt gồm hàng trăm chính trị gia hàng đầu, các đại diện chính phủ và xã hội dân sự tại Den Haag, Hà Lan, vào năm 1948. Có hai xu hướng khác nhau: một số ủng hộ một tổ chức quốc tế cổ điển gồm các đại diện của các chính phủ, trong khi những người khác ưa thích một diễn đàn chính trị gồm các nghị sĩ. Cả hai xu hướng cuối cùng đã kết hợp thông qua việc lập ra Ủy ban Bộ trưởng và Hội đồng nghị viện theo Quy chế của Ủy hội châu Âu. Cấu trúc kép liên chính phủ và liên nghị viện này sau đó được sao chép cho Cộng đồng châu Âu, NATO và Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE). Ủy hội châu Âu được thành lập ngày 5.5.1949 bởi Hiệp ước London. Hiệp ước London hoặc Quy chế của Ủy hội châu Âu được 10 nước Bỉ, Đan Mạch, Pháp Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Vương quốc Anh ký kết ở London vào ngày nói trên. Nhiều nước đã gia nhập tiếp, nhất là sau các chuyển tiếp dân chủ ở Trung Âu và Đông Âu trong đầu thập niên 1990. Ủy hội châu Âu hiện nay bao gồm mọi quốc gia châu Âu, ngoại trừ Belarus, Kazakhstan, thành Vatican và các nước bị công nhận hạn chế (=chưa được nhiều nước công nhận). == Mục tiêu và Thành tựu == Điều 1(a) của Quy chế nói rằng "Mục tiêu của Ủy hội châu Âu là là đạt được một sự thống nhất lớn hơn giữa các thành viên của mình nhằm mục đích bảo vệ và thực hiện những lý tưởng và nguyên tắc là di sản chung, và tạo điều kiện cho sự tiến bộ kinh tế và xã hội". Do đó, chức hội viên được mở cho tất cả các nước châu Âu muốn tìm kiếm việc hội nhập châu Âu, chấp nhận các nguyên tắc pháp quyền và có khả năng cùng sẵn sàng bảo đảm dân chủ, các nhân quyền cơ bản và các quyền tự do. Trong khi các nước thành viên của Liên minh châu Âu chuyển giao quyền hành pháp và lập pháp cho Ủy ban châu Âu và Nghị viện châu Âu trong các lĩnh vực chuyên biệt theo luật Cộng đồng châu Âu, thì các nước thành viên của Ủy hội châu Âu vẫn giữ chủ quyền của họ, nhưng tự cam kết thông qua các công ước (tức là công pháp quốc tế) và hợp tác trên cơ sở các giá trị chung và quyết định chính trị chung. Những công ước và các quyết định đó được triển khai bởi các nước thành viên làm việc cùng nhau tại Ủy hội châu Âu, trong khi luật thứ yếu của Cộng đồng châu Âu được lập ra bởi các cơ quan của Liên minh châu Âu. Cả hai tổ chức hoạt động như những vòng tròn đồng tâm quanh các nền tảng chung cho việc hội nhập châu Âu, trong đó Ủy hội châu Âu hoạt động ở khu vực địa lý rộng hơn. Liên minh châu Âu có thể được xem như hoạt động ở khu vực địa lý nhỏ hơn, với mức độ hội nhập cao hơn thông qua việc chuyển giao các quyền lực từ cấp quốc gia cho cấp Liên minh châu Âu. Là một phần của công pháp quốc tế, các công ước của Ủy hội châu Âu cũng có thể được mở để ký với các quốc gia không là thành viên để tạo điều kiện cho việc hợp tác bình đẳng với các nước ngoài châu Âu (xem chương bên dưới). Thành tựu nổi tiếng nhất của Ủy hội châu Âu là Công ước châu Âu về Nhân quyền, được chấp nhận năm 1950 theo một báo cáo của Hội đồng nghị viện của Ủy hội châu Âu. Công ước này lập ra Tòa án Nhân quyền châu Âu ở Strasbourg. Toà án này giám sát việc tuân thủ Công ước châu Âu về Nhân quyền và do đó có chức năng như là tòa án cao nhất châu Âu về nhân quyền và tự do cơ bản. Nếu một người châu Âu cho rằng các quyền cơ bản của mình bị một nước thành viên vi phạm, thì họ có thể kiện nước thành viên đó trước tòa án này. Các hoạt động rộng rãi và các thành tựu của Ủy hội châu Âu có thể được tìm thấy trong từng chi tiết trên trang web chính thức của Ủy hội. Tóm lại, Ủy hội châu Âu làm việc trong các lĩnh vực sau: Bảo vệ pháp quyền, tạo thuận lợi cho việc hợp tác pháp lý thông qua khoảng 200 công ước và hiệp ước khác, trong đó có các văn kiện hàng đầu như Công ước về tội phạm mạng Internet, Công ước phòng chống khủng bố của Ủy hội châu Âu, Công ước chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức, Công ước về hành động chống buôn người, và Công ước về nhân quyền và y sinh học. Ủy ban các chuyên gia về khủng bố (Committee of Experts on Terrorism, viết tắt là CODEXTER), được lập ra để điều phối các biện pháp chống khủng bố Ủy ban châu Âu về hiệu quả Tư pháp (CEPEJ) Bảo vệ nhân quyền, đặc biệt thông qua: Công ước châu Âu về Nhân quyền Ủy ban phòng chống Tra tấn của châu Âu Công ước về hành động chống buôn người Công ước về bảo vệ các Trẻ em chống việc lạm dụng và khai thác tình dục các quyền xã hội trong Hiến chương xã hội châu Âu các quyền ngôn ngữ trong Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ địa phương hoặc của dân tộc thiểu số các quyền của người thiểu số trong Công ước khung cho việc bảo vệ các dân tộc thiểu số Tự do báo chí trong điều 10 của Công ước châu Âu về Nhân quyền và Công ước châu Âu về Truyền hình xuyên biên giới Bảo vệ dân chủ qua việc kiểm soát nghị viện và giám sát các cuộc bầu cử bởi Hội đồng nghị viện cũng như giúp đỡ các cải cách dân chủ, đặc biệt bởi Ủy ban châu Âu về Dân chủ qua Luật pháp (cũng gọi là Ủy ban Venezia). Khuyến khích hợp tác văn hóa và đa dạng theo Công ước văn hóa năm 1954 của Ủy hội châu Âu và nhiều công ước về bảo vệ di sản văn hóa cũng như thông qua Trung tâm Ngôn ngữ hiện đại của Ủy hội ở Graz, Áo, và Trung tâm Bắc-Nam ở Lisboa, Bồ Đào Nha. Khuyến khích quyền được giáo dục theo Điều 2 của Nghị định thư đầu tiên của Công ước châu Âu về Nhân quyền và nhiều công ước về việc công nhận việc học và các bằng cấp đại học. Khuyến khích nền thể thao ngay thẳng (fair sport) thông qua Công ước Anti-Doping (Chống sử dụng thuốc kích thích) và Công ước chống bạo hành khán giả. Khuyến khích các giao lưu giới trẻ châu Âu và hợp tác thông qua các Trung tâm giới trẻ ở Strasbourg và Budapest, Hungary. Làm thăng tiến chất lượng thuốc chữa bệnh trên toàn châu Âu bởi Ban giám đốc châu Âu về chất lượng thuốc chữa bệnh và Dược điển châu Âu của Ủy hội. == Các thiết chế == Các thiết chế của Ủy hội châu Âu gồm: Tổng thư ký, người được Hội đồng nghị viện bầu cho một thời hạn 5 năm, lãnh đạo Nha thư ký của Ủy hội châu Âu. Tổng thư ký hiện nay là cựu thủ tướng Na Uy, Thorbjørn Jagland, nhậm chức từ ngày 1.10.2009. Ủy ban bộ trưởng, gồm các bộ trưởng ngoại giao của tất cả 47 nước thành viên, được thay mặt bởi các Đại diện thường trực và đại sứ của họ bên cạnh Ủy hội châu Âu. Chức chủ tịch của Ủy ban bộ trưởng được đảm nhiệm luân phiên mỗi 6 tháng theo thứ tự mẫu tự tiếng Anh: Thổ Nhĩ Kỳ 11/2010-05/2011, Ukraina 05/2011-11/2011, Vương quốc Anh 11/2011-05/2012, Albania 05/2012-11/2012, Andorra 11/2012-05/2013, Armenia 05/2013-11/2013, Áo 11/2013-05/2014 v v... Hội đồng nghị viện (PACE), gồm các nghị sĩ quốc hội của mọi nước thành viên. Hội đồng này bầu một chủ tịch cho nhiệm kỳ 1 năm, với khả năng có thể tái ứng cử cho năm sau. Tháng Giêng năm 2010, Mevlüt Çavuşoğlu của Thổ Nhĩ Kỳ được bầu làm chủ tịch Hội đồng nghị viện. Các đoàn đại biểu nghị sĩ quốc gia trong Hội đồng nghị viện phải phản ánh hình ảnh chính trị của nghị viện quốc gia mình, tức bao gồm chính phủ và các đảng đối lập. Hội đồng nghị viện bổ nhiệm các thành viên làm báo cáo viên với nhiệm vụ chuẩn bị các báo cáo Hội đồng nghị viện về các chủ đề cụ thể. Nghị sĩ Anh Sir David Maxwell-Fyfe là báo cáo viên về việc soạn thảo Công ước châu Âu về Nhân quyền. Các báo cáo của Dick Marty về bí mật các nơi giam giữ tù nhân và các chuyến bay bí mật của CIA ở châu Âu trở nên khá nổi tiếng trong năm 2007. Các báo cáo viên khác là phương tiện đem lại - ví dụ - việc bãi bỏ hình phạt tử hình ở châu Âu, tình trạng chính trị và nhân quyền ở Chechnya, các người mất tích ở Belarus, tự do ngôn luận trên báo chí và nhiều vấn đề khác. "Đại hội viên chức chính quyền địa phương và vùng của châu Âu" (Congress of Local and Regional Authorities of Europe) được thành lập năm 1994 gồm các đại diện chính trị từ các viên chức chính quyền địa phương và vùng trong mọi nước thành viên. Các công cụ có ảnh hưởng lớn nhất của Ủy hội châu Âu trong lãnh vực này là Công ước châu Âu về Tự trị địa phương năm 1985 và Hiệp định khung châu Âu về hợp tác xuyên biên giới giữa các cộng đồng lãnh thổ hoặc các chính quyền năm 1980. Tòa án Nhân quyền châu Âu, được thành lập theo Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950, gồm mỗi nước thành viên một thẩm phán được Hội đồng nghị viện bầu chọn cho nhiệm kỳ 6 năm có thể được tái cử và được lãnh đạo bởi một chủ tịch Tòa án được bầu ra. Từ năm 2007, thấm phán Jean-Paul Costa người Pháp đảm nhiệm chức chủ tịch Tòa án này. Theo Nghị định thư mới số 14 của Công ước châu Âu về Nhân quyền, thì nhiệm kỳ của các thẩm phán sẽ là 9 năm và không được tái cử. Việc phê chuẩn Nghị định thư số 14 bị Nga hoãn nhiều năm, nhưng đã được phê chuẩn trong tháng 1 năm 2010. Ủy viên Nhân quyền, được lập ra năm 1999, do Hội đồng nghị viện bầu chọn cho nhiệm kỳ 6 năm không được tái cử. Chức này do Thomas Hammarberg người Thụy Điển giữ từ năm 2006. Các tổ chức phi chính phủ có thể tham gia Hội nghị các Tổ chức phi chính phủ của Ủy hội châu ÂuConference of INGOs., theo Nghi quyết số 8 (2003) của Ủy ban Bộ trưởng ngày 19.11.2003. Các phòng thông tin của Ủy hội châu tại nhiều nước thành viên. Hệ thống Ủy hội châu Âu cũng bao gồm một số cơ cấu nửa-tự trị được gọi là "Các thỏa thuận từng phần" (Partial Agreement), một số cơ cấu này cũng mở ra cho các nước không phải là thành viên: Ngân hàng Phát triển của Ủy hội châu Âu ở Paris Nha giám đốc châu Âu về chất lượng thuốc chữa bệnh và Dược điển châu Âu Đài quan sát thính thị châu Âu Quỹ hỗ trợ châu Âu Eurimages cho việc hợp tác sản xuất và phân phối phim Nhóm Pompidou - Nhóm hợp tác chống lạm dụng và buôn bán ma túy bất hợp pháp Ủy ban châu Âu về Dân chủ qua Luật pháp (cũng gọi là Ủy ban Venezia) Nhóm các nước chống tham nhũng (GRECO) Major Hazards Agreement (EUR-OPA) một cương lĩnh về hợp tác giữa các nước châu Âu và Nam Địa Trung Hải trong lãnh vực thảm họa thiên nhiên và tai họa kỹ thuật lớn. Thỏa hiệp mở rộng từng phần về Thể thao, dành cho các nước và các Hiệp hội thể thao. Trung tâm Bắc-Nam của Ủy hội châu Âu ở Lisboa (Bồ Đào Nha) Trung tâm Ngôn ngữ hiện đại ở Graz (Áo) === Cơ quan đầu não và các tòa nhà === Trụ sở của Ủy hội châu Âu đặt ở thành phố Strasbourg, Pháp. Các cuộc họp đầu tiên được tổ chức ở Dinh Đại học Strasbourg năm 1949, nhưng Ủy hội châu Âu đã sớm dọn vào các tòa nhà riêng của mình. Tám tòa nhà chính của Ủy hội châu Âu nằm trong Quartier européen (Khu châu Âu), một khu vực ở tây bắc thành phố Strasbourg bao trùm 3 quận Le Wacken, La Robertsau và Quartier de l'Orangerie, nơi cũng có 4 tòa nhà của Trụ sở của Nghị viện châu Âu ở Strasbourg, cơ quan đầu não Arte và trụ sở của Viện Nhân quyền quốc tế. Việc xây dựng ở khu vực này bắt đầu từ năm 1949 bằng công trình xây dựng trước của Dinh châu Âu, là Nhà châu Âu (phá đi năm 1977), và đã tạm kết thúc trong năm 2007 với sự khai trương Tòa nhà Tổng Văn phòng mới trong năm 2008. Dinh châu Âu và Biệt thự Nghệ thuật mới Schutzenberger (trụ sở của Đài quan sát thính thị châu Âu) nằm trong quận vườn Cam (Orangerie district), còn Tòa án Nhân quyền châu Âu, Nha giám đốc châu Âu về chất lượng thuốc chữa bệnh và Tòa nhà Agora nằm ở quận Robertsau. Tòa nhà Agora đã được bầu chọn là "Trung tâm thương mại quốc tế tốt nhất của dự án địa ốc 2007" ngày 13.3.2008, tại MIPIM 2008. Trung tâm thanh niên châu Âu nằm ở quận Wacken. Ngoài đại bản doanh ở Strasbourg, Ủy hội châu Âu cũng có mặt ở các thành phố và các quốc gia khác. Ngân hàng Phát triển của Ủy hội châu Âu có trụ sở ở Paris, Trung tâm Bắc-Nam của Ủy hội châu Âu nằm ở Lisboa, Bồ Đào Nha, còn Trung tâm Ngôn ngữ hiện đại nằm ở Graz, Áo. Có các Trung tâm thanh niên châu Âu ở Budapest, Hungary, và ở Strasbourg. Trung tâm Wergeland châu Âu, một trung tâm phương tiện mới về giáo dục đối thoại liên văn hóa, nhân quyền và quyền công dân dân chủ, hoạt động trong sự hợp tác với chính phủ Na Uy được mở tại Oslo, Na Uy trong tháng 2 năm 2009. Ủy hội châu Âu có các văn phòng ở Albania, Armenia, Azerbaijan, Bosna và Hercegovina, Gruzia, Moldova, Montenegro, Serbia và Ukraina; các phòng thông tin ở Albania, Armenia, Azerbaijan, Bulgaria, Cộng hòa Séc, Estonia, Gruzia, Hungary, Latvia, Litva, Moldova, Ba Lan, România, Liên bang Nga, Slovakia, Slovenia, Cộng hòa Macedonia và Ukraina; cùng một văn phòng dự án ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tất cả các văn phòng trên đều là các cơ sở của Ủy hội châu Âu và các cơ sở này có chung tư cách pháp nhân với các đặc quyền và các quyền miễn trừ. Do thiếu hụt ngân sách liên tục, Ủy hội châu Âu dự kiến sẽ cắt giảm đáng kể các hoạt động của mình, và do đó (cắt giảm) số nhân viên, từ năm 2011. Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới nền kinh tế của thành phố Strasbourg, nơi có tổng số 2.321 người (ngày 1 tháng 1 năm 2010) đang làm việc hưởng lương của Ủy hội châu Âu. Phần lớn các văn phòng ở nước ngoài dự kiến cũng sẽ bị đóng cửa . == Các biểu tượng == Từ năm 1955, Ủy hội châu Âu lập ra và sử dụng lá Cờ châu Âu nổi tiếng làm biểu tượng chính thức của mình. Lá cờ này có 12 ngôi sao vàng nằm thành vòng tròn trên nền cờ màu xanh da trời, và bản quốc ca châu Âu dựa trên Ode hoan ca trong phần kết thúc của Bản giao hưởng số 9 của Ludwig van Beethoven từ năm 1972. Ngày 5.5.1964, kỷ niệm 15 năm thành lập, Ủy hội châu Âu đã lấy ngày 5 tháng 5 hàng năm là ngày châu Âu. Mặc dù được bảo vệ bởi luật tác quyền, nhưng việc sử dụng cờ châu Âu ở nơi công cộng cũng như tư gia được khuyến khích để tượng trưng hóa một tầm cỡ châu Âu. Để tránh lẫn lộn với Liên minh châu Âu sau đó cũng chọn cùng lá cờ này làm biểu tượng trong thập niên 1980, cũng như các thiết chế châu Âu khác, Ủy hội châu Âu thường sử dụng một phiên bản đã sửa đổi với một chữ 'e' nhỏ (đối diện với các chữ lớn) ở giữa các ngôi sao, được coi như "Logo của Ủy hội châu Âu". == Chức thành viên == Ủy hội châu Âu được thành lập ngày 5.5.1949 bởi các nước Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Vương quốc Anh. Hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập 3 tháng sau, còn Iceland và Đức thì gia nhập năm sau. Hiện nay Ủy hội có 47 nước thành viên, trong đóMontenegro là nước gia nhập sau chót. Điều 4 của quy chế Ủy hội châu Âu định rõ là chức thành viên được mở ngỏ cho bất cứ quốc gia châu Âu nào. Điều này đã được giải thích cách tùy tiện ngay từ đầu (khi Thổ Nhĩ Kỳ được thâu nhận) là sẽ thâu nhận mọi nước giáp giới hay có một phần lãnh thổ thuộc châu Âu. Kết quả là, gần như tất cả các nước châu Âu đều gia nhập Ủy hội châu Âu - ngoại trừ Belarus, Kazakhstan (vấn đề nhân quyền), thành Vatican (nước thần quyền) và các quốc gia chưa được nhiều nước công nhận. === Danh sách các nước thành viên Ủy hội châu Âu === == Việc hợp tác == === Các nước không thành viên === Ủy hội châu Âu làm việc chủ yếu thông qua các công ước. Bằng việc thảo ra các công ước hoặc hiệp ước quốc tế, các tiêu chuẩn pháp lý chung đã được đặt ra cho các nước thành viên. Tuy nhiên, nhiều công ước cũng đã mở ngỏ cho các nước không thành viên ký kết. Các công ước quan trọng như Công ước về tội phạm trên mạng Internet (đã được Canada, Nhật Bản, Nam Phi và Hoa Kỳ ký), Công ước Lisboa về việc công nhận các thời kỳ học tập và các cấp bằng đại học (đã được Úc, Belarus, Canada, Tòa Thánh, Israel, Kazakhstan, Kyrgyzstan, New Zealand và Hoa Kỳ ký), Công ước chống sử dụng chất kích thích (doping) trong thể thao (đã được Úc, Belarus, Canada và Tunisia ký) và Công ước về bảo tồn động vật hoang dã châu Âu và các nơi cư trú tự nhiên (Convention on the Conservation of European Wildlife and Natural Habitats) (đã được Burkina Faso, Maroc, Tunisia và Sénégal cũng như Cộng đồng châu Âu ký). Các nước không thành viên cũng tham gia nhiều thỏa ước từng phần, chẳng hạn như Ủy ban Venezia, Nhóm các nước chống tham nhũng GRECO, Ủy ban Dược điển châu Âu và Trung tâm Bắc-Nam. Các lời mời ký kết và phê chuẩn các công ước liên quan của Ủy hội châu Âu trên cơ sở từng trường hợp một, được gửi đến ba nhóm các nước không thành viên: Các nước ngoài châu Âu: Algérie, Argentina, Australia, Bahamas, Bolivia, Brasil, Burkina Faso, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Cộng hòa Dominica, Ecuador, El Salvador, Honduras, Hàn Quốc, Kyrgyzstan, Liban, Malaysia, Mauritius, Maroc, New Zealand, Panama, Peru, Philippines, Sénégal, Nam Phi, Syria, Tajikistan, Tonga, Trinidad và Tobago, Tunisia, Uruguay, Venezuela và các nước quan sát viên Canada, Israel, Nhật Bản, México, Hoa Kỳ. Các nước châu Âu: Kazakhstan, Belarus và nước quan sát viên thành Vatican. Cộng đồng châu Âu và sau này là Liên minh châu Âu sau khi tư cách pháp nhân của nó được thiết lập bởi việc phê chuẩn Hiệp ước Lisboa của Liên minh châu Âu. === Liên minh châu Âu === ==== Các quan hệ tổng quát giữa Ủy hội châu Âu và Liên minh châu Âu ==== Như đã nói ở phần dẫn nhập, điều quan trọng là phải hiểu rõ, không thể lẫn lộn Ủy hội châu Âu với Hội đồng châu Âu hoặc Hội đồng bộ trưởng của Liên minh châu Âu. Các thiết chế này thuộc Liên minh châu Âu, tách biệt với Ủy hội châu Âu, mặc dù chúng cùng chung lá cờ và quốc ca châu Âu từ thập niên 1980, bởi chúng cũng làm việc cho sự hội nhập châu Âu. Sự hợp tác giữa Liên minh châu Âu và Ủy hội châu Âu mới đây đã được tăng cường, nhất là về văn hóa, giáo dục cũng như việc buộc phải tuân thủ công lý và nhân quyền trên bình diện quốc tế. Liên minh châu Âu được mong đợi sẽ gia nhập Công ước châu Âu về Nhân quyền. Cũng có những lo ngại về sự nhất quán trong quyền xét xử - các Tòa án Tư pháp châu Âu (tòa án của EU ở Luxembourg) coi Công ước này như một phần của hệ thống pháp luật của tất cả các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu nhằm ngăn chặn sự xung khắc giữa các phán quyết của mình và phán quyết của Tòa án Nhân quyền châu Âu (tòa án ở Strasbourg nơi giải thích Công ước). Nghị định thư số 14 của Công ước được lập ra để cho phép Liên minh châu Âu gia nhập Công ước này và Hiệp ước Lisboa của Liên minh châu Âu có một nghị định thư buộc Liên minh châu Âu tham gia. Liên minh châu Âu do đó sẽ bị buộc phải tuân theo luật nhân quyền của Công ước và sự giám sát bên ngoài giống như các nước thành viên của mình hiện nay. === Liên Hiệp Quốc === Ủy hội châu Âu có cương vị quan sát viên ở Liên Hiệp Quốc và thường xuyên có đại diện ở Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Ủy hội đã tổ chức các hội nghị khu vực của Liên Hiệp Quốc về chống phân biệt chủng tộc và về phụ nữ cùng hợp tác với Liên Hợp Quốc ở nhiều cấp độ, đặc biệt trong các lĩnh vực nhân quyền, dân tộc thiểu số, di cư và chống khủng bố. === Các tổ chức phi chính phủ === Các tổ chức phi chính phủ có thể tham dự Hội nghị quốc tế các tổ chức phi chính phủ của Ủy hội châu Âu và trở thành các quan sát viên tại các Ủy ban chuyên gia liên chính phủ (inter-governmental committees of experts). Ủy hội đã thảo ra Công ước châu Âu về công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức quốc tế phi chính phủ trong năm 1986, nhằm đặt cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và việc làm của các tổ chức phi chính phủ ở châu Âu. Điều 11 của Công ước châu Âu về Nhân quyền bảo vệ quyền tự do lập hội, đây cũng là quy tắc cơ bản cho các tổ chức phi chính phủ. Các quy tắc về cương vị tư vấn dành cho các tổ chức quốc tế phi chính phủ, được bổ sung vào Nghị quyết (93) 38: "Về mối quan hệ giữa Ủy hội châu Âu và các tổ chức quốc tế phi chính phủ", được thông qua bởi Ủy ban bộ trưởng vào ngày 18 tháng 10 năm 1993 tại cuộc họp lần thứ 500 của các đại biểu của Bộ trưởng. Ngày 19.11.2003 Ủy ban bộ trưởng đã đổi cương vị tư vấn thành cương vị tham gia (Resolution Res (2003)8) "coi như cần thiết là các quy tắc chi phối các quan hệ giữa Ủy hội châu Âu và các tổ chức quốc tế phi chính phủ tự biến đổi để phản ánh việc tham gia tích cực của các tổ chức quốc tế phi chính phủ vào chính sách và chương trình làm việc của tổ chức". == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Information Office of the Council of Europe in Armenia Bản mẫu:Europe topics (small)
hoàng dương.txt
Hoàng Dương (1933-2017), tên đầy đủ Ngô Hoàng Dương, là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông vốn là con trai của nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện. Hoàng Dương cũng là một nghệ sĩ đàn cello, ông là người có công đầu xây dựng bộ môn cello và khoa đàn dây Nhạc viện Hà Nội. Hoàng Dương đã nhận được các danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, phó giáo sư. Ông qua đời ngày 30 tháng 1 năm 2017 (tức ngày 3 Tết Đinh Dậu) tại Hà Nội, hưởng thọ 84 tuổi. == Tác phẩm == Ông viết nhiều tác phẩm khí nhạc như Hát ru, Mơ về trái núi Thiên Thai (cello và piano), Tiếng hát sông Hương (cello và dàn nhạc)... Hoàng Dương viết không nhiều ca khúc. Hai bài Hướng về Hà Nội và Tiếc thu là nổi tiếng hơn cả. Hướng về Hà Nội Chiều cuối năm Tiếc thu Ôi giấc mơ xưa Ngoài ra Hoàng Dương còn viết lời cho một số ca khúc của Hoàng Trọng: Nhạc sầu tương tư Tiếng mưa rơi Vui cảnh mùa hè == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
ngũ xã.txt
làng Ngũ Xã là một làng nghề nằm cạnh hồ Trúc Bạch, phía tây Thăng Long, nay là phố Ngũ Xã thuộc địa phận quận Ba Đình, Hà Nội. == Lịch sử == Thế kỷ 17-18 đời Lê, một số thợ đúc đồng ở năm xã của huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh) và huyện Văn Lâm, Hưng Yên là xã Đông Mai, Châu Mỹ, Lộng Thượng, Đào Viên (hay Thái Ti) và Điện Tiền (có tài liệu khác nói năm xã của tổng Đề Cầu: An Nhuệ, Kim Tháp, Lê Xá, Thư Đôi và Đề Cầu) có tên Nôm là làng Hè, làng Me, làng Giồng, làng Dí trên và làng Dí dưới kéo về đây mở lò đúc đồng, gọi là Tràng Ngũ Xã (trường đúc của năm xã). Ngũ Xã là một địa phương nổi tiếng với nghề đúc đồng. Những pho tượng và đồ thờ bằng đồng của Ngũ Xã đã có mặt ở nhiều đình, chùa lớn ở Việt Nam. Một trong những sản phẩm của Ngũ Xã được nhắc tới nhiều nhất là pho tượng Phật A Di Đà ở chùa Thần Quang nằm ngay tại làng Ngũ Xã. Pho tượng cao 3,95 m, khoảng cách giữa hai đầu gối là 3,60 m, không có những sai sót về kỹ thuật đúc . Đây được xem là pho tượng đức Phật A Di Đà bằng đồng đầu tiên ở Việt Nam. Các tác phẩm nổi tiếng khác như tượng Trấn Vũ bằng đồng đen ở đền Quán Thánh đúc năm 1677, chuông chùa Một Cột cũng được nhiều tài liệu ghi nhận là sản phẩm của các nghệ nhân đúc đồng Ngũ Xã. Những năm cuối thế kỷ 20, làng Ngũ Xã đúc đồng bị ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, nghề đúc đồng truyền thống bị thu hẹp thay vào đó là khu phố mới với nhiều dịch vụ ẩm thực nổi tiếng của Hà Nội, đặc biệt là món ăn nổi tiếng món phở cuốn món ăn mới, lạ mắt, lạ tai duy nhất có ở Hà Nội hiện nay, món ăn thu hút nhiều nam nữ thanh niên và du khách trong nước và nước ngoài đến thưởng thức. Hiện ở đây có chùa Ngũ Xã (tên chữ là Thần Quang tự hay Phúc Long tự, xây thế kỷ 18, thờ Phật và ông tổ nghề Đúc đồng Nguyễn Minh Không nên lấy tên Thần Quang theo chùa chính thờ ông này ở Nam Định (tức chùa Cổ Lễ) và đền Ngũ Xã thờ Mẫu == Tham khảo ==
1415.txt
Năm 1415 là một năm trong lịch Julius. == Sự kiện == == Sinh == == Mất == == Tham khảo ==
trung hoa dân quốc (1912-1949).txt
Trung Hoa Dân Quốc (tiếng Trung: 中華民國) là nhà nước thống trị Trung Quốc từ năm 1912 đến năm 1949. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng phát khiến triều đại Thanh sụp đổ. Ngày 1 tháng 1 năm 1912, Tôn Trung Sơn thành lập Chính phủ lâm thời tại Nam Kinh, tuyên bố kiến lập Trung Hoa Dân Quốc. Sau Nghị hòa Nam-Bắc, Chính phủ lâm thời dời đến Bắc Kinh. Tháng 10 năm 1913, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chính thức thành lập, song liền bị phân liệt không lâu sau đó. Trải qua Chiến dịch Bắc phạt của Quốc dân Cách mạng quân, Chính phủ Quốc dân Nam Kinh thay thế Chính phủ Bắc Dương vào năm 1928, thống nhất Trung Quốc trên danh nghĩa, song sau đó lại rơi vào xung đột với Đảng Cộng sản Trung Quốc, tàn dư quân phiệt và Đế quốc Nhật Bản. Từ sau sự kiện tháng 7 năm 1937, Nhật Bản tiến hành xâm lược toàn diện Trung Quốc, tháng 12 cùng năm thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc thất thủ, Chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Trùng Khánh. Tháng 12 năm 1941, Chính phủ Quốc dân chính thức tuyên chiến với Nhật Bản, đến năm 1945 thì giành được thắng lợi. Năm 1947, Chính phủ Quốc dân ban bố hiến pháp, cải tổ thành Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1949, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dưới quyền Trung Quốc Quốc Dân Đảng bị lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh bại trong nội chiến, do đó để mất sự thống trị với Trung Quốc đại lục. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, Đảng Cộng sản Trung Quốc kiến lập Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh, chính thức nắm giữ quyền thống trị đối với Trung Quốc đại lục, đến tháng 12 cùng năm thì Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dời đến Đài Bắc, tiếp tục duy trì thống trị đối với khu vực Đài Loan, hình thành cục diện chia cắt hai bờ eo biển. Cách mạng Tân Hợi lật đổ chế độ quân chủ kéo dài hai nghìn năm tại Trung Quốc, kiến lập nước cộng hòa. Trung Hoa Dân Quốc thời kỳ 1912-1949 là một thời đại phân liệt trong lịch sử Trung Quốc, từ Cách mạng Tân Hợi đến Cách mạng lần hai, Chiến tranh Hộ pháp, Chiến tranh Bắc phạt, Quân phiệt hỗn chiến, Chiến tranh kháng Nhật, Quốc-Cộng nội chiến, chưa thời gian nào có được hòa bình thực sự. Nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ này chịu thương vong lớn do chiến tranh và thiên tai, chính phủ phát hành quá nhiều tiền gây nên lạm phát phi mã; Liên Xô xâm nhập khiến Ngoại Mông Cổ độc lập, Anh Quốc can thiệp khiến Tây Tạng độc lập trên thực tế; đối diện với Nhật Bản xâm nhập, Chính phủ Quốc dân liên tục triệt thoái, sau khi để mất quyền khống chế gần nửa lãnh thổ cuối cùng đánh bại Nhật Bản với trợ giúp từ Đồng Minh, đồng thời tiếp nhận Đài Loan và Bành Hồ từ Nhật Bản. Sau đại chiến, Trung Hoa Dân Quốc tham gia sáng lập Liên Hiệp Quốc, là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Trung Hoa Dân Quốc trở thành một cường quốc lớn mạnh và tạo lập địa vị quốc tế vững chắc của mình sau đại chiến (Ngoài ra, trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, Trung Hoa Dân Quốc là cường quốc mạnh thứ 4 trong 5 cường quốc đồng minh, dưới Mỹ, Liên Xô, Anh và trên Pháp). == Quốc hiệu == Ngày 30 tháng 7 năm 1905, khi Tôn Trung Sơn triệu tập hội nghị trù bị Trung Quốc Đồng Minh hội tại Tokyo, Nhật Bản, trong "Trung Quốc Đồng Minh hội minh thư" có đề xuất cương lĩnh "khu trừ Thác Lỗ, khôi phục Trung Hoa, sáng lập Dân Quốc, bình quân địa quyền". Ông nhận thấy dù các chế độ cộng hòa đại đa số thi hành chế độ dân chủ đại nghị, song để xác lập nguyên tắc phát triển chủ quyền quốc gia thuộc toàn thể quốc dân, và hướng tới tiến hành dân quyền trực tiếp như Thụy Sĩ và Hoa Kỳ đang thực thi, nên mới chọn quốc hiệu là "Trung Hoa Dân Quốc". Ngày 20 tháng 10 năm 1923, Tôn Trung Sơn khi diễn giảng tại Hội Liên Hiệp Thanh niên Toàn quốc Quảng Châu một lần nữa nhấn mạnh Trung Hoa Dân Quốc là để nhân dân làm chủ. == Lịch sử == === Sơ kỳ kiến quốc === Những năm cuối thời Thanh, xã hội Trung Quốc bất ổn, Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn bùng phát khiến Liên quân tám nước phát động chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc, buộc chính phủ triều đình Thanh phải ký Điều ước Tân Sửu. Năm 1908, chính phủ Thanh ban bố "Khâm định hiến pháp đại cương", tuyên bố "mười năm sau thực thi lập hiến" để đối phó với các tiếng nói cải cách. Ngày 27 tháng 4 năm 1911, Trung Quốc Đồng Minh hội phát động Khởi nghĩa Hoàng Hoa Cương tại Quảng Châu, song bị quân Thanh trấn áp. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, Cộng Tiến hội và Văn học xã phát động Khởi nghĩa Vũ Xương, trong vòng bảy tuần lễ có 15 tỉnh tại Trung Quốc tuyên bố thoát ly triều đình Thanh để độc lập, hình thành Cách mạng Tân Hợi có tính toàn quốc. Những người cách mạng một mặt trù tính tổ chức chính phủ lâm thời, một mặt tiến hành đàm phán với Viên Thế Khải, đến ngày 8 tháng 12 thì đạt được nhận thức chung: Nếu như Viên Thế Khải bức Hoàng đế thoái vị thì ông sẽ được bầu làm đại tổng thống lâm thời. Ngày 29 tháng 12, tại Nam Kinh đại biểu các tỉnh tuyên bố độc lập bầu Tôn Trung Sơn làm đại tổng thống lâm thời. Cùng ngày, Jebtsundamba Khutuktu đời thứ tám thành lập Hãn quốc Bác Khắc Đa, tuyên bố Ngoại Mông Cổ thoát ly Trung Quốc để độc lập. Tại thủ phủ Lhasa của Tây Tạng phát sinh náo loạn, quan viên và quân đồn trú của triều Thanh bị xua đuổi, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 từ nơi lưu vong tại Ấn Độ trở về quản lý chính quyền Tây Tạng. Ngày 1 tháng 1 năm 1912, Chính phủ lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố chính thức thành lập, Tôn Trung Sơn tuyên thệ nhậm chức đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 12 tháng 2 năm 1912, Long Dụ thái hậu trước khuyến nghị và bức bách của các đại thần như Viên Thế Khải, quyết định thay mặt Phổ Nghi công bố chiếu thư thoái vị, đồng thời trao quyền cho Viên Thế Khải lập chính phủ lâm thời, triều đình Thanh chính thức diệt vong. Ngày 15 tháng 2 năm 1912, Viên Thế Khải được bầu làm đại tổng thống lâm thời thứ hai, rồi tuyên thệ nhậm chức tại Bắc Kinh vào ngày 10 tháng 3. Trong tuyển cử nghị viên quốc hội Trung Hoa Dân Quốc lần thứ nhất vào cuối năm 1912, Quốc Dân Đảng do Tống Giáo Nhân lãnh đạo giành đa số ghế trong lưỡng viện. Ngày 22 tháng 3 năm 1913, Tống Giáo Nhân thiệt mạng do bị ám sát trong khi sắp nhậm chức thủ tướng nội các, chính quyền quốc gia bị phái Bắc Dương quân phiệt gồm Viên Thế Khải kiểm soát. Tháng 7 cùng năm, Tôn Trung Sơn lấy lý do Tống Giáo Nhân bị ám sát và vay nợ quá nhiều, chỉ huy một số tỉnh miền nam phát động Cách mạng Lần thứ hai, song cuối cùng thất bại. Ngày 6 tháng 10 năm 1913, Viên Thế Khải được Quốc hội bầu làm đại tổng thống thứ nhất của Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 31 tháng 10, Quốc hội thông qua "dự thảo hiến pháp Thiên Đàn", sử dụng chế độ nội các để hạn chế quyền lực của Viên Thế Khải. Sau đó, Viên Thế Khải dùng tội danh tham dự Cách mạng Lần thứ hai để cấm Quốc Dân Đảng, đồng thời hạ lệnh giải tán Quốc hội. Ngày 18 tháng 3 năm 1914, Viên Thế Khải triệu tập Quốc dân đại hội sửa đổi "Ước pháp lâm thời" năm 1912, đổi chế độ nội các thành chế độ tổng thống, vào ngày 12 tháng 12 năm 1915 tuyên bố đổi quốc hiệu sang Trung Hoa Đế quốc. Các tướng quân Thái Ngạc, Đường Kế Nghiêu tại Vân Nam lập tức tuyên bố độc lập, đồng thời tổ chức "Hộ quốc quân" thảo phạt Viên Thế Khải. Ngày 22 tháng 3 năm 1916, Viên Thế Khải tuyên bố thủ tiêu chế độ quân chủ nhằm tìm cách duy trì giữ chức vụ tổng thống, song bị Hộ quốc quân cự tuyệt, ngày 6 tháng 6 cùng năm Viên Thế Khải bệnh mất. Sau thời Viên Thế Khải, chính phủ trung ương thiếu thực lực quản lý thống nhất các địa phương, Trung Quốc tiến vào thời kỳ quân phiệt cát cứ. Thế lực chủ yếu của Quân phiệt Bắc Dương có Hoàn hệ (phái An Huy) do Đoàn Kỳ Thụy đứng đầu, Trực hệ (phái Trực Lệ) do Tào Côn đứng đầu và Phụng hệ (phái Phụng Thiên) do Trương Tác Lâm đứng đầu, họ nhiều lần hỗn chiến nhằm khống chế Chính phủ Bắc Dương. Ngoài ra, còn có các quân phiệt Tấn hệ (phái Sơn Tây) của Diêm Tích Sơn, Tây Bắc quân của Phùng Ngọc Tường, Điền hệ (phái Vân Nam) của Đường Kế Nghiêu và Quế hệ (phái Quảng Tây) của Lục Vinh Đình cát cứ một phương. Năm 1917, Tôn Trung Sơn và Việt hệ (phái Quảng Đông) hợp tác, lập ra Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tại Quảng Châu, phát động Chiến tranh Hộ pháp. Dù Trung Hoa Dân Quốc là nước chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất song Chính phủ Bắc Dương tại Hội nghị hòa bình Paris 1919 bị buộc phải trao tô giới của Đức tại Sơn Đông cho Nhật Bản, dẫn đến Phong trào Ngũ Tứ. Phong trào Ngũ Tứ và Phong trào Tân văn hóa tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với Trung Quốc, phần tử trí thức bắt đầu tìm kiếm đường lối cứu quốc mới, chủ nghĩa Marx bắt đầu được hoan nghênh tại Trung Quốc. Ngày 10 tháng 10 năm 1919, Tôn Trung Sơn cải tổ Trung Hoa Cách mạng đảng thành Trung Quốc Quốc dân đảng. Ngày 23 tháng 7 năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập. Năm 1922, sau khi Phong trào Hộ pháp thất bại, Tôn Trung Sơn chọn chính sách "liên Nga dung Cộng", tiến hành cải tổ Trung Quốc Quốc dân đảng theo mô hình Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời phái Tưởng Giới Thạch đến Moskva để tiếp nhận bồi dưỡng và huấn luyện chính trị-quân sự. Tưởng Giới Thạch sau khi trở về nước tham dự kiến lập Trường quân sự Hoàng Phố, đồng thời nhậm chức hiệu trưởng. Tháng 2 năm 1925, thầy trò Trường quân sự Hoàng Phố đánh tan thế lực Việt hệ quân phiệt. Tháng 7 cùng năm, Đại bản doanh đại nguyên soái lục-hải quân cải tổ thành Chính phủ Quốc dân, Uông Tinh Vệ nhậm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân; cải tổ 'Hoàng Phố học sinh quân' và bộ đội các địa phương thành Quốc dân Cách mạng quân, Tưởng Giới Thạch nhậm chức tổng tư lệnh. Ngày 9 tháng 7 năm 1926, Quốc dân Cách mạng quân tuyên thệ Bắc phạt tại Quảng Châu. Cùng năm, Tây Bắc quân của Phùng Ngọc Trường, Tấn hệ của Diêm Tích Sơn lần lượt gia nhập Quốc dân Cách mạng quân. === Thời kỳ huấn chính === Ngày 7 tháng 9 năm 1926, quân Bắc phạt công chiếm Hán Khẩu, ngày 8 tháng 11 công chiếm Nam Xương, ngày 11 tháng 11, Chính phủ Quốc dân tại Quảng Châu quyết định dời về phía bắc đến Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch thì chủ trương thiên đô đến Nam Xương đang do ông khống chế. Tháng 3 năm 1927, quân Bắc phạt chiếm xong Thượng Hải và Nam Kinh, song giữa thế lực chống cộng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu và thế lực dung cộng do Uông Tinh Vệ đứng đầu phát sinh phân liệt. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, bùng phát sự kiện Tứ Nhất Nhị tại Thượng Hải khi Tưởng Giới Thạch phát động thanh lọc cộng sản, đến ngày 18 thánh 4 ông lập riêng Chính phủ Quốc dân tại Nam Kinh. Ngày 15 tháng 7, Uông Tinh Vệ tại Vũ Hán bắt đầu thanh lọc cộng sản, Quốc-Cộng hợp tác lần thứ nhất do đó kết thúc. Ngày 1 tháng 8 năm 1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động Khởi nghĩa Nam Xương, bắt đầu sử dụng vũ lực đoạt chính quyền, mở màn Quốc-Cộng nội chiến lần thứ nhất kéo dài 10 năm liên tục. Tháng 5 năm 1928, Quốc dân Cách mạng quân tại Tế Nam bị quân đội Nhật Bản đánh chặn gây ra Thảm án Ngũ Tam, phải đi đường vòng để Bắc phạt. Tháng 6 năm 1928, quân Bắc phạt chiếm được Bắc Kinh. Ngày 29 tháng 12 cùng năm, lãnh đạo Phụng hệ là Trương Học Lương đánh điện đến Nam Kinh, tuyên bố tiếp nhận Chính phủ Quốc dân cai quản, đánh dấu thắng lợi của Chính phủ Quốc dân trong Bắc phạt, thống nhất Trung Quốc trên danh nghĩa. Tuy nhiên, không lâu sau giữa trung ương và quân phiệt địa phương bùng phát Trung Nguyên đại chiến, còn xung đột Quốc-Cộng tiếp tục tiến hành. Năm 1931, Đế quốc Nhật Bản phát động Sự biến 28/9 xâm nhập Đông Bắc Trung Quốc đồng thời kiến lập Mãn Châu Quốc, sau đó Nhật Bản không ngừng phát động các hành động đối địch như Chiến dịch Trường Thành, Sự biến Hoa Bắc, song Trung Quốc Quốc Dân đảng lại chọn chính sách ổn định bên trong trước khi dẹp trừ ngoại xâm, một mặt liên tiếp thỏa hiệp với Nhật Bản, một mặt tăng cường diệt cộng. Ngày 12 tháng 12 năm 1936, các tướng lĩnh Quốc dân đảng chủ trương đoàn kết kháng Nhật là Trương Học Lương và Dương Hổ Thành phát động sự biến Tây An, buộc Tưởng Giới Thạch phải đình chỉ diệt cộng, đồng thời tái khởi động hợp tác cùng Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng phản kích Nhật Bản xâm lược. Hồng quân Công-Nông Trung Quốc của Đảng Cộng sản được cải biên thành Bát lộ quân và Tân Tứ quân thuộc Quốc dân Cách mạng quân. Năm 1927, sau khi Trung Hoa Dân Quốc định đô tại Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch căn cứ theo "Đại cương kiến quốc Chính phủ Quốc dân" do Tôn Trung Sơn đề xuất, thực thi cấu trúc huấn chính lấy Quốc dân đảng làm cốt lõi lãnh đạo quốc gia, tạm thời thi hành chế độ một đảng, đồng thời chế định "Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân Quốc" làm hiến pháp lâm thời. Trong thời kỳ này, Chính phủ Quốc dân có thành tựu trong phát triển quan hệ ngoại giao, giao thông vận tải, tài chính công cộng, sinh hoạt dân sinh, văn hóa, thậm chí do đạt nhiều thành tựu cải cách nên được tán tụng là Thập niên Nam Kinh. Trong đó, Chính phủ liên tục thành lập các cơ cấu như Viện Nghiên cứu Trung ương, Ngân hàng Trung ương, ngoài ra còn thi hành ổn định vật giá, cải cách ngân hàng và thống nhất chế độ tiền tệ, và các chính sách kinh tế-xã hội khác; đồng thời chính phủ mở rộng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, khiến tăng trưởng công nghiệp đạt trên 7,7%. Thời kỳ năm 1932, đoàn đại biểu Trung Hoa Dân Quốc lần đầu tiên được phái tham dự Thế vận hội Mùa hè. === Kháng chiến và Nội chiến === 240px|thumb|left|Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và quan chức ngoại giao Hoa Kỳ Patrick Jay Hurley triển khai đàm phán hòa bình tại Trùng Khánh năm 1945. Ngày 7 tháng 7 năm 1937, Nhật Bản phát động Sự kiện Lư Câu Kiều, Chiến tranh Trung-Nhật bùng phát toàn diện. Đến tháng 12 cùng năm, thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa Dân Quốc thất thủ, Chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Trùng Khánh. Thời kỳ Chiến tranh kháng Nhật, Quốc dân Cách mạng quân ước tính có 1,7 triệu người nhập ngũ tác chiến, mặc dù Quốc dân Cách mạng quân ở thế yếu trong suốt chiến tranh do các nhân tố như trang bị và kinh tế, song vẫn cầm chân thành công quân Nhật trên chiến trường Trung Quốc, và giành thắng lợi trong một số chiến dịch. Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng mở màn Chiến tranh Thái Bình Dương, sang ngày 8 Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật, đến ngày 9 Chính phủ Quốc dân chính thức tuyên chiến với Nhật, gia nhập Đồng Minh, Anh Quốc cũng mở tuyến đường Vân Nam-Miến Điện để vận chuyển cung cấp vật tư. Nhật Bản lần lượt thành lập các chính quyền bù nhìn như Chính phủ Tự trị Liên hiệp Mông Cương, Chính quyền Uông Tinh Vệ, ngày 9 tháng 1 năm 1943 Chính phủ Quốc dân Uông Tinh Vệ tuyên chiến với liên minh Anh-Mỹ. Đầu tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản, đồng thời Liên Xô tuyên chiến với Nhật, xuất binh chiếm cứ khu vực Đông Bắc Trung Quốc. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thiên hoàng Nhật Bản tuyên bố Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện, đến ngày 2 tháng 9 cùng năm Nhật Bản ký vào Văn kiện đầu hàng. Ngày 9 tháng 9, Chính phủ Quốc dân tiếp nhận thư đầu hàng của Nhật Bản tại Nam Kinh, đến lúc này Trung Hoa Dân Quốc giành thắng lợi trong Chiến tranh kháng Nhật, đến năm sau dời thủ đô về Nam Kinh. Chính phủ Quốc dân căn cứ theo Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam không chỉ thu hồi lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm cứ trong chiến tranh và khu vực Mãn Châu do Nhật Bản khống chế, mà còn tiếp quản Đài Loan và Bành Hồ bị nhà Thanh cắt nhượng cho Nhật Bản. Đồng thời, Chính phủ Quốc dân thông qua đàm phán khiến các quốc gia Âu-Mỹ triệt tiêu các điều ước bất bình đẳng, và cùng với các quốc gia như Anh Quốc và Hoa Kỳ đổi sang ký kết các điều ước bình đẳng。 Bắt đầu từ năm 1945, Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản triển khai hòa đàm thành lập chính phủ liên hiệp do Hoa Kỳ làm trung gian. Ngày 25 tháng 12 năm 1946, Quốc dân đại hội lập hiến pháp do Quốc dân đảng khống chế thông qua "Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc", song bị Đảng Cộng sản tẩy chay. Đầu năm 1947, sau khi Hoa Kỳ hòa giải thất bại, Quốc-Cộng nội chiến lần thứ hai bùng phát toàn diện. Đồng thời, Chính phủ Dân Quốc có chính sách sai lầm, gây ra lạm phát phi mã, để mất lòng dân. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, tại Đài Loan bùng phát sự kiện chống đối Quốc dân đảng. Cuối năm 1947, Chính phủ Quốc dân theo yêu cầu của các giới chính thức ban bố hiến pháp, thực thi hiến chính, đồng thời cải tổ thành Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1948, Tưởng Giới Thạch và Lý Tông Nhân được bầu làm tổng thống và phó tổng thống đầu tiên sau khi thi hành hiến pháp, chính thức nhậm chức vào ngày 20 tháng 5 cùng năm. Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu triển khai phản công chiến lược Quốc dân đảng, đồng thời đổi tên lực lượng vũ trang của mình thành Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, sau ba chiến dịch lớn Đảng Cộng sản Trung Quốc hoàn toàn khống chế khu vực Đông Bắc và khu vực Hoa Bắc. Cuối tháng 1 năm 1949, Tưởng Giới Thạch tuyên bố từ nhiệm, Lý Tông Nhân tạm thời đảm nhiệm chức vụ tổng thống. Tháng 4 năm 1949, sau khi đàm phán giữa Chính phủ Quốc dân và Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Bình tan vỡ, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc phát động chiến dịch vượt Trường Giang, chiếm lĩnh thủ đô Nam Kinh và trung tâm kinh tế Thượng Hải. Quyền tổng thống Lý Tông Nhân của Trung Hoa Dân Quốc nhận thấy đại thế đã mất nên đã bay sang Mỹ qua Hồng Kông, Tưởng Giới Thạch triệt thoái đến khu vực Tây Nam tiếp tục chỉ huy quân đội kháng cự. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh, đến tháng 12 cùng năm Tưởng Giới Thạch hạ lệnh chính phủ trung ương từ khu vực Tây Nam triệt thoái và phòng thủ khu vực Đài Loan, đồng thời lấy Đài Bắc làm thủ đô lâm thời. Trong quá trình triệt thoái, ngoài việc đem ngoại hối và vàng dự trữ đến Đài Loan, rất nhiều bộ đội và cư dân Đại lục theo Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc rút sang khu vực Đài Loan. == Chính phủ == === Chính phủ trung ương === Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là cơ cấu cai trị quốc gia, lịch sử sớm nhất có thể truy đến Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc được triệu tập tại Vũ Xương vào năm 1911, về sau trải qua nhiều lần thay đổi chính quyền như Chính phủ Lâm thời Nam Kinh, Chính phủ Lâm thời Bắc Kinh, Chính phủ Bắc Dương, Chính phủ Quốc dân. Ngay sau Khởi nghĩa Vũ Xương, Phủ đô đốc Quân đội Hồ Bắc Chính phủ quân sự Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, Lê Nguyên Hồng nhậm chức đô đốc, đồng thời căn cứ theo "Cách mạng phương lược" của Tôn Trung Sơn, tuyên bố phế trừ niên hiệu Tuyên Thống của triều đình Thanh, đổi quốc hiệu thành Trung Hoa Dân Quốc. Đây là chính phủ quân sự cấp tỉnh đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 1 tháng 1 năm 1912, Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc chính thức thành lập tại Nam Kinh, đây là cơ cấu chính phủ trung ương đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi Ước pháp Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc được công bố thi hành, Chính phủ Lâm thời Bắc Kinh kế thừa Chính phủ Lâm thời Nam Kinh, đến ngày 10 tháng 10 năm 1913 Chính phủ Bắc Kinh Trung Hoa Dân Quốc chính thức thành lập. Chính phủ Bắc Dương là chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho Trung Quốc từ năm 1912 đến năm 1928, nhìn chung có thể phân thành bốn giai đoạn là thời kỳ Viên Thế Khải thống trị từ 1912-1916, thời kỳ Hoàn hệ quân phiệt thống trị từ 1916-1920, thời kỳ Trực hệ quân phiệt thống trị từ 1920-1924, và thời kỳ Phụng hệ quân phiệt thống trị từ 1924-1928. Từ sau Bắc phạt năm 1928, Chính phủ Quốc dân Nam Kinh thay thế Chính phủ Bắc Dương. Ngày 2 tháng 4 năm 1921, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Quảng Châu) được thành lập, Tôn Trung Sơn nhậm chức "đại tổng thống phi thường", lần đầu tiên sử dụng "Thanh Thiên Bạch Nhật Mãn Địa Hồng kỳ" làm quốc kỳ, nhằm phản đối tính hợp pháp của Chính phủ Bắc Dương, đến năm sau do Vận động Hộ pháp lần thứ hai thất bại nên giải thể. Ngày 2 tháng 3 năm 1923, Tôn Trung Sơn về Quảng Châu lập Đại bản doanh Đại nguyên soái Lục-Hải quân, tái lập chính phủ quân sự; đến ngày 1 tháng 7 năm 1925, cải tổ thành Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc, sau khi Bắc phạt thành công thay thế Chính phủ Bắc Dương làm chính phủ trung ương và cơ quan hành chính tối cao của Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 20 tháng 5 năm 1948, Chính phủ Quốc dân cải tổ thành Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, chức vụ Chủ tịch Chính phủ Quốc dân đổi thành "Tổng thống", duy trì đến nay. Thời kỳ đầu, nguyên thủ quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc gọi là "đại tổng thống Trung Hoa Dân Quốc", sau Bắc phạt thì đổi thành "Chủ tịch Chính phủ Quốc dân"; đến sau khi thi hành hiến pháp năm 1947 thì gọi là "tổng thống Trung Hoa Dân Quốc". Tôn Trung Sơn là đại tổng thống lâm thời đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc, Viên Thế Khải là đại tổng thống chính thức đầu tiên, chủ tịch Chính phủ Quốc dân đầu tiên là Uông Tinh Vệ, tổng thống Trung Hoa Dân Quốc đầu tiên là Tưởng Giới Thạch. === Cát cứ địa phương === Ngoài khu vực chịu sự khống chế của chính phủ trung ương, trong lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc còn tồn tại rất nhiều chính quyền cát cứ địa phương hoặc thế lực cát cứ, trong đó chính quyền Ngoại Mông Cổ, Tây Tạng, chính quyền Đảng Cộng sản và chính quyền bù nhìn của Nhật Bản từng tuyên bố độc lập. Chính quyền Ngoại Mông Cổ Ngày 29 tháng 12 năm 1911, Jebtsundamba Khutuktu đời thứ tám thành lập Hãn quốc Bác Khắc Đa, tuyên bố thoát ly Trung Quốc để độc lập. Ngày 9 tháng 6 năm 1915, do ký kết "Hiệp ước Trung-Nga-Mông" nên thủ tiêu độc lập, tuyên bố quy thuận Trung Hoa Dân Quốc đồng thời thi hành "tự trị". Năm 1921, Bạch vệ Nga xua đuổi thế lực của Trung Quốc, chính quyền Mông Cổ chính thức khôi phục. Sau khi Jebtsundamba Khutuktu đời thứ tám từ trần vào năm 1924, Mông Cổ vào ngày 26 tháng 11 cùng năm sửa đổi hiến pháp, chính thức chuyển từ chế độ quân chủ lập hiến sang nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ xã hội chủ nghĩa. Ngày 5 tháng 1 năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc chính thức thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập. Cộng hòa Nhân dân Tuva Năm 1911, Ngoại Mông Cổ tuyên bố độc lập, Tannu Uriankhai vẫn do Ngoại Mông Cổ thống trị. Sau đó, Nga thừa cơ chiếm lĩnh Tannu Uriankhai, khuyến khích khu vực thoát ly Ngoại Mông Cổ để độc lập. Năm 1914, Tannu Uriankhai tuyên bố độc lập, đổi tên thành Tuva. Sau Cách mạng Nga năm 1917, đến năm 1919 Chính phủ Bắc Dương khôi phục thống trị đối với Ngoại Mông Cổ, bao gồm Tuva. Tháng 1 năm 1920, nước Nga Xô viết tái chiếm Tuva; đến ngày 14 tháng 8 năm 1921, những người Bolshevik Tuva thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Tannu-Tuva. Năm 1926, Liên Xô và Mông Cổ ký kết điều ước, đổi tên nước này thành Cộng hòa Nhân dân Tuva, khẳng định tính độc lập của Tuva. Ngày 11 tháng 10 năm 1944, Tuva gia nhập Liên Xô. Chính quyền Tây Tạng Năm 1911, Khởi nghĩa Vũ Xương bùng phát, các tỉnh tại Trung Quốc bản thổ lần lượt tuyên bố thoát ly triều Thanh thống trị để độc lập. Tin tức được truyền đến Tây Tạng, dẫn tới náo loạn tại Lhasa. Tháng 12 năm 1912, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 trở về Lhasa từ nơi lưu vong tại Ấn Độ, chính phủ Tây Tạng xua đuổi đại thần và quân đồn trú của triều Thanh, tuyên bố độc lập. Ngày 11 tháng 1 năm 1913, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 phái người ký kết Hiệp ước Mông-Tạng tại Khố Luân, Mông Cổ, thừa nhận độc lập lẫn nhau. Tháng 10 năm 1913, các đại biểu của Tây Tạng, Anh Quốc và Chính phủ Bắc Dương cử hành hội đàm ba bên tại Shimla, đến tháng 3 năm 1914, đại biểu của phía Anh là Henry McMahon dùng ủng hộ Tây Tạng độc lập làm điều kiện nhằm đổi lấy việc phía Tây Tạng chấp thuận biên giới theo đường McMahon. Ngày 3 tháng 7 cùng năm, Chính phủ Bắc Dương nhận thấy âm mưu bên trong nên rút khỏi đàm phán, cùng ngày Anh Quốc và Chính phủ Tây Tạng ký kết "Điều ước Shimla"。 Căn cứ địa Đảng Cộng sản (1927-1949) Sau khi Quốc-Cộng hợp tác lần thứ nhất tan vỡ năm 1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc trước sau lập Căn cứ địa Cách mạng Tỉnh Cương Sơn, nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa, Liên bang Tây Bắc nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa, nước Cộng hòa Nhân dân Xô viết Trung Hoa, nước Cộng hòa Dân chủ Xô viết Trung Hoa... Thời kỳ kháng Nhật từ năm 1937 đến năm 1945, lập nhiều căn cứ địa kháng Nhật tại khu vực bị Nhật Bản chiếm cứ, đến thời kỳ nội chiến lần thứ hai Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi khu vực do mình khống chế là khu giải phóng. Chính quyền bù nhìn của Nhật Bản Sau khi Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc, họ sử dụng chính sách chia để trị đối với Trung Quốc, bảo trợ thành lập các chính quyền bù nhìn trung thành với Nhật Bản. Năm 1932, Nhật Bản kết hợp một bộ phận tông thất triều Thanh cùng các tướng lĩnh và quyền quý người Hán tại khu vực Đông Bắc thành lập Mãn Châu Quốc, thủ đô đặt tại Tân Kinh. Lãnh thổ bao gồm toàn bộ ba tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm và Hắc Long Giang và miền đông Nội Mông và thành phố Thừa Đức của tỉnh Hà Bắc hiện nay. Tháng 8 năm 1945, sau khi Nhật Bản chiến bại, Phổ Nghi cử hành nghi thức thoái vị, Mãn Châu Quốc chính thức diệt vong. Năm 1937, Nhật Bản xâm chiếm toàn diện Trung Quốc, sau đó tại lãnh thổ Trung Quốc còn lập các chính quyền bù nhìn như Chính phủ Tự trị phòng Cộng Ký Đông, Chính phủ Lâm thời Hoa Bắc, Chính phủ Tự trị Liên minh Mông Cổ, Chính phủ Tự trị Tấn Bắc, Chính phủ Tự trị Sát Nam, Chính phủ Duy Tân Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1940, các đảng viên Quốc dân đảng quay về phía người Nhật Bản như Uông Tinh Vệ lập ra "Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc" tại Nam Kinh, Uông Tinh Vệ đảm nhiệm chức vụ quyền chủ tịch của Chính phủ Quốc dân và Viện trưởng Hành chính viện, Chu Phật Hải và Lý Sĩ Quần là các thành viên chủ yếu, sử dụng "Thanh Thiên Bạch Nhật Mãn Địa Hồng kỳ" làm quốc kỳ. Ngày 9 tháng 1 năm 1943, Chính phủ Quốc dân Uông Tinh Vệ tuyên chiến với liên quân Anh-Mỹ, sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945 thì giải thể. Đông Turkestan Ngày 12 tháng 11 năm 1933, Đệ nhất Cộng hòa Đông Turkestan thành lập tại khu vực Kashgar, tỉnh Tân Cương, là một nước cộng hòa Hồi giáo; đến ngày 6 tháng 2 năm 1934, bị quân phiệt người Hồi là Mã Bộ Oanh phá hủy. Tháng 8 năm 1944, các khu vực Y Lê, Tháp Thành, A Sơn ở miền bắc Tân Cương bùng phát cách mạng. Elihan Tore thành lập Đệ nhị Cộng hòa Turkestan với ủng hộ của Liên Xô, thủ đô đặt tại Y Ninh, đến tháng 6 năm 1946 thì kết thúc. === Chế độ pháp luật === "Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc" là bộ luật căn bản của quốc gia, dựa trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Tam Dân và Ngũ quyền phân lập của Tôn Trung Sơn. Chủ nghĩa Tam Dân chủ trương chủ nghĩa dân tộc bình đẳng cùng tồn tại giữa các dân tộc và quốc gia, chủ nghĩa dân quyền mà theo đó công dân được thi hành quyền lợi chính trị quản lý chính phủ, và chủ nghĩa dân sinh mà theo đó chính phủ vì nhân dân phục vụ và xây dựng kinh tế-xã hội phồn vinh, do đó "Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc chỉ rõ chế độ là "nước cộng hòa dân chủ của dân, do dân, vì dân". Ngũ quyền hiến pháp xác lập chế độ tư pháp độc lập với các quyền hành chính, quyền lập pháp, quyền khảo thí và quyền giám sát. Ngoài quy định ngũ quyền hiến pháp của thể chế chính phủ trung ương và chế độ chính phủ tự trị địa phương, hiến pháp còn làm rõ quyền hạn giữa chính phủ trung ương và chính phủ địa phương, chọn chế độ bình quyền, các quốc sách cơ bản khác. Ngày 11 tháng 3 năm 1912, Tôn Trung Sơn công bố "Ước pháp lâm thời Trung Hoa Dân Quốc" để làm pháp luật cơ bản lâm thời của quốc gia, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc tư tưởng "chủ quyền tại dân" được đưa vào pháp quy. Năm 1913, Quốc hội khóa I của Trung Hoa Dân Quốc đề xuất dự thảo hiến pháp (còn gọi là Dự thảo hiến pháp Thiên Đàn). Năm 1914, Viên Thế Khải giải tán quốc hội, đến ngày 1 tháng 5 cùng năm ông công bố "Ước pháp Trung Hoa Dân Quốc" (còn gọi là Ước pháp Viên ký"). Năm 1919, trong thời kỳ Đoàn Kỳ Thụy chấp chính, có đề xuất dự thảo hiến (Dự thảo hiến pháp năm thứ 8). Năm 1923, trong thời kỳ Tào Côn nhậm chức đại tổng thống đã công bố "Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc (Hiến pháp Tào Côn). Năm 1925, Đoàn Kỳ Thụy trong thời gian tại nhiệm lần thứ hai lại đề xuất dự thảo hiến pháp (Dự thảo hiến pháp năm thứ 14) Năm 1928, sau khi Quốc Dân đảng thống nhất Trung Quốc, vào ngày 3 tháng 10 cùng năm Ủy ban Thường vụ Trung ương của đảng này thông qua "Cương lĩnh huấn chính", vào ngày 5 tháng 5 năm 1931 trong Đại hội đảng thông qua "Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân Quốc". Ngày 5 tháng 5 năm 1936, Chính phủ Quốc Dân công bố dự thảo hiến pháp, là tiền thân của Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc hiện nay. Ngày 25 tháng 12 năm 1946, Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc được thông qua, được công bố vào đầu năm 1947 và thi hành từ ngày 25 tháng 12 cùng năm. Từ đó, Trung Hoa Dân Quốc kết thúc thời kỳ huấn chính, chính thức bước vào thời kỳ hiến chính. Tuy nhiên, Quốc-Cộng nội chiến khiến rất nhiều điều khoản mất hiệu lực. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1912, Chính phủ Bắc Dương lấy phương thức "trên nguyên tắc kế thừa pháp chế triều Thanh" trong thời kỳ quá độ. Ngày 21 tháng 2 năm 1913, Bộ Tư pháp lệnh cho các tỉnh cải tổ tòa án: tại các tỉnh thành lập tòa án cao đẳng, tại khu hành chính cấp địa khu và thương cảng lập tòa án cấp địa phương, địa phương cấp huyện tòa án sơ cấp". Tháng 10 năm 1927, Chính phủ Quốc Dân Nam Kinh công bố "Điều lệ tạm thời tổ chức Tòa án tối cao", thực hiện chế độ bốn cấp và ba lần xét xử. Bốn cấp tức là tại trung ương lập tòa án tối cao, tại địa phương lập tòa án cấp cao, tòa án địa phương, các huyện không lập tòa án địa phương thì lập cơ quan tư pháp. Tháng 10 năm 1932, ban bố quy định tổ chức tòa án, theo đó cơ quan thẩm phán phổ thông trung ương và địa phương, từ bốn cấp giảm còn ba cấp: trung ương lập tòa án tối cao, cấp tỉnh có tòa cAo đẳng, cấp huyện có tòa án địa phương. === Đảng phái chính trị === Tháng 3 năm 1912, Chính phủ Lâm thời Bắc Kinh ban bố "Ước pháp Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc", trong đó quy định: "nhân dân có tự do ngôn luận, sáng tác, lưu hành và tụ họp, lập hội", lần đầu tiên quy định dưới hình thức pháp luật về tự do và quyền lợi lập hội lập đảng, tham gia chính trị của mọi người, tạo hoàn cảnh xã hội thuận lợi để các chính đảng nổi lên. Sau đó, nhóm Chương Bỉnh Lân lập Thống Nhất đảng, Đồng Minh hội cải tổ thành Thể chế Nội chính đảng, các chính đảng thời kỳ đầu Dân Quốc xuất hiện như nấm mọc sau mưa. Trong đó, các chính đảng có sức ảnh hưởng khá lớn là: Quốc Dân đảng, Tiến Bộ đảng, Trung Quốc Quốc Dân đảng, Trung Quốc Thanh Niên đảng và Trung Quốc Trí Công đảng. Tháng 8 năm 1912, Tống Giáo Nhân liên hiệp Thống nhất Cộng hòa đảng, Quốc dân Cộng tiến đảng, Quốc dân công đảng và Cộng hòa Thực tiến hội thành Quốc Dân đảng, mục tiêu là lập nội các theo ước pháp lâm thời, quản lý thực quyền chính trị. Cuối năm 1912, trong tuyển cử Tham nghị viện và Chúng nghị viện của Quốc hội, Quốc Dân đảng giành được 45% số ghế của lưỡng viện. Tháng 3 năm 1913, Tống Giáo Nhân ám sát thiệt mạng trước khi nhậm chức thủ tướng nội các. Tháng 11 cùng năm, Viên Thế Khải xác định Quốc Dân đảng là tổ chức phi pháp, hạ lệnh giải tán. Ngày 10 tháng 10 năm 1919, Tôn Trung Sơn cải tổ Trung Hoa Cách mạng đảng thành Trung Quốc Quốc Dân đảng. Năm 1925, Trung Quốc Quốc Dân đảng lập Chính phủ Quốc Dân bắt đầu Bắc phạt, đến năm 1928 thì thay thế Chính phủ Bắc Dương, chính thức thống nhất Trung Quốc. Năm 1949, Trung Quốc Quốc Dân đảng thất bại trong Quốc-Cộng nội chiến, phải rút sang Đài Loan. Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập vào ngày 23 tháng 7 năm 1921 tại Nam Hồ, Gia Hưng, Chiết Giang, thời kỳ đầu lập đảng họ hợp tác với Quốc Dân đảng "phản đế phản phong kiến". Sau khi Tôn Trung Sơn từ trần vào năm 1925, Quốc-Cộng hợp tác dần bất ổn định. