id
int64
0
645k
text
stringlengths
4
253k
639,140
Điều 2. Đối tượng áp dụng. Thông tư này áp dụng đối với: 1. Công an các đơn vị, địa phương. 2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra hành chính, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra; 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. 4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân.
639,141
Điều 3. Mục đích phối hợp. Phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân nhằm huy động lực lượng cần thiết của các đơn vị chức năng để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân.
639,142
Điều 4. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; không gây cản trở cho hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị phối hợp. 2. Bảo đảm kịp thời, chính xác, hiệu quả, khách quan, dân chủ trong quá trình phối hợp và thực hiện nhiệm vụ thanh tra. 3. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình phối hợp phải được các cơ quan, đơn vị, cá nhân tham gia phối hợp giải quyết kịp thời. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc mà các cơ quan, đơn vị phối hợp không giải quyết được thì thủ trưởng cơ quan thanh tra báo cáo thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp quyết định. 4. Nghiêm cấm lợi dụng việc phối hợp để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra hành chính và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị tham gia phối hợp.
639,143
Điều 5. Trách nhiệm trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính 1. Thanh tra Bộ giúp Bộ trưởng theo dõi công tác phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. 2. Cơ quan thanh tra các đơn vị, địa phương giúp thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính; kịp thời báo cáo thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp và cơ quan thanh tra cấp trên tình hình, kết quả công tác phối hợp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao; tham mưu, đề xuất giải quyết khó khăn, vướng mắc, các vấn đề phát sinh trong quá trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính. 3. Thủ trưởng Công an các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm xem xét, thực hiện các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra theo đúng quy định của pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi để các Đoàn thanh tra hoàn thành nhiệm vụ được giao.
639,144
Điều 6. Phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xây dựng kế hoạch thanh tra 1. Cơ quan thanh tra căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thường xuyên thu thập thông tin về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong Công an nhân dân và yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp để xây dựng kế hoạch thanh tra. 2. Trong trường hợp cần thiết, khi xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm, thủ trưởng cơ quan thanh tra đề nghị cơ quan, đơn vị Công an có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia ý kiến, đề xuất những vấn đề cần phải đưa vào kế hoạch thanh tra. 3. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhận được đề nghị cung cấp thông tin, tài liệu hoặc tham gia ý kiến về xây dựng kế hoạch thanh tra có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia ý kiến bằng văn bản về việc xây dựng kế hoạch thanh tra.
639,145
Điều 7. Phối hợp xử lý việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra hành chính 1. Khi phát sinh việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thanh tra của đơn vị, địa phương nào thì thủ trưởng cơ quan thanh tra đơn vị, địa phương đó xử lý; trường hợp vượt thẩm quyền thì kịp thời báo cáo, đề xuất thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp trên xử lý. 2. Khi nhận được quyết định thanh tra của cơ quan ngoài lực lượng Công an nhân dân đối với cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an là đối tượng thanh tra có trách nhiệm báo cáo với cơ quan thanh tra Công an cấp trên để xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thanh tra theo thẩm quyền.
639,146
Khoản 1. Khi có yêu cầu trưng tập cộng tác viên thanh tra thuộc cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan thanh tra phải có văn bản gửi thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó để thống nhất việc trưng tập cộng tác viên thanh tra. Sau khi thống nhất với thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp người được trưng tập, cơ quan thanh tra ra quyết định trưng tập cộng tác viên thanh tra.
639,147
Khoản 2. Khi nhận được yêu cầu của cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý trực tiếp cộng tác viên phải bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu của cơ quan thanh tra. Trường hợp vì lý do khách quan mà không bố trí được cộng tác viên thanh tra theo yêu cầu của cơ quan thanh tra thì thông báo kịp thời cho cơ quan thanh tra để phối hợp giải quyết.
639,148
Khoản 3. Cơ quan thanh tra trưng tập cộng tác viên thanh tra có trách nhiệm bố trí cộng tác viên thanh tra theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ thanh tra; quản lý cộng tác viên thanh tra trong thời gian trưng tập; thực hiện hoặc đề nghị thủ trưởng cơ quan quản lý cộng tác viên thanh tra, thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp thực hiện chế độ, chính sách đối với cộng tác viên thanh tra theo quy định của pháp luật.
639,149
Khoản 4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thời gian trưng tập, cơ quan trưng tập phải có văn bản nhận xét về việc thực hiện nhiệm vụ của cộng tác viên thanh tra gửi thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người được trưng tập. Nội dung văn bản nhận xét bao gồm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ; việc chấp hành quy định về những điều cộng tác viên thanh tra không được làm; kết quả, chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cộng tác viên thanh tra; đề nghị khen thưởng, kỷ luật (nếu có).
639,150
Điều 9. Phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu trong quá trình tiến hành thanh tra 1. Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP. 2. Khi xét thấy cần thiết, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra trực tiếp hoặc có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó. Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu phải xác định rõ nội dung, thời hạn và hình thức của việc cung cấp thông tin, tài liệu. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đúng thời hạn, đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu thì phải có văn bản gửi người yêu cầu nêu rõ lý do về việc không thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu.
639,151
Điều 10. Phối hợp thực hiện trưng cầu chuyên môn 1. Trong quá trình thanh tra, nếu có nội dung, vấn đề mà Đoàn thanh tra chưa đủ căn cứ để kết luận, xử lý, xét thấy cần thiết phải trưng cầu chuyên môn thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị người ra quyết định thanh tra yêu cầu cơ quan chức năng trong Công an nhân dân thực hiện kết luận chuyên môn để phục vụ công tác thanh tra. 2. Cơ quan, đơn vị chức năng trong Công an nhân dân có trách nhiệm thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu trưng cầu chuyên môn của người ra quyết định thanh tra. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu của người ra quyết định thanh tra thì phải có văn bản gửi người trưng cầu chuyên môn nêu rõ lý do không thực hiện được yêu cầu trưng cầu chuyên môn.
639,152
Điều 11. Phối hợp kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu phục vụ đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra 1. Trường hợp cần kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu mà Đoàn thanh tra không đủ điều kiện trực tiếp tiến hành thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị người ra quyết định thanh tra có văn bản đề nghị Thanh tra Công an đơn vị, địa phương có liên quan tiến hành kiểm tra, xác minh. Văn bản đề nghị phải ghi rõ yêu cầu cụ thể nội dung và thời hạn thực hiện việc kiểm tra, xác minh. 2. Cơ quan thanh tra được yêu cầu kiểm tra, xác minh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ việc kiểm tra, xác minh, gửi kết quả và văn bản trả lời theo đúng thời hạn mà người ra quyết định thanh tra yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm tra, xác minh.
639,153
Điều 12. Phối hợp trong việc thành lập Đoàn thanh tra liên ngành 1. Khi thành lập Đoàn thanh tra liên ngành, thủ trưởng cơ quan chủ trì cuộc thanh tra đề xuất phương án thành lập Đoàn thanh tra, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng để thành lập Đoàn thanh tra và thực hiện các nội dung liên quan đến nhiệm vụ thanh tra theo quy định. 2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra liên ngành có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chủ trì cuộc thanh tra thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về thanh tra; bố trí lực lượng, phương tiện tham gia theo yêu cầu của cơ quan chủ trì cuộc thanh tra.
639,154
Khoản 1. Thủ trưởng Công an các cấp có trách nhiệm áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc quyền quản lý phối hợp với cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra bảo đảm thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân.
639,155
Khoản 2. Khi cần áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra; tạm đình chỉ công tác, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra, người ra quyết định thanh tra kiến nghị với người có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ trong Công an nhân dân. Văn bản kiến nghị phải ghi rõ căn cứ, đối tượng, thời gian tạm đình chỉ, hình thức xử lý. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm cung cấp các tài liệu làm căn cứ áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu của người có thẩm quyền.
639,156
Khoản 3. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị áp dụng các biện pháp quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra, người được kiến nghị phải thông báo kết quả thực hiện kiến nghị cho người ra quyết định thanh tra. Trường hợp cần thiết, người nhận được kiến nghị áp dụng biện pháp quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra tổ chức họp liên ngành có sự tham gia của đại diện cơ quan tổ chức cán bộ, cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra để thống nhất các nội dung trước khi áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền.
639,157
Điều 14. Phối hợp tổ chức thông báo nội dung kết luận thanh tra trên phương tiện thông tin đại chúng 1. Khi cần thông báo một phần hoặc toàn bộ nội dung kết luận thanh tra trên phương tiện thông tin đại chúng, người ra quyết định thanh tra có văn bản gửi cơ quan báo chí trong Công an nhân dân đề nghị thực hiện việc thông báo. Nội dung văn bản đề nghị phải ghi rõ căn cứ thực hiện thông báo, nội dung, thời gian, số lần thông báo. 2. Cơ quan báo chí nhận được đề nghị có trách nhiệm thực hiện thông báo kết luận thanh tra theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra và quy định của pháp luật.
639,158
Điều 15. Phối hợp thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra 1. Cơ quan thanh tra phối hợp với cơ quan quản lý cán bộ, tài chính, pháp chế và các cơ quan chức năng khác trong Công an nhân dân để tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. 2. Cơ quan quản lý cán bộ, tài chính, pháp chế và các cơ quan chức năng khác trong Công an nhân dân, căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của pháp luật về thanh tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thanh tra để thực hiện kịp thời, đầy đủ kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra.
639,159
Chương III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 16. Hiệu lực thi hành. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2015. Điều 17. Trách nhiệm thi hành 1. Thanh tra Bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an (qua Thanh tra Bộ) để kịp thời hướng dẫn. BỘ TRƯỞNG Đại tướng Trần Đại Quang
639,160
Khoản 1. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có trụ sở chính tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và chi nhánh của các loại hình doanh nghiệp này tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. 1. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có trụ sở chính tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và chi nhánh của các loại hình doanh nghiệp này tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
639,161
Khoản 2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và chi nhánh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đặt tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. 2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và chi nhánh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đặt tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo.
639,162
Khoản 3. Chi nhánh của thương nhân (doanh nghiệp) nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép thành lập tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. Các đối tượng hoạt động thương mại tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo theo Mục 1, 2, 3 nêu trên, dưới đây được gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. 3. Chi nhánh của thương nhân (doanh nghiệp) nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép thành lập tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. Các đối tượng hoạt động thương mại tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo theo Mục 1, 2, 3 nêu trên, dưới đây được gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo.
639,163
Khoản 4. Cá nhân kinh doanh được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. 4. Cá nhân kinh doanh được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo.
639,164
Điều 1. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá Điều 1. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phép đầu tư, Giấy phép thành lập chi nhánh, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá với thị trường trong nước theo nhu cầu kinh doanh của mình phù hợp với ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. b. Đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu của Việt Nam nhưng không thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu của Lào và quốc tế, doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo trình Thủ tướng Chính phủ và chỉ được thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá này sau khi được phép bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ. c. Đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá với thị trường nước ngoài gồm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hạn ngạch; hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành; hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định riêng của Chính phủ, doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo trình Bộ Thương mại, Bộ quản lý chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ và chỉ được thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá này sau khi được phép bằng văn bản của Bộ Thương mại, Bộ quản lý chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ. Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại, Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo chỉ cần có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. d. Hàng hoá từ nội địa Việt Nam xuất khẩu vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và từ Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo nhập khẩu vào nội địa Việt Nam qua cửa khẩu giữa Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo với nội địa Việt Nam phải làm đầy đủ thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Riêng đối với hàng hoá là nông sản do dân cư sản xuất trong Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và hàng hoá được sản xuất, chế biến tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, nếu không sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài, khi nhập khẩu vào nội địa Việt Nam được miễn làm thủ tục hải quan. Uỷ ban nhân dân Tỉnh Quảng Trị công bố Danh mục hàng hoá được miễn làm thủ tục hải quan nêu trên.
639,165
đ. Hàng hoá từ Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo xuất khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài nhập khẩu vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo qua cửa khẩu giữa Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo với Lào chịu sự giám sát của cơ quan hải quan đối với hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. e. Chi nhánh của thương nhân (doanh nghiệp) nước ngoài tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được mua hàng hoá từ nội địa Việt Nam để bán tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo hoặc để xuất khẩu ra nước ngoài; được nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài để bán tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo hoặc xuất khẩu vào nội địa Việt Nam; được mua hàng hoá tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc để xuất khẩu vào nội địa Việt Nam theo nhu cầu kinh doanh của mình phù hợp với Danh mục hàng hoá mà chi nhánh của thương nhân (doanh nghiệp) nước ngoài được phép kinh doanh tại Việt Nam. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phép đầu tư, Giấy phép thành lập chi nhánh, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá với thị trường trong nước theo nhu cầu kinh doanh của mình phù hợp với ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. b. Đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu của Việt Nam nhưng không thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu của Lào và quốc tế, doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo trình Thủ tướng Chính phủ và chỉ được thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá này sau khi được phép bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ. c. Đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá với thị trường nước ngoài gồm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hạn ngạch; hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành; hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định riêng của Chính phủ, doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo trình Bộ Thương mại, Bộ quản lý chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ và chỉ được thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá này sau khi được phép bằng văn bản của Bộ Thương mại, Bộ quản lý chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ.
639,166
Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại, Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo chỉ cần có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. d. Hàng hoá từ nội địa Việt Nam xuất khẩu vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và từ Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo nhập khẩu vào nội địa Việt Nam qua cửa khẩu giữa Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo với nội địa Việt Nam phải làm đầy đủ thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Riêng đối với hàng hoá là nông sản do dân cư sản xuất trong Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và hàng hoá được sản xuất, chế biến tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, nếu không sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài, khi nhập khẩu vào nội địa Việt Nam được miễn làm thủ tục hải quan. Uỷ ban nhân dân Tỉnh Quảng Trị công bố Danh mục hàng hoá được miễn làm thủ tục hải quan nêu trên. đ. Hàng hoá từ Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo xuất khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài nhập khẩu vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo qua cửa khẩu giữa Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo với Lào chịu sự giám sát của cơ quan hải quan đối với hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. e. Chi nhánh của thương nhân (doanh nghiệp) nước ngoài tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được mua hàng hoá từ nội địa Việt Nam để bán tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo hoặc để xuất khẩu ra nước ngoài; được nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài để bán tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo hoặc xuất khẩu vào nội địa Việt Nam; được mua hàng hoá tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc để xuất khẩu vào nội địa Việt Nam theo nhu cầu kinh doanh của mình phù hợp với Danh mục hàng hoá mà chi nhánh của thương nhân (doanh nghiệp) nước ngoài được phép kinh doanh tại Việt Nam.
639,167
Điều 2. Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hoá Điều 2. Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hoá. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được kinh doanh tạm nhập, tái xuất các loại hàng hoá. Việc kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hàng hoá tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. b. Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hoá gồm: - Nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài để xuất khẩu ra nước ngoài, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. Thủ tục hải quan đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá này được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. - Nhập khẩu hàng hoá từ nội địa Việt Nam để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài để xuất khẩu vào nội địa Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. Thủ tục hải quan đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá này được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được kinh doanh tạm nhập, tái xuất các loại hàng hoá. Việc kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hàng hoá tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. b. Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hoá gồm: - Nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài để xuất khẩu ra nước ngoài, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. Thủ tục hải quan đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá này được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. - Nhập khẩu hàng hoá từ nội địa Việt Nam để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài để xuất khẩu vào nội địa Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. Thủ tục hải quan đối với việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá này được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
639,168
Điều 3. Kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá Điều 3. Kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được kinh doanh chuyển khẩu các loại hàng hoá. b. Kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá gồm: - Mua hàng hoá từ nước ngoài để bán cho nước ngoài mà không làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. - Mua hàng hoá từ nước ngoài để bán vào nội địa Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. - Mua hàng hoá từ nội địa Việt Nam để bán cho nước ngoài mà không làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. c. Việc kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá qua cửa khẩu Việt Nam chịu sự giám sát của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được kinh doanh chuyển khẩu các loại hàng hoá. b. Kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá gồm: - Mua hàng hoá từ nước ngoài để bán cho nước ngoài mà không làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. - Mua hàng hoá từ nước ngoài để bán vào nội địa Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. - Mua hàng hoá từ nội địa Việt Nam để bán cho nước ngoài mà không làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đó vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. c. Việc kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá qua cửa khẩu Việt Nam chịu sự giám sát của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
639,169
Điều 4. Quá cảnh hàng hoá qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo Điều 4. Quá cảnh hàng hoá qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo kinh doanh dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hoá được kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hoá quá cảnh qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. b. Việc quá cảnh hàng hoá từ nước ngoài qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để ra nước ngoài được thực hiện theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. c. Hàng hoá của doanh nghiệp nội địa Việt Nam đi qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài nhập khẩu vào nội địa Việt Nam được làm thủ tục hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo kinh doanh dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hoá được kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hoá quá cảnh qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. b. Việc quá cảnh hàng hoá từ nước ngoài qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để ra nước ngoài được thực hiện theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. c. Hàng hoá của doanh nghiệp nội địa Việt Nam đi qua Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài nhập khẩu vào nội địa Việt Nam được làm thủ tục hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
639,170
Điều 5. Gia công hàng hoá Điều 5. Gia công hàng hoá. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được nhận gia công cho nước ngoài, cho nội địa Việt Nam không hạn chế số lượng, chủng loại hàng gia công. Cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được nhận gia công cho nội địa Việt Nam không hạn chế số lượng, chủng loại hàng gia công. Việc gia công hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo chỉ được ký hợp đồng sau khi có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. b. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được đặt gia công ở nước ngoài, ở nội địa Việt Nam đối với các loại hàng hoá không thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông để kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được đặt gia công ở nội địa Việt Nam đối với các loại hàng hoá không thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông để kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. a. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được nhận gia công cho nước ngoài, cho nội địa Việt Nam không hạn chế số lượng, chủng loại hàng gia công. Cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được nhận gia công cho nội địa Việt Nam không hạn chế số lượng, chủng loại hàng gia công. Việc gia công hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo chỉ được ký hợp đồng sau khi có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo. b. Doanh nghiệp kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được đặt gia công ở nước ngoài, ở nội địa Việt Nam đối với các loại hàng hoá không thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông để kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được đặt gia công ở nội địa Việt Nam đối với các loại hàng hoá không thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông để kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
639,171
Khoản 1. Tất cả các loại hàng hoá đều được tự do lưu thông, kinh doanh trong Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. 1. Tất cả các loại hàng hoá đều được tự do lưu thông, kinh doanh trong Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
639,172
Khoản 2. Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành: a. Đối với hàng hoá thuộc diện đặc biệt hạn chế kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo xin ý kiến Bộ quản lý chuyên ngành và được thực hiện sau khi có Giấy phép kinh doanh của Bộ quản lý chuyên ngành. b. Đối với hàng hoá thuộc diện hạn chế kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại Lao Bảo và được thực hiện sau khi Ban Quản lý Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo chấp thuận bằng văn bản. 2. Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành: a. Đối với hàng hoá thuộc diện đặc biệt hạn chế kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo để Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo xin ý kiến Bộ quản lý chuyên ngành và được thực hiện sau khi có Giấy phép kinh doanh của Bộ quản lý chuyên ngành. b. Đối với hàng hoá thuộc diện hạn chế kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại Lao Bảo và được thực hiện sau khi Ban Quản lý Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo chấp thuận bằng văn bản.
639,173
Khoản 3. Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành: a. Đối với hàng hoá thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được thực hiện sau khi Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại Lao Bảo cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. b. Đối với hàng hoá thuộc diện không phải cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được kinh doanh sau khi hội đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. 3. Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành: a. Đối với hàng hoá thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo phải có văn bản đề nghị với Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và được thực hiện sau khi Ban Quản lý Khu Kinh tế - Thương mại Lao Bảo cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. b. Đối với hàng hoá thuộc diện không phải cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được kinh doanh sau khi hội đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
639,174
Mục IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư số 11/1999/TT-BTM ngày 11 tháng 5 năm 1999 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Phan Thế Ruệ (Đã Ký) Thông tư này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư số 11/1999/TT-BTM ngày 11 tháng 5 năm 1999 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Phan Thế Ruệ (Đã Ký)
639,177
17. “Lãi suất danh nghĩa của trái phiếu” là tỷ lệ phần trăm (%) lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu mà chủ thể phát hành phải thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu vào các kỳ trả lãi theo các điều kiện, điều khoản của trái phiếu.
639,180
Khoản 1. Đối với phát hành tín phiếu a) Tín phiếu phát hành theo phương thức đấu thầu: - Ngày tổ chức phát hành tín phiếu là ngày thứ Hai trong tuần phát hành. Căn cứ kế hoạch phát hành công cụ nợ của Chính phủ, nhu cầu huy động vốn cho ngân sách nhà nước và nhu cầu quản lý ngân quỹ, Kho bạc Nhà nước có thể quyết định ngày tổ chức phát hành tín phiếu vào ngày khác trong tuần; - Ngày thanh toán tiền mua tín phiếu là ngày làm việc liền kề sau ngày tổ chức phát hành. b) Tín phiếu phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: ngày tổ chức phát hành và thanh toán tiền mua tín phiếu thực hiện theo thỏa thuận của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên cơ sở đề án phát hành đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
639,182
Khoản 1. Tối thiểu ba (03) ngày làm việc trước ngày tổ chức đấu thầu tín phiếu, Kho bạc Nhà nước gửi thông báo phát hành tín phiếu cho Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Sở Giao dịch chứng khoán. Nội dung thông báo gồm: a) Mã tín phiếu dự kiến phát hành do Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam cấp; b) Kỳ hạn tín phiếu, khối lượng gọi thầu, hình thức tín phiếu đối với từng mã tín phiếu dự kiến phát hành, trong đó nêu rõ tín phiếu phát hành lần đầu hoặc phát hành bổ sung. Đối với trường hợp tín phiếu phát hành bổ sung, thông báo phải nêu rõ điều kiện, điều khoản của tín phiếu đang lưu hành; c) Ngày tổ chức phát hành, ngày phát hành, ngày thanh toán tiền mua tín phiếu và ngày đáo hạn đối với từng mã tín phiếu; d) Phương thức thanh toán tín phiếu đến hạn; đ) Hình thức đấu thầu; e) Phương thức xác định kết quả đấu thầu; g) Tài khoản nhận tiền mua tín phiếu của Kho bạc Nhà nước.
639,183
Khoản 2. Tối thiểu hai (02) ngày làm việc trước ngày tổ chức đấu thầu tín phiếu, căn cứ đề nghị của Kho bạc Nhà nước, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi thông báo phát hành tín phiếu tới các nhà tạo lập thị trường và công bố thông tin trên trang điện tử của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
639,184
Khoản 3. Chậm nhất vào 10 giờ 30 phút ngày tổ chức phát hành, nhà tạo lập thị trường gửi Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông tin dự thầu theo quy trình và mẫu đăng ký dự thầu do Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định. Mỗi nhà tạo lập thị trường và mỗi khách hàng của nhà tạo lập thị trường được phép dự thầu tối đa năm (05) mức dự thầu cạnh tranh lãi suất đối với mỗi mã tín phiếu gọi thầu, mỗi mức đặt thầu bao gồm lãi suất dự thầu (tính đến 2 chữ số thập phân) và khối lượng dự thầu tương ứng. Đối với trường hợp mua tín phiếu cho khách hàng, nhà tạo lập thị trường phải cung cấp đầy đủ tên khách hàng, mức lãi suất và khối lượng dự thầu tương ứng của mỗi khách hàng.
639,185
Khoản 4. Chậm nhất mười lăm (15) phút sau thời gian đăng ký dự thầu cuối cùng theo quy định tại Khoản 3 Điều này, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mở thầu, tổng hợp thông tin dự thầu và gửi cho Kho bạc Nhà nước.
639,186
Khoản 5. Chậm nhất vào 11 giờ 30 phút ngày tổ chức phát hành, căn cứ vào thông tin dự thầu tổng hợp nhận từ Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Kho bạc Nhà nước xác định mức lãi suất phát hành đối với mỗi mã tín phiếu gọi thầu và thông báo cho Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để xác định kết quả đấu thầu tín phiếu theo quy định tại Điều 11 Thông tư này.
639,187
Khoản 6. Thông báo kết quả đấu thầu a) Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo kết quả đấu thầu cho nhà tạo lập thị trường bằng dữ liệu điện tử thông qua hệ thống đấu thầu tín phiếu điện tử. b) Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo kết quả phát hành (gồm kết quả đấu thầu quy định tại Điểm a Khoản này và kết quả phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu quy định tại Điều 8 Thông tư này, nếu có) cho Kho bạc Nhà nước, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam, Sở Giao dịch chứng khoán theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 Thông tư này. Đồng thời thực hiện công bố thông tin về kết quả phát hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Thông tư này.