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch thực thi "thanh đảng", phái hữu trong Quốc Dâng đảng chính thức đoạn tuyệt với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày 1 tháng 8 năm 1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động Khởi nghĩa Nam Xương, ngày 28 tháng 4 năm 1928 Hồng quân của Mao Trạch Đông và Chu Đức hội quân tại Tỉnh Cương Sơn, dần lập khu xô viết tại tại các khu vực giáp giới như miền nam Giang Tây, miền tây Phúc Kiến, trải qua năm lần Quốc Dân đảng vây diệt trong giai đoạn 1930-1933, và Trường chinh trong giai đoạn 1934-1936, cuối cùng giành được thắng lợi trong Quốc-Cộng nội chiến, kết thúc thời kỳ thống trị của Trung Quốc Quốc Dân đảng tại Đại lục, lập ra nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trung Quốc Thanh niên đảng được sáng lập tại Paris, Pháp vào năm 1923, từng là chính đảng lớn thứ ba trong lịch sử hiện đại Trung Quốc,v ào năm 1949 theo Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dời sang Đài Loan. Trung Quốc Trí Công đảng được thành lập tại San Francisco, Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 10 năm 1925, Trần Quýnh Minh làm chủ tịch, Đường Kế Nghiêu làm phó chủ tịch, hiện là một trong tám đảng phái dân chủ tại Trung Quốc. == C­ương vực == Ước pháp Lâm thời năm 1912 có quy định trong Điều 3 rằng lãnh thổ quốc gia gồm 22 tỉnh, Nội-Ngoại Mông Cổ, Tây Tạng, Thanh Hải. Ước pháp thời kỳ huấn chính năm 1931 có quy định trong điều 1 rằng lãnh thổ quốc gia gồm các tỉnh cùng với Mông Cổ và Tây Tạng. Trong Hiến pháp năm 1947 tại Điều 4 có quy định "lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc căn cứ theo cương vực cố hữu của mình", song không định nghĩa rõ phạm vi. Có thuyết nhận định, Trung Hoa Dân Quốc thời kỳ Đại lục có tổng diện tích là 11.418.194 km², là nước lớn thứ hai trên lục địa thế giới, cương vực xa đến đỉnh Sayan tại Tannu Uriankhai ở phía bắc; phía đông đến nơi hợp lưu của Hắc Long Giang và Ô Tô Lý Giang; phía nam đến vùng biển bãi ngầm Tăng Mẫu và Lập Địa thuộc Nam Sa; phía tây đến sông Panj thuộc Cao nguyên Pamir. === Hành chính === Năm đầu tiên lập quốc, toàn quốc được phân thành 22 tỉnh cộng với Ngoại Mông Cổ, Nội Mông Cổ, địa phương Thanh Hải, địa phương Tây Tạng. địa khu Altai, Tarbagatai. Ngày 8 tháng 1 năm 1913, Chính phủ Bắc Kinh công bố lệnh xác lập chế độ hành chính gồm ba cấp là tỉnh, đạo, huyện, đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm tỉnh, khu hành chính đặc biệt, địa phương và trực hạt thị. Năm 1914, Chính phủ Bắc Dương lập mới bốn khu vực hành chính đặc biệt, bốn địa phương, hai thương cảng cấp tỉnh và ba địa khu Tarbaghatai, Altay, Ili, tổng cộng toàn quốc có 35 đơn vị cấp tỉnh. Tháng 5 năm 1924, thu hồi vùng đất phụ thuộc đường sắt Trung Đông từ Nga, lập khu đặc biệt Đông Tỉnh. Năm 1926, ba địa khu Tarbaghatai, Altay, Ili được nhập vào tỉnh Tân Cương. Sau khi Chính phủ Quốc Dân định đô tại Nam Kinh năm 1927, phế bỏ cấp đạo, lập riêng khu đốc sát hành chính, đổi tên hai tỉnh Trực Lệ và Phụng Thiên là Hà Bắc và Liêu Ninh, nhập địa phương Kinh Triệu vào tỉnh Hà Bắc, chuyển bốn khu hành chính đặc biệt là Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ, Tuy Viễn, Xuyên Biên, và địa phương Thanh Hải thành tỉnh, trong đó Xuyên Biên đổi tên thành Tây Khang, lập mới tỉnh Ninh Hạ. Năm 1930, từ nhượng địa thu hồi từ Anh Quốc lập ra khu hành chính Uy Hải Vệ, đồng thời trước sau đặt 9 thành phố đặc biệt là Nam Kinh, Thượng Hải, Bắc Bình, Thiên Tân, Thanh Đảo, Vũ Hán (sau đổi thành Hán Khẩu), Quảng Châu (sau đổi sang thuộc tỉnh, sau thế chiến lại thăng cấp), Tây Kinh (sau đổi sang thuộc tỉnh, sau thế chiến đổi thành Tây An và thăng cấp), Trùng Khánh (đặt trong thời kỳ kháng chiến). Cho đến trước kháng chiến chống Nhật bùng phát, toàn quốc có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Sau khi đại chiến kết thúc vào năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc tiếp nhận Đài Loan và Đông Bắc từ Nhật Bản, khu vực Đông Bắc đặt thành 9 tỉnh và ba thành phố, khu hành chính Uy Hải Vệ đổi sang thuộc tỉnh, đồng thời thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập. Năm 1947, tổng cộng có 35 tỉnh và 12 trực hạt thị, cùng với địa phương Tây Tạng. Năm 1948, đặt khu hành chính đặc biệt Hải Nam tại đảo Hải Nam và các đảo trên biển Đông. === Thay đổi thủ đô === Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc thành lập tại Nam Kinh, sau Nghị hòa Nam-Bắc thì dời đến Bắc Kinh. Sau đó, Chính phủ Lâm thời và Chính phủ Bắc Dương đều đặt thủ đô quốc gia tại Bắc Kinh. Năm 1928, Chính phủ Quốc Dân hoàn thành Bắc phạt, quyết định định đô tại Nam Kinh, đồng thời Điều 5 trong "Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân Quốc" có quy định rõ rằng đặt quốc đô tại Nam Kinh. Tháng 7 năm 1937, Chiến tranh kháng Nhật bùng phát toàn diện, ngày 21 tháng 11 cùng năm Chính phủ Quốc Dân tuyên bố dời cơ cấu chính phủ trung ương từ Nam Kinh đến Trùng Khánh. Trung tâm tác chiến quân sự trước được dời đến Vũ Hán, sau khi Hội chiến Vũ Hán bùng phát thì dời đến Trùng Khánh. Sau khi kháng chiến thắng lợi, Chính phủ Quốc Dân ban bố "lệnh hoàn đô", tuyên bố ngày 5 tháng 5 năm 1946 "khải toàn Nam Kinh". Trong Quốc-Cộng nội chiến, thủ đô Trung Hoa Dân Quốc nhiều lần di dời, cuối cùng đến tháng 12 năm 1949 được dời đến Đài Bắc. === Thành thị chủ yếu === Thời kỳ đầu kiến quốc, Trung Hoa Dân Quốc đổi "phủ" trước đó thành huyện, đương thời từng có một số huyện xúc tiến chế độ đô thị, song đều bị Chính phủ Bắc Dương ngăn chặn. Tháng 2 năm 1921, Chính phủ quân sự Trung Hoa Dân Quốc đổi Quảng Châu thành "thị" (thành phố), mở đầu trào lưu các địa phương toàn quốc thi hành chế độ đô thị. Ngày 3 tháng 7 cùng năm, Chính phủ Bắc Dương ban bố "chế độ tự trị đô thị", phân đô thị thành hai loại là thành phố đặc biệt và thành phố phổ thông, toàn quốc tổng cộng có sáu thành phố đặc biệt là Kinh Đô, Tân Cô (nay là Nam Kinh), Tùng Hỗ (nay là Thượng Hải), Thanh Đảo, Cáp Nhĩ Tân, Hán Khẩu (nay là Vũ Hán). Năm 1930, Chính phủ Quốc Dân ra "pháp lệnh tổ chức thành phố", phân ra thành "tỉnh hạt thị" và "viện hạt thị". "Tỉnh hạt thị" đồng cấp với các huyện, "viện hạt thị" đồng cấp với các tỉnh, yêu cầu nhân khẩu cần vượt quá một triệu, song cũng có ngoại lệ. Sau khi công bố Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, "viện hạt thị" đổi sang gọi là "trực hạt thị". Năm 1949, toàn quốc tổng cộng có 12 trực hạt thị: Ghi chú: Quảng Châu, Tây An, Thẩm Dương còn đóng vai trò là tỉnh lỵ, Quảng Châu vào năm 1930 được thăng làm trực hạt thị, sau lại bị giáng cấp. == Ngoại giao == === Chính phủ Bắc Dương === Sau Cách mạng Tân Hợi lật đổ triều đại Thanh, Trung Quốc rơi vào tình trạng cát cứ địa phương và hỗn chiến quân phiệt. Năm 1913, nhằm đổi lấy viện trợ và thừa nhận của Nga cho Chính phủ Bắc Dương, Viên Thế Khải ký kết "Hiệp ước Trung-Nga-Mông". Từ đó, thế lực người Nga xâm nhập Ngoại Mông Cổ. Cùng năm, Chính phủ Bắc Dương nhằm giải quyết vấn đề quốc khố trống rỗng nên đã vay từ tổ chức ngân hàng của năm quốc gia Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật tổng cộng 25 triệu bảng, đồng thời đồng ý lấy thuế muối, thuế hải quan để thế chấp, giao công việc quản lý muối cho người ngoài quản lý, bị nhìn nhận là làm mất chủ quyền, quốc gia chịu nhục. Ngày 29 tháng 5 năm 1914, Nhật Bản gây áp lực khiến Viên Thế Khải ký kết "Biện pháp thi hành giảm thuế vận chuyển hàng hóa Trung-Nhật giữa Nam Mãn Châu và Triều Tiên", thương nghiệp khu vực Đông Bắc do đó bị người Nhật lũng đoạn. Sau Cách mạng Thứ hai, Viên Thế Khải sợ Nhật Bản viện trợ cho Tôn Trung Sơn, do đó đặc phái hai nhân vật là Tôn Bảo Kỳ, Lý Thịnh Đạc sang Nhật Bản điều đình, Nhật Bản nhân cơ hội này đề xuất quyền xây dựng năm tuyến đường sắt tại Đông Bắc làm yêu sách. Tháng 7 năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát, tháng 9 cùng năm Nhật Bản tuyên chiến với Đức. Lúc đầu, Viên Thế Khải tuyên bố Trung Quốc trung lập, đồng thời cấm chỉ Đức và Nhật giao chiến trên lãnh thổ Trung Quốc, song do bị Nhật Bản uy hiếp nên sau đó phải thừa nhận miền đông tỉnh Sơn Đông là khu vực giao chiến. Sau khi quân đội Nhật Bản đổ bộ tại Sơn Đông, họ không tập trung binh lực tiến công quân Đức mà hướng về phía tây chiếm lĩnh toàn tuyến đường sắt Sơn Đông từ Thanh Đảo đến Tế Nam. Đương thời, Trung Quốc bị cô lập và không có viện trợ, Anh và Nga đều ngầm chấp thuận Nhật Bản xâm nhập Trung Quốc, Hoa Kỳ dù đồng tình với Trung Quốc song không muốn đối lập với Nhật Bản. Ngày 7 tháng 1 năm 1915, Chính phủ Bắc Dương yêu cầu quân Nhật triệt thoái về nước, hoặc tạm thời lưu trú tại Thanh Đảo. Nhật Bản thấy các quốc gia Âu Mỹ không rảnh để chú ý đến Viễn Đông, lại thấy được dã tâm xưng đế của Viên Thế Khải, ngày 8 tháng 1 công sứ Nhật Bản tại Trung Quốc đề xuất Yêu cầu 21 điều với Viên Thế Khải, quân Nhật chiếm lĩnh Thanh Đảo cho đến năm 1922. Ngày 14 tháng 3 năm 1917, Trung Quốc và Đức đoạn tuyệt quan hệ, ngày 14 tháng 8 cùng năm Chính phủ Bắc Kinh ban bố "Bố cáo Đại tổng thống" của Phùng Quốc Chương, chính thức tuyên chiến với Đức, Áo. Ngày 15 tháng 9 năm 1919, Trung Quốc tuyên bố kết thúc chiến tranh với Đức, song Trung Quốc với tư cách nước chiến thắng lại không bảo vệ lợi ích quốc gia tại Hội nghị hòa bình Paris, Trung Quốc yêu cầu thu hồi chủ quyền bán đảo Sơn Đông bị Đức cưỡng chiếm, song Anh, Pháp, Ý lại chuyển lợi ích của Đức cho Nhật Bản, dẫn tới Phong trào Ngũ Tứ. Đại biểu Trung Quốc chỉ có thể cự tuyệt ký kết hòa ước để kháng nghị. === Chính phủ Quốc Dân === Tháng 5 năm 1928, Nhật Bản cố ý gây ra Thảm án Tế Nam, sau đó phía Nhật phủ nhận tàn sát quân dân Trung Quốc, ngược lại còn yêu cầu Chính phủ Quốc Dân (Nam Kinh) tạ lỗi, bồi thường, trừng trị hung thủ. Ngày 10 tháng 5, Chính phủ Nam Kinh phái Ngũ Triều Xu lập tức sang Hoa Kỳ cầu viện. Ngày 11 tháng 5, quân Nhật công chiếm Tế Nam . Ngày 15 tháng 5, Hoa Kỳ công khai biểu thị không bằng lòng với Nhật Bản. Đến tháng 3 năm sau, sau khi Chính phủ Quốc Dân (Nam Kinh) và Chính phủ Nhật Bản ký kết hiệp định, quân Nhật rút khỏi Tế Nam. Tháng 6 năm 1928, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Nam Kinh là Vương Chính Đình phát động "cách mạng ngoại giao" với trung tâm là sửa đổi các điều ước bất bình đẳng, bao gồm khôi phục quyền tự chủ thuế quan, hủy bỏ đặc quyền miễn trừ của công dân ngoại quốc, thu hồi tô giới, thu hồi tô tá địa, cùng với thu hồi quyền lợi đường sắt, quyền đường thủy nội địa, quyền mậu dịch duyên hải. Tháng 7 năm 1929, người mới tiếp quản cai trị Đông Bắc là Trương Học Lương tích cực hưởng ứng, quyết tâm thu hồi đường sắt Trung Đông do Liên Xô khống chế, bắt đầu trục xuất viên chức Liên Xô tại đường sắt Trung Đông, niêm phong cơ cấu thương nghiệp của Liên Xô tại Cáp Nhĩ Tân, khiến Chính phủ Liên Xô tuyên bố đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Quốc Dân (Nam Kinh). Ngày 14 tháng 8 năm 1929, Liên Xô bắt đầu tấn công phía Trung Quốc ven tuyến đường sắt Trung Đông, quân đội Trung Quốc chịu tổn thất to lớn. Ngày 26 tháng 11 năm 1929, Trương Học Lương đành yêu cầu đình chiến, đồng thời vào ngày 26 tháng 11 năm 1929 ký kết "Nghị định thư Hội nghị Khabarovsk Xô-Trung, khôi phục hoàn toàn quyền lợi của Liên Xô trên đường sắt Trung Đông như trước ngày 10 tháng 7 năm 1929. Kể từ sự kiện ngày 18 tháng 9 năm 1931, Nhật Bản xâm nhập Đông Bắc Trung Quốc, Chính phủ Quốc Dân một mặt đề xuất "kháng nghị nghiêm trọng" với Nhật Bản, một mặt tố cáo đến Hội Quốc Liên, thỉnh cầu tổ chức này chủ trì công lý. Ngày 23 tháng 9, Chính phủ Quốc Dân gửi công hàm về sự việc cho chính phủ Hoa Kỳ, hy vọng phía Mỹ quan tâm sâu sắc". Tháng 3 năm 1932, Mãn Châu Quốc thành lập. Tháng 7 năm 1937, Sự kiện Lư Câu Kiều bùng phát, Nhật Bản xâm lược toàn diện Trung Quốc. Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, đến ngày 8 Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật Bản, Chiến tranh Thái Bình Dương bùng phát. Ngày 9 cùng tháng, Chính phủ Quốc Dân tuyên chiến với Đức, Ý, Nhật, gia nhập Đồng Minh. Năm 1943, ba quốc gia Trung-Mỹ-Anh liên hiệp ban bố "Tuyên bố Cairo", yêu cầu "các lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật Bản cướp đoạt, như bốn tỉnh Đông Bắc, Đài Loan, Bành hồ, sẽ được trả lại cho Trung Quốc". Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Hoa Dân Quốc trở thành quốc gia chiến thắng, thu hồi Đông Bắc và Đài Loan, Bành Hồ, tham gia sáng lập Liên Hiệp Quốc, đồng thời do cống hiến trong chiến tranh chống Nhật nên được làm một trong năm ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc và Liên Xô ký kết "Điều ước đồng minh hữu hảo Trung-Xô", đồng ý sau khi Liên Xô xuất binh đánh bại Nhật Bản, với điều kiện Liên Xô tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc tại Đông Bắc, không can thiệp nội bộ tại Tân Cương, Trung Hoa Dân Quốc sẽ quyết định về việc thừa nhận nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ dựa trên kết quả công dân đầu phiếu công bằng. Ngày 20 tháng 10 năm 1945, Ngoại Mông Cổ tiến hành trưng cầu dân ý, kết quả 97% số phiếu tán thành Ngoại Mông Cổ độc lập. Ngày 5 tháng 1 năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc chính thức thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập. == Quân sự == === Lực lượng vũ trang === Thời kỳ đầu Dân Quốc (1913-1927), Bắc Dương tân quân do Viên Thế Khải sáng lập là lực lượng chủ yếu của Lục quân Trung Hoa Dân Quốc, tướng lĩnh chủ yếu của lực lượng này hùng bá một phương, tại các địa phương tiến hành cát cứ quân phiệt, phân chia phạm vi thế lực. Đến năm 1924, Trung Quốc Quốc Dân đảng học tập mô hình chế độ quân sự của Đảng Cộng sản Liên Xô để lập ra Quốc Dân Cách mạng quân, là lực lượng vũ trang quốc gia từ sau Bắc phạt đến khi thi hành hiến pháp, cũng là tiền thân của Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc. Đồng thời, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng phát triển thế lực vũ trang lãnh đạo thời kỳ đầu của họ trong Quốc Dân Cách mạng quân. Tháng 4 năm 1928, lực lượng tiến hành Khởi nghĩa Nam Xương do Chu Đức lãnh đạo và lực lượng tiến hành Khởi nghĩa Thu Thu do Mao Trạch Đông lãnh đạo hội quân tại Tỉnh Cương Sơn, hình thành Quân đoàn số 4 Quân Cách mạng công nông Trung Quốc. Quân Cách mạng công nông Trung Quốc sau đổi sang gọi là Hồng quân, Hồng quân công nông Trung Quốc. Sau khi Chiến tranh kháng Nhật bùng phát, Hồng quân công nông Trung Quốc được cải biên thành "Bát lộ quân" và "Tân tứ quân", trên danh nghĩa là lực lượng thuộc Quốc Dân Cách mạng quân. Sau khi đại chién kết thúc, do Quốc-Cộng hợp tác tan vỡ nên đổi sang gọi là Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Trước Chiến tranh kháng Nhật, Sư đoàn Đức giới là lực lượng được trang bị vũ khí ở mức độ cao nhất trong quân đội Trung Quốc, các binh sĩ được trang bị mũ tiêu chuẩn, có súng trường Tưởng Giới Thạch sản xuất trong nước hoặc súng trường Mauser do Đức chế tạo, súng máy nhẹ sản xuất trong nước phỏng theo ZB vz. 26 của Tiệp Khắc, súng liên thanh macxim 24...Sư đoàn Đức giới khi bắt đầu tác chiến với Nhật trong trận Thượng Hải còn có pháo hạng nặng sFH 18, xe tăng, xe bọc thép do Đức chế tạo, song về cơ bản bị xóa xổ sau giao tranh tại Thượng Hải và Nam Kinh. Hải quân Trung Hoa Dân Quốc thừa kế từ triều đại Thanh, giao lưu khá nhiều với Anh Quốc, tiếp đến là Nhật Bản. Năm 1928, khi thành lập Chính phủ Nam Kinh, Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm Trần Thiệu Khoan là Bộ trưởng Bộ Hải quân kiêm tổng tư lệnh. Thời kỳ đầu, hạm đội ước tính có 44 tàu, trọng lượng rẽ nước hơn 30.000 tấn; tới trước khi kháng chiến bùng phát, hạm đội tăng lên đến 58 tàu, trên 58.000 tấn. Trước khi chiến tranh bùng phát vào năm 1937, hải quân biên thành bốn hạm đội, nhiệm vụ chủ yếu là yểm hộ lục quân tác chiến phòng thủ. Đến thời kỳ kháng Nhật, hải quân bị phá hủy hầu như hoàn toàn, phải đến khi tiếp nhận tàu từ Nhật Bản, Hoa Kỳ và Anh Quốc sau chiến tranh mới dần mở rộng biên chế, từ đó trở đi đối tượng giao lưu chủ yếu là Hoa Kỳ. Không quân Trung Hoa Dân Quốc ban đầu là Cục hàng không thành lập tại Đại Sa Đầu của Quảng Châu, đương thời chỉ có ba chiếc máy bay và hai chiếc máy bay huấn luyện JN-4 "Jenny". Năm 1927, Chính phủ Quốc dân thành lập Hàng không xứ, đến năm 1928 thì đổi thành Hàng không thự, chia thành 4 đội, tổng cộng có 24 chiếc máy bay. Sau Bắc phạt, quốc tế bãi bỏ cấm vận vũ khí áp đặt liên tục trong mười năm với Trung Quốc. Từ năm 1934 trở đi, Chính phủ Nam Kinh hợp tác cùng Công ty Curtiss Wright của Hoa Kỳ lập xưởng chế tạo máy bay trung ương, và bắt đầu nhập khẩu linh kiện lắp ráp máy bay. Thời kỳ đầu, Không quân Trung Hoa Dân Quốc sử dụng Hawk-II và Hawk III đều do Hoa Kỳ sản xuất Từ năm 1937 đến năm 1941, Không quân Liên Xô cung cấp cho Chính phủ Quốc Dân một lượng lớn I-15, I-16, SB-3, đồng thời Đội tình nguyện hàng không Liên Xô tham gia tác chiến kháng Nhật. Tỷ lệ chiến đấu cơ Hoa Kỳ trong không quân từng suy giảm, song sau khi Liên Xô rút viện trợ vào năm 1941, chính phủ lại bắt dầu sử dụng nhiều các loại máy bay của Hoa Kỳ. Ngoài ra, sau khi kháng chiến kết thúc, Chính phủ Quốc Dân từng tiếp nhận một tốp Mosquito do Anh thiết kế, Canada sản xuất. === Trường quân sự === Trường sĩ quan lục quân Bảo Định là học viện quân sự được thành lập sớm nhất, quy mô lớn nhất, chương trình chính quy nhất trong lịch sử giáo dục quân sự cận đại Trung Quốc. Từ năm 1912 đến năm 1923, tổng cộng đào tạo 9 khóa, với hơn 6300 người tốt nghiệp, trong đó không ít người về sau trở thành giảng viên Trường quân sự Hoàng Phố, đồng thời có hơn 1700 người tốt nghiệp từ đây trở thành tướng quân. Trường sĩ quan lục quân Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1924, là kết quả của Quốc-Cộng hợp tác lần thứ nhất, được dời đến Nam Kinh sau Bắc phạt, sau khi chiến tranh kháng Nhật bùng phát lại dời đến Thành Đô, đại bộ phận học viên tốt nghiệp trong thời kỳ từ 1949 về trước đều từng tham gia Bắc phạt, chiến tranh kháng Nhật hay nội chiến với cộng sản. Ngày 17 tháng 10 năm 1933, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập Đại học Hồng binh Công-Nông Trung Quốc tại Thụy Kim, sau Trường chinh thì hợp nhất cùng Trường Chính trị Quân sự Hồng quân Thiểm Bắc thành Trường Hồng quân Công-Nông Tây Bắc, về sau phát triển thành Đại học Hồng quân kháng Nhật Tây Bắc của nước Cộng hòa Nhân dân Xô viết Trung Hoa. Tháng 4 năm 1937, trường này đổi tên thành Đại học Quân-Chính kháng Nhật Nhân dân Trung Quốc. Thời kỳ đầu lập quốc, Trung Hoa Dân Quốc kế thừa một số trường huấn luyện hải quân của triều đình Thanh, tuy nhiên do nhân tố quân phiệt cát cứ nên năng lực chiến hạm bị phân tán, đến thời kỳ Chính phủ Nam Kinh thống nhất thì hiện tượng đấu tranh nội bộ giữa các phe phái và tỉnh cực kỳ nghiêm trọng. Việc chiến tranh bùng phát ở mức độ nhất định cũng là cơ hội để Chính phủ Quốc dân chỉnh đốn, do chiến hạm bị quân Nhật tiêu diệt, để mất khu vực duyên hải nên toàn bộ lực lượng hải quân chuyển đến Tứ Xuyên, đơn vị huấn luyện hải quân chỉ còn lại Trường Hải quân Mã Vĩ Phúc Châu do Mân hệ nắm giữ. Cơ cấu đào tạo không quân của Trung Hoa Dân Quốc bắt đầu sớm nhất vào năm 1913 khi Chính phủ Bắc Dương cho lập Trường Hàng không Nam Uyển, hoạt động tổng cộng được 15 năm, đào tạo được 4 khóa với tổng cộng 158 học viên phi hành. Năm 1924, Tôn Trung Sơn sáng lập Trường Phi cơ Quân sự tại Quảng Châu, lựa chọn 8 người tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố đi học tập phi hành. Năm 1929, Chính phủ Quốc Dân lập ban hàng không thuộc Trường sĩ quan lục quân Trung ương tại Nam Kinh. Năm 1932, ban này đổi tên thành "Trường Hàng không Chính phủ Quốc dân", địa điểm tại Hàng Châu. Sau khi hành chiến bùng phát, trường chuyển đến Côn Minh, đến năm 1938 thì chính thức được đặt tên là "Trường Sĩ quan Không quân", sau kháng chiến trường trở về Hàng Châu. == Kinh tế == === Phát triển kinh tế === Sau khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc, Tôn Trung Sơn đề xuất doanh nghiệp cứu quốc, có không ít Hoa kiều kinh doanh tại Nhật Bản mời kỹ sư Nhật Bản đến Trung Quốc mở nhà máy diêm, song các nhà máy này phải dựa vào kỹ thuật, máy móc, nguyên liệu của Nhật Bản để sản xuất. Năm 1920, Lưu Hồng Sinh lập ra xưởng diêm Hồng Sinh Tô Châu. Năm 1927, diêm Thụy Điển bán phá giá tại Trung Quốc, xưởng diêm Hồng Sinh khó khăn trong cạnh tranh, do đó liên hiệp cùng hai doanh nghiệp dân tộc khác để hợp thành Công ty Cổ phần hữu hạn diêm Đại Trung Hoa Thượng Hải. Năm 1931, Công ty diêm Đại Trung Hoa một năm sản xuất 150 nghìn hộp diêm, đương thời là doanh nghiệp diêm dân tộc có quy mô lớn nhất toàn quốc. Tháng 5 năm 1933, sản phẩm của Công ty diêm Đại Trung Hoa được trưng bày tại Triển lãm thế giới Chicago, diêm chất lượng cao và hộp diêm giàu đặc sắc văn hóa phương đông khiến cho rất nhiều khách tham quan khâm phục ngành công nghiệp diêm Trung Quốc. Sau khi Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc, Công ty diêm Đại Trung Hoa bị quân Nhật xác định là tài sản của địch nên bị thực thi quân quản, Công ty buộc phải ngừng sản xuất. Năm 1912, Phương Dịch Tiên lập ra Công nghiệp xã Hóa học Trung Quốc, là công xưởng hóa phẩm có quy mô lớn nhất Trung Quốc đương thời, sản xuất "hương muỗi Tam Tinh" nổi tiếng toàn quốc, "kem đánh răng Tam Tinh" là loại kem đánh răng đầu tiên của Trung Quốc, xà phòng giặt hiệu "Tiễn Đao", cạnh tranh với sản phẩm công nghiệp nhẹ của ngoại quốc, được tán tụng là "quốc hóa đại vương". Ngày 25 tháng 7 năm 1940, Phương Dịch Tiên bị đặc vụ của Nhật sát hại. Năm 1915, Tổng thống Viên Thế Khải mời kỹ sư quân sự từ các quốc gia như Đức, Đan Mạch, giao ước mua máy móc chế tạo từ công xưởng quân sự tại bang Connecticut, Hoa Kỳ để thành lập xưởng vũ khí Củng Huyện. Năm 1919, xưởng này chính thức đi vào sản xuất, là một trong bốn xưởng vũ khí lớn tại Trung Quốc đương thời. Năm 1938, xưởng vũ khí Củng Huyện bị máy bay Nhật Bản oanh tạc, phải ngưng hoạt động hoàn toàn. Năm 1921, Phụng hệ quân phiệt Trương Tác Lâm hạ lệnh thiết lập xưởng quân giới Phụng Thiên. Tháng 4 năm 1922, xưởng này đổi tên thành xưởng vũ khí Đông Tam Tỉnh, là xưởng vũ khí có quy mô lớn nhất toàn quốc vào đương thời. Năm 1931, xưởng chế tạo thử nghiệm thành công súng trường tự động 10 viên, song sau sự kiện ngày 18 tháng 9 năm 1931 thì bị quân Nhật chiếm lĩnh. Ngày 2 tháng 12 năm 1948, xưởng vũ khí Thẩm Dương bị Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp thu, trở thành trung tâm sản xuất súng cầm tay lớn nhất đương thời. Năm 1919, Công ty cổ phần hữu hạn quặng sắt Long Yên do chính phủ và tư nhân hợp tác được thành lập, sau đó quyết định lập xưởng luyện gang tại Thạch Cảnh Sơn Bắc Kinh Đầu năm 1922, xưởng luyện gang Thạch Cảnh Sơn đã xây dựng được 2 lò nung sắt 250 tấn, 4 lò hơi, công trình đã hoàn thành được 80%, song do thiếu vốn nên buộc phải ngừng xây dựng. Sau năm 1938, Công ty Hưng Trung do Nhật Bản khống chế đã chiếm lĩnh xưởng luyện gang Thạch Cảnh Sơn, biến nó thành căn cứ gang thép hậu phương của quân Nhật. Từ năm 1919 đến năm 1949, xưởng gang thép Thạch Cảnh Sơn sản xuất được 286.000 tấn sản phẩm. Từ năm 1931 đến năm 1936, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp Trung Quốc đạt 9,3%, tình hình kinh tê-xã hội xuất hiện xu thế phát triển sôi nổi. Giá trị sản lượng công nông nghiệp của Trung Quốc đạt mức cao nhất cho đến thời điểm đó. Thời kỳ này, ngành điện lực mỗi năm tăng trưởng 9,4%, ngành than đá đạt 7%, ngành xi măng đạt 9,6%, ngành thép đạt 40%. Trên phương diện nông nghiệp, tiến hành xây dựng nông thôn với ba chủ thể lớn là hương thôn tự trị, hợp tác xã và bình quân giáo dục, cung cấp lượng lớn nguyên vật liệu và thực vật, đồng thời bắt đầu tiếp nhận chế độ kinh tế hiện đại do thị trường điều khiển. === Cải cách tiền tệ === Sau khi thành lập, Trung Hoa Dân Quốc lập tức thi hành nghiêm ngặt cải cách kinh tế, thống nhất tiền tệ, cải cách tình trạng hỗn loạn của chế độ tiền tệ từ thời Thanh mạt. Năm 1912 và 1913, Bộ Tài chính Trung Hoa Dân Quốc từng hai lần thiết lập Ủy ban chế độ tiền tệ, thảo luận vấn đề tiền tệ của quốc gia, song không đạt kết quả. Ngày 7 tháng 2 năm 1914, chính phủ công bố "Điều lệ Quốc tệ", quy định Trung Quốc sử dụng bản vị bạc, dùng đồng bạc làm quốc tệ. Tháng 12 năm 1914 và tháng 2 năm 1915, lần lượt Tổng xưởng sản xuất tiền Thiên Tân và Xưởng sản xuất tiền Giang Nam bắt đầu đúc tiền bạc mới có giá trị 1 nguyên. Năm 1935, Chính phủ Quốc dân ban hành pháp định mới, kết thúc gần 500 năm Trung Quốc sử dụng chế độ bản vị bạc. Năm 1918, sở Giao dịch chứng khoán đầu tiên của Trung Quốc được thành lập tại Bắc Kinh. Năm 1927, Chính phủ định đô tại Nam Kinh, trung tâm phát hành công trái cũng dời theo, sở giao dịch chứng khoán Bắc Bình bị mất ưu thế, tình hình kinh doanh xấu đi. Sau khi Chiến tranh kháng Nhật bùng phát toàn diện, Sở giao dịch chứng khoán Bắc Bình ngừng làm việc vào đầu năm 1939. Chính phủ Quốc dân phát hành lượng lớn "pháp tệ", khiến Trung Quốc lâm vào siêu lạm phát, Lượng phát hành tiền tệ từ 556,9 tỷ năm 1945, năm 1946 tăng lên hơn 8,2 nghìn tỷ nguyên, năm 1948 tăng lên 660 nghìn tỷ. Năm 1947, phát hành tiền giấy mệnh giá cao nhất là 50 nghìn, trong năm 1948 đạt đến 180 triệu. Tháng 8 năm 1948, Chính phủ Quốc dân thi hành cải cách chế độ tiền tệ, sử dụng "kim viên khoán" mới phát hành để thay thế cho "pháp tệ", kết quả là trong vòng 10 tháng, mệnh giá "kim viên khoán" tăng đến 10 triệu, giảm giá trị hơn 20 nghìn lần, khiến dân chúng Đại lục tổn thất cực lớn về kinh tế, ngân hàng tỉnh Tân Cương thậm chí còn phát hành tiền giấy mệnh giá 6 tỷ. Tháng 7 năm 1949, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phát hành "ngân viên khoán" để thay thế "kim viên khoán" đã gần như mất hết giá trị. Trong khi đó, tình hình chính trị tại Đại lục có biến động, "ngân viên khoán" do đó cũng sụt giá mạnh, cuối cùng bị Nhân dân tệ do Đảng Cộng sản Trung Quốc phát hành thay thế Trong khi đó, "Đài tệ" do Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phát hành tại Đài Loan cũng sụt giá mạnh, gây nên siêu lạm phát, do đó trong tháng 6 năm 1949 Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phải phát hành "Tân Đài tệ" để thay thế. === Cơ sở hạ tầng === Năm 1933, tổng chiều dài đường điện thoại toàn quốc là trên 14.800 km, đến năm 1936 tăng lên đến hơn 48.000 km. Ngành đường sắt phát triển trên cơ sở từ thời Thanh, đồng thời tiếp tục mở rộng. Từ năm 1927 đến năm 1937, Chính phủ Quốc dân tổng cộng xây dựng 3.793 km đường sắt. Sau khi kết thúc đại chiến vào năm 1945, toàn quốc có ước tính có 30.190 km, gồm cả các đoạn được xây dựng trên lãnh thổ từng bị Nhật chiếm đóng. Năm 1928, Bộ Giao thông khởi thảo kế hoạch công lộ toàn quốc, lấy Lan Châu làm trung tâm công lộ, phân công lộ toàn quốc thành ba loại là quốc đạo, tỉnh đạo, huyện đạo, dự kiến hoàn thành trong 10 năm. Năm 1928, toàn quốc tổng cộng có 29.127 km công lộ. Chính phủ Quốc dân đưa xây dựng công lộ vào hàng chính yếu trong xây dựng kinh tế quốc gia. Tháng 5 năm 1932, Ban trù bị Ủy ban Kinh tế toàn quốc nhận nhiệm vụ giám sát xây dựng công lộ liên kết ba tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, An Huy. Đến cuối tháng 6 năm 1936, các tỉnh hoàn thành công lộ liên kết tổng cộng dài hơn 21.000 km, trên 30.000 km công lộ có thể qua lại. Từ năm 1935 đến năm 1936, xây dựng công lộ Tây An-Lan Châu ước tính dài 700 km, công lộ Bảo Kê-Hán Trung dài hơn 250 km, công lộ Hán Trung-Thất Bàn Quan dài hơn 150 km. Đến cuối năm 1936, toàn quốc tổng cộng có 108.117 km công lộ, mạng lưới công lộ Trung Quốc hoàn thành về cơ bản. Trước khi bùng phát chiến tranh kháng Nhật, Chính phủ Quốc dân xây dựng được tám mươi nghìn km công lộ, tạo điều kiện cho kinh tế Trung Quốc phát triển. === Khoa học - Kỹ thuật === Sau khi lập quốc, do tình trạng quân phiệt cát cứ, cùng với các cường quốc phương Tây cướp đoạt tài sản vật chất tại các tô giới, cộng thêm Nhật Bản xâm chiếm và Quốc-Cộng nội chiến, khoa học-kỹ thuật Trung Hoa Dân Quốc phát triển chậm chạp. Năm 1912, Chiêm Thiên Hựu mở "Hội Kỹ sư Trung Sơn" với trụ sở tại Quảng Châu, đến năm 1949 toàn quốc có tổng cộng 150 đoàn thể khoa học-kỹ thuật. Năm 1928, Chính phủ Quốc dân cho lập "Viện Nghiên cứu Trung ương", Thái Nguyên Bồi đảm nhiệm chức vụ viện trưởng đầu tiên, đồng thời lập ra "chế độ bình nghị học thuật" và "chế độ viện sĩ", tổng cộng có 81 viện sĩ. Đồng thời kỳ, "Viện Nghiên cứu Bắc Bình" và "Viện Khoa học Tây bộ Trung Quốc" và các viện khoa học địa phương khác được lập ra, một số đại học lập viện nghiên cứu. Năm 1930, Viện Nghiên cứu Trung ương lập ra các sở nghiên cứu vậtlý, hóa học, công trình, địa chất, thiên văn, đặt cơ sở cho khoa học kỹ thuật Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Trong lĩnh vực toán học, Trung Hoa Dân Quốc đạt đến trình độ quốc tế, các nhà toán học kiệt xuất phải kể đến như Trần Kiến Công, Tô Bộ Thanh, Hoa La Canh. Ngô Hữu Huấn là người tiên phong và khai sáng vật lý học cận đại Trung Quốc. Đại biểu của lĩnh vực hóa học là Hầu Đức Bảng, nhờ ông mà kỹ thuật sản xuất kiềm của Trung Quốc đứng hàng đầu thế giới. Năm 1926, ông chế tạo được natri cacbonat đầu tiên tại châu Á, lấy "hồng tam giác" làm thương hiệu, giành giải vàng tại Triển lãm thế giới Philadenphia tại Hoa Kỳ, Triển lãm thương phẩm quốc tế Thụy Sĩ. Năm 1939, Hầu Đức Bảng phát minh "cách chế kiềm liên hiệp". Trúc Khả Trinh là người tiên phong trong lĩnh vực khí tượng học Trung Quốc, sáng lập khí tượng học hiện đại Trung Quốc. Lý Tứ Quang là đại biểu cho giới địa chất học Trung Quốc, ông từng theo học tại Nhật Bản, học tập đóng thuyền, muốn đóng tàu cần có sắt thép, ông lại sang Anh học tập địa chất học nhằm tìm kiếm quặng sắt. Thập niên 1920, ông đề xuất lý luận "địa chất lực học", nhờ đó tại các địa phương phát hiện tài nguyên dầu mỏ, phủ định luận điểm Trung Quốc nghèo dầu của giới khoa học phương Tây. Trên phương diện kiến trúc học, Mao Dĩ Thăng thiết kế và kiến tạo cầu Tiền Đường Giang, là cầu hai tầng đường bộ và đường sắt đầu tiên của Trung Quốc. Lương Tư Thành, Lâm Huy Nhân kế thừa và phát triển "phong cách kiến trúc dân tộc truyền thống Trung Quốc". == Xã hội == === Nhân khẩu === Thời kỳ 1911-1936, nhân khẩu Trung Quốc tăng từ 410 triệu lên 530 triệu, mỗi năm tăng trưởng 1,03%. Mặc dù trong thời kỳ kháng chiến từng xuất hiện giảm dân số song đến cuối năm 1949 vẫn đạt 540 triệu. Từ thời kỳ Dân Quốc, mô hình nhân khẩu Trung Quốc bắt đầu chuyển biến từ thời đại truyền thống tỷ suất sinh cao, tỷ suất tử cao, tỷ suất tăng trưởng thấp, sang tỷ suất sinh cao, tỷ suất tử thấp, tỷ suất tăng trưởng cao, nguyên nhân là tiến bộ kinh tế-xã hội và y học thời kỳ Dân Quốc. Do chiến loạn nên khả năng kháng cự tai họa của xã hội giảm sút, thiên tai nhân họa gây nên lượng lớn người tử vong phi tự nhiên. === Cải cách giáo dục === Năm 1912, Chính phủ Bắc Dương công bố "Học chế Nhâm Tý-Quý Sửu", phân thành ba giai đoạn là giáo dục sơ đẳng (7 năm), giáo dục trung đẳng (4 năm) và giáo dục cao đẳng (đại học là 6-7 năm, giáo dục chuyên môn là 4 năm). Tháng 11 năm 1922, Chính phủ Bắc Dương ban hành "Học chế Nhâm Tuất", đánh dấu xác lập thể chế giáo dục hiện đại tại Trung Quốc. Thời kỳ Chính phủ Bắc Dương, chính phủ mô phỏng chế độ giáo dục của Nhật Bản, thiết lập lượng lớn trường chuyên môn và đại học đơn khoa. Sau khi Chính phủ Quốc dân Bắc phạt, chế độ giáo dục của Hoa Kỳ trở thành chủ lưu. Những năm đầu Dân Quốc, số trường Cơ Đốc giáo tại Trung Quốc đạt đến sáu nghìn, số học sinh theo học đạt ba trăm nghìn. Về sau này, do chủ nghĩa dân tộc dâng cao, Trung Quốc nổ ra phong trào ngăn chặn các trường Cơ Đốc giáo, sau khi Chính phủ Quốc dân thành lập, các trường Cơ Đốc giáo phải đăng ký với Bộ Giáo dục, không được ép buộc học chương trình tôn giáo, hay cưỡng chế tín ngưỡng và lễ bái tôn giáo. Đến thời kỳ năm 1948, ngoại trừ Nội-Ngoại Mông Cổ, Hắc Long Giang, Ninh Hạ, Hà Bắc, Thanh Hải, Tây Tạng, Tân Cương, các tỉnh thành khác đều có một đại học tổng hợp quốc lập. Sau sự kiện 18 tháng 9 năm 1931, khu vực Đông Bắc thực thi giáo dục Nhật Bản hóa: tuyệt đại bộ phận giáo viên là người Nhật Bản, dùng tiếng Nhật giảng dạy, các trường trung tiểu học mỗi ngày phải bái vọng Hoàng đế Mãn Châu Quốc và Thiên hoàng Nhật Bản, học sinh phải đọc thuộc lòng bằng tiếng Nhật "Quốc dân huấn". Năm 1918, Bộ Giáo dục công bố một phương án chữ cái chú âm tiếng Hán gồm 37 chữ cái, dù đây không phải là một phương án latinh hóa trực tiếp, song phương pháp dùng dấu hiệu để biểu thị thanh điệu được duy trì đến phương án bính âm tiếng Hán hiện nay. Năm 1928, Bộ Giáo dục công bố phương án bính âm latinh hóa thứ nhất-chữ La Mã Quốc ngữ, đặc điểm là dùng chữ cái để biểu thị thanh điệu。Năm 1935, Bộ Giáo dục công bố "bảng chữ giản thể phê chuẩn lần thứ nhất", tổng cộng có 324 chữ. Tuy nhiên, lần giản hóa này gây ra náo động lớn, Viện trưởng Khảo thí viện Đới Quý Đào đặc biệt phản đối. Tháng 2 năm 1936, Bộ Giáo dục theo mệnh lệnh của Hành chính viện, ra lệnh tạm hoãn thi hành phương án chữ giản thể === Hoạt động xã hội === Sau Cách mạng Tân Hợi, với việc chế độ chuyên chế sụp đổ, báo chí tư nhân tại Trung Quốc bước vào một thời kỳ phát triển thịnh vượng. Năm 1913, toàn quốc có hơn 500 tờ báo, mức độ tự do ngôn luận tương đối phát triển. Sau khi Tống Giáo Nhân bị sát hại vào năm 1913, do giới tin tức tường thuật sâu sắc khiến Chính phủ Bắc Dương rất bất mãn. Do đó, Viên Thế Khải tiến hành cấm chỉ và chỉnh đốn ngành báo toàn quốc, khiến lượng lớn ký giả gặp họa, ngành báo tiêu điều, sự kiện được gọi là "Quý Sửu báo tai". Trước khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng phát vào năm 1941, lần lượt phát hành tại Trùng Khánh hơn 200 báo dân doanh, thông tấn xã, trừ "Tân Hoa nhật báo" và "Tạp chí Quần chúng" của Đảng Cộng sản, còn có "Quốc dân công báo", "Thời sự tân báo", Tây Nam nhật báo" cùng vô số báo chí, không chỉ được tự do trong các vấn đề kinh tế và dân sinh, mà trong vấn đề chính trị cũng không chịu hạn chế. Thậm chí đến sau khi nội chiến bùng phát vào nửa cuối năm 1946, do trên danh nghĩa đang tiến hành đàm phán nên Chính phủ Quốc dân vẫn cho phép "Tân Hoa nhật báo" phát hành tại khu vực họ kiểm soát. Phong trào xã hội trong lịch sử cận đại Trung Quốc phần nhiều bắt nguồn từ tình cảm chủ nghĩa dân tộc. Phong trào chính trị trọng yếu thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc tại Đại lục là Phong trào Ngũ Tứ năm 1919 do thanh niên học sinh làm chủ nhằm kháng nghị Chính phủ Bắc Dương yếu kém về ngoại giao, một trong những khẩu hiệu nổi danh nhất là "ngoại tranh quốc quyền, nội trừng quốc tặc". Ngày 30 tháng 5 năm 1925, tại các nơi như Thanh Đảo, Thượng Hải bùng phát Phong trào Ngũ Tạp kháng nghị xưởng bông sợi Nhật Bản sa thải và hành hung phi pháp công nhân, có 13 người tử vong do bị trấn áp. Ngày 18 tháng 3 năm 1926, Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng cùng phát động phong trào phản đế tại Bắc Kinh, yêu cầu phế trừ tất cả điều ước bất bình đẳng, bị Chính phủ Bắc Dương trấn áp bằng vũ lực. Ngày 9 tháng 12 năm 1935, Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua "Bắc Bình học liên" phát động Phong trào 9 tháng 12, yêu cầu "đình chỉ nội chiến, nhất trí kháng Nhật" Tháng 2 năm 1946, học sinh Trung Quốc kháng nghị Liên Xô xâm phạm chủ quyền Trung Quốc, gọi là Phong trào phản Xô. Các phong trào cải cách trong thời kỳ này có phong trào cải tạo hí kịch Trung Quốc năm 1926 do phần tử tri thức phát động, yêu cầu phát triển hí kịch mang đặc sắc dân tộc Trung Quốc. Từ năm 1934 đến năm 1949 Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phát động phong trào giáo dục công dân, đề xướng kỷ luật, phẩm đức, trật tự, ngăn nắp. Hội Hiệp tiến Thể dục Toàn quốc Trung Hoa được thành lập vào ngày 24 tháng 8 năm 1924, năm 1931 được Ủy ban Olympic Quốc tế thừa nhận là Ủy ban Olympic Trung Quốc. Năm 1932, vận động viên người Đông Bắc Lưu Trường Xuân cự tuyệt đại diện cho Mãn Châu Quốc, mà đại diện cho Trung Hoa Dân Quốc tham gia Thế vận hội, cũng là lần đầu tiên Trung Quốc tham gia Thế vận hội. Đến Thế vận hội 1936, Trung Hoa Dân Quốc chính thức tổ chức đội đại biểu quy mô lớn sang Berlin, Đức thi đấu 7 môn. Trong Thế vận hội 1948 tại Luân Đôn, đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia thi đấu 5 môn. == Văn hóa == Phong trào Tân văn hóa nảy sinh vào những năm đầu Dân Quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa Trung Quốc, nó đánh dấu giới tri thức Trung Quốc phá vỡ chủ nghĩa Trung Quốc trung tâm, phủ nhận giá trị văn hóa tự thân, đồng nhất văn hóa phương Tây với chế độ dân chủ cộng hòa, hướng tới chủ nghĩa châu Âu trung tâm. Văn hóa truyền thống Trung Quốc phải chịu sự cạnh tranh chưa từng có với Tây học. Do ảnh hưởng của Phong trào Tân văn hóa, phái cấp tiến mà đại biểu là Trần Độc Tú đề xướng dân chủ và khoa học, phê phán văn hóa truyền thống, truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Marx; phái ôn hòa với đại biểu là Hồ Thích lại phản đối chủ nghĩa Marx, ủng hộ phong trào Bạch thoại văn, chủ trương lấy chủ nghĩa thực dụng thay thế học thuyết Nho gia. Đầu năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc ban bố một loạt lệnh cải cách văn hóa như cấm chỉ bó chân, phế bỏ nghi thức quỳ bái, đình chỉ trường học giáo dục đọc kinh. Đến cuối thập niên 1910, các tác gia và học giả phát động một phong trào cải cách văn học và ngữ văn, phản đối văn ngôn văn, đề xướng Bạch thoại văn. Hồ Thích phát biểu về cải cách văn học trong "Tân thanh niên" số tháng 1 năm 1917, đề xuất tám chủ trương như không mô phỏng cổ nhân, không tránh tục từ tục ngữ... đồng thời nhận định văn học Bạch thoại là dòng chính của văn học Trung Quốc Phong trào Tân văn học phê phán triệt để văn học phong kiến, khai sáng thế hệ văn học mới, xúc tiến hình thành hội nghiên cứu văn học, sáng tạo xã và các đoàn thể tân văn học khác, đột ngột xuất hiện lượng lớn tiểu thuyết gia, hí kịch gia, thi nhân, tạp văn gia kiệt xuất. Tháng 5 năm 1942, Mao Trạch Đông tại Hội tọa đàm văn nghệ Diên An có phát biểu đề xướng văn nghệ can dự chính trị, vì công-nông-binh phục vụ, có ảnh hưởng sâu rộng đối với phát triển văn nghệ sau này. Thập niên Diên An 1940, đại biểu của văn học cộng sản là "Tiểu Nhị Hắc kết hôn" của Triệu Thụ Lý, "Thái dương chiếu tại Tang Can hà thượng" của Đinh Linh, "Bạo phong sậu vũ" của Chu Lập Ba, "Bạch mao nữ" của Hạ Kính Chi và Đinh Nghị Thời kỳ Dân Quốc, các tài năng nghệ thuật liên tục xuất hiện. Thời kỳ đầu Dân Quốc, trong lĩnh vực âm nhạc chủ yếu là đề tài thể hiện kháng cự Nhật Bản xâm lược, như "Nghĩa dũng quân tiến hành khúc" của Điền Hán, Niếp Nhĩ; "Hoàng Hà đại hợp xướng" của Tiển Tinh Hải. Họa sĩ tranh thủy mặc nổi tiếng thời kỳ đầu Dân Quốc Từ Bi Hồng giỏi về vẽ ngựa, kỹ thuật dung hợp từ Trung Quốc và phương Tây; Tề Bạch Thạch thì dung hợp tranh thủy mặc truyền thống và hội họa dân gian, giỏi về vẽ tôm, hoa, chim, cá. Từ thập niên 1920 đến thập niên 1940, tổng cộng có 18 bộ phim trong nước đi ra thế giới, trong đó "Ngư quang khúc" của đạo diễn nổi tiếng Thái Sở Sinh năm 1934 được giải thưởng tại Liên hoan Điện ảnh Quốc tế Moskva. Ngôi sao điện ảnh Trung Quốc thập niên 1930 có Hồ Điệp, Nguyễn Linh Ngọc, Kim Diễm, Trần Yến Yến, Vương Nhân Mỹ và những người khác.. Trung Hoa Dân Quốc sau khi thành lập đã phế bỏ niên hiệu Tuyên Thống, lấy Dân Quốc làm kỉ niên quốc gia. Phương thức kỷ niên này lấy năm 1912 theo Tây lịch, tức năm lập quốc là năm đầu tiên, ngày tháng và quy tắc nhuận đồng nhất với Tây lịch. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Đại lục dừng sử dụng kỷ niên Dân Quốc, chỉ sử dụng năm theo Tây lịch. Tuy nhiên, khu vực Đài Loan do Trung Hoa Dân Quốc khống chế tiếp tục sử dụng kỷ niên Dân Quốc cho đến nay. == Tham khảo ==
nai sừng tấm.txt
Nai sừng tấm (Danh pháp khoa học: Alces) là một chi động vật có vú trong họ Hươu nai, bộ Guốc chẵn. Chi này được Gray miêu tả năm 1821. Loài điển hình của chi này là Alces alces. Hai loài nai sừng tấm là những loài đang tồn tại lớn nhất thuộc họ Hươu nai. Trung bình, một con trưởng thành cao 1.8–2.1 m (6–7 ft) tính tại vai. Con đực có khối lượng 380–720 kg (850–1580 pound) và con cái nặng 270–360 kg (600–800 pound). Phân loài có kích thước lớn nhất phân bố tại Alaska (Nai sừng tấm Alaska- A. a. gigas), cao trên 2.1 m (7 ft) tính tại vai, và nặng trung bình 634.5 kg (1,396 lbs) ở con đực và 478 kg (1,052 lbs) ở con cái. Sau bò rừng bizon, nai sừng tấm châu Âu là loài động vật trên cạn lớn thứ hai ở cả Bắc Mỹ và châu Âu. Vòng đời trung bình của một cá thể từ 15–25 năm. == Các loài == Chi này gồm các loài: Nai sừng tấm Á-Âu - Alces alces: Phân bố ở lục địa Á-Âu Alces alces alces (phân loài chỉ định) Alces a. buturlini: Nai sừng tấm Chukotka hay nai sừng tấm Đông Siberi. Alces a. cameloides: Nai sừng tấm Ussuri hay nai sừng tấm Amur Alces a. caucasicus: Nai sừng tấm Caucasus (đã tuyệt chủng) Alces a. pfizenmayeri: Nai sừng tấm Yakutia hay Nai sừng tấm Lena hay nai sừng tấm Trung Siberia. Nai sừng tấm Bắc Mỹ - Alces americanus: Phân bố ở Bắc Mỹ Alces a. americanus: Nai sừng tấm miền đông Alces a. andersoni: Nai sừng tấm miền tây Alces a. gigas: Nai sừng tấm Alaska Alces a. shirasi: Nai sừng tấm Shiras == Chú thích == == Tham khảo == Alces, a journal devoted to the biology and management of moose (Alces alces) DuTemple, Lesley A. (ngày 1 tháng 2 năm 2000). North American Moose. Lerner Publications. ISBN 1575054264, 9781575054261 . Geist, Valerius; Michael H. Francis (tháng 11 năm 1999). Moose: Behavior, Ecology, Conservation. Voyageur Press (MN). ISBN 0896584224. Promack, Jennie; Thomas J. Sanker (ngày 1 tháng 6 năm 1992). Seasons of the Moose. Gibbs Smith. ISBN 0879054557, 9780879054557 . Strong, Paul (tháng 5 năm 1998). Wild Moose Country . Cowles Creative Publishing. ISBN 155971638X. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) == Liên kết ngoài == Alces alces (TSN 180703) tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS). A moose in the National Nature Park "Losinyj Ostrov" (Elk's Island) in Russia “North American Mammals: Alces alces”. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2009. http://www.museevirtuel.ca/pm.php?id=record_detail&fl=0&lg=Francais&ex=00000067&rd=170539 http://www.archivesalberta.org/odd/moose.htm http://www.chezmaya.com/insolite/moose.htm http://www.smouse.force9.co.uk/frindex.htm
tử hình.txt
Tử hình, là việc hành quyết một người theo một quy trình luật pháp như một sự trừng phạt cho một hành động tội phạm. Nó được xem là giải pháp ngăn cản tội ác hữu hiệu nhất. Tử hình hầu như đã được thực hiện ở mọi xã hội, và ví thể có thể được coi là một văn hoá toàn cầu hay gần như vậy, ngoại trừ những xã hội có tôn giáo quốc gia cấm hình phạt đó. Trong thế kỷ 18 ở châu Âu các nhà nhân bản không chấp nhận quyền này của nhà cầm quyền; đòi bãi bỏ án tử hình. Ngày nay, án tử hình về mặt đạo đức, hình sự và thực tế là một vấn đề tranh cãi sôi nổi ở nhiều nước và quốc gia, và các quan điểm có thể khác biệt bên trong một vùng văn hoá hay ý thức hệ duy nhất. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua, trong năm 2007, 2008, 2010, 2012 và năm 2014, các nghị quyết không ràng buộc kêu gọi đình chỉ tử hình toàn cầu, nhằm cuối cùng bãi bỏ. Tại các quốc gia thành viên EU, theo Hiệp ước Lisbon, Điều 2 của Hiến chương các Quyền Căn bản của Liên minh châu Âu cấm hình phạt tử hình. Ngoài ra, hội đồng châu Âu, mà có 47 quốc gia thành viên, cấm các quốc gia thành viên áp dụng luật tử hình. Ngược lại, nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore... vẫn sẽ duy trì án tử hình với mục đích tạo hình phạt đủ sức răn đe với các loại tội phạm nghiêm trọng, nhằm đảm bảo an ninh chung cho xã hội. Hơn 65% dân số thế giới sống tại các quốc gia nơi có án tử hình, và bốn quốc gia đông dân nhất thế giới (Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Indonesia) vẫn đang áp dụng hình phạt tử hình và dường như sẽ không xoá bỏ nó trong một tương lai gần. Tính đến cuối năm 2015, 65 quốc vẫn còn luật tử hình, 103 quốc gia đã hoàn toàn bãi bỏ luật này, 6 nước bãi bỏ cho những tội thông thường (chỉ tuyên tử hình với những tội đặc biệt như tội ác chiến tranh), và 30 bãi bỏ trên thực tế. == Thuật ngữ == Chữ "tử hình" có nguồn gốc từ Hán Việt 死刑, có nghĩa là hình phạt chết. == Một số cách tử hình == Xử bắn Đóng đinh Đốt (thường cho "phù thủy") Đun sôi Chặt đầu Chôn sống Làm ngạt thở (như treo cổ hay bóp cổ) Ghế điện Ném đá Phanh thây Phòng hơi ngạt Tiêm thuốc độc Treo cổ Thả trôi sông Tùng xẻo Voi giày Ngũ mã phanh thây Xẻ đôi người (theo chiều dọc) Lột da Hổ, Báo ăn thịt Cung hình Tru di tam tộc Tru di cửu tộc == Án tử hình trên thế giới == Tính đến cuối năm 2015, 65 quốc vẫn còn luật tử hình, 103 quốc gia đã hoàn toàn bãi bỏ luật này, 6 cho những tội thông thường (chỉ duy trì trong những trường hợp đặc biệt như tội ác chiến tranh), và 30 bãi bỏ trên thực tế. Trong một số các quốc gia có án tử hình, nó chỉ được dùng cho tội giết người và tội liên quan đến chiến tranh. Trong một số quốc gia khác, như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Indonesia, Malaysia, Singapore, Ả Rập Saudi, Việt Nam... nó còn được áp dụng cho các tội bất bạo động như buôn lậu ma túy và tham nhũng... Nói chung, việc quy định án tử hình dành cho tội danh nào tùy thuộc vào nhu cầu an ninh và mức nghiêm trọng của các loại tội danh tại quốc gia đó. === Tranh luận === Tổ chức Ân xá quốc tế khuyến khích các quốc gia bãi bỏ án tử hình, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua, trong năm 2007, 2008, 2010, 2012 và năm 2014, các nghị quyết không ràng buộc kêu gọi đình chỉ tử hình toàn cầu, nhằm cuối cùng bãi bỏ. Tại các quốc gia thành viên EU, theo Hiệp ước Lisbon, Điều 2 của Hiến chương các Quyền Căn bản của Liên minh châu Âu cấm hình phạt tử hình. Ngoài ra, hội đồng châu Âu, mà có 47 quốc gia thành viên, cấm các quốc gia thành viên áp dụng luật tử hình. Ngược lại, nhiều quốc gia tuyên bố sẽ duy trì án tử hình với mục đích tạo hình phạt đủ sức răn đe với các loại tội phạm nghiêm trọng, nhằm đảm bảo an ninh chung cho xã hội. Lập luận này dựa trên các phân tích sau: Nếu dựa vào Điều 3 "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" (rằng "Mọi người đều có quyền sống, tự do và được bảo vệ an toàn") để diễn giải rằng việc sử dụng hình phạt tử hình là vi phạm nhân quyền thì diễn giải đó là vô lý. Bởi vì, nếu tử hình một ai đó tức là "vi phạm nhân quyền" và phải xóa bỏ bản án này, thì đồng thời chính phủ các nước cũng phải xóa bỏ các trại giam vì khi giam giữ một ai đó cũng là sự vi phạm "quyền tự do". Mặt khác, khoản 2 Điều 6 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: "Ở những quốc gia chưa xóa bỏ hình phạt tử hình thì chỉ được phép áp dụng đối với những tội nghiêm trọng nhất…”. Điều này cho thấy, công ước thừa nhận ở những quốc gia khác nhau, tùy theo điều kiện cụ thể mà có thể duy trì hình phạt tử hình "với những tội nghiêm trọng nhất", và thế nào là "những tội nghiêm trọng nhất" cũng không có khái niệm cụ thể mà đó là nội bộ mỗi quốc gia tự quyết định. Tính nhân đạo của pháp luật phải dung hòa lợi ích của xã hội và lợi ích của người phạm tội. Việc đề cao lợi ích của người phạm tội mà quên đi lợi ích của toàn xã hội không thể xem là thỏa mãn nguyên tắc nhân đạo của pháp luật. Một người phạm tội rất nghiêm trọng, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng và còn tiếp tục đe dọa đến sự an toàn của xã hội, thì việc nhân đạo đối với tội phạm chính là vô nhân đạo đối với toàn thể cộng đồng xã hội. === Tại Việt Nam === Hiện nay, tại Việt Nam Nghị định 82, có hiệu lực từ ngày 1/11/2011, bãi bỏ hình thức xử bắn mà thay bằng tiêm thuốc độc. Tuy nhiên nghị định này quy định rõ ba loại thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình, nhưng đều là thuốc mà Việt Nam chưa sản xuất được. Các nước phương Tây lại từ chối bán thuốc độc cho Việt Nam khi biết mục đích là để thi hành án tử hình. Vì vậy, Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo sửa đổi để có cơ sở pháp lý cho việc tự sản xuất thuốc độc. Tại Việt Nam, án tử hình chỉ áp dụng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, gồm: Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội giết người, tội hiếp dâm, tội phạm về ma túy, tội tham nhũng và tội ác chiến tranh. Nếu được ân giảm thì chuyển thành tù không thời hạn (chung thân). ==== Nhận xét ==== Nhà chính trị học Nga Vladimir Kolotov, Trưởng bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông Đại học Tổng hợp St. Petersburg, cho rằng phương Tây đang lợi dụng việc "bãi bỏ án tử hình" để can thiệp vào nội bộ các nước, nhằm làm suy yếu luật pháp và an ninh các nước đó. Ông ủng hộ việc Nhà nước Việt Nam duy trì án tử hình với các loại tội phạm nghiêm trọng: "Tại Việt Nam, pháp luật nhà nước nghiêm khắc đang chứng minh tính hiệu quả. Không có tội phạm có tổ chức, không có khủng bố. Buôn bán ma túy tuy hiện diện ở Việt Nam như ở tất cả các nước Đông Nam Á, nhưng không có quy mô khổng lồ, ví dụ như Philippines là nơi gần 1/3 dân số là người nghiện. Nhưng khi tổng thống Philippines kiên quyết tuyên chiến với những kẻ buôn lậu ma túy thì phương Tây lại hô hào "bảo vệ quyền con người"... Giờ đây, người Anh, người Úc, người Mỹ đang lo lắng cho "quyền con người" ở Việt Nam, đặc biệt là quyền của những kẻ buôn ma túy thường bị kết án tử hình. Cần nhắc rằng, chính người Anh đã đem nha phiến vào Trung Quốc và biến quốc gia này thành con nghiện khổng lồ, còn sản xuất ma túy ở Afghanistan đã tăng gấp nhiều lần sau khi người Mỹ đem quân đánh đổ chính quyền Taliban tại đây... Việt Nam cần tiến hành chính sách bảo vệ an ninh quốc gia và trừng phạt nghiêm khắc những tội phạm nghiêm trọng theo Luật Hình sự được Quốc hội thông qua. Chấp nhận để phương Tây dẫn dắt và bãi bỏ án tử hình, Việt Nam lập tức sẽ đối đầu với sự gia tăng tổn thất sinh mạng do tội phạm hình sự, làn sóng tội phạm ma túy và tham nhũng, là thực tế mà chúng ta đã chứng kiến ở nhiều quốc gia và đáng tiếc là cả ở Nga" == Những quốc gia không còn áp dụng hình thức tử hình == Hiện nay có những nước như sau không còn áp dụng hình thức tử hình: + Thổ Nhĩ Kỳ (sắp áp dụng lại hình thức tử hình). == Những quốc gia còn áp dụng hình thức tử hình == Hiện nay trên thế giới có 94/193 quốc gia là thành viên của Liên Hiệp Quốc vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, trong đó có 7 quốc gia chỉ xử tử hình trong các trường hợp đặc biệt (tội phản quốc, thảm sát hàng loạt...): Kazakhstan, Israel, El Salvador, Brazil, Chile, Peru và Fiji. Nhiều quốc gia trong số này trong một khoảng thời gian khá lâu chưa có một vụ xử tử hình nào được thi hành, như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Israel... Quốc gia có số vụ tử hình đứng đầu thế giới là Trung Quốc, Hoa Kỳ... Trong đó có 11 quốc gia vẫn tồn tại hình phạt treo cổ song song với xử bắn: Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan, Iran, Iraq, Liban, Israel, Jordan và Ai Cập. Có 6 quốc gia áp dụng hình thức tiêm thuốc độc thay cho xử bắn: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan (không phải thành viên của Liên Hiệp Quốc), Hoa Kỳ và Guatemala. Một số bang tại Hoa Kỳ cho tù nhân được chọn giữa hai hình thức tử hình: ghế điện hay tiêm thuốc độc === Châu Đại Dương === Tonga Nauru Papua New Guinea Samoa thuộc Mỹ Guam Quần đảo Bắc Mariana Fiji (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) === Châu Âu === Belarus === Châu Phi === Ai Cập Libya Tunisia Algeria Maroc Sudan Lesotho Swaziland Botswana Mauritania Niger Mali Nigeria Gambia Guinea Sierra Leone Liberia Burkina Faso Ghana Chad Cộng hòa Trung Phi Cameroon Guinea Xích Đạo Cộng hòa Dân chủ Congo Cộng hòa Congo Ethiopia Nam Sudan Eritrea Somalia Somaliland Uganda Comoros Kenya Tanzania Malawi Zambia Zimbabwe === Châu Á === Việt Nam Lào Thái Lan Myanmar Malaysia Singapore Indonesia Brunei Trung Quốc Đài Loan Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Hàn Quốc Nhật Bản Ấn Độ Pakistan Bangladesh Sri Lanka Maldives Afghanistan Tajikistan Kazakhstan (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) Iran Iraq Ả Rập Saudi Kuwait Bahrain Oman Qatar Yemen Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất Syria Jordan Palestine Lebanon Israel (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) === Châu Mỹ === Hoa Kỳ Belize Guatemala El Salvador (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) Guyana Suriname Brasil (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) Peru (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) Chile (Tử hình trong một số trường hợp đặc biệt) Cuba Jamaica Bahamas Quần đảo Turks và Caicos Montserrat Quần đảo Virgin thuộc Mỹ Quần đảo Virgin thuộc Anh Saint Barthélemy Dominica Sint Maarten Saint Martin Saint Kitts và Nevis Saint Vincent và Grenadines Guadeloupe Martinique Anguilla Barbados Trinidad và Tobago Grenada == Tường thuật 2017 == Tổ chức Ân xá Quốc tế tường thuật, năm 2016 1032 vụ tử hình được ghi nhận nhưng cho là con số thực sự sẽ cao hơn nhiều, con số này giảm 37% so với năm trước. Benin và Nauru hủy bỏ luật tử hình. Tổng cộng 141 nước đã hủy bỏ luật tử hình hay không thi hành nó nữa. Việt Nam theo Bộ Công an từ tháng 8 năm 2013 đến 30 tháng 6 năm 2016 có 429 người bị xử tử hình, và như vậy trở thành nước xử tử hình nhiều thứ 3 sau Trung Quốc và Iran. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Có nên giữ án tử hình?: BBC Việt ngữ Tử hình tại Từ điển bách khoa Việt Nam Chương 26: Thi hành hình phạt tử hình Luật số 19/2003/QH11 của Quốc hội: Bộ luật Tố tụng Hình sự, ban hành ngày 10/12/2003
đại gia gatsby.txt
Đại gia Gatsby hay Gatsby vĩ đại (nhan đề gốc tiếng Anh: The Great Gatsby) là một kiệt tác của nhà văn F. Scott Fitzgerald người Mỹ, được xuất bản lần đầu vào 10 tháng 4 năm 1925. Tác phẩm được đặt trong bối cảnh của vùng Long Island ở Mỹ trong mùa hè năm 1922. Tiểu thuyết này viết về thời kỳ sống của chính tác giả. Sau cú sốc và hỗn loạn của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Mỹ bước vào thời kỳ thịnh vượng chưa từng thấy trong những năm 1920 do sự cất cánh của nền kinh tế. Cũng trong thời gian này, Luật cấm buôn bán và sản xuất rượu được ban hành, làm tăng lên các tội phạm có tổ chức. Mặc dù Fitzgerald, giống như Nick Carraway trong tác phẩm của mình, tôn sùng sự giàu có, nhưng ông không thấy thoải mái với xã hội coi trọng vật chất quá mức và đạo đức lại không đi cùng với nó. Đại gia Gatsby không được ngưỡng mộ trong lần xuất bản đầu tiên, chỉ bán được ít hơn 25.000 cuốn trong suốt 15 năm khi Fitzgerald còn sống. Mặc dù nó đã được chỉnh sửa thành kịch và đưa lên phim ảnh của Hollywood trong năm 1925, nhưng nó hầu như bị lãng quên trong thời kỳ Đại suy thoái và Chiến tranh thế giới lần II. Sau đó, tác phẩm được xuất bản lại vào năm 1945 và năm 1953, lần này tác phẩm nhanh chóng có được số lượng độc giả rộng rãi. Hiện nay nó được coi là một trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của người Mỹ. Năm 2007, trong một cuộc bầu chọn 10 tác phẩm vĩ đại nhất của mọi thời đại do tạp chí Time tổ chức khảo sát lấy ý kiến của 125 nhà văn nổi tiếng đương thời, gồm các tên tuổi lớn như Franzen, Mailer, Wallace, Wolfe, Chabon, Lethem, King, Đại gia Gatsby được chọn vào top 10 kiệt tác văn chương vĩ đại nhất mọi thời đại.. Kiệt tác này cũng được đưa vào giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông và các khóa giảng về Văn học Mỹ tại các trường đại học ở nhiều nước trên thế giới. == Tóm tắt nội dung == Câu chuyện được kể qua hồi ức của Nick Carraway về sự việc xảy ra năm 1922. Nick tốt nghiệp đại học Yale và từng tham gia trong Thế chiến I, hiện đang làm nghề kinh doanh trái phiếu tại New York. Nick mới chuyển đến thuê nhà tại West Egg, cạnh một dinh thự hoành tráng do Jay Gatsby làm chủ. Anh này là một triệu phú bí ẩn thường xuyên tổ chức các bữa tiệc cho quan khách nhưng bản thân mình lại không tham gia cùng họ. Một lần nọ Nick được mời đến ăn tối ở East Egg cùng gia đình người chị họ Daisy và chồng, Tom Buchanan, cũng là người quen biết của Nick thời đại học. Họ giới thiệu Nick với cô Jordan Baker, một golf thủ trẻ thành công, và hai người bắt đầu mối quan hệ hẹn hò. Jordan cũng tiết lộ cho Nick biết Tom có cô nhân tình tên Myrtle Wilson, dù cô này đã có gia đình. Vợ chồng Wilson mở một trạm xăng ở vùng "valley of ashes", khu vực khá hẻo lánh của tầng lớp lao động. Một dịp khác, Nick đến căn hộ riêng của Tom và Myrtle tại New York để tham gia bữa tiệc nhỏ, tại đây đã xảy ra trận cãi cọ liên quan đến Daisy, Tom và Myrtle xung đột và kết cuộc là Tom đấm vỡ mũi Myrtle. Cũng mùa hè năm đó, Nick nhận được lời mời dự tiệc từ Gatsby, trong bữa tiệc này Gatsby đã thổ lộ với Jordan Baker một bí mật mà sau đó Nick biết được rằng Gatsby đã đem lòng yêu Daisy (Buchanan) từ lần đầu tiên gặp gỡ trong thời kỳ Gatsby đi lính. Tuy nhiên thuở đó Gatsby chỉ là anh chàng nhà quê tay trắng, không có điều kiện tài chính để lo cho cô. Gatsby đã quyết tâm bằng mọi cách làm giàu hòng lấy được Daisy. Gatsby liên tục tổ chức tiệc tùng với hy vọng sẽ được Daisy chú ý đến nhưng không thành công. Sau đó, Gatsby lên một kế hoạch là nhờ Nick mời Daisy đến nhà Nick dự một bữa tiệc trà nhỏ mà không tiết lộ cho ai biết là Gatsby sẽ có mặt. Đúng như dự tính, Gatsby được tái ngộ với người trong mộng, anh cho Daisy nhìn thấy gia sản đồ sộ của mình, và sau phút bỡ ngỡ ban đầu hai người đã nhanh chóng vun đắp tình cảm. Nick và Gatsby dần dần trở nên thân thiết hơn, qua đó anh biết được nhiều chuyện đời tư của Gatsby. Vốn tên là James Gatz, xuất thân trong gia đình nông dân, cảnh sống bấp bênh. Lên 17 tuổi James Gatz đổi tên thành Jay Gatsby và cũng trong thời gian này Gatsby gặp được Dan Cody, người dẫn dắt Gatsby thấy được tiềm năng, định hình tương lai và quyết tâm làm nên sự nghiệp cho chính mình. Từ đó Gatsby mới có được ngày hôm nay. Một dịp khác, vợ chồng Daisy - Tom đến nhà Gatsby dự tiệc. Tom với bản tính háo sắc, đi tán tỉnh các cô khác, trong khi đó Gatsby và Daisy dắt nhau vào sân nhà Nick để có khoảng thời gian riêng tư bên nhau, Nick giữ vai trò canh cửa cho hai người. Sau đó Nick biết được tâm tư Gatsby, anh ta quyết tâm đoạt lại quá khứ có Daisy vì cả cuộc đời Gatsby đi gầy dựng cơ ngơi, gia sản này cũng vì để có được người đẹp. Đối với Gatsby đó là cả lý tưởng sống. Vào một ngày hè định mệnh, Nick cùng Gatsby đến East Egg dự tiệc tại cơ ngơi nhà Buchanan. Lúc này Tom đã có hoài nghi về tình cảm giữa Gatsby và vợ mình. Vì trời quá nóng bức, Daisy đề nghị cả nhóm lái xe vào thành phố nghỉ mát. Thế là Gatsby và Daisy đi chung một xe; Nick, Jordan và Tom một xe. Trên đường đi mọi người ghé đổ xăng tại trạm xăng vợ chồng Wilson và được biết Wilson đã phát hiện ra vợ mình ngoại tình với ai đó (chứ không biết đó là Tom) nên đang lên kế hoạch chuyển nhà đi xa. Tình thế này đẩy Tom vào hoàn cảnh hụt hẫng vì sắp mất cả vợ lẫn nhân tình. Cả nhóm đến khách sạn - nhà hàng Plaza ăn và uống rượu thỏa thuê. Tom phát hiện ra mối quan hệ thân thiết quá mức giữa đôi Daisy - Gatsby, anh ta lồng lộn lên và hằn học cho Daisy biết Gatsby giàu lên nhờ buôn lậu và bao phi vụ mờ ám khác, còn Tom thuộc dòng dõi Buchanan là tầng lớp thượng lưu với tài sản dồi dào từ bao đời nay. Anh ta ra lệnh mọi người lái xe về nhà để trước mặt mọi người anh ta sẽ dùng gia sản kếch sù của mình mà giữ lại Daisy. Trên đường về, Nick, Tom và Jordan (đi chung xe) phát hiện có vụ tai nạn ngay trạm xăng nhà Myrtle Wilson, cả ba người đến xem xét thì phát hiện ra Myrtle đã chết vì xe tông, mà xe đó chính là xe của Gatsby. Về đến East Egg, qua vài câu hỏi, Nick biết được người cầm tay lái tông vào Myrtle chính là Daisy chứ không phải Gatsby nhưng Gatsby vẫn khăng khăng nhận hết lỗi về phía mình. Sau vụ tai nạn, George Wilson, chồng Myrtle, đã gặp Tom chất vấn, sau khi biết được người ngồi trong chiếc xe gây tai nạn là Gatsby thì anh ta tức tốc đến dinh thự nhà Gatsby, giết Gatsby và tự sát. Sau thảm họa đó, đám tang của Gatsby chỉ có mình Nick lo liệu. Trong buổi chôn cất chỉ có vỏn vẹn Nick, cha Gatsby, mấy gia nhân và cha nhà thờ. == Ý nghĩa == Tiểu thuyết Đại gia Gatsby của F. Scott Fitzgerald ghi lại tâm trạng mất mát, chán chường, chiều hướng của những giấc mơ vàng của tuổi trẻ bị tan vỡ trong thất bại ở "thời đại nhạc Jazz". Với giọng văn mỉa mai, trào lộng, ý nghĩa tinh tế, Fitzgerald đã thể hiện những suy ngẫm, những vấn đề của con người và thời đại mình. == Bản dịch tiếng Việt == Tiểu thuyết The Great Gatsby đã được Hoàng Cường dịch sang tiếng Việt với nhan đề Gatsby vĩ đại và được Nhà xuất bản Tác phẩm mới xuất bản năm 1985. Một bản dịch khác được Trịnh Lữ dịch với nhan đề Đại gia Gatsby do Nhà xuất bản Hội nhà văn và công ty Nhã Nam xuất bản năm 2009. Nói về tựa đề bản dịch mới này, dịch giả Trịnh Lữ cho rằng "Gatsby chỉ là đại gia. Người tạo ra Gastby mới thực sự vĩ đại." == Phim chuyển thể == The Great Gatsby, do Herbert Brenon đạo diễn. Đây là một phim câm chuyển thể từ kịch bản sân khấu; dàn diễn viên gồm Warner Baxter, Lois Wilson và William Powell. Các đánh giá cho rằng nó có lẽ là bản chuyển thể trung thành với nguyên tác tiểu thuyết nhất, tuy nhiên người ta chỉ tìm thấy trailer của phim này tại National Archives The Great Gatsby, do Elliott Nugent đạo diễn – với các diễn viên Alan Ladd, Betty Field và Shelley Winters The Great Gatsby, do Jack Clayton đạo diễn. Đây là bản nổi tiếng nhất, với dàn diễn viên gồm Sam Waterston trong vai người dẫn truyện Nick Carraway, Mia Farrow trong vai Daisy Buchanan và Robert Redford trong vai Gatsby; biên kịch là Francis Ford Coppola. The Great Gatsby, do Robert Markowitz đạo diễn. Đây là phim dành cho truyền hình, với các diễn viên Toby Stephens, Paul Rudd và Mira Sorvino. G, phim năm 2002 do Christopher Scott Cherot đạo diễn – phiên bản chuyển thể hiện đại hóa và không bám chặt vào nguyên tác, với các diễn viên Richard T. Jones, Blair Underwood và Chenoa Maxwell. The Great Gatsby, đạo diễn Baz Luhrmann and các ngôi sao Leonardo DiCaprio, Amitabh Bachchan, Carey Mulligan, Tobey Maguire, Callan McAuliffe, Isla Fisher, Elizabeth Debicki, Gemma Ward, Joel Edgerton và Jason Clarke. Phim công chiếu năm 2013. == Xem thêm == Văn học Mỹ F. Scott Fitzgerald 100 cuốn sách hay nhất thế kỷ 20 của Le Monde == Chú thích == Danh sách 100 tác phẩm tiếng Anh do tạp chí Time bình chọn == Liên kết ngoài == Nguồn Tác phẩm bằng tiếng Anh The Great Gatsby. Cowley, Malcolm (1950). The Stories Of F.Scott Fitzgerald. Scanned book from Internet Archive, includes The Great Gatsby. Index to The Great Gatsby Điện ảnh The Great Gatsby (1926) tại Internet Movie Database(1926) The Great Gatsby (1949) tại Internet Movie Database(1949) The Great Gatsby (1974) tại Internet Movie Database(1974) The Great Gatsby (2000) (TV) tại Internet Movie Database(2000) G (2002) tại Internet Movie Database (2002) Loại khác AP: Page Ivey: "Professor, private investigator team up in search of the real 'Great Gatsby'" Washington Post - 'Gatsby': The Greatest Of Them All Ray C. Fair - "Where did Fitzgerald get the idea of having Clay's Economics reside in Nick Carraway's library?"