639,189
Khoản 1. Căn cứ vào kết quả trúng thầu quy định tại Điều 6 Thông tư này, Kho bạc Nhà nước quyết định việc phát hành thêm tín phiếu ngay sau phiên đấu thầu và thông báo cho Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
639,193
Điều 11. Xác định kết quả đấu thầu 1. Việc xác định lãi suất trúng thầu, lãi suất danh nghĩa, khối lượng trúng thầu và giá bán trái phiếu được căn cứ vào các yếu tố sau: a) Khối lượng trái phiếu gọi thầu; b) Lãi suất và khối lượng trái phiếu dự thầu; c) Khung lãi suất phát hành trái phiếu do Bộ Tài chính quy định. 2. Phương pháp xác định lãi suất trúng thầu a) Đối với phương thức đấu thầu đơn giá Lãi suất trúng thầu là mức lãi suất dự thầu cao nhất, áp dụng chung tất cả nhà đầu tư (đặt thầu cạnh tranh và không cạnh tranh lãi suất) và được xét chọn theo thứ tự từ thấp đến cao của lãi suất dự thầu, thỏa mãn đồng thời hai (02) điều kiện sau: - Trong khung lãi suất do Bộ Tài chính quyết định; - Khối lượng trái phiếu phát hành tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu không vượt quá khối lượng trái phiếu gọi thầu. b) Đối với phương thức đấu thầu đa giá - Lãi suất trúng thầu áp dụng cho hình thức cạnh tranh lãi suất là mức lãi suất dự thầu của nhà đầu tư được xét chọn theo thứ tự từ thấp đến cao, thỏa mãn đồng thời hai (02) điều kiện sau: + Bình quân gia quyền các mức lãi suất trúng thầu không vượt quá khung lãi suất do Bộ Tài chính quyết định; + Khối lượng trái phiếu phát hành tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu cao nhất không vượt quá khối lượng trái phiếu gọi thầu. - Lãi suất trúng thầu áp dụng cho hình thức không cạnh tranh lãi suất là bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu, được làm tròn xuống tới hai (02) chữ số thập phân. 3. Phương pháp xác định khối lượng trái phiếu trúng thầu a) Đối với trái phiếu được đấu thầu dưới hình thức cạnh tranh lãi suất: Khối lượng trái phiếu phát hành cho mỗi nhà đầu tư dự thầu cạnh tranh lãi suất tương đương với khối lượng dự thầu của nhà đầu tư đó. Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất, khối lượng dự thầu tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu cao nhất vượt quá khối lượng gọi thầu thì sau khi đã trừ đi khối lượng dự thầu ở các mức lãi suất thấp hơn, phần còn lại của khối lượng gọi thầu được phân bổ cho các nhà đầu tư dự thầu tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất theo tỷ lệ tương ứng với khối lượng dự thầu và được làm tròn xuống hàng 10.000 (mười nghìn) đơn vị trái phiếu. Phần lẻ còn lại sau khi làm tròn được phân bổ cho nhà đầu tư đầu tiên đặt thầu tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất, trường hợp phân bổ phần lẻ vượt quá mức đặt thầu của nhà đầu tư này thì phần vượt quá được phân bổ cho nhà đầu tư tiếp theo cho đến hết khối lượng trái phiếu gọi thầu. b) Đối với trái phiếu được đấu thầu dưới hình thức kết hợp cạnh tranh lãi suất và không cạnh tranh lãi suất: - Khối lượng trái phiếu phát hành cho mỗi nhà đầu tư dự thầu cạnh tranh lãi suất tương đương với khối lượng dự thầu của nhà đầu tư đó. Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất, khối lượng dự thầu tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu cao nhất vượt quá khối lượng gọi thầu, thì sau khi đã trừ đi khối lượng phát hành cho các nhà đầu tư dự thầu không cạnh tranh lãi suất và khối lượng dự thầu ở các mức lãi suất thấp hơn, phần còn lại được phân bổ cho các nhà đầu tư dự thầu tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất theo tỷ lệ tương ứng với khối lượng dự thầu và được làm tròn xuống hàng 10.000 (mười nghìn) đơn vị trái phiếu.
639,196
- Công thức tính số tiền lãi của một (01) trái phiếu đối với các kỳ trả lãi tiếp theo: Trong đó: GL1 = Số tiền thanh toán lãi của một (01) trái phiếu đối với kỳ trả lãi đầu tiên (được làm tròn xuống đơn vị đồng); GLn = Số tiền thanh toán lãi của một (01) trái phiếu đối với các kỳ trả lãi tiếp theo (được làm tròn xuống đơn vị đồng); MG = Mệnh giá trái phiếu; Lc = Lãi suất danh nghĩa trái phiếu (%/năm). Đối với phát hành lần đầu, lãi suất danh nghĩa là bình quân gia quyền các mức lãi suất trúng thầu áp dụng đối với các nhà tạo lập trúng thầu cạnh tranh lãi suất và được làm tròn xuống tới 1 chữ số thập phân. Đối với phát hành bổ sung, Lc là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu đang lưu hành và được phát hành bổ sung; k = Số lần thanh toán lãi định kỳ trong 1 năm; a1 = Số ngày thực tế giữa ngày thanh toán tiền mua trái phiếu và ngày thanh toán tiền lãi đầu tiên kể từ ngày thanh toán tiền mua trái phiếu; a2 = Số ngày từ ngày thanh toán tiền mua trái phiếu của chủ sở hữu trái phiếu đến ngày thanh toán tiền lãi thông thường theo giả định; E = Số ngày trong kỳ trả lãi thông thường theo giả định khi việc thanh toán xảy ra. b) Xác định giá bán một (01) trái phiếu phát hành lần đầu: - Trường hợp trái phiếu thanh toán lãi định kỳ và có kỳ trả lãi đầu tiên ngắn hơn so với các kỳ trả lãi tiếp theo, giá bán một (01) trái phiếu được xác định như sau: - Trường hợp thanh toán lãi định kỳ và có kỳ trả lãi đầu tiên dài hơn so với các kỳ trả lãi tiếp theo, giá bán một (01) trái phiếu được xác định như sau: GG = Giá bán một (01) trái phiếu (được làm tròn xuống đơn vị đồng); GL1 = Số tiền thanh toán lãi của một (01) trái phiếu Chính phủ đối với kỳ trả lãi đầu tiên, được làm tròn đến xuống đơn vị đồng (theo công thức nêu tại điểm a nêu trên); MG = Mệnh giá trái phiếu; Lt = Lãi suất phát hành cho chủ sở hữu trái phiếu (%/năm); Lc = Lãi suất danh nghĩa trái phiếu (%/năm), là bình quân gia quyền các mức lãi suất trúng thầu áp dụng đối với các nhà tạo lập trúng thầu cạnh tranh lãi suất và được làm tròn xuống tới 1 chữ số thập phân. Đối với phát hành bổ sung, Lc là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu đang lưu hành và được phát hành bổ sung; k = Số lần thanh toán lãi định kỳ trong 1 năm; a1 = Số ngày thực tế giữa ngày thanh toán tiền mua trái phiếu và ngày thanh toán tiền lãi đầu tiên kể từ ngày thanh toán tiền mua trái phiếu; a2 = Số ngày từ ngày thanh toán tiền mua trái phiếu của chủ sở hữu đến ngày thanh toán tiền lãi thông thường theo giả định; E = Số ngày trong kỳ trả lãi thông thường; t = Số lần thanh toán lãi giữa ngày thanh toán tiền mua trái phiếu của chủ sở hữu và ngày đến hạn của trái phiếu.
639,197
c) Đối với trái phiếu phát hành bổ sung: - Trường hợp ngày thanh toán tiền mua trái phiếu trước hoặc vào ngày đăng ký nhận tiền lãi trái phiếu cuối cùng của kỳ trả lãi đầu tiên: + Đối với trái phiếu phát hành lần đầu có kỳ trả lãi đầu tiên ngắn hơn, giá bán một (01) trái phiếu được xác định như đối với trái phiếu phát hành lần đầu có kỳ trả lãi đầu tiên ngắn hơn; + Đối với trái phiếu phát hành lần đầu có kỳ trả lãi đầu tiên dài hơn: trường hợp ngày phát hành bổ sung trước hoặc vào ngày thanh toán tiền lãi thông thường theo giả định, giá bán một (01) trái phiếu được xác định như trái phiếu phát hành lần đầu có kỳ trả lãi đầu tiên dài hơn; trường hợp ngày phát hành bổ sung sau ngày thanh toán tiền lãi thông thường theo giả định, giá bán một (01) trái phiếu được xác định như trái phiếu phát hành lần đầu có kỳ trả lãi đầu tiên ngắn hơn. - Trường hợp ngày thanh toán tiền mua trái phiếu sau ngày đăng ký cuối cùng để nhận được tiền lãi của kỳ trả lãi đầu tiên, giá bán một (01) trái phiếu được xác định như trường hợp có các kỳ trả lãi bằng nhau được phát hành bổ sung theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này. 4. Việc xác định lãi suất tham chiếu, cách thức xác định lãi suất để xác định giá bán đối với trái phiếu có lãi suất danh nghĩa là lãi suất thả nổi thực hiện theo công văn hướng dẫn của Bộ Tài chính.
639,198
Khoản 1. Căn cứ vào kết quả trúng thầu quy định tại Điều 10 Thông tư này, Kho bạc Nhà nước quyết định việc phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu và thông báo cho Sở Giao dịch chứng khoán theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
639,199
Khoản 2. Các bước phát hành thêm trái phiếu ngay sau phiên đấu thầu a) Nguyên tắc phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu: - Chỉ áp dụng đối với các mã có kết quả trúng thầu tại phiên đấu thầu lúc 10 giờ 30 phút theo thông báo kết quả đấu thầu quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 10 Thông tư này; - Khối lượng phát hành cho các nhà tạo lập thị trường (bao gồm cho chính mình và cho các khách hàng) tối đa không quá 50% khối lượng gọi thầu đối với mỗi mã theo thông báo phát hành trái phiếu quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này; - Lãi suất phát hành đối với mỗi mã gọi thầu thêm được xác định bằng lãi suất trúng thầu trong trường hợp đấu thầu đơn giá hoặc bằng bình quân gia quyền các mức lãi suất trúng thầu trong trường hợp đấu thầu đa giá và được làm tròn xuống tới 2 chữ số thập phân. b) Kho bạc Nhà nước thông báo cho Sở Giao dịch chứng khoán về việc phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu cùng thời điểm với việc thông báo lãi suất phát hành theo quy định tại Khoản 4 Điều 10 Thông tư này. Nội dung thông báo bao gồm: mã phát hành thêm, khối lượng phát hành thêm, lãi suất phát hành thêm và thời gian đăng ký mua thêm. c) Sở Giao dịch chứng khoán thông báo việc phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu cho nhà tạo lập thị trường bằng dữ liệu điện tử thông qua hệ thống đấu thầu điện tử. d) Nhà tạo lập thị trường trúng thầu đối với bất kỳ mã trái phiếu nào tại phiên đấu thầu được tham gia đăng ký mua thêm ngay sau phiên đấu thầu cho chính mình hoặc mua cho khách hàng. Khối lượng đăng ký mua thêm của mỗi nhà tạo lập thị trường (bao gồm cho chính mình và cho các khách hàng) đối với mỗi mã trái phiếu không được vượt quá khối lượng phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu theo thông báo của Kho bạc Nhà nước và Sở giao dịch Chứng khoán theo quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản này. đ) Thông tin đăng ký mua thêm của nhà tạo lập thị trường bao gồm: - Mã trái phiếu đăng ký mua thêm; - Khối lượng đăng ký mua thêm tương ứng với mỗi mã trái phiếu; - Tên khách hàng. e) Nguyên tắc xác định khối lượng phát hành thêm sau phiên đấu thầu cho các nhà tạo lập thị trường: - Trường hợp khối lượng đăng ký mua thêm nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng phát hành thêm ngay sau phiên đấu thầu, khối lượng phát hành thêm cho mỗi nhà tạo lập thị trường bằng khối lượng đăng ký mua thêm của nhà tạo lập thị trường đó; - Trường hợp khối lượng đăng ký mua thêm vượt quá khối lượng phát hành thêm, tỷ lệ phân bổ mỗi mã trái phiếu Chính phủ cho từng nhà tạo lập thị trường được dựa trên tỷ lệ khối lượng đăng ký mua thêm so với tổng khối lượng đăng ký mua thêm và được làm tròn xuống hàng 10.000 (mười nghìn) đơn vị trái phiếu. Phần lẻ còn lại sau khi làm tròn được ưu tiên phân bổ cho nhà tạo lập thị trường đầu tiên đăng ký mua thêm, trường hợp phân bổ phần lẻ vượt quá mức đăng ký mua thêm của nhà tạo lập thị trường này thì phần vượt quá được phân bổ cho nhà tạo lập thị trường đăng ký tiếp theo cho đến hết khối lượng trái phiếu phát hành thêm. g) Sở Giao dịch chứng khoán xác định khối lượng phát hành thêm cho từng nhà tạo lập thị trường và thông báo cho Kho bạc Nhà nước. h) Kết thúc phiên phát hành, Sở Giao dịch chứng khoán thông báo kết quả phát hành thêm cho các nhà tạo lập thị trường bằng dữ liệu điện tử thông qua Hệ thống đấu thầu điện tử.
639,200
Điều 14. Các bước lựa chọn thành viên tổ hợp bảo lãnh 1. Khi có nhu cầu phát hành trái phiếu theo phương thức bảo lãnh phát hành, Kho bạc Nhà nước thông báo về kế hoạch tổ chức bảo lãnh phát hành trên trang điện tử của Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán để các tổ chức đăng ký tham gia làm tổ chức bảo lãnh chính. Nội dung thông báo bao gồm: a) Thông tin dự kiến về đợt bảo lãnh phát hành: - Điều kiện, điều khoản sơ bộ của trái phiếu bao gồm: đồng tiền phát hành, kỳ hạn, mệnh giá, phương thức thanh toán gốc, lãi; - Khối lượng trái phiếu dự kiến phát hành; - Khoảng thời gian dự kiến đàm phán, ký kết hợp đồng bảo lãnh. b) Thông tin về việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính: - Điều kiện và tiêu chuẩn của tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 95/2018/NĐ-CP. - Thời hạn và hình thức nhận hồ sơ đăng ký trở thành tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính. 2. Các tổ chức đáp ứng đủ điều kiện và có nhu cầu trở thành tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính gửi hồ sơ đăng ký được niêm phong theo thông báo của Kho bạc Nhà nước. Hồ sơ đăng ký gồm: a) Đơn đăng ký trở thành tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính theo mẫu quy định tại Phụ lục 6 Thông tư này; b) Đề xuất phương án bảo lãnh phát hành trái phiếu với các nội dung cơ bản sau đây: - Dự báo về tình hình thị trường trái phiếu và khả năng phát hành trái phiếu theo phương thức bảo lãnh; - Kế hoạch thực hiện đối với đợt bảo lãnh phát hành, gồm: dự kiến thành viên tổ hợp bảo lãnh, cách thức, thời gian triển khai thực hiện, dự kiến về khối lượng, lãi suất phát hành và đề xuất chi phí bảo lãnh phát hành trái phiếu; - Các cam kết của tổ chức bảo lãnh chính. c) Các tài liệu chứng minh đủ điều kiện để trở thành tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính gồm: - Bản sao Giấy phép thành lập và hoạt động (Bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản sao không có chứng thực xuất trình cùng bản chính để đối chiếu); - Tài liệu chứng minh kinh nghiệm hoạt động của tổ chức trong lĩnh vực bảo lãnh chứng khoán và tình hình tài chính (kèm theo báo cáo tài chính được kiểm toán của 02 năm liền kề gần nhất). 3. Sau khi kết thúc thời gian nhận hồ sơ, Kho bạc Nhà nước thành lập tổ mở hồ sơ niêm phong để đánh giá, lựa chọn tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính căn cứ vào điều kiện và phương án bảo lãnh phát hành trái phiếu. 4. Kho bạc Nhà nước thông báo bằng văn bản và công bố trên trang điện tử của Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán về kết quả lựa chọn tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính. 5. Kho bạc Nhà nước và tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính thống nhất nội dung và ký hợp đồng nguyên tắc thực hiện đợt bảo lãnh phát hành trái phiếu theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 Thông tư này. Hợp đồng nguyên tắc là căn cứ để tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính lựa chọn tổ chức bảo lãnh/tổ chức đồng bảo lãnh.
639,201
6. Tổ chức bảo lãnh chính/đồng bảo lãnh chính lựa chọn thành viên của tổ hợp bảo lãnh/tổ chức đồng bảo lãnh báo cáo Kho bạc Nhà nước theo mẫu quy định tại mục 1 Phụ lục 8 Thông tư này để Kho bạc Nhà nước chấp thuận.
639,203
Khoản 1. Đối với trái phiếu phát hành trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước a) Căn cứ phương án phát hành riêng lẻ trái phiếu được Bộ Tài chính chấp thuận, Kho bạc Nhà nước cung cấp cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua trái phiếu các thông tin sau: - Ngày phát hành, ngày thanh toán tiền mua, ngày thanh toán lãi và ngày đáo hạn trái phiếu dự kiến; - Khối lượng, kỳ hạn trái phiếu dự kiến phát hành; - Đối tượng mua trái phiếu; - Lãi suất danh nghĩa trái phiếu; - Hình thức trái phiếu; - Phương thức thanh toán tiền lãi, gốc trái phiếu; b) Căn cứ vào đăng ký mua trái phiếu, Kho bạc Nhà nước quyết định việc phát hành trái phiếu theo phương thức riêng lẻ đối với từng đợt và thông báo cho nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu chuyển tiền vào tài khoản do Kho bạc Nhà nước chỉ định; c) Căn cứ xác nhận chuyển tiền, Kho bạc Nhà nước hạch toán tiền mua trái phiếu vào ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và làm thủ tục xác nhận sở hữu cho nhà đầu tư mua trái phiếu theo quy định.
639,207
Khoản 1. Căn cứ kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà nước và tình hình phát triển của thị trường, Kho bạc Nhà nước công bố mã trái phiếu chuẩn để nhà tạo lập thị trường thực hiện nghĩa vụ chào giá cam kết chắc chắn trên trang điện tử của Kho bạc Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán. Nội dung thông báo bao gồm: mã trái phiếu chuẩn, kỳ hạn, quy mô của mã, ngày dự kiến tổ chức phát hành lần đầu hoặc ngày dự kiến mở lại mã trái phiếu đã phát hành, thời điểm dự kiến bắt đầu thực hiện nghĩa vụ chào giá cam kết chắc chắn.
639,208
Khoản 2. Căn cứ kết quả phát hành trên thị trường sơ cấp của mã trái phiếu chuẩn, tối thiểu năm (05) ngày làm việc trước ngày bắt đầu thực hiện nghĩa vụ chào giá cam kết chắc chắn, Kho bạc Nhà nước công bố chính thức thời điểm nhà tạo lập thị trường bắt đầu thực hiện nghĩa vụ chào giá trên trang điện tử của Kho bạc Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán và thông báo đến từng nhà tạo lập thị trường.
639,209
Khoản 3. Phiên chào giá cam kết chắc chắn đối với các mã trái phiếu chuẩn từ 09 giờ đến 10 giờ 30 phút trên hệ thống giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán. Tần suất, khối lượng, biên độ giữa lãi suất tính giá chào mua và lãi suất tính giá chào bán cam kết chắc chắn thực hiện theo thông báo của Bộ Tài chính về nghĩa vụ tham gia giao dịch trên thị trường thứ cấp của nhà tạo lập thị trường.
639,210
Khoản 4. Nhà tạo lập thị trường được quyền lựa chọn dừng chào giá cam kết chắc chắn trong các trường hợp sau: a) Ngoài phiên chào giá cam kết chắc chắn quy định tại Khoản 3 Điều này; b) Lệnh chào mua/chào bán cam kết chắc chắn của nhà tạo lập thị trường đã được thực hiện với tần suất và khối lượng theo thông báo của Bộ Tài chính tại Khoản 3 Điều này; c) Trong thời gian Kho bạc Nhà nước thông báo không phát hành trái phiếu Chính phủ để đảm bảo thanh khoản theo quy định tại Thông tư này.
639,211
Khoản 5. Trường hợp nhà tạo lập thị trường đã hoàn thành nghĩa vụ chào giá cam kết chắc chắn theo quy định, nhà tạo lập thị trường được phép lựa chọn dừng hoặc tiếp tục chào giá cam kết chắc chắn. Khi tiếp tục chào giá cam kết chắc chắn, nhà tạo lập thị trường phải đảm bảo chênh lệch giữa lãi suất tính giá chào mua/lãi suất tính giá chào bán không được vượt quá biên độ theo thông báo của Bộ Tài chính.
639,214
5. Trường hợp nhà tạo lập thị trường không có đủ trái phiếu trong tài khoản tại ngày đáo hạn (bao gồm cả thời gian gia hạn hợp đồng) a) Chậm nhất vào 16 giờ của ngày liền kề trước ngày đáo hạn hợp đồng, nhà tạo lập thị trường phải thông báo cho Kho bạc Nhà nước; b) Chậm nhất vào 16 giờ ngày đáo hạn hợp đồng, Kho bạc Nhà nước tất toán hợp đồng, chuyển toàn bộ tiền ký quỹ thành khoản phát hành trái phiếu Chính phủ cho ngân sách nhà nước. 6. Ví dụ minh họa các bước phát hành trái phiếu để đảm bảo thanh khoản cho nhà tạo lập thị trường theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 Thông tư này.
639,217
Khoản 2. Lãi chậm thanh toán tiền mua trái phiếu a) Trường hợp nhà đầu tư chuyển tiền sau ngày thanh toán tiền mua trái phiếu quy định tại Khoản 1 Điều này, Kho bạc Nhà nước được thu lãi phạt chậm thanh toán như sau: - Số tiền lãi chậm thanh toán phải nộp được xác định theo công thức quy định tại Khoản 1 Điều 27 Thông tư này; - Kho bạc Nhà nước thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư chậm thanh toán tiền mua trái phiếu, trong đó nêu rõ số tiền lãi chậm thanh toán, thời hạn thanh toán và tài khoản nộp tiền lãi chậm thanh toán; - Nhà đầu tư chậm thanh toán tiền mua trái phiếu phải nộp tiền lãi chậm thanh toán vào ngân sách nhà nước theo thông báo của Kho bạc Nhà nước. Tiền lãi chậm thanh toán tiền mua trái phiếu được ghi thu vào ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn. b) Đối với trái phiếu phát hành theo phương thức đấu thầu hoặc bảo lãnh, sau năm (05) ngày làm việc kể từ ngày thanh toán tiền mua trái phiếu, nếu nhà đầu tư không thanh toán tiền mua trái phiếu, Kho bạc Nhà nước hủy kết quả phát hành đối với số lượng trái phiếu không thanh toán và có văn bản thông báo cho nhà đầu tư, Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam.
639,222
Khoản 2. Tiền lãi chậm thanh toán tín phiếu đến hạn, thanh toán gốc, lãi trái phiếu được xác định theo công thức quy định tại Khoản 1 Điều này. Trong đó, GG bằng mệnh giá đối với thanh toán tín phiếu, bằng mệnh giá đối với thanh toán gốc trái phiếu, bằng tiền lãi phải trả đối với thanh toán lãi trái phiếu; E bằng 365 đối với tín phiếu, bằng số ngày thực tế của một kỳ trả lãi, gốc mà việc chậm thanh toán phát sinh của trái phiếu thanh toán lãi định kỳ, bằng số ngày thực tế trong năm đáo hạn đối với trái phiếu không thanh toán lãi định kỳ.
639,233
Điều 37. Tổ chức thực hiện 1. Chánh Văn phòng Bộ Tài chính, Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính, Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Giám đốc Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng giám đốc Sở Giao dịch chứng khoán, Tổng giám đốc Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành theo đúng quy định tại Thông tư này. 2. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị có liên quan báo cáo kịp thời về Bộ Tài chính để xem xét và có hướng dẫn cụ thể.
639,234
Khoản 1. Thành lập thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trên cơ sở toàn bộ 21.471 ha diện tích tự nhiên, 229.907 nhân khẩu và 20 đơn vị hành chính cấp xã của huyện Điện Bàn. Địa giới hành chính thị xã Điện Bàn: Đông giáp thành phố Hội An và biển Đông; Tây giáp huyện Đại Lộc; Nam giáp huyện Duy Xuyên; Bắc giáp thành phố Đà Nẵng.