sn 1987a.txt
SN 1987A là một siêu tân tinh nằm tại rìa của tinh vân Tarantula trong Đám Mây Magellan Lớn (một thiên hà lùn nằm gần Ngân Hà). Nó nằm cách Trái Đất xấp xỉ 51,4 kiloparsec, gần bằng 168.000 năm ánh sáng, đủ gần để có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Có thể nhìn thấy siêu tân tinh tại Bán Cầu Nam trong thời gian nó xảy ra. Nó là siêu tân tinh gần nhất được quan sát sau siêu tân tinh SN 1604, mà đã xảy ra trong Ngân Hà. Ánh sáng từ siêu tân tinh đã tới Trái Đất vào ngày 23 tháng 2 năm 1987. Đây là siêu tân tinh đầu tiên quan sát thấy trong năm 1987, và được ký hiệu là “1987A”. Độ sáng của nó đạt cực đại vào tháng Năm với cấp sao biểu kiến bằng khoảng 3 và giảm dần trong những tháng sau đó. Nó là cơ hội đầu tiên cho các nhà thiên văn học nghiên cứu chi tiết tính chất của một siêu tân tinh, và việc quan trắc đã cung cấp thêm nhiều thông tin về siêu tân tinh loại II. Một trong những kết quả quan trọng nhất, SN1987A cung cấp thông tin đầu tiên xác nhận việc quan trắc trực tiếp thấy nguồn năng lượng phóng xạ đối với bức xạ trong ánh sáng khả kiến khi thu nhận được các vạch phổ của tia gamma từ sự có mặt của hai loại hạt nhân phóng xạ, 56Co và 57Co. Điều này chứng minh bản chất phóng xạ của tàn tích siêu tân tinh có độ bừng sáng trong thời gian dài sau khi vụ nổ xảy ra. == Xem thêm == List of supernovae History of supernova observation List of supernova remnants List of supernova candidates == Tham khảo == Graves, G.J.M; Challis, Peter M.; Chevalier, Roger A.; Crotts, Arlin; Filippenko, Alexei V.; Fransson, Claes; Garnavich, Peter; Kirshner, Robert P.; Li, Weidong; Lundqvist, Peter; McCray, Richard; Panagia, Nino; Phillips, Mark M.; Pun, Chun J. S.; Schmidt, Brian P.; Sonneborn, George; Suntzeff, Nicholas B.; Wang, Lifan; Wheeler, J. Craig (2005). “Limits from the Hubble Space Telescope on a point source in SN 1987A”. Astrophysical Journal 629 (2): 944–959. arXiv:astro-ph/0505066. Bibcode:2005ApJ...629..944G. doi:10.1086/431422. == Liên kết ngoài == Picture of Supernova 1987A AAVSO: More information on the discovery of SN 1987A Rochester Astronomy discovery timeline Light echoes from Sn1987a, Movie with real images by the group EROS2 Animation of light echoes from SN1987A Supernova 1987A, by Richard McCray (astrophysicist, University of Colorado at Boulder) SN 1987A at ESA/Hubble Supernova 1987A, WIKISKY.ORG More information at Phil Plait's Bad Astronomy site
trạm vũ trụ quốc tế.txt
Trạm vũ trụ Quốc tế hay Trạm Không gian Quốc tế (tiếng Anh: International Space Station, viết tắt: ISS) là một tổ hợp công trình nhằm nghiên cứu không gian, đang ở giai đoạn lắp ráp trên quỹ đạo cận Trái Đất, nhờ sự hợp tác của năm cơ quan không gian: NASA (Hoa Kỳ), RKA (Nga), JAXA (Nhật Bản), CSA (Canada) và 10 trong 17 nước thành viên của ESA (châu Âu). Trạm vũ trụ quốc tế được coi là kết quả của sự hợp nhất hai dự án lớn, nhưng thiếu kinh phí để có thể thực hiện riêng biệt là Trạm vũ trụ Tự do (Freedom) của Hoa Kỳ và Trạm vũ trụ Hòa Bình 2 (Mir-2) của Nga. Ngoài các mô-đun của Hoa Kỳ và của Nga đã được lên kế hoạch, các mô-đun Columbus của Châu Âu (kế hoạch) và Mô-đun thí nghiệm của Nhật Bản cũng sẽ được ghép vào trạm. Cơ quan không gian Brasil (AEB, Brasil) tham gia dự án này thông qua một hợp đồng riêng với NASA. Cơ quan Không gian Ý cũng có vài hợp đồng tương tự cho nhiều hoạt động, nằm ngoài khuôn khổ các nhiệm vụ của ESA trong dự án ISS (Ý cũng là một thành viên trong ESA). Có thông tin cho rằng, Trung Quốc cũng thể hiện sự quan tâm của họ đối với dự án, đặc biệt nếu họ được phép hợp tác với RKA, tuy nhiên Trung Quốc vẫn chưa được mời tham gia. Do quỹ đạo của Trạm vũ trụ Quốc tế thuộc dạng quỹ đạo gần Mặt Đất (còn gọi là Quỹ đạo LEO - Low Earth Orbit), độ cao cách Mặt Đất chỉ trong khoảng từ 319,6 km đến 346,9 km, trạm có các tấm pin mặt trời rộng, phản chiếu tốt ánh sáng Mặt Trời nên có thể quan sát ISS từ Mặt Đất. ISS di chuyển trong không gian với vận tốc trung bình là 27.743,8 km/giờ, ứng với 15,79 lần bay quanh Trái Đất mỗi ngày. Theo kế hoạch, Trạm vũ trụ Quốc tế sẽ hoàn thành vào năm 2011 và sẽ hoạt động đến năm 2016. Từ năm 2007, ISS đã trở thành vệ tinh nhân tạo lớn nhất trong quỹ đạo Trái Đất, lớn hơn bất kỳ trạm vũ trụ nào khác. Trạm vũ trụ Quốc tế là trạm vũ trụ duy nhất có người thường trực, thực hiện các công việc nghiên cứu. Phi hành đoàn không gian Expedition 1 là nhóm phi hành gia đầu tiên tới Trạm vũ trụ Quốc tế vào ngày 2 tháng 11 năm 2000, đây là bước đi đầu tiên trong kế hoạch đưa người làm việc lâu dài trong không gian của ISS. Hiện tại ở trên trạm là phi hành đoàn Expedition 19. Expedition 19 tới trạm vào ngày 28 tháng 3 năm 2009 và dự kiến sẽ trở về Trái Đất vào ngày 11 tháng 10 năm 2009. Trạm vũ trụ được cung cấp các nhu yếu phẩm, thiết bị cần thiết từ tàu vũ trụ Soyuz, Tàu vận tải Tiến bộ (Progress) của Nga và các phi thuyền con thoi của Mỹ (đã ngừng hoạt động vào năm 2011). Hiện nay trạm có thể chứa được 3 người. Những người đến trạm đầu tiên đều là các nhà du hành thuộc chương trình không gian của Nga và Hoa Kỳ. Phi hành gia người Đức, Thomas Reiter, đã đến trạm trong nhóm các nhà du hành thuộc Expedition 13 vào tháng 7 năm 2006, trở thành người đầu tiên từ cơ quan không gian khác đến trạm. Thành phần của phi hành đoàn Expedition 16 đã đại diện cho cả năm cơ quan không gian, để củng cố quan hệ cộng tác của dự án ISS. Đến nay, ISS đã đón các phi hành gia từ 14 nước khác nhau, trong đó có năm khách du lịch vũ trụ. Đầu tiên, trạm được đề nghị đặt tên là "Аlpha" nhưng bị Nga bác bỏ vì ký tự Hi Lạp α thường được dành cho những cái đầu tiên, trong khi Trạm Vũ trụ Quốc tế đầu tiên lại là Hòa bình của Nga. Khi Roskosmos (Роскосмос, Cơ quan Vũ trụ Liên bang, Nga) đề nghị tên "Аtlant" thì lại bị Hoa Kỳ bác bỏ vì sự nhầm lẫn với Tàu con thoi Аtlantis. == Lịch sử == Năm 1984, tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan thông báo việc bắt đầu xây dựng trạm quỹ đạo của Hoa Kỳ. NASA dự định sẽ đưa các mô-đun của trạm quỹ đạo này với tên Trạm vũ trụ Tự do, được coi là bản sao của trạm vũ trụ Salyut và Mir của Liên Xô lên quỹ đạo bằng tàu con thoi. Tuy nhiên, dự án bị hủy bỏ sau sự kiện Liên Xô sụp đổ, đi liền với việc kết thúc Chiến tranh Lạnh và cả cuộc chạy đua vào không gian. Các quan chức trong ngành không gian của Hoa Kỳ nhanh chóng tiến hành đàm phán với các đối tác quốc tế, bao gồm Châu Âu, Nga, Nhật Bản và Canada, nhằm xây dựng một trạm vũ trụ quốc tế vào đầu thập niên 1990. Dự án này được công bố lần đầu tiên vào năm 1993 và được gọi là Trạm vũ trụ Alpha. Dự án lập kế hoạch liên kết tất cả các dự kiến xây dựng trạm vũ trụ của các cơ quan không gian: Trạm vũ trụ Tự do của NASA, Mir-2 (trạm kế thừa của Trạm vũ trụ Hòa Bình, với trọng tâm là mô-đun Zvezda (Ngôi sao), hiện nay là một trong các mô-đun của ISS) của Nga, và Columbus của ESA. Hiện nay, có kế hoạch phát triển Columbus thành một phóng thí nghiệm không gian độc lập. Bộ phận đầu tiên, Khối chức năng hàng hóa Zarya (Bình minh), được phóng lên quỹ đạo vào tháng 11 năm 1998 bằng tên lửa Proton của Nga. Hai bộ phận tiếp theo (Mô-đun Unity và Mô-đun dịch vụ Zvezda) cũng được phóng lên quỹ đạo, trước chuyến bay của phi hành đoàn đầu tiên Expedition 1. Expedition 1 gồm một phi hành gia người Mỹ, William Shepherd và hai phi hành gia người Nga là Yuri Pavlovich Gidzenko và Sergei Konstantinovich Krikalyov đã kết nối thành công với ISS vào ngày 2 tháng 11 năm 2000 Tóm tắt quá trình hình thành ISS: 17 tháng 6 năm 1992 - Nga và Hoa Kỳ ký kết thỏa thuận về hợp tác trong nghiên cứu vũ trụ. Theo đó Cơ quan Vũ trụ Nga (Российское космическое агентство, viết tắt là РКА hay RKA trong ký tự Latin) và NASA chuẩn bị chương trình hợp tác "Hòa bình-Tàu con thoi". Từ đây, ý tưởng hợp nhất các chương trình quốc gia của việc xây dựng các trạm quỹ đạo đã nảy sinh. Tháng 3 năm 1993 - Tổng giám đốc RKA Yuri Коptev và Tổng công trình sư Tổ hợp Khoa học Sản xuất Năng lượng (NPO Energia, НПО Энергия) Yuri Sеmеnоv đề nghị với Giám đốc NASA Daniel Goldin xây dựng Trạm vũ trụ Quốc tế. 1 tháng 11 năm 1993 - RKA và NASA ký "Kế hoạch chi tiết các công việc cho Trạm vũ trụ Quốc tế". Tháng 11 năm 1994 - tại Moskva, các buổi góp ý kiến đầu tiên của các cơ quan vũ trụ của Nga và Hoa Kỳ được tổ chức. Hợp đồng với các công ty tham gia dự án, Boeing, Mc Donnell-Douglas, General Electric, Rockwell và Công ty tên lửa vũ trụ Năng lượng mang tên Коrоlyov (RKK Energia, РКК Энергия им. С. П. Королева), được ký kết. Tháng 3 năm 1995 - tại Trung tâm Không gian Lyndon B. Johnson ở Houston, mô hình phác thảo của trạm được phê chuẩn. 1996 - cấu hình của trạm được phê chuẩn. Nó gồm 2 phần: Nga (phương án hiện đại hóa của "Mir-2") và Hoa Kỳ (với sự tham gia của Canada, Nhật, Ý, Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Brasil). 20 tháng 11 năm 1998 - Nga phóng thành phần đầu tiên của trạm: khối chức năng hàng hóa Zarya (Заря). 7 tháng 12 năm 1998 - Tàu con thoi Endeavour đưa lên và gắn vào trạm mô-đun NODE-1 (Unity) của Hoa Kỳ. 26 tháng 7 năm 2000 - mô-đun dịch vụ Zvezda (Звезда) được gắn vào khối chức năng hàng hóa Zarya 2 tháng 11 năm 2000 - phi hành gia đầu tiên lên trạm vũ trụ iss 2 tháng 11 năm 2000 - tàu vận tải "Soyuz ТМ-31" đưa lên trạm phi hành đoàn đầu tiên. 18 tháng 4 năm 2005 - Giám đốc NASA Michael D. Griffin trong khi điều trần trước Ủy ban Thượng viện về Không gian và Khoa học, đã tuyên bố về sự cần thiết của việc cắt giảm tạm thời các nghiên cứu khoa học ở phần trạm của Hoa Kỳ. Điều này là cần thiết, nhằm giải phóng các nguồn lực để tập trung vào xây dựng CEV - phương tiện thám hiểm có người lái (bảo đảm việc xây dựng đến năm 2010, và không muộn hơn 2014). CEV là cần thiết để đảm bảo việc đi lên trạm của Mỹ không bị phụ thuộc (vốn bị tạm ngưng sau tai nạn tàu con thoi Columbia năm 2003). Như vậy đến năm 2010 có kế hoạch kết thúc việc sử dụng hạm đội "Tàu con thoi không gian". 19 tháng 6 năm 2008 - trạm vũ trụ quốc tế được đưa lên cao thêm 7 km để bảo đảm an toàn cho trạm. == Lắp ghép == Zarya (Bình minh), mô-đun đầu tiên của ISS, được phóng lên bởi một tên lửa Proton vào tháng 11 năm 1998. Sau đó hai tuần, sứ mệnh STS-88 được tiến hành mang theo Unity, một trong ba mô-đun nút, và kết nối nó với Zarya. Hai mô-đun hạt nhân tối thiểu này vận hành tự động trong một năm rưỡi, cho đến tháng 6 năm 2000, khi mô-đun Zvezda (Ngôi sao) của Nga được kết nối thêm vào, cho phép một phi hành đoàn tối thiểu ba người lưu lại lâu dài trên ISS. Từ năm 2000 đến năm 2006, mô-đun điều áp chính duy nhất được thêm vào trạm là Mô-đun phòng thí nghiệm Destiny, do STS-98 mang lên vào năm 2001. Khi việc lắp ráp hoàn thành, ISS sẽ có thể tích được điều áp khoảng chừng 1.000 m³, với trọng lượng khoảng 400.000 kg (400 tấn), có thể tạo ra xấp xỉ 100 kilowatt năng lượng, chiều dài toàn bộ giàn đỡ là 108,4 m, chiều dài tất cả mô-đun là 74 m, và chứa được 6 phi hành gia. Việc xây dựng trạm đầy đủ sẽ cần đến hơn 40 chuyến bay lắp ráp. Trong số những chuyến bay này, hiện có 33 chuyến dự định dùng tàu con thoi để vận chuyển thiết bị, với 28 chuyến bay đã thực hiện và 5 chuyến trong khoảng từ nay tới 2010. Các chuyến bay lắp ráp khác gồm có những mô-đun được phóng lên bởi tên lửa Proton của Nga hoặc bằng tên lửa Soyuz (Liên hiệp) như trường hợp của bộ phận Nút thông khí Pirs. Ngoài những chuyến bay lắp ráp và hậu cần, khoảng 30 chuyến bay sẽ được thực hiện bằng Tàu vận tải Tiến bộ để cung cấp đầy đủ nhu yếu phẩm cho đến năm 2010. Thiết bị thí nghiệm, nhiên liệu và những thứ tiêu dùng khác sẽ được gửi đến trên mọi phương tiện ghé thăm trạm ISS gồm: tàu con thoi, tàu Tiến bộ, ATV của châu Âu (đã có chuyến bay đầu tiên vào tháng 3 năm 2008), và HTV của Nhật Bản (dự kiến vào cuối năm 2009). Trạm ISS khi được hoàn thành sẽ gồm các mô-đun điều áp gắn kết với nhau nối với một Giàn cấu trúc hợp nhất, trên đó gắn bốn cặp mô-đun tế bào quang điện PV - photovoltaic lớn (các tấm pin mặt trời). Mô-đun điều áp và giàn đỡ sẽ được đặt vuông góc với nhau: giàn đỡ mở rộng từ mạn phải đến mạn trái và khu vực có người ở trải dài tiếp tục ở phần trục hai đầu của trạm. Dù trong thời gian xây dựng góc nghiêng của trạm có thể thay đổi, nhưng khi tất cả 4 cặp mô-đun tế bào quang điện được đặt đúng vị trí ở hai đầu của trạm, nó sẽ nằm đúng theo hướng di chuyển. Tổng cộng có 10 mô-đun điều áp (Zarya, Zvezda, Mô-đun phòng thí nghiệm Destiny, Mô-đun Unity (trước đây gọi là Node 1), Mô-đun Harmony (trước đây gọi là Node 2), Node 3, Mô-đun phòng thí nghiệm Columbus, Mô-đun thí nghiệm Nhật Bản Kibo, MLM và RM), đã được lên danh sách để thực hiện lắp ráp. Đây là những thành phần của ISS theo dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2010. Một số những bộ phận điều áp nhỏ sẽ được thêm vào như tàu vũ trụ Soyuz (2 tàu như tàu cứu hộ - thay đổi luân phiên trong 6 tháng), tàu vận tải Progress (2 hoặc hơn), mô-đun thông khí Quest và Pirs, cũng như Mô-đun hậu cần đa mục đích định kỳ, Tàu vận tải không người lái ATV và Tàu vận tải H-II). === Thảm họa Columbia và những thay đổi trong kế hoạch xây dựng === ==== Thảm họa và hậu quả ==== Thảm họa Phi thuyền con thoi Columbia 1 tháng 2 năm 2003, tiếp đó là hai năm rưỡi đình chỉ Chương trình tàu con thoi của Hoa Kỳ, cùng với hàng loạt vấn đề trong việc tiếp tục cho các tàu con thoi hoạt động trở lại vào năm 2005, đem đến một tương lai không chắc chắn cho ISS đến tận năm 2006. Chương trình tàu con thoi của NASAc tiếp tục vào ngày 26 tháng 7 năm 2005, với sứ mệnh Bay trở lại STS-114 của tàu Discovery. Nhiệm vụ của tàu Discovery là đến ISS để kiểm tra những biện pháp an toàn mới kể từ thảm họa Columbia và cung cấp đồ tiếp tế cho trạm. Dù nhiệm vụ đã thành công an toàn, nhưng không phải là không có sự rủi ro; người ta vẫn lo ngại về những tấm cách nhiệt ốp ở thùng nhiên liệu ngoài có thể bị rơi ra bất kỳ lúc nào và gây ra thảm họa, khiến cho lãnh đạo NASA phải tuyên bố tạm ngưng các chuyến bay cho đến khi vấn đề này được giải quyết. Trong thời gian giữa thảm họa Columbia và bắt đầu lại việc phóng tàu con thoi, những sự thay đổi phi hành đoàn trên ISS đều do tàu vũ trụ Soyuz của Nga chuyên chở. Bắt đầu từ Expedition 7, chỉ có hai phi hành gia được phóng lên ISS, trong khi trước đây có đến ba phi hành gia. Vì ISS không được tàu con thoi cung cấp nhu yếu phẩm trong một thời gian dài, một số lớn những vật phẩm trong kế hoạch đã không được sử dụng thích hợp, khiến cho hoạt động của trạm bị cản trở tạm thời vào năm 2004. Tuy nhiên các tàu vận tải Tiến bộ và chuyến bay con thoi STS-114 đã giải quyết vấn đề này. ==== Những thay đổi trong kế hoạch xây dựng ==== Việc xây dựng ISS đã kéo dài hơn nhiều so với kế hoạch dự kiến hoàn thành vào năm 2004 hoặc 2005. Nguyên nhân của sự chậm trễ này là do các quan chức NASA lưỡng lự trong việc ra quyết định về các chuyến bay của tàu con thoi sau khi xảy ra Thảm họa Columbia vào đầu năm 2003. Một lý do khác cũng phải kể đến là việc cơ quan vũ trụ của Nga cũng bị cắt giảm ngân sách hoạt động cho chương trình ISS. Trong thời gian hoãn phóng tàu con thoi, việc xây dựng ISS được tạm dừng và các thí nghiệm khoa học được tiến hành trên tàu cũng bị hạn chế vì phi hành đoàn lúc bấy giờ chỉ còn lại 2 người. Kể từ đầu năm 2006, có nhiều thay đổi so với kế hoạch dự kiến ban đầu, thậm chí cả kế hoạch trước thảm họa Columbia. Những mô-đun và các kết cấu khác bị hủy bỏ hoặc thay thế, số lượng các chuyến bay của tàu con thoi đến ISS cũng giảm bớt về số lượng so với kế hoạch trước đây. Theo thông báo mới nhất về tiến độ xây dựng trạm ISS, 80% kết cấu phần cứng của trạm đã được hoàn thành và đang hoạt động trên quỹ đạo, dự kiến trạm sẽ được hoàn thành vào năm 2010. Số thành viên phi hành đoàn sẽ trên trạm sẽ tăng từ 3 lên 6 người vào khoảng tháng 5 năm 2009, sau khi tàu con thoi thực hiện 12 chuyến bay xây dựng tiếp theo sứ mệnh Bay trở lại thứ hai mang tên STS-121. Các sứ mệnh STS-126 và STS-119 đã giúp chuẩn bị cho trạm sẵn sàng cho sự tăng số thành viên này. Để đáp ứng được số lượng phi hành gia đông như thế, trạm cần phải đáp ứng được các yêu cầu bao gồm việc tăng cường hỗ trợ môi trường trên ISS, một tàu Soyuz cố định thứ hai trên trạm với chức năng như một "tàu cứu hộ" thứ hai, các chuyến bay thường xuyên hơn của tàu Tiến bộ để cung cấp gấp đôi lượng hàng hóa cần dùng trên trạm, tăng thêm nhiên liệu để nâng cao sự vận động của trạm trên quỹ đạo, và cung cấp đủ các thiết bị thí nghiệm. === Các thành phần mô-đun lắp ráp hiện này === Trạm ISS hiện nay gồm có 7 mô-đun điều áp chính gồm 2 mô-đun của Nga mang tên Zarya (Bình minh) và Zvezda (Ngôi sao), 3 mô-đun của Hoa Kỳ mang tên Destiny (Vận mệnh), Unity (Thống nhất) và Harmony (Hòa hợp), module Columbus của châu Âu và KIBO (Hi vọng) của Nhật Bản. Các bộ phận điều áp khác trong cấu trúc trạm hiện nay là Quest Joint Airlock, Gian nối Pirs và module hậu cần điều áp của KIBO. Tàu vũ trụ kết nối với ISS cũng góp phần mở rộng thể tích điều áp trong trạm. Luôn có ít nhất một tàu vũ trụ Soyuz được nối với trạm như một "tàu cứu hộ" và cứ 6 tháng một lần được thay thế bởi một tàu Soyuz khác cùng với sự thay đổi phi hành đoàn. Mặc dù không kết nối thường xuyên với ISS, một bộ phận của ISS là Mô-đun Hậu cần Đa mục đích (MPLM) thường được mang theo trong các chuyến bay của tàu con thoi. MPLM được kết nối với Unity và được sử dụng để cung cấp phần hậu cần cho các chuyến bay. Kể từ tháng 6 năm 2007 trạm gồm có các mô-đun và bộ phận sau: *Giàn đỡ P6 đã được di chuyển từ vị trí tạm thời trên giàn Z1 tới vị trí cuối cùng cạnh giàn đỡ P5 trong sứ mệnh STS-120. === Các thành phần sẽ được phóng === Tất cả những mô-đun điều áp dự kiến sắp tới đều sẽ được phóng bởi Phi thuyền con thoi. Do thời gian hoàn thành trạm là vào năm 2010, trạm sẽ được lắp ráp thêm các bộ phận khác ngoài các mô-đun đang hoạt động trên quỹ đạo: Mô-đun nút Node 3 Mô-đun phòng thí nghiệm đa mục đích Một vòm Cupola Một Mô-đun trạm hàng hóa ghép nối để giúp cho tàu vũ trụ Soyuz và Tàu vận tải Tiến bộ kết nối với trạm Ngoài ra, có một hệ thống giàn đỡ (Integrated Truss Structure - cấu trúc giàn kết hợp) lớn không điều áp sẽ hỗ trợ những tấm pin năng lượng mặt trời hoạt động, cũng như những cuộc thí nghiệm bên ngoài như Phổ từ kế Alpha và Bộ tiếp xúc Plasma. Một sự bổ sung hỗ trợ cho các thí nghiệm ở trạng thái không điều áp trên ISS đang được phát triển bởi Trung tâm Du hành Không gian Goddard, gọi là EXPRESS Logistics Carrier, hoặc ELC (trước đây là EXPRESS Pallet). "EXPRESS" là từ viết tắt của "Expedite the PRocessing of Experiments to the Space Station" (Giải quyết quá trình thí nghiệm cho trạm vũ trụ). S vcó ài khối ELC ược thiết đặt phía ngoài ISS để cung cấp nơi thực hiện những thí nghiệm khoa học trong không gian. Khối ELC không hẳn là nơi cung cấp các nhu cầu cho thí nghiệm hoàn toàn lý tưởng, nhưng nó cung cấp năng lượng, nhiệt, điều khiển và những liên kết đo lường từ xa cho cuộc thí nghiệm. === Các mô-đun bị hủy bỏ === Mô-đun điều tiết máy ly tâm - đã được gắn kèm trên Node 2, bây giờ có tên gọi là Harmony Universal Docking Module (Module ghép nối phổ thông) - được thay thế bởi Mô-đun phòng thí nghiệm Vạn năng Docking and Stowage Module (Module ghép nối và tích trữ) - thay thế bởi Mô-đun phòng thí nghiệm Vạn năng Habitation Module (Module cu trú) Phương tiện trở về có người lái (Crew Return Vehicle - CRV) Interim Control Module - không cần thay thế cho Zvezda (nó sẵn sàng được phóng trong thời gian ngắn nếu được yêu cầu) ISS Propulsion Module - không cần thay thế cho Zvezda Science Power Platform - năng lượng sẽ được cung cấp đến khu vực của Nga phần nào nhờ vào các tấm pin mặt trời của Hoa Kỳ Russian Research Module - được thay thế bởi Docking Cargo Module (DCM) == Những hệ thống chính trên ISS == === Hệ thống cung cấp năng lượng === Nguồn điện năng cho ISS là từ Mặt Trời: ánh sáng được chuyển đổi thành điện qua những tấm pin mặt trời. Trước khi chuyến bay lắp ráp 4A (sứ mệnh tàu con thoi STS-97, 30 tháng 11 năm 2000) được thực hiện, nguồn năng lượng duy nhất trên trạm là từ những tấm pin mặt trời của Nga được gắn trên mô-đun Zarya và Zvezda: khu vực của Nga trên trạm sử dụng 28 vôn điện thế của dòng một chiều (giống như tàu con thoi). Trong phần còn lại của trạm, điện được cung cấp bởi những tấm pin mặt trời gắn tại một giàn đỡ cung cấp dòng điện một chiều có hiệu điện thế từ 130-180 vôn. Năng lượng được ổn định và phân phối tới các bộ phận ở điện áp là 160 vôn và sau đó được chuyển đổi đến điện áp sử dụng là 124 vôn. Năng lượng có thể được chia sẻ giữa 2 khu vực trên trạm qua những bộ biến đổi, và đặc tính này rất quan trọng một khi người ta hủy bỏ bộ phận mô-đun Science Power Platform của Nga: khu vực của người Nga sẽ phải phụ thuộc vào việc xây dựng các tấm pin mặt trời của Hoa Kỳ để cung cấp năng lượng. === Hệ thống hỗ trợ sự sống === Hệ thống hỗ trợ sự sống và kiểm soát môi trường của trạm ISS sẽ cung cấp hay kiểm soát những yếu tố như áp suất không khí, mức ôxi, nước, và dập tắt lửa nếu có hỏa hoạn, và vài thứ khác. Hệ thống Elektron sinh ra oxi trên trạm. Ưu tiên cao nhất cho hệ thống hỗ trợ sự sống là không khí trong trạm ISS, nhưng hệ thống cũng kiểm soát mức tiêu dùng các yếu tố như nước và không khí từ phi hành đoàn, đồng thời tiến hành tái chế lại nước và không khí được thải đi. Ví dụ, hệ thống sẽ tái chế lại chất lỏng từ các bồn nước trên trạm, vòi tắm, nước tiểu, và ngưng tụ. Những bộ lọc bằng than hoạt tính là phương pháp chủ yếu để loại bỏ những sản phẩm phụ trong sự trao đổi chất của con người từ không khí. === Hệ thống điều hướng === Hướng đi của trạm được duy trì bởi 2 cơ chế. Thông thường, có một hệ thống sử dụng vài con quay hồi chuyển mômen điều khiển (CMG - Control Moment Gyroscope) để giữ cho trạm đi đúng hướng, có nghĩa là với mô-đun Destiny ở phía trước của Unity, giàn đỡ P ở bên cạnh trái và Pirs ở phía hướng về Trái Đất (điểm thấp nhất). Khi hệ thống CMG trở nên bão hòa, nó có thể mất khả năng điều hướng cho trạm. Nếu điều này xảy ra, hệ thống điều khiển trạng thái của Nga có thể lấy lại sự định hướng cho trạm, nó sử dụng những lực đẩy để duy trì trạng thái của trạm và cho phép hệ thống CMG khử được sự bão hòa. Hệ thống này sẽ tự động khởi động như một biện pháp an toàn, chẳng hạn như trong thời gian diễn ra chuyến bay Expedition 10. Khi tàu con thoi cập vào trạm, nó có cũng được sử dụng để duy trì trạng thái của trạm. Quy trình này cũng được sử dụng trong lúc STS-117 nối vào trạm như giàn đỡ S3/S4. == Nghiên cứu khoa học == Một trong những mục đích chính của ISS là cung cấp một địa điểm để giám sát thực hiện các thí nghiệm và đòi hỏi một hoặc nhiều điều kiện đặc biệt hiện nay trên trạm cho công việc này. Những lĩnh vực nghiên cứu chính bao gồm sinh học (gồm nghiên cứu y sinh và công nghệ sinh học), vật lý (gồm vật lý chất lỏng, khoa học vật liệu, và cơ học lượng tử), thiên văn học (bao gồm vũ trụ học), và khí tượng học. Kể từ năm 2007, những thí nghiệm nhỏ khác như nghiên cứu những ảnh hưởng lâu dài của hiện tượng không trọng lượng tới con người đã được tiến hành trên trạm. Với 4 mô-đun nghiên cứu mới được bố trí để hoàn thành trên ISS vào năm 2010, những thí nghiệm khoa học sẽ được diễn ra nhiều hơn và chất lượng hơn, với những mô-đun nghiên cứu như vậy, nhiều nghiên cứu chuyên dụng đã được mong đợi để được bắt đầu. === Mô-đun khoa học trên ISS === Mô-đun phòng thí nghiệm Destiny là phương tiện nghiên cứu chính hiện thời trên trạm ISS. Nó được sản xuất bởi NASA và được phóng vào tháng 2 năm 2001, đây là một phương tiện nghiên cứu cho những thí nghiệm chung. Mô-đun Columbus là một phương tiện nghiên cứu khác được thiết kế bởi Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) cho trạm ISS. Mục đích của nó là tạo những điều kiện thuận lợi cho những thí nghiệm khoa học và đã được phóng vào không gian bằng tàu con thoi trong một sứ mệnh mang tên STS-122 vào ngày 6 tháng 12 năm 2007. Columbus cung cấp một phòng thí nghiệm chung cũng như một trong số những thiết kế đặc biệt dành cho sinh học, nghiên cứu y sinh và vật lý chất lỏng. Có một số mở rộng dự kiến sẽ được thực hiện để tạo công cụ cho sự nghiên cứu Cơ học lượng tử và vũ trụ học. vào tháng 2 năm 2008, tàu con thoi Atlantis mang theo một mô dun để lắp vào ISS, đây sẽ là mô đun đầu tiên thuộc quyền sở hữu của Cơ quan vũ trụ châu Âu. Mô-đun Thí nghiệm Nhật Bản, cũng còn được biết đến với tên gọi Kibō, được dự kiến hoàn thành sau sứ mệnh STS-127 vào tháng 6 năm 2009. Được phát triển bởi Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA), mô-đun này sẽ có chức năng như một đài quan sát thiên văn và đo các dữ liệu thiên văn khác nhau. Dự án ExPRESS Logistics Carrier, được phát triển bởi NASA, đây là dự án với các mô-đun hàng hóa vận chuyển lên trạm ISS, các mô-đun sẽ được phóng bằng tàu con thoi trong sứ mệnh mang tên STS-129, người ta hy vọng sẽ thực hiện sứ mệnh này trước 11 tháng 9 năm 2009. Nó sẽ cho phép những cuộc thí nghiệm được tiến hành và điều khiển trong chân không, cung cấp lượng điện năng cần thiết, và tính toán xử lý dữ liệu cục bộ cho các cuộc thí nghiệm. Mô-đun phòng thí nghiệm vạn năng, được chế tạo bởi Cơ quan Vũ trụ Liên bang Nga (RKA), nó được trông đợi sẽ phóng lên ISS vào cuối năm 2009. Mô-đun này sẽ cung cấp những tài nguyên thích hợp cho thí nghiệm chung về môi trường không trọng lực. Hai trong số những mô-đun nghiên cứu trong kế hoạch đã bị hủy bỏ, đó là Mô-đun Điều tiết Máy ly tâm (được sử dụng để tạo ra các mức trọng lực nhân tạo khác nhau trong trạm) và Mô-đun Nghiên cứu Nga (được sử dụng cho những thí nghiệm chung). Một vài cuộc thí nghiệm đã được lên kế hoạch trước, như Phổ từ kế Alpha cũng đã bị hủy bỏ. === Những lĩnh vực nghiên cứu === Có một số kế hoạch nghiên cứu sinh vật học trên ISS. Mục đích thứ nhất là để nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về sự ảnh hưởng lâu dài của môi trường không trọng lực trong không gian đến cơ thể con người. Những vấn đề như teo cơ, loãng xương và những thay đổi về chất lỏng được nghiên cứu với mục đích sử dụng những dữ liệu này phục vụ cho cuộc sống của con người trong không gian và du lịch vũ trụ dài ngày, nếu chúng được ứng dụng thành công thì những chuyến bay của con người dài ngày trong vũ trụ sẽ khả thi hơn. Những ảnh hưởng của tình trạng mất trọng lượng trong sự tiến hóa, sự phát triển và sự tăng trưởng, những quá trình bên trong thực vật và động vật cũng được nghiên cứu. Những dữ liệu kết quả nghiên cứu mới đây đã đưa ra giả thiết rằng vi trọng lực cho phép sự tăng trưởng của các mô trong cơ thể con người tăng lên gấp 3 lần và các tinh thể protein đặc biệt có thể được hình thành trong không gian, NASA tỏ ra rất mong muốn được điều tra nghiên cứu những hiện tượng này. NASA cũng quan tâm nghiên cứu đến những vấn đề nổi bật trong vật lý. Vật lý chất lỏng trong môi trường vi trọng lực vẫn chưa được hiểu biết hoàn toàn, và những nhà nghiên cứu muốn tìm một cách nào đó để tìm ra được mô hình chính xác của chất lỏng trong tương lai. Đồng thời, vì những chất lỏng trong không gian có thể kết hợp gần như hoàn toàn bất chấp tỷ trọng của chúng, các nhà nghiên cứu đang quan tâm đến việc nghiên cứu sự kết hợp của những chất lỏng không có tính pha trộn tốt khi thực hiện ở Trái Đất, những chất lỏng này sẽ được thí nghiệm trong không gian để tìm hiểu về sự kết hợp trong môi trường vi trọng lực. Bằng việc nghiên cứu những phản ứng được làm chậm bởi trọng lực và nhiệt độ thấp, những nhà khoa học cũng hy vọng tìm kiếm được sự hiểu biết mới sâu sắc hơn liên quan đến những trạng thái của vật chất (đặc biệt trong hiện tượng siêu dẫn). Đồng thời, các nhà khoa học cũng hy vọng nghiên cứu sự cháy trong môi trường trọng lực bé hơn ở Trái Đất. Bất kỳ kết quả tìm kiếm nào liên quan đến hiệu quả của sự đốt cháy hay tạo thành những sản phẩm phụ đều có thể cải thiện quá trình sản xuất năng lượng, mà đây là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong ngành kinh tế và môi trường. Kế hoạch của các nhà khoa học là sử dụng ISS để nghiên cứu khí dung, ôzôn, hơi nước và ôxi trong bầu khí quyển của Trái Đất cũng như tia vũ trụ, bụi vũ trụ, phản vật chất và vật chất tối trong vũ trụ. Những mục đích dài hạn của các nghiên cứu này sẽ được áp dụng để pháp triển công nghệ cần thiết cho nhiều lĩnh vực như: xây dựng căn cứ trong không gian, thám hiểm các hành tinh và sự có mặt lâu dài của con người trong không gian (bao gồm những hệ thống hỗ trợ sự sống, hệ thống an toàn, kiểm tra môi trường trong không gian,...), những cách mới để điều trị các căn bệnh, những phương pháp hiệu quả hơn trong sản xuất vật chất, những kết quả đo lường chính xác hơn mà không thể đạt được nếu làm trên Trái Đất. == Những biến cố chính == === Thảm họa Columbia năm 2003 === Sau thảm họa tàu Columbia vào 1 tháng 2 năm 2003, người Mỹ đã đình chỉ Chương trình tàu con thoi hai năm rưỡi, sau đó là các vấn đề trong việc nối lại hoạt động của các chuyến bay vào năm 2005, từ những sự cố đó, người ta không chắc chắn về tương lai của trạm ISS đến năm 2006. Trong khoảng thời gian giữa thảm họa Columbia và bắt đầu tiếp tục việc phóng tàu con thoi, những chuyến bay thay đổi phi hành đoàn trên ISS đều do tàu vũ trụ Soyuz của Nga thực hiện. Bắt đầu với Expedition 7, chỉ có 2 so với con số 3 nhà du hành được phóng lên trong những lần trước. Điều này là do ISS không có sự cung cấp nhu yếu phẩm thường xuyên bởi tàu con thoi trong một thời gian dài, đa số các kế hoạch đã bị hủy bỏ, tạm thời gây cản trở đến hoạt động của trạm vào năm 2004. Tuy nhiên tàu vận chuyển Tiến bộ và chuyến bay của tàu con thoi trong sứ mệnh mang tên STS-114 đã giải quyết vấn đề này của trạm. === Sự cố khói năm 2006 === Vào ngày 18 tháng 9 năm 2006, phi hành đoàn trong cuộc hành trình thứ 13 mang tên Expedition 13 đã kích hoạt báo động cháy trong khu vực của Nga trên trạm vũ trụ quốc tế, khi khói từ một trong số 3 máy cung cấp ôxi thoát ra, nó đã gây ra một sự sợ hãi trong chốc lát do lo sợ lửa có thể bùng cháy trong mô-đun. Kỹ sư trên chuyến bay là Jeffrey Williams đã thông báo một mùi khác thường, nhưng những quan chức đã nói rằng không có lửa trong mô-đun và phi hành đoàn không phải chịu bất kỳ sự nguy hiểm nào. Phi hành đoàn đã thông báo giải thích về khói và mùi phát ra trong cabin của mô-đun về trung tâm điều khiển sau khi tìm hiểu vụ việc. Nguyên nhân là do một sự rò rỉ kali hydroxit từ một lỗ thông ôxi. Thiết bị này ngay lập tức đã bị dừng hoạt động. Kali hydroxit không có mùi, và mùi mà Williams nói đã ngửi thấy là do một tấm đệm bằng cao su đã bị đốt nóng gây ra mùi khét trong hệ thống Elektron. Trong bất kỳ trường hợp nào, hệ thống thông hơi của trạm sẽ bị tắt để ngăn ngừa khói hoặc các chất ô nhiễm khác lan ra các khu vực khác của phòng thí nghiệm liên hợp. Một bộ lọc không khí bằng than đã được đặt ở trong trạm để làm sạch không khí nếu như xảy ra hiện tường rò rỉ khói kali hydroxit dù là nhỏ nhất ở trên trạm ISS. Giám đốc chương trình trạm vũ trụ nói rằng phi hành đoàn chưa bao giờ phải mang mặt nạ phòng độc, nhưng trong biện pháp phòng ngừa, người ta vẫn yêu cầu các phi hành gia mang găng tay và mặt nạ phòng độc để ngăn ngừa sư tiếp xúc với bất kỳ chất gây ô nhiễm nào. Vào ngày 2 tháng 11 năm 2006, các bộ phận thiết bị thay thế được Tàu vũ trụ Progress số hiệu M-58 của Nga mang lên trạm, cho phép phi hành đoàn sửa chữa Elektron bằng phụ tùng thay thế. === Sự cố hỏng hóc máy tính năm 2007 === Vào ngày 14 tháng 6 năm 2007, trong thời gian diễn ra cuộc hành trình mang tên Expedition 15 và ngày thứ 7 của sứ mệnh STS-117 trên trạm ISS, một máy tính đã bị trục trặc dẫn đến ngừng hoạt động trong khu vực của Nga lúc 06:30 UTC làm cho phần bên trái của trạm không có lực ép, mất sự cung cấp ôxi, máy lọc carbon dioxide ngừng hoạt động, và các hệ thống kiểm soát môi trường khác cũng ngừng hoạt động, nguyên nhân dẫn đến máy tính bị hỏng là do nhiệt độ tăng quá cao. Khi máy tính khởi động lại thành công đã dẫn đến một báo động hỏa hoạn sai, báo động này đã đánh thức phi hành đoàn vào lúc 11:43 UTC. Hai hệ thống máy tính (chỉ huy và dẫn đường) từng hệ thống bao gồm 3 máy tính kết nối. Mỗi máy tính được gán như một Lane. Ngày 15 tháng 6, máy tính chính của Nga được kết nối trực tuyến trở lại và việc liên lạc với phần khu vực của Hoa Kỳ trên trạm đã phải sử dụng đường dây khác. Những hệ thống phụ chưa kết nối trực tuyến và làm các công việc cần giải quyết khác. NASA có những chọn lựa để gia hạn hoạt động của STS-117 nếu những vấn đề không thể được giải quyết và họ đã định "lựa chọn để từ giã" nếu ít nhất một trong số những máy tính trên trạm không được kiểm soát ổn định và 3 thành viên phi hành đoàn phải ngay lập tức quay trở lại Trái Đất bằng tàu con thoi Atlantis. Nếu không có máy tính để kiểm soát mức ôxi, trạm ISS chỉ có 56 ngày sử dụng số ôxi dự trữ còn lại. Vào buổi chiều ngày 16 tháng 6, giám đốc chương trình ISS là Michael Suffredini đã xác nhận tất cả 6 máy tính chính trong hệ thống điều khiển và dẫn đường, bao gồm cả 2 chiếc máy tính có khả năng suy nghĩ đã bị hỏng, khu vực của Nga trên trạm đã được kết nối trực tuyến trở lại và sẽ được kiểm tra bên trong vào khoảng thời gian từ 1 đến 2 ngày sau. Hệ thống làm lạnh là hệ thống đầu tiên được kết nối lại. NASA tin tưởng những mạch bảo vệ dòng siêu tải được thiết kế sẽ bảo vệ mỗi máy tính khỏi sự cố đột biến năng lượng và giúp máy tính tránh được hiện tượng giao thoa tăng lên, hay "tạp nhiễu", từ môi trường plasma của trạm có liên quan đến sự bổ sung của giàn đỡ bên phải và các tấm pin năng lượng mặt trời. Sự phân tích những hỏng hóc liên tiếp trong hệ thống máy tính trên trạm ISS, sẽ giúp cho Mô-đun phòng thí nghiệm Columbus và tàu vận tải không người lái ATV của ESA tránh được các hỏng hóc tương tự như trên ISS, do hầu hết các hệ thống máy tính đều cùng được cung cấp bởi công ty EADS Astrium Space Transportation. Theo giám đốc của chương trình ISS của NASA là Michael Suffredini, giả thiết về trường plasma gây ra hỏng hóc cho trạm đã bị bác bỏ khi hình dạng của trạm thay đổi do thêm vào các đoạn giàn đỡ mới hay "khi trạm càng lớn, điện thế sẽ tiếp tục tăng lên" và "người Nga đã lưu ý đến những thay đổi trong hệ thống của họ khi mà chúng ta đang phát triển." == Các tàu vũ trụ đã kết nối với ISS == Phi thuyền con thoi - phương tiện chuyên chở bộ phận lắp ráp, hậu cần và luân chuyển các phi hành đoàn (đã được nghỉ hưu vào đầu năm 2011). Tàu vũ trụ Soyuz - luân chuyển phi hành đoàn và làm phương tiện cứu hộ khẩn cấp, được thay thế 6 tháng một lần. Tàu vận tải Tiến bộ - phương tiện chuyên chở hàng hóa. Tàu vận tải tự hành (Automated Transfer Vehicle - ATV) của cơ quan không gian châu Âu (ESA) là tàu vũ trụ không người lái cung cấp đồ tiếp tế (gồm cả các giá đựng (rack)) cho trạm ISS (phóng lên lần đầu vào tháng 3 năm 2008). === Các tàu trong kế hoạch === Tàu vận tải H-II (HTV) của Nhật Bản (JAXA), dùng để mang hàng hóa và thiết bị (sẽ phóng vào cuối năm 2009). Tàu Orion có thể dùng để luân chuyển phi hành đoàn và cung cấp khả năng vận tải (dự kiến bắt đầu hoạt động vào năm 2014 thay cho tàu con thoi) === Các tàu trong đề án === SpaceX Dragon được sử dụng cho chương trình Dịch vụ vận chuyển quỹ đạo thương mại của NASA (lên kế hoạch phóng vào năm 2009) Rocketplane Kistler Phương tiện K-1 được sử dụng cho chương trình Dịch vụ vận chuyển quỹ đạo thương mại của NASA (lên kế hoạch phóng vào năm 2009) Phi thuyền con thoi của Nga mang tên Kliper có thể được dùng để vận chuyển phi hành đoàn và cung cấp khả năng chuyên chở (lên kế hoạch phóng vào năm 2012) Hệ thống vận chuyển người vào không gian Soyuz được bắt đầu bằng sự hợp tác giữa Nga-Châu Âu để luân chuyển phi hành đoàn và vận chuyển hàng hóa (lên kế hoạch phóng vào năm 2014) == Các cuộc hành trình lên ISS == Mọi phi hành đoàn đến trạm ISS thường xuyên đều được mang tên là "Expedition N", ở đây N là số thứ tự của chuyến hành trình đến ISS. Các chuyến hành trình thường kéo dài trong khoảng nửa năm. Trong lịch sử trạm vũ trụ quốc tế phần lớn các chuyến viếng thăm trạm là do các tàu vũ trụ thực hiện. Kể từ 11 tháng 9 năm 2006, đã có 159 lượt người (không phân biệt rõ ràng) đặt chân đến trạm ISS. Trạm Mir có 137 lượt người (không phân biệt rõ ràng) đặt trên đến trạm (Xem Trạm vũ trụ). Số lượng người được xác định đến trạm ISS để làm nhiệm vụ là 124 người (xem Danh sách người đến thăm Trạm vũ trụ quốc tế). == Những khía cạnh pháp luật == === Thỏa thuận === Kết cấu pháp lý đã quy định việc xây dựng trạm vũ trụ được phân thành nhiều phần. Phần đầu tiên được soạn thảo nhằm mục đích thiết lập những trách nhiệm và quyền lợi giữa những đối tác xây dựng trạm ISS theo Hiệp định Tồn tại Trạm vũ trụ (IGA), một hiệp ước quốc tế được ký vào ngày 28 tháng 1 năm 1998 bởi 15 chính phủ có liên quan đến dự án Trạm vũ trụ. Gồm có Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Liên bang Nga và 11 thành viên khác thuộc Cơ quan Vũ trụ châu Âu (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Anh). Điều 1 đã thảo ra những nét chính của mục đích dự án: "Hiệp định này là một khung hợp tác quốc tế dài hạn trên cơ sở của quan hệ đối tác xác thực, đối với thiết kế chi tiết, sự phát triển, hoạt động, và sử dụng trạm vũ trụ dân sự có người ở lâu dài với mục đích hòa bình, theo luật pháp quốc tế". Phần thứ hai của hiệp định IGA đặt ra giai đoạn hợp tác giữa những thành viên ký hiệp định được đề cập với tên gọi "Biên bản ghi nhớ" (Memoranda of Understanding - MOU), nêu ra 4 vấn đề hợp tác giữa NASA và mỗi đối tác trong 4 đối tác khác. Không có biên bản giữa ESA, Roskosmos, CSA và JAXA vì thực tế NASA được coi như là "giám đốc" của dự án ISS. MOU được sử dụng để miêu tả những vai trò và trách nhiệm của những đối tác chi tiết hơn. Phần thứ 3 gồm có sự thay đổi những thỏa thuận bằng hợp đồng hay dịch vụ thương mại trong quyền lợi và nhiệm vụ của các đối tác, bao gồm thỏa thuận khung thương mại giữa NASA và Roskosmos vào năm 2005, nó có 4 điều khoản và điều kiện theo sau, trong đó NASA sẽ sử dụng khả năng vận chuyển phi hành đoàn, hàng hóa của tàu vũ trụ Soyuz và tàu không người lái Tiến bộ để chuyên chở lên trạm ISS. Phần pháp lý thứ 4 là những thỏa thuận thi hành và bổ sung, gồm 4 Biên bản ghi nhớ nữa. Đáng chú ý trong số đó là luật lệ quản lý ISS, được đặt ra để các quy định về quyền xét xử người phạm tội, chống quấy nhiễu và một số hành vi khác liên quan đến phi hành đoàn trên ISS. === Phân chia quyền lợi sử dụng === Không có tỷ lệ phần trăm cố định trong quyền sở hữu đối cho toàn bộ trạm vũ trụ. Điều 5 của hiệp định IGA đã chỉ ra điều đó: "mỗi đối tác sẽ được giữ quyền hạn và quyền kiểm soát đối với các yếu tố được đăng ký và đối với nhân sự trong hoặc trên Trạm vũ trụ thuộc quốc gia của mình". Bởi vậy, mỗi mô-đun của ISS chỉ có duy nhất một quốc gia có quyền sở hữu. Còn những thỏa thuận để sử dụng những phương tiện trên trạm vũ trụ phức tạp hơn rất nhiều. Ba mô-đun trong kế hoạch của người Nga là Zvezda, Mô-đun Phòng thí nghiệm Vạn năng và Mô-đun Nghiên cứu Nga, chúng đều được chế tạo và sở hữu bởi Liên bang Nga, và chúng sẽ vẫn do Nga sở hữu trong thời điểm hiện nay và tương lai (Zarya, dù được thiết kế chế tạo và phóng lên không gian bởi Nga, nhưng kinh phí lại do NASA chi trả, do đó chính thức thì Zarya thuộc về quyền sở hữu của NASA). Để sử dụng những bộ phận của Nga trên trạm, những đối tác khác sẽ phải sử dụng hiệp ước song phương (phần thứ 3 và 4 trong kết cấu pháp lý). Phần còn lại của trạm, (môđun điều áp của Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản cũng như những giàn đỡ, các tấm pin năng lượng mặt trời và 2 cánh tay máy) đã được thỏa thuận sử dụng theo tỷ lệ sau (tỷ lệ % phụ thuộc thời gian mà mỗi kết cấu có thể được sử dụng bởi mỗi đối tác): Columbus: 51% cho ESA, 49% cho NASA và CSA (CSA đã thỏa thuận với NASA để sử dụng 2,3% công trình không thuộc sở hữu của Nga trên ISS) Kibo: 51% cho JAXA, 49% cho NASA và CSA (2,3%) Phòng thí nghiệm Destiny: 100% cho NASA và CSA (2,3%) Thời gian phi hành đoàn lưu lại và năng lượng từ kết cấu pin mặt trời, cũng như quyền lợi liên quan đến dịch vụ hỗ trợ (dịch vụ tải lên/tải xuống dữ liệu và thông tin liên lạc) 76,6% cho NASA, 12.8% cho JAXA, 8,3% cho ESA và 2,3% cho CSA == Chi phí xây dựng == Chi phí để xây dựng trạm ISS tính đến hiện nay đã vượt xa những tính toán trước đây. ESA đánh giá chi phí toàn bộ từ khi bắt đầu dự án vào cuối thập niên 1980 đến khi trạm hoàn thành vào năm 2010 sẽ vào khoảng 130 tỷ USD (100 tỷ euro). Rất khó để xác định chính xác chi phí xây dựng trạm ISS: ví dụ, khó có thể xác định được những khoản đóng góp của Nga trong chương trình ISS hay có bao nhiêu khoản đóng góp của Nga đã được thực hiện đều đặn, cũng do những chi phí của Cơ quan Vũ trụ Nga thấp hơn khi đổi sang USD so với các đối tác khác. === NASA === ==== Tổng quan ==== Phần lớn toàn bộ những chi phí do NASA bỏ ra đều được dùng để duy trì hoạt động của các chuyến bay và toàn bộ chi phí cho việc quản lý toàn bộ trạm ISS. Những chi phí ban đầu là chế tạo các phần của mô-đun ISS, cấu trúc ngoài ở tại mặt đất và xây dựng trong không gian, cũng như huấn luyện phi hành đoàn và những chuyến bay tiếp tế tới ISS, sao cho chi phí ít hơn so với chi phí hoạt động chung khi dự toán. NASA không tính chi phí chương trình Phi thuyền con thoi vào tổng chi phí xây dựng chương trình ISS, dù Tàu con thoi đã được chỉ định sử dụng riêng cho việc xây dựng và tiếp tế cho ISS từ tháng 12 năm 1998 (Từ năm 2002 chỉ có 2 sứ mệnh STS-107 và STS-125 là không liên quan tới ISS). Ngân sách chi phí cho các hạng mục của ISS trong những năm từ 1994 đến 2005 của NASA (không tính chi phí về tàu con thoi) là 25,6 tỷ USD. Từ năm 2005 đến 2006, khoảng 1,7 đến 1,8 tỷ USD đã được giải ngân cho chương trình ISS. Chi phí hàng năm sẽ tăng thêm cho đến năm 2010 khi ngân sách một năm dành cho ISS sẽ đạt là 2,3 tỷ USD và dừng lại ở mức ngân sách này, tuy nhiên chi phí sẽ được điều chỉnh theo lạm phát, cho đến năm 2016, thời điểm kết thúc chương trình. NASA đã cấp từ 300 đến 500 triệu USD gọi là chi phí cho "sự đóng cửa" chương trình vào năm 2017. ==== Ngân sách dành cho ISS năm 2005 ==== Có 1,8 tỷ USD đã được chi trong năm 2005 gồm các phần: Phát triển những phần cứng mới: 70 triệu USD đã được chi cho những sự phát triển trọng tâm, ví dụ như phát triển hệ thống dẫn đường, hỗ trợ dữ liệu hay môi trường. Hoạt động của trạm vũ trụ: 800 triệu USD gồm có 125 triệu USD cho toàn bộ phần mềm, hệ thống hoạt động bên ngoài tàu, hậu cần và bảo dưỡng. 150 triệu USD bổ sung được chi dùng cho các chuyến bay, hệ thống điện tử hàng không và phi hành đoàn. 250 triệu USD được sử dụng cho việc quản lý toàn bộ ISS. Hoạt động phóng và sứ mệnh của tàu con thoi: Mặc dù chi phí phóng tàu con thoi không nằm trong ngân sách của ISS, nhưng các sứ mệnh và sứ mệnh hợp nhất của những tàu con thoi vẫn chiếm 300 triệu USD, hỗ trợ y học 25 triệu USD và sửa chữa địa điểm phóng tàu con thoi chiếm 125 triệu USD trong ngân sách của ISS. Chương trình hợp nhất hoạt động: 350 triệu USD đã được chi cho việc giữ gìn và duy trì các chuyến bay, nền phần cứng, phần mềm để bảo đảm sự toàn vẹn trong thiết kế và liên tục mở rộng của trạm ISS. Hàng hóa/phi hành đoàn trên ISS: 140 triệu USD được dành cho việc cung cấp hàng tiếp tế, hàng hóa, phi hành đoàn lên trạm bằng các chuyến bay trên tàu vũ trụ Progress và Soyuz. ==== Chi phí dành cho tàu con thoi như một phần trong chi phí của ISS ==== Chỉ có chi phí cho các sứ mệnh, sứ mệnh hợp nhất và chuẩn bị bệ phóng cho 33 chuyến bay của tàu con thoi phục vụ trong chương trình ISS là thuộc vào chi phí cho dự án của NASA. Những chi phí cơ bản của chương trình tàu con thoi, như đề cập ở trên, không phải là một phần được xem xét trong toàn bộ những chi phí bởi NASA cho chương trình ISS, vì chương trình tàu con thoi được coi là một chương trình độc lập đối với trạm ISS. Từ tháng 12 năm 1998 tàu con thoi, tuy nhiên, gần như chỉ sử dụng dành riêng cho các chuyến bay lên trạm ISS (kể từ chuyến bay đầu tiên lên ISS vào tháng 12 năm 1998, đến tháng 12 năm 2006, chỉ có 5 chuyến bay của tàu con thoi ngoài 25 chuyến bay khác là không dùng cho chương trình ISS, và chỉ có kế hoạch bảo dưỡng Kính viễn vọng Hubble dự kiến sẽ diễn ra vào năm 2009 (xem STS-125) là không liên quan đến ISS, trong khi có tới 14 kế hoạch phóng tàu dành cho ISS cho đến khi kết thúc chương trình tàu con thoi vào năm 2010). Chi phí của chương trình tàu con thoi trong thời gian ISS hoạt động từ năm 1999 đến năm 2005 (không tính đến chuyến bay đầu tiên lên ISS vào tháng 12 năm 1998) đã có giá trị xấp xỉ khoảng 24 tỷ USD (năm 1999: 3.028,0 triệu USD, năm 2000: 3.011,2 triệu USD, năm 2001: 3.125,7 triệu USD, năm 2002: 3.278,8 triệu USD, năm 2003: 3.252,8 triệu USD, năm 2004: 3.945,0 triệu USD, năm 2005: 4.319,2 triệu USD). Trong những chi phí liên quan đến ISS, những chi phí của các chuyến bay không liên quan đến ISS cần phải trừ đi, con số này chiếm khoảng 20% trong tổng số hay gần 5 tỷ USD. Trong khoảng thời gian 2006-2011, NASA dự kiến sẽ chi khoảng 20,5 tỷ USD cho chương trình tàu con thoi (2006: 4.777,5 triệu USD, năm 2007: 4.056,7 triệu USD, năm 2008: 4.087,3 triệu USD, năm 2009: 3.794,8 triệu USD, năm 2010: 3.651,1 triệu USD, năm 2011: 146,7 triệu USD). Nếu sứ mệnh bảo dưỡng Hubble được loại trừ khỏi những chi phí đó, thì chi phí cho các chuyến bay của tàu con thoi liên quan đến ISS sẽ xấp xỉ khoảng 19 tỷ USD từ năm 2006 đến 2011. Tổng cộng, chi phí chương trình tàu con thoi liên quan đến ISS sẽ xấp xỉ khoảng 38 tỷ USD. ==== Tổng chi phí của NASA cho ISS ==== Giả sử NASA chi trung bình 2,5 tỷ USD từ năm 2011 đến 2016 và đến khi kết thúc việc chi tiền cho trạm ISS vào năm 2017 (khoảng 300-500 triệu USD) sau khi kết thúc dự án vào năm 2016, thì tổng chi phí dự án ISS của NASA kể từ khi công bố chương trình vào năm 1993 đến khi kết thúc là vào khoảng 53 tỷ USD (25,6 tỷ cho giai đoạn từ 1994-2005 và khoảng 27 đến 28 tỷ cho giai đoạn từ 2006-2017). Ở đây cũng phải kể đến những chi phí đáng kể để thiết kế Trạm vũ trụ Tự do vào thập niên 1980 và đầu những năm 1990, trước khi chương trình ISS bắt đầu vào năm 1993. Những kế hoạch của Trạm vũ trụ Tự do được sử dụng lại cho Trạm vũ trụ Quốc tế. Tính tổng cộng, mặc dù chi phí hiện nay của NASA cho trạm ISS được công bố trên các phương tiện truyền thông là khoảng 50 tỷ USD, nhưng nếu còn tính cả chi phí cho chương trình tàu con thoi và thiết kế trạm vũ trụ Tự do thì tổng chi phí mà một mình NASA phải chi ra là trên 100 tỷ USD. === ESA - Cơ quan Vũ trụ châu Âu === ESA tính toán rằng đóng góp của họ trong 30 năm tồn tại của dự án sẽ là 8 tỷ €. Chi phí cho Phòng thí nghiệm Columbus tổng cộng sẽ hơn 1 tỷ € (euro), chi phí phát triển cho ATV (tàu vận tải tự hành) là hơn 100 triệu € và khi dùng tên lửa Ariane 5 phóng lên không gian thì chi phí sẽ hết khoảng 150 triệu € mỗi lần phóng, mỗi tàu ATV phóng lên sẽ phải chi thêm một khoản ngân sách nữa. Ngoài ra ESA đã xây dựng một trạm điều khiển mặt đất ở miền Nam nước Đức để điều khiển Phòng thí nghiệm Columbus. === JAXA - Cơ quan Thám hiểm Không gian Nhật Bản === Việc phát triển Phòng thí nghiệm Kibo chính là sự đóng góp chính của JAXA cho sự án ISS, nó có giá trị khoảng 350 tỷ Yên (khoảng 2.8 tỷ USD) Vào năm 2005, JAXA đã chi khoảng 40 tỷ Yên (khoảng 350 triệu USD) cho chương trình ISS. Những chi phí vận hành hàng năm của Kibo tổng cộng khoảng từ 350 đến 400 triệu USD. Ngoài ra JAXA đã cam kết tự mình phát triển và phóng tàu vận tải-HTV, do đó tổng chi phí là gần 1 tỷ USD. Như vậy trong vòng 24 năm tồn tại của chương trình ISS, JAXA sẽ đóng góp trên 10 tỷ USD cho chương trình này. === Roskosmos - Cơ quan Vũ trụ Liên bang Nga === Một phần đáng kể ngân sách của Cơ quan Vũ trụ Nga được sử dụng cho ISS. Từ năm 1998 đã có trên 24 chuyến bay của các tàu vũ trụ Soyuz và Progress, chủ yếu được sử dụng để chuyên chở phi hành đoàn, và vận chuyển hàng hóa từ năm 2003. Một câu hỏi được đặt ra là Nga đã chi bao nhiêu cho trạm quốc tế (tính ra USD), tuy nhiên không dễ dàng đối với câu trả lời. Hai mô-đun hiện thời trong quỹ đạo đều bắt nguồn từ chương trình Mir và bởi vậy những chi phí cho phát triển là thấp hơn nhiều so với những mô-đun khác. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái giữa đồng rúp và USD không tương xứng, và nó không đủ chính xác để đưa ra một sự so sánh thực sự cho những chi phí mà Nga đã thực sự chi trả. === CSA - Cơ quan Không gian Canada === Đóng góp chính của Canada cho trạm ISS là Canadarm2 (hệ thống bảo dưỡng lưu động), trong khoảng thời gian 20 năm qua, Canada đã đóng góp gần 1,4 tỷ đô la Canada cho kinh phí của trạm ISS. == ISS nhìn từ Trái Đất == Có thể quan sát Trạm vũ trụ Quốc tế từ mặt đất bằng mắt thường bởi vì trạm có kích thước lớn và trạm có các tấm pin mặt trời có khả năng phản chiếu ánh sáng mạnh. Quả thực, ISS là vật sáng nhất có thể quan sát được trên bầu trời. Một khi trạm trong quỹ đạo Trái Đất, thì còn cần cả góc Mặt Trời và vị trí người quan sát cũng trùng khớp thì mới có thể nhìn thấy trạm, nó chỉ rõ ràng trong một thời gian ngắn. NASA cung cấp dữ liệu để có thể nhìn thấy trạm ISS từ mặt đất thông qua trang web Sightings, và tại trang web của Cơ quan Vũ trụ châu Âu . == Những chuyện ngoài lề == === Đám cưới và du lịch trong vũ trụ === Tính đến năm 2007, đã có 5 khách du lịch đến thăm trạm ISS. Để lên tới đây bằng tàu vũ trụ của Nga, mỗi người phải trả từ 20 đến 25 triệu USD. Trên ISS cũng đã tổ chức hôn lễ cho nhà du hành vũ trụ Yuri Ivanovich Malenchenko với Ekaterina Dmitrieva trong khi cô dâu đang ở tại bang Texas, Hoa Kỳ. Hôn lễ diễn ra vào ngày 10 tháng 8 năm 2003, giờ Texas. Đánh golf vòng quanh thế giới là một sự kiện đặc biệt diễn ra trên trạm, trong một chuyến đi bộ không gian, một quả bóng golf đặc biệt, trang bị một thiết bị theo dõi, đã được đánh đi từ trạm và nhắm vào quỹ đạo thấp của trạm, chi phí do một công ty chuyên trang bị dụng cụ golf của Canada chi trả cho Cơ quan Hàng không Liên bang Nga để họ thực hiện công việc này. Nhiệm vụ này ban đầu dự định thực hiện trong chuyến bay Expedition 13, nhưng đã bị hoãn lại, rồi được thực hiện trên Expedition 14. === Vi trọng lực === Trên độ cao của trạm ISS, trọng lực của Trái Đất đã giảm mất 88% so với ở trên mặt đất. Trạng thái mất trọng lượng xảy ra do trạm rơi vào hiện tượng rơi tự do, nó tuân theo nguyên lý tương đương, ở đây trọng lượng đã biến mất. Tuy nhiên, vì (1) còn có lực kéo từ khí quyển, (2) dao động gia tốc do hệ thống máy móc và phi hành đoàn trên ISS, (3) sự hiệu chỉnh quỹ đạo trên trạm ISS do con quay hồi chuyền hoặc lực đẩy, và (4) sự tình trạng chia cắt không gian từ khối tâm của ISS, môi trường trên trạm thường được mô tả là môi trường vi trọng lực, với mức trọng lực từ 2 đến 1000 phần 1 triệu của g (giá trị sẽ thay đổi nếu tần số nhiễu loạn thay đổi; giá trị thấp xảy ra ở tần số dưới 0,1 Hz, giá trị lớn xảy ra ở tần số 100 Hz hoặc hơn). == Xem thêm == Danh sách người đến thăm Trạm vũ trụ quốc tế Danh sách các chuyến đi bộ ngoài không gian trên ISS được thực hiện do các nhà du hành bước ra ngoài khoảng không từ trạm ISS hoặc từ tàu vũ trụ đến trạm Danh sách các chuyến bay do người điều khiển đến ISS, đây là một danh sách theo thứ tự thời gian các tàu vũ trụ do người lái đã đến ISS, bao gồm các phi hành đoàn trên từng chuyến bay Danh sách các chuyến bay không người lái đến ISS — Tàu Tiến bộ cung cấp các chuyến bay và tự động kết nối vào mô-đun của trạm ISS === Những bài khác === Trạm vũ trụ Tàu vũ trụ Soyuz Tàu vận tải Tiến bộ Mir Salyut Skylab X-38 Transhab Kliper Thang máy không gian Lunar Thiết bị mô phỏng bay chuyến bay không gian Chinh phục vũ trụ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trạm vũ trụ Quốc tế tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Trang web của các cơ quan không gian tham gia và liên quan đến dự án ISS Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của NASA Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của CSA Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của Energia Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của ESA Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của JAXA Missoes cientificas - Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của AEB 10/7/2008 Trạm vũ trụ Quốc tế trên trang web của ASI Các links khác liên quan đến ISS Listen to the ISS - transmission frequencies CNN page with 3D model NASA Space Station Gallery NASA Scale Model Drawing Package ISS Expedition Experiment List - Danh sách các cuộc thí nghiệm được thực hiện trên ISS được sắp xếp theo các chuyến hành trình. Experiment List - Alphabetical - Danh sách các cuộc thí nghiệm trên ISS được sắp xếp tên gọi của ISS Familiarization and Training Manual - NASA July 1998 (PDF format) Current ISS Vital Statistics International Space Station từ Bách khoa toàn thư Ngành vũ trụ (quá hạn) See the ISS from your home town Space Station Newsgroup - sci.space.station ISS Fanclub ISS safety report Detailed list of cancelled components International Space Station 04/16/07: Consolidated Launch Manifest: Space Shuttle Flights and ISS Assembly Sequence. NASAspaceflight.com ISS forum Quỹ đạo trạm vũ trụ quốc tế được điều chỉnh cao thêm 7 km http://www.vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2008/02/3B9FF1D6/ http://www.ilek-ural.narod.ru/bloki/bloki.htm
andy warhol.txt
Andy Warhol (6 tháng 8 năm 1928 – 22 tháng 2 năm 1987) là một họa sĩ người Mỹ gốc Rusyn nổi tiếng về nghệ thuật đại chúng (Pop Art). Ông thường sơn tranh hậu hiện đại và thương mại và viết phim tiền phong. Tác phẩm của ông khám phá mối quan hệ giữa nghệ thuật biểu hiện, văn hóa của những người nổi tiếng, và thời kỳ quảng cáo nở rộ của những năm 1960. Sau một sự nghiệp thành công với tư cách một họa sĩ minh họa thương mại, Warhol đã trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và đôi khi gây nhiều tranh cãi. Nghệ thuật của ông đã sử dụng nhiều loại phương tiện truyền thông, bao gồm cả bản vẽ tay, tranh vẽ, tranh in, nhiếp ảnh, ảnh lụa, điêu khắc, điện ảnh và âm nhạc. Studio của ông, The Factory, là nơi tụ tập nổi tiếng quy tụ trí thức có tiếng, trai giả gái, nhà viết kịch, người sống theo phong cách Bohemian, người nổi tiếng Hollywood, và các nhân vật giàu có. Ông quản lý và sản xuất cho ban nhạc The Velvet Underground, một ban nhạc rock đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nhạc punk rock. Ông thành lập tạp chí Interview và là tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có The Philosophy of Andy Warhol và Popism: The Warhol Sixties. Ông cũng nổi tiếng là một người đàn ông đồng tính đã sống một cách công khai như vậy trước khi có phong trào giải phóng người đồng tính, và ông được ghi nhận với khái niệm danh xưng được sử dụng rộng rãi "15 phút huy hoàng". Warhol đã là chủ đề của nhiều cuộc triển lãm hồi tưởng quá khứ, sách, và phim tài liệu. Bảo tàng Andy Warhol ở thành phố quê hương của ông, Pittsburgh, Pennsylvania, nắm giữ một bộ sưu tập lớn của các bộ sưu tập nghệ thuật, và là bảo tàng lớn nhất tại Mỹ dành cho một nghệ sĩ duy nhất. Nhiều tác phẩm trong số những sáng tác của ông rất hấp dẫn các nhà sưu tập và có giá trị cao. Giá cao nhất từng được trả cho một bức tranh của Warhol là 105 triệu USD cho một bức tranh vẽ năm 1963 có tựa đề "Silver Car Crash (Double Disaster)"; một số tác phẩm của ông có tên trong danh sách các họa phẩm đắt giá nhất. Một bài báo năm 2009 của tạp chíThe Economist mô tả Warhol là "người đi đầu của thị trường nghệ thuật". == Tuổi thơ và thời trẻ (1928–49) == Warhol sinh ngày 6 tháng 8 năm 1928 tại Pittsburgh, Pennsylvania. Ông là con thứ tư của Ondrej Warhola (tên Mỹ hóa: Andrew Warhola, Sr., 1889–1942) và Julia (nhũ danh Zavacká, 1892–1972). Hai vợ chồng có đứa con đầu tiên được sinh ra tại quê hương của họ và đã chết trước khi họ di cư tới Hoa Kỳ. Cha mẹ ông là những người di dân Lemko tầng lớp lao động từ Mikó (Miková ngày nay), nằm ở phía Đông Bắc của Slovakia ngày nay, lúc đó là một phần của Đế quốc Áo-Hung. Cha của Warhol di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1914, và mẹ anh cũng di cư vào năm 1921, sau cái chết của ông bà Warhol. Cha của Warhol làm việc tại một mỏ than. Gia đình sống ở 55 Beelen Street và sau đó chuyển tới 3252 Dawson Street, Oakland, Pittsburgh. Gia đình theo đạo Công giáo Byzantine và đi lễ nhà thờ thánh Gioan Byzantine Công giáo. Andy Warhol có hai người anh-Pavol (Paul) anh cả được sinh ra trước khi gia đình di cư; Ján được sinh ra tại Pittsburgh. Người con trai của Pavol, James Warhola, trở thành họa sĩ minh họa sách truyện cho trẻ em. Năm lên lớp ba, Warhol đã mắc bệnh Sydenham (còn được gọi là điệu múa của Thánh Vitus), một bệnh về hệ thần kinh gây ra chuyển động tự phát của các chi, mà được cho là một biến chứng của sốt thấp khớp, gây ra vệt nám da. Ông trở thành một người bệnh thần kinh với nỗi sợ hãi các bệnh viện và bác sĩ. Thường phải nằm liệt giường như một đứa trẻ, ông đã trở thành một kẻ bị ruồng bỏ ở trường và dính chặt với mẹ. Khi ông phải nằm liệt giường, ông đã vẽ tranh, lắng nghe các đài phát thanh và sưu tập hình ảnh của các ngôi sao điện ảnh để xung quanh giường của mình. Sau này Warhol đánh giá giai đoạn này rất quan trọng trong sự phát triển nhân cách, thiết lập kỹ năng và sở thích của ông. Khi Warhol 13 tuổi, cha ông qua đời trong một tai nạn. Warhol tốt nghiệp Trung học Schenley vào năm 1945. Sau khi tốt nghiệp trường trung học, ý định của ông là nghiên cứu giáo dục nghệ thuật tại Đại học Pittsburgh với hy vọng trở thành một giáo viên nghệ thuật, nhưng kế hoạch thay đổi và ông ghi danh vào Đại học Carnegie Mellon tại Pittsburgh với chuyên ngành nghệ thuật quảng cáo. Trong suốt thời gian sinh viên, Warhol đã gia nhập câu lạc bộ Dance hiện đại và Hiệp hội nghệ thuật Beaux của trường. Ông cũng từng là giám đốc nghệ thuật của tạp chí nghệ thuật sinh viên, Cano, vẽ tranh bìa năm 1948 và một tranh minh họa cả trang bên trong vào năm 1949. Các bức tranh trên được cho là hai tác phẩm nghệ thuật đầu tiên của ông được xuất bản. Warhol tốt nghiệp cử nhân thiết kế hình ảnh năm 1949. Cuối năm đó, ông chuyển đến thành phố New York và bắt đầu sự nghiệp minh họa tạp chí và quảng cáo. == Thư viện ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Quỹ Warhol (tiếng Anh) Viện bảo tàng Andy Warhol tại Pittsburgh, Pennsylvania, Hoa Kỳ (tiếng Anh) Viện bảo tàng Gia đình Warhol tại Medzilaborce, Slovakia (tiếng Anh) Andy Warhol tại Internet Movie Database “Andy Warhol”. Find A Grave. Ngày 1 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009. Time Capsules: the Andy Warhol collection “Andy Warhol”. New York City: Museum of Modern Art. 2007. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009. Warholstars: Andy Warhol Films, Art and Superstars Pop Art Masters - Andy Warhol Art Directors Club biography, portrait and images of work Bauman, Joe; Angelyn Hutchinson (ngày 17 tháng 12 năm 2007). “Andy Warhol Didn't Sleep Here: The Utah Hoax”. KUTV. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009. Berens, Stephen; Brian Tucker (Fall 2002). “Responses to Warhol Retrospective at MOCA”. X-TRA (Los Angeles: Project X Foundation for Art and Criticism) 5 (1). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009. "Warhol, Soup Cans, Cowboys" (Studio 360 radio program, 10 tháng 12 năm 2005) exhibition of 10 statues of liberty in Gallerie Lavignes bastille, Paris 1986 The Andy Warhol Museum of Modern Art - city of origin
xe đạp lòng chảo.txt
Đua xe đạp lòng chảo là môn có trong Olympic. Xe đạp lòng chảo gồm rất nhiêu nội dung, một vòng chảo thường là 250m ở đáy chảo, và dài hơn nhiều ở miệng chảo. Đua xe đạp lòng chảo rất khác biệt so với xe đạp đường trường, là môn khá tốn kinh phí và nguy hiểm, xe đạp đua được thiết kế chắc chắn hơn xe đua thường (tất nhiên nặng hơn), bánh thường đặc để triệt tiêu lực cản do căm xe đập vào không khí tạo ra. Vận động viên xe đạp lòng chảo thường tránh dẫn đầu cho đến những phút cuối. Ngoài tốc độ, thể lực và sức bền, còn phải có óc quan sát phán đoán tốt, kỹ năng chạy chậm tốt, biết đưa ra chiến thuật hợp lý một cách nhanh nhất. == Các nội dung thi == === Đua cá nhân tính giờ === Đơn giản nhất, mỗi người leo lên xe 1 mình 1 ngựa hoàn thành 1 cự ly được quy định (thường mấy trăm mét đến vài km tùy nội dung), ai ít giờ thắng. === Đua tốc độ === Thường 2 vận động viên đấu với nhau, khi ra đường đua họ sẽ đứng kế nhau. Lúc xuất phát họ có khoảng 2 hoặc 3 vòng chạy khởi động làm nóng, giai đoạn này 2 tay đua thường chạy chậm và cố tìm cách chạy sau đối phương. Lúc sắp hết 2 vòng khởi động họ bắt đầu tăng tốc sao cho khi xe cán vào vạch xuất phát màu đen cũng là lúc xe đạt vận tốc cao nhất. Khi xe đầu tiên cán vào vạch xuất phát màu đen thì sẽ có tiếng kẻng báo động bắt đầu chính thức phần thi tăng tốc, phần này chỉ dài có 200m (ít hơn 50m so với 1 vòng đua). Trước khi cán vạch xuất phát, các tay đua sẽ vừa tăng tốc vừa lái xe lên miệng chảo để khi vừa qua vạch xuất phát họ lao xe từ miệng chảo vào đáy chảo, tận dụng trọng lức giúp tăng thêm tốc độ. Kết quả cuộc đua được tính bằng giây từ khi xe cán vạch đen xuất phát đến khi xe cán vạch đích. Tay đua nào cán đích trước thì chiến thắng hiển nhiên nhưng tay đua đến sau cũng còn cơ hội lọt vào vòng tiếp nếu số giây ít hơn những tay đến sau khác. Giai đoạn đầu các tay đua thường cố chạy sau đối phương để tận dụng luồng gió mà đối phương tạo ra làm lực đẩy cho mình, như vậy họ giữ sức cho đôi chân đến những giây cuối mới bung hết sức. Các tay đua chạy trước cũng có chiến thuật, họ có thể "ép" đối phương lên cao hơn khiến đường chạy của đối phương dài hơn mình. Khi vượt đối thủ từ phía sau, tay đua phải ở đúng line của mình không được ép lấn line đối thủ cho đến khi đuôi xe vượt khỏi bánh trước của đối thủ thì mới được ép vào line trong, nếu ép đối thủ trong lúc vượt xem như tự thua. Chống chân xuống đất hoặc ngã xe cũng xem như tự thua. Nội dung đua tốc độ thường được chọn làm vòng loại để lọc vận động viên vào vòng trong các nội dung khác, nó cũng có thể có huy chương, tùy thể lệ. === Đua thể lực === Thường đua 4 km nam và 3 km nữ, tức 16 vòng và 12 vòng. 2 tay đua xuất phát cùng lúc từ 2 vị trí đối xứng trên lòng chảo, cố chạy hoàn thành 4 km nhanh nhất có thể. Bị đối phương bắt kịp từ phía sau xem như thua (bị vậy thì thua sớm cao cờ là đúng rồi). Kết quả tính bằng giây, so kè từng cặp loại nhau hoặc tính chung tùy thể lệ. Đua thể lực đồng đội nam gồm 4 tay đua 16 km, nữ 3 tay 9 km. Các đồng đội chạy nối đuôi nhau, cứ hết 1 vòng chảo thì người chạy đầu lách lên cao nhường cho người thứ 2 lên chạy đầu, người thứ 3 lên thứ 2… người chạy đầu nối vào vị trí cuối. 2 đội cũng xuất phát từ 2 vị trí đối xứng nhau qua tâm chảo. === Đua đường trường === Cự ly đua đường trường thường là 15 km với 60vòng. Ở nội dung này, nhiều vận động viên xuất phát cùng lúc, ai cán đích trước thắng. === Đua tính điểm === Nội dung thường từ 120-160 vòng. Cả đoàn xuất phát, cứ mỗi 10 vòng sẽ có 1 lần chấm điểm tăng tốc, người về nhất cộng 5 điểm, từ nhì-ba-tư được 3-2-1 điểm, nhất chung cuộc cộng 20 điểm. Ai nhiều điểm nhất thắng. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
nguyễn ngọc quang.txt
Nguyễn Ngọc Quang (sinh năm 1958 tại quận Hải Châu, Đà Nẵng) là một chính trị gia người Việt Nam. Tháng 9.2015 Hội nghị tỉnh ủy Quảng Nam đã bầu ông Nguyễn Ngọc Quang, phó bí thư thường trực tỉnh ủy, chủ tịch HĐND Quảng Nam, giữ chức Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam thay cho ông Lê Phước Thanh xin về hưu trước tuổi. Tháng 10.2015 tại đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI nhiệm kỳ 2015-2020 ông tái đắc cử chức Bí thư tỉnh ủy. Ông có bằng Tiến sĩ kinh tế. == Tham khảo ==
thái bình dương.txt
Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất trên Trái Đất, nó trải dài từ Bắc Băng Dương ở phía bắc đến Nam Băng Dương (hay châu Nam Cực phụ thuộc định nghĩa) ở phía nam, bao quanh là châu Á và châu Úc ở phía tây và châu Mỹ ở phía đông. Thái Bình Dương có diện tích 165,25 triệu km2 (63,8 triệu dặm2), chiếm 46% diện tích bề mặt vùng nước, bằng khoảng một phần ba tổng diện tích bề mặt Trái Đất và lớn hơn diện tích của mọi phần đất trên Trái Đất cộng lại. Đường xích đạo chia Thái Bình Dương thành hai phần "Bắc Thái Bình Dương" và "Nam Thái Bình Dương". Chiều rộng Đông-Tây lớn nhất của đại dương là ở khoảng vĩ độ 5°B, tại đó nó trải dài 19.800 km (12.300 dặm) từ Indonesia đến bờ biển Colombia. Điểm sâu nhất của lớp vỏ Trái Đất nằm trong rãnh Mariana ở Tây Bắc Thái Bình Dương với độ sâu 10.911 m (35.797 ft). Mặc dù người châu Á và châu Đại Dương đã du hành trên Thái Bình Dương từ thời tiền sử, vùng Đông Thái Bình Dương mới lần đầu được quan sát bởi người châu Âu vào đầu thế kỷ 16 khi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Vasco Núñez de Balboa vượt eo đất Panama vào năm 1513 và khám phá ra "biển phương Nam" lớn, ông đã đặt tên cho nó là Mar del Sur. Tên gọi hiện tại khởi nguồn từ nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan với chuyến hành trình vòng quanh thế giới của ông vào năm 1521. Magellan gặp thời tiết thuận lợi trong quãng thời gian di chuyển trên đại dương này, bởi vậy ông đã gọi nó là Mar Pacifico, có nghĩa "biển thái bình" cả trong tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. == Lịch sử khám phá == === Các cuộc di cư ban đầu === Các cuộc di cư quan trọng diễn ra vào thời tiền sử. Khoảng năm 3000 trước công nguyên, những người Austronesia trên đảo Đài Loan đã làm chủ được những chuyến đi đường dài bằng xuồng và họ đã truyền bá bản thân và ngôn ngữ của mình xuống phía nam đến Philippines, Indonesia, và Đông Nam Á hải đảo; về phía tây đến Madagascar; phía đông nam đến New Guinea và Melanesia; và phía đông đến quần đảo Micronesia, châu Đại Dương và Polynesia. Thương mại đường dài phát triển dọc khắp các vùng duyên hải từ Mozambique đến Nhật Bản. Hoạt động buôn bán, đi kèm với đó là tri thức, đã vươn tới quần đảo Indonesia nhưng có vẻ như chưa đến Australia. Ít nhất vào khoảng năm 878, thời điểm xuất hiện một khu người Hồi giáo định cư ở Quảng Châu, hoạt động thương mại khi đó đa phần nằm dưới sự kiểm soát của người Hồi giáo và Ả rập. === Sự khám phá của người châu Âu === Lần tiếp xúc đầu tiên của những nhà thám hiểm châu Âu với rìa Tây Thái Bình Dương là chuyến đi của đoàn thám hiểm người Bồ Đào Nha đến quần đảo Maluku vào năm 1512 do António de Abreu và Francisco Serrão dẫn đầu, tiếp theo là cuộc thám hiểm đến vùng Hoa Nam của Jorge Álvares năm 1513, cả hai đều thực hiện theo lệnh của Afonso de Albuquerque. Phần Đông Thái Bình Dương được khám phá bởi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Vasco Núñez de Balboa vào năm 1513 sau chuyến đi vượt eo đất Panama tới đại dương mới. Ông đã đặt tên cho nó là Mar del Sur (nghĩa đen: "Nam Hải" hay "Biển phương Nam") vì vùng biển này nằm ở phía nam của eo đất, địa điểm mà ông quan sát nó lần đầu. Sau này, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đã dẫn đầu chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới bằng thuyền của người Tây Ban Nha khởi hành vào năm 1519. Magellan gọi đại dương này là Pacífico (yên bình), lý do bởi đoàn thám hiểm thấy đây là nơi có thời tiết đẹp sau khi họ từng trải qua những vùng biển giông tố gần Cape Horn. Để vinh danh Magellan, tên gọi Biển Magellan thường được sử dụng để chỉ đại dương này cho tới thế kỷ thứ 18. Sau sự kiện Magellan thiệt mạng tại Philippines năm 1521, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Juan Sebastián Elcano đã dẫn đầu đoàn di chuyển vượt Ấn Độ Dương và Mũi Hảo Vọng quay trở về quê hương, qua đó hoàn thành chuyến hành trình vòng quanh thế giới lần đầu tiên vào năm 1522. Trong giai đoạn 1525–1527, quần đảo Caroline và Papua New Guinea được khám phá sau các chuyến thám hiểm đường biển của người Bồ Đào Nha vòng quanh và phía đông quần đảo Maluku. Những người Bồ Đào Nha cũng đã đến Nhật Bản vào các năm 1542–43. Năm 1564, Miguel López de Legazpi dẫn đầu một chuyến hành trình bao gồm năm con tàu Tây Ban Nha chở 379 nhà thám hiểm vượt đại dương từ Mexico đến Philippines và quần đảo Mariana. Trong giai đoạn còn lại của thế kỷ 16, vai trò của người Tây Ban Nha là tối quan trọng, với những chuyến tàu khởi hành từ Mexico và Peru vượt Thái Bình Dương, qua Guam đến Philippines, hình thành nên Đông Ấn Tây Ban Nha. Trong vòng hai thế kỷ rưỡi, những chiếc thuyền buồm Manila đã kết nối Manila và Acapulco qua một trong những tuyến đường giao thương dài nhất lịch sử. Bên cạnh đó, các cuộc thám hiểm của người Tây Ban Nha còn khám phá ra các quần đảo ở Nam Thái Bình Dương như Tuvalu, quần đảo Marquises, quần đảo Cook, quần đảo Solomon, và quần đảo Admiralty. Sau này, trong công cuộc tìm kiếm Terra Australis (vùng đất [lớn] phía nam), những nhà thám hiểm người Tây Ban Nha thế kỷ 17 đã khám phá ra quần đảo Pitcairn và Vanuatu; và họ đã chèo thuyền qua eo biển Torres nằm giữa Australia và New Guinea. Các nhà thám hiểm Hà Lan cũng tham gia vào hoạt động thương mại và khám phá; vào năm 1942 Abel Janszoon Tasman phát hiện ra Tasmania và New Zealand. Trong hai thế kỷ 16 và 17 người Tây Ban Nha đã nhận định Thái Bình Dương là một Mare clausum (nghĩa đen: biển kín), với chỉ duy nhất một lối vào từ Đại Tây Dương được biết đến đó là eo biển Magellan. Thời điểm đó eo biển này đặt dưới sự tuần tra của các hạm đội được cử đến để ngăn chặn sự xâm nhập của các con tàu không phải Tây Ban Nha. Ở Tây Thái Bình Dương, người Hà Lan đe dọa đến Philippines khi đó đang là thuộc địa của Tây Ban Nha. Giai đoạn thế kỷ 18 đánh dấu sự khởi đầu các chuyến thám hiểm lớn của người Nga ở Alaska và quần đảo Aleutian. Tây Ban Nha cũng cử các đoàn thám hiểm đến Tây Bắc Thái Bình Dương thuộc Bắc Mỹ và họ đã tới được đảo Vancouver thuộc miền Nam Canada cũng như Alaska. Người Pháp khai phá và định cư ở Polynesia, còn người Anh thì thực hiện ba chuyến du hành với sự tham gia của James Cook đến Nam Thái Bình Dương, Australia, Hawaii, và Tây Bắc Thái Bình Dương thuộc Bắc Mỹ. Vào năm 1768, nhà thiên văn học trẻ Pierre-Antoine Véron đã cùng với Louis Antoine de Bougainville thực hiện một chuyến hành trình khám phá, qua đó lần đầu tiên trong lịch sử thiết lập được bề rộng của Thái Bình Dương một cách chính xác. Cuộc thám hiểm Malaspina là một trong những chuyến hành trình khám phá khoa học đầu tiên do người Tây Ban Nha thực hiện từ 1789 đến 1794. Họ đã đi qua hầu khắp Thái Bình Dương, từ Cape Horn tới Alaska, Guam, Philippines, New Zealand, Australia, và Nam Thái Bình Dương. === Thời kỳ chủ nghĩa đế quốc mới === Sự lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn thế kỷ 19 dẫn đến việc hầu khắp châu Đại Dương trở nên chịu sự chiếm đóng của các cường quốc châu Âu, và tiếp sau đó là Mỹ và Nhật Bản. Kho tri thức về hải dương học được đóng góp đáng kể nhờ các chuyến hành trình của tàu HMS Beagle có sự tham gia của Charles Darwin vào thập niên 1830; của tàu USS Tuscarora (1873–76); và tàu Gazelle của Đức (1874–76). Pháp trở thành đế quốc có vị thế hàng đầu ở châu Đại Dương sau khi lần lượt biến Tahiti và New Caledonia thành các vùng bảo hộ vào năm 1842 và 1853. Sau các chuyến tham quan đảo Phục Sinh vào các năm 1875 và 1887 thì đến năm 1888, sĩ quan hải quân người Chile Policarpo Toro đã tiến hành đàm phán với thổ dân Rapanui về vấn đề sát nhập hòn đảo này vào Chile. Với việc chiếm đóng đảo Phục Sinh, Chile đã gia nhập nhóm các nước đế quốc. Cho đến năm 1900, hầu như toàn bộ các đảo trên Thái Bình Dương đã nằm dưới sự quản lý của các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản và Chile. Mặc dù Mỹ đã nắm quyền kiểm soát Guam và Philippines từ tay Tây Ban Nha vào năm 1898, nhưng tới năm 1914 Nhật Bản mới là quốc gia chủ quản của hầu khắp vùng Tây Thái Bình Dương, rồi tiếp đó họ chiếm đóng thêm rất nhiều đảo trong Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, Nhật đã thất bại trong cuộc chiến, dẫn tới thế độc tôn của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ trên đại dương này. Kể từ sau Thế chiến thứ hai, rất nhiều thuộc địa trước đây ở Thái Bình Dương đã trở thành các quốc gia độc lập. == Địa lý == Thái Bình Dương ngăn cách châu Á và châu Úc với châu Mỹ. Đại dương này có thể được chia thành hai phần nhỏ hơn là Bắc (Bắc Thái Bình Dương) và Nam (Nam Thái Bình Dương) bởi đường xích đạo. Với diện tích 165,2 triệu km2 (63,8 triệu dặm2), Thái Bình Dương chiếm khoảng một phần ba diện tích bề mặt Trái Đất, lớn hơn con số 150 triệu km2 (58 triệu dặm2) diện tích của toàn bộ phần đất liền trên Trái Đất cộng lại. Thái Bình Dương trải dài khoảng 15.500 km (9.600 dặm) từ biển Bering ở vùng Bắc Cực đến ranh giới phía bắc của Nam Đại Dương tại vĩ tuyến 60 °N (các định nghĩa trước đây cho rằng nó trải dài đến biển Ross). Chiều rộng Đông-Tây lớn nhất của Thái Bình Dương là ở khoảng vĩ độ 5°B, tại đó nó trải dài xấp xỉ 19.800 km (12.300 dặm) từ Indonesia đến vùng duyên hải Colombia—con số tương đương chiều dài nửa vòng Trái Đất và gấp hơn năm lần đường kính Mặt Trăng. Thái Bình Dương cũng là nơi tồn tại điểm sâu nhất của lớp vỏ Trái Đất, nó nằm ở độ sâu 10.911 m (35.797 ft; 5.966 fathom) trong rãnh Mariana. Độ sâu trung bình của toàn đại dương là 4.280 m (14.040 ft; 2.340 fathom). Do sự tác động của kiến tạo mảng, Thái Bình Dương hiện đang thu hẹp với tốc độ khoảng 2,5 cm (0,98 in) mỗi năm ở ba phía, hay chừng 0,52 km2 (0,2 dặm2) diện tích mỗi năm. Ngược lại, kích cỡ của Đại Tây Dương đang dần tăng lên. Dọc theo rìa phía tây của Thái Bình Dương tồn tại rất nhiều biển, lớn nhất trong số đó phải kể đến biển Celebes, biển Coral, biển Hoa Đông, biển Philippine, biển Nhật Bản, biển Đông, biển Sulu, biển Tasman, và Hoàng Hải. Trong khi eo biển Malacca nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương ở phía tây thì ở phía đông, hai eo biển Drake và Magellan nối liền Thái Bình Dương với Đại Tây Dương. Ở phía bắc, Thái Bình Dương nối với Bắc Băng Dương qua eo biển Bering. Bởi kinh tuyến 180 nằm giữa Thái Bình Dương nên ta có thể coi đó là ranh giới phân chia Thái Bình Dương ra làm hai phần: Tây Thái Bình Dương (tiếp giáp châu Á) thuộc về Đông bán cầu, và Đông Thái Bình Dương (tiếp giáp châu Mỹ) thuộc về Tây bán cầu. Trong gần như toàn bộ quãng hành trình của Magellan từ eo biển Magellan đến Philippines, nhà thám hiểm thực sự thấy đây là một đại dương yên bình. Tuy nhiên, Thái Bình Dương không phải lúc nào cũng yên bình. Hàng năm luôn có rất nhiều cơn bão nhiệt đới hoành hành trên đại dương này; chúng cũng thường tấn công các đảo và đất liền châu lục tiếp giáp. Vùng vành đai Thái Bình Dương đầy rẫy núi lửa và khu vực này thường bị ảnh hưởng bởi động đất. Đôi khi xuất hiện những cơn sóng thần có nguồn gốc từ động đất dưới đáy biển, chúng phá hủy nhiều hòn đảo và trong một vài trường hợp là toàn bộ các khu dân cư. === Các quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp giáp === ==== Quốc gia có chủ quyền ==== 1 Tình trạng chính trị của Đài Loan và Trung Quốc hiện có sự tranh cãi. Để biết thêm thông tin, xem Vị thế chính trị Đài Loan. ==== Vùng lãnh thổ ==== === Đảo === Thái Bình Dương có khoảng từ 20.000 đến 30.000 hòn đảo và chúng đa phần nằm ở phía nam đường xích đạo. Các hòn đảo nằm hoàn toàn trong Thái Bình Dương có thể được phân vào ba nhóm chính: Micronesia, Melanesia và Polynesia. Micronesia nằm ở phía bắc xích đạo và phía tây đường đổi ngày quốc tế, bao gồm quần đảo Mariana ở phía tây bắc, quần đảo Caroline ở giữa, quần đảo Marshall phía tây, và Kiribati ở phía tây nam. Melanesia nằm về phía tây nam, bao gồm New Guinea, hòn đảo lớn thứ hai trên Trái Đất sau Greenland, quần đảo Bismarck, quần đảo Solomon, quần đảo Santa Cruz, Vanuatu, Fiji và New Caledonia. Cuối cùng, khu vực rộng lớn nhất là Polynesia trải dài từ Hawaii xuống đến New Zealand, với phần phía tây bao gồm Tuvalu, Tokelau, Samoa, Tonga và quần đảo Kermadec, ở giữa có quần đảo Cook, quần đảo Society và quần đảo Austral, và phía đông là quần đảo Marquises, Tuamotu, quần đảo Mangareva và đảo Phục Sinh. Các đảo trên Thái Bình Dương thuộc bốn loại cơ bản: đảo lục địa, đảo núi lửa, rạn san hô, và nền san hô nâng cao. Các đảo lục địa nằm phía ngoài đường andesit và chúng bao gồm New Guinea, đảo New Zealand và Philippines. Một trong số những hòn đảo này có sự liên kết về mặt cấu trúc với lục địa lân cận. Các đảo núi lửa có nguồn gốc từ núi lửa, và trên nhiều hòn đảo trong số này hiện vẫn tồn tại những ngọn núi lửa đang hoạt động. Một số đảo núi lửa có thể kể đến như Bougainville, Hawaii, và quần đảo Solomon. Các rạn san hô ở Nam Thái Bình Dương là những cấu trúc tồn tại ở vùng biển nông hình thành trên dòng chảy dung nham ba-zan dưới bề mặt đại dương; tiêu biểu nhất phải kể đến rạn san hô Great Barrier ngoài khơi Đông Bắc Australia. Một dạng đảo khác hình thành từ san hô đó là nền san hô nâng cao và chúng thường lớn hơn một chút so với các đảo san hô có độ cao thấp. Một vài ví dụ bao gồm đảo Banaba và rạn san hô vòng Makatea. == Đặc điểm nước == Thể tích nước của Thái Bình Dương chiếm khoảng 50,1% thể tích nước của toàn bộ đại dương trên Trái Đất, với giá trị ước tính 714 triệu km3. Nhiệt độ nước bề mặt có thể thay đổi từ mức −1,4 °C (29,5 °F) tương đương điểm đóng băng của nước biển ở vùng cực tới 30 °C (86 °F) ở gần xích đạo. Độ mặn cũng có sự biến đổi theo vĩ độ, đạt tối đa 37 phần nghìn tại khu vực phía đông nam. Vùng nước gần xích đạo có thể có độ mặn thấp ở mức 34 phần nghìn, thấp hơn các khu vực vĩ độ trung do ở gần xích đạo mưa xảy ra nhiều trong cả năm. Giá trị độ mặn thấp nhất−nhỏ hơn 32 phần nghìn−được tìm thấy ở phương Bắc do ít có sự bay hơi của nước biển ở những vùng băng giá. Sự chuyển động của dòng nước thường là theo chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Dòng hải lưu Bắc xích đạo Thái Bình Dương chuyển động về phía tây dọc theo vĩ tuyến 15°B bởi gió mậu dịch, khi đến gần Philippines chuyển hướng Bắc trở thành hải lưu Kuroshio. Tới khoảng 35°B, phần chủ yếu của Kuroshio chuyển hướng Đông, cuối cùng sát nhập vào dòng hải lưu Bắc Thái Bình Dương. Hải lưu Aleut, khi tới gần Bắc Mỹ tách ra thành hải lưu Alaska và hải lưu California; trong khi một nhánh khác của nó tiến vào biển Bering tạo nên một hoàn lưu chuyển động ngược chiều kim đồng hồ. Dòng hải lưu Nam xích đạo Thái Bình Dương chảy về phía tây trong khoảng vĩ độ từ 5°B đến 15°–20°N tới kinh tuyến 180 thì bị phân tách. Phần chuyển động lên phía bắc trộn lẫn với dòng hải lưu ngược còn phần chuyển động xuống phía nam trở thành hải lưu Đông Australia và một dòng chảy di chuyển qua vùng biển phía đông New Zealand. Một phần dòng chảy này nhập vào hải lưu vòng Nam Cực và hải lưu Nam Thái Bình Dương, còn lại chảy về phía đông tạo thành hải lưu Humboldt. == Khí hậu == Mô hình khí hậu của hai nửa bán cầu Bắc và Nam nhìn chung là sự phản chiếu lẫn nhau. Trong khi gió mậu dịch hoạt động ổn định ở Đông và Nam Thái Bình Dương thì ở Bắc Thái Bình Dương, điều kiện thời tiết là đa dạng hơn hẳn; một ví dụ là nhiệt độ thấp tại vùng duyên hải phía đông nước Nga trái ngược với khí hậu ôn hòa ở British Columbia trong những tháng mùa đông do sự khác biệt về dòng hải lưu. Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Thái Bình Dương, El Niño - Dao động phương Nam (ENSO) là nhân tố tác động đến tình trạng thời tiết. Để xác định thời kỳ ENSO, người ta tính toán nhiệt độ bề mặt đại dương trung bình trong vòng ba tháng gần nhất tại khu vực cách Hawaii khoảng 3000 km (1900 dặm) về phía đông nam; nếu nhiệt độ đó cao hoặc thấp hơn 0,5 °C (0,9 °F) so với trung bình, thì El Niño hoặc La Niña được xem là đang có sự tiến triển. Ở vùng nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, mùa mưa xảy ra vào những tháng hè và nó có mối liên hệ với gió mùa; trái ngược với những cơn gió lạnh khô thổi trên đại dương vào mùa đông có nguồn gốc từ đất liền châu Á. Trên Trái Đất, xoáy thuận nhiệt đới (thường gọi là bão) hoạt động đỉnh điểm vào giai đoạn cuối mùa hè, thời điểm mà sự chênh lệch giữa nhiệt độ bề mặt đại dương và nhiệt độ trên cao là lớn nhất; tuy nhiên, mỗi khu vực có một mô hình mùa bão khác biệt. Trên quy mô toàn cầu, tháng 5 là tháng bão ít hoạt động nhất, còn tháng 9 là tháng hoạt động mạnh nhất. Tháng 11 là tháng duy nhất mà tất cả các khu vực xoáy thuận nhiệt đới đều cùng trong giai đoạn hoạt động chính thức. Xoáy thuận nhiệt đới có khả năng hình thành ở vùng biển phía nam Mexico, sau đó tấn công vùng duyên hải Tây Mexico và thi thoảng là vùng Tây Nam Hoa Kỳ trong khoảng tháng 6 đến tháng 10; còn ở Tây Thái Bình Dương, chúng hình thành và di chuyển vào đất liền Đông Á và Đông Nam Á chủ yếu trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 12. Xa về vùng cực Bắc, băng xuất hiện nhiều nhất từ tháng 10 đến tháng 5; trong khi sương mù hiện hữu bền bỉ từ tháng 6 đến tháng 12. Áp thấp ở vịnh Alaska duy trì tình trạng ẩm ướt và ấm áp trong những tháng mùa đông cho vùng duyên hải phía nam. Ở những khu vực vĩ độ trung, gió Tây và jet stream (dòng khí hẹp thổi trên cao) có thể rất mạnh, đặc biệt là ở Nam bán cầu do sự khác biệt về nhiệt độ giữa vùng nhiệt đới và châu Nam Cực, nơi ghi nhận nhiệt độ thấp nhất trên hành tinh mà con người từng đo được. == Địa chất == Bản đồ Thái Bình Dương lần đầu được vẽ ra bởi Abraham Ortelius; ông đã gọi nó là Maris Pacifici dựa theo mô tả của Ferdinand Magellan rằng đó là một vùng biển yên bình và tĩnh lặng hơn nhiều so với Đại Tây Dương. Đường andesit là ranh giới phân biệt khu vực quan trọng nhất ở Thái Bình Dương, nó phân tách phần đá magma mafic sâu hơn của vùng Trung tâm Thái Bình Dương với các khu vực đá magma felsic thuộc các lục địa chìm một phần. Đường này chạy dọc theo bờ Tây quần đảo ngoài khơi California, đi qua phía nam vòng cung Aleutian, dọc theo bờ đông bán đảo Kamchatka, quần đảo Kuril, Nhật Bản, quần đảo Mariana, quần đảo Solomon, và đảo Bắc của New Zealand. Ranh giới phân tách tiếp tục chạy theo bờ Tây dãy Andes, Nam Mỹ tới Mexico, cuối cùng quay lại quần đảo ngoài khơi California. Các nước Indonesia, Philippines, Nhật Bản, New Guinea, và New Zealand nằm phía ngoài đường andesit. Nằm trong vòng lặp kín của đường andesit là rất nhiều rãnh sâu, núi lửa chìm, và các đảo núi lửa – nét đặc trưng của vùng Thái Bình Dương. Tại đây dung nham bazan chảy chậm ra phía ngoài những khe nứt, hình thành nên những núi lửa hình vòm. Phần đỉnh bị bào mòn của những núi lửa này tạo ra các chuỗi, vòng cung, cụm đảo. Ở phía ngoài đường andesit, vành đai lửa Thái Bình Dương là khu vực chứng kiến núi lửa hoạt động nhiều nhất trên Trái Đất. Tên gọi vành đai lửa để chỉ hàng trăm núi lửa còn hoạt động tọa lạc phía trên các đới hút chìm khác nhau. Thái Bình Dương là đại dương duy nhất được bao quanh gần như toàn bộ bởi các đới hút chìm. Chỉ có vùng bờ biển Nam Cực và Australia là không có đới hút chìm ở gần đó. Thái Bình Dương hình thành vào 750 triệu năm trước tại thời điểm siêu lục địa Rodinia phân tách mặc dù nó nhìn chung được gọi là đại dương Panthalassa (Toàn Đại Dương) cho tới khi siêu lục địa Pangea phân tách vào khoảng 200 triệu năm trước. Đáy Thái Bình Dương cổ xưa nhất chỉ khoảng 180 triệu năm tuổi, và lớp vỏ cổ hơn nay đã nằm ở phía dưới. Trong lòng Thái Bình Dương tồn tại một vài chuỗi núi ngầm dài hình thành ở những điểm nóng núi lửa hoạt động. Có thể kể ra như chuỗi Hawai–Emperor và Louisville. == Xem thêm == Đại dương Đại dương thế giới Bảy Đại dương Múi giờ Thái Bình Dương Chiến tranh Thái Bình Dương == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == EPIC Pacific Ocean Data Collection Viewable on-line collection of observational data NOAA In-situ Ocean Data Viewer plot and download ocean observations NOAA PMEL Argo profiling floats Realtime Pacific Ocean data NOAA TAO El Niño data Realtime Pacific Ocean El Niño buoy data NOAA Ocean Surface Current Analyses—Realtime (OSCAR) Near-realtime Pacific Ocean Surface Currents derived from satellite altimeter and scatterometer data
các vùng đô thị việt nam.txt
== Khái niệm Vùng đô thị Việt Nam == Khái niệm vùng đô thị ở Việt Nam thường bị nhầm lẫn với 8 vùng địa lý, gồm: Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long hay 4 Vùng kinh tế trọng điểm . Vùng đô thị Việt Nam được lập ra để khuyến khích và thúc đẩy sự tăng trưởng của các trung tâm đô thị khu vực, vùng đô thị nhằm tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập, bắt kịp xu thế cơ cấu đô thị đa trọng tâm và kết mạng của các nước phát triển trên thế giới và khu vực. Hiện nay, các vùng đô thị Việt Nam được xác định bởi quy hoạch xây dựng vùng lãnh thổ do Bộ Xây dựng lập trình chính phủ phê duyệt. Có 2 vùng đô thị lớn là Vùng thủ đô Hà Nội, được quy hoạch vào loại Vùng đô thị cực lớn (Mega Urban Region - MUR) và Vùng Thành phố Hồ Chí Minh: Vùng thủ đô Hà Nội: gồm thành phố Hà Nội là hạt nhân và 9 tỉnh là Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Hòa Bình. Vùng Thành phố Hồ Chí Minh: gồm 8 đơn vị cấp tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang Ở trên, nhiều tỉnh thuộc cả 2 vùng đô thị và vùng địa lý mà vẫn không bị chồng chéo quy hoạch như: Hòa Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ về địa lý tự nhiên thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc về quy hoạch đô thị thuộc vùng Hà Nội == Tham khảo == == Liên kết ngoài == VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050 Quy hoạch xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh Quyết định số 1581/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050. == Xem thêm == Các vùng công nghiệp Các vùng nông nghiệp Các vùng lâm nghiệp Các vùng du lịch Vùng đô thị
người đồng tính nữ.txt
Người đồng tính nữ (tiếng Anh: lesbian) là người con gái bị lôi cuốn trên phương diện tình yêu, hay quan hệ tình dục bởi người nữ khác cùng giới tính. == Tên gọi == Từ lesbian, mà được dùng ở phương Tây để chỉ người nữ đồng tính, xuất phát từ tên của hòn đảo Lesbos (Λέσβος). Nữ thi gia Hy Lạp Sappho, sống ở Lesbos vào thế kỷ 6 trước CN, đã ca ngợi sắc đẹp phụ nữ, và tình yêu giữa phụ nữ với nhau trong các bài thơ của bà. Tại Việt Nam, đồng tính luyến ái nữ còn được gọi là Ô môi. == Nổi tiếng == Bên cạnh thi sĩ Sappho cũng có nhiều người đồng tính nữ khác nổi tiếng thế giới: Nữ hoàng Christina của Thụy Điển: Bà được phong chức nữ hoàng vào năm 1632, lúc còn 5 tuổi, nhưng đã từ bỏ ngai vàng vào năm 1654. Jane Addams: Một trong những thủ lĩnh tiên phong của phong trào đấu tranh cho quyền của phụ nữ. Bà là người sáng lập ra Hull House ở Chicago vào năm 1889, và Women's International League for Peace and Freedom vào năm 1915. Bà cũng là người phụ nữ Hoa Kỳ đầu tiên được giải Nobel Hòa bình vào năm 1931. == Chú thích ==
tháo đanh chúa giê-su.txt
== Tham khảo == Hạ xác từ Thánh Giá (tiếng Hy Lạp: Ἀποκαθήλωσις, Apokathelosis) là cảnh mô tả trong trình thuật Phúc Âm về việc hai ông Joseph Arimathea và Nicôđêmô đã lấy xác Chúa Kitô xuống khỏi thập giá sau khi người bị đóng đinh (Gioan 19:38-42). Trong nghệ thuật Byzantine chủ đề này đã trở nên phổ biến từ thế kỷ thứ 9 và ở phương Tây từ thế kỷ thứ 10. Hạ xác Chúa Giêsu là chặng thứ 13 trong Đàng Thánh Giá. Theo truyền thống thì Đức Maria đã gặp Chúa Giêsu khi ngài đang vác thập giá. Từ thế kỷ XV, người ta luôn tìm thấy "Sancta Maria de Spasmo" (Đức Maria ngất xỉu) trong các Đàng Thánh Giá. Và trong khi Đức Giêsu bị treo trên thập giá thì "Đức gần thập giá của thân mẫu Ngài, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clêôphas, cùng với Maria Mađalêna" (Ga.19:25-27) (Mt.27:56) (Mc.15:40) (Lc.23:49). Truyền thống cho rằng chắc chắn Đức Maria đã có mặt khi hạ xác Chúa Giêsu khỏi thập giá và táng xác con mình.
windows media player.txt
Windows Media Player (tiếng Anh của Trình chơi phương tiện Windows, viết tắt WMP) là một trình đa phương tiện hỗ trợ miễn phí của Microsoft Windows để chơi các phương tiện số đồng thời là một thư viện phương tiện. Windows Media Player là phần mềm được tự động cài ngay khi bạn cài hệ điều hành Windows của Microsoft. Windows Media Player có thể chạy trên máy tính cá nhân cài hệ điều hành Windows, Mac OS X, Solaris, hay cũng như trên Pocket PC và các thiết bị sử dụng Windows Mobile khác. Tuy có thể chạy trên Mac OS X nhưng hiện nay Microsoft đã chính thức cho ngừng phát triển phiên bản mới dành cho hệ điều hành này và chỉ cho người dùng tải về phiên bản mới nhất là 9.0. Bên cạnh chức năng của một chương trình chơi phương tiện, Windows Media Player còn có khả năng rip nhạc từ đĩa compact và đồng bộ dữ liệu với các thiết bị chơi nhạc hoặc các thiết bị di động khác. Windows Media Player được thay thế cho Media Player, một chương trình chơi nhạc và hình ảnh đơn giản thời kỳ đầu của Microsoft. Định tập tin mặc định của Windows Media Player là WMV (Windows Media Video & Audio), WMA (Windows Media Audio) và ASF (Advanced Streaming Format). Ngoài ra Windows Media Player cũng hỗ trợ danh mục trình diễn theo định dạng XML gọi là WPL (Windows Playlist). == Tính năng == Chơi âm thanh, video, hình ảnh với khả năng nhảy tới, lui chọn thời điểm, xem nhanh hay chậm. Hỗ trợ chơi các tập tin trên máy, trực tuyến cũng như tải về. Có thể chuyển qua Mini mode. Mini mode được đặt ở taskbar của máy và có những nút cần thiết nhất để dùng WMP Hỗ trợ bất cứ phương tiện codec nào và nội dung định dạng sử dụng những bộ lọc đặc biệt DirctX. Có các tính năng quản lý phương tiện với thư viện phương tiện được tích hợp, lập danh mục, sắp xếp theo album, nghệ sĩ, thể loại, ngày phát hành,... Video Smoothing sử dụng phép nội suy, tự động thêm các khung hình tạo hiệu ứng khiến việc chơi video trở nên mượt mà hơn đối với những tập tin có tỷ lệ cũng như tốc độ khung hình thấp. Kết hợp bộ cân bằng âm thanh đồ họa 10 dải băng và SRS WOW. Windows Media Player cũng có thể gắn các plug-in hỗ trợ quá trình phát âm thanh và hình ảnh.1 http://www.gezginler.net/modules/mydownloads/singlefile.php?download=windows-media-player&lid=2499 == Windows Media Player 11 == Windows Media Player 11 là phiên bản mới nhất của WMP. Phiên bản này dành cho Windows XP và Windows Vista. Phiên bản này đã có rất nhiều sự thay đổi so với phiên bản cũ. Media Library không còn được xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới (tree-based listing). Những thể loại hay những playlist không còn để ở bên trái mà ở bên phải. Những icons rất sinh động và thumbnails có hình của album hay là hình khác do người sử dụng tự chọn. Nếu như mà bài hát không có tên album, ca sĩ, nhạc sĩ, năm phát hành, hoặc là hình của album thì Windows Media Player có thể tự động thêm vào nếu có sẵn trong máy hay là nó có thể tự tìm. Windows Media Player 11 có thêm Windows Media Format 11. Những chức năng khác: Stacking - stacking có những sự miêu tả sống động về tổng số album ở trong một thể loại hoặc folder. Càng nhiều files thì cái stack sẽ lớn hơn. Word Wheel - khi đi tìm bất cứ thứ gì trong WMP, bạn không cần đợi để nhấn Enter key để thấy được kế quả. Kết quả sẽ tự động hiện ra phía dưới khi bạn nhấn bất cứ chữ gì. CD Burning - khi burn, số lượng MB sẽ tự động hiện ra. URGE - là cửa hàng bán nhạc mới của Microsoft và MTV được đi cùng với Windows Media Player. Có thể rip audio CDs qua WAV. Có thể nối kết với lạ những cửa hàng bán nhạc online. Dics Spanning sẽ cắt burn list ra làm hai nếu đĩa không còn chỗ để chứa. Microsoft phát hành beta của Windows Media Player11 cho Windows XP vào ngày 17/5/2006 và bản beta thứ hai ngày 31/8/2006. Bản chính thức của Windows Media Player 11 ra ngày 30/10/2006 và Windows Vista mới sẽ có sẵn WMP 11. Microsoft phải phát hành riêng một phiên bản của Windows Vista mà không có Windows Media Player cho châu Âu vì luật không tin vào Microsoft của họ. Phiên bản này tên là "Windows Vista N". == Windows Media Player 12 == Phát hành tháng 10 năm 2008 Trong Hội nghị phát triển chuyên môn (Professional Developers Conference) là một phần đi kèm trong Windows 7. Không được tải về và sử dụng trong các phiên bản trước. Windows Media Player 12 hỗ trợ thêm cho H.264 và định dạng video MPEG 4 Part-2, audio AAC và 3GP, định dạng container MP4 và MOV. Microsoft đã công nhận AVCHD là một trong những triển khai phổ biến các chương trình mã hóa H.264, có phần đuôi là m2ts và mts trước khi đăng ký trong hệ thống. Windows Media Player 12 có thể chỉ mục nội dung của tập tin này, trong khi Windows Explorer có khả năng tạo hình thu nhỏ cho mỗi clip. Giao diện của Windows Media Player 12 được thiết kế lại đáng kể. ==== Tính năng đã bị hủy ==== Advanced Tag Editor cho phép người dùng siêu chỉnh sửa các thông tin của tệp. Khả năng hiển thị lời bài hát tĩnh. Menu ngữ cảnh Tìm trong thư viện đã loại bỏ. Thay vào đó, nó được tích hợp vào thư viện nhạc trong Windows 7. === Pocket PC / Smartphone === Microsoft đã phát hành những phiên bản khác cho Pocket PC chỉ có Pocket PC / Windows Mobile là vẫn được Microsoft tiếp tục phát triển phiên bản mới. == Zune == Zune thật ra là một version khác của WMP. Nhưng Windows Media Player cần có bộ lọc DirectShow thì mới coi được AAC, MPEG-4 và H.264 media. Zune thì có sẵn DirectShow decoders cho AAC (nhưng không tốt lắm) (.mp4,.m4a,.m4b,.mov), MPEG-4 (.mp4,.m4v,.mov) và H.264 (.mp4,.m4v,.mov). === Mac OS X === Windows Media Player 9 là phiên bản cuối cùng của media player mà Microsoft phát hành cho Mac OS X vì có rất nhiều người sử dụng của Mac OS X nói là phiên bản cho Mac OS X không có hỗ trợ nhiều định dạng (format), thiếu ổn định và thiếu tính năng. Phiên bản cũng không có những tính năng căn bản mà Windows Media Player 9 cho Windows có. Microsoft đã tuyên bố ngưng phát triển kể từ ngày 12-01-2006. Thay vào đó, Microsoft sẽ cung cấp một plugin (gọi là WMV Player) cho phép trình QuickTime của Apple có thể chơi được một số định dạng của Windows Media. Những người sử dụng Mac cũng có thể dùng VLC Media Player. VLC Media Player hỗ trợ WMV-3 / WMV-9 / VC-1 Windows Media files. == Lịch sử phát hành == === 1998 === 25 tháng 6 Windows Media Player 6.1 === 2000 === 17 tháng 7 Windows Media Player 6.3 cho Mac OS 17 tháng 7 Windows Media Player 6.3 cho Solaris 17 tháng 7 Windows Media Player 7 cho Windows 98 và Windows 2000 14 tháng 9 Windows Media Player 7.0 cho Windows Me gói sẵn với hệ điều hành 12 tháng 12 Windows Media Player 7 cho Pocket PC === 2001 === 24 tháng 7 Windows Media Player 7.0.1 cho Mac OS 25 tháng 10 Windows Media Player 8 cho Windows XP gói sẵn với hệ điều hành khi phát hành === 2002 === 8 tháng 1 Windows Media Player 7.1 cho Mac OS === 2003 === 27 tháng 1 Windows Media Player 9 cho Windows 98 Second Edition, Windows Me, và Windows 2000 và bản riêng lẻ cho Windows XP 23 tháng 6 Windows Media Player 9 cho Pocket PC 7 tháng 11 Windows Media Player 9 cho Mac OS X === 2004 === 10 tháng 8 Windows Media Player 9 cho Windows XP Service Pack 2 gói sẵn với hệ điều hành khi phát hành Tháng 10 Windows Media Player 10 cho Windows XP gói sẵn với Windows XP Media Center Edition 2005, khi phát hành vào 10/12/2004. Windows Media Player 10 Mobile cho Pocket PC và SmartPhone. Bao gồm trong Windows Mobile 5.0 === 2006 === 17 tháng 5 Windows Media Player 11 công bố bản thử nghiệm cho Windows XP Windows Media Player version 7.0 (và cũ hơn) cho Windows bao gồm phiên bản 6.4 như một ứng dụng riêng lẻ, có thể truy xuất bằng cách gọi tập tin mplayer2.exe trong thư mục cài đặt. === 2009 === 29 tháng 10 Windows Media Player 12 đã ra mắt trong Windows 7. Được coi như là một tính năng có trong Windows 7 và không được tải về cho các phiên bản Windows trước. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của Microsoft Windows Media
giải blue starsfifa youth cup.txt
Blue Stars/FIFA Youth Cup là một cuộc thi bóng đá quốc tế cho đội dưới 20 và dưới 19. Một cuộc cạnh tranh ngày càng phổ biến, có tính năng tốt nhất với những tài năng mới nổi trong thế giới bóng đá của các câu lạc bộ bóng đá hàng đầu. Cơ quan FIFA đã tổ chức cuộc thi năm 1991. == Lịch sử == Được thành lập bởi FC Blue Stars, Blue Stars/FIFA Youth Cup là một giải đấu bóng đá câu lạc bộ thanh niên quốc tế. Câu lạc bộ Zurich là một trong những đội đầu tiên có một đội trẻ riêng biệt. Phần thanh niên này mở rộng để bao gồm một giải đấu liên quan đến các đội thanh niên tốt nhất trên thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của bóng đá thanh niên, FIFA đã qua các giải đấu trong năm 1991. Sự cạnh tranh hiện nay thu hút các đội từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm Brazil, Úc, Nam Phi, Mexico và Tây Ban Nha. == Đội chiến thắng == === Xếp hạng các câu lạc bộ vô địch === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Blue Stars/FIFA Youth Cup trên FIFA.com
q.txt
Q, q là chữ thứ 17 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 21 trong chữ cái tiếng Việt. Trong tiếng Việt Q luôn luôn đi trước U, dùng cho âm /kw/. Liên kết QU cũng thường xảy ra trong các ngôn ngữ thuộc nhóm Giécman và nhóm Rôman: trong tiếng Anh và tiếng Đức dùng cho âm /kw/; trong tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý... dùng cho âm /k/. Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ Q hoa có giá trị 81 và chữ q thường có giá trị 112. Trong hóa sinh học, Q là ký hiệu của glutamin. Trong môn cờ vua, Q là ký hiệu để ghi quân Hoàng hậu (Queen'). Theo mã số xe quốc tế, Q được dùng cho Qatar. Q được gọi là Quebec trong bảng chữ cái âm học NATO. == Tham khảo ==
danh sách nhân vật trong one piece.txt
Trong bộ manga/anime One Piece có một số lượng lớn nhân vật rất phong phú được tạo ra bởi Oda Eiichiro. Bối cảnh của manga/anime được đặt trong một thế giới viễn tưởng rộng lớn đang trong "Thời Đại Đại Hải Tặc"; một thế giới của hải tặc, Hải Quân / Chính phủ Thế giới, Quân Cách mạng, một thế giới của những cuộc phiêu lưu khám phá cùng với rất nhiều cuộc chiến và rất nhiều siêu năng lực, siêu sức mạnh kì lạ. Nội dung chính của câu chuyện xoay quanh nhóm Hải tặc Mũ Rơm trên con đường hành trình khám phá và tìm kiếm ước mơ của họ. Nhân vật chính của One Piece là cậu hải tặc trẻ tuổi tên Monkey D. Luffy với ước mơ tìm thấy kho báu huyền thoại "One Piece" và trở thành Vua Hải Tặc đời kế tiếp, kế nhiệm Vua Hải Tặc tiền nhiệm - Gol D. Roger. Trong chuyến hành trình của mình, Luffy đã gặp gỡ nhiều người bạn và kết nạp đồng đội cho riêng mình, thành lập nên băng hải tặc Mũ Rơm. Các thành viên hiện tại của băng hải tặc Mũ Rơm gồm có chín người, lần lượt là: Thuyền trưởng Monkey D. Luffy, Kiếm sĩ Roronoa Zoro, Hoa Tiêu Nami, Xạ Thủ Usopp, Đầu Bếp Sanji, Bác sĩ Tony Tony Chopper, Nhà Khảo Cổ Nico Robin, Thợ Đóng Tàu Franky và Nhạc Công Brook. Hầu hết các nhân vật trong One Piece đều là con người, nhưng bên cạnh đó còn có nhiều chủng tộc khác nhau như Người khổng lồ, Người Cá, tộc Mink,... Rất nhiều nhân vật trong One Piece sở hữu những năng lực đặc biệt nhờ ăn "Trái ác quỷ". == Băng Hải Tặc Mũ Rơm == Băng Hải tặc Mũ Rơm (麦わら海賊団, Mugiwara Kaizoku-dan) là băng Hải tặc do nhân vật chính Monkey D. Luffy làm thuyền trưởng, các thành viên băng Mũ Rơm cũng là các nhân vật chính của One Piece. Số lượng các thành viên băng Mũ Rơm tăng lên trong cuyên suốt diễn biến của truyện và hiện có chín thành viên. Số lương này có thể sẽ còn tăng thêm nữa nếu Luffy vẫn tiếp tục kết nạp thêm các thành viên mới. Tổng số tiền truy nã hiện tại của toàn băng Mũ Rơm là 1,570,000,100 . Sau sự kiện tại đất nước Dressrosa, băng Mũ Rơm có thêm một hạm đội đồng minh dưới trướng có tên là "Đại Hạm đội Mũ Rơm", bao gồm 5,600 người từ bảy băng hải tặc / tổ chức khác nhau. Luffy được đề cử làm người đứng đầu toàn hạm đội, bình thường thì toàn hạm đội sẽ tách nhau ra đi theo con đường của riêng mình, nhưng khi một người / tổ chức trong hạm đại gặp rắc rối toàn hạm đội sẽ làm hết sức những gì có thể để giúp đỡ. Monkey D. Luffy Monkey D. Luffy (モンキー・D・ルフィ, Monkī D. Rufi) là nhân vật chính của One Piece và là thuyền trưởng của băng Hải tặc Mũ Rơm, anh có biệt danh là "Luffy Mũ Rơm ((麦わらのルフィ, Mugiwara no Rufi). Luffy trở thành người người cao su sau khi ăn trái ác quỷ Gomu Gomu (ゴムゴムの実, Gomu Gomu no Mi) hệ Paramecia. Luffy có ước mơ là trở thành Vua Hải tặc và là người tìm thấy kho báu "One Piece". Ước mơ này cũng như mong muốn ra biển và trở thành Hải tặc của Luffy được truyền cảm hứng từ Shanks -Hải Tặc đã cứu anh lúc 7 tuổi. Luffy sau đó được ông nội gửi lên cho một sơn tặc và 10 năm sau, Luffy lên đường tìm kiếm đồng đội để thành lập băng hải tặc của riêng mình, cuộc hành trình của Luffy bắt đầu và cái tên "Luffy Mũ Rơm" dần dần nổi tiếng trong toàn thế giới One Piece. Sau sự ra đi của người anh em kết nghĩa Portgas D. Ace, Luffy cảm thấy mình còn quá yếu. Anh đã quyết định nhắn toàn băng đi luyện tập và hẹn gặp lại tại quần đảo Sabaody sau 2 năm để tiến vào Tân Thế giới. Dưới sự kèm cặp và hướng đẫn của huyền thoại hải tặc Sliver Rayleigh, trong 2 năm luyện tập Luffy đã có thể kiểm soát được Haoshoku Haki và thành thục cả ba loại haki cũng như hoàn thiện các kĩ năng chiến đấu, sáng tạo thêm các chiêu thức mới. Luffy có tính cách khá hài hước và đôi khi hơi ngốc nghếch, nhưng đồng thời anh cũng là thiên tài khi chiến đấu, với khả năng ứng biến tuyệt vời. Luffy rất tin tưởng, yêu quý và tôn trọng các đồng đội của mình. Số tiền truy nã của Luffy đã được thay đổi bốn lần và hiện tại có giá 500.000.000 Roronoa Zoro Roronoa Zoro (ロロノア・ゾロ, Roronoa Zoro) là kiếm sĩ của băng hải tặc Mũ Rơm, anh là thành viên thứ hai của băng Mũ Rơm. Zoro theo "Tam Kiếm Phái" và có biệt danh là "Thợ săn Hải tặc Zoro ((海賊狩りのゾロ, Kaizoku Gari no Zoro), anh là chủ sở hữu của bốn thanh kiếm nằm trong các thanh kiếm quý của thế giới One Piece. Ước mơ của Zoro là hoàn thành lời hứa với người bạn thân quá cố, trở thành kiếm sĩ mạnh nhất thế giới. Và để làm được điều đó anh phải đánh bại người nắm giữ vị trí này, "Mắt Diều Hâu Dracule Mihawk". Zoro đã ra khơi để lên đường thực hiện ước mơ của mình và làm nghề săn tiền thưởng để kiếm sống trước khi gặp Luffy, biệt danh cũng như sự nổi tiếng của Zoro ở East Blue cũng này bắt nguồn từ lý do này. Luffy gặp Zoro tại Shells Town, Zoro bị bắt giam ở đây do vướng vào rắc rối với hai cha con Đại tá Chi Nhánh Hải Quân Morgan "Tay Rìu" và Helmeppo. Luffy đã cứu Zoro và trở thành thuyền viên đầu tiên của băng hải tặc Mũ Rơm. Trong khoảng thời gian hai năm luyện tập, Zoro trở thành học trò của Mihawk và ông đã dạy cho anh kiếm pháp cũng như cách sử dụng Haki. Số tiền truy nã của Zoro được thay đổi ba lần và hiện anh bị treo thưởng với mức giá 320.000.000 . Nami Nami (ナミ, Nami) là Hoa Tiêu của băng hải tặc Mũ Rơm. Cô là thành viên thứ ba của băng và có biệt danh là "Miêu tặc" (Con Mèo Ăn Trộm). Giấc mơ của Nami là hoành thành bản đồ của toàn thế giới trong One Piece. Nami được đánh giá "thiên tài" trong lĩnh vực hàng hải và cực kì thông minh cùng với tài trộm cắp điệu nghệ, đồng thời là có khả năng tự bản thân dự báo được thời tiết. Vũ khí mà Nami sử dụng có tên là Clima-Tact (天候棒, Kurima Takuto, Gậy thời tiết) có khả năng điều khiển thời tiết. Nami là một trẻ mồ côi được cựu nữ Hải Quân quá cố, Bellemere nhận làm con nuôi cùng với người chị nuôi Nojiko. Cả ba người từng có thời gian sống hạnh phúc tại quê nhà, trước khi băng hải tặc Người Cá Arlong tới xâm lược và đô hộ toàn bộ hòn đảo. Nami đã đánh đổi một phần tuổi thơ và thời niên thiếu để có thể kiếm đủ tiền mua lại tự do cho người dân ở quê hương. Nami gặp Luffy lần đầu tiên tại Thị Trấn Orange và trở thành thuyền viên thứ hai của băng Mũ Rơm. Sau một vài biến cố, Luffy và các thuyền viên nam khác đã theo chân Nami về quê hương của cô và tiêu diệt hoàn toàn băng hải tặc Arlong, đem lại tự do cho Nami cùng những người dân trên đảo. Trong hai năm luyện tập, Nami đã được ghé thăm Đảo Thời Tiết và luyện tập, nâng cao khả năng của mình tại đây. Nami hiện được treo thưởng với giá 66.000.000 . Trong anime Nami được Lồng tiếng bởi: Okamura Akemi. Usopp Usopp (ウソップ, Usoppu) là xạ thủ của băng hải tặc Mũ Rơm và là thành viên thứ tư của băng. Usopp có biệt danh "Sogeking" (狙撃の王様, Sogeki no Ō-sama, "Vua bắn tỉa") và biệt danh mới đây là "God" (ゴッド, Goddo?, Chúa). Ước mơ của Usopp là trở thành "Chiến binh dũng cảm của biển cả", bên cạnh đó là một lần được tới Elbaf. Usopp có tài thiện xạ bách phát bách trúng và cũng nhiều tài lẻ như khả năng hội họa, sáng chế, điêu khắc. Usopp ta là con trai Yasopp (thành viên của băng hải tặc Tóc Đỏ) với bà Banchina (バンキーナ , Bankīna). Cha anh đã bỏ hai mẹ con anh lại quê nhà từ khi Usopp còn bé để ra khơi theo đuổi con đường hải tặc. Sau đó mẹ anh lâm bệnh và Usopp cũng bắt đầu nói dối từ lúc này, trong đó cũng có cả niềm hi vọng một ngày kia cha anh sẽ quay lại đón hai mẹ con. Không lâu sau đó mẹ anh qua đời, rồi Usopp trở thành thủ lĩnh trong "trò chơi hải tặc" của ba cậu bé trong làng, là Ninjin, Tamanegi và Pilman. Bên cạnh đó Usopp cũng trở thành bạn thân của cô tiểu thư ốm yếu, Kaya. Usopp gia nhập băng hải tặc Mũ Rơm và trở thành thuyền viên thứ ba sau khi sát cánh cùng nhóm Luffy đánh bại băng hải tặc Mèo Đen. Hiện tại Usopp được treo thưởng với giá 200.000.000 . Trong anime, Usopp được Lồng tiếng bởi: Yamaguchi Kappei Vinsmoke Sanji Vinsmoke Sanji (ヴィンスモーク・サンジ, Vinsumōku Sanji) là Đầu Bếp của băng hải tặc Mũ Rơm và là thành viên thứ năm của băng. Anh có biệt danh Sanji Chân Đen (黒脚のサンジ, Kuro Ashi no Sanji) và có sở trường chiến đấu bằng chân. Ước mơ của Sanji là tìm thấy vùng biển huyền thoại "All Blue". Sanji là một đầu bếp tài ba và giỏi trong cả chiến đấu lẫn nấu ăn. Sanji rất lịch thiệp với phụ nữ chuẩn với hình mẫu của người đàn ông kiểu Pháp và cũng hơi "dê" một chút. Ngay từ khi còn bé Sanji đã làm phụ bếp trên một con tàu ở du lịch trước khi xảy ra biến cố với hải tặc Zeff "Chân Đỏ" và băng hải tặc Cook của ông ta. Zeff đã ăn một chân của mình và nhường lại phần lương thực cho Sanji khi cả hai bị kẹt trên một đảo đá. Sau đó Sanji đã cùng với Zeff gây dựng nên Nhà hàng trên biển Baratie và trở thành Phó Đầu Bếp tại đây cho tới khi gặp Luffy. Sanji học kĩ năng nấu nướng và phong cách chiến đầu bằng chân được truyền lại từ Zeff. Sau cuộc đụng độ với băng hải tặc Krieg, Sanji quyết định gia nhập băng hải tặc Mũ Rơm và trở thành thuyền viên thứ tư của băng. Trong hai năm luyện tập, Sanji được gửi tới vương quốc Kamabakka (モモイロ島, Momoiro Airando)và luyện tập dưới sự hướng dẫn của "Nữ hoàng Okama" Ivankov. Họ tên đầy đủ của anh mới được tiết lộ trong diễn bién gần đây của manga. Sanji hiện bị truy nã với mức 177,000,000 . Trong anime Sanji do Lồng tiếng bởi: Hirata Hiroaki Tony Tony Chopper Tony Tony Chopper (トニートニー・チョッパー, Tonī Tonī Choppā) là Bác sĩ của băng hải tặc Mũ Rơm và là thành viên thứ sáu của băng. Chopper có biệt danh "Kẻ yêu kẹo bông" Chopper (わたあめ大好きのチョッパー, Watāme Daisuki no Choppā), cậu sở hữu trái ác quỷ trái ác quỷ Hito Hito (ヒトヒトの実, Hito Hito no Mi ) hệ Zoan. Chopper là một bác sĩ có tay nghề cao và nhờ vào Rumble Ball (ランブルボール, Ranburu Bōru) Chopper có tới bảy nấc biến hóa thay vì ba dạng biến hình như các trái hệ Zoan thông thường. Ước mơ của Chopper là có thể chữa được tất cả mọi loại bệnh tất trên đời. Chopper nguyên gốc là một chú tuần lộc mũi xanh quê ở đảo Drum của Grand Line, Chopper đã vô tình ăn phải trái ác quỷ và bị đồng loại xa lánh. Chopper được lang băm Dr. Hiluluk đem về nuôi dưỡng, chăm sóc và coi như con đẻ. Sau khi ông Hiluluk mất, Chopper kết thừa lý tưởng của vị bác sĩ và được Dr. Kureha (Dr. くれは, Dokutā Kureha) nhận làm học trò coi như con đẻ. Chopper gặp Luffy và băng Mũ Rơm khi họ tới Drum chữa bệnh cho Nami. Sau cuộc chạm trán với băng hải tặc Bliking, Chopper gia nhập băng Mũ Rơm và trở thành thuyền viên thứ năm của băng. Trong hai năm luyện tập, Chopper được gửi tới học tập tại Vương Quốc Torino (トリノ王国, Torino Ōkoku). Chopper hiện được treo thưởng với giá 100 . Trong anime Chopper được Lồng tiếng bởi: Ōtani Ikue. Nico Robin Nico Robin (ニコ・ロビン, Niko Robin) là nhà Khảo Cổ Học của băng Mũ Rơm và là thành viên thứ bảy của băng hải tặc Mũ Rơm. Robin có biệt danh "Đứa con của quỷ" (悪魔の子 , Akuma no Ko), cô sở hữu trái ác quỷ Hana Hana (ハナハナの実, Hana Hana no Mi) hệ Paramecia. Robin có ước mơ là tìm ra Rio Poneglyph (真の歴史の本文(リオ・ポーネグリフ), Rio Pōnegurifu), khám phá ra toàn bộ lịch sự chân thực. Robin là người sống sót duy nhất của Ohara và là người duy nhất được biết tới nay có khả năng giải mã Poneglyph. Cô sống một cuộc đời cô độc và không hề tin tưởng bất cứ một ai cho tới khi gặp băng Mũ Rơm. Robin sống cô độc ngay từ khi còn bé, bị cô chú ghẻ lạnh và bị những đứa trẻ khác gọi là "quỷ". Chỗ dựa tinh thần duy nhất là các học giả của Ohara và họ cũng là đồng nghiệp của mẹ cô. Sau khi thảm họa Ohara xảy ra, toàn bộ cư dân và những học giả ở trên đảo đều bỏ mạng chỉ còn Robin là người sống sót duy nhất. Robin bị cả thế giới truy đuổi và phải dấn thân vào thế giới ngầm từ để tìm cách tồn tại. Sau sự kiện tại Alabasta, Robin tự nguyện gia nhập băng hải tặc Mũ Rơm và trở thành thuyền viên thứ sáu, rồi tái gia nhập băng sau cuộc chiến tại Enies Lobby kết thúc. Trong hai năm luyện tập, Robin đi cùng với lực lượng Quân Cách mạng và họ coi cô là Ánh sáng Cách mạng (革命の灯 , Kakumei no Tomoshibi). Robin hiện được treo thưởng với giá 130.000.000 . Trong anime Robin được Lồng tiếng bởi: Yamaguchi Yuriko Franky Franky (フランキー, Furankī) là thợ đóng tàu của băng hải tặc Mũ Rơm và là thành viên thứ tám của băng. Biệt danh của anh là "Người máy" Franky (サイボーグ フランキー, Saibōgu Furankī), anh là một thợ đóng tàu tài ba và không chỉ dừng lại ở đó Franky còn giỏi ở nhiều mặt khác. Franky là một cyborg sau khi tự mình cải tạo lại cơ thể và cơ thể anh hiện nay là "một thứ đã vựot qua khỏi tầm hiểu biết của con người". Franky có ước mơ là đóng một con tàu có thể vượt qua mọi sóng gió của biển cả, đến được tận cùng thế giới. Sau này, khi Franky hoàn thành Thousand Sunny và là thành viên băng Mũ Rơm, ước mơ của anh trở thành có thể đưa được tàu Sunny đến tận cùng thế giới. Tên thật của anh là Cutty Flam (カティ・フラム, Kati Furamu), anh là đồng môn với Ice Burg cùng là học trò của thợ đóng tàu huyền thoại Franky đã từ bỏ tên thật của mình này sau biến cố với người thầy quá cố. Ban đầu Franky gặp băng Mũ Rơm ở Water 7 với vai trò nhân vật phản diện, sau này Franky sát cánh cùng với băng Mũ Rơm trong cuộc chiến tại Enies Lobby và cuối cùng trở thành thuyền viên thứ bảy. Trong hai năm, Franky được gửi tới quê nhà của tiếng sĩ Vegapunk và học tập, nghiên cứu, kết hợp với kiến thức cá nhân cùng với những nghiên cứu của Vegapunk. Hiện Franky được treo thưởng với giá là 94.000.000 . Trong anime Franky được Lồng tiếng bởi: Yao Kazuki. Brook Brook (ブルック, Burukku) là Nhạc Công của băng hải tặc Mũ Rơm và là thành viên thứ chín của băng. Brook có biệt danh là "Brook Ngân Nga" và là một nhạc công tài ba có thể chơi được nhiều loại nhạc cụ. Brook sở hữu trái ác quỷ Yomi Yomi (ヨミヨミの実, Yomi Yomi no Mi) giúp cho Brook có thể hồi sinh lại một lần. Brook theo trường phái kiếm tay và sử dụng một thanh kiếm dấu trong cây gậy của mình. Ước mơ của ông là được gặp lại chú cá voi Laboon năm xưa, hoàn thành tâm nguyện của băng Hải tặc Rumbar. Brook cùng với băng Rumbar chính là chủ cũ của chú cá voi Laboon mà băng Mũ Rơm đã gặp ở Mỏm Sinh Đôi, Brook đã gửi Laboon lại đây từ rất nhiều năm về trước. Tất cả các thành viên trong băng cũ của Brook đều đã hi sinh trong một trận thủy chiến từ nhiều năm về trước. Brook là người sống sót duy nhất nhờ vào năng lực trái ác quỷ, và trở thành bộ xương "sống" vì linh hồn ông đã lưu lạc mất 1 năm mới nhập vào được. Brook đã sát cánh với băng Mũ Rơm trong biến cố ở Thriller Bark với băng hải tặc Moria và gia nhập băng hải tặc Mũ Rơm, trở thành thuyền viên thứ tám của băng. Trong hai năm luyện tập, Brook trở thành ca sĩ nổi tiếng trên toàn thế giới One Piece với nghệ danh "Soul King" Brook. Brook hiện được truy nã với giá 83.000.000 . Trong anime Lồng tiếng bởi: Chō. = Hải Tặc = == Các băng Hải Tặc == === Băng Hải tặc Alvida === Alvida Alvida (アルビダ, Arubida) là nữ thuyền trưởng của băng Hải tặc Alvida. Bà có biệt danh là "Kim Chuỳ" (金棒, Kanabō) và là đồng minh của Buggy. Alvida hợp tác cùng Buggy với mục tiêu trả thù Luffy và tìm kiếm kho báu của thuyền trưởng John. Ban đầu Alvida có ngoại hình béo mập vô cùng xấu xí, sau này bà đã ăn trái ác quỷ Sube Sube (スベスベ の 実, Sube Sube no Mi) hệ Paramecia và có một thân hình của siêu mẫu. Đồng thời Alvida trở thành người trơn láng, có khả năng làm chệch hướng các đòn tấn công vật lý thông thường. === Băng Hải tặc Buggy === Cabaji Mohji Richard === Băng Hải tặc Mèo Đen === Thuyền trưởng Kuro Thuyền phó Jango Buchi và Sam === Hạm Đội Hải tặc Don Krieg === Don Krieg Don Krieg sở hữu một bộ giáp mà theo ông là bất khả chiến bại, cùng nhiều vũ khí nguy hiểm có khả năng sát thương cao. Gin "quỷ nhân" Pearl tường thép === Liên Hợp Quân Núi Khỉ === Montblanc Cricket ==== Băng hải tặc Masira ==== Masira ==== Băng hải tặc Shoujou ==== Shoujou === Liên Hợp Quân Núi Foxy === Foxy PorscheMasira === Băng Hai tặc Heart === Bepo === Băng Hải tặc Kid === Wire Wire (ワイヤー, Waiyā) là một thành viên của băng hải tặc Kid. Heat Heat (ヒート, Hīto) là một thành viên của băng hải tặc Kid. === Băng Hải tặc Kuja === Thuyền trưởng Boa Hacook Boa Sandersonia Boa Marigold Margaret === Băng Hải tặc === === Băng Hải tặc Donquixote === Donquixote Doflamingo Donquixote Rosinante === Thủy Quân Happou === === Băng Hải tặc Beautiful === === Băng hải tặc Gold D.Roger === Gold D. Roger Gol D. Roger (ゴール・D・ロジャ, Gōru Dī Rojā) hay theo nhiều người là Gold Roger (ゴールド・ロジャー, Gōrudo Rojā). Roger được mệnh danh là Vua Hải Tặc, người sở hữu kho báu One Piece vĩ đại và là thuyền trưởng của băng Hải tặc Roger. Roger cùng băng của mình đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới trước cả khi ông thành Vua Hải tặc. Hơn 20 năm trước, Roger biết mình mắc một căn bệnh nan y, ông đã quyết định cùng băng Roger đi một vòng cuối và chinh phục thành công Grand Line đồng thời trở thành Vua Hải Tặc. Ít lâu sau đó Roger bí mật cho giải tán băng, rồi tự nộp mình cho Hải quân, ông bị xử tử tại quê nhà Loguetown. Những lời cuối cùng của Roger trước khi chết, về kho báu One Piece đã bắt đầu một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên Đại Hải Tặc. Roger có một khả năng đặc biệt, đó là "nghe được tiếng nói của vạn vật", đó là lý do vì sao Roger đọc được các phiến đá Poneglyph. Ông là cha của Portgas D. Ace và là người yêu của Portgas D. Rouge. Silvers Rayleigh Silvers Rayleigh (シルバーズ・レイリー, Shirubāzu Reirī) là cựu Phó thuyền trưởng của băng Hải tặc Roger. Ông là cánh tay phải của Vua Hải tặc Gol D. Roger và có biệt danh là "vua bóng tối". Hiện ông đang làm nghề thợ tráng thuyền ở quần đảo Sabaody. Rayleigh là thuyền viên đầu tiên của băng hải tặc Roger. Ông đi cùng Roger và băng của mình trong suốt cuộc hành trình cho đến ngày giải tán. Sau khi băng Roger tan rã, ông về quần đảo Sabaody và sống cùng cựu nữ hải tặc Shakky ở Rip-off Bar. Ông có Haoshoku Haki và thành thạo cả ba loại haki. Ông là người đã huấn luyện Luffy trong 2 năm. Scopper Gaban Scopper Gaban (スコッパー・ギャバン, Sukoppā Gyaban) là một thành viên trong băng hải tặc Roger, không có thông tin gì nhiều về nhân vật này. Gaban xuất hiện trong một cảnh chương 19 / tập 8 và Chap 0 / Episode 0, tên ông được nhắc trong Databook One Piece Blue Deep: Characters World. Seagull Seagull (シーガル, Shīgaru) là một thành viên của băng hải tặc Roger, nhân vật này xuất hiện trong Chap 0 / Episode 0. == Tứ Hoàng == Tứ Hoàng (四皇, Yonkō) là bốn Hải tặc hùng mạnh nhất thế giới và có tầm ảnh hưởng cực kỳ rộng lớn. Tứ Hoàng là thế lực thống trị vùng biển nửa sau của Grand Line, Tân Thế giới. === Băng Hải Tặc Tóc Đỏ === Shanks Hải tặc Shanks (シャンクス, Shankusu), biệt danh là Shanks "tóc đỏ" (「赤髪のシャンクス」, "Akagami no Shankusu") thuyền trưởng của băng hải tặc tóc đỏ và là một trong 4 tứ hoàng, Shanks là một người khá thoải mái, anh thường cùng thủy thủ đoàn mình chu du khắp thế giới chứ không theo đại hải trình. Shanks không cai trị thủy thủ đoàn một cách tàn bạo để nhận được sự tôn trọng. Shanks có thể để cho người khác ném đồ ăn, thậm chí là nhổ nước bọt vào mình, nhưng anh vẫn không phản kháng, sau đó còn cùng thủy thủ đoàn cười đùa vì điều đó. Tuy nhiên anh sẽ không tha thứ cho bất cứ ai tấn công người bạn của mình. Shanks là cựu thành viên của băng hải tặc Roger. Ben Beckman Yasopp Yasopp (ヤソップ, Yasoppu) là xạ thủ của băng Tóc đỏ và là cha của Usopp, chồng của bà Banchinna. Lucky Roux Rockstar Rockstar (ロックスター, Rokkusutā) là một lính mới trong băng hải tặc Tóc Đỏ, anh ta nhận nhiệm vụ giao thư của Shanks cho Râu Trắng. Rockstar tự giới thiệu là minh có số tiền truy nã 94,000,000 === Băng Hải Tặc Râu Trắng === Ngoài 1600 hải tặc thành viên, Râu trắng còn rất nhiều đồng minh ở Tân thế giới. Mỗi thuyền trưởng băng hải tặc đó đều là những tay anh chị khét tiếng ở Tân thế giới. Có ít nhất 43 băng hải tặc liên minh với Râu Trắng, và quan hệ của Râu trắng với họ cũng như đối với thuyền viên của mình, coi họ như con.Họ dường như khá thân thiết với Ace, và họ cũng sẵn sang giúp Râu trắng giải cứu Ace khi bị hành quyết. Nhưng họ không biết rằng Ace là con của Roger. Bên cạnh đó, Jimbei – một trong Thất vũ hải, rất tôn trọng Râu Ttrắng khi ông lên tiếng bảo vệ Đảo người cá, và duy trì tình bạn với Ace, ông đặt mạng sống của mình cho cả 2 người đó. Hơn nữa, Jimbei đã đồng minh với thuyền trưởng băng Mũ rơm, Luffy, Râu trắng cũng coi Luffy là đồng minh khi dọn đường giúp Luffy, nhưng Luffy không tin tưởng Râu Trắng lắm khi khẳng định Ace sẽ do mình cứu, bảo Râu trắng đứng sang 1 bên. Râu trắng dường như thích thái độ này của Luffy, sau khi Luffy cứu được Ace, Râu trắng đã nhận ra sức mạnh tiềm ẩn của Luffy, và trước khi chết ông đã đặt niềm tin vào "thằng ngốc" ấy. Tù vượt ngục cùng với Luffy có rất nhiều người là kẻ thù của Râu Trắng như Crocodile, hay Buggy – thành viên cũ của băng Roger, nhưng Râu trắng vẫn đề nghị đồng minh với Buggy khi thấy theo sau hắn là những hải tặc hùng mạnh. Đô đốc Akainu đã đánh lừa Squad, một đồng minh trung thành của Râu Trắng, đã đâm Râu trắng 1 nhát với lời nói dối rằng ông đã thỏa thuận với hải quân, và các đồng minh là mục tiêu duy nhất của các Pacifista, một số hải tặc khác cũng đã bắt đầu nghi ngờ Râu trắng. Dường như kế hoạch sắp đạt được thì Râu trắng đã phản công, ông đã chứng minh cho quân đồngminh biết ai mới là kẻ thù thực sự của họ, điều này khiến họ càng phẫn nộ, càng cố gắng giải cứu Ace sớm hơn. Râu trắng Râu trắng (白ひげ, Shirohige), tên thật của ông là Edward Newgate (エドワード・ニューゲート, Edowādo Nyūgēto), là thuyền trưởng của băng hải tặc Râu trắng. Từ khi thuyền trưởng của họ solo với Gol D Roger, thì băng Râu Trắng được biết đến là đội quân hung mạnh nhất thế giới OP. Họ có thực sự mạnh hơn 3 tứ hoàng khác hoặc chí ít là bằng hay không cũng chưa rõ. Những gì chúng ta được biết là Chính phủ đã huy động toàn bộ hải quân trên khắp thế giới và cả các Thất vũ hải, để chuẩn bị tiếp đón Râu Trắng, sau khi ông tuyên bố sẽ cướp pháp trường. Ngay cả 23 chiếc tàu chiến của hải quân được giao nhiệm vụ theo dõi riêng chiếc Moby Dick của Râu Trắng, đồng loạt mất tích ngay khi chiếc Moby Dick di chuyển. Ngoài ra trước kia Portgas D. Ace, đã lập được những thành tích đáng ngạc nhiên, từ chối lời mời vào Thất vũ hải, gia nhập vào băng Râu trắng và dưới quyền của Râu Trắng, nhưng ảnh cũng là giọt máu duy nhất của Vua hải tặc.Theo lời của Râu đen, luật trên thuyền Râu Trắng là khi 1 thành viên tìm thấy 1 trái Devil Fruit thì có thể tùy ý sử dụng nó (chính vì thế Râu đen đã giết Thatch để chiếm đoạt trái Yami Yami no Mi – trái bong tối). Điều này rất công bằng cho một số người mang trong năng lực của DF trên thuyền, như Marco, Ace, Jozu đều là những người có năng lực của DF, ngay cả Râu Trắng cũng thế. Những sức mạnh của DF đó cũng đủ giúp cho các đội trưởng chống lại các đô đốc và Thất vũ hải. Nhưng cũng có một số đội trưởng không ăn DF nhưng vẫn có năng lực để chống lại các Thất vũ hải như Vista hay Curiel. Nhiều người trong số họ có 1 hoặc nhiều loại Haki,đó là sức mạnh mà các đội trưởng phải điều khiển được cả 3 loại. Thực tế, tên của họ cũng được các Thất vũ hải và các đô đốc biết đến, đã chứng tỏ được sức mạnh của họ. Thậm chí, 1 tân binh như Luffy khi đứng nói chuyện ngang với Râu Trắng đã được coi là 1 sự kiện khủng rồi (mặc dù luc đó Luffy chưa bộc lộ Bá Vương khí). Ngay như thủy sư đô đốc Sengoku cũng khẳng định, Râu Trắng có khả năng tiêu diệt thế giới. Cả khi cuộc đại chiến thất bại, Ngũ lão tinh khẳng định băng Râu Trắng còn lại vẫn là một trong thế lực mạnh nhất, và là đội quân có khả năng ngăn chăn được Râu đen. Marco Biệt danh "Phượng Hoàng Tái Sinh" Marco. Chức vụ: Là đội trưởng đội 1 băng Râu Trắng. Portgas D. Ace Portgas D. Ace (ポートガス・D・エース, Pōtogasu Dī Ēsu) là Đội Trưởng Đội 2 của băng hải tặc Râu Trắng và có biệt danh "Hỏa Quyền Ace" (火拳のエース , Hiken no Ēsu). Ace là chủ sở hữu (đời trước) của trái ác quỷ Mera Mera (メラメラの実, Mera Mera no Mi) hệ Logia. Ace là con trai của Vua Hải Tặc Gol D. Roger và Portgas D. Rouge, tên thật của Ace là Gol D. Ace (ゴール・D・エース , Gōru D. Ēsu). Ace là anh em kết nghĩa từ bé của Luffy, Sabo và là cháu nuôi của Phó Đô Đốc Monkey D. Garp. Ace được Garp nhận nuôi theo nguyện vọng của Roger, anh được Garp gửi cho bà Dadan và băng sơn tặc của bà ấy nuôi dưỡng cùng với Luffy. Khi trưởng thành Ace ra khơi tạm biệt bạn bè và người thân bắt đầu hành trình trở thành hải tặc. Ace thành lập băng hải tặc băng hải tặc Spade (スペード海賊団, Supēdo Kaizokudan) và bắt đầu nổi tiếng. Sau đó Ace gia nhập băng hải tặc Râu Trắng rồi một thời gian sau lên đường truy đuổi Râu Đen. Ace bị Râu Đen đánh bại và giao nộp cho Chính phủ / Hải Quân, đây là sự kiện châm ngòi cho cuộc chiến giữa Tứ Hoàng Râu Trắng và Hải Quân. Ace hi sinh trong trận chiến xảy ra tại vịnh Marineford để bảo vệ Luffy, mộ của Ace được đặt cạnh Râu Trắng tại một hòn đảo nào đó ở Tân Thế giới. Jozu Jozu (ジョズ, Jozu) là Đội Trưởng Đội 3 của băng hải tặc Râu Trắng và có biệt danh "Jozu Kim Cương" (ダイヤモンド・ジョズ , Daiyamondo Jozu). Jozu sở hữu một trái ác quỷ chưa biết tên và có khả năng biến thành kim cương. Vista Vista (ビスタ, Bisuta) là Đội Trưởng Đội 5 của băng hải tặc Râu Trắng và có biệt danh "Hoa Kiếm Vista" (花剣のビスタ , Kaken no Bisuta). === Băng Hải Tặc Bách Thú === Băng hải tặc Bách Thú (百獣海賊団, Hyakujū Kaizokudan) Kaido Kaido (カイドウ, Kaidō) là thuyền trưởng của băng Hải tặc Kaido và là một trong Tứ Hoàng. Ông có biệt danh là "Kaido Bách thú" (百獣のカイドウ, Hyakujū no Kaidō) và được mệnh danh là "Sinh vật mạnh nhất thế giới". Kaido khá hiếu chiến và tàn bạo. Trong quá khứ Kaido đã tiêu diệt toàn bộ thuỷ thủ đoàn băng của Gecko Moria. Trước khi trận chiến ở Marineford xảy ra, Kaido có ý định đem quân tấn công Râu Trắng nhưng bị băng Tóc đỏ ngăn cản. Theo Doflamingo nếu việc làm ăn giữ ông và Kaido xảy ra sự cố, đồng nghĩa với việc Doflamingo và băng Donquixote sẽ phải chịu một hậu quả hết sức khủng khiếp. Kadio sở hữu một đội quân có năng lực trái ác quỷ Zoan nhân tạo. Tứ Hoàng Kaido là mục tiêu của liên minh Trafalgar Law và Monkey D. Luffy đang nhắm đến. Jack Kaido (ジャック, Jakku) là cánh tay phải của Kaido và có biệt danh là "Jack Hạn Hán" (旱害のジャック , Kangai no Jakku). Jack là thuyền trưởng của tàu Mammoth và sở hữu trái ác quỷ Zou Zou, Model: Mammoth (, trái ác quỷ Zou Zou, Model: Mammoth) hệ Zoan nhóm Zoan Cổ Đại. Sheephead Sheepshead (シープスヘッド, Shīpusuheddo) là người đứng đầu đội Gifters của băng Bách Thú Ginrummy Ginrummy (ジンラミー, Jinramī) là cấp dưới của Sheeshead. Scotch Scotch (スコッチ, Sukotchi) là hải tặc dưới trướng Kaido có biệt danh là Iron Boy (アイアンボーイ, Aian Bōi, Cậu Bé Sắt). Scotch làm người bảo vệ cho một hòn đảo mùa đông mà Kaido rất ưa thích ở Tân Thế giới. === Băng Hải Tặc Big Mom === Big Mom Big Mom (Big Mam (ビッグ・マム, Biggu Mamu)) là nữ thuyền trưởng của băng Hải tặc Big Mom, bà có tên thật là Charlotte Linin. Ngoại hình của Big Mom là một người không lồ, có cái miệng rộng đến mang tai và đặc biệt là rất thích kẹo. Big Mom trở thành người bảo hộ Đảo người cá sau khi Râu Trắng mất, và Đảo người cá trở thành nơi cung cấp kẹo cho bà như một cái giá trả cho việc mượn danh hiệu Tứ Hoàng. Có một số nhầm lẫn nhỏ về biệt danh của bà, trong One Piece Green: Secret Pieces biệt danh của bà là "Big Mom", nhưng ở chương 610 phiên âm lại là "Big Mam". Trong chương 651, Oda dã phiên âm lại là "Big Mom". Trước đây Oda cũng từng mắc lỗi này khi đặt tên cho Alabasta, Iceburg,... === Băng Hải Tặc Râu Đen === Băng Hải Tặc Râu Đen (マーシャル・D・ティーチ, Māsharu Dī Tīchi) là băng Hải tặc do Tứ Hoàng Marshall D. Tech làm thuyền trưởng. Ban đầu băng có năm thành viên, sau khi đột nhập thành công vào Impel Down băng Râu Đen đã xuống Level 6 với lời mời gia nhập băng của mình. Số thành viên chính của băng sau đó đã tăng lên thành mười người, cả bốn thành viên mới đều là những hải tặc / tội phạm đã gây rất nhiều tội ác đến mức sự tồn tại của cả bốn đã bị xoá khỏi lịch sử Sau khi đột nhập. Hiện nay quy mô của băng Hải tặc Râu đen đã lớn mạnh hơn trước rất nhiều. Marshall D. Teach Marshall D. Teach (マーシャル・D・ティーチ, Māsharu Dī Tīchi) là thuyền trưởng của băng Hải tặc Râu đen và là một phần của "Thế hệ tồi tệ nhất" (最悪の世代, Saiaku no Sedai). Teach đoạt lấy vị trí Tứ Hoàng của Râu Trắng sau khi ông mất. Teach từng là thành viên của băng Hải tặc Râu Trắng, hắn bị đuổi khỏi băng sau khi sát hại Đội trưởng Đội 4 Thatch. Ban đầu Teach có ý định bắt Luffy để được tham gia vào Thất vũ hải nhưng bị Portgas D. Ace ngăn cản. Râu đen đã đánh bại Ace và giao nộp anh cho Chính phủ, hành động này đã châm ngòi cho cuộc chiến giữa Hải quân và Tứ Hoàng Râu Trắng. Khi trận chiến tại Marneford xảy ra, Teach và băng của mình đã đột nhập vào Impel Down với mục tiêu tuyển mộ thêm các thành viên mới. Bất ngờ xuất hiện khi cuộc chiến giữ băng Râu Trắng và Hải Quân đã gần đi vào hồi kết, Râu Đen cùng băng của hắn ra tay kết liễu Râu Trắng đồng thời cướp đi sức mạnh của ông. Hiện nay Râu đen đang săn lùng các trái ác quỷ mạnh trên bốn biển nhằm phục vụ cho mục đích bá chủ của mình. Mục tiêu của Teach cũng giống Luffy, đó là trở thành Vua Hải Tặc. Marshall D. Teach sở hữu trái ác quỷ Yami Yami (ヤミヤミの実, Yami Yami no Mi), một trái ác quỷ độc nhất vô nhị của hệ Logia, cho hắn có sức mạnh của bóng tối. Đông thời hắn còn sở hữu sức mạnh chấn động từ trái ác quỷ Gura Gura (グラグラの実, Gura Gura no Mi), điều này khiến Teach trở thành nhân vật duy nhất trong One Piece được biết đến nay cùng lúc sở hữu hai sức mạnh trái ác quỷ. Van Augur Van Augur (ヴァン・オーガー , Van Ōgā) là xạ thủ của băng Râu đen và có biệt danh là "Siêu âm" (音越, Otogoe). Ông có khả năng thiện xạ và tài bắn nhanh tuyệt vời. Augur sử dụng một khẩu súng trường có tên là "Senriku" (千陸, "Senriku"), trông nó giống khẩu Blunderbuss ở ngoài đời thực nhưng lớn hơn. Jesus Burgess Jesus Burgess (ジーザス・バージェス, Jīzasu Bājesu) là lái tàu của băng và hiện là Đội trưởng Thuyền số 1 của băng Hải tặc Râu đen. Burgess có biệt danh là Champion (チャンピオン, Chanpion, tiếng Việt: Nhà vô địch). Burgess chiến đấu bằng tay không và có thể lực ở mức siêu con người, và cũng khá thành thạo Haki vũ trang. Burgess có phong cách và tạo hình rất giống các "Đô vật chuyên nghiệp Mexico". Doc Q Laffitte Laffitte (ラフィット, Rafitto) là Hoa tiêu của băng Râu đen. Laffite từng là cảnh sát ở West Blue, sau bị đuổi khỏi ngành vì hành động quá độc ác và bạo lực. Ngaoị hình của Laffitte là một người đàn ông cao, gầy và có chút gì đó liên tưởng đến các diễn viên kịch câm. Laffitte sử dụng một thanh Shikomizue, một loại kiếm của Nhật với hình dáng của một cây gậy. Shiliew Shillew (シリュウ, Shiryū) là cựu Cai Ngục Trưởng của Impel Down. Ông có biệt danh là "Shillew Mưa" (雨のシリュウ, Ame no Shiryū) và là một kiếm sĩ. Shiliew bị Magellan giam vào Level 6 vì đối xử với tù nhân quá tàn bạo, coi họ là công cụ để giết thời gian. Khi băng Râu đen tấn công Impel Down, ông tạm thời được phóng thích để đối phó với Tech. Tuy nhiên Shilew lại quyết định trở thành thành viên băng Râu đen. Avalo Pizzaro Catarina Devon Vasco Shot Sanjuan Wolf Kuzan Kuzan (クザン, Kuzan) là cựu Đại tướng Hải Quân. Biệt danh khi ông còn làm Đại tướng là Aokiji (青雉, nghĩa đen "Chim tri xanh"). Kuzan rời Hải Quân sau khi là kẻ thua trận trong cuộc chiến tranh chức Nguyên soái với Sakazuki trên đảo Punk Hazard. Ông chu du nhiều nơi cùng chú chim cánh cụt tên "Camel". Ông hiện có một mối liên hệ bí ẩn với Tứ Hoàng Marshall D. Tech và băng Hải tặc Râu đen. Kuzan sở hữu trái Hie Hie (ヒエヒエの実, Hie Hie no Mi) hệ Logia, giúp ông có khả năng biến cơ thể mình và các vật xung quanh thành băng. Tác giả Eiichiro Oda dựa trên diễn viên điện ảnh Matsuda Yusaku để tạo ra Kuzan. == Tân Binh == Caribou Coribou Cavendish Bartolomeo === Thập Nhất Tân Tinh Tú === Thập Nhất Tân Tinh Tú (11人の超新星, Jūichinin no Chōshinsei) hay còn được biết đến là một phần của "Thế hệ tồi tệ nhất" (最悪の世代, Saiaku no Sedai) cùng vơi Tứ Hoàng Râu Đen. Họ là mười một Hải tặc có số tiền truy nã trên 100 triệu , đến từ bốn đại dương trên thê giới. Họ cùng tập hợp tại quần đảo Đảo Sabaody hai năm trước để tiến vào Tân thê giới. Hiện giờ sau hai năm, bọn họ đang gây sóng gió ở Tân Thế giới. Luffy và Zoro cũng thuộc nhóm hải tặc này. Eustass "Captain" Kid Số tiền truy nã hiện nay của Kid là 470.000.000 Trafalgar Law Số tiền truy nã hiện nay của Law là 500.000.000 Scratchmen Apoo Số tiền truy nã hiện nay của Apoo là 350,000,000 Basil Hawkins Số tiền truy nã hiện nay của Hawkins là 320,000,000 X Drake X Drake (X・ドレーク(ディエス・ドレーク), Diesu Dorēkuī) là thuyền trưởng của băng Hải tặc Drake, Anh đến từ North Blue có biệt danh là X Drake "Cờ dỏ". X Drake từng là Thiếu tướng Hải quân, có lẽ vì thế nên nhiều người gọi anh là "nỗi ô nhục của Hải quân". X Drake sử dụng vũ khí là một chiếc rìu bốn lưỡi và một thanh kiếm Tây. Anh sở hữu một trái ác quỷ (hiện chưa biết tên) rất hiếm hệ Zoan cổ đại, cho phép anh biến thành một con T-Rex. Hiện X Drake đang làm việc dưới trướng của Tứ Hoàng Kaido, sô tiền truy nã vào thời điểm hai năm trước của X Drake là 222,000,000 Killer Số tiền truy nã hiện nay của Killer là 200.000.000 Jewelry Bonney Jewelry Bonney (ジュエリー・ボニー, Juerī Bonī) là thuyền trưởng của băng Hải tặc Bonney, cô đến từ South Blue và có biệt danh là "Kẻ phàm ăn". Bonney có mặt ở quần đảo Sabaody và ở gần MarineFord cùng các Tân Tinh Tú khác. Sau đó băng của Bonney bị băng Râu đen tấn công. Hiện Bonney đang ẩn mình đâu đó trong Tân thê giới. Cô có số tiền truy nã vào thời điểm hai năm trước là 140,000,000 Capone "Gang" Bege Số tiền truy nã vào thời điểm hai năm trước của Bege là 108.000.000 Urouge Số tiền truy nã vào thời điểm hai năm trước của Urouge là 108.000.000 = Các tổ chức không trực thuộc chính phủ = == Các tổ chức tư nhân == === Baroque Work === là một tổ chức tội phạm do Crocodile thành lập Mr.0 chính là Crocodile một trong thất vũ hải nhưng bị loại ăn trái suna suna no mi. Mệnh danh là '' Cá sấu chúa'' Mr.1 và Miss Double Finger Mr.2 Bon Clay Mr.3 và Miss Golden Week Mr.4 và Miss Merry Christmas Mr.5 và Miss Valentine Mr.6 và Miss Father Day === Galley-La Company === Galley-La Company (ガレーラカンパニー, Garēra Kanpanī) là một công ty đóng tàu lớn và cự kỳ nổi tiếng trong thế giờ One Piece. Galley-La Company nằm ở thành phố Water 7 và do Ice Bug làm giám dốc. Galley-La Company được xem là ngôi nhà của những thợ đóng tàu hàng đầu thế giới. Công ty phục vụ cho nhiều đối tượng từ dân thường cho đến giới Hải Tặc, và đặc biệt là cho Chính phủ Thế giới. Ice Bug == Các vương quốc == ==== Vương quốc Sakura ==== Dalton Dr Kureha ==== Vương quốc Wano ==== Kinemon Momonosuke Kạnjuro = Chính phủ thế giới = Chính phủ thế giới (世界政府, Sekai Seifu) là liên hiệp của hơn 170 quốc gia trong thế giới One Piece, chính phủ thế giới hiện nay được thành lập bởi hai mươi quốc gia vào 800 năm trước. Trụ sở chính của Chính phủ thế giới nằm ở Thánh địa Mariejos phía trên của Red Line Ngũ lão tinh Kong Kong hiện là Chỉ huy quân đội trực thuộc Chính quyền thế giới, ông từng giữ chức Nguyên soái của Hải quân vào hơn 20 năm về trước. === Quý tộc thế giới === Quý tộc thế giới (世界貴族, Sekai Kizoku) hay Thiên Long Hội (天竜人, Tenryūbito) là dòng dõi của 20 vị vua sáng lập Chính quyền thế giới 800 năm về trước. Các quý tộc thế giới nhận được sự bảo vệ từ Chính quyền cũng như Hải quân. Nếu một quý tộc thế giới bị tấn công, thì ngay lập tức sẽ có một Đại tướng từ Tổng bộ đến bảo vệ họ. Các quý tộc thế giới khá độc ác, hách dịch và sở hữu rất nhiều nô lệ. Họ coi mình là một chủng tộc cao cấp hơn người bình thường. Họ sống ở trên Thánh địa Mariejos. == Ciper Pol == Cipher Pol (サイファーポール, Saifā Pōru) là tổ chức của Chính phủ thế giới. Họ hoạt động như một tổ chức điệp viên và cảnh sát ngầm === CP0 === CP -0 (Shī-Pī Zero, CP -0) hay Cipher Pol Aigis 0 (サイファーポール"イージス"ゼロ, Saifā Pōru Ījisu Zero) là một tổ chức thuộc Cipher Pol phục vụ cho "Quý Tộc THế giới". Theo Nico Robin, CP -0 là tổ chức mạnh nhất trong tất cả các Cipher Pol và khi họ xuất hiện thì sẽ mang theo một điều gì đó không tốt lành. === CP9 === CP9 (Shī-Pī Nain, CP9) hay Cipher Pol Number 9 (サイファーポールNo.9, Saifā Pōru Nanbā Nain) là một tổ chức mật của Cipher Pol, nằm dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Thê giới. CP9 gồm các sát thủ chuyên làm nhiệm vụ ám sát, thu thập hay điều tra các tài liệu mật, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ được coi là bất khả thi. Ngoài thủ lĩnh Spadam thì tất cả các thành viên chính đều thành thạo Lục Thức (六式, Rokushiki), sức mạnh của các thành viên được đo bằng chỉ số "Douriki". Sau sự kiện ở Enies Lobby tám thành viên chính đã rời khỏi tổ chức. Spandam Rob Lucci Rob Lucci (ロブ・ルッチ, Robu Rucci) là thành viên mạnh nhất CP9, và là cựu nhân viên của "Galle-La Company". Lucci được biết đến là sát thủ mạnh nhất trong lịch sử của tổ chức CP9, với cách hành động khá tàn bạo và. Anh sở hữu trái ác quỷ Neko Neko Model Leopard (ネコネコの実 モデル:豹(レオパルド), Neko Neko no Mi, Moderu: Reopado) hệ Zoan và trở thành "Người báo" (ヒョウ人間, Hyō Ningen). Lucci cực kì thành thục Lục Thức và là thành viên duy nhất đột phá được đến tầng cuối cùng, luyện được chiêu thức thứ bảy Lục Thức Bá Vương (六王銃, Rokuōgan). Chỉ số "Douriki" của Lucci là 4000. Kaku Kaku (カク, Kaku)} được biết đến là nhân viên của "Galley-La Company", trước khi tiết lộ thân phận thật sự là một sát thủ của CP9. Anh có một chiếc mũi dài giống Usopp nhưng hình vuông và ngắn hơn. Kaku sở hữu trái ác quỷ Usi Usi, Model: Hưou cao cổ (ウシウシの実 モデル:麒麟(ジラフ), Ushi Ushi no Mi, Moderu: Jirafu) và trở thành "Người Hươu cao cổ" (キリン人間, Kirin Ningen). Kaku kết hợp "Lục Thức" và sở trường kiếm thuật của mình đê tạo cho mình một phong cách chiến đấu riêng. Đó là phái tứ kiếm, với hai thanh katana ở hai tay và dùng chiêu Ơ{nihongo|"Chân bão"|嵐脚|Rankyaku}} như hai lưỡi kiếm. Chỉ số "Douriki" của Kaku là 2200 Jyabura Jyabura hay Jabra (ジャブラ, Jabura) là một trong ba các thành viên cuối cùng của CP9 được giới thiệu. Ngoại hình và cách ăn mặc của Jyabura giống vơi các võ sư Trung Hoa. Anh sở hữu trái ác quỷ Inu Inu, Model: Chó sói (イヌイヌの実 モデル:狼(ウルフ), Inu Inu no Mi, Moderu: Urufu) và trở thành "Người Sói" (狼人間, Ōkami Ningen). Chỉ số "Douriki" của Jyabura là 2180. Blueno Blueno là bartender ở Water 7 trước khi được tiết lộ là một sát thủ trong CP9. Ông là một người đàn ông cao lớn với môi lớn, một bộ râu đen và mái tóc màu đen trong đó kiểu tóc của ông trông giống như những chiếc sừng của một con bò. Trong suốt thời gian của mình như là một bartender, ông mặc một chiếc áo polka chấm màu đen và màu vàng với một chiếc tạp dề trên nó. Là một thành viên của CP9, ông mặc một mảnh quần áo màu đen. Trong thời gian tiếp xúc của ông với Robin ở Water 7 và những nỗ lực ám sát Iceburg, ông mặc một chiếc áo choàng kiểu rô với dây chuyền của hạt.Cùng đi với trang phục này, ông đeo hai chiếc mặt nạ. Đầu tiên, ông đeo mặt nạ nữ, sau đó là mặt nạ gấu. Blueno ăn Doa Doa no Mi, một trái ác quỷ hệ Paramecia cho phép anh ta để tạo ra cửa trên bất kỳ bề mặt nào. Ông thậm chí đã tạo ra "cánh cửa không khí", cửa ra vào trong không khí chính nó, mà dẫn đến những gì dường như là một không gian khác, cho phép anh đi rất xa và nhập vào một nơi trú ẩn an toàn, nơi đối thủ của ông không thể tiếp cận. Kumadori' Kumadori là một cựu thành viên của CP9 và một trong những thành viên cuối cùng được giới thiệu. Fukurou Kalifa Kalifa (カリファ, Karifa) là thư ký của Giám đốc "Galley-La Company", Ice Bug, trước khi tiết lộ là một sát thủ của CP9. Vũ khí của cô là một chiếc roi gài dài màu đen. Kalifa sở hữu trái ác quỷ Awa Awa (アワアワの実}, Awa Awa No Mi) và trở thành "Người Bong Bóng Xà Phòng (石鹸人間, Sekken Ningen)}. Chỉ số "Douriki" của Kalifa là 630. Nero Nero (ネロ, Nero) là thành mới được kết nạp vào CP9. Nero là một trong các sát thủ được cử đến hộ trợ cho việc áp giải Nico Robin từ Water 7 về Enies Lobby bằng tàu hoả trên biển, Puffing Tom. Sau khi thất bại trong nhiệm vụ ngăn chặn Franky, Nero bị loại khỏi tổ chức và bị ném xuống biển. Khác với các thành viên chính của CP9, Nero chỉ thông thạo bốn chiêu của Lục Thức. == Các Vương Quốc == === Vương quốc Arabasta === Neferteri Vivi Neferteri Vivi (ネフェルタリ・ビビ, Neferutari Bibi) là công chúa của Alabasta thuộc dòng dõi nhà Neferteri. Vivi từng phiêu lưu cùng băng Mũ Rơm một thời gian. Vivi từng tham gia vào tổ chức Baroque Work với mật danh Miss Wednesday để điều tra chân tướng của Mr. 0. Neferteri Cobra Neferteri Cobra (ネフェルタリ・コブラ, Neferutari Kobura) là Vua đương nhiệm của Vương Quốc Alabasta Neferteri Titi Neferteri Cobra (ネフェルタリ・ティティ, Neferutari Titi) là Hoàng Hậu của Vương Quốc Alabasta, bà là vợ của Vua Neferteri Cobra và là mẹ của Vivi. Bà đã mất từ nhiều năm về trước. Igaram Pell Pell (ペル, Peru) là Chỉ Huy của Quân đội Hoàng gia Alabasta cùng với Chaka và có biệt danh "Pell Chim Ưng" (ハヤブサのペル , Hayabusa no Peru). Pell sở hữu trái ác quỷ Tori Tori, Model: Falcon (トリトリの実 モデル:隼(ファルコン), Tori Tori no Mi, Moderu: Farukon) hệ Zoan và có khả năng biến thành chim ưng. Pell được mệnh danh là "Chiến binh mạnh nhất" vương quốc Alabasta, anh đại diện cho hai vị thần bảo hộ của Alabasta "Thần Chim Ưng" Chaka Chaka (チャカ, Chaka) là Chỉ Huy của Quân đội Hoàng gia Alabasta cùng với Pell và có biệt danh "Chaka Chó Rừng" (ジャッカルのチャカ, Jakkaru no Chaka). Pell sở hữu trái ác quỷ Inu Inu, Model: Chó Rừng (イヌイヌの実 モデル:ジャッカル, Inu Inu no Mi, Moderu: Jakkaru) hệ Zoan và có khả năng biến thành chó rừng. Kohza Kohza (コーザ, Kōza) hiện là Bộ trưởng Bộ Môi trường của Alabasta, anh là bạn thủa nhỏ của công chúa Vivi trong băng Cát Cát. Kohza là thủ lĩnh của quân kháng chiến trong cuộc nội chiến kéo dài hai năm từng xảy ra ở Alabasta. === Vương quốc Dressrosa === Vua Riku Viola Kyros Rebecca == Hải Quân == Hải quân (海軍, Kaigun) là một tổ chức quan sự lâu đời trực thuộc Chính phủ thế giới, có các chi nhánh đóng ở khắp mọi nơi tren thế giới One Piece. Hải quân có nhiệm vụ duy trì nền hoà bình và bảo vệ cuộc sống của người dân trên danh "Chính nghĩa". Hải quân là đối trọng của phe Hải tặc và đồng thời là một trong "Tam đại thế lực", duy trì cân bằng của trật tự cho giới. Tổng bộ hải quân từng được đặt trên Marineford và hiện nay chuyển ra ở lối vào của Tân thế giới. === Nguyên Soái / Thủy Sư Đô Đốc === Nguyên Soái / Thủy Sư Đô Đốc (元帥, Gensui) là vị trí đứng đầu và có quyền lực cao nhất của Hải quân. Sengoku Sengoku (センゴク?, Sengoku) là Nguyên soái / Thủy Sư Đô Đốc tiền nhiệm của Hải quân, ông có biệt danh là "Phật Sengoku" (仏のセンゴク, Hotoke no Sengoku). Sengoku cùng Trung tướng Garp là hai tượng đài Hải quân đã gánh vác Hải quân từ thời Roger, và là một trong các huyền thoại của thế giới One Piece còn sống đến này. Ông sở hữu trái ác quỷ Hito Hito Model Phật (ヒトヒトの実 モデル:大仏, HHito Hito no Mi, Moderu: Daibutsu) hệ Zoan thần thoại, giúp ông có thể hoá thân thành một hình dạng giống với Phật. Hiện tại ông đã thôi chức Thủy Sư Đô Đốc và đang đảm nhận nhiệm vụ Thanh tra của Hải quân. Sakazuki Sakazuki (サカズキ?, Sakazuki) là Nguyên soái đương nhiệm, biệt danh khi ông còn giữ chức Đại tướng là Akainu (赤犬, nghĩa đen "Chó đỏ"). Ông theo "Chính nghĩa tuyệt đối". Akainu sở hữu trái ác quỷ Magma Magma (マグマグの実, Magu Magu no Mi) hệ Logia, cho phép ông có khả năng chuyển hoá cơ thể và có khả năng tạo ra dung nham. Ngoại hình của ông được tác giả Eiichiro Oda dựa trên diễn viên điện ảnh Bunta Sugawara === Đại tướng / Đô Đốc === Đại tướng / Đô Đốc (大将, Taishō) được mênh danh là lực lượng mạnh nhất của Hải quân. Vị trí này luôn có ba người và có sức mạnh khá đồng đều. Mỗi vị Đại tướng đều có một sức mạnh lớn và độ huỷ diệt rất khủng khiếp. Kizaru Kizaru (サカズキ?, nghĩa đen "Khỉ vàng") tên thật là Borsalino (ボルサリーノ, Borusarīno). Kizaru theo "Chính nghĩa trung lập". Ông sở hữu trái ác quỷ Pika Pika (ピカピカの実, Pika Pika no Mi) hệ Logia, cho phép ông có sức mạnh của ánh sáng. Oda đã tạo nên Borsalino dựa trên diễn viên điện ảnh Kunie Tanaka Fujitora Fujitora (藤虎, nghĩa đen "Hổ Tím") tên thật là Issho (イッショウ Isshō). Issho không gia nhập Hải quân theo cách thức truyền thống, ông mới gia nhập trong thời gian gần đây theo lệnh triệu tập nghĩa vụ từ Nguyên soái Sakazuki Ryokugyu Ryokugyu ((緑牛, nghĩa đen "Bò xanh") hiện chưa rõ danh tính của vị Đại tướng này. === Trung tướng === Smoker Smoker (スモーカー, Sumōkā) hiện giữ chức vụ Trung tướng trực thuộc chi nhánh G5 của Hải quân ở Tân thế giới. Anh có biệt danh là "Thợ săn trắng Smoker" (白猟のスモーカー, Hakuryō no Sumōkā). Smoker sở hữu trái ác quỷ Moku Moku (モクモクの実, Moku Moku no Mi) hệ Logia, cho phép anh hoá thân thành khói cũng như điều khiển chúng. Vũ khí của Smoker là một cây thập thủ có bọc đá biẻn ở đầu. Smoker là một trông số ít các nhân vật phụ xuất hiện xuyên suốt trong nhiều phần truyện. Monkey D. Garp Monkey D. Garp (モンキー・D・ガープ, Monkī Dī Gāpu?) được mệnh danh là người hùng của Hải quân, ông là đối thủ truyền kiếp của Vua Hải tặc Gold D. Roger. Biệt danh của ông là "Garp nắm đấm" (ゲンコツのガープ, Genkotsu no Gāpu).Garp là cha của nhà cách mạng Dragon, ông nội của Luffy và cũng là ông nuôi của Portgas D. Ace, ông nhận nuôi Ace theo nguyện vọng của Roger. Đồng thời ông là thầy của Coby và Hellmepo. Garp sở hữu một sức mạnh và thể lực phi thường với haki rất mạnh. Ông hiện đảm nhận nhiệm vụ đào tạo thế hệ lính trẻ cho Hải quân. Tsuru Momonga === Đại tá === Hina Hina (ヒナ , Hina) giữ chức Đại tá của Hải Quân và là bạn đồng ngũ của Smoker. Hina có biệt danh là "Hina cũi đen" (黒檻のヒナ, Kuro Ori no Hina), cô sở hữu trái ác quỷ Ori Ori (オリオリの実, Ori Ori no Mi) hệ Paramecia, cho phép cô có khả năng khoá đối thủ. Hina là cấp trên của hai nhân vật Fullbody và Jango. Cô xuất hiện lần đầu ở đoạn cuối của phần Alabasta. Tashigi Đại tá Tashigi (たしぎ?, Tashigi) là cấp dưới của Smoker, hiện cô đang làm việc tại chi nhánh G5 của Hải quân ở Tân thế giới. Tashigi rất đam mê kiếm thuật và thích tìm hiểu về các loại kiếm. Tashigi có mục tiêu là thu thập các thanh kiếm quý trên thế giới để chúng không rơi vào tay kẻ xấu. Ngoại hình và tính cách của Tashigi có nhiều điểm tương đồng với Kuina, người bạn thân đã mất của Zoro Coby Đại tá Coby (コビー, Kobī) là cậu bé năm xưa từng làm học việc trên tàu của nữ hải tặc Alvida và được Luffy cứu. Coby gia nhập Hải Quân và làm tạp vụ ở Chi nhánh thứ 153 của Hải Quân sau khi Đại tá Morgan bị đánh bại, trước khi cùng với Hellmepo trở thành học trò của Phó Đô Đốc Monkey D. Garp và thuyên chuyển về Tổng Bộ Hải Quân. Coby có nhiều thay đổi và phát triển trong cả thể chất lẫn ngoại hình theo diễn biến của truyện. == Impel Down == Impel Down (インペルダウン, Inperudaun) là một trong ba địa điểm chính của chính phủ thế giới (cùng với Marineford và Enies Lobby). Impel down được coi là nhà tù của thế giới, với hệ thống cấp độ gồm sâu 6 tầng (level). Tội càng nặng thì ở tầng càng sâu, từ tầng 1->5 (Tầng 1:Địa ngục đẫm máu; Tầng 2:Địa ngục quái thú; Tầng 3:Địa ngục đói khát; Tầng 4:Địa ngục rực lửa; Tầng 5: Địa ngục băng giá dành cho tội phạm thông thường (Tiền truy nã càng cao tầng ngục càng lớn). Riêng ở giữa tầng 5 & 6 có thêm thêm tầng 5,5 - Thiên đường tú nhân. Các trường hợp tội nặng như Ace, Jimbei, Gol D. Roger được xếp ở Tầng 6 nơi tù binh được khép vào tử tội chờ ngày hành quyết. Hannyabal Lồng tiếng bởi: Goto Tetsuo Hannyabal (ハンニャバル, Hannyabaru) là Ngục trưởng đương nhiệm của Impel Down. Tuy Hannyabal luôn miệng đòi chức Ngục trưởng từ Magellan nhưng ông lại là người có tinh thần trách nhiệm cực kỳ cao, không bỏ chạy và luôn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ và giữ vũng vị trí của mình. Một điểm hài hước của Hannyabal là ông không bị mê hoặc bởi sắc đẹp của Nữ hoàng Hải tặc Boa Hancok, nhưng ông lại bị vẻ đẹp của Nami hạ gục khi Bon Clay giả dạng. Magellan Lồng tiếng bởi: Hoshino Mitsuaki Magellan (マゼラン, Mazeran) là Phó ngục trưởng ở Impel Down hiện nay. Magellan đã ăn trái ác quỷ Doku DOku (ドクドクの実, Doku Doku no Mi), cho ông ta khả năng tạo ra và điều khiển các loại chất độc. Sadi-chan Saldeath Domino Domino (ドミノ, Domino) là Phó Ngục Trưởng của Impel Down, sau 2 năm cô được bổ nhiệm thành Cai Ngục Trưởng của nhà tù. Quỷ Giữ Ngục Level 5.5 Level 5.5 hay hiện nay là Newkama Land (ニューカマーランド , Nyūkamā Rando) Bentham Bentham (ベンサム, Bensamu) hay Mr. 2 Bon Kurei (Mr.2・ボン・クレー, Misutā Tsū Bon Kurē) hoặc Bon Clay. Anh là cựu Nhân viên Đại Lý của tổ chức Baroque Works, hiện là Tân Nữ hoàng của Level 5.5 trong Impel Down. Bentham xuất hiện lần đầu với bí danh Mr.2 ở cuối phần truyện Little Garden. Sau kết bạn với băng Mũ Rơm và trở thành đối thủ chính của Sanji trong phần Alabasta. Khi cuộc chiến kết thúc, Bon một lần nữa trở thành bạn của băng Mũ Rơm và cùng các thuyền viên của Okama Way giúp đỡ họ trốn thoát khỏi sự truy đuổi của Đại tá Hina. Sau Này Bentham bị bắt vào Impel Down và gặp lại Luffy tại đây, anh giúp đỡ và hỗ trợ Luffy rất nhiều trong suốt cuộc phiêu lưu ở nhà tù. Bon sở hữu trái ác quỷ Mane Mane (マネマネの実, Mane Mane no Mi) hệ Paramecia, giúp anh có khả năng lưu giữ và biến đổi ngoại hình thành người khác. Bên cạnh sức mạnh trái ác quỷ, Bon còn sử dụng một môn võ có tên gọi "Okama Kenpo". Mr.2 Bon Kurei bị truy nã với số tiền thưởng là 32.000.000 == Thất Vũ Hải == Thất vũ hải (王下七武海, Ōka Shichibukai) là bảy hải tặc hùng mạnh làm việc cho Chính quyền thế giới, giới Hải tặc coi họ là "Những con chó của Chính quyền". Khi gia nhập Thất vũ hải thì mọi tội ác cũng như số tiền truy nã trước đây của họ sẽ được loại bỏ. Họ có quyền tự do cướp bóc, tấn công hải tặc khác mà không bị truy nã, mặt khác họ phải chia một phần số tài sản cướp được cho Chính quyền. Tuy trên danh nghĩa là làm việc cho Chính quyền, nhưng các Thất vũ hải không quan tâm và coi trọng Chính quyền cũng như các đồng nghiệp của mình. Dracule Mihawk Lồng tiếng bởi: Aono Takeshi Dracule Mihawk (ジュラキュール・ミホーク, Jurakyūru Mihōku), biệt danh là "Mắt diều hâu" Mihawk (鷹の目のミホーク, Taka no Me no Mihōku). Ông là Thất vũ hải đầu tiên xuất hiện trong truyện, Mihawk hiện đang giữ danh hiệu kiếm sĩ mạnh nhất thế giới. Mihawk là bạn đồng thời là đối thủ lâu năm của Tứ hoàng Shanks Tóc đỏ. Ông là người đã huấn luyện Zoro trong hai năm timeskip. Mihawk thường chu du trên khắp biển cả bằng một chiếc thuyền nhỏ trong giống một chiếc quan tài, với một thanh kiếm hình thập giá to trên lưng. Donquixote Doflamingo Donquixote Doflamingo (ドンキホーテ・ドフラミンゴ, Donkihōte Dofuramingo) ông là thuyền trưởng của băng Hải tặc Donquixote, ngoài ra còn được biết đến là ông trùm của thế giới ngầm trên danh nghĩa "Joker". Doflamingo hiện là vua của vương quốc Dressrosa ở Tân thế giới, đồng thời cũng là một Quý tộc và là người đứng đầu gia tộc Donquixote. Doflamingo sở hữu năng lựctrái ác quỷ Ito Ito (イトイトの実, Ito Ito no Mi?) hệ Paramecia, có khả năng tạo ra các sợi dây/tơ để chiến đấu. Doflamingo đã bị đnahs bại sau cuộc chiến tại Dressorsa và hiện đang bị áp giải tới Impel Down cùng với các thành viên trong băng Donquixote Số tiền truy nã của Doflamingo trước đây là 340.000.000 Bartholomew Kuma Bartholomew Kuma (バーソロミュー・くま, Bāsoromyū Kuma?) có biệt danh là "Bạo chúa" (暴君, Bōkun?). Dù Kuma là thành viên của Quân Cách mạng, nhưng ông lại là Thất vũ hải duy nhất nhận được sự tin tưởng tuyệt đối từ phía Chính phủ thế giới. Kuma sở hữu trái ác quỷ Nikyu Niyku (ニキュニキュの実 , Nikyu Nikyu no Mi) hệ Paramecia, Ông có khả năng phản lại mọi vật chất với tốc độ cao. Kuma hiện là một người máy sinh học PX-0 (Pīekkusu Zero?, PX-0) sau này đã mất hoàn toàn lý trí con người. Kuma là bản mẫu của dòng vũ khí sinh học Pacifista (パシフィスタ, Pashifisuta) thuộc Hải quân do tiến sĩ Vegapunk chế tạo. Kuma là ân nhân của băng Mũ Rơm, ông đã giúp đỡ họ trên quần đảo Sabaody. Số tiền truy nã của Kuma trước đây là 296.000.000 Boa Hancock Lồng tiếng bởi: Mitsuishi Kotono "Công chúa rắn" (蛇姫, Hebihime) Boa Hancock (ボア・ハンコック, Boa Hankokku), hoặc "Nữ hoàng Hải Tặc" (「海賊女帝」, Kaizoku Jotei), là nữ hải tặc duy nhất trong thất vũ hải. Lãnh đạo tất cả phụ nữ ở bộ lạc Kuja (九蛇, Kuja) và cai trị Amazon Lily (アマゾン・リリー, Amazon Rirī). Amazon Lily là một hòn đảo chỉ có phụ nữ.chap 516). Từ bé cô đã bị Tenruybito bắt làm nô lệ & được cho ăn DF "Mero Mero" nên có thể hóa đá bất kì ai. Trước đây Boa được treo thưởng 80.000.000 Buggy Buggy hay "Chú hề Buggy" (道化のバギー, Dōke no Bagī?) là thuyền trưởng của băng Hải tặc Buggy và hiện đang là một trong Thất vũ hải. Ông là cựu thành viên của băng Hải tặc Roger và là bạn thân của Tứ hoàng Shanks Tóc đỏ. Buggy sở hữu trái ác quỷ Bara Bara (バラバラの実, Bara Bara no Mi), hệ Paramecia, giúp ông có khả năng phân tách các bộ phận trên cơ thể, và có thể đưa một phần cơ thể bay lên với điều kiện chân vẫn chạm đất. Buggy là kẻ thù của Luffy tại East Blue, sau này ông đuổi theo Luffy vào Grand Line rồi bị bắt vào Impel Down. Sau cuộc đột nhập của Luffy vào Impel Down và trận chiến lịch sử tại MarineFord, Buggy trở thành thủ lĩnh của một số lượng lớn hải tặc. Chính phủ thế giới đã mời Buggy vào Thất vũ hải để tránh những ảnh hưởng xấu từ đám hải tặc vượt ngục. Số tiền truy nã trước đây của Buggy là 15.000.000 Edward Weevil Edward Weevil (エドワード・ウィーブル, Edowādo Wīburu) hay Whitebeard Jr. (白ひげJr., Shirohige Junia) là Thất Vũ Hải bí ẩn đã được nhắc tới từ chướng 700, hắn tự nhận là con trai của đại hải tặc Râu Trắng quá cố. Weevil có số tiền truy nã đã bị đóng băng là 480,000,000 . = Quân Cách mạng = Đứng đầu là cha của Monkey D Luffy nhà cách mạng Monkey D Dragon và Đứng đầu quân Cách mạng chống lại Chính Quyền Thế giới vì sự độc ác và bạo tàn của bộ máy, Monkey D. Dragon được coi là tội phạm nguy hiểm nhất Thế giới. Monkey D. Dragon là con trai của Monkey D Garp - phó đô đốc Hải quân. Ivankov Sabo Sabo (サボ, Sabo) là Tổng tham mưu của Quân Cách mạng và là anh em kết nghĩa với Luffy và Ace. Sabo từng là con của một gia đình quý tộc ở Vương quốc Goa, sau này bỏ nhà ra đi và trở thành người Nhà Dadan. Sabo được cho là đã mất tích trong vụ đắm tàu 12 năm về trước, sau này anh được tiết lộ là vẫn còn sống và trở thành thành viên Quân Cách mạng. Sabo bất ngờ xuất hiện ở Dressrosa và hỗ trợ cho Luffy cùng băng Mũ Rơm. Vũ khí của Sabo là một chiếc ống nước, anh khá thành thạo Haki vũ trang. Kế thừa ý chí của Ace, anh trở thành người sở hữu trái ác quỷ Mera Mera (メラメラの実, Mera Mera no Mi) hệ Logia. Koala Koala (コアラ, Koara) là giáo viên trợ giảng môn Karate người cá của Quân Cách mạng và là cộng sự của Sabo. Koala chính là cô bé nô lệ năm xưa được Fisher Tiger cứu và đưa về quê hương. = Các Nhân vật Khác = Makino Wood Slap Nhà Dadan Curly Dadan Chouchou Gaimon Safulken Genzo Nojiko Conis Enel Ohm Gan Fall Hatchan Keimi == Chú thích ==