639,235
Khoản 2. Thành lập 07 phường thuộc thị xã Điện Bàn: a) Thành lập phường Vĩnh Điện trên cơ sở toàn bộ 205,35 ha diện tích tự nhiên và 8.244 nhân khẩu của thị trấn Vĩnh Điện. Địa giới hành chính phường Vĩnh Điện: Đông giáp xã Điện Minh; Tây giáp phường Điện An; Nam giáp xã Điện Minh; Bắc giáp phường Điện An và xã Điện Minh; b) Thành lập phường Điện An trên cơ sở toàn bộ 1.014,85 ha diện tích tự nhiên và 14.464 nhân khẩu của xã Điện An. Địa giới hành chính phường Điện An: Đông giáp các phường Điện Nam Bắc và Điện Nam Trung; Tây giáp các xã Điện Phước và Điện Hòa; Nam giáp phường Vĩnh Điện, các xã Điện Minh và Điện Phong; Bắc giáp xã Điện Thắng Nam; c) Thành lập phường Điện Ngọc trên cơ sở toàn bộ 2.121,60 ha diện tích tự nhiên và 31.392 nhân khẩu của xã Điện Ngọc. Địa giới hành chính phường Điện Ngọc: Đông giáp phường Điện Dương và biển Đông; Tây giáp xã Điện Thắng Bắc; Nam giáp phường Điện Nam Bắc, các xã Điện Thắng Nam và Điện Thắng Trung; Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; d) Thành lập phường Điện Nam Bắc trên cơ sở toàn bộ 750,97 ha diện tích tự nhiên và 10.159 nhân khẩu của xã Điện Nam Bắc. Địa giới hành chính phường Điện Nam Bắc: Đông giáp phường Điện Dương; Tây giáp phường Điện An, các xã Điện Thắng Nam và Điện Thắng Trung; Nam giáp phường Điện Nam Trung; Bắc giáp phường Điện Ngọc; đ) Thành lập phường Điện Nam Trung trên cơ sở toàn bộ 803,74 ha diện tích tự nhiên và 9.273 nhân khẩu của xã Điện Nam Trung. Địa giới hành chính phường Điện Nam Trung: Đông giáp phường Điện Dương; Tây giáp phường Điện An; Nam giáp phường Điện Nam Đông và xã Điện Minh; Bắc giáp phường Điện Nam Bắc; e) Thành lập phường Điện Nam Đông trên cơ sở toàn bộ 879,98 ha diện tích tự nhiên và 8.879 nhân khẩu của xã Điện Nam Đông. Địa giới hành chính phường Điện Nam Đông: Đông giáp phường Điện Dương; Tây giáp phường Vĩnh Điện và xã Điện Minh; Nam giáp xã Điện Phương và thành phố Hội An; Bắc giáp phường Điện Nam Trung; g) Thành lập phường Điện Dương trên cơ sở toàn bộ 1.563,97 ha diện tích tự nhiên và 19.039 nhân khẩu của xã Điện Dương. Địa giới hành chính phường Điện Dương: Đông giáp biển Đông; Tây giáp các phường Điện Nam Bắc và Điện Nam Trung; Nam giáp phường Điện Nam Đông và thành phố Hội An; Bắc giáp phường Điện Ngọc.
639,236
Khoản 3. Sau khi thành lập thị xã Điện Bàn và 07 phường thuộc thị xã Điện Bàn: a) Thị xã Điện Bàn có 21.471 ha diện tích tự nhiên, 229.907 nhân khẩu và 20 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 07 phường Điện An, Điện Dương, Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, Điện Ngọc, Vĩnh Điện và 13 xã Điện Hòa, Điện Hồng, Điện Minh, Điện Phong, Điện Phương, Điện Phước, Điện Quang, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Nam, Điện Thắng Trung, Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Trung. b) Tỉnh Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện (15 huyện, 02 thành phố và 01 thị xã) và 244 đơn vị hành chính cấp xã (207 xã, 25 phường và 12 thị trấn).
639,239
Điều 1. Phê duyệt phạm vi khu vực cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và cửa khẩu quốc tế Xa Mát đã xác định tại Tờ trình số 2104/TTr-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2016 kèm theo Báo cáo số 191/BC-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.
639,241
Điều 1. Đối tượng áp dụng. Thông tư này điều chỉnh các đối tượng là đối tượng cư trú của Việt Nam hoặc của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc đồng thời là đối tượng cư trú của Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. 1. Theo Hiệp định, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” là đối tượng mà theo luật của một Nước ký kết là đối tượng chịu thuế tại nước đó do: 1.1. Có nhà ở, có thời gian cư trú tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một cá nhân; hoặc 1.2. Có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một tổ chức; hoặc 1.3. Thuật ngữ này cũng bao gồm cả Nhà nước hoặc chính quyền địa phương của nước đó, trong trường hợp Hiệp định có quy định. 2. Theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, các đối tượng sau đây được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam: 2.1. Các cá nhân là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam; b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: - Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; - Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế. Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam. Ví dụ 1: Trong năm 2010, một chuyên gia Nhật Bản sang làm việc tại Việt Nam trong vòng 10 tháng. Hai tháng trong năm 2010 (tháng 6 và tháng 12) chuyên gia này về phép thăm gia đình. Trong năm 2009, chuyên gia sống và làm việc tại Nhật Bản. Năm tính thuế của Nhật Bản từ ngày 01/4 đến ngày 31/3 năm sau. Như vậy, trong năm 2010, do chuyên gia Nhật Bản đã chủ yếu làm việc tại Việt Nam và thường xuyên sống tại Việt Nam, nên mặc dù chuyên gia vẫn có nhà ở và có gia đình tại Nhật Bản và mang quốc tịch Nhật Bản, chuyên gia vẫn được coi là một đối tượng cư trú của Việt Nam cho mục đích thuế. (Quy định tại Điều 4, Khoản b, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản). Tuy nhiên, trong giai đoạn từ tháng 01/2010 đến ngày 30/3/2010, chuyên gia được coi như đối tượng cư trú của Nhật Bản cho mục đích quyết toán thuế tại Việt Nam và Nhật Bản. 2.2. Các tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật tại Việt Nam.
639,242
3. Trường hợp căn cứ vào quy định tại các Khoản 1 và 2 của Điều này, nếu một đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì vị thế cư trú của đối tượng đó được xác định như sau: 3.1. Đối với cá nhân: Căn cứ vào các tiêu thức theo thứ tự ưu tiên dưới đây để xác định một cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam: a) Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở Việt Nam (nhà thuộc sở hữu hoặc nhà thuê hoặc nhà thuộc quyền sử dụng của đối tượng đó); b) Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả hai nước nhưng cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như: có việc làm; có địa điểm kinh doanh; nơi quản lý tài sản cá nhân; hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam như quan hệ gia đình (người thân như bố, mẹ, vợ/chồng, con, ...), xã hội (hội viên các đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, ...); c) Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở nước nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều hơn trong năm tính thuế; d) Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt ở cả Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước nhưng cá nhân đó mang quốc tịch Việt Nam hoặc được xác định là công dân Việt Nam theo nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu Việt Nam; đ) Nếu cá nhân đó vừa mang quốc tịch Việt Nam vừa mang quốc tịch Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch cả hai nước thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. 3.2. Đối với một đối tượng không phải là cá nhân: Tùy theo quy định cụ thể tại mỗi Hiệp định để xác định một đối tượng không phải là cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam. Tại các Hiệp định thường quy định các tiêu thức dưới đây: a) Nếu đối tượng đó được thành lập hoặc đăng ký hoạt động tại Việt Nam thì đối tượng đó là đối tượng cư trú của Việt Nam; hoặc b) Nếu đối tượng đó có trụ sở chính tại Việt Nam thì đối tượng đó là đối tượng cư trú của Việt Nam; hoặc c) Nếu đối tượng đó có trụ sở điều hành thực tế tại Việt Nam thì đối tượng đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam (trụ sở điều hành thực tế thường là nơi các cán bộ cao cấp hoặc ban lãnh đạo của doanh nghiệp tiến hành họp, xem xét, thảo luận và đưa ra các quyết định quản lý hoặc các quyết định về sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc nơi các sổ sách kế toán quan trọng nhất được lưu giữ); hoặc d) Trường hợp đối tượng đó thành lập hoặc đăng ký tại cả hai nước hoặc có trụ sở chính, hoặc trụ sở điều hành thực tế tại cả hai nước thì nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam và Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam sẽ xác định đối tượng đó chỉ là đối tượng cư trú của một trong hai nước thông qua thủ tục thỏa thuận song phương. Trường hợp hai Nước ký kết không đạt được thỏa thuận chung, đối tượng đó không được coi là đối tượng cư trú thuế của bất kỳ nước nào vì mục đích áp dụng Hiệp định.
639,243
Các quy định về đối tượng cư trú như trên được nêu tại Điều khoản Đối tượng cư trú (thường là Điều 4) của Hiệp định.
639,246
Mục 2. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG HIỆP ĐỊNH Điều 4. Nguyên tắc áp dụng Hiệp định. Khi áp dụng, xử lý thuế đối với từng trường hợp phải căn cứ theo quy định tại từng Hiệp định (bao gồm cả Nghị định thư và/hoặc Thư trao đổi nếu có). Điều 5. Áp dụng Hiệp định, luật thuế và các luật có liên quan 1. Trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định tại Hiệp định và các quy định tại luật thuế trong nước thì sẽ áp dụng theo các quy định của Hiệp định. 2. Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc nặng hơn so với luật thuế trong nước. Trường hợp tại Hiệp định có các quy định theo đó Việt Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó hoặc thu thuế với một mức thuế suất nhất định nhưng pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam chưa có quy định thu thuế đối với thu nhập đó hoặc quy định thu với mức thuế suất thấp hơn thì áp dụng theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, nghĩa là không thu thuế hoặc thu thuế với mức thuế suất thấp hơn. 3. Khi Việt Nam thực hiện các quy định tại Hiệp định, nếu có các thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định, thì các thuật ngữ chưa được định nghĩa sẽ có nghĩa như quy định tại pháp luật của Việt Nam cho các mục đích thuế tại thời điểm đó. Đối với một thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định và chưa được định nghĩa hoặc đồng thời được định nghĩa tại pháp luật của Việt Nam và của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nhà chức trách có thẩm quyền của hai nước sẽ thực hiện giải quyết vấn đề qua thủ tục thỏa thuận song phương. Đối với một thuật ngữ đồng thời được định nghĩa tại pháp luật thuế và các pháp luật khác, định nghĩa tại pháp luật thuế sẽ được áp dụng để thực hiện Hiệp định. Điều 6. Một số trường hợp từ chối áp dụng Hiệp định trên cơ sở nguyên tắc hưởng lợi Hiệp định. Trừ khi được quy định khác tại Hiệp định về giới hạn hưởng lợi Hiệp định, Cơ quan thuế Việt Nam sẽ từ chối đề nghị áp dụng Hiệp định trong các trường hợp sau: 1. Người đề nghị đề nghị áp dụng Hiệp định đối với số thuế đã phát sinh quá ba năm trước thời điểm đề nghị áp dụng Hiệp định. Ví dụ 3: Trong giai đoạn từ 2006 đến 2012, doanh nghiệp V của Việt Nam hàng năm có thu nhập từ tiền bản quyền tại Ma-lai-xi-a và hàng năm đều đã nộp thuế tại Ma-lai-xi-a theo quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và Ma-lai-xi-a. Vào ngày 01/10/2012, doanh nghiệp V nộp hồ sơ đề nghị khấu trừ thuế theo Hiệp định giữa Việt Nam và Ma-lai-xi-a đối với toàn bộ số thuế đã nộp tại Ma-lai-xi-a trong giai đoạn từ 2006 đến 2012. Trong trường hợp này, Cơ quan thuế Việt Nam chỉ xem xét khấu trừ thuế tại Việt Nam đối với số tiền đã nộp cho số thuế phát sinh tại Ma-lai-xi-a trong giai đoạn 3 năm từ ngày 01/10/2009 đến ngày 01/10/2012. 2. Khi mục đích chính của các hợp đồng hoặc các thỏa thuận là để được hưởng miễn hoặc giảm thuế theo Hiệp định.
639,249
2. Đối với các đối tượng cư trú của Việt Nam Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam cho rằng một Nước ký kết xác định nghĩa vụ thuế của mình không phù hợp với quy định của Hiệp định đối tượng đó có thể đề nghị Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam xúc tiến quá trình thủ tục thỏa thuận song phương theo quy định tại Hiệp định. Trước khi đề nghị Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam xúc tiến quá trình thủ tục thỏa thuận song phương, người khiếu nại phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã được thông báo tại các quyết định xử lý về thuế của Cơ quan thuế Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nếu pháp luật của nước đó yêu cầu. Việc đề nghị Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện thủ tục thỏa thuận song phương phải được tiến hành trong phạm vi ba năm kể từ ngày Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam ban hành các quyết định xử lý về thuế mà đối tượng cư trú của Việt Nam cho rằng không phù hợp với quy định của Hiệp định.
639,253
Điều 11. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh 1. Trường hợp doanh nghiệp nước ngoài tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam. 1.1. Nghĩa vụ thuế Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài chỉ bị đánh thuế tại Việt Nam nếu doanh nghiệp đó có một cơ sở thường trú tại Việt Nam và thu nhập đó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cơ sở thường trú đó. Trong trường hợp này doanh nghiệp đó chỉ bị đánh thuế tại Việt Nam trên phần thu nhập phân bổ cho cơ sở thường trú đó. 1.2. Định nghĩa cơ sở thường trú 1.2.1. Theo quy định tại Hiệp định, “cơ sở thường trú” là một cơ sở kinh doanh cố định của một doanh nghiệp, thông qua đó, doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình. Một doanh nghiệp của Nước ký kết được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu hội đủ ba điều kiện dưới đây: 1.2.2. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam trong các trường hợp chủ yếu sau đây: 1.2.3. Một doanh nghiệp nước ngoài sẽ được coi là không có cơ sở thường trú tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây: 1.2.4. Trường hợp một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam, hoặc đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (có thể thông qua cơ sở thường trú hoặc dưới hình thức khác) sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở thành cơ sở thường trú của công ty kia. Ví dụ 16: Một doanh nghiệp nước ngoài góp vốn thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài này không được coi là các cơ sở thường trú tại Việt Nam của doanh nghiệp nước ngoài đó.