bún.txt
Trong ẩm thực Việt Nam, bún là loại thực phẩm dạng sợi tròn, trắng mềm, được làm từ tinh bột gạo tẻ, tạo sợi qua khuôn và được luộc chín trong nước sôi. Là một nguyên liệu, thành phần chủ yếu để chế biến nhiều món ăn mà tên món ăn thường có chữ bún ở đầu (như bún cá, bún mọc, bún chả, bún thang, v.v.), bún là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất trong cả nước, chỉ xếp sau các món ăn dạng cơm, phở. == Phân biệt bún và thực phẩm dạng sợi khác == Về cơ bản bún, mì sợi, bánh phở, bánh đa, miến hay hủ tiếu khô đều sử dụng tinh bột của ngũ cốc, chủ yếu là gạo tẻ, có quy trình làm bột và ra thành phẩm gần tương tự nhau. Tuy vậy, giữa chúng ít nhiều có sự phân biệt nhất định theo thành phần nguyên liệu hoặc phương thức chế biến: Bún được làm thủ công, sử dụng tinh bột gạo tẻ, sợi có tiết diện tròn, mềm. Mì sợi dùng tinh bột gạo tẻ hoặc bột mì, đôi khi kết hợp với một số nguyên liệu khác như trứng (mì trứng); được cắt sợi vuông hoặc sợi tròn nhỏ và thường được phơi khô. Bánh phở dùng tinh bột gạo tẻ, tráng mỏng và cắt thành sợi dài. Bánh đa có cách làm gần tương tự như bánh phở nhưng có thể kết hợp với cả bột đao, và thành phẩm thường được phơi khô; có loại bánh đa như bánh đa cua dùng bột gạo kết hợp với thịt cua, phơi khô. Miến có sợi tiết diện hình vuông nhỏ, thường làm từ bột đao, bột dong, phơi khô thành phẩm. Một sản phẩm khác, thịnh hành tại miền Nam Việt Nam, gần tương tự như bún là món hủ tiếu, tuy có sợi nhỏ, dai và dài nuột hơn sợi bún. == Quy trình làm bún == Quy trình làm bún nhìn chung khá cầu kỳ và mất nhiều thì giờ tuy về cơ bản trong mọi làng nghề, mọi gia đình làm bún thủ công đều có cách thức tương tự: gạo tẻ được lựa chọn kỹ càng để lấy gạo dẻo cơm, thường là gạo mùa. Gạo được vo, đãi sạch và đem ngâm nước qua đêm. Sau đó đưa gạo đã ngâm vào máy xay nhuyễn cùng với nước để tạo thành bột gạo dẻo, nhão. Bột lại được ủ và chắt bỏ nước chua, rồi đưa lên bàn ép, xắt thành quả bột to cỡ bắp chân người lớn. Các quả bột lại tiếp tục được nhào, trộn trong nước sạch thành dung dịch lỏng rồi đưa qua màn lọc sạch sạn, bụi tấm để tạo thành tinh bột gạo. Tinh bột gạo được cho vào khuôn bún. Khuôn bún thường làm bằng chất liệu dạng ống dài, phía đầu khuôn có một miếng kim loại đục các lỗ tròn. Công đoạn vắt bún thường được thực hiện bằng tay hoặc dùng cánh tay đòn để nén bột trong khuôn qua các lỗ. Bột chảy đều qua các lỗ khi khuôn bị vặn, nén, tạo thành sợi bún, rơi xuống nồi nước sôi đặt sẵn dưới khuôn. Sợi bún được luộc trong nồi nước sôi khoảng vài ba phút sẽ chín, và được vớt sang tráng nhanh trong nồi nước sạch, nguội để sợi bún không bị bết dính vào nhau. Cuối cùng là công đoạn vớt bún trong nồi nước tráng và dùng tay vắt thành con bún, lá bún, hoặc bún rối. Bún thành phẩm được đặt trên các thúng tre có lót sẵn lá chuối, hong khô và ủ trước khi đem ra chợ bán. Hiện nay bún đã được sản xuất bằng máy, làm tăng sản lượng bún, rút ngắn thời gian. == Các loại bún == === Bún rối === Bún rối là loại bún sau khi được vớt ra khỏi nồi nước tráng, được để trong thúng một cách tương đối lộn xộn không có hình thù khối rõ rệt. Bún rối là loại tương đối phổ biến và thích hợp cho nhiều món ăn, đặc biệt là các món bún nước. === Bún vắt === Bún vắt hay bún lá: các sợi bún được vắt thành từng dây có đường kính độ 4-5mm, dài cỡ 30–40 cm. Khi ăn các lá bún này được cắt thành từng đoạn ngắn. Thích hợp cho một số món bún dạng chấm như bún đậu mắm tôm, bún chả. === Bún nắm === Bún nắm là các sợi bún được nắm thành từng bánh nhỏ, bẹt. Ít phổ biến hơn hai loại bún nói trên. == Một số món ăn dùng bún == Các món ăn sử dụng bún như một nguyên liệu chính, trong ẩm thực Việt Nam rất đa dạng và thường chia thành vài nhóm như sau: === Các món bún nước === Là các món bún có sử dụng nước dùng, đặc biệt phổ biến trong Nam ngoài Bắc với rất nhiều dạng thức: bún nước lèo với nước dùng từ mắm bò hóc; bún riêu với gạch và thịt cua; bún ốc hay bún riêu ốc với ốc đồng, nước ốc, dấm bỗng và rau ghém các loại; bún cá sử dụng cá xắt miếng to rán và cá băm nhuyễn làm chả cá; bún thang với giò, thịt và trứng thái chỉ, gia chút tinh dầu cà cuống; bún mọc sử dụng giò sống, nấm hương và thịt chân giò; bún bò Huế với chân giò và các loại rau thơm; bún riêu Nam Bộ với thịt cua, thịt bò, tiết xắt miếng, đậu phụ chiên; bún ngan, bún vịt dùng thịt ngan, vịt kết hợp với măng tươi hoặc măng chua; bún bung với thịt chân giò hoặc sườn nấu nước dùng, ăn kèm dọc mùng; bún sứa với nạc cá thu quết nhuyễn làm chả, mắm ruốc làm nước dùng và sứa tươi xắt miếng; bún mắm với mắm sặt, mắm linh làm nước dùng và cá bông lau, thịt quay, ốc, tôm, mực, cà tím ăn kèm v.v. Nồi nước dùng cho các món bún thường trong, ngọt do thường sử dụng nguyên liệu là xương, thịt động vật, mắm, hạt nêm, tôm nõn, nấm hương ninh trong nhiều giờ. Bún được chần sơ trong nước sôi, cho vào bát và bày lên trên bát những thực phẩm ăn kèm (tùy loại bún), rau thơm các loại, sau đó trút nước dùng ngập bún. Bát bút sau đó được bày ra bàn ăn cho thực khách với một số gia vị khác ăn kèm như ớt chưng, bột tiêu, ớt ngâm dấm, chanh cắt miếng, rau thơm v.v. === Các món bún không có nước dùng === Trong sự đối sánh với loại bún nước sử dụng nước dùng nói trên là các loại bún ăn khô. Có thể kể đến một số loại bún không được chế biến với nước dùng ngập trong bát như: bún chả hay bún thịt nướng dùng bún đặt trên đĩa và gắp dần vào bát nước chấm có chả nướng; bún hến có cách làm và nguyên liệu gần tương tự cơm hến; bún ăn kèm với sườn non bung chuối hoặc ba ba om chuối, ốc chuối đậu; bún đậu mắm tôm dùng bún lá chấm mắm tôm, ăn kèm đậu chiên vàng; chả cá Lã Vọng cho bún vào bát với chả cá và rau thơm, trộn mắm tôm; Bún bò Nam Bộ trộn bún với nước mắm, rau thơm và thịt bò; bún tôm càng nướng ăn kèm tôm nướng với lạc rang, rau sống, nước mắm chua ngọt v.v. Những món bún không có nước dùng này thường được chấm vào một loại mắm (mắm tôm, mắm tép), hoặc trộn trong nước mắm pha với những thực phẩm ăn kèm như chả, đậu rán, thịt nướng v.v. === Bún xào === Tuy không phổ biến bằng mỳ xào hay phở xào, trong thực tế bún cũng được sử dụng để xào trong mỡ hoặc dầu ăn, với một vài món như bún xào tim cật, bún xào thịt bò v.v. === Thực phẩm ăn liền === Hiện nay, bên cạnh các loại mì, phở, cháo ăn liền, đã xuất hiện nhiều loại bún ăn liền (bún mắm, bún riêu v.v.) được sản xuất công nghiệp, đóng bún khô và các loại gia vị trong gói nilon hoặc cốc giấy như bún Hằng Nga của công ty Acecook Việt Nam, Bún Bò Huế của Vifon... Người sử dụng có thể mua về, cho nước sôi ngâm khoảng 5 phút là có thể sử dụng. == Vấn đề vệ sinh trong sản xuất bún ở Việt Nam == Là một trong những thực phẩm hết sức phổ biến ở Việt Nam, vừa như một thức quà lại vừa như một đồ ăn thay bữa ăn chính, nhưng cách thức sản xuất bún vẫn mang tính chất địa phương nhỏ lẻ, thiếu sự kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cần thiết. Cá biệt có nơi việc sản xuất và tiêu thụ bún được quy tụ thành làng nghề như làng nghề bún Nghĩa Mỹ (Quảng Ngãi), Phú Đô (Hà Nội), Song Thằn (Bình Định) v.v. nhưng tất cả mọi công đoạn làm bún vẫn mang tính chất thủ công và có thể gây mất vệ sinh. Bên cạnh đó, có tình trạng người làm bún thiếu lương tâm đã sử dụng những hóa chất đặc biệt như formol, tinopal để bảo quản bún, gây độc hại cho sức khỏe người sử dụng. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
diego maradona.txt
Diego Armando Maradona (sinh 30 tháng 10 năm 1960 tại Buenos Aires) là cựu cầu thủ bóng đá Argentina. Ông từng tham dự 4 World Cup bóng đá và nhận được nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu Cầu thủ của thế kỉ do khán giả trên mạng bình chọn (danh hiệu do FIFA bình chọn thuộc về Pelé) và xếp thứ 2 trong Danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế giới thế kỷ 20 của World Soccer. Maradona giành được nhiều danh hiệu với Boca Juniors, F.C. Barcelona và SSC Napoli trong sự nghiệp của mình. Ông khoác áo đội tuyển quốc gia Argentina 91 lần và ghi được 34 bàn thắng, tham dự 4 World Cup, dẫn dắt đội tuyển Argentina vô địch World Cup 1986, và giành luôn danh hiệu "Cầu thủ xuất sắc nhất" ở giải đấu này. Bàn thắng thứ hai trong trận gặp Anh ở giải đấu đó, một pha dẫn bóng đến 60 mét, lừa qua 6 cầu thủ Anh, được coi là Bàn thắng thế kỷ hoặc ở Argentina là El barrilete cósmico (tiếng Tây Ban Nha). Ngoài tài năng bóng đá, Maradona còn nổi tiếng vì phong cách chơi thiếu Fairplay của mình. Ông từng ghi bàn bằng tay trong trận tứ kết World Cup 1986 và hơn nữa, sử dụng chất kích thích: bị treo giò 15 tháng vào năm 1991, sau khi thử nghiệm với cocaine có kết quả dương tính ở Ý, một lần treo giò nữa với ephedrine trong giải World Cup 1994 ở Mỹ (bị cấm thi đấu quốc tế vĩnh viễn). == Sự nghiệp == === Thời kỳ đầu (1969 - 1976) === Diego Maradona sinh ngày 30 tháng 10 năm 1960 tại bệnh viện Policlínico Evita ở tỉnh Lanús, Argentina. Diego là con trai đầu lòng và là đứa con thứ năm của ông bà Diego Maradona và Dalma Salvadora Franco. Cậu bé Diego Maradona lớn lên ở khu ổ chuột Villa Fiorito thuộc phía nam vùng Gran Buenos Aires. Ngay từ những ngày đầu tiếp xúc với trái bóng tròn, Diego đã tỏ ra thích thú với việc luyện tập thứ bóng đá tấn công vốn không hợp thời vào giai đoạn này khi mà trường phái phòng thủ Catenaccio mới là trường phái được ưa chuộng. Làm quen với bóng đá trên bãi đá bóng có tên Las Siete Canchitas ở Fiorito, tới năm 9 tuổi thì Diego tham gia thi tuyển vào tuyến trẻ của câu lạc bộ Argentinos Juniors. Vượt qua vòng tuyển chọn, Diego được xếp vào lớp bóng đá của lứa cầu thủ sinh năm 1960 có tên Los Cebollitas (Những củ hành) do Francisco Cornejo thành lập. Đội tuyển thiếu niên của Cornejo đã tham gia tranh giải Evita trong hai năm 1973 và 1974 dưới tên riêng vì Cornejo không muốn đăng ký cho đội thi đấu dưới danh nghĩa cơ sở huấn luyện của câu lạc bộ. Los Cebollitas đã giành chức vô địch ở cả hai giải đấu này đồng thời đoạt luôn chức vô địch giải hạng 8 (8ª division) vào năm 1974. Đây cũng là năm cuối cùng Cornejo gắn bó với đội vì Argentinos bắt đầu đăng ký thi đấu cho Liên đoàn bóng đá Argentina. Đội bóng thiếu niên mà Diego thi đấu đã đạt được kỷ lục 136 trận liên tiếp bất bại trong đó Los Cebollitas không chỉ đối đầu với các đội bóng trong nước mà còn thi đấu với những đội bóng của Perú và Uruguay. Ngày 28 tháng 9 năm 1971, mới ở tuổi lên 10 tài năng của Diego Maradona đã được nhắc tới trên tờ nhật báo Clarín, theo đó Diego được mô tả như "một cậu bé với vóc dáng bé nhỏ nhưng lại có tài năng của một vận động viên xuất sắc (crack)". Bài báo này đã viết nhầm họ của cậu từ Maradona thành "Caradona". Maradona cũng là một gương mặt quen thuộc đối với các cổ động viên của Argentinos Juniors vì cậu thường được chọn biểu diễn tâng bóng trong khoảng thời gian nghỉ giữa hai hiệp đấu của Argentinos. Nhờ tài nghệ tâng bóng của mình mà Diego đã được mời tham gia Sábados Circulares, một trong những chương trình truyền hình có nhiều người xem ở Argentina. Ngoài những trận đấu cho Los Cebollitas, Maradona, ở tuổi 12, đã bắt đầu thi đấu cho một số đội bóng ở hạng dưới của Argentinos. Do Diego chưa đủ tuổi đăng ký thi đấu nên huấn luyện viên của các đội bóng này buộc phải khai gian tuổi cho cậu và thậm chí là đăng ký cho Maradona thi đấu dưới một cái tên khác. Giai đoạn thi đấu tạm này của Maradona kéo dài chẳng bao lâu vì khi vừa tròn 16 tuổi cậu đã được gọi ngay vào đội hình chính của câu lạc bộ Argentinos Juniors. === Giải hạng nhất và đội tuyển quốc gia (1976 - 1981) === Maradona có trận đấu đầu tiên tại Giải vô địch bóng đá quốc gia Argentina (Primera División argentina) vào ngày 20 tháng 10 năm 1976. Trong trận đấu thuộc giải Campeonato Metropolitano này, câu lạc bộ Argentinos Juniors của Diego đã để thua đối thủ Talleres với tỉ số 1-0, Maradona với số áo 16 đã được vào sân thay Rubén Aníbal Giacobetti vào đầu hiệp thi đấu thứ hai. En la primera jugada que participó le realizó un "caño" (regate por bajo de las piernas) a un adversario, entusiasmando a la hinchada local. En referencia a esa tarde, Maradona dijo: "ese día toqué el cielo con las manos". Một tháng sau vào ngày 14 tháng 11, Diego Maradona có bàn thắng đầu tiên vào lưới câu lạc bộ San Lorenzo ở Mar del Plata. Esa tarde convertiría otro tanto más, ambos al arquero Rubén Alberto Lucangioli. Ngày 27 tháng 2 năm 1977, cầu thủ 16 tuổi Diego Maradona được chính thức gọi vào đội tuyển Argentina trong trận đấu giao hữu với Hungary trên sân La Bombonera, trong lần đầu gọi vào đội tuyển này, Diego đã ngay lập tức được thi đấu khi anh vào sân thay cho Leopoldo Jacinto Luque. Cùng trong năm này vào ngày 3 tháng 4, Maradona có trận đấu đầu tiên trong đội hình đội tuyển trẻ của Argentina vốn vừa thi đấu tồi tệ tại giải vô địch trẻ Nam Mỹ tổ chức ở Venezuela. Mặc dù tiếp tục được gọi thi đấu cho đội tuyển và có mặt trong số 24 cầu thủ tập trung chuẩn bị ở José C. Paz cho vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 1978 được tổ chức ngay tại Argentina nhưng cuối cùng Diego đã bị huấn luyện viên César Luis Menotti loại khỏi đội tuyển vào ngày 19 tháng 5 năm 1978, chỉ trước khi giải đấu diễn ra một tháng. Menotti cho rằng Diego còn quá trẻ để thi đấu cho tuyển quốc gia Argentina, sau đó ông đã dẫn dắt đội bóng này tới chức vô địch thế giới lần đầu tiên. Rời khỏi đội tuyển trong thất vọng, Diego quay trở lại thi đấu cho Argentinos trong trận đối đầu với Chacarita Juniors, ngay lập tức anh đã đích thân ghi hai bàn và có thêm hai đường chuyền thành bàn khác trong trận đại thắng 5-0 của Argentinos tại sân La Paternal. Năm 1977 Diego chính thức chọn Jorge Czysterpiller làm người đại diện cho anh, thực tế thì Czyterpiller đã làm công việc đại diện không chính thức cho anh từ giai đoạn trước đó. Sau chức vô địch năm 1978, Menotti bắt tay vào xây dựng đội hình tuyển trẻ Argentina tham dự Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới tổ chức tại Nhật Bản năm 1979. Trong số vài đội hình được gọi Menotti gọi chuẩn bị thì Maradona tham gia thi đấu cho đội hình lớn (selección mayor), anh có bàn thắng đầu tiên cho Argentina trong trận thua 3-1 của đội này vào ngày 2 tháng 6 năm 1979 trước Scotland. Argentina cùng Uruguay và Paraguay đã lọt vào vòng chung kết của Giải trẻ thế giới 1979 sau Giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ tổ chức ở Montevideo. Ngày 26 tháng 8 năm 1979 Argentina có trận đấu đầu tiên ở vòng chung kết Giải trẻ thế giới gặp Indonesia. Dễ dàng vượt qua đội bóng châu Á với tỉ số 5-0, Argentina tiếp tục vượt qua Nam Tư với tỉ số 1-0 vào ngày 28 và Ba Lan với tỉ số 4-1 vào ngày 30 để chiếm ngôi đầu bảng. Mặc dù Maradona không thi đấu ở trận tứ kết gặp Algérie, Argentina vẫn thắng đậm với tỉ số 4-0, đội bóng sau đó thắng tiếp Uruguay với tỉ số 2-0 trong trận bán kết để đối mặt với đội tuyển trẻ Liên Xô trong trận chung kết ngày 7 tháng 9 tại Tokyo. Chiến thắng 3-1 đã giúp tuyển trẻ Argentina bước lên bục cao nhất còn bản thân Maradona cũng được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất vòng chung kết. Trong màu áo Argentinos Juniors giai đoạn này, Diego Maradona liên tục giành danh hiệu Vua phá lưới các giải Metropolitano 1978, Metropolitano và Nacional 1979, Metropolitano và Nacional 1980, lập kỉ lục cầu thủ duy nhất từng năm lần có được danh hiệu này. Tuy nhiên thì vị trí cao nhất của Argentinos đạt được chỉ là vị trí thứ nhì vào mùa giải Metropolitano 1980 xếp sau River Plate. === Boca Juniors và giải vô địch thế giới đầu tiên (1981 - 1982) === Mặc dù đã nhận được nhiều lời mời chào từ các câu lạc bộ khác nhưng Maradona chỉ quyết định rời Argentinos Juniors vào năm 1981. Vào thời điểm đó câu lạc bộ đưa ra đề nghị hậu hĩnh nhất với Maradona là River Plate với mức lương đề nghị ngang bằng với người hưởng lương cao nhất ở câu lạc bộ này khi đó là ngôi sao Ubaldo Fillol. Tuy nhiên Diego Maradona lại muốn thi đấu cho Boca Juniors, một đội bóng khi đó đang gặp khó khăn về tài chính và vì thế không thể có điều kiện để mua Diego. Cuối cùng Maradona đồng ý với bản hợp đồng cho mượn một năm rưỡi ở Boca, đội bóng cũng được giữ quyền mua đứt Diego nếu có thể. == Câu lạc bộ == == Thống kê == === Sự nghiệp cầu thủ === ==== Câu lạc bộ ==== ==== Tuyển quốc gia ==== Diego Maradona chỉ thi đấu duy nhất cho Argentina: === Sự nghiệp huấn luyện === == Thành tích == === Giải quốc gia === 1981, Vô địch Giải vô địch bóng đá quốc gia Argentina - Metropolitano - Boca Juniors (Argentina) 1983, Vô địch Copa Del Rey - F.C. Barcelona (Tây Ban Nha) 1983, Vô địch League cup - F.C. Barcelona (Tây Ban Nha) 1983, Vô địch Siêu cúp Tây Ban Nha - F.C. Barcelona (Tây Ban Nha) 1987, Vô địch Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý - S.S.C. Napoli (Ý) 1987, Vô địch Cúp quốc gia Ý - S.S.C. Napoli (Ý) 1990, Vô địch Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý - S.S.C. Napoli (Ý) 1990, Vô địch Siêu cúp Ý - S.S.C. Napoli (Ý) === Giải quốc tế === 1979, Vô địch Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới - Đội tuyển trẻ Argentina 1986, Vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới 1986 - Đội tuyển quốc gia Argentina 1989, Vô địch Cúp C3 châu Âu - SSC Napoli 1993, Vô địch Cúp Artemio Franchi - Đội tuyển quốc gia Argentina === Giải vô địch bóng đá thế giới === Giải vô địch bóng đá thế giới 1982 - (Argentina) - thứ 11 Giải vô địch bóng đá thế giới 1986 - (Argentina) - Vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới 1990 - (Argentina) - Á quân Giải vô địch bóng đá thế giới 1994 - (Argentina) - thứ 10 === Danh hiệu cá nhân === Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá quốc gia Argentina - Metropolitano - (1978, 1979 và 1980) Cầu thủ xuất sắc nhất Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới tại Nhật Bản - (1979) Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá quốc gia Argentina - Nacional - (1979 và 1980) Olimpia de Oro al Mejor Deportista Argentino, según el Círculo de Periodistas Deportivos (CPD) - (1979, 1980, 1986) Olimpia de Plata al Mejor Deportista Argentino, según el Círculo de Periodistas Deportivos (CPD) - (1979, 1980, 1981, 1986) Balón de Oro al Mejor Futbolista del año, según el Centro de Periodistas Acreditados en la AFA (CEPA) - (1979, 1980, 1981) Mejor Futbolista de América, según encuesta diario El Mundo, de Caracas - (1979, 1980, 1986, 1989, 1990 y 1992) Diploma al Mérito Konex - (1980 y 1990) Trofeo Gandulla al Mejor Futbolista del Año - (1981) Danh hiệu Đại sứ của UNICEF - (1985) Cầu thủ xuất sắc nhất (Quả bóng vàng) Giải vô địch bóng đá thế giới 1986 do FIFA bình chọn - (1986) Đứng thứ hai danh sách Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá thế giới 1986 - (1986) Pluma de Oro al Mejor Deportista de Europa - (1986) Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu (Onze d'Or) do tạp chí Onze bình chọn - (1986 và 1987) Designado entre los Siete Magníficos del deporte, por Gueron Sportivo - (1986) Cầu thủ của năm do World Soccer Magazine bình chọn - (1986) Danh hiệu Công dân danh dự (Ciudadano Ilustre) do Thành phố Buenos Aires trao tặng - (1986) Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý - (1987) Vua phá lưới Cúp quốc gia Ý - (1988) Quả bóng đồng Giải vô địch bóng đá thế giới 1990 do FIFA bình chọn - (1990) Danh hiệu Đại sứ thể thao (Embajador Deportivo) do Tổng thống Argentina phong tặng - (1990) Premio Konex de Brillante - (1990) Premio Konex de Platino - (1990) Danh hiệu Cầu thủ bóng đá Argentina xuất sắc nhất mọi thời đại do Liên đoàn bóng đá Argentina (AFA) trao tặng - (1993) Elegido Maestro Inspirador de Sueños por la Universidad de Oxford, Inglaterra - (1995) Quả bóng vàng danh dự cho sự nghiệp thi đấu do France Football trao tặng - (1995) Đứng thứ hai trong danh sách Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất mọi thời đại do các cầu thủ từng đoạt Quả bóng vàng bầu chọn - (1999) Danh hiệu Bàn thắng đẹp nhất trong lịch sử bóng đá - (1999) Olimpia de Platino al Deportista Argentino del siglo XX, según el Círculo de Periodistas Deportivos (CPD) - (1999) Danh hiệu Vận động viên thể thao của thế kỷ (Deportista del Siglo) do nhật báo Diario Clarín bầu chọn - (1999) Danh hiệu Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất mọi thời đại (Fifa Internet Award) do FIFA tổ chức - (2000) Một trong các Vận động viên thể thao xuất sắc nhất châu Mỹ Latinh thế kỷ 20 do hãng thông tấn Prensa Latina tại La Habana bình chọn - (2003) Một trong các cầu thủ của danh sách FIFA 100 - (2004) Premio Domingo Faustino Sarmiento entregado por el Senado de la Nación Argentina - (2005) Declarado deportista meritorio y vecino ilustre del partido de Ezeiza - (2007) == Hiện tại == Trong World cup 2010 đội Argentina của Maradona đã để thua đội Đức với tỉ số đậm 4-0. Ông rất thất vọng về việc này nên đã quyết định thôi chức huấn luyện viên. == Chú thích == Liên đoàn bóng đá Argentina đã sa thải Maradona sau những xích mích với Chủ tịch liên đoàn bóng đá Argentina. HLV thay thế õng là Batista == Liên kết ngoài == Viva Diego 10 (Spanish, English, Italian) Homenaje al 10 - Diego Maradona's Tribute (Spanish) Maradona History, Stats, and Media (Spanish) Diego Maradona's home page Diego Maradona Biography and pictures Video clip of the Goal Of the Century Gary Lineker interviews Diego - BBC News 30 tháng 4 năm 2006 El rincón del Diego Viva Diego 10 (tiếng Tây Ban Nha) (tiếng Anh) (tiếng Ý) (tiếng Tây Ban Nha) Homenaje al 10 - Diego Maradona's Tribute Maradona's life Photo Gallery BBC Sport 9 November, 2001. Truy cập 18 tháng 8 năm 2006
nguyễn hữu thắng (cầu thủ bóng đá sinh 1972).txt
Nguyễn Hữu Thắng (sinh tháng 7 năm 1972 tại Vinh, Nghệ An, nguyên quán huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) là cầu thủ bóng đá - hậu vệ kỳ cựu của câu lạc bộ Sông Lam Nghệ An. Anh từng là thành viên và đội trưởng Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam (1997 - 1999). Năm 2003, anh chuyển sang làm huấn luyện viên đội bóng Sông Lam Nghệ An. Sau đó anh từng dẫn dắt đội bóng Hà Nội T&T trước khi quay về câu lạc bộ cũ Sông Lam Nghệ An. Từ ngày 3 tháng 3 năm 2016, anh được chọn làm huấn luyện viên trưởng cho đội tuyển quốc gia Việt Nam và đội U-23 quốc gia Việt Nam. == Tuổi thơ == Hữu Thắng sinh tại thành phố Vinh nhưng có nguyên quán tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình Thắng chuyển từ Đức Thọ sang định cư tại Vinh. Bố mẹ anh làm việc tại công ty in Nghệ An (về sau mẹ anh bị bệnh mất). Nhờ có năng khiếu và lòng nhiệt huyết, anh tham gia lớp năng khiếu bóng đá tại Sông Lam Nghệ An từ rất sớm (học cấp III, vào những năm 1980). Vào lúc đó, Sông Lam Nghệ An chưa nổi tiếng, cho đến tận 1989 khi đoạt chức vô địch bảng B hạng A1 toàn quốc, được đặc cách lên hạng đội mạnh. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn và vì niềm đam mê với trái bóng tròn, kết quả học tập của anh không mấy nổi bật. == Hậu vệ với lối chơi chắc chắn == Từ một vận động viên năng khiếu, vào đội trẻ, Nguyễn Hữu Thắng được đôn lên đội 1 Sông Lam Nghệ An (khoảng năm 1992). Cùng lứa với Hữu Thắng có Phan Thanh Tuấn, Ngô Quang Trường, Nguyễn Văn Tiến,… Vào thời điểm đó, vị trí trung vệ sở trường của Thắng do đàn anh Nguyễn Quang Hải án ngữ. Năm 1993, anh được chọn vào đội hình chính thức, vị trí trung vệ dập. Nhờ vào lối chơi mạnh mẽ, cầu thủ số 4 này được ban huấn luyện và người hâm mộ xứ Nghệ để ý. Cùng năm đó, câu lạc bộ đoạt huy chương đồng giải vô địch quốc gia và tên tuổi của Thắng bắt đầu nổi tiếng. Với chiều cao 1m74 và mái tóc dài lùm xùm màu đen, Hữu Thắng là một hậu vệ có lối chơi rắn của đội. Anh là người kín đáo, ít biểu lộ cảm xúc; tuổi đời càng lớn, anh càng trầm tĩnh hơn. Năm 1996, khi CLB Juventus sang Việt Nam đá giao hữu, những cầu thủ lừng danh từng từng tham chiến ở đấu trường đỉnh cao Serie A như Gianluca Vialli, Lombardo... đều "cóng chân" trước lối đá băm bổ và rất "bốc" của Hữu Thắng. Đồng nghiệp cùng thời và là cầu thủ số 1 Việt Nam lúc bấy giờ, Lê Huỳnh Đức, đã nhận xét Nguyễn Hữu Thắng là hậu vệ mà anh ngại đối đầu nhất. == Cầu thủ, đội trưởng đội tuyển quốc gia Việt Nam == Anh từng khoác áo đội tuyển bóng đá Việt Nam tham dự các giải đấu khu vực như Seagames 1995, Tiger Cup 1996, Sea Games 1997, Tiger Cup 1998. Và anh còn tham gia đội tuyển dự vòng loại các giải châu Á và World Cup. Nguyễn Hữu Thắng chia tay đội tuyển Việt Nam năm 1999 (không tham dự SeaGames 1999) vì lý do chấn thương. Tại SeaGames 18 năm 1995, Hữu Thắng đá trung vệ với đội trưởng tuyển VN Nguyễn Mạnh Cường đá thòng, Chí Bảo và Lê Đức Anh Tuấn đá hậu vệ biên. Tại Tiger Cup 1996, Võ Hoàng Bửu làm đội trưởng đội tuyển Việt Nam. Từ 1997 - 1999, Hữu Thắng (số 4) là đội trưởng đội tuyển Việt Nam. Nguyễn Hữu Thắng giã từ đội tuyển quốc gia năm 1999 ngay trước SeaGames 20 với lý do chấn thương(?) (một số nguồn tin cho rằng Nguyễn Hữu Thắng khoác áo đội tuyển Việt Nam đến năm 2002 là không chính xác!). Sau khi Hữu Thắng chia tay đội tuyển Việt Nam thì băng thủ quân đội tuyển Việt Nam được trao cho Huỳnh Đức. Các cầu thủ từng đá trung vệ với Nguyễn Hữu Thắng ở đội tuyển Việt Nam là Nguyễn Mạnh Cường (Thể Công), Đỗ Khải (Hải Quan), Nguyễn Thiện Quang (Công an Tp HCM), Lê Hồng Hải (Lâm Đồng), Đỗ Mạnh Dũng (Thể Công). == Sự nghiệp huấn luyện == === Cấp câu lạc bộ === Năm 2003, Hữu Thắng bắt đầu sự nghiệp huấn luyện (lúc này ông Nguyễn Hồng Thanh giữ chức danh HLV trưởng thay ông Nguyễn Thành Vinh), cũng trong năm đó SLNA giành 2 chức vô đich, đầu tiên là Cúp bóng đá Thủ đô, ngay tiếp sau là vô địch JVC Cup (giải đấu khai sân Mỹ Đình). Năm 2005, sau sóng gió mâu thuẫn nội bộ, Hữu Thắng được đội bóng Sông Lam Nghệ An với tên gọi mới PJICO SLNA bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng (các HLV phó là Hà Thìn và Nguyễn Xuân Vinh) . Sau đó, do có liên quan tới một vụ tiêu cực, anh bị thay thế. 4 năm sau, nửa sau mùa giải 2009, đội bóng Hà Nội T&T mời anh về thay thế cho HLV Triệu Quang Hà. Anh đã dẫn dắt đội Hà Nội T&T từ vị trí áp chót bảng ở lượt đi kết thúc V-League năm 2009 ở vị trí thứ 4. Tháng 9 năm 2009, anh lại chuyển về huấn luyện đội bóng cũ Sông Lam Nghệ An. Năm 2010, Nguyễn Hữu Thắng dẫn dắt đội tuyển Sông Lam Nghệ An đoạt Cúp Quốc gia. Ngày 21 tháng 8 năm 2011, lần nữa đánh dấu sự nghiệp vinh quang của Nguyễn Hữu Thắng trong tư cách huấn luyện viên trưởng đội tuyển Sông Lam Nghệ An với chức vô địch V-League 2011. Ngay sau tiếng còi mãn cuộc, HLV Nguyễn Hữu Thắng cùng các học trò chạy ngay về phía khán giả và bật khóc như trẻ con. === HLV trưởng Đội tuyển quốc gia === Từ ngày 3 tháng 3 năm 2016, Nguyễn Hữu Thắng được chọn làm huấn luyện viên trưởng cho đội tuyển bóng đá Việt Nam và đội U-23 quốc gia Việt Nam thay thế cho huấn luyện viên Miura. Nhiệm vụ mà Liên đoàn Bóng đá Việt Nam giao cho anh là phải vào trận chung kết AFF Cup 2016, giành HCV SEA Games 29. Ngày 7 tháng 12 năm 2016 sau khi thất bại 3-4 trong 120 phút trận bán kết lượt về AFF Cup 2016 của đội tuyển bóng đá Việt Nam trước Indonesia, Hữu Thắng đã bật khóc ngay trong phòng họp báo sau trận đấu, đây là trường hợp đầu tiên HLV Việt Nam khóc trong phòng họp báo vì thất bại. == Chú thích == == Liên kết ngoài == National-football-teams.com
don hồ.txt
Hồ Mạnh Dũng (sinh ngày 22 tháng 2 năm 1962 / 1970<?>), nổi tiếng với nghệ danh Don Hồ, là một ca sĩ người Mỹ gốc Việt thường xuất hiện trong chương trình Paris By Night, Asia. == Tuổi trẻ == Don Hồ (tên thật: Hồ Mạnh Dũng) sinh ngày 22 tháng 2 năm 1962 tại Sài Gòn. Gia đình anh là người gốc Bắc, di cư vào miền Nam năm 1954. Anh đến Mỹ năm 1980. Khi còn là một thiếu niên ở Mỹ, anh đã học trường trung học thung lũng Santa Ana. Trong năm cuối ở trường trung học, Don Hồ đã tham gia một đội thánh ca có tên là Chamber Singers. Khi còn trẻ, anh thể hiện là một người có tài năng hội họa. Sau khi hoàn thành chương trình phổ thông, anh đã nhận được học bổng từ một trường nghệ thuật ở New York nhưng tình yêu dành cho ca hát đã níu kéo không trở thành một họa sĩ. Don Hồ cộng tác với Trung tâm Thúy Nga, kể từ băng Video Paris By Night 12 (năm 1991) với một liên khúc, và vẫn liên tục cộng tác cho đến nay. == Trình diễn trên sân khâu == === Trung tâm Thúy Nga === === Trung tâm Asia === === Trung tâm Vân Sơn === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đon Hồ Production's website Đon Hồ's Myspace Đon Hồ's Facebook Đon Hồ's profile in VietScape
mại dâm.txt
Mại dâm, làm đĩ hay bán dâm (trái ngược với mại dâm là mãi dâm tức mua dâm), là hoạt động dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân giữa người mua dâm và người bán dâm để trao đổi lấy tiền bạc, vật chất hay một số quyền lợi và ưu đãi nào đó. Đây là một hoạt động bất hợp pháp ở phần lớn các quốc gia trên thế giới. Tại đa số các nước, mại dâm bị nghiêm cấm, đặc biệt ở một số nước theo Hồi giáo, mãi/mại dâm có thể là tội tử hình. Tại một số nước khác như Đức, Đài Loan, México, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, hoạt động này là hợp pháp, nhưng với những điều kiện để giới hạn hoạt động. Trong tổng số 221 quốc gia và vùng lãnh thổ, có 20 nước xem mại dâm là hợp pháp. 41 nước không có bộ luật cấm mại dâm nhưng có các bộ luật khác để cấm các hoạt động như nhà chứa, môi giới, thậm chí là cả quảng cáo hay gái đứng đường... Khoảng 160 quốc gia còn lại đã ra những văn bản luật cấm các hình thức mại dâm (xem chi tiết tại mục Pháp luật về mại dâm). Trong 30 năm, mãi dâm từng là hợp pháp ở Thụy Điển, nhưng năm 1998 đã bị xét lại, xem là bất hợp pháp, sau khi nước này xét thấy hợp pháp hóa mãi dâm càng khiến nó lan tràn ngoài tầm kiểm soát, trong khi tổn hại về giá trị đạo đức xã hội lại quá lớn (Tuy nhiên khác với luật cấm ở các nước khác, ở Thụy Điển thì chỉ mua dâm mới bị phạt, luật nước này coi mua dâm là hành vi bạo hành chống lại phụ nữ). Năm 1988, Hàn Quốc cũng có động thái tương tự nhằm bảo vệ hình ảnh quốc gia khỏi bị hoen ố vì mại dâm. Năm 2009, đến lượt Na Uy, Iceland và tiểu bang Rhode Island (Mỹ) cũng cấm mại dâm trở lại sau nhiều năm cho tồn tại hợp pháp. == Mại dâm trong văn hóa và xã hội == Mại dâm bắt nguồn từ tiếng Latinh là prostituere, có nghĩa là "bày ra để bán", chỉ việc bán thân một cách tùy tiện, không thích thú. Trong Xã hội học và Tội phạm học, theo nghĩa rộng, mại dâm có thể được định nghĩa như việc trao đổi sự thỏa mãn tình dục để lấy tiền hoặc bất cứ một giá trị vật chất nào. Mại dâm là sự cung cấp hành vi tình dục ngoài phạm vi vợ chồng. Mại dâm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện của sự lệch lạc về chuẩn mực xã hội. Theo nhà xã hội học Pháp nổi tiếng Émile Durkheim thì tệ nạn mại dâm cũng giống như nạn tự sát, là dấu hiệu của một xã hội rối loạn kỷ cương và suy đồi về đạo đức. Karl Marx và Lenin, cha đẻ và lãnh tụ của chủ nghĩa xã hội, xem mại dâm là sự buôn bán xác thịt con người, phản ánh sự tha hóa đạo đức và áp bức bóc lột xuyên suốt lịch sử từ chế độ nô lệ, phong kiến cho tới chủ nghĩa tư bản, là điều cần phải xóa bỏ trong xã hội Xã hội chủ nghĩa vốn chú trọng đạo đức và công bằng. Liên Hiệp Quốc trong "Công ước ngăn chặn mua bán người và nạn khai thác mại dâm" quy định những hoạt động mua dâm, ép buộc người khác bán dâm là tội ác. Các nước tham gia Công ước đã ra tuyên bố chung "Mại dâm và các dạng tội ác khác đi kèm là hành vi chà đạp lên phẩm giá và giá trị của con người". Điều 6 Công ước về quyền phụ nữ kêu gọi ngăn chặn mọi hình thức buôn bán và khai thác mại dâm từ phụ nữ. Báo cáo năm 2009 của Liên Hiệp Quốc cho thấy 79% nạn nhân của bọn buôn người là để phục vụ mại dâm, và mại dâm đã được coi là "chế độ nô lệ lớn nhất trong lịch sử". Các tổ chức nữ quyền luôn phản đối mại dâm và không bao giờ muốn thỏa hiệp với loại tệ nạn này. Họ xem nó là điển hình của sự bóc lột, chà đạp nhân phẩm phụ nữ và thể hiện sự thống trị của nam giới với phụ nữ, là kết quả của các trật tự xã hội gia trưởng, trong đó phụ nữ bị coi là công cụ thỏa mãn dục vọng cho nam giới. Tổ chức vận động phụ nữ châu Âu, tổ chức liên hiệp phụ nữ lớn nhất Liên minh châu Âu (EU), phụ trách các chương trình thúc đẩy quyền bình đẳng cho phụ nữ - đã lên án tệ nạn mại dâm là "một hình thức không thể chấp nhận của bạo lực chống lại phụ nữ". === Mại dâm và tâm lý xã hội === Theo nhà tâm lý học nổi tiếng Sigmund Freud, do có sự "thèm muốn nhục dục" (hay còn gọi là "ham của lạ") nên nhiều đàn ông không thể thỏa mãn ham muốn tình dục chỉ với người đàn bà mà họ gắn bó (vợ/người yêu). Họ cần một "ảo giác dâm dục" để đạt được sự hứng thú. Đó là tâm lý "chiếm hữu thật nhiều con giống cái" của "con đực" còn sót lại từ thời nguyên thủy, nếu đạo đức và lý trí của người đàn ông không đủ chế ngự thì nó sẽ bộc lộ ra. Tình yêu, sự gắn bó với vợ khiến họ không có được ảo giác này nên họ muốn tìm đến gái mại dâm. Vì vậy, đối với nhóm đàn ông này, đàn bà chia làm hai loại: một loại để yêu thương và bảo vệ, còn loại kia chỉ là công cụ để thỏa mãn nhục dục--. Yếu tố khác là tính gia trưởng của một bộ phận nam giới. Hầu hết đàn ông đòi hỏi sự chung thủy ở phụ nữ, nhưng nhiều người trong số họ lại không coi trọng sự chung thủy với vợ, không đếm xỉa đến các chuẩn mực đạo đức trong tình yêu và hôn nhân. Những người đàn ông này coi việc "trăng hoa" ở ngoài là một "đặc quyền" của nam giới: phụ nữ ngoại tình hiếm khi được họ tha thứ, nhưng nam giới quan hệ "ngoài luồng" thì họ lại coi là "lẽ tự nhiên"--. Do vậy, nhiều đàn ông lấy lý do "nhu cầu sinh lý" để biện hộ rằng việc mua/bán dâm là không xấu, thậm chí họ còn cổ vũ cho việc hợp pháp hóa, xem mại dâm là "nghề bình thường như những nghề khác". Nhưng ngược lại, chẳng ai có thể chấp nhận vợ con của mình đi mua/bán dâm, không ai muốn lấy gái điếm làm vợ, cũng không ai dám công khai chuyện mua dâm trước gia đình và cộng đồng. Họ thấy nhục nhã khi vợ con mình trở thành công cụ thỏa mãn dục vọng cho kẻ khác, nhưng lại tự cho mình cái quyền làm vậy với vợ con người khác; đồng thời họ cũng lờ đi rằng tình dục không phải là nhu cầu thiết yếu, hoàn toàn có thể tiết chế bằng ý thức và đạo đức. Bản chất của sự tự mâu thuẫn mang tính "Tiêu chuẩn kép" này thể hiện điều gì?-- Đó là, thực chất trong thâm tâm những người này vẫn coi mại dâm là điều xấu, lý lẽ của họ chỉ là để biện hộ cho hành vi thỏa mãn dâm dục thấp hèn và suy đồi của họ, trong khi hậu quả thì họ không muốn gia đình mình vướng phải mà muốn đẩy cho gia đình người khác. Rõ ràng "Tiêu chuẩn kép" đầy mâu thuẫn này thể hiện sự thiển cận, ích kỷ, thiếu tiết chế bản thân và vô trách nhiệm với xã hội của những con người này. Đó chính là lối suy nghĩ "miễn là vợ con mình đoan chính, còn vợ con người khác thì cứ việc lao vào vũng bùn ô nhục để cho mình thỏa lòng dâm dục". Nó hoàn toàn đi ngược với nền tảng đạo lý của con người "Điều gì mình không muốn thì cũng đừng bắt người khác phải chịu"-- Martin Monto, nhà xã hội học tại Đại học Portland, từ lâu đã nghiên cứu mại dâm, cho biết: mại dâm thu hút một bộ phận đàn ông, bởi nó là một sự kết hợp giữa "phấn khích" (quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn đời của họ) và "mạo hiểm" (về mặt đạo đức, pháp luật, hôn nhân, bệnh hoa liễu...) Khảo sát năm 2011 của tổ chức Prostitution Research & Education với 2 nhóm đàn ông (một nhóm đã từng mua dâm, nhóm kia thì không) đã phát hiện ra rằng "hầu hết những người đàn ông (thuộc cả 2 nhóm) biết rằng mại dâm là có hại", đồng thời "những người đàn ông trả tiền cho quan hệ tình dục cũng có tỷ lệ cao hơn là đã từng phạm tội, chẳng hạn như hiếp dâm". Giáo sư xã hội học Lê Thị Quý cho rằng: lý do "giải quyết nhu cầu sinh lý" để biện hộ cho hành vi mua bán dâm chủ yếu là sự ngụy biện của những người "khuyết tật về mặt nhận thức, tình cảm". Quan niệm này đang làm "đê mạt hóa" quan niệm về tình dục, bởi "tình dục là hoạt động thiêng liêng khi con người có sự hòa hợp về tinh thần, tình cảm, cảm xúc. Ngược lại, khi mua bán dâm, người ta đã bỏ tiền ra để mua vui trên thân xác phụ nữ mà không tính đến các yếu tố tình cảm, gây hệ lụy xấu cho gia đình, xã hội". === Mại dâm trong các tôn giáo === Với Hồi giáo, Mãi/mại dâm là trọng tội, có thể bị tử hình, nhưng ở nhánh Shia có cách lách luật: "Hôn nhân tưởng thức". Một người đàn ông theo dòng Shia được phép "cưới" một phụ nữ trong một thời gian từ 1 tiếng đồng hồ đến nhiều năm và sau đó phải trả cho người phụ nữ này một phần đã định trước. Ở người theo đạo Hồi Sunni, hình thức hôn nhân này bị cấm bởi nhà tiên tri Muhammad và được xem là mại dâm. Hồi giáo coi mại dâm là hành vi xấu xa nhất và luôn trừng trị nghiêm khắc, nhiều nước Hồi giáo có hình phạt tử hình cho tội này. Trong Thiên Chúa giáo, ở Mười điều răn của Thiên Chúa, điều thứ 6 và thứ 9: "Chớ làm sự gian dâm… Chớ ham muốn vợ chồng người" (Xuất hành 20,14,17). Gian dâm bị coi là hành vi đi ngược lại sự công chính của nước Trời, Chúa Giêsu xếp tội này chung với tội ngoại tình và là điều xấu xa nhất xuất phát từ lòng tham của con người, làm con người bị ô uế. Thánh Phao-lô dạy: "Những kẻ dâm đãng, ngoại tình, trụy lạc… sẽ không được nước Chúa làm cơ nghiệp... việc quan hệ với đĩ điếm và tìm sự thỏa mãn tình dục bất chính dưới mọi hình thức đều làm nguy hại nặng nề tới mối quan hệ thần thánh giữa người Kitô hữu và Thiên Chúa." Sách giáo lý ghi: "Mại dâm làm tổn thương phẩm giá của kẻ tham gia. Kẻ mua dâm đã gây ra tội lỗi nghiêm trọng chống lại chính mình: kẻ đó đã vi phạm đức khiết tịnh và làm ô uế chính cơ thể mình, ngôi đền thiêng của Chúa Thánh Linh. Mại dâm là một tai họa cho xã hội." Các nhà kinh điển Nho giáo thì dạy: "Sóng cồn gió táp tuy nguy hiểm, nhưng cũng không nguy hiểm bằng dục vọng con người. Con người ham muốn nhiều thứ, nhưng không gì làm đắm đuối lòng người bằng tửu sắc (rượu và nữ sắc). Kẻ tiểu nhân thấy nữ sắc thì quên hết Lễ nghĩa liêm sỉ mà hùa với nhau làm bậy, còn Người quân tử thì phải uốn nắn khuyên răn nhau mà tránh cái mầm họa của sắc dục. Người xưa có nói: "Nơi nguy hiểm nhất là ở trên giường ngủ và chốn ăn nhậu. Phải cẩn thận mà tránh." Khổng Tử từng khuyên Lỗ Ai công: "Vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương đều giàu có bạc vạn, uy chấn bốn biển. Cuối cùng chỉ vì đam mê nữ sắc mà mang họa vong quốc, nước mất mạng vong." Trong Phật giáo, mại dâm bị khép vào tội "Tà dâm" (sự dâm dục phi lễ phi pháp, vô đạo đức). Khi tại thế, Đức Phật Thích Ca từng giáo hóa, cứu độ nhiều kỹ nữ, tiêu biểu như nàng Phệ Sa. Ngài dạy: "Kẻ ôm lòng ái dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất bị họa cháy tay. Kẻ say mê sắc dục như cá nuốt lưỡi câu, như thiêu thân bay vào đèn, tự dấn thân vào chỗ chết mà không hay biết". Mỗi người ai cũng muốn gia đình mình đầm ấm yên vui, vợ con đoan chính, vậy cớ sao lại đi phá hại gia cương, làm nhục nhã tông môn người khác, đưa vợ con người khác vào đường dâm loạn... Được thác sinh kiếp người là khó, gặp được chính pháp lại càng khó. Ai cũng có lòng dâm dục, nhưng giữ gìn không tà dâm mới là đạo lý làm người. Để nhân dục làm bại hoại luân lý, chẳng những uổng cả kiếp người, còn gieo mầm Ác Quả về sau. Mại dâm sẽ gây ra một Nghiệp chướng, kẻ mua bán, chứa chấp, cổ xúy mại dâm không thể tránh khỏi nhận lãnh quả báo dù ở kiếp này hay kiếp sau theo nguyên lý "Nhân quả tuần hoàn, Tất có báo ứng". Lạc thú từ tà dâm chỉ là nhất thời, nhưng tội nghiệt thì to như núi, quả báo là nghiêm trọng nhất. Kẻ bán dâm vì tiền mà đem nhân phẩm, thân thể làm đồ chơi cho kẻ khác, gây ô nhục bản thân, gia đình và xã hội; kẻ mua dâm thì dùng kim tiền để chà đạp nhân phẩm con người, làm bại hoại nhân luân, kỷ cương xã hội. Như lời Đức Phật dạy: "Kẻ ngu si tạo Ác nghiệp vẫn không tự biết có Quả báo", những kẻ này bị lòng tham tiền bạc sắc dục làm mờ mắt, không còn biết thế nào là Nghiệp Quả báo ứng. Chúng lợi dụng pháp luật sơ hở mà tự tung tự tác, khiến luân lý bại hoại, đạo đức suy đồi, có biết đâu Nghiệp chướng cứ ngày một chất chồng. "Thiên võng khôi khôi, Sơ nhi bất lậu" (Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt), Luật Nhân-Quả có vay có trả chẳng sai mảy may, chẳng kẻ nào có thể trốn thoát được báo ứng. Đứng trước Nghiệt Kính Đài nơi âm môn, bao tội lỗi đều hiển hiện hết, khi đó tai ương ập tới thì hối hận đã trễ rồi. Trong Bát nhiệt địa ngục, có nhiều ngục dành cho những kẻ mua bán dâm: "Dầu Oa Địa Ngục" (Ngục dầu sôi), "Tiểu Phẩn Niệu Nê Địa Ngục" (Ngục Bùn phân nước tiểu - đọa cho kẻ bán dâm), "Ngục cát thâm thử giáo" (chuột cắn xé tinh hoàn - cho kẻ mua dâm tham dục hiếu sắc), "Ngục bát trường" (Ngục moi ruột - cho kẻ chứa chấp dắt mối mại dâm), "Ngục trát diều thoát xát" (Bửa sọ - cho những kẻ có học mà lại viết báo, làm luật cổ xúy mại dâm). Tại đó tội nhân bị hành hạ thiêu đốt để trả nghiệp báo cho sự dâm dục vô đạo khi còn sinh thời, khi đầu thai sẽ bị đưa vào súc sinh giới vô tri chỉ biết sống theo bản năng, đúng như nguyên tắc "Gieo Nhân nào gặt Quả nấy". Nếu phạm tội nặng (con đưa cha đi mua dâm, mẹ ép con bán dâm, già cả đi mua dâm kẻ đáng tuổi cháu chắt...) thì là hành vi Phản lại Đạo Trời, sẽ đọa vào A Tì địa ngục, vĩnh viễn không được siêu sinh. Đức Phật Thích Ca dạy, sự đau khổ trong địa ngục là ngoài sức mô tả. Một khi rơi vào ngục Vô Gián thì sẽ không còn đường ra nữa. Càng cố thỏa mãn lòng tham sắc dục thì kẻ u mê chỉ càng chìm trong vũng bùn Tội nghiệt. Sự dâm dục phóng túng chỉ là thoáng chốc, nhưng quả báo thì ghê gớm vô cùng. "Có Nhân ắt có Quả, hại người ắt hại mình... Biết lấy điều hổ thẹn để tự răn mình, thế gian ít người làm được. Nhưng người đã làm được, họ khéo tránh điều khổ nhục như ngựa hay khéo tránh roi da." - Một người khôn ngoan, nghe được Phật pháp nên hiểu rõ điều này mà chiêm nghiệm, giữ mình khỏi cám dỗ của lòng dâm dục bất chính. == Những ngộ nhận sai lầm về mại dâm == Nhà nghiên cứu Melissa Farley cho rằng có nhiều nhận định sai lầm về mại dâm, nhất là từ phía những người ủng hộ hợp thức hóa nó hoặc thường xuyên đi mua dâm. Nhưng các số liệu thực tế đã bác bỏ, cho thấy đây chỉ là những ngộ nhận (xem chi tiết tại Hợp pháp hóa mại dâm và các hệ lụy). Ví dụ như: Ngộ nhận: Mại dâm là nghề lâu đời nhất thế giới. Sự thực: buôn bán nô lệ và chăn nuôi du mục mới là ngành nghề lâu đời nhất thế giới, và mại dâm được sinh ra từ chính nạn buôn nô lệ. Ngộ nhận: Mại dâm sẽ giải tỏa nhu cầu bản năng cho nam giới, giảm đi số vụ hiếp dâm. Sự thực: mại dâm càng phổ biến thì càng kích thích dục vọng của đàn ông, qua đó làm gia tăng nạn hiếp dâm. Ví dụ: bang Nevada (bang duy nhất ở Mỹ cho hợp pháp mại dâm) cũng là bang có tỷ lệ hiếp dâm cao nhất nước Mỹ, thành phố Las Vegas tại bang này có tỷ lệ hãm hiếp cao gấp 3 lần thành phố New York và gấp 4 lần mức trung bình của toàn nước Mỹ. Năm 2007, tại các vùng nông thôn có mại dâm hợp pháp tại Nevada, tỷ lệ hiếp dâm cao gấp 5 lần so với các vùng nông thôn cấm mại dâm (tỷ lệ 45,7 vụ so với 8,8 vụ/100 ngàn dân) Hoặc Thái Lan, nước có mại dâm phổ biến nhất thì cũng có tỷ lệ hiếp dâm cao nhất Đông Nam Á (~7-8 vụ/100 ngàn dân, gấp 2 lần Philipines, 3 lần Singapore và gấp 5 lần Việt Nam). Hơn nữa, nên nhớ rằng chính bản thân mại dâm cũng là sự bạo hành và chà đạp phẩm giá con người. Ngộ nhận: mại dâm chỉ là sự "trao đổi cá nhân" mang tính tự nguyện, bán dâm cũng là "lao động", nghiêm cấm mại dâm là "vi phạm tự do cá nhân". Sự thực: có đầy đủ bằng chứng về tác hại của tệ nạn mại dâm từ các nhà nghiên cứu, cơ quan y tế và thực thi pháp luật. Hành vi gây phương hại tới xã hội thì không thể xem là "lao động", cũng không thể lấy "tự do cá nhân" hoặc "trao đổi tự nguyện" để biện minh cho hành vi này. Vì vậy Liên Hợp Quốc đã ra Công ước quốc tế kêu gọi ngăn chặn mại dâm Ngộ nhận: các nước tiên tiến đều hợp pháp hóa mại dâm. Sự thực: trong số 40 nước có GDP đầu người cao nhất thế giới, chỉ có 5 nước (và một số bang của Úc) hợp pháp hóa mại dâm, 35 nước còn lại đều cấm mại dâm ở các mức độ khác nhau. 15 nước hợp pháp hóa mại dâm còn lại phần lớn đều là những nước nghèo có pháp luật lỏng lẻo, tội phạm lũng đoạn chính quyền và nạn buôn người diễn ra công khai. Ngộ nhận: những người ủng hộ hợp pháp hóa mại dâm vì cho rằng như vậy là "nhân văn, hiện đại". Sự thực: đó chỉ là lối suy nghĩ thiển cận mang tính "tiêu chuẩn kép". Những người ủng hộ hợp pháp hóa mại dâm nhiệt tình nhất cũng sẽ ngay lập tức thay đổi thái độ nếu một nhà thổ (dù là hợp pháp) được đặt cạnh nhà họ, hoặc nếu vợ con họ cũng đi bán dâm. Như vậy thực ra trong thâm tâm họ vẫn ý thức mại dâm là điều có hại. Ngộ nhận: nhu cầu tình dục là tự nhiên, do đó mại dâm luôn tồn tại như một hình thức tự nhiên. Sự thực: Hầu hết những người đàn ông mua dâm có các đối tác tình dục khác (vợ, người tình...), họ mua dâm vì "ham của lạ" chứ không phải vì thiếu thốn tình dục. Hơn nữa, nhu cầu tình dục hoàn toàn khác với các nhu cầu thiết yếu như ăn uống, hít thở... Những người đàn ông được giáo dục tốt sẽ biết cách kiềm chế bản năng tình dục và sẽ không mua dâm ngay cả khi họ không có bạn tình, tiêu biểu như Thụy Điển hay Canada, chỉ 7% nam giới nước này từng mua dâm. Ngộ nhận: Người đàn ông mua dâm vì không có vợ hoặc người vợ không thỏa mãn tình dục cho họ. Sự thực: Theo khảo sát năm 2010 ở Mỹ của Melissa Farley, lý do mua dâm phổ biến nhất chỉ là để thoả mãn nhu cầu tình dục nhanh chóng, 21% mua dâm vì định kiến ​​chủng tộc hoặc để tìm kiếm cảm giác được phục tùng, 20% mua dâm vì không hài lòng với mối quan hệ hiện tại; chỉ có 15% đến gái mại dâm vì không có kết nối cảm xúc hoặc cam kết hôn nhân. Ngộ nhận: Mại dâm là sự giải phóng tình dục. Sự thực: Mại dâm là sự khai thác, bóc lột tình dục, thể hiện sự bạo hành giới. Ngộ nhận: Không thể xóa bỏ được mại dâm, các cố gắng để xóa bỏ tệ nạn mại dâm là vô ích. Sự thực: Không có bằng chứng cho điều này. Tại Thụy Điển, Liên Xô (cũ) và một số quốc gia khác nghiêm cấm mại dâm rất nghiêm khắc, chính phủ chú trọng phúc lợi và công bằng xã hội, và mại dâm ở các nước này gần như bị triệt tiêu (xem Mô hình chống mại dâm của Thụy Điển). Ngộ nhận: hợp pháp hóa mại dâm giúp loại bỏ tội phạm và buôn người. Sự thực: hợp pháp hóa chỉ mang lại lợi ích cho chủ chứa, bọn buôn người và khách làng chơi. Gái mại dâm vẫn chỉ là một món hàng, không hơn. Ngộ nhận: hợp pháp hoá mại dâm sẽ giúp kiểm soát nó tốt hơn, hạn chế mua bán dâm lén lút và bệnh hoa liễu. Sự thực: việc dỡ bỏ các điều luật cấm nghiêm khắc sẽ càng làm gia tăng mại dâm lén lút. Gái bán dâm sẽ không chịu đăng ký hành nghề mà vẫn sẽ làm chui để khỏi bị công khai danh tính và nộp thuế. Cùng với đó sẽ kéo theo nạn làm giả giấy phép, đưa hối lộ và mại dâm trẻ em. Bệnh hoa liễu theo đó cũng gia tăng. Hợp pháp hoá mại dâm không thể làm giảm những tác hại vốn là bản chất của chính nó, mà còn kéo theo nhiều mối nguy khác cho xã hội. Ngộ nhận: hợp pháp hóa mại dâm mang lại khoản thuế lớn cho nhà nước. Sự thực: chi phí quản lý mại dâm luôn cao gấp nhiều lần khoản thuế thu được, chủ chứa và gái mại dâm sẽ luôn tìm cách để trốn thuế. Những khu vực mại dâm hợp pháp sẽ dẫn tới việc gia tăng tội phạm, làm sụt giảm các hoạt động thương mại và giá bất động sản địa phương. Ngộ nhận: Mại dâm ở Thái Lan do chính phủ điều hành và được tổ chức tốt để giảm tác hại. Sự thực: mại dâm ở Thái Lan chính thức là bị cấm, nhưng vẫn hoạt động công khai do được các tổ chức mafia bảo kê, và nước này có tỷ lệ nhiễm AIDS và hiếp dâm cao hàng đầu châu Á. == Tác hại của mại dâm == Cũng như tất cả các loại tệ nạn xã hội khác, mãi/mại dâm cũng mang lại bệnh tật và hậu quả cho cơ thể, và vấn nạn cho xã hội. === Tác hại về sức khỏe === Trường Y tế công cộng Johns Hopkins ở Baltimore đã tổng kết các nghiên cứu từ tháng 1/2007 đến 6/2011 để đánh giá tỉ lệ nhiễm AIDS ở 99.878 gái mại dâm tại hơn 50 quốc gia. Kết quả tỉ lệ nhiễm HIV tính chung là 11,8%. Tổng cộng có 30,7% gái mại dâm nhiễm HIV trong nhóm 26 nước có tỉ lệ nhiễm HIV cơ bản ở mức trung bình và cao., đó là chưa kể các loại bệnh khác như giang mai, lậu, viêm gan... Một người bán dâm thường có quan hệ tình dục với hàng ngàn lượt khách mua dâm, nên tỉ lệ lây nhiễm cũng như truyền bệnh cho nhau là rất cao. Ngay cả khi có sử dụng các biện pháp an toàn tình dục thì khả năng mắc bệnh hoa liễu khi mua bán dâm vẫn rất cao. Ví dụ, dù có sử dụng bao cao su, tỉ lệ rủi ro lây nhiễm bệnh vẫn vào khoảng 8-9% (do rách, tuột hoặc do tinh dịch thẩm thấu qua màng cao su). Đặc biệt, dù có sử dụng bao cao su, nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong mỗi lần quan hệ vẫn lên tới 15-33% vì kích thước virus rất nhỏ (chỉ 0,1 micrômét), nên có thể xâm nhập được qua lớp bao cao su (nếu bao chất lượng thấp thì tỷ lệ lây nhiễm còn cao hơn nữa). Điều này càng trở nên nguy hiểm khi nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần sử dụng bao cao su thì sẽ ngăn ngừa được tuyệt đối nguy cơ lây nhiễm bệnh. Bên cạnh đó, nhiều bệnh như Chlamydia, viêm gan, nấm, sùi mào gà... lây nhiễm rất phức tạp qua cả đường miệng, quần áo, khăn tắm, ga đệm... nên bao cao su cũng không thể phòng tránh. Nhiều bệnh như lậu mủ, Herpes sinh dục, HPV... dù không chết người nhưng cũng không thể chữa khỏi, sẽ để lại di chứng lâu dài và nặng nề (nhất là khi mang thai sẽ lây cho đứa con). Bên cạnh các bệnh "cổ điển" như AIDS, giang mai, lậu mủ, hột xoài... các tổn thương về thể xác khác như viêm khớp và dị dạng ở đầu gối, khớp chân, hông, lưng (hậu quả của việc đứng lâu trên đường phố) cũng rất thường xuyên. Thêm vào đó là viêm bể thận (pyelitis) và viêm bàng quang (cystitis) mạn tính do nhiễm lạnh, các bệnh tật ở tử cung và nhiều bệnh khác. Kết quả nghiên cứu năm 2001 ở Việt Nam cho biết 51% gái mại dâm nghiện ma túy và 27% bị nhiễm HIV, chưa kể các bệnh khác như viêm gan, bệnh lậu, giang mai... Theo Cục Phòng chống TNXH Hà Nội, ở đây có khoảng 7.000 gái mại dâm, trong đó 2.000 là gái đứng đường, 80% số này nghiện ma tuý và nhiễm HIV. Đáng báo động, do tâm lý buông xuôi và "hận đời" khi biết mình đã nhiễm bệnh, tỷ lệ sử dụng bao cao su ở nhóm gái mại dâm nhiễm HIV chỉ có 23,3%. Năm 2000 chỉ có 25.000 khách làng chơi nhiễm HIV từ gái bán dâm nhưng 5 năm sau đó đã lên tới 60.000. Thống kê 6 tháng đầu năm 2012 đã phát hiện thêm gần 6.000 ca nhiễm HIV mới, lây qua đường tình dục là nguyên nhân đứng đầu với tỷ lệ 45,6%, chủ yếu là do mua bán dâm gây ra. === Tổn thương tinh thần === Tổn thương tâm lý (trauma) có thể là một hậu quả ở những người bị cưỡng bức bán dâm mà kết quả có thể là những bệnh như rối loạn nhân cách ranh giới (tiếng Anh: borderline personality disorder), rối loạn thần kinh chức năng (neurosis) tình dục nặng đến mức hoàn toàn mất khả năng cảm nhận bất kỳ một cảm hứng tình dục cá nhân nào trong lãnh vực riêng tư. Một phần những người bị tổn thương tâm thần nặng đến mức không có thể xây dựng hay giữ gìn bất kỳ một liên hệ nào về tình bạn lẫn tình cảm. Nhiều gái mại dâm khác thì trở nên chai sạn, không còn tin tưởng và thậm chí trở nên căm thù đàn ông, cho rằng tất cả đàn ông đều là những kẻ xấu xa ích kỷ, chỉ biết thỏa mãn dục vọng bản thân và chuyên lừa dối vợ con.-- === Tác hại về xã hội === Nhà nghiên cứu Maxwell năm 2000 đã công bố các bằng chứng về sự móc nối chặt chẽ giữa mại dâm với buôn ma túy, cùng sự tham gia của các dạng tội phạm khác, đặc biệt là cướp tài sản, buôn người và rửa tiền. Nếu hợp pháp hóa mại dâm thì sẽ kéo theo sự lan tràn của các loại tệ nạn khác vốn còn nguy hiểm hơn. Ví dụ tại Hà Lan, chỉ sau 10 năm hợp pháp hóa mại dâm, mại dâm đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Các tổ chức tội phạm lớn đã nhúng tay vào hoạt động buôn bán phụ nữ, ma túy, giết người và các dạng tội phạm khác. Chính các quán cà phê cần sa và nhà thổ được cấp phép lại là những nơi ẩn náu hợp pháp cho bọn tội phạm. Nhu cầu cần sa và phụ nữ tăng nhanh khiến cho Hà Lan trở thành thị trường béo bở cho tội phạm có tổ chức. Hoặc tại Đức, chỉ sau 5 năm hợp pháp hóa mại dâm, nạn buôn người đã tăng 70%. 2/3 số gái mại dâm ở Đức là phụ nữ từ Đông Âu; Columbia, Thái Lan và châu Phi, họ bị các băng đảng buôn người đưa vào và cưỡng ép bán dâm. Về mặt đạo đức và văn hóa, mại dâm vừa là sản phẩm, vừa là tác nhân thúc đẩy chủ nghĩa hưởng thụ, sự "tiền tệ hóa giá trị đạo đức và nhân phẩm". Tại đó con người sùng bái đồng tiền một cách mù quáng, thèm khát vô độ dục vọng bản năng mà sẵn sàng vứt bỏ những giá trị về nhân phẩm, danh dự, rằng chỉ cần có tiền thì ngay cả thân thể con người cũng trở thành hàng hóa mua bán--. Hành vi tình dục của con người bị mất hết những giá trị thiêng liêng và khuôn khổ đạo đức, trở thành thứ bản năng giống như thú vật. Tóm lại, mại dâm là hành vi chà đạp lên phẩm giá con người, đưa tới sự băng hoại đạo đức lối sống của xã hội, sự "thú tính hóa" hoạt động tình dục của con người, làm sụp đổ những giá trị về hôn nhân, tình yêu và lòng chung thủy.-- Tại các nước phương Đông vốn chú trọng tinh thần và bản sắc dân tộc, mại dâm (nhất là với khách nước ngoài) còn là hành vi sỉ nhục, xúc phạm đến lòng tự tôn dân tộc, gây hoen ố hình ảnh văn hóa quốc gia và là nỗi hổ thẹn cho toàn đất nước. Suốt từ Chiến tranh thế giới thứ hai tới nay, hai dân tộc Trung Quốc và Triều Tiên vẫn không nguôi nỗi nhục khi phụ nữ của họ trở thành gái điếm phục vụ cho lính Nhật--. Ở cấp độ gia đình, việc người vợ/chồng có hành vi mua/bán dâm sẽ gây ra nguy cơ lây nhiễm bệnh hoa liễu cho bạn đời. Hơn nữa, nếu việc mua/bán dâm bị phát hiện sẽ dẫn tới bất hòa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, đe dọa nghiêm trọng chế độ hôn nhân một vợ một chồng mà con người xác lập.-- == Lịch sử mại dâm == === Thời cổ đại === Từ thời thượng cổ trước đây hơn 4.000 năm, thí dụ như tại Babylon, đã tồn tại cái gọi là mại dâm tôn giáo. Đổi lại quà tặng, những người phụ nữ ở đó thực hiện những hành động tình dục. Nhưng điều này có liên quan đến việc thờ cúng thần thánh (một dạng của hiến tế) nên bản chất của nó không giống như mại dâm ngày nay. Phải tới thời Thượng cổ Hy Lạp (2.700 năm trước), phụ nữ mại dâm (hetaera) dưới khái niệm ngày nay mới ra đời, tức là vì vật chất chứ không phải tế lễ. Các cuộc hành quân của Alexander Đại Đế cũng đã được tháp tùng bởi nhiều gái mại dâm. Trong Hy Lạp cổ đã phân biệt rõ những gái mại dâm bình thường (porna) và phụ nữ mua vui hạng sang (hetaera): Ngược với gái mại dâm thông thường, phụ nữ mua vui hạng sang có học thức, được đào tạo về âm nhạc và khiêu vũ và được phép (ngược với người vợ) có mặt trong lúc đàn ông họp mặt và cùng nói chuyện về chính trị. Người phụ nữ này có địa vị rất cao trong xã hội, đến thăm viếng họ không có nghĩa là ngoại tình, và họ mua vui cho đàn ông bằng nghệ thuật, thi ca chứ không bán dâm (xem Geisha). Gái mại dâm bình thường (porna) phần lớn là nữ nô lệ được trả tự do, phải lang thang kiếm sống trên đường phố. Trong Đế chế La Mã làm việc này phần lớn là những nô lệ nam và nữ. Mại dâm ở Roma thời Cổ đại đã có những chuyên môn hóa giống như ngày nay. Có những người bán dâm sử dụng cả nghĩa địa làm nơi hoạt động. Tiền trả phụ thuộc nhiều vào vị trí và tầng lớp xã hội, những người bán dâm rẻ tiền nhất (phần lớn là nô lệ được phóng thích và con của nô lệ) chỉ có thể đòi hỏi giá trị không hơn một cái bánh mì là bao. Thế nhưng không chỉ có phụ nữ bình thường bán dâm, ngay cả giới hiệp sĩ và quý tộc cũng có người bán dâm, vợ của hoàng đế La Mã Claudius là Messalina cũng bị đồn đại là đã từng bán dâm. Việc này trong đầu Thời kỳ Hoàng đế Roma có quy mô đến mức hoàng đế Augustus đã ban hành luật cấm việc mại dâm của phụ nữ có địa vị cao. Luật lệ bất lợi cho người bán dâm ở chỗ là chỉ được phép kết hôn với những người có địa vị dưới họ. Kết hôn phần nhiều là con đường duy nhất thoát khỏi mại dâm, nhưng họ lại đứng phía dưới đáy xã hội nên sự lựa chọn rất là ít.--> === Trung cổ === Trong thế kỷ 12 các nhà chứa tại châu Âu thời Trung cổ được nhắc đến trong văn kiện. Một trong những nhà chứa lâu đời nhất của Đức (vẫn còn hoạt động) ở tại Minden. Nguyên nhân là do việc tìm đến tình yêu có thể mua bán này được coi như là một điều xấu miễn cưỡng nhưng cần thiết để thỏa mãn những đội lính đánh thuê mà các lãnh chúa châu Âu phong kiến tuyển mộ. Trong thành phố thời Trung cổ các nhà chứa thường được đặt trước hay ngay sau thành lũy để người qua đường đi qua đó trước khi vào thành phố. === Thời bắt đầu công nghiệp hóa === Tại châu Âu con số người bán dâm tăng nhanh đặc biệt là trong thế kỷ 19. Việc di dân vào thành phố ngày càng tăng dẫn đến một phần ngày càng đông của dân cư thành phố không có thu nhập đủ cho cuộc sống, đặc biệt là phụ nữ, là những người thông thường chỉ có trình độ thấp và chỉ nhận được những nghề mà tiền lương thấp. Việc này dẫn đến việc có những quốc gia chuyển sang quy định pháp luật cho việc mại dâm. Các quy định như thế, được biện hộ là việc kiểm soát về xã hội, chính sách sức khỏe hay đạo đức, nhưng thực tế lại làm cho người bán dâm không thể thoát ra khỏi con đường đen tối đó. Quy định cũng "đổ bê tông" cho "tiêu chuẩn kép" về tình dục: người bán dâm bị xã hội khinh rẻ, nhưng pháp luật lại nhìn mại dâm như một sự miễn cưỡng cần thiết cho phái nam thỏa mãn dục vọng. Vì sự nước đôi này mà các tổ chức nữ quyền luôn tẩy chay các ý đồ muốn hợp pháp hóa mại dâm, xem đó là sự lạm dụng pháp luật để sỉ nhục nhân phẩm người phụ nữ. Nhiều phụ nữ giới trung lưu chống lại "đạo đức đôi" này. Josephine Butler là một người phụ nữ đấu tranh kiên quyết từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, dẫn đầu cuộc đấu tranh của Ladies' National Organisation chống lại Contagious Diseases Acts (Luật về các bệnh lây). Cuộc vận động này nhìn người bán dâm không phải là "kẻ có tội" mà là nạn nhân của dục vọng của đàn ông. Cuộc vận động này đã cấp tiến hoá nhiều phụ nữ, làm cho họ trở nên cứng rắn hơn đối với những cuộc tấn công và lăng nhục từ công chúng và tạo nên một cơ sở cho việc chống đối về chính trị" (Philipps, trang 86). Trong nghệ thuật thế kỷ 19 có thể thấy một biến đổi trong việc mô tả người bán dâm: Đại diện của trường phái tự nhiên như Richard Dehmel, Max Dauthendey, Otto Erich Hartleben, Otto Julius Bierbaum và Karl Bleibtreu đã nâng người bán dâm lên thành 'venus vulgivaga' theo một ý nghĩa ham muốn bản năng hơn là chính trị." (Gordon A. Craig). === Thế kỷ 20 === Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hàng trăm nhà chứa dành cho quân nhân đã được Đức Quốc xã (tiếng Đức: Wehrmacht) và lực lượng SS thành lập. Những người phụ nữ nào nhiễm bệnh hoa liễu trong hình thức lao động cưỡng bức này thường chết trong trại thủ tiêu hay bị giết chết. Một thí dụ khác: Nhật Bản. Những người được gọi trại đi là "đàn bà an ủi" (tiếng Nhật: 慰安婦 úy an phụ; tiếng Anh: comfort women), phần nhiều là phụ nữ Trung Quốc hay Triều Tiên, cũng bị đe dọa tương tự. Chính phủ Trung Quốc và Triều Tiên luôn coi đây là nỗi nhục to lớn với dân tộc mình, và luôn yêu cầu Nhật Bản phải chính thức xin lỗi và bồi thường cho những nạn nhân này. Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, Mỹ đã ký một hiệp định với Thái Lan năm 1967 để cung cấp mại dâm cho binh sĩ. Hiệp định này mở cửa cho luồng đôla đổ vào nền kinh tế Thái, đổi lại là thân xác phụ nữ Thái Lan trở thành "món đồ chơi" trong tay lính Mỹ. Liên tục từ năm 1962 tới 1976, gần 700.000 lính Mỹ được đưa tới các nhà thổ ở Thái Lan mỗi năm. Tệ nạn mại dâm đã thực sự "bùng nổ" tại Thái Lan trong thời kỳ này. Năm 1957, ước tính Thái Lan có 20 ngàn gái mại dâm, thì tới năm 1964 đã tăng vọt lên 400 ngàn và năm 1972 là 500 ngàn, và duy trì ở mức đó cho tới nay. Doanh số của mại dâm Thái Lan ở thập niên 1990 được ước tính còn lớn hơn cả buôn ma túy. Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, hàng triệu lính viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho phép mở cửa hàng loạt nhà thổ, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là quanh các cư xá Mỹ. Mại dâm - gọi là "chợ heo" - được chế độ Sài Gòn công khai và hợp pháp hóa. Ước tính toàn miền Nam năm 1975 có trên 200.000 gái bán dâm. So với 30.500 gái bán dâm trên toàn Việt Nam vào năm 2012 thì con số cao gấp 7 lần, nếu xét về tỉ lệ dân số thì gấp tới 30 lần. Năm 1966, từ Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ điếm". Câu nói đó đã phản ánh một thực tế đau lòng: Các giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn và tha hóa. Người miền Nam có câu vè: "Thứ nhất sở Mỹ, thứ nhì gái đĩ, thứ ba ma cô, thứ tư tướng tá". Một tạp chí ở Sài Gòn mô tả: "Tại chợ heo đó, hằng ngày có 200-300 người con gái Việt Nam đứng sắp hàng cho lính Mỹ đến chọn dắt đi như một con vật. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam". Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: sự tha hóa của đạo đức xã hội mà mại dâm gây ra là một trong các nguyên nhân khiến chế độ chế độ Sài Gòn ngày càng mất lòng dân, cuối cùng sụp đổ hoàn toàn. Nhà thổ phục vụ lính Mỹ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc Mỹ chiếm đóng Philippines. Căn cứ hải quân Olongapo gần Manila, có vấn đề lớn với nạn mãi dâm tới mức Chính phủ Mỹ đã tài trợ xây dựng các bệnh viện cho các gái điếm quân đội để kiểm tra, phát hiện bệnh hoa liễu. Tuy nhiên, chỉ có các gái điếm được cấp phép phục vụ lính Mỹ (khoảng 6.000) mới được tới khám ở những bệnh viện đó. Gần đây nhất là trong chiến tranh vùng Vịnh ở Iraq. Ngay sau cuộc chiến này, quân đội Mỹ đã được đưa tới Thái Lan để vui chơi tại các tụ điểm mại dâm. Một số chuyên gia nói rằng ở đâu có lính Mỹ, ở đó sẽ có các nhà thổ do Chính phủ Mỹ tài trợ và ủng hộ. == Pháp luật == Quy định pháp luật về mại dâm là khác biệt ở từng nước trên thế giới. Có những nước coi mại dâm là hợp pháp, trong khi lại có những nước khác thì coi mại dâm là trọng tội, có thể bị xử tử hình. Tính tới năm 2012, có thể chia luật về mại dâm của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới thành 3 nhóm: Nhóm 1 (màu xanh lá): mại dâm là hợp pháp và được pháp luật quy định các vấn đề liên quan. Nhóm này có 20 nước và một số bang của Úc. Nhóm 2 (màu xanh dương): ở những nước thuộc nhóm này, không có bộ luật cụ thể để cấm mại dâm, nên mại dâm (trao đổi tình dục vì tiền) tự nó không phải là bất hợp pháp, nhưng hầu hết các hoạt động liên quan (như mời gọi mua dâm nơi công cộng, nhà thổ và các hình thức dắt khách khác...) là bất hợp pháp, điều này khiến cho việc mua bán dâm là rất khó khăn để không vi phạm bất cứ điều luật nào. Nhóm này có 41 nước và vùng lãnh thổ (năm 2012), ví dụ như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Brasil, Ấn Độ, Nepal, Madagascar... Ví dụ tại Ấn Độ không có bộ luật cấm mại dâm cụ thể, nhưng lại có Bộ luật chống hành vi buôn bán vô đạo đức (PITA) năm 1986, trong đó có một mục về mại dâm. Luật này quy định: chào mời bán dâm nơi công cộng sẽ bị phạt 3 tháng tù, rao số điện thoại để bán dâm bị phạt 6 tháng tù, chăn dắt mại dâm bị phạt 2 năm tù, chủ nhà thổ bị phạt 1-3 năm tù (nếu tái phạm sẽ phạt nặng hơn), giam giữ nô lệ tình dục bị phạt ít nhất 7 năm tù, ngoài ra còn có nhiều mức phạt cho các hành vi khác. Hoặc Pháp năm 2013 đã đề ra mức phạt 2.000 USD đối với mua dâm lần đầu và bản án sẽ tăng lên 6 tháng tù giam cùng với 9.800 USD nếu như tái phạm Nhóm 3 (màu đỏ): những nước đã ban hành các bộ luật cụ thể để cấm các hành vi mua bán, tổ chức, môi giới mại dâm... Nhóm này có khoảng 160 nước và vùng lãnh thổ. == Mãi dâm hay mại dâm == Hiện nay, ở Việt Nam rất nhiều người sử dụng từ "mại dâm" và không thể phân biệt "mãi dâm" với "mại dâm" là gì. Trên thực tế, mãi dâm là hành động mua dâm còn mại dâm là hành động bán dâm. Do vậy, khi viết "gái mãi dâm" (mua dâm) là sai mà phải viết là "gái mại dâm" (bán dâm). Thực ra, không chỉ có "gái mại dâm" (tức những người phụ nữ làm nghề bán dâm), mà còn có "phụ nữ mãi dâm" (tức là bỏ tiền ra để mua dâm từ nam giới). Những người nam theo đuổi hành động bán dâm thoả mãn cho nhu cầu của người mua dâm (cả nam và nữ) thì được gọi một cách dè bỉu trong tiếng Việt là đĩ đực, hay gigolo hay male prostitute trong tiếng Anh (dù rằng đối tượng này thường ít khi lọt vào sự chú ý của xã hội, nhưng nó là một thực tế từ xưa đến nay). Theo pháp lệnh phòng chống mại dâm thì mại dâm là hành vi mua, bán dâm (tức là bao gồm cả mua và bán). == Mại dâm theo giới tính == Nói đến mại dâm là người ta thường nghĩ đến phụ nữ, nhưng trên thực tế có cả nam giới đi bán dâm. Con số thống kê ở Đức cho thấy, có 96% người bán dâm là phụ nữ và 4% là nam giới. Như vậy, phụ nữ chiếm gần như tuyệt đối. Trong số mại dâm nam thì hơn 1 nửa chỉ bán dâm cho đồng tính nam chứ không phải phụ nữ. Như vậy có thể thấy số phụ nữ đi mua dâm là rất ít so với nam giới. Vì tồn tại ít nên cơ quan pháp luật tại nhiều nước khi ra luật về mại dâm đã bỏ sót không đề cập tới đối tượng mại dâm nam hoặc mại dâm đồng giới, tạo ra kẽ hở về pháp luật. Mại dâm nữ Mại dâm nam == Mại dâm ngày nay trên thế giới == === Châu Âu === Tại Đức có khoảng 400.000 người bán dâm. Thêm vào đó là nhiều người bán dâm cơ hội, số lượng những người này khác nhau tùy theo định nghĩa. Trong đó ước lượng là 96% phụ nữ và 4% nam giới. Với Luật điều chỉnh quan hệ pháp luật của mại dâm, ngày 20 tháng 12 năm 2001) việc mại dâm tại Đức được quy định theo pháp luật. Theo ước lượng của Hội Hydra (tiếng Đức: Hydra e.V.), và của các tổ chức giúp đỡ khác thì có hơn 250.000 gái bán dâm ngoại quốc tại Đức, trong đó phần lớn là phụ nữ từ Đông Âu, Columbia, Thái Lan và châu Phi phía nam sa mạc Sahara. Phần nhiều trong số này bị băng đảng buôn người đưa vào và bắt buộc làm nghề mại dâm. Tại Pháp, Chính phủ Pháp đã đề ra những biện pháp ngăn chặn nạn mại dâm bằng cách phạt nặng người mua dâm. Theo quy định đề ra năm 2013, mua dâm lần đầu sẽ bị phạt 2.000 USD, nếu tái phạm sẽ bị phạt 6 tháng tù giam cùng với 9.800 USD. Môi giới mại dâm có thể bị phạt tù 7 năm. Nghị sĩ Guy Geoffroy nói rằng, cứ 10 gái bán dâm thì có 9 là nạn nhân của bọn buôn người, nên mại dâm sẽ được xem xét dưới góc độ bạo lực chống lại phụ nữ. Ngày 6/4/2016, Pháp thông qua luật cấm khách mua dâm, ai vi phạm sẽ bị phạt 3.750 euro. Như vậy, Pháp trở thành nước châu Âu thứ năm cấm hành vi mua dâm, cùng với Thụy Điển, Na Uy, Iceland, và Anh. Bà Yael Mellul - Chủ tịch Hiệp hội Phái nữ Tự do và nhà khoa học chính trị, nhà tư tưởng Lise Bouvet lý giải: "Mua dâm là hành vi quan hệ tình dục bằng cách tạo áp lực lên người khác: áp lực của đồng tiền. Sự hiện diện của đồng tiền là bằng chứng không thể chối cãi được cho thấy một bên không hề tự nguyện trong quan hệ tình dục này, dù về lý thuyết họ có tự nguyện đi chăng nữa. Nói cách khác thì chính phủ Pháp coi mại dâm là một dạng bạo lực tình dục... Ở những nước công nhận mãi dâm là một nghề và các tú ông, tú bà được coi như là những nhà kinh doanh thì nạn buôn bán phụ nữ diễn ra rất kinh khủng vì có cầu ắt có cung. Có thể nhìn thấy điều này các nước Đức, Úc, Tây Ban Nha, Hà Lan. Việc buôn bán phụ nữ này không khác gì chế độ buôn bán nô lệ ngày xưa" Roselyne Bachelot, Bộ trưởng Các vấn đề xã hội cho hay: "Không thể chấp nhận những việc làm kiểu tùy tiện vui thú trên cơ thể người phụ nữ. Hoạt động kinh doanh này khiến nhiều người cho rằng, cơ thể phụ nữ luôn sẵn sàng để làm trò tiêu khiển cho đàn ông" Năm 1999, Thụy Điển là nước châu Âu đầu tiên đưa ra luật định phạt hành vi mua dâm. Mại dâm tại Thụy Điển bị nghiêm cấm, nhưng trái lại với các quy định thường lệ khác, mua dâm là tội phạm chứ không phải bán dâm. Nhà nước Thụy Điển cung cấp các khoản phúc lợi lớn và dịch vụ chuyên môn giúp phụ nữ bán dâm thoát khỏi tệ nạn này, cũng như giáo dục ý thức để công dân tẩy chay nạn mại dâm. Nhờ hiệu quả mang lại, năm 2009, Na Uy và Iceland đã học theo mô hình này. Tại Nga, mại dâm là bất hợp pháp. Cũng như Thụy Điển, hướng ngăn chặn quan trọng là phạt nặng người mua dâm đã được thực hiện. Năm 2012, Duma Quốc gia Nga thông qua điều luật xử phạt 5.000 rúp với người mua dâm. Bên cạnh đó, giấy báo sẽ được gửi tới tận nơi làm việc của người mua dâm. Chính phủ Nga tin rằng, những biện pháp cứng rắn sẽ khiến mại dâm tại nước này giảm đáng kể. Tháng 12-2012, Croatia cũng thông qua mức phạt lên tới 1.700 USD với người mua dâm. Chính quyền Moldova cũng đang xem xét một dự luật về xử phạt người mua dâm với mức phạt là 500 đôla Mỹ và/hoặc 60 giờ lao động công ích. Ở Tây Ban Nha, mại dâm không có luật cấm, nhưng các bộ luật khác cấm mọi hoạt động liên quan, kể cả các hành vi như gạ gẫm bán dâm, nên về cơ bản mại dâm vẫn là bất hợp pháp. Hướng đấu tranh quan trọng là phạt nặng cả người bán dâm lẫn mua dâm. Tại các thành phố Albacete và Granade, cảnh sát địa phương phạt 3.000 Euro đối với khách mua dâm. Thành phố Barcelona còn mạnh tay hơn, mức phạt lên tới 30.000 Euro mỗi người, kể cả bán dâm lẫn mua dâm. Đồng thời biên lai phạt sẽ được gửi đến tận nhà những người mua bán dâm. Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha tuyên bố sẽ đấu tranh chống nạn mại dâm trong khuôn khổ cả luật dân sự lẫn hình sự. Tại Anh, quy định pháp lý về mại dâm tương tự như Tây Ban Nha. Đạo luật về tội phạm đường phố năm 1959 cấm mọi hình thức gạ gẫm và lang thang trên phố của gái mại dâm. Chính phủ Anh từng cử 3 bộ trưởng đến thăm Hà Lan để nghiên cứu hợp pháp hóa mại dâm, nhưng kết luận họ đưa ra là biện pháp này chỉ gây thêm nguy hại, và do đó đề xuất hợp pháp hoá mại dâm đã bị bác bỏ. Cần phải lưu ý rằng, dù chính phủ một số nước châu Âu đã chấp nhận hợp pháp hóa mại dâm, nhưng về mặt xã hội, dư luận những nước này vẫn coi đó là hành vi vô đạo đức chứ không hề coi đó là "chuyện bình thường". Nhiều scandal mại dâm đã nổ ra khiến nhiều chính khách phương Tây mất uy tín hoặc phải từ chức. Ví dụ, cựu chủ tịch IMF là Dominique Strauss-Kahn đã bị điều tra vì nghi ngờ có hành vi mua dâm. Vợ của Tổng thống Đức Christian Wulff thì rất tức giận vì một số trang web tung tin rằng bà từng làm gái mại dâm Tại Anh, thủ tướng David Cameron đã vô cùng tức giận khi biết vợ một nghị sĩ từng làm gái điếm, ông gọi đây là "sự hổ thẹn đối với chính quyền và làm vấy bẩn cả tòa nhà quốc hội" . Hoặc tại Úc, nghị sĩ Đảng Lao động Craig Thomson bị cáo buộc đã sử dụng hàng ngàn đôla để mua dâm suốt từ năm 2002 đến 2007. Ngày 26/2/2014, Nghị viện châu Âu đã thông qua luật mại dâm mới nhằm hình sự hóa tội danh mua dâm. Mary Honeyball, đại diện thành phố London trong Nghị viện châu Âu, cho biết Luật này sẽ trừng phạt những người coi cơ thể phụ nữ như hàng hóa. Theo bà Mary, quyết định của Nghị viện châu Âu là tín hiệu cho thấy người dân châu Âu không muốn tiếp tục làm ngơ trước tình trạng lạm dụng phụ nữ. "Nhiều người nghĩ mại dâm là nghề cổ xưa nhất trên thế giới. Vì thế một bộ phận dư luận nghĩ rằng chúng ta nên coi mại dâm là một phần tất yếu của cuộc sống và việc duy nhất chúng ta có thể làm là quản lý nó tốt hơn. Kiểu tư duy đó chỉ khiến mại dâm phát triển hơn, khiến mua dâm trở nên bình thường và khiến phụ nữ dễ bị lạm dụng hơn". Đa số nghị sĩ Nghị viện châu Âu đồng ý với quan điểm, hành vi mua dâm là vi phạm nhân quyền và là một hình thức bạo lực chống lại phụ nữ. === Hoa Kỳ === Mại dâm cũng như các dịch vụ tình dục đều là tội phạm ở 49/50 bang của Mỹ (ngoại trừ 8/16 hạt của tiểu bang Nevada). Đạo luật liên bang Mann (đạo luật buôn bán nô lệ trắng năm 1910) cấm việc chuyên chở phụ nữ giữa các bang với mục đích vô đạo đức, luật chống làm tiền ban hành năm 1961 cũng có hiệu lực của lệnh cấm này. Mại dâm ở tiểu bang Rhode Island từng được hợp pháp hóa vào năm 1980, nhưng tới năm 2009 đã có luật nghiêm cấm. Hình phạt cho mại dâm là khác nhau ở mỗi bang. Ở một số bang, cả người bán dâm lẫn mua dâm đều bị phạt tới 1 năm tù giam và phạt 6.000 USD, nếu tái phạm thì có thể bị phạt tù tới 3 năm. Ma cô và chủ chứa có thể bị phạt tới 15 năm tù và/hoặc 30.000 USD. (xem chi tiết mức hình phạt tại đây). Mỗi năm ở Mỹ có khoảng 70.000-80.000 người bị bắt vì liên quan mại dâm, 70% là gái mại dâm và chủ chứa, 30% là mại dâm nam và ma cô, 10% là khách hàng. Ở Hoa Kỳ từng có những đề xuất cho mại dâm được hợp thức, nhưng đều bị bác bỏ. Năm 2004, chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố: "Chính phủ Hoa Kỳ có một lập trường vững chắc chống lại đề nghị hợp pháp hóa mại dâm, vì mại dâm trực tiếp góp phần vào việc buôn bán nô lệ hiện đại và chà đạp lên phẩm giá con người. Việc hợp pháp hóa hoặc dung túng cho mại dâm là tiếp tay cho nạn buôn người." Năm 2007, Carolyn Maloney, nghị sĩ của đảng Dân chủ đến từ New York, đã viết về những hậu quả của việc hợp pháp hóa mại dâm tại các thánh địa cờ bạc ở Las Vegas. "Đã có thời gian, có một niềm tin ngây thơ rằng hợp pháp hóa mại dâm có thể cải thiện cuộc sống cho gái mại dâm, đưa nó vào những địa điểm quy hoạch và loại bỏ tội phạm có tổ chức chuyên kinh doanh mại dâm. Giống như tất cả các câu chuyện cổ tích, điều này hóa ra lại là ảo tưởng tuyệt đối." === Châu Á === Hàn Quốc Trong những năm 1950, khi nổ ra chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc coi Quân đội Mỹ như một cơ hội thu lợi về kinh tế, và món lợi này đã được trả giá bằng thân xác phụ nữ Hàn Quốc. Những thị trấn mại dâm do chế độ quân sự cầm quyền Hàn Quốc và Mỹ thiết lập và ủng hộ. Lúc cao điểm đã có hơn 18.000 gái điếm phục vụ 43.000 lính Mỹ đóng tại Hàn Quốc. Năm 1986, chế độ độc tài quân sự ở Hàn Quốc bị lật đổ. Trước Olympic Seoul 1988, để chuẩn bị cho Olympic và bảo vệ hình ảnh đất nước khỏi bị tiếp tục hoen ố, chính phủ mới của Hàn Quốc đã tuyên bố xóa sổ các khu mại dâm, đồng thời quân đội Mỹ tại Seoul cũng ra lệnh cấm binh lính tìm tới gái mại dâm. Dù vậy, mại dâm này vẫn ngấm ngầm tồn tại cho tới nay dưới nhiều hình thức khác nhau. Do tệ nạn mại dâm diễn ra quá nhức nhối, chính phủ Hàn Quốc đã đề ra những điều luật phạt nặng mại dâm. Cả người mua lẫn bán dâm đều sẽ bị phạt khoảng 3.000 USD hoặc 1 năm tù giam, còn chủ nhà thổ sẽ bị phạt tới 10 năm tù và 86.000 USD. Nhờ các biện pháp mạnh, nạn mại dâm đã dần được khống chế. Doanh số mại dâm năm 2002 là 24 ngàn tỷ won đã giảm xuống gần một nửa, còn khoảng 14 ngàn tỷ vào năm 2007. Bắc Triều Tiên Nhật Bản Tại Nhật Bản, dù có công nghiệp khiêu dâm phát triển nhưng mại dâm vẫn là bất hợp pháp. Đạo luật chống mại dâm năm 1956 đã nghiêm cấm các hành vi mua bán dâm và cảnh sát Nhật luôn tiến hành các chiến dịch truy quét các đường dây mại dâm. Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Lao động - thương binh & Xã hội, ước tính năm 2013 cả nước có gần 33.000 gái mại dâm. Theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP về "xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình" có hiệu lực từ 28/12/2013, người bán dâm sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Người mua dâm sẽ bị phạt nặng hơn, từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng. Đặc biệt, hành vi lôi kéo người khác mua dâm sẽ bị phạt 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Trung Quốc === Các nước thế giới thứ ba === Một số nước là điểm đến của du lịch tình dục thí dụ như Kenya, Philippines, Thái Lan và vùng Caribbean. Tại những nước này, mại dâm khá đặc biệt: Dù luật pháp chính thức cấm mua bán dâm, công dân trong nước bị cấm mua bán dâm nhưng du khách nước ngoài thì được phép dưới sự cố tình làm ngơ của chính phủ. Thái Lan là một ví dụ, mại dâm bị luật pháp nghiêm cấm, nhưng các nhà chứa vẫn hoạt động công khai dưới sự làm ngơ của chính quyền và sự bảo kê của mafia, đến nỗi nhiều người lầm tưởng mại dâm ở Thái Lan là hoàn toàn hợp pháp. Tại đa số các nước khác, thí dụ như ở Việt Nam, mại dâm bị cấm hoàn toàn. Tại nhiều nước Hồi Giáo, mại dâm là trọng tội, có thể bị xử tử hình. === Một số hình thức mại dâm chính === Nhà thổ: mại dâm thực hiện tại cơ sở tập trung, hợp pháp hay bất hợp pháp. Gái đứng đường: giao dịch được đàm phán trên phố, sau đó người mua có phương tiện thường mang người bán dâm tới khách sạn. Mại dâm phục vụ tận nơi/Gái gọi: thông qua người môi giới, trang web internet hay số điện thoại. Việc mua bán dâm diễn ra ở khách sạn hoặc nơi ở của khách mua dâm. Du lịch tình dục: các tour du lịch với mục đích tình dục trả tiền. Biến tướng: Dịch vụ giúp việc ở Nam Phi có sự xuất hiện loại hình làm thuê (dịch vụ nhanh, ngắn hạn) khỏa thân. Công ty Natural Cleaning cung cấp các nhân viên giúp việc khỏa thân hoặc bán khỏa thân nếu như khách hàng yêu cầu, nhưng chủ công ty khẳng định đó chỉ là giải trí chứ không phải mại dâm. == Hợp pháp hóa mại dâm và các hệ lụy == Theo quan điểm của những nhà Luật học và Xã hội học, luật pháp và đạo đức là 2 phạm trù riêng nhưng có liên hệ mật thiết. Về cơ bản, mại dâm làm mất nhân phẩm của phụ nữ và xúc phạm đến sự thiêng liêng của hoạt động tình dục của con người, gây phương hại đến nền tảng đạo đức lối sống xã hội, làm rạn nứt hạnh phúc của mỗi gia đình, kéo theo nhiều loại tệ nạn khác. Do đó mại dâm bị cấm tại phần lớn các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, một số chính phủ cho rằng nên "hợp pháp hóa mại dâm để dễ kiểm soát". Tại một số nước, ở các khách sạn lớn, các khu giải trí, các vùng du lịch đều có các "dịch vụ hộ tống". Các chính phủ và các nhà làm luật ở các nước này tin rằng: việc cho phép mại dâm công khai với các biện pháp như cấp giấy phép, quy hoạch khu đèn đỏ... sẽ giúp quản lý tốt hơn các vấn nạn mà mại dâm gây ra, ngăn ngừa lây nhiễm bệnh hoa liễu. Về ý tưởng là như vậy, nhưng thực tế sau nhiều năm lại khác hẳn, hợp pháp hóa mại dâm đã trở thành "một giấc mơ quan liêu ướt át". Các nước này thường không đạt được những mục tiêu đề ra mà còn làm vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn, điều này đặc biệt đúng ở các quốc gia nghèo, vốn có hệ thống quản lý, pháp luật lỏng lẻo (như Peru, Colombia, Bangladesh). Mặt khác, tại các nước nghèo ở Trung-Nam Mỹ, "hợp pháp mại dâm để quản lý" chỉ là cái cớ, mục đích thực sự là để tạo thuận lợi cho việc buôn bán người của giới Mafia vốn lũng đoạn chính quyền các nước này. Vì sự bế tắc này, một số nước sau một thời gian đã phải quay lại biện pháp cấm hoàn toàn mại dâm (tiêu biểu là Thụy Điển, Na Uy và Hàn Quốc). Như một hệ quả, nếu như giai đoạn 1990-2003 có tới 12 nước thực hiện hợp pháp hóa mại dâm, thì từ 2003 tới nay, chỉ có 1 quốc gia làm theo, bởi bài học thực tế từ các nước đi trước đã cho thấy thất bại của phương thức này. Ngành Tội phạm học có nguyên tắc cơ bản là "không có chỗ cho trí tưởng tượng chủ quan, những lập luận thiếu dẫn chứng, sự đơn giản hóa quá mức vấn đề mà không tính tới những yếu tố ngoại cảnh khác vốn rất phức tạp, rằng nếu làm theo A thì kết quả sẽ là B", đây lại là điều mà những kế hoạch hợp pháp hóa mại dâm luôn mắc phải--. Theo phân tích chi tiết về Tội phạm học, có 3 nguyên nhân chính khiến việc "hợp pháp hóa mại dâm để quản lý" luôn gặp thất bại--: Các chính phủ này quá chủ quan về khả năng quản lý của mình trong khi đánh giá thấp khả năng của giới tội phạm. Trên danh nghĩa, tại các nước này, mại dâm do nhà nước quản lý, người bán dâm được khám sức khỏe, có giấy phép hoạt động, nhưng thực ra đằng sau lại là các thế lực Mafia. Đó mới thực sự là thế lực kiểm soát mại dâm, và tất nhiên chúng không bao giờ chịu từ bỏ những mánh khóe hốt bạc và hợp tác với chính quyền. Các thống kê thực tế cho thấy việc hợp pháp hóa mại dâm chỉ tạo thêm cơ hội cho tội phạm dùng chiêu bài "hợp pháp hóa" để núp bóng chính quyền và bành trướng hoạt động, trong khi nhà nước chỉ có thể "quản lý trên giấy". Số tiền thuế mà nhà nước thu được cũng rất ít, mà phần lớn lợi nhuận chui vào túi các thế lực Mafia, tạo thêm thế lực cho chúng. Những người ủng hộ hợp pháp hóa mại dâm đã không tính tới những dạng tội phạm khác luôn đi kèm với mại dâm. Nhà nghiên cứu Maxwell (năm 2000) đã công bố các bằng chứng về sự móc nối chặt chẽ giữa mại dâm với buôn bán ma túy, cùng sự tham gia của các dạng tội phạm khác, đặc biệt là cướp tài sản, buôn người và rửa tiền. Việc hợp pháp hóa một dạng tệ nạn xã hội đã kéo theo sự lan tràn của các loại tệ nạn khác vốn còn nguy hiểm hơn. Mại dâm từ xưa tới nay luôn bị các nền văn hóa, tôn giáo bài xích vì đi ngược lại những giá trị chung của nhân loại về hôn nhân, tình yêu và lòng chung thủy. Do đó, hợp pháp hóa mại dâm sẽ gây ra sự bất bình của một phần lớn người dân, gây xáo trộn và đổ vỡ các giá trị đạo đức, đe dọa hạnh phúc hôn nhân, và sự bất hợp tác từ chính người bán dâm (vì bản thân họ cũng không muốn hành vi nhục nhã của mình bị công khai)--. Năm 2014, Mary Honeyball, đại diện thành phố London phát biểu trước Nghị viện châu Âu: "Nhiều người nghĩ mại dâm là nghề cổ xưa nhất trên thế giới. Vì thế một bộ phận dư luận nghĩ rằng chúng ta nên coi mại dâm là một phần tất yếu của cuộc sống và việc duy nhất chúng ta có thể làm là quản lý nó tốt hơn. Kiểu tư duy đó chỉ khiến mại dâm phát triển hơn, khiến mua dâm trở nên bình thường và khiến phụ nữ dễ bị lạm dụng hơn". Đa số nghị sĩ Nghị viện châu Âu đồng ý với quan điểm, hành vi mua dâm là vi phạm nhân quyền và là một hình thức bạo lực chống lại phụ nữ. Có một cách nghĩ sai lầm rằng: mại dâm là một hoạt động lâu đời và hầu như xã hội nào cũng tồn tại, cho nên không cần tốn công ngăn chặn mà phải chấp nhận nó như một "nghề bình thường". Sự thực, xã hội luôn tồn tại 2 mặt Tốt-xấu, ma túy, hiếp dâm, buôn người... cũng là những tệ nạn không bao giờ có thể triệt tiêu hết. Một xã hội càng tiến bộ thì càng phải quyết tâm đấu tranh với những mặt xấu chứ không phải buông xuôi mặc cho chúng lan tràn. Việc thỏa hiệp với tệ nạn xã hội không làm nó thay đổi bản chất, mà chỉ dẫn đến sự lụn bại của đạo đức và kỷ cương xã hội. Với những tác hại rõ ràng gây ra cho xã hội, khi chính quyền buông xuôi việc ngăn chặn mại dâm và cho hợp pháp hóa loại tệ nạn này, thì giống như "ung thư di căn", nó sẽ càng lan tràn và ẩn chứa nhiều hiểm họa hơn, xã hội sẽ càng phải trả giá nặng nề.-- === Đức === Ví dụ, mại dâm ở Đức được hợp pháp hoá năm 2001, chính phủ tin rằng như vậy sẽ giúp quản lý mại dâm tốt hơn, chống bệnh hoa liễu và thu được thuế. Nhưng giờ đây, nhiều người Đức cho rằng chính quyền đã không đạt được mục tiêu đó mà chỉ làm vấn đề tồi tệ hơn. Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng: "Việc hợp pháp hoá mại dâm đã thất bại". Những quy định về giấy phép hành nghề, khám sức khỏe... thực tế là vô tác dụng, vì các nhóm tội phạm có thể dễ dàng làm giả giấy tờ và đe dọa những người nào định tố cáo. Chính sách hợp pháp hóa đã thất bại trên tất cả các mặt. Nô lệ tình dục ở Đức đã lan tràn kể từ khi mại dâm và các nhà thổ được hợp pháp hóa. Trong thực tế, những quy định quản lý của pháp luật hầu như không có tác dụng. Trên toàn nước Đức, số hợp đồng bảo hiểm mại dâm được ký không quá vài chục bản. Trong số hơn 400.000 gái mại dâm ở Đức, chỉ có... 100 người đăng ký hành nghề với chính phủ (tỷ lệ 0,025%), số còn lại vẫn hoạt động lén lút như trước hoặc dùng giấy tờ giả, vì chẳng gái mại dâm nào muốn tự tiết lộ danh tính của mình để rồi chuốc lấy sự hổ thẹn. Quy định về giấy phép hành nghề do vậy đã "thất bại từ trong trứng". Để đáp ứng nhu cầu mua dâm tăng mạnh (vì đàn ông không còn sợ bị pháp luật trừng phạt), số gái mại dâm tăng vọt từ 100 ngàn (năm 2002) lên tới 400 ngàn (năm 2009). Để tăng "nguồn cung", phụ nữ Đông Âu ngày đêm bị bọn buôn người săn lùng và đưa vượt biên vào Đức. Công bố năm 2010 cho thấy nạn buôn người đã tăng 70% sau 5 năm mại dâm được hợp pháp hóa. Phần lớn sự gia tăng này là phụ nữ và trẻ em gái bị buôn bán vào nhà thổ, với ít nhất 20% nạn nhân là vị thành niên. 75% gái mại dâm ở Đức là phụ nữ Đông Âu, phần nhiều là nạn nhân của bọn buôn người. Năm 2014, một số nguồn từ chính phủ Đức tin rằng 90% số gái mại dâm ở Đức là do bị cưỡng ép hoặc là nạn nhân của bọn buôn bán người Đối với phụ nữ Đức, đã có những trường hợp bị cơ quan bảo trợ xã hội gợi ý phải đi... bán dâm, nếu từ chối sẽ bị cắt trợ cấp thất nghiệp. Hợp pháp hoá mại dâm cũng làm gia tăng tình trạng phụ nữ Đức đi bán dâm do họ không còn sợ bị pháp luật xử phạt. Theo khảo sát của Trung tâm Khoa học Berlin, có tới 4% trong tổng số 3.200 nữ sinh viên tại Berlin cho biết đã tham gia một số công việc liên quan đến mại dâm. Bernd Finger, Trưởng cơ quan điều tra của Cục cảnh sát hình sự bang Berlin cho biết, mafia Nga tại Béclin ngày một bám rễ, hoạt động chính là tổ chức mại dâm. Mafia làm việc với sự phân chia lao động hoàn hảo theo ba cấp. Cấp cao là rửa tiền, cấp trung là mại dâm và buôn người, cấp dưới là ăn cắp ô tô. Gái bán dâm thường phải ăn chia thu nhập với ông chủ nhà thổ và các bên liên quan khác (như đám mafia bảo kê núp bóng chính quyền). Để hút khách, nhiều chủ chứa còn tung ra những chiêu "khuyến mãi" rất vô đạo đức như "Tiệc Buffet mại dâm", trong khi chính phủ thì bất lực vì hành vi này không còn là phạm pháp nữa Các chủ nhà chứa đều chuẩn bị sẵn sàng đối với các đợt kiểm tra của chính quyền, và họ cũng dặn gái mại dâm cách khai với cảnh sát. Thường thì các gái bán dâm vẫn khai họ biết về các nhà thổ qua mạng Internet và tự mua vé xe buýt rồi đến đây một cách tự nguyện. Cơ quan chức năng giám sát khu vực đèn đỏ phải nghe những lời nói dối đó không biết bao nhiêu lần nhưng chẳng thể làm gì. Mục đích của chủ nhà thổ là che giấu mạng lưới buôn bán người, với rất nhiều phụ nữ bị bán tới Đức và bị bóc lột tối đa Kỳ vọng về việc thu lợi cho ngân sách từ mại dâm cũng phá sản. Ban đầu Đức kì vọng sẽ thu hàng chục triệu USD thuế từ mại dâm, nhưng rốt cục trên 99% là trốn thuế, bởi lẽ đơn giản: "Tội phạm không bao giờ muốn đóng thuế". Năm 2011, Đức chỉ thu được 326.000 USD (thế đã là "thành công" so với các năm trước), quá ít ỏi so với hàng triệu USD phải bỏ ra để quản lý mại dâm mỗi năm. Ví dụ ở Hamburg, nơi có khu đèn đỏ nổi tiếng nhất nước, trong suốt 10 năm chỉ có 153 gái mại dâm chịu đăng ký với cơ quan thuế của thành phố. Hoặc tại Bonn, năm 2011 thành phố thu được 18.200 USD thuế từ mại dâm, nhưng đã phải chi tới 116.000 USD để đảm bảo an ninh cho các khu đèn đỏ, chưa kể chi phí quản lý giấy tờ, khám chữa bệnh và chống các dạng tội phạm khác phát sinh từ mại dâm. Ví dụ, nếu cho tất cả gái mại dâm ở Đức đi xét nghiệm mỗi tháng 1 lần như quy định (gói Level 2 tốn khoảng 400 USD/lần), chính phủ Đức sẽ phải chi gần 2 tỷ USD mỗi năm, gấp... 6000 lần số thuế thu được và còn lớn hơn ngân sách hàng năm cho nhiều lĩnh vực khác. Hệ thống y tế cũng sẽ quá tải với gần 5 triệu lượt xét nghiệm tăng thêm mỗi năm. Hiện nay ở Đức, có những chính khách và nhà nghiên cứu đã lên tiếng đòi bãi bỏ đạo luật hợp pháp hoá mại dâm. Sau 10 năm đạo luật này được thông qua, theo một nghiên cứu của Ủy ban EU, họ đi đến một kết luận: "Nạn buôn người để buộc mại dâm ở Đức không những không giảm mà ngày càng tăng". Bộ trưởng Tư pháp Đức và đại diện cảnh sát đều thừa nhận tình trạng của gái mại dâm không hề được cải thiện gì từ đó đến nay, thậm chí sức khỏe của họ còn tồi tệ hơn, tỷ lệ nghiện ma túy cao hơn. Stephan Mayer, chuyên gia hàng đầu về các vấn đề pháp luật khẳng định, đạo luật này là một sai lầm và chỉ làm tăng thêm tình trạng tội phạm tại các khu đèn đỏ. Người đứng đầu nghiệp đoàn cảnh sát Bernhard Witthaut cũng khẳng định, hợp pháp hoá mại dâm ở Đức đã thất bại và đề nghị xem xét lại đạo luật này. Ông nhấn mạnh, kể từ khi đạo luật được thông qua, giới ma cô đã nhiều hơn trước và chúng ngày càng tỏ ra táo tợn hơn trong việc ép buộc phụ nữ phải bán dâm. Hợp pháp hóa mại dâm thực tế chỉ tạo thêm vỏ bọc "hợp pháp" giúp bọn tội phạm bành trướng hoạt động. Dư luận cho rằng, những các nước EU cần học cách làm của người Thụy Điển - nước từng hợp thức hoá nghề mại dâm cách đây 30 năm. Năm 1998, Quốc hội Thụy Điển đã xét lại, coi mại dâm là bất hợp pháp, sau khi quốc hội nước này xét thấy không thể kiểm soát nổi việc hợp pháp hóa mại dâm, trong khi tổn hại về giá trị đạo đức xã hội là quá lớn. === Úc === Hiện nay, có hàng trăm nhà thổ hoạt động trên khắp nước Úc, trong đó không ít chủ chứa liên quan đến nạn buôn người. Mặc dù mại dâm là hợp pháp ở các bang phía đông nước Úc, nhưng vẫn có tới 90% nhà thổ và gái mại dâm tại Queensland hoạt động không giấy phép để buôn người, trốn thuế, rửa tiền. Sau khi hợp pháp hóa mại dâm, số nhà thổ bất hợp pháp chẳng những không giảm mà còn tăng thêm đến 300%. Tại bang Victoria, số gái bán dâm đã tăng nhanh chóng mặt (tới 7 lần) chỉ sau 20 năm. Tuy vậy, ước tính 3/4 số nhà thổ tại đây vẫn là bất hợp pháp (hoạt động không có giấy phép), và cứ 5-6 gái bán dâm thì mới có 1 chịu đăng ký hành nghề, số còn lại vẫn hoạt động bất hợp pháp (gái đứng đường). Gái đứng đường được kỳ vọng là sẽ dồn vào các khu đèn đỏ để dễ quản lý, nhưng rốt cục số này lại càng hiện diện nhiều và khó kiểm soát hơn trước. Tất nhiên với bộ phận bất hợp pháp này, những quy định mà chính phủ đề ra như điều kiện an toàn, kiểm tra sức khỏe... hoàn toàn chẳng có giá trị. Sự gia tăng số nhà chứa bất hợp pháp, đến lượt nó, lại làm gia tăng tình trạng tham nhũng và nhận hối lộ của cảnh sát. Theo một cuộc khảo sát ở Queensland, 54,4% gái mại dâm đường phố cho biết họ bị quấy rối ít nhất một lần trong 5 năm qua bởi chính tay cảnh sát. Nhà bình luận Youngbee Dale cho rằng chỉ có 2 điều thay đổi sau khi hợp pháp hóa mại dâm. Thứ nhất, những tên ma cô từ "dã thú" nay trở thành "những doanh nhân thành đạt". Thứ hai, cánh đàn ông từ nay đã có lý do biện minh hợp lý để thoải mái rủ nhau tới nhà thổ. Nghiêm trọng hơn, bệnh tật do mại dâm mang lại đã gia tăng nhanh chóng. Chỉ 2 năm sau khi hợp pháp hóa mại dâm, số lượng phụ nữ Úc nhiễm HIV đã tăng 91% Cũng như ở Đức, nạn buôn người gia tăng nhanh chóng để cung cấp cho cỗ máy mại dâm. Một số thiếu nữ trẻ châu Á khi du học Úc đã rơi vào bẫy của bọn buôn người dưới danh nghĩa các trung tâm môi giới và bị ép bán dâm để trả nợ. Chủ chứa nhà thổ bắt họ làm việc 15 tiếng/ngày suốt cả tuần. Họ bị đối xử tàn tệ, bị đám bảo kê xâm hại tình dục, đánh đập và đe dọa tính mạng. Một số còn bị ép dùng ma túy để có thể tiếp khách cả ngày, mỗi ca phải phục vụ tới 10 đàn ông với các hành vi bạo dâm. Những kỳ vọng của chính phủ Úc về việc "hợp pháp hóa mại dâm để kiểm soát" đã thất bại. Số trường hợp vi phạm bị phát hiện và xử lý là rất ít, chỉ 184 trường hợp trong suốt 8 năm, trong khi mỗi năm ước tính có hơn 1.000 nạn nhân buôn người bị đưa đến Úc. Ở quốc gia lân cận là New Zealand còn diễn ra những chuyện khá nực cười. Dù quá bán dân số chấp nhận hợp pháp hóa mại dâm, nhưng tới khi thảo luận về vị trí đặt phố đèn đỏ thì tất cả lại thay đổi thái độ. Giống như câu chuyện "Đeo lục lạc cho Mèo", chẳng ai muốn đặt nó ở khu dân cư nơi mình sống, nên tới nay chính phủ vẫn loay hoay không tìm được vị trí đặt khu đèn đỏ. Nhiều trung tâm xã hội và dạy nghề, thay vì trợ giúp phụ nữ tìm việc lại gợi ý họ đi... bán dâm để kiếm tiền. Một số nhà thổ thì lại được đặt ngay cạnh trường học dù phụ huynh phản đối dữ dội, học sinh thì ngày ngày phải đi qua những bao cao su và bơm kim tiêm bị vứt đầy ở cạnh trường khiến giáo viên phải kiêm luôn vai trò dọn dẹp vệ sinh Bà Sheila Jeffeys, giáo sư về Chính trị Giới tính - Bộ môn Khoa học Xã hội và Chính trị của trường Đại học Melbourne gọi đây là "cuộc thử nghiệm thất bại của hợp pháp hóa mại dâm". Bà nói: "Sự thật là những phụ nữ trong các nhà chứa hợp pháp vẫn sẽ không được cảnh sát bảo vệ, ở một vài nơi còn không có cả camera quay lại những gì diễn ra. Tại một số ít những nhà chứa hợp pháp, chính quyền các bang đưa ra các luật sức khỏe và an toàn lao động cho gái bán dâm. Tuy nhiên nếu nhìn vào họ sẽ thấy ngay sự nguy hiểm cực độ của ngành công nghiệp tình dục đối với gái bán dâm... Chúng ta nên nhớ rằng lực lượng cơ bản của ngành công nghiệp này là những phụ nữ và em gái dễ bị tổn hại, những người bị hành hạ một cách đồi bại để tạo ra lợi nhuận." "Trên thực tế thì tại Châu Á và toàn thế giới, căn bản của những gì xảy ra trong mại dâm là bạo hành và vô nhân đạo... Trong thuật ngữ của Liên Hiệp Quốc, đây là một hoạt động xã hội nguy hiểm và được đánh giá là có hại cho sức khỏe đối với phụ nữ và các em gái. Nó được tạo ra từ việc hạ thấp vai trò của phụ nữ, coi sự tồn tại của phụ nữ là để phục vụ cho lợi ích của đàn ông. Do vậy mại dâm cũng như những hành động văn hóa độc hại khác như bạo lực đối với phụ nữ, làm tổn thương tới bộ phận sinh dục nữ là những điều cần phải xóa bỏ hoàn toàn. Hợp pháp hóa mại dâm rõ ràng rằng không có tác dụng bảo vệ phụ nữ." Hiện đang có những tổ chức và chính khách Úc vận động đòi bãi bỏ luật hợp pháp hoá mại dâm. Thay vào đó, Úc sẽ áp dụng mô hình chống mại dâm nghiêm khắc mà Thụy Điển đã áp dụng. === Hà Lan === Tại Hà Lan, mại dâm được hợp pháp hóa vào năm 2000. Chỉ sau 10 năm hợp pháp hóa mại dâm, chính quyền giờ đây lo ngại rằng mại dâm đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Các tổ chức tội phạm lớn đã nhúng tay vào hoạt động buôn bán phụ nữ, ma túy, giết người và các hoạt động tội phạm khác. Chính các quán cà phê cần sa và nhà thổ được cấp phép lại là những nơi ẩn náu hợp pháp cho bọn tội phạm. Nhu cầu cần sa và phụ nữ tăng nhanh đã khiến cho nơi đây trở thành một thị trường béo bở cho bọn tội phạm có tổ chức. Chính phủ Anh từng cử 3 bộ trưởng đến thăm Hà Lan để nghiên cứu mô hình hợp pháp hóa mại dâm, và kết luận họ đưa ra là mô hình này chỉ gây thêm nguy hại, nước Anh không được phép làm theo. Theo thống kê, trong số 25.000 đến 30.000 gái mại dâm ở Hà Lan có đến 15.000 là người nước ngoài, phần lớn là nạn nhân của bọn buôn người. Ước tính 70% gái mại dâm tại Hà Lan hoàn toàn không có giấy phép cư trú chứ chưa nói tới giấy phép hành nghề và khám sức khỏe định kỳ. Số gái mại dâm trẻ em (dưới 16 tuổi) đã tăng gần 4 lần, từ 4.000 năm 1996 lên hơn 15.000 vào năm 2001. Quy định về giấy phép hành nghề cũng không thực hiện được, vì sau 3 năm hợp thức hóa, chỉ có 921 gái mại dâm (chiếm 3%) chịu ra đăng ký hành nghề; và sau đó 12 năm, tỷ lệ này cũng chỉ có thể tăng lên thành 5%. Lý do rất dễ hiểu: chẳng ai muốn mình được biết đến như một con điếm - dù nó có thể là hợp pháp. Năm 1999, chính quyền Amsterdam đã phát hiện nhiều viên chức tham gia một đường dây "chạy hộ chiếu" hợp pháp cho 117 gái điếm bị đưa đến từ các nước châu Âu. Thì ra, bọn tội phạm biết trước mại dâm sẽ được hợp pháp hóa năm 2000, nên đã chuẩn bị đâu vào đó. Những cảnh sát tham nhũng móc nối với tội phạm để lách luật là rất dễ xảy ra. Mặt khác, gái điếm cũng chẳng chịu tuân thủ luật lệ mà thích hành nghề chui để tránh các quy định cũng như để trốn thuế. Như vậy, những tệ nạn mới lại được dịp nảy sinh. Job Cohen, cựu thị trưởng Amsterdam nói: "Chúng tôi nhận ra rằng mại dâm không còn ở quy mô nhỏ nữa. Các tổ chức tội phạm lớn đang đổ về đây nhằm tiến hành buôn bán phụ nữ, ma túy, giết người và các hoạt động tội phạm khác... hiện nay chúng ta phải chứng kiến nạn buôn bán người, ép bán dâm và tất cả các thể loại liên quan tới tội phạm ở đây", và rằng "Các quy định về mại dâm đã không được thực hiện, buôn bán phụ nữ vẫn tiếp tục. Phụ nữ đang di chuyển ra xung quanh nhiều hơn, gây cho cảnh sát nhiều khó khăn hơn". Các quan chức chính phủ đã nhận thấy sự gia tăng bạo lực đường phố một cách bất thường, là hệ quả của sự gia tăng nạn buôn người vào Amsterdam làm nô lệ tình dục. Một cư dân ở phố đèn đỏ De Wallen cho biết: "Những tên côn đồ Đông Âu đã mang tới đây phụ nữ, chúng đe dọa và đánh đập họ". Hợp pháp hóa mại dâm đã dẫn tới sự lan tràn các hoạt động tội phạm, khiến chính phủ phải đề ra biện pháp mới, bao gồm cả kế hoạch chi tiết để cứu giúp gái mại dâm thoát khỏi ngành công nghiệp tình dục. Năm 2005, Amma Asante và Karina Schaapman, hai nghị sĩ của Đảng Lao động Hà Lan, đã viết một báo cáo, "Het onzichtbare zichtbaar gemaakt" (Hiểm họa vô hình). Schaapman đã từng là một gái mại dâm và là nhân chứng sống về tội phạm có tổ chức và bạo lực ở khu đèn đỏ. Báo cáo cho thấy phần lớn gái mại dâm ở Amsterdam đã bị cưỡng ép và bị lạm dụng bởi các băng nhóm tội phạm, qua đó kết luận rằng hợp pháp hóa mại dâm đã thất bại. Năm 2008, Karina Schaapman phát biểu trước nghị viện: Có những người thực sự tự hào về khu đèn đỏ như một điểm thu hút khách du lịch, rằng đó là nơi thư giãn tuyệt vời và cho thấy rằng chúng ta có một thành phố tự do. Nhưng tôi thì nghĩ rằng đó chỉ là một hầm chứa phân. Có rất nhiều tội phạm nguy hiểm ở đó. Có rất nhiều sự bóc lột phụ nữ, và rất nhiều đau khổ cho xã hội. Nó không có gì đáng để tự hào Bà Nicole Fontaine, đại biểu châu Âu và là chủ tịch của Quỹ tư nhân Scelles, cảnh báo nạn buôn người, du lịch tình dục và khiêu dâm trẻ em đã đến mức báo động tại châu Âu. Bà cho rằng "chính việc hợp pháp hóa mại dâm đã làm gia tăng tác hại của loại tệ nạn xã hội này". Bà Pierrette Pape, phát ngôn viên của Tổ chức vận động Phụ nữ châu Âu, nói về những hậu quả xã hội lâu dài do cách thức mại dâm được xử lý ở các nước khác nhau. "Ngày nay, một cậu bé ở Thụy Điển lớn lên với thực tế rằng mua dâm là phạm pháp. Ngược lại, một cậu bé ở Hà Lan lớn lên với cái nhìn rằng: những phụ nữ ngồi trong cửa sổ có thể được mua như hàng hóa sản xuất hàng loạt. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến lối sống của đứa trẻ khi chúng đã trưởng thành." Sau những vấn nạn mà các "phố đèn đỏ" gây ra, trong những năm gần đây, một số lượng đáng kể các nhà thổ đã bị đóng cửa vì nghi ngờ có hoạt động tội phạm. Thành phố Amsterdam có một kế hoạch đầy tham vọng, có thể sẽ mất nhiều năm, để dẹp bỏ tuyến phố này và chuyển đổi những nhà thổ thành các cửa hàng thời trang, phòng tranh. Năm 2008, chính quyền Amsterdam tuyên bố sẽ đầu tư 21 triệu USD để mua lại các nhà thổ ở đây. Lodewijk Asscher, thành viên Hội đồng thành phố chịu trách nhiệm tài chính cho kế hoạch nói: "Điều gì quan trọng hơn? Sự hấp dẫn đối với các du khách hay là phớt lờ những phụ nữ là nạn nhân của kiểu nô lệ hiện đại". Trong năm 2009, Bộ tư pháp Hà Lan đã công bố kế hoạch đóng cửa 320 khu nhà thổ ở Amsterdam, và 50% trong số 76 quán cà phê bán cần sa ở trung tâm thành phố. 26 quán cà phê trong khu De Wallen sẽ phải đóng cửa từ 1-9-2012 tới 31-8-2015, khách nước ngoài có thể bị cấm vào các quán cà phê cần sa bắt đầu từ 2012 Bộ trưởng Tư pháp đã bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt chịu trách nhiệm về việc đóng cửa các nhà chứa này, ông lý giải quyết định này là do "Amsterdam đang trở thành trung tâm của nô lệ tình dục và các băng nhóm tội phạm đang ráo riết thiết lập các khu nhà chứa để tiến hành rửa tiền." Tạp chí Spectator bình luận: "Phải mất 6 năm cho thị trưởng thừa nhận trước công chúng rằng cuộc thí nghiệm đã trở thành một thảm họa, một thỏi nam châm thu hút nạn buôn bán phụ nữ, buôn bán ma túy và trẻ em vị thành niên... Đối với nhiều người Hà Lan, những lý lẽ của việc hợp pháp hóa mại dâm đã không còn được họ chấp nhận. Nó đã trở thành một thất bại về pháp lý, kinh tế và xã hội; và sự điên rồ đó, cuối cùng, đã đến hồi kết thúc." === Thái Lan === Tại Thái Lan, mại dâm bị luật pháp nghiêm cấm. Đạo luật năm 1960, tiếp đó là Đạo Luật phòng chống mại dâm, BE. 2539 (1996) đã quy định cấm các hành vi mua bán dâm. Mua bán dâm sẽ bị phạt 1 tháng tù và/hoặc 1.000 baht (khoảng 40 USD), mua dâm trẻ em có thể bị tù 6 năm, còn chủ chứa sẽ bị phạt tù 3-15 năm. Mua dâm trẻ em dưới 18 tuổi bị phạt 4-20 năm tù và phạt tiền 80.000 - 100.000 baht. Năm 2003, Bộ Tư pháp Thái Lan đã từng đề xuất thảo luận về việc hợp pháp hóa mại dâm. Tuy nhiên, do vấp phải sự phản đối của dư luận và những lo ngại về hệ lụy xã hội nên đề xuất bị bãi bỏ. Luật là như vậy, nhưng trong thực tế, các nhà thổ lại hoạt động công khai dưới sự bảo kê của Mafia và sự làm ngơ (thậm chí hợp tác bảo kê) của chính quyền địa phương. Sự trái ngược giữa pháp luật và việc thực thi lớn đến nỗi nhiều người lầm tưởng mại dâm ở Thái Lan là hoàn toàn hợp pháp. Ở khía cạnh khác, nó cũng cho thấy sự yếu kém, "tiền hậu bất nhất" của hệ thống pháp luật Thái Lan, và thậm chí là cả sự lũng đoạn chính quyền địa phương của tội phạm có tổ chức. Ước tính có hơn 60 ngàn nhà thổ ở Thái Lan, còn nhiều hơn số trường học ở nước này. Nhìn qua vẻ ngoài quy củ của các phố đèn đỏ, nhiều người nước ngoài cho rằng chính phủ Thái Lan đã tổ chức tốt mại dâm và điều đó sẽ làm giảm tác hại mà mại dâm gây ra (như hối lộ, bảo kê, ma túy...). Nhưng thực tế, những góc khuất tội ác ẩn sau các khu đèn đỏ này khác xa so với họ vẫn tưởng. Chính phủ Thái Lan không hề quản lý các khu đèn đỏ, nắm quyền kiểm soát là các băng đảng tội phạm. Các phố đèn đỏ Thái Lan là nơi ẩn náu an toàn của những thế lực tội phạm khét tiếng như Hội Tam Hoàng hay Yakuza. Cuộc đời của người bán dâm tại Thái Lan thực tế luôn đầy rẫy hiểm nguy, bệnh tật, cũng như phải chịu sự kì thị của cộng đồng vốn thấm nhuần tinh thần Phật giáo (giáo lý đạo Phật lên án chuyện gian dâm ngoài vợ chồng). Về mặt xã hội, ước tính 95% nam giới Thái Lan trên 21 tuổi đã từng quan hệ với gái mại dâm. Một khảo sát năm 1992 cho biết 97% nam thanh niên thường xuyên tìm đến gái mại dâm Tình trạng này tạo nên một tâm lý xã hội coi phụ nữ chỉ như một thứ đồ chơi tình dục cho đàn ông, và đến lượt tâm lý này sẽ kích thích những hành vi tội phạm tình dục. Kết quả là Thái Lan có tỷ lệ hiếp dâm cao nhất Đông Nam Á (~7-8 vụ/100 ngàn dân, gấp 2 lần Philipines, 3 lần Singapore và gấp 5 lần Việt Nam). Nếu coi hành vi mua dâm trẻ em cũng là hiếp dâm thì tỷ lệ hiếp dâm của Thái Lan sẽ còn cao hơn con số trên hàng trăm lần, bởi Thái Lan cũng là điểm đến hàng đầu của những kẻ ấu dâm (thích quan hệ tình dục với trẻ em). Khoảng 310.000 trẻ em gái Thái Lan phải bỏ học mỗi năm, và rất nhiều trong số đó đã đi bán dâm. Về chính thức, quan hệ tình dục với người dưới 18 tuổi là bị cấm, nhưng ước tính vẫn có tới 40% gái mại dâm ở nước này là trẻ em dưới 16 tuổi. Ước tính 55% gái mại dâm Thái Lan bắt đầu bán dâm khi chưa đầy 18 tuổi Thực trạng các quan chức và cảnh sát nhận hối lộ để làm ngơ cho các ổ mại dâm là rất phổ biến. Năm 1997, ước tính có 20-30 nghị sĩ dính líu tới các đường dây mại dâm. Chuwit Kamolvisit, được coi là "ông trùm của mại dâm Thái Lan", nói rằng ông ta đã hối lộ khoảng 1,5 triệu bảng Anh (khoảng 3 triệu đôla) trong suốt 10 năm cho các chính khách và cảnh sát để họ làm ngơ cho việc kinh doanh tình dục của ông ta. Chuwit Kamolvisit sau đó còn dùng tiền thu được từ mại dâm để vận động tranh cử nhằm tìm cách tiến thân vào giới chính trị gia. Marut, một ma cô nổi tiếng ở Pattaya và có liên hệ với Mafia Nga, cho biết: Hơn 60% khách hàng của Marut chính là các quan chức chính phủ, bao gồm cả cảnh sát. Marut gọi đó là "dịch vụ đặc biệt" cho các nhân vật uy quyền. Theo UNODC, Thái Lan là một điểm đến hàng đầu của bọn buôn người làm nô lệ tình dục. Hầu hết phụ nữ bị buôn bán đến từ Myanma, Campuchia, Lào và Trung Quốc. Với đường biên giới dài và hiểm trở của Thái Lan, bọn buôn người có thể dễ dàng vượt biên mà không cần giấy tờ. Phụ nữ từ Thái Lan cũng bị buôn bán tới nhiều nước, đặc biệt là Hà Lan và Đức ở châu Âu, Nhật Bản, Austrlia, Ấn Độ, Malaysia và các quốc gia Trung Đông. Năm 1991, mỗi phụ nữ Thái Lan bị bán cho Mafia Nhật với giá 2.400 - 18.000 USD mỗi người. Năm 2006, một nô lệ tình dục đã trốn thoát sau khi giết chết chủ chứa và tố cáo một đường dây mại dâm do Mafia Nhật (Yakuza) tổ chức, gây chấn động dư luận về sự thực đen tối ẩn sau "những ảo tưởng về hợp pháp hóa mại dâm để kiểm soát" Các khu đèn đỏ ở Thái Lan là tụ điểm của các nhóm tội phạm có tổ chức người Hoa (nhiều nhóm có liên hệ với Hội Tam Hoàng) chuyên buôn người, buôn ma túy và tống tiền. Cảnh sát Thái Lan gọi đó là "Các băng nhóm heo con". Thành phố Pattaya có một ngành công nghiệp tình dục nhiều tỷ đôla với các đường dây chuyên buôn bán ma túy, rửa tiền và buôn bán phụ nữ xuyên quốc gia. Nhiều nhóm tội phạm Nga đã thiết lập hoạt động mại dâm, ma túy và giết mướn ẩn sau các doanh nghiệp hợp pháp như các quán bar và nhà hàng ở Pattaya. Các trang web du lịch thì khuyến cáo du khách phải cẩn thận nếu đi vào các khu đèn đỏ như Patpong bởi những nơi này có tỷ lệ tội phạm tụ tập rất cao, nếu không đề phòng có thể bị lừa hoặc tệ hơn là bị cướp. Bệnh dịch do mại dâm đem lại cũng lan tràn, bệnh AIDS đã trở thành vấn nạn lớn với Thái Lan. Năm 2010, Sở kiểm soát dịch bệnh Thái Lan (DDC) ước tính rằng 40% người bán dâm đã không sử dụng bao cao su. Báo cáo năm 2008 của DDC cho biết có 532.522 người Thái nhiễm HIV, chiếm 1,3% dân số trưởng thành, là tỉ lệ "cao nhất ở châu Á" và thứ 4 thế giới., con số thực có thể còn lớn hơn thế rất nhiều, mà một trong các nguyên nhân chính là do nạn mại dâm gây ra. Đặc biệt, có nhiều chàng trai Thái Lan vì gia cảnh nghèo, đã vay mượn tiền để giải phẫu chuyển giới thành nữ giới để đi bán dâm, trở thành thứ mà người ta gọi là "Thái giám thời hiện đại", và Thái Lan giờ trở thành cái tên gợi cho nhiều người liên tưởng tới "những gã đàn ông bệnh hoạn thích đội lốt nữ giới". Kritaya Archavanitkul, nhà hoạt động vì quyền con người Thái Lan, nói: "Đáng buồn mà nói, cấu trúc xã hội Thái Lan có xu hướng chấp nhận mại dâm. Và có thể, chúng ta có những tổ chức Mafia tham gia vào các đảng phái chính trị, điều này sẽ giúp tệ nạn mại dâm bị lờ đi. Lý do thứ hai là yếu tố văn hóa, ở Thái Lan, hành vi mua dâm của người đàn ông được chấp nhận. Các chính khách, chủ yếu là nam giới, tất nhiên, họ không thấy mại dâm là một vấn đề. Họ biết có nhiều phụ nữ tham gia vào tệ nạn mại dâm ở Thái Lan. Họ biết rằng một số bị đối xử bạo lực và tàn bạo. Nhưng họ không nghĩ rằng đó là một hình ảnh khủng khiếp. Và, bởi vì lợi nhuận béo bở lôi cuốn nhiều người tham gia và cả việc hối lộ, cho nên các chính khách đã nhắm mắt làm ngơ cho tệ nạn này". Một gái bán hoa ở Bangkok có tên Pim cho biết, họ sẽ bị chủ chứa trừng phạt nếu không kiếm đủ khách, đồng thời thường xuyên bị khách mua dâm đe dọa và bạo hành. Họ không dám bỏ trốn vì lũ ma cô dọa sẽ tiết lộ chuyện bán dâm, khiến cho gia đình họ xấu hổ và nhục nhã. Rất nhiều khách làng chơi thích bé gái hoặc thiếu nữ nên những chủ chứa thường tìm cách săn lùng, lừa gạt trẻ vị thành niên từ các ngôi làng nông thôn. Cô cho biết: "Người nước ngoài cho rằng cứ trả tiền là được quan hệ tình dục ở Thái Lan vì cho rằng các cô gái ở đây thực sự muốn làm chuyện đó mà không hiểu rằng, phần lớn gái bán hoa ở đây không có sự lựa chọn nào khác và họ luôn mong được giải thoát". Cuốn tự truyện của Thanadda Sawangduean, 42 tuổi, một phụ nữ Thái Lan từng làm gái mại dâm, đã được trao giải thưởng Chommanard năm 2010. Cô đã bị lừa bán làm gái mại dâm ở Pattaya. Tại mỗi nơi bị lừa tới, cô đều bị đánh đập. Sawangduean cũng từng bị bắt dùng ma túy và tống vào tù do tàng trữ chất gây nghiện. Cô chia sẻ trên Bangkok Post: "Tôi đã lún sâu vào con đường nhơ nhớp và giờ phải chịu những ám ảnh cả về thể xác lẫn tâm hồn. Thông qua cuốn sách, tôi muốn chia sẻ những trải nghiệm cuộc đời và xem đây như một bài học cho những ai đi nhầm đường lạc lối". Ban giám khảo cho biết, cuốn sách đã phản ánh sâu sắc vấn nạn mại dâm mà xã hội Thái đang phải đối mặt. === Bangladesh === Bangladesh là một trong hai quốc gia hiếm hoi ở châu Á hợp thức hóa mại dâm. Là một quốc gia nghèo với hệ thống pháp luật, y tế sơ sài, sự quản lý lỏng lẻo của nhà nước và nạn tham nhũng cao, việc hợp thức hóa mại dâm rốt cuộc chẳng giúp gì cho việc quản lý mà đã gây ra những hậu quả tai hại, còn vượt xa các quốc gia ở trên. Theo thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, trong số 1,8 triệu gái bán dâm vị thành niên trên thế giới, chiếm số đông là những bé gái Bangladesh. Luật pháp nước này quy định, đối tượng này phải trên 18 tuổi, tuy nhiên do sự quản lý lỏng lẻo, đa số những người tham gia bán dâm đều dưới độ tuổi đó. 13 - 15 tuổi là tuổi đời trung bình của kỹ nữ vị thành niên tại Banglades Những gái mại dâm vị thành niên này thường xuất thân từ các gia đình ở nông thôn nghèo khổ. Do không còn lo bị pháp luật trừng trị vì mại dâm đã trở nên hợp pháp, nhiều gia đình vì túng thiếu đã đem bán con mình cho bọn buôn người với giá khoảng 245 USD (gần 5 triệu VND). Sau đó, những kẻ buôn người sẽ bán lại cho chủ nhà chứa vốn cũng từng là gái mại dâm. Gái mại dâm vị thành niên ở Bangladesh chủ yếu làm việc trong các nhà thổ, danh nghĩa là dưới sự quản lý của Nhà nước, nhưng thực tế là bởi các tên ma cô. Trong nhiều khu đèn đỏ ở Bangladesh, nhiều cặp vợ chồng "gái mại dâm - ma cô" đã sinh con. Những đứa con của họ lớn lên do không được giáo dục tốt cũng như các phương tiện sinh nhai khác, con trai lại đi làm ma cô, con gái lại đi bán dâm. Cái vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp diễn hết cha mẹ đến con cái. Ở một nước có hệ thống y tế nghòe nàn như Bangladesh, quy định khám bệnh định kỳ cho gái mại dâm chỉ nằm trên giấy chứ chẳng thể thực hiện được. Bên cạnh đó, để duy trì sự hấp dẫn đối với khách hàng, gái bán hoa tại Bangladesh bị đánh đập, bỏ đói để ép buộc dùng steroid, một loại thuốc được sử dụng để tăng trọng lượng của gia súc. Thuốc sẽ khích thích ngon miệng, làm cho họ tăng cân nhanh chóng để có vẻ ngoài trông khỏe mạnh và nảy nở hơn. Tuy nhiên hậu quả khi dùng thuốc kích thích không thể lường hết được. Chúng làm cơ thể biến dạng và mắc nhiều bệnh nan y khác, như bệnh tiểu đường, cao huyết áp, phát ban da và gây nghiện. Nhiếp ảnh gia GMB Akash là người lặn lội tới những khu đèn đỏ có tiếng tại Bangladesh. Qua những câu chuyện, nhiếp ảnh gia cảm nhận được những nét ngây thơ ẩn sâu trong tâm hồn của các bé gái. Hầu hết trong số đó chán chường với cuộc sống, khát khao được giải thoát khỏi thảm kịch hiện tại để được tới trường, được theo đuổi những nghề nghiệp lương thiện và gây dựng mái ấm gia đình. Nhưng mơ ước đó sẽ không thể thành hiện thực, chừng nào mại dâm vẫn là hợp pháp và các khu đèn đỏ không bị chính phủ triệt phá. === Các nước Trung-Nam Mỹ === Không phải châu Âu mà chính Trung-Nam Mỹ mới là khu vực có nhiều nước hợp pháp hóa mại dâm nhất, với 9 nước là México, Panama, Bolivia, Colombia, Ecuador, Paraguay, Peru, Uruguay, Venezuela. Đây đều là những nước có nạn buôn người diễn ra công khai, sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc và tội phạm lũng đoạn chính quyền là phổ biến, tạo ra một môi trường khai thác tình dục phát triển mạnh. Mại dâm được hợp pháp công khai là kết quả của sự sụp đổ kỷ cương xã hội, sự bất lực của pháp luật và sự thao túng chính quyền của giới tội phạm. Các mạng lưới tội phạm có tổ chức, một số liên quan đến các nhóm vũ trang ly khai cát cứ, chịu trách nhiệm về nạn buôn bán người nô lệ tình dục và các cuộc xung đột vũ trang đã đẩy một số lượng lớn các nạn nhân vào con đường bán dâm. Tại các nước này, pháp luật là rất lỏng lẻo nên việc gian lận hộ chiếu, giấy khám sức khỏe và Giấy khai sinh là rất dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho buôn bán người. Các quy định quản lý mại dâm nhìn chung chỉ là hình thức, chính quyền gần như bất lực trong việc thực hiện. Phụ nữ và trẻ em từ Brazil, Colombia, Peru, Ecuador, Cộng hòa Dominica bị mua bán công khai như nô lệ, "hàng chất lượng" thì bị đưa sang Tây Âu, đặc biệt là Hà Lan (nơi mại dâm cũng là hợp pháp và bọn buôn người sẽ dễ dàng thu lợi). Trong nhiều trường hợp, buôn bán người được công khai trên các tờ báo và hoặc các trung tâm môi giới việc làm trá hình. Ví dụ, ở Colombia, ước tính có trên 35.000 trẻ em bán dâm, từ 5.000-10.000 trong số đó bán dâm trên các đường phố của Bogotá. Chiến tranh và nạn buôn bán ma túy đã phá hủy cấu trúc gia đình, khiến trẻ em không có nơi an toàn và được nuôi dưỡng. Cuộc chiến cũng đã gây ra sự ly tán của vô số gia đình, một số trẻ em đã bị binh lính bắt đi làm nô lệ tình dục. Colombia cũng là một điểm đến hàng đầu cho du lịch tình dục trẻ em, đặc biệt là các thành phố ven biển như Cartagena và Barranquilla. Nhiều nạn nhân từ chối nhận hỗ trợ trong việc truy tố kẻ buôn người vì họ sợ bị trả thù, bởi thế lực của tội phạm ở đây là rất lớn, ngay cả chính quyền cũng bị chúng lũng đoạn. Tại Bolivia, độ tuổi trung bình của gái mại dâm là 16. Các vấn đề mại dâm trẻ em trở nên trầm trọng hơn bởi sự thi hành pháp luật kém cỏi, các cuộc tấn công của cảnh sát hầu hết là không hiệu quả Ở Ecuador, mại dâm trẻ em cũng lan tràn rộng. Báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế năm 2002 ước tính có 5.200 trẻ vị thành niên đã tham gia mại dâm. Nhiều gái mại dâm trẻ em đã bị bỏ rơi hoặc mồ côi, một số gia đình nghèo khó còn bán con đi làm gái mại dâm. Hơn một nửa số gái mại dâm là ở trong các cơ sở bất hợp pháp. Các nạn nhân thường là trẻ em bị bắt cóc, bị cha mẹ bán cho lũ buôn người, hoặc bị bọn buôn người lừa vào nhà thổ bằng các cơ hội việc làm giả. Những trẻ em này lần đầu bị ép bán dâm ở tuổi trung bình là 12. === Tổng kết === Tiến sĩ Janice G. Raymond, thuộc Liên minh phòng chống buôn bán phụ nữ quốc tế (CATW), thông qua số liệu thực tế thu thập tại các nước đã hợp pháp hóa mại dâm (Đức, Hà Lan, Úc), cũng như qua phỏng vấn trực tiếp, đã liệt kê 10 thất bại và tác hại của biện pháp hợp thức hóa mại dâm: Tạo cơ hội cho bọn ma cô buôn người, thúc đẩy buôn bán nô lệ tình dục. Ví dụ Đức, Thái Lan, Hà Lan, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ (đều là những nước có mại dâm công khai) là các điểm đến hàng đầu của tệ nạn buôn người. Hợp pháp hóa không thể giúp kiểm soát được mại dâm mà chỉ khiến nó lan tràn thêm. Tiền thuế mà nhà nước thu được rất ít, mà phần lớn chui vào túi mafia, trong khi chi phí bỏ ra để duy trì hệ thống "phố đèn đỏ" và y tế cho gái bán dâm, cũng như truy quét các loại tội phạm "ăn theo mại dâm" (như ma túy, trộm cướp...) lại rất lớn. Nhà nước thu được 1 đồng thuế thì lại phải chi ra vài đồng vì những tác hại gây ra. Làm gia tăng "mại dâm chui, gái đứng đường" không giấy phép (do gái bán dâm không muốn phải nộp thuế và bị quản lý), kéo theo đó là bạo lực đường phố và làm giả giấy phép. Rốt cuộc lại tồn tại song hành cả "mại dâm hợp pháp" lẫn "mại dâm bất hợp pháp", việc truy quét vẫn cứ phải tiến hành như trước trong khi việc quản lý càng rắc rối hơn (vì khó có thể xác minh gái mại dâm có hay không có giấy phép hành nghề, giấy phép đó là thật hay giả). Làm gia tăng nạn mại dâm trẻ em. Không còn sợ bị pháp luật trừng trị, nhiều em bị gia đình bán vào nhà thổ, nhiều em khác sẵn sàng tham gia bán dâm để kiếm tiền tiêu xài khi không được cha mẹ đáp ứng. Không giúp bảo vệ gái mại dâm, họ vẫn bị đối xử tàn nhẫn. Bởi thực tế, các trùm tội phạm mới là kẻ thực sự điều khiển lĩnh vực này. Các quy định bảo vệ mà chính phủ đề ra chỉ là trên giấy, hiếm khi tồn tại trên thực tế. Làm tăng nhu cầu mại dâm. Việc không còn bị pháp luật chế áp, răn đe khiến cho đàn ông (nhất là thanh niên trẻ) không còn lo sợ và càng có nhu cầu mua dâm ở quy mô rộng lớn hơn nhiều, khiến kỷ cương xã hội rối loạn, làm hư hỏng đạo đức thanh thiếu niên và đe dọa hạnh phúc mỗi gia đình. Không giúp bảo vệ sức khỏe của phụ nữ. Theo thống kê, phần lớn khách hàng nam giới không tuân thủ quy định về an toàn khi quan hệ, gái mại dâm phải chịu đựng để giữ khách mà không hề có cảnh sát nhắc nhở như chính phủ từng hứa hẹn. Không tăng cường sự lựa chọn nghề nghiệp của phụ nữ, mà còn khiến nhiều người bị lũ tội phạm (thậm chí gia đình mình) đẩy vào con đường này để kiếm lợi từ thân xác họ. Chính các phụ nữ mại dâm đa phần không muốn hợp pháp hóa ngành công nghiệp tình dục. Họ cảm thấy tủi hổ, bị xa lánh khi tên tuổi mình bị thông báo công khai. Họ đều xem đó là con đường nhục nhã, đã tước đoạt sức khỏe, danh dự và cuộc đời họ, và không muốn con em mình lại sa vào con đường này. Cuối cùng bà kết luận: "Hợp pháp hóa mại dâm chỉ làm trầm trọng thêm những vấn nạn của nó. Đó chỉ là sự thoái thác trách nhiệm của chính phủ trước những vấn nạn mà mại dâm gây ra cho con người và xã hội". Theo điều tra, nhiều phụ nữ các nước (trong đó có Việt Nam) đã bị bọn buôn người lừa bán để làm nô lệ tình dục, họ bị đối xử rất tàn nhẫn. Nhiều người chỉ mong bị công an nước sở tại bắt trong những cuộc truy quét mại dâm và trục xuất. Đó là cách duy nhất họ có thể trở về quê hương và thoát khỏi sự kìm kẹp kinh hoàng của những kẻ buôn người. Theo Ủy ban Tư pháp Quốc hội Việt Nam, từ 2006-2010 cả nước đã phát hiện 1586 vụ mua bán người, nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, phần lớn là để phục vụ mại dâm, đã giải cứu và tiếp nhận được hơn 4000 nạn nhân. Nhưng nếu mại dâm được hợp pháp hóa, những kẻ kinh doanh xác thịt sẽ chẳng còn bị truy quét, và sẽ không còn lối thoát cho những nạn nhân buôn người đó nữa. Theo GS-TS An ninh Nguyễn Xuân Yêm, các đồng nghiệp cảnh sát quốc tế (Interpol) khi trao đổi cho biết, mặc dù chính phủ một số nước đã lựa chọn các phương pháp quản lý mại dâm, nhưng trong xã hội có rất nhiều ý kiến bất bình vì phương pháp này sẽ gây nguy hại lớn tới xã hội và đạo đức. Năm 2004, chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố: "Chính phủ Hoa Kỳ có một lập trường vững chắc chống lại đề nghị hợp pháp hóa mại dâm, vì mại dâm trực tiếp góp phần vào việc buôn bán nô lệ hiện đại và chà đạp lên phẩm giá con người. Việc hợp pháp hóa hoặc dung túng cho mại dâm là tiếp tay cho nạn buôn người." == Mô hình Thụy Điển về phòng chống mại dâm == Thụy Điển là nước đứng hàng đầu thế giới về kinh tế, chỉ số phát triển con người và bình đẳng xã hội. Đảng Dân chủ xã hội cầm quyền từ năm 1920 đã thành lập một hệ thống pháp chế chính trị và xã hội tiến bộ và góp phần làm rõ nét "mô hình xã hội chủ nghĩa theo kiểu Thụy Điển", luôn chú trọng thực hiện an sinh xã hội, phát triển văn hóa và bài trừ các loại tệ nạn xã hội, trong đó có mại dâm. Ngày 1/1/1999, Thụy Điển trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới chống mại dâm theo một phương cách mới. Thay vì phạt người bán dâm, chính phủ Thụy Điển sẽ trừng phạt những người mua dâm với mức hình phạt nặng. Ngày bộ luật được thông qua, một nghị sĩ phát biểu: "Tôi tin rằng trong 20 năm nữa, quyết định ngày hôm nay sẽ được mô tả như là bước nhảy vọt lớn trong công cuộc chống lại bạo lực đối với phụ nữ". Chính phủ Thụy Điển tuyên bố đấu tranh không khoan nhượng với nạn mại dâm, và lý giải tầm quan trọng xã hội của việc chống tệ nạn mại dâm: Mại dâm gây ra tác hại nghiêm trọng cho mỗi cá nhân cũng như toàn thể xã hội. Tội phạm có tổ chức, bao gồm cả buôn người cho mục đích tình dục, buôn bán ma túy, cũng thường liên quan đến mại dâm.(...) Bộ luật là một phần trong chương trình thực hiện bình đẳng giới ở Thụy Điển. Chính phủ Thụy Điển tin rằng mãi dâm là một hình thức bạo lực chống lại phụ nữ, cần phải được loại bỏ bằng cách giảm "cầu", tức phải phạt nặng "khách hàng" - người mua dâm. Công dân Thụy Điển bị bắt gặp mua dâm tại nhà hay ở nước ngoài đều bị phạt 5.000 USD hoặc ngồi tù 6 tháng (năm 2011 đã nâng lên thành 12 tháng tù),tái phạm có thể bị tù 4 năm. Chính phủ còn thiết lập cả hệ thống camera giám sát tại các "điểm nóng". Cảnh sát cũng cho công khai danh tính kẻ mua dâm ở nơi công cộng để họ phải cảm thấy hổ thẹn mà không dám tái phạm. Chính phủ Thụy Điển tuyên bố "không có nhu cầu của đàn ông và việc sử dụng phụ nữ và trẻ em gái cho việc khai thác tình dục thì mại dâm toàn cầu không thể phát triển và mở rộng" Ngoài ra chính phủ sẽ cung cấp những khoản phúc lợi xã hội để gái bán dâm có thể thoát khỏi con đường này, cũng như tuyên truyền vận động để người dân hiểu rõ tác hại và tẩy chay mại dâm. Tất cả các trường trung học đều triển khai các biện pháp tuyên truyền để giáo dục học sinh về vấn đề mại dâm, rằng mua dâm là hành vi bất hợp pháp và trái đạo đức. Cách tiếp cận pháp lý này đã trở thành thứ được gọi là "Mô hình Thụy Điển" hay gần đây là "Mô hình Bắc Âu", là một phần trong chủ nghĩa nữ quyền cấp tiến, rất nổi bật ở Thụy Điển. Mô hình này nhận được sự ủng hộ lớn từ các tổ chức chống buôn người, và các đại diện ở cấp độ cao hơn như Liên minh châu Âu và Liên Hợp Quốc Sau 10 năm tiến hành, mô hình thu được kết quả ấn tượng. Sợ bị pháp luật trừng phạt cũng như nhận thức về tác hại của mại dâm được nâng cao, số nam giới Thụy Điển đi mua dâm giảm hẳn. Vì lượng khách mua dâm sụt xuống quá thấp nên số gái bán dâm cũng tự động giảm theo. Năm 1995, chính phủ Thụy Điển đã ước tính rằng có 2.500 - 3.000 gái mại dâm tại Thụy Điển (SOU 1995:15), trong đó có 650 là gái đứng đường. Năm 2008, báo cáo của Viện Giới Tính Bắc Âu (NIKK) cho thấy chỉ còn khoảng 300 gái mại dâm đường phố, và 300 phụ nữ và 50 nam giới bán dâm tại nhà. Dữ liệu tương tự từ Đan Mạch, nơi mại dâm không bị cấm, cho thấy có ít nhất 5.567 người bán dâm. So với Đan Mạch, số gái mại dâm của Thụy Điển chỉ bằng 1/10, trong khi Thụy Điển có dân số cao gần gấp đôi Đan Mạch. So sánh với Đức, quốc gia hợp pháp hóa mại dâm để rồi có tới hơn 400.000 gái bán hoa thì con số càng trở nên tương phản. Hơn nữa, báo cáo cho thấy số nam giới từng đi mua dâm Thụy Điển đã giảm từ 12,7% năm 1996 xuống còn 7,6% vào năm 2008 Nạn buôn người cũng gần như không tồn tại được ở Thụy Điển. Năm 2007, theo cảnh sát Thụy Điển, chỉ có từ 400 đến 600 phụ nữ nước ngoài được đưa đến Thụy Điển mỗi năm làm gái mại dâm, trong khi Phần Lan, dân số chỉ bằng một nửa Thụy Điển, con số đó lên tới 10.000-15.000 phụ nữ, hoặc ở Đức con số này là 40.000. Cuộc thăm dò dư luận đã cho thấy sự ủng hộ của công chúng: các cuộc thăm dò thực hiện bởi viện nghiên cứu xã hội, SIFO, cho thấy 81% người dân ủng hộ luật này, chỉ 14% là không ủng hộ. Trong khảo sát năm 2008 được thực hiện bởi NIKK (xem ở trên), 71% người Thụy Điển cho biết họ ủng hộ luật cấm quan hệ tình dục vì tiền. Năm 2005, khảo sát tiến hành trực tuyến của Durex đã chỉ ra rằng trong số 34 quốc gia được khảo sát, Thụy Điển có tỷ lệ người tham gia mua dâm thấp nhất (3% những người trả lời câu hỏi gồm cả nam giới và phụ nữ). Nhờ hiệu quả thu được, năm 2009, các đạo luật tương tự đã được thông qua tại Na Uy và Iceland. Năm 2014, Canada cũng áp dụng biện pháp trừng phạt nặng khách mua dâm, theo đó mại dâm bị nhà nước coi là một hình thức bóc lột tình dục chống lại phụ nữ, và hiện đang diễn ra các cuộc vận động tại các nước khác như Đan Mạch, Úc. Những công dân Na Uy bị bắt gặp mua dâm tại nhà hay ở nước ngoài đều phải đối mặt với một khoản tiền phạt lớn hoặc ngồi tù 6 tháng. Nếu mua dâm trẻ em sẽ có thể phải ngồi tù đến 3 năm. Chỉ 1 năm sau, khảo sát ở Bergen, Na Uy cho thấy số lượng gái mại dâm đường phố đã giảm 20%, gái bán dâm trong nhà giảm 16%, số lượng quảng cáo của gái bán dâm giảm đi 60%. Năm 2013, báo cáo của chính phủ Pháp đã khẳng định "hoạt động lén lút của gái mại dâm không thể phát triển mạnh hơn nếu áp dụng việc trừng phạt khách hàng" và đã đưa ra ví dụ là sự thành công của Thụy Điển. Ngày 6/4/2016, chính phủ Pháp thông qua luật cấm mua dâm, ai vi phạm sẽ bị phạt 3.750 euro. Cùng với xử phạt nặng, chính phủ Pháp cũng sẽ có biện pháp tìm việc làm cho gái bán dâm. Như vậy, Pháp trở thành nước châu Âu thứ năm trừng phạt nặng hành vi mua dâm, cùng với Thụy Điển, Na Uy, Iceland, và Anh. Bà Yael Mellul - Chủ tịch Hiệp hội Phái nữ Tự do lý giải: . ùng với Thụy Điển, Pháp đã nhận ra khách mua dâm là nguyên nhân tạo ra và là yếu tố chính trong thị trường mại dâm. Nếu không có khách mua dâm, sẽ không có thị trường mại dâm, do đó cũng sẽ không có tú ông, tú bà hay buôn bán phụ nữ == Tham khảo == Marcel Feige: DAS LEXIKON DER PROSTITUTION - Das ganze ABC der Ware Lust (Thuật ngữ mại dâm – Toàn bộ ABC của món hàng ham muốn, Schwarzkopf & Schwarzkopf Verlag, Berlin 2005, ISBN 3-89602-520-1 Marcel Feige: Lude! – Ein Rotlicht-Leben (Cuộc đời trong giới đèn đỏ), Schwarzkopf & Schwarzkopf Verlag, Berlin 2006, Taschenbuch, ISBN 3-89602-708-5 Marcel Feige: Die Wa(h)re Lust, Zwanzig Zuhälter, Prostituierte und Freier erzählen (Món hàng ham muốn, Chuyện kể của 20 người ma cô, mại dâm và mãi dâm), Schwarzkopf & Schwarzkopf, Verlag, Berlin 2004, ISBN 3-89602-487-6 Felix Ihlefeld: Abenteuer Hure (Phiêu lưu làm điếm), Schwarzkopf & Schwarzkopf Verlag, Berlin 2005, ISBN 3-89602-430-2 Lisa Moos: Das erste Mal und immer wieder (Lần đầu tiên và mãi mãi), Schwarzkopf & Schwarzkopf Verlag, Berlin, ISBN 3-89602-656-9 Néstor O. Perlongher: O negócio do michê. Prostituição viril am São Paulo, Editora Brasiliense, Sao Paulo 1987 Néstor O. Perlongher: La prostitución masculina, Ed. de la Urraca, Buenos Aires 1993, ISBN 950-9265-28-4 John Preston: Hustling. Gentleman's guide to the fine art of homosexual prostitution, Masquerade Books, New York 1994, ISBN 1-56333-137-3 Laura Ibis: Im Rotlicht tanzend. Erzählungen und Gedichte einer Prostituierten aus dem Revier (Múa trong giới đèn đỏ. Chuyện kể và thơ của một người mại dâm từ trong khu phố), Unser-Forum-Verlag, Dortmund 1996, ISBN 3-9805117-2-3 Juanita Henning: Kolumbianische Prostituierte in Frankfurt. Ein Beitrag zur Kritik gängiger Ansichten über Frauenhandel und Prostitution (Mại dâm người Columbia. Một đóng góp về phê bình những quan niệm thông thường về buôn bán phụ nữ và mại dâm), Lambertus-Verlag, Freiburg/B. 1997, ISBN 3-7841-0990-X Vera Jost: Fliegen oder Fallen. Prostitution als Thema in Literatur von Frauen im 20. Jahrhundert (Bay lên hay rớt xuống. Mại dâm như là đề tài trong văn học của phụ nữ trong thế kỷ 20.), Helmer, Königstein/Taunus 2002, ISBN 3-89741-109-1 Tamara Domentat: Laß dich verwöhnen. Prostitution in Deutschland (Hãy để (tôi) chiều chuộng (anh). Mại dâm tại Đức), Aufbau-Verlag, Berlin 2003, ISBN 3-351-02550-5 Roland Girtler, Der Strich - Soziologie eines Milieus (Mại dâm – Xã hội học một giới xã hội) Mai, LIT Verlag, Wien 2004 Elisabeth von Dücker (Hrsg.): Sexarbeit. Prostitution - Lebenswelten und Mythen (Nghề tình dục. Mại dâm – Thế giới sống và thần thoại), Edition Temmen, Bremen 2005, ISBN 3-86108-542-9 == Đọc thêm == Mại dâm ở Việt Nam Mãi dâm Gái mại dâm Mại dâm nam Du lịch tình dục (Sex Tour ở Thái Lan) Mại dâm trẻ em Ái nhi Ấu dâm Bia ôm AIDS == Chú thích == == Liên kết ngoài == Mại dâm tại Từ điển bách khoa Việt Nam Prostitution tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Mại dâm Pháp lệnh phòng, chống mại dâm Nghị quyết số 5/CP về ngăn chặn và chống tệ nạn mại dâm Mãi dâm được hợp pháp hoá...còn nhiều vấn đề Kinh tế học về mại dâm DỰ TRẦN, báo Tuổi Trẻ 30/06/2012 00:01 GMT+7