639,254
Tuy nhiên, trường hợp công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam góp vốn thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp chế xuất) thì công ty đó sẽ được coi như có một cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu: - Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên công ty đó; hoặc ký các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của công ty nước ngoài; hoặc - Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường xuyên đại diện cho công ty nước ngoài giao hàng hóa tại Việt Nam; hoặc - Công ty nước ngoài đó có quyền định đoạt đối với cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đó trong quá trình sản xuất kinh doanh (nghĩa là, việc công ty nước ngoài sử dụng các cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (nếu có) trong quá trình sản xuất kinh doanh không phải trên cơ sở nguyên tắc giá thị trường). a) Duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một văn phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng đó, một phương tiện hoặc thiết bị,...; và a) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam: trụ sở điều hành, chi nhánh (như chi nhánh công ty luật, chi nhánh văn phòng nước ngoài, chi nhánh các công ty thuốc lá, chi nhánh ngân hàng,...), văn phòng (kể cả văn phòng đại diện thương mại nếu có thương lượng, ký kết hợp đồng thương mại), nhà máy, xưởng sản xuất, mỏ, giếng dầu hoặc khí, kho giao nhận hàng hoá, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên, hoặc có các thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam. Ví dụ 9: Một nhà thầu phụ nước ngoài sử dụng phương tiện, thiết bị và nhân công tham gia vào hoạt động khoan thăm dò dầu khí tại Việt Nam sẽ được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam. a) Doanh nghiệp đó sử dụng các phương tiện chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hàng hóa của doanh nghiệp. b) Cơ sở này có tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập tại một địa điểm xác định và/hoặc được duy trì thường xuyên. Tính cố định của cơ sở kinh doanh không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn liền với một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định; và b) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một địa điểm xây dựng, một công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp, hoặc tiến hành các hoạt động giám sát liên quan đến các địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp nói trên với điều kiện các địa điểm, công trình hoặc các hoạt động giám sát đó kéo dài hơn 6 tháng hoặc 3 tháng (tùy theo từng Hiệp định cụ thể) tại Việt Nam.
639,255
Địa điểm, công trình xây dựng hoặc lắp đặt bao gồm địa điểm, công trình xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống, lắp đặt đường ống, khai quật, nạo vét sông ngòi,... Thời gian (6 tháng hoặc 3 tháng) được tính từ ngày nhà thầu bắt đầu công việc chuẩn bị cho công trình xây dựng tại Việt Nam, như thành lập văn phòng xây dựng kế hoạch thi công, cho đến khi công trình hoàn thiện, bàn giao toàn bộ tại Việt Nam, kể cả thời gian công trình bị gián đoạn do mọi nguyên nhân. Các nhà thầu phụ của Nước ký kết tham gia vào các công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp nêu trên cũng được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú nếu hội đủ các điều kiện tại Điểm 1.2.1 nêu trên. Thời gian thực hiện công trình để xác định cơ sở thường trú cho nhà thầu chính bao gồm tổng cộng thời gian thực hiện các phần hợp đồng của các nhà thầu phụ và thời gian thực hiện của nhà thầu chính. Ví dụ 10: Công ty Z của Nhật Bản trúng thầu xây dựng một chiếc cầu tại Việt Nam. Hoạt động thi công cầu diễn ra như sau: 5 tháng thi công xây dựng trụ cầu do một nhà thầu phụ Y cũng là một công ty Nhật Bản đảm nhiệm và 3 tháng thi công sàn cầu và hoàn thiện do nhà thầu Z tự thực hiện. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 5, Khoản 3, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, công ty Z được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú vì tổng thời gian thi công cầu là 8 tháng (5 tháng + 3 tháng); Công ty Y không được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam. b) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một kho hàng hóa chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hoặc để cho một doanh nghiệp khác gia công. c) Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở này. Ví dụ 8: Công ty X của Trung Quốc mở một gian hàng tại một khu chợ tết của Việt Nam, thông qua gian hàng này công ty X bán các hàng hóa tại hội chợ. Khi đó, gian hàng này sẽ được coi là cơ sở thường trú của công ty X tại Việt Nam. c) Doanh nghiệp đó thực hiện việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối tượng khác với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các dự án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng. Ví dụ 11: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng dịch vụ bảo dưỡng máy bay với hãng Hàng không Việt Nam. Theo hợp đồng, trong giai đoạn từ ngày 01/6/2010 đến ngày 30/5/2011, hãng Đ đã cử các đoàn chuyên gia kỹ thuật sang Việt Nam làm việc với tổng số thời gian có mặt tại Việt Nam 190 ngày. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Điển, hãng Đ được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do các đoàn chuyên gia kỹ thuật đã làm việc tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng.
639,256
Ví dụ 12: Công ty tư vấn N của Nhật Bản ký các hợp đồng dịch vụ tư vấn với chủ đầu tư của Dự án xây dựng Nhà máy điện V tại Việt Nam như sau: i) hợp đồng dịch vụ tư vấn xây dựng nhà máy điện kéo dài 4 tháng từ ngày 01/8/2010 đến ngày 30/11/2010, và ii) hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt hệ thống máy phát điện kéo dài 3 tháng từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/3/2011. Cả hai hợp đồng đều yêu cầu sự hiện diện của đại diện Công ty tư vấn N tại hiện trường xây dựng và lắp đặt Nhà máy điện V để triển khai công việc trong suốt thời hạn hợp đồng. Để thực hiện hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt nhà máy điện, Công ty tư vấn N đã thuê một Công ty tư vấn B của Nhật Bản thực hiện với tư cách đại diện cho Công ty. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, Công ty tư vấn N được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của đại diện Công ty tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng; Công ty tư vấn B không được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của Công ty tại Việt Nam không quá 6 tháng. Ví dụ 13: Với các giả định như Ví dụ 12, nếu Công ty tư vấn B và chủ đầu tư của Dự án còn ký một hiệp định tư vấn trong giai đoạn chạy thử từ ngày 01/4/2011 đến ngày 30/7/2011. Hợp đồng cũng yêu cầu đại diện của Công ty tư vấn B hiện diện trong suốt thời hạn hợp đồng tại hiện trường chạy thử Nhà máy điện V. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, Công ty tư vấn B được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của đại diện Công ty tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng. Liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, mặc dù tại Hiệp định có quy định cơ sở thường trú bao gồm việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối tượng khác với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các dự án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng, nhưng do tính chất của dịch vụ, thời gian cung cấp dịch vụ không kéo dài quá 6 tháng trong một giai đoạn 12 tháng, trong khi đó, ba điều kiện về cơ sở thường trú tại Điểm 1.2.1 nêu trên vẫn thỏa mãn thì việc cung cấp dịch vụ vẫn được coi là có một cơ sở thường trú tại Việt Nam. Ví dụ 14: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng dịch vụ bảo dưỡng định kỳ máy bay với hãng Hàng không Việt Nam trong thời gian hai năm. Theo hợp đồng, hàng năm, Hãng Đ đều cử các đoàn chuyên gia kỹ thuật sang Việt Nam làm việc với tổng số thời gian có mặt tại Việt Nam 90 ngày tại địa điểm bảo dưỡng máy bay.
639,257
Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Điển, hãng Đ được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do định kỳ hàng năm các đoàn chuyên gia kỹ thuật đã làm việc tại Việt Nam tại một địa điểm cố định tại Việt Nam (các máy bay được bảo dưỡng). c) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích mua hàng hóa hoặc thu thập thông tin cho doanh nghiệp. d) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một đại lý môi giới, đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác, nếu các đại lý đó dành toàn bộ hoặc phần lớn hoạt động của mình cho doanh nghiệp đó (đại lý phụ thuộc). Ví dụ 15: Công ty V là đối tượng cư trú của Việt Nam ký hợp đồng đại lý với chức năng lưu kho và giao sản phẩm sơn cho một công ty H là đối tượng cư trú của Anh. Theo quy định tại hợp đồng, công ty V không được phép làm đại lý cho bất cứ một nhà sản xuất hoặc phân phối sơn nào khác. Trường hợp này, mặc dù không có chức năng ký kết hợp đồng hoặc thu tiền tại Việt Nam nhưng công ty V đã trở thành đại lý phụ thuộc của Công ty H, không còn là đại lý độc lập nữa. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Anh (Khoản 6, Điều 5: Cơ sở thường trú) công ty H được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam. d) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích tiến hành các hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp. đ) Doanh nghiệp đó uỷ quyền cho một đối tượng tại Việt Nam: - Thẩm quyền thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp đó; hoặc ký các hợp đồng mang tên đối tượng đó nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của doanh nghiệp đó; hoặc - Không có thẩm quyền thương lượng, ký kết hợp đồng, nhưng có quyền thường xuyên đại diện cho doanh nghiệp đó giao hàng hóa tại Việt Nam. 1.3. Xác định thu nhập chịu thuế của cơ sở thường trú 1.3.1. Việc xác định thu nhập chịu thuế của cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài, trừ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được hướng dẫn tại Điểm 1.3.3 dưới đây, được thực hiện theo các văn bản hướng dẫn thực hiện luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không thành lập pháp nhân tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam. 1.3.2. Khi xác định các khoản chi phí mà trụ sở chính của doanh nghiệp nước ngoài hoặc các văn phòng của doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho một cơ sở thường trú tại Việt Nam, cơ sở thường trú sẽ được coi là một doanh nghiệp độc lập cùng tiến hành các hoạt động như nhau hay tương tự trong các điều kiện như nhau hay tương tự và hoàn toàn độc lập với trụ sở chính của doanh nghiệp nước ngoài hoặc các văn phòng của doanh nghiệp nước ngoài.
639,258
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, các khoản phân bổ dưới đây của trụ sở chính của doanh nghiệp nước ngoài hoặc các văn phòng của doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho một cơ sở thường trú tại Việt Nam sẽ không được chấp nhận là chi phí được trừ: - Tiền bản quyền hoặc các khoản thanh toán tương tự cho việc sử dụng sáng chế hoặc các quyền tương tự; - Tiền hoa hồng cho các dịch vụ hoặc cho các công việc quản lý; - Lãi tiền vay dưới mọi hình thức. 1.3.3. Việc xác định thu nhập chịu thuế của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo các hướng dẫn về việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của các pháp nhân tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, các khoản phân bổ dưới đây của trụ sở chính của ngân hàng nước ngoài hoặc các văn phòng của ngân hàng nước ngoài phân bổ cho chi nhánh tại Việt Nam của ngân hàng nước ngoài sẽ không được chấp nhận là chi phí được trừ: - Tiền bản quyền hoặc các khoản thanh toán tương tự cho việc sử dụng sáng chế hoặc các quyền tương tự; - Tiền hoa hồng cho các dịch vụ hoặc cho các công việc quản lý. Các quy định về thuế đối với thu nhập kinh doanh như trên được nêu tại Điều khoản Thu nhập kinh doanh (thường là Điều 7) của Hiệp định. 2. Trường hợp các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam thông qua việc thành lập pháp nhân tại Việt Nam. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài có thể tiến hành kinh doanh tại Việt Nam thông qua việc thành lập các pháp nhân tại Việt Nam như các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Theo quy định tại Hiệp định, các pháp nhân này có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh như các doanh nghiệp Việt Nam khác theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành. Phần thu nhập của doanh nghiệp nước ngoài nhận được dưới hình thức lợi nhuận được chia của nhà đầu tư hoặc thu nhập từ việc chuyển nhượng phần vốn góp (nếu có) sẽ được thực hiện theo quy định của các điều khoản tương ứng của Hiệp định quy định về Thu nhập từ lãi cổ phần hoặc Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản. Ví dụ 17: Công ty T của Trung Quốc góp 70% vốn thành lập Công ty liên doanh X tại Việt Nam. Trong năm 2009, Công ty liên doanh X thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 100 triệu đồng; sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tại Việt Nam theo thuế suất 25%, lợi nhuận sau thuế được chia hết theo tỷ lệ góp. Trong năm 2010, Công ty T bán 50% phần vốn góp của mình tại liên doanh X thu được 3 tỷ đồng và thu được 50 triệu đồng tiền lãi trên số vốn cho Công ty liên doanh X vay. Nghĩa vụ thuế của Công ty liên doanh X và Công ty T trong năm 2010 như sau: - Công ty liên doanh X nộp thuế TNDN như các doanh nghiệp Việt Nam khác.
639,259
Cụ thể: Thuế TNDN = 100 triệu đồng x 25% = 25 triệu đồng - Công ty T của Trung Quốc nộp thuế tại Việt Nam theo quy định tại Hiệp định như sau: + Đối với khoản lợi nhuận sau thuế được chia (75 triệu đồng x 70%): Nộp thuế đối với thu nhập lãi cổ phần (hướng dẫn tại Mục 4. Thu nhập từ tiền lãi cổ phần, Chương II, Thông tư này); + Đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp (3 tỷ đồng): Nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản (hướng dẫn tại Mục 8. Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, Chương II, Thông tư này); + Đối với khoản thu nhập từ lãi tiền vay (50 triệu đồng): Nộp thuế đối với thu nhập từ lãi tiền vay (hướng dẫn tại Mục 5. Thu nhập từ lãi tiền cho vay, Chương II, Thông tư này).
639,262
Điều 14. Xác định thu nhập từ vận tải quốc tế. Tuỳ theo quy định tại từng Hiệp định, thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế của các đối tượng nêu tại Điều 13 sẽ được miễn hoặc giảm thuế tại Việt Nam hoặc tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Phạm vi áp dụng miễn, giảm thuế tại Việt Nam đối với doanh nghiệp của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam bao gồm: 1. Thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế bằng phương tiện vận tải do doanh nghiệp điều hành trực tiếp và từ các hoạt động phụ trợ đi liền với hoạt động vận tải quốc tế này, cụ thể: 1.1. Doanh thu từ hoạt động vận tải quốc tế bằng phương tiện vận tải do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp và xuất chứng từ vận tải (xuất vé, vận đơn hoặc bản lược khai (manifest) vận chuyển hành khách và hàng hoá). 1.2. Doanh thu từ việc cho thuê một phần phương tiện vận tải (còn gọi là cho thuê chỗ) hoặc cho thuê toàn bộ phương tiện vận tải theo từng chuyến do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp. Ví dụ 19: Hãng tàu A của Nhật Bản nhận chở hàng hóa của công ty C từ Việt Nam đi Hà Lan với mức cước phí là 300 đô la Mỹ. Hãng tàu A không có tàu điều hành trực tiếp mà thuê chỗ trên tàu của hãng tàu B của Thái Lan với mức phí là 250 đô la Mỹ. Ngoài việc chở hàng cho hãng tàu A như trên, hãng tàu B còn trực tiếp chở hàng cho các khách hàng khác trên cùng tuyến với số cước thu được là 200 đô la Mỹ. Trong trường hợp này: - Đối với hãng tàu A: số tiền 300 đô la Mỹ thu được từ việc nhận chở hàng cho Công ty C hoặc số tiền 50 đô la Mỹ thu được do chênh lệch từ việc nhận chở hàng cho Công ty C và thuê chỗ trên tàu của hãng B đều không được coi là thu nhập từ vận tải quốc tế bằng tàu biển để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản do hãng A không trực tiếp điều hành tàu (mà chỉ mua chỗ toàn chặng trên tàu của hãng tàu B) nên vẫn phải nộp đủ thuế thu nhập doanh nghiệp. - Đối với hãng tàu B: số tiền cước 450 đô la Mỹ được coi là thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế thuộc diện được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan (giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp). 1.3. Doanh thu từ hoạt động vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách khi tham gia liên danh khai thác tuyến vận tải quốc tế với điều kiện doanh nghiệp tham gia liên danh trên cơ sở đóng góp phương tiện vận tải do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp hoặc đóng góp chi phí cho hoạt động của phương tiện vận tải do liên danh điều hành trực tiếp và các bên sử dụng chứng từ vận tải riêng biệt. Trong trường hợp này, doanh thu được xác định trên cơ sở chứng từ vận tải do doanh nghiệp là bên liên danh phát hành nhưng không vượt quá hạn mức chỗ trống của phương tiện vận tải mà doanh nghiệp được phép khai thác theo thỏa thuận liên danh. 1.4. Doanh thu từ hoạt động vận chuyển hành khách hoặc hàng hóa do doanh nghiệp xuất chứng từ vận tải quốc tế được chuyên chở trên phương tiện vận tải do doanh nghiệp khác điều hành với một trong hai điều kiện sau đây:
639,263
a) Chặng vận chuyển đó là một phần trong hành trình vận chuyển quốc tế bằng tàu thủy hoặc máy bay do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp và được ghi trong chứng từ vận tải do chính doanh nghiệp phát hành; Ví dụ 20: Cũng với Ví dụ 19 nêu trên, Hãng tàu A của Nhật Bản nhận chở hàng hóa của công ty C từ Việt Nam đi Hà Lan với mức cước phí là 300 đô la Mỹ. Tuy nhiên, hãng tàu A có tàu A1 do hãng trực tiếp điều hành vận chuyển hàng hóa chặng hai từ Xinh-ga-po đến Hà Lan. Chặng một từ Việt Nam đi Xinh-ga-po, hãng A phải thuê hãng tàu B của Thái Lan vận chuyển hàng với chi phí là 50 đô la Mỹ. - Đối với hãng tàu A: số tiền 250 đô la Mỹ (300 – 50) thu được từ việc trực tiếp vận chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế thuộc diện được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản. - Đối với hãng tàu B: số tiền cước 50 đô la Mỹ được coi là thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế thuộc diện được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan (giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp). b) Việc chuyên chở đó được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận hoán đổi một phần phương tiện vận tải (được gọi là hoán đổi chỗ) do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp để đổi lại doanh nghiệp được sử dụng một phần tương ứng phương tiện vận tải do doanh nghiệp khác điều hành. Trong trường hợp này, doanh thu được xác định trên cơ sở các chứng từ vận tải do chính doanh nghiệp phát hành nhưng không vượt quá hạn mức chỗ trống mà doanh nghiệp được khai thác miễn phí trên phương tiện của hãng đối tác theo thỏa thuận hoán đổi chỗ. 1.5. Thu nhập từ việc cho thuê ngắn hạn (lưu) công-ten-nơ với tính chất là hoạt động phụ kèm theo hoạt động của phương tiện vận tải do doanh nghiệp điều hành trực tiếp nếu tại Hiệp định có quy định. Tính chất hoạt động phụ kèm theo hoạt động của phương tiện vận tải của việc cho thuê ngắn hạn (lưu) công-ten-nơ được xác định là công-ten-nơ đi liền với phương tiện vận tải có vào cảng Việt Nam, công-ten-nơ đang chứa hàng vận chuyển nhập khẩu và phí sử dụng công-ten-nơ đã được bao gồm trong giá cước vận chuyển; thu nhập cho thuê ngắn hạn công-ten-nơ phát sinh do bên nhận hàng lưu giữ công-ten-nơ quá thời hạn sử dụng miễn phí. 1.6. Doanh thu từ việc cho thuê tàu thủy hoặc máy bay trống (được gọi chung là thuê tàu trần) có tính chất phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế của phương tiện vận tải do doanh nghiệp điều hành trực tiếp nếu được quy định cụ thể tại Hiệp định và thỏa mãn cả ba điều kiện sau đây: a) Phương tiện vận tải đang được doanh nghiệp sử dụng trong vận tải quốc tế; và b) Tổng thời gian cho thuê ngắn hơn thời gian phương tiện được sử dụng cho hoạt động vận tải quốc tế của chính doanh nghiệp trong thời gian 12 tháng bắt đầu hoặc kết thúc năm dương lịch; và c) Bên đi thuê không được thay đổi tên và hô hiệu của phương tiện vận tải.
639,264
Thuê tàu trần là hình thức thuê tàu theo đó chủ tàu cung cấp cho người thuê tàu một tàu cụ thể không bao gồm thuyền bộ hoặc phi hành đoàn. Doanh thu được nêu tại các Điểm 1.5 và 1.6 trên đây sẽ không được coi là doanh thu từ các hoạt động phụ trợ đi liền với hoạt động vận tải quốc tế để áp dụng Hiệp định nếu doanh nghiệp không phát sinh các khoản doanh thu được nêu tại các Điểm 1.1, 1.2, 1.3 hoặc 1.4. 2. Trường hợp hai hoặc nhiều doanh nghiệp có hoạt động liên danh để tạo thành một tổ chức liên danh hoặc hợp danh không có tư cách pháp nhân thực hiện hoạt động vận tải quốc tế bằng phương tiện vận tải do tổ chức liên danh hoặc hợp danh điều hành trực tiếp và chứng từ vận tải được xuất dưới tên của tổ chức liên danh hoặc hợp danh thì việc xác định phạm vi áp dụng miễn, giảm thuế theo Hiệp định được thực hiện riêng biệt cho từng bên liên danh hoặc hợp danh theo Hiệp định ký kết giữa Việt Nam và nước nơi bên liên danh hoặc hợp danh là đối tượng cư trú hoặc có trụ sở điều hành thực tế. Căn cứ xác định doanh thu miễn, giảm thuế được áp dụng tương tự như quy định tại Khoản 1 và được phân bổ theo tỷ lệ doanh thu chia cho bên liên danh hoặc hợp danh theo hợp đồng hoặc thỏa thuận liên danh hoặc hợp danh. Ví dụ 21: Liên danh hàng không Scăng-đi-na-via (SAS) có hoạt động vận chuyển hành khách quốc tế tại Việt Nam đi các nước Bắc Âu. Như vậy, doanh thu của hãng phát sinh tại Việt Nam sẽ được phân bổ cho các bên tham gia góp vốn điều hành liên danh hàng không SAS là các đối tượng cư trú tại Na Uy, Đan Mạch hoặc Thụy Điển để áp dụng theo từng Hiệp định có liên quan. Khi kê khai nghĩa vụ thuế, các doanh nghiệp trên phải hạch toán riêng các khoản thu nhập được nêu trên để được xét miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp với quy định về thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế. Trong mọi trường hợp doanh thu xét miễn, giảm thuế không vượt quá doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động vận tải quốc tế theo các văn bản quy định có liên quan. Trường hợp Hiệp định (như Hiệp định với Băng-la-đét, Phi-líp-pin và Thái Lan) quy định chỉ giảm thuế thu nhập theo một tỷ lệ nhất định thì doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập đối với thu nhập từ vận tải quốc tế theo phần tỷ lệ không được giảm. Các quy định về thuế đối với thu nhập từ vận tải quốc tế như trên được nêu tại Điều khoản Vận tải quốc tế (thường là Điều 8) của Hiệp định.
639,266
Khoản 1. Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế đối với tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo một thuế suất giới hạn tùy theo từng Hiệp định (thường không quá 15%) với điều kiện đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng.
639,267
Khoản 2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được phí dịch vụ kỹ thuật phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có quyền đánh thuế thu nhập theo như quy định tại Khoản 1 nêu trên, Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập này theo quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam; nhưng đồng thời Việt Nam phải thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần đối với khoản thu nhập này (quy định tại Chương III. Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam của Thông tư này). Các quy định về thuế đối với thu nhập là phí dịch vụ kỹ thuật như trên được nêu tại Điều khoản Phí dịch vụ kỹ thuật (thường là Điều 13) của Hiệp định.
639,269
Khoản 1. Đối tượng nhận khoản thanh toán tiền lãi cổ phần nhưng không phải là cổ đông hoặc không phải là đối tượng cư trú. Ví dụ 24: Một Quỹ đầu tư đăng ký tại nước S (được thành lập bởi các thành viên là các đối tượng cư trú của các nước có Hiệp định với Việt Nam) tham gia góp vốn thành lập Công ty liên doanh V tại Việt Nam. Quỹ đầu tư đó không phải là một đối tượng cư trú của nước S. Lãi cổ phần nhận được bởi Quỹ đầu tư từ Công ty liên doanh V và thu nhập nhận được bởi các thành viên góp vốn của Quỹ đầu tư từ số lãi cổ phần được chia bởi Quỹ đầu tư đều không được áp dụng Hiệp định giữa Việt Nam với nước S và các nước mà các thành viên là đối tượng cư trú.
639,270
Khoản 2. Tiền lãi cổ phần do công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 25: Chi nhánh ngân hàng CV là chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam của ngân hàng C của Pháp mua cổ phần tại một công ty cổ phần của Việt Nam và được chia một khoản lãi cổ phần. Theo yêu cầu của chi nhánh CV, khoản tiền lãi cổ phần đó được chuyển thẳng cho ngân hàng C có trụ sở chính tại Pa-ri. Trong trường hợp này, người thực hưởng tiền lãi cổ phần là chi nhánh CV, không phải ngân hàng C. Do chi nhánh CV là một cơ sở thường trú của ngân hàng C tại Việt Nam nên theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Pháp (Khoản 5, Điều 10: Tiền lãi cổ phần), các quy định về thuế đối với tiền lãi cổ phần sẽ không áp dụng đối với ngân hàng C mà các quy định về thuế đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh sẽ được áp dụng (Điều 7: Lợi tức doanh nghiệp, Hiệp định giữa Việt Nam và Pháp).