đông âu.txt
Đông Âu hoặc Khối Đông Âu là một khái niệm chính trị xã hội chủ yếu bị ảnh hưởng bởi Chiến tranh lạnh -là yếu tố chính tạo ra biên giới của nó. Biên giới của nó được củng cố hữu hiệu trong các giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai (sau Hội nghị Yalta) và bao trùm tất cả các quốc gia nằm dưới quyền ảnh hưởng và kiểm soát của Liên Xô, liên kết bởi các liên minh -liên minh quân sự (Khối Warszawa) và liên minh kinh tế (khối SEV hay còn gọi là Hội đồng Tương trợ Kinh tế). Vì các quốc gia này theo chế độ cộng sản và nằm ở phía đông của châu Âu, với ranh giới là dãy Ural và Kavkaz nên chúng được sắp xếp một cách tự nhiên thành các quốc gia Đông Âu. Tuy nhiên định nghĩa này đã dần lỗi thời sau những biến động to lớn ở Đông Âu và Liên Xô trong những năm 1988 - 1991, khi mà Đông Đức đã nhập vào trong Tây Đức qua cuộc thống nhất nước Đức, và trở thành một phần của Tây Âu và Khối Đông Âu đã bị tan vỡ và cùng theo với sự tan vỡ này, các liên minh trên tuyên bố tự giải thể. Theo cách sử dụng và nhận thức thông thường, Đông Âu trước đây (và bây giờ theo quy mô hẹp hơn) khác với Tây Âu vì những dị biệt về văn hoá, chính trị, và kinh tế và biên giới của nó có chút liên quan tới yếu tố địa lý. Dãy núi Ural là biên giới địa lý rõ ràng của Đông Âu, vậy Đông Âu là phía đông dãy Ural. Tuy nhiên đối với Tây phương, biên giới tôn giáo và văn hóa giữa Đông và Tây Âu có sự nằm chồng lên nhau đáng kể và quan trọng nhất là sự thay đổi bất thường trong lịch sử khiến việc hiểu về nó một cách chính xác gặp phải đôi chút khó khăn. Đông Âu gồm có: Lãnh thổ châu Âu của Nga, một quốc gia liên châu. Các quốc gia Baltic: Estonia Latvia Litva. Phần lớn các nước Balkan, trừ Hy Lạp được xem là một phần của Tây Âu, và lãnh thổ châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ thường thì không tính vào. Slovenia Croatia Bosna và Hercegovina Serbia Montenegro Macedonia Albania Bulgaria Các quốc gia khác: Ba Lan Cộng hòa Séc Slovakia Hungary Belarus Ukraina România Moldova. == Định nghĩa địa lý của Liên hiệp quốc == Đối với Liên hiệp quốc, Đông Âu cũng là một tiểu vùng địa lý của châu Âu nhưng ít biết đến hơn và hạn chế hơn, chỉ bao gồm các quốc gia sau đây: Phần châu Âu của Nga, một quốc gia liên châu Bulgaria Ba Lan Cộng hòa Séc Slovakia Hungary Belarus Ukraina România Moldova == Lịch sử == === 1989 đến nay === Khi Bức màn sắt sụp đổ vào năm 1989, địa thế chính trị của khối Đông Âu, cũng như toàn thế giới, thay đổi. Khi nước Đức thống nhất, Đông Đức nhập vào Tây Đức 1990. Trong năm 1991, Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON), Khối Warszawa, và liên Xô tan rã. Nhiều quốc gia Âu Châu mà là một phần của Liên Xô đã đạt lại được quyền độc lập của họ (Belarus, Moldova, Ukraina, cũng như cá nước Baltic Latvia, Litva, và Estonia). Tiệp Khắc tách ra thành Cộng hòa Séc và Slovakia trong năm 1993. Nhiều quốc gia trong vùng này đã nhập vào Liên Minh Âu Châu, như Bulgaria, the Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Romania, và Slovakia. == Xem thêm == Bắc Âu Đông Nam Âu Mở rộng Liên hiệp châu Âu == Tham khảo và ghi chú ==
nghiên cứu định tính.txt
Nghiên cứu định tính là một phương pháp điều tra được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, không chỉ trong các ngành khoa học truyền thống mà còn trong nghiên cứu thị trường và các bối cảnh khác.. Nghiên cứu định tính nhằm mục đích thu thập một sự hiểu biết sâu sắc về hành vi con người và lý do ảnh hưởng đến hành vi này. Các phương pháp định tính điều tra lý do tại sao và làm thế nào trong việc ra quyết định, không chỉ trả lời các câu hỏi cái gì, ở đâu, khi nào. Do đó, các mẫu nhỏ tập trung thường được sử dụng nhiều hơn hàng loạt mẫu lớn. Trong quan điểm thông thường, phương pháp định tính chỉ cung cấp thông tin trong những trường hợp đặc biệt được nghiên cứu, và bất cứ các kết luận tổng quát nào chỉ là các mệnh đề (xác nhận thông tin). Phương pháp định lượng sau đó có thể được sử dụng để tìm kiếm sự hỗ trợ thực nghiệm cho giả thuyết nghiên cứu này. == Lịch sử == Trong những năm 1900, một số nhà nghiên cứu bác bỏ chủ nghĩa thực chứng, những quan niệm lý thuyết rằng có một thế giới khách quan mà chúng ta có thể thu thập dữ liệu từ việc “xác minh” dữ liệu này thông qua thực nghiệm. Các nhà nghiên cứu chấp nhận một mô hình nghiên cứu định tính, cố gắng thực hiện nghiên cứu định tính là “nghiêm ngặt” như nghiên cứu định lượng và tạo ra vô số các nghiên cứu định tính. Trong những năm 1970 và 1980, tăng dần việc có mặt khắp nơi của máy tính trong phân tích định tính, một số ghi chép với việc tập trung định tính xuất hiện, và hậu thực chứng luận được công nhận trong các học viện. Vào cuối những năm 1980, câu hỏi về đồng nhất thức tăng lên, bao gồm các vấn đề chủng tộc, giai cấp và giới tính, dẫn đến nghiên cứu và ghi chép trở nên có nhiều phản ứng. Trong suốt những năm 1990, khái niệm về tính thiếu chủ động: quan sát/ nghiên cứu đã bị từ chối, và nghiên cứu định tính trở nên tăng yếu tố tham gia và hoạt động theo định hướng. Ngoài ra, trong thời gian này, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng cách tiếp cận các phương pháp hỗn hợp, cho thấy mỗi sự thay đổi trong suy nghĩ của phương pháp định tính và định lượng như bản chất xung khắc. Tuy nhiên lịch sử này không phải là chính tị, vì điều này mở ra một nền “chính tị” và những gì có thể được tính là nghiên cứu “khoa học” trong học thuật, một cuộc tranh luận đang diễn ra hiện nay ở các học viện. == Thu thập dữ liệu == Các nhà nghiên cứu định tính phải đối mặt với nhiều sự lựa chọn liên quan đến thu thập dữ liệu khác nhau, từ căn cứ thực hành lý thuyết, truyền đạt, kể chuyện, dân tộc học cổ điển, hoặc những điều mờ ảo. Hiện nay, phương pháp định tính cũng là một cách không chặt chẽ trong phương pháp tiếp cận khác, chẳng hạn như nghiên cứu hành động hoặc lý thuyết mạng lưới diễn viên. Các phương pháp phổ biến nhất là các cuộc phỏng vấn nghiên cứu định tính, nhưng hình thức của các dữ liệu thu thập được cũng có thể bao gồm các cuộc thảo luận nhóm, quam sát ghi chép hiện trường phản ánh, văn bản khác nhau, hình ảnh và các tài liệu khác. Nghiên cứu định tính thường phân loại dữ liệu vào mô hình như là cơ sở ban đầu cho việc tổ chức và báo cáo kết quả. Nghiên cứu định tính thường dựa vào các phương pháp sau đây để thu thập thông tin: tham gia vào các quan sát, không tham gia quan sát, ghi chép hiện trường, phản ứng của các ghi chép, phỏng vấn có câu trúc, phỏng vấn không cấu trúc và phân tích các tài liệu và các tư liệu. Các thức tham gia và quan sát có thể rất khác nhau từ thiết lập đến thiết lập. Quan sát tham dự là một chiến lược tiếp thu phản xạ, không phải là một phương pháp duy nhất để quan sát. Trong quan sát tham dự, các nhà nghiên cứu thường trở thành thành viên của một nền văn hóa, nhóm, hoặc sự bố trí và có vai trò để phù hợp với sự bố trí đó. Khi thực hiện theo cách này, mục đích là cho các nhà nghiên cứu đạt được một cái nhìn gần hơn vào nền văn hóa của thực hành, động lực và cảm xúc. Có ý kiến cho rằng khả năng của nhà nghiên cứu để hiểu được những kinh nghiệm của các nên văn hóa có thể bị gượng gạo nếu họ quan sát mà không tham gia. Các dữ liệu thu được sắp xếp hợp lý cho một chủ đề hoặc mô hình nhất định. Điều này là tiếp tục làm việc giả thuyết nghiên cứu thay thế được tạo ra mà cuối cùng cung cấp cho các cơ sở của báo cáo nghiên cứu. Một số phương pháp định tính đặc biệt là việc sử dụng các nhóm tập trung và các cuộc phỏng vấn. Các kỹ thuật liên quan đến một nhóm tập trung điều hành tạo điều kiện cho một cuộc thảo luận nhóm nhỏ giữa các cá nhân được lựa chọn vào một chủ đề cụ thể. Đây là một phương pháp đặc biệt phổ biến trong nghiên cứu thị trường và thử nghiệm các sáng kiến mới với người sử dụng/ người dùng. Trong lĩnh vực nghiên cứu các hộ gia đình, một chủ đề gây tranh cãi là liệu các cuộc phỏng vấn nên được tiến hành riêng lẻ hoặc tập thể (ví dụ như nhiều cuộc phỏng vấn). Một hình thức truyền thống và chuyên nghiên cứu định tính được gọi là thử nghiệm về nhận thức hoặc kiểm tra thử nghiệm được sử dụng trong việc phát triển các mặt hàng khảo sát định lượng. Các mặt hàng khảo sát được thực hiện thí điểm trên đối tượng nghiên cứu đẻ kiểm tra độ tin cậy và tính hợp lệ của các mặt hàng. Có phương pháp nghiên cứu khác nhau, hoặc thiết kế nghiên cứu, các nhà nghiên cứu định tính sử dụng. Trong các ngành khoa học xã hội, các phương pháp nghiên cứu định tính thường xuyên được sử dụng bao gồm những điểm sau đây: Nghiên cứu định lượng cơ bản/tổng quát/ thực tế trong đó có sử dụng phương pháp chiết đa dạng gần như mức độ chấp nhận phù hợp nhất các câu hỏi nghiên cứu dưới sự kiểm soát. Nghiên cứu dân tộc học: phương pháp này còn gọi là “ ngành nghiên cứu cấu trúc tương tác xã hội” hay “phương pháp của nhân dân”. Một ví dụ về nghiên cứu về nghiên cứu dân tộc học ứng dụng là nghiên cứu của một nền văn hóa đặc biệt và sự hiểu biết của họ về vai trò của một bệnh đặc biệt trong khuôn khổ văn hóa của họ. Lý thuyết căn cứ là một loại quy nạp của nghiên cứu, nguyên tắc cơ bản hoặc “có cơ sở” trong các quan sát hoặc dữ liệu, bao gồm cả dữ liệu định lượng, xem xét hồ sơ, phỏng vấn, quan sát và khảo sát. Hiện tượng mô tả “thực tế chủ quan” của một sự kiện, như cảm nhận của quần thể nghiên cứu, nó là nghiên cứu về một hiện tượng. Nghiên cứu triết học được tiến hành bởi các chuyên gia lĩnh vực trong phạm vi ranh giới của một lĩnh vực cụ thể của nghiên cứu, nghề nghiệp, các cá nhân đủ điều kiện tốt nhất trong bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu sử dụng một phần tích trí tuệ, để làm rõ ràng các định nghĩa, xác định đạo đức, hoặc đưa ra đánh giá giá trị liên quan đến một vấn đề trong lĩnh vực của họ nghiên cứu cuộc sống của họ. Nghiên cứu xã hội quan trọng, được sử dụng bởi một nhà nghiên cứu để hiểu ác mọi người giao tiếp và phát triển ý nghĩa tượng trưng. Yêu cầu của đạo đức, trí tuệ phân tích các vấn đề đạo đức, nó bao gồm các nghiên cứu về đạo đức như liên quan đến nghĩa vụ, quyền, trách nhiệm, đúng sai, lựa chọn... Nghiên cứu nền tảng, khảo sát nền móng cho một khoa học, phân tích các tín ngưỡng và phát triển những cách để chỉ định cách một cơ sở tri thức cần thay đổi trong ánh sáng của những thông tin mới. Nghiên cứu lịch sử cho phép một thảo luận về các sự kiện trong quá khứ và hiện tại trong bối cảnh các điều kiện hiện tại, và cho phép một để phản ánh và cung cấp câu trả lời cho những vấn đề hiện tại và các vấn đề. Nghiên cứu lịch sử giúp chúng ta trả lời các câu hỏi như: chúng ta đến từ đâu, chúng ta ở đâu, hiện chúng ta đang là ai và chúng ta đang đi đến đâu? Hình ảnh dân tộc học. Nó sử dụng phương pháp trực quan về thu thập dữ liệu, bao gồm cả hình ảnh, âm thanh, suy luận hình ảnh, tổng hợp, suy ra và sắp xếp. Những kỹ thuật này đã được sử dụng rộng rãi như là một kỹ thuật định tính có sự tham gia để tăng tính kỳ lạ mật thiết. Nghiên cứu dân tộc học, nghiên cứu bản thân là một phương pháp nghiên cứu định tính trong đó các nhà nghiên cứu sử dụng các kinh nghiệm cá nhân của mình để giải quyết vấn đề. == Phân tích dữ liệu == === Kỹ thuật giải mã dữ liệu === Các tính chất phổ biến nhất của dữ liệu định tính là quan sát ấn tượng. Đó là các chuyên gia hoặc người đứng ngoài quan sát kiểm tra dữ liệu, giải thích nó thông qua hình thành một ấn tượng và báo cáo ấn tượng của họ trong một hình thức cấu trúc và thỉnh thoảng là mẫu định lượng. === Mã hóa === Mã hóa là một kỹ thuật diễn giải rằng cả hai cấu tạo dữ liệu và cung cấp một giá trị trung bình để đưa ra các giải thích của nó vào phương pháp định lượng nhất định. Hầu hết các mã hóa đòi hỏi các nhà phân tích để đọc dữ liệu và phân chia ranh các phần trong đó, có thể được thực hiện tại một thời điểm khác nhau trong suốt quá trình. Mỗi phần được gắn nhãn với một đoạn “mã” – thường là một từ hoặc một cụm từ ngắn cho thấy làm thế nào liên quan phân đoạn dữ liệu thông báo cho các mục tiêu nghiên cứu. Khi mã hóa hoàn tất, các nhà phân tích lập báo cáo thông qua một kết hợp của: tổng hợp các đoạn mã phổ biến, thảo luận về sự tương đồng và khác biệt trong các đoạn mã có liên quan trong nguồn đầu tiên khác biệt/ bối cảnh, hoặc so sánh mối quan hệ giữa một hoặc nhiều mã. Một số dữ liệu định tính có cấu trúc cao (ví dụ, phản ứng gần kết thúc của các cuộc điều tra hoặc các câu hỏi phỏng vấn được định nghĩa chặt chẽ) thường được mã hóa mà không phân đoạn bổ sung của nội dung. Trong những trường hợp này, mã hóa thường được áp dụng như một sắp xếp cao nhất của dữ liệu. Phân tích định lượng của các mã thường là bước phân tích các bài toán thực tế cho loại dữ liệu định tính. Phân tích dữ liệu định tính hiện đại đôi khi được hỗ trợ bởi chương trình máy tính còn được gọi là phần mềm phân tích dữ liệu máy tính hỗ trợ. Các chương trình này không thay thế bản chất của giải mã mà là nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của phân tích của lưu trữ dữ liệu/ sự phục hồi và trong việc áp dụng các mã cho dữ liệu. Nhiều chương trình cung cấp hiệu quả trong việc soạn thảo và chỉnh sửa đoạn mã, trong đó cho phép chia sẻ công việc, thẩm định, kiểm tra và đệ quy dữ liệu. Phàn nàn thường xuyên của phương pháp mã hóa là nó tìm cách biến đổi dữ liệu định tính vào dữ liệu thực nghiệm có giá trị, trong đó có chứa: phạm vi giá trị thực tế, tỷ lệ cơ cấu, tỷ lệ tương phản và tính khách quan khoa học, qua đó dỡ bỏ các dữ liệu đa dạng của nó, phong phú và đặc điểm cá nhân. Các nhà phân tích phản ứng với những lời chỉ trích này bằng cách chỉ ra những chỗ sai hoàn toàn định nghĩa của những đoạn mã và liên kết các mã một cách hoàn toàn đầy đủ cho các dữ liệu cơ bản, trong đó mang lại một số sự phong phú mà có thể từ một danh sách nhỏ không tồn tại của mã. === Quan điểm trừu tượng đệ quy === Một số bộ dữ liệu được phân tích định tính mà không cần mã hóa. Một phương pháp phổ biến ở đây là trừu tượng đệ quy, nơi tập hợp các dữ liệu được tóm tắt. Những bản tóm tắt sau đó được tiếp tục tổng kết. Kết quả cuối cùng là một bản tóm tắt gọn nhẹ hơn sẽ rất khó khăn để phân biệt một cách chính xác mà không cần các bước thực hành. Một sự phê bình trừu tượng đệ quy là kết luận cuối cùng được lấy ra từ các dữ liệu cơ bản. Trong khi sự thật là tóm tắt ban đầu ít ỏi chắc chắn sẽ mang lại một báo cáo cuối cùng không chính xác, các nhà phân tích định tính có thể phản biện những lời chỉ trích này. Họ làm như vậy, giống như những con người sử dụng phương pháp mã hóa bằng cách ghi lại các lý do đằng sau mỗi bước tóm tắt, trích dẫn ví dụ từ các dữ liệu báo cáo được phân tích và báo cáo mà không được đưa vào nhóm trung gian. === Kỹ thuật cơ học === Mộ số kỹ thuật dựa trên sử dụng máy tính để quét và làm giảm bộ lớn dữ liệu định tính. Ở cấp độ cơ bản nhất, kỹ thuật cơ học dựa trên tính từ, cụm từ hay sự trùng hợp của biểu hiện trong các dữ liệu. Thường được gọi là phân tích nội dung, snr lượng từ các kỹ thuật này là tuân theo nhiều phân tích thống kê tiên tiến. Kỹ thuật cơ học đặc biệt thích hợp cho một số tình huống. Một trong những viễn cảnh là cho các bộ dữ liệu chỉ đơn giản là quá lớn đói với một con người để phân tích hiệu quả, hoặc nơi phân tích của họ sẽ được đòi hỏi quá cao so với giá trị của các thông tin mà họ có. Viễn cảnh khai thác là khi các giá trị chính của một tập dữ liệu là mức độ mà nó có chứa “cờ đỏ” (ví dụ, tìm kiếm các báo cáo về tác dụng phụ nhất định trong một tạp chí dataset từ các bệnh nhân trong một thử nghiệm lâm sàn) hay “cờ xanh” (ví dụ: tìm kiếm đề cập đến thương hiệu của thương hiệu trong phần đánh giá tích cực của sản phẩm trên thị trường). Một lời phê bình của các kỹ thuật cơ khí là sự vắng mặt của một thông dịch của con người. Và trong khi bậc thầy của những phương pháp này có thể viết phần mềm phức tạp để bắt trước một số quyết định của con người, phần lớn các “phân tích” vẫn không phải con người. Các nhà phân tích phản ứng bằng cách chứng minh giá trị của phương pháp của họ liên quan đến một trong hai giá trị của các mối liên hệ giao thức đến một tỏng hai a) tuyển dụng và đào tạo một đội ngũ nhân lực để phân tích các dữ liệu hoặc b) bằng cách cho phép các dữ liệu ảnh hưởng, để lại bất kỳ hành động nào chưa được khám phá. == Sự khác biệt về quan niệm == Nghiên cứu định tính hiện đại đã được tiến hành từ một số lượng lớn các mô hình khác nhau mà ảnh hưởng đến mối quan tâm về khái niệm và lý thuyết chủ đề có tính hợp pháp, kiểm soát, phân tích dữ liệu, bản thể học và khoa học luận. Nghiên cứu được tiến hành trong 10 năm qua đã được đặc trưng bởi một biến rõ rệt về phía các diễn giải, chủ nghĩa hậu hiện đại, lý thuyết quan trọng.. Guba và Lincoln (2005) chỉ ra 5 quan niệm chính trong nghiên cứu định tính hiện đại: chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa hậu lạc quan, lý thuyết chỉ trích, chủ nghĩa xây dựng, và các mô hình tham gia/cộng tác. Mỗi mô hình được liệt kê bởi Guba và Lincoln được đặc trưng bởi sự khác biệt hiển nhiên trong thuyết giá trị, dự định hành động của nghiên cứu, kiểm soát quá trình nghiên cứu/tác động, mối quan hệ với nền tảng của chân lý và tri thức, tính hợp lệ, văn bản đại diện và tiếng nói của các nhà nghiên cứu/ học viên và có thể so sánh được với mô hình khác. Đặc biệt, tính thông ước liên quan đến mức độ mà các mối quan tâm kiểu mẫu “có thể được trang bị thêm cho nhau theo những cách mà thực tiễn xảy ra đồng thời có khả năng chập nhận được”. Nhà thực chứng và mô hình thực chứng chia sẻ giả thuyết có thể so sánh được nhưng phần lớn là không so sánh được, theo xu hướng tạo dựng và mô hình có sự tham gia thông ước về các vấn đề nhất định (ví dụ dự định hành động và mô tả văn bản). Nghiên cứu định tính trong 10 năm gần đây được đặc trưng bởi sự quan tâm với việc phân loại hàng ngày và tường thuật bình thường. Đây là “hành vi tường thuật” đã tạo ra một lượng sách vở rất lớn khi các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm nhạy cảm và quan điểm có thuộc tính đặc biệt dựa trên việc tường thuật từ thực tế, trong đó tập trung vào những tình huống và hành động giao tiếp của việc tường thuật. Catherine Riessman (1993) và Gubrium and Holstein (2009) cung cấp các chiến lược phân tích, và Holstein và Gubrium (2012) trình bày nhiều cách tiếp cận toàn diện trong tất cả các báo cáo gần đây. Có liên quan với thực hành tường thuật ngày càng có tính chất của các nghiên cứu tường thuật (xem Gubrium và Holstein 2000) == Độ tin cậy == Trong các nghiên cứu định lượng, điều này được gọi là “tính hợp lý”. Một vấn đề trọng tâm trong các nghiên cứu định tính này là sự tin cậy (hay còn gọi là sự tín nhiệm và/ hoặc độ tin cậy). Có nhiều cách khác nhau của việc thiết lập sự tin cậy, bao gồm: kiểm tra viên, chứng thực phỏng vấn, phỏng vấn đồng đẳng, kéo dài cuộc hẹn, phân tích trường hợp tiêu cực, có thể kiểm tra được, có thể chấp nhận được, quy luật bù trừ và cân bằng. Hầu hết các phương pháp được đặt ra, hoặc được mô tả bao quát bởi Lincoln và Guba (1985). == Các tạp chí Nghiên cứu định tính == Đến cuối những năm 1970 nhiều tạp chí hàng đầu bắt đầu xuất bản các bài báo nghiên cứu định tính và một số tạp chí mới xuất hiện và công bố chỉ nghiên cứu định tính và các bài báo về phương pháp nghiên cứu định tính. Trong những năm 1980 và 1990, các tạp chí nghiên cứu định tính mới đã trở thành các ngành tập trung nhiều hơn trong việc đi xa hơn nguồn gốc truyền thống của nghiên cứu định tính của nhân chủng học, xã hội học và triết học. == Nghiên cứu định tính về tâm lý học == Wilhelm Wundt, người sáng lập tâm lý học khoa học, là một trong những nhà tâm lý học đầu tiên công khai tiến hành nghiên cứu định tính như là một phần của tâm lý học đầu tiên công khai tiến hành nghiên cứu định tính như là một phần cấp số của ông về các thí nghiệm. Ví dụ đầu tiên về nghiên cứu định tính của ông đã được xuất bản vào năm 1900, được thông qua năm 1920, trong nghiên cứu 10 số lượng lớn các nghiên cứu tâm lý xã hội. Wundt ủng hộ mối liên quan mạnh mẽ giữa tấm lý học và triết học. Ông tin rằng có một khoảng cách giữa tâm lý và nghiên cứu định lượng mà chỉ có thể được bổ sung bằng cách tiến hành nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định tính nhắm vào các khái cạnh của đời sống con người có thể không được bao phủ đầy đủ bởi các nghiên cứu định lượng, khía cạnh như văn hóa, biểu thức, niềm tin, đạo đức và trí tưởng tượng. Có những ghi chép của nghiên cứu định tính được sử dụng trong tâm lý trước khi chiến tranh thế giới thứ II, nhưng tại thời điểm các phương pháp được xem là hình thức không hợp lệ của nghiên cứu. Do thiếu sự chấp nhận, nhiều người trong số các nhà tâm lý học thực hành các nghiên cứu định tính từ chối việc sử dụng các phương pháp như vậy hay xin lỗi vì làm như vậy. Mãi cho đến cuối thê kỷ 20 khi nghiên cứu đã trở nên được chấp nhận rộng rãi trong thế giới của tâm lý học. Sự hào hứng về những hình thức mang tính đột phá của nghiên cứu định tính đã được tiến hành. Điều này khiến nhiều nhà tâm lý không có sự công nhận xứng đáng cho công việc quan trọng trong các lĩnh vực nghiên cứu. == Tham khảo == == Sách tham khảo == Adler, P. A. & Adler, P. (1987).: context and meaning in social inquiry / edited by Richard Jessor, Anne Colby, and Richard A. Shweder] OCLC 46597302 Boas, Franz (1943). “Recent anthropology”. Science 98: 311–314, 334–337. Creswell, J. W. (2003). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed method approaches. Thousand Oaks, CA: Sage Publications. Denzin, N. K., & Lincoln, Y. S. (2000). Handbook of qualitative research (2nd ed.). Thousand Oaks, CA: Sage Publications. Denzin, N. K., & Lincoln, Y. S. (2011). The SAGE Handbook of qualitative research (4th ed.). Los Angeles: Sage Publications. DeWalt, K. M. & DeWalt, B. R. (2002). Participant observation. Walnut Creek, CA: AltaMira Press. Fischer, C.T. (Ed.) (2005). Qualitative research methods for psychologists: Introduction through empirical studies. Academic Press. ISBN 0-12-088470-4. Franklin, M. I. (2012), "Understanding Research: Coping with the Quantitative-Qualitative Divide". London/New York. Routledge Giddens, A. (1990). The consequences of modernity. Stanford, CA: Stanford University Press. Gubrium, J. F. and J. A. Holstein. (2000). "The New Language of Qualitative Method." New York: Oxford University Press. Gubrium, J. F. and J. A. Holstein (2009). "Analyzing Narrative Reality." Thousand Oaks, CA: Sage. Gubrium, J. F. and J. A. Holstein, eds. (2000). "Institutional Selves: Troubled Identities in a Postmodern World." New York: Oxford University Press. Holliday, A. R. (2007). Doing and Writing Qualitative Research, 2nd Edition. London: Sage Publications Holstein, J. A. and J. F. Gubrium, eds. (2012). "Varieties of Narrative Analysis." Thousand Oaks, CA: Sage. Kaminski, Marek M. (2004). Games Prisoners Play. Princeton University Press. ISBN 0-691-11721-7. Mahoney, J; Goertz, G (2006). “A Tale of Two Cultures: Contrasting Quantitative and Qualitative Research”. Political Analysis 14: 227–249. doi:10.1093/pan/mpj017. Malinowski, B. (1922/1961). Argonauts of the Western Pacific. New York: E. P. Dutton. Miles, M. B. & Huberman, A. M. (1994). Qualitative Data Analysis. Thousand Oaks, CA: Sage. Pamela Maykut, Richard Morehouse. 1994 Beginning Qualitative Research. Falmer Press. Patton, M. Q. (2002). Qualitative research & evaluation methods (3rd ed.). Thousand Oaks, CA: Sage Publications. Pawluch D. & Shaffir W. & Miall C. (2005). Doing Ethnography: Studying Everyday Life. Toronto, ON Canada: Canadian Scholars' Press. Ragin, C. C. (1994). Constructing Social Research: The Unity and Diversity of Method, Pine Forge Press, ISBN 0-8039-9021-9 Riessman, Catherine K. (1993). "Narrative Analysis." Thousand Oaks, CA: Sage. Savin-Baden, M. and Major, C. (2013). "Qualitative research: The essential guide to theory and practice." London, Rutledge. Silverman, David, (ed), (2011), "Qualitative Research: Issues of Theory, Method and Practice". Third Edition. London, Thousand Oaks, New Delhi, Sage Publications Stebbins, Robert A. (2001) Exploratory Research in the Social Sciences. Thousand Oaks, CA: Sage. Taylor, Steven J., Bogdan, Robert, Introduction to Qualitative Research Methods, Wiley, 1998, ISBN 0-471-16868-8 Van Maanen, J. (1988) Tales of the field: on writing ethnography, Chicago: University of Chicago Press. Wolcott, H. F. (1995). The art of fieldwork. Walnut Creek, CA: AltaMira Press. Wolcott, H. F. (1999). Ethnography: A way of seeing. Walnut Creek, CA: AltaMira Press. Ziman, John (2000). Real Science: what it is, and what it means. Cambridge, Uk: Cambridge University Press. == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Library resources box C.Wright Mills, On intellectual Craftsmanship, The Sociological Imagination,1959 Participant Observation, Qualitative research methods: a Data collector's field guide Definition of Qualitative Research Analyzing and Reporting Qualitative Market Research Overview of available QDA Software === Videos === Qualitative analysis, with a focus on interview data "Living Theory Approach to Qualitative Action Research"
1924.txt
1924 (số La Mã: MCMXXIV) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Ba trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1924 == Sự kiện == === Tháng 5 === 5 tháng 5: Thành lập trường quân sự Hoàng Phố === Tháng 10 === 23 tháng 10: Phùng Ngọc Tường phát động chính biến tại Bắc Kinh === Tháng 11 === 5 tháng 11: Phổ Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành === Tháng 12 === 24 tháng 12: Albania tuyên bố thành lập nước cộng hòa. == Sinh == === Tháng 1 === 1 tháng 1 – Roberts Blossom, diễn viên và nhà thơ người Mỹ 3 tháng 1 – Hank Stram, phát thanh viên và huấn luyện viên bóng đá người Mỹ 4 tháng 1 – Walter Ris, vận động viên bơi tự do người Mỹ 6 tháng 1 – Earl Scruggs, nhạc sĩ người Mỹ (The Beverly Hillbillies) 7 tháng 1 – Geoffrey Bayldon, diễn viên người Anh 8 tháng 1 – Ron Moody, diễn viên người Anh 10 tháng 1 – Max Roach, nhà soạn nhạc, người chơi nhạc cũ gõ, người chơi trống (m. 2007) 11 tháng 1 Roger Guillemin, nhà tâm lý học người Pháp, đã từng nhận giải Nobel Prize về Sinh học hoặc Y tế Sam B. Hall, nhà chính trị người Mỹ (m. 1994) Slim Harpo, nhạc sĩ người Mỹ (m. 1970) 12 tháng 1 – Olivier Gendebien, tay đua người Bỉ (m. 1998) 13 tháng 1 – Roland Petit, vũ công/biên đạo múa người Pháp 16 tháng 1 – Katy Jurado, diễn viên người Mexico (m. 2002) 19 tháng 1 – Jean-Francois Revel, nhà văn người Pháp(m. 2006) 21 tháng 1 – Benny Hill, ca sĩ/diễn viên hài người Anh (m. 1992) 25 tháng 1 – Speedy West, nhạc sĩ người Mỹ (m. 2003) 26 tháng 1 – Annette Strauss, Thị trưởng của Dallas, Texas (m. 1998) 27 tháng 1 – Sabu, diễn viên người Ấn Độ (m. 1963) 28 tháng 1 – Betty Tucker, vận động viên bóng chuyền Mỹ 29 tháng 1 – Luigi Nono, nhà soạn nhạc người Ý (m. 1990) 30 tháng 1 – Lloyd Alexander, nhà văn người Mỹ (m. 2007) === Tháng 2 === 2 tháng 2 – Elfi von Dassanowsky, nhà soạn nhạc/nhà phát hành sinh ra tại Australia (m. 2007) 4 tháng 2 – Dorothy Harrell, vận động viên bóng chuyền Mỹ 7 tháng 2 – Hattie Jacques, ngôi sao người Anh của Carry On films (m. 1980) 9 tháng 2 – George Guest, người truyền kinh Xứ Wale (m. 2002) 14 tháng 2 – Juan Ponce Enrile, nhà chính trị người Philippin 17 tháng 2 – Margaret Truman, tiểu thuyết gia con duy nhất của tổng thống Mỹ Harry S. Truman và Bess Truman (m. 2008) 19 tháng 2 – Lee Marvin, diễn viên người Mỹ (The Dirty Dozen) (m. 1987) 20 tháng 2 Gerson Goldhaber, nhà vật lý/thiên văn học người Mỹ Gloria Vanderbilt, chủ doanh nghiệp mỹ phẩm Mỹ 21 tháng 2 – Robert Mugabe, tổng thống đầu tiên của Zimbabwe 23 tháng 2 – Allan McLeod Cormack, nhà vật lý người Nam Phi, từng được Nobel Prize về Sinh học hoặc Y tế (m. 1998) 26 tháng 2 – Noboru Takeshita, chính trị gia người Nhật Bản (d. 2000) 29 tháng 2 – Al Rosen, vận động viên bóng rổ Mỹ === Tháng 3 === 1 tháng 3 – Deke Slayton, nhà du hành vũ trụ Mỹ (m. 1993) 2 tháng 3 – Wendell Wise Mayes, Jr.. 3 tháng 3 – John Woodnutt, diễn viên người Anh (m. 2006) Tomiichi Murayama, tổng thống Nhật Bản 3 tháng 3 – Lilian Velez, diễn viên Philippin (m. 1948) 4 tháng 3 – Kenneth O'Donnell, vệ sĩ của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy (m. 1977) 7 tháng 3 – Kōbō Abe, tiểu thuyết gia người Nhật (m. 1993) 15 tháng 3 – Walter Gotell, diễn viên người đức (m. 1997) 27 tháng 3 – Sarah Vaughan, ca sĩ nhạc Jazz người Mỹ (m. 1990) 28 tháng 3 – Freddie Bartholomew, diễn viên người Anh (m. 1992) 30 tháng 3 – Alan Davidson, nhà văn người Anh (m. 2003) === Tháng 4 === 1 tháng 4 – Brendan Byrne, Thống đốc bang New Jersey, Mỹ 3 tháng 4 Marlon Brando, diễn viên người Mỹ (The Godfather) (m. 2004) Errol Brathwaite, diễn viên người New Zealand (m. 2005) Josephine Pullein-Thompson, nhà văn người Anh 4 tháng 4 – Gil Hodges, vận động viên bóng rổ người Mỹ (m. 1972) 6 tháng 4 – Jimmy Roberts, ca sĩ người Mỹ (The Lawrence Welk Show) (m. 1999) 7 tháng 4 – Johannes Mario Simmel, nhà văn người Austrian (m. 2009) 12 tháng 4 – Raymond Barre, chính trị gia và tổng thống người Pháp (m. 2007) 14 tháng 4 – Philip Stone, diễn viên người Anh (m. 2003) 15 tháng 4 – Sir Neville Marriner, nghệ sĩ violon người Anh 16 tháng 4 – Henry Mancini, nhà soạn nhạc người Mỹ (m. 1994) 18 tháng 4 Clarence "Gatemouth" Brown, nhà soạn nhạc người Mỹ (m. 2005) Henry Hyde, nhân viên của U.S. House of Representatives, Illinois (m. 2007) 19 tháng 4 – Al Balding, vận động viên golf Canada (m. 2006) 20 tháng 4 – Leslie Phillips, diễn viên người Mỹ 23 tháng 4 – Bobby Rosengarden, người chơi trống người Mỹ (m. 2007) 24 tháng 4 – Clement Freud, nhà văn người Anh, nhà chính trị politician (m. 2009) 28 tháng 4 – Kenneth Kaunda, tổng thống Zambia === Tháng 5 === 1 tháng 5 – Art Fleming, (m. 1995) 2 tháng 5 – Jamal Abro, nhà văn người Sindhi (m. 2004) 10 tháng 5 – Zahrad, nhà thơ người Mỹ (m. 2007) 11 tháng 5 – Antony Hewish, nhà thiên văn học người Anh, từng nhận Giải Nobel Vật lý 12 tháng 5 – Tony Hancock, nghệ sĩ hài người Anh (m. 1968) 18 tháng 5 – Priscilla Pointer, diễn viên người Mỹ 19 tháng 5 – Sandy Wilson, nhà soạn nhạc người Anh 22 tháng 5 – Charles Aznavour, ca sĩ/diễn viên/nhạc sĩ người Pháp 24 tháng 5 Vincent Cronin, nhà sử học/sinh học người Anh Maria Koepcke, nhà nghiên cứu chim người Đức (m. 1971) 29 tháng 5 Lars Bo, họa sĩ/nhà văn người Đan Mạch (m. 1999) Lavonne [Pepper] Paire Davis, vận động viên bóng rổ người Mỹ === Tháng 6 === 1 tháng 6 – Dr. William Sloane Coffin, tu sĩ người Mỹ (m. 2006) 2 tháng 6 – Callwood, nhà văn/nhà hoạt động xã hội/nhà báo người Canada (m. 2007) 3 tháng 6 Ted Mallie, MC người Mỹ (m. 1999) Torsten Wiesel, nhà khoa học người Thụy Điển, từng nhận Giải Nobel Sinh học hoặc Y tế Herk Harvey, đạo diễn phim người Mỹ (m. 1996) 4 tháng 6 – Dennis Weaver, diễn viên người Mỹ (McCloud) (m. 2006) 12 tháng 6 – George Herbert Walker Bush, Tổng thống thứ 41 của Mỹ 14 tháng 6 – James W. Black, bác sĩ người Anh (m. 2010) 15 tháng 6 – Ezer Weizman, Tổng thống thứ 7 của Israel (m. 2005) 17 tháng 6 – Charlotte Armstrong, vận động viên bóng rổ người Mỹ (m. 2008) 18 tháng 6 – George Mikan, vận động viên bóng rổ người Mỹ (m. 2005) 20 tháng 6 Chet Atkins, nhà sản xuất/người chơi ghi-ta nhạc đồng quê (m. 2001) Audie Murphy, diễn viên/anh hùng trong Chiến tránh thế giới thứ 2 (m. 1971) 24 tháng 6 - Brian Bevan, vận động viên bóng bầu dục Úc (m. 1991) 27 tháng 6 – Bob Appleyard, vận động viên cricket người Anh 29 tháng 6 Flo Sandon's, ca sĩ người Ý (m. 2006) Ezra Laderman, nhà soạn nhạc người Mỹ === Tháng 7 === 3 tháng 7 – S. R. Nathan, Tổng thống thứ sáu của Singapore 4 tháng 7 – Eva Marie Saint, diễn viên người Mỹ 5 tháng 7 Niels Jannasch, quản lý viên bảo tàng lịch sử Canada (m. 2001) Osman Lins, tiểu thuyết gia Brazilian (m. 1978) János Starker, người chơi Cello Hungarian 10 tháng 7 – Svein Hajum, Triết gia người Na Uy (m. 2000) 11 tháng 7 Brett Somers, (m. 2007) Charlie Tully, cầu thủ bóng đá người Bắc Ireland (m. 1971) 13 tháng 7 Carlo Bergonzi, người chơi kèn Tennor người Ý Johnny Gilbert, MC người Mỹ 15 tháng 7 – Makhmud Esambayev,(m. 2000) 19 tháng 7 – Stanley K. Hathaway, chính trị gia người Mỹ (m. 2005) 20 tháng 7 – Lola Albright, diễn viên người Mỹ (Peter Gunn) 21 tháng 7 – Don Knotts, diễn viên người Mỹ (The Andy Griffith Show) 2006) 28 tháng 7 – Anne Braden, nhà hoạt động xã hội người Mỹ (m. 2006) 29 tháng 7 Robert Horton, diễn viên người Mỹ (Wagon Train) Lillian Faralla, nữ vận động viên bóng chày người Mỹ Elizabeth Short, diễn viên người Mỹ (The Black Dahlia) (m. 1947) === Tháng 8 === 1 tháng 8 Georges Charpak, nhà vật lý người Ukraina, từng được nhận Giải Nobel Vật lý King Abdullah of Ả Rập Saudi 2 tháng 8 Carroll O'Connor, diễn viên người Mỹ (All In The Family) (m. 2001) James Baldwin, nhà văn người Mỹ (m. 1987) 3 tháng 8 – Leon Uris, nhà văn người Mỹ (Exodus) (m. 2003) 6 tháng 8 – Gregory Adams, nhà nghiên cứu chính trị người Mỹ (m. 1998) 7 tháng 8 – Kenneth Kendall, dẫn chương trình người Anh 10 tháng 8 – Nancy Buckingham tiểu thuyết gia lãng mạn người Anh. 12 tháng 8 Derek Shackleton, vận động viên bóng chày Anh (m. 2007) Muhammad Zia-ul-Haq, lãnh đạo của Pakistan (m. 1988) 14 tháng 8 – Holger Juul Hansen, diễn viên người Đan Mạch 15 tháng 8 Werner Abrolat, diễn viên người Đức (m. 1997) Robert Bolt, nhà văn người Anh (m. 1995) 16 tháng 8 – Inez Voyce, vận động viên bóng rổ người Mỹ 17 tháng 8 – Evan S. Connell, Jr., tiểu thuyết gia, nhà thơ, truyện ngắn người Mỹ 23 tháng 8 – Robert Solow, nhà kinh tế người Mỹ, từng được giải Nobel Kinh tế 24 tháng 8 Jimmy Gardner (British actor), diễn viên người Anh (m. 2010) Homi Nusserwanji Sethna (Indian Nuclear Scientist), nhà khoa học hạt nhân người Ấn Độ 28 tháng 8 – Peggy Ryan, diễn viên người Mỹ (m. 2004) 29 tháng 8 – Consuelo Velázquez, nhạc sĩ người México (m. 2005) 30 tháng 8 – Geoffrey Beene, nhà thiết kế thời trang México (m. 2004) 31 tháng 8 – Buddy Hackett, diễn viên hài người Mỹ (The Love Bug) (m. 2003) === Tháng 9 === 2 tháng 9 – Daniel arap Moi, Tổng thống Kenya 4 tháng 9 Joan Aiken, nhà văn người Anh (m. 2004) Anita Snellman, họa sĩ người Phần Lan (m. 2006) 5 tháng 9 – Paul Dietzel, huấn luyên viên bóng đá 8 tháng 9 – Mimi Parent, họa sĩ người Canada (m. 2005) 9 tháng 9 Jane Greer, diễn viên người Mỹ (m. 2001) Rik Van Steenbergen, vận động viên xe đạp người Bỉ (m. 2003) 11 tháng 9 Tom Landry, cầu thủ/huấn luyện viên bóng đá người Mỹ (m. 2000) Rudolf Vrba, người trốn thoát khỏi Auschwitz (m. 2006) 13 tháng 9 – Maurice Jarre, nhà soạn nhạc người Pháp (m. 2009) 14 tháng 9 – Abioseh Nicol, nhà văn/nhà ngoại giao (m. 1994) 15 tháng 9 – Bobby Short, diễn viên hài người Mỹ (m. 2005) 16 tháng 9 – Lauren Bacall, diễn viên người Mỹ 19 tháng 9 – Don Harron, diễn viên hài người Canadian 20 tháng 9 – Hermann Buhl, vận động viên leo núi người Úc (m. 1957) 22 tháng 9 Charles Keeping, họa sĩ người Anh (m. 1988) Rosamunde Pilcher, tiểu thuyết gia người Anh 23 tháng 9 – Heinrich Schultz, nhà hoạt động văn hóa người Estonia 26 tháng 9 – Nina Bocharova, huấn luyện viên thể dục người Liên Xô 27 tháng 9 – Bernard Waber, nhà văn chuyên viết truyện cho thiếu nhi người Mỹ 30 tháng 9 – Truman Capote, nhà văn người Mỹ (m. 1984) === Tháng 10 === 1 tháng 10 Jimmy Carter, Tổng thống Hoa Kỳ, từng được Giải Nobel Hòa bình William Rehnquist, (m. 2005) 2 tháng 10 - Ruby Stephens, vận động viên bóng rổ người Mỹ (m. 1996) 8 tháng 10 – Alphons Egli, thành viên của Hội đồng Liên Bang Thụy Điển 10 tháng 10 Margaret Fulton, nhà văn người Úc Ed Wood, nhà làm phim người Mỹ (Plan 9 From Outer Space) (m. 1978) 11 tháng 10 – Mal Whitfield, vận động viên điền kinh người Mỹ 13 tháng 10 – Moturu Udayam, nữ hoạt động xã hội người Ấn Độ (m. 2002) 14 tháng 10 – Robert Webber, diễn viên người Mỹ (m. 1989) 15 tháng 10 – Mark Lenard, diễn viên người Mỹ (m. 1996) Lee Iacocca, nhà tư bản người Mỹ 21 tháng 10 – Celia Cruz, ca sĩ người Cuba (m. 2003) Joyce Randolph, diễn viên người Mỹ (The Honeymooners) 24 tháng 10 – Christine Glanville, người điều khiển con dối người Anh (m. 1999) === Tháng 11 === 6 tháng 11 – Jeanette Schmid, người huýt sáo người Đức (m. 2005) 9 tháng 11 – Robert Frank, nhiếp ảnh gia người Thụy Sĩ 10 tháng 11 – Russell Johnson, diễn viên người Mỹ (Gilligan's Island) 11 tháng 11 – Evelyn Wawryshyn, vận động viên bóng đá chuyên nghiệp người Canada 13 tháng 11 – Motoo Kimura, nhà di truyền học người Nhật (m. 1994) 19 tháng 11 – William Russell, diễn viên người Anh 20 tháng 11 – Benoît Mandelbrot, nhà toán học người Ba Lan 23 tháng 11 – Anita Linda, diễn viên Philippines 24 tháng 11 Mel Patton, vận động viên điền kinh người Mỹ Joanne Winter, nữ vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 1996) 25 tháng 11 – Takaaki Yoshimoto, nhà thơ/nhà phê bình người Nhật 28 tháng 11 – Dennis Brutus, nhà hoạt động xã hội chống chủ nghĩa Apartheid người Nam Phi === Tháng 12 === 2 tháng 12 – Alexander M. Haig, Jr., nhà chính trị người Mỹ (m. 2010) 3 tháng 12 – Francisco Sionil José, nhà văn người Philipine, Philippine National Artist for Literature 6 tháng 12 – Wally Cox, diễn viên (Mr. Peepers)(m. 1973) 7 tháng 12 – Bent Fabric, nhà soạn nhạc/chơi piano người Ba Lan 12 tháng 12 Ed Koch, Thị trưởng New York từ 1978 to 1989 Robert Coogan, diễn viên người Mỹ (m. 1978) 17 tháng 12 - Margaret Wigiser, vận động viên bóng chày người Mỹ 23 tháng 12 – Bob Kurland, vận động viên bóng rổ người Mỹ 24 tháng 12 – Mohammed Rafi, ca sĩ người Ấn Độ (m. 1980) 25 tháng 12 Rod Serling, người viết kịch bản truyền hình (The Twilight Zone) (m. 1975) Atal Behari Vajpayee, Tổng thống thứ 10 của Ấn Độ Moktar Ould Daddah, Tổng thống đầu tiên của Mauritanie (m. 2003) 28 tháng 12 – Milton Obote, Tổng thống Uganda (m. 2005) 31 tháng 12 Taylor Mead, diễn viên người Mỹ Frank J. Kelley, 50th luật sư Michigan == Mất == 19 tháng 6 - Phạm Hồng Thái, là một nhà hoạt động trong Phong trào Đông Du Việt Nam (sinh 1896). == Giải Nobel == Vật lý - Manne Siegbahn Hóa học - Không trao Sinh học hoặc Y học - Willem Einthoven Văn học - Władysław Stanisław Reymont Hòa bình - Không trao == Xem thêm == == Tham khảo ==
sherwood, oregon.txt
Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. == Lịch sử == Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ Atfalati thuộc bộ tộc Kalapuya. Đợt di dân Hoa Kỳ đầu tiên đáng kể đến đây là vào năm 1843.. Người bản thổ Mỹ bị di dời vào các khu vực dành riêng sau khi Đạo luật phân phát đất khai hoang năm 1850-5 ra đời ban tặng những vùng đất này cho các công dân Mỹ. Cơn sốt vàng California năm 1849 làm thay đổi ngoạn mục kinh tế của vùng đất. Oregon City, Oregon nằm trong dãy đất của Sông Willamette mà từ lâu luôn hấp dẫn giao thương kể từ thời tiền sử khi các hoạt động trao đổi buôn bán do bộ lạc Chinook chi phối. Khi người định cư gốc châu Âu bắt đầu đến đây với số lượng lớn, Oregon City trở thành điểm cuối của Đường mòn Oregon.. Sau cơn sốt vàng, Portland, Oregon thay thế Oregon City thành trung tâm trao đổi và mậu dịch chính quan trọng nhất của khu vực. Sherwood nằm trong vòng 20 dặm Anh của cả hai khu vực đô thị này. Cái tên "Sherwood" xuất hiện sau khi cái tên ban đầu của thị trấn là "Smock Ville" (đặt theo tên của hai người đồng thành lập thị trấn là James Christopher and Mary Ellen Smock) bị lu mờ. Năm 1885, gia đình Smock nhường quyền bất động sản cho công ty Đường ray Portland và Thung lũng Willamette. Gia đình Smock khởi công thành lập thị trấn năm 1889, cùng năm dịch vụ đường ray bắt đầu phục vụ. Dường như không ai, kể cả những người đồng sáng lập ra thị trấn đều không thích cái tên "Smock Ville" và vì thế một cuộc họp công cộng được tổ chức để đặt tên lại cho thị trấn. Một thương gia nổi tiếng, Robert Alexander, đề nghị cái tên "Sherwood". Theo kỷ lục của bưu điện, Alexander là người đến từ Sherwood, Michigan và thị trấn đó lại được đặt tên theo tên của Rừng Sherwood ở Anh. Bộ Bưu điện Hoa Kỳ giao thư đến thị trấn Sherwood, Oregon vào ngày 5 tháng 7 năm 1891. Smock là bưu điện trưởng đầu tiên. Thị trấn Sherwood được hợp nhất dưới Đạo luật Thượng viện Oregon 36 năm 1893. Sherwood được hợp nhất thành thành phố Sherwood năm 1926. Năm 2007, một tạp chí quốc gia đã chọn Sherwood vào danh sách 20 thị trấn dễ sống nhất tại nước Mỹ ("Money," số tháng 7 năm 2007). Dân số thành phố vào năm 1911 là 350 người trong địa giới thành phố 1 dặm vuông. Năm 2004, dân số tăng lên đến 14.050 người và diện tích tăng đến 4,5 dặm vuông. == Địa lý == Sherwood nằm ở vị trí 45°21′25″B 122°50′36″T (45.357024, -122.843261).1 Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, thành phố có tổng diện tích 4,1 dặm vuông Anh (10,5 km²), tất cả đều là mặt đất. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == City of Sherwood
norodom sihanouk.txt
Norodom Sihanouk (tiếng Khmer: នរោត្តម សីហនុ, phát âm như "Nô-rô-đôm Xi-ha-núc"; 31 tháng 10 năm 1922 tại Phnôm Pênh – 15 tháng 10 năm 2012 tại Bắc Kinh) là cựu Quốc vương, Thái thượng vương của Vương quốc Campuchia. Ông từng là vua của Campuchia trong nhiều giai đoạn cho đến ngày thoái vị để nhường ngôi cho quốc vương Norodom Sihamoni (7 tháng 10 năm 2004). Sihanouk là con trai của cựu quốc vương Norodom Suramarit và vương hậu Sisowath Kossamak. Sihanouk đã đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau kể từ 1941, nhiều vị trí đến nỗi Sách Kỷ lục Guinness đã đưa ông vào danh sách các chính khách giữ nhiều chức vụ nhất, bao gồm 2 lần làm vua, 2 lần thái tử, 1 lần chủ tịch nước, 2 lần thủ tướng và một lần quốc trưởng Campuchia và nhiều chức vụ khác nữa của chính phủ lưu vong. Phần lớn là chức vụ hình thức, kể cả lần cuối làm vua (trị vì nhưng không cai trị). Thời gian trị vì thực sự của ông hoàng này là từ 9 tháng 11 năm 1953 đến 18 tháng 3 năm 1970 (khi bị Lon Nol phế truất chức vụ Quốc trưởng). == Thời niên thiếu == Sihanouk học tiểu học tại Phnom Penh, trường Pháp École François Baudoin, học trung học tại Sài Gòn tại trường Lycée Chasseloup Laubat (nay là Trường Lê Quý Đôn, TP. HCM) cho đến khi lên ngôi, sau đó học tại trường binh bị Saumur, Pháp. Khi vua Sisowath Monivong (ông ngoại của Sihanouk) băng hà vào ngày 23 tháng 4 năm 1941, Hội đồng Tôn vương đưa Sihanouk lên ngôi vua. Ông đăng quang tháng 11 năm 1941. == Thời kỳ trị vì == === Giai đoạn 1941-1945 === Trong giai đoạn 1941 - 1945 vua Sihanouk chưa bộc lộ xu hướng dân tộc chủ nghĩa của mình. Khi người Pháp bắt giữ, khép án chung thân và đày ra Côn Đảo các trí thức tập hợp xung quanh Viện Phật giáo và báo Khmer Nagarawatta vì lên kế hoạch bắt giữ các quan chức Pháp và tuyên bố độc lập sau khi một phần đất ở miền Tây Campuchia bị Thái Lan chiếm, Sihanouk đã không bày tỏ thái độ phản đối. === Giai đoạn 1945-1953 === Tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Campuchia, cơ quan an ninh quân sự Kempeitai khuyên Norodom Sihanouk nên tuyên bố độc lập và lãnh đạo chính quyền mới của Campuchia. Sau khi quân đội Đồng minh tái chiếm Đông Dương vào cuối năm 1945, người Pháp trở lại Campuchia, Sihanouk hợp tác trở lại với người Pháp, do đó người Pháp cho phép chính quyền Sihanouk tổ chức bầu cử Quốc hội năm 1946. Trong cuộc bầu cử 1946, Đảng Dân chủ được cả người Pháp và Hoàng gia hậu thuẫn giành được 50 trong số 69 ghế, trong khi Đảng Tự do của Hoàng thân Norindeth chỉ được 16 ghế. Sau cuộc bầu cử năm 1951, Đảng dân chủ vẫn giữ 53 ghế còn Đảng Tự do 18 ghế. Quốc hội này đã thông qua bản Hiến pháp thành lập chính thể quân chủ lập hiến. Ngày 15/6/1952, do tình hình chính trị bất ổn Sihanouk đã giải tán nội các Huy Kanthol và thay ông này làm Thủ tướng. Ngày 11/1/1953, ông cũng giải tán luôn Quốc hội và cho bắt giữ 17 đảng viên Dân chủ, giam họ 8 tháng mà không hề xét xử. Cũng trong giai đoạn này Norodom Sihanouk thực hiện chiến dịch mà ông gọi là 'Thánh chiến cho Độc lập' bằng các cuộc vận động ngoại giao ở Montreal, Washington và Tokyo. Trong thời gian này, ông cũng không chịu về Phnom Penh, mà ở Siem Reap và Battambang. Ông làm việc này với mục tiêu giành độc lập hoàn toàn cho Campuchia trong vòng ba năm. Tháng 5 năm 1953, ông sang tị nạn tại Thái Lan và từ chối hồi hương cho đến khi có độc lập. Ông về nước ngày 9 tháng 11 năm 1953. Người Pháp trong khi đang thua trận ở miền Bắc Việt Nam, không còn sức lực đối phó với một tiền tuyến thứ hai nên đồng ý giao trả chủ quyền lại cho Campuchia vào ngày 9/11/1953, trước khi Việt Nam và Lào giành được độc lập.. === Giai đoạn 1954-1964 === Ngày 17/2/1955 Sihanouk cho mở một cuộc trưng cầu dân ý với câu hỏi:"Người dân có hài lòng với việc Quốc vương thực hiện cam kết Thánh chiến Hoàng gia của mình hay không?" Kết quả cuộc trưng cầu dân ý là 99,9% người được hỏi trả lời "Có". Ngày 2 tháng 3 năm 1955, ông thoái vị nhường ngôi cho cha mình là Suramarit. Sau đó ông giữ chức Thủ tướng vài tháng. Đầu tháng 4/1955, ông tuyên bố thành lập đảng Sangkum Reastr Niyum (Cộng đồng Xã hội Chủ nghĩa Bình dân) do ông lãnh đạo. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 11/9/1955, bằng các biện pháp ép buộc và dọa dẫm, đảng Sangkum Reastr Niyum giành 83% số phiếu và toàn bộ số ghế trong Quốc hội. Từ 18/4/1955 đến 24/4/1955, Sihanouk dẫn đầu một đoàn đại biểu đi Bandung dự hội nghị của Phong trào Không liên kết. Từ năm 1956 Sihanouk bắt đầu trở nên thân thiết với Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Kim Nhật Thành. Sau này ông vẫn gắn bó với Trung Quốc đến mức sống những ngày cuối đời ở đất nước này. Sau khi cha ông mất năm 1960, Sihanouk không đề cử ai làm Quốc vương mà được Quốc hội bổ nhiệm vào chức Quốc trưởng với danh vị hoàng thân. Khi Chiến tranh Việt Nam xảy ra, Sihanouk tán thành chính sách Bên thứ 3 chủ trương Campuchia trung lập, đứng ngoài cuộc chiến, cùng đồng thời có quan hệ ngoại giao với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ. Năm 1963, ông khước từ cứu trợ của Hoa Kỳ. Tháng 2/1959, cơ quan Tình báo Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa hợp tác với tướng Campuchia Dap Chhoun âm mưu đảo chính lật đổ Sihanouk để đưa Sơn Ngọc Thành lên làm lãnh đạo Campuchia do Sihanouk có khuynh hướng ngả theo Bắc Kinh. Khi cuộc đảo chính bùng nổ thì lực lượng Quân khu V và Quân khu II của Việt Nam Cộng hòa sẽ tiến đến biên giới giúp Dap Chhoun chiếm lĩnh khu vực Đông - Bắc Campuchia. Tuy nhiên, giờ khởi sự bị đình lại vì Sơn Ngọc Thành qua Thái Lan để xin viện trợ quân sự cho mặt trận phía Tây. Chính sự trì hoãn này đã làm cho âm mưu bị bại lộ. Ngay khi phát hiện âm mưu đảo chính, Sihanouk giao Lon Nol thống lãnh lực lượng lính dù mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào Siem Reap khi Dap Chhoun còn ngủ. Dap Chhoun cải trang trốn thoát. Quân Lon Nol chiếm dinh thống đốc Siem Reap và bắt được đầy đủ tang vật gồm 100 kg vàng, hai điệp viên Việt Nam Cộng hòa và đài vô tuyến cùng một số vũ khí. Hôm sau, Sihanouk mời tất cả viên chức ngoại giao nước ngoài, trong đó có ông Ngô Trọng Hiếu, đặc sứ Việt Nam Cộng hòa tại Campuchia, đến Siem Reap. Tại dinh thống đốc Siem Reap, Sihanouk không ngớt lời thóa mạ “kẻ thù dân tộc Khmer” và bọn “tay sai đế quốc" rồi trưng ra tất cả nhân chứng lẫn vật chứng trong đó có 100 kg vàng đóng dấu ngân khố Việt Nam Cộng hòa, hệ thống điện đài và hai điệp viên mang thông hành Việt Nam Cộng hòa. Hai điệp viên Việt Nam Cộng hòa bị kết án tử hình còn Dap Chhoun bị lực lượng lính dù của Lon Nol bắt và hạ sát. Báo Nhân dân dẫn theo các báo Campuchia ngày 22-6-1961 cho biết tòa án Quân sự Campuchia kết án tử hình một điệp viên chính quyền Ngô Đình Diệm, về tội "mưu sát quốc vương và hoàng hậu Campuchia" và tội "làm gián điệp cho Mỹ- Diệm phá hoại nền an ninh Campuchia". Người này là chủ nhiệm tờ Hồn Việt và tờ Tự do xuất bản tại Nông Pênh các năm 1956-1957. Chính phủ Campuchia bắt được nhiều giấy tờ tỏ rõ điệp viên này nhận lệnh của chính quyền Ngô Đình Diệm "âm mưu phá hoại nền an ninh Campuchia", trong đó có cả thư khen của ông Diệm gửi cho ông ta. Kế hoạch ám sát Sihanouk được ông Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến thảo luận chi tiết, sau khi mưu đảo chính tại Campuchia thất bại. Tuy nhiên âm mưu ám sát bất thành do Sihanouk may mắn thoát chết.. Phạm Trọng Nhơn là thủ phạm của vụ này. Theo báo An ninh Thế giới, Sihanouk thoát chết là nhờ một điệp viên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Ba Quốc (tên thật là Đặng Trần Đức), phụ tá Phó Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội Việt Nam Cộng hòa, tham gia vào âm mưu ám sát đã cài đặt bom lệch giờ. === Giai đoạn 1965-1969 === Đến năm 1965, sau khi Mỹ đưa quân vào Việt Nam bảo vệ Việt Nam Cộng hòa, ông cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ và Anh. Mùa xuân 1965, ông thỏa thuận với Trung Quốc và Bắc Việt Nam cho phép sự hiện diện của các căn cứ của lực lượng cộng sản Việt Nam ở sát biên giới Campuchia - Việt Nam đồng thời cho phép viện trợ của Trung Quốc cho cộng sản Việt Nam thông qua các cảng Campuchia. Campuchia được đền bù bằng cách Trung Quốc mua gạo của Campuchia với giá cao. Ông cũng nhiều lần lên tiếng rằng chiến thắng của phe cộng sản ở Đông Nam Á là không thể tránh khỏi và cho rằng chủ nghĩa Mao đáng để mọi người thi đua. Chính sách hữu hảo với Trung Quốc của ông bị phá sản do thái độ cực đoan của Trung Quốc vào thời kỳ cao trào của Cách mạng văn hóa. Trong giai đoạn 1966-1967, Sihanouk đã đàn áp chính trị loại bỏ các đảng cánh tả ở Campuchia. Ông đàn áp đảng Pracheachon cánh tả bằng cách buộc tội thành viên của đảng này hoạt động phục vụ Hà Nội nhưng cũng làm mất lòng phe hữu do ông không nhận thức được tình hình kinh tế suy thoái do việc thực hiện quốc hữu hóa và độc quyền nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ (bị trầm trọng thêm bởi việc mất đi nguồn xuất khẩu gạo, do lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam thu mua mất) và do sự hiện diện ngày càng tăng của lực lượng quân sự cộng sản trên đất Campuchia. Việc đàn áp phe tả và mất tín nhiệm trước phe hữu cùng với những thay đổi trong chính sách ngoại giao làm cho thái độ cân bằng các bên để giữ thế trung lập khó duy trì được. == Bị phế truất và hợp tác với Khmer Đỏ == Ngày 18 tháng 3, 1970, trong lúc ông đang ở nước ngoài, Lon Nol - thủ tướng chính phủ - cho quân đội bắt giữ chính quyền dân sự ở Phnompenh và bố trí xe tăng bao vây toà nhà Quốc hội sau đó triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng và trao quyền lực khẩn cấp cho Lon Nol. Việc đàn áp đối lập và các chính sách kinh tế sai lầm của Sihanouk, cũng như thái độ xích lại gần Việt Nam và Trung Quốc của ông cùng với áp lực của Lon Nol khiến Quốc hội bỏ phiếu bãi nhiệm ông. Sihanouk gọi đây là âm mưu đảo chính của CIA và buộc phải đi an dưỡng ở biệt thự riêng của gia đình ông tại Riviera một thời gian. Hoàng thân Sirik Matak – người được chính phủ Pháp loại bỏ để trao ngôi vị cho Sihanouk - đã được giao chức Phó Thủ tướng. Sau khi mất quyền lực, Hoàng thân Sihanouk đến Bắc Kinh và bắt đầu ủng hộ Khmer Đỏ trong cuộc chiến lật đổ chính phủ Lon Nol ở Phnom Penh. Sihanouk đã đến nhiều nước trên thế giới để kêu gọi sự ủng hộ cho Khmer Đỏ. Khi nước Cộng hòa Khmer rơi vào tay Khmer Đỏ vào năm 1975, Hoàng thân Sihanouk trở thành nguyên thủ quốc gia hình thức của chính phủ mới khi Pol Pot còn nắm quyền lực. Ngày 4 tháng 4 năm 1976, Sihanouk từ chức vì sự tàn bạo của Khmer đỏ và nghỉ hưu. Sihanouk sang tị nạn tại Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Việc Sihanouk đứng đầu Khmer Đỏ trong suốt 6 năm từ 1971 đến 1976 là điều mà giới trí thức Campuchia không bao giờ quên được. Năm 1978, quân đội Việt Nam sang lãnh thổ Campuchia đánh đổ Khmer Đỏ. Tháng 1/1979, Sihanouk tiếp tục tới Liên Hiệp Quốc ở New York để vận động cho Khmer Đỏ và kêu gọi Liên Hiệp Quốc gửi quân đến Campuchia tấn công quân Việt Nam. Năm 1982, ông trở thành Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ bao gồm: Đảng Funcinpec của mình, Mặt trận giải phóng Campuchia của Son Sann và Khmer Đỏ. Quân Việt Nam rút khỏi Campuchia năm 1989, để lại chính phủ thân Việt Nam của Thủ tướng Hun Sen lãnh đạo Nước cộng hòa Nhân dân Campuchia. == Lần trị vì cuối cùng == Các đảng phái ở Campuchia đã đàm phán đến năm 1991 và các bên đã đồng ý ký thỏa thuận hòa giải toàn diện ở Paris. Ngày 14 tháng 11 năm 1991, Hoàng thân Norodom Sihanouk trở về Campuchia sau 13 năm lưu vong. Trong cuộc bầu cử 1993, đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia thất cử. Sihanouk đã can thiệp để buộc con trai là Hoàng thân Ranariddh và đảng FUNCIPEC của ông này tiếp nhận Hun Sen làm đồng thủ tướng nhằm đổi lấy việc trở lại ngai vàng. Sau đó Hun Sen thực hiện đảo chính đổ máu lật đổ Hoàng thân Ranariddh vào năm 1997. Năm 1993, Sihanouk lại trở thành quốc vương Campuchia và con trai ông, thái tử Norodom Ranariddh làm thủ tướng. Theo Hiến pháp của Campuchia, quốc vương chỉ "trị vì nhưng không cai trị". Do bệnh tật, ông phải đi lại chữa trị ở Bắc Kinh nhiều lần. Thú tiêu khiển của Sihanouk: sáng tác âm nhạc bằng các thứ tiếng khác nhau (tiếng Khmer, tiếng Pháp và tiếng Anh), đạo diễn nhiều bộ phim và chỉ huy dàn nhạc. Ông có website riêng. Tháng 1 năm 2004, ông tự chuyển sang sống lưu vong tại Bình Nhưỡng, sau đó là Bắc Kinh, lấy lý do sức khỏe kém, ông tuyên bố thoái vị ngày 7 tháng 10 năm 2004. Hiến pháp Campuchia không cho phép tự thoái vị. Chea Sim, Chủ tịch Thượng viện Campuchia, tạm nắm giữ chức Quyền nguyên thủ Nhà nước cho đến ngày 14 tháng 10 khi Hội đồng Tôn vương bầu Norodom Sihamoni – một trong những người con trai của Sihanouk - lên làm quốc vương mới. == Qua đời == Sihanouk qua đời vì bệnh tim tại thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc vào lúc 2 giờ 25 phút ngày 15 tháng 10 năm 2012 theo giờ địa phương. Hai ngày sau, Quốc vương Norodom Sihamoni tới Bắc Kinh mang di hài cha mình về Campuchia. == Tang lễ == Sau một tuần tang lễ vào tháng 10 năm 2012, thi hài ông được lưu giữ trong Cung điện Hoàng gia để người dân tới bày tỏ sự tôn kính cuối cùng. Vào ngày 4 tháng 2 năm 2013 (sau ba tháng được lưu giữ trong Cung điện Hoàng gia), Campuchia tiến hành lễ hỏa thiêu thi hài cựu quốc vương Norodom Sihanouk. Một phần tro cốt của ông được rải gần nơi hợp lưu của 4 con sông tại Phnom Penh. Trong khi phần tro cốt còn lại sẽ được đưa về cung điện hoàng gia vào ngày 7 tháng 2 năm 2013, nằm cạnh cô con gái Kunthea Buppha, theo ý nguyện của cựu quốc vương. === Gia phổ Miên triều thế kỷ 19-21 === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web của Norodom Sihanouk New York Times Cambodian king backs gay marriage Mạng của vua Campuchia nổi danh Norodom Sihanouk's Memoirs: A Review Biographies de politiciens cambodgiens Quốc vương Norodom Sihanouk ngỏ ý muốn thoái vị