639,271
Khoản 3. Tiền lãi cổ phần do công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 26: Ngân hàng V của Việt Nam có một chi nhánh VC tại nước L là Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Theo luật của nước L, chi nhánh VC được coi là một cơ sở thường trú của ngân hàng V tại nước đó. Chi nhánh VC mua cổ phần của một công ty tại Việt Nam và được chia lãi cổ phần. Trong trường hợp này, các quy định về thuế đối với tiền lãi cổ phần tại Hiệp định giữa Việt Nam và L sẽ không được áp dụng. Các quy định về thuế đối với thu nhập từ tiền lãi cổ phần như trên được nêu tại Điều khoản Tiền lãi cổ phần (thường là Điều 10) của Hiệp định.
639,273
Khoản 1. Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế đối với lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo một thuế suất giới hạn (thường không quá 10%) tùy theo từng Hiệp định, với điều kiện đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam là các khoản lãi từ tiền cho vay do bất cứ một đối tượng cư trú nào của Việt Nam chịu và phải trả, kể cả các khoản lãi được chịu và phải trả bởi Chính phủ Việt Nam và các cơ quan chính quyền địa phương Việt Nam hoặc các cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định của một đối tượng cư trú nước ngoài có tại Việt Nam. Ví dụ 27: Chi nhánh ngân hàng QT là chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam của ngân hàng Q của Thái Lan chi trả cho ngân hàng Q một khoản lãi tiền cho vay. Do chi nhánh QT là một cơ sở thường trú của ngân hàng Q tại Việt Nam, nên theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan, khoản tiền lãi này coi như phát sinh tại Việt Nam và phải chịu thuế tại Việt Nam với mức thuế suất 10% (Khoản 2.a, Điều 11: Lãi từ tiền cho vay). Tuy nhiên, do mức thuế suất đối với thu nhập từ lãi tiền cho vay hiện nay của Việt Nam trong trường hợp này là 5% nên khoản tiền lãi này chỉ chịu thuế tại Việt Nam với mức thuế suất 5%.
639,275
Khoản 3. Trường hợp pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam không quy định việc thu thuế thu nhập đối với loại thu nhập này hoặc thu thuế với một mức thuế suất thấp hơn quy định tại Hiệp định thì đối tượng có thu nhập sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế theo các quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam. Ví dụ 28: Cũng với Ví dụ 27 như trên, nhưng giả sử khoản lãi từ tiền cho vay được chi trả cho một đối tượng cư trú là cá nhân ở Thái Lan. Mặc dù theo Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan (Khoản 2.b, Điều 11: Lãi từ tiền cho vay), Việt Nam có quyền thu thuế đối với khoản tiền lãi này với thuế suất 15%. Nhưng theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam, mức thuế suất áp dụng là 5%. Do đó, Việt Nam chỉ thu thuế với mức thuế suất 5% thay vì 15%.
639,276
Khoản 1. Đối tượng nhận khoản thanh toán lãi từ tiền cho vay nhưng không phải là người cho vay. Ví dụ 32: Một công ty Việt Nam trả lãi tiền vay cho ngân hàng C của Thái Lan. Theo yêu cầu của ngân hàng này, số lãi tiền vay này được chuyển cho ngân hàng P của Pháp có trụ sở chính tại Pa-ri. Trong trường hợp này, người thực hưởng tiền lãi là ngân hàng C của Thái Lan, không phải ngân hàng P của Pháp. Do đó, ngân hàng P không có quyền yêu cầu áp dụng các quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và Pháp đối với khoản lãi từ tiền cho vay này.
639,277
Khoản 2. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 33: Một công ty Việt Nam trả lãi tiền vay cho Chi nhánh ngân hàng nước ngoài V tại Việt Nam của ngân hàng nước ngoài C là đối tượng cư trú của Thái Lan. Trong trường hợp này, khoản lãi từ tiền cho vay nhận được bởi Chi nhánh ngân hàng nước ngoài V được coi như thu nhập kinh doanh thông thường (không phải thu nhập từ lãi tiền cho vay) của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài V tại Việt Nam theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan.
639,278
Khoản 3. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 34: Ngân hàng V của Việt Nam có một chi nhánh VC tại nước L là Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Theo luật của nước L, chi nhánh VC được coi là một cơ sở thường trú của Ngân hàng V tại nước đó. Chi nhánh VC cho một công ty tại Việt Nam vay tiền và nhận được khoản lãi từ tiền cho vay. Trong trường hợp này, các quy định về thuế đối với lãi từ tiền cho vay tại Hiệp định giữa Việt Nam và L sẽ không được áp dụng.
639,279
Khoản 4. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một doanh nghiệp của nước thứ ba có tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 35: Một công ty Việt Nam trả lãi tiền vay cho Chi nhánh ngân hàng N tại nước N của ngân hàng C là đối tượng cư trú của Thái Lan. Trong trường hợp này, khoản lãi tiền vay nhận được bởi Chi nhánh ngân hàng N không được áp dụng các quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan.
639,280
Khoản 5. Tiền cho vay không được chuyển trực tiếp từ tài khoản của bên cho vay là đối tượng cư trú của Nước ký Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 36: Giả sử với Ví dụ 30 nêu trên, toàn bộ số tiền cho vay theo Hợp đồng được chuyển cho Công ty A từ tài khoản của Ngân hàng E; khi đó, khoản lãi tiền vay phát sinh trên số tiền cho vay này sẽ không thuộc diện áp dụng Hiệp định. Các quy định về thuế đối với thu nhập từ lãi từ tiền cho vay như trên được nêu tại Điều khoản Lãi từ tiền cho vay (thường là Điều 11) của Hiệp định.
639,282
Khoản 1. Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế đối với tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo thuế suất giới hạn (thường không quá 10%) tùy theo từng Hiệp định, với điều kiện đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng. Tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam là các khoản tiền bản quyền do bất kỳ một đối tượng cư trú nào của Việt Nam chịu và phải trả, kể cả các khoản tiền bản quyền được chịu và phải trả bởi Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương Việt Nam hoặc các cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà một đối tượng cư trú nước ngoài có tại Việt Nam.
639,283
Khoản 2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được tiền bản quyền phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có quyền đánh thuế thu nhập theo như quy định tại Khoản 1 nêu trên, Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập này theo quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam; nhưng đồng thời Việt Nam phải thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần đối với khoản thu nhập này (quy định tại Chương III. Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam của Thông tư này). Ví dụ 37: Một liên doanh pha chế dầu nhờn tại Việt Nam ký kết hợp đồng với một công ty của Hàn Quốc trong đó quy định công ty này chuyển giao cho liên doanh Việt Nam công thức pha dầu nhờn của công ty Hàn Quốc trong vòng 20 năm. Khi liên doanh Việt Nam trả tiền bản quyền cho công ty Hàn Quốc, theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, liên doanh phải khấu trừ thuế trên tiền bản quyền là 10% tổng số tiền bản quyền để nộp ngân sách. Tuy nhiên, căn cứ Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Khoản 2.a, Điều 12: Tiền bản quyền), liên doanh chỉ phải khấu trừ theo mức 5% thay vì 10%.
639,284
Khoản 3. Trường hợp pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam không quy định thu thuế thu nhập đối với loại thu nhập này hoặc thu thuế với một mức thuế suất thấp hơn quy định tại Hiệp định thì đối tượng có thu nhập sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế theo các quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam. Ví dụ 38: Giả sử với Ví dụ 37 nêu trên, công ty Hàn Quốc góp vốn vào công ty liên doanh tại Việt Nam bằng quyền sử dụng công thức pha chế dầu nhờn trong vòng 20 năm. Theo Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Khoản 2.a, Điều 12: Tiền bản quyền), Việt Nam có quyền thu thuế bản quyền đối với công ty Hàn Quốc do việc chuyển quyền sử dụng công thức pha chế dầu nhờn thành vốn tiền tệ với mức thuế suất 5%. Tuy nhiên, theo quy định của Luật pháp Việt Nam, nếu việc góp vốn bằng chuyển giao công nghệ được miễn thuế thu nhập thì công ty Hàn Quốc được miễn thuế.
639,290
Khoản 1. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 41: Hãng khai thác dầu mỏ của Pháp chuyển nhượng quyền khai thác dầu mỏ tại một địa điểm trên vùng biển Việt Nam, thu nhập nhận được sẽ phải nộp thuế thu nhập theo quy định tại pháp luật của Việt Nam.
639,291
Khoản 2. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng động sản là tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú tại Việt Nam Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng tài sản kinh doanh của cơ sở thường trú hoặc chuyển nhượng cơ sở thường trú tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Ví dụ 42: Chi nhánh ngân hàng C của nước P (là nước đã ký Hiệp định với Việt Nam) hoạt động tại Hà Nội. Năm 2010, chi nhánh ngừng hoạt động và bán toàn bộ thiết bị và tài sản đã sử dụng cho mục đích kinh doanh của chi nhánh. Thu nhập thu được từ việc chuyển nhượng trên sẽ phải kê khai nộp thuế (sau khi trừ đi giá trị còn lại của thiết bị và tài sản) theo thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tại Việt Nam (25%).
639,292
Khoản 3. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tàu thuỷ, thuyền, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ chuyển nhượng tàu thuỷ, thuyền, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế (theo định nghĩa tại Điều 12. Định nghĩa vận tải quốc tế của Thông tư này) do doanh nghiệp vận tải quốc tế của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam điều hành không phải nộp thuế tại Việt Nam.
639,293
Khoản 4. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong một tín thác hoặc một hợp danh mà giá trị bất động sản chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số vốn của doanh nghiệp Trong phần lớn các Hiệp định giữa Việt Nam với các nước đều có quy định theo đó, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập trong trường hợp bên nước ngoài chuyển nhượng vốn trong các doanh nghiệp, các tín thác hoặc các hợp danh là đối tượng cư trú của Việt Nam mà giá trị bất động sản chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số tài sản của doanh nghiệp. Tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp là số bình quân đơn giản của các tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm chuyển nhượng tài sản, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc năm tính thuế ngay trước năm trong đó tài sản được chuyển nhượng. Việc xác định giá trị bất động sản được căn cứ vào bảng tổng kết tài sản đã được kiểm toán của doanh nghiệp tại các thời điểm nêu trên. Tỷ lệ chủ yếu của giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp được xác định như sau: - Trường hợp tại Hiệp định có quy định cụ thể về tỷ lệ hoặc về tỷ lệ chủ yếu thì theo tỷ lệ quy định tại Hiệp định, như tại Khoản 4, Điều 13, Hiệp định giữa Việt Nam và Tây Ban Nha quy định tỷ lệ là trên 50%, hoặc tại Khoản 4, Điều 14, Hiệp định giữa Việt Nam và Ô-man và tại Khoản 4, Điều 13, Hiệp định giữa Việt Nam và Các tiểu Vương quốc A-rập Thống nhất quy định tỷ lệ chủ yếu là trên 50%. - Trường hợp tại Hiệp định không quy định cụ thể về tỷ lệ hoặc về tỷ lệ chủ yếu thì tính chủ yếu được xác định là trên 50%. Ví dụ 43: Vào ngày 30/3/2012, một nhà đầu tư là đối tượng cư trú In-đô-nê-xi-a chuyển nhượng phần vốn của mình trong một doanh nghiệp V tại Việt Nam. Tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp V tại các thời điểm ngày 30/3/2012, ngày 01/01/2011 và ngày 31/12/2011 lần lượt là 60%, 40% và 53%. Việc xác định tỷ lệ chủ yếu của giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp V cho mục đích xác định nghĩa vụ thuế của nhà đầu tư In-đô-nê-xi-a như sau: Khoản 4, Điều 13: Lợi tức từ chuyển nhượng tài sản, Hiệp định giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a quy định: “4. Lợi tức do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ việc chuyển nhượng cổ phần hay các quyền lợi tương ứng tại một công ty có tài sản bao gồm toàn bộ hay chủ yếu là bất động sản nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.” Quy định trên không quy định tỷ lệ cụ thể của giá trị bất động sản trong tài sản của công ty nên tỷ lệ trên 50% sẽ được coi là chủ yếu.
639,294
Số bình quân đơn giản của các tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp được xác định như sau: (60% + 40% + 53%) / 3 = 51%. Như vậy, trong ví dụ này, giá trị bất động sản đã chiếm chủ yếu trong số tài sản của Công ty V.