sân vận động thiên niên kỷ.txt
Sân vận động Thiên niên kỷ (tiếng Wales: Stadiwm y Mileniwm) là sân vận động quốc gia của Wales, nằm tại Cardiff. Đây là sân nhà của đội tuyển bóng bầu dục quốc gia Wales và của Đội tuyển bóng đá quốc gia Wales. Ban đầu sân được xây để tổ chức Rugby World Cup 1999 , sau này nơi đâu dùng để tổ chức rất nhiều sự kiện lớn, như buổi hòa nhạc Tsunami Relief, Super Special Stage thuộc Wales Rally Great Britain, Speedway Grand Prix of Great Britain và các buổi diễn ca nhạc khác. Sân Thiên niên kỷ được sở hữu bởi Millennium Stadium plc công ty con của Liên đoàn bầu dục Wales (WRU). Sân được thiết kế chính bởi Bligh Lobb Sports Architecture. WS Atkins xây dựng, và được đấu thầu bởi Laing. Chi phí xây dựng sân rơi vào £121 triệu. Sân mở cửa vào tháng 6 năm 1999 sự kiện chính đầu tiên là trận giao hữu bóng bầu dục ngày 26 tháng 6 năm 1999, khi Wales đánh bại Nam Phi 29–19 trước sự chứng kiến của 29,000 khán giải. Với tổng cộng 74,500 chỗ ngồi, đây là sân lớn thứ ba trong Six Nations Championship sau Stade de France và Twickenham. Đây cũng là sân vận động có mái che di động lớn thứ 2 thể giới là sân vận động thứ hai ở châu Âu có điều này. Sân được xếp hạng Loại 4 bởi UEFA, đây là nơi diễn ra trận chung kết UEFA Champions League 2017. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ Millennium Stadium on the Populous website
national league (bóng đá anh).txt
National League là hệ thống giải đấu của Hiệp hội bóng đá Anh gồm có ba giải đấu, National League, National League North và National League South. Khoảng một nửa các câu lạc bộ ở Giải National League là câu lạc bộ chuyên nghiệp trong khi hầu hết các câu lạc bộ ở hai Giải National League North và National League South là câu lạc bộ bán chuyên nghiệp. Giải Bóng đá Hội nghị Bắc và Giải Bóng đá Hội nghị Nam thuộc hạng 6 còn Giải Bóng đá ngoại hạng Hội nghị thuộc hạng 5 của bóng đá Anh. National League (Bóng đá Anh) chỉ bao gồm một khu vực cho đến năm 2004. Mùa giải 2004-2005, Giải đấu này được mở rộng khắp toàn lãnh thổ của nước Anh. Vào tháng 7 năm 2014, Giải đấu có nhà tài trợ là Vanarama được gọi là Vanarama National League. Bắt đầu mùa giải 2015-16, giải đấu đã được đặt tên là National League, trước đây được gọi là Football Conference. == Thể lệ giải đấu == Football Conference thuộc hệ thống Liên đoàn Quốc gia (NLS) (tên gọi là: National League System) với hơn 50 giải đấu khác nhau dưới sự lãnh đạo của Hiệp hội Bóng đá Anh. National League có 24 câu lạc bộ trong khi National League North và National League South đều có 22 câu lạc bộ tham dự. Mỗi câu lạc bộ gặp câu lạc bộ khác trong giải đấu hai lần trong một mùa giải, một lần ở sân nhà và một lần ở sân khách. Câu lạc bộ được ba điểm cho một trận thắng, một điểm cho một trận hoà và không có điểm nào cho một trận thất bại. Vào cuối mỗi mùa giải, hai câu lạc bộ được thăng hạng từ National League lên Football League Two và hai đội đến từ League Two được chuyển xuống National League để thế chỗ của hai đội đó. Hai suất thăng hạng được trao cho nhà vô địch National League và đội giành chiến thắng đấu loại trực tiếp trên sân nhà và sân khách ở vòng bán kết đối với những câu lạc bộ kết thúc vị trí thứ hai đến thứ năm trong bảng xếp hạng. Ở cuối bảng xếp hạng, bốn câu lạc bộ dưới cùng thuộc giải National League phải xuống hạng National League North hoặc National League South tùy theo vị trí địa lý. Bốn đội xuống hạng được thay thế bởi bốn đội thăng hạng, hai đội từ National League North và hai đội từ National League South. Đối với mỗi giải đấu National League North hoặc National League South thì hai suất thăng hạng sẽ là nhà vô địch và đội chiến thắng vòng chung kết tranh suất thăng hạng giữa các câu lạc bộ kết thúc từ vị trí thứ hai đến vị trí thứ năm trong bảng xếp hạng. == Lịch sử == National League được thành lập vào năm 1979 từ các đội bóng hàng đầu ở Northern Premier League và Southern League. Ban đầu được biết đến như là Giải Alliance Premier Football League. Các câu lạc bộ thành viên sáng lập là: == Các nhà tài trợ == Từ năm 1984, National League đã được công chúng biết đến bởi tên của một chuỗi các nhà tài trợ chính thức. Tên chính thức được đổi từ Alliance Premier đến Football Conference trong năm 1986. Dưới đây là danh sách các nhà tài trợ và những cách gọi các giải đấu: 1984–1986: Gola (Gola League) 1986–1998: General Motors (GM Vauxhall Conference) 1998–2007: Nationwide Building Society (Nationwide Conference, and from 2004 additionally Nationwide Conference North / Nationwide Conference South) 2007–2010: Blue Square (Blue Square Premier / Blue Square North / Blue Square South) 2010–2013: Blue Square Bet (Blue Square Bet Premier / Blue Square Bet North / Blue Square Bet South) known by fans as the Blue Square Group 2013–2014: Skrill (Skrill Premier/ Skrill North/ Skrill South) 2014–2015: Vanarama (Vanarama Conference/ Vanarama Conference North/ Vanarama Conference South) 2015–: Vanarama (Vanarama National League / Vanarama National League North / Vanarama National League South) == Các câu lạc bộ National League mùa giải 2015-16 == Danh sách các câu lạc bộ tham gia mùa giải 2015-16: == Các Đội đã từng tham dự Football League == == Các Đội vô địch Football Conference == * Thăng hạng lên The Football League (Hạng tư từ năm 1992, Hạng ba từ năm 1992 đến năm 2004 và League Two từ 2004) ** Không thăng hạng ** Không thăng hạng. Trong mùa giải 2004–05, chỉ có 3 đội bóng được thăng hạng lên Conference Premier. Trận chung kết được tổ chức tại sân vân động Britannia của Câu lạc bộ Stoke, khi đó Eastbourne của Conference South để thua 2–1 bởi Altrincham. == Giải Football Conference Cup == Hội nghị bóng đá đã tổ chức một cuộc thi đấu cúp cho các thành viên trong suốt lịch sử và bị hủy bỏ vào năm 2009 vì không tìm được nhà tài trợ. Giải Football Conference Cup được biết đến ban đầu là Bob Lord Trophy và sau đó là Spalding Cup từ mùa giải 1995-1996 đến mùa giải 2000-2001, Giải đấu được phục hồi trong mùa giải 2007-2008 khi Football Conference Cup được tài trợ bởi Setanta Sports. Danh sách các đội bóng vô địch: == Câu lạc bộ bóng đá từng tham dự Football League bây giờ ở National League == == Các nhà vô địch National League == == Conference League Cup == === Các nhà vô địch === == Former National League clubs now in the Football League == == Chú thích == == Xem thêm == Southern Football League Giải bóng đá liên đoàn phía nam Anh Lv8 Northern Premier League Giải bóng đá ngoại hạng phía bắc Anh Lv8 Isthmian League Giải Isthmian League Lv7 Football League Two Giải bóng đá hạng hai Anh Lv4 Football League One Giải bóng đá hạng nhất Anh Lv3 Football League Championship Giải vô địch bóng đá Anh Lv2 Football League Giải bóng đá liên đoàn Anh Giải bóng đá Ngoại hạng Anh The Premier League Lv1 == Liên kết khác == Website chính thức
kayak.txt
Kayak là một chiếc thuyền tương đối nhỏ và hẹp, được điều khiển hoàn toàn bằng sức người, thiết kế chủ yếu để được tự đẩy bằng mái chèo tay. Kayak truyền thống có một boong và một hoặc nhiều buồng lái, mỗi chỗ ngồi một tay chèo. Buồng lái được bao phủ bởi một nắp boong để ngăn sự xâm nhập của nước từ sóng hoặc tia nước và giúp cho những người chơi kayak lâu năm cảm thấy thoải mái và thực hiện kĩ năng "cuộn kayak" (Eskimo roll), một động tác lật phải kayak mà nắp boong sẽ giúp cho nước không tràn vào boong. Một số loại thuyền kayak hiện đại thay đổi đáng kể so với thiết kế truyền thống nhưng vẫn giữ thiết kế cơ bản của một chiếc kayak, ví dụ trong việc loại bỏ buồng lái của các chỗ ngồi chèo trên thuyền (thuyền kayak "seat-on-top"); buồng không khí xung quanh thuyền được làm phồng lên; thay thế vỏ đơn bằng vỏ đôi ("W" kayak), và thay thế mái chèo bằng tay với các thiết bị hỗ trợ khác, ví dụ như cánh quạt chạy bằng động đạp bằng chân. Kayak cũng dần trở thành một loại thuyền, bằng việc được đẩy bằng động cơ điện nhỏ, và thậm chí cả các thiết bị khí động học được lắp thêm bên ngoài. == Lịch sử == Kayak lần đầu tiên được sử dụng bởi các Aleut bản địa, người Inuit, Yupik và có thể Ainu thợ săn ở vùng cận Bắc Cực. Kayak (Inuktitut: qajaq (ᖃᔭᖅ [ qɑjɑq ]), Aleut: Iqyax) ban đầu được phát triển bởi người Inuit, Yup'ik, và Aleut. Họ đã sử dụng các tàu thuyền đi săn trên các hồ ở địa phương, các con sông và vùng nước ven biển của Bắc Băng Dương, Bắc Đại Tây Dương, biển Bering và biển Bắc Thái Bình Dương. Những thuyền kayak đầu tiên được làm từ da hải cẩu hoặc da động vật khác trải phủ trên một khung gỗ hoặc tấm sừng hàm trên - xương. (Người bản địa Alaska Tây sử dụng gỗ trong khi phía đông Inuit sử dụng các tấm sừng hàm trên do cảnh quan không có cây). Kayak được cho là có ít nhất 4.000 năm tuổi. Các thuyền kayak hiện lâu đời nhất được trưng bày trong các bộ phận Bắc Mỹ của Bảo tàng Dân tộc học Nhà nước tại Munich. Người dân bản địa có nhiều loại thuyền cho các mục đích khác nhau. Các baidarka, được phát triển bởi các nền văn hóa bản địa ở Alaska, cũng đã được thực hiện trong các thiết kế buồng lái đôi hoặc gấp ba, cho săn bắn và vận chuyển hành khách, hàng hoá. Một umiak là một chiếc xuồng lớn mở biển, từ 17 đến 30 feet (5,2-9,1 m), được làm bằng da hải cẩu và gỗ. Nó được coi là một kayak mặc dù ban đầu nó được chèo thuyền với mái chèo cánh đơn, và thường có nhiều hơn một người chèo. Những chiếc kayak bản địa được thiết kế và xây dựng dựa trên kinh nghiệm của chính người dân và của các thế hệ tổ tiên trước đó được đúc kết từng ngày hoặc thông qua truyền miệng. Từ " thuyền kayak " có nghĩa là " thuyền của con người " hay " thuyền thợ săn ", và kayak bản địa là một nghề thủ công cá nhân, được làm ra bởi người đàn ông sử dụng nó - với sự hỗ trợ từ người vợ của mình, người may da và thuộc da phù hợp kích thước của chiếc thuyền cho khả năng cơ động tối đa. Một chiếc áo khoác da đặc biệt mang tên Tuilik, sau đó đã được phủ lên kayak, tạo ra một lớp vỏ làm bằng da hải cẩu không thấm nước. Điều này cho phép "cuộn kayak" (Eskimo roll) để trở thành động tác ưa thích để lấy lại tư thế sau khi lật thuyền, đặc biệt là khingười Eskimo khó có thể bởi vì vùng biển của họ là quá lạnh đối với một vận động viên để tồn tại trong thời gian dài. Thay vì mặc áo tuilik, hầu hết kayakers truyền thống hiện nay sử dụng một tấm phủ làm bằng vật liệu tổng hợp không thấm nước đủ co giãn để phù hợp khít với xung quanh vành buồng lái và cơ thể của kayaker, và có thể được tháo ra nhanh chóng từ buồng lái cho phép kayaker thoát khỏi thuyền dễ dàng. Người Eskimo làm chiếc thuyền Kayak dựa trên kích thước cơ thể của họ. Chiều dài là thường gấp ba lần chiều dài cánh tay dang ra của họ. Chiều rộng ở buồng lái là chiều rộng của hông của người làm thuyền cộng với hai nắm đấm tay (và đôi khi ít hơn). Độ sâu trung bình của khoang thuyền bằng nắm tay của họcộng với độ dài ngón tay cái giơ thẳng. Do đó kích thước trung bình của kayak là khoảng 17 feet (5,2 m) dài 20-22 inches (51–56 cm), rộng 7 inch (18 cm) sâu. Hệ thống đo lường và kích thước con người ở các quốc gia khác nhau nên ở mỗi nước, kích thước kayak lại mỗi khác. Những người tham hiểm châu Âu đầu tiên đã từng định làm một chiếc kayak lớn gấp đôi của người Eskimo. Kayak truyền thống bao gồm ba loại: Baidarkas, Kayak Tây Greenland và kayak Đông Greenland. Hầu hết những người Aleut tại quần đảo Aleutian về phía đông đến Greenland Inuit dựa vào kayak để săn bắn một loạt các con mồi chủ yếu là hải cẩu, mặc dù cá voi và tuần lộc là quan trọng trong một số lĩnh vực. Kayak da -on -frame đang được sử dụng để săn bắn của người dân Inuit ở Greenland, bởi vì làn da mịn màng và linh hoạt lướt âm thầm qua những con sóng. Ở các bộ phận khác trên thế giới xây dựng nhà đang tiếp tục truyền thống của da trên thuyền kayak khung, thường là với da hiện đại của vải hoặc vải tổng hợp, chẳng hạn như sc. nylon tổng hợp. Kayak truyền thống theo phong cách hiện đại theo dõi nguồn gốc của họ chủ yếu để các tàu thuyền bản địa Alaska, phía bắc Canada, và Tây Nam Greenland. Kayak gỗ và kayak vải trên khung bằng gỗ thống trị thị trường cho đến năm 1950, khi sợi thủy tinh thuyền lần đầu tiên được giới thiệu tại Mỹ, và thuyền cao su bơm hơi đầu tiên vải đã được giới thiệu ở châu Âu. Kayak nhựa Rotomolded đầu tiên xuất hiện vào năm 1973, và hầu hết các thuyền kayak ngày nay được làm từ nhựa Poletheylene roto- đúc. Sự phát triển của nhựa và kayak bơm hơi cao su cho là bắt đầu sự phát triển của chèo thuyền kayak tự do như chúng ta thấy ngày hôm nay, kể từ khi các tàu thuyền có thể được làm nhỏ hơn, mạnh mẽ hơn và đàn hồi hơn sợi thủy tinh thuyền. == Chú thích == == Tham khảo ==
tỷ giá hối đoái.txt
Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác. Ví dụ, một tỷ giá hối đoái liên ngân hàng của yên Nhật (JPY, ¥) với đô la Hoa Kỳ (US$) là 91 có nghĩa là 91 Yên sẽ được trao đổi cho mỗi 1 USD hoặc 1 USD sẽ được trao đổi cho mỗi 91 Yên. Gọi là giá cả vì Tỷ giá hối đoái được xác định trong thị trường ngoại hối, rộng mở cho một loạt loại người mua và người bán khác nhau nơi việc trao đổi tiền tệ là liên tục: 24 giờ một ngày, ngoại trừ những ngày cuối tuần, tức là giao dịch từ 20:15 GMT Chủ nhật cho đến 22:00 GMT thứ Sáu. Tỷ giá giao ngay đề cập đến tỷ giá hối đoái hiện hành. Tỷ giá kỳ hạn đề cập đến một tỷ giá được báo giá và trao đổi hôm nay nhưng cho giao hàng và thanh toán vào một ngày trong tương lai cụ thể. Để ổn định nền kinh tế trong nước thì phải điều chỉnh giá đồng nội tệ sao cho hợp lý. Nếu đồng nội tệ lên giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, do đó người dân có xu hướng tiêu dùng hàng nhập khẩu nhiều hơn, làm hạn chế hoạt động xuất khẩu, thu hẹp sản xuất trong nước, mặc dù giảm lạm phát nhưng thất nghiệp gia tăng. Nếu đồng nội tệ mất giá, thì lạm phát lên cao. Trong thị trường ngoại hối bán lẻ, tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra khác nhau sẽ được báo giá bởi các đại lý đổi tiền. Hầu hết các trao đổi đều liên quan đến đồng nội tệ. Tỷ giá mua vào là tỷ giá mà các đại lý đổi tiền sẽ mua ngoại tệ và tỷ giá bán ra là tỷ giá mà họ sẽ bán ngoại tệ. Tỷ giá được báo giá sẽ kết hợp dự phòng cho biên của đại lý (hoặc lợi nhuận) trong trao đổi, hoặc biên có thể được phục hồi trong hình thức của một "hoa hồng" hoặc trong một số cách khác. tỷ giá khác nhau cũng có thể được báo giá cho tiền mặt (thường chỉ ghi chú), một hình thức tài liệu (chẳng hạn như các séc du lịch) hoặc điện tử (ví dụ như mua bằng thẻ tín dụng). Tỷ giá cao hơn về các giao dịch tài liệu là do thời gian và chi phí thanh toán bù trừ tài liệu bổ sung, trong khi tiền mặt có sẵn để bán lại ngay lập tức. Một số đại lý, mặt khác, lại thích các giao dịch tài liệu bởi vì những mối quan tâm an ninh với tiền mặt. == Thị trường ngoại hối bán lẻ == Mọi người có thể cần phải trao đổi tiền tệ trong một số tình huống. Ví dụ, người có ý định du hành đến nước khác có thể mua ngoại tệ tại một ngân hàng ở đất nước của họ, nơi họ có thể mua ngoại tệ tiền mặt, séc du lịch hoặc một thẻ du hành. Từ quầy đổi tiền địa phương mà họ chỉ có thể mua ngoại tệ tiền mặt. Tại điểm đến, du khách có thể mua tiền tệ địa phương tại sân bay, hoặc từ một đại lý hoặc thông qua máy ATM. Họ cũng có thể mua đồng nội tệ ở khách sạn, quầy đổi tiền địa phương, thông qua các máy ATM, hoặc tại một chi nhánh ngân hàng. Khi họ mua hàng trong một cửa hàng và họ không có tiền tệ địa phương, họ có thể sử dụng một thẻ tín dụng, mà thẻ này chuyển đổi sang đồng nội tệ của người mua theo tỷ giá hiện hành của nó. Nếu họ có séc du lịch hoặc thẻ du lịch theo đồng nội tệ, trao đổi phi tiền tệ là cần thiết. Sau đó, nếu một du khách có bất kỳ ngoại tệ nào còn lại khi họ trở về nhà, họ có thể muốn bán nó, và họ có thể làm tại ngân hàng địa phương của họ hoặc quầy đổi tiền. Tỷ giá hối đoái cũng như phí, lệ phí có thể thay đổi đáng kể trên mỗi giao dịch này, và tỷ giá hối đoái có thể thay đổi từ ngày này sang ngày khác. Có những thay đổi trong tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra được niêm yết đối với một loại tiền tệ giữa các đại lý ngoại hối và các hình thức trao đổi, và những thay đổi này có thể là đáng kể. Ví dụ, tỷ giá hối đoái tiêu dùng được sử dụng bởi Visa và MasterCard cung cấp mức giá hối đoái có lợi nhất, theo một nghiên cứu giao dịch tiền tệ được thực hiện bởi CardHub.com. Tổ chức này đã nghiên cứu các ngân hàng của người tiêu dùng ở Mỹ, và Travelex, cho thấy rằng các mạng lưới thẻ tín dụng tiết kiệm cho du khách khoảng 8% so với các ngân hàng và khoảng 15% so với các công ty sân bay. == Báo giá == Một cặp tiền tệ là báo giá các giá trị tương đối của một đơn vị tiền tệ so với một đơn vị tiền tệ khác trên thị trường ngoại hối. Báo giá EUR/USD 1,2500 có nghĩa là 1 Euro đổi được 1,2500 USD. Ở đây, EUR được gọi là "tiền tệ cơ sở" hoặc "tiền tệ đơn vị", trong khi USD được gọi là "tiền tệ điều kiện" hoặc "tiền tệ làm giá". Có một quy ước thị trường xác định đâu là tiền tệ cơ sở và đâu là tiền tệ điều kiện. Trong hầu hết các nơi trên thế giới, theo thứ tự là: EUR - GBP - AUD - NZD - USD - những tiền tệ khác. Theo đó, một chuyển đổi từ EUR sang AUD, EUR là tiền tệ cơ sở, là AUD là tiền tệ điều kiện và tỷ giá hối đoái cho biết bao nhiêu đô la Úc sẽ phải thanh toán để nhận được 1 Euro. Síp và Malta đã được trích dẫn như là cơ sở đối với đồng USD và những đồng tiền khác gần đây đã được gỡ bỏ khỏi danh sách này khi họ tham gia vào khu vực đồng tiền chung châu Âu. Ở một số vùng của châu Âu và thị trường không chuyên nghiệp ở Anh, EUR và GBP được đảo ngược để GBP được trích dẫn như là tiền tệ cơ bản đối với đồng euro. Để xác định đó là đồng tiền cơ sở khi mà cả hai đồng tiền không được liệt kê (tức là cả hai đều là "đồng tiền khác"), quy ước thị trường là sử dụng đồng tiền cơ sở mà nó đưa ra một tỷ giá lớn hơn 1,000. Điều này tránh các vấn đề làm tròn số và tỷ giá hối đoái được báo giá hơn 4 chữ số thập phân. Có một số trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này ví dụ Nhật Bản thường báo giá tiền tệ của họ như là cơ sở đối với các đồng tiền khác. Các báo giá sử dụng đồng nội tệ của một quốc gia làm đồng tiền tính giá (ví dụ, EUR 0,735342 = 1,00 USD trong khu vực châu Âu) được gọi là báo giá trực tiếp hoặc báo giá làm giá (từ quan điểm của nước đó) và được sử dụng bởi hầu hết quốc gia. Các báo giá sử dụng đồng nội tệ của một quốc gia là đồng tiền đơn vị (ví dụ, EUR 1.00 = 1,35991 USD trong khu vực châu Âu) được gọi là báo giá gián tiếp hoặc báo giá số lượng và được sử dụng trên báo chí Anh và cũng rất phổ biến tại Úc, Tân Tây Lan và khu vực châu Âu. Sử dụng báo giá trực tiếp, nếu đồng nội tệ được tăng cường (ví dụ, đánh giá cao, hoặc trở nên có giá trị hơn) thì con số tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, nếu đồng tiền nước ngoài được tăng cường, con số tỷ giá hối đoái tăng và đồng nội tệ là mất giá. Quy ước thị trường từ đầu những năm 1980 đến năm 2006 là hầu hết các cặp tiền tệ đã được báo giá đến 4 chữ số thập phân cho các giao dịch giao ngay và lên đến 6 chữ số thập phân cho các giao dịch kỳ hạn hoặc hoán đổi. (Số thập phân thứ tư thường được gọi là một "pip"). Một ngoại lệ là tỷ giá hối đoái với giá trị dưới 1,000 mà thường được báo giá tới 5 hoặc 6 chữ số thập phân. Mặc dù không có quy định, tỷ giá hối đoái cố định với một giá trị lớn hơn 20 thường được báo giá đến 3 chữ số thập phân và các đồng tiền có giá trị lớn hơn 80 đã được báo giá đến 2 chữ số thập phân. Các tiền tệ lớn hơn 5000 thường được báo giá không có chữ số thập phân (ví dụ như Lia Thổ Nhĩ Kỳ trước đây). ví dụ (GBPOMR: 0,765432 -: 1,4436 - EURJPY: 165,29). Nói cách khác, các báo giá được đưa ra với 5 chữ số. Khi nào có tỷ giá dưới 1, các báo giá thường bao gồm 5 chữ số thập phân. Năm 2005 Barclays Capital đã phá vỡ quy ước bằng cách cung cấp tỷ giá hối đoái giao ngay với 5 hoặc 6 chữ số thập phân trên nền tảng xử lý điện tử của họ. Sự co lại này của spreads (sự khác biệt giữa giá bán và giá mua) cho là đòi hỏi phải có giá cả tinh vi hơn và cho các ngân hàng khả năng cố gắng và giành chiến thắng giao dịch trên các nền tảng trao đổi đa ngân hàng nơi mà tất cả các ngân hàng có thể đã và đang báo giá cùng một mức giá. Một số ngân hàng khác hiện nay đã theo hệ thống này. == Chế độ tỷ giá == Mỗi quốc gia, thông qua các cơ chế khác nhau, quản lý giá trị đồng tiền của mình. Như là một phần của chức năng này, nó quyết định chế độ tỷ giá hối đoái sẽ áp dụng cho đồng tiền của mình. Ví dụ, tiền có thể được thả nổi tự do, bị chốt hay cố định, hoặc kết hợp cả hai. Nếu một đồng tiền là thả nổi tự do, tỷ giá hối đoái được phép thay đổi so với các đồng tiền khác và được xác định bởi các lực cung và cầu thị trường. Tỷ giá hối đoái cho các đồng tiền như vậy có khả năng thay đổi gần như liên tục như được báo giá trên các thị trường tài chính, chủ yếu là bởi các ngân hàng, trên toàn thế giới.Theo tỷ giá trực tiếp, khi tỷ giá tăng, thì một đồng đổi được ít hơn đồng ngoại tệ hay có thể nói là đồng bản tệ giảm giá. Một hệ thống di chuyển hoặc chốt có thể điều chỉnh là một hệ thống các tỷ giá hối đoái cố định, nhưng với một điều khoản cho việc định giá lại (thường là giảm giá) của một đồng tiền. Ví dụ, từ năm 1994 đến năm 2005, đồng Nhân dân tệ Trung Quốc (RMB) với Hoa Kỳ đô la đã bị chốt tại 8,2768 Nhân dân tệ ăn 1 đô-la. Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất làm điều này; từ cuối Chiến tranh Thế giới II cho đến năm 1967, tất cả các nước Tây Âu duy trì tỷ giá hối đoái cố định với đồng đô la Mỹ dựa trên hệ thống Bretton Woods. [1] Nhưng hệ thống này đã phải bị hủy bỏ do ủng hộ của các chế độ tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường, thả nổi do áp lực thị trường và suy đoán trong những năm 1970. Tuy nhiên, một số chính phủ vẫn cố giữ tiền tệ của họ trong một phạm vi hẹp. Kết quả là, tiền tệ trở thành bị đánh giá quá cao hay bị đánh giá quá thấp, dẫn đến thâm hụt hoặc thặng dư trao đổi quá mức. == Biến động tỷ giá hối đoái == Một tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường sẽ thay đổi bất cứ khi nào các giá trị của một trong hai tiền tệ thành phần thay đổi. Một đồng tiền sẽ có xu hướng trở nên có giá trị hơn bất cứ khi nào nhu cầu cho nó lớn hơn cung cấp có sẵn. Nó sẽ trở nên ít có giá trị bất cứ khi nào nhu cầu thấp hơn cung cấp có sẵn (điều này không có nghĩa là người ta không còn muốn tiền, nó chỉ có nghĩa là họ muốn nắm giữ của cải của họ trong một số hình thức khác, có thể là một đồng tiền khác). Tăng nhu cầu về một loại tiền tệ có thể là do một trong hai giao dịch cầu tiền tăng hoặc một nhu cầu đầu cơ tăng đối với tiền. Nhu cầu giao dịch liên quan chặt chẽ đến mức độ hoạt động kinh doanh của một quốc gia, (GDP) tổng sản phẩm quốc nội, và mức độ việc làm. Càng nhiều người thất nghiệp, ít công chúng như một toàn thể sẽ chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ. Các ngân hàng trung ương thường có chút ít khó khăn điều chỉnh cung tiền có sẵn để cung cấp cho những thay đổi trong nhu cầu sử dụng tiền do các nghiệp vụ kinh doanh. Nhu cầu đầu cơ là khó khăn hơn nhiều đối với các ngân hàng trung ương để thích ứng, do chúng bị ảnh hưởng bởi sự điều chỉnh lãi suất. Một nhà đầu cơ có thể mua một đồng tiền nếu trả lại (có nghĩa là lãi suất) là đủ cao. Nói chung, nếu lãi suất của một quốc gia càng cao, nhu cầu đối với đồng tiền đó sẽ càng lớn. Có lập luận cho rằng đầu cơ như vậy có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế thực sự, đặc biệt là do các nhà đầu cơ tiền tệ lớn cố tình có thể tạo ra áp lực giảm một đồng tiền bằng cách bán khống để buộc ngân hàng trung ương đó mua tiền tệ của mình để giữ cho nó ổn định. (Khi điều đó xảy ra, nhà đầu cơ này có thể mua đồng tiền trở lại sau khi nó mất giá, đóng vị trí của họ, và do đó có lợi nhuận.) Đối với các công ty vận tải vận chuyển hàng hóa từ một quốc gia này tới một quốc gia khác, tỷ giá hối đoái thường có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới họ. Vì vậy, hầu hết các nhà vận chuyển có một hệ số điều chỉnh tiền tệ (CAF) tính vào tài khoản cho những biến động này. == Sức mua của đồng tiền == Tỷ giá hối đoái thực tế (RER) là sức mua của một đồng tiền so với các đồng tiền khác. Nó được dựa trên số giảm phát GDP đo lường mức giá tại các quốc gia trong và ngoài nước ( P , P f {\displaystyle P,P^{f}} ), được tự đặt ra bằng một trong một năm cơ sở nhất định. Do đó, mức độ của RER được tự đặt ra tùy thuộc vào năm được chọn là năm cơ sở cho giảm phát GDP của hai nước. Những thay đổi của RER thay vào đó là thông tin về sự tiến hóa theo thời gian của giá tương đối của một đơn vị GDP ở nước ngoài trong các điều khoản của các đơn vị GDP trong nước của quốc gia. Nếu tất cả các hàng hóa được trao đổi tự do, người dân nước ngoài và trong nước mua giỏ hàng hóa giống hệt nhau, sức mua tương đương (PPP) sẽ nắm giữ số giảm phát GDP của hai nước này, và RER sẽ là không đổi và bằng một. == Tỷ giá hối đoái song phương và tỷ giá hối đoái hiệu quả == Tỷ giá hối đoái song phương liên quan đến một cặp tiền tệ, trong khi tỷ giá hối đoái hiệu quả là bình quân gia quyền của một rổ ngoại tệ, và nó có thể được xem như là một số đo tổng hợp của năng lực cạnh tranh đối ngoại của quốc gia. Một tỷ giá hối đoái hiệu quả danh nghĩa (NEER) được gia quyền với tỉ lệ nghịch với khối lượng trao đổi tiệm cận. Một tỷ giá hối đoái hiệu quả thực (REER) điều chỉnh NEER bởi mức giá nước ngoài thích hợp và xả hơi bằng mức giá quốc nội. So với NEER, một GDP được gia quyền tỷ giá hối đoái hiệu quả có thể thích hợp hơn khi xem xét hiện tượng đầu tư toàn cầu. == Tương đương lãi suất không bị kiểm soát == Tương đương lãi suất không bị kiểm soát (UIRP) cho rằng một sự đánh giá cao hoặc làm mất giá của đồng tiền này so với đồng tiền khác có thể bị vô hiệu hóa bởi một sự thay đổi trong sự khác biệt lãi suất. Nếu lãi suất của Mỹ tăng trong khi lãi suất của Nhật Bản vẫn không thay đổi thì đồng đô la Mỹ sẽ có thể mất giá so với đồng yên Nhật Bản bởi một số lượng ngăn chặn chênh lệch (trong thực tế điều ngược lại, sự đánh giá cao, xảy ra khá thường xuyên trong ngắn hạn, như được giải thích dưới đây). Tỷ giá hối đoái tương lai được phản ánh vào tỷ giá kỳ hạn được nói hôm nay. Trong ví dụ của chúng ta, tỷ giá hối đoái kỳ hạn của đồng đô la được cho là một sự giảm giá bởi vì nó mua được ít yên Nhật hơn trong tỷ giá kỳ hạn so với trong tỷ giá giao ngay. Đồng yên được cho là được đánh giá cao. UIRP không cho thấy có bằng chứng hoạt động kể từ những năm 1990. Trái với lý thuyết này, các đồng tiền có lãi suất cao thường được đánh giá cao một cách đặc trưng hơn là bị đánh giá thấp để có được lợi ích từ việc ngăn chặn lạm phát và một đồng tiền có lợi suất cao. == Mô hình cán cân thanh toán == Mô hình cán cân thanh toán cho rằng tỷ giá hối đoái đang ở mức cân bằng nếu chúng tạo ra số dư tài khoản vãng lai ổn định. Một quốc gia với một thâm hụt trao đổi sẽ bị giảm trong dự trữ ngoại hối của nó, mà cuối cùng làm giảm (mất giá) giá trị của đồng tiền của nó. Một đồng tiền rẻ hơn (bị định giá thấp) làm cho hàng hóa của quốc gia này (xuất khẩu) có giá cả phải chăng hơn trên thị trường toàn cầu trong khi làm cho hàng nhập khẩu đắt tiền hơn. Sau một thời gian trung gian, nhập khẩu sẽ bị buộc phải giảm xuống và xuất khẩu tăng lên, do đó ổn định cán cân trao đổi và mang tiền tệ này về với trạng thái cân bằng. Giống như sức mua tương đương, mô hình cán cân thanh toán tập trung chủ yếu vào các hàng hóa và dịch vụ có thể trao đổi, bỏ qua vai trò ngày càng tăng của các dòng vốn toàn cầu. Nói cách khác, tiền không chỉ chạy theo hàng hóa và dịch vụ, mà còn ở một mức độ lớn hơn, theo các tài sản tài chính như cổ phiếu và trái phiếu. Dòng chảy của chúng mục tài khoản vốn của cán cân thanh toán, do đó cán cân thâm hụt trong tài khoản vãng lai. Sự gia tăng trong các dòng vốn đã làm tăng mô hình thị trường tài sản. == Mô hình thị trường tài sản == Khối lượng trao đổi ngày càng tăng của các tài sản tài chính (cổ phiếu và trái phiếu) đã yêu cầu tính toán lại các tác động của nó trên tỷ giá hối đoái. Các biến số kinh tế như tăng trưởng kinh tế, lạm phát và năng suất không còn là các dẫn dắt duy nhất của các chuyển dịch tiền tệ. Tỷ lệ các giao dịch ngoại hối xuất phát từ trao đổi xuyên biên giới các tài sản tài chính đã làm lu mờ mức độ các giao dịch tiền tệ được tạo ra từ trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Phương pháp tiếp cận thị trường tài sản xem tiền tệ như các giá tài sản được trao đổi trong một thị trường tài chính hiệu quả. Do đó, tiền tệ đang ngày càng thể hiện một tương quan mạnh mẽ với các thị trường khác, đặc biệt là thị trường vốn cổ phần. Như trên sàn giao dịch chứng khoán, tiền có thể được làm ra (hoặc mất đi) trong trao đổi bởi các nhà đầu tư và các nhà đầu cơ trong thị trường ngoại hối. Tiền tệ có thể được trao đổi trên các thị trường giao ngay và các thị trường quyền chọn ngoại hối. Các thị trường giao ngay đại diện cho tỷ giá hối đoái hiện tại, trong khi các quyền chọn là các phái sinh của tỷ giá hối đoái. == Thao túng tỷ giá hối đoái == Một quốc gia có thể đạt được lợi thế trong thương mại quốc tế nếu nó thao túng thị trường ngoại hối đối với đồng tiền của mình để giữ giá trị của nó thấp một cách giả tạo, thường là bởi tham gia ngân hàng trung ương quốc gia vào hoạt động thị trường mở. Điều này đã được lập luận bởi các nhà lập pháp Mỹ rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã và đang hành động theo cách đó trong một thời gian dài. Trong năm 2010, các quốc gia khác, bao gồm Nhật Bản và Bra-xin, cố gắng phá giá đồng tiền của họ với hy vọng giảm chi phí xuất khẩu và do đó củng cố nền kinh tế ốm yếu của họ. Một tỷ giá hối đoái thấp (được định giá thấp) làm giảm giá hàng hóa của một quốc gia đối với người tiêu dùng ở các nước khác nhưng làm tăng giá hàng hóa, đặc biệt là hàng nhập khẩu, đối với người tiêu dùng trong nước đang thao túng ngoại hối. == Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái == Mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước. Mức độ tăng (giảm)thu nhập quốc dân giữa hai nước. Mức chênh lệch lãi suất giữa hai nước. Những kỳ vọng về tỷ giá hối đoái trong tương lai. Sự can thiệp của nhà nước bằng các chính sách tỷ giá của mỗi quốc gia. == Các chế độ tỷ giá hối đoái == Tỷ giá hối đoái cố định. Tỷ giá hối đoái thả nổi Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết == Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái == Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia. Mức độ tăng hay giảm thu nhập quốc dân giữa các nước Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước. Những dự đoán về tỷ giá hối đoái. Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế. Sự can thiệp của chính phủ. Can thiệp vào thương mại quốc tế. Can thiệp vào đầu tư quốc tế. Can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối. Các nhân tố khác:Khủng hoảng kinh tế, xã hội, đình công,thiên tai... == Danh sách một số loại tiền nội tệ của các quốc gia trên thế giới theo tỷ giá hối đoái == tỷ giá hối đoái giữa các loại tiền nội tệ của các quốc gia so với đồng dollar Mỹ các năm 2009 và 2011 được cập nhật theo năm, lấy mốc ngày đầu tiên của mỗi năm (ngày 1 tháng 1). == Tham khảo == Krugman, Paul R. and Obstfeld, Maurice (2005), International Economics: Policy and Theory, Seventh Edition, Addison Wesley. Oliver, Blanchard(2007) Macroeconomics, Fourth Edition == Liên kết ngoài == Xem tỷ giá hối đoái hạch toán tại trang tin điện tử của Bộ Tài chính Việt Nam Tỷ giá tại trang tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
văn học síp.txt
Văn học Síp (tiếng Hy Lạp: Λογοτεχνία της Κύπρος) là tên gọi ngành văn học của nước Cộng hòa Síp. == Lịch sử hình thành và phát triển == Các tác phẩm văn học thời cổ gồm Cypria, một loại thơ sử thi có lẽ được sáng tác ở cuối thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên và gắn với tên tuổi Stasinus. Cypria là một trong những mẫu vật đầu tiên của thi ca Hy Lạp và châu Âu. Zeno of Citium Síp là người sáng lập triết học Stoic. Thơ sử thi, đáng chú ý nhất là "acritic songs", phát triển mạnh thời Trung cổ. Hai cuốn biên niên sử, một do Leontios Machairas viết và một đo Voustronios viết, có đề cập tới giai đoạn dưới sự thống trị của Pháp (thế kỷ 15). Các bài thơ tình được sáng tác thời trung cổ Síp Hy Lạp có từ thế kỷ 16. Một số trong số chúng thực tế là những bài thơ dịch do Petrarch, Bembo, Ariosto và G. Sannazzaro sáng tác. Các nhân vật văn học hiện đại Síp gồm nhà thơ và tác gia Kostas Montis, nhà thơ Kyriakos Charalambides, nhà thơ Michalis Pasardis, nhà văn Nicos Nicolaides, Stylianos Atteshlis, Altheides và cả Demetris Th. Gotsis. Dimitris Lipertis và Vasilis Michaelides là các nhà thơ dân gian chủ yết sáng tác thơ bằng phương ngữ Síp Hy Lạp. Lawrence Durrell đã sống ở Síp trong một thời gian, và viết cuốn sách Bitter Lemons về thời gian sống ở đó, năm 1957 cuốn sách này giành Giải Duff Cooper thứ hai. Đa phần vở kịch Othello của William Shakespeare có bối cảnh trên hòn đảo Síp. Síp cũng có các nhân vật trong văn học tôn giáo, đáng chú ý nhất trong Acts of the Apostles, theo đó các Thánh tông đồ Barnabas và Paul đã truyền giáo trên hòn đảo này. == Xem thêm ==
adobe systems.txt
Tập đoàn Adobe (tiếng Anh: Adobe Systems Incorporated) (phát âm: a-DOE-bee, giống như A-đô-bi trong tiếng Việt), (Mã NASDAQ: ADBE) là một tập đoàn phần mềm máy tính của Hoa Kỳ có trụ sở chính đặt tại San Jose, California, Hoa Kỳ. Adobe được thành lập vào tháng 12 năm 1982 bởi John Warnock và Charles Geschke. Họ đã thành lập công ty này sau khi dời Xerox PARC nhằm phát triển và bán PostScript, một ngôn ngữ miêu tả trang. Năm 1985, hãng máy tính Apple cấp phép sử dụng PostScript trong máy in LaserWriter của họ, làm lóe lên cuộc cách mạng xuất bản trên desktop. Tên Adobe của công ty xuất phát từ từ Adobe Creek, tên một con suối nhỏ chảy về phía Nam ở hạt Sonoma, bang California, vốn chảy phía sau ngôi nhà của một trong những sáng lập viên của công ty. Tháng 12 năm 2005, Adobe đã thâu tóm thành công đối thủ cạnh tranh của mình, Macromedia. Tại thời điểm năm 2010, Adobe Systems có 9.117 nhân viên, với 40% trong số đó làm việc tại San Jose. Adobe cũng có những trụ sở phát triển chính tại Seattle, San Francisco, California, Minneapolis, Newton, Massachusetts, San Luis Obispo, California (Hoa Kỳ) (Hoa Kỳ); Ottawa (Canada); Hamburg (Đức), Noida, Bangalore, (Ấn Độ), Bucharest (România). Năm 1995, tạp chí Fortune đã xếp Adobe là một trong những nơi làm việc lý tưởng. Năm 2003, Adobe đã được xếp thứ 5 trong những công ty tốt để làm việc ở Mỹ, năm 2004 là thứ 6, thứ 31 năm 2007 và năm 2008 là thứ 40. Năm 2007 Adobe cũng được xếp thứ 9 trong danh sách những công ty phần mềm lớn nhất thế giới. == Lịch sử == == Sản phẩm == Phần mềm thiết kế đồ họa Adobe Photoshop, Adobe Lightroom, Adobe InDesign, Adobe Illustrator, Adobe Acrobat Chương trình thiết kế web Adobe Dreamweaver, Adobe Contribute, Adobe Muse, Adobe Flash Builder, Adobe Flash, và Adobe Edge Chỉnh sửa video và các hiệu ứng trực quan Adobe Premiere Pro, Adobe Premiere Elements, Adobe After Effects, Adobe Prelude, Adobe Spark Video Phần mềm chỉnh sửa âm thanh Adobe Audition Phần mềm eLearning Adobe Captivate, Adobe Presenter Video Express và Adobe Connect (cũng là nền tảng hội nghị web) Phần mềm Quản lý Tiếp thị Số Adobe Marketing Cloud, Adobe Experience Manager (AEM 6.2), Mixamo Phần mềm máy chủ Adobe ColdFusion, Adobe Content Server và Adobe LiveCycle Enterprise Suite, Adobe BlazeDS Định dạng PDF, tiền thân của PDF PostScript, ActionScript, Shockwave Flash (SWF), Flash Video (FLV), và Filmstrip (.flm) Dịch vụ trên nền web Adobe Color, Photoshop Express, Acrobat.com, và Adobe Spark == Sự tiếp nhận == Từ năm 1995, Fortune đã xếp hạng Adobe là một nơi tuyệt vời để làm việc. Adobe được đánh giá là công ty tốt thứ 5 để làm việc ở Hoa Kỳ vào năm 2003, thứ 6 vào năm 2004, thứ 31 vào năm 2007, thứ 40 vào năm 2008, thứ 11 vào năm 2009, thứ 42 vào năm 2010, thứ 65 vào năm 2011, thứ 41 vào năm 2012, và thứ 83 vào năm 2013. Vào năm 2015, Adobe Systems Ấn Độ được xếp hạng thứ 21 trong những nơi làm việc tuyệt vời nhất Ấn Độ. Vào tháng 6 năm 2014, nó được xếp hạng thứ 6 trong những nơi làm việc tuyệt vời nhất Ấn Độ., Vào tháng 10 năm 2008, Adobe Systems Canada Inc. được khen là một trong "100 nhà tuyển dụng hàng đầu Canada" bởi Mediacorp Canada Inc., và được khen ngợi trên tạp chí Maclean's. == Chỉ trích == === Giá cả === === Bảo mật === === Lộ thông tin khách hàng === === Hoạt động chống cạnh tranh === == Xem thêm == Adobe Engagement Platform Adobe Solutions Network OpenType PDF PostScript Adobe ColdFusion Adobe MAX US v. ElcomSoft Sklyarov MEI (Managing Editor Inc.) == Chú thích == == Tham khảo == “Adobe Logo History”. Bản gốc (HTML) lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012. “Adobe timeline” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2006. “Patents owned by Adobe Systems”. US Patent & Trademark Office. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2005. San Jose Semaphore on Adobe's building “Adobe Systems Incorporated Company Profile”. Yahoo!. == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Adobe Systems tại Wikimedia Commons Adobe Systems Video and Audio on MarketWatch Bản mẫu:IT giants Bản mẫu:Plugins
ly hôn.txt
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác. Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn. Pháp luật ly hôn thay đổi đáng kể trên toàn thế giới nhưng trong hầu hết các nước, nó đòi hỏi phải có phán xử của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo một thủ tục pháp lý nhất định. Thủ tục pháp lý cho việc ly dị cũng có thể liên quan đến các vấn đề hỗ trợ vợ chồng, nuôi con, hỗ trợ trẻ em, phân phối tài sản và phân chia các khoản nợ. Trong trường hợp một vợ một chồng là pháp luật, ly hôn cho phép mỗi bên có quyền kết hôn tiếp. Giữa năm 1971 và 2011, năm quốc gia châu Âu đã hợp pháp hóa ly hôn: Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Cộng hòa Ireland và Malta. Ngày nay còn lại Philipin và Vatican không có quy định tố tụng dân sự ly hôn. == Xem thêm == Chế định ly hôn (Luật Việt Nam) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Li hôn tại Từ điển bách khoa Việt Nam Thuận tình li hôn tại Từ điển bách khoa Việt Nam Divorce tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Societal aspects of divorce trên trang Open Directory Project Legal aspects of divorce trên trang Open Directory Project Thủ tục ly hôn với người nước ngoài Dân Trí (báo) 04/09/2012 - 00:01
hội nghị cấp cao đông á lần thứ 4.txt
Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ tư đã được dời địa điểm nhiều lần và một nỗ lực để giữ nó đã bị hủy bỏ do ảnh hưởng từ Khủng hoảng chính trị Thái Lan 2008–2010. Cuối cùng nó đã được tổ chức vào ngày 25 Tháng 10 2009 tại Cha Am và Hua Hin của Thái Lan. == Hội nghị lần thứ 4 == 16 quốc gia tham gia là: == Chương trình nghị sự == Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 có được đưa vào chương trình nghị sự của hội nghị thượng đỉnh nhưng tại thời điểm tổ chức của hội nghị, cuộc khủng hoảng trước mắt đã đi qua. Hội nghị thượng đỉnh diễn ra trong tháng 10 năm 2009 đã được dự kiến sẽ nhận được một báo cáo về đề xuất Đối tác Kinh tế Toàn diện cho khu vực Đông Nam Á và có khả năng thiết lập khối thương mại lớn nhất của thế giới Thủ tướng Kevin Rudd của Úc và cựu bộ trưởng ngoại giao Úc Richard Woolcott đề xuất giải quyết tại hội nghị thượng đỉnh về cấu trúc khu vực và ý tưởng về một cộng đồng Châu Á Thái Bình Dương Các thành viên đã xem kế hoạch hồi hồi Ấn Độ của Đại học Nalanda. == Các vấn đề liên quan đến EAS 4 == Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên được tổ chức tại Bangkok vào ngày 17 tháng 12 năm 2008. Nó đã được công bố vào cuối tháng 10 năm 2008 Hội nghị thượng đỉnh sẽ được chuyển từ Bangkok tới Chiang Mai do những lo ngại về tình trạng bất ổn chính trị ở thủ đô. Sau đó nó đã được công bố vào ngày 02 tháng 12 năm 2008 rằng do khủng hoảng chính trị Thái Lan 2008–2010 nên hội nghị thượng đỉnh sẽ được hoãn lại từ ngày 17 tháng 12 năm 2008 đến tháng 03 năm 2009. Ngày 12 tháng 12 năm 2008 Abhisit Vejjajiva chỉ ra rằng nếu ông trở thành tiếp theo Thủ tướng Thái Lan ông sẽ tìm tổ chức hội nghị thượng đỉnh vào tháng 02 năm 2009. Vào tháng 01 năm 2009, nó đã được thông báo rằng, mặc dù các Hội nghị thượng đỉnh ASEAN đã được lên kế hoạch cho ngày 27 tháng 02 năm 2009 để ngày 01 tháng 03 năm 2009, những ngày này là không thuận tiện cho các đại biểu ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á và cuộc họp của ASEAN+3 sẽ được tổ chức sau đó. Việc tái lập lịch trình của người đứng đầu chính phủ / nhà nước của 16 quốc gia gây ra EAS được dự kiến ​​lại lên kế hoạch cho tháng 04, trùng với Lễ Phục Sinh. Ngày sửa đổi có nghĩa là thay đổi địa điểm từ Phuket đến Pattaya đã được dự tính. Ngày sửa đổi và địa điểm tổ chức sau đó đã được xác nhận. Các địa điểm tổ chức sẽ là Pattaya với triển lãm và Hội nghị Hall (PEACH). Nó cũng đã được thông báo rằng Ấn Độ sẽ được có đại diện tại hội nghị thượng đỉnh bởi Bộ trưởng Công nghiệp và Thương mại Kamal Nath, không phải thủ tướng của Ấn Độ. == Hủy hội nghị thượng đỉnh vào năm 2008 và hoãn đến năm 2009 == Ngày 11 tháng 04 năm 2009, những người biểu tình của chính phủ chống Thái đập phá đường vào hội nghị thượng đỉnh Đông Á, buộc Thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva phải hủy bỏ cuộc họp và sơ tán các nhà lãnh đạo nước ngoài bằng máy bay trực thăng. Các quan chức đã không nói cụ thể khi hội nghị thượng đỉnh sẽ được nối lại. Sau khi hủy bỏ, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon thể hiện hối tiếc khi sự việc xảy ra. Abhisit Vejjajiva sau tuyên bố sẽ hành động pháp lý chống lại người biểu tình chống chính phủ "người làm chậm một hội nghị thượng đỉnh châu Á khi phơi bày tình trạng hỗn độn làm xấu hổ đất nước với quốc tế". Trong thời gian sắp tổ chức, cũng đã xảy ra xung đột biên giới giữa Thái Lan và Campuchia. Hội nghị thượng đỉnh được cho là sử dụng như là một cơ hội cho các cuộc thảo luận bên lề giữa các nhà lãnh đạo các quốc gia liên quan. == Sự phục vụ với các lãnh đạo tham dự == Thủ tướng Úc Kevin Rudd đang trên đường đến đỉnh từ Australia khi ông đã liên lạc với Bộ Ngoại giao Úc và được khuyên quay trở lại Úc. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã được trực thăng chuyên chở bởi nước nhà nhà Thái Lan, trong khi Thủ tướng New Zealand John Key đã không thực hiện việc đó để ra khỏi sân bay Bangkok. == Dời lại == Đến cuối tháng 04, chính phủ Thái Lan đã tìm cách để sắp xếp lại hội nghị thượng đỉnh vào tháng 06 năm 2009 tại Phuket. Đã từng có trước đó báo cáo rằng Indonesia có thể tìm cách để đăng cai hội nghị thượng đỉnh nếu Thái Lan không thể tổ chức Báo chí Úc cho thấy nó có thể được tổ chức tại Việt Nam. Vào đầu tháng 05 Thái Lan đề xuất, tại một cuộc họp quan chức cấp cao, vào các ngày 13 và 14 tháng 06 tại Phuket, với lời hứa một vùng bán kính năm cây số quanh địa điểm tổ chức "không có vùng biểu tình" Ngày sửa đổi này được cho là bất tiện cho các nhà lãnh đạo của Indonesia, Ấn Độ và New Zealand. Hội nghị thượng đỉnh sau đó đã được xác nhận là đã bị dời lại đến ngày 25 tháng 10 năm 2009 tại Phuket. Nhưng sau đó đã được dời đến địa điểm là Cha Am và Hua Hin. == Kết quả == Hội nghị thượng đỉnh đã thông qua hai văn bản. Việc đầu tiên là một tuyên bố về quản lý thiên tai. Thứ hai là trình bày việc tái thiết của Đại học Nalanda của Ấn Độ. Tuyên bố của Chủ tịch lưu ý: 21. Chúng tôi ghi nhận tầm quan trọng của các cuộc thảo luận khu vực để kiểm tra cách để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng của khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Trong mối liên hệ này, chúng tôi ghi nhận và đánh giá cao sau đây: (A) Theo đề nghị của Philippines mời người đứng đầu của các diễn đàn khu vực khác và các tổ chức trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương cùng họp EAS trong tương lai để cùng thảo luận các biện pháp nhằm bảo vệ khu vực từ kinh tế trong tương lai và khủng hoảng tài chính và tăng cường hợp tác kinh tế châu Á, kể cả thông qua việc thành lập có thể có của một cộng đồng kinh tế của châu Á. (B) Đề xuất mới của Nhật Bản để phục hồi năng lực trong các cuộc thảo luận mang tính xây dựng và lâu dài. Vì một cộng đồng Đông Á dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch và tính toàn diện và hợp tác chức năng. (C) Đề xuất của Úc về cộng đồng Châu Á Thái Bình Dương, trong đó ASEAN sẽ là cốt lõi của nó, sẽ được thảo luận thêm tại một hội nghị được tổ chức bởi Úc vào tháng 12 năm 2009. Những tuyên bố của hội nghị ASEAN+3 lưu ý rằng đây là "một chiếc xe chính" trong việc xây dựng Cộng đồng Đông Á. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == 14th ASEAN summit
đĩa bán dẫn.txt
Đĩa bán dẫn được làm từ silíc có độ tinh khiết cao, là vật liệu xuất phát trong quy trình sản xuất thiết bị bán dẫn cũng như thiết bị MEMS (micro electro-mechanical system). Đĩa bán dẫn thông thường có các đường kính 300mm (12 inch), 200mm (8 inch), 150mm (6 inch). Tuy có độ tinh khiết cao, đĩa bán dẫn vẫn được pha tạp chất để dẫn điện theo 2 loại: loại p dẫn điện bằng lỗ trống, loại n dẫn điện nhờ điện tử. Phương tiện liên quan tới Wafers tại Wikimedia Commons == Tham khảo ==
nguyên vật liệu.txt
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động do doanh nghiệp mua, dự trữ để phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm. Đặc điểm: Các nguyên vật liệu sẽ thay đổi về hình thái, không giữ nguyên được trạng thái ban đầu khi đưa vào sản xuất. Các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh (một chu kỳ sản xuất kinh doanh). Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển trực tiếp vào sản phẩm, là căn cứ cơ sở để tính giá thành. Phân loại nguyên vật liệu: Theo nguồn gốc hình thành: Nguyên vật liệu tự nhiên. Nguyên vật liệu nhân tạo. Theo công dụng kinh tế: Nguyên vật liệu chính. Nguyên vật liệu phụ. == Tham khảo ==
hệ thống bảng xếp hạng fifa giai đoạn 1999-2006.txt
Hệ thống bảng xếp hạng FIFA là phương pháp tính toán được dùng trước đây bởi FIFA dành cho các đội tuyển quốc gia trong môn bóng đá. Hệ thống này được FIFA công bố vào năm 1999 như là bản mới nhất cập nhật thay cho bản trước đây, và được thay thế sau World Cup 2006 với một hệ thống đơn giản hơn. Bảng xếp hạng về cơ bản giống với hệ thống dùng trong các liên đoàn, dù có quy mô lớn hơn và phức tạp hơn. Mỗi đội đều có khả năng giành được một số điểm trong mỗi trận đấu, mặc dù điểm thưởng trong các hệ thống liên đoàn chỉ phụ thuộc vào kết quả trận đấu, trong bảng xếp hạng FIFA có nhiều thứ phải đem vào tính toán, vì mọi đội bóng đều không chơi tất cả các trận đấu trên sân nhà và sân khách như hầu hết các giải liên đoàn. Sau khi cho điểm các đội được xếp hạng từ trên xuống theo số điểm. Điểm được cho không chỉ phụ thuộc vào liệu đội đó có thắng, hoà hay thua mà còn phụ thuộc vào tính chất của trận đấu và sức mạnh của đối thủ. Một chiến thắng trước một đối thủ yếu sẽ nhận được số điểm ít hơn so với chiến thắng trước đội mạnh hơn. Điều này có nghĩa là một trận đấu sẽ không tính hai hay ba điểm cho một trận thắng và một điểm cho một trận hoà giống như chuẩn trong các giải đấu. Công thức sẽ phức tạp hơn do nó phải kết hợp cả những nhân tố đã kể trên. Một trong những thay đổi mà được công bố khi sửa lại hệ thống xếp hạng vào năm 1999 được gán cho cái tên "scaling up", trong đó điểm cho một trận đấu sẽ có hệ số nhân xấp xỉ là 10, với các nhân tố khác thêm vào. Trong hệ thống giai đoạn 1999-2006 đội bóng có thể nhận được từ 0 đến 30 điểm một trận, và đội dẫn đầu bảng xếp hạng phải có số điểm cao hơn 800. == Tổng quát == Bảng xếp hạng được FIFA dự định để tạo một bảng xếp hạng công bằng cho các đội tuyển nam quốc gia thuộc các liên đoàn thành viên. Để xếp hạng tất cả các trận đấu, tỉ số và tính chất của trận đó được ghi lại và sử dụng trong các quy trình tính toán. Chỉ có các trận đấu của đội tuyển nam quốc gia được tính - tách riêng với hệ thống xếp hạng dành cho những nhóm đại diện khác, như đội tuyển nữ và tuyển trẻ quốc gia, ví dụ như bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA. FIFA không dùng cùng công thức để xác định bảng xếp hạng cho bóng đá nữ. Bảng xếp hạng bóng đá nữ dựa trên phiên bản đơn giản hoá của hệ số elo trong bóng đá. Vì mục đích tính toán tính chất của trận đấu, mỗi trận được chia vào một trong 6 loại. Các giải đấu không được chứng thực nằm trong các liên đoàn châu lục của FIFA được coi là giao hữu. Mỗi loại có sức nặng riêng để xác định đúng tính chất. Các loại là: Các trận thuộc vòng chung kết World Cup Các trận thuộc vòng loại World Cup Các trận thuộc FIFA Confederations Cup Các trận thuộc vòng chung kết châu lục Các trận thuộc vòng loại các giải châu lục Các trận giao hữu Một chương trình được dùng để tính bảng xếp hạng. Điểm được cho dựa theo tiêu chuẩn sau: Thắng, hoà hay thua Tính chất của trận đấu (nhân tố để nhân) Sức mạnh khu vực (nhân tố để nhân) Để cố thay đổi lợi thế khi thi đấu nhiều, chỉ có 7 trận thi đấu tốt nhất được tính, vì 7 là số trận trung bình một đội thi đấu trong một năm. Những trận đấu trước đó sẽ bị giảm tính chất trong công thức tính, để thưởng cho thành tích gần nhất của các đội cho nên công thức tính chỉ đem vào thành tích của đội trong vòng 8 năm. Vào cuối năm FIFA trao 2 giải: Đội bóng của năm và Đội bóng tiến bộ nhất của năm. === Thắng, hoà hay thua === Trong bất kì hệ thống xếp hạng bóng đá nào, một trận thắng luôn đem lại nhiều điểm hơn so với một trận hoà hay một trận thua. Tuy nhiên, cho đến tháng 7 năm 2006, FIFA tin rằng điểm thưởng đơn giản vào cơ sở thắng, hoà hay thua sẽ không đáp ứng nhu cầu đòi hỏi về một hệ thống xếp hạng tin cậy và chính xác. Công thức tính đem vào sức mạnh cân xứng giữa hai đội. Điều này đem lại số điểm khi thắng một đội mạnh sẽ cao hơn khi vượt qua một đội yếu. Nó còn có thể làm cho các đội yếu kiếm điểm dù thất bại nếu thi đấu tốt (ví dụ ghi được bàn thắng, cách biệt thấp), nhưng đây là một số điểm nhỏ và không đạt nhiều điểm bằng đội thắng. Trong trường hợp phân định trận đấu bằng loạt sút penalty, đội thắng nhận được điểm bằng một chiến thắng. Đội thua nhận được trận hoà như bình thường. === Số bàn thắng === Khi tính điểm, số bàn thắng được xem xét và sự xếp điểm giữa 2 đội cũng bị ảnh hưởng bởi sức mạnh tương xứng giữa 2 đội (ví dụ xếp hạng càng thấp so với đối thủ, càng nhận được nhiều điểm khi ghi bàn), cũng như số điểm cho các bàn thắng được ghi, sẽ được khấu trừ so với tổng bàn thắng được công nhận. Để khuyến khích việc tấn công trong bóng đá, điểm thưởng cho bàn thắng ghi được sẽ được làm nặng hơn so với khấu trừ như kết quả công nhận, dù rằng đa số đội quan tâm về các giải đấu hay các trận sắp tới hơn là vị trí trên bảng xếp hạng. Khi trận đấu được phân định thắng thua bằng penalty, chỉ có bàn thắng ghi trong thời gian thi đấu chính thức được tính. Để ngăn ngừa việc ghi bàn quá nhiều (overweighing) và một lượng điểm quá lớn nhận được trong những thắng lợi dễ dàng, nhiều sức nặng hơn được gắn liền với bàn thắng đầu cho mỗi đội, rồi dần dần giảm đối với những bàn tiếp theo. Điều này được thực hiện theo nguyên tắc bàn thắng ghi được là quan trọng nhưng nhân tố quan trọng nhất là thắng hay thua, như trong các trận tranh vô đich bình thường. === Trận sân nhà và sân khách === Để tính đến bất lợi thêm vào gặp phải khi thi đấu sân khách, một phần thưởng nhỏ 3 điểm mỗi trận được tặng cho đội khách. Đối với các giải ở nước trung lập, nhưng có chủ nhà, điểm thưởng cẽ không có. === Cấp bậc trận đấu === Tính quan trọng tương xứng của trận đấu còn được chú ý đến khi tính điểm. Phương pháp kết hợp điều này vào tổng điểm là nhân với số điểm của trận đấu có hệ số cho trước. Những nhân tố này là: === Nhân tố sức mạnh khu vực === Vì sự khác nhau đáng kể về sức mạnh các đội tuyển giữa các châu lục, nhân tố phụ này được thực hiện mỗi năm cho mỗi liên đoàn dựa vào thành tích của các đội trực thuộc liên đoàn trong các trận đấu và giải đấu liên lục địa. Không phải tất cả các trận đấu liên lục địa cũng được tính, chỉ những trận giữa 25% các đội mạnh nhất của mỗi liên đoàn, tối thiểu 5 đội một liên đoàn. Điều này ngăn chặn các lỗi mà được gây ra bởi việc tính cả các trận mà đội mạnh của liên đoàn này thắng đội yếu của một liên đoàn khác. Nhân tố này được áp dụng trong việc tính nhân cho các đội cùng châu lục. Nếu hai đội thuộc hai châu lục khác nhau thi đấu thì hệ số để tính là trung bình cộng hệ số của hai châu lục đó. Từ 2005, hệ số về sức mạnh khu vực theo thứ tự giảm dần từ 1.00 cho các đội thuộc UEFA đến 0.93 cho các đội thuộc OFC. == Tóm tắt == Dựa vào các điều trên, tổng điểm dành cho một đội bóng sau trận đấu phụ thuộc vào công thức sau: ( w + g + a − c ) s r = m {\displaystyle (w+g+a-c)\ s\ r=m\,} Trong đó: w = Điểm cho việc thắng, hoà hay thua g = Điểm cho bàn thắng ghi được c = Điểm cho những bàn được công nhận a = Điểm thưởng cho đội khách s = Nhân tố riêng cho cấp bậc trận đấu r = Nhân tố riêng cho sức mạnh khu vực m = Điểm nhận được Số điểm cho một trận thắng, hoà hay thua, cũng như số bàn thắng ghi được hoặc công nhận phụ thuộc vào sức mạnh của đối phương. Để không phạt những đội thiếu thành công quá khắt khe, số điểm âm sẽ làm tròn thành điểm 0. Những ví dụ sau được dùng để chứng tỏ hệ thống hệ số Elo bóng đá cho một cách so sánh công bằng. Đây là những phép tính ví dụ để biểu thị công thức đang được dùng. Để cho ví dụ được đơn giản, giả sử có 3 đội bóng với trình độ khác nhau tham dự một giải đấu giao hữu nhỏ ở một quốc gia trung lập. Ghi chú:không có điểm thưởng cho đội khách, cũng như nhân tố châu lục hay cấp bậc của trận được áp dụng. Trước giải 3 đội có tổng điểm như sau: Như ta thấy, đội A có vị trí xếp hạng cao nhất trong cả ba đội. Bảng sau cho biết sự phân chia điểm dựa theo ba kết quả có thể xảy ra của trận đấu giữa đội mạnh hơn A và đội yếu hơn B: === Ví dụ 1 === Đội A gặp đội B (A mạnh hơn B) Như trên bảng, trong trường hợp thắng 3:1, đội A nhận được 21 điểm, tuy nhiên, vì đội A là đội được xếp hạng cao hơn, đội thắng chỉ nhận được 17.4 điểm trong tổng điểm, và đội xếp hạng thấp hơn B vẫn kiếm được 1.7 điểm. Nếu đội B thắng 3:1, họ sẽ kiếm được 27.2 điểm, còn đội A họ sẽ nhận được điểm âm nhưng được làm tròn thành điểm 0. Nếu kết quả là hoà 2:2, vì xếp hạng thấp hơn, đội B sẽ nhận được nhiều điểm hơn đội A. === Ví dụ 2 === Đội B gặp đội C (hai đội cùng trình độ) Khi cách biệt về trình độ giữa hai đội ít thì sẽ cách biệt nhiều về điểm. Bảng sau cho ta thấy điểm được chia như thế nào khi có cùng kết quả như trên nhưng với hai đội có thứ hạng xấp xỉ bằng nhau, B và C, thi đấu: === So sánh với hệ số Elo === Lần sửa lại này của hệ thống bảng xếp hạng FIFA, giống như bản trước, đều gpj phải chỉ trích, và được so sánh với hệ số Elo bóng đá. Sau đây là sự so sánh để chỉ ra sự khác nhau trong cách hệ số Elo tác động với kết quả. Giả sử đội B hoà đội A và thua đội C bảng xếp hạng sẽ như sau: (làm tròn số thập phân) Theo các chỉ trích, bảng xếp hạng FIFA đã chậm đáp lại việc sụt giảm đáng kể của đội B, bất chấp thắng lợi của đội C, khoảng cách giữa đội B với đội C vẫn là 10 điểm. Trong hệ số Elo, đội C đã vượt qua đội B. Cũng trong bảng xếp hạng FIFA, đội A cũng tăng thêm 8 điểm dù có trận hoà trước một đội yếu hơn nhiều. Trong hệ số Elo đội A bị trừ 4 điểm. Tuy nhiên trong hệ thống hệ số Elo, đội B, đội đã cố gắng kiếm được trận hoà trước đội mạnh hơn, bị tụt một bậc vì là kết quả nhỏ và đã bị trừ tổng công gần 10 điểm. == Những công thức thêm nữa == Để gia tăng độ chính xác và tính khách quan của bảng xếp hạng, sau bản sửa năm 1999, những công thức mới thêm vào được giới thiệu. Thứ nhất, số trận đấu một đội bóng thi đấu trong một khoảng thời gian nhất định được thêm vào. Thứ hai, ý nghĩa quan trọng gắn với trận đấu trước sẽ được hiểu khác hơn. === Số trận thi đấu === Để đảm bảo số giải đấu tăng lên trong một mùa không cho đội bóng quá nhiều điểm, bảng xếp hạng chỉ tính đến một kết quả có giới hạn. Số lượng này được xác định bằng cách chọn bao nhiêu giải đấu trong một năm mà một đội bóng tham gia trung bình. Điều này được đồng thuận ở ngưỡng 7-10 trận. Để ngăn ngừa những đội có nhiều giải đấu hơn sẽ nhận được nhiều lợi thế, ban đầu chỉ tính 7 kết quả tốt nhất của mỗi đội. Để tính các kết quả thêm các kết quả đó sẽ được tính trung bình. Ví dụ nếu một đội bóng thi đấu 12 trận: 7 kết quả tốt nhất của 12 trận sẽ được nhận biết Tổng điểm của 7 trận đó (X) Tổng điểm của tất cả 12 trận Kết quả sẽ chia cho 12 và nhân cho 7 (Y) Tổng điểm của 7 trận tốt nhất được cộng với kết quả trung bình (X+Y) Tổng (X+Y) chia cho 2 để được kết quả cuối cùng === Kết quả trước === Để đảm bảo bảng xếp hạng phản ánh tốt nhất thành tích thi đấu gần đây của một đội bóng, thành tích gần đây là quan trọng nhất; tuy nhiên, sự chú ý cũng được dành cho những kết quả của những năm trước. Kết quả từ những trận trước được cho đầy đủ trọng lượng, từ 1-2 năm về trước được 7 phần 8 giá trị thực, từ 2-3 năm được 3 phần 4 giá trị và cứ thế đến năm thứ 8 những kết quả đó sẽ bị loại ra khỏi sự tính toán. == Xem thêm == Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA - hệ thống được dùng từ sau tháng 7-2006 Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA - hệ thống xếp hạng dành cho các đội tuyển bóng đá quốc gia nữ, tương tự hệ thống Elo Hệ số Elo bóng đá thế giới - một hệ thống xếp hạng khác == Chú thích ==